Kỷ yếu hội nghị sơ kết 5 năm về văn học nghệ thuật (vanhien.vn)
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Like this? Share it with your network

Share

Kỷ yếu hội nghị sơ kết 5 năm về văn học nghệ thuật (vanhien.vn)

  • 3,947 views
Uploaded on

Kỷ yếu hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới". ...

Kỷ yếu hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới".
Đăng trên vanhien.vn

More in: News & Politics
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
    Be the first to like this
No Downloads

Views

Total Views
3,947
On Slideshare
3,860
From Embeds
87
Number of Embeds
2

Actions

Shares
Downloads
29
Comments
0
Likes
0

Embeds 87

http://vanhien.vn 85
http://webcache.googleusercontent.com 2

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCHKỶ YẾU HỘI NGHỊSƠ KẾT 05 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 23 –NQ/TWNGÀY 16/6/2008 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ VIỆC “TIẾP TỤCXÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HỌC, NGHỆ THUẬTTRONG THỜI KỲ MỚI”Hà Nội 4/2013
  • 2. 2MỤC LỤCNội dung Trang1. Báo cáo sơ kết của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:Báo cáo sơ kết 05 năm triển khai thực hiện nghị quyết số 23-NQ/TWngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ chính trị - Ông Hồ Việt Hà, Vụtrưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch012. Ban Tuyên giáo Trung ương : Đánh giá kết quả sau 05 năm thựchiện Nghị quyết 23-NQ/TW- Ông Vũ Công Hội, Phó Vụ trưởng VụVăn hóa, Văn nghệ- Ban Tuyên giáo Trung ương303. UBTQ Liên hiệp các Hội Văn học, Nghệ thuật Việt Nam: Báo cáohội thảo 5 năm thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về văn họcnghệ thuật - Nhà văn Đỗ Kim Cuông, Phó Chủ tịch Thường trực Liênhiệp các Hội VHNT Việt Nam354. Cục Điện ảnh: Điện ảnh Việt Nam sau 5 năm triển khai Nghị quyết23-NQ/TW của Bộ Chính trị - Bà Ngô Phương Lan, Cục Trưởng CụcĐiện ảnh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch405. Cục Nghệ thuật biểu diễn: Nghệ thuật biểu diễn việt Nam sau 05năm triển khai thực hiện nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị:những thành tựu, khó khăn, tồn tại và các giải pháp kiến nghị - Nhạcsỹ Đào Đăng Hoàn, Phó cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn, BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch476. Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm: Ngành mỹ thuật, nhiếp ảnhvà triển lãm sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23- NQ/TWngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị: những thành tựu, khókhăn, tồn tại và các giải pháp kiến nghị- Bà Đoàn Thị thu Hương,Phó Cục trưởng Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch567. Cục Di sản Văn hóa: Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản vănhóa sau 05 năm triển khai Nghị quyết số 23/NQ-TW ngày 16 tháng 6năm 2008 của Bộ Chính trị678. Vụ Thư viện: Vai trò của thư viện trong việc bảo lưu và phát triểnvăn học, nghệ thuật trong đời sống cộng đồng: những thành tựu, tồntại và các đề xuất kiến nghị- Bà Vũ Dương Thúy Ngà, Phó Vụ trưởngVụ Thư viện- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch729. Vụ Đào tạo: Công tác đào tạo văn hóa nghệ thuật sau 5 năm thựchiện nghị quyết số 23 NQ/TW của Bộ Chính trị - PGS.TS Đào MạnhHùng, Vụ trưởng Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch7810. Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam: Cơ sở lý luận và thực tiễncùng các đề xuất, kiến nghị đối với thực trạng của văn học nghệ thuật89
  • 3. 3Việt Nam sau 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23- NQ/TWngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chinh trị - Ông Bùi Hoài Sơn,Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam– Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch11. Bộ Tài chính (Vụ Chính sách thuế): Chính sách ưu đãi thuế đối vớivăn học, nghệ thuật sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 23/NQ-TW ngày16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị- thực trạng và giải pháp- ÔngTống Công Phi, Trưởng phòng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính9512. Bộ Tài chính (Vụ Hành chính sự nghiệp): Quản lý tài chính tronglĩnh vực văn học, nghệ thuật sau 05 năm triển khai thực hiện Nghịquyết số 23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị10213. Sở VHTTDL Tuyên Quang: Kết quả 05 năm thực hiện Nghị Quyếtsố 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn học, nghệ thuậttrong thời kỳ mới trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang: những khó khăn tồntại và các giải pháp kiến nghị tiếp tục triển khai thực hiện10714. Sở VHTTDL Bắc Ninh: Tham luận Hội nghị sơ kết 5 năm triển khaithực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị “về việc tiếp tụcxây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”11315. Sở VHTTDL Lạng Sơn: Báo cáo tham luận Hội nghị Sơ kết 05 năm(2008-2012) triển khai thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục xây dựng và pháttriển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới11916. Sở VHTTDL Đà Nẵng: 05 năm thực hiện Nghị quyết Số 23-NQ/TWcủa Bộ Chính trị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng12517. Sở VHTTDL Thừa Thiên Huế: Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huếtiếp tục phát triển xứng tầm là trung tâm văn hóa du lịch đặc sắc củaViệt Nam130
  • 4. 1BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập- Tự do- Hạnh phúcBÁO CÁOSƠ KẾT 05 NĂM TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾTSỐ 23 NQ/TW NGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2008 CỦA BỘ CHÍNH TRỊHồ Việt HàVụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chínhBộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchThực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn ThiệnNhân tại Công văn số 918/VPCP-KGVX ngày 29 tháng 01 năm 2013 của Vănphòng Chính phủ về việc đánh giá tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị “Về việc tiếp tục xâydựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” (dưới đây gọi tắt làNghị quyết 23), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch báo cáo sơ kết 05 năm thựchiện Nghị quyết 23 giai đoạn 2008-2013 như sau:Phần thứ nhấtĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 05 NĂM TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ23-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊI. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH:Văn học nghệ thuật, một bộ phận quan trọng của văn hóa, luôn được Đảngvà Nhà nước quan tâm. Hiến pháp năm 1992 (Điều 32) nêu rõ “Nhà nước đầu tưphát triển văn hoá, văn học và nghệ thuật; tạo điều kiện để nhân dân đượcthưởng thức những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị; bảo trợ để phát triểncác tài năng sáng tạo văn hóa nghệ thuật”. Từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm1943, Đảng đã công khai quan điểm rõ ràng về văn hóa, theo đó văn hóa, chínhtrị, kinh tế là ba yếu tố không thể tách rời. Năm 1998, Nghị quyết Trung ương 5(khóa VIII) đề ra phương hướng, nhiệm vụ với quan điểm chỉ đạo “Vǎn hóa lànền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự pháttriển kinh tế- xã hội”.Năm 2008, Nghị quyết 23 được ban hành đã thể hiện sự quan tâm của Đảngđối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Nghị quyết đánh giá những thành tựu đã đạtđược và những yếu kém, khuyết điểm còn tồn tại qua 10 năm triển khai thực hiệnNghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), trên cơ sở đó đề ra mục tiêu, chủ trươnggiải pháp để tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳmới. Để tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết, Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch đã được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ “chủ trì phối hợp với Ủy ban toàn quốc
  • 5. 2Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt, các cơ quan hữu quan xây dựng cáccơ chế, chính sách, các quy định và thực hiện các nhiệm vụ được xác định trongNghị quyết về quản lý Nhà nước đối với văn học, nghệ thuật”. Việc triển khaithực hiện Nghị quyết 23 trong giai đoạn 2008-2013 có những điều kiện thuận lợivà khó khăn như sau:1. Thuận lợi:- Chính trị ổn định, kinh tế, xã hội có bước phát triển đáng kể, đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt;- Đảng và Nhà nước luôn coi trọng phát triển văn học, nghệ thuật, coi vănhọc, nghệ thuật là lĩnh vực đặc biệt tinh tế của văn hóa, đã có hành lang pháp lýkhuyến khích văn học, nghệ thuật phát triển mặc dù chưa đồng bộ;- Đội ngũ văn nghệ sĩ Việt Nam gồm nhiều thế hệ nối tiếp nhau có truyềnthống yêu nước, tâm huyết với nghề;- Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các phương tiện truyềnthông là điều kiện thuận lợi để phổ biến, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệthuật;- Văn học, nghệ thuật Việt Nam có sự giao lưu với các nước thông qua quátrình hội nhập quốc tế.2. Khó khăn:- Cơ sở pháp lý khuyến khích phát triển văn học, nghệ thuật còn chưa đồngbộ. Các chế độ ưu đãi cho văn nghệ sĩ còn thấp, chưa tương xứng với sức laođộng sáng tạo văn học, nghệ thuật của văn nghệ sĩ;- Công tác quản lý Nhà nước ở nhiều lĩnh vực văn học, nghệ thuật còn nhiềubất cập. Nhận thức về vai trò của văn học, nghệ thuật ở nhiều cấp lãnh đạo, quảnlý còn chưa đầy đủ. Hiệu quả đầu tư cho văn học, nghệ thuật chưa cao;- Ngân sách Nhà nước đầu tư cho văn học, nghệ thuật còn hạn chế;- Nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây chịu ảnh hưởng chung củasuy thoái kinh tế toàn cầu. Bối cảnh khó khăn đó đã tác động đến tư tưởng, đờisống tinh thần của nhân dân nói chung, đời sống văn học, nghệ thuật nói riêng;Từ những đặc điểm tình hình trên, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng;sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; sự nỗ lực, cố gắng của các cơquan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương, công tác triển khai thực hiện Nghịquyết 23 đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai thực hiện và đã đạtđược một số kết quả nhất định.II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN:1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện Nghị quyết:
  • 6. 3- Ban Cán sự Đảng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cấp ủy cấp trên và cáctổ chức Đảng trong cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ đã chủ động tích cực triển khaithực hiện kế hoạch tuyên truyền phổ biến Nghị quyết 23 trong hệ thống chính trị,cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động.- Bộ đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 23, phâncông nhiệm vụ cụ thể đến các đơn vị thuộc Bộ thực hiện xây dựng/sửa đổi, bổsung các văn bản quy phạm pháp luật triển khai Nghị quyết 23 (Thông báo số207/TB-VP ngày 12/7/2010 của Văn phòng Bộ thông báo kết luận của Bộ trưởngHoàng Tuấn Anh về thực hiện Nghị quyết 23). Các cơ quan, đơn vị được giaonhiệm vụ đã chủ động, tập trung xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản phápluật theo sự phân công nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương và theo yêu cầucông tác quản lý Nhà nước về văn học, nghệ thuật.2. Kết quả thực hiện những nhiệm vụ của Nghị quyết:2.1. Công tác xây dựng cơ chế chính sách đối với văn học, nghệ thuật:- Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã chủ động phối hợp với các cơ quanliên quan như Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam,Bộ Thông tin và Truyền thông… xây dựng các đề án trình Chính phủ và Thủtướng Chính phủ. Bộ đã triển khai xây dựng 05 đề án được phân công tại Côngvăn số 73-KH/BTGTW ngày 9 tháng 4 năm 2009 của Ban Tuyên giáo Trungương về “Kế hoạch triển khai thực hiện các đề án Nghị quyết số 23-NQ/TW củaBộ Chính trị về văn học, nghệ thuật”. Đến nay, các đề án này đã hoàn thành vàđược thể chế hóa bằng các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ (chitiết tại Phụ lục 1 đính kèm).Bên cạnh các đề án cụ thể được Ban Bí thư và Ban Tuyên giáo Trung ươnggiao xây dựng để triển khai thực hiện Nghị quyết 23, Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng các văn bản, đềán trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về vănhọc, nghệ thuật. Trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2012, có 27 văn bản pháp quydo Bộ chủ trì xây dựng trình các cấp có thẩm quyền ban hành bao gồm: 03 Luật,08 Nghị định Chính phủ, 05 Quyết định và 01 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủvà 11 Thông tư và văn bản hướng dẫn. Các luật đã được Quốc hội thông quagồm: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (năm 2009), Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa (năm 2009), Luật sửa đổi,bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh (năm 2009) (chi tiết tại Phụ lục 2 đínhkèm).Tiếp đó, trong năm 2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được phân côngchủ trì xây dựng 05 đề án triển khai Nghị quyết số 40/NQ-CP của Chính phủ về“Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hộihóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công”. Nghị quyết 40/NQ-CP góp phầnđẩy nhanh việc thể chế hóa Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị thông qua mục tiêuđổi mới các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động dịchvụ công như: hoạt động tổ chức biểu diễn nghệ thuật của các nhà hát, việc đặthàng các tác phẩm điện ảnh, hoàn thiện quy hoạch mạng lưới rạp chiếu phim, các
  • 7. 4thiết chế văn hóa, khu văn hóa vui chơi giải trí phục vụ cộng đồng giai đoạn2011-2020.…Hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang khẩn trương phốihợp với các cơ quan có liên quan xây dựng các đề án được phân công để đảm bảotiến độ hoàn thành trình Chính phủ trong năm 2013 (chi tiết 05 đề án tại Phụ lục3 đính kèm).2.2. Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về văn học, nghệ thuật2.2.1. Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc trong lĩnh vựcvăn học, nghệ thuật:- Công tác quản lý nhà nước trong việc bảo tồn phát huy di sản văn hóa dântộc được triển khai quyết liệt, đạt hiệu quả tốt. Các văn bản pháp quy do Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng trình các cấp có thẩm quyền ban hànhnhư Luật sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa, Nghị định số 98/2010/NĐ-CPquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổsung Luật Di sản văn hóa, Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơkhoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vậtthể quốc gia….- Công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể trong lĩnh vực văn học, nghệthuật đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhiều di sản văn hóa phi vật thể củaViệt Nam đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các địa phươnglập hồ sơ đề nghị và được Unesco công nhận đưa vào danh sách là Di sản văn hóaphi vật thể của nhân loại và danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệkhẩn cấp như Quan họ Bắc Ninh (năm 2009), hát Ca trù (năm 2009), hát Xoan ởPhú Thọ (2011).- Nhiều hoạt động giới thiệu di sản văn học, nghệ thuật của Việt Nam vớithế giới được tổ chức hiệu quả như: Triển lãm “Nghệ thuật cổ Việt Nam- từ châuthổ ra biển lớn”, triển lãm Nghề thủ công truyền thống và Văn hóa Việt Nam tạiHàn Quốc….2.2.2. Bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan:- Công tác bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan được đẩy mạnh với việcban hành một loạt các văn bản pháp quy trong lĩnh vực như: Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, Nghị định số 47/2009/NĐ-CP quy địnhxử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, Nghị định số85/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiếthướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyềntác giả, quyền liên quan….Bên cạnh đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng cường công tác tuyêntruyền giáo dục pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan. Từ năm 2008, Bộ đãtổ chức quán triệt tới các đơn vị, địa phương trên cả nước Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyềntác giả, quyền liên quan. Nhiều hội thảo đã được tổ chức như Hội thảo tập tuấnLuật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan, Hội thảo “Quyền của người
  • 8. 5biểu diễn” tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (2010), Hội thảo “Phát triểncông nghiệp sáng tạo” (phối hợp với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO tổchức năm 2010), Hội thảo “Bảo hộ quyền tác giả trong phát triển ngành côngnghiệp phần mềm và âm nhạc” (phối hợp với Ủy ban quyền tác giả Hàn Quốc tổchức năm 2010), Hội thảo “Quản lý tập thể về quyền tác giả, quyền liên quan)(phối hợp với WIPO và chính phủ Nhật bản tổ chức năm 2010)…Bình quân mỗi năm, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp khoảng 4000Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, xử lý và giải quyết 20-40 đơn thư khiếu nại tố cáo về quyền tác giả, quyền liên quan.2.2.3. Nghệ thuật biểu diễn:- Chủ trì xây dựng một số văn bản pháp quy trong lĩnh vực trình các cấp cóthẩm quyền ban hành như: Nghị định số 79/2012/NĐ-CP của Chính phủ về biểudiễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinhdoanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu...- Thực hiện có hiệu quả công tác kiểm duyệt, thẩm định nội dung và kiểmtra các chương trình nghệ thuật ca, múa, nhạc, sân khấu, thời trang..., cấp phépcho các đoàn nghệ thuật, ca sĩ đi biểu diễn ở nước ngoài và từ nước ngoài về ViệtNam biểu diễn. Riêng trong năm 2011, Bộ đã cấp 6.930.000 tem nhãn, 289 giấyphép công diễn, 10 giấy phép phát hành băng đĩa, duyệt 415 chương trình, băngđĩa, lưu chiểu, cấp phép 533 nghệ sĩ là người nước ngoài và 35 đoàn nghệ thuật,12 ban nhạc nước ngoài vào Việt Nam biểu diễn, 47 đoàn nghệ thuật Việt Nam và194 nghệ sĩ Việt Nam ra nước ngoài giao lưu và biểu diễn nghệ thuật. Thẩm định,cho phép nhập khẩu 75 chương trình băng đĩa ca nhạc của các nước, cho phépphổ biến tại Việt Nam 300 ca khúc do người Việt Nam sáng tác trước năm 1975...Việc bảo tồn các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống được chú trọngthông qua việc tổ chức các chương trình liên hoan biểu diễn nghệ thuật như “Liênhoan Hợp xướng quốc tế lần thứ I” tại Hội An- Quảng Nam, “Liên hoan sân khấudân ca kịch Bài chòi toàn quốc”, “Liên hoan múa rối dân gian toàn quốc” “Liênhoan sân khấu chèo về đề tài hiện đại”. Các cuộc liên hoan thu hút từ 200-500nghệ sĩ, diễn viên tham gia, nhiều chương trình, tiết mục tham gia liên hoan đạtchất lượng cao, được dàn dựng công phu, phong phú về đề tài, đa dạng về thểloại.- Các chương trình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị, biểu diễn phục vụđồng bào, động viên chiến sĩ vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa được tổchức thực hiện trên cả nước như: chương trình phục vụ Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ XI của Đảng, chương trình nghệ thuật biểu diễn phục vụ động viênbộ đội Trường Sa và DK1, chương trình phục vụ tuyên truyền bầu cử Quốc hộikhóa XIII, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.- Công tác giao lưu quốc tế được đẩy mạnh, gắn kết chặt chẽ giữa biểu diễnnghệ thuật với chương trình xúc tiến du lịch và quảng bá nghệ thuật Việt Nam rathế giới. Một số chương trình tiêu biểu đã được tổ chức như: chương trình nghệthuật đón các nguyên thủ sang thăm Việt Nam, chào mừng Hội nghị cấp caoASEAN, chương trình nghệ thuật các ngày Văn hóa Việt Nam tại các nước trên
  • 9. 6thế giới và biểu diễn giao lưu văn hóa tại các nước như Pháp, Đức, Cuba, Mexico,Trung quốc, Tây Ban Nha, Nhật bản..., “Liên hoan Ca múa nhạc ba nước ViệtNam- Lào- Campuchia”, chương trình hòa nhạc Henessy cổ điển, chương trìnhnghệ thuật Italia,...- Đối với hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở các địa phương: các đơn vị nghệthuật địa phương đã khắc phục khó khăn, xây dựng nhiều chương trình mới gópphần tuyên truyền, tôn vinh nghệ thuật truyền thống, định hướng đường lối vănnghệ của Đảng.2.2.4. Lĩnh vực Điện ảnh:- Một số văn bản pháp quy đã được ban hành như Luật sửa đổi bổ sung mộtsố điều của Luật Điện ảnh, Nghị định số 54/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thihành Luật Điện ảnh và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh,Thông tư số 08/2010/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyđịnh tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định phim của Đài truyền hình, đàiphát thanh- truyền hình…- Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả hoạt động điện ảnh gắn với các ngày lễ, kỷniệm của đất nước như: các tuần phim tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trịtrên phạm vi cả nước, các buổi giao lưu giữa nghệ sĩ với khán giả trong đó Nhữngngày phim Việt Nam chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nộitổ chức trên 63 tỉnh- thành thu hút hàng chục ngàn lượt khán giả tới thưởng thứcvà giao lưu.- Tổ chức chiếu phim và giới thiệu điện ảnh Việt Nam ở nước ngoài đãmang lại hiệu quả thiết thực. Nhiều tác phẩm, tác giả, nghệ sĩ điện ảnh Việt Namđược tôn vinh tại các nước có nền điện ảnh phát triển. Các Liên hoan phim quốctế được tổ chức tại Việt Nam đã tạo cơ hội cho các nghệ sĩ trong nước trao đổi,giao lưu với các nghệ sĩ quốc tế.- Công tác đầu tư đặt hàng sản xuất các tác phẩm điện ảnh được thực hiệnhàng năm đã tạo ra một nguồn phim điện ảnh có chất lượng, có tính thẩm mỹ vàđịnh hướng chính trị. Các bộ phim do Nhà nước đặt hàng chiếm tỉ trọng lớn trongcác tác phẩm điện ảnh đạt giải cao tại các Liên hoan phim trong nước. Nhiều bộphim do Nhà nước đầu tư đã đạt được các giải thưởng quốc tế như: phim “Chơivơi” (đạo diễn Bùi Thạc Chuyên”) đoạt giải khán giả tại Liên hoan phim quốc tếVenice- Italia, phim “Đừng đốt” (đạo diễn Đặng Nhật Minh) đoạt giải tại Liênhoan phim Fukuoka- Nhật Bản, phim “Trăng nơi đáy giếng” đoạt 3 giải thưởngtại Liên hoan phim- Văn hóa Á châu tại Lion- Pháp.... Bộ Văn hóa, Thể thao vàDu lịch đang phối hợp với Bộ Tài chính để ban hành Thông tư về đấu thầu, đặthàng sản xuất phim nhằm nâng cao chất lượng sản xuất phim và tạo “sân chơi”công bằng với mọi thành phần kinh tế.- Hệ thống cụm rạp chiếu phim, cơ sở chiếu bóng có nhiều cố gắng đầu tưtheo xu hướng phát triển công nghệ, kỹ thuật. Trung tâm Chiếu phim quốc giakhai trương phòng chiếu 4D cảm giác mạnh, Lào cai, Hà Giang đã xây dựngphòng chiếu phim 3D, lồng ghép tuyên truyền bằng tiếng dân tộc…
  • 10. 7- Hoạt động kiểm tra, kiểm duyệt hoạt động điện ảnh trên toàn quốc đượcthực hiện nhằm đảm bảo đúng định hướng và quy định của pháp luật.2.2.5. Lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm:- Hoàn thiện dự thảo Nghị định quản lý hoạt động mỹ thuật trình Chính phủphê duyệt, xây dựng Quy hoạch phát triển ngành mỹ thuật đến năm 2020, tầmnhìn đến năm 2030, Thông tư hướng dẫn hoạt động nhiếp ảnh…- Thực hiện tốt công tác cấp phép cho các triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh, xâydựng tượng đài. Tổ chức thành công các cuộc triển lãm trong phạm vi cả nước vàquốc tế như Triễn lãm Mỹ thuật toàn quốc với gần 5000 tác phẩm của các họa sỹ,nhà điêu khắc trong cả nước tham dự, Triển lãm mỹ thuật thiếu nhi toàn quốc tạiHà Nội và Hải phòng, Triển lãm Festival Mỹ thuật trẻ, Triển lãm ảnh nghệ thuậtquốc tế FIAP tại Việt Nam với 42 quốc gia và khu vực lãnh thổ tham gia, Triểnlãm tranh sơn mài tại Bắc Kinh và Tân Cương- Trung quốc….2.2.6. Công tác phát triển văn học, nghệ thuật:- Tập trung xây dựng và ban hành các văn bản quản lý Nhà nước nhằmthống nhất, đồng bộ về tổ chức, hoạt động và tiêu chí mô hình Trung tâm Vănhóa-Thể thao các cấp như: Thông tư quy định Quy chế về tổ chức và hoạt độngcủa tổ chức sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch quận,huyện, thị xã, thành phối trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;Thông tư quy định tiêu chí của Trung tâm Văn hóa- Thể thao quận, huyện, thị xã,thành phố trực thuộc tỉnh.- Các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị trọng đại của đất nước được tổ chức tốt,tạo không khí vui tươi, phấn khởi, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạocủa Đảng. Hoạt động văn hóa, văn nghệ phát triển rộng khắp ở cơ sở, chất lượngcác cuộc thi, hội diễn, liên hoan được nâng lên ngày càng thu hút đông đảo lựclượng công chúng tham gia, đáp ứng tốt nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần củamọi tầng lớp dân cư.- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các đội tuyên truyền lưu động ở các địaphương, vai trò của Trung tâm Văn hóa cấp tỉnh đối với cơ sở.- Công tác xây dựng phát triển văn hóa (trong đó có văn học nghệ thuật)vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng. Nhiều hoạt động văn hóa, nghệthuật được tổ chức đã tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc giao lưu học hỏi lẫnnhau với không khí phấn khởi, tin tưởng vào các chủ trương chính sách của Đảngvà Nhà nước, góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc dân tộc trong văn học, nghệthuật như: Tổ chức Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc vùngĐồng Bắc lần thứ VII tại Phú Thọ.... Tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ cán bộvăn học, nghệ thuật ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số thông qua tổ chức các lớptập huấn cho cán bộ văn hóa các xã đặc biệt khó khăn tại các tỉnh Hà Giang,Thanh Hóa, Gia Lai; thực hiện mục tiêu hỗ trợ phát triển văn học nghệ thuật vùngsâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số qua việc thực hiện tốt dự án sản xuấtvà cung cấp sản phẩm văn hóa thông tin phù hợp cho các xã đặc biệt khó khăn, xãbiên giới, xã thuộc 62 huyện nghèo, xã vùng dân tộc trọng điểm.
  • 11. 82.2.7. Hợp tác giao lưu quốc tế về văn học, nghệ thuật:- Tăng cường năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực đối ngoại vàhợp tác quốc tế về văn học, nghệ thuật. Trong năm 2010-2011, đã có 33 văn bản,chương trình hợp tác quốc tế được ký kết.- Công tác hợp tác giao lưu quốc tế về văn học, nghệ thuật đã được đẩymạnh theo hướng hiệu quả và thực chất, tận dụng cơ hội và đối phó với nhữngthách thức mới nhằm thúc đẩy hoạt động đối ngoại phát triển, góp phần vào thànhcông chung của hoạt động đối ngoại của Nhà nước. Qua các hoạt động ngoại giaovăn hóa, văn học, nghệ thuật, từng bước góp phần nâng cao uy tín, vị thế và hìnhảnh đất nước, con người, văn hóa nghệ thuật Việt Nam trên thế giới. Nhiều hoạtđộng văn học, nghệ thuật quan trọng được tổ chức như: Tháng Việt Nam tại Pháp,Những ngày văn hóa Việt Nam tại Liên bang Nga, Ukraina, Na Uy và ĐanMạch…- Nhiều dự án hợp tác tranh thủ sự hỗ trợ từ các nước được triển khai hiệuquả trong đào tạo nhân lực, xúc tiến quảng bá. Công tác quảng bá, giới thiệu vănhọc nghệ thuật Việt Nam được tiếp tục đẩy mạnh thông qua các lễ hội, các hoạtđộng xúc tiến văn hóa, thể thao và du lịch có quy mô lớn tại nước ngoài, thôngqua cơ quan đại diện văn hóa, du lịch tại nước ngoài và trên các phương tiệnnghe, nhìn và truyền thông quốc tế.2.2.8. Công tác đào tạo, bồi dưỡng tài năng văn học, nghệ thuật:- Bộ đã hoàn thành trình Thủ tướng Chính phủ và được phê duyệt các đề án“Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo các trường văn hóa, nghệ thuật”, “Đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên trình độ cao trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuậtgiai đoạn 2010-2020”, “Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển tài năng trẻ lĩnh vực vănhóa nghệ thuật”.- Công tác quản lý nhà nước về đào tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuậtđược chú trọng, đạt hiệu quả, tạo sự chuyển biến mới về phát triển nhân lực theođịnh hướng của Đảng và Nhà nước. Học sinh, sinh viên các trường văn hóa, nghệthuật sau khi tốt nghiệp ra trường phần lớn phát huy được khả năng tại lĩnh vựccông tác. Sinh viên năng khiếu tự khẳng định mình trong học tập, giao tiếp, bộc lộtư chất và phát huy khả năng.- Trong giai đoạn 2008-2012, một số trường văn hóa nghệ thuật được thànhlập như Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Đà Nẵng, Trường Caođăng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Gia Lai, Trường Đại học Văn hóa- Du lịchThanh Hóa, trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Hà Tĩnh. Một số cơ sở đào tạođược cấp có thẩm quyền cho phép mở ngành mới và tuyển sinh như Đại học Vănhóa Hà Nội tổ chức kỳ thi tuyển sinh bổ sung ngành Sáng tác Văn học, TrườngCao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Nghệ An mở thêm 06 chuyên ngành đào tạo.- Hoàn thành việc xây dựng 20 chương trình khung giáo dục đại học, trongđó có 9 đại học, 11 cao đẳng, đến nay các chương trình khung này đã được BộGiáo dục và Đào tạo ban hành để các trường Văn hóa Nghệ thuật trong cả nướctriển khai thực hiện.
  • 12. 9III. ĐÁNH GIÁ CHUNG:1. Những thành tựu đạt được:- Hoàn thành các đề án do Ban Tuyên giáo Trung ương phân công triểnkhai thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị, xây dựng danh mục các đề án cụthể và phân công tới các cơ quan, đơn vị xây dựng/sửa đổi, bổ sung các văn bảnpháp quy triển khai Nghị quyết 23.- Công tác xây dựng pháp luật đạt thành tích tốt với 03 dự án luật đã hoànthành và trình Quốc hội thông qua. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Chínhphủ, Thủ tướng Chính phủ và của Bộ được ban hành, tiếp tục hoàn thiện hệ thốngpháp luật trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật.- Một số đề xuất, chính sách đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phêduyệt có ý nghĩa kịp thời động viên văn nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực văn họcnghệ thuật như: bổ sung 30 tỷ đồng để hỗ trợ cho các hoạt động sáng tạo của Uỷban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và các Hội Vănhọc nghệ thuật chuyên ngành ở trung ương, địa phương trong năm 2010; điềuchỉnh tăng kinh phí giải thưởng văn học, nghệ thuật hàng năm, trước hết là năm2010 cho Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam vàcác Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành ở trung ương.- Qua 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 23, lĩnh vực văn học, nghệthuật về cơ bản có những chuyển biến tích cực. Các hoạt động văn học, nghệthuật có tính chuyên nghiệp hơn, có bước phát triển mới, số lượng tác phẩm cógiá trị đạt giải thưởng khu vực, quốc gia tăng lên đáng kể. Công tác lý luận phêbình có chuyển biến tích cực, hoạt động phổ biến, sáng tác tác phẩm đa dạng,phong phú. Các hoạt động phong trào có bước phát triển sâu rộng, thu hút ngàycàng đông các nghệ sĩ, tầng lớp nhân dân tham gia sáng tác, phục vụ có hiệu quảcác sự kiện chính trị, góp phần định hướng tư tưởng, thẩm mỹ của nhân dân.- Các hoạt động văn học, nghệ thuật có sự đổi mới trong tổ chức và dàndựng, chất lượng nghệ thuật được nâng lên, gắn kết chặt chẽ, phục vụ hiệu quảchính sách phát triển kinh tế- xã hội của các địa phương. Một số chương trình,hoạt động văn hóa, nghệ thuật lớn tạo được ấn tượng tốt trong nhân dân. Mứchưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xađược cải thiện.- Công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật được đẩy mạnh.Ngày càng có nhiều tổ chức xã hội và cá nhân tham gia vào công tác bảo vệ vàphát huy giá trị văn học, nghệ thuật.- Công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể trong lĩnh vực vănhọc, nghệ thuật được triển khai tích cực.- Công tác phối hợp giữa cơ quan quản lý Nhà nước đối với các Hội vănhọc, nghệ thuật đã có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ hơn.
  • 13. 10- Ý thức pháp luật và thực thi pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quanđã có những chuyển biến nhất định. Công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạmtrong lĩnh vực bản quyền tác giả được tập trung triển khai thực hiện.- Hoạt động giao lưu hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn học, nghệ thuậtđược đẩy mạnh. Nhiều văn bản hiệp định, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế vềphát triển văn hóa, nghệ thuật được ký kết và triển khai thực hiện.2. Những khó khăn, tồn tại:- Công tác thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng ở một số lĩnhvực còn chậm, một số văn bản hướng dẫn Luật chậm ban hành hoặc đã ban hànhnhưng chưa cụ thể, chưa theo kịp những biến động của thực tiễn nên hiệu quảthực hiện còn thấp. Nhiều chính sách, quy định đã ban hành nhưng chưa đi vàođời sống. Việc ban hành các văn bản pháp quy ở nhiều khâu còn thiếu đồng bộ.- Một số cơ chế chính sách phát triển văn học, nghệ thuật bộc lộ những bấtcập không còn phù hợp với thực tiễn nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung, thay thếnhư chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác văn học nghệ thuật ở cơ sở,chế độ đối với diễn viên, nghệ sĩ hết tuổi nghề nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu....Các chính sách về lương, phụ cấp đối với văn nghệ sĩ nhìn chung còn thấp, chưabù đắp được công sức sáng tạo. Đời sống văn nghệ sĩ nhìn chung còn khó khănnên nhiều nghệ sĩ chưa toàn tâm toàn ý cho các hoạt động nghệ thuật do phải tự“bươn chải”, mưu sinh ….- Đội ngũ cán bộ quản lý văn học, nghệ thuật ở cơ sở vẫn trong tình trạngvừa thiếu và biến động nhiều, chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ. Hiệu lực, hiệu quảcủa công tác quản lý Nhà nước ở một số lĩnh vực chưa cao.- Mức đầu tư ngân sách cho lĩnh vực văn học, nghệ thuật còn thấp, chưa đápứng được yêu cầu nhiệm vụ. Trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật cho thiết chếvăn hóa, nghệ thuật ở cơ sở còn thiếu. Chế độ đãi ngộ, đầu tư còn hạn chế, thiếutính động viên khuyến khích.- Hoạt động văn học, nghệ thuật mặc dù có sự chuyển biến nhưng chưađồng bộ giữa các khâu sáng tác, phổ biến, tiêu thụ, lưu giữ tác phẩm. Số lượng tácphẩm khá lớn nhưng chưa có nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệthuật. tác giả thực sự tiêu biểu ở từng lĩnh vực còn ít. Nhiều tác phẩm văn học,nghệ thuật được Nhà nước đặt hàng, tài trợ chậm tiến độ, chưa đạt được giá trịmong muốn.- Công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật còn hạn chế, việchuy động các nguồn lực phục vụ hoạt động văn hóa, nghệ thuật của nhiều địaphương, đặc biệt là các tỉnh miền núi, biên giới còn nhiều khó khăn. Chưa cónhiều sản phẩm văn hóa, nghệ thuật đến được các vùng sâu, vùng xa, miền núi,hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Sự chênh lệch về mức hưởng thụ vănhóa, nghệ thuật giữa vùng đô thị với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộccòn nhiều cách biệt.- Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ còn nhiều bất cập, hiệuquả chưa cao. Trong một số lĩnh vực đào tạo văn học, nghệ thuật, mô hình đàotạo còn lạc hậu, giáo trình chưa đầy đủ và đồng bộ, lực lượng giảng viên thiếu,
  • 14. 11không chuyên nghiệp do thỉnh giảng nhiều…Chưa có những biện pháp hữu hiệuphát hiện và bồi dưỡng nhân tài. Các ngành nghề đào tạo có mở rộng, bổ sungnhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Một số ngành đào tạo nghệ thuậtnhư: múa, xiếc, sân khấu truyền thống… gặp khó khăn trong công tác tuyển sinhdo thiếu đầu vào.- Số tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị của Việt Nam được giới thiệu ranước ngoài còn hạn chế. Mặc dù có sự chuẩn bị về nội dung, nghệ thuật và đã đạtđược những thành quả nhất định trong công tác quảng bá, giới thiệu hình ảnh ViệtNam trên trường quốc tế nhưng so với yêu cầu thực tiễn, các hoạt động văn hóa,nghệ thuật của Việt Nam ở nước ngoài chưa được triển khai có hệ thống vàthường phân tán, thiếu tính liên kết để tạo hiệu quả tổng thể. Chưa có kế hoạchphối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành địa phương và các tổ chức đối ngoại nhândân.3. Nguyên nhân của những khó khăn tồn tại:3.1. Nguyên nhân chủ quan:- Năng lực xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy của một số cơ quan,đơn vị chức năng còn hạn chế do hạn chế về chỉ tiêu biên chế cán bộ cũng nhưnăng lực cán bộ.- Việc thực thi các văn bản pháp quy còn nhiều bất cập chủ yếu do nhận thứcvà ý thức chấp hành pháp luật của một số cơ quan, đơn vị, cá nhân chưa đầy đủ.- Công tác quản lý hoạt động văn học, nghệ thuật ở nhiều cơ quan, đơn vịchưa hiệu quả. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, giữa các cơ quan quản lýnhà nước với các Hội Văn học, nghệ thuật chưa thực sự chặt chẽ và thườngxuyên.- Ý nghĩa, vị trí, vai trò của các hoạt động văn học, nghệ thuật trong xâydựng và phát triển kinh tế- xã hội có lúc, có nơi vẫn chưa được các cấp ủy Đảng,chính quyền và nhân dân nhận thức đúng đắn nên chưa quan tâm chỉ đạo, lãnhđạo đầu tư thỏa đáng.- Công tác đào tạo còn chưa hiệu quả do phương pháp giảng dạy và học tậpcòn chậm đổi mới, không đồng bộ và thiếu cập nhật.- Công tác quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật của Việt Nam ra nướcngoài còn hạn chế do việc xây dựng kế hoạch, chương trình tổng thể để quảng bácác tác phẩm văn học, nghệ thuật còn thiếu chủ động, thiếu định hướng lâu dài.Nguồn nhân lực thiếu hụt, năng lực hạn chế nên chất lượng tiết mục và tác phẩmtrong các chương trình văn hóa, nghệ thuật chưa đạt hiệu quả như mong muốn.3.2. Nguyên nhân khách quan:- Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, luôn biến động, chưachịu tác động mạnh của xu hướng kinh tế thị trường và tiến bộ khoa học côngnghệ nên nhiều văn bản pháp quy mới ban hành trong thời gian ngắn đã khôngcòn phù hợp (ví dụ Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
  • 15. 12quyền tác giả và các quyền liên quan), đòi hỏi công tác xây dựng các văn bảnpháp quy phải liên tục cập nhật, điều chỉnh.- Ngân sách Nhà nước và đầu tư xã hội cho các hoạt động văn học, nghệthuật còn thấp. Đặc biệt, trong giai đoạn 2009 đến nay, nền kinh tế Việt Nam chịuảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới nên ngân sách chi tiêu công cho lĩnh vựcvăn học, nghệ thuật được ngân sách hỗ trợ còn thấp so với nhu cầu.- Công tác đào tạo trong các ngành nghệ thuật thiếu đầu vào khi tuyển sinhdo các ngành học này vất vả, đòi hỏi năng khiếu thực sự, nhưng công tác đầu rakhông đảm bảo, tuổi nghề hoạt động nghệ thuật không dài, thu nhập từ văn học,nghệ thuật còn thấp, chưa đảm bảo đời sống. Chất lượng đào tạo, đặc biệt là cácngành mỹ thuật, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, múa, xiếc còn bất cập do ngân sáchchi cho đào tạo nghệ thuật hạn hẹp, khả năng tự chủ của nhà trường bị hạn chếtrong khi các ngành nghệ thuật đòi hỏi chi phí đào tạo lớn.Phần thứ haiPHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN NGHỊQUYẾT SỐ 23-NQ/TW TRONG THỜI GIAN TỚI NĂM 2015I . Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp:1. Phương hướng, nhiệm vụ:- Đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêmtúc, hiệu quả Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIIIvà các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, văn học,nghệ thuật.- Tiếp tục kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cơ quanquản lý Nhà nước về văn học, nghệ thuật.- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tạo hành langpháp lý cho văn học, nghệ thuật phát triển. Tăng cường phổ biến pháp luật, hướngdẫn, khuyến khích quần chúng tham gia sáng tạo, bảo tồn, truyền dạy và phát huycác giá trị văn học, nghệ thuật truyền thống của dân tộc.- Đầu tư cho công tác sáng tác, sưu tầm, gìn giữ, quảng bá trong và ngoàinước những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị.- Tăng cường xây dựng, nâng cấp đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất cho cácthiết chế văn hóa, đặc biệt là cấp cơ sở.- Tạo điều kiện cho hoạt động văn hóa, nghệ thuật phát huy tiềm năng vàtrách nhiệm công dân của người nghệ sĩ nhằm tạo ra những tác phẩm có giá trịcao về tư tưởng và nghệ thuật ngang tầm quốc gia, dân tộc và thời đại.- Tập trung phát triển đào tạo, bồi dưỡng tài năng văn học nghệ thuật.- Mở rộng hoạt động giao lưu hợp tác quốc tế, quảng bá giới thiệu văn hóa,nghệ thuật Việt Nam thông qua hoạt động xúc tiến văn hóa, du lịch; thu hút cácnguồn lực từ bên ngoài hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển văn học, nghê thuật.
  • 16. 132. Giải pháp:- Tiếp tục đẩy mạnh công tác lãnh đạo, thực hiện tốt chỉ đạo của Đảng vàNhà nước đối với văn học, nghệ thuật; tiếp tục phổ biến sâu rộng tinh thần Nghịquyết 23 đến đông đảo quần chúng nhân dân. Tăng cường bồi dưỡng nâng caonhận thức về vai trò, vị trí, đặc trưng của văn học, nghệ thuật trong đời sống xãhội cho cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thốngchính trị, cán bộ trực tiếp chỉ đạo, quản lý lĩnh vực văn học, nghệ thuật.- Đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện 05 đề án triển khai Nghị quyết 23 do Bộchủ trì xây dựng đã được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ban hành.Sau khi các đề án này được phê duyệt, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phâncông nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện (chi tiết tiến độtriển khai thực hiện các đề án tại Phụ lục 4 đính kèm).Trong năm 2013, hoàn thiện trình cấp có thẩm quyền phê duyệt ban hành30 văn bản, đề án theo chức năng quản lý Nhà nước về văn học, nghệ thuật và 05đề án triển khai Nghị quyết 40/NQ-CP (chi tiết tại Phụ lục 3 đính kèm)- Tiếp tục nghiên cứu xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích văn nghệsĩ sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao. Xây dựng cơ chếchính sách, chế tài ổn định, đáp ứng yêu cầu xã hội hóa các hoạt động văn hóa,nghệ thuật nhằm động viên, huy động có hiệu quả sức người, sức của của cáctầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế- xã hội tham gia xây dựng và phát triểnvăn học, nghệ thuật. Làm tốt công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triểnvăn học, nghệ thuật từ địa phương đến trung ương.- Kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, tăngcường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho các hoạt động văn học nghệ thuật. Cóchính sách bồi dưỡng, thu hút nhân tài, chăm lo đãi ngộ đội ngũ văn nghệ sĩ, tạođiều kiện cho văn nghệ sĩ phát huy tài năng, gắn bó và cống hiến lâu dài. Thựchiện cơ chế đặt hàng sáng tác, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giátrị cao.- Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và với các HộiVăn học nghệ thuật trong công tác quản lý, sáng tác và phổ biến các tác phẩm vănhọc nghệ thuật. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ ở các cơ quanquản lý Nhà nước, các Hội Văn học, nghệ thuật để đáp ứng nhu cầu, hiệu quảcông tác quản lý trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Tiếp tục kiện toàn tổ chức,nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hội Văn học nghệ thuật trung ương và địaphương.- Tăng mức đầu tư từ ngân sách trung ương và địa phương cho văn học,nghệ thuật phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đất nước, tiếp tục bảođảm kinh phí cho các chương trình mục tiêu phát triển văn hóa, tài trợ đặt hàngcác tác phẩm văn học, nghệ thuật.- Tập trung hoàn thiện, đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng tài năngvăn học, nghệ thuật. Xây dựng hệ thống giáo trình, giáo án toàn diện, nâng caotrình độ và hoàn thiện đội ngũ giảng viên tại các trường đào tạo văn học, nghệthuật.
  • 17. 14- Quan tâm nghiên cứu khoa học về hoạt động văn học nghệ thuật; kịp thờiphát hiện, phát triển các loại hình văn học nghệ thuật dân gian nhằm bảo tồn giátrị văn hóa truyền thống của dân tộc- Thực hiện có hiệu quả các hoạt động triển lãm, giao lưu văn hóa nhằmgiới thiệu những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cho bạn bè trong nước vàquốc tế.- Tổ chức có hiệu quả các hoạt động văn học nghệ thuật. Đẩy mạnh các hoạtđộng sáng tác, phổ biến tác phẩm, lý luận phê bình, phấn đấu sáng tác những tácphẩm có giá trị cao về quê hương đất nước và con người, truyền thống lịch sửcách mạng của dân tộc, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tăngcường sự liên kết giữa Hội Văn học nghệ thuật với các Trung tâm văn hóa, Nhàvăn hóa và các thiết chế văn hóa khác trong việc phổ biến tác phẩm, đưa văn họcnghệ thuật phát triển toàn diện cả bề rộng lẫn bề sâu, góp phần định hướng tưtưởng, giáo dục thẩm mỹ, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.- Tiếp tục cải tiến, nâng cao chất lượng các chuyên mục, chuyên đề về vănhọc nghệ thuật trên các Đài Phát thanh truyền hình và báo chí; củng cố và mởrộng mạng lưới phát hành tạp chí sáng tác nghiên cứu phê bình văn học nghệthuật.II. Đề xuất, kiến nghị:Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chínhphủ quan tâm chỉ đạo, giải quyết một số vấn đề sau:1. Về chính sách:- Chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan phối hợp sớm tháo gỡ khó khăn vướngmắc về chính sách đối với văn nghệ sĩ như: chính sách đối với nghệ sĩ, diễn viên,vận động viên, huấn luyện viên đã hết tuổi nghề nhưng chưa đến tuổi nghỉhưu….Cần quan tâm đến chế độ tiền lương, chế độ nghỉ hưu phù hợp đối với độingũ văn nghệ sĩ (đặc biệt là loại hình nghệ thuật truyền thống).- Cho phép Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với các Bộngành chức năng xây dựng đề án cải cách toàn diện chế độ chính sách đối với vănnghệ sĩ trình Thủ tướng phê duyệt theo cơ chế đặc thù (Chế độ nghỉ hưu sớm đốivới nghệ sĩ trong độ tuổi làm việc nhưng không còn khả năng biểu diễn nghệthuật; Chế độ lương; Chế độ bồi dưỡng luyện tập, biểu diễn; Phụ cấp ưu đãi nghề;Chế độ khuyến khích các nghệ sĩ, học sinh, sinh viên theo học các loại hình nghệthuật truyền thống).- Kiến nghị chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan (Nội vụ, Tài chính, Công an,Giáo dục đào tạo...) quan tâm, phối hợp trong việc xây dựng các chính sách bảovệ và phát triển văn học nghệ thuật, nhất là nghệ thuật truyền thống.- Chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch sửa đổi, bổ sung Nghị định số 61/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2002của Chính phủ về chế độ nhuận bút và điều chỉnh quy định về mức chi bồi dưỡng
  • 18. 15tập luyện, biểu diễn nghệ thuật tại Quyết định số 180/2006/QĐ- TTg ngày 09tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ cho phù hợp với thực tế.- Bố trí hợp lý thời gian và tiến độ xây dựng các đề án, các văn bản pháp quytrong các Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ khi phân công nhiệm vụ cho các Bộ,ngành và các cơ quan liên quan để đảm bảo tính khả thi.2. Về nguồn nhân lực:- Kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan:+ Cho phép Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ động trong công tác đàotạo, tuyển chọn, tuyển dụng nhân tài cho lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn kể cả đàotạo ở nước ngoài.+ Cho cơ chế đặc thù để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm thí điểm xétnâng ngạch cho các nghệ sĩ thuộc 12 Nhà hát trực thuộc Bộ, các cơ sở để xâydựng chính sách chung cho các nghệ sĩ trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật của cảnước.+ Tạo điều kiện nhiều hơn cho đội ngũ văn nghệ sĩ đi giao lưu, thực tế, thamgia các trại sáng tác trong nước và quốc tế.- Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, cho phép các trường năngkhiếu nghệ thuật được tổ chức tuyển sinh không cùng đợt với các trường đại học,cao đẳng khác trong toàn quốc để bảo đảm nguồn tuyển sinh cho các trường.- Kiến nghị Bộ Giáo dục đào tạo và các cơ quan liên quan quan tâm đếncông tác định hướng, giáo dục nâng cao ý thức công dân, nhất là học sinh, sinhviên về tinh thần trách nhiệm với Tổ Quốc trong việc bảo vệ và phát triển văn họcnghệ thuật; phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng các chínhsách động viên, khuyến khích cho nghệ sĩ, diễn viên và học sinh, sinh viênchuyên ngành văn họá nghệ thuật, đặc biệt là các bộ môn nghệ thuật truyềnthống.3. Về thiết chế, cơ sở vật chất, kinh phí:Kiến nghị Ban Bí Thư, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ:- Quan tâm tăng mạnh mức đầu tư phát triển hàng năm cho sự nghiệp vănhóa nghệ thuật để thực hiện các Nghị định của Chính phủ, các đề án được Thủtướng Chính phủ phê duyệt để các văn bản này đi vào cuộc sống.- Bố trí kinh phí để ứng dụng hiệu quả khoa học, công nghệ, phương tiệnhiện đại, trang thiết bị, máy móc theo công nghệ mới trong lĩnh vực văn họá nghệthuật.- Bố trí kinh phí đầu tư phát triển để xây dựng thiết chế văn hóa hiện đại,đồng bộ có trọng điểm hệ thống thiết chế văn hóa nghệ thuật như hệ thống Nhàhát, Rạp chiếu phim để phổ biến tác phẩm văn học nghệ thuật phục vụ nhân dân,
  • 19. 16đồng thời tạo thị trường khuyến khích các đơn vị nghệ thuật, các hãng phim sảnxuất các tác phẩm nghệ thuật;- Bố trí kinh phí đầu tư xây dựng các chương trình nghệ thuật, các bộ phim,các công trình mỹ thuật chất lượng cao;- Bố trí tăng ngân sách cho các đơn vị quản lý và biểu diễn nghệ thuật ởTrung ương và địa phương.- Tăng mức đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về nghệ thuật biểu diễn,Cho phép khôi phục lại Chương trình mục tiêu quốc gia về Điện ảnh giai đoạn2015-2020;- Miễn giảm tiền thuê đất, hạ mức thuế suất hoạt động sản xuất phim, biểudiễn nghệ thuật và dịch vụ liên quan;- Hỗ trợ, tạo điều kiện cho công tác quảng bá điện ảnh, phát hành phim trongnước và nước ngoài.- Để từng bước thực hiện Đề án "Quy hoạch và Kế hoạch nâng cấp, xây mớicác công trình văn hóa (nhà hát, rạp chiếu phim, nhà triển lãm văn học nghệthuật) giai đoạn 2012-2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyếtđịnh số 88/QĐ-TTg ngày 09/01/2013, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ bố trí trongnăm 2013 khoản kinh phí 500 tỷ đồng để triển khai các công việc cấp bách nhưsau:+ Triển khai công tác chuẩn bị đầu tư: Lập dự án đầu tư nâng cấp, xây mớimột số công trình văn hóa ưu tiên của giai đoạn 1 theo kế hoạch phân kỳ của Đềán.+ Đầu tư nâng cấp cho các công trình văn hóa từ quý III năm 2013 khi đã cóđiều kiện đầy đủ thủ tục theo quy định hiện hành (dự án được phê duyệt, thiết kếvà tổng dự án..).4. Về thực thi pháp luật- Kiến nghị Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan liên quan đẩymạnh tuyên truyền Nghị quyết 23 trong hệ thống chính trị, lực lượng văn nghệ sĩvà nhân dân;- Kiến nghị Bộ Công an và cơ quan chức năng liên quan xử lý triệt để,nghiêm minh tình trạng vi phạm bản quyền tác giả (băng đĩa lậu, tranh chép...),bảo vệ quyền lợi hợp pháp đang bị xâm hại trong lĩnh vực nghệ thuật, triển khaithực hiện tốt các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả. Có như vậy,các nghệ sĩ và đơn vị nghệ thuật mới yên tâm sáng tạo và cống hiến trong một thịtrường cạnh tranh bình đẳng;- Kiến nghị Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉđạo các cơ quan báo chí đẩy mạnh tuyên truyền, định hướng trong việc bảo tồn,giới thiệu quảng bá và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đối với văn học, nghệthuật, đặc biệt là các loại hình nghệ thuật truyền thống./.
  • 20. 17BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập- Tự do- Hạnh phúcPHỤ LỤC 1Kết quả xây dựng 05 đề án của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khaiNghị quyết 23 của Bộ Chính trị theo sự phân công của Ban Tuyên giáoTrung ương(kèm theo Báo cáo số /BC-BVHTTDL ngày tháng năm 2013 của BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch)Tên đề án Kết quả thực hiện1. Đề án“Xây dựng và rà soát các chế độ chính sách đối với hoạtđộng văn học nghệ thuật và văn nghệ sỹ; chế độ tài trợ,đặt hàng đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật; chínhsách khuyến khích sáng tác trong các hoạt động văn họcnghệ thuật”Đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệttại Quyết định số316/QĐ-TTg ngày 01tháng 3 năm 20112. Đề án“Xây dựng chính sách thẩm định, quảng bá, thuế ưuđãi... đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật trongnước; văn hoá phẩm của Việt Nam đưa ra nước ngoài vàgiới thiệu tinh hoa văn học, nghệ thuật của thế giới vàoViệt Nam; chính sách sưu tầm, chỉnh lý, bảo tồn, pháthuy, quảng bá di sản văn học, nghệ thuật dân tộc và pháttriển văn học, nghệ thuật quần chúng”Đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệttại Quyết định số645/QĐ-TTg ngày 29tháng 4 năm 20113. Đề án“Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của các trườngvăn hoá, nghệ thuật giai đoạn 2011-2020”Đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệttại Quyết định số1243/QĐ-TTg ngày25 tháng 7 năm 20114. Đề án“Trên cơ sở quy hoạch và rà soát, đánh giá lại các côngtrình hiện có, xây dựng kế hoạch nâng cấp, xây mới cáccông trình văn hoá (nhà hát, rạp chiếu phim, nhà triểnlãm) từ năm 2010-2020”Đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệttại Quyết định số88/QĐ-TTg ngày 09tháng 01 năm 20135. Đề án“Xây dựng Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Sở hữutrí tuệ đối với hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật”Thay thế bằng Đề án “Xây dựng Nghị định hướng dẫnthi hành Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sởhữu trí tuệ”Đã được Chính phủphê duyệt, ban hànhNghị định số85/2011/NĐ-CP ngày20 tháng 9 năm 2011
  • 21. 18BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập- Tự do- Hạnh phúcPHỤ LỤC 2Các văn bản pháp quy đã ban hành về quản lý Nhà nước về vănhọc, nghệ thuật (giai đoạn 2009-2012)(kèm theo Báo cáo số /BC-BVHTTDL ngày tháng năm 2013 của BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch)Quốc hội:1. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ (năm 2009)2. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa (năm 2009)3. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh (năm 2009)Chính phủ:1. Nghị định số 47/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ vềxử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan;2. Nghị định số 54/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện ảnh số 62/QH11 và Luật sửađổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh số 31/2009/QH12;3. Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa;4. Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổsung một số điều của Luật di sản văn hóa;5. Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Chính phủsửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định về quản lý nhà nước và bảo vệquyền sở hữu trí tuệ;6. Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ sửađổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềucủa Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan;7. Nghị định số 109/2011/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2011 sửa đổi bổ sungmột số điều của Nghị định số 47/2008/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2009 củaChính phủ về xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan;8. Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quyđịnh về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và ngườimẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu.
  • 22. 19Thủ tướng Chính phủ:1. Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức ngành văn hóa, thể thao và dulịch giai đoạn 2011-2020”;2. Quyết định số 369/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2011 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt đề án “Tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trìnhvăn học nghệ thuật của các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trungương và các Hội Văn học nghệ thuật địa phương, tiếp tục hỗ trợ hoạt độngsáng tạo tác phẩm báo chí chất lượng cao ở Trung ương và địa phương giaiđoạn 2011-2015”;3. Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 30 tháng 5 năm 2011 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Đề án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên trình độ cao tronglĩnh vực văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2011-2020;4. Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt Đề án “Khuyến khích sáng tác và công bố các tác phẩmvăn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh cuộckháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, cứu nước giải phóngdân tộc, thống nhất đất nước giai đoạn 1930-1975”;5. Quyết định số 649/QĐ-TTg, ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Đề án “Tăng cường năng lực quản lý, thực thi có hiệu quả phápluật bảo hộ quyền tác giả quyền liên quan đối với các tổ chức đại diện tập thểquyền tác giả quyền liên quan tại Việt Nam đến năm 2015”;6. Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chínhphủ về tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:1. Thông tư số 02/2011/TTLT/BVHTTDL-BTC ngày 07 tháng 3 năm 2011 củaBộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý, sử dụngkinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho hoạt động sáng tạo tác phẩm, côngtrình văn học nghệ thuật ở Trung ương và các Hội Văn học nghệ thuật địaphương giai đoạn 2011 – 2015;2. Thông tư số 15/2012/TT-BVHTTDL ngày 13 tháng 12 năm 2012 của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn hoạt động giám định về quyền tác giả,quyền liên quan;3. Thông tư số 09/2010/TT-BVHTTDL ngày 24 tháng 08 năm 2010 của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết thi hành một số điều tại Nghị địnhsố 75/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định xửphạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa;4. Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30 tháng 6 năm 2010 của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và
  • 23. 20lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản vănhóa phi vật thể quốc gia;5. Thông tư số 18/2010/TT-BVHTTDL ngày 31 tháng 12 năm 2010 của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch quy định về tổ chức và hoạt động của bảo tàng;6. Thông tư số 08/2010/TT-BVHTTDL ngày 18/8/2010 của Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định phimcủa Đài Truyền hình, Đài Phát thanh- Truyền hình;7. Thông tư số 17/2012/TT-BVHTTDL ngày 27 tháng 12 năm 2012 của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch quy định triển lãm, thi, liên hoan và sử dụng tácphẩm nhiếp ảnh;8. Quyết định số 3248/QĐ-BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch phê duyệt đề án “Quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo vănhóa nghệ thuật giai đoạn 2011-2020”.Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các Bộ, ngành liên quan:1. Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTTDL-BKHCN-BTP ngày 03 tháng 9 năm 2008 hướng dẫn áp dụng một số quy địnhcủa pháp luật trong việc giải quyết các vụ tranh chấp về sở hữu trí tuệ tại Tòaán nhân dân;2. Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL ngày 19 tháng 6năm 2012 của Bộ Thông tin truyền thông và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchquy định trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trongviệc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng Internet vàmạng viễn thông;3. Hướng dẫn số 73/BGDĐT-BVHTTDL ngày 16 tháng 1 năm 2013 của BộGiáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc sử dụng disản văn hóa trong dạy học ở các trường phổ thông và trung tâm giáo dụcthường xuyên.
  • 24. 21BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập- Tự do- Hạnh phúcPHỤ LỤC 3Các dự án, đề án do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì xây dựng dựkiến trình các cấp có thẩm quyền ban hànhtrong năm 2013(kèm theo Báo cáo số /BC-BVHTTDL ngày tháng năm 2013 của BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch)STT Tên văn bản Tiến độ hoànthànhI Các dự án, đề án do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchchủ trì xây dựng theo chức năng quản lý Nhà nước:1. Luật Thư viện Quý IV/20132. Nghị định của Chính phủ về quản lý hoạt động mỹ thuật Quý II/20133. Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hànhchính quyền tác giả, quyền liên quanQuý II/20134. Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, thể thao và dulịchQuý II/20135. Nghị định của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, quy trình,thủ tục, hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu “Nghệ sĩ Nhândân”, “Nghệ sĩ Ưu tú”Quý II/20136. Nghị định của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, quy trình,thủ tục, hồ sơ đề nghị xét tặng “Giải thưởng Hồ ChíMinh” và “Giải thưởng Nhà nước” về văn học nghệ thuậtQuý II/20137. Nghị định của Chính phủ quy định tiêu chuẩn, quy trình,thủ tục, hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu “Nghệ nhânNhân dân”, “Nghệ nhân Ưu tú”Quý II/20138. Nghị định của Chính phủ quy định cơ chế hoạt động và cơchế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổchức bộ máy, số người làm việc và tài chính đối với đơnvị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa, thể thao vàdu lịchQuý III/20139. Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số61/2002/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ nhuận bút chotác phẩm văn học, nghệ thuậtQuý IV/2013
  • 25. 2210. Chiến lược phát triển văn hóa đối ngoại đến năm 2020,tầm nhìn đến năm 2030Quý III/201311. Chiến lược phát triển điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìnđến năm 2030Quý III/201312. Quy hoạch phát triển điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìnđến năm 2030Quý III/201313. Quy hoạch phát triển ngành mỹ thuật đến năm 2020 vàtầm nhìn đến năm 2030Quý IV/201314. Quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa- thể dụcthể thao cơ sở và cơ sở văn hóa vui chơi, giải trí cho trẻem giai đoạn 2012-2020Quý I/201315. Quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo văn hóa, thể thaovà du lịch giai đoạn 2011-2020Quý II/201316. Quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa, thể thao và du lịchvùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020, tầm nhìnđến năm 2030Quý IV/201317. Quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa, thể thao và du lịchvùng Kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2020, tầmnhìn đến năm 2030Quý IV/201318. Quy hoạch ngành nghệ thuật biểu diễn đến năm 2020,định hướng đến năm 2030Quý IV/201319. Thông tư liên tịch hướng dẫn việc đấu thầu, đặt hàng sảnxuất phim có sử dụng ngân sách Nhà nướcQuý II/201320. Thông tư liên tịch hướng dẫn đấu thầu, đặt hàng, giaonhiệm vụ cung cấp hoạt động biểu diễn nghệ thuật sửdụng ngân sách nhà nướcQuý II/201321. Thông tư hướng dẫn quản lý việc chiếu phim 4D, 5D Quý II/201322. Thông tư trả công người làm mẫu vẽ đối với lĩnh vực Mỹthuật201323. Thông tư liên tịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vàBộ Tài chính) hướng dẫn chế độ quản lý đặc thù đối vớiĐội chiếu bóng lưu động cấp tỉnh, thành phố201324. Đề án Xây dựng Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nướcngoài giai đoạn 2013-2020Quý I/201325. Đề án về Chính sách quảng bá các tác phẩm văn học, nghệthuậtQuý III/201326. Đề án về Chính sách thuế ưu đãi các tác phẩm văn học,nghệ thuậtQuý III/2013
  • 26. 2327. Đề án tăng cường mức đầu tư cho kịch bản văn học, nghệthuậtQuý III/201328. Đề án điều chỉnh mức hỗ trợ tiền ăn của văn nghệ sĩ dựTrại sáng tác tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật2013II. Các đề án triển khai thực hiện Nghị quyết số 40/NQ-CP của Chính phủ:1. Đề án “Đổi mới cơ chế tính giá dịch vụ trong lĩnh vực vănhóa, thể thao”Quý II/20132. Đề án “Xây dựng quy hoạch mạng lưới sân vận động, rạpchiếu phim, các thiết chế văn hóa, khu văn hóa vui chơigiải trí phục vụ cộng đồng giai đoạn 2011-2020Quý II/20133. Đề án “Xây dựng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cungcấp đối với các sản phẩm, dịch vụ văn hóa do Nhà nướcyêu cầu”Quý III/20134. Đề án “Xây dựng cơ chế hoạt động và cơ chế tự chủ, tựchịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy,số người làm việc và tài chính đối với đơn vị sự nghiêpcông lập trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch”Quý III/20135. Đề án “Ban hành hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật vàtiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng trong lĩnh vực văn hóa, thểthaoQuý III/2013
  • 27. 24BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúcPHỤ LỤC 4Tiến độ xây dựng các đề án nhánh của 05 đề án triển khai thực hiện Nghịquyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị “về việc tiếp tục xây dựng và pháttriển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” của các đơn vị trực thuộc Bộ(kèm theo Báo cáo số /BC-BVHTTDL ngày tháng năm 2013 của BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch)STT Tên công việcĐơn vị chủtrìTiến độthực hiện1Đề án 1: Xây dựng và rà soát các chếđộ chính sách đối với hoạt động vănhọc nghệ thuật và văn nghệ sỹ; chế độtài trợ, đặt hàng đối với các tác phẩmvăn học nghệ thuật; Chính sáchkhuyến khích sáng tác trong các hoạtđộng văn học nghệ thuật”Vụ Kế hoạch,Tài chínhQuyết định số316/QĐ-TTgngày 01/3/20112*Nghị định của Chính phủ về đổi mới cơchế hoạt động và cơ chế tài chính (trongđó có tiền lương) đối với các đơn vị sựnghiệp công lập thuộc ngành văn hóa,thể thao và du lịchVụ Tổ chứccán bộTờ trình số229/TTr-BVHTTDLngày 30/11/20093Nghị định của Chính phủ về hoạt độngnghệ thuật biểu diễnCục Nghệthuật biểudiễnNghị định số79/2012/NĐ-CPngày 15/10/20124Nghị định của Chính phủ về quản lý mỹthuậtCục Mỹ thuật,Nhiếp ảnh vàTriển lãmTờ trình số29/TTr-BVHTTDLngày 27/2/20125Nghị định hướng dẫn thi hành Luật sửađổi, bổ sung một số điều của Luật Sởhữu trí tuệCục Bảnquyền tác giảNghị định số85/NĐ-CP ngày20/9/20116Đề án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảngviên trình độ cao trong lĩnh vực văn hóanghệ thuật giai đoạn 2011-2020Vụ Đào tạo Quyết định số808/QĐ-TTgngày 30/5/20117Đề án Quy hoạch phát triển ngành mỹthuật đến năm 2020 tầm nhìn 2030Cục Mỹ thuật,Nhiếp ảnh vàTriển lãmĐang dự thảo
  • 28. 258Quyết định của Thủ tướng Chính phủ vềquy hoạch tượng đài danh nhân anhhùng dân tộcCục Mỹ thuật,Nhiếp ảnh vàTriển lãmNgày 8/4/2011,Bộ VHTTDL đãbáo cáo BộChính trị9Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiệngiao kế hoạch, đặt hàng đấu thầu sảnxuất phim, mua bản quyền phim bằngngân sách Nhà nướcCục Điện ảnhĐang xin ý kiếncủa các cơ quancó liên quan đểhoàn thiện10Thông tư liên tịch hướng dẫn đấu thầu,đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp hoạtđộng biểu diễn nghệ thuật sử dụng ngânsách nhà nướcCục Nghệthuật biểudiễnĐang dự thảo11*Đề án trình Thủ tướng Chính phủ banhành Quyết định về đào tạo, bồi dưỡngvà phát triển các tài năng trẻ trong lĩnhvực VHNTVụ Đào tạoTờ trình số249/TTr-BVHTTDLngày 6/12/201012*Đề án trình Thủ tướng Chính phủ quyếtđịnh về “Đưa việc giáo dục nghệ thuậttruyền thống vào chương trình giáo dụctiểu học và trung học cơ sở”Vụ Đào tạoTờ trình số272/TTr-BVHTTDLngày 21/12/201013Nghị định về xử phạt vi phạm hànhchính trong hoạt động văn hóaVụ Pháp chếNghị định số75/2010/NĐ-CPngày 12/7/201014Nghị định hướng dẫn thi hành Luật sửa đổibổ sung một số điều của Luật Điện ảnhCục Điện ảnhNghị định54/NĐ-CP ngày21/5/201015Nghị định hướng dẫn thi hành Luật sửađổi, bổ sung một số điều của Luật Disản Văn hóaCuc Di sảnvăn hóaNghị định số98/2010/NĐ-CPngày 21/9/201016Nghị định sửa đổi bổ sung Nghị định số121/2005/NĐ-CP về việc quy định chitiết và hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật Thi đua- Khen thưởng và Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của LuậtThi đua- Khen thưởng (đối với tiềnthưởng cho danh hiệu Nghệ sĩ Nhândân, Nghệ sĩ Ưu tú)Bộ Nội vụchủ trìVụ Thi đuakhen thưởnglàm đầu mốiphối hợpNghị định số42/2010/NĐ-CPngày 15/4/201017Đề án xây dựng cơ chế, giải pháp về nhàở (cho thuê hoặc bán) cho các Nghệ sĩNhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú hiện đang gặpnhiều khó khăn về nhà ởVụ Kế hoach,Tài chínhTờ trình số135/TTr-BVHTTDLngày 29/6/2010
  • 29. 2618Thông tư liên tịch Hướng dẫn thực hiệnđặt hàng xuất bản phẩm sử dụng ngânsách nhà nướcBộ Thông tinvà Truyềnthông chủ trìVụ KHTClàm đầu mốiphối hợpThông tư liêntịch số04/2011/TTLT-BTTTT-BTCngày 10/01/201119Đề án trình Thủ tướng Chính phủ quyếtđịnh về việc đầu tư cho các loại hìnhnghệ thuật truyền thống trong chươngtrình mục tiêu quốc gia về văn hóaVụ Kế hoach,Tài chínhLồng ghép trongCTMTQG vềvăn hóa20Nghị định của Chính phủ về các HộiVăn học, Nghệ thuật.Bộ Nội vụ;Vụ Tổ chứccán bộ làmđầu mối phốihợpNghị định số45/2010/NĐ-CPngày 21/4/2010quy định về tổchức, hoạt độngvà quản lý hội21Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số61/2002/NĐ-CP về chế độ nhuận bútCục Bảnquyền tác giảĐang dự thảo,dự kiến trìnhLãnh đạo Bộquý IV/201322Đề án trình Thủ tướng Chính phủ quyếtđịnh về việc đầu tư kinh phí cho cácbáo, tạp chí, nhà xuất bản của các HộiVHNTLiên hiệp cácHội VHNTViệt NamVụ KHTClàm đầu mốiphối hợpĐang dự thảo,dự kiến trìnhThủ tướngChính phủ trongtháng 6/201323Đề án “Tiếp tục hỗ trợ hoạt động sángtạo tác phẩm, công trình văn học, nghệthuật của các Hội Văn học, nghệ thuậtchuyên ngành Trung ương và các HộiVăn học, nghệ thuật địa phương. Tiếptục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩmbáo chí chất lượng cao ở Trung ương vàđịa phương giai đoạn 2011-2015”Liên Hiệp cácHội VHNTViệt NamVụ KHTClàm đầu mốiphối hợpQuyết định số369/QĐ-TTgngày 14/3/2011của TTCP phêduyệt Đề án24Đề án trình Thủ tướng Chính phủ quyếtđịnh về việc trao giải thưởng hàng nămcho các tác giả trên lĩnh vực VHNTLiên hiệp cácHội VHNTViệt NamVụ KHTClàm đầu mốiphối hợpĐang dự thảo,dự kiến trìnhThủ tướngChính phủ trongtháng 6/2013
  • 30. 2725Đề án 2: Đổi mới và nâng cao chấtlượng đào tạo của các trường văn hoá,nghệ thuật giai đoạn 2011-2020Vụ Đào tạo Quyết định số1243/QĐ-TTgngày 25/7/201126Đề án 3: Xây dựng chính sách thẩmđịnh, quảng bá, thuế ưu đãi... đối vớicác tác phẩm văn học, nghệ thuậttrong nước; văn hoá phẩm của ViệtNam đưa ra nước ngoài và giới thiệutinh hoa văn học, nghệ thuật của thếgiới vào Việt Nam; chính sách sưu tầm,chỉnh lý, bảo tồn, phát huy, quảng bá disản văn học, nghệ thuật dân tộc và pháttriển văn học, nghệ thuật quần chúngVụ Kế hoạch,Tài chínhQuyết định số645/QĐ-TTgngày 29/4/201127*Chính sách về cơ chế thẩm định các tácphẩm văn học, nghệ thuậtVụ Kế hoạch,Tài chínhBộ VHTTDL đãbáo cáo tại Côngvăn số866/BVHTTDL-KHTC ngày24/3/201128Chính sách về quảng bá các tác phẩmvăn học, nghệ thuật:Viện Văn hóaNghệ thuậtVNĐang hoàn thiện29Chính sách về thuế ưu đãi các tác phẩmvăn học, nghệ thuậtViện Văn hóaNghệ thuậtVNĐang hoàn thiện30Thông tư liên tịch quy định về chế độ,danh mục và định mức chi phí cho cáchoạt động văn hóa đối ngoại, đặc biệt làviệc tổ chức Tuần Việt Nam ở nướcngoài, các hoạt động quảng bá văn học,nghệ thuật, đất nước, con người ViệtNam ở nước ngoài:Cục Hợp tácquốc tếThông tư số102/2012/TT-BTC ngày21/6/201231 Đề án Bảo tồn và phát huy nghệ thuậtbiểu diễn truyền thống đến năm 2020Viện Văn hóaNghệ thuậtVNTờ trình số197/TTr-BVHTTDLngày 24/10/201132Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộngđồng giai đoạn 2011-2020Vụ Thư viện Đang dự thảo,dự kiến trìnhLãnh đạo Bộquý IV/201333 Thông tư quy định chế độ thưởng đặc Vụ Thi đua Đề nghị không
  • 31. 28thù cho các tác phẩm văn học nghệ thuậtđỉnh caokhen thưởng ban hành, tránhchồng chéo vớicác văn bảnkhác34Quy hoạch về thời gian, địa bàn, loạihình nghệ thuật Việt Nam đi biểu diễnnước ngoài giai đoạn 2011-2020Cục Hợp tácQuốc tếTờ trình số19/TTr-BVHTTDLngày 9/2/201135Chương trình quốc gia về các loại sáchtrọng yếu phục vụ công cuộc đổi mới vàphát triển đất nước trong giai đoạn mớivà được Chính phủ, Quốc hội bố tríngân sách hàng năm.Vụ Thư việnThực hiện trongChương trìnhMục tiêu quốcgia về văn hóahàng năm36Đề án 4: Trên cơ sở quy hoạch và ràsoát, đánh giá lại các công trình hiệncó, xây dựng kế hoạch nâng cấp, xâymới các công trình văn hoá (nhà hát,rạp chiếu phim, nhà triển lãm) từ năm2010-2020Vụ Kế hoạch,Tài chínhQuyết định số88/QĐ-TTgngày 09/01/201337Đề án 5: Xây dựng Thông tư hướngdẫn thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ đốivới hoạt động văn hoá, văn học, nghệthuậtCục Bảnquyền tác giảNghị định số85/2011/NĐ-CPngày 20/9/2011* Ghi chú:1. Văn bản số 2: Nghị định của Chính phủ về đổi mới cơ chế hoạt độngvà cơ chế tài chính (trong đó có tiền lương) đối với các đơn vị sự nghiệpcông lập thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch: Văn phòng Chính phủ đãcó Công văn số 1344/VPCP-KGVX ngày 03 tháng 3 năm 2010 nêu rõ ýkiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng: “Bộ Văn hóa, Thể thaovà Du lịch chủ trì cùng Bộ Tài chính, căn cứ Đề án “Đổi mới cơ chế hoạtđộng của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loạihình dịch vụ sự nghiệp công” sau khi được Chính phủ phê duyệt, để nghiêncứu hoàn chỉnh Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đốivới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch”,bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, trình phê duyệt theo quy định”.2. Văn bản số 11: Đề án trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyếtđịnh về đào tạo, bồi dưỡng và phát triển các tài năng trẻ trong lĩnh vựcVHNT: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức Hội thi tài năng trẻ họcsinh, sinh viên các trường văn hóa, thể thao và du lịch lần thứ nhất năm2012 tại Đà Nẵng. Thông qua hội thi này đã tuyển chọn các tài năng trẻ đểđưa đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài trong thời gian tới. Hiện nay, Bộ
  • 32. 29Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang thành lập Ban chỉ đạo, Tổ biên tập xâydựng các dự án, quy chế tuyển chọn cán bộ, giảng viên, giáo viên, học sinh,sinh viên văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch đi đào tạo, bồidưỡng ở nước ngoài năm 2013; thành lập hội đồng tuyển chọn cán bộ, giảngviên, giáo viên, học sinh, sinh viên đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài.3. Văn bản số 12: Đề án trình Thủ tướng Chính phủ quyết định về “Đưaviệc giáo dục nghệ thuật truyền thống vào chương trình giáo dục tiểu học vàtrung học cơ sở”: Trên cơ sở Đề án này, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo BộGiáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xâydựng và ban hành Hướng dẫn số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL ngày 16 tháng01 năm 2013 về việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổthông, trung tâm giáo dục thường xuyên.4. Văn bản số 27: Chính sách về cơ chế thẩm định các tác phẩm vănhọc, nghệ thuật: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã báo cáo tại Công vănsố 866/BVHTTDL-KHTC ngày 24/3/2011 về việc Đề án trình Thủ tướngChính phủ quyết định về việc thẩm định các tác phẩm VHNT trong cáclĩnh vực: Điện ảnh, Nghệ thuật biểu diễn, Mỹ thuật nhiếp ảnh, Xuất bảnvà văn học. Trong Công văn nêu rõ: “Tiếp thu ý kiến góp ý của các Cơ quanliên quan, đặc biệt là ý kiến của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch thống nhất với quan điểm không nhất thiết phải trình Thủ tướng Chínhphủ quyết định phê duyệt đề án”, vì:- Việc thẩm định các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong các lĩnh vựcđiện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật nhiếp ảnh, xuất bản và văn họcthuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.- Các nội dung mang tính giải pháp của Dự thảo đề án bao gồm việcban hành các văn bản thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch.Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp tục nghiên cứu xây dựng, banhành các văn bản thuộc thẩm quyền của Bộ, hoàn thiện hệ thống cơ chếchính sách về thẩm định các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong các lĩnhvực Điện ảnh, Nghệ thuật biểu diễn, Mỹ thuật nhiếp ảnh, Xuất bản vàVăn học
  • 33. 30ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SAU 5 NĂM THỰC HIỆNNGHỊ QUYẾT 23 - NQ/TWVũ Công HộiPhó Vụ trưởng Vụ Văn hóa, Văn nghệBan Tuyên giáo Trung ương1. Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, văn nghệ dưới sự lãnh đạocủa Đảng cộng sản Việt Nam có 03 dấu mốc quan trọng: Đó là Đề cương văn hóaViệt Nam năm 1943; Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trungương Đảng (khóa VIII) “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ngày 16/7/1998 và Nghị quyết 23 - NQ/ TW ngày16/6/2008 của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệthuật trong thời kỳ mới”.Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị đã tập trung đánh giá tình hình văn học,nghệ thuật trong thời gian qua và đề ra mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, chủ trươngvà giải pháp tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳmới. Về mục tiêu, nghị quyết nhấn mạnh: tập trung mọi nguồn lực xây dựng nềnvăn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nhâncách con người Việt Nam…; xây dựng, phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ Việt Nammột cách toàn diện cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu loại hình, có các thế hệnối tiếp nhau vững chắc, có tình yêu Tổ quốc nồng nàn, gắn bó sâu sắc với nhândân, với sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo, có năng lực sáng tạo phong phú, đadạng, đoàn kết, gắn bó cùng phát triển trong cộng đồng các dân tộc anh em trênđất nước ta. Quan điểm chỉ đạo các hoạt động văn học nghệ thuật trong Nghịquyết đã nhấn mạnh:Văn học nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa;là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người…Tài năng văn học, nghệ thuật là vốn quý của dân tộc. Chăm lo phát hiện,bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật là trách nhiệmcủa toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và của cả các tổ chức trong hệthống chính trị các cấp.Các chủ trương và giải pháp thực hiện mà Nghị quyết đề ra bao gồm nhiềulĩnh vực: sáng tác, lý luận, phê bình, sản xuất các tác phẩm văn học nghệ thuật(VHNT); đào tạo bồi dưỡng đội ngũ hoạt động VHNT và công tác lãnh đạo, điềuhành quản lý, đầu tư, tài trợ các hoạt động VHNT…2. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị ra đời được những người hoạt động trênlĩnh vực VHNT nói riêng, cả xã hội nói chung rất quan tâm. Vì trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, bêncạch những thành tựu đã đạt được, hoạt động văn học nghệ thuật còn bộc lộ nhiềuyếu kém, khuyết điểm: ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật; hoạtđộng lý luận văn học, nghệ thuật còn lạc hậu về nhiều mặt chưa xứng đáng vớivai trò, vị trí của nó; một số tác phẩm văn học, nghệ thuật tầm thường, chất lượng
  • 34. 31kém được phát hành, truyền bá gây tác hại, ảnh hưởng xấu tới công chúng, nhất làthế hệ trẻ; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sỹ còn nhiều bất cập, yếukém, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của các cấp ủy đảng, cơ quan nhà nướcbộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, nội dung và phương pháp lãnh đạo chậm đổimới…mà nguyên nhân chính là: Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhànước về quan điểm, chủ trương, chính sách, về đầu tư kinh phí cho lĩnh vực vănhọc, nghệ thuật chưa đúng tầm và đúng mức. Chủ trương tăng trưởng kinh tế phảiđi đôi với phát triển văn hóa, văn nghệ - nền tảng tinh thần của xã hội - chưa đượcquán triệt và thực hiện nghiêm túc. Một số cấp ủy, chính quyền chưa coi trọng vàthiếu hiểu biết đầy đủ về vai trò, tính đặc thù của văn học, nghệ thuật, chậm thểchế hóa quan điểm, đường lối của Đảng. Đầu tư cho văn hóa, văn nghệ chưatương xứng với yêu cầu mới, chưa hợp lý và kém hiệu quả. Những vấn đề màNghị quyết nêu ra được các cấp, các ngành quan tâm, có ảnh hưởng trong đờisống xã hội. Ban Bí thư đã thành lập Ban Chỉ đạo triển khai một số Đề án thựchiện Nghị quyết 23; Chính phủ, các bộ, ban, ngành, đoàn thể đã chủ động triểnkhai với ý thức và tinh thần trách nhiệm cao. Ban Chỉ đạo đã phân công các cơquan, đơn vị thực hiện các đề án cụ thể như sau:Đề án trình Chính phủ (có 07 đề án)a/ Đề án 1: Xây dựng Nghị định về các Hội văn học, nghệ thuật trong thờikỳ mới- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Nội vụ- Cơ quan phối hợp: Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương,Ban cán sự đảng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đảng đoàn Uỷ ban toàn quốcLiên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, Đảng đoàn Hội Nhà văn ViệtNam và các Hội văn học, nghệ thuật Trung ương.b/ Đề án 2: Xây dựng và rà soát các chế độ chính sách đối với hoạt động vănhọc, nghệ thuật và văn nghệ sĩ. Chế độ tài trợ, đặt hàng đối với các tác phẩm vănhọc, nghệ thuật. Chính sách khuyến khích sáng tạo trong các hoạt động văn học,nghệ thuật và thành lập Quỹ sáng tác.- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch- Cơ quan phối hợp: Ban cán sự đảng Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, BộThông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng đoàn Uỷ ban toànquốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam vàcác Hội văn học, nghệ thuật Trung ương.c/ Đề án 3: Xây dựng chính sách thẩm định, quảng bá, thuế ưu đãi… đối vớicác tác phẩm văn học, nghệ thuật trong nước; văn hóa phẩm của Việt Nam đưara nước ngoài và giới thiệu tinh hoa văn học, nghệ thuật của thế giới vào ViệtNam; chính sách bảo tồn, quảng bá, phát huy di sản văn học, nghệ thuật dân tộc,nghiên cứu, sưu tầm, chỉnh lý vốn văn học, nghệ thuật truyền thống, xây dựng vàphát huy văn học, nghệ thuật quần chúng; chính sách xuất bản, quảng bá các tácphẩm văn học, nghệ thuật đến với công chúng qua các ấn phẩm văn hóa, cácphương tiện thông tin đại chúng.
  • 35. 32- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch- Cơ quan phối hợp: Ban cán sự đảng Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, BộThông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng đoàn Uỷ ban toànquốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam vàcác Hội văn học, nghệ thuật Trung ương.d/ Đề án 4: Trên cơ sở quy hoạch và rà soát, đánh giá lại các công trình hiệncó, xây dựng kế hoạch nâng cấp, xây mới các công tình văn hóa (nhà hát, rạpchiếu phim, nhà triển lãm) từ năm 2010-2020.- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch- Cơ quan phối hợp: Ban cán sự đảng Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, BộThông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng đoàn Uỷ ban toànquốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam vàcác Hội văn học, nghệ thuật Trung ương.e/ Đề án 5: Xây dựng Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ đốivới hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật.- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch- Cơ quan phối hợp: các cơ quan hữu quan.g/ Đề án 6: Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường vănhóa, nghệ thuật.- Cơ quan chủ trì: Ban cán sự Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch- Cơ quan phối hợp: Ban cán sự đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Tuyêngiáo Trung ương.h/ Đề án 7: Xây dựng chương trình giáo dục thẩm mỹ cho thanh thiếu niên,đặc biệt là học sinh, sinh viên trong các trường học.Cơ quan chủ trì: Bộ Giáo dục & Đào tạoCơ quan phối hợp: Bộ Văn hoá - Thể thao & Du lịch,Bộ Thông tin &Truyền thông, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Ban Tuyêngiáo Trung ương, các Hội VHNT Việt Nam.Đề án trình Ban Bí thư (có 02 đề án).i/ Đề án 8: Xây dựng chương trình, nội dung đào tạo về văn học, nghệ thuậttrong hệ thống các trường chính trị-hành chính.- Cơ quan chủ trì: Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.- Cơ quan phối hợp: Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Giáodục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.k/ Đề án 9: Tiêu chuẩn, cơ chế lựa chọn, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý lĩnhvực văn hóa, văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới.- Cơ quan chủ trì: Ban Tổ chức Trung ương.
  • 36. 33- Cơ quan phối hợp: Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Nộivụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội văn học, nghệthuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội văn học, nghệ thuật Trungương.Đến tháng 11/2010 đã có 3 đề án hoàn thành và ra được những chính sách cụthể. Đó là đề án do Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì:Xây dựng chương trình, nội dung đào tạo về văn học, nghệ thuật trong hệ thốngcác trường chính trị- hành chính; Đề án do Ban Tổ chức Trung ương chủ trì đượcBan Bí thư ban hành Quy định số 284-QĐ/TW, ngày 05/02/2010 về tiêu chuẩn, cơchế lựa chọn, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệthật. Đề án do Bộ Nội vụ chủ trì trình Chính phủ ra Nghị định số 45/2010/NĐ-CP. Ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, trong đó cóChương VI: Một số quy định áp dụng đối với các hội có tính chất đặc thù( các hộivăn học nghệ thuật thuộc nhóm này). Đề án của Học viện Chính trị-Hành chínhquốc gia Hồ Chí Minh chính thức được triển khai từ năm 2010, đã tổ chức 24 lớpbồi dưỡng cho học viên các tỉnh, thành (trung bình mỗi lớp có 100 học viên);được đưa vào chương trình đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ của Viện Văn hóa và pháttriển.Các đề án do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thiện trình Chính phủban hành 09 Quyết định, 05 Nghị định; Bộ đã ban hành 01 Quyết định, 05 Thôngtư, phối hợp với Bộ Tài chính ban hành 01 Thông tư và hoàn thành gần 20 vănbản dự kiến trình Thủ tướng ban hành trong thời gian tới liên quan đến các lĩnhvực hoạt động mà Bộ quản lý về mặt Nhà nước. Trong số đó, tại Quyết định369/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề ánTiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật củacác Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và các hội văn học nghệthuật địa phương, tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí chất lượngcao ở trung ương và địa phương giai đoạn 2011-2015; Quyết định 844/QĐ-TTgngày 01 tháng 6 năm 2011 của Thủ tướng về việc phê duyệt Đề án “Khuyến khíchsáng tác và công bố các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởngvà nghệ thuật, phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,cứu nước giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước giai đoạn 1930- 1975”…Cóthể nói, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ động, tích cực trong việc xâydựng, hoàn thiện những văn bản nhằm thực hiện Nghị quyết 23- NQ/TW.Chính phủ đã kịp thời bổ xung 30 tỷ đồng cho hoạt động văn học, nghệ thuậtvà nâng mức giải thưởng các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong năm 2010.Thông qua Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học, nghệ thuật Việt Nam,Chính phủ đã hỗ trợ sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật và báochí giai đoạn 2011-2015 với kinh phí 430 tỷ đồng. Trong điều kiện kinh tế cònnhiều khó khăn, việc Chính phủ hỗ trợ cho văn học, nghệ thuật và báo chí là mộtđiều đáng quý, giúp cho đội ngũ văn nghệ sĩ, các hội văn học nghệ thuật, nhất lànhững tỉnh còn nhiều khó khăn có điều kiện sáng tác, quảng bá tác phẩm. Ngoàira, một số dự án, một số cuộc vận động sáng tác khác do các hội chuyên ngành đềxuất cũng được Chính phủ phê duyệt và cấp kinh phí.
  • 37. 34Một số địa phương đã chỉ đạo Hội văn học nghệ thuật, Sở Văn hóa, Thể thaovà Du lịch cùng với các ban ngành xây dựng đề án phát triển văn học nghệ thuậtđến năm 2015-2020 (Hải Dương, Bến Tre…). Bổ sung về kinh phí cho hộiVHNT tổ chức các trại sáng tác, hỗ trợ in ấn, quảng bá tác phẩm. Đồng thời,nhiều hình thức tôn vinh, khích lệ, động viên văn nghệ sĩ đã được các tỉnh tổ chứcnhư: Hàng năm xét, tặng giải cho những tác phẩm xuất sắc (Phú Thọ, Bắc Ninh,TP Hồ Chí Minh…); tại các cuộc Liên hoan ảnh nghệ thuật, triển lãm mỹ thuật ỏcác khu vực hàng năm, cùng với giải thưởng của Hội Trung ương, nhiều tỉnh đãtặng thêm cho những tác giả là người địa phương. Nhiều doanh nghiệp của cáctỉnh đứng ra tài trợ cho hoạt động sáng tác, quảng bá văn học, nghệ thuật. Có thểnói, Nghị quyết 23 đã và đang đi vào cuộc sống với ý thức, tâm huyết của cáctầng lớp nhân dân trong xã hội.3. Tuy vậy, sau 5 năm thực hiện, Nghị quyết 23-NQ/TW vẫn còn nhiều vấnđề cần được tiếp tục triển khai. Một là, Chính phủ và các ngành hữu quan quantâm phối hợp giải quyết những vướng mắc về thể chế trong việc phát triển vănhọc, nghệ thuật như: chính sách về chế độ làm việc, chế độ tiền lương đối vớinghệ thuật truyền thống( chèo, tuồng, cải lương, ca trù…). Thứ hai là vấn đềnguồn nhân lực cho ngành (đào tạo, tuyển chọn, tuyển dụng, chính sách đãi ngộvới những nghệ sĩ tài năng…). Thứ ba là, tăng cường cơ sở vật chất cho các thiếtchế văn hóa cơ sở, cho phép khôi phục lại Chương trình mục tiêu quốc gia vềĐiện ảnh (giai đoạn 2015-2020), chú trọng đầu tư trang thiết bị cũng như khoahọc, công nghệ trong lĩnh vực điện ảnh. Thứ tư là, các ngành chức năng quan tâmphối hợp với Bộ thực thi nghiêm minh pháp luật, khắc phục tình trạng vi phạmbản quyền, thực thi Luật sở hữu trí tuệ..tạo môi trường sáng tạo lành mạnh. Đồngthời đẩy mạnh tuyên truyền, định hướng trong việc giữ gìn, giới thiệu quảng bávà phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là các loại hình nghệ thuật truyềnthống.4. Thời gian tới, chúng ta cần tiếp tục tuyên truyền sâu rộng về Nghị quyết23- NQ/TW trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là trong cán bộ lãnh đạo cấp ủy,chính quyền từ Trung ương đến địa phương và đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức.Trong điều kiện đất nước còn gặp nhiều khó khăn nhưng Đảng, Chính phủ luônquan tâm đến văn nghệ sĩ bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả.Ngành văn hóa nên tập trung nguồn lực giải quyết những vấn đề bức xúcnhất hiện nay như: nghệ thuật truyền thống, hoạt động điện ảnh và đào tạo nhânlực.Tăng cường phối hợp hoạt động với các bộ, ngành chức năng, với các địaphương trong cả nước để triển khai có hiệu quả những vấn đề liên quan đến quảnlý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Nên có sự gắn bó chặt chẽ hơngiữa các đơn vị thuộc Bộ với các Hội chuyên ngành Trung ương cũng như với Ủyban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học, nghệ thuật Việt Nam.
  • 38. 35BÁO CÁO HỘI NGHỊ5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 23 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ VĂNHỌC NGHỆ THUẬTNhà văn Đỗ Kim CuôngPhó Chủ tịch Thường trựcLiên hiệp các Hội VHNT Việt Nam1. Về tổ chức hoạt động của các Hội Văn học nghệ thuật hiện nayTheo số lượng thống kê chưa đầy đủ, biến động theo từng năm, hiện nay,số lượng văn nghệ sỹ cả nước do các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thành phốquản lí là gần 40.000 người. Trong đó:- Hội viên Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương: 18.000 người.- Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố: xấp xỉ 22.000 người.Cơ chế chỉ đạo, quản lí chung là: Cấp uỷ đảng trực tiếp chỉ đạo các Hội Vănhọc nghệ thuật. Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên. Bộ Nội vụ, SởNội vụ quản lí biên chế.Nhìn chung, tổ chức các Hội Văn học nghệ thuật từ Trung ương đến địaphương đều được các cấp uỷ Đảng quan tâm chỉ đạo, Nhà nước hỗ trợ kinh phí đểhoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước và nhiệm vụ chínhtrị của địa phương.2. Đánh giá tổng quan về tình hình Văn học nghệ thuật hiện nayTrong sáng tạo nghệ thuật, về căn bản, các tác phẩm văn nghệ đi đúnghướng phản ánh hiện thực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN hôm nay, các tácgiả tiếp tục tái hiện hiện thực cách mạng và kháng chiến hào hùng của dân tộc(1945 – 1975), lịch sử kiên cường bất khuất và những truyền thống tốt đẹp củanhân dân ta. Văn nghệ cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mới tiến bộ, tạo dựngnhững tấm gương điển hình của con người thời đại: người lao động sáng tạo(công nhân, nông dân, trí thức), những người làm giàu chân chính cho đất nước(thương nhân, nhà doanh nghiệp, nhà kinh doanh), bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn anninh xã hội (chiến sĩ lực lượng vũ trang, công an nhân dân).Văn nghệ phê phán khá mạnh mẽ cái tiêu cực (tình trạng mất dân chủ, thamnhũng, lộng quyền và lạm quyền, thoái hóa biến chất về lý tưởng, đạo đức, lốisống vị kỉ, không tinh nghĩa, chạy theo đồng tiền và lợi ích vật chất thiển cận...).Văn nghệ sĩ được đảm bảo tự do sáng tạo, được chú trọng bảo vệ bản quyềnvề sáng tác, biểu diễn. Từ năm 2000 nhà nước đảm bảo hỗ trợ cho việc sáng tạovà quảng bá tác phẩm, duy trì hoạt động của tổ chức Hội VHNT với tư cách là tổchức chính trị, xã hội, nghề nghiệp. Nhà nước đã thực hiện thể chế hóa tổ chứccủa Hội trong văn bản Pháp lệnh về Hội nghề nghiệp đặc thù trong đó có HộiVHNT. Song, đội ngũ văn nghệ sỹ đã có sự phân hoá: một bộ phận lớn văn
  • 39. 36nghệ sỹ (những người cao tuổi gắn bó với cách mạng và kháng chiến) là lựclượng nòng cốt trong các Hội Văn học nghệ thuật vẫn giữ quan điểm sáng tác củaĐảng. Còn một bộ phận văn nghệ sỹ trẻ, có tài, có tác phẩm hiện nay hành nghềtự do, không muốn vào Hội. Tác phẩm của họ tự xuất bản, tổ chức biểu diễn, làmphim theo đơn đặt hàng của các Háng tư nhân. Nội dung tác phẩm chủ yếu đề cậptới hiện thực đời sống xã hội đương đại với cách nhìn, cách nghĩ của giới trẻ. Tácphẩm ít có chiều sâu về tư tưởng, giá trị nhân văn nhưng lại được các cơ quantruyền thông quảng bá rộng rãi có tác động không nhỏ đến thị hiếu thẩm mĩ cảucông chúng (nhất là tầng lớp bình dân và giới trẻ).Về nghiên cứu, lý luận, phê bình, đã đẩy lùi khuynh hướng phủ nhận thànhtựu của văn nghệ cách mạng, kháng chiến, kiên trì bảo vệ và phát triển đường lốivăn học nghệ thuật mácxit-leninit và tư tuởng văn nghệ Hồ Chí Minh.Bước đầu quan tâm thu hút lực lượng văn nghệ sĩ Việt Nam yêu nước tiếnbộ đang định cư ở nước ngoài về nước tham gia sáng tác, biểu diễn, phát huynhững giá trị truyền thống văn nghệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam.Thực hiện hợp tác giao lưu văn hóa với nước ngoài qua dịch thuật, xuất bản,lưu diễn, tổ chức trại sáng tác quốc tế ở Việt Nam và dự các liên hoan văn nghệ,các cuộc thi biểu diễn ở nước ngoài.Tuy nhiên mặt trận văn nghệ còn bộc lộ những khuyết nhuợc điểm:- Cá biệt có VNS chưa đề cao trách nhiệm xã hội, công dân, suy giảm lòngtin vào sự nghiệp cách mạng, phát ngôn, viết hồi ký, sách báo bộc lộ sự dao độnghoài nghi về lý tưởng và niềm tin về sự phát triển của đất nước trong vận hội mới.- Vẫn tồn tại dai dẳng khuynh hướng thuơng mại hóa, giải trí tầm thường hóa ởmột số lĩnh vực, chi phối một bộ phận công chúng (âm nhạc, điện ảnh, sân khấu).- Thiếu vắng những tác phẩm giá trị tâm huyết, để đời, của những cá tínhsáng tạo độc đáo, nghệ sĩ lớn bậc thầy. Còn có biểu hiện dễ dãi bằng lòng với tìnhtrạng nghiệp dư, “ăn xổi ở thì”, chiều theo thị hiếu cũ kĩ, hoặc tầm thường, thậmchí lập dị, ngộ nhận dưới danh nghĩa các trào lưu thời thượng như: hậu hiện đại,giải cấu trúc, đại tự sự...3. Về tư tưởng của đội ngũ văn nghệ sỹTrước tình hình diễn biến phức tạp của xã hội hiện nay: thách thức khókhăn về kinh tế, đời sống của đại bộ phận anh chị em văn nghệ sỹ còn vất vả, cơcực (kể cả người đang hưởng lương và người đã về hưu) đồng lương không đủsống, những tác động xấu của xã hội trong nước (tệ tham nhũng, cửa quyền, tệnạn xã hội…) và những thông tin kích động của kẻ xấu trên các trang mạng…,vấn đề biển Đông… Nhưng nhìn chung, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng,chính quyền từ trung ương đến địa phương, đại bộ phận anh chị em văn nghệ sĩvẫn tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới và những quyết sách của Đại hội Đảnglần thứ XI vạch ra. Biểu hiện là: kiên trì, tâm huyết với công việc sáng tạo củangười nghệ sỹ, gắn bó với các giá trị truyền thống yêu nước và cách mạng, khẳngđịnh các giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc. Các cuộc thi sáng tác, các côngtrình nghiên cứu, sưu tầm văn hóa, Văn học nghệ thuật do các Hội tổ chức vẫn
  • 40. 37được anh chị em văn nghệ sỹ tham gia hưởng ứng với sự say mê, tâm huyết. Cóthể khẳng định: Chính tình hình tư tưởng của đội ngũ văn nghệ sỹ hiện nay gópphần quan trọng cho sự ổn định chính trị của xã hội, của đất nước.Có được sự ổn định này là nhờ lòng yêu nước, gắn bó với sự nghiệp cáchmạng của Đảng, của dân tộc ở mỗi người văn nghệ sỹ. Nghị quyết 23 của BộChính trị về xây dựng và phát triển Văn học nghệ thuật trong tình hình mới làmsáng rõ, minh bạch quan điểm của Đảng ta cùng với những cơ chế chính sách vềVăn học nghệ thuật và đời sống văn nghệ sỹ từng bước được cải thiện, tháo gỡ,tạo được niềm tin của người nghệ sỹ với Đảng, gắn bó với vận mệnh của đấtnước.- Việc Chính phủ tiếp tục “Hỗ trợ cho các công trình Văn học nghệ thuật vàbáo chí giai đoạn 2011 - 2015” thực sự là nguồn khích lệ đối với văn nghệ sỹ vàbáo chí cả nước. Tuy kinh phí hỗ trợ còn ít (80 tỷ đồng/năm), mỗi hội Văn họcnghệ thuật tỉnh, thành phố được hỗ trợ trên dưới 500 triệu đồng nhưng đã tháo gỡrất nhiều khó khăn cho các hoạt động văn nghệ của cả nước hiện nay, nhất là đốivới các địa phương còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế (các tỉnh, thành phố mứcthu nhập thấp, các tỉnh miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số).Song tình hình tư tưởng của một số (rất ít) văn nghệ sỹ vẫn còn những biểuhiện sau:- Một số văn nghệ sỹ chưa thật sự tin tưởng vào các Nghị quyết của Đảng,và Chính sách của Nhà nước (như việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 vềcủng cố xây dựng Đảng). Bộ phận này chịu tác động bởi những hiện tượng xấuđang diễn ra trong xã hội như: tham nhũng, tiêu cực trong kinh tế, đất đai, sự lộnghành của một số cán bộ có chức, có quyền không thực hiện đúng 19 điều quyđịnh đối với Đảng viên, tác động của các luồng thông tin xấu (qua báo chí, dưluận xã hội…)- Một số văn nghệ sỹ còn chịu tác động trực tiếp của những kẻ xấu gây chiarẽ, kích động, phủ nhận thành quả của cách mạng và kháng chiến, lợi dụng tìnhhình phức tạp đang diễn ra ở Biển đông, phê phán sự lãnh đạo của Đảng và Nhànước. Số văn nghệ sỹ này không nhiều, nhưng lợi dụng không khí đổi mới, dânchủ công khai, sự lỏng lẻo trong quản lí báo chí, từng lúc, từng nơi tìm cách bộclộ, tạo dư luận chú ý.Đây cũng là vấn đề rất cần được các cơ quan quản lý Văn học nghệ thuậtquan tâm. Kiên trì và kiên quyết đấu tranh không cho kẻ xấu lợi dụng thực hiệnâm mưu “diễn biến hoà bình” trong đội ngũ văn nghệ sỹ.- Năm 2012, ở một số Hội VHNT các tỉnh thành phố đã tiến hành đại hội,củng cố tổ chức bầu ra Ban chấp hành mới. Dấu hiệu đáng mừng là ở một số cácđịa phương trước đây có tình trạng mất đoàn kết, kéo dài nhiệm kỳ của Đại hội đãđược khắc phục. Tuy nhiên qua thực tiễn công tác quản lý ở các Hội, đội ngũ lãnhđạo ở một số Hội cũng còn nhiều bất cập, thiếu cán bộ lãnh đạo văn nghệ chuyêntrách, có uy tín cao về nghề nghiệp và trong hội viên. Cho đến nay ở một vài hộibiên chế hoạt động còn ít (3 - 5 người). Kinh phí hoạt động thấp, cơ sở vật chất đểphục vụ cho các hoạt động VHNT còn thiếu.
  • 41. 384. Về công tác chỉ đạo, quản lý, thực hiện cơ chế chính sách đối với văn nghệTài năng nói chung là quí hiếm, nhưng tài năng trong VHNT lại càng quívà hiếm. Tài năng trong VHNT được thể hiện ở nhiều yếu tố, nhưng trước hết vàchủ yếu là ở đạo đức nghề nghiệp, thái độ công dân của văn nghệ sĩ và ở tácphẩm, công trình của họ. Trong VHNT, nếu không có tài năng thì không thể tạora được tác phẩm, công trình hay đáp ứng nhu cầu chân thiện mỹ của công chúngvà xã hội.- Nhận diện cho đúng tài năng trong VHNT là trách nhiệm của Đảng, Nhànước và toàn xã hội, nhưng chủ yếu và trước hết là ở các cơ quan quản lý VHNT,ở các Hội VHNT chuyên ngành Trung ương, ở các Hội VHNT tỉnh, thành phố.Chủ trương của Đảng và Nhà nước phát triển VHNT trong cơ chế thị trường,định hướng XHCN, vì vậy hoạt động VHNT cần có sự lãnh đạo của Đảng và sựquản lý của Nhà nước.- Chống lại xu hướng nghiệp dư hóa trong VHNT theo tinh thần Nghị quyết 23của Bộ Chính trị (khóa X) đang được các cơ quan quản lý VHNT và lãnh đạo cácHội quan tâm chỉ đạo bằng việc xây dựng các qui chế hoạt động biểu diễn nghệthuật, xét tặng giải thưởng, các cuộc thi sáng tác, triển lãm khu vực…- Chăm sóc, bồi dưỡng văn nghệ sĩ cả nước đã được Đảng và Nhà nước taquan tâm từ rất sớm, thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII (năm1998) về “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” vàtrong Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa X, năm 2008 về “Tiếp tục xây dựng,phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới”, trong Quyết định của Chính phủvề kinh phí hỗ trợ sáng tạo, sưu tầm VHNT giai đoạn 1999 – 2015.Ngay sau khi có các Nghị quyết của Đảng ra đời, cấp ủy và tổ chức Đảngcác cấp đã triển khai, quán triệt sâu rộng đến tận chi bộ, nhất là đối với đội ngũvăn nghệ sĩ cả nước.Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng đã xây dựng chương trình hành động cụ thể, vớinhiều đề án liên quan đến VHNT để tổ chức thực hiện, quan tâm bồi dưỡng độingũ văn nghệ sĩ, đầu tư kinh phí, nắm bắt tâm tư, diễn biến tư tưởng của văn nghệsĩ để có biện pháp lãnh đạo kịp thời, do đó tạo được không khí đoàn kết, đồngthuận, nhất trí cao trong xã hội.Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác chỉ đạo, quản lý, xây dựngcơ chế chính sách còn bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm.- Một số cấp ủy, chính quyền địa phương còn xem nhẹ vai trò của văn hóatrong mối quan hệ với kinh tế, chưa nhận thức đúng vai trò của VHNT góp phầncủng cố trận địa tư tưởng của Đảng. Trong chỉ đạo điều hành còn thiếu sự quan tâmđúng mức đến việc kiện toàn mô hình tổ chức các Hội VHNT ở địa phương, cơ sởvật chất, điều kiện làm việc của các Hội còn nghèo nàn, kinh phí phục vụ cho hoạtđộng sáng tạo nghệ thuật… còn hạn chế. Một số cấp ủy, chính quyền địa phươngbố trí nhân sự chủ tịch Hội VHNT địa phương là người không am hiều về văn họcnghệ thuật, trái với Quyết dịnh 284 của Ban Bí thư qui định về người lãnh đạoquản lý hội VHNT địa phương phải là người có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp.Dẫn đến nội bộ thiếu đoàn kết, làm ảnh hưởng đến tư tưởng của hội viên.
  • 42. 39- Quản lý nhà nước về hoạt động VHNT còn buông lỏng nhất là hoạt độngbiểu diễn. Một số đề án về VHNT chưa được thể chế hóa cụ thể. Báo, tạp chí, cácnhà xuất bản của các Hội còn gặp nhiều khó khăn trong phát hành, xuất bản màchưa được tháo gỡ, giải quyết phù hợp trong tình hình mới. Việc xét tặng giảithưởng hàng năm của các Hội VHNT địa phương còn chưa thống nhất, có hộitrao hàng năm, có hội trao giải thưởng 3 hoặc 5 năm một lần do còn gặp khó khănvề ngân sách…- Quy định hệ số lương của nghệ sĩ biểu diễn (xiếc, múa, sân khấu) còn chưatương xứng với đặc thù nghề nghiệp nên anh chị em còn nhiều băn khoăn, khókhăn trong cuộc sống, ảnh hưởng đến niềm say mê sáng tạo, cống hiến trong hoạtđộng nghề nghiệp…5. Giải pháp và kiến nghị- Để công tác văn hoá, Văn học nghệ thuật thực sự đáp ứng với nhiệm vụtuyên truyền chính trị của Đảng và Nhà nước, cần nâng cao nhận thức cho cáccấp uỷ Đảng và chính quyền về vai trò, vị trí của văn hóa, văn nghệ; xác định rõmô hình tổ chức Hội Văn học nghệ thuật là một mắt xích quan trọng trong côngtác tư tưởng, văn hóa của Đảng và Nhà nước.- Trên cơ sở đó, từ Trung ương đến địa phương củng cố tổ chức các HộiVăn học nghệ thuật. Bố trí cán bộ làm công tác Văn học nghệ thuật nắm vữngquan điểm, đường lối, các chính sách về văn hóa, văn nghệ của Đảng và Nhànước; tập hợp được đội ngũ văn nghệ sỹ, động viên sáng tác để có được nhữngsản phẩm văn hoá, văn nghệ tốt phục vụ nhân dân.- Tăng cường biên chế, cơ sở vật chất cho một số Hội Văn học nghệ thuật ởTrung ương và địa phương đủ mạnh để thực hiện công tác Văn học nghệ thuật.Phải xem công tác văn hoá, văn nghệ là của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp uỷĐảng và chính quyền.- Phối hợp với các bộ, ngành liên quan: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cácban của Đảng xây dựng cơ chế chính sách về mặt tổ chức cho Văn học nghệ thuật.- Cần có thái độ ứng xử đúng đối với cán bộ làm công tác Văn học nghệthuật là công chức Nhà nước vì bản thân đội ngũ này đã đi theo Đảng làm cáchmạng từ trước cách mạng tháng Tám.Trước hết là giải quyết chế độ phụ cấp cho các cán bộ đang công tác ở cácHội Văn học nghệ thuật (25%) như các cơ quan hành chính khác.- Đề nghị Bộ Nội vụ có sự chỉ đạo trong ngành giải quyết biên chế đủ chocác Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và các Hội Văn học nghệthuật địa phương. Cụ thể là:+ Ở các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và Hội Liênhiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Tp. HồChí Minh, biên chế tối thiểu là 25 - 30 người.+ Ở các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố: 12-15 biên chế./.
  • 43. 40ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM SAU 5 NĂM TRIỂN KHAINGHỊ QUYẾT 23-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊTS. Ngô Phương LanCục trưởng Cục Điện ảnhBộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchI. TÌNH HÌNH ĐIỆN ẢNH1.1. Bối cảnh chungBối cảnh quốc tếTrong 5 năm qua, bối cảnh điện ảnh trên thế giới có những thay đổi chínhtác động đến tình hình điện ảnh trong nước như sau:- Xu hướng toàn cầu hóa trên thế giới ngày càng mở rộng khiến việc hợptác điện ảnh càng phát triển.- Công nghệ số phát triển kéo theo sự chuyển hướng cơ bản trong sản xuấtvà phát hành phim ở tất cả các nước trên thế giới: từ phim nhựa 35 ly sang kỹthuật số chất lượng cao.- Trong thời đại truyền thông con người có nhiều sự lựa chọn, nên điện ảnhcó nhiều “đối thủ” cạnh tranh.- Điện ảnh Châu Á lên ngôi.Bối cảnh trong nướcChủ trương hội nhập quốc tế chủ động, tich cực, toàn diện của Đảng (Đạihội Đảng XI) tạo điều kiện điện ảnh Việt Nam hội nhập và phát triển.Việc mở cửa liên kết với nước ngoài trong sản xuất và phát hành phim.Chủ trương xã hội hóa điện ảnh trong tất cả các khâu đem đến sự khởi sắc chođiện ảnh nhưng cũng kéo theo sự lấn át của dòng phim thương mại, sự độc quyềncủa các công ty nước ngoài trong phổ biến phim. Xu thế thị trường hóa, chạy theolợi nhuận của các hãng phim tư nhân (trong sản xuất, phát hành).Cam kết quốc tế khi Việt Nam gia nhập WTO: Việt Nam không quy địnhhạn ngạch phim nhập.Các cơ sở điện ảnh của nhà nước có đội ngũ làm điện ảnh lâu năm nhưngcơ chế tổ chức trì trệ, hoạt động kém hiệu quả; phương tiện kỹ thuật cũ kỹ vàthiếu đồng bộ…2.1. Thành tựu về điện ảnh:- Thực hiện chủ trương của nhà nước là đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động điệnảnh, diện mạo điện ảnh Việt Nam trong 5 năm qua trở nên rất phong phú, thịtrường điện ảnh phục hồi và phát triển. Vai trò của các hãng phim tư nhân ngàycàng rõ rệt, phim tư nhân dần chiếm tỉ lệ áp đảo trong tổng số phim Việt Namphát hành ở rạp, thu hút lượng khán giả lớn (có phim đông người xem hơn và đạt
  • 44. 41doanh thu cao hơn phim “bom tấn” cúa Mỹ chiếu cùng thời điểm- Ví dụ phim Mỹnhân kế lập kỷ lục phòng vé với doanh thu 60 tỉ trong khoảng 1 tháng chiếu rạp);một số phim tư nhân gần đây được đánh giá khá cao về nghề nghiệp (Thiên mệnhanh hùng, Cánh đồng bất tận…).- Phim do nhà nước đặt hàng và tài trợ sản xuất đảm bảo phục vụ nhiệm vụchính trị với chất lượng nghề nghiệp cao (Đừng đốt, Mùi cỏ cháy…); nhiều bộphim đạt giải tại các Liên hoan phim trong nước và quốc tế (Trăng nơi đáygiếng, Chơi vơi…).- Thế hệ các nhà làm phim trẻ xuất hiện dần tạo nên dấu ấn của lớp đạo diễnthời hội nhập bên cạnh thế hệ đạo diễn thời kỳ đổi mới. Các đạo diễn trẻ cónhững thử nghiệm đáng ghi nhận với các dòng phim khác nhau: phim nghệ thuật,phim giải trí, phim độc lập… Tuy nhiên, chưa có sự vững chắc về phong cáchcũng như về xu hướng sáng tác của các đạo diễn trẻ.- Bên cạnh các đạo diễn trẻ trong nước, sự xuất hiện đồng thời và liên tụccủa các đạo diễn Việt kiều đã làm cho điện ảnh VN có những mầu sắc mới. Trongvài năm trở lại đây, phim của các đạo diễn Việt kiều chiếm tỉ lệ cao ở rạp chiếuphim, nhiều phim thương mại doanh thu cao bên cạnh một số phim được đánh giákhá cao về nghề nghiệp. Ưu điểm của họ là tay nghề, kỹ thuật, thủ pháp hấp dẫnkhán giả nhưng nhược điểm là phim chưa đủ sâu sắc về ý tưởng do họ còn thiếuvốn sống Việt Nam.- Hệ thống văn bản pháp quy về điện ảnh dần hoàn thiện: Luật Điện ảnh số62/2006/QH11 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh số31/2009/QH12; Nghị định số 54/2010/NĐ-CP ngày 21/5/2010 của Chính Phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện ảnh số số 62/2006/QH11 và Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh số 31/2009/QH12. Các văn bảnnày tạo hành lang pháp lý cho hoạt động điện ảnh, thể hiện một số chính sách vềsản xuất, phát hành phổ biến phim…1.3. Yếu kém, bất cập và nguyên nhân:- Các cơ sở điện ảnh nhà nước trì trệ, hoạt động kém hiệu quả, đội ngũ cónguy cơ tan rã vì các nguyên nhân sau:Thứ nhất, các hãng phim nhà nước vẫn đầy rẫy khó khăn, lúng túng trongđiều hành và trì trệ trong hoạt động. Mặc dù không còn chế độ làm phim bao cấptừ lâu, nhưng đại đa số phim của các hãng làm ra, từ nguồn này hay nguồn khác,đều là phim đặt hàng hoặc tài trợ của nhà nước. Tuy nhiên, hầu như không có bộphim nào được hoàn thành đúng hạn, nhiều phim chậm đến 2 năm hoặc lâu hơnnên cần có những quy định rõ ràng hợp lý hơn để thay đổi từ phương thức và mứcđộ đầu tư, cách quản lý điều hành, cách phân cấp trách nhiệm, đồng thời xác địnhrõ trách nhiệm và ý thức của những người trực tiếp tham gia sáng tác và sản xuấtphim, những người nghệ sĩ.Thứ hai, nhiều nghệ sĩ từ các hãng phim của nhà nước tỏ ra bi quan và chánnản vì điện ảnh chưa được Nhà nước quan tâm thỏa đáng. Năm 2012 không cókinh phí nhà nước đầu tư cho phim truyện; đời sống của văn nghệ sĩ nói chung
  • 45. 42khó khăn (bậc lương tối thiểu của nghệ sĩ có nơi chỉ đạt 650.000đ!). Nghệ phải tự“bươn chải”, tìm việc làm ở các dài truyền hình (làm phim truyển hình nhiều tập)hoặc các công ty tư nhân (phim giải trí, quảng cáo…) nên nhiều người tay nghề đixuống, quay lại làm phim điện ảnh không đạt chất lượng cao.Thứ ba, mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của các cơ sở điện ảnh chưatheo một hệ thống nhất quán: công ty cổ phần hay công ty TNHH MTV… rất khócho điều hành chung.Thứ tư, việc quảng bá cho những phim được Nhà nước đặt hàng hoặc tàitrợ sản xuất vẫn quá mờ nhạt, yếu kém. Trong khi đó, tất cả các phim do tư nhânđầu tư sản xuất đều có chiến dịch quảng cáo chu đáo và rầm rộ, bao trùm từ trướckhi phim bắt đầu được thực hiện cho đến khi phim phát hành ra rạp. Sự chênhlệch về tuyên truyền, quảng bá, tiếp thị giữa phim tư nhân và phim nhà nước nhưvẫn tồn tại lâu nay khiến không ít người tưởng rằng điện ảnh Việt Nam chuyểnhẳn sang “điện ảnh giải trí, thương mại, phục vụ tuổi teen”. Còn sự tuyên truyềnquá đáng cho những phim giải trí, “sành điệu” theo chuẩn ngoại quốc cũng phầnnào làm lệch chuẩn giá trị và gu thẩm mĩ của tầng lớp khán giả- thượng đế đôngđảo nhất là giới trẻ. Bởi vậy, cần một sự điều chỉnh của các cơ quan chức năngcho việc đầu tư kinh phí và công sức thỏa đáng để quảng bá, tuyên truyền cho cácphim có giá trị, phim do nhà nước đặt hàng- tài trợ, đồng thời cần sự đúng mực vàcông bằng của công luận để không có những bài “lăng sê” quá đáng cho các phimthương mại rẻ tiền.- Nhiều hãng phim tư nhân chạy theo thị hiếu một bộ phận khán giả, sảnxuất các phim “câu khách” dễ dãi, “hài nhảm”, hành động giải trí đơn thuần…với mục đích thu lãi lớn.Nhiều phim chỉ nhằm tận thu trong dịp Tết, lễ rồi “bỏ đi”. Qua khảo sát vềđộ tuổi xem phim thì hầu hết khán giả đến rạp tại những thành phố lớn ở độ tuổitừ 15 đến 35 (khoảng gần 70%) dẫn đến tình trạng khán giả trẻ chỉ thích xem cácphim giải trí - thậm chí phim “tầm phào”, hài tình huống, “chọc cười” lại thu hútđông khán giả hơn các phim có giá trị, thậm chí các phim chính thống của ViệtNam bị khán giả quay lưng.- Việc tuân thủ cam kết quốc tế khi Việt Nam gia nhập WTO dẫn đếnkhông có hạn ngạch nhập phim dẫn đến nguy cơ xâm lấn của phim nhập ngàycàng cao. Qua khảo sát, thấy nhiều khán giả chỉ thích xem phim ngoại, nhất làphim Mỹ. Tỷ lệ phim Mỹ chiếu rạp áp đảo phim Việt (70% phim chiếu rạp). Điềunày dẫn đến những thách thức rất khó vượt qua trong việc sản xuất và phổ biếnphim “nội”, nghĩa là khó bảo vệ nền Điện ảnh dân tộc. Mặt khác, các công tynước ngoài, liên doanh chỉ hoạt động ở các thành phố lớn (Hà Nội, Tp HCM, tiếpđến là Hải Phòng, Đà Nẵng) nên khán giả ở các địa phương, đặc biệt là vùngnông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới hải đảo… không có điều kiệnđược thưởng thức các tác phẩm điện ảnh.- Điện ảnh ở địa phương tồn tại khó khăn, hệ thống rạp ở các tỉnh lạc hậuvà xuống cấp.
  • 46. 43Trang thiết bị và cơ sở vật chất của hầu hết các rạp địa phương đều cũ, lạchậu với thiết bị chiếu phim nhựa là chủ yếu, tiến tới khó có thể hoạt động khi cảthế giới chuyển sang rạp kỹ thuật số. Hiện tại hầu hết rạp do nhà nước quản lýdoanh thu không đủ bù chi phí.. Nguồn phim hạn chế và bị động, phụ thuộc vàocác công ty tư nhân và nước ngoài. Nhiều trung tâm điện ảnh đã bị “xóa sổ” đểsáp nhập vào trung tâm văn hóa.- Hạn chế trong đào tạo, phát triển nguồn lực và phát hiện- bồi dưỡngnhân tàiTuy có 2 trường Đại học Sân khấu Điện ảnh nhưng hiệu quả đào tạo khôngcao do đầu vào yếu, mô hình đào tạo cũ, giáo trình không đầy đủ và đồng bộ, lựclượng giảng viên thiếu, không chuyên nghiệp do thỉnh giảng nhiều… Nguồn lựccung cấp cho điện ảnh chất lượng không cao, chưa thấy những biện pháp hữu íchphát hiện và bồi dưỡng nhân tài.Hơn nữa, các nhà làm phim trẻ dường như có sự phân tán trong sáng tác,lúng túng trong lựa chọn hướng đi và chưa thực sự hết lòng và tâm huyết vớinghề vì còn mải chạy theo “tiền tươi thóc thật” khi làm phim truyền hình dài tậphoặc phim thương mại giải trí.- Việc thực thi Luật Điện ảnh và các văn bản dưới Luật:Luật Điện ảnh và Nghị định 54 xác định: “Đầu tư xây dựng, cải tạo, trangthiết bị hiện đại, máy chiếu phim âm thanh lập thể cho rạp chiếu phim. Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các Bộ, ngành lập đề án phát triển quy môsản xuất phim và phổ biến phim để phim Việt Nam đạt ít nhất 30% trong tổng sốphim chiếu tại rạp và đạt ít nhất 40% trong tổng số phim phát sóng trên hệ thốngtruyền hình”.Bên cạnh đó, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động điện ảnh:“Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp xây dựng rạp chiếu phim để kinh doanh phổbiến phim hoặc xây dựng công trình hoạt động điện ảnh khác được Nhà nướcgiao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Cơ sở điện ảnh đượcmiễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà theo quyđịnh của pháp luật. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cótrách nhiệm điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của địa phương, ưu tiên dành quỹđất cho cơ sở điện ảnh; có chính sách, chế độ ưu đãi khuyến khích tổ chức, cánhân. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch khu đô thị, khu dân cư phảidành quỹ đất để xây dựng rạp chiếu phim ở vị trí trung tâm và tỷ lệ xây dựng rạpphù hợp với quy mô phát triển dân số. Cơ sở điện ảnh xây dựng rạp chiếu phimđược hưởng chính sách ưu đãi…”Tuy nhiên, Luật Điện ảnh và các văn bản dưới luật chưa đi vào cuộc sống.Luật, Nghị định đã có từ mấy năm, tuy nhiên, một số văn bản quan trọng chưađược ban hành (Thông tư đấu thầu sản xuất phim có sử dụng ngân sách nhácnước; Đề án Quỹ hỗ trợ phát triển điện ảnh) nên định hướng của nhà nước chưaphát huy được tác dụng, từ năm 2012 đến nay: vẫn còn ách tắc trong sản xuất
  • 47. 44phim nhà nước. Mặt khác, việc đưa Luật và các văn bản dưới Luật vào cuộc sốngcòn có những hạn chế, nhất là việc triển khai Luật tới các địa phương.II. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐIỆN ẢNH:2.1. Về quản lý nhà nước: xác định vai trò và định hướng của Nhà nướctrong phát triển sự nghiệp điện ảnh trên nguyên tắc khuyến khích xã hội hóanhững gì tư nhân không làm được thì cơ quan nhà nước sẽ chỉ đạo và triểnkhai làm với sự đầu tư thỏa đáng- Nhà nước chỉ đạo, đầu tư sản xuất các tác phẩm chính thống, giàu tínhnhân văn và điều tiết việc chiếu phim phục vụ nhiệm vụ chính trị, phim về đề tàithiếu nhi, truyền thống lịch sử, dân tộc thiểu số, phim có giá trị tư tưởng và nghệthuật cao (thông qua việc xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện Thông tưbiên Bộ Văn hóa, Thế thao và Du lịch – Tài chính hướng dẫn việc đấu thấu và đặthàng sản xuất phim có sử dụng ngân sách nhà nước). Quỹ hỗ trợ phát triển điệnảnh Việt Nam khi được thành lập sẽ thưởng cho các tác phẩm có giá trị nội dungvà nghệ thuật, tài trợ để khuyến khích các bộ phim nghệ thuật, phim tác giả, phimcủa đạo diễn trẻ tài năng… Đồng thời có cơ chế để thông qua Quỹ, thiết lập cơchế cơ chế để doanh thu điện ảnh quay lại tái đầu tư cho điện ảnh.- Ở địa phương: Củng cố trung tâm điện ảnh ở tất cả các tỉnh, thành theomột mô hình, cơ chế thông nhất: đơn vị sự nghiệp có thu. Phát huy chiếu bónglưu động (chế độ, chính sách, biên chế, phương tiện…)2.2. Củng cố đội ngũ, nguồn nhân lực điện ảnh- Đào tạo chính quy tại các trường đại học điện ảnh theo hướng chuyênnghiệp và hiện đại. Mở khoa điện ảnh hoặc ngành điện ảnh tại một số trường đạihọc tổng hợp theo hướng vừa nâng cao văn hóa điện ảnh, vừa tiếp cận với điệnảnh chuyên nghiệp.- Đào tạo lại- nâng cao tay nghề, nghiệp vụ ở các khu vực sáng tác, quản lýsản xuất, kỹ thuật, tiếp thị… Đây là giải pháp quan trọng, nhất là mở các lớp đàotạo ngắn hạn với chuyên gia nước ngoài và Việt Nam.- Phát hiện và bồi dưỡng tài năng điện ảnh để: bồi dưỡng trong nước; cử điđào tạo ở nước ngoài… Trại sáng tác tài năng tại LHPQT Hà Nội lần thứ II làmột mô hình rất thành công để phát hiện và bồi dưỡng tài năng, vì vậy, nên mởđịnh kỳ Trại sáng tác này đồng thời với việc mở các khóa ngắn hạn hàng năm chocác tài năng trẻ theo dạng nâng cao trình độ và nâng cao chất lượng học viên vớicác giáo sư, chuyên gia nổi tiếng từ các nền điện ảnh phát triển.2.3. Nâng cao năng lực quản lý ngành- Quản lý nhà nước về điện ảnh ở cả trung ương và địa phương trong sảnxuất, phổ biến và kinh doanh điện ảnh.- Thực thi đúng, đủ và hiệu quả Luật Điện ảnh, các văn bản dưới luật và cácquy định khác của pháp luật về điện ảnh trong các hoạt động điện ảnh, đưa phápluật đi vào cuộc sống.
  • 48. 45- Kiểm tra, thanh tra, xử phạt, khen thưởng2.4. Xây dựng cơ sở kỹ thuật đồng bộ và đổi mới công nghệ điện ảnh- Tìm bước đi chuẩn xác, đúng hướng để tận dụng, kết hợp và thay thế hợplý từ cơ sở vật chất kỹ thuật cũ sang công nghệ mới, thay thế thiết bị sản xuất vàchiếu phim nhựa sang thiết bị số chất lượng cao và phù hợp với thế giới.- Đầu tư hệ thống thiết bị công nghệ số trong sản xuất phim và hệ thống rạpchiếu phim (trung ương và địa phương), trong bảo quản và lưu trữ phim và cáclĩnh vực hoạt động khác của điện ảnh.- Đầu tư cho hệ thống trường quay nội, trường quay ngoại đạt tiêu chuẩn từnhiều nguồn vốn.2.5. Phát triển điện ảnh trên cơ sở mối quan hệ liên hoàn giữa sáng tác-sản xuất- phổ biến phim- Phát triển điện ảnh theo hướng chuyên nghiệp và đồng bộ để phục vụ tốtnhiệm vụ chính trị, bồi dưỡng nhân cách và thẩm mỹ đồng thời đáp ứng nhu cầugiải trí lành mạnh của khán giả.- Thiết lập chuẩn giá trị cho tác phẩm điện ảnh thông qua các kỳ trao giảithưởng, Liên hoan phim quốc gia, Liên hoan phim quốc tế Hà Nội.- Triển khai tốt mối quan hệ hợp tác, gắn bó, hỗ trợ nhau cùng phát triểngiữa điện ảnh và truyền hình: nâng cao quản lý nhà nước đối với phim trên truyềnhình, tăng cường tuyên truyền điện ảnh trên truyền hình, hợp tác trong sản xuấtphim; hợp tác trong phổ biến phim thông qua việc xây dựng khung giờ chiếuphim điện ảnh trên truyền hình… (thông qua biên bản ghi nhớ giữa Bộ Văn hóa,Thế thao và Du lịch và Đài Truyền hình Việt Nam về điện ảnh- truyền hình).- Xây dựng mối quan hệ hợp tác, gắn bó, hỗ trợ nhau cùng phát triển giữađiện ảnh và báo chí- truyền thông.2.6. Tạo lập vị trí của điện ảnh Việt Nam trong khu vực và trên thế giới- Đưa phim Việt Nam ra thế giới ở 3 cấp độ:+ Tham dự các Tuần phim Việt Nam, Ngày văn hóa Việt Nam, các sự kiệnvăn hóa nghệ thuật theo thỏa thuận, hiệp định, quan hệ ngoại giao… (phim đápứng yêu cầu đối ngoại)+ Tham dự các Liên hoan Phim quốc tế (phim có giá trị nghệ thuật và có tìmtòi mới mẻ).+ Thiết lập thị trường điện ảnh Việt Nam ở nước ngoài (phim có giá trịthương mại, giá trị nhân văn).- Giới thiệu phim xuất sắc, có giá trị của nước ngoài tại Việt Nam.- Xây dựng thương hiệu LHPQT Hà Nội thành một trong những LHPQT cóuy tín trong khu vực, thông qua đó đẩy mạnh hội nhập điện ảnh đồng thời quảngbá hình ảnh Việt Nam ra thế giới và tìm cơ hội hợp tác, phát triển điện ảnh.
  • 49. 46- Hợp tác, liên doanh làm phim với nước ngoài nhằm tăng nguồn thu đồngthời tận dụng cơ hội học tập kinh nghiệm nghề nghiệp và kỹ thuật quốc tế để pháttriển điện ảnh Việt Nam.I. KẾT LUẬNTrên đây là những đánh giá sơ bộ về tình hình điện ảnh Việt Nam trong 5năm triển khai thự hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị và những kiếnnghị để phát triển điện ảnh trong thời gian tới. Tuy nhiên, theo chúng tôi có 2 giảipháp quan trọng hàng đầu có thể tiến hành ngay được:Một là, về phía ngành, việc tập hợp lực lượng, sự đồng tâm hiệp lực giữa cáccơ quan, tổ chức cá nhân làm điện ảnh, giữa các nhà quản lý và nghệ sĩ, giữa Cụcvà Hội Điện ảnh, giữa điện ảnh nhà nước và tư nhân, giữa trung ương và địaphương… Điều này trong hai năm qua Cục Điện ảnh đã dần làm được. Kết quảtích cực của Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17 ở Phú Yên (11/2011), Hội nghịtoàn quốc về Thực trạng và giải pháp đấy mạnh hoạt động phát hành và phổ biếnphim (7/2012), Liên hoan phim quốc tế Hà Nội lần thứ II (11/2012) và Đợt kỷniệm 60 năm Bác Hồ ký Sắc lệnh thành lập Ngành Điện ảnh Cách mạng ViệtNam đã chứng tỏ điều này.Hai là, sự quan tâm thích đáng của Nhà nước đối với điện ảnh như một loạihình nghệ thuật và công nghiệp văn hóa quan trọng. Điều này thể hiện trongchính sách và nguồn kinh phí đầu tư, cơ chế khuyến khích sáng tác…, tất cả đangnằm trong những văn bản, đề án cụ thể đang chờ được thông qua để sớm đưa vàothực hiện (Thông tư đấu thầu sản xuất phim, Quỹ hỗ trợ phát triển điện ảnh…).
  • 50. 47NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN VIỆT NAM SAU 05 NĂM TRIỂN KHAITHỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 23-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ:NHỮNG THÀNH TỰU, KHÓ KHĂN, TỒN TẠI VÀ CÁC GIẢI PHÁPKIẾN NGHỊNhạc sỹ Đào Đăng HoànPhó cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễnBộ Văn hóa, Thẻ thao và Du lịchI. ĐÁNH GIÁ CHUNGTrong lịch sử lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá của ĐảngCộng sản Việt Nam cho đến nay đã để lại 3 mốc quan trọng, đó là những bướcngoặt trong chiến lược lãnh đạo văn hoá, văn nghệ của Đảng ta.Thứ nhất, Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943;Thứ hai, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998;Thứ ba, nhằm phát huy vai trò, sứ mệnh cao quý của văn học, nghệ thuật vàcủa đội ngũ văn nghệ sĩ, ngày 16 tháng 6 năm 2008 Bộ chính trị đã ban hànhNghị quyết số 23-NQ/TW về việc tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệthuật trong thời kỳ mới. Có thể nói, Nghị quyết số 23-NQ/TW ra đời có ý nghĩa hếtsức quan trọng trong việc phát triển văn học nghệ thuật dân tộc cho mọi chiến lượcphát triển và hoạt động văn học, nghệ thuật Việt Nam nói chung, ngành Nghệ thuậtbiểu diễn nói riêng trong thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước.Thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Đảng dưới sự chỉ đạọ của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch, ngành Nghệ thuật biểu diễn đã tích cực chủ động phốikết hợp với Hội văn học Nghệ thuật trung ương và địa phương, các Sở Văn hóa,Thể thao và Du lịch các tỉnh thành phố trong cả nước triển khai quyết liệt và đồngbộ để thể chế hóa Nghị quyết một cách hiệu quả, thực sự đưa NQ vào đời sốngvăn học nghệ thuật trong cả nước. Đặc biệt, là ngành Nghệ thuật biểu diễn đã cónhững bước chuyển mình cụ thể như sau:Ngày 01 tháng 3 năm 2011 Thủ tướng chính phủ đã có Quyết định số316/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Xây dựng và rà soát các chế độ chính sách đối vớicác hoạt động văn học, nghệ thuật và văn nghệ sỹ; chế độ tài trợ, đặt hàng đối vớicác tác phẩm văn học, nghệ thuật; chính sách khuyến khích sáng tác trong cáchoạt động văn học, nghệ thuật” và đã được ban hành.Theo đó các mục tiêu đã được xác định rõ ràng:a) Tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo ra nhiều tácphẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật; phát hiện và khẳng định những giátrị mới làm phong phú và đa dạng đời sống văn hóa, văn nghệ; góp phần xâydựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
  • 51. 48b) Từng bước hoàn thiện khung pháp lý đối với việc tài trợ, đặt hàng vàkhuyến khích sáng tác trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật.c) Xây dựng chính sách đãi ngộ phù hợp, bình đẳng đối với văn nghệ sĩtrong các cơ sở công lập và ngoài công lập, bảo đảm cho văn nghệ sĩ tạo ra cáctác phẩm văn học nghệ thuật có chất lượng; thực hiện chủ trương đẩy mạnh xãhội hóa của Đảng và Nhà nước.d) Có chính sách đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ đặc biệt với nhân tài củađất nước trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật.đ) Tôn trọng, phát huy dân chủ, tự do tư tưởng trong hoạt động sáng tạo vănhọc nghệ thuật, nghiên cứu, sưu tầm để tạo ra các sản phẩm văn học, công trình nghệthuật, gắn liền với phát huy trách nhiệm công dân của trí thức, văn nghệ sỹ.e) Củng cố, đẩy mạnh hoạt động của các Hội văn học, nghệ thuật ở Trungương và địa phương nhằm nâng cao khả năng tập hợp, phát huy tiềm năng sángtạo và phát triển đội ngũ văn nghệ sỹ trong cả nước.II. NHỮNG THÀNH TỰU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢCTrong gần 5 năm qua, các chính sách của Đảng, Nhà nước đã tác động tíchcực đến Sự nghiệp phát triển Văn học nhệ thuật nói chung, lĩnh vực Nghệ thuậtbiểu diễn nói riêng. Căn cứ vào những chính sách đã ban hành, các cơ quan quảnlý nhà nước ở Trung ương, địa phương đã triển khai và có những biện pháp đầutư cơ bản cho 128 đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp ở Trung ương, địa phương vàlực lượng vũ trang.Hầu hết các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp đều đã có trụ sở làm việcriêng, có nơi luyện tập cho các nghệ sỹ để cùng nhau sáng tạo ra những tác phẩmvăn học nghệ thuật, đáp ứng sự đòi hỏi của xã hội, nâng cao đời sống và nhu cầuhưởng thụ của nhân dân. Chính sách của Nhà nước đã hỗ trợ toàn diện cho cácđơn vị nghệ thuật công lập mua sắm trang thiết bị âm thanh, ánh sáng, phươngtiện đi lại và nhiều thiết bị vật tư khác phục vụ cho công tác dàn dựng tác phẩm,quảng bá tác phẩm tới công chúng.Một số nhà hát ở trung ương và địa phương đã được đầu tư tài chính để xâydựng rạp biểu diễn cố định, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị ổn định về cơsở vật chất, thường xuyên biểu diễn tại những nhà hát (rạp) sẵn có để phục vụnhân dân, góp phần tích cực vào công tác bảo tồn, lưu giữ, phát huy các giá trịcủa nghệ thật truyền thống, từng bước tiếp thu những tinh hoa nền nghệ thuật tiêntiến của nhân loại nhằm xây dựng nền nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc.Các chính sách đầu tư của Đảng và nhà nước trong lĩnh vực Nghệ thuật biểudiễn đã tạo sự cởi mở, mang tính chủ động cho các đơn vị nghệ thuật. Các đơn vịnghệ thuật công lập đều được xếp là đơn vị sự nghiệp có thu, quản lý theo cơ chếgán thu, bù chi, được nhà nước tài trợ chênh lệch. Sự tài trợ của nhà nước trong điềukiện hỗ trợ nghệ thuật biểu diễn phát triển theo định hướng, giữ vững chất lượng,phát huy tính chủ động, sáng tạo của tập thể và cá nhân nghệ sỹ.
  • 52. 49Hệ thống các đơn vị nghệ thuật trong cả nước đã được quy hoạch theohướng tinh giản đầu mối, đầu tư phát triển chiều sâu cho các loại hình nghệ thuạttruyền thống; khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài công lập tham gia dướimọi hình thức để bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.Nhà nước đã đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống đào tạo nghệ thuật trongcả nước hiện nay khá khang trang, có đủ phương tiện, thiết bị kỹ thuật, máy mócphục vụ công tác giảng dạy, học tập cho sinh viên theo học nghệ thuật; có chế độưu đãi cho sinh viên theo học các chuyên ngành nghệ thuật truyền thống Tuồng,Chèo, Cải lương và những loại hình nghệ thuật mang tính đặc thù như Xiếc,Múa…Sự đầu tư đồng bộ cho hệ thống các trường đào tạo nghệ thuật là nền tảngcơ bản cho các đơn vị nghệ thuật trong toàn quốc.Cụ thể, hàng loạt các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đã được banhành nhằm nâng cao vai trò quản lý và phát triển sự nghiệp đối với ngành Nghệthuật biểu diễn.Ngày 14 tháng 03 năm 2011 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số369/QĐ-TTg Phê duyệt“Đề án tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm, côngtrình văn học nghệ thuật, báo chí ở Trung ương và các Hội Văn học nghệ thuậtđịa phương; hỗ trợ tác phẩm báo chí chất lượng cao ở các Hội Nhà báo địaphương giai đoạn 2011 - 2015”.Ngày 01 tháng 6 năm 2011, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết địnhsố 844/QĐ-TTg về việc “Đặt hàng sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật cógiá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ cứu nước giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước giai đoạn1930-1975”. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao Cục Nghệ thuật biểu diễn chủtrì, triển khai thực hiện Quyết định trên về việc đặt hàng sáng tác các tác phẩmngành Nghệ thuật biểu diễn.Ngày 27 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết địnhsố 1270/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểusố Việt Nam đến năm 2020”. Theo đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao CụcNghệ thuật biểu diễn phối hợp với Vụ Văn hóa dân tộc triển khai dự án thànhphần với nhiệm vụ trọng tâm là “giữ gìn và phát huy các loại hình nghệ thuậtbiểu diễn truyền thống các dân tộc thiểu số; sưu tầm, phục hồi và phát triển mộtsố loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ thất truyền”.Ngày 09 tháng 01 năm 2013, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyếtđịnh số 88/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án “Quy hoạch và kế hoạch nâng cấp, xây mớicác công trình văn hóa (nhà hát, rạp chiếu phim, nhà triển lãm văn học nghệthuật) giai đoạn 2012 - 2020” nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống các côngtrình văn hóa, đáp ứng nhu cầu về đời sống tinh thần ngày càng cao của nhândân, hướng tới mục tiêu xây dựng và phát triển toàn diện con người Việt Nam.Ngày 18 tháng 12 năm 2011, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết địnhsố 2406/QĐ-TTg Ban hành Danh mục các Chương trình mục tiêu quốc gia giaiđoạn 2012 - 2015, Trong đó, Dự án 5: Đầu tư phát triển các loại hình nghệ thuật
  • 53. 50truyền thống thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Văn hóa được Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch giao Cục Nghệ thuật biểu diễn triển khai thực hiện.Ngày 05 tháng 9 năm 2012, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết địnhsố 1211/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn2012-2015 với Mục tiêu phát triển nghệ thuật truyền thống: Xây dựng mới 07Trung tâm nghệ thuật biểu diễn nghệ thuật truyền thống tại một số vùng tiêu biểu;trang bị cho các Trung tâm nghệ thuật biểu diễn truyền thống 10 xe ôtô ca chuyêndụng chở diễn viên, 10 xe ôtô tải chuyên dụng chở trang thiết bị, 10 máy phátđiện công suất từ 20 KVAđến 30 KWA và một số thiết bị âm thanh, ánh sáng,nhạc cụ, đạo cụ, trang phục chuyên dụng; đầu tư xây dựng 30 chương trình nghệthuật biểu diễn truyền thống cho các đơn vị công lập, 10 chương trình cho cácđơn vị ngoài công lập; xây dựng 60 chương trình phát trên sóng Truyền hìnhchuyên mục: “Trò chuyện về Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam” nhằmgiới thiệu và quảng bá tới đông đảo khán giả trong nước và quốc tế; tổ chức 40đợt tập huấn về nghệ thuật biểu diễn truyền thống cho các đơn vị công lập vàngoài công lập; tiếp tục đầu tư cho dự án “Sân khấu học đường” giai đoạn 2012 -2015, thực hiện mỗi năm 06 chương trình ở các địa phương khác nhau.Ngày 17 tháng 01 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đãký Quyết định số 285/QĐ-BVHTTDL phê duyệt “Đề án tổ chức các Cuộc thi, Liênhoan nghệ thuật Sân khấu và Ca múa nhạc chuyên nghiệp giai đoạn 2012 đến năm2020, tầm nhìn 2030” nhằm tạo sự ổn định và phát triển bền vững trong quá trìnhlao động sáng tạo nghệ thuật cho tất cả các đơn vị nghệ thuật trong và ngoài công lậptrên phạm vi toàn quốc. Đây là cơ sở để các đơn vị nghệ thuật chủ động chuẩn bịnhân lực, tài chính, tác phẩm, phương thức hoạt động, phương pháp sáng tạo chophù hợp với tình hình thực tế của từng đơn vị. Các Cuộc thi, liên hoan nghệ thuậtchuyên nghiệp là một hoạt động mang ý nghĩa lớn, giúp cho các nhà quản lý nghệthuật, các đơn vị, các nghệ sỹ đánh giá, tổng kết kết quả hoạt động của từng loại hìnhtrong một thời gian dài; từ đó tìm ra phương hướng hoạt động, định hướng sáng tạođể có nhiều tác phẩm đạt chất lượng cao phục vụ nhân dân. Các hoạt động này còntôn vinh các tập thể, các cá nhân đã có nhiều cống hiến trong quá trình lao động sángtạo nghệ thuật; là dịp để các nghệ sỹ giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhaunhằm nâng cao chất lượng tác phẩm.Ngày 05 tháng 10 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số79/2012/NĐ-CP quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi ngườiđẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấugồm 5 chương 31 điều và có hiệu lực từ ngày 01/01/2013. Nghị định ra đời đượcxem là biện pháp mạnh tay để chấn chỉnh các hoạt động biểu diễn, giải quyết nạn hátnhép, ăn mặc phản cảm, vi phạm cấp phép biểu diễn đã diễn ra quá nhiều và gây bứcxúc trong dư luận thời gian qua. Đây là văn bản quy phạm pháp luật mang tính pháplý cao nhất về lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ở thời điểm hiện tại để định hướng, điềuchỉnh các hoạt động nghệ thuật biểu diễn.Bên cạnh đó Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đầu tư kinh phí tổ chứcnhiều Liên hoan quốc tế tại Việt Nam nhằm giao lưu trao đổi Văn hóa, tiếp thunhững thành tựu của bạn bè quốc tế về nghệ thuật biểu diễn, giới thiệu các giá trị
  • 54. 51độc đáo của nghệ thuật Việt Nam tới cộng đồng quốc tế và nâng cao nhu cầuhưởng thụ nghệ thuật của khán giải trong nước.Các chính sách của Đảng và nhà nước bước đầu đã thu hút nhiều nguồn lựcxã hội tham gia các hoạt động sáng tạo và quảng bá tác phẩm trong lĩnh vực nghệthuật biểu diễn, thúc đẩy tiến trình xã hội hóa, hoạt động nghệ thuật.Ngày 18 tháng 02 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết địnhsố 321/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về du lịchgiai đoạn 2013-2020. Trong đó, việc phát huy các loại hình nghệ thuật truyềnthống vừa thúc đẩy hoạt động biểu diễn, giới thiệu các giá trị văn hóa đặc sắcvùng miền đến với du khách, vừa quảng bá du lịch, hỗ trợ xây dựng thương hiệucho các hoại hình du lịch tiêu biểu gắn với các địa phương, doanh nghiệp.Hiện nay, nhằm tăng cường công tác quản lý và phát triển sự nghiệp, CụcNghệ thuật biểu diễn đã và đang triển khai xây dựng các Quy chế như:- Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng nghệ thuật ngành Nghệ thuậtbiểu diễn;- Chương trình phối hợp hoạt động giữa Cục Nghệ thuật biểu diễn với Hộivăn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương (Hội Nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam,Hội Nhạc sỹ Việt Nam, Hội Nghệ sỹ Múa Việt Nam);- Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo các cuộc thi, liên hoan nghệ thuậtchuyên nghiệp;- Quy chế hoạt động của Ban Tổ chức các cuộc thi, liên hoan nghệ thuậtchuyên nghiệp.III. NHỮNG KHÓ KHĂN, TỒN TẠINghệ thuật biểu diễn bao gồm nghệ thuật biểu diễn sân khấu và biểu diễnca múa nhạc là loại hình đặc biệt của hoạt động văn hoá, là lao động sáng tạo củanghệ sỹ phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân. Trong những năm qua, tìnhhình ngân sách Nhà nước có nhiều khó khăn, cùng với việc chuyển cơ chế baocấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, chính sách tài trợ của ngân sáchNhà nước cho các đơn vị nghệ thuật chưa được hướng dẫn thống nhất, mỗi nơitiến hành một cách, nhiều đơn vị nghệ thuật chưa quan tâm đúng mức tới chấtlượng nghệ thuật, chạy theo thị hiếu tầm thường để doanh thu, các loại hình nghệthuật truyền thống bị sa sút nghiêm trọng.* Về đầu tư cơ sở hạ tầng và các thiết chếQuyết định số 45/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạchphát triển nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đến 2010 đã đưa ra kế hoạch “cải tạo,nâng cấp các rạp hát hiện có, đồng thời xây dựng mới một số nhà hát, trung tâmvăn hoá... Năm 2010 phấn đấu 100% các đơn vị nghệ thuật có sàn tập đủ điềukiện luyện tập và dàn dựng tác phẩm” và đưa ra một danh mục các nhà hát sẽđược xây dựng đến năm 2010. Tuy nhiên, hiện nay, chỉ có một số nhà hát đượcnâng cấp, cải tạo như Rạp hát Hồng Hà giao cho Nhà hát Tuồng Việt Nam, Rạp
  • 55. 52Kim Mã giao cho Nhà hát Chèo Việt Nam; Rạp Công nhân giao cho Nhà hátKịch Hà Nội, 01 nhà hát được xây dựng mới là Trung tâm nghệ thuật Âu Cơ -Nhà hát Ca, Múa, Nhạc Việt Nam, 01 nhà hát chuẩn bị khởi công xây dựng mớilà Nhà hát Ca, múa, nhạc dân gian Việt Bắc tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh TháiNguyên.Hiện cả nước có 128 đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp, hơn 200 đoàn nghệthuật xã hội hoá, hơn 41.000 đội văn nghệ cấp xã, phường, hàng trăm đội thôngtin tuyên truyền, chưa kể hơn 150 câu lạc bộ nghệ thuật tư nhân. Nhưng hiện naymới chỉ có gần 130 điểm biểu diễn nghệ thuật có mái che bao gồm nhà hát, rạphát, trung tâm văn hoá, cung văn hoá tập trung tại các thành phố lớn và chủ yếucó từ thời Pháp. Nhiều tỉnh chưa có nhà hát, hoạt động Nghệ thuật biểu diễn đượcthực hiện tại các nhà văn hóa. Tại không ít tỉnh, thành phố, thiết chế văn hoá ởcác vị trí đắc địa, trong đó có nhà hát, còn bị bán hoặc bị chuyển đổi mục đích sửdụng. Một số rạp hát, trung tâm văn hoá mới xây ở xa trung tâm dân cư, khôngtiện đường giao thông nên hiệu quả hoạt động Nghệ thuật biểu diễn không cao,trong khi những địa điểm đẹp thường được dành để xây dựng nhà hàng, kháchsạn. Tại Hà Nội, trong số 12 đơn vị Nghệ thuật biểu diễn trung ương chỉ có 3 nhàhát ở mặt tiền phố lớn, đi lại thuận tiện; còn lại, nếu đơn vị có rạp thì hầu như đềunằm trong ngõ hẹp. Hầu hết các khu đô thị mới không có một công trình văn hóanào. Các nhà văn hóa, trung tâm văn hóa có thể dùng Biểu diễn nghệ thuật phầnlớn được xây dựng với chức năng hội trường, vì vậy sân khấu, âm thanh, ánhsáng,… không được thiết kế phù hợp với hoạt động Nghệ thuật biểu diễn.Về trang thiết bị, những năm gần đây, một số địa phương đã quan tâm đầu tưcho các đoàn nghệ thuật của mình, nhưng nhìn chung việc đầu tư cho lĩnh vực nàycòn rất hạn chế; các đơn vị Nghệ thuật biểu diễn công lập phải thường xuyên đối mặtvới tình trạng thiết bị âm thanh, ánh sáng, phương tiện kỹ thuật phục vụ cho luyệntập và biểu diễn thiếu thốn, cũ kỹ, lạc hậu. Một số nhà hát, cơ sở biểu diễn tuy đượcsửa chữa, nâng cấp trang thiết bị nhưng chất lượng không đáp ứng yêu cầu, hiệuquả sử dụng không cao do không có chỗ lắp đặt, thiết bị máy móc chắp vá, khôngđồng bộ, kỹ thuật viên sử dụng thiết bị âm thanh ánh sáng không được đào tạođúng chuyên ngành, ảnh hưởng đến chất lượng nghệ thuật và không đáp ứngđược nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân.* Chính sách tiền lương, chế độ phụ cấp nghề và bồi dưỡng luyện tậpbiểu diễnVới đặc thù của lĩnh vực nghệ thuật, mọi sáng tạo đều mang dấu ấn riêngcủa cá nhân. Các chế độ, chính sách đối với nghệ sĩ lại đang mang tính cào bằng,không chú ý đến đặc thù của người lao động nghệ thuật. Vì vậy, không động viênđược sức sáng tạo của người nghệ sĩ.+ Chính sách tiền lươngHiện nay, theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chínhphủ Về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũtrang, trong đó thang lương của người hoạt động Nghệ thuật biểu diễn gồm bahạng (hạng I, hạng II, hạng III) với 26 bậc, nhưng tiêu chí cụ thể để xếp ngạch
  • 56. 53lương theo hạng cho diễn viên thì chưa được ban hành cụ thể. Theo quy định củaBộ Nội vụ, việc nâng ngạch từ hạng III lên hạng II phải qua kỳ thi nâng ngạchnhư viên chức ngành nghề khác. Nhưng nhiều năm qua, việc tổ chức thi nângngạch cho ngành Nghệ thuật biểu diễn không được thực hiện. Nhiều nghệ sỹđược Nhà nước đánh giá, công nhận và phong tặng các danh hiệu cao quý hiệnđang hoạt động hiệu quả trong các đơn vị nghệ thuật trung ương và địa phương đãvượt khung lương diễn viên hạng III từ 15 năm tới 19 năm nay vẫn không có cơhội được xét hoặc thi nâng chuyển ngạch bậc...+ Chế độ phụ cấp nghề và bồi dưỡng luyện tập biểu diễnQuyết định số 180/2006/QĐ-TTg ngày 09/8/2006 của Thủ tướng Chính phủvề chế độ phụ cấp ưu đãi nghề và bồi dưỡng đối với lao động biểu diễn nghệ thuậtngành Văn hóa-Thông tin và Thông tư liên tịch số 94/2006/TTLT/ BVHTT-BNV-BTC ngày 01/12/2006 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 180/2006/QĐ-TTg ngày09/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ thì chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề và bồidưỡng đối với lao động biểu diễn nghệ thuật (diễn viên) trong các đơn vị nghệ thuậtcủa nhà nước thuộc ngành văn hoá, mức phụ cấp nghề nghiệp tùy theo loại hìnhnghệ thuật đối với nghệ sĩ là 15% hoặc 20% lương cơ bản; bồi dưỡng luyện tập từ10.000đ - 20.000đ/buổi và bồi dưỡng biểu diễn từ 20.000 đ - 50.000đ/buổi. Với mứchưởng phụ cấp và bồi dưỡng luyện tập trên, các nghệ sỹ muốn gắn bó lâu dài vớinghề phải tìm thêm những công việc khác, nhiều khi không liên quan đến nghệthuật để có thể bảo đảm cuộc sống và duy trì nghề nghiệp.* Chế độ nhuận bútChế độ nhuận bút hiện hành được quy định tại Nghị định số 61/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số21/2003/TTLT-BVHTT-BTC ngày 01 tháng 7 năm 2003 của liên tịch Bộ Vănhóa - Thông tin (trước đây) và Bộ Tài chính hướng dẫn việc chi trả chế độ nhuậnbút, trích lập và sử dụng quỹ nhuận bút đối với một số loại hình tác phẩm.Nghị định số 61/2002/NĐ-CP ngày 11/6/2002 của Chính phủ về chế độNhuận bút quy định khung nhuận bút chi trả cho các tác giả trong nhiều lĩnh vực.Tuy nhiên, một số thành phố lớn, các đoàn nghệ thuật có nguồn thu cao cho rằngkhung nhuận bút trong Nghị định là quá thấp. Nhưng một số tỉnh, các đơn vịNghệ thuật biểu diễn của địa phương cho rằng, mức quy định trong Nghị định 61là cao, ngân sách địa phương không có khả năng chi trả. Cho nên, nhiều đơn vịNghệ thuật biểu diễn không áp dụng khung nhuận bút này, mà thực hiện chi trảnhuận bút theo sự thỏa thuận với tác giả thông qua hợp đồng dân sự.* Chế độ bảo hiểm xã hộiDo đặc thù hoạt động Nghệ thuật biểu diễn, đối với một số môn nghệ thuậtnhư xiếc, múa,... nghệ sĩ phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao, dễ xảy ra chấnthương, tai nạn. Tuy nhiên, mức mua bảo hiểm cho diễn viên thường thấp, khixảy ra tai nạn, việc chi trả từ bảo hiểm không cao, không đảm bảo được quyền lợicủa nghệ sĩ.
  • 57. 54Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì chỉ thực hiện cho một số lao độngbiểu diễn nghệ thuật (các nghệ sỹ) đủ điều kiện theo quy định mới được hưởng lươnghưu. Thực tế, hiện nay có nhiều nghệ sỹ vẫn còn sức khỏe, nhưng không còn khả năngbiểu diễn nghệ thuật, không thể đào tạo lại được, không bố trí được công việc khác,vẫn còn trong biên chế và hưởng lương lại không thuộc đối tượng hưởng lương hưutheo quy định vì có tuổi đời: nam từ đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi, nữ từ đủ trẻ hóa đượcđội ngũ, không khuyến khích nghệ sĩ trẻ hăng say sáng tạo.* Chính sách thẩm định các tác phẩm nghệ thuậtMức thu phí thẩm định quá thấp, không tương xứng với công sức bỏ ra choviệc thẩm định, không phù hợp với các mức thu phí trong tương quan các ngànhkinh tế khác, không khuyến khích kịp thời các nhà chuyên môn hoạt động tronglĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.- Văn bản ban hành đã được gần 8 năm trong khi tình trạng trượt giá diễnra từng ngày, riêng cải cách chế độ tiền lương cho người lao động (mặc dù thấtbại do bão giá) nhưng về con số đơn thuần cũng đã tăng gấp nhiều lần… Các vănbản trên ban hành đã lâu, khung giá quá cứng nhắc, tình hình trượt giá cho đếnnay đã gấp 3.0 lần so với mức lương cơ bản. Mức thu phí thẩm định quá thấp,không tương xứng với công sức bỏ ra cho việc thẩm định, không phù hợp với cácmức thu phí trong tương quan các ngành kinh tế khác, không khuyến khích kịpthời cho các nhà chuyên môn hoạt động trong lĩnh vực Văn hóa nói chung, Nghệthuật biểu diễn nói riêng.* Chính sách đấu thầu đặt hàng tác phẩmCác văn bản pháp quy về đấu thầu, đặt hàng hiện nay đã có, nhưng cho đếnthời điểm hiện tại chưa có văn bản nào quy định cụ thể về đấu thầu, đặt hàngtrong hoạt động biểu diễn nghệ thuật sử dụng ngân sách Nhà nước. Vì vậy, cáchoạt động biểu diễn nghệ thuật không thể tiến hành đấu thầu như yêu cầu củaQuyết định số 39/2008/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chínhphủ ban hành Quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sựnghiệp công sử dụng ngân sách Nhà nướcIV. GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ CHO NGÀNH NGHỆ THUẬT BIỂUDIỄN TỪ NĂM 2013-2020, TẦM NHÌN 20301. Từ năm 2013 - 2015, đề nghị Nhà nước tăng mức đầu tư cho văn hóa nghệthuật tương đương với mức đầu tư cho Khoa học - Công nghệ là 2% tổng chi ngânsách của nhà nước (Ngày 19/06/2012, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số99/2012/TT-BTC hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước năm 2013.Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 4/8/2012. Theo đó, lĩnh vực văn hóathông tin đạt tối thiểu 1,8%; lĩnh vực khoa học và công nghệ đạt tối thiểu 2% tổngchi ngân sách Nhà nước... ).2. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các Văn bản quy phạm pháp luật có tínhpháp lý cao để điều chỉnh mọi hoạt động trong lĩnh vực Nghệ thuật biểu diễn;
  • 58. 55Phấn đấu đến năm 2014 ban hành Pháp lệnh về Nghệ thuật biểu diễn, năm 2020ban hành Luật Nghệ thuật biểu diễn.3. Sửa Điều 6 Bộ Luật Lao động và Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội chophù hợp với đặc thù của ngành Nghệ thuật biểu diễn để đảm bảo quyền lợi củangười lao động.4. Tiếp tục xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển ngành Nghệ thuậtbiểu diễn; sắp xếp lại các đoàn nghệ thuật công lập trên cả nước; có chính sách cụthể hỗ trợ đầu tư tài chính cho các đoàn nghệ thuật truyền thống ở trung ương vàđịa phương.5. Chỉ đạo nghiên cứu để cụ thể hoá chính sách xã hội hóa và đẩy mạnh xãhội hóa hoạt động Nghệ thuật biểu diễn; ban hành chính sách thuế và đất đai (giaođất, cho thuê đất) phù hợp để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầutư cơ sở vật chất và tham gia hoạt động Nghệ thuật biểu diễn.6. Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nâng cấp trang thiết bị chongành Nghệ thuật biểu diễn; nghiêm cấm bán, chuyển đổi mục đích sử dụng đốivới các thiết chế văn hóa hiện đang quản lý và sử dụng.7. Chỉ đạo các bộ, ngành sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, chế độphù hợp với đặc thù của ngành Nghệ thuật biểu diễn. Trong đó:- Xem xét, sửa đổi, bổ sung chế độ tiền lương, phụ cấp, thù lao, nhuận bút;hướng dẫn tổ chức thi, xét nâng ngạch cho diễn viên phù hợp với đặc thù laođộng ngành Nghệ thuật biểu diễn.- Xem xét, sửa đổi các Văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo liênquan đến bản quyền cho phù hợp với Luật Sở hữu trí tuệ, nhằm khuyến khích sángtạo và đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan.- Có cơ chế tuyển sinh phù hợp với đặc thù của các trường Văn hóa nghệthuật; tăng kinh phí đào tạo hợp lý; có chính sách miễn học phí cho học sinh cácbộ môn nghệ thuật truyền thống; có chính sách đưa đi đào tạo nước ngoài một sốngành nghệ thuật mà Việt Nam chưa đào tạo được.- Thí điểm việc giao tuyển sinh, đào tạo cho một số đơn vị nghệ thuật trungương để có được những diễn viên phù hợp với loại hình nghệ thuật mà đơn vịđang thiếu nhân lực; bố trí kinh phí trong ngân sách hàng năm cho các đơn vịnghệ thuật chuyên nghiệp về việc đào tạo, tuyển sinh.8. Tiếp tục hoàn thiện quy định về trách nhiệm, quyền hạn, quan hệ côngtác cũng như cơ chế phối hợp trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nướcvề văn hóa ở trung ương và địa phương trong quản lý Nghệ thuật biểu diễn;kiện toàn tổ chức, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý kịp thời, nghiêm minhcác sai phạm trong lĩnh vực Nghệ thuật biểu diễn.Trên đây là bài tham luận: Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam sau 5 năm triểnkhai thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ chính trị, những thành tựu, khókhăn, tồn tại và những giải pháp kiến nghị của Cục Nghệ thuật biểu diễn.Xin trân trọng cảm ơn!
  • 59. 56NGÀNH MỸ THUÂT, NHIẾP ẢNH VÀ TRIỂN LÃMSAU 5 NĂM TRIỂN KHAI THỰC HIỆNNGHỊ QUYẾT SỐ 23- NQ/TW NGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2008CỦA BỘ CHÍNH TRỊ; NHỮNG THÀNH TỰU, KHÓ KHĂN, TỒN TẠIVÀ CÁC GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊĐoàn Thị Thu HươngPhó Cục trưởngCục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãmBộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchSau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ-TW ngày 16 tháng 6năm 2008 của Bộ Chính trị, ngành Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm đã đạtnhững những thành tựu đáng khích lệ. Với đặc trưng ngôn ngữ được quốc tế hóa,Mỹ thuật và Nhiếp ảnh đã hội nhập rất sớm với thế giới, đáp ứng được những đòihỏi mới của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhậpquốc tế; tiếp tục triển khai Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị “ Về tiếp tục xây dựngvà phát triển Văn học - Nghệ thuật trong thời kỳ mới”.I. THÀNH TỰUĐược sự chỉ đạo sâu sát của Lãnh đạo Bộ, trong 5 năm qua, Cục Mỹ thuật,Nhiếp ảnh và Triển lãm đã khẩn trương triển khai tích cực việc xây dựng các vănbản quản lý nhà nước, dần dần từng bước hoàn thiện và hình thành hệ thống cácvăn bản tạo hành lang pháp lý cho hoạt động Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm.Hoàn thành tốt các hoạt động sự nghiệp ở quy mô quốc gia, quốc tế. Phục vụ Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Phục vụ Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội.Tổ chức thành công các triển lãm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh quy mô toàn quốc. Cáctriển lãm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh đưa ra nước ngoài như Triển lãm ảnh tại Paris,New York hay ở Tokyo đều để lại ấn tượng mạnh trong bạn bè quốc tế.1.1. Về Công tác quản lý nhà nướcCông tác quản lý nhà nước là nhiệm vụ và chức năng quan trọng trong cáclĩnh vực quản lý của Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm cũng như của các SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, thành phố. Chưa bao giờ công tác quản lý nhànước, công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật trong ngành Mỹ thuật,Nhiếp ảnh và Triển lãm lại trở nên cần thiết và cấp bách như hiện nay, khi mà lựclượng, đối tượng hoạt động trong lĩnh vực này phát triển mạnh. Các hình thứchoạt động ngày càng phong phú, đa dạng, sự quan tâm và tác động đến đời sốngxã hội ngày một nhiều, đặt ra những vấn đề cần có giải pháp hiệu quả trong côngtác quản lý.1.1.1. Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
  • 60. 57Trong 5 năm (2008-2013) công tác quản lý nhà nước ngành Mỹ thuật,Nhiếp ảnh và Triển lãm đã tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện các văn bảnquy phạm pháp luật về quản lý ngành. Đây là giai đoạn Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnhvà Triển lãm tập trung vào việc xây dựng các văn bản quản lý Nhà nước, các vănbản quy phạm pháp luật thiết yếu cho hoạt động của ngành Mỹ thuật, Nhiếp ảnhvà Triển lãm; xây dựng văn bản mới và văn bản thay thế cho phù hợp với thực tếphát triển.- Xây dựng Nghị định Mỹ thuật:Việc xây dựng Nghị định về hoạt động mỹ thuật là một cố gắng lớn để đápứng đòi hỏi của công tác quản lý nhà nước. Đây là Nghị định được xây dựng khichưa có luật hay pháp lệnh mỹ thuật. Quá trình xây dựng Nghị định đã được tiếnhành tích cực. Đến nay Nghị định đã hoàn thành và trình Thủ tướng Chính phủban hành trong thời gian tới. Đây sẽ là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lựcpháp lý cao nhất của ngành Mỹ thuật từ trước đến nay, bao hàm các nội dungquản lý từ sáng tác, triển lãm, thẩm định, mua bán, sao chép tác phẩm mỹ thuật,xây dựng tượng đài, tranh hoành tráng, bảo quản, tu sửa, hạ giải công trình, tổchức trại sáng tác điêu khắc.v.v… Nhiều nội dung mới và cụ thể đã được đưa vàoNghị định như các nội dung về chính sách của nhà nước đối với hoạt động mỹthuật; kinh phí cho các công trình công cộng, thẩm định, đấu giá, bảo quản… cáccông trình mỹ thuật.v.v…Cùng với việc xây dựng Nghị định về hoạt động mỹ thuật là dự thảo Thôngtư hướng dẫn Nghị định đã được tiến hành nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thựchiện các vấn đề trong Nghị định.- Quy hoạch phát triển ngành:Việc Quy hoạch phát triển ngành Mỹ thuật đến năm 2020 tầm nhìn 2030cũng đang được tiến hành. Đây là Quy hoạch có tầm chiến lược để định hướngphát triển ngành mỹ thuật từ nay đến 2020 và tiếp theo đến 2030. Nhiều vấn đềcấp thiết và lâu dài cho sự phát triển của ngành Mỹ thuật sẽ được đưa vào Quyhoạch để trình Chính phủ trong năm 2013.- Quy hoạch tượng đài Quốc tổ Hùng Vương và danh nhân anh hùng dântộc cấp quốc gia đã được xây dựng xong và trình cấp có thẩm quyền phê duyệttrong thời gian tới.- Đề án Quốc hoa và Lễ phục: Từ năm 2011, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh vàTriển lãm cũng đã tiến hành xây dựng Đề án Quốc hoa và Lễ phục nhà nước. Đâylà những đề án có tác động xã hội rộng rãi, được sự quan tâm của các tầng lớpnhân dân. Đề án Quốc hoa hiện nay đã hoàn thành để trình cấp có thẩm quyềnphê duyệt. Sau khi Đề án Quốc hoa được ban hành, Cục sẽ tiến hành xây dựngQuy chế sử dụng Quốc hoa Việt Nam và các nội dung khác để tôn vinh và quảngbá Quốc hoa Việt Nam. Đề án Lễ phục hiện đang trong quá trình thực hiện.- Trong lĩnh vực Nhiếp ảnh, một lĩnh vực có số đông lực lượng tham gia,có tính đại chúng cao, phổ biến nhanh và sâu rộng, phát triển mạnh trong đờisống xã hội; Quy chế hoạt động Nhiếp ảnh trước đây cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề
  • 61. 58bất cập đặc biệt là trong việc sử dụng ảnh, quy chế này đã được thay thế bằngThông tư Nhiếp ảnh vừa được Bộ VHTTDL ban hành tháng 12 năm 2012.- Công tác quản lý nhà nước lĩnh vực Triển lãm trước đây thuộc tráchnhiệm quản lý của Cục Văn hóa thông tin cơ sở. Sau khi sát nhập Bộ, đượcchuyển giao về Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm. Trong lĩnh vực này, côngtác quản lý hiện vẫn còn có sự chồng chéo giữa các Bộ, ngành có các hoạt độngtriển lãm. Hiện nay, hoạt động triển lãm diễn ra ở nhiều lĩnh vực, với nhiều nộidung thuộc sự quản lý của các Bộ, ngành khác nhau. Ngoài các triển lãm mỹthuật, nhiếp ảnh diễn ra nhiều, liên tục thuộc sự quản lý đã rõ ràng của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thì các triển lãm vềnông nghiệp, công nghiệp, y tế, hàng hóa tiêu dùng.v..v.. cũng diễn ra thườngxuyên nhưng sự quản lý nhà nước chưa thống nhất. Vai trò và trách nhiệm của BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thànhphố hiện nay vẫn chủ yếu trong phạm vi chịu trách nhiệm và quản lý các triểnlãm có nội dung về Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các triển lãm văn hóa nghệthuật khác và triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh.1.1.2. Công tác cấp giấy phép các hoạt động Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãmTính trung bình hàng năm trên cả nước có khoảng 300 cuộc triển lãm mỹthuật, nhiếp ảnh ở các quy mô tổ chức từ triển lãm toàn quốc, triển lãm khu vực,tỉnh, thành phố đến các triển lãm nhóm và cá nhân tác giả.Công tác cấp giấy phép các hoạt động Mỹ thuật, Nhiếp ảnh là hoạt độngquản lý thường xuyên của Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm và các Sở Vănhóa, Thể thao và Du lịch.Trong 5 năm qua, công tác này đã được thực hiện khá tốt và đã tạo được nềnếp nhất định. Việc tiếp nhận hồ sơ xin phép, thụ lý hồ sơ và cấp giấy phép đãđược tiến hành đúng quy trình quy định; đảm bảo sự nghiêm túc trong nội dungtư tưởng của các triển lãm theo đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước.Các triển lãm về nghệ thuật đương đại như sắp đặt, trình diễn, video art,graffiti…, ảnh nude cũng là những vấn đề cần có cách nhìn nhận, đánh giá và giảipháp phù hợp của cơ quan quản lý trong việc cấp giấy phép, vấn đề này đòi hỏicần có cán bộ quản lý có chuyên môn, nghiệp vụ, có nhận thức chính trị đúng đắnvà có quan niệm phù hợp với sự phát triển của văn học nghệ thuật hiện nay trongxu thế hội nhập quốc tế.Việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có chủ trương thành lập phòng vănhọc nghệ thuật ở các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương là chủtrương đúng đắn cần sớm được triển khai, phù hợp với đòi hỏi thực tế của côngtác quản lý và sự phát triển của văn học nghệ thuật trong đời sống, thiết thực triểnkhai thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về xây dựng văn học nghệ thuậttrong tình hình mới.Thực tế cho thấy những năm qua công tác văn học nghệ thuật ở một số địaphương còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa thỏa đáng với hoạt động nghề
  • 62. 59nghiệp với sự đóng góp và tác động của văn học nghệ thuật đối với đời sống xã hội.Việc khá nhiều Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch không có hoặc chưa có phòngquản lý văn học nghệ thuật, không có cán bộ quản lý lĩnh vực tham mưu cho lãnhđạo Sở mảng công tác này đã dẫn đến sự lúng túng trong quản lý, một số Sở Vănhóa, Thể thao và Du lịch không chỉ khó khăn khi làm công tác quản lý cấp giấyphép các hoạt động mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm vì thiếu cán bộ, thiếu bộ máytổ chức mà còn có một số tỉnh, thành phố ủy thác các nhiệm vụ hoạt động sựnghiệp Mỹ thuật, Nhiếp ảnh cho các Hội văn học nghệ thuật địa phương là mộtthực tế có thật. Các hoạt động văn học nghệ thuật ở địa phương có các lĩnh vựcnhư điện ảnh (sản xuất và phát hành phim, chiếu phim), nghệ thuật biểu diễn (camúa, sân khấu) được các Sở quan tâm hơn, còn mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm,văn học, thủ công mỹ nghệ.v.v… là những lĩnh vực chưa được quan tâm đúngmức thậm chí bị coi là công việc của Hội văn nghệ.Công tác cấp giấy phép xây dựng các công trình tượng đài, tranh hoànhtráng thời gian qua thực hiện theo Quy chế 05 về cơ bản là tốt, giảm thiểu đượccác công trình không đảm bảo về chất lượng nghệ thuật. Tuy nhiên, trong lĩnhvực này, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương cần khẩn trương phốihợp với Sở Xây dựng tham mưu, đề xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốxây dựng quy hoạch tượng đài của địa phương, có quy hoạch quỹ đất cho cáccông trình tượng đài trong quy hoạch tổng thể các tỉnh, thành phố, tránh tìnhtrạng khi có công trình mới giải tỏa, tìm đất xây dựng công trình.Việc thành lập các Hội đồng nghệ thuật công trình tượng đài, tranh hoànhtráng cũng cần chấn chỉnh cho đúng thành phần, tỉ lệ các nhà chuyên môn. Vềvấn đề Hội đồng nghệ thuật xây dựng tượng đài, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh vàTriển lãm đã tham mưu và Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kýquyết định thành lập Hội đồng nghệ thuật tượng đài quốc gia (Quyết định số 2203ngày 18 tháng 7 năm 2011) để các địa phương căn cứ và mời tham gia vào Hộiđồng của địa phương mình. Cần hạn chế xây dựng các tượng đài có quy mô quáto lớn, đặc biệt cần chú trọng đến chất lượng nghệ thuật của tượng đài. Công tácquy hoạch tượng đài cần được tiến hành song song với quy hoạch đô thị của cácđịa phương.1.1.3. Công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động Mỹ thuật, Nhiếp ảnh vàTriển lãmCông tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãmnhững năm qua đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đáp ứng được với thực tếbởi lực lượng mỏng, thiếu thanh tra chuyên ngành của từng lĩnh vực. Một số vụviệc chưa được xử lý kịp thời, còn chậm so với thực tế diễn biến của sự việc.Hiện nay các sai phạm trong lĩnh vực Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãmvẫn tập trung vào một số vấn đề như: triển lãm không xin cấp giấy phép, xâmphạm bản quyền tác giả, buôn bán tác phẩm giả mạo, sao chép không đúng quyđịnh, có một vài vụ việc tác phẩm sai phạm về nội dung chính trị đã được ngănchặn kịp thời. Thực tế cho thấy phải tăng cường công tác kiểm tra cấp giấy phép,
  • 63. 60hậu kiểm, kiểm tra, giám sát các hoạt động mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, cócán bộ chuyên môn để tham mưu trực tiếp giải quyết vụ việc.Tác phẩm nghệ thuật có sức lan tỏa lớn trong cộng đồng, đặc biệt là tronggiới trẻ, trí thức, việc tăng cường công tác kiểm tra, xử phạt cần được triển khaithường xuyên, liên tục để có sự răn đe phòng ngừa từ trước, phòng ngừa hơn xử lýhậu quả.1.2. Hoạt động sự nghiệpCác hoạt động sự nghiệp hiện nay chủ yếu vẫn tập trung vào các hoạt độngnhư sáng tác, công bố, phổ biến tác phẩm, xây dựng các công trình mỹ thuật, tổchức các trại sáng tác.v.v… Các hoạt động này ở các quy mô như toàn quốc, khuvực, tỉnh, thành phố, đơn vị, cá nhân, thường xuyên diễn ra trong cả nước.Một số cuộc triển lãm có quy mô lớn, tầm ảnh hưởng rộng như:- Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc (5 năm 1 lần)- Triển lãm Mỹ thuật ứng dụng toàn quốc (5 năm 1 lần)- Triển lãm điêu khắc (10 năm 1 lần)- Triển lãm Mỹ thuật hàng năm của Hội Mỹ thuật Việt Nam diễn ra ở 8 khuvực trong cả nước- Triển lãm Nhiếp ảnh hàng năm của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam diễnra ở 8 khu vực trong cả nước- Triển lãm Ảnh nghệ thuật toàn quốc (2 năm 1 lần)- Triển lãm ảnh quốc tế Việt Nam của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam (2năm 1 lần).Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc (5 năm 1 lần) và Triển lãm ảnh nghệ thuậttoàn quốc (2 năm 1 lần) là hai triển lãm có quy mô lớn nhất hiện nay của ngànhMỹ thuật và Nhiếp ảnh. Triển lãm nhằm tổng kết và đánh giá chặng đường sángtác của các nghệ sĩ, có thể nhìn nhận, đánh giá sự phát triển cũng như những hạnchế của hoạt động Mỹ thuật, Nhiếp ảnh thông qua các triển lãm này.Ngoài các triển lãm định kỳ trên còn có nhiều triển lãm Mỹ thuật, Nhiếpảnh chuyên đề khác do Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm, Hội Mỹ thuậtViệt Nam, Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam, các Sở Văn hóa, Thể thao và Dulịch, Hội Văn học nghệ thuật, các tổ chức, cá nhân tổ chức trong khắp cả nước thuhút được đông đảo nghệ sĩ tham gia, tạo ra nhiều tác phẩm tốt phục vụ đời sốngvăn hóa, tinh thần của nhân dân.Triển lãm Mỹ thuật và Ảnh chuyên đề “Học tập tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh” đã thu hút được nghệ sỹ của cả nước tham dự.Festival mỹ thuật trẻ đã quy tụ các nghệ sỹ trẻ đang thể nghiệm các dòngmỹ thuật mới như: video art, sắp đặt, trình diễn…tạo được sự hung phấn cho cácnghệ sỹ trẻ khi có sự tương tác với công chúng.
  • 64. 61Triển lãm ảnh ý tưởng vừa qua đã tạo cho giới nhiếp ảnh một cách nhìnmới, kích thích sự sáng tạo và phần nào giúp nghệ sỹ thay đổi cách nhìn, cách tưduy sáng tạo của một trong những nhánh nhiếp ảnh đương đại.Đề án 844 về đặt hàng sáng tác đề tài chiến tranh cách mạng thời kỳ 1930-1945 đang được triển khai.Các triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh của Việt Nam đưa ra trưng bày ở nướcngoài thời gian qua đã làm tốt việc giới thiệu văn hóa nghệ thuật của Việt Namvới bạn bè quốc tế. Các triển lãm như Triển lãm tranh sơn mài Việt Nam tạiTrung Quốc, Triển lãm ảnh nghệ thuật tại Pháp và Mỹ do Bộ VHTTDL tổ chứccùng với các triển lãm do các cơ quan tổ chức, các địa phương, cá nhân, nhóm tácgiả Việt Nam trưng bày ở nhiều nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, các nướcASEAN, Đức, Hà Lan, Thụy Điển.v.v.. đã góp phần rất tích cực vào việc giớithiệu văn hóa, đất nước, con người Việt Nam góp phần quảng bá cho du lịch.Các triển lãm quốc tế vào Việt Nam thời gian qua cũng đã làm tốt việc giớithiệu văn hóa và đất nước, con người các nước bè bạn quốc tế với nhân dân ViệtNam, góp phần vào sự hiểu biết lẫn nhau và quan hệ hợp tác hữu nghị giữa ViệtNam và các nước trên thế giới: Triển lãm của 15 nhà Nhiếp ảnh nổi tiếng thế giới;Triển lãm các họa sỹ nổi tiếng của Ấn Độ; Triển lãm của các họa sỹ trẻ Châu Á…Trong cả nước hiện nay có khoảng 1.500 họa sĩ, nhà điêu khắc là hội viênHội Mỹ thuật Việt Nam; trên 800 hội viên Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam vàhàng ngàn hội viên của các Hội văn học nghệ thuật địa phương. Đây là một lựclượng nghệ sĩ đông đảo có chuyên môn nghiệp vụ tốt, sức sáng tạo dồi dào đangtích cực đóng góp cho sự nghiệp phát triển của ngành Mỹ thuật, Nhiếp ảnh.Đến thời điểm này, trên cả nước đã có 370 công trình tượng đài, tranhhoành tráng được xây dựng, một số địa phương đã có vườn tượng, tổ chức cáctrại sáng tác điêu khắc như Hà Nội, Hải Phòng, Tp. Hồ Chí Minh, Phú Thọ, NinhThuận, Khánh Hòa, Đà Nẵng, Huế, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Hội An (Quảng Nam),Bà Rịa- Vũng Tàu, An Giang đóng góp tích cực trong việc tôn vinh truyền thốnglịch sử, cách mạng tạo ra các tác phẩm điêu khắc đưa nghệ thuật đến gần với đạichúng, góp phần làm đẹp môi trường, cảnh quan nghệ thuật phục vụ nhân dân.Về công tác đào tạo Mỹ thuật, Nhiếp ảnh trong thời gian qua đã có nhữngchuyển biến về chất lượng, giáo trình, quy mô và ngành học, gắn với thực tế xãhội hơn, phù hợp với sự phát triển chung của thế giới. Tuy nhiên, nhiều vấn đề vềchất lượng đào tạo, quy mô, ngành học, số lượng tuyển sinh cũng là những vấn đềcần nghiên cứu, đổi mới cho phù hợp với sự phát triển.Công tác bảo quản, lưu giữ các tác phẩm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh cũng cầnđược quan tâm hơn nữa, gần đây giới Mỹ thuật rất vui mừng khi Bảo tàng Mỹthuật Tp. Hồ Chí Minh được cấp thêm diện tích trưng bày mới và có những thayđổi trong cách thức trưng bày; Tp. Đà Nẵng cũng đã có đề án xây dựng Bảo tàngMỹ thuật Tp. Đà Nẵng; Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam đã chính thức bắt tayvào việc xây dựng Trung tâm bảo quản, lưu giữ ảnh nghệ thuật; một số cá nhân,đơn vị đã và đang triển khai xây dựng Bảo tàng Mỹ thuật tư nhân, Nhà tưởngniệm họa sĩ v.v…
  • 65. 62Công tác giám định tác phẩm và đấu giá tác phẩm mỹ thuật hiện nay cònmanh nha cả về tổ chức bộ máy và hoạt động, mặc dù nhu cầu của xã hội là có vàcần thiết trong quá trình phát triển.Các hoạt động triển lãm văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch (ngoài triểnlãm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh) trong thời gian qua cơ bản là hoạt động tốt. Tuy nhiêncác địa phương nhìn chung còn ít quan tâm đến hoạt động triển lãm, có địaphương có nhà trưng bày triển lãm, nhiều địa phương chưa có; nội dung hoạtđộng nghiệp vụ chuyên môn trong lĩnh vực này chưa phong phú, chưa đáp ứngđược đòi hỏi của xã hội.Các hoạt động sáng tác mẫu, kiểu dáng và triển lãm thủ công mỹ nghệ, mỹthuật ứng dụng là một trong những nội dung thuộc sự quản lý của Cục Mỹ thuật,Nhiếp ảnh và Triển lãm và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phươngnhưng sự quan tâm ở lĩnh vực này chưa nhiều. Cái khó hiện nay là mô hình quảnlý còn phân tán. Mỹ thuật ứng dụng, mỹ thuật thủ công gắn nhiều với doanhnghiệp và làng nghề thuộc sự quản lý nhà nước của Bộ Công thương và Bộ Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn. Ngành văn hóa nên tập trung vào nội dung vănhóa của mảng công tác này, đó là các hoạt động để khuyến khích sáng tạo ranhững kiểu dáng, mẫu mã mới vừa có yếu tố văn hóa, yếu tố thẩm mỹ và có côngnăng hữu ích, thúc đẩy sự phát triển góp phần gìn giữ các giá trị của di sản truyềnthống của dân tộc và phát triển lĩnh vực Mỹ thuật ứng dụng phù hợp với đời sống hiệnđại.II. KHÓ KHĂN, TỒN TẠIMở cửa và hội nhập kinh tế theo hướng toàn cầu hoá là xu thế khách quanvừa là quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh của các nướcphát triển để bảo vệ lợi ích quốc gia. Sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước talà nền tảng vững chắc tạo môi trường thuận lợi cho phát triển hoạt động củangành mỹ thuật theo tinh thần Nghị quyết 23 về tiếp tục xây dựng và phát triểnvăn học nghệ thuật trong thời kỳ mới. Ngành mỹ thuật phát triển và được mởrộng, tạo điều kiện cho giao lưu, hội nhập, đồng thời cũng đang diễn ra cuộc đấutranh tư tưởng gay gắt để bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc.2.1. Tâm điểm là con người:Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếptục phát triển với những bước tiến nhảy vọt sẽ đưa thế giới từ kỷ nguyên côngnghiệp sang kỷ nguyên thông tin và kinh tế tri thức. Nhân tố con người dần trởthành trung tâm của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Nhiều quốc gia đang hướngtới nâng cao các chỉ số nguồn nhân lực và mức hưởng thụ văn hoá. Đầu tư chovăn hoá - xã hội từ chỗ được coi là đầu tư cho phúc lợi xã hội chuyển thành đầu tưcho con người, song song với sự phát triển là việc đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật,đáp ứng với xu thế chung của thế giới. Trình độ dân trí ngày càng phát triển, nhucầu khán giả thưởng thức nghệ thuật thị giác ngày càng đòi hỏi cao.
  • 66. 63Sự phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường vừa thúc đẩy các nguồn lựccho hoạt động mỹ thuật, nhưng đồng thời cũng xuất hiện những biểu hiện tiêu cựcvì mục đích lợi nhuận mà coi nhẹ những giá trị văn hoá truyền thống.Trong thời đại thông tin bùng nổ, con người có nhiều sự lựa chọn nên mỹthuật gặp nhiều “đối thủ” cạnh tranh, người dân có thể đến rạp chiếu phim haynhà hát nhiều hơn nhà triển lãm;Mỹ thuật và Nhiếp ảnh có đặc thù là sáng tạo của cá nhân nghệ sĩ nhưngsản phẩm của họ là tác phẩm nghệ thuật, có tính tư tưởng phục vụ rộng rãi nhândân và tác động đến xã hội rất lớn. Không nên nhìn nhận vì là sự sáng tạo củatừng cá nhân mà xem nhẹ, ít quan tâm hơn các lĩnh vực nghệ thuật khác.2.2. Các ngành các cấp chưa chú trọng tới mỹ thuật:Nhận thức của các ngành, các cấp đặc biệt là ở địa phương chưa đúng vớiđặc thù và tính chất của ngành mỹ thuật, nhiếp ảnh, chưa thấy hết tính tất yếu vàlợi ích lâu dài của mỹ thuật đối với xã hội. Tư duy, thói quen bao cấp, coi hoạtđộng mỹ thuật như tuyên truyền, cổ động, chưa thấy được vai trò của mỹ thuật,nhiếp ảnh trong việc tạo ra đời sống tinh thần, đời sống văn hóa, thẩm mỹ cho xãhội vẫn còn tồn tại khá phổ biến trong các cấp các ngành. Mặt khác, văn hoá làlĩnh vực nhạy cảm, mang tính định hướng tư tưởng nên trong chỉ đạo còn lúngtúng, chưa lường hết được những mặt trái nảy sinh trong quá trình thực hiện chủtrương, chính sách và những mặt trái của cơ chế thị trường.Công tác chỉ đạo, quản lý của cơ quan quản lý nhà nước chưa theo kịp vớisự phát triển, chậm đổi mới, lúng túng và có mặt còn bất cập. Còn thiếu nhiều cơchế, chế độ chính sách đặc thù để tạo hành lang pháp lý, khuyến khích những mặttích cực, ngăn chặn tiêu cực trong công tác quản lý các hoạt động mỹ thuật, nhiếpảnh hiện nay.Cơ sở vật chất, các Nhà triển lãm còn thiếu không đáp ứng được so với xuthế phát triển; phương tiện còn cũ kỹ, lạc hậu, cơ chế tổ chức hoạt động còn trìtrệ, hoạt động kém hiệu quảViệc sử dụng, tiêu thụ tác phẩm Mỹ thuật, Nhiếp ảnh hiện nay còn gặpnhiều khó khăn do nhận thức và ý thức tự tôn, tôn vinh văn hóa của đất nướcchưa cao, nhiều cơ quan, đơn vị, nhiều khu du lịch còn sử dụng tranh, ảnh củanước ngoài để trang trí trụ sở, phòng làm việc, hội trường…2.3. Chưa có thị trường mỹ thuật, nhiếp ảnh trong nước:Thị trường mỹ thuật, nhiếp ảnh trong nước chưa phát triển, nạn sao chéptranh sai quy định chưa kiểm soát được; thiếu các chế tài để xử lý. Hiện nay cácGallery hoạt động dưới sự điều tiết của luật thương mại. Các giấy phép con do SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch cấp đã bị bãi bỏ từ năm 2000, các chủ Gallery đềukhông có bằng cấp về mỹ thuật hoặc có người tư vấn có bằng về mỹ thuật, nêngây ra tình trạng lộn xộn trong kinh doanh mặt hàng đặc biệt này.2.4. Cơ chế chính sách chưa phù hợp:
  • 67. 64Nguồn ngân sách phân bổ cho ngành Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, Triển lãm chưaxứng tầmNhiều chế độ chính sách mang tính đặc thù cho ngành mỹ thuật không phùhợp (như nghị định 61/2002/NĐ-CP ban hành ngày 11 tháng 6 năm 2002 củaChính phủ về chế độ nhuận bút đã lạc hậu so với hiện nay; chủ trương xã hội hoácác hoạt động mỹ thuật chưa triển khai một cách sâu rộng, có hiệu quả.Kế hoạch tổng thể cho ngành mỹ thuật chưa có; Hoạt động mỹ thuật thiếuđồng bộ, thiếu chuyên nghiệp;Công tác quản lý chất lượng nghệ thuật các triển lãm ra nước ngoài cònbuông lỏng;Kinh phí cho việc tuyên truyền, quảng cáo còn hạn chế;Cơ sở vật chất cho mỹ thuật còn thiếu, chưa có Nhà triển lãm riêng chochuyên ngành mỹ thuật; Mỹ thuật ở địa phương gặp nhiều khó khăn, chưa đượcquan tâm;Chưa xây dựng được Luật mỹ thuật.III. KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP:3.1. Về cơ chế chính sách:Cần có cơ chế, chủ trương phân bổ nguồn ngân sách kịp thời để phát triểnngành mỹ thuật, nhiếp ảnh.3.2. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước:- Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm phápluật, xây dựng cho ngành Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm hành lang pháp lý đểphát triển đúng định hướng, đúng đường lối văn hoá, văn nghệ của Đảng và phápluật của nhà nước, quy định quyền và trách nhiệm của các cá nhân, các tổ chứctham gia vào hoạt động Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm.Thông tư hướng dẫn hoạt động nhiếp ảnh.v.v... và tổ chức phổ biến tậphuấn các văn bản này đến các đơn vị.- Công tác cấp giấy phép và kiểm tra các hoạt động mỹ thuật, nhiếp ảnh vàtriển lãm cần được tăng cường; tổ chức các lớp tập huấn quy trình, thủ tục thẩmđịnh và cấp phép. Bên cạnh đó, cần chú trọng công tác đào tạo, nâng cao năng lựccho cán bộ trong việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp quy; chủ động đềxuất và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tế quản lý hoạt động mỹ thuật,nhiếp ảnh và triển lãm.- Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm rất hoan nghênh chủ trương của Bộvà mong đợi các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sớm cho thành lập phòng quảnlý văn học nghệ thuật tại các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Đây là chủ trươngđúng, phù hợp với thực tế. Đây sẽ là bước ngoặt quan trọng để các hoạt động vănhọc nghệ thuật, trong đó có Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm có sự quản lý tích
  • 68. 65cực của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch để có điều kiện phát triển tốt trongnhững năm tới.3.3. Về hoạt động sự nghiệp:- Khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo của các văn nghệ sĩ, chấp nhận nhữnghình thức nghệ thuật mới song song cùng tồn tại, với mục tiêu là tạo ra môitrường thẩm mỹ lành mạnh, phong phú, phù hợp với thuần phong mỹ tục của dântộc.- Tổ chức nhiều hoạt động thực tế sáng tác giúp cho tác giả có điều kiệnsáng tác các tác phẩm, công trình có quy mô, mang tầm tư tưởng và thời đại, phảnánh được công cuộc xây dựng và bảo vệ của đất nước.- Tăng cường giao lưu, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm và giới thiệu nghệthuật và hình ảnh đất nước con người Việt Nam của các tác giả và tác phẩm trongkhu vực và trên thế giới. Tham gia triển lãm tại các ngày văn hóa Việt Nam, cácsự kiện văn hóa, các chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch của Việt Nam ởnước ngoài.- Tạo lập vị trí của mỹ thuật Việt Nam trong khu vực và thế giới. Đưa triểnlãm mỹ thuật của Việt Nam ra nước ngoài; Tham gia triển lãm tại các ngày vănhóa Việt Nam, các sự kiện văn hóa, các chương trình quảng bá, xúc tiến du lịchcủa Việt Nam ở nước ngoài. Tham gia các triển lãm quốc tế trong khu vực và thếgiới để từ đó thiết lập thị trường mỹ thuật Việt Nam ở nước ngoài- Xây dựng cơ chế chính sách, biện pháp để hình thành thị trường Mỹthuật, Nhiếp ảnh trong nước: Để xây dựng ngành Mỹ thuật, Nhiếp ảnh phát triểnbền vững, cần tạo ra thị trường trong nước, tiêu thụ, sử dụng tác phẩm của các nghệsĩ Việt Nam. Đây là vấn đề lớn cần có sự thay đổi nhận thức trong từng cá nhân, đơnvị và phải xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ cho sự hình thành và phát triển thịtrường trong nước. Trước mắt, các bảo tàng, thư viện, các trụ sở cơ quan nhà nước,các khu du lịch, khách sạn… cần mua tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh của các nghệ sĩViệt Nam để trưng bày, trang trí.- Vấn đề mua tác phẩm mỹ thuật để lưu giữ trong các bảo tàng, sử dụngtrong các công sở, khách sạn, khu du lịch và các địa điểm công cộng khác cần trởthành một chủ trương từ trung ương đến địa phương. Cần có cơ chế đặc thù choviệc mua tác phẩm mỹ thuật cho các bảo tàng để lưu giữ được nhiều tác phẩm tốt,có giá trị nghệ thuật cao cho thế hệ mai sau, hạn chế việc thất thoát tác phẩm racác bảo tàng và sưu tập tư nhân của thế giới.- Tăng cường công tác kiểm tra hoạt động của các Gallery, các đơn vị saochép tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh; xử phạt nghiêm minh các hoạt động xâmphạm bản quyền tác giả và quyền liên quan.- Cần tăng cường và làm tốt hơn nữa công tác xã hội hóa các hoạt động mỹthuật để ngoài nhà nước còn có nhiều các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân đầutư, giúp đỡ, phối hợp tổ chức các hoạt động mỹ thuật, nhiếp ảnh.
  • 69. 66- Cần tăng cường công tác phổ cập về kiến thức mỹ thuật tạo cho cộngđồng thông qua các trung tâm văn hóa, nhà văn hóa, trong các trường phổ thôngvề sự hiểu biết và cảm thụ mỹ thuật một cách bài bản bằng hệ thống bài giảngđược đầu tư đúng mức. Chú ý quản lý các giáo trình hội họa điêu khắc tại cáctrung tâm giáo dục ngoài giờ. Rất cần giáo trình cho các lớp bồi dưỡng tìm hiểukiến thức về hội họa tại các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung tâm ngoài giờthay về chỉ có lớp dạy vẽ.- Cần chú ý nghiên cứu thực trạng không gian mỹ thuật hiện nay trên phạmvi từng địa phương và cả nước: bao gồm hệ thống cây xanh, tiểu cảnh. Mỹ thuậtmặt tiền đường phố trong dịp Tết, lễ hội, chiếu sáng mỹ thuật ban đêm kể cả ánhsáng mỹ thuật của quảng cáo về đêm. Đặc biệt là không gian tượng đài phù điêu,lịch sử và nghệ thuật cho các đô thị. Nghệ thuật nơi công cộng hiện đang ở tìnhtrạng lạm phát dư thừa cái xấu, cái lãng phí hoặc là một sa mạc hoàn toàn thiếuvắng mỹ thuật.IV. KẾT LUẬNTrong 5 năm thực hiện Nghị quyết 23 của Đảng, cùng với sự cố gắng phấnđấu của ngành mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Vănhoá, Thể thao và Du lịch, sự phối hợp của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch địaphương, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam và các Hộivăn học nghệ thuật, ngành mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm đã có những thànhtựu đáng khích lệ, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bảnsắc dân tộc.Với những thành tích đạt được, hy vọng trong các năm tiếp theo ngành mỹthuật, nhiếp ảnh và triển lãm tiếp tục cố gắng hơn nữa trong công tác quản lý, chỉđạo điều hành các hoạt động để có nhiều tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh, nhiềucông trình nghệ thuật có giá trị cao, nhiều tác giả tài năng để đóng góp vào việcnâng cao nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật của nhân dân ngày càng cao tạo nên đờisống văn hóa, tinh thần của nhân dân ngày một phong phú, theo đúng tinh thầnNghị quyết 23 của Đảng.
  • 70. 67CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓASAU 05 NĂM TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT SỐ 23/NQ-TWNGÀY 16 - 6 - 2008 CỦA BỘ CHÍNH TRỊCục Di sản văn hóaBộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch1. NGHỊ QUYẾT 23 VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢNVĂN HÓATrong quá trình triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hànhTrung ương (Khóa VIII) của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc, sự ra đời Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm2008 của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuậttrong thời kỳ mới” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 23) có ý nghĩa đặc biệt đối vớisự phát triển của một lĩnh vực/thành tố quan trọng của nền văn hóa Việt Nam-lĩnh vực văn học, nghệ thuật, trong bối cảnh đất nước bước sang thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.Nghị quyết 23 đề cập nhiều vấn đề liên quan đến quan điểm của Đảng vềphát triển văn học, nghệ thuật. Tiếp cận từ lĩnh vực hoạt động bảo vệ và phát huygiá trị di sản văn hóa, có thể nhận thấy một số nội dung của Nghị quyết trực tiếpliên quan đến quan điểm chỉ đạo của Đảng ta nhằm đẩy mạnh các hoạt động củalĩnh vực này nhằm góp phần vào sự phát triển văn học, nghệ thuật ở nước ta, cụthể:- Về những thành tựu…, Nghị quyết khẳng định: “…Công tác sưu tầm, bảotồn, phát huy di sản văn học, nghệ thuật của các dân tộc đạt được những kết quảthiết thực… Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển; nhiều câu lạc bộ vănhọc, nghệ thuật ra đời, góp phần cổ vũ, động viên quần chúng sáng tạo, khai thác,truyền bá các giá trị nghệ thuật cổ truyền và thưởng thức văn học, nghệ thuật,nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân ở cơ sở…”.- Về những yếu kém, khuyết điểm, Nghị quyết chỉ rõ: “…Thiếu định hướngvà tiêu chí cụ thể cho việc chọn lọc, kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá truyềnthống cũng như chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại trong thời gian quacòn nhiều bất cập, có lúc không rõ tiêu chí, thiếu định hướng. Chưa xây dựngđược những công trình trung tâm lớn cho hoạt động văn hoá, nghệ thuật, tươngxứng với vị thế của đất nước thời kỳ mới…”.- Từ đánh giá thực trạng đó, Nghị quyết đã nêu quan điểm chỉ đạo củaĐảng là: “…Trên cơ sở giữ gìn, phát triển, phát huy những giá trị của văn học,nghệ thuật dân tộc, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giátrị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, đồng thời kiên quyết ngăn chặn,làm thất bại âm mưu, thủ đoạn áp đặt, xâm lăng văn hóa của các thế lực thùđịch…”.- Theo đó, là chủ trương và các giải pháp thực hiện:
  • 71. 68+ “… Xây dựng và thực hiện có hiệu quả kế hoạch xã hội hoá các hoạtđộng văn học, nghệ thuật, làm rõ các lĩnh vực cần xã hội hoá, lĩnh vực Nhà nướcvà nhân dân cùng làm, lĩnh vực Nhà nước phải đầu tư bảo tồn, xây dựng và pháttriển… Xây dựng đề án và cơ chế bảo tồn, truyền bá các loại hình văn học, nghệthuật cổ truyền; có chính sách đặc biệt hỗ trợ sự phát triển của ngôn ngữ, chữ viếtvà văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số…”.+ “…Xây dựng và thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, ưu đãi vănnghệ sĩ có quá trình cống hiến, có nhiều tác phẩm tốt, ảnh hưởng tích cực trongxã hội…”.+ “…Tăng cường các biện pháp xây dựng, phát triển văn nghệ quần chúng,hướng dẫn, khuyến khích quần chúng tham gia sáng tạo, bảo tồn, truyền dạy vàphát huy các giá trị văn hoá, văn nghệ truyền thống của dân tộc…”.Sau 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, công tác bảo vệvà phát huy giá trị di sản văn hóa đã đạt được nhiều thành tựu, tích cực góp phầnxây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển kinhtế - xã hội.2. MỘT SỐ KẾT QUẢ TÍCH CỰC2.1. Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luậtTrong những năm qua, đặc biệt từ năm 2009 đến nay, hệ thống văn bản quyphạm pháp luật về di sản văn hóa đã được tập trung xây dựng, ban hành, tạo rahành lang pháp lý ngày càng thuận lợi hơn cho hoạt động bảo vệ và phát huy giátrị di sản văn hóa nói chung, di sản văn học, nghệ thuật nói riêng. Từ năm 2009đến nay, có 1 Luật sửa đổi, 2 Nghị định và 8 Thông tư về lĩnh vực này được cơ quancó thẩm quyền ban hành, trong đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luậtdi sản văn hóa, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 quy định chi tiết thihành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Luật di sản văn hóa, Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản vănhoá phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia… Đốitượng, phạm vi, nội dung điều chỉnh của các văn bản này có nhiều điểm mới, nhấtlà những điều chỉnh nhằm thực hiện việc kiểm kê kho tàng di sản văn hóa vật thểvà phi vật thể, tôn vinh những người có tài và có công bảo vệ di sản văn hóa phivật thể, bảo vệ và phát triển tiếng nói, chữ viết của các dân tộc,… đã thực sự tạora cơ hội và điều kiện để những quan điểm, định hướng và giải pháp của Đảng vềvấn đề bảo tồn di sản văn hóa dân tộc nhằm phát triển văn học, nghệ thuật theotinh thần Nghị quyết 23 được triển khai có hiệu quả trong thực tiễn đời sống.2.2. Tôn vinh những di sản văn hóa về văn học, nghệ thuật- Về di sản văn hóa phi vật thể:+ Từ năm 2008 đến nay, nhiều di sản văn hóa phi vật thể thuộc loại hìnhnghệ thuật trình diễn dân gian của Việt Nam đã được quan tâm nghiên cứu, lập hồsơ đề nghị và đã được UNESCO vinh danh, như: Dân ca Quan họ Bắc Ninh - Di
  • 72. 69sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2009); Hát Ca trù - Di sản văn hóaphi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp (2009); Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đềnSóc (Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại - 2010); Hát Xoan Phú Thọ- Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp (2011); Tín ngưỡng thờcúng Hùng Vương ở Phú Thọ - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại(2012).+ Việc kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể đã được tiến hành ởnhiều địa phương trên cả nước; nhiều di sản văn hóa phi vật thể thuộc loại hìnhngữ văn dân gian và nghệ thuật trình diễn dân gian đã được lập hồ sơ khoa học.Trên cơ sở đó, tháng 12/2012, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đãquyết định đưa 33 di sản văn hóa phi vật thể và Danh mục di sản văn hóa phi vậtthể quốc gia (đợt 1).- Về di sản văn hoá vật thể:+ Ngày 27/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1419/QĐ-TTgxếp hạng Di tích lịch sử Khu lưu niệm Nguyễn Du, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnhlà di tích quốc gia đặc biệt. Ngày 01/10/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyếtđịnh số 1426/QĐ-TTg công nhận 30 hiện vật và nhóm hiện vật là bảo vật quốc gia,trong đó có những tác phẩm điêu khắc nghệ thuật là cổ vật nổi tiếng (Trống đồngNgọc Lũ, Trống đồng Hoàng Hạ, Thạp đồng Đào Thịnh…), đặc biệt là có tác phẩm“Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù) bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.+ Từ năm 2008 đến nay, thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về vănhóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hỗ trợ kinh phí cho tu bổ, tôn tạo nhiềudi tích nhằm tôn vinh các tác gia văn học, nghệ thuật lớn của nền văn học ViệtNam: Khu di tích Nguyễn Du (tỉnh Hà Tĩnh) với tổng kinh phí là 4 tỷ đồng (năm2011, 2012), dự kiến năm 2013 đầu tư 3 tỷ đồng; Mộ và khu tưởng niệm NguyễnĐình Chiểu (tỉnh Bến Tre) là 1 tỷ đồng năm 2012; đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm(thành phố Hải Phòng) là 3 tỷ đồng năm 2012, dự kiến năm 2013 đầu tư 2 tỷđồng; đền thờ Lê Văn Hưu (tỉnh Thanh Hóa) là 200 triệu đồng năm 2009; khu lưuniệm Phan Bội Châu (tỉnh Thừa Thiên Huế) là 400 triệu đồng năm 2009, năm2010 là 400 triệu đồng; khu lưu niệm Phan Chu Trinh (tỉnh Quảng Nam) đầu tư300 triệu đồng năm 2008, năm 2010 là 200 triệu đồng năm 2011 là 400 triệuđồng, năm 2012 là 800 triệu đồng; mộ Phan Chu Trinh (Thành phố Hồ Chí Minh)là 300 triệu đồng năm 2011, năm 2012 là 1 tỷ đồng… Các di tích sau khi được tubổ, tôn tạo đã trở thành những sản phẩm văn hoá - du lịch đặc thù, góp phần hìnhthành những điểm, tuyến du lịch hấp dẫn, đồng thời là nơi giáo dục truyền thốngyêu nước, bản sắc văn hóa dân tộc cho các thế hệ trẻ.2.3. Về hoạt động bảo tàngHệ thống bảo tàng Việt Nam (bao gồm 136 bảo tàng, trong đó có 16 bảotàng ngoài công lập) ngày càng hoàn thiện và hoạt động có hiệu quả. Nhiều bảotàng đã chú trọng vào hoạt động sưu tầm, lưu giữ, trưng bày và giới thiệu nhữngtác phẩm văn học nghệ thuật và sưu tập hiện vật có giá trị liên quan đến cuộc đời,sự nghiệp của các tác gia văn học, nghệ thuật trong lịch sử và hiện tại. Đặc biệt,một số bảo tàng chuyên ngành, bảo tàng chuyên đề về văn học, nghệ thuật đã
  • 73. 70được thành lập, hoạt động ngày một hiệu quả, đã không chỉ bổ sung vào hệ thốngbảo tàng Việt Nam những khuôn diện mới, mà còn trực tiếp tham gia giữ gìn,quảng bá di sản văn học, nghệ thuật Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển văn học,nghệ thuật Việt Nam (Bảo tàng Văn học Việt Nam thuộc Hội Nhà vănViệt Namvà các bảo tàng ngoài công như: Bảo tàng Mỹ thuật họa sĩ Tốt và gia đình, Bảotàng Mỹ thuật họa sĩ Phan Thị Ngọc Mỹ, Bảo tàng không gian văn hóa Mường,Bảo tàng Văn hóa Việt,...).2.4. Về xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị văn học, nghệ thuật:Công tác xã hội hóa được đẩy mạnh, ngày càng thu hút nhiều tổ chức, cánhân tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Nhiều trung tâm/câu lạc bộCồng chiêng, Ca trù, Quan họ, Hát Xoan, Đờn ca tài tử đã được phục hồi; hàngtrăm câu lạc bộ mới ra đời, hoạt động dưới hình thức các trung tâm nghiên cứu vàcơ sở diễn xướng dân gian theo đội, nhóm hoặc gia đình. Một số câu lạc bộ đã hoạtđộng có uy tín, được các tổ chức nước ngoài mời tham gia liên hoan di sản văn hóaphi vật thể quốc tế … Đây chính là những cơ hội tốt cho các chủ thể văn hóa đượcgiao lưu, học hỏi và tự giới thiệu với thế giới về di sản văn hóa của mình.3. MỘT SỐ HẠN CHẾCó thể nói, trong từng lĩnh vực cụ thể của hoạt động bảo vệ và phát huy giátrị di sản văn học, nghệ thuật, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, vẫncòn tồn tại những hạn chế, yếu kém:3.1. Việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về di sảnvăn hóa tuy đã rất khẩn trương, tích cực, nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp thời đòi hỏicủa thực tiễn, nhất là những văn bản điều chỉnh chính sách tôn vinh và ưu đãinhững người có công, có tài trong hoạt động sáng tạo, gìn giữ, trao truyền di sảnvăn học, nghệ thuật (thuộc lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể). Đến nay, nhữngquy định cụ thể của Chính phủ về xét tặng các danh hiệu Nghệ nhân nhân dân,Nghệ nhân ưu tú vẫn chưa được ban hành; theo đó, các văn bản do các Bộ, ngànhcó liên quan đến việc xây dựng chính sách đãi ngộ cho các đối tượng này cũngchưa có cơ sở để triển khai. Điều đó khiến các chủ trương, giải pháp về “…Xâydựng và thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, ưu đãi văn nghệ sĩ có quá trìnhcống hiến, có nhiều tác phẩm tốt, ảnh hưởng tích cực trong xã hội…” và “Xâydựng đề án và cơ chế bảo tồn, truyền bá các loại hình văn học, nghệ thuật cổtruyền; có chính sách đặc biệt hỗ trợ sự phát triển của ngôn ngữ, chữ viết và vănhọc, nghệ thuật các dân tộc thiểu số…” - như tinh thần của Nghị quyết 23, chậmđược hiện thực hóa trong thực tiễn đời sống.3.2. Công tác sưu tầm, gìn giữ và trưng bày giới thiệu các di sản văn học,nghệ thuật, do còn gặp nhiều khó khăn, nên hiệu quả đạt được còn thấp. Bảo tàngVăn học Việt Nam, sau hơn 10 năm xây dựng và trưng bày, đến nay vẫn chưathực sự hoàn thiện, hiện vật trưng bày còn nghèo; một số bảo tàng ngoài công lậpvề văn học, nghệ thuật còn ít nhận được sự quan tâm hướng dẫn nghiệp vụ, hỗ trợviệc tổ chức hoạt động của các địa phương và cơ quan chuyên môn chuyênngành… Vì thế, các bảo tàng và sưu tập về văn học, nghệ thuật chưa phát huy
  • 74. 71được hiệu quả của mình trong việc phục vụ các hoạt động sáng tạo mới (cung cấpthông tin, tư liệu, kinh nghiệm, gợi xúc cảm…), vừa quảng bá giá trị di sản vănhọc, nghệ thuật của đất nước với công chúng ở trong và ngoài nước.3.3. Nguồn vốn đầu tư cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản vănhọc, nghệ thuật còn thấp, chưa ổn định và kịp thời. Điều đó không chỉ khiến chochất lượng và hiệu quả của lĩnh vực hoạt động này ở các tổ chức công lập cònchưa cao (Bảo tàng Văn học Việt Nam là một ví dụ), mà còn chưa tạo cơ hội/“những cú hích” cho việc đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực công tác này. Cũng dođó, việc triển khai chủ trương và giải pháp về “… Xây dựng và thực hiện có hiệuquả kế hoạch xã hội hoá các hoạt động văn học, nghệ thuật, làm rõ các lĩnh vựccần xã hội hoá, lĩnh vực Nhà nước và nhân dân cùng làm, lĩnh vực Nhà nước phảiđầu tư bảo tồn, xây dựng và phát triển…”, và “…Tăng cường các biện pháp xâydựng, phát triển văn nghệ quần chúng, hướng dẫn, khuyến khích quần chúngtham gia sáng tạo, bảo tồn, truyền dạy và phát huy các giá trị văn hoá, văn nghệtruyền thống của dân tộc…”, theo tinh thần Nghị quyết 23, còn chưa đạt được kếtquả mong đợi.4. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊĐể tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 23-NQ/TW, đưa Nghị quyết23 vào thực tiễn đời sống, từ những trình bày trên đây, chúng tôi đề có một số đềxuất, khuyến nghị sau đây:1. Cần tăng cường hơn nữa công tác xây dựng, phổ biến pháp luật nhằmhoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nâng cao hiệu quả công tácquản lý nhà nước về di sản văn hóa.2. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, trong đótập trung đầu tư cho công tác sưu tầm, gìn giữ những tác phẩm văn học nghệthuật có giá trị, tu bổ và tôn tạo di tích lưu niệm các tác gia văn học, nghệ thuậttrong lịch sử và các tác giả đã được nhà nước vinh danh qua các giải thưởng HồChí Minh, giải thưởng Nhà nước trong những năm qua.3. Củng cố, hoàn thiện hệ thống thiết chế ngành di sản văn hóa, đồng thời tậptrung đầu tư xây dựng nguồn lực con người đảm bảo sự phát triển đồng bộ. Quantâm tới việc xây dựng cơ chế chính sách phù hợp, khuyến khích quần chúng thamgia vào hoạt động sáng tạo, bảo vệ và phát huy di sản văn học, nghệ thuật.Trong thời gian tới, nhà nước cần tập trung đầu tư, đồng thời Hội Nhà vănViệt Nam cần tập trung hoàn thành việc xây dựng, trưng bày, tổ chức hoạt độngcó hiệu quả Bảo tàng Văn học Việt Nam, đưa Bảo tàng trở thành mái nhà chungcủa các nhà văn, của mọi người yêu mến văn chương, thành điểm đến hấp dẫn đốivới thế hệ trẻ nói riêng, công chúng ở trong và ngoài nước nói chung.4. Xây dựng đề án bảo tồn, lưu giữ và phát huy giá trị các loại hình vănhọc, nghệ thuật, đồng thời, đẩy mạnh hoạt động hợp tác, giao lưu văn hóa, đưa disản văn học, nghệ thuật tiêu biểu của Việt Nam ra nước ngoài nhằm quảng báhình ảnh, đất nước và con người Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế Việt Namtrên trường quốc tế./.
  • 75. 72VAI TRÒ CỦA THƯ VIỆN TRONG VIỆC BẢO LƯU VÀ PHÁT TRIỂNVĂN HỌC, NGHỆ THUẬT TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG: NHỮNGTHÀNH TỰU VÀ TỒN TẠI VÀ CÁC ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊVũ Dương Thúy NgàPhó Vụ trưởng Vụ Thư việnBộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchĐẶT VẤN ĐỀViệt Nam là một dân tộc có truyền thống yêu văn học nghệ thuật. Đã trongmột thời gian dài, quan niệm về người tài là người có đủ khả năng cầm, kỳ, thi,họa. Quan niệm này đã có sự thay đổi, nhưng văn học nghệ thuật vẫn có một vaitrò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam.Với tầm nhìn chosự phát triển bền vững và lâu dài những giá trị vô giá về văn học nghệ thuật màcác thế hệ người Việt Nam từ thuở Hùng Vương dựng nước đến thời đại Hồ ChíMinh ngày nay đã sáng tạo nên, ngày 16 tháng 6 năm 2008 Nghị quyết 23-NQ/TW Bộ Chính Trị đã ra đời. Tinh thần của nghị quyết là tiếp tục xây dựng vàphát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới. Nghị quyết đã nêu rõ: “Văn học,nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá; là nhu cầu thiếtyếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những độnglực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự pháttriển toàn diện của con người Việt Nam…”Từ nhận thức văn hoá và nghệ thuật là một trong những động lựcto lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triểntoàn diện của con người Việt Nam, Nghị quyết đã đưa ra định hướng cho ngànhvăn hoá là: “Trên cơ sở giữ gìn, phát triển, phát huy những giá trị của văn học,nghệ thuật dân tộc, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giátrị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài” để làm giàu cho nền văn hoá hiệnđại và chia sẻ với thế giới những độc đáo của văn hoá nghệ thuật Việt Nam. Đểtránh những tác động tiêu cực trong đổi mới và mở cửa, Nghị quyết đã nhấnmạnh: “đồng thời kiên quyết ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn áp đặt,xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch”. Một trong số những mục tiêu của xâydựng và phát triển văn học, nghệ thuật được xác định là: “xây dựng nhân cáchcon người Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về chân, thiện,mỹ của các tầng lớp nhân dân; phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh”, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [1].Là một thiết chế văn hóa thực hiện việc thu thập, bảo quản và truyền bá cácdi sản thư tịch của dân tộc và của nhân loại, thư viện đã có vai trò và đóng gópmột phần không nhỏ vào việc lưu giữ và phát triển văn học nghệ thuật trong đờisống cộng đồng ở Việt Nam trong những năm vừa qua.I. THƯ VIỆN VỚI VIỆC BẢO LƯU VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HỌC, NGHỆTHUẬT TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG
  • 76. 73Việc thu thập, bảo lưu các cổ bản và bổ sung thêm các tác phẩm văn họchiện đại ở trong và ngoài nước, cũng như các tài liệu nghệ thuật và tuyên truyềngiới thiệu chúng đến với cộng đồng đã được ngành thư viện đặc biệt quan tâm.Chúng tôi nhận thức sâu sắc cùng với việc lưu giữ tài liệu trong thư viện cần phảitiến hành song song với việc tuyên truyền, quảng bá để cộng đồng quan tâm và sửdụng hiệu quả các tài liệu nói chung và tài liệu văn học, nghệ thuật nói riêng. Cónhư vậy thư viện mới thực sự trở thành cơ quan giáo dục ngoài nhà trường, giúpcon người không ngừng hoàn thiện về nhân cách và bồi dưỡng, nâng cao khảnâng cao khả năng viết văn và sáng tạo nghệ thuật.1.1. Việc thu thập và bảo quản các tài liệu văn học nghệ thuật tại các thư việnTài liệu văn học, nghệ thật là những di sản văn hóa thành văn ghi dấu sựphát triển về tư duy, tình cảm, ước vọng của con người hướng tới sự công bằngbác ái và cái đẹp trong các thời đại. Trên nền truyền thống một dân tộc quậtcường về sức sống trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, những tác phẩm vănhọc dân gian, ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, cũng các tác phẩm văn học như Bàithơ Thần của Lý Thường Kiệt, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, “Cáo Bình Ngô”của Nguyễn Trãi, “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch,... cùng với những điệu lý,câu hát dân ca, những ca khúc, các tác phẩm nghệ thuật hội họa, điêu khắc, nhiếpảnh đã ảnh hưởng đến việc hình thành tâm hồn, nhân cách con người Việt hiệnđại ngày nay.Trong thực tiễn hoạt động, thư viện đã có vai trò to lớn trong việc thu thậpvà bảo lưu các tài liệu văn học, nghệ thuật. Sự thu thập này không chỉ đơn thuầnlà hướng tới những tài liệu văn học nghệ thuật đã xuất bản, mà còn hướng tới thuthập các tài liệu văn học nghệ thuật cổ trong quá khứ. Lưu giữ các tác phẩm đótheo dòng thời gian là nhiệm vụ của thư viện và đó là đóng góp thiết thực củangành thư viện trong việc thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị.Trong các thư viện công cộng, tỷ lệ các sách văn học nghệ thuật được lưugiữ chiếm tới từ 30 đến 40%.Trong các thư viện chuyên ngành văn học nghệ thuật, việc bảo lưu các tácphẩm văn học nghệ thuật còn được thực hiện một cách đầy đủ hơn.Thư viện Viện Văn học là một trong những thư viện chuyên ngành lớn nhấtsưu tập các tài liệu nghiên cứu văn học. Kho sách của Viện có hơn 130.000 bảntrong đó có 68.000 bản bao gồm sách nghiên cứu và sách sáng tác (66.800 bản) ,bổ sung thêm khoảng 600 bản/năm; 110 loại báo và tạp chí trong và ngoài nước.Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam có khoảng 4000 quyển sách,500 báo cáo và album.Thư viện Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam là thư viện chuyên ngànhâm nhạc. Vốn tài liệu của thư viện có hơn 40.000 đầu sách, được chia thành 3 kholà kho mở, kho lưu trữ và kho dàn nhạc. Kho sách dàn nhạc lưu giữ hệ thống cáctổng phổ và phân phổ của dàn nhạc, các sáng tác của hầu hết các tác giả, các thờikỳ âm nhạc... Kho đĩa nhạc khoảng 4.000 đĩa CD, VCD, DVD và laser được phânloại theo tác giả, thể loại, thời kỳ, hình thức biểu diễn, nhạc cụ, nghệ sĩ biểu
  • 77. 74diễn... đáp ứng các nhu cầu của giảng viên, sinh viên học sinh trong việc tiếp cậnkho tàng âm nhạc của nhân loại và của Việt Nam. Để tạo điều kiện cho các sinhviên và học viên có thể nghe nhạc, thư viện đã tổ chức các phòng nghe cá nhân vàtập thể.Viện Phim Việt Nam đã xây dựng kho phim lưu trữ. Hiện kho lưu trữ củaviện (hai cơ sở ở Hà Nội và ở TP Hồ Chí Minh) lưu trữ gần 80.000 cuốn phimnhựa, 20.000 tên phim, hàng chục ngàn băng video, được đánh giá là một trongnhững kho lưu trữ phim tốt nhất khu vực Đông Nam Á. Trong kho lưu trữ củaviện, tài liệu quý, có giá trị là bộ sưu tập phim điện ảnh cách mạng VN nhữngnăm đầu tiên và Phim tư liệu về Đông Dương đầu thế kỷ do Viện Lưu trữ phimPháp tặng.Trong các thư viện trường học, tài liệu văn học nghệ thuật đã được bổ sunggắn liền với nội dung các môn học được giảng dạy trong trường, góp phần giúpcho các em học sinh có thêm các tài liệu tham khảo và khơi dậy trong các emlòng nhân ái, vị tha và hiểu biết thêm về cuộc sống muôn màu.Không chỉ dừng lại sưu tập, bảo quản, các thư viện đã giúp cho người đọccó thể khai thác, sử dụng với nhiều mục đích khác nhau: học tập, nghiên cứu, giảitrí, … Việc bảo lưu các tác phẩm này đã phục vụ đắc lực cho nhu cầu thưởngthức văn học, nghệ thuật, nuôi lớn những tâm hồn và nâng cao đời sống tinh thầncủa người dân. Nhiều thư viện tỉnh đã hỗ trợ đắc lực cho các Đài Phát thanh -Truyền hình để giới thiệu sách trong chương trình đọc truyện đêm khuya, chuyênmục tạp chí Văn hóa mỗi kỳ một tác phẩm, giới thiệu sách trên tạp chí văn hóacủa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tiêu biểu là thư viện tỉnh Vĩnh Long, NghệAn, …Việc bảo lưu các tác phẩm không chỉ đơn thuần là việc lưu giữ trong khothư viện mà còn được thực hiện bằng nhiều hình thức chuyển dạng dưới dạng thunhỏ (vi phim, vi phiếu) hoặc số hóa. Thư viện Quốc gia Việt Nam, các thư việntỉnh và trung tâm học liệu đã số hóa được một số tác phẩm văn học có giá trị đểbảo quản văn bản gốc đồng thời tạo điều kiện cho nhiều người có thể sử dụng.1.2 . Việc tuyên truyền, giới thiệu các tài liệu văn học nghệ thuật tại các thư việnĐể các tác phẩm văn học, nghệ thuật đến với người đọc, các thư viện thuộccác loại hình khác nhau đã tiến hành nhiều hình thức tuyên truyền giới thiệu sách,như: tổ chức các cuộc nói chuyện tác giả - tác phẩm, nói chuyện chuyên đề; tổchức các cuộc trưng bày, triển lãm; tổ chức các phương tiện tra cứu giúp chongười đọc có thể tìm được các tác phẩm văn học một cách dễ dàng nhanh chóngthong qua mục lục hộp phiếu và mục lục trực truyến.Để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân sống ở vùng sâu,vùng xa, các thư viện đã tiến hành phục vụ lưu động, luân chuyển sách với nhiềuhình thức khác nhau, bằng xe ô tô thư viện, bằng xe máy… Trong số đó, cókhông ít các tác phẩm văn học, nghệ thuật..Một số thư viện công cộng còn sử dụng hình thức sân khấu hóa việc giới thiệu,đưa sách đưa thư viện đến với cộng đồng, thu hút được đông đảo người tham gia.
  • 78. 75Bên cạnh đó, việc thi kể chuyện sách được các thư viện tổ chức với các chủ đề khácnhau diễn ra hàng năm đã giúp cho người đọc, đặc biệt là các em thiếu nhi quan tâmđến các tác phẩm văn học nhiều hơn. Các cuộc thi viết về các tác phẩm văn học,những cuốn sách làm ảnh hưởng đến cuộc đời em, các cuộc thi vẽ tranh theo sách đãgóp phần nuôi lớn mầm chân, thiện, mỹ trong tâm hồn trẻ, giúp các em nhận cảmđược vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống, từ đó khơi dậy khát vọng học hỏi, nghị lựcsống, tình yêu thương mãnh liệt của trẻ đối với con người và cuộc sống.Trong các thư viện trường phổ thông: Tại thư viện trường phổ thông, cánbộ thư viện đã chủ động phối hợp với giáo viên tìm ra các biện pháp hữu hiệu đểthu hút các em đọc sách. Tại trường THCS & THPT Nguyễn Tất Thành, các cánbộ thư viện đã cùng các giáo viên chủ nhiệm tổ chức được rất nhiều hoạt động bổích lôi cuốn các em học sinh đến với thư viện. Một trong những hoạt động nổi bậtnhất là cuộc thi: “Bình truyện ngắn chọn lọc về ngày nhà giáo Việt Nam” nhậnđược sự hưởng ứng tham gia của rất nhiều các bạn học sinh của trường. Bên cạnhđó, Thư viện còn kết hợp với giáo viên dạy văn tổ chức cho các em cuộc thi kểtruyện cười, qua đó khuyến khích các em có thêm hứng thú học về một thể loạitrong chương trình học ngữ văn [2].1.3 Đánh giá về những thành tựu và tồn tại của thư viện trong việcphát huy vai trò bảo lưu và phát triển văn học nghệ thuật sau năm năm thựchiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị- Một số thành tựu+ Với việc thu thập bảo quản các tác phẩm văn học nghệ thuật, thư viện đãgóp phần bảo lưu văn học nghệ thuật để có thể lưu truyền từ đời này sang đờikhác, đáp ứng nhu cầu đọc với nhiều mục đích khác nhau của người sử dụng.+ Thông qua việc phục vụ nhu cầu đọc các tác phẩm văn học nghệ thuật,thư viện đã góp phần xây dựng nhân cách con người Việt Nam,+ Với việc tổ chức các cuộc thi kể sách, vẽ tranh theo sách, viết bài cảm nhậnvề những sách, thư viện đã góp phần phát triển khả năng sáng tạo văn học nghệthuật cho người đọc. Riêng năm 2012, tại Thư viện KHTH TP. Hồ Chí Minh có32.640 học sinh từ lớp 1 đến lớp 9 tham gia viết bài cảm nhận và 600.921 em thamgia trong đó có 3.547 em khiếm thị tham gia cuộc thi nét vẽ xanh. Từ việc thu thập,bảo quản và phục vụ nhu cầu tài liệu văn học nghệ thuật, thư viện đã hình thànhnên nguồn cảm hứng sáng tạo cho người đọc đặc biệt là các em thiếu niên.- Một số điểm còn hạn chế+ Do ngân sách dành cho thư viện còn chưa đảm bảo, nên các thư viện ở cơsở, thư viện trường học còn chưa bổ sung được các sách, các tài liệu văn họcnghệ thuật đáp ứng nhu cầu của người dân. Nhiều thư viện huyện, thư viện xã,thư viện trường học không có kinh phí để bổ sung sách. Nhà giáo Nhật Duy, tổtrưởng tổ Ngữ văn của một trường phổ thông trong bài viết “Học sinh đọc gì ởthư viện trường Trung học cơ sở?” đã nhận xét: “Điều dễ nhận thấy ở các thưviện trường học hiện nay có một điểm chung là sách báo quá ít, nhiều đầu sáchkhông phục vụ được nhu cầu của thầy và trò bởi nó cũng chẳng có gì liên quan
  • 79. 76đến chuyên môn dạy và học. Và, một điều dễ nhận thấy nữa là thư viện nào cũngvắng, không thấy bạn đọc, đặc biệt là các em học sinh” [3].Qua phỏng vấn các cán bộ thư viện ở các tỉnh và các em học sinh, đặc biệtlà các em học sinh miền núi và vùng biên giới, nhu cầu đọc sách văn học, đặc biệtlà các truyện cổ tích, truyện tranh nhưng thư viện trường không có, chờ vào cácđợt luân chuyển thì vài tháng mới có một lần. Khi trao đổi với các lãnh đạo chínhquyền địa phương, chúng tôi được biết nhu cầu sách nói chung và sách văn họcnghệ thuật nói riêng bằng tiếng dân tộc của người Khơ me, người Chăm rất lớnnhưng các thư viện chưa có các sách tiếng dân tộc.Xu hướng đọc đã có sự thay đổi, từ những sách báo tài liệu truyền thống,người dân đã có nhu cầu đọc dưới dạng điện tử, đọc qua mạng nhưng hiện nay dokinh phí bổ sung hạn chế, và cũng do nguồn tài liệu điện tử về văn học nghệ thuậttrong các thư viện còn ít nên nhu cầu đọc, thưởng thức tác phẩm văn học nghệthuật dưới dạng kỹ thuật số còn chưa được đáp ứng.II. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊĐể thư viện có thể phát huy những kết quả đạt được về thực hiện nghịquyết 23 của Bộ Chính Trị, tiếp tục đưa hoạt động vào chiều sâu góp phần tíchcực vào việc bảo lưu và phát triển văn học nghệ thuật, có một số vấn đề đặt ra cầncó sự quan tâm của Chính phủ, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các cơ quanchức năng. Từ thực tiễn với những hạn chế và các vấn đề đang đặt ra, Vụ Thưviện xin đề xuất một số kiến nghị sau:2.1. Đối với Nhà nước:- Nhà nước cần có những đầu tư thích đáng cho các dự án thu thập và lưugiữ các cổ bản văn học nghệ thuật còn đang lưu hành trong nhân dân, đặc biệt làở các địa phương vùng dân tộc. Coi đây là vốn quý hiếm bị lãng quên như cáctrường ca, các sự tích anh hùng, các tác phẩm văn học, đặc biệt là các loại hìnhnghệ thuật dân gian của 54 dân tộc anh em.- Nhu cầu đọc sách của người dân tộc và người khiếm thị cũng là một vấnđề được quan tâm. Nhà nước cần có chính sách trợ giá trong việc xuất bản sáchbằng tiếng dân tộc và sách chữ nổi, sách nói cho người khiếm thị đồng thời cấpngân sách cho các thư viện công cộng để có thể bổ sung các loại tài liệu này.- Trong chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, cần bổ sungthêm các nội dung trang bị xe thư viện lưu động cho các thư viện tỉnh, trang bị sáchcho để tiếp tục xây dựng kho sách lưu động cho các thư viện tỉnh, hỗ trợ kinh phíxây dựng các thư viện huyện vùng sâu vùng xa, vùng thực sự khó khăn…2.2. Đối với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch:- Bộ sớm trình Thủ tướng Chính phủ “Đề án phát triển văn hóa đọc trongcộng đồng” để tạo ra chính sách, thu hút sự quan tâm, đầu tư của các bộ ngànhvới việc đọc sách nói chung và đọc sách văn học nghệ thuật nói chung được tăng
  • 80. 77cường, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa, khả năng tiếp cận với sách báo nóichung và các tác phẩm văn học nghệ thuật nói riêng.- Bộ cần có sự đề xuất với Chính phủ để mở rộng các nội dung liên quanđến thư viện trong Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa để cácthư viện có thể tăng thêm sự đầu tư nhằm nâng cao khả năng bổ sung, luânchuyển và tuyên truyền các tác tác phẩm văn học nghệ thuật đến với cộng đồng.- Bộ cũng cần sớm cho thực hiện các sự án số hóa tài liệu để các thư viện vàngười dân có thêm nguồn tài liệu số, đặc biệt là với các tác phẩm văn học, nghệ thuậtcó giá trị và đặc sắc. Đây cũng là một hoạt động góp phần không nhỏ vào việc lưugiữ và phát triển văn học nghệ thuật trong thời đại công nghệ thông tin phát triển.2.3. Đối với ngành thư viện- Các thư viện công cộng cần tăng cường phát triển vốn tài liệu nhằm đáp ứngphần lớn nhu cầu học tập, nghiên cứu và giải trí của nhân dân; Đổi mới phương thứcphục vụ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của bạn đọc; Tích cực thực hiện việc luânchuyển sách báo xuống cơ sở, thường xuyên tuyên truyền giới thiệu sách, tổ chức tốtphong trào thi đọc sách báo, xây dựng ý thức, thói quen đọc sách báo cho người dântrên địa bàn; Củng cố và đẩy mạnh hoạt động của thư viện cơ sở.- Nâng cao nhận thức cho cán bộ thư viện về vai trò bảo lưu và phát triểnvăn học nghệ thuật ở cộng đồng là một hoạt động lâu dài của toàn ngành.- Các thư viện cần tăng cường tổ chức các hoạt động giới thiệu quảng bácác tài liệu văn học và nghệ thuật tới rộng rãi công chúng, bạn đọc, nhất là họcsinh sinh viên để nuôi dưỡng tâm hồn Việt trong sáng của các em thiếu nhi; Tổchức các đợt thi tìm hiểu văn học nghệ thuật dân tộc ở các tỉnh, các huyện. Thôngqua đó tuyên truyền giới thiệu cho bạn đọc những tác phẩm văn học hay, nhữngloại hình nghệ thuật độc đáo. Hoạt động này thiết thực đóng góp cho việc bảo lưuvà phát triển vốn quý của dân tộc hiệu quả trong cộng đồng.- Đối với thư viện trường phổ thông, cần được cấp thêm kinh phí để muanhững tác phẩm văn học phục vụ cho việc học và giải trí của các em.- Tăng cường bổ sung thêm các tài liệu văn học nghệ thuật điện tử, các tàiliệu cho phép tiếp cận qua Internet để phạm vi sử dụng các tài liệu này được rộnghơn, vượt ra ngoài giới hạn của các bức tường của tòa nhà thư việnTÀI LIỆU THAM KHẢO1. Nghị Quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và pháttriển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới ngày 16/6/20082. Giới thiệu về thư viện trường THCS & THPT Nguyễn Tất Thành. Truycập tại: http://www.ntthnue.edu.vn/category/thu-vien.html3. Học sinh đọc gì ở thư viện trường Trung học cơ sở ? Giáo dục và Thờiđại online ngày 6/1/2013, truy cập tại:http://www.gdtd.vn/channel/2762/201301/hoc-sinh-doc-gi-o-thu-vien-truong-THCS-1966095
  • 81. 78CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VĂN HÓA NGHỆ THUẬT SAU 5 NĂM THỰCHIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 23-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊPGS.TS Đào Mạnh HùngVụ trưởng Vụ Đào tạoBộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchVăn hoá nghệ thuật có vị trí đặc biệt quan trọng trên mặt trận tư tưởng, làđộng lực cổ vũ toàn dân tộc đi theo con đường mà Đảng Cộng sản Việt Nam vàBác Hồ đã chọn. Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam, dướisự lãnh đạo của Đảng, đến nay đã được thể hiện qua 3 dấu mốc quan trọng, đólà: Đề cương Văn hoá Việt Nam năm 1943; Nghị quyết Trung ương 5 khoá (VIII)của BCHTW Đảng năm 1998 và Nghị quyết 23-NQ/TW BCT BCHTW ngày16/6/2008 “Về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật Việt Namtrong thời kỳ mới”.Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu một bước ngoặt lớn đốivới sự nghiệp phát triển văn học, nghệ thuật. Nghị quyết tập trung vào các hoạtđộng quan trọng, gồm: sáng tác, lý luận, phê bình; sản xuất, trình diễn, giao lưu,hợp tác, sử dụng, truyền bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật; đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ hoạt động văn học, nghệ thuật; công tác lãnh đạo, điều hành, quản lý, đầutư, tài trợ đối với hoạt động văn học, nghệ thuật. Như Nghị quyết đã đánh giá,trong thời gian qua văn học, nghệ thuật Việt Nam có bước phát triển mới, cónhững biến đổi sâu sắc, những đặc điểm mới, đạt được nhiều thành tựu, nhưngcũng còn nhiều hạn chế, yếu kém đan xen nhau….So với yêu cầu phát triển đấtnước và những định hướng được xác định trong Nghị quyết Trung ương 5 (khoáVIII), hoạt động văn học, nghệ thuật thời gian qua đã bộc lộ một số yếu kém,khuyết điểm.Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định: Giải quyết tốt các yêucầu theo một định hướng đúng là một trong những nhân tố đảm bảo cho văn học,nghệ thuật phát triển ngày càng phong phú, đa dạng, góp phần tích cực xây dựngnền văn hóa tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc.Đánh giá đúng những thành tựu đạt được, chỉ ra những yếu kém, khuyếtđiểm, đặc biệt là những nguyên nhân của những thành tựu và yếu kém đó để sửachữa, khắc phục là cơ sở để phát triển nền văn học, nghệ thuật tương xứng vớitầm vóc của sự nghiệp đổi mới.Với mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tácđào tạo văn hoá nghệ thuật, trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng,Nhà nước, sự nghiệp đào tạo văn hoá nghệ thuật có những chuyển biến tích cực:Mạng lưới các trường tiếp tục được củng cố và phát triển; quy mô đào tạo khôngngừng được mở rộng, các loại hình đào tạo được đa dạng hoá, đáp ứng nhu cầuphát triển kinh tế-xã hội. Công tác xã hội hoá tiếp tục được đẩy mạnh; việc liênkết đào tạo giữa các trường trung ương và địa phương ngày càng chặt chẽ và mởrộng; công tác đào tạo cán bộ cho khu vực dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa
  • 82. 79được ưu tiên, chú trọng. Các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế trong đào tạotiếp tục được duy trì và phát triển, góp phần nâng cao chất lượng, đổi mới phươngthức đào tạo. Nhiều Nhà giáo được trao tặng những phần thưởng cao quý củaĐảng và Nhà nước; nhiều học sinh, sinh viên đạt được những thành tích cao tronghọc tập, nghiên cứu khoa học và đoạt giải tại các kỳ thi tài năng nghệ thuật trongnước và quốc tế … Có được những thành tích này là do các cơ sở đào tạo văn hoánghệ thuật đã phát huy được tinh thần nỗ lực, sáng tạo, chủ động, tự chủ, tự chịutrách nhiệm và tập trung xây dựng, kiện toàn đội ngũ giáo viên, giảng viên, tăngcường và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo. Bộ Vănhoá, Thể thao và Du lịch đã xây dựng 3 đề án và đã được Chính Phủ phê duyệt đólà các đề án: «Xây dựng đội ngũ trí thức ngành văn hoá, thể thao và du lịch đếnnăm 2020», «Đào tạo giảng viên trình độ cao trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuậtgiai đoạn 2011-2020» và đề án «Đổi mơí và nâng cao chất lượng đào tạo của cáctrường văn hoá nghệ thuật giai đoạn 2011-2020» sau khi được Thủ tướng phêduyệt, Bộ VHTTDL đã thành lập Ban chỉ đạo cả 3 đề án trên, phê duyệt kế hoạchvà đã giao nhiệm vụ cho các đơn vị triển khai các đề án. Ngày 3/4/2013 Ban chỉđạo các đề án đã họp nghe báo cáo kết quả việc triển khai các đề án năm 2012 vàkế hoạch 2013. Đặc biệt với đề án theo nghị quyết 23-NQ/TW «Đổi mơí và nângcao chất lượng đào tạo của các trường văn hoá nghệ thuật giai đoạn 2011-2020»Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai những công việc cụ thể sau :+ Đổi mới công tác tuyển sinh, tốt nghiệp trong lĩnh vực văn hoá nghệthuật: Đề án Đổi mới công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy khối cáctrường Văn hóa- Nghệ thuật đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phêduyệt (gọi tắt là Đề án 102) triển khai áp dụng thí điểm trong năm 2013 cho 10 cơsở đào tạo Văn hoá nghệ thuật. Hiệu quả của Đề án sẽ nâng cao chất lượng tuyểnsinh đầu vào, đáp ứng mục tiêu đào tạo của từng ngành và phù hợp điều kiện thựctiễn, cũng như tính chất đặc thù đối với các ngành đào tạo tại các cơ sở đào tạođại học, cao đẳng khối Văn hóa - Nghệ thuật. Giao quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm cho các cơ sở đào tạo khối Văn hóa - Nghệ thuật trong công tác tuyển sinh.Mở rộng nguồn tuyển sinh, nhằm nâng cao chất lượng tuyển chọn đầu vào, phùhợp với đặc điểm và mục tiêu đào tạo nhân lực văn hóa nghệ thuật. Tạo điều kiệnthuận lợi tối đa cho thí sinh thi vào các ngành năng khiếu nghệ thuật của các cơsở đào tạo khối Văn hóa - Nghệ thuật, nhưng vẫn bảo đảm cho thí sinh có cơ hộitham gia thi và xét tuyển vào các khối ngành khác.+ Đổi mới về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển tài năng: Tổ chức Hội thi tàinăng trẻ học sinh, sinh viên các lĩnh vực văn hoá nghệ thuật nhằm lựa chọn, tônvinh tài năng, khích lệ học sinh, sinh viên tăng cường học hỏi, rèn luyện kỹ năng,tích lũy kiến thức và đạo đức nghề nghiệp đảm bảo mục tiêu học tập để ngày mailập nghiệp. Qua đó, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch nhìn nhận và đánh giá chấtlượng đào tạo nhân lực tại các cơ sở đào tạo văn hoá nghệ thuật trên toàn quốc, đểtừ đó có các biện pháp hỗ trợ, bồi dưỡng tài năng, nâng cao chất lượng đào tạonhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội. Đồng thời, các hội thi là dịp để các cơ sở đàotạo văn hoá nghệ thuật có điều kiện giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm trongcông tác quản lý dạy và học.
  • 83. 80+ Đổi mới cơ cấu đào tạo và phát triển, hoàn thiện mạng lưới các cơ sở đàotạo văn hoá nghệ thuật; tiến hành kiểm tra, đánh giá tổng thể thực trạng mạnglưới các cơ sở đào tạo VHNT.+ Đổi mới nội dung chương trình, giáo trình và phương thức đào tạoVHNT trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học.+ Xây dựng chương trình môn học trình độ đại học, cao đẳng các nhómngành Mỹ thuật, Văn hoá, Múa, Sân khấu-Điện ảnh, âm nhạc.+ Đổi mới công tác tuyển sinh, tốt nghiệp trong lĩnh vực văn hoá nghệthuật.+ Nâng cao năng lực và hiệu quả công tác quản lý, đào tạo của các trườngvăn hoá nghệ thuật thông qua 3 hội nghị, hội thảo.+ Xây dựng và triển khai dự án đào tạo Đại học và Sau đại học cho cán bộ,giảng viên và sinh viên ở nước ngoài.+ Xây dựng thông tư về chế độ giờ giảng, chế độ người mẫu, và chế độ hỗtrợ tốt nghiệp cho học sinh sinh viên bảo vệ tốt nghiệp bằng tác phẩm.Công tác đào tạo văn hóa nghệ thuật sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW có thể khái quát như sau:I. NHỮNG KẾT QUẢ DẠT DƯỢC1. Mạng lưới các cơ sở đào tạo về văn hoá nghệ thuật trên toàn quốcTính tới năm 2012, trong cả nước có 56 cơ sở đào tạo chuyên nghiệp thuộclĩnh vực Văn hoá nghệ thuật, bao gồm:1.1. Các cơ sở đào tạo văn hoá nghệ thuật trực thuộc Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch (gọi tắt là trường Trung ương): có 16 cơ sở đào tạo Văn hóa nghệthuật, trong đó có 9 trường đại học, 4 trường cao đẳng, 2 trường trung cấp chuyênnghiệp, 1 viện nghiên cứu có đào tạo tiến sĩ. Đây là các cơ sở đào tạo thuộc cácnhóm ngành: Âm nhạc, Văn hoá, Sân khấu - Điện ảnh, Mỹ thuật, Múa, Xiếc…với các trình độ đào tạo: tiến sĩ, thạc sĩ, đại học, cao đẳng, trung cấp chuyênnghiệp. Trong số các trường trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có 7 cơsở đào tạo thạc sĩ (Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Nhạc viện Thành phốHồ Chí Minh, Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Văn hóa TP. Hồ Chí Minh, Đạihọc Mỹ thuật Việt Nam, Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh và Đại học Sânkhấu-Điện ảnh Hà Nội) 4 cơ sở đào tạo được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụđào tạo tiến sĩ thuộc lĩnh vực Âm nhạc, Mỹ thuật, Sân khấu, Điện ảnh, Văn hóahọc và Quản lý văn hoá (Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Học viện Âm nhạcquốc gia Việt Nam, Đại học Văn hóa Hà Nội và Đại học Sân khấu-Điện ảnh HàNội).1.2. Các trường văn hoá nghệ thuật thuộc tỉnh, thành phố: Có 36 trường docác tỉnh, thành phố trực tiếp quản lý, trong đó có 01 trường đại học, 8 trường caođẳng, 27 trường trung cấp chuyên nghiệp. Đây là các cơ sở đào tạo đa ngành, đalĩnh vực, nhằm cung cấp nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển văn hoá và
  • 84. 81nghệ thuật của địa phương, đồng thời làm nhiệm vụ tạo nguồn cho các trường vănhóa nghệ thuật ở Trung ương.1.3. Các trường đại học văn hóa nghệ thuật trực thuộc các Bộ, Ngànhkhác, gồm 04 trường, trong đó 03 trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và01 trường trực thuộc Bộ Quốc phòng.Căn cứ vào nhu cầu đào tạo cán bộ văn hóa nghệ thuật, từ nay đến năm2015, dự kiến đề nghị Chính phủ thành lập 4 trường đại học trên cơ sở cáctrường: Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai, Cao đẳng Văn hóa nghệ thuậtViệt Bắc, Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Tây Bắc, Cao đẳng Múa Việt Nam. Nhưvậy, tính đến năm 2015 sẽ có 13 trường đại học về văn hóa và nghệ thuật trựcthuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Một số trường cao đẳng ở các địaphương sẽ được nâng cấp thành các trường đại học theo quy hoạch chung.Hệ thống các trường văn hoá nghệ thuật những năm qua đã được củng cốvà phát triển về mọi mặt, cơ sở vật chất đã được đầu tư nâng cấp và xây dựngmới, các trường địa phương phân bố tập trung ở các tỉnh, thành phố có nhu cầuphát triển lớn về văn hoá nghệ thuật, các trường ở trung ương phân bố ở 2 khuvực chính là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, ngoài ra còn 2 cơ sở đào tạophục vụ cho khu vực miền núi dân tộc là Tây Bắc và Việt Bắc (đặt tại Hòa Bìnhvà Thái Nguyên).2. Chương trình, giáo trình và các ngành đào tạoViệc xây dựng chương trình khung đào tạo khối ngành văn hoá nghệ thuậtthống nhất trong cả nước có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý và đổi mớivà nâng cao chất lượng đào tạo. Thực hiện ý kiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo,trong những năm qua, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã triển khai xây dựngcác chương trình khung giáo dục, trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp chuyênnghiệp. Chương trình khung xây dựng có kết cấu mềm dẻo, vừa đảm bảo sựthống nhất về mặt bằng trình độ chung của cả nước, phát huy tính chủ động củatừng trường, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, miền… nhằm đảm bảo tínhtiên tiến, hiện đại của nội dung chương trình và trình độ đào tạo. Cụ thể:- Chương trình khung giáo dục đại học, trình độ đại học: Năm 2008, 2009Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xây dựng 20 chương trình khung và bàn giaocho Bộ Giáo dục - Đào tạo. Đến nay các chương trình khung này đã được BộGiáo dục và Đào tạo ban hành áp dụng thống nhất trong cả nước, gồm các ngành:Piano, Biểu diễn nhạc cụ phương tây, Huấn luyện múa, Biểu diễn Kịch - Điệnảnh, Quay phim, Thư viện-Thông tin, Bảo tồn - Bảo tàng (nay là Bảo tàng học),Phát hành xuất bản phẩm, Hội hoạ, Đồ hoạ ứng dụng (nay là Thiết kế đồ hoạ),Thanh nhạc, Biểu diễn nhạc cụ truyền thống, Sáng tác âm nhạc, Lý luận và lịchsử mỹ thuật, Điêu khắc, Biên đạo múa, Đạo diễn điện ảnh, Công nghệ Điện ảnh -Truyền hình, Nhiếp ảnh, Xuất bản.- Chương trình đào tạo, trình độ thạc sĩ và tiến sĩ: Bộ Văn hoá, Thể thao vàDu lịch có 8 cơ sở đào tạo sau đại học đào tạo các lĩnh vực Văn hoá, Âm nhạc,Mỹ thuật, Sân khấu, Điện ảnh. Trong đó có 4 cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh làNhạc viện Hà Nội và Viện Văn hoá nghệ thuật Việt Nam, Trường Đại học Văn
  • 85. 82hoá Hà Nội và Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội với 10 mã ngành đàotạo ở trình độ thạc sĩ và 11 mã ngành ở trình độ tiến sĩ. Các cơ sở đào tạo đã xâydựng chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ theo khung chương trình của Bộ Giáodục và Đào tạo quy định. Chương trình đào tạo thường xuyên được cập nhập, bổsung, điều chỉnh nội dung chương trình nhằm đảm bảo tính hợp lý, cân đối và phùhợp với yêu cầu đào của từng chuyên ngành.- Biên soạn giáo trình: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đầu tư kinh phí vàgiao cho các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ biên soạn giáo trình dùng chung trongcác trường văn hoá nghệ thuật nhằm giúp các cơ sở đào tạo văn hoá nghệ thuậtđịa phương chưa có khả năng biên soạn giáo trình giảng dạy có thể áp dụngnhững giáo trình đã được nghiệm thu.- Danh mục ngành đào tạo khối văn hoá nghệ thuật: căn cứ vào tình hìnhphát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và xu thế hội nhập quốc tế, Bộ Văn hoá,Thể thao và Du lịch đã đề xuất với Bộ Giáo dục và Đào tạo danh mục các ngànhđào tạo lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật trình độ đại học và cao đẳng, gồm 46 ngànhthuộc các nhóm ngành: Mỹ thuật, Nghệ thuật trình diễn, Nghệ thuật nghe nhìn,Mỹ thuật ứng dụng, Thông tin - Thư viện, Lưu trữ - Bảo tàng, Xuất bản - Pháthành, Ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam… Về cơ bản Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấttrí với đề xuất của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, và sẽ đưa khoảng 46 ngànhdo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đề xuất vào danh mục ngành đào tạo củaViệt Nam.3. Đội ngũ giảng viên, giáo viênĐội ngũ giáo viên, giảng viên văn hóa nghệ thuật trong những năm gần đâytăng về số lượng, nâng cao về trình độ đào tạo. Hầu hết các nhà giáo có trình độchuyên môn nghiệp vụ, có ý thức chính trị và phẩm chất đạo đức, tích cực họctập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, có tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệmvụ được giao. Với nỗ lực và lòng yêu nghề, đội ngũ giảng viên, giáo viên văn hoánghệ thuật trong cả nước đã góp phần tạo ra nguồn nhân lực hoạt động văn hoánghệ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và góp phần xây dựng nền vănhoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.Hiện nay, đội ngũ giảng viên, giáo viên các trường văn hóa nghệ thuật cótrình độ sau đại học còn hạn chế so với tổng số giảng viên, giáo viên, chiếm tỉ lệrất thấp, nhiều giảng viên, chuyên gia có trình độ cao, được đào tạo cơ bản ởtrong nước và nước ngoài, tích luỹ được nhiều kiến thức, kinh nghiệm về chuyênmôn và nghiệp vụ đã lớn tuổi và nghỉ hưu. Việc gửi đi đào tạo ở nước ngoài mộtsố ngành mà trong nước chưa đủ sức đào tạo hoặc đào tạo nhưng với chất lượngchưa cao trong những năm qua là rất ít. Tình hình đó khiến cho đội ngũ giảngviên, giáo viên nói chung thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Số giảng viên,giáo viên kế cận chưa đủ thời gian tích luỹ kiến thức chuyên môn và nghiệp vụcũng như kinh nghiệm giảng dạy nên chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu về chấtlượng đào tạo. Để khắc phục tình trạng nêu trên, các trường văn hóa nghệ thuật ởtrung ương và địa phương, ngoài việc sử dụng số biên chế hiện có và giảng viên,
  • 86. 83giáo viên kiêm nhiệm, thỉnh giảng, đã mời nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, cácnhà giáo đã nghỉ hưu có trình độ cao tham gia giảng dạy.4. Hợp tác quốc tế về đào tạoSau sự kiện Liên Xô không còn nguồn hỗ trợ đào tạo của các nước trongkhối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, việc gửi cán bộ, học sinh đi đào tạo ở nướcngoài bằng ngân sách nhà nước bị hạn chế do chi phí đào tạo nghệ thuật ở nướcngoài quá cao. Việc gửi đi đào tạo nghệ thuật ở nước ngoài chỉ được nối lại saukhi có Quyết định của Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo cán bộ khoa học, kỹthuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (Đề án 322) từ tháng 4năm 2000. Tuy nhiên, với Đề án 322 và các đề án khác, số lượng cán bộ và giảngviên, sinh viên được cử đi đào tạo ở trình độ đại học và sau đại học về văn hóanghệ thuật là rất ít từ nhiều lý do trong đó cơ bản là ngoại ngữ và học phí của cáctrường Nghệ thuật ở các nước đều rất cao. Vì vậy, Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch trong nội dung triển khai 2 đề án: «Đào tạo giảng viên trình độ cao trong lĩnhvực văn hoá nghệ thuật giai đoạn 2011-2020» và đề án «Đổi mơí và nâng caochất lượng đào tạo của các trường văn hoá nghệ thuật giai đoạn 2011-2020 » đãra quyết định thành lập số 1145/QĐ-BVHTTDL về việc thành lập ban chỉ đạo,Hội đồng xét chọn cán bộ, giảng viên, giáo viên, học sinh , sinh viên Văn hoánghệ thuật, Thể dục thể thao và Du lịch đi đào tạo và bồi dưỡng ở nước ngoài, đãtriển khai xây dựng quy chế và thông báo truyển sinh đi học nước ngoài bằngngân sách của đề án dự kiến tháng 10/2013 sẽ cử đoàn giảng viên và sinh viênđầu tiên đi học ở nước ngoài theo nội dung của đề án. Trước đó đã chỉ đạo và tạođiều kiện để các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ chủ động thiết lập các mối quan hệquốc tế trong đào tạo văn hóa nghệ thuật với các cơ sở đào tạo của Nga, Pháp,Đức, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Na Uy, Thuỵ Điển, Hàn Quốc... Thông quacác mối quan hệ song phương với các cơ sở đào tạo ở nước ngoài và sự giúp đỡcủa các tổ chức quốc tế, nhiều trường đã gửi cán bộ, học sinh, sinh viên đi đàotạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ở nước ngoài và mời được các chuyên gia đếngiảng dạy tại các cơ sở đào tạo văn hoá nghệ thuật bằng nguồn kinh phí của Nhànước và các nguồn tài trợ khác.5. Đầu tư cơ sở vật chấtNhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng qui mô, đa dạng hóa các loại hình đào tạovà nâng cao chất lượng đào tạo, trong những năm qua, các cơ sở đào tạo văn hoánghệ thuật trung ương và thuộc tỉnh, thành phố đã được tăng cường đầu tư xâydựng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập ngày càng cóquy mô lớn và hiện đại, như: sửa sang, xây dựng ký túc xá cho học sinh, sinhviên, xây dựng thêm nhiều phòng học, cung cấp nhiều trang thiết bị hiện đại đápứng nhu cầu giảng dạy và học tập. Các trường: Đại học Sân khấu Điện ảnh HàNội, Học viện Âm nhạc Quốc gia, Cao đẳng Múa Việt Nam, Đại học Văn hoá HàNội, Đại học Văn hoá TP. Hồ Chí Minh, Cao đẳng VHNT Việt Bắc, Cao đẳngVHNT Tây Bắc... đều được đầu tư sửa chữa và xây mới cơ sở vật chất. Cáctrường: Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh, Đại học Sân khấu, Điện ảnh TP.Hồ ChíMinh, Trung cấp Múa TP. Hồ Chí Minh đều đang triển khai kế hoạch xây dựng
  • 87. 84cơ sở 2 tại các quận 2 và quận 9 TP. Hồ Chí Minh. Các trường: Đại học Sân khấuĐiện ảnh Hà Nội, Đại học Mỹ Thuật Việt Nam, Đại học Văn hoá Hà Nội và Họcviện Âm nhạc Quốc gia đang triển khai thủ tục xin đất tại Hà Nam để xây dựngcơ sở 2. Học viện Âm nhạc Huế đang triển khai xây dựng cơ sở mới tại TP. Huế.II. Những tồn tại- Chất lượng đào tạo đạt hiệu quả chưa cao, chưa chú trọng nhiều đến thựchành; đào tạo nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng lớn của xã hội;nhân lực được đào tạo còn hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luậnchính trị.- Cơ cấu ngành nghề đào tạo và quy mô đào tạo tuy đã được đầu tư pháttriển nhưng nhìn chung vẫn chưa thực sự đáp ứng được với đòi hỏi của sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Các ngành nghề đào tạo có mở rộng, bổsung nhưng vẫn chưa đáp ứng được với nhu cầu của xã hội. Các ngành đào tạonghệ thuật như: Múa, Xiếc, Sân khấu truyền thống… gặp khó khăn trong công táctuyển sinh (thiếu nguồn tuyển). Cùng với những khó khăn trong công tác tuyểnsinh nghệ thuật, chi phí cho đào tạo lớn, trong khi ngân sách chi cho đào tạo nghệthuật hạn hẹp, khả năng tự chủ của nhà trường bị hạn chế nên chất lượng đào tạo,nhất là đối với các ngành Mỹ thuật, Âm nhạc, Sân khấu, Điện ảnh, Múa, Xiếc bịảnh hưởng nhiều.- Quy hoạch mạng lưới các trường còn bất hợp lý, không mang tính chiếnlược; bố trí các cơ sở đào tạo chưa phù hợp, chưa cập nhật được với tình hìnhthực tế phát triển của Việt Nam dẫn đến hiệu quả đầu tư bị giảm; việc xây dựngcơ sở hạ tầng còn mang tính chất tình thế, chưa có chiến lược lâu dài nên cáccông trình xây dựng còn manh mún lạc hậu.- Chương trình đào tạo cứng nhắc, thiếu sự linh hoạt và mềm dẻo, thiếu sựliên thông, nặng phần lý thuyết chưa chú trọng đến phần thực hành; phương phápgiảng dạy và học tập còn lạc hậu, chậm đổi mới, không đồng bộ và thiếu tính cậpnhật. Một số cơ sở đào tạo giáo trình còn lạc hậu, thiếu giáo trình chuẩn để giảngdạy.- Đội ngũ cán bộ, giảng viên hụt hẫng, thiếu về số lượng, hạn chế về chấtlượng, những cán bộ, giảng viên có trình độ cao và chuyên gia đầu ngành thiếunghiêm trọng; đội ngũ giảng viên ít tham gia nghiên cứu khoa học, chưa thực sựtoàn tâm toàn ý cho sự nghiệp đào tạo văn hoá nghệ thuật. Việc phát hiện, đàotạo, bồi dưỡng tài năng văn hoá nghệ thuật chưa được chú trọng.- Quản lý nhà nước về đào tạo văn hoá nghệ thuật vẫn nặng tính hànhchính, quan liêu; cơ chế chính sách chưa tạo ra tính tự chủ và tự chịu trách nhiệmcủa các trường về nhân sự, về hoạch toán thu chi, về sản phẩm đào tạo, chưa tạosự cạnh tranh cần thiết để phát triển đào tạo văn hoá nghệ thuật trong xu thế hộinhập. Quản lý ở các cơ sở đào tạo chưa đổi mới, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vàthói quen.
  • 88. 85- Văn bản pháp luật về giáo dục - đào tạo thiếu tính linh hoạt và mềm dẻochưa thực sự tạo điều kiện thúc đẩy sự nghiệp đào tạo văn hoá nghệ thuật pháttriển, đặc biệt là các loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc.- Đầu tư cho đào tạo văn hoá nghệ thuật thấp và chưa được chú trọng.- Các trường văn hoá nghệ thuật địa phương: việc đầu tư cơ sở vật chất vàtrang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập còn nhiều hạn chế; chưa có cơ chế,chính sách tạo điều kiện liên kết đào tạo với nước ngoài.III. Đề xuất, kiến nghị1. Đổi mới cơ chế, chính sách và nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhànước trong lĩnh vực đào tạo Văn hoá nghệ thuật- Chính sách tăng cường đầu tư các nguồn lực phục vụ công tác đào tạo vănhoá nghệ thuật trong cả nước, gồm: nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất.- Chính sách đối với đội ngũ giảng viên, giáo viên văn hoá nghệ thuật: sửdụng nghệ sĩ nổi tiếng, nhân dân, nghệ sĩ ưu tú vào việc giảng dạy (các môn thựchành); thu hút Việt kiều và những người được đào tạo ở nước ngoài về tham giagiảng dạy tại các cơ sở đào tạo.- Chế độ học bổng đối với học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật,như: Tuồng, Chèo, Cải lương; biểu diễn nhạc cụ truyền thống; nhạc cụ phươngtây; kịch hát dân tộc; múa; xiếc...; đặc biệt chú trọng đến học sinh, sinh viênmiền núi, dân tộc và vùng sâu, vùng xa.- Nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức, quản trị trường đại học, cơ cấu tổchức Hội đồng trường và cách thức quản lý trường.2. Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng tài năng văn hóa nghệ thuật- Thành lập quỹ đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ.- Cơ chế, chính sách đối với việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng tài năng vănhóa nghệ thuật, đặc biệt chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy các loại hình nghệthuật độc đáo của dân tộc, trong đó thực hiện các nhiệm vụ cụ thể:+ Tổ chức các cuộc thi tài năng văn hóa nghệ thuật; các cơ sở đào tạo vănhóa nghệ thuật trong cả nước có trách nhiệm phát hiện những em có năng khiếuthực sự đề xuất với các Bộ, Ban ngành để có chế độ đào tạo, bồi dưỡng.+ Được phép tuyển thẳng đối với những học sinh có tài năng thực sự (ưutiên những ngành nghệ thuật truyền thống); đào tạo dự bị đại học.+ Có chế độ và cơ chế tài chính đầu tư cho việc đào tạo và bồi dưỡng tàinăng văn hóa nghệ thuật, cụ thể: chương trình, giáo trình đào tạo riêng; có đủtrang thiết bị hiện đại phục vụ công tác giảng dạy và học tập; nhà giáo và chuyêngia giỏi ở trong nước và quốc tế giảng dạy; cử đi đào tạo, tham quam, thực tập vàtham gia các cuộc thi ở trong nước và nước ngoài...
  • 89. 863. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, giáo viên vàcán bộ quản lý; đổi mới nội dung chương trình đào tạo, giáo trình giảng dạy vàphương pháp giảng dạy- Giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý là lực lượng nòng cốt, có vai tròquan trọng quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và nâng cao chấtlượng đào tạo văn hoá nghệ thuật. Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng nhằm xâydựng và phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên có trình độ, kỹ năng và phẩmchất tốt là một yêu cầu cấp bách trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước. Vì vậy, hàng năm cần có kinh phí cho:+ Cử cán bộ, giảng viên đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, thực tập sinh ở nướcngoài đối với các trường văn hóa nghệ thuật ở trung ương và địa phương.+ Cử các đoàn cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên ở các trường văn hóanghệ thuật trung ương và địa phương đi nghiên cứu, khảo sát thực tế ở nướcngoài.+ Tăng cường mở các lớp tập huấn bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyênmôn nghiệp vụ, lý luận chính trị và ngoại ngữ; 02 năm một lần tổ chức các hội thigiáo viên dạy giỏi khối ngành văn hoá nghệ thuật.- Đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình, giáo trình đào tạo vàphương pháp giảng dạy.+ Rà soát lại cấu trúc và quan hệ giữa các chương trình khung và nội dungđào tạo của các trình độ đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, đảmbảo sự liên thông giữa các trình độ đào tạo; xây dựng chương trình đào tạo tiếpcận với chương trình đào tạo tiên tiến của các nước trên thế giới và trong khu vực.Từng bước triển khai áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ.+ Xây dựng chương trình giảng dạy liên thông giữa các trình độ đào tạo từtrung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học; chương trình giảng dạy có thể liênthông với nước ngoài; xây dựng giáo trình điện tử; xây dựng thư viện điện tử.+ Các môn học thực hành phải được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trangthiết bị phục vụ cho đào tạo, gồm: Trường quay, sân khấu, sàn tập, xưởng, phònghoà nhạc, phòng luyện thanh và các trang thiết bị khác phụ vụ giảng dạy và họctập theo tiêu chuẩn tiên tiến; đổi mới phương thức dạy học, áp dụng cách thứcđánh giá hiện đại.+ Đào tạo thí điểm một số chuyên ngành bằng tiếng Anh.+ Đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học và khai thác có hiệu quả các đề tàinghiên cứu khoa học; tăng cường việc giao cho một số cơ sở đào tạo xây dựng đềtài nghiên cứu khoa học nhằm ứng dụng trong việc nâng cao chất lượng đào tạovăn hoá nghệ thuật.+ Mua tài liệu của nước ngoài và chuyển giao công nghệ đào tạo của nướcngoài vào Việt Nam; ứng dụng công nghệ hiện đại trong giảng dạy và học tập.
  • 90. 87+ Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống giáo trình chuẩn nhằm giúp cáccơ sở đào tạo, đặc biệt là các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật địa phương chưacó khả năng biên soạn giáo trình giảng dạy.3.4. Công tác tuyển sinh và tốt nghiệp- Học sinh, sinh viên học các chuyên ngành nghệ thuật phải có năng khiếu,vì vậy, để có cơ hội cho số đông thí sinh được dự thi và các cơ sở đào tạo có điềukiện tuyển chọn được những thí sinh có năng khiếu thực sự, các cơ sở đào tạo vănhoá nghệ thuật cần được tổ chức kỳ thi tuyển sinh riêng đối với trình độ đại họcvà cao đẳng.- Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ chi phí tuyển sinh cho các cơ sở đàotạo văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là đối với các trường phải đi đến vùng sâu, vùngxa, vùng miền núi dân tộc thiểu số để tuyển sinh.- Nhà nước cần hỗ trợ chi phí chuyên ngành cho kỳ thi tốt nghiệp đối vớilĩnh vực nghệ thuật, như : Âm nhạc, Mỹ thuật, Sân khấu, Điện ảnh, Múa, Xiếc, vìnhững chuyên ngành này học sinh, sinh viên bảo vệ tốt nghiệp thông qua tácphẩm nghệ thuật, chi phí cho các tác phẩm đó là rất lớn.3.5. Hợp tác quốc tế trong đào tạo- Mời chuyên gia nước ngoài vào giảng dạy nhằm tạo điệu kiện trao đổi,học hỏi và chuyển giao công nghệ giảng dạy;- Liên kết đào tạo với các trường văn hoá nghệ thuật tiên tiến ở nước ngoàivà mời chuyên gia nước ngoài vào giảng dạy tại Việt Nam; chú trọng việc liên kếtvới nước ngoài đào tạo một số ngành mà xã hội đang cần nhưng trong nước chưacó khả năng đào tạo. Đồng thời, trong khi liên kết cán bộ, giảng viên có thể họchỏi được kinh nghiệm trong công tác quản lý đào tạo và tiếp thu được chươngtrình, giáo trình, phương pháp giảng dạy để sau này các cơ sở đào tạo có thể chủđộng trong việc giảng dạy, cụ thể như ngành Công nghệ Âm nhạc, ngành Sảnxuất phim...- Phối hợp với các cơ sở đào tạo nghệ thuật có uy tín ở nước ngoài trao đổiđào tạo, bồi dưỡng giảng viên, giáo viên văn hoá nghệ thuật.- Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các công nghệ đào tạo tiên tiến củanước ngoài vào Việt Nam.3.6. Quy hoạch mạng lưới trường và cơ cấu ngành nghề đào tạo- Trên cơ sở nội dung Quy hoạch mạng lưới các trường VHNT, TDTT vàDL đã được Bộ Trưởng Bộ VHTTDL phê duyệt, rà soát, điều chỉnh, bổ sunghoàn thiện hệ thống mạng lưới trường văn hoá nghệ thuật đến năm 2020 theongành và trình độ đào tạo. Đảm bảo mỗi vùng kinh tế trọng điểm ít nhất có 01trường đại học hoặc cao đẳng văn hoá nghệ thuật, xây dựng đề án đào tạo con emđồng bào dân tộc thiểu số học tập theo chế độ nôị trú đang được xây dựng tại haitrường: VHNT Việt Bắc và VHNT Tây Bắc. Hỗ trợ các địa phương triển khai
  • 91. 88thực hiện tốt Hướng dẫn số 73/HD-BGDĐT- BVHTTDL ngày 16/01/2013 vềviệc sử dụng di sản văn hoá trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm GDTX.Tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo cho các trường văn hóa nghệ thuật,cung cấp nhiều nguồn nhân lực nghệ thuật đạt chất lượng cao cho đất nước quaviệc triển khai 03 đề án với những nội dung đã được thông qua tại cuộc họp Banchỉ đạo ngày 3/4/2012.Xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nền kinh tế tri thức bao gồm cả cả quá trìnhphát triển kinh tế-kỹ thuật và phát triển văn hoá-xã hội theo hướng xây dựng nềnvăn hoá Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc đang có những biến chuyểnmạnh mẽ. Quá trình ấy đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao đảm bảocho sự phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, vai trò của sự nghiệp giáo dụcvà đào tạo nói chung, sự nghiệp đào tạo văn hoá, nghệ thuật nói riêng càng trởnên quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc quyết định chất lượng nguồn nhânlực cho đất nước. Sự nghiệp đào tạo văn hóa nghệ thuật rất cần có sự quan tâm vàchung tay của nhiều cấp ngành để đảm bảo hoàn chỉnh về chất và lượng theo xuthế phát triển và hội nhập chung của giáo dục và đào tạo trên thế giới đạt 3 mụctiêu lớn của Đảng ta đã thể hiện trong nghị quyết 23, một trong 3 mục tiêu đó là :Xây dựng và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ đáp ứng yêu cầu tiếp tục phát triểnmạnh mẽ nền văn học, nghệ thuật Việt Nam trong thời kỳ mới. Nâng cao chấtlượng các trường đào tạo văn học, nghệ thuật; hoàn thiện chương trình, nội dung,giáo trình trong các trường cao đẳng, đại học giảng dạy các ngành đào tạo vănhọc, nghệ thuật (sáng tác, nghiên cứu, lý luận, phê bình, biểu diễn, chỉ huy, đạodiễn…); rà soát, sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách đối với công tác đào tạo,bồi dưỡng văn nghệ sĩ, đáp ứng yêu cầu đào tạo đặc thù trong lĩnh vực này. Có kếhoạch đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài các năng khiếu, tài năng văn học, nghệthuật./.
  • 92. 89CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÙNG CÁC ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊĐỐI VỚI THỰC TRẠNG CỦA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAMSAU 05 NĂM TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 23 – NQ/TWNGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2008 CỦA BỘ CHINH TRỊBùi Hoài SơnPhó Viện trưởngViện Văn hóa Nghệ thuật Việt NamMỞ ĐẦUNăm 1998, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương(khoá VIII) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên mục tiêu, nhiệm vụ xâydựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là những địnhhướng quan trọng cho sự phát triển của văn hóa nói chung, văn học - nghệ thuậtnói riêng trong giai đoạn đất nước đang tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhậpquốc tế.10 năm kể từ khi thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấphành Trung ương (khoá VIII), nhằm phát huy vai trò của văn học, nghệ thuật vàcủa đội ngũ văn nghệ sĩ, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW về tiếptục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới. Trong lĩnh vựcvăn học, nghệ thuật, Nghị quyết 23 vừa là sự tổng kết những mặt đã làm được,chưa làm được trong quá trình triển khai Nghị quyết Trung ương 5, vừa là sự đápứng những đòi hỏi khách quan của thực tế đời sống văn học nghệ thuật trướcnhững thay đổi mạnh mẽ của đời sống xã hội.5 năm đã trôi qua kể từ khi ban hành Nghị quyết 23, đây cũng là khoảngthời gian đủ dài cần thiết để chúng ta có thể đánh giá lại những gì thực sự đã làmđược, chưa làm được trong việc triển khai Nghị quyết này trong cuộc sống, từ đócó những định hướng, giải pháp nhằm tăng cường, nâng cao hơn nữa việc triểnkhai Nghị quyết 23 trong đời sống văn học – nghệ thuật ở Việt Nam.I. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNGVĂN HỌC – NGHỆ THUẬT VIỆT NAM SAU 05 NĂM TRIỂN KHAI NGHỊQUYẾT SỐ 23-NQ/TWThực tế trong 05 năm gần đây cho thấy, sự biến động trong đời sống kinh tế,xã hội và văn hóa diễn ra thực sự mạnh mẽ. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, phấnđấu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, văn học, nghệ thuật nước tađứng trước những thời cơ, vận hội lớn, đồng thời cũng đứng trước những tháchthức mới gay gắt.Văn học nghệ thuật ở một thời kỳ nhất định là tiếng nói của xã hội ở giaiđoạn đó. Trước hết chúng ta phải thừa nhận với nhau rằng, văn học nghệ thuật làsự phản ánh xã hội một cách sinh động nhất. Không những thế, văn học nghệ
  • 93. 90thuật còn thể hiện đời sống tinh thần nói riêng, mặt bằng tinh thần của toàn xã hộinói chung. Theo quan điểm của K. Marx, văn học nghệ thuật là yếu tố của cấutrúc thượng tầng xã hội, phản ánh cơ sở hạ tầng cấu thành nên nó. Chính vì vậy,trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, một trong những yếu tố không thểthiếu là xây dựng một nền văn học nghệ thuật phản ánh được hết quá trình xâydựng này, cũng như góp phần hình thành nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.Chức năng của văn học nghệ thuật là nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ cũngnhư giải trí và mang tính dự báo. Như vậy, nghệ thuật phản ánh thế giới theo cáchriêng của nó, phục vụ nhu cầu của khán giả cũng như chính người nghệ sĩ. Cácvăn nghệ sĩ không phải là một thực thể tồn tại ngoài lề xã hội; văn nghệ sĩ viết,sáng tác là để thông tin với xã hội tức là yêu cầu sự có mặt của xã hội; văn nghệsĩ biểu đạt nhân sinh quan của một nhóm người tồn tại dưới dạng tiềm năng, vàcác văn nghệ sĩ với trực giác, cảm xúc, tài năng của mình, cá thể hóa nhân sinhquan ấy bằng ngôn từ riêng của mình. Tác phẩm văn học nghệ thuật không chỉ làtấm gương phản ánh những hiện tượng văn hóa, xã hội, kinh tế và lịch sử mà cònsự góp phần vào việc tạo nên và hình thành nhận thức của xã hội.Tuy vậy, trong bối cảnh xã hội hiện nay, thực tế đời sống có vô vàn hiệntượng tiêu cực. Văn học nghệ thuật ra đời trong bối cảnh nền kinh tế thị trườngchắc chắn chịu những yếu tố chi phối của môi trường xã hội ấy. Chúng ta đãchứng kiến rất nhiều các tác phẩm văn học - nghệ thuật chạy theo thị hiếu khángiả. Tiền bạc cũng có sức quyến rũ và thế giới nghệ thuật phần lớn bị quyến rũbởi đồng tiền, vì thế, nhu cầu xã hội tạo ra những xu hướng sáng tác cho nghệthuật nói chung, văn học nói riêng. Theo thống kê trên mạng Internet, người ViệtNam tra cứu thông tin về “sex” nhiều nhất trên thế giới. Trên truyền hình, báoviết, có rất nhiều bài viết liên quan đến những câu chuyện giới tính (hở hang,phòng the...). Với văn học nghệ thuật, những các tác phẩm văn học đề cập đếngiới tính như các tác phẩm Tình chuột, Bóng đè, Những sợi tóc màu tang lễ, Côgái điếm và 5 người đàn ông của Đỗ Hoàng Diệu, hai tập thơ Khát và Linh của ViThuỳ Linh, Sợi xích của Lê Kiều Như... với cũng nằm trong xu thế chung của xãhội này.Như vậy, để đánh giá những việc đã làm được và chưa làm được của Nghịquyết 23-NQ/TW, chúng ta cần phải đặt tinh thần của Nghị quyết trong đúng bốicảnh của nó, cũng như xem xét nó từ góc độ chức năng và vai trò của văn họcnghệ thuật. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải xem xét, đặc biệt là những yếu kém,khuyết điểm được nêu trong Nghị quyết, để nhận thấy rằng, sau 05 năm triển khaiNghị quyết, văn học nghệ thuật Việt Nam đã khắc phục được những yếu kém,khuyết điểm gì! Cũng như việc xem xét các mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, chủtrương và giải pháp tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thòikỳ mới được đề ra trong Nghị quyết 23 có còn phù hợp với bối cảnh hiện nay haykhông?Từ cách tiếp cận như vậy, chúng ta mới có thể làm sáng tỏ các phương diệnlý luận cũng như thực tiễn mà Nghị quyết 23-NQ/TW đặt ra.
  • 94. 91II. MỘT SỐ CƠ SỞ THỰC TIỄN TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ THỰCTRẠNG VĂN HỌC – NGHỆ THUẬT VIỆT NAM SAU 05 NĂM TRIỂN KHAINGHỊ QUYẾT SỐ 23-NQ/TWNghị quyết 23-NQ/TW đề ra 03 mục tiêu cơ bản sau:- Tập trung mọi nguồn lực xây dựng nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nhân cách con người Việt Nam đáp ứngnhu cầu ngày càng cao và đa dạng về chân, thiện, mỹ của các tầng lớp nhân dân;phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mụctiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.- Xây dựng, phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ Việt Nam một cách toàn diện cảvề số lượng, chất lượng và cơ cấu loại hình, có các thế hệ nối tiếp nhau vữngchắc, có tình yêu Tổ quốc nồng nàn, gắn bó sâu sắc với nhân dân, với sự nghiệpđổi mới do Đảng lãnh đạo, có năng lực sáng tạo phong phú, đa dạng, đoàn kết,gắn bó cùng phát triển trong cộng đồng các dân tộc anh em trên đất nước ta.- Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, bảo đảm yêucầu phát triển của lĩnh vực văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới.Để thực hiện các mục tiêu trên, Nghị quyết đề ra 03 quan điểm chỉ đạo gồm:- Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá;là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là mộttrong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần củaxã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.- Văn học, nghệ thuật Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấmnhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ. Phấn đấu sáng tác nhiều tác phẩm vănhọc, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, có tác dụng to lớn xây dựngcon người; vừa có tác dụng định hướng, vừa đáp ứng nhu cầu văn hoá - tinh thầnngày càng cao của nhân dân. Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thờivới tập trung xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp. Trên cơ sởgiữ gìn, phát triển, phát huy những giá trị của văn học, nghệ thuật dân tộc, tiếp tụcmở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiếnbộ của nước ngoài, đồng thời kiên quyết ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủđoạn áp đặt, xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch.- Tài năng văn học, nghệ thuật là vốn quý của dân tộc. Chăm lo phát hiện,bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật là trách nhiệmcủa toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và của các tổ chức trong hệthống chính trị các cấp. Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do sáng tạo, tạo điều kiệnthuận lợi phát huy tính độc lập, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của văn nghệ sĩ.Văn nghệ sĩ, người chiến sĩ xây dựng và phát triển nền văn nghệ tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc, cần phát huy lòng yêu nước nồng nàn, gắn bó máu thịt với nhândân, nêu cao trách nhiệm công dân, sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị phụngsự đất nước và dân tộc.
  • 95. 92Như vậy, cũng giống như Nghị quyết Trung ương năm, Nghị quyết 23 làmột cứ huých lớn để Đảng, các cơ quan văn hóa và các văn nghệ sĩ tiếp tụcnghiên cứu, đổi mới phát triển lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, nâng caotính khoa học, tính thuyết phục, góp phần hướng dẫn điều chỉnh sáng tác, phêbình có hiệu quả cũng như đổi mới và nâng cao các hoạt động công bố, giới thiệutruyền bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật tốt phục vụ đông đảo nhân dân; và tổchức nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc thành quả lý luận văn học, nghệ thuật đươngđại để vận dụng sáng tạo, làm phong phú lý luận văn học, nghệ thuật đất nước.Trên thực tế, để triển khai thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW, các cấp lãnhđạo và đội ngũ văn nghệ sĩ cả nước đã có nhiều chương trình, đề án thực hiện.Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Hội Văn họcnghệ thuật, cũng như các tỉnh, thành phố đều có chương trình hành động để triểnkhai Nghị quyết quan trọng này. Chẳng hạn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịchtriển khai xây dựng 4 đề án gồm: Đề án 1: Xây dựng và rà soát các chế độ chínhsách đối với hoạt động văn học nghệ thuật và văn nghệ sỹ; chế độ tài trợ, đặt hàngđối với các tác phẩm văn học nghệ thuật; Chính sách khuyến khích sáng tác trongcác hoạt động văn học nghệ thuật. Đề án 2: Đổi mới và nâng cao chất lượng đàotạo của các trường văn hoá, nghệ thuật giai đoạn 2011-2020. Đề án 3: Xây dựngchính sách thẩm định, quảng bá, thuế ưu đãi… đối với các tác phẩm văn học,nghệ thuật trong nước; văn hoá phẩm của Việt Nam đưa ra nước ngoài và giớithiệu tinh hoa văn học, nghệ thuật của thế giới vào Việt Nam; chính sách sưu tầm,chỉnh lý, bảo tồn, phát huy, quảng bá di sản văn học, nghệ thuật dân tộc và pháttriển văn học, nghệ thuật quần chúng. Đề án 4: Trên cơ sở quy hoạch và rà soát,đánh giá lại các công trình hiện có, xây dựng kế hoạch nâng cấp, xây mới cáccông trình văn hoá từ năm 2010-2020.Từ những bối cảnh trên, cơ sở thực tiễn trong việc đánh giá thực trạng vănhọc, nghệ thuật Việt Nam sau 05 năm triển khai Nghị quyết số 23-NQ/TW gồm:Thứ nhất, đó là những chương trình, đề án, dự án, văn bản quy phạm phápluật, hướng dẫn… được triển khai từ khi có Nghị quyết 23. Trong đó, đặc biệt làcác chương trình, đề án nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý củacác cấp uỷ đảng, cơ quan nhà nước; nội dung và phương thức lãnh đạo; Việc thểchế hoá các nghị quyết, quan điểm; Sửa đổi, bổ sung các chính sách đối với vănnghệ và văn nghệ sĩ; Xây dựng những công trình trung tâm lớn cho hoạt động vănhoá, nghệ thuật, tương xứng với vị thế của đất nước thời kỳ mới; đổi mới nộidung và phương thức hoạt động các Hội văn học, nghệ thuật.Thứ hai là những đánh giá về sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộlãnh đạo, văn nghệ sĩ và nhân dân đối với vai trò của văn học nghệ thuật trongtình hình mới. Đặc biệt là những đánh giá về sự đổi mới trong nội dung vàphương thức lãnh đạo đối với lĩnh vực văn học nghệ thuật; ý thức về những tácđộng phức tạp, tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, khi định hướng và xử lýnhững vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.Thứ ba là kết quả của các sáng tạo trong lĩnh vực văn học nghệ thuật theomục tiêu Nghị quyết 23 đặt ra. Trong đó, đặc biệt là những đánh giá liên quan đếnsáng tác, biểu diễn, truyền bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật thể hiện được tính
  • 96. 93chất tiên tiến và bản sắc dân tộc. Số lượng tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng vànghệ thuật. Các tác phẩm thể hiện lý tưởng xã hội, ý nghĩa xã hội, giá trị thẩm mỹrõ nét. Sự cảm nhận của các văn nghệ sĩ về những vấn đề mới của cuộc sống,chiều sâu và tính phức tạp của quá trình chuyển biến mang tính lịch sử trong thờikỳ mới của đất nước. Tính chuyên nghiệp trong các hoạt động văn học, nghệthuật. Tăng cường hoạt động lý luận văn học, nghệ thuật nhằm giải đáp đượcnhiều vấn đề của đời sống, gắn bó với thực tiễn sáng tác. Nghiên cứu và phát huytương xứng với vai trò và giá trị của lý luận văn nghệ và mỹ học mác-xít.Thứ tư là sự phát triển về chất lượng và số lượng của đội ngũ văn nghệ sĩ,các tài năng văn học, nghệ thuật. Trong đó cần đánh giá về công tác đào tạo, bồidưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ: chương trình, nội dung; chất lượng đào tạo toàn diệnvề chính trị, tư tưởng, chuyên môn, đạo đức, thể chất; chú trọng đúng mức tínhđặc thù, chuyên biệt và yêu cầu đào tạo tài năng; việc gửi giảng viên và sinh viêncác ngành nghệ thuật đào tạo ở nước ngoài; đội ngũ giáo viên đầu đàn, có trình độchuyên môn cao; điều kiện và phương tiện phục vụ dạy và học; đội ngũ lý luận,phê bình.Thứ năm là số lượng và chất lượng quan hệ hợp tác quốc tế trên lĩnh vựcvăn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là các chương trình có tính dân tộc cao, có chấtlượng tốt để quảng bá ra nước ngoài; chọn lọc giới thiệu tinh hoa văn hóa nhânloại, các trào lưu tư tưởng, nghệ thuật tiến bộ được công chúng quan tâm đếnngười dân trong nước.III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊTrên cơ sở tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp phát triển văn học,nghệ thuật đã được nêu trong Nghị quyết 23-NQ/TW, chúng tôi xin có một số đềxuất và khuyến nghị sau:- Để các đề án, chương trình, dự án, văn bản qui phạm pháp luật đi vào cuộcsống, cần triển khai các lớp tập huấn nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của toànxã hội nói chung, tầng lớp văn nghệ sĩ nói riêng đối với các lĩnh vực văn học,nghệ thuật về các chủ đề cụ thể như: đề tài, nội dung, loại hình, phương phápsáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệthuật nước nhà. Mục đích của các chương trình hành động này nhằm khuyếnkhích văn nghệ sĩ bám sát thực tiễn của đất nước, gắn bó với cuộc sống của nhândân, bảo vệ, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thutinh hoa văn hoá của nhân loại; lên án, phê phán không khoan nhượng những tiêucực, xấu xa đang cản trở sự phát triển của đất nước và con người Việt Nam.- Để tạo sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộ lãnh đạo, văn nghệ sĩ vànhân dân đối với vai trò của văn học nghệ thuật trong tình hình mới, các cấp uỷđảng và chính quyền các cấp phải đưa nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá,văn học, nghệ thuật vào quy hoạch, kế hoạch phát triển, của từng địa phương,từng ngành. Xây dựng cơ chế lãnh đạo, quản lý khoa học, bảo đảm được địnhhướng chính trị; khắc phục những hiện tượng mất dân chủ hoặc can thiệp thô bạođối với hoạt động văn học nghệ thuật, cũng như xu hướng thả nổi, không phê
  • 97. 94phán những tác giả, tác phẩm đi ngược lại các giá trị chân, thiện, mỹ, những giátrị tốt đẹp của dân tộc và cách mạng. Cấp uỷ đảng các cấp có kế hoạch định kỳlàm việc với lực lượng sáng tạo và hoạt động văn học, nghệ thuật.- Để phát triển về chất lượng và số lượng của đội ngũ văn nghệ sĩ, các tàinăng văn học, nghệ thuật, chúng ta cần nâng cao chất lượng các trường đào tạovăn học, nghệ thuật; hoàn thiện chương trình, nội dung, giáo trình trong cáctrường cao đẳng, đại học, giảng dạy các ngành đào tạo văn học, nghệ thuật (sángtác, nghiên cứu, lý luận, phê bình, biểu diễn, chỉ huy, đạo diễn...). Trong đó cần ràsoát, sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách đối với công tác đào tạo, bồi dưỡngvăn nghệ sĩ, đáp ứng yêu cầu đào tạo đặc thù trong lĩnh vực này. Có kế hoạch đàotạo, bồi dưỡng ở nước ngoài các năng khiếu, tài năng văn học, nghệ thuật. Xâydựng tiêu chuẩn và cơ chế lựa chọn, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham mưulĩnh vực văn học, nghệ thuật có đủ năng lực, trình độ và phẩm chất đảm đươngcông việc. Xây dựng và thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, ưu đãi vănnghệ sĩ có quá trình cống hiến, có nhiều tác phẩm tốt, ảnh hưởng tích cực trongxã hội.- Sáng tác văn học nghệ thuật là sự nghiệp của toàn dân. Khuyến khích mọingười dân tham gia quá trình sáng tác văn học nghệ thuật là một trong những chủtrương lớn. Vì vậy, cần tăng cường các biện pháp xây dựng, phát triển văn nghệquần chúng, hướng dẫn, khuyến khích quần chúng tham gia sáng tạo, bảo tồn,truyền dạy và phát huy các giá trị văn hoá, văn nghệ truyền thống của dân tộc.
  • 98. 95CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ ĐỐI VỚI VĂN HỌC, NGHỆ THUẬTSAU 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 23/NQ-TW NGÀY 16/06/2008CỦA BỘ CHÍNH TRỊ-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁPTống Công PhiTrưởng phòng Vụ Chính sách thuếBộ Tài chínhThực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) ngày16/06/2008 “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳmới” và Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ “về đẩymạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao và môitrường”; ngày 09/03/2009 Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành văn bản số73/KH/BTGTW về Kế hoạch triển khai thực hiện các Đề án để đưa Nghị quyết23-NQ/TW vào cuộc sống (Điểm 3) quy định: “Xây dựng chính sách thẩm định,quảng bá, ưu đãi thuế… đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong nước;văn hóa phẩm của Việt Nam đưa ra nước ngoài và giới thiệu tinh hoa vănhọc,nghệ thuật của thế giới vào Việt Nam; …”.Để triển khai các chủ trương và kế hoạch nêu trên, từ năm 2008 đến nay BộTài chính đã chủ trì, phối với các cơ quan hữu quan trình cấp có thẩm quyền banhành nhiều chính sách ưu đãi thuế đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Trongkhuôn khổ hội thảo này; bài viết tập trung giới thiệu 2 phần chính ngoài phần mởđầu và kết luận: (i) Thực trạng chính sách ưu đãi thuế đối với văn học, nghệ thuậtở nước ta; (ii) giải pháp hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế trong thời gian tới.1. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ ĐỐI VỚI VĂN HỌC,NGHỆ THUẬTa) Ưu đãi về thuế giá trị gia tăng (GTGT)Thông tư về thuế GTGT số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 được banhành ngay sau khi có Nghị quyết số 23-NQ/TW và Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP; gần đây đã được thay thế bởi Thông tư số 06/2012/TT-BTC hướng dẫn vềThuế GTGT hiện hành. Theo Thông tư 06/2012/TT-BTC hiện hành thì thuếGTGT có 2 thuế suất: 5% và 10%; ngoài thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá,dịch vụ xuất khẩu, trừ 26 nhóm hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế.Những quy định về ưu đãi thuế GTGT đối với các hoạt động VHNT như sau:(i) Ưu đãi bằng việc quy định không thuộc diện chịu thuế (không thu thuế):Các dịch vụ và các sản phẩm VHNT không thuộc diện chịu thuế GTGT tại Điều4, Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính, gồm:+ Khoản 12: Duy tu, sửa chữa, xây dựng bằng nguồn vốn đóng góp củanhân dân, vốn viện trợ nhân đạo đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, côngtrình phục vụ công cộng, cơ sở hạ tầng và nhà ở cho đối tượng chính sách xã hội(người có công theo quy định của pháp luật về người có công; đối tượng bảotrợ xã hội hưởng trợ cấp từ ngân sách nhà nước; người thuộc hộ nghèo, cận
  • 99. 96nghèo và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật).Trường hợp có sử dụng nguồn vốn khác ngoài vốn đóng góp của nhândân (bao gồm cả vốn đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân), vốn viện trợ nhânđạo mà nguồn vốn khác không vượt quá 50% tổng số nguồn vốn sử dụng chocông trình thì đối tượng không chịu thuế là toàn bộ giá trị công trình.+ Khoản 13: Dạy học, dạy nghề theo quy định của pháp luật bao gồmcả dạy ngoại ngữ, tin học; dạy múa, hát, hội họa, nhạc, kịch, xiếc, thể dục, thểthao; nuôi dạy trẻ và dạy các nghề khác nhằm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trìnhđộ văn hoá, kiến thức chuyên môn nghề nghiệp.+ Khoản 15: Xuất bản, nhập khẩu, phát hành báo, tạp chí, bản tin chuyênngành, sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sáchkhoa học-kỹ thuật, sách in bằng chữ dân tộc thiểu số và tranh, ảnh, áp phích tuyêntruyền cổ động, kể cả dưới dạng băng hoặc đĩa ghi tiếng, ghi hình, dữ liệu điện tử;in tiền….Trong đó. gồm tranh, ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động là tranh, ảnh,áp phích, các loại tờ rơi, tờ gấp phục vụ cho mục đích tuyên truyền, cổ động,khẩu hiệu, ảnh lãnh tụ, Đảng kỳ, Quốc kỳ, Đoàn kỳ, Đội kỳ.(ii) Ưu đãi được nộp thuế suất thấp 5%: Hầu hết văn hoá phẩm và các hoạtđộng văn hoá, nghệ thuật cũng được xếp vào nhóm hàng hoá, dịch vụ thiết yếu(như: Lương thực, thực phẩm, phân bón, thức ăn gia sức, nước sạch, thuốc chữabệnh,...) được áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% (Khoản 13, Điều 10 Thông tư06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012) gồm: Hoạt động văn hoá, triển lãm, thểdục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành vàchiếu phim . Cụ thể các hoạt động VHNT nộp thuế 5% gồm:a) Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục, thể thao, trừ các khoảndoanh thu như: bán hàng hoá, cho thuê sân bãi, gian hàng tại hội chợ, triểnlãm.b) Hoạt động biểu diễn nghệ thuật như: tuồng, chèo, cải lương, ca, múa,nhạc, kịch, xiếc; hoạt động biểu diễn nghệ thuật khác và dịch vụ tổ chức biểudiễn nghệ thuật của các nhà hát hoặc đoàn tuồng, chèo, cải lương, ca, múa,nhạc, kịch, xiếc có giấy phép hoạt động do cơ quan Nhà nước có thẩm quyềncấp.c) Sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim, trừ các sảnphẩm không chịu thuế nêu tại khoản 15 Điều 4 Thông tư 06/2012/TT-BTC.(iii) Ưu đãi áp dụng thuế suất 0% và còn được khấu trừ thuế GTGT đầuvào: Văn hoá phẩm, dịch vụ văn hoá nghệ thuật xuất khẩu, kể cả dịch vụ và vănhoá phẩm không thuộc diện chịu thuế xuất khẩu (xuất khẩu ra nước ngoài hoặcvào khu phi quan thuế) được áp dụng thuế suất 0%, còn được khấu trừ và hoànthuế GTGT đầu vào.(iv) Ngoài ra, để khuyến khích các cơ sở VHNT và các doanh nghiệp thuộclĩnh vực khác đầu tư vào lĩnh vực xã hội hoá, Điều 18 Thông tư 06/2012/TT-BTCquy định:- Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh,
  • 100. 97đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, …đang trong giai đoạnđầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thìđược hoàn thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm.Trường hợp, nếu số thuế GTGT luỹ kế của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụngcho đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT.- Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theophương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư thì cơsở kinh doanh phải kê khai bù trừ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vàosử dụng cho dự án đầu tư mới cùng với việc kê khai thuế GTGT của hoạt độngsản xuất kinh doanh đang thực hiện.Sau khi bù trừ nếu có số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào sửdụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ hết từ 200 triệu đồng trở lên thì đượchoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư. Trường hợp số thuế GTGT đầu vào củahoạt động sản xuất kinh doanh và dự án đầu tư dưới 200 triệu đồng và 3 thángchưa được khấu trừ hết thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo hướng dẫn tạikhoản 1 Điều này.- Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếuthuế GTGT đầu vào của hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa đượckhấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng.- Đối với dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại: chủ chương trình, dựán hoặc nhà thầu chính, tổ chức do phía nhà tài trợ nước ngoài chỉ định việcquản lý chương trình, dự án được hoàn lại số thuế GTGT đã trả đối với hàng hoá,dịch vụ mua ở Việt Nam để sử dụng cho chương trình, dự án.b) Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệpTương tự Thuế GTGT, từ 2008 đến nay Bộ Tài chính đã ban hành nhiềuthông tư như: Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008, Thông tư123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 thay thế Thông tư 130/2008/TT-BTC, Thôngtư 199/2012/TT-BTC hướng dẫn chuyển đổi ưu đãi thuế TNDN,….Theo chínhsách thuế TNDN hiện hành thì thuế suất phổ thông thuế TNDN là 25% (ngoài 02thuế suất ưu đãi: 10% và 20% áp dụng đối với một số ít ngành kinh tế mũi nhọn,lĩnh vực xã hội hoá, phát triển khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hộiquan trọng và các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn... tạo môitrường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinhtế). Trong đó, các quy định về ưu đãi thuế đối với lĩnh vực văn hoá, nghệ thuậtnhư:(i) Khoản 7, Điều 8 Thông tư 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 hiện hànhquy định về thu nhập được miễn thuế TNDN: Khoản tài trợ nhận được để sử dụngcho hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, văn hoá, nghệ thuật, từ thiện, nhân đạovà hoạt động xã hội khác tại Việt Nam….Tổ chức nhận tài trợ quy định tại Khoảnnày phải được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, thực hiện đúngquy định của pháp luật về kế toán thống kê.
  • 101. 98(ii) Theo Điều 19 Thông tư 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 quy định ưuđãi về thuế suất thuế TNDN như sau:Các doanh nghiệp, kể cả cơ sở VHNT thực hiện chủ trương xã hội hoá theotinh thần Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chínhsách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạynghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường mà đáp ứng các điều kiện (thuộc danhmục, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn) quy định tại Quyết định 1466/QĐ-TTg ngày10/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ và các điều kiện tại NĐ 124/NĐ-CP ngày11/12/2008 của Chính phủ về thuế TNDN sẽ được hưởng các ưu đãi về thuếTNDN như sau:- Được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong suốt thời gian hoạt động đốivới phần thu nhập của doanh nghiệp có được từ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường (sau đây gọi chung làlĩnh vực xã hội hoá); đối với phần thu nhập của doanh nghiệp có được từ hoạtđộng xuất bản theo quy định của Luật Xuất bản. Hoạt động xuất bản bao gồm cáclĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm theo quy định tại Luật Xuấtbản.- Nếu cơ sở VHNT thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiệnkinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghịđịnh số 124/2008/NĐ-CP thì được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạnmười lăm năm (15 năm); hoặc thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điềukiện kinh tế - xã hội khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị địnhsố 124/2008/NĐ-CP thì được áp dụng thuế suất ưu đãi 20% trong thời gian mườinăm (10 năm).Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi quy định tại Điều này được tính liên tụctừ năm đầu tiên doanh nghiệp có doanh thu từ hoạt động được hưởng ưu đãi thuế. Hếtthời gian áp dụng mức thuế suất ưu đãi, doanh nghiệp chuyển sang áp dụng mứcthuế suất phổ thông:25%.(iii) Hơn nữa, Điều 20 Thông tư 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 quyđịnh ưu đãi về thời gian miễn, giảm thuế TNDN như sau:1. Được miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đốivới:a) Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiệnkinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghịđịnh số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ….d) Doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực xã hội hoá thực hiện tại địabàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn quy định tạiPhụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 củaChính phủ”.2. Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo đốivới doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực xã hội hoá thực hiện tại địa bànkhông thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc
  • 102. 99biệt khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ.3. Miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theođối với doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinhtế - xã hội khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ.4. Thời gian miễn thuế, giảm thuế quy định tại Điều 20 này được tính liêntục từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư đượchưởng ưu đãi thuế…;(iv) Ngoài ra, khoản 4, Điều 23 Thông tư 123/2012/TT-BTC quy định ưu đãithuế đối với DN hoạt động trong lĩnh vực khác có thu nhập từ hoạt động tronglĩnh vực xã hội hoá hoặc DN có hoạt động trong lĩnh vực xã hội hoá trước ngày01/01/2009 cũng đwocj hưởng ưu đãi thuế TNDN. Cụ thể:Doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhưng có phát sinh thunhập từ lĩnh vực xã hội hoá, nếu đủ điều kiện quy định của Thủ tướng Chính phủquy định thì áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong suốt thờigian hoạt động đối với phần thu nhập có được từ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường kể từ ngày 01/01/2009.Doanh nghiệp có hoạt động trong lĩnh vực xã hội hoá trước ngày01/01/2009 và đủ điều kiện do Thủ tướng Chính phủ quy định mà đang áp dụngmức thuế suất cao hơn mức 10% đối với phần thu nhập từ hoạt động xã hội hoáthì được chuyển sang áp dụng mức thuế suất 10% đối với phần thu nhập từ hoạtđộng xã hội hoá kể từ ngày 01/01/2009.Để được ưu đãi thuế TNDN, Điều 22 Thông tư 123/2012/TT-BTC quyđịnh về thủ tục thực hiện ưu đãi thuế TNDN nêu trên: Doanh nghiệp tự xác địnhcác điều kiện ưu đãi thuế, mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế, giảm thuế,số lỗ được trừ (-) vào thu nhập tính thuế để tự kê khai và tự quyết toán thuế vớicơ quan thuế.v.v…Như vậy, thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ; Nhà nước đã dành nhiều ưu đãithuế đối với lĩnh vực VHNT,ếo với các lĩnh vực, ngành nghề khác thì mức ưu đãiđối với lĩnh vực VHNT là cao nhất, điển hình như: Nhiều sản phẩm, dịch vụ vănhoá nghệ thuật là không thuộc diện chịu thuế GTGT hoặc được áp dụng thuế suấtthấp nhất của thuế GTGT-5% như một số nhóm hàng hoá, dịch vụ thiết yếu khác.Đối với cơ sở kinh doanh trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật mới thành lập thựchiện tại các địa bàn khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn được áp dụng thuế suất thuếTNDN thấp nhất (10%) và trong suốt thời gian hoạt động; thời gian miễn cộngvới thời gian giảm thuế TNDN dài nhất - 13 năm; v.v...II. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ TRONGTHỜI GIAN TỚIBên cạnh nhưng tác động tích cực của chính sách ưu đãi thuế đối với lĩnhvực VHNT, các chính sách ưu đãi thuế nêu trên được áp dụng chủ yếu từ 2009
  • 103. 100đến nay, thời gian chưa dài, nên nchưa phát huy được tác dụng là khuyến khíchvà thúc đẩy hoạt động VHNT nước ta phát triển để dần trở thành lĩnh vực quantrọng trong nền kinh tế quốc dân, đáp ứng yêu cầu không thể thiếu đối với đờisống các dân tộc Việt Nam. Do đó, chính sách ưu đãi thuế cần tiếp tục hoàn thiện.Thực hiện quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Chiến lược phát triểnngành văn hoá đến 2020, cùng với Kế hoạch triển khai thực hiện các Đề án Nghịquyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về VHNT, các giải pháp hướng hoàn thiệnchính sách ưu đãi thuế đối với lĩnh vực VHNT trong thời gian tới như sau:1. Từ năm 2013 trở đi đề nghị tiếp tục hoàn thiện các chính sách ưu đãithuế theo hướng:- Về thuế GTGT:+ Trước năm 2009, dịch vụ biểu diễn nghệ thuật, sản phẩm phim, ảnhkhông chịu thuế GTGT quy định tại Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 9/4/2009của Bộ Tài chính, nhưng từ 1/1/2009 thì dịch vụ và văn hoá phẩm này thuộc diệnchịu thuế và nộp thuế với thuế suất 5%. Đề nghị sửa đổi Luật thuế GTGT quyđịnh dịch vụ biểu diễn nghệ thuật và văn hoá phẩm trên không chịu thuế GTGTnhư trước năm 2009?+ Thuế GTGT hiện hành quy định 2 thuế suất là 5% và 10%, chưa kể thuếsuất 0%, trong quá trình thực thi phát sinh vấn đề là những cơ sở kinh doanh hànghoá, dịch vụ thuế suất 5% sử dụng nguyên liệu đầu vào thuế suất 10% thì thuếđầu vào luôn lớn hơn thuế đầu ra và doanh nghiệp luôn được khấu trừ thuế và rấtcó lợi; ngược lại cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuế suất 10% sử dụngnguyên liệu đầu vào 5%, thì thuế đầu vào luôn nhỏ hơn thuế đầu ra và doanhnghiệp luôn bị thiệt thòi, tạo ra sân chơi không bình đẳng, làm giảm hiệu quả củaloại thuế này; đối với cơ sở kinh doanh thuộc lĩnh vực văn hoá nghệ thuật cũngkhông là ngoại lệ. Hơn nữa, việc tồn tại 2 thuế suất thuế GTGT, chưa kể thuế suất0%, làm cho phức tạp trong thực hiện. Vì vậy, kiến nghị:Hoàn thiện Luật thuế GTGT theo hướng quy định chỉ 1 thuế suất (10%hoặc 8%) thay vì hai thuế suất như hiện nay và áp dụng thống nhất cho mọi hànghoá, dịch vụ trong đó có văn hoá phẩm, dịch vụ VHNT.- Về thuế thu nhập doanh nghiệp:+ Trước bối cảnh hội nhập thế giới về kinh tế, văn hoá, nghệ thuật ngàycàng sâu rộng hơn, đòi hỏi Việt Nam cần đổi mới, hoàn thiện hệ thống cơ chế,chính sách đối với lĩnh vực VHNT. Đề nghị hạ thuế suất thuế thu nhập doanhnghiệp phổ thông từ 25% xuống khoảng 20%;+ Lĩnh vực VHNT tiếp tục cần được đẩy mạnh xã hội hoá theo chủ trươngcủa Chính phủ; theo đó, đề nghị lĩnh vực này sẽ tiếp tục được hưởng các ưu đãivề thuế TNDN như quy định hiện nay ở mức cao nhất cả về thuế suất và thời gianmiễn, giảm thuế TNDN...như đã nêu trên.+ Mặt khác, thuế TNDN hiện hành đã sửa đổi tăng tỷ lệ khống chế đối vớichi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuấtkinh doanh; tuy nhiên sửa đổi này vẫn chưa phù hợp với thực tiễn nền kinh tế
  • 104. 101Việt Nam đang vận hành theo cơ chế thị trường, dẫn đến nhiều doanh nghiệp phảinộp thuế TNDN với tỷ lệ cao hơn so với thuế suất phổ thông là 25%. Đề nghịhoàn thiện theo hướng bỏ khống chế tỷ lệ chi khác được trừ khi tính thu nhập tínhthuế TNDN (cho phép cơ sở kinh doanh được trừ theo số thực tế chi ra khi xácđịnh thu nhập tính thuế cho phù hợp với cơ chế thị trường ở nước ta).III. KẾT LUẬNChính sách ưu đãi thuế ít nhiều đã góp phần làm cho nền Văn hoá, nghệthuật Việt Nam trong những năm gần đây đã có bước phát triển mới, có nhữngbiến đổi sâu sắc, những đặc điểm mới, đạt được nhiều thành tựu; Tuy nhiên, nềnVHNT nước ta cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém đan xen nhau; đồng thời trướcbối cảnh hội nhập thế giới về kinh tế, văn hoá, nghệ thuật ngày càng sâu rộnghơn, đòi hỏi Việt Nam cần thiết phải đổi mới, hoàn thiện nhiều hệ thống cơ chế,chính sách, bao gồm cả chính sách ưu đãi thuế đối với lĩnh vực VHNT theo yêucầu của Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) ngày 16/6/2008 “vềtiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”.Hy vọng khi chính sách ưu đãi thuế được hoàn thiện và trong tương laikhông xa, nền VHNT Việt nam sẽ đạt tới mục tiêu: tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc, nhân cách con người Việt Nam ngày càng phát triển cao và đa dạng về chân,thiện, mỹ của các tầng lớp nhân dân; phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước./.
  • 105. 102QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG LĨNH VỰC VĂN HỌC, NGHỆ THUẬTSAU 05 NĂM TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 23-NQ/TWNGÀY 16 THÁNG 6 NĂM 2008 CỦA BỘ CHÍNH TRỊVụ Tài chính Hành chính sự nghiệpBộ Tài chínhI. CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG 05 NĂM TRIỂN KHAITHỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 23-NQ/TWThực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư (tại Thông báo số 219-TB/TW ngày10/12/2009) về một số Đề án triển khai thực hiện Nghị quyết số 23/NQ-TW ngày16/6/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuậttrong thời gian tới, Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính đã phối hợp với Ban cán sựĐảng các cơ quan: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL), Bộ Kế hoạchvà Đầu tư, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảngđoàn Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật, Hội Nhà văn ViệtNam và các Hội Văn học Nghệ thuật Trung ương trong việc nghiên cứu, xâydựng các chính sách, đề án phát triển văn học, nghệ thuật; cụ thể như sau:1.1. Chủ động và phối hợp trong xây dựng cơ chế và bố trí kinh phí thựchiện tài trợ, đặt hàng đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật:- Chủ trì, phối hợp với các Bộ và cơ quan liên quan trình Chính phủ banhành Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg ngày 14/3/2008 về Quy chế đấu thầu, đặthàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN, trong đócó lĩnh vực văn học, nghệ thuật; ban hành Thông tư số 105/2008/TT-BTC ngày13/11/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Quyết định số39/2008/QĐ-TTg.- Phối hợp với Bộ VH,TT&DL, Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNTtrình Thủ tướng Chính phủ bổ sung 30 tỷ đồng kinh phí hỗ trợ đầu tư sáng tạonăm 2010 và 4,21 tỷ đồng kinh phí Giải thưởng năm 2010 của các Hội Văn họcNghệ thuật ở Trung ương. Theo đó, giai đoạn 2006 - 2010 kinh phí thực hiện hỗtrợ sáng tạo tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật báo chí ở trung ương và cácHội VHNT ở địa phương là 240 tỷ đồng.- Phối hợp với Bộ VH,TT&DL, Liên hiệp các Hội VHNT trình Thủ tướngChính phủ ban hành Quyết định số 369/QĐ - TTg ngày 14/3/2011 phê duyệt Đềán tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình VHNT, báo chí ởTrung ương và các Hội VHNT địa phương; hỗ trợ tác phẩm báo chí chất lượngcao ở địa phương giai đoạn 2011 - 2015 với tổng kinh phí đầu tư từ NSTW cảgiai đoạn là 425 tỷ đồng đồng; Ban hành Thông tư liên tịch số02/2012/BVHTTDL-BTC ngày 07/3/2012 của Bộ Tài chính, Bộ VH,TT&DLhướng dẫn thực hiện Quyết định số 369/QĐ-TTg.- Bố trí kinh phí thực hiện Đề án khuyến khích sáng tác và công bố các tácphẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh cuộckháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ cứu nước giải phóng dân
  • 106. 103tộc, thống nhất đất nước giai đoạn 1930-1975 (theo Quyết định số 844/QĐ-TTgngày 01/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ, kinh phí thực hiện Đề án đến 2015 là65 tỷ đồng. NSNN đã cân đối 2012 - 2013 là 15,95 tỷ đồng).- Phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể tham và Du lịch trình cấp thẩm quyền Dựán công bố, phổ biến tài sản văn hoá văn nghệ dân gian các dân tộc Việt nam.Giai đoạn 2008- 2012 đã lựa chọn, in phát hành 1.000 công trình với dự toán kinhphí 91 tỷ đồng; tiếp tục phối hợp thẩm định kinh phí thực hiện in, phát hành 1.500công trình trong giai đoạn 2013 - 2017 theo Quyết định số 1598/QĐ-TTg ngày26/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ.- Hàng năm NSNN bố trí qua Bộ VH,TT&DL để đặt hàng sản xuất các bộphim theo kế hoạch của Nhà nước, trợ giá xuất bản sách, báo, trợ cước vậnchuyển sách báo ra nước ngoài, văn hoá phẩm lên miền núi, hỗ trợ các đoàn nghệthuật đi biểu diễn ở nước ngoài: 2008 là 32.030 triệu đồng; năm 2009 là 30.600triệu đồng; năm 2010 là 60.450 triệu đồng; năm 2011 là 71.550 triệu đồng; 2012là 23.880 triệu đồng; 2013 là 26.940 triệu đồng (dự toán năm 2012, 2013 khôngbao gồm kinh phí đặt hàng, tài trợ sản xuất phim truyện nhựa). Hiện nay, Bộ Tàichính đang phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để khẩn trương banhành Thông tư hướng dẫn thông tư hướng dẫn chi tiết việc đặt hàng, lựa chọn dựán sản xuất phim có sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định tại Nghị định số54/2010/NĐ-CP để có căn cứ giao bổ sung dự toán đặt hàng phim truyện nhựa.1.2. Chủ động bố trí kinh phí thực hiện chế độ thưởng trong sáng tạo vănhọc nghệ thuật, báo chí:Kinh phí từ NSNN hỗ trợ các Hội Văn học nghệ thuật ở Trung ương để thựchiện xét chọn, trao giải thưởng văn học nghệ thuật hàng năm nhằm ghi nhận, tônvinh các tác giả, tác phẩm chất lượng cao, có đóng góp cho sự phát triển văn hóa -xã hội của đất nước. Tổng dự toán chi từ NSNN chi xét chọn và trao giải thưởngcủa các Hội VHNT khoảng 5.000 triệu đồng/năm.Sự phối hợp của Bộ Tài chính trong việc triển khai các chính sách đặt hàng,tài trợ các tác phẩm văn học, nghệ thuật và thực hiện chế độ thưởng trong thờigian quan đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi để các Hội VHNT đẩy mạnh hoạtđộng sáng tạo, nghiên cứu, sưu tầm thêm nhiều đề tài mới trong các tác phẩm vănhọc nghệ thuật, báo chí, khuyến khích đội ngũ các tác giả là những người dân tộc,dân tộc thiểu số tham gia hoạt động sáng tác tác phẩm, góp phần thúc đẩy pháttriển kinh tế, văn hoá, xã hội, tăng cường tình đoàn kết dân tộc, giữ vững an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội.3. Ưu tiên cân đối ngân sách cho lĩnh vực văn hóa (trong đó có hoạt độngvăn học, nghệ thuật) đảm bảo ít nhất bằng 1,8% tổng chi ngân sách nhà nước vàtăng dần hàng năm (năm 2008 là 8.152.000 triệu đồng, năm 2009 là 10.248.000triệu đồng; năm 2010 là 11.850.000 triệu đồng; năm 2011 là 13.720.000 triệuđồng; năm 2012 là 16.210.000 triệu đồng).4. Phối hợp tham gia ý kiến với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong quátrình xây dựng các Đề án triển khai thực hiện Nghị quyết 23 (Đề án 1: Xây dựngvà rà soát các chế độ chính sách đối với hoạt động văn học nghệ thuật và văn
  • 107. 104nghệ sỹ. Chế độ tài trợ, đặt hàng đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật. Chínhsách khuyến khích sáng tác trong các hoạt động văn học nghệ thuật và thành lậpQuỹ sáng tác. Đề án 2: Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của các trườngvăn hoá, nghệ thuật. Đề án 3: Xây dựng các chính sách thẩm định, quảng bá, thuếưu đãi đối với các tác phẩm văn học nghệ thuật trong nước; chính sách thẩm định,quảng bá, thuế ưu đãi đối với văn hoá phẩm của Việt Nam đưa ra nước ngoài vàgiới thiệu tinh hoa văn học, nghệ thuật truyền thống, xây dựng và phát huy vănhọc, nghệ thuật quần chúng; chính sách xuất bản, quảng bá các tác phẩm văn học,nghệ thuật đến với công chúng qua các ấn phẩm văn hóa, các phương tiện thôngtin đại chúng. Đề án 4: Trên cơ sở quy hoạch và rà soát, đánh giá lại các côngtrình hiện có, xây dựng kế hoạch nâng cấp, xây mới các công trình văn hoá (nhàhát, rạp chiếu phim, nhà triển lãm) từ năm 2010-2020.5. Phối hợp xây dựng các chế độ về Đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tàichính (trong đó có tiền lương và khung giá dịch vụ) đối với các đơn vị sự nghiệpcông lập ngành văn hoá, thể thao và du lịch; chế độ, chính sách đối với lao độngbiểu diễn nghệ thuật nghỉ việc được hưởng chế độ hưu trước tuổi tại các đơn vịnghệ thuật công lập; xây dựng dự thào Nghị định hoạt động Mỹ thuật; xây dựngdự thảo quy hoạch tượng đài danh nhân anh hùng dân tộc; xây dựng quy hoạchphát triển ngành Mỹ thuật đến năm 2020; xây dựng cơ chế tài chính và phối hợpphân bổ và triển khai thực hiện Chương trình MTQG về văn hóa, trong đó có dựán hỗ trợ các loại hình nghệ thuật truyền thống...6. Phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt độngvà quản lý Hội; phối hợp xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyếtđịnh số 68/2010/QĐ-TTg ngày 01/11/2010 quy định hội có tính chất đặc thù vàđược ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động; chủ trì trình Thủ tướngQuyết định số 71/2011/QĐ-TTg ngày 20/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc đảm bảo, hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với các Hội có tính chấtđặc thù. Theo đó, 11 Hội văn học nghệ thuật ở Trung ương là các Hội đặc thùđược ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động. Tổng kinh phí NSNN cấp qua11 Hội văn học nghệ thuật ở Trung ương giai đoạn 2008 - 2012 tăng dần hàngnăm (2008 là 53.866 triệu đồng; 2009 là 74.640 triệu đồng; 2010 là 93.711 triệuđồng; 2011 là 98.044 triệu đồng; 2012 là 105.039 triệu đồng).II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ:2.1 Về chính sách tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuậtTrong điều kiện ngân sách còn khó khăn do suy thoái kinh tế, Bộ Tài chínhluôn cố gắng cân đối đảm bảo kinh phí hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật theo dựtoán và tiến độ để các Hội Văn học nghệ thuật triển khai thực hiện. Thời gian qua,thông qua chính sách hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật, nhiều trại sáng tác đãđược mở, nhiều tác phẩm, công trình đã được hỗ trợ. Tuy nhiên cần nhìn nhậnmột cách khách quan rằng việc hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật còn có thể đạtđược kết quả tốt hơn nữa, nếu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo sát saohơn, các Hội Văn học nghệ thuật Trung ương và địa phương triển khai tốt hơn các
  • 108. 105hoạt động hỗ trợ, tập trung hỗ trợ chiều sâu để khuyến khích phát triển các tácphẩm, công trình chất lượng cao.2.2 Về rà soát, quy hoạch, sắp xếp các tổ chức, biên chế Hội văn học nghệthuật ở Trung ươngTheo quy định tại Quyết định số 71/2011/QĐ-TTg ngày 20/12/2011 củaThủ tướng Chính phủ về việc đảm bảo, hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đốivới các Hội có tính chất đặc thù, ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí chi hoạtđộng thường xuyên của các Hội đặc thù căn cứ trên chỉ tiêu biên chế được cấp cóthẩm quyền giao. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các Hội ở Trung ương đã và đangsử dụng số lượng biên chế vượt so với chỉ tiêu được giao từ những năm 1990. Đềnghị các Hội Văn học Nghệ thuật ở Trung ương phối hợp với Bộ Nội vụ đánh giá,rà soát, giao biên chế căn cứ trên quy mô hội viên và tính chất hoạt động đặc thùcủa các Hội phù hợp với điều kiện hoạt động hiện nay.2.3 Về đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách đối với các hoạt động văn học,nghệ thuật để khuyến khích sáng tạo và phù hợp với đặc thù hoạt độngĐề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với Bộ Tài chínhnghiên cứu để tiến tới thay đổi cơ bản phương thức hỗ trợ từ NSNN trong cungcấp các sản phẩm văn học, nghệ thuật, chuyển từ việc giao dự toán ngân sách nhưhiện nay sang thực hiện phương thức đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ cungcấp các sản phẩm văn học, nghệ thuật dựa trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế -kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng của từng loại hình sản phẩm (theo quanđiểm chỉ đạo của Bộ Chính trị nêu tại Thông báo số 37- TB/TW ngày 26/5/2011thông báo kết luận của Bộ Chính trị về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của cácđơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sựnghiệp công”). Theo đó, Nhà nước tăng cường kinh phí để đặt hàng, mua hàng,giao nhiệm vụ cung các các sản phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị (mua bản quyềncác tác phẩm văn học nghệ thuật chất lượng cao, có ảnh hưởng tích cực đến pháttriển kinh tế - xã hội để đặt hàng xuất bản, phổ biến; đặt hàng các phim truyện,phim tài liệu, các buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị, đặt hàngcác tác phẩm điêu khắc, mỹ thuật...).2.4. Đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật:Đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan quản lý Nhà nước vềvăn học, nghệ thuật nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh và khuyếnkhích nguồn lực xã hội đầu tư cho văn học, nghệ thuật theo chuẩn mực văn hóachung, chân, thiện, mỹ. Bên cạnh sự tăng cường đầu từ của NSNN, khuyến khíchtăng cường nguồn lực xã hội hóa đầu tư cho văn học, nghệ thuật là giải pháp khôngthể xem nhẹ để văn học nghệ thuật luôn là động lực to lớn trực tiếp góp phần xâydựng nên tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của xã hội Việt Nam.II. KẾT LUẬNTrong hơn 05 năm triển khai Nghị quyết số 23-NQ-TW ngày 16/6/2008 củaBộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ
  • 109. 106mới, Bộ Tài chính đã chủ động, tích cực phối hợp với các cơ quan liên quan kịpthời xây dựng các chính sách chế độ, cân đối kinh phí để đáp ứng ngày càng tốthơn yêu cầu phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới. Trong thời gian tới,trên cơ sở đề xuất của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan liên quan,Bộ Tài chính sẽ tiếp tục tiếp tục đẩy mạnh phối hợp, tăng cường nghiên cứu đổimới để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của vănhọc, nghệ thuật trong thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, phần đấu đưa nước ta cơ bản trởthành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020./.
  • 110. 107KẾT QUẢ 05 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 23-NQ/TW NGÀY16/6/2008 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HỌC, NGHỆTHUẬT TRONG THỜI KỲ MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG:NHỮNG KHÓ KHĂN TỒN TẠI VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ TIẾPTỤC TRIỂN KHAI THỰC HIỆNSở VHTTDL tỉnh Tuyên QuangKính thưa quý vị đại biểu!Kính thưa các đồng chí tham dự Hội nghị!Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, có diện tích tự nhiên 5.809km2,trong đó diện tích đồi, núi chiếm 73%, dân số của tỉnh trên 73 vạn người, gồm 22 dântộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 46,2%; dân tộc Tày chiếm25,6%; dân tộc Dao chiếm 12,5%, còn lại là các dân tộc khác. Tỉnh Tuyên Quang có 6huyện, 1 thành phố với 141 xã, phường, thị trấn và 2.095 thôn, bản, tổ dân phố.Trong những năm qua, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, sự nghiệpvăn học, nghệ thuật trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang luôn được các cấp ủy Đảng,chính quyền quan tâm, đầu tư phát triển, nhằm tiếp tục bảo vệ và phát huy giá trịtruyền thống tốt đẹp, tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợicông cuộc xây dựng, đổi mới của đất nước, của tỉnh, đồng thời tích cực xây dựngmôi trường văn hóa lành mạnh góp phần làm cho quê hương Tuyên Quang - "Thủđô khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến" ngày càng giàu đẹp, văn minh.Kính thưa các vị đại biểu!Kính thưa các đồng chí!Tuyên Quang - vùng đất lịch sử, nơi đã chứng kiến nhiều sự kiện trọng đạicủa dân tộc Việt Nam. Tại Tân Trào - "Thủ đô khu giải phóng", Bác Hồ và Trungương Đảng đã lãnh đạo tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thànhcông, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ởĐông Nam Châu Á. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, TuyênQuang trở thành trung tâm "Thủ đô kháng chiến" của cả nước, luôn làm tròn nhiệmvụ thiêng liêng: Xây dựng và bảo vệ Thủ đô kháng chiến, bảo vệ an toàn tuyệt đốiBác Hồ và các cơ quan đầu não kháng chiến. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước, quân và dân Tuyên Quang vừa xây dựng bảo vệ quê hương, vừa tích cựcchi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, cùng cả nước làm nên đại thắng mùaxuân năm 1975. Lịch sử cách mạng đã hun đúc nên những giá trị truyền thống củaĐảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, đó là truyền thống yêu nướcnồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Bác Hồ,với cách mạng. Truyền thống lịch sử vẻ vang ấy đã và đang là động lực to lớn trongcông cuộc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điểm đếnhấp dẫn để các văn nghệ sỹ trong tỉnh và cả nước khơi nguồn cảm xúc, sáng tác
  • 111. 108những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, phản ánh sâu sắc truyền thống lịch sửquê hương cách mạng - "Thủ đô khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến".Kính thưa các vị đại biểu!Kính thưa các đồng chí!Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triểnnền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết 23 của BộChính trị (Khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trongthời kỳ mới; Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng; Nghị quyết Đạihội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XV, sự nghiệp văn học, nghệ thuậtcủa tỉnh Tuyên Quang đã có bước phát triển quan trọng. Tỉnh ủy, Hội đồng nhândân, Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để sựnghiệp văn học, nghệ thuật tỉnh nhà phát triển. Ban hành Quy định xét tặng "Giảithưởng Tân Trào" (Quyết định số 36/2010/QĐ-UBND ngày 10/12/2010 của Ủyban nhân dân tỉnh); Quy định chế độ khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân hoạtđộng trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, phát thanh - truyền hình của tỉnh đoạt giảicấp khu vực, quốc gia và quốc tế (Quyết định số 05/2009/QĐ-UBND, ngày17/6/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh). Chú trọng đào tạo và phát triển đội ngũ vănnghệ sỹ; quan tâm, tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các các phương tiện làm việc,bố trí biên chế, chế độ nhuận bút, đảm bảo nguồn kinh phí hỗ trợ sáng tác nhữngtác phẩm văn học, nghệ thuật có chất lượng cao, phản ánh bản sắc văn hóa truyềnthống của nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang nói riêng và cả nước nói chung,góp phần từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Đầu tư xâydựng và hoàn thành một số thiết chế văn hóa trọng điểm cấp tỉnh như: Công viênHồ cây xanh, Trung tâm Hội nghị tỉnh, Bảo tàng tỉnh, Thư viện tỉnh, khởi công xâydựng "Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang"... Đoànnghệ thuật dân tộc tỉnh được kiện toàn, củng cố đảm bảo chất lượng đáp ứng yêucầu nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới.Hàng năm, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh TuyênQuang tổ chức gặp mặt đầu xuân đối với đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ, nhà báotiêu biểu trên địa bàn toàn tỉnh, nhằm động viên, khuyến khích đội ngũ văn nghệsỹ tích cực đóng góp cho sự phát triển văn học, nghệ thuật của tỉnh. Năm 2011,tổ chức thành công Đại hội Văn học - Nghệ thuật toàn tỉnh lần thứ VI. Đến nay,Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh có 129 hội viên (trong đó có 58 hội viên được kếtnạp vào các Hội chuyên ngành Trung ương), sinh hoạt tại 8 chi hội: Văn học, Âmnhạc, Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, Sân khấu, Kiến trúc và 2 Chi hội của các Hội chuyênngành Trung ương là Chi hội Văn nghệ dân gian và Chi hội Văn học Nghệ thuật cácdân tộc thiểu số. Các văn nghệ sỹ của tỉnh đã tích cực học tập, rèn luyện, tiếp tụcsáng tạo những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao,đáp ứng yêu cầu và lòng mong muốn của Đảng ủy, chính quyền và nhân dân các dântộc tỉnh Tuyên Quang.Năm 2012, tổ chức xét, chọn và trao tặng "Giải thưởng Tân Trào" cho 12 tácphẩm, cụm tác phẩm văn học, nghệ thuật của 12 tác giả, cố tác giả thuộc các chuyênngành Âm nhạc, Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, Sân khấu và Văn học. Đó là những tác phẩm,cụm tác phẩm có giá trị về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật; có ảnh hưởng
  • 112. 109sâu sắc, sức lan tỏa rộng rãi trong đời sống xã hội, phục vụ nhiệm vụ chính trị củatỉnh, cổ vũ tinh thần lao động, sáng tạo, xây dựng đời sống văn hóa của nhân dân cácdân tộc trong tỉnh. Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen và 50% giá trị giải thưởngđối với các tác giả có tác phẩm đạt giải cao ở nước ngoài, Trung ương và khu vực cho11 tác giả, trong đó có một Nhạc sỹ vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danhhiệu Nghệ sỹ Ưu tú (Nhạc sỹ - NSUT Vương Văn Vình, Đoàn Nghệ thuật dân tộctỉnh, trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Tổ chức thành công Cuộc thisáng tác biểu trưng (logo) tỉnh Tuyên Quang với sự tham gia của 188 tác giả làhọa sỹ, nhà thiết kế trong và ngoài tỉnh. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, gópphần giới thiệu về truyền thống văn hóa, mảnh đất và con người Tuyên Quang,gắn với các di tích lịch sử cách mạng; đồng thời phục vụ các nhiệm vụ chính trị,phát triển kinh tế, văn hóa, đối nội, đối ngoại của tỉnh.Bên cạnh các hoạt động về văn học, nghệ thuật, hoạt động biểu diễn nghệ thuậtchuyên nghiệp và văn nghệ quần chúng trên địa bàn tỉnh cũng được quan tâm pháttriển. Tỉnh Tuyên Quang hiện có 02 đơn vị hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyênnghiệp là Đoàn Nghệ thuật dân tộc tỉnh (trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch)và Đoàn Ca múa nhạc xiếc Thanh Xuân (Đoàn nghệ thuật xã hội hóa); 141 đội vănnghệ quần chúng xã, phường, thị trấn; 2.494 đội văn nghệ quần chúng thôn, bản, tổdân phố, cơ quan, trường học, lực lượng vũ trang; trên 50 câu lạc bộ đàn và hát dân caduy trì hoạt động bình quân 10.300 buổi/năm, góp phần nâng cao mức hưởng thụ vănhóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú trên địa bàn dân cư.Công tác sưu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống của cácdân tộc được triển khai thực hiện có hiệu quả. Khai thác và phát triển các loại hìnhnghệ thuật dân tộc truyền thống, tiêu biểu như hát Then (dân tộc Tày), hát Páo dung(dân tộc Dao); hát Sình ca (dân tộc Cao Lan); hát Soọng cô (dân tộc Sán Dìu)...Biên soạn, xuất bản các cuốn sách: "Di tích lịch sử - lưu niệm về Chủ tịch Hồ ChíMinh trên đất Tuyên Quang"; "Lễ hội văn hóa truyền thống các dân tộc ở TuyênQuang"; Tập thơ Tày "Nhớ Pác Tạ"; sản xuất bộ phim tài liệu "Tuyên Quang kýsự" (04 tập) phản ánh đất nước, con người và truyền thống đấu tranh cách mạngcủa nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang.Hàng năm, mở các lớp tập huấn ở cơ sở; tổ chức và tham gia các kỳ Liênhoan, hội diễn tại tỉnh, khu vực và Trung ương, trong đó có hát Then, đàn tính -loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đặc sắc của dân tộc Tày. Hiện nay, Ủyban nhân dân tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các tỉnhvùng Việt Bắc triển khai các bước lập hồ sơ trình UNESCO công nhận hát Thenlà di sản văn hóa phi vật thể thế giới cần bảo vệ khẩn cấp; hoàn thành lập 02 hồsơ di sản văn hóa phi vật thể dân tộc Tày (Lễ hội Lồng tông và Nghi lễ Then) đềnghị công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ngày 27/12/2012 Bộtrưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra Quyết định số 5079/QĐ-BVHTTDL, công bố Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đối với 02 di sản này.Ngày 17 và 21/02/2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã long trọng tổ chứcLễ công bố và đón nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Nghi lễ Thenvà lễ hội Lồng tông (dân tộc Tày) tại 2 huyện Chiêm Hóa và Lâm Bình.
  • 113. 110Việc phục hồi, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cáchmạng và kháng chiến theo Quyết định số 984/QĐ-TTg ngày 25/10/1999 của Thủtướng Chính phủ và Quyết định số 1483/QĐ-CT ngày 31/10/2005 của Chủ tịch Uỷban nhân dân tỉnh được triển khai có hiệu quả. Đến nay, hoàn thành phục hồi, tôn tạo110 di tích lịch sử văn hoá theo dự án được duyệt; hoàn thành danh mục xếp hạng118 di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia, 179 di tích cấp tỉnh. Tháng 8/2012, khudi lịch lịch sử văn hóa và sinh thái Tân Trào vinh dự được đón nhận Bằng xếphạng Di tích quốc gia đặc biệt, qua đó góp phần tôn vinh và khẳng định tầm vóclịch sử của "Thủ đô khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến", tăng thêm niềm tin,niềm tự hào dân tộc, quyết tâm kế thừa và phát huy những giá trị truyền thốnglịch sử của tỉnh và của đất nước.Kính thưa các vị đại biểu!Kính thưa các đồng chí!Thực hiện Nghị quyết số 23 ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị, Chương trìnhhành động số 20 ngày 28/10/2008 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Hội Văn họcNghệ thuật tỉnh phối hợp với Hội nhà báo tỉnh, các cơ quan báo chí Trung ương vàcủa tỉnh mở trại sáng tác; cử hội viên tham gia các trại sáng tác, lớp tập huấn, đi thựctế do tỉnh và Trung ương tổ chức.Trong 2 năm, 2011 và 2012, Hội đã phối hợp với Liên hiệp các hội văn học,nghệ thuật Việt Nam, các Hội chuyên ngành Trung ương tổ chức 8 lớp bồi dưỡngnghiệp vụ, sáng tác về văn học, nghệ thuật, mỹ thuật, âm nhạc... cho các hội viênHội Văn học, nghệ thuật tỉnh và tổ chức thành công Hội thảo khoa học "Nâng caochất lượng Báo Tân Trào". Xuất bản bình quân 10 đầu sách/năm, trong đó có các tácphẩm văn xuôi, truyện ngắn và thơ có nội dung tư tưởng, giá trị nghệ thuật, tiêu biểunhư: "Giấc mơ hạt thóc" và "Khi tôi lớn" (Đinh Công Thủy); "Đêm trở giấc" (Tạ BáHương); "Biển mặn" (Cao Xuân Thái); "Dọc miền lau" (Lê Na); trường ca "Chuyệnanh thuyền chài Trần Văn Sông" (Vũ Xuân Tửu)... Một số tác phẩm văn học nghệthuật dành giải thưởng quốc gia và khu vực như: Tiểu thuyết "Ma làng", "Cánhđồng Chum" (Trịnh Thanh Phong); "Tân Trào rạng ngày Độc lập" (Phù Ninh);"Thăm thẳm đường về" (Hồng Giang); tập truyện "Chuyện ở bản Pi - át" (Vũ XuânTửu); "Je - ry lên rừng học hái thuốc nam" (Đỗ Anh Mỹ)... Ngoài ra, các tác phẩmvề Âm nhạc, Hội họa, Nhiếp ảnh, Sân khấu... cũng dành giải thưởng cao trong khuvực và toàn quốc như: tác phẩm "Cháu của bà" của Họa sỹ Mai Mạnh Hùng (GiảiA triển lãm mỹ thuật khu vực, Giải B triển lãm Mỹ thuật Việt Nam); tác phẩm "Bấtbiến" của Họa sỹ Lê Cù Thuần (Giải C triển lãm Mỹ thuật Việt Nam); ca khúc"Tiếng lượn cọi quê em" của Nhạc sỹ - NSƯT Vương Vình, ca khúc "Đường vềTân Trào" của Nhạc sỹ Tân Điều... Bên cạnh đó, các tác phẩm hưởng ứng Cuộcvận động "Sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật báo chí" về đề tài"Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; "Tuyên Quang hội nhậpvà phát triển"; "Tuyên Quang chung sức xây dựng nông thôn mới"... với nhữngtruyện ký, bút ký, phóng sự, gương điển hình sản xuất kinh doanh giỏi đã đượcphản ảnh đầy đủ và kịp thời trong công cuộc đổi mới quê hương, đất nước.Kính thưa các vị đại biểu!
  • 114. 111Kính thưa các đồng chí!Có được những kết quả như vậy là nhờ có sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sátsao của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự phối hợp của cáccấp, các ngành tại địa phương và các Hội chuyên ngành của Trung ương. Tuynhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết trên địa bàn tỉnh TuyênQuang còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế như: Việc phổ biến, quán triệt và triểnkhai thực hiện Nghị quyết ở một số cơ sở còn chậm; công tác lý luận, phê bìnhvăn học, nghệ thuật, khuyến khích hội viên các chi hội văn học, nghệ thuật, cáctầng lớp nhân dân tham gia góp ý, phê bình nâng cao chất lượng các tác phẩm cònhạn chế; việc phát hiện, bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sỹ trẻ, đặc biệt đối với vănnghệ sỹ là người dân tộc thiểu số chưa kịp thời, chưa có cơ chế thu hút tài năngvề lĩnh vực văn học, nghệ thuật; việc triển khai Đề án thành lập cơ sở đào tạo vănhóa, nghệ thuật và các công ty biểu diễn nghệ thuật còn chậm; có ít tác phẩm vănhọc, nghệ thuật có giá trị, phản ánh sâu sắc truyền thống lịch sử quê hương cáchmạng - "Thủ đô khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến"; công tác tuyên truyền,quảng bá, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật tới nhân dân, nhất là đồngbào các dân tộc vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế...Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày16/6/2008 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trongthời kỳ mới trong thời gian tiếp theo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TuyênQuang đề xuất một số giải pháp thực hiện, như sau:Một là, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng để độingũ sáng tác văn học, nghệ thuật nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước về phát triển văn học, nghệ thuật và trách nhiệm côngdân đối với nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương; đấu tranhchống những luận điệu xuyên tạc, âm mưu "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thùđịch, nhất là trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũvăn nghệ sỹ sáng tạo, thực hiện chính sách thu hút, chế độ đãi ngộ để văn nghệ sỹcó những đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển văn học, nghệ thuật chungcủa đất nước. Thực hiện có hiệu quả công tác xã hội hoá các hoạt động văn học,nghệ thuật. Tăng mức đầu tư cho văn học, nghệ thuật; xây dựng đề án và cơ chếbảo tồn, truyền bá các loại hình văn học, nghệ thuật dân gian truyền thống cácdân tộc mỗi địa phương.Ba là, thường xuyên củng cố, đổi mới hoạt động của Hội Văn học - Nghệthuật, các Hội chuyên ngành, nhằm nâng cao khả năng tập hợp, động viên đội ngũvăn nghệ sỹ. Tiếp tục triển khai có hiệu quả việc "Học tập và làm theo tấm gươngđạo đức Hồ Chí Minh"; hoạt động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệthuật, báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh",gắn với các phong trào thi đua yêu nước tại các địa phương, cơ quan, đơn vị.Bốn là, phát huy vai trò và hiệu quả quản lý Nhà nước về văn học, nghệthuật; tăng cường công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật nhằm khuyến
  • 115. 112khích văn nghệ sỹ và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia góp ý, phê bình đểnâng cao chất lượng các tác phẩm văn học, nghệ thuật.Năm là, nâng cao năng lực, trình độ lãnh đạo, nhận thức của các cấp ủy Đảng,cán bộ, đảng viên đối với văn học, nghệ thuật, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo quản lýtrong hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ trực tiếp chỉ đạo, quản lý lĩnh vực văn hóanói chung, văn học nghệ thuật nói riêng. Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phươngphải đưa nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật vào kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội hàng năm của địa phương, cơ quan, đơn vị.Để triển khai thực hiện có hiệu quả những giải pháp nêu trên, Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch Tuyên Quang xin kiến nghị, đề xuất, như sau:- Đề nghị Trung ương sớm ban hành quy định về tổ chức bộ máy, biên chếcủa Hội Văn học Nghệ thuật và các tờ báo, tạp chí của địa phương. Tăng cườngcông tác quản lý, ngăn chặn các trang mạng xã hội có nội dung độc hại, gây ảnhhưởng xấu trong xã hội.- Kịp thời biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân hoạt động tronglĩnh vực văn học, nghệ thuật.Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết, tỉnh Tuyên Quang rấtmong tiếp tục nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch; sự phối hợp từ phía các cơ quan trực thuộc Bộ, các Hội chuyên ngành củaTrung ương và các tỉnh bạn, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển văn học, nghệthuật của cả nước nói chung và của tỉnh Tuyên Quang nói riêng trong thời kỳ mới.Xin trân trọng cảm ơn !
  • 116. 113THAM LUẬN HỘI NGHỊSƠ KẾT 5 NĂM TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 23CỦA BỘ CHÍNH TRỊ “VỀ VIỆC TIẾP TỤC XÂY DỰNG VÀ PHÁTTRIỂN VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT TRONG THỜI KỲ MỚI”Nguyễn Văn ẢnhPhó Giám đốc Sở VHTT&DL Bắc NinhCấp ủy, lãnh đạo ngành VHTT&DL Bắc Ninh đã tích cực đề ra các chủtrương, giải pháp chỉ đạo các đơn vị từ tỉnh tới cơ sở nhằm xây dựng và phát triểnvăn học nghệ thuật, góp phần đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển nguồn nhânlực phục vụ cho sự nghiệp văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới.Các đơn vị hoạt động nghệ thuật, như Nhà hát dân ca Quan họ Bắc Ninh,Trung tâm văn hoá tỉnh, huyện, Trung tâm phát hành phim và chiếu bóng, TrườngTrung cấp Văn hoá Nghệ thuật và Du lịch, đội văn nghệ các huyện và cơ sở, cáccâu lạc bộ thơ ca ... đã có sự chuyển biến mới về hoạt động sau khi triển khaiNghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị.Ngành VHTT&DL đã tham mưu cho HĐND, UBND tỉnh một số văn bảnchính sách nhăn phát triển văn học nghệ thuật như: Quyết định về quy định tiêuchuẩn công nhận nghệ nhân Dân ca quan họ; quyết định về chế độ giải thưởng hộithi hát Dân ca quan họ đầu xuân hàng năm; quy định hỗ trợ nghệ nhân và diênviên nhạc công nhân viên nhà hát Dân ca quan họ (đối với nghệ nhân mức hỗ trợ1 triệu/ tháng và tiền bảo hiểm, tiền tử tuất; đối với diên viên nghệ sỹ, nhạccông... mức hỗ trợ tăng gấp ba lần so với quy định của nhà nước); quỹ hỗ trợ tàinăng trẻ; quỹ tài năng Phạm Văn Trà; quyết định về thu hút nhân tài về công táctại tỉnh và hỗ trợ đào tạo; hỗ trợ xây dựng nhà văn hóa thôn, xã, hỗ trợ các trangthiết bị của các nhà văn hóa...Trình và được HĐND thông qua Quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hóatỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 20, 22của Hội đồng nhân dân tỉnh, Quyết định số 100 và 101 của UBND tỉnh quy địnhvề thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và tổ chức kỷniệm ngày truyền thống, đón nhận các danh hiệu thi đua trên địa bàn tỉnh; Quychế xét duyệt danh hiệu nghệ nhân quan họ...Hằng năm, xuất bản 4 số bản tinVHTTDL Bắc Ninh tuyên truyền, phản ánh các sự kiện của đất nước, địa phương,các hoạt động của ngành phát hành đến các thôn, khu dân cư trên địa bàn tỉnh;website của sở.
  • 117. 114Trong những năm qua trung tâm Phát hành phim và chiếu bóng tỉnh đã tổchức được gần 5 nghìn buổi chiếu, phục vụ trên 2 triệu lượt người xem. Trên Sânvăn hoá Cầu Gỗ tỉnh với sức chứa 3.500 người đã tổ chức được hơn 230 buổibiểu diễn với nhiều thể loại như: Ca nhạc, Xiếc, Kịch nói, Cải lương; phục vụ trên430 nghìn lượt người xem. Về hoạt động tại Rạp chiếu bóng Bắc Ninh, đã tổ chứcchiếu được hơn 1.000 buổi; Trong đó có hơn 500 buổi tuyên truyền nhiệm vụchính trị không doanh thu; phục vụ hàng trăm nghìn lượt người xem.Công tác sảnxuất và phát hành băng đĩa hình, đĩa phim, đã phát hành được hàng nghìn băngđĩa.Hoạt động thư viện đã cơ bản đáp ứng nhu cầu đọc, tìm kiếm thông tin chomọi đối tượng đến nghiên cứu, học tập, giải trí. Bảo tàng tỉnh thường xuyên tổchức các hoạt động nghiệp vụ và đạt được nhiều kết quả đáng kể, từ công tác sưutầm hiện vật, phân loại đến tổ chức trưng bày, triển lãm; hàng năm, lượng hiệnvật bảo tàng sưu tầm được đều đạt con số cao (trung bình từ 600 đến 1000 hiệnvật/năm) cùng hàng ngàn trang tư liệu, chụp và sưu tầm hàng trăm ảnh tư liệu.Hiện Bảo tàng tỉnh đã sưu tầm được tổng cộng 3.550 hiện vật bảo tàng, 49 tài liệuvà 304 bản in dập bia đá.Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho ngành văn hóa được duy trìhằng năm với gần 100 học viên theo học tại trường Trung cấp Văn hoá, Nghệthuật và Du lịch và hàng trăm học viên tại các lớp bồi dưỡng hạt nhân văn nghệ ởcơ sở; Trường còn thực hiện liên kết đào tạo với một số trường Đại học mở cáclớp đào tạo hệ chính quy, hệ vừa làm vừa học ở 02 cấp học: Đại học và Trung cấpnhằm đáp ứng nhu cầu của người học, đồng thời giúp cho một số tỉnh bạn củngcố, hoàn thiện, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngành văn hóa, giáo dục.Cùng với việc đào tạo, trường đã phối hợp với các ngành liên quan hoàn thiệnviệc nghiên cứu, biên soạn giáo trình giảng dạy hát dân ca Quan họ Bắc Ninh, hátQuan họ đối đáp, lý thuyết Quan họ bậc Trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy03 năm của trường; tài liệu dạy hát dân ca Quan họ Bắc Ninh trong các trườnghọc trên địa bàn tỉnh. Những tài liệu này được Hội đồng thẩm định và đưa vàogiảng dạy bắt đầu từ năm học 2011- 2012.Đối với các đơn vị biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, UBND tỉnh BắcNinh đã phê duyệt đề án nâng cấp Đoàn dân ca quan họ Bắc Ninh thành Nhà hátdân ca quan họ Bắc Ninh. Hướng dẫn, hỗ trợ, tạo điều kiện để anh em nghệ sỹcủa đơn vị phấn đấu trở thành hội viên của Hội nghệ sỹ Sân khấu Việt Nam, Hộivăn học nghệ thuật, Chi hội nhạc sĩ Việt Nam tỉnh Bắc Ninh... nhằm phát triển,bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sỹ, cộng tác viên trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.Ngoài nhiệm vụ biểu diễn phục vụ các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, tuyên truyền,
  • 118. 115quảng bá, giới thiệu về dân ca Quan họ Bắc Ninh với khán giả trong và ngoàinước, kết hợp biểu diễn doanh thu, Nhà hát còn có nhiệm vụ sưu tầm, bảo tồn cáchình thức hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh truyền thống, nghiên cứu thể nghiệm cácloại hình ca hát Quan họ trên sân khấu và quảng bá về Dân ca Quan họ Bắc Ninh.Hoạt động của Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh trong những năm qua đã đạtnhiều kết quả đáng khích lệ, trong 5 năm từ 2008 đến năm 2012 Nhà hát đã tổchức biểu diễn 526 buổi cho gần 150 nghìn lượt người, chất lượng các chươngtrình biểu diễn được nâng lên một cách rõ rệt, tinh thần thái độ phục vụ nhân dâncủa tập thể cán bộ, diễn viên Nhà hát đã được đông đảo quần chúng nhân dântrong cả nước, bạn bè quốc tế cũng như kiều bào ở nước ngoài khen ngợi và đánhgiá cao.Ngày 30/9/2009 dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là disản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, ngành VHTT&DL đã tham mưucho UBND tỉnh chỉ đạo và triển khai nhiều dự án, đề án, chương trình hành độngnhằm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản tiêu biểu như: tổ chức chuyền dậy dânca Quan họ cho hàng vạn nhân dân ở các gia đình, thôn, làng, các câu lạc bộ vàđặc biệt là các trường phổ thông trên toàn tỉnh; xây dựng trung tâm lưu trữ, bảotồn và khai thác di sản văn hóa DCQH Bắc Ninh; tổ chức kiểm kê di sản dân caQuan họ hàng năm; thành lập hiệp hội những người yêu dân ca Quan họ tỉnh BắcNinh; tổ chức các đoàn nghệ thuật tham gia biểu diễn quảng bá về di sản DCQHở trong và ngoài nước; hàng năm tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt Vềmiền Quan họ (4 chương trình) và phối hợp với các tỉnh thành trên cả nước tổchức quảng bá, giới thiệu về di sản DCQH Bắc Ninh; đưa dân ca quan họ trởthành sản phẩm đặc biệt của các hoạt động du lịch trên địa bàn toàn tỉnh. Hàngnăm tổ chức hội thi hát DCQH đầu xuân.Hoạt động văn hóa văn nghệ quần chúng trên địa bàn tỉnh ngày càng pháttriển sâu rộng. Hiện toàn tỉnh có tới trên 700 Đội văn nghệ, CLB văn nghệ thu hútkhoảng trên 20.000 diễn viên, hội viên không chuyên tham gia sinh hoạt. Các câulạc bộ, Đội văn nghệ này đã và đang được các cấp, các ngành, các địa phươngtương đối quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tổ chức các hoạt động, gópphần tích cực trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Hoạt động củacác Câu lạc bộ, đội văn nghệ là nơi nuôi dưỡng các hạt nhân văn nghệ ở cơ sở vàlà nguồn lực chính để tham gia các cuộc hội thi, liên hoan văn nghệ quần chúngcủa tỉnh, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của các loại di sản văn hóa phi vậtthể, đặc biệt là dân ca Quan họ Bắc Ninh; tạo môi trường sinh hoạt văn hóa vuitươi, lành mạnh, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần chongười dân địa phương. Đây cũng là nội dung quan trọng trong chỉ tiêu xây dựng
  • 119. 116đời sống văn hóa ở cơ sở và Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa” tại các thôn, làng, khu phố.Đối với Phong trào toàn dân “ĐKXDDDSVV” và việc thực hiện nghị quyếtsố 20, 22 của HĐND tỉnh đến nay đạt nhiều kết quả đáng khích lệ:Về phong trào toàn dân ĐKXDĐSVH: có sự vào cuộc của cả hệ thống chínhtrị, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi theo hướng tích cực; đời sống vật chất vàtinh thần của người dân được nâng lên; các phong trào VHVN phát triển; nhiềuhội thi, hội diễn được tổ chức, số các CLB và người tham gia tăng hằng năm. tổngsố làng quan họ gốc là 44, làng quan họ phát triển là 329...Về các di sản và lễ hội: tổng số hơn 500 lễ hội, hơn 1250 di tích, hoạt độngVHVN được tổ chức trong các lễ hội, cCông nhận “Gia đình văn hóa”: Năm 2011, toàn tỉnh có 160.605 hộ đăng ký,đạt 73,63% so với tổng số và số hộ được công nhận là 116.638 hộ, đạt 53% so vớitổng số. Năm 2012, có 241.115 hộ đăng ký, đạt 93,4% so với tổng số và đượccông nhận 231.023 hộ, đạt 89,5% so với tổng số.Công nhận làng, khu phố văn hóa: Năm 2011, có 229/698 làng, khu phốđược công nhận danh hiệu văn hóa các cấp, đạt 32,8% so với tổng số. Năm 2012,có 453/726 làng, khu phố được công nhận danh hiệu văn hóa, đạt 62,4% so vớitổng số, tăng 29,6% so với năm 2011.Từ năm 2008- 2012: Tập thể và cá nhân Hội VHNT đã xuất bản 64 đầusách, trong đó có 58 đầu sách văn học, 6 đầu sách nghệ thuật; Đã tổ chức và phốihợp tổ chức 9 cuộc triển lãm tranh cổ động, triển lãm mỹ thuật và triển lãm ảnhthời sự, nghệ thuật đều đặn hằng năm ở tỉnh với gần 350 tranh cổ động, hơn 300tác phẩm hội họa, đồ họa, điêu khắc và mỹ thuật ứng dụng, hơn 400 ảnh thời sự -nghệ thuật; tham gia đều đặn các cuộc triển lãm mỹ thuật, Liên hoan ảnh nghệthuật khu vực các tỉnh đồng bằng Sông Hồng với tổng số trên 150 tác phẩm mỹthuật, 83 tác phẩm ảnh nghệ thuật... Những năm vừa qua một số tác giả của Hộiđã có hàng chục kịch bản được Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình ViệtNam dàn dựng, phát sóng.Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị “Về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học,nghệ thuật trong thời kỳ mới” đã được các cấp các ngành trong tỉnh Bắc Ninhnghiêm túc quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện, qua 4 năm thực hiện đã thuđược một số kết quả quan trọng. Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện củacác cấp uỷ đảng, chính quyền đối với hoạt động văn học, nghệ thuật được nânglên. Các hoạt động văn học nghệ thuật trong tỉnh đã nắm bắt và thực hiện đúngđịnh hướng của Đảng. Các tác phẩm thuộc các thể loại đều tập trung khai thác từ
  • 120. 117thực tế cuộc sống, sự phát triển kinh tế - xã hôi của địa phương làm cảm hứng vàchất liệu sáng tạo nghệ thuật, phản ánh sinh động, chân thực cuộc sống của nhândân Bắc Ninh trong thời kỳ hội nhập, đổi mới. Tính chuyên nghiệp trong các tácphẩm ngày càng được khẳng định. Hoạt động văn học nghệ thuật của tỉnh nhìnchung phát triển khá toàn diện, phong phú, đóng góp tích cực vào việc nâng caođời sống tinh thần của nhân dân, phát huy được vai trò là động lực góp phần xâydựng và phát triển nền kinh tế xã hội của tỉnh.Một số hạn chếMặc dù đã có những phát triển và thành tựu đạt được, song so với yêu cầuphát triển của đời sống xã hội và xu thế hội nhập hiện nay, việc triển khai thựchiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) và Chương trình hànhđộng của Tỉnh ủy Bắc Ninh về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệthuật trong thời kỳ mới” của tỉnh vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, đó là:- Một số cấp uỷ, chính quyền chưa thực sự quan tâm đến công tác văn học,nghệ thuật. Công tác quản lý nhà nước về văn học, nghệ thuật có lúc, có nơi cònhạn chế. Việc phối hợp giữa các đơn vị, sở, ngành, hội chưa được thường xuyênvà chủ động.- Phong trào sáng tác của quần chúng chưa mạnh; hoạt động giữa các chuyênngành chưa đều; chưa có được những tác phẩm thật sự nổi trội, xứng tầm vớicông cuộc đổi mới của tỉnh và của đất nước, còn không ít tác phẩm văn học, nghệthuật và hoạt động biểu diễn chưa thể hiện được tính chất tiên tiến và bản sắc vănhoá của một vùng quê có truyền thống văn hiến lâu đời.- Công tác lý luận phê bình còn hạn chế; chủ trương trẻ hóa hội viên của HộiVăn học Nghệ thuật còn chậm; việc triển khai xây dựng “Đề án phát triểnVHNT” còn chậm; một số ít hội viên chưa hoạt động tích cực, còn có hội viên cótác phẩm mang tư tưởng lệch lạc, trái với đường lối văn hoá, văn nghệ của Đảng.- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ văn nghệ sĩ và những người làmcông tác quản lý văn học - nghệ thuật chưa thật sự được quan tâm thường xuyênvà có kế hoạch, quy hoạch lâu dài.Một số giải phápĐể tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của BộChính trị (khoá X) về văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, Ngành VHTT&DLtham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh tiếp tục chỉ đạo thực hiện mộtsố nhiệm vụ trọng tâm sau:
  • 121. 1181. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, sự quản lý nhà nước, củachính quyền địa phương trong việc đổi mới cơ chế chính sách đối với văn học -nghệ thuật. Đặc biệt là việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức vai trò vị trí, đặc trưngcủa văn học - nghệ thuật cho cán bộ, đảng viên; nhất là cán bộ lãnh đạo quản lýtrong hệ thống chính trị, cán bộ trực tiếp chỉ đạo quản lý văn hóa văn nghệ.2. Xây dựng và phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ của địa phương vững mạnhtheo hướng toàn diện cả về số lượng và chất lượng, đa dạng về loại hình sáng tạo.Chú trọng việc kết hợp giữa tính dân tộc và hiện đại trong sáng tác, phù hợp vớinăng lực nhận thức thẩm mỹ của công chúng. Tạo điều kiện cho Hội Văn họcnghệ thuật tỉnh trong việc phát hiện, bồi dưỡng lực lượng sáng tác trẻ, là nguồnnhân lực kế thừa cho nhiều năm tiếp theo trong giai đoạn mới.3. Chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản, báo chí, phát thanhtruyền hình, các cơ quan chức năng và các địa phương trong tỉnh phối hợp chặtchẽ với Hội văn học - Nghệ thuật tỉnh trong việc công bố, giới thiệu quảng bá cáctác phẩm, công trình nghệ thuật có chất lượng tốt để định hướng thẩm mỹ chocông chúng; xây dựng và phát triển văn nghệ quần chúng, khuyến khích quầnchúng tham gia sáng tạo, bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị văn hoá, vănnghệ truyền thống.4. Củng cố, đổi mới hoạt động của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, làm tốt vaitrò tập hợp, đoàn kết, phát huy tính chủ động sáng tạo của các chi hội và đội ngũvăn nghệ sĩ.5. Tăng cường bổ sung cơ sở vật chất, có chính sách cho công tác đào tạobồi dưỡng phát triển tài năng, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, chế độ khenthưởng, khuyến khích kịp thời các văn nghệ sĩ có nhiều công lao cống hiến, có tácphẩm chất lượng cao.6. Xây dựng phong trào sáng tác quần chúng, tạo điều kiện để quần chúnghưởng thụ VHNT ở các loại hình nghe, nhìn, đọc... Tiếp tục đầu tư xây dựng,củng cố các thiết chế văn hóa phục vụ nhân dân như: rạp hát, rạp chiếu phim,trung tâm triển lãm, CLB nghệ thuật cấp tỉnh, nhà văn hóa, phòng đọc sách, cácCLB cấp huyện, xã; trang bị thêm các dụng cụ, phương tiện hoạt động cho cácđơn vị nghệ thuật, máy móc thiết bị cho đội chiếu phim lưu động...
  • 122. 119BÁO CÁO THAM LUẬNHỘI NGHỊ SƠ KẾT 05 NĂM (2008 - 2012) TRIỂN KHAI THỰC HIỆNNGHỊ QUYẾT 23-NQ/TW NGÀY 16/6/2008 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀVIỆC TIẾP TỤC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HỌC, NGHỆTHUẬT TRONG THỜI KỲ MỚISở VHTTDL Lạng SơnKính thưa quý vị đại biểu!Thưa toàn thể Hội nghị!Thay mặt cho Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn tham dựHội nghị Sơ kết 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị vềviệc tiếp tục xây dựng và phát triển văn học - nghệ thuật trong thời kỳ mới hômnay, tôi xin phát biểu tham luận về “Tình hình phát triển văn học nghệ thuật tỉnhLạng Sơn trong giai đoạn hiện nay”.Kính thưa các quý vị đại biểu!Thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về việctiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới, trong nhữngnăm qua, sự nghiệp văn học nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn luôn nhận được sự quantâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các Bộ, Ngành Trung ương, Tỉnh ủy và UBNDtỉnh cũng như sự phối hợp của các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở do đó sựnghiệp văn học nghệ thuật của tỉnh ngày càng phát triển sâu rộng và khá sôi nổitrên địa bàn toàn tỉnh. Hàng năm nhân dịp Kỷ niệm các ngày lễ lớn của tỉnh, củađất nước, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh đãphát động và tổ chức được nhiều hoạt động sáng tác, công bố phổ biến các tácphẩm về văn học nghệ thuật tới hội viên và công chúng. Qua đó góp phần nângcao dân trí, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, làm phong phú đời sống tinh thầnnhân dân, cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trên địa bàntoàn tỉnh hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương và của đất nước.Hiện nay tỉnh Lạng Sơn có 01 Hội Văn học nghệ thuật tỉnh được thành lậptừ tháng 3 năm 1968, là tổ chức Hội công lập có chức năng tập hợp các văn nghệsỹ và những người có tâm huyết với sự nghiệp văn học nghệ thuật của tỉnh nhằmphát huy mọi khả năng của hội viên, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, lý luậnphê bình, sưu tầm, sáng tạo các tác phẩm văn học nghệ thuật.Nhìn chung trong những năm qua, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch,Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn đã phát huy tốt vai trò, chức năng, nhiệmvụ của mình nhằm xây dựng và phát triển nền VHNT của tỉnh. Đội ngũ văn nghệsỹ ngày càng được nâng cao trình độ. Phong trào sáng tác, biểu diễn, xuất bản,công bố phổ biến tác phẩm văn học nghệ thuật được quan tâm, chú trọng.I. KẾT QUẢ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT1. Công tác tham mưu chỉ đạo, triển khai thực hiện:
  • 123. 120Nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động văn học nghệ thuật trên địa bàn tỉnhLạng Sơn ngày càng phát triển. Trong những năm qua, Ngành Văn hóa, Thể thaovà Du lịch, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh đã tích cực tham mưu cho Tỉnh ủy,HĐND, UBND tỉnh ban hành một số cơ chế chính sách; cùng nhiều văn bản chỉđạo triển khai thực hiện. Cụ thể:* Về cơ chế chính sách:- Hiện nay UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Chính sách trợ giá, trợ cướcin và phát triển Tạp chí Văn nghệ Xứ Lạng.- Chính sách hỗ trợ biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ vùng sâu,vùng xa, vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn (trung bình từ 3-5 triệu đồng/buổi). Ngoàira các diễn viên chuyên nghiệp được hưởng chế độ bồi dưỡng 20.000đ/người/01buổi luyện tập và 50.000đ/người/01 buổi biểu diễn theo Quyết định số 180/QĐ-TTg năm 2006 của Thủ tướng chính phủ.- UBND tỉnh ban hành Quyết định số 02/2013/QĐ-UBND ngày05/01/2013 về việc quy định chế độ quản lý đặc thù đối với Đội tuyên truyền lưuđộng và mức chi bồi dưỡng tập luyện, biểu diễn đối với Đội tuyên truyền lưuđộng, Đội Nghệ thuật quần chúng cấp tỉnh, cấp huyện trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.- Căn cứ Đề án đẩy mạnh xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục đào tạo, dạynghề, y tế, văn hóa, thể dục thể thao đã được UBND tỉnh Lạng Sơn phê duyệt.Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã áp dụng thực hiện chủ trương đẩy mạnhXHH các lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn (như thành lập các Hội, Câu lạc bộ, Độivăn nghệ quần chúng); XHH tổ chức lĩnh vực truyền dạy các loại hình dân ca,dân vũ..v.v..* Về các văn bản chỉ đạo triển khai:- Đã tham mưu xây dựng Giải thưởng Văn học nghệ thuật Hoàng Văn Thụ,xét trao thưởng 5 năm/1 lần.- Tham mưu ban hành Quyết định số 645/QĐ-UBND, ngày7/4/2008 quyđịnh về chế độ nhuận bút áp dụng cụ thể trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.- Tham mưu ban hành Quyết định số: 1442/QĐ - UBND, ngày 12/9/2011của UBND tỉnh về phê duyệt Đề án phát triển Văn học Nghệ thuật tỉnh Lạng Sơngiai đoạn 2011-2015;Bên cạnh đó hàng năm Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo Đoànnghệ thuật tỉnh, Trung tâm văn hóa thông tin tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho độingũ văn nghệ sỹ của Ngành tham gia các hoạt động sáng tác, khai thác, dàn dựng,biểu diễn công bố các chương trình, tác phẩm mới, với định hướng 70% cácchương trình, tiết mục mang bản sắc dân tộc; 30% chương trình, tiết mục mangyếu tố hiện đại..v.v..Riêng Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, hàng năm đều xây dựng và ban hành cácQuy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế dân chủ, Quy chế làm việc của Hội; nhất là duytrì thực hiện tốt Quy chế sử dụng Quỹ hỗ trợ sáng tạo tác phẩm, công trình văn họcnghệ thuật; Chế độ nhuận bút... Qua đó nhằm tạo môi trường làm việc công khai,
  • 124. 121dân chủ, minh bạch cho cán bộ, hội viên; Khuyến khích, thúc đẩy sự nghiệp sángtác, sáng tạo, phổ biến tác phẩm văn học nghệ thuật trên địa bàn toàn tỉnh.2. Kết quả hoạt động văn học nghệ thuật trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn:2.1. Về đội ngũ cán bộ, văn nghệ sỹ của tỉnh:Hiện nay đội ngũ cán bộ, văn nghệ sỹ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nhìnchung đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước và tổ chức các hoạt động văn hóa,văn học nghệ thuật. Riêng Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, được nhà nước giao 17biên chế, trong đó có 76,5% cán bộ có trình độ đại học trở lên. Văn phòng Hội có04 bộ phận gồm: Phòng Hành chính - Quản trị, Ban sáng tác, Ban công tác hộiviên và Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Xứ Lạng. Trong suốt quá trình hoạt độngcủa Hội, đội ngũ cán bộ luôn gắn bó trách nhiệm, phục vụ tận tình cho sự nghiệpvăn học nghệ thuật của tỉnh nhà.Hội quản lý 249 hội viên thuộc 05 Chuyên ngành: Văn học, Mỹ thuật,Nhiếp ảnh, Sân khấu - Âm nhạc, Kiến trúc. Trong đó có gần 80 hội viên thuộccác Hội chuyên ngành Trung ương. Nhìn chung về cơ bản, đội ngũ cán bộ, vănnghệ sĩ của tỉnh Lạng Sơn có lòng yêu ngành, yêu nghề; luôn tâm huyết, say mêsáng tạo tác phẩm mới; góp phần tạo nên nền văn học nghệ thuật Xứ Lạng đậmđà bản sắc văn hóa dân tộc.2.2. Kết quả hoạt động của các Chuyên ngành trong những năm quaVề lĩnh vực Văn xuôi: Văn xuôi có sự nở rộ về tác phẩm, bên cạnh các câybút thành danh của tỉnh đã xuất hiện một lớp trẻ, đang từng bước khẳng định vị trítrên diễn đàn văn nghệ của tỉnh và cả nước. Các tác giả có tên tuổi trên diễn đànvăn nghệ Lạng Sơn như Nhà văn Nguyễn Trường Thanh, Mã Thế Vinh, Vi ThịKim Bình. Một số cây bút trẻ như Ngô Bá Hoà, Dương Ngọc Ánh, Vi Thị ThuĐạm, Nguyễn Thị Quỳnh Nga, Nguyễn Thị Hoa, ... Một số tác giả đã được khẳngđịnh trong các Cuộc thi như: Tác giả Nguyễn Trường Thanh đạt Giải C giảithưởng văn học nghệ thuật Hoàng Văn Thụ năm 2009 và đạt giải tác giả cao tuổicủa Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2010; tác giả VũNgọc Chương đạt giải B trong đợt xét tặng giải thưởng VHNT Hoàng Văn Thụnăm 2009; tác giả Vi Thị Thu Đạm đạt giải C trong đợt xét giải thưởng VHNTHoàng Văn Thu năm 2009, tác giả Mã Thế Vinh đạt giải C trong đợt xét giảithưởng VHNT Hoàng Văn Thụ năm 2009...Về lĩnh vực Thơ: Thơ được duy trì và khẳng định về cả tác giả và tác phẩm.Thơ viết bằng tiếng dân tộc thiểu số được duy trì và đóng góp trong việc giữ gìnvốn ngôn ngữ và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc trong tỉnh. Tác giả sángtác thơ bằng tiếng dân tộc như: Hoàng Choóng, Mã Thế Vinh, vi Hồng Nhân,Hoàng Kim Dung, .... Một số tác giả đã được khẳng định trong các cuộc thi như:Tác giả Hoàng Choóng đạt giải B trong đợt xét giải thưởng VHNT Hoàng VănThụ năm 2009, tác giả Ngô Bá Hoà đạt giải tác giả trẻ của Hội Nhà văn Việt namnăm 2009 và đạt giải B trong đợt xét tặng giải thưởng VHNT Hoàng Văn Thụnăm 2009; tác giả Hàn Kỳ đạt giải C trong đợt xét tặng giải thưởng VHNT Hoàng
  • 125. 122Văn Thụ năm 2009; tác giả Trần Thành đạt giải C trong đợt xét tặng giải thưởngVHNT Hoàng Văn Thụ năm 2009...Về lĩnh vực Lý luận phê bình: Hội thảo văn học nghệ thuật càng làm rõ nétvới công chúng hiểu hơn về sự phát triển văn học nghệ thuật Lạng Sơn. Các tácgiả có tên tuổi trong lý luận phê bình như: Hoàng Văn An, Nguyễn Duy Bắc,Nguyễn Đức Tâm, ... đã góp phần tích cực, định hướng và nâng cao hơn chấtlượng sáng tác văn học nghệ thuật của địa phương. Một số tác giả đã được khẳngđịnh trong các Cuộc thi như: Tác giả Hoàng Văn An đạt Giải B trong đợt xét giảithưởng VHNT Hoàng Văn Thụ năm 2009; tác giả Mã Thế Vinh đạt giải C trongđợt xét giải thưởng VHNT Hoàng Văn Thụ năm 2009; tác giả Nguyễn Duy Bắcđạt giải C trong đợt xét giải thưởng VHNT Hoàng Văn Thụ năm 2009, ...Về lĩnh vực Mỹ thuật: Mỹ thuật Lạng Sơn có nhiều tác phẩm phản ánh vềquê hương, hàng năm Hội đã tổ chức được các Trại sáng tác, thực tế sáng tác;tham gia Triển lãm Mỹ thuật Khu vực III Tây Bắc - Việt Bắc và Triển lãm tại tỉnhnhà. Một số tác giả đã được khẳng định qua các Cuộc thi, Triển lãm Khu vựcnhư: Nguyễn Lan Huyền được giải B giải thưởng VHNT Hoàng Văn Thụ năm2009; Đoàn Bích Thuỳ đạt giải B giải thưởng VHNT Hoàng Văn Thụ năm 2009và đạt giải A cuộc thi sáng tác VHNT về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gươngđạo đức Hồ Chí Minh năm 2010” và có tác phẩm trưng bày triển lãm 1000 nămThăng Long - Hà Nội năm 2010; tác giả Chu Thị Thiều đạt giải C giải thưởngVHNT Hoàng Văn Thụ năm 2009; tác giả Cao Thanh Sơn được giải KK của Uỷban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2010, ...Về lĩnh vực Nhiếp ảnh: Nhiếp ảnh là thế mạnh của văn học nghệ thuậtLạng Sơn. Trong những năm qua Hội Văn học Nghệ thuật thường xuyên tổ chứccho các hội viên Chuyên ngành Nhiếp ảnh đi thực tế sáng tác, mở Trại sáng tác,Hội thảo Chuyên ngành nhằm nâng cao năng lực chuyên môn tạo ra những tácphẩm nghệ thuật có giá trị về nội dung. Một số tác giả đã khẳng định mình trongcác Cuộc thi, Liên hoan như: Tác giả Đàm Sơn đạt giải A trong đợt xét tặng giảithưởng VHNT Hoàng Văn Thụ năm 2009; tác giả Mã Thế Anh đạt giải B trongđợt xét tặng giải thưởng VHNT Hoàng Văn Thụ năm 2009; tác giả Nguyễn TiếnThắng đạt giải B trong đợt xét tặng giải thưởng VHNT Hoàng Văn Thụ năm2009; tác giả Nguyễn Xuân Tiến đạt giải C trong đợt xét tặng giải thưởng VHNTHoàng Văn Thụ năm 2009; tác giả Vũ Kiên Cường đạt giải C trong đợt xét tặnggiải thưởng VHNT Hoàng Văn Thụ năm 2009; tác giả Đinh Huy Tưởng đạt giảiNhất cuộc thi sáng tác VHNT của tỉnh kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chíHoàng Văn Thụ năm 2009; tác giả Lưu Minh Dân đạt giải Ba Cuộc thi ảnh nghệthuật du lịch Toàn quốc lần thứ V năm 2010, ...Về lĩnh vực Âm nhạc - Sân khấu:+ Về sáng tác: Các nhạc sĩ đóng góp cho phong trào nhiều tác phẩm mới,ca ngợi quê hương đất nước, các tác phẩm được dàn dựng tham gia các Liênhoan, Hội diễn ngành, tỉnh và Trung ương.+ Về Biểu diễn: Hiện nay tỉnh Lạng Sơn có duy nhất 01 Đoàn nghệ thuậtchuyên nghiệp trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý. Hàng năm
  • 126. 123Đoàn nghệ thuật tỉnh thực hiện được trên 100 buổi biểu diễn phục vụ nhân dân,nhất là nhân dân vùng sâu, vùng x, biên giới.3. Công tác phối hợp phát động, tổ chức các cuộc thi:Trong những năm gần đây, hai cơ quan gồm Sở Văn hóa, Thể thao và Dulịch và Hội Văn học nghệ thuật tỉnh luôn có sự phối hợp chặt chẽ trong việc phátđộng tổ chức các Cuộc thi, các đợt sáng tác và công bố phổ biến tác phẩm vănhọc nghệ thuật. Tính từ năm 2009 đến nay, 2 ngành đã phối hợp thực hiện gần 15cuộc phát động sáng tác, tổ chức các đợt triển lãm chuyên đề; các ngày thơ, hộithơ như:Năm 2009: Phối hợp tổ chức Cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật về “Họctập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; sáng tác văn học nghệ thuậtchào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội”. Phối hợp tổ chức Giảithưởng Mỹ thuật thiếu nhi tỉnh Lạng Sơn các năm 2009, 2010, 2011, 2012. Phốihợp phát động cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật về chủ đề kỷ niệm 100 nămđồng chí Hoàng Văn Thụ (04/11/1909 -04/11/2009). Kết quả: Có 71 tác giả thamgia với 138 tác phẩm thuộc các thể loại khác nhau, Ban tổ chức chấm và trao giảicho 32 tác phẩm của 29 tác giả với các thể loại: Văn xuôi, Ca khúc, Mỹ thuật,Nhiếp ảnh, thơ, kịch bản văn học.Năm 2010: Phối hợp phát động Cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật vềchủ đề kỷ niệm 100 năm đồng chí Lương Văn Tri (17/8/1910-17/8/2010). Kếtquả: Có 110 tác giả tham gia đợt phát động, với 160 tác phẩm và 310 bài viết.Ban tổ chức đã chấm và trao giải cho 29 tác phẩm. Tổ chức Lễ phát động cuộc thiviết về gương “Người tốt, việc tốt” thu được 50 tác phẩm, trong đó có 17 tácphẩm được Hội đồng nghệ thuật xét chọn trao giải thưởng.Năm 2011: Phối hợp tổ chức phát động Cuộc vận động sáng tác ca khúcviết về tỉnh Lạng Sơn nhân dịp chào mừng kỷ niệm 180 năm ngày thành lập tỉnh(04/11/1831- 04/11/2011). Kết quả: Có 154 tác phẩm của 112 tác giả thamgia.Ban tổ chức đã mời các nhạc sỹ có danh tiếng của Trung ương thực hiệnchấm, lựa chọn trao giải nhất, nhì, ba, khuyến khích cho 18 tác phẩm.Năm 2012: Phối hợp xây dựng Kế hoạch phát động hưởng ứng Giải thưởngsáng tác quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tậpvà làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 -2015; Phát động hưởng ứng sáng tác văn học nghệ thuật về “Nông nghiệp, nôngdân, nông thôn”...v.v..Ngoài ra 2 ngành còn phối hợp tổ chức tốt các hoạt động Triển lãm về vănhọc nghệ thuật nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của tỉnh, của đất nước như: Tổchức triển lãm Hội báo xuân; Triển lãm ảnh nghệ thuật chào mừng 120 năm ngàysinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Hoàng VănThụ, 100 năm ngày sinh đồng chí Lương Văn Tri. Triển lãm “Thành tựu Mỹthuật, nhiếp ảnh Lạng Sơn 10 năm đầu thế kỷ XXI”. Đặc biệt năm 2012 đã phốihợp đăng cai tổ chức thành công Triển lãm Mỹ thuật khu vực III Tây Bắc - ViệtBắc lần thứ 17 tại Lạng Sơn..v.v.
  • 127. 124II. ĐÁNH GIÁ CHUNG1. M t được:Nhìn chung, từ khi thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ chính trị vềtiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới và các Nghịquyết, chỉ thị khác của Trung ương và của tỉnh, hoạt động Văn học Nghệ thuậttrên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có nhiều chuyển biến rõ rệt; luôn được cấp ủy, chínhquyền, các ban ngành đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở quan tâm, tạo điều kiện chăm lophát hiện, bồi dưỡng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật để các vănnghệ sỹ tỉnh nhà từng bước phát triển và đáp ứng nhu cầu thời kỳ mới.Hoạt động Văn học nghệ thuật Lạng Sơn từng bước phát triển mạnh mẽ, đadạng về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác. Các văn nghệ sỹ chịukhó đi sâu tìm tòi, sáng tạo sáng tác nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trịtư tưởng và nghệ thuật cao, thể hiện khát vọng và tư tưởng lớn, tâm hồn cao đẹpcủa dân tộc trong tình hình mới, vừa có tác dụng định hướng, vừa đáp ứng nhucầu văn hoá - tinh thần ngày càng cao của nhân dân.2. Hạn chế:Việc triển khai một số chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội Văn họcNghệ thuật tỉnh đôi khi còn chậm, hiệu quả chưa cao.Tạp chí Văn nghệ Xứ Lạng tuy đã được cải tiến về nội dung và hình thứctăng từ 32 trang lên 64 trang song về cơ bản vẫn chưa có sự đổi mới mang tínhbứt phá. Nguyên nhân cơ bản là thiếu tác phẩm - những tác phẩm thật sự chấtlượng của chính các hội viên gửi tới.Cơ sở vật chất của tỉnh dành cho phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuậtcòn thiếu hoặc chưa thực sự đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng như: Phòng làmviệc của Hội Văn học nghệ thuật; chưa có trụ sở Trung tâm triển lãm văn họcnghệ thuật tỉnh.v.v.Kinh phí hỗ trợ sáng tạo công trình Văn học Nghệ thuật chưa kịp thời, cònthiếu để chi cho hoạt động chuyên môn.III. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ1. Đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Liên hiệp các Hội Văn họcnghệ thuật Việt Nam tiếp tục quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ tỉnh Lạng Sơn trong sựnghiệp phát triển văn học nghệ thuật của tỉnh.2. Đề nghị trung ương tiếp tục tăng cường nâng cao mức kinh phí cho Quỹhỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật; có các cơ chế chính sách ưu tiên hỗ trợ, độngviên, khuyến khích cho tài năng là người dân tộc thiểu số thuộc tỉnh miền núi,trong đó có Lạng Sơn.Trên đây là một số ý kiến phát biểu tham luận với Hội nghị của Sở văn hóa,thể thao và du lịch Lạng Sơn.Trân trọng cảm ơn sự lắng nghe của quý vị đại biểu. Chúc Hội nghị thànhcông tốt đ p !
  • 128. 12505 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 23-NQ/TWCỦA BỘ CHÍNH TRỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNGSở VHTTDL TP Đà NẵngNghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục xâydựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới” có ý nghĩa vô cùng quantrọng hướng tới mục tiêu xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc, nhằm phát huy vai trò, sứ mệnh cao quý của văn học, nghệ thuật vàcủa đội ngũ văn nghệ sĩ.Được sự chỉ đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng đã chủ động tham mưu choUBND thành phố triển khai nội dung thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của BộChính trị và phối hợp với Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Đà Nẵng tổ chứcnhiều hoạt động trên lĩnh vực văn học nghệ thuật và đã đạt được những kết quảthiết thực.Ngày 23/10/2008, Thành ủy Đà Nẵng ban hành Chương trình hành động số29-CTr/TU về thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị“về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới”.Ngày 03/4/2009, UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Kế hoạch số1991/UBND-VX triển khai chương trình hành động của Thành ủy Đà Nẵng vềthực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và pháttriển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”.1. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢCBám sát yêu cầu và nội dung chỉ đạo của Thành uỷ, UBND thành phố ĐàNẵng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai Kế hoạch thực hiện Chươngtrình hành động số 29 Ctr/TU của Thành ủy Đà Nẵng tại văn bản số392/SVHTTDL-NVVH ngày 27/2/2009 về việc phối hợp với Liên hiệp các HộiVHNT thành phố Đà Nẵng tổ chức Lễ ký kết “Kế hoạch phối hợp công tác giữa SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch với Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành phốĐà Nẵng các năm 2009-2010”; “Chương trình phối hợp công tác giữa Sở Văn hóa,Thể thao và Du lịch và Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Đà Nẵng giai đoạn2012-2015”, nhằm đưa Nghị quyết đi vào thực tế và triển khai có hiệu quả.Sau 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị, thànhphố Đà Nẵng đã đạt được một số thành tích cụ thể như sau:Đã tổ chức thành công nhiều chương trình văn hóa nghệ thuật cấp thành phố,khu vực và toàn quốc; tham mưu để trình UBND thành phố về cơ chế, chính sáchđãi ngộ nghệ sĩ; phối hợp với Liên hiệp các Hội VHNT đề xuất lập nguồn vốnban đầu cho Quỹ Sáng tạo văn học, nghệ thuật; đề xuất UBND thành phố ĐàNẵng xem xét chủ trương xây dựng Nhà sáng tác; phối hợp triển khai kế hoạchchuẩn bị xây dựng Bảo tàng Mỹ thuật thành phố; hoàn thiện cơ chế chính sách
  • 129. 126nhằm tăng cường vai trò của văn nghệ sĩ; thường xuyên trao đổi và thống nhấttrong việc đề xuất và kiến nghị với lãnh đạo thành phố đối với vấn đề phát triểnvăn hóa, văn học, nghệ thuật của địa phương…Tổ chức, duy trì nhiều hoạt động nhằm phát huy vai trò của văn học, nghệthuật và của đội ngũ văn nghệ sĩ thành phố như: Tham mưu tăng mức kinh phíhoạt động hàng năm cho Liên hiệp các Hội VHNT và các Hội chuyên ngành; Tổchức xét giải thưởng VHNT 5 năm 1 lần cho các văn nghệ sĩ xuất sắc: Trong đợttrao giải thưởng 5 năm giai đoạn 2004 -2009, thành phố đã trao 53 giải thưởng trịgiá 1 tỷ 300 triệu đồng; Phối hợp tổ chức nhiều hoạt động VHNT tiêu biểu: Tổchức 115 cuộc triển lãm, trưng bày mỹ thuật, nhiếp ảnh, văn học và báo chí trongnhững dịp lễ lớn được tổ chức tại Đà Nẵng, thu hút hàng vạn lượt người xem quacác Triển lãm chuyên đề khá quy mô như: “Bình chọn Quốc hoa Việt Nam”,“101 khoảnh khắc về vị Tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp”, “Các Di sản vănhoá thế giới tại Việt Nam năm 2011”...Tất cả các hoạt động đã tạo nên môitrường thẩm mỹ tốt, phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Tổ chứccác chuyến đi thực tế, tham gia các trại sáng tác, các liên hoan khu vực...Đặc biệt trong năm 2012 hoạt động VHNT trên địa bàn thành phố có nhiềukhởi sắc, với nhiều hoạt động để lại dấu ấn đậm nét như:- Sở VHTTDL tham mưu cho UBND thành phố ban hành Đề án “Phát triểnVHNT thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2013-2015” làm cơ sở nền tảng và đề ra cácmục tiêu dài hạn, cũng như mục tiêu cụ thể để từng bước triển khai thực hiện vàgóp phần phát triển VHNT thành phố, với những mục tiêu cụ thể như:+ Đến năm 2015 đảm bảo số bản sách trong thư viện công cộng là 0,6bản/người.+ Đảm bảo đến năm 2015, bình quân số lượt người dân thành phố được xembiểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp là 4 lượt/người/năm, riêng đối với nhân dâncác xã vùng sâu, vùng xa và miền núi của huyện Hoà Vang là 2 lượt/người/năm.+ Phát hành 01 đĩa DVD giới thiệu những ca khúc hay về Đà Nẵng vào năm2013.+ Tổ chức Cuộc thi sáng tác ca khúc về thành phố Đà Nẵng 2012- 2013.+ Giai đoạn 2013-2015 tổ chức 02 đợt giới thiệu, phổ biến tác phẩm VHNT.+ Đến năm 2015, đảm bảo 100% đội ngũ làm công tác quản lý nhà nước vềvăn học nghệ thuật nắm rõ Luật bản quyền tác giả về văn học nghệ thuật, 80%người dân Đà Nẵng hiểu biết về Luật bản quyền tác giả về văn học nghệ thuật.+ Từng bước xã hội hóa các show diễn phục vụ khách du lịch tại Nhà háttuồng Nguyễn Hiển Dĩnh và Bảo tàng Điêu khắc Chăm.- Hoạt động của Cơ quan thường trực Liên hiệp Hội và các Hội chuyênngành ngày càng đi vào nề nếp, chuyên nghiệp với nhiều hoạt động chất lượng vàthường xuyên hơn như: Tổ chức các đợt sáng tác và triển lãm mỹ thuật; các cuộctriển lãm ảnh nghệ thuật gắn với nhiều sự kiện chính trị của đất nước, thành phố;
  • 130. 127Tổ chức bản thảo và xuất bản nhiều đầu sách thuộc các lĩnh vực âm nhạc, sânkhấu, văn học, nghiên cứu văn hóa nghệ thuật.+ Công tác đầu tư, khuyến khích sáng tạo VHNT cũng rất được quan tâm:Liên hiệp Hội đã đầu tư nguồn hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật của Trung ươngcho 15 tác giả và 21 công trình tập thể với số tiền trên 700 triệu đồng để các tậpthể, cá nhân cũng các hội chuyên ngành thuộc Liên hiệp Hội có điều kiện thựchiện tốt, phổ biến tác phẩm đến với đông đảo công chúng trong và ngoài thànhphố và nâng cao chất lượng sáng tác cho hội viên.Chính vì vậy, năm 2012 đã để lại nhiều dấu ấn về sự phát triển đi lên củaVHNT thành phố Đà Nẵng:- Đội ngũ văn nghệ sĩ của thành phố vinh dự được Chủ tịch nước phong tặngdanh hiệu cao quý: Trao 8 Giải thưởng Nhà nước, 2 Nghệ sĩ Nhân dân, 12 Nghệsĩ Ưu tú cho các văn nghệ sĩ thành phố.- Nhiều văn nghệ sĩ thành phố đạt nhiều giải thưởng cao trong nước, quốc tế,khu vực tại các kỳ liên hoan, các cuộc thi như: tác phẩm Minh Sư đạt Giải A củaHội Nhà Văn Việt Nam; tập thơ Nắng trên đồi đoạt giải C của Liên hiệp các HộiVăn học-Nghệ thuật Việt Nam; 2 Giải C Cuộc Ảnh xuất sắc quốc gia của HộiNghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam, Huy chương đồng quốc tế; Giải C tại Triển lãm Mỹthuật khu vực, Huy chương đồng khu vực; Giải A trong đợt xét Giải thưởng Âmnhạc khu vực miến Trung.2. NHỮNG KHÓ KHĂN, TỒN TẠIBên cạnh những mặt đạt được, còn tồn tại một số hạn chế do cả nhữngnguyên nhân chủ quan và khách quan, như sau:- Kinh phí đầu tư cho sáng tạo văn học nghệ thuật gặp khó khăn, từ đó cóảnh hưởng đến các hoạt động chung, nhất là khâu đi thực tế sáng tác, phổ biến tácphẩm, tổ chức các sự kiện, đời sống văn nghệ sĩ có nhiều khó khăn, chế độ chínhsách đối với cán bộ, công chức, viên chức cơ quan Văn học, nghệ thuật có chỗchưa hợp lý.- Việc xã hội hóa các hoạt động văn học nghệ thuật trong thời gian qua cónhững bước chuyển biến. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hội chuyên ngành chưa năngđộng, vẫn trông chờ vào nguồn kinh phí từ nhà nước, chưa chú trọng đến công tácxã hội hóa để nâng cao hoạt động văn học nghệ thuật phục vụ công chúng.- Một số hoạt động văn học nghệ thuật tổ chức chưa ngang tầm, còn đơnđiệu, một phần cũng bởi nguồn kinh phí quá ít, từ đó dẫn đến hạn chế các hoạtđộng.- Một số nội dung phối hợp triển khai để trình Ủy ban nhân dân thành phốĐà Nẵng nhưng chưa được phê duyệt, cần phải tiếp tục thực hiện và hoàn thiệnnhư: Quỹ sáng tạo VHNT, xây dựng Nhà sáng tác và một số cơ chế chính sáchnhằm nâng cao đời sống cho văn nghệ sĩ….- Một số chương trình phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuậtchưa đảm bảo chất lượng và đáp ứng được quy mô. Nguyên nhân chủ yếu do
  • 131. 128nguồn kinh phí thiếu, chưa tập hợp được anh em văn nghệ sĩ có chuyên môn vàtâm huyết với nghề….- Sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành trong quá trình thực hiện chưa có sựđồng thuận cao, chưa thấy rõ sự đóng góp của văn nghệ sĩ trong việc góp phầnquảng bá thành phố Đà Nẵng trong các diễn đàn trong nước và khu vực.- Vẫn còn tồn tại quan niệm cho rằng đầu tư cho lĩnh vực văn học nghệthuật là đầu tư cho một ngành hoạt động hành chính như các ngành khác chứchưa phải đầu tư cho một sự nghiệp, một lĩnh vực hoạt động đa dạng, đa ngành,mang tính đặc thù.- Việc tạo điều kiện khuyến khích sáng tạo, do khó khăn về kinh phí nênnhiều dự kiến về tổ chức các hoạt động phục vụ trực tiếp cho việc sáng tạo như đithực tế, giao lưu học hỏi kinh nghiệm, tổ chức trại sáng tác, tổ chức trưng bày,công bố tác phẩm…còn hạn chế, khó tạo nên tác phẩm có tầm, mang tính kháiquát cao, trong khi hiện thực cuộc sống đã xuất hiện những vấn đề mới mẻ cầnđược phản ánh, khái quát bằng hình tượng nghệ thuật…3. GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP Đà Nẵng sẽ tiếp tục phối hợp vớiLiên hiệp các Hội VHNTTP tập trung triển khai có hiệu quả Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị “về tiếp tục xây dựng và phát triển vănhọc, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới” thông qua “Chương trình phối hợp côngtác giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Liên hiệp các Hội VHNT thành phốĐà Nẵng giai đoạn 2012-2015” và Đề án “Phát triển Văn học Nghệ thuật thànhphố Đà Nẵng giai đoạn 2013-2015”.- Tiếp tục đề xuất những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể mang tính khả thi đểthực hiện các nhiệm vụ đã nêu và đưa Nghị quyết vào cuộc sống.- Xây dựng cơ chế đầu tư phù hợp và thích đáng đối với các hoạt động vănhọc nghệ thuật thành phố như đã đầu tư ở các lĩnh vực khác.- Quan tâm, đầu tư cho các hoạt động văn học nghệ thuật, chế độ chínhsách với văn nghệ sĩ thành phố, trong đó cần có sự khen thưởng kịp thời để độngviên các văn nghệ sĩ sáng tạo. Về các cuộc giao lưu văn hóa trong và ngoài nước,việc “chiêu hiền đãi sĩ”, thu hút nhân tài văn hoá nghệ thuật thành phố cũng cầnđược quan tâm như đối với các lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ vàcác lĩnh vực kinh tế xã hội khác. Đây là những nội dung mang tính chiến lược cầnphải đầu tư.- Quan tâm hơn nữa đến việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống thiết chế vănhoá cấp quận, huyện và cơ sở để đáp ứng yêu cầu hoạt động. Đội ngũ cán bộchuyên môn về VHNT ở cấp cơ sở và cấp quận, huyện còn thiếu và yếu cần phảiquan tâm đào tạo thêm.- Tăng kinh phí hoạt động cho Liên hiệp các Hội VHNT để Hội thực hiệnđược các nhiệm vụ chính trị và đề nghị có cơ chế cho tạm ứng kinh phí để triểnkhai kịp thời các hoạt động.
  • 132. 129- Tiếp tục đổi mới, phát triển lĩnh vực nghiên cứu, lý luận, phê bình vănhọc - nghệ thuật, mở rộng giao lưu với nước ngoài. Xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩthành phố ngang tầm với yêu cầu mới.- Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Liên hiệp các HộiVHNT thành phố và các Hội chuyên ngành./.
  • 133. 130VĂN HỌC NGHỆ THUẬT THỪA THIÊN HUẾTIẾP TỤC PHÁT TRIỂN XỨNG TẦM LÀ TRUNG TÂMVĂN HÓA DU LỊCH ĐẶC SẮC CỦA VIỆT NAMSở VHTTDL Thừa Thiên HuếCùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế, xã hộivà những thành tựu của văn học nghệ thuật cả nước trong những năm qua, vănhọc nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã có những đóng góp tích cực, có nhiều chuyểnbiến mới trên nhiều lĩnh vực đáng ghi nhận. Các thế hệ văn nghệ sỹ đã gắn bó,đoàn kết, vững vàng về tư tưởng chính trị, khắc phục khó khăn để sáng tác nhiềucông trình, tác phẩm văn học nghệ thuật phản ánh một cách sâu sắc, chân thựcnhững giá trị lịch sử dân tộc, khát vọng của nhân dân trong đời sống xã hội.Với ý thức trách nhiệm công dân, với bản lĩnh năng động sáng tạo, lựclượng văn học nghệ thuật đã cùng với nhân dân có những cống hiến mới, gópphần xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ Tổ quốc. Trongnhững năm qua nhiều giải thưởng lớn trong và ngoài nước, nhiều đợt phong tặngdanh hiệu nghệ sĩ, huy chương đã được trao tặng cho nhiều tác phẩm, tác giả ởThừa Thiên Huế đã minh chứng sự phát triển lớn mạnh của văn học nghệ thuậttỉnh nhà.Trên lĩnh vực văn học đã tổ chức nhiều hoạt động văn học có ý nghĩa như:giao lưu với các nhà văn, nhà thơ thuộc các Hội VHNT các tỉnh; tổ chức lễ kỷniệm ngày sinh các đại văn hào thế giới; gặp gỡ làm việc giao lưu với nhiều đoànnhà văn nước ngoài đến thăm Huế; phối hợp xuất bản nhiều bộ sách có giá trị,công bố tác phẩm của hội viên. Đặc biệt trong các kỳ Festival Nghề truyền thốngHuế và Festival Huế, Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã phối hợp với Tạp chí SôngHương tổ chức nhiều hoạt động văn học nghệ thuật tạo được ấn tượng tốt trongdư luận.Hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp và nghệ thuật quần chúng ngày càngphát triển. Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 2 đơn vị đào tạo nghệ thuật làHọc viện Âm nhạc Huế và Trường Trung học Văn hóa nghệ thuật, 2 nhà hát cônglập là Nhà hát Nghệ thuật Ca kịch Huế và Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cungđình Huế, 6 đơn vị doanh nghiệp tổ chức biểu diễn nghệ thuật theo phương thứcxã hội hóa đã không ngừng sáng tạo, dàn dựng, khôi phục nhiều tác phẩm và tổchức biểu diễn. Các diễn viên, nghệ sỹ đã tham gia tích cực vào chương trìnhnghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị, trong những dịp lễ kỷ niệm những ngày lễlớn của tỉnh, các chương trình tuyên truyền về biển đảo Tổ quốc, các chươngtrình Festival Huế, chương trình Giao lưu văn hóa, đặc biệt là các chương trìnhtrong Năm Du lịch Quốc gia Duyên hải Bắc Trung bộ - Huế 2012; các chươngtrình của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng như giao lưu nhiều nước trên thếgiới như: CHLB Nga, CH Pháp, Nhật Bản ... Đội ngũ biên đạo múa trẻ được đàotạo ngày càng phát triển đông đảo hơn. Các loại hình Nhã nhạc Cung đình Huế(được UNESCO công nhận là Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu đại diện của
  • 134. 131nhân loại); múa hát Cung đình, lễ nhạc Cung đình, Tuồng Huế, Ca Huế, Ca kịchHuế đã và đang được quan tâm khôi phục và phát triển. Nhiều tiết mục, chươngtrình đặc sắc đã được giới thiệu với công chúng trong và ngoài nước qua các đợtsinh hoạt văn hóa, các hoạt động phục vụ các ngày kỷ niệm, ngày lễ lớn của đấtnước. Vở ca kịch Huế “Hồ Chí Minh- Hồi ức màu đỏ” của Nhà hát Nghệ thuật Cakịch Huế đã bám sát đề tài học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minhđược đông đảo công chúng hào hứng đón nhận; đạt nhiều giải thưởng cấp quốcgia và nhiều bằng khen, của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thaovà Du lịch, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Đội ngũ nghệ sỹ, diễn viênchuyên nghiệp ở Thừa Thiên Huế ngày càng phát triển, trong đó lực lượng của 3nhà hát công lập có trên 300 cán bộ, diễn viên. Đến nay toàn tỉnh có 25 nghệ sỹđược phong tặng Nghệ sỹ ưu tú, 2 nghệ sỹ được phong tặng Nghệ sỹ nhân dân.Tại các lễ kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, các Festival Huế và NămDu lịch Quốc gia Duyên hải Bắc Trung bộ - Huế 2012 ... hoạt động âm nhạc cũngđã tích cực đóng góp cho sự thành công chung của tỉnh và thành phố Huế. Nhiềuchương trình tổ chức biểu diễn và giới thiệu tác phẩm mới được thực hiện với sựphối hợp với Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Huế, Đài Phát thanh Truyềnhình tỉnh, một số chương trình chất lượng cao được tường thuật trực tiếp trênsóng VTV, TRT, HTV.Các hoạt động văn nghệ dân gian đã đi vào cuộc sống và thực hiện Nghịquyết TW5 (Khóa VIII) của Đảng về việc "Xây dựng và phát triển nền văn hóaViệt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc". Tỉnh Thừa Thiên Huế đã hỗ trợ HộiVNDG và nhà nghiên cứu Triều Nguyên ra mắt bộ “Tổng tập Văn nghệ dân gianThừa Thiên Huế”, gồm 6 tập. Nhiều bài viết về những kết quả sưu tầm, nghiêncứu mới nhất, phần lớn do hội viên của Hội thực hiện đã được nhiều người chú ý.Về kiến trúc: Bên cạnh các kiến trúc sư có kinh nghiệm công tác quản lý,sáng tác đã có đông đảo kiến trúc sư trẻ năng động, nắm bắt nhanh kỹ thuật côngnghệ mới, có ý thức học tập nâng cao nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càngcao của cuộc sống và xã hội. Nhiều đồ án do các kiến trúc sư sáng tác đã để lạinhiều ấn tượng tốt trong công chúng, nhiều tác phẩm đã được thể hiện ở một sốcông trình kiến trúc tiêu biểu. Một số hội viên tham gia và đã đạt giải cao trongcác lần tham gia giải thưởng VHNT hằng năm.Về hoạt động Nhiếp ảnh: Thừa Thiên Huế đã có những thành tích đáng kểvà đạt được nhiều giải cao trong nước và quốc tế. Nhiều lượt tác giả được đầu tưcấp trung ương. Qua các kỳ Festival, Nhiếp ảnh TT. Huế đã có những nỗ lựctrong việc tổ chức các cuộc thi và triển lãm đã tạo được nhiều ấn tượng tốt đẹptrong công chúng; qua đó nổi lên những gương mặt hội viên tiêu biểu tiếp tụckhẳng định vị trí của mình trên lĩnh vực nghệ thuật nhiếp ảnh. Thông qua việctham gia các cuộc liên hoan ảnh nghệ thuật 6 tỉnh Bắc Miền Trung, Liên hoanẢnh Nghệ thuật khu vực lần thứ 9 hoạt động nhiếp ảnh Thừa Thiên Huế đã khẳngđịnh được vị trí hàng đầu của mình trong khu vực.Hoạt động Mỹ thuật Thừa Thiên Huế: Đã tổ chức nhiều hoạt động gópphần xây dựng nền Văn học và Nghệ thuật của tỉnh và có nhiều kết quả đượcđánh giá cao trong giới mỹ thuật của cả nước và dư luận công chúng yêu nghệ
  • 135. 132thuật. Không khí sáng tác trong hội viên được duy trì liên tục, đạt nhiều kết quả,nhiều tác giả giữ vững tay nghề và niềm hứng khởi sáng tác. Nhiều cuộc triển lãmđược duy trì hằng năm, nhiều trại sáng tác địa phương đã được tổ chức, đặc biệtlà các trại sáng tác Điêu khắc quốc tế, Điêu khắc dân gian trong các kỳ FestivalHuế đã thành công tốt đẹp, để lại nhiều tác phẩm có giá trị trưng bày hai bên bờsông Hương. góp phần tô điểm làm đẹp Cố đo Huế. Hoạt động tổ chức triển lãmngày càng mở rộng, thu hút nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức tham gia. Các cơ quannhư: Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế, Bảo tàng Lịch sử và Cách mạngtỉnh, Trường Đại học Nghệ thuật Huế, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Phòng Giáodục và Đào tạo thành phố Huế, các tổ chức như Trung tâm Văn hóa Pháp tại Huế,Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán cũng đã phối hợp tổ chức nhiều cuộctrưng bày, triển lãm.Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng, Nhà trưng bày tác phẩm Nghệ thuậtĐiềm Phùng Thị là hai cơ sở nghệ thuật thường xuyên đổi mới trưng bày, đápứng nhu cầu tham quan du lịch và phục vụ các đối tượng đến học tập, nghiên cứu.Cơ sở Nghệ thuật không gian mới (New Space Art Foundation) là đơn vị tư nhânđã tổ chức nhiều cuộc trưng bày, triển lãm cho các tác giả trẻ tạo bầu không khíhoạt động mỹ thuật khá mới lạ, sôi nổi trên địa bàn, thể hiện rõ hoạt động xã hộihóa trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật.Tạp chí Sông Hương từng bước nâng cao chất lượng cả về hình thức lẫn nộidung, hoàn thành tốt nhiệm vụ xuất bản tạp chí định kỳ đóng góp cho sự pháttriển văn học nghệ thuật của tỉnh; đồng thời mở rộng giao lưu, trao đổi phê bìnhlý luận văn học nghệ thuật, trở thành một tạp chí chuyên ngành có giá trị và có uytín đối với giới văn học nghệ thuật trong và ngoài nước.Liên tục trong nhiều năm, Hội LHVHNT đã phối hợp với Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch, Sở Giáo dục Đào tạo, Nhà Thiếu nhi Huế, Trung tâm ThanhThiếu nhi tỉnh, Tỉnh Đoàn, Thành Đoàn Huế, UB Dân số Gia đình và Trẻ emtỉnh, Phòng Văn hóa Thông tin Thành phố Huế tổ chức thành công các trại sángtác thiếu nhi của thành phố Huế và các huyện, mở triển lãm chuyên đề định kỳhằng năm dành cho thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn và khuyết tật.Hoạt động giao lưu trao đổi các loại hình VHNT với nước ngoài đã cónhiều tiến bộ. Nhiều hội viên Hội Nhà văn, Hội Sân khấu, Hội Múa đã được đicông tác, trao đổi văn hóa, biểu diễn nghệ thuật truyền thống ở các nước TrungQuốc, Mỹ, Nhật, Pháp, Bỉ, Nga, Hàn Quốc ... Giới Nhiếp ảnh, Mỹ thuật đã gởinhiều tác phẩm mỹ thuật triển lãm quốc tế, nhiếp ảnh đi dự thi. Một số tác giả đãđược giải thưởng cao trong một số cuộc thi ảnh nghệ thuật quốc tế. 5 năm qua,LH các Hội VHNT tỉnh đã đón nhiều đoàn văn nghệ sĩ của Pháp, Mỹ, TrungQuốc, các Hội VHNT trong nước đến thăm và làm việc tại Huế. Nổi bật là cáctrại điêu khắc quốc tế tại Huế đã thu hút nhiều nghệ sĩ điêu khắc từ 5 châu lục.Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức nhiều hoạt động trong cácFestival Huế, trong Năm Du lịch Quốc gia duyên hải Bắc Trung bộ - Huế 2012như: Liên hoan Sân khấu kịch chuyên nghiệp toàn quốc, Liên hoan Nhạc cụtruyền thống các dân tộc Việt Nam, Liên hoan Hợp xướng quốc tế, các Ngày hộivăn hóa các dân tộc, Lễ hội truyền thống Đền huyền Trân…; các triển lãm văn
  • 136. 133hóa tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Phú Thọ, Nghệ An, Đà Nẵng; sưu tầm,quy hoạch các tác phẩm nghệ thuật, các khu tượng đài làm tăng giá trị văn hóacho Thành phố Huế.Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuậttỉnh Thừa Thiên Huế đã xây dựng kế hoạch liên ngành tổ chức thực hiện và phốihợp thực hiện một số hoạt động hằng năm, được ghi nhận và đánh giá cao, như:- Phối hợp với BCH Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức thành công “Hội thảoMỹ thuật khu vực Bắc miền Trung lần thứ I năm 2012”; trong khuôn khổ Chươngtrình ký kết phối hợp hoạt động VHNT các vùng kinh đô Việt Nam xưa và naygiai đoạn 2010 - 2015; chương trình Nhã nhạc Cung đình Huế tại đêm giao lưu vàhơn 200 đầu sách của các hội viên Thừa Thiên Huế trưng bày tại Trung tâmTrưng bày- Triển lãm thành phố Việt Trì, nhân dịp giỗ tổ Hùng Vương năm 2012tại Phú Thọ đã để lại ấn tượng mạnh mẽ đối với văn nghệ sĩ và những người hoạtđộng VHNT các tỉnh bạn cũng như du khách thăm quan; phối hợp với Trung tâmHỗ trợ sáng tác- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Trại sáng tác VHNT tạiĐà Lạt và đã tổ chức triển lãm các tác phẩm sáng tác tại trại tạo ấn tượng đối vớivăn nghệ sĩ và công chúng.- Phối hợp tốt việc phát động phong trào sáng tác hưởng ứng tích cực họctập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh như thi tranh cổđộng, sáng tác văn thơ, kịch về đề tài này và tổ chức trưng bày, xuất bản nhữngtác phẩm hay, tốt; phối hợp tổ chức Triển lãm Mỹ thuật Mùa Xuân và Phòngtranh Con Giáp; phối hợp tổ chức Ngày Thơ Việt Nam và Đêm Nguyên Tiêuhàng năm; phối hợp tham gia Triển lãm Mỹ thuật 6 tỉnh khu vực Bắc MiềnTrung; Hội Âm nhạc phối hợp với Sở VHTTDL thực hiện thành công chươngtrình nghệ thuật nhân ngày Âm nhạc Việt Nam, Liên hoan Âm nhạc Bắc miềnTrung, và các hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. Liên hiệpcác Hội Văn học Nghệ thuật đã phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổchức thành công nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật nhân dịp Đại lễ 1000năm Thăng Long-Hà Nội, Năm Du lịch quốc gia duyên hải Bắc Trung bộ- Huế2012.Để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 23 NQ-TW của Bộ Chínhtrị về hoạt động văn học nghệ thuật của địa phương trong tình hình mới, tỉnhThừa Thiên Huế đã đề ra chủ trương và ban hành các nghị quyết, chương trìnhhành động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Huế; đồng thời tiếp tục đẩy mạnhsáng tác các tác phẩm văn học, nghệ thuật; nâng cao chất lượng biểu diễn nghệthuật có sức lôi cuốn đối với công chúng; quan tâm đối với hoạt động lý luận vănhọc nghệ thuật, cố gắng theo kịp thực tiễn sáng tác; xây dựng cơ chế, chính sáchđối với các hoạt động văn học nghệ thuật, với các nghệ sỹ; xây dựng, củng cốthiết chế văn hoá; tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động vănhọc nghệ thuật. Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế trong những năm qua đãđồng hành và đã không tách rời với sự đổi mới, phát triển của đất nước, của tỉnh.Tốc độ tăng trưởng về kinh tế, xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã làm thayđổi diện mạo vùng đất Thừa Thiên Huế là thực tiễn sinh động góp phần nâng caonhận thức quan điểm, tư tưởng của giới văn nghệ sĩ trong hoạt động sáng tạo.
  • 137. 134Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế tiếp tục quán triệt tinh thần Nghịquyết 23- NQ/TW của Bộ Chính trị và các nghị quyết của Tỉnh ủy Thừa ThiênHuế, phát triển văn hóa văn nghệ theo đúng định hướng, đảm bảo các mục tiêu cơbản: Truyền thống - Dân tộc - Hiện đại; phục vụ công cuộc xây dựng đất nước vàgóp phần xây dựng Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm văn hóa và du lịch đặcsắc, thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam; xây dựng Thừa Thiên Huế sớmtrở thành thành phố trực thuộc Trung ương./.