Chương 4 VIRUT
4.1 LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VIRUT
Từ xa xưa mặc dù chưa biết virut là nguyên nhân gây nên các bệnh hiểm nghèo con
người đã có những nghiên cứu về tác nhân gây bệnh và tìm biện pháp để phòng bệnh.
Những bằng chứng đầu tiên về bệnh bại liệt đã được tìm thấy ở Ai cập khoảng 3750 năm
trước công nguyên. Bệnh đậu mùa xuất hiện ở Trung Quốc khoảng 1000 trước công
nguyên. Mãi cho đến những năm 1880 khi Louis Pastuer và Robert Koch chứng minh vi
sinh vật là tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, con người dần dần khám phá ra những bí ẩn
của các bệnh hiểm nghèo xảy ra trước đó. Sau đó Pastuer đã có rất nhiều nghiên cứu về
tác nhân gây bệnh dại và gọi đó là virut (tiếng Latin có nghĩa là độc) nhưng ông không
tách biệt vi khuẩn với các tác nhân gây bệnh khác.
Vào năm 1892, một nhà sinh lí học thực vật người Nga tên là D.Ivanovskii, đã chứng
minh mầm bệnh khảm ở thuốc lá sau khi được lọc qua các nến lọc vi khuẩn có kích thước
nhỏ nhất vẫn có khả năng lây nhiễm trên các cây thuốc lá khác. Ông cho rằng đó là "độc
tố vi khuẩn" hoặc "vi khuẩn cực tiểu". Đến năm 1898 nhà vi sinh học Hà Lan
M.Beijerinck (1851-1931) cũng nghiên cứu một cách độc lập mầm bệnh của bệnh khảm
thuốc lá và ông cũng thu được kết quả giống như Ivanovskii. Cùng năm đó F. Loeffler và
P. Frosch phát hiện ra virut gây bệnh lở mồm long móng ở bò. Cho đến năm 1909,
Landsteiner và Popper chứng minh bệnh bại liệt ở người là do virut gây nên, đây cũng là
bệnh virut đầu tiên ở người được biết đến. Nhiều nhà khoa học khác tiếp tục phát hiện ra
các virut khác gây ra bệnh sốt vàng ở người (1902), bệnh dại ở gà (1908), bệnh u ở niêm
dịch thỏ, bệnh X ở khoai tây… Năm 1915 nhà khoa học Anh F. Twort (1877-1950) và
năm 1917 nhà khoa học pháp F. d' herelle phát hiện ra virut ở vi khuẩn đã đặt tên cho loại
virut này thể thực khuẩn.
Virut học phát triển rất nhanh kể từ khi kính hiển vi điện tử ra đời năm 1939. Năm 1940
lần đầu tiên nhà khoa học người Đức Kausche và cộng sự chụp được hình dạng của virut
gây bệnh khảm trên cây thuốc lá (TMV) dưới kính hiển vi điện tử. Các nhà khoa học đã
chứng minh vật chất di truyền ở thể thực khuẩn là ADN, mở đầu cho giai đoạn nghiên
cứu sinh học phân tử ở virut (1952). Nhờ các thành tựu mới mẻ nhất trong nghiên cứu kĩ
thuật di truyền ở virut mà con người đã làm ra được nhiều loại vaccin phòng bệnh virut
hiểm nghèo ở người và gia súc, gia cầm.
4.2 MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA VIRUT
Virut thường được gọi là hạt virut vì chúng chưa có cấu tạo tế bào. Virut chứa những yếu
tố di truyền là ADN hay ARN nằm trong một vỏ bọc protein và có thể có các hợp chất
khác bao quanh bên ngoài vỏ. Ở trạng thái này virut còn được gọi là virion. Trong tế bào,
virion được nhân lên dựa vào sự hiệp trợ của hệ thống trao đổi chất của vật chủ mà sao
chép axit nucleic, tổng hợp các thành phần như protein, lipoprotein, photpholipit. Khi hệ
gen của virut có mặt trong tế bào chủ và được nhân lên gọi là quá trình nhiễm virut.
41

Gt vi sinh43

  • 1.
    Chương 4 VIRUT 4.1LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VIRUT Từ xa xưa mặc dù chưa biết virut là nguyên nhân gây nên các bệnh hiểm nghèo con người đã có những nghiên cứu về tác nhân gây bệnh và tìm biện pháp để phòng bệnh. Những bằng chứng đầu tiên về bệnh bại liệt đã được tìm thấy ở Ai cập khoảng 3750 năm trước công nguyên. Bệnh đậu mùa xuất hiện ở Trung Quốc khoảng 1000 trước công nguyên. Mãi cho đến những năm 1880 khi Louis Pastuer và Robert Koch chứng minh vi sinh vật là tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, con người dần dần khám phá ra những bí ẩn của các bệnh hiểm nghèo xảy ra trước đó. Sau đó Pastuer đã có rất nhiều nghiên cứu về tác nhân gây bệnh dại và gọi đó là virut (tiếng Latin có nghĩa là độc) nhưng ông không tách biệt vi khuẩn với các tác nhân gây bệnh khác. Vào năm 1892, một nhà sinh lí học thực vật người Nga tên là D.Ivanovskii, đã chứng minh mầm bệnh khảm ở thuốc lá sau khi được lọc qua các nến lọc vi khuẩn có kích thước nhỏ nhất vẫn có khả năng lây nhiễm trên các cây thuốc lá khác. Ông cho rằng đó là "độc tố vi khuẩn" hoặc "vi khuẩn cực tiểu". Đến năm 1898 nhà vi sinh học Hà Lan M.Beijerinck (1851-1931) cũng nghiên cứu một cách độc lập mầm bệnh của bệnh khảm thuốc lá và ông cũng thu được kết quả giống như Ivanovskii. Cùng năm đó F. Loeffler và P. Frosch phát hiện ra virut gây bệnh lở mồm long móng ở bò. Cho đến năm 1909, Landsteiner và Popper chứng minh bệnh bại liệt ở người là do virut gây nên, đây cũng là bệnh virut đầu tiên ở người được biết đến. Nhiều nhà khoa học khác tiếp tục phát hiện ra các virut khác gây ra bệnh sốt vàng ở người (1902), bệnh dại ở gà (1908), bệnh u ở niêm dịch thỏ, bệnh X ở khoai tây… Năm 1915 nhà khoa học Anh F. Twort (1877-1950) và năm 1917 nhà khoa học pháp F. d' herelle phát hiện ra virut ở vi khuẩn đã đặt tên cho loại virut này thể thực khuẩn. Virut học phát triển rất nhanh kể từ khi kính hiển vi điện tử ra đời năm 1939. Năm 1940 lần đầu tiên nhà khoa học người Đức Kausche và cộng sự chụp được hình dạng của virut gây bệnh khảm trên cây thuốc lá (TMV) dưới kính hiển vi điện tử. Các nhà khoa học đã chứng minh vật chất di truyền ở thể thực khuẩn là ADN, mở đầu cho giai đoạn nghiên cứu sinh học phân tử ở virut (1952). Nhờ các thành tựu mới mẻ nhất trong nghiên cứu kĩ thuật di truyền ở virut mà con người đã làm ra được nhiều loại vaccin phòng bệnh virut hiểm nghèo ở người và gia súc, gia cầm. 4.2 MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CỦA VIRUT Virut thường được gọi là hạt virut vì chúng chưa có cấu tạo tế bào. Virut chứa những yếu tố di truyền là ADN hay ARN nằm trong một vỏ bọc protein và có thể có các hợp chất khác bao quanh bên ngoài vỏ. Ở trạng thái này virut còn được gọi là virion. Trong tế bào, virion được nhân lên dựa vào sự hiệp trợ của hệ thống trao đổi chất của vật chủ mà sao chép axit nucleic, tổng hợp các thành phần như protein, lipoprotein, photpholipit. Khi hệ gen của virut có mặt trong tế bào chủ và được nhân lên gọi là quá trình nhiễm virut. 41