Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

Sieu am lach

5,323 views

Published on

pgs hue

Published in: Health & Medicine
  • Be the first to comment

Sieu am lach

  1. 1. 1 CHẨN ĐOÁN SIÊU ÂM LÁCH Mục tiêu học tập 1. Nắm được kỹ thuật, hình ảnh siêu âm lách bình thường 2. Mô tả được một số bất thương và bệnh lý lách hay gặp 3. Kỹ thuật thăm khám Đầu dò thăm khám bụng 3,5MHz cho người lớn và 5MHz cho trẻ em. Bệnh nhân nằm ngửa hoặc nghiêng phải, đôi khi có thể nghiêng trái hoặc ngồi. Trước khi khám lách cần phải khám toàn bộ các tạng ổ bụng, sau đó khám lách với các lát cắt sau: - Các lát cắt qua khoảng liên sườn IX, X, XI đường nách - Các lát cắt qua dưới sườn quặt ngược - Các lát cắt dọc, ngang và đứng ngang được thực hiện một cách tịnh tiến liên tục và tiếp cận lách theo các hướng trước, bên và sau. Lát cắt song song theo xương sườn XI là lát cắt theo trục dọc của lách, nên bắt đầu khám lách theo lát cắt này. Trong khi khám lách cần cho bệnh nhân hít vào sâu. 2. HÌNH ẢNH SIÊU ÂM LÁCH BÌNH THƯỜNG - Hình dạng: lách có dạng hình lưỡi liềm cực trên, dưới và mặt ngoài lồi tiếp xúc với mặt dưới cơ hoành và thành bụng. Mặt trong lõm và rốn lách ở mặt này với các mạch máu. Khi đầu dò theo hướng sau dưới sẽ thấy bề mặt phân cách giữa bờ trong dưới của lách và thận trái. Kích thước của lách thay đổi nhưng theo một số nghiên cứu ngoài nước kích thước lách người lớn như sau: 12cm chiều dọc, 4cm chiều ngang. - Đường bờ của lách nét và đều đặn trừ mặt trong có thể lồi lõm với những đường tăng âmchạy sâu vào nhu mô lách. - Cấu trúc âm lách đều, ít âm hơn nhu mô gan. Nhưng có nhiều yếu tố làm thay đổi cấu trúc âm của lách như bóng xương sườn, mỡ, các mạch máu vùng rốn lách. Hình 1.1 Lách bình thường và cách đo Hình 3.1. lách phụ kích thước lách 3. HÌNH ẢNH BẤT THƯỜNG VÀ MỘT SỐ BỆNH LÝ CỦA LÁCH. 3.1. Một số bất thường bẩm sinh của lách 3.1.1.Bất thường về số lượng
  2. 2. 2 - Lách phụ là nhu mô lách bình thường nhưng định vị ngoài lách chính. Lách phụ thường nằm ở vùng rốn lách, đôi khi nằm xa hơn ở vùng đuôi tụy hoặc nằm trong mạc treo (trườg hợp này thì khó chẩn đoán). Lách phụ thường có hình tròn hoặc bầu dục có viền tăng âm nhẹ và cấu trúc âm hoàn toàn giống như cấu trúc nhu mô lách. chính. Lách phụ thường đơn độc với kích thước từ 1-3cm, đôi khi có 2 hoặc 3. -Đa lách và không có lách: thường rất hiếm 3.1.2. Bất thường về vị trí: hay còn gọi là lách lạc chổ thường do cuống lách dài nên dễ có nguy cơ xoắn. Hình dạng, cấu trúc âm của lách lạc chổ không thay đổi so với lách ở vị trí bình thường, trừ khi bị xoắn cuốn lách làm cho lách mất hình lưỡi liềm và nhu mô không đều. 3.2. Một số bệnh lý lách 3.2.1. Bệnh lý lách lan toả Lách là một cơ quan chứa nhiều tổ chức liên võng nội mô nên thường bị tổn thương trong các bệnh hệ thống và biểu hiện dưới dạng bệnh lý lách lan toả. Trong trường hợp này lách sẽ to ra có thể cấu trúc âm không thay đổi hoặc tăng âm hay giảm âm hơn bình thường. Nguyên nhân có thể là: bệnh lý xung huyết, tăng áp lực tĩnh mạch cửa; các bệnh lý của hệ thống lympho, các bệnh lý về máu (bệnh bặch cầu cấp, mạn); bệnh lý nhiễm trùng, nhiễm ký sinh trùng mạn tính (sốt rét, lao.v.v).v.v. Các bệnh lý này thường để lại hậu quả vôi hoá trong nhumo lách. 3.2.2. Bệnh lý khu trú của lách 3.2.2.1. Nang lách: cũng giống như nang ở các tạng khác, trên siêu nang lách có hình tròn hoặc bầu dục, thành nhẵn lòng rỗng âm với hình tăng âm phía sau. Nhu mô xung quanh nang bình thường. Nang không điển hình biểu hiện bằng: thành không nhẵn, vôi hoá thành, dich trong nang không trong (có phản hồi âm trong lòng nang). Nang gan thường đơn độc với kích thươc thay đổi từ 1-3cm, đôi khi có một vài nang hoặc nang lớn hơn thậm chí 10cm đương kính. Chẩn đoán phân biệt cần đặt ra với nang giả tụy định khu trong nhu mô hoặc dưới bao lách; tụ máu dưới bao lách do chấn thương; u lách hoại tử nhiều. 3.2.2.2. Nhiễm trùng lách - Áp xe lách do vi khuẩn thường do đường máu hoặc đường kế cận. Trên siêu âm, ổ áp xe lách có thành dày với bờ phía trong không đều; dịch trong lòng không đồng nhất, có thể a Hình 3.2. a. Vôi hoá do lách lao; b. Nang lách; c. Áp xe lách a b c
  3. 3. 3 có lắng cặn mức nước-dịch; đôi khi có hơi ở vùng cao của ổ áp xe do vi trùng sinh hơi tạo nên; dấu hiệu tăng âm phía sau ổ áp xe bao giờ cũng có. - Áp xe lách do nấm thường xuất hiện trên cơ địa suy giảm miễn dịch. Nấm lách thường đi kèm với nấm gan, biểu hiện bằng các ổ áp xe nhỏ dưới 1cmđường kính rải rác trong nhu mô. Hình ảnh siêu âm thay đổi tuỳ theo giai đoạn: nốt tăng âm với viền giảm âm xung quanh, hoặc nốt với vòng ngoài giảm âm, đến một vòng tăng âm và trung tâm giảm âm; hoặc đôi khi các ổ áp xe có cấu trúc âm khác nhau hoặc hoàn toàn giảm âm như đột vào trong nhumô lách. Kích thước lách to hơn bình thường. - Lao lách thường nằm trong bệnh cảnh lao toàn thân. Trên siêu âm có thể thấy những ổ giảm âm lan toả trong nhu mô, kích thước không đều từ vài mm đến 4 hoặc 5 mm. Ổ áp xe do lao có kích thước lớn rất hiếm. Khi tiến triển tốt tổn thương thường để lại những nốt vối hoá nhỏ rảI rác trong nhu mô lách. Tổn thương lao lách thường kèm theo hạch mạc treo, dịch tự do ổ bụng và tổn thương lao ở các tạng khác. 3.2.2.3. U lách - U lách lành tính + U mạch máu lành tính lách thường hiếm. Cũng giống như mạch máu ở gan, u mạch máu lách có hai dạng: khối đặc tăng âm đồng nhất hoặc lấm tấm, giới hạn rõ, đôi khi có tăng âm phía sau và có thể có vôi hoá nhỏ, hình ảnh này tương ứng với u mạch máu thể mao mạch; u máu thể hang biểu hiện bằng khối dạng nang thành dày. + U mạch bặch huyết thường hiếm gặp. U mạch bặch huyết ở lách biều hiện trên siêu âm bằng cấu trúc dịch nhiều vách ngăn dày mỏng khác nhau, dịch trong, trừ khi có biến chứng chảy máu. Hình 3.3. Lao lách: a Lao lách thể nốt nhỏ; b. Áp xe lách do lao a b Hình 3.4. a. U máu lách; b. U lympho lách a b
  4. 4. 4 - U lách ác tính + U lympho ác tính là u ác tính hay gặp nhất trong số các khối u ác tính của lách, có thể nguyên phát họăc thứ phát. U lympho của lách biểu hiện dưới hai thể: - Thể lan toả thường chỉ thấy lách to hơn bình thường, ngoài ra không thấy các dấu hiệu khác trên siêu âm - Thể khu trú thường có dạng nốt ít âm, có khi rất ít âm nhưng không kèm theo hình tăng âm phía sau nốt. Đôi khi, u lympho có thể có dạng nốt hỗn hợp. + Các khối u ác tính nguyên phát khác của lách thường rất hiếm và thuộc nguồn gốc sarcom; biểu hiện trên siêu âm là khối đặc, giới hạn không rõ và cấu trúc âm đa dạng không đều. + Di căn lách có hình ảnh giống như hình di căn tới các tạng đặc khác. Hình 3.5. a. U loạn sản phôi (hamartome) lách; b. Di căn lách a b Hình 3.6. Chấn thương lách a b
  5. 5. 5 C 3.2.3. Chấn thương lách Lách là tạng dễ bị tổn thương nhất khi bị chấn thương bụng. Các tổn thương do chấn thương của lách biểu hiện trên siêu âm như sau: - Đụng đập và tụ máu trong nhu mô là hai tổn thương giải phẫu bệnh khác nhau. Nhưng trên siêu âm thừơng khó chẩn đoán phân biệt. Tuỳ theo thời gian bị chấn thương mà hình ảnh siêu âm khác nhau. Ngay sau khi chấn thương tổn thương đụng dập-chảy máu trong nhu mô là vùng giảm âm sau đó là đồng âm, âm không đều, tăng âm và cuối cùng là ít âm. Tóm lại, đụng đập-tụ máu nhumô lách có cấu trúc âm thay đổi. - Tụ máu dưới bao lách: biểu hiện bằng khối tổn thương có hình thấu kính hai mặt lồi nằm dưới bao lách, cấu trúc âm thay đổi theo thời gian như vừa mô tả trên. - Vỡ lách: đường vỡ lách là một đường làm mất liên tục nhu mô chạy từ trung tâm tới bờ lách và làm mất đường bờ lách. Cấu trúc đường vỡ nham nhở lúc mới bị chấn thương có thể giảm âm, sau đó tăng âm không đều và muộn hơn thì trở nên giảm âm do quá trình hình thành và tan cục máu đông tại đường vỡ. - Dịch quanh lách hoặc tràn dịch trong ổ bụng: đây là dấu hiệu quan trọng để định hướng chẩn đoán và tiên lượng bệnh nhân. Tài liệu tham khảo 1. Paullette Jouve (1993). Manuel d’ultuasonologie générale de l’adulte 2. F. Mignon et coll (2005). Imagerie de la rate, Feuillets de radiologie vol 45 cahier N1 1 et N2 3. C. Goerg et coll (1990). Splénic infarction Radiolgy 4. C.M Rumack et coll (2005). Diagnostic ultrasound- 3ème édition, volume 1, Ed Elsevier- Mosby.

×