GIÁO TRÌNH XÃ HỘI HỌC GIỚI
GIÁO TRÌNH XÃ HỘI HỌC GIỚI
Tác giả: PGS.TS. LÊ THỊ QUÝ
LỜI NÓI ĐẦU
Vấn đề giới nảy sinh từ rất lâu cùng với sự phát sinh, phát triển của con
người và xã hội, nhưng khoa học về giới lại chỉ được coi là một trong những
ngành khoa học sinh sau đẻ muộn nhất trong các ngành khoa học xã hội. Đó
là một trong những khiếm khuyết đáng chê trách nhất trong lịch sử phát triển
của nhân loại. Trong hàng loạt những phát kiến về sự tiến bộ xã hội, các nền
văn minh, về sự giải phóng con người, về các cuộc cách mạng xã hội, thì
những phát kiến hướng tới sự tiến bộ về giới và bình đẳng giới chỉ đứng ở
những vị trí sau cùng, mặc dù áp bức giới xuất hiện đầu tiên trong xã hội loài
người.
Thật khó tưởng tượng trong khi nhân loại đang ở thế kỷ thứ XXI, đang
hướng tới những chuyển biến to lớn trong nhận thức và tư duy, chinh phục
các khoảng không vũ trụ, đề cao sự bình đẳng, bác ái, đề cao sức mạnh của
nguồn lực con người, thì ở nhiều nơi trên thế giới, bình đẳng giới vẫn chỉ là
một ước mơ xa vời. Phụ nữ vẫn bị bóc lột thậm tệ, bị đày đoạ về thể xác và
tâm hồn, bị buôn bán như nô lệ, bị đưa ra làm trò vui cho những kẻ lắm tiền,
nhiều của.
Sự bất bình đẳng về giới trong lịch sử phát triển nhân loại đã đòi hỏi
nhân loại tiến bộ phải thay đổi nhận thức và hành vi về giới. Sự xuất hiện của
các phong trào phụ nữ, phong trào đấu tranh vì bình đẳng giới trên phạm vi
toàn thế giới với hàng triệu người, trong đó có cả nam giới, các nhà khoa học,
các nhà tư tưởng tham gia thời gian gần đây đã nói lên nhu cầu về bình đẳng
giới ngày càng cấp thiết đối với con đường đi tới sự tiến bộ. Bình đẳng giới đã
được xem xét như là một trong những chỉ số quan trọng nhất nói lên sự phát
triển tiến bộ của một quốc gia.
Trong xu hướng chuyển dần từ đấu tranh tự phát, đơn lẻ sang đấu
tranh tự giác mang tính rộng lớn, có định hướng chiến lược về bình đẳng giới,
thì những nghiên cứu về lý luận và phương pháp luận ngày càng trở nên cần
thiết. Nó tạo lập một cơ sở khoa học đúng đắn, có tính lý luận, phương pháp
luận và phương pháp hoạt động hiệu quả cho phong trào thực tiễn. Bởi vậy,
sự ra đời của các khoa học về giới, trong đó có Xã hội học giới đã tạo ra cho
phong trào đấu tranh vì sự bình đẳng giới một bước phát triển mới về chất.
Nó chỉ ra được những mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung hoạt động cụ thể để
hướng tới sự thống nhất cho cuộc đấu tranh vì bình đẳng giới.
Chỉ trong một thời gian ngắn, khoa học về Xã hội học giới đã phát triển
nhanh chóng. Hầu hết các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu và đào
tạo lớn trên thế giới đều có bộ phận nghiên cứu và giảng dạy về Xã hội học
giới. Xã hội học giới ngày càng xác định rõ hơn về đối tượng nghiên cứu, hệ
thống các lý thuyết, khái niệm, phạm trù và bộ công cụ nghiên cứu, nhằm định
hướng cho những hoạt động thực tiễn.
Ở nước ta, Xã hội học giới đã được phát triển khá mạnh mẽ trong
những năm gần đây. Cùng với phong trào đấu tranh giải phóng phụ nữ được
Đảng và Nhà nước quan tâm, ủng hộ mạnh mẽ, phong trào đấu tranh vì sự
bình đẳng giới cũng đã thâm nhập vào nhiều tổ chức chính trị, xã hội, các
đoàn thể, cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ và lan rộng ra toàn xã hội.
Những nghiên cứu và đào tạo về giới cũng phát triển mạnh mẽ và rộng khắp.
Trong xu hướng phát triển chung đó, nhu cầu về thông tin khoa học,
thống nhất những nội dung nghiên cứu và đào tạo đặc thù về giới ngày càng
trở nên cấp bách. Trong thời gian qua, mặc dù chúng ta đã có nhiều nỗ lực
trong việc biên soạn, tuyển dịch các tài liệu trong và ngoài nước nhằm đáp
ứng những đòi hỏi của việc phát triển các nghiên cứu và giảng dạy về Xã hội
học giới, nhưng nhìn chung những tài liệu này vẫn chưa đáp ứng được với
đòi hỏi của thực tế. Tài liệu được giới thiệu và giảng dạy trong các trường đại
học phần lớn được tuyển dịch từ nước ngoài, theo nhiều kênh khác nhau,
một số tài liệu giảng dạy được biên soạn nhưng chưa thực sự gắn kết với
hoàn cảnh đặc thù ở Việt Nam. Điều đó khiến chúng ta không tránh khỏi
những lúng túng trong việc phải nhận thức, lý giải và vận dụng một cách có
hiệu quả những vấn đề cơ bản về giới ở Việt Nam.
Việc biên soạn một cuốn giáo trình, lại là giáo trình về một lĩnh vực khá
mới mẻ và nhạy cảm như Xã hội học giới là một công việc khó khăn. Được sự
khuyến khích và động viên của đồng nghiệp và sinh viên, tác giả, trên cơ sở
ghi chép những thông tin và kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy môn Xã hội
học về giới trong nhiều năm qua đã biên soạn cuốn giáo trình này. Tác giả coi
đây như là một dịp để tìm kiếm sự đồng cảm, tiếp thu thêm ý kiến và đồng
thời chia sẻ với những người quan tâm về vấn đề này. Tác giả cũng đã cố
gắng lược bớt những vấn đề phức tạp vốn có của Xã hội học giới, nhằm diễn
giải vấn đề một cách đơn giản và dễ hiểu hơn.
Mặc dù vậy, do những giới hạn về thời gian, về khuôn khổ của một
cuốn giáo trình và cả về khả năng nhận thức, nên nội dung chắc chắn sẽ còn
cần phải được bổ sung, sửa chữa. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng
góp của độc giả để giáo trình hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau.
Giáo trình này nêu lên những vấn đề đương đại nhưng hy vọng rằng
trong tương lai, vấn đề bình đẳng giới sẽ thay đổi, phụ nữ sẽ có bình đẳng
thực sự và cuốn sách sẽ chỉ còn giá trị như một tài liệu viết về lịch sử.
Tác giả
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AP WLD Asia Pác Forum ơn Women Law and Development (Tổ
chức Diễn đàn châu á - Thái Bình Dương về Phụ nữ, luật
pháp và phát triển)
BLGĐ Bạo lực gia đình
CNTB Chủ nghĩa tư bản
CNĐQ Chủ nghĩa đế quốc
CNXH Chủ nghĩa xã hội
F.G.M Female Genital Mutination
F.S.M Female Sexual Mutilation
GDI Chỉ số bình đẳng giới
HDI Phát triển con người
LHPN Liên hiệp phụ nữ
LHQ Liên hợp quốc
NCFAW Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ
NGO Phi Chính phủ
RCGAD Trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển
SKSS Sức khoẻ sinh sản
UBND Uỷ ban nhân dân
UBQG Uỷ ban quốc gia
UNDP Cơ quan phát triển Liên hợp quốc
UNICEF Quỹ trẻ em Liên hợp quốc
UNFPA Quỹ dân số Liên hợp Quốc
UNIFEM Quỹ phụ nữ Liên hợp quốc
UBDS GĐ & TE Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em
XHH Xã hội học
WHO Tổ chức Y tế thế giới
Phần thứ nhất. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN
Bài 1. TỪ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC ĐẾN ĐỐI
TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC GIỚI
I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC
Mỗi con người đều có một hình dáng, khuôn mặt và tính cách riêng
biệt. Những nét riêng biệt, muôn hình muôn vẻ này hợp nhau lại thành các
nhóm xã hội trong một xã hội đa dạng và phong phú. Cũng như vậy, mỗi
ngành khoa học đều có những nét đặc thù khác biệt với các ngành khác, tao
nên bề dày hệ thống các kiến thức vĩ đại của nhân loại. Để xác định một
chuyên ngành khoa học, chúng ta cần đặt ra những câu hỏi mang tính nguyên
tắc như:
- Chuyên ngành ấy là gì?
- Đối tượng nghiên cứu của nó ra sao?
- Sự gần gũi và khác biệt của nó với những ngành khoa học khác ở chỗ
nào?
Vào thế kỷ XIX, nhà triết học Pháp August Comte là người đầu tiên đã
dùng tên Xã hội học (Sociology) để đặt cho một ngành khoa học xã hội mới
mà ông vừa muốn tách ra khỏi Triết học và lại vừa muốn phân biệt nó với các
ngành khoa học xã hội khác. Và sau này, những thế hệ kế tiếp đã coi ông như
là “cha đẻ”, là người đặt nền móng cho ngành khoa học quan trọng và hấp
dẫn này.
Đồng thời với việc đặt tên cho ngành khoa học này, August Comte cũng
đưa ra được một bộ khung lý luận, phương pháp luận và phương pháp cơ
bản để xã hội học có thể tồn tại như một khoa học độc lập. Ngày nay, cho dù
xã hội học đã phát triển khác xa với thời đại của A. Comte, đã bao hàm trong
mình vô số những xu hướng và trường phái khác nhau thì những tiền đề cơ
bản mà A. Comte đưa ra vẫn là những nền móng cốt yếu nhất Xã hội giới
cũng như tất cả những chuyên ngành xã hội học khác đều nảy sinh và phát
triển từ một nền móng chung nhất này.
Chúng ta đều biết, từ rất lâu rồi, đã có nhiều ngành khoa học lấy xã hội
làm đối tượng nghiên cứu. Những ngành khoa học này tập hợp lại dưới ngọn
cờ chung của các khoa học xã hội và nhân văn. Mỗi ngành khoa học xã hội
và nhân văn nói trên lại chiếm một vị trí và vai trò nhất định trong lý luận khoa
học cũng như trong thực tiễn. Nói một cách cụ thể là chúng có đối tượng
nghiên cứu, hệ thống lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
riêng. Chẳng hạn, nghiên cứu về kinh tế đã có Kinh tế học, dân tộc có Dân tộc
học, chính trị có Chính trị học, dân số có Dân số học; nghiên cứu những sự
kiện xảy ra trong quá khứ có ngành khoa học Lịch sử… Bởi vậy, việc xác định
đối tượng của XHH nói chung và XHH giới nói riêng chỉ có thể được thực hiện
khi khẳng định rõ được tính riêng biệt, không trùng lặp của nó với những
ngành khoa học xã hội và nhân văn khác.
Nếu như Triết học có đối tượng nghiên cứu là những quy luật chung
nhất của tự nhiên, xã hội, tư duy trong sự vận động và phát triển của xã hội;
Khoa học Lịch sử có đối tượng nghiên cứu hướng vào việc tái hiện lại những
sự việc diễn ra trong quá khứ, chẳng hạn xã hội con người từ thời cổ đại,
trung đại, cận đại, hiện đại để rút ra các bài học kinh nghiệm và tôn vinh lòng
tự hào của các dân tộc… thì XHH lại tập trung chủ yếu vào những sự tương
tác xã hội. Khác với những khoa học xã hội cụ thể khác XHH không chỉ đi sâu
vào những mặt cụ thể của xã hội mà còn hướng tới những mối quan hệ giữa
chúng, hướng vào việc tìm ra vị trí, vai trò của chúng trong sự tồn tại, vận
động và phát triển của xã hội. Về phương diện này, Giáo sư Đặng Cảnh
Khanh đã có lý khi cho rằng XHH nghiên cứu sự phát triển của xã hội, những
mối quan hệ xã hội, sự tương tác giữa những lĩnh vực cụ thể của xã hội với
những lĩnh vực chung nhất của xã hội và với nhau.
Có ba lĩnh vực cơ bản được XHH quan tâm là:
Thứ nhất, nghiên cứu những mối quan hệ tương tác giữa các lĩnh vực
cụ thể của xã hội với tư cách là các bộ phận cấu thành của xã hội, các thiết
chế xã hội với lĩnh vực rộng lớn nhất, chung nhất, tức là với tổng thể xã hội.
Thứ hai, nghiên cứu mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành, các lĩnh
vực cụ thể, các thiết chế của xã hội với nhau.
Thứ ba, nghiên cứu chính các mối quan hệ nội sinh, tương đối độc lập
của các bộ phận cấu thành của xã hội, các thiết chế xã hội cụ thể nói trên.
Sự phân định các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của XHH như trên là cơ
sở để phân nhóm các chuyên ngành của chúng, giúp chúng ta có thể dựa vào
sự phân định các bộ phận cấu thành của xã hội cũng như các thiết chế xã hội
để chỉ rõ và phân biệt các chuyên ngành XHH như XHH nông thôn, XHH đô
thị, XHH gia đình, XHH văn hoá, XHH giới, XHH quản lý, XHH thanh niên,
XHH môi trường, XHH tội phạm v.v… Những mối quan hệ tương tác và các
lĩnh vực nghiên cứu trên lại có vị trí và vai trò khác nhau trong các chương
trình nghiên cứu vĩ mô hoặc vi mô, lý thuyết hoặc thực nghiệm, đại cương
hoặc chuyên biệt.
II. XÃ HỘI HỌC GIỚI TRONG XÃ HỘI HỌC
1. Đối tượng nghiên cứu của Xã hội học giới
Xã hội học giới là một chuyên ngành của XHH. Nó vừa tuân thủ những
nguyên tắc chung nhất của XHH, vừa quy chiếu những nguyên tắc này vào
lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt là một quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách
thức mối quan hệ này được xây dựng trong ta hội. Nói một cách cụ thể, XHH
giới là xã hội học nghiên cứu đối tượng giới, vị trí, vai trò của vấn đề giới và
bình đẳng giới đối với sự vận động và phát triển của xã hội.
Theo những chuẩn mực trên thì Xã hội học giới cũng có 3 lĩnh vực
nghiên cứu cơ bản. Đó là:
1.1. Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự vận động và phát triển của giới
với sự vận động và phát triển chung của xã hội.
1.2. Nghiên cứu mối quan hệ giữa giới với các bộ phận cấu thành khác
của xã hội, các thiết chế xã hội đang vận hành trong xã hội như gia đình, văn
hoá, giáo dục, chính quyền, luật pháp, nông thôn, thành thị, môi trường…
(Những lĩnh vực có liên quan đến vị trí, vai trò của giới).
1.3. Nghiên cứu nội hàm của giới trong dạng thức tương đối độc lập
của nó. Đó là mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ
đó được xây dựng trong xã hội.
Để phục vụ cho việc tư duy và tiếp cận Xã hội học Giới, người ta cũng
đã xây dựng bên cạnh hệ thống lý thuyết cơ bản (những quy luật, phạm trù,
khái niệm, khung logic) bộ công cụ phân tích để xác định phương pháp luận
và phương pháp nghiên cứu cho nó. Cùng với những nghiên cứu lý thuyết,
nghiên cứu cơ bản thì nghiên cứu thực nghiệm hay còn gọi là nghiên cứu can
thiệp (hoặc hành động) ngày càng phát triển đã góp phần trực tiếp vào việc
nhận thức và hoạch định các chính sách về giới, điều chỉnh và hoàn thiện luật
pháp, cải tạo xã hội và tạo lập sự bình đẳng trong các quan hệ giới.
2. Chức năng, nhiệm vụ của Xã hội học giới
Khi nói đến chức năng và nhiệm vụ của một ngành khoa học, chúng ta
cần phải hiểu rằng, chúng bao giờ cũng được sinh ra để thực hiện những
mục tiêu nhận thức và mục tiêu thực tiễn của ngành khoa học đó. Bởi vậy bất
kỳ một ngành khoa học nào cũng thường mang trong mình hai chức năng cơ
bản nhất: chức năng nhận thức và chức năng thực tiễn. Hai chức năng này
hoà quyện không thể tách rời, cái này là cơ sở nhưng cũng là mục tiêu cho
cái kia và ngược lại. Chức năng nhận thức của XHH giới là kim chỉ nam, quy
định nhiệm vụ là làm thay đổi nhận thức của con người về một cấu trúc xã hội
mà trong đó không có nhóm xã hội này cai trị cho nhóm xã hội kia. Từ thay
đổi nhận thức, XHH giới có nhiệm vụ làm thay đổi thực tiễn và phục vụ cho
chức năng thực tiễn của nó. Ở đây, mối quan hệ giữa nghiên cứu cơ bản và
nghiên cứu ứng dụng là hai cánh tay của cơ thể XHH giới.
Thực tế nói về nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là nói về
một phương thức biểu hiện khác của chức năng nhận thức và chức năng
thực tiễn của nghiên cứu. Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu có xu
hướng nghiêng về những mục tiêu nhận thức, còn nghiên cứu ứng dụng thì
lại có xu hướng nghiêng về mục tiêu thực tiễn, vận dụng lý thuyết vào thực
tiễn và dùng thực tiễn để làm sáng rõ lý thuyết. Nhìn chung, hướng về cuộc
sống hiện thực, đưa tri thức vào thực tiễn cuộc sống, phục vụ cho cuộc sống
của con người ngày càng tiến bộ, văn minh bao giờ cũng là mục đích cao
nhất của khoa học dù là khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội và nhân văn,
trong đó có XHH nói chung và XHH giới nói riêng.
Tuy nhiên, “Sự thống nhất và đa dạng của thế giới vật chất và tinh thần
đã khiến cho tri thức khoa học cũng phức tạp và đa dạng không kém. Nó
cũng khiến cho sự phân định rạch ròi ranh giới giữa các lĩnh vực khoa học chỉ
có thể mang tính tương đối. Sẽ là siêu hình và không khoa học nếu chúng ta
chỉ biết khu biệt các loại hình nghiên cứu khoa học khác nhau mà không nhìn
thấy sự thống nhất và phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng.
Bởi vậy, nếu nghiên cứu ứng dụng làm đa dạng và phong phú thêm
cho những nghiên cứu cơ bản, thì ngược lại, nghiên cứu cơ bản là tiền đề lý
luận phương pháp luận, là cơ sở cần thiết cho việc nghiên cứu ứng dụng.
Thiếu những nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng sẽ mất định hướng,
sẽ lúng túng khi xử lý các tình huống phức tạp từ thực tiễn. Thiếu những
nghiên cứu ứng dụng và tính ứng dụng, nghiên cứu cơ bản sẽ chỉ còn là khoa
học của sự lãng mạn thuần tuý, sự bay bổng khỏi hiện thực của tri thức”
(Đặng Cảnh Khanh, 2006).
Ngày nay, khả năng ứng dụng các tri thức XHH giới Vào thực tiễn đã
khiến cho hoạt động khoa học không chỉ là một thứ “khoa học vị khoa học” mà
còn là “khoa học vị nhân sinh”. Ý nghĩa xã hội và nhân đạo sâu sắc của khoa
học giới là nó giúp thay đổi nhận thức về giới, đưa ra các biện pháp giải quyết
hiện tượng bất bình đẳng giới đã tồn tại từ hàng chục thế kỷ. Chỉ cố gắn mình
với thực tiễn thì XHH giới mới mang trong mình các giá trị về tri thức và văn
hoá đích thực.
Do vậy, để phát triển và mở rộng các nghiên cứu về XHH giới chúng ta
không thể bỏ qua các hoạt động thực tiễn và ứng dụng của nó. Đồng thời các
nghiên cứu cơ bản là nguồn trực tiếp cung cấp những tri thức lý luận và
phương pháp luận cho các nghiên cứu cụ thể.
Nghiên cứu cơ bản trong XHH vừa giúp định hướng các chiến lược
phát triển xã hội chung, vừa góp phần vào chính sự phát triển của tư duy
XHH. Nghiên cứu cơ bản về XHH giới có vai trò quan trọng không chỉ trong
việc xây dựng các chiến lược phát triển bình đẳng giới mà còn góp phần hình
thành những cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận đặc thù của môn học.
Ngoài tính hiện thực và ứng dụng, XHH giới còn mang tính cách mạng.
Nó hướng xã hội tới sự thay đổi cách nhìn nhận về phụ nữ, thay đổi cấu trúc
xã hội đã tồn tại cố hữu trong lịch sử theo kiểu “trọng nam, khinh nữ” thành xã
hội bình đẳng, công bằng mà trong đó các thành viên, bất kể thuộc giới tính
nào đều có cơ hội phát triển ngang bằng, có trách nhiệm tham gia xây dựng
gia đình và xã hội, cùng được hưởng thụ công bằng các thành quả lao động
đã mình làm ra. Về phương diện này, XHH giới tuân thủ lời dạy bất hủ của
K.Marx là: khoa học không chỉ nhằm để giải thích thế giới mà còn cải tạo thế
giới.
Như vậy XHH giới có ba chức năng cơ bản là: phản ánh hiện thực, cải
tạo xã hội và định hướng xã hội. Ba chức năng này có mối quan hệ biện
chứng trong các nghiên cứu cụ thể, nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu hành
động. Những chức năng quan trọng này đã tạo ra bộ mặt toàn diện của XHH
giới và mặc dù là một chuyên ngành khoa học rất trẻ nhưng nó đã nhanh
chóng chiếm được chỗ đứng vững chắc trong ngành Khoa học Xã hội và
Nhân văn nói chung và XHH nói riêng.
Sự xuất hiện của XHH giới, trên thực tế đã chia XHH ra thành hai giai
đoạn: XHH trước giới và XHH sau giới. Đó là kết quả của cuộc tranh luận
không khoan nhượng mang tính khoa học và chính trị cao giữa các nhà XHH
mang quan điểm nữ quyền (sau này gọi là các nhà nữ quyền) với các nhà
XHH mang quan điểm nam quyền.
III. MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÃ HỘI HỌC GIỚI VỚI CÁC CHUYÊN NGÀNH XÃ
HỘI HỌC KHÁC
Mối quan hệ của XHH giới với các chuyên ngành XHH khác là sự phản
ánh tính khách quan của mối quan hệ giữa vấn đề giới với những vấn đề xã
hội cụ thể khác trong xã hội. Thực tế cho thấy, mối quan hệ giới tồn tại và
biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội. Đó là mối quan hệ
giữa hai giới tính là nam và nữ trong sự vận động của nguồn nhân lực xã hội.
Tuy nhiên, trước đây hệ tư tưởng chính trị, triết học, tôn giáo và cả
XHH kinh điển đều đã tiếp cận vấn đề giới trong hệ thống những quan điểm
nam quyền nên thường phân chia nam nữ thành hai tuyến rõ rệt: nam thống
trị và nữ bị trị. Điển hình là hệ tư tưởng Nho giáo, Hồi giáo và sau này, trong
chính XHH là những người theo thuyết Cấu trúc chức năng. Trong khi khẳng
định vị thế, vai trò của các bộ phận cấu thành trong xã hội, người ta cũng coi
vấn đề giới trong xã hội như là một sự xếp đặt tự nhiên, sự phân bổ vị thế, vai
trò giới một cách bất bình đẳng như là một lẽ đương nhiên.
Ngày nay, XHH giới đã đặt vấn đề khác. Nó đòi hỏi những người
nghiên cứu phải nghiên cứu hai lực lượng xã hội này trong bối cảnh của sự
tương tác, vận động và phát triển, hướng tới sự bình đẳng, công bằng. Chẳng
hạn, khi XHH gia đình nghiên cứu về gia đình thì không thể không nghiên cứu
về sự biến đổi mối quan hệ giới theo các mối quan hệ hàng ngang như quan
hệ giữa vợ với chồng (cha với mẹ, ông với bà), anh trai với em gái; và mối
quan hệ theo hàng dọc là quan hệ thế hệ như ông bà với cha mẹ, với con
cháu. Nghiên cứu XHH văn hoá thì phải nghiên cứu mối quan hệ giới trong
các nền văn hoá theo chiều lịch đại và theo chiều cấu trúc chức năng. Nghiên
cứu XHH nông thôn, XHH đô thị cũng cần đề cập đến mối quan hệ giới và
ảnh hưởng của mối quan hệ đó đối với từng giới cũng như sự phát triển
chung của nông thôn hoặc đô thị.
BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU
Quan điểm chưa có nghiên cứu giới
"Hạnh phúc ở ngay trong tay bạn"
Thời mở cửa giúp chị em chúng ta mất ít thời gian hơn trong việc “tề
gia nội trợ” để dành thời gian còn lại tham gia hoạt động xã hội, cống hiến sức
mình vào sự nghiệp phát triển của nước nhà. Nhưng ngoài những yếu tố
thuận lợi vẫn còn tồn tại những vấn đề đáng lo ngại cho nhiều gia đình, nhất
là bổn phận làm vợ làm mẹ đang có hướng mờ nhạt đi.
Theo truyền thống, việc “tề gia nội trợ” là phạm vi độc quyền của phụ
nữ, nhưng ngày nay nó không còn chiếm vị trí “độc nhất vô nhị” nữa, mà đã
được chia sẻ khá nhiều. Bởi vì mọi thứ cần thiết cho cuộc sống hầu như đều
có sẵn, cái gì cần là có ngay một cách nhanh chóng, tiện lợi, dễ dàng. Từ việc
đi ăn cơm hàng, cơm hộp cho đến việc thuê người nội trợ trong gia đình…
Nói tóm lại, cái gì cần cũng có thể thuê mướn. Chính sự tiện lợi đó lại nảy
sinh nhiều vấn đề đáng lo ngại cho các gia đình.
Tôi được biết vợ chồng chị Đ. đều là kỹ sư, bác sĩ và có địa vị trong xã
hội. Họ có hai con, một trai, một gái đều đã đến tuổi trưởng thành. Nhiều
người nhìn vào gia đình anh chị đều rất thèm muốn. Nhưng ở đời chẳng ai
học được chữ “ngờ”. Cậu con trai của chị Đ. phải vào tù lúc 29 tuổi vì tội dẫn
dắt gái mại dâm và buôn bán ma tuý. Mọi chuyện vỡ ra từ đó. Chị Đ tâm sự:
- Tôi đã mắc phải sai lầm lớn trong việc giáo dục con cái. Đáng lẽ tôi
phải dành nhiều thời gian hơn để chăm sóc con thi tôi lại chu cấp đầy đủ
những thứ con cần. Cuộc sống sung túc đã làm con trai tôi tự giết mình.
Việc chăm sóc con không thể thiếu được bàn tay của người mẹ. Điều
này đòi hỏi chị em phải có sự kiên trì dạy dỗ từng phút, từng giờ mới có thể
cho gia đình và xã hội một con người hữu ích thực sự.
Chị H. làm ở Bưu điện Bờ hồ tâm sự:
- Tôi bận đi làm tối ngày. Công việc chăm sóc gia đình, con cái nhờ cả
vào chồng tôi. Buổi trưa dịch vụ cơm hộp đưa vào đến tận nhà, chỉ có buổi tối
gia đình mới đoàn tụ nhưng thường có người này lại vắng mặt người kia vì
chồng tôi thích những trò tiêu khiển ở bên ngoài hơn là ở nhà bên cạnh vợ
con. Nhiều khi tôi cũng tự hỏi: Hình như mình đang trốn tránh việc chăm sóc
gia đình chăng?
Quả thật việc làm mẹ, làm vợ cũng chẳng nhẹ nhàng gì, tuy rằng chúng
ta không thể chu toàn được cả việc nước lẫn việc nhà, nhưng thiết nghĩ
chúng ta cũng không nên lạm dụng quá vào việc gọi là dịch vụ chăm sóc
chồng con thay ta mà nên tự mình vun vén cho gia đình. Chỉ có như vậy
chúng ta mới giữ được những người thân yêu không xa rời tổ ấm gia đình
của chính mình.
Mỗi gia đình là một xã hội thu nhỏ, gia đình hạnh phúc thì xã hội sẽ
phồn thịnh và phát triển không ngừng. Chúng ta là phận làm mẹ, làm vợ đừng
nên bỏ quên vinh dự được hy sinh cho chồng con. Đây là chiếc cầu nối tất cả
mọi người trong gia đình xích lại gần nhau hơn. Nếu ai có ý nghĩ tạm quên đi
trách nhiệm lớn lao này thì đó là tiếng chuông cảnh báo đe doạ đến hạnh
phúc gia đình của chính người đó.
Theo Trần Hằng Nga (Báo Tiền phong ngày 14/81/999).
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Đối tượng nghiên cứu của XHH giới là gì? Hãy phân tích sự giống và
khác nhau giữa đối tượng nghiên cứu của XHH giới với đối tượng nghiên cứu
giới.
2. Tại sao nói XHH giới ra đời đã làm thay đổi ngành XHH, đặc biệt là
XHH gia đình, XHH văn hoá, XHH chính trị?
3. Đối tượng nghiên cứu XHH giới có liên quan đến bài đọc nghiên cứu
trên thế nào?
Bài 2. SỰ HÌNH THÀNH CÁC KHOA HỌC NGHIÊN CỨU PHỤ NỮ,
GIỚI VÀ XÃ HỘI HỌC GIỚI
I. NHỮNG TIỀN ĐỀ VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA CỦA NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC VỀ GIỚI
1. Xã hội Mẫu hệ trong buổi bình minh của loài người
Những tài liệu khảo cổ và những truyền thuyết dân gian còn lưu truyền
đến ngày nay đã đưa ra bằng chứng về một giai đoạn phát triển quan trọng
của xã hội con người là giai đoạn theo Mẹ, còn gọi là Mẫu hệ. Đây cũng là
giai đoạn đầu tiên của thời đại mông muội, là ranh giới giữa thế giới sinh vật
và đời sống xã hội. Trong cuốn sách “Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và
Nhà nước”, Engels đã nêu ra và phân tích 3 phát minh lớn của xã hội loài
người mà ông cho rằng còn quan trọng hơn cả phát minh ra máy hơi nước
của thời kỳ ranh giới giữa xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp. Đó là:
Tiếng nói như là một phương tiện chủ yếu của sự giao tiếp trong tập
thể người nguyên thuỷ. Engels coi tiếng nói là một phương tiện (mà thú vật
không thể có được) để thu thập, giữ gìn, xử lý và truyền đi những thông tin về
thế giới xung quanh, là phương tiện để nhận thức và quản lý. Chính tiếng nói
đã tách hẳn con người ra khỏi loài vật; rất thuận tiện cho sinh hoạt và lao
động sản xuất mà trước đó chỉ có thể dùng phương pháp tương tác biểu
trưng.
Lửa: Giai đoạn giữa của thời kỳ mông muội bắt nguồn từ việc phát hiện
ra “công cụ năng lượng” tức là lửa, và được đánh dấu như là giai đoạn hình
thành của chế độ công xã nguyên thuỷ điển hình. Lửa không chỉ là một vũ khí
đi săn mới mà còn là một phương tiện nấu chín thức ăn, để chống đỡ với cái
lạnh và thú dữ. Lửa đã thay đổi tận gốc tiềm năng của năng lượng, cơ cấu
nhân khẩu và tập quán của người nguyên thuỷ. Khi chưa biết sử dụng lửa,
con người hằng ngày nhận được dưới 2.000kcal (chủ yếu là qua thức ăn: một
nửa là thực vật, một nửa là động vật) Lửa lập tức làm tăng mức tiêu dùng
năng lượng hằng ngày lên đến 5.000kcal, trong đó thức ăn cung cấp
3.000kcal, còn “tiện nghi” sưởi ấm cung cấp 2.000kcal. Việc ăn thức ăn chín
và tạo ra được thức ăn chín đã chứng tỏ tư duy của con người vượt xa loài
vật và trở thành một loài riêng biệt, cao cấp.
Sự phân công lao động giữa nam và nữ khi đó mang tính tự nhiên
mà chưa mang tính xã hội. Chẳng hạn, tuỳ thuộc vào sức khoẻ, nam giới thì
săn, bắt; phụ nữ thì hái lượm. Do trách nhiệm phải mang thai, sinh đẻ và cho
con bú và cũng do tình trạng sức khoẻ yếu hơn nam giới nên phụ nữ chỉ
quanh quẩn gần chỗ ở, trong khi nam giới ngày càng phải đi xa để tìm kiếm
thức ăn. Chính các đặc tính của công việc, theo thời gian đã ảnh hưởng đến
tính cách và phẩm chất giới. Chẳng hạn, nam giới thì mạnh mẽ, phóng
khoáng, nhiều sáng tạo, quyết đoán, dũng cảm… trong khi phụ nữ thì tỉ mỉ,
dịu dàng, căn cơ, tiết kiệm, vị tha…
Lúc khởi thuỷ, sự phân chia sản phẩm lao động trong thị tộc mang tính
chất bình quân chủ nghĩa, dựa trên cơ sở bình đẳng xã hội, còn quá trình
định hình dòng họ (theo các đặc điểm khác biệt về giới tính và lứa tuổi) thì
diễn ra theo tiêu chuẩn duy nhất có thể có lúc bấy giờ là mối liên hệ theo họ
mẹ. Với thói quen tính giao giữa nam và nữ vẫn còn mang nặng tính động vật
(tạp hôn, quần hôn), nên con sinh ra chỉ biết có mẹ mà không biết cha là ai.
Phụ nữ còn là người được giao trọng trách giữ gìn bếp lửa của cả bộ lạc,
phân chia khẩu phần thức ăn kiếm được, chăm sóc, nuôi dưỡng thế hệ trẻ, vì
vậy họ có vị trí quan trọng trong bộ lạc. Bằng cách đó, phụ nữ được tôn vinh
không phải từ sự chủ động về tư tưởng ‘‘trọng nữ” mà bằng tính tự phát, bản
năng trong quá trình lao động và chuyển hoá từ bầy đàn động vật sang xã hội
con người.
2. Quá trình chuyển biến từ xã hội công xã nguyên thuỷ sang xã
hội có đối kháng giai cấp
Sự chuyển biến từ chế độ công xã nguyên thuỷ không có giai cấp sang
các xã hội đối kháng giai cấp được quy định bởi sự phát triển của lực lượng
sản xuất của loài người. Khi lượng thức ăn ngày càng khan hiếm mà con
người ngày càng sinh sôi thì một nhu cầu lớn nảy sinh là phải tái tạo lại thức
ăn. Việc con người phát minh ra động tác chọc lỗ để gieo hạt hoặc nuôi động
vật để chúng sinh con đẻ cái không chỉ bảo đảm sự sinh tồn bền vững mà còn
tách mình ra khỏi giới động vật một cách ngoạn mục. Bắt đầu từ đây, bộ não
của con người ngày càng hoàn thiện và phát triển cùng với sự khéo léo của
đôi tay, đôi chân và các giác quan khác. Sự ra đời hai ngành cơ bản của nông
nghiệp là trồng trọt và chăn nuôi đã cho phép con người tạo ra nguồn của cải
to lớn không chỉ bảo đảm cho tiêu dùng mà còn có của cải để dự trữ.
Nội dung chủ yếu của thời kỳ này là “cuộc cách mạng mà nhờ đó, con
người thoát ra khỏi khuôn khổ cuộc sống ký sinh thuần tuý và chuyển sang
việc trồng trọt và chăn nuôi để trở thành con người sáng tạo, không bị phụ
thuộc vào tính khí thất thường của thiên nhiên xung quanh”. (Engels, 1980).
Từ con người ký sinh trở thành con người biết lao động sáng tạo, tiến
lới chủ động khai thác, cải tạo thiên nhiên là một bước ngoặt to lớn. Quá trình
này cũng giúp con người xây dựng được xã hội của mình ngày càng hoàn
thiện và văn minh hơn.
Của cải dư thừa là một điều kiện quan trọng để phát sinh tư tưởng tư
hữu và chiếm hữu. Tính tư hữu nằm trong nhu cầu tồn tại nhưng cùng với sự
phát triển xã hội, nó đã vượt xa nhu cầu tồn tại và trở lại định hướng cho xã
hội. Những người khôn ngoan, chăm chỉ lao động hoặc có quyền thế hơn
trong bộ lạc trở thành những người giàu có hơn. Xã hội phân chia thành hai
loại người: thống trị và bị trị. Sự phân hoá xã hội càng cao thì mâu thuẫn đối
kháng giữa các giai cấp càng sâu sắc và chuyển giao từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Tất nhiên, quá trình này diễn ra không đồng thời ở các xã hội khác
nhau mà nó phụ thuộc vào trình độ của từng xã hội, vùng địa lý.
Trong hoàn cảnh như vậy, nam giới với sức mạnh của mình (cả về thể
chất lẫn trí tuệ) đã vươn lên trở thành nhóm thống trị xã hội, chiếm hữu của
cải và cả phụ nữ.
3. Sự chuyển đổi từ xã hội Mẫu hệ tới xã hội Phụ quyền
Một sự kiện lớn xảy ra trong xã hội có giai cấp là sự hình thành gia
đình. Điều này cũng có nghĩa là quan hệ tính giao giữa đàn ông và đàn bà đã
thay đổi và mang tính xã hội hơn. Khi của cải không còn là của chung nữa thì
con người cũng vậy. Sự chiếm hữu con người đã tạo ra gia đình. Vấn đề
nguồn gốc của gia đình là quá trình phát sinh của chế độ một vợ một chồng
mà trong đó, có sự thay đổi vai trò giữa người phụ nữ với tư cách là vợ và
người nam giới với tư cách là chồng. Nguồn gốc của sự hình thành gia đình,
như Engels đã nêu lên, không phải bởi tình yêu nam nữ đơn thuần mà bởi sự
hình thành chế độ tư hữu và Nhà nước cùng với sự phân chia đẳng cấp giới
ngày càng sâu sắc.
Gia đình đòi hỏi phải có hành động tương hỗ giữa các cá thể trong quá
trình thoả mãn không chỉ các nhu cầu tình dục, mà còn có cả các nhu cầu ăn
uống và sinh hoạt khác nữa, bao gồm cả việc làm kinh tế chung, sinh con, đẻ
cái và giáo dục chúng, truyền lại tài sản của tổ tiên cho thế hệ sau. Những
vấn đề phức tạp đó đã phá vỡ cấu trúc của xã hội cộng sản nguyên thuỷ, hay
nói cách khác bản thân chế độ công xã nguyên thuỷ không chứa đựng nổi mà
nó phải chuyển sang chế độ có giai cấp.
Chính cuộc cách mạng trong gia đình, gắn liền với bước chuyển sang
chế độ phụ hệ trên cơ sở vật chất - kỹ thuật của cuộc cách mạng xã hội đã trở
thành hình thái chín muồi của các mâu thuẫn đối kháng xã hội đầu tiên và của
việc chuyển tiếp sau đó lên xã hội có giai cấp.
Gia đình một vợ một chồng đã hình thành, đồng thời cũng là “chỗ” tích
tụ và thể hiện các mâu thuẫn xã hội. Các mâu thuẫn xã hội đối kháng đã phát
sinh và gây ảnh hưởng đến gia đình thông qua sự bất bình đẳng ngày càng
sâu sắc giữa nam và nữ trong gia đình.
Gia đình một vợ một chồng, như Engels nhận xét, mang trong mình
không chỉ các tàn dư của gia đình cặp đôi và chế độ quần hôn. Điều cơ bản là
ở chỗ trong xã hội, có giai cấp, nó chứa đầy những mâu thuẫn đối kháng của
xã hội đó và bắt người phụ nữ phải chịu cảnh nô lệ. Nạn ngoại tình và mãi
dâm, về thực chất là sự khôi phục lại dưới hình thức đã biến đổi các khuynh
hướng cổ xưa, những hình thức tối cổ của chế độ quần hôn.
Trong chế độ có mâu thuẫn đối kháng thì các mối quan hệ giữa đàn
ông và đàn bà gắn bó chặt chẽ với sự dùng “tiền hoặc dùng những phương
tiện quyền lực xã hội khác”. Engels viết rằng, chế độ một vợ một chồng “là
hình thức gia đình đầu tiên không dựa trên những điều kiện tự nhiên, mà dựa
trên những điều kiện kinh tế và vì thế “sự đối lập giai cấp đầu tiên xuất hiện
trong lịch sử trùng với sự phát triển của sự đối kháng giữa chồng và vợ trong
hôn nhân cá thể, và sự áp bức giai cấp đầu tiên trùng với sự nô dịch của đàn
ông đối với đàn bà” (Engels, 1980).
Trong các gia đình, phụ nữ không còn chiếm được vị trí cao như trong
các bộ lạc trước đây mà họ đã bị rơi xuống hàng thứ yếu khi con cái đã biết
cha đẻ của mình. Bắt đầu từ đây, con cái theo dòng họ cha “nội” (bên trong)
và họ mẹ trở thành “ngoại” (bên ngoài). Phụ nữ phải phục tùng, phục vụ cho
chồng, con và lao động này không được trả công. Việc xác định tính phụ
thuộc của phụ nữ còn thể hiện trong khái niệm “nối dõi dòng họ”. Ở châu âu,
Mỹ, phụ nữ khi sinh ra phải mang họ cha và khi lấy chồng phải mang họ
chồng; còn ở nhiều nước châu á, phụ nữ khi lấy chồng bị gọi theo tên chồng
lúc chồng còn sống hoặc tên con trai lớn nhất sau khi chồng chết. Sống thì
làm người nhà chồng còn chết thì làm ma nhà chồng là nguyên tắc dành cho
tất cả phụ nữ sống trong xã hội phụ quyền.
4. Một số quan điểm
4.1. Quan điểm về sự tiến hoá xã hội theo giới
Trên phương diện giới, K.Marx và F.Engels đã phân chia xã hội theo
hai hình thức tiến hoá. Đó là:
- Xã hội mẫu quyền (tương ứng với thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ).
- Xã hội phụ quyền (tương ứng với thời kỳ xã hội có gia đình, giai cấp
và Nhà nước).
Tuy nhiên, do trình độ phát triển của xã hội nguyên thuỷ còn quá thấp
và do tính tự phát của tập quán theo mẹ nên thời kỳ này chỉ có thể gọi là mẫu
hệ. Sự chuyển đổi từ mẫu hệ sang phụ quyền được coi như là một quy luật
tất yếu của lịch sử.
Nhận xét về thời kỳ này, Engels đã viết “Sự thay thế mẫu quyền bằng
phụ quyền là một cuộc cách mạng triệt để nhất và cũng dễ dàng nhất mà loài
người đã trải qua. Cuộc cách mạng này đánh dấu bằng sự thất bại lịch sử có
tính chất toàn cầu của giới phụ nữ” (Engels, 1980).
Từ khi xã hội có giai cấp, phân công lao động giữa nam và nữ không
còn là phân công tự nhiên mà mang tính xã hội và giai cấp. Chẳng hạn, phụ
nữ được giao trọng trách lo việc trong nhà nhưng không phải với tư cách chủ
đạo mà với tư cách phụ thuộc (nội tướng), còn nam giới làm chủ gia đình về
chiến lược và tham gia vận hành, lãnh đạo xã hội. Trên quan điểm đó, kể cả
các công việc sản xuất của phụ nữ cũng không được coi là công việc của xã
hội. Công việc của nam giới được coi là quan trọng (việc lớn) còn công việc
của phụ nữ được coi là việc nhỏ, việc không quan trọng.
Engels đã nêu rằng, trong lĩnh vực các quan hệ sản xuất thì cơ sở của
sự chuyển biến đó là sự phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã
hội vốn là kết quả của sự phát triển kinh tế, nhưng trên vấn đề giới, nó lại phụ
thuộc vào giới tính. Việc nhốt phụ nữ vào trong nhà và không công nhận sự
đóng góp của họ với xã hội đã không chỉ làm phụ nữ vắng bóng trong lịch sử
mà còn mãi mãi đẩy họ vào địa vị phụ thuộc từ thế hệ này đến thế hệ khác.
Ngày nay, cả thế giới đang hướng tới hình thức tiến hoá mới phù hợp
với sự phát triển của lịch sử. Đó là xây dựng một xã hội bình đẳng giới. Vấn
đề được đặt ra là bằng mọi cách đưa phụ nữ và trẻ em vào dòng chảy của sự
phát triển. Hay nói một cách khác là không thể xây dựng một xã hội phát triển
và văn minh khi một nửa dân số thế giới là phụ nữ phải sống trong sự phụ
thuộc và đói nghèo. Nếu như trước đây K.Marx đã cho rằng, ngoài việc phân
chia xã hội theo các hình thái kinh tế - xã hội, còn có thể chia xã hội theo hai
giai đoạn là giai đoạn mẫu quyền và giai đoạn phụ quyền, thì ngày nay, dưới
góc độ xã hội học về giới, chúng ta còn có thể đưa ra giai đoạn tiếp nối với
hai giai đoạn trên, giai đoạn mà nhân loại đang phấn đấu để đạt tới, đó là giai
đoạn của sự bình đẳng giới. Cụ thể là:
- Xã hội mẫu quyền (tương ứng với thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ).
- Xã hội phụ quyền (tương ứng với thời kỳ xã hội có giai cấp và gia
đình).
- Xã hội bình đẳng giới (tương ứng với thời kỳ bình đẳng giữa các
nhóm xã hội).
4.2. Quan điểm về ba hình thức phân hoá xã hội lớn trong đó có
bất bình đẳng giới
4.2.1. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người luôn tồn tại sự bất
bình đẳng giữa các cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, điển hình là chủng tộc; giai
cấp; giới. Lịch sử của xã hội loài người cũng là lịch sử đấu tranh để xoá bỏ sự
bất bình đẳng này. Nhiều nhà tư tưởng đã có ý đồ giải phóng loài người: giải
phóng giai cấp theo tư tưởng của giai cấp công nhân (K.Marx); tạo ra sự giàu
có, giải phóng sức lao động (A dam Smith); giải phóng nhân loại ra khỏi sự
tiến hoá tự nhiên của sự sống (Darwin); giải phóng con người ra khỏi sự
thống trị của tiềm thức (Freud)…
Để nhận biết về sự bất bình đẳng, chúng ta có thể đưa ra các tiêu chí
phân loại. Đó là:
- Điều kiện sống và thu nhập.
- Địa vị và vai trò.
- Sự hưởng thụ vật chất, văn hoá, tinh thần.
- Giáo dục và tri thức.
- Thái độ và hành vi ứng xử (xã hội đối với cá nhân và cá nhân đối với
xã hội).
Bất bình đẳng chủng tộc và bất bình đẳng giới trên thực tế vẫn tồn tại
như là một dạng thức trong tất cả các xã hội trên, tuy nhiên mức độ có khác
nhau. Chẳng hạn, trong xã hội XHCN, những cố gắng của chính quyền và
nhân dân nhằm xoá bỏ các bất bình đẳng về giai cấp cũng có nghĩa là cố
gắng xoá bỏ bất bình đẳng về giới và chủng tộc.
Mối quan hệ giữa giới và giai cấp, giữa giới và chủng tộc là mối quan
hệ phức tạp và đan xen.
Ví dụ: Nguyên tắc của các xã hội là “nam tôn nữ ty”. Phụ nữ ở cùng giai
cấp, chủng tộc với nam giới là không bình đẳng nhưng nam giới ở giai cấp
thấp hoặc chủng tộc nghèo cũng không được bình đẳng với phụ nữ ở các giai
cấp hoặc chủng tộc giàu hơn.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến đã vẽ nên bức tranh về sự bất bình đẳng này
trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và nô dịch Việt Nam.
“Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân quan cử ngỏng đầu rồng”
Trong xã hội phong kiến, quan cử là nam giới, đại diện của trí tuệ và
giai cấp thượng đẳng của nước thua trận đã phải chịu cảnh nhục nhã trước
bà đầm là đại diện của nhóm yếu thế của nước cai trị. Hình ảnh đối nhau của
“đít vịt” và “đầu rồng” là những hình ảnh rất đắt. Nó không chỉ nêu ra sự xúc
phạm lòng tự tôn dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân mà còn khơi
dậy tính sĩ diện của đàn ông Việt Nam, vì trong con mắt của nhà nho thì phụ
nữ không thể ngang hàng được với nam giới.
Khác với hai dạng bất bình đẳng về chủng tộc và giai cấp là các dạng
bất bình đẳng chỉ xảy ra trong xã hội, giữa những người xa lạ với nhau, bất
bình đẳng giới đã không chỉ xảy ra trong xã hội mà còn xảy ra trong gia đình,
giữa những người có quan hệ đặc biệt hoặc ruột thịt với nhau. Các nhà nữ
quyền đã cho rằng, bất bình đẳng giới là dạng bất bình đẳng đầu tiên nhưng
được phát hiện và đề cập tới muộn nhất trong xã hội loài người. Bất bình
đẳng giới là sâu sắc nhất vì nó tồn tại trong cả xã hội và gia đình. Chính tình
yêu đã che mờ các dạng bất bình đẳng trong gia đình, nó khiến cho người ta
không dễ nhận ra và cũng không dễ giải quyết như các dạng bất bình đẳng
khác là dùng đấu tranh vũ trang hoặc hoà đàm.
Một người con gái, một người vợ, một người mẹ không thể chống lại
cha, chồng, con trai của mình để đòi lại sự công bằng. Tuy nhiên, để tiến tới
xã hội phát triển công bằng và văn minh, người ta không thể không giải quyết
bất bình đẳng giới. Chỉ có một con đường là nghiên cứu khoa học, bổ sung
hoặc thay đổi chính sách của Nhà nước, thay đổi nhận thức và hành vi của
con người để tiến tới bình đẳng giới. Mặc dù dùng biện pháp hoà bình nhưng
cuộc đấu tránh vì bình đẳng giới cũng đầy chông gai, gian khổ và không thể
tiến tới đích hoàn hảo trong một thời gian ngắn. Có nơi, có lúc, các chiến sĩ
đấu tranh cho bình đẳng giới đã phải hy sinh cả tính mạng, vì sự thay đổi mối
quan hệ giới là thay đổi cả một nếp nghĩ, nếp sống trong môi trường của văn
hoá phụ quyền, làm bớt đi quyền lực của nhiều cá nhân gia trưởng.
4.2.2. Các hệ tư tưởng lớn của loài người đều nảy sinh trong xã hội phụ
quyền khi mà sự phân biệt giới ngày càng sâu sắc và hoàn hảo. Có thể nêu
một số tư tưởng quen thuộc có đề cập đến giới trong thế giới hiện nay:
- Hệ tư tưởng Thiên chúa giáo.
- Hệ tư tưởng Hồi giáo.
- Hệ tư tưởng Nho giáo.
- Hệ tư tưởng Phật giáo.
Trong các hệ tư tưởng trên thì Nho giáo không có kinh kệ, tầng lớp sư
sãi hoặc giám mục để làm cầu nối giữa Đức Phật tổ hoặc Chúa Trời với con
người. Việc thờ cúng tổ tiên theo Nho giáo là những nghi thức biểu lộ lòng
biết ơn của con cháu đối với công lao to lớn của tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
Không Tử, người khai sinh ra Nho giáo đã nói rằng: đối với quỷ thần thì ông
“Kính nhi viễn chi”, có nghĩa là khi không nhìn rõ quỷ thần ở đâu, có hay
không, thì ông không tin nhưng cũng không dám mạo phạm. Nhưng quan hệ
cha con, vợ chồng, anh em là cái hiện hữu hằng ngày thì không thể không tôn
trọng, tuân thủ các nguyên tắc chuẩn mực. Nho giáo là một hệ tư tưởng lớn
của xã hội nhằm xây dựng xã hội thành một khuôn mẫu, trong đó đạo đức
của con người được đề cao và được coi là nền tảng của xã hội. Quan điểm
bất bình đẳng giới trong Nho giáo, do vậy, là hết sức nặng nề.
Thực tế lịch sử đã cho thấy, sự gắn bó giữa hệ tư tưởng phụ quyền với
tôn giáo càng làm bền chặt thêm sự thống trị của nam giới đối với phụ nữ trên
cả hai phương điện là nhân quyền và thần quyền, muốn thay đổi nó phải có
một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc.
II. SỰ HÌNH THÀNH KHOA HỌC NGHIÊN CỨU PHỤ NỮ, GIỚI VÀ XÃ HỘI
HỌC
1. Sự hình thành và phát triển của ngành Phụ nữ học (Women
Studies)
1.1. Phụ nữ học
Chúng ta đều biết, trong xã hội phụ quyền, với vị thế thống trị của nam
giới, mọi nghiên cứu đều trực tiếp hoặc gián tiếp hướng về một xã hội của
nam giới và thế giới do nam giới thống trị. Người phụ nữ trong những điều
kiện này, nếu được nhắc tới cũng chỉ với vai trò của những kẻ phụ thuộc. Đối
tượng phụ nữ có thể được phác hoạ với cái đẹp hình thể, họ có thể là những
bông hoa, cũng có thể được nhắc nhở với một vai trò lớn trong gia đình,
nhưng chưa bao giờ vị thế của họ được công nhận như một sự ngang bằng
với nam giới.
Phụ nữ học ra đời, dù muốn hay không cũng tồn tại như một khoa học
thực thụ. Nó được khơi nguồn không phải từ nội hàm khoa học mà từ chính
thực tiễn phong trào phụ nữ quốc tế. Chính phong trào phụ nữ đã không chỉ
tạo nguồn cảm hứng cho những nghiên cứu về phụ nữ mà còn tích tụ kiến
thức và kinh nghiệm, hình thành và phát triển môn Phụ nữ học. Ngược lại, sự
phát triển của Phụ nữ học lại định hướng về mục tiêu, lý luận và phương
pháp luận, phương pháp hoạt động thực tiễn cho phong trào phụ nữ.
Với sự xuất hiện của Phụ nữ học, việc nghiên cứu, xem xét đối tượng
phụ nữ với tư cách là một nửa nhân loại đã được đặt ra ở một bước phát triển
cơ bản. Phụ nữ học ra đời đã làm đảo lộn nhiều ngành khoa học xã hội và
nhân văn, cung cấp một cách nhìn mới về nửa nhân loại luôn được mệnh
danh là “phái đẹp” nhưng lại yếu thế, là “hoa”, là “quà tặng vô giá của thượng
đế “cho nhân loại nhưng lại bị dập vùi trong áp bức và khổ đau. Với Phụ nữ
học, phụ nữ được tiếp cận với tư cách đối tượng của khoa học, đã có cơ sở
khoa học và thực tiễn, lý luận và cách mạng để giải phóng mình trên phương
diện vị thế, vai trò và các quyền về bình đẳng giới.
1.2. Những điều kiện và tiền đề sự ra đời của Phụ nữ học
Cũng như tất cả các ngành khoa học khác, sự xuất hiện của Phụ nữ
học cũng gắn liền với nhiều yếu tố nhận thức và thực tiễn. Cụ thể là:
* Do nhu cầu của nhận thức - lý luận:
Trước khi xuất hiện của Phụ nữ học, nhận thức khoa học của nhân loại
về phụ nữ còn nhiều hạn chế. Vấn đề bất bình đẳng giới chưa nhận được sự
quan tâm tương xứng của tư duy khoa học, nhất là các khoa học về xã hội và
nhân văn. Là một trong ba hình thức bất bình đẳng lớn nhất của xã hội loài
người, xuất hiện từ hàng nghìn năm trước, nhưng so với những bất bình đẳng
về chủng tộc và giai cấp, thì bất bình đẳng về giới, mặc dù xuất hiện sớm
nhất nhưng lại được quan tâm và xử lý muộn nhất. Điều đáng lưu ý là hầu hết
các nhà tư tưởng lớn phát hiện ra những bất công về giới lại chính là nam
giới.
Với những lý do trên, Phụ nữ học ra đời là một nhu cầu khách quan của
xã hội nhằm làm thay đổi nhận thức của con người trên vấn đề phụ nữ một
cách cơ bản nhất, nói một cách cụ thể, sự thay đổi nói trên cần phải được
dựa trên những cơ sở lý luận - khoa học khách quan. Chính điều đó mới là cơ
sở vững chắc để xác lập một sự bình đẳng thật sự giữa hai giới nam và nữ.
Thêm nữa, chính sự xuất hiện của Phụ nữ học và các khoa học về giới đã
góp phần làm phong phú thêm hệ thống những kiến thức khoa học của nhân
loại.
* Do nhu cầu của phong trào phụ nữ quốc tế.
Thực tế cho thấy, phong trào phụ nữ, khi chưa có lý luận khoa học của
những nghiên cứu về giới và Phụ nữ học, mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực
nhưng đều diễn ra một cách tự phát, không có cơ sở lý luận, phương pháp
luận và phương pháp hành động nên kết quả còn hạn chế. Điều đó đã làm
nảy sinh những nhu cầu mới, khiến một bộ phận những nhà hoạt động trong
phong trào phụ nữ quan tâm nhiều hơn tới lý luận và khoa học.
Nhu cầu nhận thức lý luận và khoa học, lấy các quy luật khoa học
khách quan về bình đẳng giới làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn của phong
trào phụ nữ chính là cơ sở cho sự phát triển của các khoa học về phụ nữ
trong đó có Phụ nữ học XHH giới. Thực tế cho thấy, chính các khoa học này
đã tạo ra một hệ thống những kiến thức khoa học cơ bản để định hướng lý
luận và là kim chỉ nam cho phong trào phụ nữ quốc tế trong rất nhiều năm
qua.
Nhờ có sự soi đường của các khoa học về giới và phụ nữ mà phong
trào phụ nữ đã hoà nhập với các phong trào khác. Nó được sự ủng hộ mạnh
mẽ của nhân loại tiến bộ. Nó vừa hoà nhập được vào sự phát triển tiến bộ
của các khoa học xã hội và nhân văn lại vừa giữ được những nét đặc thù,
những sắc thái riêng về lý luận và phương pháp luận của mình. Nó vừa diễn
ra trong xã hội lại vừa diễn ra trong gia đình.
* Do những điều kiện của sự phát triển kinh tế-xã hội:
Sự phát triển của ngành Phụ nữ học cũng gắn liền với những điều kiện
kinh tế - xã hội của CNTB thế kỷ XVII. Chúng ta đều biết, vào thời điểm này,
với nhu cầu về nhân lực lao động to lớn của giai đoạn phát triển tiền tư bản
và công nghiệp hoá, các nhà tư bản đã tuyển dụng phụ nữ và trẻ em với tư
cách là lực lượng lao động rẻ mạt cho guồng máy của mình. Điều đó trên
thực tế cũng có nghĩa là đưa phụ nữ từ gia đình ra xã hội trên quy mô rộng.
Lao động nữ được thừa nhận. Phụ nữ có thu nhập độc lập điều kiện sống,
học tập thay đổi, trình độ được nâng cao. Chính nhu cầu phát triển của lao
động nữ, đưa phụ nữ từ gia đình vào xã hội đã làm thức tỉnh phụ nữ. Việc
phụ nữ tham gia vào hệ thống sản xuất xã hội cũng khiến họ ý thức rõ hơn
được vị thế, vai trò của mình, và từ đó, trong môi trường xã hội mới mẻ, nhu
cầu về bình đẳng giới cũng xuất hiện từ trong chính nhận thức của họ.
* Do những điều kiện của sự phát triển văn hoá -xã hội:
Sự phát triển văn hoá, xã hội đa dạng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề
mới có liên quan đến phụ nữ và giới. Những biến đổi trong nhận thức văn
hoá, sự khủng hoảng của các mối quan hệ xã hội, sự thay đổi các chuẩn mực
và giá trị sống… khiến cho nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và phân tích
dưới một góc độ khoa học mới. Văn hoá - xã hội phát triển ngày càng đa
dạng, phong phú, đặc biệt là văn hoá công nghiệp thay thế cho văn hoá nông
nghiệp. Lối sống và nhiều phong tục cũ không phù hợp với xã hội công
nghiệp, đặc biệt là những phong tục cấm, cản trở phụ nữ trong sản xuất và
sinh hoạt. Điều này đã dẫn đến những nhu cầu phải tiếp cận vấn đề phụ nữ
theo một hướng tư duy mới, phù hợp với sự vận động và phát triển của văn
hoá.
2. Các mục tiêu của Phụ nữ học
Phụ nữ học và các chuyên ngành nghiên cứu về giới ra đời nhằm mục
tiêu đáp ứng những vấn đề lý luận và thực tiễn sau đây:
2.1. Nghiên cứu để tìm ra nguồn gốc của những sự bất bình đẳng giữa
nam và nữ. Giải thích được một cách khoa học đâu là nguyên nhân của sự
bất bình đẳng này. Mặt khác, với một hệ thống những kiến thức về lý luận,
phương pháp luận mới, Phụ nữ học có thể phác hoạ được một bức tranh xác
thực về thực trạng vấn đề giới trong xã hội và hậu quả của nó. Trên cơ sở
những nghiên cứu trên, phong trào phụ nữ có thể đề ra được các giải pháp
nhằm hướng tới việc giải quyết những bất bình đẳng về giới trong xã hội từ
sự thay đổi luật pháp và nhận thức của xã hội.
2.2. Sự ra đời của môn Phụ nữ học cũng hướng tới mục tiêu phát triển
một cơ sở nhận thức mới về vấn đề phụ nữ, xây dựng hệ thống lý luận,
phương pháp luận và phương pháp thích hợp cho công tác nghiên cứu về
phụ nữ từ quan điểm và góc nhìn của phụ nữ (nhấn mạnh đến vai trò của đội
ngũ các nhà khoa học nữ).
2.3. Sự ra đời của Phụ nữ học cũng hướng tới mục tiêu thực tiễn là
định hướng về tư duy và lý luận cho các hoạt động của phong trào phụ nữ, hỗ
trợ các phương thức hoạt động, xây dựng mô hình, nâng cao năng lực cho
cán bộ phụ nữ trong cuộc đấu tranh vì sự bình đẳng; lấp những lỗ hổng kiến
thức về người phụ nữ trong các lĩnh vực khác nhau, làm thay đổi nhận thức
của cả nam và nữ trên vấn đề phụ nữ trong thực tiễn.
2.4. Phụ nữ học cũng là một vũ khí tư tưởng trong cuộc đấu tranh
chống lại những quan điểm bảo thủ, quan điểm nam quyền. Nó cung cấp
những kiến thức khoa học và thực tiễn cho cuộc đấu tranh này, vạch ra
những nhược điểm, sai lầm về mặt khoa học của những công trình nghiên
cứu trước đây vốn chịu ảnh hưởng của chế độ phụ quyền đã hạ thấp năng
lực của phụ nữ, ngăn cản họ phát triển tài năng. Những kiến thức khoa học
và thực tiễn của Phụ nữ học cũng là nhân tố khách quan để ngăn chặn việc
sử dụng một cách cố tình hoặc vô tình các công trình nghiên cứu như là một
công cụ để tăng cường áp bức phụ nữ.
2.5. Sự phát triển của những nghiên cứu khoa học dưới góc độ Phụ nữ
học và các chuyên ngành về giới không chỉ góp phần làm thay đổi nhận thức
của con người trên vấn đề phụ nữ mà còn là cơ sở khoa học để tập hợp,
đoàn kết phong trào phụ nữ thành một mặt trận rộng lớn, thống nhất. Chính
những kiến thức khoa học có tính thuyết phục, có cơ sở thực tiễn là lời kêu
gọi mạnh mẽ, cuốn hút các cuộc đấu tranh nhỏ lẻ, tự phát thành một phong
trào rộng lớn, có định hướng chính trị và xã hội rõ ràng. Điều này, đúng như
nhận định của nhiều nhà nghiên cứu Phụ nữ học, đã khiến cho ngành này trở
thành đôi mắt, con tim, khối óc của chính phong trào phụ nữ, tạo điều kiện để
phong trào phụ nữ trở thành một phong trào mang tính toàn cầu.
3. Phạm vi của Phụ nữ học
Phạm vi nghiên cứu của Phụ nữ học là khá rộng lớn. Có thể nói, nơi
nào có bóng dáng những hoạt động lao động, sinh hoạt của người phụ nữ,
nơi ấy đều cần tới sự nghiên cứu của Phụ nữ học. Đối tượng và phạm vi
quan tâm của Phụ nữ học cũng rộng lớn như đời sống thực tiễn của người
phụ nữ vậy. Tuy nhiên, có thể tổng hợp lại những phạm vi nghiên cứu chủ
chốt của Phụ nữ học như sau:
3.1. Nghiên cứu phụ nữ và phong trào phụ nữ ở phạm vi tổng quát, lý
thuyết, tức là nghiên cứu những vấn đề phụ nữ ở tầm vĩ mô. Ở đây, nhà
nghiên cứu cần phải quan tâm đến những vấn đề chung, có tính lý luận, đưa
ra và giải quyết vấn đề bất bình đẳng nam - nữ ở tầm vĩ mô, có liên quan đến
những vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá cơ bản của xã hội.
3.2. Nghiên cứu những vấn đề phụ nữ trong các mối quan hệ xã hội,
những vấn đề bình đẳng và bất bình đẳng nam - nữ liên quan đến vị thế, vai
trò của người phụ nữ trong những lĩnh vực hoạt động cụ thể của họ như trong
lao động, sản xuất, học tập, sinh hoạt, trong sáng tạo và cảm thụ văn hoá,
trong môi trường gia đình và cộng đồng.
3.3. Nghiên cứu phụ nữ với vai trò độc lập, coi phụ nữ là chủ thể của
nghiên cứu. Những vấn đề có liên quan trực tiếp đến phụ nữ như những đặc
trưng về thể chất, tâm lý, sinh lý. Điều này xuất phát từ những quan điểm cho
rằng, phụ nữ chỉ có thể tự giải phóng cho mình khi hiểu rõ về chính bản thân
mình, phát huy được sức mạnh và khắc phục được những hạn chế của chính
mình.
3.4. Nghiên cứu phụ nữ theo chiều lịch đại và đương đại, tìm hiểu về
lịch sử những hoạt động của phụ nữ và phong trào phụ nữ, đúc rút những
kinh nghiệm trong hoạt động và đấu tranh vì sự bình đẳng giữa nam và nữ.
Ngay trong quá trình nghiên cứu, hoạt động vì phụ nữ và giới cũng được chia
thành hai giai đoạn như thời kỳ đầu được gọi là phụ nữ trong phát triển
(Women in Development - WID), thời kỳ sau được gọi là giới và phát triển
(Gender and Development - GAD).
3.5. Những nghiên cứu về chính Phụ nữ học, lấy các nghiên cứu về
phụ nữ học làm đối tượng nghiên cứu. Ý tưởng này xuất phát từ quan điểm
cho rằng, một ngành khoa học chỉ có thể phát triển khi nó ngày càng phải
hoàn thiện bản thân mình. Sự hoàn thiện này bao gồm hoàn thiện hệ thống lý
luận và phương pháp luận, hoàn thiện hệ thống các khái niệm và phạm trù
như là một bộ công cụ tư duy, hoàn thiện các phương pháp nghiên cứu đặc
thù. Nói tóm lại, Phụ nữ học phải nghiên cứu chính mình cũng là để phát triển
và hoàn thiện chính mình. Trong bối cảnh này, Phụ nữ học cũng nghiên cứu
cả những mối quan hệ giữa mình với các khoa học khác, đặc biệt là các khoa
học xã hội và nhân văn như XHH, Triết học, Chính trị học, Tâm lý học, Kinh tế
học, Luật học, Sử học, Dân tộc học, Nghiên cứu văn hoá, Văn học, Sinh học,
Nhân chủng học, Y học, Môi trường học, Thống kê, Phát triển học… Chính sự
tham gia của Phụ nữ học vào các hướng tiếp cận chuyên biệt của các khoa
học trên không chỉ làm phong phú cho các khoa học đó mà còn bổ sung và
làm thay đổi các quan điểm nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới của các
ngành khoa học này.
4. Từ Phụ nữ học đến nghiên cứu giới (Gender Studies)
Sự xuất hiện của những nghiên cứu về giới (Gender Studies) là một
bước phát triển tiếp theo mang tính tích cực và sáng tạo của những nghiên
cứu về Phụ nữ học. Nếu Phụ nữ học hướng nhiều vào đối tượng phụ nữ, lấy
đó làm trung tâm cho mọi nghiên cứu, kêu gọi một sự giải phóng cho phụ nữ
mạnh mẽ và triệt để, thì nghiên cứu giới hướng vào việc nghiên cứu cả nam
và nữ, hướng nhiều tới sự bình đẳng cho cả nam và nữ. So sánh giữa nghiên
cứu về giới với Phụ nữ học, chúng ta có thể thấy như sau:
4.1. Giới đặt vấn đề nghiên cứu mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ
trong phát triển (Gender and Development - GAD), nghĩa là nghiên cứu phụ
nữ trong mối tương quan với nam giới. Cách đặt vấn đề như vậy toàn diện và
khoa học hơn cách đặt vấn đề trước đây của Phụ nữ học. Chính nhờ cách đặt
vấn đề như vậy mà nghiên cứu giới nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà
khoa học trên thế giới, đặc biệt là các nhà khoa học là nam giới.
4.2. Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu đặc thù được kế thừa
từ nghiên cứu phụ nữ học, nghiên cứu giới cũng phát triển những hướng tiếp
cận đặc thù của mình, đặc biệt là một khung lý thuyết cơ bản để quy chiếu
những vấn đề thực tiễn. Nghiên cứu giới sử dụng phương pháp liên ngành
như Sử học, Tâm lý học, Xã hội học, Kinh tế học, Sinh vật học… Trong đó,
phổ biến nhất là Xã hội học và Công tác xã hội. Trên cơ sở những phương
pháp tiếp cận liên ngành như trên, nghiên cứu giới đang hướng tới việc hoàn
thiện những phương pháp nghiên cứu đặc thù gắn liền với phương pháp
nghiên cứu tham dự, phương pháp tiếp cận cá nhân và cộng đồng, xây dựng
và hoàn thiện bộ thang đo các chỉ số và chỉ báo về bình đẳng giới.
4.3. Sự hình thành môn Xã hội học giới
Xã hội học giới là nơi là nơi tiếp giao giữa nghiên cứu XHH với nghiên
cứu giới. Ở một khía cạnh nào đó, nghiên cứu XHH giới có thể được coi là sự
cộng sinh giữa việc nghiên cứu giới với sự tiếp cận những tư duy của XHH,
hoặc là nghiên cứu XHH trên đối tượng giới. Do vậy, XHH giới vừa mang đầy
đủ những đặc trưng cơ bản và sắc thái riêng biệt của một nghiên cứu XHH,
vừa mang tính chất đặc thù của những nghiên cứu giới. Điều đó mang đến
cho XHH giới không chỉ những nét riêng mà còn cả sức mạnh nghiên cứu của
cả hai chuyên ngành này.
Nghiên cứu XHH giới đem lại cho nghiên cứu giới đôi chân khoẻ khoắn,
luôn bám chắc vào thực liễn của XHH, với những phương pháp nghiên cứu
và tiếp cận đặc thù, có khả năng phản ánh chính xác thực tiễn. XHH giới,
trong khi đặt vị trí và vai trò của vấn đề giới trong bối cảnh của tổng thể các
mối quan hệ xã hội, có thể chỉ ra được những tác nhân và hệ quả của hoạt
động xã hội chung tới khía cạnh giới, giúp cho các nghiên cứu về giới có
được cái nhìn tổng thể, xây dựng được các giải pháp tạo dựng cơ sở xã hội
cho vấn đề bình đẳng giới. Nói cách khác, XHH giới giúp cho những nghiên
cứu giới vượt khỏi chính mình để bước vào các quan hệ xã hội phức tạp, đi
tìm các giải pháp về bình đẳng giới không chỉ ở phạm vi nội hàm của vấn đề
giới mà còn - căn bản hơn - ở chính xã hội. Nghiên cứu giới với cách tiếp cận
và phương pháp liên ngành sẽ đưa đến một bức tranh toàn cảnh từ lịch sử
đến hiện đại, từ nhiều dân tộc với lối sống đa dạng phong phú, từ tâm, sinh lý
của nam và nữ… sẽ là nền tảng, là cơ sở khoa học cho XHH giới. Từ đó,
hướng tiếp cận vấn đề bình đẳng giới được đặt ra một cách khoa học, toàn
diện và cơ bản hơn.
Mối quan hệ tương tác giữa nghiên cứu XHH giới với nghiên cứu giới
và nghiên cứu phụ nữ (Phụ nữ học) là mối quan hệ biện chứng, bổ sung và
hỗ trợ cho nhau. Nó phản ánh sự lớn mạnh của những quan điểm bình đẳng
giới trong xã hội hiện đại, tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho cuộc đấu tranh
của nhân loại cho một xã hội ngày càng văn minh và tiến bộ hơn.
BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU
Quan điểm của những người không nghiên cứu XHH giới
“Phụ nữ Việt Nam đáng tự hào muôn thuở”
Về mặt xã hội, sự bình đẳng giữa nam và nữ ở nước ta, từ xưa tới nay
hầu như không có vấn đề. Chỉ có một sự phân công rành rẽ theo truyền thống
ngàn đời: chồng trấn phương ngoài, vợ trấn phương trong (nội tướng). Ai có
trách nhiệm nấy, có gánh nặng nấy, đều vinh quang như nhau. Đôi lúc san sẻ
cho nhau, “tháng năm gánh bán nuôi chồng đi thi” (Ca dao).
… Vì tất cả những đức tính cao quý và vị trí, vai trò cao cả của phụ nữ
trong gia đình và xã hội, mà ngày hôm nay hơn bao giờ hết, phụ nữ cần nhớ
lại, để đáp ứng nhiệm vụ không ai thay thế được, mà gia đình và xã hội mong
đợi nơi mình, đó là: Phụ nữ chúng ta đảm đang, trung hậu như Bác Hồ đã
long trọng xác nhận. Tuy lúc trước khó khăn, nay đã dễ thở, tinh thần, nội
dung, nhiệm vụ như Bác Hồ đã chỉ ra, vẫn không thay đổi và không cần thêm
nữa. Phụ nữ là trụ cột giáo dục thường xuyên trong gia đình. Bởi phụ nữ tinh
tế, không biểu hiện nào khác lạ nơi chồng con, hoặc trong quan hệ gia đình
mà thoát được mắt thấy, tai nghe và óc phân tích của “mấy bà”. Vì vậy, công
việc nhắc nhở, uốn nắn, khuyên bảo, từ phủ dụ đến vỗ về, đến chế tài, phụ
nữ chúng ta có ưu điểm và lợi thế hơn. “Mưa dầm thấm lâu họ chẳng phải là
châm ngôn hằng ngày, chiến lược tấn công đáng sợ của các bà ư? Người
xưa có nói: “Con hư tại mẹ” không phải là vô căn cứ, vì ngoài lợi thế là người
nữ, người vợ, người mẹ còn có khuynh hường tự nhiên là mẹ dạy, con dễ
nghe hơn; vợ “dạy”, chồng dễ “vâng lời” hơn.
Giáo dục thường xuyên này cần được tăng cường hơn trong hoàn cảnh
hiện nay. Do tiếp xúc nhiều với xã hội hưởng thụ, dễ dãi, thiếu nguyên tắc
sống ở bên ngoài, người chồng đôi khi cũng nhiễm, thậm chí mang về nhà
“bụi trần” xã hội như: nhậu nhẹt, say xỉn, chơi bời, tham ô, hống hách, manh
mún. Để bảo vệ hạnh phúc, thanh danh, tương lai gia đình, con cái mình, phụ
nữ chúng ta không thể tránh né nhiệm vụ dẫn đưa chồng con trở về đường
ngay, nẻo chính một cách có bản lĩnh và cao kiến như không hiếm gương
hiền phụ xưa nay.
… Vì vậy phụ nữ phải sáng suốt, đem hết tài trí, đức độ, bản lĩnh, quyết
tâm xốc vào cuộc chiến không khoan nhượng đó, mà “phòng ngự xuyên suất,
thông minh, trướng kỳ đã là chiến thắng.
Hoan hô ngày phụ nữ Việt Nam đáng tự hào muôn thuở!
Theo Lâm Võ Hoàng (Báo “Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh ngày
20/10/1999).
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Em hiểu thế nào về mối liên hệ giữa bất bình đẳng chủng tộc, giai
cấp và giới?
2. Hãy phân tích quan điểm của bài đọc trên.
Bài 3. GIỚI TÍNH VÀ GIỚI (SEX AND GENDER)
I. GIỚI TÍNH (SEX)
1. Định nghĩa
Giới tính là một thuật ngữ khoa học bắt nguồn từ môn Sinh vật học
dùng để chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ. Đó là sự khác biệt phổ
thông và không thể thay đổi được (Mọi người đàn ông đều có những đặc
điểm chung về giới tính và mọi người phụ nữ đều có đặc điểm chung về giới
tính).
Ví dụ: Phụ nữ thấy kinh, sinh con và cho con bú, nam giới thì không
thể. Nam giới có thể sản xuất tinh trùng cần thiết cho quá trình thụ thai, phụ
nữ thì không thể.
Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính và đặc điểm này
tồn tại trong suốt cuộc đời (Tính bất biến).
Định nghĩa rút gọn: Giới tính là sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ.
Mỗi người đều mang một giới tính, nghĩa là khi sinh ra đã mang giới
tính là nam hay nữ. Những quy định này dựa trên một số tố chất đặc thù
khiến ta có thể phân biệt được giới tính của mỗi giới.
2. Sự khác biệt giới tính
Sự khác biệt giới tính thể hiện ở hai điểm:
- Sự khác biệt về giới tính được biểu hiện trước hết ở sự cấu tạo của
cơ thể và thể chất sinh lý của mỗi người. Nó được cấu tạo ngay từ khi con
người còn là bào thai, do di truyền tự nhiên và tồn tại vĩnh viễn trong cuộc đời
(trừ những người thay đổi giới tính thông qua phẫu thuật).
- Sự khác biệt giới tính cũng được biểu hiện qua chức năng sinh sản
của mỗi loại người (Xem định nghĩa).
3. Hình thức và nội dung của sự khác biệt giới tính
Chúng ta có thể phân biệt giới tính của nam và nữ về mặt sinh học
thông qua một số khác biệt sau đây:
- Khác biệt ở bộ phận sinh dục:
+ Nam có tinh hoàn, tinh trùng.
+ Nữ có buồng trứng, dạ con.
- Hệ thống hoocmôn:
+ Hình dáng cơ thể khác nhau, giọng nói khác nhau. Ví dụ: Nam thì
vạm vỡ, xương to, vai rộng, ngực phẳng có yết hầu, có râu, giọng trầm; nữ thì
dáng mềm mại, xương nhỏ, vai hẹp, ngực cao hông rộng, giọng cao.
+ Có thể nhận biết nam hoặc nữ qua quan sát.
- Hệ thống gien: Nữ: XX, Nam: XY.
Có thể nhận biết qua kiểm tra y tế.
4. Những trường hợp đặc biệt của giới tính
Người lưỡng tính (ái nam, ái nữ): Lưỡng tính là sự kết hợp của 2 giới
tính, thực chất là sự biến dạng hoặc bệnh tật ở bộ phận sinh dục. Thuật ngữ
“berdache” (người bị biến dạng vai giới) được sử dụng như là một danh từ và
không định nghĩa về nữ tính hay nam tính của một người. Điều này được các
nhà khoa học nghiên cứu như là một phạm trù riêng biệt. Hoàn toàn không có
giới tính thứ ba mặc dù những người này đôi khi bị coi là nằm ngoài cấu trúc
nam giới/nữ giới.
Một số người bị biến dạng vai giới đã thực hiện hoàn toàn vai trò của
giới mới bao gồm cả việc ăn, mặc, nói năng, ứng xử, thậm chí lập gia đình với
những người trước đây là đồng giới nay là khác giới với anh ta hoặc cô ta.
4.1. Vấn đề chuyển đổi giới tính
Chuyển đổi giới tính là phương pháp khoa học thịnh hành ở những thập
kỷ cuối thế kỷ XX để giúp những người có nhu cầu muốn trở thành nam hoặc
nữ. Trước khi phẫu thuật để chuyển giới tính, người đàn ông (hoặc đàn bà)
đã có nhiều yếu tố của giới tính kia. Ví dụ: Phụ nữ có ria, ngực lép, thích hoạt
động như đàn ông, yêu phụ nữ như người tình; đàn ông có thể chất mềm
mại, yếu đuối, ưa thích những công việc của phụ nữ như may vá, thêu thùa,
ưa phấn son, trang điểm, yêu đàn ông như người tình.
Ngày nay, một số nhà khoa học đã chứng minh rằng, mỗi con người
đều có hai phần âm và dương trong cơ thể; cả hai đã bổ sung cho nhau. Ví
dụ: âm là kiên nhẫn chịu đựng, tỉ mỉ, nhẹ nhàng, cụ thể. Dương là mạnh mẽ,
năng động, khái quát, tổng hợp.
4.2. Vấn đề đồng dục cùng giới
Hiện tượng đồng tính luyến ái nam (Gay) và đồng tính luyến ái nữ
(Lesbian) phát triển cao trong những năm cuối thế kỷ XX đến nay. Nó vừa
mang tính sinh học, vừa mang tính xã hội nhưng theo nhiều nhà khoa học thì
nó mang tính xã hội nhiều hơn sinh học. Cũng có nhiều nhà khoa học cho
rằng, những người đồng dục cùng giới thực chất là những người bị biến dạng
vai giới (Berdache).
Trong phong trào nữ quyền đã có những người phụ nữ chủ trương
đồng tính luyến ái nữ (Lesbian) vì cho rằng đây là một hình thức đấu tranh
chống lại sự thống trị tình dục của nam giới. Họ muốn chứng tỏ cho nam giới
biết rằng, không cần nam giới phụ nữ cũng có những khoái cảm tình dục và
tình cảm yêu đương. Điều này đã khiến cho vấn đề đồng dục cùng giới mang
tính xã hội, thậm chí mang màu sắc chính trị.
Nền tảng sinh học của giới:
Giới tính là nền tảng tự nhiên của quá trình tái sinh ra muôn loài, trong
đó có con người và xã hội. Sự tái sinh dựa vào hai cách:
Cách thứ nhất: Một số động vật và thực vật sinh sản qua quá trình phân
đôi tế bào. Một phần của cơ thể tách ra khỏi tế bào gốc, tạo thành một cá thể
mới. Đó là sự tái sinh sản vô tính. Vật chất di truyền của cá thể mới giống y
vật chất của sinh vật ban đầu.
Cách thứ hai: Loại này xảy ra khi cá thể mới được tạo nên từ vật chất di
truyền của hai cá thể đực - cái riêng biệt (hai cặp gen hay gọi là tế bào trứng
và tế bào tinh trùng kết hợp với nhau). Theo thuật ngữ sinh học, những cá thể
sản xuất tinh trùng được xếp vào loại giống đực, cá thể sản xuất trứng được
xếp là giống cái. Đồng thời phải có sự cung cấp dưỡng chất cho cơ thể mới
để nó trở thành bào thai. Quá trình này mang tính ưu việt bởi vì nó mang tới
sự thay đổi và tiến hoá cho nòi giống.
Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên của tạo hoá là trong quá trình sinh sản
này, những cá thể mới lại mang tinh trùng hoặc mang trứng mà không mang
cả hai. Sự chọn lọc đòi hỏi cơ thể mang tinh trùng có thể tự phân biệt với cơ
thể mang trứng và cũng có một số trường hợp lưỡng tính. Giống đực và
giống cái phải phân biệt với nhau vì mục đích sinh sản nhưng ở con người,
không phải tất cả mọi người đều có thể sinh sản. Ngày nay, bên cạnh sự can
thiệp của những công nghệ mới như thụ tinh nhân tạo và cấy ghép phôi thai,
người ta có thể thay đổi phương pháp sinh sản của con người. Khả năng
nhân bản vô tính người vẫn đang được để ngỏ và tạo ra những cuộc tranh
luận bất tận về ý nghĩa khoa học cũng như đạo lý của nó.
Hiện nay, những nghiên cứu sinh học về giới thường đi trước so với
nền tảng xã hội. Ở con người, mã gen cơ bản có trên 23 cặp nhiễm sắc thể.
Mỗi tế bào trong cơ thể con người chứa 46 nhiễm sắc thể ngoại trừ những tế
bào sinh sản. Cặp nhiễm sắc thể thứ 23 được biết như là một cặp nhiễm sắc
thể giới tính vì chúng quy định giới tính của cơ thể. Thông thường, nhiễm sắc
thể thứ 23 của tế bào trứng khá lớn và hình dáng giống chữ X, nhiễm sắc thể
thứ 23 của tế bào tinh trùng nhỏ hơn và giống hình dạng chữ Y. Khi một tế
bào tinh trùng mang nhiễm sắc thể X lọt vào một tế bào trứng sẽ phát triển
thành bào thai nữ; tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y lọt vào tế bào trứng sẽ
phát triển thành bào thai nam. Hiện nay, không có đủ bằng chứng để cho rằng
nhiễm sắc thể giới tính ảnh hưởng đến vai trò giới. Những hành vi khác nhau
dựa trên sự phát triển của cơ thể là quy luật tự nhiên chứ không phải thuộc về
di truyền.
Trong xã hội đương đại, mặc dù khoa học đã có nhiều bước phát triển
tiến bộ, nhưng có thể nói còn rất nhiều điều, chúng ta vẫn chưa thể biết hết
được xung quanh người phụ nữ hay đàn ông - đối tượng thật gần gũi và cũng
thật xa lạ với chúng ta. Có lẽ điều đó cũng là một trong những nguyên nhân
đã khiến cho tri thức và khoa học luôn tạo ra những chủ đề hấp dẫn muôn
thuở chăng?
II. GIỚI (GENDER)
1. Định nghĩa
Giới là một thuật ngữ XHH bắt nguồn từ môn Nhân loại học nghiên cứu
về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao
gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích. Giới
đề cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế
cá nhân. Vai trò giới được xác định theo văn hoá, không theo khía cạnh sinh
vật học và có thể thay đổi theo thời gian, theo xã hội và các vùng địa lý khác
nhau. Khi mới sinh ra, chúng ta không có sẵn đặc tính giới. Những đặc tính
giới mà chúng ta có được là do chúng ta học được từ gia đình, xã hội và nền
văn hoá của chúng ta (Tính thay đổi).
Có thể định nghĩa ngắn gọn: Giới là quan hệ xã hội giữa nam và nữ và
cách thức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội.
Giới không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ nữ với tư cách cá nhân
mà nói tới quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ (tính tập thể). Quan hệ
này thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội.
Những yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi quan hệ giới trong xã hội tuỳ
thuộc vào sự vận động và phát triển của chính các quan hệ xã hội. Cụ thể là
các quan hệ có liên quan tới vấn đề dân tộc, giai cấp, chính trị, tôn giáo, lịch
sử, văn hoá, phong tục, tập quán.
2. Các biểu hiện của giới
Giới biểu hiện bởi tính lịch sử và tính xã hội. Vấn đề giới hiện diện một
cách khách quan trong xã hội và vận động, biến đổi cùng với sự vận động,
biến đổi của lịch sử. Sự hiện diện của giới trong cuộc sống cũng đa dạng và
phức tạp như chính sự đa dạng và phức tạp của cuộc sống con người. Tuy
nhiên, chúng ta có thể nhận diện được giới ở một số mặt sau:
2.1. Biểu hiện bằng tính cách và phẩm chất
Ví dụ:
- Nam tính: Gia trưởng, mạnh mẽ, quyết đoán, dũng cảm, nóng nảy.
- Nữ tính: dịu dàng, vị tha, nhẫn nại, cần cù, khiêm nhường.
Giải thích:
Tính cách và phẩm chất của nam và nữ là do xã hội thừa nhận hay cảm
nghĩ.
Các phẩm chất, tính cách này được hình thành do quá trình giáo dục
của gia đình và những tác động khách quan của thực tế xã hội (xã hội hoá
Socialization).
Ở độ tuổi lên 3, trẻ em đã có thể mô tả chính xác giới tính của chúng.
Chúng đã biết mình là con gái hoặc con trai. Chúng học được điều này từ việc
nghe người khác gán cho chung và có thể dán nhãn chính xác cho người
khác nhưng chúng chưa biết các điều thuộc về giới tính như tính bất biến, mỗi
người thuộc một giới tính, chức năng tình dục và chức năng sinh sản của mỗi
giới tính…
Cùng với sự xác định được giới tính, trẻ em cũng bắt đầu quá trình tiếp
nhận các giáo dục về giới từ cha mẹ, gia đình, bạn bè, trường học… Con trai
bắt đầu nhận biết mình giống với cha, rằng họ là đàn ông. Tương tự như con
gái với mẹ. Quá trình xã hội hoá diễn ra từ từ với các tiến bộ vững chắc, và
như vậy đã hình thành tính cách và phẩm chất giới theo khuôn mẫu định sẵn
của nền văn hoá. Chúng bắt đầu chọn đồ chơi là súng khi hiểu mình là nam
giới và chọn búp bê nếu biết mình là nữ giới. Sự chọn lựa này không chỉ là
giới tính mà còn là giới, dưới tác động của môi trường xã hội.
2.2. Biểu hiện bằng tư tưởng
Sự phát triển cao hơn trong nhận thức về giới được biểu hiện trên các
quan điểm, tư tưởng và trở thành các chuẩn mực và giá trị xã hội: Chẳng hạn
như trong xã hội mẫu hệ, do vị trí vai trò khách quan của mình, người phụ nữ
được đề cao. Tất nhiên điều này là hoàn toàn theo khía cạnh bản năng. Trong
xã hội phụ quyền, tư tưởng thống trị trong xã hội là tư tưởng đề cao nam giới
(hệ tư tưởng Nho giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo) và đi cùng với
nó là những chuẩn mực và giá trị văn hoá nghiêng về lợi ích của người đàn
ông.
- Thiên chúa giáo: Theo Kinh Thánh, thuỷ tổ của loài người được tạo ra
bởi sự tích: Chúa trời tạo ra A đam (nam giới) nhưng sợ ông buồn nên đã rút
cái xương sườn của ông để tạo ra bà E va (phụ nữ) để xây dựng cuộc sống
dưới mặt đất. Phụ nữ không thể đạt được các chức sắc cao trong nhà thờ
như Hồng Y giáo chủ, Giám mục…
- Hồi giáo: Kinh Co ran khẳng định địa vị vượt trội của đàn ông và chấp
nhận đa thê. Từ bao đời nay, phụ nữ được nuôi dạy để phục tùng người cha,
người chồng, thậm chí cả anh, em trai và anh, em rể. Họ phụ thuộc vào nam
giới và bị xử theo các luật lệ hà khắc. Phụ nữ phải che mặt và không được
tham gia các công việc xã hội, không được tự do yêu đương phải giữ gìn trinh
tiết…
- Phật giáo ở Nhật Bản: Kinh Phật đầu thế kỷ XX quy định ai muốn tu
thành Phật thì trước hết phải trở thành đàn ông.
- Phụ nữ Việt Nam: Mặc dù Việt Nam có Phật bà (Quan âm Thị Kính),
có sư cụ nữ nhưng phụ nữ không thể có chức sắc cao trong hệ thống Phật
giáo như hoà thượng, đại đức…
Những phân biệt giới diễn ra trong mọi lĩnh vực của xã hội và trở thành
những chuẩn mực và giá trị văn hoá, thâm nhập vào từng mối quan hệ xã hội
và phong tục tập quán. Ví dụ: Tại Thế vận hội của những người Hy Lạp cổ
đại, phụ nữ không được tham gia vào các nội dung thi đấu. Để tránh điều này,
Ban tổ chức yêu cầu tất cả các vận động viên không được mặc quần áo khi
thi đấu. Ở Việt Nam, “Ra ngõ gặp gái” là câu nói thông dụng của quan điểm
nam quyền đã len lỏi vào cả tập tục xã hội. Nhiều người thích sinh con trai
hơn con gái và con trai thường được ưu đãi trong gia đình và xã hội.
2.3. Biểu hiện bằng phân công lao động
Mô hình phân công lao động theo truyền thống “Nam ngoại, nữ nội” là
nam giới lo việc ngoài xã hội, còn phụ nữ lo việc gia đình.
Có hai hình thức phân công lao động:
- Phân công lao động về mặt kỹ thuật: Quá trình sản xuất được phân
chia thành nhiều nguyên công. Mỗi công đoạn do một hoặc một nhóm người
hoặc máy thực hiện. Các công đoạn này phối hợp với nhau để hoàn thiện quá
trình sản xuất.
- Phân công lao động về mặt xã hội: Đây là lĩnh vực có liên quan trực
tiếp đến giới. Trong xã hội tồn tại hai loại công việc: Công việc đơn giản, nặng
nhọc, khó chịu, buồn tẻ, không đòi hỏi trình độ cao, bị khinh miệt, trả công
thấp; hoặc công việc nhẹ nhàng, dễ chịu, hấp dẫn, đòi hỏi trình độ cao, được
tôn trọng, nhiều quyền lợi, trả công cao.
Các công việc được phân công trong xã hội đã dựa trên các yếu tố về
chủng tộc, giai cấp…
Chủng tộc, giai cấp thống trị thì được nhận việc tết và ngược lại. (Như
các ông chủ có điều kiện làm việc tốt và hưởng lương cao hơn công nhân,
hay trường hợp công nhân ở các nước nghèo khi xuất khẩu lao động sang
các nước giàu để làm những việc mà người sở tại không muốn làm như dọn
vệ sinh, bốc vác, giúp việc gia đình…). Đây chính là sự phân công lao động
bất bình đẳng tạo ra giai cấp và là nguồn gốc của các cuộc đấu tranh giai cấp
và cách mạng xã hội. Chính đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội về bản
chất là hướng tới xoá bỏ sự phân công lao động bất bình đẳng này..
Thực tế lịch sử còn cho thấy, trong xã hội còn có sự phân công lao
động dựa trên giới lính và giới. Đây cũng là một sự phân công lao động bất
bình đẳng nhưng lại ít được chú ý trong lịch sử. Giống như sự phân chia
chủng tộc và giai cấp, sự phân biệt giới trong phân công lao động cũng rất
phổ biến và hà khắc không kém. Chẳng hạn, nam làm những công việc dễ
chịu, hấp dẫn đòi hỏi trình độ cao, nữ ngược lại. Nếu phân chia phân công lao
động thành hai loại hình cơ bản: sản xuất và tái sản xuất chúng ta có thể thấy:
Lao động sản xuất:
Bao gồm những việc làm ra hàng hoá, dịch vụ để trao đổi hoặc tiêu thụ.
Cả nam và nữ cùng tham gia song hình thức công việc và tiền công khác
nhau. Nam giới do có sức khoẻ, trí tuệ và rảnh rỗi việc nhà hơn phụ nữ nên
thường nhận được các công việc tốt hơn. Phụ nữ yếu hơn, phải mang thai,
sinh đẻ và chăm sóc con cái, gia đình nên thường phải nhận các công việc
nặng nhọc, đơn giản, tiền công thấp.
Lao động tái sản xuất:
- Tái sản xuất về sinh học: Trong khi nam giới sản xuất tinh trùng cho
quá trình thụ thai thì phụ nữ mang thai, sinh con, cho con bú bằng sữa mẹ.
Công việc của phụ nữ rất nặng nhọc và nguy hiểm và không được trả công
hoặc trả công thấp.
- Tái sản xuất ra sức lao động: Là tất cả những công việc hỗ trợ cho
người sản xuất cả khi họ đang làm việc và khi không làm việc, tạo điều kiện
cho họ nghỉ ngơi, bồi dưỡng để có thể tiếp tục làm việc ngày hôm sau tốt hơn.
Những việc này gồm nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, trông nom nhà cửa, chăm sóc
người ốm, người già, trẻ em. (Những nhân công lao động của quá khứ và
tương lai). Công việc này do phần lớn phụ nữ đảm trách và không được trả
công. Nhiều người đã tưởng lầm đây là công việc của riêng phụ nữ, là “thiên
chức” nhưng thực tế đây là một dạng “xã hội chức” mà xã hội phụ quyền đã
trao cho phụ nữ. Điều này có thể thay đổi trong một xã hội bình đẳng giới.
Chẳng hạn, nam giới có thể cho con bú bằng sữa bình và làm các việc khác.
Hiện nay, nhiều nam giới chủ yếu tham gia vào việc xây dựng, sửa chữa,
trang trí nhà cửa, những việc mà họ cho là “lớn” nhưng không thường xuyên
và tất nhiên có sự tham gia của cả phụ nữ. Nam giới được xác nhận là những
người có năng lực trong các công việc nấu bếp và nội trợ. Họ thường là các
“vua bếp” trong các khách sạn lớn hoặc là những người thợ thêu tài giỏi.
Dịch vụ gia đình đang trở thành nghề kiếm sống quan trọng trong nền
kinh tế thị trường. Chúng ta phải trả tiền cho người giúp việc gia đình hoặc trả
tiền công cao về nấu nướng tại các tiệm ăn. Tuy nhiên, nhiều người đàn ông
đã suốt đời ăn cơm vợ nấu, hưởng thụ các dịch vụ vợ làm, nhưng trong đầu
vẫn nghĩ rằng vợ là kẻ ăn bám khi cô ta không được ai trả công, tình trạng bất
công này kéo dài hàng thế kỷ và đang cần sự thay đổi cách nhìn của cả xã
hội.
Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ người nội trợ là cần thiết, bởi lẽ, đây
không chỉ là công việc gia đình mà còn là công việc xã hội. Lao động sản xuất
và tái sản xuất đã kết hợp chặt chẽ với nhau. Cả nam và nữ đều tham gia xen
kẽ trong thời gian một ngày nhưng thời gian lao động của phụ nữ thường kéo
dài hơn nam giới và vất vả cũng lớn hơn.
Tái sản xuất cơ cấu hoặc vai trò chính trị trong cộng đồng: Liên quan
đến việc truyền bá và duy trì tư tưởng chuẩn mực, cơ chế đảm bảo cho bất kỳ
một xã hội nào cũng luôn luôn tồn tại và phát triển. Công việc này chủ yếu là
nam giới tham gia được trả công cao thông qua quyền lực và uy tín xã hội.
Phụ nữ thường tham gia ở vai trò thừa hành và ít quyền ra quyết định.
- Sự phân công lao động bất bình đẳng giữa nam và nữ và quá trình xã
hội hoá mang định kiến giới đã đưa đến sự bất bình đẳng trong các vai trò
giới: nam giới mang tính xã hội cao còn phụ nữ mang tính gia đình cao. Nam
giới thường là người lãnh đạo còn phụ nữ là người thừa hành. Ví dụ: công
việc của phụ nữ thường quá tải và ảnh hưởng đến giao tiếp của họ. Việc ít
điều kiện giao tiếp đã gây hạn chế lớn cho phụ nữ trong công việc và thăng
tiến. Quá trình đào tạo liên tục của nam giới và đứt đoạn của phụ nữ do tái
sản xuất cũng là yếu tố quan trọng cản trở phụ nữ phát triển.
Công việc của nam giới thường được coi là chủ yếu, quan trọng còn
công việc của phụ nữ thường được coi là thứ yếu, không quan trọng.
Đặc tính cơ bản của mối quan hệ giới phụ thuộc vào cấu trúc của xã hội
và tư tưởng của giai cấp cầm quyền, nghĩa là nó có thể thay đổi theo từng
thời đại, theo từng nước, từng dân tộc và từng nền văn hoá khác nhau. Sự
phân công lao động đầu tiên đối với người phụ nữ xuất phát từ sự liên quan
đến cấu tạo cơ thể của họ từ việc phải mang thai, sinh con và cho con bú.
Người phụ nữ phải tiếp nhận các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, nuôi
dạy con cái, chăm sóc người già,… Những công việc đó ngày càng trói buộc
và tiêu phí thời gian của người phụ nữ khiến họ có rất ít cơ hội được nghỉ
ngơi, học tập và hưởng thụ văn hoá. Cho đến nay ở nhiều nước, công việc
này vẫn chỉ được xem như là việc riêng của gia đình và không được trả công.
BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU
Cuộc tranh luận về vai trò “kép” của phụ nữ trong xã hội Liên Xô, hai
phái tán thành và phản đối (1980 - 1990)
Từ nhiều năm nay đã diễn ra các cuộc tranh luận sôi nổi trên phạm vi
toàn cầu về vai trò “kép” của phụ nữ trong xã hội hiện đại (Một điều đáng chú
ý là người ta không bao giờ tranh luận về vai trò “kép” của đàn ông vì trong
quan niệm của xã hội phụ quyền thì đàn ông đương nhiên là có trọng trách
lớn ngoài xã hội và chỉ huy trong gia đình). Trước đây, nói đến phụ nữ là
người ta nghĩ ngay đến trách nhiệm trong gia đình của họ với tư cách là “nội
tướng”, còn ngày nay, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá
người ta đã thừa nhận một hiện thực là: số lượng phụ nữ tham gia gánh vác
các công việc xã hội ngày càng nhiều.
Cuộc tranh luận vì vậy đã xoay quanh hai luồng quan điểm chính: tán
thành hoặc phản đối việc phụ nữ cùng một lúc thực hiện hai vai trò trong gia
đình và xã hội. Phái phản đối cho rằng sự gia tăng của mức độ giải phóng
phụ nữ trên quy mô xã hội luôn luôn đi đôi với sự gia tăng tỷ lệ các gia đình
tan vỡ và số phụ nữ sống độc thân. Đưa phụ nữ ra ngoài xã hội sẽ làm biến
đổi nữ tính của họ và họ không thể thành công được vì ở cả hai nơi họ chỉ có
một nửa… Ngược lại, phái tán thành thừa nhận sự cần thiết và vị trí quan
trọng của phụ nữ trong xã hội. Chính phụ nữ đang tạo ra phong cách “quản lý
nữ uyển chuyển, mềm dẻo, nhẫn nại… rất thành công, rất đáng khâm phục.
Chỉ có đưa phụ nữ ra ngoài xã hội, tạo cho họ một cuộc sống độc lập, tự chủ
thì mới có thể giải phóng phụ nữ thực sự. Phụ nữ có cơ hội làm việc và tiếp
xúc với xã hội nhiều hơn thì họ mới có đủ kiến thức để dạy con tốt hơn, bởi lẽ
trong giai đoạn đầu, cuộc đời đứa trẻ thường chịu ảnh hường của mẹ nhiều
hơn trong việc hình thành nhân cách của mình.
Ý kiến phản đối:
Việc phụ nữ tham gia nhiều vào quá trình sản xuất đã hình thành
những ‘‘nhu cầu phức tạp” của họ như nhu cầu đạt thành tích, nắm quyền
hành như nam giới là không phù hợp với tâm sinh lý của họ. Nhiều phụ nữ
ngày nay thích được nam giới thán phục sự tài giỏi trong nghề nghiệp hơn là
khâm phục vẻ đẹp nữ tính. Phụ nữ không tìm thấy hạnh phúc trong lĩnh vực
sản xuất và cả trong gia đình vì cả ở hai nơi, phụ nữ chỉ làm một nửa. Tỷ lệ
phụ nữ tham gia sản xuất cao thì tỷ lệ li hôn và sống độc thân cao. Nam giới
hổ thẹn vì đã chuyển sang vai phụ nữ những công việc có hại cho sức khoẻ.
Gia đình là nơi phụ nữ có hạnh phúc. Bẩm sinh phụ nữ không phải là phá huỷ
toàn cầu mà là cứu tinh của loài người. Phụ nữ cần chỉ tiếp xúc với gia đình.
Hàng thế kỷ nay nam giới đã tạo ra thế giới tuyệt mỹ mà không cần phụ nữ.
Ý kiến tán thành:
Sống tự lập không phụ thuộc nam giới về kinh tế đã trở thành một
môtíp chung trong việc lựa chọn đường đời của phụ nữ. Phụ nữ ngày nay
phải đóng nhiều vai trò: người sản xuất, công dân, vợ, mẹ, nhà kinh tế, đầu
bếp, thầy thuốc, vì vậy nam giới phải chia sẻ công việc với họ. Không thể đưa
các phụ nữ rời khỏi vị trí xã hội hiện nay của họ vì đó là không tưởng.
Con số li hôn mà phía nguyên đơn là phụ nữ cao về mặt nào đó là lành
mạnh, vì nhiều phụ nữ đã dũng cảm dứt bỏ những người chồng không hợp
với mình. Đây cũng là mức độ giải phóng phụ nữ. Phụ nữ tham gia sản xuất
và lãnh đạo nhiều thể hiện phong cách “quản lý nữ” rất có hiệu quả.
Phụ nữ không có học vấn và kinh nghiệm xã hội thì khó nuôi dạy con
tốt. Điều này phụ nữ chỉ có thể học được nhiều ở môi trường xã hội.
Theo Igo Kon (Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, 1990).
Bài tập
1. Hãy đánh dấu x vào những nhóm từ dưới đây cho phù hợp.
Nhóm từ Giới Giới tính
Mạnh mẽ
Dịu dàng
Đa cảm
Cứng cỏi
Thông minh
Chậm hiểu
To khoẻ
Mang thai
Quyết đoán
Nhu nhược
Ria mép, râu
Ngực nở, eo thon
Kỹ sư
Y tá
Chủ gia đình
Cho con bú
Cơ bắp
Nhạy cảm
Xinh đẹp
Xấu xí
Nói nhiều
Bạo lực
Nghiện rượu
Trang điểm
Ích kỷ
Vị tha
Lười biếng
Chăm chỉ
2. Hãy đánh dấu vào các câu sau đây, câu nào là giới, câu nào là giới
tính?
Giới tính Giới
1. Phụ nữ đẻ con, nam giới thì không thể.
2. Trẻ em gái hiền lành, hoà nhã; trẻ em trai cứng rắn.
3. Ở một số nước, công việc ngang nhau nhưng lương
của phụ nữ chỉ chiếm từ 70 - 80% lương của nam giới.
4. Phụ nữ có thể cho con bú bằng sữa của mình, nam
giới có thể cho con bú bằng bình sữa.
5. Những người thợ xây dựng chủ yếu là nam.
6. Những người đan len, thêu thùa chủ yếu là nữ.
7. Ở một số xã của tỉnh Thanh Hoá, phụ nữ làm đồng
còn nam giới trông con và làm việc nhà.
8. Nam giới vỡ giọng ở tuổi dậy thì, phụ nữ thì không.
9. Phụ nữ Nhật Bản làm việc nhà 3 tiếng còn nam giới
làm việc nhà 15 phút.
10. Theo thống kê của LHQ: phụ nữ lao động 67% các
công việc của thế giới nhưng chỉ nhận được 10% thu
nhập của thế giới.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Hãy phân biệt giới tính và giới. Phân tích mối liên hệ giữa chúng.
2. Cơ sở đầu tiên của áp bức giới là gì?
3. Phân tích quá trình xã hội hoá giới và nó có khác gì với quá trình xã
hội hoá nói chung?
Bài 4. XÃ HỘI HỌC GIỚI – CÁC THUẬT NGỮ CƠ BẢN
Sự phát triển của một ngành khoa học luôn được đo bằng sự lớn mạnh
của hệ thống công cụ nghiên cứu và tư duy của ngành khoa học đó. Khoa
học nào cũng vậy, chỉ có thể được nghiên cứu, phân tích, mổ xẻ thông qua
sự vận hành sáng tạo của một hệ thống những khái niệm, phạm trù và thuật
ngữ cơ bản, đặc thù của nó. Quá trình sáng tạo và thao tác các khái niệm
chuyên ngành cũng chính là quá trình sáng tạo khoa học của chuyên ngành
đó. Nghiên cứu XHH giới, do vậy, cũng không thể loại trừ điều kiện bắt buộc
là phải nghiên cứu và hiểu rõ hệ thống các khái niệm và thuật ngữ được vận
dụng trong tư duy khoa học của nó. Ở đây những thuật ngữ cơ bản cần được
xem xét là:
I. VAI TRÒ GIỚI
Vai trò sản xuất: Bao gồm các công việc nhằm tạo ra thu nhập bằng
tiền hoặc hiện vật để tiêu dùng hoặc trao đổi. Ví dụ, công việc đồng áng, làm
công nhân, làm thuê, buôn bán, viên chức…
Vai trò tái sản xuất (sinh sản, nuôi dưỡng): Bao gồm trách nhiệm sinh
đẻ, nuôi con và những công việc nhà cần thiết để duy trì và tái sản xuất sức
lao động (Không chỉ bao gồm tái sản xuất sinh học, mà còn có ở chăm lo, duy
trì lực lượng lao động hiện tại và lực lượng lao động trong tương lai).
Vai trò cộng đồng: Bao gồm các công việc thực hiện ở ngoài cộng
cồng, nhằm phục vụ cho cuộc sống chung của mọi người. Ví dụ, tham gia Hội
đồng nhân dân, tham gia các cuộc họp xóm, bầu cử, làm vệ sinh đường làng
ngõ xóm, quyên góp, vận động kế hoạch hoá gia đình…
Vậy vai trò giới là các công việc mà phụ nữ và nam giới thực hiện với
tư cách là nam hay nữ. Nam và nữ đều tham gia thực hiện cả 3 vai trò trên.
Tuy nhiên có sự khác biệt:
- Tính chất và mức độ tham gia của nam và nữ không như nhau trong
mọi công việc. Nếu như phụ nữ làm hầu hết công việc sinh đẻ, chăm sóc,
nuôi dưỡng, nội trợ, tiếp phẩm (nhiều người coi đó là “thiên chức” của phụ
nữ) thì nam giới không được trông đợi làm việc đó, họ cho rằng mình trợ giúp
phụ nữ mà thôi.
- Công việc của nam giới thường được xem trọng hơn công việc của
phụ nữ. Thật không công bằng nếu như cho rằng, việc sinh đẻ của phụ nữ tạo
ra một sản phẩm cao quý, đó là con người là việc không quan trọng, nó là
công việc mang tính bản năng bấy lâu của động vật.
- Cơ hội và điều kiện thăng tiến của nam giới bao giờ cũng tốt hơn phụ
nữ.
Vai trò giới hiện nay không bình đẳng do quá trình dạy và học trong xã
hội bất bình đẳng giới mà có, nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hoá, thể
chế chính trị. Vai trò giới đã và đang có nhiều thay đổi, nhưng khi thay đổi
người ta còn chịu ảnh hưởng của các định kiến giới, điều này lý giải vì sao
nhiều người không dám công khai thực hiện thay đổi vai trò giới, mặc dù đây
là những việc rất đáng khích lệ.
Việc phân công vai trò giới trong xã hội phụ quyền tạo nên sự bất bình
đẳng trong công việc cũng như lợi ích mà họ được hưởng. Ví dụ, phụ nữ
tham gia 60% công việc nông nghiệp, nam giới tham gia 40% công việc còn
lại nhưng thu nhập bình quân của phụ nữ nông thôn là 62%, còn nam giới lại
hưởng 100% thu nhập. Vai trò giới và gánh nặng 3 vai đặt ra yêu cầu phụ nữ
đồng thời phải thực hiện tốt cả 3 vai trò. Đây thực sự là gánh nặng quá sức
đối với phụ nữ. Khi nói tới vai trò giới của phụ nữ là muốn đề cập tới những
công việc mà phụ nữ làm với tư cách họ là phụ nữ. Chẳng hạn, công việc nội
trợ được xem là thích hợp với phụ nữ hơn nam giới. Việc lãnh đạo được coi
là thích hợp với nam giới hơn phụ nữ. Trên thực tế, vai trò về giới có thể thay
đổi giữa nam và nữ (trừ chức năng sinh đẻ).
Sự thay đổi định kiến, giá trị và vai trò giới có thể xoá bỏ khoảng cách
giới đem lại sự bình đẳng giữa nam và nữ.
II. ĐỊNH KIẾN GIỚI
Định kiến giới là nhận định của mọi người trong xã hội về những gì mà
phụ nữ và nam giới có khả năng và các loại hoạt động mà họ có thể làm với
tư cách họ là nam hay nữ. Có nhiều biểu hiện khác nhau của định kiến giới
song phổ biến hơn cả là những quan niệm về đặc điểm, tính cách và khả
năng của phụ nữ và nam giới. Ví dụ, nam giới thì mạnh mẽ, độc lập quyết
đoán; phụ nữ thì rụt rè tình cảm, bị động. Nam giới thì giỏi về kỹ thuật hay
sáng tạo. Phụ nữ thì thiên về các hoạt động xã hội và công việc tỉ mỉ.
Định kiến giới có tác động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cá
nhân và quan niệm của những người xung quanh. Những đặc điểm liên quan
đến nam giới và phụ nữ thường được dập khuôn và mang tính cố định, được
lặp đi lặp lại qua các thế hệ, do đó nam giới và phụ nữ không có sự lựa chọn
nào khác. Định kiến giới đã làm cho nam giới luôn phải cương lên trong vị trí
lãnh đạo của họ và làm cho phụ nữ thiếu tự tin và hạn chế sự lựa chọn vì vị trí
thấp kém của họ. Những định kiến có thể dẫn đến nhận thức thiên lệch, đánh
giá và nhận xét thiếu khách quan đối với phụ nữ, từ đó hạn chế cơ hội phát
triển của phụ nữ. Ví dụ, từ quan niệm lãnh đạo là công việc không thích hợp
đối với phụ nữ đi đến đánh giá khắt khe hoặc cho rằng không cần khuyến
khích phụ nữ làm quản lý. Định kiến giới là yếu tố làm hạn chế sự nhận thức
đầy đủ và khách quan năng lực của phụ nữ. Khi quan niệm định kiến giới
được phổ cập trong xã hội thì người ta thường coi đó là khuôn mẫu và phẩm
chất chung của phụ nữ và lấy đó làm cơ sở để đánh giá và đối xử phân biệt
giữa nam và nữ trong cuộc sống. Các chuẩn mực mà xã hội quy định cho phụ
nữ và nam giới phải nên như thế nào và có những hoạt động gì phù hợp với
họ, ví dụ như phụ nữ nên duyên dáng và nam giới nên dũng cảm. Định kiến
giới có thể thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn phát triển nhưng rất chậm.
Định kiến giới còn rất phổ biến trong xã hội chúng ta vì chúng đã ăn
sâu, bắt rễ trong nhận thức của nhiều người trong xã hội và trở thành lực cản
trong quá trình thực hiện các chế độ, chính sách, chương trình, kế hoạch trên
mọi lĩnh vực. Định kiến giới có tác động xấu về vị trí, thái độ và những hoạt
động của nam và nữ, đặc biệt là hạn chế những mong muốn, dự định phát
triển cá nhân và cả việc đón nhận những cơ hội và điều kiện phát triển, đặc
biệt là đối với phụ nữ.
Vì vậy để thay đổi nhận thức, xoá bỏ định kiến về giới phải có sự tham
gia của toàn xã hội, hướng vào việc tạo cơ hội, điều kiện phát triển bình đẳng
cho cả nam và nữ. Trong chính sách và kế hoạch phát triển xã bội trên mọi
lĩnh vực cần phải có sự bình đẳng giữa nam và nữ và xoá bỏ tác động của
định kiến giới.
Định kiến giới vừa là một quá trình lịch sử vừa phi lịch sử. Thực chất
định kiến giới được thiết lập trong quá trình tương tác và phụ thuộc vào vị kế
của mỗi giới (phi lịch sử). Những nhận thức và hành vi của con người tạo nên
ý thức trong một bối cảnh nhất định (lịch sử). Điều quan trọng là nó gây cho
các giới bị định kiến những mặc cảm, những ảo giác về trách thiệm, tính
cách, năng lực của mình và trở thành tính chất “tự nhiên” của giới. Điều này
sẽ tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành các chuẩn mực của xã
hội. Khi định kiến giới xuất hiện thì phân biệt giới cũng diễn ra và cách con
người xây dựng hình tượng đàn ông, đàn bà như một sự phân biệt.
Một số ví dụ về định kiến giới:
- Tình dục ở phụ nữ chỉ là để phục vụ cho nam giới.
- Nam giới có quyền chủ động trong tình yêu, tình dục.
- Việc không sinh được con trai hoàn toàn là do phụ nữ không biết đẻ.
- Thiên chức của phụ nữ là sinh đẻ, nuôi con và làm nội trợ.
- Để phụ nữ chăm sóc người ốm là thích hợp nhất.
- Để phụ nữ thực hiện tránh thai là phù hợp vì họ liên quan đến việc
sinh đẻ, nuôi con nhiều hơn nam giới.
- Nam giới có thể vào quán bia thư giãn vào buổi chiều còn phụ nữ thì
phải về nhà nấu cơm và dọn dẹp.
- Nam giới có đầu óc quyết đoán, do vậy họ là những người ra quyết
định; còn phụ nữ cần phục tùng các quyết định cũng như yêu cầu của nam
giới.
Một số ca dao, tục ngữ mang định kiến giới:
Đàn ông nông nổi giêng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
Đàn ông rộng miệng thì sang
Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà “.
Khôn ngoan cũng thể đàn bà
Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông”.
100 con gái không bằng cái… của con trai”.
Gái goá lo việc triều đình “.
Gà mái gáy thay gà trống”.
III. XÃ HỘI HÓA GIỚI
Xã hội hoá là quá trình các cá thể tiếp thu, học tập nền văn hoá của xã
hội mà anh ta sinh ra, tức là học các kinh nghiệm xã hội, học hởi những gì
cần phải làm, những gì không được làm, học ngôn ngữ, học các chuẩn mực
giá trị của xã hội để thích ứng được với xã hội. Theo Talco Parsons, nhà xã
hội học Mỹ thì có 2 cấp độ của xã hội hoá:
- Xã hội hoá sơ cấp (Primary Socialization): Ban đầu, chủ yếu diễn ra
trong gia đình.
- Xã hội hoá thứ cấp (Secondary Socialization): Diễn ra ở cả gia đình và
xã hội (nhà trường, nhóm bạn bè, hàng xóm, nhóm nghề nghiệp, các phương
tiện thông tin đại chúng).
- Như vậy, nền giáo dục giới từ xã hội dội vào gia đình và ngược lại.
Hay nói cách khác, cách hành xử của xã hội phụ quyền trong xã hội và
gia đình đã phối hợp với nhau chặt chẽ và thông qua quá trình xã hội hoá để
hình thành tính cách, phẩm chất, định kiến giới cho con người. Chẳng hạn,
cách giáo dục truyền thống giới dã dạy nam giới hướng ngoại, làm lao động
nặng hoặc kỹ năng thống trị gia đình; ngược lại, dạy phụ nữ tề gia nội trợ,
cách ứng xử nhẹ nhàng, phụ thuộc đàn ông và không được tỏ ra giỏi hơn
chồng. Người nào có biểu hiện không thực hiện các quy tắc này thì bị khinh rẻ
hoặc bị trừng trị nặng
Ví dụ: Điều tra XHH ở một trường trung học (Liên Xô) cho thấy, nhiều
em gái mơ ước thành nhà du hành vũ trụ. Ở ấn Độ, cùng thời kỳ, ở một
trường trung học, nhiều em gái mong lấy được chồng giàu.
Khái niệm về “vai trò giới” theo thời gian có 3 giai đoạn. Đó là: những
đứa trẻ thích đồ vật rồi nghịch ngợm mang nét giới tính và bắt đầu nhận ra
những thứ khác nhau giữa con trai và con gái. Tuy nhiên những sở thích của
chúng chưa được phân định một cách mạnh mẽ. Lên 6 tuổi, mức phân định
tương đối cao về giới trong sở thích riêng. Bé trai thích súng, xe tăng, ô tô,
trong khi bé gái thích búp bê, gấu bông. Ở tuổi thiếu niên, trẻ em bắt đầu có ý
thức hơn về giới do quá trình xã hội hoá toàn diện hơn. Chúng ta có thể dạy
cho chúng về bình đẳng giới để thay thế cho các quan niệm nam quyền cũ.
Trẻ em thường học cách ứng xử của bố mẹ chúng. Trong mắt chúng
bố mẹ thật mạnh mẽ và mẫu mực. Con gái có thể tô son theo mẹ trong khi
con trai từ chối. Qua những động lực thúc đẩy khác nhau từ bố mẹ, giáo viên,
bạn bè và những đối tượng khác, trẻ có thể nhận biết được chúng được làm
gì và không được làm gì. Bằng cách đó chúng đang thừa nhận những chuẩn
mực mà nền văn hoá của chúng quy định, đôi khi là những khuôn mẫu cứng
nhắc. Đó là sự gán nhãn cho giới được áp dụng cho con người trên cơ sở
các chuẩn mực có mục đích.
IV. BÌNH ĐẲNG GIỚI
Bình đẳng giới có thể được xem xét trên hai quan điểm:
- Quan điểm bình đẳng khi chưa có nhận thức giới.
- Quan điểm bình đẳng khi có nhận thức giới.
Quan điểm bình đẳng khi chưa có nhận thức về giới: Theo Từ điển
Bách khoa Việt Nam (1995) tập I thì: Bình đẳng là sự được đối xử như nhau
về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, không phân biệt thành phần và địa vị xã
hội, trong đó trước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật. Theo đó,
bình đẳng giới sẽ được hiểu là sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi
phương diện, không phân biệt, hạn chế, loại trừ quyền của bất cứ giới nam
hay giới nữ. Ởđây, điều kiện cần thiết chỉ là cung cấp cho phụ nữ các cơ hội
bình đẳng, sau đó người ta tin rằng, họ sẽ thực hiện và được hưởng thụ theo
các nguyên tắc và tiêu chuẩn như nam giới và đem lại các kết quả như nhau,
nhưng thực tế, sự đối xử bình đẳng không luôn luôn đem lại kết quả bình
đẳng. Quan điểm trên, sau này được nhiều nhà nghiên cứu về giới cho rằng
là một loại “bình đẳng giới mà không tôn trọng sự khác biệt về giới tính”.
Nguyên tắc đối xử như nhau, không phân biệt là điều hết sức cần thiết,
song có lẽ chưa đủ để phụ nữ được bình đẳng thực sự. Ở nhiều quốc gia trên
thế giới trong đó có Việt Nam, xuất phát từ vấn đề quyền con người, hiến
pháp đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ trên mọi phương diện.
Điều đó là một sự tiến bộ lớn, tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ này, phụ
nữ vẫn chưa được bình đẳng thực sự. Cũng là con người như nam giới
nhưng phụ nữ lại có những đặc tính về giới tính hết sức riêng biệt do đặc
trưng sinh học và đặc trưng xã hội quy định chi phối, cho nên, nếu chỉ thực
hiện sự đối xử như nhau (căn cứ vào cái chung) mà không chú ý đến cái
riêng để có các đối xử đặc biệt thì sẽ không có bình đẳng thực sự.
Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển, giữa nam và nữ đã không
có cùng một điểm xuất phát, cho nên cơ hội mở ra như nhau nhưng phụ nữ
khó nắm bắt được như nam giới. Ví dụ, khi cơ hội tìm việc làm, có thu nhập
cao mở ra cho cả nam và nữ thì phụ nữ khó có thể đón nhận được cơ hội đó
như nam giới (vì lý do sức khoẻ, công việc gia đình, các quan niệm cứng
nhắc trong phân công lao động); ngay cả khi có điểm xuất phát như nhau (do
đã được tạo điều kiện) thì quá trình phát triển tiếp theo của phụ nữ cũng gặp
nhiều khó khăn, cản trở hơn so với nam giới.
Ví dụ, hai sinh viên nam và nữ cùng tốt nghiệp đại học, mười năm sau,
trình độ, khả năng thăng tiến giữa họ lại rất khác nhau. Trong thời gian này,
nam giới cớ thể chuyên tâm vào học tập, nâng cao trình độ, còn phụ nữ lại
phải chi phối hơn cho việc sinh đẻ và nuôi con nhỏ. Vậy là đối xử như nhau
không thể đem lại sự bình đẳng giữa hai giới nam và nữ vốn rất khác nhau về
mặt tự nhiên và xã hội (do lịch sử để lại).
Theo quan điểm này thì mọi điều kiện cần thiết chỉ là cung cấp cho phụ
nữ các cơ hội bình đẳng và người ta mong đợi phụ nữ sẽ tiếp cận các cơ hội
này, thực hiện và hưởng lợi theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn như nam giới.
Điều này đặt ra sức ép vô cùng lớn đối với phụ nữ trong khi đó lại thu hẹp sự
tiếp cận của họ tới các kỹ năng và các nguồn cần thiết để có thể tận dụng
“các cơ hội bình đẳng”. Bình đẳng về cơ hội, về sự lựa chọn và đối xử là cơ
hội cần thiết nhưng không phải là cơ hội quan trọng để hỗ trợ cho sự phát
triển của phụ nữ.
Quan điểm bình đẳng với nhận thức giới: Theo chúng tôi, khi đã thừa
nhận phụ nữ có những khác biệt cả về tự nhiên và xã hội so với nam giới, thì
đối xử như nhau sẽ không đạt được bình đẳng. Cho nên, bình đẳng giới
không chỉ là việc thực hiện sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi lĩnh
vực xã hội, theo phương châm phụ nữ có thể có quyền làm tất cả những gì
nam giới có thể và có quyền làm. Bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục
tình trạng bất bình đẳng giữa hai giới nhưng không triệt tiêu những khác biệt
tự nhiên giữa họ, thông qua các đối xử đặc biệt với phụ nữ. (Trong Luật Bình
đẳng giới hiện nay đã có các quy định cụ thể về những điều khoản “đặc biệt
tạm thời” mà không coi là phân biệt giới để thực hiện bình đẳng giới).
Những đối xử đặc biệt tác động đến khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ
hạn chế những thiệt thòi của phụ nữ còn được duy trì thường xuyên như
chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Các đối xử đặc biệt tác động
làm thay đổi vị thế người phụ nữ do lịch sử để lại được duy trì chừng nào đạt
được sự bình đẳng hoàn toàn. Đối xử đặc biệt khác không chỉ căn cứ vào sự
khác biệt giữa nam và nữ, quá trình tiến tới bình đẳng giới còn phải chú ý sự
khác biệt ngay trong giới nữ, thể hiện qua các nhóm phụ nữ khác nhau, giữa
thành thị và nông thôn, giữa công nhân với nông dân, trí thức, giữa phụ nữ
giàu và phụ nữ nghèo…
Như vậy việc đối xử như nhau giữa các bộ phận xã hội không giống
nhau sẽ không thể đạt tới được sự bình đẳng thực sự. Ở đây, điều kiện để
đạt tới sự bình đẳng chính là cần phải có các đối xử đặc biệt, thậm chí là các
điều kiện ưu tiên dành cho các nhóm xã hội yếu thế. Trong một môi trường
mà cơ hội, điều kiện và vị trí xã hội của phụ nữ còn thấp hơn nam giới thì để
có bình đẳng giới thực sự, cách đối xử đặc biệt như trên đối với phụ nữ là
điều kiện cần thiết phải có.
Bình đẳng giới là một tình trạng lý tưởng trong đó phụ nữ và nam giới
được hưởng vị trí xã hội như nhau, được tạo cơ hội và điều kiện thích hợp để
phát huy đủ khả năng của mình nhằm đóng góp cho sự phát triển của quốc
gia và được hưởng lợi từ các kết quả của quá trình phát triển đó.
Quan điểm bình đẳng có nhận thức về giới đưa ra sự tiếp cận đúng
đắn, công nhận sự khác biệt và thực tế là phụ nữ đang ở vị trí bất bình đẳng
do sự phân biệt đối xử trong quá khứ và hiện tại. Mô hình này không chỉ quan
tâm đến cơ hội bình đẳng mà còn quan tâm đến kết quả của sự bình đẳng, sự
đối xử bình đẳng, tiếp cận bình đẳng và lợi ích bình đẳng. Chúng ta cần phải
xem xét cẩn thận những cản trở tiềm ẩn đối với sự tham gia bình đẳng cũng
như có cơ hội, điều này có nghĩa là có thể phải đối xử khác nhau đối với phụ
nữ và nam giới để họ có thể được hưởng lợi một cách chính đáng và đó
không thể coi là phân biệt giới.
Tóm lại: Bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được trải
nghiệm những điều kiện ngang nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của
mình, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi như nhau từ các hoạt
động phát triển của quốc gia về kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội.
Bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa
hai giới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ, thông qua
các đối xử đặc biệt với phụ nữ. Để đạt tới bình đẳng giới trong một môi
trường mà cơ hội, điều kiện và vị trí xã hội của phụ nữ còn thấp hơn nam giới
thì việc đối xử đặc biệt với phụ nữ, ưu tiên cho phụ nữ trên một số mặt, chính
là cơ sở để tạo lập sự bình đẳng thực sự.
BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU
Chợ hoa quả Long Biên hoạt động 24/24 giờ mỗi ngày, giải quyết việc làm
cho hàng nghìn lao động nữ.
… Chợ hoa quả Long Biên họp cả ngày và đêm. Đông nhất vào hai thời
điểm: từ 2 giờ đến 5 giờ 30 sáng và từ 3 giờ đến 6 giờ chiều. Đây là những
giờ Ban quản lý chợ cho phép các xe hàng ra, vào đổi hàng, bốc hàng. Với
khoảng trên 30 lượt xe hàng và 40 lượt xe khách ra vào mỗi ngày, chợ cũng
“ngốn thường xuyên từ 200 đến 300 tấn hàng, trong đó hàng hoa quả là chủ
yếu (70%):.. Cũng do nhu cầu vận chuyển đã xuất hiện hàng trăm người bốc
vác thuê tự do, hàng nghìn lao động nữ là người các tỉnh đến bốc vác và
gánh hàng thuê… Vào giờ cao điểm, xe, người vây chặt cả ba đường ra vào
chợ. Trong đám đông ấy có tới 90% là phụ nữ. Dù đang là mùa đông nhưng
những khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi, hằn rõ những nếp nhăn nơi khoé mắt. Họ
trạc khoảng từ 30 đến 50 tuổi. Tôi đã hỏi và được biết hầu hết những người
lao động này đã có gia đình, nhà nghèo, không có tiền nên phải đi làm “cửu
vạn” ở chợ. Quê họ ở các tỉnh Hưng Yên, Hà Tây, Thái Bình, Thanh Hoá…
Họ không hề tiếc sức mình và càng không thể bỏ phí thời gian nên họ làm
việc quần quật 18 đến 20 giờ/ngày và chỉ tạm nghỉ giải lao khi đã tạm đủ số
tiền phải kiếm được hằng ngày (20.000đ trở lên). Những người phụ nữ gầy
còm, da đen sạm vì hứng trọn cả nắng, gió ban ngày và mưa, sương ban
đêm; đôi vai như càng gồ lên với gánh hàng nặng 40, 50 kg nhưng các chị
vẫn hồ hởi khoe: “Thế này là tốt rồi, có việc mà làm, còn hơn ở nhà không có
đồng nào, chồng ốm nhom, con cái nheo nhóc, đói khát”.
Tôi theo chân một chị về nơi “tạm trú của các chị. Một căn phòng mái
tôn 16m2 chứa 24 người, không giường, chỉ manh chiếu cũ sờn nát được trải
trên nền gạch hoặc trên cái giát giường cũ nếu ở nơi ẩm thấp. Bên ngoài
hành lang là công trình phụ được quây tạm bằng tấm cót ép mốc meo. Căn
nhà này các chị đã chung nhau thuê với giá 2.000đ/ người/ ngày. Hằng ngày
bữa ăn chỉ là cơm chay”, có rau mà không thịt cá. Một chị nói: “Chúng tôi tằn
tiện thế này, mỗi tháng cũng gửi về cho gia đình được 300.000đ đấy”. Họ vừa
nhai những miếng cơm nguội khô khốc với túi muối vừng lạc để giữa, vừa nở
nụ cười vẻ mãn nguyện thoáng chút xa xăm… Tôi cũng thầm mong những
người chồng, người con của các chị ở quê nhà hiểu, thông cảm và dành tình
cảm nhiều hơn cho tấm lòng những người vợ, người mẹ phải sớm hôm tần
tảo, chắt chiu từng miếng cơm, đồng tiền, bát gạo để cung cấp cho chồng,
nuôi con.
Theo Khuất Huyền (Báo “Phụ nữ Việt Nam” ngày 6/12/1999).
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Hãy cho biết nhận xét của em về bài đọc trên.
2. Xã hội hoá giới đóng vai trò gì trong tuyên truyền bình đẳng giới?
Bài 5. CẤU TRÚC GIỚI TRONG XÃ HỘI PHỤ QUYỀN VÀ HỆ QUẢ
I. SỰ THỐNG TRỊ TOÀN DIỆN CỦA NAM GIỚI VỚI PHỤ NỮ THÔNG QUA
HỆ TƯ TƯỞNG, LUẬT PHÁP, VĂN HÓA, TÔN GIÁO VÀ GIA ĐÌNH.
1. Phụ nữ có vai trò to lớn trong gia đình và xã hội
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và lịch sử phát triển của
từng nước, phụ nữ cùng nam giới sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần,
sinh đẻ, nuôi dạy con cái, bảo lưu truyền thống văn hoá của dân tộc. Những
đóng góp của phụ nữ cho sự phát triển lịch sử, dù có thể là âm thầm lặng lẽ,
có thể được thừa nhận hay không được thừa nhận, nhưng vẫn là vô cùng to
lớn. Sức lao động, khả năng sáng tạo vô bờ bến của họ phủ bóng trên toàn
bộ những thành quả và di sản văn hoá của nhân loại.
Trong những thành quả lao động sáng tạo chung của nhân loại xuất
hiện vai trò của những nhân vật kiệt xuất, trong đó có rất nhiều phụ nữ. Họ
không chỉ sánh vai và làm được những điều kỳ diệu nhất mà một người nam
giới kiệt xuất đạt được mà còn mang vào trong sự kiệt xuất đó dáng vẻ riêng
của người phụ nữ, của “phái đẹp”. Những phụ nữ kiệt xuất xuất hiện trên tất
cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá.
Về chính trị: Những nữ anh hùng của các dân tộc như Gianda (Pháp),
nữ hoàng Cleopat (Ai Cập), nữ hoàng Victoria (Anh), nữ hoàng Caterin đệ nhị
(Nga), nữ hoàng Võ Tắc Thiên (Trung Quốc), Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ỷ Lan
phu nhân, Đô đốc Bùi Thị Xuân, Phó Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang
Nguyễn Thị Định (Việt Nam) đã được ghi danh vào lịch sử. Nhiều phụ nữ
tham chính, hoạt động bên cạnh các chính trị gia nam giới đã tạo lập được cả
một sự nghiệp lớn mà không phải nam giới nào cũng làm được. Ngày nay,
trong bối cảnh mà trên thế giới sự bình đẳng giới vẫn còn rất nhiều hạn chế,
nhưng sự xuất hiện của những nữ chính trị gia, có người làm đến chức
nguyên thủ quốc gia đã làm cho thế giới phải kinh ngạc về hiệu quả hoạt động
của họ. Có người còn được mệnh danh là “người đàn bà thép”, với tiếng nói
và uy lực khiến cho những lãnh đạo đồng cấp là nam giới phải nể phục.
Về khoa học: Trong bối cảnh của những xã hội nam quyền, phụ nữ
không được học hành đầy đủ như nam giới. Bởi vậy, trong thực tế lịch sử,
những danh nhân khoa học là phụ nữ trên thế giới chỉ là một thiểu số rất nhỏ
so với nam giới. Từ năm 600 đến 200 (trước Công nguyên) các nhà khoa học
nữ tăng gấp 50 lần so với thời gian trước đó. Trong các thế kỷ được gọi là
“Đêm trường trung cổ” có những phụ nữ ham học hỏi, có kiến thức và trí tuệ
bị bài bác, thậm chí bị lên án, bị bỏ tù. Thế kỷ XVII có trên 4.000 phụ nữ, trong
đó hầu hết là nhà khoa học bị nhà thờ Thiên Chúa giáo buộc tội là phù thuỷ
và bị đàn áp (Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, 1990).
Tuy nhiên, chính sự xuất hiện của những nữ trí thức khoa học lớn trên
thế giới đã phản ánh được phần nào trí tuệ và sức phấn đấu phi thường của
phụ nữ. Nhà vật lý, hoá học Marie Cuộc, người Ba Lan cuối thế kỷ XIX và đầu
thế kỷ XX đã 2 lần được nhận giải Nobel về vật lý và hoá học; nhà toán học
nổi tiếng thế kỷ XIX người Nga Kovalepskaia; Tapputi Belatliallini - nhà hoá
học phát minh ra nước hoa trước Công nguyên; Teana - người lãnh đạo
trường phái toán học Pitago; Mang Alexandria - người phát minh nhà tắm hơi
và thuật giả kim; hai bà Hilidegard và Genard là tác giả của các tác phẩm
bách khoa về nền khoa học trung cổ.
Văn hoá là lĩnh vực mà bóng dáng của phụ nữ xuất hiện mạnh mẽ.
Trong toàn bộ những di sản văn hoá đồ sộ của nhân loại cho đến ngày nay,
chúng ta không dễ dàng phân biệt được đâu là những đóng góp của phụ nữ
còn đâu là những đóng góp của nam giới. Trong số những danh nhân văn
hoá nổi tiếng trên thế giới có rất nhiều phụ nữ. Họ là những nhà văn hoá, nhà
văn, nhà thơ, nhà soạn kịch, các hoạ sĩ và nhạc sĩ… mà những sự rung cảm
văn hoá đầy chất nữ tính của họ làm nên một nửa những rung cảm văn hoá
trong di sản của nhân loại. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi nếu lãng
bóng họ, di sản văn hoá thế giới sẽ nghèo nàn như thế nào.
Bên cạnh những nữ danh nhân văn hoá chúng ta không thể không nói
tới những phụ nữ “vô danh” nhưng vĩ đại, hoạt động một cách thầm lặng trong
những tất cả các lĩnh vực, chẳng hạn, lĩnh vực văn hoá đại chúng, những
nghệ nhân dân gian, vũ công, ca sĩ, diễn viên sân khấu, thợ thủ công khéo
tay,… Họ đã làm nên diện mạo văn hoá phong phú và đa dạng của nhân loại.
2. Thần quyền và vai trò của thần quyền trong việc củng cố bộ
máy thống trị nam quyền
Mặc dù có những đóng góp thật to lớn đối với sự vận động và phát triển
của lịch sử nhân loại nhưng trong bối cảnh của xã hội phụ quyền, phụ nữ bao
giờ cũng là đối tượng bị áp bức và bị phân biệt đối xử thậm tệ.
Trên lĩnh vực tôn giáo, có thể nói hầu hết các tôn giáo trên thế giới đều
có phân biệt nam nữ ở các hình thức và mức độ khác nhau. Đặc biệt tại các
nước theo đạo Hồi, khi tôn giáo trở thành quốc giáo thì thần quyền đã kết hợp
chặt chẽ với hệ thống nam quyền để thống trị phụ nữ.
Phật giáo của Nhật Bản đã kết hợp với đạo Shinto, Nho giáo và đưa ra
nguyên tắc buộc phụ nữ phải biến thành đàn ông nếu muốn tu thành chính
quả; luật Hudur là luật của Hồi giáo tại Malaysia cho rằng, trong trường hợp
phụ nữ bị hãm hiếp khi tố cáo trước toà thì phải viện dẫn được 4 người đàn
ông mộ đạo làm chứng (AP WLD, 2000).
Người phụ nữ dù cố gắng tu luyện đến đâu trong Thiên Chúa giáo,
Phật giáo, Tin Lành thì cũng không thể đạt được vị trí cao.
II. HỆ QUẢ CỦA ÁP BỨC GIỚI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHỤ NỮ
Khó mà có thể tả hết được những hệ quả của sự áp bức về giới đối với
thân phận của người phụ nữ. Điều mà những nhà văn hoá lớn đã thốt lên
“đau đớn thay phận đàn bà” (Nguyễn Du) chỉ là một trong vô vàn những lời
than “không thấu được tới trời xanh” của những thân phận phụ nữ trong xã
hội nam quyền. Chúng ta có thể tổng hợp lại những nét thống khổ của phụ nữ
ở những mặt sau đây:
1. Phụ nữ lao động nặng nhọc, nghèo đói và thất học
Theo nhận định của LHQ trong Thập kỷ Phụ nữ 1975 - 1985 thì phụ nữ
chiếm hơn 1/2 dân số thế giới; lao động 2/3 thời gian lao động của thế giới;
sản xuất hơn 1/2 sản lượng nông nghiệp của thế giới; chiếm 2/3 lực lượng
mù chữ của thế giới; làm chủ 1/10 tài sản của thế giới.
Hiện nay, phụ nữ vẫn chiếm 70% trong 1,3 tỷ người nghèo đói trên thế
giới. Báo cáo phát triển con người năm 1995 của tổ chức UNDP đã so sánh
giữa chỉ số phát triển con người (HDI) với chỉ số bình đẳng giới (GDI) của các
nước tham gia (trong đó có Việt Nam) và đưa ra kết luận: Chưa có nơi nào
trên Trái Đất phụ nữ được bình đẳng hoàn toàn với nam giới. Lao động hằng
năm của phụ nữ bị bỏ quên không được tính công là 11 tỷ USD.
2. Phụ nữ là nạn nhân của các xung đột, tệ nạn lớn trên thế giới
Trong mọi thảm hoạ của thiên nhiên cũng như của con người đối với xã
hội, phụ nữ bao giờ cũng là người phải gánh chịu đầu tiên.
2.1. Phụ nữ bị làm vật tế thần, quà tặng, mua bán, đổi chác, là đối
tượng bị trả thù. Trong chế độ phong kiến và tư bản, những hiện tượng trên là
rất phổ biến. Hiện nay, tại nhiều nước, việc lấy chồng của phụ nữ thực chất là
bán phụ nữ vẫn còn tồn tại. Nạn buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ
và trẻ em là những hoạt động tội ác đã và đang phát triển trên phạm vi toàn
cầu.
Có thể phân chia hiện tượng buôn bán phụ nữ trên thế giới thành ba
loại nước: nước gửi, nước trung chuyển và nước nhận. Có nước vừa là nước
gởi, vừa là nước trung chuyển; có nước vừa là nước gửi, vừa là nước nhận;
có nước bao gồm cả ba dạng trên. Việt Nam là nước gửi, nghĩa là phụ nữ
Việt Nam bị lừa bán sang nhiều nước như Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia,
Hàn Quốc, Đài Loan và các nước khác. Mục đích chính của buôn bán phụ nữ
là buộc họ làm mại dâm, làm vợ bắt buộc hoặc lao động việc nhà.
2.2. Nạn mại dâm
Là hiện tượng gắn liền với nạn buôn bán phụ nữ và là đầu ra của buôn
bán phụ nữ. Nạn mại dâm tồn tại mang tính phổ biến ở hầu khắp các xã hội
và có từ rất lâu trong lịch sử. Trước đây, người bán dâm thường là phụ nữ,
người mua dâm là nam giới nhưng ngày nay có những trường hợp người bán
là nam giới, người mua là phụ nữ. Hiện nay, đã có các trường hợp mại dâm
đồng giới. Mại dâm là hiện tượng bóc lột thân xác và chà đạp lên nhân phẩm
của phụ nữ.
2.3. Phụ nữ là nạn nhân của chiến tranh
Thực tế cho thấy, mặc dù các cuộc chiến tranh xâm lược, chiến tranh
sắc tộc, chiến tranh tôn giáo, chiến tranh biên giới… phần lớn do những
người lãnh đạo là nam giới gây ra, nhưng thiệt hại về người và của lại đến với
cả nam và nữ, trong đó phụ nữ và trẻ em là những nạn nhân bị thiệt hại nhất.
Trong cuộc chiến, phụ nữ có thể bị coi là vật hiến tặng, trao đổi như hàng
hoá, bị trả thù, bị hãm hiếp, bị giết chết; là nạn nhân chịu bao khổ đau khi
chồng con và người thân bị giết chết, bị tàn tật. Chiến tranh là bạo lực xã hội
lớn nhất mà con người, trong đó phụ nữ phải gánh chịu nhiều nhất.
2.4. Phụ nữ là nạn nhân của các dạng bạo lực xã hội khác
Phụ nữ cũng là nạn nhân của rất nhiều tệ nạn xã hội khác. Tại Mêhicô
90% phụ nữ công nhân bị quấy rối tình dục. Nam Phi: 1/6 phụ nữ bị hành
hung. Jamaica (Caribê) không coi cưỡng dâm là tội phạm. Ấn Độ có 5 phụ nữ
bị giết một ngày do nạn thèm khát của hồi môn. Ở Mỹ, theo số liệu thống kê,
cứ 15 giây lại có 1 phụ nữ bị đánh, 6 phút có 1 phụ nữ bị hiếp, 1 ngày có 4
phụ nữ bị giết (Hội nghị Phụ nữ thế giới lần thứ tư, Bắc Knh, 1995).
Một trong những tệ nạn gây đau đớn nặng nề cho phụ nữ là nạn cắt bộ
phận sinh dục ngoài - Female Genital Mutilation (FGM) chủ yếu diễn ra ở
châu Phi, trong các nước theo Hồi giáo. Hiện nay, các nhà khoa học đã đổi
tên thành “Female Sexual Mutilation” - FSM (Nghĩa tiếng Việt không thay đổi)
Theo Hội đồng dân số thế giới, năm 2000 có khoảng 114 triệu phụ nữ châu
Phi là nạn nhân của nạn FSM; còn theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên
130 triệu phụ nữ và trẻ em đã là nạn nhân của FSM và 2 triệu em bé gái có
nguy cơ phải chịu nỗi đau này mỗi năm. Nạn FSM chủ yếu được tiến hành tại
28 nước châu Phi và ngày càng được tiến hành rộng rãi trong cộng đồng
người Phi nhập cư tại châu âu, Australia, Canada và Mỹ.
Đây là một tập tục từ lâu đời vì người ta đã tìm thấy những xác ướp bị
cắt bỏ âm vật từ trước khi đạo Islam ra đời. Nhiều người phải chịu để cho con
cái bị FSM là vì từ nhiều đời nay người ta vẫn tin rằng, nếu không như vậy sẽ
bị quỷ thần gieo tai hoạ. Thực chất đó là sự suy diễn của đàn ông nhằm kiềm
chế bản năng tình dục của phụ nữ.
Ở Somali: 98% phụ nữ bị cắt âm vật; Bukina Faso: 70%; Nigiêria có
6.000 phụ nữ bị cắt/ngày. Suđăng có tục là cô gái nào không cắt thì không lấy
được chồng.
Tuy nhiều phụ nữ có thể sống lâu hơn chồng nhưng nữ tính của họ rất
ngắn ngủi. Xã hội đã sớm giết chết bản năng giới tính khi áp đặt một “độ tuổi
xã hội” mà từ đó về sau người phụ nữ không còn hấp dẫn nữa. Đến tuổi 31,
theo những người đàn ông ở các nước này, người đàn bà đã vượt quá tuổi
lấy chồng. Đến tuổi 40, người ấy đã già. Là một cái nụ vừa hé nở, người đàn
bà đã trở thành một bà già trong một cơ thể chẳng có gì hứa hẹn. Đến tuổi
47, tuổi trung bình của thời kỳ mãn kinh cũng là sự kết thúc của nữ tính. Đó là
cái chết của giới tính. Người đàn bà sẽ sống một số năm nữa với một cơ thể
vô tình. Bị cắt bỏ mất nữ tính, người đàn bà đành phải từ bỏ luôn sức quyến
rũ và dục vọng. Họ từ bỏ chức năng về tình dục để chuyên tâm vào nhiệm vụ
làm mẹ và làm bà. Sau khi đã đem thân mình phục vụ người chồng và việc
sinh đẻ, người đàn bà chỉ còn tồn tại thông qua một tâm hồn sẽ phải làm cho
tinh khiết.
Từ năm 1924, phụ nữ châu Phi đã lên án tập tục này, nhưng vào thời
đó người ta coi họ là điên rồ và không quan tâm đến đòi hỏi chính đáng và
thiết thực của những người đấu tranh. Hiện nay, tại châu Phi, những phụ nữ
có tuổi, thất học có thể chịu đựng và chấp nhận tệ nạn này, nhưng những phụ
nữ trẻ lại đang phản ứng một cách mạnh mẽ. Thế hệ trẻ châu Phi ngày nay
đang đồng thanh khẳng định: “Tôi không muốn giống mẹ Kín”. Nữ thanh niên
Maroc chiếm 48% số dân dưới 20 tuổi đang tự giải phóng mình. Ngày càng
nhiều người chơi thể thao và chăm sóc hình thể. Tỷ lệ li dị đang gia tăng trong
giới trẻ. Đó là một thực tế đáng buồn nhưng nó chứng tỏ rằng những phụ nữ
thế hệ mới đang vùng lên đòi được quyền biểu thị nguyện vọng và ý chí của
mình. Họ nói: “Tôi không chỉ tồn tại với tư cách một người vợ, người mẹ.
Cuộc sống của tôi thuộc về tôi” Hiện nay, nam giới ở nhiều nước châu Phi đã
ủng hộ phong trào đấu tranh của phụ nữ bằng các tuyên bố: cô gái nào bị
FSM thì họ sẽ không lấy làm vợ. Đây là một thiệt thòi cho các cô gái bị cắt âm
vật nhưng cũng là thắng lợi của cuộc đấu tranh quyết liệt này.
Các cơ quan LHQ và nhiều tổ chức phi chính phủ coi FSM là một sự vi
phạm nhân quyền. Những tổ chức này đòi loại bỏ nó và coi mọi sự bảo lãnh
về tôn giáo hay văn hoá cho hành động này là không có cơ sở chính đáng.
Họ cũng bác bỏ quan điểm trung dung rằng, nên trang bị cho nó những dụng
cụ y tế nhằm giảm bớt nguy cơ nhiễm trùng, mà yêu cầu phải loại bỏ hoàn
toàn hiện tượng này. Ngoài những cuộc vận động hướng vào các cộng đồng,
các gia đình và cơ quan y tế, những cải cách về luật đang được nghiên cứu
nhằm ngăn cấm và trừng phạt FSM.
2.5. Nạn diệt giống cái
Theo UNICEF, tỷ lệ sinh thông thường theo tự nhiên là 95 gái/100 trai.
Tuy nhiên, hiện nay, tỷ lệ sinh không còn như vậy ở nhiều nước như Trung
Quốc, Đài Loan, ấn Độ, Hàn Quốc, Pakistan và ngay cả tại Việt Nam. Trẻ sơ
sinh nam tăng hơn 7% ở các nước đang phát triển. Các nhà khoa học gọi
hiện tượng này là sự vắng mặt của 100 triệu phụ nữ châu á. Đây là hệ quả
của việc phá thai nếu phát hiện là sẽ sinh con gái.
Chẳng hạn, Trung Quốc mất 49 triệu bé gái, ấn Độ có tới 90% ca phá
thai là trẻ gái. Biện pháp của các cặp vợ chồng là đi siêu âm và nếu phát hiện
là con gái thì sẽ phá thai hoặc khi đã đẻ ra rồi thì cho bé gái ăn nhựa cây độc,
nhét vỏ trấu vào mồm v.v… Hiện tượng trên đã làm mất cân bằng giới tính và
tạo ra hậu quả là Trung Quốc có khoảng gần 100 triệu nam giới không lấy
được vợ do thiếu phụ nữ. Họ buộc phải tìm vợ ở các nước khác như Việt
Nam, Malaysia, v.v… Chính việc này liên quan đến tệ nạn buôn bán phụ nữ
và trẻ em như đã phân tích ở phần trên.
Ở Việt Nam, nếu theo tỷ lệ sinh tự nhiên thì cứ 100 bé trai sinh ra thì xe
có 95 bé gái, nhưng hiện nay tỷ lệ này đã thay đổi. Ở nhiều nơi, tỷ lệ dã là
128 bé trai/95 bé gái do tệ nạn siêu âm và nạo thai bé gái (Uỷ ban Dân số, gia
đình và trẻ em, 2006). Tình trạng này xảy ra chủ yếu ở nông thôn, nơi các tập
tục còn nặng nề.
Để chống lại tình trạng nạo thai là giết hại bé gái, ngay từ những năm
1980 các bang Puzab và Maharashtra của ấn Độ đã cấm siêu âm xác định
giới tính thai nhi.
Năm 2006, Việt Nam có pháp lệnh cấm siêu âm xác định giới tính thai
nhi trước khi sinh con. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều bác sĩ làm bất hợp pháp
cho thai phụ. Luật pháp Việt Nam còn cho phép con cái được lấy họ bố hoặc
họ mẹ theo thoả thuận. Đây là một điều luật tiến bộ nhằm đạt được bình đẳng
nam nữ và chống lại tình trạng nạo thai bé gái.
2.6. Bạo lực gia đình
Các tài liệu về tình trạng bạo lực gia đình cho biết, Pakistan là một
nước theo Hồi giáo có 99% phụ nữ nội trợ và 77% phụ nữ viên chức bị chồng
đánh hằng năm. Tại Canada, một trong những nước dẫn đầu thế giới về chỉ
số bình đẳng giới cũng có khoảng 1/4 phụ nữ bị hành hạ trong gia đình. Ở
Pháp, một trong những nước được coi là văn minh của thế giới có 2 triệu phụ
nữ bị đánh/năm. Ở Đức, hơn 1/2 các cuộc bạo lực đối với phụ nữ là do chồng
hoặc bạn đời gây ra. Tại Việt Nam, cứ 2 - 3 ngày thì có 1 người bị giết liên
quan đến bạo lực gia đình (Báo cáo của Bộ Công an, 2007).
Như vậy, bạo lực gia đình là một tội ác đã xảy ra ở khắp nơi trên thế
giới, từ nước giàu có, văn minh đến nước nghèo, chậm phát triển. Tính toàn
cầu của bạo lực gia đình là cao nhất trong các loại tệ nạn xã hội.
2.7. Nạn đa thê
Tồn tại ở hầu khắp các dân tộc trước đây trong chế độ phụ quyền và
được luật pháp bảo vệ trong những nước theo đạo Hồi hiện nay. Chẳng hạn,
ở một số nước theo đạo Hồi hiện nay thì đàn ông có thể lấy 4 vợ với điều kiện
anh ta nuôi được các bà vợ và bảo đảm hoà bình trong gia đình anh ta. Ở
nhiều nước khác, luật pháp bảo vệ chế độ một vợ, một chồng nhưng trên
thực tế vẫn còn tệ nạn này trong trạng thái bất hợp pháp. Báo chí (2008) vừa
đăng tin về một người đàn ông đã lấy 84 bà vợ ở một nước châu Phi và khả
năng người ta sẽ không xử ông ta vì tội lấy quá nhiều vợ.
* Chức năng sinh sản: Để thực hiện chức năng sinh sản, hằng năm trên
500.000 phụ nữ (phần lớn trong các nước nghèo, các nước đang phát triển)
chết vì thai sản và sinh đẻ do điều kiện chăm sóc y tế thiếu thốn; 1/5 phụ nữ ở
châu Phi và Nam Á trong độ tuổi sinh đẻ chết vì lao lực và thai sản.
BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU
Giết người vì danh dự
Giết người vì danh dự ở Pakistan (thực chất là phong tục của các bộ
lạc Baloch và Pashtm) gần đây đã thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế.
Giết người vì danh dự đã được báo cáo không chỉ ở Balochistan, ở các tỉnh
tuyến ngoài Tây Bắc và ở vùng cao Sind mà còn ở tỉnh Punjab. Tình hình này
cũng được báo cáo ở Thổ Nhĩ Kỳ (Đông và Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ). lstanbul
và lzmir ở Tây Thổ Nhĩ Kỳ, Jordan, Syria, Ai cập, Lebanon, Iran, Yemen,
Morocco và các nước vùng vịnh. Nó cũng đã xảy ra ở các nước như: Đức,
Pháp, Anh trong các cộng đồng nhập cư. Giết người vì danh dự được thực
hiện bởi chồng, cha, anh em trai hoặc chú, cậu, đôi khi nhân danh hội đồng
bộ lạc. Người giết thực hiện chủ yếu là những người thanh niên trẻ tuổi ở gia
đình và sẽ được giảm nhẹ sự trừng phạt. Họ sẽ được coi là những anh hùng.
Trong nhà tù, nếu họ bị đưa tới đó, mọi người nhìn các chàng trai này trìu
mến và nói với họ rằng, họ là những chàng trai “trưởng thành”.
Thật khó khăn khi thống kê các con số về các vụ giết người vì danh dự
được cung cấp bởi một cộng đồng nào đó. Giết người vì danh dự thường là
tàn dư của các công việc gia đình, trên thực tế không có cơ quan thống kê và
hậu quả của nó là con số đích thực về những vụ giết người này bao giờ cũng
cao hơn báo cáo.
Tờ Bưu điện Washington phục vụ người nước ngoài báo cáo rằng, 278
kẻ giết người được báo cáo ở Puniah năm 1999 (8/5/2000). Ban chấp hành
của Uỷ ban quyền con người của Pakistan nhận được báo cáo về 196 trường
hợp giết người vì danh dự năm 1998 và hơn 300 người năm 1999. Chỉ riêng
Pakistan, hằng năm hơn 1.000 phụ nữ bị giết dưới cái tên danh dự.
Cơ quan quốc gia Palestin nghi ngờ rằng, 70% số kẻ giết người ở dải
Gaza và Ngân hàng phía Tây là những kẻ giết người vì danh dự. Họ luôn quy
cho đó là các nguyên nhân tự nhiên.
Báo giới gần đây đầy rẫy những thuật ngữ “Sharia” với những thông tin
về xứ sở Nigeria, châu Phi: sau tin tức về hoa hậu các nước đòi tẩy chay
cuộc thi hoa hậu thế giới 2002 tổ chức ở Nigeria để chống đối lại án tử hình
đối với cô Lawal. Một toà án Hồi giáo ngày 29/8 lại xử tiếp một cặp tình nhân
bị kết án tử hình theo cách ném đá vì tội ngoại tình. Sharia - Luật Hồi giáo
khắc nghiệt - không chỉ áp dụng đối với các bang phía Bắc Nigeria mà còn ở
nhiều quốc gia Hồi giáo khác, nhưng mức độ khắc nghiệt có khác nhau.
Theo Asian Week (Tổng hợp qua báo chí Việt Nam).
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Hãy cho biết một số phong tục chống phụ nữ mà em biết.
2. Em có biết vụ nạo thai bé gái nào xảy ra ở địa phương không?
Bài 6. PHONG TRÀO PHỤ NỮ QUỐC TẾ TỪ GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC
Lịch sử phát triển của nền văn minh nhân loại cũng có thể nói là lịch sử
của các cuộc đấu tranh nhằm xoá bỏ những sự bất bình đẳng. Trong cuộc
đấu tranh này, các nhà tư tưởng lớn trên thế giới đều là những người đứng ở
vị trí hàng đầu. Xã hội càng tiến bộ thì nhận thức của con người về sự bình
đẳng ngày càng toàn diện và cuộc đấu tranh chống bất bình đẳng vì thế càng
mạnh mẽ hơn.
Đã có áp bức là sẽ có đấu tranh, đó là lẽ thường tình của lịch sử.
Chúng ta đều biết, thông thường các cuộc đấu tranh trong xã hội luôn diễn ra
dưới nhiều hình thức, chẳng hạn như các hình thức đấu tranh của giai cấp bị
trị chống lại giai cấp thống trị, thường là khởi nghĩa; đấu tranh tư tưởng, chính
trị; đấu tranh vũ trang, cách mạng, đảo chính; đấu tranh nghị trường; yêu cầu
cải cách kinh tế, chính trị, xã hội.
Tuy nhiên, cuộc đấu tranh vì bình đẳng giới rất đặc biệt, không hoàn
toàn giống như các cuộc đấu tranh giai cấp và cũng không giải quyết theo
cách thức của các cuộc đấu tranh giai cấp. Vì sao lại như vậy? Điều này xuất
phát từ tính đặc thù của bất bình đẳng giới. Bất bình đẳng giới không chỉ ở
diễn ra ở phạm vi rộng lớn của xã hội mà còn trong gia đình giữa những
người thân yêu, ruột thịt, vì lẽ đó, nó còn bị tình yêu, tình cảm gia đình chi
phối và che mờ. Tất nhiên, với người phụ nữ, không bao giờ chồng con và
cha anh lại là một thứ kẻ thù giai cấp.
Phong trào đấu tranh của phụ nữ là phong trào xã hội của phụ nữ nhằm
đấu tranh để bảo vệ và mở rộng các quyền của phụ nữ và xoá bỏ các biểu
hiện của tư tưởng nam trị. Phong trào này không dùng bạo lực mà mang tính
ôn hoà. Trong các cuộc cách mạng xã hội, phong trào phụ nữ thường hoà
nhập vào phong trào giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.
Phong trào phụ nữ quốc tế trải qua các thời kỳ sau:
I. THỜI KỲ ĐẦU TIÊN
1. Phong trào nữ quyền buổi đầu ở Pháp
Trong cách mạng tư sản Pháp, được khơi nguồn từ năm 1789, không
khí đấu tranh sục sôi chống lại thể chế chính trị quân chủ, đòi quyền tự đo cho
con người đã kích thích các tầng lớp xã hội tham gia. Sau những đêm trường
“trung cổ dưới sự thống trị ngặt nghèo, ngạt thở của chủ nghĩa phong kiến,
khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái đã hấp dẫn cả nam và nữ.
Phụ nữ cho rằng, thời cơ giải phóng họ khỏi ách áp bức của phong
bến, của chủ nghĩa nam quyền đã tới. Nhiều câu lạc bộ phụ nữ được hành
lập ở Paris và các tỉnh lớn. Đấy là nơi phụ nữ gặp gỡ, phát triển các cương
lĩnh chính trị, kêu gọi bình quyền trong giáo dục, công ăn việc làm và quản lý.
Một đại biểu lớn của phong trào phụ nữ lúc đó là bà Marie Gouze. Tuy nhiên,
chính quyền tư sản mới không đáp lại nguyện vọng của phụ nữ. Tự do, bình
đẳng, bác ái chỉ dành cho giai cấp tư sản đang lên, đặc biệt là nam giới.
Chính quyền đàn áp các câu lạc bộ và hành quyết Marie Gouze năm 1793.
Các câu lạc bộ phụ nữ lập tức bị giải tán, phong trào tạm ngừng. Tuy nhiên,
phong trào nữ quyền Pháp đã đóng vai trò tiên phong trong phong trào nữ
quyền thế giới.
2. Cuộc đấu tranh ở Mỹ
Thế kỷ XIX, phong trào nữ quyền ở Mỹ mạnh hơn các nước khác.
Trong giai đoạn từ năm 1830 đến năm 1850, các nhà nữ quyền tập trung đấu
tranh xoá bỏ chế độ nô lệ, bởi lẽ ở Mỹ, những người nô lệ không có quyền lợi
về chính trị, không có đại diện ở Thượng và Hạ nghị viện, đặc biệt là phụ nữ
da đen. Phụ nữ da đen đóng vai trò nhất định trong những phát triển đầut của
phong trào phụ nữ Mỹ, nhưng họ gặp phải sự kỳ thị không chỉ của nam giới
mà của cả phụ nữ da trắng. Do vậy, rất ít các nhà nữ quyền da đen tham gia
lãnh đạo. Mặt khác, khi chế độ nô lệ bị bác bỏ. Quốc hội Mỹ cho phép chỉ có
nô lệ nam sau khi được quyền tự do mới có quyền bỏ phiếu. Vấn đề phụ nữ
da đen trở thành một vấn đề đặc thù trong các quan điểm nữ quyền. Ở đây,
vấn đề giới và dân tộc đã lồng ghép vào nhau và gây ra những áp bức nặng
nề đối với phụ nữ da đen. Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh giành quyền cho
phụ nữ trong giai đoạn cầu dường như các nhà nữ quyền chưa có điều kiện
đi vào các vấn đề đặc dù của phụ nữ da màu nói chung và da đen nói riêng.
3. Cuộc đấu tranh ở một số nước châu âu
Đấu tranh giành quyền công dân:
Vào thế kỷ XIX, phụ nữ tất cả các nước đều không có quyền bầu cử,
đến năm 1866, một kiến nghị do 1.500 phụ nữ ký tên được trình lên Nghị viện
Anh, đòi những cuộc cải cách bầu cử đang được thảo luận lúc ấy phải bao
gồm cả quyền bầu cử cho phụ nữ. Tuy nhiên, kiến nghị không lọt tai các nghị
sĩ là nam giới và bị phớt lờ. Để đáp lại, những người tổ chức lập một hội quốc
gia vì quyền bầu cử của phụ nữ vào năm tiếp theo, và tiếp tục kiến nghị đòi
mở rộng phương thức bầu cử để phụ nữ có quyền tham gia.
Năm 1893, cuộc đấu tranh đòi quyền bầu cử cho phụ nữ lan rộng sang
New Zeland và cũng vào năm này, phụ nữ New Zeland đã chính thức có
được quyền lợi chính đáng trên.
Sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, phong trào đòi quyền công dân cho
phụ nữ diễn ra ở hàng loạt các nước châu âu. Kết quả là từ năm 1919 phụ nữ
thụy Điển giành được quyền bầu cử, ứng cử ở địa phương và nghị viện. Năm
1921, nước này có người phụ nữ đầu tiên làm Bộ trưởng. Năm 1920, phụ nữ
Mỹ giành được quyền bầu cử (trong khi nước Mỹ tuyên bố độc lập với Tuyên
ngôn độc lập nổi tiếng về bình đẳng năm 1776, còn người da đen giành được
quyền bầu cử vào năm 1965).
Năm 1928, phụ nữ Anh giành được quyền bầu cử (trong khi đó, cách
đây hơn 700 năm, Hiến chương Muông Chúa ra đời, ở Anh đã có nghị viện).
Đến năm 1987, phụ nữ ở 115 nước trên thế giới được quyền bầu cử.
Tuy nhiên, do không có quyền chính thức về mặt chính trị, phụ nữ bị
loại ra khỏi các cuộc vận động hành lang chính trị (con đường mà các nhà cải
cách vẫn theo đuổi để đạt mục tiêu của mình). Do vậy, các nhóm phụ nữ quay
sang xem xét trực tiếp hơn bản thân các hiện tượng bất bình đẳng giới trong
đời sống. Họ thấy rằng rất ít thành quả thực tế dẫn đến việc cải thiện địa vị
chính trị xã hội của phụ nữ trong giai đoạn này ở nhiều nước.
Đầu thế kỷ XX, phong trào nữ quyền tại Anh đã có ảnh hưởng lớn trên
thế giới, ngang hàng với Mỹ: Những cuộc diễu hành và mít tinh trên đường
phố thường được tổ chức ở cả hai nước. Các phong trào phụ nữ cũng nở rộ
ở các nước châu âu khác.
Phong trào đấu tranh vì các quyền lợi khác:
Sau khi được quyền bầu cử, phụ nữ nhận ra rằng, quyền bầu cử không
có nghĩa là họ được bình đẳng trong các lĩnh vực khác. Sự phân biệt nam nữ
chủ yếu diễn ra ở nơi làm việc, đồng lương bị phân biệt, điều kiện sống, gia
đình, phong tục tập quán, quấy rối tình dục, bạo lực chống phụ nữ… Phong
trào phụ nữ bắt đầu hướng vào các vấn đề: đòi bình đẳng trong việc làm, thu
nhập, đòi được nâng cao trình độ… đưa đến những thay đổi đặc trưng trong
đời sống phụ nữ. Phong trào phụ nữ thúc đẩy việc nghiên cứu, điều tra, phơi
bày các hình thức bóc lột phụ nữ và từ đó việc xem xét phụ nữ với tư cách là
1/2 nhân loại đã được đặt ra.
Phong trào được coi là thực sự mạnh mẽ bắt đầu từ những năm 1960.
Những năm 70 của thế kỷ XX ra đời hàng loạt đạo luật: ở Anh có đạo luật
lương ngang nhau (12/1975), đạo luật chống mọi hình thức phân biệt đối xử
nam nữ. Ở Thụy Điển có Luật Bảo hiểm bố mẹ, quy định quyền bình đẳng
trong nghĩa vụ, chăm sóc với con cái (các quy định về con ốm, bố nghỉ; vợ
chồng thay nhau nghỉ đẻ…).
II. PHONG TRÀO PHỤ NỮ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
Sự ra đời hàng loạt nước XHCN với chính sách bình đẳng nam nữ làm
cho phụ nữ được bình đẳng hơn với nam giới đã có tác động đến nhiều nước
trên thế giới, đặc biệt là các nước phương Tây.
Vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX, đặc biệt là từ năm 1960, các
phong trào phụ nữ trở lại nổi bật ở Mỹ. Các phong trào này cũng chịu ảnh
hưởng của các phong trào dân quyền và phong trào sinh viên. Nhiều phụ nữ
rất tích cực trong các cuộc đấu tranh kể trên, nhưng lại bị các phần tử nòng
cốt là nam giới chỉ dành cho vai trò thứ yếu. Do vậy, phụ nữ bắt đấu thành lập
các tổ chức độc lập của họ. Trong hơn 30 năm qua, thuyết nữ quyền đã có
ảnh hưởng cơ bản trên toàn thế giới, kể cả ở những nước đang phát triển.
III. PHONG TRÀO PHỤ NỮ TỪ NĂM 1975 - 1985
Phụ nữ nhận thấy: Luật có thay đổi song không có hiệu quả với những
hình thức áp bức về tư tưởng. Luật không có hiệu lực với gia đình hay đời
sống riêng của phụ nữ. Luật không có hiệu lực đối với việc trợ cấp chống nạn
hãm hiếp, mại dâm… Nghĩa là nguồn gốc cơ bản của áp bức phụ nữ vượt ra
ngoài ảnh hưởng của pháp luật và tuỳ thuộc vào điều kiện vật chất, điều kiện
văn hoá, tinh thần và tập quán xã hội. Những nhận định quan trọng này đã
đưa phong trào phụ nữ hướng đến các mục tiêu toàn diện trong cả pháp luật
và đời sống, tính đến vai trò và vị trí của nam và nữ trong việc làm và gia
đình.
Bình đẳng nam nữ đã được ghi nhận trong Hiến chương của LHQ năm
1945, song vấn đề mới chỉ được xem xét dưới góc độ quyền con mười. Trong
thập kỷ phát triển thứ hai của LHQ (1970 - 1980) (thập kỷ phát triển thứ nhất
của LHQ là từ năm 1960 - 1970), mối quan tâm đến phụ nữ đã được đề cập
trong bối cảnh phát triển toàn cầu. Cách tiếp cận mới này đã thu hút phụ nữ
vào quá trình phát triển và nó đã trở thành công thức cho chiến lược phát
triển của LHQ những năm 70 của thế kỷ XX. Tuyên bố năm 1975 là năm
Quốc tế phụ nữ và từ năm 1975 - 1985 là Thập kỷ quốc tế phụ nữ đã là một
bước tiến quan trọng trong phong trào phụ nữ và phong trào dân chủ xã hội.
Đây cũng là một đòn đánh mạnh vào chủ nghĩa phụ quyền toàn cầu.
Hội nghị Phụ nữ thế giới lần thứ nhất được tổ chức tại Mêhicô năm
1975. Đây cũng là năm Quốc tế Phụ nữ. Mục đích của năm này là xác định
những yêu cầu đối với một xã hội, mà trong đó phụ nữ được tham gia đầy đủ
và thực sự vào đời sống chính trị, kinh tế, xã hội cũng như xây dựng các
chiến lược nhằm thực hiện những yêu cầu này. Hội nghị đã chấp thuận kế
hoạch hành động của thế giới. Mục đích của cả thập kỷ là kêu gọi các tổ chức
chính phủ và phi chính phủ (NGO) ở cấp quốc gia và quốc tế trợ giúp cho việc
thực hiện kế hoạch này. Khẩu hiệu của Hội nghị là “bình đẳng, phát triển, hoà
bình”.
Hội nghị đã đánh dấu sự phát triển phong trào phụ nữ từ cấp độ quốc
gia sang cấp độ quốc tế. Căn cứ vào các nhu cầu của phong trào phụ nữ, vấn
đề thành lập hàng loạt các tổ chức phụ nữ ở cấp quốc tế và khu vực đã được
đặt ra. Trên cơ sở đó, Tổ chức Quỹ Phụ nữ LHQ (UNIFEM) đã được thành
lập.
Hội nghị Phụ nữ thế giới lần thứ hai được tổ chức tại Copenhagen (Đan
Mạch) năm 1980. Đây là hội nghị giữa kỳ nhằm kiểm điểm tình hình hoạt
động của 112 Thập kỷ quốc tế phụ nữ. Sau khi đánh giá những thành tựu và
những cản trở trong 5 năm đầu của Thập kỷ phụ nữ. Hội nghị đã nâng cao
nhận thức của thế giới về quan điểm cho rằng phụ nữ là bộ phận liên kết của
mọi vấn đề mang tính toàn cầu trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Hội nghị đã
quyết định tiến hành cuộc nghiên cứu tổng quát mang tính quốc tế về vai trò
của phụ nữ trong sự phát triển toàn diện. Cuộc nghiên cứu này đã là một
bước tiến có tính chất quyết định trong sự phân tích vai trò của phụ nữ trong
các vấn đề phát triển then chốt được đặt ra cho Thập kỷ phát triển thứ ba của
LHQ (1980 - 1990). Công trình nghiên cứu đã đưa ra một đánh giá có tính hệ
thống, cần thiết để xây dựng chiến lược thu hút phụ nữ vào dòng chính của
phát triển thế giới. Đây là một bước ngoặt đối với các vấn đề của phụ nữ
trong hệ thống của LHQ.
Hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ ba tại Nairobi, 1985. Đây là năm kết
thúc Thập kỷ phụ nữ. Hội nghị nhằm đánh giá những thành tựu, định hướng
cho thập kỷ sau, thông qua chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm
2000. Chiến lược này đặc biệt đã cho thấy, phụ nữ là những trí thức, người ra
chính sách, lập kế hoạch, người đóng góp và hưởng lợi từ phát triển. Thập kỷ
phụ nữ đã tạo ra một sự thay đổi lớn. Nó đã thu hút sự chú ý trên toàn thế
giới. Nhiều chính phủ đã đề cập đến vấn đề phụ nữ.
Giai đoạn này đã ra đời 2 Công ước quan trọng của LHQ về phụ nữ:
Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (The
Convention on the Elimination of an Forms of Discrimination against Women -
CEDAW) và Công ước chống mọi hình thức bóc lột tình dục đối với phụ nữ.
Ngày 18/12/1979, CEDAW được Đại Hội đồng LHQ phê chuẩn. Đến ngày
3/9/1981, Công ước có hiệu lực sau khi nước thứ 20 thông qua. Việt Nam là
quốc gia thứ 6 ký Công ước, vào ngày 29/7/1980; ngày 19/3/1982, Quốc hội
phê chuẩn Công ước và là quốc gia thứ 35 phê chuẩn. Đến năm 2008, có 185
quốc gia là thành viên của CEDAW.
“Công ước chống mọi hình thức bóc lột tình dục đối với phụ nữ” được
LHQ thông qua đã xác định hình thức bóc lột tình dục với phụ nữ là kỹ nghệ
mại dâm, hãm hiếp, quấy rối tình dục, buôn bán phụ nữ, quảng cáo trên thân
thể hoặc nhân phẩm phụ nữ.
IV. PHONG TRÀO PHỤ NỮ TỪ NĂM 1986 - 1995
Trong giai đoạn này, xuất hiện khuynh hướng đổi mới trong hầu hết các
nước XHCN. Sự kết hợp giữa hai phong trào phụ nữ của các nước trong khối
XHCN và TBCN đã diễn ra. Từ sau 1985, chính phủ nhiều nước đã sửa đổi
pháp luật cho phù hợp với chiến lược Nairobi. Nhiều chương trình hành động
phối hợp giữa chính phủ và phi chính phủ (NGO) đã được ký kết. Chính phủ
đã thành lập các cơ quan chuyên môn, các chương trình đặc biệt trong đó
khẳng định biến đổi lớn về tư tưởng, nhận thức trong phong trào phụ nữ quốc
tế. Các hoạt động làm thay đổi chính sách, phân công lao động, phong tục,
hợp tác quốc tế được tăng cường.
Hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ tư được tiến hành tại Bắc Kinh, năm
1995, đã đưa ra được nhiều ý tưởng và sự thống nhất mới cho phong trào
phụ nữ. Khẩu hiệu “Bình đẳng, phát triển, hoà bình, hành động” (hành động là
điểm mới) trở thành lời kêu gọi chung cho phụ nữ và nhân loại tiến bộ trên
toàn cầu. Hội nghị phụ nữ lần thứ tư ở Bắc kinh dã thảo luận sâu sắc các vấn
đề của phụ nữ trong phát triển. Đây là sự kiện đánh dấu một bước tiến mới
trong phong trào phụ nữ thế giới và nhân loại tiến bộ. Lần đầu tiên phụ nữ các
màu da, các chính kiến, các tôn giáo… đã tập hợp ở đây vì mục đích xây
dựng một thế giới “bình đẳng, phát triển, hoà bình”.
Chỉ tính riêng diễn đàn phi chính phủ đã tổ chức hơn 3.000 cuộc hội
thảo với hàng chục nhóm chủ đề quan trọng. Chẳng hạn, vấn đề chính sách
giới và sự phát triển con người; vấn đề gia đình; phụ nữ và chính trị; phụ nữ
và lao động, việc làm; phụ nữ và văn hoá; phụ nữ và các chuẩn mực đạo đức;
phụ nữ và những sai lệch của chuẩn mực xã hội; phụ nữ di cư; phụ nữ và sức
khoẻ sinh sản; phụ nữ và truyền thông…
Hội nghị đã nhận định rằng, bất bình đẳng về giới vẫn luôn là vấn đề
căng thẳng trên thế giới hiện nay. Ở nhiều nơi, giải phóng phụ nữ chỉ là
những khẩu hiệu mang tính hình thức và sự nỗ lực để giải quyết vấn đề phụ
nữ sẽ không chỉ là nhiệm vụ của riêng một nước hay riêng một giới. Sự bất
bình đẳng biểu hiện trước hết trên lĩnh vực quyền lực. Theo tư liệu chung tại
hội nghị, thế giới hiện nay có khoảng vài chục phụ nữ là nguyên thủ quốc gia
mà trong đó có không ít người may mắn được kế thừa chức vị của dòng họ.
Ở hầu hết các nước phụ nữ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn trong nghị viện. Chẳng
hạn ở Nhật bản là 3%, Pháp 6%, Mỹ 11 %, Nam Phi 25%, Thụy điển cao nhất
là 47%.
Hội nghị lập chiến lược hành động cho thập kỷ tới. Đây là hội nghị lớn
nhất về quy mô, số lượng đại biểu, số lượng vấn đề, tính toàn diện của vấn
đề. Một số chủ đề mới được đặt ra trong hội nghị: vấn đề giáo dục trẻ em gái;
phụ nữ đạo Hồi; tình dục của phụ nữ cao tuổi; chống buôn bán phụ nữ và trẻ
em; chống bạo lực với phụ nữ…
Nghiên cứu về phong trào phụ nữ hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy
rằng, nó đang vừa được mở rộng mạnh mẽ, vừa giữ được sự thống nhất
chung về tư tưởng và phương hướng hoạt động. Nhìn chung, phong trào phụ
nữ hiện nay đang xem xét các vấn đề bình đẳng giới trên một phạm vi rộng
hơn nhiều so với các bậc tiền bối. Họ đòi bình đẳng kinh tế, quyền phá thai và
sửa đổi luật li hôn. Cùng với thành tựu thực tiễn, phong trào phụ nữ cũng có
ảnh hưởng trí tuệ vượt xa các thành công trước đây.
Sau Hội nghị Bắc Kinh, các hội nghị khác như Hội nghị Bắc Kinh + 5
(năm 2000), Hội nghị Bắc Kinh + 10 (năm 2005) tại New York cũng để lại
những dấu ấn tốt đẹp cho sự phát triển của phong trào phụ nữ.
Phân tích lịch sử của phong trào phụ nữ các nhà nghiên cứu đưa ra ba
xu hướng phát triển mạnh mẽ, gắn liền với ba giai đoạn (3 làn sóng nữ
quyền):
Làn sóng nữ quyền thứ nhất (The First Wave of Feminism): từ khoảng
năm 1848 - 1918. Các nhà nữ quyền đề cập đến hai lĩnh vực công cộng là đời
sống riêng tư với mục tiêu đạt được các quyền phụ nữ trong phạm công
cộng, đặc biệt là bầu cử, giáo dục và các vấn đề nghề nghiệp. Ví dụ, phụ nữ
đòi được tham gia nghề được coi là của nam giới như nghề Y.
Quan điểm của các nhà nữ quyền thời kỳ này là nhanh chóng đưa phụ
nữ tham gia vào lĩnh vực công cộng, nơi trước đây chỉ dành riêng cho nam
giới. Cuốn sách nổi tiếng “Một biện minh cho quyền phụ nữ” (A Vindication of
the Right of Women) của Mary Wollstonecraft, xuất bản năm 1872, đã đặt vấn
đề quan tâm đến giáo dục bình đẳng cho phụ nữ và thúc đẩy sự tham gia của
phụ nữ vào nghề nghiệp, trong đó có nghề Y.
Trong lĩnh vực đời sống riêng tư, các nhà nữ quyền có quan điểm mới
trong việc phá thai, kiểm soát mức sinh, hôn nhân, sống độc thân. Những
thành quả quan trọng khác bao gồm việc sửa đổi pháp luật để thực thi quyền
phụ nữ. Chẳng hạn, phụ nữ khi lấy chồng, từ chỗ chỉ là tài sản, là sở hữu của
chồng đến chỗ thành cá nhân có tư cách pháp lý, có quyền chăm con, có sở
hữu tài sản và có quyền chủ động li hôn.
Một quan tâm khác là tính dục. Các nhà nữ quyền đã thành công trong
việc xoá bỏ một đạo luật vốn cho phép cảnh sát dùng vũ lực bắt bất kỳ phụ
nữ nào bị nghi là điếm phải bị khám xét và giam giữ. Họ đưa ra quan điểm là
mại dâm không phải là lỗi của phụ nữ mà ngược lại, xã hội đã đẩy phụ nữ và
bắt buộc họ phải làm cái nghề bị khinh rẻ này.
Các nhà nữ quyền cũng thành công trong việc bảo vệ các bé gái khỏi
chế độ buôn nô lệ da trắng. Chúng bị trừng trị nghiêm khắc khi vụ việc bị phát
giác.
Trong thời kỳ này, phụ nữ có quan điểm khác nhau về tránh thai. Một
số ủng hộ quyền của phụ nữ tận hưởng tính dục và kiểm soát mức sinh của
mình: một số khác, nhất là phụ nữ công nhân thì chống lại việc kiểm soát mức
sinh; số khác nữa cho rằng: hôn nhân là chẳng có gì đáng mong muốn, họ
không tin rằng hôn nhân giữa nam và nữ là bình thường, là thêm vui.
Làn sóng thứ hai (The Second Wave of Feminism) từ 1918 đến 1968
với các mục tiêu về cải cách xã hội như chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ
nghèo; vấn đề thực phẩm ở trường học cho trẻ em. Những quan điểm mạnh
mẽ trong thời kỳ này đã được coi như “cuộc cách mạng” trong lĩnh vực riêng
tư, đó là việc đề cập đến quyền tránh thai, chấm dứt áp bức tình dục của nam
giới đối với phụ nữ…
Làn sóng thứ hai có 2 xu hướng lớn là phong trào nữ quyền XHCN hay
macxit và phong trào nữ quyền tự do, cấp tiến. Thời kỳ này đã ra đời cuốn
sách “Sự huyền bí của nữ tính” (Feminie Mystique) của Betty Friedan, xuất
bản năm 1963. Bà đã phỏng vấn 50 phụ nữ nội trợ của tầng lớp trên, những
người được coi là hạnh phúc nhất do không phải vật lộn kiếm tiền và đời sống
kinh tế, tinh thần đạt mức khá trong xã hội. Tuy nhiên, kết quả thật bất ngờ:
những phụ nữ này cảm thấy cực kỳ bất hạnh, bất hạnh trong hôn nhân, làm
việc quá sức với những việc không tên và hầu như không có quyền trong tài
sản.
Những phụ nữ này đã phát biểu về sự khốn khổ và thất vọng của mình
trước tình trạng hiện tại. Họ đã gặp phải “một vấn đề không tên” trong công
việc và đời sống hằng ngày, một sự bất mãn không diễn đạt được bằng khái
niệm. Đó là sự thất vọng về bản chất và hình thức của công việc nội trợ, sự tù
túng, không có tiền công và phụ thuộc vào nam giới về đồng lương và sự hạn
chế mối giao tiếp xã hội đã đè bẹp họ trong đời sống gia đình.
Ngoài ra, những phụ nữ đang làm việc cũng chịu sự bất công trong đối
xử ở Anh đã xuất hiện các cuộc bãi công đòi trả lương ngang nhau trong các
công việc ngang nhau (Do phụ nữ nhiều nước phải chịu chế độ lương bổng bị
phân biệt với nam giới. Chẳng hạn, phụ nữ nhiều nước chỉ được hưởng 70 -
80% lương của nam giới trong cùng một công việc).
Phong trào giải phóng phụ nữ (Womens Liberation Movement) là một
trong những lực lượng cơ bản của làn sóng thứ hai.
Thời kỳ này, phong trào nữ quyền đã là tiền đề ra đời những nghiên
cứu về phụ nữ. Những nghiên cứu này bắt nguồn từ thực tiễn chính trị là
nâng cao ý thức cho phụ nữ. Theo Eva Gamamikow, ban đầu các nghiên cứu
phụ nữ được coi là nhằm khôi phục lại thế cân bằng trong XHH bằng cách
đưa phụ nữ vào đó đo trước đây họ bị gạt ra ngoài các lĩnh vực khoa học và
bị hạn chế trong gia đình để thực hiện các chức năng sinh học. Từ đó các nhà
nữ quyền bắt đầu đặt dấu hỏi về lý do sự vắng mặt của phụ nữ trong cơ chế
chính trị, trong các hoạt động xã hội. Những câu hỏi đó dẫn đến việc xét lại
các quan niệm hiện có và làm thay đổi nó.
Làn sóng thứ ba (The Thirt Wave of Feminism) từ 1968 đến nay liên
quan đến cả các vấn đề công cộng và riêng tư của phụ nữ. Các vấn đề công
cộng là sự chi trả bình đẳng đồng lương, chấm dứt sự phân biệt giới tính
trong nghề nghiệp, vấn đề lương hưu, thế chấp tài sản… Các vấn đề riêng tư
như việc tránh thai, nạo thai, bị hãm hiếp và bạo lực gia đình. Trong làn sóng
thứ ba, phong trào nữ quyền đã phát triển toàn diện và sâu sắc trên rất nhiều
ngành khoa học. Ngược lại, tất cả các ngành của Khoa học Xã hội và Nhân
văn đã phát triển là cơ sở vững chắc cho các tư tưởng nữ quyền. Bản thân
thuyết Nữ quyền cũng được phân chia theo các chuyên ngành: có các nhà nữ
quyền địa lý, lịch sử, khoa học chính trị, tâm lý, xã hội học…
Cả làn sóng thứ nhất và làn sóng thứ ba đều liên quan đến các hoạt
động chính trị, với sự cải thiện tình trạng kinh tế của phụ nữ, chính sách
chống bạo lực với phụ nữ, giáo dục của phụ nữ, sự phát triển địa vị của phụ
nữ và sức khoẻ của trẻ em; sự đảm bảo rằng tiếng nói và kinh nghiệm của
phụ nữ được coi trọng như nam giới.
Một trong những khác biệt chính giữa làn sóng thứ nhất với làn sóng
thứ ba trong thế giới nói tiếng Anh là sự liên quan đặc biệt với XHH: từ thái độ
đại kiến thức. Nhìn chung, làn sóng thứ nhất đã đề cập đến việc mở ra giáo
dục bậc trung học phổ thông tập huấn nghề nghiệp cho phụ nữ là bé gái.
Trong làn sóng thứ nhất đã tồn tại một vài thách thức là việc thay đổi trật tự
hàn lâm: phụ nữ muốn được vào học tại các trường học, đại học và muốn
theo đuổi các chủ đề nghiên cứu. Đây là một cú “sốc” cho nhiều người trong
kỷ nguyên mà chỉ có nam giới mới được phép nghiên cứu môn Đại số, tiếng
Hy Lạp, tiếng Do Thái, tiếng La Tinh và khoa học Vật lý.
Hồi ức của Evi Glenn cho thấy, bà đã tức giận khi năm 1960 bà đến thư
viện Lamont của trường Harvard, nơi không mở cửa cho sinh viên nữ. Các
nhà nữ quyền nhận xét “Chúng ta (phụ nữ) đã không có thiên đường và đây
là thời kỳ phân biệt giới tính” (Delamont, 2003).
Mục tiêu của các nhà nữ quyền là tạo điều kiện để phụ nữ có thể tham
gia vào các ngành khoa học và chứng minh rằng phụ nữ cũng rất xuất sắc.
Tấm gương của nữ bác học vĩ đại người Ba Lan, Marie Curie, người hai lần
được giải Nobel về vật lý và hoá học, người sinh viên và nữ giáo sư đầu tiên
của trường đại học Pháp đã cổ vũ, khích lệ nhiều phụ nữ trong học vấn và
đấu tranh. Nhà toán học nữ người Nga Kôvalepskaia cũng đã chứng minh
khả năng tuyệt vời của phụ nữ trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, nơi trước
đây vẫn được coi là chỉ có nam giới mới làm được.
Các nhà nữ quyền phản đối tình trạng khoa học chỉ của riêng nam giới
đến tận nửa đầu thế kỷ XX. Khi phụ nữ bị cấm đoán học các kiến thức của
nam giới thì chính nó càng kích thích phụ nữ là cần thiết phải đạt được sự
tiếp cận các kiến thức này và phải chiếm lĩnh nó có hiệu quả. Trong làn sóng
thứ hai, việc nhấn mạnh các cải cách xã hội và quyền phúc lợi cũng giúp các
nhà nữ quyền tìm ra được các cơ sở chung cho các kiến thức hàn lâm cơ bản
về các ngành học cụ thể.
Vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX, khi làn sóng thứ ba nổi lên, phụ
nữ ở Anh và Mỹ đã được phép vào các lĩnh vực kiến thức dành cho nam giới.
Phong trào nữ quyền ở làn sóng thứ ba đã tập trung vào sự thách thức của
khoa học luận cơ bản, các phương pháp và nội dung của.sự hoà nhập” học
thuật giữa nghiên cứu viên là nam và nữ. Các tạp chí về nữ quyền thời kỳ này
đều đưa ra các nguyên nhân và những cố gắng của phụ nữ trong xã hội,
trong học tập. Bên cạnh đó, hàng loạt các cuốn sách, nhiều tạp chí mới, hội
nghị, lớp học với rất nhiều chủ đề về nữ quyền cũng ra đời. XHH là nền tảng
phong phú cho các thách thức về nữ quyền tiến tới các kiến thức cơ bản. Mỗi
một ngành học, nghệ thuật và khoa học xã hội đều thành lập và phát triển các
ủy ban hoặc nhóm của các học giả nữ. Các ngành học nghiên cứu về phụ nữ
đã truyền bá các quan điểm và kiến thức về nữ quyền lừ thời trung cổ đến nữ
quyền nửa cuối thế kỷ XX và thế kỷ XXI. Các nguyên tắc chung đã được đưa
ra là:
- Phối hợp giữa các nhà XHH nữ quyền và sự hoà nhập các ngành học
(hoặc như nhiều nhà nữ quyền đã đưa ra thuật ngữ về dòng chảy của nam
giới).
- Phân tích sự đa dạng của XHH nữ quyền như: nữ quyền XHCN của
Michele Banett, nữ quyền cấp tiến của Sylvia Walby, nữ quyền tự do của
Betty Friedan.
Sự phát triển của phong trào nữ quyền tự do còn gắn với những khám
phá mới của tư tưởng Simone De Beauvoir về giới tính thứ hai, về XHH và
những cuộc thảo luận về sự phối hợp song hành giữa phong trào phụ nữ
châu Phi và Mỹ.
XHH nữ quyền đã lập ra các tạp chí, xuất bản nhiều sách báo và thay
đổi các chương trình nghiên cứu trong nhiều cuộc thảo luận thực nghiệm. Sự
phối hợp giữa nghiên cứu nữ quyền với các lý thuyết khác và với “Các nghiên
cứu nam giới mới” đã được thảo luận. Bạo lực gia đình là một trong tám khía
cạnh cá nhân, cuộc sống riêng đã trở thành một trong những chủ đề Xã hội
học được quan tâm nhiều nhất trong khoảng 30 năm trở lại đây. Bạo lực gia
đình, nơi đã hành hạ về thể xác và tình dục phụ nữ, nơi những đứa trẻ hoặc
những người già đã trở thành nạn nhân cũng được nghiên cứu và đề xuất các
giải pháp phòng chống (Dobash và Dobash. 1992).
Trong thời kỳ này, các nhà nghiên cứu khác đã khai thác về các công
việc nội trợ (Oakley, 1974; Sullivan, 1997), tiền (Palh, 1990; Vogler, 1998),
tiến tới sự độc lập (Finch và Grove, 1983) và sự lựa chọn thực phẩm có sự
chuẩn bị (Charles và Kerr, 1998; Murcott, 1983). Các cán bộ nghiên cứu về
các chủ đề hôn nhân, li dị và tái hôn đã sử dụng kiến thức từ các nghiên cứu
về thực phẩm, tiền, bạo lực và lao động việc nhà (Delamont, 2003).
V. PHONG TRÀO PHỤ NỮ HIỆN NAY
Liên quan đến làn sóng thứ ba. Sau hội nghị Bắc Kinh năm 1995 là các
Hội nghị Bắc Kinh +5 (năm 2000) và Bắc Kinh +10 (2005) tại New York. Ngoài
ra còn rất nhiều hội nghị phụ nữ được diễn ra trong phạm vi toàn cầu, từng
khu vực, từng nước. Phong trào phụ nữ cũng được coi là rất mạnh mẽ ở
Châu Á, nơi đói nghèo và các phong tục khắt khe vẫn còn nặng nề. Các chủ
đề đặt ra ở đây cũng mang tính toàn diện hơn, liên quan đến cả các vấn đề
trong đời sống công cộng lẫn riêng tư của phụ nữ.
Vai trò và vị trí của phụ nữ trong các hàn lâm viện, trường đại học ngày
càng nâng cao cũng tạo điều kiện để các nghiên cứu về phụ nữ, gia đình
được mở rộng. Việc trao đổi thông tin giữa các nhóm phụ nữ của các nước
đã rất phát triển. Thời kỳ này nổi lên một sự kiện lớn. Đó là, Ủy ban CEDAW
của LHQ, của khu vực, của Nhà nước, các tổ chức NGO đã mở rộng hoạt
động tập huấn, truyền thông và các hoạt động cụ thể khác để theo dõi, giám
sát thực hiện CEDAW ở các nước.
Một vấn đề nữa được đặt ra là việc thực hiện 8 mục tiêu thiên niên kỷ
(MDGs), đặc biệt là mục tiêu thứ ba về nâng cao bình đẳng giới và trao quyền
cho phụ nữ. Dưới đây là danh mục 8 mục tiêu nói trên:
Mục tiêu 1: Xóa đói giảm nghèo
Mục tiêu 2: Giáo dục phổ thông cơ sở
Mục tiêu 3: Nâng cao bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ
Mục tiêu 4: Giảm chết trẻ sơ sinh
Mục tiêu 5: Cải thiện sức khỏe bà mẹ
Mục tiêu 6: Chống đại dịch HIV/AIDS, sốt rét
Mục tiêu 7: Bảo đảm phát triển môi trường bền vững
Mục tiêu 8: Xây dựng hệ thống đối tác phát triển toàn cầu
Nhiều tổ chức nghiên cứu và hành động khu vực hoạt động rất có hiệu
quả về vấn đề phụ nữ, giới, trong số đó có các tổ chức tại Châu Á như:
Tổ chức quốc tế giám sát hành động về quyền của phụ nữ châu Á -
Thái Bình Dương (International Womens Right and Action Watch - IWRAW
Asia - Pacific); Tổ chức Diễn đàn phụ nữ châu Á và Luật pháp (Asia Pacific
Forum on Women, Law and Development - APWLD); Tổ chức Con đường
mới cho khu vực châu Á (Asian Regional and New Alternative - ARENA); Tổ
chức Diễn đàn châu Á Forum Asia); Chi nhánh chống buôn bán phụ nữ toàn
cầu (Global Aliance Against Trafficking in Women GAATW); Hiệp hội nghiên
cứu phụ nữ châu Á (Asian Association Women Studies - AAWS)…
Rõ ràng bất bình đẳng giới là nguyên nhân dẫn đến các cuộc đấu tranh
của phụ nữ và nhân loại tiến bộ trong phong trào phụ nữ quốc tế. Nó cũng là
cơ sở để xác định đối tượng nghiên cứu của các khoa học về giới, trong đó
có XHH giới. Trên thực tế, phong trào phụ nữ có thể hoà nhập với các phong
trào đấu tranh vì sự bình đẳng xã hội khác, vì đối tượng dấu tranh của phụ nữ
không chỉ là các chế độ phân biệt chủng tộc, phân biệt giai cấp mà còn là chế
độ trọng nam khinh nữ. Có 5 quan điểm về bình đẳng được LHQ xác định là:
phúc lợi; bình đẳng; chống nghèo khổ; hiệu quả; giành quyền lực.
BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU
Năm quan điểm cơ bản của LHQ
1. Phúc lợi: Có sớm nhất (1950 - 1970)
- Đưa phụ nữ vào sự phát triển với tư cách người mẹ tốt hơn (công
nhận vai trò sinh sản).
- Tìm cách đáp ứng nhu cầu thực tế, thực dụng: phân phát viện trợ
lương thực, chống suy dinh dưỡng, thực hiện kế hoạch hoá gia đình.
Quan điểm này rất phổ biến và không bị chỉ trích. Phụ nữ coi như người
hưởng thụ thụ động các kết quả phát triển.
2. Bình đẳng: Dùng trong thập kỷ phụ nữ.
- Giành quyển bình đẳng cho phụ nữ trong quá trình phát triển (công
nhận 3 vai trò của phụ nữ: là vợ, mẹ và công dân).
- Tìm cách đáp ứng nhu cầu chiến lược thông qua sự can thiệp trực
tiếp của Nhà nước và các tổ chức quốc tế trao quyền tự trị về kinh tế và chính
trị cho phụ nữ.
Quan điểm này không được phổ biến trong các Chính phủ, đặc biệt là
đạo Hồi và bị chỉ trích là chủ nghĩa nữ quyền phương Tây. Phụ nữ được coi
như người tích cực tham gia vào sự phát triển.
3. Chống nghèo khổ: Quan điểm thứ hai của thập kỷ phụ nữ.
Quan điểm này giải thích về sự bình đẳng dịu hơn quan điểm trên.
- Đảm bảo cho phụ nữ nghèo tăng năng suất lao động.
- Tình trạng nghèo khổ của phụ nữ được coi là một vấn đề của tình
trạng kém phát triển chứ không phải là tình trạng phụ nữ phải chịu địa vị thấp
kém (công nhận vai trò sản xuất to lớn của phụ nữ).
- Tìm cách đáp ứng nhu cầu thực dụng của giới là có thu nhập đặc biệt
tà trong các dự án có quy mô nhỏ. Quan điểm này phổ biến trong các tổ chức
NGO.
4. Hiệu quả: Quan điểm thứ ba của thập kỷ phụ nữ.
- Đảm bảo phong trào thực sự và có hiệu quả của phụ nữ.
- Công nhận sự đóng góp về kinh tế của phụ nữ.
- Sự tham gia của phụ nữ gắn với vấn đề bình đẳng.
- Đáp ứng các nhu cầu thực dụng của giới.
Quan điểm này phổ biến và chiếm ưu thế, đặc biệt là từ cuộc khủng
hoảng kinh tế năm 1980.
5. Giành quyền lực: Quan điểm mới nhất do phụ nữ thế giới thuộc thế
giới thứ ba nêu ra.
- Phụ nữ có quyền lực thông qua sự tự tin và sự hợp tác có thiện chí
của các Chính phủ và nam giới.
- Vị trí thấp kém của phụ nữ được coi là vấn đề lớn của con người, là
hậu quả của sự áp bức của thực dân cũ và mới.
- Đáp ứng nhu cầu chiến lược của giới thông qua việc vận động từ cơ
sở lên. Công nhận 3 vai trò của phụ nữ.
Quan điểm này là phổ biến trong các tổ chức NGO của phụ nữ thuộc
thế giới thứ 3.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Theo anh/chị những sự kiện nào đáng chú ý trong phong trào phụ
quốc tế?
2. Những dự án nào đã thực hiện tại Việt Nam mà anh/chị biết thể hiện
5 quan điểm trên của LHQ?
Bài 7. CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ XÓA BỎ MỌI HÌNH THỨC PHÂN
BIỆT ĐỐI XỬ VỚI PHỤ NỮ (CEDAW)
I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA CEDAW
Chúng ta đang bước vào những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, một thế
kỷ đầy biến động. Thế kỷ này là sự tiếp nối và phát triển vĩ đại các cuộc đấu
tranh vì một xã hội tiến bộ, công bằng và phát triển bền vững. Cho đến nay,
nhiều cuộc tranh cãi mang tính Toàn cầu xoay quanh các vấn đề về dân chủ
và nô dịch, áp bức và bình đẳng đã nổ ra. Người ta thấy có những khác biệt
về vấn đề phụ nữ, bình đẳng giới giữa các nước tiến bộ với nhóm Hồi giáo
cực đoan. Tuy nhiên, từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX đến nay, bản đồ
các nước đàn áp phụ nữ ngày càng bị thu hẹp trên thế giới.
Một trong những nền tảng của sự phát triển bình đẳng giới là Công ước
về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Convention on the
Elimination of An Forms of Discrimination Against Women - CEDAW).
Năm 1945, Tổ chức LHQ đã thành lập. Đây là cơ quan quốc tế có
quyền lực cao nhất nhằm tạo ra sự cân bằng và thúc đẩy phát triển toàn cầu
Năm 1960, khi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Mỹ, chủ nghĩa Apacthai
(Apartheid) ở Nam Phi đang tồn tại thì Công ước chống phân biệt chủng tộc
cũng ra đời. Đây là điều lệ quốc tế đầu tiên chống lại sự phân biệt giữa các
nhóm người có màu da khác nhau. Vấn đề quyền công dân của người da đen
được đặt ra mạnh mẽ ở Mỹ với mục sư Luther Keng và khái niệm “phân biệt”
đã trở thành phổ biến trong các phong trào đấu tranh của các nhóm yếu thế.
Người ta đấu tranh đòi quyền chống lại sự phân biệt đối xử, quyền con người,
trong đó bao hàm quyền chính trị, quyền văn hoá: mọi người đều được đi
học, được bảo vệ sức khoẻ…
CEDAW đã hưởng các thành quả của các phong trào đấu tranh trên và
chịu ảnh hưởng của khái niệm “phân biệt” khi đưa ra nội dung của Công ước
là “Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”. CEDAW đã gộp được
các luật văn hoá, chính trị, xã hội, có điều lệ chung. Trong Công ước, mỗi
quyền đều có cơ chế, có Hội đồng, có Uỷ ban CDAW (trước có 7 Uỷ ban, nay
có 8 Uỷ ban). Công ước cũng là sự tiếp nối và hoàn chỉnh nhất của các công
ước, tuyên bố về quyền con người của phụ nữ trước đó như Công ước về
quyền chính trị của phụ nữ 1952; Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết
hôn năm 1957; Công ước về trấn áp tội buôn người và bóc lột mại dâm người
khác năm 1949; Tuyên bố thế giới về quyền con người năm 1948; Tuyên bố
về xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ ngày 7/11/1967. Có thể nói, CEDAW là
kết tinh tư tưởng tiến bộ của loài người đối với phụ nữ. Đây là văn kiện quốc
tế mang tính ràng buộc pháp lý đầu tiên nhằm ngăn chặn sự phân biệt đối xử
với phụ nữ và xây dựng một chương trình nghị sự để thúc đẩy quyền bình
đẳng của phụ nữ.
Thuật ngữ “phân biệt đối xử với phụ nữ” mang ý nghĩa là bất kỳ sự
khác biệt, hạn chế hay loại trừ nào dựa trên cơ sở giới tính, có tác dụng hay
mục đích ngăn cản, vô hiệu hoá sự thừa nhận phụ nữ được hưởng quyền
con người và quyền tự do cơ bản trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn
hoá, dân sự hay bất kỳ lĩnh vực nào khác. Phân biệt đối xử là kết quả của sự
bất bình đẳng do xã hội phụ quyền tạo nên và chính nó lại tiếp tục xác lập sự
bất bình đẳng trên phạm vi toàn cầu.
Trong CEDAW, người ta đã phân loại khái niệm “phân biệt đối xử”
Thành hai loại. Đó là phân biệt đối xử trực tiếp (có chủ ý) và gián tiếp (không
chủ ý), có sự phân biệt do phong tục tập quán nhưng cũng có sự phân biệt do
chính sách, luật pháp. Chẳng hạn, Luật Lao động của Việt Nam hiện nay quy
định tuổi nghỉ hưu của phụ nữ là 55 và nam giới là 60 đã gây ảnh hưởng lớn
tới việc đào tạo và đề bạt phụ nữ, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị và khoa
học. Luật cũng quy định 49 ngành, nghề cấm phụ nữ làm nhưng hiện nay, do
sinh kế, phụ nữ vẫn phải làm trong lĩnh vực kinh tế phi chính thức và không
được bảo hộ. Phân biệt đối xử với phụ nữ xảy ra trong tất cả các lĩnh vực:
trong chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, kinh tế, xã hội. Đó là việc không xem xét
đến những khác biệt sinh học và khác biệt do xã hội quy định, áp dụng những
tiêu chuẩn nam tính, không quan tâm đến những nhu cầu đặc thù của phụ nữ.
II. NỘI DUNG CHÍNH CỦA CEDAW
CEDAW thiết lập một hệ thống dựa trên 3 nguyên lắc lớn. Đó là: bình
đẳng trong thực tế; không phân biệt đối xử; nghĩa vụ quốc gia.
Công ước bao gồm lời mở đầu, 6 phần và 30 điều. Ngay trong phần
mở đầu, Công ước đã xác nhận rằng: Sự phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn
đang là một vấn đề nghiêm trọng trên thế giới và chính nó đã vi phạm các
nguyên tắc về quyền bình đẳng và tôn trọng phẩm giá con người, là một trở
ngại đối với việc phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị, xã hội, kinh tế và văn
hoá, cản trở sự tăng trưởng của xã hội, gia đình và gây khó khăn cho sự phát
triển đầy đủ các khả năng tiềm tàng của phụ nữ trong việc phục vụ đất nước
và loài người (CEDAW, 2007).
CEDAW đã đưa ra định nghĩa về bình đẳng giới: Bình đẳng giới là một
tình trạng lý tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí xã hội như
nhau, được tạo cơ hội và điều kiện thích hợp để phát huy đủ khả năng của
mình nhằm đóng góp cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ
các kết quả của quá trình phát triển đó.
Trên cơ sở đó, Công ước đã đưa ra các điều khoản cụ thể và toàn diện
để Chính phủ các nước làm cơ sở pháp lý cho việc xoá bỏ các hình thức
phân biệt đối xử với phụ nữ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội như chính
trị, kinh tế, xã hội, việc làm, văn hoá, giáo dục, hôn nhân, gia đình, phân công
lao động, cơ hội, nghề nghiệp, lương bổng, chăm sóc sức khoẻ. Các quyền
của phụ nữ được CEDAW bảo vệ là:
- Quyền được giáo dục (Điều 10 và 14); Quyền được hưởng các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ đầy đủ, bao gồm cả dịch vụ kế hoạch hoá gia đình
(Điều 11, 12 và 14); Quyền vay tiền ngân hàng và tham gia các hình thức tín
dụng khác (Điều 13 và 14); Quyền được tham gia vào các hoạt động giải trí,
thể thao và các mặt của đời sống văn hoá (Điều 10, 13 và 14); Quyền được
quyết định số con và khoảng cách giữa các con (Điều 16); Quyền được chia
sẻ nghĩa vụ làm cha mẹ (Điều 5 và 16); Quyền được hưởng các cơ hội làm
việc như nhau cũng như các phúc lợi xã hội (Điều 11 và 14); Quyền được thù
lao như nhau trên cơ sở thành quả làm việc (Điều 11); Quyền được bảo vệ
mọi hình thức bạo lực về thể chất, tình dục, cảm xúc, tinh thần và kinh tế
(Điều 6); Quyền được tham gia bầu cử, ứng cử và tham gia những chức vụ
trong bộ máy Nhà nước (Điều 7); Quyền được đại diện chính phủ của họ ở
cấp quốc tế (Điều 8); Quyền được nhập, thay đổi hay giữ nguyên tắc quốc
tịch và quyền công dân (Điều 9).
Phần 5 của Công ước đã đề cập đến một số quy chế và cơ chế để thực
hiện Công ước. Có thể nói kết cấu của Công ước rất rõ ràng và chặt chẽ, vừa
mang tính khoa học, vừa mang tính hiện thực.
Như vậy, bình đẳng giới được đề cập một cách toàn điện trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội trong CEDAW. Đó là các lĩnh vực cơ bản như chính
trị; kinh tế, việc làm; giáo dục; chăm sóc sức khoẻ; hôn nhân và gia đình.
Công ước xuất phát từ vấn đề nhân quyền, quyền con người của nam cũng
như nữ và xuất phát từ tính hiệu quả của phát triển.
Nội dung bình đẳng giới trong CEDAW:
- Bình đẳng về chính trị hay các quyền hợp pháp của phụ nữ với tư
cách là công dân.
- Bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế, việc làm.
- Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục.
- Bình đẳng trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ: Phụ nữ được tạo điều
kiện để hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, kể cả dịch vụ kế hoạch hoá
gia đình. Bảo đảm cho phụ nữ có những dịch vụ thích hợp liên quan đến việc
thai nghén, sinh đẻ và chăm sóc sau khi đẻ.
- Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình. Phụ nữ được đảm bảo các
quyền và điều kiện sau:
+ Tự do chọn người kết hôn, chỉ kết hôn khi được tự do quyết định và
hoàn toàn tự nguyện.
+ Quyền và trách nhiệm như nhau giữa vợ và chồng trong thời gian hôn
nhân cũng như khi li hôn.
+ Quyền và trách nhiệm như nhau giữa vợ và chồng trong vai trò làm
cha mẹ và trong việc chăm sóc con cái.
+ Quyền như nhau giữa vợ và chồng trong việc sở hữu, kiểm soát,
quản lý, hưởng thụ và sử dụng lài sản.
III. Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA CEDAW ĐỐI VỚI PHONG TRÀO
PHỤ NỮ THẾ GIỚI
Kể từ khi CEDAW ra đời, trải qua bao biến động trong phong trào dành
trị của thế giới nói chung và phong trào phụ nữ nói riêng, càng mấy người ta
càng thừa nhận sự đúng đắn của CEDAW. Cho đến nay, CEDAW đã nhận
được sự hoan nghênh và ủng hộ của hàng trăm quốc gia, hàng nghìn các tổ
chức chính phủ và phi chính phủ trên khắp thế giới. Đến hết tháng 11/2006 đã
có 185 nước phê chuẩn và cam kết thực hiện các điều khoản của Công ước,
chiếm hơn 90% thành viên LHQ. Công ước xứng đáng đóng vai trò kim chỉ
nam cho các hoạt động vì sự tiến bộ, bình đẳng và phát triển hoà bình.
Tất cả các nước đã phê chuẩn đều đã cố gắng đưa tinh thần của Công
ước và các chính sách, chương trình cụ thể của nước mình ở các mức độ
khác nhau, nhờ vậy nhiều quốc gia đã đạt được các thành tích to lớn trong
việc xoá bỏ dần sự phân biệt giới.
Cho đến nay, việc thực hiện CEDAW đã đem lại những chuyển biến
căn bản trong nhiều nước. Báo cáo về phát triển con người năm 2007-2008
(The Human Development Repon) của UNDP đã đưa ra những chỉ số phát
triển của con người - HDI và những chỉ số liên quan đến giới - GDI năm 2006
để đo mức độ phát triển của con người và mức độ bình đẳng giới trong các
xã hội. Trong 177 nước được xếp hạng, nếu lấy giá trị cao nhất của sự bình
đẳng giới hoàn hảo là 1,00 thì năm 2006, chỉ số GDI của Iceland là cao nhất:
0,962; tiếp theo là Australia: 0,960; Norway: 0,957; Canada: 0,956; Thuỵ Điển:
0,955. Đứng ở vị trí cuối cùng là Siera Leone với chỉ số GDI là 0,320 (UNDP,
2007 - 2008).
Một so sánh quan trọng mà báo cáo đã đưa ra là so sánh giữa chỉ số
HDI với GDI. Bởi vì cơ sở của sự bình đẳng là hướng tới nâng cao khả năng
của con người mà nó cần phải được phân phối đều cho cả hai giới. Tuy
nhiên, hầu hết các nước đều có chỉ số HDI cao hơn GDI. Điều đó chứng tỏ
rằng, bình đẳng giới vẫn chưa phải là mối quan tâm đặc biệt của các chính
phủ. Mặc dù trong hai thập kỷ qua, nhiều nước Ả rập đã có nhiều cố gắng
trong việc cải thiện mối quan hệ giới, đặc biệt là nâng cao giáo dục cho phụ
nữ, song do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Hồi giáo cực đoan, họ vẫn còn rất
nhiều việc phải làm trên vấn đề này.
Một số nước có trình độ phát triển kinh tế chưa cao hoặc còn rất nghèo
song họ đã có những chính sách tích cực quan tâm đến phụ nữ như các
nước XHCN, trong đó có Việt Nam, nên chỉ số giới đạt được ở các nước này
đã cao hơn một số nước giàu có hơn họ. Điều này đã đưa đến một kết luận
quan trọng là: Không phải cứ nước nào có mức độ tăng trưởng kinh tế cao là
nước đó đạt được sự bình đẳng giới tốt hơn. Bình đẳng giới còn phụ thuộc
vào nhiều yếu tố quan trọng khác, đó là trình độ nhận thức của Chính phủ và
nhân dân nước đó, các yếu tố văn hoá, giáo dục và các mặt phát triển khác.
Hiện nay, chưa có một nước nào trên thế giới có điều kiện để thực hiện
tất cả các điều khoản của Công ước một cách hoàn hảo (từ phần 1 đến phần
4). Bằng chứng phổ biến nhất là ở tất cả các nước dù đang phát triển hay
phát triển, phụ nữ phải làm nhiều giờ hơn nam giới. Gánh nặng mà phụ nữ
phải chịu trung bình trong các nước đang phát triển là 53% và trong các nước
công nghiệp phát triển là 51%, song chỉ một nửa tổng số thời gian lao động
của phụ nữ và nam giới là thuộc về các hoạt động kinh tế. Nửa kia là lao động
trong gia đình hoặc các hoạt động cộng đồng mà trong đó hoạt động nội trợ
thường phụ nữ phải đảm nhiệm. Theo tính toán: ở các nước công nghiệp có
khoảng 2/3 lao động nam giới được trả công, còn khoảng 1/3 là không được
trả công. Đối với phụ nữ thì ngược 2/3 lao động không được trả công. Trong
các nước đang phát triển, hơn 3/4 lao động nam giới là ở trong thị trường. Vì
thế, họ có thể thu nhập cao và những đóng góp của họ được định hình rõ rệt.
Trong khi đó, phần lớn lao động của phụ nữ là lao động không được trả công,
không được nhìn nhận hoặc bị coi là ít giá trị. Hơn nữa, lao động của nam
giới ngoài thị trường mang tính hợp tác cao hơn, lao động của phụ nữ ở nhà
được coi là độc diễn với những công việc nội trợ hoặc chăm sóc con cái. Phụ
nữ thường là trụ cột gia đình trên thực tế trong khi nam giới được coi là trụ cột
gia đình trên danh nghĩa và quyền lực. Song, cũng ngay từ các nước được
coi là thiên đường của phụ nữ, thu nhập của phụ nữ tính theo lương cũng chỉ
đạt được khoảng 3/4 của nam giới.
Số lượng phụ nữ lãnh đạo và tham gia hoạt động chính trị chiếm rất
nhỏ so với nam giới: Họ chỉ chiếm 10% số ghế tại Nghị viện và 6% trong
Chính phủ. Ở các nước đang phát triển, phụ nữ chỉ chiếm dưới 7% trong số
các nhà quản lý. Tại 55 nước trên thế giới, từ những nước rất nghèo như
Bhutan, Etiopia đến những nước khá giàu như Hàn Quốc, Singapore, Hy Lạp
và rất giàu như Kuwait, phụ nữ chỉ chiếm dưới 5% số ghế trong nghị viện.
Phần lớn phụ nữ nghèo không có quyền sinh sản và không được chăm
sóc sức khoẻ sinh sản. Phụ nữ còn là nạn nhân của các tập tục man rợ như
cắt bỏ bộ phận sinh dục ngoài ở châu Phi, chế độ đa thê ở nhiều nước Hồi
giáo, nạo thai bé gái, là nạn nhân của các vụ bạo lực bao gồm cả bạo lực xã
hội và bạo lực gia đình, các vụ cưỡng bức làm mại dâm, bị bóc lột tình dục, bị
buôn bán như nô lệ.
Một so sánh đầy thuyết phục là: trong một số lĩnh vực, sự có mặt của
phụ nữ cao hơn nam giới. Đó là trong lao động, việc làm, nghèo đói, mù chữ
hoặc có trình độ văn hoá thấp; ngược lại, ở các lĩnh vực khác, số phụ nữ có
mặt thường thấp hoặc rất thấp so với nam giới. Đó là các lĩnh vực chính trị,
giáo dục, khoa học, văn hoá, hưởng thụ, quyền lực.
BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU
FGM (Female Genital Mutilation), hay FSM (Female Sexual Mutilation)
Thực tiễn văn hoá trong gia đình đã xúc phạm quyền phụ nữ
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều phong tục đang là một dạng bạo lực
chống phụ nữ. Một trong những loại tội ác này là tục cắt bộ phận sinh dục
ngoài của phụ nữ (FGM, hay FSM).
Đây là một tục lệ từ lâu đời, người ta đã tin tưởng rằng nó được ra đời
từ Ai Cập khoảng 2.000 năm trước đây, ước khoảng 135 triệu em gái và phụ
nữ trên thế giới bị cắt và 2 triệu em gái có nguy cơ bị cắt mỗi năm. FGM là
một tục có ở nhiều nước châu Phi, bao gồm Chad, Côte d’lvoira, Ethiopia,
Kenya, Man, Nigoria, Sicrra, Leone, Sudan, Uganda và Cộng hoà Tanrania.
Ở Trung Đông, FGM đã có mặt ở Ai Cập, Oman. Các nước ảập và
Yemen, ở các nước châu Á như Ấn độ, lndonesia, Malaysia và Sirilanca.
Những người nhập cư từ các nước này cũng thực hành FGM ở Australia,
Canada, Đan Mạch, Pháp, Ý, Hà Lan, Thụy Điển, Anh và Mỹ. Nó đã tồn tại
trong các nhóm bản xứ ở Trung và Nam Mỹ.
Các hình thức và phương pháp cắt bộ phận sinh dục ngoài khác nhau
tuỳ theo từng nước hoặc nhóm dân tộc. Tuy nhiên, FGM có thể được xác
định theo 2 nhóm sau đây:
1. Cắt bao quy đầu hoặc cắt bộ phận ngoài của âm vật được biết đến
trong các nước theo đạo Hồi như là một truyền thống (Sumna). Đây là một
hình thức của FGM và ảnh hưởng không nhiều tới phụ nữ. Nhưng ở đây là
một khuynh hướng của tất cả các hình thức đang bị làm cho mê muội trong
khuôn khổ “cắt âm vật phụ nữ”.
2. Cắt xén, nghĩa là cắt âm vật và tất cả các bộ phận tối thiểu là 2/3.
Phía trước và thường là tất cả phần lớn của cả hai mặt của âm hộ ngoài.
Lý do chính là tiếp tục phong tục và truyền thống. Trong các xã hội mà
FGM đang hình thành, các bé gái không được coi là người lớn hoặc người
phụ nữ đầy đủ cho đến lúc cô ta trải qua phẫu thuật.
Theo Asian Week, 2002.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Tại sao nói CEDAW là công ước tiến bộ nhất hiện nay trên vấn đề
bình đẳng giới?
2. Mối quan hệ giữa CEDAW với pháp luật Việt Nam về giới hiện nay.
3. Liên hệ tình hình thực hiện CEDAW với tập tục FGM (FSM).
Bài 8. CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH GIỚI
Phân tích giới là công cụ để các nhà lập kế hoạch hiểu được tình hình,
đánh giá nhu cầu của nam và nữ trước khi bắt đầu lập kế hoạch hành động
có tính đến giới.
Phân tích giới là sự mô tả một cách trung thực về hoàn cảnh kinh tế -
xã hội của nam và nữ, bằng cách xem xét những hoạt động mà nam giới và
phụ nữ thực hiện, tìm hiểu khả năng của họ trong việc tiếp cận với những cơ
hội và nguồn lực như thế nào. Sau đó xem xét ý nghĩa của những khác biệt
này đối với việc thiết kế dự án.
I. TẠI SAO CHÚNG TA CẦN PHÂN TÍCH GIỚI
Phân tích giới giúp chúng ta có được những thông tin cụ thể về những
ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực của một chương trình, kế hoạch, dự án,
chính sách… đối với phụ nữ và nam giới. Từ kết quả phân tích có thể hiểu
được nguyên nhân để đưa ra các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm
nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của chương trình… thông qua việc đảm
bảo lợi ích của cả phụ nữ và nam giới.
Chú ý: Khi nghiên cứu thực thi chính sách giới, cần phải xác định xem
những trở ngại gặp phải có tính chuyên môn hay chính trị ở mức độ nào. Nam
và nữ đóng những vai trò khác nhau như thế nào trong xã hội, có mức độ
kiểm soát khác nhau đối với các nguồn lực và có những nhu cầu khác nhau,
vì vậy phải tính đến tất cả các yếu tố này.
II. TIẾN HÀNH PHÂN TÍCH GIỚI KHI NÀO?
Phân tích giới được tiến hành ở tất cả các bước của chu trình kế
hoạch, dự án… song đặc biệt quan trọng đối với các bước sau:
- Phân tích tình hình.
- Thiết kế dự án.
- Giám sát và đánh giá (phần này sẽ được trình bày trong quá trình lập
kế hoạch dưới góc độ giới).
III. CƠ SỞ PHÂN TÍCH GIỚI
Là một hệ thống các phương pháp, kỹ năng phân tích nhằm xác định rõ
những chỉ báo cần thiết, chỉ ra các vấn đề và những biểu hiện của sự bất bình
đẳng đang tồn tại. Hệ thống này dựa trên một số câu hỏi cơ bản như sau:
1. Phụ nữ và nam giới, ai làm gì? Đó là việc tìm hiểu sự phân công lao
động thực tế đang tồn tại giữa nam và nữ trong phạm vi của đối tượng phân
tích.
2. Phụ nữ và nam giới, ai có gì? Đây là việc xác định rõ khả năng tiếp
cận và quản lý các nguồn lực giữa nam và nữ trong phạm vi phân tích.
3. Những yếu tố ảnh hưởng đến tương quan giới là gì? Ở đây cần chỉ
ra các yếu tố kinh tế, văn hoá, pháp lý… đã và đang tác động đến các quan
hệ giới, khả năng biến đổi của các yếu tố này và ảnh hưởng của nó tới sự
bình đẳng giới.
4. Các nguồn lợi xã hội được phân phối như thế nào và ai được gì?
Vấn đề ở đây là tìm hiểu cơ cấu, tổ chức và các thể chế đang tồn tại. Những
thể chế này bảo đảm bình đẳng giới ở mức độ nào? Cần làm gì để chúng đáp
ứng tốt hơn nhu cầu của giới.
Các biện pháp nhằm thay đổi tương quan giới một cách hợp lý trên cơ
sở tiến tới sự bình đẳng. Trả lời các câu hỏi cơ bản sau:
- Làm gì để khắc phục sự bất bình đẳng giới và nâng cao vai trò của
phụ nữ? (Xác định mục tiêu hành động).
- Để thực hiện mục tiêu trên, chúng ta gặp những thuận lợi, khó khăn
gì? (Làm rõ bối cảnh thực hiện các mục tiêu đã đề ra).
- Làm thế nào để đạt được các mục tiêu đã đề ra? (Làm rõ các giải
pháp cụ thể).
IV. AI CÓ TRÁCH NHIỆM PHÂN TÍCH GIỚI?
Những người có trách nhiệm phân tích giới chính là những người tham
gia vào việc thực hiện các dự án về giới, cụ thể là cán bộ lập chính sách của
Nhà nước; cán bộ chương trình dự án phát triển; cán bộ lãnh đạo quản lý tại
địa bàn triển khai; nam và nữ với tư cách người tham gia và thụ hưởng của
dự án tại địa phương.
1. Các khung phân tích giới
Việc xác định được một khung phân tích giới chính xác và khoa học là
yếu tố quan trọng để thực hiện thành công một dự án về giới. Hiện nay rong
khoa học về giới đang tồn tại một số khung phân tích như Khung phân tích
giới Havard; Khung Moser (của Carohne. O. N. Moser); Khung sơ đồ phân
tích giới (Gender Analysis Matric - GAM); Khung tăng quyền năng cho phụ nữ
(của Sara Longwe). Trong giáo trình này giới hiệu Khung phân tích giới
Havard.
Khung Havard được Viện Phát triển quốc tế Havard cùng với văn
phòng Phụ nữ trong Phát triển (WID) của tổ chức Viện trợ phát triển Mỹ
USAID) xây dựng. Đây là một trong những khung đầu tiên về phân tích và
hoạch định giới. Khung phân tích có 4 công cụ.
1.1. Phân công lao động theo giới
Bảng 1. Mô hình phân công lao động theo giới
(Dựa vào mô hình 24 giờ trong ngày)
Hoạt động Phụ nữ/ trẻ em gái Nam giới/ trẻ em trai
Công việc sản xuất
Hoạt động 1
Hoạt động 2
Hoạt động 3
8 tiếng
Gieo hạt/ chăn nuôi
Chăm sóc cây lúa
Nghề phụ…
8 tiếng
Cày bừa
Trồng cây
Nghề phụ…
Công việc gia đình
Hoạt động 1
Hoạt động 2
Hoạt động 3
Hoạt động 4
Hoạt động 5
6 tiếng
Đi chợ/ nấu ăn
Chăm sóc, dạy con
Chăm sóc thành viên
Nội trợ/ giặt giũ
Cung cấp nước
Có thể 2 tiếng
Sửa chữa đồ đạc
Dạy con học
Giao tiếp
Công việc cộng đồng Có thể đến 15 phút Có thể đến 15 phút
Hoạt động 1
Hoạt động 2
Tham dự cuộc họp trong
làng
Dọn vệ sinh làng xóm
Tham dự cuộc họp trong
làng
Nguồn: Phân tích giới và lập kế hoạch dưới góc độ giới, Tài liệu tập
huấn của UBQG vì sự tiến bộ phụ nữ và UNDP, 1998.
Công cụ này xác định theo 3 vai trò: sản xuất - tái sản xuất - quản lý
cộng đồng của phụ nữ và nam giới là khác nhau. Công cụ này dùng để đo
thời gian, hình thức và cường độ lao động của nam và nữ, tác động của nó
đối với đời sống của nam và nữ và gia đình họ. Công cụ này sử dụng bảng 24
giờ trong ngày của Đại học Havard (Mỹ) (bảng 1, trang 83).
Qua bảng 1, trang 83 cho thấy, phụ nữ phải làm nhiều loại hình công
việc hơn nam giới. Thời gian lao động kéo dài khiến phụ nữ bị hạn chế, thậm
chí không có thời gian nghỉ ngơi vào ban ngày. Sau khi lao động, sản xuất về,
nam giới thường được nghỉ ngơi, đi quán bia, hoặc xem ti vi, đọc báo, còn
phụ nữ lại tiếp tục làm việc nhà. Điều này có nghĩa là phụ nữ chỉ thay đổi hình
thức lao động mà không phải là hình thức giải trí để tái sản xuất sức lao động.
1.2. Tiếp cận và kiểm soát
Mô hình này được sử dụng để xác định các nguồn và lợi ích (mỗi phụ
nữ và nam giới có thể tiếp cận và kiểm soát các nguồn và lợi ích) (bảng 2).
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện tại, nam và nữ khác nhau trong tiếp cận với
các nguồn cần thiết để thực hiện công việc, ví dụ: Nam giới đứng tên vay vốn
còn vợ xoay xở đồng vốn để đầu tư sản xuất; Kiểm soát các nguồn để sử
dụng theo mong muốn, ví dụ: Ai thường kiểm soát đồng vốn trong gia đình?
Tiếp cận với các lợi ích có được từ công việc của họ, ví dụ: Khả năng sử
dụng lợi ích từ đồng vốn; Kiểm soát các lợi ích này, ví dụ: Ai có quyền quyết
định và quản lý việc sử dụng đồng vốn và lợi ích từ đồng vốn.
Vậy: Tiếp cận là khả năng sử dụng các nguồn. Kiểm soát là quyền
được quyết định và quản lý việc sử dụng các nguồn.
Ví dụ: Một phụ nữ có thể tiếp cận nguồn vốn, người chồng có thể quản
lý việc quyết định số tiền sẽ được sử dụng như thế nào. Điều này khiến phụ
nữ bị lệ thuộc vào chồng và khó chủ động trong sản xuất và kinh doanh. Mặt
khác, ngay cả khi phụ nữ có thể được tiếp cận nguồn vốn quản lý việc quyết
định số tiền sẽ được sử dụng thế nào nhưng không có quyền sử dụng lợi ích
từ nguồn vốn đó cho cá nhân mình mà phải sử dụng nó cho lợi ích của hộ gia
đình (dè sẻn chi tiêu, chỉ lo mua sắm cho cả gia đình). Trong trường hợp
quyền quyết định thuộc cả hai vợ chồng thì đây là một biểu hiện của bình
đẳng giới. Tất nhiên phải xem xét mức độ hình thức và khả năng quyết định
của nam và nữ.
Cần xem xét hộ gia đình là tổ ấm nhưng cũng là nơi tập trung mâu
thuẫn trong sản xuất và kinh doanh, giống như một hội chung vốn giữa hai
người. Vợ và chồng trong gia đình có các quyền và nghĩa vụ, có đi có lại
nhưng bất bình đẳng; có quyền và nghĩa vụ tương tự đối với con cái; có một
tập hợp lợi ích chung; phân công lao động chủ yếu là do hai người (không có
sự can thiệp từ bên ngoài).
Bảng 2. Mô hình tiếp cận kiểm soát
Các nguồn Phụ nữ Nam giới
Đất đai
Máy móc, công nghệ
Lao động
Vốn
Giáo dục đào tạo
Trợ giúp kỹ thuật
Các cơ hội ra quyết định
Thông tin
Lợi ích
Thu nhập, tiền mặt, hiện vật
Sỡ hữu tài sản
Quyền lực và vị trí chính trị
Các cơ hội khác
Nguồn: Phân tích giới và tập kế hoạch dưới góc độ giới, Tài liệu tập
huấn của UBQG vì sự tiến bộ phụ nữ và UNDP, 1998.
Những nguyên nhân về tư tưởng, văn hoá, kinh tế đã tác động đến
những cân bằng và bất cân bằng trong việc phân bố nguồn lực và lợi ích
trong nội bộ gia đình. Lợi ích cá nhân của nam giới vẫn chiếm ưu thế hơn lợi
ích cá nhân của nữ giới. Đó chính là sự thụ hưởng khác nhau và vẫn mang
tính phổ biến. Trong nhiều xã hội, trong các gia đình nghèo, phụ nữ thường
ăn sau và ăn ít hơn (ngay cả con gái cũng bị phân biệt đối xử trong ăn uống
với anh em trai của họ). Khi phụ nữ có thai cũng nhường nhịn chồng con, ít
được may sắm hoặc hưởng thụ.
Chủ nghĩa vị tha trong hôn nhân - nấp dưới bóng “nghĩa vụ”, “bổn phận”
của phụ nữ đối với gia đình để buộc người phụ nữ phải tuân thủ và cam chịu
những chuẩn mực bất bình đẳng với họ. Thực tế cho thấy, ngay cả khi nam
và nữ đều làm chủ việc sử dụng thu nhập và các nguồn lực thì cách thực hiện
cụ thể vẫn có thể khác nhau và vẫn là bất bình đẳng.
Ví dụ: Phụ nữ sử dụng đất đai, tài sản với vai trò là gián tiếp, với vai trò
con gái, mẹ, vợ (Việt Nam mới có Luật Thừa kế, song trên thực tế chưa được
thực hiện rộng rãi). Nam giới là chủ sở hữu đất theo thừa kế, nam là chủ hộ vì
vậy là trực tiếp.
Tóm lại: Nam và nữ khác nhau trong tiếp cận nguồn lực. Họ cũng khác
nhau trong quản lý và phân phối nguồn lực, do những trách nhiệm khác nhau
và do đó sự hưởng thụ những phân phối thu nhập cũng khác nhau.
Ví dụ: Tài chính của hộ gia đình được quản lý và phân bổ theo các
cách khác nhau, không phải bao giờ cũng có được sự đồng thuận cao và vui
vẻ giữa hai vợ chồng mà có lúc mâu thuẫn, có lúc hợp tác (mâu thuẫn vợ và
chồng khác với mâu thuẫn giai cấp). Bởi vì, một người vô sản và một người
tư sản không thể sống cùng một mái nhà, cùng chia sẻ những mối quan tâm,
kinh nghiệm và cùng hoạt động như một đôi vợ chồng. Sự “cùng nhau làm
cho mâu thuẫn giới có bản sắc riêng biệt, vừa kín đáo vừa sâu sắc.
1.3. Mô hình ra quyết định
Bảng 3. Mô hình ra quyết định
Quyết
định
Công việc sản
xuất/ cơ quan
Công việc gia đình Chính trị
Quá trình 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4
Ai ra quyết
định
Ai bị tác
động
Ai được tư
vấn (ai tư
vấn cho
quá trình
ra quyết
định)
Nguồn: Phân tích giới và lập kế hoạch dưới góc độ giới, Tài liệu tập
huấn của UBQG vì sự tiến bộ phụ nữ và UNDP, 1998.
Trong các lĩnh vực của cuộc sống như gia đình, công việc, chính trị,
chúng ta đều phải thường xuyên ra quyết định. Có những quyết định mang
tính quan trọng hơn, chẳng hạn những quyết định mang tính cộng đồng, ảnh
hưởng tới số đông con người, trong đó có bản thân; nhưng cũng có những
quyết định ở phạm vi hẹp hơn, ảnh hưởng tới một nhóm xã hội, gia đình hoặc
cá nhân. Ngay đối với cuộc sống cá nhân cũng có nhiều quyết định, chẳng
hạn, có những quyết định mà khi đưa ra là khó khăn vì nó ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống hoặc tạo ra một bước ngoặt quan trọng đối với cuộc đời
hoặc đối với gia đình của người ra quyết định, nhưng cũng có những quyết
định không quá khó. Tuy nhiên, vị thế và điều kiện để người phụ nữ có thể
tham gia vào việc ra quyết định trong cuộc sống nói lên phần nào tính tự chủ
của họ đối với cuộc sống của chính mình và cộng đồng mà mình đang sống.
Mô hình ra quyết định giúp ta hiểu được:
Tải bản FULL (file doc 290 trang): bit.ly/39sIHm5
Dự phòng: fb.com/TaiHo123doc.net
- Các quyết định khác nhau tác động đến cuộc sống của nhóm đối
tượng nào?
- Ai là người ra các quyết định đó?
- Các quyết định đó như thế nào?
- Phụ nữ có quyền được tham gia vào quá trình ra quyết định không?
(Phụ nữ có được tư vấn không? Có ra quyết định quan trọng không? Có ra
quyết định cuối cùng không?…). Từ đó chúng ta có thể xem xét mức độ
người phụ nữ được gắn trong công việc cơ quan, xã hội, gia đình như thế
nào; vấn đề này có làm thay đối địa vị của họ cả trong gia đình và ngoài xã
hội không?
- Các yếu tố tác động đến quá trình ra quyết định là: nhận thức, tri thức
kinh nghiệm, lợi ích cá nhân và lợi ích gia đình, vị thế trong gia đình (kinh tế,
chính trị, quyền lực, phong tục tập quán).
Trong nhiều xã hội, người ra quyết định cuối cùng thường là nam giới.
Điều này tất nhiên sẽ bất lợi cho phụ nữ khi họ phải thực hiện điều mà người
khác quyết định. Bất lợi của phụ nữ là ở chỗ: Do có thời kỳ mang thai, sinh
đẻ, phụ nữ ít có cơ hội nâng cao kiến thức cho bản thân mình. Họ thường bị
coi là ít có đóng góp trực tiếp đối với gia đình và xã hội, nhưng trên thực tế
lao động của họ trong lĩnh vực việc nhà và sinh đẻ lại không được tính công.
Trong các vấn đề liên quan đến kinh tế thì tiếng nói của phụ nữ bao giờ cũng
thấp hơn.
Bằng chứng là trên thực tế, những phụ nữ có việc làm có quyền kiểm
soát lớn hơn tới phân bổ nguồn lực trong gia đình so với các bà vợ chỉ
chuyên làm nội trợ. Tuy nhiên, vấn đề việc làm của phụ nữ trong hoàn cảnh
công việc gia đình được trao toàn bộ cho phụ nữ cũng còn đồng nghĩa với
việc tăng thêm gánh nặng cho họ.
Bởi vậy, vấn đề đặt ra là cần phải cải thiện tình hình công việc, phân
công lao động theo giới trong sản xuất và gia đình; cải thiện sức khoẻ; cải
thiện giáo dục; tăng khả năng tạo thu nhập cho phụ nữ; thay đổi định kiến
Tải bản FULL (file doc 290 trang): bit.ly/39sIHm5
Dự phòng: fb.com/TaiHo123doc.net
giới; thay đổi tập tục, dư luận mang tính phân biệt nam nữ; nâng cao sự tự
nhận thức về vị thế và quyền cá nhân của phụ nữ; tăng cường khả năng của
phụ nữ trong việc tham gia các công việc xã hội, tham gia vào quá trình ra
quyết định của xã hội sẽ đem lại tác động tích cực cho gia đình, cộng đồng.
1.4. Nhu cầu giới
Nhu cầu của con người ở mọi thời đại là giống nhau nhưng việc đáp
ứng các nhu cầu lại tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội. Xã hội càng
phát triển thì việc đáp ứng nhu cầu càng cao và đa dạng. Chẳng hạn, trong
phòng ở, người ta trang bị máy điều hoà không khí, làm mát vào mùa hè và
làm ấm vào mùa đông, trong khi trước đây người ta phải tự quạt mát bằng
chiếc quạt đan bằng nan tre hoặc đốt củi để sưởi. Cũng như vậy buồng vệ
sinh không phải là nơi bẩn thỉu, ô uế như trước kia mà có hệ thống nước
nóng, lạnh cho cả bốn mùa. Con người không cần phải xách từng xô nước
hoặc không phải đun từng ấm nước để tắm. Những phương tiện hiện đại giúp
cho con người sống khoẻ và nhẹ nhàng hơn, tuổi thọ cũng vì vậy được kéo
dài hơn.
Tuy nhiên, không phải nhu cầu của tất cả mọi người đều được đáp ứng
giống nhau. Đáp ứng nhu cầu có liên quan đến vấn đề trả tiền, vì vậy nó
mang tính thị trường và nó cũng phản ánh sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Trong
vấn đề giới, phụ nữ có một số nhu cầu riêng khác với nhu cầu của nam giới
và họ cũng được đáp ứng nhu cầu không hoàn toàn giống với nam giới. Mặt
khác, vị trí thấp kém hơn nam giới của phụ nữ cũng quy định việc đáp ứng
nhu cầu của họ thấp hơn. Các nhà khoa học đã phân chia nhu cầu giới thành
hai loại:
Các nhu cầu thực tế, thực dụng của giới (Practical Gender Needs -
PGN) là những nhu cầu do phụ nữ và nam giới xác định trong các vai trò đã
được xã hội của họ thừa nhận. Nó đáp ứng nhu cầu cần thiết trong cuộc sống
của hai giới trong từng khung cảnh cụ thể. Về bản chất, PGN liên quan đến
đời sống như việc cung cấp nước, chăm sóc sức khoẻ, công ăn việc làm,
4130548

GIÁO TRÌNH XÃ HỘI HỌC GIỚI

  • 1.
    GIÁO TRÌNH XÃHỘI HỌC GIỚI GIÁO TRÌNH XÃ HỘI HỌC GIỚI Tác giả: PGS.TS. LÊ THỊ QUÝ LỜI NÓI ĐẦU Vấn đề giới nảy sinh từ rất lâu cùng với sự phát sinh, phát triển của con người và xã hội, nhưng khoa học về giới lại chỉ được coi là một trong những ngành khoa học sinh sau đẻ muộn nhất trong các ngành khoa học xã hội. Đó là một trong những khiếm khuyết đáng chê trách nhất trong lịch sử phát triển của nhân loại. Trong hàng loạt những phát kiến về sự tiến bộ xã hội, các nền văn minh, về sự giải phóng con người, về các cuộc cách mạng xã hội, thì những phát kiến hướng tới sự tiến bộ về giới và bình đẳng giới chỉ đứng ở những vị trí sau cùng, mặc dù áp bức giới xuất hiện đầu tiên trong xã hội loài người. Thật khó tưởng tượng trong khi nhân loại đang ở thế kỷ thứ XXI, đang hướng tới những chuyển biến to lớn trong nhận thức và tư duy, chinh phục các khoảng không vũ trụ, đề cao sự bình đẳng, bác ái, đề cao sức mạnh của nguồn lực con người, thì ở nhiều nơi trên thế giới, bình đẳng giới vẫn chỉ là một ước mơ xa vời. Phụ nữ vẫn bị bóc lột thậm tệ, bị đày đoạ về thể xác và tâm hồn, bị buôn bán như nô lệ, bị đưa ra làm trò vui cho những kẻ lắm tiền, nhiều của. Sự bất bình đẳng về giới trong lịch sử phát triển nhân loại đã đòi hỏi nhân loại tiến bộ phải thay đổi nhận thức và hành vi về giới. Sự xuất hiện của các phong trào phụ nữ, phong trào đấu tranh vì bình đẳng giới trên phạm vi toàn thế giới với hàng triệu người, trong đó có cả nam giới, các nhà khoa học, các nhà tư tưởng tham gia thời gian gần đây đã nói lên nhu cầu về bình đẳng giới ngày càng cấp thiết đối với con đường đi tới sự tiến bộ. Bình đẳng giới đã
  • 2.
    được xem xétnhư là một trong những chỉ số quan trọng nhất nói lên sự phát triển tiến bộ của một quốc gia. Trong xu hướng chuyển dần từ đấu tranh tự phát, đơn lẻ sang đấu tranh tự giác mang tính rộng lớn, có định hướng chiến lược về bình đẳng giới, thì những nghiên cứu về lý luận và phương pháp luận ngày càng trở nên cần thiết. Nó tạo lập một cơ sở khoa học đúng đắn, có tính lý luận, phương pháp luận và phương pháp hoạt động hiệu quả cho phong trào thực tiễn. Bởi vậy, sự ra đời của các khoa học về giới, trong đó có Xã hội học giới đã tạo ra cho phong trào đấu tranh vì sự bình đẳng giới một bước phát triển mới về chất. Nó chỉ ra được những mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung hoạt động cụ thể để hướng tới sự thống nhất cho cuộc đấu tranh vì bình đẳng giới. Chỉ trong một thời gian ngắn, khoa học về Xã hội học giới đã phát triển nhanh chóng. Hầu hết các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu và đào tạo lớn trên thế giới đều có bộ phận nghiên cứu và giảng dạy về Xã hội học giới. Xã hội học giới ngày càng xác định rõ hơn về đối tượng nghiên cứu, hệ thống các lý thuyết, khái niệm, phạm trù và bộ công cụ nghiên cứu, nhằm định hướng cho những hoạt động thực tiễn. Ở nước ta, Xã hội học giới đã được phát triển khá mạnh mẽ trong những năm gần đây. Cùng với phong trào đấu tranh giải phóng phụ nữ được Đảng và Nhà nước quan tâm, ủng hộ mạnh mẽ, phong trào đấu tranh vì sự bình đẳng giới cũng đã thâm nhập vào nhiều tổ chức chính trị, xã hội, các đoàn thể, cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ và lan rộng ra toàn xã hội. Những nghiên cứu và đào tạo về giới cũng phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Trong xu hướng phát triển chung đó, nhu cầu về thông tin khoa học, thống nhất những nội dung nghiên cứu và đào tạo đặc thù về giới ngày càng trở nên cấp bách. Trong thời gian qua, mặc dù chúng ta đã có nhiều nỗ lực trong việc biên soạn, tuyển dịch các tài liệu trong và ngoài nước nhằm đáp ứng những đòi hỏi của việc phát triển các nghiên cứu và giảng dạy về Xã hội học giới, nhưng nhìn chung những tài liệu này vẫn chưa đáp ứng được với đòi hỏi của thực tế. Tài liệu được giới thiệu và giảng dạy trong các trường đại
  • 3.
    học phần lớnđược tuyển dịch từ nước ngoài, theo nhiều kênh khác nhau, một số tài liệu giảng dạy được biên soạn nhưng chưa thực sự gắn kết với hoàn cảnh đặc thù ở Việt Nam. Điều đó khiến chúng ta không tránh khỏi những lúng túng trong việc phải nhận thức, lý giải và vận dụng một cách có hiệu quả những vấn đề cơ bản về giới ở Việt Nam. Việc biên soạn một cuốn giáo trình, lại là giáo trình về một lĩnh vực khá mới mẻ và nhạy cảm như Xã hội học giới là một công việc khó khăn. Được sự khuyến khích và động viên của đồng nghiệp và sinh viên, tác giả, trên cơ sở ghi chép những thông tin và kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy môn Xã hội học về giới trong nhiều năm qua đã biên soạn cuốn giáo trình này. Tác giả coi đây như là một dịp để tìm kiếm sự đồng cảm, tiếp thu thêm ý kiến và đồng thời chia sẻ với những người quan tâm về vấn đề này. Tác giả cũng đã cố gắng lược bớt những vấn đề phức tạp vốn có của Xã hội học giới, nhằm diễn giải vấn đề một cách đơn giản và dễ hiểu hơn. Mặc dù vậy, do những giới hạn về thời gian, về khuôn khổ của một cuốn giáo trình và cả về khả năng nhận thức, nên nội dung chắc chắn sẽ còn cần phải được bổ sung, sửa chữa. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để giáo trình hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau. Giáo trình này nêu lên những vấn đề đương đại nhưng hy vọng rằng trong tương lai, vấn đề bình đẳng giới sẽ thay đổi, phụ nữ sẽ có bình đẳng thực sự và cuốn sách sẽ chỉ còn giá trị như một tài liệu viết về lịch sử. Tác giả BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT AP WLD Asia Pác Forum ơn Women Law and Development (Tổ chức Diễn đàn châu á - Thái Bình Dương về Phụ nữ, luật pháp và phát triển) BLGĐ Bạo lực gia đình CNTB Chủ nghĩa tư bản
  • 4.
    CNĐQ Chủ nghĩađế quốc CNXH Chủ nghĩa xã hội F.G.M Female Genital Mutination F.S.M Female Sexual Mutilation GDI Chỉ số bình đẳng giới HDI Phát triển con người LHPN Liên hiệp phụ nữ LHQ Liên hợp quốc NCFAW Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ NGO Phi Chính phủ RCGAD Trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển SKSS Sức khoẻ sinh sản UBND Uỷ ban nhân dân UBQG Uỷ ban quốc gia UNDP Cơ quan phát triển Liên hợp quốc UNICEF Quỹ trẻ em Liên hợp quốc UNFPA Quỹ dân số Liên hợp Quốc UNIFEM Quỹ phụ nữ Liên hợp quốc UBDS GĐ & TE Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em XHH Xã hội học WHO Tổ chức Y tế thế giới Phần thứ nhất. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN Bài 1. TỪ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC ĐẾN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC GIỚI I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC Mỗi con người đều có một hình dáng, khuôn mặt và tính cách riêng biệt. Những nét riêng biệt, muôn hình muôn vẻ này hợp nhau lại thành các nhóm xã hội trong một xã hội đa dạng và phong phú. Cũng như vậy, mỗi ngành khoa học đều có những nét đặc thù khác biệt với các ngành khác, tao
  • 5.
    nên bề dàyhệ thống các kiến thức vĩ đại của nhân loại. Để xác định một chuyên ngành khoa học, chúng ta cần đặt ra những câu hỏi mang tính nguyên tắc như: - Chuyên ngành ấy là gì? - Đối tượng nghiên cứu của nó ra sao? - Sự gần gũi và khác biệt của nó với những ngành khoa học khác ở chỗ nào? Vào thế kỷ XIX, nhà triết học Pháp August Comte là người đầu tiên đã dùng tên Xã hội học (Sociology) để đặt cho một ngành khoa học xã hội mới mà ông vừa muốn tách ra khỏi Triết học và lại vừa muốn phân biệt nó với các ngành khoa học xã hội khác. Và sau này, những thế hệ kế tiếp đã coi ông như là “cha đẻ”, là người đặt nền móng cho ngành khoa học quan trọng và hấp dẫn này. Đồng thời với việc đặt tên cho ngành khoa học này, August Comte cũng đưa ra được một bộ khung lý luận, phương pháp luận và phương pháp cơ bản để xã hội học có thể tồn tại như một khoa học độc lập. Ngày nay, cho dù xã hội học đã phát triển khác xa với thời đại của A. Comte, đã bao hàm trong mình vô số những xu hướng và trường phái khác nhau thì những tiền đề cơ bản mà A. Comte đưa ra vẫn là những nền móng cốt yếu nhất Xã hội giới cũng như tất cả những chuyên ngành xã hội học khác đều nảy sinh và phát triển từ một nền móng chung nhất này. Chúng ta đều biết, từ rất lâu rồi, đã có nhiều ngành khoa học lấy xã hội làm đối tượng nghiên cứu. Những ngành khoa học này tập hợp lại dưới ngọn cờ chung của các khoa học xã hội và nhân văn. Mỗi ngành khoa học xã hội và nhân văn nói trên lại chiếm một vị trí và vai trò nhất định trong lý luận khoa học cũng như trong thực tiễn. Nói một cách cụ thể là chúng có đối tượng nghiên cứu, hệ thống lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu riêng. Chẳng hạn, nghiên cứu về kinh tế đã có Kinh tế học, dân tộc có Dân tộc học, chính trị có Chính trị học, dân số có Dân số học; nghiên cứu những sự
  • 6.
    kiện xảy ratrong quá khứ có ngành khoa học Lịch sử… Bởi vậy, việc xác định đối tượng của XHH nói chung và XHH giới nói riêng chỉ có thể được thực hiện khi khẳng định rõ được tính riêng biệt, không trùng lặp của nó với những ngành khoa học xã hội và nhân văn khác. Nếu như Triết học có đối tượng nghiên cứu là những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội, tư duy trong sự vận động và phát triển của xã hội; Khoa học Lịch sử có đối tượng nghiên cứu hướng vào việc tái hiện lại những sự việc diễn ra trong quá khứ, chẳng hạn xã hội con người từ thời cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại để rút ra các bài học kinh nghiệm và tôn vinh lòng tự hào của các dân tộc… thì XHH lại tập trung chủ yếu vào những sự tương tác xã hội. Khác với những khoa học xã hội cụ thể khác XHH không chỉ đi sâu vào những mặt cụ thể của xã hội mà còn hướng tới những mối quan hệ giữa chúng, hướng vào việc tìm ra vị trí, vai trò của chúng trong sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội. Về phương diện này, Giáo sư Đặng Cảnh Khanh đã có lý khi cho rằng XHH nghiên cứu sự phát triển của xã hội, những mối quan hệ xã hội, sự tương tác giữa những lĩnh vực cụ thể của xã hội với những lĩnh vực chung nhất của xã hội và với nhau. Có ba lĩnh vực cơ bản được XHH quan tâm là: Thứ nhất, nghiên cứu những mối quan hệ tương tác giữa các lĩnh vực cụ thể của xã hội với tư cách là các bộ phận cấu thành của xã hội, các thiết chế xã hội với lĩnh vực rộng lớn nhất, chung nhất, tức là với tổng thể xã hội. Thứ hai, nghiên cứu mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành, các lĩnh vực cụ thể, các thiết chế của xã hội với nhau. Thứ ba, nghiên cứu chính các mối quan hệ nội sinh, tương đối độc lập của các bộ phận cấu thành của xã hội, các thiết chế xã hội cụ thể nói trên. Sự phân định các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của XHH như trên là cơ sở để phân nhóm các chuyên ngành của chúng, giúp chúng ta có thể dựa vào sự phân định các bộ phận cấu thành của xã hội cũng như các thiết chế xã hội để chỉ rõ và phân biệt các chuyên ngành XHH như XHH nông thôn, XHH đô
  • 7.
    thị, XHH giađình, XHH văn hoá, XHH giới, XHH quản lý, XHH thanh niên, XHH môi trường, XHH tội phạm v.v… Những mối quan hệ tương tác và các lĩnh vực nghiên cứu trên lại có vị trí và vai trò khác nhau trong các chương trình nghiên cứu vĩ mô hoặc vi mô, lý thuyết hoặc thực nghiệm, đại cương hoặc chuyên biệt. II. XÃ HỘI HỌC GIỚI TRONG XÃ HỘI HỌC 1. Đối tượng nghiên cứu của Xã hội học giới Xã hội học giới là một chuyên ngành của XHH. Nó vừa tuân thủ những nguyên tắc chung nhất của XHH, vừa quy chiếu những nguyên tắc này vào lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt là một quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ này được xây dựng trong ta hội. Nói một cách cụ thể, XHH giới là xã hội học nghiên cứu đối tượng giới, vị trí, vai trò của vấn đề giới và bình đẳng giới đối với sự vận động và phát triển của xã hội. Theo những chuẩn mực trên thì Xã hội học giới cũng có 3 lĩnh vực nghiên cứu cơ bản. Đó là: 1.1. Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự vận động và phát triển của giới với sự vận động và phát triển chung của xã hội. 1.2. Nghiên cứu mối quan hệ giữa giới với các bộ phận cấu thành khác của xã hội, các thiết chế xã hội đang vận hành trong xã hội như gia đình, văn hoá, giáo dục, chính quyền, luật pháp, nông thôn, thành thị, môi trường… (Những lĩnh vực có liên quan đến vị trí, vai trò của giới). 1.3. Nghiên cứu nội hàm của giới trong dạng thức tương đối độc lập của nó. Đó là mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây dựng trong xã hội. Để phục vụ cho việc tư duy và tiếp cận Xã hội học Giới, người ta cũng đã xây dựng bên cạnh hệ thống lý thuyết cơ bản (những quy luật, phạm trù, khái niệm, khung logic) bộ công cụ phân tích để xác định phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cho nó. Cùng với những nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu cơ bản thì nghiên cứu thực nghiệm hay còn gọi là nghiên cứu can
  • 8.
    thiệp (hoặc hànhđộng) ngày càng phát triển đã góp phần trực tiếp vào việc nhận thức và hoạch định các chính sách về giới, điều chỉnh và hoàn thiện luật pháp, cải tạo xã hội và tạo lập sự bình đẳng trong các quan hệ giới. 2. Chức năng, nhiệm vụ của Xã hội học giới Khi nói đến chức năng và nhiệm vụ của một ngành khoa học, chúng ta cần phải hiểu rằng, chúng bao giờ cũng được sinh ra để thực hiện những mục tiêu nhận thức và mục tiêu thực tiễn của ngành khoa học đó. Bởi vậy bất kỳ một ngành khoa học nào cũng thường mang trong mình hai chức năng cơ bản nhất: chức năng nhận thức và chức năng thực tiễn. Hai chức năng này hoà quyện không thể tách rời, cái này là cơ sở nhưng cũng là mục tiêu cho cái kia và ngược lại. Chức năng nhận thức của XHH giới là kim chỉ nam, quy định nhiệm vụ là làm thay đổi nhận thức của con người về một cấu trúc xã hội mà trong đó không có nhóm xã hội này cai trị cho nhóm xã hội kia. Từ thay đổi nhận thức, XHH giới có nhiệm vụ làm thay đổi thực tiễn và phục vụ cho chức năng thực tiễn của nó. Ở đây, mối quan hệ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là hai cánh tay của cơ thể XHH giới. Thực tế nói về nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là nói về một phương thức biểu hiện khác của chức năng nhận thức và chức năng thực tiễn của nghiên cứu. Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu có xu hướng nghiêng về những mục tiêu nhận thức, còn nghiên cứu ứng dụng thì lại có xu hướng nghiêng về mục tiêu thực tiễn, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn và dùng thực tiễn để làm sáng rõ lý thuyết. Nhìn chung, hướng về cuộc sống hiện thực, đưa tri thức vào thực tiễn cuộc sống, phục vụ cho cuộc sống của con người ngày càng tiến bộ, văn minh bao giờ cũng là mục đích cao nhất của khoa học dù là khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có XHH nói chung và XHH giới nói riêng. Tuy nhiên, “Sự thống nhất và đa dạng của thế giới vật chất và tinh thần đã khiến cho tri thức khoa học cũng phức tạp và đa dạng không kém. Nó cũng khiến cho sự phân định rạch ròi ranh giới giữa các lĩnh vực khoa học chỉ có thể mang tính tương đối. Sẽ là siêu hình và không khoa học nếu chúng ta
  • 9.
    chỉ biết khubiệt các loại hình nghiên cứu khoa học khác nhau mà không nhìn thấy sự thống nhất và phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng. Bởi vậy, nếu nghiên cứu ứng dụng làm đa dạng và phong phú thêm cho những nghiên cứu cơ bản, thì ngược lại, nghiên cứu cơ bản là tiền đề lý luận phương pháp luận, là cơ sở cần thiết cho việc nghiên cứu ứng dụng. Thiếu những nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng sẽ mất định hướng, sẽ lúng túng khi xử lý các tình huống phức tạp từ thực tiễn. Thiếu những nghiên cứu ứng dụng và tính ứng dụng, nghiên cứu cơ bản sẽ chỉ còn là khoa học của sự lãng mạn thuần tuý, sự bay bổng khỏi hiện thực của tri thức” (Đặng Cảnh Khanh, 2006). Ngày nay, khả năng ứng dụng các tri thức XHH giới Vào thực tiễn đã khiến cho hoạt động khoa học không chỉ là một thứ “khoa học vị khoa học” mà còn là “khoa học vị nhân sinh”. Ý nghĩa xã hội và nhân đạo sâu sắc của khoa học giới là nó giúp thay đổi nhận thức về giới, đưa ra các biện pháp giải quyết hiện tượng bất bình đẳng giới đã tồn tại từ hàng chục thế kỷ. Chỉ cố gắn mình với thực tiễn thì XHH giới mới mang trong mình các giá trị về tri thức và văn hoá đích thực. Do vậy, để phát triển và mở rộng các nghiên cứu về XHH giới chúng ta không thể bỏ qua các hoạt động thực tiễn và ứng dụng của nó. Đồng thời các nghiên cứu cơ bản là nguồn trực tiếp cung cấp những tri thức lý luận và phương pháp luận cho các nghiên cứu cụ thể. Nghiên cứu cơ bản trong XHH vừa giúp định hướng các chiến lược phát triển xã hội chung, vừa góp phần vào chính sự phát triển của tư duy XHH. Nghiên cứu cơ bản về XHH giới có vai trò quan trọng không chỉ trong việc xây dựng các chiến lược phát triển bình đẳng giới mà còn góp phần hình thành những cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận đặc thù của môn học. Ngoài tính hiện thực và ứng dụng, XHH giới còn mang tính cách mạng. Nó hướng xã hội tới sự thay đổi cách nhìn nhận về phụ nữ, thay đổi cấu trúc xã hội đã tồn tại cố hữu trong lịch sử theo kiểu “trọng nam, khinh nữ” thành xã hội bình đẳng, công bằng mà trong đó các thành viên, bất kể thuộc giới tính
  • 10.
    nào đều cócơ hội phát triển ngang bằng, có trách nhiệm tham gia xây dựng gia đình và xã hội, cùng được hưởng thụ công bằng các thành quả lao động đã mình làm ra. Về phương diện này, XHH giới tuân thủ lời dạy bất hủ của K.Marx là: khoa học không chỉ nhằm để giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới. Như vậy XHH giới có ba chức năng cơ bản là: phản ánh hiện thực, cải tạo xã hội và định hướng xã hội. Ba chức năng này có mối quan hệ biện chứng trong các nghiên cứu cụ thể, nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu hành động. Những chức năng quan trọng này đã tạo ra bộ mặt toàn diện của XHH giới và mặc dù là một chuyên ngành khoa học rất trẻ nhưng nó đã nhanh chóng chiếm được chỗ đứng vững chắc trong ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn nói chung và XHH nói riêng. Sự xuất hiện của XHH giới, trên thực tế đã chia XHH ra thành hai giai đoạn: XHH trước giới và XHH sau giới. Đó là kết quả của cuộc tranh luận không khoan nhượng mang tính khoa học và chính trị cao giữa các nhà XHH mang quan điểm nữ quyền (sau này gọi là các nhà nữ quyền) với các nhà XHH mang quan điểm nam quyền. III. MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÃ HỘI HỌC GIỚI VỚI CÁC CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC KHÁC Mối quan hệ của XHH giới với các chuyên ngành XHH khác là sự phản ánh tính khách quan của mối quan hệ giữa vấn đề giới với những vấn đề xã hội cụ thể khác trong xã hội. Thực tế cho thấy, mối quan hệ giới tồn tại và biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội. Đó là mối quan hệ giữa hai giới tính là nam và nữ trong sự vận động của nguồn nhân lực xã hội. Tuy nhiên, trước đây hệ tư tưởng chính trị, triết học, tôn giáo và cả XHH kinh điển đều đã tiếp cận vấn đề giới trong hệ thống những quan điểm nam quyền nên thường phân chia nam nữ thành hai tuyến rõ rệt: nam thống trị và nữ bị trị. Điển hình là hệ tư tưởng Nho giáo, Hồi giáo và sau này, trong chính XHH là những người theo thuyết Cấu trúc chức năng. Trong khi khẳng định vị thế, vai trò của các bộ phận cấu thành trong xã hội, người ta cũng coi
  • 11.
    vấn đề giớitrong xã hội như là một sự xếp đặt tự nhiên, sự phân bổ vị thế, vai trò giới một cách bất bình đẳng như là một lẽ đương nhiên. Ngày nay, XHH giới đã đặt vấn đề khác. Nó đòi hỏi những người nghiên cứu phải nghiên cứu hai lực lượng xã hội này trong bối cảnh của sự tương tác, vận động và phát triển, hướng tới sự bình đẳng, công bằng. Chẳng hạn, khi XHH gia đình nghiên cứu về gia đình thì không thể không nghiên cứu về sự biến đổi mối quan hệ giới theo các mối quan hệ hàng ngang như quan hệ giữa vợ với chồng (cha với mẹ, ông với bà), anh trai với em gái; và mối quan hệ theo hàng dọc là quan hệ thế hệ như ông bà với cha mẹ, với con cháu. Nghiên cứu XHH văn hoá thì phải nghiên cứu mối quan hệ giới trong các nền văn hoá theo chiều lịch đại và theo chiều cấu trúc chức năng. Nghiên cứu XHH nông thôn, XHH đô thị cũng cần đề cập đến mối quan hệ giới và ảnh hưởng của mối quan hệ đó đối với từng giới cũng như sự phát triển chung của nông thôn hoặc đô thị. BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU Quan điểm chưa có nghiên cứu giới "Hạnh phúc ở ngay trong tay bạn" Thời mở cửa giúp chị em chúng ta mất ít thời gian hơn trong việc “tề gia nội trợ” để dành thời gian còn lại tham gia hoạt động xã hội, cống hiến sức mình vào sự nghiệp phát triển của nước nhà. Nhưng ngoài những yếu tố thuận lợi vẫn còn tồn tại những vấn đề đáng lo ngại cho nhiều gia đình, nhất là bổn phận làm vợ làm mẹ đang có hướng mờ nhạt đi. Theo truyền thống, việc “tề gia nội trợ” là phạm vi độc quyền của phụ nữ, nhưng ngày nay nó không còn chiếm vị trí “độc nhất vô nhị” nữa, mà đã được chia sẻ khá nhiều. Bởi vì mọi thứ cần thiết cho cuộc sống hầu như đều có sẵn, cái gì cần là có ngay một cách nhanh chóng, tiện lợi, dễ dàng. Từ việc đi ăn cơm hàng, cơm hộp cho đến việc thuê người nội trợ trong gia đình…
  • 12.
    Nói tóm lại,cái gì cần cũng có thể thuê mướn. Chính sự tiện lợi đó lại nảy sinh nhiều vấn đề đáng lo ngại cho các gia đình. Tôi được biết vợ chồng chị Đ. đều là kỹ sư, bác sĩ và có địa vị trong xã hội. Họ có hai con, một trai, một gái đều đã đến tuổi trưởng thành. Nhiều người nhìn vào gia đình anh chị đều rất thèm muốn. Nhưng ở đời chẳng ai học được chữ “ngờ”. Cậu con trai của chị Đ. phải vào tù lúc 29 tuổi vì tội dẫn dắt gái mại dâm và buôn bán ma tuý. Mọi chuyện vỡ ra từ đó. Chị Đ tâm sự: - Tôi đã mắc phải sai lầm lớn trong việc giáo dục con cái. Đáng lẽ tôi phải dành nhiều thời gian hơn để chăm sóc con thi tôi lại chu cấp đầy đủ những thứ con cần. Cuộc sống sung túc đã làm con trai tôi tự giết mình. Việc chăm sóc con không thể thiếu được bàn tay của người mẹ. Điều này đòi hỏi chị em phải có sự kiên trì dạy dỗ từng phút, từng giờ mới có thể cho gia đình và xã hội một con người hữu ích thực sự. Chị H. làm ở Bưu điện Bờ hồ tâm sự: - Tôi bận đi làm tối ngày. Công việc chăm sóc gia đình, con cái nhờ cả vào chồng tôi. Buổi trưa dịch vụ cơm hộp đưa vào đến tận nhà, chỉ có buổi tối gia đình mới đoàn tụ nhưng thường có người này lại vắng mặt người kia vì chồng tôi thích những trò tiêu khiển ở bên ngoài hơn là ở nhà bên cạnh vợ con. Nhiều khi tôi cũng tự hỏi: Hình như mình đang trốn tránh việc chăm sóc gia đình chăng? Quả thật việc làm mẹ, làm vợ cũng chẳng nhẹ nhàng gì, tuy rằng chúng ta không thể chu toàn được cả việc nước lẫn việc nhà, nhưng thiết nghĩ chúng ta cũng không nên lạm dụng quá vào việc gọi là dịch vụ chăm sóc chồng con thay ta mà nên tự mình vun vén cho gia đình. Chỉ có như vậy chúng ta mới giữ được những người thân yêu không xa rời tổ ấm gia đình của chính mình. Mỗi gia đình là một xã hội thu nhỏ, gia đình hạnh phúc thì xã hội sẽ phồn thịnh và phát triển không ngừng. Chúng ta là phận làm mẹ, làm vợ đừng nên bỏ quên vinh dự được hy sinh cho chồng con. Đây là chiếc cầu nối tất cả
  • 13.
    mọi người tronggia đình xích lại gần nhau hơn. Nếu ai có ý nghĩ tạm quên đi trách nhiệm lớn lao này thì đó là tiếng chuông cảnh báo đe doạ đến hạnh phúc gia đình của chính người đó. Theo Trần Hằng Nga (Báo Tiền phong ngày 14/81/999). CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Đối tượng nghiên cứu của XHH giới là gì? Hãy phân tích sự giống và khác nhau giữa đối tượng nghiên cứu của XHH giới với đối tượng nghiên cứu giới. 2. Tại sao nói XHH giới ra đời đã làm thay đổi ngành XHH, đặc biệt là XHH gia đình, XHH văn hoá, XHH chính trị? 3. Đối tượng nghiên cứu XHH giới có liên quan đến bài đọc nghiên cứu trên thế nào? Bài 2. SỰ HÌNH THÀNH CÁC KHOA HỌC NGHIÊN CỨU PHỤ NỮ, GIỚI VÀ XÃ HỘI HỌC GIỚI I. NHỮNG TIỀN ĐỀ VỀ KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ GIỚI 1. Xã hội Mẫu hệ trong buổi bình minh của loài người Những tài liệu khảo cổ và những truyền thuyết dân gian còn lưu truyền đến ngày nay đã đưa ra bằng chứng về một giai đoạn phát triển quan trọng của xã hội con người là giai đoạn theo Mẹ, còn gọi là Mẫu hệ. Đây cũng là giai đoạn đầu tiên của thời đại mông muội, là ranh giới giữa thế giới sinh vật và đời sống xã hội. Trong cuốn sách “Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và Nhà nước”, Engels đã nêu ra và phân tích 3 phát minh lớn của xã hội loài người mà ông cho rằng còn quan trọng hơn cả phát minh ra máy hơi nước của thời kỳ ranh giới giữa xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp. Đó là:
  • 14.
    Tiếng nói nhưlà một phương tiện chủ yếu của sự giao tiếp trong tập thể người nguyên thuỷ. Engels coi tiếng nói là một phương tiện (mà thú vật không thể có được) để thu thập, giữ gìn, xử lý và truyền đi những thông tin về thế giới xung quanh, là phương tiện để nhận thức và quản lý. Chính tiếng nói đã tách hẳn con người ra khỏi loài vật; rất thuận tiện cho sinh hoạt và lao động sản xuất mà trước đó chỉ có thể dùng phương pháp tương tác biểu trưng. Lửa: Giai đoạn giữa của thời kỳ mông muội bắt nguồn từ việc phát hiện ra “công cụ năng lượng” tức là lửa, và được đánh dấu như là giai đoạn hình thành của chế độ công xã nguyên thuỷ điển hình. Lửa không chỉ là một vũ khí đi săn mới mà còn là một phương tiện nấu chín thức ăn, để chống đỡ với cái lạnh và thú dữ. Lửa đã thay đổi tận gốc tiềm năng của năng lượng, cơ cấu nhân khẩu và tập quán của người nguyên thuỷ. Khi chưa biết sử dụng lửa, con người hằng ngày nhận được dưới 2.000kcal (chủ yếu là qua thức ăn: một nửa là thực vật, một nửa là động vật) Lửa lập tức làm tăng mức tiêu dùng năng lượng hằng ngày lên đến 5.000kcal, trong đó thức ăn cung cấp 3.000kcal, còn “tiện nghi” sưởi ấm cung cấp 2.000kcal. Việc ăn thức ăn chín và tạo ra được thức ăn chín đã chứng tỏ tư duy của con người vượt xa loài vật và trở thành một loài riêng biệt, cao cấp. Sự phân công lao động giữa nam và nữ khi đó mang tính tự nhiên mà chưa mang tính xã hội. Chẳng hạn, tuỳ thuộc vào sức khoẻ, nam giới thì săn, bắt; phụ nữ thì hái lượm. Do trách nhiệm phải mang thai, sinh đẻ và cho con bú và cũng do tình trạng sức khoẻ yếu hơn nam giới nên phụ nữ chỉ quanh quẩn gần chỗ ở, trong khi nam giới ngày càng phải đi xa để tìm kiếm thức ăn. Chính các đặc tính của công việc, theo thời gian đã ảnh hưởng đến tính cách và phẩm chất giới. Chẳng hạn, nam giới thì mạnh mẽ, phóng khoáng, nhiều sáng tạo, quyết đoán, dũng cảm… trong khi phụ nữ thì tỉ mỉ, dịu dàng, căn cơ, tiết kiệm, vị tha… Lúc khởi thuỷ, sự phân chia sản phẩm lao động trong thị tộc mang tính chất bình quân chủ nghĩa, dựa trên cơ sở bình đẳng xã hội, còn quá trình
  • 15.
    định hình dònghọ (theo các đặc điểm khác biệt về giới tính và lứa tuổi) thì diễn ra theo tiêu chuẩn duy nhất có thể có lúc bấy giờ là mối liên hệ theo họ mẹ. Với thói quen tính giao giữa nam và nữ vẫn còn mang nặng tính động vật (tạp hôn, quần hôn), nên con sinh ra chỉ biết có mẹ mà không biết cha là ai. Phụ nữ còn là người được giao trọng trách giữ gìn bếp lửa của cả bộ lạc, phân chia khẩu phần thức ăn kiếm được, chăm sóc, nuôi dưỡng thế hệ trẻ, vì vậy họ có vị trí quan trọng trong bộ lạc. Bằng cách đó, phụ nữ được tôn vinh không phải từ sự chủ động về tư tưởng ‘‘trọng nữ” mà bằng tính tự phát, bản năng trong quá trình lao động và chuyển hoá từ bầy đàn động vật sang xã hội con người. 2. Quá trình chuyển biến từ xã hội công xã nguyên thuỷ sang xã hội có đối kháng giai cấp Sự chuyển biến từ chế độ công xã nguyên thuỷ không có giai cấp sang các xã hội đối kháng giai cấp được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất của loài người. Khi lượng thức ăn ngày càng khan hiếm mà con người ngày càng sinh sôi thì một nhu cầu lớn nảy sinh là phải tái tạo lại thức ăn. Việc con người phát minh ra động tác chọc lỗ để gieo hạt hoặc nuôi động vật để chúng sinh con đẻ cái không chỉ bảo đảm sự sinh tồn bền vững mà còn tách mình ra khỏi giới động vật một cách ngoạn mục. Bắt đầu từ đây, bộ não của con người ngày càng hoàn thiện và phát triển cùng với sự khéo léo của đôi tay, đôi chân và các giác quan khác. Sự ra đời hai ngành cơ bản của nông nghiệp là trồng trọt và chăn nuôi đã cho phép con người tạo ra nguồn của cải to lớn không chỉ bảo đảm cho tiêu dùng mà còn có của cải để dự trữ. Nội dung chủ yếu của thời kỳ này là “cuộc cách mạng mà nhờ đó, con người thoát ra khỏi khuôn khổ cuộc sống ký sinh thuần tuý và chuyển sang việc trồng trọt và chăn nuôi để trở thành con người sáng tạo, không bị phụ thuộc vào tính khí thất thường của thiên nhiên xung quanh”. (Engels, 1980). Từ con người ký sinh trở thành con người biết lao động sáng tạo, tiến lới chủ động khai thác, cải tạo thiên nhiên là một bước ngoặt to lớn. Quá trình
  • 16.
    này cũng giúpcon người xây dựng được xã hội của mình ngày càng hoàn thiện và văn minh hơn. Của cải dư thừa là một điều kiện quan trọng để phát sinh tư tưởng tư hữu và chiếm hữu. Tính tư hữu nằm trong nhu cầu tồn tại nhưng cùng với sự phát triển xã hội, nó đã vượt xa nhu cầu tồn tại và trở lại định hướng cho xã hội. Những người khôn ngoan, chăm chỉ lao động hoặc có quyền thế hơn trong bộ lạc trở thành những người giàu có hơn. Xã hội phân chia thành hai loại người: thống trị và bị trị. Sự phân hoá xã hội càng cao thì mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp càng sâu sắc và chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tất nhiên, quá trình này diễn ra không đồng thời ở các xã hội khác nhau mà nó phụ thuộc vào trình độ của từng xã hội, vùng địa lý. Trong hoàn cảnh như vậy, nam giới với sức mạnh của mình (cả về thể chất lẫn trí tuệ) đã vươn lên trở thành nhóm thống trị xã hội, chiếm hữu của cải và cả phụ nữ. 3. Sự chuyển đổi từ xã hội Mẫu hệ tới xã hội Phụ quyền Một sự kiện lớn xảy ra trong xã hội có giai cấp là sự hình thành gia đình. Điều này cũng có nghĩa là quan hệ tính giao giữa đàn ông và đàn bà đã thay đổi và mang tính xã hội hơn. Khi của cải không còn là của chung nữa thì con người cũng vậy. Sự chiếm hữu con người đã tạo ra gia đình. Vấn đề nguồn gốc của gia đình là quá trình phát sinh của chế độ một vợ một chồng mà trong đó, có sự thay đổi vai trò giữa người phụ nữ với tư cách là vợ và người nam giới với tư cách là chồng. Nguồn gốc của sự hình thành gia đình, như Engels đã nêu lên, không phải bởi tình yêu nam nữ đơn thuần mà bởi sự hình thành chế độ tư hữu và Nhà nước cùng với sự phân chia đẳng cấp giới ngày càng sâu sắc. Gia đình đòi hỏi phải có hành động tương hỗ giữa các cá thể trong quá trình thoả mãn không chỉ các nhu cầu tình dục, mà còn có cả các nhu cầu ăn uống và sinh hoạt khác nữa, bao gồm cả việc làm kinh tế chung, sinh con, đẻ cái và giáo dục chúng, truyền lại tài sản của tổ tiên cho thế hệ sau. Những vấn đề phức tạp đó đã phá vỡ cấu trúc của xã hội cộng sản nguyên thuỷ, hay
  • 17.
    nói cách khácbản thân chế độ công xã nguyên thuỷ không chứa đựng nổi mà nó phải chuyển sang chế độ có giai cấp. Chính cuộc cách mạng trong gia đình, gắn liền với bước chuyển sang chế độ phụ hệ trên cơ sở vật chất - kỹ thuật của cuộc cách mạng xã hội đã trở thành hình thái chín muồi của các mâu thuẫn đối kháng xã hội đầu tiên và của việc chuyển tiếp sau đó lên xã hội có giai cấp. Gia đình một vợ một chồng đã hình thành, đồng thời cũng là “chỗ” tích tụ và thể hiện các mâu thuẫn xã hội. Các mâu thuẫn xã hội đối kháng đã phát sinh và gây ảnh hưởng đến gia đình thông qua sự bất bình đẳng ngày càng sâu sắc giữa nam và nữ trong gia đình. Gia đình một vợ một chồng, như Engels nhận xét, mang trong mình không chỉ các tàn dư của gia đình cặp đôi và chế độ quần hôn. Điều cơ bản là ở chỗ trong xã hội, có giai cấp, nó chứa đầy những mâu thuẫn đối kháng của xã hội đó và bắt người phụ nữ phải chịu cảnh nô lệ. Nạn ngoại tình và mãi dâm, về thực chất là sự khôi phục lại dưới hình thức đã biến đổi các khuynh hướng cổ xưa, những hình thức tối cổ của chế độ quần hôn. Trong chế độ có mâu thuẫn đối kháng thì các mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà gắn bó chặt chẽ với sự dùng “tiền hoặc dùng những phương tiện quyền lực xã hội khác”. Engels viết rằng, chế độ một vợ một chồng “là hình thức gia đình đầu tiên không dựa trên những điều kiện tự nhiên, mà dựa trên những điều kiện kinh tế và vì thế “sự đối lập giai cấp đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trùng với sự phát triển của sự đối kháng giữa chồng và vợ trong hôn nhân cá thể, và sự áp bức giai cấp đầu tiên trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà” (Engels, 1980). Trong các gia đình, phụ nữ không còn chiếm được vị trí cao như trong các bộ lạc trước đây mà họ đã bị rơi xuống hàng thứ yếu khi con cái đã biết cha đẻ của mình. Bắt đầu từ đây, con cái theo dòng họ cha “nội” (bên trong) và họ mẹ trở thành “ngoại” (bên ngoài). Phụ nữ phải phục tùng, phục vụ cho chồng, con và lao động này không được trả công. Việc xác định tính phụ thuộc của phụ nữ còn thể hiện trong khái niệm “nối dõi dòng họ”. Ở châu âu,
  • 18.
    Mỹ, phụ nữkhi sinh ra phải mang họ cha và khi lấy chồng phải mang họ chồng; còn ở nhiều nước châu á, phụ nữ khi lấy chồng bị gọi theo tên chồng lúc chồng còn sống hoặc tên con trai lớn nhất sau khi chồng chết. Sống thì làm người nhà chồng còn chết thì làm ma nhà chồng là nguyên tắc dành cho tất cả phụ nữ sống trong xã hội phụ quyền. 4. Một số quan điểm 4.1. Quan điểm về sự tiến hoá xã hội theo giới Trên phương diện giới, K.Marx và F.Engels đã phân chia xã hội theo hai hình thức tiến hoá. Đó là: - Xã hội mẫu quyền (tương ứng với thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ). - Xã hội phụ quyền (tương ứng với thời kỳ xã hội có gia đình, giai cấp và Nhà nước). Tuy nhiên, do trình độ phát triển của xã hội nguyên thuỷ còn quá thấp và do tính tự phát của tập quán theo mẹ nên thời kỳ này chỉ có thể gọi là mẫu hệ. Sự chuyển đổi từ mẫu hệ sang phụ quyền được coi như là một quy luật tất yếu của lịch sử. Nhận xét về thời kỳ này, Engels đã viết “Sự thay thế mẫu quyền bằng phụ quyền là một cuộc cách mạng triệt để nhất và cũng dễ dàng nhất mà loài người đã trải qua. Cuộc cách mạng này đánh dấu bằng sự thất bại lịch sử có tính chất toàn cầu của giới phụ nữ” (Engels, 1980). Từ khi xã hội có giai cấp, phân công lao động giữa nam và nữ không còn là phân công tự nhiên mà mang tính xã hội và giai cấp. Chẳng hạn, phụ nữ được giao trọng trách lo việc trong nhà nhưng không phải với tư cách chủ đạo mà với tư cách phụ thuộc (nội tướng), còn nam giới làm chủ gia đình về chiến lược và tham gia vận hành, lãnh đạo xã hội. Trên quan điểm đó, kể cả các công việc sản xuất của phụ nữ cũng không được coi là công việc của xã hội. Công việc của nam giới được coi là quan trọng (việc lớn) còn công việc của phụ nữ được coi là việc nhỏ, việc không quan trọng.
  • 19.
    Engels đã nêurằng, trong lĩnh vực các quan hệ sản xuất thì cơ sở của sự chuyển biến đó là sự phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã hội vốn là kết quả của sự phát triển kinh tế, nhưng trên vấn đề giới, nó lại phụ thuộc vào giới tính. Việc nhốt phụ nữ vào trong nhà và không công nhận sự đóng góp của họ với xã hội đã không chỉ làm phụ nữ vắng bóng trong lịch sử mà còn mãi mãi đẩy họ vào địa vị phụ thuộc từ thế hệ này đến thế hệ khác. Ngày nay, cả thế giới đang hướng tới hình thức tiến hoá mới phù hợp với sự phát triển của lịch sử. Đó là xây dựng một xã hội bình đẳng giới. Vấn đề được đặt ra là bằng mọi cách đưa phụ nữ và trẻ em vào dòng chảy của sự phát triển. Hay nói một cách khác là không thể xây dựng một xã hội phát triển và văn minh khi một nửa dân số thế giới là phụ nữ phải sống trong sự phụ thuộc và đói nghèo. Nếu như trước đây K.Marx đã cho rằng, ngoài việc phân chia xã hội theo các hình thái kinh tế - xã hội, còn có thể chia xã hội theo hai giai đoạn là giai đoạn mẫu quyền và giai đoạn phụ quyền, thì ngày nay, dưới góc độ xã hội học về giới, chúng ta còn có thể đưa ra giai đoạn tiếp nối với hai giai đoạn trên, giai đoạn mà nhân loại đang phấn đấu để đạt tới, đó là giai đoạn của sự bình đẳng giới. Cụ thể là: - Xã hội mẫu quyền (tương ứng với thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ). - Xã hội phụ quyền (tương ứng với thời kỳ xã hội có giai cấp và gia đình). - Xã hội bình đẳng giới (tương ứng với thời kỳ bình đẳng giữa các nhóm xã hội). 4.2. Quan điểm về ba hình thức phân hoá xã hội lớn trong đó có bất bình đẳng giới 4.2.1. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người luôn tồn tại sự bất bình đẳng giữa các cá nhân, nhóm xã hội, dân tộc, điển hình là chủng tộc; giai cấp; giới. Lịch sử của xã hội loài người cũng là lịch sử đấu tranh để xoá bỏ sự bất bình đẳng này. Nhiều nhà tư tưởng đã có ý đồ giải phóng loài người: giải phóng giai cấp theo tư tưởng của giai cấp công nhân (K.Marx); tạo ra sự giàu
  • 20.
    có, giải phóngsức lao động (A dam Smith); giải phóng nhân loại ra khỏi sự tiến hoá tự nhiên của sự sống (Darwin); giải phóng con người ra khỏi sự thống trị của tiềm thức (Freud)… Để nhận biết về sự bất bình đẳng, chúng ta có thể đưa ra các tiêu chí phân loại. Đó là: - Điều kiện sống và thu nhập. - Địa vị và vai trò. - Sự hưởng thụ vật chất, văn hoá, tinh thần. - Giáo dục và tri thức. - Thái độ và hành vi ứng xử (xã hội đối với cá nhân và cá nhân đối với xã hội). Bất bình đẳng chủng tộc và bất bình đẳng giới trên thực tế vẫn tồn tại như là một dạng thức trong tất cả các xã hội trên, tuy nhiên mức độ có khác nhau. Chẳng hạn, trong xã hội XHCN, những cố gắng của chính quyền và nhân dân nhằm xoá bỏ các bất bình đẳng về giai cấp cũng có nghĩa là cố gắng xoá bỏ bất bình đẳng về giới và chủng tộc. Mối quan hệ giữa giới và giai cấp, giữa giới và chủng tộc là mối quan hệ phức tạp và đan xen. Ví dụ: Nguyên tắc của các xã hội là “nam tôn nữ ty”. Phụ nữ ở cùng giai cấp, chủng tộc với nam giới là không bình đẳng nhưng nam giới ở giai cấp thấp hoặc chủng tộc nghèo cũng không được bình đẳng với phụ nữ ở các giai cấp hoặc chủng tộc giàu hơn. Nhà thơ Nguyễn Khuyến đã vẽ nên bức tranh về sự bất bình đẳng này trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và nô dịch Việt Nam. “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt Dưới sân quan cử ngỏng đầu rồng”
  • 21.
    Trong xã hộiphong kiến, quan cử là nam giới, đại diện của trí tuệ và giai cấp thượng đẳng của nước thua trận đã phải chịu cảnh nhục nhã trước bà đầm là đại diện của nhóm yếu thế của nước cai trị. Hình ảnh đối nhau của “đít vịt” và “đầu rồng” là những hình ảnh rất đắt. Nó không chỉ nêu ra sự xúc phạm lòng tự tôn dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân mà còn khơi dậy tính sĩ diện của đàn ông Việt Nam, vì trong con mắt của nhà nho thì phụ nữ không thể ngang hàng được với nam giới. Khác với hai dạng bất bình đẳng về chủng tộc và giai cấp là các dạng bất bình đẳng chỉ xảy ra trong xã hội, giữa những người xa lạ với nhau, bất bình đẳng giới đã không chỉ xảy ra trong xã hội mà còn xảy ra trong gia đình, giữa những người có quan hệ đặc biệt hoặc ruột thịt với nhau. Các nhà nữ quyền đã cho rằng, bất bình đẳng giới là dạng bất bình đẳng đầu tiên nhưng được phát hiện và đề cập tới muộn nhất trong xã hội loài người. Bất bình đẳng giới là sâu sắc nhất vì nó tồn tại trong cả xã hội và gia đình. Chính tình yêu đã che mờ các dạng bất bình đẳng trong gia đình, nó khiến cho người ta không dễ nhận ra và cũng không dễ giải quyết như các dạng bất bình đẳng khác là dùng đấu tranh vũ trang hoặc hoà đàm. Một người con gái, một người vợ, một người mẹ không thể chống lại cha, chồng, con trai của mình để đòi lại sự công bằng. Tuy nhiên, để tiến tới xã hội phát triển công bằng và văn minh, người ta không thể không giải quyết bất bình đẳng giới. Chỉ có một con đường là nghiên cứu khoa học, bổ sung hoặc thay đổi chính sách của Nhà nước, thay đổi nhận thức và hành vi của con người để tiến tới bình đẳng giới. Mặc dù dùng biện pháp hoà bình nhưng cuộc đấu tránh vì bình đẳng giới cũng đầy chông gai, gian khổ và không thể tiến tới đích hoàn hảo trong một thời gian ngắn. Có nơi, có lúc, các chiến sĩ đấu tranh cho bình đẳng giới đã phải hy sinh cả tính mạng, vì sự thay đổi mối quan hệ giới là thay đổi cả một nếp nghĩ, nếp sống trong môi trường của văn hoá phụ quyền, làm bớt đi quyền lực của nhiều cá nhân gia trưởng.
  • 22.
    4.2.2. Các hệtư tưởng lớn của loài người đều nảy sinh trong xã hội phụ quyền khi mà sự phân biệt giới ngày càng sâu sắc và hoàn hảo. Có thể nêu một số tư tưởng quen thuộc có đề cập đến giới trong thế giới hiện nay: - Hệ tư tưởng Thiên chúa giáo. - Hệ tư tưởng Hồi giáo. - Hệ tư tưởng Nho giáo. - Hệ tư tưởng Phật giáo. Trong các hệ tư tưởng trên thì Nho giáo không có kinh kệ, tầng lớp sư sãi hoặc giám mục để làm cầu nối giữa Đức Phật tổ hoặc Chúa Trời với con người. Việc thờ cúng tổ tiên theo Nho giáo là những nghi thức biểu lộ lòng biết ơn của con cháu đối với công lao to lớn của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Không Tử, người khai sinh ra Nho giáo đã nói rằng: đối với quỷ thần thì ông “Kính nhi viễn chi”, có nghĩa là khi không nhìn rõ quỷ thần ở đâu, có hay không, thì ông không tin nhưng cũng không dám mạo phạm. Nhưng quan hệ cha con, vợ chồng, anh em là cái hiện hữu hằng ngày thì không thể không tôn trọng, tuân thủ các nguyên tắc chuẩn mực. Nho giáo là một hệ tư tưởng lớn của xã hội nhằm xây dựng xã hội thành một khuôn mẫu, trong đó đạo đức của con người được đề cao và được coi là nền tảng của xã hội. Quan điểm bất bình đẳng giới trong Nho giáo, do vậy, là hết sức nặng nề. Thực tế lịch sử đã cho thấy, sự gắn bó giữa hệ tư tưởng phụ quyền với tôn giáo càng làm bền chặt thêm sự thống trị của nam giới đối với phụ nữ trên cả hai phương điện là nhân quyền và thần quyền, muốn thay đổi nó phải có một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc. II. SỰ HÌNH THÀNH KHOA HỌC NGHIÊN CỨU PHỤ NỮ, GIỚI VÀ XÃ HỘI HỌC 1. Sự hình thành và phát triển của ngành Phụ nữ học (Women Studies) 1.1. Phụ nữ học
  • 23.
    Chúng ta đềubiết, trong xã hội phụ quyền, với vị thế thống trị của nam giới, mọi nghiên cứu đều trực tiếp hoặc gián tiếp hướng về một xã hội của nam giới và thế giới do nam giới thống trị. Người phụ nữ trong những điều kiện này, nếu được nhắc tới cũng chỉ với vai trò của những kẻ phụ thuộc. Đối tượng phụ nữ có thể được phác hoạ với cái đẹp hình thể, họ có thể là những bông hoa, cũng có thể được nhắc nhở với một vai trò lớn trong gia đình, nhưng chưa bao giờ vị thế của họ được công nhận như một sự ngang bằng với nam giới. Phụ nữ học ra đời, dù muốn hay không cũng tồn tại như một khoa học thực thụ. Nó được khơi nguồn không phải từ nội hàm khoa học mà từ chính thực tiễn phong trào phụ nữ quốc tế. Chính phong trào phụ nữ đã không chỉ tạo nguồn cảm hứng cho những nghiên cứu về phụ nữ mà còn tích tụ kiến thức và kinh nghiệm, hình thành và phát triển môn Phụ nữ học. Ngược lại, sự phát triển của Phụ nữ học lại định hướng về mục tiêu, lý luận và phương pháp luận, phương pháp hoạt động thực tiễn cho phong trào phụ nữ. Với sự xuất hiện của Phụ nữ học, việc nghiên cứu, xem xét đối tượng phụ nữ với tư cách là một nửa nhân loại đã được đặt ra ở một bước phát triển cơ bản. Phụ nữ học ra đời đã làm đảo lộn nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, cung cấp một cách nhìn mới về nửa nhân loại luôn được mệnh danh là “phái đẹp” nhưng lại yếu thế, là “hoa”, là “quà tặng vô giá của thượng đế “cho nhân loại nhưng lại bị dập vùi trong áp bức và khổ đau. Với Phụ nữ học, phụ nữ được tiếp cận với tư cách đối tượng của khoa học, đã có cơ sở khoa học và thực tiễn, lý luận và cách mạng để giải phóng mình trên phương diện vị thế, vai trò và các quyền về bình đẳng giới. 1.2. Những điều kiện và tiền đề sự ra đời của Phụ nữ học Cũng như tất cả các ngành khoa học khác, sự xuất hiện của Phụ nữ học cũng gắn liền với nhiều yếu tố nhận thức và thực tiễn. Cụ thể là: * Do nhu cầu của nhận thức - lý luận:
  • 24.
    Trước khi xuấthiện của Phụ nữ học, nhận thức khoa học của nhân loại về phụ nữ còn nhiều hạn chế. Vấn đề bất bình đẳng giới chưa nhận được sự quan tâm tương xứng của tư duy khoa học, nhất là các khoa học về xã hội và nhân văn. Là một trong ba hình thức bất bình đẳng lớn nhất của xã hội loài người, xuất hiện từ hàng nghìn năm trước, nhưng so với những bất bình đẳng về chủng tộc và giai cấp, thì bất bình đẳng về giới, mặc dù xuất hiện sớm nhất nhưng lại được quan tâm và xử lý muộn nhất. Điều đáng lưu ý là hầu hết các nhà tư tưởng lớn phát hiện ra những bất công về giới lại chính là nam giới. Với những lý do trên, Phụ nữ học ra đời là một nhu cầu khách quan của xã hội nhằm làm thay đổi nhận thức của con người trên vấn đề phụ nữ một cách cơ bản nhất, nói một cách cụ thể, sự thay đổi nói trên cần phải được dựa trên những cơ sở lý luận - khoa học khách quan. Chính điều đó mới là cơ sở vững chắc để xác lập một sự bình đẳng thật sự giữa hai giới nam và nữ. Thêm nữa, chính sự xuất hiện của Phụ nữ học và các khoa học về giới đã góp phần làm phong phú thêm hệ thống những kiến thức khoa học của nhân loại. * Do nhu cầu của phong trào phụ nữ quốc tế. Thực tế cho thấy, phong trào phụ nữ, khi chưa có lý luận khoa học của những nghiên cứu về giới và Phụ nữ học, mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực nhưng đều diễn ra một cách tự phát, không có cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp hành động nên kết quả còn hạn chế. Điều đó đã làm nảy sinh những nhu cầu mới, khiến một bộ phận những nhà hoạt động trong phong trào phụ nữ quan tâm nhiều hơn tới lý luận và khoa học. Nhu cầu nhận thức lý luận và khoa học, lấy các quy luật khoa học khách quan về bình đẳng giới làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn của phong trào phụ nữ chính là cơ sở cho sự phát triển của các khoa học về phụ nữ trong đó có Phụ nữ học XHH giới. Thực tế cho thấy, chính các khoa học này đã tạo ra một hệ thống những kiến thức khoa học cơ bản để định hướng lý
  • 25.
    luận và làkim chỉ nam cho phong trào phụ nữ quốc tế trong rất nhiều năm qua. Nhờ có sự soi đường của các khoa học về giới và phụ nữ mà phong trào phụ nữ đã hoà nhập với các phong trào khác. Nó được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ. Nó vừa hoà nhập được vào sự phát triển tiến bộ của các khoa học xã hội và nhân văn lại vừa giữ được những nét đặc thù, những sắc thái riêng về lý luận và phương pháp luận của mình. Nó vừa diễn ra trong xã hội lại vừa diễn ra trong gia đình. * Do những điều kiện của sự phát triển kinh tế-xã hội: Sự phát triển của ngành Phụ nữ học cũng gắn liền với những điều kiện kinh tế - xã hội của CNTB thế kỷ XVII. Chúng ta đều biết, vào thời điểm này, với nhu cầu về nhân lực lao động to lớn của giai đoạn phát triển tiền tư bản và công nghiệp hoá, các nhà tư bản đã tuyển dụng phụ nữ và trẻ em với tư cách là lực lượng lao động rẻ mạt cho guồng máy của mình. Điều đó trên thực tế cũng có nghĩa là đưa phụ nữ từ gia đình ra xã hội trên quy mô rộng. Lao động nữ được thừa nhận. Phụ nữ có thu nhập độc lập điều kiện sống, học tập thay đổi, trình độ được nâng cao. Chính nhu cầu phát triển của lao động nữ, đưa phụ nữ từ gia đình vào xã hội đã làm thức tỉnh phụ nữ. Việc phụ nữ tham gia vào hệ thống sản xuất xã hội cũng khiến họ ý thức rõ hơn được vị thế, vai trò của mình, và từ đó, trong môi trường xã hội mới mẻ, nhu cầu về bình đẳng giới cũng xuất hiện từ trong chính nhận thức của họ. * Do những điều kiện của sự phát triển văn hoá -xã hội: Sự phát triển văn hoá, xã hội đa dạng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mới có liên quan đến phụ nữ và giới. Những biến đổi trong nhận thức văn hoá, sự khủng hoảng của các mối quan hệ xã hội, sự thay đổi các chuẩn mực và giá trị sống… khiến cho nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và phân tích dưới một góc độ khoa học mới. Văn hoá - xã hội phát triển ngày càng đa dạng, phong phú, đặc biệt là văn hoá công nghiệp thay thế cho văn hoá nông nghiệp. Lối sống và nhiều phong tục cũ không phù hợp với xã hội công nghiệp, đặc biệt là những phong tục cấm, cản trở phụ nữ trong sản xuất và
  • 26.
    sinh hoạt. Điềunày đã dẫn đến những nhu cầu phải tiếp cận vấn đề phụ nữ theo một hướng tư duy mới, phù hợp với sự vận động và phát triển của văn hoá. 2. Các mục tiêu của Phụ nữ học Phụ nữ học và các chuyên ngành nghiên cứu về giới ra đời nhằm mục tiêu đáp ứng những vấn đề lý luận và thực tiễn sau đây: 2.1. Nghiên cứu để tìm ra nguồn gốc của những sự bất bình đẳng giữa nam và nữ. Giải thích được một cách khoa học đâu là nguyên nhân của sự bất bình đẳng này. Mặt khác, với một hệ thống những kiến thức về lý luận, phương pháp luận mới, Phụ nữ học có thể phác hoạ được một bức tranh xác thực về thực trạng vấn đề giới trong xã hội và hậu quả của nó. Trên cơ sở những nghiên cứu trên, phong trào phụ nữ có thể đề ra được các giải pháp nhằm hướng tới việc giải quyết những bất bình đẳng về giới trong xã hội từ sự thay đổi luật pháp và nhận thức của xã hội. 2.2. Sự ra đời của môn Phụ nữ học cũng hướng tới mục tiêu phát triển một cơ sở nhận thức mới về vấn đề phụ nữ, xây dựng hệ thống lý luận, phương pháp luận và phương pháp thích hợp cho công tác nghiên cứu về phụ nữ từ quan điểm và góc nhìn của phụ nữ (nhấn mạnh đến vai trò của đội ngũ các nhà khoa học nữ). 2.3. Sự ra đời của Phụ nữ học cũng hướng tới mục tiêu thực tiễn là định hướng về tư duy và lý luận cho các hoạt động của phong trào phụ nữ, hỗ trợ các phương thức hoạt động, xây dựng mô hình, nâng cao năng lực cho cán bộ phụ nữ trong cuộc đấu tranh vì sự bình đẳng; lấp những lỗ hổng kiến thức về người phụ nữ trong các lĩnh vực khác nhau, làm thay đổi nhận thức của cả nam và nữ trên vấn đề phụ nữ trong thực tiễn. 2.4. Phụ nữ học cũng là một vũ khí tư tưởng trong cuộc đấu tranh chống lại những quan điểm bảo thủ, quan điểm nam quyền. Nó cung cấp những kiến thức khoa học và thực tiễn cho cuộc đấu tranh này, vạch ra những nhược điểm, sai lầm về mặt khoa học của những công trình nghiên
  • 27.
    cứu trước đâyvốn chịu ảnh hưởng của chế độ phụ quyền đã hạ thấp năng lực của phụ nữ, ngăn cản họ phát triển tài năng. Những kiến thức khoa học và thực tiễn của Phụ nữ học cũng là nhân tố khách quan để ngăn chặn việc sử dụng một cách cố tình hoặc vô tình các công trình nghiên cứu như là một công cụ để tăng cường áp bức phụ nữ. 2.5. Sự phát triển của những nghiên cứu khoa học dưới góc độ Phụ nữ học và các chuyên ngành về giới không chỉ góp phần làm thay đổi nhận thức của con người trên vấn đề phụ nữ mà còn là cơ sở khoa học để tập hợp, đoàn kết phong trào phụ nữ thành một mặt trận rộng lớn, thống nhất. Chính những kiến thức khoa học có tính thuyết phục, có cơ sở thực tiễn là lời kêu gọi mạnh mẽ, cuốn hút các cuộc đấu tranh nhỏ lẻ, tự phát thành một phong trào rộng lớn, có định hướng chính trị và xã hội rõ ràng. Điều này, đúng như nhận định của nhiều nhà nghiên cứu Phụ nữ học, đã khiến cho ngành này trở thành đôi mắt, con tim, khối óc của chính phong trào phụ nữ, tạo điều kiện để phong trào phụ nữ trở thành một phong trào mang tính toàn cầu. 3. Phạm vi của Phụ nữ học Phạm vi nghiên cứu của Phụ nữ học là khá rộng lớn. Có thể nói, nơi nào có bóng dáng những hoạt động lao động, sinh hoạt của người phụ nữ, nơi ấy đều cần tới sự nghiên cứu của Phụ nữ học. Đối tượng và phạm vi quan tâm của Phụ nữ học cũng rộng lớn như đời sống thực tiễn của người phụ nữ vậy. Tuy nhiên, có thể tổng hợp lại những phạm vi nghiên cứu chủ chốt của Phụ nữ học như sau: 3.1. Nghiên cứu phụ nữ và phong trào phụ nữ ở phạm vi tổng quát, lý thuyết, tức là nghiên cứu những vấn đề phụ nữ ở tầm vĩ mô. Ở đây, nhà nghiên cứu cần phải quan tâm đến những vấn đề chung, có tính lý luận, đưa ra và giải quyết vấn đề bất bình đẳng nam - nữ ở tầm vĩ mô, có liên quan đến những vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá cơ bản của xã hội. 3.2. Nghiên cứu những vấn đề phụ nữ trong các mối quan hệ xã hội, những vấn đề bình đẳng và bất bình đẳng nam - nữ liên quan đến vị thế, vai trò của người phụ nữ trong những lĩnh vực hoạt động cụ thể của họ như trong
  • 28.
    lao động, sảnxuất, học tập, sinh hoạt, trong sáng tạo và cảm thụ văn hoá, trong môi trường gia đình và cộng đồng. 3.3. Nghiên cứu phụ nữ với vai trò độc lập, coi phụ nữ là chủ thể của nghiên cứu. Những vấn đề có liên quan trực tiếp đến phụ nữ như những đặc trưng về thể chất, tâm lý, sinh lý. Điều này xuất phát từ những quan điểm cho rằng, phụ nữ chỉ có thể tự giải phóng cho mình khi hiểu rõ về chính bản thân mình, phát huy được sức mạnh và khắc phục được những hạn chế của chính mình. 3.4. Nghiên cứu phụ nữ theo chiều lịch đại và đương đại, tìm hiểu về lịch sử những hoạt động của phụ nữ và phong trào phụ nữ, đúc rút những kinh nghiệm trong hoạt động và đấu tranh vì sự bình đẳng giữa nam và nữ. Ngay trong quá trình nghiên cứu, hoạt động vì phụ nữ và giới cũng được chia thành hai giai đoạn như thời kỳ đầu được gọi là phụ nữ trong phát triển (Women in Development - WID), thời kỳ sau được gọi là giới và phát triển (Gender and Development - GAD). 3.5. Những nghiên cứu về chính Phụ nữ học, lấy các nghiên cứu về phụ nữ học làm đối tượng nghiên cứu. Ý tưởng này xuất phát từ quan điểm cho rằng, một ngành khoa học chỉ có thể phát triển khi nó ngày càng phải hoàn thiện bản thân mình. Sự hoàn thiện này bao gồm hoàn thiện hệ thống lý luận và phương pháp luận, hoàn thiện hệ thống các khái niệm và phạm trù như là một bộ công cụ tư duy, hoàn thiện các phương pháp nghiên cứu đặc thù. Nói tóm lại, Phụ nữ học phải nghiên cứu chính mình cũng là để phát triển và hoàn thiện chính mình. Trong bối cảnh này, Phụ nữ học cũng nghiên cứu cả những mối quan hệ giữa mình với các khoa học khác, đặc biệt là các khoa học xã hội và nhân văn như XHH, Triết học, Chính trị học, Tâm lý học, Kinh tế học, Luật học, Sử học, Dân tộc học, Nghiên cứu văn hoá, Văn học, Sinh học, Nhân chủng học, Y học, Môi trường học, Thống kê, Phát triển học… Chính sự tham gia của Phụ nữ học vào các hướng tiếp cận chuyên biệt của các khoa học trên không chỉ làm phong phú cho các khoa học đó mà còn bổ sung và
  • 29.
    làm thay đổicác quan điểm nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới của các ngành khoa học này. 4. Từ Phụ nữ học đến nghiên cứu giới (Gender Studies) Sự xuất hiện của những nghiên cứu về giới (Gender Studies) là một bước phát triển tiếp theo mang tính tích cực và sáng tạo của những nghiên cứu về Phụ nữ học. Nếu Phụ nữ học hướng nhiều vào đối tượng phụ nữ, lấy đó làm trung tâm cho mọi nghiên cứu, kêu gọi một sự giải phóng cho phụ nữ mạnh mẽ và triệt để, thì nghiên cứu giới hướng vào việc nghiên cứu cả nam và nữ, hướng nhiều tới sự bình đẳng cho cả nam và nữ. So sánh giữa nghiên cứu về giới với Phụ nữ học, chúng ta có thể thấy như sau: 4.1. Giới đặt vấn đề nghiên cứu mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ trong phát triển (Gender and Development - GAD), nghĩa là nghiên cứu phụ nữ trong mối tương quan với nam giới. Cách đặt vấn đề như vậy toàn diện và khoa học hơn cách đặt vấn đề trước đây của Phụ nữ học. Chính nhờ cách đặt vấn đề như vậy mà nghiên cứu giới nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là các nhà khoa học là nam giới. 4.2. Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu đặc thù được kế thừa từ nghiên cứu phụ nữ học, nghiên cứu giới cũng phát triển những hướng tiếp cận đặc thù của mình, đặc biệt là một khung lý thuyết cơ bản để quy chiếu những vấn đề thực tiễn. Nghiên cứu giới sử dụng phương pháp liên ngành như Sử học, Tâm lý học, Xã hội học, Kinh tế học, Sinh vật học… Trong đó, phổ biến nhất là Xã hội học và Công tác xã hội. Trên cơ sở những phương pháp tiếp cận liên ngành như trên, nghiên cứu giới đang hướng tới việc hoàn thiện những phương pháp nghiên cứu đặc thù gắn liền với phương pháp nghiên cứu tham dự, phương pháp tiếp cận cá nhân và cộng đồng, xây dựng và hoàn thiện bộ thang đo các chỉ số và chỉ báo về bình đẳng giới. 4.3. Sự hình thành môn Xã hội học giới Xã hội học giới là nơi là nơi tiếp giao giữa nghiên cứu XHH với nghiên cứu giới. Ở một khía cạnh nào đó, nghiên cứu XHH giới có thể được coi là sự
  • 30.
    cộng sinh giữaviệc nghiên cứu giới với sự tiếp cận những tư duy của XHH, hoặc là nghiên cứu XHH trên đối tượng giới. Do vậy, XHH giới vừa mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản và sắc thái riêng biệt của một nghiên cứu XHH, vừa mang tính chất đặc thù của những nghiên cứu giới. Điều đó mang đến cho XHH giới không chỉ những nét riêng mà còn cả sức mạnh nghiên cứu của cả hai chuyên ngành này. Nghiên cứu XHH giới đem lại cho nghiên cứu giới đôi chân khoẻ khoắn, luôn bám chắc vào thực liễn của XHH, với những phương pháp nghiên cứu và tiếp cận đặc thù, có khả năng phản ánh chính xác thực tiễn. XHH giới, trong khi đặt vị trí và vai trò của vấn đề giới trong bối cảnh của tổng thể các mối quan hệ xã hội, có thể chỉ ra được những tác nhân và hệ quả của hoạt động xã hội chung tới khía cạnh giới, giúp cho các nghiên cứu về giới có được cái nhìn tổng thể, xây dựng được các giải pháp tạo dựng cơ sở xã hội cho vấn đề bình đẳng giới. Nói cách khác, XHH giới giúp cho những nghiên cứu giới vượt khỏi chính mình để bước vào các quan hệ xã hội phức tạp, đi tìm các giải pháp về bình đẳng giới không chỉ ở phạm vi nội hàm của vấn đề giới mà còn - căn bản hơn - ở chính xã hội. Nghiên cứu giới với cách tiếp cận và phương pháp liên ngành sẽ đưa đến một bức tranh toàn cảnh từ lịch sử đến hiện đại, từ nhiều dân tộc với lối sống đa dạng phong phú, từ tâm, sinh lý của nam và nữ… sẽ là nền tảng, là cơ sở khoa học cho XHH giới. Từ đó, hướng tiếp cận vấn đề bình đẳng giới được đặt ra một cách khoa học, toàn diện và cơ bản hơn. Mối quan hệ tương tác giữa nghiên cứu XHH giới với nghiên cứu giới và nghiên cứu phụ nữ (Phụ nữ học) là mối quan hệ biện chứng, bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Nó phản ánh sự lớn mạnh của những quan điểm bình đẳng giới trong xã hội hiện đại, tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho cuộc đấu tranh của nhân loại cho một xã hội ngày càng văn minh và tiến bộ hơn. BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU Quan điểm của những người không nghiên cứu XHH giới
  • 31.
    “Phụ nữ ViệtNam đáng tự hào muôn thuở” Về mặt xã hội, sự bình đẳng giữa nam và nữ ở nước ta, từ xưa tới nay hầu như không có vấn đề. Chỉ có một sự phân công rành rẽ theo truyền thống ngàn đời: chồng trấn phương ngoài, vợ trấn phương trong (nội tướng). Ai có trách nhiệm nấy, có gánh nặng nấy, đều vinh quang như nhau. Đôi lúc san sẻ cho nhau, “tháng năm gánh bán nuôi chồng đi thi” (Ca dao). … Vì tất cả những đức tính cao quý và vị trí, vai trò cao cả của phụ nữ trong gia đình và xã hội, mà ngày hôm nay hơn bao giờ hết, phụ nữ cần nhớ lại, để đáp ứng nhiệm vụ không ai thay thế được, mà gia đình và xã hội mong đợi nơi mình, đó là: Phụ nữ chúng ta đảm đang, trung hậu như Bác Hồ đã long trọng xác nhận. Tuy lúc trước khó khăn, nay đã dễ thở, tinh thần, nội dung, nhiệm vụ như Bác Hồ đã chỉ ra, vẫn không thay đổi và không cần thêm nữa. Phụ nữ là trụ cột giáo dục thường xuyên trong gia đình. Bởi phụ nữ tinh tế, không biểu hiện nào khác lạ nơi chồng con, hoặc trong quan hệ gia đình mà thoát được mắt thấy, tai nghe và óc phân tích của “mấy bà”. Vì vậy, công việc nhắc nhở, uốn nắn, khuyên bảo, từ phủ dụ đến vỗ về, đến chế tài, phụ nữ chúng ta có ưu điểm và lợi thế hơn. “Mưa dầm thấm lâu họ chẳng phải là châm ngôn hằng ngày, chiến lược tấn công đáng sợ của các bà ư? Người xưa có nói: “Con hư tại mẹ” không phải là vô căn cứ, vì ngoài lợi thế là người nữ, người vợ, người mẹ còn có khuynh hường tự nhiên là mẹ dạy, con dễ nghe hơn; vợ “dạy”, chồng dễ “vâng lời” hơn. Giáo dục thường xuyên này cần được tăng cường hơn trong hoàn cảnh hiện nay. Do tiếp xúc nhiều với xã hội hưởng thụ, dễ dãi, thiếu nguyên tắc sống ở bên ngoài, người chồng đôi khi cũng nhiễm, thậm chí mang về nhà “bụi trần” xã hội như: nhậu nhẹt, say xỉn, chơi bời, tham ô, hống hách, manh mún. Để bảo vệ hạnh phúc, thanh danh, tương lai gia đình, con cái mình, phụ nữ chúng ta không thể tránh né nhiệm vụ dẫn đưa chồng con trở về đường ngay, nẻo chính một cách có bản lĩnh và cao kiến như không hiếm gương hiền phụ xưa nay.
  • 32.
    … Vì vậyphụ nữ phải sáng suốt, đem hết tài trí, đức độ, bản lĩnh, quyết tâm xốc vào cuộc chiến không khoan nhượng đó, mà “phòng ngự xuyên suất, thông minh, trướng kỳ đã là chiến thắng. Hoan hô ngày phụ nữ Việt Nam đáng tự hào muôn thuở! Theo Lâm Võ Hoàng (Báo “Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/10/1999). CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Em hiểu thế nào về mối liên hệ giữa bất bình đẳng chủng tộc, giai cấp và giới? 2. Hãy phân tích quan điểm của bài đọc trên. Bài 3. GIỚI TÍNH VÀ GIỚI (SEX AND GENDER) I. GIỚI TÍNH (SEX) 1. Định nghĩa Giới tính là một thuật ngữ khoa học bắt nguồn từ môn Sinh vật học dùng để chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ. Đó là sự khác biệt phổ thông và không thể thay đổi được (Mọi người đàn ông đều có những đặc điểm chung về giới tính và mọi người phụ nữ đều có đặc điểm chung về giới tính). Ví dụ: Phụ nữ thấy kinh, sinh con và cho con bú, nam giới thì không thể. Nam giới có thể sản xuất tinh trùng cần thiết cho quá trình thụ thai, phụ nữ thì không thể. Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính và đặc điểm này tồn tại trong suốt cuộc đời (Tính bất biến). Định nghĩa rút gọn: Giới tính là sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ.
  • 33.
    Mỗi người đềumang một giới tính, nghĩa là khi sinh ra đã mang giới tính là nam hay nữ. Những quy định này dựa trên một số tố chất đặc thù khiến ta có thể phân biệt được giới tính của mỗi giới. 2. Sự khác biệt giới tính Sự khác biệt giới tính thể hiện ở hai điểm: - Sự khác biệt về giới tính được biểu hiện trước hết ở sự cấu tạo của cơ thể và thể chất sinh lý của mỗi người. Nó được cấu tạo ngay từ khi con người còn là bào thai, do di truyền tự nhiên và tồn tại vĩnh viễn trong cuộc đời (trừ những người thay đổi giới tính thông qua phẫu thuật). - Sự khác biệt giới tính cũng được biểu hiện qua chức năng sinh sản của mỗi loại người (Xem định nghĩa). 3. Hình thức và nội dung của sự khác biệt giới tính Chúng ta có thể phân biệt giới tính của nam và nữ về mặt sinh học thông qua một số khác biệt sau đây: - Khác biệt ở bộ phận sinh dục: + Nam có tinh hoàn, tinh trùng. + Nữ có buồng trứng, dạ con. - Hệ thống hoocmôn: + Hình dáng cơ thể khác nhau, giọng nói khác nhau. Ví dụ: Nam thì vạm vỡ, xương to, vai rộng, ngực phẳng có yết hầu, có râu, giọng trầm; nữ thì dáng mềm mại, xương nhỏ, vai hẹp, ngực cao hông rộng, giọng cao. + Có thể nhận biết nam hoặc nữ qua quan sát. - Hệ thống gien: Nữ: XX, Nam: XY. Có thể nhận biết qua kiểm tra y tế. 4. Những trường hợp đặc biệt của giới tính Người lưỡng tính (ái nam, ái nữ): Lưỡng tính là sự kết hợp của 2 giới tính, thực chất là sự biến dạng hoặc bệnh tật ở bộ phận sinh dục. Thuật ngữ
  • 34.
    “berdache” (người bịbiến dạng vai giới) được sử dụng như là một danh từ và không định nghĩa về nữ tính hay nam tính của một người. Điều này được các nhà khoa học nghiên cứu như là một phạm trù riêng biệt. Hoàn toàn không có giới tính thứ ba mặc dù những người này đôi khi bị coi là nằm ngoài cấu trúc nam giới/nữ giới. Một số người bị biến dạng vai giới đã thực hiện hoàn toàn vai trò của giới mới bao gồm cả việc ăn, mặc, nói năng, ứng xử, thậm chí lập gia đình với những người trước đây là đồng giới nay là khác giới với anh ta hoặc cô ta. 4.1. Vấn đề chuyển đổi giới tính Chuyển đổi giới tính là phương pháp khoa học thịnh hành ở những thập kỷ cuối thế kỷ XX để giúp những người có nhu cầu muốn trở thành nam hoặc nữ. Trước khi phẫu thuật để chuyển giới tính, người đàn ông (hoặc đàn bà) đã có nhiều yếu tố của giới tính kia. Ví dụ: Phụ nữ có ria, ngực lép, thích hoạt động như đàn ông, yêu phụ nữ như người tình; đàn ông có thể chất mềm mại, yếu đuối, ưa thích những công việc của phụ nữ như may vá, thêu thùa, ưa phấn son, trang điểm, yêu đàn ông như người tình. Ngày nay, một số nhà khoa học đã chứng minh rằng, mỗi con người đều có hai phần âm và dương trong cơ thể; cả hai đã bổ sung cho nhau. Ví dụ: âm là kiên nhẫn chịu đựng, tỉ mỉ, nhẹ nhàng, cụ thể. Dương là mạnh mẽ, năng động, khái quát, tổng hợp. 4.2. Vấn đề đồng dục cùng giới Hiện tượng đồng tính luyến ái nam (Gay) và đồng tính luyến ái nữ (Lesbian) phát triển cao trong những năm cuối thế kỷ XX đến nay. Nó vừa mang tính sinh học, vừa mang tính xã hội nhưng theo nhiều nhà khoa học thì nó mang tính xã hội nhiều hơn sinh học. Cũng có nhiều nhà khoa học cho rằng, những người đồng dục cùng giới thực chất là những người bị biến dạng vai giới (Berdache). Trong phong trào nữ quyền đã có những người phụ nữ chủ trương đồng tính luyến ái nữ (Lesbian) vì cho rằng đây là một hình thức đấu tranh
  • 35.
    chống lại sựthống trị tình dục của nam giới. Họ muốn chứng tỏ cho nam giới biết rằng, không cần nam giới phụ nữ cũng có những khoái cảm tình dục và tình cảm yêu đương. Điều này đã khiến cho vấn đề đồng dục cùng giới mang tính xã hội, thậm chí mang màu sắc chính trị. Nền tảng sinh học của giới: Giới tính là nền tảng tự nhiên của quá trình tái sinh ra muôn loài, trong đó có con người và xã hội. Sự tái sinh dựa vào hai cách: Cách thứ nhất: Một số động vật và thực vật sinh sản qua quá trình phân đôi tế bào. Một phần của cơ thể tách ra khỏi tế bào gốc, tạo thành một cá thể mới. Đó là sự tái sinh sản vô tính. Vật chất di truyền của cá thể mới giống y vật chất của sinh vật ban đầu. Cách thứ hai: Loại này xảy ra khi cá thể mới được tạo nên từ vật chất di truyền của hai cá thể đực - cái riêng biệt (hai cặp gen hay gọi là tế bào trứng và tế bào tinh trùng kết hợp với nhau). Theo thuật ngữ sinh học, những cá thể sản xuất tinh trùng được xếp vào loại giống đực, cá thể sản xuất trứng được xếp là giống cái. Đồng thời phải có sự cung cấp dưỡng chất cho cơ thể mới để nó trở thành bào thai. Quá trình này mang tính ưu việt bởi vì nó mang tới sự thay đổi và tiến hoá cho nòi giống. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên của tạo hoá là trong quá trình sinh sản này, những cá thể mới lại mang tinh trùng hoặc mang trứng mà không mang cả hai. Sự chọn lọc đòi hỏi cơ thể mang tinh trùng có thể tự phân biệt với cơ thể mang trứng và cũng có một số trường hợp lưỡng tính. Giống đực và giống cái phải phân biệt với nhau vì mục đích sinh sản nhưng ở con người, không phải tất cả mọi người đều có thể sinh sản. Ngày nay, bên cạnh sự can thiệp của những công nghệ mới như thụ tinh nhân tạo và cấy ghép phôi thai, người ta có thể thay đổi phương pháp sinh sản của con người. Khả năng nhân bản vô tính người vẫn đang được để ngỏ và tạo ra những cuộc tranh luận bất tận về ý nghĩa khoa học cũng như đạo lý của nó.
  • 36.
    Hiện nay, nhữngnghiên cứu sinh học về giới thường đi trước so với nền tảng xã hội. Ở con người, mã gen cơ bản có trên 23 cặp nhiễm sắc thể. Mỗi tế bào trong cơ thể con người chứa 46 nhiễm sắc thể ngoại trừ những tế bào sinh sản. Cặp nhiễm sắc thể thứ 23 được biết như là một cặp nhiễm sắc thể giới tính vì chúng quy định giới tính của cơ thể. Thông thường, nhiễm sắc thể thứ 23 của tế bào trứng khá lớn và hình dáng giống chữ X, nhiễm sắc thể thứ 23 của tế bào tinh trùng nhỏ hơn và giống hình dạng chữ Y. Khi một tế bào tinh trùng mang nhiễm sắc thể X lọt vào một tế bào trứng sẽ phát triển thành bào thai nữ; tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y lọt vào tế bào trứng sẽ phát triển thành bào thai nam. Hiện nay, không có đủ bằng chứng để cho rằng nhiễm sắc thể giới tính ảnh hưởng đến vai trò giới. Những hành vi khác nhau dựa trên sự phát triển của cơ thể là quy luật tự nhiên chứ không phải thuộc về di truyền. Trong xã hội đương đại, mặc dù khoa học đã có nhiều bước phát triển tiến bộ, nhưng có thể nói còn rất nhiều điều, chúng ta vẫn chưa thể biết hết được xung quanh người phụ nữ hay đàn ông - đối tượng thật gần gũi và cũng thật xa lạ với chúng ta. Có lẽ điều đó cũng là một trong những nguyên nhân đã khiến cho tri thức và khoa học luôn tạo ra những chủ đề hấp dẫn muôn thuở chăng? II. GIỚI (GENDER) 1. Định nghĩa Giới là một thuật ngữ XHH bắt nguồn từ môn Nhân loại học nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích. Giới đề cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân. Vai trò giới được xác định theo văn hoá, không theo khía cạnh sinh vật học và có thể thay đổi theo thời gian, theo xã hội và các vùng địa lý khác nhau. Khi mới sinh ra, chúng ta không có sẵn đặc tính giới. Những đặc tính giới mà chúng ta có được là do chúng ta học được từ gia đình, xã hội và nền văn hoá của chúng ta (Tính thay đổi).
  • 37.
    Có thể địnhnghĩa ngắn gọn: Giới là quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội. Giới không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ nữ với tư cách cá nhân mà nói tới quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ (tính tập thể). Quan hệ này thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội. Những yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi quan hệ giới trong xã hội tuỳ thuộc vào sự vận động và phát triển của chính các quan hệ xã hội. Cụ thể là các quan hệ có liên quan tới vấn đề dân tộc, giai cấp, chính trị, tôn giáo, lịch sử, văn hoá, phong tục, tập quán. 2. Các biểu hiện của giới Giới biểu hiện bởi tính lịch sử và tính xã hội. Vấn đề giới hiện diện một cách khách quan trong xã hội và vận động, biến đổi cùng với sự vận động, biến đổi của lịch sử. Sự hiện diện của giới trong cuộc sống cũng đa dạng và phức tạp như chính sự đa dạng và phức tạp của cuộc sống con người. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận diện được giới ở một số mặt sau: 2.1. Biểu hiện bằng tính cách và phẩm chất Ví dụ: - Nam tính: Gia trưởng, mạnh mẽ, quyết đoán, dũng cảm, nóng nảy. - Nữ tính: dịu dàng, vị tha, nhẫn nại, cần cù, khiêm nhường. Giải thích: Tính cách và phẩm chất của nam và nữ là do xã hội thừa nhận hay cảm nghĩ. Các phẩm chất, tính cách này được hình thành do quá trình giáo dục của gia đình và những tác động khách quan của thực tế xã hội (xã hội hoá Socialization). Ở độ tuổi lên 3, trẻ em đã có thể mô tả chính xác giới tính của chúng. Chúng đã biết mình là con gái hoặc con trai. Chúng học được điều này từ việc nghe người khác gán cho chung và có thể dán nhãn chính xác cho người
  • 38.
    khác nhưng chúngchưa biết các điều thuộc về giới tính như tính bất biến, mỗi người thuộc một giới tính, chức năng tình dục và chức năng sinh sản của mỗi giới tính… Cùng với sự xác định được giới tính, trẻ em cũng bắt đầu quá trình tiếp nhận các giáo dục về giới từ cha mẹ, gia đình, bạn bè, trường học… Con trai bắt đầu nhận biết mình giống với cha, rằng họ là đàn ông. Tương tự như con gái với mẹ. Quá trình xã hội hoá diễn ra từ từ với các tiến bộ vững chắc, và như vậy đã hình thành tính cách và phẩm chất giới theo khuôn mẫu định sẵn của nền văn hoá. Chúng bắt đầu chọn đồ chơi là súng khi hiểu mình là nam giới và chọn búp bê nếu biết mình là nữ giới. Sự chọn lựa này không chỉ là giới tính mà còn là giới, dưới tác động của môi trường xã hội. 2.2. Biểu hiện bằng tư tưởng Sự phát triển cao hơn trong nhận thức về giới được biểu hiện trên các quan điểm, tư tưởng và trở thành các chuẩn mực và giá trị xã hội: Chẳng hạn như trong xã hội mẫu hệ, do vị trí vai trò khách quan của mình, người phụ nữ được đề cao. Tất nhiên điều này là hoàn toàn theo khía cạnh bản năng. Trong xã hội phụ quyền, tư tưởng thống trị trong xã hội là tư tưởng đề cao nam giới (hệ tư tưởng Nho giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo) và đi cùng với nó là những chuẩn mực và giá trị văn hoá nghiêng về lợi ích của người đàn ông. - Thiên chúa giáo: Theo Kinh Thánh, thuỷ tổ của loài người được tạo ra bởi sự tích: Chúa trời tạo ra A đam (nam giới) nhưng sợ ông buồn nên đã rút cái xương sườn của ông để tạo ra bà E va (phụ nữ) để xây dựng cuộc sống dưới mặt đất. Phụ nữ không thể đạt được các chức sắc cao trong nhà thờ như Hồng Y giáo chủ, Giám mục… - Hồi giáo: Kinh Co ran khẳng định địa vị vượt trội của đàn ông và chấp nhận đa thê. Từ bao đời nay, phụ nữ được nuôi dạy để phục tùng người cha, người chồng, thậm chí cả anh, em trai và anh, em rể. Họ phụ thuộc vào nam giới và bị xử theo các luật lệ hà khắc. Phụ nữ phải che mặt và không được
  • 39.
    tham gia cáccông việc xã hội, không được tự do yêu đương phải giữ gìn trinh tiết… - Phật giáo ở Nhật Bản: Kinh Phật đầu thế kỷ XX quy định ai muốn tu thành Phật thì trước hết phải trở thành đàn ông. - Phụ nữ Việt Nam: Mặc dù Việt Nam có Phật bà (Quan âm Thị Kính), có sư cụ nữ nhưng phụ nữ không thể có chức sắc cao trong hệ thống Phật giáo như hoà thượng, đại đức… Những phân biệt giới diễn ra trong mọi lĩnh vực của xã hội và trở thành những chuẩn mực và giá trị văn hoá, thâm nhập vào từng mối quan hệ xã hội và phong tục tập quán. Ví dụ: Tại Thế vận hội của những người Hy Lạp cổ đại, phụ nữ không được tham gia vào các nội dung thi đấu. Để tránh điều này, Ban tổ chức yêu cầu tất cả các vận động viên không được mặc quần áo khi thi đấu. Ở Việt Nam, “Ra ngõ gặp gái” là câu nói thông dụng của quan điểm nam quyền đã len lỏi vào cả tập tục xã hội. Nhiều người thích sinh con trai hơn con gái và con trai thường được ưu đãi trong gia đình và xã hội. 2.3. Biểu hiện bằng phân công lao động Mô hình phân công lao động theo truyền thống “Nam ngoại, nữ nội” là nam giới lo việc ngoài xã hội, còn phụ nữ lo việc gia đình. Có hai hình thức phân công lao động: - Phân công lao động về mặt kỹ thuật: Quá trình sản xuất được phân chia thành nhiều nguyên công. Mỗi công đoạn do một hoặc một nhóm người hoặc máy thực hiện. Các công đoạn này phối hợp với nhau để hoàn thiện quá trình sản xuất. - Phân công lao động về mặt xã hội: Đây là lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến giới. Trong xã hội tồn tại hai loại công việc: Công việc đơn giản, nặng nhọc, khó chịu, buồn tẻ, không đòi hỏi trình độ cao, bị khinh miệt, trả công thấp; hoặc công việc nhẹ nhàng, dễ chịu, hấp dẫn, đòi hỏi trình độ cao, được tôn trọng, nhiều quyền lợi, trả công cao.
  • 40.
    Các công việcđược phân công trong xã hội đã dựa trên các yếu tố về chủng tộc, giai cấp… Chủng tộc, giai cấp thống trị thì được nhận việc tết và ngược lại. (Như các ông chủ có điều kiện làm việc tốt và hưởng lương cao hơn công nhân, hay trường hợp công nhân ở các nước nghèo khi xuất khẩu lao động sang các nước giàu để làm những việc mà người sở tại không muốn làm như dọn vệ sinh, bốc vác, giúp việc gia đình…). Đây chính là sự phân công lao động bất bình đẳng tạo ra giai cấp và là nguồn gốc của các cuộc đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội. Chính đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội về bản chất là hướng tới xoá bỏ sự phân công lao động bất bình đẳng này.. Thực tế lịch sử còn cho thấy, trong xã hội còn có sự phân công lao động dựa trên giới lính và giới. Đây cũng là một sự phân công lao động bất bình đẳng nhưng lại ít được chú ý trong lịch sử. Giống như sự phân chia chủng tộc và giai cấp, sự phân biệt giới trong phân công lao động cũng rất phổ biến và hà khắc không kém. Chẳng hạn, nam làm những công việc dễ chịu, hấp dẫn đòi hỏi trình độ cao, nữ ngược lại. Nếu phân chia phân công lao động thành hai loại hình cơ bản: sản xuất và tái sản xuất chúng ta có thể thấy: Lao động sản xuất: Bao gồm những việc làm ra hàng hoá, dịch vụ để trao đổi hoặc tiêu thụ. Cả nam và nữ cùng tham gia song hình thức công việc và tiền công khác nhau. Nam giới do có sức khoẻ, trí tuệ và rảnh rỗi việc nhà hơn phụ nữ nên thường nhận được các công việc tốt hơn. Phụ nữ yếu hơn, phải mang thai, sinh đẻ và chăm sóc con cái, gia đình nên thường phải nhận các công việc nặng nhọc, đơn giản, tiền công thấp. Lao động tái sản xuất: - Tái sản xuất về sinh học: Trong khi nam giới sản xuất tinh trùng cho quá trình thụ thai thì phụ nữ mang thai, sinh con, cho con bú bằng sữa mẹ. Công việc của phụ nữ rất nặng nhọc và nguy hiểm và không được trả công hoặc trả công thấp.
  • 41.
    - Tái sảnxuất ra sức lao động: Là tất cả những công việc hỗ trợ cho người sản xuất cả khi họ đang làm việc và khi không làm việc, tạo điều kiện cho họ nghỉ ngơi, bồi dưỡng để có thể tiếp tục làm việc ngày hôm sau tốt hơn. Những việc này gồm nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, trông nom nhà cửa, chăm sóc người ốm, người già, trẻ em. (Những nhân công lao động của quá khứ và tương lai). Công việc này do phần lớn phụ nữ đảm trách và không được trả công. Nhiều người đã tưởng lầm đây là công việc của riêng phụ nữ, là “thiên chức” nhưng thực tế đây là một dạng “xã hội chức” mà xã hội phụ quyền đã trao cho phụ nữ. Điều này có thể thay đổi trong một xã hội bình đẳng giới. Chẳng hạn, nam giới có thể cho con bú bằng sữa bình và làm các việc khác. Hiện nay, nhiều nam giới chủ yếu tham gia vào việc xây dựng, sửa chữa, trang trí nhà cửa, những việc mà họ cho là “lớn” nhưng không thường xuyên và tất nhiên có sự tham gia của cả phụ nữ. Nam giới được xác nhận là những người có năng lực trong các công việc nấu bếp và nội trợ. Họ thường là các “vua bếp” trong các khách sạn lớn hoặc là những người thợ thêu tài giỏi. Dịch vụ gia đình đang trở thành nghề kiếm sống quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Chúng ta phải trả tiền cho người giúp việc gia đình hoặc trả tiền công cao về nấu nướng tại các tiệm ăn. Tuy nhiên, nhiều người đàn ông đã suốt đời ăn cơm vợ nấu, hưởng thụ các dịch vụ vợ làm, nhưng trong đầu vẫn nghĩ rằng vợ là kẻ ăn bám khi cô ta không được ai trả công, tình trạng bất công này kéo dài hàng thế kỷ và đang cần sự thay đổi cách nhìn của cả xã hội. Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ người nội trợ là cần thiết, bởi lẽ, đây không chỉ là công việc gia đình mà còn là công việc xã hội. Lao động sản xuất và tái sản xuất đã kết hợp chặt chẽ với nhau. Cả nam và nữ đều tham gia xen kẽ trong thời gian một ngày nhưng thời gian lao động của phụ nữ thường kéo dài hơn nam giới và vất vả cũng lớn hơn. Tái sản xuất cơ cấu hoặc vai trò chính trị trong cộng đồng: Liên quan đến việc truyền bá và duy trì tư tưởng chuẩn mực, cơ chế đảm bảo cho bất kỳ một xã hội nào cũng luôn luôn tồn tại và phát triển. Công việc này chủ yếu là
  • 42.
    nam giới thamgia được trả công cao thông qua quyền lực và uy tín xã hội. Phụ nữ thường tham gia ở vai trò thừa hành và ít quyền ra quyết định. - Sự phân công lao động bất bình đẳng giữa nam và nữ và quá trình xã hội hoá mang định kiến giới đã đưa đến sự bất bình đẳng trong các vai trò giới: nam giới mang tính xã hội cao còn phụ nữ mang tính gia đình cao. Nam giới thường là người lãnh đạo còn phụ nữ là người thừa hành. Ví dụ: công việc của phụ nữ thường quá tải và ảnh hưởng đến giao tiếp của họ. Việc ít điều kiện giao tiếp đã gây hạn chế lớn cho phụ nữ trong công việc và thăng tiến. Quá trình đào tạo liên tục của nam giới và đứt đoạn của phụ nữ do tái sản xuất cũng là yếu tố quan trọng cản trở phụ nữ phát triển. Công việc của nam giới thường được coi là chủ yếu, quan trọng còn công việc của phụ nữ thường được coi là thứ yếu, không quan trọng. Đặc tính cơ bản của mối quan hệ giới phụ thuộc vào cấu trúc của xã hội và tư tưởng của giai cấp cầm quyền, nghĩa là nó có thể thay đổi theo từng thời đại, theo từng nước, từng dân tộc và từng nền văn hoá khác nhau. Sự phân công lao động đầu tiên đối với người phụ nữ xuất phát từ sự liên quan đến cấu tạo cơ thể của họ từ việc phải mang thai, sinh con và cho con bú. Người phụ nữ phải tiếp nhận các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái, chăm sóc người già,… Những công việc đó ngày càng trói buộc và tiêu phí thời gian của người phụ nữ khiến họ có rất ít cơ hội được nghỉ ngơi, học tập và hưởng thụ văn hoá. Cho đến nay ở nhiều nước, công việc này vẫn chỉ được xem như là việc riêng của gia đình và không được trả công. BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU Cuộc tranh luận về vai trò “kép” của phụ nữ trong xã hội Liên Xô, hai phái tán thành và phản đối (1980 - 1990) Từ nhiều năm nay đã diễn ra các cuộc tranh luận sôi nổi trên phạm vi toàn cầu về vai trò “kép” của phụ nữ trong xã hội hiện đại (Một điều đáng chú ý là người ta không bao giờ tranh luận về vai trò “kép” của đàn ông vì trong quan niệm của xã hội phụ quyền thì đàn ông đương nhiên là có trọng trách
  • 43.
    lớn ngoài xãhội và chỉ huy trong gia đình). Trước đây, nói đến phụ nữ là người ta nghĩ ngay đến trách nhiệm trong gia đình của họ với tư cách là “nội tướng”, còn ngày nay, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá người ta đã thừa nhận một hiện thực là: số lượng phụ nữ tham gia gánh vác các công việc xã hội ngày càng nhiều. Cuộc tranh luận vì vậy đã xoay quanh hai luồng quan điểm chính: tán thành hoặc phản đối việc phụ nữ cùng một lúc thực hiện hai vai trò trong gia đình và xã hội. Phái phản đối cho rằng sự gia tăng của mức độ giải phóng phụ nữ trên quy mô xã hội luôn luôn đi đôi với sự gia tăng tỷ lệ các gia đình tan vỡ và số phụ nữ sống độc thân. Đưa phụ nữ ra ngoài xã hội sẽ làm biến đổi nữ tính của họ và họ không thể thành công được vì ở cả hai nơi họ chỉ có một nửa… Ngược lại, phái tán thành thừa nhận sự cần thiết và vị trí quan trọng của phụ nữ trong xã hội. Chính phụ nữ đang tạo ra phong cách “quản lý nữ uyển chuyển, mềm dẻo, nhẫn nại… rất thành công, rất đáng khâm phục. Chỉ có đưa phụ nữ ra ngoài xã hội, tạo cho họ một cuộc sống độc lập, tự chủ thì mới có thể giải phóng phụ nữ thực sự. Phụ nữ có cơ hội làm việc và tiếp xúc với xã hội nhiều hơn thì họ mới có đủ kiến thức để dạy con tốt hơn, bởi lẽ trong giai đoạn đầu, cuộc đời đứa trẻ thường chịu ảnh hường của mẹ nhiều hơn trong việc hình thành nhân cách của mình. Ý kiến phản đối: Việc phụ nữ tham gia nhiều vào quá trình sản xuất đã hình thành những ‘‘nhu cầu phức tạp” của họ như nhu cầu đạt thành tích, nắm quyền hành như nam giới là không phù hợp với tâm sinh lý của họ. Nhiều phụ nữ ngày nay thích được nam giới thán phục sự tài giỏi trong nghề nghiệp hơn là khâm phục vẻ đẹp nữ tính. Phụ nữ không tìm thấy hạnh phúc trong lĩnh vực sản xuất và cả trong gia đình vì cả ở hai nơi, phụ nữ chỉ làm một nửa. Tỷ lệ phụ nữ tham gia sản xuất cao thì tỷ lệ li hôn và sống độc thân cao. Nam giới hổ thẹn vì đã chuyển sang vai phụ nữ những công việc có hại cho sức khoẻ. Gia đình là nơi phụ nữ có hạnh phúc. Bẩm sinh phụ nữ không phải là phá huỷ
  • 44.
    toàn cầu màlà cứu tinh của loài người. Phụ nữ cần chỉ tiếp xúc với gia đình. Hàng thế kỷ nay nam giới đã tạo ra thế giới tuyệt mỹ mà không cần phụ nữ. Ý kiến tán thành: Sống tự lập không phụ thuộc nam giới về kinh tế đã trở thành một môtíp chung trong việc lựa chọn đường đời của phụ nữ. Phụ nữ ngày nay phải đóng nhiều vai trò: người sản xuất, công dân, vợ, mẹ, nhà kinh tế, đầu bếp, thầy thuốc, vì vậy nam giới phải chia sẻ công việc với họ. Không thể đưa các phụ nữ rời khỏi vị trí xã hội hiện nay của họ vì đó là không tưởng. Con số li hôn mà phía nguyên đơn là phụ nữ cao về mặt nào đó là lành mạnh, vì nhiều phụ nữ đã dũng cảm dứt bỏ những người chồng không hợp với mình. Đây cũng là mức độ giải phóng phụ nữ. Phụ nữ tham gia sản xuất và lãnh đạo nhiều thể hiện phong cách “quản lý nữ” rất có hiệu quả. Phụ nữ không có học vấn và kinh nghiệm xã hội thì khó nuôi dạy con tốt. Điều này phụ nữ chỉ có thể học được nhiều ở môi trường xã hội. Theo Igo Kon (Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, 1990). Bài tập 1. Hãy đánh dấu x vào những nhóm từ dưới đây cho phù hợp. Nhóm từ Giới Giới tính Mạnh mẽ Dịu dàng Đa cảm Cứng cỏi Thông minh Chậm hiểu To khoẻ Mang thai Quyết đoán Nhu nhược Ria mép, râu
  • 45.
    Ngực nở, eothon Kỹ sư Y tá Chủ gia đình Cho con bú Cơ bắp Nhạy cảm Xinh đẹp Xấu xí Nói nhiều Bạo lực Nghiện rượu Trang điểm Ích kỷ Vị tha Lười biếng Chăm chỉ 2. Hãy đánh dấu vào các câu sau đây, câu nào là giới, câu nào là giới tính? Giới tính Giới 1. Phụ nữ đẻ con, nam giới thì không thể. 2. Trẻ em gái hiền lành, hoà nhã; trẻ em trai cứng rắn. 3. Ở một số nước, công việc ngang nhau nhưng lương của phụ nữ chỉ chiếm từ 70 - 80% lương của nam giới. 4. Phụ nữ có thể cho con bú bằng sữa của mình, nam giới có thể cho con bú bằng bình sữa. 5. Những người thợ xây dựng chủ yếu là nam. 6. Những người đan len, thêu thùa chủ yếu là nữ. 7. Ở một số xã của tỉnh Thanh Hoá, phụ nữ làm đồng còn nam giới trông con và làm việc nhà. 8. Nam giới vỡ giọng ở tuổi dậy thì, phụ nữ thì không.
  • 46.
    9. Phụ nữNhật Bản làm việc nhà 3 tiếng còn nam giới làm việc nhà 15 phút. 10. Theo thống kê của LHQ: phụ nữ lao động 67% các công việc của thế giới nhưng chỉ nhận được 10% thu nhập của thế giới. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Hãy phân biệt giới tính và giới. Phân tích mối liên hệ giữa chúng. 2. Cơ sở đầu tiên của áp bức giới là gì? 3. Phân tích quá trình xã hội hoá giới và nó có khác gì với quá trình xã hội hoá nói chung? Bài 4. XÃ HỘI HỌC GIỚI – CÁC THUẬT NGỮ CƠ BẢN Sự phát triển của một ngành khoa học luôn được đo bằng sự lớn mạnh của hệ thống công cụ nghiên cứu và tư duy của ngành khoa học đó. Khoa học nào cũng vậy, chỉ có thể được nghiên cứu, phân tích, mổ xẻ thông qua sự vận hành sáng tạo của một hệ thống những khái niệm, phạm trù và thuật ngữ cơ bản, đặc thù của nó. Quá trình sáng tạo và thao tác các khái niệm chuyên ngành cũng chính là quá trình sáng tạo khoa học của chuyên ngành đó. Nghiên cứu XHH giới, do vậy, cũng không thể loại trừ điều kiện bắt buộc là phải nghiên cứu và hiểu rõ hệ thống các khái niệm và thuật ngữ được vận dụng trong tư duy khoa học của nó. Ở đây những thuật ngữ cơ bản cần được xem xét là: I. VAI TRÒ GIỚI Vai trò sản xuất: Bao gồm các công việc nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật để tiêu dùng hoặc trao đổi. Ví dụ, công việc đồng áng, làm công nhân, làm thuê, buôn bán, viên chức… Vai trò tái sản xuất (sinh sản, nuôi dưỡng): Bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi con và những công việc nhà cần thiết để duy trì và tái sản xuất sức
  • 47.
    lao động (Khôngchỉ bao gồm tái sản xuất sinh học, mà còn có ở chăm lo, duy trì lực lượng lao động hiện tại và lực lượng lao động trong tương lai). Vai trò cộng đồng: Bao gồm các công việc thực hiện ở ngoài cộng cồng, nhằm phục vụ cho cuộc sống chung của mọi người. Ví dụ, tham gia Hội đồng nhân dân, tham gia các cuộc họp xóm, bầu cử, làm vệ sinh đường làng ngõ xóm, quyên góp, vận động kế hoạch hoá gia đình… Vậy vai trò giới là các công việc mà phụ nữ và nam giới thực hiện với tư cách là nam hay nữ. Nam và nữ đều tham gia thực hiện cả 3 vai trò trên. Tuy nhiên có sự khác biệt: - Tính chất và mức độ tham gia của nam và nữ không như nhau trong mọi công việc. Nếu như phụ nữ làm hầu hết công việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng, nội trợ, tiếp phẩm (nhiều người coi đó là “thiên chức” của phụ nữ) thì nam giới không được trông đợi làm việc đó, họ cho rằng mình trợ giúp phụ nữ mà thôi. - Công việc của nam giới thường được xem trọng hơn công việc của phụ nữ. Thật không công bằng nếu như cho rằng, việc sinh đẻ của phụ nữ tạo ra một sản phẩm cao quý, đó là con người là việc không quan trọng, nó là công việc mang tính bản năng bấy lâu của động vật. - Cơ hội và điều kiện thăng tiến của nam giới bao giờ cũng tốt hơn phụ nữ. Vai trò giới hiện nay không bình đẳng do quá trình dạy và học trong xã hội bất bình đẳng giới mà có, nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hoá, thể chế chính trị. Vai trò giới đã và đang có nhiều thay đổi, nhưng khi thay đổi người ta còn chịu ảnh hưởng của các định kiến giới, điều này lý giải vì sao nhiều người không dám công khai thực hiện thay đổi vai trò giới, mặc dù đây là những việc rất đáng khích lệ. Việc phân công vai trò giới trong xã hội phụ quyền tạo nên sự bất bình đẳng trong công việc cũng như lợi ích mà họ được hưởng. Ví dụ, phụ nữ tham gia 60% công việc nông nghiệp, nam giới tham gia 40% công việc còn
  • 48.
    lại nhưng thunhập bình quân của phụ nữ nông thôn là 62%, còn nam giới lại hưởng 100% thu nhập. Vai trò giới và gánh nặng 3 vai đặt ra yêu cầu phụ nữ đồng thời phải thực hiện tốt cả 3 vai trò. Đây thực sự là gánh nặng quá sức đối với phụ nữ. Khi nói tới vai trò giới của phụ nữ là muốn đề cập tới những công việc mà phụ nữ làm với tư cách họ là phụ nữ. Chẳng hạn, công việc nội trợ được xem là thích hợp với phụ nữ hơn nam giới. Việc lãnh đạo được coi là thích hợp với nam giới hơn phụ nữ. Trên thực tế, vai trò về giới có thể thay đổi giữa nam và nữ (trừ chức năng sinh đẻ). Sự thay đổi định kiến, giá trị và vai trò giới có thể xoá bỏ khoảng cách giới đem lại sự bình đẳng giữa nam và nữ. II. ĐỊNH KIẾN GIỚI Định kiến giới là nhận định của mọi người trong xã hội về những gì mà phụ nữ và nam giới có khả năng và các loại hoạt động mà họ có thể làm với tư cách họ là nam hay nữ. Có nhiều biểu hiện khác nhau của định kiến giới song phổ biến hơn cả là những quan niệm về đặc điểm, tính cách và khả năng của phụ nữ và nam giới. Ví dụ, nam giới thì mạnh mẽ, độc lập quyết đoán; phụ nữ thì rụt rè tình cảm, bị động. Nam giới thì giỏi về kỹ thuật hay sáng tạo. Phụ nữ thì thiên về các hoạt động xã hội và công việc tỉ mỉ. Định kiến giới có tác động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cá nhân và quan niệm của những người xung quanh. Những đặc điểm liên quan đến nam giới và phụ nữ thường được dập khuôn và mang tính cố định, được lặp đi lặp lại qua các thế hệ, do đó nam giới và phụ nữ không có sự lựa chọn nào khác. Định kiến giới đã làm cho nam giới luôn phải cương lên trong vị trí lãnh đạo của họ và làm cho phụ nữ thiếu tự tin và hạn chế sự lựa chọn vì vị trí thấp kém của họ. Những định kiến có thể dẫn đến nhận thức thiên lệch, đánh giá và nhận xét thiếu khách quan đối với phụ nữ, từ đó hạn chế cơ hội phát triển của phụ nữ. Ví dụ, từ quan niệm lãnh đạo là công việc không thích hợp đối với phụ nữ đi đến đánh giá khắt khe hoặc cho rằng không cần khuyến khích phụ nữ làm quản lý. Định kiến giới là yếu tố làm hạn chế sự nhận thức đầy đủ và khách quan năng lực của phụ nữ. Khi quan niệm định kiến giới
  • 49.
    được phổ cậptrong xã hội thì người ta thường coi đó là khuôn mẫu và phẩm chất chung của phụ nữ và lấy đó làm cơ sở để đánh giá và đối xử phân biệt giữa nam và nữ trong cuộc sống. Các chuẩn mực mà xã hội quy định cho phụ nữ và nam giới phải nên như thế nào và có những hoạt động gì phù hợp với họ, ví dụ như phụ nữ nên duyên dáng và nam giới nên dũng cảm. Định kiến giới có thể thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn phát triển nhưng rất chậm. Định kiến giới còn rất phổ biến trong xã hội chúng ta vì chúng đã ăn sâu, bắt rễ trong nhận thức của nhiều người trong xã hội và trở thành lực cản trong quá trình thực hiện các chế độ, chính sách, chương trình, kế hoạch trên mọi lĩnh vực. Định kiến giới có tác động xấu về vị trí, thái độ và những hoạt động của nam và nữ, đặc biệt là hạn chế những mong muốn, dự định phát triển cá nhân và cả việc đón nhận những cơ hội và điều kiện phát triển, đặc biệt là đối với phụ nữ. Vì vậy để thay đổi nhận thức, xoá bỏ định kiến về giới phải có sự tham gia của toàn xã hội, hướng vào việc tạo cơ hội, điều kiện phát triển bình đẳng cho cả nam và nữ. Trong chính sách và kế hoạch phát triển xã bội trên mọi lĩnh vực cần phải có sự bình đẳng giữa nam và nữ và xoá bỏ tác động của định kiến giới. Định kiến giới vừa là một quá trình lịch sử vừa phi lịch sử. Thực chất định kiến giới được thiết lập trong quá trình tương tác và phụ thuộc vào vị kế của mỗi giới (phi lịch sử). Những nhận thức và hành vi của con người tạo nên ý thức trong một bối cảnh nhất định (lịch sử). Điều quan trọng là nó gây cho các giới bị định kiến những mặc cảm, những ảo giác về trách thiệm, tính cách, năng lực của mình và trở thành tính chất “tự nhiên” của giới. Điều này sẽ tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành các chuẩn mực của xã hội. Khi định kiến giới xuất hiện thì phân biệt giới cũng diễn ra và cách con người xây dựng hình tượng đàn ông, đàn bà như một sự phân biệt. Một số ví dụ về định kiến giới: - Tình dục ở phụ nữ chỉ là để phục vụ cho nam giới.
  • 50.
    - Nam giớicó quyền chủ động trong tình yêu, tình dục. - Việc không sinh được con trai hoàn toàn là do phụ nữ không biết đẻ. - Thiên chức của phụ nữ là sinh đẻ, nuôi con và làm nội trợ. - Để phụ nữ chăm sóc người ốm là thích hợp nhất. - Để phụ nữ thực hiện tránh thai là phù hợp vì họ liên quan đến việc sinh đẻ, nuôi con nhiều hơn nam giới. - Nam giới có thể vào quán bia thư giãn vào buổi chiều còn phụ nữ thì phải về nhà nấu cơm và dọn dẹp. - Nam giới có đầu óc quyết đoán, do vậy họ là những người ra quyết định; còn phụ nữ cần phục tùng các quyết định cũng như yêu cầu của nam giới. Một số ca dao, tục ngữ mang định kiến giới: Đàn ông nông nổi giêng khơi Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu. Đàn ông rộng miệng thì sang Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà “. Khôn ngoan cũng thể đàn bà Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông”. 100 con gái không bằng cái… của con trai”. Gái goá lo việc triều đình “. Gà mái gáy thay gà trống”. III. XÃ HỘI HÓA GIỚI Xã hội hoá là quá trình các cá thể tiếp thu, học tập nền văn hoá của xã hội mà anh ta sinh ra, tức là học các kinh nghiệm xã hội, học hởi những gì cần phải làm, những gì không được làm, học ngôn ngữ, học các chuẩn mực
  • 51.
    giá trị củaxã hội để thích ứng được với xã hội. Theo Talco Parsons, nhà xã hội học Mỹ thì có 2 cấp độ của xã hội hoá: - Xã hội hoá sơ cấp (Primary Socialization): Ban đầu, chủ yếu diễn ra trong gia đình. - Xã hội hoá thứ cấp (Secondary Socialization): Diễn ra ở cả gia đình và xã hội (nhà trường, nhóm bạn bè, hàng xóm, nhóm nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng). - Như vậy, nền giáo dục giới từ xã hội dội vào gia đình và ngược lại. Hay nói cách khác, cách hành xử của xã hội phụ quyền trong xã hội và gia đình đã phối hợp với nhau chặt chẽ và thông qua quá trình xã hội hoá để hình thành tính cách, phẩm chất, định kiến giới cho con người. Chẳng hạn, cách giáo dục truyền thống giới dã dạy nam giới hướng ngoại, làm lao động nặng hoặc kỹ năng thống trị gia đình; ngược lại, dạy phụ nữ tề gia nội trợ, cách ứng xử nhẹ nhàng, phụ thuộc đàn ông và không được tỏ ra giỏi hơn chồng. Người nào có biểu hiện không thực hiện các quy tắc này thì bị khinh rẻ hoặc bị trừng trị nặng Ví dụ: Điều tra XHH ở một trường trung học (Liên Xô) cho thấy, nhiều em gái mơ ước thành nhà du hành vũ trụ. Ở ấn Độ, cùng thời kỳ, ở một trường trung học, nhiều em gái mong lấy được chồng giàu. Khái niệm về “vai trò giới” theo thời gian có 3 giai đoạn. Đó là: những đứa trẻ thích đồ vật rồi nghịch ngợm mang nét giới tính và bắt đầu nhận ra những thứ khác nhau giữa con trai và con gái. Tuy nhiên những sở thích của chúng chưa được phân định một cách mạnh mẽ. Lên 6 tuổi, mức phân định tương đối cao về giới trong sở thích riêng. Bé trai thích súng, xe tăng, ô tô, trong khi bé gái thích búp bê, gấu bông. Ở tuổi thiếu niên, trẻ em bắt đầu có ý thức hơn về giới do quá trình xã hội hoá toàn diện hơn. Chúng ta có thể dạy cho chúng về bình đẳng giới để thay thế cho các quan niệm nam quyền cũ. Trẻ em thường học cách ứng xử của bố mẹ chúng. Trong mắt chúng bố mẹ thật mạnh mẽ và mẫu mực. Con gái có thể tô son theo mẹ trong khi
  • 52.
    con trai từchối. Qua những động lực thúc đẩy khác nhau từ bố mẹ, giáo viên, bạn bè và những đối tượng khác, trẻ có thể nhận biết được chúng được làm gì và không được làm gì. Bằng cách đó chúng đang thừa nhận những chuẩn mực mà nền văn hoá của chúng quy định, đôi khi là những khuôn mẫu cứng nhắc. Đó là sự gán nhãn cho giới được áp dụng cho con người trên cơ sở các chuẩn mực có mục đích. IV. BÌNH ĐẲNG GIỚI Bình đẳng giới có thể được xem xét trên hai quan điểm: - Quan điểm bình đẳng khi chưa có nhận thức giới. - Quan điểm bình đẳng khi có nhận thức giới. Quan điểm bình đẳng khi chưa có nhận thức về giới: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995) tập I thì: Bình đẳng là sự được đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó trước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật. Theo đó, bình đẳng giới sẽ được hiểu là sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi phương diện, không phân biệt, hạn chế, loại trừ quyền của bất cứ giới nam hay giới nữ. Ởđây, điều kiện cần thiết chỉ là cung cấp cho phụ nữ các cơ hội bình đẳng, sau đó người ta tin rằng, họ sẽ thực hiện và được hưởng thụ theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn như nam giới và đem lại các kết quả như nhau, nhưng thực tế, sự đối xử bình đẳng không luôn luôn đem lại kết quả bình đẳng. Quan điểm trên, sau này được nhiều nhà nghiên cứu về giới cho rằng là một loại “bình đẳng giới mà không tôn trọng sự khác biệt về giới tính”. Nguyên tắc đối xử như nhau, không phân biệt là điều hết sức cần thiết, song có lẽ chưa đủ để phụ nữ được bình đẳng thực sự. Ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, xuất phát từ vấn đề quyền con người, hiến pháp đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ trên mọi phương diện. Điều đó là một sự tiến bộ lớn, tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ này, phụ nữ vẫn chưa được bình đẳng thực sự. Cũng là con người như nam giới nhưng phụ nữ lại có những đặc tính về giới tính hết sức riêng biệt do đặc
  • 53.
    trưng sinh họcvà đặc trưng xã hội quy định chi phối, cho nên, nếu chỉ thực hiện sự đối xử như nhau (căn cứ vào cái chung) mà không chú ý đến cái riêng để có các đối xử đặc biệt thì sẽ không có bình đẳng thực sự. Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển, giữa nam và nữ đã không có cùng một điểm xuất phát, cho nên cơ hội mở ra như nhau nhưng phụ nữ khó nắm bắt được như nam giới. Ví dụ, khi cơ hội tìm việc làm, có thu nhập cao mở ra cho cả nam và nữ thì phụ nữ khó có thể đón nhận được cơ hội đó như nam giới (vì lý do sức khoẻ, công việc gia đình, các quan niệm cứng nhắc trong phân công lao động); ngay cả khi có điểm xuất phát như nhau (do đã được tạo điều kiện) thì quá trình phát triển tiếp theo của phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn, cản trở hơn so với nam giới. Ví dụ, hai sinh viên nam và nữ cùng tốt nghiệp đại học, mười năm sau, trình độ, khả năng thăng tiến giữa họ lại rất khác nhau. Trong thời gian này, nam giới cớ thể chuyên tâm vào học tập, nâng cao trình độ, còn phụ nữ lại phải chi phối hơn cho việc sinh đẻ và nuôi con nhỏ. Vậy là đối xử như nhau không thể đem lại sự bình đẳng giữa hai giới nam và nữ vốn rất khác nhau về mặt tự nhiên và xã hội (do lịch sử để lại). Theo quan điểm này thì mọi điều kiện cần thiết chỉ là cung cấp cho phụ nữ các cơ hội bình đẳng và người ta mong đợi phụ nữ sẽ tiếp cận các cơ hội này, thực hiện và hưởng lợi theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn như nam giới. Điều này đặt ra sức ép vô cùng lớn đối với phụ nữ trong khi đó lại thu hẹp sự tiếp cận của họ tới các kỹ năng và các nguồn cần thiết để có thể tận dụng “các cơ hội bình đẳng”. Bình đẳng về cơ hội, về sự lựa chọn và đối xử là cơ hội cần thiết nhưng không phải là cơ hội quan trọng để hỗ trợ cho sự phát triển của phụ nữ. Quan điểm bình đẳng với nhận thức giới: Theo chúng tôi, khi đã thừa nhận phụ nữ có những khác biệt cả về tự nhiên và xã hội so với nam giới, thì đối xử như nhau sẽ không đạt được bình đẳng. Cho nên, bình đẳng giới không chỉ là việc thực hiện sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi lĩnh vực xã hội, theo phương châm phụ nữ có thể có quyền làm tất cả những gì
  • 54.
    nam giới cóthể và có quyền làm. Bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa hai giới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ, thông qua các đối xử đặc biệt với phụ nữ. (Trong Luật Bình đẳng giới hiện nay đã có các quy định cụ thể về những điều khoản “đặc biệt tạm thời” mà không coi là phân biệt giới để thực hiện bình đẳng giới). Những đối xử đặc biệt tác động đến khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ hạn chế những thiệt thòi của phụ nữ còn được duy trì thường xuyên như chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Các đối xử đặc biệt tác động làm thay đổi vị thế người phụ nữ do lịch sử để lại được duy trì chừng nào đạt được sự bình đẳng hoàn toàn. Đối xử đặc biệt khác không chỉ căn cứ vào sự khác biệt giữa nam và nữ, quá trình tiến tới bình đẳng giới còn phải chú ý sự khác biệt ngay trong giới nữ, thể hiện qua các nhóm phụ nữ khác nhau, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân với nông dân, trí thức, giữa phụ nữ giàu và phụ nữ nghèo… Như vậy việc đối xử như nhau giữa các bộ phận xã hội không giống nhau sẽ không thể đạt tới được sự bình đẳng thực sự. Ở đây, điều kiện để đạt tới sự bình đẳng chính là cần phải có các đối xử đặc biệt, thậm chí là các điều kiện ưu tiên dành cho các nhóm xã hội yếu thế. Trong một môi trường mà cơ hội, điều kiện và vị trí xã hội của phụ nữ còn thấp hơn nam giới thì để có bình đẳng giới thực sự, cách đối xử đặc biệt như trên đối với phụ nữ là điều kiện cần thiết phải có. Bình đẳng giới là một tình trạng lý tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí xã hội như nhau, được tạo cơ hội và điều kiện thích hợp để phát huy đủ khả năng của mình nhằm đóng góp cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả của quá trình phát triển đó. Quan điểm bình đẳng có nhận thức về giới đưa ra sự tiếp cận đúng đắn, công nhận sự khác biệt và thực tế là phụ nữ đang ở vị trí bất bình đẳng do sự phân biệt đối xử trong quá khứ và hiện tại. Mô hình này không chỉ quan tâm đến cơ hội bình đẳng mà còn quan tâm đến kết quả của sự bình đẳng, sự đối xử bình đẳng, tiếp cận bình đẳng và lợi ích bình đẳng. Chúng ta cần phải
  • 55.
    xem xét cẩnthận những cản trở tiềm ẩn đối với sự tham gia bình đẳng cũng như có cơ hội, điều này có nghĩa là có thể phải đối xử khác nhau đối với phụ nữ và nam giới để họ có thể được hưởng lợi một cách chính đáng và đó không thể coi là phân biệt giới. Tóm lại: Bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được trải nghiệm những điều kiện ngang nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của mình, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi như nhau từ các hoạt động phát triển của quốc gia về kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. Bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa hai giới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ, thông qua các đối xử đặc biệt với phụ nữ. Để đạt tới bình đẳng giới trong một môi trường mà cơ hội, điều kiện và vị trí xã hội của phụ nữ còn thấp hơn nam giới thì việc đối xử đặc biệt với phụ nữ, ưu tiên cho phụ nữ trên một số mặt, chính là cơ sở để tạo lập sự bình đẳng thực sự. BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU Chợ hoa quả Long Biên hoạt động 24/24 giờ mỗi ngày, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động nữ. … Chợ hoa quả Long Biên họp cả ngày và đêm. Đông nhất vào hai thời điểm: từ 2 giờ đến 5 giờ 30 sáng và từ 3 giờ đến 6 giờ chiều. Đây là những giờ Ban quản lý chợ cho phép các xe hàng ra, vào đổi hàng, bốc hàng. Với khoảng trên 30 lượt xe hàng và 40 lượt xe khách ra vào mỗi ngày, chợ cũng “ngốn thường xuyên từ 200 đến 300 tấn hàng, trong đó hàng hoa quả là chủ yếu (70%):.. Cũng do nhu cầu vận chuyển đã xuất hiện hàng trăm người bốc vác thuê tự do, hàng nghìn lao động nữ là người các tỉnh đến bốc vác và gánh hàng thuê… Vào giờ cao điểm, xe, người vây chặt cả ba đường ra vào chợ. Trong đám đông ấy có tới 90% là phụ nữ. Dù đang là mùa đông nhưng những khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi, hằn rõ những nếp nhăn nơi khoé mắt. Họ trạc khoảng từ 30 đến 50 tuổi. Tôi đã hỏi và được biết hầu hết những người lao động này đã có gia đình, nhà nghèo, không có tiền nên phải đi làm “cửu vạn” ở chợ. Quê họ ở các tỉnh Hưng Yên, Hà Tây, Thái Bình, Thanh Hoá…
  • 56.
    Họ không hềtiếc sức mình và càng không thể bỏ phí thời gian nên họ làm việc quần quật 18 đến 20 giờ/ngày và chỉ tạm nghỉ giải lao khi đã tạm đủ số tiền phải kiếm được hằng ngày (20.000đ trở lên). Những người phụ nữ gầy còm, da đen sạm vì hứng trọn cả nắng, gió ban ngày và mưa, sương ban đêm; đôi vai như càng gồ lên với gánh hàng nặng 40, 50 kg nhưng các chị vẫn hồ hởi khoe: “Thế này là tốt rồi, có việc mà làm, còn hơn ở nhà không có đồng nào, chồng ốm nhom, con cái nheo nhóc, đói khát”. Tôi theo chân một chị về nơi “tạm trú của các chị. Một căn phòng mái tôn 16m2 chứa 24 người, không giường, chỉ manh chiếu cũ sờn nát được trải trên nền gạch hoặc trên cái giát giường cũ nếu ở nơi ẩm thấp. Bên ngoài hành lang là công trình phụ được quây tạm bằng tấm cót ép mốc meo. Căn nhà này các chị đã chung nhau thuê với giá 2.000đ/ người/ ngày. Hằng ngày bữa ăn chỉ là cơm chay”, có rau mà không thịt cá. Một chị nói: “Chúng tôi tằn tiện thế này, mỗi tháng cũng gửi về cho gia đình được 300.000đ đấy”. Họ vừa nhai những miếng cơm nguội khô khốc với túi muối vừng lạc để giữa, vừa nở nụ cười vẻ mãn nguyện thoáng chút xa xăm… Tôi cũng thầm mong những người chồng, người con của các chị ở quê nhà hiểu, thông cảm và dành tình cảm nhiều hơn cho tấm lòng những người vợ, người mẹ phải sớm hôm tần tảo, chắt chiu từng miếng cơm, đồng tiền, bát gạo để cung cấp cho chồng, nuôi con. Theo Khuất Huyền (Báo “Phụ nữ Việt Nam” ngày 6/12/1999). CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Hãy cho biết nhận xét của em về bài đọc trên. 2. Xã hội hoá giới đóng vai trò gì trong tuyên truyền bình đẳng giới?
  • 57.
    Bài 5. CẤUTRÚC GIỚI TRONG XÃ HỘI PHỤ QUYỀN VÀ HỆ QUẢ I. SỰ THỐNG TRỊ TOÀN DIỆN CỦA NAM GIỚI VỚI PHỤ NỮ THÔNG QUA HỆ TƯ TƯỞNG, LUẬT PHÁP, VĂN HÓA, TÔN GIÁO VÀ GIA ĐÌNH. 1. Phụ nữ có vai trò to lớn trong gia đình và xã hội Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và lịch sử phát triển của từng nước, phụ nữ cùng nam giới sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, sinh đẻ, nuôi dạy con cái, bảo lưu truyền thống văn hoá của dân tộc. Những đóng góp của phụ nữ cho sự phát triển lịch sử, dù có thể là âm thầm lặng lẽ, có thể được thừa nhận hay không được thừa nhận, nhưng vẫn là vô cùng to lớn. Sức lao động, khả năng sáng tạo vô bờ bến của họ phủ bóng trên toàn bộ những thành quả và di sản văn hoá của nhân loại. Trong những thành quả lao động sáng tạo chung của nhân loại xuất hiện vai trò của những nhân vật kiệt xuất, trong đó có rất nhiều phụ nữ. Họ không chỉ sánh vai và làm được những điều kỳ diệu nhất mà một người nam giới kiệt xuất đạt được mà còn mang vào trong sự kiệt xuất đó dáng vẻ riêng của người phụ nữ, của “phái đẹp”. Những phụ nữ kiệt xuất xuất hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá. Về chính trị: Những nữ anh hùng của các dân tộc như Gianda (Pháp), nữ hoàng Cleopat (Ai Cập), nữ hoàng Victoria (Anh), nữ hoàng Caterin đệ nhị (Nga), nữ hoàng Võ Tắc Thiên (Trung Quốc), Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ỷ Lan phu nhân, Đô đốc Bùi Thị Xuân, Phó Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Nguyễn Thị Định (Việt Nam) đã được ghi danh vào lịch sử. Nhiều phụ nữ tham chính, hoạt động bên cạnh các chính trị gia nam giới đã tạo lập được cả một sự nghiệp lớn mà không phải nam giới nào cũng làm được. Ngày nay, trong bối cảnh mà trên thế giới sự bình đẳng giới vẫn còn rất nhiều hạn chế, nhưng sự xuất hiện của những nữ chính trị gia, có người làm đến chức nguyên thủ quốc gia đã làm cho thế giới phải kinh ngạc về hiệu quả hoạt động của họ. Có người còn được mệnh danh là “người đàn bà thép”, với tiếng nói và uy lực khiến cho những lãnh đạo đồng cấp là nam giới phải nể phục.
  • 58.
    Về khoa học:Trong bối cảnh của những xã hội nam quyền, phụ nữ không được học hành đầy đủ như nam giới. Bởi vậy, trong thực tế lịch sử, những danh nhân khoa học là phụ nữ trên thế giới chỉ là một thiểu số rất nhỏ so với nam giới. Từ năm 600 đến 200 (trước Công nguyên) các nhà khoa học nữ tăng gấp 50 lần so với thời gian trước đó. Trong các thế kỷ được gọi là “Đêm trường trung cổ” có những phụ nữ ham học hỏi, có kiến thức và trí tuệ bị bài bác, thậm chí bị lên án, bị bỏ tù. Thế kỷ XVII có trên 4.000 phụ nữ, trong đó hầu hết là nhà khoa học bị nhà thờ Thiên Chúa giáo buộc tội là phù thuỷ và bị đàn áp (Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, 1990). Tuy nhiên, chính sự xuất hiện của những nữ trí thức khoa học lớn trên thế giới đã phản ánh được phần nào trí tuệ và sức phấn đấu phi thường của phụ nữ. Nhà vật lý, hoá học Marie Cuộc, người Ba Lan cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã 2 lần được nhận giải Nobel về vật lý và hoá học; nhà toán học nổi tiếng thế kỷ XIX người Nga Kovalepskaia; Tapputi Belatliallini - nhà hoá học phát minh ra nước hoa trước Công nguyên; Teana - người lãnh đạo trường phái toán học Pitago; Mang Alexandria - người phát minh nhà tắm hơi và thuật giả kim; hai bà Hilidegard và Genard là tác giả của các tác phẩm bách khoa về nền khoa học trung cổ. Văn hoá là lĩnh vực mà bóng dáng của phụ nữ xuất hiện mạnh mẽ. Trong toàn bộ những di sản văn hoá đồ sộ của nhân loại cho đến ngày nay, chúng ta không dễ dàng phân biệt được đâu là những đóng góp của phụ nữ còn đâu là những đóng góp của nam giới. Trong số những danh nhân văn hoá nổi tiếng trên thế giới có rất nhiều phụ nữ. Họ là những nhà văn hoá, nhà văn, nhà thơ, nhà soạn kịch, các hoạ sĩ và nhạc sĩ… mà những sự rung cảm văn hoá đầy chất nữ tính của họ làm nên một nửa những rung cảm văn hoá trong di sản của nhân loại. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi nếu lãng bóng họ, di sản văn hoá thế giới sẽ nghèo nàn như thế nào. Bên cạnh những nữ danh nhân văn hoá chúng ta không thể không nói tới những phụ nữ “vô danh” nhưng vĩ đại, hoạt động một cách thầm lặng trong những tất cả các lĩnh vực, chẳng hạn, lĩnh vực văn hoá đại chúng, những
  • 59.
    nghệ nhân dângian, vũ công, ca sĩ, diễn viên sân khấu, thợ thủ công khéo tay,… Họ đã làm nên diện mạo văn hoá phong phú và đa dạng của nhân loại. 2. Thần quyền và vai trò của thần quyền trong việc củng cố bộ máy thống trị nam quyền Mặc dù có những đóng góp thật to lớn đối với sự vận động và phát triển của lịch sử nhân loại nhưng trong bối cảnh của xã hội phụ quyền, phụ nữ bao giờ cũng là đối tượng bị áp bức và bị phân biệt đối xử thậm tệ. Trên lĩnh vực tôn giáo, có thể nói hầu hết các tôn giáo trên thế giới đều có phân biệt nam nữ ở các hình thức và mức độ khác nhau. Đặc biệt tại các nước theo đạo Hồi, khi tôn giáo trở thành quốc giáo thì thần quyền đã kết hợp chặt chẽ với hệ thống nam quyền để thống trị phụ nữ. Phật giáo của Nhật Bản đã kết hợp với đạo Shinto, Nho giáo và đưa ra nguyên tắc buộc phụ nữ phải biến thành đàn ông nếu muốn tu thành chính quả; luật Hudur là luật của Hồi giáo tại Malaysia cho rằng, trong trường hợp phụ nữ bị hãm hiếp khi tố cáo trước toà thì phải viện dẫn được 4 người đàn ông mộ đạo làm chứng (AP WLD, 2000). Người phụ nữ dù cố gắng tu luyện đến đâu trong Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Tin Lành thì cũng không thể đạt được vị trí cao. II. HỆ QUẢ CỦA ÁP BỨC GIỚI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHỤ NỮ Khó mà có thể tả hết được những hệ quả của sự áp bức về giới đối với thân phận của người phụ nữ. Điều mà những nhà văn hoá lớn đã thốt lên “đau đớn thay phận đàn bà” (Nguyễn Du) chỉ là một trong vô vàn những lời than “không thấu được tới trời xanh” của những thân phận phụ nữ trong xã hội nam quyền. Chúng ta có thể tổng hợp lại những nét thống khổ của phụ nữ ở những mặt sau đây: 1. Phụ nữ lao động nặng nhọc, nghèo đói và thất học Theo nhận định của LHQ trong Thập kỷ Phụ nữ 1975 - 1985 thì phụ nữ chiếm hơn 1/2 dân số thế giới; lao động 2/3 thời gian lao động của thế giới;
  • 60.
    sản xuất hơn1/2 sản lượng nông nghiệp của thế giới; chiếm 2/3 lực lượng mù chữ của thế giới; làm chủ 1/10 tài sản của thế giới. Hiện nay, phụ nữ vẫn chiếm 70% trong 1,3 tỷ người nghèo đói trên thế giới. Báo cáo phát triển con người năm 1995 của tổ chức UNDP đã so sánh giữa chỉ số phát triển con người (HDI) với chỉ số bình đẳng giới (GDI) của các nước tham gia (trong đó có Việt Nam) và đưa ra kết luận: Chưa có nơi nào trên Trái Đất phụ nữ được bình đẳng hoàn toàn với nam giới. Lao động hằng năm của phụ nữ bị bỏ quên không được tính công là 11 tỷ USD. 2. Phụ nữ là nạn nhân của các xung đột, tệ nạn lớn trên thế giới Trong mọi thảm hoạ của thiên nhiên cũng như của con người đối với xã hội, phụ nữ bao giờ cũng là người phải gánh chịu đầu tiên. 2.1. Phụ nữ bị làm vật tế thần, quà tặng, mua bán, đổi chác, là đối tượng bị trả thù. Trong chế độ phong kiến và tư bản, những hiện tượng trên là rất phổ biến. Hiện nay, tại nhiều nước, việc lấy chồng của phụ nữ thực chất là bán phụ nữ vẫn còn tồn tại. Nạn buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em là những hoạt động tội ác đã và đang phát triển trên phạm vi toàn cầu. Có thể phân chia hiện tượng buôn bán phụ nữ trên thế giới thành ba loại nước: nước gửi, nước trung chuyển và nước nhận. Có nước vừa là nước gởi, vừa là nước trung chuyển; có nước vừa là nước gửi, vừa là nước nhận; có nước bao gồm cả ba dạng trên. Việt Nam là nước gửi, nghĩa là phụ nữ Việt Nam bị lừa bán sang nhiều nước như Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước khác. Mục đích chính của buôn bán phụ nữ là buộc họ làm mại dâm, làm vợ bắt buộc hoặc lao động việc nhà. 2.2. Nạn mại dâm Là hiện tượng gắn liền với nạn buôn bán phụ nữ và là đầu ra của buôn bán phụ nữ. Nạn mại dâm tồn tại mang tính phổ biến ở hầu khắp các xã hội và có từ rất lâu trong lịch sử. Trước đây, người bán dâm thường là phụ nữ, người mua dâm là nam giới nhưng ngày nay có những trường hợp người bán
  • 61.
    là nam giới,người mua là phụ nữ. Hiện nay, đã có các trường hợp mại dâm đồng giới. Mại dâm là hiện tượng bóc lột thân xác và chà đạp lên nhân phẩm của phụ nữ. 2.3. Phụ nữ là nạn nhân của chiến tranh Thực tế cho thấy, mặc dù các cuộc chiến tranh xâm lược, chiến tranh sắc tộc, chiến tranh tôn giáo, chiến tranh biên giới… phần lớn do những người lãnh đạo là nam giới gây ra, nhưng thiệt hại về người và của lại đến với cả nam và nữ, trong đó phụ nữ và trẻ em là những nạn nhân bị thiệt hại nhất. Trong cuộc chiến, phụ nữ có thể bị coi là vật hiến tặng, trao đổi như hàng hoá, bị trả thù, bị hãm hiếp, bị giết chết; là nạn nhân chịu bao khổ đau khi chồng con và người thân bị giết chết, bị tàn tật. Chiến tranh là bạo lực xã hội lớn nhất mà con người, trong đó phụ nữ phải gánh chịu nhiều nhất. 2.4. Phụ nữ là nạn nhân của các dạng bạo lực xã hội khác Phụ nữ cũng là nạn nhân của rất nhiều tệ nạn xã hội khác. Tại Mêhicô 90% phụ nữ công nhân bị quấy rối tình dục. Nam Phi: 1/6 phụ nữ bị hành hung. Jamaica (Caribê) không coi cưỡng dâm là tội phạm. Ấn Độ có 5 phụ nữ bị giết một ngày do nạn thèm khát của hồi môn. Ở Mỹ, theo số liệu thống kê, cứ 15 giây lại có 1 phụ nữ bị đánh, 6 phút có 1 phụ nữ bị hiếp, 1 ngày có 4 phụ nữ bị giết (Hội nghị Phụ nữ thế giới lần thứ tư, Bắc Knh, 1995). Một trong những tệ nạn gây đau đớn nặng nề cho phụ nữ là nạn cắt bộ phận sinh dục ngoài - Female Genital Mutilation (FGM) chủ yếu diễn ra ở châu Phi, trong các nước theo Hồi giáo. Hiện nay, các nhà khoa học đã đổi tên thành “Female Sexual Mutilation” - FSM (Nghĩa tiếng Việt không thay đổi) Theo Hội đồng dân số thế giới, năm 2000 có khoảng 114 triệu phụ nữ châu Phi là nạn nhân của nạn FSM; còn theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên 130 triệu phụ nữ và trẻ em đã là nạn nhân của FSM và 2 triệu em bé gái có nguy cơ phải chịu nỗi đau này mỗi năm. Nạn FSM chủ yếu được tiến hành tại 28 nước châu Phi và ngày càng được tiến hành rộng rãi trong cộng đồng người Phi nhập cư tại châu âu, Australia, Canada và Mỹ.
  • 62.
    Đây là mộttập tục từ lâu đời vì người ta đã tìm thấy những xác ướp bị cắt bỏ âm vật từ trước khi đạo Islam ra đời. Nhiều người phải chịu để cho con cái bị FSM là vì từ nhiều đời nay người ta vẫn tin rằng, nếu không như vậy sẽ bị quỷ thần gieo tai hoạ. Thực chất đó là sự suy diễn của đàn ông nhằm kiềm chế bản năng tình dục của phụ nữ. Ở Somali: 98% phụ nữ bị cắt âm vật; Bukina Faso: 70%; Nigiêria có 6.000 phụ nữ bị cắt/ngày. Suđăng có tục là cô gái nào không cắt thì không lấy được chồng. Tuy nhiều phụ nữ có thể sống lâu hơn chồng nhưng nữ tính của họ rất ngắn ngủi. Xã hội đã sớm giết chết bản năng giới tính khi áp đặt một “độ tuổi xã hội” mà từ đó về sau người phụ nữ không còn hấp dẫn nữa. Đến tuổi 31, theo những người đàn ông ở các nước này, người đàn bà đã vượt quá tuổi lấy chồng. Đến tuổi 40, người ấy đã già. Là một cái nụ vừa hé nở, người đàn bà đã trở thành một bà già trong một cơ thể chẳng có gì hứa hẹn. Đến tuổi 47, tuổi trung bình của thời kỳ mãn kinh cũng là sự kết thúc của nữ tính. Đó là cái chết của giới tính. Người đàn bà sẽ sống một số năm nữa với một cơ thể vô tình. Bị cắt bỏ mất nữ tính, người đàn bà đành phải từ bỏ luôn sức quyến rũ và dục vọng. Họ từ bỏ chức năng về tình dục để chuyên tâm vào nhiệm vụ làm mẹ và làm bà. Sau khi đã đem thân mình phục vụ người chồng và việc sinh đẻ, người đàn bà chỉ còn tồn tại thông qua một tâm hồn sẽ phải làm cho tinh khiết. Từ năm 1924, phụ nữ châu Phi đã lên án tập tục này, nhưng vào thời đó người ta coi họ là điên rồ và không quan tâm đến đòi hỏi chính đáng và thiết thực của những người đấu tranh. Hiện nay, tại châu Phi, những phụ nữ có tuổi, thất học có thể chịu đựng và chấp nhận tệ nạn này, nhưng những phụ nữ trẻ lại đang phản ứng một cách mạnh mẽ. Thế hệ trẻ châu Phi ngày nay đang đồng thanh khẳng định: “Tôi không muốn giống mẹ Kín”. Nữ thanh niên Maroc chiếm 48% số dân dưới 20 tuổi đang tự giải phóng mình. Ngày càng nhiều người chơi thể thao và chăm sóc hình thể. Tỷ lệ li dị đang gia tăng trong giới trẻ. Đó là một thực tế đáng buồn nhưng nó chứng tỏ rằng những phụ nữ
  • 63.
    thế hệ mớiđang vùng lên đòi được quyền biểu thị nguyện vọng và ý chí của mình. Họ nói: “Tôi không chỉ tồn tại với tư cách một người vợ, người mẹ. Cuộc sống của tôi thuộc về tôi” Hiện nay, nam giới ở nhiều nước châu Phi đã ủng hộ phong trào đấu tranh của phụ nữ bằng các tuyên bố: cô gái nào bị FSM thì họ sẽ không lấy làm vợ. Đây là một thiệt thòi cho các cô gái bị cắt âm vật nhưng cũng là thắng lợi của cuộc đấu tranh quyết liệt này. Các cơ quan LHQ và nhiều tổ chức phi chính phủ coi FSM là một sự vi phạm nhân quyền. Những tổ chức này đòi loại bỏ nó và coi mọi sự bảo lãnh về tôn giáo hay văn hoá cho hành động này là không có cơ sở chính đáng. Họ cũng bác bỏ quan điểm trung dung rằng, nên trang bị cho nó những dụng cụ y tế nhằm giảm bớt nguy cơ nhiễm trùng, mà yêu cầu phải loại bỏ hoàn toàn hiện tượng này. Ngoài những cuộc vận động hướng vào các cộng đồng, các gia đình và cơ quan y tế, những cải cách về luật đang được nghiên cứu nhằm ngăn cấm và trừng phạt FSM. 2.5. Nạn diệt giống cái Theo UNICEF, tỷ lệ sinh thông thường theo tự nhiên là 95 gái/100 trai. Tuy nhiên, hiện nay, tỷ lệ sinh không còn như vậy ở nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, ấn Độ, Hàn Quốc, Pakistan và ngay cả tại Việt Nam. Trẻ sơ sinh nam tăng hơn 7% ở các nước đang phát triển. Các nhà khoa học gọi hiện tượng này là sự vắng mặt của 100 triệu phụ nữ châu á. Đây là hệ quả của việc phá thai nếu phát hiện là sẽ sinh con gái. Chẳng hạn, Trung Quốc mất 49 triệu bé gái, ấn Độ có tới 90% ca phá thai là trẻ gái. Biện pháp của các cặp vợ chồng là đi siêu âm và nếu phát hiện là con gái thì sẽ phá thai hoặc khi đã đẻ ra rồi thì cho bé gái ăn nhựa cây độc, nhét vỏ trấu vào mồm v.v… Hiện tượng trên đã làm mất cân bằng giới tính và tạo ra hậu quả là Trung Quốc có khoảng gần 100 triệu nam giới không lấy được vợ do thiếu phụ nữ. Họ buộc phải tìm vợ ở các nước khác như Việt Nam, Malaysia, v.v… Chính việc này liên quan đến tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em như đã phân tích ở phần trên.
  • 64.
    Ở Việt Nam,nếu theo tỷ lệ sinh tự nhiên thì cứ 100 bé trai sinh ra thì xe có 95 bé gái, nhưng hiện nay tỷ lệ này đã thay đổi. Ở nhiều nơi, tỷ lệ dã là 128 bé trai/95 bé gái do tệ nạn siêu âm và nạo thai bé gái (Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ em, 2006). Tình trạng này xảy ra chủ yếu ở nông thôn, nơi các tập tục còn nặng nề. Để chống lại tình trạng nạo thai là giết hại bé gái, ngay từ những năm 1980 các bang Puzab và Maharashtra của ấn Độ đã cấm siêu âm xác định giới tính thai nhi. Năm 2006, Việt Nam có pháp lệnh cấm siêu âm xác định giới tính thai nhi trước khi sinh con. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều bác sĩ làm bất hợp pháp cho thai phụ. Luật pháp Việt Nam còn cho phép con cái được lấy họ bố hoặc họ mẹ theo thoả thuận. Đây là một điều luật tiến bộ nhằm đạt được bình đẳng nam nữ và chống lại tình trạng nạo thai bé gái. 2.6. Bạo lực gia đình Các tài liệu về tình trạng bạo lực gia đình cho biết, Pakistan là một nước theo Hồi giáo có 99% phụ nữ nội trợ và 77% phụ nữ viên chức bị chồng đánh hằng năm. Tại Canada, một trong những nước dẫn đầu thế giới về chỉ số bình đẳng giới cũng có khoảng 1/4 phụ nữ bị hành hạ trong gia đình. Ở Pháp, một trong những nước được coi là văn minh của thế giới có 2 triệu phụ nữ bị đánh/năm. Ở Đức, hơn 1/2 các cuộc bạo lực đối với phụ nữ là do chồng hoặc bạn đời gây ra. Tại Việt Nam, cứ 2 - 3 ngày thì có 1 người bị giết liên quan đến bạo lực gia đình (Báo cáo của Bộ Công an, 2007). Như vậy, bạo lực gia đình là một tội ác đã xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, từ nước giàu có, văn minh đến nước nghèo, chậm phát triển. Tính toàn cầu của bạo lực gia đình là cao nhất trong các loại tệ nạn xã hội. 2.7. Nạn đa thê Tồn tại ở hầu khắp các dân tộc trước đây trong chế độ phụ quyền và được luật pháp bảo vệ trong những nước theo đạo Hồi hiện nay. Chẳng hạn, ở một số nước theo đạo Hồi hiện nay thì đàn ông có thể lấy 4 vợ với điều kiện
  • 65.
    anh ta nuôiđược các bà vợ và bảo đảm hoà bình trong gia đình anh ta. Ở nhiều nước khác, luật pháp bảo vệ chế độ một vợ, một chồng nhưng trên thực tế vẫn còn tệ nạn này trong trạng thái bất hợp pháp. Báo chí (2008) vừa đăng tin về một người đàn ông đã lấy 84 bà vợ ở một nước châu Phi và khả năng người ta sẽ không xử ông ta vì tội lấy quá nhiều vợ. * Chức năng sinh sản: Để thực hiện chức năng sinh sản, hằng năm trên 500.000 phụ nữ (phần lớn trong các nước nghèo, các nước đang phát triển) chết vì thai sản và sinh đẻ do điều kiện chăm sóc y tế thiếu thốn; 1/5 phụ nữ ở châu Phi và Nam Á trong độ tuổi sinh đẻ chết vì lao lực và thai sản. BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU Giết người vì danh dự Giết người vì danh dự ở Pakistan (thực chất là phong tục của các bộ lạc Baloch và Pashtm) gần đây đã thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Giết người vì danh dự đã được báo cáo không chỉ ở Balochistan, ở các tỉnh tuyến ngoài Tây Bắc và ở vùng cao Sind mà còn ở tỉnh Punjab. Tình hình này cũng được báo cáo ở Thổ Nhĩ Kỳ (Đông và Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ). lstanbul và lzmir ở Tây Thổ Nhĩ Kỳ, Jordan, Syria, Ai cập, Lebanon, Iran, Yemen, Morocco và các nước vùng vịnh. Nó cũng đã xảy ra ở các nước như: Đức, Pháp, Anh trong các cộng đồng nhập cư. Giết người vì danh dự được thực hiện bởi chồng, cha, anh em trai hoặc chú, cậu, đôi khi nhân danh hội đồng bộ lạc. Người giết thực hiện chủ yếu là những người thanh niên trẻ tuổi ở gia đình và sẽ được giảm nhẹ sự trừng phạt. Họ sẽ được coi là những anh hùng. Trong nhà tù, nếu họ bị đưa tới đó, mọi người nhìn các chàng trai này trìu mến và nói với họ rằng, họ là những chàng trai “trưởng thành”. Thật khó khăn khi thống kê các con số về các vụ giết người vì danh dự được cung cấp bởi một cộng đồng nào đó. Giết người vì danh dự thường là tàn dư của các công việc gia đình, trên thực tế không có cơ quan thống kê và
  • 66.
    hậu quả củanó là con số đích thực về những vụ giết người này bao giờ cũng cao hơn báo cáo. Tờ Bưu điện Washington phục vụ người nước ngoài báo cáo rằng, 278 kẻ giết người được báo cáo ở Puniah năm 1999 (8/5/2000). Ban chấp hành của Uỷ ban quyền con người của Pakistan nhận được báo cáo về 196 trường hợp giết người vì danh dự năm 1998 và hơn 300 người năm 1999. Chỉ riêng Pakistan, hằng năm hơn 1.000 phụ nữ bị giết dưới cái tên danh dự. Cơ quan quốc gia Palestin nghi ngờ rằng, 70% số kẻ giết người ở dải Gaza và Ngân hàng phía Tây là những kẻ giết người vì danh dự. Họ luôn quy cho đó là các nguyên nhân tự nhiên. Báo giới gần đây đầy rẫy những thuật ngữ “Sharia” với những thông tin về xứ sở Nigeria, châu Phi: sau tin tức về hoa hậu các nước đòi tẩy chay cuộc thi hoa hậu thế giới 2002 tổ chức ở Nigeria để chống đối lại án tử hình đối với cô Lawal. Một toà án Hồi giáo ngày 29/8 lại xử tiếp một cặp tình nhân bị kết án tử hình theo cách ném đá vì tội ngoại tình. Sharia - Luật Hồi giáo khắc nghiệt - không chỉ áp dụng đối với các bang phía Bắc Nigeria mà còn ở nhiều quốc gia Hồi giáo khác, nhưng mức độ khắc nghiệt có khác nhau. Theo Asian Week (Tổng hợp qua báo chí Việt Nam). CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Hãy cho biết một số phong tục chống phụ nữ mà em biết. 2. Em có biết vụ nạo thai bé gái nào xảy ra ở địa phương không? Bài 6. PHONG TRÀO PHỤ NỮ QUỐC TẾ TỪ GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC Lịch sử phát triển của nền văn minh nhân loại cũng có thể nói là lịch sử của các cuộc đấu tranh nhằm xoá bỏ những sự bất bình đẳng. Trong cuộc đấu tranh này, các nhà tư tưởng lớn trên thế giới đều là những người đứng ở vị trí hàng đầu. Xã hội càng tiến bộ thì nhận thức của con người về sự bình
  • 67.
    đẳng ngày càngtoàn diện và cuộc đấu tranh chống bất bình đẳng vì thế càng mạnh mẽ hơn. Đã có áp bức là sẽ có đấu tranh, đó là lẽ thường tình của lịch sử. Chúng ta đều biết, thông thường các cuộc đấu tranh trong xã hội luôn diễn ra dưới nhiều hình thức, chẳng hạn như các hình thức đấu tranh của giai cấp bị trị chống lại giai cấp thống trị, thường là khởi nghĩa; đấu tranh tư tưởng, chính trị; đấu tranh vũ trang, cách mạng, đảo chính; đấu tranh nghị trường; yêu cầu cải cách kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh vì bình đẳng giới rất đặc biệt, không hoàn toàn giống như các cuộc đấu tranh giai cấp và cũng không giải quyết theo cách thức của các cuộc đấu tranh giai cấp. Vì sao lại như vậy? Điều này xuất phát từ tính đặc thù của bất bình đẳng giới. Bất bình đẳng giới không chỉ ở diễn ra ở phạm vi rộng lớn của xã hội mà còn trong gia đình giữa những người thân yêu, ruột thịt, vì lẽ đó, nó còn bị tình yêu, tình cảm gia đình chi phối và che mờ. Tất nhiên, với người phụ nữ, không bao giờ chồng con và cha anh lại là một thứ kẻ thù giai cấp. Phong trào đấu tranh của phụ nữ là phong trào xã hội của phụ nữ nhằm đấu tranh để bảo vệ và mở rộng các quyền của phụ nữ và xoá bỏ các biểu hiện của tư tưởng nam trị. Phong trào này không dùng bạo lực mà mang tính ôn hoà. Trong các cuộc cách mạng xã hội, phong trào phụ nữ thường hoà nhập vào phong trào giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Phong trào phụ nữ quốc tế trải qua các thời kỳ sau: I. THỜI KỲ ĐẦU TIÊN 1. Phong trào nữ quyền buổi đầu ở Pháp Trong cách mạng tư sản Pháp, được khơi nguồn từ năm 1789, không khí đấu tranh sục sôi chống lại thể chế chính trị quân chủ, đòi quyền tự đo cho con người đã kích thích các tầng lớp xã hội tham gia. Sau những đêm trường “trung cổ dưới sự thống trị ngặt nghèo, ngạt thở của chủ nghĩa phong kiến, khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái đã hấp dẫn cả nam và nữ.
  • 68.
    Phụ nữ chorằng, thời cơ giải phóng họ khỏi ách áp bức của phong bến, của chủ nghĩa nam quyền đã tới. Nhiều câu lạc bộ phụ nữ được hành lập ở Paris và các tỉnh lớn. Đấy là nơi phụ nữ gặp gỡ, phát triển các cương lĩnh chính trị, kêu gọi bình quyền trong giáo dục, công ăn việc làm và quản lý. Một đại biểu lớn của phong trào phụ nữ lúc đó là bà Marie Gouze. Tuy nhiên, chính quyền tư sản mới không đáp lại nguyện vọng của phụ nữ. Tự do, bình đẳng, bác ái chỉ dành cho giai cấp tư sản đang lên, đặc biệt là nam giới. Chính quyền đàn áp các câu lạc bộ và hành quyết Marie Gouze năm 1793. Các câu lạc bộ phụ nữ lập tức bị giải tán, phong trào tạm ngừng. Tuy nhiên, phong trào nữ quyền Pháp đã đóng vai trò tiên phong trong phong trào nữ quyền thế giới. 2. Cuộc đấu tranh ở Mỹ Thế kỷ XIX, phong trào nữ quyền ở Mỹ mạnh hơn các nước khác. Trong giai đoạn từ năm 1830 đến năm 1850, các nhà nữ quyền tập trung đấu tranh xoá bỏ chế độ nô lệ, bởi lẽ ở Mỹ, những người nô lệ không có quyền lợi về chính trị, không có đại diện ở Thượng và Hạ nghị viện, đặc biệt là phụ nữ da đen. Phụ nữ da đen đóng vai trò nhất định trong những phát triển đầut của phong trào phụ nữ Mỹ, nhưng họ gặp phải sự kỳ thị không chỉ của nam giới mà của cả phụ nữ da trắng. Do vậy, rất ít các nhà nữ quyền da đen tham gia lãnh đạo. Mặt khác, khi chế độ nô lệ bị bác bỏ. Quốc hội Mỹ cho phép chỉ có nô lệ nam sau khi được quyền tự do mới có quyền bỏ phiếu. Vấn đề phụ nữ da đen trở thành một vấn đề đặc thù trong các quan điểm nữ quyền. Ở đây, vấn đề giới và dân tộc đã lồng ghép vào nhau và gây ra những áp bức nặng nề đối với phụ nữ da đen. Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh giành quyền cho phụ nữ trong giai đoạn cầu dường như các nhà nữ quyền chưa có điều kiện đi vào các vấn đề đặc dù của phụ nữ da màu nói chung và da đen nói riêng. 3. Cuộc đấu tranh ở một số nước châu âu Đấu tranh giành quyền công dân: Vào thế kỷ XIX, phụ nữ tất cả các nước đều không có quyền bầu cử, đến năm 1866, một kiến nghị do 1.500 phụ nữ ký tên được trình lên Nghị viện
  • 69.
    Anh, đòi nhữngcuộc cải cách bầu cử đang được thảo luận lúc ấy phải bao gồm cả quyền bầu cử cho phụ nữ. Tuy nhiên, kiến nghị không lọt tai các nghị sĩ là nam giới và bị phớt lờ. Để đáp lại, những người tổ chức lập một hội quốc gia vì quyền bầu cử của phụ nữ vào năm tiếp theo, và tiếp tục kiến nghị đòi mở rộng phương thức bầu cử để phụ nữ có quyền tham gia. Năm 1893, cuộc đấu tranh đòi quyền bầu cử cho phụ nữ lan rộng sang New Zeland và cũng vào năm này, phụ nữ New Zeland đã chính thức có được quyền lợi chính đáng trên. Sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, phong trào đòi quyền công dân cho phụ nữ diễn ra ở hàng loạt các nước châu âu. Kết quả là từ năm 1919 phụ nữ thụy Điển giành được quyền bầu cử, ứng cử ở địa phương và nghị viện. Năm 1921, nước này có người phụ nữ đầu tiên làm Bộ trưởng. Năm 1920, phụ nữ Mỹ giành được quyền bầu cử (trong khi nước Mỹ tuyên bố độc lập với Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng về bình đẳng năm 1776, còn người da đen giành được quyền bầu cử vào năm 1965). Năm 1928, phụ nữ Anh giành được quyền bầu cử (trong khi đó, cách đây hơn 700 năm, Hiến chương Muông Chúa ra đời, ở Anh đã có nghị viện). Đến năm 1987, phụ nữ ở 115 nước trên thế giới được quyền bầu cử. Tuy nhiên, do không có quyền chính thức về mặt chính trị, phụ nữ bị loại ra khỏi các cuộc vận động hành lang chính trị (con đường mà các nhà cải cách vẫn theo đuổi để đạt mục tiêu của mình). Do vậy, các nhóm phụ nữ quay sang xem xét trực tiếp hơn bản thân các hiện tượng bất bình đẳng giới trong đời sống. Họ thấy rằng rất ít thành quả thực tế dẫn đến việc cải thiện địa vị chính trị xã hội của phụ nữ trong giai đoạn này ở nhiều nước. Đầu thế kỷ XX, phong trào nữ quyền tại Anh đã có ảnh hưởng lớn trên thế giới, ngang hàng với Mỹ: Những cuộc diễu hành và mít tinh trên đường phố thường được tổ chức ở cả hai nước. Các phong trào phụ nữ cũng nở rộ ở các nước châu âu khác. Phong trào đấu tranh vì các quyền lợi khác:
  • 70.
    Sau khi đượcquyền bầu cử, phụ nữ nhận ra rằng, quyền bầu cử không có nghĩa là họ được bình đẳng trong các lĩnh vực khác. Sự phân biệt nam nữ chủ yếu diễn ra ở nơi làm việc, đồng lương bị phân biệt, điều kiện sống, gia đình, phong tục tập quán, quấy rối tình dục, bạo lực chống phụ nữ… Phong trào phụ nữ bắt đầu hướng vào các vấn đề: đòi bình đẳng trong việc làm, thu nhập, đòi được nâng cao trình độ… đưa đến những thay đổi đặc trưng trong đời sống phụ nữ. Phong trào phụ nữ thúc đẩy việc nghiên cứu, điều tra, phơi bày các hình thức bóc lột phụ nữ và từ đó việc xem xét phụ nữ với tư cách là 1/2 nhân loại đã được đặt ra. Phong trào được coi là thực sự mạnh mẽ bắt đầu từ những năm 1960. Những năm 70 của thế kỷ XX ra đời hàng loạt đạo luật: ở Anh có đạo luật lương ngang nhau (12/1975), đạo luật chống mọi hình thức phân biệt đối xử nam nữ. Ở Thụy Điển có Luật Bảo hiểm bố mẹ, quy định quyền bình đẳng trong nghĩa vụ, chăm sóc với con cái (các quy định về con ốm, bố nghỉ; vợ chồng thay nhau nghỉ đẻ…). II. PHONG TRÀO PHỤ NỮ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI Sự ra đời hàng loạt nước XHCN với chính sách bình đẳng nam nữ làm cho phụ nữ được bình đẳng hơn với nam giới đã có tác động đến nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phương Tây. Vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX, đặc biệt là từ năm 1960, các phong trào phụ nữ trở lại nổi bật ở Mỹ. Các phong trào này cũng chịu ảnh hưởng của các phong trào dân quyền và phong trào sinh viên. Nhiều phụ nữ rất tích cực trong các cuộc đấu tranh kể trên, nhưng lại bị các phần tử nòng cốt là nam giới chỉ dành cho vai trò thứ yếu. Do vậy, phụ nữ bắt đấu thành lập các tổ chức độc lập của họ. Trong hơn 30 năm qua, thuyết nữ quyền đã có ảnh hưởng cơ bản trên toàn thế giới, kể cả ở những nước đang phát triển. III. PHONG TRÀO PHỤ NỮ TỪ NĂM 1975 - 1985 Phụ nữ nhận thấy: Luật có thay đổi song không có hiệu quả với những hình thức áp bức về tư tưởng. Luật không có hiệu lực với gia đình hay đời
  • 71.
    sống riêng củaphụ nữ. Luật không có hiệu lực đối với việc trợ cấp chống nạn hãm hiếp, mại dâm… Nghĩa là nguồn gốc cơ bản của áp bức phụ nữ vượt ra ngoài ảnh hưởng của pháp luật và tuỳ thuộc vào điều kiện vật chất, điều kiện văn hoá, tinh thần và tập quán xã hội. Những nhận định quan trọng này đã đưa phong trào phụ nữ hướng đến các mục tiêu toàn diện trong cả pháp luật và đời sống, tính đến vai trò và vị trí của nam và nữ trong việc làm và gia đình. Bình đẳng nam nữ đã được ghi nhận trong Hiến chương của LHQ năm 1945, song vấn đề mới chỉ được xem xét dưới góc độ quyền con mười. Trong thập kỷ phát triển thứ hai của LHQ (1970 - 1980) (thập kỷ phát triển thứ nhất của LHQ là từ năm 1960 - 1970), mối quan tâm đến phụ nữ đã được đề cập trong bối cảnh phát triển toàn cầu. Cách tiếp cận mới này đã thu hút phụ nữ vào quá trình phát triển và nó đã trở thành công thức cho chiến lược phát triển của LHQ những năm 70 của thế kỷ XX. Tuyên bố năm 1975 là năm Quốc tế phụ nữ và từ năm 1975 - 1985 là Thập kỷ quốc tế phụ nữ đã là một bước tiến quan trọng trong phong trào phụ nữ và phong trào dân chủ xã hội. Đây cũng là một đòn đánh mạnh vào chủ nghĩa phụ quyền toàn cầu. Hội nghị Phụ nữ thế giới lần thứ nhất được tổ chức tại Mêhicô năm 1975. Đây cũng là năm Quốc tế Phụ nữ. Mục đích của năm này là xác định những yêu cầu đối với một xã hội, mà trong đó phụ nữ được tham gia đầy đủ và thực sự vào đời sống chính trị, kinh tế, xã hội cũng như xây dựng các chiến lược nhằm thực hiện những yêu cầu này. Hội nghị đã chấp thuận kế hoạch hành động của thế giới. Mục đích của cả thập kỷ là kêu gọi các tổ chức chính phủ và phi chính phủ (NGO) ở cấp quốc gia và quốc tế trợ giúp cho việc thực hiện kế hoạch này. Khẩu hiệu của Hội nghị là “bình đẳng, phát triển, hoà bình”. Hội nghị đã đánh dấu sự phát triển phong trào phụ nữ từ cấp độ quốc gia sang cấp độ quốc tế. Căn cứ vào các nhu cầu của phong trào phụ nữ, vấn đề thành lập hàng loạt các tổ chức phụ nữ ở cấp quốc tế và khu vực đã được
  • 72.
    đặt ra. Trêncơ sở đó, Tổ chức Quỹ Phụ nữ LHQ (UNIFEM) đã được thành lập. Hội nghị Phụ nữ thế giới lần thứ hai được tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch) năm 1980. Đây là hội nghị giữa kỳ nhằm kiểm điểm tình hình hoạt động của 112 Thập kỷ quốc tế phụ nữ. Sau khi đánh giá những thành tựu và những cản trở trong 5 năm đầu của Thập kỷ phụ nữ. Hội nghị đã nâng cao nhận thức của thế giới về quan điểm cho rằng phụ nữ là bộ phận liên kết của mọi vấn đề mang tính toàn cầu trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Hội nghị đã quyết định tiến hành cuộc nghiên cứu tổng quát mang tính quốc tế về vai trò của phụ nữ trong sự phát triển toàn diện. Cuộc nghiên cứu này đã là một bước tiến có tính chất quyết định trong sự phân tích vai trò của phụ nữ trong các vấn đề phát triển then chốt được đặt ra cho Thập kỷ phát triển thứ ba của LHQ (1980 - 1990). Công trình nghiên cứu đã đưa ra một đánh giá có tính hệ thống, cần thiết để xây dựng chiến lược thu hút phụ nữ vào dòng chính của phát triển thế giới. Đây là một bước ngoặt đối với các vấn đề của phụ nữ trong hệ thống của LHQ. Hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ ba tại Nairobi, 1985. Đây là năm kết thúc Thập kỷ phụ nữ. Hội nghị nhằm đánh giá những thành tựu, định hướng cho thập kỷ sau, thông qua chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000. Chiến lược này đặc biệt đã cho thấy, phụ nữ là những trí thức, người ra chính sách, lập kế hoạch, người đóng góp và hưởng lợi từ phát triển. Thập kỷ phụ nữ đã tạo ra một sự thay đổi lớn. Nó đã thu hút sự chú ý trên toàn thế giới. Nhiều chính phủ đã đề cập đến vấn đề phụ nữ. Giai đoạn này đã ra đời 2 Công ước quan trọng của LHQ về phụ nữ: Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (The Convention on the Elimination of an Forms of Discrimination against Women - CEDAW) và Công ước chống mọi hình thức bóc lột tình dục đối với phụ nữ. Ngày 18/12/1979, CEDAW được Đại Hội đồng LHQ phê chuẩn. Đến ngày 3/9/1981, Công ước có hiệu lực sau khi nước thứ 20 thông qua. Việt Nam là quốc gia thứ 6 ký Công ước, vào ngày 29/7/1980; ngày 19/3/1982, Quốc hội
  • 73.
    phê chuẩn Côngước và là quốc gia thứ 35 phê chuẩn. Đến năm 2008, có 185 quốc gia là thành viên của CEDAW. “Công ước chống mọi hình thức bóc lột tình dục đối với phụ nữ” được LHQ thông qua đã xác định hình thức bóc lột tình dục với phụ nữ là kỹ nghệ mại dâm, hãm hiếp, quấy rối tình dục, buôn bán phụ nữ, quảng cáo trên thân thể hoặc nhân phẩm phụ nữ. IV. PHONG TRÀO PHỤ NỮ TỪ NĂM 1986 - 1995 Trong giai đoạn này, xuất hiện khuynh hướng đổi mới trong hầu hết các nước XHCN. Sự kết hợp giữa hai phong trào phụ nữ của các nước trong khối XHCN và TBCN đã diễn ra. Từ sau 1985, chính phủ nhiều nước đã sửa đổi pháp luật cho phù hợp với chiến lược Nairobi. Nhiều chương trình hành động phối hợp giữa chính phủ và phi chính phủ (NGO) đã được ký kết. Chính phủ đã thành lập các cơ quan chuyên môn, các chương trình đặc biệt trong đó khẳng định biến đổi lớn về tư tưởng, nhận thức trong phong trào phụ nữ quốc tế. Các hoạt động làm thay đổi chính sách, phân công lao động, phong tục, hợp tác quốc tế được tăng cường. Hội nghị phụ nữ thế giới lần thứ tư được tiến hành tại Bắc Kinh, năm 1995, đã đưa ra được nhiều ý tưởng và sự thống nhất mới cho phong trào phụ nữ. Khẩu hiệu “Bình đẳng, phát triển, hoà bình, hành động” (hành động là điểm mới) trở thành lời kêu gọi chung cho phụ nữ và nhân loại tiến bộ trên toàn cầu. Hội nghị phụ nữ lần thứ tư ở Bắc kinh dã thảo luận sâu sắc các vấn đề của phụ nữ trong phát triển. Đây là sự kiện đánh dấu một bước tiến mới trong phong trào phụ nữ thế giới và nhân loại tiến bộ. Lần đầu tiên phụ nữ các màu da, các chính kiến, các tôn giáo… đã tập hợp ở đây vì mục đích xây dựng một thế giới “bình đẳng, phát triển, hoà bình”. Chỉ tính riêng diễn đàn phi chính phủ đã tổ chức hơn 3.000 cuộc hội thảo với hàng chục nhóm chủ đề quan trọng. Chẳng hạn, vấn đề chính sách giới và sự phát triển con người; vấn đề gia đình; phụ nữ và chính trị; phụ nữ và lao động, việc làm; phụ nữ và văn hoá; phụ nữ và các chuẩn mực đạo đức;
  • 74.
    phụ nữ vànhững sai lệch của chuẩn mực xã hội; phụ nữ di cư; phụ nữ và sức khoẻ sinh sản; phụ nữ và truyền thông… Hội nghị đã nhận định rằng, bất bình đẳng về giới vẫn luôn là vấn đề căng thẳng trên thế giới hiện nay. Ở nhiều nơi, giải phóng phụ nữ chỉ là những khẩu hiệu mang tính hình thức và sự nỗ lực để giải quyết vấn đề phụ nữ sẽ không chỉ là nhiệm vụ của riêng một nước hay riêng một giới. Sự bất bình đẳng biểu hiện trước hết trên lĩnh vực quyền lực. Theo tư liệu chung tại hội nghị, thế giới hiện nay có khoảng vài chục phụ nữ là nguyên thủ quốc gia mà trong đó có không ít người may mắn được kế thừa chức vị của dòng họ. Ở hầu hết các nước phụ nữ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn trong nghị viện. Chẳng hạn ở Nhật bản là 3%, Pháp 6%, Mỹ 11 %, Nam Phi 25%, Thụy điển cao nhất là 47%. Hội nghị lập chiến lược hành động cho thập kỷ tới. Đây là hội nghị lớn nhất về quy mô, số lượng đại biểu, số lượng vấn đề, tính toàn diện của vấn đề. Một số chủ đề mới được đặt ra trong hội nghị: vấn đề giáo dục trẻ em gái; phụ nữ đạo Hồi; tình dục của phụ nữ cao tuổi; chống buôn bán phụ nữ và trẻ em; chống bạo lực với phụ nữ… Nghiên cứu về phong trào phụ nữ hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy rằng, nó đang vừa được mở rộng mạnh mẽ, vừa giữ được sự thống nhất chung về tư tưởng và phương hướng hoạt động. Nhìn chung, phong trào phụ nữ hiện nay đang xem xét các vấn đề bình đẳng giới trên một phạm vi rộng hơn nhiều so với các bậc tiền bối. Họ đòi bình đẳng kinh tế, quyền phá thai và sửa đổi luật li hôn. Cùng với thành tựu thực tiễn, phong trào phụ nữ cũng có ảnh hưởng trí tuệ vượt xa các thành công trước đây. Sau Hội nghị Bắc Kinh, các hội nghị khác như Hội nghị Bắc Kinh + 5 (năm 2000), Hội nghị Bắc Kinh + 10 (năm 2005) tại New York cũng để lại những dấu ấn tốt đẹp cho sự phát triển của phong trào phụ nữ. Phân tích lịch sử của phong trào phụ nữ các nhà nghiên cứu đưa ra ba xu hướng phát triển mạnh mẽ, gắn liền với ba giai đoạn (3 làn sóng nữ quyền):
  • 75.
    Làn sóng nữquyền thứ nhất (The First Wave of Feminism): từ khoảng năm 1848 - 1918. Các nhà nữ quyền đề cập đến hai lĩnh vực công cộng là đời sống riêng tư với mục tiêu đạt được các quyền phụ nữ trong phạm công cộng, đặc biệt là bầu cử, giáo dục và các vấn đề nghề nghiệp. Ví dụ, phụ nữ đòi được tham gia nghề được coi là của nam giới như nghề Y. Quan điểm của các nhà nữ quyền thời kỳ này là nhanh chóng đưa phụ nữ tham gia vào lĩnh vực công cộng, nơi trước đây chỉ dành riêng cho nam giới. Cuốn sách nổi tiếng “Một biện minh cho quyền phụ nữ” (A Vindication of the Right of Women) của Mary Wollstonecraft, xuất bản năm 1872, đã đặt vấn đề quan tâm đến giáo dục bình đẳng cho phụ nữ và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào nghề nghiệp, trong đó có nghề Y. Trong lĩnh vực đời sống riêng tư, các nhà nữ quyền có quan điểm mới trong việc phá thai, kiểm soát mức sinh, hôn nhân, sống độc thân. Những thành quả quan trọng khác bao gồm việc sửa đổi pháp luật để thực thi quyền phụ nữ. Chẳng hạn, phụ nữ khi lấy chồng, từ chỗ chỉ là tài sản, là sở hữu của chồng đến chỗ thành cá nhân có tư cách pháp lý, có quyền chăm con, có sở hữu tài sản và có quyền chủ động li hôn. Một quan tâm khác là tính dục. Các nhà nữ quyền đã thành công trong việc xoá bỏ một đạo luật vốn cho phép cảnh sát dùng vũ lực bắt bất kỳ phụ nữ nào bị nghi là điếm phải bị khám xét và giam giữ. Họ đưa ra quan điểm là mại dâm không phải là lỗi của phụ nữ mà ngược lại, xã hội đã đẩy phụ nữ và bắt buộc họ phải làm cái nghề bị khinh rẻ này. Các nhà nữ quyền cũng thành công trong việc bảo vệ các bé gái khỏi chế độ buôn nô lệ da trắng. Chúng bị trừng trị nghiêm khắc khi vụ việc bị phát giác. Trong thời kỳ này, phụ nữ có quan điểm khác nhau về tránh thai. Một số ủng hộ quyền của phụ nữ tận hưởng tính dục và kiểm soát mức sinh của mình: một số khác, nhất là phụ nữ công nhân thì chống lại việc kiểm soát mức sinh; số khác nữa cho rằng: hôn nhân là chẳng có gì đáng mong muốn, họ không tin rằng hôn nhân giữa nam và nữ là bình thường, là thêm vui.
  • 76.
    Làn sóng thứhai (The Second Wave of Feminism) từ 1918 đến 1968 với các mục tiêu về cải cách xã hội như chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ nghèo; vấn đề thực phẩm ở trường học cho trẻ em. Những quan điểm mạnh mẽ trong thời kỳ này đã được coi như “cuộc cách mạng” trong lĩnh vực riêng tư, đó là việc đề cập đến quyền tránh thai, chấm dứt áp bức tình dục của nam giới đối với phụ nữ… Làn sóng thứ hai có 2 xu hướng lớn là phong trào nữ quyền XHCN hay macxit và phong trào nữ quyền tự do, cấp tiến. Thời kỳ này đã ra đời cuốn sách “Sự huyền bí của nữ tính” (Feminie Mystique) của Betty Friedan, xuất bản năm 1963. Bà đã phỏng vấn 50 phụ nữ nội trợ của tầng lớp trên, những người được coi là hạnh phúc nhất do không phải vật lộn kiếm tiền và đời sống kinh tế, tinh thần đạt mức khá trong xã hội. Tuy nhiên, kết quả thật bất ngờ: những phụ nữ này cảm thấy cực kỳ bất hạnh, bất hạnh trong hôn nhân, làm việc quá sức với những việc không tên và hầu như không có quyền trong tài sản. Những phụ nữ này đã phát biểu về sự khốn khổ và thất vọng của mình trước tình trạng hiện tại. Họ đã gặp phải “một vấn đề không tên” trong công việc và đời sống hằng ngày, một sự bất mãn không diễn đạt được bằng khái niệm. Đó là sự thất vọng về bản chất và hình thức của công việc nội trợ, sự tù túng, không có tiền công và phụ thuộc vào nam giới về đồng lương và sự hạn chế mối giao tiếp xã hội đã đè bẹp họ trong đời sống gia đình. Ngoài ra, những phụ nữ đang làm việc cũng chịu sự bất công trong đối xử ở Anh đã xuất hiện các cuộc bãi công đòi trả lương ngang nhau trong các công việc ngang nhau (Do phụ nữ nhiều nước phải chịu chế độ lương bổng bị phân biệt với nam giới. Chẳng hạn, phụ nữ nhiều nước chỉ được hưởng 70 - 80% lương của nam giới trong cùng một công việc). Phong trào giải phóng phụ nữ (Womens Liberation Movement) là một trong những lực lượng cơ bản của làn sóng thứ hai. Thời kỳ này, phong trào nữ quyền đã là tiền đề ra đời những nghiên cứu về phụ nữ. Những nghiên cứu này bắt nguồn từ thực tiễn chính trị là
  • 77.
    nâng cao ýthức cho phụ nữ. Theo Eva Gamamikow, ban đầu các nghiên cứu phụ nữ được coi là nhằm khôi phục lại thế cân bằng trong XHH bằng cách đưa phụ nữ vào đó đo trước đây họ bị gạt ra ngoài các lĩnh vực khoa học và bị hạn chế trong gia đình để thực hiện các chức năng sinh học. Từ đó các nhà nữ quyền bắt đầu đặt dấu hỏi về lý do sự vắng mặt của phụ nữ trong cơ chế chính trị, trong các hoạt động xã hội. Những câu hỏi đó dẫn đến việc xét lại các quan niệm hiện có và làm thay đổi nó. Làn sóng thứ ba (The Thirt Wave of Feminism) từ 1968 đến nay liên quan đến cả các vấn đề công cộng và riêng tư của phụ nữ. Các vấn đề công cộng là sự chi trả bình đẳng đồng lương, chấm dứt sự phân biệt giới tính trong nghề nghiệp, vấn đề lương hưu, thế chấp tài sản… Các vấn đề riêng tư như việc tránh thai, nạo thai, bị hãm hiếp và bạo lực gia đình. Trong làn sóng thứ ba, phong trào nữ quyền đã phát triển toàn diện và sâu sắc trên rất nhiều ngành khoa học. Ngược lại, tất cả các ngành của Khoa học Xã hội và Nhân văn đã phát triển là cơ sở vững chắc cho các tư tưởng nữ quyền. Bản thân thuyết Nữ quyền cũng được phân chia theo các chuyên ngành: có các nhà nữ quyền địa lý, lịch sử, khoa học chính trị, tâm lý, xã hội học… Cả làn sóng thứ nhất và làn sóng thứ ba đều liên quan đến các hoạt động chính trị, với sự cải thiện tình trạng kinh tế của phụ nữ, chính sách chống bạo lực với phụ nữ, giáo dục của phụ nữ, sự phát triển địa vị của phụ nữ và sức khoẻ của trẻ em; sự đảm bảo rằng tiếng nói và kinh nghiệm của phụ nữ được coi trọng như nam giới. Một trong những khác biệt chính giữa làn sóng thứ nhất với làn sóng thứ ba trong thế giới nói tiếng Anh là sự liên quan đặc biệt với XHH: từ thái độ đại kiến thức. Nhìn chung, làn sóng thứ nhất đã đề cập đến việc mở ra giáo dục bậc trung học phổ thông tập huấn nghề nghiệp cho phụ nữ là bé gái. Trong làn sóng thứ nhất đã tồn tại một vài thách thức là việc thay đổi trật tự hàn lâm: phụ nữ muốn được vào học tại các trường học, đại học và muốn theo đuổi các chủ đề nghiên cứu. Đây là một cú “sốc” cho nhiều người trong
  • 78.
    kỷ nguyên màchỉ có nam giới mới được phép nghiên cứu môn Đại số, tiếng Hy Lạp, tiếng Do Thái, tiếng La Tinh và khoa học Vật lý. Hồi ức của Evi Glenn cho thấy, bà đã tức giận khi năm 1960 bà đến thư viện Lamont của trường Harvard, nơi không mở cửa cho sinh viên nữ. Các nhà nữ quyền nhận xét “Chúng ta (phụ nữ) đã không có thiên đường và đây là thời kỳ phân biệt giới tính” (Delamont, 2003). Mục tiêu của các nhà nữ quyền là tạo điều kiện để phụ nữ có thể tham gia vào các ngành khoa học và chứng minh rằng phụ nữ cũng rất xuất sắc. Tấm gương của nữ bác học vĩ đại người Ba Lan, Marie Curie, người hai lần được giải Nobel về vật lý và hoá học, người sinh viên và nữ giáo sư đầu tiên của trường đại học Pháp đã cổ vũ, khích lệ nhiều phụ nữ trong học vấn và đấu tranh. Nhà toán học nữ người Nga Kôvalepskaia cũng đã chứng minh khả năng tuyệt vời của phụ nữ trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, nơi trước đây vẫn được coi là chỉ có nam giới mới làm được. Các nhà nữ quyền phản đối tình trạng khoa học chỉ của riêng nam giới đến tận nửa đầu thế kỷ XX. Khi phụ nữ bị cấm đoán học các kiến thức của nam giới thì chính nó càng kích thích phụ nữ là cần thiết phải đạt được sự tiếp cận các kiến thức này và phải chiếm lĩnh nó có hiệu quả. Trong làn sóng thứ hai, việc nhấn mạnh các cải cách xã hội và quyền phúc lợi cũng giúp các nhà nữ quyền tìm ra được các cơ sở chung cho các kiến thức hàn lâm cơ bản về các ngành học cụ thể. Vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX, khi làn sóng thứ ba nổi lên, phụ nữ ở Anh và Mỹ đã được phép vào các lĩnh vực kiến thức dành cho nam giới. Phong trào nữ quyền ở làn sóng thứ ba đã tập trung vào sự thách thức của khoa học luận cơ bản, các phương pháp và nội dung của.sự hoà nhập” học thuật giữa nghiên cứu viên là nam và nữ. Các tạp chí về nữ quyền thời kỳ này đều đưa ra các nguyên nhân và những cố gắng của phụ nữ trong xã hội, trong học tập. Bên cạnh đó, hàng loạt các cuốn sách, nhiều tạp chí mới, hội nghị, lớp học với rất nhiều chủ đề về nữ quyền cũng ra đời. XHH là nền tảng phong phú cho các thách thức về nữ quyền tiến tới các kiến thức cơ bản. Mỗi
  • 79.
    một ngành học,nghệ thuật và khoa học xã hội đều thành lập và phát triển các ủy ban hoặc nhóm của các học giả nữ. Các ngành học nghiên cứu về phụ nữ đã truyền bá các quan điểm và kiến thức về nữ quyền lừ thời trung cổ đến nữ quyền nửa cuối thế kỷ XX và thế kỷ XXI. Các nguyên tắc chung đã được đưa ra là: - Phối hợp giữa các nhà XHH nữ quyền và sự hoà nhập các ngành học (hoặc như nhiều nhà nữ quyền đã đưa ra thuật ngữ về dòng chảy của nam giới). - Phân tích sự đa dạng của XHH nữ quyền như: nữ quyền XHCN của Michele Banett, nữ quyền cấp tiến của Sylvia Walby, nữ quyền tự do của Betty Friedan. Sự phát triển của phong trào nữ quyền tự do còn gắn với những khám phá mới của tư tưởng Simone De Beauvoir về giới tính thứ hai, về XHH và những cuộc thảo luận về sự phối hợp song hành giữa phong trào phụ nữ châu Phi và Mỹ. XHH nữ quyền đã lập ra các tạp chí, xuất bản nhiều sách báo và thay đổi các chương trình nghiên cứu trong nhiều cuộc thảo luận thực nghiệm. Sự phối hợp giữa nghiên cứu nữ quyền với các lý thuyết khác và với “Các nghiên cứu nam giới mới” đã được thảo luận. Bạo lực gia đình là một trong tám khía cạnh cá nhân, cuộc sống riêng đã trở thành một trong những chủ đề Xã hội học được quan tâm nhiều nhất trong khoảng 30 năm trở lại đây. Bạo lực gia đình, nơi đã hành hạ về thể xác và tình dục phụ nữ, nơi những đứa trẻ hoặc những người già đã trở thành nạn nhân cũng được nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phòng chống (Dobash và Dobash. 1992). Trong thời kỳ này, các nhà nghiên cứu khác đã khai thác về các công việc nội trợ (Oakley, 1974; Sullivan, 1997), tiền (Palh, 1990; Vogler, 1998), tiến tới sự độc lập (Finch và Grove, 1983) và sự lựa chọn thực phẩm có sự chuẩn bị (Charles và Kerr, 1998; Murcott, 1983). Các cán bộ nghiên cứu về các chủ đề hôn nhân, li dị và tái hôn đã sử dụng kiến thức từ các nghiên cứu về thực phẩm, tiền, bạo lực và lao động việc nhà (Delamont, 2003).
  • 80.
    V. PHONG TRÀOPHỤ NỮ HIỆN NAY Liên quan đến làn sóng thứ ba. Sau hội nghị Bắc Kinh năm 1995 là các Hội nghị Bắc Kinh +5 (năm 2000) và Bắc Kinh +10 (2005) tại New York. Ngoài ra còn rất nhiều hội nghị phụ nữ được diễn ra trong phạm vi toàn cầu, từng khu vực, từng nước. Phong trào phụ nữ cũng được coi là rất mạnh mẽ ở Châu Á, nơi đói nghèo và các phong tục khắt khe vẫn còn nặng nề. Các chủ đề đặt ra ở đây cũng mang tính toàn diện hơn, liên quan đến cả các vấn đề trong đời sống công cộng lẫn riêng tư của phụ nữ. Vai trò và vị trí của phụ nữ trong các hàn lâm viện, trường đại học ngày càng nâng cao cũng tạo điều kiện để các nghiên cứu về phụ nữ, gia đình được mở rộng. Việc trao đổi thông tin giữa các nhóm phụ nữ của các nước đã rất phát triển. Thời kỳ này nổi lên một sự kiện lớn. Đó là, Ủy ban CEDAW của LHQ, của khu vực, của Nhà nước, các tổ chức NGO đã mở rộng hoạt động tập huấn, truyền thông và các hoạt động cụ thể khác để theo dõi, giám sát thực hiện CEDAW ở các nước. Một vấn đề nữa được đặt ra là việc thực hiện 8 mục tiêu thiên niên kỷ (MDGs), đặc biệt là mục tiêu thứ ba về nâng cao bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Dưới đây là danh mục 8 mục tiêu nói trên: Mục tiêu 1: Xóa đói giảm nghèo Mục tiêu 2: Giáo dục phổ thông cơ sở Mục tiêu 3: Nâng cao bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ Mục tiêu 4: Giảm chết trẻ sơ sinh Mục tiêu 5: Cải thiện sức khỏe bà mẹ Mục tiêu 6: Chống đại dịch HIV/AIDS, sốt rét Mục tiêu 7: Bảo đảm phát triển môi trường bền vững Mục tiêu 8: Xây dựng hệ thống đối tác phát triển toàn cầu Nhiều tổ chức nghiên cứu và hành động khu vực hoạt động rất có hiệu quả về vấn đề phụ nữ, giới, trong số đó có các tổ chức tại Châu Á như:
  • 81.
    Tổ chức quốctế giám sát hành động về quyền của phụ nữ châu Á - Thái Bình Dương (International Womens Right and Action Watch - IWRAW Asia - Pacific); Tổ chức Diễn đàn phụ nữ châu Á và Luật pháp (Asia Pacific Forum on Women, Law and Development - APWLD); Tổ chức Con đường mới cho khu vực châu Á (Asian Regional and New Alternative - ARENA); Tổ chức Diễn đàn châu Á Forum Asia); Chi nhánh chống buôn bán phụ nữ toàn cầu (Global Aliance Against Trafficking in Women GAATW); Hiệp hội nghiên cứu phụ nữ châu Á (Asian Association Women Studies - AAWS)… Rõ ràng bất bình đẳng giới là nguyên nhân dẫn đến các cuộc đấu tranh của phụ nữ và nhân loại tiến bộ trong phong trào phụ nữ quốc tế. Nó cũng là cơ sở để xác định đối tượng nghiên cứu của các khoa học về giới, trong đó có XHH giới. Trên thực tế, phong trào phụ nữ có thể hoà nhập với các phong trào đấu tranh vì sự bình đẳng xã hội khác, vì đối tượng dấu tranh của phụ nữ không chỉ là các chế độ phân biệt chủng tộc, phân biệt giai cấp mà còn là chế độ trọng nam khinh nữ. Có 5 quan điểm về bình đẳng được LHQ xác định là: phúc lợi; bình đẳng; chống nghèo khổ; hiệu quả; giành quyền lực. BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU Năm quan điểm cơ bản của LHQ 1. Phúc lợi: Có sớm nhất (1950 - 1970) - Đưa phụ nữ vào sự phát triển với tư cách người mẹ tốt hơn (công nhận vai trò sinh sản). - Tìm cách đáp ứng nhu cầu thực tế, thực dụng: phân phát viện trợ lương thực, chống suy dinh dưỡng, thực hiện kế hoạch hoá gia đình. Quan điểm này rất phổ biến và không bị chỉ trích. Phụ nữ coi như người hưởng thụ thụ động các kết quả phát triển. 2. Bình đẳng: Dùng trong thập kỷ phụ nữ.
  • 82.
    - Giành quyểnbình đẳng cho phụ nữ trong quá trình phát triển (công nhận 3 vai trò của phụ nữ: là vợ, mẹ và công dân). - Tìm cách đáp ứng nhu cầu chiến lược thông qua sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước và các tổ chức quốc tế trao quyền tự trị về kinh tế và chính trị cho phụ nữ. Quan điểm này không được phổ biến trong các Chính phủ, đặc biệt là đạo Hồi và bị chỉ trích là chủ nghĩa nữ quyền phương Tây. Phụ nữ được coi như người tích cực tham gia vào sự phát triển. 3. Chống nghèo khổ: Quan điểm thứ hai của thập kỷ phụ nữ. Quan điểm này giải thích về sự bình đẳng dịu hơn quan điểm trên. - Đảm bảo cho phụ nữ nghèo tăng năng suất lao động. - Tình trạng nghèo khổ của phụ nữ được coi là một vấn đề của tình trạng kém phát triển chứ không phải là tình trạng phụ nữ phải chịu địa vị thấp kém (công nhận vai trò sản xuất to lớn của phụ nữ). - Tìm cách đáp ứng nhu cầu thực dụng của giới là có thu nhập đặc biệt tà trong các dự án có quy mô nhỏ. Quan điểm này phổ biến trong các tổ chức NGO. 4. Hiệu quả: Quan điểm thứ ba của thập kỷ phụ nữ. - Đảm bảo phong trào thực sự và có hiệu quả của phụ nữ. - Công nhận sự đóng góp về kinh tế của phụ nữ. - Sự tham gia của phụ nữ gắn với vấn đề bình đẳng. - Đáp ứng các nhu cầu thực dụng của giới. Quan điểm này phổ biến và chiếm ưu thế, đặc biệt là từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1980. 5. Giành quyền lực: Quan điểm mới nhất do phụ nữ thế giới thuộc thế giới thứ ba nêu ra.
  • 83.
    - Phụ nữcó quyền lực thông qua sự tự tin và sự hợp tác có thiện chí của các Chính phủ và nam giới. - Vị trí thấp kém của phụ nữ được coi là vấn đề lớn của con người, là hậu quả của sự áp bức của thực dân cũ và mới. - Đáp ứng nhu cầu chiến lược của giới thông qua việc vận động từ cơ sở lên. Công nhận 3 vai trò của phụ nữ. Quan điểm này là phổ biến trong các tổ chức NGO của phụ nữ thuộc thế giới thứ 3. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Theo anh/chị những sự kiện nào đáng chú ý trong phong trào phụ quốc tế? 2. Những dự án nào đã thực hiện tại Việt Nam mà anh/chị biết thể hiện 5 quan điểm trên của LHQ? Bài 7. CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ XÓA BỎ MỌI HÌNH THỨC PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI PHỤ NỮ (CEDAW) I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA CEDAW Chúng ta đang bước vào những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, một thế kỷ đầy biến động. Thế kỷ này là sự tiếp nối và phát triển vĩ đại các cuộc đấu tranh vì một xã hội tiến bộ, công bằng và phát triển bền vững. Cho đến nay, nhiều cuộc tranh cãi mang tính Toàn cầu xoay quanh các vấn đề về dân chủ và nô dịch, áp bức và bình đẳng đã nổ ra. Người ta thấy có những khác biệt về vấn đề phụ nữ, bình đẳng giới giữa các nước tiến bộ với nhóm Hồi giáo cực đoan. Tuy nhiên, từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX đến nay, bản đồ các nước đàn áp phụ nữ ngày càng bị thu hẹp trên thế giới.
  • 84.
    Một trong nhữngnền tảng của sự phát triển bình đẳng giới là Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Convention on the Elimination of An Forms of Discrimination Against Women - CEDAW). Năm 1945, Tổ chức LHQ đã thành lập. Đây là cơ quan quốc tế có quyền lực cao nhất nhằm tạo ra sự cân bằng và thúc đẩy phát triển toàn cầu Năm 1960, khi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Mỹ, chủ nghĩa Apacthai (Apartheid) ở Nam Phi đang tồn tại thì Công ước chống phân biệt chủng tộc cũng ra đời. Đây là điều lệ quốc tế đầu tiên chống lại sự phân biệt giữa các nhóm người có màu da khác nhau. Vấn đề quyền công dân của người da đen được đặt ra mạnh mẽ ở Mỹ với mục sư Luther Keng và khái niệm “phân biệt” đã trở thành phổ biến trong các phong trào đấu tranh của các nhóm yếu thế. Người ta đấu tranh đòi quyền chống lại sự phân biệt đối xử, quyền con người, trong đó bao hàm quyền chính trị, quyền văn hoá: mọi người đều được đi học, được bảo vệ sức khoẻ… CEDAW đã hưởng các thành quả của các phong trào đấu tranh trên và chịu ảnh hưởng của khái niệm “phân biệt” khi đưa ra nội dung của Công ước là “Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”. CEDAW đã gộp được các luật văn hoá, chính trị, xã hội, có điều lệ chung. Trong Công ước, mỗi quyền đều có cơ chế, có Hội đồng, có Uỷ ban CDAW (trước có 7 Uỷ ban, nay có 8 Uỷ ban). Công ước cũng là sự tiếp nối và hoàn chỉnh nhất của các công ước, tuyên bố về quyền con người của phụ nữ trước đó như Công ước về quyền chính trị của phụ nữ 1952; Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn năm 1957; Công ước về trấn áp tội buôn người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949; Tuyên bố thế giới về quyền con người năm 1948; Tuyên bố về xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ ngày 7/11/1967. Có thể nói, CEDAW là kết tinh tư tưởng tiến bộ của loài người đối với phụ nữ. Đây là văn kiện quốc tế mang tính ràng buộc pháp lý đầu tiên nhằm ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ nữ và xây dựng một chương trình nghị sự để thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ.
  • 85.
    Thuật ngữ “phânbiệt đối xử với phụ nữ” mang ý nghĩa là bất kỳ sự khác biệt, hạn chế hay loại trừ nào dựa trên cơ sở giới tính, có tác dụng hay mục đích ngăn cản, vô hiệu hoá sự thừa nhận phụ nữ được hưởng quyền con người và quyền tự do cơ bản trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự hay bất kỳ lĩnh vực nào khác. Phân biệt đối xử là kết quả của sự bất bình đẳng do xã hội phụ quyền tạo nên và chính nó lại tiếp tục xác lập sự bất bình đẳng trên phạm vi toàn cầu. Trong CEDAW, người ta đã phân loại khái niệm “phân biệt đối xử” Thành hai loại. Đó là phân biệt đối xử trực tiếp (có chủ ý) và gián tiếp (không chủ ý), có sự phân biệt do phong tục tập quán nhưng cũng có sự phân biệt do chính sách, luật pháp. Chẳng hạn, Luật Lao động của Việt Nam hiện nay quy định tuổi nghỉ hưu của phụ nữ là 55 và nam giới là 60 đã gây ảnh hưởng lớn tới việc đào tạo và đề bạt phụ nữ, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị và khoa học. Luật cũng quy định 49 ngành, nghề cấm phụ nữ làm nhưng hiện nay, do sinh kế, phụ nữ vẫn phải làm trong lĩnh vực kinh tế phi chính thức và không được bảo hộ. Phân biệt đối xử với phụ nữ xảy ra trong tất cả các lĩnh vực: trong chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, kinh tế, xã hội. Đó là việc không xem xét đến những khác biệt sinh học và khác biệt do xã hội quy định, áp dụng những tiêu chuẩn nam tính, không quan tâm đến những nhu cầu đặc thù của phụ nữ. II. NỘI DUNG CHÍNH CỦA CEDAW CEDAW thiết lập một hệ thống dựa trên 3 nguyên lắc lớn. Đó là: bình đẳng trong thực tế; không phân biệt đối xử; nghĩa vụ quốc gia. Công ước bao gồm lời mở đầu, 6 phần và 30 điều. Ngay trong phần mở đầu, Công ước đã xác nhận rằng: Sự phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn đang là một vấn đề nghiêm trọng trên thế giới và chính nó đã vi phạm các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tôn trọng phẩm giá con người, là một trở ngại đối với việc phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá, cản trở sự tăng trưởng của xã hội, gia đình và gây khó khăn cho sự phát triển đầy đủ các khả năng tiềm tàng của phụ nữ trong việc phục vụ đất nước và loài người (CEDAW, 2007).
  • 86.
    CEDAW đã đưara định nghĩa về bình đẳng giới: Bình đẳng giới là một tình trạng lý tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí xã hội như nhau, được tạo cơ hội và điều kiện thích hợp để phát huy đủ khả năng của mình nhằm đóng góp cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả của quá trình phát triển đó. Trên cơ sở đó, Công ước đã đưa ra các điều khoản cụ thể và toàn diện để Chính phủ các nước làm cơ sở pháp lý cho việc xoá bỏ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, xã hội, việc làm, văn hoá, giáo dục, hôn nhân, gia đình, phân công lao động, cơ hội, nghề nghiệp, lương bổng, chăm sóc sức khoẻ. Các quyền của phụ nữ được CEDAW bảo vệ là: - Quyền được giáo dục (Điều 10 và 14); Quyền được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đầy đủ, bao gồm cả dịch vụ kế hoạch hoá gia đình (Điều 11, 12 và 14); Quyền vay tiền ngân hàng và tham gia các hình thức tín dụng khác (Điều 13 và 14); Quyền được tham gia vào các hoạt động giải trí, thể thao và các mặt của đời sống văn hoá (Điều 10, 13 và 14); Quyền được quyết định số con và khoảng cách giữa các con (Điều 16); Quyền được chia sẻ nghĩa vụ làm cha mẹ (Điều 5 và 16); Quyền được hưởng các cơ hội làm việc như nhau cũng như các phúc lợi xã hội (Điều 11 và 14); Quyền được thù lao như nhau trên cơ sở thành quả làm việc (Điều 11); Quyền được bảo vệ mọi hình thức bạo lực về thể chất, tình dục, cảm xúc, tinh thần và kinh tế (Điều 6); Quyền được tham gia bầu cử, ứng cử và tham gia những chức vụ trong bộ máy Nhà nước (Điều 7); Quyền được đại diện chính phủ của họ ở cấp quốc tế (Điều 8); Quyền được nhập, thay đổi hay giữ nguyên tắc quốc tịch và quyền công dân (Điều 9). Phần 5 của Công ước đã đề cập đến một số quy chế và cơ chế để thực hiện Công ước. Có thể nói kết cấu của Công ước rất rõ ràng và chặt chẽ, vừa mang tính khoa học, vừa mang tính hiện thực. Như vậy, bình đẳng giới được đề cập một cách toàn điện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trong CEDAW. Đó là các lĩnh vực cơ bản như chính
  • 87.
    trị; kinh tế,việc làm; giáo dục; chăm sóc sức khoẻ; hôn nhân và gia đình. Công ước xuất phát từ vấn đề nhân quyền, quyền con người của nam cũng như nữ và xuất phát từ tính hiệu quả của phát triển. Nội dung bình đẳng giới trong CEDAW: - Bình đẳng về chính trị hay các quyền hợp pháp của phụ nữ với tư cách là công dân. - Bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế, việc làm. - Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục. - Bình đẳng trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ: Phụ nữ được tạo điều kiện để hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, kể cả dịch vụ kế hoạch hoá gia đình. Bảo đảm cho phụ nữ có những dịch vụ thích hợp liên quan đến việc thai nghén, sinh đẻ và chăm sóc sau khi đẻ. - Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình. Phụ nữ được đảm bảo các quyền và điều kiện sau: + Tự do chọn người kết hôn, chỉ kết hôn khi được tự do quyết định và hoàn toàn tự nguyện. + Quyền và trách nhiệm như nhau giữa vợ và chồng trong thời gian hôn nhân cũng như khi li hôn. + Quyền và trách nhiệm như nhau giữa vợ và chồng trong vai trò làm cha mẹ và trong việc chăm sóc con cái. + Quyền như nhau giữa vợ và chồng trong việc sở hữu, kiểm soát, quản lý, hưởng thụ và sử dụng lài sản. III. Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA CEDAW ĐỐI VỚI PHONG TRÀO PHỤ NỮ THẾ GIỚI Kể từ khi CEDAW ra đời, trải qua bao biến động trong phong trào dành trị của thế giới nói chung và phong trào phụ nữ nói riêng, càng mấy người ta càng thừa nhận sự đúng đắn của CEDAW. Cho đến nay, CEDAW đã nhận được sự hoan nghênh và ủng hộ của hàng trăm quốc gia, hàng nghìn các tổ
  • 88.
    chức chính phủvà phi chính phủ trên khắp thế giới. Đến hết tháng 11/2006 đã có 185 nước phê chuẩn và cam kết thực hiện các điều khoản của Công ước, chiếm hơn 90% thành viên LHQ. Công ước xứng đáng đóng vai trò kim chỉ nam cho các hoạt động vì sự tiến bộ, bình đẳng và phát triển hoà bình. Tất cả các nước đã phê chuẩn đều đã cố gắng đưa tinh thần của Công ước và các chính sách, chương trình cụ thể của nước mình ở các mức độ khác nhau, nhờ vậy nhiều quốc gia đã đạt được các thành tích to lớn trong việc xoá bỏ dần sự phân biệt giới. Cho đến nay, việc thực hiện CEDAW đã đem lại những chuyển biến căn bản trong nhiều nước. Báo cáo về phát triển con người năm 2007-2008 (The Human Development Repon) của UNDP đã đưa ra những chỉ số phát triển của con người - HDI và những chỉ số liên quan đến giới - GDI năm 2006 để đo mức độ phát triển của con người và mức độ bình đẳng giới trong các xã hội. Trong 177 nước được xếp hạng, nếu lấy giá trị cao nhất của sự bình đẳng giới hoàn hảo là 1,00 thì năm 2006, chỉ số GDI của Iceland là cao nhất: 0,962; tiếp theo là Australia: 0,960; Norway: 0,957; Canada: 0,956; Thuỵ Điển: 0,955. Đứng ở vị trí cuối cùng là Siera Leone với chỉ số GDI là 0,320 (UNDP, 2007 - 2008). Một so sánh quan trọng mà báo cáo đã đưa ra là so sánh giữa chỉ số HDI với GDI. Bởi vì cơ sở của sự bình đẳng là hướng tới nâng cao khả năng của con người mà nó cần phải được phân phối đều cho cả hai giới. Tuy nhiên, hầu hết các nước đều có chỉ số HDI cao hơn GDI. Điều đó chứng tỏ rằng, bình đẳng giới vẫn chưa phải là mối quan tâm đặc biệt của các chính phủ. Mặc dù trong hai thập kỷ qua, nhiều nước Ả rập đã có nhiều cố gắng trong việc cải thiện mối quan hệ giới, đặc biệt là nâng cao giáo dục cho phụ nữ, song do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Hồi giáo cực đoan, họ vẫn còn rất nhiều việc phải làm trên vấn đề này. Một số nước có trình độ phát triển kinh tế chưa cao hoặc còn rất nghèo song họ đã có những chính sách tích cực quan tâm đến phụ nữ như các nước XHCN, trong đó có Việt Nam, nên chỉ số giới đạt được ở các nước này
  • 89.
    đã cao hơnmột số nước giàu có hơn họ. Điều này đã đưa đến một kết luận quan trọng là: Không phải cứ nước nào có mức độ tăng trưởng kinh tế cao là nước đó đạt được sự bình đẳng giới tốt hơn. Bình đẳng giới còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng khác, đó là trình độ nhận thức của Chính phủ và nhân dân nước đó, các yếu tố văn hoá, giáo dục và các mặt phát triển khác. Hiện nay, chưa có một nước nào trên thế giới có điều kiện để thực hiện tất cả các điều khoản của Công ước một cách hoàn hảo (từ phần 1 đến phần 4). Bằng chứng phổ biến nhất là ở tất cả các nước dù đang phát triển hay phát triển, phụ nữ phải làm nhiều giờ hơn nam giới. Gánh nặng mà phụ nữ phải chịu trung bình trong các nước đang phát triển là 53% và trong các nước công nghiệp phát triển là 51%, song chỉ một nửa tổng số thời gian lao động của phụ nữ và nam giới là thuộc về các hoạt động kinh tế. Nửa kia là lao động trong gia đình hoặc các hoạt động cộng đồng mà trong đó hoạt động nội trợ thường phụ nữ phải đảm nhiệm. Theo tính toán: ở các nước công nghiệp có khoảng 2/3 lao động nam giới được trả công, còn khoảng 1/3 là không được trả công. Đối với phụ nữ thì ngược 2/3 lao động không được trả công. Trong các nước đang phát triển, hơn 3/4 lao động nam giới là ở trong thị trường. Vì thế, họ có thể thu nhập cao và những đóng góp của họ được định hình rõ rệt. Trong khi đó, phần lớn lao động của phụ nữ là lao động không được trả công, không được nhìn nhận hoặc bị coi là ít giá trị. Hơn nữa, lao động của nam giới ngoài thị trường mang tính hợp tác cao hơn, lao động của phụ nữ ở nhà được coi là độc diễn với những công việc nội trợ hoặc chăm sóc con cái. Phụ nữ thường là trụ cột gia đình trên thực tế trong khi nam giới được coi là trụ cột gia đình trên danh nghĩa và quyền lực. Song, cũng ngay từ các nước được coi là thiên đường của phụ nữ, thu nhập của phụ nữ tính theo lương cũng chỉ đạt được khoảng 3/4 của nam giới. Số lượng phụ nữ lãnh đạo và tham gia hoạt động chính trị chiếm rất nhỏ so với nam giới: Họ chỉ chiếm 10% số ghế tại Nghị viện và 6% trong Chính phủ. Ở các nước đang phát triển, phụ nữ chỉ chiếm dưới 7% trong số các nhà quản lý. Tại 55 nước trên thế giới, từ những nước rất nghèo như
  • 90.
    Bhutan, Etiopia đếnnhững nước khá giàu như Hàn Quốc, Singapore, Hy Lạp và rất giàu như Kuwait, phụ nữ chỉ chiếm dưới 5% số ghế trong nghị viện. Phần lớn phụ nữ nghèo không có quyền sinh sản và không được chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Phụ nữ còn là nạn nhân của các tập tục man rợ như cắt bỏ bộ phận sinh dục ngoài ở châu Phi, chế độ đa thê ở nhiều nước Hồi giáo, nạo thai bé gái, là nạn nhân của các vụ bạo lực bao gồm cả bạo lực xã hội và bạo lực gia đình, các vụ cưỡng bức làm mại dâm, bị bóc lột tình dục, bị buôn bán như nô lệ. Một so sánh đầy thuyết phục là: trong một số lĩnh vực, sự có mặt của phụ nữ cao hơn nam giới. Đó là trong lao động, việc làm, nghèo đói, mù chữ hoặc có trình độ văn hoá thấp; ngược lại, ở các lĩnh vực khác, số phụ nữ có mặt thường thấp hoặc rất thấp so với nam giới. Đó là các lĩnh vực chính trị, giáo dục, khoa học, văn hoá, hưởng thụ, quyền lực. BÀI ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU FGM (Female Genital Mutilation), hay FSM (Female Sexual Mutilation) Thực tiễn văn hoá trong gia đình đã xúc phạm quyền phụ nữ Hiện nay trên thế giới có rất nhiều phong tục đang là một dạng bạo lực chống phụ nữ. Một trong những loại tội ác này là tục cắt bộ phận sinh dục ngoài của phụ nữ (FGM, hay FSM). Đây là một tục lệ từ lâu đời, người ta đã tin tưởng rằng nó được ra đời từ Ai Cập khoảng 2.000 năm trước đây, ước khoảng 135 triệu em gái và phụ nữ trên thế giới bị cắt và 2 triệu em gái có nguy cơ bị cắt mỗi năm. FGM là một tục có ở nhiều nước châu Phi, bao gồm Chad, Côte d’lvoira, Ethiopia, Kenya, Man, Nigoria, Sicrra, Leone, Sudan, Uganda và Cộng hoà Tanrania. Ở Trung Đông, FGM đã có mặt ở Ai Cập, Oman. Các nước ảập và Yemen, ở các nước châu Á như Ấn độ, lndonesia, Malaysia và Sirilanca. Những người nhập cư từ các nước này cũng thực hành FGM ở Australia,
  • 91.
    Canada, Đan Mạch,Pháp, Ý, Hà Lan, Thụy Điển, Anh và Mỹ. Nó đã tồn tại trong các nhóm bản xứ ở Trung và Nam Mỹ. Các hình thức và phương pháp cắt bộ phận sinh dục ngoài khác nhau tuỳ theo từng nước hoặc nhóm dân tộc. Tuy nhiên, FGM có thể được xác định theo 2 nhóm sau đây: 1. Cắt bao quy đầu hoặc cắt bộ phận ngoài của âm vật được biết đến trong các nước theo đạo Hồi như là một truyền thống (Sumna). Đây là một hình thức của FGM và ảnh hưởng không nhiều tới phụ nữ. Nhưng ở đây là một khuynh hướng của tất cả các hình thức đang bị làm cho mê muội trong khuôn khổ “cắt âm vật phụ nữ”. 2. Cắt xén, nghĩa là cắt âm vật và tất cả các bộ phận tối thiểu là 2/3. Phía trước và thường là tất cả phần lớn của cả hai mặt của âm hộ ngoài. Lý do chính là tiếp tục phong tục và truyền thống. Trong các xã hội mà FGM đang hình thành, các bé gái không được coi là người lớn hoặc người phụ nữ đầy đủ cho đến lúc cô ta trải qua phẫu thuật. Theo Asian Week, 2002. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Tại sao nói CEDAW là công ước tiến bộ nhất hiện nay trên vấn đề bình đẳng giới? 2. Mối quan hệ giữa CEDAW với pháp luật Việt Nam về giới hiện nay. 3. Liên hệ tình hình thực hiện CEDAW với tập tục FGM (FSM). Bài 8. CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH GIỚI Phân tích giới là công cụ để các nhà lập kế hoạch hiểu được tình hình, đánh giá nhu cầu của nam và nữ trước khi bắt đầu lập kế hoạch hành động có tính đến giới.
  • 92.
    Phân tích giớilà sự mô tả một cách trung thực về hoàn cảnh kinh tế - xã hội của nam và nữ, bằng cách xem xét những hoạt động mà nam giới và phụ nữ thực hiện, tìm hiểu khả năng của họ trong việc tiếp cận với những cơ hội và nguồn lực như thế nào. Sau đó xem xét ý nghĩa của những khác biệt này đối với việc thiết kế dự án. I. TẠI SAO CHÚNG TA CẦN PHÂN TÍCH GIỚI Phân tích giới giúp chúng ta có được những thông tin cụ thể về những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực của một chương trình, kế hoạch, dự án, chính sách… đối với phụ nữ và nam giới. Từ kết quả phân tích có thể hiểu được nguyên nhân để đưa ra các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của chương trình… thông qua việc đảm bảo lợi ích của cả phụ nữ và nam giới. Chú ý: Khi nghiên cứu thực thi chính sách giới, cần phải xác định xem những trở ngại gặp phải có tính chuyên môn hay chính trị ở mức độ nào. Nam và nữ đóng những vai trò khác nhau như thế nào trong xã hội, có mức độ kiểm soát khác nhau đối với các nguồn lực và có những nhu cầu khác nhau, vì vậy phải tính đến tất cả các yếu tố này. II. TIẾN HÀNH PHÂN TÍCH GIỚI KHI NÀO? Phân tích giới được tiến hành ở tất cả các bước của chu trình kế hoạch, dự án… song đặc biệt quan trọng đối với các bước sau: - Phân tích tình hình. - Thiết kế dự án. - Giám sát và đánh giá (phần này sẽ được trình bày trong quá trình lập kế hoạch dưới góc độ giới). III. CƠ SỞ PHÂN TÍCH GIỚI Là một hệ thống các phương pháp, kỹ năng phân tích nhằm xác định rõ những chỉ báo cần thiết, chỉ ra các vấn đề và những biểu hiện của sự bất bình đẳng đang tồn tại. Hệ thống này dựa trên một số câu hỏi cơ bản như sau:
  • 93.
    1. Phụ nữvà nam giới, ai làm gì? Đó là việc tìm hiểu sự phân công lao động thực tế đang tồn tại giữa nam và nữ trong phạm vi của đối tượng phân tích. 2. Phụ nữ và nam giới, ai có gì? Đây là việc xác định rõ khả năng tiếp cận và quản lý các nguồn lực giữa nam và nữ trong phạm vi phân tích. 3. Những yếu tố ảnh hưởng đến tương quan giới là gì? Ở đây cần chỉ ra các yếu tố kinh tế, văn hoá, pháp lý… đã và đang tác động đến các quan hệ giới, khả năng biến đổi của các yếu tố này và ảnh hưởng của nó tới sự bình đẳng giới. 4. Các nguồn lợi xã hội được phân phối như thế nào và ai được gì? Vấn đề ở đây là tìm hiểu cơ cấu, tổ chức và các thể chế đang tồn tại. Những thể chế này bảo đảm bình đẳng giới ở mức độ nào? Cần làm gì để chúng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của giới. Các biện pháp nhằm thay đổi tương quan giới một cách hợp lý trên cơ sở tiến tới sự bình đẳng. Trả lời các câu hỏi cơ bản sau: - Làm gì để khắc phục sự bất bình đẳng giới và nâng cao vai trò của phụ nữ? (Xác định mục tiêu hành động). - Để thực hiện mục tiêu trên, chúng ta gặp những thuận lợi, khó khăn gì? (Làm rõ bối cảnh thực hiện các mục tiêu đã đề ra). - Làm thế nào để đạt được các mục tiêu đã đề ra? (Làm rõ các giải pháp cụ thể). IV. AI CÓ TRÁCH NHIỆM PHÂN TÍCH GIỚI? Những người có trách nhiệm phân tích giới chính là những người tham gia vào việc thực hiện các dự án về giới, cụ thể là cán bộ lập chính sách của Nhà nước; cán bộ chương trình dự án phát triển; cán bộ lãnh đạo quản lý tại địa bàn triển khai; nam và nữ với tư cách người tham gia và thụ hưởng của dự án tại địa phương. 1. Các khung phân tích giới
  • 94.
    Việc xác địnhđược một khung phân tích giới chính xác và khoa học là yếu tố quan trọng để thực hiện thành công một dự án về giới. Hiện nay rong khoa học về giới đang tồn tại một số khung phân tích như Khung phân tích giới Havard; Khung Moser (của Carohne. O. N. Moser); Khung sơ đồ phân tích giới (Gender Analysis Matric - GAM); Khung tăng quyền năng cho phụ nữ (của Sara Longwe). Trong giáo trình này giới hiệu Khung phân tích giới Havard. Khung Havard được Viện Phát triển quốc tế Havard cùng với văn phòng Phụ nữ trong Phát triển (WID) của tổ chức Viện trợ phát triển Mỹ USAID) xây dựng. Đây là một trong những khung đầu tiên về phân tích và hoạch định giới. Khung phân tích có 4 công cụ. 1.1. Phân công lao động theo giới Bảng 1. Mô hình phân công lao động theo giới (Dựa vào mô hình 24 giờ trong ngày) Hoạt động Phụ nữ/ trẻ em gái Nam giới/ trẻ em trai Công việc sản xuất Hoạt động 1 Hoạt động 2 Hoạt động 3 8 tiếng Gieo hạt/ chăn nuôi Chăm sóc cây lúa Nghề phụ… 8 tiếng Cày bừa Trồng cây Nghề phụ… Công việc gia đình Hoạt động 1 Hoạt động 2 Hoạt động 3 Hoạt động 4 Hoạt động 5 6 tiếng Đi chợ/ nấu ăn Chăm sóc, dạy con Chăm sóc thành viên Nội trợ/ giặt giũ Cung cấp nước Có thể 2 tiếng Sửa chữa đồ đạc Dạy con học Giao tiếp Công việc cộng đồng Có thể đến 15 phút Có thể đến 15 phút
  • 95.
    Hoạt động 1 Hoạtđộng 2 Tham dự cuộc họp trong làng Dọn vệ sinh làng xóm Tham dự cuộc họp trong làng Nguồn: Phân tích giới và lập kế hoạch dưới góc độ giới, Tài liệu tập huấn của UBQG vì sự tiến bộ phụ nữ và UNDP, 1998. Công cụ này xác định theo 3 vai trò: sản xuất - tái sản xuất - quản lý cộng đồng của phụ nữ và nam giới là khác nhau. Công cụ này dùng để đo thời gian, hình thức và cường độ lao động của nam và nữ, tác động của nó đối với đời sống của nam và nữ và gia đình họ. Công cụ này sử dụng bảng 24 giờ trong ngày của Đại học Havard (Mỹ) (bảng 1, trang 83). Qua bảng 1, trang 83 cho thấy, phụ nữ phải làm nhiều loại hình công việc hơn nam giới. Thời gian lao động kéo dài khiến phụ nữ bị hạn chế, thậm chí không có thời gian nghỉ ngơi vào ban ngày. Sau khi lao động, sản xuất về, nam giới thường được nghỉ ngơi, đi quán bia, hoặc xem ti vi, đọc báo, còn phụ nữ lại tiếp tục làm việc nhà. Điều này có nghĩa là phụ nữ chỉ thay đổi hình thức lao động mà không phải là hình thức giải trí để tái sản xuất sức lao động. 1.2. Tiếp cận và kiểm soát Mô hình này được sử dụng để xác định các nguồn và lợi ích (mỗi phụ nữ và nam giới có thể tiếp cận và kiểm soát các nguồn và lợi ích) (bảng 2). Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện tại, nam và nữ khác nhau trong tiếp cận với các nguồn cần thiết để thực hiện công việc, ví dụ: Nam giới đứng tên vay vốn còn vợ xoay xở đồng vốn để đầu tư sản xuất; Kiểm soát các nguồn để sử dụng theo mong muốn, ví dụ: Ai thường kiểm soát đồng vốn trong gia đình? Tiếp cận với các lợi ích có được từ công việc của họ, ví dụ: Khả năng sử dụng lợi ích từ đồng vốn; Kiểm soát các lợi ích này, ví dụ: Ai có quyền quyết định và quản lý việc sử dụng đồng vốn và lợi ích từ đồng vốn. Vậy: Tiếp cận là khả năng sử dụng các nguồn. Kiểm soát là quyền được quyết định và quản lý việc sử dụng các nguồn.
  • 96.
    Ví dụ: Mộtphụ nữ có thể tiếp cận nguồn vốn, người chồng có thể quản lý việc quyết định số tiền sẽ được sử dụng như thế nào. Điều này khiến phụ nữ bị lệ thuộc vào chồng và khó chủ động trong sản xuất và kinh doanh. Mặt khác, ngay cả khi phụ nữ có thể được tiếp cận nguồn vốn quản lý việc quyết định số tiền sẽ được sử dụng thế nào nhưng không có quyền sử dụng lợi ích từ nguồn vốn đó cho cá nhân mình mà phải sử dụng nó cho lợi ích của hộ gia đình (dè sẻn chi tiêu, chỉ lo mua sắm cho cả gia đình). Trong trường hợp quyền quyết định thuộc cả hai vợ chồng thì đây là một biểu hiện của bình đẳng giới. Tất nhiên phải xem xét mức độ hình thức và khả năng quyết định của nam và nữ. Cần xem xét hộ gia đình là tổ ấm nhưng cũng là nơi tập trung mâu thuẫn trong sản xuất và kinh doanh, giống như một hội chung vốn giữa hai người. Vợ và chồng trong gia đình có các quyền và nghĩa vụ, có đi có lại nhưng bất bình đẳng; có quyền và nghĩa vụ tương tự đối với con cái; có một tập hợp lợi ích chung; phân công lao động chủ yếu là do hai người (không có sự can thiệp từ bên ngoài). Bảng 2. Mô hình tiếp cận kiểm soát Các nguồn Phụ nữ Nam giới Đất đai Máy móc, công nghệ Lao động Vốn Giáo dục đào tạo Trợ giúp kỹ thuật Các cơ hội ra quyết định Thông tin Lợi ích Thu nhập, tiền mặt, hiện vật Sỡ hữu tài sản Quyền lực và vị trí chính trị Các cơ hội khác
  • 97.
    Nguồn: Phân tíchgiới và tập kế hoạch dưới góc độ giới, Tài liệu tập huấn của UBQG vì sự tiến bộ phụ nữ và UNDP, 1998. Những nguyên nhân về tư tưởng, văn hoá, kinh tế đã tác động đến những cân bằng và bất cân bằng trong việc phân bố nguồn lực và lợi ích trong nội bộ gia đình. Lợi ích cá nhân của nam giới vẫn chiếm ưu thế hơn lợi ích cá nhân của nữ giới. Đó chính là sự thụ hưởng khác nhau và vẫn mang tính phổ biến. Trong nhiều xã hội, trong các gia đình nghèo, phụ nữ thường ăn sau và ăn ít hơn (ngay cả con gái cũng bị phân biệt đối xử trong ăn uống với anh em trai của họ). Khi phụ nữ có thai cũng nhường nhịn chồng con, ít được may sắm hoặc hưởng thụ. Chủ nghĩa vị tha trong hôn nhân - nấp dưới bóng “nghĩa vụ”, “bổn phận” của phụ nữ đối với gia đình để buộc người phụ nữ phải tuân thủ và cam chịu những chuẩn mực bất bình đẳng với họ. Thực tế cho thấy, ngay cả khi nam và nữ đều làm chủ việc sử dụng thu nhập và các nguồn lực thì cách thực hiện cụ thể vẫn có thể khác nhau và vẫn là bất bình đẳng. Ví dụ: Phụ nữ sử dụng đất đai, tài sản với vai trò là gián tiếp, với vai trò con gái, mẹ, vợ (Việt Nam mới có Luật Thừa kế, song trên thực tế chưa được thực hiện rộng rãi). Nam giới là chủ sở hữu đất theo thừa kế, nam là chủ hộ vì vậy là trực tiếp. Tóm lại: Nam và nữ khác nhau trong tiếp cận nguồn lực. Họ cũng khác nhau trong quản lý và phân phối nguồn lực, do những trách nhiệm khác nhau và do đó sự hưởng thụ những phân phối thu nhập cũng khác nhau. Ví dụ: Tài chính của hộ gia đình được quản lý và phân bổ theo các cách khác nhau, không phải bao giờ cũng có được sự đồng thuận cao và vui vẻ giữa hai vợ chồng mà có lúc mâu thuẫn, có lúc hợp tác (mâu thuẫn vợ và chồng khác với mâu thuẫn giai cấp). Bởi vì, một người vô sản và một người tư sản không thể sống cùng một mái nhà, cùng chia sẻ những mối quan tâm, kinh nghiệm và cùng hoạt động như một đôi vợ chồng. Sự “cùng nhau làm cho mâu thuẫn giới có bản sắc riêng biệt, vừa kín đáo vừa sâu sắc.
  • 98.
    1.3. Mô hìnhra quyết định Bảng 3. Mô hình ra quyết định Quyết định Công việc sản xuất/ cơ quan Công việc gia đình Chính trị Quá trình 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4 Ai ra quyết định Ai bị tác động Ai được tư vấn (ai tư vấn cho quá trình ra quyết định) Nguồn: Phân tích giới và lập kế hoạch dưới góc độ giới, Tài liệu tập huấn của UBQG vì sự tiến bộ phụ nữ và UNDP, 1998. Trong các lĩnh vực của cuộc sống như gia đình, công việc, chính trị, chúng ta đều phải thường xuyên ra quyết định. Có những quyết định mang tính quan trọng hơn, chẳng hạn những quyết định mang tính cộng đồng, ảnh hưởng tới số đông con người, trong đó có bản thân; nhưng cũng có những quyết định ở phạm vi hẹp hơn, ảnh hưởng tới một nhóm xã hội, gia đình hoặc cá nhân. Ngay đối với cuộc sống cá nhân cũng có nhiều quyết định, chẳng hạn, có những quyết định mà khi đưa ra là khó khăn vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hoặc tạo ra một bước ngoặt quan trọng đối với cuộc đời hoặc đối với gia đình của người ra quyết định, nhưng cũng có những quyết định không quá khó. Tuy nhiên, vị thế và điều kiện để người phụ nữ có thể tham gia vào việc ra quyết định trong cuộc sống nói lên phần nào tính tự chủ của họ đối với cuộc sống của chính mình và cộng đồng mà mình đang sống. Mô hình ra quyết định giúp ta hiểu được: Tải bản FULL (file doc 290 trang): bit.ly/39sIHm5 Dự phòng: fb.com/TaiHo123doc.net
  • 99.
    - Các quyếtđịnh khác nhau tác động đến cuộc sống của nhóm đối tượng nào? - Ai là người ra các quyết định đó? - Các quyết định đó như thế nào? - Phụ nữ có quyền được tham gia vào quá trình ra quyết định không? (Phụ nữ có được tư vấn không? Có ra quyết định quan trọng không? Có ra quyết định cuối cùng không?…). Từ đó chúng ta có thể xem xét mức độ người phụ nữ được gắn trong công việc cơ quan, xã hội, gia đình như thế nào; vấn đề này có làm thay đối địa vị của họ cả trong gia đình và ngoài xã hội không? - Các yếu tố tác động đến quá trình ra quyết định là: nhận thức, tri thức kinh nghiệm, lợi ích cá nhân và lợi ích gia đình, vị thế trong gia đình (kinh tế, chính trị, quyền lực, phong tục tập quán). Trong nhiều xã hội, người ra quyết định cuối cùng thường là nam giới. Điều này tất nhiên sẽ bất lợi cho phụ nữ khi họ phải thực hiện điều mà người khác quyết định. Bất lợi của phụ nữ là ở chỗ: Do có thời kỳ mang thai, sinh đẻ, phụ nữ ít có cơ hội nâng cao kiến thức cho bản thân mình. Họ thường bị coi là ít có đóng góp trực tiếp đối với gia đình và xã hội, nhưng trên thực tế lao động của họ trong lĩnh vực việc nhà và sinh đẻ lại không được tính công. Trong các vấn đề liên quan đến kinh tế thì tiếng nói của phụ nữ bao giờ cũng thấp hơn. Bằng chứng là trên thực tế, những phụ nữ có việc làm có quyền kiểm soát lớn hơn tới phân bổ nguồn lực trong gia đình so với các bà vợ chỉ chuyên làm nội trợ. Tuy nhiên, vấn đề việc làm của phụ nữ trong hoàn cảnh công việc gia đình được trao toàn bộ cho phụ nữ cũng còn đồng nghĩa với việc tăng thêm gánh nặng cho họ. Bởi vậy, vấn đề đặt ra là cần phải cải thiện tình hình công việc, phân công lao động theo giới trong sản xuất và gia đình; cải thiện sức khoẻ; cải thiện giáo dục; tăng khả năng tạo thu nhập cho phụ nữ; thay đổi định kiến Tải bản FULL (file doc 290 trang): bit.ly/39sIHm5 Dự phòng: fb.com/TaiHo123doc.net
  • 100.
    giới; thay đổitập tục, dư luận mang tính phân biệt nam nữ; nâng cao sự tự nhận thức về vị thế và quyền cá nhân của phụ nữ; tăng cường khả năng của phụ nữ trong việc tham gia các công việc xã hội, tham gia vào quá trình ra quyết định của xã hội sẽ đem lại tác động tích cực cho gia đình, cộng đồng. 1.4. Nhu cầu giới Nhu cầu của con người ở mọi thời đại là giống nhau nhưng việc đáp ứng các nhu cầu lại tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội. Xã hội càng phát triển thì việc đáp ứng nhu cầu càng cao và đa dạng. Chẳng hạn, trong phòng ở, người ta trang bị máy điều hoà không khí, làm mát vào mùa hè và làm ấm vào mùa đông, trong khi trước đây người ta phải tự quạt mát bằng chiếc quạt đan bằng nan tre hoặc đốt củi để sưởi. Cũng như vậy buồng vệ sinh không phải là nơi bẩn thỉu, ô uế như trước kia mà có hệ thống nước nóng, lạnh cho cả bốn mùa. Con người không cần phải xách từng xô nước hoặc không phải đun từng ấm nước để tắm. Những phương tiện hiện đại giúp cho con người sống khoẻ và nhẹ nhàng hơn, tuổi thọ cũng vì vậy được kéo dài hơn. Tuy nhiên, không phải nhu cầu của tất cả mọi người đều được đáp ứng giống nhau. Đáp ứng nhu cầu có liên quan đến vấn đề trả tiền, vì vậy nó mang tính thị trường và nó cũng phản ánh sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Trong vấn đề giới, phụ nữ có một số nhu cầu riêng khác với nhu cầu của nam giới và họ cũng được đáp ứng nhu cầu không hoàn toàn giống với nam giới. Mặt khác, vị trí thấp kém hơn nam giới của phụ nữ cũng quy định việc đáp ứng nhu cầu của họ thấp hơn. Các nhà khoa học đã phân chia nhu cầu giới thành hai loại: Các nhu cầu thực tế, thực dụng của giới (Practical Gender Needs - PGN) là những nhu cầu do phụ nữ và nam giới xác định trong các vai trò đã được xã hội của họ thừa nhận. Nó đáp ứng nhu cầu cần thiết trong cuộc sống của hai giới trong từng khung cảnh cụ thể. Về bản chất, PGN liên quan đến đời sống như việc cung cấp nước, chăm sóc sức khoẻ, công ăn việc làm, 4130548