SlideShare a Scribd company logo
1 of 74
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HỒ CHÍ MINH
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
CHỦ ĐỀ: NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP
KHẨU GIÀY DÉP TỪ VIỆT NAM SANG MỸ
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Trung Thành
Thành viên thực hiện :
Lớp thực hiện :
Nguyễn Trần Thanh Thảo
Lê Thanh Tuyền
21DKQB1 – 21DKQA3
Chuyên ngành : Kinh Doanh Quốc Tế
Khoa : Marketing-Kinh doanh quốc tế
Năm học : 2024-2025
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đồ án tốt nghiệp “Nghiên
cứu tình hình xuất khẩu giày dép tại Việt Nam sang Mỹ” là trung thực và không có bất
kỳ sự sao chép. Mọi số liệu sử dụng phân tích trong luận văn và kết quả nghiên cứu là
do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và
chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có
sự không trung thực trong thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này.
TP. HCM , ngày 23 tháng 03 năm 2024
Sinh viên thực hiện
NGUYỄN TRẦN THANH THẢO
LÊ THANH TUYỀN
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................................i
MỤC LỤC........................................................................................................................ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.......................................................................................iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU..............................................................................................v
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ.................................................................................vi
PHẦN MỞ ĐẦU ..............................................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU MẶT HÀNG
GIÀY DÉP........................................................................................................................4
1.1 Tổng quan về xuất khẩu hàng hóa.......................................................................4
1.1.1 Khái niệm xuất khẩu.....................................................................................4
1.1.2 Đặc điểm xuất khẩu......................................................................................6
1.1.3 Vai trò của xuất khẩu ...................................................................................7
1.1.4 Hình thức xuất khẩu .....................................................................................9
1.2 Tổng quan về xuất khẩu giày dép .....................................................................13
1.2.1 Khái quát về mặt hàng giày dép.................................................................14
1.2.2 Xuất khẩu mặt hàng giày dép.....................................................................16
1.3 Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia xuất khẩu giày dép.................................20
1.3.1 Kinh nghiệm từ Trung Quốc.......................................................................21
1.3.2 Kinh nghiệm từ Thái Lan............................................................................22
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ............................................................22
Chương 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GIÀY DÉP VIỆT NAM SANG Mỹ GIAI
ĐOẠN 2010 – 2020........................................................................................................24
2.1. Tổng quan thị trường giày dép tại Mỹ ..............................................................24
2.1.1. Tình hình tiêu giày dép tại Mỹ ..................................................................24
2.1.2. Tình hình nhập khẩu giày dép tại Mỹ giai đoạn 2010 - 2020
……………………………………………………………………………29
2.2 Hoạt động sản xuất và xuất khẩu mặt hàng giày dép tại Việt Nam...................33
2.2.1. Khái quát về quá trình phát triển của ngành giày dép Việt Nam...............33
2.2.2. Hoạt động sản xuất ....................................................................................37
2.2.3. Hoạt động xuất khẩu ..................................................................................42
iii
2.3 Thực trạng xuất khẩu giày dép Việt Nam sang Mỳ
giai đoạn 2010 – 2020.................................................................................................46
2.3.1. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2010 – 2020........................46
2.3.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu giày dép giai đoạn 2010 – 2020....................47
2.3.3. Đối thủ cạnh tranh xuất khẩu giày dép ở Mỹ………………………….. 48
2.4 Đánh giá chung về xuất khẩu giày dép Việt Nam sang Mỹ..............................51
2.4.1. Thành tựu ...................................................................................................51
2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân............................................................................52
Chương 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU MẶT GIÀY DÉP TỪ VIỆT
NAM SANG MỸ............................................................................................................59
3.1 Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu giày dép của Việt Nam.......................59
3.1.1 Cơ hội.........................................................................................................59
3.1.2. Thách thức..................................................................................................59
3.2. Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu giày dép từ Việt Nam sang thị trường Mỹ.60
3.2.1. Giải pháp về phát triển thương hiệu trong nước........................................60
3.2.2. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực ........................................................61
3.2.3. Giải pháp về thiết kế, tạo mẫu sản phẩm ...................................................63
3.2.4. Giải pháp về nguồn nguyên phụ liệu..........................................................64
3.2.5. Giải pháp về chiến lược quảng cáo............................................................66
KẾT LUẬN ....................................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................70
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 D/A Documents Against Acceptance –
Thanh toán trao đổi chứng từ
2 D/P Documents against Payment –
Thanh toán trả tiền ngay
3 FDI Foreign Direct Investment – Đầu tư
trực tiếp nước ngoài
4 FOB Free on Board – Bốc hàng lên tàu
5 GDP Gross Domestic Product – Tổng
sản phẩm quốc nội
6 GSP Generalized System of Preferences
- Hệ thống ưu đãi phổ cập
7 L/C Letter of Credit – Thư tín dụng
8 LEFASO Hiệp hội da giày Việt Nam
9 MFN Most favoured nation – Tối huệ
quốc
10 NAFTA The North American Free Trade
Agreement - Hiệp định Thương mại
Tự do Bắc Mỹ
11 USITC United States International Trade
Commission - Ủy ban Thương mại
Quốc tế Hoa Kỳ
12 WTO World Trade Organization – Tổ
chức Thương mại Thế giới
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT Tên bảng biểu Trang
1 Bảng 2.1: Cơ cấu nhập khẩu giày dép của Mỹ giai
đoạn 2010 – 2020
33
2 Bảng 2.2: Thống kê hội viên theo địa bàn của Hiệp
hội da giày Việt Nam năm 2020
34
3 Bảng 2.3: Trị giá nhập khẩu nguyên liệu sản xuất
giày dép Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020
42
4 Bảng 2.4: Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt
Nam chia theo thị trường giai đoạn 2010 – 2020
43
5 Bảng 2.5: Đóng góp của ngành giày dép Việt Nam
trong kim ngạch xuất khẩu toàn quốc
44
6 Bảng 2.6: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu
giày dép của Việt Nam sang Mỹ giai đoạn 2010
– 2020
46
7 Bảng 2.7: So sánh sản lượng và kim ngạch xuất
khẩu giày dép sang Mỹ giữa Việt Nam và
Trung Quốc
49
8 Bảng 2.8: So sánh sản lượng và kim ngạch xuất
khẩu giày dép sang Mỹ giữa Việt Nam và
Brazil
50
vi
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
STT Tên hình và sơ đồ Trang
1 Hình 1.1: Các hình thức xuất khẩu chủ yếu 9
2 Biểu đồ 2.1: Lượng tiêu thụ giày dép của Mỹ giai
đoạn 2010 – 2020
24
3 Biểu đồ 2.2: Kim ngạch nhập khẩu giày dép của
Mỹ giai đoạn 2010 – 2020
30
4 Biểu đồ 2.3: Giá trị nhập khẩu giày dép của Mỹ giai
đoạn 2010 – 2020 phân theo mã HS
31
5 Biểu đồ 2.4: Kim ngạch xuất khẩu ngành giày dép
Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020
44
6 Biểu đồ 2.5: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu giày dép
của Việt Nam sang Mỹ giai đoạn 2010 – 2020
47
7 Biểu đồ 2.6: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu giày dép
của Việt Nam sang Mỹ năm 2020
48
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, việc giao lưu
buôn bán giữa các nước diễn ra ngày càng phổ biến, thương mại quốc tế đang trở thành
lĩnh vực kinh tế quan trọng đóng góp lớn cho sự tăng trưởng kinh tế quốc dân, đặc biệt
là từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới đã tích cực trao
đổi hàng hóa qua lại giữa các nước trong và ngoài khu vực. Điều đó đã dẫn đến hoạt
động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển, kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng đều
qua các năm.
Kinh doanh xuất nhập khẩu đang gia tăng nhanh chóng và trở thành hoạt động cơ
bản của các doanh nghiệp, trong đó hoạt động nhập khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng
và là một trong những nội dung kinh tế mà nước ta đang chú trọng phát triển. Trong cơ
cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, giày dép luôn là mặt hàng chủ chốt -
không chỉ chiếm tỉ trọng cao mà còn liên tục tăng trưởng theo từng năm. Ngành công
nghiệp giày dép Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu điển hình,
chiếm gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam
vẫn duy trì là một trong 10 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu giày dép với sản phẩm
có mặt ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là EU và Mỹ.
Hiện nay và trong những năm tới, Mỹ sẽ là thị trường xuất khẩu mục tiêu đối với
sản phàm giày dép của Việt Nam bởi lý do chính đây là thị trường tiềm năng, nhu cầu
lớn mà sản xuất giày dép nội địa Mỹ lại ngày càng thu hẹp.
Nhận thức được đây là một vân đề cấp thiết, nên em đã chọn đề tài "Nghiên cứu
tình hình xuất khẩu giày dép từ Việt Nam sang Mỹ" làm đề tài nghiên cứu cho đồ án
tốt nghiệp.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu giày dép của Việt Nam
sang thị trường Mỹ.
Để đạt được mục tiêu của đồ án tốt nghiệp nêu trên, đề tài tập trung giải quyết
những nhiệm vụ cụ thể sau:
2
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động
xuất khẩu mặt hàng giày dép của một quốc gia. Nghiên cứu kinh nghiệm về xuất khẩu
giày dép của một số nước trong top 10 quốc gia xuất khẩu giày dép lớn nhất thế giới và
rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang
Mỹ. Đưa ra đánh giá về những thành công, những hạn chế của hoạt động xuất khẩu mặt
hàng giày dép Việt Nam thời gian qua và nguyên nhân của hạn chế làm cơ sở cho đề
xuất giải pháp khắc phục.
- Đưa ra các quan điểm, định hướng và đề xuất một số giải pháp và kiến
nghị tiếp tục phát triển xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam sang Mỹ.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Mỹ.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 – 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và viết đồ án tốt nghiệp, thường sử dụng những
phương pháp cơ bản như:
- Phương pháp thống kê và phương pháp đối chiếu – so sánh: dùng các công
cụ thống kê để tập hợp tài liệu xuất bản trong và ngoài nước, số liệu; sau đó so sánh, đối
chiếu để rút ra kết luận về bản chất, nguyên nhân của sự thay đổi.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: từ những thông tin và số liệu thu thập
được, cộng với tình hình thực tế trên thị trường đưa ra những phân tích, nhận định, đánh
giá.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu để làm sáng tỏ vấn đề.
5. Cấu trúc đề tài
Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu trên, khóa luận được kết cấu thành 3
chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU GIÀY
DÉP
3
Chương 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GIÀY DÉP TẠI VIỆT NAM
SANG MỸ GIAI ĐOẠN 2010 – 2020
Chương 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẦY XUẤT KHẨU MẶT GIÀY DÉP TẠI
VIỆT NAM SANG MỸ
4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU GIÀY DÉP
1.1 Tổng quan về xuất khẩu hàng hóa
1.1.1 Khái niệm xuất khẩu
Xuất khẩu là một từ ghép Hán Việt có nghĩa là xuất hàng hóa ra khỏi cửa khẩu
biên giới. Khi nhắc đến khái niệm xuất khẩu ai cũng nghĩ ngay đến việc buôn bán hàng
hóa sang một quốc gia khác. Tuy nhiên trong đời sống hiện đại ngày nay, hoạt động xuất
khẩu hàng hóa là một vấn đề được nghiên cứu, quan tâm và đã trở thành một lĩnh vực
khoa học - xã hội. Hoạt động xuất khẩu là một hình thức cơ bản của thương mại quốc tế,
nó được hình thành từ rất lâu đời và ngày càng phát triển cho đến giai đoạn hiện nay.
Hoạt động xuất khẩu sơ khai chỉ là hàng đổi hàng và phát triển ngày một đa dạng. Cho
đến nay có rất nhiều hình thức của xuất khẩu như xuất khẩu trực tiếp, buôn bán đối lưu,
xuất khẩu uỷ thác…Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian
và thời gian: nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song nó cũng có thể kéo dài hàng
năm; nó có thể được tiến hành trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia. Nó diễn
ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư
liệu sản xuất, máy móc thiết bị và công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi
đó đều nhằm mục đích đem lại lợi ích cho các nước tham gia.
Do sự phổ biến sâu rộng của hoạt động xuất khẩu hiện nay nên có thể tìm thấy rất
nhiều định nghĩa học thuật về “hoạt động xuất khẩu”:
Trong cuốn sách “International Business – The challenges of globalization” của
John J. Wild có đề cập “Xuất khẩu là hoạt động đưa hàng hoá hoặc dịch vụ từ quốc gia
này sang quốc gia khác.”
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu về hoạt động Marketing quốc tế của Rakesh M.
Joshi lại hiểu hoạt động xuất khẩu theo nghĩa “là vận chuyển hàng hóa hoặc dịch vụ ra
khỏi lãnh thổ của một quốc gia. Người bán hàng hóa, dịch vụ được gọi là nhà xuất khẩu
và có trụ sở tại nước xuất khẩu, trong khi người mua có trụ sở ở nước ngoài được gọi là
nhà nhập khẩu. Trong thương mại quốc tế, xuất khẩu đề cập đến việc bán hàng hóa hoặc
dịch vụ sản xuất trong nước sang thị trường nước khác.”
5
Trong khi đó, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 định nghĩa về hoạt động xuất
khẩu hàng hóa như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ
Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu
vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.”
Ở một công trình nghiên cứu khác gần đây thì xuất khẩu được định nghĩa là “hoạt
động bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm
phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với
cả hai quốc gia.”
Theo quan điểm của tác giả, xuất phát từ bản chất của xuất khẩu, đây là hoạt động
đưa hàng hoá hoặc dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác. Dưới góc độ kinh doanh,
hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia
khác; còn dưới góc độ phi kinh doanh (với quà tặng, quà biếu hoặc viện trợ không hoàn
lại) thì hoạt động xuất khẩu chỉ là việc lưu chuyển hàng hoá hoặc dịch vụ qua biên giới
quốc gia.
Mục đích cơ bản của hoạt động xuất khẩu trong kinh doanh là khai thác được lợi
thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa
các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này.
Ngày nay, xuất khẩu không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán, mà là sự phụ
thuộc tất yếu giữa các quốc gia về phân công lao động quốc tế. Vì vậy, các quốc gia hiện
nay đều coi xuất khẩu như một tiền đề, một nhân tố phát triển kinh tế trong nước, trên
cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế. Do
những điều kiện khác nhau, mỗi quốc gia có thế mạnh về lĩnh vực này nhưng lại yếu về
lĩnh vực khác. Để có thể dung hoà được nguy cơ và lợi thế, tạo ra được sự cân bằng trong
quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau, bán những
gì mình thừa và mua những gì mình thiếu.
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu không nhất thiết chỉ diễn ra giữa những quốc gia
có lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác mà các quốc gia thua thiệt hơn về tất cả các
điều kiện như: nhân lực, tài chính, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ… thông qua hoạt
động trao đổi thương mại quốc tế cũng sẽ thu được những lợi ích, tạo điều kiện phát triển
nền kinh tế nội địa.
6
Tính tất yếu của hoạt động xuất khẩu đã được chứng minh rất rõ qua lý thuyết về
lợi thế so sánh của nhà kinh tế học David Ricardo. Theo Nguyễn Xuân Thiên, trong quy
luật lợi thế so sánh, nếu một nước có hiệu quả thấp hơn so với các nước khác trong việc
sản xuất hầu hết các loại sản phẩm vẫn cần phải tham gia hoạt động thương mại quốc tế
vì có thể tạo ra lợi ích không nhỏ mà nếu bỏ qua, quốc gia có thể mất cơ hội phát triển.
Nói cách khác, khi một quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra tất cả các loại
hàng hoá sẽ có thể chuyên môn hoá vào sản xuất loại hàng hoá ít bất lợi nhất để trao đổi
với các quốc gia khác và nhập về những loại hàng hoá mà việc sản xuất nó là bất lợi nhất
để tiết kiệm được các nguồn lực của mình và thúc đẩy sự phát triển của sản xuất trong
nước.
1.1.2 Đặc điểm xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu là một phần trong hoạt động thương mại quốc tế, nó mang
những đặc điểm sau:
Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương. Nó đã xuất hiện từ rất
sớm trong lịch sử phát triển của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng
và chiều sâu. Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hoá nhưng cho
đến nay nó đã phát triển rất mạnh và được biểu hiện dưới nhiều hình thức.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực. Trong mọi điều kiện của nền kinh
tế, xuất khẩu diễn ra từ hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc hàng hoá thiết
bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc
gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian. Nó có thể diễn
ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể được diễn ra trên
phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Hoạt động xuất khẩu là hình thức
cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển. Nó
diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến
hàng hoá tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả
hoạt động đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi nhuận cho các quốc gia tham gia.
7
1.1.3 Vai trò của xuất khẩu
Xuất khẩu là một khâu quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân của một nước,
đóng góp một phần tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product - GDP) nhờ bán
ra nước ngoài những sản phẩm có lợi thế, có chất lượng cao. Điều này được thể hiện qua
các vai trò sau:
 Đối với quốc gia:
Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới thì xuất khẩu là hoạt động đóng vai
trò vô cùng cần thiết. Xuất khẩu chính là hoạt động giúp các quốc gia tham gia gắn kết
và phụ thuộc vào nhau nhiều hơn. Tùy vào lợi thế từng quốc gia mà mức độ chuyên môn
hóa sẽ khác nhau; trình độ chuyên môn hoá cao hơn sẽ giảm chi phí sản xuất và các chi
phí khác, từ đó làm giảm giá thành sản phẩm.
Mục đích chung của mọi quốc gia khi tiến hành việc xuất khẩu chính là thu được
một lượng ngoại tệ lớn để có thể nhập khẩu các loại máy móc, trang thiết bị hiện đại…
nhằm tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho người dân. Đây
cũng là điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giúp rút ngắn sự chênh lệch giữa các
nước trên thế giới. Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, các quốc gia không thể tự mình
đáp ứng mọi nhu cầu, nếu muốn đáp ứng thì phải tốn rất nhiều chi phí. Vì vậy họ bắt
buộc không thể đứng ngoài mà phải tham gia vào hoạt động xuất khẩu để bán đi những
gì mà mình có lợi thế hơn các quốc gia khác, đồng thời có thể mua về những gì mà trong
nước không sản xuất được hoặc có sản xuất được nhưng chi phí quá cao.
Do đó, tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu chính là hoạt động kinh tế có lợi,
giúp tiết kiệm được nhiều chi phí, tạo được nhiều việc làm, giảm được các tệ nạn xã hội,
tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào
xây dựng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
 Đối với doanh nghiệp:
Hoạt động xuất khẩu với doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng. Thực chất nó là
hoạt động bán hàng của các công ty xuất nhập khẩu và thu lợi nhuận từ hoạt động này,
góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển của công ty. Lợi nhuận là nguồn bổ sung
vào nguồn vốn kinh doanh, các quỹ của công ty. Lợi nhuận cao cho phép công ty đẩy
8
mạnh tái đầu tư vào tài sản cố định, tăng nguồn vốn lưu động để thực hiện hoạt động
xuất nhập khẩu, giúp công ty ngày càng mở rộng và phát triển.
Cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị trường
quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Xuất khẩu
là một trong những con đường quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch phát
triển của mình. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của doanh
nghiệp không chỉ được các khách hàng trong nước biết đến, mà còn có mặt ở thị trường
nước ngoài. Để có được điều này thì doanh nghiệp ngược lại cần phải đáp ứng tốt các
yêu cầu của khách hàng về giá cả, chất lượng hàng hoá, phương thức giao dịch, thanh
toán…
Bên cạnh đó, xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua
đó nâng cao khả năng nhập khẩu; thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị, nguyên
vật liệu… phục vụ cho quá trình phát triển.
Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ xuất nhập khẩu
trong việc tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong khả năng xuất khẩu các thị trường
mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập. Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn
đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh, đồng thời giúp các doanh nghiệp
kéo dài tuổi thọ chu kỳ sống của một sản phẩm.
Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh giữa các nhà xuất khẩu trong và ngoài nước.
Đây là một trong những nguyên nhân khiến các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải
nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu, cố gắng hạ giá thành của sản phẩm; từ đó tiết
kiệm các yếu tố đầu vào hay chính là tiết kiệm các nguồn lực.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động, nâng
cao thu nhập và ổn định đời sống cán bộ của công nhân viên; đây chính là động lực để
người lao động làm việc chất lượng và hiệu quả hơn.
Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài
nước một cách tự giác, mở rộng quan hệ kinh doanh dựa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
9
Đầu tư lớn,
rủi ro cao
Xuất khẩu trực tiếp
Lợi nhuận
dự tính cao
Xuất khẩu gián tiếp (ủy thác)
Gia công sản xuất
Buôn bán đối lưu (hàng đổi hàng)
Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuẩt
Xuất khẩu tại chỗ
Đầu tư ít,
rủi ro thấp
Xuất khẩu hàng hóa theo nghị định thư
Lợi nhuận
dự tính thấp
Như vậy, có thể nói đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo ra động lực cần thiết giải quyết
những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Điều này
nói lên tính khách quan của việc tăng cường xuất khẩu trong quá trình phát triển kinh tế
hiện nay.
1.1.4 Hình thức xuất khẩu
Hình 1.1: Các hình thức xuất khẩu chủ yếu
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau,
điều này căn cứ vào đặc điểm sở hữu hàng hoá trước khi xuất khẩu, căn cứ vào nguồn
hàng xuất khẩu... Hình 1.1 đã liệt kê một số hình thức xuất khẩu chủ yếu theo giá trị đầu
tư và độ rủi ro các doanh nghiệp ngoại thương phải gánh chịu.
 Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà xuất khẩu trực
tiếp ký kết hợp đồng mua bán trao đổi hàng hoá với các đối tác nước ngoài.
Đây là hình thức mà hàng hoá được mua bán trực tiếp không qua trung gian. Theo
hình thức này đơn vị kinh doanh xuất khẩu trực tiếp ký kết hợp đồng ngoại thương.
10
Doanh nghiệp sẽ tự bỏ vốn ra mua các sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nước sau
đó bán các sản phẩm này cho khách hàng nước ngoài, trong đó sản phẩm có thể qua một
số công đoạn gia công chế biến.
Ưu điểm: Hình thức xuất khẩu này giúp lợi nhuận của đơn vị kinh doanh xuất
khẩu thường cao hơn các hình thức khác do giảm bớt được các khâu trung gian. Với vai
trò là người bán trực tiếp, doanh nghiệp có thể chủ động trong kinh doanh, có điều kiện
tiếp cận thị trường, nắm bắt thông tin một cách nhạy bén hơn để tự đưa ra quyết định về
thâm nhập thị trường, ứng xử linh hoạt hơn với nhu cầu thị trường và do vậy có thể gợi
mở, kích thích nhu cầu. Nếu đơn vị xuất khẩu hoạt động kinh doanh hiệu quả sẽ có thể
xây dựng được thương hiệu cũng như uy tín về sản phẩm trên thị trường thế giới.
Nhược điểm: Hình thức này đòi hỏi phải ứng trước một lượng vốn khá lớn để sản
xuất hoặc thu mua hàng hóa và có thể gặp nhiều rủi ro. Đối với đơn vị mới tham gia kinh
doanh thì hình thức này rất khó áp dụng do không có điều kiện về vốn đầu tư, nghiên
cứu thị trường, tìm bạn hàng...
 Xuất khẩu gián tiếp (uỷ thác)
Đây là hình thức dịch vụ thương mại, theo đó doanh nghiệp ngoại thương đứng ra
với vai trò trung gian thực hiện xuất khẩu hàng hoá cho các đơn vị uỷ thác.
Xuất khẩu uỷ thác gồm 3 bên, bên uỷ thác xuất khẩu, bên nhận uỷ thác xuất khẩu
và bên nhập khẩu. Bên uỷ thác không được quyền thực hiện các điều kiện về giao dịch
mua bán hàng hoá, giá cả, phương thức thanh toán… mà phải thông qua bên thứ 3 - bên
nhận uỷ thác.
Xuất khẩu uỷ thác được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp không được phép
kinh doanh xuất khẩu trực tiếp hoặc không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp, uỷ thác cho
doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu làm đơn vị xuất khẩu hàng hoá cho mình, bên nhận
uỷ thác được nhận một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.
Ưu điểm: Hình thức xuất khẩu gián tiếp giúp doanh nghiệp dễ dàng mở rộng thị
trường và tìm nguồn đầu ra cho sản phẩm của mình. Công ty uỷ thác xuất khẩu không
phải bỏ vốn vào kinh doanh, tránh được rủi ro trong kinh doanh mà vẫn thu được một
khoản lợi nhuận là hoa hồng cho xuất khẩu. Do chỉ thực hiện hợp đồng uỷ thác xuất khẩu
11
nên tất cả các chi phí từ nghiên cứu thị trường, giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng và
thực hiện hợp đồng đều không phát sinh, dẫn tới giảm chi phí trong hoạt động kinh
doanh.
Nhược điểm: Do không phải bỏ vốn kinh doanh nên hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp xuất khẩu theo hình thức này thường thấp do phải chia sẻ lợi nhuận với
bên thứ 3. Đồng thời mối liên hệ với bạn hàng của nhà xuất khẩu bị hạn chế.
Tuy nhiên, trên thực tế phương thức này lại khá phổ biến, đặc biệt là ở các nước
kém phát triển và đang phát triển vì nguyên nhân sau:
+ Nhà kinh doanh thường thiếu thông tin về thị trường, còn bên trung gian thường
hiểu rõ thị trường kinh doanh nên sẽ tìm được nhiều cơ hội thuận lợi hơn.
+ Bên trung gian có khả năng nhất định về vốn, nhân lực nên nhà xuất khẩu có thể
khai thác để tiết kiệm phần nào chi phí trong quá trình vận tải.
 Gia công xuất khẩu
Gia công là phương thức kinh doanh trong đó một bên (bên nhận gia công) nhập
khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (bên đặt gia công) để chế biến
ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao hay phí gia công. Khi hoạt
động gia công vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì được gọi là gia công xuất khẩu hay gia
công quốc tế.
Ưu điểm: Gia công quốc tế là hình thức xuất khẩu khá phổ biến hiện nay, được
các nước đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào áp dụng. Thông qua hình thức này,
họ vừa tạo cho người lao động có công ăn việc làm, lại vừa tiếp nhận được công nghệ
mới. Mặt khác nước nhận gia công không phải đầu tư nhiều vốn, cũng như không cần
quan tâm về thị trường tiêu thụ. Nước đặt gia công cũng có lợi vì tận dụng được nguồn
nguyên phụ liệu dồi dào và nhân công giá rẻ của nước nhận gia công.
Nhược điểm: Hình thức này có hạn chế là các nước nhận gia công bị phụ thuộc
vào nước đặt gia công về số lượng, chủng loại hàng hoá gia công đồng thời cũng bị o ép
về phí gia công.
 Buôn bán đối lưu (hàng đổi hàng)
12
Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ
với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua. Khối lượng hàng hoá được trao đổi
có giá trị tương đương.
Mục đích xuất khẩu ở đây không phải thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về
một khối lượng hàng hoá với giá trị tương đương. Vì đặc điểm này mà phương thức này
còn có tên gọi khác như xuất nhập khẩu liên kết, hay hàng đổi hàng. Tuy tiền tệ không
được thanh toán trực tiếp nhưng nó được làm vật ngang giá chung cho giao dịch này.
Ưu điểm: Phương thức này thông thường được thực hiện nhiều ở các nước đang
phát triển, vì các nước này thông thường rất thiếu ngoại tệ để thanh toán hàng hóa nhập
khẩu nên thường dùng phương pháp hàng đổi hàng để cân đối nhu cầu trong nước. Lợi
ích của buôn bán đối lưu là nhằm mục đích tránh được các rủi ro về sự biến động của tỷ
giá hối đoái trên thị trường ngoại hối.
Nhược điểm: Với phương thức này, thời gian trao đổi hay thanh toán trên thị
trường lâu, do vậy có thể không kịp tiến độ sản xuất làm mất cơ hội kinh doanh.
 Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất
Đây là hình thức nước này bán cho nước khác, không làm thủ tục xuất nhập khẩu
và thường hàng đi thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu.
Người kinh doanh chuyển khẩu trả tiền cho người xuất khẩu và thu tiền của người
nhập khẩu hàng hóa đó. Thông thường khoản thu từ người nhập khẩu lớn hơn khoản phải
trả cho người xuất khẩu, do đó người kinh doanh sẽ thu được số chênh lệch như tiền lãi.
Các mặt hàng theo hình thức tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, hay chuyển khẩu được
miễn thuế xuất nhập khẩu.
Đường đi của hàng hoá trong tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu là giống nhau;
điểm khác nhau giữa 2 hình thức này là kinh doanh chuyển khẩu chủ yếu là kinh doanh
dịch vụ vận tải, còn tái xuất là loại hình hợp đồng kinh doanh hàng hoá: Nhập khẩu để
xuất khẩu hàng đó, không qua chế biến và thu lãi tức thời. Người kinh doanh bỏ vốn ra
mua hàng, bán lại hàng đó để thu lời nhiều hơn. Việc giao dịch được thực hiện ở ba nước:
Nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.
 Xuất khẩu tại chỗ
13
Là hình thức mà hàng hoá xuất khẩu được bán ngay tại nước xuất khẩu. Doanh
nghiệp không phải ra nước ngoài để đàm phán, ký kết hợp đồng mà người mua tự tìm
đến doanh nghiệp để mua hàng.
Đây là hình thức kinh doanh xuất khẩu mới đang có xu hướng phát triển và phổ
biến rộng rãi do ưu điểm của nó đem lại. Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là doanh
nghiệp không phải vận chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia; mặt khác, tránh được
một số thủ tục rắc rối của hải quan và không phải thuê phương tiện vận chuyển, mua bảo
hiểm hàng hoá. Từ đó, giảm thiểu được một lượng chi phí khá lớn.
Hình thức xuất khẩu tại chỗ đang được các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có
thế mạnh về du lịch và có nhiều đơn vị kinh doanh, các tổ chức nước ngoài đóng tại quốc
gia đó khai thác tối đa và đã thu được những kết quả to lớn, không thua kém so với xuất
khẩu trực tiếp qua biên giới quốc gia, đồng thời có cơ hội thu hồi vốn nhanh và lợi nhuận
cao.
 Xuất khẩu hàng hoá theo nghị định thư
Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá được ký kết theo nghị định thư giữa hai
Chính phủ. Hình thức này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc
nghiên cứu thị trường và tìm kiến bạn hàng, mặt khác không có sự rủi ro trong thanh
toán.
Trên thực tế xuất khẩu hàng hoá theo nghị định thư chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong
thương mại quốc tế hiện nay. Hình thức này chỉ diễn ra trong các nước xã hội chủ nghĩa
trước đây hoặc giữa một số các quốc gia có quan hệ thân thiết, và chủ yếu là giữa các
doanh nghiệp nhà nước với nhau với mục đích thường là để gán nợ.
1.2 Tổng quan về xuất khẩu giày dép
Sản xuất giày dép là một ngành có mặt từ lâu đời và có quá trình phát triển bền
vững bởi lẽ giày là một vật dụng không thể thiếu cho tất cả mọi người trong đời sống cá
nhân hàng ngày. Trước đây, giày dép là vật dụng để bảo vệ bàn chân khỏi các tác động
gây hại từ vật nhọn, bụi bẩn, sự gồ ghề của mặt đường giúp ta di chuyển dễ dàng hơn
trên mọi địa hình. Ngày nay khi kinh tế phát triển, giày dép ngoài chức năng bảo vệ đôi
bàn chân nó đã được cải tiến nhằm thích nghi với từng đối tượng khác hàng và từng
14
mục đích sử dụng như giày nam, giày nữ, giày thể thao, sandal…Do đó, giày dép là
ngành có thị trường tiêu thụ rộng lớn, là ngành hàng có sức hút của tất cả quốc gia phát
triển và đang phát triển.
1.2.1 Khái quát về mặt hàng giày dép
 Khái niệm mặt hàng giày dép
Thuật ngữ giày dép có nguồn gốc từ động từ “calzar”, có sử dụng phổ biến nhất
được liên kết với hành động che chân. Do đó, giày dép là yếu tố được sử dụng để bảo vệ
và che phủ bàn chân và một phần của chân.
Có nhiều loại giày dép. Chức năng cơ bản của nó là bảo vệ và che chở cho bàn
chân, mặc dù chúng cũng có mục đích thẩm mỹ. Nhiều đôi giày được sử dụng với tất,
nghĩa là chúng không tiếp xúc trực tiếp với da của người, mà được đặt trên một loại bảo
vệ bàn chân khác.
Kích cỡ giày khác nhau tùy theo chân người dùng. Ngoài ra còn có nhiều chất liệu
mà giày dép được sản xuất: da, cao su, vải, v.v
Giày dép cũng rất đa dạng về chất liệu và ngày càng có nhiều thiết kế độc đáo
hơn, không chỉ dừng lại ở chức năng bảo vệ hay thẩm mỹ mà còn là cuộc đua của các
thương hiệu sản xuất mặt hàng này.
 Đặc điểm của mặt hàng giày dép
 Về phương diện tiêu dùng:
Giày dép là một trong các sản phẩm tiêu dùng thời trang không thể thiếu được.
Tất cả mọi người từ mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp đặc biệt là thanh niên nam, nữ rất quan
tâm đến giày dép bởi thông qua giày dép, trang phục mà họ sử dụng thể hiện phần nào
phong cách sống, thẩm mỹ, thói quen tiêu dùng của họ. Khi đời sống của con người ngày
càng được nâng cao thì nhu cầu về giày dép cũng tăng lên không chỉ về số lượng mà còn
về chất lượng và mẫu mã. Ví dụ: Trung bình một người dân Mỹ sử dụng 4 đôi
giày/năm, tiêu thụ hàng năm xấp xỉ 1,5 tỷ đôi các loại trong đó 60% là nhập khẩu từ các
nước khác. Đến năm 2020 số lượng giày dép nhập khẩu từ ngoài Hoa Kỳ vào khoảng
1,8 tỷ đồi. Thị trường EU và Bắc Mỹ tiêu thụ hàng năm là 1,6 - 1,8 tỷ đôi trong đó 90%
15
là giày nhập khẩu từ các nước khác. Ở thị trường Nhật Bản, trung bình một người dân
tiêu thụ 3 đôi giày/năm. Mức cầu trung bình về giày của Ấn Độ là 1,5 đôi/người/năm.
Đi một đôi giày với cảm giác thoải mái, tự tin, chất lượng tốt và mẫu mã độc đáo
là cái mà người tiêu dùng cần. Chính vì vậy, giày dép luôn cần được thay đổi để uyển
chuyển nhạy bén với thị trường và nhu cầu đa dạng đó.
Thị trường giày dép hiện nay chủng loại rất đa dạng và phong phú với chất lượng
các mức độ khác nhau tùy theo nhu cầu và thị hiếu của khách hàng:
- Phân loại theo dạng của giày: Giày cao cổ, giày thấp cổ, dép sandal...
- Phân theo nguyên liệu làm đế giày: Giày đế cao su, giày đế nhựa hoá học…
- Phân theo mục đích sử dụng: Người tiêu dùng có rất nhiều sự lựa chọn với
các loại sản phẩm khác nhau như:
- Dép lê: Dùng để đi trong nhà, bãi biển, thích hợp khí hậu nóng.
- Các loại sandal thể thao: Dùng để mang thông dụng ngoài trời cho những
vùng khí hậu nóng, phù hợp tính thời trang, dã ngoại.
- Dép da nữ: Dùng để mang trong những buổi tiệc hoặc dạ hội.
- Giày chạy: Có đặc điểm nhẹ, êm, thoáng, mũ quai có thể co dãn được,
phần đế sử dụng nhựa PU thích hợp cho thể thao và chạy bộ.
- Giày tây: Dùng để mang thông dụng trong công sở, tiệc tùng... Hài: Dùng
để đi trong nhà, thích hợp cho cả hai mùa: Mùa nóng và mùa hè.
- Ngoài ra còn có: Giày tennis, giày leo núi, giày trượt tuyết....
Như vậy, tùy thuộc vào túi tiền, vào mục đích sử dụng, gu thẩm mỹ của từng người
mà người tiêu dùng có thể chọn cho mình một sản phẩm trang ý nhất.
Giày dép là một bộ phận của thời trang, là biểu tượng của trình độ, tình trạng tiêu
dùng xã hội, là tiếng nói của bản sắc văn hoá cộng đồng sử dụng. Cho nên các sản phẩm
giày dép luôn chiếm được sự quan tâm trên thị trường quốc tế.
 Về phương diện sản xuất:
Ngành công nghiệp da giày là một ngành thu hút rất nhiều lao động vào sản xuất.
Sản xuất hàng giày dép cần nhiều lực lượng lao động mà lại không đòi hỏi quá cao về
16
trình độ kỹ thuật. Vì vậy những quốc gia đông dân với cơ cấu dân số trẻ, lực lượng lao
động phổ thông dồi dào, người lao động cần cù, chăm chỉ, nhanh nhạy trong việc nắm
bắt những kiến thức mới sẽ hoàn toàn phù hợp và khả năng phát triển cao; Thêm vào đó,
những quốc gia nhiệt đới có khí hậu phù hợp cho việc trồng các loại cây đặc biệt là cây
cao su để lấy nhựa cao su - một trong những nguyên liệu chính cho sản xuất đế giày, sẽ
chủ động được nguồn nguyên liệu từ đó giảm được rất nhiều chi phí cho nguyên vật liệu
và nhiều chi phí đi kèm nguyên vật liệu khác. Bên cạnh đó phát ngành chăn nuôi lấy da
phục vụ những sản phẩm giày dép da cũng là một trong những yếu tố lợi thế trong sản
xuất mặt hàng giày dép xuất khẩu.
Bên cạnh đó chính sách của các quốc gia trong việc đẩy mạnh phát triển các ngành
công nghiệp tốn ít vốn, thu hút nhiều lao động, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi
cho xuất khẩu trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán lâu dài chính sách thu hút
các nguồn lực bên ngoài, tích cực chủ động thâm nhập vào thị trường quốc tế cũng là
một trong những điều kiện để phát triển sản xuất.
Quy trình sản xuất giày dép được chia thành nhiều công đoạn nhỏ, đây là cơ sở để
bố trí từng người lao động cụ thể và việc thao tác được chuyên môn hoá. Thao tác càng
đơn giản thì thời gian đào tạo càng nhanh, để đào tạo cho một người lao động sản xuất
hàng giày dép chỉ từ hai đến ba tháng là có thể đáp ứng ngay được công việc mà kinh
phí lại ít tốn kém,
Không những thế, do trong công nghệ sản xuất giấy có rất nhiều công đoạn trong
đó có những công đoạn phải làm các chi tiết rất cầu kỳ đòi hỏi phải làm thủ công mới
đạt được yêu cầu, cho nên công nghệ sản xuất rất khó có thể tự động hoá hoàn toàn. Vì
vậy quá trình sản xuất giày dép đòi hỏi nhiều lao động.
Mặt khác, vốn đầu tư cho một chỗ làm việc không nhiều. Đây được coi là một
thuận lợi cho việc đầu tư vào sản xuất trong ngành giày dép.
Ngành công nghiệp giày dép đã có sự chuyển biến nhanh chóng từ cách làm bằng
tay, cá thể, từ các cơ sở sản xuất nhỏ rồi đến các cơ sở sản xuất lớn và đến nay đã trở
thành một ngành công nghiệp có tầm cỡ.
1.2.2 Xuất khẩu mặt hàng giày dép
17
 Khái niệm xuất khẩu mặt hàng giày dép:
Xuất khẩu giày dép là việc bán những sản phẩm giày dép trong nước ra nước ngoài
nhằm thu ngoại tệ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng tích lũy cho ngân sách
nhà nước. Xuất khẩu giày dép là việc kinh doanh dựa vào sản xuất và nguyên liệu từ
khai thác cao su trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài.
 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu giày dép của quốc gia
- Các yêu tố bên trong:
+ Khả năng tài chính và nguồn vốn của doanh nghiệp trong nước
Tài chính đóng một vai trò rất quan trọng hoạt động kinh doanh của một doanh
nghiệp, bởi nó cho phép doanh nghiệp hiện thực hóa các kế hoạch kinh doanh, cũng như
khả năng đối phó với rủi ro. Đối với hoạt động xuất khẩu giày dép cũng vậy, khả năng
tài chính của doanh nghiệp sản xuất giày dép cho phép doanh nghiệp có thể đầu tư tốt
hơn vào máy móc, thiết bị sản xuất, đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động để
thích ứng nhanh hơn với hoạt động chuyển giao công nghệ trong sản xuất. Qua đó nâng
cao được năng suất và hiệu quả sản xuất, đem lại thu nhập cho doanh nghiệp.
+ Nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất sản xuất giày dép
Làm chủ được các nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất giày dép sẽ giúp cho
các doanh nghiệp trong nước chủ động trong việc sản xuất các đơn hàng giày dép xuất
khẩu, trong việc định giá xuất khẩu giày dép. Nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất
giày dép phải nhập khẩu lớn sẽ làm tăng chi phí sản xuất trên một đôi giày và làm ảnh
hưởng đến lợi nhuận và giá cả không còn cạnh tranh được so với các quốc gia chủ động
được nguồn nguyên liệu.
+ Sản phẩm
Nói đến khía cạnh này chúng ta phải đề cập đến số lượng và cơ cấu mặt hàng giày
dép xuất khẩu có đáp ứng được nhu cầu vật chất của người tiêu dùng ở thị trường mục
tiêu không? Các sản phẩm đó có khả năng sửa đổi để phù hợp với nhu cầu thị trường hay
không? Bên cạnh các sản phẩm hiện vật thì các doanh nghiệp trong nước có cung cấp
thêm các sản phẩm dịch vụ không? Sản phẩm giày dép của các doanh nghiệp trong nước
đang đứng ở vị trí nào trên thị trường giày dép quốc tế? Nó đã được nhiều nước biết đến
18
chưa? Tất cả những điều này đều tạo nên điểm mạnh hay điểm yếu xuất khẩu giày dép
của một quốc gia.
+ Hệ thống thông tin
Các doanh nghiệp muốn đưa ra một quyết định về việc có nên xuất khẩu sang một
thị trường hay không thì cần phải dựa vào lượng thông tin chính xác mà doanh nghiệp
của mình có được thông qua hệ thống thu thập thông tin. Với một công nghệ xử lý thông
tin tốt cũng sẽ là một điểm mạnh của doanh nghiêp trong việc có được những thông tin
chính xác. Thực tế hiện nay công nghệ thông tin ngày càng phát triển và phổ biến nên
khâu nghiên cứu thị trường đã trở nên đơn gian và thuận tiện hơn rất nhiều. Việc tham
gia trưng bày sản phẩm tại các hội chợ quốc tế về giày dép cũng là một công cụ đưa
thông tin về sản phẩm một cách chủ quan nhất đối với xuất khẩu giày dép của một doanh
nghiệp nói riêng và của một quốc gia nói chung.
+ Trình độ thiết kế mẫu mã
Đây là một vấn đề rất quan trọng ngành sản xuất các sản phẩm mang tính thời
trang cao như quần áo, giày dép, túi xác. Bởi một sản phẩm giày dép ngoài tính đẹp mắt,
hợp với xu hướng thời trang nó còn phải đem lại sự thoải mái, form dáng phải tinh xảo,
chống trượt, vừa khít chân người đi tạo sự tự tin trong từng bước đi. Không chỉ dừng lại
ở kiểu dáng mà trình độ thiết kế cần phải có tính sáng tạo, tích cực tìm tòi đổi mới chất
liệu sao cho vẫn đảm bảo chất lượng giày dép mà tối ưu hóa chi phí sản xuất.
- Các yếu tố bên ngoài:
+ Môi trường kinh tế
 Xuất khẩu giày dép chịu tác động bởi xu hướng hội nhập nền kinh tế.
Cũng như những mặt hàng xuất khẩu khác, giày dép cũng chịu tác động mạnh mẽ
bỡi xu hướng hội nhập của nền kinh tế. Một trong những cơ hội lớn nhất khi gia nhập
WTO và các tổ chức kinh tế khác là thị trường quốc tế rộng mở, tạo khả năng cho xuất
khẩu tăng trưởng mạnh.
 Xuất khẩu giày dép chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố kinh tế như: Thu nhập của
người tiêu dùng, nhu cầu của họ, mức sống của họ.
19
Giày dép là một trong những mặt hàng thuộc nhóm mặt hàng chế biến, là mặt hàng
thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng của con người cho nên việc xuất khẩu giày dép chịu ảnh
hưởng lớn bởi các yếu tố kinh tế như: Thu nhập của người tiêu dùng, nhu cầu của họ,
mức sống của họ. Khi mà thu nhập của người tiêu dùng ngày càng tăng lên thì mức sống
của họ cũng cao hơn, nhu cầu tiêu dùng cũng lớn hơn, từ chỗ ăn no và mặc ấm đến chỗ
đòi hỏi phải được thoả mãn cao hơn nhu cầu về thẩm mỹ. Giày dép là một trong những
yếu tố làm tôn thêm vẻ đẹp của con người cho nên nhu cầu về giày dép ngày càng tăng
lên.
 Xuất khẩu giày dép chịu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ làm thay đổi cán cân thương mại, ảnh hưởng đến sự di
chuyển của các dòng vốn quốc tế và qua đó ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia. Cho
nên, tỷ giá hối đoái mà càng cao thì càng thúc đẩy cho xuất khẩu giày dép nói riêng và
hàng hoá nói chung tăng nhanh, góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu giày dép. Hiện
nay hoạt động xuất khẩu giày dép hầu hết được thanh toán theo đồng USD và EUR. Cho
nên sự biến động về giá trị của hai đồng tiền này sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất
khẩu giày dép nói riêng và xuất khẩu hàng hoá nói chung.
 Đối thủ cạnh tranh cũng là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc xuất khẩu
giày dép.
Bất kể ngành nghề nào tính cạnh tranh cũng rất khốc liệt. Đặc biệt ngành giày da
luôn phải chủ động thay đổi mẫu mã cập nhật xu hướng kịp thời mà lại vẫn phải đảm
chất lượng và giá cả cạnh tranh. Vậy nên nắm bắt được tình hình và đối thủ cạnh tranh
để đưa ra hướng đi đúng về sản xuất và giá cả sẽ khiến các quốc gia đẩy mạnh được lợi
thế cạnh tranh của mình.
+ Tình hình chính trị của nước nhập khẩu giày dép nói riêng và của toàn thế giới
có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu giày dép của các doanh nghiệp sản xuất và
xuất khẩu giày dép.
Hiện nay tình hình chính trị thế giới đang ổn định, không có những biến động lớn
là một yếu tố thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu giày dép. Bên cạnh đó, sự ổn định về
chính trị và sự ủng hộ của chính phủ thông qua các chính sách khuyến khích phát triển
20
ngành giày dép như: Xây dựng các quỹ tín dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp da giày
vay với lãi suất thấp để có thời gian lưu chuyển vốn dài, tạo các điều kiện thuận lợi trong
vay ngoại tệ để mua trang thiết bị sản xuất giày, các chính sách hỗ trợ đào tạo nhân lực
về thiết kế giày, quản lý và vận hành quy trình sản xuất giày dép cũng đã được quan tâm,
đã tạo ra một lợi thế lớn cho sự phát triển của ngành giày dép.
+ Môi trường văn hoá – xã hội.
Giày dép là một phần của thời trang mà ở các nền văn hoá khác nhau sẽ có quan
điểm khác nhau về thời trang, cái đẹp. Điều này sẽ chi phối đến cung cầu về sản phẩm
giày dép. Không những thế, sự gia tăng dân số của một đất nước, sự già hoá trong dân
cư cũng ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu giày dép cụ thể như một đất nước có cơ cấu
dân số già, những người trong độ tuổi từ 65 tuổi trở lên là những người nghỉ hưu sống
bằng trợ cấp, thích đi bộ đường dài, du lịch dài ngày và thường xuyên. Vì thế, nhu cầu
về sản phẩm giày dép là rất lớn, những sản phẩm này phải được thiết kế đặc biệt với
những tính năng hỗ trợ cơ bắp với những chất liệu phải rất mềm, kiểu dáng đơn giản,
gọn nhẹ và có độ bền cao.
+ Môi trường khoa học kỹ thuật – công nghệ.
Với sản phẩm giày dép, yếu tố khoa học kỹ thuật và công nghệ đóng một vai trò
cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, những tiểu tiết
cầu kỳ và công phu. Nhiều sản phẩm giày dép mà khách hàng nước ngoài đặt hàng thì
các doanh nghiệp còn phải xem xét xem có phù hợp với máy móc công nghệ hiện có của
doanh nghiệp không thì mới tiến hành sản xuất.Điều này ảnh hưởng nhiều đến năng suất
cũng như uy tín, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.3 Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia xuất khẩu giày dép
Trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc
tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng là việc làm hết sức cần thiết. Nhờ có hoạt
động thúc đẩy xuất khẩu mà các doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng sản xuất, mở
rộng quy mô xuất khẩu, từng bước tăng trưởng và phát triển. Bên cạnh đó, vì thị trường
luôn luôn biến động không ngừng nên thúc đẩy xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho các doanh
21
nghiệp trong nước đa dạng hoá chủng loại sản phẩm và giảm thiểu được các rủi ro có thể
xảy ra trong kinh doanh.
Mỹ là thị trường xuất nhập khẩu quan trọng, có nhu cầu nhập khẩu rất lớn đối với
nhiều mặt hàng tiêu dùng. Mỹ có quan hệ thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ
trên thế giới. Trong nhiều năm qua, sản xuất da giày của thế giới đã phát triển theo
hướng thiết lập các chuỗi cung ứng sản phẩm toàn cầu, trong đó đầu chuỗi thường là
các công ty, tập đoàn thương hiệu giày dép lớn tại Mỹ và châu Âu (Nike, Skechers
USA, Adidas, Timberland...). Các tập đoàn thương hiệu đầu chuỗi chủ yếu thực hiện
nghiên cứu phát triển và thiết kế sản phẩm tại Mỹ và đặt hàng sản xuất gia công trực tiếp
qua các nhà sản xuất lớn hoặc qua các nhà đầu tư FDI tại châu Á, như Trung Quốc, Việt
Nam, Ấn Độ, Campuchia… sau đó tổ chức nhập khẩu và tiếp thị, phân phối, bán lẻ tại
Mỹ. Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành bạn hàng lớn thứ 3 của Mỹ sau Canada và
Mexico là hai nước thành viên của NAFTA. Năm 2019 Mỹ nhập khẩu 2,24 tỷ đôi giầy
dép, trị giá 27,1 tỷ USD, đáp ứng 98,6% tiêu dùng, trong đó nhập khẩu lớn nhất từ
Trung quốc chiếm 64,5%. Từ con số này Việt Nam sẽ học hỏi được không ít kinh nghiệm
trong xuất khẩu mặt hàng này.
1.3.1 Kinh nghiệm từ Trung Quốc
Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thực hiện việc quản lý hàng hoá
xuất khẩu rất chặt chẽ. Luật pháp nước này quy định: Hàng hóa từ khi nhập cảnh cho
đến khi xuất cảnh, đều do Hải quan quản lý, gian sát. Điều này đã tạo cho Hải quan
Trung Hoa có nhiệm vụ và quyền hạn rất lớn. Nội dung của hợp đồng giày dép xuất khẩu
phải phù hợp với quy định dưới sự giám sát, quản lý của Hải quan. Đối với mặt hàng
giày dép, toàn bộ được thực hiện bằng máy tính từ khâu tiếp nhận, đến khâu thanh khoản.
Hải quan Trung Quốc có một cơ quan chuyên trách thẩm định định mức hàng giày dép,
cơ quan này độc lập với các đơn vị Hải quan làm thủ tục trực tiếp.
Việc Hải quan Trung Hoa quản lý chặt chẽ công tác thẩm định định mức hàng
hóa, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm đã góp phần nâng cao hiệu quả công
tác quản lý về Hải quan đối với hàng đầu tư sản xuất nói chung, hàng giày dép nói riêng.
Đặc biệt, Trung Quốc được mệnh danh là công xưởng của thế giới, việc chủ động
nguồn nguyên vật liệu khiến các doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc giảm chi phí
22
sản xuất đáng kể đặc biệt ngành giày dép chủ động được nguồn nguyên phụ liệu là giảm
được tới 30% – 50% chi phí sản xuất. Ngoài ra tạo việc làm và thu nhập cho rất nhiều
lĩnh vực và ngành nghề liên quan đến sản xuất nguyên phụ liệu phục vụ cho xuất khẩu
mặt hàng giày dép.
Một yếu tố quan trọng không kém tạo nên sự thành công trong xuất khẩu mặt hàng
giày dép của Trung Quốc là ứng dụng dây chuyển sản xuất tự động. Ngoài việc chú trọng
phát triển mẫu mã sản phẩm, các doanh nghiệp da giày của Trung Quốc còn có riêng
một bộ phận chuyên nghiên cứu máy móc và phát triển dây chuyền tự động hóa. Các
hợp đồng với số lượng sản phẩm lớn và yêu cầu trong thời gian ngắn họ có thể đáp ứng
được nhanh chóng đồng thời việc hoàn thành sớm đơn hàng còn giúp các doanh nghiệp
giày dép của Trung Quốc nhận được nhiều hợp đồng hơn, từ đó lợi nhuận và quy mô
doanh nghiệp càng được nâng cao hơn.
1.3.2 Kinh nghiệm từ Thái Lan
Tại Thái Lan, các quy trình về thủ tục hải quan cơ bản là thực hiện qua mạng, áp
dụng hải quan điện tử, Hải quan Thái Lan đã áp dụng việc kiểm tra bằng các thiết bị tự
động thông qua khai quan bằng điện tử qua mạng. Việc quyết toán cũng thực hiện qua
mạng, nếu sai thì doanh nghiệp phải chịu phạt rất nặng. Tính tự giác của doanh nghiệp
Thái Lan rất cao, họ sợ làm sai vì nếu sai họ không được ưu đãi trong thông quan mà
còn bị Hải quan kiểm tra sau thông quan rất nhiều lần sẽ gây khó khăn, mất thời gian
cho doanh nghiệp. Khác với Việt Nam, pháp luật về gia công của Thái Lan điều chỉnh
chủ yếu hoạt động gia công tại nước ngoài, do vậy doanh nghiệp xuất khẩu nguyên liệu
ra nước ngoài (ưu đãi xuất khẩu) và nhập khẩu sản phẩm trở lại Thái Lan hoặc xuất khẩu
sản phẩm sang nước thứ ba. Trường hợp khi phát hiện các doanh nghiệp vi phạm pháp
luật, Hải quan Thái Lan có các chế tài xử phạt rất nghiêm minh. Hệ thống máy tính sẽ
cập nhật và trừ điểm theo mã số của doanh nghiệp vi phạm. Nếu doanh nghiệp vi phạm
nhiều lần thì sẽ bị mất quyền ưu đãi trong khi làm thủ tục hải quan, đặc biệt là quyền
được miễn kiểm tra hàng hóa.
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Ngành giày da của Việt Nam là một trong những ngành được chú trọng phát triển
khi Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với những ưu thế về nguồn nhân
23
công dồi dào, lượng vốn đầu tư không lớn, khả năng thu hồi vốn nhanh, trong những
năm qua Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành công trong việc giải quyết việc làm cho
người lao động cũng như đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước, từng
bước đưa nước ta trở thành một trong 10 quốc gia có ngành giày da phát triển nhất thế
giới. Tuy nhiên Việt Nam là một nước đang phát triển, do đó, chúng ta có điều kiện học
hỏi và rút ra kinh nghiệm từ một số nước đi trước trong xuất khẩu ngành giày dép.
Từ Trung Quốc, chúng ta rút ra được rằng để hoạt động xuất khẩu giày dép phát
triển thì nhất thiết phải đẩy mạnh sản xuất và chủ động nguồn nguyên liệu trong nước,
quy hoạch theo phát triển hàng hóa, tâp trung và quan tâm tới các ngành sản xuất và dịch
vụ phụ trợ (sản xuất giống cây cao su) và công nghệ trồng và chăm sóc cây cao su. Nhà
nước cần có các chính sách khuyến khích, thu hút lực lượng khoa học kỹ thuật, nguồn
vốn đầu tư, đặc biệt là các nguồn vốn từ các doanh nghiệp và các nhà đầu tư quốc tế,
tăng khả năng cạnh tranh của ngành giày dép. Cùng chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam nên học tập Trung Quốc trong việc điều
tiết sự phát triển ngành giày dép thông qua xây dựng hệ thống các cơ quan chức năng
đầy đủ và toàn diện, ban hành các bộ luật, chính sách liên quan đến hoạt động của ngành
giày dép vừa phù hợp với các tiêu chuẩn của thị trường Mỹ vừa thích ứng với điều kiện
của nền sản xuất trong nước. Ngoài ra việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ trong mô
hình sản xuất sẽ giúp các doanh nghiệp giày dép của Việt Nam có thể mở rộng quy mô
và có được nhiều đơn hàng hơn từ đối tác Mỹ.
Từ kinh nghiệm của Thái Lan, Việt Nam học hỏi được trong khâu cải thiện thủ
tục hải quan, đơn giản hóa các bước thực hiện. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong
thủ tục hải quan đồng thời giảm thiểu chi phí thuê nhân sự, các doanh nghiệp xuất khẩu
thực hiện nhanh chóng đơn hàng được gửi đi sớm hơn. Ngoài ra việc quản lý các sai
phạm của Nhà nước trở nên dễ dàng hơn khi phải giải quyết bằng văn bản giấy.
Ngoài ra thông qua việc tham gia vào các tổ chức kinh tế đa phương, mở rộng các
mối quan hệ thương mại và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế có điều kiện tham
gia nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu. Nâng cao khả năng cạnh tranh tại thị trường
nước ngoài.
24
Chương 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GIÀY DÉP VIỆT NAM SANG
MỸ GIAI ĐOẠN 2010 – 2020
2.1. Tổng quan thị trường giày dép tại Mỹ
2.1.1. Tình hình tiêu thụ giày dép tại Mỹ
 Quy mô thị trường
Mỹ có một nền kinh tế tư bản hỗn hợp, được thúc đẩy bởi tài nguyên thiên nhiên
dồi dào, một cơ sở hạ tầng phát triển và năng suất cao. Nền kinh tế Mỹ cũng là nền
kinh tế lớn nhất thế giới. Theo báo cáo năm 2020 của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, GDP
của Mỹ xấp xỉ 20,9 nghìn tỷ USD cấu thành khoảng 1/4 tổng sản phẩm thế giới nêu
tính theo tỷ giá thị trường và khoảng 1/5 tổng sản phẩm thế giới nêu tính theo ngang
giá sức mua giảm 3,5% so với mức 21,4 nghìn tỷ USD của năm 2019.
Biểu đồ 2.1: Lượng tiêu thụ giày dép của Mỹ giai đoạn 2015 – 2020
Đơn vị: Tỷ đôi
Nguồn: Trademap.org
3
2.5
2
1.5
Sản xuất
nội địa
Nhập khẩu
1
0.5
0
201
5
201
6
201
7
201
8
201
9
202
0
0.83
1.5
0.76
2.34
0.76
2.39
0.84
2.45
0.91
2.47
0.62
1.88
25
Đây là lần đầu tiên GDP hàng năm của Mỹ giảm kể từ năm 2009 - năm mà nền
kinh tế nước này giảm 2,5% do khủng hoảng tài chính. Năm 2020 toàn thế giới không
chỉ riêng Mỹ phải chịu hậu quả của dịch Covid – 19.
Với dân số khoảng 331.966.720 người (dự kiến dân số ngày 31/12/2020 của Cục
Điều tra dân số Mỹ), Mỹ là thị trường giày dép lớn nhất thế giới. Trung bình, mỗi
người có 7,3 đôi giày mới được nhập khẩu vào thị trường Mỹ hàng năm, và tổng chi
tiêu của người tiêu dùng cho giày dép ước tính là 80,2 tỷ đô la. Trong giai đoạn 2015 -
2020, các nghiên cứu đã ghi nhận sự thay đổi trong chi tiêu tùy ý của người tiêu dùng
Mỹ từ hàng hóa như quần áo và giày dép sang chi tiêu cho trải nghiệm và du lịch. Sự
thay đổi này một phần có thể giải thích sự chậm lại trong tăng trưởng nhập khẩu giày
dép của Mỹ. Hàng nhập khẩu cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều kiểu dáng và xu hướng
khác nhau của người tiêu dùng. Ví dụ: xu hướng "thể thao" tiếp tục thống trị chi tiêu
của người tiêu dùng Mỹ cho giày thể thao: doanh số bán giày thể thao tăng 2% lên 24,3
tỷ đô la trong năm 2019 và giải trí thể thao là danh mục lớn nhất trong giày thể thao.
Đến năm 2020, sản lượng tiêu thụ giày dép của người Mỹ là 1,88 tỷ đôi giảm 3,9% so
với năm 2019. Thị phần của giày nội địa trong những năm gần đây suy giảm mạnh,
nguồn giày dép tiêu dùng của Mỹ chủ yếu đến từ nhập khẩu. Năm 2015, lượng giày
dép nhập khẩu chỉ chiếm 69% thì đến 2019, con số này lên tới 93,6%. Như vậy có thể
thấy Mỹ là một đất nước phụ thuộc vào nhập khẩu giày dép từ bên ngoài. Đây là một
cơ hội tốt cho Việt Nam và các nước đang phát triển trong việc xuất khẩu sản phẩm
giày dép sang Hoa Kỳ.
 Đặc điểm, xu hướng và thị hiếu tiêu dùng
- Đặc điểm:
Dung lượng thị trường Mỹ rất lớn do Mỹ có dân số đông, thu nhập bình quân
đầu người cao. Sức mua của người Mỹ lớn vì họ chi tiêu mua sắm nhiều.
Cơ cấu thị trường và mặt hàng tiêu thụ ở Hoa Kỳ rất đa dạng, nhu cầu hàng hóa ở
từng vùng không giống nhau. Hàng hoa dù có chất lượng cao hay vừa đều có thể bán
trên thị trường Mỹ vì ở đây có nhiều tầng lớp dân cư với mức sống khác nhau. Tuy
26
nhiên, đòi hỏi của người tiêu dùng Mỹ đối với sản phẩm cũng rất khắt khe, sản phẩm
không chỉ chất lượng tốt mà giá cả phải hợp lý và dịch vụ đảm bảo.
Có thể thấy Mỹ có thành phần xã hội đa dạng gồm nhiều cộng đồng riêng biệt.
Hầu hết người Mỹ có nguồn gốc từ Châu Âu, các dân tộc thiểu số gồm người Mỹ bản
xứ, Mỹ gốc Phi, Mỹ La Tinh, Châu Á và người từ các đảo Thái Bình Dương. Các dân
tộc này đã đem vào nước Mỹ những phong tục tập quán, ngôn ngữ, thói quen, đức tin
riêng của họ. Điều này tạo nên mốt môi trường văn hóa phong phú và đa dạng. Đặc
điểm này mang lại cho thị trường Mỹ tính đa dạng phong phú trong tiêu dùng rất cao.
Những đặc điểm riêng về địa lý và lịch sử đã hình thành nên một thị trường người
tiêu dùng khổng lồ và đa dạng nhất thế giới. Mỹ có một sức mạnh kinh tế khổng lồ và
thu nhập của người dân cao với thu nhập đó mua sắm đã trở thành nét không thế thiếu
hụt trong văn hóa hiện đại của nước này. Cửa hàng là nơi họ đến mua hàng, dạo chơi,
gặp nhau, trò chuyện và mở rộng giao tiếp xã hội. Qua thời gian, người tiêu dùng Mỹ
có niềm tin tuyệt đối vào hệ thống cửa hàng đại lý bán lẻ của mình. Họ có sự bảo đảm
về chất lượng bảo hành và các điều kiện vệ sinh an toàn khác. Điều này cũng làm cho
họ có ấn tượng rất mạnh với lần tiếp xúc đầu tiên với các mặt hàng mới. Nếu ấn tượng
này là xấu hàng hóa đó sẽ khó có cơ hội quay lại. Mỹ không có các lề ước và tiêu chuẩn
thẩm xã hội mạnh và bắt buộc như ở các nước khác. Các nhóm người khác nhau vẫn
sống theo văn hóa tôn giáo của mình và theo thời gian hòa trộn ảnh hưởng lẫn nhau tạo
ra sự khác biệt trong thói quen tiêu dùng ở Mỹ so với người tiêu dùng ở các nước Châu
Âu. Thị trường Mỹ mang tính chất quốc tế theo ý nghĩa dễ dàng chấp nhận hàng hóa từ
bên ngoài vào một khi các hàng hoa đó đáp ứng được đòi hỏi đa dạng của thị trường
đặc biệt này. Đây là một địa chỉ lý tưởng cho tất cả các nước trên thế giới. Từ các nước
Châu Âu, Nhật Bản đến các nước đang phát triển như Ấn Độ, Việt Nam và các nước
nghèo như Campuchia, Bangladesh đều có thể xuất khẩu được hàng hóa vào Mỹ, miễn
sao hàng hóa của họ có thể đáp ứng được đòi hỏi của thị trường Mỹ. Chất lượng hàng
hóa vào Hoa Kỳ rất linh hoạt và được chấp nhận theo nguyên tắc "tiền nào của ấy". Tuy
nhiên, đối với người dân Mỹ có thu nhập cao thì chất lượng hàng hóa luôn là tiêu chuẩn
hàng đầu. Vì thế họ đòi hỏi nghiêm ngặt về chất lượng hàng hóa và sẵn sang chấp
27
nhận giá cao đối với những hàng hóa đó. Nhưng đồng thời, ở Mỹ vẫn còn có một bộ phận
người dân sống ở mức nghèo và tầng lớp trung lưu cũng khá đông nên hàng hóa có chất
lượng thấp và trung bình từ Việt Nam vẫn có thể tìm được chỗ đứng trên thừ trường nước
này. Cần đảm bảo các tiêu chuẩn xuất xứ và chất lượng của hàng hóa là quan trọng,
nhưng chưa phải là đủ vì chủ yếu người Mỹ rất chú ý đến các yếu tố khác như: đổi mới kỹ
thuật, hình dáng thiết kế mới, an toàn, tiện sử dụng, đóng gói đẹp. Với sức hấp dẫn của
mình, Mỹ là một thị trường cạnh tranh gay gắt. Hàng hóa của một nước vào thị trường
Mỹ phải cạnh tranh với các mặt hàng tương tự từ nhiều nước khác và hàng sản xuất trong
nước. Mấu chốt để cạnh tranh trên thị trường Mỹ là giá cả, chất lượng và dịch vụ. Đôi khi
đòi hỏi về giá cả lại lớn hơn đòi hỏi về chất lượng. Do người tiêu dùng Mỹ thích thay đổi,
họ muốn mua những hàng hóa rẻ, chất lượng vừa phải hơn những mặt hàng bền mà giá lại
đắt. Vì nguyên nhân này mà các hàng hóa của Trung Quốc rất thành công trên thị trường
Mỹ. Một điều nữa cần lưu ý là khi bán hàng trên thị trường Mỹ, công tác marketing đóng
vai trò hết sức quan trọng. Thị trường Mỹ luôn thu hút mọi nhà xuất khẩu trên khắp thế
giới, khi đã qua được giai đoạn giới thiệu sản phẩm và thâm nhập được vào hệ thống
phân phối, các nhà xuất khẩu nước ngoài sẽ nhận được những đơn đặt hàng rất lớn, ổn
định và lâu dài đem lại nguồn doanh thu ổn định và ngày càng tăng, giúp các nhà sản xuất
tái đầu tư mở rộng sản xuất, liên tục phát triển.
Thị trường Mỹ được quản lý trên cơ sở pháp luật. Trong thương mại, các văn bản
luật bao gồm luật điều chỉnh chung, luật điều chỉnh từng nhóm các mặt hàng và thậm chí
một số mặt hàng có luật điều chỉnh riêng. Các luật này rất chặt chẽ và đòi hỏi sự tuân thủ
nghiêm ngặt. Hệ thống luật này khá phức tạp và làm cho các nhà xuất khẩu nước ngoài
gặp khó khăn nếu không nắm vững.
Chính sách thương mại của Mỹ nói chung là tự do và mở rộng. Hàng hóa nước
ngoài vào thị trường Mỹ phải chịu các mức thuế khác nhau và phải chịu sự điều chỉnh
của các luật lệ và quy định của nước này. Mỹ có một hệ thống pháp luật về thương mại
vô cùng rắc rối và phức tạp. Bộ luật thương mại (UCC) được coi là bộ luật cái của hệ
thống pháp luật về thương mại của Mỹ bao gồm: luật về trách nhiệm sản phẩm (theo luật
này, nhà sản xuất và người bán hàng phải chịu trách nhiệm với người tiêu dùng về chất
lượng hàng hóa sản phẩm trên thị trường Mỹ luật bảo hành và bảo vệ người tiêu dùng
28
... Bên cạnh đó, Mỹ còn áp dụng công cụ phi thuế quan rất ngặt nghèo như: vệ sinh an
toàn thực phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, đóng gói, bao bì, nhãn mác hàng hóa... Chính vì vậy
để có thể thành công thâm nhập thị trường vô cùng tiềm năng và cũng đầy phức tạp này
các doanh nghiệp Việt Nam cần có một hiểu biết sâu sắc và nắm vững các đặc trưng của
nó.
Qua những đặc điểm cơ bản trên, Mỹ là một thị trường khổng lồ, Việt Nam chỉ
cần chiếm một thị phần nhỏ trên thị trường Mỹ cũng đã là rất lớn đối với nền kinh tế
nước ta hiện nay.
- Xu hướng tiêu dùng:
Càng ngày các công nghệ mới càng được ứng dụng trong ngành da giày để đưa ra
các sản phẩm cực kỳ sáng tạo, đi trước xu hướng thời đại. Đơn cử như nhãn hiệu giày
dép Geox của Ý với ý tưởng độc đáo thiết kế những đôi giày có thể "thờ" được, đặc biệt
cho giày thể thao với công nghệ thiết kế giày thẩm thấu được tối đa mồ hôi chân. Công
nghệ này hiện nay được ứng dụng nhiều nơi và thậm chí cả trong ngành dệt may. Công
ty này cũng phát triển công nghệ sản xuất da chống thấm nước. Những sáng tạo thành
công này đã trở thành một phân ngành mới trong ngành giày dép và đưa tên tuổi những
hãng giày dép này nổi tiếng toàn thế giới. Hoặc công ty Nike thể hiện đẳng cấp đầu đàn
của mình với các dự án thân thiện với môi trường như "tái chế" giày với công nghệ phân
tách, tái chế và tái sử dụng lại các nguyên liệu của đôi giày cũ. Với một đất nước luôn
tiên phong trong việc sử dụng các sản phẩm công nghệ mới như Mỹ, những sản phẩm
như vậy chắc chắn sẽ được chào đón và trở thành xu hướng tiêu dùng trong tương lai.
- Thị hiếu tiêu dùng:
Mỹ rất rộng lớn và có nhiều bang, mỗi bang lại có những sở thích tiêu dùng khác
nhau. Dựa trên vị trí địa lý, có thể chia thị trường tiêu thụ của Mỹ thành những khu vực
như sau:
+ Khu vực ven bờ Đại Tây Dương bao gồm các bang New York, New Jersey,
Maryland, Pennsylvania. Khu vực này rất đông dân cư, phân chia thành nhiều tầng lớp
29
xã hội khác nhau, trong đó bộ phận quý tộc độc thân chiếm tỉ lệ cao. Cho nên ở đây tập
quán của người tiêu dùng theo tự do cá nhân, nhịp điệu sinh hoạt nhanh, họ thích tới
những nơi có hàng hóa tập trung và đa dạng để mua hàng.
+ Khu New England bao gồm các bang Maine, New Hampshire, Rhode Island,
Massachusetts, Vermont, Connecticut, thuộc vùng Đông Bắc Mỹ. ở khu vực này cư dân
có độ tuổi bình quân tương đối cao và có nhiều nhân tài chuyên môn, quản lý cấp cao.
Do đó, họ thích mua hàng hóa theo nhiều phương thức thoáng mở.
+ Khu phía Nam bao gồm từ Georgie nôi liên các bang phía Nam của Floria. Đặc
điểm của người dân ở đây là tính cách tương đối bảo thủ, rất có cảm tình và cũng thích
chạy theo các mốt thời thượng,
2.1.2. Tình hình nhập khẩu giày dép tại Mỹ giai đoạn 2010 -
2020
 Kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020
Nhìn chung, kim ngạch nhập khẩu giày dép ở thị trường Hoa Kỳ tăng dần qua các
năm. Theo số liệu thống kê của ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ, giai đoạn 2010 -
2020, kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ trung bình khoảng 25 tỷ USD, với tốc độ
tăng trưởng trung bình khoảng 6,2%/năm.
Kim ngạch nhập khẩu duy trì tăng nhẹ trong các năm đạt mức đỉnh điểm ở năm
2016 với tổng kim ngạch nhập khẩu là xấp xỉ 27,651 tỷ USD. Năm 2020 chứng kiến sự
sụt giảm mạnh (kim ngạch giảm 9,2% so với năm 2019) trong nhập khẩu mặt hàng giày
dép ở Mỹ. Trước tác động sâu rộng của dịch Covid - 19, người tiêu dùng buộc phải cắt
giảm chi tiêu do giãn cách xã hội và mất việc làm phải nhờ vào trợ cấp quốc gia là
nguyên nhân của thực trạng này đồng thời người dân không đi ra ngoài nhiều nên nhu
cầu sử dụng mặt hàng này giảm đáng kể. Tuy nhiên với tiềm lực kinh tế của Mỹ việc đẩy
lùi dịch bệnh không còn là khó khăn, dự báo trong năm 2021 nhập khẩu sẽ tăng trở lại.
Mặt khác việc giãn cách xã hội do ảnh hưởng của dịch Covid – 19 khiến các mặt
hàng giày dép sử dụng ở nhà tang tuy không đáng kể nhưng cũng khiến kim ngạch xuất
khẩu trong năm 2020 không bị giảm sâu như các ngành khác.
30
30
27.65
1
26.01
9
25.63
4
25.64
1
26.56
8 24.86
9
25
20
15
10
5
0
201
5
201
6
201
7
201
8
201
9
202
0
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020
Đơn vị: Tỷ USD
Nguồn: Ủy ban Thương mại quốc tế Mỹ (USITC)
 Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu
Các mặt hàng giày dép nhập khẩu theo mã HS bao gồm:
+ Giày không thấm nước với đế ngoài và mũi giày bằng cao su hoặc chất dẻo
(6401)
+ Giày có thể bị thấm nước, có đế ngoài và mũi giày bằng cao su hoặc chất dẻo
(6402)
+ Giày với đế ngoài bằng cao su, chất dẻo, da hoặc có da là thành phần; mũi giày
bằng da (6403)
+ Giày với đế ngoài bằng cao su, chất dẻo, da hoặc có da là thành phần; mũi giày
bằng nguyên liệu dệt (mũi vải) (6404)
+ Giày dép khác (6405)
+ Các bộ phận của giày dép (kể cả mũi giày đã hoặc chưa gắn liền với đế khác với
đế ngoài), lót có thể tháo rời, đệm lót chân và các loại tương tự,... (6406)
31
Biểu đồ 2.3: Giá trị nhập khẩu giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020 phân theo
mã HS
Đơn vị: Tỷ USD
Nguồn: Trademap.org
Mặc dù nhìn chung các mặt hàng nhập khẩu đều có xu hướng giảm trong thời gian
gần đây do ảnh hưởng của dịch Covid - 19 nhưng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu
mặt hàng giày dép nhập khẩu ở Mỹ luôn là giày mang mã HS là 6403 - giày với đế
ngoài bằng cao su, chất dẻo, da hoặc có da là thành phần, mũi giày bằng da, chiếm
54,79% tổng giá trị giày dép nhập khẩu của Mỹ năm 2020 (giày dép mang mã HS này
có thuế suất nhập khấu thấp nhất so với các giày dép mã HS khác); kế đến là 6404
- giày với đế ngoài bằng cao su, chất dẻo, da hoặc có da là thành phần mũi giày bằng
16
14
12
1
0
8
6
640
3
640
4
640
2
640
5
640
6
640
1
4
2
0
201
5
201
6
201
7
201
8
201
9
202
0
13.3
6
6.68
7.34
0.71
0.43
0.21
11.6
3
7.38
6.27
0.7
0.4
0.16
10.6
8
8.53
6.02
0.86
0.36
0.15
11.0
2
9.08
6.01
0.92
0.35
0.16
11.3
2
9.25
5.99
1.07
0.35
0.2
8.47
7.14
4.66
0.88
0.24
0.13
32
nguyên liệu dệt (mũi vải), chiếm 27,56% tổng giá trị giày dép nhập khẩu của Mỹ năm
2020.
 Cơ cấu thị trường nhập khẩu
Dẫn đầu trong danh sách các nước xuất khẩu giày dép sang Mỹ là Trung Quốc.
Năm 2019, Trung Quốc chiếm tới 53% trong tổng kim ngạch nhập khẩu giày dép của
Mỹ mặc dù bản thân nó lần đầu tiên suy giảm 1,8% so với kim ngạch nhập khẩu giày
dép của Mỹ từ Trung Quốc năm trước đó. Tuy nhiên đến năm 2020 do ảnh hưởng của
dịch Covid – 19 kim ngạch xuất khẩu giảm còn 9,157 tỷ USD giảm tới 64% so năm
trước. Trong những năm gần đây, Trung Quốc vươn lên phát triển mạnh mẽ tới mức
nhiều ý kiến cho rằng Trung Quốc sẽ nhanh chóng thay thế Mỹ để trở thành cường
quốc lớn mạnh nhất thế giới. Vì lý do đó, Mỹ luôn tìm mọi cách để kìm hãm sự phát
triển của Trung Quốc trên mọi mặt: kinh tế, quân sự, chính trị. Trong tương lai, Mỹ có
xu hướng giảm nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc để tránh bị phụ thuộc điển hình
vào thời Tổng thống Donal Trump đã gây ra chiến tranh thương mại đầu tiên trên thế
giới với việc áp thuế lên hầu hết các sản phẩm chủ lực xuất khẩu của Trung Quốc,
đồng thời tăng cường nhập khẩu từ các nước đang phát triển khác, trong đó Việt Nam
là một điểm đến được Mỹ chú ý.
Đứng thứ 2 sau Trung Quốc về sản lượng giày dép xuất sang Mỹ là Việt Nam.
Trong 10 năm kể từ 2010 đến 2020, sản lượng giày dép Việt Nam xuất sang thị trường
Mỹ tăng mạnh. Tuy nhiên mức tỷ trọng 31,4% trong kim ngạch nhập khẩu giày dép của
Mỹ năm 2020 là con số quá khiêm tốn so với mức gần 42,7% của Trung Quốc
Phần tỷ trọng 25,9% còn lại của năm 2020 được nắm giữ bởi các nước Indonesia,
Italy, Mexico, Ấn Độ, Cambodia, Dominican Rep, Spain, Canada,... Nhập khẩu của Mỹ
từ Ý và Mexico - những nhà cung cấp có uy tín về giày da chất lượng, lần lượt đạt
1,366 tỷ USD (giảm 11,5%) và 0,331 tỷ USD (giảm 33,8%) so với năm 2019. Tuy kim
ngạch xuất khẩu giảm nhưng các mặt hàng từ hai quốc gia này luôn là sản phẩm chất
lượng cao với thiết kế tỉ mỉ tới từng đường kim, vì vậy trong tương lai bộ phận khách
hàng có nhu cầu sử dụng sẽ lại tăng trở lại mà không có bất kỳ thị trường nào có thể thay
đổi vị thế của hai quốc gia này.
Dưới đây là cơ cấu nhập khẩu giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020:
33
Bảng 2.1: Kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ phân theo thị trường giai đoạn
2010-2020
Đơn vị: Tỷ USD
2015 2016 2017 2018 2019 2020
China 17,066 17,276 14,821 14,255 14,061 9,157
Việt Nam 3,623 4,474 4,911 5,525 6,208 6,73
Indonesia 1,235 1,426 1,462 1,509 1,539 1,434
Italy 1,444 1,408 1,358 1,37 1,542 1,366
Mexico 0,499 0,493 0,413 0,416 0,5 0,331
India 0,349 0,468 0,503 0,448 0,44 0,318
Cambodia 0,128 0,218 0,255 0,271 0,329 0,521
Dominican
Rep
0,297 0,327 0,312 0,271 0,257 0,167
Spain 0,213 0,224 0,243 0,233 0,242 0,152
Canada 0,059 0,073 0,05 0,052 0,051 0,043
All other 1,106 1,264 1,306 1,291 1,399 1,208
Tổng nhập
khẩu
26,018 27,65 25,634 25,64 26,567 21,427
Nguồn: Trademap.org
2.2 Hoạt động sản xuất và xuất khẩu mặt hàng giày dép tại Việt Nam
2.2.1. Khái quát về quá trình phát triển của ngành giày dép Việt Nam
Hầu hết các doanh nghiệp giày dép Việt Nam đặt cơ sở ở những vùng công nghiệp
có lợi thế về giao thông vận tải. Ở miền Bắc có nhiều doanh nghiệp giày dép, đặc biệt là
doanh nghiệp tư nhân có vốn đầu tư nước ngoài tại Hải Phòng và ven thành phố Hà Nội.
Ở miền Nam, hầu hết các doanh nghiệp giày dép ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng
34
Nai, Bình Dương, nơi tập trung nhiều khu công nghiệp. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi
tập trung nhiều doanh nghiệp giày dép nhất cả nước.
Bảng 2.2: Thống kê hội viên theo địa bàn của Hiệp hội da giày Việt Nam năm
2020
STT Khu vực Số hội viên
1 Hưng Yên
2 Phú Thọ
3 Vĩnh Phúc
4 Hà Nội
5 Nam Định
6 Hải Phòng
7 Hải Dương
8 Khánh Hòa
9 Huế
10 Đà Nẵng
11 Tây Ninh
12 Bình Định
13 Đồng Nai
14 Cần Thơ
15 Bình Dương
16 Hồ Chí Minh
Nguồn: Hiệp hội da giày Việt Nam
35
2.2.2. Hoạt động sản xuất
 Quy mô sản xuất
Việt Nam là một trong năm nhà sản xuất giày dép hàng đầu thế giới với công suất
920 triệu đôi/năm với 90% sản phẩm là cho xuất khẩu. Việt Nam hiện có 4 phương thức
sản xuất giày dép.
+ Một là, gia công thuần túy, nghĩa là, nhà máy chỉ nhận vật tư, nguyên liệu được
cung cấp từ đối tác nước ngoài, không phải thanh toán tiền vật tư, nguyên liệu và sau khi
dùng vật tư, nguyên liệu đó theo quy trình công nghệ đã được chọn sẵn phía nước ngoài,
làm ra sản phẩm, rồi xuất giao lại cho phía đối tác nước ngoài và nhận tiền công.
+ Hai là, mua nguyên liệu bán thành phẩm, cũng gần giống phương thức thứ nhất
nhưng nhà máy phải tự mua vật tư và thanh toán tiền vật tư.
+ Ba là, sản xuất theo doanh nghiệp gọi hiện nay là hàng FOB, có 2 phương thức
khác nhau, thứ nhất là xuất hàng FOB, sản xuất cho các thương hiệu nước ngoài, tiêu
thụ ở thị trường xuất khẩu và thứ hai là sản phẩm mang thương hiệu cửa chính doanh
nghiệp đó. Những phương thức này hiện nay thực hiện được rất ít vì thương hiệu của ta
chưa đủ mạnh. Với khoảng gần 1000 doanh nghiệp giày dép hoạt động, thu hút hơn một
triệu lao động trực tiếp và gián tiếp, 80% là phụ nữ, ngành giày dép Việt Nam có tầm
quan trọng đối với việc thu hút lao động và chịu sự chi phối của các công ty nước ngoài.
Năng lực sản xuất toàn ngành da giày năm 2019 đạt 1899 triệu đôi giày dép các loại với
mức sử dụng da thuộc thành phẩm 450 triệu feet vuông, năm 2020 tuy ảnh hưởng của
dịch Covid-19 khiến việc xuất khẩu hàng hóa đi nước ngoài trì trệ nhưng vẫn đạt 1672
triệu đôi với mức sử dụng da thành phẩm 360 triệu feet vuông.
Năng lực sản xuất của ngành chủ yếu tại các cơ sở ngoài quốc doanh và có yếu tố
nước ngoài, chiếm trên 90% năng lực của ngành. Điều này cho thấy năng lực ngành da
giày Việt Nam phụ thuộc nhiều vào làn sóng đầu tư của tư bản tư nhân trong nước và
quốc tế.
Cơ cấu doanh nghiệp sản xuất
Theo khảo sát của hiệp hội da giày Việt Nam (LEFASO), tới năm 2020 có khoảng
gần 1000 doanh nghiệp giày dép với hơn 2 triệu lao động trực tiếp và gián tiếp. Đa số
36
các doanh nghiệp trong ngành tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh,
Đồng Nai và Bình Dương. Sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu của ngành giày dép Việt
Nam có sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước, các công ty tư nhân, các doanh
nghiệp sản xuất thủ công. Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước có nhiều
lợi thế so với các doanh nghiệp khác về vốn, cơ sở kỹ thuật và nguyên liệu, kinh nghiệm
và các mối quan hệ giao thương để có thể chủ động tìm kiếm và mở rộng thị trường, học
hỏi các mô hình thương mại cũng như các phương thức giao dịch quốc tế. Bên cạnh đó
là các lợi thế về chất lượng được đảm bảo, giá cả, điều kiện giao hàng và nâng cao uy
tín, hiệu quả xuất khẩu.
Hiện thời các doanh nghiệp tư nhân cũng góp phần lớn trong xuất khẩu giày dép.
Với lợi thế là sự tổ chức lao động một cách linh hoạt và năng động và sự thay đổi để đáp
ứng nhu cầu thị trường cùng với sự thích ứng nhanh chóng với quá trình thay đổi của cơ
chế thị trường, nhiều doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp nhà
nước. Sản phẩm giày dép của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được chất
lượng cao ở thị trường xuất khẩu quốc tế bởi thiết bị và công nghệ của họ hiện đại hơn
các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
có nguồn cung cấp nguyên liệu và các hợp đồng xuất khẩu ổn định. Các sản phẩm liên
doanh có khuynh hướng chiếm lĩnh thị trường nội địa. Các nước và khu vực đầu tư sản
xuất giày dép ở Việt Nam chủ yếu là Đài Loan, Hàn Quốc, Đức, Singapore, ... So sánh
với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
của Việt Nam yếu hơn về sự đầu tư và có ít cơ hội hơn khi tham gia thị trường quốc tế.
Hầu như tất cả các doanh nghiệp này không tiếp cận được thị trường nước ngoài và có
mối quan hệ trực tiếp với các đối tác nước ngoài. Họ phải thông qua các đối tác trung
gian nước ngoài và không có đủ sức cạnh tranh, đặc biệt trong trung và dài hạn. Bên
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21
đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21

More Related Content

Similar to đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21

Thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam 6753840.pdf
Thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam 6753840.pdfThu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam 6753840.pdf
Thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam 6753840.pdfNuioKila
 
Bài nghiên cứu đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...
Bài nghiên cứu   đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...Bài nghiên cứu   đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...
Bài nghiên cứu đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...https://www.facebook.com/garmentspace
 
Bài nghiên cứu đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...
Bài nghiên cứu   đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...Bài nghiên cứu   đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...
Bài nghiên cứu đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...https://www.facebook.com/garmentspace
 
Bài nghiên cứu chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới tình hìn...
Bài nghiên cứu chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới tình hìn...Bài nghiên cứu chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới tình hìn...
Bài nghiên cứu chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới tình hìn...https://www.facebook.com/garmentspace
 
80541086 thực-trạng-nghanh-lua-gạo-hiện-nay-của-việt-nam
80541086 thực-trạng-nghanh-lua-gạo-hiện-nay-của-việt-nam80541086 thực-trạng-nghanh-lua-gạo-hiện-nay-của-việt-nam
80541086 thực-trạng-nghanh-lua-gạo-hiện-nay-của-việt-namLuu Quan
 
đề áN phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh lạng sơn đến năm 2...
đề áN phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh lạng sơn đến năm 2...đề áN phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh lạng sơn đến năm 2...
đề áN phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh lạng sơn đến năm 2...jackjohn45
 
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (55)
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (55)Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (55)
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (55)Nguyễn Công Huy
 
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (26).DOC
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (26).DOCLuan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (26).DOC
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (26).DOCNguyễn Công Huy
 
Luận-văn-tốt-nghiệp-Giải-pháp-đẩy-mạnh-xuất-khẩu-hàng-dệt-may-của-Công-ty-Xuấ...
Luận-văn-tốt-nghiệp-Giải-pháp-đẩy-mạnh-xuất-khẩu-hàng-dệt-may-của-Công-ty-Xuấ...Luận-văn-tốt-nghiệp-Giải-pháp-đẩy-mạnh-xuất-khẩu-hàng-dệt-may-của-Công-ty-Xuấ...
Luận-văn-tốt-nghiệp-Giải-pháp-đẩy-mạnh-xuất-khẩu-hàng-dệt-may-của-Công-ty-Xuấ...s2nhomau
 
Luận văn: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, HAY
Luận văn: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, HAYLuận văn: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, HAY
Luận văn: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, HAYViết thuê trọn gói ZALO 0934573149
 
Phân Tích Lợi Thế Cạnh Tranh Mặt Hàng Giày Dép Việt Nam Xuất Khẩu Sang Chile
Phân Tích Lợi Thế Cạnh Tranh Mặt Hàng Giày Dép Việt Nam Xuất Khẩu Sang ChilePhân Tích Lợi Thế Cạnh Tranh Mặt Hàng Giày Dép Việt Nam Xuất Khẩu Sang Chile
Phân Tích Lợi Thế Cạnh Tranh Mặt Hàng Giày Dép Việt Nam Xuất Khẩu Sang Chileluanvantrust
 
Luận văn: Nghiên cứu xuất khẩu hàng công nghệ cao của Việt Nam, HAY
Luận văn: Nghiên cứu xuất khẩu hàng công nghệ cao của Việt Nam, HAYLuận văn: Nghiên cứu xuất khẩu hàng công nghệ cao của Việt Nam, HAY
Luận văn: Nghiên cứu xuất khẩu hàng công nghệ cao của Việt Nam, HAYViết thuê trọn gói ZALO 0934573149
 
Khóa luận kinh tế.
Khóa luận kinh tế.Khóa luận kinh tế.
Khóa luận kinh tế.ssuser499fca
 

Similar to đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21 (20)

20452
2045220452
20452
 
BÀI MẪU Luận văn thạc sĩ về nông sản, 9 ĐIỂM, HAY
BÀI MẪU Luận văn thạc sĩ về nông sản, 9 ĐIỂM, HAYBÀI MẪU Luận văn thạc sĩ về nông sản, 9 ĐIỂM, HAY
BÀI MẪU Luận văn thạc sĩ về nông sản, 9 ĐIỂM, HAY
 
Nâng cao xuất khẩu lao động của Việt Nam trên thị trường Châu Á
Nâng cao xuất khẩu lao động của Việt Nam trên thị trường Châu ÁNâng cao xuất khẩu lao động của Việt Nam trên thị trường Châu Á
Nâng cao xuất khẩu lao động của Việt Nam trên thị trường Châu Á
 
19191
1919119191
19191
 
Thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam 6753840.pdf
Thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam 6753840.pdfThu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam 6753840.pdf
Thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam 6753840.pdf
 
Bài nghiên cứu đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...
Bài nghiên cứu   đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...Bài nghiên cứu   đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...
Bài nghiên cứu đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...
 
Bài nghiên cứu đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...
Bài nghiên cứu   đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...Bài nghiên cứu   đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...
Bài nghiên cứu đề tài chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới...
 
Bài nghiên cứu chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới tình hìn...
Bài nghiên cứu chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới tình hìn...Bài nghiên cứu chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới tình hìn...
Bài nghiên cứu chính sách khuyến khích và những ảnh hưởng của nó tới tình hìn...
 
80541086 thực-trạng-nghanh-lua-gạo-hiện-nay-của-việt-nam
80541086 thực-trạng-nghanh-lua-gạo-hiện-nay-của-việt-nam80541086 thực-trạng-nghanh-lua-gạo-hiện-nay-của-việt-nam
80541086 thực-trạng-nghanh-lua-gạo-hiện-nay-của-việt-nam
 
Tailieu.vncty.com 5145 0887
Tailieu.vncty.com   5145 0887Tailieu.vncty.com   5145 0887
Tailieu.vncty.com 5145 0887
 
đề áN phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh lạng sơn đến năm 2...
đề áN phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh lạng sơn đến năm 2...đề áN phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh lạng sơn đến năm 2...
đề áN phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh lạng sơn đến năm 2...
 
Đề tài: Trợ cấp xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập, HAY
Đề tài: Trợ cấp xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập, HAYĐề tài: Trợ cấp xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập, HAY
Đề tài: Trợ cấp xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập, HAY
 
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (55)
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (55)Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (55)
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (55)
 
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (26).DOC
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (26).DOCLuan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (26).DOC
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (26).DOC
 
Luận-văn-tốt-nghiệp-Giải-pháp-đẩy-mạnh-xuất-khẩu-hàng-dệt-may-của-Công-ty-Xuấ...
Luận-văn-tốt-nghiệp-Giải-pháp-đẩy-mạnh-xuất-khẩu-hàng-dệt-may-của-Công-ty-Xuấ...Luận-văn-tốt-nghiệp-Giải-pháp-đẩy-mạnh-xuất-khẩu-hàng-dệt-may-của-Công-ty-Xuấ...
Luận-văn-tốt-nghiệp-Giải-pháp-đẩy-mạnh-xuất-khẩu-hàng-dệt-may-của-Công-ty-Xuấ...
 
Luận văn: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, HAY
Luận văn: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, HAYLuận văn: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, HAY
Luận văn: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, HAY
 
Phân Tích Lợi Thế Cạnh Tranh Mặt Hàng Giày Dép Việt Nam Xuất Khẩu Sang Chile
Phân Tích Lợi Thế Cạnh Tranh Mặt Hàng Giày Dép Việt Nam Xuất Khẩu Sang ChilePhân Tích Lợi Thế Cạnh Tranh Mặt Hàng Giày Dép Việt Nam Xuất Khẩu Sang Chile
Phân Tích Lợi Thế Cạnh Tranh Mặt Hàng Giày Dép Việt Nam Xuất Khẩu Sang Chile
 
Luận văn: Nghiên cứu xuất khẩu hàng công nghệ cao của Việt Nam, HAY
Luận văn: Nghiên cứu xuất khẩu hàng công nghệ cao của Việt Nam, HAYLuận văn: Nghiên cứu xuất khẩu hàng công nghệ cao của Việt Nam, HAY
Luận văn: Nghiên cứu xuất khẩu hàng công nghệ cao của Việt Nam, HAY
 
Khóa luận kinh tế.
Khóa luận kinh tế.Khóa luận kinh tế.
Khóa luận kinh tế.
 
Luận án: Phát triển thương mại theo hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh ...
Luận án: Phát triển thương mại theo hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh ...Luận án: Phát triển thương mại theo hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh ...
Luận án: Phát triển thương mại theo hướng bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh ...
 

Recently uploaded

40 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NĂM 2024 (ĐỀ 31-39)...
40 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NĂM 2024 (ĐỀ 31-39)...40 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NĂM 2024 (ĐỀ 31-39)...
40 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NĂM 2024 (ĐỀ 31-39)...Nguyen Thanh Tu Collection
 
30 ĐỀ PHÁT TRIỂN THEO CẤU TRÚC ĐỀ MINH HỌA BGD NGÀY 22-3-2024 KỲ THI TỐT NGHI...
30 ĐỀ PHÁT TRIỂN THEO CẤU TRÚC ĐỀ MINH HỌA BGD NGÀY 22-3-2024 KỲ THI TỐT NGHI...30 ĐỀ PHÁT TRIỂN THEO CẤU TRÚC ĐỀ MINH HỌA BGD NGÀY 22-3-2024 KỲ THI TỐT NGHI...
30 ĐỀ PHÁT TRIỂN THEO CẤU TRÚC ĐỀ MINH HỌA BGD NGÀY 22-3-2024 KỲ THI TỐT NGHI...Nguyen Thanh Tu Collection
 
Tiểu luận triết học_Nguyễn Gia Nghi_QHCCCLC_11230120.pdf
Tiểu luận triết học_Nguyễn Gia Nghi_QHCCCLC_11230120.pdfTiểu luận triết học_Nguyễn Gia Nghi_QHCCCLC_11230120.pdf
Tiểu luận triết học_Nguyễn Gia Nghi_QHCCCLC_11230120.pdfchimloncamsungdinhti
 
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện an toàn lao động điện công ty trách nhiệm hữu h...
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện an toàn lao động điện công ty trách nhiệm hữu h...Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện an toàn lao động điện công ty trách nhiệm hữu h...
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện an toàn lao động điện công ty trách nhiệm hữu h...lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
TỔNG HỢP HƠN 100 ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT TIẾNG ANH 2024 - TỪ CÁC TRƯỜNG, ...
TỔNG HỢP HƠN 100 ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT TIẾNG ANH 2024 - TỪ CÁC TRƯỜNG, ...TỔNG HỢP HƠN 100 ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT TIẾNG ANH 2024 - TỪ CÁC TRƯỜNG, ...
TỔNG HỢP HƠN 100 ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT TIẾNG ANH 2024 - TỪ CÁC TRƯỜNG, ...Nguyen Thanh Tu Collection
 
Hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước huyện Tri Tôn – t...
Hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước huyện Tri Tôn – t...Hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước huyện Tri Tôn – t...
Hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước huyện Tri Tôn – t...lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
PHONG TRÀO “XUNG KÍCH, TÌNH NGUYỆN VÌ CUỘC SỐNG CỘNG ĐỒNG” CỦA ĐOÀN TNCS HỒ...
PHONG TRÀO “XUNG KÍCH, TÌNH NGUYỆN VÌ CUỘC SỐNG   CỘNG ĐỒNG” CỦA ĐOÀN TNCS HỒ...PHONG TRÀO “XUNG KÍCH, TÌNH NGUYỆN VÌ CUỘC SỐNG   CỘNG ĐỒNG” CỦA ĐOÀN TNCS HỒ...
PHONG TRÀO “XUNG KÍCH, TÌNH NGUYỆN VÌ CUỘC SỐNG CỘNG ĐỒNG” CỦA ĐOÀN TNCS HỒ...lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Phân tích báo cáo tài chính tại công ty TNHH xây dựng và thương mại Thịnh An
Phân tích báo cáo tài chính tại công ty TNHH xây dựng và thương mại Thịnh AnPhân tích báo cáo tài chính tại công ty TNHH xây dựng và thương mại Thịnh An
Phân tích báo cáo tài chính tại công ty TNHH xây dựng và thương mại Thịnh Anlamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Hệ thống ca dao than thân người Việt từ góc nhìn thi pháp
Hệ thống ca dao than thân người Việt từ góc nhìn thi phápHệ thống ca dao than thân người Việt từ góc nhìn thi pháp
Hệ thống ca dao than thân người Việt từ góc nhìn thi pháplamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Báo cáo tốt nghiệp Đánh giá công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại...
Báo cáo tốt nghiệp Đánh giá công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại...Báo cáo tốt nghiệp Đánh giá công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại...
Báo cáo tốt nghiệp Đánh giá công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại...lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
35 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM ...
35 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM ...35 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM ...
35 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM ...Nguyen Thanh Tu Collection
 
Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Mar...
Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Mar...Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Mar...
Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Mar...lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Quản lý dạy học phân hóa môn Toán tại các trường trung học cơ sở huyện Tam D...
Quản lý dạy học phân hóa môn Toán tại các trường trung học cơ sở huyện Tam D...Quản lý dạy học phân hóa môn Toán tại các trường trung học cơ sở huyện Tam D...
Quản lý dạy học phân hóa môn Toán tại các trường trung học cơ sở huyện Tam D...lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
NHKTS SLIDE B2 KHAI NIEM FINTECH VA YEU TO CUNG CAU DOI MOI TRONG CN_GV HANG ...
NHKTS SLIDE B2 KHAI NIEM FINTECH VA YEU TO CUNG CAU DOI MOI TRONG CN_GV HANG ...NHKTS SLIDE B2 KHAI NIEM FINTECH VA YEU TO CUNG CAU DOI MOI TRONG CN_GV HANG ...
NHKTS SLIDE B2 KHAI NIEM FINTECH VA YEU TO CUNG CAU DOI MOI TRONG CN_GV HANG ...songtoan982017
 
Báo cáo bài tập lớn E - Marketing Xây dựng kế hoạch marketing điện tử cho nhã...
Báo cáo bài tập lớn E - Marketing Xây dựng kế hoạch marketing điện tử cho nhã...Báo cáo bài tập lớn E - Marketing Xây dựng kế hoạch marketing điện tử cho nhã...
Báo cáo bài tập lớn E - Marketing Xây dựng kế hoạch marketing điện tử cho nhã...lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phân tích thực trạng hoạt động bán hàng tại Công ...
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phân tích thực trạng hoạt động bán hàng tại Công ...Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phân tích thực trạng hoạt động bán hàng tại Công ...
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phân tích thực trạng hoạt động bán hàng tại Công ...lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Báo cáo bài tập Quản trị Marketing Kế hoạch marketing cho ống hút cỏ của Gree...
Báo cáo bài tập Quản trị Marketing Kế hoạch marketing cho ống hút cỏ của Gree...Báo cáo bài tập Quản trị Marketing Kế hoạch marketing cho ống hút cỏ của Gree...
Báo cáo bài tập Quản trị Marketing Kế hoạch marketing cho ống hút cỏ của Gree...lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực c...
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực c...Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực c...
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực c...lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 

Recently uploaded (20)

40 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NĂM 2024 (ĐỀ 31-39)...
40 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NĂM 2024 (ĐỀ 31-39)...40 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NĂM 2024 (ĐỀ 31-39)...
40 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI NĂM 2024 (ĐỀ 31-39)...
 
30 ĐỀ PHÁT TRIỂN THEO CẤU TRÚC ĐỀ MINH HỌA BGD NGÀY 22-3-2024 KỲ THI TỐT NGHI...
30 ĐỀ PHÁT TRIỂN THEO CẤU TRÚC ĐỀ MINH HỌA BGD NGÀY 22-3-2024 KỲ THI TỐT NGHI...30 ĐỀ PHÁT TRIỂN THEO CẤU TRÚC ĐỀ MINH HỌA BGD NGÀY 22-3-2024 KỲ THI TỐT NGHI...
30 ĐỀ PHÁT TRIỂN THEO CẤU TRÚC ĐỀ MINH HỌA BGD NGÀY 22-3-2024 KỲ THI TỐT NGHI...
 
Luận Văn: HOÀNG TỬ BÉ TỪ GÓC NHÌN CẢI BIÊN HỌC
Luận Văn: HOÀNG TỬ BÉ TỪ GÓC NHÌN CẢI BIÊN HỌCLuận Văn: HOÀNG TỬ BÉ TỪ GÓC NHÌN CẢI BIÊN HỌC
Luận Văn: HOÀNG TỬ BÉ TỪ GÓC NHÌN CẢI BIÊN HỌC
 
Tiểu luận triết học_Nguyễn Gia Nghi_QHCCCLC_11230120.pdf
Tiểu luận triết học_Nguyễn Gia Nghi_QHCCCLC_11230120.pdfTiểu luận triết học_Nguyễn Gia Nghi_QHCCCLC_11230120.pdf
Tiểu luận triết học_Nguyễn Gia Nghi_QHCCCLC_11230120.pdf
 
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện an toàn lao động điện công ty trách nhiệm hữu h...
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện an toàn lao động điện công ty trách nhiệm hữu h...Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện an toàn lao động điện công ty trách nhiệm hữu h...
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện an toàn lao động điện công ty trách nhiệm hữu h...
 
TỔNG HỢP HƠN 100 ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT TIẾNG ANH 2024 - TỪ CÁC TRƯỜNG, ...
TỔNG HỢP HƠN 100 ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT TIẾNG ANH 2024 - TỪ CÁC TRƯỜNG, ...TỔNG HỢP HƠN 100 ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT TIẾNG ANH 2024 - TỪ CÁC TRƯỜNG, ...
TỔNG HỢP HƠN 100 ĐỀ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT TIẾNG ANH 2024 - TỪ CÁC TRƯỜNG, ...
 
Hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước huyện Tri Tôn – t...
Hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước huyện Tri Tôn – t...Hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước huyện Tri Tôn – t...
Hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước huyện Tri Tôn – t...
 
PHONG TRÀO “XUNG KÍCH, TÌNH NGUYỆN VÌ CUỘC SỐNG CỘNG ĐỒNG” CỦA ĐOÀN TNCS HỒ...
PHONG TRÀO “XUNG KÍCH, TÌNH NGUYỆN VÌ CUỘC SỐNG   CỘNG ĐỒNG” CỦA ĐOÀN TNCS HỒ...PHONG TRÀO “XUNG KÍCH, TÌNH NGUYỆN VÌ CUỘC SỐNG   CỘNG ĐỒNG” CỦA ĐOÀN TNCS HỒ...
PHONG TRÀO “XUNG KÍCH, TÌNH NGUYỆN VÌ CUỘC SỐNG CỘNG ĐỒNG” CỦA ĐOÀN TNCS HỒ...
 
Phân tích báo cáo tài chính tại công ty TNHH xây dựng và thương mại Thịnh An
Phân tích báo cáo tài chính tại công ty TNHH xây dựng và thương mại Thịnh AnPhân tích báo cáo tài chính tại công ty TNHH xây dựng và thương mại Thịnh An
Phân tích báo cáo tài chính tại công ty TNHH xây dựng và thương mại Thịnh An
 
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...
 
Hệ thống ca dao than thân người Việt từ góc nhìn thi pháp
Hệ thống ca dao than thân người Việt từ góc nhìn thi phápHệ thống ca dao than thân người Việt từ góc nhìn thi pháp
Hệ thống ca dao than thân người Việt từ góc nhìn thi pháp
 
Báo cáo tốt nghiệp Đánh giá công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại...
Báo cáo tốt nghiệp Đánh giá công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại...Báo cáo tốt nghiệp Đánh giá công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại...
Báo cáo tốt nghiệp Đánh giá công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại...
 
35 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM ...
35 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM ...35 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM ...
35 ĐỀ LUYỆN THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM ...
 
Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Mar...
Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Mar...Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Mar...
Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Mar...
 
Quản lý dạy học phân hóa môn Toán tại các trường trung học cơ sở huyện Tam D...
Quản lý dạy học phân hóa môn Toán tại các trường trung học cơ sở huyện Tam D...Quản lý dạy học phân hóa môn Toán tại các trường trung học cơ sở huyện Tam D...
Quản lý dạy học phân hóa môn Toán tại các trường trung học cơ sở huyện Tam D...
 
NHKTS SLIDE B2 KHAI NIEM FINTECH VA YEU TO CUNG CAU DOI MOI TRONG CN_GV HANG ...
NHKTS SLIDE B2 KHAI NIEM FINTECH VA YEU TO CUNG CAU DOI MOI TRONG CN_GV HANG ...NHKTS SLIDE B2 KHAI NIEM FINTECH VA YEU TO CUNG CAU DOI MOI TRONG CN_GV HANG ...
NHKTS SLIDE B2 KHAI NIEM FINTECH VA YEU TO CUNG CAU DOI MOI TRONG CN_GV HANG ...
 
Báo cáo bài tập lớn E - Marketing Xây dựng kế hoạch marketing điện tử cho nhã...
Báo cáo bài tập lớn E - Marketing Xây dựng kế hoạch marketing điện tử cho nhã...Báo cáo bài tập lớn E - Marketing Xây dựng kế hoạch marketing điện tử cho nhã...
Báo cáo bài tập lớn E - Marketing Xây dựng kế hoạch marketing điện tử cho nhã...
 
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phân tích thực trạng hoạt động bán hàng tại Công ...
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phân tích thực trạng hoạt động bán hàng tại Công ...Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phân tích thực trạng hoạt động bán hàng tại Công ...
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Phân tích thực trạng hoạt động bán hàng tại Công ...
 
Báo cáo bài tập Quản trị Marketing Kế hoạch marketing cho ống hút cỏ của Gree...
Báo cáo bài tập Quản trị Marketing Kế hoạch marketing cho ống hút cỏ của Gree...Báo cáo bài tập Quản trị Marketing Kế hoạch marketing cho ống hút cỏ của Gree...
Báo cáo bài tập Quản trị Marketing Kế hoạch marketing cho ống hút cỏ của Gree...
 
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực c...
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực c...Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực c...
Báo cáo tốt nghiệp Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực c...
 

đồ án thương mại quốc tế- hutech - KDQTK21

  • 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HỒ CHÍ MINH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP CHỦ ĐỀ: NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU GIÀY DÉP TỪ VIỆT NAM SANG MỸ Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Trung Thành Thành viên thực hiện : Lớp thực hiện : Nguyễn Trần Thanh Thảo Lê Thanh Tuyền 21DKQB1 – 21DKQA3 Chuyên ngành : Kinh Doanh Quốc Tế Khoa : Marketing-Kinh doanh quốc tế Năm học : 2024-2025
  • 2. i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đồ án tốt nghiệp “Nghiên cứu tình hình xuất khẩu giày dép tại Việt Nam sang Mỹ” là trung thực và không có bất kỳ sự sao chép. Mọi số liệu sử dụng phân tích trong luận văn và kết quả nghiên cứu là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này. TP. HCM , ngày 23 tháng 03 năm 2024 Sinh viên thực hiện NGUYỄN TRẦN THANH THẢO LÊ THANH TUYỀN
  • 3. ii MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................................i MỤC LỤC........................................................................................................................ii DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.......................................................................................iv DANH MỤC BẢNG BIỂU..............................................................................................v DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ.................................................................................vi PHẦN MỞ ĐẦU ..............................................................................................................1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU MẶT HÀNG GIÀY DÉP........................................................................................................................4 1.1 Tổng quan về xuất khẩu hàng hóa.......................................................................4 1.1.1 Khái niệm xuất khẩu.....................................................................................4 1.1.2 Đặc điểm xuất khẩu......................................................................................6 1.1.3 Vai trò của xuất khẩu ...................................................................................7 1.1.4 Hình thức xuất khẩu .....................................................................................9 1.2 Tổng quan về xuất khẩu giày dép .....................................................................13 1.2.1 Khái quát về mặt hàng giày dép.................................................................14 1.2.2 Xuất khẩu mặt hàng giày dép.....................................................................16 1.3 Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia xuất khẩu giày dép.................................20 1.3.1 Kinh nghiệm từ Trung Quốc.......................................................................21 1.3.2 Kinh nghiệm từ Thái Lan............................................................................22 1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ............................................................22 Chương 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GIÀY DÉP VIỆT NAM SANG Mỹ GIAI ĐOẠN 2010 – 2020........................................................................................................24 2.1. Tổng quan thị trường giày dép tại Mỹ ..............................................................24 2.1.1. Tình hình tiêu giày dép tại Mỹ ..................................................................24 2.1.2. Tình hình nhập khẩu giày dép tại Mỹ giai đoạn 2010 - 2020 ……………………………………………………………………………29 2.2 Hoạt động sản xuất và xuất khẩu mặt hàng giày dép tại Việt Nam...................33 2.2.1. Khái quát về quá trình phát triển của ngành giày dép Việt Nam...............33 2.2.2. Hoạt động sản xuất ....................................................................................37 2.2.3. Hoạt động xuất khẩu ..................................................................................42
  • 4. iii 2.3 Thực trạng xuất khẩu giày dép Việt Nam sang Mỳ giai đoạn 2010 – 2020.................................................................................................46 2.3.1. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2010 – 2020........................46 2.3.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu giày dép giai đoạn 2010 – 2020....................47 2.3.3. Đối thủ cạnh tranh xuất khẩu giày dép ở Mỹ………………………….. 48 2.4 Đánh giá chung về xuất khẩu giày dép Việt Nam sang Mỹ..............................51 2.4.1. Thành tựu ...................................................................................................51 2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân............................................................................52 Chương 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU MẶT GIÀY DÉP TỪ VIỆT NAM SANG MỸ............................................................................................................59 3.1 Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu giày dép của Việt Nam.......................59 3.1.1 Cơ hội.........................................................................................................59 3.1.2. Thách thức..................................................................................................59 3.2. Các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu giày dép từ Việt Nam sang thị trường Mỹ.60 3.2.1. Giải pháp về phát triển thương hiệu trong nước........................................60 3.2.2. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực ........................................................61 3.2.3. Giải pháp về thiết kế, tạo mẫu sản phẩm ...................................................63 3.2.4. Giải pháp về nguồn nguyên phụ liệu..........................................................64 3.2.5. Giải pháp về chiến lược quảng cáo............................................................66 KẾT LUẬN ....................................................................................................................69 TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................70
  • 5. iv DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ 1 D/A Documents Against Acceptance – Thanh toán trao đổi chứng từ 2 D/P Documents against Payment – Thanh toán trả tiền ngay 3 FDI Foreign Direct Investment – Đầu tư trực tiếp nước ngoài 4 FOB Free on Board – Bốc hàng lên tàu 5 GDP Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội 6 GSP Generalized System of Preferences - Hệ thống ưu đãi phổ cập 7 L/C Letter of Credit – Thư tín dụng 8 LEFASO Hiệp hội da giày Việt Nam 9 MFN Most favoured nation – Tối huệ quốc 10 NAFTA The North American Free Trade Agreement - Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ 11 USITC United States International Trade Commission - Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ 12 WTO World Trade Organization – Tổ chức Thương mại Thế giới
  • 6. v DANH MỤC BẢNG BIỂU STT Tên bảng biểu Trang 1 Bảng 2.1: Cơ cấu nhập khẩu giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020 33 2 Bảng 2.2: Thống kê hội viên theo địa bàn của Hiệp hội da giày Việt Nam năm 2020 34 3 Bảng 2.3: Trị giá nhập khẩu nguyên liệu sản xuất giày dép Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020 42 4 Bảng 2.4: Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam chia theo thị trường giai đoạn 2010 – 2020 43 5 Bảng 2.5: Đóng góp của ngành giày dép Việt Nam trong kim ngạch xuất khẩu toàn quốc 44 6 Bảng 2.6: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Mỹ giai đoạn 2010 – 2020 46 7 Bảng 2.7: So sánh sản lượng và kim ngạch xuất khẩu giày dép sang Mỹ giữa Việt Nam và Trung Quốc 49 8 Bảng 2.8: So sánh sản lượng và kim ngạch xuất khẩu giày dép sang Mỹ giữa Việt Nam và Brazil 50
  • 7. vi DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ STT Tên hình và sơ đồ Trang 1 Hình 1.1: Các hình thức xuất khẩu chủ yếu 9 2 Biểu đồ 2.1: Lượng tiêu thụ giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020 24 3 Biểu đồ 2.2: Kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020 30 4 Biểu đồ 2.3: Giá trị nhập khẩu giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020 phân theo mã HS 31 5 Biểu đồ 2.4: Kim ngạch xuất khẩu ngành giày dép Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020 44 6 Biểu đồ 2.5: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Mỹ giai đoạn 2010 – 2020 47 7 Biểu đồ 2.6: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Mỹ năm 2020 48
  • 8. 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, việc giao lưu buôn bán giữa các nước diễn ra ngày càng phổ biến, thương mại quốc tế đang trở thành lĩnh vực kinh tế quan trọng đóng góp lớn cho sự tăng trưởng kinh tế quốc dân, đặc biệt là từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới đã tích cực trao đổi hàng hóa qua lại giữa các nước trong và ngoài khu vực. Điều đó đã dẫn đến hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển, kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng đều qua các năm. Kinh doanh xuất nhập khẩu đang gia tăng nhanh chóng và trở thành hoạt động cơ bản của các doanh nghiệp, trong đó hoạt động nhập khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng và là một trong những nội dung kinh tế mà nước ta đang chú trọng phát triển. Trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, giày dép luôn là mặt hàng chủ chốt - không chỉ chiếm tỉ trọng cao mà còn liên tục tăng trưởng theo từng năm. Ngành công nghiệp giày dép Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu điển hình, chiếm gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam vẫn duy trì là một trong 10 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu giày dép với sản phẩm có mặt ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là EU và Mỹ. Hiện nay và trong những năm tới, Mỹ sẽ là thị trường xuất khẩu mục tiêu đối với sản phàm giày dép của Việt Nam bởi lý do chính đây là thị trường tiềm năng, nhu cầu lớn mà sản xuất giày dép nội địa Mỹ lại ngày càng thu hẹp. Nhận thức được đây là một vân đề cấp thiết, nên em đã chọn đề tài "Nghiên cứu tình hình xuất khẩu giày dép từ Việt Nam sang Mỹ" làm đề tài nghiên cứu cho đồ án tốt nghiệp. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu: đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang thị trường Mỹ. Để đạt được mục tiêu của đồ án tốt nghiệp nêu trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:
  • 9. 2 - Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu mặt hàng giày dép của một quốc gia. Nghiên cứu kinh nghiệm về xuất khẩu giày dép của một số nước trong top 10 quốc gia xuất khẩu giày dép lớn nhất thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. - Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Mỹ. Đưa ra đánh giá về những thành công, những hạn chế của hoạt động xuất khẩu mặt hàng giày dép Việt Nam thời gian qua và nguyên nhân của hạn chế làm cơ sở cho đề xuất giải pháp khắc phục. - Đưa ra các quan điểm, định hướng và đề xuất một số giải pháp và kiến nghị tiếp tục phát triển xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam sang Mỹ. 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Mỹ. - Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 – 2020. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu và viết đồ án tốt nghiệp, thường sử dụng những phương pháp cơ bản như: - Phương pháp thống kê và phương pháp đối chiếu – so sánh: dùng các công cụ thống kê để tập hợp tài liệu xuất bản trong và ngoài nước, số liệu; sau đó so sánh, đối chiếu để rút ra kết luận về bản chất, nguyên nhân của sự thay đổi. - Phương pháp phân tích tổng hợp: từ những thông tin và số liệu thu thập được, cộng với tình hình thực tế trên thị trường đưa ra những phân tích, nhận định, đánh giá. - Phương pháp xử lý và phân tích số liệu để làm sáng tỏ vấn đề. 5. Cấu trúc đề tài Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu trên, khóa luận được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU GIÀY DÉP
  • 10. 3 Chương 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GIÀY DÉP TẠI VIỆT NAM SANG MỸ GIAI ĐOẠN 2010 – 2020 Chương 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẦY XUẤT KHẨU MẶT GIÀY DÉP TẠI VIỆT NAM SANG MỸ
  • 11. 4 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU GIÀY DÉP 1.1 Tổng quan về xuất khẩu hàng hóa 1.1.1 Khái niệm xuất khẩu Xuất khẩu là một từ ghép Hán Việt có nghĩa là xuất hàng hóa ra khỏi cửa khẩu biên giới. Khi nhắc đến khái niệm xuất khẩu ai cũng nghĩ ngay đến việc buôn bán hàng hóa sang một quốc gia khác. Tuy nhiên trong đời sống hiện đại ngày nay, hoạt động xuất khẩu hàng hóa là một vấn đề được nghiên cứu, quan tâm và đã trở thành một lĩnh vực khoa học - xã hội. Hoạt động xuất khẩu là một hình thức cơ bản của thương mại quốc tế, nó được hình thành từ rất lâu đời và ngày càng phát triển cho đến giai đoạn hiện nay. Hoạt động xuất khẩu sơ khai chỉ là hàng đổi hàng và phát triển ngày một đa dạng. Cho đến nay có rất nhiều hình thức của xuất khẩu như xuất khẩu trực tiếp, buôn bán đối lưu, xuất khẩu uỷ thác…Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về không gian và thời gian: nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song nó cũng có thể kéo dài hàng năm; nó có thể được tiến hành trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia. Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị và công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục đích đem lại lợi ích cho các nước tham gia. Do sự phổ biến sâu rộng của hoạt động xuất khẩu hiện nay nên có thể tìm thấy rất nhiều định nghĩa học thuật về “hoạt động xuất khẩu”: Trong cuốn sách “International Business – The challenges of globalization” của John J. Wild có đề cập “Xuất khẩu là hoạt động đưa hàng hoá hoặc dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác.” Tuy nhiên, công trình nghiên cứu về hoạt động Marketing quốc tế của Rakesh M. Joshi lại hiểu hoạt động xuất khẩu theo nghĩa “là vận chuyển hàng hóa hoặc dịch vụ ra khỏi lãnh thổ của một quốc gia. Người bán hàng hóa, dịch vụ được gọi là nhà xuất khẩu và có trụ sở tại nước xuất khẩu, trong khi người mua có trụ sở ở nước ngoài được gọi là nhà nhập khẩu. Trong thương mại quốc tế, xuất khẩu đề cập đến việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ sản xuất trong nước sang thị trường nước khác.”
  • 12. 5 Trong khi đó, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 định nghĩa về hoạt động xuất khẩu hàng hóa như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Ở một công trình nghiên cứu khác gần đây thì xuất khẩu được định nghĩa là “hoạt động bán hàng hoá hoặc dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia.” Theo quan điểm của tác giả, xuất phát từ bản chất của xuất khẩu, đây là hoạt động đưa hàng hoá hoặc dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác. Dưới góc độ kinh doanh, hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia khác; còn dưới góc độ phi kinh doanh (với quà tặng, quà biếu hoặc viện trợ không hoàn lại) thì hoạt động xuất khẩu chỉ là việc lưu chuyển hàng hoá hoặc dịch vụ qua biên giới quốc gia. Mục đích cơ bản của hoạt động xuất khẩu trong kinh doanh là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Ngày nay, xuất khẩu không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán, mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia về phân công lao động quốc tế. Vì vậy, các quốc gia hiện nay đều coi xuất khẩu như một tiền đề, một nhân tố phát triển kinh tế trong nước, trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế. Do những điều kiện khác nhau, mỗi quốc gia có thế mạnh về lĩnh vực này nhưng lại yếu về lĩnh vực khác. Để có thể dung hoà được nguy cơ và lợi thế, tạo ra được sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau, bán những gì mình thừa và mua những gì mình thiếu. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu không nhất thiết chỉ diễn ra giữa những quốc gia có lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác mà các quốc gia thua thiệt hơn về tất cả các điều kiện như: nhân lực, tài chính, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ… thông qua hoạt động trao đổi thương mại quốc tế cũng sẽ thu được những lợi ích, tạo điều kiện phát triển nền kinh tế nội địa.
  • 13. 6 Tính tất yếu của hoạt động xuất khẩu đã được chứng minh rất rõ qua lý thuyết về lợi thế so sánh của nhà kinh tế học David Ricardo. Theo Nguyễn Xuân Thiên, trong quy luật lợi thế so sánh, nếu một nước có hiệu quả thấp hơn so với các nước khác trong việc sản xuất hầu hết các loại sản phẩm vẫn cần phải tham gia hoạt động thương mại quốc tế vì có thể tạo ra lợi ích không nhỏ mà nếu bỏ qua, quốc gia có thể mất cơ hội phát triển. Nói cách khác, khi một quốc gia có hiệu quả thấp trong việc sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá sẽ có thể chuyên môn hoá vào sản xuất loại hàng hoá ít bất lợi nhất để trao đổi với các quốc gia khác và nhập về những loại hàng hoá mà việc sản xuất nó là bất lợi nhất để tiết kiệm được các nguồn lực của mình và thúc đẩy sự phát triển của sản xuất trong nước. 1.1.2 Đặc điểm xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu là một phần trong hoạt động thương mại quốc tế, nó mang những đặc điểm sau: Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương. Nó đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hoá nhưng cho đến nay nó đã phát triển rất mạnh và được biểu hiện dưới nhiều hình thức. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực. Trong mọi điều kiện của nền kinh tế, xuất khẩu diễn ra từ hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc hàng hoá thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng. Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian. Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể được diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển. Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến hàng hoá tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả hoạt động đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi nhuận cho các quốc gia tham gia.
  • 14. 7 1.1.3 Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu là một khâu quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân của một nước, đóng góp một phần tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product - GDP) nhờ bán ra nước ngoài những sản phẩm có lợi thế, có chất lượng cao. Điều này được thể hiện qua các vai trò sau:  Đối với quốc gia: Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới thì xuất khẩu là hoạt động đóng vai trò vô cùng cần thiết. Xuất khẩu chính là hoạt động giúp các quốc gia tham gia gắn kết và phụ thuộc vào nhau nhiều hơn. Tùy vào lợi thế từng quốc gia mà mức độ chuyên môn hóa sẽ khác nhau; trình độ chuyên môn hoá cao hơn sẽ giảm chi phí sản xuất và các chi phí khác, từ đó làm giảm giá thành sản phẩm. Mục đích chung của mọi quốc gia khi tiến hành việc xuất khẩu chính là thu được một lượng ngoại tệ lớn để có thể nhập khẩu các loại máy móc, trang thiết bị hiện đại… nhằm tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho người dân. Đây cũng là điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giúp rút ngắn sự chênh lệch giữa các nước trên thế giới. Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, các quốc gia không thể tự mình đáp ứng mọi nhu cầu, nếu muốn đáp ứng thì phải tốn rất nhiều chi phí. Vì vậy họ bắt buộc không thể đứng ngoài mà phải tham gia vào hoạt động xuất khẩu để bán đi những gì mà mình có lợi thế hơn các quốc gia khác, đồng thời có thể mua về những gì mà trong nước không sản xuất được hoặc có sản xuất được nhưng chi phí quá cao. Do đó, tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu chính là hoạt động kinh tế có lợi, giúp tiết kiệm được nhiều chi phí, tạo được nhiều việc làm, giảm được các tệ nạn xã hội, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào xây dựng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.  Đối với doanh nghiệp: Hoạt động xuất khẩu với doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng. Thực chất nó là hoạt động bán hàng của các công ty xuất nhập khẩu và thu lợi nhuận từ hoạt động này, góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển của công ty. Lợi nhuận là nguồn bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh, các quỹ của công ty. Lợi nhuận cao cho phép công ty đẩy
  • 15. 8 mạnh tái đầu tư vào tài sản cố định, tăng nguồn vốn lưu động để thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu, giúp công ty ngày càng mở rộng và phát triển. Cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra thị trường quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Xuất khẩu là một trong những con đường quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch phát triển của mình. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của doanh nghiệp không chỉ được các khách hàng trong nước biết đến, mà còn có mặt ở thị trường nước ngoài. Để có được điều này thì doanh nghiệp ngược lại cần phải đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng về giá cả, chất lượng hàng hoá, phương thức giao dịch, thanh toán… Bên cạnh đó, xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nâng cao khả năng nhập khẩu; thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình phát triển. Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ xuất nhập khẩu trong việc tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong khả năng xuất khẩu các thị trường mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập. Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh, đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ chu kỳ sống của một sản phẩm. Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh giữa các nhà xuất khẩu trong và ngoài nước. Đây là một trong những nguyên nhân khiến các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu, cố gắng hạ giá thành của sản phẩm; từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào hay chính là tiết kiệm các nguồn lực. Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống cán bộ của công nhân viên; đây chính là động lực để người lao động làm việc chất lượng và hiệu quả hơn. Xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần sẽ góp phần đẩy mạnh liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước một cách tự giác, mở rộng quan hệ kinh doanh dựa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
  • 16. 9 Đầu tư lớn, rủi ro cao Xuất khẩu trực tiếp Lợi nhuận dự tính cao Xuất khẩu gián tiếp (ủy thác) Gia công sản xuất Buôn bán đối lưu (hàng đổi hàng) Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuẩt Xuất khẩu tại chỗ Đầu tư ít, rủi ro thấp Xuất khẩu hàng hóa theo nghị định thư Lợi nhuận dự tính thấp Như vậy, có thể nói đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo ra động lực cần thiết giải quyết những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Điều này nói lên tính khách quan của việc tăng cường xuất khẩu trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay. 1.1.4 Hình thức xuất khẩu Hình 1.1: Các hình thức xuất khẩu chủ yếu Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Hoạt động xuất khẩu hàng hoá được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, điều này căn cứ vào đặc điểm sở hữu hàng hoá trước khi xuất khẩu, căn cứ vào nguồn hàng xuất khẩu... Hình 1.1 đã liệt kê một số hình thức xuất khẩu chủ yếu theo giá trị đầu tư và độ rủi ro các doanh nghiệp ngoại thương phải gánh chịu.  Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà xuất khẩu trực tiếp ký kết hợp đồng mua bán trao đổi hàng hoá với các đối tác nước ngoài. Đây là hình thức mà hàng hoá được mua bán trực tiếp không qua trung gian. Theo hình thức này đơn vị kinh doanh xuất khẩu trực tiếp ký kết hợp đồng ngoại thương.
  • 17. 10 Doanh nghiệp sẽ tự bỏ vốn ra mua các sản phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nước sau đó bán các sản phẩm này cho khách hàng nước ngoài, trong đó sản phẩm có thể qua một số công đoạn gia công chế biến. Ưu điểm: Hình thức xuất khẩu này giúp lợi nhuận của đơn vị kinh doanh xuất khẩu thường cao hơn các hình thức khác do giảm bớt được các khâu trung gian. Với vai trò là người bán trực tiếp, doanh nghiệp có thể chủ động trong kinh doanh, có điều kiện tiếp cận thị trường, nắm bắt thông tin một cách nhạy bén hơn để tự đưa ra quyết định về thâm nhập thị trường, ứng xử linh hoạt hơn với nhu cầu thị trường và do vậy có thể gợi mở, kích thích nhu cầu. Nếu đơn vị xuất khẩu hoạt động kinh doanh hiệu quả sẽ có thể xây dựng được thương hiệu cũng như uy tín về sản phẩm trên thị trường thế giới. Nhược điểm: Hình thức này đòi hỏi phải ứng trước một lượng vốn khá lớn để sản xuất hoặc thu mua hàng hóa và có thể gặp nhiều rủi ro. Đối với đơn vị mới tham gia kinh doanh thì hình thức này rất khó áp dụng do không có điều kiện về vốn đầu tư, nghiên cứu thị trường, tìm bạn hàng...  Xuất khẩu gián tiếp (uỷ thác) Đây là hình thức dịch vụ thương mại, theo đó doanh nghiệp ngoại thương đứng ra với vai trò trung gian thực hiện xuất khẩu hàng hoá cho các đơn vị uỷ thác. Xuất khẩu uỷ thác gồm 3 bên, bên uỷ thác xuất khẩu, bên nhận uỷ thác xuất khẩu và bên nhập khẩu. Bên uỷ thác không được quyền thực hiện các điều kiện về giao dịch mua bán hàng hoá, giá cả, phương thức thanh toán… mà phải thông qua bên thứ 3 - bên nhận uỷ thác. Xuất khẩu uỷ thác được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp không được phép kinh doanh xuất khẩu trực tiếp hoặc không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp, uỷ thác cho doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu làm đơn vị xuất khẩu hàng hoá cho mình, bên nhận uỷ thác được nhận một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác. Ưu điểm: Hình thức xuất khẩu gián tiếp giúp doanh nghiệp dễ dàng mở rộng thị trường và tìm nguồn đầu ra cho sản phẩm của mình. Công ty uỷ thác xuất khẩu không phải bỏ vốn vào kinh doanh, tránh được rủi ro trong kinh doanh mà vẫn thu được một khoản lợi nhuận là hoa hồng cho xuất khẩu. Do chỉ thực hiện hợp đồng uỷ thác xuất khẩu
  • 18. 11 nên tất cả các chi phí từ nghiên cứu thị trường, giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng đều không phát sinh, dẫn tới giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh. Nhược điểm: Do không phải bỏ vốn kinh doanh nên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu theo hình thức này thường thấp do phải chia sẻ lợi nhuận với bên thứ 3. Đồng thời mối liên hệ với bạn hàng của nhà xuất khẩu bị hạn chế. Tuy nhiên, trên thực tế phương thức này lại khá phổ biến, đặc biệt là ở các nước kém phát triển và đang phát triển vì nguyên nhân sau: + Nhà kinh doanh thường thiếu thông tin về thị trường, còn bên trung gian thường hiểu rõ thị trường kinh doanh nên sẽ tìm được nhiều cơ hội thuận lợi hơn. + Bên trung gian có khả năng nhất định về vốn, nhân lực nên nhà xuất khẩu có thể khai thác để tiết kiệm phần nào chi phí trong quá trình vận tải.  Gia công xuất khẩu Gia công là phương thức kinh doanh trong đó một bên (bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao hay phí gia công. Khi hoạt động gia công vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì được gọi là gia công xuất khẩu hay gia công quốc tế. Ưu điểm: Gia công quốc tế là hình thức xuất khẩu khá phổ biến hiện nay, được các nước đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào áp dụng. Thông qua hình thức này, họ vừa tạo cho người lao động có công ăn việc làm, lại vừa tiếp nhận được công nghệ mới. Mặt khác nước nhận gia công không phải đầu tư nhiều vốn, cũng như không cần quan tâm về thị trường tiêu thụ. Nước đặt gia công cũng có lợi vì tận dụng được nguồn nguyên phụ liệu dồi dào và nhân công giá rẻ của nước nhận gia công. Nhược điểm: Hình thức này có hạn chế là các nước nhận gia công bị phụ thuộc vào nước đặt gia công về số lượng, chủng loại hàng hoá gia công đồng thời cũng bị o ép về phí gia công.  Buôn bán đối lưu (hàng đổi hàng)
  • 19. 12 Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua. Khối lượng hàng hoá được trao đổi có giá trị tương đương. Mục đích xuất khẩu ở đây không phải thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một khối lượng hàng hoá với giá trị tương đương. Vì đặc điểm này mà phương thức này còn có tên gọi khác như xuất nhập khẩu liên kết, hay hàng đổi hàng. Tuy tiền tệ không được thanh toán trực tiếp nhưng nó được làm vật ngang giá chung cho giao dịch này. Ưu điểm: Phương thức này thông thường được thực hiện nhiều ở các nước đang phát triển, vì các nước này thông thường rất thiếu ngoại tệ để thanh toán hàng hóa nhập khẩu nên thường dùng phương pháp hàng đổi hàng để cân đối nhu cầu trong nước. Lợi ích của buôn bán đối lưu là nhằm mục đích tránh được các rủi ro về sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối. Nhược điểm: Với phương thức này, thời gian trao đổi hay thanh toán trên thị trường lâu, do vậy có thể không kịp tiến độ sản xuất làm mất cơ hội kinh doanh.  Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất Đây là hình thức nước này bán cho nước khác, không làm thủ tục xuất nhập khẩu và thường hàng đi thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu. Người kinh doanh chuyển khẩu trả tiền cho người xuất khẩu và thu tiền của người nhập khẩu hàng hóa đó. Thông thường khoản thu từ người nhập khẩu lớn hơn khoản phải trả cho người xuất khẩu, do đó người kinh doanh sẽ thu được số chênh lệch như tiền lãi. Các mặt hàng theo hình thức tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, hay chuyển khẩu được miễn thuế xuất nhập khẩu. Đường đi của hàng hoá trong tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu là giống nhau; điểm khác nhau giữa 2 hình thức này là kinh doanh chuyển khẩu chủ yếu là kinh doanh dịch vụ vận tải, còn tái xuất là loại hình hợp đồng kinh doanh hàng hoá: Nhập khẩu để xuất khẩu hàng đó, không qua chế biến và thu lãi tức thời. Người kinh doanh bỏ vốn ra mua hàng, bán lại hàng đó để thu lời nhiều hơn. Việc giao dịch được thực hiện ở ba nước: Nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.  Xuất khẩu tại chỗ
  • 20. 13 Là hình thức mà hàng hoá xuất khẩu được bán ngay tại nước xuất khẩu. Doanh nghiệp không phải ra nước ngoài để đàm phán, ký kết hợp đồng mà người mua tự tìm đến doanh nghiệp để mua hàng. Đây là hình thức kinh doanh xuất khẩu mới đang có xu hướng phát triển và phổ biến rộng rãi do ưu điểm của nó đem lại. Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là doanh nghiệp không phải vận chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia; mặt khác, tránh được một số thủ tục rắc rối của hải quan và không phải thuê phương tiện vận chuyển, mua bảo hiểm hàng hoá. Từ đó, giảm thiểu được một lượng chi phí khá lớn. Hình thức xuất khẩu tại chỗ đang được các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có thế mạnh về du lịch và có nhiều đơn vị kinh doanh, các tổ chức nước ngoài đóng tại quốc gia đó khai thác tối đa và đã thu được những kết quả to lớn, không thua kém so với xuất khẩu trực tiếp qua biên giới quốc gia, đồng thời có cơ hội thu hồi vốn nhanh và lợi nhuận cao.  Xuất khẩu hàng hoá theo nghị định thư Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá được ký kết theo nghị định thư giữa hai Chính phủ. Hình thức này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc nghiên cứu thị trường và tìm kiến bạn hàng, mặt khác không có sự rủi ro trong thanh toán. Trên thực tế xuất khẩu hàng hoá theo nghị định thư chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong thương mại quốc tế hiện nay. Hình thức này chỉ diễn ra trong các nước xã hội chủ nghĩa trước đây hoặc giữa một số các quốc gia có quan hệ thân thiết, và chủ yếu là giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau với mục đích thường là để gán nợ. 1.2 Tổng quan về xuất khẩu giày dép Sản xuất giày dép là một ngành có mặt từ lâu đời và có quá trình phát triển bền vững bởi lẽ giày là một vật dụng không thể thiếu cho tất cả mọi người trong đời sống cá nhân hàng ngày. Trước đây, giày dép là vật dụng để bảo vệ bàn chân khỏi các tác động gây hại từ vật nhọn, bụi bẩn, sự gồ ghề của mặt đường giúp ta di chuyển dễ dàng hơn trên mọi địa hình. Ngày nay khi kinh tế phát triển, giày dép ngoài chức năng bảo vệ đôi bàn chân nó đã được cải tiến nhằm thích nghi với từng đối tượng khác hàng và từng
  • 21. 14 mục đích sử dụng như giày nam, giày nữ, giày thể thao, sandal…Do đó, giày dép là ngành có thị trường tiêu thụ rộng lớn, là ngành hàng có sức hút của tất cả quốc gia phát triển và đang phát triển. 1.2.1 Khái quát về mặt hàng giày dép  Khái niệm mặt hàng giày dép Thuật ngữ giày dép có nguồn gốc từ động từ “calzar”, có sử dụng phổ biến nhất được liên kết với hành động che chân. Do đó, giày dép là yếu tố được sử dụng để bảo vệ và che phủ bàn chân và một phần của chân. Có nhiều loại giày dép. Chức năng cơ bản của nó là bảo vệ và che chở cho bàn chân, mặc dù chúng cũng có mục đích thẩm mỹ. Nhiều đôi giày được sử dụng với tất, nghĩa là chúng không tiếp xúc trực tiếp với da của người, mà được đặt trên một loại bảo vệ bàn chân khác. Kích cỡ giày khác nhau tùy theo chân người dùng. Ngoài ra còn có nhiều chất liệu mà giày dép được sản xuất: da, cao su, vải, v.v Giày dép cũng rất đa dạng về chất liệu và ngày càng có nhiều thiết kế độc đáo hơn, không chỉ dừng lại ở chức năng bảo vệ hay thẩm mỹ mà còn là cuộc đua của các thương hiệu sản xuất mặt hàng này.  Đặc điểm của mặt hàng giày dép  Về phương diện tiêu dùng: Giày dép là một trong các sản phẩm tiêu dùng thời trang không thể thiếu được. Tất cả mọi người từ mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp đặc biệt là thanh niên nam, nữ rất quan tâm đến giày dép bởi thông qua giày dép, trang phục mà họ sử dụng thể hiện phần nào phong cách sống, thẩm mỹ, thói quen tiêu dùng của họ. Khi đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về giày dép cũng tăng lên không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng và mẫu mã. Ví dụ: Trung bình một người dân Mỹ sử dụng 4 đôi giày/năm, tiêu thụ hàng năm xấp xỉ 1,5 tỷ đôi các loại trong đó 60% là nhập khẩu từ các nước khác. Đến năm 2020 số lượng giày dép nhập khẩu từ ngoài Hoa Kỳ vào khoảng 1,8 tỷ đồi. Thị trường EU và Bắc Mỹ tiêu thụ hàng năm là 1,6 - 1,8 tỷ đôi trong đó 90%
  • 22. 15 là giày nhập khẩu từ các nước khác. Ở thị trường Nhật Bản, trung bình một người dân tiêu thụ 3 đôi giày/năm. Mức cầu trung bình về giày của Ấn Độ là 1,5 đôi/người/năm. Đi một đôi giày với cảm giác thoải mái, tự tin, chất lượng tốt và mẫu mã độc đáo là cái mà người tiêu dùng cần. Chính vì vậy, giày dép luôn cần được thay đổi để uyển chuyển nhạy bén với thị trường và nhu cầu đa dạng đó. Thị trường giày dép hiện nay chủng loại rất đa dạng và phong phú với chất lượng các mức độ khác nhau tùy theo nhu cầu và thị hiếu của khách hàng: - Phân loại theo dạng của giày: Giày cao cổ, giày thấp cổ, dép sandal... - Phân theo nguyên liệu làm đế giày: Giày đế cao su, giày đế nhựa hoá học… - Phân theo mục đích sử dụng: Người tiêu dùng có rất nhiều sự lựa chọn với các loại sản phẩm khác nhau như: - Dép lê: Dùng để đi trong nhà, bãi biển, thích hợp khí hậu nóng. - Các loại sandal thể thao: Dùng để mang thông dụng ngoài trời cho những vùng khí hậu nóng, phù hợp tính thời trang, dã ngoại. - Dép da nữ: Dùng để mang trong những buổi tiệc hoặc dạ hội. - Giày chạy: Có đặc điểm nhẹ, êm, thoáng, mũ quai có thể co dãn được, phần đế sử dụng nhựa PU thích hợp cho thể thao và chạy bộ. - Giày tây: Dùng để mang thông dụng trong công sở, tiệc tùng... Hài: Dùng để đi trong nhà, thích hợp cho cả hai mùa: Mùa nóng và mùa hè. - Ngoài ra còn có: Giày tennis, giày leo núi, giày trượt tuyết.... Như vậy, tùy thuộc vào túi tiền, vào mục đích sử dụng, gu thẩm mỹ của từng người mà người tiêu dùng có thể chọn cho mình một sản phẩm trang ý nhất. Giày dép là một bộ phận của thời trang, là biểu tượng của trình độ, tình trạng tiêu dùng xã hội, là tiếng nói của bản sắc văn hoá cộng đồng sử dụng. Cho nên các sản phẩm giày dép luôn chiếm được sự quan tâm trên thị trường quốc tế.  Về phương diện sản xuất: Ngành công nghiệp da giày là một ngành thu hút rất nhiều lao động vào sản xuất. Sản xuất hàng giày dép cần nhiều lực lượng lao động mà lại không đòi hỏi quá cao về
  • 23. 16 trình độ kỹ thuật. Vì vậy những quốc gia đông dân với cơ cấu dân số trẻ, lực lượng lao động phổ thông dồi dào, người lao động cần cù, chăm chỉ, nhanh nhạy trong việc nắm bắt những kiến thức mới sẽ hoàn toàn phù hợp và khả năng phát triển cao; Thêm vào đó, những quốc gia nhiệt đới có khí hậu phù hợp cho việc trồng các loại cây đặc biệt là cây cao su để lấy nhựa cao su - một trong những nguyên liệu chính cho sản xuất đế giày, sẽ chủ động được nguồn nguyên liệu từ đó giảm được rất nhiều chi phí cho nguyên vật liệu và nhiều chi phí đi kèm nguyên vật liệu khác. Bên cạnh đó phát ngành chăn nuôi lấy da phục vụ những sản phẩm giày dép da cũng là một trong những yếu tố lợi thế trong sản xuất mặt hàng giày dép xuất khẩu. Bên cạnh đó chính sách của các quốc gia trong việc đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp tốn ít vốn, thu hút nhiều lao động, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài, tích cực chủ động thâm nhập vào thị trường quốc tế cũng là một trong những điều kiện để phát triển sản xuất. Quy trình sản xuất giày dép được chia thành nhiều công đoạn nhỏ, đây là cơ sở để bố trí từng người lao động cụ thể và việc thao tác được chuyên môn hoá. Thao tác càng đơn giản thì thời gian đào tạo càng nhanh, để đào tạo cho một người lao động sản xuất hàng giày dép chỉ từ hai đến ba tháng là có thể đáp ứng ngay được công việc mà kinh phí lại ít tốn kém, Không những thế, do trong công nghệ sản xuất giấy có rất nhiều công đoạn trong đó có những công đoạn phải làm các chi tiết rất cầu kỳ đòi hỏi phải làm thủ công mới đạt được yêu cầu, cho nên công nghệ sản xuất rất khó có thể tự động hoá hoàn toàn. Vì vậy quá trình sản xuất giày dép đòi hỏi nhiều lao động. Mặt khác, vốn đầu tư cho một chỗ làm việc không nhiều. Đây được coi là một thuận lợi cho việc đầu tư vào sản xuất trong ngành giày dép. Ngành công nghiệp giày dép đã có sự chuyển biến nhanh chóng từ cách làm bằng tay, cá thể, từ các cơ sở sản xuất nhỏ rồi đến các cơ sở sản xuất lớn và đến nay đã trở thành một ngành công nghiệp có tầm cỡ. 1.2.2 Xuất khẩu mặt hàng giày dép
  • 24. 17  Khái niệm xuất khẩu mặt hàng giày dép: Xuất khẩu giày dép là việc bán những sản phẩm giày dép trong nước ra nước ngoài nhằm thu ngoại tệ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng tích lũy cho ngân sách nhà nước. Xuất khẩu giày dép là việc kinh doanh dựa vào sản xuất và nguyên liệu từ khai thác cao su trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài.  Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu giày dép của quốc gia - Các yêu tố bên trong: + Khả năng tài chính và nguồn vốn của doanh nghiệp trong nước Tài chính đóng một vai trò rất quan trọng hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, bởi nó cho phép doanh nghiệp hiện thực hóa các kế hoạch kinh doanh, cũng như khả năng đối phó với rủi ro. Đối với hoạt động xuất khẩu giày dép cũng vậy, khả năng tài chính của doanh nghiệp sản xuất giày dép cho phép doanh nghiệp có thể đầu tư tốt hơn vào máy móc, thiết bị sản xuất, đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động để thích ứng nhanh hơn với hoạt động chuyển giao công nghệ trong sản xuất. Qua đó nâng cao được năng suất và hiệu quả sản xuất, đem lại thu nhập cho doanh nghiệp. + Nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất sản xuất giày dép Làm chủ được các nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất giày dép sẽ giúp cho các doanh nghiệp trong nước chủ động trong việc sản xuất các đơn hàng giày dép xuất khẩu, trong việc định giá xuất khẩu giày dép. Nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất giày dép phải nhập khẩu lớn sẽ làm tăng chi phí sản xuất trên một đôi giày và làm ảnh hưởng đến lợi nhuận và giá cả không còn cạnh tranh được so với các quốc gia chủ động được nguồn nguyên liệu. + Sản phẩm Nói đến khía cạnh này chúng ta phải đề cập đến số lượng và cơ cấu mặt hàng giày dép xuất khẩu có đáp ứng được nhu cầu vật chất của người tiêu dùng ở thị trường mục tiêu không? Các sản phẩm đó có khả năng sửa đổi để phù hợp với nhu cầu thị trường hay không? Bên cạnh các sản phẩm hiện vật thì các doanh nghiệp trong nước có cung cấp thêm các sản phẩm dịch vụ không? Sản phẩm giày dép của các doanh nghiệp trong nước đang đứng ở vị trí nào trên thị trường giày dép quốc tế? Nó đã được nhiều nước biết đến
  • 25. 18 chưa? Tất cả những điều này đều tạo nên điểm mạnh hay điểm yếu xuất khẩu giày dép của một quốc gia. + Hệ thống thông tin Các doanh nghiệp muốn đưa ra một quyết định về việc có nên xuất khẩu sang một thị trường hay không thì cần phải dựa vào lượng thông tin chính xác mà doanh nghiệp của mình có được thông qua hệ thống thu thập thông tin. Với một công nghệ xử lý thông tin tốt cũng sẽ là một điểm mạnh của doanh nghiêp trong việc có được những thông tin chính xác. Thực tế hiện nay công nghệ thông tin ngày càng phát triển và phổ biến nên khâu nghiên cứu thị trường đã trở nên đơn gian và thuận tiện hơn rất nhiều. Việc tham gia trưng bày sản phẩm tại các hội chợ quốc tế về giày dép cũng là một công cụ đưa thông tin về sản phẩm một cách chủ quan nhất đối với xuất khẩu giày dép của một doanh nghiệp nói riêng và của một quốc gia nói chung. + Trình độ thiết kế mẫu mã Đây là một vấn đề rất quan trọng ngành sản xuất các sản phẩm mang tính thời trang cao như quần áo, giày dép, túi xác. Bởi một sản phẩm giày dép ngoài tính đẹp mắt, hợp với xu hướng thời trang nó còn phải đem lại sự thoải mái, form dáng phải tinh xảo, chống trượt, vừa khít chân người đi tạo sự tự tin trong từng bước đi. Không chỉ dừng lại ở kiểu dáng mà trình độ thiết kế cần phải có tính sáng tạo, tích cực tìm tòi đổi mới chất liệu sao cho vẫn đảm bảo chất lượng giày dép mà tối ưu hóa chi phí sản xuất. - Các yếu tố bên ngoài: + Môi trường kinh tế  Xuất khẩu giày dép chịu tác động bởi xu hướng hội nhập nền kinh tế. Cũng như những mặt hàng xuất khẩu khác, giày dép cũng chịu tác động mạnh mẽ bỡi xu hướng hội nhập của nền kinh tế. Một trong những cơ hội lớn nhất khi gia nhập WTO và các tổ chức kinh tế khác là thị trường quốc tế rộng mở, tạo khả năng cho xuất khẩu tăng trưởng mạnh.  Xuất khẩu giày dép chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố kinh tế như: Thu nhập của người tiêu dùng, nhu cầu của họ, mức sống của họ.
  • 26. 19 Giày dép là một trong những mặt hàng thuộc nhóm mặt hàng chế biến, là mặt hàng thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng của con người cho nên việc xuất khẩu giày dép chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố kinh tế như: Thu nhập của người tiêu dùng, nhu cầu của họ, mức sống của họ. Khi mà thu nhập của người tiêu dùng ngày càng tăng lên thì mức sống của họ cũng cao hơn, nhu cầu tiêu dùng cũng lớn hơn, từ chỗ ăn no và mặc ấm đến chỗ đòi hỏi phải được thoả mãn cao hơn nhu cầu về thẩm mỹ. Giày dép là một trong những yếu tố làm tôn thêm vẻ đẹp của con người cho nên nhu cầu về giày dép ngày càng tăng lên.  Xuất khẩu giày dép chịu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ làm thay đổi cán cân thương mại, ảnh hưởng đến sự di chuyển của các dòng vốn quốc tế và qua đó ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia. Cho nên, tỷ giá hối đoái mà càng cao thì càng thúc đẩy cho xuất khẩu giày dép nói riêng và hàng hoá nói chung tăng nhanh, góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu giày dép. Hiện nay hoạt động xuất khẩu giày dép hầu hết được thanh toán theo đồng USD và EUR. Cho nên sự biến động về giá trị của hai đồng tiền này sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu giày dép nói riêng và xuất khẩu hàng hoá nói chung.  Đối thủ cạnh tranh cũng là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến việc xuất khẩu giày dép. Bất kể ngành nghề nào tính cạnh tranh cũng rất khốc liệt. Đặc biệt ngành giày da luôn phải chủ động thay đổi mẫu mã cập nhật xu hướng kịp thời mà lại vẫn phải đảm chất lượng và giá cả cạnh tranh. Vậy nên nắm bắt được tình hình và đối thủ cạnh tranh để đưa ra hướng đi đúng về sản xuất và giá cả sẽ khiến các quốc gia đẩy mạnh được lợi thế cạnh tranh của mình. + Tình hình chính trị của nước nhập khẩu giày dép nói riêng và của toàn thế giới có ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu giày dép của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu giày dép. Hiện nay tình hình chính trị thế giới đang ổn định, không có những biến động lớn là một yếu tố thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu giày dép. Bên cạnh đó, sự ổn định về chính trị và sự ủng hộ của chính phủ thông qua các chính sách khuyến khích phát triển
  • 27. 20 ngành giày dép như: Xây dựng các quỹ tín dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp da giày vay với lãi suất thấp để có thời gian lưu chuyển vốn dài, tạo các điều kiện thuận lợi trong vay ngoại tệ để mua trang thiết bị sản xuất giày, các chính sách hỗ trợ đào tạo nhân lực về thiết kế giày, quản lý và vận hành quy trình sản xuất giày dép cũng đã được quan tâm, đã tạo ra một lợi thế lớn cho sự phát triển của ngành giày dép. + Môi trường văn hoá – xã hội. Giày dép là một phần của thời trang mà ở các nền văn hoá khác nhau sẽ có quan điểm khác nhau về thời trang, cái đẹp. Điều này sẽ chi phối đến cung cầu về sản phẩm giày dép. Không những thế, sự gia tăng dân số của một đất nước, sự già hoá trong dân cư cũng ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu giày dép cụ thể như một đất nước có cơ cấu dân số già, những người trong độ tuổi từ 65 tuổi trở lên là những người nghỉ hưu sống bằng trợ cấp, thích đi bộ đường dài, du lịch dài ngày và thường xuyên. Vì thế, nhu cầu về sản phẩm giày dép là rất lớn, những sản phẩm này phải được thiết kế đặc biệt với những tính năng hỗ trợ cơ bắp với những chất liệu phải rất mềm, kiểu dáng đơn giản, gọn nhẹ và có độ bền cao. + Môi trường khoa học kỹ thuật – công nghệ. Với sản phẩm giày dép, yếu tố khoa học kỹ thuật và công nghệ đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, những tiểu tiết cầu kỳ và công phu. Nhiều sản phẩm giày dép mà khách hàng nước ngoài đặt hàng thì các doanh nghiệp còn phải xem xét xem có phù hợp với máy móc công nghệ hiện có của doanh nghiệp không thì mới tiến hành sản xuất.Điều này ảnh hưởng nhiều đến năng suất cũng như uy tín, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. 1.3 Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia xuất khẩu giày dép Trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng là việc làm hết sức cần thiết. Nhờ có hoạt động thúc đẩy xuất khẩu mà các doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng sản xuất, mở rộng quy mô xuất khẩu, từng bước tăng trưởng và phát triển. Bên cạnh đó, vì thị trường luôn luôn biến động không ngừng nên thúc đẩy xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho các doanh
  • 28. 21 nghiệp trong nước đa dạng hoá chủng loại sản phẩm và giảm thiểu được các rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh. Mỹ là thị trường xuất nhập khẩu quan trọng, có nhu cầu nhập khẩu rất lớn đối với nhiều mặt hàng tiêu dùng. Mỹ có quan hệ thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trong nhiều năm qua, sản xuất da giày của thế giới đã phát triển theo hướng thiết lập các chuỗi cung ứng sản phẩm toàn cầu, trong đó đầu chuỗi thường là các công ty, tập đoàn thương hiệu giày dép lớn tại Mỹ và châu Âu (Nike, Skechers USA, Adidas, Timberland...). Các tập đoàn thương hiệu đầu chuỗi chủ yếu thực hiện nghiên cứu phát triển và thiết kế sản phẩm tại Mỹ và đặt hàng sản xuất gia công trực tiếp qua các nhà sản xuất lớn hoặc qua các nhà đầu tư FDI tại châu Á, như Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Campuchia… sau đó tổ chức nhập khẩu và tiếp thị, phân phối, bán lẻ tại Mỹ. Trung Quốc đã vượt Nhật Bản trở thành bạn hàng lớn thứ 3 của Mỹ sau Canada và Mexico là hai nước thành viên của NAFTA. Năm 2019 Mỹ nhập khẩu 2,24 tỷ đôi giầy dép, trị giá 27,1 tỷ USD, đáp ứng 98,6% tiêu dùng, trong đó nhập khẩu lớn nhất từ Trung quốc chiếm 64,5%. Từ con số này Việt Nam sẽ học hỏi được không ít kinh nghiệm trong xuất khẩu mặt hàng này. 1.3.1 Kinh nghiệm từ Trung Quốc Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thực hiện việc quản lý hàng hoá xuất khẩu rất chặt chẽ. Luật pháp nước này quy định: Hàng hóa từ khi nhập cảnh cho đến khi xuất cảnh, đều do Hải quan quản lý, gian sát. Điều này đã tạo cho Hải quan Trung Hoa có nhiệm vụ và quyền hạn rất lớn. Nội dung của hợp đồng giày dép xuất khẩu phải phù hợp với quy định dưới sự giám sát, quản lý của Hải quan. Đối với mặt hàng giày dép, toàn bộ được thực hiện bằng máy tính từ khâu tiếp nhận, đến khâu thanh khoản. Hải quan Trung Quốc có một cơ quan chuyên trách thẩm định định mức hàng giày dép, cơ quan này độc lập với các đơn vị Hải quan làm thủ tục trực tiếp. Việc Hải quan Trung Hoa quản lý chặt chẽ công tác thẩm định định mức hàng hóa, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý về Hải quan đối với hàng đầu tư sản xuất nói chung, hàng giày dép nói riêng. Đặc biệt, Trung Quốc được mệnh danh là công xưởng của thế giới, việc chủ động nguồn nguyên vật liệu khiến các doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc giảm chi phí
  • 29. 22 sản xuất đáng kể đặc biệt ngành giày dép chủ động được nguồn nguyên phụ liệu là giảm được tới 30% – 50% chi phí sản xuất. Ngoài ra tạo việc làm và thu nhập cho rất nhiều lĩnh vực và ngành nghề liên quan đến sản xuất nguyên phụ liệu phục vụ cho xuất khẩu mặt hàng giày dép. Một yếu tố quan trọng không kém tạo nên sự thành công trong xuất khẩu mặt hàng giày dép của Trung Quốc là ứng dụng dây chuyển sản xuất tự động. Ngoài việc chú trọng phát triển mẫu mã sản phẩm, các doanh nghiệp da giày của Trung Quốc còn có riêng một bộ phận chuyên nghiên cứu máy móc và phát triển dây chuyền tự động hóa. Các hợp đồng với số lượng sản phẩm lớn và yêu cầu trong thời gian ngắn họ có thể đáp ứng được nhanh chóng đồng thời việc hoàn thành sớm đơn hàng còn giúp các doanh nghiệp giày dép của Trung Quốc nhận được nhiều hợp đồng hơn, từ đó lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp càng được nâng cao hơn. 1.3.2 Kinh nghiệm từ Thái Lan Tại Thái Lan, các quy trình về thủ tục hải quan cơ bản là thực hiện qua mạng, áp dụng hải quan điện tử, Hải quan Thái Lan đã áp dụng việc kiểm tra bằng các thiết bị tự động thông qua khai quan bằng điện tử qua mạng. Việc quyết toán cũng thực hiện qua mạng, nếu sai thì doanh nghiệp phải chịu phạt rất nặng. Tính tự giác của doanh nghiệp Thái Lan rất cao, họ sợ làm sai vì nếu sai họ không được ưu đãi trong thông quan mà còn bị Hải quan kiểm tra sau thông quan rất nhiều lần sẽ gây khó khăn, mất thời gian cho doanh nghiệp. Khác với Việt Nam, pháp luật về gia công của Thái Lan điều chỉnh chủ yếu hoạt động gia công tại nước ngoài, do vậy doanh nghiệp xuất khẩu nguyên liệu ra nước ngoài (ưu đãi xuất khẩu) và nhập khẩu sản phẩm trở lại Thái Lan hoặc xuất khẩu sản phẩm sang nước thứ ba. Trường hợp khi phát hiện các doanh nghiệp vi phạm pháp luật, Hải quan Thái Lan có các chế tài xử phạt rất nghiêm minh. Hệ thống máy tính sẽ cập nhật và trừ điểm theo mã số của doanh nghiệp vi phạm. Nếu doanh nghiệp vi phạm nhiều lần thì sẽ bị mất quyền ưu đãi trong khi làm thủ tục hải quan, đặc biệt là quyền được miễn kiểm tra hàng hóa. 1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Ngành giày da của Việt Nam là một trong những ngành được chú trọng phát triển khi Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với những ưu thế về nguồn nhân
  • 30. 23 công dồi dào, lượng vốn đầu tư không lớn, khả năng thu hồi vốn nhanh, trong những năm qua Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành công trong việc giải quyết việc làm cho người lao động cũng như đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước, từng bước đưa nước ta trở thành một trong 10 quốc gia có ngành giày da phát triển nhất thế giới. Tuy nhiên Việt Nam là một nước đang phát triển, do đó, chúng ta có điều kiện học hỏi và rút ra kinh nghiệm từ một số nước đi trước trong xuất khẩu ngành giày dép. Từ Trung Quốc, chúng ta rút ra được rằng để hoạt động xuất khẩu giày dép phát triển thì nhất thiết phải đẩy mạnh sản xuất và chủ động nguồn nguyên liệu trong nước, quy hoạch theo phát triển hàng hóa, tâp trung và quan tâm tới các ngành sản xuất và dịch vụ phụ trợ (sản xuất giống cây cao su) và công nghệ trồng và chăm sóc cây cao su. Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích, thu hút lực lượng khoa học kỹ thuật, nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là các nguồn vốn từ các doanh nghiệp và các nhà đầu tư quốc tế, tăng khả năng cạnh tranh của ngành giày dép. Cùng chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam nên học tập Trung Quốc trong việc điều tiết sự phát triển ngành giày dép thông qua xây dựng hệ thống các cơ quan chức năng đầy đủ và toàn diện, ban hành các bộ luật, chính sách liên quan đến hoạt động của ngành giày dép vừa phù hợp với các tiêu chuẩn của thị trường Mỹ vừa thích ứng với điều kiện của nền sản xuất trong nước. Ngoài ra việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ trong mô hình sản xuất sẽ giúp các doanh nghiệp giày dép của Việt Nam có thể mở rộng quy mô và có được nhiều đơn hàng hơn từ đối tác Mỹ. Từ kinh nghiệm của Thái Lan, Việt Nam học hỏi được trong khâu cải thiện thủ tục hải quan, đơn giản hóa các bước thực hiện. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong thủ tục hải quan đồng thời giảm thiểu chi phí thuê nhân sự, các doanh nghiệp xuất khẩu thực hiện nhanh chóng đơn hàng được gửi đi sớm hơn. Ngoài ra việc quản lý các sai phạm của Nhà nước trở nên dễ dàng hơn khi phải giải quyết bằng văn bản giấy. Ngoài ra thông qua việc tham gia vào các tổ chức kinh tế đa phương, mở rộng các mối quan hệ thương mại và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế có điều kiện tham gia nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu. Nâng cao khả năng cạnh tranh tại thị trường nước ngoài.
  • 31. 24 Chương 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GIÀY DÉP VIỆT NAM SANG MỸ GIAI ĐOẠN 2010 – 2020 2.1. Tổng quan thị trường giày dép tại Mỹ 2.1.1. Tình hình tiêu thụ giày dép tại Mỹ  Quy mô thị trường Mỹ có một nền kinh tế tư bản hỗn hợp, được thúc đẩy bởi tài nguyên thiên nhiên dồi dào, một cơ sở hạ tầng phát triển và năng suất cao. Nền kinh tế Mỹ cũng là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Theo báo cáo năm 2020 của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, GDP của Mỹ xấp xỉ 20,9 nghìn tỷ USD cấu thành khoảng 1/4 tổng sản phẩm thế giới nêu tính theo tỷ giá thị trường và khoảng 1/5 tổng sản phẩm thế giới nêu tính theo ngang giá sức mua giảm 3,5% so với mức 21,4 nghìn tỷ USD của năm 2019. Biểu đồ 2.1: Lượng tiêu thụ giày dép của Mỹ giai đoạn 2015 – 2020 Đơn vị: Tỷ đôi Nguồn: Trademap.org 3 2.5 2 1.5 Sản xuất nội địa Nhập khẩu 1 0.5 0 201 5 201 6 201 7 201 8 201 9 202 0 0.83 1.5 0.76 2.34 0.76 2.39 0.84 2.45 0.91 2.47 0.62 1.88
  • 32. 25 Đây là lần đầu tiên GDP hàng năm của Mỹ giảm kể từ năm 2009 - năm mà nền kinh tế nước này giảm 2,5% do khủng hoảng tài chính. Năm 2020 toàn thế giới không chỉ riêng Mỹ phải chịu hậu quả của dịch Covid – 19. Với dân số khoảng 331.966.720 người (dự kiến dân số ngày 31/12/2020 của Cục Điều tra dân số Mỹ), Mỹ là thị trường giày dép lớn nhất thế giới. Trung bình, mỗi người có 7,3 đôi giày mới được nhập khẩu vào thị trường Mỹ hàng năm, và tổng chi tiêu của người tiêu dùng cho giày dép ước tính là 80,2 tỷ đô la. Trong giai đoạn 2015 - 2020, các nghiên cứu đã ghi nhận sự thay đổi trong chi tiêu tùy ý của người tiêu dùng Mỹ từ hàng hóa như quần áo và giày dép sang chi tiêu cho trải nghiệm và du lịch. Sự thay đổi này một phần có thể giải thích sự chậm lại trong tăng trưởng nhập khẩu giày dép của Mỹ. Hàng nhập khẩu cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều kiểu dáng và xu hướng khác nhau của người tiêu dùng. Ví dụ: xu hướng "thể thao" tiếp tục thống trị chi tiêu của người tiêu dùng Mỹ cho giày thể thao: doanh số bán giày thể thao tăng 2% lên 24,3 tỷ đô la trong năm 2019 và giải trí thể thao là danh mục lớn nhất trong giày thể thao. Đến năm 2020, sản lượng tiêu thụ giày dép của người Mỹ là 1,88 tỷ đôi giảm 3,9% so với năm 2019. Thị phần của giày nội địa trong những năm gần đây suy giảm mạnh, nguồn giày dép tiêu dùng của Mỹ chủ yếu đến từ nhập khẩu. Năm 2015, lượng giày dép nhập khẩu chỉ chiếm 69% thì đến 2019, con số này lên tới 93,6%. Như vậy có thể thấy Mỹ là một đất nước phụ thuộc vào nhập khẩu giày dép từ bên ngoài. Đây là một cơ hội tốt cho Việt Nam và các nước đang phát triển trong việc xuất khẩu sản phẩm giày dép sang Hoa Kỳ.  Đặc điểm, xu hướng và thị hiếu tiêu dùng - Đặc điểm: Dung lượng thị trường Mỹ rất lớn do Mỹ có dân số đông, thu nhập bình quân đầu người cao. Sức mua của người Mỹ lớn vì họ chi tiêu mua sắm nhiều. Cơ cấu thị trường và mặt hàng tiêu thụ ở Hoa Kỳ rất đa dạng, nhu cầu hàng hóa ở từng vùng không giống nhau. Hàng hoa dù có chất lượng cao hay vừa đều có thể bán trên thị trường Mỹ vì ở đây có nhiều tầng lớp dân cư với mức sống khác nhau. Tuy
  • 33. 26 nhiên, đòi hỏi của người tiêu dùng Mỹ đối với sản phẩm cũng rất khắt khe, sản phẩm không chỉ chất lượng tốt mà giá cả phải hợp lý và dịch vụ đảm bảo. Có thể thấy Mỹ có thành phần xã hội đa dạng gồm nhiều cộng đồng riêng biệt. Hầu hết người Mỹ có nguồn gốc từ Châu Âu, các dân tộc thiểu số gồm người Mỹ bản xứ, Mỹ gốc Phi, Mỹ La Tinh, Châu Á và người từ các đảo Thái Bình Dương. Các dân tộc này đã đem vào nước Mỹ những phong tục tập quán, ngôn ngữ, thói quen, đức tin riêng của họ. Điều này tạo nên mốt môi trường văn hóa phong phú và đa dạng. Đặc điểm này mang lại cho thị trường Mỹ tính đa dạng phong phú trong tiêu dùng rất cao. Những đặc điểm riêng về địa lý và lịch sử đã hình thành nên một thị trường người tiêu dùng khổng lồ và đa dạng nhất thế giới. Mỹ có một sức mạnh kinh tế khổng lồ và thu nhập của người dân cao với thu nhập đó mua sắm đã trở thành nét không thế thiếu hụt trong văn hóa hiện đại của nước này. Cửa hàng là nơi họ đến mua hàng, dạo chơi, gặp nhau, trò chuyện và mở rộng giao tiếp xã hội. Qua thời gian, người tiêu dùng Mỹ có niềm tin tuyệt đối vào hệ thống cửa hàng đại lý bán lẻ của mình. Họ có sự bảo đảm về chất lượng bảo hành và các điều kiện vệ sinh an toàn khác. Điều này cũng làm cho họ có ấn tượng rất mạnh với lần tiếp xúc đầu tiên với các mặt hàng mới. Nếu ấn tượng này là xấu hàng hóa đó sẽ khó có cơ hội quay lại. Mỹ không có các lề ước và tiêu chuẩn thẩm xã hội mạnh và bắt buộc như ở các nước khác. Các nhóm người khác nhau vẫn sống theo văn hóa tôn giáo của mình và theo thời gian hòa trộn ảnh hưởng lẫn nhau tạo ra sự khác biệt trong thói quen tiêu dùng ở Mỹ so với người tiêu dùng ở các nước Châu Âu. Thị trường Mỹ mang tính chất quốc tế theo ý nghĩa dễ dàng chấp nhận hàng hóa từ bên ngoài vào một khi các hàng hoa đó đáp ứng được đòi hỏi đa dạng của thị trường đặc biệt này. Đây là một địa chỉ lý tưởng cho tất cả các nước trên thế giới. Từ các nước Châu Âu, Nhật Bản đến các nước đang phát triển như Ấn Độ, Việt Nam và các nước nghèo như Campuchia, Bangladesh đều có thể xuất khẩu được hàng hóa vào Mỹ, miễn sao hàng hóa của họ có thể đáp ứng được đòi hỏi của thị trường Mỹ. Chất lượng hàng hóa vào Hoa Kỳ rất linh hoạt và được chấp nhận theo nguyên tắc "tiền nào của ấy". Tuy nhiên, đối với người dân Mỹ có thu nhập cao thì chất lượng hàng hóa luôn là tiêu chuẩn hàng đầu. Vì thế họ đòi hỏi nghiêm ngặt về chất lượng hàng hóa và sẵn sang chấp
  • 34. 27 nhận giá cao đối với những hàng hóa đó. Nhưng đồng thời, ở Mỹ vẫn còn có một bộ phận người dân sống ở mức nghèo và tầng lớp trung lưu cũng khá đông nên hàng hóa có chất lượng thấp và trung bình từ Việt Nam vẫn có thể tìm được chỗ đứng trên thừ trường nước này. Cần đảm bảo các tiêu chuẩn xuất xứ và chất lượng của hàng hóa là quan trọng, nhưng chưa phải là đủ vì chủ yếu người Mỹ rất chú ý đến các yếu tố khác như: đổi mới kỹ thuật, hình dáng thiết kế mới, an toàn, tiện sử dụng, đóng gói đẹp. Với sức hấp dẫn của mình, Mỹ là một thị trường cạnh tranh gay gắt. Hàng hóa của một nước vào thị trường Mỹ phải cạnh tranh với các mặt hàng tương tự từ nhiều nước khác và hàng sản xuất trong nước. Mấu chốt để cạnh tranh trên thị trường Mỹ là giá cả, chất lượng và dịch vụ. Đôi khi đòi hỏi về giá cả lại lớn hơn đòi hỏi về chất lượng. Do người tiêu dùng Mỹ thích thay đổi, họ muốn mua những hàng hóa rẻ, chất lượng vừa phải hơn những mặt hàng bền mà giá lại đắt. Vì nguyên nhân này mà các hàng hóa của Trung Quốc rất thành công trên thị trường Mỹ. Một điều nữa cần lưu ý là khi bán hàng trên thị trường Mỹ, công tác marketing đóng vai trò hết sức quan trọng. Thị trường Mỹ luôn thu hút mọi nhà xuất khẩu trên khắp thế giới, khi đã qua được giai đoạn giới thiệu sản phẩm và thâm nhập được vào hệ thống phân phối, các nhà xuất khẩu nước ngoài sẽ nhận được những đơn đặt hàng rất lớn, ổn định và lâu dài đem lại nguồn doanh thu ổn định và ngày càng tăng, giúp các nhà sản xuất tái đầu tư mở rộng sản xuất, liên tục phát triển. Thị trường Mỹ được quản lý trên cơ sở pháp luật. Trong thương mại, các văn bản luật bao gồm luật điều chỉnh chung, luật điều chỉnh từng nhóm các mặt hàng và thậm chí một số mặt hàng có luật điều chỉnh riêng. Các luật này rất chặt chẽ và đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt. Hệ thống luật này khá phức tạp và làm cho các nhà xuất khẩu nước ngoài gặp khó khăn nếu không nắm vững. Chính sách thương mại của Mỹ nói chung là tự do và mở rộng. Hàng hóa nước ngoài vào thị trường Mỹ phải chịu các mức thuế khác nhau và phải chịu sự điều chỉnh của các luật lệ và quy định của nước này. Mỹ có một hệ thống pháp luật về thương mại vô cùng rắc rối và phức tạp. Bộ luật thương mại (UCC) được coi là bộ luật cái của hệ thống pháp luật về thương mại của Mỹ bao gồm: luật về trách nhiệm sản phẩm (theo luật này, nhà sản xuất và người bán hàng phải chịu trách nhiệm với người tiêu dùng về chất lượng hàng hóa sản phẩm trên thị trường Mỹ luật bảo hành và bảo vệ người tiêu dùng
  • 35. 28 ... Bên cạnh đó, Mỹ còn áp dụng công cụ phi thuế quan rất ngặt nghèo như: vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, đóng gói, bao bì, nhãn mác hàng hóa... Chính vì vậy để có thể thành công thâm nhập thị trường vô cùng tiềm năng và cũng đầy phức tạp này các doanh nghiệp Việt Nam cần có một hiểu biết sâu sắc và nắm vững các đặc trưng của nó. Qua những đặc điểm cơ bản trên, Mỹ là một thị trường khổng lồ, Việt Nam chỉ cần chiếm một thị phần nhỏ trên thị trường Mỹ cũng đã là rất lớn đối với nền kinh tế nước ta hiện nay. - Xu hướng tiêu dùng: Càng ngày các công nghệ mới càng được ứng dụng trong ngành da giày để đưa ra các sản phẩm cực kỳ sáng tạo, đi trước xu hướng thời đại. Đơn cử như nhãn hiệu giày dép Geox của Ý với ý tưởng độc đáo thiết kế những đôi giày có thể "thờ" được, đặc biệt cho giày thể thao với công nghệ thiết kế giày thẩm thấu được tối đa mồ hôi chân. Công nghệ này hiện nay được ứng dụng nhiều nơi và thậm chí cả trong ngành dệt may. Công ty này cũng phát triển công nghệ sản xuất da chống thấm nước. Những sáng tạo thành công này đã trở thành một phân ngành mới trong ngành giày dép và đưa tên tuổi những hãng giày dép này nổi tiếng toàn thế giới. Hoặc công ty Nike thể hiện đẳng cấp đầu đàn của mình với các dự án thân thiện với môi trường như "tái chế" giày với công nghệ phân tách, tái chế và tái sử dụng lại các nguyên liệu của đôi giày cũ. Với một đất nước luôn tiên phong trong việc sử dụng các sản phẩm công nghệ mới như Mỹ, những sản phẩm như vậy chắc chắn sẽ được chào đón và trở thành xu hướng tiêu dùng trong tương lai. - Thị hiếu tiêu dùng: Mỹ rất rộng lớn và có nhiều bang, mỗi bang lại có những sở thích tiêu dùng khác nhau. Dựa trên vị trí địa lý, có thể chia thị trường tiêu thụ của Mỹ thành những khu vực như sau: + Khu vực ven bờ Đại Tây Dương bao gồm các bang New York, New Jersey, Maryland, Pennsylvania. Khu vực này rất đông dân cư, phân chia thành nhiều tầng lớp
  • 36. 29 xã hội khác nhau, trong đó bộ phận quý tộc độc thân chiếm tỉ lệ cao. Cho nên ở đây tập quán của người tiêu dùng theo tự do cá nhân, nhịp điệu sinh hoạt nhanh, họ thích tới những nơi có hàng hóa tập trung và đa dạng để mua hàng. + Khu New England bao gồm các bang Maine, New Hampshire, Rhode Island, Massachusetts, Vermont, Connecticut, thuộc vùng Đông Bắc Mỹ. ở khu vực này cư dân có độ tuổi bình quân tương đối cao và có nhiều nhân tài chuyên môn, quản lý cấp cao. Do đó, họ thích mua hàng hóa theo nhiều phương thức thoáng mở. + Khu phía Nam bao gồm từ Georgie nôi liên các bang phía Nam của Floria. Đặc điểm của người dân ở đây là tính cách tương đối bảo thủ, rất có cảm tình và cũng thích chạy theo các mốt thời thượng, 2.1.2. Tình hình nhập khẩu giày dép tại Mỹ giai đoạn 2010 - 2020  Kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020 Nhìn chung, kim ngạch nhập khẩu giày dép ở thị trường Hoa Kỳ tăng dần qua các năm. Theo số liệu thống kê của ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ, giai đoạn 2010 - 2020, kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ trung bình khoảng 25 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 6,2%/năm. Kim ngạch nhập khẩu duy trì tăng nhẹ trong các năm đạt mức đỉnh điểm ở năm 2016 với tổng kim ngạch nhập khẩu là xấp xỉ 27,651 tỷ USD. Năm 2020 chứng kiến sự sụt giảm mạnh (kim ngạch giảm 9,2% so với năm 2019) trong nhập khẩu mặt hàng giày dép ở Mỹ. Trước tác động sâu rộng của dịch Covid - 19, người tiêu dùng buộc phải cắt giảm chi tiêu do giãn cách xã hội và mất việc làm phải nhờ vào trợ cấp quốc gia là nguyên nhân của thực trạng này đồng thời người dân không đi ra ngoài nhiều nên nhu cầu sử dụng mặt hàng này giảm đáng kể. Tuy nhiên với tiềm lực kinh tế của Mỹ việc đẩy lùi dịch bệnh không còn là khó khăn, dự báo trong năm 2021 nhập khẩu sẽ tăng trở lại. Mặt khác việc giãn cách xã hội do ảnh hưởng của dịch Covid – 19 khiến các mặt hàng giày dép sử dụng ở nhà tang tuy không đáng kể nhưng cũng khiến kim ngạch xuất khẩu trong năm 2020 không bị giảm sâu như các ngành khác.
  • 37. 30 30 27.65 1 26.01 9 25.63 4 25.64 1 26.56 8 24.86 9 25 20 15 10 5 0 201 5 201 6 201 7 201 8 201 9 202 0 Biểu đồ 2.2: Kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020 Đơn vị: Tỷ USD Nguồn: Ủy ban Thương mại quốc tế Mỹ (USITC)  Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu Các mặt hàng giày dép nhập khẩu theo mã HS bao gồm: + Giày không thấm nước với đế ngoài và mũi giày bằng cao su hoặc chất dẻo (6401) + Giày có thể bị thấm nước, có đế ngoài và mũi giày bằng cao su hoặc chất dẻo (6402) + Giày với đế ngoài bằng cao su, chất dẻo, da hoặc có da là thành phần; mũi giày bằng da (6403) + Giày với đế ngoài bằng cao su, chất dẻo, da hoặc có da là thành phần; mũi giày bằng nguyên liệu dệt (mũi vải) (6404) + Giày dép khác (6405) + Các bộ phận của giày dép (kể cả mũi giày đã hoặc chưa gắn liền với đế khác với đế ngoài), lót có thể tháo rời, đệm lót chân và các loại tương tự,... (6406)
  • 38. 31 Biểu đồ 2.3: Giá trị nhập khẩu giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020 phân theo mã HS Đơn vị: Tỷ USD Nguồn: Trademap.org Mặc dù nhìn chung các mặt hàng nhập khẩu đều có xu hướng giảm trong thời gian gần đây do ảnh hưởng của dịch Covid - 19 nhưng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu mặt hàng giày dép nhập khẩu ở Mỹ luôn là giày mang mã HS là 6403 - giày với đế ngoài bằng cao su, chất dẻo, da hoặc có da là thành phần, mũi giày bằng da, chiếm 54,79% tổng giá trị giày dép nhập khẩu của Mỹ năm 2020 (giày dép mang mã HS này có thuế suất nhập khấu thấp nhất so với các giày dép mã HS khác); kế đến là 6404 - giày với đế ngoài bằng cao su, chất dẻo, da hoặc có da là thành phần mũi giày bằng 16 14 12 1 0 8 6 640 3 640 4 640 2 640 5 640 6 640 1 4 2 0 201 5 201 6 201 7 201 8 201 9 202 0 13.3 6 6.68 7.34 0.71 0.43 0.21 11.6 3 7.38 6.27 0.7 0.4 0.16 10.6 8 8.53 6.02 0.86 0.36 0.15 11.0 2 9.08 6.01 0.92 0.35 0.16 11.3 2 9.25 5.99 1.07 0.35 0.2 8.47 7.14 4.66 0.88 0.24 0.13
  • 39. 32 nguyên liệu dệt (mũi vải), chiếm 27,56% tổng giá trị giày dép nhập khẩu của Mỹ năm 2020.  Cơ cấu thị trường nhập khẩu Dẫn đầu trong danh sách các nước xuất khẩu giày dép sang Mỹ là Trung Quốc. Năm 2019, Trung Quốc chiếm tới 53% trong tổng kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ mặc dù bản thân nó lần đầu tiên suy giảm 1,8% so với kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ từ Trung Quốc năm trước đó. Tuy nhiên đến năm 2020 do ảnh hưởng của dịch Covid – 19 kim ngạch xuất khẩu giảm còn 9,157 tỷ USD giảm tới 64% so năm trước. Trong những năm gần đây, Trung Quốc vươn lên phát triển mạnh mẽ tới mức nhiều ý kiến cho rằng Trung Quốc sẽ nhanh chóng thay thế Mỹ để trở thành cường quốc lớn mạnh nhất thế giới. Vì lý do đó, Mỹ luôn tìm mọi cách để kìm hãm sự phát triển của Trung Quốc trên mọi mặt: kinh tế, quân sự, chính trị. Trong tương lai, Mỹ có xu hướng giảm nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc để tránh bị phụ thuộc điển hình vào thời Tổng thống Donal Trump đã gây ra chiến tranh thương mại đầu tiên trên thế giới với việc áp thuế lên hầu hết các sản phẩm chủ lực xuất khẩu của Trung Quốc, đồng thời tăng cường nhập khẩu từ các nước đang phát triển khác, trong đó Việt Nam là một điểm đến được Mỹ chú ý. Đứng thứ 2 sau Trung Quốc về sản lượng giày dép xuất sang Mỹ là Việt Nam. Trong 10 năm kể từ 2010 đến 2020, sản lượng giày dép Việt Nam xuất sang thị trường Mỹ tăng mạnh. Tuy nhiên mức tỷ trọng 31,4% trong kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ năm 2020 là con số quá khiêm tốn so với mức gần 42,7% của Trung Quốc Phần tỷ trọng 25,9% còn lại của năm 2020 được nắm giữ bởi các nước Indonesia, Italy, Mexico, Ấn Độ, Cambodia, Dominican Rep, Spain, Canada,... Nhập khẩu của Mỹ từ Ý và Mexico - những nhà cung cấp có uy tín về giày da chất lượng, lần lượt đạt 1,366 tỷ USD (giảm 11,5%) và 0,331 tỷ USD (giảm 33,8%) so với năm 2019. Tuy kim ngạch xuất khẩu giảm nhưng các mặt hàng từ hai quốc gia này luôn là sản phẩm chất lượng cao với thiết kế tỉ mỉ tới từng đường kim, vì vậy trong tương lai bộ phận khách hàng có nhu cầu sử dụng sẽ lại tăng trở lại mà không có bất kỳ thị trường nào có thể thay đổi vị thế của hai quốc gia này. Dưới đây là cơ cấu nhập khẩu giày dép của Mỹ giai đoạn 2010 – 2020:
  • 40. 33 Bảng 2.1: Kim ngạch nhập khẩu giày dép của Mỹ phân theo thị trường giai đoạn 2010-2020 Đơn vị: Tỷ USD 2015 2016 2017 2018 2019 2020 China 17,066 17,276 14,821 14,255 14,061 9,157 Việt Nam 3,623 4,474 4,911 5,525 6,208 6,73 Indonesia 1,235 1,426 1,462 1,509 1,539 1,434 Italy 1,444 1,408 1,358 1,37 1,542 1,366 Mexico 0,499 0,493 0,413 0,416 0,5 0,331 India 0,349 0,468 0,503 0,448 0,44 0,318 Cambodia 0,128 0,218 0,255 0,271 0,329 0,521 Dominican Rep 0,297 0,327 0,312 0,271 0,257 0,167 Spain 0,213 0,224 0,243 0,233 0,242 0,152 Canada 0,059 0,073 0,05 0,052 0,051 0,043 All other 1,106 1,264 1,306 1,291 1,399 1,208 Tổng nhập khẩu 26,018 27,65 25,634 25,64 26,567 21,427 Nguồn: Trademap.org 2.2 Hoạt động sản xuất và xuất khẩu mặt hàng giày dép tại Việt Nam 2.2.1. Khái quát về quá trình phát triển của ngành giày dép Việt Nam Hầu hết các doanh nghiệp giày dép Việt Nam đặt cơ sở ở những vùng công nghiệp có lợi thế về giao thông vận tải. Ở miền Bắc có nhiều doanh nghiệp giày dép, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân có vốn đầu tư nước ngoài tại Hải Phòng và ven thành phố Hà Nội. Ở miền Nam, hầu hết các doanh nghiệp giày dép ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng
  • 41. 34 Nai, Bình Dương, nơi tập trung nhiều khu công nghiệp. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp giày dép nhất cả nước. Bảng 2.2: Thống kê hội viên theo địa bàn của Hiệp hội da giày Việt Nam năm 2020 STT Khu vực Số hội viên 1 Hưng Yên 2 Phú Thọ 3 Vĩnh Phúc 4 Hà Nội 5 Nam Định 6 Hải Phòng 7 Hải Dương 8 Khánh Hòa 9 Huế 10 Đà Nẵng 11 Tây Ninh 12 Bình Định 13 Đồng Nai 14 Cần Thơ 15 Bình Dương 16 Hồ Chí Minh Nguồn: Hiệp hội da giày Việt Nam
  • 42. 35 2.2.2. Hoạt động sản xuất  Quy mô sản xuất Việt Nam là một trong năm nhà sản xuất giày dép hàng đầu thế giới với công suất 920 triệu đôi/năm với 90% sản phẩm là cho xuất khẩu. Việt Nam hiện có 4 phương thức sản xuất giày dép. + Một là, gia công thuần túy, nghĩa là, nhà máy chỉ nhận vật tư, nguyên liệu được cung cấp từ đối tác nước ngoài, không phải thanh toán tiền vật tư, nguyên liệu và sau khi dùng vật tư, nguyên liệu đó theo quy trình công nghệ đã được chọn sẵn phía nước ngoài, làm ra sản phẩm, rồi xuất giao lại cho phía đối tác nước ngoài và nhận tiền công. + Hai là, mua nguyên liệu bán thành phẩm, cũng gần giống phương thức thứ nhất nhưng nhà máy phải tự mua vật tư và thanh toán tiền vật tư. + Ba là, sản xuất theo doanh nghiệp gọi hiện nay là hàng FOB, có 2 phương thức khác nhau, thứ nhất là xuất hàng FOB, sản xuất cho các thương hiệu nước ngoài, tiêu thụ ở thị trường xuất khẩu và thứ hai là sản phẩm mang thương hiệu cửa chính doanh nghiệp đó. Những phương thức này hiện nay thực hiện được rất ít vì thương hiệu của ta chưa đủ mạnh. Với khoảng gần 1000 doanh nghiệp giày dép hoạt động, thu hút hơn một triệu lao động trực tiếp và gián tiếp, 80% là phụ nữ, ngành giày dép Việt Nam có tầm quan trọng đối với việc thu hút lao động và chịu sự chi phối của các công ty nước ngoài. Năng lực sản xuất toàn ngành da giày năm 2019 đạt 1899 triệu đôi giày dép các loại với mức sử dụng da thuộc thành phẩm 450 triệu feet vuông, năm 2020 tuy ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến việc xuất khẩu hàng hóa đi nước ngoài trì trệ nhưng vẫn đạt 1672 triệu đôi với mức sử dụng da thành phẩm 360 triệu feet vuông. Năng lực sản xuất của ngành chủ yếu tại các cơ sở ngoài quốc doanh và có yếu tố nước ngoài, chiếm trên 90% năng lực của ngành. Điều này cho thấy năng lực ngành da giày Việt Nam phụ thuộc nhiều vào làn sóng đầu tư của tư bản tư nhân trong nước và quốc tế. Cơ cấu doanh nghiệp sản xuất Theo khảo sát của hiệp hội da giày Việt Nam (LEFASO), tới năm 2020 có khoảng gần 1000 doanh nghiệp giày dép với hơn 2 triệu lao động trực tiếp và gián tiếp. Đa số
  • 43. 36 các doanh nghiệp trong ngành tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương. Sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu của ngành giày dép Việt Nam có sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước, các công ty tư nhân, các doanh nghiệp sản xuất thủ công. Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước có nhiều lợi thế so với các doanh nghiệp khác về vốn, cơ sở kỹ thuật và nguyên liệu, kinh nghiệm và các mối quan hệ giao thương để có thể chủ động tìm kiếm và mở rộng thị trường, học hỏi các mô hình thương mại cũng như các phương thức giao dịch quốc tế. Bên cạnh đó là các lợi thế về chất lượng được đảm bảo, giá cả, điều kiện giao hàng và nâng cao uy tín, hiệu quả xuất khẩu. Hiện thời các doanh nghiệp tư nhân cũng góp phần lớn trong xuất khẩu giày dép. Với lợi thế là sự tổ chức lao động một cách linh hoạt và năng động và sự thay đổi để đáp ứng nhu cầu thị trường cùng với sự thích ứng nhanh chóng với quá trình thay đổi của cơ chế thị trường, nhiều doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp nhà nước. Sản phẩm giày dép của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được chất lượng cao ở thị trường xuất khẩu quốc tế bởi thiết bị và công nghệ của họ hiện đại hơn các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nguồn cung cấp nguyên liệu và các hợp đồng xuất khẩu ổn định. Các sản phẩm liên doanh có khuynh hướng chiếm lĩnh thị trường nội địa. Các nước và khu vực đầu tư sản xuất giày dép ở Việt Nam chủ yếu là Đài Loan, Hàn Quốc, Đức, Singapore, ... So sánh với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam yếu hơn về sự đầu tư và có ít cơ hội hơn khi tham gia thị trường quốc tế. Hầu như tất cả các doanh nghiệp này không tiếp cận được thị trường nước ngoài và có mối quan hệ trực tiếp với các đối tác nước ngoài. Họ phải thông qua các đối tác trung gian nước ngoài và không có đủ sức cạnh tranh, đặc biệt trong trung và dài hạn. Bên