CÁC LOẠI VI KHUẨN GÂY ĐỘC 
Salmonella 
Salmonella là trực khuẩn Gram âm. Nhiễm salmonella có thể đưa tới sốt thương hàn, 
nhiễm khuẩn máu, viêm ruột. Salmonella typhi, Salmonella paratyphi gây nên sốt thương 
hàn. Khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể bằng đường miệng đến niêm mạc ruột rồi đến 
hạch lympho và phát triển ở đó. Đây là thời ủ bệnh. Sau khi tăng sinh, một số tự ly giải, 
phóng thích nội độc tố, số khác theo hệ lympho vào máu gây nhiễm trùng máu. Triệu 
chứng ban đầu là sốt kèm theo lạnh run, sốt tăng dần kéo dài trong 2 tuần. Tình trạng này 
làm bệnh nhân suy nhược, biếng ăn, mệt mỏi, gan lách to, xuất huyết ngoài da, lượng 
bạch cầu giảm. Sau 3 tuần bệnh sẽ giảm. Trước khi có kháng sinh biến chứng chủ yếu là 
xuất huyết tiêu hóa và lủng ruột, tử vong 10 – 15%. Các biến chứng khác là viêm màng 
não, viêm tủy xương. 
Campylobacter 
Đây là vi sinh vật gây nên bệnh viêm nhiễm đường ruột và đã được chứng minh là có mặt 
ở khắp nơi. Campylobacter là một trong những hệ vi sinh vật của nhiều loài động vật và 
chim. Nhưng các dòng có khả năng gây độc thì không thể phát triển khi nhiệt độ thấp hơn 
30oC, đây là vi sinh vật ưa nhiệt bắt buộc. Sản phẩm sửa và thịt gia cầm là những nguồn 
có thể gây nên ngộ độc do vi sinh vật này. Nước cũng là một trong những nguồn mang 
bệnh này. Là nhóm vi sinh vật nhạy nhiệt, dễ bị tiêu diệt bằng phương pháp thanh trùng 
Pasteur. Chúng cũng không thể sống trong môi trường acid, hay môi trường hiếu khí, chỉ 
có thể sống trong các loại thực phẩm hút chân không. Thời gian ủ bệnh thường từ 2 – 11 
ngày từ khi bị nhiễm. Các triệu chứng do vi sinh vật này gây nên như đau nhức, tiêu 
chảy, sốt, đau đầu, khó chịu, chuột rút, lạnh cóng, mê sản. Thỉnh thoảng có những biểu 
hiện bệnh giống cảm cúm. 
Clostridium perfringens 
Bào tử của loài vi khuẩn này có khả năng kháng nhiệt, tuy nhiên khả năng này còn phụ 
thuộc vào thời gian tiếp xúc với nhiệt. Nguồn lây nhiễm: thịt gia cầm, đất, phân người. 
Các triệu chứng do vi sinh vật này gây ra thường là đau thắt vùng bụng, tiêu chảy. Thời 
gian bệnh từ 12 – 24 giời. 
Clostridium botulinum 
Đây là vi sinh vật phân bố khắp nơi trong đất, nước, gia súc và động vật thủy sản. Loại vi 
khuẩn này gây ngộ độc cho người với các biểu hiện rất nghiêm trọng như: ói mửa, buồn 
nôn, choáng váng, rối loạn thị giác, rối loạn các cơ ở cổ và miệng, đau vùng ngực, khó 
thở và tê liệt, có thể dẫn đến tử vong. Các triệu chứng trên biểu hiện sau 36 giờ sau khi 
nhiễm C.botulinum. Các triệu chứng thường kéo dài 2 – 6 ngày theo tình trạng nhiễm độc 
và sức khỏe của từng bệnh nhân. Độc tố do C.botulinum tiết ra là botuline gồm nhiều loại 
như A, B, C1, C2, E.... các độc tố này có trọng lượng phân tử lớn khoảng 1 triệu danton. 
Những dạng có tác động mạnh đến con người là A và E, đây cũng là một trong các độc tố 
sinh học có cường độ mạnh nhất 
Staphylococcus aureus 
Staphylococcus aureus là vi khuẩn có khả năng sản sinh một số loại độc tố đường ruột
bền nhiệt. Khi con người nhiễm bệnh, sau 4 – 6 giờ ủ bệnh sẽ bộc phát các triệu chứng 
lâm sàng như tiêu chảy, nôn mữa, các triệu chứng này kéo dài từ 6 – 8 giờ. Trong tự 
nhiên thường được tìm thấy trên da, mũi, tóc hay lông của các loài động vật máu nóng. 
Vibrio spp 
Chúng có nguồn gốc từ biển và cần ion Na+ để phát triển. Một số loài có khả năng gây 
bệnh cho người như V.cholerae, V.parahaemolyticus, V. Vulnificus, ... trong đó V. 
Cholerae là tác nhân gây nên các vụ dịch tả trên toàn thế giới. Vi sinh vật này sản sinh 
độc tố cholaratoxin, đây là loại độc tố đường ruột có cường độ mạnh, chỉ cần 5μg gây 
nhiễm qua đường ruột có thể gây tiêu chảy cho người trưởng thành. Một số độc tố khác 
cũng được vi sinh vật này tiết ra như hemolysine có độc tính tương tự tetrodotoxin (độc 
tố cá nóc) 
Shigella 
Trực khuẩn Gram âm, không di động. Đây là giống vi khuẩn có tế bào chủ đặc biệt, 
chúng chỉ thích nghi và phát triển trong tế bào chủ là người và các loài linh trưởng. Sự 
hiện diện của chúng trong môi trường là do sư nhiễm phân của người và các loài linh 
trưởng. Chúng có thể tồn tại 6 tháng trong môi trường nước. Các vụ ngộ độc shigella chủ 
yếu xảy ra ở những nơi điều kiện vệ sinh kém. Shigella chủ yếu gây nên bệnh lị trực 
trùng. Thời gian ủ bệnh từ 1 – 7 ngày. Các biểu hiện nghiêm trọng khi nhiễm Shigella là: 
tiêu ra máu, mất nước, sốt cao, bị co rút thành bụng. Những triệu chứng này có thể kéo 
dài 12 – 14 ngày hoặc lâu hơn. Bệnh biểu hiện rất nghiêm trọng đối với trẻ em và người 
già. Độc tố của vi khuẩn gồm 2 dạng: nội độc tố là lipopolysaccharide của vách tế bào vi 
khuẩn được phóng thích khi tế bào ly giải, gốp phần kích thích thành ruột; ngoại độc tố 
có tên là Shiga, không bền nhiệt, tác động lên thành ruột lẫn hệ thần kinh trung ương, ở 
ruột gây tiêu chảy và ức chế hấp thụ đường và các acid amin ở ruột non, trên hệ thần kinh 
gây ra những biểu hiện lâm sàng trần trọng có thể gây tử vong. Hàng năm trên thế giới có 
khoảng nữa triệu người chết vì Shigella. Đường lây nhiễm chủ yếu là đường miệng và 
nước là môi trường truyền bệnh quan trọng. 
Staphylococci 
Là nhóm vi khuẩn thường trú ở vùng da và niêm mạc của người. Chúng có khả năng lên 
men nhiều loại đường và tiết sắc tố thay đổi từ trắng đến vàng. Ngày nay staphylococci 
đã đề kháng với nhiều loại kháng sinh và trở thành một vấn đề khó khăn trong điều trị. 
Nhóm vi khuẩn này có khản năng tiết ra một số enzyme như coagulase (làm đông huyết) 
được xem như một yếu tố gây độc của vi khuẩn. Ngoài ra chúng còn tiết ra các độc tố 
khác như: ngoại độc tố α-toxin và β-toxin có khả năng li giải hồng cầu, gây tổn hại tiểu 
cầu, Exfoliative toxin làm bong biểu bì, tạo nốt phỏng ngoài da, toxic shock syndrome 
toxin (độc tố gây sốc), và các loại độc tố đường ruột gây tiêu chảy, nôn mửa (tác dụng 
gây nôn là kết quả của sự kích thích trung tâm nôn mửa của hệ thần kinh trung ương sau 
khi độc tố tác động lên thụ thể thần kinh trong ruột. 
Streptococcus pneumoniae (Pneumococci) 
Pneumococci là cầu khuẩn Gram dương, xếp thành từng đôi hay thành chuỗi, có võ bằng 
polysaccharide. Chúng dễ bị ly giải bởi những chất hoạt động bề mặt như muối mật. 
Thường trú ở đường hô hấp trên của người và có thể gây viêm phổi, viêm xoang, viêm
phế quản, nhiễm khuẩn máu, viêm màng não,... Ở người lớn, hơn 75% trường hợp viêm 
phổi do pneumococci thuộc các type 1 – 8. Trong số bệnh nhân tử vong, hơn 1 nữa là do 
nhiễm khuẩn máu. Ở trẻ em các type gây bệnh thường gặp là 6, 14, 19 và 23. Khả năng 
gây bệnh là do sự tăng trưởng tràn lan của pneumococci vào các mô. Vi khuẩn không sản 
xuất độc tố. Độc tố vi khuẩn một phần do nang, vì nang có tác dụng ngăn chặn sự thực 
bào. Khoảng 40 – 70% người khỏe mạnh có mang pneumococci có độc lực, nhưng cơ thể 
không bị bệnh là do màng nhày của đường hô hấp có sức đề kháng lớn với pneumococci. 
Neisseriae 
Neisseiae là những cầu khuẩn Gram âm xếp thành đôi còn gọi là song cầu. Hai loại gây 
bệnh cho người là Neisseria gonorrhoeae (gonococcus) và Neisseria meningitidis 
(meningococcus) thường tìm thấy bên trong tế bào bạch cầu đa nhân. Neisseria 
gonorrhoeae là vi khuẩn gây bệnh lậu. Kháng nguyên lipopolysaccharide ở màng ngoài 
của vi khuẩn này là thành phần gây độc chính. Một số neisseria khác là vi khuẩn thường 
trú ở đường hô hấp trên của người nhưng hiếm khi gây bệnh. 
Corynebacterium diphtheriae 
C.diphtheriae là vi khuẩn gây bệnh bạch hầu, có dang hình que, Gram dương, 1 đầu hoặc 
2 đầu phình ra, xếp song song thành góc nhọn, hiếu khí. Độc tố của vi khuẩn bạch hầu là 
1 polypeptide có trọng lượng 62.000 daltons, dễ bị phân hủy bởi nhiệt (60oC trong 15 
phút). Độc tố gồm 2 phần: phần B gắn vào thụ thể chuyên biệt trên tế bào nhạy cảm và 
giúp phân giải protein, phần A là phần hoạt động khi vào bào tương sẽ xúc tác một phản 
ứng làm cho quá trình tổng hợp protein ngừng lại. Độc tố tác động lên tất cả tế bào cơ thể 
hữu nhũ, nhưng tác động mãnh liệt trên tìm (viêm cơ tim), thần kinh (hủy hoại myelin) và 
thận (hoại tử ống thận). 
Yersinia pestis 
Y.pestis được nhà vi khuẩn học Alexander Yersin phân lập đầu tiên từ mẫu bệnh phẩm 
dịch hạch. Vi khuẩn hình que, ngắn, dạng trực cầu khuẩn, Gram âm, có khuynh hướng 
bắt màu đậm ở hai đầu hơn phần giữa thân. Lipopolysaccharide cũng là nội độc tố của vi 
khuẩn, gây sốt, gây chết, gây phản ứng Shwartzman tại chỗ và toàn thân. Nội độc tố 
chính gây bệnh dịch hạch là thành phần protein ở vách tế bào, được tiết ra khi vi khuẩn ly 
giải, gồm 2 protein có trọng lượng phân tử khác nhau, có tác dụng phong bế β, gây cô 
máu và sốc trên chuột thực nghiệm. Độc tố dịch hạch tạo antitoxin đặc hiệu. 
Bacillus anthracis 
Đây là loại vi khuẩn gây bệnh than. Là trực khuẩn Gram dương, sinh nha bào, có khả 
năng gây bệnh nhiễm trùng cấp tính ở cả động vật và người. Ở người nhiễm vi khuẩn 
bệnh than ở 2 dạng: thể hô hấp khi các bào tử nảy mầm thành trực khuẩn chúng gây ra 
các tổn thương xuất huyết hoại tử, phù, gây đau nhiều vùng trung thất và sau xương ức. 
Khi xuất huyết và hoại tử lan rộng đến màng phổi, xảy ra tràn máu và phổi. Thể tiêu hóa, 
do ăn phải thực phẩm nhiễm vi khuẩn than. Cũng xuất hiện các tình trang xuất huyết và 
hoại tử như thể hô hấp. 
Escherichia coli 
E.coli là trực khuẩn Gram âm, sống bình thường ở ruột người và loài vật, nhiều nhất
trong ruột già. Vi khuẩn theo phân ra ngoài thiên nhiên, do đó thường thấy trong nước, 
đất, không khí. E.coli có khoảng 150 yếu tố O, 100 yếu tố K và 50 yếu tố H, được chia 
thành rất nhiều type huyết thanh. Chúng có khả năng gây nhiễm trùng đường máu, đường 
tiểu, viêm màng não và tiêu chảy. E.coli gây tiêu chảy tiết ra 2 loại độc tố ruột LT và ST. 
Độc tố LT không bền nhiệt, gây hoạt hóa adenylcyclase trong tế bào biểu mô ruột làm 
tăng lượng AMP vòng, do đó kích thích bài tiết ion Cl- và bicarbonate, đồng thời ức chế 
tái hấp thu Na+. Hậu quả cuối cùng là tiêu chảy mất nước. Độc tố ST bền nhiệt, hoạt hóa 
guanylcyclase làm tăng GMP vòng, dẫn đến kích thích bài tiết nước và muối gây tiêu 
chảy. 
---------- Online File----------

Các loại vi khuẩn gây độc

  • 1.
    CÁC LOẠI VIKHUẨN GÂY ĐỘC Salmonella Salmonella là trực khuẩn Gram âm. Nhiễm salmonella có thể đưa tới sốt thương hàn, nhiễm khuẩn máu, viêm ruột. Salmonella typhi, Salmonella paratyphi gây nên sốt thương hàn. Khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể bằng đường miệng đến niêm mạc ruột rồi đến hạch lympho và phát triển ở đó. Đây là thời ủ bệnh. Sau khi tăng sinh, một số tự ly giải, phóng thích nội độc tố, số khác theo hệ lympho vào máu gây nhiễm trùng máu. Triệu chứng ban đầu là sốt kèm theo lạnh run, sốt tăng dần kéo dài trong 2 tuần. Tình trạng này làm bệnh nhân suy nhược, biếng ăn, mệt mỏi, gan lách to, xuất huyết ngoài da, lượng bạch cầu giảm. Sau 3 tuần bệnh sẽ giảm. Trước khi có kháng sinh biến chứng chủ yếu là xuất huyết tiêu hóa và lủng ruột, tử vong 10 – 15%. Các biến chứng khác là viêm màng não, viêm tủy xương. Campylobacter Đây là vi sinh vật gây nên bệnh viêm nhiễm đường ruột và đã được chứng minh là có mặt ở khắp nơi. Campylobacter là một trong những hệ vi sinh vật của nhiều loài động vật và chim. Nhưng các dòng có khả năng gây độc thì không thể phát triển khi nhiệt độ thấp hơn 30oC, đây là vi sinh vật ưa nhiệt bắt buộc. Sản phẩm sửa và thịt gia cầm là những nguồn có thể gây nên ngộ độc do vi sinh vật này. Nước cũng là một trong những nguồn mang bệnh này. Là nhóm vi sinh vật nhạy nhiệt, dễ bị tiêu diệt bằng phương pháp thanh trùng Pasteur. Chúng cũng không thể sống trong môi trường acid, hay môi trường hiếu khí, chỉ có thể sống trong các loại thực phẩm hút chân không. Thời gian ủ bệnh thường từ 2 – 11 ngày từ khi bị nhiễm. Các triệu chứng do vi sinh vật này gây nên như đau nhức, tiêu chảy, sốt, đau đầu, khó chịu, chuột rút, lạnh cóng, mê sản. Thỉnh thoảng có những biểu hiện bệnh giống cảm cúm. Clostridium perfringens Bào tử của loài vi khuẩn này có khả năng kháng nhiệt, tuy nhiên khả năng này còn phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc với nhiệt. Nguồn lây nhiễm: thịt gia cầm, đất, phân người. Các triệu chứng do vi sinh vật này gây ra thường là đau thắt vùng bụng, tiêu chảy. Thời gian bệnh từ 12 – 24 giời. Clostridium botulinum Đây là vi sinh vật phân bố khắp nơi trong đất, nước, gia súc và động vật thủy sản. Loại vi khuẩn này gây ngộ độc cho người với các biểu hiện rất nghiêm trọng như: ói mửa, buồn nôn, choáng váng, rối loạn thị giác, rối loạn các cơ ở cổ và miệng, đau vùng ngực, khó thở và tê liệt, có thể dẫn đến tử vong. Các triệu chứng trên biểu hiện sau 36 giờ sau khi nhiễm C.botulinum. Các triệu chứng thường kéo dài 2 – 6 ngày theo tình trạng nhiễm độc và sức khỏe của từng bệnh nhân. Độc tố do C.botulinum tiết ra là botuline gồm nhiều loại như A, B, C1, C2, E.... các độc tố này có trọng lượng phân tử lớn khoảng 1 triệu danton. Những dạng có tác động mạnh đến con người là A và E, đây cũng là một trong các độc tố sinh học có cường độ mạnh nhất Staphylococcus aureus Staphylococcus aureus là vi khuẩn có khả năng sản sinh một số loại độc tố đường ruột
  • 2.
    bền nhiệt. Khicon người nhiễm bệnh, sau 4 – 6 giờ ủ bệnh sẽ bộc phát các triệu chứng lâm sàng như tiêu chảy, nôn mữa, các triệu chứng này kéo dài từ 6 – 8 giờ. Trong tự nhiên thường được tìm thấy trên da, mũi, tóc hay lông của các loài động vật máu nóng. Vibrio spp Chúng có nguồn gốc từ biển và cần ion Na+ để phát triển. Một số loài có khả năng gây bệnh cho người như V.cholerae, V.parahaemolyticus, V. Vulnificus, ... trong đó V. Cholerae là tác nhân gây nên các vụ dịch tả trên toàn thế giới. Vi sinh vật này sản sinh độc tố cholaratoxin, đây là loại độc tố đường ruột có cường độ mạnh, chỉ cần 5μg gây nhiễm qua đường ruột có thể gây tiêu chảy cho người trưởng thành. Một số độc tố khác cũng được vi sinh vật này tiết ra như hemolysine có độc tính tương tự tetrodotoxin (độc tố cá nóc) Shigella Trực khuẩn Gram âm, không di động. Đây là giống vi khuẩn có tế bào chủ đặc biệt, chúng chỉ thích nghi và phát triển trong tế bào chủ là người và các loài linh trưởng. Sự hiện diện của chúng trong môi trường là do sư nhiễm phân của người và các loài linh trưởng. Chúng có thể tồn tại 6 tháng trong môi trường nước. Các vụ ngộ độc shigella chủ yếu xảy ra ở những nơi điều kiện vệ sinh kém. Shigella chủ yếu gây nên bệnh lị trực trùng. Thời gian ủ bệnh từ 1 – 7 ngày. Các biểu hiện nghiêm trọng khi nhiễm Shigella là: tiêu ra máu, mất nước, sốt cao, bị co rút thành bụng. Những triệu chứng này có thể kéo dài 12 – 14 ngày hoặc lâu hơn. Bệnh biểu hiện rất nghiêm trọng đối với trẻ em và người già. Độc tố của vi khuẩn gồm 2 dạng: nội độc tố là lipopolysaccharide của vách tế bào vi khuẩn được phóng thích khi tế bào ly giải, gốp phần kích thích thành ruột; ngoại độc tố có tên là Shiga, không bền nhiệt, tác động lên thành ruột lẫn hệ thần kinh trung ương, ở ruột gây tiêu chảy và ức chế hấp thụ đường và các acid amin ở ruột non, trên hệ thần kinh gây ra những biểu hiện lâm sàng trần trọng có thể gây tử vong. Hàng năm trên thế giới có khoảng nữa triệu người chết vì Shigella. Đường lây nhiễm chủ yếu là đường miệng và nước là môi trường truyền bệnh quan trọng. Staphylococci Là nhóm vi khuẩn thường trú ở vùng da và niêm mạc của người. Chúng có khả năng lên men nhiều loại đường và tiết sắc tố thay đổi từ trắng đến vàng. Ngày nay staphylococci đã đề kháng với nhiều loại kháng sinh và trở thành một vấn đề khó khăn trong điều trị. Nhóm vi khuẩn này có khản năng tiết ra một số enzyme như coagulase (làm đông huyết) được xem như một yếu tố gây độc của vi khuẩn. Ngoài ra chúng còn tiết ra các độc tố khác như: ngoại độc tố α-toxin và β-toxin có khả năng li giải hồng cầu, gây tổn hại tiểu cầu, Exfoliative toxin làm bong biểu bì, tạo nốt phỏng ngoài da, toxic shock syndrome toxin (độc tố gây sốc), và các loại độc tố đường ruột gây tiêu chảy, nôn mửa (tác dụng gây nôn là kết quả của sự kích thích trung tâm nôn mửa của hệ thần kinh trung ương sau khi độc tố tác động lên thụ thể thần kinh trong ruột. Streptococcus pneumoniae (Pneumococci) Pneumococci là cầu khuẩn Gram dương, xếp thành từng đôi hay thành chuỗi, có võ bằng polysaccharide. Chúng dễ bị ly giải bởi những chất hoạt động bề mặt như muối mật. Thường trú ở đường hô hấp trên của người và có thể gây viêm phổi, viêm xoang, viêm
  • 3.
    phế quản, nhiễmkhuẩn máu, viêm màng não,... Ở người lớn, hơn 75% trường hợp viêm phổi do pneumococci thuộc các type 1 – 8. Trong số bệnh nhân tử vong, hơn 1 nữa là do nhiễm khuẩn máu. Ở trẻ em các type gây bệnh thường gặp là 6, 14, 19 và 23. Khả năng gây bệnh là do sự tăng trưởng tràn lan của pneumococci vào các mô. Vi khuẩn không sản xuất độc tố. Độc tố vi khuẩn một phần do nang, vì nang có tác dụng ngăn chặn sự thực bào. Khoảng 40 – 70% người khỏe mạnh có mang pneumococci có độc lực, nhưng cơ thể không bị bệnh là do màng nhày của đường hô hấp có sức đề kháng lớn với pneumococci. Neisseriae Neisseiae là những cầu khuẩn Gram âm xếp thành đôi còn gọi là song cầu. Hai loại gây bệnh cho người là Neisseria gonorrhoeae (gonococcus) và Neisseria meningitidis (meningococcus) thường tìm thấy bên trong tế bào bạch cầu đa nhân. Neisseria gonorrhoeae là vi khuẩn gây bệnh lậu. Kháng nguyên lipopolysaccharide ở màng ngoài của vi khuẩn này là thành phần gây độc chính. Một số neisseria khác là vi khuẩn thường trú ở đường hô hấp trên của người nhưng hiếm khi gây bệnh. Corynebacterium diphtheriae C.diphtheriae là vi khuẩn gây bệnh bạch hầu, có dang hình que, Gram dương, 1 đầu hoặc 2 đầu phình ra, xếp song song thành góc nhọn, hiếu khí. Độc tố của vi khuẩn bạch hầu là 1 polypeptide có trọng lượng 62.000 daltons, dễ bị phân hủy bởi nhiệt (60oC trong 15 phút). Độc tố gồm 2 phần: phần B gắn vào thụ thể chuyên biệt trên tế bào nhạy cảm và giúp phân giải protein, phần A là phần hoạt động khi vào bào tương sẽ xúc tác một phản ứng làm cho quá trình tổng hợp protein ngừng lại. Độc tố tác động lên tất cả tế bào cơ thể hữu nhũ, nhưng tác động mãnh liệt trên tìm (viêm cơ tim), thần kinh (hủy hoại myelin) và thận (hoại tử ống thận). Yersinia pestis Y.pestis được nhà vi khuẩn học Alexander Yersin phân lập đầu tiên từ mẫu bệnh phẩm dịch hạch. Vi khuẩn hình que, ngắn, dạng trực cầu khuẩn, Gram âm, có khuynh hướng bắt màu đậm ở hai đầu hơn phần giữa thân. Lipopolysaccharide cũng là nội độc tố của vi khuẩn, gây sốt, gây chết, gây phản ứng Shwartzman tại chỗ và toàn thân. Nội độc tố chính gây bệnh dịch hạch là thành phần protein ở vách tế bào, được tiết ra khi vi khuẩn ly giải, gồm 2 protein có trọng lượng phân tử khác nhau, có tác dụng phong bế β, gây cô máu và sốc trên chuột thực nghiệm. Độc tố dịch hạch tạo antitoxin đặc hiệu. Bacillus anthracis Đây là loại vi khuẩn gây bệnh than. Là trực khuẩn Gram dương, sinh nha bào, có khả năng gây bệnh nhiễm trùng cấp tính ở cả động vật và người. Ở người nhiễm vi khuẩn bệnh than ở 2 dạng: thể hô hấp khi các bào tử nảy mầm thành trực khuẩn chúng gây ra các tổn thương xuất huyết hoại tử, phù, gây đau nhiều vùng trung thất và sau xương ức. Khi xuất huyết và hoại tử lan rộng đến màng phổi, xảy ra tràn máu và phổi. Thể tiêu hóa, do ăn phải thực phẩm nhiễm vi khuẩn than. Cũng xuất hiện các tình trang xuất huyết và hoại tử như thể hô hấp. Escherichia coli E.coli là trực khuẩn Gram âm, sống bình thường ở ruột người và loài vật, nhiều nhất
  • 4.
    trong ruột già.Vi khuẩn theo phân ra ngoài thiên nhiên, do đó thường thấy trong nước, đất, không khí. E.coli có khoảng 150 yếu tố O, 100 yếu tố K và 50 yếu tố H, được chia thành rất nhiều type huyết thanh. Chúng có khả năng gây nhiễm trùng đường máu, đường tiểu, viêm màng não và tiêu chảy. E.coli gây tiêu chảy tiết ra 2 loại độc tố ruột LT và ST. Độc tố LT không bền nhiệt, gây hoạt hóa adenylcyclase trong tế bào biểu mô ruột làm tăng lượng AMP vòng, do đó kích thích bài tiết ion Cl- và bicarbonate, đồng thời ức chế tái hấp thu Na+. Hậu quả cuối cùng là tiêu chảy mất nước. Độc tố ST bền nhiệt, hoạt hóa guanylcyclase làm tăng GMP vòng, dẫn đến kích thích bài tiết nước và muối gây tiêu chảy. ---------- Online File----------