Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86
Nghiên cứu lý thuyết kế toán môi trường dưới góc độ kế toán doanh nghiệp
Ths. Phạm Vũ Hà T...
Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86
Tài sản môi trường: Là tất cả những thứ có tính chất môi trường có khả năng
sở hữu, và là ...
Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86
Sơ đồ 1. Nội dung của kế toán môi trường
2. Kế toán môi trường dưới góc độ kế toán doanh n...
Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86
lượng, nước trong quá trình sản xuất kinh doanh không đi vào giá trị sản phẩm được
đánh gi...
Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86
Trong tài liệu hướng dẫn về EMA xuất bản năm 2005 của Liên đoàn kế toán
quốc tế (IFAC) đượ...
Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86
ii. Hệ thống tài khoản, sổ sách, báo cáo tài chính hiện nay có nhiều quan điểm
khác về việ...
Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86
Sơ đồ 2. Công ty như một hệ thống dòng vật liệu
Nhìn từ góc độ kinh tế, kế toán môi trường...
Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86
Giữa kế toán môi trường và kế toán doanh nghiệp thông thường, vừa là mối
quan hệ tổng thể ...
Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86
Ba là, chưa có lộ trình cho việc vận dụng kế toán môi trường vào doanh nghiệp.
Việc xây dự...
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Lý thuyết kế toán môi trường dưới góc độ kế toán doanh nghiệp

73 views

Published on

Lý thuyết kế toán môi trường xem xét dưới góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị trong các doanh nghiệp

Published in: Education
0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
73
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
6
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Lý thuyết kế toán môi trường dưới góc độ kế toán doanh nghiệp

  1. 1. Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86 Nghiên cứu lý thuyết kế toán môi trường dưới góc độ kế toán doanh nghiệp Ths. Phạm Vũ Hà Thanh Khoa Tài chính – kế toán, Học viện công nghệ bưu chính viễn thông Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, để phù hợp với xu thế chung cũng như tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp cần thiết phải theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững, giải quyết song song hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội và thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp với môi trường. Điều này buộc các doanh nghiệp phải xét đến kế toán môi trường trong quá trình hạch toán kế toán. Trên cơ sở tổng thuật tài liệu, nghiên cứu trong và ngoài nước, bài viết này xem xét kế toán môi trường dưới góc độ kế toán của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong xử lý và cung cấp thông tin môi trường làm cơ sở đề xuất mô hình và giải pháp vận dụng kế toán môi trường vào doanh nghiệp. Từ khóa: kế toán môi trường, phát triển bền vững, cung cấp thông tin môi trường 1. Tổng quan về kế toán môi trường 1.1. Khái niệm kế toán môi trường Kế toán môi trường theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC, 2005) được hiểu là loại kế toán nhằm đạt được sự phát triển bền vững, duy trì quan hệ tốt với cộng đồng, bảo vệ môi trường. Còn theo Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUNC, 1997), kế toán môi trường là việc thu thập, phân tích và đánh giá thông tin về môi trường và các khoản thu từ môi trường. Như vậy, kế toán thông qua việc thu thập xử lý và cung cấp các thông tin có liên quan đến môi trường của doanh nghiệp một cách chính xác, đáng tin cậy có thể giúp doanh nghiệp đưa ra các quyết định sản xuất kinh doanh phù hợp hơn, thân thiện với môi trường hơn, giúp tiết kiệm chi phí, cải thiện và giảm các rủi ro môi trường, từ đó giúp doanh nghiệp: - Tăng khả năng cạnh tranh do xu hướng hiện nay của con người là tiêu dùng những sản phẩm xanh, sạch; - Thay đổi và tăng cường mức độ nhận thức và hành động của các tổ chức, các bên liên quan đối với vấn đề môi trường trong mỗi doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. 1.2. Các khái niệm liên quan được sử dụng trong kế toán môi trường
  2. 2. Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86 Tài sản môi trường: Là tất cả những thứ có tính chất môi trường có khả năng sở hữu, và là những công cụ phục vụ cho đời sống của con người. Tài sản môi trường có thể là vốn gốc tự nhiên như đất đai, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên…; cũng có thể là nhân tạo như: môi trường nước, biển nhân tạo, khoáng sản nhân tạo. Dưới góc độ doanh nghiệp, tài sản môi trường được định nghĩa là tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp như là kết quả của hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định hoặc tự nguyện, như những khoản đầu tư cho nhiệm vụ bảo vệ môi trường, hạn chế tác động đến môi trường… Nợ môi trường: Thể hiện trách nhiệm và nhiệm vụ của các quốc gia, doanh nghiệp đối với môi trường nói chung cũng như đối với môi trường mà quốc gia, doanh nghiệp đó đang khai thác, sử dụng hoặc sở hữu. Nợ môi trường là những trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp theo Luật định hoặc tự nguyện như: trách nhiệm tuân thủ Luật bảo vệ môi trường, trách nhiệm khắc phục những hậu quả do sản xuất kinh doanh tác động đến môi trường, Thuế, phí tài nguyên môi trường, những khoản phạt, bồi thường do gây ô nhiễm môi trường… Chi phí môi trường: Là những khoản chi phí có liên quan đến môi trường phát sinh trong hoạt động của một quốc gia nói chung hay một doanh nghiệp nói riêng; trong đó bao gồm các chi phí gắn với thiệt hại môi trường và bảo vệ môi trường của doanh nghiệp như: chi phí để ngăn ngừa, tiêu hủy, lập kế hoạch, kiểm soát, thay đổi hành động và khắc phục những thiệt hại có thể xảy ra ở doanh nghiệp và ảnh hưởng tới quốc gia và mọi người. Lợi ích và thu nhập môi trường: Là những lợi ích cả về kinh tế lẫn xã hội mà doanh nghiệp thu được từ công tác phòng chống và giảm thiểu hoặc tránh các tác động tới môi trường, phục hồi môi trường; hoặc là những khoản doanh nghiệp thu được do tái chế vật liệu, do tiết kiệm nguyên vật liệu; hoặc tiền trợ cấp từ Chính phủ, các tổ chức xã hội do các hoạt động bảo vệ môi trường. Lợi ích và thu nhập môi trường thường có tính chất ẩn mà chúng ta không thể nhìn thấy ngay được vì vậy việc ghi nhận nó là rất khó khan cho các doanh nghiệp. 1.3. Nội dung của kế toán môi trường Kế toán môi trường bao gồm nhiều nội dung với từng phạm vi và cấp độ khác nhau, từ kế toán hệ sinh thái đến kế toán môi trường cấp toàn cầu, cấp quốc gia và doanh nghiệp; được thể hiện qua mô hình sau:
  3. 3. Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86 Sơ đồ 1. Nội dung của kế toán môi trường 2. Kế toán môi trường dưới góc độ kế toán doanh nghiệp Kế toán môi trường ở cấp độ doanh nghiệp bao gồm cả kế toán quản trị và kế toán tài chính môi trường (IFAC, 2005). 2.1. Kế toán quản trị môi trường (Environment Management Accounting– EMA) Trong sách “Các nguyên tắc và trình tự kế toán quản lý môi trường” của Ban phát triển bền vững của Liên hiệp quốc - UNDSD xuất bản năm 2002, kế toán quản trị môi trường được định nghĩa là việc nhận dạng, thu thập, phân tích và sử dụng hai loại thông tin cho việc ra quyết định nội bộ: thông tin vật chất về sử dụng, luân chuyển và thải bỏ năng lượng, nước và nguyên vật liệu (bao gồm chất thải) và thông tin tiền tệ về các chi phí, lợi nhuận và tiết kiệm liên quan đến môi trường. Theo đó EMA được chia làm bốn loại chi phí, một loại doanh thu liên quan đến môi trường. i. Chi phí xử lý chất thải (C1), bao gồm những chi phí khấu hao, nhân sự, nguyên vật liệu dùng để xử lý, vứt bỏ, lau dọn chất thải, phế thải thông qua các hợp đồng có liên quan; các khoản phí thuế phục vụ cho việc xử lý rác thải, vệ sinh, chi phí cấp phép và thuế môi trường, kể cả các khoản dự phòng cho các chi phí sửa chữa, đền bù do ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. ii. Chi phí phòng ngừa và quản lý môi trường (C2), bao gồm các khoản chi hàng năm cho việc phòng ngừa rác thải và khí thải, chi phí cho dịch vụ thuê ngoài để quản lý môi trường; chi phí cho nghiên cứu và phát triển các công nghệ làm sạch, công nghệ xử lý chất thải, nguyên vật liệu mới thân thiện với môi trường. iii. Giá trị thu mua của các phế thải (C3) là tất cả các phế thải từ việc sử dụng nguyên vật liệu thô, bao bì, nguyên vật liệu phụ, nguyên liệu hoạt động, năng Kế toán môi trường KTMT doanh nghiệp Kế toán tài chính môi trường Kế toán quản trị môi trường Kiểm toán môi trường Kế toán hệ sinh thái Chuyển hóa sang đơn vị tiền tệ Kế toán môi trường toàn cầu Kế toán môi trường quốc gia
  4. 4. Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86 lượng, nước trong quá trình sản xuất kinh doanh không đi vào giá trị sản phẩm được đánh giá thông qua cân đối dòng nguyên vật liệu được định theo giá trị thu mua. iv.Chi phí xử lý phế thải (C4), bao gồm giờ công lao động, khấu hao các thiết bị dùng để xử lý phế thải, bao gồm cả các nguyên vật liệu tiêu hao trong số lượng nguyên vật liệu có dùng trong sản xuất nhưng không tại ra thành phẩm và trở thành phế thải. v. Các khoản thu nhập liên quan đến môi trường (C5), bao gồm các khoản thực thu từ nguyên vật liệu được tái chế, các khoản trợ cấp, các khoản thưởng bằng tiền mặt cho các hoạt động môi trường. EMA sử dụng cả thước đo về tiền tệ, hiện vật để ghi chép, phân tích các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các hợp đồng kinh doanh, hợp đồng đầu tư có liên quan đến môi trường của các doanh nghiệp, chủ đầu tư. - Thước đo tiền tệ: liên quan đến các khía cạnh môi trường với các hoạt động của doanh nghiệp, được thể hiện trong các đơn vị tiền tệ và tạo ra thông tin cho việc quản lý nội bộ doanh nghiệp. Nó là công cụ trung tâm, rộng khắp, cung cấp cơ sở cho hầu hết các quyết định quản lý nội bộ cũng như các vấn đề liên quan đến việc làm thế nào để theo dõi, phát hiện và xử lý các chi phí, các doanh thu xuất hiện do tác động đến môi trường của doanh nghiệp. Nó đóng góp cho việc lập kế hoạch chiến lược và hoạt động, cung cấp cơ sở quan trọng cho việc ra quyết định để đạt được mục tiêu đề ra. - Thước đo vật lý: đáp ứng như một công cụ thông tin cho việc ra quyết định nội bộ. Theo đó kế toán có nhiệm vụ thu thập, phân loại, ghi chép, phân tích và truyền tin nội bộ về các dòng vật chất và năng lượng được đo đạc theo các đơn vị vật lý và phải được định giá theo đại lượng vật lý nhằm tìm ra những mặt mạnh và nhược điểm sinh thái học; kiểm soát các hậu quả môi trường… nhằm đẩy mạnh phát triển bền vững về mặt sinh thái học. Tất cả các hệ thống kế toán quản trị môi trường hiện nay đều có những đặc điểm chung sau đây: - Khái niệm về lợi ích môi trường, chi phí môi trường và chi phí cơ hội - Phát hiện các chi phí môi trường - Phân bổ các chi phí cho các sản phẩm và hoạt động - Đánh giá hiệu quả đầu tư 2.2. Kế toán tài chính môi trường (Environment Financial Accounting – EFA)
  5. 5. Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86 Trong tài liệu hướng dẫn về EMA xuất bản năm 2005 của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) được định nghĩa là việc thu thập, xử lý, kiểm tra và phân tích các thông tin liên quan đến chi phí và lợi ích bảo vệ môi trường nhằm cung cấp thông tin cho bên ngoài như Chính phủ, Ủy ban chứng khoán… EFA bị chi phối bởi các chuẩn mực và nguyên tắc kế toán, các quy định pháp lý về kế toán hạch toán; thông quan kế toán tài chính môi trường, các bên liên quan sẽ đánh giá được việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Giống như kế toán tài chính thông thường, EFA bao gồm các nội dung: i. Thu thập thông tin trên cơ sở hệ thống thông tin đầu vào của kế toán tài chính bao gồm cả những thông tin có sử dụng thước đo vật lý bên cạnh thông tin sử dụng thước đo tiền tệ. EFA đòi hỏi người làm kế toán phải liên tục theo dõi, cập nhật và tính toán dựa trên thông tin từ các chứng từ kế toán tài chính thông thường, kèm với thông tin kỹ thuật của quá trình sản xuất, kinh doanh. Các thông tin được kế toán thu thập dựa vào nhiều tài liệu khác nhau của quá trình sản xuất, kinh doanh, cụ thể: STT Tên tài liệu Loại 1 Phiếu mua hàng, hóa đơn mua hàng, hóa đơn bán hàng Chứng từ kế toán 2 Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, bảng kê nguyên vật liệu dùng cho sản xuất, kinh doanh… Chứng từ kế toán 3 Hợp đồng lao động, bảng chấm công, Bảng tính lương và bảo hiểm… Chứng từ kế toán 4 Bảng tính giá thành, bảng tính khấu hao máy móc thiết bị… Chứng từ kế toán 5 Bảng thông số kỹ thuật, thông số về chất lượng của máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, sản phẩm… Tài liệu kỹ thuật 6 Kế hoạch đầu tư ngắn hạn, dài hạn của doanh nghiệp và các tài liệu liên quan khác Tài liệu kỹ thuật 7 Biên bản kiểm định chất lượng Tài liệu kỹ thuật ……. … Bảng 1. Hệ thống tài liệu thu thập thông tin kế toán môi trường
  6. 6. Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86 ii. Hệ thống tài khoản, sổ sách, báo cáo tài chính hiện nay có nhiều quan điểm khác về việc ghi nhận và trình bày những thông tin môi trường mà kế toán môi trường cung cấp. Thực tế thì những thông tin này đều nằm trong những thông tin kế toán tài chính thông thường, sau khi được bóc tách, nó trở thành thông tin kế toán môi trường liên quan. Tuy nhiên dù dưới góc độ của bất kỳ quan điểm quản lý nào, những tài khoản môi trường, hay hệ thống sổ sách báo cáo tài chính môi trường cũng phải đảm bảo tuân thủ những quy định chung và có tính chất, nội dung như trong kế toán tài chính thông thường. - Tài khoản tài sản môi trường có tính chất của một tài khoản tài sản - Tài khoản Nợ môi trường có tính chất của một tài khoản Nợ phải trả - Tài khoản Chi phí môi trường có tính chất của một tài khoản Chi phí - Tài khoản Thu nhập môi trường có tính chất của một tài khoản Thu nhập - Trình bày thông tin trên sổ sách căn cứ vào hình thức kế toán mà doanh nghiệp lựa chọn - Báo cáo tài chính có thể được lập riêng, có thể được trình bày trên hệ thống báo cáo tài chính thông thường. iii. Sử dụng các phương pháp kế toán chi phí môi trường. Kế toán chi phí có nhiều phương pháp khác nhau như: Kế toán theo chi phí toàn bộ, Kế toán theo tổng chi phí, Kế toán theo chu kỳ sống của sản phẩm, Kế toán theo hoạt động, Kế toán theo dòng vật liệu. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, để thực hiện kế toán môi trường hiệu quả, doanh nghiệp có thể áp dụng theo phương pháp kế toán theo dòng vật liệu (Material flow accounting - MFA). MFA được xây dựng dựa trên khái niệm cơ bản về sự cần bằng của vật chất và năng lượng, trong đó chi phí môi trường sẽ được xác định dựa trên dòng chảy (cân đối) vật liệu và được tiếp cận dựa trên một mô hình đơn giản về mối tương quan giữa kinh tế và môi trường: Lượng vật liệu đưa vào sản xuất (đầu vào) xác định bằng tổng của lượng sản phẩm hoàn thành thu được và lượng chất thải thu được từ sản xuất (đầu ra). MFA sử dụng phân tích đầu –cuối (end-to-end) phân tích với nguyên tắc của quản lý không chỉ liên quan đến dòng chảy của vật liệu mà còn liên quan đến các tổ chức của công ty, trong đó công ty cũng có thể được định nghĩa như một hệ thống dòng vật liệu (SERI, 2003). Nhà cung 1 cấp Khách hàng Nhập kho Sản xuất Xuất kho
  7. 7. Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86 Sơ đồ 2. Công ty như một hệ thống dòng vật liệu Nhìn từ góc độ kinh tế, kế toán môi trường dựa vào MFA dựa trên thực tế phát sinh của các chi phí vật liệu; do vậy có thể loại trừ những sai lệch thông tin bằng cách liên kết định lượng dữ liệu, vật chất và tiền tệ vào dòng vật liệu. Nhìn từ góc độ sinh thái, từ kết quả của MFA có thể hệ thống hóa và giảm các chi phí nhờ giảm lượng nguyên vật liệu và năng lượng sử dụng, dẫn tới lợi ích cho môi trường. Kế toán theo dòng vật liệu đòi hỏi phải theo õi các dòng vật liệu vào và ra của mỗi công đoạn sản xuất, bắt đầu từ khâu đầu tiên đến khâu kết thúc của quá trình, do vậy căn cứ vào kết quả định lượng cả về tiền tệ và vật lý để nhận dạng, phân loại và bóc tách các chi phí môi trường liên quan đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp, làm căn cứ để tính giá thành sản phẩm cũng như giá trị của những chất thải. Theo đó, kế toán môi trường theo MFA gồm 5 bước thực hiện: Sơ đồ 3. Các bước thực hiện MFA 3. Mối quan hệ giữa kế toán môi trường và các loại kế toán trong doanh nghiệp Tìm hiểu quá trình sản xuất sản phẩm của DN Tập hợp thông tin về các loại vật liệu sử dụng trong từng giai đoạn sản xuất, những VL có khả năng tạo chất thải Xác định chất thải có thể do hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Xác định lượng vật liệu của chất thải, lượng vật liệu không đi vào giá thành sản phẩm Xác định chi phí vật liệu của chất thải, vật liệu không đi vào sản phẩm
  8. 8. Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86 Giữa kế toán môi trường và kế toán doanh nghiệp thông thường, vừa là mối quan hệ tổng thể và bộ phận, vừa là mối quan hệ tương hỗ cho nhau. Điểm khác biệt lớn nhất giữa kế toán môi trường và kế toán truyền thống trong doanh nghiệp đó là: trong khi kế toán truyền thống chỉ quan tâm nhiều đến các con số, ít quan tâm đến những vấn đề vô hình như trách nhiệm với xã hội và môi trường thì kế toán môi trường lại cố gắng đo lường tác động của xã hội và môi trường đến các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại. Tuy nhiên về cơ bản, có thể nói kế toán môi trường là một phần của kế toán doanh nghiệp thông thường với tất cả những nội dung, nguyên tắc và chuẩn mực quy định…Ngoài việc thu thập thêm những thông tin đặc thù thì môi trường kế toán môi trường phải căn cứ vào những số lệu mà kế toán thông thường cung cấp để phản ánh những thông tin cần thiết; ngược lại, phải thông qua kế toán môi trường thì kế toán thông thường mới thể hiện hết được vai trò của mình trong việc giúp doanh nghiệp hướng tới đáp ứng cả về mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu xã hội. 4. Những hạn chế trong cung cấp thông tin môi trường và hướng vận dụng Kế toán môi trường là sự phát triển tất yếu của kế toán để đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra. Tuy nhiên sự ràng buộc chính đến thành công của quá trình vận dụng thường do sự cứng nhắc hoặc không thể điều hành được trong các quá trình thay đổi của tổ chức. Những hạn chế trong cung cấp thông tin môi trường ảnh hưởng tới việc vận dụng kế toán môi trường trong các doanh nghiệp tại Việt Nam bao gồm: Một là, phương pháp hạch toán truyền thống không thể bóc tách được các chi phí môi trường một cách đầy đủ và chính xác, đặc biệt là đối với các chi phí môi trường ẩn. Việc áp dụng kế toán môi trường là cần thiết nhưng lại đòi hỏi cần phải thay đổi một cách đồng bộ từ chính sách của Nhà nước đến cách thức thực hiện cho toàn bộ các doanh nghiệp trên thị trường. Như vậy cần có các thể chế, quy định và hướng dẫn cụ thể hơn về những vấn đề liên quan đến môi trường, những chi phí tuân thủ trong tương lai để khuyến khích áp dụng kế toán môi trường trong quá trình phân tích, đầu tư và ra quyết định của doanh nghiệp. Hai là, việc vận dụng kế toán môi trường còn bị phụ thuộc vào các yếu tố như mô hình tổ chức của công ty, khả năng tổ chức nội bộ của công ty, năng lực làm việc của nhân viên… Chính vì vậy cần vận dụng kế toán môi trường một cách đồng bộ trên tất cả các khía cạnh. Công ty cần có những khóa đào tạo hoặc cử cán bộ đến học tập những kiến thức về môi trường và hạch toán môi trường; thay đổi mô hình tổ chức như có thể phân công thêm phòng ban hoặc nhân viên chịu trách nhiệm quản lý, giám sát môi trường…
  9. 9. Phạm Vũ Hà Thanh – 0936 1986 86 Ba là, chưa có lộ trình cho việc vận dụng kế toán môi trường vào doanh nghiệp. Việc xây dựng khung lộ trình sẽ giúp doanh nghiệp có những bước đi đúng đắn và phù hợp cho từng giai đoạn nhằm vận dụng kế toán môi trường một cách hiệu quả nhất. Công ty có thể dựa trên khung lộ trình vận dụng kế toán môi trường chuẩn gồm tám bước để xây dựng lộ trình cho phù hợp với điều kiện của công ty. 5. Kết luận Xem xét kế toán môi trường dưới góc độ kế toán doanh nghiệp cho thấy kế toán môi trường có thể cung cấp cho doanh nghiệp một cách tiếp cận mới về chi phí và việc thực hiện mục tiêu hiệu quả kinh tế gắn liền với hiệu quả xã hội, trong đó doanh nghiệp cần phải nhận thức một cách sâu sắc về các chi phí môi trường không chỉ đơn giản là chịu đựng chúng mà phải xác định, phân tích và quản lý được các chi phí này. Việc vận dụng kế toán môi trường trong các doanh nghiệp Việt Nam trước hết phải đạt được mục tiêu cung cấp cái nhìn toàn diện và đầy đủ về chi phí và các vấn đề môi trường dưới góc độ kinh tế; đồng thời là công cụ để doanh nghiệp thực hiện được việc phân tích và tích hợp yếu tố môi trường vào sản xuất kinh doanh. Tài liệu tham khảo [1] Ngô Thị Hoài Nam, 2011, Kế toán môi trường là gì?, Bản tin khoa học trường Cao đẳng thương mại số 11, quý II/2011. [2] Viện Khoa học và Công nghệ môi trường, Đại học Bách khoa Hà Nội, Tài liệu hướng dẫn quy trình ứng dụng hạch toán quản lý môi trường. [3] International Federation of Accountants (IFAC), 2005, International document guidance: Environment Management Accounting, Page 12-14, New York [4] International Union for Conservation of Nature (IUCN), 1997, Environmental Accounting: What’s It all about?, Switzerland [5] Sustainable Europe Research Institute (SERI), 2003, Material Flow Accounting and Analysis, The Internet Encyclopaedia of Ecological Economics. [6] UNDSD, 2001, Environmental Management Accounting Procedures and Principals. New York.

×