Sinh lý thận
Thận có vai trò gì?
Quá trình chuyển hóa protein ở gan tạo ra amoniac NH3 gây
độc, sau đó gan lại chuyển amoniac thành ure và acid uric. Trong
khi đó, sự co cơ thải ra creatinin. Ure, acid uric, creatinin nếu tích
tụ sẽ không tốt cho cơ thể, do đó chúng cần được đưa ra ngoài.Thận
giúp chúng ta đưa các chất thải ra ngoài này qua đường nước tiểu.
Quá trình tạo nước tiểu
Bước 1: Máu vào các mao động mạch đến của cầu thận diễn
ra quá trình lọc. Áp lực của dòng máu đẩy phần lớn huyết tương
(nước, ure, acid uric, glucose, acid amin, ion Na+, K+ …) qua thành
của mao mạch.
Các tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu…), protein do kích thước
to nên không thể qua được thành mao mạch. Phần máu không qua
được thành mao mạch trong tiểu cầu thận sẽ được chuyển đến các
mao mạch đi về tĩnh mạch thận rồi quay trở lại hệ tuần hoàn.
Phần huyết tương được lọc (qua được thành mao mạch) gọi là
dịch lọc, tiếp theo dịch lọc xuống ống lượn gần.
Bước 2: Tại ống lượn gần, các tế bào biểu mô lót mặt trong
ống lượn gần tái hấp thu các dưỡng chất: glucose, acid amin, các
ions, các chất được tái hấp thu sẽ vào mao mạch đi đến tĩnh mạch
thận và vào hệ tuần hoàn. Nước, ure, acid uric cũng được tái hấp
thu.
Tỷ lệ tái hấp thu các chất:
glucose (100%) ion K+ (100%) Na+ (65%)
acid amin (100%) HCO3
- (99%) ure (50 – 60%)
Ion Na+ sẽ tiếp tục được hấp thu ở các ống kế tiếp.
Bước 3: Từ ống lượn gần, dịch lọc tiếp tục xuống quai Hê-len.
Nước và ure được tái hấp thu ở nhành xuống quai Hê-len trong khi
ion Na+ được tái hấp thu ở nhành lên.
Bước 4: Qua khỏi quai Hê-len, dịch lọc tiếp tục được tái hấp
thu ở ống lượn xa và ống góp. Dưới tác động của Aldosteron, ion
Na+ được tái hấp thu đồng thời ion K+ (từ các mô xung quanh ống
lượn) bị bài tiết. Bên cạnh đó ion HCO3
- được tái hấp thu, đồng
thời ion H+ bị thải vào nước tiểu.
Bước 5: Khi dịch lọc đến tận cùng của ống góp, lúc này phần
lớn các dưỡng chất đã được tái hấp thu và được đưa quay trở lại hệ
tuần hoàn, chỉ còn các sản phẩm thải và một ít nước tạo thành nước
tiểu. Nước tiểu từ các ống góp cùng đổ ra bể thận, sau đó xuống
niệu quản và được chứa trong bàng quang.
Bình thường các tế bào máu và protein không thể qua được
màng lọc cầu thận. Tuy nhiên ở bệnh nhân mắc bệnh lý về thận:
viêm cầu thận, hội chứng thận hư màng lọc cầu thận bị tổn thương
làm các tế bào máu và protein qua được → xuống ống lượn rồi bài
tiết ra ngoài cùng nước tiểu, do vậy xét nghiệm nước tiểu ở các
bệnh nhân mắc bệnh này sẽ thấy có protein hay các tế bào máu
trong nước tiểu (gọi là protein niệu, hồng cầu niệu …).
Ngoài ra do protein bị mất qua nước tiểu nên protein trong
máu giảm → áp lực keo giảm → bệnh nhân bị phù (ở tay, chân, mặt
hay thậm chí tràn dịch màng phổi).
Phù của bệnh lý thận do giảm protein (chủ yếu là Albumin)
nên dùng thuốc lợi tiểu ở các bệnh nhân này thường không hết phù
(vì không giải quyết được nguyên nhân gốc). Bệnh nhân cần ăn bổ
sung đạm và được truyền thêm Albumin.

Sinh lý thận

  • 1.
    Sinh lý thận Thậncó vai trò gì? Quá trình chuyển hóa protein ở gan tạo ra amoniac NH3 gây độc, sau đó gan lại chuyển amoniac thành ure và acid uric. Trong khi đó, sự co cơ thải ra creatinin. Ure, acid uric, creatinin nếu tích tụ sẽ không tốt cho cơ thể, do đó chúng cần được đưa ra ngoài.Thận giúp chúng ta đưa các chất thải ra ngoài này qua đường nước tiểu. Quá trình tạo nước tiểu Bước 1: Máu vào các mao động mạch đến của cầu thận diễn ra quá trình lọc. Áp lực của dòng máu đẩy phần lớn huyết tương (nước, ure, acid uric, glucose, acid amin, ion Na+, K+ …) qua thành của mao mạch.
  • 2.
    Các tế bàomáu (hồng cầu, bạch cầu…), protein do kích thước to nên không thể qua được thành mao mạch. Phần máu không qua được thành mao mạch trong tiểu cầu thận sẽ được chuyển đến các mao mạch đi về tĩnh mạch thận rồi quay trở lại hệ tuần hoàn. Phần huyết tương được lọc (qua được thành mao mạch) gọi là dịch lọc, tiếp theo dịch lọc xuống ống lượn gần.
  • 3.
    Bước 2: Tạiống lượn gần, các tế bào biểu mô lót mặt trong ống lượn gần tái hấp thu các dưỡng chất: glucose, acid amin, các ions, các chất được tái hấp thu sẽ vào mao mạch đi đến tĩnh mạch thận và vào hệ tuần hoàn. Nước, ure, acid uric cũng được tái hấp thu. Tỷ lệ tái hấp thu các chất: glucose (100%) ion K+ (100%) Na+ (65%) acid amin (100%) HCO3 - (99%) ure (50 – 60%) Ion Na+ sẽ tiếp tục được hấp thu ở các ống kế tiếp.
  • 4.
    Bước 3: Từống lượn gần, dịch lọc tiếp tục xuống quai Hê-len. Nước và ure được tái hấp thu ở nhành xuống quai Hê-len trong khi ion Na+ được tái hấp thu ở nhành lên.
  • 5.
    Bước 4: Quakhỏi quai Hê-len, dịch lọc tiếp tục được tái hấp thu ở ống lượn xa và ống góp. Dưới tác động của Aldosteron, ion Na+ được tái hấp thu đồng thời ion K+ (từ các mô xung quanh ống lượn) bị bài tiết. Bên cạnh đó ion HCO3 - được tái hấp thu, đồng thời ion H+ bị thải vào nước tiểu.
  • 6.
    Bước 5: Khidịch lọc đến tận cùng của ống góp, lúc này phần lớn các dưỡng chất đã được tái hấp thu và được đưa quay trở lại hệ tuần hoàn, chỉ còn các sản phẩm thải và một ít nước tạo thành nước tiểu. Nước tiểu từ các ống góp cùng đổ ra bể thận, sau đó xuống niệu quản và được chứa trong bàng quang. Bình thường các tế bào máu và protein không thể qua được màng lọc cầu thận. Tuy nhiên ở bệnh nhân mắc bệnh lý về thận: viêm cầu thận, hội chứng thận hư màng lọc cầu thận bị tổn thương làm các tế bào máu và protein qua được → xuống ống lượn rồi bài tiết ra ngoài cùng nước tiểu, do vậy xét nghiệm nước tiểu ở các bệnh nhân mắc bệnh này sẽ thấy có protein hay các tế bào máu trong nước tiểu (gọi là protein niệu, hồng cầu niệu …).
  • 7.
    Ngoài ra doprotein bị mất qua nước tiểu nên protein trong máu giảm → áp lực keo giảm → bệnh nhân bị phù (ở tay, chân, mặt hay thậm chí tràn dịch màng phổi). Phù của bệnh lý thận do giảm protein (chủ yếu là Albumin) nên dùng thuốc lợi tiểu ở các bệnh nhân này thường không hết phù (vì không giải quyết được nguyên nhân gốc). Bệnh nhân cần ăn bổ sung đạm và được truyền thêm Albumin.