Chương 1.docx

297 views

Published on

ecc

Published in: Education
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

Chương 1.docx

  1. 1. Chương I: Tổng quan về quỹ đầu tư chứng khoán 1.1. Khái niệm và cơ chế quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ Thông thường, các quỹ đầu tư có thể huy động vốn góp thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng. Các chứng khoán do quỹ đầu tư chứng khoán phát hành được gọi là chứng chỉ quỹ đầu tư. Điểm khác biệt giữa quỹ đầu tư chứng khoán và công ty cổ phần là ở mục tiêu đầu tư. Công ty cổ phần phát hành cổ phiếu ra công chúng nhắm thu hút vốn để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, còn quỹ đầu tư huy động vốn nhắm mục tiêu đầu tư hầu hết giá trị tài sản của mình vào lĩnh vực chứng khoán (mức độ cụ thể do quy định từng thị trường và tại từng giai đoạn cụ thể). Việc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng phải tuân thủ pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán. 1.2. Sự hình thành và phát triển của quỹ đầu tư chứng khoán Qũy đầu tư chứng khoán ra đời xuất phát từ nhu cầu nội tại của thị trường tài chính và khi thị trường chứng khoán đã phát triển ở mức độ nhất định. Thực tiễn đã chứng minh rằng, mặc dù thị trường chứng khoán đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XV nhưng các quỹ đầu tư chứng khoán mới chỉ bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XX đến nay. Qũy đầu tư chứng khoán thường được hình thành một cách tuần tự từ đơn giản đến phức tạp, quy mô từ nhỏ đến lớn và mô hình tổ chức quản lý ngày càng hoàn thiện, phạm vi hoạt động từ quốc gia đến quốc tế. Lịch sử phát triển của các quỹ đầu tư chứng khoán cho thấy, mô hình khởi điểm là các quỹ đầu tư tập thể, chưa phải là pháp nhân, sau đó là thời kỳ phát triển của các quỹ đầu tư dưới dạng công ty theo mô hình "đóng" rồi mới xuất hiện và phát triển dưới mô hình "mở". Từ thực tiễn, sự phát triển không ngừng của các quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán là một trong những kết quả trực tiếp của sự phát triển của phân công lao động xã hội trong lĩnh vực tài chính. 1.3. Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán 1.3.1. Căn cứ vào hình thức huy động vốn Có thể huy động vốn qua 2 hình thức là quỹ đầu tư tập thể và quỹ đầu tư tư nhân -Qũy đầu tư tập thể: là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng. Những người đầu tư vào quỹ này có thể đa số là các thể nhân, các tổ chức kinh tế nhưng đa phần là các nhà đầu tư cá nhân, ít có kiến thức về thị trường chứng khoán. Qũy tập thể
  2. 2. cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm mức độ rủi ro, chi phí đầu tư thấp và hiệu quả đầu tư đảm bảo do tính chuyên nghiệp của đầu tư mang lại. -Qũy đầu tư tư nhân: là quỹ huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một số nhóm nhỏ nhà đầu tư có thể được lựa chọn trước, là các thể nhân, các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn. Các nhà đầu tư vào quỹ này thường góp vốn với quy mô lớn nhưng họ cũng đòi hỏi các yêu cầu về quản lỹ quỹ rất cao. Họ sẵn sàng chấp nhận khả năng thanh toán thấp nhưng các quỹ này thường tham gia kiểm soát hoạt động của các công ty nhận vốn đầu tư. Việc kiểm soát này có thể dưới hình thức là thành viên hội đồng quản trị , cung cấp tư vấn hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới các thành viên hội đồng quản trị của công ty nhận vốn đầu tư. 1.3.2. Căn cứ vào mục đích đầu tư Các quỹ thường được thành lập với các mục tiêu cụ thể tương ứng với 3 loai quỹ sau: -Quỹ thu nhập (Income Fund) Để có được thu nhập ổn định quỹ dành phần lớn vốn để đầu tư vào trái phiếu và vào cổ phiếu ưu đãi là những công cụ đầu tư có thu nhập thường xuyên ổn định. -Quỹ tăng trưởng-thu nhập (Growth-income Fund) Quỹ này đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu thường có giá cao đồng thời có mức cổ tức ổn định. Loại quỹ này muốn kết hợp cả hai yếu tố tăng vốn trong dài hạn và dòng thu nhập ổn định trong ngắn hạn. -Quỹ tăng trưởng (Growth Fund) Quỹ đầu tư vào cổ phiếu của các công ty kinh doanh thành đạt. Mục tiêu chính là tăng giá trị của các khoản đầu tư chứ không nhằm vào dòng cổ tức thu được. Người đầu tư vào các quỹ này quan tâm đến việc giá cổ phiếu tăng lên hơn là khoản thu nhập từ cổ tức. 1.3.3. Căn cứ vào đối tượng và mục đích đầu tư của quỹ Quỹ đầu tư chứng khoán không bắt buộc phải đầu tư toàn bộ vào chứng khoán mà có thể đầu tư vào bất động sản hoặc các tài sản có giá trị như vàng, kim loại quý. Tuy nhiên chứng khoán vẫn phải chiếm một tỷ lệ phần trăm nhất định. Căn cứ vào tỷ lệ chứng khoán ta có : - Quỹ đầu tư cổ phiếu
  3. 3. Phần lớn tài sản quỹ đầu tư là cổ phiếu. Tuy nhiên việc đầu tư vào cổ phiếu thường được giới hạn trong một tỷ lệ phần trăm nhất định, phần còn lại sẽ đầu tư vào những lĩnh vực an toàn hơn như trái phiếu… Không như các nhà đầu tư riêng lẻ thường mua các loại cổ phiếu khác nhau để đa dạng hoá danh mục đầu tư của họ, các quỹ thường tập trung vào một khu vực nào đó, như cổ phiếu của các công ty thượng hạng (Blue Chips) hay các công ty nhỏ. Cổ tức thường được trả mỗi năm một lần vào thời điểm kết toán tài khoản, từ cổ tức mà quỹ thu được và các khoản thu nhập khác của quỹ. Khi hết thời hạn hoạt động, toàn bộ tài sản của quỹ sẽ được thanh toán và hoàn trả cho người đầu tư. - Quỹ đầu tư trái phiếu Một số lượng lớn tài sản của quỹ đầu tư vào trái phiếu. Đầu tư vào trái phiếu cho phép nhà đầu tư đảm bảo ổn định về thu nhập bởi khoản thu nhập không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của chủ thể phát hành. Khoản lãi này có thể nhận về hoặc lại tiếp tục đưa vào một quỹ gọi là quỹ tái đầu tư lãi. -Quỹ thị trường tiền tệ Quỹ đầu tư vào các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ. Đây là những công cụ đầu tư khá an toàn, ổn định như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng… Do vậy, Quỹ thị trường tiền tệ thường ít biến động hơn các quỹ khác, nó thích hợp cho mục tiêu đầu tư ngắn hạn lại có thu nhập ổn định. 1.3.4. Một số loại quỹ khác -Quỹ cân bằng (Balanced Fund) Danh mục đầu tư cân bằng cố gắng để đạt được ba mục tiêu: thu nhập, tăng trưởng vốn đều đặn và bảo toàn vốn. Chúng thực hiện điều này bằng cách đầu tư vào các trái phiếu, các chứng khoán chuyển đổi và thêm một vài cổ phiếu ưu tiên cũng như cổ phiếu thường. Nhìn chung các danh mục đầu tư này đầu tư từ 40% đến 60% giá trị quỹ vào trái phiếu. -Quỹ đầu tư linh hoạt (Flexible Porfolio) Quỹ đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hoặc các công cụ trên thị trường tiền tệ tuỳ thuộc vào điều kiện của thị trường. Người quản lý quỹ có quyền được thay đổi linh hoạt danh mục đầu tư để đáp ứng những biến động trên thị trường. - Quỹ ngành (Sector Fund) Các Quỹ ngành tập trung vào các cổ phiếu của một ngành công nghiệp cụ thể nào đó. Do hoạt động của các ngành thường có tính bất ổn định rất cao nên các ngành này đều có thể mang đến cho nhà đầu tư nào đầu tư đúng hướng cơ hội có những khoản lợi nhuận lớn.
  4. 4. 1.4. Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán 1.4.1. Với nền kinh tế Quỹ đầu tư huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế ngay cả đối với nguồn vốn nhỏ lẻ và trực tiếp tiến hành đầu tư chứ không phải cho vay. Quỹ còn hấp dẫn đối với nguồn vốn từ nước ngoài chảy vào nhờ vào việc phát hành các chứng chỉ quỹ có tính hấp dẫn cao với nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, Quỹ đầu tư là một phương thức đầu tư hữu hiệu cho các nhà đầu tư nước ngoài còn bởi vì thông qua quỹ, nhà đầu tư nước ngoài có thể vượt qua những hạn chế về giao dịch mua chứng khoán trực tiếp đối với người nước ngoài do nhà nước đặt ra, cộng với nhiều hạn chế trong việc nắm bắt những thông tin về chứng khoán ở nước sở tại và chi phí giao dịch cao. Đối với thị trường trong nước, quỹ còn góp phần tạo nên sự đa dạng của các đối tượng tham gia trên thị trường chứng khoán. Thông qua hoạt động của các Quỹ đầu tư nước ngoài, các Quỹ đầu tư trong nước sẽ tiếp thu được kinh nghiệm quản lý, phân tích và đầu tư chứng khoán. 1.4.2. Với thị trường chứng khoán Quỹ đầu tư góp phần vào sự phát triển của thị trường sơ cấp và ổn định thị trường thứ cấp. Các quỹ tham gia bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp, phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư làm tăng lượng cung chứng khoán trên thị trường chứng khoán, tạo sự đa dạng về hàng hoá cho thị trường. Khi Quỹ đầu tư mua bán với khối lượng lớn một loại chứng khoán nào đó thường ảnh hưởng lớn tới sự biến động của thị trường chứng khoán. Nó góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường thứ cấp, giúp cho sự phát triển của thị trường này thông qua các hoạt động đầu tư chuyên nghiệp với các phương pháp đầu tư khoa học. Ví dụ, khi thị trường chứng khoán thiếu cung, Quỹ đầu tư bán chứng khoán do nó nắm giữ thì sẽ làm tăng đáng kể lượng cung làm giá chứng khoán thấp xuống. Ngược lại, nếu lượng cung quá cao, quỹ có thể mua chứng khoán làm cầu tăng lên, kéo theo giá chứng khoán tăng, phản ánh giá trị thực của chứng khoán.Quỹ đầu tư góp phần làm xã hội hoá hoạt động đầu tư chứng khoán. Các quỹ tạo một phương thức đầu tư được các nhà đầu tư nhỏ, ít có sự hiểu biết về chứng khoán yêu thích. Nó góp phần tăng tiết kiệm của công chúng đầu tư bằng việc thu hút tiền đầu tư vào quỹ. 1.4.3. Với người đầu tư và người nhận đầu tư 1.4.3.1. Quỹ đầu tư chứng khoán cung cấp cho những nhà đầu tư riêng lẻ những thuận lợi cơ bản để giúp họ đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi ích Tính thanh khoản của chứng khoán đầu tư. Các nhà đầu tư vào Quỹ đầu tư chứng khoán có thể bán chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu quỹ mình đang nắm giữ vào bất cứ lúc nào cho chính Quỹ đầu tư (trong trường hợp Quỹ mở) hoặc trên thị trường thứ cấp (đối với Quỹ đóng) để thu hồi vốn. Giá bán chứng chỉ quỹ thay đổi phụ thuộc vào thay đổi của tổng giá trị tài sản danh mục của Quỹ đầu tư phát hành ra cổ phiếu. Đặc biệt, chứng chỉ, cổ phiếu của các Quỹ thị trường tiền tệ có tính thanh khoản rất cao, người sở hữu cổ phiếu có thể bán lại cổ phiếu bất cứ lúc nào trên thị trường
  5. 5. mà giá cả biến động rất ít. Do vậy, trong tài sản của các công ty, cổ phiếu Quỹ thị trường tiền tệ được coi như tương đương với tiền. Đa dạng hoá danh mục đầu tư và phân tán rủi ro. Bằng việc sử dụng tiền thu được từ những nhà đầu tư để đầu tư phân tán vào danh mục các chứng khoán, các Quỹ đầu tư làm giảm rủi ro cho các khoản đầu tư và làm tăng cơ hội thu nhập cho các khoản đầu tư đó. Tăng cường tính chuyên nghiệp của việc đầu tư. Thay cho việc người đầu tư phải đi thuê tư vấn để quản lý tài sản của mình thì họ chỉ cần đầu tư vào một quỹ với chi phí giảm đi rất nhiều. Tiền tập hợp trong các Quỹ đầu tư chứng khoán được đặt dưới sự quản lý của các nhà đầu tư chuyên nghiệp - các công ty quản lý quỹ. Các chuyên gia của quỹ hay công ty quản lý quỹ sẽ tìm hiểu thị trường, đánh giá cơ hội tốt nhất để mua chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư thường xuyên, xác định chính xác thời điểm để mua bán chứng khoán. Trong các quỹ thường có các cán bộ nghiên cứu, những người quản lý danh mục đầu tư, họ biết được các công ty hay khu vực thị trường nào hoạt động hiệu quả. Không những thế, các chuyên gia còn có khả năng thâm nhập tới nhiều nguồn thông tin, nguồn hàng hơn bất kì một người đầu tư cá nhân nào. Tiết kiệm chi phí đầu tư. Vì là những danh mục đầu tư lớn được quản lý chuyên nghiệp, Quỹ đầu tư chịu chi phí giao dịch thấp hay được hưởng những ưu đãi về phí giao dịch hơn các cá nhân đầu tư, kể cả những người mua bán thông qua những công ty môi giới có mức phí hoa hồng thấp nhất. Tính dễ tiếp cận. Do loại hình Quỹ đầu tư là loại hình cho các nhà đầu tư cá nhân, cho công chúng nên một khi hình thành, các Quỹ đầu tư luôn tạo những điều kiện thuận lợi cho công chúng dễ tiếp cận và giao dịch. Và để thu hút sự tham gia của công chúng, các quỹ đều cung cấp thông tin sẵn có trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các báo hay qua Internet. Cung cấp các lựa chọn cho các nhà đầu tư. Một nhà đầu tư có thể có được các lựa chọn khác nhau khi đầu tư vào các quỹ tuỳ thuộc vào mục đích hay sở thích của họ. Họ có thể đầu tư vào danh mục các cổ phiếu, trái phiếu, danh mục hỗn hợp hay danh mục các công cụ thị trường tiền tệ trong hơn vài chục loại quỹ khác nhau. An toàn trước các hành vi không công bằng. Người đầu tư có thể bị thiệt hại nếu danh mục đầu tư của quỹ bị giảm giá trị do sự biến động giá chứng khoán trên thị trường, nhưng xác suất bị tổn thất do gian lận, bê bối hoặc phá sản liên quan đến công ty quản lý quỹ là rất nhỏ. Khuôn khổ pháp lý và việc quản lý chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền đối với Quỹ đầu tư đem lại những đảm bảo cơ bản. 1.4.3.2. Quỹ đầu tư đem lại cho người nhận đầu tư (thường là các doanh nghiệp) một số lợi ích căn bản sau Chi phí cho nguồn vốn phát triển thấp hơn khi vay ngân hàng. Trước đây, hệ thống ngân hàng chiếm vai trò thống trị nền tài chính. Để vay được vốn, doanh nghiệp phải thoả mãn một số điều
  6. 6. kiện nhất định và lãi suất vay cao. Quỹ đầu tư ra đời sẽ hạn chế được những nhược điểm của cơ chế cho vay của ngân hàng. Hơn nữa, việc đầu tư về tài chính qua các quỹ thường có giới hạn nhất định về quyền và nghĩa vụ nên doanh nghiệp được đầu tư đảm bảo được tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh. Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn. Lợi ích này có được từ việc quỹ phát hành và giao dịch các loại chứng khoán này trên thị trường đã thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư, đặc biệt là các chủ thể có khả năng tài chính lớn như ngân hàng, các tổng công ty, các công ty bảo hiểm… đầu tư vào quỹ. Quỹ sẽ chính là cầu nối giữa doanh nghiệp mà quỹ đầu tư vào với các tổ chức tài chính này. Tận dụng được những kiến thức quản lý đầu tư, marketing và tài chính từ các Quỹ đầu tư. Ngoài cung cấp vốn cho doanh nghiệp, các công ty quản lý quỹ đầu tư còn có dịch vụ cung cấp các thông tin tài chính, tư vấn về kế hoạch tài chính, marketing và các mối quan hệ với các tổ chức tài chính và doanh nghiệp khác. Điều này có lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp mới thành lập ít bạn hàng, thiếu thông tin về thị trường. 1.4.4. Xã hội hóa hoạt động ĐTCK, giúp phát huy nội lực nền kinh tế 1.4.4.1. QĐTCK tạo ra phương thức ĐT hấp dẫn thích hợp với những nhà ĐT nhỏ lẻ, ít chuyên môn 1.4.4.2. QĐTCK là một định chế tài chính rất phát triển tại nhiều nước trên thế giới 1.5. Mô hình tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 1.5.1. Mô hình công ty(corporate) Qũy đầu tư theo mô hình này có tư cách pháp nhân đầy đủ, được thành lập dưới hình thức công ty đầu tư cổ phần, có điều lệ hoạt động, vốn huy động từ các nhà đầu tư bằng cách phát hành cổ phiếu. Cổ phiếu của quỹ có thể có được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC. Quỹ đầu tư Công ty quản lý quỹ Hội đồng quản trị Tổ chức bảo quản tài sản
  7. 7. Những người góp vốn vào quỹ sẽ trở thành những cổ đông được quyền hưởng cổ tức và biểu quyết bầu Hội đồng quản trị cũng như các vấn đề cơ bản của quỹ như các cổ đông trong một công ty cổ phần truyền thống. Điểm đặc trưng của công ty đầu tư là Hội đồng quản trị đại diện cho các cổ đông đứng ra thuê công ty quản lý Qũy và ngân hàng bảo quản. Hội đồng quản trị sẽ giám sát hoạt động của 2 tổ chức này theo kiểu " tam quyền phân lập": Hội đồng quản trị đề ra chính sách và giám sát, Công ty quản lý quỹ thực hiện đầu tư còn ngân hàng bảo quản nắm giữ tài sản. Việc phân quyền như vậy nhắm đảm bảo việc tài sản không thuộc quyền định đoạt hoàn toàn của bất kỳ ai. Công ty quản lý quỹ, với vai trò của nhà đầu tư chuyên nghiệp, sẽ tối ưu hóa hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, việc bảo đảm an toàn và lưu giữ các tài sản, đặc biệt là chứng khoán, một cách khoa học cũng như việc tiến hành thu-chi, thanh toán thì không ai khác ngoài một ngân hàng có thể đảm đương được. Bên cạnh đó việc phân quyền cũng nhắm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư vì các quỹ đầu tư được bắt đầu từ con số "0" và khối lượng vốn huy động là không hạn chế trong khi các ngân hàng hay các loại hình công ty khác luôn phải có mức vốn tự có tối thiểu để hoạt động. Tuy là một công ty cổ phần nhưng công ty đầu tư không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật doanh nghiệp mà còn phải chịu sự điều chỉnh khá phức tạp của pháp luật liên quan tới chứng khoán và đầu tư chứng khoán 1.5.2. Mô hình tín thác Quỹ đầu tư Công ty quản lý quỹ Tổ chức bảo quản giám sát Người đầu tưNgười đầu tư Người đầu tư
  8. 8. Qũy đầu tư theo mô hình này không có tư cách pháp nhân. Với mô hình này, quỹ đầu tư chỉ được coi là một khối lượng tiền do các nhà đầu tư góp vốn để sử dụng dịch vụ quản lý đầu tư chuyên nghiệp nhắm thu lợi nhuận. Qũy không có Hội đồng quản trị, hoạt động trên cơ sở Chứng thư tín thác (trust deed) được ký kết giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát bảo quản. Chứng thư tín thác, được sự phê chuẩn của bộ tài chính hoặc cơ quan chức năng, quy định mọi vấn đề đối với hoạt động của quỹ nhắm đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư. Công ty quản lý quỹ khi thành lập phải chuẩn bị Bản cáo bạch phát hành để cung cấp những thông tin cần thiến về công ty quản lý quỹ và các thông tin về việc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư, giá bán, phương thức định giá, số lượng phát hành, thuế và các thủ tục hành chính... Nhà đầu tư vào quỹ theo mô hình tín thác không được gọi là một cổ đông. Nhà đầu tư ở đây được gọi là người thụ hưởng (beneficiary) và chứng chỉ quỹ đầu tư được gọi là chứng chỉ hưởng lợi. Tín thác đầu tư chứng khoán là việc đầu tư một tài sản đã được ủy thác của Qũy đầu tư theo mô hình tín thác do người được ủy thác tiến hành đầu tư vào một số chứng khoán nhất định và được tuân thủ theo sự chỉ dần của người quản lý nhằm tạo điều kiện cho một số người có quyền hưởng lợi từ hoạt động liên quan tới tài sản được ủy thác. Trong mô hình tín thác, công ty quản lý quỹ cần phải có vốn lớn. Qũy đâu tư mô hình tín thác chỉ chịu sự điều chỉnh của các quy định liên quan tới tín thác đầu tư chứng khoán và Luật chứng khoán. 1.6. Nguyên tác hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 1.6.1. Nguyên tắc huy động vốn Việc huy động vốn của Quỹ đầu tư thông qua phát hành chứng khoán. Tuy nhiên các quỹ chỉ được phát hành một số loại chứng khoán nhất định để tạo thuận lợi cho việc quản lý của quỹ cũng như hoạt động đầu tư của những người đầu tư. Tài sản của Quỹ đầu tư chủ yếu để đầu tư vào chứng khoán chứ không phải trực tiếp đem vào đầu tư mở rộng sản xuất. Quỹ không thể phát hành trái phiếu tức đi vay để đầu tư vào chứng khoán vì như thế sẽ tạo nên môi trường chứng khoán ảo. Do vậy, nguyên tắc chung là quỹ chỉ phát hành cổ phiếu (mô hình công ty) và chứng chỉ hưởng lợi (quỹ dạng tín thác). Ngoài ra, quỹ không được phép phát hành trái phiếu hay đi vay vốn để đầu tư. Quỹ chỉ được phép vay vốn ngắn hạn để trang trải các chi phí tạm thời khi quỹ chưa có khả năng thu hồi vốn. 1.6.2. Nguyên tắc định giá phát hành và mua lại chứng chỉ quỹ Khi các nhà đầu tư đầu tư hoặc rút vốn của họ từ một quỹ, việc xác định giá phải dựa trên nguyên tắc công bằng giữa các nhà đầu tư hiện tại với các nhà đầu tư mua hoặc bán chứng chỉ. Điều này được thể hiện trong cách thức xác định giá trị tài sản của quỹ khi mua bán chứng chỉ. Đối với Quỹ mở do chủ yếu đầu tư vào chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán nên giá trị tài sản được xác định theo giá trị của chứng khoán đó tại thời điểm đó trên thị trường. Sau khi xác định xong giá trị tài sản của quỹ sẽ được chia cho số cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ đang lưu hành để xác định giá trị cho mỗi chứng chỉ. Giá bán và giá mua lại sẽ bằng giá trị của mỗi chứng chỉ cộng thêm một số chi phí cho việc mua bán đó. Giá thị trường = NAV + chi phí giao dịch Trong đó NAV : Giá trị tài sản ròng (Net Asset Value). Tổng giá trị tài sản ròng của quỹ bằng tổng giá trị các tài sản có và các khoản đầu tư của quỹ trừ đi các nghĩa vụ nợ tại thời điểm tính toán. Giá trị tài sản ròng trên một cổ phần của quỹ được tính bằng NAV = Tổng tài sản có của quỹ – Tổng nợ phải trả Số cổ phần hiện có
  9. 9. NAV của các quỹ được tính toán và công bố hàng ngày dựa trên giá thị trường của các chứng khoán mà quỹ đầu tư vào. Đối với Quỹ đóng thì giá cổ phần của quỹ sẽ phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường chứng khoán, nó lấy NAV làm cơ sở nhưng không gắn liền với giá trị NAV. Khi một Quỹ đóng bán cổ phiếu với giá thấp hơn NAV thì được gọi là bán chiết khấu (Discount) và ngược lại nếu giá bán cổ phiếu lớn hơn NAV thì được gọi là bán có thu phí (Premium). Chúng được tính như sau: Discount (-) / Pemium (+) = Thông thường tại thị trường chứng khoán các nước phát triển rất ít Quỹ đầu tư được giao dịch có mức Premium, mà phần lớn ở mức Discount từ 15% đến 20%. Chỉ số này không ổn định mà biến động theo các điều kiện của thị trường. Thường những quỹ được giao dịch có chỉ số ở mức Discount đều có thể đạt được mức Premium cao trong tương lai và ngược lại. 1.6.3. Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ Tài sản của quỹ phải được kiểm soát bởi một tổ chức bảo quản tài sản. Tổ chức này chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi đối với tài sản của các nhà đầu tư. Chức năng giám sát tuỳ từng mô hình quỹ mà pháp luật các nước giao cho một tổ chức tín thác hay hội đồng quản trị. Theo quy định của Mỹ thì tài sản của quỹ có thể được bảo quản bởi một ngân hàng, một nhà kinh doanh môi giới chứng khoán được đăng ký hay do chính quỹ đó quản lý. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay thì các tổ chức bảo quản tài sản thông thường là ngân hàng. Nguyên tắc chung của hầu hết các nước là tổ chức bảo quản tài sản trong quá trình giám sát không có quyền quyết định hoàn toàn mà phải cùng bàn bạc, biểu quyết với các chủ thể khác như công ty quản lý quỹ… Riêng đối với hội đồng quản trị thì các tổ chức này có quyền tự quyết định nếu như nó không liên quan tới chuyên môn của hội đồng quản trị. Để đảm bảo an toàn cho tài sản của quỹ cũng như sự ổn định của thị trường chứng khoán, một số nước nghiêm cấm Quỹ đầu tư bán khống chứng khoán. 1.6.4. Nguyên tắc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư;' Việc cung cấp thông tin vừa có ý nghĩa là tạo cơ hội cho quỹ thu hút vốn đầu tư vừa để góp phần bảo vệ lợi ích của người đầu tư. Do được cung cấp thông tin mà người đầu tư đánh giá đúng về thực trạng của các khoản đầu tư, khả năng chuyên môn của những người quản lý quỹ để có thể quyết định đầu tư đúng đắn. Việc cung cấp thông tin phải tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước nhằm tạo sự thống nhất dễ hiểu cho các nhà đầu tư. Các nước thường quy định Quỹ đầu tư khi gọi vốn từ công chúng phải làm Bản cáo bạch (Prospectus) để công bố toàn bộ thông tin về công ty quản lý, tổ chức bảo quản giám sát về chính sách, mục tiêu đầu tư của quỹ… 1.6.5. Nguyên tắc hạn chế một số giao dịch liên quan đến tài sản của quỹ Hầu hết các nước đều ngăn cấm các giao dịch giữa các chủ thể có liên quan với quỹ. Giao dịch giữa các chủ thể có liên quan là các giao dịch liên quan tới tài sản của quỹ giữa một bên là Quỹ đầu tư và một bên là chủ thể khác như công ty quản lý quỹ, ngân hàng bảo quản giám sát, người bảo lãnh phát hành, nhà tư vấn… mà việc giao dịch này có khả năng ảnh hưởng Giá cổ phần - NAV NAV
  10. 10. đến lợi ích của người đầu tư hiện tại của quỹ. Các trường hợp được coi là giao dịch có liên quan như: Việc mua bán tài sản của quỹ với người có liên quan (nhân viên, người quản lý, đối tác, người làm thuê, cổ đông…) Các khoản vay nợ của quỹ với chủ thể liên quan. Một người có liên quan hành động như một đại lý đối với tài sản của quỹ trong việc mua bán chứng chỉ quỹ đầu tư. Người có liên quan cam kết với người thứ ba tham gia giao dịch với quỹ. Nói chung mỗi nước lại có quy định cụ thể riêng để ngăn chặn hiện tượng này để đảm bảo hoạt động của quỹ được lành mạnh, công bằng bảo vệ lợi ích của tất cả những người đầu tư.

×