Your SlideShare is downloading. ×
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×

Introducing the official SlideShare app

Stunning, full-screen experience for iPhone and Android

Text the download link to your phone

Standard text messaging rates apply

Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

7,665
views

Published on

Đề tài luận văn: Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC …

Đề tài luận văn: Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC
Tham khảo tại: http://luanvan.forumvi.com/t184-topic

Published in: Education

0 Comments
8 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
7,665
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
0
Likes
8
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Phần I: Đặt vấn đề 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Việt Nam đang bước dài trên con đường hội nhập vào nền kinh tế thế giới.Những chuyển biến quan trọng trong vài năm gần đây đã đưa nước ta đến với nhiều cơhội và thách thức mới. Trong xu thế toàn cầu hoá đó, kiểm toán đã không còn là mộtkhái niệm mới mẻ. Dần dần, kiểm toán, nhất là kiểm toán báo cáo tài chính, đã trởthành một bộ phận không thể thiếu của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào. Về thựcchất, hoạt động kiểm toán Báo cáo tài chính là quá trình thu thập và đánh giá các bằngchứng về các Báo cáo tài chính dựa trên các cơ sở dẫn liệu của chúng. Theo Chuẩnmực Kiểm toán Việt Nam VSA 500: “Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu,thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trêncác thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình”. Các loại bằngchứng kiểm toán khác nhau sẽ ảnh hưởng khác nhau đến kết luận trên báo cáo kiểmtoán. Do đó, kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần nhận thức được vai trò của mỗiloại bằng chứng để có thể thu thập và đánh giá một cách đầy đủ và hợp lý nhất, từ đóđưa ra được ý kiến phù hợp về báo cáo tài chính được kiểm toán. Có thể nói, sự thànhcông của một cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập và sau đó là đánhgiá bằng chứng kiểm toán của KTV. Xuất phát từ mục tiêu đó, kiểm toán viên phải sử dụng các phương pháp kỹthuật để thu thập các bằng chứng kiểm toán thích hợp và đầy đủ trong suốt quá trìnhthực hiện kiểm toán của mình. Các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán bao gồm:kiểm tra đối chiếu, quan sát, điều tra - phỏng vấn, xác nhận, tính toán, phân tích.Những gì học được trên ghế nhà trường chỉ là khung lí thuyết chung nhất về các kỹthuật thu thập bằng chứng kiểm toán. Thực tế, mỗi công ty kiểm toán lại vận dụng cáckỹ thuật này rất khác nhau. Từ những kiến thức đã được học và được có được cơ hộithực tập tại phòng Kiểm toán Báo cáo tài chính của công ty Kiểm toán và kế toánAAC, đây là điều kiện tốt để cho tôi có thể đi sâu nghiên cứu để hiểu rõ việc vận dụngcác kỹ thuật thu thập bằng chứng, từ đó có sự so sánh, làm rõ giữa lí thuyết và thực tế. Từ đó, tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toántrong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC” cho luận văntốt nghiệp của mình. 2. Mục tiêuluanvan84@gmail.com 1 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 2. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Đề tài nghiên cứu nhằm các mục đích sau:  Thứ nhất: Hệ thống hóa về mặt lý luận về bản chất của bằng chứng kiểm toán vàcác kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính.  Thứ hai: Tìm hiểu thực tế việc vận dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểmtoán của công ty TNHH Kiểm toán & Kế toán AAC tại khách hàng của công ty.  Thứ ba: Nhận xét và đề xuất giải pháp nhằm khắc phục các hạn chế góp phầnhoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán tại Công ty Kiểm toán & Kếtoán AAC. 3. Phương pháp nghiên cứu 3.1. Phương pháp thu thập số liệu • Thu thập, nghiên cứu các chuẩn mực, chế độ kế toán và kiểm toán Việt Nam hiện hành cùng các tài liệu chuyên khảo có liên quan như giáo trình, sách báo về kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC. • Thu thập các tài liệu, hồ sơ năm trước liên quan tới kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC. • Quan sát quá trình các KTV tiến hành thu thập bằng chứng kiểm toán và phỏng vấn KTV về quy trình tiến hành thu thập bằng chứng kiểm toán trong thực tế. • Trực tiếp tham gia quy trình kiểm toán với vai trò Trợ lý Kiểm toán viên. 3.2. Phương pháp xử lý số liệu Sau khi thu thập số liệu, người viết tiến hành phân tích, tổng hợp, đối chiếu sốliệu cũng như vận dụng các kiến thức và kinh nghiệm thực tế có được về kỹ thuật thuthập bằng chứng kiểm toán để từ đó có cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu. 4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu a, Nội dung thực hiện: Do giới hạn về thời gian và không gian nên đề tài chỉnghiên cứu việc sử dụng kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán do các kiểm toánviên của công ty Kiểm toán và Kế toán AAC đang áp dụng tại khách hàng là công tycổ phần đường ABC. c, Không gian: Đề tài được thực hiện tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toánAAC. d, Thời gian:luanvan84@gmail.com 2 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 3. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Số liệu thực hiện tại Công ty cổ phần đường ABC cho năm tài chính kết thúcvào ngày 31/12/2010. Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ ngày 15/01/2011 đến ngày15/04/2011. 5. Giá trị của đề tài Đề tài “Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toánBCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC” thực hiện mang lại kết quả sau: - Về mặt khoa học: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu một cáchtổng quát các vấn đề lý luận liên quan đến: bằng chứng kiểm toán, vai trò của bằngchứng kiểm toán, các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toánBCTC… Những vấn đề này sẽ giúp người đọc nắm bắt về bằng chứng kiểm toán vàcác kỹ thuật để thu thập bằng chứng kiểm toán một cách chung nhất, tổng quát nhất.Đồng thời đây cũng chính là tiền đề giúp người đọc tiếp cận thực tế về việc áp dụngcác kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong quy trình thực hiện kiểm toán BCTCthực hiện tại đơn vị khách hàng mà công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC đãthực hiện. - Về mặt thực tiễn: Đề tài tập trung vào việc áp dụng các kỹ thuật thu thậpbằng chứng kiểm toán của Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC tại một đơn vịkhách hàng. Trong quá trình đọc và tiếp cận thực tế người đọc có thể nhận thấy một sốđiểm khác biệt giữa các vấn đề lý luận và các vấn đề thực tế, điều này được làm rõtrong các giải pháp mà đề tài đưa ra, nhằm hoàn thiện hơn các kỹ thuật thu thập bằngchứng kiểm toán tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC. Chính vì vậy, đề tàiđược thực hiện mang tính thực tiễn rất cao, là nền tảng cho những nghiên cứu liênquan được thực hiện tại trường Đại học Kinh tế Huế. 6. Cấu trúc đề tài Ngoài các phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ thuật thu thập bằng chứng trong kiểm toánBCTC. Chương 2: Thực tế vận dụng kỹ thuật thu thập bằng chứng trong quá trình kiểmtoán Báo cáo tài chính do công ty Kiểm toán và kế toán AAC thực hiện Chương 3: Đánh giá và một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện kĩ thuật kỹthuật thu thập bằng chứng trong quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính do công tyKiểm toán và kế toán AAC thực hiện.luanvan84@gmail.com 3 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 4. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương I: Cơ sở lý luận về kỹ thuật thu thập bằng chứng trong kiểm toánBCTC 1.1 Tổng quan về kiểm toán BCTC 1.1.1 Khái niệm kiểm toán BCTC “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tinđược kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đóvới các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi cácKTV đủ năng lực và độc lập” [1]. Căn cứ theo mục đích kiểm toán thì kiểm toán được chia thành: Kiểm toán hoạtđộng, Kiểm toán tuân thủ và Kiểm toán BCTC. Trong đó, kiểm toán báo cáo tài chínhlà một hoạt động đặc trưng của kiểm toán, với mục tiêu cụ thể là“đưa ra ý kiến xácnhận rằng Báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiệnhành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan, có phản ánh trung thựcvà hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không” [4]. Đối tượng trực tiếp của kiểm toán Báo cáo tài chính là các Bảng khai tài chính,Báo cáo tài chính được định nghĩa trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 200/4 nhưsau: “Báo cáo tài chính là hệ thống các báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kếtoán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tinh kinh tế, tài chính chủyếu của đơn vị.” 1.1.2 Mục tiêu Kiểm toán BCTC nhằm hướng đến hai mục tiêu:  Làm cơ sở giúp KTV đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơsở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, tuân thủ pháp luật liên quan và có phảnánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?  Làm cơ sở giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót đểkhắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị [4]. 1.1.3 Vai trò  Đối với đơn vị được kiểm toán, kiểm toán BCTC góp phần nâng cao độ tincậy BCTC của đơn vị và nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị.luanvan84@gmail.com 4 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 5. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiệnhành hoặc được chấp nhận nhằm trình bày bức tranh thông tin về kế toán tài chínhchủ yếu của đơn vị. Việc lập BCTC là trách nhiệm của đơn vị. Kiểm toán BCTCđược thực hiện bởi các KTV đủ năng lực và độc lập nhằm đưa ra ý kiến về BCTC.Do đó, báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần sẽ góp phần nâng cao độ tin cậy củathông tin trên BCTC. Trong quá trình kiểm toán, KTV cũng sẽ phát hiện những thiếu sót, nhữngđiểm tồn tại của bộ máy kế toán tài chính của đơn vị. Từ đó, kiểm toán viên sẽ gópý nhằm hoàn thiện bộ máy này nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán tàichính của đơn vị.  Đối với người sử dụng thông tin, kiểm toán BCTC là căn cứ quan trọng đểnhững người sử dụng thông tin BCTC có thể đưa ra các quyết định kinh tế chính xác. Dựa vào BCTC đơn vị, các đối tượng sử dụng thông tin tài chính của đơn vịnhư chủ nợ, ngân hàng, nhà đầu tư, cơ quan chức năng... đưa ra các quyết định kinh tếquan trọng như tiếp tục cho vay vốn, mua cổ phiếu, thu thuế...  Đối với tổng thể nền kinh tế, kiểm toán BCTC góp phần củng cố và nâng caohiệu quả hoạt động kế toán tài chính nói riêng và quản lý kinh tế nói chung. Hoạt động kế toán tài chính bao gồm rất nhiều mối quan hệ kinh tế đa dạng vàphức tạp, thường xuyên biến đổi và cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Đểhướng các nghiệp vụ này theo các chuẩn mực và quy định hiện hành, ngoài việc địnhhướng và thực hiện tốt các định hướng thì cần phải thường xuyên thực hiện việc soátxét quá trình thực hiện để hướng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mong muốn. 1.1.4 Khái quát về một qui trình kiểm toán BCTC Quy trình kiểm toán BCTC có thể phân thành ba giai đoạn chính là chuẩn bị,thực hiện và hoàn thành kiểm toán:  Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán bao gồm: -Tiền kế hoạch là quá trình kiểm toán tiếp cận với khách hàng nhằm thu thậpnhững thông tin cần thiết nhằm giúp cho họ hiểu về nhu cầu của khách hàng, đánhgiá khả năng phục vụ... Theo đó, hai bên ký hợp đồng kiểm toán hoặc thư cam kếtkiểm toán. -Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm thu thập thông tin về đặc điểm hoạt độngkinh doanh, tìm hiểu HTKSNB, đánh giá rủi ro, xác lập mức trọng yếu... để lập kếluanvan84@gmail.com 5 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 6. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhhoạch và chương trình kiểm toán, nhờ đó sẽ nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả củacuộc kiểm toán.  Giai đoạn thực hiện kiểm toán là quá trình thực hiện kế hoạch và chươngtrình kiểm toán nhằm thu thập những bằng chứng đầy đủ và thích hợp nhằm làm cơsở cho ý kiến nhận xét của KTV. Trong giai đoạn này, KTV thực hiện chủ yếu hailoại thử nghiệm: -Thử nghiệm kiểm soát nhằm thu thập bằng chứng nhằm đánh giá tính hữu hiệucủa HTKSNB. -Thử nghiệm cơ bản nhằm thu thập bằng chứng nhằm phát hiện các sai sóttrọng yếu trong BCTC. Có hai loại thử nghiệm cơ bản gồm thủ tục phân tích và thửnghiệm chi tiết. -Thủ tục phân tích là việc so sánh các thông tin, nghiên cứu xu hướng nhằmphát hiện biến động bất thường. - Thử nghiệm chi tiết là việc kiểm tra số dư và nghiệp vụ bằng các phươngpháp thích hợp. Giai đoạn hoàn thành kiểm toán là quá trình tổng hợp và rà soát lại nhữngbằng chứng thu thập được để KTV hình thành nên ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểmtoán. Có bốn loại ý kiến nhận xét là: chấp nhận toàn phần, chấp nhận từng phần, khôngchấp nhận và từ chối nhận xét [2]. 1.2 Khái quát về bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC 1.2.1 Khái niệm bằng chứng kiểm toán Báo cáo kiểm toán đã đưa ra ý kiến xác nhận về tính trung thực và hợp lý củabáo cáo tài chính đơn vị được kiểm toán. Để đánh giá, nhận xét và đưa ra ý kiến vềbáo cáo tài chính của đơn vị đã được kiểm toán, kiểm toán viên cần thu thập các bằngchứng kiểm toán làm cơ sở cho những kết luận của mình. BCKT quyết định tính đúngđắn, chính xác các nhận xét của KTV, quyết định sự thành công của cuộc kiểm toán.Việc thu thập BCKT là trung tâm của cuộc kiểm toán. Theo Chuẩn mực kiểm toán số 500 ban hành theo quyết định số 219/2000/QĐ/BTC ngày 29/12/2000 của Bộ trưởng tài chính về BCKT ta có khái niệm về BCKTnhư sau: “Bằng chứng kiểm toán là tất cả những tài liệu, thông tin do kiểm toán viênluanvan84@gmail.com 6 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 7. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhthu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toánviên hình thành nên ý kiến của mình”. Như vậy, BCKT bao gồm cả thông tin nhân chứng và thông tin vật chứng màkiểm toán viên thu thập làm cơ sở cho ý kiến của mình về Báo cáo tài chính đượckiểm toán. BCKT có tính đa dạng. Các loại BCKT khác nhau sẽ có ảnh hưởng khácnhau đến việc hình thành ý kiến kết luận kiểm toán. Do đó, kiểm toán viên cần cónhận thức cụ thể về các loại bằng chứng một cách hữu hiệu khi thực hành kiểm toán. BCKT có một vai trò quan trọng, là cơ sở hình thành ý kiến kết luận kiểm toán.Từ đó, sự thành công của toàn bộ cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thuthập và sau đó là đánh giá BCKT của kiểm toán viên. Việc kiểm toán gồm có hai chứcnăng cả hai chặt chẽ đều liên quan đến bằng chứng. Thứ nhất, là chức năng thu thậpbằng chứng, thứ hai là đánh giá các bằng chứng. Một khi kiểm toán viên không thuthập đầy đủ và đánh giá đúng các bằng chứng thích hợp thì kiểm toán viên khó có thểđưa ra kết luận xác đáng về đối tượng được kiểm toán. Do vai trò quan trọng của BCKT, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 quyđịnh: “Kiểm toán viên và Công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứngkiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về Báo cáo tài chính của đơnvị được kiểm toán”. 1.2.2 Vai trò BCKT Bằng chứng kiểm toán có vai trò quan trọng, là cơ sở hình thành kết luận kiểmtoán. Các loại bằng chứng kiểm toán khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến việchình thành ý kiến kiểm toán. Sự thành công của toàn bộ cuộc kiểm toán phụ thuộc vàoviệc thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán của kiểm toán viên. Nếu kiểm toánviên không thu thập đầy đủ và đánh giá đúng các bằng chứng kiểm toán thích hợp thìkiểm toán viên đó khó có thể đưa ra một nhận xét xác đáng về đối tượng kiểm toán.Đối với các doanh nghiệp kiểm toán độc lập hoặc cơ quan kiểm toán Nhà nước, cơquan pháp lý, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để giám sát đánh giá chất lượng hoạtđộng của kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán. Báo cáo kiểm toán cần cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho người sửdụng. Kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm về tính trung thực và khách quan của báocáo tài chính đưa ra. Do vậy, kiểm toán viên cần thu thập bằng chứng kiểm toán đảmbảo tính thích hợp và đầy đủ.luanvan84@gmail.com 7 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 8. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính 1.2.3 Phân loại BCKT Trong thực tế có nhiều loại BCKT khác nhau. Để giúp cho việc nghiên cứu, xétđoán và sử dụng BCKT được tiện lợi và hữu hiệu cần phải tiến hành phân loại BCKT. 1.2.3.1 Phân loại bằng chứng kiểm toán theo nguồn gốc Phân loại BCKT theo nguồn gốc là căn cứ vào nguồn gốc của thông tin, tài liệucó liên quan đến báo cáo tài chính mà kiểm toán viên thu thập được trong quá trìnhkiểm toán. Theo cách phân loại này, BCKT được chia thành:  BCKT do kiểm toán viên tự khai thác và phát hiện bằng cách: - Kiểm kê tài sản thực tế : Như biên bản kiểm kê hàng tồn kho của tổ kiểm toánxác nhận tài sản thực tế… - Tính toán lại các biểu tính toán của doanh nghiệp: như các số liệu, tài liệu dokiểm toán viên tính toán lại có sự xác nhận của doanh nghiệp hoặc những người liênquan là hợp lý. - Quan sát hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ: là những thông tin, tài liệudo kiểm toán viên ghi chép lại thông qua việc quan sát hệ thống kiểm soát nội bộdoanh nghiệp, có dẫn chứng theo thời gian khảo sát…  BCKT do doanh nghiệp phát hành và luân chuyển đến các bộ phận nội bộhoặc bên ngoài đơn vị và các thông tin mà doanh nghiệp cung cấp cho kiểm toán viên. Chứng từ, tài liệu do doanh nghiệp phát hành và chuyển đến các đơn vị khácsau đó quay trở lại đơn vị như: các uỷ nhiệm chi… Chứng từ, tài liệu do doanh nghiệp phát hành và luân chuyển trong nội bộdoanh nghiệp, như các phiếu chi, phiếu xuất vật tư, hoá đơn bán hàng Các sổ kế toán, báo cáo kế toán của doanh nghiệp lập Những thông tin (lời nói, ghi chép..) của cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ hoặcnhững giải trình của những người có liên quan trong đơn vị cho kiểm toán viên…  BCKT do bên thứ 3 cung cấp từ các nguồn khác nhau Các bằng chứng do những người bên ngoài đơn vị cung cấp trực tiếp cho kiểmtoán viên, như: các bảng xác nhận nợ phải trả của các chủ nợ ; Bảng xác nhận cáckhoản phải thu của các khác nợ; hoặc số dư tiền gửi ngân hàng đã được ngân hàng xácnhận….luanvan84@gmail.com 8 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 9. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Các bằng chứng được lập do đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có liên quanđến báo cáo tài chính của doanh nghiệp, như hoá đơn bán hàng cho doanh nghiệp, sốphụ ngân hàng… Các ghi chép độc lập hoặc các báo cáo thống kê tổng hợp theo chuyên ngành cóliên quan đến doanh nghiệp… 1.2.3.2 Phân loại bằng chứng kiểm toán theo loại hình Căn cứ vào loại hình hay còn gọi là dạng BCKT thì BCKT được chia thành cácloại sau:  Các bằng chứng vật chất là các bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập đượctrong quá trình thanh tra hoặc quá trình kiểm kê các tài sản hữu hình như: hàng tồnkho, tài sản cố định hữu hình, tiền mặt, các loại chứng khoán… Thuộc loại này gồm có các biên bản kiểm kê hàng tồn kho, biên bản kiểm kêquỹ tiền mặt, các chứng khoán, biên bản kiểm kê TSCĐ hữu hình…. Các bằng chứng vật chất có độ tin cậy cao nhất, bởi vì bằng chứng vật chấtđược đưa ra từ việc kiểm tra trực tiếp để xác minh tài sản có thực hay không  Các bằng chứng tài liệu: là các bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập đượcqua việc cung cấp tài liệu, thông tin của các bên liên quan theo yêu cầu của kiểm toánviên. Thuộc loại này gồm:  Các ghi chép kế toán và ghi chép nghiệp vụ của doanh nghiệp, các báo cáo kế toán, các bản giải trình của các nhà quản lý doanh nghiệp…  Các chứng từ, tài liệu do các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp cung cấp như: các văn bản các giấy xác nhận, các báo cáo của bên thứ 3 có liên quan đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp được kiểm toán như cơ quan thuế, hải quan, bên bán, bên mua…  Các tài liệu tính toán lại của kiểm toán viên: thông qua việc xác minh, phân tích số liệu, tài liệu, kiểm toán viên tính toán lại số liệu của doanh nghiệp được kiểm toán để đưa ra những bằng chứng cho những ý kiến có lý của mình như: tính toán lại giá các hoá đơn, việc tính trích khấu hao TSCĐ, tính giá thành, phân bổ chi phí, khoá sổ kế toán, quá trình lấy số liệu để lập báo cáo kế toán..luanvan84@gmail.com 9 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 10. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Các bằng chứng tài liệu này củng cố tính thuyết phục, nhưng độ tin cậy khôngcao bằng những bằng chứng vật chất. 1.2.3.3 Các bằng chứng kiểm toán đặc biệt Ngoài các kiểu bằng chứng kiểm toán cơ bản được thu thập đã nói ở trên, trongmột số trường hợp đặc biệt kiểm toán viên cần thu thập thêm một số bằng chứng kiểmtoán khác. Các bằng chứng này thường là các: ý kiến của chuyên gia, giải thích của bangiám đốc và nhân viên kế toán đơn vị, sử dụng tài liệu của kiểm toán viên nội bộ hay củakiểm toán viên khác, hoặc là bằng chứng về các bên liên quan.... a, Ý kiến của chuyên gia: Do kiểm toán viên không thể am tường tất cả mọi lĩnhvực của xã hội, vì vậy các chuẩn mực kiểm toán cho phép họ được sử dụng ý kiến củanhững chuyên gia có năng lực, kiến thức và kinh nghiệm cụ thể trong một lĩnh vựcchuyên môn nào đó, ngoại trừ lĩnh vực kế toán và kiểm toán. Ví dụ như đánh giá giátrị của tài sản quý hiếm, công trình nghệ thuật... b, Giải trình của ban giám đốc: kiểm toán viên cần phải thu thập bằng chứng vềviệc giám đốc đơn vị được kiểm toán thừa nhận trách nhiệm của mình trong việc lậpvà trình bày trung thực và hợp lý báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực và chế độkế toán hiện hành và đã phê duyệt báo cáo tài chính. Vì thế, “kiểm toán viên phải thuthập được các giải trình của giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán”[6] c ,Tư liệu của kiểm toán viên nội bộ: Bộ phận kiểm toán nội bộ được tổ chức làđể phục vụ cho các nhu cầu và lợi ích của đơn vị, tuy nhiên kết quả kiểm toán của bộphận này có thể vẫn hữu ích cho kiểm toán viên độc lập cần quan tâm đến kết quảkiểm toán nội bộ khi chúng có liên quan đến công việc của mình d, Tư liệu của các kiểm toán viên khác: Vấn đề này phát sinh khi kiểm toán báocáo tài chính của một đơn vị có nhiều bộ phận (chi nhánh, công ty con, công ty liêndoanh hay công ty thành viên của tập đoàn…) đã được kiểm toán bởi các kiểm toánviên khác. Trong trường hợp này, kiểm toán viên kiểm toán cho đơn vị đó (gọi là kiểmtoán viên chính) phải chịu trách nhiệm về ý kiến của mình đối với báo cáo tài chínhcủa toàn đơn vị. Thay vì phải thực hiện lại công việc kiểm toán tại các bộ phận, kiểmtoán viên chính có thể sử dụng công việc của các kiểm toán viên khác. Để sử dụng tưliệu của kiểm toán viên khác, kiểm toán viên chính phải xác định ảnh hưởng của côngviệc do kiểm toán viên khác thực thi đến cuộc kiểm toán của mình.luanvan84@gmail.com 10 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 11. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính e, Tư liệu của các bên hữu quan: Bên liên quan và những mối quan hệ với cácbên liên quan có ảnh hưởng lớn đến nhận định của người sử dụng báo cáo tài chính.Thông tin về các bên này cần phải được công bố những vấn đề cần thiết để giúp ngườisử dụng hiểu được về bản chất của các mối liên hệ và những nhiệm vụ phát sinh giữacác bên liên quan. 1.2.4 Yêu cầu của BCKT Bằng chứng kiểm toán phải đạt được những yêu cầu nhất định về mặt chấtlượng và số lượng, hai khái niệm thích hợp và đầy đủ được sử dụng để chỉ về hai yêucầu này. 1.2.4.1 Thích hợp Sự thích hợp của bằng chứng kiểm toán trước hết liên quan đến độ tin cậy củabằng chứng. Để xem xét vấn đề này, kiểm toán viên cần chú ý đến các nhân tố sauđây: Nguồn gốc của bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng có nguồn gốc càng độc lập với đối tượng kiểm toán thì càng cóhiệu lực (độ tin cậy cao). Ví dụ, bằng chứng thu được từ các nguồn độc lập bên ngoài(như bảng sao kê ngân hàng, giấy báo số dư khách hàng do ngân hàng gửi đến, xácnhận của ngân hàng về số dư tiền gửi và các khoản công nơ, hoá đơn bán hàng…) cóđộ tin cậy cao hơn BCKT có được nhờ khách hàng cung cấp (ví dụ như tài liệu kếtoán, tài liệu thống kê ban đầu liên quan đến hoạt động được kiểm toán) Dạng bằng chứng kiểm toán. Độ tin cậy còn phụ thuộc vào dạng của bằng chứng kiểm toán, các bằng chứngvật chất (kiểm kê, hoặc chứng kiến kê) và hiểu biết trực tiếp của kiểm toán viên về đốitượng kiểm toán có độ tin cậy cao hơn bằng chứng tài liệu và bằng chứng thu thập quaphỏng vấn. Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị Bộ phận nào có kiểm soát nội bộ hữu hiệu thì các bằng chứng kiểm toán có liênquan đến các tài liệu kế toán, quy chế kiểm soát... của bộ phận đó sẽ có độ tin cậy caohơn. Sự kết hợp giữa các loại bằng chứng Một nhóm bằng chứng kiểm toán thu thập từ những nguồn khác nhau, ở cácdạng khác nhau nhưng cùng xác nhận như nhau về một vấn đề sẽ có độ tin cậy lớn hơnluanvan84@gmail.com 11 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 12. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhso với từng bằng chứng riêng lẻ. Ngược lại, khi bằng chứng từ các nguồn khác nhaulại cho kết quả trái ngược nhau, lúc này kiểm toán viên phải xem xét vấn đề một cáchthận trọng, và có thể phải thực thi các thủ tục kiểm toán bổ sung để xác minh. Các nhân tố khác Trong từng trường hợp cụ thể, độ tin cậy còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tốkhác. Thí dụ trong thủ tục phỏng vấn, sự hiểu biết của người được phỏng vấn về vấnđề đang tìm hiểu sẽ ảnh hưởng đến độ tin cậy của các bằng chứng đạt được. Bên cạnh độ tin cậy, sự thích hợp của bằng chứng kiểm toán trong các thửnghiệm cơ bản còn đòi hỏi sự phù hợp giữa bằng chứng với cơ sở dẫn liệu mà kiểmtoán viên muốn xác minh. Bởi lẽ, một bằng chứng kiểm toán có thể có độ tin cậy caonhưng vẫn không thích hợp với cơ sở dẫn liệu cần xem xét. Thí dụ, thư xác nhận củakhách hàng tuy là một bằng chứng có độ tin cậy cao do được cung cấp trực tiếp chokiểm toán viên, nhưng nó chỉ chứng minh rằng khoản phải thu đó có thật (cơ sở dẫnliệu hiện hữu và quyền) nhưng lại không thể chứng minh cho khả năng thu hồi khoảnphải thu (cơ sở dẫn liệu đánh giá). 1.2.4.2 Đầy đủ Yêu cầu này liên quan đến số lượng bằng chứng kiểm toán cần thiết, chủ yếu làcỡ mẫu và thời gian thực hiện các thủ tục kiểm toán. Một bằng chứng tuy đạt yêu cầuthích hợp nhưng sẽ không thể sử dụng làm cơ sở ý kiến cho kiểm toán viên nếu khôngđáp ứng yêu cầu đầy đủ. Thí dụ, để kết luận rằng nợ phải thu hiện hữu trong thực tế,thư xác nhận là bằng chứng thích hợp nhưng kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra kết luậnkhi đạt được một cỡ mẫu cần thiết và thủ tục được thực thi ở một thời điểm phù hợp.Sự đầy đủ của bằng chứng kiểm toán là vấn đề thuộc về sự xét đoán nghề nghiệp củakiểm toán viên. Sau đây là một số nhân tố có ảnh hưởng đến sự xét đoán của kiểm toánviên về yêu cầu đầy đủ: -Tính trọng yếu: Bộ phận nào càng trọng yếu thì càng đòi hỏi phải được quantâm nhiều hơn và phải thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán hơn. Nếu xét dưới góc độmức trọng yếu, nghĩa là số tiền sai lệch tối đa chấp nhận được, khi kiểm toán viên thiếtlập mức trọng yếu càng thấp thì số lượng bằng chứng kiểm toán cần thiết càng phảităng thêm. -Mức rủi ro tiềm tàng và mức rủi ro kiểm soát: Số lượng bằng chứng cần phảităng lên ở những bộ phận, hay các trường hợp có mức rủi ro tiềm tàng hoặc rủi roluanvan84@gmail.com 12 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 13. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhkiểm soát cao. Nói cách khác, khi kiểm toán viên xác nhận mức rủi ro phát hiện chấpnhận được là thấp thì số lượng bằng chứng cần thiết sẽ tăng thêm. Điều cần lưu ý là do hạn chế tiềm tàng của cuộc kiểm toán, kiểm toán viên chỉcó thể thu thập bằng chứng kiểm toán ở mức độ thuyết phục chứ không phải nhằmchứng minh tuyệt đối. Chính vì thế, đoạn 73, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 330,“Thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro” nêu rõ: “Mức độ đầy đủ và thích hợp của bằng chứng kiểm toán nhằm giúp kiểm toánviên đưa ra các kết luận về cuộc kiểm toán tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn củakiểm toán viên. Xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên về tính đầy đủ và thích hợpcủa bằng chứng kiểm toán chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau: a, Mức độ quan trọng của sai sót tiềm tàng trong cơ sở dẫn liệu và khả năngxảy ra ảnh hưởng trọng yếu, riêng rẽ hoặc tổng hợp với các sai sót tiềm tàng khác đốivới báo cáo tài chính; b, Mức độ hiệu quả của việc phản hồi và hoạt động kiểm soát của Ban lãnh đạođơn vị đối với các rủi ro này; c, Kinh nghiệm tích lũy được từ các cuộc kiểm toán trước đây liên quan đếncác sai sót tiềm tàng tương tự; d, Kết quả thực hiện các thủ tục kiểm toán, kể cả việc liệu các thủ tục kiểm toánđó có phát hiên được các trường hợp gian lận hoặc sai sót hay không; e, Nguồn gốc và độ tin cậy của thông tin hiện có; f, Tính thuyết phục của bằng chứng kiểm toán; g, Hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị, môi trường kinh doanh của đơn vị, kểcả hệ thống kiểm soát nội bộ.” 1.3 Các phương pháp thu thập BCKT “Kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán bằng các phương pháp sau: kiểmtra, quan sát, điều tra, xác nhận, tính toán và quy trình phân tích. Việc thực hiện cácphương pháp này một phần tùy thuộc vào thời gian thu thập được bằng chứng kiểmtoán.” [5] Mỗi phương pháp thu thập các bằng chứng kiểm toán sẽ cung cấp những loại bằngchứng khác nhau với độ tin cậy khác nhau và từng phương pháp có ưu điểm và hạnchế riêng của mình. Do đó, trong nhiều trường hợp, kiểm toán viên cần phối hợp sửdụng nhiều phương pháp để đạt được các mục tiêu kiểm toán. Nói cách khác, trongluanvan84@gmail.com 13 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 14. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhtừng trường hợp cụ thể, tùy theo sự xét đoán nghề nghiệp của minh, kiểm toán viên sẽchọn lựa các phương pháp để thu thập bằng chứng kiểm toán. 1.3.1 Kiểm tra Là sự xem xét các tài liệu ghi chép và những tài sản hữu hình bằng cách rà soát,đối chiếu giữa chúng với nhau, giữa sổ sách và thực tế, giữa quy định và thực hiện...thường bao gồm hai loại: 1.3.1.1 Kiểm tra vật chất Bao gồm việc kiểm kê hoặc tham gia kiểm kê tài sản thực tế về hàng hóa, vậttư tồn kho, máy móc thiết bị, nhà xưởng, tiền mặt tồn quỹ... Thủ tục này cung cấpbằng chứng vật chất là loại bằng chứng có độ tin cậy rất cao, tuy nhiên, loại bằngchứng này có những hạn chế nhất định: -Đối với một số tài sản cố định như nhà xưởng, đất đai, phương tiện vận tải...việc kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của tài sản đó, chứ không cho biết về quyền sởhữu của đơn vị đối với chúng, bởi lẽ tuy chúng hiện hữu nhưng có thể lại là tài sản đithuê, hoặc đã bị đơn vị thế chấp... -Đối với hàng tồn kho, việc kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của các loại hàngnày về mặt số lượng, nhưng không cho biết chúng có được đánh giá đúng hay không,hoặc chất lượng và tình trạng của chúng như thế nào... Các vấn đề trên sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến số dư hàng tồn kho trên báo cáo tài chính. Tóm lại, kiểm tra vật chất tuy cho biết về sự hiện hữu của một số tài sản nhưngcần phải đi kèm với một số bằng chứng khác để chứng minh về quyền sở hữu hoặc giátrị của chúng. 1.3.1.2 Kiểm tra tài liệu Bao gồm việc xem xét đối chiếu các tài liệu, sổ sách, chứng từ có liên quan.Loại kiểm tra này thường được tiến hành theo hai cách: -Từ một kết luận có trước, kiểm toán viên thu thập tài liệu để làm cơ sở cho kếtluận này. Thí dụ kiểm toán viên kiểm tra các tài liệu, hồ sơ pháp lý về quyền sở hữucủa tài sản. -Kiểm tra các tài liệu của một nghiệp vụ. Quy trình này có thể được tiến hànhtheo hai hướng: (i) Từ chứng từ gốc: kiểm tra việc ghi chép chúng trên sổ sách hoặc(ii) Từ sổ sách: kiểm tra ngược lại các chứng từ gốc có liên quan.luanvan84@gmail.com 14 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 15. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Cần chú ý rằng hai hướng kiểm tra trên sẽ cung cấp hai loại bằng chứng để thỏamãn các mục tiêu khác nhau. Việc kiểm tra chứng từ gốc (từ khi nghiệp vụ phát sinh)cho đến sổ sách sẽ cho thấy các nghiệp vụ phát sinh đều đã được ghi vào sổ sách.Ngược lại, việc kiểm tra các nghiệp vụ khởi đầu từ sổ sách quay về chứng từ gốc sẽcho biết có phải các nghiệp vụ khởi đầu từ sổ sách quay về chứng từ gốc sẽ cho biết cóphải các nghiệp vụ ghi trên sổ sách đều thực sự xảy ra hay không. Như vậy, tùy theotừng mục tiêu kiểm toán, kiểm toán viên sẽ chọn một trong hai hướng, hoặc chọn cảhai. Trong kiểm tra tài liệu, bằng chứng thu thập được thường là bằng chứng tàiliệu, do đó, kiểm toán viên cần chú ý đến các vấn đề sau: -Độ tin cậy của bằng chứng tài liệu phụ thuộc vào nguồn gốc của nó, hay cụ thểlà mực độ độc lập của tài liệu đối với đơn vị được kiểm toán. -Cần đề phòng các trường hợp đơn vị cạo sửa, giả mạo chứng từ, tài liệu... 1.3.2 Quan sát Là sự xem xét tận mắt về các công việc, những tiến trình thực hiện công việc dongười khác làm. Thí dụ: Xem xét việc thực hiện các thủ tục kiểm soát nội bộ. Phươngpháp này có thể áp dụng cho rất nhiều bộ phận được kiểm toán nhưng tự nó khó thểcung cấp đầy đủ bằng chứng, mà phải đi kèm với các thủ tục khác. Khi quan sát, kiểmtoán viên cần chú ý rằng nó chỉ cho bằng chứng về cách thức thực thi công việc ngayvào thời điểm quan sát, chứ không chắc chắn cũng sẽ được thực hiện ở các thời điểmkhác. 1.3.3 Xác nhận Xác nhận là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán thông quaviệc liên hệ trực tiếp với bên thứ ba để nhận được phúc đáp của họ về các thông tin cụthể ảnh hưởng đến cơ sở dẫn liệu được Ban Giám đốc lập và trình bày trong báo cáotài chính của đơn vị được kiểm toán (Đoạn 06 VSA 505-thông tin xác nhận từ bênngoài). Thí dụ, kiểm toán viên có thể xin xác nhận thông tin từ bên ngoài về các điềukhoản hợp đồng hay giao dịch của đơn vị được kiểm toán với bên thứ ba trong cáctrường hợp như: -Số dư tài khoản tiền gửi, tiền vay và những thông tin khác từ ngân hàng, khobạc, tổ chức tài chính tương tự;luanvan84@gmail.com 15 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 16. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính -Số dư các khoản phải thu, phải trả; -Những văn bản, giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu tài sản do luật sư giữ,hoặc đang giữ trong két sắt của ngân hàng; -Hàng gia công, hàng gửi bán, hàng nhờ giữ hộ; -Cổ phiếu gửi bên thứ ba; những khoản đầu tư nhờ các nhà môi giới mua nhưngchưa được giao trước thời điểm lập báo cáo tài chính... Độ tin cậy của bằng chứng xác nhận từ bên ngoài phụ thuộc vào các thủ tục vàthể thức kiểm toán viên áp dụng khi yêu cầu xác nhận từ bên ngoài và đánh giá kết quảcủa thủ tục này. Những nhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của bằng chứng này baogồm: Tiến trình kiểm soát của kiểm toán viên đối với thủ tục xác nhận và thư phúcđáp, tính chất và các hạn chế của việc phúc đáp. Ngoài ra, theo VSA 505, kiểm toán viên có thể áp dụng thủ tục này theo mộttrong hai cách sau đây: -Thư xác nhận mở (dạng khẳng định): đề nghị người được yêu cầu trả lời, kýnhận trong mọi trường hợp hoặc phúc đáp lại cho kiểm toán viên là đồng ý hoặc khôngđồng ý với thông tin cần xác nhận bằng cách yêu cầu điền vào thông tin. -Thư xác nhận đóng (dạng phủ định) chỉ đòi hỏi sự phản hồi khi không đồng ývới thông tin yêu cầu xác nhận. Khi đồng ý với thông tin xác nhận thì không nhất thiếtphải phản hồi. Thư xác nhận đóng (phủ định) thường cung cấp bằng chứng ít tin cậyhơn so với việc sử dụng thư xác nhận mở (khẳng định), vì thế kiểm toán viên cần xemxét thực hiện các thử nghiệm cơ bản bổ sung. Tuy có độ tin cậy thấp hơn thư xác nhận mở, nhưng chuẩn mực kiểm toán chophép sử dụng thư xác nhận đóng trong trường hợp rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soátđược đánh giá là thấp, các khoản phải xác nhận gồm rất nhiều cấc khoản có số tiềnnhỏ, khả năng xảy ra sai sót được đánh giá là thấp và kiểm toán viên tin rằng ngườiphản hồi sẽ quan tâm đến việc trả lời. 1.3.4 Điều tra Điều tra: Là việc tìm kiếm thông tin từ những người có hiểu biết ở bên tronghoặc bên ngoài đơn vị. Điều tra được thực hiện bằng việc chính thức gửi văn bản,phỏng vấn hoặc trao đổi kết quả điều tra, sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những thôngtin chưa có, hoặc những thông tin bổ sung để củng cố các bằng chứng đã có. (Đoạn 23VSA 500).luanvan84@gmail.com 16 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 17. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Như vậy, đây là việc thu thập thông tin thông qua sự trao đổi với những ngườicó liên quan đến các vấn đề cần tìm hiểu. Thí dụ như yêu cầu người quản lý giải thíchnhững quy định về kiểm soát nội bộ, hoặc hỏi các nhân viên về ciệc thực hiện quy chếnày... Thủ tục này quan trọng vì giúp cho kiểm toán viên thu thập được những bằngchứng chưa có, hoặc củng cố các luận cứ của mình. Riêng đối với phỏng vấn, để đạt kết quả tốt, kiểm toán viên cần nghiên cứutrước về các nội dung cần trao đổi, lựa chọn các câu hỏi, có thái độ hòa nhã... Bởi lẽphỏng vấn còn là một nghệ thuật. Cần chú ý là độ tin cậy của bằng chứng thu thậpbằng thủ tục phỏng vấn không cao, và nó thường chỉ dùng để củng cố cho các bằngchứng khác, hoặc để thu thập các thông tin phản hồi. Khi sử dụng, kiểm toán viên cầnchú ý đến tính khách quan và sự hiểu biết của người được phỏng vấn. Các kết quả thuthập được, nếu quan trọng thì cần được ghi lại và lưu trữ trong hồ sơ kiểm toán. 1.3.5 Tính toán Là việc kiểm tra tính chính xác về mặt số học của số liệu trên chứng từ, sổ kếtoán, bào cáo tài chính và các tài liệu liên quan khác hay việc thực hiện những tínhtoán độc lập của kiểm toán viên. Thí dụ như kiểm tra việc tính toán trên các hóa đơn,kiểm tra lại những số tổng cộng trên sổ cái... Kiểm toán viên còn thu thập bằng chứngkiểm toán bằng các tính toán độc lập của mình đối với khấu hao, dự phòng nợ khóđòi... Nếu xét riêng về mặt số học, kỹ thuật tính toán cung cấp bằng chứng có độ tincậy cao. 1.3.6 Phân tích Là sự xem xét các số liệu, thông tin của đơn vị thông qua việc so sánh vànghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính với nhau, và giữa các thông tin tàichính với các thông tin phi tài chính. Khi phân tích, ta có thể so sánh những thông tin như: -So sánh giữa các thông tin tài chính trong kỳ này với thông tin tương ứng củakỳ trước: Kiểm toán viên có thể so sánh số dư, hoặc số phát sinh tài khoản giữa các kỳđể phát hiện các tài khoản có biến động bất thường. Thí dụ: Một sự gia tăng bấtthường của khoản phải thu khách hàng cuối kỳ có thể là sự xuất phát từ sự thay đổichính sách bán chịu, tình trạng nợ khó đòi, gia tăng hoặc đang có lệch trọng yếu trongsố dư cuối kỳ.luanvan84@gmail.com 17 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 18. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Kiểm toán viên cũng có thể so sánh tỷ số giữa các kỳ để phát hiện những tàikhoản có thể bị sai lệch. Thí dụ: số vòng quay của hàng tồn kho giảm đột ngột có thểphản ánh những sai lệch trong số dư hàng tồn kho, hoặc hàng hóa ứ đọng hay mấtphẩm chất. Việc so sánh cũng có thể được tiến hành trên các đối tượng chi tiết của tàikhoản, hoặc sự biến động chi tiết giữa các kỳ trong tháng, quý, năm. -So sánh giữa số liệu thực tế và số liệu kế hoạch, dự toán: Việc điều tra các saibiệt lớn giữa số liệu thực tế và kế hoạch có thể cho thấy những sai lệch trong báo cáotài chính, hoặc các biến động lớn trong tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị. -So sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị với những chỉ tiêu bình quân ngành: Vềnguyên tắc, giữa một số chỉ tiêu của đơn vị và chỉ tiêu bình quân của ngành có mốiquan hệ tương đồng trong một phạm vi nhất định. Thí dụ: Tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu,tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu chính trong giá thành sản phẩm... Việc nghiên cứunhững khác biệt lớn giữa chỉ tiêu của đơn vị và chỉ tiêu bình quân ngành có thể sẽ chobiết các sai lệch, hoặc giúp kiểm toán viên hiểu biết sâu sắc hơn về hoạt động của đơnvị. Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp này cần chú ý sự khác biệt về quy mô, về việcáp dụng chính sách kế toán giữa các đơn vị. -Nghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính trong kỳ: Với phươngpháp này, kiểm toán viên có thể dựa trên mối quan hệ bản chất giữa các số dư, hay sốphát sinh của tài khoản qua mối quan hệ giữa chúng với các tài khoản khác. Thí dụ: cóthể ước tính chi phí lãi vay bằng cách nhân lãi suất bình quân tháng với số dư cuốitháng của tài khoản nợ vay. Sau đó, mọi sự khác biệt trọng yếu giữa số liệu ước tính vàsố liệu sổ sách cần được điều tra để xác định nguyên nhân. Tài khoản chi phí lãi vaycó khớp được với tài khoản vốn vay. Ngoài ra, một vài tài khoản có thể liên hệ theocách khác. Giả sử chi phí hoa hồng có thể là một tỷ lệ phần trăm cụ thể của doanh thuvà các khoản nợ khó đòi không thể vượt quá doanh thu bán hàng trả chậm. Bằng cáchkiểm tra mối quan hệ qua lại giữa các tài khoản, kiểm toán viên có thể phát hiện cácsai sót thuộc về xử lý kế toán. Một phương pháp khác cũng có thể được áp dụng để xác định những khoảnmục có khả năng sai lệch, đó là chọn ra các đối tượng chi tiết, các nghiệp vụ bấtthường, chẳng hạn như số tiền vượt trội hằn, hoặc có nội dung không rõ ràng để kiểmtra. Để phát hiện chúng, kiểm toán viên có thể đọc lướt trên sổ sách, tài khoản và xácđịnh các khoản bất thường.luanvan84@gmail.com 18 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 19. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính -Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin tài chính và các thông tin phi tàichính: Các thông tin phi tài chính là những dữ liệu kinh tê, kỹ thuật do các hệ thốnghạch toán nghiệp vụ, thống kê... cung cấp. Giữa các thông tin này và thông tin tàichính có những quan hệ nhất định, nên kiểm toán viên có thể phát hiện được những saisót nhờ dựa trên mối quan hệ hợp lý giữa chúng với nhau. Thí dụ: đối chiếu giữa chiphí tiền lương và số lượng công nhân viên để xem mức lương bình quân có hợp lýkhông; so sánh giữa lượng tồn kho của một số loại vật từ với khả năng chứa đựng rủiro của kho hàng... Khi sử dụng những thông tin phi tài chính, kiểm toán viên cũng cầnchú ý kiểm tra độ chính xác của chúng. Trong quá trình so sánh, nếu phát hiện được các biến động bất thường, chẳnghạn như khi có những sai biệt lớn, các tỷ lệ ngoài dự kiến, những thông tin tài chínhkhông nhất quán với các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được..., kiểm toán viên cầntiến hành điều tra phỏng vấn bằng cách: -Phỏng vấn người quản lý đơn vị, hoặc xác minh lại các giải trình của đơn vị. -Cân nhắc và sử dụng các thủ tục kiểm toán khác để có được kết luận hợp lý. Thủ tục phân tích được sử dụng trong tất cả các giai đoạn của quy trìnhkiểm toán: -Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, phân tích giúp xác định nội dung, thờigian và phạm vi của các thủ tục kiểm toán; đồng thời hướng dẫn sự chú ý của kiểmtoán viên đến những bộ phận cần phải điều tra đặc biệt. -Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, phân tích là một loại thử nghiệm cơ bản,nó cung cấp bằng chứng về sự hợp lý của những khoản mục trên báo cáo tài chính,hoặc các thông tin tài chính riêng biệt. -Trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán, phân tích được sử dụng để xem xét lạitổng quát lần cuối về toàn bộ số liệu đã được kiểm toán nhằm củng cố thêm cho kếtluận đã được đề ra, hoặc giúp nhận thấy những vấn đề cần phải tiến hành thêm các thủtục kiểm toán thì mới có thể kết luận. Phân tích được đánh giá là một thủ tục kiểm toán có hiệu quả vì thời gian ít, chiphí thấp, mà lại có thể cung cấp những bằng chứng về sự đồng bộ, hợp lý chung về cácsố liệu kế toán; đồng thời giúp đánh giá được những nét tổng thể và không bị sa vàocác nghiệp vụ cụ thể.luanvan84@gmail.com 19 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 20. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Tuy nhiên khi áp dụng thủ tục phân tích cần phải chú ý về những vấn đềsau: -Mối quan hệ bản chất của các chỉ tiêu được so sánh: Vì nếu giữa chúng khôngcó liên hệ, hoặc quan hệ một cách hời hợt thì việc phân tích sẽ vô nghĩa. Trong nhiềutrường hợp, để có thể so sánh được cần phải loại trừ các nhân tố gây nhiễu bằng nhữngphương pháp thích hợp. -Mức độ trọng yếu của khoản mục trong mối quan hệ tổng thể giữa các thôngtin tài chính với nhau: Đối với những khoản mục trọng yếu không thể chỉ chỉ đơnthuần áp dụng kỹ thuật phân tích, mà còn phải kiểm tra chi tiết. -Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát: Với mức rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểmsoát cao, nhất là khi hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém, việc áp dụng đơn thuần thủtục phân tích để đi đến kết luận sẽ có rủi ro rất cao. Ngoài ra, đoạn 57, chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 330 còn lưu ý: Khi xâydựng quy trình phân tích, kiểm toán viên cần xem xét đến các vấn đề sau: a, Mức độ phù hợp khi sử dụng quy trình phân tích dối với cơ sở dẫn liệu; b, Mức độ tin cậy của những dữ liệu được sử dụng để xác định giá trị ghi sổước tính hoặc tỷ lệ bất kể dữ liệu đó được tạo ra từ nội bộ hay thu nhập được từ bênngoài; c, Liệu các ước tính có chính xác để xác định sai sót trọng yếu ở mức đảm bảomong muốn; d, Khoản chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị ước tính có thể chấp nhậnđược. Kiểm toán viên cần cân nhắc khi kiểm tra hoạt động kiểm soát, nếu có, vềnhững thông tin do đơn vị chuẩn bị để kiểm toán viên sử dụng khi thực hiện quy trìnhphân tích của mình. Nếu hoạt động kiểm soát này hữu hiệu thì kiểm toán viên có thểtin tưởng hơn vào tính trung thực của thông tin cũng như về kết quả của quy trình phântích. Mặt khác, kiểm toán viên có thể cân nhắc liệu thông tin có bị phụ thuộc vào thủtục kiểm toán của kỳ này hay kỳ trước không. Khi xác định quy trình kiểm toán nhữngthông tin làm cơ sở dự đoán quy trình phân tích, kiểm toán viên cần xem xét quy địnhtại Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500.luanvan84@gmail.com 20 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 21. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Chương II: Thực tế vận dụng kỹ thuật thu thập bằng chứng trong quá trìnhkiểm toán Báo cáo tài chính do công ty Kiểm toán và kế toán AAC thực hiện 2.1 Tổng quan về công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Tên giao dịch: Auditing and accounting company, Ltd. Tên viết tắt: AAC Địa chỉ trụ sở chính: 217 Nguyễn Văn Linh, TP Đà Nẵng Điện thoại: (84).0511.3655.886 Fax: (84).0511.3655.887 E-mail: aac@dng.vnn.vn Webside: http://www.aac.com.vn2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty Kiểm toán và kế toán AAC là công ty kiểm toán độc lập, một trongnhững công ty kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam, được thành lập theo quyết định số194/TC/TCCB ngày 01 tháng 04 năm 1993 và Quyết định số 106/TC-BTC ngày 13tháng 02 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Tiền thân là công ty kiểm toán Đà Nẵng-DAC, việc thành lập công ty đượcthực hiện trên cơ sở sát nhập hai chi nhánh của hai công ty hành nghề kiểm toán từnăm 1991, đó là: Chi nhánh Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Chi nhánh côngty tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) tại khu vực Miền Trung và TâyNguyên.Để phù hợp với tình hình mới về sự phát triển công ty, Bộ Tài chính đã cóquyết định số 139/2000/QĐ-BTC ngày 06/9/2000 về việc đổi tên “Công ty kiểm toánĐà Nẵng – DAC” thành “Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC”. Thực hiện lộ trình chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty Cổphần hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn, ngày 07/05/2007, “Công ty Kiểm toán và Kếtoán AAC” chuyển đổi thành “Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kiểm toán và Kế toánAAC”. Công ty AAC hoạt động trên phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất cảcác loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có quy chếriêng về việc lựa chọn và bổ nhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện.luanvan84@gmail.com 21 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 22. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Hiện tại, công ty AAC có đội ngũ gồm 132 nhân viên, trong đó có khoảng 31người đã có chứng chỉ kiểm toán viên độc lập. Đội ngũ kiểm toán viên của AAC đượcđào tạo có hệ thống ở Việt Nam, Anh, Bỉ, Pháp, Ai-len, Úc và có nhiều năm kinhnghiệm thực tiễn về kiểm toán và tư vấn tài chính - kế toán - thuế ở Việt Nam và quốctế. AAC có 100% đội ngũ kiểm toán viên và trợ lỹ kiểm toán viên cao cấp đượcđào tạo trực tiếp bởi các chuyên gia cao cấp về kiểm toán của Cộng đồng Châu Âuthông qua chương trình hợp tác về kiểm toán và kế toán của dự án EURO – TAPVIETdo Cộng đồng Châu Âu tài trợ. Nhờ có đội ngũ chuyên nghiệp chất lượng cao, ý thức trách nhiệm, có đạo đứcnghề nghiệp trong sáng nên trong quá trình hoạt động, AAC luôn được các nhà đầu tư,các cơ quan chức năng tín nhiệm và đánh giá cao về chất lượng phục vụ. Liên tiếp trong hai năm 2007 và 2008, AAC được Hội đồng trao giải “ Thươngmại Dịch vụ - Top Trade Services” - Bộ Công Thương bình chọn là một trong 05 côngty kiểm toán hoạt động tốt nhất tại Việt nam và được trao giải/cup “Thương mại Dịchvụ - Top Trade Services”. Tháng 9/2008, Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC chính thức trở thànhthành viên của hãng Kiểm toán quốc tế Polaris International. Năm 2009, AAC được Đài Tiếng nói Việt Nam, Bộ Công thương, BộLĐTBXH, Bộ Y tế, Bộ TT và TT, Bộ VH-TT-DL,... bình chọn và trao cúpvàng “Doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu”; được Hiệp hội kinh doanh Chứng khoánViệt Nam (VASB), Tạp chí Chứng khoán Việt Nam (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước),TT thông tin Tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC), Công ty Cổ phầnTruyền thông Tài chính Chứng khoán Việt Nam (VNSF media), Công ty Cổ phầnChứng khoán Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VICS), Công ty Cổ phần Vănhóa Thông tin Thăng Long (TIC.media) trao tặng danh hiệu “Tổ chức kiểm toán niêmyết uy tín”. 2.1.2. Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của công ty Kiểm toán và kế toánAAC 2.1.2.1. Mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động của công ty AAC là giúp khách hàng và những người quantâm bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ, cung cấp cho họ những thông tin đích thực và cầnluanvan84@gmail.com 22 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 23. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhthiết để tổ chức điều hành hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời đưa ra các quyếtđịnh quản lý phù hợp với thực tiễn. Công ty AAC không ngừng hoạt động nhằm góp phần phát hiện và ngăn ngừanhững rủi ro cho doanh nghiệp, trợ giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpđược thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Công ty AAC thực hiện kiểm toán theo đúng các Nguyên tắc, Chuẩn mực Kiểmtoán Việt Nam và thông lệ kiểm toán quốc tế, phù hợp với những quy định hiện hànhvề hoạt động kiểm toán của Nhà nước Việt Nam. 2.1.2.2. Nguyên tắc hoạt động Công ty AAC hoạt động theo phương châm: “độc lập, khách quan, trungthực và bí mật số liệu của khách hàng”, đó cũng chính là lời cam kết của AAC vớikhách hàng. Phương châm hoạt động luôn được công ty quán triệt đến tất cả các thànhviên trong công ty và luôn có các biện pháp để các phương châm hoạt động được tuânthủ nghiêm ngặt trong suốt quá trình hoạt động của công ty . 2.1.3. Các loại dịch vụ do công ty Kiểm toán và kế toán AAC cung cấp Công ty Kiểm toán và kế toán AAC cung cấp các dịch vụ sau: Kiểm toán, kếtoán, tư vấn Thuế, tư vấn tài chính và quản lý, dịch vụ đào tạo và tuyển dụng, dịch vụTin học. Trong đó:  Dịch vụ Kiểm toán Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Kiểm toán sau: - Kiểm toán báo cáo tài chính. - Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành. - Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án. - Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế. - Kiểm toán hoạt động. - Kiểm toán tuân thủ. - Kiểm toán nội bộ. - Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành. - Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở thủ tục thoả thuận trước.  Dịch vụ Kế toán: Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Kế toán sau: - Dịch vụ ghi sổ và giữ sổ kế toán.luanvan84@gmail.com 23 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 24. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính - Hướng dẫn nghiệp vụ kế toán. - Lập các Báo cáo tài chính định kỳ. - Chuyển đổi các Báo cáo tài chính được lập theo VAS, IAS. - Thiết kế và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán.  Dịch vụ tư vấn Thuế: Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Tư vấn Thuế sau: - Tư vấn việc áp dụng chính sách Thuế. - Tư vấn công tác kê khai và quyết toán thuế. - Tư vấn về các thủ tục hoàn thuế và khiếu nại về thuế. - Hỗ trợ việc cập nhật thông tin về thuế và thuế quan.  Dịch vụ Tư vấn tài chính và quản lý: Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Tư vấn tài chính và quản lý sau: - Tư vấn thành lập và quản lý doanh nghiệp. - Tư vấn thiết lập cơ chế tài chính nội bộ. - Tư vấn việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán – tài chính phù hợp với yêu cầu quản lý. - Soát xét báo cáo tài chính. - Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá hoặc phá sản doanh nghiệp. - Thẩm định tình hình tài chính và giá trị tài sản tranh chấp, kiện tụng.  Dịch vụ Đào tạo và Tuyển dụng: Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Tư Đào tạo và Tuyển dụng sau: - Đào tạo, bồi dưỡng kế toán và kiểm toán viên nội bộ. - Cập nhật kiến thức tài chính, kế toán, kiểm toán. - Hỗ trợ tuyển dụng nhân viên kế toán và kiểm toán viên nội bộ.  Dịch vụ Tin học: Công ty AAC cung cấp các dịch vụ Tin học sau: - Tư vấn việc lựa chọn các phần mềm tin học về kế toán tài chính và kế toán quản trị. - Tư vấn việc lựa chọn trang bị các thiết bị tin học, cài đặt hệ thống thông tin quản lý.luanvan84@gmail.com 24 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 25. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính 2.1.4 Cơ cấu tổ chức của công ty Kiểm toán và kế toán AAC Công ty AAC luôn luôn xem yếu tố con người là tài sản lớn nhất và quan trọngnhất trong định hướng hoạt động của mình, công ty luôn coi trọng việc phát triển và nângcao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên và chuyên viên kỹ thuật. Là một trong số ít công ty kiểm toán đầu tiên ra đời và hoạt động tại Việt Nam,hoạt động của AAC không ngừng phát triển và đã khẳng định được vị trí của mình trên thịtrường cung cấp các dịch vụ chuyên ngành kiểm toán, kế toán và tư vấn tài chính. Cóđược thành công đó là nhờ vào chính sách đầu tư phát triển đội ngũ kiểm toán viên và kỹthuật viên có năng lực chuyên môn cao, có đạo đức nghề nghiệp trong sáng. Đến nayAAC đã xây dựng được đội ngũ với hơn 130 cán bộ nhân viên, với 100% đã tốt nghiệpđại học và trên đại học, trong đó có khoảng 31 người được công nhận kiểm toán viên cấpquốc gia. Bản lĩnh nghề nghiệp, hiệu quả trong công việc và sự thiện chí của nhân viên trongquá trình phục vụ khách hàng luôn được khách hàng đánh giá cao, góp phần tạo ra mốiquan hệ hợp tác tốt đẹp và bền vững giữa AAC và khách hàng. 2.1.4.1. Sơ đồ tổ chức của công ty Kiểm toán và kế toán AAC Cơ cấu tổ chức toàn công ty được mô tả như ở sơ đồ 2.1.  Tổng giám đốc: - Là người đại diện toàn quyền của công ty, chịu trách nhiệm Pháp luật về toànbộ hoạt động của công ty. - Đánh giá rủi ro của hợp đồng kiểm toán liên quan đến hoạt động của công ty. - Duy trì mối quan hệ với các cán bộ cao cấp của công ty. - Chịu trách nhiệm giải đáp các thắc mắc về kế toán và kiểm toán có tầm quantrọng cao. - Chịu trách nhiệm đánh giá công việc kiểm toán đã được thực hiện. - Chịu trách nhiệm ký Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý. - Chịu trách nhiệm tham gia buổi họp với khách hàng sau khi kết thúc cuộckiểm toán hoặc ủy quyền lại.luanvan84@gmail.com 25 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 26. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TGĐ KHỐI PHÓ TGĐ KHỔI KIỂM TOÁN KIỂM TOÁN KHỐI PHÒNG PHÒNG KHỔI CN TP. KẾ KIỂM TƯ VẤN KIỂM HỒ CHÍ TOÁN TOÁN ĐÀO TOÁN MINH HÀNH XDCB TẠO BCTC CHÍNH Ban Phòng Phòng Ban Phòng Phòng Phòng Phòng kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm soát toán toán soát toán toán toán toán chất XDCB XDCB chất BCTC BCTC BCTC BCTClượng 1 2 lượng 1 2 3 4 Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức toàn công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Chú thích: XDCB: Xây dựng cơ bản.  Phó Tổng Giám đốc: - Được phân công ủy quyền giải quyết cụ thể các vấn đề liên quan đến nhân sự, hành chính, khách hàng và các vấn đề về nghiệp vụ. - Chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và Pháp luật về những vấn đề được phân công và ủy quyền. - Giải quyết những vấn đề liên quan đến chuyên môn của mình.  Kế toán trưởng: Là người giúp Tổng giám đốc tổ chức thực hiện công tác kế toán, thống kê tài chính và kiểm toán nội bộ. 2.1.4.2. Cơ cấu tổ chức phòng Kiểm toán BCTC Phòng Kiểm toán BCTC có cơ cấu tổ chức được thể hiện ở sơ đồ 2.2. luanvan84@gmail.com 26 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 27. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Kieåm toaùn vieân ñieàu haønh (Trưởng phòng) Kieåm toaùn vieân Kieåm toaùn vieân Kieåm toaùn vieân chính chính chính Trôï lyù Kieåm toaùn Trôï lyù Kieåm toaùn Trôï lyù Kieåm toaùn (Auditor Assistant) (Auditor Assistant) (Auditor Assistant) Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức phòng kiểm toán BCTC  Trưởng, phó phòng: -Trưởng Phòng chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực hoạt động của công ty. Trưởng Phòng giữ vai trò lãnh đạo trong ban quản lý của công ty, họ có chức năng như một cầu nối giữa Tổng giám đốc, ban quản lý và các nhân viên trong công ty, chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến nhân sự, phối hợp hoạt động và đảm nhận các vấn đề về công việc hành chính. -Phó Phòng là người tham mưu trực tiếp cho Trưởng Phòng, thay mặt Trưởng Phòng điều hành toàn bộ công việc trong thời gian Trưởng Phòng đi vắng và thực hiện các công việc do Trưởng Phòng uỷ quyền.  Kiểm toán viên chính: - Giám sát công việc của các trợ lý. - Báo cáo trực tiếp với người quản lý phụ trách một vụ việc kiểm toán. - Xem xét giấy tờ làm việc sơ bộ, hỗ trợ đào tạo nhân viên, sắp xếp nhân sự cho các cuộc kiểm toán. - Được ký vào các báo cáo kiểm toán theo sự phân công của trưởng phòng.  Trợ lý kiểm toán viên: Là những người tham gia thực hiện công tác kiểm toán nhưng chưa được Nhànước công nhận trúng tuyển kỳ thi KTV cấp Quốc gia. Tùy vào năng lực thâm niêncông tác mà trợ lý KTV chia làm ba cấp:luanvan84@gmail.com 27 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 28. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính -Trợ lý KTV cấp 1: Là người sau thời gian thử việc ba tháng, được trúng tuyển chính thức vào công ty cho đến một năm sau đó. Theo thông lệ, những người mới tốt nghiệp các trường các trường kinh doanh, các trường đại học và những người có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực kiểm toán và kế toán có thể làm việc cho công ty với tư cách là một trợ lý mới vào nghề. -Trợ lý KTV cấp 2: Là người làm việc ở công ty kiểm toán được hai năm chịu trách nhiệm về các công việc mà nhóm trưởng giao phó. -Trợ lý KTV cấp 3: Là người làm việc ở công ty được ba năm, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và có thể làm trưởng đoàn kiểm toán. 2.1.5. Tình hình hoạt động của công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC qua hai năm 2009 và 2010 2.1.5.1. Tình hình lao động Tình hình lao động của AAC qua hai năm 2009 và 2010 được thể hiện tóm tắt trong bảng 2.1. Bảng 2.1: Tình hình lao động của AAC qua hai năm 2009 và 2010 Năm 2010 Năm 2009 Biến động Tỷ TỷChỉ tiêu Số Số Tỷ lệ lệ +/- lệ người người (%) (%) (%)Tổng số nhân viên đến ngày 31/12 132 100 102 100 30 291. Nhân viên chuyên nghiệp 122 92 92 90 17 331.1. Số người có chứng chỉ KTV Việt Nam 31 23 26 25 9 191.2. Số người chưa có chứng chỉ KTV Việt Nam 91 69 66 65 11 382. Nhân viên khác 10 8 10 10 0 0 Nguồn: Số liệu thu thập từ Phòng Kế toán, AAC Số lượng nhân viên của tăng lên 30 người (tương đương 29%) và đều là nhân viên chuyên nghiệp, số lượng KTV cũng tăng đáng kể (tăng 19%) chứng tỏ công ty đang ưu tiên chính sách tuyển dụng nhân viên có năng lực để mở rộng quy mô và chất lượng đội ngũ. 2.1.5.2. Tình hình nguồn vốn Tình hình nguồn vốn của AAC qua hai năm 2009 và 2010 được thể hiện tóm tắt trong bảng 2.2. Bảng 2.2: Tình hình nguồn vốn của AAC qua hai năm 2009 và 2010 Đơn vị tính: Triệu VNĐ luanvan84@gmail.com 28 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 29. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Biến độngChỉ tiêu Năm 2010 Năm 2009 Tỷ lệ +/- (%)1. Tổng số vốn điều lệ (ghi trên đăng ký kinh 7.000 7.000 0 0doanh)2. Tổng số vốn kinh doanh (vốn chủ sở hữu) thực 7.882 7.080 802 11,3tế Nguồn: Số liệu thu thập từ Phòng Kế toán, AAC Vốn kinh doanh thực tế của AAC tăng lên 11,3% chứng tỏ sự mở rộng về quymô, gia tăng sự cạnh tranh trên thị trường của AAC.2.1.5.3. Kết quả kinh doanh Tình hình kinh doanh của AAC qua hai năm 2009 và 2010 được thể hiện tómtắt trong bảng 2.3 sau:Bảng 2.3: Tình hình kinh doanh của AAC qua hai năm 2008 và 2009 Đơn vị tính: Triệu VND Biến động Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2009 Tỷ lệ +/- (%) 1. Tổng doanh thu (theo báo cáo kê khai 30.294 24.738 5.556 22% thuế) 2. Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh 2.403 2.294 109 5% nghiệp 3. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (%) 8% 9% -1% -11% 4. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (%) 34% 33% 1% 3% Nguồn: Số liệu thu thập từ Phòng Kế toán, AAC Nhờ việc mở rộng quy mô cả về vốn và nhân lực nên thị trường của AAC mởrộng, doanh thu tăng lên đến 22% đồng thời với việc cắt giảm chi phí nên lợi nhuậnsau thuế tăng 5%. Các con số tỷ suất lợi nhuận đều đem lại cái nhìn lạc quan chotương lại của AAC. 2.2.2 Thực tế vận dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong quá trìnhkiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện Trong chu trình kiểm toán báo cáo tài chính do công ty AAC thực hiện, các thủ tụckiểm toán được thực hiện từ khâu kiểm tra các hoạt động kiểm soát, sau đó sẽ tiếnhành các thủ tục phân tích, và cuối cùng là thực hiện kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ vàsố dư các tài khoản. Để thu thập được bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị, KTVcần vận dụng linh hoạt các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán. Việc áp dụng kỹluanvan84@gmail.com 29 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 30. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhthuật như thế nào được quy định trong Chương trình kiểm toán chi tiết, KTV dựa vàođó để thực hiện công việc của mình. Các kỹ thuật thu thập bằng chứng thường đượccông ty thực hiện trong suốt quá trình kiểm toán bao gồm: Kiểm tra đối chiếu, Quansát, Điều tra - Phỏng vấn, Xác nhận, Tính toán, Thủ tục phân tích. Sau giai đoạn tiền kế hoạch nhằm tiếp cận với khách hàng, thu thập nhữngthông tin cần thiết nhằm giúp cho họ hiểu về nhu cầu của khách hàng, đánh giá khảnăng phục vụ... để từ đó hai bên ký hợp đồng kiểm toán hoặc thư cam kết kiểmtoán, KTV bắt đầu sử dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong quytrình của cuộc kiểm toán báo cáo tài chính.2.2.2.1. Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên trong quy trình kiểm toán báo cáotài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AAC. Việc lập kế hoạch kiểm toángiúp cho kiểm toán viên có định hướng ban đầu về lượng bằng chứng kiểm toán cầnphải thu thập để đảm bảo tính đầy đủ và tính hợp lý của bằng chứng kiểm toán. Từ đókiểm toán viên có thể đưa ra những ý kiến xác đáng trên báo cáo tài chính của mình. Trong giai đoạn lập kế hoạch, các phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứngkiểm toán được kiểm toán viên của AAC vận dụng trong: -Thu thập thông tin cơ sở, thông tin về nghĩa vụ pháp lý. -Đánh giá chung về hệ thống kiểm soát nội bộ. -Phân tích số liệu. Bài viết trình bày việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toántrong giai đoạn này đối với khách hàng của AAC là công ty cổ phần đường ABC. A, Thu thập thông tin cơ sở, thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng. A.1 Cập nhật thông tin từ những năm trước AAC rất coi trọng việc thu thập thông tin cơ sơ, thông tin về nghĩa vụ pháp lý làquan trọng vì nó đem lại cho kiểm toán viên sự hiểu biết về đặc điểm khách hàng, hoạtđộng kinh doanh, cơ cấu bộ máy tổ chức và quản lý, nghĩa vụ pháp lý của khách hàng.Đối với các khách hàng thường niên, tất cả các thông tin này được lưu trong hồ sơkiểm toán thường niên tại Công ty, nên việc đầu tiên kiểm toán viên cần làm là cậpnhập thông tin.luanvan84@gmail.com 30 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 31. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Công ty ABC là khách hàng cũ nên kiểm toán viên dễ dàng có được nhữngthông tin cơ sở qua xem xét hồ sơ kiểm toán thường niên của công ty này. Nhữngthông tin kiểm toán viên thu thập được như sau: Công ty cổ phần ABC được thành lập theo hình thức chuyển thể từ Công ty nhànước thành công ty Cổ phần theo quyết định số 1459/QĐ-BNN-ĐMDN ngày 12 tháng05 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được tổ chức vàhoạt động theo luật Doanh nghiệp ngày 29/11/2005. •Ngành nghề kinh doanh của Công ty: -Sản xuất kinh doanh đường RS, đường thô, rỉ đường và các sản phẩm sauđường. -Sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp, nông sản. -Sản xuất kinh doanh bao bì, điện thương phẩm. -Xây dựng, sản xuất, lắp đặt máy móc thiết bị, gia công chế tạo các sản phẩmcơ khí phục vụ các ngành sản xuất và dân dụng Khi cần thiết, Công ty có thể bổ sung, thay đổi hoặc thu hẹp ngành nghề kinhdoanh và được đại hội đồng cổ đông thông qua. •Nguyên tắc tổ chức và quản lý điều hành của công ty -Công ty hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và tôn trọngpháp luật. -Cơ quan quyết định cao nhất là Đại hội đồng cổ đông. -Đại hội cổ đông bầu ra Hội đồng quản trị (HĐQT) để quản trị kinh doanhCông ty, và bầu Ban kiểm soát để kiểm soát mọi hoạt động của công ty. Điều hành hoạt động của công ty là Tổng giám đốc do HĐQT bổ nhiệm. A.2 Điều tra-phỏng vấn Nhóm kiểm toán có buổi gặp gỡ, phỏng vấn với Ban Giám đốc khách hàng đểthu thập thông tin về khách hàng, kiểm tra xem những đặc điểm khách hàng kỳ này cóthay đổi so với kỳ trước không. Để cho cuộc phỏng vấn có chất lượng, kiểm toán viênphải tạo không khí thân mật, chú ý lắng nghe câu trả lời, nên đưa ra những câu hỏi mở.Đối với công ty ABC, sau cuộc phỏng vấn, kiểm toán viên nhận thấy đặc điểm củacông ty không thay đổi so với nắm trước. A.3 Kiểm tra tài liệuluanvan84@gmail.com 31 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 32. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Trong cuộc phỏng vấn, kiểm toán viên cũng yêu cầu Ban Giám đốc Công tykhách hàng cung cấp Giấy phép thành lập và điều lệ Công ty (chỉ đối với khách hàngmới), các Bảng khai tài chính gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính và Báo cáo củaBan Giám đốc cam kết trách nhiệm trong việc chuẩn bị các bảng khai tài chính trìnhbày trung thực, hợp lý. Đây chính là những bằng chứng quan trọng mà kiểm toán viêncần phải thu thập. Nói chung, việc thu thập kiểu mẫu tài liệu chứng minh tương đốithuận lợi do tài liệu có sẵn, chi phí để thu thập bằng chứng kiểm toán cũng thấp hơncác phương pháp khác. B. Đánh giá chung về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng Khi đã có những hiểu biết sơ bộ về thông tin cơ sở và thông tin về nghĩa vụpháp lý của khách hàng, nhóm kiểm toán tiếp tục đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộcủa khách hàng trên cả ba phương diện: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và cáchoạt động kiểm soát. Trong bước này, nhóm kiểm toán trực tiếp phỏng vấn Ban giámđốc, bộ phận kế toán và quan sát phong cách làm việc của Ban giám đốc và các nhânviên trong Công ty, đặc biệt là nhân viên phòng kế toán. Dựa vào hiểu biết của kiểm toán viên: Tại AAC, khi kiểm toán cho kháchhàng thường niên, nhóm kiểm toán luôn có những kiểm toán viên đã tiến hành kiểmtoán cho khách hàng kỳ trước. Việc dựa vào kinh nghiệm kiểm toán từ các cuộc kiểmtoán từ các cuộc kiểm toán trước, họ sẽ nhanh chóng thu được nhiều thông tin về hệthống kiểm soát nội bộ của khách hàng. Những hiểu biết của kiểm toán viên về hệ thống kiểm soát nội bộ của Công tyABC: -Tại Công ty, có sự phân công công việc rõ ràng giữa các cán bộ, công nhânviên, Giám đốc ủy quyền thường xuyên cho các Phó giám đốc trong việc quyết địnhmột số lĩnh vực mà họ phụ trách. -Phòng tài chính kế toán có 8 người: 01 kế toán trưởng, 01 kế toán tổng hợp, 05kế toán chi tiết, 01 thủ quỹ. Tất cả đều có trình độ từ Cao đẳng, Đại học trở lên. -Sổ kế toán và các chứng từ kế toán được thiết lập trên hệ thống máy tính, sổ rõràng, sạch sẽ, dễ đọc, dễ hiểu. Tại thời điểm kiểm toán, sổ kế toán và chứng từ đã insẵn, đóng thành từng tập, từng quyển, đáp ứng công tác lưu giữ hồ sơ, chứng từ kếtoán.luanvan84@gmail.com 32 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 33. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính -Công ty áp dụng chế độ kế toán Việt Nam theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính Ban hành ngày 20/03/2006. -Hình thức hạch toán kế toán: Nhật kí chứng từ. -Niên độ kế toán: theo năm dương lịch. Phỏng vấn Phỏng vấn là kỹ thuật thường xuyên được áp dụng để thu thập bằng chứng kiểmtoán. Phỏng vấn giúp kiểm toán viên nắm bắt được những thay đổi trong hệ thốngkiểm soát nội bộ của khách hàng thưởng niên như Công ty ABC. Tại công ty ABC,kiểm toán viên đánh giá là các chính sách và thủ tục của hệ thống kiểm soát nội bộ vềcơ bản không thay đổi so với những thông tin mà kiểm toán viên đã biết qua các cuộckiểm toán năm trước theo sự hiểu biết của kiểm toán viên đã đề cập ở trên. Kiểm tra tài liệu Kiểm toán viên thu thập các tài liệu liên quan đến việc thiết kế và thực hiệnkiểm soát nội bộ, ở công ty ABC, kiểm toán viên thu được những tài liệu sau đây: -Quy chế quản lý tài chính năm 2010. -Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2010. -Điều lệ tổ chức và hoạt động công ty. -Quyết định của hội đồng quản trị về đơn giá tiền lương. -Giấy phép đầu tư. Các tài liệu này được lưu trong hồ sơ thường trực. Quan sát Kiểm toán viên quan sát các hoạt động trong đơn vị khách hàng để đánh giáviệc thực hiện các thủ tục kiểm soát, mức độ trung thực trong các thông tin mà nhữngngười được phỏng vấn cung cấp. Tại công ty ABC, kiểm toán viên đánh giá Ban giám đốc nghiêm túc trong côngviệc, giàu tinh thần trách nhiệm, có kinh nghiệm, các nhân viên trong công ty sẵn sànglàm thêm giờ, chấp hành tốt nội quy, quy chế Công ty đề ra về giờ giấc, an toàn laođộng, nhân viên phòng kế toán có năng lực, đáp ứng được yêu cầu của công tác quảnlý tài chính, được phân công công việc rõ ràng và đảm bảo nguyên tắc bất kiêm nhiệm,công việc của kế toán chi tiết thường xuyên được kế toán trưởng và kế toán tổng hợpkiểm tra chặt chẽ. C. Phân tích số liệu:luanvan84@gmail.com 33 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 34. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Trong bước này, kiểm toán viên của AAC sử dụng thủ tục phân tích với một sốdữ liệu trên bảng cân đối kế toán (CĐKT), báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh(BCKQHĐKD). Thực hiện các thủ tục phân tích sẽ cung cấp cho kiểm toán viênnhững bằng chứng về tính hợp lý, thay đổi bất thường, tính liên tục hoạt động, tìnhhinh kinh doanh của khách hàng. Thực tế trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán doAAC thực hiện tại công ty ABC, kiểm toán viên dựa vào báo cáo tài chính năm hiệnhành và báo cáo tài chính các năm trước để so sánh xem có sự biến động lớn nào ở cácchỉ tiêu trên đó qua các năm không. Đồng thời, kết hợp với sử dụng các bằng chứngthu thập được từ việc thực hiện các kỹ thuật khác như: Bản tìm hiểu về khách hàng,các tài liệu quan trọng liên quan đến đơn vị… để có thể đưa ra các ý kiến mang tínhxét đoán cá nhân của kiểm toán viên về những biến động bất thường và mức rủi ro vốncó của các khoản mục trên báo cáo tài chính. Sau khi lập ra bảng phân tích, kết quảphân tích thường chỉ được kiểm toán viên ngầm hiểu chứ ít khi ghi ra trên giấy làmviệc của mình:BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN Chênh lệch Năm nay Năm trước Tuyệt đối % NoteTÀI SẢNA-TÀI SẢN NGẮN HẠN 91.203.514.395 78.680.654.123 11.522.860.270I. Tiền & TĐT 43.325.728.859 32.662.933.913 10.662.794.946 33% {a}1. Tiền mặt 353.390 23.701.325 -23.347.935 -99%2. Tiền gửi Ngân hàng 2.325.375.469 7.639.232.588 -5.313.857.119 -70%3. Các khoản tương đương tiền 41.000.000.000 25.000.000.000 16.000.000.000 64%II. Các khoản đầu tư tài 1.000.000.000 1.000.000.000 0chính ngắn hạn1. Đầu tư ngắn hạn 1.000.000.000 1.000.000.000 0III. Các khoản phải thu ngắn 10.826.270.402 15.617.084.368 -4.790.813.960 -31%hạn1. Phải thu khách hàng. 91.200.000 0 91.200.000 100%2. Trả trước cho người bán 12.031.172.001 16.455.265.338 -4.424.093.337 -27%5. Các khoản phải thu khác 523.454.135 1.270.697.465 -747.243.330 -59%6. Dự phòng phải thu ngắn hạn -1.819.555.734 -2.108.878.435 289.322.701 -14%khó đòiIV. Hàng tồn kho 35.762.962.779 29.225.841.565 6.537.121.2141. Hàng tồn kho 35.762.962.779 29.225.841.565 6.537.121.214 22%V. Tài sản ngắn hạn khác 288.552.355 174.794.2773. Thuế và các khoản khác phải 35.223.997 -35.223.997thu Nhà nước5. Tài sản ngắn hạn khác 288.552.355 139.570.280 148.982.075 107%B. TÀI SẢN DÀI HẠN 18.688.211.253 18.726.044.449 37.833.190II. Tài sản cố định 16.676.540.109 15.468.633.6091. Tài sản cố định hữu hình 12.401.814.943 14.937.534.011 -2.535.719.068 -17%- Nguyên giá 116.781.692.940 116.279.965.759- Giá trị hao mòn lũy kế -104.379.877.99 -101.342.431.74luanvan84@gmail.com 34 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 35. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính 7 8 9943 1.189.589.062 11.845.312 1.177.743.7503. Tài sản cố định vô hình % {b}Nguyên giá 1.198.050.000 18.050.000Giá trị hao mòn lũy kế -8.460.938 -6.204.6884. Chi phí XDCB dở dang 3.085.136.104 519.254.286 2.565.881.818 494% {C}V. Tài sản dài hạn khác 2.011.671.144 3.257.410.8401. Chi phí trả trước dài hạn 2.011.671.144 3.257.410.840 -1.245.739.696 -38%TỔNG CỘNG TÀI SẢN 109.891.725.648 97.406.698.572NGUỒN VỐNA-NỢ PHẢI TRẢ 41.649.191.158 55.945.715.779I. Nợ ngắn hạn 32.297.367.356 36.329.654.2911. Vay và nợ ngắn hạn 1.425.000.000 14.885.796.417 13.460.796.417 90% {d}2. Phải trả người bán 11.590.667.573 10.296.730.606 1.293.936.967 13%3. Người mua trả tiền trước 77.867.900 480.718.680 -402.850.780 -84%4. Thuế và khoản phải nộp nhà 10.930.822.252 4.263.597.946 6.667.224.306 156%nước5. Phải trả người lao động 810.078.053 922.746.909 -112.668.856 -12%6. Chi phí phải trả 2.887.309.232 2.745.466.176 141.843.056 5%9. Các khoản phải trả, phải nộp 1.470.688.419 1.334.713.356 135.975.063 10%ngắn hạn khácII. Nợ dài hạn 9.351.823.802 19.616.061.4884. Vay và nợ dài hạn 9.826.000.000 19.561.000.000 -9.735.000.000 -99%6. Dự phòng trợ cấp mất việc 65.823.802 55.061.488 10.762.314 20%làmB-VỐN CHỦ SỞ HỮU 68.242.534.490 41.460.982.793 26.781.551.700I. Vốn chủ sở hữu 68.242.446.308 41.460.982.793 26.781.463.5101. Vốn đầu tư của chủ sở hữu 30.000.000.000 30.000.000.000 0 0%2. Thặng dư vốn cổ phần 2.609.812.512 3.392.000.000 -782.187.488 -23%3.Quỹ đầu tư phát triển 6.195.877.827 2.844.361.049 3.351.516.778 118%8. Quỹ dự phòng tài chính 2.423.200.493 747.442.104 1.675.758.389 224%10. Lợi nhuận sau thuế chưa 27.013.555.476 4.477.179.640 22.536.375.836 503%phân phối {e}II. Nguồn kinh phí và quỹkhác 88.182TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN 109.891.725.648 97.406.698.572BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Chênh lệchCHỈ TIÊU Năm nay Năm trước Tuyệt đối % Note1. Doanh thu bán hàng và cung 45.874.146.20cấp dịch vụ 154.422.268.509 108.548.122.303 6 42%2. Các khoản giảm trừ doanh thu3. Doanh thu thuần về bán hàng 45.874.146.20và cung cấp dịch vụ 154.422.268.509 108.548.122.303 6 42% 17.966.827.064. Giá vốn hàng bán 102.653.937.840 84.687.110.772 8 21%5. Lợi nhuận gộp về bán hàng 27.907.319.13và cung cấp dịch vụ 51.768.330.669 23.861.011.531 8 117% {f}6. Doanh thu từ hoạt động tàichính. 3.232.197.507 1.609.806.728 1.622.390.779 101%7. Chi phí tài chính. 1.757.929.745 2.045.829.250 -287.899.505 -14%- Trong đó: Chi phí lãi vay 1.757.929.745 2.045.829.250 -287.899.505 -14%8. Chi phí bán hàng 870.600.577 447.983.892 422.616.685 94% {g}luanvan84@gmail.com 35 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 36. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính9. Chi phí quản lý doanh nghiệp 7.576.299.457 8.077.829.463 -501.530.006 -6%10. Lợi nhuận thuần từ hoạt 29.896.522.74động kinh doanh. 44.795.698.397 14.899.175.654 3 201%11. Thu nhập khác 195.228.141 33.553.749 161.674.392 482%12. Chi phí khác 228.211.344 126.800.000 101.411.344 80%13. Lợi nhuận khác -32.983.203 -93.246.251 60.263.048 -65%14. Tổng lợi nhuận kế toán 29.956.785.79trước thuế 44.762.715.194 14.805.929.403 1 202%15. Chi phí thuế TNDN hiện hành 11.247.547.413 2.613.227.646 8.634.319.767 330%16. Chi phí thuế TNDN hoãn lại 21.322.466.0217. Lợi nhuận sau thuế TNDN. 33.515.167.781 12.192.701.757 4 175% Bảng 2.5 Bảng phân tích bảng CĐKT và BCKQHĐKD{a} Chỉ tiêu tiền và tương đương tiền tăng đáng kể so với thời điểm đầu năm (33%).Nguyên nhân là do tuy lượng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng giảm đáng kể so với thờiđiểm đầu năm (99% và 70%), nhưng các khoản tương đương tiền vốn chiếm tỉ trọnglớn tăng đáng kể (64%). KTV kiểm tra thấy khoản tương đương tiền đó là khoản tiềngửi có kỳ hạn, cho thấy khoản tiền nhàn rỗi của công ty đang tăng. Tiền mặt tồn quỹtrong công ty luôn ở mức thấp, như vậy sẽ đảm bảo tránh rủi ro cho khoản mục này.{b} Tài sản cố định vô hình có sự gia tăng đột biến, cần tìm hiểu xem công ty đầu tưcho tài sản nào, có phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh không? Sau khi phỏngvấn kế toán trưởng, KTV nhận được câu trả lời là công ty đầu tư thuê thêm diện tíchđất dài hạn của nhà nước nhằm mục đích mở rộng nhà xưởng, phục vụ sản xuất kinhdoanh.{c} Chi phí xây dựng cơ bản dở dang tăng đáng kế do đơn vị đang trong giai đoạn mởrộng quy mô sản xuất, cần kiểm tra kỹ khoản mục này.{d} Vay và nợ ngắn hạn giảm đáng kể so với năm ngoái (90% tương ứng với mứcgiảm 13.460.796.417 VNĐ) tỷ trọng vay ngắn hạn trong cơ cấu nguồn vốn cũng giảmđáng kể. Như vậy, chính sách tín dụng của đơn vị là đạt hiệu quả.{e} Lợi nhuận lũy kế tại thời điểm cuối năm lãi tăng đột biến so với năm trước, tăng22.536.375.836 VNĐ tương ứng 503% với năm ngoái. Cần xem xét các nhân tố làmtăng lợi nhuận trong năm.{f} Tỷ lệ lãi gộp tăng đột biến, tăng 27.907.319.138 VNĐ tương ứng 117%. Quan sátdoanh thu và giá vốn ta thấy mức tăng doanh thu (42%) lớn hơn mức tăng giá vốn(21%), điều này cho thấy mức tăng của lãi gộp có thể hợp lý. Tuy nhiên, KTV cũngluanvan84@gmail.com 36 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 37. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhcần kiểm tra việc ghi nhận doanh thu, giá vốn của đơn vị có đúng kỳ hay không, sửdụng kỹ thuật cut-off để tìm hiểu nguyên nhân.{g} Chi phí bán hàng tăng đột biến, tăng gần gấp đôi (94%) trong khi doanh thu khôngtăng lên tương ứng (chỉ tăng 42%). Cần xem xét chính sách bán hàng, khuyến mãi củađơn vị.2.2.2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toánthích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán. Từ đókiểm toán viên sẽ đưa ra những ý kiến xác thực về mức độ trung thực và hợp lý củabảng khai tài chính trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và đáng tin cậy.Đối với công ty AAC, thực hiện kiểm toán là quá trình thực hiện chương trình kiểmtoán các khoản mục đã được đề ra trong bước chuẩn bị kiểm toán. Cụ thể, nhóm kiểmtoán sẽ thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy, sau đó sẽ xử lý chúng theotừng khoản mục trên báo cáo tài chính. Ví dụ về các khoản mục như: khoản mục vốnbằng tiền, hàng tồn kho, tài sản cố định, doanh thu, giá vốn hàng bán. Kiểm toán viênsẽ xác định kiểm toán những khoản mục nào và khoản mục nào cần phải tập trungphân tích, và thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung. Do trong giai đoạn này, việc thu thập bằng chứng kiểm toán được các KTV củaAAC thực hiện theo từng khoản mục, cho nên trong đề tài này, tôi chọn 2 khoản mụcđể tập trung phân tích, đó là: Khoản mục doanh thu và khoản mục HTK, việc áp dụngđược tiến hành tại khách hàng là Công ty cổ phần đường ABC. Lý do tôi chọn 2 khoảnmục này là do đây là 2 khoản mục trọng yếu đối với hầu hết các doanh nghiệp, là côngcụ để các doanh nghiệp điều chỉnh lợi nhuận theo mong muốn của mình, đồng thời làcác khoản mục nhạy cảm với gian lận và sai sót. Vì vậy nghiên cứu các phương phápthu thập bằng chứng kiểm toán được áp dụng trong 2 khoản mục này được đánh giá làquan trọng và có nhiều ý nghĩa thực tiễn. Các mục tiêu kiểm toán cần đạt được có thể được viết tắt như sau: - Sự đầy đủ: Completeness (C) - Sự tồn tại và phát sinh: Exist and Occurrence (E) - Sự chính xác: Accuracy (A) - Sự đánh giá và phân bổ: Valuation and Allocation (V)luanvan84@gmail.com 37 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 38. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính - Quyền và nghĩa vụ: Obligation and Right (O) - Sự trình bày và công bố: Presentation and Disclose (P)A. Thu thập bằng chứng kiểm toán với khoản mục Hàng tồn kho Đối với hầu hết các doanh nghiệp, khoản mục HTK là khoản mục trọng yếu doHTK thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp, đặc biệt quantrọng đối với các nhà quản trị doanh nghiệp và nhà đầu tư bên ngoài. Mục tiêu củakiểm toán khoản mục Hàng tồn kho là để xác định:1. Tất cả những hàng tồn kho thuộc sở hữu của doanh nghiệp tại ngày lập bảng cân đối kế toán được xác định rõ để tính giá phí, đánh giá và cộng dồn (C).2. Tất cả những hàng tồn kho được xác định, đo lường, tính giá và cộng dồn một cách chính xác (A, V). Giá trị của hàng tồn kho được tính toán chính xác theo một trong các phương pháp kế toán nhất quán (đích danh, bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước). Phương pháp hạch toán hàng tồn kho là đồng nhất (kiểm kê định kỳ, kê khai thường xuyên). Số liệu hàng tồn kho trên các báo cáo tài chính phải khớp đúng với sổ sách kế toán.3. Số liệu hàng tồn kho phản ánh trên các sổ sách kế toán chỉ bao gồm những hàng tồn kho tồn tại dưới hình thái vật chất hoặc sản phẩm dở dang (E).4. Mọi biến động về hàng tồn kho (xuất, nhập, tồn) đến ngày lập bảng cân đối kế toán được phản ánh trên các báo cáo tài chính hay nói cách khác chia cắt niên độ phải được thực hiện một cách chính xác (C, E, A).5. Tất cả những hàng tồn kho chậm luân chuyển, hư hỏng hay lạc hậu được xác định đúng đắn và được so sánh với giá trị có thể thực hiện thuần ước tính và được ghi giảm khi cần thiết. Tồn kho phải được phản ánh theo mức giá thấp hơn giá thị trường và giá phí (V).6. Các khoản dự phòng giảm giá cần thiết được hạch toán (V, P).7. Khách hàng chịu trách nhiệm đối với mọi rủi ro chủ yếu và có quyền đối với lợi ích chủ yếu phát sinh do quyền sở hữu hàng tồn kho đem lại (V).8. Hàng tồn kho được phân loại, mô tả và trình bày hợp lý trên các báo cáo tài chính (P).luanvan84@gmail.com 38 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 39. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Để đạt được các mục tiêu kiểm toán trên, các kiểm toán viên của công ty AAC đãáp dụng các phương pháp thu thu thập bằng chứng kiểm toán như sau:A.1 Kiểm tra Công ty AAC sử dụng kỹ thuật kiểm tra gần như là nhiều nhất so với các kỹ thuậtkhác. Như đã trình bày ở trên, kiểm tra bao gồm kiểm tra vật chất (kiểm kê ) và kiểmtra tài liệu.A.1.1 Kiểm tra vật chất (kiểm kê) Thông thường, để tiết kiệm thời gian, kiểm kê được công ty khách hàng thựchiện trước khi bắt đầu cuộc kiểm toán và có sự chứng kiến của KTV từ AAC. Chính vìvậy, khi tiến hành kiểm toán các tài khoản cần áp dụng kỹ thuật kiểm kê, KTV chỉ cầnsử dụng lại biên bản kiểm kê đã được lập trước đó như một bằng chứng đầy đủ hiệulực. Lấy việc kiểm toán tài khoản Hàng tồn kho tại công ty A làm ví dụ. Cuộc kiểmtoán tại A chính thức bắt đầu từ ngày14/2/2011, nhưng trước đó, vào ngày 28/12/2010,KTV đã được công ty mời chứng kiến kiểm kê hàng tồn kho và lập biên bản. Kết quảnhư sau: Bảng 2.4: phiếu chứng kiến kiểm kê HTKCÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC D532Tên khách hàng: Công ty Cổ phần đường Kon Tum Tên Ngày Người lập CTNgày khóa sổ: 27/12/2010 Người soát xét 1 Người soát xét 2Nội dung: PHIẾU CHỨNG KIẾN KIỂM KÊ HÀNGTỒN KHOTên kho hàng: Kho hóa chất, kho phân bón, kho công cụ, kho nguyên liệu, kho thànhphẩmĐịa điểm: Công ty Cổ phần đường Kon TumThời điểm kiểm kê: 28/12/2010Chủng loại vật tư, hàng hóa: Nguyên vật liệu, Công cụ dụng cụ, Thành phẩm, Sảnphẩm dở dang, Hàng hóa Stt Tên hàng hóa, vật Mã số Đvt Số liệu Số liệu Chênh Ghi chú tư đếm theo sổ lệchluanvan84@gmail.com 39 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 40. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính thực tê sách1. Acid Phosphoric HC0003 Kg 17.620 17.620 (H3PO4) TQ2. Lưu huỳnh vảy HC0010 Kg 126.150 126.150 99,5%3. Vôi cục HC0064 Kg 61.050 61.0504. Lưới ly tâm A XZ CC0485 Bộ 7 7 -1200B-0,6mm (8tấm/bộ)5. Bạc đồng Cusine CC1851 Cái 3 3 trục ép (đồng đỏ)6. Phân NPK Việt NPK Kg 72.200 72.200 Nhật7. Đường RS D001 Kg 2.098.40 2.050.40 48.000 Là số lượng đường nhập 0 0 kho từ 0h đến 10hh ngày 28/12/20108. Mỡ PLC Grease NL0030 Kg 2.340 2.340 LM2 (180kg/phuy)Xác nhận của khách hàng Trợ lý KTV Cần lưu ý rằng kiểm kê tài sản là nhiệm vụ của đơn vị, kiểm toán viên chỉ thamgia chứng kiến kiểm kê do đó không cần phải tham gia kiểm kê tất cả các loại tài sảnmà chỉ cần quan sát quy trình kiểm kê của đơn vị đã hợp lý chưa, có dễ dẫn đến saisót, gian lận không. Nếu xét thấy quy trình kiểm kê của đơn vị được thực hiện mộtcách khoa học, nghiêm túc KTV chỉ cần lựa chọn ngẫu nhiên một số tài sản trong danhmục để kiểm kê (việc lựa chọn này có thể tuỳ thuộc vào xét đoán chủ quan của KTV).Trên đây là các mặt hàng được KTV của AAC lựa chọn để tham gia kiểm kê tại côngty cổ phần đường ABC. •Đối với các trường hợp không tham gia chứng kiến kiểm kê tài sản tại thờiđiểm kết thúc năm (do hợp đồng ký sau thời điểm kết thúc năm, khách hàng không gởithư mời kiểm kê): -Nếu là khách hàng cũ, có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt, bộ máy kế toán cókinh nghiệm… kiểm toán viên xét thấy không hoặc ít có rủi ro về gian lận, sai sóttrong quá trình kiểm kê thì có thể chấp nhận các biên bản kiểm kê của đơn vị là mộtluanvan84@gmail.com 40 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 41. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhbằng chứng kiểm toán. Tuy nhiên cũng cần bổ sung các biểu mẫu về chứng kiến kiểmkê để hoàn thiện hồ sơ kiểm toán theo chương trình kiểm toán mẫu của VACPA. -Nếu là khách hàng mới hoặc khách hàng cũ nhưng hệ thống kiểm soát nội bộkhông tốt, kế toán ít kinh nghiệm, kiểm toán viên xét thấy có rủi ro về gian lận, sai sóttrong quá trình kiểm kê thì kiểm toán viên cần đề nghị khách hàng hợp tác để thựchiện các thủ tục kiểm toán thay thế. Tại thời điểm thực hiện kiểm toán, kiểm toán viênyêu cầu kế toán đơn vị in danh mục tài sản cố định, báo cáo nhập xuất tồn, sổ chi tiếttiền mặt sau đó lựa chọn ngẫu nhiên một số tài sản để kiểm kê thực tế sau đó cộng trừlùi để xác định số dư tại thời điểm kết thúc năm. Nếu xảy ra chênh lệch cần phải giảithích nguyên nhân. Đối với các đơn vị không thể thực hiện được thủ tục kiểm toánthay thế cần phải có giấy tờ làm việc để chứng minh nguyên nhân tại sao không thểthực hiện được và phải lưu trong hồ sơ làm việc. Ví dụ: + Nguyên nhân không thực hiện chứng kiến kiểm kê tại thời điểm kết thúc năm Thời điểm kết thúc năm: 31/12/2010 Thời điểm ký hợp đồng kiểm toán: 10/02/2011  Bổ nhiệm làm kiểm toán sau thời điểm kết thúc năm, không thể tham giachứng kiến kiểm kê tại thời điểm 31/12/2010 + Thực hiện thủ tục kiểm toán thay thế - Trao đổi với người có thẩm quyền tại đơn vị (Giám đốc, kế toán trưởng) vềviệc thực hiện chọn mẫu kiểm kê tại thời điểm kiểm toán - Giám đốc đơn vị không đồng ý, đơn vị không tạo điều kiện để kiểm toán viênthực hiện thủ tục kiểm toán thay thế do hoạt động sản xuất của đơn vị đang được thựchiện, vật tư hàng hoá luân chuyển liên tục không thể tạm ngừng để kiểm kê… (nêumột số lí do tại sao không thể thực hiện kiểm kể thay thế). Trên cơ sở giấy làm việc này kiểm toán viên mới có thể ghi ý kiến về việckhông tham gia chứng kiến kiểm kê trên báo cáo kiểm toán.  Chúng tôi không được tham gia chứng kiến kiểm kê tài sản tại thời điểm31/12/2010, vì tại thời điểm đó chúng tôi chưa được bổ nhiệm làm kiểm toán. Hạn chếnày chúng tôi cũng không thể khắc phục được bằng các thủ tục kiểm toán thay thế dohạn chế từ phía Công ty. Do đó, chúng tôi không đưa ra ý kiến về tính hiện hữu củaluanvan84@gmail.com 41 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 42. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhcác khoản mục này cũng như sự ảnh hưởng của chúng đến các khoản mục khác trìnhbày trên báo cáo tài chính.A.1.2 Kiểm tra tài liệu: Phần còn lại của kỹ thuật kiểm tra là kiểm tra tài liệu. Thực tế cho thấy đâychính là kỹ thuật mà các KTV của AAC sử dụng phổ biến nhất. AAC cũng có hai cáchkiểm tra tài liệu: kiểm tra từ chứng từ gốc lên sổ sách và kiểm tra từ sổ sách lên chứngtừ gốc, tuy nhiên cách kiểm tra thứ nhất là thông dụng hơn. Khi bắt đầu kiểm toán mộtcông ty, KTV sẽ yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ các sổ cái, báo cáo tài chính chogiai đoạn được kiểm toán và tất cả các chứng từ có liên quan. Sau khi đã nhận đủ tài liệu cần thiết từ phía khách hàng, đầu tiên, KTV phảikiểm tra số dư đầu kỳ của các tài khoản để đảm bảo rằng đơn vị đã kết chuyển số dưđúng. Một cách chính xác nhất, KTV đối chiếu số dư đầu kỳ của tất cả các tài khoảntrên báo cáo tài chính mà đơn vị vừa đưa với báo cáo kiểm toán của AAC cho kỳ kếtoán liền trước đó của đơn vị. Tuy nhiên, thao tác này chỉ có thể áp dụng trong trườnghợp công ty đang được kiểm toán là khách hàng cũ và đã được kiểm toán trong kỳ kếtoán gần nhất. Nếu AAC bắt đầu kiểm toán một đơn vị lần đầu tiên thì KTV năm naycó thể thu thập bằng chứng kiểm toán về số dư đầu năm bằng cách xem xét hồ sơ kiểmtoán của kiểm toán viên năm trước. Trong trường hợp này, kiểm toán viên năm naycần lưu ý đến năng lực chuyên môn và tính độc lập của kiểm toán viên năm trước. Nếubáo cáo kiểm toán của kiểm toán viên năm trước không chấp nhận toàn phần thì kiểmtoán viên năm nay phải lưu ý đến những nguyên nhân không chấp nhận toàn phần củaý kiến kiểm toán năm trước. Khi báo cáo tài chính năm trước chưa được kiểm toánhoặc đã được kiểm toán nhưng kiểm toán viên năm nay không thoả mãn sau khi đãthực hiện các thủ tục kiểm tra mà không thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toánthích hợp, thì kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung. Sự kết hợp các thủ tục kiểm toán này sẽ cung cấp cho kiểm toán viên đầy đủbằng chứng kiểm toán thích hợp. Công việc này thường được KTV trưởng đoàn thựchiện cùng một lúc cho tất cả các tài khoản và được ghi trên giấy làm việc là “Kiểm trasố dư đầu kỳ” và thể hiện như sau: CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN - AACluanvan84@gmail.com 42 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 43. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhTên khách hàng: Công ty cổ phần đường Người lập Ngày 14/02/2011ABC Kim Văn ViệtChủ đề:......Kiểm tra số dư đầu năm… Người kiểm tra Ngày 14/02/2011…………………..………...................Niên độ:………31/12/201x………..…Phương pháp: Đối chiếu số dư đầu kỳ với số dư cuối kỳ trên báo cáo kiểm toán của kỳkế toán liền trước. Kết luận: Tất cả đều khớp  Đồng ý số liệu đơn vị Sau khi kiểm tra số dư đầu kỳ và khớp đúng, tuỳ theo từng tài khoản đã được phâncông mà mỗi KTV sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra số liệu trên tài khoản của mình. KTVsẽ kiểm tra, đối chiếu số liệu trên sổ cái với bảng cân đối số phát sinh, bảng cân đối kếtoán. Nếu công ty khách hàng có sử dụng bảng kê chứng từ thì để thuận tiện cho việckiểm tra chứng từ sau đó, KTV cũng phải đối chiếu giữa các bảng kê và sổ cái để đảmbảo bảng kê có thể được sử dụng để làm căn cứ để kiểm tra lên chứng từ gốc. Sau đó,KTV tiếp tục kiểm tra chi tiết từng nghiệp vụ. Áp dụng kỹ thuật kiểm tra tài liệu đốivới kiểm toán khoản mục HTK, KTV thực hiện:• Thử nghiệm kiểm soát Trước hết, kết hợp với các kĩ thuật quan sát, phỏng vấn, kiểm toán viên sử dụngkĩ thuật xác minh tài liệu để đánh giá sơ bộ về hệ thống kiểm soát nội bộ của chu trìnhhàng tồn kho. Kiểm toán kiểm tra các tài liệu : các phiếu yêu cầu mua hàng, đơn đặthàng, phiếu yêu cầu sử dụng vật tư/hàng hóa, phiếu vận chuyển hàng hóa, phiếu nhậpkho, phiếu xuất kho và các sổ kế toán về hàng tồn kho và chi phí. Sau khi kiểm tra tàiliệu liên quan đến chu trình hàng tồn kho tại Công ty A , kiểm toán viên đã đưa ra cácđánh giá sau :  Với nghiệp vụ xuất vật tư : Kiểm toán viên kiểm tra các phiếu yêu cầu sửdụng vật tư hàng hóa và phiếu xuất vật tư thấy đạt yêu cầu về nội dung, có đầy đủ chữký phê duyệt. Đồng thời, kiểm toán viên kiểm tra các chứng từ như lệnh sản xuất, đơnđặt hàng, phiếu xuất kho và các sổ chi tiết, sổ tổng hợp thấy sự hợp lý logic, các giá trịkhớp nhau. Hơn nữa, các chứng từ còn lưu dấu vết đối chiếu của nhân viên Công ty A.Các thông tin về xuất vật tư hàng hóa được đánh giá là đáng tin cậy.luanvan84@gmail.com 43 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 44. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính  Với nghiệp vụ sản xuất : Kiểm toán viên kiểm tra các phiếu xin lĩnh vật tư, đơn đặt hàng sản xuất, cácbảng tập hợp chi phí, và các báo cáo kiểm định sản phẩm có đánh số thứ tự và có chữký phê chuẩn. Bên cạnh đó, các chứng từ này còn lưu dấu vết đối chiếu của đơn vị A.Chứng tỏ các nghiệp vụ sản xuất thống nhất các chứng từ gốc xác nhận các nghiệp vụphát sinh trước khi ghi sổ. Mặt khác, kiểm toán viên kiểm tra các báo cáo chênh lệch giữa chi phí nguyênvật liệu, chi phí sản xuất chung thực tế so với định mức, nhận thấy có sự chênh lệchlớn được ghi nhận nhưng không thấy Công ty A giải trình về vấn đề này và không cóbiện pháp xử lý nào. Cụ thể khi kiểm tra định mức tiêu hao sản lượng mía/ 01 tấn đường phục vụ sảnxuất cả năm: - Giá mía + vận chuyển + thu mua : 79.969.094.764 VNĐ -Sản lượng mía xuất trong kỳ : 101.787,87 Tấn -Giá mía bình quân : 785.645 VNĐ/Tấn -Sản lượng đường nhập kho/ năm : 9346,45 Tấn - Tỷ lệ Mía/ Đường thực tế : 10,89 Tấn Mía/01 Tấn đường -Định mức : 10 Tấn Mía/01 Tấn đường - Tiêu hao mía vượt định mức : 0,89 Tấn Mía/01 Tấn đường - Sản lượng Mía vượt định mức : 8.318,34 Tấn -Giá trị vượt định mức : 6.535.262.229 VNĐ Ngoài ra, kiểm toán viên thu thập và kiểm tra tài liệu liên quan đến hệ thống dựbáo doanh thu và hệ thống tài khoản, cũng như các tài liệu liên quan (thuyết minh tàichính) đến việc hạch toán hàng tồn kho để khẳng định chắc chắn hơn những thông tinthu thập từ kĩ thuật phỏng vấn : phương pháp hạch toán là kê khai thường xuyên,phương pháp xác định giá xuất hàng tồn kho là bình quân gia quyền theo từng thánghoặc cả năm.  Với nghiệp vụ lưu kho hàng hóa, vật tư : Kiểm toán viên kiểm tra các phiếu nhập kho, báo cáo giao nhận hàng và các sổchi tiết, tổng hợp, nhận thấy các chứng từ này đầy đủ chữ ký nhận và được đánh số thứluanvan84@gmail.com 44 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 45. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhtự. Hơn nữa, những tài liệu này có những dấu vết đánh dấu thể hiện Công ty đã thựchiện đối chiếu giữa các chứng từ khi thực hiện theo quy trình và ghi nhận vào sổ sách.• Thử nghiệm cơ bản:  Kiểm tra sự khớp đúng giữa biên bản kiểm kê với báo cáo tồn kho tổng hợpvà các sổ sách liên quan: Trước hết, kiểm toán viên tiến hành đối chiếu biên bản kiểm kê với báo cáonhập xuất tồn của Công ty A để xác định số dư hàng tồn kho cuối kỳ có chính xác.Dựa vào biên bản kiểm kê đã được tổng hợp và đối chiếu với bản kiểm kê mẫu củamình, kiểm toán viên đối chiếu với báo cáo hàng tồn kho tháng 12 tại Công ty A. Kết luận: Số dư cuối kỳ HTK khớp đúng giữa biên bản kiểm kê và báo cáo tổnghợp hàng tồn kho. Kiểm tra các đối ứng bất thường Kiểm toán viên kiểm tra bảng cân đối phát sinh, lọc các dữ liệu để kiểm tra cácbút toán phát sinh và xem xét các khoản đối ứng bất thường. Kiểm toán viên nhận thấykhông có bút toán bất thường. Cụ thể: TK 152: PSN: TK155 -> Nhập mía từ trại mía giống. TK 331 -> Nhập mía mua ngoài TK 335 -> Chi phí thu mua PSC: TK 621, 627 -> Xuất dùng. TK 153: PSN: TK 331 -> Nhập kho CCDC PSC: TK 242, 627, 642 -> Xuất dùng TK 155: PSN: TK 154 -> Nhập kho thành phẩm. PSC: TK 152 -> Nhập mía thành phẩm vào kho nhiên liệu. TK 157 -> Chuyển kho gửi bán. TK 632 -> Xuất bán TK 156: PSN: TK 331 -> Nhập kho hàng hóa. TK 152 -> Xuất vôi ở kho Hóa chất nhập sang kho phân bón. PSC: TK 621 -> Xuất dùngluanvan84@gmail.com 45 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 46. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính TK 632 -> Xuất bán TK 157: PSN: TK 152 -> Xuất mật rỉ gửi đại lý. TK155 -> Xuất đường gửi đại lý. PSC: TK 632 -> Xuất bán. Đối chiếu tổng hợp và chi tiết: Kiểm toán viên dựa vào bảng tổng hợp đối ứng của từng tài khoản để kiểm trađối ứng của các tiểu khoản của chu trình hàng tồn kho như TK 152, 153, 154, 155, 157với các sổ chi tiết của các TK đối ứng liên quan. Đồng thời với đó là kiểm tra số dưđầu kì và cuối kì với bảng tổng hợp tài khoản. Kết quả thu được là các số dư và phátsinh đều khớp với sổ sách liên quan. Kiểm tra chứng từ gốc liên quan đến nghiệp vụ phát sinh trong chu trìnhhàng tồn kho Trước tiên, kiểm toán viên chọn mẫu các nghiệp vụ dựa trên quy mô, tính trọngyếu trên các sổ Cái và các nghiệp vụ phát sinh trước và sau ngày khóa sổ niên độ. Sauđó, kiểm toán viên đối chiếu ngược từ sổ Cái xuống các Bảng kê, Nhật ký chứng từ rồiđến các chứng từ gốc để có bằng chứng về tính có thực của các nghiệp vụ phát sinhtrên sổ sách. Sau đây là kết quả được ghi trên giấy làm việc của kiểm toán viên tiến hànhkiểm tra chi tiết chứng từ của nghiệp vụ nhập kho với hàng hóa TK 1561 : (Kiểm toán viên chỉ ghi ra trên giấy làm việc những sai phạm phát hiện đượcvà có nguyên nhân của sai phạm đó)Số chứng Nội dung Tài khoản Số tiền Ghi chútừ đối ứng Nhập vôi 6.643.000 Không có biên bản giao014736/2 331 cục nhận hàng. Nhập phân Không có biên bản giao000317/5 NPK Việt 111 5.455.000 nhận hàng. Nhật Nhập phân Hóa đơn không có Mã số202221/7 NPK Việt 111 3.142.000 thuế. Nhật205231/7 Nhập phân 111 2.312.000 Hóa đơn không có Mã sốluanvan84@gmail.com 46 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 47. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính NPK Việt thuế. Nhật Nhập vôi 1.658.000 Sửa chữa số tiền ghi trên070189/10 331 bột hóa đơn Kết luận: - Hóa đơn số 070189 ngày 12 tháng 10 năm 2010 có sự sửa chữa số tiền ghi trên hóa đơn, kế toán giải thích là do bên cung cấp đã ghi sai giá trị lúc đầu nên chính nhà cung cấp đã sửa lại hóa đơn đúng với lượng hàng mà họ bán ra. - Qua kiểm tra chọn mẫu một số nghiệp vụ, Kiểm toán viên nhận thấy các nghiệp vụ hầu hết được phản ánh đầy đủ và chính xác trên sổ sách và các chứng từ đều hợp lệ. Còn những sai sót trên, kế toán cần điều chỉnh hợp lý. Với hóa đơn có sự sửa chữa cần làm rõ với bên thứ ba. Các hóa đơn chưa có Mã số thuế đề nghị bổ sung. Kiểm toán thực hiện tương tự với các nghiệp vụ xuất kho.Trên cơ sỏ đó, kiểmtoán viên thực hiện kiểm tra chứng từ với các TK 152, 153, 154. Kiểm toán viên thựchiện kiểm tra với TK 152,153 giống như với TK 156 ở trên. Còn khi kiểm tra với TK154, kiểm toán dựa vào số phát sinh trên các TK 621, 622, 627. Số phát sinh bên nợtrên TK 621, TK 627 kiểm tra từ bên có của TK 152. Bên cạnh đó, với TK 627 cònkiểm tra các chi phí khâú hao TSCĐ, chi phí mua ngoài và các chi phí khác. Chi phí vềnhân công TK 622 xem trên bảng lương của chu trình tiền lương, Chi phí khấu haoTSCĐ lấy từ bảng khấu hao của chu trình TSCĐ, các chi phí mua ngoài và chi phíkhác xem các chứng từ gốc như ví dụ trên. Còn đối với hàng tồn kho đang đi đường, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra cácphiếu nhập kho năm sau và đã xác định hàng tồn kho đang đi đường thực sự phát sinhnghiệp vụ. Với hàng gửi bán, kiểm toán viên đã thực hiện kĩ thuật xác nhận, kiểm toánkết hợp thu thập phiếu xuất và biên bản giao nhận với bản xác nhận số dư, dẫn tới kếtluận hàng gửi bán tại công ty A phát sinh thực sự và chính xác về số liệu. Đồng thời,kiểm toán viên kiểm tra thuyết minh báo cáo tài chính và ghi nhận các khoản mụchàng tồn kho đã được phân loại và trình bày chính xác, tuân theo quy định. Kiểm toán viên cũng kiểm tra các chứng từ về dự phòng giảm giá hàng tồn khovà hàng tồn kho đem đi thế chấp. Sau khi xem xét tài liệu, kiểm toán xét thấy trongCông ty ABC không phát sinh nghiệp vụ đem hàng tồn kho đi thế chấp. Còn đối vớiluanvan84@gmail.com 47 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 48. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhdự phòng giảm giá hàng tồn kho, kiểm toán viên thu thập bảng tính dự phòng giảm giáhàng tồn kho, và xem xét các hàng tồn kho đủ điều kiện nhưng chưa trích lập dựphòng. Kiểm toán viên ghi nhận Công ty ABC đã trích lập dự phòng vào năm 2010đúng theo quy định theo công thức : Mức trích = Sl * ( giá gốc – giá trị thuần )Kế toán đã có cách xử lý khoản trích lập dự phòng hợp lý qua tăng ( giảm ) TK 632. Cuối cùng, kiểm toán viên thu thập và xác minh tài liệu về giá hàng tồn kho.Kết hợp với kĩ thuật phỏng vấn và xem xét thuyết minh báo cáo tài chính, kiểm toánviên thu thập được thông tin : Công ty sử dụng phương pháp bình quân gia quyền theotháng (TK 152, 153, 156) và bình quân gia quyền theo năm (TK155,157) để xác địnhgiá hàng tồn kho. Phương pháp này được vận dụng thống nhất qua các năm. Hàng tồnkho của Công ty quy mô lớn mà đa dạng các loại khác nhau nên Công ty ABC vậndụng phương pháp này là hợp lý, vừa theo dõi kịp thời mà độ chính xác cũng cao.Kiểm toán viên sẽ thực hiện kết hợp kĩ thuật tính toán lại để kiểm tra giá của một sốhàng tồn kho đại diện.A.2 Quan sát Mặc dù bằng chứng vật chất được coi là cở sở chủ yếu để đưa ra những kết luận choviệc kiểm toán, nhưng thực tế, trong rất nhiều trường hợp, KTV cũng cần phải sử dụngđến kỹ thuật quan sát để nắm bắt được mức độ tin cậy của các bằng chứng này hoặc đểcủng cố thêm tính hiệu lực của chúng. Đối với các KTV có kinh nghiệm thì quan sát làmột sự bổ sung rất cần thiết cho các kỹ thuật khác. Kiểm toán viên thực hiện hai công việc chính trong kĩ thuật này đối với kiểmtoán hàng tồn kho : quan sát vật chất và quan sát thủ tục kiểm soát do đơn vị tiến hành.Kiểm toán viên xác định được kỹ thuật công nghệ của Công nghệ khá phức tạp và cóquy mô lớn dẫn đến quá trình hạch toán hàng tồn kho có những đặc điểm riêng. Kiểmtoán cần đi tham quan nhà xưởng, quan sát quá trình sản xuất từ đầu vào đến thànhphẩm để hiểu sâu hơn quá trình hạch toán tương ứng. Kiểm toán tiến hành cuộc thamquan cùng với kế toán hàng tồn kho và kĩ thuật viên trong xưởng. Trong quá trìnhquan sát, kiểm toán ghi chép các thông tin quan sát kèm theo những nhận xét và đánhgiá. Ví dụ kiểm toán viên có thể phản ánh quy trình sản xuất theo sơ đồ như sau :luanvan84@gmail.com 48 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 49. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Lưu trình công nghệ sản xuất mía Mía Trạm cân Cẩu, sân mía Bàn lùa Dao băm Tbị lắng Sunphit hóa trong Gia nhiệt 2 Gia nhiệt1 Tbị Cân Nước mía hỗn hợp Hệ thống máy ép 1, trung hòa Bã mía Chè trong Đường non Đường cát Nhập kho PX. Nấu PX. Lò hơi Mật chè tinh Gia nhiệt 3 Turbin phát điện Sunphit hóa 2 TB bốc hơi Mật chè thô Phục vụ sản xuất Sơ đồ 2.3: Lưu trình công nghệ sản xuất míaluanvan84@gmail.com 49 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 50. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Quan sát đem đến cho kiểm toán viên những bằng chứng đáng tin cậy, cái nhìnthực tế về đơn vị, nhất là trong quá trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Quá trìnhthực nghiệm kiểm soát sử dụng nhiều kỹ thuật quan sát. Kiểm toán viên thực hiệnquan sát khi tiến hành thử nghiệm kiểm soát với nghiệp vụ sản xuất và lưu kho vật tư,hàng hóa. Đối với nghiệp vụ sản xuất, các chứng từ phục vụ cho kiểm soát là: phiếu xinlĩnh vật tư, đơn đặt hàng sản xuất, các bảng tập hợp chi phí và các báo cáo kiểm địnhsản phẩm. Kiểm toán viên cần phải quan sát việc các tài liệu này được thực hiện nhưthế nào. Xét với Công ty ABC, kiểm toán viên nhận thấy các tài liệu này có đánh sốliên tục và đủ các chữ ký phê duyệt liên quan. Đây là một cơ sở chứng minh cho độ tincậy của hệ thống kiểm soát nội bộ, hỗ trợ cho kiểm toán viên giảm nhẹ khối lượngcông việc. Còn với nghiệp vụ lưu kho, kỹ thuật quan sát được thực hiện nhiều hơn để xétsự tồn tại và tính hiệu quả của các hoạt động kiểm soát. Trước hết, kiểm toán viênquan sát vấn đề phân li trách nhiệm giữa người ghi sổ sách kế toán và người quản lýhàng tồn kho. Xét trong công ty ABC, kiểm toán viên ghi nhận việc ghi sổ sách vàquản lý hàng tồn kho được hai nhân viên riêng biệt thực hiện. Theo kinh nghiệm củamình, hai nhân viên không có dấu hiệu liên kết để biển thủ hàng tồn kho. Đó là nhậnxét chủ quan của kiểm toán viên, chính vì thế kiểm toán viên tiến hành kết hợp giữacác kỹ thuật để đưa ra bằng chứng kiểm toán hoàn toàn tin cậy. Bên cạnh đó, kiểm toán viên quan sát việc sử dụng kho bãi và nhân viên bảovệ. Sau quá trình quan sát, kiểm toán viên nhận thấy hệ thống kho bãi được bảo quảntốt, có những hàng tồn kho đặc biệt như Acid Phosphoric, lưu huỳnh vảy được bảoquản và lưu kho an toàn và trong điều kiện tốt, không bị giảm phẩm chất. Các loạihàng tồn kho được sắp xếp khoa học theo từng loại và không ảnh hưởng đến phẩmchất của nhau. Ví dụ: các hóa chất độc hại được để cách biệt và trong điều kiện bảođảm an toàn cho người sử dụng, hay các loại hàng tồn kho như nguyên vật liệu, thànhphẩm, công cụ dụng cụ được xếp ở các kho riêng biệt. Hệ thống kho bãi luôn được bảovệ tối ưu để tránh mất cắp, mất trộm. Chìa kho kho bãi chỉ do thủ kho và bảo vệ giữ.Hơn nữa, mỗi lẫn nhập xuất đều cần sự ký duyệt của thủ kho và bảo vệ. Ngoài bảo vệtại kho,Công ty còn sắp xếp kiểm soát hàng tồn kho tại cửa công ty. Mỗi lần hàngnhập xuất đều cần đủ giấy tờ để ban bảo vệ ký duyệt mới có khả năng vào hoặc ra khỏiluanvan84@gmail.com 50 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 51. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhcông ty. Ngoài ra, các nhân viên khi qua cổng bảo vệ cần kiểm tra túi và cốp xe. Thủtục kiểm soát bảo vệ kho bãi được thực hiện một cách chặt chẽ. Trong nghiệp vụ lưu kho, kiểm toán viên quan sát tính liên tục của các chứngtừ: phiếu xuất kho, lệnh xuất, phiếu lĩnh vật tư, và lệnh sản xuất. Kiểm toán đã nhậnthấy những chứng từ này của Công ty ABC đã được đánh số liên tục, tránh việc trùnglắp với các sản phẩm lưu kho. Đồng thời, kiểm toán viên quan sát dấu hiệu kiểm soátnội bộ của công việc đối chiếu giữa chứng từ gốc với sổ chi tiết và sổ chi tiết với sổcái. Qua quan sát chứng từ sổ sách cũng như quá trình làm việc của các nhân viên tạicông ty ABC, kiểm toán viên nhận thấy có dấu vết đối chiếu, điều này làm tăng tínhtin cậy cho các tài liệu mà khách hàng cung cấp, giảm được khối lượng kiểm tra cho kĩthuật xác minh tài liệu. Hơn nữa, kiểm toán viên quan sát thấy các hàng tồn kho đều códấu riêng của Công ty ABC, đây là thủ tục hiệu quả để tránh nhầm lẫn với hàng tồnkho của các đơn vị khác.A.3 Điều tra: Điều tra là một kỹ thuật rất quan trọng để thu thập thông tin, vì đây là cách khaithác trực tiếp từ đơn vị khách hàng. Điều tra dưới hình thức phỏng vấn được thực hiệnkết hợp với các kĩ thuật thu thập khác để có bằng chứng kiểm toán thuyết phục nhất.Mặc dù những bằng chứng có được từ phương pháp này thường mang tính chủ quanrất lớn, nhưng ở một chừng mực nào đó, KTV vẫn có cơ sở để sử dụng và làm căn cứcho các kết luận của mình. Thông qua phỏng vấn các nhân viên trong Công ty kháchhàng, kiểm toán viên có cái nhìn tổng quát nhất về công ty hoặc nhân viên công tyhướng dẫn được kiểm toán viên về hình thức kế toán và các thủ tục của công ty, tạothuận lợi cho công việc. Hoạt động phỏng vấn đã giúp kiểm toán có cái nhìn sâu hơnvề công ty nói chung và quy trình hàng tồn kho nói riêng. Kiểm toán viên thực hiện phỏng vấn trong thử nghiệm kiểm soát là chủ yếu. Kiểmtoán viên tiến hành phỏng vấn về các thủ tục liên quan đến việc kiểm tra vật chất hàngtồn kho, phỏng vấn nhân viên tham gia kiểm kê; phỏng vấn nhân viên kiểm tra khobãi, phỏng vấn những người trực tiếp quản lý kho bãi; phỏng vấn ban giám đốc; tìmhiểu các thủ tục nhập xuất hàng, quy trình sản xuất sản phẩm của đơn vị; phỏng vấnnhân viên kế toán về phương pháp hạch toán hàng tồn kho, sổ sách hàng tồn kho baogồm cả sổ chi tiết, sổ tổng hợp.luanvan84@gmail.com 51 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 52. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Bảng hỏi để thực hiện đánh giá HTKSNB của khách hàng được thiết kế theomẫu chung của AAC và được KTV sử dụng để phỏng vấn trực tiếp khách hàng. KTVsử dụng Bảng đánh giá HTKSNB đối với khoản mục HTK để đánh giá về HTKSNB vàrủi ro kiểm soát như bảng 2.12.Bảng 2.5: Đánh giá HTKSNB đối với khoản mục HTK tại ABCHàng tồn kho Trả lời Ghi chú1. Có thực hiện kiểm kê hàng tồn kho theo đúng quy định không? Có2. Có thực hiện mang hàng tồn kho đi thế chấp để vay vốn không? Không3. Bảo vệ cơ quan có ký xác nhận trên những phiếu nhập hàng và Cóhóa đơn giao hàng không?4. Địa điểm bố trí kho có an toàn không? Có5. Hệ thống thẻ kho có được duy trì không? Có6. Thủ kho có được đào tạo chính quy không? Không7. Có thực hiện phân loại những khoản mục hàng tồn kho chậm luân Khôngchuyển, hư hỏng và lỗi thời không và có để chúng riêng ra không?8. Khách hàng đã xác định dự phòng giảm giá hàng tồn kho chưa? Có9. Các phiếu nhập, xuất kho có được ghi sổ kế toán kịp thời không? Có10. Việc xác định giá trị hàng tồn kho có nhất quán với các năm Cótrước không?11. Có tính giá thành chi tiết cho các thành phẩm tồn kho không? Có Kết luận: • HTKSNB: Tốt þ Bình thường Không tốt • RRKS: Thấp þ Trung bình Cao Chú thích: RRKS: Rủi ro kiểm soát. Kết luận của kiểm toán viên: - ABC có sự phân chia trách nhiệm rõ ràng giữa thủ kho, kế toán hàngtồn kho và người mua hàng, các bộ phận này độc lập với nhau. - Hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán được tổ chức tốt và khoa học. - Đơn vị đã tiến hành kiểm kê hàng tồn kho cuối kỳ.A.4 Xác nhận Bằng chứng thu thập được từ xác nhận được coi là có giá trị nhất, vì đây là cáchthức lấy ý kiến của bên thứ ba về một tình trạng hay khoản mục nào đó của công tykhách hàng. Các thông tin thu được hầu hết là khách quan và chính xác, đảm bảo đượctính hiệu lực để làm cơ sở đưa ra các kết luận về vấn đề đang kiểm toán.luanvan84@gmail.com 52 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 53. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Tuỳ vào đặc điểm của từng khách hàng mà AAC có những thao tác xác nhậnphù hợp. Việc gởi thư xác nhận cũng như kiểm kê, tất cả đều phải thực hiện trước khiKTV chính thức tiến hành kiểm toán tại công ty khách hàng. Sở dĩ như vậy vì để đảmbảo rằng các kết quả xác nhận số dư phải có đầy đủ trước KTV quyết đinh về các thửnghiệm chi tiết. Nếu các số dư đều được bên thứ ba xác nhận là khớp thì KTV sẽ có cơsở giảm bớt các thử nghiệm chi tiết để tiết kiệm thời gian và chi phí. Còn nếu có sự sailệch thì KTV sẽ phải đặc biệt chú ý để tìm ra nguyên nhân của sự sai lệch đó. Tuy thủ tục kiểm tra hàng hóa do người thứ ba nắm giữ đã được quy định cụ thểtrong chương trình kiểm toán chung nhưng thông thường do thời gian của một cuộckiểm toán có hạn và do giới hạn về chi phí kiểm toán nên thông thường các kiểm toánviên không trực tiếp gởi thư xác nhận. Đối với thủ tục này, đơn vị khách hàng sẽ gởithư xác nhận đến người thứ 3 nắm giữ hàng tồn kho của mình để xác nhận số hàngđang được gởi ở bên thứ 3 và kiểm toán viên thường chấp nhận thư xác nhận đó, nếuAAC có thể trực tiếp gởi thư xác nhận hàng gởi ở bên thứ 3 thì bằng chứng kiểm toánnày sẽ đáng tin cậy hơn. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên nhận thấy có hàng tồn kho của Côngty ABC được gửi bán tại các đơn vị khác. Giá trị hàng gửi cuối kì có giá trị khá lớn:3.494.773.723đ. Chính vì thế, song song với quá trình kiểm kê và đối chiếu biên bảnkiểm kê với sổ sách để xác định số dư cuối kỳ, kiểm toán viên nhận thấy việc gửi thưxác nhận tới các kho hàng là cần thiết. Tuy nhiên, khi phỏng vấn kế toán trưởng, KTVbiết rằng công ty đã thực hiện đối chiếu xác nhận hàng gửi cuối kỳ tại các đại lý, cácbản xác nhận đã được 2 bên kí tên, đóng dấu đầy đủ. KTV quyết định tin tưởng vàocác bản xác nhận đó của công ty ABC với đại lý, không thực hiện gửi thư xác nhậnnữa và lưu lại bản sao chụp giấy xác nhận trong hồ sơ kiểm toán.A.5. Tính toán Đối với các kiểm toán viên của AAC, tuỳ theo từng loại tài khoản hay mức độ rủi rocó thể có, sẽ chọn mẫu để tính toán lại một cách độc lập và so sánh kết quả với số liệucủa đơn vị rồi đưa ra kết luận. Việc tính toán này nếu ít thì sẽ được ghi lại trên giấylàm việc để làm bằng chứng, nếu nhiều thì KTV thường thực hiện trên máy tính cánhân, sau đó sẽ in ra để lưu cùng các hồ sơ khác. Như vậy, tính toán là kỹ thuật để lạibằng chứng rõ ràng nhất.luanvan84@gmail.com 53 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 54. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Đối với khoản mục Hàng tồn kho, kĩ thuật tính toán được áp dụng để kiểm tra giácủa hàng tồn kho bao gồm: giá xuất của hàng tồn kho tại Công ty A và giá thành hàngxuất bán.A.5.1Tính toán lại giá xuất của hàng tồn khoTheo các bằng chứng đã thu được, kiểm toán viên nhận định Công ty A vận dụngphương pháp bình quân gia quyền theo tháng, tính theo công thức : Kiểm toán viên tiến hành chọn tồn đầu tháng hàng tồn nhập để tính toán lại Giá trị mẫu một số + Giá trị kho trong tháng Giá xuất hàng tồn kho = SL tồn đầu tháng + SL nhập trong tháng KTV thực hiện tính lại giá xuất và phát hiện không có sai sót. Sau đây là mẫu giấylàm việc tính toán lại giá xuất của hàng tồn kho: Dầu Diezel. Xét sổ chi tiết của nguyên vật liệu này:Tồn đầu tháng 12: Số lượng: 600 (lit) Thành tiền: 8.191.514 VNĐTrong tháng 12, chỉ phát sinh một nghiệp vụ với nguyên vật liệu này: Theo hóa đơn số032116 ngày 02/11/2010, nhập 2.000 lit với đơn giá 13673 VNĐ/lit, thành tiền là:27.345.454.Đến ngày 20/11/2010, phát sinh nghiệp vụ xuất nguyên vật liệu này: Theo phiếu xuấtPX 01789, xuất 1.400 lit, đơn giá xuất được tính như sau: Giá trị tồn đầu tháng + Giá trị nhập trong thángGiá xuất hàng tồn kho = SL tồn đầu tháng + SL nhập trong tháng 8.191.514 + 27.345.454 = 600 + 2000 = 13.668 (VNĐ/lit)luanvan84@gmail.com 54 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 55. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Vậy, khi xuất, kiểm toán viên xác định tổng giá trị xuất là 19.135.200 VNĐ. Từđó, đối chiếu giữa kết quả tính của mình và kết quả của đơn vị: 19.135.291 VNĐ, kiểmtoán viên khẳng định có sự chênh lệch nhưng chỉ có 91 đồng, không đáng kể, chỉ dosai số làm tròn. Tương tự, kiểm toán viên thực hiện tính toán lại giá của một số hàngtồn kho chọn mẫu khác, kết quả tương tự. Chính vì thế, kiểm toán viên kết luận: Việctính giá xuất kho hợp lý và đảm bảo chính xác khoa học.B.5.2 Tính toán kiểm tra bảng tính giá thành Trong kiểm tra tài liệu, kiểm toán viên đã thực hiện kiểm tra chi tiết các chứngtừ liên quan đến các TK 621, TK 622, TK 627, đối chiếu các chứng từ liên quan nhưphiếu chi, hóa đơn người bán … với sổ cái các TK này. Kiểm toán viên khẳng địnhcác nghiệp vụ đều có thật và đảm bảo tính chính xác khi phản ánh vào sổ sách. Trên cơsở đó, kiểm toán viên kiểm tra cách phân bổ chi phí vào giá thành sản phẩm, đánh giágiá trị sản phẩm cuối kỳ và tính giá thành sản phẩm. Kiểm toán viên thực hiện tínhtoán lại một số bút toán phân bổ và bảng tính giá thành một số sản phẩm chọn mẫu. Sau đây là ví dụ kiểm tra tính toán lại cách phân bổ chi phí và tính giá thành củasản phẩm: đường thành phẩm trong tháng 1/2010.: B1: Theo biên bản kiểm kê tại 31/01/2010, sản lượng đường dở dang cuối kì=49,811 tấn đường. Xác định tỷ lệ quy đổi từ Đường -> Mía Lượng mía nhập + Lượng mía DDCK Tỷ lệ = Lượng đường nhập kho + Lượng đường DDCK 38.710,687 + 571,894 = = 10,4 3.726,3 + 49,811 B2: Sản lượng mía: 49,811 x 10,4 =518,034 (tấn mía) Xác định tỷ lệ quy đổi sản lượng -> giá trị ∑ Chi phí 28.768.864.731 Tỷ lệ = = = 743.176 VNĐ Sản lượng 38.710,687luanvan84@gmail.com 55 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 56. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính B3: Giá trị lượng mía nhập = 518,034 x 743.176 = 384.990.436 VNĐ Đây là chi phí SXKD dở dang cuối kỳ=> Tổng giá thành = CP SXKD DDĐK + CP SXKD PSTK – Phế liệu thu hồi (mật rỉ)– CP SXKD dở dang cuối kỳ. = 384.162.932 + 35.350.758.980 – 384.990.436 – 2.116.190.476 =33.233.741.000  Khớp số liệu công ty. Chỉ tiêu giá thành SP (VNĐ) Giá trị sp dở dang ĐK 384.162.932 Chi phí NVL trực tiếp 29.641.523.441 Chi phí NC trực tiếp 1.049.378.026 Chi phí sản xuất chung 4.659.857.513 Giá trị sp dở dang CK 384.990.436 Tổng giá thành thành phẩm 33.233.741.000 Sản lượng đường nhập kho tháng 01/2010 3.726,3 tấn Giá thành 1 tấn đường 8.918.697 đồng/ tấnBảng 2.6 Bảng tính giá thành đường thành phẩm nhập kho tháng 1/2010 Từ các tính toán lại này, kiểm toán viên kết luận quá trình phân bổ chi phí, đánhgiá giá trị sản phẩm dở dang, và tính giá thành thành phẩm được thực hiện đúng quyđịnh và tính chính xác cơ học.A.6 Kỹ thuật phân tích: Thông thường, các thủ tục phân tích rất ít được thực hiện đầy đủ ở AAC. Tuynhiên, có một điều không thể phủ nhận là các thủ tục phân tích sẽ giúp các kiểm toánviên nhận ra các sai sót tổng quát một cách nhanh chóng, giúp tiết kiệm thời gian vàcông sức để thực hiện các thử nghiệm chi tiết. Các thủ tục phân tích được thiết kế chitiết trong chương trình kiểm toán hàng tồn kho của AAC mà các kiểm toán viên củaAAC thực hiện gồm:  So sánh về số lượng, giá trị hàng tồn kho với niên độ trước và với kế hoạch  Tính thời gian quay vòng hàng tồn cuối kỳ (theo nhóm sản phẩm, theo loại sản phẩm) và so sánh với niên độ trước và với kế hoạch.luanvan84@gmail.com 56 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 57. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính  Phân tích tồn kho nguyên liệu theo số ngày sản xuất.  So sánh tỉ suất dự phòng giá trị hàng tồn kho với các niên độ trước và với kế hoạch.  So sánh chi phí sản xuất chung và tỉ lệ chi phí được áp dụng ở niên độ trước và với kế hoạch  Tiến hành đối chiếu biến động hàng tồn kho trong kỳ: tồn đầu kỳ + mua trong kỳ - giá vốn hàng bán ra trong kỳ = tồn kho cuối kỳ; và tiến hành đối chiếu, so sánh kết quả thu được với tồn kho kế hoạch tại ngày khóa sổ. KTV lập bảng phân tích (mẫu bảng phân tích xem ở bảng 5) và đánh giá kết quảđã tính toán được, nếu phát hiện ra bất thường ktv phải tìm hiểu rõ nguyên nhân. Bảng 2.7: Bảng phân tích số liệu hàng tồn kho tại của công ty ABCChỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 32.370.944.360 32.494.440.217Hàng tồn kho bình quân 84.687.110.772 102.653.937.840Giá vốn hàng bánSố vòng quay hàng tồn kho 2,616 3,159Số ngày 1 vòng quay(ngày/vòng) 139,5 115,5 2009 (%) 2010 (%)Tỷ lệ CP.NVLTT 84 84,5Tỷ lệ CP.NCTT 7 7Tỷ lệ CP.SXC 9 8,5 Qua bảng phân tích, kiểm toán viên nhận thấy rằng số vòng quay hàng tồn khogiảm, thời gian lưu kho tăng lên. Kiểm toán viên nhận thấy điều này hợp lý không cógì bất thường. Tỉ lệ giữa các loại chi có biến động nhưng tỉ lệ thay đổi này khá nhỏ nên kiểm toánviên không quan tâm đến. Mặc dầu các thủ tục phân tích được quy định rất chi tiết trong chương trình kiểmtoán hàng tồn kho của AAC, tuy nhiên, trên thực tế, các kiểm toán viên ít tin tưởngvào kết quả do thủ tục phân tích mang lại nên thông thường các kiểm toán viên khôngluanvan84@gmail.com 57 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 58. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhthực hiện các thủ tục phân tích mà tiến hành ngay các thử nghiệm chi tiết. Điều này sẽtốn rất nhiều thời gian của đoàn kiểm toán để kiểm tra các thử nghiệm chi tiết.B, Thu thập bằng chứng kiểm toán với khoản mục doanh thu Trong hầu hết các doanh nghiệp, doanh thu luôn được coi là khoản mục trọngyếu. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14, doanh thu là tổng các giá trị lợi ích kinhtế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuấtkinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu củadoanh nghiệp. Mục tiêu của kiểm toán khoản mục doanh thu là để xác định:1. Tất cả các khoản tính cho khách hàng đối với những hàng hoá hay dịch vụ đã cung cấp trừ đi các khoản thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại hay hàng bán bị trả lại được ghi nhận trên các báo cáo tài chính (C).2. Các nghiệp vụ phát sinh được xác định, cộng dồn và hạch toán chính xác (A). Số liệu báo cáo trên các báo cáo tài chính khớp đúng với các số liệu trên các sổ sách kế toán (A).3. Doanh thu và những khoản thu nhập khác đã ghi nhận thể hiện doanh thu có hiệu lực đối với hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp hay những quyền có hiệu lực đối với doanh thu tích luỹ của doanh nghiệp (E, V, O).4. Doanh thu và những khoản thu nhập khác được hạch toán đúng niên độ (A).5. Doanh thu và các khoản thu nhập khác được mô tả và phân loại chính xác cũng như được công bố đầy đủ (P).B.1 Điều tra Như đã trình bày ở trên, Kiểm toán viên thực hiện điều tra, phỏng vấn trong thửnghiệm kiểm soát là chủ yếu nhằm đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ. KTV của AAC sẽ tìm hiểu thủ tục bán hàng tại công ty ABC thông qua việcphỏng vấn nhân viên kế toán tại đơn vị. Qua điều tra được biết thủ tục bán hàng tạicông ty ABC bao gồm các bước công việc sau: Bước 1: Khi cần mua, khách hàng gửi yêu cầu qua đơn đặt hàng: báo về sốlượng, địa điểm nhận hàng. Bước 2: Công ty sẽ lập “phiếu xem xét yêu cầu của khách hàng” quyết định: sốlượng và đơn giá sẽ bán.luanvan84@gmail.com 58 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 59. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Nếu số lượng lớn: Hội đồng quản trị quyết định giá. Nếu số lượng nhỏ: Tổng giám đốc quyết định giá. Bước 3: Công ty nhận được tiền: lập hóa đơn và ghi nhận doanh thu. Phòng kế toán lập hóa đơn: căn cứ vào đơn đặt hàng, chứng từ vận chuyển bộphận kế toán lập hóa đơn. Hóa đơn được lập thành 3 liên, liên gốc lưu tại phòng kếtoán, liên hai giao cho khách hàng, liên ba bộ phận kế toán lưu vào chứng từ bán hàngghi nhận doanh thu. Trên hóa đơn phải có đầy đủ chữ ký của người có liên quan nhưngười lập, người mua hàng, thủ trưởng đơn vị. Căn cứ vào hóa đơn, chứng từ vận chuyển, kế toán sẽ lập chứng từ hạch toán(trên có ghi rõ định khoản, căn cứ theo những chứng từ kèm theo nào, người lập sẽ kývào đó), chứng từ hạch toán sẽ được kế toán trưởng kiểm tra trước khi kế toán viên ghichép vào sổ sách. Thông thường thời gian luân chuyển chứng từ từ phòng vật từ sang phòng kếtoán là ngay trong ngày. Việc đối chiếu được thực hiện định kỳ vào cuối mỗi tháng.Nếu hóa đơn không có đầy đủ chữ ký của người có thẩm quyền thì hàng không thểxuất ra khỏi kho. Bước 4: Bộ phận kho xuất hàng Thủ kho căn cứ vào lệnh bán hàng đã được phê chuẩn, hóa đơn để xuất hàngtheo đúng chuẩn loại, quy cách ghi trên hóa đơn rồi lập phiếu xuất kho. Phiếu xuất khothường được lập 3 liên: một liên gốc lưu tại bộ phận bán hàng, một liên thủ kho giữ đểghi thẻ kho, một liên chuyển cho bộ phận kế toán để theo dõi hàng tồn kho. Trên phiếuxuất kho phải có chữ ký của người lập, người kiểm tra, thủ kho, người nhận. Bước 5: Tổ bảo vệ kiểm tra: Bảo vệ kiểm tra giấy điều động xe, hóa đơn xuất bán hàng rồi kiểm tra đếnhàng trên xe, sau đó đóng dấu đã kiểm tra trên hóa đơn. Bước 6: Lập báo cáo: Hàng ngày, bản sao các thông tin bán hàng sẽ được gởi tới kế toán bán hàng đểnhập vào hóa đơn của hệ thống máy tính và doanh thu, nợ phải thu, thuế đầu ra, giávốn hàng bán, hàng tồn kho sẽ tự động cập nhật. Hàng tuần, kế toán bán hàng lập báocáo bán hàng gởi lên phó giám đốc kinh doanh. Dựa vào qui trình bán hàng ở trên kết hợp với các thông tin thu thập được, KTVlập nên bảng đánh giá HTKSNB đối với khoản mục doanh thu:luanvan84@gmail.com 59 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 60. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Bảng 2.8: Đánh giá HTKSNB đối với khoản mục HTK tại ABCDoanh thu Trả lời Ghi chú1. Việc ghi sổ doanh thu có căn cứ vào các hóa đơn bán hàng (hoặc Cócác chứng từ hợp lệ khác) các hợp đồng mua hàng hay không?2. Có chữ ký của khách hàng trong các hóa đơn mua hàng hay Cókhông?3. Việc sử dụng hóa đơn bán hàng có theo đúng qui định hiện hành Cókhông (số thứ tự hóa đơn, ngày tháng trên hóa đơn).4. Các chức năng giao hàng và viết hóa đơn có tách biệt hay không? Có5. Hệ thống thẻ TSCĐ có được duy trì không? Có6. Có theo dõi hàng gửi đi bán hay không? Có7. Khách hàng có theo dõi riêng từng loại doanh thu hay không? Có8. Việc phản ánh doanh thu có theo đúng kỳ kế toán không? CóKết luận:• HTKSNB: Tốt  Bình thường □ Không tốt □• RRKT: Thấp  Bình thường □ Cao □ Kết luận: Qua quá trình tìm hiểu, hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty ABC được đánh giá là tốt, rủi ro kiểm soát Thấp. B.2 Quan sát Thông qua phương pháp phỏng vấn, kiểm toán viên đã có được sự hiểu biết nhất định về hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đối với khoản mục doanh thu trên báo cáo tài chính. Và để đánh giá xem hệ thống kiểm soát có hoạt động theo đúng qui định của Công ty đã đặt ra hay không, kiểm toán viên sẽ sử dụng tiếp phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán là quan sát việc thực hiện các nghiệp vụ của khách hàng. Theo qui chế nội bộ của công ty, sổ bán hàng và sổ thu tiền được 2 kế toán độc lập theo dõi, có thực hiện đối chiếu định kỳ với nhau và với sổ cái. Đồng thời giữa chức năng bán hàng và duyệt bán chịu cũng được phân cách. Kiểm toán viên tiến hành luanvan84@gmail.com 60 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 61. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhquan sát thực tế công việc của 2 kế toán ghi sổ bán hàng và sổ thu tiền có độc lập vớinhau hay không, người bán hàng và người duyệt bán chịu là trưởng phòng kinh doanhcó độc lập trong hoạt động hay không. Sau khi quan sát, kiểm toán viên nhận thấy hoạtđộng của họ độc lập đúng theo quy chế mà Công ty đã ban hành. Kiểm toán viên cũng tiến hành quan sát hoạt động của một số nghiệp vụ bánhàng, nhận thấy khâu lập hóa đơn, phiếu xuất kho, thủ kho xuất kho sau đó chuyểnchứng từ cho kế toán phản ánh công nợ đều tuân thủ các qui định và chịu sự giám sátchặt chẽ của các hoạt động kiểm soát. Kỹ thuật quan sát mà các kiểm toán viên tiến hành thường được thực hiện tạithời điểm kiểm toán. Các nhân viên trong Công ty khách hàng đã biết được sự có mặtcủa kiểm toán viên, do đó kỹ thuật này tỏ ra cho kết quả không cao bằng các kỹ thuậtkhác mà các kiểm toán viên áp dụng. Bằng chứng thu được từ quan sát chỉ nên đểcủng cố luận cứ của kiểm toán viên và bổ sung cho việc thực hiện các kỹ thuật khác.B.3 Phân tích Sau khi tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục doanh thu,kiểm toán viên sẽ thực hiện thủ tục phân tích. Kiểm toán viên sẽ xem xét sự biến độngcủa khoản mục doanh thu thông qua việc: So sánh doanh thu bán hàng của kỳ này vớikỳ trước, so sánh tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu năm nay so với năm trước, nếu có biếnđộng đáng kể thì xem xét các yếu tố tác động như: Giá bán, giá vốn. So sánh sự biếnđộng doanh thu các tháng có phù hợp với tình hình kinh doanh của đơn vị không. Khi thực hiện đối với công ty cổ phần đường ABC, kiểm toán viên thực hiệnthủ tục phân tích đối với khoản mục doanh thu để phát hiện những biến động bấtthường như sau: Bảng 2.9: Bảng phân tích khoản mục doanh thu của Công ty ABC Chênh lệch tuyệt Chênh lệchChỉ tiêu Năm 2010 Năm 2009 đối tương đốiDoanh thu 154.422.268.509 108.548.122.303 45.874.146.200 42%Giá vốn 102.653.937.840 84.687.110.772 17.966.827.030 21%Lãi gộp 51.768.330.669 23.861.011.531 27.907.319.130 117%Giá vốn/ 66,48% 78,02%Doanh thu Nhận xét: Theo báo cáo kết quả kinh doanh, qua phân tích ta thấy doanh thutăng đến 42%, nhưng giá vốn chỉ tăng 21% (tỷ lệ giá vốn/doanh thu năm 2010 chiếmluanvan84@gmail.com 61 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 62. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính chỉ 66.75%, trong khi tỷ lệ giá vốn/doanh thu năm 2009 chiếm tới 78.02%), đó là nguyên nhân khiến lãi gộp tăng đến 117%. Doanh nghiệp giải thích doanh thu tăng nhờ có sự mở rộng quy mô sản xuất. Cũng tương tự như khoản mục Hàng tồn kho, mặc dầu các thủ tục phân tích được quy định rất chi tiết trong chương trình kiểm toán doanh thu của AAC, tuy nhiên, trên thực tế, các kiểm toán viên ít tin tưởng vào kết quả do thủ tục phân tích mang lại nên thông thường các kiểm toán viên không thực hiện các thủ tục phân tích mà tiến hành ngay các thử nghiệm chi tiết. Điều này sẽ tốn rất nhiều thời gian của đoàn kiểm toán để kiểm tra các thử nghiệm chi tiết. B.4 Kiểm tra Đối với khoản mục doanh thu, các KTV của AAC cũng sử dụng phương pháp kiểm tra tài liệu trong thực hiện thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản. Cụ thể: • Thử nghiệm kiểm soát: Kiểm toán viên thường thiết kế bảng đánh giá rủi ro kiểm soát trong quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng nh ư sau: Bảng 2.10: Bảng đánh giá rủi ro kiểm soát trong quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu.Sai phạm thường xảy ra Kiểm soát cần thiết Thử nghiệm kiểm soát1. Đơn đặt hàng không 1. Chọn một số Đơn 1. Có xét duyệt.được phê chuẩn. đặt hàng để kiểm tra.2. Hóa đơn có thể ghi 2. Quan sát việc kiểm tra hợp 2. Có kiểm tra hợp đồng, vàkhông đúng giá. đồng kinh tế, đối chiếu đơn áp dụng đúng bảng giá trên hóa đơn với bảng giá giá. được duyệt của đ ơn vị.3. Hóa đơn có thể lập 3. Kiểm tra hợp đồng với 3. Nội dung rõ ràng, cókhống, hay phát h ành đơn đặt hàng và hóa đơn. đánh số liên tục.hai hóa đơn cùng m ộtlúc. luanvan84@gmail.com 62 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 63. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính4. Kiểm tra việc phân 4. Đối chiếu chữ ký giữa 4. Có tổ chức độc lập.nhiệm giữa bộ phận kế bộ phận bán hàng và bộtoán và bộ phận bán hàng phận kế toán. Thử nghiệm kiểm soát 1: Đảm bảo các đơn đặt hàng đều được phê duyệt. -Công việc: + Yêu cầu được xem xét các đ ơn đặt hàng trong năm 2010 + Từ các đơn đặt hàng, chọn ngẫu nhiên đơn đặt hàng để kiểm tra việc phê duyệt của thủ trưởng đơn vị. - Kết quả: Tất cả các đ ơn đặt hàng được chọn đều đ ược phê duyệt bởi thủ trưởng đơn vị.  Thử nghiệm kiểm soát 2: Đảm bảo các hóa đơn được ghi đúng giá. - Công việc: + Yêu cầu được xem xét các hợp đồng trong năm 2010. + Từ các hợp đồng kinh tế, đối chiếu đơn giá trên hóa đơn với bảng giá được duyệt của đ ơn vị. Kết quả: Tất cả các hợp đồng có áp dụng đúng bảng giá.  Thử nghiệm kiểm soát 3: Đảm bảo các hóa đơn không bị lập khống hay phát hành 2 hóa đơn cùng một lúc. -Công việc: + Yêu cầu được xem xét các hóa đ ơn bán hàng trong năm 2010 và ch ọn một số hóa đơn. + Từ các hóa đơn bán hàng xem xét có sự đánh số liên tục hay không. Kết quả: các hóa đơn đều được đánh số liên tục.  Thử nghiệm kiểm soát 4: - Công việc: Thu thập và đối chiếu chữ ký của các bộ phận bán hàng, bộ phận kho, kế toán, thủ quỹ, Ban giám đốc. Kết quả: Tất cả các bộ phận có tổ chức độc lập với nhau Đánh giá lại rủi ro kiểm so át. Qua các thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán vi ên nhận định hệ thống kiểm soát của công ty là khá hữu hiệu và đánh giá mức rủi ro kiểm soát đúng như ban đầu luanvan84@gmail.com 63 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 64. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhmà kiểm toán viên đưa ra như trên.• Thử nghiệm cơ bản:  Kiểm tra giá trị Các công việc mà kiểm toán viên cần thực hiện để kiểm tra giá trị của cáckhoản doanh thu công ty khách hàng ghi nhận trong kỳ gồm: - Thực hiện cộng dồn và đối chiếu số liệu giữa sổ tổng hợp, sổ chi tiết và báo cáo tài chính nhằm đảo bảo rằng các khoản doanh thu được cộng dồn chính xác, số liệu trên báo cáo tài chính khớp đúng với sổ liệu trên sổ sách kế toán. - Đối chiếu số liệu giữa tờ khai và sổ sách để đảm bảo rằng việc kê khai doanh thu phải thống nhất với việc ghi nhận doanh thu tại sổ sách của đơn vị, nếu có chênh lệch thì tìm hiểu nguyên nhân chênh lệch và tìm ra các sai sót nếu có. Mô tả tại công ty A, khi kiểm toán viên tiến hành kiểm tra giá trị của doanh thusẽ thực hiện các công việc sau:  Đối chiếu số liệu giữa báo cáo tài chính với số liệu trên sổ sách kế toán Đầu tiên, kiểm toán viên sẽ tiến hành cộng số học trên sổ chi tiết doanh thu rồiđối chiếu với số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty ABC. Kếtquả thu được như sau: TK 511 Số dư đầu kỳ - Phát sinh nợ 154.422.268.509 Phát sinh có 154.422.268.509 Số dư cuối kỳ - Ghi chú: : Đã đối chiếu số liệu giữa sổ chi tiết và sổ cái.luanvan84@gmail.com 64 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 65. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính : Đã thực hiện cộng dồn. Kết luận: - Số liệu trên các báo cáo tài chính khớp đúng với số liệu trên các sổ sách kế toán. - Số liệu đơn vị được cộng dồn chính xác.  Đối chiếu số liệu giữa tờ khai và sổ sách Kiểm toán viên cộng tất cả doanh thu trên các tờ khai thuế của 12 tháng, sau đóđối chiếu với số liệu trên sổ sách. Nếu lệch, tìm nguyên nhân chênh lệch thông quaviệc kiểm tra số liệu trên sổ sách liên quan và phỏng vấn các nhân viên kế toán. Kếtquả thu được như sau:Tổng doanh thu theo tờ khai: 154.422.268.509Tổng doanh thu theo số sách: 154.422.268.509Lệch: 0Kết luận: Số liệu hạch toán khớp đúng số liệu kê khai.  Kiểm tra việc ghi nhận đầy đủ, sự ghi chép chính xác cũng như tính có thật củacác khoản doanh thu Các bước công việc mà kiểm toán viên cần thực hiện: - Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ ghi nhận doanh thu, đối chiếu giữa sổ sách với chứng từ gốc và các chứng từ có liên quan như đơn đặt hàng, biên bản nghiệm thu, … để chắc chắn rằng tất cả các khoản doanh thu được ghi nhận một cách đầy đủ và có thật. - Kiểm tra sự phê duyệt của các loại chứng từ. Các thủ tục này tại công ty ABC được thực hiện như sau: Chọn mẫu các hóa đơn gốc rồi so sánh với số liệu trên sổ sách kế toán. Mẫu đượcchọn theo phán đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên, mẫu gồm các hoá đơn có số tiền≥ 30 triệu và các hóa đơn gốc tháng 1, 2, 3, 11, 12. Trên mẫu được chọn kiểm toánviên kiểm tra đơn vị có hạch toán đầy đủ không, các hoá đơn có được phê duyệt đầyđủ của người có thẩm quyền không.luanvan84@gmail.com 65 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 66. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính TKSố c/từ Nội dung đ.ứng Số tiền Ghi chú Ghi nhận DT và kê 68.095.2380133659/1 Doanh thu bán hàng H.V.Tứ 131 khai nhưng chưa xuất Hóa đơn0133667/1 Doanh thu bán hàng P.T.Chi 131 612.857.1430133757/2 Doanh thu bả bùn mía 131 30.010.667 Ghi nhận DT và kê Doanh thu bán đường kính0133768/2 131 320.000.000 khai nhưng chưa xuất trắng Hóa đơn Doanh thu bán đường kính0133771/3 131 609.523.810 trắng0133776/3 Doanh thu bã bùn mía 131 35.202.857 DT ghi nhận không0133784/4 Doanh thu bán mật rỉ 131 31.491.429 khớp giá trị trên hợp đồng Ghi nhận DT và kê0133796/4 Doanh thu đường kín trắng 131 266.666.667 khai nhưng chưa xuất Hóa đơn Ghi nhận DT và kê0133804/5 Doanh thu đường kính trắng 131 1.333.333.333 khai nhưng chưa xuất Hóa đơn0133811/6 Doanh thu đường kính trắng 131 4.000.000.000............... ............................................. ............... ....................... ...................................... Ghi nhận DT và kê0133845/11 Doanh thu đường kính trắng 131 95.238.095 khai nhưng chưa xuất Hóa đơn0133900/11 Doanh thu đường kính trắng 131 185.714.286 DT ghi nhận không0195010/12 Doanh thu đường kính trắng 131 256.000.000 khớp giá trị trên hợp đồng 442.857.1430195071/12 Doanh thu đường kính trắng 131 Ghi nhận DT và kê0195081/1 Doanh thu xuất bã bùn 131 86.081.905 khai nhưng chưa xuất2 Hóa đơn luanvan84@gmail.com 66 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 67. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Kết luận: -Một số khoản doanh thu đơn vị đã ghi nhận và kê khai nhưng chưa xuất hóađơn.  Đề nghị xuất hóa đơn bổ sung. - Một số khoản doanh thu ghi nhận không khớp với giá trị ghi trên hợp đồng  Đề nghị chỉnh sửa. Kiểm tra số lượng trên báo cáo doanh thu và báo cáo nhập xuất tồn. KTV tiến hành kiểm tra số lượng đường cát trắng suất ra trên: -Báo cáo doanh thu: 9.405.100 Kg -Báo cáo Nhập-Xuất-Tồn: 9.420.600 Kg -Chênh lệch: 15.500 Kg -> Xác định được đây là lượng đường đang gửi bán Kết luận: Số lượng trên báo cáo doanh thu khớp báo cáo nhập xuất tồn. Kiểm tra tính liên tục của số sêri hóa đơn trên tờ khai thuế và đối chiếu vớicùi hóa đơn gốc. KTV nhận thấy các hóa đơn có trên cùi gốc đều được kê khai đầy đủ trên tờkhai. Kiểm tra thủ tục chia cắt niên độ Chọn các nghiệp vụ phát sinh gần kề trước và sau ngày kết thúc niên độ đểkiểm tra việc chia cắt niên độ được thực hiện tại công ty khách hàng. Kiểm toán viêncó thể đối chiếu ngày ghi trên hóa đơn với ngày ghi nhận doanh thu trong sổ sách,ngày ghi trên hóa đơn với ngày trong đơn đặt hàng, biên bản nghiệm thu …. Cụ thể ở Công ty A, sau khi tiến hành kiểm tra chi tiết các khoản doanh thuđược ghi nhận gần kề trước và sau ngày kết thúc niên độ như sau: +Hóa đơn 0195112 ngày 31/12/2010, ghi nhận doanh thu 2010 +Hóa đơn 0195113 ngày 04/01/2011, ghi nhận doanh thu 2011 Kiểm toán viên nhận thấy rằng các nghiệp vụ ghi nhận doanh thu tại công ty Ađược ghi nhận đúng kỳ kế toán. Kết luận: Doanh thu của đơn vị trong kỳ được ghi nhận đúng kỳ kế toán.luanvan84@gmail.com 67 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 68. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhB.5 Xác nhận Đối với khoản mục doanh thu, bên thứ ba có liên quan tính đến thời điểm khóasổ 31/12 là các khoản công nợ phải thu tại thời điểm cuối kỳ trên TK 131. Tại công tyABC, số dư cuối kỳ bên Nợ TK 131 còn số tiền 91.200.000 VNĐ của 2 khách hàng làhộ Kinh doanh cá thể, trong đó hộ kinh doanh do ông Lê Quang Hải làm chủ số tiền91.000.000 VNĐ, hộ kinh doanh do bà Phạm Thị Chi làm chủ số tiền 200.000 VNĐ.Cũng giống như khoản hàng hóa gửi ở bên thứ ba trong khoản mục HTK, các khoảnxác nhận công nợ cuối kỳ đã được công ty ABC lập và các bên kí tên, đóng dấu đầyđủ. KTV quyết định sử dụng luôn kết quả giấy xác nhận đó, không tiến hành gửi thưxác nhận nữa.B.6 Tính toán Kiểm toán viên sử dụng kỹ thuật này để thẩm tra độ chính xác về mặt toán họcvề việc nhân ngang, cộng dọc các số liệu trên hóa đơn bán hàng, chủ yếu bằng cáchlấy số lượng nhân đơn giá. Nếu nghiệp vụ bán hàng là ngoại tệ thì kiểm tra thêm việcquy đổi đồng tiền bán hàng bằng ngoại tệ ra VNĐ, đối chiếu số liệu trên các hóa đơnvới sổ chi tiết doanh thu. Qua việc tính toán lại và đối chiếu với sổ sách, kiểm toánviên nhận thấy việc ghi nhận doanh thu và ghi nhận trên sổ sách là chuẩn xác với cáctính toán của kiểm toán viên. Việc sử dụng kỹ thuật tính toán để tính toán lại các chỉ tiêu không chỉ trên hóađơn bán hàng mà còn được các kiểm toán viên của công ty AAC thực hiện trên cácphiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập, xuất kho... trong điều kiện các chứng từ này nhiềukhoản mục và tương đối cồng kềnh.2.2.4.3. Giai đoạn kết thúc kiểm toán: Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, công ty kiểm toán sẽ tiến hành soát xét cácsự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ, thu thập thư giải trình của giám đốc kháchhàng, lập bảng tổng hợp kết quả kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán. Giải trình của Ban Giám đốc cũng được coi là bằng chứng kiểm toán và sẽ lưuvào trong hồ sơ kiểm toán. Trong thư giải trình của Ban Giám đốc, Công ty sẽ xácminh lại và đưa ra ý kiến về sự tin cậy và hợp lý của thông tin trên bảng này với nhữngbằng chứng đầy đủ và đáng tin cậy.luanvan84@gmail.com 68 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 69. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhBản giải trình của Giám đốc Công ty ABC năm 2010Ngày 15/02/2011Kính gửi: Ông Kim Văn Việt - Kiểm toán viên Công ty TNHH Kiểm toán và Kếtoán AACBản giải trình này được lập ra trong phạm vi công tác kiểm toán của Ông cho báocáo tài chính của Công ty, năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2010.Chúng tôi chịu trách nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý các báo cáo tàichính của đơn vị phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.Trong phạm vi chịu trách nhiệm và sự hiểu biết của mình, chúng tôi xác nhận cácgiải trình sau: • Không có bất kỳ một sai phạm nào từ Ban Giám đốc hay các nhân viên có vai trò quan trọng liên quan đến hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ hoặc có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. • Chúng tôi khẳng định là đã cung cấp toàn bộ các thông tin về các bên có liên quan. • Chúng tôi khẳng định là báo cáo tài chính không có các sai phạm trọng yếu. • Công ty là chủ sở hữu của tất cả các tài sản trên báo cáo tài chính và không có bất kỳ một tài sản nào đang được cầm cố, thế chấp hoặc bị cầm giữ. • Tất cả các khoản nợ, cam kết vay của Công ty với bên thứ ba đã được Công ty giải trình trong phần thuyết minh báo cáo tài chính. • Hiện tại Công ty không có bất kỳ sự kiện nào phát sinh sau ngày kết thúc niên độ kế toán có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Giám đốc Bảng 2.11: Thư giải trình của Ban Giám đốc. Đối với công ty ABC, kiểm toán viên nhận thấy không có sự kiện bất thườngnào xảy ra sau ngày kết thúc niên độ, nên không ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán.Kiểm toán viên sẽ lập biên bản trao đổi tổng hợp hết những sai sót mà kiểm toán viênphát hiện được trong quá trình kiểm toán (Biên bản trao đổi đính kèm phụ lục). Sau đóđoàn kiểm toán sẽ tiến hành họp với phòng kế toán và ban giám đốc công ty để traođổi những sai sót đó và phòng kế toán sẽ quyết định có đồng ý điều chỉnh với nhữngsai sót đó không, dựa vào đó kiểm toán viên sẽ tổng hợp những sai số kiểm toán khôngluanvan84@gmail.com 69 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 70. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhđiều chỉnh. Sau khi đã thoả thuận những gì cần điều chỉnh thì biên bản trao đổi là căncứ để kiểm toán viên phát hành báo cáo kiểm toán. Kết thúc kiểm toán, trên cơ sở những bằng chứng thu thập được kiểm toán viênsẽ phát hành báo cáo kiểm toán và thư quản lý theo như hợp đồng kiểm toán đã đượcký kết. Báo cáo kiểm toán của công ty ABC như sau (trích phần cơ sở ý kiến và ý kiếncủa kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán): “Cơ sở đưa ra ý kiến: Chúng tôi đã tiến hành công việc kiểm toán theo cácChuẩn mực Kiểm Toán Việt Nam. Theo đó, chúng tôi đã thực hiện việc kiểm tra theophương pháp chọn mẫu và áp dụng các thử nghiệm cần thiết, các bằng chứng xác minhnhững thông tin trong Báo cáo tài chính; đánh giá việc tuân thủ các nguyên tắc vàphương pháp kế toán áp dụng, các ước tính và xét đoán quan trọng của Ban TổngGiám Đốc Công ty cũng như cách trình bày tổng quát các Báo cáo tài chính. Chúng tôitin rằng công việc kiểm toán của chúng tôi đã đưa ra những cơ sở hợp lý để làm căn cứcho ý kiến của mình. Ý kiến của kiểm toán viên. Theo ý kiến của kiểm toán viên, xét trên mọi khía cạnh trọng yếu thì các Báo cáo tàichính đã phản ảnh trung thực và hợp lý về tình hình tài chính của công ty tại thời điểm31/12/2010 và kết quả hoạt động kinh doanh cũng như tình hình luân chuyển tiền tệtrong năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2010.”luanvan84@gmail.com 70 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 71. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Chương III: Đánh giá và một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện kĩ thuậtkỹ thuật thu thập bằng chứng trong quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính docông ty Kiểm toán và kế toán AAC thực hiện. 3.1 Đánh giá về việc vận dụng kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán tạicông ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC 3.1.1 Nhận xét chung: Hiện nay số lượng các công ty Kiểm toán độc lập trong nước tăng nhanh với đủcác thành phần kinh tế: 100% vốn nước ngoài, TNHH, Liên doanh, cổ phần …. Vì thế,Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC luôn phải đối mặt với các công ty kiểmtoán lớn có vốn nước ngoài như: Công ty TNHH Price Waterhouser Coopers VN(PWC); Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam (E&Y); Công ty TNHH KPMGViệt Nam cũng như các Công ty Kiểm toán Việt Nam như: Công ty Kiểm toán ViệtNam (VACO); Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC)…Trước tình hình đó, AAC luôn cố gắng nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng thị phầnnhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng bằng cách mở thêm nhiều hoạt động dịchvụ khác, chẳng hạn: đào tạo Kế toán trưởng, tư vấn tài chính và quản lý … Sự thành công của Công ty đạt được như ngày nay trước hết là do Công ty AACcó một Ban lãnh đạo điều hành tốt. Bởi đây là những người có đầy đủ năng lực chuyênmôn và đạo đức nghề nghiệp. Ban lãnh đạo công ty có khả năng quản lý tốt, là nhữngngười có tầm nhìn chiến lước về khả năng hoạt động của công ty để từ đó đề ra kếhoạch và những định hướng cụ thể cho sự phát triển của công ty. Nhờ duy trì tốt mốiluanvan84@gmail.com 71 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 72. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhquan hệ với khách hàng nên hiện tại AAC là Công ty kiểm toán lớn nhất khu vực miềnTrung và Tây Nguyên với số lượng khách hàng lên đến vài trăm. Đoàn kiểm toán phụtrách ở đơn vị khách hàng có chuyên môn cao, tinh thần nhiệt tình, hăng hái trongcông việc, thái độ tận tâm với khách hàng. Các nhân viên kiểm toán được đào tạochuyên nghiệp với tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc, công ty luôntạo cơ hội tốt nhất cho nhân viên học hỏi, trao dồi chuyên môn, đặc biệt là các KTVmới vào nghề, còn thiếu kinh nghiệm. Nguồn nhân lực trẻ tích cực và năng động là tiềm lực lớn tại AAC vì thế Côngty luôn chú trọng đầu tư vào con người, coi trọng việc phát triển và nâng cao chấtlượng của toàn bộ nhân viên, đào tạo về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cácKTV. Chính về những điều đó, hình ảnh của công ty TNHH Kiểm toán và Kế toánAAC ngày càng được nhiều khách hàng biết đến và tin cậy hơn. Tuy nhiên, với số lượng khách hàng lớn, số lượng nhân viên lại giới hạn nênđoàn kiểm toán thường bị sức ép lớn về mặt thời gian. Kể từ khi thành lập đến nay, sốlượng nhân viên công ty đã tăng đáng kể. Mặc dù vây, so với nhu cầu kiểm toán giatăng không ngừng như hiện nay thì số lượng nhân viên của công ty vẫn chưa đủ. Vớitình trạng này thì vào những khoảng thời gian cao điểm, áp lực công việc lên các nhânviên là rất lớn, công việc không đạt hiệu quả như mong muốn. Muốn nâng cao chất lượng kiểm toán, bên cạnh quy trình chuẩn, nhân lực là điềukhông thể thiếu. Nếu có một nguồn nhân lực dồi dào với kỹ thuật cao, AAC sẽ cònphát triển, tiến xa hơn nữa.3.1.2 Đánh giá kĩ thuật thu thập bằng chứng tại công ty TNHH AAC Qua quá trình được cùng đoàn kiểm toán của công ty AAC tham gia kiểm toán thựctế ở một số khách hàng đặc biệt ở công ty cổ phần đường ABC và khảo sát thêm mộtsố hồ sơ kiểm toán khác, với mục đích xem xét việc áp dụng các kỹ thuật thu thậpbằng chứng trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính do công ty AAC thực hiện, emđã đúc kết được một số nhận xét chính về thực tế áp dụng các kỹ thuật của công tyAAC: Quy trình kiểm toán tại AAC được xây dựng khá chặt chẽ và khoa học. Công ty đãáp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán theo đúng chuẩn mực kiểm toánViệt Nam, KTV linh hoạt và sáng tạo trong vận dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứngkiểm toán nhằm đạt được một cuộc kiểm toán hiệu quả. Tuỳ thuộc vào từng giai đoạnluanvan84@gmail.com 72 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 73. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhcủa cuộc kiểm toán và từng khách hàng mà KTV lựa chọn các kỹ thuật thu thập bằngchứng kiểm toán sao cho phù hợp. Mỗi kỹ thuật thu thập bằng chứng có một ưu điểmvà nhược điểm riêng và mức độ áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng cũng khácnhau đối với từng khoản mục. Kiểm tra: -Đối với kỹ thuật kiểm tra tài liệu: Áp dụng cho tất cả các khoản mục, đặc biệtlà các khoản mục trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong mọi cuộc kiểmtoán. -Đối với kỹ thuật kiểm kê: Áp dụng cho một số khoản mục trên bảng cân đối kếtoán, thường được áp dụng trong nhiều cuộc kiểm toán. Ưu điểm: Quy trình áp dụng kỹ thuật kiểm tra đối chiếu thực tế do AAC thực hiện có mộtsố ưu điểm sau: -Đây là kỹ thuật được AAC thực hiện nhiều nhất trong mỗi cuộc kiểm toán,việc sử dụng kỹ thuật này được quy định khá rõ trong quy trình kiểm toán báo cáo tàichính của công ty AAC, và nội dung luôn được tuân thủ theo các chuẩn mực kiểm toánViệt Nam hiện hành. -AAC đã xây dựng được quy trình kiểm toán báo cáo tài chính nên việc áp dụngkỹ thuật được tất cả các nhân viên trong công ty thực hiện rất đầy đủ, chính xác vàmang lại hiệu quả cao. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp kiểm toán viên sử dụng kếthợp kỹ thuật kiểm tra đối chiếu với các kỹ thuật khác rất phù hợp, tạo ra những bằngchứng kiểm toán có độ tin cậy rất cao. Hạn chế: Bên cạnh những ưu điểm của AAC trong việc áp dụng kỹ thuật kiểm tra đốichiếu để thu thập bằng chứng phục vụ cho quá trình kiểm toán, vì một số lý do nhấtđịnh mà AAC vẫn còn hạn chế nhất định trong việc áp dụng kỹ thuật này, đó là ở mỗicuộc kiểm toán, việc lựa chọn các tài liệu cần thu thập và tiến hành kiểm tra các tàiliệu đó lại phụ thuộc vào sự xét đoán riêng của mỗi kiểm toán viên (trưởng đoàn). Vìvậy, rủi ro kiểm toán có thể xảy ra trong trường hợp kiểm toán viên nhận định sai hoặcthiếu về mức trọng yếu của các tài liệu liên quan đến các khoản mục trên báo cáo tàichính. Quan sát:luanvan84@gmail.com 73 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 74. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Kỹ thuật quan sát được sử dụng rất nhiều và hầu như ở cả ba giai đoạn trongquá trình kiểm toán báo cáo tài chính, một số ưu điểm và hạn chế của AAC trong việcsử dụng kỹ thuật này: Ưu điểm: -Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên không chỉ sử dụng riêng kỹ thuậtquan sát mà thường kết hợp với các kỹ thuật khác như phỏng vấn, kiểm tra đối chiếunên bằng chứng kiểm toán thu thập được thường có độ tin cậy rất cao. -Nhân viên AAC có khả năng quan sát và phán đoán nên việc sử dụng kỹ thuậtquan sát trong quá trình kiểm toán thường mang lại hiệu quả cao. Hạn chế: -Kỹ thuật quan sát chủ yếu được thực hiện theo chủ quan của từng nhân viênkiểm toán và đôi lúc là do ngẫu nhiên trong quá trình kiểm toán. Do đó, hiệu quả màkỹ thuật này đem lại trong mỗi cuộc kiểm toán thường là khác nhau và tuỳ thuộc nhiềuvào khả năng quan sát của kiểm toán viên. Điều tra - Phỏng vấn: Được áp dụng đối với mọi khoản mục trên báo cáo kết quả kinh doanh và bảngcân đối kế toán, trong mọi cuộc kiểm toán. Để sử dụng tốt kỹ thuật này, đòi hỏi ngườithực hiện phỏng vấn phải có một sự chuẩn bị trước hoặc sự hiểu biết về nội dung cầnđược giải đáp, đồng thời phải có lượng kiến thức nhất định mới xác định được nộidung cần thiết cho cuộc phỏng vấn đó. Thực tế áp dụng kỹ thuật do AAC thực hiện cómột số ưu điểm và hạn chế sau: Ưu điểm: -Các nhân viên của AAC đều có kinh nghiệm và kiến thức chuyên ngành vữngchắc nên khi thực hiện kỹ thuật điều tra - phỏng vấn đều mang lại hiệu quả cao, thuthập được những bằng chứng có độ tin cậy cao. -Tất cả các cuộc phỏng vấn đều được nhân viên AAC chuẩn bị trước nội dungnên kết quả thu thập được rất đầy đủ, giúp kiểm toán viên rút ngắn được thời gian kiểmtoán và làm tăng hiệu quả công việc. -Kiểm toán viên thường kết hợp kỹ thuật phỏng vấn với một số kỹ thuật khácnhư quan sát, kiểm kê… để kiểm nghiệm lại câu trả lời của người được phỏng vấn nênbằng chứng thu thập được có tính thuyết phục cao và giúp kiểm toán viên có cái nhìnsâu hơn về các hoạt động của công ty khách hàng.luanvan84@gmail.com 74 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 75. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Hạn chế: Thực tế áp dụng kỹ thuật điều tra phỏng vấn trong quá trình kiểm toán báo cáotài chính của AAC cũng còn gặp một số hạn chế nhất định: -Bằng chứng có được từ phương pháp này thường mang tính chủ quan rất lớn. -Một số trường hợp khi kiểm toán tại một số đơn vị hoạt động trong những lĩnhvực đặc thù như sản xuất chế biến gỗ, lâm hải sản…do kiểm toán viên không biết rõ vềcác lĩnh vực đó nên việc điều tra - phỏng vấn cũng gặp một số khó khăn nhất định. Xác nhận: Áp dụng một số khoản mục trên bảng cân đối kế toán, áp dụng trong giới hạnmức phí kiểm toán. Ưu điểm: -Trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính của AAC, kỹ thuật xác nhận đượcquy định rất rõ, AAC đã có lập các mẫu thư xác nhận trong đó quy định rất rõ các nộidung mà kiểm toán viên cần thực hiện nhằm thu thập được các xác nhận của các bênliên quan của khách hàng. Tạo điều kiện thuận lợi cho kiểm toán viên khi thực hiện kỹthuật xác nhận, rút ngắn được thời gian của cuộc kiểm toán và đem lại hiệu quả cao. Hạn chế: Tuy nhiên, AAC vẫn còn một số hạn chế nhất định trong việc áp dụng kỹ thuậtxác nhận phục vụ cho công việc kiểm toán của mình: Thực tế, khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính nếu đơn vị đã tiến hành xácnhận số dư cuối kỳ công nợ với các bên liên quan thì kiểm toán viên của AAC khôngthực hiện kỹ thuật xác nhận nữa mà chỉ thu thập các bản xác nhận đó, kiểm tra tínhkhớp đúng và có đầy đủ tính pháp lý thì chấp nhận với kết quả đó và lưu bản photovào hồ sơ làm việc của mình. Rủi ro kiểm toán sẽ cao nếu trường hợp có sự thôngđồng giữa đơn vị được kiểm toán với một hoặc nhiều các bên liên quan trong việc xácnhận số dư đó. Thêm vào đó, trong thư xác nhận hàng gởi ở bên thứ ba của khoản mục HTK,AAC chỉ chú trọng đến việc kiểm tra số lượng hàng gởi chứ không chú trọng đến việckiểm tra đến chất lượng hàng gởi, điều này sẽ vi phạm cơ sở dẫn liệu “Đánh giá” đốivới khoản mục HTK. Tính toán: Áp dụng đối với mọi khoản mục, trong mọi cuộc kiểm toán.luanvan84@gmail.com 75 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 76. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Ưu điểm: -Mỗi nhân viên của AAC đều được trang bị máy tính cá nhân để phục vụ chocông tác kiểm toán. Trong mỗi cuộc kiểm toán, các nhóm kiểm toán đều được trang bịít nhất một máy vi tính xách tay để thực hiện cho công việc của mình. Do đó, kỹ thuậttính toán luôn được sử dụng hiệu quả và mang lại kết quả chính xác, nhanh chóng,phục vụ cho cuộc kiểm toán. -AAC cũng có quy định rõ việc phân công nhiệm vụ của mỗi thành viên trongquá trình kiểm toán. Theo đó, ở những khoản mục cần phải thực hiện các phép tínhtoán, kiểm tra phức tạp thì sẽ được giao cho nhóm trưởng hoặc là những người có kinhnghiệm thực hiện, các thành viên còn lại sẽ thực hiện kiểm tra, tính toán ở nhữngkhoản mục có cách tính toán đơn giản, ít xảy ra sai sót. Do đó, hiệu quả của cuộc kiểmtoán sẽ được nâng cao và hạn chế được tối đa rủi ro kiểm toán có thể xảy ra. Hạn chế: Trong một số trường hợp, khi thực hiện kỹ thuật tính toán trên máy vi tínhnhưng kiểm toán viên không kiểm tra chính xác số liệu dẫn đến kết quả tính toán bị sailệch, do đó kiểm toán viên phải thực hiện lại, làm tăng thời gian công việc kiểm toánvà đôi lúc không kịp tiến độ công việc được giao (thực tế kiểm toán tại công ty ABC,để rút ngắn thời gian nên kiểm toán viên đã yêu cầu đơn vị cung cấp các file dữ liệughi nhận các nghiệp vụ phát sinh trong kỳ của những khoản mục sẽ thực hiện kiểm tra,dựa vào đó kiểm toán viên sẽ kiểm tra ngược lại chứng từ phát sinh. Tuy nhiên, do chủquan nên kiểm toán viên đã không biết được sự sai lệch giữa số liệu trên các file đó sovới số liệu trên sổ sách của đơn vị từ ban đầu. Đến khi công việc gần hoàn thành thìkiểm toán viên mới phát hiện ra. Do đó, kiểm toán viên phải yêu cầu đơn vị giải thíchvà cung cấp file mà từ đó lên báo cáo tài chính) . Phân tích: Thường áp dụng cho các khoản mục trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhvà một số khoản mục trong báo cáo tài chính, hạn chế sử dụng. Hạn chế: -Thực tế trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính do AAC thực hiện, kỹthuật phân tích thường ít được các nhân viên AAC sử dụng. Do đó, đôi lúc trong quátrình kiểm toán, nhân viên chưa thực sự biết rõ hết được sự biến động, sự mâu thuẫnluanvan84@gmail.com 76 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 77. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhgiữa các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, dẫn đến xác suất kiểm toán viên không pháthiện được các sai sót, gian lận trên báo cáo tài chính sẽ tăng lên. -Hầu như trong tất cả các cuộc kiểm toán, kỹ thuật phân tích chỉ được sử dụngtheo xét đoán, suy luận của kiểm toán viên, kết quả đạt được lại rất ít được trình bàytrên giấy tờ làm việc nên hiệu quả từ việc sử dụng kỹ thuật này không cao và khôngthu thập được nhiều bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy cao phục vụ cho mục đíchkiểm toán báo cáo tài chính. + Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán: Trong quy trình do AAC soạn thảo có quy định việc thực hiện các thủ tục phântích theo kế hoạch trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán. Tuy nhiên, thực tế kỹ thuật nàychưa được nhân viên của AAC thực hiện trong tất cả các cuộc kiểm toán mà chỉ thựchiện với những khách hàng hàng lớn, nhận thấy các khoản mục có nhiều biến độnghoặc đối với những khách hàng kiểm toán năm đầu tiên. + Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán: Thực tế việc thực hiện các thủ tục phân tích trong quá trình kiểm toán báo cáotài chính của AAC còn mang tính chất chủ quan của mỗi một kiểm toán viên, nênthường không được áp dụng đầy đủ kỹ thuật này và do đó chưa tận dụng được tối đalợi ích từ việc áp dụng đầy đủ kỹ thuật này mang lại. Kiểm toán viên ít thể hiện được trên giấy làm việc của mình mối quan hệ ảnhhưởng qua lại giữa các chỉ tiêu tài chính, sự biến động bất thường của chỉ tiêu này làmảnh hưởng như thế nào đến các khoản mục trên báo cáo tài chính…sau khi thực hiệncác thủ tục phân tích. + Trong giai đoạn hoàn thành cuộc kiểm toán: Thực tế nhân viên AAC rất ít sử dụng kỹ thuật phân tích trong giai đoạn này đểđưa ra được đánh giá chung nhất về báo cáo tài chính được kiểm toán mà chỉ đưa ra ýkiến theo từng khoản mục cụ thể như hàng tồn kho, tài sản cố định, tiền mặt… • Những bài học thực tiễn rút ra qua theo dõi thực tế áp dụng các kỹ thuậtthu thập bằng chứng của AAC:  Bài học về thiết kế chương trình kiểm toán: Mọi thủ tục kiểm toán đều được lập riêng cho từng khoản mục trên Báo cáo tàichính với mục đích thu thập bằng chứng cho từng mục tiêu kiểm toán riêng biệt. Việcthiết kế chương trình kiểm toán theo hướng chi tiết hóa các thủ tục kiểm toán đã giúpluanvan84@gmail.com 77 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 78. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhcho kiểm toán viên dễ dàng tiếp cận các kỹ thuật thu thập bằng chứng khác nhau đểhạn chế những rủi ro tương ứng.  Bài học về sự kết hợp các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán khác nhau: Kiểm toán viên của AAC thường có sự kết hợp giữa các phương pháp thu thậpbằng chứng kiểm toán để có được bằng chứng với độ tin cậy cao hơn. Cụ thể, khi thựchiện thử nghiệm kiểm soát đối với các khoản mục, kiểm toán viên vừa kết hợp cả kỹthuật kiểm tra đối chiếu tài liệu với kỹ thuật phỏng vấn để đảm bảo các thủ tục kiểmsoát được thực hiện một cách đúng đắn. Hoặc khi tiến hành kiểm toán khoản mụcHàng tồn kho đang gửi bán, kiểm toán viên tiến hành gửi thư xác nhận đồng thời sosánh số dư trên sổ sách kế toán với số dư trên báo cáo của đại lý, và số dư trên bản đốichiếu với đại lý.  Bài học về sự kết hợp giữa các khoản mục trong thu thập bằng chứng: Trong các cuộc kiểm toán, kiểm toán viên của AAC thường phối hợp với nhauđể giảm thiểu các công việc mà người khác đã làm. Ví dụ khi kiểm toán khoản mụcdoanh thu bán hàng, kiểm toán viên có thể dựa vào kết quả kiểm toán khoản mục Hàngtồn kho trong việc xác định số lượng hàng bán ra, trên cơ sở đó ước tính được doanhthu bán hàng trong kỳ. Mặt khác, kết quả kiểm toán doanh thu bán hàng cũng được sửdụng khi kiểm toán thuế giá trị gia tăng đầu ra bởi giữa doanh thu bán hàng và thuế giátrị gia tăng đầu ra có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.  Bài học về cách ghi chép trên giấy làm việc: Tại AAC, việc ghi chép trên giấy tờ làm việc của các kiểm toán viên đóng vai tròquan trọng trong việc hoàn thành chương trình kiểm toán và thu thập bằng chứng kiểmtoán có tính thuyết phục cao. Chỉ cần thông qua giấy tờ làm việc của các kiểm toánviên, người kiểm tra, soát xét có thể thấy rõ kiểm toán viên đã thực hiện những kỹthuật thu thập bằng chứng kiểm toán nào, và việc thực hiện những kỹ thuật đó thu thậpđược những gì, quá trình thực hiện các kỹ thuật đó được tiến hành như thế nào và kếtluận ra sao. Tất cả đều được thực hiện một cách có trình tự và rõ ràng, việc đánh thamchiếu được thực hiện trong mọi cuộc kiểm toán. Việc ghi chép giấy tờ làm việc khoahọc và dễ hiểu còn giúp cho người làm báo cáo kiểm toán và thư quản lý giảm bớtđược thời gian và hiệu quả công việc cũng được tăng lên. • Một số hạn chế chung còn tồn tại:luanvan84@gmail.com 78 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 79. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Mặc dù đã được quy định nhưng có khi các KTV và trợ lý KTV không ghi rõquy trình thực hiện kiểm toán trong giấy tờ làm việc, điều này sẽ gây khó khăn choviệc đào tạo các nhân viên mới của công ty. Các tài liệu yêu cầu khách hàng chuẩn bị, thường là chỉ năm kiểm toán đầu tiên,AAC mới gởi cho khách hàng. Do vậy những năm tiếp đến, đến khi bắt tay vào thựchiện cuộc kiểm toán, KTV mới đưa ra những tài liệu yêu cầu khách hàng chuẩn bị,điều này rất mất thời gian. Hồ sơ kiểm toán được quản lý chặt chẽ, đảm bảo tính bảo mật của thông tinkhách hàng. Mỗi khoản mục được ký hiệu bởi một chữ cái nên rất tiện lợi và tiết kiệmthời gian cho việc lưu trữ và tra cứu bằng chứng kiểm toán. Trong mỗi phần hành củahồ sơ kiểm toán, các giấy làm việc được sắp xếp theo thứ tự kèm theo là các bằng chứngkiểm toán cũng được đánh dấu theo thứ tự đối chiếu với các thử nghiệm kiểm toán. Tuynhiên, kho lưu trữ hồ sơ có diện tích quá nhỏ so với khối lượng hồ sơ khổng lồ. Chính vìvậy rất dễ bị thất lạc hồ sơ và việc tìm kiếm hồ sơ mỗi khi cần gặp nhiều khó khăn. 3.2 Tính tất yếu phải hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểmtoán tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC. Hiện nay, trên thế giới, hội nhập và toàn cầu hóa đang trở thành xu thế tất yếucủa thời đại. Cùng trong tiến trình đó, nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập với khuvực và thế giới, hoạt động kiểm toán cũng đang dần thay đổi để bắt kịp xu thế chung.Từ thực tiễn nêu trên, mức độ phức tạp và đa dạng của các loại hình doanh nghiệpngày càng tăng, cạnh tranh ngày càng gay gắt, yêu cầu quản lý ngày càng cần sự chặtchẽ, hiệu quả. Bên cạnh đó, để thu hút vốn đầu tư, mở rộng sản xuất, đồng thời cũngxuất phát từ quy định của Nhà nước về các đối tượng kiểm toán bắt buộc, số lượng cáccông ty có nhu cầu được kiểm toán ngày càng nhiều. Do đó, các công ty kiểm toánngày càng chuyên môn hoá hoạt động của mình, đảm bảo sự hoàn thiện trong cung cấpcác dịch vụ có thể phù hợp với sự phát triển của đất nước. Trong nền kinh tế thị trường, tính chất của kiểm toán đã có sự thay đổi căn bản,không chỉ là Công cụ kiểm kê, kiểm soát và đo lường hoạt động và hiệu quả kinh tế -tài chính, mà đã trở thành hoạt động dịch vụ tài chính, một lĩnh vực dịch vụ hỗ trợ hoạtđộng kinh doanh, hỗ trợ hoạt động quản lý. Đây là hoạt động dịch vụ có chất lượngcao, có giá trị pháp lý nhất định và không được phép có sản phẩm hỏng, có dịch vụthiếu độ tin cậy. Tính độc lập, tính khách quan, những bằng chứng pháp lý, phẩm chấtluanvan84@gmail.com 79 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 80. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhnghề nghiệp và yêu cầu kiểm soát chất lượng dịch vụ là đặc điểm nổi bật của loại hìnhdịch vụ này. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước đang được cổ phầnhóa để thực hiện chủ trương đổi mới đòi hỏi phải có báo cáo kiểm toán thì mới đượcniêm yết trên thị trường chứng khoán. Báo cáo kiểm toán được đưa ra được đánh giáchất lượng bằng các bằng chứng thu thập được. Bằng chứng kiểm toán được thu thậpvới quy trình, kỹ thuật chuẩn, có giá trị cao sẽ giúp KTV có cơ sở chứng minh chấtlượng của ý kiến đánh giá, đặc biệt khi đối mặt với việc kiện tụng. Vai trò của kiểmtoán sẽ được nâng lên xứng tầm trong mối quan hệ với hoạt động pháp lý liên quan tớitổ chức tài chính. Có thể nói, kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán có vai trò vô cùng quan trọngđối với sự thành công của cuộc kiểm toán và rộng hơn là sự phát triển của công tykiểm toán. Hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán, để có được bằngchứng kiểm toán có chất lượng với chi phí giảm, từ đó nâng cao chất lượng kiểm toán,là cách để công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC vươn ra mở rộng thị trường,khẳng định thương hiệu của mình trong cộng động các công ty kiểm toán. 3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểmtoán tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC.3.3.1. Trong giai đoạn lập kế hoạch3.3.1.1. Kiến nghị về xác định mức độ trọng yếu, rủi ro và số lượng bằng chứngkiểm toán cần thu thập. Việc đánh giá mức độ trọng yếu của Công ty thông qua việc ước lượng ban đầuvề mức trọng yếu, sau đó sẽ thực hiện phân bổ mức trọng yếu đó cho các bộ phận. Từnhững ước lượng ban đầu, kiểm toán viên sẽ ước tính những sai sót. Nhưng trên thựctế, đối với những khách hàng nhỏ kiểm toán viên thường bỏ qua bước này hoặc đánhgiá mức trọng yếu một cách khái quát và không thể hiện nó trên giấy tờ. Điều nàycũng sẽ gây cản trở đối với việc thu thập bằng chứng kiểm toán một cách đầy đủ nhất.Do đó kiểm toán viên cần thực hiện đánh giá mức trọng yếu đối với tất cả các kháchhàng theo như chương trình kiểm toán mà Công ty đã xây dựng để đảm bảo cho nhữngbằng chứng kiểm toán thu thập là đầy đủ và hợp lý. Theo chuẩn mực kiểm toán ViệtNam số 320 - Tính trọng yếu trong kiểm toán có quy định: “Khi lập kế hoạch kiểmluanvan84@gmail.com 80 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 81. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhtoán, kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu có thế chấp nhận được để làm tiêuchuẩn pháp hiện ra những sai sót trọng yếu về mặt định lượng”. Các thông tin mà kiểm toán viên thu thập ban đầu về khách hàng thường sơ sài.Do vậy mà việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ là khó khăn. Việc đánh giá rủi rokiểm toán thường căn cứ vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, tình hình kinh doanhcủa Công ty. Từ đó đánh giá rủi ro kiểm soát ở các mức thấp, trung bình, hay cao. Việcđánh giá đó chỉ mang tính chất chung chung, không cụ thể đối với từng vùng, từng khuvực để có thể thực hiện thu thập bằng chứng kiểm toán một cách hiệu quả.3.3.1.2. Kiến nghị về áp dụng thủ tục phân tích Thủ tục phân tích trong kiểm toán là phương pháp kiểm toán khá hiệu quả và íttốn kém. Thông qua thực hiện các thủ tục phân tích, kiểm toán viên sẽ có cái nhìn tổngquát về tình hình hoạt động của đơn vị. Từ đó sẽ xác định được các khoản mục trọngyếu. Trên thực tế, kiểm toán viên thường chỉ thực hiện các thủ tục phân tích một cáchđơn giản, như phân tích sự biến động của kỳ này với kỳ trước. Vì vậy việc đưa ra kếtluận cũng chưa thật chính xác. Thông qua thủ tục phân tích, kiểm toán viên có thể thấyđược tính hợp lý của các chỉ tiêu, và có thể xem xét được mối quan hệ giữa các chỉtiêu tài chính và phi tài chính. Ngoài ra, kiểm toán viên không chỉ thể hiện phân tíchtài chính qua các bảng mà có thể thể hiện các chỉ tiêu qua các đồ thị để quan sát vàthấy sự biến động của chúng một cách dễ dàng. Từ đó, kiểm toán viên có thể đưa racác kết luận và dự đoán một cách hợp lý cho các khoản mục. Theo chuẩn mực kiểm toán số 520 - Quy trình phân tích, khi thực hiện thủ tụcphân tích, kiểm toán viên cũng cần xem xét tính độc lập và độ tin cậy của các dữ liệutài chính và nghiệp vụ. Ước tính giá trị và so sánh giá trị ghi sổ. Cần tăng cường cácthủ tục phân tích về mối quan hệ giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chínhcũng như các thủ tục phân tích đánh giá khái quát tình hình tài chính của đơn vị trongkế hoạch và chương trình kiểm toán.3.3.2. Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán.3.3.2.1. Kiến nghị về thực hiện chương trình kiểm toán của kiểm toán viên. Chương trình kiểm toán được xây dựng cụ thể đối với từng khoản mục kiểmtoán. Trong quá trình kiểm toán, trưởng nhóm sẽ phân công công việc theo từng khoảnmục cho các kiểm toán viên. Các kiểm toán viên mặc dù đã được phân công theo từngkhoản mục song vẫn có sự trùng lặp hay bỏ sót khi tiến hành kiểm toán. Điều này gâyluanvan84@gmail.com 81 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 82. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhnên sự lãng phí thời gian. Do vậy, kiểm toán viên có thể phân công công việc theo chutrình kiểm toán. Như vậy sẽ có thể tiết kiệm thời gian và giảm thiểu chi phí, hơn thếnữa cũng sẽ đạt được hiệu quả cao trong công việc. Hơn thế nữa, việc đối chiếu số liệu, chứng từ giữa các phòng ban ít khi đượcthực hiện. Kiểm toán viên thường chỉ kiểm tra ở phòng kế toán. Điều này rất dễ gây rasự bỏ sót trong quá trình kiểm toán. Vì thế, ngoài việc kiểm toán tại phòng kế toán,kiểm toán viên có thể phỏng vấn và hỏi thêm các phòng ban khác.3.3.2.2. Kiến nghị về việc lấy xác nhận của kiểm toán viên Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 - Bằng chứng kiểm toán, kỹ thuậtnày thường được đánh giá cao trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán. Kỹthuật này có thể giúp kiểm toán viên xác minh tính chính xác của thông tin như: Xácnhận tiền gửi ngân hàng, khoản phải thu, hàng tồn kho gửi trong Công ty.... Trên thựctế, việc gửi thư xác nhận không được tiến hành theo đúng quy trình để có được độ tincậy cao, KTV thường tin tưởng vào các xác nhận đã được đơn vị thực hiện. Cácdoanh nghiệp trong quá trình kiểm toán thì lại không có đủ các bản xác nhận công nợcuối năm. Mà khoản mục công nợ đóng vai trò khá quan trọng. Trước hết cần nângcao nhận thức cho tất cả KTV và bên liên quan về tầm quan trọng của bằng chứng từbên thứ ba độc lập. Thêm vào đó, cần tăng cường việc thực hiện gửi thư xác nhận tíchcực với các đối tác có ảnh hưởng trọng yếu (có thể gửi thư nhiều lần, gọi điện trực tiếpđể thúc giục thậm chí cử nhân viên đến tận nơi lấy thư xác nhận nếu cần thiết và cóthể). Khi xác nhận hàng gởi ở bên thứ ba, ngoài việc xác nhận số lượng, chủng loạihàng hóa thì xác nhận phẩm chất hàng hóa cũng là một điều hết sức quan trọng bởi vìđiều này ảnh hưởng đến cơ sở dẫn liệu sự đánh giá, ảnh hưởng đến việc trích lập dựphòng đối với hàng gởi ở bên thứ ba. Mẫu thư xác nhận hàng gởi của bên thứ ba màAAC đưa ra chưa đề cập đến việc xác nhận phẩm chất hàng hóa, ví dụ như xem hànghóa có bị mất phẩm chất không. Do đó, AAC cần xây dựng mẫu thư xác nhận trong đócó phần yêu cầu bên thứ ba xác nhận về phẩm chất hàng hóa mà họ đang nắm giữ. KTV cũng cần thu thập các tài liệu để tiến hành xác nhận công nợ của các kháchhàng lớn, hoặc các khách hàng có số dư công nợ lâu. Tuy nhiên việc xác nhận công nợnày thường bị hạn chế do chi phí của nó lớn, mà lại mất khá nhiều thời gian.3.3.2.3. Kiến nghị về chọn mẫu kiểm toánluanvan84@gmail.com 82 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 83. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Thông thường, các KTV ở AAC chọn mẫu theo phương pháp phi thống kê theogiá trị, tức là những hóa đơn có giá trị lớn thường được chọn, điều này có thể khônghợp lý vì sai sót có thể rơi vào các nghiệp vụ có giá trị nhỏ. Đối với các khoản mụctrọng yếu thì KTV kiểm tra toàn bộ tổng thể, dẫn đến tốn nhiều công sức hơn. Trong kỹ thuật chọn mẫu, có nhiều phương pháp chọn mẫu, tuy nhiên phươngpháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo đơn vị tiền tệ được nhiều công ty kiểm toán áp dụngbởi vì chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ tự động làm tăng khả năng của việc chọn các phầntử có số tiền cao từ tổng thể đang được kiểm toán, dễ áp dụng, luôn mang lại tínhthống kê là một số tiền. Quá trình thực hiện chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ được thể hiện ở sơ đồ 3.1. Xác định quy mô mẫu Chọn mẫu kiểm toán Đánh giá kết quả mẫu Xem xét khả năng chấp nhận được của tổng thể Đưa ra ý kiến Sơ đồ 3.1: Quy trình chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ  Bước 1: Xác định quy mô mẫu Mục đích của việc xác định quy mô mẫu là để chọn được mẫu đại diện. Quy mômẫu được xác định dựa vào mô hình: AR = DR x CR x IR. Các nhân tố ảnh hưởng lớnđến việc quyết định kích cỡ mẫu là: - Tính trọng yếu: Sự phán xét ban đầu về tính trọng yếu thường là căn cứ của sốtiền sai số có thể chấp nhận được sử dụng. Sai số có thể chấp nhận được có thể khácvới các mức báo cáo dư (Over) hoặc báo cáo thiếu (Under).luanvan84@gmail.com 83 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 84. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính - Giả định tỷ lệ bình quân của sai số cho các phần tử có chứa sai số trong tổngthể: Điều này phụ thuộc vào phán xét chủ quan, kinh nghiệm và kiến thức của KTV vềkhách hàng. - Giá trị ghi sổ của tổng thể: số dư thực tế trên sổ sách của các khoản mục HTK. - Ước lượng tỷ lệ sai số của tổng thể: Tỷ lệ sai số của tổng thể không được lớnquá bởi vì nếu tỷ lệ sai số của tổng thể lớn thì phương pháp chọn mẫu theo đơn vị tiềntệ sẽ không sử dụng có hiệu quả.  Bước 2: Chọn mẫu kiểm toán Trong công việc chọn mẫu kiểm toán, KTV sẽ thực hiện các công việc sau: - Thống kê giá trị của tổng thể cần kiểm tra và sử dụng phần mềm MicrosoftExel để tiến hành cộng dồn. Ví dụ: KTV muốn chọn ra 5 mẫu trong tổng thể gồm 20 mẫu như sau: Số tiền Số tiềnPNK Giá trị PNK Giá trị cộng dồn cộng dồn01 1.725 1.725 11 346 21.05902 1.586 3.311 12 845 21.90403 1.234 4.545 13 1.576 23.48004 2.869 7.414 14 1.243 24.72305 2.685 10.099 15 1.879 26.60206 3.485 13.584 16 21.546 48.14807 1.224 14.808 17 6.341 54.48908 1.573 16.381 18 4.567 59.05609 1.876 18.257 19 15.462 74.51810 2.456 20.713 20 1.879 76.397 Vậy các phần tử nằm trong tổng thể được chọn là số tiền từ 1.725 (USD) đến76.397 (USD). - Thiết lập mối quan hệ giữa bảng số ngẫu nhiên với đối tượng kiểm toán đãđịnh lượng. Nếu các con số định lượng của đối tượng kiểm toán nhỏ hơn 5 chữ số thì , ví dụgiá trị của các phiếu nhập kho có giá trị cộng dồn lũy kế từ 123 đến 1562, thì KTV có thểsử dụng 4 chữ số đầu hoặc 4 chữ số cuối của bảng số ngẫu nhiên để tiến hành chọn mẫu. Nếu các con số định lượng của đối tượng kiểm toán lớn hơn 5 chữ số , khi đóKTV phải lấy một cột nào đó trong bảng số ngẫu nhiên và một cột khác làm cột phụ.luanvan84@gmail.com 84 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 85. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhVí dụ với 7 chữ số, ta có thể ghép 5 số của cột chính với 2 chữ số của một cột phụ nàođó để tạo thành 7 chữ số. - Lập hành trình sử dụng bảng. Đây là việc xác định hướng đi của các phần tử được chọn mẫu, hành trình nàycó thể từ trên xuống dưới, từ trái qua phải hoặc từ dưới lên trên. Việc xác định nàythuộc về phán xét của KTV và phải được sử dụng thống nhất trong toàn bộ quá trìnhchọn mẫu. Một điều đặt ra ở đây là lộ trình ở đây phải được ghi chép lại trong hồ sơchọn mẫu để khi KTV khác xem xét lại thì cũng chọn được mẫu tương tự. - Chọn điểm xuất phát Bảng số ngẫu nhiên có rất nhiều trang, để chọn được điểm xuất phát, KTV nên mởra một cách ngẫu nhiên và ngẫu nhiên chọn ra một số trong bảng làm điểm xuất phát. Trở lại với ví dụ trên, căn cứ vào Bảng số ngẫu nhiên (Phụ lục 06), ta chọnđiểm xuất phát là giao giữa cột (2) và dòng 1005, giá trị 25658, hành trình đi từ trênxuống và trái sang phải. Giá trị cộng dồn suy ra là giá trị cộng dồn lớn hơn gần nhấtvới số ngẫu nhiên. Ta có bảng kết quả sau:Số ngẫu nhiên Giá trị cộng dồn PNK Giá trị PNKđược chọn suy ra được chọn25658 26.602 1.879 1567825 74.518 15.462 1967241 74.518 15.462 1951637 54.489 6.341 1736464 48.148 21.546 1622554 23.480 1.576 13 KTV có thể chấp nhận phần tử mẫu được chọn lặp lại (gồm các phiếu nhập kho:15, 19, 19, 17, 16), nếu không chấp nhận phần tử mẫu được chọn lặp lại, KTV có thể bỏqua và chọn cho đến khi nào đủ 5 mẫu (gồm các phiếu nhập kho: 15, 19, 17, 16, 13).  Bước 3: Đánh giá kết quả mẫu Khi chọn mẫu kiểm tra, sẽ xảy ra một trong hai trường hợp: trường hợp khôngtìm thấy sai số trong chọn mẫu được chọn và trường hợp phát hiện có sai số trong mẫuđược chọn. Mục đích cuối cùng của việc chọn mẫu là từ kết quả mẫu suy ra được kếtquả của tổng thể. Sau khi chọn mẫu, có được kết quả mẫu, KTV sẽ tiến hành đánh giákết quả mẫu.luanvan84@gmail.com 85 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 86. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính - Trường hợp không tìm thấy sai số trong mẫu được chọn Khi mẫu không có sai số thì không thể kết luận ngay được là tổng thể cũngkhông có sai sót. KTV sẽ chọn một mẫu bổ sung gồm các khoản mục có giá trị nhỏ đểbổ sung cho mẫu theo đơn vị tiền tệ. Bởi vì, các phần tử có sai số có báo cáo thiếu cógiá trị ghi sổ nhỏ hơn so với báo cáo đúng, còn các phần tử có sai số báo cáo thừa cógiá trị ghi sổ lớn hơn so với báo cáo đúng, chính vì vậy khi sử dụng kỹ thuật chọn mẫutheo đơn vị tiền tệ thì các phần tử có sai số báo cáo thiếu có thể ít có cơ hội được chọn. - Trường hợp tìm thấy sai số trong mẫu được chọn Trường hợp tìm thấy sai số trong mẫu thì KTV thực hiện các bước sau: + Xác định giới hạn trên và giới hạn dưới của sai số: KTV cần xác định đượcgiới hạn trên và giới hạn dưới của sai số. Giới hạn trên là sai sót tối đa đối với việc báocáo thừa, giới hạn dưới là sai sót tối đa đối với việc báo cáo thiếu. + Phân tích các sai số: Phần quan trọng của việc phân tích sai số là việc quyếtđịnh liệu có cần bất kỳ sự sửa đổi nào đối với mô hình rủi ro kiểm toán hay không.Nếu sai số đó là do sự nhược điểm của HTKSNB thì KTV cần đánh giá lại rủi ro kiểmsoát. KTV phải xác định xem vì sao các loại sai số đó phát sinh như vậy, sai số đó cóthường xuyên hay không và liệu nó có ảnh hưởng đến tính trung thực của BCTC haykhông?  Bước 4: Xem xét khả năng chấp nhận được của tổng thể Nguyên tắc quyết định của cách chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ là: Nếu cả giớihạn dưới lẫn giới hạn trên của sai số nằm giữa các số tiền sai số báo cáo dư và báo cáothiếu chấp nhận được thì chấp nhận kết luận là giá trị ghi sổ không bị báo cáo sai mộtsố tiền nghiêm trọng, nếu khác thì kết luận là giá trị ghi sổ bị báo cáo sai một số tiềnnghiêm trọng. Ví dụ: Giá trị sai số chấp nhận được là 16.000 USD, công ty X có giới hạn trênvà giới hạn dưới của sai số là 15.000 USD và (15.000) USD. (16.000) (15.000) 15.000 16.000 Miền chấp nhận được Giá trị sai số chấp nhận được là 16.000 USD, công ty Y có giới hạn trên và giớihạn dưới của sai số là 17.283 USD và (15.102) USD. (16.000) (15.102) 16.000 17.283luanvan84@gmail.com 86 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 87. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Miền chấp nhận được Khi có một hoặc cả hai giới hạn nằm ngoài phạm vi của sai số chấp nhận đượcthì tổng thể không được chấp nhận, tuy nhiên có một số tiến trình hành động khả dĩ: - Tăng quy mô mẫu: Khi KTV tăng quy mô mẫu thì cả giới hạn trên và giới hạndưới của sai số đều nhỏ hơn so với giá trị sai số chấp nhận được mới nếu tỷ lệ các saisố trong mẫu mở rộng không đổi, các số tiền của chúng và hướng của chúng đều tươngtự giống với các yếu tố đó trong mẫu ban đầu. Tuy nhiên, việc tăng quy mô mẫu lên đủđể thỏa mãn các chuẩn mực về sai số chấp nhận được của tổng thể thường rất tốn kém,nhất là khi giới hạn sai số đã vượt quá xa các chuẩn mực về sai số có thể chấp nhậnđược của KTV. - Điều chỉnh số dư tài khoản: Tiến hành giảm giá trị ghi sổ của các hàng hóanhập kho xuống để giới hạn trên của sai số và giới hạn dưới của sai số đều nằm trongmiền chấp nhận. - Yêu cầu khách hàng chỉnh lại tổng thể: Có một số trường hợp, sổ sách củakhách hàng không đầy đủ đến nỗi phải sửa lại toàn bộ tổng thể để thực hiện kiểm tralại một lần nữa. - Từ chối đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần. Trong một số trường hợp tổng thể có độ phân tán cao (có chênh lệch lớn giữagiá trị các phần tử cá biệt với giá trị trung bình của tổng thể), KTV có thể áp dụng kỹthuật phân nhóm tổng thể thành các tổng thể con để nâng cao hiệu quả của việc lấymẫu. Các phần tử có giá trị rất lớn và rất nhỏ sẽ được tách thành các tổng thể con riêngbiệt với các giá trị trung bình. Sau đó, KTV sẽ chọn mẫu đại diện phù hợp cho từngtổng thể mới tùy theo đặc trưng riêng và tính trọng yếu của nó. Ví dụ: Với tổng thể gồm 20 phần tử như trên, KTV có thể phân nhóm tổng thểthành các tổng thể con như sau: Số phầnNhóm Thành phần của nhóm Phương pháp kiểm tra tử1 Các PNK có giá trị dưới 1.000 2 Chọn mẫu 50% Các PNK có giá trị từ 1.000 đến2 16 Chọn mẫu 25% 10.0003 Các PNK có giá trị trên 10.000 2 Kiểm tra toàn bộluanvan84@gmail.com 87 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 88. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính Từ việc phân nhóm tổng thể, KTV có thể đánh giá chính xác hơn tính đặc thùcũng như mức độ trọng yếu của các tổng thể mới nhằm lựa chọn phương pháp kiểm traphù hợp nhất. Qua đó, kỹ thuật phân nhóm tổng thể cũng góp phần nâng cao chấtlượng của kỹ thuật chọn mẫu nói riêng và tính hiệu quả của cuộc kiểm toán nói chung.3.3.2.4. Kiến nghị về đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ Trong Công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AAC đánh giá hệ thống kiểm soátnội bộ của khách hàng thường kết hợp với các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toánkhác để có đủ độ tin cậy nhằm đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ một cách chính xác.Thường khi đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV sẽ dựa vào bảng câu hỏi đượcthiết kế trong chương trình kiểm toán. Bảng câu hỏi này là chung cho mọi loại hìnhdoanh nghiệp. Và điều này đã gây ra sự không hợp lý, mỗi doanh nghiệp có nhữngđặc thù riêng, các câu hỏi có thể sẽ là không chính xác đối với doanh nghiệp đó.Khách hàng sẽ trả lời những câu hỏi đó mang xu hướng tốt lên cho doanh nghiệpmình. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm soát nộibộ có quy định: “Nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục tìm hiểu hệ thống kếtoán và hệ thống kiểm soát nội bộ có thể thay đổi tuỳ theo các điều kiện.” Do vậy, KTV có thể điều chỉnh các câu hỏi cho phù hợp với từng loại hìnhdoanh nghiệp, và thực hiện các câu hỏi mở để có thể đánh giá về hệ thống kiểm soátnội bộ một cách chính xác hơn.3.3.2.5 Kiến nghị về việc sử dụng kỹ thuật quan sát Trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính do AAC thực hiện, kỹ thuật quansát được sử dụng trong suốt cuộc kiểm toán. Tuy nhiên, vẫn còn mang tính chất chủquan của người quan sát và đôi lúc do ngẫu nhiên trong quá trình thực hiện kiểm toán.Do đó, AAC nên quy định rõ ràng việc sử dụng kỹ thuật quan sát trong từng giai đoạncủa cuộc kiểm toán, và tập cho các nhân viên AAC có kỹ năng quan sát tốt, phán đoáncác trường hợp có thể xảy ra liên quan đến các khoản mục trên báo cáo tài chính khiquan sát một hiện tượng nào đó, khi đó cuộc kiểm toán sẽ trở nên tối ưu hơn và sẽmang lại hiệu quả rất cao. Minh hoạ trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán: -Quan sát tổng thể địa bàn hoạt động, cách thức tổ chức sản xuất…của đơn vịđể có được cái nhìn tổng quát về quy mô, tình hình hoạt động của đơn vị.luanvan84@gmail.com 88 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 89. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính -Quan sát tổ chức bộ máy của đơn vị, đặc biệt là bộ máy kế toán, xem xét tháiđộ làm việc và cách làm việc của nhân viên trong đơn vị để có thể đánh giá sơ bộ vềsự tồn tại và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị. -Thực hiện quan sát thái độ của người được phỏng vấn trong quá trình phỏngvấn khách hàng để có thể đánh giá được độ trung thực của đại diện đơn vị và độ tincậy của thông tin kiểm toán viên nhận được.3.3.3. Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán Kiến nghị về việc tổng hợp bút toán điều chỉnh của KTV: Việc tổng hợp các bút toán điều chỉnh được KTV đưa ra trong phần kết luận.Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV đưa ra quá nhiều bút toán điều chỉnh, màcác sai phạm đó không phải là trọng yếu sẽ gây ra sự lãng phí thời gian. Theo chuẩnmực kiểm toán số 320 - Tính trọng yếu có đề cập: “ Việc xác định tính trọng yếu làcông việc xét đoán mang tính nghề nghiệp của KTV”. Do vậy, khi tổng hợp các búttoán điều chỉnh, KTV nên cân nhắc các bút toán điều chỉnh cho thích hợp.luanvan84@gmail.com 89 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 90. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ1. Kết luận: Tại kỳ họp thứ 09, Quốc hội khóa XII đã chính thức thông qua Luật Kiểm toánđộc lập với những quy định quản lý chặt hơn đối với nghề kiểm toán tại Việt Nam.Luật kiểm toán độc lập là văn bản pháp luật cao nhất về kiểm toán độc lập lần đầu tiênđược công bố tại Việt Nam, đã nâng cao vị thế của kiểm toán độc lập lên tầm cao mới,đặt cơ sở pháp lý bền vững cho sự phát triển nghề nghiệp này trong tương lai. Điềunày cho thấy hoạt động kiểm toán đang có những bước phát triển vượt bậc, chứng tỏvai trò quan trọng của ngành, nghề kiểm toán đối với sự phát triển của nền kinh tế nóichung và theo yêu cầu quản lý tài chính nói riêng. Kiểm toán góp phần củng cố nềnnếp kế toán, lành mạnh hoá các quan hệ tài chính, nâng cao năng lực và hiệu quả quảnlý. Cùng với sự phát triển của nền kiểm toán nước nhà, công ty kiểm toán và kếtoán AAC đã ngày càng khẳng định được chỗ đứng của mình. Hiệu quả của các cuộckiểm toán đang được cải thiện thấy rõ và uy tín của công ty đã trải dài trên khắp cảnước. Qua quá trình thực tập và tìm hiểu, tôi đã hiểu rõ hơn thị trường kiểm toán trongnước, về công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC nói chung cũng như bản chất củabằng chứng, các bước công việc, quy trình kỹ thuật kiểm toán đề thu thập bằng chứngkiểm toán nói riêng. Luận văn tốt nghiệp của tôi chỉ là những nét khái quát, sơ bộ về các kỹ thuật thuthập bằng chứng kiểm toán đang được công ty sử dụng, đồng thời nêu lên các ưu điểmcũng như hạn chế tồn tại. Với các giải pháp đưa ra, tôi hi vọng sẽ góp phần hoàn thiệncác kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán, cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụluanvan84@gmail.com 90 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 91. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chínhdo Công ty cung cấp cũng như tạo uy tín cho AAC trong việc phát triển thị trườngkiểm toán đầy sôi động và thách thức ở Việt Nam. Tuy nhiên, vì thời gian thực tập có hạn, trình độ lý luận, kiến thức thực tế chưanhiều nên trong đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót. Chính vì vậy, tôi rất mong nhậnđược sự góp ý của quý thầy cô và anh chị kiểm toán viên AAC để hoàn thiện đề tài củamình.2.Kiến nghị2.1 Về phía công ty Kiểm toán và kế toán AAC - Không ngừng nâng cao và hoàn thiện các quy trình kiểm toán, soát xét chung; thường xuyên cập nhật cho phù hợp với yêu cầu của xã hội. - Không ngừng nâng cao trình độ của kiểm toán viên, thông qua các chính sách về tuyển dụng, đào tạo, khen thưởng, xử phạt. Quy định trách nhiệm, hướng dẫn nhân viên nắm bắt tầm quan trọng của kiểm soát chất lượng kiểm toán. Chú trọng hơn nữa tính tuân thủ đạo đức nghề nghiệp trong Công ty. - Thiết kế các quy trình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán và thiết kế bộ máy tổ chức thực hiện chuyên trách nhiệm vụ này. Đồng thời, công ty phải lưu trữ các thông tin, tài liệu liên quan đến quá trình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán trong từng cuộc kiểm toán cụ thể. - Qua mỗi cuộc kiểm toán cụ thể, Công ty cần tiến hành khảo sát mức độ thỏa mãn dịch vụ kiểm toán từ phía khách hàng; lưu trữ thông tin này vào hồ sơ kiểm toán. Công việc này, một mặt giúp cho Công ty nắm bắt được yêu cầu từ phía khách hàng, hiểu rõ hơn về chất lượng dịch vụ công ty đang cung cấp mặt khác làm cơ sở kiểm tra, nâng cao hiệu quả, chất lượng dịch vụ cho các năm kiểm toán về sau. Công ty có thể thiết kế mẫu Bảng câu hỏi đánh giá sự thỏa mãn của khách hàng về chất lượng dịch vụ đang cung cấp. - Mỗi một cuộc kiểm toán cụ thể, Công ty cũng cần phải tiến hành cho các KTV đánh giá công việc đã thực hiện. Có thể xây dựng một số tiêu chuẩn cụ thể cho việc đánh giá. Công việc này góp phần thúc đẩy sự học hỏi, tinh thần trách nhiệm của các nhân viên; đồng thời làm cơ sở cho việc đánh giá nhân viên sau này. - Công ty nên tăng cường sự giám sát, kiểm tra của các KTV cấp cao; nhằm thúc đẩy tính hữu hiệu và hiệu quả trong quá trình thực hiện kiểm toán.luanvan84@gmail.com 91 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 92. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính - Ngoài ra, thông qua Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam công ty có thể trao đổi với các công ty kiểm toán khác về chuyên môn và các vấn đề về đào tạo, hợp tác kiểm toán.2.2 Về phía Hội nghề nghiệp Từ năm 2007, Bộ Tài chính đã chính thức chuyển giao cho VACPA thực hiệnviệc kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán nhưng cũng còn hạn chế do chưa đi sâuvào chất lượng chuyên môn, chưa thật sự trở thành một tổ chức nghề nghiệp độc lậpcho tất cả những người làm kiểm toán. Ngày 21/04/2009 tại Hà Nội, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam(VACPA) đã họp triển khai kế hoạch xây dựng và phổ biến áp dụng “Chương trìnhkiểm toán mẫu” cho hầu hết các công ty kiểm toán của Việt Nam. Để góp phần nângcao chất lượng dịch vụ kiểm toán, trước mắt là tránh rủi ro kiểm toán, VACPA với sựhỗ trợ của Ngân hàng Thế giới (WB) sẽ chủ trì, cùng với các công ty kiểm toán xâydựng và đưa vào áp dụng một Chương trình kiểm toán mẫu “made in Vietnam”. Hiệnnay VACPA đã có chương trình kiểm toán mẫu cho kiểm toán báo cáo tài chính,nhưng việc tiếp cận và áp dụng qui trình mẫu này còn chưa đồng bộ. VACPA có thểtriển khai rộng rãi và qui định các công ty phải dựa trên qui trình mẫu này làm cơ sởchung cho kiểm toán báo cáo tài chính. Từ mô hình kiểm toán mẫu, VACPA có thể đưa ra những qui định cụ thể chocác kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán để các kiểm toán viên có cơ sở để thựchiện các kỹ thuật này một cách chính xác và hiệu quả. Bên cạnh đó không ngừng hoànthiện qui trình kiểm toán mẫu cũng như những qui trình đặc thù để nâng cao uy tíncũng như chất lượng của kiểm toán Việt Nam.luanvan84@gmail.com 92 SVTH: Nguyễn Trường An
  • 93. Khóa luận tốt nghiệp 2011 Khoa Kế toán - Tài chính MỤC LỤC 3.1. Phương pháp thu thập số liệu..................................................................................................................2 3.2. Phương pháp xử lý số liệu.......................................................................................................................2 2.1.2. Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của công ty Kiểm toán và kế toán AAC...........................................22 2.1.2.1. Mục tiêu hoạt động..........................................................................................................................22 2.1.2.2. Nguyên tắc hoạt động......................................................................................................................23 2.1.3. Các loại dịch vụ do công ty Kiểm toán và kế toán AAC cung cấp..........................................................23 2.1.4 Cơ cấu tổ chức của công ty Kiểm toán và kế toán AAC..........................................................................25 2.1.4.1. Sơ đồ tổ chức của công ty Kiểm toán và kế toán AAC...................................................................252.2.2 Thực tế vận dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính doCông ty Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện..................................................................................................292.2.2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán.................................................................................................................37 A.5. Tính toán ....................................................................................................................................................53 ......................................................................................................................................................................60 B.3 Phân tích..................................................................................................................................................61luanvan84@gmail.com 93 SVTH: Nguyễn Trường An