Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Tải tài liệu tại kết bạn zalo : 0973.287.149
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
KHUẤT THỊ HOA
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẢM XÚC
HÀNH VI Ở SINH VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Tải tài liệu tại kết bạn zalo : 0973.287.149
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
KHUẤT THỊ HOA
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẢM XÚC
HÀNH VI Ở SINH VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thành Nam
i
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học Giáo
dục, các thầy, cô giáo của chương trình đào tạo Thạc sĩ Tâm lý học lâm sàng trẻ em
và vị thành niên vì đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành
chương trình học và bảo vệ luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới người thầy vô
cùng tận tâm - PGS.TS. Trần Thành Nam, người đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt
quá trình từ những ngày đầu lên ý tưởng đề tài nghiên cứu, định hướng, phát triển
và cho tới ngày hoàn thiện đề tài. Tận đáy lòng, tôi luôn cảm thấy biết ơn và may
mắn vì đã được làm việc với người thầy vừa giỏi về chuyên môn lại giàu có về đạo
đức như vậy.
Tôi cũng chân thành cảm ơn tới cộng đồng cựu học viên các khóa 1, 2, 3, 4,
5, 6, 7 và 8 chương trình Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên của Trường
Đại học Giáo dục vì đã hỗ trợ về tài liệu và đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận
văn này. Tôi xin cảm ơn sự hỗ trợ và tham gia trả lời Phiếu khảo sát của các em
sinh viên trường Đại học FPT Hà Nội. Những ý kiến trả lời đó đã thực sự đóng góp
rất lớn cho thành công của đề tài.
Cuối cùng tôi vô cùng cảm ơn bố, mẹ, anh chị em trong gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp và đặc biệt là chồng tôi đã luôn ủng hộ và trợ giúp tôi trong suốt quá
trình tôi học thạc sĩ để tôi có thêm thời gian và sức khỏe hoàn thành chương trình
học cũng như đề tài luận văn này.
Do điều kiện thời gian cũng như tài liệu và hiểu biết còn hạn chế nên không
thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong các thầy, cô và độc giả giúp tôi khắc
phục những hạn chế để hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ngày 12 tháng 6 năm 2020
Khuất Thị Hoa
ii
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng Việt:
HVCX: Hành vi cảm xúc
M: Điểm trung bình
TT: Thứ tự
Std: Standard deviation - Độ lệch chuẩn
LATC: Lo âu trầm cảm
VDTD: Vấn đề tư duy
TCTM: Trầm cảm thu mình
VDCY: Vấn đề chú ý
BTT: Bệnh tâm thể
PBQT: Phá bỏ quy tắc
VDXH: Vấn đề xã hội
HVXK: Hành vi xâm kích
SV: Sinh viên
CNTT: Công nghệ thông tin
ĐH: Đại học
(N): Nhiễu tâm
(O): Cởi mở
(E): Hướng ngoại
(A) Đồng thuận
(C): Tận tâm
Tiếng Anh:
APA: American Psychological Association – Hội tâm lý học Hoa Kỳ
DSM: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Dissorders – Sổ tay chẩn đoán
và phân loại bệnh tâm thần (của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ)
ICD: The International Classification of Diseases – World Health Organization:
Bảng phân loại bệnh quốc tế của Tổ chức Y tế Thế Giới.
iii
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN...............................................................................................................i
DANH MỤC BẢNG, BIỂU........................................................................................v
MỞ ĐẦU.....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ..................................................................................6
1.1. Những nghiên cứu về đặc điểm nhân cách........................................................6
1.1.1. Các lý thuyết nghiên cứu nhân cách ...........................................................6
1.1.2. Các phương pháp nghiên cứu nhân cách ..................................................10
1.1.3. Một số nghiên cứu nhân cách trên thế giới và tại Việt Nam.....................11
1.2. Một số về nghiên cứu về các vấn đề cảm xúc hành vi ....................................14
1.3. Mối liên hệ giữa nhân cách và các vấn đề hành vi cảm xúc............................17
Trong quá trình nhân cách phát triển, nó sẽ đi theo hai hướng: Hướng tích cực: Là
những nhân cách phát triển phù hợp với giá trị xã hội; Hướng bệnh lý: Là những
nhân cách phát triển không phù hợp với giá trị xã hội...........................................17
1.4. Một số khái niệm cơ bản.................................................................................21
1.4.1. Nhân cách .................................................................................................21
1.4.2. Vấn đề cảm xúc hành vi............................................................................25
1.4.3. Sinh viên...................................................................................................26
TIÊU KẾT CHƯƠNG 1............................................................................................28
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............................29
2.1. Khách thể nghiên cứu......................................................................................29
2.1.1. Đặc điểm của khách thể............................................................................29
2.2. Địa bàn nghiên cứu .........................................................................................30
2.3. Tổ chức nghiên cứu.........................................................................................30
2.4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................31
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận ...............................................................31
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu bảng hỏi (anket) ...............................................32
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2............................................................................................37
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..................................................................38
3.1. Đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin.......................38
3.1.1. Đặc điểm mặt nhiễu tâm (N).....................................................................41
iv
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
3.1.2. Đặc điểm mặt hướng ngoại (E).................................................................43
3.1.3. Đặc điểm mặt cởi mở (O) .........................................................................45
3.1.4. Đặc điểm mặt nhân cách đồng thuận (A)..................................................46
3.1.5. Đặc điểm mặt tận tâm (C).........................................................................48
3.2. Thực trạng các vấn đề hành vi cảm xúc của sinh viên công nghệ thông tin
trường Đại học FPT................................................................................................49
3.2.1. Điểm số trung bình của thang YSR ..........................................................49
3.2.2. Mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề HVCX.....................58
3.3.Mô hình hồi quy giữa các đặc điểm nhân cách vàcác vấn đề cảm xúc hành vi.......62
Trên cơ sở tìmra những mối tương quan giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề hành
vi cảm xúc, chúng tôi tiến hành phân tích mô hình hồi quy bội để tìmra những mặt nhân
cách dự báo và ảnh hưởngtới các vấn đề cảm xúc hành vi. Kết quả thu được như sau: 62
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3............................................................................................83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................84
1. Kết luận..............................................................................................................84
2. Khuyến nghị.......................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................87
PHỤ LỤC .................................................................................................................93
v
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1: Các chỉ số thống kê cơ bản về các mặt trong nhân cách của sinh viên
ngành công nghệ thông tin.........................................................................................38
Bảng 3.2: Chỉ số thống kê theo mức độ các mặt nhân cách của sinh viên công nghệ
thông tin.....................................................................................................................40
Bảng 3.3. Đặc điểm nhân cách trong mặt nhiễu tâm (N)...........................................42
Bảng 3.4. Bảng đặc điểm của mặt hướng ngoại (E) ..................................................44
Bảng 3.5. Bảng đặc điểm mặt cởi mở (O) .................................................................45
Bảng 3.6. Đặc điểm mặt nhân cách đồng thuận (A)..................................................47
Biểu đồ 3.1. Hàm phân phối tổng điểm thô YSR ......................................................50
Bảng 3.8. Giá trị trung bình của tổng thang đo .........................................................50
Bảng 3.9. Bảng phân loại vấn đề HVCX của sinh viên ngành công nghệ thông tin
theo giới tính..............................................................................................................52
Bảng 3.10. Bảng tỉ lệ sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp các vấn đề HVCX 57
Bảng 3.11. Bảng tương quan Person giữa các vấn đề hành vi cảm xúc và các mặt
nhân cách...................................................................................................................59
Bảng 3.12.Mô hình dự báo lo âu trầm cảm ...............................................................63
Bảng 3.13.Mô hình dự báo trầm cảm thu mình.........................................................65
Bảng 3.14.Mô hình dự báo bệnh tâm thể...................................................................68
Bảng 3.16.Mô hình dự báo vấn đề tư duy .................................................................72
Bảng 3.17. Mô hình dự báo vấn đề chú ý..................................................................75
Bảng 3.18. Mô hình dự báo vấn đề Phá bỏ quy tắc...................................................77
Bảng 3.19. Mô hình dự báo vấn đề Hành vi xâm kích ..............................................79
1
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi các nhà tâm lý học lần đầu tiên tự hỏi điều gì xảy ra với nhân cách trong
suốt cuộc đời, các nhà nghiên cứu đã cho thấy có rất nhiều điều để nói về thời thơ
ấu, thời thơ ấu và thanh thiếu niên. Tuy nhiên, hầu hết giả định rằng tuổi trưởng
thành là điểm cuối của sự phát triển nhân cách (một người trưởng thành, từ điển cho
chúng ta biết, là một cá nhân phát triển đầy đủ). William James (1890), đã có một
tuyên bố rất nổi tiếng khi cho rằng, tính cách nhân vật “giống như thạch cao” ở độ
tuổi 30. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chứng minh về những thay đổi trong tính
cách ở thời thơ ấu và thanh thiếu niên. Trẻ sơ sinh trở nên nhạy cảm với những
khuôn mặt quen thuộc chỉ khoảng 30 ngày; lúc 8 tháng, trẻ có khả năng phát triển
nỗi lo lắng ly thân khi bị bắt đi khỏi cha mẹ. Tiếp đến, thời thơ ấu là giai đoạn tuân
thủ của hầu hết trẻ em và thanh thiếu niên nói chung được thừa nhận là một thời kỳ
nổi loạn và hỗn loạn. Kết quả nghiên cứu cho thấy lòng tự trọng thường thấp trong
giai đoạn này và tăng lên khi cá nhân đến tuổi trưởng thành [59]
Đặc biệt, khi nghiên cứu về nhân cách thường được thể hiện rõ nhất ở độ tuổi
nào là phù hợp đã cho thấy sự đa dạng ở các nghiên cứu theo từng giai đoạn khác
nhau. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều quan điểm cho thấy các nghiên cứu về đặc điểm
nhân cách cũng như cảm xúc hành vi ở độ tuổi thanh thiếu niên và người trưởng
thành. Cụ thể, hầu hết các nhà tâm lý học xem xét sinh viên đại học tại thời điểm tốt
nghiệp hoặc thể hiện một số khía cạnh về phát triển nhân cách khi ở độ tuổi trưởng
thành. Có thể thấy, ở độ tuổi này có lý do để suy nghĩ rằng sự phát triển nhân cách
vẫn tiếp tục, ít nhất là đối với một số cá nhân, trong vài năm tiếp diễn [50][51][52].
Các báo cáo nghiên cứu về các cá nhân từ tuổi đại học đến tuổi trưởng thành gần
như luôn cho thấy một số thay đổi ở mức độ trung bình về đặc điểm tính cách và
biến động cao hơn so với các nghiên cứu về các cá nhân lớn tuổi[50] [59]. Khi so
sánh điểm số tính cách của sinh viên đại học với 10 người trưởng thành trong bản
kiểm kê tính cách NEO (Costa & McCrae, 1985, 1989a), thang đo về năm yếu tố
tính cách đã cho thấy sinh viên sự thể hiện các đặc điểm nhân cách về mặt nhiễu
2
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
tâm, hướng ngoại, cởi mở cao hơn là đồng thuận và tận tâm. Những khác biệt này
cho thấy sinh viên đại học trưởng thành và nhẹ nhàng hơn một chút, trở nên ít cảm
xúc và linh hoạt hơn, tử tế và có trách nhiệm hơn. Như vậy, nếu định nghĩa tuổi
trưởng thành là giai đoạn từ 18 tuổi trở đi, các nghiên cứu đã phần nào cho thấy có
sự phát triển về đặc điểm nhân cách ở người trưởng thành. Vậy phải chăng ở độ tuổi
trưởng thành hay cụ thể là độ tuổi sinh viên sẽ cho thấy đặc điểm nhân cách và cảm
xúc hành vi không được thể hiện nhiều hay vẫn còn tiếp tục phát triển cho đến độ
tuổi cao hơn. Đó là một vài khía cạnh về học thuật được giới nghiên cứu tranh luận
mà đề tài quan tâm, làm rõ nhằm góp phần nâng cao nhận thức lý luận cho lĩnh vực
nghiên cứu và cũng là mục tiêu lý luận của đề tài.
Từ những đặc điểm nhân cách cũng phần nào phản ánh cảm xúc hành vi được
thể hiện qua các chỉ số về sức khỏe tâm thần của sinh viên. Sức khỏe tâm thần,
giống như các khía cạnh khác của sức khỏe, có thể bị ảnh hưởng bởi một loạt các
yếu tố kinh tế xã hội cần được giải quyết thông qua các chiến lược toàn diện nhằm
thúc đẩy, phòng ngừa, điều trị và phục hồi theo cách tiếp cận của cơ quan chính
phủ. Các yếu tố quyết định sức khỏe tâm thần và rối loạn tâm thần không chỉ bao
gồm các thuộc tính riêng lẻ như khả năng quản lý suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và
tương tác với người khác, mà còn các yếu tố xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị và
môi trường cũng như chính sách quốc gia, bảo vệ xã hội, sinh hoạt, tiêu chuẩn sinh
hoạt, điều kiện làm việc và hỗ trợ cộng đồng xã hội. Nghiên cứu sinh viên năm hai
hệ bác sĩ của trường Đại học Y Hà Nội tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ trầm cảm trong
nhóm sinh viên có kiểu nhân cách hướng nội (33,05%) cao hơn so với nhóm sinh
viên có kiểu nhân cách hướng ngoại (17,36%), tỷ lệ trầm cảm trong nhóm sinh viên
có kiểu nhân cách không ổn định cao hơn so với nhóm sinh viên có kiểu nhân cách
ổn định, sinh viên có nhân cách không ổn định có nguy cơ trầm cảm cao gấp hơn 5
lần so với kiểu nhân cách ổn định [29].
Đặc biệt, đối tượng sinh viên ngành công nghệ thông tin (CNTT) – ngành học
có đặc thù yêu cầu trình độ và kiến thức cao, có thời gian ngồi máy tính rất dài, ít
vận động, có những thời điểm kéo dài vài ngày, không ăn, không ngủ, điều này làm
tăng nguy cơ mắc các bệnh không chỉ về cơ thể mà còn về tinh thần. Nguyên nhân
3
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
các rối loạn cảm xúc, hành vi ở thanh thiếu niên chủ yếu xuất phát từ yếu tố sinh
học, yếu tố môi trường hoặc kết hợp cả hai. Ví dụ về các yếu tố sinh học như yếu tố
di truyền, cân bằng sinh hóa trong cơ thể, tổn thương hệ thần kinh trung ương (chấn
thương sọ não. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần như bị bạo
hành, bị thảm họa, mất người thân [24] [27].
Trước thực trạng như vậy một số câu hỏi được đặt ra như: Đặc điểm nhân cách
và những vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên được thể hiện như thế nào? Có mối
liên hệ nào giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên
ngành công nghệ thông tin? Có những mặt nhân cách nào điểm cao thì có xu hướng
dễ gặp vấn đề hành vi cảm xúc? Đó là những câu hỏi cần có câu trả lời xác đáng.
Với những lý do trên, việc nghiên cứu “Nghiên cứu đặc điểm nhân cách và
những vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên ngành công nghệ thông tin” là việc làm
cần thiết nhằm tìm hiểu đặc điểm, yếu tố tác động đến nhân cách, cảm xúc hành vi
cũng như có sự so sánh, làm rõ mối liên hệ giữa hai yếu tố đó. Đề tài lựa khảo sát
sinh viên chuyên ngành công nghệ thông tin tại Đại học FPT để thực hiện nghiên
cứu bởi trong giới hạn nguồn lực cho phép của một nghiên cứu thực nghiệm.
Trường Đại học FPT với sự đa dạng về độ tuổi, giới tính,ngành học, trình độ học
vấn, quê quán sẽ giúp cho việc lựa chọn mẫu nghiên cứu phù hợp với nội dung, mục
tiêu nghiên cứu và kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu cũng như tính đúng đắn
của các lý thuyết nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng đặc điểm nhân cách và cảm xúc hành vi của sinh viên năm nhất
ngành công nghệ thông tin trường Đại học FPT. Từ đó tìm được được mối liên hệ
giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi và dự báo xu hướng tác
động của từng mặt nhân cách đến các vấn đề cảm xúc hành vi, nhằm đề xuất một số
giải pháp hỗ trợ công tác tư vấn hướng nghiệp và tâm lý học đường trong trường
học hiệu quả hơn.
3. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
3.1.Câu hỏi nghiên cứu
4
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
1. Đặc điểm nhân cách và những vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên được
thể hiện như thế nào?
2. Có mối liên hệ nào giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi
của sinh viên ngành công nghệ thông tin?
3. Có những mặt nhân cách nào có xu hướng tác động, ảnh hưởng tới sự xuất
hiện các vấn đề cảm xúc hành vi khác nhau ở sinh viên ngành công nghệ
thông tin.
3.2.Giả thuyết nghiên cứu
- Đặc điểm nổi bật về nhân cách của sinh viên công nghệ thông tin ĐH FPT là tính
hướng ngoại, nhiệt huyết.
- Sinh viên công nghệ thông tin ĐH FPT gặp vấn đề rối loạn hành vi nhiều hơn rối
loạn cảm xúc.
- Các vấn đề cảm xúc hành vi khác nhau thường có mối liên quan đến đặc điểm
nhân cách theo xu hướng điểm nhiễu tâm nào càng cao thì điểm rối loạn các vấn
đề cảm xúc hành vi càng cao.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
- Tổng quan nghiên cứu về nhân cách theo thuyết 5 mặt lớn, các nghiên cứu về
SKTT và mối quan hệ giữa các yếu tố này
- Thao tác hóa các khái niệm liên quan đến đề tài: sinh viên, nhân cách, vấn đề
cảm xúc và hành vi như lo âu, trầm cảm, rối nhiễu chống đối.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
- Phân tích trực trạng các đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ
thông tin.
- Phân tích thực trạng các vấn đề cảm xúc – hành vi mà sinh viên ngành công nghệ
thông tin đang gặp phải.
- Tìm hiểu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách với các vấn đề cảm xúc – hành vi
của sinh viên ngành công nghệ thông tin.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
- Đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên năm nhất ngành
5
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
công nghệ thông tin.
b. Khách thể nghiên cứu
- 325 sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin trường ĐH FPT Hà Nội.
6. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính: (1) Nghiên cứu tài liệu, (2)
điều tra bảng hỏi/trắc nghiệm, (3) xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học.
7. Giới hạn nghiên cứu
Giới hạn nội dung: Nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng các mặt nhân cách và các
vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên công nghệ thông tin. Đồng thời chỉ ra mối
tương quan giữa nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi.
Giới hạn thời gian: Từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020.
Giới hạn địa điểm: Khảo sát được tiến hành trên 325 sinh viên công nghệ thông tin
năm thứ nhất tại trường ĐH FPT – km29 khu giáo dục đào tạo, khu công nghệ cao
Hòa Lạc, Thạch Thất, Hà Nội. Trường FPT là một trong những trường hàng đầu về
công nghệ, hội tụ đa dạng các đối tượng khác nhau trên khắp cả nước thi vào
trường. Từ những sinh viên giỏi và xuất sắc giành được học bổng của trường đến
những sinh viên khá thi đỗ vào trường và cả những sinh viên trung bình xét học bạ
cũng có thể theo học ngành công nghệ thông tin tại trường. Đây là một ngành học
đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, đang thu hút trên thị trường lao động trong và
ngoài nước. Đặc thù của ngành là làm việc với phần mềm và máy tính, tí có thời
gian tương tác giữa người với người đồng thời ít vận động nên có nguy cơ gặp các
vấn đề sức khỏe tâm thần cao.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được
trình bày trong 3 chương
Chương 1: Trình bày tổng quan cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và cách thức tổ chức triển khai nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
6
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Những nghiên cứu về đặc điểm nhân cách
1.1.1. Các lý thuyết nghiên cứu nhân cách
Theo lý thuyết chất dịch: quan niệm vốn có trong lý thuyết này là cơ thể
người chứa đựng những chất dịch (chất lỏng), đặc biệt có nhiều nhất trong cơ thể
như máu, dãi, đờm, mật vàng, và mật đen, và những chất này có ảnh hưởng nhiều
tới nhân cách của con người. Theo đó những người có tỉ lệ máu cao thì thường có
nhân cách hoạt bát, vui vẻ, sinh động, còn những người có tỉ lệ mật vàng hay nước
mắt cao hơn sẽ tạo ra tính cách nóng nảy, hấp tấp [45].
Theo lý thuyết phân tâm của Freud: Cấu trúc nhân cách có ba thành phần,
bao gồm: Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi. Freud cho rằng nhân cách của cá nhân có
liên quan chặt chẽ với quá trình của ý thức và libido, được xây dựng và định hình
lúc 5 tuổi, đây là thời kỳ quan trọng nhất quyết định toàn bộ sự phát triển của một
đời người [45].
Lý thuyết của Karl Gustav Jung cho rằng có một vô thức tập thể hình thành
từ những động cơ nguyên thủy của loài người. Trong cấu trúc này, cái tôi là trung
tâm của ý thức, nhân cách là mẹ của ý thức, vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm
lý cá nhân. Cái bản thân nằm giữa ý thức và vô thức. Cái bản thân là sự tổng hợp
cái bên trong và cái bên ngoài [44].
Lý thuyết 8 giai đoạn phát triển của Erikson: nhân cách như thế nào chính
là quá trình mỗi cá nhân đối phó với những mâu thuẫn gặp phải trong các giai
đoạn đó [45].
Lý thuyết về hành vi về nhân cách của B.F.Skinner: Hành vi tạo tác là hành
vi được hiểu là loại hành vi được tạo ra bởi chính hiệu quả của nó. Và sự hình thành
và phát triển nhân cách chính là sự hình thành, duy trì, thay đổi một hệ thống các
hành vi tạo tác để tạo nên một nhân cách ổn định, riêng biệt [45].
Thuyết hành vi xã hội: nhóm các lý thuyết này xem nhân cách phần lớn là kết
quả của sự tập quen. Những lý thuyết này thay đổi từ thuyết kích thích – phản ứng
theo thuyết hành vi, xem nhân cách đơn thuần là kết quả của vô số các lần biến đổi
7
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
do điều kiện ngoại cảnh mà trẻ tiếp nhận qua đời sống, cho đến lý thuyết ý thức xã
hội và hành vi xã hội phức tạp hơn, xem kinh nghiệm xã hội là yếu tố quan trọng
quyết định nhân cách [46] [51].
Nhân cách theo thuyết hành vi xã hội: Albert Bandura cho rằng yếu tố xã hội
trong việc hình thành nhân cách quan trọng hơn sự thừa nhận của Watson hay
Skinner. Bandura cho rằng một quá trình quyết định liên quan đến nhân cách đó là
học tập xã hội [45]
Lý thuyết nhu cầu về nhân cách của Maslow: Theo quan niệm của ông, sự
phát triển của nhân cách chính là quá trình mỗi các nhân tiến hành các hoạt động
khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của mình. Chính quá trình mỗi các nhân
tiến hành các hoạt động khác nhau của mình một cách đa dạng và phong phú để thỏa
mãn các nhu cầu của mình quy định chiều hướng phát triển nhân cách của họ.
Lý thuyết thân chủ trọng tâm cùa Carl Rogers: ở lý thuyết này, khái niệm cái
tôi và sự phát triển cá nhân được nhấn mạnh, cho rằng cả hai yếu tố này đều cần
thiết trong việc phát triển nhân cách lành mạnh [45].
Lý thuyết tâm lý học hoạt động về nhân cách cảu Vuwgotxki: Ông cho rằng
“lịch sử phát triển văn hóa của trẻ đưa chúng ta đến lịch sử phát triển nhân cách”
hay nói cách khác, sự phát triển nhân cách và thế giới quan của trẻ chính là sự phát
triển văn hóa.
Lý thuyết nhân cách của Cattell: nhờ áp dụng phân tích nhân tố, nhà tâm lý
học nhân cách Raymond Cattell đã tìm ra 16 đặc điểm tượng trưng cho các khuôn
khổ nhân cách cơ bản. Từ đó phát triển thành bảng câu hỏi 16 nhân tố của nhân
cách, là cách đánh giá cho biết mỗi đặc điểm nhân cách dành cho ba nhóm đối
tượng khác nhau: phi công, nghệ sĩ sáng tạo và nhà văn [46]
Nhà tâm lý học người Anh (sinh ra ở Đức) - Hans Eysenck cũng sử dụng
phân tích nhân tố để nhận dạng các mẫu trong đặc điểm nhân cách. Ông nhận thấy
phân tích nhân cách tốt nhất nên mô tả bằng thuật ngữ gồm hai khuôn khổ hướng
nội - hướng ngoại và thần kinh ổn định - không ổn định. Khi phân tích theo hướng
nội - hướng ngoại sẽ phân làm hai nhóm: một nhóm là người thường điềm tĩnh, cẩn
thận trầm ngâm và ức chế (người hướng nội) còn một nhóm khác là những người
8
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
luôn vượt lên trước, hòa đồng và hoạt động (người hướng ngoại). Con người cũng
có thể chia thành kiểu người không ổn định với các biểu hiện như buồn rầu, hay tự
ái, nhạy hay nhóm người ổn định với các biểu hiện điềm tĩnh, đáng tin. Với cách
đánh giá con người theo hai chiều hướng này, nhà tâm lý Eysenck có thể dự đoán
hành vi con người trong những tình huống khác nhau. Với những ưu điểm như số
câu vừa phải và dễ diễn giải, dễ hiểu, thang đo nhân cách Eysenck (Eysenck
Personality Inventory, viết tắt là EPỈ) đã được dịch và đưa vào sử dụng trong
nghiên cứu, giảng dạy và thực hành lâm sàng ở Việt Nam khá lâu.
Như vậy, có rất nhiều những lý thuyết nhân cách khác nhau trong ngành tâm
lý học, mỗi lý thuyết có ưu, nhược điểm khác nhau. Trong đó, không thể không
nhắc đến lý thuyết 5 yếu tố lớn của nhân cách.
Mục đích của thuyết 5 nhân tố FFM (Five Factor Model) là nhằm "quan sát
người khác, ghi chép lại những sự khác biệt giữa các cá nhân đó". Qua nghiên cứu
từ vựng (lexical study), người ta giả định rằng "sự khác biệt giữa các cá nhân có ý
nghĩa quan trọng trong hoạt động con người được ký hiệu hóa thành ngôn ngữ
(ngôn ngữ tự nhiên) sử dụng hằng ngày. Do đó nếu tập trung, phân loại, chỉnh lý
các từ ngữ biểu hiện sự khác biệt cá nhân (đặc tính ngữ) có trong từ điển hay những
mô tả người có trong tiếp xúc và ghi chép thì có thể nhìn thấy cấu trúc của nhân
cách.
Những nghiên cứu về từ vựng được bắt đầu từ Alloprt, G.W. và Odbert, H.S.
(1936) cùng với sự phát triển của phương pháp phân tích nhân tố đã phát triển thành
ghi chép nhân cách dựa vào 5 nhân tố. Tiếp theo các nghiên cứu của Tupes, E.C and
Christal, R.E (l961) rồi Norman, W.T (1963), Goldberg, L.R trên cơ sở xem xét lại
bản chất ý nghĩa tâm lý của các yếu tố, đã đi đến chỗ coi 5 nhân tố là mô hình có thể
ghi chép một cách bao quát ve nhân cách vượt qua sự phân loại đơn thuần về đặc
tính ngữ (hay những từ ngữ biểu thị đặc tính nhân cách, D.Peabody, D & Goldberg,
L.R., 1989).
Phương pháp cấu thành thước đo trên cơ sở lý thuyết nhân cách và sử dụng
thước đo đó để ghi chép về những sự khác biệt cá nhân được gọi là nghiên cứu
phiếu hỏi hay nghiên cứu qua hỏi đáp viết (questionnaire study). Trong khi nghiên
9
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
cứu từ vựng xuất phát từ sự quan tâm đến từ vựng (đặc tính ngữ) và cơ cấu của nó
để hệ thống hóa chúng theo phương thức từ dưới lên (bottom up) và tìm ra đặc tính
nhân cách ở thứ nguyên cao thì trong nghiên cứu qua hỏi đáp viết chủ yếu người ta
dùng phương pháp xác minh cấu trúc nhân cách từ lí luận với phương thức từ trên
xuống (top down). Trong bối cảnh như vậy những nghiên cứu nhằm nắm bắt nhân
cách một cách tổng quát đi tìm những mô hình dễ hiểu được tiến hành nhiều lần,
dần dần những thành tựu của nghiên cứu từ vựng và nghiên cứu hỏi đáp viết được
đưa vào kết hợp lại và hình thành nên FFM. Kết quả là thước đo với 5 nhân tố định
sẵn ra đời. Trong số đó có NEO PI-R (Revised NEO Personality lnventory) một mô
hình hiện nay đang được sử dụng rộng rãi nhân đã được Costa, P.T., Jr và Mccrae,
R.R đưa ra năm 1992. Thước đo này đo 5 mặt (lĩnh vực) của nhân cách, mỗi mặt
bao gồm 6 chỉ số và mỗi chỉ số được đo bằng 8 hành vi thể hiện (8 items). Như vậy
tổng cộng trắc nghiệm có 240 items. Với giả định về cơ cấu tầng bậc của các mặt và
chỉ số, người ta hy vọng sẽ nắm bắt được nhân cách một cách tổng quát và chi tiết.
Năm 1996, McCrae và Costa đưa ra lý thuyết năm yếu tố. Lý thuyết này chỉ
ra năm yếu tố cơ bản của nhân cách, còn gọi là Big Five, bao gồm: Tính thần kinh;
tính hướng ngoại; Tính mở đối với hiểu biết; Tính dễ chịu; Tính ý thức. Nguồn gốc
của mô hình nhân cách năm yếu tố này là quan điểm nét nhân cách là một yếu tố ổn
định của nhân cách, trong khi các thuộc tính tâm lý khác như: Thái độ, niềm tin, kỹ
năng … thì có thể thay đổi theo thời gian và tình huống. Từ quan điểm này, Cattell
và cộng sự cho rằng cần phân biệt những yếu tố cơ bản của nhân cách (Big Five)
với các đặc trưng thích ứng của nahan cách. Lý thuyết năm yếu tố muốn nhấn mạnh
rằng nhân cách cần phải được xem xét một cách tổng thể và trong suốt chiều dài
lịch sử của cá nhân chứ không nên xem như là một mẫu hành vi tách biệt.
Có nhiều nhiên cứu chỉ ra rằng năm yếu tố cơ bản của nhân cách chịu sự chi
phối lớn bởi yếu tố di truyền, tuy nhiên tác giả của mô hình này (McCrae và Costa)
cho rằng môi trường cũng có ảnh hưởng lớn đến nhân cách.
Trong nghiên cứu của McCrae và Costa cũng tìm thấy độ tin cậy và độ giá trị
của 5 yếu tố và các yếu tố này khá ổn định ở lứa tuổi trưởng thành. Golberg sau khi
10
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
tổng hợp các nghiên cứu của những người khác nhau ông đã đề nghị lấy tên gọi 5
mặt đó là “Big Five”.
Theo lý thuyết này, 5 mặt nhân cách mà được nhiều người tán thành nhất đó
là Nhiễu tâm (Neuroticism), Hướng ngoại (Extraversion), Cởi mớ (Openness), Dễ
đồng ý (Agreeableness) và Tận tâm (Coscientiouness). Ý nghĩa của của 5 yếu tố
được diễn giải như sau:
Nhiễu tâm (N) là mặt nhân cách đánh giá khả năng kiểm soát và ổn định về
mặt cảm xúc, dự đoán những cá nhân có nguy cơ dễ rơi vào stress tâm lý hoặc có
những ý tưởng phi thực tế, những khao khát thái quá.
Hướng ngoại (E) là mặt nhân cách dùng để đánh giá tần xuất và cường độ các
tương tác liên cá nhân, mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng.
Cởi mở (O) là mặt nhân cách để đánh giá hành vi sẵn sàng thử nghiệm, học
hỏi cái mới, đánh giá cao sự nắm giữ kinh nghiệm, khả năng chịu đựng để khảo sát
những cái mới lạ.
Dễ đồng ý/Dễ chấp nhận (A): mặt nhân cách này đánh giá chất lượng định
hướng liên cá nhân của con người với một chuỗi từ sự đồng tình đến đối nghịch
trong suy nghĩ, cảm giác và hành động.
Tận tâm (C): mặt nhân cách này đánh giá khả năng tổ chức công việc, động
cơ, uy tín trong hành vi nhằm hướng tới mục tiêu của cá nhân. Đặc điểm này tương
phản giữa những cá nhân khó tính, phụ thuộc với những người độc lập và mềm
mỏng [13] [51].
1.1.2. Các phương pháp nghiên cứu nhân cách
Trong nghiên cứu về nhân cách, có hai phương pháp đánh giá nhân cách là
phương pháp nghiên cứu trường hợp và phương pháp trắc nghiệm. Tuy nhiên,
phương pháp nghiên cứu trường hợp chủ yếu tiến hành giới hạn trên số lượng ít
khách thể và đòi hòi thời gian, công sức cũng như nhiều nguồn lực khác, lại không
tổng hợp khái quát trên phạm vi nhiều khách thể được nên với đề tài này, chúng tôi
sử dụng phương pháp trắc nghiệm để làm công cụ đánh giá nhân cách.
Hiện nay trên thế giới có nhiều trắc nghiệm làm công cụ đánh giá nhân cách.
Phải kể đến một số trắc nghiệm khá phổ biến như các trắc nghiệm phóng chiếu, trắc
11
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
nghiệm khách quan, sử dụng bảng hỏi nhân cách Eysenck (EPQ), bảng hỏi nhân
cách ba chiều (TPQ). Nghiên cứu xuyên văn hóa về vấn đề đo đạc nhân cách của
Cheung (2004) đã liệt kê một số trắc nghiệm được sử dụng tại các nước châu Á như
MMPI, EPQ, STAI và NEO PI-R.
Đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy trắc nghiệm nhân cách năm yếu tố (Five
Factor Model) được sử dụng cho đánh giá, tư vấn, lựa chọn, tuyển dụng nhân sự
cũng như xem xét tác động đến sự thành công trong nghề nghiệp như các nghiên
cứu của Boudreau, Boswell, & Judge năm 2001; Seibert & Kraimer năm 2001;
Gelissen & de Graaf năm 2006; Reed, Bruch, Haase năm 2004; Schmit & Ryan
năm 1993; Sutin và cộng sự năm 2009; Timmerman, 2004 và Detrick, & Chibnall
năm 2006. [59].
Trên thế giới, trắc nghiệm nhân cách phổ biến nhất, được nghiên cứu và sử
dụng nhiều nhất là các trắc ngiệm nhân cách năm yếu tố, trong đó nổi bật là trắc
nghiệm NEO của các tác giả Paul T.Costa và Robert R.McCrae, với phiên bản NEO
PI-R. Trắc nghiệm NEO PI-R là một trong những trắc nghiệm được lựa chọn sử
dụng với mục đích đánh giá về nghề nghiệp, có thể góp phần giúp xác định được sự
phù hợp tối ưu giữa một các nhân và công việc [51]. Một số nghiên cứu cho rằng
NEO PI-R đã được nghiên cứu và ứng dụng trong tâm lý học công nghiệp/tổ chức
[59].
Vì những lý do trên, trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng công cụ đánh
giá nhân cách là trắc nghiệm NEO – 60VN làm công cụ đo đạc, trắc nghiệm này
được thích nghi tại Việt Nam từ trắc nghiệm NEO PI-R bởi Trần Văn Công và cộng
sự vào năm 2016.
1.1.3. Một số nghiên cứu nhân cách trên thế giới và tại Việt Nam
Nghiên cứu của Jerome Kagan tại đại học Havard thực hiện trên 500 trẻ em sơ
sinh ( từ 4 tháng tuổi) được bắt đầu thực hiện từ năm 1989 và vẫn tiếp tục đến hiện
tại. Nghiên cứu này khẳng định bản chất phân biệt giữa người hướng nội và hướng
ngoại là sự nhạy cảm với các kích thích bên ngoài. Một nghiên cứu của tác giả
Haleh Saboori năm 2016 trên 200 học sinh trung học ở Tehran-Iran sử dụng thang
EPQ (Eysenck Personality Questionnaire ) cho kết quả 44,7% học sinh có nhân
12
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
cách hướng nội, 55,3% học sinh có nhân cách hướng ngoại [61].
Nghiên cứu năm 2017 của Pia Zeinoun và cộng sự về cấu trúc nhân cách rập –
Levantine trên 806 đối tượng xác định được nhân cách gồm 6 yếu tố: 1- đạo đức, 2-
sự chu đáo, 3- sự thống trị, 4- sự đồng nhất, 5- tích cực, 6- độ ổn định về cảm xúc.
Nghiên cứu của Dr.Kalyani Kenneth trên 41 trẻ em về mối liên quan giữa tính cách
và lòng tự trọng của trẻ sử dụng bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho thấy tương
quan không có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố thần kinh và long tự trọng của trẻ ( r=-
0,23; p=0,23). Ngược lại có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố hướng
ngoại- nội và lòng tự trọng của trẻ (r= 0,54; p<0,001).
Nghiên cứu của Gibert Jessup và cộng sự về việc đào tạo thí điểm 205 học
viên phi công sử dụng kết hợp bảng nghiệm kê nhân cách EPI để đánh giá. Kết quả
cho thấy rằng việc đào tạo thí điểm thất bại có tỷ lệ cao nhất ở những người có nhân
cách thần không ổn định và thấp nhất ở những người có nhân cách ổn định.
Nghiên cứu của D. Bartram và cộng sự về việc lựa chọn ứng cử viên cho việc huấn
luyện phi công trong quân đội điểm EPI đã được phân tích liên quan đến thành công
trong việc đào tạo. Những người có nhân cách ổn định và hướng ngoại có khả năng
thành công trong đào tạo hơn [50].
Thời kỳ đầu, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên cùng một số nhà khoa học khác
là những người khảo cứu về con người Việt Nam, đặt nền móng cho vấn đề nghiên cứu
về nhân cách người Việt. Về sau, các nhà tâm lý học Việt Nam chú ý nhiều hơn tới vấn
đề nhân cách người Việt Nam, tiêu biểu phải kể đến các tên tuổi: Phạm Minh Hạc, Lê
Đức Phúc, Trần Trọng Thủy, Đồ Long, Nguyễn Quang Uẩn.
Khái quát các nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam dưới góc độ tâm
lý học có các hướng chính sau:
Hướng thứ nhất, nghiên cứu tập trung làm rõ các đặc điểm, phẩm chất quan
trọng của một số đối tượng cụ thể như: nhân cách người sĩ quan, nhân cách người
Hà Nội, nhân cách người nông dân, nhân cách sinh viên … (1)
Nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Châu trong năm 2002 là một trong những
nghiên cứu theo hướng này, nghiên cứu thực hiện trên sinh viên trường đại học sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nữ sinh viên có kiểu nhân cách hướng ngoại
13
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
thích giao tiếp hơn, hiền lành, thiếu kiên định kém ý chí hơn nam sinh viên và dễ bị
tình cảm chi phối; sinh viên nam có kiểu hướng nội, đằm tính, nhanh nhẹn, dễ nóng
giận, nghiêm khác. Sinh viên khối xã hội là người hướng ngoại, trong đó sinh viên
khối tự nhiên ưa quyền lực hơn và chịu được sự căng thẳng cao hơn [3]
Nghiên cứu năm 2010 của Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Công với đề tài
“Một số đặc điểm nhân cách sinh viên học các ngành học khác nhau” tiến hành trên
1182 sinh viên thuộc 8 trường đại học, cao đẳng thuộc thành phố Hà Nội và Đà
Nẵng với khoảng 20 ngành học khác nhau. Nghiên cứu này đã cho thấy có sự khác
biệt ở một số đặc điểm nhân cách giữa sinh viên các ngành học và giữa sinh viên
nam và nữ. Sinh viên Nữ thể hiện tính dễ chịu, ngay thẳng và có thay đổi cảm xúc
nhiều hơn nam, trong khi đó sinh viên nam thể hiện tính nhiệt huyết và trí tuệ cao
hơn sinh viên nữ. Sinh viên ngành Nhân văn thể hiện sự hướng ngoại, nhiệt tình cao
hơn so với sinh viên Sư phạm [35].
Hướng thứ hai, nghiên cứu tập trung về đối tượng đặc thù. Ở hướng nghiên
cứu này, chủ yếu có các bài tạp chí quan tâm đến các vấn đề như sự hình thành và
phát triển của hệ thống động cơ (học tập. lao động, động cơ thành đạt…; khả năng
tự đánh giá, sự định hướng giá trị chung và định hướng giá trị trong các hoạt động
khác nhau, thái độ trước những vấn đề xã hội khác nhau cũng như đối với những
hoạt động khác nhau, tinh thần trách nhiệm, hứng thú và khả năng thích ứng.
Theo hướng nghiên cứu này phải kể đến là nghiên cứu vào năm 2008 của
Trần Anh Châu về tác động của một số đặc điểm nhân cách đến động cơ thành đạt
của thanh niên cho thấy đặc điểm nhân cách ít ảnh hưởng đến khía cạnh thể hiện
động cơ thành đạt [2]
Hướng thứ ba, nghiên cứu về những yếu tố, những phẩm chất tâm lý quan
trọng, tích cực thuộc về nhân cách thông qua các biện pháp tác động tâm lý-giáo
dục. Nghiên cứu tập trung các vấn đề: hình thành động cơ nhân cách của hoạt động
học tập, hình thành thái độ tích cực trong học tập và đối với các vấn đề xã hội hiện
nay; hình thành khả năng tự đánh giá, đánh giá khách quan, phù hợp; giáo dục tinh
thần trách nhiệm, giáo dục hình thành kĩ năng sống; …
14
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Hướng thứ tư là các nghiên cứu về những nhân cách bệnh lý, nhân cách đang
trong quá trình suy thoát, nhân cách phát triển lệch lạc. Những nghiên cứu này
nhằm phát hiện những nguyên nhân sâu xa của sự lệch lạc để trên cơ sở đó có
những biện pháp ngăn ngừa, trị liệu, giáo dục, tư vấn nhằm tạo một xã hội với
những con người phát triển lành mạnh cả về thể chất lẫn tâm lý. Đối tượng nghiên
cứu của hướng thứ tư này là: đặc điểm nhân cách của người nghiện ma túy; đặc
điểm nhân cách của gái mại dâm; ảnh hưởng của nhóm bạn tiêu cực đến những
hành vi lệch chuẩn, hành vi vi phạm pháp luật của trẻ vị thành niên …
Ví dụ như nghiên cứu của Nguyễn Thị Duyên về mối liên hệ giữa đặc điểm
nhân cách và hiện tượng bắt nạt trên 303 học sinh THPT ở tỉnh Bắc Ninh sử dụng
bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho kết quả những học sinh có nhân cách bình thản
ít khi bị bắt nạt, kiểu nhân cách hoạt bát và ưu tư tỷ lệ học sinh bị bắt nạt cao hơn
nhiều lần [8].
Luận án tiến sĩ tâm lý học xã hội năm 2002 của Phan Thị Mai Hương với đề
tài “ Tìm hiểu đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội của thanh niên nghiện ma túy
và mối liên hệ giữa chúng” cho thấy một số đặc điểm nhân cách nổi bật của nhóm
đối tượng này. Một là đặc điểm chú trọng đến cảm xúc: mất cân bằng cảm xúc. Hai
là phụ thuộc và thụ động. Ba là lối tư duy thử nghiệm và tầm nhìn hạn chế [20].
Cuối cùng, hướng thứ năm là nghiên cứu định lượng, lượng hóa các yếu tố nhân
cách: thích ứng test sáng tạo, test đánh giá kĩ năng xã hội, test định hướng giá trị
nhân cách,test đánh giá các mặt nhân cách của Cattell 16 PF.
Nhìn chung với năm hướng nghiên cứu này, dù mỗi hướng có những đặc trưng
riêng nhưng hội tụ lại cho thấy một bức tranh về nghiên cứu nhân cách ở Việt Nam
có nhiều chiều và cho những kết quả nhất định.
1.2. Một số về nghiên cứu về các vấn đề cảm xúc hành vi
Cuộc điều tra của Tổ chức Y tế thế giới vào năm 1990 (WHO) trên 60.559
người thuộc 14 quốc gia khác nhau bằng bộ câu hỏi CIDI nhằm xác định tỷ lệ bệnh
tâm thần trong cộng đồng, thiệt hại do bệnh tâm thần gây ra [39]. Kết quả nghiên
cứu thu được như sau (trích theo giáo trình “Dịch tễ học tâm thần, ĐH Y Phạm
Ngọc Thạch, tác giả Đặng Hoàng Hải) [14]
15
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Vùng và quốc
gia
Rối loạn tâm thần
Suốt đời 12 tháng
% Độ lệch chuẩn % Độ lệch chuẩn
Châu Âu
Ý 18 1.1 7.2 0.7
Tây Ban Nha 20 1.4 8.4 0.6
Đức 25 1.6 8.6 0.9
Bỉ 29 2.3 10 1.1
Hà Lan 21 3.1 11 0.9
Ukranie 33 1.7 19 1.3
Pháp 38 2 14 1.2
Châu Mỹ
Mexico 25 1.1 13 0.9
Colombia 36 1.4 18 0.9
Mỹ 47 1.1 26 0.9
Châu Á
Thành phố Bắc
Kinh
17 2.4 9.3 1.6
Thành phố
Thượng Hải
8.6 1.3 4.5 0.9
Nhật Bản 20 1.7 8.3 1.1
Theo tổ chức Y tế thế giới, thống kê nghiên cứu dịch tễ về vấn đề sức khỏe
tâm thần ở thanh thiếu niên cho thấy: 20% trẻ em và thanh thiếu niên trên thế giới
được tiên lượng là có rối loạn hay vấn đề về tâm thần. Trong đó khoảng ½ các rối
loạn tâm thần bắt đầu từ trước lứa tuổi 14. Đây là vấn đề thực tế đang gặp phải và
gây ra khó khăn, lo lắng cho nhiều gia đình [39]. Ngoài ra, rối loạn nhân cách trong
đó có các vấn đề cảm xúc hành vi là một dạng tổn thương sức khỏe tinh thần [41].
16
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Tại Việt Nam, tổng quan các bằng chứng về sức khỏe tâm thần ở Việt Nam cho
thấy tỉ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung đối với trẻ em và vị thành
niên ở Việt Nam dao động từ 8% đến 29% và khác nhau theo tỉnh, giới tính và đặc
điểm người trả lời và tùy thuộc vào phương pháp nghiên cứu. Một khảo sát về dịch tễ
học gần đây trên mẫu đại diện quốc gia của 10 trong số 63 tỉnh/ thành cho thấy tỉ lệ
trung bình các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em khoảng 12% đồng nghĩa với việc hơn
3 triệu trẻ em có nhu cầu về các dịch vụ sức khỏe tâm thần. Các loại hình vấn đề sức
khỏe tâm thần phổ biến nhất trong trẻ em Việt Nam là các vấn đề hướng nội (lo âu,
trầm cảm, cô độc …) và vấn đề hướng ngoại (tăng động, giảm chú ý). Trong khi đang
gia tăng lo ngại về tỷ lệ tự tử trong thanh thiếu niên ở Việt Nam, tỷ lệ tự tử của Việt
Nam được báo cáo là thấp đáng kể so với những ước tính toàn cầu. Trong một nghiên
cứu ở 90 quốc gia, trên tổng số ca tử vong ở vị thành niên là 9,1%) trong khi ở Việt
Nam, tỷ lệ này là 2.3% (Blum và cộng sự 2012). Tuy nhiên, lạm dụng chất, đặc biệt
là thuốc lá là phổ biến trong nam vị thanh niên Việt Nam (gần 40%) [46].
Theo nghiên cứu do McKelvey và cộng sự thực hiện trên 1546 trẻ em từ 4 đến
18 tuổi ở hai khu vực dân cư tại Hà Nội bằng CBCL (bảng kiểm kê hành iv trẻ em
dành cho cha mẹ) do bố mẹ các em thực hiện đồng thời thu thập thông tin về phía
các em. Dựa theo tiêu chuẩn của Mỹ , từ độ tuổi 4 đến 11 có 5.3% trẻ nam và 7.7%
trẻ nữ, từ độ tuổi 12 đến 18 có 9.5% trẻ nam và 10.1 trẻ nữ được coi là mắc các rối
loại sức khỏe tâm thần.
Viện sức khỏe tâm thần ban ngày Mai Hương, khảo sát sức khỏe tâm thần học
sinh trường học thành phố Hà Nội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế thế giới
chuẩn hóa Việt Nam cho thấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1202 học sinh viên học và
trung học cơ sở từ 10 đến 16 tuổi có tỷ lể vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung là
19.46%. Không có sự khác viể giới tính, cấp học, trường nội thành hay ngoại thành.
Đặng Hoàng Minh và Hoàng Cẩm Tú năm 2009 sử dụng công cụ YSR thực
hiện khảo sát trên 1727 học sinh, lứa tuổi 11-15 ở 2 trường THCS Hà Nội cho thấy
trẻ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần là 10.94% [28].
Nghiên cứu “Điều tra tỉ lệ trẻ em và vị thành niên ở miền bắc có các vấn đề sức
khỏe tâm thần” trên 240 trẻ vị thành niên tuổi từ 12 đến 16 ở các tỉnh, thành phố: Hà
17
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Hòa Bình của Nguyễn Cao Minh cho thấy có khoảng
18% số trẻ gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Nam và nữ có tỉ lệ cân bằng [26].
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu tỉ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ
em và thanh thiếu niên ở Việt Nam từ 9% đến 20%.
1.3. Mối liên hệ giữa nhân cách và các vấn đề hành vi cảm xúc
Trong quá trình nhân cách phát triển, nó sẽ đi theo hai hướng: Hướng tích cực:
Là những nhân cách phát triển phù hợp với giá trị xã hội; Hướng bệnh lý: Là những
nhân cách phát triển không phù hợp với giá trị xã hội.
Một nhân cách bình thường là một nhân cách mà quá trình phát triển của nó
đi theo các chuẩn mực chung được xã hội thừa nhận. Sự phát triển đó được cá nhân
thừa nhận và là động lực cho sự phát triển của cá nhân. Một nhân cách bình thường
được đánh giá bởi các tiêu chí sau: Tính sẵn sàng trải nghiệm; Sự tận tâm; Tính
hướng ngoại; Tính dễ hợp; Nhiễu tâm.
Tiêu chí để đánh giá sự hình thành nhân cách mỗi cá nhân là tính tích cực
hoạt động của cá nhân đó. Nếu không tham gia hoạt động, cá nhân sẽ không hình
thành được tâm lý, ý thức, nhân cách theo đó cũng không được hình thành. Một
nhân cách được hình thành từ hoạt động của chính họ. Do đó, sẽ là không bình
thường nếu một nhân cách thể hiện sự không sẵn sàng trải nghiệm.
Mặt khác, bản chất hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, có mục
đích. Bất kể một hoạt động nào, dù là tốt hay xấu thì cũng đều vì một mục đích nhất
định. Nếu hoạt động của con người không thể hiện mục đích, sự cố gắng, tận tâm
của chủ thể thì đó cũng có thể là dấu hiệu của một nhân cách không bình thường.
Điều này thấy rõ ở những người làm mà không biết mình làm gì, hoặc thậm chí
không biết là mình đang làm, hoặc ở những người thực hiện hoạt động một cách hời
hợt, không có trách nhiệm, không hướng đến mục tiêu.
Điều kiện để nhân cách phát triển là thực hiện hoạt động và xác lập các
mối quan hệ xã hội qua giao tiếp. Giao tiếp giúp mỗi cá nhân lĩnh hội được
chuẩn mực của xã hội, hiện hữu trong các chế tài, quy định, hoặc trong cách ứng
xử của những người xung quanh. Nếu một người không giao tiếp, không thể hiện
tính hướng ngoại thì sẽ không có đủ thông tin để đối chiếu với bản thân, qua đó
18
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
quá trình phân tích thông tin có thể phiến diện, dẫn đến cac vấn đề trong quá
trình phát triên nhân cách.
Tính dễ hợp về bản chất chính là tính linh hoạt, dễ thích nghi của nhân cách.
Để duy trì những thuộc tính ổn định nhân cách cần linh hoạt trong các giai đoạn
phát triển. Nếu không đạt được tiêu chí này, một nhân cách không thể tham gia vào
các quá trình hoạt động và giao tiếp khác nhau, điều này có thể là hạn chế đối với sự
phát triển của nhân cách.
Mặt khác, một nhân cách bình thường là một nhân cách có những nhiễu tâm,
nhận thức được những nhiễu tâm đó và có nhu cầu giải quyết nó. Khi nhân cách
không thể nhận thức được rằng mình có nhiễu tâm, phủ nhận những vấn đề tâm lý
của mình là nhân cách có dấu hiệu bệnh lý. Hoặc khi các nhiễu tâm không được giải
quyết, duy trì và phát triển trong suốt cuộc đời con người trở thành các nhân cách
bệnh lý.
Một nhân cách không đáp ứng các tiêu chuẩn trên có thể được xem xét như
là đang trong trạng thái rối loạn.
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn tâm thần lần thứ V của Hiệp hội Tâm
thần Hoa Kỳ (DSM V), rối loạn nhân cách được chẩn đoán trên cơ sở các tiêu chí sau:
- Những mẫu hình hành vi bền vững và trải nghiệm bên trong sai lệch so với
các chuẩn mực văn hóa cá nhân.
- Không linh hoạt một cách tương đối và lan tỏa hầu khắp các tình huống cá
nhân và xã hội.
- Làm đau khổ hoặc làm yếu kém chức năng một cách đáng kể.
- Mẫu hình ổn định, lâu dài và khởi đầu trước khi trưởng thành.
- Không phải là nguyên nhân của việc dùng thuốc.
Hiện nay, những nhà chuyên môn sử dụng các bộ tiêu chí khác nhau để đánh
giá, chẩn đoán và phân loại các rối loạn nhân cách. Nhưng về cơ bản, có hai bộ tiêu
chí được sử dụng rộng rãi và chính thống nhất trên thế giới là: Bảng phân loại bệnh
tật quốc tế lần thứ 10” (ICD 10) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và “Sổ tay thống
kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần lần thứ 5” (DSM V) của Hiệp hội Tâm thần
Mỹ. Dù cách trình bày khác nhau, thuộc hai lĩnh vực khác nhau (Y học và Tâm lý
19
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
học), nhưng nhìn chung, cả hai bảng phân loại này đều hướng đến các nhóm bệnh
như: Rối loạn cảm xúc; Rối loạn hành vi; Rối loạn phát triển thần kinh; Rối loạn
tâm thần phân liệt và các rối loạn loạn thần ngắn; Rối loạn sinh lý và yếu tố thể
chất; Rối loạn liên quan nghiện chất; Rối loạn nhân cách [46]
Như vậy, bản chất đặc điểm nhân cách và rối loạn nhân cách có liên quan với
nhau, một trong những đặc trưng của rối loạn nhân cách là các vấn đề cảm xúc hành
vi. Ngoài ra, rối loạn nhân cách là một dạng tổn thương sức khỏe tinh thần [13].
Theo nghiên cứu của Davidson vào năm 2000, những rối loạn nhân cách thường đi
kèm với những rối loạn khác về cảm xúc/khí sắc. Cũng theo nghiên cứu nói trên, từ
24-27 % người rối loạn nhân cách cũng bị trầm cảm chủ yếu, và khoảng từ 4-20%
bị trầm cảm lưỡng cực. Tuy không biết chính xác tần số xảy ra đồng thời của rối
loạn lo âu, nhưng người ta cho rằng ở những người rối loạn nhân cách, tỉ lệ này lớn
hơn so với tỉ lệ chung. Trong nghiên cứu của APA năm 2000 cũng chỉ rõ rối loạn
chống đối xã hội và ái kỉ phổ biến hơn ở nam, trong đó có rối loạn kiểu đóng kịch
và rối loạn ranh giới lại phổ biến hơn ở nữ. Sau đâu là một giả định mô tả sơ lược
về rối loạn nhân cách chống đối xã hội, được đưa ra bởi mô hình 5 yếu tố về nhân
cách dành cho rối loạn nhân cách chống đối xã hội [52]:
 Trạng thái nhiễu tâm nhẹ: thiếu quan tâm đúng mức tới những vấn đề của
sức khỏe hay sự điều chỉnh xã hội; nhạt nhẽo về mặt cảm xúc.
 ít hướng ngoại: cô lập về mặt xã hội, tách mình ra khỏi các mối quan hệ
liên cá nhân và thiếu một hệ thống hỗ trợ xã hội; cảm xúc cùn mòn; thiếu niềm vui
và sự say mê cuộc sống; miễn cưỡng khẳng định bản thân hoặc thừa nhận các vai
trò xã hội, thậm chí cả khi được đánh giá cao; hạn chế về mặt xã hội và nhút nhát.
 Thiếu cởi mở: khó thích nghi với thay đổi về xã hội và con người; kém
chịu đựng hoặc ít hiểu được những quan điểm khác hay các kiểu sống khác; lạnh
nhạt về cảm xúc và không thể hiểu cũng như diễn đạt thành lời những cảm giác của
chính mình; mất nhận thức cảm xúc; thu hẹp phạm vi hứng thú; vô cảm với nghệ
thuật và thẩm mĩ; tuân theo quyền lực một cách thái quá.
 Khó đồng tình: ý nghĩ hoài nghi và ý tưởng giống hoang tưởng; không có
khả năng tin tưởng ngay cả bạn bè hay gia đình; dễ nổi cáu; luôn sẵn sàng đánh
20
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
nhau; thích liều lĩnh và lôi kéo; nói dối; ứng xử thiếu lịch sự và thiếu quan tâm làm
cho bạn bè xa lánh, làm hạn chế sự cảm thông từ phía xã hội; thiếu tôn trọng những
quy tắc xã hội dẫn đến rắc rối với pháp luật; cảm giác về bản thân được thổi phồng
và phô trương; kiêu căng ngạo mạn.
 Thiếu lương tâm: làm việc kém; không đáp ứng những tiềm năng trí tuệ và
nghệ thuật; biểu hiện học thuật liên quan đến khả năng nghèo nàn; vô kỉ luật và
thiếu trách nhiệm dẫn đến những rắc rối với pháp luật; không có khả năng tự kỉ luật
với bản thân (chẳng hạn như tuân theo chế độ ăn uống hay kế hoạch tập luyện) thậm
chí cả khi bị yêu cầu vì những lí do y tế; không quan tâm đến bản thân và có những
mối bận tâm bâng quơ.
Quan điểm chiều hướng này không chỉ được đưa ra trong lĩnh vực lí thuyết
và triết học mà nó còn tỏ ra hữu dụng hơn trong việc tiên lượng, so với hướng tiếp
cận của DSM. Chẳng hạn, Ullrich và cộng sự (2001) tìm ra rằng kết quả test nhân
cách còn có thể dùng để tiên lượng những hành vi lệch chuẩn tiếp theo tốt hơn so
với các hạng mục chẩn đoán rối loạn nhân cách chống đối xã hội. Qua các nhà lâm
sàng, Heumann và Morey (1990) cũng đã nhận thấy điểm chiều hướng đáng tin cậy
hơn so với chẩn đoán theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM.
Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa đặc điểm
nhân cách với các vấn đề cảm xúc hành vi như nghiên cứu của Nguyễn Thị Duyên
về mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt trên 303 học sinh
THPT ở tỉnh Bắc Ninh sử dụng bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho kết quả những
học sinh có nhân cách bình thản ít khi bị bắt nạt, kiểu nhân cách hoạt bát và ưu tư tỷ
lệ học sinh bị bắt nạt cao hơn nhiều lần [8]. Luận án tiến sĩ tâm lý học xã hội năm
2002 của Phan Thị Mai Hương với đề tài “ Tìm hiểu đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh
xã hội của thanh niên nghiện ma túy và mối liên hệ giữa chúng” cho thấy một số
đặc điểm nhân cách nổi bật của nhóm đối tượng này. Một là đặc điểm chú trọng đến
cảm xúc: mất cân bằng cảm xúc. Hai là phụ thuộc và thụ động. Ba là lối tư duy thử
nghiệm và tầm nhìn hạn chế [20]. Nghiên cứu của Lê Thị Huyền về “ĐẶc điểm
nhân cách và rối loạn trầm cảm của học sinh trung học phổ thông Cầu Giấy – Hà
21
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Nội năm học 2016 – 2017” cũng cho thấy mối tương quan giữa các mặt của nhân
cách với rối loạn trầm cảm.
Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam đã có những nghiên cứu bước đầu cho
thấy có mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi. Tuy
nhiên chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào một nhóm đối tượng, cụ thể ở đây là
sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin để tìm ra mối tương quan giữa đặc
điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi, đồng thời dự báo xu hướng nhân
cách có nguy cơ gặp các vấn đề cảm xúc hành vi. Nghiên cứu này của chúng tôi sẽ
làm rõ vấn đề trên.
1.4. Một số khái niệm cơ bản
1.4.1. Nhân cách
1.4.1.1. Định nghĩa
Theo từ điển oxford - từ điển xã hội học định nghĩa về nhân cách
(personality): Nhân cách là một trong vài khái niệm được các nhà khoa học xã hội
sử dụng để nói đến cá nhân. Khái niệm có nguồn gốc tiếng Latinh personal (nghĩa là
“mặt nạ”), và nói đến một tập hợp các đặc tính ít nhiều ổn định, theo đánh giá và
phán xét của người khác, giúp phân biệt một cá nhân này với một cá nhân khác.
Những đặc tính này được cho là bền vững qua không gian và thời gian, và chi phối
hành vi. Do đó thuật ngữ nhân cách nói đến cá nhân như một đối tượng (đối tượng
của sự đánh giá bên ngoài), trong khi khái niệm cái tôi nói đến cá nhân như một chủ
thể (như nguồn gốc của hành động và tự thể hiện)”.
Nhân cách đã có ba định nghĩa khác nhau trong các tác phẩm phương Tây
trong 2.000 năm qua. Quan niệm sớm nhất đề cập đến các loại hồ sơ tâm lý riêng
biệt được gây ra bởi sự cân bằng đặc biệt giữa các chất sinh học máu, đờm, mật
vàng và đen. Sự cân bằng giữa bốn nhóm luôn được theo dõi bởi chế độ ăn uống và
khí hậu, đã tạo thành một tập hợp các loại tính cách riêng biệt. Galen đã gọi bốn
loại này là máu, melancholic, đờm và choleric.
Theo lịch sử tâm lý học, mỗi trường phái tâm lý khác nhau có những quan
điểm khác nhau.
Theo Freud, người sáng lập ra Phân tâm học, thì nhân cách là một bộ máy tâm
22
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
thần, trong đó trung tâm của bộ máy đó là vô thức.
Theo lý thuyết hành vi của mình, trong đó đại diện là Skinner, thì nhân cách
được cho là tập hợp các hành vi tạo tác.
Theo lý thuyết học tập xã hội, với đại biểu là Bandura, thì nhân cách được cho
là tập hợp các hành vi tập nhiễm.
Trường phái tâm lý học nhân văn, đại biểu là Maslow và Rogers cho rằng nói
đến nhân cách là phải nói đến sức mạnh tiềm năng, ẩn tang trong mỗi con người, là
sự phát triển của các tôi với khuynh hướng hiện thực hóa bản thân.
Các nhà tâm lý học hoạt động thì lấy phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biến chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sự làm cơ sở lý luận cho rằng khi bàn đến
nhân cách cần nói đến các mặt: Tính tích cực của chủ thể; Nhân cách gắn liên với
nền văn hóa và lịch sự xã hội; Nhân cách là thái độ của cá nhân đối với xã hội, với
người khác và với chính minh [41].
Nhân cách là tổ chức phức tạp của nhận thức, ảnh hưởng và hành vi mang lại
định hướng và khuôn mẫu (sự gắn kết) cho cuộc sống của con người. Nhân cách
của con người bao gồm cả cấu trúc và quá trình và phản ánh cả bản chất (gen) và
kinh nghiệm nuôi dưỡng. [51]
Tiếp thu quan điểm của trường phái Tâm lý học hoạt động, các nhà Tâm lý
học Việt Nam cũng đưa ra một số quan niệm về nhân cách như sau: Nhân cách là
một khái niệm gắn với con người, là một con người đầy đủ Đức và Tài.
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm,
những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con
người” [11].
Tổng quan lại, ở những góc độ nghiên cứu các nhau, các nhà khoa học đưa ra
các định nghĩa và cách hiểu về khái niệm nhân cách cũng khác nhau. Tuy nhiên,
trong sự đa dạng đó, vẫn có những sự tương đồng giống nhau.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về nhân cách theo
quan điểm của tác giả Phạm Minh Hạc và cộng sự cho rằng “Nhân cách của con
người là hệ thống các thái độ của mỗi người, thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang
giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của cộng
23
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
đồng và xã hội. Độ phù hợp càng cao nhân cách càng lớn [13].
1.4.1.2. Đặc điểm nhân cách
Với quan điểm về nhân cách như trên, nhân cách gồm 4 đặc điểm sau: tính
ổn định, tính thống nhất, tính tích cực và tính giao lưu.
Tính ổn định của nhân cách thể hiện ở sự ổn định, có thay đổi, khó mất đi tạo
thành đặc trưng của mỗi cá thể. Để hình thành nhân cách, cần một thời gian, một
quá trình lâu dài. Tuy nhiên nhân cách cũng không phải bất biến do trong trong suốt
quá trình hình thành, nhân cách trải qua nhiều biến cố, có một số nét nhân cách thay
đổi tuy nhiên tổng quan chung thì nhân cách vẫn tương đối ổn định. Tính ổn định
của nhân cách giúp chúng ta dự đoán được những xu hướng hoạt động của nhân
cách, cụ thể là hành vi, thái độ, cách cư xử của một người trong những tính huống,
hoàn cảnh khác nhau.
Tính thống nhất là sự phù hợp giữa các mặt, các thuộc tính, các đặc điểm của
nhân cách thành một khối hoàn chỉnh. Tính thống nhất còn thể hiện sự phù hợp giữa
nhân cách trong quá khứ với nhân cách hiện tại và tương lai. Tính thống nhất của
nhân cách còn thể hiện ở sự phù hợp giữa ba cấp độ: cấp độ nhân cách cá nhân, cấp
độ liên nhân cách, cấp độ siêu nhân cách.
Tính tích cực của nhân cách thể hiện xu hướng hoàn thiện của nhân cách ở
các mặt: Thứ nhất, nhân cách được hình thành do tính tích cực hoạt động và giao
lưu ở mỗi cá nhân. Nhờ hoạt động, giao tiếp, nhân cách bộc lộ các phẩm chất, năng
lực của bản thân. Sự bộc lộ đó được đối chiếu với sự bộc lộ của các nhân cách
kahcs, qua đó các nhân cách giao lưu và ảnh hưởng, học hỏi lẫn nhau, giúp mỗi cá
nhân tự biết duy trì các nét nhân cách tích cực, dập tắt các nét nhân cách tiêu cực
của mình. Vì vậy, có thể nói tính tích cực của nhân cách thể hiện xu hướng hoàn
thiện nhân cách trong quá trình phát triển của nó.
Tính giao lưu của nhân cách thể hiện qua các hoạt động giao tiếp, thông qua
đó các cá thể ảnh hưởng và tác động lẫn nhau giúp nhân cách phát triển. Tính giao
lưu tác động đến nhân cách theo hai hướng: vừa là cơ hội để học hỏi, phát triển
nhân cách; cũng vừa là thách thức để các nhân cách soi lại bản thân và tự điều chỉnh
bản thanam vượt qua các ảnh hưởng tiêu cực từ quá trình giao lưu, lan tỏa ảnh
24
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
hưởng tốt đẹp đến những nhân cách rối loạn trong xã hội.
1.4.1.3. Cấu trúc của nhân cách
Cũng giống như định nghĩa về nhân cách, có rất nhiều quan điểm khác nhau
về cấu trúc của nhân cách và về các thành tố cấu thành nên nó cũng như mối quan
hệ giữa các thành tố này làm cho nhân cách trở thành một chỉnh thể trọn vẹn.
 Quan niệm coi nhân cách bao gồm ba lĩnh vực cơ bản là: nhận thức ( bao
gồm cả tri thức và năng lực trí tuệ), rung cảm (linh cảm và thái độ) và ý chí ( phẩm
chất ý chí, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen)
 Quan niệm coi nhân cách gồm bốn tiểu cấu trúc : xu hướng ( thế giới
quan, lý tướng, hứng thú, tâm thế...), kinh nghiệm ( tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói
quen), đặc điểm của các quá trình tâm lý ( các phẩm chất trí tuệ, ý chí, đặc điểm của
xúc cảm, tình cảm), các thuộc tính sinh học quan trọng ( khí chất, giới tính, lứa tuổi,
các đặc điểm bệnh lý..) [43]
 Quan niệm nhân cách có nhiều tầng: tầng nổi sáng tỏ bao gồm ý thức, tuệ
ý thức và ý thức nhóm và tầng “sâu” tối tăm ( bao gồm tiềm thức và vô thức)
 Quan niệm về các mặt đào tạo của nhân cách: đức, trí, thể, mỹ...
Ở Việt Nam, quan niệm cấu trúc nhân cách bao gồm hai mặt đức và tài (hay
phẩm chất và năng lực) có mối quan hệ thống nhất với nhau được nhiều nhà nghiên
cứu chấp nhận.
Dựa theo mô hình 5 mặt lớn của Costa & Mc Crae (Costa và cộng sự
năm 1985; 1998), trắc nghiệm NEO-PI-R được sử dụng trong nghiên cứu này coi
nhân cách gồm 5 mặt là N (Neuroticism): nhiễu tâm, mặt E (Extraverson): hướng
ngoại, mặt O (Openness): cởi mở, mặt A (Agreeableness): đồng thuận và mặt C
(Conscienticousness): tính tận tâm. Mỗi mặt có một ý nghĩa riêng.
 Nhiễu tâm (Neuroticism-N) đánh giá sự bất ổn định về cảm xúc, nhận ra
những người dễ rơi vào stress tâm lý, những ý tưởng phi thực tế, những khao khát
thái quá.
 Hướng ngoại (Extraverson): mặt này đánh giá số lượng và cường độ các
tương tác liên cá nhân, mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng.
25
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
 Cởi mở (Openness) là mặt mô tả việc lao vào thử nghiệm, đánh giá cao
sự nắm giữ kinh nghiệm, khả năng tìm kiếm những cái mới lạ.
 Đồng thuận/dễ chấp nhận (Agreeableness): Đánh giá chất lượng sự định
hướng liên cá nhân của con người theo một mức độ liên tục từ sự đồng tình đến đối
nghịch trong suy nghĩ, cảm giác và hành động.
 Tận tâm (Conscientiousness): mặt này đánh giá mức độ tổ chức, uy tín,
động cơ trong hành vi hướng tới mục đích của cá nhân. Nó tương phản giữa những
cá nhân phụ thuộc, khó tính với những người độc lập và mềm mỏng.
Thang đo NEP-PI-R đang bắt đầu được sử dụng phổ biến hơn trong đánh giá
nghề nghiệp ở châu Á (cheung 2004). Thang đo này đã được dịch, thử nghiệm,
thích nghi bằng tiếng việt và nghiên cứu, cho thấy độ tin cậy và độ hiệu lực cao
(Trần Văn Công và cộng sự 2016).
1.4.2. Vấn đề cảm xúc hành vi
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), sức khỏe tâm thần nói đến một loạt các
yếu tố có thể trực tiếp và gián tiếp liên quan đến sự lành mạnh về tâm trí, một yếu tố
quan trọng trong định nghĩa của WHO về sức khỏe “là trạng thái toàn diện về thể
chất, tinh thần và xã hội mà không phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay
thương tật”[37].
Cũng theo WHO, vấn đề sức khỏe tâm thần bao gồm rất nhiều các vấn đề
khác nhau từ nhẹ đến nặng với nhiều triệu chứng khác nhau. Tuy nhiên, một cách
khái quát, những triệu chứng này là sự kết hợp giữa suy nghĩ, cảm xúc, hành vi lệch
lạc và mối quan hệ với người khác lệch lạc. Các vấn đề tâm thần có thể là trầm cảm,
lo âu, stress… đến chậm phát triển và các rối loại liên quan đến việc lạm dụng chất
gây nghiệm. Những biểu hiện này ảnh hưởng đến chức năng cuộc sống hiện tại của
người đó. Cứ ba người thì có một người gặp vấn đề sức khỏe tâm thần. Và trong đời
người ai cũng có ít nhất một lần trải qua vấn đề sức khỏe tâm thần [35]. Về bản
chất, các rối loạn nhân cách bao gồm các vấn đề cảm xúc hành vi là một dạng tổn
thương sức khỏe tâm thần [13]
Đi kèm với khái niệm vấn đề sức khỏe tâm thần còn có khái niệm rối loạn
tâm thần, rối loạn nhân cách. Rối loạn tâm thần dùng đề chỉ những suy nghĩ, cảm
26
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
xúc, hành vi bị lệch lạc ở mỗi cá nhân và những biểu hiện này ảnh hưởng đến chức
năng cuộc sống hiện tại của cá nhân đó. Một người có thể có vấn đề sức khỏe thâm
thần nhưng không bị rối loạn tâm thần nếu vấn đề đó không ảnh hưởng đến chức
năng cuộc sống (gia đình, công việc, học tập …). Ví dụ một người sợ tiếng nhạc to,
người đó có thể gặp vấn đề sức khỏe tâm thần những không gặp rối nhiễu tâm thần
nếu chứng sợ tiếng nhạc to của họ không cản trở cuộc sống bình thường của họ.
Trong trường hợp người đó phải làm việc, công tác hoặc đến những nơi có tiếng
nhạc to, chứng sợ tiếng nhạc to ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của người đó
thì trường hợp này sẽ xác định là rối nhiễu tâm thần.
Hiện nay trên thế giới cho hai bảng phân loại về sức khỏe tâm thần được sử
dụng rộng rãi đó là cẩm nang chuẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần lần thứ
năm của hiệp hội tâm thần Mỹ lần thứ năm (DSM V) và bảng phân loại bệnh tật
quốc tế lần thứ mười (ICD 10). Hai bảng phân loại này ra đời giúp công tác chẩn
đoán được rõ ràng và hợp lý, thúc đẩy sự phát triển nghiên cứu bên dịch tế học.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa trên bảng phân loại của DSM V để
nghiên cứu một số vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến.
1.4.3. Sinh viên
1.4.3.1. Định nghĩa sinh viên
Tổ chức y tế thế giới (WHO) quy định: những người trẻ tuổi là những người
trong độ tuổi 10-24 tuổi, thanh niên là những người trong độ tuổi 15-24 tuổi, thanh
thiếu niên là những người trong độ tuổi 10-19 tuổi. Như vậy sinh viên năm nhất và sinh
viên năm hai sẽ nằm trong độ tuổi 18-19 tuổi, thuộc độ tuổi thanh thiếu niên [38].
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “student” nghĩa là người
làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm khai thác chi thức. Hiện nay, khái niệm
sinh viên được toàn xã hội sử dụng rộng rãi và được chấp nhận với nghĩa: sinh viên
là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp. Ở đó
họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc
sau này của họ. Họ được công nhận qua những bằng cấp trong quá trình học họ đạt
được. Quá trình học của họ theo hình thức chính qua, nghĩa là qua tiểu học, trung
học rồi thi vào đại học [38].
27
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
1.4.3.2. Đặc điểm tâm lý sinh viên có liên quan đến các vấn đề cảm xúc hành vi
Theo các nhà tâm lý học, sinh viên là những người thuộc độ tuổi 18 đến 25,
về cơ bản con người độ tuổi này đã đạt đến độ trưởng thành cả về thể chất và tinh
thần. Sự hoàn thiện này cho phép sinh viên giải quyết những vấn đề mang tính trọng
đại, quyết định đến nhân cách của họ một cách độc lập.
Sự thích nghi với môi trường và phương pháp học tập mới: một trong những
sự kiện đánh dấu sự trưởng thành của sinh viên là khi các em bắt đầu bước chân vào
đại học, nhiều bạn sẽ lần đầu phải rời xa gia đình đến môi trường ở mới, bạn bè
mới, ngôi trường mới, phương pháp học tập hoàn toàn mới. Tại đây, sinh viên gặp
một loạt các mâu thuẫn cần giải quyết:
+ Mâu thuẫn giữa ước mơ, mong muốn của sinh viên với khả năng thực hiện
ước mơ đó.
+ Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu sâu môn học mình yêu thích
với yêu cầu phải thực hiện toàn bộ chương trình học theo thời gian biểu nhất định.
+ Mâu thuẫn giữa lượng thông tin nhiều trong xã hội với thời gian và khả
năng có hạn.
Việc giải quyết các mâu thuẫn trên khiến không ít sinh viên cảm thấy lo lắng
và gặp nhiều khó khăn về tâm lý.
Tự ý thức của sinh viên: Cùng với quá trình học tập và thích nghi môi trường
mới, quá trình tự ý thức của sinh viên cũng được phát triển và trưởng thành hơn.
Tuy nhiên có hai xu hướng tự đánh giá sinh viên cần tránh là đánh giá quá cao (kiêu
ngạo) hoặc đánh giá quá thấp (tự ti) về bản thân, hai xu hướng đánh giá này đều
không tốt cho sự phát triển nhân cách và quá trình phát triển bản thân của sinh viên.
Động cơ và định hướng giá trị cho sinh viên: quá trình chuyển cấp từ phổ
thông lên đại học khiến sinh viên được tiếp xúc nhiều hơn với con người và văn hóa
nhiều vùng miền khác nhau. Từ những văn hóa và con người này hình thành cho
sinh viên nhiều giá trị sống phù hợp để tránh những căng thẳng và thích nghi với
cuộc sống mới.
28
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
TIÊU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã trình bày tổng quan về một số lý thuyết nhân cách và điểm qua
một số nghiên cứu về nhân cách trên thế giới và tại Việt Nam, một số nghiên cứu về
các vấn đề cảm xúc hành vi trên thế giới và tại Việt Nam. Đồng thời chỉ rõ cơ sở lý
luận cho mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi. Theo
đó, hiện chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam đi sâu vào một nhóm đối tượng, cụ
thể ở đây là nhóm sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin để làm rõ mối liên
quan giữa đặc điểm nhân cách với các vấn đề cảm xúc hành vi, đồng thời dự báo xu
hướng nhân cách có thể gặp phải các vấn đề cảm xúc hành vi. Bên cạnh đó, chương
1 cũng đã làm rõ các khái niệm công cụ bao gồm nhân cách, đặc điểm nhân cách,
các vấn đề cảm xúc hành vi, sinh viên. Đặc biệt chúng tôi đã trình bày một cách
khái quát về lý thuyết nghiên cứu nhân cách mà chúng tôi sử dụng ở nghiên cứu
này: mô hình 5 mặt lớn của Costa & Mc Crae, đặc biệt là trắc nghiệm NEO-PI-R
60.
29
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Khách thể nghiên cứu
2.1.1. Đặc điểm của khách thể
Mẫu khách thể mà đề tài lựa chọn là 325 sinh viên năm nhất ngành công nghệ
thông tin trường đại học FPT.
Sau khi thu thập số liệu và thống kê trên cơ sở phiếu trả lời, phân bố của các
khách thể theo các biến nhân khẩu học được thể hiện dưới bảng sau:
Số lượng %
Giới tính Nam 256 sinh viên nam 78.77
Nữ 69 sinh viên nữ 21.23
Sở dĩ chúng tôi lựa chọn mẫu như vậy vì một số lý do sau:
Thứ nhất, sinh viên ngành công nghệ thông tin tại trường đại học FPT đến từ
nhiều tỉnh thành trên toàn Việt Nam.
Thứ hai, sinh viên ngành công nghệ thông tin đang theo học tại trường đại
học FPT xuất phát điểm đa dạng từ nhiều đối tượng:
+ Đối tượng 1: sinh viên có học bổng (50% – 100%) thường là sinh viên có
thành tích học tập tốt.
+ Đối tượng 2: sinh viên lựa chọn FPT là nguyện vọng 2 sau khi thi đại học
những trường tốp đầu không đỗ, đây chủ yếu là sinh viên có thành tích học tập khá.
+ Đối tượng 3: sinh viên xét tuyển học bạ để vào FPT thường có thành tích
học phổ thông mức trung bình khá.
Trong 3 đối tượng trên cũng xen kẽ các trường hợp con nhà có điều kiện,
trung bình hoặc khó khăn. Như vậy, mẫu khách thể lựa chọn là đa dạng về học lực,
điều kiện kinh tế … mang tính đại diện cho sinh viên ngành công nghệ thông tin
đến từ nhiều tỉnh thành trên toàn cả nước.
Tiến trình nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý luận từ tháng 1 /2019 đến tháng 8 /2019
Hệ thống hóa cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu bao gồm các khái niệm:
nhân cách, sức khỏe tâm thần/vấn đề cảm xúc hành vi, sinh viên.
30
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Lựa chọn khách thể nghiên cứu (tháng 9 /2019): bao gồm chuẩn bị giấy tờ
hành chính, liên hệ lãnh đạo đơn vị, chuẩn bị trắc nghiệm.
- Thu thập dữ liệu (tháng 2 /2020): dữ liệu được thu thập từ đối tượng nghiên
cứu và được kiểm tra đầy đủ.
- Nhập dữ liệu và làm sạch dữ liệu (tháng 2 năm 2020): dữ liệu được chúng
tôi nhập vào SPSS và được phân tích bằng thống kê.
Viết báo cáo luận văn (tháng 2/2020 đến tháng 5/2020): viết và hoàn thiện
luận văn.
2.2. Địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học FPT nằm ở km29 đại lộ Thăng Long, khu giáo dục đào tạo,
khu công nghệ cao Hòa Lạc, Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội. Trường được thành
lập từ năm 2006. Đây là trường Đai học đầu tiên do một doanh nghiệp thành lập, có
cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học hiện đại bậc nhất Việt Nam. Trường có mức
học phí khoảng 280 triệu cho 4 năm, đây là mức học phí tương đối cao so với mặt
bằng học phí các trường Đại học nói chung. Tuy nhiên, trường có nhiều chính sách
khuyến học với nhiều loại học bổng dành cho sinh viên từ 20%, 50%, 70%, 100%
đến 140%. Vì vậy trường Đại học FPT là ngôi trường tiếp nhận nhiều loại đối tượng
sinh viên khác nhau. Từ những sinh viên xuất phát điểm thời phổ thông là giỏi, xuất
sắc được nhận học bổng của trường đến những sinh viên khá thi vào trường và cả
những đối tượng sinh viên xuất phát điểm với sức học trung bình khá được xét học
bạ vào trường.
Chính sự khác biệt về lực học sinh viên ở ngôi trường này tạo nên một bức
tranh tổng quan đa dạng về sinh viên học ngành công nghệ thông tin đến từ nhiều
tỉnh thành trên cả nước, đặc biệt là khu vực phía bắc. Điều này tạo nên sự đa dạng
về nhân cách cũng như các vấn đề cảm xúc hành vi mà sinh viên ngành công nghệ
thông tin có thể gặp phải.
2.3. Tổ chức nghiên cứu
Khi xác định được địa bàn nghiên cứu, được sự đồng ý của lãnh đạo cấp trên,
chúng tôi liên hệ phòng đào tạo của trường để xin danh sách và thông tin liên hệ của
sinh viên năm nhất và sinh viên năm hai.
31
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Tiếp theo, chúng tôi chọn lọc lấy sinh viên ngành công nghệ thông tin.
Trong số hàng ngàn sinh viên năm nhất và năm hai ngành công nghệ thông
tin, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 600 sinh viên ngành công nghệ thông tin và tổ chức
các buổi gặp mặt trực tiếp hoặc trực tuyến để hướng dẫn từng nhóm sinh viên làm
trắc nghiệm.
Trong quá trình làm trắc nghiệm, chúng tôi đảm bảo không gian yên tĩnh,
khoảng cách giữa các bạn sinh viên đủ để các bạn không trao đổi được với nhau và
không nhìn thấy bài làm trắc nghiệm của nhau.
Chúng tôi hướng dẫn lần lượt cách làm từng trắc nghiệm: từ trắc nghiệm Neo
Pi-R 60 đến trắc nghiệm YSR. Hướng dẫn một lượt nội dung câu hỏi và cách làm
từng câu hỏi.
Chúng tôi để sinh viên tự trả lời từng câu trong trắc nghiệm, nếu có thắc mắc
thì sẽ hỏi và nghiên cứu viên sẽ trả lời câu hỏi.
Sau khi sinh viên trả lời xong, chúng tôi thu lại phiếu trắc nghiệm và kiểm
tra kỹ thông tin cũng như đảm bảo tính hợp lệ của trắc nghiệm.
Một bộ phiếu khảo sát bao gồm 2 trắc nghiệm: NEO PI-R 60 và YSR. Các
sinh viên không gửi lại phiếu trả lời khảo sát hoặc gửi lại phiếu trắng đồng nghĩa
với việc từ chối tham gia nghiên cứu. Số phiếu phát ra là 330 phiếu, sau khi loại bỏ
các phiếu không hợp lệ, chúng tôi thu được 325 phiếu đáp ứng đủ độ tin cậy để tiến
hành xử lý số liệu.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Mục đích: Hệ thống hóa cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
Nội dung: Xác định một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, bao gồm các
khái niệm về nhân cách, sức khỏe tâm thần, vấn đề cảm xúc hành vi, sinh viên.
Phương pháp: phương pháp nghiên cứu lí luận là phương pháp hệ thống hóa
lý thuyết từ những công trình nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước đã được
báo cáo hoặc đăng tải trên các sách báo, tạp chí và website về các vấn đề liên quan
đến đề tài.
32
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Các giai đoạn của phương pháp là thu thập, phân tích, tổng hợp và hệ
thống hóa.
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu bảng hỏi (anket)
2.4.2.1. Công cụ đánh giá đặc điểm nhân cách NEOPI-R 60
Công cụ đánh giá đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông
tin theo thuyết 5 nhân tố lớn.
Nghiên cứu này sử dụng NEO-60VN làm công cụ đo đạc, trắc nghiệm này
được thích nghi tại Việt Nam từ trắc nghiệm NEP-PI-R (Trần Văn Công và cộng sự
2016). Trắc nghiệm gồm 60 câu, với câu trả lời được thiết kế theo dạng Likert 5
điểm (0=Hoàn toàn sai, 1=Sai, 2=Không đúng cũng không sai, 3=Đúng, 4=Hoàn
toàn đúng). Trắc nghiệm NEO-PI-R được xây dựng dựa trên nguyên lý mô hình 5
nhân tố lớn của Costa & Mc Crae (Costa và cộng sự năm 1985; 1998). Trắc nghiệm
này gồm 5 mặt nhân cách là N (Neuroticism): nhiễu tâm, mặt E (Extraverson):
hướng ngoại, mặt O (Openness): cởi mở, mặt A (Agreeableness): đồng thuận và
mặt C (Conscienticousness): tính tận tâm. Mỗi mặt có một ý nghĩa riêng:
 Nhiễu tâm (Neuroticism) đánh giá sự bất ổn định về cảm xúc, nhận ra
những người dễ rơi vào stress tâm lý, những ý tưởng phi thực tế, những khao khát
thái quá.
Với mặt này, những người có điểm cao thường trải nghiệm những cảm xúc u
uất, giận dữ, lo sợ, tội lỗi, và ganh ghét cao hơn người thường. Họ phản ứng tiêu
cực với strss và thường lý giải những tình huống bình thường dưới dạng nguy hiểm,
đáng lo ngại và xu hướng “thổi phồng” các khó khăn. Những người này chú ý quá
mức để vẻ bề ngoài hoặc hành vi của bản thân và gặp khó khăn trong việc tự kiểm
soát sự hối thúc.
Ngược lại, những người có điểm số thấp ở mặt này thường có cảm xúc vững
chãi hơn, ít dao động và ít phản ứng với stress hơn. Họ thường có xu hướng bình
tĩnh, không nóng nảy và ít khi bị căng thẳng[48].
Ví dụ: “ Tôi dễ hoảng sợ”; “Rất khó làm tôi tức giận”.
 Hướng ngoại (Extraverson): mặt này đánh giá số lượng và cường độ các
tương tác liên cá nhân, mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng.
33
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Người có điểm hướng ngoại cao thường cảm thấy các bữa tiệc và các hoạt
động là nguồn năng lượng của mình. Họ thích tìm kiếm và cần các nguồn kích thích
từ môi trường xung quanh, cơ hội để gia nhập với người khác. Những người này
cũng thường hang hái, nhiệt tình, thích nói chuyện và khẳng định mình. Trong
mảng công việc, họ thường thích làm việc với người khác và thích các công việc có
chiều rộng hơn chiều sâu.
Người có điểm hướng ngoại thấp thường ít hòa mình vào xã hội. Họ thường
rất yên lặng, không nổi bật và không hòa nhập nhiều. Người hướng nội cần ít sự
kích thích và cần nhiều thời gian ở một mình hơn.
Ví dụ: “Tôi thực sự thích trò chuyện với mọi người”; “Nhiều người cho rằng
tối là người hơi lạnh lùng và khó gần”.
 Cởi mở (Openness) là mặt mô tả việc lao vào thử nghiệm, đánh giá cao
sự nắm giữ kinh nghiệm, khả năng tìm kiếm những cái mới lạ.
Những người có điểm cao ở mặt này thường thích sự lãng mạn và sự phong
phú đa dạng. Những người này có hiểu biết tốt, biết thưởng thức vẻ đẹp trong nghệ
thuật và vẻ đẹp trong thiên nhiên. Họ quan tâm đến những ý tưởng mới, những giá
trị mới, không thích tuân theo những quy ước đã có mà thích có những cách nhìn
riêng của mình.
Người có điểm thấp ở mặt này thường thực dụng, võ đoán và làm việc theo
dữ liệu. Đôi lúc thường được mô tả như quyết đoán và cứng nhắc. Họ thường rất
truyền thống trong hành vi, vẻ bề ngoài của mình, thích làm việc theo guồng quay
nhất định và không thích trải nghiệm những thứ mới mẻ và có ít sở thích.
Ví dụ: “Một số thể loại nhạc có sức cuốn hút rất lớn đối với tôi”; “Theo
tôi việc giữ đúng các nguyên tắc sống đã có quan trọng hơn là sẵn sàng tiếp thu
cái mới”.
 Đồng thuận (Agreeableness): Đánh giá chất lượng sự định hướng liên cá
nhân của con người theo một mức độ liên tục từ sự đồng tình đến đối nghịch trong
suy nghĩ, cảm giác và hành động [48].
34
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Những người có điểm cao ở mặt này thường có xu hướng tin rằng đa phần
mọi người rất trung thực, tốt bụng và đáng tin cậy. Họ thường có lòng vị tha và hay
giúp đỡ người khác.
Ngược lại với tính thích giúp đỡ của người dễ chịu, những người có điểm
thấp ở mặt này thường gây tổng thương đến những người khác. Những người này
thường có tính cạnh tranh, thách thức cao, đôi khi họ bị coi là khiêu khích hoặc
không đáng tin.
Ví dụ: “Tôi tin rằng hầu hết mọi người sẽ lợi dụng bạn nếu họ có dịp”; “Tôi
hay nghi ngờ ý định của người khác”.
 Tận tâm (Conscientiousness): mặt này đánh giá mức độ tổ chức, uy tín,
động cơ trong hành vi hướng tới mục đích của cá nhân. Nó tương phản giữa những
cá nhân phụ thuốc, khó tính với những người độc lập và mềm mỏng.
Người có điểm cao ở mặt này thường có mong muốn hoàn thành công việc
được giao một cách tốt nhất và thường đặt ra mục tiêu để đạt được những thành tựu
trong công việc. Do đó có đôi khi họ được miêu tả như những người cứng đầu.
Những đặc điểm tính cách của họ bao gồm ngăn nắp, có hệ thống, cẩn thận và hoàn
hảo, suy tính thiệt hơn.
Người có điểm thấp ở mặt tính cách này thường rất dễ dãi, không có mục
tiêu nhất định, thường không đáng tin cậy.
Ví dụ: “Tôi thiết lập các mục tiêu một cách rõ ràng và từng bước thực
hiện chúng”; “Khi đã cam kết thực hiện điều gì, mọi người có thể tin là tôi sẽ
hoàn thành”.
Thang đo NEP-PI-R đang bắt đầu được sử dụng phổ biến hơn trong đánh giá
nghề nghiệp ở châu Á (cheung 2004). Thang đo này đã được dịch, thử nghiệm,
thích nghi bằng tiếng việt và nghiên cứu, cho thấy độ tin cậy và độ hiệu lực cao
(Trần Văn Công và cộng sự 2016).
2.4.2.2. Công cụ đánh giá các vấn đề cảm xúc hành vi: bảng hỏi YSR
Công cụ nghiên cứu về sức khỏe tâm thần/các vấn đề cảm xúc hành vi của
sinh viên ngành công nghệ thông tin.
35
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Bảng kiểm hành vi thanh thiếu niên tự thuật (The Youth Self Report – YSR)
của Achenbach. YSR là các công cụ đánh giá dành cho thanh thiếu niên nhằm đánh
giá hành vi và cảm xúc của các em, do các em tự điền. YSR do Tiến sĩ Thomas
Achenbach phát triển, được sử dụng rộng rãi trong giới tâm lý học, tâm thần học.
Bảng hỏi YSR yêu cầu trẻ em (nghiệm thể) cho điểm phù hợp cho 112 biểu hiện
được liệt kê dựa trên mốc thời gian trong vòng từ 6 tháng qua đến hiện nay. 112
biểu hiện này là 112 item, mỗi item là một hành vi hoặc biểu hiện có vấn đề ở trẻ.
Mỗi item được cho điểm từ 0 đến 2, tương ứng với mức độ tăng dần về tần suất xuất
hiện của hành vi (0=không đúng; 1=một phần đúng; 2=rất đúng hoặc thường xuyên
đúng). Điểm tổng của toàn bộ thang đo sẽ cho ra một biến số, được gọi là tổng điểm
các vấn đề, cho biết mức độ có vấn đề chung về SKTT [47]. Dựa theo các phép
phân tích nhân tố, Achenbach phân loại 112 item thành tám nhóm hội chứng, tương
ứng với 8 tiểu thang đo: Lo âu/trầm cảm (12 item), thu mình/trầm cảm (8 item),
phàn nàn cơ thể (11 item). Vấn đề xã hội (11 item), vấn đề tư duy (12 item), vấn đề
chú ý (9 item), hành vi hung tính (18 item), phá bỏ quy tắc (15 item). Điểm tổng các
item trong một nhóm hội chứng cho ra điểm của từng tiểu thang. Nghiên cứu sử
dụng bản YSR được Việt hóa và thích nghi ở Việt Nam [53].
Bảng hỏi YSR được xử lý theo hai cách. Cách thứ nhất, tính điểm tổng của
thang đo. Cách thứ hai, tính điểm theo 8 hội chứng của thang đo: Lo âu/trầm cảm,
Thu mình/trầm cảm, Hành vi xâm kích, Vấn đề chú ý, Các vấn đề xã hội, Bệnh tâm
thể, Phá bỏ quy tắc, Vấn đề tư duy.
2.4.3. Phương pháp thống kê: xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học
Để trình bày và phân tích số liệu, nghiên cứu sử dụng chương trình phần
mềm thống kê SPSS (Statistical Package for the Social Science), đây là một chương
trình được sử dụng rộng rãi để phân tích thống kê trong khoa học xã hội. Nó cũng
được các nhà nghiên cứu thị trường, nghiên cứu y tế, công ty khảo sát, nhà nghiên
cứu giáo dục, khai thác dữ liệu và nhiều ngành khác sử dụng.
Thống kê bao gồm trong phần mềm cơ sở:
+ Thống kê mô tả: lập bảng chéo, tần suất, mô tả, khám phá, thống kê tỷ lệ
mô tả.
36
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
+ Thống kê đơn biến: phương tiện, t-test, ANOVA, tương quan (hai biến,
một phần, khoảng cách), kiểm tra thông giới.
+ Dự đoán cho kết quả số: hồi quy tuyến tính
+ Dự đoán để xác định các nhóm: Phân tích các yếu tố, phân tích cụm, phân biệt.
Các thông số và phép thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này:
 Phân tích sử dụng thống kê mô tả với các chỉ số:
Điểm trung bình cộng (mean): là chỉ số chỉ vị trí trung tâm hay điểm giữa
của một tập hợp n số bằng một số duy nhất. Cách tính chỉ số trung bình cộng là lấy
tổng của n số chia cho n.
Độ lệch chuẩn (standardizied devation) – là chỉ số mô tả mức độ tập trung
hay mức độ phân tán hoặc tập trung của câu trả lời.
Tương quan nhị biến là tương quan giữa hai biến, không phân biệt biến độc
lập hay biến phụ thuộc. Mục đích của phép phân tích tương quan là tìm hiểu mối
liên quan giữa hai biến, mức độ liên kết mạnh hay yếu của mối liên quan giữa hai
biến số được chỉ số hóa bởi hệ số tương quan r.
Hồi qua giúp xác định xem biến độc lập quy định các biến phụ thuộc như thế nào.
Như vậy phương pháp nghiên cứu là rất quan trọng để kết quả nghiên cứu
được chính xác và đảm bảo chất lượng đề tài nghiên cứu. Chúng tôi đã lựa chọn để
ra được bộ công cụ vừa có độ hiệu lực, vừa có độ tin cậy cao để tiến hành nghiên
cứu. Quy trình nghiên cứu này cũng được thực hiện một cách có tổ chức trên một
mẫu chọn ngẫu nhiên mang tính đại diện cao. Dữ liệu thu được được xử lí theo
phương pháp thống kê toán học với nhiều phép tính khác nhau để đưa ra được kết
quả chính xác có độ tin cậy nhất.
37
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Nghiên cứu được tiến hành trên 325 sinh viên ngành công nghệ thông tin tại
trường Đại học FPT. Các khách thể trong nghiên cứu hiện đang là sinh viên năm
nhất, giới tính lựa chọn ngẫu nhiên. Trình độ học vấn của sinh viên đa dạng, từ học
lực trung bình, khá, giỏi đến xuất sắc. Qui trình tổ chức nghiên cứu được tiến hành
theo từng bước một cách hệ thống nhằm đảm bảo kết quả thu lại có độ tin cậy cao.
Các phương pháp chính sử dụng trong nghiên cứu bao gồm nghiên cứu tài liệu, điều
tra bảng hỏi và xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học. Độ hiệu lực bề mặt,
độ tin cậy bên trong của bảng hỏi đều cho thấy những mức điểm khá cao và là cơ sở
để để phân tích kết quả nghiên cứu một cách giá trị nhất.
38
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin
Sử dụng công cụ nghiên cứu là thang đo NEO-PI-R 60 trên 325 sinh viên năm
nhất ngành công nghệ thông tin ĐH FPT ta thấy có sự khác biệt về điểm trung bình
giữa các mặt của nhân cách và có sự khác biệt điểm trung bình từng mặt của nhân
cách theo giới tính nam và nữ.
Bảng 3.1: Các chỉ số thống kê cơ bản về các mặt trong nhân cách của sinh viên
ngành công nghệ thông tin.
Các lĩnh vực của
nhân cách
Tổng khách thể
(325)
Nam (256) Nữ (69)
Trung
bình
Độ lệch
chuẩn
Trung
bình
Độ lệch
chuẩn
Trung
bình
Độ lệch
chuẩn
Mặt nhiễu tâm (N) 27.67 7.25 27.28 6.64 29.19 9.06
Mặt hướng ngoại (E) 27.44 7.93 27.60 7.72 26.84 8.69
Mặt cởi mở (O) 30.02 5.55 30.04 5.59 29.94 5.46
Mặt đồng thuận (A) 25.63 7.12 25.58 7.36 25.81 6.21
Mặt tận tâm (C) 29.12 6.37 29.21 6.25 28.80 6.87
Nhìn vào bảng ta thấy mặt nhân cách nổi bật của sinh viên ngành công nghệ
thông tin là cởi mở (O) với điểm trung bình là 30.02 điểm và độ lệch chuẩn là 5.55.
Theo lý thuyết về 5 nhân tố lớn, điều này cho thấy đa phần các bạn sinh viên ngành
công nghệ thông tin là những người cởi mở, ham học hỏi mạnh mẽ, thường tò mò
về cả những điều bên trong họ và những gì bên ngoài thế giới, và họ có nhiều trải
nghiệm phong phú hơn những người khác. Họ sẵn sàng đón nhận những ý tưởng
mới và giá trị độc đáo, và họ trải nghiệm cả những cảm xúc tích cực và tiêu cực
nhiều hơn những người ít cởi mở hơn. Họ rất nhạy cảm với cảm xúc của riêng mình
và có một khả năng lớn mức trung bình để nhận ra những cảm xúc của người khác.
Họ đánh giá cao về cái đẹp trong nghệ thuật và tự nhiên. Họ sẵn sàng xem xét
39
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
những ý tưởng mới và các giá trị và có thể hơi độc đáo theo quan điểm của họ.
Những người như vật là người tưởng tượng, táo bạo, độc lập và sáng tạo.
Tiếp sau là mặt tận tâm (C) với điểm trung bình 29.12 và độ lệch chuẩn 6.37.
Điểm tận tâm cao cho thấy sinh viên ngành công nghệ thông tin khá tỉ mỉ, đúng giờ
và đáng tin cậy. Họ có một nhu cầu tương đối cao đối với việc đạt thành tích. Họ tổ
chức tốt và đáng tin cậy và thực hiện các cam kết họ đã làm. Họ có ý thức tự giác,
có trắc nghiệm một cách nghiêm túc. Họ là người cẩn thận, đáng tin cậy, chăm chỉ
và kiên trì. Về mặt tích cực, điểm mặt C có liên quan đến thành tích học tập và nghề
nghiệp, về mặt tiêu cực, nó có thể dẫn đến sự kén chọn, kỹ tính và sự rat ay ép buộc
hoặc hoành vi tham công tiếc việt.
Với nam giới ngành công nghệ thông tin, mặt nhân cách nổi bật nhất ở đây
cũng là Cởi mở (O) với điểm trung bình 30.04, độ lệch chuẩn 5.59. Điều này cho
thấy sự ham học hỏi, tò mò và sẵn sàng tiếp thu những tri thức mới, đồng thời
những sinh viên nam luôn có sự trải nghiệm phong phú về cảm xúc cũng như xem
xét các ý tưởng mới và các giá trị có thể hơi độc đáo theo quan điểm của họ. Mặt
nhân cách nổi bật thứ hai ở nam giới ngành công nghệ thông tin là mặt tận tâm với
điểm trung bình là 29.21, độ lệch chuẩn 6.25, cho thấy sự tỉ mỉ, đúng giờ và đáng
tin cậy của nhóm sinh viên này.
Với nữ giới, mặt nhân cách nổi bật là cởi mở với điểm trung bình 29.94 và
độ lệch chuẩn 5.46, cho thấy sự ham học hỏi và sẵn sàng tiếp thu tri thức mới khá
tương đồng với các sinh viên nam. Mặt nhân cách nổi bật thứ hai ở nữ công nghệ
thông tin cũng là nhiễu tâm với điểm trung bình là 29.19 và độ lệch chuẩn 9.06.
Điều này cho thầy những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực, kém thích nghi, linh hoạt
điều chỉnh và thay đổi về cảm xúc ở các sinh viên nữ ngành công nghệ thông tin.
Nếu chia từng mặt nhân cách theo từng mức độ: Thấp, trung bình, cao, ta có
bảng chỉ số thống kê theo mức độ các mặt nhân cách của sinh viên ngành công nghệ
thông tin như sau:
40
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Bảng 3.2: Chỉ số thống kê theo mức độ các mặt nhân cách của sinh viên công nghệ
thông tin
STT
Giới tính
Mặt nhân cách
Nam (256) Nữ (69) Tổng (325)
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Mức độ
1
Mặt tận
tâm
Thấp 19 7.4 13 18.8 32 9.85
Trung
bình
177 69.1 36 52.2 213 65.54
Cao 60 23.4 20 29 80 24.62
2
Mặt
đồng
thuận
Thấp 45 17.6 10 14.5 55 16.92
Trung
bình
187 73 55 79.7 242 74.46
Cao 24 9.4 4 5.8 28 8.62
3
Mặt
nhiễu
tâm
Thấp 28 10.9 21 30.4 49 15.08
Trung
bình
189 73.8 37 53.6 226 69.54
Cao 39 15.2 11 15.9 50 15.38
4
Mặt cởi
mở
Thấp 29 11.3 4 5.8 33 10.15
Trung
bình
160 62.5 49 71.0 209 64.31
Cao 67 26.2 16 23.2 83 25.54
5
Mặt
hướng
ngoại
Thấp 65 25.4 26 37.7 91 28
Trung
bình
168 65.6 40 58 208 64
Cao 23 9 3 4.3 26 8
Nhìn vào bảng 3.2: thống kê mức độ các mặt nhân cách của sinh viên ngành
công nghệ thông tin ta thấy:
41
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Mức độ cao của mặt nhân cách cởi mở ở cả nam và nữ đều có số lượng sinh
viên nhiều nhất với 83 người trong đó có 67 nam và 16 nữ, điều này cho thấy sự
tương đồng trong tính cách ở cả nam và nữ sinh viên ngành công nghệ thông tin.
Như vậy, sinh viên ngành công nghệ thông tin trong nghiên cứu đều có đặc điểm là
những người cởi mở, ham học hỏi mạnh mẽ, thường tò mò về cả những điều bên
trong họ và những gì bên ngoài thế giới, và họ có nhiều trải nghiệm phong phú hơn
những người khác. Họ sẵn sàng đón nhận những ý tưởng mới và giá trị độc đáo, và
họ trải nghiệm cả những cảm xúc tích cực và tiêu cực nhiều hơn những người ít cởi
mở hơn. Họ rất nhạy cảm với cảm xúc của riêng mình và có một khả năng lớn mức
trung bình để nhận ra những cảm xúc của người khác. Họ sẵn sàng xem xét những ý
tưởng mới và các giá trị và có thể hơi độc đáo theo quan điểm của họ. Những người
như vậy là người tưởng tượng, táo bạo, độc lập và sáng tạo.
Mặt nhân cách nổi bật thứ hai là tận tâm với 80 người ở mức độ cao với 60
nam và 20 nữ. Điều này thể hiện ở một số đặc điểm của sinh viên như “Khi đã cam
kết thực hiện điều gì, mọi người có thể tin là tôi sẽ hoàn thành” hay như “Tôi lên kế
hoạch cẩn thận trước khi bắt đầu một chuyến đi”. Điều này thể hiện ý thức tự giác
khi thực hiện các công việc và sự tỉ mỉ, cận trọng trong quá trình làm bất kỳ công
việc gì, thể hiện sự đáng tin cậy.
3.1.1. Đặc điểm mặt nhiễu tâm (N)
Cho đến nay, nhiều nghiên cứu đã thừa nhận nhiễu tâm như những rối loạn về
tư duy, cảm giác và ứng xử. Những rối loạn nhiễu tâm phát triển trong cả cuộc đời
của một người bệnh có xu hướng dần hạn chế và làm tổn hại khả năng sống một
cuộc sống bình thường. Trong nghiên cứu này, khía cạnh nhiễu tâm (N) được đánh
giá xu hướng cá nhân với những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực, kém thích nghi,
linh hoạt điều chỉnh và thay đổi về cảm xúc của sinh viên ngành công nghệ thông
tin. Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên nhận định đúng và đúng hoàn
toàn về những đặc điểm “Đôi khi có những ý nghĩa đáng sợ xuất hiện” và “Tôi
thường lo về những việc có thể trở nên tồi tệ” chiếm tỉ lệ cao nhất với giá trị tương
ứng là 74,3%, tiếp đến là đặc điểm “Đôi khi cảm thấy cay đắng và uất ức” chiếm
54,4%; điểm “Nhiều lần, khi sự việc trở nên tồi tệ, tôi thấy chán nản và muốn từ
42
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
bỏ” chiếm 48,9% và các điểm còn lại trong nhóm chiếm dưới 39%. Đặc biệt, nhằm
có sự so sánh về các đặc điểm trong mặt nhiễu tâm, chúng tôi đã thực hiện tính
điểm trung bình để có sự xếp loại và đối sánh.
Bảng 3.3. Đặc điểm nhân cách trong mặt nhiễu tâm (N)
Mặt nhiễu tâm (N) ĐTB ĐLC Xếp loại
Câu 29: Đôi khi những ý nghĩ đáng
sợ xuất hiện trong đầu tôi.
2.89 1.00 1
Câu 19: Tôi thường lo về những
việc có thể trở nên tồi tệ.
2.89 0.903 2
Câu 14: Hiếm khi tôi lo sợ về
tương lai.
2.66 1.1 3
Câu 9: Hiếm khi tôi buồn hay chán
nản.
2.5 1.12 4
Câu 24: Đôi khi tôi cảm thấy cay
đắng và uất ức.
2.37 1.14 5
Câu 4: Hiếm khi tôi có cảm giác sợ
hãi hay lo lắng.
2.33 1.1 6
Câu 54: Tôi ít khi cảm thấy cô đơn
hay buồn bã.
2.31 1.16 7
Câu 34: Nhiều lần, khi sự việc trở
nên tồi tệ, tôi thấy chán nản và
muốn từ bỏ.
2.22 1.09 8
Câu 59: Rất khó làm tôi tức giận 2.05 1.12 9
Câu 44: Khi có quá nhiều căng
thẳng, tôi thấy như mình không thể
chịu đựng thêm nữa.
2.03 1.1 10
Câu 49: Cảm xúc của tôi khá ổn
định.
1.86 1.14 11
Câu 39: Tôi dễ hoảng sợ. 1.58 1.11 12
43
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Tương tự khi xem xét các nhận định đặc điểm nhân cách của sinh viên cho
thấy điểm trung bình thể hiện cao nhất qua các đặc điểm “Đôi khi những ý nghĩ
đáng sợ xuất hiện trong đầu tôi”; “Tôi thường lo về những việc có thể trở nên tồi
tệ”. Có thể thấy, với mặt nhiễu tâm, nhìn chung những đặc điểm về suy nghĩ tiêu
cực thường xuất hiện nhiều hơn là những đặc điểm về việc dễ thay đổi cảm xúc xuất
hiện trong nhóm sinh viên ngành công nghệ thông tin. Chính vì vậy, nhằm can thiệp
và phòng ngừa rối nhiễu tâm lí cho sinh viên, nhà trường cần có chương trình giáo
dục sức khỏe tinh thần hiệu quả theo hướng tăng tư duy tích cực, cũng như đáp ứng
được đội ngũ chuyên môn làm công tác tư vấn nhằm kịp thời tư vấn cho sinh viên
cũng như thiết kế chương trình học hiệu quả, giảm áp lực, căng thẳng trong học tập
của sinh viên.
3.1.2. Đặc điểm mặt hướng ngoại (E)
Mặt hướng ngoại trong nhân cách đánh giá mức độ hòa đồng, năng động và
nhanh nhạy trong các mối quan hệ xã hội. Những người có tính hướng ngoại cao
thường thích sự phấn khích và những kích thích, có xu hướng hướng tới sự vui vẻ
trong những hoàn cảnh khác nhau, trông họ luôn lạc quan và tràn đầy năng lượng.
Ngược lại với người có tính hướng ngoại cao là những người có xu hướng hướng
nội. Họ thường độc lập, trông có vẻ nhút nhát, tuy nhiên họ lại khá tò mò và thích
tìm tòi nghiên cứu. Họ thường lặng lẽ và sống nội tâm, không thích tương tác với
nhóm lớn. Nếu như trong nghiên cứu “Đặc điểm nhân cách của thanh niên Việt
Nam qua thang đo NEP-60VN của nhóm tác giả Bùi Thị Thúy Hằng, Trần Văn
Công và Nguyễn Phương Hồng Ngọc, thực hiện trên 633 thanh niên tại 23 tỉnh
thành với độ tuổi trung bình là 21,88; mặt hướng ngoại là đặc điểm nổi bật nhất
trong nhân cách của thanh niên Việt Nam thì trong nghiên cứu này, đặc điểm hướng
ngoại không phải đặc điểm nổi bật, điểm trung bình của mặt nhân cách này khá
thấp, chỉ cao hơn mặt nhân cách đồng thuận (A). Để tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm
hướng ngoại trong nhân cách sinh viên ngành công nghệ thông tin, chúng tôi có
phân tích điểm trung bình các item của mặt nhân cách này như sau:
44
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Bảng 3.4. Bảng đặc điểm của mặt hướng ngoại (E)
Mặt
hướng ngoại (E)
ĐTB ĐLC Xếp loại
Câu 35: Tôi dễ cười. 2.9 1.01 1
Câu 5: Tôi thấy mình dễ đồng cảm
với người khác.
2.79 0.99 2
Câu 10: Tôi là người cởi mở và dễ
chấp nhận cách sống của người
khác.
2.67 1.05 3
Câu 60: Nếu tôi ở một mình quá lâu,
tôi cảm thấy thực sự cần ai đó ở
bên.
2.67 1.28 4
Câu 15: Tôi thực sự thích trò
chuyện với mọi người.
2.43 1.04 5
Câu 55: Tôi thấy dễ dàng tươi cười
và thoải mái với người lạ.
2.41 1.19 6
Câu 45: Tôi là người vui vẻ và luôn
phấn khích.
2.38 1.053 7
Câu 25: Tôi thích có nhiều người
xung quanh mình.
1.99 1.12 8
Câu 40: Tôi thích đi chơi ở chỗ
đông đúc hơn là nơi vắng người.
1.85 1.17 9
Câu 30: Tôi thích những nơi náo
nhiệt, có nhiều hoạt động đang diễn
ra.
1.83 1.19 10
Câu 20: Tôi thích những buổi liên
hoan đông người.
1.82 1.17 11
Câu 50: Nhiều người cho rằng tôi là
người hơi lạnh lùng và khó gần
1.67 1.2 12
45
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Với mặt hướng ngoại (E), mặt nhân cách cho đặc điểm về tính hướng ngoại,
hòa đồng trong các mối quan hệ và nhóm xã hội, đồng thời thể hiện sự cởi mở, thân
thiện, quảng giao, tự khẳng định, tích cực hoạt động, tìm kiếm hứng thú, xúc cảm
tích cực. Số liệu thống kê ở bảng 3.1.2 cho thấy có một số biểu hiện đặc trưng của
sinh viên công nghệ thông tin cho nhóm mặt này: “Tôi dễ cười”, “Tôi thấy mình dễ
đồng cảm với người khác”, “Nếu tôi ở một mình quá lâu, tôi cảm thấy thực sự cần
ai đó ở bên”. Tuy nhiên, hướng ngoại không phải điểm đặc trưng cho nhân cách
của sinh viên ngành công nghệ thông tin do điểm trung bình ở mặt nhân cách này
khá thấp so với các mặt nhân cách khác.
3.1.3. Đặc điểm mặt cởi mở (O)
Mặt nhân cách cởi mở (O) đặc trưng cho tính ham học hỏi và sự sẵn sàng đón
nhận những ý tưởng và khái niệm mới. Nếu như trong nghiên cứu của Đinh Thị
Kim Thoa và Trần Văn Công năm 2010 trên 1182 sinh viên về “Một số đặc điểm
nhân cách sinh viên học các ngành học khác nhau”, nét nhân cách cởi mở cho điểm
trung bình gần như thấp nhất ( chỉ cao hơn so với nét nhân cách nhiễu tâm) thì ở
sinh viên công nghệ thông tin, đây là một trong những điểm nổi bật của nhân cách
với điểm trung bình cao nhất trong các mặt nhân cách được nghiên cứu. Bảng dưới
đây sẽ phân tích kỹ hơn về đặc điểm này:
Bảng 3.5. Bảng đặc điểm mặt cởi mở (O)
Mặt cởi mở (O) ĐTB ĐLC Xếp loại
Câu 13: Một số thể loại nhạc có sức cuốn
hút rất lớn đối với tôi.
3.17 0.86 1
Câu28: Thi thoảng tôi hoàn toàn đắm chìm
trong bản nhạc mà tôi đang nghe.
3.07 1 2
Câu 3: Tôi không quan tâm tới thẩm mỹ và
nghệ thuật.
2.93 1.12 3
Câu 58: Tôi có trí tưởng tượng rất phong
phú.
2.88 0.926 4
Câu 38: Khi còn nhỏ, hiếm khi tôi chơi trò 2.77 1.26 5
46
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
chơi tưởng tượng.
Câu 8: Tôi ít quan tâm đến việc tìm hiểu
bản chất vũ trụ hay loài người.
2.57 1.22 6
Câu 23: Tôi ít khi quan tâm đến cảm xúc
hiện tại của mình.
2.49 1.1 7
Câu 33: Tôi thích giải các câu đố. 2.4 1.08 8
Câu 43: Theo tôi việc giữ đúng các nguyên
tắc sống đã có quan trọng hơn là sẵn sàng
tiếp thu cái mới.
2.32 1.09 9
Câu 18: Tôi thích giải những câu đố hóc
búa.
2.3 1.07 10
Câu 48: Thơ ca thường không có tác động
gì đối với tôi.
2.1 1.28 11
Câu 53: Tôi thích ở những nơi quen thuộc. 1.04 0.99 12
Nhìn vào bảng 3.1.3 ta thấy một số đặc điểm nổi bật thuộc mặt nhân cách
này của sinh viên ngành công nghệ thông tin như “Một số thể loại nhạc có sức
cuốn hút rất lớn đối với tôi”; “Thi thoảng tôi hoàn toàn đắm chìm trong bản nhạc
mà tôi đang nghe”. Điều này cho thấy niềm say mê cũng như vai trò quan trọng của
âm nhạc đối với cuộc sống các em. Lý giải điều này, chúng tôi có phỏng vấn một số
sinh viên ở trường và được biết: Ngoài những môn học chuyên ngành cũng như các
môn chung giống các trường khác, các em còn được học môn Âm nhạc dân tộc
(được trực tiếp thực hành chơi các thể loại đàn như tì bà, đàn bầu, đàn nguyệt … và
sáo), bên cạnh đó, trường có rất nhiều các câu lạc bộ liên quan đến âm nhạc để tăng
sự kết nối cũng như phát triển năng khiếu về âm nhạc cho các bạn trẻ. Như vậy,
nhìn chung lại thì sinh viên ngành công nghệ thông tin thường đánh giá cao về vẻ
đẹp trong nghệ thuật và tự nhiên, đặc biệt là âm nhạc. Họ sẵn sàng xem xét những ý
tưởng tượng, tóa bạo, độc lập và sáng tạo.
3.1.4. Đặc điểm mặt nhân cách đồng thuận (A)
Mặt nhân cách đồng thuận là mặt nhân cách đánh giá mức độ chấp chận, bao
47
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
gồm một số khía cạnh như niềm tin, thẳng thắn, chân tình, vị tha, phục tùng, khiên
tốn và nhân hậu. Theo nghiên cứu của Đinh Thị Kim Thoa và Trần Văn Công năm
2010 trên 1182 sinh viên về “Một số đặc điểm nhân cách sinh viên học các ngành
học khác nhau”, nét nổi trội trong nhân cách của sinh viên Việt Nam (nếu coi 1182
sinh viên nghiên cứu là một sinh viên đại diện) là tính đồng thuận. Trong nghiên
cứu này, tính đồng thuận có điểm trung bình đứng thứ hai, cũng là một trong những
những nét nhân cách khá nổi bật ở sinh viên công nghệ thông tin. Để làm rõ hơn
một số đặc điểm trong mặt nhân cách này, chúng tôi có bảng phân tích sau:
Bảng 3.6. Đặc điểm mặt nhân cách đồng thuận (A)
Mặt đồng thuận/ dễ chấp nhận (A) ĐTB ĐLC Xếp
loại
Câu 17: Nếu cần thiết, tôi sẵn sàng thao túng mọi người để
có thứ mình muốn.
2.69 1.22 1
Câu 47: Tôi có khả năng đạt được những điều tôi muốn từ
người khác với bất cứ giá nào.
2.62 1.06 2
Câu 2: Đôi khi tôi có thể đe dọa hoặc nịnh bợ người khác để
họ làm những gì tôi muốn.
2.53 1.13 3
Câu 12: Đôi khi tôi lừa mọi người làm những gì tôi muốn. 2.46 1.13 4
Câu 32: Tôi hay cãi nhau với người nhà và đồng nghiệp. 2.46 1.03 5
Câu 52: Một số người cho rằng tôi là người ích kỷ và tự cao
tự đại.
2.44 1.07 6
Câu 7: Khi cần tôi có thể mỉa mai và trở nên cay độc. 2.19 1.32 7
Câu 27: Một số người nghĩ rằng tôi là người lạnh lùng và
tính toán.
1.97 1.21 8
Câu 42: Tôi là người cứng đầu và bướng bỉnh. 1.66 1.13 9
Câu 57: Tôi hay nghi ngờ ý định của người khác. 1.62 1.03 10
Câu 22: Tôi tin rằng hầu hết mọi người sẽ lợi dụng bạn nếu
họ có dịp.
1.59 1.09 11
Câu 37: Nếu ai đó bắt đầu cuộc chiến, tôi sẽ sẵn sàng đấu lại. 1.4 1.02 12
48
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Mặt đồng thuận là mặt có điểm trung bình thấp nhất trong 5 nhóm mặt nhân
cách của trắc nghiệm, đặc trưng của mặt đồng thuận là tính vị tha và giúp đỡ cùng
xu hướng chấp nhận người khác. Ở mặt nhân cách này ta thấy điểm cao thuộc về
một số câu như “Nếu cần thiết, tôi sẵn sàng thao túng mọi người để có thứ mình
muốn”và “Đôi khi tôi có thể đe dọa hoặc nịnh bợ người khác để họ làm những gì
tôi muốn”. Tuy nhiên đây không phải đặc điểm nổi bật của sinh viên ngành công
nghệ thông tin do như đã nói ở trên, điểm trung bình của mặt đồng thuận thấp nhất
trong 5 mặt được nghiên cứu. Điều này trùng với kết quả với một nghiên cứu của
Bùi Thị Thúy Hằng, Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc với đề tài “Đặc
điểm nhân cách của thanh niên Việt Nam qua thang đo NEO-60VN. Trong nghiên
cứu đó, mặt A cũng có điểm trung bình thấp đứng thứ 4/5 so với 5 mặt được nghiên
cứu, và điểm cao cũng thuộc về câu “Nếu cần thiết, tôi sẵn sàng thao túng mọi
người để có thứ mình muốn.
3.1.5. Đặc điểm mặt tận tâm (C)
Mặt nhân cách tận tâm (C) làm một trong những đặc điểm khá nổi bật ở sinh
viên ngành công nghệ thông tin khi có điểm trung bình cao thứ hai trong các mặt
nhân cách khác nhau. Ở mặt nhân cách này, chúng tôi đánh giá một số khía cạnh
như sự ngăn nắp, năng lực, trách nhiệm, bổn phận, nỗ lực thành đạt, kỷ luật tự giác
và thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng. Cụ thể ở đây ta có bảng phân tích:
Bảng 3.7. Đặc điểm mặt nhân cách tận tâm (C)
Mặt tận tâm (C) ĐTB ĐLC Xếp loại
Câu 51: Khi đã cam kết thực hiện điều gì, mọi
người có thể tin là tôi sẽ hoàn thành.
2.76 0.85 1
Câu 11: Khi bắt tay vào một công việc, hầu như
tôi luôn luôn hoàn thành nó.
2.73 0.86 2
Câu 56: Tôi lên kế hoạch cẩn thận trước khi bắt
đầu một chuyến đi.
2.66 0.96 3
Câu 21: Tôi suy nghĩ kỹ lưỡng mọi việc trước
khi ra quyết định.
2.55 0.86 4
49
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Câu 31: Tôi giữ gìn đồ dùng cá nhân gọn gàng
và sạch sẽ
2.48 0.98 5
Câu 6: Tôi làm việc đều đặn để hoàn thành công
việc đúng thời hạn.
2.47 0.96 6
Câu 1: Tôi là người làm việc năng suất và luôn
hoàn thành công việc.
2.44 0.81 7
Câu 46: Mọi người cho rằng tôi là người cẩn
thận và biết điều.
2.35 0.97 8
Câu 36: Tôi là người có ý thức tự giác cao. 2.25 0.94 9
Câu 16: Tôi thấy tự hào về khả năng đánh giá
đúng đắn của mình.
2.21 1.02 10
Câu 41: Tôi thích cất giữ mọi thứ ngăn nắp nên
tôi biết chính xác chúng ở đâu.
2.19 1.08 11
Câu 26: Tôi thiết lập các mục tiêu một cách rõ
ràng và từng bước thực hiện chúng.
2.05 0.94 12
Mặt tận tâm (C) là một trong 2 mặt có điểm cao nhất trên 5 mặt được nghiên
cứu. Đặc trưng của mặt này là tính nguyên tắc, tỉ mỉ, đúng giờ và đáng tin cậy bên
cạnh khả năng, năng lực về trách nhiệm, bồn phận, và nỗ lực thành đạt, kỷ luật trực
giác và thận trọng. Một số câu có điểm cao ở mặt này như “Khi đã cam kết thực
hiện điều gì, mọi người có thể tin là tôi sẽ hoàn thành”, “Khi bắt tay vào một công
việc, hầu như tôi luôn luôn hoàn thành nó”, “Tôi lên kế hoạch cẩn thận trước khi
bắt đầu một chuyến đi”..
3.2. Thực trạng các vấn đề hành vi cảm xúc của sinh viên công nghệ thông tin
trường Đại học FPT
3.2.1. Điểm số trung bình của thang YSR
Thang đo YSR sử dụng trong nghiên cứu này gồm 112 item, mỗi item được
đánh giá mức độ điểm từ 0, 1, 2. Tổng các điểm ở các câu hỏi trong các thang đo
hội chứng cung cấp một phân phối điểm thô thể hiện mức độ vấn đề hành vi cảm
xúc được báo cáo về trẻ trong từng thang và tổng thang đo. Điểm thô của thang
50
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
được dùng để phân tích thống kê vì chúng trực tiếp phản ánh tất cả sự biến thiên của
từng thang đo.
Biểu đồ 3.1. Hàm phân phối tổng điểm thô YSR
Bảng 3.8. Giá trị trung bình của tổng thang đo
Số trường
hợp
Giá trị nhỏ
nhất
Giá trị lớn
nhất
Điểm trung
bình
Độ lệch
chuẩn
325 6 237 79.11 28.81
Nhìn vào biểu đồ 3.1. Hàm phân phối tổng điểm thô YSR và bảng 3.1. Giá
trị trung bình của tổng thang đo YSR trong tổng 560 khách thể nghiên cứu ta thấy:
- Tổng điểm thấp là 6, tổng điểm cao nhất là 237. Như vậy điểm của toàn
thang đo YSR nghiên cứu trên 560 khách thể dao động từ 6-237 điểm.
51
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
- Điểm trung bình của thang đo là 79.11 điểm và độ lệch chuẩn là
28.81 điểm.
Nhìn vào biểu đồ phân phối, ta thấy hàm được vẽ theo hình chuông. So sánh
với hàm phân phối, tổng điểm thô thang YSR trong nghiên cứu của Nguyễn Cao
Minh và Trịnh Thị Mai cũng được phân bổ theo hình chuông. Chúng tôi nhận thấy
một sự tương đồng nhất định về hàm phân phối tổng điểm thô YSR với nghiên cứu
của chúng tôi. Điều này chứng minh tính khách quan của số liệu và cũng có nghĩa là
các phép kiểm định giá trị trung bình đối với hàm số điểm tổng này có ý nghĩa
thống kê.
So sánh điểm trung bình này với một số nghiên cứu khác trên thế giới:
- So với điểm thô trung bình của thang YRS nghiên cứu trên 24 quốc gia
châu âu, chúng tôi thấy điểm thô trung bình trong nghiên cứu này cao hơn rất nhiều.
Cụ thể ở nghiên cứu này, điểm trung bình là 79.11 điểm trong khi điểm thô trung
bình nghiên cứu trên thanh thiếu niên của 24 quốc gia (Đức, Đan Mạch, Ethiopia,
Phần Lan, Puero Rico, Iran, Na Uy, Ba Lan, Thụy Sĩ, Ai xơ len, Úc, Jamaica, Israel,
Mỹ, Hong Kong, Thụy Điển, Nhật, Lithuania, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Tây Ban
Nha, Hà Lan, Romani, Hy Lạp) là 35,3.
- Một số nước châu Á ví dụ Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kong, Trung Quốc
có điểm trung bình cao hơn châu Âu, chỉ số cao nhất được biết đến ở châu Á là 48,3
thuộc về Hy Lạp.
- Tại Việt Nam, có một số nghiên cứu sử dụng YSR như nghiên cứu “Điều
tra tỉ lệ trẻ em và vị thành niên ở miền bắc có vấn đề sức khỏe tâm thần” của
Nguyễn Cao Minh với điểm thô trung bình đại diện cho miền bắc là 51,99. Nghiên
cứu “Thực trạng các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông nội
trú ở vùng dân tộc thiểu số phía bắc” của Trịnh Thị Mai với điểm thô trung bình là
79,33 điểm.
Ở nghiên cứu này, điểm thô trung bình của sinh viên ngành công nghệ thông
tin là 79.11. Giải thích cho tổng điểm thô cao như vậy, chúng tôi có một số giả định
sau: sinh viên ngành công nghệ thông tin thuộc ngành nghề có mức độ khó cao, đặc
thù phải làm việc nhiều giờ trước máy tính, ít có thời gian vận động và giao lưu với
52
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
mọi người nên nguy cơ gặp phải vấn đề sức khỏe tâm thần cao hơn. Bên cạnh đó,
đặc thù khách thể chúng tôi lựa chọn ở đây là sinh viên công nghệ thông tin trường
ĐH FPT, một trong những người tư có mức học phí cao cùng áp lực thi cử lớn, điều
này làm tăng áp lực cho sinh viên khi theo đuổi ngành nghề này.
Bảng 3.9. Bảng phân loại vấn đề HVCX của sinh viên ngành công nghệ thông tin
theo giới tính
Vấn Nam Vấn Nữ Vấn Tổng
đề
HVCX
M Std N
đề
HVCX
M Std N
đề
HVCX
M Std N
Hướng
ngoại
19.48 8.58
Hướng
nội
21.41 13.78
Hướng
ngoại
19.33 8.55
Hướng
nội
17.38 9.59
Hướng
ngoại
18.78 8.44
Hướng
nội
18.23 10.72
Vấn đề
tư duy
11.39 4.62 1
Vấn đề
tư duy
12.04 5.56 1
Vấn đề
tư duy
11.53 4.83 1
Hành
vi xâm
kích
9.91 5.21 2
Hành
vi xâm
kích
10.42 4.93 2
Hành
vi xâm
kích
10.02 5.15 2
Phá bỏ
quy tắc
9.57 4.23 3
Vấn đề
chú ý
9.39 3.66 3
Phá bỏ
quy tắc
9.31 4.3 3
Vấn đề
chú ý
9.08 3.44 4
Lo âu
trầm
cảm
9.3 6.79 4
Vấn đề
chú ý
9.15 3.49 4
Lo âu
trầm
cảm
7.68 4.89 5
Phá bỏ
quy tắc
8.36 4.43 5
Lo âu
trầm
cảm
8.02 5.38 5
Vấn đề
xã hội
6.874 3.63 6
Vấn đề
xã hội
7.17 4.29 6
Vấn đề
xã hội
6.91 3.77 6
Trầm 5.21 3.33 7 Bệnh 6.12 4.47 7 Trầm 5.38 3.53 7
53
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
cảm
thu
mình
tâm thể cảm
thu
mình
Bệnh
tâm thể
4.49 3.01 8
Trầm
cảm
thu
mình
5.99 4.17 8
Bệnh
tâm thể
4.83 3.43 8
Nhìn vào bảng 3.2, bảng phân loại các vấn đề hành vi cảm xúc ở sinh viên
ngành công nghệ thông tin ta thấy:
Xét về vấn đề hướng nội và vấn đề hướng ngoại thì sinh viên nam gặp vấn đề
hướng ngoại nhiều hơn với mức điểm trung bình M = 19.48, Độ lệch chuẩn std =
8.58. Sinh viên nữ gặp vấn đề về hướng nội nhiều hơn với mức điểm trung bình
21.41 và độ lệch chuẩn Std = 13.78. Trong nghiên cứu này, vấn đề hướng nội của
sinh viên chủ yếu xét đến một số khía cạnh: lo âu trầm cảm, trầm cảm thu mình và
bệnh tâm thể. Vấn đề hướng ngoại chủ yếu xét đến một số khía cạnh: hạnh vi phá
luật và hành vi gây hấn. Nhìn chung, sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp phải
vấn đề hướng ngoại nhiều hơn hướng nội với điểm trung bình nhìn chung là 11.53
và độ lệch chuẩn 4.83. Điều này có thể giải thích là do tỉ lệ nam, nữ trong ngành
công nghệ thông tin đặc thù này khá chênh lệch, số lượng nam thường gấp nhiều lần
so với các bạn nữ.
Xét về từng vấn đề hành vi, cảm xúc ở sinh viên ngành công nghệ thông tin,
ta thấy có nhiều điểm đáng chú ý. Điểm nổi bật thứ nhất, thứ hai trong vấn đề
HVCX ở cả sinh viên nam và nữ đều là Vấn đề tư duy và hành vi xâm kích. Trong
đó vấn đề tư duy ở nam thấp hơn nữ, điểm trung bình của nam là 11.39, độ lệch
chuẩn 4.62, trong khi đó điểm trung bình của nữ là 12.04, độ lệch chuẩn 5.56. Vấn
đề tư duy của sinh viên nam và nữ ngành công nghệ thông tin thể hiện ở một số
biểu hiện như: Không thể ngừng suy tư, Ngủ ít đi hoặc khó ngủ, Ý nghĩ lạ, một số
có hành vi tự làm hại bản thân … Điểm trung bình vấn đề tư duy của tổng khách thể
nghiên cứu là 11.53, độ lệch chuẩn là 4.83. Vấn đề hành vi xâm kích là vấn đề nổi
bật thứ hai ở sinh viên ngành công nghệ thông tin. Điểm trung bình của nam là 9.91,
54
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
độ lệch chuẩn 5.21; điểm trung bình của nữ là 10.42 và độ lệch chuẩn là 4.93. Điểm
trung bình của tổng khách thể nghiên cứu là 10.02, độ lệch chuẩn 5.15.
Thứ hạng thứ 3, 4, 5, 6, 7, 8 của tổng khách thể nghiên cứu lần lượt thuộc về
các vấn đề: vấn đề phá bỏ quy tắc (điểm trung bình 9.31, độ lệch chuẩn 4.3); vấn đề
chú ý (điểm trung bình 9.15, độ lệch chuẩn 3.49); vấn đề lo âu trầm cảm (điểm
trung bình 8.02, độ lệch chuẩn 5.38); vấn đề xã hội (điểm trung bình 6.91, độ lệch
chuẩn 3.77); vấn đề trầm cảm thu mình (điểm trung bình 5.38, độ lệch chuẩn 3.53);
vấn đề bệnh tâm thể (điểm trung bình 4.83, độ lệch chuẩn 3.43).
Có sự khác biệt về điểm nổi bật trong vấn đề HVCX ở sinh viên nam và nữ
trong các thứ hạng tiếp theo bao gồm: Vấn đề phá bỏ quy tắc là vấn đề nổi bật thứ
ba ở sinh viên nam ngành công nghệ thông tin. Điểm trung bình của nam là 9.57, độ
lệch chuẩn là 4.23. Trong khi đó, vấn đề nổi bật thứ ba ở sinh viên nữ là vấn đề chú
ý với điểm trung bình là 9.39, độ lệch chuẩn là 3.66. Ở thứ hạng thứ 4 và thứ 5 ở
nam là vấn đề chú ý và vấn đề lo âu trầm cảm với điểm trung bình lần lượt là 9.08
(độ lệch chuẩn 3.44) và 7.68 (độ lệch chuẩn 4.89). Thứ hạng thứ 4 và thứ 5 ở nữ là
lo âu trầm cảm và phá bỏ nguyên tắc với điểm trung bình lần lượt là 9.3 (độ lệch
chuẩn 6.79) và 8.36 (độ lệch chuẩn 4.43). Ở thứ hạng 6, cả nam và nữ đều là vấn đề
xã hội với điểm trung bình lần lượt là 6.87 (độ lệch chuẩn 3.63) và 7.17 (độ lệch
chuẩn 4.29). Thứ hạng 7 và 8 có sự khác biệt giữa nam và nữ. Với sinh viên nam,
vấn đề lần lượt là: vấn đề trầm cảm thu mình (điểm trung bình 5.21, độ lệch chuẩn
là 3.33); vấn đề bệnh tâm thể (điểm trung bình 4.49, độ lệch chuẩn 3.01). Với sinh
viên nữ, từ thứ hạng 7 đến thứ hạng 8 lần lượt là: vấn đề bệnh tâm thể (điểm trung
bình 6.12, độ lệch chuẩn 4.47); vấn đề trầm cảm thu mình (điểm trung bình 5.99, độ
lệch chuẩn 3.43).
Như vậy nhìn chung, xét tổng khác thể nghiên cứu ở cả nam và nữ thì vấn đề
hướng ngoại là vấn đề nổi bật hơn với điểm trung bình là 19.33, độ lệch chuẩn 8.55.
Tuy nhiên, xét riêng theo giới tính thì vấn đề nổi bật ở nam là các vấn đề về hướng
ngoại , các vấn đề hướng ngoại ở đây liên quan đến vấn đề phá bỏ quy tắc và hành
vi xâm kích. Vấn đề nổi bật ở nữ sinh viên ngành công nghệ thông tin là các vấn đề
55
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
về hướng nội với các vấn đề hướng nội ở đây bao gồm vấn đề lo âu trầm cảm, trầm
cảm thu mình và bệnh tâm thể.
Bên cạnh đó, để xác định tỉ lệ sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp phải
các vấn đề hành vi cảm xúc, ta có phân tích bảng dưới đây:
57
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Bảng 3.10. Bảng tỉ lệ sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp các vấn đề HVCX
STT Vấn đề HVCX
Nam (256) Nữ (69)
Tổng tỉ lệ lâm
sàng (325)
Bình
thường
Ranh
giới
Lâm
sàng
Tỉ lệ % lâm
sàng
Bình
thường
Ranh
giới
Lâm
sàng
Tỉ lệ %
lâm sàng
Lâm sàng Tỉ lệ
1 Lo âu trầm cảm 154 [9;11] 54 21.1 48 [12;14] 13 18.8 67 20.62
2
Thu mình trầm
cảm
174 [7;8] 31 12.1 46 [8;9] 16 23.2 47 14.46
3
Bệnh
tâm thể
200 [7] 38 14.8 51 [8;11] 8 11.6 46 14.15
4
Vấn đề
xã hội
157 [8-9] 68 26.6 41 [8;9] 16 23.2 84 25.85
5
Vấn đề
tư duy
74 [9;10] 138 53.9 22 [10;12] 28 40.6 166 51.08
6 Vấn đề chú ý 134 [10;11] 63 24.6 31 [10;11] 15 21.7 78 24
7 Phá bỏ quy tắc 134 [10;12] 54 21.1 40 [9;13] 4 5.8 58 17.85
8 Hành vi xâm kích 178 [13;15] 32 12.5 54 [14;17] 2 2.9 34 10.46
9 Hướng nội 98 [14;17] 124 48.4 37 [19;23] 25 36.2 149 45.85
10 Hướng ngoại 108 [17;19] 117 45.7 23 [16;20] 23 33.3 140 43.08
11 Tổng 40 [51;61] 171 66.8 12 [57;69] 43 62.3 214 65.85
58
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Nhìn vào bảng tỉ lệ sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp các vấn đề về
hành vi cảm xúc ta thấy:
Xét tổng khách thể nghiên cứu ở cả nam và nữ sinh viên ngành công nghệ
thông tin, số lượng sinh viên gặp vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đến cảm xúc
hành vi trên mức ranh giới là 214 sinh viên, chiếm 65.85%. Trong đó có 171 sinh
viên nam và 43 sinh viên nữ.
Ở cả sinh viên nam và nữ thì tỉ lệ % số sinh viên có điểm lâm sàng trên mức
ranh giới ở vấn đề hướng nội cao hơn hướng ngoại. Trong đó có 124 sinh viên nam
(chiếm 48.4% số sinh viên nam) và 25 sinh viên nữ (chiếm 36.2% số sinh viên nữ).
Như vậy ở vấn đề hướng nội có tổng 149 sinh viên cả nam và nữ có điểm lâm sàng
trên mức điểm ranh giới của vấn đề hướng nội (chiếm 45.85% tổng số sinh viên).
Vấn đề hướng nội ở sinh viên ngành công nghệ thông tin được thể hiện qua một số
một số hội chứng như: lo âu trầm cảm, thu mình trầm cảm và bệnh tâm thể. Ở hội
chứng lo âu trầm cảm và thu mình trầm cảm, sinh viên nữ có tỉ lệ % ở mức lâm
sàng (tỉ lệ lần lượt là 18.8% và 23.2%). Trong khi đó tỉ lệ của hội chứng lo âu trầm
cảm và thu mình trầm cảm ở nam (có tỉ lệ lâm sàng lần lượt là 21.1% và 12.1%),
trong khi đó ở hội chứng bệnh tâm thể, sinh viên nam có tỉ lệ % lâm sàng cao hơn
so với nữ.
Trong các hội chứng được nghiên cứu, hội chứng liên quan đến vấn đề tư
duy có tỉ lệ sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp phải nhiều nhất (166 người
chiếm 51.08%). Trong đó sinh viên nam có 138 người ở mức lâm sàng (chiếm
53.9% tổng số sinh viên nam được nghiên cứu); sinh viên nữ có 28 người (chiếm
40.6% tổng số sinh viên nữ nghiên cứu).
3.2.2. Mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề HVCX
Một số nhà điều tra đã đề xuất rằng sự bất ổn về tình cảm bao gồm một khía cạnh
tâm sinh lý khác biệt của rối loạn nhân cách [49]. Đề xuất này nhận được sự hỗ trợ từ các
nghiên cứu gia đình cho thấy những người thân có chứng rối loạn nhân cách cho thấy nguy
cơ mắc các rối loạn nhân cách tình cảm và bốc đồng cao hơn so với những người thân của
chứng bệnh mắc chứng rối loạn nhân cách khác hoặc bị tâm thần phân liệt (Silverman et al.
1991). Bởi vậy, tìm hiểu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề hành vi cảm
xúc sẽ khẳng định thêm cho giả thuyết về mối tương quan của hai chiều cạnh này.
59
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Bảng 3.11. Bảng tương quan Person giữa các vấn đề hành vi cảm xúc và các mặt
nhân cách.
Mặt nhân cách
Các vấn đề
HVCX
Nhiễu tâm
(N)
Hướng
ngoại (E)
Cởi mở
(O)
Đồng
thuận
(A)
Tận
tâm
(C)
LATC Pearson Correlation .572**
-.145**
-.047 -.225**
-.126*
Sig. (2-tailed) .000 .009 .396 .000 .023
TCTM Pearson Correlation .391**
-.509**
-.123*
-.253**
-.193**
Sig. (2-tailed) .000 .000 .027 .000 .000
BTT Pearson Correlation .316**
-.047 -.067 -.281**
-.043
Sig. (2-tailed) .000 .397 .229 .000 .441
VDXH Pearson Correlation .427**
-.125*
-.062 -.236**
-.176**
Sig. (2-tailed) .000 .024 .266 .000 .001
VDTD Pearson Correlation .234**
.066 .178**
-.294**
-.020
Sig. (2-tailed) .000 .237 .001 .000 .716
VDCY Pearson Correlation .377**
.113*
.002 -.256**
-.309**
Sig. (2-tailed) .000 .041 .970 .000 .000
PBQT Pearson Correlation .090 .061 .070 -.365**
-.038
Sig. (2-tailed) .107 .274 .206 .000 .496
HVXK Pearson Correlation
.302** .192**
.082 -.462** -.049
Sig. (2-tailed) .000 .000 .052 .000 .251
Ghi chú:
*=> p<0,05
**=> p<0,01
***=> p<0,001
Quy ước tương quan Cohen
|r|<0,3 => Thấp => ở phần ít khách thể có A càng cao thì B càng cao
60
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
0,3 <= |r| <0,5 => TB => ở phần nhiều khách thể có A càng cao thì B càng cao
|r| >= 0,5 => Cao => ở đa số khách thể có A càng cao thì B càng cao
r<0 => tương quan nghịch
r>0 => tương quan thuận
Nhìn vào bảng tương quan giữa các vấn đề hành vi cảm xúc và các mặt trong
nhân cách. Ở đây có các cặp tương quan:
 Nhiễu tâm và lo âu trầm cảm có tương quan cao với hệ số tương quan
thuận mức cao là 0.572 (p<0.01 cho thấy tương quan tuyến tính ở mức tin vậy đến
99%). Điều này có nghĩa là những sinh viên có điểm nhiễu tâm càng cao, càng cho
thấy nhiều những cảm xúc tiêu cực, dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít
có khả năng để kiểm soát sự xung động của học và ứng phó với stress kém hơn
những người khác. Nhìn chung, điểm nhiễu tâm càng cao càng cho thấy sự ủ rũ, quá
nhạy cảm và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ, thường tự ti và có
những ý tưởng, kỳ vọng không thực tế. Những đặc điểm này hình thành nên vấn đề
liên quan đến lo âu trầm cảm.
Tính hướng ngoại và đồng thuận cũng tương quan thấp với lo âu trầm cảm
nhưng là tương quan nghịch với hệ số tương quan r=- 0.145 và r=-0.225. Nói cách
khác, sinh viên càng có điểm hướng ngoại cao (mặt này liên quan đến tính cởi mở
thân thiện, quảng giao, tự khẳng định, tích cực hoạt động, tìm kiếm hứng thú, xúc
cảm tích cực) hoặc điểm đồng thuận cao (mặt này liên quan đến xu hướng chấp
nhận người khác) thì càng ít có nguy cơ bị vấn đề liên quan đến lo âu trầm cảm.
 Với vấn đề thu mình trầm cảm (TMTC) thì mặt nhân cách hướng ngoại
có tương quan cao chiều nghịch với hệ số tương quan là -0.509. Điều này cho thấy
những sinh viên có điểm hướng ngoại càng thấp – thể hiện xu hướng hướng nội,
trông có vẻ nhút nhát, thường yên lặng và không tự tin trong tương tác nhóm, đặc
biệt nhóm lớn và người mới, họ sống khá nội tâm và ít chia sẻ; những đặc điểm này
làm tăng nguy cơ gặp vấn đề thu mình trầm cảm. Nhiễu tâm (mặt tính cách đánh giá
xu hướng cá nhân với những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực, kém thích nghi, điều
chỉnh, thay đổi về cảm xúc) có tương quan thuận mức trung bình với hệ số tương
61
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
quan r = 0.391. Đồng thuận và tận tâm cũng có tương quan nghịch với vấn đề trầm
cảm thu mình với hệ số tương quan lần lượt là r = -0.253 và r = -0.193.
 Với vấn đề Bệnh tâm thể (BTT), có hai mặt nhân cách có tương quan là
nhiễu tâm tương quan thuận mức trung bình với hệ số tương quan r = 0.316 và đồng
thuận tương quan nghịch với hệ số tương quan r = -0.281.
 Với vấn đề xã hội (VDXH) thì nhiễu tâm cũng có tương quan thuận mức
trung bình với hệ số tương quan r = 0.427. Cho thấy khi sinh viên ngành công nghệ
thông tin có những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực, kém thích nghi, điều chỉnh và
thay đổi về cảm xúc có nguy cơ hình thành nên các vấn đề xã hội với những biểu
hiện đặc trưng như luôn cảm thấy cô đơn và cần chỗ dựa,, khó hòa đồng hay ghen
tị, bị trêu chọc và khó diễn đạt…Bên cạnh đó, mặt nhân cách đồng thuận và tận tâm
cũng có tương quan nghịch mức độ thấp với vấn đề xã hội với hệ số tương quan lần
lượt là r = -0.236, r = -0.284 và r = -0.176.
 Với vấn đề tư duy (VDTD) thì mặt nhân cách nhiễu tâm (N) có tương
quan thuận với hệ số tương quan r=0.234. Điều này cho thấy những trải nghiệm
cảm xúc tiêu cực, kém thích thi và cảm xúc không ổn định là một trong những yếu
tố tăng mức nguy cơ liên quan đến vấn đề tư duy. Mặt nhân cách đồng thuận (A) và
mặt nhân cách tận tâm (C) có tương quan nghịch mức độ trung bình với hệ số tương
quan r = -0.294 và r = -0.02. Điều này cho thấy khi sinh viên càng ít quan tâm đến
người khác, vô tâm, khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết tình huống, thể hiện cảm
xúc thù địch một cách trực tiếp, cứng đầu và ích kỷ … thì mức độ sinh viên gặp vấn
đề tư duy sẽ cao hơn.
 Với vấn đề chú ý (VDCY), mặt nhân cách nhiễu tâm có tương quan thuận
mức độ trung bình với hệ số tương quan r = 0.377. Điều này cho thấy những sinh
viên ngành công nghệ thông tin có những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực, kém thích
nghi, điều chỉnh và thiếu cân bằng về cảm xúc thường xuyên sẽ hình thành nên các
vấn đề liên quan đến chú ý với những biểu hiện cụ thể như khó tập trung và ngồi
yêu, hay mơ mộng, hành động hấp tấp, hoang mang … ảnh hưởng tới quá trình học
tập. Bên cạnh đó, mặt đồng thuận và tận tâm cũng có mối tương quan nghịch mức
độ yếu với vấn đề chú ý theo hệ số tương quan lần lượt là r = - 0.256 và r = -0.309.
62
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
 Với vấn đề phá bỏ quy tắc (PBQT), mặt nhân cách đồng thuận (A) có
tương quan nghịch mức độ trung bình với hệ số tương quan r = -0.365. Điều này
cho thấy những sinh viên có điểm đồng thuận (A- dễ chấp nhận) cao về cơ bản là vị
tha, biết thông cảm cho người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người
khác sẽ được những người khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết thì sẽ
giảm mức độ nguy cơ gặp phải vấn đề phá bỏ quy tắc, cụ thể hơn là giảm những
hành vi như dùng chất kích thích, nói dối, chửi bậy …
 Với vấn đề hành vi xâm kích (HVXK), mặt nhân cách đồng thuận (A) có
tương quan nghịch mức độ trung bình với hệ số tương quan r = -0.462 và mặt nhân
cách nhiễu tâm (N) có tương quan thuận mức độ trung bình với hệ số tương quan r
= 0.302. Điều này có nghĩa là những sinh viên có điểm cao ở mặt nhân cách đồng
thuận, về cơ bản được đánh giá là vị tha, biết thông cảm cho người khác và sẵn sàng
giúp đỡ họ, tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử công bằng
lại với mình khi cần thiết thì sẽ giảm mức độ nguy cơ gặp phải vấn đề hành vi xâm
kích (HVXK). Còn những sinh viên có điểm cao ở mặt nhân cách nhiễu tâm, mặt
tính cách đánh giá xu hướng cá nhân với những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực,
kém thích nghi, điều chỉnh, thay đổi về cảm xúc thì sẽ tăng vấn đề hành vi xâm
kích, cụ thể là tăng những hành vi phá đồ người khác, đánh nhau, cãi nhau hoặc trêu
ác ý, đe dọa người khác …Bên cạnh đó, mặt nhân cách hướng ngoại cũng có tương
quan thuận mức độ thấp với hành vi xâm kích theo hệ số tương quan r = 0.192. Cho
thấy những sinh viên hướng ngoại, những người có tính quyết đoán, thích sự phấn
khích và những kích thích sẽ có nguy cơ gặp vấn đề hành vi xâm kích nhiều hơn
mặc dù mối tương quan thuận này có mức độ thấp.
3.3.Mô hình hồi quy giữa các đặc điểm nhân cách và các vấnđề cảm xúc hành vi
Trên cơ sở tìm ra những mối tương quan giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề
hành vi cảm xúc, chúng tôi tiến hành phân tích mô hình hồi quy bội để tìm ra những mặt
nhân cách dự báo và ảnh hưởng tới các vấn đề cảm xúc hành vi. Kết quả thu được như sau:
3.4.2.1. Mô hình dự báo lo âu trầm cảm
Theo DSM - V rối loạn lo âu là những sợ hãi thái quá về một sự kiện hoặc các
hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xảy ra và lặp lại ít nhất 6 tháng. Cá nhân thường
63
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
khó khăn kiểm soát những lo lắng và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng hạn
như là sự căng cơ, cái bẩn, khó ngủ và cảm giác bất an. Theo hiệp hội tâm thần Mỹ,
trầm cảm được xem là một dạng rối loạn khí sắc. Tùy thuộc vào sự xuất hiện hay
không của các cơn hưng cảm và hưng cảm nhẹ mà người ra phân ra làm hai loại:
Rối loạn trầm cảm (hay trầm cảm đơn cực) và rối loạn lưỡng cực (2).
Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn tới lo âu trầm cảm như: di truyền, căng
thẳng, lạm dụng chất, nhân cách … Nhân cách một số người dễ bị rối loạn lo âu hơn
người khác. Ngoài ra một số rối loạn nhân cách, chẳng hạn như rối loạn nhân cách
ranh giới, cũng có thể được liên kết đến rối loạn lo âu (3). Ở nghiên cứu này, chúng
tôi sẽ làm rõ hơn những mặt nhân cách có thể dự đoán nguy cơ gặp vấn đề lo âu
trầm cảm ở sinh viên ngành công nghệ thông tin.
Bảng 3.12.Mô hình dự báo lo âu trầm cảm
Vấn đề LATC β t p VIF
R2=0.328; p (Sig) =<0.05;
Nhiễu tâm (N) 0.535 11.022 0.000 1.138
Hướng ngoại (E) -0.054 -1.120 0.263 1.119
Cởi mở (O) 0.003 0.071 0.944 1.026
Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.091 -1.903 0.058 1.112
Tận tâm (C) -0.032 -0.661 0.509 1.150
Phân tích hồi quy tuyến tính bội giữa vấn đề lo âu trầm cảm với các đặc điểm
nhân cách. Để loại trừ ảnh hưởng do tương tác giữa các biến số. Chúng tôi tiếp tục
phân tích hồi quy tuyến tính bội với các biến phụ thuộc. Ở bảng này chúng tôi phân
tích hồi quy với biến phụ thuộc “Lo âu trầm cảm – LATC”.
Số liệu phân tích trong bảng này cho thấy có ý nghĩa thống kê.
Giá trị Sig (p<0.001<0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ
phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù
hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được.
Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Ta
thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
64
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.328): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu
tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 32,8% sự thay đổi của
biến lo âu trầm cảm. Còn lại là 67,2% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô
hình mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên.
Giá trị Sig (p) của kiểm định T được sử dụng để kiểm định ý nghĩa của hệ số
hồi quy. Nếu sig kiểm định t của hệ số hồi quy của một biến độc lập nhỏ hơn 0.05,
ta kết luận viến độc lập đó có tác động đến biến phụ thuộc.. Nếu sig kiểm định t của
biến độc lập lớn hơn 0.05, chúng ta kết luận biến độc lập đó không có sự tác động
lên biến phụ thuộc, và không cần loại bỏ biến đó để chạy lại hồi quy lần tiếp theo.
Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm: p<0.001 <0.05 nên biến nhiễu
tâm có tác động đến biến lo âu trầm cảm.Giá trị p của biến đồng tâm: p<0.001 nên
biến đồng tâm có tác động đến biến lo âu trầm cảm.
Nhìn vào hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta, ta thấy đặc điểm nhân cách nhiễu
tâm dự báo vấn đề lo âu trầm cảm theo chiều thuận. Điều này cho thấy những người
có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm xúc của họ càng ổn định. Họ thường
bình tĩnh, điểm đạm, thoải mái và họ có thể đối mặt với các tình huống căng thẳng
mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều này dự báo mức độ gặp phải vấn đề lo
âu trầm cảm của họ càng thấp. Những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng cao
cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu cực, dẫn đến họ dễ có những mẫu
nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát sự xung động của họ, và ứng
phó với stress kém hơn những người khác. Họ thường ủ rũ, quá nhạy cảm, và không
hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói chung họ có lòng tự tin thấp, và có thể
có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế. Họ được lo lắng, và thường là người
cảm thấy không an toàn về bản thân và kế hoạch của họ. Những điều này dự báo
cho vấn đề lo âu trầm cảm có thể xuất hiện mức độ cao hơn ở nhóm người này.
Các mặt nhân cách còn lại như hướng ngoại (E), cởi mở (O), đồng thuận (A) và
tận tâm (C) không dự báo mức độ vấn đề lo âu trầm cảm cho sinh viên ngành công
nghệ thông tin.
3.4.2.2. Mô hình dự báo trầm cảm thu mình
Theo tổ chức y tế thế giới tới năm 2020 trầm cảm chỉ đứng sau các bệnh tim
65
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
mạch về gánh nặng bệnh tật và nguyên nhân gây tử vong . Rối loạn trầm cảm ảnh
hưởng tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi từ trẻ em đế người già. Ở Mỹ tỉ lệ mắc trầm
cảm chung ở giới nữ là 5-9%, nam giới là 2-3%, tỉ lệ tái phát sau 6 tháng là 27%,
sau 1 năm là 50% tần sất suất suốt đời của trầm cảm và lo âu khoảng 15-20% ở các
bệnh viện thực hành tỉ lệ còn cao hơn khoảng 10-12% (4).
Bảng 3.13.Mô hình dự báo trầm cảm thu mình
Vấn đề TCTM β t p VIF
R2= 0.384; p (Sig) =<0.05;
Nhiễu tâm (N) 0.262 5.634 0.000 1.138
Hướng ngoại (E) -0.453 -9.831 0.000 1.119
Cởi mở (O) -0.03 -0.684 0.494 1.026
Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.193 -4.191 0.000 1.112
Tận tâm (C) -0.042 -0.9 0.369 1.15
Phân tích hồi quy giữa vấn đề trầmcảm thu mình với các đặc điểm nhân cách.
Giá trị Sig (p<0.001<0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ
phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù
hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được.
Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Ta
thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.384): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu
tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 38.4% sự thay đổi của
biến trầm cảm thu mình. Còn lại là 61.6% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài
mô hình mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên.
Giá trị Sig (p) của kiểm định T cho biến nhiễu tâm (N): p<0.001 <0.05 nên
biến nhiễu tâm có tác động đến biến lo âu trầm cảm.Giá trị p của biến hướng ngoại
(E): p<0.001 nên biến hướng ngoại có tác động đến biến lo âu trầm cảm. Giá trị p
của biến đồng thuận (A): p<0.001< 0.05 nên biến đồng thuận có tác động đến biến
lo âu trầm cảm.
66
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Nhìn vào hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta, ta thấy đặc điểm nhân cách nhiễu
tâm dự báo vấn đề lo âu trầm cảm theo chiều thuận với hệ số Beta là 0.262. Đặc
điểm nhân cách mặt hướng ngoại và đồng thuận dự báo vấn đề lo âu trầm cảm theo
chiều nghịch.
Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm
xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điểm đạm, thoải mái và họ có thể đối
mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều
này dự báo mức độ gặp phải vấn đề trầm cảm thu mình của họ càng thấp. Những
người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm
xúc tiêu cực, dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng
để kiểm soát sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người
khác. Họ thường ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống
của họ. Nói chung họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng
không thực tế. Họ được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản
thân và kế hoạch của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề trầm cảm thu mình có
thể xuất hiện mức độ cao hơn ở nhóm người này.
Những người có điểm số của mặt nhân cách Hướng ngoại thấp có xu hướng
hướng nội, hướng nội không phải không thân thiện, họ độc lập chứ không phải chậm
chạp. Người hướng nội trông có thể nhút nhát nhưng không có nghĩa là họ thích ở
một mình: họ không nhất thiết bị ám sợ xã hội. Mặc dù họ không có tính cởi mở của
sự hướng ngoại nhưng hướng nội không có nghĩa là không hài lòng hoặc bi quan. Tò
mò là một trong những đặc điểm của người hướng nội, họ thường thích tìm tòi nghiên
cứu. Họ thích làm hầu hết mọi thứ một mình hoặc với nhóm nhỏ. Họ tránh các bên
lớn và không thích gặp gỡ những người mới. Họ thường yên lặng và không tự tin
trong tương tác nhóm. Họ hiếm khi trải nghiệm cảm xúc tích cực mạnh mẽ như niềm
vui hay sự phấn khích. Thực tế thấy rằng những người sống nội tâm không nhất thiết
có nghĩa là họ thiếu kỹ năng xã hội-hướng nội nhiều chức năng rất tốt trong các tình
huống xã hội, mặc dù họ có thể thích để tránh chúng. Những đặc điểm này dự đoán
xu hướng cao hơn cho các vấn đề liên quan đến trầm cảm thu mình cho nhóm người
này. Những người có điểm số của mặt nhân cách hướng ngoại cao cho thấy sự hòa
67
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
đồng, nhưng hướng ngoại chỉ là một trong số những đặc điểm của đời sống xã hội,
ngoài ra còn có các mối quan hệ và các nhóm xã hội khác. Sự hướng ngoại thể hiện ở
tính quyết đoán, năng động, và hoạt ngôn. Những người có tính hướng ngoại cao
thường thích sự phấn khích và những kích thích, và có xu hướng hướng đến sự vui vẻ
trong những hoàn cảnh khác nhau. Họ lạc quan, tràn đầy năng lượng. Những đặc
điểm này dự báo xu hướng trầm cảm thu mình thấp hơn.
Những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho thấy họ là
người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người khác và sẵn
sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử
công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức độ thấp của
nhóm người này đối với vấn đề trầm cảm thu mình. Những người có điểm số của
mặt nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác.
Họ thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu
hướng xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có
khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và
có thể khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ
như là một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp
phải vấn đề trầm cảm thu mình cao hơn.
Các mặt nhân cách còn lại như cởi mở (O) và tận tâm (C) không dự báo mức
độ vấn đề trầm cảm thu mình cho sinh viên ngành công nghệ thông tin.
3.4.2.3. Mô hình dự báo bệnh tâm thể
“Ác mộng”, “nôn nao”, “đau đầu” .. một số đặc điểm đặc trưng cho vấn đề
bệnh tâm thể. Phân tích hồi quy giữa bệnh tâm thể với các mặt của nhân cách như
nhiễu tâm (N), hướng ngoại (E), cởi mở (O), đồng thuận/dễ chấp nhận (A), tận tâm
(C) giúp dự báo những mặt nhân cách có thể ảnh hưởng tới nguy cơ gặp các vấn đề
bệnh tâm thể. Chi tiết được phân tích ở bảng 3.15
68
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Bảng 3.14.Mô hình dự báo bệnh tâm thể
Vấn đề BTT Β t p VIF
R2= 0.131; p (Sig) =<0.05;
Nhiễu tâm (N) 0.253 4.576 0.000 1.138
Hướng ngoại (E) 0.005 0.083 0.934 1.119
Cởi mở (O) -0.042 -0.805 0.421 1.026
Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.218 -3.993 0.000 1.112
Tận tâm (C) -0.027 -0.491 0.624 1.15
Phân tích hồi quy giữa vấn đề bệnh tâm thể với các đặc điểm nhân cách.
Giá trị Sig (p<0.001 <0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ
phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù
hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được.
Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Ta
thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.131): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu
tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 13.1% sự thay đổi của
biến bệnh tâm thể. Còn lại là 86.9% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình
mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên.
Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm (N): p<0.001<0.05 nên
biến nhiễu tâm có tác động đến biến lo âu trầm cảm. Nhìn vào hệ số hồi quy đã
chuẩn hóa Beta, ta thấy đặc điểm nhân cách nhiễu tâm dự báo vấn đề lo âu trầm
cảm theo chiều thuận với hệ số là 0.253. Giá trị p của biến đồng thuận (A):
p<0.001< 0.05 nên biến đồng thuận có tác động đến biến lo âu trầm cảm. Đặc điểm
đồng thuận dự báo vấn đề lo âu trầm cảm theo chiều nghịch với hệ số Beta là -
0.218.
Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm
xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điểm đạm, thoải mái và họ có thể đối
mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều
này dự báo mức độ gặp phải vấn đề bệnh tâm thể của họ càng thấp. Những người có
69
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
điểm của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu
cực, dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm
soát sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Họ
thường ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói
chung họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế.
Họ được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản thân và kế
hoạch của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề bệnh tâm thể có thể xuất hiện
mức độ cao hơn ở nhóm người này.
Những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho thấy họ là
người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người khác và sẵn
sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử
công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức độ thấp của
nhóm người này đối với vấn đề bệnh tâm thể. Những người có điểm số của mặt
nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác. Họ
thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu hướng
xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có khuynh
hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và có thể
khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ như là
một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn
đề bệnh tâm thể cao hơn.
Các mặt nhân cách còn lại như cởi mở (O), hướng ngoại (E) và tận tâm (C)
không dự báo mức độ vấn đề bệnh tâm thể cho sinh viên ngành công nghệ thông tin.
3.4.2.4. Mô hình dự báo vấn đề xã hội
Vấn đề xã hội với những biểu hiện như dựa dẫm, phụ thuộc vào người lớn, lặp
đi lặp lại việc gì đó, có những hành động lạ … là một trong những vấn đề hành vi
cảm xúc. Để dự báo các mặt nhân cách dự báo vấn đề xã hội, chúng tôi tiến hành
phân tích hồi quy thu được kết quả như bảng 3.4.2.4.
70
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Bảng 3.15. Mô hình dự báo vấn đề xã hội
Vấn đề xã hội β T p VIF
R2= 0.206 ; p (Sig) =<0.05;
Nhiễu tâm (N) 0.358 6.777 0.000 1.138
Hướng ngoại (E) -0.032 -0.619 0.536 1.119
Cởi mở (O) -0.017 -0.343 0.732 1.026
Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.161 -3.079 0.002 1.112
Tận tâm (C) -0.126 -2.382 0.018 1.15
Phân tích hồi quy giữa vấn đề xã hội với các đặc điểm nhân cách.
Giá trị Sig (p<0.001<0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ
phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù
hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được.
Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng
tuyến. Ta thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa
cộng tuyến.
Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.206): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu
tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 20.6% sự thay đổi của
biến vấn đề xã hội. Còn lại là 79.4% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình
mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên.
Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm (N): p=0.000 <0.05 nên
biến nhiễu tâm có tác động đến biến lo âu trầm cảm. Giá trị p của biến đồng thuận
(A): p=0.002<0.05 nên biến đồng thuận có tác động đến biến lo âu trầm cảm. Giá trị
p của biến tận tâm (C): p=0.018 < 0.05 nên biến tận tâm có tác động đến biến vấn
đề xã hội.
Nhìn vào hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β), ta thấy đặc điểm nhân cách
nhiễu tâm (N) dự báo vấn đề xã hội theo chiều thuận với hệ số β=0.358. Đặc điểm
đồng thuận (A) dự báo vấn đề xã hội theo chiều nghịch với hệ số β=-0.161. Đặc
điểm biến tận tâm (C) dự báo vấn đề xã hội chiều nghịch với hệ số β= -0.126.
71
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm
xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điểm đạm, thoải mái và họ có thể đối
mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều
này dự báo mức độ gặp phải vấn đề xã hội của họ càng thấp. Những người có điểm
của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu cực,
dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát
sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Họ thường
ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói chung
họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế. Họ
được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản thân và kế hoạch
của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề xã hội có thể xuất hiện mức độ cao hơn
ở nhóm người này.
Những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho thấy họ là
người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người khác và sẵn
sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử
công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức độ thấp của
nhóm người này đối với vấn đề xã hội. Những người có điểm số của mặt nhân cách
đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác. Họ thường có
thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu hướng xem
thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có khuynh hướng
cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và có thể khá thể
hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ như là một
người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề xã
hội cao hơn.
Những người có điểm số của mặt nhân cách tận tâm (C) thấp không nhất
thiết là người thiếu nguyên tắc đạo đức, nhưng họ không có nhiều đòi hỏi trong việc
áp dụng chúng, cũng như họ không có nhiều động lực trong việc hướng tới mục tiêu
của mình. Có một số bằng chứng cho thấy họ thích hưởng thụ và quan tâm đến tình
dục. Những đặc điểm này dự báo xu hướng gặp phải vấn đề xã hội cao hơn. Những
người có điểm số tận tâm (C) càng cao cho thấy họ là những người tỉ mỉ, đúng giờ
72
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
và đáng tin cậy. Họ có một nhu cầu tương đối cao đối với việc đạt thành tích. Họ tổ
chức tốt và đáng tin cậy và thực hiện các cam kết họ đã làm. Họ có ý thức tự giác,
có trách nhiệm một cách nghiêm túc. Họ là người cẩn thận, đáng tin cậy, chăm chỉ,
và kiên trì. Về mặt tích cực, điểm mặt C cao có liên quan đến thành tích học tập và
nghề nghiệp, về mặt tiêu cực, nó có thể dẫn đến sự kén chọn, kỹ tính, sự ra tay ép
buộc, hoặc hành vi tham công tiếc việc. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp
phải vấn đề xã hội thấp hơn ở nhóm người này.
Các mặt nhân cách còn lại như cởi mở (O) và hướng ngoại (E) không dự báo
mức độ vấn đề bệnh tâm thể cho sinh viên ngành công nghệ thông tin.
3.4.2.5. Mô hình dự báo vấn đề tư duy
Trong nghiên cứu này, vấn đề tư duy là một trong số những vấn đề có điểm
trung bình cao nhất ở cả nam và nữ với một số biểu hiện đặc trưng như ngủ ít đi
hoặc khó ngủ, nghe thấy âm thanh lạ, tự làm hại bản thân … Những mặt nhân cách
dự báo vấn đề tư duy được trình bày cụ thể ở bảng 3.4.2.5 dưới đây:
Bảng 3.16.Mô hình dự báo vấn đề tư duy
Vấn đề tư duy β T p VIF
R2= 0.146 ; p (Sig) =<0.05;
Nhiễu tâm (N) 0.182 3.317 0.001 1.138
Hướng ngoại (E) 0.083 1.531 0.127 1.119
Cởi mở (O) 0.191 3.666 0.000 1.026
Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.26 -4.799 0.000 1.112
Tận tâm (C) -0.065 -1.184 0.237 1.15
Phân tích hồi quy giữa vấn đề tư duy với các đặc điểm nhân cách.
Giá trị Sig (p) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của
mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ
liệu và có thể sử dụng được.
Hệ số phóng đại phương sai VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy
ra hiện tượng đa cộng tuyến.
73
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.146): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu
tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 14.6% sự thay đổi của
biến vấn đề xã hội. Còn lại là 85.4% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình
mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên.
Giá trị Sig (p) của kiểm định T được sử dụng để kiểm định ý nghĩa của hệ số
hồi quy. Nếu sig kiểm định t của hệ số hồi quy của một biến độc lập nhỏ hơn 0.05,
ta kết luận viến độc lập đó có tác động đến biến phụ thuộc.. Nếu sig kiểm định t của
biến độc lập lớn hơn 0.05, chúng ta kết luận biến độc lập đó không có sự tác động
lên biến phụ thuộc, và không cần loại bỏ biến đó để chạy lại hồi quy lần tiếp theo.
Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm (N): p=0.001<0.05, hệ số
hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β) = 0.182 nên biến nhiễu tâm có tác động đến biến vấn
đề tư duy theo chiều thuận.
Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm
xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điềm đạm, thoải mái và họ có thể đối
mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều
này dự báo mức độ gặp phải vấn đề tư duy của họ càng thấp. Những người có điểm
của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu cực,
dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát
sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Họ thường
ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói chung
họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế. Họ
được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản thân và kế hoạch
của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề tư duy có thể xuất hiện mức độ cao hơn
ở nhóm người này.
Giá trị p của biến cởi mở (O): p<0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta
(β) = 0.191 nên biến cởi mở có tác động đến biến vấn đề tư duy theo chiều thuận.
Nói cách khác, những người có điểm thấp ở mặt cởi mở (O) trong nhân cách
với đặc điểm có xu hướng giữ nguyên hành vi ứng xử và bảo thủ trong quan điểm.
Họ thích những gì quen thuộc hơn là những thứ mới mẻ, và không thích những trải
nghiệm về mặt cảm xúc. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề tư
74
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
duy thấp. Những người có điểm cao ở mặt cởi mở (O) cho thấy sự ham học hỏi
mạnh mẽ, thường tò mò về cả những điều bên trong họ và những gì bên ngoài thế
giới, và họ có nhiều trải nghiệm phong phú hơn những người khác. Họ sẵn sàng đón
nhận những ý tưởng mới và giá trị độc đáo, và họ trải nghiệm cả những cảm xúc
tích cực và tiêu cực nhiều hơn những người ít cởi mở hơn. Họ rất nhạy cảm với cảm
xúc của riêng mình và có một khả năng lớn hơn mức trung bình để nhận ra những
cảm xúc của người khác. Họ đánh giá cao về cái đẹp trong nghệ thuật và tự nhiên.
Họ sẵn sàng xem xét những ý tưởng mới và các giá trị và có thể hơi độc đáo theo
quan điểm của họ. Những người như vật là người tưởng tượng, táo bạo, độc lập và
sáng tạo. Những đặc điểm này dự báo mức độ cao hơn của vấn đề tư duy có thể
xuất hiện ở nhóm người này.
Giá trị p của biến đồng thuận (A): p<0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta
(β) = -0.26 nên biếnđồngthuận có tác độngđến biến vấn đề tư duytheo chiềunghịch.
Như vậy, những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho
thấy họ là người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người
khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người
khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức
độ thấp của nhóm người này đối với vấn đề tư duy. Những người có điểm số của
mặt nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác.
Họ thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu
hướng xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có
khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và
có thể khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ
như là một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp
phải vấn đề tư duy cao hơn
Các biến còn lại như hướng ngoại (E) và Tận tâm (C) không có tác động đến
vấn đề tư duy.
3.4.2.6. Mô hình dự báo vấn đề chú ý
Vấn đề chú ý với một số biểu hiện như không thể tập trung, không thể ngồi
yên, hay mơ mộng … là một trong ba vấn đề hành vi cảm xúc mà sinh viên ngành
75
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
công nghệ thông tin gặp phải. Bảng phân tích hồi quy dưới đây sẽ làm rõ hơn mô
hình dự báo giữa các mặt nhân cách và vấn đề chú ý.
Bảng 3.17. Mô hình dự báo vấn đề chú ý
Vấn đề chú ý β t p VIF
R2= 0.302 ; p (Sig) =<0.05;
Nhiễu tâm (N) 0.297 6.006 0.000 1.138
Hướng ngoại (E) 0.259 5.277 0.000 1.119
Cởi mở (O) 0.022 0.477 0.634 1.026
Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.228 -4.666 0.000 1.112
Tận tâm (C) -0.365 -7.343 0.000 1.15
Phân tích hồi quy giữa vấn đề chú ý với các đặc điểm nhân cách.
Giá trị Sig (p<0.001<0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ
phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù
hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được.
Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Ta
thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.302): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu
tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 30.2% sự thay đổi của
biến vấn đề xã hội. Còn lại là 69.8% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình
mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên.
Giá trị Sig (p) của kiểm định T được sử dụng để kiểm định ý nghĩa của hệ số
hồi quy. Nếu sig kiểm định t của hệ số hồi quy của một biến độc lập nhỏ hơn 0.05,
ta kết luận viến độc lập đó có tác động đến biến phụ thuộc.. Nếu sig kiểm định t của
biến độc lập lớn hơn 0.05, chúng ta kết luận biến độc lập đó không có sự tác động
lên biến phụ thuộc, và không cần loại bỏ biến đó để chạy lại hồi quy lần tiếp theo.
Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm (N): p<0.001<0.05, giá trị
p của biến hướng ngoại (E): p<0.001 <0.05, giá trị p của biến đồng thuận (A):
p<0.001< 0.05, giá trị p của biến tận tâm (C): p<0.001<0.05 nên các biến nhiễu tâm,
hướng ngoại, đồng thuận và tận tâm có tác động đến biến vấn đề chú ý.
76
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Nhìn vào hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta, ta thấy đặc điểm nhân cách nhiễu
tâm và hướng ngoại dự báo vấn đề chú ý theo chiều thuận. Đặc điểm nhân cách mặt
tận tâm và đồng thuận dự báo vấn đề chú ý theo chiều nghịch.
Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm
xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điềm đạm, thoải mái và họ có thể đối
mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều
này dự báo mức độ gặp phải vấn đề chú ý của họ càng thấp. Những người có điểm
của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu cực,
dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát
sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Họ thường
ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói chung
họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế. Họ
được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản thân và kế hoạch
của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề chú ý có thể xuất hiện mức độ cao hơn ở
nhóm người này.
Những người có điểm số của mặt nhân cách Hướng ngoại thấp có xu hướng
hướng nội, hướng nội không phải không thân thiện, họ độc lập chứ không phải
chậm chạp. Người hướng nội trông có thể nhút nhát nhưng không có nghĩa là họ
thích ở một mình: họ không nhất thiết bị ám sợ xã hội. Mặc dù họ không có tính cởi
mở của sự hướng ngoại nhưng hướng nội không có nghĩa là không hài lòng hoặc bi
quan. Tò mò là một trong những đặc điểm của người hướng nội, họ thường thích
tìm tòi nghiên cứu. Họ thích làm hầu hết mọi thứ một mình hoặc với nhóm nhỏ. Họ
tránh các bên lớn và không thích gặp gỡ những người mới. Họ thường yên lặng và
không tự tin trong tương tác nhóm. Họ hiếm khi trải nghiệm cảm xúc tích cực mạnh
mẽ như niềm vui hay sự phấn khích. Thực tế thấy rằng những người sống nội tâm
không nhất thiết có nghĩa là họ thiếu kỹ năng xã hội-hướng nội nhiều chức năng rất
tốt trong các tình huống xã hội, mặc dù họ có thể thích để tránh chúng. Những đặc
điểm này dự đoán xu hướng thấp hơn cho các vấn đề liên quan đến trầm cảm thu
mình cho nhóm người này. Những người có điểm số của mặt nhân cách hướng
ngoại cao cho thấy sự hòa đồng, nhưng hướng ngoại chỉ là một trong số những đặc
77
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
điểm của đời sống xã hội, ngoài ra còn có các mối quan hệ và các nhóm xã hội
khác. Sự hướng ngoại thể hiện ở tính quyết đoán, năng động, và hoạt ngôn. Những
người có tính hướng ngoại cao thường thích sự phấn khích và những kích thích, và
có xu hướng hướng đến sự vui vẻ trong những hoàn cảnh khác nhau. Họ lạc quan,
tràn đầy năng lượng. Những đặc điểm này dự báo xu hướng vấn đề chú ý cao hơn.
Những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho thấy họ là
người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người khác và sẵn
sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử
công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức độ thấp của
nhóm người này đối với vấn đề chú ý. Những người có điểm số của mặt nhân cách
đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác. Họ thường có
thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu hướng xem
thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có khuynh hướng
cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và có thể khá thể
hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ như là một
người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề
chú ý cao hơn.
Mặt nhân cách còn lại như cởi mở (O) không dự báo mức độ vấn đề trầm
cảm thu mình cho sinh viên ngành công nghệ thông tin.
3.4.2.7. Mô hình dự báo vấn đề Phá bỏ quy tắc
Phân tích hồi quy giữa vấn đề phá bỏ quy tắc với các mặt của nhân cách.
Giá trị Sig (p<0.001<0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ
phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù
hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được.
Bảng 3.18. Mô hình dự báo vấn đề Phá bỏ quy tắc
Vấn đề PBQT β t p VIF
R2= 0.142; p (Sig) =<0.05;
Nhiễu tâm (N) -0.013 -0.243 0.808 1.138
Hướng ngoại (E) 0.08 1.477 0.141 1.119
78
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Cởi mở (O) 0.077 1.485 0.139 1.026
Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.386 -7.119 0.000 1.112
Tận tâm (C) -0.123 -2.223 0.027 1.15
Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Ta
thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.142): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu
tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 14.2% sự thay đổi của
biến vấn đề xã hội. Còn lại là 85.8% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình
mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên.
Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến đồng thuận (A): p<0.001<0.05, giá
trị p của biến tận tâm (C): p=0.027<0.05 nên các biến hướng ngoại, đồng thuận và
tận tâm có tác động đến biến vấn đề chú ý.
Nhìn vào hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta, ta thấy đặc điểm nhân cách mặt
tận tâm và đồng thuận dự báo vấn đề phá bỏ quy tắc theo chiều nghịch
Nói cách khác, người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho
thấy họ là người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người
khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người
khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức
độ thấp của nhóm người này đối với vấn đề phá bỏ quy tắc. Những người có điểm
số của mặt nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người
khác. Họ thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có
xu hướng xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có
khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và
có thể khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ
như là một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp
phải vấn đề phá bỏ quy tắc cao hơn.
Những người có điểm số của mặt nhân cách tận tâm (C) thấp không nhất
thiết là người thiếu nguyên tắc đạo đức, nhưng họ không có nhiều đòi hỏi trong việc
áp dụng chúng, cũng như họ không có nhiều động lực trong việc hướng tới mục tiêu
79
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
của mình. Có một số bằng chứng cho thấy họ thích hưởng thụ và quan tâm đến tình
dục. Những đặc điểm này dự báo xu hướng gặp phải vấn đề phá bỏ quy tắc cao hơn.
Những người có điểm số tận tâm (C) càng cao cho thấy họ là những người tỉ mỉ,
đúng giờ và đáng tin cậy. Họ có một nhu cầu tương đối cao đối với việc đạt thành
tích. Họ tổ chức tốt và đáng tin cậy và thực hiện các cam kết họ đã làm. Họ có ý
thức tự giác, có trách nhiệm một cách nghiêm túc. Họ là người cẩn thận, đáng tin
cậy, chăm chỉ, và kiên trì. Về mặt tích cực, điểm mặt C cao có liên quan đến thành
tích học tập và nghề nghiệp, về mặt tiêu cực, nó có thể dẫn đến sự kén chọn, kỹ
tính, sự ra tay ép buộc, hoặc hành vi tham công tiếc việc. Những đặc điểm này dự
báo mức độ gặp phải vấn đề phá bỏ quy tắc thấp hơn ở nhóm người này.
Các mặt nhân cách còn lại như nhiễu tâm (N), hướng ngoại (E) và cởi mở
(O) không dự báo mức độ vấn đề bệnh tâm thể cho sinh viên ngành công nghệ
thông tin.
3.4.2.8. Mô hình dự báo vấn đề Hành vi xâm kích
Phân tích hồi quy giữa vấn đề hành vi xâm kích với các đặc điểm nhân cách.
Giá trị Sig (p) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của
mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ
liệu và có thể sử dụng được.
Hệ số phóng đại phương sai VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy
ra hiện tượng đa cộng tuyến.
Bảng 3.19. Mô hình dự báo vấn đề Hành vi xâm kích
Vấn đề HVXK β t p VIF
R2= 0.302; p (Sig) =<0.05;
Nhiễu tâm (N) 0.187 3.773 0.000 1.138
Hướng ngoại (E) 0.286 5.817 0.000 1.119
Cởi mở (O) 0.104 2.204 0.028 1.026
Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.405 -8.267 0.000 1.112
Tận tâm (C) -0.199 -3.989 0.000 1.15
80
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Bảng 3.19 cho thấy giá trị R2 hiệu chỉnh bằng 0.302, điều này có ý nghĩa rằng
vấn đề hành vi xâm kích chịu 30.2% tác động từ các mặt nhân cách như nhiễu tâm,
hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm. Còn lại là 69.8% là do sự ảnh hưởng của
các biến ngoài mô hình mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên.
Giá trị Sig (p) của kiểm định T được sử dụng để kiểm định ý nghĩa của hệ số
hồi quy. Nếu sig kiểm định t của hệ số hồi quy của một biến độc lập nhỏ hơn 0.05,
ta kết luận biến độc lập đó có tác động đến biến phụ thuộc.. Nếu sig kiểm định t của
biến độc lập lớn hơn 0.05, chúng ta kết luận biến độc lập đó không có sự tác động
lên biến phụ thuộc, và không cần loại bỏ biến đó để chạy lại hồi quy lần tiếp theo.
Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm (N): p<0.001<0.05, hệ số
hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β) = 0.187 nên biến nhiễu tâm có tác động đến biến vấn
đề hành vi xâm kích theo chiều thuận.
Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm
xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điềm đạm, thoải mái và họ có thể đối
mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều
này dự báo mức độ gặp phải vấn đề hành vi xâm kích của họ càng thấp. Những
người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm
xúc tiêu cực, dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng
để kiểm soát sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người
khác. Họ thường ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống
của họ. Nói chung họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng
không thực tế. Họ được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản
thân và kế hoạch của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề hành vi xâm kích có
thể xuất hiện mức độ cao hơn ở nhóm người này.
Giá trị p của biến hướng ngoại (E): p<0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn
hóa Beta (β) = 0.286 nên biến hướng ngoại có tác động đến biến vấn đề hành vi
xâm kích theo chiều thuận.
Điều này có nghĩa là những người có điểm hướng ngoại thấp với các đặc điểm
của người hướng nội, họ trông có vẻ nhút nhát nhưng độc lập. Mặc dù họ không có tính
cởi mở của sự hướng ngoại, nhưng họ khá tò mò và thường thích tìm tòi nghiên cứu.
81
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Họ thích làm hầu hết mọi thứ một mình hoặc với nhóm nhỏ. Họ tránh các nhóm lớn và
không thích gặp những người mới. Họ hiếm khi trải nghiệm cảm xúc tích cực mạnh mẽ
như niềm vui hay sự phấn khích. Những đặc điểm này dự báo xu hướng vấn đề hành vi
xâm thích thấp hơn. Còn với những người hướng ngoại với tính cách hòa đồng, quyết
đoán, năng động và hoạt ngôn. Những người hướng ngoại cao thường thích sự phấn
khích và những kích thích, và có xu hướng hướng đến sự vui vẻ trong những hoàn cảnh
khác nhau. Họ lạc quan tràn đầy năng lượng. Những đặc điểm này dự báo khuynh
hướng cao liên quan đến vấn đề hành vi xâm kích.
Giá trị p của biến cởi mở (O): p=0.028<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa
Beta (β) = 0.104 nên biến cởi mở có tác động đến biến vấn đề hành vi xâm kích
theo chiều thuận.
Nói cách khác, những người có điểm thấp ở mặt cởi mở (O) trong nhân cách
với đặc điểm có xu hướng giữ nguyên hành vi ứng xử và bảo thủ trong quan điểm.
Họ thích những gì quen thuộc hơn là những thứ mới mẻ, và không thích những trải
nghiệm về mặt cảm xúc. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề xâm
kích thấp. Những người có điểm cao ở mặt cởi mở (O) cho thấy sự ham học hỏi
mạnh mẽ, thường tò mò về cả những điều bên trong họ và những gì bên ngoài thế
giới, và họ có nhiều trải nghiệm phong phú hơn những người khác. Họ sẵn sàng đón
nhận những ý tưởng mới và giá trị độc đáo, và họ trải nghiệm cả những cảm xúc
tích cực và tiêu cực nhiều hơn những người ít cởi mở hơn. Họ rất nhạy cảm với cảm
xúc của riêng mình và có một khả năng lớn hơn mức trung bình để nhận ra những
cảm xúc của người khác. Họ đánh giá cao về cái đẹp trong nghệ thuật và tự nhiên.
Họ sẵn sàng xem xét những ý tưởng mới và các giá trị và có thể hơi độc đáo theo
quan điểm của họ. Những người như vậy là người tưởng tượng, táo bạo, độc lập và
sáng tạo. Những đặc điểm này dự báo mức độ cao hơn của vấn đề hành vi xâm kích
có thể xuất hiện ở nhóm người này.
Giá trị p của biến đồng thuận (A): p<0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa
Beta (β) = -0.405 nên biến đồng thuận có tác động đến biến vấn đề hành vi xâm
kích theo chiều nghịch.
Như vậy, những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho
82
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
thấy họ là người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người
khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người
khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức
độ thấp của nhóm người này đối với vấn đề hành vi xâm kích. Những người có
điểm số của mặt nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến
người khác. Họ thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ.
Họ có xu hướng xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường
có khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh
và có thể khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả
họ như là một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp
phải vấn đề hành vi xâm kích cao hơn.
Giá trị p của biến tận tâm (C): p<0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa
Beta (β) = -0.199 nên biến tận tâm có tác động đến biến vấn đề hành vi xâm kích
theo chiều nghịch.
Những người có điểm số của mặt nhân cách tận tâm (C) thấp không nhất
thiết là người thiếu nguyên tắc đạo đức, nhưng họ không có nhiều đòi hỏi trong việc
áp dụng chúng, cũng như họ không có nhiều động lực trong việc hướng tới mục tiêu
của mình. Có một số bằng chứng cho thấy họ thích hưởng thụ và quan tâm đến tình
dục. Những đặc điểm này dự báo xu hướng gặp phải vấn đề hành vi xâm kích cao
hơn. Những người có điểm số tận tâm (C) càng cao cho thấy họ là những người tỉ
mỉ, đúng giờ và đáng tin cậy. Họ có một nhu cầu tương đối cao đối với việc đạt
thành tích. Họ tổ chức tốt và đáng tin cậy và thực hiện các cam kết họ đã làm. Họ có
ý thức tự giác, có trách nhiệm một cách nghiêm túc. Họ là người cẩn thận, đáng tin
cậy, chăm chỉ, và kiên trì. Về mặt tích cực, điểm mặt C cao có liên quan đến thành
tích học tập và nghề nghiệp, về mặt tiêu cực, nó có thể dẫn đến sự kén chọn, kỹ
tính, sự ra tay ép buộc, hoặc hành vi tham công tiếc việc. Những đặc điểm này dự
báo mức độ gặp phải vấn đề hành vi xâm kích thấp hơn ở nhóm người này.
Như vậy vấn đề hành vi xâm kích chịu ảnh hưởng của cả năm mặt nhân
cách theo các hướng thuận và nghịch khác nhau. Điều này cho thấy với mỗi vấn đề
hành vi cảm xúc thường chịu ảnh hưởng của nhiều mặt nhân cách cũng như nhiều
yếu tố ngoài mô hình nghiên cứu.
83
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được thực trạng các đặc điểm nhân cách của
sinh viên ngành công nghệ thông tin là tính cởi mở và tận tâm, thực trạng các vấn
đề cảm xúc hành vi của sinh viên ngành công nghệ thông tin là vấn đề hướng ngoại
với điểm nổi bật là hai rối loạn: rối loạn hành vi xâm kích và vấn đề tư duy . Bên
cạnh đó, nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra có mối tương quan giữa các mặt nhân
cách và các vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên ngành công nghệ thông tin. Từ phân
tích hồi quy tuyến tính, chúng tôi đã chỉ ra được những dự đoán các vấn đề cảm xúc
hành vi có thể gặp phải của từng mặt trong nhân cách được nghiên cứu. Trong đó
đáng chú ý là mặt nhân cách nhiễu tâm có tác động theo hướng thuận tới hầu hết
các vấn đề cảm xúc hành vi.
84
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua nghiên cứu lý luận và trong thực tế, chúng tôi rút ra một số kết luận
như sau:
Kết quả nghiên cứu phù hợp với các giải thuyết mà đề tài đã đưa ra, đồng
thời trả lời được các câu hỏi nghiên cứu. Nghiên cứu đã đưa ra được thực trạng các
đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin: đặc điểm nhân cách
nổi bật của sinh viên công nghệ thông tin là tính cởi mở và tận tâm, điều này cho
thấy đa phần các bạn sinh viên ngành công nghệ thông tin là những người ham học
hỏi mạnh mẽ, có nhu cầu đạt thành tích cao, khá tỉ mỉ, đúng giờ và đáng tin cậy.
Thực trạng các vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên ngành công nghệ thông tin đúng
theo giả thiết: sinh viên gặp vấn đề rối loạn hành vi (M=19.59) nhiều hơn vấn đề
cảm xúc (M=18.68). Hai vấn đề hành vi cảm xúc mà sinh viên thường gặp phải nhất
là vấn đề hành vi xâm kích và vấn đề tư duy. Vấn đề có điểm trung bình cao nhất là
vấn đề tư duy với 11.4 điểm và độ lệch chuẩn là 4.8. Tiếp theo là vấn đề hành vi
xâm kích với điểm trung bình 10.26 điểm, độ lệch chuẩn là 5.41.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra có mối tương quan giữa các
mặt nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên ngành công nghệ thông
tin. Nhiễu tâm và lo âu trầm cảm có tương quan cao với hệ số tương quan thuận là
0.609 (p<0.01 cho thấy tương quan tuyến tính ở mức tin vậy đến 99%). Điều này có
nghĩa là những sinh viên có điểm nhiễu tâm càng cao, càng cho thấy nhiều những
cảm xúc tiêu cực, dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để
kiểm soát sự xung động của học và ứng phó với stress kém hơn những người khác
dẫn đến nguy cơ gặp vấn đề lo âu trầm cảm cao hơn.
Phân tích hồi quy tuyến tính cũng cho những kết quả đáng chú ý khi chúng
tôi đã chỉ ra được những dự đoán các vấn đề cảm xúc hành vi có thể gặp phải của
các mặt trong nhân cách được nghiên cứu. Theo kết quả phân tích thu được, các
biến về các mặt nhân cách có sự tác động khác nhau đến các biến về các vấn đề
hành vi cảm xúc ở sinh viên ngành công nghệ thông tin. Cụ thể ở vấn đề lo âu trầm
85
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
cảm, những sinh viên có mặt nhân cách nhiễu tâm có tác động theo hướng thuận,
sinh viên có mặt nhân cách đồng thuận tác động theo hướng nghịch. Ở vấn đề trầm
cảm thu mình, sinh viên có mặt nhân cách nhiễu tâm tác động theo hướng thuận,
sinh viên có mặt nhân cách hướng ngoại hoặc đồng thuận tác động theo hướng
nghịch. Trong vấn đề bệnh tâm thể ở sinh viên, mặt nhân cách nhiễu tâm tác động
theo hướng thuận, mặt nhân cách đồng thuận tác động theo hướng nghịch. Ở vấn đề
xã hội, mặt nhân cách nhiễu tâm tác động theo hướng thuận, mặt nhân cách đồng
thuận và tận tâm tác động theo hướng nghịch. Trong vấn đề tư duy, mặt nhân cách
nhiễu tâm hoặc cởi mở tác động theo hướng thuận, mặt nhân cách đồng thuận tác
động theo hướng nghịch. Với vấn đề chú ý ở sinh viên, mặt nhân cách nhiễu tâm và
hướng ngoại tác động theo chiều thuận, mặt nhân cách tận tâm và đồng thuận tác
động theo chiều nghịch. Còn với vấn đề phá bỏ quy tắc thì mặt hướng ngoại tác
động theo chiều thuận, mặt tận tâm hoặc đồng thuận tác động theo chiều nghịch.
Cuối cùng, với vấn đề hành vi xâm kích thì mặt nhân cách nhiễu tâm và hướng
ngoại tác động theo chiều thuận, mặt nhân cách đồng thuận và tận tâm tác động theo
chiều nghịch.
Như vậy nhìn chung các mặt nhân cách khác nhau tác động theo các hướng
khác nhau tới các vấn đề cảm xúc hành vi, đáng chú ý là mặt nhân cách nhiễu tâm
tác động theo hướng thuận tới hầu hết các vấn đề cảm xúc hành vi.
2. Khuyến nghị
Từ các kết quả nghiên cứu thu được, chúng tôi có một số khuyến nghị đưa ra
để phát triển và nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần nói chung và sức khỏe tâm
lý học đường nói riêng như sau:
- Đội ngũ tâm lý học đường của trường tích cực nghiên cứu sàng lọc để tìm ra
những sinh viên đang có những vấn đề cảm xúc hành vi, từ đó kịp thời can thiệp trị
liệu giúp sinh viên có sức khỏe tâm thần tốt hơn.
- Từ dự báo về các mặt nhân cách có thể dẫn đến các vấn đề cảm xúc hành vi,
đội ngũ tâm lý học đường xây dựng các chương trình phòng ngừa liên quan đến các
vấn đề cảm xúc hành vi, đặc biệt là các vấn đề rối loạn hành vi: hành vi xâm kích,
các vấn đề tư duy hoặc vấn đề rối loạn cảm xúc như lo âu trầm cảm nhằm nâng cao
86
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
nhận thức của sinh viên về chính những vấn đề mà nhiều sinh viên đang gặp phải.
Từ đó giúp các em có vấn đề cảm xúc hành vi mức độ nhẹ có thể tự trị liệu, những
em sinh viên gặp vấn đề cảm xúc hành vi nặng có hiểu biết tốt hơn về sức khỏe tâm
thần và tìm đến dịch vụ tư vấn chăm sóc sức khỏe tâm lý phù hợp.
- Phối hợp với bên tuyển sinh xây dựng mô hình tư vấn hướng nghiệp tới các
trường phổ thông có nhiều sinh viên dự thi ngành công nghệ thông tin nhằm chọn
lọc và thu hút được nhiều học sinh có đặc điểm nhân cách phù hợp để theo học
ngành công nghệ thông tin.
- Nâng cao nhận thức của GV và học sinh, sinh viên tại trường học về các
vấn đề sức khỏe tâm thần giúp sự phối hợp trong quá trình hỗ trợ sinh viên được tốt
hơn.
- Tuyên truyền và có các chương trình phòng ngừa, can thiệp sức khỏe tâm
thần phù hợp với đối tượng học sinh, sinh viên tại trường học.
- Khuyến nghị các trường học cần có đội ngũ nhà tâm lý học đường nhằm
kịp thời can thiệp với các trường hợp gặp vấn đề cảm xúc hành vi liên quan đến sức
khỏe tâm thần.
- Mở rộng và phát triển đề tài nghiên cứu để có một số liệu nghiên cứu tổng
quan về nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi cùng mối tương quan giữa chúng
trên phạm vi toàn quốc.
87
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Võ Văn Bản, 2002, “Thực hành điều trị tâm lý”, NXB Y học, Hà Nội.
2. Trần Anh Châu, 2014, “Động cơ thành đạt trong hoạt động nghề nghiệp của
thanh niên hiện nay”, luận văn thạc sĩ tâm lý học, trường ĐH Quốc Gia Hà Nội,
trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn.
3. Võ Thị Ngọc Châu, 2002, “Nghiên cứu kiểu nhân cách và ảnh hưởng của chúng
tới bầu không khí tâm lý tập thể sinh viên sư phạm”, Báo cáo nghiệm thu đề tài
NCKH cấp trường, Mã số CS.98-05.
4. Võ Thị Minh Chí, 2003, “Tâm lý học thần kinh”, NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội.
5. Trần Văn Công, Bùi Thị Thúy Hằng, Bahr Weiss. 2016. “Thích nghi trắc
nghiệm NEO PI-R và Việt Nam : Một số kết quả và nhận định ban đầu.” Hội
thảo Quốc gia “Đóng góp của tâm lý học vào công tác tổ chức nhân sự trong
bối cảnh Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học
Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2/10/2016, Trang 180-196.
6. Trần Văn Công, Bùi Thị Thúy Hằng, Bahr Weiss, 2018, Thích nghi trắc nghiệm
NEO PI vào Việt Nam: Một số kết quả và nhận định ban đầu.
7. Trần Văn Công, Nguyễn Thị Hoài Thương, Trần Thành Nam, 2019, “Thực
trạng khó khăn tâm lý của học sinh và nhu cầu sử dụng ứng dụng tư vấn tâm lý
trong trường học”
8. Nguyễn Thị Duyên, 2012, “Nghiên cứu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và
hiện tượng bắt nạt ở học sinh phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, luận văn
thạc sĩ tâm lý học, ĐH Quốc gia Hà Nội, Đại học Giáo dục.
9. Vũ Dũng, “Từ điển tâm lý học”, NXB từ điển bách khoa, 2008.
10. Phạm Tất Đông, “Những phẩm chất nhân cách đặc trwung của người Thăng
Long – Hà Nội, NXB Hà Nội, 2010.
11. Đoàn Văn Điều. 2004. "Một số đặc điểm nhân cách của nam giới được sinh
viên trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh mong đợi". Tạp chí Khoa học
ĐHSP TP. Hồ Chí Minh 37: 39-46.
88
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
12. Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc. 2004. Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách. Hà
Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
13. Phạm Minh Hạc (Chủ biên). 2007. Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương
pháp NEO PI- R cải biên. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
14. Đặng Hoàng Hải, “Giáo trình bài gingr Dịch tễ học tâm thần”, trường ĐH Y
Hà Nội, 2010.
15. Nguyễn Thị Minh Hằng, 2014, “Ứng phó với cảm xúc tiêu cực của học sinh
trung học cơ sở”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN-Khoa học Xã hội và Nhân văn,
tập 30, số 4 (2014) 25-34.
16. Bùi Thị Thúy Hằng, Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, 2018, “Đặc
điểm nhân cách của thanh niên Việt Nam qua thang đo NEO-60VN”.
17. Dương Diệu Hoa, Đỗ Thị Hạnh Phúc, 2009, “Tâm lý học phát triển, NXB ĐH
Sư phạm Hà Nội.
18. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, 2008, “Tâm lý học lức tuổi
và tâm lý học sư phạm, NXB Thế Giới, Hà Nội.
19. Đinh Đức Hợi. 2012. “Bàn về khái niệm nhân cách trong tâm lý học ngày nay”.
Tạp chí khoa học và công nghệ 61: 107-110.
20. Phan Thị Mai Hương, 2002, “Tìm hiểu đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội
của thanh niên nghiện ma túy và mối tương quan giữa chúng”, Luận án Tiến sĩ
tâm lý học xã hội, Viện Tâm lý học, Hà Nội.
21. Phan Thị Mai Hương, 10-2006, “Đặc điểm nhân cách và trình độ học vấn”,
Tạp chí tâm lý học số 10.
22. Phan Thị Mai Hương. 2006. "Đặc điểm nhân cách của lao động trẻ nước ta
hiện nay, kết quả từ trắc nghiệm NEOPI-R". Tạp chí Tâm lý học 9 (91): 18- 26.
23. Đặng Phương Kiệt, Tuổi vị thành niên: những vấn đề tâm lý xã hội (Tài liệu
giảng dạy lớp Chuyên khoa Tâm lý lâm sàng của Trung tâm NT Hà Nội, lưu
hành nội bộ).
24. Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr, “Giáo dục, tâm lý và sức khỏe tâm thần trẻ em Việt
Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành”, NXB ĐH Quốc Gia Hà
Nội, 2007.
89
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
25. Trịnh Thị Mai, 2013, “Thực trạng các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh
trung học phổ thông nội trú ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc”.
26. Nguyễn Cao Minh, 2012, “Điều tra tỉ lệ trẻ em và vị thành niên ở miền bắc có
vấn đề sức khỏe tâm thần”.
27. Phạm Thị Minh. 2005. "Giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên trong bối
cảnh cơ chế thị trường". Tạp chí Tâm lý học 7 (76): 42-43.
28. Đặng Hoàng Minh, Hoàng Cẩm Tú. Thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh
THCS ở Hà Nội và nhu cầu tham vấn sức khỏe tâm thần học đường. Tạp chí
Khoa học Xã hội và Nhân văn, tập 25, số 1S, 2009, trang 106-112.
29. Trần Thơ Nhị (2017), Đặc điểm nhân cách và trầm cảm ở sinh viên năm thứ
hai hệ bác sĩ của trường đại học y Hà Nội, năm học 2016-2017, Tạp chí nghiên
cứu y học.
30. Trần Thơ Nhị, Hà Thị Hạnh, Trịnh Thu Trang, Trịnh Thị Hồng Biên,Nguyễn
Thị Thúy Hạnh, 2018, Đặc điểm nhân cách và trầm cảm ở sinh viên năm hai hệ
bác sĩ của trường ĐH Y Hà Nội năm học 2016-2017
31. Nguyễn Thị Phương, 2013, “Tương quan giữa mức độ sử dụng internet và các
vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trung học cơ sở”.
32. Nguyễn Văn Siêm, “Tâm bệnh học trẻ em và thanh thiếu niên”, NXB ĐHQG
Hà Nội, 2007.
33. Nguyễn Thị Thu Sương, 2015, “Mối tương quan giữa lo âu-trầm cảm và mức
độ bị bắt nạt của học sinh trung học cơ sở”.
34. Nguyễn Thạc, Nguyễn Thị Ngọc Liên. 2005. “Xu hướng chọn nghề của học
sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau.” Tạp chí Tâm lý học 6
(75): 48- 51.
35. Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Công. 2010. “Một số đặc điểm nhân cách sinh
viên học các ngành khác nhau (nghiên cứu qua trắc nghiệm - NEO PI - R).” Tạp
chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học xã hội và nhân văn 26: 198 - 202.
36. Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Đặng Hoàng Minh. 2009. Tâm lý học đại
cương. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội.
90
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
37. Tổ chức y tế thế giới. Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10). Mô tả
lâm sàng và nguyên tác chỉ đạo chẩn đoán. Bản dịch của Viện Sức khỏe Tâm
thần. Bệnh viện Tâm thần Trung Ương Hà Nội, 1992.
38. Tổ chức y tế thế giới (WHO), 1992, “Tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn tâm
thần và hành vi (ICD-10), Gernever, Thụy Sỹ.
39. Tổ chức Y tế thế giới (R.Bonita, R.Beaglehole, T.Kjellstom), Dịch tễ học cơ
bản, 2006
40. Từ điển xã hội học Oxford (Oxford dictionary of sociology). 2012. Hà Nội:
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
41. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2007), Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương
pháp NEO-P-R cải biên, NXB Khoa học xã hội.
42. Phạm Thu Trang (2017), Quan điểm Mác-xít về nhân cách và ý nghĩa của nó
trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam, Luận án Tiến sĩ triết học,
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
43. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang. 2012. Giáo
trình Tâm lí học đại cương. Hà Nội: Nhà xuất bản đại học Sư phạm.
44. Đặng Thị Vân. 2010. “Những đặc điểm nhân cách sáng tạo nổi bật của sinh
viên trường Đại học nông nghiệp Hà Nội.” Tạp chí Khoa học và Phát triển 8
(2): 359 - 365.
45. Viện nghiên cứu và phát triển (ODI),2018,”Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội
của trẻ em và thanh niên tại một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam”.
46. Trần Thị Hải Yến (Chủ biên), Trần Thành Nam, “Giáo trình tâm lý học nhân
cách”, NXB Đại học kinh tế quốc dân, 2019.
Tài liệu tiếng Anh
47. Alkhelil, A. H. (2016), The Relationship between Personality Traits and Career
Choice: A Case Study of Secondary School Students, International Journal of
Academic Research in Progressive Education and Development, Vol. 5, No. 2,
ISSN: 2226-6348
91
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
48. Branje, S. J., van Lieshout, C. F., & van Aken, M. A. 2004. “Relations between
Big Five personality characteristics and perceived support in adolescents'
families.” Journal of personality and social psychology 86(4): 615- 628.
49. Cheung, F. M. 2004. “Use of Western and indigenously developed personality
tests in Asia.” Applied Psychology 53(2): 173-191.
50. Costa, P. T., McCrae, R. R., & Holland, J. L. (1984). Personality and
vocational interests in an adult sample. Journal of Applied psychology, 69(3),
390.
51. Costa, P. T., Jr., & McCrae, R. R. 1985. The NEO Personality Inventory
manual. Odessa, FL: Psychological Assessment Resources
52. Costa Jr, P. T., McCrae, R. R., & Kay, G. G. (1995). Persons, places, and
personality: Career assessment using the Revised NEO Personality Inventory.
Journal of Career Assessment, 3(2), 123-139.
53. Costa, P. T., Jr., & McCrae, R. R. 1988. “From catalog to classification:
Murray's needs and the five-factor model.” Journal of Personality and Social
Psychology 55: 258-265.
54. Eysenck, H. J. 1992. “Personality and education: The influence of extraversion,
neuroticism and psychoticism. Zeitschrift für Pädagogische
Psychologie/German.” Journal of Educational Psychology 6(2): 133-144.
55. Gurvits IG, Koenigsberg HW, Siever LJ: Neurotransmitter dysfunction in
patients with borderline personality disorder. Psychiatr Clin North Am 23:27–
40, 2000
56. G.V. Caprara, C. Barbaranelli, L. Borgogni, M. Perugini, The "big five
questionnaire": a new questionnaire to assess the five factor model, Person,
Individual difference, Vol. 15. No. 3 (1993) 281.
57. Joseph M Rey, Tolulope T Bella-Awusah & Jing Liu, 2015, “Rối loạn trầm cảm
ở trẻ em và thanh thiếu niên
58. Sánchez, M. M., Rejano, E. I., & Rodríguez, Y. T. 2001. "Personality and
academic productivity in the university student". Social Behavior and
Personality: an international journal 29 (3): 299-305.
92
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
59. Timmerman T.A, Validity study. Relationships between NEO PI-R personality
measures and job performance ratings of inbound call center employees,
Applied H.R.M research, Volume 9, Number 1 (2004) 35.
60. Torgersen, S. Genetic Factors in Anxiety Disorders. 1983. Archives of
generalpsychiatry.
61. Ulrike Ravens – Sieberer, Michael Erhart, Angela Gosch, Nora Wille, “Mentak
health of children and adolescents in 12 European coutries – results from the
European Kidscreen study, John Wiley & Sons, Ltd, 2008.
62. Wu K., Lindsted K.D., Tsai S.Y., Lee J.W, Chinese NEO PI-R in Taiwanese
adolescents, Personality and Individual differences 44 (2008) 656.
Tài liệu điện tử
63. https://www.mentalhealth.org.uk/help-information/mental-health-a-
z/C/children-young-people/
64. https://www.who.int/mental_health/management/en/
65. https://www.younglives.org.uk/files/working-papers/wp12-measuring-social-
capital-and-mental-health-in-vietnam-a-validity-study
66. http://www.schoolmentalhealth.org/
67. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2174588/
68. http://www.dsm5.org/Pages/Default.aspx
69. https://www.psychiatry.org/psychiatrists/practice/dsm
70. http://www.ph.ucla.edu/epi/faculty/detels/PH150/Kessler_DSMIV_AGP2009.p
df
71. https://www.psychologytoday.com/intl
72. https://www.unicef.org/vietnam/vi
73. https://www.unicef.org/vietnam/vi
93
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Trắc nghiệm NEO PI-60
Phụ lục 2: Trắc nghiệm YSR
Phụ lục 3: Trắc nghiệm NEO PI-60
NEO PI-R VN-60
Họ và tên: ...........................................
Tuổi:.............
Giới:.......................
Khóa………………………………
Ngành học:………………………………….
Địa chỉ (quê hương):…………………………………………
Mã phiếu:……
Hãy đọc các mệnh đề dưới đây và cho biết các mệnh đề đó đúng với em như
thế nào. Đừng mất quá nhiều thời gian vào một câu hỏi, hãy chọn đáp án xuất
hiện đầu tiên trong đầu (Khoanh tròn vào số mà em chọn)
Các phương án trả lời:
0= Hoàn toàn sai
1= Sai
2 = Không đúng cũng không sai
3 = Đúng
4 = Hoàn toàn đúng
Nội dung Đáp án
1. Tôi là người làm việc năng suất và luôn hoàn thành công
việc.
0 1 2 3 4
94
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
2. Đôi khi tôi có thể đe dọa hoặc nịnh bợ người khác để họ làm
những gì tôi muốn.
0 1 2 3 4
3. Tôi không quan tâm tới thẩm mỹ và nghệ thuật. 0 1 2 3 4
4. Hiếm khi tôi có cảm giác sợ hãi hay lo lắng. 0 1 2 3 4
5. Tôi thấy mình dễ đồng cảm với người khác. 0 1 2 3 4
6. Tôi làm việc đều đặn để hoàn thành công việc đúng thời hạn. 0 1 2 3 4
7. Khi cần tôi có thể mỉa mai và trở nên cay độc. 0 1 2 3 4
8. Tôi ít quan tâm đến việc tìm hiểu bản chất vũ trụ hay loài
người.
0 1 2 3 4
9. Hiếm khi tôi buồn hay chán nản. 0 1 2 3 4
10.Tôi là người cởi mở và dễ chấp nhận cách sống của người
khác.
0 1 2 3 4
11.Khi bắt tay vào một công việc, hầu như tôi luôn luôn hoàn
thành nó.
0 1 2 3 4
12.Đôi khi tôi lừa mọi người làm những gì tôi muốn. 0 1 2 3 4
13.Một số thể loại nhạc có sức cuốn hút rất lớn đối với tôi. 0 1 2 3 4
14.Hiếm khi tôi lo sợ về tương lai. 0 1 2 3 4
15.Tôi thực sự thích trò chuyện với mọi người. 0 1 2 3 4
16.Tôi thấy tự hào về khả năng đánh giá đúng đắn của mình. 0 1 2 3 4
17.Nếu cần thiết, tôi sẵn sàng thao túng mọi người để có thứ
mình muốn.
0 1 2 3 4
18.Tôi thích giải những câu đố hóc búa. 0 1 2 3 4
19.Tôi thường lo về những việc có thể trở nên tồi tệ. 0 1 2 3 4
20.Tôi thích những buổi liên hoan đông người. 0 1 2 3 4
21.Tôi suy nghĩ kỹ lưỡng mọi việc trước khi ra quyết định. 0 1 2 3 4
22.Tôi tin rằng hầu hết mọi người sẽ lợi dụng bạn nếu họ có dịp. 0 1 2 3 4
95
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
23.Tôi ít khi quan tâm đến cảm xúc hiện tại của mình. 0 1 2 3 4
24.Đôi khi tôi cảm thấy cay đắng và uất ức. 0 1 2 3 4
25.Tôi thích có nhiều người xung quanh mình. 0 1 2 3 4
26.Tôi thiết lập các mục tiêu một cách rõ ràng và từng bước
thực hiện chúng.
0 1 2 3 4
27.Một số người nghĩ rằng tôi là người lạnh lùng và tính toán. 0 1 2 3 4
28.Thi thoảng tôi hoàn toàn đắm chìm trong bản nhạc mà tôi
đang nghe.
0 1 2 3 4
29.Đôi khi những ý nghĩ đáng sợ xuất hiện trong đầu tôi. 0 1 2 3 4
30.Tôi thích những nơi náo nhiệt, có nhiều hoạt động đang diễn
ra.
0 1 2 3 4
31.Tôi giữ gìn đồ dùng cá nhân gọn gàng và sạch sẽ 0 1 2 3 4
32.Tôi hay cãi nhau với người nhà và đồng nghiệp. 0 1 2 3 4
33.Tôi thích giải các câu đố. 0 1 2 3 4
34.Nhiều lần, khi sự việc trở nên tồi tệ, tôi thấy chán nản và
muốn từ bỏ.
0 1 2 3 4
35.Tôi dễ cười. 0 1 2 3 4
36.Tôi là người có ý thức tự giác cao. 0 1 2 3 4
37.Nếu ai đó bắt đầu cuộc chiến, tôi sẽ sẵn sàng đấu lại. 0 1 2 3 4
38.Khi còn nhỏ, hiếm khi tôi chơi trò chơi tưởng tượng. 0 1 2 3 4
39.Tôi dễ hoảng sợ. 0 1 2 3 4
40.Tôi thích đi chơi ở chỗ đông đúc hơn là nơi vắng người. 0 1 2 3 4
41.Tôi thích cất giữ mọi thứ ngăn nắp nên tôi biết chính xác
chúng ở đâu.
0 1 2 3 4
42.Tôi là người cứng đầu và bướng bỉnh. 0 1 2 3 4
96
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
43.Theo tôi việc giữ đúng các nguyên tắc sống đã có quan trọng
hơn là sẵn sàng tiếp thu cái mới.
0 1 2 3 4
44.Khi có quá nhiều căng thẳng, tôi thấy như mình không thể
chịu đựng thêm nữa.
0 1 2 3 4
45.Tôi là người vui vẻ và luôn phấn khích. 0 1 2 3 4
46.Mọi người cho rằng tôi là người cẩn thận và biết điều. 0 1 2 3 4
47.Tôi có khả năng đạt được những điều tôi muốn từ người
khác với bất cứ giá nào.
0 1 2 3 4
48.Thơ ca thường không có tác động gì đối với tôi. 0 1 2 3 4
49.Cảm xúc của tôi khá ổn định. 0 1 2 3 4
50.Nhiều người cho rằng tôi là người hơi lạnh lùng và khó gần 0 1 2 3 4
51.Khi đã cam kết thực hiện điều gì, mọi người có thể tin là tôi
sẽ hoàn thành.
0 1 2 3 4
52.Một số người cho rằng tôi là người ích kỷ và tự cao tự đại. 0 1 2 3 4
53.Tôi thích ở những nơi quen thuộc. 0 1 2 3 4
54.Tôi ít khi cảm thấy cô đơn hay buồn bã. 0 1 2 3 4
55.Tôi thấy dễ dàng tươi cười và thoải mái với người lạ. 0 1 2 3 4
56.Tôi lên kế hoạch cẩn thận trước khi bắt đầu một chuyến đi. 0 1 2 3 4
57.Tôi hay nghi ngờ ý định của người khác. 0 1 2 3 4
58.Tôi có trí tưởng tượng rất phong phú. 0 1 2 3 4
59.Rất khó làm tôi tức giận. 0 1 2 3 4
60.Nếu tôi ở một mình quá lâu, tôi cảm thấy thực sự cần ai đó ở
bên.
0 1 2 3 4
Cảm ơn em nhiều!
97
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Phụ lục 2: Thang đo YSR.
Dưới đây là bảng liệt kê các biểu hiện của trẻ em và thanh thiếu niên. Trong vòng từ
06 tháng qua đến hiện nay, bạn cảm thấy mình có những biểu hiện nào trong các
mục dưới đây, xin hãy khoanh tròn:
Số 0: Nếu câu đó Không Đúng với bạn
Số 1: Nếu câu đó Thỉnh Thoảng Đúng với bạn hoặc
Khá Đúng với bạn
Số 2: Nếu câu đó Thường Xuyên Đúng với bạn hoặc
Rất Đúng với bạn
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
1. Cháu có hành động quá
trẻ con so với tuổi.
2. Cháu uống rượu, bia mà
không có sự cho phép
của bố mẹ
3. Cháu hay cãi cọ
4. Cháu hay bỏ dở công
việc đang làm
5. Có quá ít điều làm cho
cháu hứng thú
6. Cháu thích các con vật
7. Cháu khoe khoang quá
mức
8. Cháu chỉ tập trung chú ý
được trong thời gian
ngắn.
9. Cháu không thể dứt bỏ
được những ý nghĩ của
mình về một điều nào
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
31. Cháu sợ mình sẽ nghĩ hoặc
làm một điều gì xấu
32. Cháu nghĩ rằng mình phải
hoàn hảo
33. Cháu nghĩ rằng không ai
yêu mến mình
34. Cháu nghĩ rằng người khác
muốn làm hại mình
35. Cháu cảm thấy mình vô
dụng hoặc kém cỏi
36. Cháu hay bị thương hoặc
vấp ngã
37. Cháu hay đánh nhau
38. Cháu hay bị trêu chọc
39. Cháu thường chơi với trẻ hư
40. Cháu nghe những âm thanh
hoặc tiếng nói mà người
khác không nghe (mô tả)
41. Cháu thường hành động
98
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
đó, bị ám ảnh (mô tả)
10. Cháu không thể ngồi
yên một chỗ
11. Cháu quá phụ thuộc
vào người lớn
12. Cháu cảm thấy cô đơn
13. Cháu cảm thấy mù mờ
hoặc lẫn lộn
14. Cháu hay khóc
15. Cháu khá trung thực.
16. Cháu hay trêu chọc
người khác.
17 Cháu hay mơ màng .
18. Cháu cố ý tự gây
thương tích, hoặc có
hành động tự tử
19. Cháu làm nhiều điều để
thu hút sự chú ý của
người khác
20. Cháu phá hoại đồ đạc
của mình
21. Cháu phá hoại đồ đạc
của gia đình, của người
khác
22. Cháu không vâng lời bố
mẹ
23. Cháu không vâng lời
giáo viên và nhân viên
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
thiếu suy nghĩ.
42. Cháu thích ở một mình hơn
có người bên cạnh
43. Cháu nói dối hoặc gian lận
44. Cháu cắn móng tay
45. Cháu bồn chồn, căng thẳng
46. Giật (máy) cơ, giật tay chân
hoặc giật cơ mắt (mô tả)
47. Cháu có các cơn ác mộng
48. Cháu không được các trẻ
khác thích
49. Cháu có thể làm được một
số việc tốt hơn các trẻ khác
50. Cháu quá sợ hãi hoặc quá lo
âu
51. Cháu cảm thấy chóng mặt
hoặc choáng váng
52. Cháu cảm thấy rất có lỗi
53. Cháu ăn quá nhiều
54. Cháu cảm thấy quá mệt mỏi
mà không có lý do chính
đáng
55. Cháu bị béo phì
56. Các vấn đề của cơ thể mà
chưa rõ nguyên nhân:
a. Đau bụng mà chưa rõ
nguyên nhân
b. Đau đầu mà chưa rõ
99
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
trong trường
24. Cháu không chịu ăn
25. Cháu không hòa nhập
được với trẻ khác
26. Cháu không cảm thấy
có lỗi sau khi làm những
việc sai trái
27. Cháu dễ ghen tị
28. Cháu không tuân theo
các quy định ở nhà, ở
trường và các nơi khác.
29. Cháu sợ đi học
30. Cháu sợ một số tình
huống (hoàn cảnh), sợ
súc vật, sợ nơi nào đó
không kể trường học (mô
tả)
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
nguyên nhân
c. Đau nhức trong cơ thể
(không phải đau bụng hoặc
đầu) mà chưa rõ nguyên
nhân
d. Mắt có vấn đề mà không
phải cận thị, loạn thị vân
vân mà chưa rõ nguyên
nhân (mô tả)
e. Nổi ban hoặc các biểu hiện
ở da mà chưa rõ nguyên
nhân
f. Buồn nôn mà chưa rõ
nguyên nhân
g. Nôn mửa mà chưa rõ
nguyên nhân
h. Các vấn đề khác (mô tả)
Số 0: Nếu câu đó Không Đúng với cháu.
Số 1: Nếu câu đó Thỉnh Thoảng Đúng với cháu hoặc Khá Đúng với cháu.
Số 2: Nếu câu đó Thường Xuyên Đúng với cháu hoặc Rất Đúng với cháu
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
57 Cháu tấn công người khác.
58. Cháu cạy da, rứt da (mô tả)
59. Cháu khá thân thiện
60. Cháu thích thử làm những
điều mới mẻ
61. Cháu học kém
62. Cháu vụng về
63. Cháu thích chơi với những
người lớn tuổi hơn mình
64. Cháu thích chơi với những
người nhỏ tuổi hơn mình
65. Cháu từ chối nói chuyện với
mọi người
66. Cháu lặp đi lặp lại một số
hành động mà không cưỡng
lại được (mô tả)
67. Cháu bỏ nhà ra đi vài ngày
68. Cháu la hét nhiều
69. Cháu ít cởi mở, giữ kín mọi
chuyện trong lòng
70. Cháu nhìn thấy sự vật không
có thực (mô tả)
71. Cháu thẹn thùng, dễ bị
ngượng ngùng
72. Cháu nghịch lửa
73. Cháu có thể tự mình làm tốt
công việc tay chân
74. Cháu hay làm trò mạo hiểm
100
hoặc diễn hề
75. Cháu quá rụt rè, nhút nhát
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
0 1 2
85.Cháu có những ý nghĩ
mà người ta cho là kỳ
quặc (mô tả):
86. Cháu bướng bỉnh
87. Cảm xúc của cháu thay
đổi đột ngột
88. Cháu thích được ở bên
mọi người
89. Cháu đa nghi
90. Cháu chửi bậy, nói tục
91. Cháu nghĩ đến việc tự tử
92. Cháu thích làm người
khác cười
93. Cháu nói quá nhiều
94. Cháu hay trêu chọc mọi
người
95. Cháu dễ nổi khùng
96. Cháu nghĩ quá nhiều về
tình dục
97. Cháu hay hăm doạ mọi
người
98. Cháu thích giúp đỡ
người khác
99. Cháu hút thuốc lá
100. Cháu khó ngủ (mô tả):
101. Cháu bỏ lớp, trốn học
102. Cháu không có nhiều
sinh lực
101
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
Xin hãy trả lời đầy đủ các mục đã nêu và gạch chân các mục mà cháu băn
khoăn. Chân thành cảm ơn!
Thang đánh giá Lo âu - Trầm cảm - Stress (DASS 21)
Hãy đọc mỗi câu và khoanh tròn vào các số 0, 1, 2 và 3 ứng với tình
trạng mà bạn cảm thấy trong suốt một tuần qua. Không có câu trả lời đúng hay
sai. Và đừng dừng lại quá lâu ở bất kỳ câu nào.
Mức độ đánh giá: 0 Không đúng với tôi chút nào cả
1 Đúng với tôi phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng
2 Đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng
3 Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết thời gian là đúng
S 1. Tôi thấy khó mà thoải mái được 0 1 2 3
A 2. Tôi bị khô miệng 0 1 2 3
D 3. Tôi dường như chẳng có chút cảm xúc tích cực nào 0 1 2 3
A 4. Tôi bị rối loạn nhịp thở (thở gấp, khó thở dù chẳng làm việc
gì nặng)
0 1 2 3
D 5. Tôi thấy khó bắt tay vào công việc 0 1 2 3
S 6. Tôi có xu hướng phản ứng thái quá với mọi tình huống 0 1 2 3
A 7. Tôi bị ra mồ hôi (chẳng hạn như mồ hôi tay...) 0 1 2 3
S 8. Tôi thấy mình đang suy nghĩ quá nhiều 0 1 2 3
A 9. Tôi lo lắng về những tình huống có thể làm tôi hoảng sợ
hoặc biến tôi thành trò cười
0 1 2 3
D 10. Tôi thấy mình chẳng có gì để mong đợi cả 0 1 2 3
S 11. Tôi thấy bản thân dễ bị kích động 0 1 2 3
S 12. Tôi thấy khó thư giãn được 0 1 2 3
D 13. Tôi cảm thấy chán nản, thất vọng 0 1 2 3
S 14. Tôi không chấp nhận được việc có cái gì đó xen vào cản trở
việc tôi đang làm
0 1 2 3
102
Viết đề tài giá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM
A 15. Tôi thấy mình gần như hoảng loạn 0 1 2 3
D 16. Tôi không thấy hăng hái với bất kỳ việc gì nữa 0 1 2 3
D 17. Tôi cảm thấy mình chẳng đáng làm người 0 1 2 3
S 18. Tôi thấy mình khá dễ phật ý, tự ái 0 1 2 3
A 19. Tôi nghe thấy rõ tiếng nhịp tim dù chẳng làm việc gì cả (ví
dụ, tiếng nhịp tim tăng, tiếng tim loạn nhịp)
0 1 2 3
A 20. Tôi hay sợ vô cớ 0 1 2 3
D 21. Tôi thấy cuộc sống vô nghĩa 0 1 2 3

Nghiên cứu đặc điểm nhân cách và những vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên ngành công nghệ thông tin.docx

  • 1.
    Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Tải tài liệu tại kết bạn zalo : 0973.287.149 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC KHUẤT THỊ HOA NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẢM XÚC HÀNH VI Ở SINH VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
  • 2.
    Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Tải tài liệu tại kết bạn zalo : 0973.287.149 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC KHUẤT THỊ HOA NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẢM XÚC HÀNH VI Ở SINH VIÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thành Nam
  • 3.
    i Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học Giáo dục, các thầy, cô giáo của chương trình đào tạo Thạc sĩ Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên vì đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành chương trình học và bảo vệ luận văn. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới người thầy vô cùng tận tâm - PGS.TS. Trần Thành Nam, người đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình từ những ngày đầu lên ý tưởng đề tài nghiên cứu, định hướng, phát triển và cho tới ngày hoàn thiện đề tài. Tận đáy lòng, tôi luôn cảm thấy biết ơn và may mắn vì đã được làm việc với người thầy vừa giỏi về chuyên môn lại giàu có về đạo đức như vậy. Tôi cũng chân thành cảm ơn tới cộng đồng cựu học viên các khóa 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 chương trình Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên của Trường Đại học Giáo dục vì đã hỗ trợ về tài liệu và đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin cảm ơn sự hỗ trợ và tham gia trả lời Phiếu khảo sát của các em sinh viên trường Đại học FPT Hà Nội. Những ý kiến trả lời đó đã thực sự đóng góp rất lớn cho thành công của đề tài. Cuối cùng tôi vô cùng cảm ơn bố, mẹ, anh chị em trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là chồng tôi đã luôn ủng hộ và trợ giúp tôi trong suốt quá trình tôi học thạc sĩ để tôi có thêm thời gian và sức khỏe hoàn thành chương trình học cũng như đề tài luận văn này. Do điều kiện thời gian cũng như tài liệu và hiểu biết còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong các thầy, cô và độc giả giúp tôi khắc phục những hạn chế để hoàn thiện luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn! Ngày 12 tháng 6 năm 2020 Khuất Thị Hoa
  • 4.
    ii Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Việt: HVCX: Hành vi cảm xúc M: Điểm trung bình TT: Thứ tự Std: Standard deviation - Độ lệch chuẩn LATC: Lo âu trầm cảm VDTD: Vấn đề tư duy TCTM: Trầm cảm thu mình VDCY: Vấn đề chú ý BTT: Bệnh tâm thể PBQT: Phá bỏ quy tắc VDXH: Vấn đề xã hội HVXK: Hành vi xâm kích SV: Sinh viên CNTT: Công nghệ thông tin ĐH: Đại học (N): Nhiễu tâm (O): Cởi mở (E): Hướng ngoại (A) Đồng thuận (C): Tận tâm Tiếng Anh: APA: American Psychological Association – Hội tâm lý học Hoa Kỳ DSM: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Dissorders – Sổ tay chẩn đoán và phân loại bệnh tâm thần (của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ) ICD: The International Classification of Diseases – World Health Organization: Bảng phân loại bệnh quốc tế của Tổ chức Y tế Thế Giới.
  • 5.
    iii Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN...............................................................................................................i DANH MỤC BẢNG, BIỂU........................................................................................v MỞ ĐẦU.....................................................................................................................1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ..................................................................................6 1.1. Những nghiên cứu về đặc điểm nhân cách........................................................6 1.1.1. Các lý thuyết nghiên cứu nhân cách ...........................................................6 1.1.2. Các phương pháp nghiên cứu nhân cách ..................................................10 1.1.3. Một số nghiên cứu nhân cách trên thế giới và tại Việt Nam.....................11 1.2. Một số về nghiên cứu về các vấn đề cảm xúc hành vi ....................................14 1.3. Mối liên hệ giữa nhân cách và các vấn đề hành vi cảm xúc............................17 Trong quá trình nhân cách phát triển, nó sẽ đi theo hai hướng: Hướng tích cực: Là những nhân cách phát triển phù hợp với giá trị xã hội; Hướng bệnh lý: Là những nhân cách phát triển không phù hợp với giá trị xã hội...........................................17 1.4. Một số khái niệm cơ bản.................................................................................21 1.4.1. Nhân cách .................................................................................................21 1.4.2. Vấn đề cảm xúc hành vi............................................................................25 1.4.3. Sinh viên...................................................................................................26 TIÊU KẾT CHƯƠNG 1............................................................................................28 CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............................29 2.1. Khách thể nghiên cứu......................................................................................29 2.1.1. Đặc điểm của khách thể............................................................................29 2.2. Địa bàn nghiên cứu .........................................................................................30 2.3. Tổ chức nghiên cứu.........................................................................................30 2.4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................31 2.4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận ...............................................................31 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu bảng hỏi (anket) ...............................................32 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2............................................................................................37 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..................................................................38 3.1. Đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin.......................38 3.1.1. Đặc điểm mặt nhiễu tâm (N).....................................................................41
  • 6.
    iv Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 3.1.2. Đặc điểm mặt hướng ngoại (E).................................................................43 3.1.3. Đặc điểm mặt cởi mở (O) .........................................................................45 3.1.4. Đặc điểm mặt nhân cách đồng thuận (A)..................................................46 3.1.5. Đặc điểm mặt tận tâm (C).........................................................................48 3.2. Thực trạng các vấn đề hành vi cảm xúc của sinh viên công nghệ thông tin trường Đại học FPT................................................................................................49 3.2.1. Điểm số trung bình của thang YSR ..........................................................49 3.2.2. Mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề HVCX.....................58 3.3.Mô hình hồi quy giữa các đặc điểm nhân cách vàcác vấn đề cảm xúc hành vi.......62 Trên cơ sở tìmra những mối tương quan giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề hành vi cảm xúc, chúng tôi tiến hành phân tích mô hình hồi quy bội để tìmra những mặt nhân cách dự báo và ảnh hưởngtới các vấn đề cảm xúc hành vi. Kết quả thu được như sau: 62 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3............................................................................................83 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................84 1. Kết luận..............................................................................................................84 2. Khuyến nghị.......................................................................................................85 TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................87 PHỤ LỤC .................................................................................................................93
  • 7.
    v Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM DANH MỤC BẢNG, BIỂU Bảng 3.1: Các chỉ số thống kê cơ bản về các mặt trong nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin.........................................................................................38 Bảng 3.2: Chỉ số thống kê theo mức độ các mặt nhân cách của sinh viên công nghệ thông tin.....................................................................................................................40 Bảng 3.3. Đặc điểm nhân cách trong mặt nhiễu tâm (N)...........................................42 Bảng 3.4. Bảng đặc điểm của mặt hướng ngoại (E) ..................................................44 Bảng 3.5. Bảng đặc điểm mặt cởi mở (O) .................................................................45 Bảng 3.6. Đặc điểm mặt nhân cách đồng thuận (A)..................................................47 Biểu đồ 3.1. Hàm phân phối tổng điểm thô YSR ......................................................50 Bảng 3.8. Giá trị trung bình của tổng thang đo .........................................................50 Bảng 3.9. Bảng phân loại vấn đề HVCX của sinh viên ngành công nghệ thông tin theo giới tính..............................................................................................................52 Bảng 3.10. Bảng tỉ lệ sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp các vấn đề HVCX 57 Bảng 3.11. Bảng tương quan Person giữa các vấn đề hành vi cảm xúc và các mặt nhân cách...................................................................................................................59 Bảng 3.12.Mô hình dự báo lo âu trầm cảm ...............................................................63 Bảng 3.13.Mô hình dự báo trầm cảm thu mình.........................................................65 Bảng 3.14.Mô hình dự báo bệnh tâm thể...................................................................68 Bảng 3.16.Mô hình dự báo vấn đề tư duy .................................................................72 Bảng 3.17. Mô hình dự báo vấn đề chú ý..................................................................75 Bảng 3.18. Mô hình dự báo vấn đề Phá bỏ quy tắc...................................................77 Bảng 3.19. Mô hình dự báo vấn đề Hành vi xâm kích ..............................................79
  • 8.
    1 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Khi các nhà tâm lý học lần đầu tiên tự hỏi điều gì xảy ra với nhân cách trong suốt cuộc đời, các nhà nghiên cứu đã cho thấy có rất nhiều điều để nói về thời thơ ấu, thời thơ ấu và thanh thiếu niên. Tuy nhiên, hầu hết giả định rằng tuổi trưởng thành là điểm cuối của sự phát triển nhân cách (một người trưởng thành, từ điển cho chúng ta biết, là một cá nhân phát triển đầy đủ). William James (1890), đã có một tuyên bố rất nổi tiếng khi cho rằng, tính cách nhân vật “giống như thạch cao” ở độ tuổi 30. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chứng minh về những thay đổi trong tính cách ở thời thơ ấu và thanh thiếu niên. Trẻ sơ sinh trở nên nhạy cảm với những khuôn mặt quen thuộc chỉ khoảng 30 ngày; lúc 8 tháng, trẻ có khả năng phát triển nỗi lo lắng ly thân khi bị bắt đi khỏi cha mẹ. Tiếp đến, thời thơ ấu là giai đoạn tuân thủ của hầu hết trẻ em và thanh thiếu niên nói chung được thừa nhận là một thời kỳ nổi loạn và hỗn loạn. Kết quả nghiên cứu cho thấy lòng tự trọng thường thấp trong giai đoạn này và tăng lên khi cá nhân đến tuổi trưởng thành [59] Đặc biệt, khi nghiên cứu về nhân cách thường được thể hiện rõ nhất ở độ tuổi nào là phù hợp đã cho thấy sự đa dạng ở các nghiên cứu theo từng giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều quan điểm cho thấy các nghiên cứu về đặc điểm nhân cách cũng như cảm xúc hành vi ở độ tuổi thanh thiếu niên và người trưởng thành. Cụ thể, hầu hết các nhà tâm lý học xem xét sinh viên đại học tại thời điểm tốt nghiệp hoặc thể hiện một số khía cạnh về phát triển nhân cách khi ở độ tuổi trưởng thành. Có thể thấy, ở độ tuổi này có lý do để suy nghĩ rằng sự phát triển nhân cách vẫn tiếp tục, ít nhất là đối với một số cá nhân, trong vài năm tiếp diễn [50][51][52]. Các báo cáo nghiên cứu về các cá nhân từ tuổi đại học đến tuổi trưởng thành gần như luôn cho thấy một số thay đổi ở mức độ trung bình về đặc điểm tính cách và biến động cao hơn so với các nghiên cứu về các cá nhân lớn tuổi[50] [59]. Khi so sánh điểm số tính cách của sinh viên đại học với 10 người trưởng thành trong bản kiểm kê tính cách NEO (Costa & McCrae, 1985, 1989a), thang đo về năm yếu tố tính cách đã cho thấy sinh viên sự thể hiện các đặc điểm nhân cách về mặt nhiễu
  • 9.
    2 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM tâm, hướng ngoại, cởi mở cao hơn là đồng thuận và tận tâm. Những khác biệt này cho thấy sinh viên đại học trưởng thành và nhẹ nhàng hơn một chút, trở nên ít cảm xúc và linh hoạt hơn, tử tế và có trách nhiệm hơn. Như vậy, nếu định nghĩa tuổi trưởng thành là giai đoạn từ 18 tuổi trở đi, các nghiên cứu đã phần nào cho thấy có sự phát triển về đặc điểm nhân cách ở người trưởng thành. Vậy phải chăng ở độ tuổi trưởng thành hay cụ thể là độ tuổi sinh viên sẽ cho thấy đặc điểm nhân cách và cảm xúc hành vi không được thể hiện nhiều hay vẫn còn tiếp tục phát triển cho đến độ tuổi cao hơn. Đó là một vài khía cạnh về học thuật được giới nghiên cứu tranh luận mà đề tài quan tâm, làm rõ nhằm góp phần nâng cao nhận thức lý luận cho lĩnh vực nghiên cứu và cũng là mục tiêu lý luận của đề tài. Từ những đặc điểm nhân cách cũng phần nào phản ánh cảm xúc hành vi được thể hiện qua các chỉ số về sức khỏe tâm thần của sinh viên. Sức khỏe tâm thần, giống như các khía cạnh khác của sức khỏe, có thể bị ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố kinh tế xã hội cần được giải quyết thông qua các chiến lược toàn diện nhằm thúc đẩy, phòng ngừa, điều trị và phục hồi theo cách tiếp cận của cơ quan chính phủ. Các yếu tố quyết định sức khỏe tâm thần và rối loạn tâm thần không chỉ bao gồm các thuộc tính riêng lẻ như khả năng quản lý suy nghĩ, cảm xúc, hành vi và tương tác với người khác, mà còn các yếu tố xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị và môi trường cũng như chính sách quốc gia, bảo vệ xã hội, sinh hoạt, tiêu chuẩn sinh hoạt, điều kiện làm việc và hỗ trợ cộng đồng xã hội. Nghiên cứu sinh viên năm hai hệ bác sĩ của trường Đại học Y Hà Nội tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ trầm cảm trong nhóm sinh viên có kiểu nhân cách hướng nội (33,05%) cao hơn so với nhóm sinh viên có kiểu nhân cách hướng ngoại (17,36%), tỷ lệ trầm cảm trong nhóm sinh viên có kiểu nhân cách không ổn định cao hơn so với nhóm sinh viên có kiểu nhân cách ổn định, sinh viên có nhân cách không ổn định có nguy cơ trầm cảm cao gấp hơn 5 lần so với kiểu nhân cách ổn định [29]. Đặc biệt, đối tượng sinh viên ngành công nghệ thông tin (CNTT) – ngành học có đặc thù yêu cầu trình độ và kiến thức cao, có thời gian ngồi máy tính rất dài, ít vận động, có những thời điểm kéo dài vài ngày, không ăn, không ngủ, điều này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh không chỉ về cơ thể mà còn về tinh thần. Nguyên nhân
  • 10.
    3 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM các rối loạn cảm xúc, hành vi ở thanh thiếu niên chủ yếu xuất phát từ yếu tố sinh học, yếu tố môi trường hoặc kết hợp cả hai. Ví dụ về các yếu tố sinh học như yếu tố di truyền, cân bằng sinh hóa trong cơ thể, tổn thương hệ thần kinh trung ương (chấn thương sọ não. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần như bị bạo hành, bị thảm họa, mất người thân [24] [27]. Trước thực trạng như vậy một số câu hỏi được đặt ra như: Đặc điểm nhân cách và những vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên được thể hiện như thế nào? Có mối liên hệ nào giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên ngành công nghệ thông tin? Có những mặt nhân cách nào điểm cao thì có xu hướng dễ gặp vấn đề hành vi cảm xúc? Đó là những câu hỏi cần có câu trả lời xác đáng. Với những lý do trên, việc nghiên cứu “Nghiên cứu đặc điểm nhân cách và những vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên ngành công nghệ thông tin” là việc làm cần thiết nhằm tìm hiểu đặc điểm, yếu tố tác động đến nhân cách, cảm xúc hành vi cũng như có sự so sánh, làm rõ mối liên hệ giữa hai yếu tố đó. Đề tài lựa khảo sát sinh viên chuyên ngành công nghệ thông tin tại Đại học FPT để thực hiện nghiên cứu bởi trong giới hạn nguồn lực cho phép của một nghiên cứu thực nghiệm. Trường Đại học FPT với sự đa dạng về độ tuổi, giới tính,ngành học, trình độ học vấn, quê quán sẽ giúp cho việc lựa chọn mẫu nghiên cứu phù hợp với nội dung, mục tiêu nghiên cứu và kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu cũng như tính đúng đắn của các lý thuyết nghiên cứu. 2. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng đặc điểm nhân cách và cảm xúc hành vi của sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin trường Đại học FPT. Từ đó tìm được được mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi và dự báo xu hướng tác động của từng mặt nhân cách đến các vấn đề cảm xúc hành vi, nhằm đề xuất một số giải pháp hỗ trợ công tác tư vấn hướng nghiệp và tâm lý học đường trong trường học hiệu quả hơn. 3. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 3.1.Câu hỏi nghiên cứu
  • 11.
    4 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 1. Đặc điểm nhân cách và những vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên được thể hiện như thế nào? 2. Có mối liên hệ nào giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên ngành công nghệ thông tin? 3. Có những mặt nhân cách nào có xu hướng tác động, ảnh hưởng tới sự xuất hiện các vấn đề cảm xúc hành vi khác nhau ở sinh viên ngành công nghệ thông tin. 3.2.Giả thuyết nghiên cứu - Đặc điểm nổi bật về nhân cách của sinh viên công nghệ thông tin ĐH FPT là tính hướng ngoại, nhiệt huyết. - Sinh viên công nghệ thông tin ĐH FPT gặp vấn đề rối loạn hành vi nhiều hơn rối loạn cảm xúc. - Các vấn đề cảm xúc hành vi khác nhau thường có mối liên quan đến đặc điểm nhân cách theo xu hướng điểm nhiễu tâm nào càng cao thì điểm rối loạn các vấn đề cảm xúc hành vi càng cao. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận - Tổng quan nghiên cứu về nhân cách theo thuyết 5 mặt lớn, các nghiên cứu về SKTT và mối quan hệ giữa các yếu tố này - Thao tác hóa các khái niệm liên quan đến đề tài: sinh viên, nhân cách, vấn đề cảm xúc và hành vi như lo âu, trầm cảm, rối nhiễu chống đối. 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn - Phân tích trực trạng các đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin. - Phân tích thực trạng các vấn đề cảm xúc – hành vi mà sinh viên ngành công nghệ thông tin đang gặp phải. - Tìm hiểu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách với các vấn đề cảm xúc – hành vi của sinh viên ngành công nghệ thông tin. 5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu - Đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên năm nhất ngành
  • 12.
    5 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM công nghệ thông tin. b. Khách thể nghiên cứu - 325 sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin trường ĐH FPT Hà Nội. 6. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính: (1) Nghiên cứu tài liệu, (2) điều tra bảng hỏi/trắc nghiệm, (3) xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học. 7. Giới hạn nghiên cứu Giới hạn nội dung: Nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng các mặt nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên công nghệ thông tin. Đồng thời chỉ ra mối tương quan giữa nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi. Giới hạn thời gian: Từ tháng 3 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020. Giới hạn địa điểm: Khảo sát được tiến hành trên 325 sinh viên công nghệ thông tin năm thứ nhất tại trường ĐH FPT – km29 khu giáo dục đào tạo, khu công nghệ cao Hòa Lạc, Thạch Thất, Hà Nội. Trường FPT là một trong những trường hàng đầu về công nghệ, hội tụ đa dạng các đối tượng khác nhau trên khắp cả nước thi vào trường. Từ những sinh viên giỏi và xuất sắc giành được học bổng của trường đến những sinh viên khá thi đỗ vào trường và cả những sinh viên trung bình xét học bạ cũng có thể theo học ngành công nghệ thông tin tại trường. Đây là một ngành học đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, đang thu hút trên thị trường lao động trong và ngoài nước. Đặc thù của ngành là làm việc với phần mềm và máy tính, tí có thời gian tương tác giữa người với người đồng thời ít vận động nên có nguy cơ gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần cao. 8. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương Chương 1: Trình bày tổng quan cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và cách thức tổ chức triển khai nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu
  • 13.
    6 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Những nghiên cứu về đặc điểm nhân cách 1.1.1. Các lý thuyết nghiên cứu nhân cách Theo lý thuyết chất dịch: quan niệm vốn có trong lý thuyết này là cơ thể người chứa đựng những chất dịch (chất lỏng), đặc biệt có nhiều nhất trong cơ thể như máu, dãi, đờm, mật vàng, và mật đen, và những chất này có ảnh hưởng nhiều tới nhân cách của con người. Theo đó những người có tỉ lệ máu cao thì thường có nhân cách hoạt bát, vui vẻ, sinh động, còn những người có tỉ lệ mật vàng hay nước mắt cao hơn sẽ tạo ra tính cách nóng nảy, hấp tấp [45]. Theo lý thuyết phân tâm của Freud: Cấu trúc nhân cách có ba thành phần, bao gồm: Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi. Freud cho rằng nhân cách của cá nhân có liên quan chặt chẽ với quá trình của ý thức và libido, được xây dựng và định hình lúc 5 tuổi, đây là thời kỳ quan trọng nhất quyết định toàn bộ sự phát triển của một đời người [45]. Lý thuyết của Karl Gustav Jung cho rằng có một vô thức tập thể hình thành từ những động cơ nguyên thủy của loài người. Trong cấu trúc này, cái tôi là trung tâm của ý thức, nhân cách là mẹ của ý thức, vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân. Cái bản thân nằm giữa ý thức và vô thức. Cái bản thân là sự tổng hợp cái bên trong và cái bên ngoài [44]. Lý thuyết 8 giai đoạn phát triển của Erikson: nhân cách như thế nào chính là quá trình mỗi cá nhân đối phó với những mâu thuẫn gặp phải trong các giai đoạn đó [45]. Lý thuyết về hành vi về nhân cách của B.F.Skinner: Hành vi tạo tác là hành vi được hiểu là loại hành vi được tạo ra bởi chính hiệu quả của nó. Và sự hình thành và phát triển nhân cách chính là sự hình thành, duy trì, thay đổi một hệ thống các hành vi tạo tác để tạo nên một nhân cách ổn định, riêng biệt [45]. Thuyết hành vi xã hội: nhóm các lý thuyết này xem nhân cách phần lớn là kết quả của sự tập quen. Những lý thuyết này thay đổi từ thuyết kích thích – phản ứng theo thuyết hành vi, xem nhân cách đơn thuần là kết quả của vô số các lần biến đổi
  • 14.
    7 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM do điều kiện ngoại cảnh mà trẻ tiếp nhận qua đời sống, cho đến lý thuyết ý thức xã hội và hành vi xã hội phức tạp hơn, xem kinh nghiệm xã hội là yếu tố quan trọng quyết định nhân cách [46] [51]. Nhân cách theo thuyết hành vi xã hội: Albert Bandura cho rằng yếu tố xã hội trong việc hình thành nhân cách quan trọng hơn sự thừa nhận của Watson hay Skinner. Bandura cho rằng một quá trình quyết định liên quan đến nhân cách đó là học tập xã hội [45] Lý thuyết nhu cầu về nhân cách của Maslow: Theo quan niệm của ông, sự phát triển của nhân cách chính là quá trình mỗi các nhân tiến hành các hoạt động khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của mình. Chính quá trình mỗi các nhân tiến hành các hoạt động khác nhau của mình một cách đa dạng và phong phú để thỏa mãn các nhu cầu của mình quy định chiều hướng phát triển nhân cách của họ. Lý thuyết thân chủ trọng tâm cùa Carl Rogers: ở lý thuyết này, khái niệm cái tôi và sự phát triển cá nhân được nhấn mạnh, cho rằng cả hai yếu tố này đều cần thiết trong việc phát triển nhân cách lành mạnh [45]. Lý thuyết tâm lý học hoạt động về nhân cách cảu Vuwgotxki: Ông cho rằng “lịch sử phát triển văn hóa của trẻ đưa chúng ta đến lịch sử phát triển nhân cách” hay nói cách khác, sự phát triển nhân cách và thế giới quan của trẻ chính là sự phát triển văn hóa. Lý thuyết nhân cách của Cattell: nhờ áp dụng phân tích nhân tố, nhà tâm lý học nhân cách Raymond Cattell đã tìm ra 16 đặc điểm tượng trưng cho các khuôn khổ nhân cách cơ bản. Từ đó phát triển thành bảng câu hỏi 16 nhân tố của nhân cách, là cách đánh giá cho biết mỗi đặc điểm nhân cách dành cho ba nhóm đối tượng khác nhau: phi công, nghệ sĩ sáng tạo và nhà văn [46] Nhà tâm lý học người Anh (sinh ra ở Đức) - Hans Eysenck cũng sử dụng phân tích nhân tố để nhận dạng các mẫu trong đặc điểm nhân cách. Ông nhận thấy phân tích nhân cách tốt nhất nên mô tả bằng thuật ngữ gồm hai khuôn khổ hướng nội - hướng ngoại và thần kinh ổn định - không ổn định. Khi phân tích theo hướng nội - hướng ngoại sẽ phân làm hai nhóm: một nhóm là người thường điềm tĩnh, cẩn thận trầm ngâm và ức chế (người hướng nội) còn một nhóm khác là những người
  • 15.
    8 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM luôn vượt lên trước, hòa đồng và hoạt động (người hướng ngoại). Con người cũng có thể chia thành kiểu người không ổn định với các biểu hiện như buồn rầu, hay tự ái, nhạy hay nhóm người ổn định với các biểu hiện điềm tĩnh, đáng tin. Với cách đánh giá con người theo hai chiều hướng này, nhà tâm lý Eysenck có thể dự đoán hành vi con người trong những tình huống khác nhau. Với những ưu điểm như số câu vừa phải và dễ diễn giải, dễ hiểu, thang đo nhân cách Eysenck (Eysenck Personality Inventory, viết tắt là EPỈ) đã được dịch và đưa vào sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy và thực hành lâm sàng ở Việt Nam khá lâu. Như vậy, có rất nhiều những lý thuyết nhân cách khác nhau trong ngành tâm lý học, mỗi lý thuyết có ưu, nhược điểm khác nhau. Trong đó, không thể không nhắc đến lý thuyết 5 yếu tố lớn của nhân cách. Mục đích của thuyết 5 nhân tố FFM (Five Factor Model) là nhằm "quan sát người khác, ghi chép lại những sự khác biệt giữa các cá nhân đó". Qua nghiên cứu từ vựng (lexical study), người ta giả định rằng "sự khác biệt giữa các cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động con người được ký hiệu hóa thành ngôn ngữ (ngôn ngữ tự nhiên) sử dụng hằng ngày. Do đó nếu tập trung, phân loại, chỉnh lý các từ ngữ biểu hiện sự khác biệt cá nhân (đặc tính ngữ) có trong từ điển hay những mô tả người có trong tiếp xúc và ghi chép thì có thể nhìn thấy cấu trúc của nhân cách. Những nghiên cứu về từ vựng được bắt đầu từ Alloprt, G.W. và Odbert, H.S. (1936) cùng với sự phát triển của phương pháp phân tích nhân tố đã phát triển thành ghi chép nhân cách dựa vào 5 nhân tố. Tiếp theo các nghiên cứu của Tupes, E.C and Christal, R.E (l961) rồi Norman, W.T (1963), Goldberg, L.R trên cơ sở xem xét lại bản chất ý nghĩa tâm lý của các yếu tố, đã đi đến chỗ coi 5 nhân tố là mô hình có thể ghi chép một cách bao quát ve nhân cách vượt qua sự phân loại đơn thuần về đặc tính ngữ (hay những từ ngữ biểu thị đặc tính nhân cách, D.Peabody, D & Goldberg, L.R., 1989). Phương pháp cấu thành thước đo trên cơ sở lý thuyết nhân cách và sử dụng thước đo đó để ghi chép về những sự khác biệt cá nhân được gọi là nghiên cứu phiếu hỏi hay nghiên cứu qua hỏi đáp viết (questionnaire study). Trong khi nghiên
  • 16.
    9 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM cứu từ vựng xuất phát từ sự quan tâm đến từ vựng (đặc tính ngữ) và cơ cấu của nó để hệ thống hóa chúng theo phương thức từ dưới lên (bottom up) và tìm ra đặc tính nhân cách ở thứ nguyên cao thì trong nghiên cứu qua hỏi đáp viết chủ yếu người ta dùng phương pháp xác minh cấu trúc nhân cách từ lí luận với phương thức từ trên xuống (top down). Trong bối cảnh như vậy những nghiên cứu nhằm nắm bắt nhân cách một cách tổng quát đi tìm những mô hình dễ hiểu được tiến hành nhiều lần, dần dần những thành tựu của nghiên cứu từ vựng và nghiên cứu hỏi đáp viết được đưa vào kết hợp lại và hình thành nên FFM. Kết quả là thước đo với 5 nhân tố định sẵn ra đời. Trong số đó có NEO PI-R (Revised NEO Personality lnventory) một mô hình hiện nay đang được sử dụng rộng rãi nhân đã được Costa, P.T., Jr và Mccrae, R.R đưa ra năm 1992. Thước đo này đo 5 mặt (lĩnh vực) của nhân cách, mỗi mặt bao gồm 6 chỉ số và mỗi chỉ số được đo bằng 8 hành vi thể hiện (8 items). Như vậy tổng cộng trắc nghiệm có 240 items. Với giả định về cơ cấu tầng bậc của các mặt và chỉ số, người ta hy vọng sẽ nắm bắt được nhân cách một cách tổng quát và chi tiết. Năm 1996, McCrae và Costa đưa ra lý thuyết năm yếu tố. Lý thuyết này chỉ ra năm yếu tố cơ bản của nhân cách, còn gọi là Big Five, bao gồm: Tính thần kinh; tính hướng ngoại; Tính mở đối với hiểu biết; Tính dễ chịu; Tính ý thức. Nguồn gốc của mô hình nhân cách năm yếu tố này là quan điểm nét nhân cách là một yếu tố ổn định của nhân cách, trong khi các thuộc tính tâm lý khác như: Thái độ, niềm tin, kỹ năng … thì có thể thay đổi theo thời gian và tình huống. Từ quan điểm này, Cattell và cộng sự cho rằng cần phân biệt những yếu tố cơ bản của nhân cách (Big Five) với các đặc trưng thích ứng của nahan cách. Lý thuyết năm yếu tố muốn nhấn mạnh rằng nhân cách cần phải được xem xét một cách tổng thể và trong suốt chiều dài lịch sử của cá nhân chứ không nên xem như là một mẫu hành vi tách biệt. Có nhiều nhiên cứu chỉ ra rằng năm yếu tố cơ bản của nhân cách chịu sự chi phối lớn bởi yếu tố di truyền, tuy nhiên tác giả của mô hình này (McCrae và Costa) cho rằng môi trường cũng có ảnh hưởng lớn đến nhân cách. Trong nghiên cứu của McCrae và Costa cũng tìm thấy độ tin cậy và độ giá trị của 5 yếu tố và các yếu tố này khá ổn định ở lứa tuổi trưởng thành. Golberg sau khi
  • 17.
    10 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM tổng hợp các nghiên cứu của những người khác nhau ông đã đề nghị lấy tên gọi 5 mặt đó là “Big Five”. Theo lý thuyết này, 5 mặt nhân cách mà được nhiều người tán thành nhất đó là Nhiễu tâm (Neuroticism), Hướng ngoại (Extraversion), Cởi mớ (Openness), Dễ đồng ý (Agreeableness) và Tận tâm (Coscientiouness). Ý nghĩa của của 5 yếu tố được diễn giải như sau: Nhiễu tâm (N) là mặt nhân cách đánh giá khả năng kiểm soát và ổn định về mặt cảm xúc, dự đoán những cá nhân có nguy cơ dễ rơi vào stress tâm lý hoặc có những ý tưởng phi thực tế, những khao khát thái quá. Hướng ngoại (E) là mặt nhân cách dùng để đánh giá tần xuất và cường độ các tương tác liên cá nhân, mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng. Cởi mở (O) là mặt nhân cách để đánh giá hành vi sẵn sàng thử nghiệm, học hỏi cái mới, đánh giá cao sự nắm giữ kinh nghiệm, khả năng chịu đựng để khảo sát những cái mới lạ. Dễ đồng ý/Dễ chấp nhận (A): mặt nhân cách này đánh giá chất lượng định hướng liên cá nhân của con người với một chuỗi từ sự đồng tình đến đối nghịch trong suy nghĩ, cảm giác và hành động. Tận tâm (C): mặt nhân cách này đánh giá khả năng tổ chức công việc, động cơ, uy tín trong hành vi nhằm hướng tới mục tiêu của cá nhân. Đặc điểm này tương phản giữa những cá nhân khó tính, phụ thuộc với những người độc lập và mềm mỏng [13] [51]. 1.1.2. Các phương pháp nghiên cứu nhân cách Trong nghiên cứu về nhân cách, có hai phương pháp đánh giá nhân cách là phương pháp nghiên cứu trường hợp và phương pháp trắc nghiệm. Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu trường hợp chủ yếu tiến hành giới hạn trên số lượng ít khách thể và đòi hòi thời gian, công sức cũng như nhiều nguồn lực khác, lại không tổng hợp khái quát trên phạm vi nhiều khách thể được nên với đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp trắc nghiệm để làm công cụ đánh giá nhân cách. Hiện nay trên thế giới có nhiều trắc nghiệm làm công cụ đánh giá nhân cách. Phải kể đến một số trắc nghiệm khá phổ biến như các trắc nghiệm phóng chiếu, trắc
  • 18.
    11 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM nghiệm khách quan, sử dụng bảng hỏi nhân cách Eysenck (EPQ), bảng hỏi nhân cách ba chiều (TPQ). Nghiên cứu xuyên văn hóa về vấn đề đo đạc nhân cách của Cheung (2004) đã liệt kê một số trắc nghiệm được sử dụng tại các nước châu Á như MMPI, EPQ, STAI và NEO PI-R. Đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy trắc nghiệm nhân cách năm yếu tố (Five Factor Model) được sử dụng cho đánh giá, tư vấn, lựa chọn, tuyển dụng nhân sự cũng như xem xét tác động đến sự thành công trong nghề nghiệp như các nghiên cứu của Boudreau, Boswell, & Judge năm 2001; Seibert & Kraimer năm 2001; Gelissen & de Graaf năm 2006; Reed, Bruch, Haase năm 2004; Schmit & Ryan năm 1993; Sutin và cộng sự năm 2009; Timmerman, 2004 và Detrick, & Chibnall năm 2006. [59]. Trên thế giới, trắc nghiệm nhân cách phổ biến nhất, được nghiên cứu và sử dụng nhiều nhất là các trắc ngiệm nhân cách năm yếu tố, trong đó nổi bật là trắc nghiệm NEO của các tác giả Paul T.Costa và Robert R.McCrae, với phiên bản NEO PI-R. Trắc nghiệm NEO PI-R là một trong những trắc nghiệm được lựa chọn sử dụng với mục đích đánh giá về nghề nghiệp, có thể góp phần giúp xác định được sự phù hợp tối ưu giữa một các nhân và công việc [51]. Một số nghiên cứu cho rằng NEO PI-R đã được nghiên cứu và ứng dụng trong tâm lý học công nghiệp/tổ chức [59]. Vì những lý do trên, trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng công cụ đánh giá nhân cách là trắc nghiệm NEO – 60VN làm công cụ đo đạc, trắc nghiệm này được thích nghi tại Việt Nam từ trắc nghiệm NEO PI-R bởi Trần Văn Công và cộng sự vào năm 2016. 1.1.3. Một số nghiên cứu nhân cách trên thế giới và tại Việt Nam Nghiên cứu của Jerome Kagan tại đại học Havard thực hiện trên 500 trẻ em sơ sinh ( từ 4 tháng tuổi) được bắt đầu thực hiện từ năm 1989 và vẫn tiếp tục đến hiện tại. Nghiên cứu này khẳng định bản chất phân biệt giữa người hướng nội và hướng ngoại là sự nhạy cảm với các kích thích bên ngoài. Một nghiên cứu của tác giả Haleh Saboori năm 2016 trên 200 học sinh trung học ở Tehran-Iran sử dụng thang EPQ (Eysenck Personality Questionnaire ) cho kết quả 44,7% học sinh có nhân
  • 19.
    12 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM cách hướng nội, 55,3% học sinh có nhân cách hướng ngoại [61]. Nghiên cứu năm 2017 của Pia Zeinoun và cộng sự về cấu trúc nhân cách rập – Levantine trên 806 đối tượng xác định được nhân cách gồm 6 yếu tố: 1- đạo đức, 2- sự chu đáo, 3- sự thống trị, 4- sự đồng nhất, 5- tích cực, 6- độ ổn định về cảm xúc. Nghiên cứu của Dr.Kalyani Kenneth trên 41 trẻ em về mối liên quan giữa tính cách và lòng tự trọng của trẻ sử dụng bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho thấy tương quan không có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố thần kinh và long tự trọng của trẻ ( r=- 0,23; p=0,23). Ngược lại có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố hướng ngoại- nội và lòng tự trọng của trẻ (r= 0,54; p<0,001). Nghiên cứu của Gibert Jessup và cộng sự về việc đào tạo thí điểm 205 học viên phi công sử dụng kết hợp bảng nghiệm kê nhân cách EPI để đánh giá. Kết quả cho thấy rằng việc đào tạo thí điểm thất bại có tỷ lệ cao nhất ở những người có nhân cách thần không ổn định và thấp nhất ở những người có nhân cách ổn định. Nghiên cứu của D. Bartram và cộng sự về việc lựa chọn ứng cử viên cho việc huấn luyện phi công trong quân đội điểm EPI đã được phân tích liên quan đến thành công trong việc đào tạo. Những người có nhân cách ổn định và hướng ngoại có khả năng thành công trong đào tạo hơn [50]. Thời kỳ đầu, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên cùng một số nhà khoa học khác là những người khảo cứu về con người Việt Nam, đặt nền móng cho vấn đề nghiên cứu về nhân cách người Việt. Về sau, các nhà tâm lý học Việt Nam chú ý nhiều hơn tới vấn đề nhân cách người Việt Nam, tiêu biểu phải kể đến các tên tuổi: Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc, Trần Trọng Thủy, Đồ Long, Nguyễn Quang Uẩn. Khái quát các nghiên cứu về nhân cách con người Việt Nam dưới góc độ tâm lý học có các hướng chính sau: Hướng thứ nhất, nghiên cứu tập trung làm rõ các đặc điểm, phẩm chất quan trọng của một số đối tượng cụ thể như: nhân cách người sĩ quan, nhân cách người Hà Nội, nhân cách người nông dân, nhân cách sinh viên … (1) Nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Châu trong năm 2002 là một trong những nghiên cứu theo hướng này, nghiên cứu thực hiện trên sinh viên trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nữ sinh viên có kiểu nhân cách hướng ngoại
  • 20.
    13 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM thích giao tiếp hơn, hiền lành, thiếu kiên định kém ý chí hơn nam sinh viên và dễ bị tình cảm chi phối; sinh viên nam có kiểu hướng nội, đằm tính, nhanh nhẹn, dễ nóng giận, nghiêm khác. Sinh viên khối xã hội là người hướng ngoại, trong đó sinh viên khối tự nhiên ưa quyền lực hơn và chịu được sự căng thẳng cao hơn [3] Nghiên cứu năm 2010 của Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Công với đề tài “Một số đặc điểm nhân cách sinh viên học các ngành học khác nhau” tiến hành trên 1182 sinh viên thuộc 8 trường đại học, cao đẳng thuộc thành phố Hà Nội và Đà Nẵng với khoảng 20 ngành học khác nhau. Nghiên cứu này đã cho thấy có sự khác biệt ở một số đặc điểm nhân cách giữa sinh viên các ngành học và giữa sinh viên nam và nữ. Sinh viên Nữ thể hiện tính dễ chịu, ngay thẳng và có thay đổi cảm xúc nhiều hơn nam, trong khi đó sinh viên nam thể hiện tính nhiệt huyết và trí tuệ cao hơn sinh viên nữ. Sinh viên ngành Nhân văn thể hiện sự hướng ngoại, nhiệt tình cao hơn so với sinh viên Sư phạm [35]. Hướng thứ hai, nghiên cứu tập trung về đối tượng đặc thù. Ở hướng nghiên cứu này, chủ yếu có các bài tạp chí quan tâm đến các vấn đề như sự hình thành và phát triển của hệ thống động cơ (học tập. lao động, động cơ thành đạt…; khả năng tự đánh giá, sự định hướng giá trị chung và định hướng giá trị trong các hoạt động khác nhau, thái độ trước những vấn đề xã hội khác nhau cũng như đối với những hoạt động khác nhau, tinh thần trách nhiệm, hứng thú và khả năng thích ứng. Theo hướng nghiên cứu này phải kể đến là nghiên cứu vào năm 2008 của Trần Anh Châu về tác động của một số đặc điểm nhân cách đến động cơ thành đạt của thanh niên cho thấy đặc điểm nhân cách ít ảnh hưởng đến khía cạnh thể hiện động cơ thành đạt [2] Hướng thứ ba, nghiên cứu về những yếu tố, những phẩm chất tâm lý quan trọng, tích cực thuộc về nhân cách thông qua các biện pháp tác động tâm lý-giáo dục. Nghiên cứu tập trung các vấn đề: hình thành động cơ nhân cách của hoạt động học tập, hình thành thái độ tích cực trong học tập và đối với các vấn đề xã hội hiện nay; hình thành khả năng tự đánh giá, đánh giá khách quan, phù hợp; giáo dục tinh thần trách nhiệm, giáo dục hình thành kĩ năng sống; …
  • 21.
    14 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Hướng thứ tư là các nghiên cứu về những nhân cách bệnh lý, nhân cách đang trong quá trình suy thoát, nhân cách phát triển lệch lạc. Những nghiên cứu này nhằm phát hiện những nguyên nhân sâu xa của sự lệch lạc để trên cơ sở đó có những biện pháp ngăn ngừa, trị liệu, giáo dục, tư vấn nhằm tạo một xã hội với những con người phát triển lành mạnh cả về thể chất lẫn tâm lý. Đối tượng nghiên cứu của hướng thứ tư này là: đặc điểm nhân cách của người nghiện ma túy; đặc điểm nhân cách của gái mại dâm; ảnh hưởng của nhóm bạn tiêu cực đến những hành vi lệch chuẩn, hành vi vi phạm pháp luật của trẻ vị thành niên … Ví dụ như nghiên cứu của Nguyễn Thị Duyên về mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt trên 303 học sinh THPT ở tỉnh Bắc Ninh sử dụng bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho kết quả những học sinh có nhân cách bình thản ít khi bị bắt nạt, kiểu nhân cách hoạt bát và ưu tư tỷ lệ học sinh bị bắt nạt cao hơn nhiều lần [8]. Luận án tiến sĩ tâm lý học xã hội năm 2002 của Phan Thị Mai Hương với đề tài “ Tìm hiểu đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội của thanh niên nghiện ma túy và mối liên hệ giữa chúng” cho thấy một số đặc điểm nhân cách nổi bật của nhóm đối tượng này. Một là đặc điểm chú trọng đến cảm xúc: mất cân bằng cảm xúc. Hai là phụ thuộc và thụ động. Ba là lối tư duy thử nghiệm và tầm nhìn hạn chế [20]. Cuối cùng, hướng thứ năm là nghiên cứu định lượng, lượng hóa các yếu tố nhân cách: thích ứng test sáng tạo, test đánh giá kĩ năng xã hội, test định hướng giá trị nhân cách,test đánh giá các mặt nhân cách của Cattell 16 PF. Nhìn chung với năm hướng nghiên cứu này, dù mỗi hướng có những đặc trưng riêng nhưng hội tụ lại cho thấy một bức tranh về nghiên cứu nhân cách ở Việt Nam có nhiều chiều và cho những kết quả nhất định. 1.2. Một số về nghiên cứu về các vấn đề cảm xúc hành vi Cuộc điều tra của Tổ chức Y tế thế giới vào năm 1990 (WHO) trên 60.559 người thuộc 14 quốc gia khác nhau bằng bộ câu hỏi CIDI nhằm xác định tỷ lệ bệnh tâm thần trong cộng đồng, thiệt hại do bệnh tâm thần gây ra [39]. Kết quả nghiên cứu thu được như sau (trích theo giáo trình “Dịch tễ học tâm thần, ĐH Y Phạm Ngọc Thạch, tác giả Đặng Hoàng Hải) [14]
  • 22.
    15 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Vùng và quốc gia Rối loạn tâm thần Suốt đời 12 tháng % Độ lệch chuẩn % Độ lệch chuẩn Châu Âu Ý 18 1.1 7.2 0.7 Tây Ban Nha 20 1.4 8.4 0.6 Đức 25 1.6 8.6 0.9 Bỉ 29 2.3 10 1.1 Hà Lan 21 3.1 11 0.9 Ukranie 33 1.7 19 1.3 Pháp 38 2 14 1.2 Châu Mỹ Mexico 25 1.1 13 0.9 Colombia 36 1.4 18 0.9 Mỹ 47 1.1 26 0.9 Châu Á Thành phố Bắc Kinh 17 2.4 9.3 1.6 Thành phố Thượng Hải 8.6 1.3 4.5 0.9 Nhật Bản 20 1.7 8.3 1.1 Theo tổ chức Y tế thế giới, thống kê nghiên cứu dịch tễ về vấn đề sức khỏe tâm thần ở thanh thiếu niên cho thấy: 20% trẻ em và thanh thiếu niên trên thế giới được tiên lượng là có rối loạn hay vấn đề về tâm thần. Trong đó khoảng ½ các rối loạn tâm thần bắt đầu từ trước lứa tuổi 14. Đây là vấn đề thực tế đang gặp phải và gây ra khó khăn, lo lắng cho nhiều gia đình [39]. Ngoài ra, rối loạn nhân cách trong đó có các vấn đề cảm xúc hành vi là một dạng tổn thương sức khỏe tinh thần [41].
  • 23.
    16 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Tại Việt Nam, tổng quan các bằng chứng về sức khỏe tâm thần ở Việt Nam cho thấy tỉ lệ hiện mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung đối với trẻ em và vị thành niên ở Việt Nam dao động từ 8% đến 29% và khác nhau theo tỉnh, giới tính và đặc điểm người trả lời và tùy thuộc vào phương pháp nghiên cứu. Một khảo sát về dịch tễ học gần đây trên mẫu đại diện quốc gia của 10 trong số 63 tỉnh/ thành cho thấy tỉ lệ trung bình các vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em khoảng 12% đồng nghĩa với việc hơn 3 triệu trẻ em có nhu cầu về các dịch vụ sức khỏe tâm thần. Các loại hình vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất trong trẻ em Việt Nam là các vấn đề hướng nội (lo âu, trầm cảm, cô độc …) và vấn đề hướng ngoại (tăng động, giảm chú ý). Trong khi đang gia tăng lo ngại về tỷ lệ tự tử trong thanh thiếu niên ở Việt Nam, tỷ lệ tự tử của Việt Nam được báo cáo là thấp đáng kể so với những ước tính toàn cầu. Trong một nghiên cứu ở 90 quốc gia, trên tổng số ca tử vong ở vị thành niên là 9,1%) trong khi ở Việt Nam, tỷ lệ này là 2.3% (Blum và cộng sự 2012). Tuy nhiên, lạm dụng chất, đặc biệt là thuốc lá là phổ biến trong nam vị thanh niên Việt Nam (gần 40%) [46]. Theo nghiên cứu do McKelvey và cộng sự thực hiện trên 1546 trẻ em từ 4 đến 18 tuổi ở hai khu vực dân cư tại Hà Nội bằng CBCL (bảng kiểm kê hành iv trẻ em dành cho cha mẹ) do bố mẹ các em thực hiện đồng thời thu thập thông tin về phía các em. Dựa theo tiêu chuẩn của Mỹ , từ độ tuổi 4 đến 11 có 5.3% trẻ nam và 7.7% trẻ nữ, từ độ tuổi 12 đến 18 có 9.5% trẻ nam và 10.1 trẻ nữ được coi là mắc các rối loại sức khỏe tâm thần. Viện sức khỏe tâm thần ban ngày Mai Hương, khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh trường học thành phố Hà Nội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế thế giới chuẩn hóa Việt Nam cho thấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1202 học sinh viên học và trung học cơ sở từ 10 đến 16 tuổi có tỷ lể vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung là 19.46%. Không có sự khác viể giới tính, cấp học, trường nội thành hay ngoại thành. Đặng Hoàng Minh và Hoàng Cẩm Tú năm 2009 sử dụng công cụ YSR thực hiện khảo sát trên 1727 học sinh, lứa tuổi 11-15 ở 2 trường THCS Hà Nội cho thấy trẻ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần là 10.94% [28]. Nghiên cứu “Điều tra tỉ lệ trẻ em và vị thành niên ở miền bắc có các vấn đề sức khỏe tâm thần” trên 240 trẻ vị thành niên tuổi từ 12 đến 16 ở các tỉnh, thành phố: Hà
  • 24.
    17 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Nội, Thái Nguyên, Hải Phòng, Hòa Bình của Nguyễn Cao Minh cho thấy có khoảng 18% số trẻ gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Nam và nữ có tỉ lệ cân bằng [26]. Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu tỉ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên ở Việt Nam từ 9% đến 20%. 1.3. Mối liên hệ giữa nhân cách và các vấn đề hành vi cảm xúc Trong quá trình nhân cách phát triển, nó sẽ đi theo hai hướng: Hướng tích cực: Là những nhân cách phát triển phù hợp với giá trị xã hội; Hướng bệnh lý: Là những nhân cách phát triển không phù hợp với giá trị xã hội. Một nhân cách bình thường là một nhân cách mà quá trình phát triển của nó đi theo các chuẩn mực chung được xã hội thừa nhận. Sự phát triển đó được cá nhân thừa nhận và là động lực cho sự phát triển của cá nhân. Một nhân cách bình thường được đánh giá bởi các tiêu chí sau: Tính sẵn sàng trải nghiệm; Sự tận tâm; Tính hướng ngoại; Tính dễ hợp; Nhiễu tâm. Tiêu chí để đánh giá sự hình thành nhân cách mỗi cá nhân là tính tích cực hoạt động của cá nhân đó. Nếu không tham gia hoạt động, cá nhân sẽ không hình thành được tâm lý, ý thức, nhân cách theo đó cũng không được hình thành. Một nhân cách được hình thành từ hoạt động của chính họ. Do đó, sẽ là không bình thường nếu một nhân cách thể hiện sự không sẵn sàng trải nghiệm. Mặt khác, bản chất hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, có mục đích. Bất kể một hoạt động nào, dù là tốt hay xấu thì cũng đều vì một mục đích nhất định. Nếu hoạt động của con người không thể hiện mục đích, sự cố gắng, tận tâm của chủ thể thì đó cũng có thể là dấu hiệu của một nhân cách không bình thường. Điều này thấy rõ ở những người làm mà không biết mình làm gì, hoặc thậm chí không biết là mình đang làm, hoặc ở những người thực hiện hoạt động một cách hời hợt, không có trách nhiệm, không hướng đến mục tiêu. Điều kiện để nhân cách phát triển là thực hiện hoạt động và xác lập các mối quan hệ xã hội qua giao tiếp. Giao tiếp giúp mỗi cá nhân lĩnh hội được chuẩn mực của xã hội, hiện hữu trong các chế tài, quy định, hoặc trong cách ứng xử của những người xung quanh. Nếu một người không giao tiếp, không thể hiện tính hướng ngoại thì sẽ không có đủ thông tin để đối chiếu với bản thân, qua đó
  • 25.
    18 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM quá trình phân tích thông tin có thể phiến diện, dẫn đến cac vấn đề trong quá trình phát triên nhân cách. Tính dễ hợp về bản chất chính là tính linh hoạt, dễ thích nghi của nhân cách. Để duy trì những thuộc tính ổn định nhân cách cần linh hoạt trong các giai đoạn phát triển. Nếu không đạt được tiêu chí này, một nhân cách không thể tham gia vào các quá trình hoạt động và giao tiếp khác nhau, điều này có thể là hạn chế đối với sự phát triển của nhân cách. Mặt khác, một nhân cách bình thường là một nhân cách có những nhiễu tâm, nhận thức được những nhiễu tâm đó và có nhu cầu giải quyết nó. Khi nhân cách không thể nhận thức được rằng mình có nhiễu tâm, phủ nhận những vấn đề tâm lý của mình là nhân cách có dấu hiệu bệnh lý. Hoặc khi các nhiễu tâm không được giải quyết, duy trì và phát triển trong suốt cuộc đời con người trở thành các nhân cách bệnh lý. Một nhân cách không đáp ứng các tiêu chuẩn trên có thể được xem xét như là đang trong trạng thái rối loạn. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn tâm thần lần thứ V của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (DSM V), rối loạn nhân cách được chẩn đoán trên cơ sở các tiêu chí sau: - Những mẫu hình hành vi bền vững và trải nghiệm bên trong sai lệch so với các chuẩn mực văn hóa cá nhân. - Không linh hoạt một cách tương đối và lan tỏa hầu khắp các tình huống cá nhân và xã hội. - Làm đau khổ hoặc làm yếu kém chức năng một cách đáng kể. - Mẫu hình ổn định, lâu dài và khởi đầu trước khi trưởng thành. - Không phải là nguyên nhân của việc dùng thuốc. Hiện nay, những nhà chuyên môn sử dụng các bộ tiêu chí khác nhau để đánh giá, chẩn đoán và phân loại các rối loạn nhân cách. Nhưng về cơ bản, có hai bộ tiêu chí được sử dụng rộng rãi và chính thống nhất trên thế giới là: Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10” (ICD 10) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và “Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần lần thứ 5” (DSM V) của Hiệp hội Tâm thần Mỹ. Dù cách trình bày khác nhau, thuộc hai lĩnh vực khác nhau (Y học và Tâm lý
  • 26.
    19 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM học), nhưng nhìn chung, cả hai bảng phân loại này đều hướng đến các nhóm bệnh như: Rối loạn cảm xúc; Rối loạn hành vi; Rối loạn phát triển thần kinh; Rối loạn tâm thần phân liệt và các rối loạn loạn thần ngắn; Rối loạn sinh lý và yếu tố thể chất; Rối loạn liên quan nghiện chất; Rối loạn nhân cách [46] Như vậy, bản chất đặc điểm nhân cách và rối loạn nhân cách có liên quan với nhau, một trong những đặc trưng của rối loạn nhân cách là các vấn đề cảm xúc hành vi. Ngoài ra, rối loạn nhân cách là một dạng tổn thương sức khỏe tinh thần [13]. Theo nghiên cứu của Davidson vào năm 2000, những rối loạn nhân cách thường đi kèm với những rối loạn khác về cảm xúc/khí sắc. Cũng theo nghiên cứu nói trên, từ 24-27 % người rối loạn nhân cách cũng bị trầm cảm chủ yếu, và khoảng từ 4-20% bị trầm cảm lưỡng cực. Tuy không biết chính xác tần số xảy ra đồng thời của rối loạn lo âu, nhưng người ta cho rằng ở những người rối loạn nhân cách, tỉ lệ này lớn hơn so với tỉ lệ chung. Trong nghiên cứu của APA năm 2000 cũng chỉ rõ rối loạn chống đối xã hội và ái kỉ phổ biến hơn ở nam, trong đó có rối loạn kiểu đóng kịch và rối loạn ranh giới lại phổ biến hơn ở nữ. Sau đâu là một giả định mô tả sơ lược về rối loạn nhân cách chống đối xã hội, được đưa ra bởi mô hình 5 yếu tố về nhân cách dành cho rối loạn nhân cách chống đối xã hội [52]:  Trạng thái nhiễu tâm nhẹ: thiếu quan tâm đúng mức tới những vấn đề của sức khỏe hay sự điều chỉnh xã hội; nhạt nhẽo về mặt cảm xúc.  ít hướng ngoại: cô lập về mặt xã hội, tách mình ra khỏi các mối quan hệ liên cá nhân và thiếu một hệ thống hỗ trợ xã hội; cảm xúc cùn mòn; thiếu niềm vui và sự say mê cuộc sống; miễn cưỡng khẳng định bản thân hoặc thừa nhận các vai trò xã hội, thậm chí cả khi được đánh giá cao; hạn chế về mặt xã hội và nhút nhát.  Thiếu cởi mở: khó thích nghi với thay đổi về xã hội và con người; kém chịu đựng hoặc ít hiểu được những quan điểm khác hay các kiểu sống khác; lạnh nhạt về cảm xúc và không thể hiểu cũng như diễn đạt thành lời những cảm giác của chính mình; mất nhận thức cảm xúc; thu hẹp phạm vi hứng thú; vô cảm với nghệ thuật và thẩm mĩ; tuân theo quyền lực một cách thái quá.  Khó đồng tình: ý nghĩ hoài nghi và ý tưởng giống hoang tưởng; không có khả năng tin tưởng ngay cả bạn bè hay gia đình; dễ nổi cáu; luôn sẵn sàng đánh
  • 27.
    20 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM nhau; thích liều lĩnh và lôi kéo; nói dối; ứng xử thiếu lịch sự và thiếu quan tâm làm cho bạn bè xa lánh, làm hạn chế sự cảm thông từ phía xã hội; thiếu tôn trọng những quy tắc xã hội dẫn đến rắc rối với pháp luật; cảm giác về bản thân được thổi phồng và phô trương; kiêu căng ngạo mạn.  Thiếu lương tâm: làm việc kém; không đáp ứng những tiềm năng trí tuệ và nghệ thuật; biểu hiện học thuật liên quan đến khả năng nghèo nàn; vô kỉ luật và thiếu trách nhiệm dẫn đến những rắc rối với pháp luật; không có khả năng tự kỉ luật với bản thân (chẳng hạn như tuân theo chế độ ăn uống hay kế hoạch tập luyện) thậm chí cả khi bị yêu cầu vì những lí do y tế; không quan tâm đến bản thân và có những mối bận tâm bâng quơ. Quan điểm chiều hướng này không chỉ được đưa ra trong lĩnh vực lí thuyết và triết học mà nó còn tỏ ra hữu dụng hơn trong việc tiên lượng, so với hướng tiếp cận của DSM. Chẳng hạn, Ullrich và cộng sự (2001) tìm ra rằng kết quả test nhân cách còn có thể dùng để tiên lượng những hành vi lệch chuẩn tiếp theo tốt hơn so với các hạng mục chẩn đoán rối loạn nhân cách chống đối xã hội. Qua các nhà lâm sàng, Heumann và Morey (1990) cũng đã nhận thấy điểm chiều hướng đáng tin cậy hơn so với chẩn đoán theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM. Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách với các vấn đề cảm xúc hành vi như nghiên cứu của Nguyễn Thị Duyên về mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt trên 303 học sinh THPT ở tỉnh Bắc Ninh sử dụng bảng nghiệm kê nhân cách EPI cho kết quả những học sinh có nhân cách bình thản ít khi bị bắt nạt, kiểu nhân cách hoạt bát và ưu tư tỷ lệ học sinh bị bắt nạt cao hơn nhiều lần [8]. Luận án tiến sĩ tâm lý học xã hội năm 2002 của Phan Thị Mai Hương với đề tài “ Tìm hiểu đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội của thanh niên nghiện ma túy và mối liên hệ giữa chúng” cho thấy một số đặc điểm nhân cách nổi bật của nhóm đối tượng này. Một là đặc điểm chú trọng đến cảm xúc: mất cân bằng cảm xúc. Hai là phụ thuộc và thụ động. Ba là lối tư duy thử nghiệm và tầm nhìn hạn chế [20]. Nghiên cứu của Lê Thị Huyền về “ĐẶc điểm nhân cách và rối loạn trầm cảm của học sinh trung học phổ thông Cầu Giấy – Hà
  • 28.
    21 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Nội năm học 2016 – 2017” cũng cho thấy mối tương quan giữa các mặt của nhân cách với rối loạn trầm cảm. Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam đã có những nghiên cứu bước đầu cho thấy có mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào một nhóm đối tượng, cụ thể ở đây là sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin để tìm ra mối tương quan giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi, đồng thời dự báo xu hướng nhân cách có nguy cơ gặp các vấn đề cảm xúc hành vi. Nghiên cứu này của chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề trên. 1.4. Một số khái niệm cơ bản 1.4.1. Nhân cách 1.4.1.1. Định nghĩa Theo từ điển oxford - từ điển xã hội học định nghĩa về nhân cách (personality): Nhân cách là một trong vài khái niệm được các nhà khoa học xã hội sử dụng để nói đến cá nhân. Khái niệm có nguồn gốc tiếng Latinh personal (nghĩa là “mặt nạ”), và nói đến một tập hợp các đặc tính ít nhiều ổn định, theo đánh giá và phán xét của người khác, giúp phân biệt một cá nhân này với một cá nhân khác. Những đặc tính này được cho là bền vững qua không gian và thời gian, và chi phối hành vi. Do đó thuật ngữ nhân cách nói đến cá nhân như một đối tượng (đối tượng của sự đánh giá bên ngoài), trong khi khái niệm cái tôi nói đến cá nhân như một chủ thể (như nguồn gốc của hành động và tự thể hiện)”. Nhân cách đã có ba định nghĩa khác nhau trong các tác phẩm phương Tây trong 2.000 năm qua. Quan niệm sớm nhất đề cập đến các loại hồ sơ tâm lý riêng biệt được gây ra bởi sự cân bằng đặc biệt giữa các chất sinh học máu, đờm, mật vàng và đen. Sự cân bằng giữa bốn nhóm luôn được theo dõi bởi chế độ ăn uống và khí hậu, đã tạo thành một tập hợp các loại tính cách riêng biệt. Galen đã gọi bốn loại này là máu, melancholic, đờm và choleric. Theo lịch sử tâm lý học, mỗi trường phái tâm lý khác nhau có những quan điểm khác nhau. Theo Freud, người sáng lập ra Phân tâm học, thì nhân cách là một bộ máy tâm
  • 29.
    22 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM thần, trong đó trung tâm của bộ máy đó là vô thức. Theo lý thuyết hành vi của mình, trong đó đại diện là Skinner, thì nhân cách được cho là tập hợp các hành vi tạo tác. Theo lý thuyết học tập xã hội, với đại biểu là Bandura, thì nhân cách được cho là tập hợp các hành vi tập nhiễm. Trường phái tâm lý học nhân văn, đại biểu là Maslow và Rogers cho rằng nói đến nhân cách là phải nói đến sức mạnh tiềm năng, ẩn tang trong mỗi con người, là sự phát triển của các tôi với khuynh hướng hiện thực hóa bản thân. Các nhà tâm lý học hoạt động thì lấy phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biến chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sự làm cơ sở lý luận cho rằng khi bàn đến nhân cách cần nói đến các mặt: Tính tích cực của chủ thể; Nhân cách gắn liên với nền văn hóa và lịch sự xã hội; Nhân cách là thái độ của cá nhân đối với xã hội, với người khác và với chính minh [41]. Nhân cách là tổ chức phức tạp của nhận thức, ảnh hưởng và hành vi mang lại định hướng và khuôn mẫu (sự gắn kết) cho cuộc sống của con người. Nhân cách của con người bao gồm cả cấu trúc và quá trình và phản ánh cả bản chất (gen) và kinh nghiệm nuôi dưỡng. [51] Tiếp thu quan điểm của trường phái Tâm lý học hoạt động, các nhà Tâm lý học Việt Nam cũng đưa ra một số quan niệm về nhân cách như sau: Nhân cách là một khái niệm gắn với con người, là một con người đầy đủ Đức và Tài. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người” [11]. Tổng quan lại, ở những góc độ nghiên cứu các nhau, các nhà khoa học đưa ra các định nghĩa và cách hiểu về khái niệm nhân cách cũng khác nhau. Tuy nhiên, trong sự đa dạng đó, vẫn có những sự tương đồng giống nhau. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về nhân cách theo quan điểm của tác giả Phạm Minh Hạc và cộng sự cho rằng “Nhân cách của con người là hệ thống các thái độ của mỗi người, thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của cộng
  • 30.
    23 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM đồng và xã hội. Độ phù hợp càng cao nhân cách càng lớn [13]. 1.4.1.2. Đặc điểm nhân cách Với quan điểm về nhân cách như trên, nhân cách gồm 4 đặc điểm sau: tính ổn định, tính thống nhất, tính tích cực và tính giao lưu. Tính ổn định của nhân cách thể hiện ở sự ổn định, có thay đổi, khó mất đi tạo thành đặc trưng của mỗi cá thể. Để hình thành nhân cách, cần một thời gian, một quá trình lâu dài. Tuy nhiên nhân cách cũng không phải bất biến do trong trong suốt quá trình hình thành, nhân cách trải qua nhiều biến cố, có một số nét nhân cách thay đổi tuy nhiên tổng quan chung thì nhân cách vẫn tương đối ổn định. Tính ổn định của nhân cách giúp chúng ta dự đoán được những xu hướng hoạt động của nhân cách, cụ thể là hành vi, thái độ, cách cư xử của một người trong những tính huống, hoàn cảnh khác nhau. Tính thống nhất là sự phù hợp giữa các mặt, các thuộc tính, các đặc điểm của nhân cách thành một khối hoàn chỉnh. Tính thống nhất còn thể hiện sự phù hợp giữa nhân cách trong quá khứ với nhân cách hiện tại và tương lai. Tính thống nhất của nhân cách còn thể hiện ở sự phù hợp giữa ba cấp độ: cấp độ nhân cách cá nhân, cấp độ liên nhân cách, cấp độ siêu nhân cách. Tính tích cực của nhân cách thể hiện xu hướng hoàn thiện của nhân cách ở các mặt: Thứ nhất, nhân cách được hình thành do tính tích cực hoạt động và giao lưu ở mỗi cá nhân. Nhờ hoạt động, giao tiếp, nhân cách bộc lộ các phẩm chất, năng lực của bản thân. Sự bộc lộ đó được đối chiếu với sự bộc lộ của các nhân cách kahcs, qua đó các nhân cách giao lưu và ảnh hưởng, học hỏi lẫn nhau, giúp mỗi cá nhân tự biết duy trì các nét nhân cách tích cực, dập tắt các nét nhân cách tiêu cực của mình. Vì vậy, có thể nói tính tích cực của nhân cách thể hiện xu hướng hoàn thiện nhân cách trong quá trình phát triển của nó. Tính giao lưu của nhân cách thể hiện qua các hoạt động giao tiếp, thông qua đó các cá thể ảnh hưởng và tác động lẫn nhau giúp nhân cách phát triển. Tính giao lưu tác động đến nhân cách theo hai hướng: vừa là cơ hội để học hỏi, phát triển nhân cách; cũng vừa là thách thức để các nhân cách soi lại bản thân và tự điều chỉnh bản thanam vượt qua các ảnh hưởng tiêu cực từ quá trình giao lưu, lan tỏa ảnh
  • 31.
    24 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM hưởng tốt đẹp đến những nhân cách rối loạn trong xã hội. 1.4.1.3. Cấu trúc của nhân cách Cũng giống như định nghĩa về nhân cách, có rất nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc của nhân cách và về các thành tố cấu thành nên nó cũng như mối quan hệ giữa các thành tố này làm cho nhân cách trở thành một chỉnh thể trọn vẹn.  Quan niệm coi nhân cách bao gồm ba lĩnh vực cơ bản là: nhận thức ( bao gồm cả tri thức và năng lực trí tuệ), rung cảm (linh cảm và thái độ) và ý chí ( phẩm chất ý chí, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen)  Quan niệm coi nhân cách gồm bốn tiểu cấu trúc : xu hướng ( thế giới quan, lý tướng, hứng thú, tâm thế...), kinh nghiệm ( tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen), đặc điểm của các quá trình tâm lý ( các phẩm chất trí tuệ, ý chí, đặc điểm của xúc cảm, tình cảm), các thuộc tính sinh học quan trọng ( khí chất, giới tính, lứa tuổi, các đặc điểm bệnh lý..) [43]  Quan niệm nhân cách có nhiều tầng: tầng nổi sáng tỏ bao gồm ý thức, tuệ ý thức và ý thức nhóm và tầng “sâu” tối tăm ( bao gồm tiềm thức và vô thức)  Quan niệm về các mặt đào tạo của nhân cách: đức, trí, thể, mỹ... Ở Việt Nam, quan niệm cấu trúc nhân cách bao gồm hai mặt đức và tài (hay phẩm chất và năng lực) có mối quan hệ thống nhất với nhau được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận. Dựa theo mô hình 5 mặt lớn của Costa & Mc Crae (Costa và cộng sự năm 1985; 1998), trắc nghiệm NEO-PI-R được sử dụng trong nghiên cứu này coi nhân cách gồm 5 mặt là N (Neuroticism): nhiễu tâm, mặt E (Extraverson): hướng ngoại, mặt O (Openness): cởi mở, mặt A (Agreeableness): đồng thuận và mặt C (Conscienticousness): tính tận tâm. Mỗi mặt có một ý nghĩa riêng.  Nhiễu tâm (Neuroticism-N) đánh giá sự bất ổn định về cảm xúc, nhận ra những người dễ rơi vào stress tâm lý, những ý tưởng phi thực tế, những khao khát thái quá.  Hướng ngoại (Extraverson): mặt này đánh giá số lượng và cường độ các tương tác liên cá nhân, mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng.
  • 32.
    25 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM  Cởi mở (Openness) là mặt mô tả việc lao vào thử nghiệm, đánh giá cao sự nắm giữ kinh nghiệm, khả năng tìm kiếm những cái mới lạ.  Đồng thuận/dễ chấp nhận (Agreeableness): Đánh giá chất lượng sự định hướng liên cá nhân của con người theo một mức độ liên tục từ sự đồng tình đến đối nghịch trong suy nghĩ, cảm giác và hành động.  Tận tâm (Conscientiousness): mặt này đánh giá mức độ tổ chức, uy tín, động cơ trong hành vi hướng tới mục đích của cá nhân. Nó tương phản giữa những cá nhân phụ thuộc, khó tính với những người độc lập và mềm mỏng. Thang đo NEP-PI-R đang bắt đầu được sử dụng phổ biến hơn trong đánh giá nghề nghiệp ở châu Á (cheung 2004). Thang đo này đã được dịch, thử nghiệm, thích nghi bằng tiếng việt và nghiên cứu, cho thấy độ tin cậy và độ hiệu lực cao (Trần Văn Công và cộng sự 2016). 1.4.2. Vấn đề cảm xúc hành vi Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), sức khỏe tâm thần nói đến một loạt các yếu tố có thể trực tiếp và gián tiếp liên quan đến sự lành mạnh về tâm trí, một yếu tố quan trọng trong định nghĩa của WHO về sức khỏe “là trạng thái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội mà không phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật”[37]. Cũng theo WHO, vấn đề sức khỏe tâm thần bao gồm rất nhiều các vấn đề khác nhau từ nhẹ đến nặng với nhiều triệu chứng khác nhau. Tuy nhiên, một cách khái quát, những triệu chứng này là sự kết hợp giữa suy nghĩ, cảm xúc, hành vi lệch lạc và mối quan hệ với người khác lệch lạc. Các vấn đề tâm thần có thể là trầm cảm, lo âu, stress… đến chậm phát triển và các rối loại liên quan đến việc lạm dụng chất gây nghiệm. Những biểu hiện này ảnh hưởng đến chức năng cuộc sống hiện tại của người đó. Cứ ba người thì có một người gặp vấn đề sức khỏe tâm thần. Và trong đời người ai cũng có ít nhất một lần trải qua vấn đề sức khỏe tâm thần [35]. Về bản chất, các rối loạn nhân cách bao gồm các vấn đề cảm xúc hành vi là một dạng tổn thương sức khỏe tâm thần [13] Đi kèm với khái niệm vấn đề sức khỏe tâm thần còn có khái niệm rối loạn tâm thần, rối loạn nhân cách. Rối loạn tâm thần dùng đề chỉ những suy nghĩ, cảm
  • 33.
    26 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM xúc, hành vi bị lệch lạc ở mỗi cá nhân và những biểu hiện này ảnh hưởng đến chức năng cuộc sống hiện tại của cá nhân đó. Một người có thể có vấn đề sức khỏe thâm thần nhưng không bị rối loạn tâm thần nếu vấn đề đó không ảnh hưởng đến chức năng cuộc sống (gia đình, công việc, học tập …). Ví dụ một người sợ tiếng nhạc to, người đó có thể gặp vấn đề sức khỏe tâm thần những không gặp rối nhiễu tâm thần nếu chứng sợ tiếng nhạc to của họ không cản trở cuộc sống bình thường của họ. Trong trường hợp người đó phải làm việc, công tác hoặc đến những nơi có tiếng nhạc to, chứng sợ tiếng nhạc to ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của người đó thì trường hợp này sẽ xác định là rối nhiễu tâm thần. Hiện nay trên thế giới cho hai bảng phân loại về sức khỏe tâm thần được sử dụng rộng rãi đó là cẩm nang chuẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần lần thứ năm của hiệp hội tâm thần Mỹ lần thứ năm (DSM V) và bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ mười (ICD 10). Hai bảng phân loại này ra đời giúp công tác chẩn đoán được rõ ràng và hợp lý, thúc đẩy sự phát triển nghiên cứu bên dịch tế học. Trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa trên bảng phân loại của DSM V để nghiên cứu một số vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến. 1.4.3. Sinh viên 1.4.3.1. Định nghĩa sinh viên Tổ chức y tế thế giới (WHO) quy định: những người trẻ tuổi là những người trong độ tuổi 10-24 tuổi, thanh niên là những người trong độ tuổi 15-24 tuổi, thanh thiếu niên là những người trong độ tuổi 10-19 tuổi. Như vậy sinh viên năm nhất và sinh viên năm hai sẽ nằm trong độ tuổi 18-19 tuổi, thuộc độ tuổi thanh thiếu niên [38]. Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “student” nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm khai thác chi thức. Hiện nay, khái niệm sinh viên được toàn xã hội sử dụng rộng rãi và được chấp nhận với nghĩa: sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được công nhận qua những bằng cấp trong quá trình học họ đạt được. Quá trình học của họ theo hình thức chính qua, nghĩa là qua tiểu học, trung học rồi thi vào đại học [38].
  • 34.
    27 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 1.4.3.2. Đặc điểm tâm lý sinh viên có liên quan đến các vấn đề cảm xúc hành vi Theo các nhà tâm lý học, sinh viên là những người thuộc độ tuổi 18 đến 25, về cơ bản con người độ tuổi này đã đạt đến độ trưởng thành cả về thể chất và tinh thần. Sự hoàn thiện này cho phép sinh viên giải quyết những vấn đề mang tính trọng đại, quyết định đến nhân cách của họ một cách độc lập. Sự thích nghi với môi trường và phương pháp học tập mới: một trong những sự kiện đánh dấu sự trưởng thành của sinh viên là khi các em bắt đầu bước chân vào đại học, nhiều bạn sẽ lần đầu phải rời xa gia đình đến môi trường ở mới, bạn bè mới, ngôi trường mới, phương pháp học tập hoàn toàn mới. Tại đây, sinh viên gặp một loạt các mâu thuẫn cần giải quyết: + Mâu thuẫn giữa ước mơ, mong muốn của sinh viên với khả năng thực hiện ước mơ đó. + Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu sâu môn học mình yêu thích với yêu cầu phải thực hiện toàn bộ chương trình học theo thời gian biểu nhất định. + Mâu thuẫn giữa lượng thông tin nhiều trong xã hội với thời gian và khả năng có hạn. Việc giải quyết các mâu thuẫn trên khiến không ít sinh viên cảm thấy lo lắng và gặp nhiều khó khăn về tâm lý. Tự ý thức của sinh viên: Cùng với quá trình học tập và thích nghi môi trường mới, quá trình tự ý thức của sinh viên cũng được phát triển và trưởng thành hơn. Tuy nhiên có hai xu hướng tự đánh giá sinh viên cần tránh là đánh giá quá cao (kiêu ngạo) hoặc đánh giá quá thấp (tự ti) về bản thân, hai xu hướng đánh giá này đều không tốt cho sự phát triển nhân cách và quá trình phát triển bản thân của sinh viên. Động cơ và định hướng giá trị cho sinh viên: quá trình chuyển cấp từ phổ thông lên đại học khiến sinh viên được tiếp xúc nhiều hơn với con người và văn hóa nhiều vùng miền khác nhau. Từ những văn hóa và con người này hình thành cho sinh viên nhiều giá trị sống phù hợp để tránh những căng thẳng và thích nghi với cuộc sống mới.
  • 35.
    28 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM TIÊU KẾT CHƯƠNG 1 Chương 1 đã trình bày tổng quan về một số lý thuyết nhân cách và điểm qua một số nghiên cứu về nhân cách trên thế giới và tại Việt Nam, một số nghiên cứu về các vấn đề cảm xúc hành vi trên thế giới và tại Việt Nam. Đồng thời chỉ rõ cơ sở lý luận cho mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi. Theo đó, hiện chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam đi sâu vào một nhóm đối tượng, cụ thể ở đây là nhóm sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin để làm rõ mối liên quan giữa đặc điểm nhân cách với các vấn đề cảm xúc hành vi, đồng thời dự báo xu hướng nhân cách có thể gặp phải các vấn đề cảm xúc hành vi. Bên cạnh đó, chương 1 cũng đã làm rõ các khái niệm công cụ bao gồm nhân cách, đặc điểm nhân cách, các vấn đề cảm xúc hành vi, sinh viên. Đặc biệt chúng tôi đã trình bày một cách khái quát về lý thuyết nghiên cứu nhân cách mà chúng tôi sử dụng ở nghiên cứu này: mô hình 5 mặt lớn của Costa & Mc Crae, đặc biệt là trắc nghiệm NEO-PI-R 60.
  • 36.
    29 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Khách thể nghiên cứu 2.1.1. Đặc điểm của khách thể Mẫu khách thể mà đề tài lựa chọn là 325 sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin trường đại học FPT. Sau khi thu thập số liệu và thống kê trên cơ sở phiếu trả lời, phân bố của các khách thể theo các biến nhân khẩu học được thể hiện dưới bảng sau: Số lượng % Giới tính Nam 256 sinh viên nam 78.77 Nữ 69 sinh viên nữ 21.23 Sở dĩ chúng tôi lựa chọn mẫu như vậy vì một số lý do sau: Thứ nhất, sinh viên ngành công nghệ thông tin tại trường đại học FPT đến từ nhiều tỉnh thành trên toàn Việt Nam. Thứ hai, sinh viên ngành công nghệ thông tin đang theo học tại trường đại học FPT xuất phát điểm đa dạng từ nhiều đối tượng: + Đối tượng 1: sinh viên có học bổng (50% – 100%) thường là sinh viên có thành tích học tập tốt. + Đối tượng 2: sinh viên lựa chọn FPT là nguyện vọng 2 sau khi thi đại học những trường tốp đầu không đỗ, đây chủ yếu là sinh viên có thành tích học tập khá. + Đối tượng 3: sinh viên xét tuyển học bạ để vào FPT thường có thành tích học phổ thông mức trung bình khá. Trong 3 đối tượng trên cũng xen kẽ các trường hợp con nhà có điều kiện, trung bình hoặc khó khăn. Như vậy, mẫu khách thể lựa chọn là đa dạng về học lực, điều kiện kinh tế … mang tính đại diện cho sinh viên ngành công nghệ thông tin đến từ nhiều tỉnh thành trên toàn cả nước. Tiến trình nghiên cứu: - Nghiên cứu lý luận từ tháng 1 /2019 đến tháng 8 /2019 Hệ thống hóa cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu bao gồm các khái niệm: nhân cách, sức khỏe tâm thần/vấn đề cảm xúc hành vi, sinh viên.
  • 37.
    30 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Lựa chọn khách thể nghiên cứu (tháng 9 /2019): bao gồm chuẩn bị giấy tờ hành chính, liên hệ lãnh đạo đơn vị, chuẩn bị trắc nghiệm. - Thu thập dữ liệu (tháng 2 /2020): dữ liệu được thu thập từ đối tượng nghiên cứu và được kiểm tra đầy đủ. - Nhập dữ liệu và làm sạch dữ liệu (tháng 2 năm 2020): dữ liệu được chúng tôi nhập vào SPSS và được phân tích bằng thống kê. Viết báo cáo luận văn (tháng 2/2020 đến tháng 5/2020): viết và hoàn thiện luận văn. 2.2. Địa bàn nghiên cứu Trường Đại học FPT nằm ở km29 đại lộ Thăng Long, khu giáo dục đào tạo, khu công nghệ cao Hòa Lạc, Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội. Trường được thành lập từ năm 2006. Đây là trường Đai học đầu tiên do một doanh nghiệp thành lập, có cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học hiện đại bậc nhất Việt Nam. Trường có mức học phí khoảng 280 triệu cho 4 năm, đây là mức học phí tương đối cao so với mặt bằng học phí các trường Đại học nói chung. Tuy nhiên, trường có nhiều chính sách khuyến học với nhiều loại học bổng dành cho sinh viên từ 20%, 50%, 70%, 100% đến 140%. Vì vậy trường Đại học FPT là ngôi trường tiếp nhận nhiều loại đối tượng sinh viên khác nhau. Từ những sinh viên xuất phát điểm thời phổ thông là giỏi, xuất sắc được nhận học bổng của trường đến những sinh viên khá thi vào trường và cả những đối tượng sinh viên xuất phát điểm với sức học trung bình khá được xét học bạ vào trường. Chính sự khác biệt về lực học sinh viên ở ngôi trường này tạo nên một bức tranh tổng quan đa dạng về sinh viên học ngành công nghệ thông tin đến từ nhiều tỉnh thành trên cả nước, đặc biệt là khu vực phía bắc. Điều này tạo nên sự đa dạng về nhân cách cũng như các vấn đề cảm xúc hành vi mà sinh viên ngành công nghệ thông tin có thể gặp phải. 2.3. Tổ chức nghiên cứu Khi xác định được địa bàn nghiên cứu, được sự đồng ý của lãnh đạo cấp trên, chúng tôi liên hệ phòng đào tạo của trường để xin danh sách và thông tin liên hệ của sinh viên năm nhất và sinh viên năm hai.
  • 38.
    31 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Tiếp theo, chúng tôi chọn lọc lấy sinh viên ngành công nghệ thông tin. Trong số hàng ngàn sinh viên năm nhất và năm hai ngành công nghệ thông tin, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 600 sinh viên ngành công nghệ thông tin và tổ chức các buổi gặp mặt trực tiếp hoặc trực tuyến để hướng dẫn từng nhóm sinh viên làm trắc nghiệm. Trong quá trình làm trắc nghiệm, chúng tôi đảm bảo không gian yên tĩnh, khoảng cách giữa các bạn sinh viên đủ để các bạn không trao đổi được với nhau và không nhìn thấy bài làm trắc nghiệm của nhau. Chúng tôi hướng dẫn lần lượt cách làm từng trắc nghiệm: từ trắc nghiệm Neo Pi-R 60 đến trắc nghiệm YSR. Hướng dẫn một lượt nội dung câu hỏi và cách làm từng câu hỏi. Chúng tôi để sinh viên tự trả lời từng câu trong trắc nghiệm, nếu có thắc mắc thì sẽ hỏi và nghiên cứu viên sẽ trả lời câu hỏi. Sau khi sinh viên trả lời xong, chúng tôi thu lại phiếu trắc nghiệm và kiểm tra kỹ thông tin cũng như đảm bảo tính hợp lệ của trắc nghiệm. Một bộ phiếu khảo sát bao gồm 2 trắc nghiệm: NEO PI-R 60 và YSR. Các sinh viên không gửi lại phiếu trả lời khảo sát hoặc gửi lại phiếu trắng đồng nghĩa với việc từ chối tham gia nghiên cứu. Số phiếu phát ra là 330 phiếu, sau khi loại bỏ các phiếu không hợp lệ, chúng tôi thu được 325 phiếu đáp ứng đủ độ tin cậy để tiến hành xử lý số liệu. 2.4. Phương pháp nghiên cứu 2.4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận Mục đích: Hệ thống hóa cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu Nội dung: Xác định một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, bao gồm các khái niệm về nhân cách, sức khỏe tâm thần, vấn đề cảm xúc hành vi, sinh viên. Phương pháp: phương pháp nghiên cứu lí luận là phương pháp hệ thống hóa lý thuyết từ những công trình nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước đã được báo cáo hoặc đăng tải trên các sách báo, tạp chí và website về các vấn đề liên quan đến đề tài.
  • 39.
    32 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Các giai đoạn của phương pháp là thu thập, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa. 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu bảng hỏi (anket) 2.4.2.1. Công cụ đánh giá đặc điểm nhân cách NEOPI-R 60 Công cụ đánh giá đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin theo thuyết 5 nhân tố lớn. Nghiên cứu này sử dụng NEO-60VN làm công cụ đo đạc, trắc nghiệm này được thích nghi tại Việt Nam từ trắc nghiệm NEP-PI-R (Trần Văn Công và cộng sự 2016). Trắc nghiệm gồm 60 câu, với câu trả lời được thiết kế theo dạng Likert 5 điểm (0=Hoàn toàn sai, 1=Sai, 2=Không đúng cũng không sai, 3=Đúng, 4=Hoàn toàn đúng). Trắc nghiệm NEO-PI-R được xây dựng dựa trên nguyên lý mô hình 5 nhân tố lớn của Costa & Mc Crae (Costa và cộng sự năm 1985; 1998). Trắc nghiệm này gồm 5 mặt nhân cách là N (Neuroticism): nhiễu tâm, mặt E (Extraverson): hướng ngoại, mặt O (Openness): cởi mở, mặt A (Agreeableness): đồng thuận và mặt C (Conscienticousness): tính tận tâm. Mỗi mặt có một ý nghĩa riêng:  Nhiễu tâm (Neuroticism) đánh giá sự bất ổn định về cảm xúc, nhận ra những người dễ rơi vào stress tâm lý, những ý tưởng phi thực tế, những khao khát thái quá. Với mặt này, những người có điểm cao thường trải nghiệm những cảm xúc u uất, giận dữ, lo sợ, tội lỗi, và ganh ghét cao hơn người thường. Họ phản ứng tiêu cực với strss và thường lý giải những tình huống bình thường dưới dạng nguy hiểm, đáng lo ngại và xu hướng “thổi phồng” các khó khăn. Những người này chú ý quá mức để vẻ bề ngoài hoặc hành vi của bản thân và gặp khó khăn trong việc tự kiểm soát sự hối thúc. Ngược lại, những người có điểm số thấp ở mặt này thường có cảm xúc vững chãi hơn, ít dao động và ít phản ứng với stress hơn. Họ thường có xu hướng bình tĩnh, không nóng nảy và ít khi bị căng thẳng[48]. Ví dụ: “ Tôi dễ hoảng sợ”; “Rất khó làm tôi tức giận”.  Hướng ngoại (Extraverson): mặt này đánh giá số lượng và cường độ các tương tác liên cá nhân, mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng.
  • 40.
    33 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Người có điểm hướng ngoại cao thường cảm thấy các bữa tiệc và các hoạt động là nguồn năng lượng của mình. Họ thích tìm kiếm và cần các nguồn kích thích từ môi trường xung quanh, cơ hội để gia nhập với người khác. Những người này cũng thường hang hái, nhiệt tình, thích nói chuyện và khẳng định mình. Trong mảng công việc, họ thường thích làm việc với người khác và thích các công việc có chiều rộng hơn chiều sâu. Người có điểm hướng ngoại thấp thường ít hòa mình vào xã hội. Họ thường rất yên lặng, không nổi bật và không hòa nhập nhiều. Người hướng nội cần ít sự kích thích và cần nhiều thời gian ở một mình hơn. Ví dụ: “Tôi thực sự thích trò chuyện với mọi người”; “Nhiều người cho rằng tối là người hơi lạnh lùng và khó gần”.  Cởi mở (Openness) là mặt mô tả việc lao vào thử nghiệm, đánh giá cao sự nắm giữ kinh nghiệm, khả năng tìm kiếm những cái mới lạ. Những người có điểm cao ở mặt này thường thích sự lãng mạn và sự phong phú đa dạng. Những người này có hiểu biết tốt, biết thưởng thức vẻ đẹp trong nghệ thuật và vẻ đẹp trong thiên nhiên. Họ quan tâm đến những ý tưởng mới, những giá trị mới, không thích tuân theo những quy ước đã có mà thích có những cách nhìn riêng của mình. Người có điểm thấp ở mặt này thường thực dụng, võ đoán và làm việc theo dữ liệu. Đôi lúc thường được mô tả như quyết đoán và cứng nhắc. Họ thường rất truyền thống trong hành vi, vẻ bề ngoài của mình, thích làm việc theo guồng quay nhất định và không thích trải nghiệm những thứ mới mẻ và có ít sở thích. Ví dụ: “Một số thể loại nhạc có sức cuốn hút rất lớn đối với tôi”; “Theo tôi việc giữ đúng các nguyên tắc sống đã có quan trọng hơn là sẵn sàng tiếp thu cái mới”.  Đồng thuận (Agreeableness): Đánh giá chất lượng sự định hướng liên cá nhân của con người theo một mức độ liên tục từ sự đồng tình đến đối nghịch trong suy nghĩ, cảm giác và hành động [48].
  • 41.
    34 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Những người có điểm cao ở mặt này thường có xu hướng tin rằng đa phần mọi người rất trung thực, tốt bụng và đáng tin cậy. Họ thường có lòng vị tha và hay giúp đỡ người khác. Ngược lại với tính thích giúp đỡ của người dễ chịu, những người có điểm thấp ở mặt này thường gây tổng thương đến những người khác. Những người này thường có tính cạnh tranh, thách thức cao, đôi khi họ bị coi là khiêu khích hoặc không đáng tin. Ví dụ: “Tôi tin rằng hầu hết mọi người sẽ lợi dụng bạn nếu họ có dịp”; “Tôi hay nghi ngờ ý định của người khác”.  Tận tâm (Conscientiousness): mặt này đánh giá mức độ tổ chức, uy tín, động cơ trong hành vi hướng tới mục đích của cá nhân. Nó tương phản giữa những cá nhân phụ thuốc, khó tính với những người độc lập và mềm mỏng. Người có điểm cao ở mặt này thường có mong muốn hoàn thành công việc được giao một cách tốt nhất và thường đặt ra mục tiêu để đạt được những thành tựu trong công việc. Do đó có đôi khi họ được miêu tả như những người cứng đầu. Những đặc điểm tính cách của họ bao gồm ngăn nắp, có hệ thống, cẩn thận và hoàn hảo, suy tính thiệt hơn. Người có điểm thấp ở mặt tính cách này thường rất dễ dãi, không có mục tiêu nhất định, thường không đáng tin cậy. Ví dụ: “Tôi thiết lập các mục tiêu một cách rõ ràng và từng bước thực hiện chúng”; “Khi đã cam kết thực hiện điều gì, mọi người có thể tin là tôi sẽ hoàn thành”. Thang đo NEP-PI-R đang bắt đầu được sử dụng phổ biến hơn trong đánh giá nghề nghiệp ở châu Á (cheung 2004). Thang đo này đã được dịch, thử nghiệm, thích nghi bằng tiếng việt và nghiên cứu, cho thấy độ tin cậy và độ hiệu lực cao (Trần Văn Công và cộng sự 2016). 2.4.2.2. Công cụ đánh giá các vấn đề cảm xúc hành vi: bảng hỏi YSR Công cụ nghiên cứu về sức khỏe tâm thần/các vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên ngành công nghệ thông tin.
  • 42.
    35 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Bảng kiểm hành vi thanh thiếu niên tự thuật (The Youth Self Report – YSR) của Achenbach. YSR là các công cụ đánh giá dành cho thanh thiếu niên nhằm đánh giá hành vi và cảm xúc của các em, do các em tự điền. YSR do Tiến sĩ Thomas Achenbach phát triển, được sử dụng rộng rãi trong giới tâm lý học, tâm thần học. Bảng hỏi YSR yêu cầu trẻ em (nghiệm thể) cho điểm phù hợp cho 112 biểu hiện được liệt kê dựa trên mốc thời gian trong vòng từ 6 tháng qua đến hiện nay. 112 biểu hiện này là 112 item, mỗi item là một hành vi hoặc biểu hiện có vấn đề ở trẻ. Mỗi item được cho điểm từ 0 đến 2, tương ứng với mức độ tăng dần về tần suất xuất hiện của hành vi (0=không đúng; 1=một phần đúng; 2=rất đúng hoặc thường xuyên đúng). Điểm tổng của toàn bộ thang đo sẽ cho ra một biến số, được gọi là tổng điểm các vấn đề, cho biết mức độ có vấn đề chung về SKTT [47]. Dựa theo các phép phân tích nhân tố, Achenbach phân loại 112 item thành tám nhóm hội chứng, tương ứng với 8 tiểu thang đo: Lo âu/trầm cảm (12 item), thu mình/trầm cảm (8 item), phàn nàn cơ thể (11 item). Vấn đề xã hội (11 item), vấn đề tư duy (12 item), vấn đề chú ý (9 item), hành vi hung tính (18 item), phá bỏ quy tắc (15 item). Điểm tổng các item trong một nhóm hội chứng cho ra điểm của từng tiểu thang. Nghiên cứu sử dụng bản YSR được Việt hóa và thích nghi ở Việt Nam [53]. Bảng hỏi YSR được xử lý theo hai cách. Cách thứ nhất, tính điểm tổng của thang đo. Cách thứ hai, tính điểm theo 8 hội chứng của thang đo: Lo âu/trầm cảm, Thu mình/trầm cảm, Hành vi xâm kích, Vấn đề chú ý, Các vấn đề xã hội, Bệnh tâm thể, Phá bỏ quy tắc, Vấn đề tư duy. 2.4.3. Phương pháp thống kê: xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học Để trình bày và phân tích số liệu, nghiên cứu sử dụng chương trình phần mềm thống kê SPSS (Statistical Package for the Social Science), đây là một chương trình được sử dụng rộng rãi để phân tích thống kê trong khoa học xã hội. Nó cũng được các nhà nghiên cứu thị trường, nghiên cứu y tế, công ty khảo sát, nhà nghiên cứu giáo dục, khai thác dữ liệu và nhiều ngành khác sử dụng. Thống kê bao gồm trong phần mềm cơ sở: + Thống kê mô tả: lập bảng chéo, tần suất, mô tả, khám phá, thống kê tỷ lệ mô tả.
  • 43.
    36 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM + Thống kê đơn biến: phương tiện, t-test, ANOVA, tương quan (hai biến, một phần, khoảng cách), kiểm tra thông giới. + Dự đoán cho kết quả số: hồi quy tuyến tính + Dự đoán để xác định các nhóm: Phân tích các yếu tố, phân tích cụm, phân biệt. Các thông số và phép thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này:  Phân tích sử dụng thống kê mô tả với các chỉ số: Điểm trung bình cộng (mean): là chỉ số chỉ vị trí trung tâm hay điểm giữa của một tập hợp n số bằng một số duy nhất. Cách tính chỉ số trung bình cộng là lấy tổng của n số chia cho n. Độ lệch chuẩn (standardizied devation) – là chỉ số mô tả mức độ tập trung hay mức độ phân tán hoặc tập trung của câu trả lời. Tương quan nhị biến là tương quan giữa hai biến, không phân biệt biến độc lập hay biến phụ thuộc. Mục đích của phép phân tích tương quan là tìm hiểu mối liên quan giữa hai biến, mức độ liên kết mạnh hay yếu của mối liên quan giữa hai biến số được chỉ số hóa bởi hệ số tương quan r. Hồi qua giúp xác định xem biến độc lập quy định các biến phụ thuộc như thế nào. Như vậy phương pháp nghiên cứu là rất quan trọng để kết quả nghiên cứu được chính xác và đảm bảo chất lượng đề tài nghiên cứu. Chúng tôi đã lựa chọn để ra được bộ công cụ vừa có độ hiệu lực, vừa có độ tin cậy cao để tiến hành nghiên cứu. Quy trình nghiên cứu này cũng được thực hiện một cách có tổ chức trên một mẫu chọn ngẫu nhiên mang tính đại diện cao. Dữ liệu thu được được xử lí theo phương pháp thống kê toán học với nhiều phép tính khác nhau để đưa ra được kết quả chính xác có độ tin cậy nhất.
  • 44.
    37 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Nghiên cứu được tiến hành trên 325 sinh viên ngành công nghệ thông tin tại trường Đại học FPT. Các khách thể trong nghiên cứu hiện đang là sinh viên năm nhất, giới tính lựa chọn ngẫu nhiên. Trình độ học vấn của sinh viên đa dạng, từ học lực trung bình, khá, giỏi đến xuất sắc. Qui trình tổ chức nghiên cứu được tiến hành theo từng bước một cách hệ thống nhằm đảm bảo kết quả thu lại có độ tin cậy cao. Các phương pháp chính sử dụng trong nghiên cứu bao gồm nghiên cứu tài liệu, điều tra bảng hỏi và xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học. Độ hiệu lực bề mặt, độ tin cậy bên trong của bảng hỏi đều cho thấy những mức điểm khá cao và là cơ sở để để phân tích kết quả nghiên cứu một cách giá trị nhất.
  • 45.
    38 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin Sử dụng công cụ nghiên cứu là thang đo NEO-PI-R 60 trên 325 sinh viên năm nhất ngành công nghệ thông tin ĐH FPT ta thấy có sự khác biệt về điểm trung bình giữa các mặt của nhân cách và có sự khác biệt điểm trung bình từng mặt của nhân cách theo giới tính nam và nữ. Bảng 3.1: Các chỉ số thống kê cơ bản về các mặt trong nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin. Các lĩnh vực của nhân cách Tổng khách thể (325) Nam (256) Nữ (69) Trung bình Độ lệch chuẩn Trung bình Độ lệch chuẩn Trung bình Độ lệch chuẩn Mặt nhiễu tâm (N) 27.67 7.25 27.28 6.64 29.19 9.06 Mặt hướng ngoại (E) 27.44 7.93 27.60 7.72 26.84 8.69 Mặt cởi mở (O) 30.02 5.55 30.04 5.59 29.94 5.46 Mặt đồng thuận (A) 25.63 7.12 25.58 7.36 25.81 6.21 Mặt tận tâm (C) 29.12 6.37 29.21 6.25 28.80 6.87 Nhìn vào bảng ta thấy mặt nhân cách nổi bật của sinh viên ngành công nghệ thông tin là cởi mở (O) với điểm trung bình là 30.02 điểm và độ lệch chuẩn là 5.55. Theo lý thuyết về 5 nhân tố lớn, điều này cho thấy đa phần các bạn sinh viên ngành công nghệ thông tin là những người cởi mở, ham học hỏi mạnh mẽ, thường tò mò về cả những điều bên trong họ và những gì bên ngoài thế giới, và họ có nhiều trải nghiệm phong phú hơn những người khác. Họ sẵn sàng đón nhận những ý tưởng mới và giá trị độc đáo, và họ trải nghiệm cả những cảm xúc tích cực và tiêu cực nhiều hơn những người ít cởi mở hơn. Họ rất nhạy cảm với cảm xúc của riêng mình và có một khả năng lớn mức trung bình để nhận ra những cảm xúc của người khác. Họ đánh giá cao về cái đẹp trong nghệ thuật và tự nhiên. Họ sẵn sàng xem xét
  • 46.
    39 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM những ý tưởng mới và các giá trị và có thể hơi độc đáo theo quan điểm của họ. Những người như vật là người tưởng tượng, táo bạo, độc lập và sáng tạo. Tiếp sau là mặt tận tâm (C) với điểm trung bình 29.12 và độ lệch chuẩn 6.37. Điểm tận tâm cao cho thấy sinh viên ngành công nghệ thông tin khá tỉ mỉ, đúng giờ và đáng tin cậy. Họ có một nhu cầu tương đối cao đối với việc đạt thành tích. Họ tổ chức tốt và đáng tin cậy và thực hiện các cam kết họ đã làm. Họ có ý thức tự giác, có trắc nghiệm một cách nghiêm túc. Họ là người cẩn thận, đáng tin cậy, chăm chỉ và kiên trì. Về mặt tích cực, điểm mặt C có liên quan đến thành tích học tập và nghề nghiệp, về mặt tiêu cực, nó có thể dẫn đến sự kén chọn, kỹ tính và sự rat ay ép buộc hoặc hoành vi tham công tiếc việt. Với nam giới ngành công nghệ thông tin, mặt nhân cách nổi bật nhất ở đây cũng là Cởi mở (O) với điểm trung bình 30.04, độ lệch chuẩn 5.59. Điều này cho thấy sự ham học hỏi, tò mò và sẵn sàng tiếp thu những tri thức mới, đồng thời những sinh viên nam luôn có sự trải nghiệm phong phú về cảm xúc cũng như xem xét các ý tưởng mới và các giá trị có thể hơi độc đáo theo quan điểm của họ. Mặt nhân cách nổi bật thứ hai ở nam giới ngành công nghệ thông tin là mặt tận tâm với điểm trung bình là 29.21, độ lệch chuẩn 6.25, cho thấy sự tỉ mỉ, đúng giờ và đáng tin cậy của nhóm sinh viên này. Với nữ giới, mặt nhân cách nổi bật là cởi mở với điểm trung bình 29.94 và độ lệch chuẩn 5.46, cho thấy sự ham học hỏi và sẵn sàng tiếp thu tri thức mới khá tương đồng với các sinh viên nam. Mặt nhân cách nổi bật thứ hai ở nữ công nghệ thông tin cũng là nhiễu tâm với điểm trung bình là 29.19 và độ lệch chuẩn 9.06. Điều này cho thầy những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực, kém thích nghi, linh hoạt điều chỉnh và thay đổi về cảm xúc ở các sinh viên nữ ngành công nghệ thông tin. Nếu chia từng mặt nhân cách theo từng mức độ: Thấp, trung bình, cao, ta có bảng chỉ số thống kê theo mức độ các mặt nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin như sau:
  • 47.
    40 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Bảng 3.2: Chỉ số thống kê theo mức độ các mặt nhân cách của sinh viên công nghệ thông tin STT Giới tính Mặt nhân cách Nam (256) Nữ (69) Tổng (325) Số lượng % Số lượng % Số lượng % Mức độ 1 Mặt tận tâm Thấp 19 7.4 13 18.8 32 9.85 Trung bình 177 69.1 36 52.2 213 65.54 Cao 60 23.4 20 29 80 24.62 2 Mặt đồng thuận Thấp 45 17.6 10 14.5 55 16.92 Trung bình 187 73 55 79.7 242 74.46 Cao 24 9.4 4 5.8 28 8.62 3 Mặt nhiễu tâm Thấp 28 10.9 21 30.4 49 15.08 Trung bình 189 73.8 37 53.6 226 69.54 Cao 39 15.2 11 15.9 50 15.38 4 Mặt cởi mở Thấp 29 11.3 4 5.8 33 10.15 Trung bình 160 62.5 49 71.0 209 64.31 Cao 67 26.2 16 23.2 83 25.54 5 Mặt hướng ngoại Thấp 65 25.4 26 37.7 91 28 Trung bình 168 65.6 40 58 208 64 Cao 23 9 3 4.3 26 8 Nhìn vào bảng 3.2: thống kê mức độ các mặt nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin ta thấy:
  • 48.
    41 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Mức độ cao của mặt nhân cách cởi mở ở cả nam và nữ đều có số lượng sinh viên nhiều nhất với 83 người trong đó có 67 nam và 16 nữ, điều này cho thấy sự tương đồng trong tính cách ở cả nam và nữ sinh viên ngành công nghệ thông tin. Như vậy, sinh viên ngành công nghệ thông tin trong nghiên cứu đều có đặc điểm là những người cởi mở, ham học hỏi mạnh mẽ, thường tò mò về cả những điều bên trong họ và những gì bên ngoài thế giới, và họ có nhiều trải nghiệm phong phú hơn những người khác. Họ sẵn sàng đón nhận những ý tưởng mới và giá trị độc đáo, và họ trải nghiệm cả những cảm xúc tích cực và tiêu cực nhiều hơn những người ít cởi mở hơn. Họ rất nhạy cảm với cảm xúc của riêng mình và có một khả năng lớn mức trung bình để nhận ra những cảm xúc của người khác. Họ sẵn sàng xem xét những ý tưởng mới và các giá trị và có thể hơi độc đáo theo quan điểm của họ. Những người như vậy là người tưởng tượng, táo bạo, độc lập và sáng tạo. Mặt nhân cách nổi bật thứ hai là tận tâm với 80 người ở mức độ cao với 60 nam và 20 nữ. Điều này thể hiện ở một số đặc điểm của sinh viên như “Khi đã cam kết thực hiện điều gì, mọi người có thể tin là tôi sẽ hoàn thành” hay như “Tôi lên kế hoạch cẩn thận trước khi bắt đầu một chuyến đi”. Điều này thể hiện ý thức tự giác khi thực hiện các công việc và sự tỉ mỉ, cận trọng trong quá trình làm bất kỳ công việc gì, thể hiện sự đáng tin cậy. 3.1.1. Đặc điểm mặt nhiễu tâm (N) Cho đến nay, nhiều nghiên cứu đã thừa nhận nhiễu tâm như những rối loạn về tư duy, cảm giác và ứng xử. Những rối loạn nhiễu tâm phát triển trong cả cuộc đời của một người bệnh có xu hướng dần hạn chế và làm tổn hại khả năng sống một cuộc sống bình thường. Trong nghiên cứu này, khía cạnh nhiễu tâm (N) được đánh giá xu hướng cá nhân với những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực, kém thích nghi, linh hoạt điều chỉnh và thay đổi về cảm xúc của sinh viên ngành công nghệ thông tin. Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên nhận định đúng và đúng hoàn toàn về những đặc điểm “Đôi khi có những ý nghĩa đáng sợ xuất hiện” và “Tôi thường lo về những việc có thể trở nên tồi tệ” chiếm tỉ lệ cao nhất với giá trị tương ứng là 74,3%, tiếp đến là đặc điểm “Đôi khi cảm thấy cay đắng và uất ức” chiếm 54,4%; điểm “Nhiều lần, khi sự việc trở nên tồi tệ, tôi thấy chán nản và muốn từ
  • 49.
    42 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM bỏ” chiếm 48,9% và các điểm còn lại trong nhóm chiếm dưới 39%. Đặc biệt, nhằm có sự so sánh về các đặc điểm trong mặt nhiễu tâm, chúng tôi đã thực hiện tính điểm trung bình để có sự xếp loại và đối sánh. Bảng 3.3. Đặc điểm nhân cách trong mặt nhiễu tâm (N) Mặt nhiễu tâm (N) ĐTB ĐLC Xếp loại Câu 29: Đôi khi những ý nghĩ đáng sợ xuất hiện trong đầu tôi. 2.89 1.00 1 Câu 19: Tôi thường lo về những việc có thể trở nên tồi tệ. 2.89 0.903 2 Câu 14: Hiếm khi tôi lo sợ về tương lai. 2.66 1.1 3 Câu 9: Hiếm khi tôi buồn hay chán nản. 2.5 1.12 4 Câu 24: Đôi khi tôi cảm thấy cay đắng và uất ức. 2.37 1.14 5 Câu 4: Hiếm khi tôi có cảm giác sợ hãi hay lo lắng. 2.33 1.1 6 Câu 54: Tôi ít khi cảm thấy cô đơn hay buồn bã. 2.31 1.16 7 Câu 34: Nhiều lần, khi sự việc trở nên tồi tệ, tôi thấy chán nản và muốn từ bỏ. 2.22 1.09 8 Câu 59: Rất khó làm tôi tức giận 2.05 1.12 9 Câu 44: Khi có quá nhiều căng thẳng, tôi thấy như mình không thể chịu đựng thêm nữa. 2.03 1.1 10 Câu 49: Cảm xúc của tôi khá ổn định. 1.86 1.14 11 Câu 39: Tôi dễ hoảng sợ. 1.58 1.11 12
  • 50.
    43 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Tương tự khi xem xét các nhận định đặc điểm nhân cách của sinh viên cho thấy điểm trung bình thể hiện cao nhất qua các đặc điểm “Đôi khi những ý nghĩ đáng sợ xuất hiện trong đầu tôi”; “Tôi thường lo về những việc có thể trở nên tồi tệ”. Có thể thấy, với mặt nhiễu tâm, nhìn chung những đặc điểm về suy nghĩ tiêu cực thường xuất hiện nhiều hơn là những đặc điểm về việc dễ thay đổi cảm xúc xuất hiện trong nhóm sinh viên ngành công nghệ thông tin. Chính vì vậy, nhằm can thiệp và phòng ngừa rối nhiễu tâm lí cho sinh viên, nhà trường cần có chương trình giáo dục sức khỏe tinh thần hiệu quả theo hướng tăng tư duy tích cực, cũng như đáp ứng được đội ngũ chuyên môn làm công tác tư vấn nhằm kịp thời tư vấn cho sinh viên cũng như thiết kế chương trình học hiệu quả, giảm áp lực, căng thẳng trong học tập của sinh viên. 3.1.2. Đặc điểm mặt hướng ngoại (E) Mặt hướng ngoại trong nhân cách đánh giá mức độ hòa đồng, năng động và nhanh nhạy trong các mối quan hệ xã hội. Những người có tính hướng ngoại cao thường thích sự phấn khích và những kích thích, có xu hướng hướng tới sự vui vẻ trong những hoàn cảnh khác nhau, trông họ luôn lạc quan và tràn đầy năng lượng. Ngược lại với người có tính hướng ngoại cao là những người có xu hướng hướng nội. Họ thường độc lập, trông có vẻ nhút nhát, tuy nhiên họ lại khá tò mò và thích tìm tòi nghiên cứu. Họ thường lặng lẽ và sống nội tâm, không thích tương tác với nhóm lớn. Nếu như trong nghiên cứu “Đặc điểm nhân cách của thanh niên Việt Nam qua thang đo NEP-60VN của nhóm tác giả Bùi Thị Thúy Hằng, Trần Văn Công và Nguyễn Phương Hồng Ngọc, thực hiện trên 633 thanh niên tại 23 tỉnh thành với độ tuổi trung bình là 21,88; mặt hướng ngoại là đặc điểm nổi bật nhất trong nhân cách của thanh niên Việt Nam thì trong nghiên cứu này, đặc điểm hướng ngoại không phải đặc điểm nổi bật, điểm trung bình của mặt nhân cách này khá thấp, chỉ cao hơn mặt nhân cách đồng thuận (A). Để tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm hướng ngoại trong nhân cách sinh viên ngành công nghệ thông tin, chúng tôi có phân tích điểm trung bình các item của mặt nhân cách này như sau:
  • 51.
    44 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Bảng 3.4. Bảng đặc điểm của mặt hướng ngoại (E) Mặt hướng ngoại (E) ĐTB ĐLC Xếp loại Câu 35: Tôi dễ cười. 2.9 1.01 1 Câu 5: Tôi thấy mình dễ đồng cảm với người khác. 2.79 0.99 2 Câu 10: Tôi là người cởi mở và dễ chấp nhận cách sống của người khác. 2.67 1.05 3 Câu 60: Nếu tôi ở một mình quá lâu, tôi cảm thấy thực sự cần ai đó ở bên. 2.67 1.28 4 Câu 15: Tôi thực sự thích trò chuyện với mọi người. 2.43 1.04 5 Câu 55: Tôi thấy dễ dàng tươi cười và thoải mái với người lạ. 2.41 1.19 6 Câu 45: Tôi là người vui vẻ và luôn phấn khích. 2.38 1.053 7 Câu 25: Tôi thích có nhiều người xung quanh mình. 1.99 1.12 8 Câu 40: Tôi thích đi chơi ở chỗ đông đúc hơn là nơi vắng người. 1.85 1.17 9 Câu 30: Tôi thích những nơi náo nhiệt, có nhiều hoạt động đang diễn ra. 1.83 1.19 10 Câu 20: Tôi thích những buổi liên hoan đông người. 1.82 1.17 11 Câu 50: Nhiều người cho rằng tôi là người hơi lạnh lùng và khó gần 1.67 1.2 12
  • 52.
    45 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Với mặt hướng ngoại (E), mặt nhân cách cho đặc điểm về tính hướng ngoại, hòa đồng trong các mối quan hệ và nhóm xã hội, đồng thời thể hiện sự cởi mở, thân thiện, quảng giao, tự khẳng định, tích cực hoạt động, tìm kiếm hứng thú, xúc cảm tích cực. Số liệu thống kê ở bảng 3.1.2 cho thấy có một số biểu hiện đặc trưng của sinh viên công nghệ thông tin cho nhóm mặt này: “Tôi dễ cười”, “Tôi thấy mình dễ đồng cảm với người khác”, “Nếu tôi ở một mình quá lâu, tôi cảm thấy thực sự cần ai đó ở bên”. Tuy nhiên, hướng ngoại không phải điểm đặc trưng cho nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin do điểm trung bình ở mặt nhân cách này khá thấp so với các mặt nhân cách khác. 3.1.3. Đặc điểm mặt cởi mở (O) Mặt nhân cách cởi mở (O) đặc trưng cho tính ham học hỏi và sự sẵn sàng đón nhận những ý tưởng và khái niệm mới. Nếu như trong nghiên cứu của Đinh Thị Kim Thoa và Trần Văn Công năm 2010 trên 1182 sinh viên về “Một số đặc điểm nhân cách sinh viên học các ngành học khác nhau”, nét nhân cách cởi mở cho điểm trung bình gần như thấp nhất ( chỉ cao hơn so với nét nhân cách nhiễu tâm) thì ở sinh viên công nghệ thông tin, đây là một trong những điểm nổi bật của nhân cách với điểm trung bình cao nhất trong các mặt nhân cách được nghiên cứu. Bảng dưới đây sẽ phân tích kỹ hơn về đặc điểm này: Bảng 3.5. Bảng đặc điểm mặt cởi mở (O) Mặt cởi mở (O) ĐTB ĐLC Xếp loại Câu 13: Một số thể loại nhạc có sức cuốn hút rất lớn đối với tôi. 3.17 0.86 1 Câu28: Thi thoảng tôi hoàn toàn đắm chìm trong bản nhạc mà tôi đang nghe. 3.07 1 2 Câu 3: Tôi không quan tâm tới thẩm mỹ và nghệ thuật. 2.93 1.12 3 Câu 58: Tôi có trí tưởng tượng rất phong phú. 2.88 0.926 4 Câu 38: Khi còn nhỏ, hiếm khi tôi chơi trò 2.77 1.26 5
  • 53.
    46 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM chơi tưởng tượng. Câu 8: Tôi ít quan tâm đến việc tìm hiểu bản chất vũ trụ hay loài người. 2.57 1.22 6 Câu 23: Tôi ít khi quan tâm đến cảm xúc hiện tại của mình. 2.49 1.1 7 Câu 33: Tôi thích giải các câu đố. 2.4 1.08 8 Câu 43: Theo tôi việc giữ đúng các nguyên tắc sống đã có quan trọng hơn là sẵn sàng tiếp thu cái mới. 2.32 1.09 9 Câu 18: Tôi thích giải những câu đố hóc búa. 2.3 1.07 10 Câu 48: Thơ ca thường không có tác động gì đối với tôi. 2.1 1.28 11 Câu 53: Tôi thích ở những nơi quen thuộc. 1.04 0.99 12 Nhìn vào bảng 3.1.3 ta thấy một số đặc điểm nổi bật thuộc mặt nhân cách này của sinh viên ngành công nghệ thông tin như “Một số thể loại nhạc có sức cuốn hút rất lớn đối với tôi”; “Thi thoảng tôi hoàn toàn đắm chìm trong bản nhạc mà tôi đang nghe”. Điều này cho thấy niềm say mê cũng như vai trò quan trọng của âm nhạc đối với cuộc sống các em. Lý giải điều này, chúng tôi có phỏng vấn một số sinh viên ở trường và được biết: Ngoài những môn học chuyên ngành cũng như các môn chung giống các trường khác, các em còn được học môn Âm nhạc dân tộc (được trực tiếp thực hành chơi các thể loại đàn như tì bà, đàn bầu, đàn nguyệt … và sáo), bên cạnh đó, trường có rất nhiều các câu lạc bộ liên quan đến âm nhạc để tăng sự kết nối cũng như phát triển năng khiếu về âm nhạc cho các bạn trẻ. Như vậy, nhìn chung lại thì sinh viên ngành công nghệ thông tin thường đánh giá cao về vẻ đẹp trong nghệ thuật và tự nhiên, đặc biệt là âm nhạc. Họ sẵn sàng xem xét những ý tưởng tượng, tóa bạo, độc lập và sáng tạo. 3.1.4. Đặc điểm mặt nhân cách đồng thuận (A) Mặt nhân cách đồng thuận là mặt nhân cách đánh giá mức độ chấp chận, bao
  • 54.
    47 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM gồm một số khía cạnh như niềm tin, thẳng thắn, chân tình, vị tha, phục tùng, khiên tốn và nhân hậu. Theo nghiên cứu của Đinh Thị Kim Thoa và Trần Văn Công năm 2010 trên 1182 sinh viên về “Một số đặc điểm nhân cách sinh viên học các ngành học khác nhau”, nét nổi trội trong nhân cách của sinh viên Việt Nam (nếu coi 1182 sinh viên nghiên cứu là một sinh viên đại diện) là tính đồng thuận. Trong nghiên cứu này, tính đồng thuận có điểm trung bình đứng thứ hai, cũng là một trong những những nét nhân cách khá nổi bật ở sinh viên công nghệ thông tin. Để làm rõ hơn một số đặc điểm trong mặt nhân cách này, chúng tôi có bảng phân tích sau: Bảng 3.6. Đặc điểm mặt nhân cách đồng thuận (A) Mặt đồng thuận/ dễ chấp nhận (A) ĐTB ĐLC Xếp loại Câu 17: Nếu cần thiết, tôi sẵn sàng thao túng mọi người để có thứ mình muốn. 2.69 1.22 1 Câu 47: Tôi có khả năng đạt được những điều tôi muốn từ người khác với bất cứ giá nào. 2.62 1.06 2 Câu 2: Đôi khi tôi có thể đe dọa hoặc nịnh bợ người khác để họ làm những gì tôi muốn. 2.53 1.13 3 Câu 12: Đôi khi tôi lừa mọi người làm những gì tôi muốn. 2.46 1.13 4 Câu 32: Tôi hay cãi nhau với người nhà và đồng nghiệp. 2.46 1.03 5 Câu 52: Một số người cho rằng tôi là người ích kỷ và tự cao tự đại. 2.44 1.07 6 Câu 7: Khi cần tôi có thể mỉa mai và trở nên cay độc. 2.19 1.32 7 Câu 27: Một số người nghĩ rằng tôi là người lạnh lùng và tính toán. 1.97 1.21 8 Câu 42: Tôi là người cứng đầu và bướng bỉnh. 1.66 1.13 9 Câu 57: Tôi hay nghi ngờ ý định của người khác. 1.62 1.03 10 Câu 22: Tôi tin rằng hầu hết mọi người sẽ lợi dụng bạn nếu họ có dịp. 1.59 1.09 11 Câu 37: Nếu ai đó bắt đầu cuộc chiến, tôi sẽ sẵn sàng đấu lại. 1.4 1.02 12
  • 55.
    48 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Mặt đồng thuận là mặt có điểm trung bình thấp nhất trong 5 nhóm mặt nhân cách của trắc nghiệm, đặc trưng của mặt đồng thuận là tính vị tha và giúp đỡ cùng xu hướng chấp nhận người khác. Ở mặt nhân cách này ta thấy điểm cao thuộc về một số câu như “Nếu cần thiết, tôi sẵn sàng thao túng mọi người để có thứ mình muốn”và “Đôi khi tôi có thể đe dọa hoặc nịnh bợ người khác để họ làm những gì tôi muốn”. Tuy nhiên đây không phải đặc điểm nổi bật của sinh viên ngành công nghệ thông tin do như đã nói ở trên, điểm trung bình của mặt đồng thuận thấp nhất trong 5 mặt được nghiên cứu. Điều này trùng với kết quả với một nghiên cứu của Bùi Thị Thúy Hằng, Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc với đề tài “Đặc điểm nhân cách của thanh niên Việt Nam qua thang đo NEO-60VN. Trong nghiên cứu đó, mặt A cũng có điểm trung bình thấp đứng thứ 4/5 so với 5 mặt được nghiên cứu, và điểm cao cũng thuộc về câu “Nếu cần thiết, tôi sẵn sàng thao túng mọi người để có thứ mình muốn. 3.1.5. Đặc điểm mặt tận tâm (C) Mặt nhân cách tận tâm (C) làm một trong những đặc điểm khá nổi bật ở sinh viên ngành công nghệ thông tin khi có điểm trung bình cao thứ hai trong các mặt nhân cách khác nhau. Ở mặt nhân cách này, chúng tôi đánh giá một số khía cạnh như sự ngăn nắp, năng lực, trách nhiệm, bổn phận, nỗ lực thành đạt, kỷ luật tự giác và thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng. Cụ thể ở đây ta có bảng phân tích: Bảng 3.7. Đặc điểm mặt nhân cách tận tâm (C) Mặt tận tâm (C) ĐTB ĐLC Xếp loại Câu 51: Khi đã cam kết thực hiện điều gì, mọi người có thể tin là tôi sẽ hoàn thành. 2.76 0.85 1 Câu 11: Khi bắt tay vào một công việc, hầu như tôi luôn luôn hoàn thành nó. 2.73 0.86 2 Câu 56: Tôi lên kế hoạch cẩn thận trước khi bắt đầu một chuyến đi. 2.66 0.96 3 Câu 21: Tôi suy nghĩ kỹ lưỡng mọi việc trước khi ra quyết định. 2.55 0.86 4
  • 56.
    49 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Câu 31: Tôi giữ gìn đồ dùng cá nhân gọn gàng và sạch sẽ 2.48 0.98 5 Câu 6: Tôi làm việc đều đặn để hoàn thành công việc đúng thời hạn. 2.47 0.96 6 Câu 1: Tôi là người làm việc năng suất và luôn hoàn thành công việc. 2.44 0.81 7 Câu 46: Mọi người cho rằng tôi là người cẩn thận và biết điều. 2.35 0.97 8 Câu 36: Tôi là người có ý thức tự giác cao. 2.25 0.94 9 Câu 16: Tôi thấy tự hào về khả năng đánh giá đúng đắn của mình. 2.21 1.02 10 Câu 41: Tôi thích cất giữ mọi thứ ngăn nắp nên tôi biết chính xác chúng ở đâu. 2.19 1.08 11 Câu 26: Tôi thiết lập các mục tiêu một cách rõ ràng và từng bước thực hiện chúng. 2.05 0.94 12 Mặt tận tâm (C) là một trong 2 mặt có điểm cao nhất trên 5 mặt được nghiên cứu. Đặc trưng của mặt này là tính nguyên tắc, tỉ mỉ, đúng giờ và đáng tin cậy bên cạnh khả năng, năng lực về trách nhiệm, bồn phận, và nỗ lực thành đạt, kỷ luật trực giác và thận trọng. Một số câu có điểm cao ở mặt này như “Khi đã cam kết thực hiện điều gì, mọi người có thể tin là tôi sẽ hoàn thành”, “Khi bắt tay vào một công việc, hầu như tôi luôn luôn hoàn thành nó”, “Tôi lên kế hoạch cẩn thận trước khi bắt đầu một chuyến đi”.. 3.2. Thực trạng các vấn đề hành vi cảm xúc của sinh viên công nghệ thông tin trường Đại học FPT 3.2.1. Điểm số trung bình của thang YSR Thang đo YSR sử dụng trong nghiên cứu này gồm 112 item, mỗi item được đánh giá mức độ điểm từ 0, 1, 2. Tổng các điểm ở các câu hỏi trong các thang đo hội chứng cung cấp một phân phối điểm thô thể hiện mức độ vấn đề hành vi cảm xúc được báo cáo về trẻ trong từng thang và tổng thang đo. Điểm thô của thang
  • 57.
    50 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM được dùng để phân tích thống kê vì chúng trực tiếp phản ánh tất cả sự biến thiên của từng thang đo. Biểu đồ 3.1. Hàm phân phối tổng điểm thô YSR Bảng 3.8. Giá trị trung bình của tổng thang đo Số trường hợp Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Điểm trung bình Độ lệch chuẩn 325 6 237 79.11 28.81 Nhìn vào biểu đồ 3.1. Hàm phân phối tổng điểm thô YSR và bảng 3.1. Giá trị trung bình của tổng thang đo YSR trong tổng 560 khách thể nghiên cứu ta thấy: - Tổng điểm thấp là 6, tổng điểm cao nhất là 237. Như vậy điểm của toàn thang đo YSR nghiên cứu trên 560 khách thể dao động từ 6-237 điểm.
  • 58.
    51 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM - Điểm trung bình của thang đo là 79.11 điểm và độ lệch chuẩn là 28.81 điểm. Nhìn vào biểu đồ phân phối, ta thấy hàm được vẽ theo hình chuông. So sánh với hàm phân phối, tổng điểm thô thang YSR trong nghiên cứu của Nguyễn Cao Minh và Trịnh Thị Mai cũng được phân bổ theo hình chuông. Chúng tôi nhận thấy một sự tương đồng nhất định về hàm phân phối tổng điểm thô YSR với nghiên cứu của chúng tôi. Điều này chứng minh tính khách quan của số liệu và cũng có nghĩa là các phép kiểm định giá trị trung bình đối với hàm số điểm tổng này có ý nghĩa thống kê. So sánh điểm trung bình này với một số nghiên cứu khác trên thế giới: - So với điểm thô trung bình của thang YRS nghiên cứu trên 24 quốc gia châu âu, chúng tôi thấy điểm thô trung bình trong nghiên cứu này cao hơn rất nhiều. Cụ thể ở nghiên cứu này, điểm trung bình là 79.11 điểm trong khi điểm thô trung bình nghiên cứu trên thanh thiếu niên của 24 quốc gia (Đức, Đan Mạch, Ethiopia, Phần Lan, Puero Rico, Iran, Na Uy, Ba Lan, Thụy Sĩ, Ai xơ len, Úc, Jamaica, Israel, Mỹ, Hong Kong, Thụy Điển, Nhật, Lithuania, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Hà Lan, Romani, Hy Lạp) là 35,3. - Một số nước châu Á ví dụ Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kong, Trung Quốc có điểm trung bình cao hơn châu Âu, chỉ số cao nhất được biết đến ở châu Á là 48,3 thuộc về Hy Lạp. - Tại Việt Nam, có một số nghiên cứu sử dụng YSR như nghiên cứu “Điều tra tỉ lệ trẻ em và vị thành niên ở miền bắc có vấn đề sức khỏe tâm thần” của Nguyễn Cao Minh với điểm thô trung bình đại diện cho miền bắc là 51,99. Nghiên cứu “Thực trạng các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông nội trú ở vùng dân tộc thiểu số phía bắc” của Trịnh Thị Mai với điểm thô trung bình là 79,33 điểm. Ở nghiên cứu này, điểm thô trung bình của sinh viên ngành công nghệ thông tin là 79.11. Giải thích cho tổng điểm thô cao như vậy, chúng tôi có một số giả định sau: sinh viên ngành công nghệ thông tin thuộc ngành nghề có mức độ khó cao, đặc thù phải làm việc nhiều giờ trước máy tính, ít có thời gian vận động và giao lưu với
  • 59.
    52 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM mọi người nên nguy cơ gặp phải vấn đề sức khỏe tâm thần cao hơn. Bên cạnh đó, đặc thù khách thể chúng tôi lựa chọn ở đây là sinh viên công nghệ thông tin trường ĐH FPT, một trong những người tư có mức học phí cao cùng áp lực thi cử lớn, điều này làm tăng áp lực cho sinh viên khi theo đuổi ngành nghề này. Bảng 3.9. Bảng phân loại vấn đề HVCX của sinh viên ngành công nghệ thông tin theo giới tính Vấn Nam Vấn Nữ Vấn Tổng đề HVCX M Std N đề HVCX M Std N đề HVCX M Std N Hướng ngoại 19.48 8.58 Hướng nội 21.41 13.78 Hướng ngoại 19.33 8.55 Hướng nội 17.38 9.59 Hướng ngoại 18.78 8.44 Hướng nội 18.23 10.72 Vấn đề tư duy 11.39 4.62 1 Vấn đề tư duy 12.04 5.56 1 Vấn đề tư duy 11.53 4.83 1 Hành vi xâm kích 9.91 5.21 2 Hành vi xâm kích 10.42 4.93 2 Hành vi xâm kích 10.02 5.15 2 Phá bỏ quy tắc 9.57 4.23 3 Vấn đề chú ý 9.39 3.66 3 Phá bỏ quy tắc 9.31 4.3 3 Vấn đề chú ý 9.08 3.44 4 Lo âu trầm cảm 9.3 6.79 4 Vấn đề chú ý 9.15 3.49 4 Lo âu trầm cảm 7.68 4.89 5 Phá bỏ quy tắc 8.36 4.43 5 Lo âu trầm cảm 8.02 5.38 5 Vấn đề xã hội 6.874 3.63 6 Vấn đề xã hội 7.17 4.29 6 Vấn đề xã hội 6.91 3.77 6 Trầm 5.21 3.33 7 Bệnh 6.12 4.47 7 Trầm 5.38 3.53 7
  • 60.
    53 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM cảm thu mình tâm thể cảm thu mình Bệnh tâm thể 4.49 3.01 8 Trầm cảm thu mình 5.99 4.17 8 Bệnh tâm thể 4.83 3.43 8 Nhìn vào bảng 3.2, bảng phân loại các vấn đề hành vi cảm xúc ở sinh viên ngành công nghệ thông tin ta thấy: Xét về vấn đề hướng nội và vấn đề hướng ngoại thì sinh viên nam gặp vấn đề hướng ngoại nhiều hơn với mức điểm trung bình M = 19.48, Độ lệch chuẩn std = 8.58. Sinh viên nữ gặp vấn đề về hướng nội nhiều hơn với mức điểm trung bình 21.41 và độ lệch chuẩn Std = 13.78. Trong nghiên cứu này, vấn đề hướng nội của sinh viên chủ yếu xét đến một số khía cạnh: lo âu trầm cảm, trầm cảm thu mình và bệnh tâm thể. Vấn đề hướng ngoại chủ yếu xét đến một số khía cạnh: hạnh vi phá luật và hành vi gây hấn. Nhìn chung, sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp phải vấn đề hướng ngoại nhiều hơn hướng nội với điểm trung bình nhìn chung là 11.53 và độ lệch chuẩn 4.83. Điều này có thể giải thích là do tỉ lệ nam, nữ trong ngành công nghệ thông tin đặc thù này khá chênh lệch, số lượng nam thường gấp nhiều lần so với các bạn nữ. Xét về từng vấn đề hành vi, cảm xúc ở sinh viên ngành công nghệ thông tin, ta thấy có nhiều điểm đáng chú ý. Điểm nổi bật thứ nhất, thứ hai trong vấn đề HVCX ở cả sinh viên nam và nữ đều là Vấn đề tư duy và hành vi xâm kích. Trong đó vấn đề tư duy ở nam thấp hơn nữ, điểm trung bình của nam là 11.39, độ lệch chuẩn 4.62, trong khi đó điểm trung bình của nữ là 12.04, độ lệch chuẩn 5.56. Vấn đề tư duy của sinh viên nam và nữ ngành công nghệ thông tin thể hiện ở một số biểu hiện như: Không thể ngừng suy tư, Ngủ ít đi hoặc khó ngủ, Ý nghĩ lạ, một số có hành vi tự làm hại bản thân … Điểm trung bình vấn đề tư duy của tổng khách thể nghiên cứu là 11.53, độ lệch chuẩn là 4.83. Vấn đề hành vi xâm kích là vấn đề nổi bật thứ hai ở sinh viên ngành công nghệ thông tin. Điểm trung bình của nam là 9.91,
  • 61.
    54 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM độ lệch chuẩn 5.21; điểm trung bình của nữ là 10.42 và độ lệch chuẩn là 4.93. Điểm trung bình của tổng khách thể nghiên cứu là 10.02, độ lệch chuẩn 5.15. Thứ hạng thứ 3, 4, 5, 6, 7, 8 của tổng khách thể nghiên cứu lần lượt thuộc về các vấn đề: vấn đề phá bỏ quy tắc (điểm trung bình 9.31, độ lệch chuẩn 4.3); vấn đề chú ý (điểm trung bình 9.15, độ lệch chuẩn 3.49); vấn đề lo âu trầm cảm (điểm trung bình 8.02, độ lệch chuẩn 5.38); vấn đề xã hội (điểm trung bình 6.91, độ lệch chuẩn 3.77); vấn đề trầm cảm thu mình (điểm trung bình 5.38, độ lệch chuẩn 3.53); vấn đề bệnh tâm thể (điểm trung bình 4.83, độ lệch chuẩn 3.43). Có sự khác biệt về điểm nổi bật trong vấn đề HVCX ở sinh viên nam và nữ trong các thứ hạng tiếp theo bao gồm: Vấn đề phá bỏ quy tắc là vấn đề nổi bật thứ ba ở sinh viên nam ngành công nghệ thông tin. Điểm trung bình của nam là 9.57, độ lệch chuẩn là 4.23. Trong khi đó, vấn đề nổi bật thứ ba ở sinh viên nữ là vấn đề chú ý với điểm trung bình là 9.39, độ lệch chuẩn là 3.66. Ở thứ hạng thứ 4 và thứ 5 ở nam là vấn đề chú ý và vấn đề lo âu trầm cảm với điểm trung bình lần lượt là 9.08 (độ lệch chuẩn 3.44) và 7.68 (độ lệch chuẩn 4.89). Thứ hạng thứ 4 và thứ 5 ở nữ là lo âu trầm cảm và phá bỏ nguyên tắc với điểm trung bình lần lượt là 9.3 (độ lệch chuẩn 6.79) và 8.36 (độ lệch chuẩn 4.43). Ở thứ hạng 6, cả nam và nữ đều là vấn đề xã hội với điểm trung bình lần lượt là 6.87 (độ lệch chuẩn 3.63) và 7.17 (độ lệch chuẩn 4.29). Thứ hạng 7 và 8 có sự khác biệt giữa nam và nữ. Với sinh viên nam, vấn đề lần lượt là: vấn đề trầm cảm thu mình (điểm trung bình 5.21, độ lệch chuẩn là 3.33); vấn đề bệnh tâm thể (điểm trung bình 4.49, độ lệch chuẩn 3.01). Với sinh viên nữ, từ thứ hạng 7 đến thứ hạng 8 lần lượt là: vấn đề bệnh tâm thể (điểm trung bình 6.12, độ lệch chuẩn 4.47); vấn đề trầm cảm thu mình (điểm trung bình 5.99, độ lệch chuẩn 3.43). Như vậy nhìn chung, xét tổng khác thể nghiên cứu ở cả nam và nữ thì vấn đề hướng ngoại là vấn đề nổi bật hơn với điểm trung bình là 19.33, độ lệch chuẩn 8.55. Tuy nhiên, xét riêng theo giới tính thì vấn đề nổi bật ở nam là các vấn đề về hướng ngoại , các vấn đề hướng ngoại ở đây liên quan đến vấn đề phá bỏ quy tắc và hành vi xâm kích. Vấn đề nổi bật ở nữ sinh viên ngành công nghệ thông tin là các vấn đề
  • 62.
    55 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM về hướng nội với các vấn đề hướng nội ở đây bao gồm vấn đề lo âu trầm cảm, trầm cảm thu mình và bệnh tâm thể. Bên cạnh đó, để xác định tỉ lệ sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp phải các vấn đề hành vi cảm xúc, ta có phân tích bảng dưới đây:
  • 63.
    57 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Bảng 3.10. Bảng tỉ lệ sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp các vấn đề HVCX STT Vấn đề HVCX Nam (256) Nữ (69) Tổng tỉ lệ lâm sàng (325) Bình thường Ranh giới Lâm sàng Tỉ lệ % lâm sàng Bình thường Ranh giới Lâm sàng Tỉ lệ % lâm sàng Lâm sàng Tỉ lệ 1 Lo âu trầm cảm 154 [9;11] 54 21.1 48 [12;14] 13 18.8 67 20.62 2 Thu mình trầm cảm 174 [7;8] 31 12.1 46 [8;9] 16 23.2 47 14.46 3 Bệnh tâm thể 200 [7] 38 14.8 51 [8;11] 8 11.6 46 14.15 4 Vấn đề xã hội 157 [8-9] 68 26.6 41 [8;9] 16 23.2 84 25.85 5 Vấn đề tư duy 74 [9;10] 138 53.9 22 [10;12] 28 40.6 166 51.08 6 Vấn đề chú ý 134 [10;11] 63 24.6 31 [10;11] 15 21.7 78 24 7 Phá bỏ quy tắc 134 [10;12] 54 21.1 40 [9;13] 4 5.8 58 17.85 8 Hành vi xâm kích 178 [13;15] 32 12.5 54 [14;17] 2 2.9 34 10.46 9 Hướng nội 98 [14;17] 124 48.4 37 [19;23] 25 36.2 149 45.85 10 Hướng ngoại 108 [17;19] 117 45.7 23 [16;20] 23 33.3 140 43.08 11 Tổng 40 [51;61] 171 66.8 12 [57;69] 43 62.3 214 65.85
  • 64.
    58 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Nhìn vào bảng tỉ lệ sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp các vấn đề về hành vi cảm xúc ta thấy: Xét tổng khách thể nghiên cứu ở cả nam và nữ sinh viên ngành công nghệ thông tin, số lượng sinh viên gặp vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đến cảm xúc hành vi trên mức ranh giới là 214 sinh viên, chiếm 65.85%. Trong đó có 171 sinh viên nam và 43 sinh viên nữ. Ở cả sinh viên nam và nữ thì tỉ lệ % số sinh viên có điểm lâm sàng trên mức ranh giới ở vấn đề hướng nội cao hơn hướng ngoại. Trong đó có 124 sinh viên nam (chiếm 48.4% số sinh viên nam) và 25 sinh viên nữ (chiếm 36.2% số sinh viên nữ). Như vậy ở vấn đề hướng nội có tổng 149 sinh viên cả nam và nữ có điểm lâm sàng trên mức điểm ranh giới của vấn đề hướng nội (chiếm 45.85% tổng số sinh viên). Vấn đề hướng nội ở sinh viên ngành công nghệ thông tin được thể hiện qua một số một số hội chứng như: lo âu trầm cảm, thu mình trầm cảm và bệnh tâm thể. Ở hội chứng lo âu trầm cảm và thu mình trầm cảm, sinh viên nữ có tỉ lệ % ở mức lâm sàng (tỉ lệ lần lượt là 18.8% và 23.2%). Trong khi đó tỉ lệ của hội chứng lo âu trầm cảm và thu mình trầm cảm ở nam (có tỉ lệ lâm sàng lần lượt là 21.1% và 12.1%), trong khi đó ở hội chứng bệnh tâm thể, sinh viên nam có tỉ lệ % lâm sàng cao hơn so với nữ. Trong các hội chứng được nghiên cứu, hội chứng liên quan đến vấn đề tư duy có tỉ lệ sinh viên ngành công nghệ thông tin gặp phải nhiều nhất (166 người chiếm 51.08%). Trong đó sinh viên nam có 138 người ở mức lâm sàng (chiếm 53.9% tổng số sinh viên nam được nghiên cứu); sinh viên nữ có 28 người (chiếm 40.6% tổng số sinh viên nữ nghiên cứu). 3.2.2. Mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề HVCX Một số nhà điều tra đã đề xuất rằng sự bất ổn về tình cảm bao gồm một khía cạnh tâm sinh lý khác biệt của rối loạn nhân cách [49]. Đề xuất này nhận được sự hỗ trợ từ các nghiên cứu gia đình cho thấy những người thân có chứng rối loạn nhân cách cho thấy nguy cơ mắc các rối loạn nhân cách tình cảm và bốc đồng cao hơn so với những người thân của chứng bệnh mắc chứng rối loạn nhân cách khác hoặc bị tâm thần phân liệt (Silverman et al. 1991). Bởi vậy, tìm hiểu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề hành vi cảm xúc sẽ khẳng định thêm cho giả thuyết về mối tương quan của hai chiều cạnh này.
  • 65.
    59 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Bảng 3.11. Bảng tương quan Person giữa các vấn đề hành vi cảm xúc và các mặt nhân cách. Mặt nhân cách Các vấn đề HVCX Nhiễu tâm (N) Hướng ngoại (E) Cởi mở (O) Đồng thuận (A) Tận tâm (C) LATC Pearson Correlation .572** -.145** -.047 -.225** -.126* Sig. (2-tailed) .000 .009 .396 .000 .023 TCTM Pearson Correlation .391** -.509** -.123* -.253** -.193** Sig. (2-tailed) .000 .000 .027 .000 .000 BTT Pearson Correlation .316** -.047 -.067 -.281** -.043 Sig. (2-tailed) .000 .397 .229 .000 .441 VDXH Pearson Correlation .427** -.125* -.062 -.236** -.176** Sig. (2-tailed) .000 .024 .266 .000 .001 VDTD Pearson Correlation .234** .066 .178** -.294** -.020 Sig. (2-tailed) .000 .237 .001 .000 .716 VDCY Pearson Correlation .377** .113* .002 -.256** -.309** Sig. (2-tailed) .000 .041 .970 .000 .000 PBQT Pearson Correlation .090 .061 .070 -.365** -.038 Sig. (2-tailed) .107 .274 .206 .000 .496 HVXK Pearson Correlation .302** .192** .082 -.462** -.049 Sig. (2-tailed) .000 .000 .052 .000 .251 Ghi chú: *=> p<0,05 **=> p<0,01 ***=> p<0,001 Quy ước tương quan Cohen |r|<0,3 => Thấp => ở phần ít khách thể có A càng cao thì B càng cao
  • 66.
    60 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 0,3 <= |r| <0,5 => TB => ở phần nhiều khách thể có A càng cao thì B càng cao |r| >= 0,5 => Cao => ở đa số khách thể có A càng cao thì B càng cao r<0 => tương quan nghịch r>0 => tương quan thuận Nhìn vào bảng tương quan giữa các vấn đề hành vi cảm xúc và các mặt trong nhân cách. Ở đây có các cặp tương quan:  Nhiễu tâm và lo âu trầm cảm có tương quan cao với hệ số tương quan thuận mức cao là 0.572 (p<0.01 cho thấy tương quan tuyến tính ở mức tin vậy đến 99%). Điều này có nghĩa là những sinh viên có điểm nhiễu tâm càng cao, càng cho thấy nhiều những cảm xúc tiêu cực, dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát sự xung động của học và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Nhìn chung, điểm nhiễu tâm càng cao càng cho thấy sự ủ rũ, quá nhạy cảm và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ, thường tự ti và có những ý tưởng, kỳ vọng không thực tế. Những đặc điểm này hình thành nên vấn đề liên quan đến lo âu trầm cảm. Tính hướng ngoại và đồng thuận cũng tương quan thấp với lo âu trầm cảm nhưng là tương quan nghịch với hệ số tương quan r=- 0.145 và r=-0.225. Nói cách khác, sinh viên càng có điểm hướng ngoại cao (mặt này liên quan đến tính cởi mở thân thiện, quảng giao, tự khẳng định, tích cực hoạt động, tìm kiếm hứng thú, xúc cảm tích cực) hoặc điểm đồng thuận cao (mặt này liên quan đến xu hướng chấp nhận người khác) thì càng ít có nguy cơ bị vấn đề liên quan đến lo âu trầm cảm.  Với vấn đề thu mình trầm cảm (TMTC) thì mặt nhân cách hướng ngoại có tương quan cao chiều nghịch với hệ số tương quan là -0.509. Điều này cho thấy những sinh viên có điểm hướng ngoại càng thấp – thể hiện xu hướng hướng nội, trông có vẻ nhút nhát, thường yên lặng và không tự tin trong tương tác nhóm, đặc biệt nhóm lớn và người mới, họ sống khá nội tâm và ít chia sẻ; những đặc điểm này làm tăng nguy cơ gặp vấn đề thu mình trầm cảm. Nhiễu tâm (mặt tính cách đánh giá xu hướng cá nhân với những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực, kém thích nghi, điều chỉnh, thay đổi về cảm xúc) có tương quan thuận mức trung bình với hệ số tương
  • 67.
    61 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM quan r = 0.391. Đồng thuận và tận tâm cũng có tương quan nghịch với vấn đề trầm cảm thu mình với hệ số tương quan lần lượt là r = -0.253 và r = -0.193.  Với vấn đề Bệnh tâm thể (BTT), có hai mặt nhân cách có tương quan là nhiễu tâm tương quan thuận mức trung bình với hệ số tương quan r = 0.316 và đồng thuận tương quan nghịch với hệ số tương quan r = -0.281.  Với vấn đề xã hội (VDXH) thì nhiễu tâm cũng có tương quan thuận mức trung bình với hệ số tương quan r = 0.427. Cho thấy khi sinh viên ngành công nghệ thông tin có những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực, kém thích nghi, điều chỉnh và thay đổi về cảm xúc có nguy cơ hình thành nên các vấn đề xã hội với những biểu hiện đặc trưng như luôn cảm thấy cô đơn và cần chỗ dựa,, khó hòa đồng hay ghen tị, bị trêu chọc và khó diễn đạt…Bên cạnh đó, mặt nhân cách đồng thuận và tận tâm cũng có tương quan nghịch mức độ thấp với vấn đề xã hội với hệ số tương quan lần lượt là r = -0.236, r = -0.284 và r = -0.176.  Với vấn đề tư duy (VDTD) thì mặt nhân cách nhiễu tâm (N) có tương quan thuận với hệ số tương quan r=0.234. Điều này cho thấy những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực, kém thích thi và cảm xúc không ổn định là một trong những yếu tố tăng mức nguy cơ liên quan đến vấn đề tư duy. Mặt nhân cách đồng thuận (A) và mặt nhân cách tận tâm (C) có tương quan nghịch mức độ trung bình với hệ số tương quan r = -0.294 và r = -0.02. Điều này cho thấy khi sinh viên càng ít quan tâm đến người khác, vô tâm, khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết tình huống, thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp, cứng đầu và ích kỷ … thì mức độ sinh viên gặp vấn đề tư duy sẽ cao hơn.  Với vấn đề chú ý (VDCY), mặt nhân cách nhiễu tâm có tương quan thuận mức độ trung bình với hệ số tương quan r = 0.377. Điều này cho thấy những sinh viên ngành công nghệ thông tin có những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực, kém thích nghi, điều chỉnh và thiếu cân bằng về cảm xúc thường xuyên sẽ hình thành nên các vấn đề liên quan đến chú ý với những biểu hiện cụ thể như khó tập trung và ngồi yêu, hay mơ mộng, hành động hấp tấp, hoang mang … ảnh hưởng tới quá trình học tập. Bên cạnh đó, mặt đồng thuận và tận tâm cũng có mối tương quan nghịch mức độ yếu với vấn đề chú ý theo hệ số tương quan lần lượt là r = - 0.256 và r = -0.309.
  • 68.
    62 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM  Với vấn đề phá bỏ quy tắc (PBQT), mặt nhân cách đồng thuận (A) có tương quan nghịch mức độ trung bình với hệ số tương quan r = -0.365. Điều này cho thấy những sinh viên có điểm đồng thuận (A- dễ chấp nhận) cao về cơ bản là vị tha, biết thông cảm cho người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết thì sẽ giảm mức độ nguy cơ gặp phải vấn đề phá bỏ quy tắc, cụ thể hơn là giảm những hành vi như dùng chất kích thích, nói dối, chửi bậy …  Với vấn đề hành vi xâm kích (HVXK), mặt nhân cách đồng thuận (A) có tương quan nghịch mức độ trung bình với hệ số tương quan r = -0.462 và mặt nhân cách nhiễu tâm (N) có tương quan thuận mức độ trung bình với hệ số tương quan r = 0.302. Điều này có nghĩa là những sinh viên có điểm cao ở mặt nhân cách đồng thuận, về cơ bản được đánh giá là vị tha, biết thông cảm cho người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết thì sẽ giảm mức độ nguy cơ gặp phải vấn đề hành vi xâm kích (HVXK). Còn những sinh viên có điểm cao ở mặt nhân cách nhiễu tâm, mặt tính cách đánh giá xu hướng cá nhân với những trải nghiệm về cảm xúc tiêu cực, kém thích nghi, điều chỉnh, thay đổi về cảm xúc thì sẽ tăng vấn đề hành vi xâm kích, cụ thể là tăng những hành vi phá đồ người khác, đánh nhau, cãi nhau hoặc trêu ác ý, đe dọa người khác …Bên cạnh đó, mặt nhân cách hướng ngoại cũng có tương quan thuận mức độ thấp với hành vi xâm kích theo hệ số tương quan r = 0.192. Cho thấy những sinh viên hướng ngoại, những người có tính quyết đoán, thích sự phấn khích và những kích thích sẽ có nguy cơ gặp vấn đề hành vi xâm kích nhiều hơn mặc dù mối tương quan thuận này có mức độ thấp. 3.3.Mô hình hồi quy giữa các đặc điểm nhân cách và các vấnđề cảm xúc hành vi Trên cơ sở tìm ra những mối tương quan giữa đặc điểm nhân cách và các vấn đề hành vi cảm xúc, chúng tôi tiến hành phân tích mô hình hồi quy bội để tìm ra những mặt nhân cách dự báo và ảnh hưởng tới các vấn đề cảm xúc hành vi. Kết quả thu được như sau: 3.4.2.1. Mô hình dự báo lo âu trầm cảm Theo DSM - V rối loạn lo âu là những sợ hãi thái quá về một sự kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xảy ra và lặp lại ít nhất 6 tháng. Cá nhân thường
  • 69.
    63 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM khó khăn kiểm soát những lo lắng và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng hạn như là sự căng cơ, cái bẩn, khó ngủ và cảm giác bất an. Theo hiệp hội tâm thần Mỹ, trầm cảm được xem là một dạng rối loạn khí sắc. Tùy thuộc vào sự xuất hiện hay không của các cơn hưng cảm và hưng cảm nhẹ mà người ra phân ra làm hai loại: Rối loạn trầm cảm (hay trầm cảm đơn cực) và rối loạn lưỡng cực (2). Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn tới lo âu trầm cảm như: di truyền, căng thẳng, lạm dụng chất, nhân cách … Nhân cách một số người dễ bị rối loạn lo âu hơn người khác. Ngoài ra một số rối loạn nhân cách, chẳng hạn như rối loạn nhân cách ranh giới, cũng có thể được liên kết đến rối loạn lo âu (3). Ở nghiên cứu này, chúng tôi sẽ làm rõ hơn những mặt nhân cách có thể dự đoán nguy cơ gặp vấn đề lo âu trầm cảm ở sinh viên ngành công nghệ thông tin. Bảng 3.12.Mô hình dự báo lo âu trầm cảm Vấn đề LATC β t p VIF R2=0.328; p (Sig) =<0.05; Nhiễu tâm (N) 0.535 11.022 0.000 1.138 Hướng ngoại (E) -0.054 -1.120 0.263 1.119 Cởi mở (O) 0.003 0.071 0.944 1.026 Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.091 -1.903 0.058 1.112 Tận tâm (C) -0.032 -0.661 0.509 1.150 Phân tích hồi quy tuyến tính bội giữa vấn đề lo âu trầm cảm với các đặc điểm nhân cách. Để loại trừ ảnh hưởng do tương tác giữa các biến số. Chúng tôi tiếp tục phân tích hồi quy tuyến tính bội với các biến phụ thuộc. Ở bảng này chúng tôi phân tích hồi quy với biến phụ thuộc “Lo âu trầm cảm – LATC”. Số liệu phân tích trong bảng này cho thấy có ý nghĩa thống kê. Giá trị Sig (p<0.001<0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được. Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Ta thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
  • 70.
    64 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.328): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 32,8% sự thay đổi của biến lo âu trầm cảm. Còn lại là 67,2% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên. Giá trị Sig (p) của kiểm định T được sử dụng để kiểm định ý nghĩa của hệ số hồi quy. Nếu sig kiểm định t của hệ số hồi quy của một biến độc lập nhỏ hơn 0.05, ta kết luận viến độc lập đó có tác động đến biến phụ thuộc.. Nếu sig kiểm định t của biến độc lập lớn hơn 0.05, chúng ta kết luận biến độc lập đó không có sự tác động lên biến phụ thuộc, và không cần loại bỏ biến đó để chạy lại hồi quy lần tiếp theo. Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm: p<0.001 <0.05 nên biến nhiễu tâm có tác động đến biến lo âu trầm cảm.Giá trị p của biến đồng tâm: p<0.001 nên biến đồng tâm có tác động đến biến lo âu trầm cảm. Nhìn vào hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta, ta thấy đặc điểm nhân cách nhiễu tâm dự báo vấn đề lo âu trầm cảm theo chiều thuận. Điều này cho thấy những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điểm đạm, thoải mái và họ có thể đối mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều này dự báo mức độ gặp phải vấn đề lo âu trầm cảm của họ càng thấp. Những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu cực, dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Họ thường ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói chung họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế. Họ được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản thân và kế hoạch của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề lo âu trầm cảm có thể xuất hiện mức độ cao hơn ở nhóm người này. Các mặt nhân cách còn lại như hướng ngoại (E), cởi mở (O), đồng thuận (A) và tận tâm (C) không dự báo mức độ vấn đề lo âu trầm cảm cho sinh viên ngành công nghệ thông tin. 3.4.2.2. Mô hình dự báo trầm cảm thu mình Theo tổ chức y tế thế giới tới năm 2020 trầm cảm chỉ đứng sau các bệnh tim
  • 71.
    65 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM mạch về gánh nặng bệnh tật và nguyên nhân gây tử vong . Rối loạn trầm cảm ảnh hưởng tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi từ trẻ em đế người già. Ở Mỹ tỉ lệ mắc trầm cảm chung ở giới nữ là 5-9%, nam giới là 2-3%, tỉ lệ tái phát sau 6 tháng là 27%, sau 1 năm là 50% tần sất suất suốt đời của trầm cảm và lo âu khoảng 15-20% ở các bệnh viện thực hành tỉ lệ còn cao hơn khoảng 10-12% (4). Bảng 3.13.Mô hình dự báo trầm cảm thu mình Vấn đề TCTM β t p VIF R2= 0.384; p (Sig) =<0.05; Nhiễu tâm (N) 0.262 5.634 0.000 1.138 Hướng ngoại (E) -0.453 -9.831 0.000 1.119 Cởi mở (O) -0.03 -0.684 0.494 1.026 Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.193 -4.191 0.000 1.112 Tận tâm (C) -0.042 -0.9 0.369 1.15 Phân tích hồi quy giữa vấn đề trầmcảm thu mình với các đặc điểm nhân cách. Giá trị Sig (p<0.001<0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được. Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Ta thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.384): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 38.4% sự thay đổi của biến trầm cảm thu mình. Còn lại là 61.6% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên. Giá trị Sig (p) của kiểm định T cho biến nhiễu tâm (N): p<0.001 <0.05 nên biến nhiễu tâm có tác động đến biến lo âu trầm cảm.Giá trị p của biến hướng ngoại (E): p<0.001 nên biến hướng ngoại có tác động đến biến lo âu trầm cảm. Giá trị p của biến đồng thuận (A): p<0.001< 0.05 nên biến đồng thuận có tác động đến biến lo âu trầm cảm.
  • 72.
    66 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Nhìn vào hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta, ta thấy đặc điểm nhân cách nhiễu tâm dự báo vấn đề lo âu trầm cảm theo chiều thuận với hệ số Beta là 0.262. Đặc điểm nhân cách mặt hướng ngoại và đồng thuận dự báo vấn đề lo âu trầm cảm theo chiều nghịch. Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điểm đạm, thoải mái và họ có thể đối mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều này dự báo mức độ gặp phải vấn đề trầm cảm thu mình của họ càng thấp. Những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu cực, dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Họ thường ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói chung họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế. Họ được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản thân và kế hoạch của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề trầm cảm thu mình có thể xuất hiện mức độ cao hơn ở nhóm người này. Những người có điểm số của mặt nhân cách Hướng ngoại thấp có xu hướng hướng nội, hướng nội không phải không thân thiện, họ độc lập chứ không phải chậm chạp. Người hướng nội trông có thể nhút nhát nhưng không có nghĩa là họ thích ở một mình: họ không nhất thiết bị ám sợ xã hội. Mặc dù họ không có tính cởi mở của sự hướng ngoại nhưng hướng nội không có nghĩa là không hài lòng hoặc bi quan. Tò mò là một trong những đặc điểm của người hướng nội, họ thường thích tìm tòi nghiên cứu. Họ thích làm hầu hết mọi thứ một mình hoặc với nhóm nhỏ. Họ tránh các bên lớn và không thích gặp gỡ những người mới. Họ thường yên lặng và không tự tin trong tương tác nhóm. Họ hiếm khi trải nghiệm cảm xúc tích cực mạnh mẽ như niềm vui hay sự phấn khích. Thực tế thấy rằng những người sống nội tâm không nhất thiết có nghĩa là họ thiếu kỹ năng xã hội-hướng nội nhiều chức năng rất tốt trong các tình huống xã hội, mặc dù họ có thể thích để tránh chúng. Những đặc điểm này dự đoán xu hướng cao hơn cho các vấn đề liên quan đến trầm cảm thu mình cho nhóm người này. Những người có điểm số của mặt nhân cách hướng ngoại cao cho thấy sự hòa
  • 73.
    67 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM đồng, nhưng hướng ngoại chỉ là một trong số những đặc điểm của đời sống xã hội, ngoài ra còn có các mối quan hệ và các nhóm xã hội khác. Sự hướng ngoại thể hiện ở tính quyết đoán, năng động, và hoạt ngôn. Những người có tính hướng ngoại cao thường thích sự phấn khích và những kích thích, và có xu hướng hướng đến sự vui vẻ trong những hoàn cảnh khác nhau. Họ lạc quan, tràn đầy năng lượng. Những đặc điểm này dự báo xu hướng trầm cảm thu mình thấp hơn. Những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho thấy họ là người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức độ thấp của nhóm người này đối với vấn đề trầm cảm thu mình. Những người có điểm số của mặt nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác. Họ thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu hướng xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và có thể khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ như là một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề trầm cảm thu mình cao hơn. Các mặt nhân cách còn lại như cởi mở (O) và tận tâm (C) không dự báo mức độ vấn đề trầm cảm thu mình cho sinh viên ngành công nghệ thông tin. 3.4.2.3. Mô hình dự báo bệnh tâm thể “Ác mộng”, “nôn nao”, “đau đầu” .. một số đặc điểm đặc trưng cho vấn đề bệnh tâm thể. Phân tích hồi quy giữa bệnh tâm thể với các mặt của nhân cách như nhiễu tâm (N), hướng ngoại (E), cởi mở (O), đồng thuận/dễ chấp nhận (A), tận tâm (C) giúp dự báo những mặt nhân cách có thể ảnh hưởng tới nguy cơ gặp các vấn đề bệnh tâm thể. Chi tiết được phân tích ở bảng 3.15
  • 74.
    68 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Bảng 3.14.Mô hình dự báo bệnh tâm thể Vấn đề BTT Β t p VIF R2= 0.131; p (Sig) =<0.05; Nhiễu tâm (N) 0.253 4.576 0.000 1.138 Hướng ngoại (E) 0.005 0.083 0.934 1.119 Cởi mở (O) -0.042 -0.805 0.421 1.026 Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.218 -3.993 0.000 1.112 Tận tâm (C) -0.027 -0.491 0.624 1.15 Phân tích hồi quy giữa vấn đề bệnh tâm thể với các đặc điểm nhân cách. Giá trị Sig (p<0.001 <0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được. Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Ta thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.131): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 13.1% sự thay đổi của biến bệnh tâm thể. Còn lại là 86.9% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên. Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm (N): p<0.001<0.05 nên biến nhiễu tâm có tác động đến biến lo âu trầm cảm. Nhìn vào hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta, ta thấy đặc điểm nhân cách nhiễu tâm dự báo vấn đề lo âu trầm cảm theo chiều thuận với hệ số là 0.253. Giá trị p của biến đồng thuận (A): p<0.001< 0.05 nên biến đồng thuận có tác động đến biến lo âu trầm cảm. Đặc điểm đồng thuận dự báo vấn đề lo âu trầm cảm theo chiều nghịch với hệ số Beta là - 0.218. Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điểm đạm, thoải mái và họ có thể đối mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều này dự báo mức độ gặp phải vấn đề bệnh tâm thể của họ càng thấp. Những người có
  • 75.
    69 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM điểm của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu cực, dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Họ thường ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói chung họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế. Họ được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản thân và kế hoạch của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề bệnh tâm thể có thể xuất hiện mức độ cao hơn ở nhóm người này. Những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho thấy họ là người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức độ thấp của nhóm người này đối với vấn đề bệnh tâm thể. Những người có điểm số của mặt nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác. Họ thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu hướng xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và có thể khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ như là một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề bệnh tâm thể cao hơn. Các mặt nhân cách còn lại như cởi mở (O), hướng ngoại (E) và tận tâm (C) không dự báo mức độ vấn đề bệnh tâm thể cho sinh viên ngành công nghệ thông tin. 3.4.2.4. Mô hình dự báo vấn đề xã hội Vấn đề xã hội với những biểu hiện như dựa dẫm, phụ thuộc vào người lớn, lặp đi lặp lại việc gì đó, có những hành động lạ … là một trong những vấn đề hành vi cảm xúc. Để dự báo các mặt nhân cách dự báo vấn đề xã hội, chúng tôi tiến hành phân tích hồi quy thu được kết quả như bảng 3.4.2.4.
  • 76.
    70 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Bảng 3.15. Mô hình dự báo vấn đề xã hội Vấn đề xã hội β T p VIF R2= 0.206 ; p (Sig) =<0.05; Nhiễu tâm (N) 0.358 6.777 0.000 1.138 Hướng ngoại (E) -0.032 -0.619 0.536 1.119 Cởi mở (O) -0.017 -0.343 0.732 1.026 Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.161 -3.079 0.002 1.112 Tận tâm (C) -0.126 -2.382 0.018 1.15 Phân tích hồi quy giữa vấn đề xã hội với các đặc điểm nhân cách. Giá trị Sig (p<0.001<0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được. Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Ta thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.206): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 20.6% sự thay đổi của biến vấn đề xã hội. Còn lại là 79.4% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên. Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm (N): p=0.000 <0.05 nên biến nhiễu tâm có tác động đến biến lo âu trầm cảm. Giá trị p của biến đồng thuận (A): p=0.002<0.05 nên biến đồng thuận có tác động đến biến lo âu trầm cảm. Giá trị p của biến tận tâm (C): p=0.018 < 0.05 nên biến tận tâm có tác động đến biến vấn đề xã hội. Nhìn vào hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β), ta thấy đặc điểm nhân cách nhiễu tâm (N) dự báo vấn đề xã hội theo chiều thuận với hệ số β=0.358. Đặc điểm đồng thuận (A) dự báo vấn đề xã hội theo chiều nghịch với hệ số β=-0.161. Đặc điểm biến tận tâm (C) dự báo vấn đề xã hội chiều nghịch với hệ số β= -0.126.
  • 77.
    71 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điểm đạm, thoải mái và họ có thể đối mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều này dự báo mức độ gặp phải vấn đề xã hội của họ càng thấp. Những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu cực, dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Họ thường ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói chung họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế. Họ được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản thân và kế hoạch của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề xã hội có thể xuất hiện mức độ cao hơn ở nhóm người này. Những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho thấy họ là người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức độ thấp của nhóm người này đối với vấn đề xã hội. Những người có điểm số của mặt nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác. Họ thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu hướng xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và có thể khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ như là một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề xã hội cao hơn. Những người có điểm số của mặt nhân cách tận tâm (C) thấp không nhất thiết là người thiếu nguyên tắc đạo đức, nhưng họ không có nhiều đòi hỏi trong việc áp dụng chúng, cũng như họ không có nhiều động lực trong việc hướng tới mục tiêu của mình. Có một số bằng chứng cho thấy họ thích hưởng thụ và quan tâm đến tình dục. Những đặc điểm này dự báo xu hướng gặp phải vấn đề xã hội cao hơn. Những người có điểm số tận tâm (C) càng cao cho thấy họ là những người tỉ mỉ, đúng giờ
  • 78.
    72 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM và đáng tin cậy. Họ có một nhu cầu tương đối cao đối với việc đạt thành tích. Họ tổ chức tốt và đáng tin cậy và thực hiện các cam kết họ đã làm. Họ có ý thức tự giác, có trách nhiệm một cách nghiêm túc. Họ là người cẩn thận, đáng tin cậy, chăm chỉ, và kiên trì. Về mặt tích cực, điểm mặt C cao có liên quan đến thành tích học tập và nghề nghiệp, về mặt tiêu cực, nó có thể dẫn đến sự kén chọn, kỹ tính, sự ra tay ép buộc, hoặc hành vi tham công tiếc việc. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề xã hội thấp hơn ở nhóm người này. Các mặt nhân cách còn lại như cởi mở (O) và hướng ngoại (E) không dự báo mức độ vấn đề bệnh tâm thể cho sinh viên ngành công nghệ thông tin. 3.4.2.5. Mô hình dự báo vấn đề tư duy Trong nghiên cứu này, vấn đề tư duy là một trong số những vấn đề có điểm trung bình cao nhất ở cả nam và nữ với một số biểu hiện đặc trưng như ngủ ít đi hoặc khó ngủ, nghe thấy âm thanh lạ, tự làm hại bản thân … Những mặt nhân cách dự báo vấn đề tư duy được trình bày cụ thể ở bảng 3.4.2.5 dưới đây: Bảng 3.16.Mô hình dự báo vấn đề tư duy Vấn đề tư duy β T p VIF R2= 0.146 ; p (Sig) =<0.05; Nhiễu tâm (N) 0.182 3.317 0.001 1.138 Hướng ngoại (E) 0.083 1.531 0.127 1.119 Cởi mở (O) 0.191 3.666 0.000 1.026 Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.26 -4.799 0.000 1.112 Tận tâm (C) -0.065 -1.184 0.237 1.15 Phân tích hồi quy giữa vấn đề tư duy với các đặc điểm nhân cách. Giá trị Sig (p) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được. Hệ số phóng đại phương sai VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
  • 79.
    73 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.146): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 14.6% sự thay đổi của biến vấn đề xã hội. Còn lại là 85.4% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên. Giá trị Sig (p) của kiểm định T được sử dụng để kiểm định ý nghĩa của hệ số hồi quy. Nếu sig kiểm định t của hệ số hồi quy của một biến độc lập nhỏ hơn 0.05, ta kết luận viến độc lập đó có tác động đến biến phụ thuộc.. Nếu sig kiểm định t của biến độc lập lớn hơn 0.05, chúng ta kết luận biến độc lập đó không có sự tác động lên biến phụ thuộc, và không cần loại bỏ biến đó để chạy lại hồi quy lần tiếp theo. Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm (N): p=0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β) = 0.182 nên biến nhiễu tâm có tác động đến biến vấn đề tư duy theo chiều thuận. Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điềm đạm, thoải mái và họ có thể đối mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều này dự báo mức độ gặp phải vấn đề tư duy của họ càng thấp. Những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu cực, dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Họ thường ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói chung họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế. Họ được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản thân và kế hoạch của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề tư duy có thể xuất hiện mức độ cao hơn ở nhóm người này. Giá trị p của biến cởi mở (O): p<0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β) = 0.191 nên biến cởi mở có tác động đến biến vấn đề tư duy theo chiều thuận. Nói cách khác, những người có điểm thấp ở mặt cởi mở (O) trong nhân cách với đặc điểm có xu hướng giữ nguyên hành vi ứng xử và bảo thủ trong quan điểm. Họ thích những gì quen thuộc hơn là những thứ mới mẻ, và không thích những trải nghiệm về mặt cảm xúc. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề tư
  • 80.
    74 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM duy thấp. Những người có điểm cao ở mặt cởi mở (O) cho thấy sự ham học hỏi mạnh mẽ, thường tò mò về cả những điều bên trong họ và những gì bên ngoài thế giới, và họ có nhiều trải nghiệm phong phú hơn những người khác. Họ sẵn sàng đón nhận những ý tưởng mới và giá trị độc đáo, và họ trải nghiệm cả những cảm xúc tích cực và tiêu cực nhiều hơn những người ít cởi mở hơn. Họ rất nhạy cảm với cảm xúc của riêng mình và có một khả năng lớn hơn mức trung bình để nhận ra những cảm xúc của người khác. Họ đánh giá cao về cái đẹp trong nghệ thuật và tự nhiên. Họ sẵn sàng xem xét những ý tưởng mới và các giá trị và có thể hơi độc đáo theo quan điểm của họ. Những người như vật là người tưởng tượng, táo bạo, độc lập và sáng tạo. Những đặc điểm này dự báo mức độ cao hơn của vấn đề tư duy có thể xuất hiện ở nhóm người này. Giá trị p của biến đồng thuận (A): p<0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β) = -0.26 nên biếnđồngthuận có tác độngđến biến vấn đề tư duytheo chiềunghịch. Như vậy, những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho thấy họ là người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức độ thấp của nhóm người này đối với vấn đề tư duy. Những người có điểm số của mặt nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác. Họ thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu hướng xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và có thể khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ như là một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề tư duy cao hơn Các biến còn lại như hướng ngoại (E) và Tận tâm (C) không có tác động đến vấn đề tư duy. 3.4.2.6. Mô hình dự báo vấn đề chú ý Vấn đề chú ý với một số biểu hiện như không thể tập trung, không thể ngồi yên, hay mơ mộng … là một trong ba vấn đề hành vi cảm xúc mà sinh viên ngành
  • 81.
    75 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM công nghệ thông tin gặp phải. Bảng phân tích hồi quy dưới đây sẽ làm rõ hơn mô hình dự báo giữa các mặt nhân cách và vấn đề chú ý. Bảng 3.17. Mô hình dự báo vấn đề chú ý Vấn đề chú ý β t p VIF R2= 0.302 ; p (Sig) =<0.05; Nhiễu tâm (N) 0.297 6.006 0.000 1.138 Hướng ngoại (E) 0.259 5.277 0.000 1.119 Cởi mở (O) 0.022 0.477 0.634 1.026 Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.228 -4.666 0.000 1.112 Tận tâm (C) -0.365 -7.343 0.000 1.15 Phân tích hồi quy giữa vấn đề chú ý với các đặc điểm nhân cách. Giá trị Sig (p<0.001<0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được. Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Ta thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.302): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 30.2% sự thay đổi của biến vấn đề xã hội. Còn lại là 69.8% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên. Giá trị Sig (p) của kiểm định T được sử dụng để kiểm định ý nghĩa của hệ số hồi quy. Nếu sig kiểm định t của hệ số hồi quy của một biến độc lập nhỏ hơn 0.05, ta kết luận viến độc lập đó có tác động đến biến phụ thuộc.. Nếu sig kiểm định t của biến độc lập lớn hơn 0.05, chúng ta kết luận biến độc lập đó không có sự tác động lên biến phụ thuộc, và không cần loại bỏ biến đó để chạy lại hồi quy lần tiếp theo. Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm (N): p<0.001<0.05, giá trị p của biến hướng ngoại (E): p<0.001 <0.05, giá trị p của biến đồng thuận (A): p<0.001< 0.05, giá trị p của biến tận tâm (C): p<0.001<0.05 nên các biến nhiễu tâm, hướng ngoại, đồng thuận và tận tâm có tác động đến biến vấn đề chú ý.
  • 82.
    76 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Nhìn vào hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta, ta thấy đặc điểm nhân cách nhiễu tâm và hướng ngoại dự báo vấn đề chú ý theo chiều thuận. Đặc điểm nhân cách mặt tận tâm và đồng thuận dự báo vấn đề chú ý theo chiều nghịch. Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điềm đạm, thoải mái và họ có thể đối mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều này dự báo mức độ gặp phải vấn đề chú ý của họ càng thấp. Những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu cực, dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Họ thường ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói chung họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế. Họ được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản thân và kế hoạch của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề chú ý có thể xuất hiện mức độ cao hơn ở nhóm người này. Những người có điểm số của mặt nhân cách Hướng ngoại thấp có xu hướng hướng nội, hướng nội không phải không thân thiện, họ độc lập chứ không phải chậm chạp. Người hướng nội trông có thể nhút nhát nhưng không có nghĩa là họ thích ở một mình: họ không nhất thiết bị ám sợ xã hội. Mặc dù họ không có tính cởi mở của sự hướng ngoại nhưng hướng nội không có nghĩa là không hài lòng hoặc bi quan. Tò mò là một trong những đặc điểm của người hướng nội, họ thường thích tìm tòi nghiên cứu. Họ thích làm hầu hết mọi thứ một mình hoặc với nhóm nhỏ. Họ tránh các bên lớn và không thích gặp gỡ những người mới. Họ thường yên lặng và không tự tin trong tương tác nhóm. Họ hiếm khi trải nghiệm cảm xúc tích cực mạnh mẽ như niềm vui hay sự phấn khích. Thực tế thấy rằng những người sống nội tâm không nhất thiết có nghĩa là họ thiếu kỹ năng xã hội-hướng nội nhiều chức năng rất tốt trong các tình huống xã hội, mặc dù họ có thể thích để tránh chúng. Những đặc điểm này dự đoán xu hướng thấp hơn cho các vấn đề liên quan đến trầm cảm thu mình cho nhóm người này. Những người có điểm số của mặt nhân cách hướng ngoại cao cho thấy sự hòa đồng, nhưng hướng ngoại chỉ là một trong số những đặc
  • 83.
    77 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM điểm của đời sống xã hội, ngoài ra còn có các mối quan hệ và các nhóm xã hội khác. Sự hướng ngoại thể hiện ở tính quyết đoán, năng động, và hoạt ngôn. Những người có tính hướng ngoại cao thường thích sự phấn khích và những kích thích, và có xu hướng hướng đến sự vui vẻ trong những hoàn cảnh khác nhau. Họ lạc quan, tràn đầy năng lượng. Những đặc điểm này dự báo xu hướng vấn đề chú ý cao hơn. Những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho thấy họ là người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức độ thấp của nhóm người này đối với vấn đề chú ý. Những người có điểm số của mặt nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác. Họ thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu hướng xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và có thể khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ như là một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề chú ý cao hơn. Mặt nhân cách còn lại như cởi mở (O) không dự báo mức độ vấn đề trầm cảm thu mình cho sinh viên ngành công nghệ thông tin. 3.4.2.7. Mô hình dự báo vấn đề Phá bỏ quy tắc Phân tích hồi quy giữa vấn đề phá bỏ quy tắc với các mặt của nhân cách. Giá trị Sig (p<0.001<0.05) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được. Bảng 3.18. Mô hình dự báo vấn đề Phá bỏ quy tắc Vấn đề PBQT β t p VIF R2= 0.142; p (Sig) =<0.05; Nhiễu tâm (N) -0.013 -0.243 0.808 1.138 Hướng ngoại (E) 0.08 1.477 0.141 1.119
  • 84.
    78 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Cởi mở (O) 0.077 1.485 0.139 1.026 Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.386 -7.119 0.000 1.112 Tận tâm (C) -0.123 -2.223 0.027 1.15 Hệ số phóng đại phương sai VIF dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Ta thấy VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Ý nghĩa R2 hiệu chỉnh (R2=0.142): Các biến về các mặt nhân cách: nhiễu tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm ảnh hưởng 14.2% sự thay đổi của biến vấn đề xã hội. Còn lại là 85.8% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên. Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến đồng thuận (A): p<0.001<0.05, giá trị p của biến tận tâm (C): p=0.027<0.05 nên các biến hướng ngoại, đồng thuận và tận tâm có tác động đến biến vấn đề chú ý. Nhìn vào hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta, ta thấy đặc điểm nhân cách mặt tận tâm và đồng thuận dự báo vấn đề phá bỏ quy tắc theo chiều nghịch Nói cách khác, người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho thấy họ là người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức độ thấp của nhóm người này đối với vấn đề phá bỏ quy tắc. Những người có điểm số của mặt nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác. Họ thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu hướng xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và có thể khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ như là một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề phá bỏ quy tắc cao hơn. Những người có điểm số của mặt nhân cách tận tâm (C) thấp không nhất thiết là người thiếu nguyên tắc đạo đức, nhưng họ không có nhiều đòi hỏi trong việc áp dụng chúng, cũng như họ không có nhiều động lực trong việc hướng tới mục tiêu
  • 85.
    79 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM của mình. Có một số bằng chứng cho thấy họ thích hưởng thụ và quan tâm đến tình dục. Những đặc điểm này dự báo xu hướng gặp phải vấn đề phá bỏ quy tắc cao hơn. Những người có điểm số tận tâm (C) càng cao cho thấy họ là những người tỉ mỉ, đúng giờ và đáng tin cậy. Họ có một nhu cầu tương đối cao đối với việc đạt thành tích. Họ tổ chức tốt và đáng tin cậy và thực hiện các cam kết họ đã làm. Họ có ý thức tự giác, có trách nhiệm một cách nghiêm túc. Họ là người cẩn thận, đáng tin cậy, chăm chỉ, và kiên trì. Về mặt tích cực, điểm mặt C cao có liên quan đến thành tích học tập và nghề nghiệp, về mặt tiêu cực, nó có thể dẫn đến sự kén chọn, kỹ tính, sự ra tay ép buộc, hoặc hành vi tham công tiếc việc. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề phá bỏ quy tắc thấp hơn ở nhóm người này. Các mặt nhân cách còn lại như nhiễu tâm (N), hướng ngoại (E) và cởi mở (O) không dự báo mức độ vấn đề bệnh tâm thể cho sinh viên ngành công nghệ thông tin. 3.4.2.8. Mô hình dự báo vấn đề Hành vi xâm kích Phân tích hồi quy giữa vấn đề hành vi xâm kích với các đặc điểm nhân cách. Giá trị Sig (p) của kiểm định F được sử dụng để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy. Do p<0.05 nên mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được. Hệ số phóng đại phương sai VIF <2 ở tất cả các biến độc lập nên không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Bảng 3.19. Mô hình dự báo vấn đề Hành vi xâm kích Vấn đề HVXK β t p VIF R2= 0.302; p (Sig) =<0.05; Nhiễu tâm (N) 0.187 3.773 0.000 1.138 Hướng ngoại (E) 0.286 5.817 0.000 1.119 Cởi mở (O) 0.104 2.204 0.028 1.026 Đồng thuận/dễ chấp nhận (A) -0.405 -8.267 0.000 1.112 Tận tâm (C) -0.199 -3.989 0.000 1.15
  • 86.
    80 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Bảng 3.19 cho thấy giá trị R2 hiệu chỉnh bằng 0.302, điều này có ý nghĩa rằng vấn đề hành vi xâm kích chịu 30.2% tác động từ các mặt nhân cách như nhiễu tâm, hướng ngoại, cởi mở, đồng thuận và tận tâm. Còn lại là 69.8% là do sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình mà nghiên cứu chưa tìm được cùng sai số ngẫu nhiên. Giá trị Sig (p) của kiểm định T được sử dụng để kiểm định ý nghĩa của hệ số hồi quy. Nếu sig kiểm định t của hệ số hồi quy của một biến độc lập nhỏ hơn 0.05, ta kết luận biến độc lập đó có tác động đến biến phụ thuộc.. Nếu sig kiểm định t của biến độc lập lớn hơn 0.05, chúng ta kết luận biến độc lập đó không có sự tác động lên biến phụ thuộc, và không cần loại bỏ biến đó để chạy lại hồi quy lần tiếp theo. Nhìn vào bảng ta thấy, giá trị p của biến nhiễu tâm (N): p<0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β) = 0.187 nên biến nhiễu tâm có tác động đến biến vấn đề hành vi xâm kích theo chiều thuận. Nói cách khác, những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng thấp thì cảm xúc của họ càng ổn định. Họ thường bình tĩnh, điềm đạm, thoải mái và họ có thể đối mặt với các tình huống căng thẳng mà không trở nên khó chịu hoặc lo lắng, điều này dự báo mức độ gặp phải vấn đề hành vi xâm kích của họ càng thấp. Những người có điểm của mặt Nhiễu tâm càng cao cho thấy người đó do nhiều những cảm xúc tiêu cực, dẫn đến họ dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát sự xung động của họ, và ứng phó với stress kém hơn những người khác. Họ thường ủ rũ, quá nhạy cảm, và không hài lòng với khía cạnh cuộc sống của họ. Nói chung họ có lòng tự tin thấp, và có thể có những ý tưởng và kỳ vọng không thực tế. Họ được lo lắng, và thường là người cảm thấy không an toàn về bản thân và kế hoạch của họ. Những điều này dự báo cho vấn đề hành vi xâm kích có thể xuất hiện mức độ cao hơn ở nhóm người này. Giá trị p của biến hướng ngoại (E): p<0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β) = 0.286 nên biến hướng ngoại có tác động đến biến vấn đề hành vi xâm kích theo chiều thuận. Điều này có nghĩa là những người có điểm hướng ngoại thấp với các đặc điểm của người hướng nội, họ trông có vẻ nhút nhát nhưng độc lập. Mặc dù họ không có tính cởi mở của sự hướng ngoại, nhưng họ khá tò mò và thường thích tìm tòi nghiên cứu.
  • 87.
    81 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Họ thích làm hầu hết mọi thứ một mình hoặc với nhóm nhỏ. Họ tránh các nhóm lớn và không thích gặp những người mới. Họ hiếm khi trải nghiệm cảm xúc tích cực mạnh mẽ như niềm vui hay sự phấn khích. Những đặc điểm này dự báo xu hướng vấn đề hành vi xâm thích thấp hơn. Còn với những người hướng ngoại với tính cách hòa đồng, quyết đoán, năng động và hoạt ngôn. Những người hướng ngoại cao thường thích sự phấn khích và những kích thích, và có xu hướng hướng đến sự vui vẻ trong những hoàn cảnh khác nhau. Họ lạc quan tràn đầy năng lượng. Những đặc điểm này dự báo khuynh hướng cao liên quan đến vấn đề hành vi xâm kích. Giá trị p của biến cởi mở (O): p=0.028<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β) = 0.104 nên biến cởi mở có tác động đến biến vấn đề hành vi xâm kích theo chiều thuận. Nói cách khác, những người có điểm thấp ở mặt cởi mở (O) trong nhân cách với đặc điểm có xu hướng giữ nguyên hành vi ứng xử và bảo thủ trong quan điểm. Họ thích những gì quen thuộc hơn là những thứ mới mẻ, và không thích những trải nghiệm về mặt cảm xúc. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề xâm kích thấp. Những người có điểm cao ở mặt cởi mở (O) cho thấy sự ham học hỏi mạnh mẽ, thường tò mò về cả những điều bên trong họ và những gì bên ngoài thế giới, và họ có nhiều trải nghiệm phong phú hơn những người khác. Họ sẵn sàng đón nhận những ý tưởng mới và giá trị độc đáo, và họ trải nghiệm cả những cảm xúc tích cực và tiêu cực nhiều hơn những người ít cởi mở hơn. Họ rất nhạy cảm với cảm xúc của riêng mình và có một khả năng lớn hơn mức trung bình để nhận ra những cảm xúc của người khác. Họ đánh giá cao về cái đẹp trong nghệ thuật và tự nhiên. Họ sẵn sàng xem xét những ý tưởng mới và các giá trị và có thể hơi độc đáo theo quan điểm của họ. Những người như vậy là người tưởng tượng, táo bạo, độc lập và sáng tạo. Những đặc điểm này dự báo mức độ cao hơn của vấn đề hành vi xâm kích có thể xuất hiện ở nhóm người này. Giá trị p của biến đồng thuận (A): p<0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β) = -0.405 nên biến đồng thuận có tác động đến biến vấn đề hành vi xâm kích theo chiều nghịch. Như vậy, những người có điểm số của mặt nhân cách Đồng thuận cao cho
  • 88.
    82 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM thấy họ là người dễ đồng ý về cơ bản là vị tha. Đó là cảm thông cho những người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ, và tin rằng những người khác sẽ được những người khác đối xử công bằng lại với mình khi cần thiết. Những đặc điểm này dự báo mức độ thấp của nhóm người này đối với vấn đề hành vi xâm kích. Những người có điểm số của mặt nhân cách đồng thuận thấp cho thấy họ tương đối ít quan tâm đến người khác. Họ thường có thể vô tâm hoặc không suy nghĩ trong tương tác của họ. Họ có xu hướng xem thường và phê bình ý tưởng người khác, thái độ của họ thường có khuynh hướng cứng rắn trong hầu hết các tình huống. Họ có khả năng cạnh tranh và có thể khá thể hiện cảm xúc thù địch một cách trực tiếp. Mọi người có thể mô tả họ như là một người cứng đầu hoặc ích kỉ. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề hành vi xâm kích cao hơn. Giá trị p của biến tận tâm (C): p<0.001<0.05, hệ số hồi quy đã chuẩn hóa Beta (β) = -0.199 nên biến tận tâm có tác động đến biến vấn đề hành vi xâm kích theo chiều nghịch. Những người có điểm số của mặt nhân cách tận tâm (C) thấp không nhất thiết là người thiếu nguyên tắc đạo đức, nhưng họ không có nhiều đòi hỏi trong việc áp dụng chúng, cũng như họ không có nhiều động lực trong việc hướng tới mục tiêu của mình. Có một số bằng chứng cho thấy họ thích hưởng thụ và quan tâm đến tình dục. Những đặc điểm này dự báo xu hướng gặp phải vấn đề hành vi xâm kích cao hơn. Những người có điểm số tận tâm (C) càng cao cho thấy họ là những người tỉ mỉ, đúng giờ và đáng tin cậy. Họ có một nhu cầu tương đối cao đối với việc đạt thành tích. Họ tổ chức tốt và đáng tin cậy và thực hiện các cam kết họ đã làm. Họ có ý thức tự giác, có trách nhiệm một cách nghiêm túc. Họ là người cẩn thận, đáng tin cậy, chăm chỉ, và kiên trì. Về mặt tích cực, điểm mặt C cao có liên quan đến thành tích học tập và nghề nghiệp, về mặt tiêu cực, nó có thể dẫn đến sự kén chọn, kỹ tính, sự ra tay ép buộc, hoặc hành vi tham công tiếc việc. Những đặc điểm này dự báo mức độ gặp phải vấn đề hành vi xâm kích thấp hơn ở nhóm người này. Như vậy vấn đề hành vi xâm kích chịu ảnh hưởng của cả năm mặt nhân cách theo các hướng thuận và nghịch khác nhau. Điều này cho thấy với mỗi vấn đề hành vi cảm xúc thường chịu ảnh hưởng của nhiều mặt nhân cách cũng như nhiều yếu tố ngoài mô hình nghiên cứu.
  • 89.
    83 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được thực trạng các đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin là tính cởi mở và tận tâm, thực trạng các vấn đề cảm xúc hành vi của sinh viên ngành công nghệ thông tin là vấn đề hướng ngoại với điểm nổi bật là hai rối loạn: rối loạn hành vi xâm kích và vấn đề tư duy . Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra có mối tương quan giữa các mặt nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên ngành công nghệ thông tin. Từ phân tích hồi quy tuyến tính, chúng tôi đã chỉ ra được những dự đoán các vấn đề cảm xúc hành vi có thể gặp phải của từng mặt trong nhân cách được nghiên cứu. Trong đó đáng chú ý là mặt nhân cách nhiễu tâm có tác động theo hướng thuận tới hầu hết các vấn đề cảm xúc hành vi.
  • 90.
    84 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Qua nghiên cứu lý luận và trong thực tế, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: Kết quả nghiên cứu phù hợp với các giải thuyết mà đề tài đã đưa ra, đồng thời trả lời được các câu hỏi nghiên cứu. Nghiên cứu đã đưa ra được thực trạng các đặc điểm nhân cách của sinh viên ngành công nghệ thông tin: đặc điểm nhân cách nổi bật của sinh viên công nghệ thông tin là tính cởi mở và tận tâm, điều này cho thấy đa phần các bạn sinh viên ngành công nghệ thông tin là những người ham học hỏi mạnh mẽ, có nhu cầu đạt thành tích cao, khá tỉ mỉ, đúng giờ và đáng tin cậy. Thực trạng các vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên ngành công nghệ thông tin đúng theo giả thiết: sinh viên gặp vấn đề rối loạn hành vi (M=19.59) nhiều hơn vấn đề cảm xúc (M=18.68). Hai vấn đề hành vi cảm xúc mà sinh viên thường gặp phải nhất là vấn đề hành vi xâm kích và vấn đề tư duy. Vấn đề có điểm trung bình cao nhất là vấn đề tư duy với 11.4 điểm và độ lệch chuẩn là 4.8. Tiếp theo là vấn đề hành vi xâm kích với điểm trung bình 10.26 điểm, độ lệch chuẩn là 5.41. Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra có mối tương quan giữa các mặt nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi ở sinh viên ngành công nghệ thông tin. Nhiễu tâm và lo âu trầm cảm có tương quan cao với hệ số tương quan thuận là 0.609 (p<0.01 cho thấy tương quan tuyến tính ở mức tin vậy đến 99%). Điều này có nghĩa là những sinh viên có điểm nhiễu tâm càng cao, càng cho thấy nhiều những cảm xúc tiêu cực, dễ có những mẫu nhận thức không phù hợp, ít có khả năng để kiểm soát sự xung động của học và ứng phó với stress kém hơn những người khác dẫn đến nguy cơ gặp vấn đề lo âu trầm cảm cao hơn. Phân tích hồi quy tuyến tính cũng cho những kết quả đáng chú ý khi chúng tôi đã chỉ ra được những dự đoán các vấn đề cảm xúc hành vi có thể gặp phải của các mặt trong nhân cách được nghiên cứu. Theo kết quả phân tích thu được, các biến về các mặt nhân cách có sự tác động khác nhau đến các biến về các vấn đề hành vi cảm xúc ở sinh viên ngành công nghệ thông tin. Cụ thể ở vấn đề lo âu trầm
  • 91.
    85 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM cảm, những sinh viên có mặt nhân cách nhiễu tâm có tác động theo hướng thuận, sinh viên có mặt nhân cách đồng thuận tác động theo hướng nghịch. Ở vấn đề trầm cảm thu mình, sinh viên có mặt nhân cách nhiễu tâm tác động theo hướng thuận, sinh viên có mặt nhân cách hướng ngoại hoặc đồng thuận tác động theo hướng nghịch. Trong vấn đề bệnh tâm thể ở sinh viên, mặt nhân cách nhiễu tâm tác động theo hướng thuận, mặt nhân cách đồng thuận tác động theo hướng nghịch. Ở vấn đề xã hội, mặt nhân cách nhiễu tâm tác động theo hướng thuận, mặt nhân cách đồng thuận và tận tâm tác động theo hướng nghịch. Trong vấn đề tư duy, mặt nhân cách nhiễu tâm hoặc cởi mở tác động theo hướng thuận, mặt nhân cách đồng thuận tác động theo hướng nghịch. Với vấn đề chú ý ở sinh viên, mặt nhân cách nhiễu tâm và hướng ngoại tác động theo chiều thuận, mặt nhân cách tận tâm và đồng thuận tác động theo chiều nghịch. Còn với vấn đề phá bỏ quy tắc thì mặt hướng ngoại tác động theo chiều thuận, mặt tận tâm hoặc đồng thuận tác động theo chiều nghịch. Cuối cùng, với vấn đề hành vi xâm kích thì mặt nhân cách nhiễu tâm và hướng ngoại tác động theo chiều thuận, mặt nhân cách đồng thuận và tận tâm tác động theo chiều nghịch. Như vậy nhìn chung các mặt nhân cách khác nhau tác động theo các hướng khác nhau tới các vấn đề cảm xúc hành vi, đáng chú ý là mặt nhân cách nhiễu tâm tác động theo hướng thuận tới hầu hết các vấn đề cảm xúc hành vi. 2. Khuyến nghị Từ các kết quả nghiên cứu thu được, chúng tôi có một số khuyến nghị đưa ra để phát triển và nâng cao hiểu biết về sức khỏe tâm thần nói chung và sức khỏe tâm lý học đường nói riêng như sau: - Đội ngũ tâm lý học đường của trường tích cực nghiên cứu sàng lọc để tìm ra những sinh viên đang có những vấn đề cảm xúc hành vi, từ đó kịp thời can thiệp trị liệu giúp sinh viên có sức khỏe tâm thần tốt hơn. - Từ dự báo về các mặt nhân cách có thể dẫn đến các vấn đề cảm xúc hành vi, đội ngũ tâm lý học đường xây dựng các chương trình phòng ngừa liên quan đến các vấn đề cảm xúc hành vi, đặc biệt là các vấn đề rối loạn hành vi: hành vi xâm kích, các vấn đề tư duy hoặc vấn đề rối loạn cảm xúc như lo âu trầm cảm nhằm nâng cao
  • 92.
    86 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM nhận thức của sinh viên về chính những vấn đề mà nhiều sinh viên đang gặp phải. Từ đó giúp các em có vấn đề cảm xúc hành vi mức độ nhẹ có thể tự trị liệu, những em sinh viên gặp vấn đề cảm xúc hành vi nặng có hiểu biết tốt hơn về sức khỏe tâm thần và tìm đến dịch vụ tư vấn chăm sóc sức khỏe tâm lý phù hợp. - Phối hợp với bên tuyển sinh xây dựng mô hình tư vấn hướng nghiệp tới các trường phổ thông có nhiều sinh viên dự thi ngành công nghệ thông tin nhằm chọn lọc và thu hút được nhiều học sinh có đặc điểm nhân cách phù hợp để theo học ngành công nghệ thông tin. - Nâng cao nhận thức của GV và học sinh, sinh viên tại trường học về các vấn đề sức khỏe tâm thần giúp sự phối hợp trong quá trình hỗ trợ sinh viên được tốt hơn. - Tuyên truyền và có các chương trình phòng ngừa, can thiệp sức khỏe tâm thần phù hợp với đối tượng học sinh, sinh viên tại trường học. - Khuyến nghị các trường học cần có đội ngũ nhà tâm lý học đường nhằm kịp thời can thiệp với các trường hợp gặp vấn đề cảm xúc hành vi liên quan đến sức khỏe tâm thần. - Mở rộng và phát triển đề tài nghiên cứu để có một số liệu nghiên cứu tổng quan về nhân cách và các vấn đề cảm xúc hành vi cùng mối tương quan giữa chúng trên phạm vi toàn quốc.
  • 93.
    87 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt 1. Võ Văn Bản, 2002, “Thực hành điều trị tâm lý”, NXB Y học, Hà Nội. 2. Trần Anh Châu, 2014, “Động cơ thành đạt trong hoạt động nghề nghiệp của thanh niên hiện nay”, luận văn thạc sĩ tâm lý học, trường ĐH Quốc Gia Hà Nội, trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn. 3. Võ Thị Ngọc Châu, 2002, “Nghiên cứu kiểu nhân cách và ảnh hưởng của chúng tới bầu không khí tâm lý tập thể sinh viên sư phạm”, Báo cáo nghiệm thu đề tài NCKH cấp trường, Mã số CS.98-05. 4. Võ Thị Minh Chí, 2003, “Tâm lý học thần kinh”, NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội. 5. Trần Văn Công, Bùi Thị Thúy Hằng, Bahr Weiss. 2016. “Thích nghi trắc nghiệm NEO PI-R và Việt Nam : Một số kết quả và nhận định ban đầu.” Hội thảo Quốc gia “Đóng góp của tâm lý học vào công tác tổ chức nhân sự trong bối cảnh Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2/10/2016, Trang 180-196. 6. Trần Văn Công, Bùi Thị Thúy Hằng, Bahr Weiss, 2018, Thích nghi trắc nghiệm NEO PI vào Việt Nam: Một số kết quả và nhận định ban đầu. 7. Trần Văn Công, Nguyễn Thị Hoài Thương, Trần Thành Nam, 2019, “Thực trạng khó khăn tâm lý của học sinh và nhu cầu sử dụng ứng dụng tư vấn tâm lý trong trường học” 8. Nguyễn Thị Duyên, 2012, “Nghiên cứu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt ở học sinh phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, luận văn thạc sĩ tâm lý học, ĐH Quốc gia Hà Nội, Đại học Giáo dục. 9. Vũ Dũng, “Từ điển tâm lý học”, NXB từ điển bách khoa, 2008. 10. Phạm Tất Đông, “Những phẩm chất nhân cách đặc trwung của người Thăng Long – Hà Nội, NXB Hà Nội, 2010. 11. Đoàn Văn Điều. 2004. "Một số đặc điểm nhân cách của nam giới được sinh viên trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh mong đợi". Tạp chí Khoa học ĐHSP TP. Hồ Chí Minh 37: 39-46.
  • 94.
    88 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 12. Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc. 2004. Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. 13. Phạm Minh Hạc (Chủ biên). 2007. Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI- R cải biên. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội. 14. Đặng Hoàng Hải, “Giáo trình bài gingr Dịch tễ học tâm thần”, trường ĐH Y Hà Nội, 2010. 15. Nguyễn Thị Minh Hằng, 2014, “Ứng phó với cảm xúc tiêu cực của học sinh trung học cơ sở”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN-Khoa học Xã hội và Nhân văn, tập 30, số 4 (2014) 25-34. 16. Bùi Thị Thúy Hằng, Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, 2018, “Đặc điểm nhân cách của thanh niên Việt Nam qua thang đo NEO-60VN”. 17. Dương Diệu Hoa, Đỗ Thị Hạnh Phúc, 2009, “Tâm lý học phát triển, NXB ĐH Sư phạm Hà Nội. 18. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, 2008, “Tâm lý học lức tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Thế Giới, Hà Nội. 19. Đinh Đức Hợi. 2012. “Bàn về khái niệm nhân cách trong tâm lý học ngày nay”. Tạp chí khoa học và công nghệ 61: 107-110. 20. Phan Thị Mai Hương, 2002, “Tìm hiểu đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội của thanh niên nghiện ma túy và mối tương quan giữa chúng”, Luận án Tiến sĩ tâm lý học xã hội, Viện Tâm lý học, Hà Nội. 21. Phan Thị Mai Hương, 10-2006, “Đặc điểm nhân cách và trình độ học vấn”, Tạp chí tâm lý học số 10. 22. Phan Thị Mai Hương. 2006. "Đặc điểm nhân cách của lao động trẻ nước ta hiện nay, kết quả từ trắc nghiệm NEOPI-R". Tạp chí Tâm lý học 9 (91): 18- 26. 23. Đặng Phương Kiệt, Tuổi vị thành niên: những vấn đề tâm lý xã hội (Tài liệu giảng dạy lớp Chuyên khoa Tâm lý lâm sàng của Trung tâm NT Hà Nội, lưu hành nội bộ). 24. Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr, “Giáo dục, tâm lý và sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành”, NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội, 2007.
  • 95.
    89 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 25. Trịnh Thị Mai, 2013, “Thực trạng các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông nội trú ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc”. 26. Nguyễn Cao Minh, 2012, “Điều tra tỉ lệ trẻ em và vị thành niên ở miền bắc có vấn đề sức khỏe tâm thần”. 27. Phạm Thị Minh. 2005. "Giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên trong bối cảnh cơ chế thị trường". Tạp chí Tâm lý học 7 (76): 42-43. 28. Đặng Hoàng Minh, Hoàng Cẩm Tú. Thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh THCS ở Hà Nội và nhu cầu tham vấn sức khỏe tâm thần học đường. Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, tập 25, số 1S, 2009, trang 106-112. 29. Trần Thơ Nhị (2017), Đặc điểm nhân cách và trầm cảm ở sinh viên năm thứ hai hệ bác sĩ của trường đại học y Hà Nội, năm học 2016-2017, Tạp chí nghiên cứu y học. 30. Trần Thơ Nhị, Hà Thị Hạnh, Trịnh Thu Trang, Trịnh Thị Hồng Biên,Nguyễn Thị Thúy Hạnh, 2018, Đặc điểm nhân cách và trầm cảm ở sinh viên năm hai hệ bác sĩ của trường ĐH Y Hà Nội năm học 2016-2017 31. Nguyễn Thị Phương, 2013, “Tương quan giữa mức độ sử dụng internet và các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trung học cơ sở”. 32. Nguyễn Văn Siêm, “Tâm bệnh học trẻ em và thanh thiếu niên”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2007. 33. Nguyễn Thị Thu Sương, 2015, “Mối tương quan giữa lo âu-trầm cảm và mức độ bị bắt nạt của học sinh trung học cơ sở”. 34. Nguyễn Thạc, Nguyễn Thị Ngọc Liên. 2005. “Xu hướng chọn nghề của học sinh trung học phổ thông có kiểu nhân cách khác nhau.” Tạp chí Tâm lý học 6 (75): 48- 51. 35. Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Công. 2010. “Một số đặc điểm nhân cách sinh viên học các ngành khác nhau (nghiên cứu qua trắc nghiệm - NEO PI - R).” Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học xã hội và nhân văn 26: 198 - 202. 36. Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Đặng Hoàng Minh. 2009. Tâm lý học đại cương. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội.
  • 96.
    90 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 37. Tổ chức y tế thế giới. Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-10). Mô tả lâm sàng và nguyên tác chỉ đạo chẩn đoán. Bản dịch của Viện Sức khỏe Tâm thần. Bệnh viện Tâm thần Trung Ương Hà Nội, 1992. 38. Tổ chức y tế thế giới (WHO), 1992, “Tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn tâm thần và hành vi (ICD-10), Gernever, Thụy Sỹ. 39. Tổ chức Y tế thế giới (R.Bonita, R.Beaglehole, T.Kjellstom), Dịch tễ học cơ bản, 2006 40. Từ điển xã hội học Oxford (Oxford dictionary of sociology). 2012. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. 41. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2007), Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO-P-R cải biên, NXB Khoa học xã hội. 42. Phạm Thu Trang (2017), Quan điểm Mác-xít về nhân cách và ý nghĩa của nó trong nghiên cứu nhân cách con người Việt Nam, Luận án Tiến sĩ triết học, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội. 43. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang. 2012. Giáo trình Tâm lí học đại cương. Hà Nội: Nhà xuất bản đại học Sư phạm. 44. Đặng Thị Vân. 2010. “Những đặc điểm nhân cách sáng tạo nổi bật của sinh viên trường Đại học nông nghiệp Hà Nội.” Tạp chí Khoa học và Phát triển 8 (2): 359 - 365. 45. Viện nghiên cứu và phát triển (ODI),2018,”Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên tại một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam”. 46. Trần Thị Hải Yến (Chủ biên), Trần Thành Nam, “Giáo trình tâm lý học nhân cách”, NXB Đại học kinh tế quốc dân, 2019. Tài liệu tiếng Anh 47. Alkhelil, A. H. (2016), The Relationship between Personality Traits and Career Choice: A Case Study of Secondary School Students, International Journal of Academic Research in Progressive Education and Development, Vol. 5, No. 2, ISSN: 2226-6348
  • 97.
    91 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 48. Branje, S. J., van Lieshout, C. F., & van Aken, M. A. 2004. “Relations between Big Five personality characteristics and perceived support in adolescents' families.” Journal of personality and social psychology 86(4): 615- 628. 49. Cheung, F. M. 2004. “Use of Western and indigenously developed personality tests in Asia.” Applied Psychology 53(2): 173-191. 50. Costa, P. T., McCrae, R. R., & Holland, J. L. (1984). Personality and vocational interests in an adult sample. Journal of Applied psychology, 69(3), 390. 51. Costa, P. T., Jr., & McCrae, R. R. 1985. The NEO Personality Inventory manual. Odessa, FL: Psychological Assessment Resources 52. Costa Jr, P. T., McCrae, R. R., & Kay, G. G. (1995). Persons, places, and personality: Career assessment using the Revised NEO Personality Inventory. Journal of Career Assessment, 3(2), 123-139. 53. Costa, P. T., Jr., & McCrae, R. R. 1988. “From catalog to classification: Murray's needs and the five-factor model.” Journal of Personality and Social Psychology 55: 258-265. 54. Eysenck, H. J. 1992. “Personality and education: The influence of extraversion, neuroticism and psychoticism. Zeitschrift für Pädagogische Psychologie/German.” Journal of Educational Psychology 6(2): 133-144. 55. Gurvits IG, Koenigsberg HW, Siever LJ: Neurotransmitter dysfunction in patients with borderline personality disorder. Psychiatr Clin North Am 23:27– 40, 2000 56. G.V. Caprara, C. Barbaranelli, L. Borgogni, M. Perugini, The "big five questionnaire": a new questionnaire to assess the five factor model, Person, Individual difference, Vol. 15. No. 3 (1993) 281. 57. Joseph M Rey, Tolulope T Bella-Awusah & Jing Liu, 2015, “Rối loạn trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên 58. Sánchez, M. M., Rejano, E. I., & Rodríguez, Y. T. 2001. "Personality and academic productivity in the university student". Social Behavior and Personality: an international journal 29 (3): 299-305.
  • 98.
    92 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 59. Timmerman T.A, Validity study. Relationships between NEO PI-R personality measures and job performance ratings of inbound call center employees, Applied H.R.M research, Volume 9, Number 1 (2004) 35. 60. Torgersen, S. Genetic Factors in Anxiety Disorders. 1983. Archives of generalpsychiatry. 61. Ulrike Ravens – Sieberer, Michael Erhart, Angela Gosch, Nora Wille, “Mentak health of children and adolescents in 12 European coutries – results from the European Kidscreen study, John Wiley & Sons, Ltd, 2008. 62. Wu K., Lindsted K.D., Tsai S.Y., Lee J.W, Chinese NEO PI-R in Taiwanese adolescents, Personality and Individual differences 44 (2008) 656. Tài liệu điện tử 63. https://www.mentalhealth.org.uk/help-information/mental-health-a- z/C/children-young-people/ 64. https://www.who.int/mental_health/management/en/ 65. https://www.younglives.org.uk/files/working-papers/wp12-measuring-social- capital-and-mental-health-in-vietnam-a-validity-study 66. http://www.schoolmentalhealth.org/ 67. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2174588/ 68. http://www.dsm5.org/Pages/Default.aspx 69. https://www.psychiatry.org/psychiatrists/practice/dsm 70. http://www.ph.ucla.edu/epi/faculty/detels/PH150/Kessler_DSMIV_AGP2009.p df 71. https://www.psychologytoday.com/intl 72. https://www.unicef.org/vietnam/vi 73. https://www.unicef.org/vietnam/vi
  • 99.
    93 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM PHỤ LỤC Phụ lục 1: Trắc nghiệm NEO PI-60 Phụ lục 2: Trắc nghiệm YSR Phụ lục 3: Trắc nghiệm NEO PI-60 NEO PI-R VN-60 Họ và tên: ........................................... Tuổi:............. Giới:....................... Khóa……………………………… Ngành học:…………………………………. Địa chỉ (quê hương):………………………………………… Mã phiếu:…… Hãy đọc các mệnh đề dưới đây và cho biết các mệnh đề đó đúng với em như thế nào. Đừng mất quá nhiều thời gian vào một câu hỏi, hãy chọn đáp án xuất hiện đầu tiên trong đầu (Khoanh tròn vào số mà em chọn) Các phương án trả lời: 0= Hoàn toàn sai 1= Sai 2 = Không đúng cũng không sai 3 = Đúng 4 = Hoàn toàn đúng Nội dung Đáp án 1. Tôi là người làm việc năng suất và luôn hoàn thành công việc. 0 1 2 3 4
  • 100.
    94 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 2. Đôi khi tôi có thể đe dọa hoặc nịnh bợ người khác để họ làm những gì tôi muốn. 0 1 2 3 4 3. Tôi không quan tâm tới thẩm mỹ và nghệ thuật. 0 1 2 3 4 4. Hiếm khi tôi có cảm giác sợ hãi hay lo lắng. 0 1 2 3 4 5. Tôi thấy mình dễ đồng cảm với người khác. 0 1 2 3 4 6. Tôi làm việc đều đặn để hoàn thành công việc đúng thời hạn. 0 1 2 3 4 7. Khi cần tôi có thể mỉa mai và trở nên cay độc. 0 1 2 3 4 8. Tôi ít quan tâm đến việc tìm hiểu bản chất vũ trụ hay loài người. 0 1 2 3 4 9. Hiếm khi tôi buồn hay chán nản. 0 1 2 3 4 10.Tôi là người cởi mở và dễ chấp nhận cách sống của người khác. 0 1 2 3 4 11.Khi bắt tay vào một công việc, hầu như tôi luôn luôn hoàn thành nó. 0 1 2 3 4 12.Đôi khi tôi lừa mọi người làm những gì tôi muốn. 0 1 2 3 4 13.Một số thể loại nhạc có sức cuốn hút rất lớn đối với tôi. 0 1 2 3 4 14.Hiếm khi tôi lo sợ về tương lai. 0 1 2 3 4 15.Tôi thực sự thích trò chuyện với mọi người. 0 1 2 3 4 16.Tôi thấy tự hào về khả năng đánh giá đúng đắn của mình. 0 1 2 3 4 17.Nếu cần thiết, tôi sẵn sàng thao túng mọi người để có thứ mình muốn. 0 1 2 3 4 18.Tôi thích giải những câu đố hóc búa. 0 1 2 3 4 19.Tôi thường lo về những việc có thể trở nên tồi tệ. 0 1 2 3 4 20.Tôi thích những buổi liên hoan đông người. 0 1 2 3 4 21.Tôi suy nghĩ kỹ lưỡng mọi việc trước khi ra quyết định. 0 1 2 3 4 22.Tôi tin rằng hầu hết mọi người sẽ lợi dụng bạn nếu họ có dịp. 0 1 2 3 4
  • 101.
    95 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 23.Tôi ít khi quan tâm đến cảm xúc hiện tại của mình. 0 1 2 3 4 24.Đôi khi tôi cảm thấy cay đắng và uất ức. 0 1 2 3 4 25.Tôi thích có nhiều người xung quanh mình. 0 1 2 3 4 26.Tôi thiết lập các mục tiêu một cách rõ ràng và từng bước thực hiện chúng. 0 1 2 3 4 27.Một số người nghĩ rằng tôi là người lạnh lùng và tính toán. 0 1 2 3 4 28.Thi thoảng tôi hoàn toàn đắm chìm trong bản nhạc mà tôi đang nghe. 0 1 2 3 4 29.Đôi khi những ý nghĩ đáng sợ xuất hiện trong đầu tôi. 0 1 2 3 4 30.Tôi thích những nơi náo nhiệt, có nhiều hoạt động đang diễn ra. 0 1 2 3 4 31.Tôi giữ gìn đồ dùng cá nhân gọn gàng và sạch sẽ 0 1 2 3 4 32.Tôi hay cãi nhau với người nhà và đồng nghiệp. 0 1 2 3 4 33.Tôi thích giải các câu đố. 0 1 2 3 4 34.Nhiều lần, khi sự việc trở nên tồi tệ, tôi thấy chán nản và muốn từ bỏ. 0 1 2 3 4 35.Tôi dễ cười. 0 1 2 3 4 36.Tôi là người có ý thức tự giác cao. 0 1 2 3 4 37.Nếu ai đó bắt đầu cuộc chiến, tôi sẽ sẵn sàng đấu lại. 0 1 2 3 4 38.Khi còn nhỏ, hiếm khi tôi chơi trò chơi tưởng tượng. 0 1 2 3 4 39.Tôi dễ hoảng sợ. 0 1 2 3 4 40.Tôi thích đi chơi ở chỗ đông đúc hơn là nơi vắng người. 0 1 2 3 4 41.Tôi thích cất giữ mọi thứ ngăn nắp nên tôi biết chính xác chúng ở đâu. 0 1 2 3 4 42.Tôi là người cứng đầu và bướng bỉnh. 0 1 2 3 4
  • 102.
    96 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 43.Theo tôi việc giữ đúng các nguyên tắc sống đã có quan trọng hơn là sẵn sàng tiếp thu cái mới. 0 1 2 3 4 44.Khi có quá nhiều căng thẳng, tôi thấy như mình không thể chịu đựng thêm nữa. 0 1 2 3 4 45.Tôi là người vui vẻ và luôn phấn khích. 0 1 2 3 4 46.Mọi người cho rằng tôi là người cẩn thận và biết điều. 0 1 2 3 4 47.Tôi có khả năng đạt được những điều tôi muốn từ người khác với bất cứ giá nào. 0 1 2 3 4 48.Thơ ca thường không có tác động gì đối với tôi. 0 1 2 3 4 49.Cảm xúc của tôi khá ổn định. 0 1 2 3 4 50.Nhiều người cho rằng tôi là người hơi lạnh lùng và khó gần 0 1 2 3 4 51.Khi đã cam kết thực hiện điều gì, mọi người có thể tin là tôi sẽ hoàn thành. 0 1 2 3 4 52.Một số người cho rằng tôi là người ích kỷ và tự cao tự đại. 0 1 2 3 4 53.Tôi thích ở những nơi quen thuộc. 0 1 2 3 4 54.Tôi ít khi cảm thấy cô đơn hay buồn bã. 0 1 2 3 4 55.Tôi thấy dễ dàng tươi cười và thoải mái với người lạ. 0 1 2 3 4 56.Tôi lên kế hoạch cẩn thận trước khi bắt đầu một chuyến đi. 0 1 2 3 4 57.Tôi hay nghi ngờ ý định của người khác. 0 1 2 3 4 58.Tôi có trí tưởng tượng rất phong phú. 0 1 2 3 4 59.Rất khó làm tôi tức giận. 0 1 2 3 4 60.Nếu tôi ở một mình quá lâu, tôi cảm thấy thực sự cần ai đó ở bên. 0 1 2 3 4 Cảm ơn em nhiều!
  • 103.
    97 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Phụ lục 2: Thang đo YSR. Dưới đây là bảng liệt kê các biểu hiện của trẻ em và thanh thiếu niên. Trong vòng từ 06 tháng qua đến hiện nay, bạn cảm thấy mình có những biểu hiện nào trong các mục dưới đây, xin hãy khoanh tròn: Số 0: Nếu câu đó Không Đúng với bạn Số 1: Nếu câu đó Thỉnh Thoảng Đúng với bạn hoặc Khá Đúng với bạn Số 2: Nếu câu đó Thường Xuyên Đúng với bạn hoặc Rất Đúng với bạn 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 1. Cháu có hành động quá trẻ con so với tuổi. 2. Cháu uống rượu, bia mà không có sự cho phép của bố mẹ 3. Cháu hay cãi cọ 4. Cháu hay bỏ dở công việc đang làm 5. Có quá ít điều làm cho cháu hứng thú 6. Cháu thích các con vật 7. Cháu khoe khoang quá mức 8. Cháu chỉ tập trung chú ý được trong thời gian ngắn. 9. Cháu không thể dứt bỏ được những ý nghĩ của mình về một điều nào 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 31. Cháu sợ mình sẽ nghĩ hoặc làm một điều gì xấu 32. Cháu nghĩ rằng mình phải hoàn hảo 33. Cháu nghĩ rằng không ai yêu mến mình 34. Cháu nghĩ rằng người khác muốn làm hại mình 35. Cháu cảm thấy mình vô dụng hoặc kém cỏi 36. Cháu hay bị thương hoặc vấp ngã 37. Cháu hay đánh nhau 38. Cháu hay bị trêu chọc 39. Cháu thường chơi với trẻ hư 40. Cháu nghe những âm thanh hoặc tiếng nói mà người khác không nghe (mô tả) 41. Cháu thường hành động
  • 104.
    98 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 đó, bị ám ảnh (mô tả) 10. Cháu không thể ngồi yên một chỗ 11. Cháu quá phụ thuộc vào người lớn 12. Cháu cảm thấy cô đơn 13. Cháu cảm thấy mù mờ hoặc lẫn lộn 14. Cháu hay khóc 15. Cháu khá trung thực. 16. Cháu hay trêu chọc người khác. 17 Cháu hay mơ màng . 18. Cháu cố ý tự gây thương tích, hoặc có hành động tự tử 19. Cháu làm nhiều điều để thu hút sự chú ý của người khác 20. Cháu phá hoại đồ đạc của mình 21. Cháu phá hoại đồ đạc của gia đình, của người khác 22. Cháu không vâng lời bố mẹ 23. Cháu không vâng lời giáo viên và nhân viên 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 thiếu suy nghĩ. 42. Cháu thích ở một mình hơn có người bên cạnh 43. Cháu nói dối hoặc gian lận 44. Cháu cắn móng tay 45. Cháu bồn chồn, căng thẳng 46. Giật (máy) cơ, giật tay chân hoặc giật cơ mắt (mô tả) 47. Cháu có các cơn ác mộng 48. Cháu không được các trẻ khác thích 49. Cháu có thể làm được một số việc tốt hơn các trẻ khác 50. Cháu quá sợ hãi hoặc quá lo âu 51. Cháu cảm thấy chóng mặt hoặc choáng váng 52. Cháu cảm thấy rất có lỗi 53. Cháu ăn quá nhiều 54. Cháu cảm thấy quá mệt mỏi mà không có lý do chính đáng 55. Cháu bị béo phì 56. Các vấn đề của cơ thể mà chưa rõ nguyên nhân: a. Đau bụng mà chưa rõ nguyên nhân b. Đau đầu mà chưa rõ
  • 105.
    99 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 trong trường 24. Cháu không chịu ăn 25. Cháu không hòa nhập được với trẻ khác 26. Cháu không cảm thấy có lỗi sau khi làm những việc sai trái 27. Cháu dễ ghen tị 28. Cháu không tuân theo các quy định ở nhà, ở trường và các nơi khác. 29. Cháu sợ đi học 30. Cháu sợ một số tình huống (hoàn cảnh), sợ súc vật, sợ nơi nào đó không kể trường học (mô tả) 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 nguyên nhân c. Đau nhức trong cơ thể (không phải đau bụng hoặc đầu) mà chưa rõ nguyên nhân d. Mắt có vấn đề mà không phải cận thị, loạn thị vân vân mà chưa rõ nguyên nhân (mô tả) e. Nổi ban hoặc các biểu hiện ở da mà chưa rõ nguyên nhân f. Buồn nôn mà chưa rõ nguyên nhân g. Nôn mửa mà chưa rõ nguyên nhân h. Các vấn đề khác (mô tả) Số 0: Nếu câu đó Không Đúng với cháu. Số 1: Nếu câu đó Thỉnh Thoảng Đúng với cháu hoặc Khá Đúng với cháu. Số 2: Nếu câu đó Thường Xuyên Đúng với cháu hoặc Rất Đúng với cháu
  • 106.
    Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 57 Cháu tấn công người khác. 58. Cháu cạy da, rứt da (mô tả) 59. Cháu khá thân thiện 60. Cháu thích thử làm những điều mới mẻ 61. Cháu học kém 62. Cháu vụng về 63. Cháu thích chơi với những người lớn tuổi hơn mình 64. Cháu thích chơi với những người nhỏ tuổi hơn mình 65. Cháu từ chối nói chuyện với mọi người 66. Cháu lặp đi lặp lại một số hành động mà không cưỡng lại được (mô tả) 67. Cháu bỏ nhà ra đi vài ngày 68. Cháu la hét nhiều 69. Cháu ít cởi mở, giữ kín mọi chuyện trong lòng 70. Cháu nhìn thấy sự vật không có thực (mô tả) 71. Cháu thẹn thùng, dễ bị ngượng ngùng 72. Cháu nghịch lửa 73. Cháu có thể tự mình làm tốt công việc tay chân 74. Cháu hay làm trò mạo hiểm 100 hoặc diễn hề 75. Cháu quá rụt rè, nhút nhát 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 0 1 2 85.Cháu có những ý nghĩ mà người ta cho là kỳ quặc (mô tả): 86. Cháu bướng bỉnh 87. Cảm xúc của cháu thay đổi đột ngột 88. Cháu thích được ở bên mọi người 89. Cháu đa nghi 90. Cháu chửi bậy, nói tục 91. Cháu nghĩ đến việc tự tử 92. Cháu thích làm người khác cười 93. Cháu nói quá nhiều 94. Cháu hay trêu chọc mọi người 95. Cháu dễ nổi khùng 96. Cháu nghĩ quá nhiều về tình dục 97. Cháu hay hăm doạ mọi người 98. Cháu thích giúp đỡ người khác 99. Cháu hút thuốc lá 100. Cháu khó ngủ (mô tả): 101. Cháu bỏ lớp, trốn học 102. Cháu không có nhiều sinh lực
  • 107.
    101 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM Xin hãy trả lời đầy đủ các mục đã nêu và gạch chân các mục mà cháu băn khoăn. Chân thành cảm ơn! Thang đánh giá Lo âu - Trầm cảm - Stress (DASS 21) Hãy đọc mỗi câu và khoanh tròn vào các số 0, 1, 2 và 3 ứng với tình trạng mà bạn cảm thấy trong suốt một tuần qua. Không có câu trả lời đúng hay sai. Và đừng dừng lại quá lâu ở bất kỳ câu nào. Mức độ đánh giá: 0 Không đúng với tôi chút nào cả 1 Đúng với tôi phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng 2 Đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng 3 Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết thời gian là đúng S 1. Tôi thấy khó mà thoải mái được 0 1 2 3 A 2. Tôi bị khô miệng 0 1 2 3 D 3. Tôi dường như chẳng có chút cảm xúc tích cực nào 0 1 2 3 A 4. Tôi bị rối loạn nhịp thở (thở gấp, khó thở dù chẳng làm việc gì nặng) 0 1 2 3 D 5. Tôi thấy khó bắt tay vào công việc 0 1 2 3 S 6. Tôi có xu hướng phản ứng thái quá với mọi tình huống 0 1 2 3 A 7. Tôi bị ra mồ hôi (chẳng hạn như mồ hôi tay...) 0 1 2 3 S 8. Tôi thấy mình đang suy nghĩ quá nhiều 0 1 2 3 A 9. Tôi lo lắng về những tình huống có thể làm tôi hoảng sợ hoặc biến tôi thành trò cười 0 1 2 3 D 10. Tôi thấy mình chẳng có gì để mong đợi cả 0 1 2 3 S 11. Tôi thấy bản thân dễ bị kích động 0 1 2 3 S 12. Tôi thấy khó thư giãn được 0 1 2 3 D 13. Tôi cảm thấy chán nản, thất vọng 0 1 2 3 S 14. Tôi không chấp nhận được việc có cái gì đó xen vào cản trở việc tôi đang làm 0 1 2 3
  • 108.
    102 Viết đề tàigiá sinh viên – ZALO:0973.287.149-TEAMLUANVAN.COM A 15. Tôi thấy mình gần như hoảng loạn 0 1 2 3 D 16. Tôi không thấy hăng hái với bất kỳ việc gì nữa 0 1 2 3 D 17. Tôi cảm thấy mình chẳng đáng làm người 0 1 2 3 S 18. Tôi thấy mình khá dễ phật ý, tự ái 0 1 2 3 A 19. Tôi nghe thấy rõ tiếng nhịp tim dù chẳng làm việc gì cả (ví dụ, tiếng nhịp tim tăng, tiếng tim loạn nhịp) 0 1 2 3 A 20. Tôi hay sợ vô cớ 0 1 2 3 D 21. Tôi thấy cuộc sống vô nghĩa 0 1 2 3