1




                ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
   TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
                      ----------------------------------------------------


                                      Vƣơng Thị Vân




   VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT
      TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
          PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN




               LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ




                                Thái nguyên, năm 2009



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                   http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2




                               ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
   TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
                            ------------------------------------------




                                   VƢƠNG THỊ VÂN



      VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
 TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN
    HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN


                      Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
                              Mã số: 60- 31- 10



              LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ


             Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: T.S. ĐỖ ANH TÀI




                                THÁI NGUYÊN - 2009




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
3



                                    LỜI CAM ĐOAN




        Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
        Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ
nguồn gốc.


                                                      Tác giả luận văn




                                                      Vƣơng Thị Vân




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên             http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4



                                       LỜI CẢM ƠN


        Sau hơn 3 năm phấn đấu vƣợt qua nhiều khó khăn để học tập với sự
ủng hộ động viên của gia đình, bạn bè và đặc biệt là sự quan tâm tạo điều kiện
thuận lợi của đồng chí, đồng nghiệp ở cơ quan, của nhà trƣờng và sự dạy bảo
tận tình của thầy cô, tôi đã hoàn thành chƣơng trình cao học kinh tế nông
nghiệp và luận văn này.
        Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, Khoa Sau
đại học, ban chủ nhiệm lớp cùng các thầy cô Trƣờng đại học kinh tế và quản
trị kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hƣớng dẫn, tạo điều kiện về
mọi mặt để tôi thực hiện đề tài này. Đặc biệt tôi xin cảm ơn TS. Đỗ Anh Tài,
đã hƣớng dẫn chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban, ngành,
đoàn thể gồm: Hội LHPN tỉnh Thái Nguyên, Huyện uỷ Phú Lƣơng, UBND
huyện Phú Lƣơng, Ban Dân vận Huyện uỷ Phú Lƣơng, Phòng LĐ-XH huyện
Phú Lƣơng, Phòng Thống kê huyện Phú Lƣơng, Các tổ chức hội đoàn thể
huyện Phú Lƣơng, Ngân hàng NN&PTNT huyện Phú Lƣơng, UBND và hội
phụ nữ các xã Cổ Lũng, Ôn Lƣơng, Yên Trạch.
        Tuy đã có nhiều cố gắng nhƣng luận văn này không trách khỏi những
thiếu sót, kính mong quý thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp chỉ bảo, giúp
đỡ để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.
                                           Thái Nguyên, ngày 02 tháng 10 năm 2009
                                                       Tác giả luận văn




                                                       Vƣơng Thị Vân



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên              http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5



                                         MỤC LỤC


                                                                                Trang

Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, đồ thị
Phần Mở đầu                                                                       1
1. Tính cấp thiết của đề tài                                                      1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài                                                 3
    2.1. Mục tiêu chung                                                           3
    2.2. Mục đích cụ thể                                                          3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu                                                3
    3.1. Đối tƣợng nghiên cứu                                                     3
    3.2. Phạm vi nghiên cứu                                                       3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiến của đề tài                                       4
5. Bố cục luận văn                                                                4
Chƣơng 1. Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu                                5
1.1. Cơ sở khoa học                                                               5
    1.1.1. Giới tính và Giới                                                      5
    1.1.2. Phát triển kinh tế nông thôn                                           8
    1.1.3. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn         10
    1.1.4. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam             14
    1.1.5. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn                             21
1.2. Phƣơng pháp nghiên cứu                                                      28
    1.2.1. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu                                       28


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên          http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6



    1.2.2. Phƣơng pháp chọn điểm nghiên cứu                                  29
    1.2.3. Phƣơng pháp thu thập số liệu                                      30
    1.2.4. Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích số liệu                         31
    1.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích                                   31
Chƣơng 2. Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát
triển kinh tế huyện Phú Lƣơng                                                32
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái
Nguyên                                                                       32
    2.1.1. Điều kiện tự nhiên                                                32
    2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội                             37
2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế
huyện Phú Lƣơng                                                              45
   2.2.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn
huyện                                                                        45
    2.2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ trong các hộ nghiên cứu                 54
   2.2.3. Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò
phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế                                    69
Chƣơng 3. Quan điểm, phƣơng hƣớng và những giải pháp nhằm
nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế
hộ huyện Phú Lƣơng                                                           74
3.1. Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ                           74
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ
nông thôn trong phát triển kinh tế                                           75
Phần Kết luận và kiến nghị                                                   82
Tài liệu tham khảo                                                           86
Phụ lục                                                                      90




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
7



                               DANH MỤC CÁC BẢNG


                                                                             Trang
2.1     Diện tích đất phân theo loại đất và theo xã, thị trấn của huyện
        Phú Lƣơng năm 2008                                                     34
2.2      Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Phú Lƣơng giai đoạn
        2006- 2008                                                             36
2.3     Tình hình dân số huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2006-2008                   38
2.4     Lao động huyện Phú Lƣơng chia theo giới tính và khu vực giai
        đoạn 2006-2008                                                         40
2.5     Diện tích, năng suất, sản lƣợng một số cây trồng chính của
        huyện từ năm 2006-2008                                                 41
2.6     Nữ trong các nhóm tuổi từ năm 2006-2008                                45
2.7     Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008              46
2.8     Trình độ của cán bộ hội đoàn thể nhiệm kỳ 2006-2011                    48
2.9  Phụ nữ tham gia cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2005-2010                            51
2.10 Phân loại hộ khu vực nông thôn huyện Phú Lƣơng theo chuẩn
     mới và mức sống dân cƣ giai đoạn 2006- 2008                               53
2.11 Phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể
     tại các xã vùng nghiên cứu                                                54
2.12 Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động cộng đồng ở các điểm nghiên cứu               55
2.13 Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý hộ                                56
2.14 Phân công lao động sản xuất nông nghiệp trong các hộ ở các
     điểm nghiên cứu năm 2008                                                  58
2.15 Phân công lao động trong hoạt động khác ở 3 cụm xã vùng
     nghiên cứu                                                                59
2.16 Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ ở điểm nghiên cứu                     63
2.17 Tỷ lệ tiếp cận kiến thức của phụ nữ và nam giới ở các điểm
     nghiên cứu                                                                64
2.18 Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất                          65
2.19 Tình quản lý tài chính của hộ tại các vùng nghiên cứu                     66
2.20 Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng giới và
     công cuộc phát triển                                                      72




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
8



                      DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ



                                                                             Trang
2.1     Cơ cấu sử dụng đất huyện Phú Lƣơng năm 2008                            35

2.2      Tốc độ tăng dân số huyện Phú Lƣơng theo giới tính giai đoạn
        2006- 2008                                                             39
2.3     Cơ cấu kinh tế huyện Phú Lƣơng năm 2008                                43

2.4     Biến động cơ cấu kinh tế huyện Phú Lƣơng trong giai đoạn
        2006-2008                                                              43
2.5     Cơ cấu phụ nữ tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008                     47

2.6     Trình độ văn hoá của lao động nữ huyện Phú Lƣơng năm 2008              49

2.7     Phụ nữ là đại biểu hội đồng nhân dân 2 cấp nhiệm kỳ 2004- 2009         52
2.8     Tình hình sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ vùng nghiên cứu
        trong một năm                                                          62
2.9     Trình độ văn hoá của nam, nữ trong độ tuổi ở vùng nghiên cứu           67

2.10 Tỷ lệ ngƣời ốm trong các hộ đƣợc chăm sóc, chữa trị tại nhà ở
     các vùng nghiên cứu                                                       68

2.11 Tỷ lệ các hộ sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình ở vùng
     nghiên cứu                                                                69




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
1



                                           MỞ ĐẦU


        1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những ngƣời lao động
trong xã hội. Bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho
xã hội, làm phong phú cuộc sống con ngƣời. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của
mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động
vật chất, phụ nữ là một lực lƣợng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống
con ngƣời. Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra
con ngƣời để duy trì và phát triển xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần,
phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại. Nền văn hoá dân gian của
bất cứ nƣớc nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của
đông đảo phụ nữ [31].
        Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nƣớc, họ tham gia vào
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và
càng ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Trong suốt
chặng đƣờng đấu tranh dựng nƣớc, giữ nƣớc và xây dựng đất nƣớc, lịch sử
Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ. Trong công cuộc
đổi mới đất nƣớc của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần
yêu nƣớc, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vƣơn
lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi
lĩnh vực. Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là ngƣời con dâu, ngƣời vợ, ngƣời
mẹ, ngƣời thầy của các con, ngƣời thầy thuốc của gia đình.
        Đảng và Nhà nƣớc ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ
trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh
vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…Ở khu vực nông thôn,
cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2



phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát
triển kinh tế xã hội, ổn định an ninh quốc phòng địa phƣơng làm thay đổi diện
mạo khu vực nông thôn Việt Nam.
        Phú Lƣơng là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, với 50,5%
dân số là phụ nữ [41]. Lực lƣợng này đã và đang có những đóng góp to lớn
vào sự phát triển kinh tế- xã hội của toàn huyện. Tuy nhiên, sự đóng góp của
phụ nữ lại chƣa đƣợc ghi nhận một cách xứng đáng, chƣa tƣơng xứng với vị
trí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời
sống gia đình. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trƣờng, ngƣời phụ nữ phải "nặng
gánh hai vai", vừa phải làm tốt công việc xã hội, vừa đảm nhiệm vai trò làm
vợ, làm mẹ trong khi quỹ thời gian của họ cũng chỉ có nhƣ mọi ngƣời, sức
khoẻ lại hạn chế... Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và hy sinh, nhƣng
quyền lợi về mọi mặt của họ lại chƣa đƣợc quan tâm đúng mức.
         Qua quá trình công tác và nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan đến phụ
nữ, nhiều câu hỏi đƣợc đặt ra cho bản thân, cho các cấp hội phụ nữ và chúng
ta: Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay nhƣ thế
nào? Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện
nay ra sao? giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao
năng lực cho phụ nữ? Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn
miền núi huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên trong việc phát triển kinh tế
đƣợc đặt ra nhƣ một yêu cầu cấp bách, từ đó đề xuất một số giải pháp có tính
khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lƣợng này, qua đó thúc đẩy sự
phát triển nông nghiệp nông thôn theo xu hƣớng đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nhƣ mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra.
        Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và sự nhận thức sâu sắc về những
tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quá
trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
3



“Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn
huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên”.
        2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
        2.1. Mục tiêu chung
        Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ
nông thôn, đƣa ra giải pháp và kiến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy
tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống
gia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội huyện Phú Lƣơng.
        2.2. Mục đích cụ thể
        - Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong
phát triển kinh tế hộ nông thôn miền núi.
        - Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế hộ nông thôn tại huyện Phú Lƣơng.
        - Tìm hiểu các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ
trong phát triển kinh tế hộ nông thôn. Qua đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu
nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi
trên địa bàn Phú Lƣơng.
        3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
        3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
        Đối tƣợng nghiên cứu là phụ nữ trong các hộ gia đình trên địa bàn
huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên.
        3.2. Phạm vi nghiên cứu
        - Về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế nông thôn.
        - Về không gian nghiên cứu: đề tài đƣợc thực hiện tại một số cơ quan,
tổ chức kinh tế chính trị xã hội, một số nhóm hộ sản xuất nông, lâm nghiệp,
dịch vụ trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Phú Lƣơng.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4



        - Về thời gian nghiên cứu: tổng quan về vai trò của phụ nữ đƣợc phân
tích thông qua số liệu của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị kinh tế
xã hội trong thời gian gần đây, chủ yếu từ năm 2006 đến năm 2008. Các số
liệu điều tra thực hiện trong năm 2008.
        4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
        Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực,
là một kênh thông tin để Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện tham mƣu giúp
Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phú Lƣơng xây dựng giải pháp thực hiện
chƣơng trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện nhằm năng cao
vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, góp phần thực hiện hiệu quả Đề án
phát triển kinh tế - xã hội của huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2010 - 2015.
        5. BỐ CỤC LUẬN VĂN
        Luận văn gồm 2 phần và 3 chƣơng
        Phần mở đầu
        Chương 1: Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu
        Chương 2: Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông
thôn huyện Phú Lƣơng.
        Chương 3: Quan điểm, định hƣớng và những giải pháp nhằm nâng cao
vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Phú Lƣơng.
        Phần kết luận




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5



                                          CHƢƠNG I
          CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


        1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC
        1.1.1. Giới tính và Giới
        1.1.1.1. Khái niệm Giới tính và Giới
        *Giới tính: chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang
tính toàn cầu và không thay đổi [44].
        Các đặc trƣng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự
nhiên, di truyền. Ví dụ, ngƣời nào có cặp nhiệm sắc thể giới tính XX thì thuộc
về nữ giới, ngƣời nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam
giới. Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học nhƣ tạo ra trứng, mang thai, sinh
con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ. Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng.
Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới.
        *Giới: chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em
trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, đƣợc hình thành và khác nhau
ngay trong một nền văn hoá, giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian.
Sự khác biệt này đƣợc nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm,
nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính [44].
        Khái niệm về "Giới" đƣợc xuất hiện ban đầu là các nƣớc nói tiếng Anh,
vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX... Ở Việt Nam, khái niệm này mới
xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80.
        “Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến
vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. "Giới"
đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi ích
giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6



        "Giới" là yếu tố luôn biến đổi cũng nhƣ tƣơng quan về địa vị trong xã
hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tƣợng bất biến mà liên tục
thay đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. "Giới"
là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong
quan hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm
bảo công bằng trong xã hội.
        1.1.1.2. Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới:
        * Đặc điểm về giới:
        - Không tự nhiên mà có
        - Học đƣợc từ gia đình và xã hội
        - Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
        - Có thể thay đổi đƣợc
        * Nguồn gốc giới:
        - Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ đƣợc đối xử tuỳ theo nó
là trai hay gái. Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà,
bố mẹ, anh chị. Đứa trẻ đƣợc dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo
giới tính của mình.
        - Trong nhà trƣờng, các thầy cô giáo cũng định hƣớng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh. Học sinh nam đƣợc hƣớng theo các ngành kỹ thuật, điện
tử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ đƣợc hƣớng theo các ngành nhƣ
may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ.
        * Sự khác biệt về giới:
        Phụ nữ đƣợc xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là
thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ
nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và
cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.Lrc-tnu.edu.vn
7



        Nam giới đƣợc coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn
về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trƣng này cho
phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng
buộc bởi con cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách
khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội.
        Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau
để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ
khác nhau để tham gia vào các chƣơng trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm
bắt các thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội đƣợc học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình,
ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tƣ tƣởng,
phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau.
        1.1.1.3. Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
        * Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát
từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới. Nếu những nhu
cầu này đƣợc đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình [1].
        Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu đƣợc hình thành từ những điều
kiện cụ thể mà phụ nữ trải qua. Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong
phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại
của con ngƣời. Khác với nhu cầu chiến lƣợc, chúng đƣợc chính phụ nữ đƣa ra
từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài. Vì vậy nhu cầu
giới thực tế thƣờng là sự hƣởng ứng đối với sự cần thiết đƣợc nhận thức ngay
do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể.
        *Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của
phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ. Những
lợi ích này khi đƣợc đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo
hƣớng bình đẳng [1].



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
8



        * Bình đẳng giới: nam giới và nữ giới đƣợc coi trọng nhƣ nhau, cùng
đƣợc công nhận và có vị thế bình đẳng [1].
        Nam giới và phụ nữ đƣợc bình đẳng về:
        - Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng.
        - Các cơ hội để tham gia đóng góp, hƣởng lợi trong quá trình phát triển.
        - Quyền tự do và chất lƣợng cuộc sống.
        1.1.1.4. Vai trò của giới
        - Vai trò sản xuất: đƣợc thể hiện trong lao động sản xuất dƣới mọi hình
thức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội.
        - Vai trò tái sản xuất sức lao động: bao gồm các hoạt động nhằm duy trì
nòi giống, tái tạo sức lao động. Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất
sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lƣợng lao động cho
hiện tại và tƣơng lai nhƣ: nuôi dạy con cái, nuôi dƣỡng các thành viên trong
gia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu nhƣ của ngƣời phụ nữ.
        - Vai trò cộng đồng: thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở
mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện
các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng.
        1.1.2. Phát triển kinh tế nông thôn
        1.1.2.1. Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế
        *Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự
tăng thêm về quy mô sản lƣợng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm
nâng cao chất lƣợng cuộc sống [19].
        Phát triển kinh tế: có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền
kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về
quy mô sản lƣợng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [12].




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.Lrc-tnu.edu.vn
9



        1.1.2.2.Khái niệm về nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ của một
nhà nƣớc hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trƣờng
tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và
dân cƣ chủ yếu làm nông nghiệp [29].
        1.1.2.4.Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tế
nông thôn
        * Hộ gia đình: có ba tiêu thức chính thƣờng đƣợc nói đến khi định
nghĩa khái niệm hộ gia đình:
        - Có quan hệ huyết thống và hôn nhân
        - Cùng cƣ trú
        - Có cơ sở kinh tế chung [55].
        Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì hộ
đƣợc hiểu là: tất cả những ngƣời cùng sống trong một mái nhà, bao gồm
những ngƣời có cùng huyết tộc và những ngƣời làm công [55].
        Về phƣơng diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng
hộ là những ngƣời cùng sống chung dƣới một mái nhà, cùng ăn chung và có
chung một ngân quỹ [55].
        Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những ngƣời có quan hệ hôn
nhân, quan hệ huyết thống. Vì vậy khái niệm hộ thƣờng đƣợc hiểu đồng nghĩa
với gia đình, nhiều khi đƣợc gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình.
        * Kinh tế hộ nông dân:
        Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thu
hoạch các phƣơng tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong
sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhƣng về cơ bản
đƣợc đặc trƣng bằng việc tham gia một phần trong thị trƣờng, hoạt động với
một trình độ không hoàn chỉnh cao [55].




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
10



        Kinh tế hộ nông dân đƣợc phân biệt với các hình thức kinh tế khác
trong nền kinh tế thị trƣờng bởi các đặc điểm sau:
        - Đất đai: nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những ngƣời sản xuất
có tƣ liệu sản xuất chủ yếu là đất đai.
        - Lao động: lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự
đảm nhận. Sức lao động của các thành viên trong hộ không đƣợc xem là lao
động dƣới hình thái hàng hoá, họ không có khái niệm tiền công, tiền lƣơng.
        - Tiền vốn: chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ.
        Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng cho nhu
cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dƣ thừa mới bán ra thị trƣờng.
        1.1.3. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
        1.1.3.1. Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội
        Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả
năng sản xuất và tái sản xuất. Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động; số
giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2
trong tổng sản lƣợng nông nghiệp. Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc
khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công
nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng đƣợc nâng cao [56].
        Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trƣớc cho biết: Phụ nữ
là ngƣời tạo ra phần lớn lƣơng thực tiêu dùng cho gia đình. 1/4 số hộ gia đình
trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào
thu nhập của lao động nữ [5]. Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất
nhiều nƣớc trên thế giới. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế
về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội
thấp. Trong số hơn 1,3 tỷ ngƣời trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì
có đến 70% là nữ. Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về
mang thai, sinh đẻ…



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên           http://www.Lrc-tnu.edu.vn
11



        Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lực
lƣợng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các
lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy
Nhà nƣớc. Hiện có tới 27,3% đại biểu nữ trong Quốc hội (cao nhất ở Châu Á
và là một trong những nƣớc có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới);
tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69% [58].
        Tuy nhiên, so với con số trung bình theo quy định của Quốc tế tỷ lệ lao
động nữ là đại biểu Quốc hội của Việt Nam chƣa đạt và có xu hƣớng giảm
dần. Theo số liệu của Văn phòng Quốc hội thì tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia vào
Quốc hội giai đoạn 1975 – 1976 là 32%; 1976 – 1981 là 27%; 1992 – 1997
chỉ còn 18,5%; 2002 - 2007 tăng lên là 27,31% [58].
        Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và
xã hội. Nghĩa vụ công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ đƣợc
thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và
phát triển lâu dài của đất nƣớc. Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong
các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội. Điều đó cho thấy phụ nữ
ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội.
        1.1.3.2. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
        Phụ nữ luôn là ngƣời đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng
sản xuất và tái sản xuất. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội
nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển. Vai trò của phụ nữ
trong sự phát triển kinh tế nông thôn thể hiện nhƣ sau:
        - Trong lao động sản xuất: phụ nữ là ngƣời làm ra phần lớn lƣơng thực,
thực phẩm tiêu dùng cho gia đình. Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu
dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ.
        - Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia
đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng ngƣời vợ, ngƣời mẹ. Họ phải làm hầu



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
12



hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng
đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội.
        - Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động
cộng đồng tại xóm, thôn bản.
        Nhƣ vậy, dù đƣợc thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và
những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình,
trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bƣớc tiến của nhân loại.
Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần đƣợc chia sẻ,
thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có
những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình.
        1.1.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế nông thôn
        * Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một số
nước Á Đông: phụ nữ trƣớc hết phải lo việc gia đình, con cái. Dù làm bất kỳ
công việc gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm
ngự trị ở nƣớc ta từ nhiều năm nay. Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng
nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến
của họ cho xã hội và cho gia đình. Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dƣỡng con
nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai ngƣời phụ nữ. Đây là trở ngại
lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động
chính trị, xã hội. Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năng
động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội.
Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào
quá trình phát triển kinh tế [9].
        * Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ
còn nhiều hạn chế: Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phƣơng tiện thông tin
nghe nhìn và sách báo đến với ngƣời dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
13



lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt
còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài thời gian lao động sản xuất, ngƣời phụ nữ
dƣờng nhƣ ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hƣởng thụ văn hoá tinh
thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn
thời gian còn lại cho công việc gia đình. Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ
thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội. Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% [43]. Theo
thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu
ngƣời bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em
không đƣợc đi học thì có tới 70% là trẻ em gái. Còn ở Việt Nam, theo thống
kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90%
tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nƣớc; chỉ có 0,63 % công nhân
kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46%. Tỷ lệ lao
động nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là
0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới) [22]. Điều đó cho thấy trình độ học vấn và
chuyên môn nghề nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới.
        Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp
không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm
kiếm thị trƣờng, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất và đời sống. Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao
động của họ thấp.
        *Yếu tố về sức khoẻ: với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa
phải thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con bú
bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức
khoẻ của họ bị giảm sút. Điều này không những ảnh hƣởng đến khả năng lao
động mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng nhƣ trong việc phát
triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
14



        * Khả năng tiếp nhận thông tin: do phụ nữ phải đảm nhận một khối
lƣợng công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động
cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm. Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh
ngƣời dân còn chƣa hề đƣợc tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải
thông tin khác.
        * Các yếu tố chủ quan: một yếu tố khác không thể không nhắc đến đó
là nguyên nhân chủ quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch
lạc về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó.
Họ cũng cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…là
việc của phụ nữ. Họ tỏ ra không hài lòng về ngƣời đàn ông thạo việc bếp núc,
nội trợ. Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc
thêm trách nhiệm cho mình. Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuất
càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần.
        Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong
sự phát triển của nhân loại. Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộ
của họ trong cuộc sống. Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động
không tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn
quẩn của sự nghèo đói và bất bình đẳng. Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình
đẳng đối với nữ trên toàn thế giới. Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao
động xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại.
        1.1.4. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam
        1.1.4.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên
thế giới Tại châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dƣơng, trung bình một tuần phụ
nữ làm việc nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn.
Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ đƣợc trả công thấp hơn nam giới cho
cùng một loại công việc. Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50%-90% thu
nhập của nam giới [7].



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
15



        * Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữ
tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao. Một số tài liệu thống
kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó:
        - Bangladesh: có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lƣợng lao động
so với 82,5% nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ
thành thị (28,9%). Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lƣợng lao động nhiều
nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54. Đáng chú ý rằng,
gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lƣợng lao động,
cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. Đặc biệt phụ nữ nông
thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lƣợng lao động [9].
        - Trung Quốc: nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lƣợng lao động cao
nhất từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm
tuổi cao hơn. Giống nhƣ ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ
tuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lƣợng lao động, con số này cao gấp 2
lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi [9].
        * Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp: nhìn chung, trình độ chuyên môn
kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nƣớc đang phát triển còn rất thấp. Ở
các nƣớc đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không đƣợc
học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai.
Vì ít có điều kiện học hành nên những ngƣời phụ nữ này không có điều kiện
tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn
nuôi theo phƣơng thức tiên tiến, những kiến thức họ có đƣợc chủ yếu là do tự
học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những ngƣời thân của mình.
Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm đƣợc truyền đạt theo phƣơng pháp
này thƣờng ít khi làm thay đổi đƣợc mô hình, cách thức sản xuất của họ [9].
        * Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở
hầu hết các nƣớc đang phát triển. Điều đó trƣớc hết bắt nguồn từ tình trạng



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
16



phụ nữ có trình độ học vấn thấp. Một nguyên nhân khác không kém phần
quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã đƣợc hình
thành ở hầu hết các nƣớc đang phát triển. Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng
cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không đƣợc ghi nhận
một cách xứng đáng.
        Đấu tranh để đạt đƣợc sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã
hội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó
khăn, thử thách. Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và
lạc hậu. Đất nƣớc ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tƣ tƣởng “Trọng
nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng,
nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu… Ngay tại các bộ,
ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn
gặp những khó khăn nhất định. Việc bồi dƣỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có
nơi còn bị hạn chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động
nữ… Nhƣ vậy, mặc dù đã đạt đƣợc những thành quả nhất định nhƣng vấn đề
bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn
đấu để đạt đƣợc mục tiêu bình đẳng thật sự.
        1.1.4.2. Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ
trong phát triển kinh tế nông thôn
        * Thực trạng phụ nữ Việt Nam: là một nƣớc có nền công nghiệp chƣa
phát triển, Việt Nam hiện có khoảng gần 80% số ngƣời trong độ tuổi lao động
sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm trên 50%, nhƣng họ là nhóm ngƣời
yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không đƣợc nhƣ đội ngũ công nhân, trí
thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức. Nhƣng họ lại là lực
lƣợng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp nhƣ:
cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, sát gạo… [8].




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
17



        Hiện tƣợng tăng tƣơng đối của lực lƣợng lao động nữ nông thôn những
năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:
        - Do sự gia tăng tự nhiên số ngƣời trong độ tuổi lao động, hiện nay
hàng năm nƣớc ta có khoảng 80 - 90 vạn ngƣời bƣớc vào tuổi lao động, trong
đó: lao động nữ chiếm 55% [10].
        - Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ
chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp
bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc.
        - Do sự tan rã của thị trƣờng Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90,
khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn
tiêu thụ hàng hoá, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông
nghiệp.
        - Ngoài ra, trong cơ chế thị trƣờng, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều
hợp tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng
phá sản. Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã
thủ công này phải trở về nghề nông.
        *Vai trò và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh
tế- xã hội: Dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề giải phóng
phụ nữ luôn gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Quyền bình đẳng của phụ nữ đã đƣợc ghi trong Điều 36 Hiến pháp Việt
Nam năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (đã đƣợc sửa đổi và bổ sung năm 2002)
một lần nữa khẳng định: "Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt
chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình. Nhà nƣớc và xã hội tạo điều kiện để phụ
nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong
xã hội". Trên tinh thần đó, các tầng lớp phụ nữ đã tích cực học tập, lao động
sáng tạo, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực và giữ vị trí quan trọng.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
18



        Phụ nữ trong hệ thống dân cử:
        Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quan tâm của phụ nữ trong xã hội và trong
quản lý Nhà nƣớc. Chỉ thị 37- CT/TƢ ngày 16/5/1994 khẳng định "nâng cao
tỷ lệ nữ tham gia quản lý Nhà nƣớc, quản lý kinh tế là một yêu cầu quan trọng
để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy
tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ" [2]. Nƣớc ta đƣợc đánh giá là
có số đại biểu nữ cao trong Quốc hội, đứng đầu Châu Á và đứng thứ hai khu
vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng và xếp thứ 9/135 các nƣớc trên thế giới.
Trong chặng đƣờng 60 năm, Quốc hội nƣớc ta đã trải qua 12 nhiệm kỳ, đội
ngũ cán bộ nữ trƣởng thành cả về số lƣợng và chất lƣợng. Tính đến nhiệm kỳ
2002- 2007, 1.038 nữ đại biểu đƣợc bầu vào Quốc hội. Khoá I có 3% đại biểu
nữ thì đến khoá XI đã tăng lên 27,31%, cán bộ nữ giữ chức chủ nhiệm, phó
chủ nhiệm các uỷ ban của Quốc hội chiếm 25%. Nhiệm kỳ 1999-2004, số nữ
đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh chiếm 22,33%, cấp huyện chiếm 20,12%,
cấp xã chiếm 16,56%. Tuy nhiên so với nam giới tỷ lệ này vẫn thấp. [20]
        Phụ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng: Trong các kỳ đại hội Đảng gần
đây, tỷ lệ phụ nữ trong các cấp uỷ tăng lên không đáng kể. So với các cấp, số
lƣợng phụ nữ tham gia Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng chiếm tỷ lệ thấp
nhất, khoá VII có 12 đồng chí, khoá VIII tăng lên là 18 đồng chí nhƣng đến
khoá IX lại còn 12 đồng chí. Phụ nữ tham gia các cấp uỷ địa phƣơng có từ 10-
11%, trong đó uỷ viên ban thƣờng vụ trở lên đạt từ 3% đến 8%. Phần lớn các
chị em trong ban thƣờng vụ cấp uỷ thƣờng đƣợc phân công làm công tác kiểm
tra và dân vận [20].
        Phụ nữ tham gia các cấp chính quyền:
        Trong những năm gần đây, tỷ lệ lãnh đạo nữ ở cấp Trung ƣơng thấp.
Năm 2008, tỷ lệ phó chủ tịch nƣớc là 25%, bộ trƣởng 4,55%, tƣơng đƣơng bộ




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
19



trƣởng là 11,43%, thứ trƣởng 2,75%, tƣơng đƣơng thứ trƣởng là 9,21%, vụ
trƣởng và tƣơng đƣơng là 20,74% [20].
        Tỷ lệ nữ là chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh/thành nhiệm kỳ 1999-
2004 chỉ có 1,64%, đến nhiệm kỳ 2004-2009 tăng lên là 3,12%, nhƣng ở cấp
huyện lại có xu hƣớng giảm, từ 5,27% ở cả 2 cấp giảm xuống còn 3,62% [20].
        Trong các doanh nghiệp: Trong hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt
động theo Luật doanh nghiệp, có 15% phụ nữ đứng đầu hoặc nắm cƣơng vị
chủ chốt. Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp ở một số ngành dệt, may
mặc, giầy dép, thực phẩm…chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông, vận tải,
xây dựng, khai khoáng… chiếm 20%. Trong 900 nghìn hộ kinh doanh gia
đình có 27% phụ nữ điều hành [20].
        Bên cạnh việc tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, phụ nữ
Việt Nam còn luôn cố gắng làm tròn nhiệm vụ ngƣời vợ, ngƣời mẹ gánh vác
công việc nội trợ. Trong hoàn cảnh còn thiếu thốn, phụ nữ nông thôn phải lo
cho gia đình đủ cơm ăn, con cái đƣợc học hành và khoẻ mạnh. Ngƣời phụ nữ
còn là ngƣời giữ gìn, truyền thụ những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta từ
thế hệ này sang thế hệ khác, gia đình Việt Nam đến nay vẫn giữ đƣợc truyền
thống tốt đẹp là do công lao to lớn của ngƣời phụ nữ.
        * Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với phụ
nữ: sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng đến việc giải phóng phụ
nữ. Bác nhấn mạnh: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng
đƣợc một nửa loài ngƣời”. Ngƣời cho rằng, muốn giải phóng phụ nữ trƣớc hết
phải giải phóng họ ra khỏi sự trói buộc của tƣ tƣởng trọng nam khinh nữ, ra
khỏi sự bất công trong gia đình mình cũng nhƣ xã hội, đồng thời nâng cao vị
thế của họ trong xã hội. Thế nên, Ngƣời đã yêu cầu các ngành, các địa
phƣơng phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của cuộc
sống, để phụ nữ phát huy quyền và khả năng công dân của mình.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
20



        Tiếp tục kế thừa và phát huy tƣ tƣởng của ngƣời, Đảng và Nhà nƣớc ta
đã ban hành và thực hiện không ít những quyết sách mang tính chiến lƣợc đối
với vấn đề phụ nữ nhƣ: Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 12/4/1993 của Bộ
Chính trị “Về đổi mới và tăng cƣờng vận động phụ nữ trong tình hình mới”;
Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 16/5/1994 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng khoá
VII “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”. Năm 1995,
Tại Hội nghị lần thứ IV về phụ nữ của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Bắc Kinh
(Trung Quốc), các quốc gia đã nhất trí thông qua Cƣơng lĩnh hành động vì sự
tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ và tăng cƣờng
quyền lực cho phụ nữ trên toàn thế giới. Mỗi quốc gia xây dựng chiến lƣợc
của nƣớc mình nhằm thực hiện Cƣơng lĩnh Bắc Kinh. Tại Hội nghị này,
Chính phủ Việt Nam đã công bố chiến lƣợc phát triển vì sự tiến bộ của phụ
nữ Việt Nam đến năm 2000 với 10 mục tiêu. Tiếp đó, Thủ tƣớng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg, ngày 21/01/2002 về phê duyệt
Chiến lƣợc và kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt
Nam giai đoạn 2001- 2010 với mục tiêu là: “Nâng cao chất lƣợng đời sống
vật chất và tinh thần của phụ nữ; tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả
các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời
sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội”. Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001) cũng đã khẳng định: đối với phụ nữ thực
hiện tốt pháp luật và chính sách bình đẳng giới, bồi dƣỡng, đào tạo nghề
nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng
nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ làm tốt nhiệm vụ
của ngƣời vợ, ngƣời mẹ, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc.
        Cùng phụ nữ cả nƣớc, phụ nữ nông thôn đang đóng góp sức lực, trí tuệ
cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Sự ra đời của Ban vì sự tiến bộ



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.Lrc-tnu.edu.vn
21



của phụ nữ các cấp đã giúp đỡ, khuyến khích động viên phụ nữ thực tốt vai
trò, vị trí của mình.
        1.1.5. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn
        1.1.5.1. Về vấn đề sức khoẻ
        Sức khoẻ là một tài sản hết sức quan trọng đối với con ngƣời, đối với
phụ nữ thì sức khoẻ lại càng quan trọng, vì nó không chỉ làm tăng khả năng
lao động của phụ nữ mà còn cải thiện chất lƣợng cuộc sống của họ và các
thành viên trong gia đình. Những bà mẹ khoẻ mạnh sẽ sinh ra những đứa con
khoẻ mạnh. Vì thế, quan tâm và cải thiện sức khoẻ cho phụ nữ là một phƣơng
tiện cho phát triển kinh tế và phát triển con ngƣời. Mặc dù những năm qua,
Việt Nam đã đạt đƣợc những kết quả khả quan trong lĩnh vực chăm sóc sức
khoẻ, nhƣ nhận xét của các chuyên gia quốc tế: “Đến năm 1992 Việt Nam đã
đứng hàng thứ hai về tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ và là một trong những nƣớc
đứng đầu về tiếp cận dịch vụ y tế và đứng đầu về tiếp cận an toàn trong các
nƣớc ASEAN” [39]. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra về sức khoẻ của
phụ nữ nông thôn.
        - Về sức khoẻ thể chất: Qua kết quả khảo sát mức sống dân cƣ Việt
Nam (2000) cho thấy tình trạng đau ốm theo giới tính nhƣ sau: 68% (nữ) và
64% (nam). Tình trạng đau ốm của phụ nữ cao hơn nam giới trong nghiên cứu
trên đã phản ánh một thực tế: sức khoẻ phụ nữ là một vấn đề đáng lo ngại đặc
biệt là sức khoẻ của phụ nữ ở các vùng nông thôn. So với phụ nữ ở đô thị, phụ
nữ ở nông thôn có tỷ lệ đau ốm cao hơn: 69,2% và 63,7%. Điều tra mức sống
dân cƣ lần 2 (2000) cho thấy: tỷ lệ đau ốm của ngƣời dân khá cao, nông thôn
cao hơn thành thị, phụ nữ đau ốm nhiều hơn nam giới (45% và 38%). Nếu xét
theo nhóm tuổi trong độ tuổi lao động thì ở một vài nhóm tuổi đƣợc xem là
“sung sức” hơn cả nhƣ: 25 - 29; 30-34; 40-44 thì tỷ lệ đau ốm của phụ nữ vẫn




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
22



cao hơn nam giới từ 10% đến 12% [53]. Theo chúng tôi sức khoẻ của phụ nữ
nông thôn chịu ảnh hƣởng của một số yếu tố sau đây:
        + Lao động vất vả: phụ nữ đảm nhận khối công việc nhiều hơn nam
giới. Thời gian làm việc của phụ nữ dài hơn và căng thẳng hơn. Bên cạnh đó,
phụ nữ nông thôn thƣờng lao động vất vả trong thời gian mang thai, trong thời
gian này họ vẫn lao động bình thƣờng, thậm trí vẫn lao động nặng trong
những tháng cần phải chú ý giữ gìn để đảm bảo an toàn cho thai nhi.
        + Môi trƣờng ô nhiễm: Với phụ nữ, ảnh hƣởng của môi trƣờng ô nhiễm
càng nhiều vì thời gian phụ nữ lao động hàng ngày trên ruộng đồng nhiều hơn
nam giới nên dễ bị nhiễm độc bởi các hoá chất. Ở nhiều vùng nông thôn Việt
Nam có nhiều hồ, ao tù. Đây là nguồn nƣớc chủ yếu của ngƣời dân ở nông
thôn (tắm, giặt giũ...) đồng thời cũng tạo điều kiện cho muỗi, ký sinh trùng
sinh sôi nảy nở [11].
        + Lấy chồng sớm, sinh đẻ nhiều: có một điều dễ nhận thấy là ở Việt
Nam còn có hiện tƣợng tảo hôn. Những năm gần đây, ở các vùng nông thôn
hiện tƣợng tảo hôn, lấy chồng sớm có xu hƣớng gia tăng bởi nhiều nguyên
nhân văn hoá - xã hội, trong đó có nguyên nhân muốn xây dựng gia đình để
tách hộ nhận ruộng khoán, nếu kết hôn muộn sẽ không có cơ hội nhận ruộng
vì chính sách giao ruộng dài hạn (15 đến 20 năm). Lấy chồng sớm dẫn đến hệ
quả là bên cạnh việc chƣa đƣợc chuẩn bị tốt cả về thể chất, tâm lý để làm dâu,
làm vợ, làm mẹ lẫn kiến thức nuôi dạy con... Sự thiếu hiểu biết về dân số - kế
hoạch hoá gia đình nên dẫn đến mang thai và sinh nở, nạo hút thai nhiều.
        + Dinh dƣỡng không đảm bảo: năm 1995, một cuộc khảo sát quốc gia
về mức độ thiếu vitamin A và suy dinh dƣỡng do thiếu Pprotein đã phát hiện
41% tổng số phụ nữ bị suy dinh dƣỡng: 26% suy dinh dƣỡng hạng 1 (chỉ số
về khối lƣợng cơ thể (BMI) giữa 17,0 và 18,49), 15% độ II và độ III (BMI
dƣới 17,0). Thiếu máu cũng là hiện tƣợng phổ biến, một nghiên cứu quy mô



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
23



nhỏ ở Việt Nam kiểm tra lƣợng Hemoglobin ở phụ nữ có thai cho thấy: 49%
phụ nữ nông thôn có lƣợng Hb dƣới tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới,
[49]. Suy dinh dƣỡng ở phụ nữ không chỉ làm tăng tỷ lệ đẻ khó, tai biến thai
sản có thể dẫn đến tử vong mẹ mà còn ảnh hƣởng đến sức khoẻ con cái. Hiện
nay, 35% trẻ em Việt Nam bị suy dinh dƣỡng.
        * Sức khoẻ về tinh thần:
        Đời sống văn hoá nghèo nàn: Sự đơn điệu trong đời sống văn hoá, thiếu
nơi vui chơi giải trí, hội họp sinh hoạt, thiếu thông tin thời sự chính trị, văn
hoá, khoa học kỹ thuật và kinh tế và hiện tƣợng dễ thấy ở nhiều vùng nông
thôn hiện nay. Đời sống văn hoá ở nông thôn nghèo nàn là một lý do thúc đẩy
thanh niên rời bỏ nông thôn [21]. Do vậy, xoá bỏ sự nghèo nàn trong đời sống
văn hoá ở nông thôn là một yêu cầu bức thiết của sự công nghiệp hoá nông
thôn, làm điều đó cũng chính là đẩy mạnh việc truyền bá kiến thức khoa học -
kỹ thuật, công nghệ mới, đồng thời nâng cao nhận thức của ngƣời dân nông
thôn về pháp luật, lối sống văn hoá. Hơn nữa, còn ngăn chặn và loại bỏ những
các tật xấu nhƣ: mê tín, cờ bạc, số đề, bói toán...
        1.1.5.2. Về chuyên môn kỹ thuật
        Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hƣớng thị trƣờng trong những
năm gần đây đã thực sự giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nông
thôn thoát ra khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhƣng
chƣa thực sự giải phóng họ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán của
nền kinh tế truyền thống, cùng với những thiếu hụt cả về năng lực và điều
kiện của lao động nữ trong sản xuất, kinh doanh. Sự nghiệp công nghiệp hóa
nông nghiệp nông thôn không thể thành công nếu ngƣời dân ở nông thôn chỉ
có kinh nghiệm đƣợc tích luỹ theo năm tháng mà thiếu hiểu biết về khoa học,
kỹ thuật và công nghệ mới.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
24



        Với phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ
có một ƣu điểm nổi bật là sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt
chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi ngƣời, số thành công do đƣợc
học hành, đào tạo chƣa nhiều. Nhƣợc điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ
trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ để phát triển nông thôn.
       1.1.5.4. Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định
        Cho dù đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực bình đẳng giới
nhƣng vẫn phải thừa nhận rằng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại ở Việt
Nam - đây là lực cản cơ bản của sự phát triển tự nhiên.
        Cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới, ở Việt Nam, những trở lực của bất
bình đẳng giới là: sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực sản
xuất đất đai, các dịch vụ khuyến nông và tín dụng. Phụ nữ ít đƣợc tham gia
trong các lĩnh vực, các cấp, ít có tiếng nói quyết định trong nhiều lĩnh vực của
đời sống gia đình, xã hội, ít nhiều còn bị phân biệt trong tiếp cận các phúc lợi
về y tế, giáo dục [1].
        * Về vấn đề tiếp cận đất đai:
        Đối với ngƣời dân Việt Nam, nhà cửa, đất đai bao giờ cũng có giá trị
lớn và có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, trong
giai đoạn hiện nay, điều này là đặc biệt quan trọng, khi mà gần 80% dân cƣ
sống ở nông thôn, chủ yếu làm nông nghiệp và đất đai là tƣ liệu sản xuất
chính của họ.
        Việc xem xét ngƣời đứng tên giấy tờ sở hữu nhà, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là cần thiết để có thể phân biệt rõ về ngƣời tiếp cận và
quản lý nguồn lực trong hộ gia đình hay nói cách khác đi là quyền của mỗi
ngƣời nam và nữ trong gia đình.
        Về mặt pháp luật, ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng
về tài sản, điều đó thể hiện qua Hiến pháp và những bộ luật liên quan đến



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
25



quyền sở hữu nhƣ Luật đất đai (1993, 2003), Bộ luật dân sự (1995), Luật hôn
nhân và gia đình (2000). Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có lúc, có nơi
chƣa đảm bảo theo đúng quy định.
        Ví dụ: việc thực hiện quyền sử dụng đất đã đƣợc quy định trong Luật
đất đai; Luật này quy định hộ gia đình, cá nhân đƣợc nhà nƣớc giao đất có
quyền chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng
đất. Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi đầy đủ tên của cả vợ
và chồng. Nhƣng trong thực tế, hầu nhƣ các giấy chứng nhận quyền sử dụng
chỉ ghi tên một ngƣời (chủ yếu là ngƣời chồng). Vì thế từ vị trí đồng sử dụng
với ngƣời chồng, ngƣời vợ đã rơi xuống vị trí ngƣời thừa hành, không có
quyền quyết định. Ngƣời chủ hộ (nam giới) có quyền lực pháp lý và kinh tế
hơn các thành viên khác trong gia đình. Việc không đứng tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và một số quyền hạn
khác của ngƣời phụ nữ nhƣ chuyển nhƣợng, thừa kế. Việc không có quyền
tƣơng đƣơng với nam giới đối với đất đai - một tài sản chủ chốt, một tƣ liệu
sản xuất quan trọng của hộ gia đình nông thôn, ảnh hƣởng rất lớn đến địa vị
kinh tế và xã hội của phụ nữ so với nam giới.
        Cho dù pháp luật quy định về quyền thừa kế nhƣ nhau của con trai và
con gái, nhƣng theo truyền thống thì chủ yếu ngƣời con trai trong gia đình có
quyền thừa kế về nhà cửa, đất đai. Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ chỉ có
quyền sử dụng đất trong mối liên hệ với đàn ông. Khi còn nhỏ, ngƣời con gái
có phần đất đƣợc giao trong gia đình bố mẹ đẻ, khi lấy chồng, hầu nhƣ không
thể mang theo quyền sử dụng đất phần đất, trừ khi họ lấy chồng cùng làng.
Sau khi kết hôn, ngƣời vợ về cƣ trú bên bố mẹ chồng và khi ra ở riêng có thể
đƣợc gia đình bố mẹ chồng chia sẻ một phần đất canh tác. Song, nếu nhƣ cuộc
hôn nhân này bị đổ vỡ thì hầu nhƣ khó đảm bảo quyền sử dụng đất đai của
ngƣời phụ nữ sau khi li dị.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.Lrc-tnu.edu.vn
26



        Ngƣời phụ nữ goá cũng không gặp không ít rắc rối về việc đƣợc đứng
tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì nếu trong gia đình có ngƣời
con trai lớn thì nhiều khả năng tên của ngƣời con trai sẽ đƣợc ghi vào giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải tên của ngƣời phụ nữ.
        * Tiếp cận về vốn:
        Cung cấp tín dụng không chỉ là một phƣơng tiện quan trọng để xoá đói
giảm nghèo mà là phƣơng tiện để tăng thu nhập và phát triển kinh tế nông
thôn lâu dài. Tuy vậy, phần lớn tín dụng hiện nay là do khu vực phi chính
thức, và phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với các khoản vay chính thức hơn so với
nam giới. 2/3 số ngƣời vay vốn là nam giới. Đối với phụ nữ chỉ có 18% số
vốn vay đƣợc cung cấp thông qua khu vực chính thức, còn lại nguồn tín dụng
phổ biến nhất là từ họ hàng và các cá nhân khác. Việc vay vốn từ nguồn các
nhân dẫn tới việc chịu lãi xuất cao và đối với phụ nữ điều này cũng phản ánh
họ thiếu khả năng tiếp cận với những khoản vay thế chấp. Trong khi 41% số
khoản vay của nam giới dựa trên thế chấp tài sản, thì khoản vay của phụ nữ
chỉ chiến 27% [38].
        * Vấn đề tiếp cận giáo dục, đào tạo:
        Số liệu Tổng điều tra dân số năm 1999 cho thấy 12% em gái trong độ
tuổi từ 5 tuổi trở lên chƣa bao giờ đƣợc đi học, trong khi đó tỷ lệ này chỉ 7,5
cho bé trai. Trong các gia đình nghèo nhất, các em gái đi học ít hơn các em
trai. Năm 1998, khoảng cách giữa em trai và em gái tiếp cận cấp tiểu học lớn
hơn 20% đối với các gia đình nghèo nhất so với toàn bộ dân số [38].
        Mặc dù phụ nữ đóng vai trò then chốt trong sản xuất nông lâm nghiệp
nhƣng sự tiếp cận của họ với kỹ thuật từ các hoạt động khuyến nông còn thấp
và chƣa đầy đủ. Trong năm 1999 chỉ có hơn 3% trên tổng số phụ nữ nông
thôn trên 13 tuổi có trình độ kỹ thuật chuyên môn [5].




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
27



        * Về vấn đề việc làm và thu nhập của phụ nữ:
        Năm 2005, lao động nữ chiếm khoảng 21,14 triệu ngƣời trong tổng số
lao động của nền kinh tế quốc dân (48,6% so với 43,45 triệu lao động), đến
8/2007 đã tăng lên khoảng 22,77 triệu ngƣời (49,4% so với tổng số trên 46,11
triệu lao động). Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 1,33 triệu
ngƣời, trong đó, lao động nữ là 835 nghìn ngƣời [34]. Theo đánh giá tổng
quan, nếu mức độ ảnh hƣởng của suy thoái kinh tế toàn cầu là thấp, khả năng
đến cuối năm 2010, lao động nữ sẽ đạt và vƣợt chỉ tiêu 50% lực lƣợng lao
động của cả nƣớc. Tuy nhiên, vấn đề quan tâm hiện nay là chất lƣợng công
việc của lao động nữ vì chủ yếu các chị em vẫn chiếm số đông ở những lĩnh
vực không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao, có thu nhập thấp và việc làm bấp
bênh, độ rủi ro cao. Trong các ngành nghề đã có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu
lao động, nhƣng vẫn thể hiện sự bất bình đẳng về giới, thể hiện qua tỷ lệ lao
động nữ trong khu vực nông- lâm- ngƣ nghiệp dù có chiều hƣớng giảm nhƣng
xét về cơ cấu giới thì vẫn còn rất cao [34].
        Nhiều nghiên cứu hiện nay về vai trò của nam và nữ trong kinh tế thị
trƣờng phản ánh thực tế là ở cả 2 khu vực lao động đƣợc trả lƣơng và không
đƣợc trả lƣơng, phụ nữ đều có thu nhập thấp hơn nam giới.
        Mặc dù pháp luật quy định “Công việc nhƣ nhau, tiền công ngang
nhau” nhƣng trong khu vực có lƣơng do thƣờng làm lao động giản đơn nên
tiền công trung bình trả cho lao động nữ chỉ bằng 72% so với nam. Nguyên
nhân chủ yếu là do lao động nữ tập trung vào khu vực ngành nghề không đòi
hỏi tay nghề, kỹ thuật cao, năng suất lao động thấp và bị trả lƣơng thấp. Trừ
khu vực dịch vụ và may mặc, còn ở hầu hết các ngành khác lƣơng của phụ nữ
thấp hơn lƣơng của nam giới do không làm quản lý. Trong công việc tiền
công bình quân của phụ nữ chỉ bằng 62% tiền lƣơng của nam giới [5].




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.Lrc-tnu.edu.vn
28



        Trong khu vực không trả lƣơng phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới.
Việc phân công lao động trong nội bộ gia đình ở nông thôn đang đặt gánh
nặng lên vai ngƣời phụ nữ. Ngoài công việc sản xuất trên đồng ruộng phụ nữ
còn chăn nuôi và các công việc khác thuộc về gia đình và phục vụ gia đình.
        *Về vấn đề ra quyết định: tìm hiểu vấn đề ai là ngƣời có tiếng nói quyết
định đối với những vấn đề quan trọng của gia đình nhƣ mua sắm tài sản đắt
tiền, xây dựng nhà cửa, những khoản chi lớn liên quan đến thành quả lao
động của gia đình ta thấy có nhiều bất cập. Phụ nữ đƣợc tham gia ý kiến và
bàn bạc chung với tƣ cách là ngƣời giữ tiền của gia đình “tay hòm chìa khoá”
trong những quyết định quan trọng nhƣng trên thực tế họ không có quyền
quyết định việc chi tiêu.
        * Vấn đề tham gia các hoạt động cộng đồng: phụ nữ không có thời gian
giành cho các hoạt động xã hội, hoặc cho việc học tập kinh nghiệm từ ngƣời
khác. Đặc biệt phụ nữ các dân tộc thiểu số rất ít có cơ hội tham gia các lớp
học văn hoá buổi tối thậm chí các lớp học đó đã có sẵn và thích hợp với họ.
Kết quả là phụ nữ không thể tham dự các buổi họp thôn bản cộng với việc ít
có điều kiện tiếp cận các nguồn lực và khả năng tạo thu nhập kém, không có
tiếng nói trong các quyết định quan trọng của đời sống gia đình dẫn đến địa vị
kinh tế, xã hội của phụ nữ thấp hơn so với nam giới. Đó là những yếu tố hạn
chế khả năng tham gia của phụ nữ vào việc ra quyết định trong cộng đồng và
ở cấp quốc gia.
        1.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
        1.2.1. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
        - Tiếp cận nghiên cứu xã hội học (giới): nhằm nghiên cứu đặc tính của
giới, sự khác nhau và các yếu tố ảnh hƣởng đến giới.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
29



        - Tiếp cận nghiên cứu kinh tế hệ thống: nhằm nghiên cứu các hệ thống
sản xuất kinh doanh các loại hình cây trồng, vật nuôi, các yếu tố trong nền
kinh tế của địa phƣơng, của hộ.
        1.2.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
        1.2.2.1. Chọn vùng nghiên cứu
        Theo vị trí địa lý, địa hình, địa mạo đất đai của huyện Phú Lƣơng, dựa
trên vùng sinh thái, đồng thời căn cứ vào sự phát triển kinh tế của các vùng,
tôi tiến hành lựa chọn 3 cụm xã: cụm phía Bắc, cụm xã Trung tâm và cụm
phía Nam để nghiên cứu. Tiếp đó, căn cứ vào tỷ lệ nữ làm chủ hộ, tỷ lệ nữ
tham gia quản lý sản xuất của hộ, tham gia lãnh đạo chính quyền đoàn thể của
địa phƣơng, tham gia hoạt động cộng đồng, tôi lựa chọn 3 xã đại diện cho
từng cụm xã để điều tra, gồm:
        - Xã Yên Trạch ( thuộc cụm xã phía Bắc): giáp với huyện Định Hoá và
Chợ Mới- Bắc Cạn, ngƣời dân chủ yếu là ngƣời tày, nùng, số hộ nghèo chiếm
trên 65,21% tổng số hộ (năm 2008) [40], kinh tế kém phát triển, sản xuất
nông lâm nghiệp là chủ yếu, những năm gần đây dựa trên thế mạnh của vùng
đã phát triển thêm nghề mây tre đan, mành cọ.
        - Xã Ôn Lƣơng (thuộc cụm xã Trung tâm): là một xã có các đồng bào
dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu là ngƣời tày, chiếm 80% tổng số dân trong
vùng [40]. Đây là xã có nhiều con em đƣợc đào tạo tại các trƣờng dạy nghề,
cao đẳng, đại học và trên đại học. Nơi đây có nền kinh tế phát triển chủ yếu
dựa trên sản xuất nông, lâm nghiệp và nghề mây tre đan, mành cọ.
        - Xã Cổ Lũng (thuộc cụm xã phía Nam): là một trong những xã có quốc
lộ 3 chạy qua, số hộ nghèo chỉ chiếm 12,31% (năm 2008) [40], kinh tế đang
phát triển bên cạnh sản xuất nông nghiệp, trồng chè, các dịch vụ, sản xuất
gạch ngói, nuôi cá giống...đã đem lại thu nhập ổn định cho ngƣời dân trong
vùng.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
30



        1.2.2.2. Chọn hộ nghiên cứu
        Hộ nghiên cứu phải nằm trong các xã đã đƣợc chọn, đồng thời mang
tính đại diện cho các hộ trong vùng. Số mẫu điều tra đƣợc chọn ngẫu nhiên
dựa theo danh sách hộ và đảm bảo đủ các hộ thuộc 3 nhóm hộ: nghèo, trung
bình và khá. Kết quả chọn mẫu đƣợc trình bày trong bảng sau:
        Bảng 1: Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra
                              Số hộ                        Phân theo mức sống
       Tên xã
                            điều tra            Nghèo          Trung bình            khá
Xã Ôn Lƣơng                     44                    14           19                 11
Xã Yên Trạch                    60                    28           17                 15
Xã Cổ Lũng                      62                    8            39                 15
                               166                    50           75                 41

       1.2.3. Phương pháp thu thập số liệu
       1.2.3.1. Số liệu thứ cấp
       * Nguồn số liệu: Đƣợc thu thập số liệu thống kê, báo cáo sơ tổng kết
hàng năm, nhiệm kỳ của:
       - Một số bộ, ngành có liên quan
       - Ban vì tiến bộ của phụ nữ, Hội phụ nữ tỉnh Thái Nguyên
       - Phòng thống kê, phòng LĐ-TBXH, LĐLĐ huyện Phú Lƣơng
       - Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ, Hội phụ nữ huyện Phú Lƣơng
       - Văn phòng UBND-HĐND huyện, Huyện uỷ, Ban Dân vận, Ban Tổ
chức Huyện uỷ
       - 10 Đề án phát triển kinh tế xã hội của huyện Phú Lƣơng
       - Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến
vấn đề vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn.
       * Phương pháp thu thập: thông qua ghi chép, thống kê các dữ liệu cần
thiết cho đề tài với các chỉ tiêu đƣợc chuẩn bị sẵn.
       1.2.3.2.- Số liệu sơ cấp
       * Nguồn số liệu: Thông tin sơ cấp đƣợc thu thập qua phỏng vấn sâu
một số tổ chức, cá nhân am hiểu lĩnh vực. Điều tra 166 mẫu hộ nông dân để



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                     http://www.Lrc-tnu.edu.vn
31



đánh giá trách nhiệm, vị trí, vai trò và năng lực của phụ nữ trong gia đình theo
nội dung trong mẫu điều tra .
       * Phương pháp: điều tra hộ bằng phiếu và phỏng vấn trực tiếp.
       1.2.4. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
       1.2.4.1. Phương pháp phân tổ thống kê
       Đƣợc sử dụng để phân loại thu nhập và tiêu dùng theo các mức khác
nhau: hộ giầu, khá, trung bình, nghèo, theo ngành nghề, theo lứa tuổi, văn
hoá, theo phân cấp quản lý cán bộ...
       1.2.4.2. Phương pháp thống kê so sánh
       Có đƣợc các chỉ tiêu nghiên cứu tổng hợp thành các bảng số liệu, tôi
tiến hành bằng các chỉ số khác nhau để thấy đƣợc có sự khác nhau về thu
nhập, tiêu dùng, giữa các nhóm hộ.
       1.2.4.3. Phương pháp phân tích SWOT
       Để phân tích các yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò của
phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn địa bàn nghiên cứu.
       1.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích
       * Dân số hoạt động kinh tế: là lực lƣợng lao động bao gồm toàn bộ
những ngƣời từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm
nhƣng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc
       * Dân số không hoạt động kinh tế: Là toàn bộ những ngƣời từ 15 tuổi
trở lên không tham gia lực lƣợng lao động nhƣng đang đi học, đang làm việc
nội trợ gia đình, ốm đau, tàn tật không đủ khả năng lao động, ngƣời già.
       * Các chỉ tiêu khác:
       - Thu nhập bình quân/ngƣời/năm
       - Tỷ lệ tăng dân số
       - Bình quân khẩu/hộ
       - Bình quân khẩu nông nghiệp/hộ nông nghiệp
       - Lao động/tổng dân số
       - Lao động nông nghiệp/tổng lao động
       - Lao động nữ/tổng lao động...




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
32



                                          CHƢƠNG II
 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG
     PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ HUYỆN PHÚ LƢƠNG

       2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái
Nguyên
       2.1.1. Điều kiện tự nhiên
       2.1.1.1. Vị trí địa lý
       Phú Lƣơng là một huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Thái
Nguyên, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 21km về phía Bắc, có
Quốc lộ 3 đi qua suốt chiều dài của huyện khoảng 46 km, phía Đông giáp
huyện Võ Nhai, phía Tây giáp huyện Đại Từ và huyện Định Hoá, phía Nam
giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ, phía Bắc giáp huyện Chợ
Mới (tỉnh Bắc Cạn). Huyện Phú Lƣơng có 14 xã, 02 thị trấn, gồm có 274
xóm, bản. Thị trấn Đu là trung tâm chính trị- kinh tế- văn hoá của huyện.
        Với vị trí địa lý nhƣ vậy, Phú Lƣơng rất thuận lợi cho quá trình tổ chức
sản xuất theo quy mô vừa và lớn, có điều kiện thông thƣơng, trao đổi hàng
hoá với các vùng lân cận trong và ngoài tỉnh. Đặc biệt với 12.348,8 ha đất
dùng cho sản xuất nông nghiệp đã tạo ra khối lƣợng nông sản lớn cung cấp
cho thị trƣờng thành phố Thái Nguyên.
       2.1.1.2. Địa hình địa mạo
       Phú Lƣơng có địa hình phức tạp, mang đặc điểm điển hình của huyện
miền núi, bề mặt không bằng phẳng, bao quanh nhiều đồi núi thấp, núi đá và
núi đá vôi, tạo thành các ô trũng bậc thang. Huyện có sông Cầu chảy qua 04
xã: Phú Đô, Vô Tranh, Tức Tranh, Sơn Cẩm; sông Đu chảy dọc huyện qua
các xã Phú Đô, Yên Lạc, Đu, Phấn Mễ, Giang Tiên; hệ thống suối, ao, hồ,
đầm tự nhiên nhiều. Do có địa hình nhƣ trên, huyện Phú Lƣơng đã tạo ra 3
tiểu vùng kinh tế sinh thái khá rõ nét:
       - Vùng phía Bắc và Tây Bắc (vùng cao) gồm 05 xã: Yên Trạch, Yên
Ninh, Yên Đổ, Yên Lạc, Phú Đô, có lợi thế sản xuất lâm nghiệp, chăn nuôi
đại gia súc. Hiện nay, Huyện đang đầu tƣ để phát triển cây chuối thƣơng
phẩm, mở ra một hƣớng sản xuất triển vọng cho vùng.
       - Vùng phía Đông (vùng giữa) gồm 06 xã, thị trấn: Ôn Lƣơng, Phủ Lý,
Hợp Thành, Động Đạt, Phấn Mễ, Đu có thế mạnh về sản xuất lâm nghiệp, cây



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
33



chè, cây ăn quả do tính chất đất chủ yếu là đất Feralit màu vàng đỏ, đặc biệt
các vùng ô trũng là thế mạnh để phát triển sản xuất các vùng giống lúa, ngô...
       - Vùng phía Nam (vùng thấp) gồm 05 xã Sơn Cẩm, Cổ Lũng, Tức
Tranh, Giang Tiên, Vô Tranh chủ yếu là vùng đất bằng phẳng có lợi thế về
sản xuất cây lƣơng thực, cây chè, cây cảnh, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất
gạch ngói và phát triển các loại hình dịch vụ.
       2.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn
       Khí hậu có đặc điểm nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hƣởng lớn của gió
mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21,2 độ đến 21,9 độ C, độ
ẩm không khí trung bình từ 81,4% đến 84,5%; đặc biệt chú ý là có sƣơng mù
xuất hiện từ tháng 11 năm trƣớc đến tháng 2 năm sau, và cứ 3 đến 5 năm lại
xuất hiện một đợt sƣơng muối.
       Lƣợng mƣa trung bình hàng năm từ 1.500mm đến 2.100mm, lƣợng
mƣa bình quân cao nhất trong ngày từ 90mm đến 120mm, lƣợng bốc hơi từ
96 - 98 mm.
       Hƣớng gió thổi theo 2 chiều: gió Đông Nam và gió Đông Bắc với tốc
độ từ 13-15m/s. Ngày nắng bình quân là từ 22-25 ngày, ngoài ra còn có
những cơn bão tràn vào từ khoảng tháng 5 đến tháng 9 theo hƣớng Đông hoặc
hƣớng Nam.
       Mực nƣớc thuỷ văn: huyện Phú Lƣơng có mật độ sông, suối lớn, trữ
lƣợng thuỷ văn cao, tập trung ở một số sông lớn: Sông Đu, Sông Cầu và một
số phụ lƣu Sông Cầu. Hầu hết các xã đều có các sông suối chảy qua, khá
thuận thiện cho công tác thuỷ lợi, vận chuyển lâm sản.
       2.1.1.4. Tình hình phân bố, sử dụng đất
       Phú Lƣơng là huyện có diện tích thấp của tỉnh, theo số liệu thống kê
của huyện năm 2008, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 36.896,7 ha
[40], phân theo địa giới hành chính thì diện tích lớn nhất thuộc về xã Yên Lạc
là 4.297,6 ha chiếm 12,78 %, đơn vị có diện tích đất thấp là thị trấn Đu gồm
212,9 ha chiếm có 0,57 % tổng diện tích trong toàn huyện. 08 xã, thị trấn có
diện tích đất tự nhiên dƣới 2.000 ha và 08 đơn vị có diện tích trên 2.000 ha.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
34



     Bảng 2.1. Diện tích đất phân theo loại đất và theo xã, thị trấn của
huyện Phú Lƣơng năm 2008
                                                     Đơn vị tính: ha
                      Tổng                                      Chia ra
                    diện tích                                 Đất
                                                                              Đất
                    đất theo        Đất                       nuôi                        Đất
                                               Đất lâm                      chuyên
                    địa giới       Nông                      trồng Đất ở                chƣa sử
  TỔNG SỐ                                      nghiệp                        dùng
                      hành        nghiệp                     Thuỷ                        dụng
                                                                              (*)
                     chính                                    sản
                    36.896,7 12.348,8 17.527,8 727,4 1.302,9 2.929,4                    2.060,4
Chia ra xã, phƣờng, thị trấn

TT. Đu                  212,9          93,6           15,0    3,1    31,8      63,9           5,4
TT.Giang Tiên           381,2        116,6        102,9       6,3    30,2     112,3         13,0
Xã Sơn Cẩm            1.682,4        638,9        273,9      20,5   303,3     400,7         45,1
Xã Cổ Lũng            1.696,9        852,6        325,0      60,6    83,3     330,4         45,0
Xã Phấn Mễ            2.531,0      1.333,4        492,4      19,7    97,5     425,3        162,8
Xã Vô Tranh           1.837,6      1.124,0        289,5      36,6    81,8     221,7         84,0
Xã T. Tranh           2.559,4      1.342,1        885,8      43,5    74,4     209,9           3,7
Xã Phú Đô             2.220,1        740,3        958,7       7,4    43,0     138,0        332,8
Xã Yên Lạc            4.297,6        965,6      2.447,0      17,9   124,0     159,5        583,5
Xã Động Đạt           3.988,7      1.473,3      1.848,3      86,7    85,4     343,5        151,6
Xã Ôn Lƣơng           1.769,6        556,6        968,4 100,3        32,7      52,2         59,5
Xã Phủ Lý             1.548,5        438,9        913,5      61,8    29,6      58,3         46,5
Xã Hợp Thành            898,5        346,9        435,8      20,8    26,1      60,6           8,3
Xã Yên Đổ             3.561,1        782,7      2.377,7 108,4       105,8     135,4         51,1
Xã Yên Ninh           4.718,6        944,5      3.363,6      68,4    77,4     166,3         98,6
Xã Yên Trạch          2.992,6        599,0      1.830,3      65,4    76,7      51,4        369,6
(*)
   Đất chuyên dùng bao gồm cả đất tôn giáo tín ngƣỡng, đất nghĩa trang nghĩa
địa, đất sông suối và mặt nƣớc chuyên dùng.
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương, năm 2008



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                   http://www.Lrc-tnu.edu.vn
35



       Phân loại đất theo 05 hình thức sử dụng khác nhau thì diện tích lớn nhất
đƣợc sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp là 17.527,8 ha chiếm 47,51% tổng diện
tích đất tự nhiên, tập trung ở các xã Yên Trạch, Yên Đổ, Yên Ninh, Ôn
Lƣơng, Hợp Thành, tiếp đó là đất sử dụng cho nông nghiệp gồm 12.348,8 ha
chiếm 33,47%, diện tích đất ở và đất chuyên dùng gồm 4.232,3 ha chiếm
11,47%. Trong khi diện tích đất chƣa sử dụng là 2.060,4 ha chiếm 5,58% thì
diện tích cho nuôi trồng thuỷ sản chỉ chiếm 727,4 ha tƣơng ứng 1,97 %.
        Biểu đồ 2.1. Cơ cấu sử dụng đất huyện Phú Lƣơng năm 2008
Loại đất                    diện tích diện tích
Đất nông nghiệp              12.348,80
Đất lâm nghiệp               17.527,80
Đất nuôi trồng thuỷ sản 5,58%
             7,94%                727,4
Đất ở 3,53%                    1.302,90               33,47%        Đất nông nghiệp
       1,97%
Đất chuyên dùng                2.929,40                             Đất lâm nghiệp
                                                                    Đất nuôi trồng thuỷ sản
Đất chƣa sử dụng               2.060,40                             Đất ở
                                                                    Đất chuyên dùng
                                                                    Đất chưa sử dụng
                     47,51%




        Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương , năm 2008

       Trong giai đoạn 2006- 2008, diện tích các loại đất của huyện Phú
Lƣơng có sự thay đổi theo sự phát triển về kinh tế- xã hội của huyện. Qua 3
năm, do huyện đẩy mạnh việc trồng rừng theo Dự án 661 và trồng rừng nhân
dân nên diện tích đất lâm nghiệp tăng 0,45%. Diện tích đất chuyên dùng và
đất ở cũng tăng tới 2,27% và 6,056 % do quá trình tăng dân số tự nhiên, quá
trình đô thị hoá thành lập các khu thị tứ ở các cụm xã: Tức Tranh- Vô Tranh-
Phú Đô, Ôn Lƣơng- Phủ Lý- Hợp Thành... Trong khi đó, diện tích đất nông
nghiệp đã giảm 0,5% nhƣờng chỗ cho các cụm công nghiệp khai thác khoáng
sản và sản xuất vật liệu xây dựng…




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên            http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Bảng 2.2. Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2006- 2008
                                        Năm 2006                   Năm 2007             Năm 2008               So sánh (%)
             Chỉ tiêu               S.lƣợng Cơ cấu             S.lƣợng   Cơ cấu     S.lƣợng Cơ cấu                            Bình
                                                                                                      07/06     08/07
                                      (ha)     (%)               (ha)      (%)        (ha)      (%)                          quân
           Tổng số                 36.896,70      100          36.896,70     100   36.896,70      100      100       100         100
 1. Đất nông nghiệp                12.473,40   33,81           12.411,80 33,64     12.348,80   33,47     99,51     99,49       99,50
 1.1. Cây hành năm                  5.681,00   15,40            5.551,00 15,04      5.515,00   14,95     97,71     99,35       98,53
 - Đất trồng lúa                    4.156,00   11,26            4.074,00 11,04      4.052,00   10,98     98,03     99,46       98,74
 - Đất trồng ngô                       862,00    2,34             735,00    1,99       832,00    2,26    85,27    113,20       99,23
 - Đất trồng đậu, đỗ                   102,00    0,28             127,00    0,34       113,00    0,31  124,51      88,98      106,74
 - Đất trồng cây khác                  561,00    1,52             615,00    1,67       518,00    1,40  109,63      84,23       96,93
 1.2. Cây lâu năm                   6.792,40   18,41            6.857,80 18,59      6.013,80   18,52   100,96      87,69       94,33
 - Đất trồng chè                    4.048,00   10,97            4.181,00 11,34      4.110,00   11,14   103,29      98,30      100,79
 - Đất trồng cây ăn quả                873,00    2,37             886,00    2,40        91,00    2,47  101,49      10,27       55,88
 - Đất trồng cây khác                  1871,4    5,07           1.790,80    4,85    1.812,80     4,91    95,69    101,23       98,46
 2. Đất lâm nghiệp                 17.511,70   47,45           17.517,50 47,48     17.527,80 47,51     100,03     100,06     100,045
 3.Đất chuyên dùng (*)              2.901,50     7,86           2.908,60    7,88    2.929,40     7,94  100,24      104,3      102,27
 4.Đất ở                            1.158,10     3,15           1.225,40    3,32    1.302,90     3,53  105,81     106,32     106,065
 5.Đất nuôi trồng thuỷ sản             731,80    1,98             725,30    1,97       727,40    1,97    99,11    100,28      99,695
 6.Đất chƣa sử dụng                 2.120,20     5,75           2.108,10    5,71    2.060,40     5,58    99,42     97,73       99,42
(*)
      Đất chuyên dùng gồm cả đất tôn giáo tín ngƣỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông suối, mặt nƣớc chuyên dùng
         Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường huyện Phú Lương năm 2006, 2007, 2008




                        Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên              http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2.1.1.5. Tài nguyên khoáng sản
       Huyện Phú Lƣơng đƣợc đánh giá có tiềm năng về khoáng sản với trữ
lƣợng lớn. Từ năm 2005 đến nay, đƣợc sự cho phép của tỉnh, nhiều công ty đã
tiến hành khai thác các loại nhƣ quặng sắt, quặng chì kẽm, quặng ti tan, than
cốc... tập trung ở các mỏ lớn Cây Châm- Động Đạt, Phủ Lý, Phấn Mễ. Các
mỏ đá, cát, sỏi và các mỏ khác tập trung ở các xã nhƣ Yên Ninh, Phú Đô, Yên
Lạc... đây là cơ sở để phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng
sản, vật liệu xây dựng thu hút nhiều lao động địa phƣơng, giải quyết việc làm,
tăng thu nhập cho ngƣời dân địa phƣơng, góp phần đẩy nhanh việc thực hiện
10 đề án về phát triển kinh tế huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2005-2010, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế các ngành trên địa bàn, nâng dần tỷ trọng ngành công
nghiệp (giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.152 triệu đồng năm 2008 [40]).
       2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
       2.1.2.1. Dân số và lao động
       * Dân số:
       Quan bảng 2.3 cho thấy, năm 2008 toàn huyện có 107.200 ngƣời, trong
đó có tới 92,8 % ngƣời dân sống ở khu vực nông thôn và hoạt động trong các
ngành nghề thuộc lĩnh vực nông lâm nghiệp, dân số hoạt động ở lĩnh vực phi
nông nghiệp chỉ chiếm có 7,2%. Số nhân khẩu hoạt động nông nghiệp và phi
nông nghiệp qua các năm đều tăng nhƣng tốc độ tăng của nhân khẩu phi nông
nghiệp cao hơn. Số nhân khẩu trong một hộ là trên 4 ngƣời, cao nhất vẫn là
nhân khẩu trong hộ nông nghiệp (4,43 ngƣời/hộ).
        Trong những năm qua, dân số vẫn không ngừng tăng lên (từ 105.077
ngƣời năm 2006, 106.061 ngƣời năm 2007 lên đến 107.200 ngƣời năm 2008).
Tốc độ tăng dân số của năm sau cao hơn năm trƣớc. Điều này đã đặt ra nhiều
thách thức cho sự phát triển kinh tế của huyện. Cùng với sự gia tăng dân số,
đó là nhu cầu về nhà ở, lƣơng thực, giao thông, việc làm, y tế, giáo dục... cũng
phải tăng theo, tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội ngày càng tăng, dịch bệnh,
ô nhiễm môi trƣờng... đang là những thách thức lớn cho sự phát triển kinh tế-
xã hội của huyện.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Bảng 2.3. Tình hình dân số huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2006-2008

                                         Đơn            Năm 2006               Năm 2007            Năm 2008                    So sánh (%)
            Chỉ tiêu                      vị                   Cơ                     Cơ                  Cơ                             Tốc độ
                                                        Số                     Số                  Số                     2007/ 2008/
                                                               cấu                   cấu                 cấu                               bình
                                         tính         lƣợng                  lƣợng               lƣợng                    2006     2007
                                                                    (%)               (%)                     (%)                          quân
1.Tổng số hộ                              Hộ           23.237 100,00         23.993 100,00       25.016 100,00 103,25 104,26 103,76
- Hộ nông nghiệp                          Hộ           20.495      88,20     21.210   88,40      21.146       84,53 103,49        99,70 101,59
- Hộ phi nông nghiệp                     Hộ             2.742      11,80      2.783   11,60        3.870      15,47 101,50 139,06 120,28
2.Tổng số khẩu                          Ngƣời        105.077 100,00 106.061 100,00 107.200 100,00 100,94 101,07 101,01
- Nhân khẩu nông nghiệp                 Ngƣời          98.142      93,40     98.743   93,10      99.482       92,80 100,61 100,75 100,68
-Nhân khẩu phi nông nghiệp              Ngƣời           6.935        6,60     7.318    6,90        7.718       7,20 105,52 105,47 105,50
3.Tổng số lao động                      Ngƣời          66.723 100,00         67.348 100,00       68.072 100,00 100,94 101,08 101,01
- Lao động nông nghiệp                  Ngƣời          61.872      92,73     62.501   92,80      63.082       92,67 101,02 100,93 100,97
- Lao động phi nông nghiệp              Ngƣời           4.851        7,27     4.847                4.990       7,33       99,92 102,95 101,43
4.Các chỉ tiêu khác
- Tỷ lệ tăng dân số                        %              1,05                 1,01                 1,01
- Bình quân khẩu/hộ                   Ngƣời/hộ            4,52                 4,22                 4,29
- Bình quân khẩu NN/hộ NN             Ngƣời/hộ
                                             4,79                              4,66                 4,70
Nguồn: Phòng thống kê huyện Phú Lương năm 2006, 2007, 2008

                       Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                    http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Biểu đồ 2.2.Tốc độ tăng dân số huyện Phú Lƣơng theo giới tính giai
đoạn 2006- 2008

                    53800
                                     2006       2007          2008
                        nam
                    53600           52490      53079         53550
                        nữ          52587      52982         53650
                    53400

                    53200
                    53000
         Số người




                    52800
                                                                                          nam
                    52600                                                                 nữ
                    52400

                    52200
                    52000

                    51800
                               2006                   2007            2008
                                                      Năm

       Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương , năm 2006, 2007, 2008
       Qua biểu đồ 2.2 cho thấy dân số nữ và nam tƣơng đối cân bằng (năm
2006 dân số nam là 52.490 ngƣời chiếm 49,95%, dân số nữ là 52.587 ngƣời,
chiếm 50,05% tổng dân số). Tốc độ tăng dân số dân số năm sau tăng hơn năm
trƣớc (năm 2007 so với năm 2006 tăng 984 ngƣời bằng 0,9%, năm 2008 so
với 2007 tăng 1.139 ngƣời bằng 1,07%). Đây là vấn đề đặt ra cho các cấp các
ngành huyện trong công tác bình ổn dân số, xoá đói giảm nghèo, phát triển
kinh tế. Vì gia đình sinh con thứ 3 trở lên có xu hƣớng ngày càng tăng và lại
rơi vào các hộ gia đình nông dân nghèo trong huyện.
       * Lực lượng lao động
       Hiện nay, lao động trong độ tuổi của toàn huyện có 68.072 ngƣời,
chiếm 64% dân số, trong đó lao động nữ có 32.620 ngƣời, đặc biệt lao động
nữ nông thôn có số lƣợng rất lớn: 30.279 ngƣời, chiếm 44 % tổng số lao động
và chiếm 93% tổng số lao động nữ của toàn huyện. Tình hình lao động trong
độ tuổi ở khu vực thành thị và nông thôn của huyện Phú Lƣơng có xu hƣớng
ổn định, tăng không đáng kể, thể hiện qua bảng dƣới đây:




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.Lrc-tnu.edu.vn
40



      Bảng 2.4. Lao động huyện Phú Lƣơng chia theo giới tính và khu
vực giai đoạn 2006-2008
                                                  Đơn vị tính: người
 Năm           Chung của huyện                      Thành thị                Nông Thôn
nghiên       Tổng   Chia theo giới             Tổng    Chia theo        Tổng   Chia theo giới
 cứu          số         tính                   số      giới tính        số         tính
                    nam       nữ                      nam       nữ              nam      nữ
 2006       66.723     34.698      32.025     4.851   2.507   2.344    61.872     33.196      29.676

 2007       67.348     35.042      32.306     4.847   2.515   2,332    62.501     31.489      30.012

 2008       68.072     35.452      32.620     4.990   2.532   2.458    63.082     32.803      30.279

        Nguồn: Phòng Lao động- TBXH huyện Phú Lương năm 2006- 2008
       2.1.2.2. Phát triển kinh tế của huyện
       Thực hiện sự Chỉ đạo của Chính phủ và Kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội của huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2005-2010, kinh tế của huyện đã có
những chuyển biến tích cực. Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp và nông thôn theo hƣớng từng bƣớc nhanh chóng hình thành nền nông
nghiệp hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị trƣờng và điều kiện sinh thái của
vùng. Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm mới thu
hút lao động nông thôn. Áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ về
giống, chăm sóc…vào trong sản xuất nông lâm nghiệp nâng giá trị thu nhập
trên cùng đơn vị diện tích, cụ thể:
       *Ngành trồng trọt: Số liệu bảng 2.5 cho thấy trong trồng trọt, lúa nƣớc
vẫn là loại cây trồng chủ đạo của huyện. Nhƣng, diện tích đất trồng lúa nƣớc
đang bị thu hẹp dần, năm 2006 diện tích là 7.231 ha đến năm 2008 diện tích
chỉ còn 6.881 ha. Nguyên nhân là do một số diện tích này đƣợc thu hồi để xây
dựng các khu công nghiệp (khu công nghiệp Sơn Cẩm, Động Đạt, Phấn Mễ),
xây dựng đƣờng nông thôn liên xóm xã, hội trƣờng xóm, phần khác chuyển
mục đích sử dụng theo nhu cầu của nhân dân và quy hoạch của địa phƣơng.
Tuy nhiên, do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, năng
xuất cây trồng không ngừng tăng qua các năm, nên sản lƣợng của 3 loại cây



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                   http://www.Lrc-tnu.edu.vn
41



  trồng chính trên vẫn ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho địa phƣơng và
  làm hàng hoá cung cấp cho các vùng lân cận. Đặc biệt vùng sản xuất lúa
  giống tại Phấn Mễ đã đƣợc Trung tâm giống cây trồng của tỉnh, các công ty
  giống trong vùng quan tâm đầu tƣ, tạo thu nhập bằng 1,3 lần thóc thịt. Đây
  chính là cơ hội để ngƣời dân trong vùng thay đổi tƣ duy trong việc lựa chọn
  cây, con trong sản xuất để có thu nhập cao hơn, xoá dần cách canh tác truyền
  thống tại địa phƣơng.
         Bảng 2.5. Diện tích, năng suất, sản lƣợng một số cây trồng chính
  của huyện từ năm 2006-2008
                 Diện tích (ha)    Năng suất (tạ/ha)      Sản lƣợng (tấn)
Loại cây
                2006      2007      2008      2006      2007 2008   2006      2007       2008

1.Lúa nước      7.231 7.002        6.881       45,0 45,1 44,8       32.223   31.579     30.883

Vụ xuân         3.114 2.929        2.835         45      46    45   14.013   13.472     12.757

Vụ mùa          4.117 4.069        4.046       44,2 44,5 44,8       18.210   18.107     18.126

2. Ngô          1.303 1.077        1.387       38,0 45,2 49,9        4.962    4.863       6.916

Vụ xuân         812      695       853           39      44    51    3.166    3.508       4.350

Vụ mùa          491      382       534         36,6 35,5       48    1.796    1.355       2.566

3. Chè          4.048 4.124        4.100       74,0 80,5 75,6       29.946   31.746     31.071

4. Lạc vỏ       185      230       202         10,6 10,2 10,5        195,6       234        212

Vụ xuân         102      120       113           11 11,2 10,9        114,2       135        123

Vụ mùa          83       110       89           9,8      9,0   10     81,4        99          89

5.Đỗ tương      242      241       231         13,8 13,9 14,3         337        336        330

Vụ xuân         105      117       112         13,8 13,9 13,8         145        163        154

Vụ mùa          137      124       119           14      14    14     192        173        176
  Nguồn: Số liệu báo cáo của UBND huyện Phú Lương năm 2006, 2007, 2008




  Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.Lrc-tnu.edu.vn
42



       * Ngành chăn nuôi: Diện tích rừng của Phú Lƣơng lớn (17.527,8 ha),
nên đây chính là thế mạnh để phát triển đàn trâu bò thƣơng phẩm và làm sức
kéo. Năm 2007, tổng đàn trâu bò là 13.718 con, đến năm 2008 tăng lên
13.900 con. Tổng đàn lợn năm 2008 là 51.000 con, trong đó sản lƣợng thịt hơi
là 7.500 tấn. Nuôi trồng thuỷ sản đã đƣợc quan tâm đầu tƣ, năm 2006 đóng
góp vào tổng giá trị sản xuất trên 2 tỷ đồng, đến năm 2008 đã tăng lên là 4 tỷ
đồng. Hiện nay, huyện đang có dự án đƣa con tôm thƣơng phẩm vào sản xuất
tại các xã có thế mạnh nhƣ Cổ Lũng, Phú Đô [51].
       * Ngành Lâm nghiệp: Diện tích rừng của Phú Lƣơng đứng thứ năm
trong tỉnh, trong đó rừng khoanh nuôi bảo vệ là 2.941 ha, rừng khoanh nuôi
tái sinh là 1.250 ha, rừng chăm sóc 1.501, rừng tự nhiên là 916,49ha, rừng
trồng tập trung là 10.919,3 ha gồm cây keo tai tƣợng trong nƣớc và nhập
ngoại. Diện tích rừng tập trung nhiều ở các xã phía Bắc của huyện nhƣ Yên
Ninh, Yên Trạch, Yên Đổ…ngoài ra các sản phẩm phụ của rừng là nguồn
nguyên chủ yếu, sẵn có để phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp mây tre đan
mành cọ, tạo thu nhập trƣớc mắt cho ngƣời dân đầu tƣ nuôi trồng và bảo vệ
rừng [50].
       * Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ:
       Đây là ngành thế mạnh và có tiềm năng lớn đang đƣợc huyện quan tâm
từ công tác quy hoạch mạng lƣới giao thông, đến quy hoạch các khu sản xuất
công nghiệp. Đặc biệt, huyện đã có những chính sách ƣu tiên, khuyến khích
các doanh nghiệp vào đầu tƣ trong huyện nhƣ đẩy nhanh công tác giải phóng
mặt bằng, thực hiện quy định về tiếp nhận, thẩm định, cấp giấy chứng nhận
kinh doanh theo hƣớng thuận lợi và nhanh chóng. Kết quả bƣớc đầu đã quy
hoạch và phát triển các khu sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, ngói ở Cổ Lũng,
khác thác cát, sỏi đá ở Yên Lạc, Phú Đô...), khai thác khoáng sản: than, quặng
sắt ở Phấn Mễ, quặng titan ở Động Đạt, Phủ Lý. Theo số liệu của phòng
thống kê huyện năm 2008 tổng giá trị gia tăng (theo giá hiện hành) của ngành
công nghiệp xây dựng là 221 tỷ đồng, chiếm 27,97% trong tổng giá trị sản
xuất của huyện, trong khi ngành dịch vụ đóng góp 175 tỷ đồng, chiếm
22,16% [40].




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
43



           Biểu đồ 2.3. Cơ cấu kinh tế của huyện Phú Lƣơng năm 2008
                                                  22,16%
    27,97%      Nông- lâm- thuỷ sản               49,87
                Công nghiệp- xây dựng             27,97
                Dịch vụ                           22,16
                                                                       Nông- lâm- thuỷ sản

                                                                       Công nghiệp- xây dựng

                                                                       Dịch vụ



                                                       49,87%



           Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương năm 2008
           * Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
      Biểu đồ 2.4. Biến động cơ cấu kinh tế của huyện Phú Lƣơng trong
giai đoạn 2006-2008

               500                             2006       2007    2008
         Nông- lâm- thuỷ sản
             400                                278        292     394
   (tỷ đồng)




         Công nghiệp- xây dựng                                    Nông- lâm- thuỷ sản
     Giá trị




                                                215        238     221
         Dịch300
              vụ                                207        210    Công nghiệp- xây dựng
                                                                   175
               200                                                Dịch vụ
               100

                0
                       2006             2007               2008
                                       Năm

      Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương năm 2006, 2007, 2008
      Qua biểu đồ 2.4. cho thấy, tốc độ tăng trƣởng kinh tế của huyện tăng
mạnh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hƣớng hợp lý, tăng dần dần tỷ trọng
ngành công nghiệp và xây dựng trong khi phát huy đƣợc thế mạnh của địa
phƣơng để phát triển ngành nông lâm nghiệp theo hƣớng hàng hoá, tạo việc
làm tại chỗ cho ngƣời dân địa phƣơng, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng
năm gần 3%, đến nay số hộ nghèo của huyện chỉ còn 5.892 hộ, chiếm
23,55% tổng số hộ trên toàn huyện.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.Lrc-tnu.edu.vn
44



       2.1.2.3. Cơ sở hạ tầng của huyện
       * Hệ thống giao thông: huyện Phú Lƣơng là một huyện trung du miền
núi của tỉnh Thái Nguyên, có tuyến đƣờng Quốc lộ 3 chạy dọc dài trên 40km.
Ngoài ra, còn có đƣờng liên huyện, liên xã đã đƣợc nhựa hoá và bê tông hoá
theo tiêu chuẩn đƣờng nông thôn cấp 6, đảm bảo giao thông thuận tiện đến tất
cả các trung tâm xã. Hệ thống đƣờng liên thôn liên xóm đang đƣợc nâng cấp
và bê tông hoá theo cơ chế đối ứng giữa nhà nƣớc và nhân dân.
       * Hệ thống điện, thông tin liên lạc: Hệ thống điện phục vụ nông nghiệp
và nông thôn ngày nay càng đƣợc tăng cƣờng và mở rộng. Hiện nay, 100% xã
có bƣu điện văn hoá xã, thông tin liên lạc giữa các xã trong huyện thông suốt,
kịp thời. Sóng điện thoại di động đã phủ đến 16/16 xã, thị trấn trong huyện.
Tổng số máy điện thoại hiện có trên mạng là 10.038 máy với mật độ 10/100
dân, mạng viễn thông phát triển đã góp phần quan trọng tăng cƣờng thông tin
liên lạc của các cơ quan và nhân dân [54].
       * Hệ thống tín dụng: Hệ thống tín dụng Nhà nƣớc gồm Ngân hàng
nông nghiệp & PTNT và Ngân hàng chính sách, hệ thống tín dụng nhân dân,
tín dụng thông qua các tổ chức hội đoàn thể, chƣơng trình xoá đói giảm
nghèo, hỗ trợ về vốn phát triển kinh tế. Tín dụng ngân hàng thông qua các
hình thức cho vay thuận lợi để phát triển sản xuất, kinh doanh. Năm 2008,
nguồn vốn huy động của riêng ngân hàng Nông nghiệp là 138 tỷ đồng, dƣ nợ
127,2 tỷ đồng, Ngân hàng chính sách huy động 75 tỷ, dƣ nợ 75 tỷ đồng, đạt
140% so với năm trƣớc [54].
       * Giáo dục: Tính đến nay huyện Phú Lƣơng có 02 trƣờng trung học
phổ thông, 16 trƣờng trung học cơ sở, 27 trƣờng tiểu học và 17 trƣờng mầm
non, trong đó có 19 trƣờng đạt chuẩn quốc gia (mầm non 2/17 trƣờng, tiểu
học 15/27 trƣờng, THCS 2/16 trƣờng); có 24 trƣờng đạt thƣ viện chuẩn và thƣ
viện tiên tiến ( tiểu học 14 trƣờng, THCS 14 trƣờng). Tổng số học sinh từ
mầm non đến trung học phổ thông năm 2006 là 19.311 học sinh, năm 2007 là
18.356 học sinh, đến năm 2008 tăng lên là 18.572 học sinh [54].
       * Hệ thống y tế: Mạng lƣới y tế từ huyện đến cơ sở đƣợc quan tâm
củng cố kiện toàn, chú trọng giáo dục y đức, tinh thần trách nhiệm, thái độ
phục vụ, nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh đảm bảo chăm sóc tốt sức
khoẻ cho nhân dân. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhu cầu khám chữa
bệnh đƣợc tăng cƣờng. Năm 2008, số lƣợt khám chữa bệnh tại bệnh viện đa


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
45



khoa huyện là 59.673 lƣợt, tại các trạm y tế xã là 90.683 lƣợt, Thực hiện đề án
xây dựng y tế xã đạt chuẩn quốc gia, đến nay toàn huyện có 09 xã đƣợc công
nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế [54]. Công tác y tế dự phòng và phòng chống
dịch bệnh đƣợc quan tâm; công tác kiểm tra, thanh tra vệ sinh an toàn thực
phẩm của các cơ sở sản xuất đƣợc tăng cƣờng qua các năm.
      2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế
huyện Phú Lƣơng
      2.2.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn huyện
      2.2.1.1. Nữ trong các nhóm tuổi
      Bảng 2.6. Nữ trong các nhóm tuổi từ năm 2006-2008
                        15-25        26-35       36-45      46-55      Trên 55
  Năm       <15 tuổi
                         tuổi         tuổi        tuổi       tuổi        tuổi
  2006        19.221       9.721       8.741       8.946       4.617      1.341
  2007        19.290       9.415       8.778       9.337       4.776      1.386
  2008        19.605       9.347       8.845       9.565       4.863      1.425

        Nguồn: Phòng lao động- TBXH huyện năm 2006, 2007, 2008
       Qua bảng trên ta thấy, nữ trong độ tuổi lao động phần lớn tập trung
trong nhóm tuổi từ 15- 35 (chiếm 57,7% tổng nữ trong độ tuổi lao động,
chiếm 35% dân số nữ, năm 2006) và giảm dần đến nhóm tuổi 46-55 tuổi.
Đây là nhóm tuổi là lao động chính trong các hộ gia đình và cũng là nhóm
tuổi đang ở độ tuổi sinh sản. Lao động chính trong nhóm tuổi từ 15- 25 chiếm
tỷ trọng rất cao (30,4%). Đây là lƣợng lao động trẻ nhƣng thƣờng thiếu kinh
nghiệm trong sản xuất kinh doanh, thiếu kiến thức về xã hội, trong đó quan
trọng là kiến thức về chăm sóc sức khoẻ sinh sản nên đã ảnh hƣởng không
nhỏ tới thu nhập và chất lƣợng cuộc sống của các hộ gia đình. Nữ trong nhóm
tuổi này lại có xu hƣớng giảm qua các năm trong khi các nhóm tuổi khác lại
tăng (năm 2006 có 30,4%, năm 2008 chỉ còn 28,7%) là do chính sách về xuất
khẩu lao động nữ của huyện đi làm việc ở các nƣớc nhƣ Malayxia, Đài loan,
Hàn Quốc và các khu công nghiệp trong nƣớc, đã phần nào giải quyết đƣợc
việc làm, huy động nguồn vốn chuyển về phát triển kinh tế tại địa phƣơng,
góp phần tăng thu nhập cho các hộ gia đình trên địa bàn huyện ( năm 2007,
giải quyết việc làm cho 1.500 lao động, lƣợng ngoại hối chuyển qua ngân
hàng nông nghiệp huyện gần 2 triệu đô la [40]).




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
46



         2.2.1.2. Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt hội đoàn thể
         Bảng 2.7. Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008
                Tổng      Tổng                Phụ nữ là hội viên các hội, đoàn thể
                số hộ      PN                                                Cựu
  Đơn vị                             Tổng      Thanh       Phụ     Nông              Cao     CN
                 gia      15t-                                              chiến
                                      số        niên       nữ       dân              tuổi    VC
                đình       già                                              binh
Sơn cẩm          2.964      3.100     3.030      301       1.362    317          6      7   1.037
Cổ Lũng          2.187     3.035      2.674      293       1.334    696          6      5     340
Giang Tiên         893     1.276      1.245      155        534     254          4      3     295
Vô Tranh         2.026     2.509      1.897      213        957     625          4      3       95
Tức Tranh        1.995     2.575      2.323      201       1.074    683          6      4     355
Phú Đô           1.162     1.395      1.164      134        587     328          3      2     110
Yên Lạc          1.469     1.724      1.143      238        727     394          3      3       88
Yên Đổ           1.456     2.014      1.413      182        712     398          3      3     115
Yên Ninh         1.507     2.184      1.157      168        625     286          2      2       74
Yên Trạch        1.307     2.023      1.139      164        612     307          3      2       51
Động Đạt         2.324     3.199      2.312      268       1.072    829          5      3     135
Phấn Mễ          2.586     3.624      2.468      291       1.092    932          5      3     145
TT. Đu           1.057     1.437      1.336      141        524     393          3      2     273
Phủ Lý             690       945        584           83    307     174          2      1       17
Hợp Thành          608       775        644           79    318     198          2      1       46
Ôn Lƣơng           785       815        666           78    372     184          2      1       29
                                    25.505
   Cộng         25.016 32.620                   2.989 12.209       6.998       59      45   3.205

         Nguồn: Số liệu thống kê Ban Dân Vận Huyện uỷ năm2008
      Nhằm thu hút phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt hội theo Đề án số
01 về nâng cao chất lƣợng hoạt động của các tổ chức đoàn thể của Tỉnh uỷ,
Hội LHPN huyện, Đoàn thanh niên, Hội nông dân đã tăng cƣờng công tác
tuyên truyền vận động chị em tham gia sinh hoạt hội với nhiều hình thức khác
nhau nhƣ cho vay vốn ƣu đãi, vay phân bón trả chậm, hỗ trợ cây con giống,
tập huấn kiến thức khoa học kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh tế hộ gia đình...
đã thu đƣợc kết quả đáng ghi nhận. Năm 2006, tỷ lệ phụ nữ tham gia sinh
hoạt các hội là 62,4% so với tổng số phụ nữ trong độ tuổi, bằng 85,9% so với



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
47



tổng số hộ gia đình hiện có, đến năm 2008 đã tăng lên là 78% so với tổng số
phụ nữ trong độ tuổi và đạt 102% so với tổng số hộ gia đình. Qua bảng 2.4
cho thấy, Sơn Cẩm là đơn vị có số phụ nữ tham gia sinh hoạt hội cao nhất, đạt
97,74% so với tổng số phụ nữ trong độ tuổi, tiếp đến là Giang Tiên, Tức
Tranh. Đơn vị có phụ nữ thu hút vào hội thấp nhất (trên 55% so với tổng số
phụ nữ, trên 80% so với số hộ) là Yên Trạch, Yên Ninh, Yên Đổ. Đây là
những xã thuộc cụm vùng phía Bắc của huyện, dân số chiếm tới 80% là ngƣời
dân tộc thiểu số và cũng có tới 80% số hộ là hộ nghèo [52].
        Biểu đồ 2.5.Cơ cấu phụ nữ tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008

      Hội LHPN                                  12209
      Đoàn TN      21.81%                        2989
      Hội ND                                     6998     37.43%
      Hội CCB +NCT                                104
                                                                       Hội LHPN
      CNVC                                       3205
                                                                       Đoàn TN
      Chưa tham gia
              9.83%                              7115
                                                                       Hội ND
                                                                       Hội CCB +NCT
                                                                       CNVC
                                                                       Chưa tham gia
                  0.32%


                          21.45%                        9.16%


        Nguồn: Số liệu thống kê Ban Dân Vận Huyện uỷ năm 2008
        Trong những năm gần đây các ban, ngành, đoàn thể đã nỗ lực trong
việc thu hút phụ nữ vào sinh hoạt hội. Tuy nhiên, số phụ nữ trong độ tuổi
không tham gia bất kỳ hội đoàn thể nào vẫn chiếm tỷ lệ lớn (21,81% tổng số
phụ nữ) và lại thuộc các xã khó khăn. Đây đang là vấn đề cần đƣợc các tổ
chức, trƣớc tiên là Hội phụ nữ huyện, Ban vì sự tiến hộ của phụ nữ huyện
quan tâm đề ra các giải pháp cụ thể thiết thực hơn để phụ nữ tự nguyện tham
gia. Qua biểu đồ 2.5, số phụ nữ tham gia sinh hoạt Hội phụ nữ chiếm tỷ lệ cao
nhất 37,43%, tiếp đến là hội nông dân chiếm 21,45%. Đây là 2 tổ chức hội
đoàn thể có nhiều chƣơng trình hỗ trợ phụ nữ trong phát triển kinh tế, xây
dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” nên ngày càng đƣợc
đông đảo chị em phụ nữ quan tâm hƣớng ứng các phong trào và tham gia sinh
hoạt hội.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                http://www.Lrc-tnu.edu.vn
48



        2.2.1.3. Trình độ của phụ nữ trong độ tuổi lao động
        * Nữ công nhân viên chức:
       Theo số liệu thống kê của Liên đoàn lao động huyện năm 2008, số nữ
công nhân viên chức do huyện quản lý là 1.613 chị (chiếm 74% tổng số công
nhân viên chức). Trong đó, 130 chị có trình độ văn hoá cấp 2, 1.483 chị có
trình độ văn hoá cấp 3 và 1.169 chị có trình độ cao đẳng, đại học (chiếm 72%
tổng số nữ công nhân viên chức, bằng 54% tổng số công nhân viên chức); có
102 chị giữ chức hiệu trƣởng, hiệu phó các trƣờng, 11 chị là bí thƣ, chủ tịch
các xã, thị trấn [37].
        *Nữ cán bộ các hội đoàn thể cơ sở:
  Bảng 2.8. Trình độ của cán bộ hội đoàn thể nhiệm kỳ 2006-2011

                    Tổng                                   Trình độ
  Đoàn thể           cán              Văn hoá                  Chuyên môn             Chính trị
                    bộ nữ
                              cấp1     cấp2     cấp3   S.cấp     T.cấp   CĐ, ĐH    S.cấp     T.cấp

Hội phụ nữ             790       83     227     480       25        11         7         9        19


Hội nông dân           249       36     118       95      13         8         1         4        12


Đoàn TN                118       42      57       19       6         5                   1           5


Cộng                 1.157     161      402     594       44        24         8       14         36

        Nguồn: Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên huyện
        Đây là lực lƣợng quan trọng để lĩnh hội các kiến thức về tuyên truyền
chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, triển khai các
chƣơng trình phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng gia đình no ấn, bình đẳng
tiến bộ… tới toàn thể các hội viên trong tổ chức hội trên địa bàn huyện. Tuy
nhiên, qua bảng trên cho thấy trình độ học vấn, chuyên môn, chính trị của cán
bộ hội rất thấp. Trong 1.157 cán bộ từ cấp chi hội đến cấp xã, chỉ có 75 ngƣời




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
49



chiếm 6,4% có trình độ chuyên môn, 50 ngƣời có trình độ lý luận chính trị sơ
cấp, trung cấp chiếm 4,3%. Vì vậy, để các chủ trƣơng, chính sách của Đảng,
Nhà nƣớc về phát triển kinh tế đi vào cuộc sống, trƣớc hết phải quan tâm đào
tạo nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.
        *Lao động nữ nông thôn:
      Với số lƣợng đông đảo trong lực lƣợng lao động ở khu vực nông thôn
(30.279 ngƣời năm 2008) nhƣng trình độ văn hoá, chuyên môn của lao động
nữ thấp. Qua biểu đồ 2.6 ta thấy, số lao động nữ chƣa tốt nghiệp tiểu học là
9,56%, tốt nghiệp cấp 1 là 37,21%, tốt nghiệp cấp 2 là 39,89%, cấp 3 là
13,34%. Số lao động nữ chƣa qua một lớp đào tạo nghề là 26.856 ngƣời,
chiếm tới 88,69 %, chỉ có 3.423 ngƣời có trình độ sơ cấp hoạc chứng chỉ nghề
trở lên. Do hạn chế về nhận thức và trình độ nên lao động nữ nông thôn đang
gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập cho gia đình. Vì vậy, các
cấp, các ngành huyện Phú Lƣơng cần có chính sách ƣu tiên đào tạo, nâng cao
trình độ học vấn, chuyên môn cho lao động nông thôn đặc biệt là lao động nữ.
     Biểu đồ 2.6. Trình độ văn hoá của lao động nữ huyện Phú Lƣơng
năm 2008

   Trình độ vănchưa tốt nghiệp cấp 1 cấp 1nghiệp cấp 2nghiệp cấp 3
                hoá        Tốt nghiệp Tốt         Tốt
                     2896        11267     12078        4038

                         13,34%                   9,56%

                                                                         chưa tốt nghiệp cấp 1
                                                                         Tốt nghiệp cấp 1
                                                                         Tốt nghiệp cấp 2
                                                            37,21%
             39,89%                                                      Tốt nghiệp cấp 3




        Nguồn: Phòng LĐ-TBXH huyện năm 2008




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.Lrc-tnu.edu.vn
50



        2.2.1.4. Phụ nữ trong cơ cấu các ngành nghề của huyện Phú Lương
        Do đặc điểm riêng của ngƣời phụ nữ là chịu khó, kiên trì, khéo léo vì
vậy rất thích hợp với các ngành nghề nhƣ trồng trọt, chăn nuôi…(chiếm
70,32%). Trong khi đó nữ tham gia ngành công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm
9,69% do ngành này lại đòi hỏi phải có sức khoẻ và làm việc xa nhà, còn lại
19,99% lao động nữ tham gia vào ngành dịch vụ. Nhƣ vậy, lực lƣợng lao
động nữ tập trung chủ yếu trong ngành nông, lâm nghiệp. Do đó muốn nâng
cao hiệu quả sản xuất của ngành này, cần quan tâm giải quyết vấn đề liên
quan đến lực lƣợng lao động nói chung, lao động nữ nói riêng. Đó là các vấn
đề: nâng cao năng lực trong sản xuất, năng lực trong quản lý hộ gia đình [54].
        2.2.1.5. Phụ nữ tham gia các công tác xây dựng Đảng, chính quyền
        Cùng với sự tham gia đông đảo trong các ngành kinh tế để trực tiếp tạo
ra các sản phẩm, dịch vụ, phụ nữ huyện Phú Lƣơng còn tham gia vào các cấp
uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể địa phƣơng qua đó đã có những đóng góp to
lớn trong việc xây dựng các nghị quyết, chính sách, kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội an ninh quốc phòng. Trong đầu nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ huyện
Phú Lƣơng khoá XXI (2005-2010), số cán bộ nữ là uỷ viên Ban chấp hành
Đảng bộ huyện là 6 đồng chí, chiếm 17,14% tổng số uỷ viên, trong đó có 3
đồng chí là uỷ viên Ban thƣờng vụ, chiếm 27%. Đối với cấp xã, thị trấn, tổng
số uỷ viên ban chấp hành là 42 đồng chí, chiếm 21,21%. Đơn vị có tỷ lệ nữ
tham gia cấp uỷ cơ sở cao nhất là xã Sơn Cẩm (33,33%), tiếp đến là thị trấn
Đu (30,77%), thấp nhất là xã Vô Tranh (7,09%). Hầu hết các đồng chí tham
gia cấp uỷ 2 cấp đều có độ tuổi từ 31-50 tuổi, chỉ có 3 đồng chí tuổi dƣới 30
và 1 đồng chí tuổi trên 50. Qua số liệu thống kê tại mục 2.2.1.3 ta còn nhận
thấy, tỷ lệ cán bộ nữ có trình độ văn hoá cấp 3 chiếm tới 91%, trình độ
chuyên môn cao đẳng, đại học chiếm 72%. Đây là điều kiện thuận lợi để cán
bộ nữ tiếp thu kiến thức mới, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao vai
trò của mình trong xây dựng địa phƣơng.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
51



         Bảng 2.9. Phụ nữ tham gia cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2005-2010
                                                                                             Chuyên
                         Tỷ                               Độ tuổi            Văn hoá
                                    Dân                                                       môn
     Đơn vị              lệ
                                    tộc       dƣới          31-       trên                         CĐ,
                        (%)                                                  C2   C3        TC
                                               30t          50t        50t                         ĐH
                                          3                       5      1              6                 6
I-Cấp huyện              17,14
                                        15            3        38        1    4        38      6      18
II-Cấp xã,TT             21,21

Sơn cẩm                  33,33                                    5                     5                 3

Cổ Lũng                  20,00            1                       3           3                           1
Giang Tiên               22,22                                    2                     2      1          1

Vô Tranh                   7,69                   1                                     1      1
Tức Tranh                15,38                                    2                     2                 1
Phú Đô                     9,09                                   1                     1
Yên Lạc                  15,38            1                       2                     2      1          1
Yên Đổ                   18,18                                    2           1         1                 1
Yên Ninh                 18,18            2                       2                     2      1          1
Yên Trạch                27,27            1                       3                     3                 1
Động Đạt                 20,00            1                       3                     3                 1
Phấn Mễ                  20,00                                    3                     3      1          1
TT. Đu                   30,77                    2               2                     4                 1
Phủ Lý                   27,27                                    2      1              3                 4
Hợp Thành                27,27            3                       3                     3                 1

Ôn Lƣơng                 27,27            2                       3                     3      1

      Nguồn: Ban vì sự tiến bộ phụ nữ huyện năm 2005
      Qua các nhiệm kỳ của hội đồng nhân dân, tỷ lệ nữ là đại biểu ngày
càng tăng về số lƣợng và chất lƣợng. Nhiệm kỳ 2004-2009, số nữ đại biểu cấp
huyện là 15 đồng chí, chiếm 37,5%, cao nhất trong toàn tỉnh và cao hơn so
với bình quân của cả nƣớc 15%. Số đại biểu cấp xã là 103 đồng chí, chiếm
22,68%, cao hơn mức bình quân chung của toàn quốc 3,18%. Đây là kết quả
bƣớc đầu của sự phấn đấu, nỗ lực của bản thân các cán bộ nữ, sự quan tâm tạo
điều kiện của cấp uỷ, chính quyền địa phƣơng.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                           http://www.Lrc-tnu.edu.vn
52



         Biểu 2.7. Phụ nữ là đại biểu hội đồng nhân dân 2 cấp nhiệm kỳ
        2004- 2009
            nữ           nam
Cấp huyện           15         25
                           400
Cấp xã             103       351
                           300

                 đại biểu 200

                           100
                                                       .
                                0
                                    Cấp huyện              Cấp xã
                           nữ          15                   103
                           nam         25                   351
                                                      cấp quản lý


       Nguồn: Ban vì sự tiến bộ phụ nữ huyện năm 2004
        Bên cạch việc tham gia vào cấp uỷ, hội đồng nhân dân các cấp, phụ nữ
huyện Phú Lƣơng còn giữ các trọng trách khác trong bộ máy chính quyền,
đoàn thể. Tính đến năm 2008, có 01 đồng chí trƣởng ban đảng huyện, 01
đồng chí là phó chủ tịch huyện, 01 đồng chí là chủ tịch uỷ ban nhân dân xã,
13 đồng chí là trƣởng, phó các ban, ngành, đoàn thể trong huyện. Mặc dù số
số lƣợng và tỷ lệ nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của
huyện ngày một tăng, nhƣng nếu so với nam giới thì các con số trên là khiêm
tốn. Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ chuyên môn, năng lực về mọi mặt
của cán bộ nữ còn hạn chế. Họ chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu công việc, đặc biệt
đối với lĩnh vực kỹ thuật. Nếu nữ giữ vai trò lãnh đạo thì chủ yếu là cấp phó
và phụ trách về mảng văn hoá xã hội.
       2.2.1.6. Mức độ kinh tế của các hộ khu vực nông thôn
       Với cơ sở hạ tầng của huyện đƣợc quan tâm đầu tƣ, cải thiện qua các
năm, đời sống của ngƣời dân không ngừng đƣợc cải thiện. Hàng năm, tạo
việc làm mới cho khoảng 1.500 lao động, trong đó xuất khẩu khoảng 200 lao
động đi các thị trƣờng Đài Loan, Hàn Quốc, Malayxia... và lao động tại các
khu công nghiệp trong nƣớc. Thu nhập bình quân đầu ngƣời năm 2006 là 7,0
triệu/ngƣời/năm đã tăng lên 8,2 triệu/ngƣời/năm vào năm 2008. Tỷ lệ hộ
nghèo của huyện Phú Lƣơng mặc dù vẫn cao so với các huyện khác trong



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
53



tỉnh, chiếm tới 23,55% ở khu vực nông thôn (năm 2008) những đã giảm đáng
kể so với năm 2006. Thu nhập bình quân/ngƣời/tháng cũng đã tăng qua các
năm. Bên cạnh đó thì chênh lệnh về thu nhập giữa các nhóm hộ cũng ngày
một lớn. Nếu trong năm 2006, thu nhập bình quân của một ngƣời trong nhóm
hộ khá là 1.021.600 đồng đến năm 2008 đã tăng lên mức 1.219.200 đồng,
trong khi ở nhóm hộ nghèo chỉ tăng có đồng. Đây cũng chính là vấn đề bất
bình đẳng trong xã hội về thu nhập. Mức sống của đại đa số gia đình ở Phú
Lƣơng chỉ ở mức trung bình, tỷ lệ hộ có thu nhập khá còn thấp, tỷ lệ tăng rất
chậm qua các năm. Điều này dễ dàng giải thích vì phần lớn thu nhập của các
hộ gia đình nói riêng và GDP của huyện Phú Lƣơng nói chung là từ sản xuất
nông, lâm nghiệp.
       Bảng 2.10. Phân loại hộ khu vực nông thôn huyện Phú Lƣơng theo
chuẩn mới và mức sống dân cƣ giai đoạn 2006- 2008
                                             Toàn huyện
                                                         Thu nhập bình
          Loại hộ             Số lƣợng      Tỷ lệ hộ
                                                       quân/khẩu/tháng
                                 (hộ)         (%)
                                                           ( VN đồng)
1.Tổng số hộ 2006                              23.237   100,00                   583.396
Hộ khá                                          3.323    14,30                 1.021.600
Hộ trung bình                                  12.863    55,35                   671.210
Hộ nghèo *                                      7.051    30,35                   148.200
2.Tổng số hộ 2007                              23.993   100,00                   600.063
Hộ khá                                          3.526    15,62                 1.022.120
Hộ trung bình                                  14.575    59,53                   672.100
Hộ nghèo                                        6.475    24,85                   149.360
3.Tổng số hộ 2008                              25.016   100,00                   683.342
Hộ khá                                          3.978    15,90                 1.219.200
Hộ trung bình                                  15.146    60,55                   733.510
Hộ nghèo                             5.892       23,55               158.460
      (* Tỷ lệ hộ nghèo tính theo quy định tại Quyết định số170/2005/QĐ-TTg
của Thủ tƣớng Chính phủ)
        Nguồn: Phòng LĐ-TBXH huyện năm 2006, 2007, 2008



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên              http://www.Lrc-tnu.edu.vn
54



        2.2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ trong các hộ nghiên cứu
        2.2.2.1. Vai trò trong tham gia công tác xã hội
       Những năm gần đây phụ nữ Phú Lƣơng tích cực tham gia các tổ chức
đảng, chính quyền, đoàn thể địa phƣơng. Tại các xã thuộc vùng nghiên cứu,
có tới 20% đến 27,27% phụ nữ tham gia cấp uỷ xã, trên 25% phụ nữ là đại
biểu hội đồng nhân dân xã. Trong đó có 01 chị là chủ tịch hội đồng nhân dân,
01 chị là thƣờng trực đảng. Các tổ chức đoàn thể có tỷ lệ nữ tham gia từ
23,52% đến 41,17%. Tuy vậy, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ tham
gia công tác chính quyền còn thấp, chƣa tƣơng xứng với lực lƣợng nữ ở địa
phƣơng. Cả 3 xã không có phụ nữ giữ chức chủ tịch, phó chủ tịch xã, trƣởng
xóm chỉ có cao nhất là 8,69% phụ nữ tham gia.
      Bảng 2.11. Phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp uỷ Đảng, chính quyền,
đoàn thể tại các xã vùng nghiên cứu
                                        Xã Ôn Lƣơng Xã Yên Trạch Xã Cổ Lũng
         Các chức danh                   Số    Tỷ lệ  Số    Tỷ lệ Số   Tỷ lệ
                                        ngƣời   (%)  ngƣời   (%) ngƣời  (%)
Cấp uỷ xã                                 3    27,27   3    27,27  3    20,00
Hội đồng nhân dân xã                      6    25,00   7    25,00  8    25,81
Ban chấp hành Đoàn TN                     4    36,36   6    40,00  7    41,17
Ban chấp hành Hội nông dân                5    38,46   4    23,52  6    35,29
Trƣởng xóm                                0        0   2     8,69  1     3,84
Bí thƣ chi bộ                             1    11,11   5    19,23  5    21,73
        Nguồn: Ban thống kê xã Yên Trạch, Ôn Lương, Cổ Lũng năm 2008
       Phụ nữ tham gia hoạt động cộng đồng, hoạt động xã hội ít hơn nam
giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tham gia các hoạt động công đồng
nam giới thực hiện là chính, phụ nữ đóng góp ít quan trọng hơn, thể hiện ở
chỗ: khi tham dự các buổi họp xóm chỉ có trên 22,7 % đến 25,8% phụ nữ
tham gia (thấp hơn nam giới gần 2 lần), khi tham gia vào các vị trí lãnh đạo ở
cộng đồng chỉ có trên 13,6% đến 19,4% tỷ lệ nữ tham gia (thấp hơn nam trên
3 lần). Việc phụ nữ tham gia hoạt động cộng đồng với tỷ lệ thấp hơn nam
giới, là thiệt thòi lớn đối với chính bản thân họ trong việc tiếp cận thông tin
diễn ra hàng ngày trên địa bàn cƣ trú, chia sẻ với những ngƣời xung quanh về



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên          http://www.Lrc-tnu.edu.vn
55



công việc làm ăn và những vấn đề khác. Đồng thời họ cũng ít có điều kiện để
thể hiện khả năng, tiếng nói của mình trong các hoạt động chung của cộng
đồng dân cƣ, góp phần đƣa ra những quyết định về những vấn đề liên quan
đến cộng đồng. Hiện tƣợng “nữ làm- nam học” cũng là một trong những
nguyên nhân khiến công việc của phụ nữ vất vả và tốn nhiều thời gian hơn.
     Bảng 2.12. Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động cộng đồng ở các điểm
nghiên cứu
                                                      Ngƣời thực hiện (%)
                           Xã Ôn Lƣơng                Xã Yên Trạch          Xã Cổ Lũng
   Các hoạt động
                                              Cả                      Cả                           Cả
                            Vợ     Chồng               Vợ    Chồng           Vợ      Chồng
                                              hai                     hai                          hai

Họp xóm                    22,7    43,2      34,1     25,0   46,67   28,3   25,8 46,8          27,4
Sinh hoạt đoàn thể         27,3    38,6      34,1     26,7   43,33   30,0   30,6 40,3          29,0
Tham gia lãnh đạo
chi bộ, xóm, các 13,6              52,3      34,1     16,7   51,7    31,7   19,4 48,4          32,3
đoàn thể ở xóm
       Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008
       2.2.2.2. Vai trò của phụ nữ trong quản lý và điều hành sản xuất
       Phụ nữ có vai trò hết sức quan trọng đối với mọi hoạt động trong hộ gia
đình. Để xem xét vai trò của phụ nữ trong quản lý hộ và việc điều hành sản
xuất, chúng tôi phân chia các tiêu chí đánh giá theo mức độ kinh tế của các hộ
ở 3 vùng nghiên cứu. Kết quả đƣợc tổng hợp và trình bày trong bảng số liệu
dƣới đây. Qua số liệu nghiên cứu bảng 2.13 cho thấy tỷ lệ nữ làm chủ hộ ở cả
3 vùng đều chiếm tỷ lệ nhỏ so với nam giới, tỷ lệ này có sự khác biệt rõ rệt
giữa các nhóm hộ có mức thu nhập khác nhau. Tỷ lệ nữ tham gia quản lý hộ
và điều hành sản xuất chiếm tỷ lệ cao hơn ở các hộ có thu nhập khá, tiếp đến
là hộ trung bình và thấp nhất ở các hộ nghèo. Qua đây, ta thấy có sự ảnh
hƣởng của mức thu nhập tới vai trò của phụ nữ trong quản lý điều hành sản
xuất của hộ.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                    http://www.Lrc-tnu.edu.vn
56



        Bảng 2.13. Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý hộ (n= 166)
                           Xã Ôn Lƣơng                  Xã Yên trạch             Xã Cổ Lũng
     Tiêu chí
                        Khá     TB      Nghèo         Khá   TB    Nghèo      Khá      TB     Nghèo
1.Hộ không có phụ nữ tham gia công tác xã hội (n=166):
Tỷ lệ nữ làm
chủ hộ            20,5 15,9              13,6         15,0 13,3   11,7       25,8 22,6        16,1
Tỷ lệ nữ tham gia
quản lý điều hành 44,7 37,7              31,9         25,6 21,4   19,8       47,3 36,1        32,1
sản xuất
2.Hộ có phụ nữ tham gia công tác xã hội (n=166):
Tỷ lệ nữ làm
chủ hộ            25,0 20,5                           16,7 15,0   15,0       27,4 24,2        25,0
Tỷ lệ nữ tham gia
quản lý điều hành 46,1 39,2                           25,6 22,8   23,2       48,3 39,4
sản xuất
        Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008
       Cũng qua bảng số liệu trên cho thấy mặc dù ngƣời phụ nữ có vai trò
quan trọng trong công việc gia đình và tham gia quản lý sản xuất nhƣng do
phong tục tập quán, quan niệm và do nhận thức của ngƣời dân nên việc ra
quyết định cuối cùng trong gia đình chủ yếu là ngƣời chồng. Vấn đề này phổ
biến trong các hộ gia đình nông thôn, tuy vậy có sự khác biệt về tỷ lệ giữa các
vùng, giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các dân tộc, giữa các nhóm
tuổi. Cụ thể, số liệu trong bảng trên cho ta thấy các vùng khác nhau có tỷ lệ
phụ nữ tham gia điều hành sản xuất cũng nhƣ làm chủ hộ khác nhau. Ở Yên
Trạch, vùng cao phía Bắc của huyện, nơi tập trung tới 80% là đồng bào là
ngƣời dân tộc Tày, Nùng, có tỷ lệ nữ làm chủ hộ thấp hơn so với các vùng
khác, còn ở xã Cổ Lũng, gần tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên trung tâm
kinh tế- văn hoá lớn nhất của tỉnh, có tỷ lệ nữ làm chủ hộ cao. Ta cũng thấy rõ
sự khác biệt giữa hộ có phụ nữ tham gia hoạt động xã hội với nhóm hộ nông
dân không có phụ nữ tham gia hoạt động xã hội. Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và quản
lý điều hành sản xuất của hộ có phụ nữ tham gia công tác xã hội cao hơn các
hộ nông dân khác.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
57



        2.2.2.3. Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập
        Trong cuộc sống hàng ngày của các gia đình thì ngƣời phụ nữ và nam
giới đều tham gia các hoạt động sản xuất để tạo thu nhập. Các hoạt động tạo
thu nhập các hộ phong phú và đa dạng, ở mỗi loại hộ khác nhau đều có ít nhất
02 hoạt động tạo thu nhập, hộ nông dân chủ yếu vẫn là sản xuất nông, lâm
nghiệp, chăn nuôi, ngoài ra một số hộ còn hoạt động dịch vụ trong nông
nghiệp, làm thuê... Trong 3 xã nghiên cứu thì nam giới thƣờng làm những
công việc nặng nhƣ cày bừa, phun thuốc, phát cây, dọn đồi, khai thác gỗ...
còn phụ nữ ngoài các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình nhƣ nhổ mạ, cấy,
hái, chăm sóc, thu hoạch và bán các sản phẩm. Đối với các công việc chăn
nuôi gia súc ngƣời phụ nữ đảm nhận công việc nhƣ chọn giống, chăm sóc...
Sự bình đẳng trong công việc gia đình cũng nhƣ trong các hoạt động sản xuất
có thể thấy rõ qua các công việc mà ngƣời phụ nữ và ngƣời đàn ông đảm
nhận. Ta cũng nhận thấy sự đóng góp của phụ nữ trong sản xuất là rất lớn
song sự đóng góp đó thƣờng không đƣợc đánh giá ngang bằng với nam giới.
        Qua số liệu điều tra ta có thể thấy rõ đƣợc sự phân công lao động trong
ba tiểu vùng trong huyện có sự khác nhau. Ở cụm xã phía Bắc, có điều kiện
kinh tế khó khăn, các công việc nhƣ làm đất, phun thuốc, bón phân, gặt lúa,
sao chè… phụ nữ vẫn đảm nhiệm với tỷ lệ cao, ít sử dụng các dịch vụ thuê
ngoài, mọi hoạt động sản xuất hầu nhƣ lao động trong gia đình tự đảm nhiệm.
Ở cụm xã phía Nam, do có điều kiện kinh tế phát triển hơn, khả năng tiếp cận
thông tin dễ hơn nên trong công việc lao động nữ đƣợc sử dụng một cách
đúng mức, giải phóng sức lao động của phụ nữ, thay vì làm những công việc
nặng nhọc, phụ nữ tham gia các công việc ít tiêu hao nhiều sức lực. Những
công việc nặng nhọc, vất vả trong quá trình sản xuất đều đƣợc thuê ngoài nhƣ
làm đất, tuốt lúa, sao chè…những công việc cần đảm bảo thời gian của mùa
vụ nhƣ gặt lúa, hái chè…cũng đƣợc đổi công hoặc đi thuê ngƣời khác làm
(ngƣời đƣợc thuê chủ yếu là nam giới).




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Bảng 2.14. Phân công lao động sản xuất nông nghiệp trong các hộ ở các điểm nghiên cứu năm 2008
                                                                                Ngƣời làm chính (%)
                                     Xã Ôn Lƣơng (n=44)                          Xã Yên Trạch (n=60)                   Xã Cổ Lũng (n=62)
    Loại công việc
                                                Cả     Ngƣời                                Cả    Ngƣời                           Cả     Ngƣời
                                Chồng    Vợ             khác                  Chồng Vợ             khác          Chồng    Vợ             khác
                                                hai                                         hai                                   hai
1.Trồng lúa:
   -Làm đất ( cày, bừa)             51,3       11,6       16,6        20,5        53,3   23,3   10,0      13,3       46,8    11,3   14,5   27,4
   - Gieo mạ, cấy                   11,4       45,3       21,5        21,8        11,7   51,7   23,3      15,0       12,9    43,5   22,2   21,4
   - Bón phân                       15,9       36,4       43,2         4,5        15,0   42,7   37,3       5,0       16,1    35,5   40,3    8,1
   - Làm cỏ, phun thuốc             22,7       59,1       11,4         6,8        21,7   60,0   11,7       6,6         21    45,2   17,7   16,1
   - Gặt                             4,5       11,4       52,3        31,8         5,0   13,3   53,3      28,4        4,8     9,7   54,2   31,3
   - Tuốt                            8,3        6,8       27,3        57,6         5,0    8,3   38,3      48,4        6,5     6,5   25,7   61,3
   - Phơi                           15,9       47,7       34,1         2,3        15,0     50   33,3       1,7       16,1    48,4   33,9    1,6
2. Trồng màu:
    - Làm đất                       56,8       11,4       13,6        18,2        56,7   21,7    8,3      13,3       57,4    11,3   12,9   18,4
    - Gieo hạt, trồng cây           22,7       47,7         25         4,6        23,3     50   23,3       3,4       24,2    48,4   24,2    3,2
    - Bón phân                      27,3       29,5       34,1         9,1        28,3   33,3   31,7       6,7       27,4      29   34,1    9,5
    - Phun thuốc                    47,7       18,2       13,6        20,5        48,3   21,7   11,7      18,3       48,4    17,7   12,9     21
    - Thu hoạch                     11,4       18,2       61,3         9,1        11,7   26,7   56,1       5,5       11,3    18,7   61,9    8,1
3. Trồng chè
   - Bón phân                       31,8       36,4       22,7         9,1        32,7   38,3   22,3       6,7       27,4    34,5   28,4    9,7
   - Phun thuốc                     43,2       20,1       25,3        11,4        43,3   22,7   24,0      10,0       46,7    17,7   19,3   16,3
   - Tƣới nƣớc                      52,3       15,7       27,5         4,5        51,7     35   10,0       3,3       50,6    16,1   25,2    8,1
  - Hái chè                          6,8       45,7        9,1        38,4         8,3   51,7   16,7      23,3        7,3    43,5    9,7   39,5
  - Sao, vò chè                     13,6       22,7       38,4        25,3        13,3   41,7   26,7      18,3       12,9    21,2   36,9     29
  - Đi bán                           6,8       68,2        6,8        18,2         6,7   65,0   15,0      13,3       19,4    44,4   17,7   18,5
4.Chăn nuôi:
  - Lấy ( mua) thức ăn              31,8       38,6       22,7         6,9        28,3   40,0   26,7       5,0       35,4    37,1   21,0    6,5
  - Chăm sóc                         9,1       43,2       40,9         6,8          10   43,3   41,7       5,0       11,3    41,9   40,3    6,5
  - Đi bán                          11,4       13,6        9,1        65,9        11,7   15,0   10,0      63,3        8,1    11,3    3,2   77,4
        Nguồn:Tổng hợp từ phiếu điêu tra hộ năm 2008

                            Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Bảng 2.15. Phân công lao động trong hoạt động khác ở 3 cụm xã
vùng nghiên cứu
                                                        Ngƣời làm chính (%)
                                                     Chồng                  Vợ
TT             Loại công việc
                                               Hộ Hộ       Hộ       Hộ     Hộ  Hộ
                                               khá T TB nghèo       khá    TB nghèo
1    Hoạt động dịch vụ (n= 32)
     - Chọn mặt hàng để bán                    15,6   15,6          56,3   56,3
     - Đi mua, chở về                          25,0   21,9          34,4   37,5
     - Bán hàng                                12,5   15,6          53,1   53,1
     - Ghi sổ, quản lý bán hàng                12,5   9,4           50,0   53,1
     - Trả nợ, đòi nợ                          9,4    12,5          59,4   56,3
2    Hoạt động tiểu thủ CN mây
     tre đan, mành cọ (n=96)
     - Lấy, mua nguyên liệu                    47,9   46,9   45,8   26,0   28,1      29,2
     - Chẻ, vuốt nan                           12,5   15,6   13,5   52,1   56,3      57,3
     - Đan, dệt                                11,5   14,6   10,4   51,0   55,2      60,4
     - Sấy                                     37,5   35,4   34,4   38,5   39,6      42,7
     - Chở đi bán                              16,7   14,6   12,5   14,6   17,7      18,8
3    Hoạt động lâm nghiệp (n=96)                      0,0
     -Phát cây, dọn đồi, đốt                   54,2   54,2   61,5   18,8   19,8      21,9
     - Đào hố, trồng cây                       37,5   38,5   42,7   17,7   18,8      19,8
     - Chăm sóc rừng                           51,0   56,3   57,3   12,5   15,6      17,7
     - Lấy măng, sản phẩm phụ khác             32,3   34,4   35,4   45,8   44,8      44,8
     - Khai thác gỗ, bán                       39,6   41,7   46,9   11,5   15,6      19,8
4    Hoạt động tái sản xuất(n=166)
     - Mua sắm, xây dựng, sửa chữa             45,2   43,4   44,0   31,9   31,9      17,5
     - Lấy củi đun                             24,7   23,5   18,7   45,8   47,0      47,0
     - Chăm sóc sức khoẻ gia đình              28,9   27,1   27,1   48,8   42,8      44,0
     - Dạy con học                             34,9   33,7   31,9   39,2   32,5      31,3
     - Nội trợ:nấu cơm, giặt…                  21,1   21,7   18,1   66,9   62,7      71,1
2    Hoạt động cộng đồng (n=166)
     - Tham gia họp xóm                        50,6   51,2   46,4   36,1   36,7      32,5
     - Dự tuyên truyền CS, Pluật               52,4   56,0   44,0   21,1   20,5      18,1
     - Dự đám hiếu, hỷ, lễ                     59,6   57,8   51,2   16,9   16,9      15,1
     - Là hội viên đoàn thể                    38,6   45,2   46,4   34,9   35,5      38,6
     - Lao động công ích                       16,3   18,7   17,5   42,2   44,0      45,8
       Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
60



        Để thấy rõ hơn sự phân công lao động ngoài sản xuất nông nghiệp
trong các hộ nông dân, chúng tôi tổng hợp và đánh giá trong các nhóm hộ.
Các hộ tham gia hoạt động dịch vụ trong nông nghiệp thuộc nhóm hộ khá và
trung bình, họ có vốn để nhập hàng và bán chịu cho ngƣời dân trong vùng,
điều này các hộ nghèo không thể thực hiện đƣợc, hơn nữa các hộ này có điều
kiện thuận lợi về địa điểm, thƣờng có nhà nằm dọc quốc lộ 3, ở các trung tâm
thị tứ của ba tiểu vùng. Qua bảng trên cho thấy, trong hoạt động dịch vụ,
ngƣời vợ tham gia phần lớn ở tất cả các khâu từ chọn mặt hàng để bán (trên
56%), bán hàng và quản lý sổ sách (trên 50%), họ tham gia nhiều nhất ở khâu
trả nợ và đòi nợ khách hàng, đây là công việc đòi hỏi sự kiên trì, khéo léo,
mềm dẻo (chiếm gần 60%). Ngƣời chồng cũng tham gia vào hoạt động này
nhƣng với tỷ lệ thấp ( 9%- 25%), chủ yếu là đi chở hàng về để bán hoặc chở
hàng đến tận nhà giao cho khách, hoặc phụ giúp bán hàng những lúc vợ bận
công việc khác. Tỷ lệ còn lại là do các thành viên khác trong gia đình thực
hiện hoặc đi thuê ngoài.
        Ta cũng nhận thấy, trong vùng nghiên cứu phát triển một loại ngành
nghề mới mây, tre đan, mành cọ, chủ yếu thuộc cụm xã phía Bắc và cụm xã
Trung tâm, nơi có nguồn nguyên liệu mây, tre, cọ… sẵn có chƣa đƣợc khai
thác hết tiềm năng. Trong ngành tiểu thủ công nghiệp này, ngƣời vợ cũng là
lao động chủ yếu, họ tham gia nhiều nhất công việc chẻ, vuốt nan, đan, dệt
mành (đều trên 51%), ngƣời chồng tham gia lấy nguyên vật liệu và sấy sản
phẩm. Các hộ ít phải mang sản phẩm đi bán vì sản xuất theo đơn đặt hàng của
các công ty thủ công mỹ nghệ Hà Tây, hoặc qua các hội đoàn thể, trung tâm
dạy nghề huyện.
        Chỉ có một lĩnh vực sản xuất trong các nông hộ nam giới tham gia
nhiều nhất, nhiều hơn nữ giới, đó là hoạt động lâm nghiệp. Trên 50% ngƣời
chồng trong các hộ điều tra thực hiện việc phát, dọn đồi, chăm sóc rừng, trong
khi ngƣời vợ chỉ tham gia trên 18%. Trong vùng nghiên cứu, các hộ gia đình
còn có hoạt động tạo thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp, đó là làm
thuê trong vùng nhƣ: đào đất, xây dựng, khai thác quặng, đóng gạch, bốc



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
61



vác…và đi làm thuê tại các khu công nghiệp ngoài tỉnh, việc này thƣờng do
các con trong gia đình tham gia.
       Qua bảng trên ta thấy rõ, giữa nam và nữ có sự không công bằng trong
việc tham gia các hoạt động cộng đồng. Trên 46,4% ngƣời chồng tham gia
các buổi họp xóm, nghe tuyên truyền kiến thức về chính sách, pháp luật. Điều
này càng làm tăng thêm khoảng cách về nhận thức, hiểu biết xã hội giữa nam
và nữ. Trong khi đó, công việc rất quan trọng là nuôi dạy con cái lại chủ yếu
do ngƣời vợ đảm nhận (chiếm 39,2 % ở hộ khá, 32,5 % ở trung bình và
31,3% ở hộ nghèo), và công việc sản xuất nông nghiệp cũng có tỷ lệ nữ tham
gia rất cao ở tất cả các khâu. Nhƣ vậy sẽ thật khó khăn để áp dụng tiến bộ về
khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nông lâm nghiệp nhằm tăng năng xuất,
sản lƣợng cây con. Khi phụ nữ có trình độ thấp, phần lớn thời gian họ giành
cho các hoạt động sản xuất, đó họ có rất ít thời gian để chăm sóc sức khoẻ cho
con cái và cho chính bản thân. Ta cũng thấy rằng, việc tham dự các đám hiếu,
hỷ, lễ hội… chủ yếu vẫn là nam giới, phụ nữ tham gia công việc này rất thấp
chỉ trên 15%, cũng nhƣ vậy phụ nữ ít tham gia các tổ chức hội đoàn thể hơn
nam giới. Một lần nữa khẳng định rằng phụ nữ ít có cơ hội hơn để nâng cao
hiểu biết và mở rộng mối quan hệ xã hội hơn nam giới. Nhƣng trong lao động
công ích, lao động chiến dịch diễn tập chiến đấu bảo về trị an (ZT) để vệ sinh
môi trƣờng, dọn kênh mƣơng, đào rãnh, phụ nữ rất hăng hái và tự nguyện
tham gia (trên 42%), qua đó họ vận động gia đình và bà con lối xóm giữ vệ
sinh chung và bảo vệ tài sản, môi trƣờng sống xung quanh. Đây là một ƣu
điểm lớn về khía cạnh xã hội, cộng đồng, nếu biết phát huy sẽ nâng cao hơn
vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng.
       Qua biểu đồ 2.8 thêm một lần nữa khẳng định rằng thời gian phụ nữ lao
động sản xuất để tạo thu nhập cho hộ gia đình rất cao, chiếm tới 39,67%
nhƣng họ vẫn phải thực hiện trách nhiệm làm công việc nội trợ, nấu ăn, giặt
quần áo, dọn dẹp nhà cửa (8,75%) là một đòi hỏi hàng ngày đối với phụ nữ
trong gia đình nhƣ nhà nghiên cứu Jashandai đã khẳng định “bất luận chủ hộ
là nam hay nữ, phụ nữ đều phải làm nội trợ gấp 2 lần so với nam giới”, công
việc lấy củi làm chất đốt (4,67%), chăm sóc sức khoẻ cho bố mẹ già, con nhỏ
(6,38%) và dạy con học (5,92%), nhƣng họ vẫn giành thời gian ít ỏi để tham
gia sinh hoạt hội đoàn thể, tham gia các hoạt động cộng đồng. Vì thế, thời


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
62



gian ngủ, nghỉ để tái sản xuất sức lao động cho phụ nữ giảm đi nhất là trong
nhƣng thời điểm khẩn trƣơng của mùa vụ, làm ảnh hƣởng không nhỏ tới sức
khoẻ của phụ nữ. Nếu phụ nữ muốn có thời gian để thăm hỏi, giao lƣu bạn bè
hoặc tham dự các lớp học, các buổi tập huấn nâng cao kiến thức về mọi mặt
thì rất cần có đƣợc sự chia sẻ công việc nội trợ, chăm sóc con cái từ các thành
viên khác trong gia đình, trƣớc hết là ngƣời chồng.
        Biểu đồ 2.8. Tình hình sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ vùng
nghiên cứu trong một năm

                                            Số giờ trung bình
Công việc                           Số giờ trung bình
 - Công việc tạo thu nhập                  3427,2                            - Công việc tạo thu nhập

 - Công việc nội trợ                       756,00                            - Công việc nội trợ
- Lấy củi đun                               403,2
                      30,04%                                                 - Lấy củi đun
 - Chăm sóc sức khoẻ                        550,8             39,67%
 - Dạy con học                              511,2                            - Chăm sóc sức khoẻ
 -Công tác xã hội                           234,0                            - Dạy con học
 - Vui chơi, thăm bạn bè                    162,0
                                                                             -Công tác xã hội
 -Thời gian ngủ, nghỉ                      2595,6
     1,88%                                                                   - Vui chơi, thăm bạn bè

                                                                             -Thời gian ngủ, nghỉ
                                                      8,75%
        2,71%    5,92%
                            6,38%      4,67%




       Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008
       2.2.2.4. Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận khoa học kỹ thuật
       Trong việc tiếp cận các kênh thông tin, nam giới thƣờng đi hội họp,
nghe đài, xem ti vi, đọc báo… còn phụ nữ đảm nhiệm công việc đồng áng,
nội trợ, chăm sóc sức khoẻ cho các thành viên trong gia đình. Họ nắm bắt
kiến thức chủ yếu qua các lớp tập huấn do hội phụ nữ tổ chức, qua việc đi chợ
mua, bán sản phẩm và qua chính kinh nghiệm mà họ tích luỹ đƣợc trong quá
trình lao động. Trong vùng nghiên cứu, phụ nữ thƣờng nắm bắt thông tin qua
ngƣời chồng, qua hội đoàn thể, qua họ hàng, qua thông tin khi giao lƣu trên
thị trƣờng, qua cán bộ khuyến nông, qua cửa hàng vật tƣ nông nghiệp….hay
tích luỹ kinh nghiệm của chính bản thân. Qua các năm, số phụ nữ đƣợc tiếp
nhận các thông tin từ cán bộ kỹ thuật khuyến nông và từ hội đoàn thể đã tăng
nhƣng vẫn chƣa nhiều và chất lƣợng thông tin chƣa cao, chủ yếu họ nhận




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                    http://www.Lrc-tnu.edu.vn
63



thông tin từ ngƣời chồng (52,2%), cửa hàng vật tƣ nông nghiệp (35,9%), qua
chợ (42,6%), hay qua kinh nghiệm của bản thân (43,9%).
      Bảng 2.16. Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ ở điểm nghiên cứu
(n=166)                                              Đơn vị tính: % ý kiến
                                              Ôn       Yên     Cổ             Bình
    Nguồn cung cấp thông tin
                                             Lƣơng    Trạch   Lũng            quân
 1- Từ chồng                                  50,0    53,3     53,2           52,2
 2- Hội phụ nữ, hội nông dân                  29,5    18,3     21,0           22,9
 3- Họ hàng                                   27,3    23,3     22,6           24,4
 4- Chợ                                       40,9    46,7     40,3           42,6
 5- Cán bộ kỹ thuật khuyến nông               27,3    28,3     30,6           28,8
 6- Cửa hàng vật tƣ nông nghiệp               34,1    33,3     40,3           35,9
 7- Đài, sách báo                             15,9    11,7     14,5           14,0
 8- Tự kinh nghiệm bản thân                   43,2    48,3     40,3           43,9
        Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008
      Trong những năm gần đây, thực hiện đề án nâng cao năng lực dạy nghề
cho nông dân, Trung tâm dạy nghề huyện đã phối hợp với các hội đoàn thể,
Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trạm khuyến nông thực hiện đào
tạo nghề cho trên 3.500 nông dân, tập huấn kiến thức cho trên 11.000 nông
dân về quản lý kinh tế hộ gia đình, kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật trồng rừng,
trồng chè…ở lớp đào tạo dài ngày có lồng ghép kiến thức về giới. Trong tổng
số nông dân đƣợc đào tạo, tập huấn kiến thức có trên 35% phụ nữ tham dự.
Họ tham gia nhiều ở các nội dung về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, trồng chè,
còn nam giới tham dự nhiều về các nội dung kỹ thuật trồng rừng, trồng lúa
ngô… Đối với các lớp tập huấn về quản lý kinh tế hộ và kiến thức giới thì hầu
nhƣ chỉ có phụ nữ tham dự chiếm trên 51,4% [48], nam giới ít tham gia hai
nội dung này. Tuy nhiên, sau khi kết thúc các lớp học, việc ứng dụng các kiến
thức vào trong quản lý và tổ chức sản xuất chƣa cao. Qua đó, vấn đề cần quan
tâm trong việc đƣa kiến thức cho ngƣời dân không chỉ là số lƣợng ngƣời tham
dự, số phụ nữ đƣợc tham dự mà đặc biệt quan tâm tới chất lƣợng nội dung
đào tạo, tập huấn. Vì vậy phải nâng cao trình độ chuyên môn, hiểu biết thực tế
cho cán bộ truyền đạt kiến thức cho ngƣời dân.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên           http://www.Lrc-tnu.edu.vn
Bảng 2.17. Tỷ lệ tiếp cận kiến thức của phụ nữ và nam giới ở các điểm nghiên cứu
                                     Đơn             Cả 3 xã                   Xã Ôn Lƣơng               Xã Yên Trạch                  Xã Cổ Lũng
 Các nội dung tập huấn                 vị          Nam      Nữ                 Nam      Nữ              Nam        Nữ                 Nam      Nữ
                                     tính        (n=281) (n=306)              (n=82)  (n=90)           (n=87)    (n=91)             (n=112) (n=125)
Không tham dự                    Số ý kiến             158          178           47          53              51               56          60          69

Có tham dự                       Số ý kiến             123          128           35          37              36               35          52          56

- Quản lý kinh tế hộ                   %
                                                      14,6         53,1 14,3           51,4          11,1          51,4             17,3        57,1
- Kỹ thuật trồng trọt                  %
                                                      56,1         59,4 57,1           59,5          55,6          57,1             57,7        60,7
- Kỹ thuật chăn nuôi                   %
                                                      43,1         45,3 45,7           45,9          41,7          42,9             40,4        42,9
- Phòng trừ dịch hại                   %
                                                      28,5         30,5 28,6           29,7          27,8          31,4             26,9        30,4
- Kỹ thuật trồng rừng                  %
                                                      27,6         21,9 17,1           13,5          52,8          40,0             11,5        10,7
- Kỹ thuật trồng chè                   %
                                                      35,8         57,0 34,3           56,8          36,1          57,1             34,6        57,1
- Lồng ghép kiến thức giới             %
                                               4,1       9,4 2,9         10,8       5,6        8,6                                  3,8         10,7
       ( Tỷ lệ % đƣợc tính bằng từng nội dung đƣợc tập huấn trong tổng ý kiến có tham dự tập huấn)
       Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra năm 2008



                        Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2.2.2.5. Vai trò trong kiểm soát các nguồn lực của hộ
        * Kiểm soát nguồn lực đất đai:
        Tuy phụ nữ chịu trách nhiệm chính trong hoạt động sản xuất nông
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nội trợ nhƣng trong kiểm soát kinh tế hộ vai
trò của họ đƣợc đánh giá thấp hơn nam giới. Qua phiếu điều tra cho thấy tỷ lệ
nữ trong gia đình đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rất thấp:
xã Yên Trạch chiếm 16,67%, xã Ôn Lƣơng chiếm 20,45% và xã Cổ Lũng
chiếm 19,35%. Trong khi đó, tỷ lệ nam giới đứng tên trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng chiếm tới 79,55%.
        Bảng 2.18. Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
                   Xã Ôn Lƣơng                Xã Yên Trạch           Xã Cổ Lũng
 Ngƣời đứng
                    Số lƣợng        Tỷ lệ      Số lƣợng    Tỷ lệ     Số lƣợng        Tỷ lệ
    tên
                      (hộ)          (%)          (hộ)      (%)         (hộ)           (%)
1.Ông                         6      13,64            7      11,67             6        9,68
2.Bà                          2       4,55            2       3,33             2        3,23
3.Chồng                     28       63,64            41     68,33           42       67,74
4. Vợ                         6      13,64            6      10,00             9      14,52
5.Con trai                    1       2,27            2       3,33             2        3,23
6.Con gái                     1       2,27            2       3,33             1        1,61
Tổng cộng                   44         100            60      100            62         100
        Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008
        Thực tế nghiên cứu trong các hộ, nhận thức của các thành viên trong
gia đình đều cho rằng việc ngƣời chồng đứng tên trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (sổ đỏ) là đƣơng nhiên, cả ngƣời vợ và ngƣời chồng đều
hài lòng khi ngƣời chồng đứng tên trong sổ đỏ, có trƣờng hợp phụ nữ còn từ
chối quyền đứng tên trong sổ đỏ. Chính điều này dẫn tới sự bất công bằng
trong việc sở hữu, kiểm soát các nguồn lực đất đai giữa nam giới và phụ nữ.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.Lrc-tnu.edu.vn
66



        *Kiểm soát nguồn lực tài chính:
        Bảng 2.19. Tình hình quản lý tài chính của hộ tại vùng nghiên cứu
                                                          Đơn vị tính: %
         Các quyền                    Xã Ôn Lƣơng     Xã Yên Trạch      Xã Cổ Lũng
1. Quản lý
- Vợ                                        65,9          68,3                62,9
- Chồng                                     14,5          13,3                12,6
- Cả hai vợ chồng                           19,6          18,4                24,5
2. Quyết định sử dụng
- Vợ                                        16,9          13,5                14,5
- Chồng                                     61,6          63,8                62,9
- Cả hai vợ chồng                           21,5          22,7                22,6
3. Đứng tên vay vốn
- Vợ                                        13,6          11,7                14,5
- Chồng                                     63,6          68,3                67,7
- Ngƣời khác                                22,8          20,0                17,8
4. Trả lãi tiền vay
- Vợ                                        68,5          73,3                71,0
- Chồng                                     16,9          15,0                14,5
- Ngƣời khác                                14,6          11,7                14,5
       Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008
       Ngƣời vợ đƣợc đánh giá cao hơn trong quản lý tài chính của gia đình
với trách nhiệm chi tiêu nhỏ lẻ hàng ngày nhƣng việc quyết định mua sắm,
làm công việc lớn lại do ngƣời chồng quyết định. Qua bảng trên ta thấy việc
quản lý tài chính của hộ chủ yếu ngƣời vợ thực hiện, chiếm đến 62,9% ở xã
Cổ Lũng, 65,9% ở xã Ôn Lƣơng và cao nhất ở xã Yên Trạch là 68,3%. Kết
quả điều tra tại các hộ cho thấy trong quá trình ra quyết định sử dụng tài
chính, hầu hết đều cho rằng cả vợ và chồng bàn bạc thống nhất nhƣng nếu có
sự không đồng thuận thì quyết định cuối cùng thuộc về ngƣời chồng. Đối với
hoạt động vay vốn tín dụng, nếu vay bằng tín chấp của các hội đoàn thể thì
ngƣời đứng tên vay vốn là phụ nữ, nhƣng nếu vay vốn sản xuất tại ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện thì đứng tên vay vốn là ngƣời
chồng, chiếm trên 63,6% đến 68,3%, ngƣời vợ chỉ đứng tên có 11,7% đến
14,5%. Vì đứng tên trong sở hữu tài sản nhƣ đất đai, xe máy, nông cụ …của
hộ là ngƣời chồng. Nhƣng việc trả lãi hàng tháng lại thuộc về ngƣời vợ, có tới
73,3% ngƣời vợ ở xã Yên Trạch thực hiện nhiệm vụ này, 15,0% do ngƣời



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên              http://www.Lrc-tnu.edu.vn
67



chồng thực hiện, còn 11,7% là do ông bà, con cái hoặc tổ trƣởng tổ vay vốn
thực hiện. Nhƣ vậy, ngƣời vợ trực tiếp quản lý tài chính nhƣ thủ quỹ của gia
đình, còn quyền quyết định sử dụng tài chính vào mục đích gì, sử dụng thế
nào lại thuộc về ngƣời chồng.
       2.2.2.6. Vai trò trong việc nâng cao trình độ
       Qua điều tra tại các hộ, ta thấy trình độ văn hoá của các thành viên
trong gia đình thấp, có sự chênh lệch rõ rệt giữa nam giới và phụ nữ. Tỷ lệ nữ
chƣa tốt nghiệp cấp 1 chiếm tới 66,67%, trong khi nam chỉ có 33,33%. Tỷ lệ
nữ tốt nghiệp cấp 1 là 41,94%, cấp 2 là 40,00% và giảm xuống chỉ còn
38,10% tốt nghiệp cấp 3. Điều này chứng tỏ có sự bất cân bằng về trình độ
dân trí giữa nam và nữ, đặc biệt ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội kém phát
triển hơn (nhƣ Yên Trạch) sự chênh lệch đó càng cao.
     Biểu đồ 2.9. Trình độ văn hoá của nam và nữ trong độ tuổi ở vùng
nghiên cứu

              70.00                     Tỷ lệ nam          Tỷ lệ nữ
            Chƣa tốt nghiệp
             60.00                             33.33           66.67
            Tốt nghiệp cấp 1
             50.00                             58.06           41.94
            Tốt nghiệp cấp 2                   60.00           40.00
             40.00
            Tốt nghiệp cấp 3                   61.90           38.10
              30.00
              20.00
              10.00
               0.00
                      Chưa tốt nghiệp   Tốt nghiệp cấp 1 Tốt nghiệp cấp 2 Tốt nghiệp cấp 3
          Tỷ lệ nam       33.33              58.06            60.00            61.90
          Tỷ lệ nữ        66.67              41.94            40.00            38.10




       Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008
       Kết quả nghiên cứu tại mục 2.2.2.3, đã chỉ nguyên nhân của sự chênh
lệch về trình độ văn hoá giữa nam và nữ. Phụ nữ giành hầu hết thời gian cho
hoạt động sản xuất tạo thu nhập, công việc nội trợ và chăm sóc các thành viên
trong gia đình, nên quỹ thời gian để họ có thể học tập nâng cao trình độ không
còn nhiều. Mặt khác, sau ngày làm việc vất vả, họ không còn có nhu cầu học
tập, họ lại hài lòng với trình độ của mình và cho rằng không cần thiết phải
thay đổi điều đó.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                          http://www.Lrc-tnu.edu.vn
68



      2.2.2.7- Vai trò trong công tác chăm sóc sức khoẻ gia đình
      Biểu đồ 2.10. Tỷ lệ ngƣời ốm trong các hộ đƣợc chăm sóc, chữa trị
tại nhà ở các vùng nghiên cứu


                       Chồng tự mua               mời
     Vợ tự mua thuốc thuốc về cho Đƣa đến
                 6,62%                            bác sỹ Vợ tự mua thuốc về cho uống
     về cho uống       uống          trạm xá      đến     Chồng tự mua thuốc về cho uống
   27,10%                               42,16%
               42,16           24,12         27,1    6,62        100
                                                              Đƣa đến trạm xá

                                                              mời bác sỹ đến

                  24,12%




       Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu năm 2008
       Ở địa bàn nghiên cứu, ngƣời dân có thói quen tự chăm sóc sức khoẻ , tự
điều trị một số bệnh nhƣ viêm họng, cúm, viêm thận, đau dạ dày… cho ngƣời
ốm tại nhà, họ chỉ đƣợc đƣa ra trạm xá xã hoặc bệnh viện huyện khi bệnh
nặng, vì vậy đã có nhiều trƣờng hợp đáng tiếc xảy ra. Tổng hợp kết quả điều
tra trực tiếp 166 hộ, có tới 66,28 % hộ có ý kiến tự mua thuốc ở cửa hàng về
nhà cho uống hoặc lên rừng lấy lá cây về đắp, đun nƣớc cho uống (trong đó
ngƣời vợ thực hiện nhiệm vụ này chiếm 42,16%, còn ngƣời chồng thực hiện
với tỷ lệ 24,12%), chỉ có 27,10% đƣa đến trạm xá khám lấy thuốc, rất ít hộ
mời bác sỹ, y tá đến nhà thăm chữa bệnh, chỉ chiếm 6,62% tổng số hộ điều
tra. Ngoài việc mua thuốc, lấy thuốc cho ngƣời bệnh uống, thì việc nấu ăn,
tắm rửa chăm sóc cho ngƣời ốm yếu do phụ nữ trong gia đình làm là chính.
Nhƣng khi ngƣời vợ bị ốm thì thƣờng tự chăm sóc bản thân, trừ khi không thể
“gượng dậy” đƣợc thì ngƣời chăm sóc mình mới là chồng và các con.
       Tỷ lệ thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình ở các hộ rất thấp.
Trong các hộ có sử dụng, sự tham gia của nam giới lại thấp hơn nhiều so với
nữ. Ở xã Cổ Lũng có 58,06% số hộ đƣợc điều tra có áp dụng biện pháp kế
hoạch hoá gia đình thì 30,65% là phụ nữ đặt vòng và uống thuốc tránh thai,
chỉ có 6,45% nam giới sử dụng bao cao su. Thấp nhất là xã Yên Trạch, có
51,67% hộ gia đình đƣợc điều tra sử dụng, trong đó nữ chiếm 28,33%, còn
nam giới chỉ có 5,001% áp dụng. Có thể khẳng định phụ nữ là ngƣời đảm


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên               http://www.Lrc-tnu.edu.vn
69



nhiệm chính biện pháp kế hoạch hoá gia đình (gấp trên 4 lần so với nam giới).
Hơn ai hết phụ nữ chính là ngƣời ý thức đƣợc việc bảo vệ sức khoẻ, ý thức
đƣợc việc đông con sẽ vất vả cho chính bản thân nên đã tự giác đi đặt vòng
hoặc uống thuốc tránh thai. Tuy nhiên, một bộ phận chị em chƣa nhận thức
đầy đủ vấn đề này, nên dẫn đến việc mang thai ngoài ý muốn phải nạo, phá
thai, ảnh hƣởng xấu tới sức khoẻ.
       Biểu đồ 2.11. Tỷ lệ các hộ sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình

       50,0
       45,0
       40,0
       35,0
       30,0                                                            Xã Ôn Lương
 Tỷ lệ                Đặt vòng uống         Dùng bao Biện pháp Không sử Trạch
       25,0                                                            Xã Yên
  (%)                 tránh thai thuốc      cao su     khác       dụng
       20,0 Ôn Lương                                                   Xã Cổ Lũng
           Xã              13,64      15,91       6,82      20,45     43,18
       15,0 Yên Trạch
           Xã              13,33         15          5      18,33     48,33
           Xã Cổ Lũng      14,52      16,13       6,45      20,97     41,94
       10,0
         5,0
         0,0
               Đặt vòng     uống      Dùng bao Biện pháp Không sử
               tránh thai   thuốc      cao su    khác     dụng



        Nguồn số liệu: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008
        2.2.3. Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò phụ nữ
nông thôn trong phát triển kinh tế
        2.2.3.1. Yếu tố thuận lợi
        * Điểm mạnh:
       - Tỷ lệ nữ tham gia vào các cấp, các ngành ngày càng cao, góp thêm
tiếng nói trong quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện, giám sát việc thực hiện
các chủ trƣơng chính sách trong phát triển kinh tế nói chung và các chính sách
liên quan đến phụ nữ nói riêng.
      - Tổ chức hội phụ nữ từ huyện đến cơ sở thƣờng xuyên đƣợc kiện toàn
và hoạt động có chiều sâu, là chỗ dựa vững chắc cho chị em phụ nữ trong
hoạt động kinh tế, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.Lrc-tnu.edu.vn
70



        * Cơ hội:

        Hệ thống chính sách để hỗ trợ phát triển kinh tế của vùng nông thôn
miền núi khá toàn diện, tác động vào nhiều mặt của ngƣời dân địa phƣơng.
Một số chính sách theo lĩnh vực nhƣ sau:
        - Kinh tế: xây dựng kết cấu hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, chính
sách trợ giá trợ cƣớc, khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ nhà ở và nƣớc sinh
hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (chƣơng trình
134). Trong những năm qua, hiệu quả của các chƣơng trình phát triển này đã
đƣợc thể hiện thông qua: sự ổn định sản xuất của ngƣời dân, ngƣời dân
chuyển hƣớng thâm canh, áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, thu
nhập của hộ gia đình đƣợc nâng cao, chất lƣợng cuộc sống đƣợc cải thiện. Tỷ
lệ nữ đƣợc đi học phổ thông không ngừng tăng, hoạt động sản xuất của phụ
nữ giảm sự vất vả và có nhiều thời gian giành cho bản thân hơn.
        -Văn hoá: nâng cao mức hƣởng thụ văn hoá của nhân dân (xây dựng
nhà văn hoá và đặt cụm loa tới các xóm, thƣờng xuyên tổ chức hoạt động văn
hoá lƣu động); bảo tồn văn hoá truyền thống; thực hiện các chƣơng trình mục
tiêu quốc gia về văn hoá. Với chính sách này đã giúp cho phụ nữ đặc biệt là
phụ nữ dân tộc thiểu số nâng cao hiểu biết về khoa học kỹ thuật, bình đẳng
giới, chăm sóc sức khoẻ sinh sản.
       - Y tế: cải thiện trang bị cơ sở vật chất cho vùng sâu, vùng xa, vùng dân
tộc thiểu số, tăng cƣờng đội ngũ cán bộ về thôn bản; khám chữa bệnh miễn
phí; thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia; chăm sóc sức khoẻ sinh
sản, thực hiện kế hoạch hoá gia đình.
       - Giáo dục: Cải thiện trang bị, cơ sở vật chất chotrƣờng, lớp..., tăng
cƣờng và nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên; có chính sách cử tuyển,
miễn học phí, cấp phát giấy vở cho học sinh, thực hiện các chƣơng trình mục
tiêu quốc gia về giáo dục. Kết quả là số học sinh nghèo, học sinh dân tộc thiểu
số đƣợc đi học ngày càng tăng, tỷ lệ học sinh nữ bị bỏ học đã giảm rõ rệt.
      - Khoa học, công nghệ: chuyển giao khoa học, công nghệ cho ngƣời
dân làm thay đổi tập quán canh tác và năng lực sản xuất. Hàng năm đã mở các



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
71



lớp dạy nghề, đào tạo nghề cho nông dân tới tận xóm bản nhằm cuốn hút
đông đảo phụ nữ tham gia.
      - Quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ nữ: đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ trong
quy hoạch các chức danh lãnh đạo thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nƣớc; cử và quan tâm tạo điều kiện để cán bộ nữ đƣợc học tập nâng cao trình
độ chuyên môn, chính trị, quản lý. Điều này đƣợc thể hiện trong các chức
danh chính quyền, đoàn thể nhƣ: Ban dân vận, Phòng dân tộc của huyện.
        2.2.3.2. Yếu tố cản trở

        * Điểm yếu:
      - Trình độ học vấn, sự tiếp cận và tiếp thu các biện pháp kỹ thuật vào
sản xuất nông lâm nghiệp của đại bộ phận phụ nữ vùng nghiên cứu còn chậm
và hạn chế. Điều này ảnh hƣởng tới sự ra quyết định trong sản xuất, quản lý
hộ và tham gia công tác quản lý cộng đồng.
        - Do ảnh hƣởng của tƣ tƣởng từ ngàn đời xƣa để lại, chính bản thân
ngƣời phụ nữ vẫn còn tƣ tƣởng tự ti, an phận và thu động. Điều này đã hạn
chế sự độc lập suy nghĩ, sáng tạo, khả năng cống hiến của phụ nữ, đó chính là
lực cản bên trong kìm hãm họ. Nhiều phụ nữ ngại phát biểu ý kiến, không bộc
bạch chính kiến, ngại tranh luận với nam giới, mặc dù ý kiến của họ có thể là
chính xác. Nhiều phụ nữ không muốn học tập để nâng cao trình độ, từ chối
tham gia các lớp tập huấn về khoa học kỹ thuật… Tâm lý tự ti, mặc cảm,
không vận động để tự mình thoát mình đã hạn chế vai trò của chính họ.

        * Thách thức:
        - Mức độ kinh tế: Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-
2010 của huyện là 23,55% (năm 2008).Qua nghiên cứu thấy rằng khi thu
nhập của gia đình thấp, ngƣời phụ nữ phải vất vả hơn đề kiếm sống nuôi gia
đình, với các hộ khó khăn nam giới có xu hƣớng ít chia sẻ công việc nội trợ
với phụ nữ. Bên cạnh đó, do nghèo nên không có điều kiện để đầu tƣ cho sản
xuất, hiệu quả sản xuất thấp. Dẫn tới chênh lệch về thu nhập bình


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.Lrc-tnu.edu.vn
72



quân/ngƣời/năm giữa các nhóm hộ nghèo, trung bình còn khá cao. Nhƣ phân
tích tại mục 2.2.1.6 thì có sự bất bình đẳng trong thu nhập cũng nhƣ trong tiêu
dùng của các nhóm hộ, giữa các vùng trong huyện.
       - Gánh nặng công việc của phụ nữ: Hoạt động sản xuất ở vùng nông
thôn chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp. Công việc chủ do
phụ nữ thực hiện, nhất là đối với các hộ nghèo. Bên cạnh đó, phụ nữ còn đảm
nhiệm hầu hết công việc nội trợ, chăm sóc con cái và chăm sóc các thành viên
khác trong gia đình. Để thực hiện hết các công việc đó, chị em phải dậy rất
sớm từ 5h để chuẩn bị cơm nƣớc cho cả nhà, chăn lợn, chăn gà, làm việc đồng
áng… tới tận 21h mới đƣợc đi ngủ.
       - Cơ hội tiếp cận các nguồn lực: Vẫn còn hiện tƣợng khi đi lấy chồng,
phụ nữ không đƣợc bố mẹ chia đất cũng nhƣ thừa kế các tài sản. Nguồn vốn
thế chấp tại ngân hàng nông nghiệp ít có cơ hội cho phụ nữ đứng tên vay vốn.
Ngân hàng chính sách và tín dụng của hội phụ nữ cho vay với mức rất thấp,
không đủ để sản xuất.
       - Các định kiến xã hội về vai trò của phụ nữ:
       Bảng 2.20. Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng
giới và công cuộc phát triển
  Một số định kiến phổ                             Những hậu quả đối với chất
                             Tình trạng bất bình
biến về vai trò, đặc điểm                            lƣợng cuộc sống và công
                             đẳng giới phổ biến
     giới trong xã hội                                   cuộc phát triển
                                                  - Thu nhập của hộ gia đình
                                                  thấp hơn.
                            - Trẻ em gái ít đƣợc - Giáo dục giành cho trẻ em
                            tiếp cận giáo dục.    giảm.
Thích con trai              - Trẻ em gái và phụ -Giảm khả năng tiếp cận
                            nữ có trình độ học của phụ nữ đối với những
                            vấn thấp.             công việc đƣợc trả công và
                                                  những việc làm có thu nhập
                                                  cao hơn.
“Thiên chức”- về mặt - Sự phân công lao - Tình trạng mệt mỏi triền
sinh học, chỉ có phụ nữ động không bình miên của phụ nữ.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
73



mới có khả năng mang       đẳng giữa nam và - Chi phí chăm sóc sức
thai, sinh con và cho con  nữ:                     khoẻ cao hơn đối với phụ
bú bằng chính bầu sữa      + Gánh nặng công nữ
của mình. Tuy nhiên, xã    việc                    - Năng suất lao động thấp.
hội lại gán cho phụ nữ     +Ít thời gian nghỉ
toàn bộ vai trò chăm sóc   ngơi, giải trí
con cái, chăm sóc các      + Ít tham gia vào
thành viên trong gia       quá trình ra quyết
đình. Cuối cùng công       định trong cộng
việc nội trợ cũng đƣợc     đồng.
gán cho phụ nữ và trẻ      + Ít đƣợc tiếp tục
em gái.                    học hành.
                           - Xã hội thƣờng ủng
                           hộ nam giới vào các
                                                   - Các chính sách không đáp
Phụ nữ thƣờng đƣợc vị trí lãnh đạo hơn
                                                   ứng hiệu quả nhu cầu của
xem là thiếu quyết đoán, nữ giới. Vì thế tỷ lệ
                                                   mọi thành viên trong xã
hành động thiên về tình nữ tham gia lãnh
                                                   hội, cụ thể đối với phụ nữ.
cảm nên khó để trở đạo thấp hơn.
                                                   - Hiệu quả của tăng trƣởng
thành ngƣời lãnh đạo tốt - Những ngƣời ở vị
                                                   kinh tế chƣa cao.
                           trí ra quyết định chủ
                           yếu là nam giới.
      -Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng để tiến tới bình đẳng chưa
cao: Thực tế tại địa bàn nghiên cứu, các lớp tập huấn nâng cao nhận thức về
giới chủ yếu là phụ nữ tham dự. Nam giới ít tham gia nội dung này, nhất là
nam giới giữ vai trò chủ chốt tại cơ sở. Dẫn tới hiệu quả công tác truyền thông
về giới chƣa cao, chậm quá trình thay đổi nhận thức xã hội về giới.
       - Việc cụ thể hoá và thực thi các chính sách về bình đẳng giới còn hạn
chế: Nhà nƣớc đã ban hành Luật bình đẳng giới, có nghị định hƣớng dẫn thực
hiện Luật bình đẳng giới. Nhƣng cấp uỷ địa phƣơng chƣa có nghị quyết
chuyên đề để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Luật bình đẳng giới và bàn về vấn
đề phụ nữ. Hoạt động của ban vì sự tiến bộ của phụ nữ chủ yếu do cơ quan
thƣờng trực của ban (Hội phụ nữ) thực hiện.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
74



                                          CHƢƠNG 3
  QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG HƢỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM
  NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT
          TRIỂN KINH TẾ HỘ HUYỆN PHÚ LƢƠNG

        3.1. Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ
       Sự khác biệt về giới hiện nay có thể hiểu là sự bất bình đẳng về quyền
lực giữa nam và nữ mà ngƣời chịu thiệt thòi nhất là phụ nữ. Cuộc đấu tranh
giành sự bình đẳng này nhằm tạo sự cân bằng về quyền lực chứ không phải
giành quyền thống trị. Sự bình đẳng này cho phép phụ nữ tiếp cận cao hơn
các nguồn lực và từ đây họ có điều kiện phát huy tốt vai trò của mình. Mục
tiêu của chúng ta là xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, đây là mục
tiêu phấn đấu của nữ giới. Sự công bằng, văn minh trong xã hội cũng nhƣ
trong gia đình trƣớc tiên phải là sự đối xử công bằng và văn minh với phụ nữ.
       Sự cống hiến của phụ nữ trong suốt chiều dài lịch sử của đất nƣớc thật
lớn lao, đặc biệt là qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ. Những cống hiến của phụ nữ đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta ghi nhận. Kể
từ lúc xác định đƣờng lối đấu tranh giải phóng dân tộc cho đến nay, Đảng ta
luôn luôn coi trọng giải phóng phụ nữ là một bộ phận quan trọng trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
       Những hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ đã giúp họ tăng cƣờng khả
năng phấn đấu để giải quyết những vấn đề của chính họ. Một xã hội nếu
không có sự bình đẳng giữa nam và nữ sẽ tạo nên những hẫng hụt mà theo đó
là những căn bệnh của xã hội, nếu ngƣời phụ nữ bị đối xử không công bằng,
vai trò của họ mờ nhạt sẽ dẫn đến hậu quả có những đứa con đƣợc nuôi dạy
không tốt, ý thức và khả năng tiếp thu những tƣ tƣởng tiến bộ kém. Mâu
thuẫn nội tại sẽ phát sinh và ngấm ngầm phá hoại hạnh phúc gia đình.
       Vai trò lãnh đạo cộng đồng, xã hội của phụ nữ không xứng với công
lao và năng lực của họ sẽ dẫn đến nhìn phiến diện về thực tế và không huy
động đƣợc đầy đủ tiềm năng trong mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội.
       Việc xây dựng hệ thống giải pháp phải dựa trên cơ sở nắm vững đƣờng
lối chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, đặc biệt là:
       + Chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội (2001-2010) của Nhà nƣớc.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.Lrc-tnu.edu.vn
75



        + Các nghị quyết và văn kiện của Đại hội phụ nữ toàn quốc. Đặc biệt là
phải xuất phát từ thực trạng, nguyên nhân và khả năng thực tế của địa phƣơng
để đƣa ra những giải pháp thiết thực và khả thi. Nhƣ vậy, việc tìm ra những
giải pháp để nâng cao vai trò của ngƣời phụ nữ trong phát triển kinh tế nông
thôn là một tất yếu khách quan cho việc phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc.
        3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ
nông thôn trong phát triển kinh tế
        3.2.1. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ các cấp trong thực
hiện bình đẳng giới
        Cấp uỷ có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của tổ chức đảng các
cấp, là cơ qua lãnh đạo thực hiện nghị quyết của cấp trên và cấp mình. Để
thực hiện tốt hơn nữa bình đẳng giới, công tác cán bộ nữ cần chú trọng tới các
giải pháp sau:
        - Cấp uỷ đảng nâng cao chất lƣợng việc ra nghị quyết, tiếp tục lãnh đạo,
chỉ đạo nâng cáo nhận thức, quan điểm về bình đẳng giới, công tác phụ nữ,
cán bộ nữ.
        - Nâng cao chất lƣợng việc tổ chức, thực hiện nghị quyết và kiểm tra
việc thực hiện nghị quyết về thực hiện bình đẳng giới.
        - Tăng cƣờng vai trò của ngƣời đứng đầu: Bí thƣ cấp uỷ các cấp phải tự
mình nâng cao trách nhiệm, tạo sự thống nhất trong cấp uỷ đảng, cơ quan, ban
ngành đoàn thể về bình đẳng giới, công tác phụ nữ.
        - Xây dựng cơ chế đảm bảo thực hiện có hiệu quả bình đẳng giới, công
tác phụ nữ.
        3.2.2. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức
của xã hội về giới trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn.
        Tăng cƣờng đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về bình đẳng
giới, không chỉ cho phụ nữ mà cả nam giới, đặc biệt là cho cán bộ lãnh đạo
chủ chốt của địa phƣơng, đơn vị, nhằm tạo sự thay đổi nhận thức từ gốc về vị
trí, vai trò của phụ nữ trong xã hội ngày nay, đảm bảo các điều kiện để chị em
có cơ hội và điều kiện thuận lợi thực hiện quyền bình đẳng trong mọi lĩnh vực
chính trị- kinh tế- xã hội- an ninh quốc phòng…



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
76



       Cấp uỷ đảng các cấp phải xây dựng nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo,
chỉ đạo hoạt động truyền thông về bình đẳng giới, về giới trong cộng đồng.
Cơ quan truyền thông xây dựng kế hoạch tuyên truyền trên phƣơng tiện thông
tin đại chúng theo từng thời gian cụ thể. Hội phụ nữ, ban vì sự tiến bộ xây
dựng chƣơng trình hành động để thực hiện luật bình đẳng giới, chú trọng tới
công tác phối hợp với các hội đoàn thể khác trong thực hiện tuyên truyền các
nội dung của Luật bình đẳng giới, các nghị định, hƣớng dẫn thực hiện. Trong
quá trình truyền thông, trƣớc tiên cần quan tâm hƣớng tới đối tƣợng là lãnh
đạo chủ chốt của địa phƣơng đơn vị, nâng cao và thay đổi tƣ duy về giới cho
họ là cách tốt nhất, sớm nhất có đƣợc những cơ hội cho phụ nữ phát huy khả
năng, năng lực của mình trong mọi lĩnh vực.
       3.2.3. Nâng cao trình độ mọi mặt cho phụ nữ kết hợp với giáo dục
truyền thống, phẩm chất đạo đức trong đông đảo phụ nữ
        Nâng cao kiến thức về mọi mặt là nâng cao nội lực cho phụ nữ. Đây là
biện pháp đầu tiên, cơ bản và quyết định nhằm tạo ra năng lực thực để họ có
thể tiếp cận với thực tế mà không ngần ngại, lo lắng đồng thời có cơ sở để ra
quyết định cũng nhƣ thực hiện quyết định của mình.
       Vì vậy, phải khuyến khích và tạo điều kiện cho chị em tham gia học tập
để không ngừng nâng cao nhận thức, trình độ văn hoá, chuyên môn, tay nghề.
Có chính sách thoả đáng cho phụ nữ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số
khi tham gia học tập tại các trƣờng lớp, nhằm nâng cao chất lƣợng nhân lực
nữ trên các địa bàn này, tiến tới xoá bỏ dần khoảng cách và sự chênh lệch
kiến thức, trình độ giữa phụ nữ các vùng và giữa phụ nữ và nam giới.
      Nâng cao kiến thức, kỹ năng cho phụ nữ về chăm sóc sức khoẻ, nuôi
dạy con, dân số và kế hoạch hoá gia đình, kỹ năng sống và tổ chức cuộc sống
gia đình. Xây dựng ngƣời phụ nữ Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nƣớc “có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng
tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu, tích cực lao động sáng tạo, xây
dựng gia đình hạnh phúc”.
        Nâng cao trình độ học vấn, kiến thức kinh tế, kỹ thuật, quản lý và pháp
luật nhằm tạo nội lực cho phụ nữ. Hƣớng tới gia tăng đóng góp của họ cho gia
đình, xã hội và tự khẳng định vai trò của mình. Trong thực tế, các trƣờng hợp


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
77



phụ nữ không tham gia quyết định cũng nhƣ thực hiện quyết định là vì họ
thiếu yếu tố nội lực. Hay nói cách khác là họ không biết nên không thể tham
gia ý kiến. Có kiến thức sẽ giúp họ quyết định mạnh dạn hơn, tự tin hơn.
        Đối với đội ngũ cán bộ nữ, cần đào tạo, nâng cao trình độ lý luận chính
trị, trình độ quản lý... để cán bộ nữ có đủ điều kiện quy hoạch vào các chức
danh lãnh đạo, quản lý, nâng cao vị trí, sự tham gia của họ trong quá trình ra
quyết định, lập kế hoạch và lãnh đạo, chỉ đạo tại địa phƣơng, đơn vị.
       3.2.4. Lồng ghép giới vào các chính sách, chƣơng trình hành động quốc
gia, các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của các cấp, các ngành. Tăng
cƣờng vai trò, trách nhiệm của các Bộ, ngành và địa phƣơng trong nâng cao
nhận thức về Bình đẳng giới và thực hiện các mục tiêu về tiến bộ phụ nữ.
Phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phƣơng trong giới thiệu triển khai thực hiện
các mô hình tốt về bình đẳng giới. Thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo cán
bộ nữ, tạo nguồn cán bộ kế cận và đề bạt cán bộ nữ, đáp ứng yêu cầu mới.
        3.2.5. Tăng khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực
       * Đất đai: Thực hiện tốt quy định của Luật đất đai năm 2003 và các
nghị định sửa đổi bổ sung, tất cả các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều
phải ghi tên cả vợ và chồng.
       * Tín dụng: Ngân hàng cần đơn giản hoá thủ tục, điều kiện vay và chấp
nhận các mục tiêu sử dụng vốn vay đa dạng hơn. Các thủ tục và quy trình
hoạt động cần có tính nhạy cảm về giới để đảm bảo cho phụ nữ và nam giới
đƣợc tiếp cận nhƣ nhau với vốn vay của các tổ chức tín dụng, sao cho các
chƣơng trình vay đến đƣợc với phụ nữ và nam giới một cách bình đẳng nhƣ
đến với với những khách hàng đi vay và những ngƣời đƣợc hƣởng lợi ích.
Các cán bộ và đại diện ngân hàng cần đƣợc tập huấn về giới có đƣợc nhận
thức về vai trò giới và các đặc thù về văn hoá và gia đình. Đặc biệt cần phải
có sự phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ ngân hàng với cán bộ khuyến nông,
khuyến lâm để hỗ trợ tập huấn về kỹ thuật và thông tin về thị trƣờng cũng nhƣ
kỹ năng lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh cho tất cả các hộ vay vốn. Các hộ
gia đình, nhất là phụ nữ, cần đƣợc thông tin một cách cụ thể về các hình thức
tín dụng mà họ có thể nhận đƣợc. Dữ liệu về các khoản cho vay của ngân




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
78



hàng và việc thực hiện các khoản cho vay này cần đƣợc phân chia theo giới
của ngƣời vay.
       3.2.6. Đưa các chỉ tiêu về giới, các công cụ giám sát và đánh giá có
phân tích giới vào chính sách, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển của
đất nước.
       Có sự cam kết của các cấp lãnh đạo địa phƣơng. Năng lực lồng ghép
giới trong các khối cơ quan nhà nƣớc, bao gồm nguồn nhân lực, tài chính, các
quy chế hoạt động và các thủ tục hành chính. Những hoạt động có đƣợc sự
bắt đầu bằng việc nâng cao nhận thức và kiến thức giới của các cấp lãnh đạo
cao nhất.
       Đội ngũ cán bộ quản lý chuyên môn, đặc biệt là những ngƣời chịu trách
nhiệm xây dựng chính sách, kế hoạch, ngân sách và hoạch định việc cung cấp
dịch vụ công trên toàn bộ hệ thống ngành cần đƣợc trang bị kiến thức, kỹ
năng và đƣợc giao trách nhiệm báo cáo để đảm bảo các kế hoạch, ngân sách,
các dịch vụ công có tính nhạy cảm giới và các nhu cầu của nam giới và phụ
nữ sẽ đƣợc xem xét một cách bình đẳng. Thêm vào đó, cần lồng ghép các chỉ
tiêu về giới, các số liệu có phân tích nam nữ vào hệ thống báo cáo.
       Song song với chiến lƣợc truyền thông có trọng điểm trong hệ thống
ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ thiết kế và triển khai từng bƣớc
chƣơng trình đào tạo chuyên môn nghiệp vụ có lồng ghép giới trong đó bao
gồm đào tạo ban đầu tập huấn nâng cao nghiệp vụ hàng năm có phối hợp các
dự án tại các trƣờng trên địa bàn. Các chứng chỉ đào tạo về giới cần đƣợc ghi
nhận trong hồ sơ cán bộ và hàng năm báo cáo về đơn vị phụ trách công tác tổ
chức cán bộ, trong đó có số liệu phân tách nam, nữ.
       Nhu cầu lao động nữ và nam phải đƣợc xem xét trong quá trình lựa
chọn, khảo sát, thiết kế, thẩm định và triển khai các dự án, các chƣơng trình
phát triển nông thôn. Tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động của các dự án
xây dựng mới cơ sở hạ tầng nông thôn bao gồm dự án cấp nƣớc sinh hoạt,
thủy lợi, cầu đƣờng, trạm y tế, thông tin liên lạc, trƣờng học và chợ... nhƣ một
bộ phận của công tác thiết kế. Tiến hành các cuộc đánh giá nhanh nông thôn
có sự tham gia của ngƣời dân.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.Lrc-tnu.edu.vn
79



       3.2.7. Thực hiện cách thức làm việc mang tính nhạy cảm giới và đạt
được bình đẳng giới trong các hoạt động nghiên cứu, cung cấp dịch vụ công
tác đào tạo
       Các hoạt động nghiên cứu về công nghệ mới và các cơ hội phát triển
sản xuất kinh doanh cần nhằm vào những lĩnh vực trong đó cả nam và nữ đều
có tiềm năng khai thác và hƣởng lợi. Các nghiên cứu phân tích rủi ro và mạng
lƣới an sinh xã hội cần tính đến nhu cầu của cả nam và nữ cũng nhƣ vai trò
giới ở hộ gia đình và cộng đồng.
       Tăng cƣờng phát triển các dịch vụ công trong nông nghiệp nông thôn
nhất là các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm để đƣa các công nghệ mới về
trồng trọt, chăn nuôi, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững.
Để đảm bảo các chƣơng trình khuyến nông, khuyến lâm đƣợc thiết kế nhằm
đáp ứng nhu cầu của cả nam và nữ trong ngành thì các cán bộ khuyến nông,
khuyến lâm cần tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động nói trên
nhƣ địa điểm, thời gian... đều cần đƣợc cân nhắc khi thiết kế và tiến hành các
dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm đồng thời các số liệu về nhu cầu, tính hữu
ích và sự tham gia của nam và nữ cần đƣợc thƣờng xuyên thu nhập, phân tích
và sử dụng nhƣ một công cụ quản lý để giám sát các hoạt động này.
       Cùng với các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm các khóa đào tạo nghề
cần đặc biệt chú trọng tới đối tƣợng là phụ nữ, một mặt là để tăng kiến thức
chuyên môn, mặt khác để củng cố lòng tự tin cho họ. Tại cấp cộng đồng, cần
hình thành đƣợc những nhóm hạt nhân bao gồm nông dân cả nam và nữ sản
xuất giỏi, hiểu biết tốt về công nghệ mới và có những mối liên hệ chặt chẽ với
chính quyền và các tổ chức hội đoàn thể.
       3.2.8. Tăng cường tạo quyền và khả năng tiếp cận của phụ nữ đối với
quá trình ra quyết định ở các cơ quan, đơn vị
       Bình đẳng giới cần đƣợc coi nhƣ một nguyên tắc xuyên suốt trong quá
trình cải cách hành chính nhà nƣớc ta, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý và
phát triển nguồn nhân lực. Tất cả các hoạt động của công tác quản lý nguồn
nhân lực bao gồm xây dựng các bản mô tả công việc cho các chức danh, các
chính sách tuyển dụng, phân công cán bộ, quy hoạch, đào tạo và đề bạt cán bộ
đều thể hiện sự cam kết đảm bảo bình đẳng giới. Kết quả thực hiện mục tiêu




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
80



bình đẳng giới đã đƣa ra trong kế hoạch hành động cần đƣợc đƣa vào các
cuộc đánh giá công các thƣờng kỳ.
      Cần nâng cao chất lƣợng hoạt động ban vì sự tiến bộ của phụ nữ cấp cơ
sở, có cán bộ chuyên trách về giới nhƣ một mục tiêu cơ bản trong các mục
tiêu phát triển kinh tế, xã hội của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.
        Phụ nữ và nam giới cần có cơ hội tiếp cận nhƣ nhau về giáo dục đào
tạo, đối với các cộng đồng nông thôn, cần tính đến yếu tố giới trong việc nhập
trƣờng ở cấp giáo dục tiểu học, trung học và trên trung học. Các địa phƣơng
nên có chính sách cử cán bộ nữ đi đào tạo nâng cao trình độ nhằm mục tiêu
phát triển họ thành các lãnh đạo cộng đồng.
      Giải pháp chính để đạt đƣợc bình đẳng giới trong quản lý cộng đồng và
ra quyết định, đó chính là nâng cao năng lực nhận thức cho phụ nữ, đặc biệt là
phụ nữ ở nông thôn để họ có thể tham gia vào tất cả các hoạt động kinh tế.
Tại cấp huyện, xã cần tăng cƣờng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của
ban vì sự tiến bộ của phụ nữ và các ban ngành liên quan về việc thực hiện luật
pháp và chính sách bình đẳng giới. Cần đảm bảo các cơ chế thông tin xã hội,
tham vấn, tham dự và đóng góp ý kiến của cả nam và nữ trong quá trình xây
dựng các kế hoạch và chƣơng trình phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với các
yêu cầu nội dung và thành phần các nhóm mục tiêu ở cấp xã, thôn.
      3.2.9. Giải pháp hoạt động khuyến nông và thông tin nông nghiệp đối
với phụ nữ nông thôn
      * Nâng cao năng lực và hiệu quả bộ máy khuyến nông cấp cơ sở: Cần
đẩy mạnh công tác lồng ghép các chƣơng trình giáo dục phụ nữ về sức khoẻ
bà mẹ và trẻ em, kế hoạch hoá gia đình với chƣơng trình tập huấn kỹ thuật
nông lâm nghiệp cho phụ nữ (phối hợp với Hội phụ nữ).
       Nhà nƣớc cần hỗ trợ chi phí cho các chƣơng trình khuyến nông trên ti
vi, đài về các kỹ thuật canh tác.
        Gắn chặt sự tham gia của phụ nữ trong những khoá tập huấn, xây dựng
ô mẫu, hội thảo. Đây là cách thức đạt hiệu quả nhất, bền vững nhất, có
khuyến khích sự tham gia cùng xây dựng kế hoạch, cùng nhau giám sát, bàn
bạc, nhận xét, đánh giá các kết quả đạt đƣợc thì mới:



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
81



        Nâng cao năng lực truyền thông về thông tin nông nghiệp ở cấp cơ sở:
Trƣớc mắt, nhà nƣớc và chính quyền địa phƣơng cần nâng cao trình độ học
vấn cho nhóm nữ nông dân tƣơng lai, phổ cập văn hoá cho nhóm nữ sản xuất
hiện tại để họ có khả năng đọc và tìm hiểu tài liệu kỹ thuật có liên quan đến
đồng áng của họ.
       - Phụ nữ tự bản thân chủ động tiếp cận thông tin từ hệ thống thông tin
đại chúng, gặp gỡ cán bộ kỹ thuật. Ban tổ chức các lớp khuyến nông và chính
quyền địa phƣơng khi mời nông dân dự tập huấn, dự họp phải bố trí thời gian
phù hợp để nữ có thể tham dự.
       Nhà nƣớc và chính quyền địa phƣơng cần mở rộng hệ thống thông tin
nông nghiệp, ở mỗi xóm nên có điện để đặt loa phát thanh các chƣơng trình
khuyến nông.
       Các thông tin khác về chất lƣợng giống, thuốc bảo vệ thực vật, phân
bón... nông dân cần mua giống tại các trạm cung cấp giống, trạm, cửa hàng
dịch vụ vật tƣ nông nghiệp có đủ tin cậy. Trung tâm giống cần phân phối
nguồn giống đạt tiêu chuẩn, có sự cam kết với ngƣời dân về kết quả đạt đƣợc.
       Nâng cao dân trí thông qua các hoạt động thông tin tuyên truyền, nhƣ
tăng số giờ phát thanh lên, số bản quy trình sản xuất phát cho nông dân đƣợc
phát nhiều hơn, thực hiện việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp.
       Tăng cƣờng khuyến nông giảm nghèo, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa,
giữ vững an ninh lƣơng thực trên địa bàn huyện và mở rộng khuyến nông
vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.Lrc-tnu.edu.vn
82



                           KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

       1. Kết luận
       Kết quả nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông
thôn tại huyện Phú Lƣơng, tác giả có những kết luận sau:
       (1) Cơ cấu dân số nữ và nam tƣơng đối cân bằng. Nữ trong độ tuổi lao
động phần lớn tập trung trong nhóm tuổi từ 15- 35. Lao động nữ nông thôn có
số lƣợng rất lớn, chiếm 44 % tổng số lao động và chiếm 93% tổng số lao động
nữ. Tình hình lao động nữ trong độ tuổi ở khu vực thành thị và nông thôn của
huyện Phú Lƣơng có xu hƣớng ổn định.
       (2) Trình độ văn hoá, chuyên môn, lý luận chính trị của phụ nữ còn
thấp, nhất là nữ nông thôn: Chỉ có 6,4% cán từ cấp chi hội đến cấp xã có trình
độ chuyên môn, 4,3% có trình độ lý luận chính trị sơ cấp, trung cấp. Lao động
nữ chƣa tốt nghiệp tiểu học chiếm 9,56%, chƣa qua một lớp đào tạo nghề
chiếm tới 88,69 %. Nữ công nhân viên chức có trình độ chuyên môn cao
đẳng, đại học cũng chỉ chiếm 72%.
       (3) Số phụ nữ trong độ tuổi không tham gia sinh hoạt hội đoàn thể
chiếm tỷ lệ lớn (21,81%) và lại thuộc các xã khó khăn. Phụ nữ tham gia các
hoạt động cộng đồng, hoạt động xã hội ít hơn nam giới.
       (4) Tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo cấp uỷ, chính quyền, hội đồng nhân dân
các cấp cao so với các huyện trong tỉnh và cao hơn mức bình quân chung của
toàn quốc nhƣng vẫn thấp so với nam.
       (5) Nữ trong độ tuổi lao động tham gia chủ yếu vào các hoạt động sản
xuất nông, lâm nghiệp (trên 70,3%). Cả nữ và nam đều đóng góp vào hoạt
động tạo ra thu nhập của gia đình. Nữ đảm nhiệm chính vai trò nội trợ và
chăm sóc các thành viên trong gia đình, số đông cả nữ và nam đều bằng, lòng
với vai trò đó.
       (6) Có sự không công bằng giữa nam và nữ trong công tác quản lý và
kiểm soát các nguồn lực nhƣ đất đai, vốn, nguồn thông tin kỹ thuật…
       (7) Quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong gia đình thuộc về
nam giới, phụ nữ thƣờng quyết định những việc liên quan đến nội trợ và chăm
sóc các thành viên trong gia đình.
       (8) Còn rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế nông thôn.
       (9) Cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu để nâng cao vai trò của
phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
83



       2. Kiến nghị
       Tạo điều kiện để phụ nữ phát triển cùng với nam giới không những
đem lại lợi ích cho mỗi phụ nữ, mỗi gia đình mà cho toàn xã hội. Đó không
phải là vấn đề công bằng xã hội, mà là lợi ích kinh tế.
       Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị một số vấn đề nhằm tạo
sự hài hoà cân đối trong gia đình, tạo điều kiện phụ nữ có hội học tập, nâng
cao trình độ mọi mặt, tham gia vào tất cả các khâu trong quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
       (1) Đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo
       - Huyện uỷ tăng cƣờng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chƣơng trình hành
động thực hiện Nghị quyết 11- NQ/TW của Bộ Chính trị về "Công tác phụ nữ
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", thực hiện Luật
bình đẳng giới, có hội nghị ban chấp hành đảng bộ bàn và xây dựng nghị
quyết chuyên đề về lãnh đạo thực hiện Luật bình đẳng giới trong nửa cuối của
nhiệm kỳ, tổng kết việc thực tiễn thực hiện nghị quyết hàng năm.
       - Mở hội nghị quán triệt, triển khai Luật bình đẳng giới cho cán bộ chủ
chốt của huyện, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục Luật bình đẳng
giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân gia đình… sâu rộng
trong quần chúng nhân dân, cán bộ công nhân viên chức cả nam và nữ.
       - Thƣờng xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện hiện Nghị quyết 11-
NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật bình đẳng giới, các chế độ chính sách đối với
phụ nữ. Kịp thời đề xuất với cấp có thẩm quyền chỉnh sửa, bổ sung những nội
dung trong các quy định phù hợp với thực tế công tác nữ tại địa phƣơng.
       (2) Công tác tổ chức quy hoạch cán bộ
       - Kiện toàn Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện, có thành viên của ban
là cán bộ chuyên trách hƣởng lƣơng từ ngân sách, nâng cao chất lƣợng hoạt
động của ban, tránh tình trạng nhiệm vụ của ban là nhiệm vụ của Hội phụ nữ
huyện.
       - Xây dựng tổ chức Hội phụ nữ huyện vững mạnh, phát huy hơn nữa
vai trò là nơi tập hợp, tổ chức, đoàn kết phụ nữ trong khối thống nhất. Xây
dựng những nội dung hoạt động thiết thực để thu hút phụ nữ trong độ tuổi vào
sinh hoạt hội đạt tỷ lệ Đề án 01 của Tỉnh uỷ quy định. Huy động sức mạnh
nội lực trong chị em giúp nhau bằng cây, con giống... kết hợp các chƣơng
trình hỗ trợ của tổ chức trong và ngoài nƣớc về vốn, kiến thức cho phụ nữ
phát triển kinh tế, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
       - Trong công tác hoạch, bổ nhiệm cán bộ vào các chức danh lãnh đạo
huyện thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc cần quan tâm tới số
lƣợng, chất lƣợng cán bộ nữ. Tạo cơ hội để cán bộ nữ đƣợc tham gia xây



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
84



dựng, lãnh đạo thực hiện các chƣơng trình, đề án phát triển kinh tế- văn hoá-
xã hội của địa phƣơng.
       (3) Công tác đào tạo, bồi dƣỡng kiến thức
       - Nghiên cứu đƣa một số tiết học về thực hiện bình đẳng giới, kiến thức
giới vào các nội dung chƣơng trình học tập tại các trƣờng phổ thông, trung
tâm bồi dƣỡng chính trị của huyện.
       - Tạo điều kiện cho chị em phụ nữ nông thôn học tập nâng cao trình độ
văn hoá, cử các chị em là cán bộ, công nhân viên chức theo học các lớp đào
tạo bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và có chính sách hỗ trợ
kinh phí để chị em yên tâm học tập.
       - Trung tâm dạy nghề phối hợp chặt chẽ với các hội đoàn thể thực hiện
tốt chƣơng trình đào tạo nghề cho nông dân hàng năm. Mở các lớp học dài
ngày về trồng trọt, chăn nuôi, quản lý kinh tế gia đình có lồng ghép nội dung
về bình đẳng giới, kỹ năng tổ chức cuộc sống gia đình… cho phụ nữ nông
thôn ở các cụm xã. Để có chất lƣợng đào tạo nghề cho phụ nữ, cần nâng cao
trình độ cho giáo viên giảng dạy tại trung tâm.
       - Phòng nông nghiệp, trạm khuyến nông huyện bên cạnh các chủ đề
khuyến nông dƣới hình thức thuần tuý kỹ thuật, cần phát triển các chƣơng
trình khuyến nông dƣới nhiều khía cạnh nhƣ kinh tế, marketing, quản lý tài
chính, quản lý nhân lực…chú trọng xây dựng các mô hình sản xuất điểm để
nhân rộng trong cộng đồng, phát huy trách nhiệm của cán bộ hợp đồng 248,
hợp đồng 17 trong thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao.
       (4) Hỗ trợ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập
       - Ngân hàng nông nghiệp huyện, ngân hàng chính sách xã hội huyện
tăng thêm nguồn vốn vay bằng tín chấp qua các tổ chức hội đoàn thể để phụ
nữ có cơ hội tiếp cận dễ dàng hơn với tín dụng. Hƣớng các dự án vay vốn 120
tới đối tƣợng hộ có phụ nữ làm chủ, tăng lƣợng vốn vay trên hộ để chị em có
điều kiện mở rộng sản xuất.
       - Đánh giá việc thực hiện 10 đề án phát triển kinh tế- xã hội của huyện,
có giải pháp khắc phục một số thực trạng chăn nuôi bấp bênh, đƣợc mùa mất
giá, nuôi trồng sản xuất theo phong trào và sự phân biệt do dãn khoảng cách
giữa thành thị và nông thôn, làm cho phụ nữ nông thôn ngày càng vất vả.
       - Đầu tƣ cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành,
trong nội ngành nông lâm nghiệp gắn với phát triển thị trƣờng, tạo điều kiện
cho phụ nữ và nam giới vùng nông thôn có việc làm tại chỗ, có điều kiện phát
triển kinh tế gia đình không phải đi làm ăn xa, có điều kiện chia sẻ lẫn nhau
trong thực hiện vai trò sản xuất, sinh sản nuôi dƣỡng, cộng đồng, chính trị.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.Lrc-tnu.edu.vn
85



       - Đẩy mạnh hoạt động của các làng nghề mây tre đan, mành cọ, các
ngành nghề thủ công truyền thống, tạo điều kiện cho phụ nữ nông thôn tách
khỏi công việc gia đình, tạo thu nhập bằng tiền mặt. Bên cạnh đó, qua sinh
hoạt tại các câu lạc bộ, tổ sản xuất, ngƣời phụ nữ nông thôn có thể mở rộng
giao tiếp, nâng cao nhận thức của họ về vấn đề xã hội và kiến thức chăm sóc
gia đình.
       (5) Hỗ trợ phụ nữ xây dựng, tổ chức cuộc sống gia đình
       - Nâng cao nhận thức cho các thành viên trong gia đình, chú trọng đến
phụ nữ về kiến thức tổ chức cuộc sống gia đình, nuôi dạy chăm sóc con cái,
khuyến khích sự quan tâm của các thành viên trong gia đình chia sẻ các hoạt
động lao động cũng nhƣ cuộc sống gia đình, tình cảm.
       - Mở rộng mạng lƣới nhà trẻ, mẫu giáo tới các cụm xóm nhằm giảm
nhẹ công việc gia đình cho các bà mẹ.
       - Chăm sóc, cải thiện sức khoẻ của phụ nữ, khuyến khích chị em đến
các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện cho chị em nâng cao kiến thức
về chăm sóc sức khoẻ sinh sản./.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.Lrc-tnu.edu.vn
86



                              TÀI LIỆU THAM KHẢO

       1. Trần Thị Vân Anh, Giới và phát triển nông thôn- Tài liệu cho lớp tập
huấn phát triển bền vững nông thôn của Chƣơng trình VNRP.
       2. Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng khoá VII, Chỉ thị số 37- CT/TW, ngày
16/5/1994 về một số vấn đề công tác các bộ nữ trong tình hình mới.
       3. Ban Dân vận Huyện uỷ Phú Lƣơng, Thống kê phụ trong độ tuổi tham
gia sinh hoạt hội đoàn thể năm 2008.
       4. Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện Phú Lƣơng, Báo cáo tổng kết
hoạt động của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện Phú Lương, năm 2006,
2007, 2008.
       5. Đỗ Thị Bình, Trần Thị Vân Anh, Giới và công tác giảm nghèo, NXB
khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.
       6. Bộ Chính trị khoá VII, Nghị quyết số 04- NQ/TW, ngày 12/4/1993
về đổi mới và tăng cƣờng vận động phụ nữ trong tình hình mới.
       7. Báo cáo Bridge số 56 (năm 2000), Thực trạng và phát triển.
       8. Borje Ljunggren, Những thách thức trên con đường cải cách Đông
Dương, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
       9. Nguyễn Vân Chi (2007), Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao vai trò lao động nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế nông
thôn huyện Võ Nhai, Thái Nguyên.
       10.Trƣơng Ngọc Chi, Ảnh hưởng của đặc tính nông hộ tiếp cận khuyến
nông và thông tin nông nghiệp đến hoạt động sản xuất lúa của các hộ do nữ
quản lý, tài liệu hội thảo nghiên cứu giảm nghèo ở nông thôn tiếp cận vĩ mô,
2002.
       11. Vũ Thị Kim Dung, “sự khác biệt về giới trong thu nhập”, bước đầu
nghiên cứu về tổ chức lao động ở Việt Nam, kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ
15-17/7/1998, tập III, NXB Thế giới, Hà Nội, 2001.
       12. Đại học kinh tế quốc dân, kinh tế phát triển, NXB Thống kê, Hà
Nội, năm 1997.
       13. Đảng bộ xã Cổ Lũng, báo cáo tổng kết kinh tế- xã hội xã Cổ Lũng
năm 2008.
       14. Đảng bộ xã Ôn Lƣơng, báo cáo tổng kết kinh tế- xã hội xã Ôn
Lương năm 2008.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
87



       15. Đảng bộ xã Yên Trạch, báo cáo tổng kết kinh tế- xã hội xã Yên
Trạch năm 2008.
       16.Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Báo cáo Chính trị tại Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX.
       17. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
       18. Đoàn Thanh niên huyện Phú Lƣơng (2007), Thống kê cán bộ đoàn
cấp huyện, xã nhiệm kỳ 2007-2012.
       19. Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin dùng cho khối ngành kinh
tế- quản trị kinh doanh trong các trƣờng cao đẳng, đại học, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, năm 2006.
       20. Nguyễn Hải Hà- Nguyễn Quốc Tuấn (2008), Phụ nữ trong việc
tham gia lãnh đạo quản lý.
       21. Nguyễn Kim Hà, phân công lao động nam nữ như một công cụ
phân tích giới, NXB khoa học xã hội, năm 1999.
       22. Bùi Đình Hoà, Điều tra đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cáo
đời sống kinh tế- xã hội của phụ nữ các dân tộc ít người vùng cao tỉnh Bắc
Cạn, báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học đề tài cấp Bộ, mã số B96- 02-14
ĐT.
       23. Hội nông dân huyện Phú Lƣơng (2007), Thống kê cán bộ nông dân
cấp huyện, xã nhiệm kỳ 2007-2012.
       24. Hội liên hiệp phụ nữ Phú Lƣơng (2004), Thống kê nữ đại biểu hội
đồng nhân dân tỉnh, huyện, xã nhiệm kỳ 2004- 2009.
       25. Hội liên hiệp phụ nữ Phú Lƣơng (2004), Thống kê cán bộ, hội viên
phụ nữ nhiệm kỳ 2001- 2006.
       26. Hội liên hiệp phụ nữ Phú Lƣơng (2006), Thống kê cán bộ, hội viên
phụ nữ nhiệm kỳ 2006-2011.
       27. Hội liên hiệp phụ nữ Phú Lƣơng (2006), Thống kê cán bộ, hội viên
phụ nữ nhiệm kỳ 2006-2011.
       28. Hội liên hiệp phụ nữ Phú Lƣơng (2006), Thống kê nữ cán bộ tham
gia cấp uỷ huyện, xã, xóm bản nhiệm kỳ 2005-2010.
       29. Http:/www.dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn.
       30.Http:/www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungtaSuyNgan/Connguoi/
Vi_tri_cua_phu_nu.
       31.Http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=5&News_ID=
12344708/ Hoạt động và đóng góp của phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá
       32.Http://www.dostbinhdinh.org.vn/HNKH7/T_luan16.htm/Vai trò của
phụ nữ và nam giới trong tổ chức cuộc sống gia đình ở Bình Định


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên    http://www.Lrc-tnu.edu.vn
88



       33.Http://www.hua.edu.vn/tc_khktnn/download.asp?ID=256/Khảo sát
vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp và nông thôn xã Nghĩa Hiệp, Yên Mỹ,
Hưng Yên.
       34.http://www.vietnamforumcsr.net/default.aspx/Vấn đề bình đẳng giới
trong lao động việc làm của phụ nữ.
       35.Nguyễn Thị Tuyết Lan (2000), nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong
nông hộ ở xã Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh.
       36.Nguyễn Thị Lân (2004), Vai trò của phụ nữ dân tộc dao huyện Bạch
Thông tỉnh Bắc Cạn trong hoạt động xoá đói giảm nghèo- Báo cáo khoa học.
       37. Liên đoàn lao động huyện Phú Lƣơng, báo cáo tổng kết công tác
năm 2008.
       38. Liên hiệp quốc tại Việt Nam (2002), Tóm tắt tình hình thế giới tại
Việt Nam.
       39. Paul Read, Harry Minas &Steven Klimidis (1999), Việt Nam một
thăm dò sơ bộ về tuổi thọ, của cải và phát triển kinh tế”, báo cáo hội thảo
quốc tế chăm sóc sức khoẻ, Hạ Long 7-10/4/1999.
       40. Phòng Lao động- TBXH huyện Phú Lƣơng, số liệu thống kê các
năm 2006, 2007, 2008
       41. Phòng Thống kê huyện Phú Lƣơng, báo cáo thường niên năm 2006,
2007, 2008
       42. Pranklin, Barbara A.K. (1999), mở rộng chân trời: Thay đổi các vai
trò giới ở Việt Nam, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, Hà Nội.
       43. Lê Thi (1998), Phụ nữ nông thôn và phát triển ngành nghề phi
nông nghiệp, NXB Khoa học- xã hội, Hà Nội.
       44. Tổ chức Lao động quốc tế, Thúc đẩy bình đẳng giới, năm 2002.
       45. Thủ tƣớng Chính phủ, Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, ngày
08/7/2005 ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010.
       46. Thủ tƣớng Chính phủ, Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg, ngày
21/01/2002 về phê duyệt chiến lƣợc và kế hoạch hành động quốc gia vì sự
tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001- 2010.
       47. Đàm Thị Minh Thu (2005), Lao động nữ trong phát triển kinh tế
nông thôn huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên thực trạng và giải pháp.
       48. Trung tâm dạy nghề huyện Phú Lƣơng, thống kê số liệu dạy nghề
cho nông dân năm 2006, 2007, 2008.
       49. Uỷ ban dân số- Kế hoạch hoá gia đình- GTZ (1996), Điều tra sức
khoẻ sinh sản, Hà Nội, năm 1996.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.Lrc-tnu.edu.vn
89



       50. Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lƣơng, báo cáo tổng kết thực hiện dự
án 661 các năm 2006,2007,2008.
       51. Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lƣơng, báo cáo kết quả 3 năm thực
hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp giai
đoạn 2006- 2008.
       52. Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lƣơng, báo cáo tình hình tăng giảm hộ
nghèo các năm 2006, 2007, 2008.
       53. Uỷ ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ, phân tích tình hình và đề
xuất chính sách nhằm tăng cƣờng tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt
Nam, Hà Nội, năm 2000.
       54. Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lƣơng, báo cáo tổng kết tình hình phát
triển kinh tế xã hội năm 2006, 2007, 2008.
       55. Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến, giáo trình kinh tế hộ nông dân, Đại
học nông nghiệp I Hà Nội.
       56. Viện nghiên cứu chính sách lƣơng thực Quốc tế, Chƣơng trình hỗ
trợ ngành nông nghiệp, Trung tâm thông tin Nông nghiệp & phát triển nông
thôn (2001), lựa chọn chính sách sử dụng chăn nuôi nhằm thúc đẩy tằn trƣởng
và đa dạng nguồn thu nhập vùng nông thôn Việt Nam, tập I,II, Hà Nội.
       57. World Bank, báo cáo ngân hàng Thế giới, năm 2000.
       58. UNDP (1996), Gender & development briefing Kit, Hanoi,
Vietnam




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
90



                                 PHIẾU ĐIỀU TRA KINH TẾ HỘ

    Huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên
    Xóm:…………….…….....................Xã:……………………………………..………
    Họ và tên chủ hộ: .................................................................................................... .
    Họ tên điều tra viên:…. ............................................................................................ .
    Ngày phỏng vấn: ...................................................................................................... .
    I- MỘT SỐ THÔNG TIN CHỦ YẾU VỀ HỘ.
    1.1- Danh sánh những người trong gia đình (gồm cả chủ hộ):
T                    Tuổi    Quan hệ     Văn hoá     Đƣợc đào tạo                                      Nghề nghiệp hiện tại
T    Họ và tên                            với chủ hộ          o
                                                           ( k biết chữ,     (nghề, sơ cấp, trung      (sản xuất N2, dịch vụ, nghề
                           Nữ    Nam      (vợ, con…)         cấp1, 2,3)         cấp, khác…)               phụ, cán bộ, khác…)
1
2
3
4
5
6
7
8
    1.2- Nguồn gốc của hộ: + Bản địa                                              + Từ nơi khác đến
    1.3- Theo chuẩn nghèo mới: + Là hộ nghèo                                 + Là hộ TB       + Là hộ khá
    II- ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA HỘ
    2.1- Ai trong gia đình ông bà đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?
                Ông                                                                 Bà
               Chồng                                                                Vợ
               Con trai                                                             Con gái
    2.2- Tình hình sử dụng đất đai của hộ ông ( bà):
                        Loại đất                                                               Diện tích (m2)
    1- Đất đang sử dụng:
    - Đất thổ cƣ:
    - Đất nông nghiệp
    - Đất lâm nghiệp
    2- Đất chƣa sử dụng
    - Đất bằng
    - Đất đồi núi
    - Mặt nƣớc



    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                                     http://www.Lrc-tnu.edu.vn
91



2.3- Nguồn gốc đất của hộ ông (bà)
                           Loại đất                                Diện tích (m2)
   - Có từ trƣớc
   - Nhà nƣớc giao
   - Mua
   - Cha mẹ cho
2.4.Những tài sản chủ yếu của gia đình ông (bà):
          Loại tài sản                       Đơn vị   Số lƣợng          Giá trị (1000đ)
1. Tài sản cho sinh hoạt
   1-Nhà ở:
         - Nhà xây                             m2
         - Nhà sàn, gỗ, ván                    m2
         - Nhà tranh tre, nứa lá               m2
   2-Phƣơng tiện đi lại:
        - Xe đạp                             Chiếc
        - Xe máy                             Chiếc
   3. Phƣơng tiện nghe nhìn:
          - Tivi                             Chiếc
          - Đài                              Chiếc
   4.Trang bị nội thất:
          - Giƣờng                           Chiếc
          - Tủ                               Chiếc
          - Bàn ghế                          Chiếc
   5. Quạt điện                              Chiếc
   6. Tủ lạnh                                Chiếc
   7. Điện thoại                             Chiếc
    8.Bếp ga                                  cái
    9. Giếng nƣớc, bể nƣớc                    cái
    10. Nhà vệ sinh                           cái
2. Tài sản là công cụ sản
xuất:
   1. ôtô tải                                Chiếc
   2. Máy bơm                                Chiếc
   3. Máy cày bừa                            Chiếc
   4. Máy tuốt lúa                           Chiếc
   5. Máy xay xát                            Chiếc
   6. Máy cƣa                                Chiếc
   7.Máy quay, vò chè                        Chiếc
   8.Trâu, bò (cày, kéo)                      con
   9.Chuồng trại, chăn nuôi                  1000đ
   10.Tài sản khác                           1000đ



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên              http://www.Lrc-tnu.edu.vn
92



  2.5.Tình hình vốn dùng cho sản xuất kinh doanh trong năm
            Nguồn gốc vốn vay                           Số tiền    Thời        lãi       điều kiện để
                                                                  hạn vay     xuất        đƣợc vay
1.Vay từ ngân hàng Nông nghiệp
2.Vay từ ngân hàng Chính sách
3.Vay từ dự án, quỹ..qua Hội đoàn thể.
4.Vay từ các cá nhân, ngƣời thân quen
5. Vốn tự tích luỹ đƣợc
Cộng tổng vốn hiện có của gia đình                ………triệu
  - Ông hay bà là ngƣời quản lý vốn?                     Vợ      chồng        cả vợ và chồng 
  - Ông hay bà là ngƣời đứng tên vay vốn                 Vợ      chồng             ngƣời khác 
  - Ông hay bà là ngƣời đi trả tiền lãi                  Vợ      chồng             ngƣời khác 
  - Ông hay bà là ngƣời quyết định sử dụng               Vợ      chồng        cả vợ và chồng 
  III. THU NHẬP CỦA GIA ĐÌNH

  Số                               Số tiền/năm So mức độ đóng góp của chồng với vợ
  TT      Các nguồn thu              (đồng)    Cao hơn    Thấp hơn      Ngang bằng
  1     Trồng trọt
  2     Chăn nuôi
  3     Thuỷ sản
  4     Lâm nghiệp
  5     Tiểu thủ CN
  6     Dịch vụ
  7     Từ làm thuê
  IV- THÔNG TIN VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG
  Ai trong gia đình ông (bà) là ngƣời phân công lao động, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
  trong gia đình:         Chồng                             vợ 
  3.1-Phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp
                                                                      Ai làm chính
           Các công việc sản xuất
                                                        Vợ    Chồng   Vợ và chồng         Đi thuê
 1.Trồng lúa:
   -Làm đất ( cày, bừa)
   - Gieo mạ
   - Cấy
   - Bón phân
   - Làm cỏ, Phun thuốc
   - Gặt
   - Tuốt
   - Phơi



  Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
93



2. Trồng màu:
    - Làm đất
    - Geo hạt, trồng cây
    - Bón phân
    - Phun thuốc
    - Thu hoạch
3. Trồng chè
   - Bón phân
   - Phun thuốc
   - Tƣới nƣớc
  - Hái chè
  - Sao, vò chè
  - Đi bán
4.Chăn nuôi:
  - Lấy ( mua) thức ăn
  - Chăm sóc: cho ăn, thuốc…
  - Đi bán
3.2. Phân công lao động trong hoạt động dịch vụ
Ông bà bán hàng: +Tại nhà mình                + Thuê cửa hàng để bán  + Bán ở chợ 
                                                                 Ai làm chính
           Các loại công việc
                                                  Vợ     Chồng     Vợ và chồng         Đi thuê
  - Chon mặt hàng để bán
  - Đi mua, chở hàng về
 - Bán hàng
  - Ghi sổ, quản lý
 -Trả nợ, đòi nợ khách hàng
3.3. Phân công lao động trong hoạt động Lâm nghiệp
                                                                Ai làm chính
          Các loại công việc
                                                Vợ       Chồng       Vợ và chồng        Đi thuê
  - Phát cây, dọn đồi, đốt
  - Cuốc hố, trồng cây
 -Chăm sóc rừng
  -Lấy măng, sản phẩm phụ
   - Khai thác gỗ, bán
3.4. Phân công lao động trong nghề tiểu thủ công nghiệp mây, tre, mành cọ
                                                               Ai làm chính
        Các loại công việc
                                             Vợ        Chồng      Vợ và chồng         Đi thuê
  - Lấy, mua nguyên liệu
  - Chẻ, vuốt nan
  - Đan, dệt
  - Sấy
  - Chở đi bán



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                    http://www.Lrc-tnu.edu.vn
94



3.5. Phân công lao động trong các hoạt động khác
                                                                   Ai làm chính
              Các hoạt động
                                                        Vợ        Chồng       Vợ và chồng
1.Hoạt động tái sản xuất:
  - Nội trợ: Nấu cơm, giặt…
  - Chăm sóc sức khoẻ gia đình
  - Kèm dạy học cho con
  - Lấy củi đun
  - Mua sắm, xây dựng, sửa chữa
2.Hoạt động cộng đồng
  -Tham gia các cuộc xóm
  - Dự tuyên truyền CS, PLuật…
  - Dự đám ma, đám cƣới, lễ…
  - Là hội viên hội đoàn thể
  - Lao động công ích, ZT
  - Tham gia bộ máy lãnh đạo xóm
V- TIẾP CẬN THÔN TIN
                                                                   Ngƣời đƣợc tiếp cận
               Các nguồn thông tin                               Chồng              Vợ
                                                                (con trai)      ( con gái)
   - Từ chồng
   - Hội phụ nữ, hội nông dân
   - Họ hàng, ngƣời thân quen
   - Từ chợ
   - Cán bộ khuyến nông
   - Cửa hàng vật tƣ nông nghiệp
   - Xem ti vi, đài, sách báo, tạp chí, bản tin
   - Kinh nghiệp của bản thân
Ông bà có đƣợc tham dự các lớp tập huấn không:            có             không 
Ông bà đƣợc tham dự các nội dung gì sau đây :
- Quản lý kinh tế hộ:            Vợ                  Chồng 
- Kiến thức về Giới:             Vợ                  Chồng 
- Kỹ thuật trồng trọt:           Vợ                  Chồng 
- Kỹ thuật chăm nuôi:            Vợ                  Chồng 
- Kỹ thuật trồng rừng :          Vợ                  Chồng 
- Kỹ thuật trồng chè:            Vợ                  Chồng 
- Phòng trừ dịch hại:            Vợ                  Chồng 




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
95



VI-TRONG GIA ĐÌNH ÔNG BÀ AI LÀ NGƢỜI RA QUYẾT ĐỊNH.
                                                                   Ngƣời quyết định chính
TT                         Nội dung
                                                              Vợ         Chồng       cả vợ và chồng
  1     Phân công công việc sản xuất, kinh doanh
  2     Lựa chọn cây con giống, mặt hàng bán
  3     Áp dụng khoa học kỹ thuật vào SX
  4     Mua sắm, xây dựng, sửa chữa lớn trong nhà
  5     Sử dụng thu nhập của gia đình
  6     Cho con cái học hành
  7     Định hƣớng nghề nghiệp cho con cái
VII- SỬ DỤNG QUỸ THỜI GIAN CỦA PHỤ NỮ
Trong một ngày, bà sử dụng quỹ thời gian cho từng việc nhƣ thế nào?

              Loại công việc                                   Số giờ thực hiện (giờ)
Công việc tạo thu nhập
Công việc nội trợ
Lấy củi đun
Chăm sóc sức khỏe gia đình
Dạy con học hành
Tham gia công tác xã hội
Vui chơi, thăm bạn bè
Ngủ, nghỉ
VIII- CÁC NỘI DUNG KHÁC
6.1. Lúc kết hôn bà (vợ ông) bao nhiêu tuổi? ………tuổi
6.2. Bà ( vợ ông) sinh con lần đầu vào khi nào?
          Dƣới 20 tuổi                    Từ 21-30 tuổi              Từ 31- 40 tuổi 
6.3. Lần sinh gần đây bà ( vợ ông) có đi khám thai không?              Có          không 
Nếu có trả lời tiếp: 01 lần             02 lần              03 lần             Trên 03 lần 
6.4. Ông bà có sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình không? có                      không 
Nếu có, ông bà thƣờng sử dụng biện pháp nào sau đây?
                Đặt vòng                             Bao cao su     
                Uống thuốc                           Biện pháp khác
6.5. Ông (bà) có đưa con đi tiêm chủng theo hướng dẫn của y tế thôn bản không?
                      Có                         không 



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                      http://www.Lrc-tnu.edu.vn
96



6.6. Khi có người trong gia đình ốm (đặc biệt là cháu nhỏ) ông (bà ) thường:
   Tự mua thuốc về điều trị: ( vợ làm  chồng làm )
   Đƣa đến trạm xá khám 
   Mời bác sỹ đến nhà         
6.7. Ông (bà) hãy cho ý kiến của mình về các nội dung sau:
+ Việc nội trợ nấu cơm, giặt quần áo, chăm sóc con… là việc của phụ nữ : đúng  sai 
+ Đi họp, tập huấn, nghe tuyên truyền là việc của đàn ông:           đúng           sai 
+ Làm nhà, mua bán tài sản lớn việc của đàn ông:                    đúng            sai 
+ Mua bán đồ dùng hàng ngày là việc của phụ nữ :                     đúng            sai 
+ Quyền quyết định cuối cùng là của đàn ông:                         đúng           sai 
+ Vợ phải nghe chồng:                  đúng          sai 



 CHỦ HỘ (ký tên)                                          CÁN BỘ ĐIỀU TRA (ký tên)




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên               http://www.Lrc-tnu.edu.vn
97



                                  PHIẾU ĐIỀU TRA NHANH

Huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên
Họ và tên ngƣời đƣợc điều tra: ................................................................................ .
Xóm:…………….…….....................Xã:……………………………………..………
Họ tên điều tra viên:…. ............................................................................................ .
Ngày phỏng vấn: ...................................................................................................... .

1- Ai trong gia đình ông (bà) là ngƣời phân công lao động, điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh trong gia đình:                Chồng                                      vợ 
2- Ông bà có đƣợc tham dự các lớp tập huấn không:                       có                   không 
   Nếu có, ông bà đã đƣợc tham dự các nội dung gì sau đây :
                   - Quản lý kinh tế hộ:                   Vợ                  Chồng 
                   - Kiến thức về Giới:                    Vợ                  Chồng 
                   - Kỹ thuật trồng trọt:                  Vợ                  Chồng 
                   - Kỹ thuật chăm nuôi:                   Vợ                  Chồng 
                   - Kỹ thuật trồng rừng :                 Vợ                  Chồng 
                   - Kỹ thuật trồng chè:                   Vợ                  Chồng 
                   - Phòng trừ dịch hại:                   Vợ                  Chồng 



NGƢỜI ĐƢỢC ĐIỀU TRA                                                    CÁN BỘ ĐIỀU TRA
            (ký tên)                                                            (ký tên)




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                                     http://www.Lrc-tnu.edu.vn

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG

  • 1.
    1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ---------------------------------------------------- Vƣơng Thị Vân VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Thái nguyên, năm 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 2.
    2 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ------------------------------------------ VƢƠNG THỊ VÂN VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60- 31- 10 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: T.S. ĐỖ ANH TÀI THÁI NGUYÊN - 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 3.
    3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả luận văn Vƣơng Thị Vân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 4.
    4 LỜI CẢM ƠN Sau hơn 3 năm phấn đấu vƣợt qua nhiều khó khăn để học tập với sự ủng hộ động viên của gia đình, bạn bè và đặc biệt là sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của đồng chí, đồng nghiệp ở cơ quan, của nhà trƣờng và sự dạy bảo tận tình của thầy cô, tôi đã hoàn thành chƣơng trình cao học kinh tế nông nghiệp và luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, Khoa Sau đại học, ban chủ nhiệm lớp cùng các thầy cô Trƣờng đại học kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hƣớng dẫn, tạo điều kiện về mọi mặt để tôi thực hiện đề tài này. Đặc biệt tôi xin cảm ơn TS. Đỗ Anh Tài, đã hƣớng dẫn chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể gồm: Hội LHPN tỉnh Thái Nguyên, Huyện uỷ Phú Lƣơng, UBND huyện Phú Lƣơng, Ban Dân vận Huyện uỷ Phú Lƣơng, Phòng LĐ-XH huyện Phú Lƣơng, Phòng Thống kê huyện Phú Lƣơng, Các tổ chức hội đoàn thể huyện Phú Lƣơng, Ngân hàng NN&PTNT huyện Phú Lƣơng, UBND và hội phụ nữ các xã Cổ Lũng, Ôn Lƣơng, Yên Trạch. Tuy đã có nhiều cố gắng nhƣng luận văn này không trách khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp chỉ bảo, giúp đỡ để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn. Thái Nguyên, ngày 02 tháng 10 năm 2009 Tác giả luận văn Vƣơng Thị Vân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 5.
    5 MỤC LỤC Trang Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ, đồ thị Phần Mở đầu 1 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3 2.1. Mục tiêu chung 3 2.2. Mục đích cụ thể 3 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu 3 3.2. Phạm vi nghiên cứu 3 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiến của đề tài 4 5. Bố cục luận văn 4 Chƣơng 1. Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu 5 1.1. Cơ sở khoa học 5 1.1.1. Giới tính và Giới 5 1.1.2. Phát triển kinh tế nông thôn 8 1.1.3. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 10 1.1.4. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam 14 1.1.5. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn 21 1.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 28 1.2.1. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu 28 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 6.
    6 1.2.2. Phƣơng pháp chọn điểm nghiên cứu 29 1.2.3. Phƣơng pháp thu thập số liệu 30 1.2.4. Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích số liệu 31 1.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 31 Chƣơng 2. Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế huyện Phú Lƣơng 32 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên 32 2.1.1. Điều kiện tự nhiên 32 2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 37 2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế huyện Phú Lƣơng 45 2.2.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn huyện 45 2.2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ trong các hộ nghiên cứu 54 2.2.3. Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế 69 Chƣơng 3. Quan điểm, phƣơng hƣớng và những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ huyện Phú Lƣơng 74 3.1. Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ 74 3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế 75 Phần Kết luận và kiến nghị 82 Tài liệu tham khảo 86 Phụ lục 90 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 7.
    7 DANH MỤC CÁC BẢNG Trang 2.1 Diện tích đất phân theo loại đất và theo xã, thị trấn của huyện Phú Lƣơng năm 2008 34 2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2006- 2008 36 2.3 Tình hình dân số huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2006-2008 38 2.4 Lao động huyện Phú Lƣơng chia theo giới tính và khu vực giai đoạn 2006-2008 40 2.5 Diện tích, năng suất, sản lƣợng một số cây trồng chính của huyện từ năm 2006-2008 41 2.6 Nữ trong các nhóm tuổi từ năm 2006-2008 45 2.7 Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008 46 2.8 Trình độ của cán bộ hội đoàn thể nhiệm kỳ 2006-2011 48 2.9 Phụ nữ tham gia cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2005-2010 51 2.10 Phân loại hộ khu vực nông thôn huyện Phú Lƣơng theo chuẩn mới và mức sống dân cƣ giai đoạn 2006- 2008 53 2.11 Phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể tại các xã vùng nghiên cứu 54 2.12 Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động cộng đồng ở các điểm nghiên cứu 55 2.13 Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý hộ 56 2.14 Phân công lao động sản xuất nông nghiệp trong các hộ ở các điểm nghiên cứu năm 2008 58 2.15 Phân công lao động trong hoạt động khác ở 3 cụm xã vùng nghiên cứu 59 2.16 Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ ở điểm nghiên cứu 63 2.17 Tỷ lệ tiếp cận kiến thức của phụ nữ và nam giới ở các điểm nghiên cứu 64 2.18 Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 65 2.19 Tình quản lý tài chính của hộ tại các vùng nghiên cứu 66 2.20 Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng giới và công cuộc phát triển 72 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 8.
    8 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ Trang 2.1 Cơ cấu sử dụng đất huyện Phú Lƣơng năm 2008 35 2.2 Tốc độ tăng dân số huyện Phú Lƣơng theo giới tính giai đoạn 2006- 2008 39 2.3 Cơ cấu kinh tế huyện Phú Lƣơng năm 2008 43 2.4 Biến động cơ cấu kinh tế huyện Phú Lƣơng trong giai đoạn 2006-2008 43 2.5 Cơ cấu phụ nữ tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008 47 2.6 Trình độ văn hoá của lao động nữ huyện Phú Lƣơng năm 2008 49 2.7 Phụ nữ là đại biểu hội đồng nhân dân 2 cấp nhiệm kỳ 2004- 2009 52 2.8 Tình hình sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ vùng nghiên cứu trong một năm 62 2.9 Trình độ văn hoá của nam, nữ trong độ tuổi ở vùng nghiên cứu 67 2.10 Tỷ lệ ngƣời ốm trong các hộ đƣợc chăm sóc, chữa trị tại nhà ở các vùng nghiên cứu 68 2.11 Tỷ lệ các hộ sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình ở vùng nghiên cứu 69 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 9.
    1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những ngƣời lao động trong xã hội. Bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con ngƣời. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lƣợng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con ngƣời. Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra con ngƣời để duy trì và phát triển xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại. Nền văn hoá dân gian của bất cứ nƣớc nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ [31]. Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nƣớc, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và càng ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Trong suốt chặng đƣờng đấu tranh dựng nƣớc, giữ nƣớc và xây dựng đất nƣớc, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ. Trong công cuộc đổi mới đất nƣớc của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nƣớc, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vƣơn lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực. Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là ngƣời con dâu, ngƣời vợ, ngƣời mẹ, ngƣời thầy của các con, ngƣời thầy thuốc của gia đình. Đảng và Nhà nƣớc ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…Ở khu vực nông thôn, cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 10.
    2 phụ nữ còntham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, ổn định an ninh quốc phòng địa phƣơng làm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn Việt Nam. Phú Lƣơng là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, với 50,5% dân số là phụ nữ [41]. Lực lƣợng này đã và đang có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế- xã hội của toàn huyện. Tuy nhiên, sự đóng góp của phụ nữ lại chƣa đƣợc ghi nhận một cách xứng đáng, chƣa tƣơng xứng với vị trí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời sống gia đình. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trƣờng, ngƣời phụ nữ phải "nặng gánh hai vai", vừa phải làm tốt công việc xã hội, vừa đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mẹ trong khi quỹ thời gian của họ cũng chỉ có nhƣ mọi ngƣời, sức khoẻ lại hạn chế... Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và hy sinh, nhƣng quyền lợi về mọi mặt của họ lại chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Qua quá trình công tác và nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan đến phụ nữ, nhiều câu hỏi đƣợc đặt ra cho bản thân, cho các cấp hội phụ nữ và chúng ta: Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay nhƣ thế nào? Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay ra sao? giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ? Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn miền núi huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên trong việc phát triển kinh tế đƣợc đặt ra nhƣ một yêu cầu cấp bách, từ đó đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lƣợng này, qua đó thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp nông thôn theo xu hƣớng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhƣ mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra. Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 11.
    3 “Vai trò củaphụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên”. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2.1. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn, đƣa ra giải pháp và kiến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội huyện Phú Lƣơng. 2.2. Mục đích cụ thể - Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn miền núi. - Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn tại huyện Phú Lƣơng. - Tìm hiểu các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn. Qua đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi trên địa bàn Phú Lƣơng. 3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là phụ nữ trong các hộ gia đình trên địa bàn huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn. - Về không gian nghiên cứu: đề tài đƣợc thực hiện tại một số cơ quan, tổ chức kinh tế chính trị xã hội, một số nhóm hộ sản xuất nông, lâm nghiệp, dịch vụ trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Phú Lƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 12.
    4 - Về thời gian nghiên cứu: tổng quan về vai trò của phụ nữ đƣợc phân tích thông qua số liệu của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị kinh tế xã hội trong thời gian gần đây, chủ yếu từ năm 2006 đến năm 2008. Các số liệu điều tra thực hiện trong năm 2008. 4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là một kênh thông tin để Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện tham mƣu giúp Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phú Lƣơng xây dựng giải pháp thực hiện chƣơng trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện nhằm năng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, góp phần thực hiện hiệu quả Đề án phát triển kinh tế - xã hội của huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2010 - 2015. 5. BỐ CỤC LUẬN VĂN Luận văn gồm 2 phần và 3 chƣơng Phần mở đầu Chương 1: Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Phú Lƣơng. Chương 3: Quan điểm, định hƣớng và những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Phú Lƣơng. Phần kết luận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 13.
    5 CHƢƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC 1.1.1. Giới tính và Giới 1.1.1.1. Khái niệm Giới tính và Giới *Giới tính: chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang tính toàn cầu và không thay đổi [44]. Các đặc trƣng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền. Ví dụ, ngƣời nào có cặp nhiệm sắc thể giới tính XX thì thuộc về nữ giới, ngƣời nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam giới. Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học nhƣ tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ. Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng. Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới. *Giới: chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, đƣợc hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hoá, giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian. Sự khác biệt này đƣợc nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính [44]. Khái niệm về "Giới" đƣợc xuất hiện ban đầu là các nƣớc nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX... Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80. “Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. "Giới" đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 14.
    6 "Giới" là yếu tố luôn biến đổi cũng nhƣ tƣơng quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tƣợng bất biến mà liên tục thay đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. "Giới" là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội. 1.1.1.2. Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới: * Đặc điểm về giới: - Không tự nhiên mà có - Học đƣợc từ gia đình và xã hội - Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền) - Có thể thay đổi đƣợc * Nguồn gốc giới: - Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ đƣợc đối xử tuỳ theo nó là trai hay gái. Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị. Đứa trẻ đƣợc dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình. - Trong nhà trƣờng, các thầy cô giáo cũng định hƣớng theo sự khác biệt về giới cho học sinh. Học sinh nam đƣợc hƣớng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ đƣợc hƣớng theo các ngành nhƣ may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ. * Sự khác biệt về giới: Phụ nữ đƣợc xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 15.
    7 Nam giới đƣợc coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trƣng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội. Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chƣơng trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội đƣợc học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tƣ tƣởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau. 1.1.1.3. Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới * Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới. Nếu những nhu cầu này đƣợc đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình [1]. Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu đƣợc hình thành từ những điều kiện cụ thể mà phụ nữ trải qua. Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của con ngƣời. Khác với nhu cầu chiến lƣợc, chúng đƣợc chính phụ nữ đƣa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài. Vì vậy nhu cầu giới thực tế thƣờng là sự hƣởng ứng đối với sự cần thiết đƣợc nhận thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể. *Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ. Những lợi ích này khi đƣợc đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hƣớng bình đẳng [1]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 16.
    8 * Bình đẳng giới: nam giới và nữ giới đƣợc coi trọng nhƣ nhau, cùng đƣợc công nhận và có vị thế bình đẳng [1]. Nam giới và phụ nữ đƣợc bình đẳng về: - Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng. - Các cơ hội để tham gia đóng góp, hƣởng lợi trong quá trình phát triển. - Quyền tự do và chất lƣợng cuộc sống. 1.1.1.4. Vai trò của giới - Vai trò sản xuất: đƣợc thể hiện trong lao động sản xuất dƣới mọi hình thức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội. - Vai trò tái sản xuất sức lao động: bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động. Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lƣợng lao động cho hiện tại và tƣơng lai nhƣ: nuôi dạy con cái, nuôi dƣỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu nhƣ của ngƣời phụ nữ. - Vai trò cộng đồng: thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng. 1.1.2. Phát triển kinh tế nông thôn 1.1.2.1. Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế *Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng thêm về quy mô sản lƣợng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống [19]. Phát triển kinh tế: có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lƣợng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [12]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 17.
    9 1.1.2.2.Khái niệm về nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ của một nhà nƣớc hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trƣờng tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cƣ chủ yếu làm nông nghiệp [29]. 1.1.2.4.Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tế nông thôn * Hộ gia đình: có ba tiêu thức chính thƣờng đƣợc nói đến khi định nghĩa khái niệm hộ gia đình: - Có quan hệ huyết thống và hôn nhân - Cùng cƣ trú - Có cơ sở kinh tế chung [55]. Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì hộ đƣợc hiểu là: tất cả những ngƣời cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những ngƣời có cùng huyết tộc và những ngƣời làm công [55]. Về phƣơng diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng hộ là những ngƣời cùng sống chung dƣới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ [55]. Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những ngƣời có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống. Vì vậy khái niệm hộ thƣờng đƣợc hiểu đồng nghĩa với gia đình, nhiều khi đƣợc gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình. * Kinh tế hộ nông dân: Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thu hoạch các phƣơng tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhƣng về cơ bản đƣợc đặc trƣng bằng việc tham gia một phần trong thị trƣờng, hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao [55]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 18.
    10 Kinh tế hộ nông dân đƣợc phân biệt với các hình thức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trƣờng bởi các đặc điểm sau: - Đất đai: nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những ngƣời sản xuất có tƣ liệu sản xuất chủ yếu là đất đai. - Lao động: lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm nhận. Sức lao động của các thành viên trong hộ không đƣợc xem là lao động dƣới hình thái hàng hoá, họ không có khái niệm tiền công, tiền lƣơng. - Tiền vốn: chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ. Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dƣ thừa mới bán ra thị trƣờng. 1.1.3. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 1.1.3.1. Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất. Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động; số giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2 trong tổng sản lƣợng nông nghiệp. Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng đƣợc nâng cao [56]. Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trƣớc cho biết: Phụ nữ là ngƣời tạo ra phần lớn lƣơng thực tiêu dùng cho gia đình. 1/4 số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ [5]. Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nƣớc trên thế giới. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội thấp. Trong số hơn 1,3 tỷ ngƣời trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì có đến 70% là nữ. Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 19.
    11 Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lực lƣợng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nƣớc. Hiện có tới 27,3% đại biểu nữ trong Quốc hội (cao nhất ở Châu Á và là một trong những nƣớc có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới); tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69% [58]. Tuy nhiên, so với con số trung bình theo quy định của Quốc tế tỷ lệ lao động nữ là đại biểu Quốc hội của Việt Nam chƣa đạt và có xu hƣớng giảm dần. Theo số liệu của Văn phòng Quốc hội thì tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia vào Quốc hội giai đoạn 1975 – 1976 là 32%; 1976 – 1981 là 27%; 1992 – 1997 chỉ còn 18,5%; 2002 - 2007 tăng lên là 27,31% [58]. Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và xã hội. Nghĩa vụ công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ đƣợc thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nƣớc. Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội. Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội. 1.1.3.2. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn Phụ nữ luôn là ngƣời đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển. Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển kinh tế nông thôn thể hiện nhƣ sau: - Trong lao động sản xuất: phụ nữ là ngƣời làm ra phần lớn lƣơng thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình. Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ. - Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng ngƣời vợ, ngƣời mẹ. Họ phải làm hầu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 20.
    12 hết các côngviệc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội. - Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động cộng đồng tại xóm, thôn bản. Nhƣ vậy, dù đƣợc thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bƣớc tiến của nhân loại. Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần đƣợc chia sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình. 1.1.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn * Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một số nước Á Đông: phụ nữ trƣớc hết phải lo việc gia đình, con cái. Dù làm bất kỳ công việc gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nƣớc ta từ nhiều năm nay. Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của họ cho xã hội và cho gia đình. Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dƣỡng con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai ngƣời phụ nữ. Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động chính trị, xã hội. Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội. Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế [9]. * Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn nhiều hạn chế: Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phƣơng tiện thông tin nghe nhìn và sách báo đến với ngƣời dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 21.
    13 lao động nữtiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài thời gian lao động sản xuất, ngƣời phụ nữ dƣờng nhƣ ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hƣởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình. Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội. Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% [43]. Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu ngƣời bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em không đƣợc đi học thì có tới 70% là trẻ em gái. Còn ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nƣớc; chỉ có 0,63 % công nhân kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46%. Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới) [22]. Điều đó cho thấy trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới. Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trƣờng, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao động của họ thấp. *Yếu tố về sức khoẻ: với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa phải thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khoẻ của họ bị giảm sút. Điều này không những ảnh hƣởng đến khả năng lao động mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng nhƣ trong việc phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 22.
    14 * Khả năng tiếp nhận thông tin: do phụ nữ phải đảm nhận một khối lƣợng công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm. Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh ngƣời dân còn chƣa hề đƣợc tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác. * Các yếu tố chủ quan: một yếu tố khác không thể không nhắc đến đó là nguyên nhân chủ quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó. Họ cũng cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…là việc của phụ nữ. Họ tỏ ra không hài lòng về ngƣời đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ. Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình. Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần. Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của nhân loại. Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống. Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động không tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và bất bình đẳng. Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối với nữ trên toàn thế giới. Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao động xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại. 1.1.4. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam 1.1.4.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới Tại châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dƣơng, trung bình một tuần phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn. Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ đƣợc trả công thấp hơn nam giới cho cùng một loại công việc. Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50%-90% thu nhập của nam giới [7]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 23.
    15 * Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao. Một số tài liệu thống kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó: - Bangladesh: có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lƣợng lao động so với 82,5% nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9%). Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lƣợng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54. Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lƣợng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lƣợng lao động [9]. - Trung Quốc: nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lƣợng lao động cao nhất từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn. Giống nhƣ ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lƣợng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi [9]. * Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp: nhìn chung, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nƣớc đang phát triển còn rất thấp. Ở các nƣớc đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không đƣợc học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai. Vì ít có điều kiện học hành nên những ngƣời phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phƣơng thức tiên tiến, những kiến thức họ có đƣợc chủ yếu là do tự học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những ngƣời thân của mình. Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm đƣợc truyền đạt theo phƣơng pháp này thƣờng ít khi làm thay đổi đƣợc mô hình, cách thức sản xuất của họ [9]. * Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết các nƣớc đang phát triển. Điều đó trƣớc hết bắt nguồn từ tình trạng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 24.
    16 phụ nữ cótrình độ học vấn thấp. Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã đƣợc hình thành ở hầu hết các nƣớc đang phát triển. Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không đƣợc ghi nhận một cách xứng đáng. Đấu tranh để đạt đƣợc sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách. Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu. Đất nƣớc ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tƣ tƣởng “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng, nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu… Ngay tại các bộ, ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp những khó khăn nhất định. Việc bồi dƣỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có nơi còn bị hạn chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ… Nhƣ vậy, mặc dù đã đạt đƣợc những thành quả nhất định nhƣng vấn đề bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn đấu để đạt đƣợc mục tiêu bình đẳng thật sự. 1.1.4.2. Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn * Thực trạng phụ nữ Việt Nam: là một nƣớc có nền công nghiệp chƣa phát triển, Việt Nam hiện có khoảng gần 80% số ngƣời trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm trên 50%, nhƣng họ là nhóm ngƣời yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không đƣợc nhƣ đội ngũ công nhân, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức. Nhƣng họ lại là lực lƣợng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp nhƣ: cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, sát gạo… [8]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 25.
    17 Hiện tƣợng tăng tƣơng đối của lực lƣợng lao động nữ nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau: - Do sự gia tăng tự nhiên số ngƣời trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nƣớc ta có khoảng 80 - 90 vạn ngƣời bƣớc vào tuổi lao động, trong đó: lao động nữ chiếm 55% [10]. - Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc. - Do sự tan rã của thị trƣờng Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90, khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn tiêu thụ hàng hoá, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp. - Ngoài ra, trong cơ chế thị trƣờng, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản. Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông. *Vai trò và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế- xã hội: Dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ nữ luôn gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Quyền bình đẳng của phụ nữ đã đƣợc ghi trong Điều 36 Hiến pháp Việt Nam năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (đã đƣợc sửa đổi và bổ sung năm 2002) một lần nữa khẳng định: "Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình. Nhà nƣớc và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội". Trên tinh thần đó, các tầng lớp phụ nữ đã tích cực học tập, lao động sáng tạo, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực và giữ vị trí quan trọng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 26.
    18 Phụ nữ trong hệ thống dân cử: Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quan tâm của phụ nữ trong xã hội và trong quản lý Nhà nƣớc. Chỉ thị 37- CT/TƢ ngày 16/5/1994 khẳng định "nâng cao tỷ lệ nữ tham gia quản lý Nhà nƣớc, quản lý kinh tế là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ" [2]. Nƣớc ta đƣợc đánh giá là có số đại biểu nữ cao trong Quốc hội, đứng đầu Châu Á và đứng thứ hai khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng và xếp thứ 9/135 các nƣớc trên thế giới. Trong chặng đƣờng 60 năm, Quốc hội nƣớc ta đã trải qua 12 nhiệm kỳ, đội ngũ cán bộ nữ trƣởng thành cả về số lƣợng và chất lƣợng. Tính đến nhiệm kỳ 2002- 2007, 1.038 nữ đại biểu đƣợc bầu vào Quốc hội. Khoá I có 3% đại biểu nữ thì đến khoá XI đã tăng lên 27,31%, cán bộ nữ giữ chức chủ nhiệm, phó chủ nhiệm các uỷ ban của Quốc hội chiếm 25%. Nhiệm kỳ 1999-2004, số nữ đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh chiếm 22,33%, cấp huyện chiếm 20,12%, cấp xã chiếm 16,56%. Tuy nhiên so với nam giới tỷ lệ này vẫn thấp. [20] Phụ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng: Trong các kỳ đại hội Đảng gần đây, tỷ lệ phụ nữ trong các cấp uỷ tăng lên không đáng kể. So với các cấp, số lƣợng phụ nữ tham gia Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng chiếm tỷ lệ thấp nhất, khoá VII có 12 đồng chí, khoá VIII tăng lên là 18 đồng chí nhƣng đến khoá IX lại còn 12 đồng chí. Phụ nữ tham gia các cấp uỷ địa phƣơng có từ 10- 11%, trong đó uỷ viên ban thƣờng vụ trở lên đạt từ 3% đến 8%. Phần lớn các chị em trong ban thƣờng vụ cấp uỷ thƣờng đƣợc phân công làm công tác kiểm tra và dân vận [20]. Phụ nữ tham gia các cấp chính quyền: Trong những năm gần đây, tỷ lệ lãnh đạo nữ ở cấp Trung ƣơng thấp. Năm 2008, tỷ lệ phó chủ tịch nƣớc là 25%, bộ trƣởng 4,55%, tƣơng đƣơng bộ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 27.
    19 trƣởng là 11,43%,thứ trƣởng 2,75%, tƣơng đƣơng thứ trƣởng là 9,21%, vụ trƣởng và tƣơng đƣơng là 20,74% [20]. Tỷ lệ nữ là chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh/thành nhiệm kỳ 1999- 2004 chỉ có 1,64%, đến nhiệm kỳ 2004-2009 tăng lên là 3,12%, nhƣng ở cấp huyện lại có xu hƣớng giảm, từ 5,27% ở cả 2 cấp giảm xuống còn 3,62% [20]. Trong các doanh nghiệp: Trong hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, có 15% phụ nữ đứng đầu hoặc nắm cƣơng vị chủ chốt. Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp ở một số ngành dệt, may mặc, giầy dép, thực phẩm…chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông, vận tải, xây dựng, khai khoáng… chiếm 20%. Trong 900 nghìn hộ kinh doanh gia đình có 27% phụ nữ điều hành [20]. Bên cạnh việc tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, phụ nữ Việt Nam còn luôn cố gắng làm tròn nhiệm vụ ngƣời vợ, ngƣời mẹ gánh vác công việc nội trợ. Trong hoàn cảnh còn thiếu thốn, phụ nữ nông thôn phải lo cho gia đình đủ cơm ăn, con cái đƣợc học hành và khoẻ mạnh. Ngƣời phụ nữ còn là ngƣời giữ gìn, truyền thụ những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta từ thế hệ này sang thế hệ khác, gia đình Việt Nam đến nay vẫn giữ đƣợc truyền thống tốt đẹp là do công lao to lớn của ngƣời phụ nữ. * Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với phụ nữ: sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng đến việc giải phóng phụ nữ. Bác nhấn mạnh: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng đƣợc một nửa loài ngƣời”. Ngƣời cho rằng, muốn giải phóng phụ nữ trƣớc hết phải giải phóng họ ra khỏi sự trói buộc của tƣ tƣởng trọng nam khinh nữ, ra khỏi sự bất công trong gia đình mình cũng nhƣ xã hội, đồng thời nâng cao vị thế của họ trong xã hội. Thế nên, Ngƣời đã yêu cầu các ngành, các địa phƣơng phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, để phụ nữ phát huy quyền và khả năng công dân của mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 28.
    20 Tiếp tục kế thừa và phát huy tƣ tƣởng của ngƣời, Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành và thực hiện không ít những quyết sách mang tính chiến lƣợc đối với vấn đề phụ nữ nhƣ: Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 12/4/1993 của Bộ Chính trị “Về đổi mới và tăng cƣờng vận động phụ nữ trong tình hình mới”; Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 16/5/1994 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng khoá VII “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”. Năm 1995, Tại Hội nghị lần thứ IV về phụ nữ của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc), các quốc gia đã nhất trí thông qua Cƣơng lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ và tăng cƣờng quyền lực cho phụ nữ trên toàn thế giới. Mỗi quốc gia xây dựng chiến lƣợc của nƣớc mình nhằm thực hiện Cƣơng lĩnh Bắc Kinh. Tại Hội nghị này, Chính phủ Việt Nam đã công bố chiến lƣợc phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000 với 10 mục tiêu. Tiếp đó, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg, ngày 21/01/2002 về phê duyệt Chiến lƣợc và kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 với mục tiêu là: “Nâng cao chất lƣợng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ; tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội”. Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001) cũng đã khẳng định: đối với phụ nữ thực hiện tốt pháp luật và chính sách bình đẳng giới, bồi dƣỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ làm tốt nhiệm vụ của ngƣời vợ, ngƣời mẹ, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Cùng phụ nữ cả nƣớc, phụ nữ nông thôn đang đóng góp sức lực, trí tuệ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Sự ra đời của Ban vì sự tiến bộ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 29.
    21 của phụ nữcác cấp đã giúp đỡ, khuyến khích động viên phụ nữ thực tốt vai trò, vị trí của mình. 1.1.5. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn 1.1.5.1. Về vấn đề sức khoẻ Sức khoẻ là một tài sản hết sức quan trọng đối với con ngƣời, đối với phụ nữ thì sức khoẻ lại càng quan trọng, vì nó không chỉ làm tăng khả năng lao động của phụ nữ mà còn cải thiện chất lƣợng cuộc sống của họ và các thành viên trong gia đình. Những bà mẹ khoẻ mạnh sẽ sinh ra những đứa con khoẻ mạnh. Vì thế, quan tâm và cải thiện sức khoẻ cho phụ nữ là một phƣơng tiện cho phát triển kinh tế và phát triển con ngƣời. Mặc dù những năm qua, Việt Nam đã đạt đƣợc những kết quả khả quan trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, nhƣ nhận xét của các chuyên gia quốc tế: “Đến năm 1992 Việt Nam đã đứng hàng thứ hai về tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ và là một trong những nƣớc đứng đầu về tiếp cận dịch vụ y tế và đứng đầu về tiếp cận an toàn trong các nƣớc ASEAN” [39]. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra về sức khoẻ của phụ nữ nông thôn. - Về sức khoẻ thể chất: Qua kết quả khảo sát mức sống dân cƣ Việt Nam (2000) cho thấy tình trạng đau ốm theo giới tính nhƣ sau: 68% (nữ) và 64% (nam). Tình trạng đau ốm của phụ nữ cao hơn nam giới trong nghiên cứu trên đã phản ánh một thực tế: sức khoẻ phụ nữ là một vấn đề đáng lo ngại đặc biệt là sức khoẻ của phụ nữ ở các vùng nông thôn. So với phụ nữ ở đô thị, phụ nữ ở nông thôn có tỷ lệ đau ốm cao hơn: 69,2% và 63,7%. Điều tra mức sống dân cƣ lần 2 (2000) cho thấy: tỷ lệ đau ốm của ngƣời dân khá cao, nông thôn cao hơn thành thị, phụ nữ đau ốm nhiều hơn nam giới (45% và 38%). Nếu xét theo nhóm tuổi trong độ tuổi lao động thì ở một vài nhóm tuổi đƣợc xem là “sung sức” hơn cả nhƣ: 25 - 29; 30-34; 40-44 thì tỷ lệ đau ốm của phụ nữ vẫn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 30.
    22 cao hơn namgiới từ 10% đến 12% [53]. Theo chúng tôi sức khoẻ của phụ nữ nông thôn chịu ảnh hƣởng của một số yếu tố sau đây: + Lao động vất vả: phụ nữ đảm nhận khối công việc nhiều hơn nam giới. Thời gian làm việc của phụ nữ dài hơn và căng thẳng hơn. Bên cạnh đó, phụ nữ nông thôn thƣờng lao động vất vả trong thời gian mang thai, trong thời gian này họ vẫn lao động bình thƣờng, thậm trí vẫn lao động nặng trong những tháng cần phải chú ý giữ gìn để đảm bảo an toàn cho thai nhi. + Môi trƣờng ô nhiễm: Với phụ nữ, ảnh hƣởng của môi trƣờng ô nhiễm càng nhiều vì thời gian phụ nữ lao động hàng ngày trên ruộng đồng nhiều hơn nam giới nên dễ bị nhiễm độc bởi các hoá chất. Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam có nhiều hồ, ao tù. Đây là nguồn nƣớc chủ yếu của ngƣời dân ở nông thôn (tắm, giặt giũ...) đồng thời cũng tạo điều kiện cho muỗi, ký sinh trùng sinh sôi nảy nở [11]. + Lấy chồng sớm, sinh đẻ nhiều: có một điều dễ nhận thấy là ở Việt Nam còn có hiện tƣợng tảo hôn. Những năm gần đây, ở các vùng nông thôn hiện tƣợng tảo hôn, lấy chồng sớm có xu hƣớng gia tăng bởi nhiều nguyên nhân văn hoá - xã hội, trong đó có nguyên nhân muốn xây dựng gia đình để tách hộ nhận ruộng khoán, nếu kết hôn muộn sẽ không có cơ hội nhận ruộng vì chính sách giao ruộng dài hạn (15 đến 20 năm). Lấy chồng sớm dẫn đến hệ quả là bên cạnh việc chƣa đƣợc chuẩn bị tốt cả về thể chất, tâm lý để làm dâu, làm vợ, làm mẹ lẫn kiến thức nuôi dạy con... Sự thiếu hiểu biết về dân số - kế hoạch hoá gia đình nên dẫn đến mang thai và sinh nở, nạo hút thai nhiều. + Dinh dƣỡng không đảm bảo: năm 1995, một cuộc khảo sát quốc gia về mức độ thiếu vitamin A và suy dinh dƣỡng do thiếu Pprotein đã phát hiện 41% tổng số phụ nữ bị suy dinh dƣỡng: 26% suy dinh dƣỡng hạng 1 (chỉ số về khối lƣợng cơ thể (BMI) giữa 17,0 và 18,49), 15% độ II và độ III (BMI dƣới 17,0). Thiếu máu cũng là hiện tƣợng phổ biến, một nghiên cứu quy mô Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 31.
    23 nhỏ ở ViệtNam kiểm tra lƣợng Hemoglobin ở phụ nữ có thai cho thấy: 49% phụ nữ nông thôn có lƣợng Hb dƣới tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới, [49]. Suy dinh dƣỡng ở phụ nữ không chỉ làm tăng tỷ lệ đẻ khó, tai biến thai sản có thể dẫn đến tử vong mẹ mà còn ảnh hƣởng đến sức khoẻ con cái. Hiện nay, 35% trẻ em Việt Nam bị suy dinh dƣỡng. * Sức khoẻ về tinh thần: Đời sống văn hoá nghèo nàn: Sự đơn điệu trong đời sống văn hoá, thiếu nơi vui chơi giải trí, hội họp sinh hoạt, thiếu thông tin thời sự chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và kinh tế và hiện tƣợng dễ thấy ở nhiều vùng nông thôn hiện nay. Đời sống văn hoá ở nông thôn nghèo nàn là một lý do thúc đẩy thanh niên rời bỏ nông thôn [21]. Do vậy, xoá bỏ sự nghèo nàn trong đời sống văn hoá ở nông thôn là một yêu cầu bức thiết của sự công nghiệp hoá nông thôn, làm điều đó cũng chính là đẩy mạnh việc truyền bá kiến thức khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới, đồng thời nâng cao nhận thức của ngƣời dân nông thôn về pháp luật, lối sống văn hoá. Hơn nữa, còn ngăn chặn và loại bỏ những các tật xấu nhƣ: mê tín, cờ bạc, số đề, bói toán... 1.1.5.2. Về chuyên môn kỹ thuật Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hƣớng thị trƣờng trong những năm gần đây đã thực sự giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn thoát ra khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhƣng chƣa thực sự giải phóng họ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán của nền kinh tế truyền thống, cùng với những thiếu hụt cả về năng lực và điều kiện của lao động nữ trong sản xuất, kinh doanh. Sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn không thể thành công nếu ngƣời dân ở nông thôn chỉ có kinh nghiệm đƣợc tích luỹ theo năm tháng mà thiếu hiểu biết về khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 32.
    24 Với phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ có một ƣu điểm nổi bật là sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi ngƣời, số thành công do đƣợc học hành, đào tạo chƣa nhiều. Nhƣợc điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ để phát triển nông thôn. 1.1.5.4. Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định Cho dù đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực bình đẳng giới nhƣng vẫn phải thừa nhận rằng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại ở Việt Nam - đây là lực cản cơ bản của sự phát triển tự nhiên. Cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới, ở Việt Nam, những trở lực của bất bình đẳng giới là: sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất đất đai, các dịch vụ khuyến nông và tín dụng. Phụ nữ ít đƣợc tham gia trong các lĩnh vực, các cấp, ít có tiếng nói quyết định trong nhiều lĩnh vực của đời sống gia đình, xã hội, ít nhiều còn bị phân biệt trong tiếp cận các phúc lợi về y tế, giáo dục [1]. * Về vấn đề tiếp cận đất đai: Đối với ngƣời dân Việt Nam, nhà cửa, đất đai bao giờ cũng có giá trị lớn và có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, điều này là đặc biệt quan trọng, khi mà gần 80% dân cƣ sống ở nông thôn, chủ yếu làm nông nghiệp và đất đai là tƣ liệu sản xuất chính của họ. Việc xem xét ngƣời đứng tên giấy tờ sở hữu nhà, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cần thiết để có thể phân biệt rõ về ngƣời tiếp cận và quản lý nguồn lực trong hộ gia đình hay nói cách khác đi là quyền của mỗi ngƣời nam và nữ trong gia đình. Về mặt pháp luật, ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng về tài sản, điều đó thể hiện qua Hiến pháp và những bộ luật liên quan đến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 33.
    25 quyền sở hữunhƣ Luật đất đai (1993, 2003), Bộ luật dân sự (1995), Luật hôn nhân và gia đình (2000). Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có lúc, có nơi chƣa đảm bảo theo đúng quy định. Ví dụ: việc thực hiện quyền sử dụng đất đã đƣợc quy định trong Luật đất đai; Luật này quy định hộ gia đình, cá nhân đƣợc nhà nƣớc giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất. Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi đầy đủ tên của cả vợ và chồng. Nhƣng trong thực tế, hầu nhƣ các giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ ghi tên một ngƣời (chủ yếu là ngƣời chồng). Vì thế từ vị trí đồng sử dụng với ngƣời chồng, ngƣời vợ đã rơi xuống vị trí ngƣời thừa hành, không có quyền quyết định. Ngƣời chủ hộ (nam giới) có quyền lực pháp lý và kinh tế hơn các thành viên khác trong gia đình. Việc không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và một số quyền hạn khác của ngƣời phụ nữ nhƣ chuyển nhƣợng, thừa kế. Việc không có quyền tƣơng đƣơng với nam giới đối với đất đai - một tài sản chủ chốt, một tƣ liệu sản xuất quan trọng của hộ gia đình nông thôn, ảnh hƣởng rất lớn đến địa vị kinh tế và xã hội của phụ nữ so với nam giới. Cho dù pháp luật quy định về quyền thừa kế nhƣ nhau của con trai và con gái, nhƣng theo truyền thống thì chủ yếu ngƣời con trai trong gia đình có quyền thừa kế về nhà cửa, đất đai. Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ chỉ có quyền sử dụng đất trong mối liên hệ với đàn ông. Khi còn nhỏ, ngƣời con gái có phần đất đƣợc giao trong gia đình bố mẹ đẻ, khi lấy chồng, hầu nhƣ không thể mang theo quyền sử dụng đất phần đất, trừ khi họ lấy chồng cùng làng. Sau khi kết hôn, ngƣời vợ về cƣ trú bên bố mẹ chồng và khi ra ở riêng có thể đƣợc gia đình bố mẹ chồng chia sẻ một phần đất canh tác. Song, nếu nhƣ cuộc hôn nhân này bị đổ vỡ thì hầu nhƣ khó đảm bảo quyền sử dụng đất đai của ngƣời phụ nữ sau khi li dị. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 34.
    26 Ngƣời phụ nữ goá cũng không gặp không ít rắc rối về việc đƣợc đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì nếu trong gia đình có ngƣời con trai lớn thì nhiều khả năng tên của ngƣời con trai sẽ đƣợc ghi vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải tên của ngƣời phụ nữ. * Tiếp cận về vốn: Cung cấp tín dụng không chỉ là một phƣơng tiện quan trọng để xoá đói giảm nghèo mà là phƣơng tiện để tăng thu nhập và phát triển kinh tế nông thôn lâu dài. Tuy vậy, phần lớn tín dụng hiện nay là do khu vực phi chính thức, và phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với các khoản vay chính thức hơn so với nam giới. 2/3 số ngƣời vay vốn là nam giới. Đối với phụ nữ chỉ có 18% số vốn vay đƣợc cung cấp thông qua khu vực chính thức, còn lại nguồn tín dụng phổ biến nhất là từ họ hàng và các cá nhân khác. Việc vay vốn từ nguồn các nhân dẫn tới việc chịu lãi xuất cao và đối với phụ nữ điều này cũng phản ánh họ thiếu khả năng tiếp cận với những khoản vay thế chấp. Trong khi 41% số khoản vay của nam giới dựa trên thế chấp tài sản, thì khoản vay của phụ nữ chỉ chiến 27% [38]. * Vấn đề tiếp cận giáo dục, đào tạo: Số liệu Tổng điều tra dân số năm 1999 cho thấy 12% em gái trong độ tuổi từ 5 tuổi trở lên chƣa bao giờ đƣợc đi học, trong khi đó tỷ lệ này chỉ 7,5 cho bé trai. Trong các gia đình nghèo nhất, các em gái đi học ít hơn các em trai. Năm 1998, khoảng cách giữa em trai và em gái tiếp cận cấp tiểu học lớn hơn 20% đối với các gia đình nghèo nhất so với toàn bộ dân số [38]. Mặc dù phụ nữ đóng vai trò then chốt trong sản xuất nông lâm nghiệp nhƣng sự tiếp cận của họ với kỹ thuật từ các hoạt động khuyến nông còn thấp và chƣa đầy đủ. Trong năm 1999 chỉ có hơn 3% trên tổng số phụ nữ nông thôn trên 13 tuổi có trình độ kỹ thuật chuyên môn [5]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 35.
    27 * Về vấn đề việc làm và thu nhập của phụ nữ: Năm 2005, lao động nữ chiếm khoảng 21,14 triệu ngƣời trong tổng số lao động của nền kinh tế quốc dân (48,6% so với 43,45 triệu lao động), đến 8/2007 đã tăng lên khoảng 22,77 triệu ngƣời (49,4% so với tổng số trên 46,11 triệu lao động). Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 1,33 triệu ngƣời, trong đó, lao động nữ là 835 nghìn ngƣời [34]. Theo đánh giá tổng quan, nếu mức độ ảnh hƣởng của suy thoái kinh tế toàn cầu là thấp, khả năng đến cuối năm 2010, lao động nữ sẽ đạt và vƣợt chỉ tiêu 50% lực lƣợng lao động của cả nƣớc. Tuy nhiên, vấn đề quan tâm hiện nay là chất lƣợng công việc của lao động nữ vì chủ yếu các chị em vẫn chiếm số đông ở những lĩnh vực không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao, có thu nhập thấp và việc làm bấp bênh, độ rủi ro cao. Trong các ngành nghề đã có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu lao động, nhƣng vẫn thể hiện sự bất bình đẳng về giới, thể hiện qua tỷ lệ lao động nữ trong khu vực nông- lâm- ngƣ nghiệp dù có chiều hƣớng giảm nhƣng xét về cơ cấu giới thì vẫn còn rất cao [34]. Nhiều nghiên cứu hiện nay về vai trò của nam và nữ trong kinh tế thị trƣờng phản ánh thực tế là ở cả 2 khu vực lao động đƣợc trả lƣơng và không đƣợc trả lƣơng, phụ nữ đều có thu nhập thấp hơn nam giới. Mặc dù pháp luật quy định “Công việc nhƣ nhau, tiền công ngang nhau” nhƣng trong khu vực có lƣơng do thƣờng làm lao động giản đơn nên tiền công trung bình trả cho lao động nữ chỉ bằng 72% so với nam. Nguyên nhân chủ yếu là do lao động nữ tập trung vào khu vực ngành nghề không đòi hỏi tay nghề, kỹ thuật cao, năng suất lao động thấp và bị trả lƣơng thấp. Trừ khu vực dịch vụ và may mặc, còn ở hầu hết các ngành khác lƣơng của phụ nữ thấp hơn lƣơng của nam giới do không làm quản lý. Trong công việc tiền công bình quân của phụ nữ chỉ bằng 62% tiền lƣơng của nam giới [5]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 36.
    28 Trong khu vực không trả lƣơng phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới. Việc phân công lao động trong nội bộ gia đình ở nông thôn đang đặt gánh nặng lên vai ngƣời phụ nữ. Ngoài công việc sản xuất trên đồng ruộng phụ nữ còn chăn nuôi và các công việc khác thuộc về gia đình và phục vụ gia đình. *Về vấn đề ra quyết định: tìm hiểu vấn đề ai là ngƣời có tiếng nói quyết định đối với những vấn đề quan trọng của gia đình nhƣ mua sắm tài sản đắt tiền, xây dựng nhà cửa, những khoản chi lớn liên quan đến thành quả lao động của gia đình ta thấy có nhiều bất cập. Phụ nữ đƣợc tham gia ý kiến và bàn bạc chung với tƣ cách là ngƣời giữ tiền của gia đình “tay hòm chìa khoá” trong những quyết định quan trọng nhƣng trên thực tế họ không có quyền quyết định việc chi tiêu. * Vấn đề tham gia các hoạt động cộng đồng: phụ nữ không có thời gian giành cho các hoạt động xã hội, hoặc cho việc học tập kinh nghiệm từ ngƣời khác. Đặc biệt phụ nữ các dân tộc thiểu số rất ít có cơ hội tham gia các lớp học văn hoá buổi tối thậm chí các lớp học đó đã có sẵn và thích hợp với họ. Kết quả là phụ nữ không thể tham dự các buổi họp thôn bản cộng với việc ít có điều kiện tiếp cận các nguồn lực và khả năng tạo thu nhập kém, không có tiếng nói trong các quyết định quan trọng của đời sống gia đình dẫn đến địa vị kinh tế, xã hội của phụ nữ thấp hơn so với nam giới. Đó là những yếu tố hạn chế khả năng tham gia của phụ nữ vào việc ra quyết định trong cộng đồng và ở cấp quốc gia. 1.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.2.1. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu - Tiếp cận nghiên cứu xã hội học (giới): nhằm nghiên cứu đặc tính của giới, sự khác nhau và các yếu tố ảnh hƣởng đến giới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 37.
    29 - Tiếp cận nghiên cứu kinh tế hệ thống: nhằm nghiên cứu các hệ thống sản xuất kinh doanh các loại hình cây trồng, vật nuôi, các yếu tố trong nền kinh tế của địa phƣơng, của hộ. 1.2.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 1.2.2.1. Chọn vùng nghiên cứu Theo vị trí địa lý, địa hình, địa mạo đất đai của huyện Phú Lƣơng, dựa trên vùng sinh thái, đồng thời căn cứ vào sự phát triển kinh tế của các vùng, tôi tiến hành lựa chọn 3 cụm xã: cụm phía Bắc, cụm xã Trung tâm và cụm phía Nam để nghiên cứu. Tiếp đó, căn cứ vào tỷ lệ nữ làm chủ hộ, tỷ lệ nữ tham gia quản lý sản xuất của hộ, tham gia lãnh đạo chính quyền đoàn thể của địa phƣơng, tham gia hoạt động cộng đồng, tôi lựa chọn 3 xã đại diện cho từng cụm xã để điều tra, gồm: - Xã Yên Trạch ( thuộc cụm xã phía Bắc): giáp với huyện Định Hoá và Chợ Mới- Bắc Cạn, ngƣời dân chủ yếu là ngƣời tày, nùng, số hộ nghèo chiếm trên 65,21% tổng số hộ (năm 2008) [40], kinh tế kém phát triển, sản xuất nông lâm nghiệp là chủ yếu, những năm gần đây dựa trên thế mạnh của vùng đã phát triển thêm nghề mây tre đan, mành cọ. - Xã Ôn Lƣơng (thuộc cụm xã Trung tâm): là một xã có các đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu là ngƣời tày, chiếm 80% tổng số dân trong vùng [40]. Đây là xã có nhiều con em đƣợc đào tạo tại các trƣờng dạy nghề, cao đẳng, đại học và trên đại học. Nơi đây có nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa trên sản xuất nông, lâm nghiệp và nghề mây tre đan, mành cọ. - Xã Cổ Lũng (thuộc cụm xã phía Nam): là một trong những xã có quốc lộ 3 chạy qua, số hộ nghèo chỉ chiếm 12,31% (năm 2008) [40], kinh tế đang phát triển bên cạnh sản xuất nông nghiệp, trồng chè, các dịch vụ, sản xuất gạch ngói, nuôi cá giống...đã đem lại thu nhập ổn định cho ngƣời dân trong vùng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 38.
    30 1.2.2.2. Chọn hộ nghiên cứu Hộ nghiên cứu phải nằm trong các xã đã đƣợc chọn, đồng thời mang tính đại diện cho các hộ trong vùng. Số mẫu điều tra đƣợc chọn ngẫu nhiên dựa theo danh sách hộ và đảm bảo đủ các hộ thuộc 3 nhóm hộ: nghèo, trung bình và khá. Kết quả chọn mẫu đƣợc trình bày trong bảng sau: Bảng 1: Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra Số hộ Phân theo mức sống Tên xã điều tra Nghèo Trung bình khá Xã Ôn Lƣơng 44 14 19 11 Xã Yên Trạch 60 28 17 15 Xã Cổ Lũng 62 8 39 15 166 50 75 41 1.2.3. Phương pháp thu thập số liệu 1.2.3.1. Số liệu thứ cấp * Nguồn số liệu: Đƣợc thu thập số liệu thống kê, báo cáo sơ tổng kết hàng năm, nhiệm kỳ của: - Một số bộ, ngành có liên quan - Ban vì tiến bộ của phụ nữ, Hội phụ nữ tỉnh Thái Nguyên - Phòng thống kê, phòng LĐ-TBXH, LĐLĐ huyện Phú Lƣơng - Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ, Hội phụ nữ huyện Phú Lƣơng - Văn phòng UBND-HĐND huyện, Huyện uỷ, Ban Dân vận, Ban Tổ chức Huyện uỷ - 10 Đề án phát triển kinh tế xã hội của huyện Phú Lƣơng - Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn. * Phương pháp thu thập: thông qua ghi chép, thống kê các dữ liệu cần thiết cho đề tài với các chỉ tiêu đƣợc chuẩn bị sẵn. 1.2.3.2.- Số liệu sơ cấp * Nguồn số liệu: Thông tin sơ cấp đƣợc thu thập qua phỏng vấn sâu một số tổ chức, cá nhân am hiểu lĩnh vực. Điều tra 166 mẫu hộ nông dân để Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 39.
    31 đánh giá tráchnhiệm, vị trí, vai trò và năng lực của phụ nữ trong gia đình theo nội dung trong mẫu điều tra . * Phương pháp: điều tra hộ bằng phiếu và phỏng vấn trực tiếp. 1.2.4. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 1.2.4.1. Phương pháp phân tổ thống kê Đƣợc sử dụng để phân loại thu nhập và tiêu dùng theo các mức khác nhau: hộ giầu, khá, trung bình, nghèo, theo ngành nghề, theo lứa tuổi, văn hoá, theo phân cấp quản lý cán bộ... 1.2.4.2. Phương pháp thống kê so sánh Có đƣợc các chỉ tiêu nghiên cứu tổng hợp thành các bảng số liệu, tôi tiến hành bằng các chỉ số khác nhau để thấy đƣợc có sự khác nhau về thu nhập, tiêu dùng, giữa các nhóm hộ. 1.2.4.3. Phương pháp phân tích SWOT Để phân tích các yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn địa bàn nghiên cứu. 1.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích * Dân số hoạt động kinh tế: là lực lƣợng lao động bao gồm toàn bộ những ngƣời từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhƣng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc * Dân số không hoạt động kinh tế: Là toàn bộ những ngƣời từ 15 tuổi trở lên không tham gia lực lƣợng lao động nhƣng đang đi học, đang làm việc nội trợ gia đình, ốm đau, tàn tật không đủ khả năng lao động, ngƣời già. * Các chỉ tiêu khác: - Thu nhập bình quân/ngƣời/năm - Tỷ lệ tăng dân số - Bình quân khẩu/hộ - Bình quân khẩu nông nghiệp/hộ nông nghiệp - Lao động/tổng dân số - Lao động nông nghiệp/tổng lao động - Lao động nữ/tổng lao động... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 40.
    32 CHƢƠNG II THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ HUYỆN PHÚ LƢƠNG 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên 2.1.1. Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý Phú Lƣơng là một huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 21km về phía Bắc, có Quốc lộ 3 đi qua suốt chiều dài của huyện khoảng 46 km, phía Đông giáp huyện Võ Nhai, phía Tây giáp huyện Đại Từ và huyện Định Hoá, phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ, phía Bắc giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Cạn). Huyện Phú Lƣơng có 14 xã, 02 thị trấn, gồm có 274 xóm, bản. Thị trấn Đu là trung tâm chính trị- kinh tế- văn hoá của huyện. Với vị trí địa lý nhƣ vậy, Phú Lƣơng rất thuận lợi cho quá trình tổ chức sản xuất theo quy mô vừa và lớn, có điều kiện thông thƣơng, trao đổi hàng hoá với các vùng lân cận trong và ngoài tỉnh. Đặc biệt với 12.348,8 ha đất dùng cho sản xuất nông nghiệp đã tạo ra khối lƣợng nông sản lớn cung cấp cho thị trƣờng thành phố Thái Nguyên. 2.1.1.2. Địa hình địa mạo Phú Lƣơng có địa hình phức tạp, mang đặc điểm điển hình của huyện miền núi, bề mặt không bằng phẳng, bao quanh nhiều đồi núi thấp, núi đá và núi đá vôi, tạo thành các ô trũng bậc thang. Huyện có sông Cầu chảy qua 04 xã: Phú Đô, Vô Tranh, Tức Tranh, Sơn Cẩm; sông Đu chảy dọc huyện qua các xã Phú Đô, Yên Lạc, Đu, Phấn Mễ, Giang Tiên; hệ thống suối, ao, hồ, đầm tự nhiên nhiều. Do có địa hình nhƣ trên, huyện Phú Lƣơng đã tạo ra 3 tiểu vùng kinh tế sinh thái khá rõ nét: - Vùng phía Bắc và Tây Bắc (vùng cao) gồm 05 xã: Yên Trạch, Yên Ninh, Yên Đổ, Yên Lạc, Phú Đô, có lợi thế sản xuất lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc. Hiện nay, Huyện đang đầu tƣ để phát triển cây chuối thƣơng phẩm, mở ra một hƣớng sản xuất triển vọng cho vùng. - Vùng phía Đông (vùng giữa) gồm 06 xã, thị trấn: Ôn Lƣơng, Phủ Lý, Hợp Thành, Động Đạt, Phấn Mễ, Đu có thế mạnh về sản xuất lâm nghiệp, cây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 41.
    33 chè, cây ănquả do tính chất đất chủ yếu là đất Feralit màu vàng đỏ, đặc biệt các vùng ô trũng là thế mạnh để phát triển sản xuất các vùng giống lúa, ngô... - Vùng phía Nam (vùng thấp) gồm 05 xã Sơn Cẩm, Cổ Lũng, Tức Tranh, Giang Tiên, Vô Tranh chủ yếu là vùng đất bằng phẳng có lợi thế về sản xuất cây lƣơng thực, cây chè, cây cảnh, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất gạch ngói và phát triển các loại hình dịch vụ. 2.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn Khí hậu có đặc điểm nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hƣởng lớn của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21,2 độ đến 21,9 độ C, độ ẩm không khí trung bình từ 81,4% đến 84,5%; đặc biệt chú ý là có sƣơng mù xuất hiện từ tháng 11 năm trƣớc đến tháng 2 năm sau, và cứ 3 đến 5 năm lại xuất hiện một đợt sƣơng muối. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm từ 1.500mm đến 2.100mm, lƣợng mƣa bình quân cao nhất trong ngày từ 90mm đến 120mm, lƣợng bốc hơi từ 96 - 98 mm. Hƣớng gió thổi theo 2 chiều: gió Đông Nam và gió Đông Bắc với tốc độ từ 13-15m/s. Ngày nắng bình quân là từ 22-25 ngày, ngoài ra còn có những cơn bão tràn vào từ khoảng tháng 5 đến tháng 9 theo hƣớng Đông hoặc hƣớng Nam. Mực nƣớc thuỷ văn: huyện Phú Lƣơng có mật độ sông, suối lớn, trữ lƣợng thuỷ văn cao, tập trung ở một số sông lớn: Sông Đu, Sông Cầu và một số phụ lƣu Sông Cầu. Hầu hết các xã đều có các sông suối chảy qua, khá thuận thiện cho công tác thuỷ lợi, vận chuyển lâm sản. 2.1.1.4. Tình hình phân bố, sử dụng đất Phú Lƣơng là huyện có diện tích thấp của tỉnh, theo số liệu thống kê của huyện năm 2008, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 36.896,7 ha [40], phân theo địa giới hành chính thì diện tích lớn nhất thuộc về xã Yên Lạc là 4.297,6 ha chiếm 12,78 %, đơn vị có diện tích đất thấp là thị trấn Đu gồm 212,9 ha chiếm có 0,57 % tổng diện tích trong toàn huyện. 08 xã, thị trấn có diện tích đất tự nhiên dƣới 2.000 ha và 08 đơn vị có diện tích trên 2.000 ha. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 42.
    34 Bảng 2.1. Diện tích đất phân theo loại đất và theo xã, thị trấn của huyện Phú Lƣơng năm 2008 Đơn vị tính: ha Tổng Chia ra diện tích Đất Đất đất theo Đất nuôi Đất Đất lâm chuyên địa giới Nông trồng Đất ở chƣa sử TỔNG SỐ nghiệp dùng hành nghiệp Thuỷ dụng (*) chính sản 36.896,7 12.348,8 17.527,8 727,4 1.302,9 2.929,4 2.060,4 Chia ra xã, phƣờng, thị trấn TT. Đu 212,9 93,6 15,0 3,1 31,8 63,9 5,4 TT.Giang Tiên 381,2 116,6 102,9 6,3 30,2 112,3 13,0 Xã Sơn Cẩm 1.682,4 638,9 273,9 20,5 303,3 400,7 45,1 Xã Cổ Lũng 1.696,9 852,6 325,0 60,6 83,3 330,4 45,0 Xã Phấn Mễ 2.531,0 1.333,4 492,4 19,7 97,5 425,3 162,8 Xã Vô Tranh 1.837,6 1.124,0 289,5 36,6 81,8 221,7 84,0 Xã T. Tranh 2.559,4 1.342,1 885,8 43,5 74,4 209,9 3,7 Xã Phú Đô 2.220,1 740,3 958,7 7,4 43,0 138,0 332,8 Xã Yên Lạc 4.297,6 965,6 2.447,0 17,9 124,0 159,5 583,5 Xã Động Đạt 3.988,7 1.473,3 1.848,3 86,7 85,4 343,5 151,6 Xã Ôn Lƣơng 1.769,6 556,6 968,4 100,3 32,7 52,2 59,5 Xã Phủ Lý 1.548,5 438,9 913,5 61,8 29,6 58,3 46,5 Xã Hợp Thành 898,5 346,9 435,8 20,8 26,1 60,6 8,3 Xã Yên Đổ 3.561,1 782,7 2.377,7 108,4 105,8 135,4 51,1 Xã Yên Ninh 4.718,6 944,5 3.363,6 68,4 77,4 166,3 98,6 Xã Yên Trạch 2.992,6 599,0 1.830,3 65,4 76,7 51,4 369,6 (*) Đất chuyên dùng bao gồm cả đất tôn giáo tín ngƣỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông suối và mặt nƣớc chuyên dùng. Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương, năm 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 43.
    35 Phân loại đất theo 05 hình thức sử dụng khác nhau thì diện tích lớn nhất đƣợc sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp là 17.527,8 ha chiếm 47,51% tổng diện tích đất tự nhiên, tập trung ở các xã Yên Trạch, Yên Đổ, Yên Ninh, Ôn Lƣơng, Hợp Thành, tiếp đó là đất sử dụng cho nông nghiệp gồm 12.348,8 ha chiếm 33,47%, diện tích đất ở và đất chuyên dùng gồm 4.232,3 ha chiếm 11,47%. Trong khi diện tích đất chƣa sử dụng là 2.060,4 ha chiếm 5,58% thì diện tích cho nuôi trồng thuỷ sản chỉ chiếm 727,4 ha tƣơng ứng 1,97 %. Biểu đồ 2.1. Cơ cấu sử dụng đất huyện Phú Lƣơng năm 2008 Loại đất diện tích diện tích Đất nông nghiệp 12.348,80 Đất lâm nghiệp 17.527,80 Đất nuôi trồng thuỷ sản 5,58% 7,94% 727,4 Đất ở 3,53% 1.302,90 33,47% Đất nông nghiệp 1,97% Đất chuyên dùng 2.929,40 Đất lâm nghiệp Đất nuôi trồng thuỷ sản Đất chƣa sử dụng 2.060,40 Đất ở Đất chuyên dùng Đất chưa sử dụng 47,51% Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương , năm 2008 Trong giai đoạn 2006- 2008, diện tích các loại đất của huyện Phú Lƣơng có sự thay đổi theo sự phát triển về kinh tế- xã hội của huyện. Qua 3 năm, do huyện đẩy mạnh việc trồng rừng theo Dự án 661 và trồng rừng nhân dân nên diện tích đất lâm nghiệp tăng 0,45%. Diện tích đất chuyên dùng và đất ở cũng tăng tới 2,27% và 6,056 % do quá trình tăng dân số tự nhiên, quá trình đô thị hoá thành lập các khu thị tứ ở các cụm xã: Tức Tranh- Vô Tranh- Phú Đô, Ôn Lƣơng- Phủ Lý- Hợp Thành... Trong khi đó, diện tích đất nông nghiệp đã giảm 0,5% nhƣờng chỗ cho các cụm công nghiệp khai thác khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 44.
    Bảng 2.2. Hiệntrạng sử dụng đất đai của huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2006- 2008 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 So sánh (%) Chỉ tiêu S.lƣợng Cơ cấu S.lƣợng Cơ cấu S.lƣợng Cơ cấu Bình 07/06 08/07 (ha) (%) (ha) (%) (ha) (%) quân Tổng số 36.896,70 100 36.896,70 100 36.896,70 100 100 100 100 1. Đất nông nghiệp 12.473,40 33,81 12.411,80 33,64 12.348,80 33,47 99,51 99,49 99,50 1.1. Cây hành năm 5.681,00 15,40 5.551,00 15,04 5.515,00 14,95 97,71 99,35 98,53 - Đất trồng lúa 4.156,00 11,26 4.074,00 11,04 4.052,00 10,98 98,03 99,46 98,74 - Đất trồng ngô 862,00 2,34 735,00 1,99 832,00 2,26 85,27 113,20 99,23 - Đất trồng đậu, đỗ 102,00 0,28 127,00 0,34 113,00 0,31 124,51 88,98 106,74 - Đất trồng cây khác 561,00 1,52 615,00 1,67 518,00 1,40 109,63 84,23 96,93 1.2. Cây lâu năm 6.792,40 18,41 6.857,80 18,59 6.013,80 18,52 100,96 87,69 94,33 - Đất trồng chè 4.048,00 10,97 4.181,00 11,34 4.110,00 11,14 103,29 98,30 100,79 - Đất trồng cây ăn quả 873,00 2,37 886,00 2,40 91,00 2,47 101,49 10,27 55,88 - Đất trồng cây khác 1871,4 5,07 1.790,80 4,85 1.812,80 4,91 95,69 101,23 98,46 2. Đất lâm nghiệp 17.511,70 47,45 17.517,50 47,48 17.527,80 47,51 100,03 100,06 100,045 3.Đất chuyên dùng (*) 2.901,50 7,86 2.908,60 7,88 2.929,40 7,94 100,24 104,3 102,27 4.Đất ở 1.158,10 3,15 1.225,40 3,32 1.302,90 3,53 105,81 106,32 106,065 5.Đất nuôi trồng thuỷ sản 731,80 1,98 725,30 1,97 727,40 1,97 99,11 100,28 99,695 6.Đất chƣa sử dụng 2.120,20 5,75 2.108,10 5,71 2.060,40 5,58 99,42 97,73 99,42 (*) Đất chuyên dùng gồm cả đất tôn giáo tín ngƣỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông suối, mặt nƣớc chuyên dùng Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường huyện Phú Lương năm 2006, 2007, 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 45.
    2.1.1.5. Tài nguyênkhoáng sản Huyện Phú Lƣơng đƣợc đánh giá có tiềm năng về khoáng sản với trữ lƣợng lớn. Từ năm 2005 đến nay, đƣợc sự cho phép của tỉnh, nhiều công ty đã tiến hành khai thác các loại nhƣ quặng sắt, quặng chì kẽm, quặng ti tan, than cốc... tập trung ở các mỏ lớn Cây Châm- Động Đạt, Phủ Lý, Phấn Mễ. Các mỏ đá, cát, sỏi và các mỏ khác tập trung ở các xã nhƣ Yên Ninh, Phú Đô, Yên Lạc... đây là cơ sở để phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng thu hút nhiều lao động địa phƣơng, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời dân địa phƣơng, góp phần đẩy nhanh việc thực hiện 10 đề án về phát triển kinh tế huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2005-2010, chuyển dịch cơ cấu kinh tế các ngành trên địa bàn, nâng dần tỷ trọng ngành công nghiệp (giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.152 triệu đồng năm 2008 [40]). 2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 2.1.2.1. Dân số và lao động * Dân số: Quan bảng 2.3 cho thấy, năm 2008 toàn huyện có 107.200 ngƣời, trong đó có tới 92,8 % ngƣời dân sống ở khu vực nông thôn và hoạt động trong các ngành nghề thuộc lĩnh vực nông lâm nghiệp, dân số hoạt động ở lĩnh vực phi nông nghiệp chỉ chiếm có 7,2%. Số nhân khẩu hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp qua các năm đều tăng nhƣng tốc độ tăng của nhân khẩu phi nông nghiệp cao hơn. Số nhân khẩu trong một hộ là trên 4 ngƣời, cao nhất vẫn là nhân khẩu trong hộ nông nghiệp (4,43 ngƣời/hộ). Trong những năm qua, dân số vẫn không ngừng tăng lên (từ 105.077 ngƣời năm 2006, 106.061 ngƣời năm 2007 lên đến 107.200 ngƣời năm 2008). Tốc độ tăng dân số của năm sau cao hơn năm trƣớc. Điều này đã đặt ra nhiều thách thức cho sự phát triển kinh tế của huyện. Cùng với sự gia tăng dân số, đó là nhu cầu về nhà ở, lƣơng thực, giao thông, việc làm, y tế, giáo dục... cũng phải tăng theo, tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội ngày càng tăng, dịch bệnh, ô nhiễm môi trƣờng... đang là những thách thức lớn cho sự phát triển kinh tế- xã hội của huyện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 46.
    Bảng 2.3. Tìnhhình dân số huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2006-2008 Đơn Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 So sánh (%) Chỉ tiêu vị Cơ Cơ Cơ Tốc độ Số Số Số 2007/ 2008/ cấu cấu cấu bình tính lƣợng lƣợng lƣợng 2006 2007 (%) (%) (%) quân 1.Tổng số hộ Hộ 23.237 100,00 23.993 100,00 25.016 100,00 103,25 104,26 103,76 - Hộ nông nghiệp Hộ 20.495 88,20 21.210 88,40 21.146 84,53 103,49 99,70 101,59 - Hộ phi nông nghiệp Hộ 2.742 11,80 2.783 11,60 3.870 15,47 101,50 139,06 120,28 2.Tổng số khẩu Ngƣời 105.077 100,00 106.061 100,00 107.200 100,00 100,94 101,07 101,01 - Nhân khẩu nông nghiệp Ngƣời 98.142 93,40 98.743 93,10 99.482 92,80 100,61 100,75 100,68 -Nhân khẩu phi nông nghiệp Ngƣời 6.935 6,60 7.318 6,90 7.718 7,20 105,52 105,47 105,50 3.Tổng số lao động Ngƣời 66.723 100,00 67.348 100,00 68.072 100,00 100,94 101,08 101,01 - Lao động nông nghiệp Ngƣời 61.872 92,73 62.501 92,80 63.082 92,67 101,02 100,93 100,97 - Lao động phi nông nghiệp Ngƣời 4.851 7,27 4.847 4.990 7,33 99,92 102,95 101,43 4.Các chỉ tiêu khác - Tỷ lệ tăng dân số % 1,05 1,01 1,01 - Bình quân khẩu/hộ Ngƣời/hộ 4,52 4,22 4,29 - Bình quân khẩu NN/hộ NN Ngƣời/hộ 4,79 4,66 4,70 Nguồn: Phòng thống kê huyện Phú Lương năm 2006, 2007, 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 47.
    Biểu đồ 2.2.Tốcđộ tăng dân số huyện Phú Lƣơng theo giới tính giai đoạn 2006- 2008 53800 2006 2007 2008 nam 53600 52490 53079 53550 nữ 52587 52982 53650 53400 53200 53000 Số người 52800 nam 52600 nữ 52400 52200 52000 51800 2006 2007 2008 Năm Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương , năm 2006, 2007, 2008 Qua biểu đồ 2.2 cho thấy dân số nữ và nam tƣơng đối cân bằng (năm 2006 dân số nam là 52.490 ngƣời chiếm 49,95%, dân số nữ là 52.587 ngƣời, chiếm 50,05% tổng dân số). Tốc độ tăng dân số dân số năm sau tăng hơn năm trƣớc (năm 2007 so với năm 2006 tăng 984 ngƣời bằng 0,9%, năm 2008 so với 2007 tăng 1.139 ngƣời bằng 1,07%). Đây là vấn đề đặt ra cho các cấp các ngành huyện trong công tác bình ổn dân số, xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế. Vì gia đình sinh con thứ 3 trở lên có xu hƣớng ngày càng tăng và lại rơi vào các hộ gia đình nông dân nghèo trong huyện. * Lực lượng lao động Hiện nay, lao động trong độ tuổi của toàn huyện có 68.072 ngƣời, chiếm 64% dân số, trong đó lao động nữ có 32.620 ngƣời, đặc biệt lao động nữ nông thôn có số lƣợng rất lớn: 30.279 ngƣời, chiếm 44 % tổng số lao động và chiếm 93% tổng số lao động nữ của toàn huyện. Tình hình lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị và nông thôn của huyện Phú Lƣơng có xu hƣớng ổn định, tăng không đáng kể, thể hiện qua bảng dƣới đây: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 48.
    40 Bảng 2.4. Lao động huyện Phú Lƣơng chia theo giới tính và khu vực giai đoạn 2006-2008 Đơn vị tính: người Năm Chung của huyện Thành thị Nông Thôn nghiên Tổng Chia theo giới Tổng Chia theo Tổng Chia theo giới cứu số tính số giới tính số tính nam nữ nam nữ nam nữ 2006 66.723 34.698 32.025 4.851 2.507 2.344 61.872 33.196 29.676 2007 67.348 35.042 32.306 4.847 2.515 2,332 62.501 31.489 30.012 2008 68.072 35.452 32.620 4.990 2.532 2.458 63.082 32.803 30.279 Nguồn: Phòng Lao động- TBXH huyện Phú Lương năm 2006- 2008 2.1.2.2. Phát triển kinh tế của huyện Thực hiện sự Chỉ đạo của Chính phủ và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2005-2010, kinh tế của huyện đã có những chuyển biến tích cực. Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo hƣớng từng bƣớc nhanh chóng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị trƣờng và điều kiện sinh thái của vùng. Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm mới thu hút lao động nông thôn. Áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ về giống, chăm sóc…vào trong sản xuất nông lâm nghiệp nâng giá trị thu nhập trên cùng đơn vị diện tích, cụ thể: *Ngành trồng trọt: Số liệu bảng 2.5 cho thấy trong trồng trọt, lúa nƣớc vẫn là loại cây trồng chủ đạo của huyện. Nhƣng, diện tích đất trồng lúa nƣớc đang bị thu hẹp dần, năm 2006 diện tích là 7.231 ha đến năm 2008 diện tích chỉ còn 6.881 ha. Nguyên nhân là do một số diện tích này đƣợc thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp (khu công nghiệp Sơn Cẩm, Động Đạt, Phấn Mễ), xây dựng đƣờng nông thôn liên xóm xã, hội trƣờng xóm, phần khác chuyển mục đích sử dụng theo nhu cầu của nhân dân và quy hoạch của địa phƣơng. Tuy nhiên, do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, năng xuất cây trồng không ngừng tăng qua các năm, nên sản lƣợng của 3 loại cây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 49.
    41 trồngchính trên vẫn ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho địa phƣơng và làm hàng hoá cung cấp cho các vùng lân cận. Đặc biệt vùng sản xuất lúa giống tại Phấn Mễ đã đƣợc Trung tâm giống cây trồng của tỉnh, các công ty giống trong vùng quan tâm đầu tƣ, tạo thu nhập bằng 1,3 lần thóc thịt. Đây chính là cơ hội để ngƣời dân trong vùng thay đổi tƣ duy trong việc lựa chọn cây, con trong sản xuất để có thu nhập cao hơn, xoá dần cách canh tác truyền thống tại địa phƣơng. Bảng 2.5. Diện tích, năng suất, sản lƣợng một số cây trồng chính của huyện từ năm 2006-2008 Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (tấn) Loại cây 2006 2007 2008 2006 2007 2008 2006 2007 2008 1.Lúa nước 7.231 7.002 6.881 45,0 45,1 44,8 32.223 31.579 30.883 Vụ xuân 3.114 2.929 2.835 45 46 45 14.013 13.472 12.757 Vụ mùa 4.117 4.069 4.046 44,2 44,5 44,8 18.210 18.107 18.126 2. Ngô 1.303 1.077 1.387 38,0 45,2 49,9 4.962 4.863 6.916 Vụ xuân 812 695 853 39 44 51 3.166 3.508 4.350 Vụ mùa 491 382 534 36,6 35,5 48 1.796 1.355 2.566 3. Chè 4.048 4.124 4.100 74,0 80,5 75,6 29.946 31.746 31.071 4. Lạc vỏ 185 230 202 10,6 10,2 10,5 195,6 234 212 Vụ xuân 102 120 113 11 11,2 10,9 114,2 135 123 Vụ mùa 83 110 89 9,8 9,0 10 81,4 99 89 5.Đỗ tương 242 241 231 13,8 13,9 14,3 337 336 330 Vụ xuân 105 117 112 13,8 13,9 13,8 145 163 154 Vụ mùa 137 124 119 14 14 14 192 173 176 Nguồn: Số liệu báo cáo của UBND huyện Phú Lương năm 2006, 2007, 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 50.
    42 * Ngành chăn nuôi: Diện tích rừng của Phú Lƣơng lớn (17.527,8 ha), nên đây chính là thế mạnh để phát triển đàn trâu bò thƣơng phẩm và làm sức kéo. Năm 2007, tổng đàn trâu bò là 13.718 con, đến năm 2008 tăng lên 13.900 con. Tổng đàn lợn năm 2008 là 51.000 con, trong đó sản lƣợng thịt hơi là 7.500 tấn. Nuôi trồng thuỷ sản đã đƣợc quan tâm đầu tƣ, năm 2006 đóng góp vào tổng giá trị sản xuất trên 2 tỷ đồng, đến năm 2008 đã tăng lên là 4 tỷ đồng. Hiện nay, huyện đang có dự án đƣa con tôm thƣơng phẩm vào sản xuất tại các xã có thế mạnh nhƣ Cổ Lũng, Phú Đô [51]. * Ngành Lâm nghiệp: Diện tích rừng của Phú Lƣơng đứng thứ năm trong tỉnh, trong đó rừng khoanh nuôi bảo vệ là 2.941 ha, rừng khoanh nuôi tái sinh là 1.250 ha, rừng chăm sóc 1.501, rừng tự nhiên là 916,49ha, rừng trồng tập trung là 10.919,3 ha gồm cây keo tai tƣợng trong nƣớc và nhập ngoại. Diện tích rừng tập trung nhiều ở các xã phía Bắc của huyện nhƣ Yên Ninh, Yên Trạch, Yên Đổ…ngoài ra các sản phẩm phụ của rừng là nguồn nguyên chủ yếu, sẵn có để phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp mây tre đan mành cọ, tạo thu nhập trƣớc mắt cho ngƣời dân đầu tƣ nuôi trồng và bảo vệ rừng [50]. * Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ: Đây là ngành thế mạnh và có tiềm năng lớn đang đƣợc huyện quan tâm từ công tác quy hoạch mạng lƣới giao thông, đến quy hoạch các khu sản xuất công nghiệp. Đặc biệt, huyện đã có những chính sách ƣu tiên, khuyến khích các doanh nghiệp vào đầu tƣ trong huyện nhƣ đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, thực hiện quy định về tiếp nhận, thẩm định, cấp giấy chứng nhận kinh doanh theo hƣớng thuận lợi và nhanh chóng. Kết quả bƣớc đầu đã quy hoạch và phát triển các khu sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, ngói ở Cổ Lũng, khác thác cát, sỏi đá ở Yên Lạc, Phú Đô...), khai thác khoáng sản: than, quặng sắt ở Phấn Mễ, quặng titan ở Động Đạt, Phủ Lý. Theo số liệu của phòng thống kê huyện năm 2008 tổng giá trị gia tăng (theo giá hiện hành) của ngành công nghiệp xây dựng là 221 tỷ đồng, chiếm 27,97% trong tổng giá trị sản xuất của huyện, trong khi ngành dịch vụ đóng góp 175 tỷ đồng, chiếm 22,16% [40]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 51.
    43 Biểu đồ 2.3. Cơ cấu kinh tế của huyện Phú Lƣơng năm 2008 22,16% 27,97% Nông- lâm- thuỷ sản 49,87 Công nghiệp- xây dựng 27,97 Dịch vụ 22,16 Nông- lâm- thuỷ sản Công nghiệp- xây dựng Dịch vụ 49,87% Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương năm 2008 * Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Biểu đồ 2.4. Biến động cơ cấu kinh tế của huyện Phú Lƣơng trong giai đoạn 2006-2008 500 2006 2007 2008 Nông- lâm- thuỷ sản 400 278 292 394 (tỷ đồng) Công nghiệp- xây dựng Nông- lâm- thuỷ sản Giá trị 215 238 221 Dịch300 vụ 207 210 Công nghiệp- xây dựng 175 200 Dịch vụ 100 0 2006 2007 2008 Năm Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Lương năm 2006, 2007, 2008 Qua biểu đồ 2.4. cho thấy, tốc độ tăng trƣởng kinh tế của huyện tăng mạnh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hƣớng hợp lý, tăng dần dần tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng trong khi phát huy đƣợc thế mạnh của địa phƣơng để phát triển ngành nông lâm nghiệp theo hƣớng hàng hoá, tạo việc làm tại chỗ cho ngƣời dân địa phƣơng, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm gần 3%, đến nay số hộ nghèo của huyện chỉ còn 5.892 hộ, chiếm 23,55% tổng số hộ trên toàn huyện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 52.
    44 2.1.2.3. Cơ sở hạ tầng của huyện * Hệ thống giao thông: huyện Phú Lƣơng là một huyện trung du miền núi của tỉnh Thái Nguyên, có tuyến đƣờng Quốc lộ 3 chạy dọc dài trên 40km. Ngoài ra, còn có đƣờng liên huyện, liên xã đã đƣợc nhựa hoá và bê tông hoá theo tiêu chuẩn đƣờng nông thôn cấp 6, đảm bảo giao thông thuận tiện đến tất cả các trung tâm xã. Hệ thống đƣờng liên thôn liên xóm đang đƣợc nâng cấp và bê tông hoá theo cơ chế đối ứng giữa nhà nƣớc và nhân dân. * Hệ thống điện, thông tin liên lạc: Hệ thống điện phục vụ nông nghiệp và nông thôn ngày nay càng đƣợc tăng cƣờng và mở rộng. Hiện nay, 100% xã có bƣu điện văn hoá xã, thông tin liên lạc giữa các xã trong huyện thông suốt, kịp thời. Sóng điện thoại di động đã phủ đến 16/16 xã, thị trấn trong huyện. Tổng số máy điện thoại hiện có trên mạng là 10.038 máy với mật độ 10/100 dân, mạng viễn thông phát triển đã góp phần quan trọng tăng cƣờng thông tin liên lạc của các cơ quan và nhân dân [54]. * Hệ thống tín dụng: Hệ thống tín dụng Nhà nƣớc gồm Ngân hàng nông nghiệp & PTNT và Ngân hàng chính sách, hệ thống tín dụng nhân dân, tín dụng thông qua các tổ chức hội đoàn thể, chƣơng trình xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ về vốn phát triển kinh tế. Tín dụng ngân hàng thông qua các hình thức cho vay thuận lợi để phát triển sản xuất, kinh doanh. Năm 2008, nguồn vốn huy động của riêng ngân hàng Nông nghiệp là 138 tỷ đồng, dƣ nợ 127,2 tỷ đồng, Ngân hàng chính sách huy động 75 tỷ, dƣ nợ 75 tỷ đồng, đạt 140% so với năm trƣớc [54]. * Giáo dục: Tính đến nay huyện Phú Lƣơng có 02 trƣờng trung học phổ thông, 16 trƣờng trung học cơ sở, 27 trƣờng tiểu học và 17 trƣờng mầm non, trong đó có 19 trƣờng đạt chuẩn quốc gia (mầm non 2/17 trƣờng, tiểu học 15/27 trƣờng, THCS 2/16 trƣờng); có 24 trƣờng đạt thƣ viện chuẩn và thƣ viện tiên tiến ( tiểu học 14 trƣờng, THCS 14 trƣờng). Tổng số học sinh từ mầm non đến trung học phổ thông năm 2006 là 19.311 học sinh, năm 2007 là 18.356 học sinh, đến năm 2008 tăng lên là 18.572 học sinh [54]. * Hệ thống y tế: Mạng lƣới y tế từ huyện đến cơ sở đƣợc quan tâm củng cố kiện toàn, chú trọng giáo dục y đức, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ, nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh đảm bảo chăm sóc tốt sức khoẻ cho nhân dân. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh đƣợc tăng cƣờng. Năm 2008, số lƣợt khám chữa bệnh tại bệnh viện đa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 53.
    45 khoa huyện là59.673 lƣợt, tại các trạm y tế xã là 90.683 lƣợt, Thực hiện đề án xây dựng y tế xã đạt chuẩn quốc gia, đến nay toàn huyện có 09 xã đƣợc công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế [54]. Công tác y tế dự phòng và phòng chống dịch bệnh đƣợc quan tâm; công tác kiểm tra, thanh tra vệ sinh an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất đƣợc tăng cƣờng qua các năm. 2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế huyện Phú Lƣơng 2.2.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn huyện 2.2.1.1. Nữ trong các nhóm tuổi Bảng 2.6. Nữ trong các nhóm tuổi từ năm 2006-2008 15-25 26-35 36-45 46-55 Trên 55 Năm <15 tuổi tuổi tuổi tuổi tuổi tuổi 2006 19.221 9.721 8.741 8.946 4.617 1.341 2007 19.290 9.415 8.778 9.337 4.776 1.386 2008 19.605 9.347 8.845 9.565 4.863 1.425 Nguồn: Phòng lao động- TBXH huyện năm 2006, 2007, 2008 Qua bảng trên ta thấy, nữ trong độ tuổi lao động phần lớn tập trung trong nhóm tuổi từ 15- 35 (chiếm 57,7% tổng nữ trong độ tuổi lao động, chiếm 35% dân số nữ, năm 2006) và giảm dần đến nhóm tuổi 46-55 tuổi. Đây là nhóm tuổi là lao động chính trong các hộ gia đình và cũng là nhóm tuổi đang ở độ tuổi sinh sản. Lao động chính trong nhóm tuổi từ 15- 25 chiếm tỷ trọng rất cao (30,4%). Đây là lƣợng lao động trẻ nhƣng thƣờng thiếu kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh, thiếu kiến thức về xã hội, trong đó quan trọng là kiến thức về chăm sóc sức khoẻ sinh sản nên đã ảnh hƣởng không nhỏ tới thu nhập và chất lƣợng cuộc sống của các hộ gia đình. Nữ trong nhóm tuổi này lại có xu hƣớng giảm qua các năm trong khi các nhóm tuổi khác lại tăng (năm 2006 có 30,4%, năm 2008 chỉ còn 28,7%) là do chính sách về xuất khẩu lao động nữ của huyện đi làm việc ở các nƣớc nhƣ Malayxia, Đài loan, Hàn Quốc và các khu công nghiệp trong nƣớc, đã phần nào giải quyết đƣợc việc làm, huy động nguồn vốn chuyển về phát triển kinh tế tại địa phƣơng, góp phần tăng thu nhập cho các hộ gia đình trên địa bàn huyện ( năm 2007, giải quyết việc làm cho 1.500 lao động, lƣợng ngoại hối chuyển qua ngân hàng nông nghiệp huyện gần 2 triệu đô la [40]). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 54.
    46 2.2.1.2. Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt hội đoàn thể Bảng 2.7. Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008 Tổng Tổng Phụ nữ là hội viên các hội, đoàn thể số hộ PN Cựu Đơn vị Tổng Thanh Phụ Nông Cao CN gia 15t- chiến số niên nữ dân tuổi VC đình già binh Sơn cẩm 2.964 3.100 3.030 301 1.362 317 6 7 1.037 Cổ Lũng 2.187 3.035 2.674 293 1.334 696 6 5 340 Giang Tiên 893 1.276 1.245 155 534 254 4 3 295 Vô Tranh 2.026 2.509 1.897 213 957 625 4 3 95 Tức Tranh 1.995 2.575 2.323 201 1.074 683 6 4 355 Phú Đô 1.162 1.395 1.164 134 587 328 3 2 110 Yên Lạc 1.469 1.724 1.143 238 727 394 3 3 88 Yên Đổ 1.456 2.014 1.413 182 712 398 3 3 115 Yên Ninh 1.507 2.184 1.157 168 625 286 2 2 74 Yên Trạch 1.307 2.023 1.139 164 612 307 3 2 51 Động Đạt 2.324 3.199 2.312 268 1.072 829 5 3 135 Phấn Mễ 2.586 3.624 2.468 291 1.092 932 5 3 145 TT. Đu 1.057 1.437 1.336 141 524 393 3 2 273 Phủ Lý 690 945 584 83 307 174 2 1 17 Hợp Thành 608 775 644 79 318 198 2 1 46 Ôn Lƣơng 785 815 666 78 372 184 2 1 29 25.505 Cộng 25.016 32.620 2.989 12.209 6.998 59 45 3.205 Nguồn: Số liệu thống kê Ban Dân Vận Huyện uỷ năm2008 Nhằm thu hút phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt hội theo Đề án số 01 về nâng cao chất lƣợng hoạt động của các tổ chức đoàn thể của Tỉnh uỷ, Hội LHPN huyện, Đoàn thanh niên, Hội nông dân đã tăng cƣờng công tác tuyên truyền vận động chị em tham gia sinh hoạt hội với nhiều hình thức khác nhau nhƣ cho vay vốn ƣu đãi, vay phân bón trả chậm, hỗ trợ cây con giống, tập huấn kiến thức khoa học kỹ thuật, kiến thức quản lý kinh tế hộ gia đình... đã thu đƣợc kết quả đáng ghi nhận. Năm 2006, tỷ lệ phụ nữ tham gia sinh hoạt các hội là 62,4% so với tổng số phụ nữ trong độ tuổi, bằng 85,9% so với Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 55.
    47 tổng số hộgia đình hiện có, đến năm 2008 đã tăng lên là 78% so với tổng số phụ nữ trong độ tuổi và đạt 102% so với tổng số hộ gia đình. Qua bảng 2.4 cho thấy, Sơn Cẩm là đơn vị có số phụ nữ tham gia sinh hoạt hội cao nhất, đạt 97,74% so với tổng số phụ nữ trong độ tuổi, tiếp đến là Giang Tiên, Tức Tranh. Đơn vị có phụ nữ thu hút vào hội thấp nhất (trên 55% so với tổng số phụ nữ, trên 80% so với số hộ) là Yên Trạch, Yên Ninh, Yên Đổ. Đây là những xã thuộc cụm vùng phía Bắc của huyện, dân số chiếm tới 80% là ngƣời dân tộc thiểu số và cũng có tới 80% số hộ là hộ nghèo [52]. Biểu đồ 2.5.Cơ cấu phụ nữ tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008 Hội LHPN 12209 Đoàn TN 21.81% 2989 Hội ND 6998 37.43% Hội CCB +NCT 104 Hội LHPN CNVC 3205 Đoàn TN Chưa tham gia 9.83% 7115 Hội ND Hội CCB +NCT CNVC Chưa tham gia 0.32% 21.45% 9.16% Nguồn: Số liệu thống kê Ban Dân Vận Huyện uỷ năm 2008 Trong những năm gần đây các ban, ngành, đoàn thể đã nỗ lực trong việc thu hút phụ nữ vào sinh hoạt hội. Tuy nhiên, số phụ nữ trong độ tuổi không tham gia bất kỳ hội đoàn thể nào vẫn chiếm tỷ lệ lớn (21,81% tổng số phụ nữ) và lại thuộc các xã khó khăn. Đây đang là vấn đề cần đƣợc các tổ chức, trƣớc tiên là Hội phụ nữ huyện, Ban vì sự tiến hộ của phụ nữ huyện quan tâm đề ra các giải pháp cụ thể thiết thực hơn để phụ nữ tự nguyện tham gia. Qua biểu đồ 2.5, số phụ nữ tham gia sinh hoạt Hội phụ nữ chiếm tỷ lệ cao nhất 37,43%, tiếp đến là hội nông dân chiếm 21,45%. Đây là 2 tổ chức hội đoàn thể có nhiều chƣơng trình hỗ trợ phụ nữ trong phát triển kinh tế, xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” nên ngày càng đƣợc đông đảo chị em phụ nữ quan tâm hƣớng ứng các phong trào và tham gia sinh hoạt hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 56.
    48 2.2.1.3. Trình độ của phụ nữ trong độ tuổi lao động * Nữ công nhân viên chức: Theo số liệu thống kê của Liên đoàn lao động huyện năm 2008, số nữ công nhân viên chức do huyện quản lý là 1.613 chị (chiếm 74% tổng số công nhân viên chức). Trong đó, 130 chị có trình độ văn hoá cấp 2, 1.483 chị có trình độ văn hoá cấp 3 và 1.169 chị có trình độ cao đẳng, đại học (chiếm 72% tổng số nữ công nhân viên chức, bằng 54% tổng số công nhân viên chức); có 102 chị giữ chức hiệu trƣởng, hiệu phó các trƣờng, 11 chị là bí thƣ, chủ tịch các xã, thị trấn [37]. *Nữ cán bộ các hội đoàn thể cơ sở: Bảng 2.8. Trình độ của cán bộ hội đoàn thể nhiệm kỳ 2006-2011 Tổng Trình độ Đoàn thể cán Văn hoá Chuyên môn Chính trị bộ nữ cấp1 cấp2 cấp3 S.cấp T.cấp CĐ, ĐH S.cấp T.cấp Hội phụ nữ 790 83 227 480 25 11 7 9 19 Hội nông dân 249 36 118 95 13 8 1 4 12 Đoàn TN 118 42 57 19 6 5 1 5 Cộng 1.157 161 402 594 44 24 8 14 36 Nguồn: Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên huyện Đây là lực lƣợng quan trọng để lĩnh hội các kiến thức về tuyên truyền chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, triển khai các chƣơng trình phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng gia đình no ấn, bình đẳng tiến bộ… tới toàn thể các hội viên trong tổ chức hội trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, qua bảng trên cho thấy trình độ học vấn, chuyên môn, chính trị của cán bộ hội rất thấp. Trong 1.157 cán bộ từ cấp chi hội đến cấp xã, chỉ có 75 ngƣời Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 57.
    49 chiếm 6,4% cótrình độ chuyên môn, 50 ngƣời có trình độ lý luận chính trị sơ cấp, trung cấp chiếm 4,3%. Vì vậy, để các chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về phát triển kinh tế đi vào cuộc sống, trƣớc hết phải quan tâm đào tạo nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở. *Lao động nữ nông thôn: Với số lƣợng đông đảo trong lực lƣợng lao động ở khu vực nông thôn (30.279 ngƣời năm 2008) nhƣng trình độ văn hoá, chuyên môn của lao động nữ thấp. Qua biểu đồ 2.6 ta thấy, số lao động nữ chƣa tốt nghiệp tiểu học là 9,56%, tốt nghiệp cấp 1 là 37,21%, tốt nghiệp cấp 2 là 39,89%, cấp 3 là 13,34%. Số lao động nữ chƣa qua một lớp đào tạo nghề là 26.856 ngƣời, chiếm tới 88,69 %, chỉ có 3.423 ngƣời có trình độ sơ cấp hoạc chứng chỉ nghề trở lên. Do hạn chế về nhận thức và trình độ nên lao động nữ nông thôn đang gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập cho gia đình. Vì vậy, các cấp, các ngành huyện Phú Lƣơng cần có chính sách ƣu tiên đào tạo, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn cho lao động nông thôn đặc biệt là lao động nữ. Biểu đồ 2.6. Trình độ văn hoá của lao động nữ huyện Phú Lƣơng năm 2008 Trình độ vănchưa tốt nghiệp cấp 1 cấp 1nghiệp cấp 2nghiệp cấp 3 hoá Tốt nghiệp Tốt Tốt 2896 11267 12078 4038 13,34% 9,56% chưa tốt nghiệp cấp 1 Tốt nghiệp cấp 1 Tốt nghiệp cấp 2 37,21% 39,89% Tốt nghiệp cấp 3 Nguồn: Phòng LĐ-TBXH huyện năm 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 58.
    50 2.2.1.4. Phụ nữ trong cơ cấu các ngành nghề của huyện Phú Lương Do đặc điểm riêng của ngƣời phụ nữ là chịu khó, kiên trì, khéo léo vì vậy rất thích hợp với các ngành nghề nhƣ trồng trọt, chăn nuôi…(chiếm 70,32%). Trong khi đó nữ tham gia ngành công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 9,69% do ngành này lại đòi hỏi phải có sức khoẻ và làm việc xa nhà, còn lại 19,99% lao động nữ tham gia vào ngành dịch vụ. Nhƣ vậy, lực lƣợng lao động nữ tập trung chủ yếu trong ngành nông, lâm nghiệp. Do đó muốn nâng cao hiệu quả sản xuất của ngành này, cần quan tâm giải quyết vấn đề liên quan đến lực lƣợng lao động nói chung, lao động nữ nói riêng. Đó là các vấn đề: nâng cao năng lực trong sản xuất, năng lực trong quản lý hộ gia đình [54]. 2.2.1.5. Phụ nữ tham gia các công tác xây dựng Đảng, chính quyền Cùng với sự tham gia đông đảo trong các ngành kinh tế để trực tiếp tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, phụ nữ huyện Phú Lƣơng còn tham gia vào các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể địa phƣơng qua đó đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng các nghị quyết, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội an ninh quốc phòng. Trong đầu nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ huyện Phú Lƣơng khoá XXI (2005-2010), số cán bộ nữ là uỷ viên Ban chấp hành Đảng bộ huyện là 6 đồng chí, chiếm 17,14% tổng số uỷ viên, trong đó có 3 đồng chí là uỷ viên Ban thƣờng vụ, chiếm 27%. Đối với cấp xã, thị trấn, tổng số uỷ viên ban chấp hành là 42 đồng chí, chiếm 21,21%. Đơn vị có tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ cơ sở cao nhất là xã Sơn Cẩm (33,33%), tiếp đến là thị trấn Đu (30,77%), thấp nhất là xã Vô Tranh (7,09%). Hầu hết các đồng chí tham gia cấp uỷ 2 cấp đều có độ tuổi từ 31-50 tuổi, chỉ có 3 đồng chí tuổi dƣới 30 và 1 đồng chí tuổi trên 50. Qua số liệu thống kê tại mục 2.2.1.3 ta còn nhận thấy, tỷ lệ cán bộ nữ có trình độ văn hoá cấp 3 chiếm tới 91%, trình độ chuyên môn cao đẳng, đại học chiếm 72%. Đây là điều kiện thuận lợi để cán bộ nữ tiếp thu kiến thức mới, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao vai trò của mình trong xây dựng địa phƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 59.
    51 Bảng 2.9. Phụ nữ tham gia cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2005-2010 Chuyên Tỷ Độ tuổi Văn hoá Dân môn Đơn vị lệ tộc dƣới 31- trên CĐ, (%) C2 C3 TC 30t 50t 50t ĐH 3 5 1 6 6 I-Cấp huyện 17,14 15 3 38 1 4 38 6 18 II-Cấp xã,TT 21,21 Sơn cẩm 33,33 5 5 3 Cổ Lũng 20,00 1 3 3 1 Giang Tiên 22,22 2 2 1 1 Vô Tranh 7,69 1 1 1 Tức Tranh 15,38 2 2 1 Phú Đô 9,09 1 1 Yên Lạc 15,38 1 2 2 1 1 Yên Đổ 18,18 2 1 1 1 Yên Ninh 18,18 2 2 2 1 1 Yên Trạch 27,27 1 3 3 1 Động Đạt 20,00 1 3 3 1 Phấn Mễ 20,00 3 3 1 1 TT. Đu 30,77 2 2 4 1 Phủ Lý 27,27 2 1 3 4 Hợp Thành 27,27 3 3 3 1 Ôn Lƣơng 27,27 2 3 3 1 Nguồn: Ban vì sự tiến bộ phụ nữ huyện năm 2005 Qua các nhiệm kỳ của hội đồng nhân dân, tỷ lệ nữ là đại biểu ngày càng tăng về số lƣợng và chất lƣợng. Nhiệm kỳ 2004-2009, số nữ đại biểu cấp huyện là 15 đồng chí, chiếm 37,5%, cao nhất trong toàn tỉnh và cao hơn so với bình quân của cả nƣớc 15%. Số đại biểu cấp xã là 103 đồng chí, chiếm 22,68%, cao hơn mức bình quân chung của toàn quốc 3,18%. Đây là kết quả bƣớc đầu của sự phấn đấu, nỗ lực của bản thân các cán bộ nữ, sự quan tâm tạo điều kiện của cấp uỷ, chính quyền địa phƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 60.
    52 Biểu 2.7. Phụ nữ là đại biểu hội đồng nhân dân 2 cấp nhiệm kỳ 2004- 2009 nữ nam Cấp huyện 15 25 400 Cấp xã 103 351 300 đại biểu 200 100 . 0 Cấp huyện Cấp xã nữ 15 103 nam 25 351 cấp quản lý Nguồn: Ban vì sự tiến bộ phụ nữ huyện năm 2004 Bên cạch việc tham gia vào cấp uỷ, hội đồng nhân dân các cấp, phụ nữ huyện Phú Lƣơng còn giữ các trọng trách khác trong bộ máy chính quyền, đoàn thể. Tính đến năm 2008, có 01 đồng chí trƣởng ban đảng huyện, 01 đồng chí là phó chủ tịch huyện, 01 đồng chí là chủ tịch uỷ ban nhân dân xã, 13 đồng chí là trƣởng, phó các ban, ngành, đoàn thể trong huyện. Mặc dù số số lƣợng và tỷ lệ nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của huyện ngày một tăng, nhƣng nếu so với nam giới thì các con số trên là khiêm tốn. Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ chuyên môn, năng lực về mọi mặt của cán bộ nữ còn hạn chế. Họ chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu công việc, đặc biệt đối với lĩnh vực kỹ thuật. Nếu nữ giữ vai trò lãnh đạo thì chủ yếu là cấp phó và phụ trách về mảng văn hoá xã hội. 2.2.1.6. Mức độ kinh tế của các hộ khu vực nông thôn Với cơ sở hạ tầng của huyện đƣợc quan tâm đầu tƣ, cải thiện qua các năm, đời sống của ngƣời dân không ngừng đƣợc cải thiện. Hàng năm, tạo việc làm mới cho khoảng 1.500 lao động, trong đó xuất khẩu khoảng 200 lao động đi các thị trƣờng Đài Loan, Hàn Quốc, Malayxia... và lao động tại các khu công nghiệp trong nƣớc. Thu nhập bình quân đầu ngƣời năm 2006 là 7,0 triệu/ngƣời/năm đã tăng lên 8,2 triệu/ngƣời/năm vào năm 2008. Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Phú Lƣơng mặc dù vẫn cao so với các huyện khác trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 61.
    53 tỉnh, chiếm tới23,55% ở khu vực nông thôn (năm 2008) những đã giảm đáng kể so với năm 2006. Thu nhập bình quân/ngƣời/tháng cũng đã tăng qua các năm. Bên cạnh đó thì chênh lệnh về thu nhập giữa các nhóm hộ cũng ngày một lớn. Nếu trong năm 2006, thu nhập bình quân của một ngƣời trong nhóm hộ khá là 1.021.600 đồng đến năm 2008 đã tăng lên mức 1.219.200 đồng, trong khi ở nhóm hộ nghèo chỉ tăng có đồng. Đây cũng chính là vấn đề bất bình đẳng trong xã hội về thu nhập. Mức sống của đại đa số gia đình ở Phú Lƣơng chỉ ở mức trung bình, tỷ lệ hộ có thu nhập khá còn thấp, tỷ lệ tăng rất chậm qua các năm. Điều này dễ dàng giải thích vì phần lớn thu nhập của các hộ gia đình nói riêng và GDP của huyện Phú Lƣơng nói chung là từ sản xuất nông, lâm nghiệp. Bảng 2.10. Phân loại hộ khu vực nông thôn huyện Phú Lƣơng theo chuẩn mới và mức sống dân cƣ giai đoạn 2006- 2008 Toàn huyện Thu nhập bình Loại hộ Số lƣợng Tỷ lệ hộ quân/khẩu/tháng (hộ) (%) ( VN đồng) 1.Tổng số hộ 2006 23.237 100,00 583.396 Hộ khá 3.323 14,30 1.021.600 Hộ trung bình 12.863 55,35 671.210 Hộ nghèo * 7.051 30,35 148.200 2.Tổng số hộ 2007 23.993 100,00 600.063 Hộ khá 3.526 15,62 1.022.120 Hộ trung bình 14.575 59,53 672.100 Hộ nghèo 6.475 24,85 149.360 3.Tổng số hộ 2008 25.016 100,00 683.342 Hộ khá 3.978 15,90 1.219.200 Hộ trung bình 15.146 60,55 733.510 Hộ nghèo 5.892 23,55 158.460 (* Tỷ lệ hộ nghèo tính theo quy định tại Quyết định số170/2005/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ) Nguồn: Phòng LĐ-TBXH huyện năm 2006, 2007, 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 62.
    54 2.2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ trong các hộ nghiên cứu 2.2.2.1. Vai trò trong tham gia công tác xã hội Những năm gần đây phụ nữ Phú Lƣơng tích cực tham gia các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể địa phƣơng. Tại các xã thuộc vùng nghiên cứu, có tới 20% đến 27,27% phụ nữ tham gia cấp uỷ xã, trên 25% phụ nữ là đại biểu hội đồng nhân dân xã. Trong đó có 01 chị là chủ tịch hội đồng nhân dân, 01 chị là thƣờng trực đảng. Các tổ chức đoàn thể có tỷ lệ nữ tham gia từ 23,52% đến 41,17%. Tuy vậy, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ tham gia công tác chính quyền còn thấp, chƣa tƣơng xứng với lực lƣợng nữ ở địa phƣơng. Cả 3 xã không có phụ nữ giữ chức chủ tịch, phó chủ tịch xã, trƣởng xóm chỉ có cao nhất là 8,69% phụ nữ tham gia. Bảng 2.11. Phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể tại các xã vùng nghiên cứu Xã Ôn Lƣơng Xã Yên Trạch Xã Cổ Lũng Các chức danh Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ ngƣời (%) ngƣời (%) ngƣời (%) Cấp uỷ xã 3 27,27 3 27,27 3 20,00 Hội đồng nhân dân xã 6 25,00 7 25,00 8 25,81 Ban chấp hành Đoàn TN 4 36,36 6 40,00 7 41,17 Ban chấp hành Hội nông dân 5 38,46 4 23,52 6 35,29 Trƣởng xóm 0 0 2 8,69 1 3,84 Bí thƣ chi bộ 1 11,11 5 19,23 5 21,73 Nguồn: Ban thống kê xã Yên Trạch, Ôn Lương, Cổ Lũng năm 2008 Phụ nữ tham gia hoạt động cộng đồng, hoạt động xã hội ít hơn nam giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tham gia các hoạt động công đồng nam giới thực hiện là chính, phụ nữ đóng góp ít quan trọng hơn, thể hiện ở chỗ: khi tham dự các buổi họp xóm chỉ có trên 22,7 % đến 25,8% phụ nữ tham gia (thấp hơn nam giới gần 2 lần), khi tham gia vào các vị trí lãnh đạo ở cộng đồng chỉ có trên 13,6% đến 19,4% tỷ lệ nữ tham gia (thấp hơn nam trên 3 lần). Việc phụ nữ tham gia hoạt động cộng đồng với tỷ lệ thấp hơn nam giới, là thiệt thòi lớn đối với chính bản thân họ trong việc tiếp cận thông tin diễn ra hàng ngày trên địa bàn cƣ trú, chia sẻ với những ngƣời xung quanh về Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 63.
    55 công việc làmăn và những vấn đề khác. Đồng thời họ cũng ít có điều kiện để thể hiện khả năng, tiếng nói của mình trong các hoạt động chung của cộng đồng dân cƣ, góp phần đƣa ra những quyết định về những vấn đề liên quan đến cộng đồng. Hiện tƣợng “nữ làm- nam học” cũng là một trong những nguyên nhân khiến công việc của phụ nữ vất vả và tốn nhiều thời gian hơn. Bảng 2.12. Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động cộng đồng ở các điểm nghiên cứu Ngƣời thực hiện (%) Xã Ôn Lƣơng Xã Yên Trạch Xã Cổ Lũng Các hoạt động Cả Cả Cả Vợ Chồng Vợ Chồng Vợ Chồng hai hai hai Họp xóm 22,7 43,2 34,1 25,0 46,67 28,3 25,8 46,8 27,4 Sinh hoạt đoàn thể 27,3 38,6 34,1 26,7 43,33 30,0 30,6 40,3 29,0 Tham gia lãnh đạo chi bộ, xóm, các 13,6 52,3 34,1 16,7 51,7 31,7 19,4 48,4 32,3 đoàn thể ở xóm Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008 2.2.2.2. Vai trò của phụ nữ trong quản lý và điều hành sản xuất Phụ nữ có vai trò hết sức quan trọng đối với mọi hoạt động trong hộ gia đình. Để xem xét vai trò của phụ nữ trong quản lý hộ và việc điều hành sản xuất, chúng tôi phân chia các tiêu chí đánh giá theo mức độ kinh tế của các hộ ở 3 vùng nghiên cứu. Kết quả đƣợc tổng hợp và trình bày trong bảng số liệu dƣới đây. Qua số liệu nghiên cứu bảng 2.13 cho thấy tỷ lệ nữ làm chủ hộ ở cả 3 vùng đều chiếm tỷ lệ nhỏ so với nam giới, tỷ lệ này có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm hộ có mức thu nhập khác nhau. Tỷ lệ nữ tham gia quản lý hộ và điều hành sản xuất chiếm tỷ lệ cao hơn ở các hộ có thu nhập khá, tiếp đến là hộ trung bình và thấp nhất ở các hộ nghèo. Qua đây, ta thấy có sự ảnh hƣởng của mức thu nhập tới vai trò của phụ nữ trong quản lý điều hành sản xuất của hộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 64.
    56 Bảng 2.13. Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý hộ (n= 166) Xã Ôn Lƣơng Xã Yên trạch Xã Cổ Lũng Tiêu chí Khá TB Nghèo Khá TB Nghèo Khá TB Nghèo 1.Hộ không có phụ nữ tham gia công tác xã hội (n=166): Tỷ lệ nữ làm chủ hộ 20,5 15,9 13,6 15,0 13,3 11,7 25,8 22,6 16,1 Tỷ lệ nữ tham gia quản lý điều hành 44,7 37,7 31,9 25,6 21,4 19,8 47,3 36,1 32,1 sản xuất 2.Hộ có phụ nữ tham gia công tác xã hội (n=166): Tỷ lệ nữ làm chủ hộ 25,0 20,5 16,7 15,0 15,0 27,4 24,2 25,0 Tỷ lệ nữ tham gia quản lý điều hành 46,1 39,2 25,6 22,8 23,2 48,3 39,4 sản xuất Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008 Cũng qua bảng số liệu trên cho thấy mặc dù ngƣời phụ nữ có vai trò quan trọng trong công việc gia đình và tham gia quản lý sản xuất nhƣng do phong tục tập quán, quan niệm và do nhận thức của ngƣời dân nên việc ra quyết định cuối cùng trong gia đình chủ yếu là ngƣời chồng. Vấn đề này phổ biến trong các hộ gia đình nông thôn, tuy vậy có sự khác biệt về tỷ lệ giữa các vùng, giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các dân tộc, giữa các nhóm tuổi. Cụ thể, số liệu trong bảng trên cho ta thấy các vùng khác nhau có tỷ lệ phụ nữ tham gia điều hành sản xuất cũng nhƣ làm chủ hộ khác nhau. Ở Yên Trạch, vùng cao phía Bắc của huyện, nơi tập trung tới 80% là đồng bào là ngƣời dân tộc Tày, Nùng, có tỷ lệ nữ làm chủ hộ thấp hơn so với các vùng khác, còn ở xã Cổ Lũng, gần tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên trung tâm kinh tế- văn hoá lớn nhất của tỉnh, có tỷ lệ nữ làm chủ hộ cao. Ta cũng thấy rõ sự khác biệt giữa hộ có phụ nữ tham gia hoạt động xã hội với nhóm hộ nông dân không có phụ nữ tham gia hoạt động xã hội. Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và quản lý điều hành sản xuất của hộ có phụ nữ tham gia công tác xã hội cao hơn các hộ nông dân khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 65.
    57 2.2.2.3. Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập Trong cuộc sống hàng ngày của các gia đình thì ngƣời phụ nữ và nam giới đều tham gia các hoạt động sản xuất để tạo thu nhập. Các hoạt động tạo thu nhập các hộ phong phú và đa dạng, ở mỗi loại hộ khác nhau đều có ít nhất 02 hoạt động tạo thu nhập, hộ nông dân chủ yếu vẫn là sản xuất nông, lâm nghiệp, chăn nuôi, ngoài ra một số hộ còn hoạt động dịch vụ trong nông nghiệp, làm thuê... Trong 3 xã nghiên cứu thì nam giới thƣờng làm những công việc nặng nhƣ cày bừa, phun thuốc, phát cây, dọn đồi, khai thác gỗ... còn phụ nữ ngoài các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình nhƣ nhổ mạ, cấy, hái, chăm sóc, thu hoạch và bán các sản phẩm. Đối với các công việc chăn nuôi gia súc ngƣời phụ nữ đảm nhận công việc nhƣ chọn giống, chăm sóc... Sự bình đẳng trong công việc gia đình cũng nhƣ trong các hoạt động sản xuất có thể thấy rõ qua các công việc mà ngƣời phụ nữ và ngƣời đàn ông đảm nhận. Ta cũng nhận thấy sự đóng góp của phụ nữ trong sản xuất là rất lớn song sự đóng góp đó thƣờng không đƣợc đánh giá ngang bằng với nam giới. Qua số liệu điều tra ta có thể thấy rõ đƣợc sự phân công lao động trong ba tiểu vùng trong huyện có sự khác nhau. Ở cụm xã phía Bắc, có điều kiện kinh tế khó khăn, các công việc nhƣ làm đất, phun thuốc, bón phân, gặt lúa, sao chè… phụ nữ vẫn đảm nhiệm với tỷ lệ cao, ít sử dụng các dịch vụ thuê ngoài, mọi hoạt động sản xuất hầu nhƣ lao động trong gia đình tự đảm nhiệm. Ở cụm xã phía Nam, do có điều kiện kinh tế phát triển hơn, khả năng tiếp cận thông tin dễ hơn nên trong công việc lao động nữ đƣợc sử dụng một cách đúng mức, giải phóng sức lao động của phụ nữ, thay vì làm những công việc nặng nhọc, phụ nữ tham gia các công việc ít tiêu hao nhiều sức lực. Những công việc nặng nhọc, vất vả trong quá trình sản xuất đều đƣợc thuê ngoài nhƣ làm đất, tuốt lúa, sao chè…những công việc cần đảm bảo thời gian của mùa vụ nhƣ gặt lúa, hái chè…cũng đƣợc đổi công hoặc đi thuê ngƣời khác làm (ngƣời đƣợc thuê chủ yếu là nam giới). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 66.
    Bảng 2.14. Phâncông lao động sản xuất nông nghiệp trong các hộ ở các điểm nghiên cứu năm 2008 Ngƣời làm chính (%) Xã Ôn Lƣơng (n=44) Xã Yên Trạch (n=60) Xã Cổ Lũng (n=62) Loại công việc Cả Ngƣời Cả Ngƣời Cả Ngƣời Chồng Vợ khác Chồng Vợ khác Chồng Vợ khác hai hai hai 1.Trồng lúa: -Làm đất ( cày, bừa) 51,3 11,6 16,6 20,5 53,3 23,3 10,0 13,3 46,8 11,3 14,5 27,4 - Gieo mạ, cấy 11,4 45,3 21,5 21,8 11,7 51,7 23,3 15,0 12,9 43,5 22,2 21,4 - Bón phân 15,9 36,4 43,2 4,5 15,0 42,7 37,3 5,0 16,1 35,5 40,3 8,1 - Làm cỏ, phun thuốc 22,7 59,1 11,4 6,8 21,7 60,0 11,7 6,6 21 45,2 17,7 16,1 - Gặt 4,5 11,4 52,3 31,8 5,0 13,3 53,3 28,4 4,8 9,7 54,2 31,3 - Tuốt 8,3 6,8 27,3 57,6 5,0 8,3 38,3 48,4 6,5 6,5 25,7 61,3 - Phơi 15,9 47,7 34,1 2,3 15,0 50 33,3 1,7 16,1 48,4 33,9 1,6 2. Trồng màu: - Làm đất 56,8 11,4 13,6 18,2 56,7 21,7 8,3 13,3 57,4 11,3 12,9 18,4 - Gieo hạt, trồng cây 22,7 47,7 25 4,6 23,3 50 23,3 3,4 24,2 48,4 24,2 3,2 - Bón phân 27,3 29,5 34,1 9,1 28,3 33,3 31,7 6,7 27,4 29 34,1 9,5 - Phun thuốc 47,7 18,2 13,6 20,5 48,3 21,7 11,7 18,3 48,4 17,7 12,9 21 - Thu hoạch 11,4 18,2 61,3 9,1 11,7 26,7 56,1 5,5 11,3 18,7 61,9 8,1 3. Trồng chè - Bón phân 31,8 36,4 22,7 9,1 32,7 38,3 22,3 6,7 27,4 34,5 28,4 9,7 - Phun thuốc 43,2 20,1 25,3 11,4 43,3 22,7 24,0 10,0 46,7 17,7 19,3 16,3 - Tƣới nƣớc 52,3 15,7 27,5 4,5 51,7 35 10,0 3,3 50,6 16,1 25,2 8,1 - Hái chè 6,8 45,7 9,1 38,4 8,3 51,7 16,7 23,3 7,3 43,5 9,7 39,5 - Sao, vò chè 13,6 22,7 38,4 25,3 13,3 41,7 26,7 18,3 12,9 21,2 36,9 29 - Đi bán 6,8 68,2 6,8 18,2 6,7 65,0 15,0 13,3 19,4 44,4 17,7 18,5 4.Chăn nuôi: - Lấy ( mua) thức ăn 31,8 38,6 22,7 6,9 28,3 40,0 26,7 5,0 35,4 37,1 21,0 6,5 - Chăm sóc 9,1 43,2 40,9 6,8 10 43,3 41,7 5,0 11,3 41,9 40,3 6,5 - Đi bán 11,4 13,6 9,1 65,9 11,7 15,0 10,0 63,3 8,1 11,3 3,2 77,4 Nguồn:Tổng hợp từ phiếu điêu tra hộ năm 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 67.
    Bảng 2.15. Phâncông lao động trong hoạt động khác ở 3 cụm xã vùng nghiên cứu Ngƣời làm chính (%) Chồng Vợ TT Loại công việc Hộ Hộ Hộ Hộ Hộ Hộ khá T TB nghèo khá TB nghèo 1 Hoạt động dịch vụ (n= 32) - Chọn mặt hàng để bán 15,6 15,6 56,3 56,3 - Đi mua, chở về 25,0 21,9 34,4 37,5 - Bán hàng 12,5 15,6 53,1 53,1 - Ghi sổ, quản lý bán hàng 12,5 9,4 50,0 53,1 - Trả nợ, đòi nợ 9,4 12,5 59,4 56,3 2 Hoạt động tiểu thủ CN mây tre đan, mành cọ (n=96) - Lấy, mua nguyên liệu 47,9 46,9 45,8 26,0 28,1 29,2 - Chẻ, vuốt nan 12,5 15,6 13,5 52,1 56,3 57,3 - Đan, dệt 11,5 14,6 10,4 51,0 55,2 60,4 - Sấy 37,5 35,4 34,4 38,5 39,6 42,7 - Chở đi bán 16,7 14,6 12,5 14,6 17,7 18,8 3 Hoạt động lâm nghiệp (n=96) 0,0 -Phát cây, dọn đồi, đốt 54,2 54,2 61,5 18,8 19,8 21,9 - Đào hố, trồng cây 37,5 38,5 42,7 17,7 18,8 19,8 - Chăm sóc rừng 51,0 56,3 57,3 12,5 15,6 17,7 - Lấy măng, sản phẩm phụ khác 32,3 34,4 35,4 45,8 44,8 44,8 - Khai thác gỗ, bán 39,6 41,7 46,9 11,5 15,6 19,8 4 Hoạt động tái sản xuất(n=166) - Mua sắm, xây dựng, sửa chữa 45,2 43,4 44,0 31,9 31,9 17,5 - Lấy củi đun 24,7 23,5 18,7 45,8 47,0 47,0 - Chăm sóc sức khoẻ gia đình 28,9 27,1 27,1 48,8 42,8 44,0 - Dạy con học 34,9 33,7 31,9 39,2 32,5 31,3 - Nội trợ:nấu cơm, giặt… 21,1 21,7 18,1 66,9 62,7 71,1 2 Hoạt động cộng đồng (n=166) - Tham gia họp xóm 50,6 51,2 46,4 36,1 36,7 32,5 - Dự tuyên truyền CS, Pluật 52,4 56,0 44,0 21,1 20,5 18,1 - Dự đám hiếu, hỷ, lễ 59,6 57,8 51,2 16,9 16,9 15,1 - Là hội viên đoàn thể 38,6 45,2 46,4 34,9 35,5 38,6 - Lao động công ích 16,3 18,7 17,5 42,2 44,0 45,8 Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 68.
    60 Để thấy rõ hơn sự phân công lao động ngoài sản xuất nông nghiệp trong các hộ nông dân, chúng tôi tổng hợp và đánh giá trong các nhóm hộ. Các hộ tham gia hoạt động dịch vụ trong nông nghiệp thuộc nhóm hộ khá và trung bình, họ có vốn để nhập hàng và bán chịu cho ngƣời dân trong vùng, điều này các hộ nghèo không thể thực hiện đƣợc, hơn nữa các hộ này có điều kiện thuận lợi về địa điểm, thƣờng có nhà nằm dọc quốc lộ 3, ở các trung tâm thị tứ của ba tiểu vùng. Qua bảng trên cho thấy, trong hoạt động dịch vụ, ngƣời vợ tham gia phần lớn ở tất cả các khâu từ chọn mặt hàng để bán (trên 56%), bán hàng và quản lý sổ sách (trên 50%), họ tham gia nhiều nhất ở khâu trả nợ và đòi nợ khách hàng, đây là công việc đòi hỏi sự kiên trì, khéo léo, mềm dẻo (chiếm gần 60%). Ngƣời chồng cũng tham gia vào hoạt động này nhƣng với tỷ lệ thấp ( 9%- 25%), chủ yếu là đi chở hàng về để bán hoặc chở hàng đến tận nhà giao cho khách, hoặc phụ giúp bán hàng những lúc vợ bận công việc khác. Tỷ lệ còn lại là do các thành viên khác trong gia đình thực hiện hoặc đi thuê ngoài. Ta cũng nhận thấy, trong vùng nghiên cứu phát triển một loại ngành nghề mới mây, tre đan, mành cọ, chủ yếu thuộc cụm xã phía Bắc và cụm xã Trung tâm, nơi có nguồn nguyên liệu mây, tre, cọ… sẵn có chƣa đƣợc khai thác hết tiềm năng. Trong ngành tiểu thủ công nghiệp này, ngƣời vợ cũng là lao động chủ yếu, họ tham gia nhiều nhất công việc chẻ, vuốt nan, đan, dệt mành (đều trên 51%), ngƣời chồng tham gia lấy nguyên vật liệu và sấy sản phẩm. Các hộ ít phải mang sản phẩm đi bán vì sản xuất theo đơn đặt hàng của các công ty thủ công mỹ nghệ Hà Tây, hoặc qua các hội đoàn thể, trung tâm dạy nghề huyện. Chỉ có một lĩnh vực sản xuất trong các nông hộ nam giới tham gia nhiều nhất, nhiều hơn nữ giới, đó là hoạt động lâm nghiệp. Trên 50% ngƣời chồng trong các hộ điều tra thực hiện việc phát, dọn đồi, chăm sóc rừng, trong khi ngƣời vợ chỉ tham gia trên 18%. Trong vùng nghiên cứu, các hộ gia đình còn có hoạt động tạo thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp, đó là làm thuê trong vùng nhƣ: đào đất, xây dựng, khai thác quặng, đóng gạch, bốc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 69.
    61 vác…và đi làmthuê tại các khu công nghiệp ngoài tỉnh, việc này thƣờng do các con trong gia đình tham gia. Qua bảng trên ta thấy rõ, giữa nam và nữ có sự không công bằng trong việc tham gia các hoạt động cộng đồng. Trên 46,4% ngƣời chồng tham gia các buổi họp xóm, nghe tuyên truyền kiến thức về chính sách, pháp luật. Điều này càng làm tăng thêm khoảng cách về nhận thức, hiểu biết xã hội giữa nam và nữ. Trong khi đó, công việc rất quan trọng là nuôi dạy con cái lại chủ yếu do ngƣời vợ đảm nhận (chiếm 39,2 % ở hộ khá, 32,5 % ở trung bình và 31,3% ở hộ nghèo), và công việc sản xuất nông nghiệp cũng có tỷ lệ nữ tham gia rất cao ở tất cả các khâu. Nhƣ vậy sẽ thật khó khăn để áp dụng tiến bộ về khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nông lâm nghiệp nhằm tăng năng xuất, sản lƣợng cây con. Khi phụ nữ có trình độ thấp, phần lớn thời gian họ giành cho các hoạt động sản xuất, đó họ có rất ít thời gian để chăm sóc sức khoẻ cho con cái và cho chính bản thân. Ta cũng thấy rằng, việc tham dự các đám hiếu, hỷ, lễ hội… chủ yếu vẫn là nam giới, phụ nữ tham gia công việc này rất thấp chỉ trên 15%, cũng nhƣ vậy phụ nữ ít tham gia các tổ chức hội đoàn thể hơn nam giới. Một lần nữa khẳng định rằng phụ nữ ít có cơ hội hơn để nâng cao hiểu biết và mở rộng mối quan hệ xã hội hơn nam giới. Nhƣng trong lao động công ích, lao động chiến dịch diễn tập chiến đấu bảo về trị an (ZT) để vệ sinh môi trƣờng, dọn kênh mƣơng, đào rãnh, phụ nữ rất hăng hái và tự nguyện tham gia (trên 42%), qua đó họ vận động gia đình và bà con lối xóm giữ vệ sinh chung và bảo vệ tài sản, môi trƣờng sống xung quanh. Đây là một ƣu điểm lớn về khía cạnh xã hội, cộng đồng, nếu biết phát huy sẽ nâng cao hơn vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng. Qua biểu đồ 2.8 thêm một lần nữa khẳng định rằng thời gian phụ nữ lao động sản xuất để tạo thu nhập cho hộ gia đình rất cao, chiếm tới 39,67% nhƣng họ vẫn phải thực hiện trách nhiệm làm công việc nội trợ, nấu ăn, giặt quần áo, dọn dẹp nhà cửa (8,75%) là một đòi hỏi hàng ngày đối với phụ nữ trong gia đình nhƣ nhà nghiên cứu Jashandai đã khẳng định “bất luận chủ hộ là nam hay nữ, phụ nữ đều phải làm nội trợ gấp 2 lần so với nam giới”, công việc lấy củi làm chất đốt (4,67%), chăm sóc sức khoẻ cho bố mẹ già, con nhỏ (6,38%) và dạy con học (5,92%), nhƣng họ vẫn giành thời gian ít ỏi để tham gia sinh hoạt hội đoàn thể, tham gia các hoạt động cộng đồng. Vì thế, thời Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 70.
    62 gian ngủ, nghỉđể tái sản xuất sức lao động cho phụ nữ giảm đi nhất là trong nhƣng thời điểm khẩn trƣơng của mùa vụ, làm ảnh hƣởng không nhỏ tới sức khoẻ của phụ nữ. Nếu phụ nữ muốn có thời gian để thăm hỏi, giao lƣu bạn bè hoặc tham dự các lớp học, các buổi tập huấn nâng cao kiến thức về mọi mặt thì rất cần có đƣợc sự chia sẻ công việc nội trợ, chăm sóc con cái từ các thành viên khác trong gia đình, trƣớc hết là ngƣời chồng. Biểu đồ 2.8. Tình hình sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ vùng nghiên cứu trong một năm Số giờ trung bình Công việc Số giờ trung bình - Công việc tạo thu nhập 3427,2 - Công việc tạo thu nhập - Công việc nội trợ 756,00 - Công việc nội trợ - Lấy củi đun 403,2 30,04% - Lấy củi đun - Chăm sóc sức khoẻ 550,8 39,67% - Dạy con học 511,2 - Chăm sóc sức khoẻ -Công tác xã hội 234,0 - Dạy con học - Vui chơi, thăm bạn bè 162,0 -Công tác xã hội -Thời gian ngủ, nghỉ 2595,6 1,88% - Vui chơi, thăm bạn bè -Thời gian ngủ, nghỉ 8,75% 2,71% 5,92% 6,38% 4,67% Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008 2.2.2.4. Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận khoa học kỹ thuật Trong việc tiếp cận các kênh thông tin, nam giới thƣờng đi hội họp, nghe đài, xem ti vi, đọc báo… còn phụ nữ đảm nhiệm công việc đồng áng, nội trợ, chăm sóc sức khoẻ cho các thành viên trong gia đình. Họ nắm bắt kiến thức chủ yếu qua các lớp tập huấn do hội phụ nữ tổ chức, qua việc đi chợ mua, bán sản phẩm và qua chính kinh nghiệm mà họ tích luỹ đƣợc trong quá trình lao động. Trong vùng nghiên cứu, phụ nữ thƣờng nắm bắt thông tin qua ngƣời chồng, qua hội đoàn thể, qua họ hàng, qua thông tin khi giao lƣu trên thị trƣờng, qua cán bộ khuyến nông, qua cửa hàng vật tƣ nông nghiệp….hay tích luỹ kinh nghiệm của chính bản thân. Qua các năm, số phụ nữ đƣợc tiếp nhận các thông tin từ cán bộ kỹ thuật khuyến nông và từ hội đoàn thể đã tăng nhƣng vẫn chƣa nhiều và chất lƣợng thông tin chƣa cao, chủ yếu họ nhận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 71.
    63 thông tin từngƣời chồng (52,2%), cửa hàng vật tƣ nông nghiệp (35,9%), qua chợ (42,6%), hay qua kinh nghiệm của bản thân (43,9%). Bảng 2.16. Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ ở điểm nghiên cứu (n=166) Đơn vị tính: % ý kiến Ôn Yên Cổ Bình Nguồn cung cấp thông tin Lƣơng Trạch Lũng quân 1- Từ chồng 50,0 53,3 53,2 52,2 2- Hội phụ nữ, hội nông dân 29,5 18,3 21,0 22,9 3- Họ hàng 27,3 23,3 22,6 24,4 4- Chợ 40,9 46,7 40,3 42,6 5- Cán bộ kỹ thuật khuyến nông 27,3 28,3 30,6 28,8 6- Cửa hàng vật tƣ nông nghiệp 34,1 33,3 40,3 35,9 7- Đài, sách báo 15,9 11,7 14,5 14,0 8- Tự kinh nghiệm bản thân 43,2 48,3 40,3 43,9 Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008 Trong những năm gần đây, thực hiện đề án nâng cao năng lực dạy nghề cho nông dân, Trung tâm dạy nghề huyện đã phối hợp với các hội đoàn thể, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trạm khuyến nông thực hiện đào tạo nghề cho trên 3.500 nông dân, tập huấn kiến thức cho trên 11.000 nông dân về quản lý kinh tế hộ gia đình, kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật trồng rừng, trồng chè…ở lớp đào tạo dài ngày có lồng ghép kiến thức về giới. Trong tổng số nông dân đƣợc đào tạo, tập huấn kiến thức có trên 35% phụ nữ tham dự. Họ tham gia nhiều ở các nội dung về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, trồng chè, còn nam giới tham dự nhiều về các nội dung kỹ thuật trồng rừng, trồng lúa ngô… Đối với các lớp tập huấn về quản lý kinh tế hộ và kiến thức giới thì hầu nhƣ chỉ có phụ nữ tham dự chiếm trên 51,4% [48], nam giới ít tham gia hai nội dung này. Tuy nhiên, sau khi kết thúc các lớp học, việc ứng dụng các kiến thức vào trong quản lý và tổ chức sản xuất chƣa cao. Qua đó, vấn đề cần quan tâm trong việc đƣa kiến thức cho ngƣời dân không chỉ là số lƣợng ngƣời tham dự, số phụ nữ đƣợc tham dự mà đặc biệt quan tâm tới chất lƣợng nội dung đào tạo, tập huấn. Vì vậy phải nâng cao trình độ chuyên môn, hiểu biết thực tế cho cán bộ truyền đạt kiến thức cho ngƣời dân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 72.
    Bảng 2.17. Tỷlệ tiếp cận kiến thức của phụ nữ và nam giới ở các điểm nghiên cứu Đơn Cả 3 xã Xã Ôn Lƣơng Xã Yên Trạch Xã Cổ Lũng Các nội dung tập huấn vị Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ tính (n=281) (n=306) (n=82) (n=90) (n=87) (n=91) (n=112) (n=125) Không tham dự Số ý kiến 158 178 47 53 51 56 60 69 Có tham dự Số ý kiến 123 128 35 37 36 35 52 56 - Quản lý kinh tế hộ % 14,6 53,1 14,3 51,4 11,1 51,4 17,3 57,1 - Kỹ thuật trồng trọt % 56,1 59,4 57,1 59,5 55,6 57,1 57,7 60,7 - Kỹ thuật chăn nuôi % 43,1 45,3 45,7 45,9 41,7 42,9 40,4 42,9 - Phòng trừ dịch hại % 28,5 30,5 28,6 29,7 27,8 31,4 26,9 30,4 - Kỹ thuật trồng rừng % 27,6 21,9 17,1 13,5 52,8 40,0 11,5 10,7 - Kỹ thuật trồng chè % 35,8 57,0 34,3 56,8 36,1 57,1 34,6 57,1 - Lồng ghép kiến thức giới % 4,1 9,4 2,9 10,8 5,6 8,6 3,8 10,7 ( Tỷ lệ % đƣợc tính bằng từng nội dung đƣợc tập huấn trong tổng ý kiến có tham dự tập huấn) Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra năm 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 73.
    2.2.2.5. Vai tròtrong kiểm soát các nguồn lực của hộ * Kiểm soát nguồn lực đất đai: Tuy phụ nữ chịu trách nhiệm chính trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nội trợ nhƣng trong kiểm soát kinh tế hộ vai trò của họ đƣợc đánh giá thấp hơn nam giới. Qua phiếu điều tra cho thấy tỷ lệ nữ trong gia đình đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rất thấp: xã Yên Trạch chiếm 16,67%, xã Ôn Lƣơng chiếm 20,45% và xã Cổ Lũng chiếm 19,35%. Trong khi đó, tỷ lệ nam giới đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng chiếm tới 79,55%. Bảng 2.18. Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Xã Ôn Lƣơng Xã Yên Trạch Xã Cổ Lũng Ngƣời đứng Số lƣợng Tỷ lệ Số lƣợng Tỷ lệ Số lƣợng Tỷ lệ tên (hộ) (%) (hộ) (%) (hộ) (%) 1.Ông 6 13,64 7 11,67 6 9,68 2.Bà 2 4,55 2 3,33 2 3,23 3.Chồng 28 63,64 41 68,33 42 67,74 4. Vợ 6 13,64 6 10,00 9 14,52 5.Con trai 1 2,27 2 3,33 2 3,23 6.Con gái 1 2,27 2 3,33 1 1,61 Tổng cộng 44 100 60 100 62 100 Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008 Thực tế nghiên cứu trong các hộ, nhận thức của các thành viên trong gia đình đều cho rằng việc ngƣời chồng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) là đƣơng nhiên, cả ngƣời vợ và ngƣời chồng đều hài lòng khi ngƣời chồng đứng tên trong sổ đỏ, có trƣờng hợp phụ nữ còn từ chối quyền đứng tên trong sổ đỏ. Chính điều này dẫn tới sự bất công bằng trong việc sở hữu, kiểm soát các nguồn lực đất đai giữa nam giới và phụ nữ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 74.
    66 *Kiểm soát nguồn lực tài chính: Bảng 2.19. Tình hình quản lý tài chính của hộ tại vùng nghiên cứu Đơn vị tính: % Các quyền Xã Ôn Lƣơng Xã Yên Trạch Xã Cổ Lũng 1. Quản lý - Vợ 65,9 68,3 62,9 - Chồng 14,5 13,3 12,6 - Cả hai vợ chồng 19,6 18,4 24,5 2. Quyết định sử dụng - Vợ 16,9 13,5 14,5 - Chồng 61,6 63,8 62,9 - Cả hai vợ chồng 21,5 22,7 22,6 3. Đứng tên vay vốn - Vợ 13,6 11,7 14,5 - Chồng 63,6 68,3 67,7 - Ngƣời khác 22,8 20,0 17,8 4. Trả lãi tiền vay - Vợ 68,5 73,3 71,0 - Chồng 16,9 15,0 14,5 - Ngƣời khác 14,6 11,7 14,5 Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008 Ngƣời vợ đƣợc đánh giá cao hơn trong quản lý tài chính của gia đình với trách nhiệm chi tiêu nhỏ lẻ hàng ngày nhƣng việc quyết định mua sắm, làm công việc lớn lại do ngƣời chồng quyết định. Qua bảng trên ta thấy việc quản lý tài chính của hộ chủ yếu ngƣời vợ thực hiện, chiếm đến 62,9% ở xã Cổ Lũng, 65,9% ở xã Ôn Lƣơng và cao nhất ở xã Yên Trạch là 68,3%. Kết quả điều tra tại các hộ cho thấy trong quá trình ra quyết định sử dụng tài chính, hầu hết đều cho rằng cả vợ và chồng bàn bạc thống nhất nhƣng nếu có sự không đồng thuận thì quyết định cuối cùng thuộc về ngƣời chồng. Đối với hoạt động vay vốn tín dụng, nếu vay bằng tín chấp của các hội đoàn thể thì ngƣời đứng tên vay vốn là phụ nữ, nhƣng nếu vay vốn sản xuất tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện thì đứng tên vay vốn là ngƣời chồng, chiếm trên 63,6% đến 68,3%, ngƣời vợ chỉ đứng tên có 11,7% đến 14,5%. Vì đứng tên trong sở hữu tài sản nhƣ đất đai, xe máy, nông cụ …của hộ là ngƣời chồng. Nhƣng việc trả lãi hàng tháng lại thuộc về ngƣời vợ, có tới 73,3% ngƣời vợ ở xã Yên Trạch thực hiện nhiệm vụ này, 15,0% do ngƣời Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 75.
    67 chồng thực hiện,còn 11,7% là do ông bà, con cái hoặc tổ trƣởng tổ vay vốn thực hiện. Nhƣ vậy, ngƣời vợ trực tiếp quản lý tài chính nhƣ thủ quỹ của gia đình, còn quyền quyết định sử dụng tài chính vào mục đích gì, sử dụng thế nào lại thuộc về ngƣời chồng. 2.2.2.6. Vai trò trong việc nâng cao trình độ Qua điều tra tại các hộ, ta thấy trình độ văn hoá của các thành viên trong gia đình thấp, có sự chênh lệch rõ rệt giữa nam giới và phụ nữ. Tỷ lệ nữ chƣa tốt nghiệp cấp 1 chiếm tới 66,67%, trong khi nam chỉ có 33,33%. Tỷ lệ nữ tốt nghiệp cấp 1 là 41,94%, cấp 2 là 40,00% và giảm xuống chỉ còn 38,10% tốt nghiệp cấp 3. Điều này chứng tỏ có sự bất cân bằng về trình độ dân trí giữa nam và nữ, đặc biệt ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội kém phát triển hơn (nhƣ Yên Trạch) sự chênh lệch đó càng cao. Biểu đồ 2.9. Trình độ văn hoá của nam và nữ trong độ tuổi ở vùng nghiên cứu 70.00 Tỷ lệ nam Tỷ lệ nữ Chƣa tốt nghiệp 60.00 33.33 66.67 Tốt nghiệp cấp 1 50.00 58.06 41.94 Tốt nghiệp cấp 2 60.00 40.00 40.00 Tốt nghiệp cấp 3 61.90 38.10 30.00 20.00 10.00 0.00 Chưa tốt nghiệp Tốt nghiệp cấp 1 Tốt nghiệp cấp 2 Tốt nghiệp cấp 3 Tỷ lệ nam 33.33 58.06 60.00 61.90 Tỷ lệ nữ 66.67 41.94 40.00 38.10 Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008 Kết quả nghiên cứu tại mục 2.2.2.3, đã chỉ nguyên nhân của sự chênh lệch về trình độ văn hoá giữa nam và nữ. Phụ nữ giành hầu hết thời gian cho hoạt động sản xuất tạo thu nhập, công việc nội trợ và chăm sóc các thành viên trong gia đình, nên quỹ thời gian để họ có thể học tập nâng cao trình độ không còn nhiều. Mặt khác, sau ngày làm việc vất vả, họ không còn có nhu cầu học tập, họ lại hài lòng với trình độ của mình và cho rằng không cần thiết phải thay đổi điều đó. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 76.
    68 2.2.2.7- Vai trò trong công tác chăm sóc sức khoẻ gia đình Biểu đồ 2.10. Tỷ lệ ngƣời ốm trong các hộ đƣợc chăm sóc, chữa trị tại nhà ở các vùng nghiên cứu Chồng tự mua mời Vợ tự mua thuốc thuốc về cho Đƣa đến 6,62% bác sỹ Vợ tự mua thuốc về cho uống về cho uống uống trạm xá đến Chồng tự mua thuốc về cho uống 27,10% 42,16% 42,16 24,12 27,1 6,62 100 Đƣa đến trạm xá mời bác sỹ đến 24,12% Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu năm 2008 Ở địa bàn nghiên cứu, ngƣời dân có thói quen tự chăm sóc sức khoẻ , tự điều trị một số bệnh nhƣ viêm họng, cúm, viêm thận, đau dạ dày… cho ngƣời ốm tại nhà, họ chỉ đƣợc đƣa ra trạm xá xã hoặc bệnh viện huyện khi bệnh nặng, vì vậy đã có nhiều trƣờng hợp đáng tiếc xảy ra. Tổng hợp kết quả điều tra trực tiếp 166 hộ, có tới 66,28 % hộ có ý kiến tự mua thuốc ở cửa hàng về nhà cho uống hoặc lên rừng lấy lá cây về đắp, đun nƣớc cho uống (trong đó ngƣời vợ thực hiện nhiệm vụ này chiếm 42,16%, còn ngƣời chồng thực hiện với tỷ lệ 24,12%), chỉ có 27,10% đƣa đến trạm xá khám lấy thuốc, rất ít hộ mời bác sỹ, y tá đến nhà thăm chữa bệnh, chỉ chiếm 6,62% tổng số hộ điều tra. Ngoài việc mua thuốc, lấy thuốc cho ngƣời bệnh uống, thì việc nấu ăn, tắm rửa chăm sóc cho ngƣời ốm yếu do phụ nữ trong gia đình làm là chính. Nhƣng khi ngƣời vợ bị ốm thì thƣờng tự chăm sóc bản thân, trừ khi không thể “gượng dậy” đƣợc thì ngƣời chăm sóc mình mới là chồng và các con. Tỷ lệ thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình ở các hộ rất thấp. Trong các hộ có sử dụng, sự tham gia của nam giới lại thấp hơn nhiều so với nữ. Ở xã Cổ Lũng có 58,06% số hộ đƣợc điều tra có áp dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình thì 30,65% là phụ nữ đặt vòng và uống thuốc tránh thai, chỉ có 6,45% nam giới sử dụng bao cao su. Thấp nhất là xã Yên Trạch, có 51,67% hộ gia đình đƣợc điều tra sử dụng, trong đó nữ chiếm 28,33%, còn nam giới chỉ có 5,001% áp dụng. Có thể khẳng định phụ nữ là ngƣời đảm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 77.
    69 nhiệm chính biệnpháp kế hoạch hoá gia đình (gấp trên 4 lần so với nam giới). Hơn ai hết phụ nữ chính là ngƣời ý thức đƣợc việc bảo vệ sức khoẻ, ý thức đƣợc việc đông con sẽ vất vả cho chính bản thân nên đã tự giác đi đặt vòng hoặc uống thuốc tránh thai. Tuy nhiên, một bộ phận chị em chƣa nhận thức đầy đủ vấn đề này, nên dẫn đến việc mang thai ngoài ý muốn phải nạo, phá thai, ảnh hƣởng xấu tới sức khoẻ. Biểu đồ 2.11. Tỷ lệ các hộ sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình 50,0 45,0 40,0 35,0 30,0 Xã Ôn Lương Tỷ lệ Đặt vòng uống Dùng bao Biện pháp Không sử Trạch 25,0 Xã Yên (%) tránh thai thuốc cao su khác dụng 20,0 Ôn Lương Xã Cổ Lũng Xã 13,64 15,91 6,82 20,45 43,18 15,0 Yên Trạch Xã 13,33 15 5 18,33 48,33 Xã Cổ Lũng 14,52 16,13 6,45 20,97 41,94 10,0 5,0 0,0 Đặt vòng uống Dùng bao Biện pháp Không sử tránh thai thuốc cao su khác dụng Nguồn số liệu: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2008 2.2.3. Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế 2.2.3.1. Yếu tố thuận lợi * Điểm mạnh: - Tỷ lệ nữ tham gia vào các cấp, các ngành ngày càng cao, góp thêm tiếng nói trong quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện, giám sát việc thực hiện các chủ trƣơng chính sách trong phát triển kinh tế nói chung và các chính sách liên quan đến phụ nữ nói riêng. - Tổ chức hội phụ nữ từ huyện đến cơ sở thƣờng xuyên đƣợc kiện toàn và hoạt động có chiều sâu, là chỗ dựa vững chắc cho chị em phụ nữ trong hoạt động kinh tế, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 78.
    70 * Cơ hội: Hệ thống chính sách để hỗ trợ phát triển kinh tế của vùng nông thôn miền núi khá toàn diện, tác động vào nhiều mặt của ngƣời dân địa phƣơng. Một số chính sách theo lĩnh vực nhƣ sau: - Kinh tế: xây dựng kết cấu hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, chính sách trợ giá trợ cƣớc, khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ nhà ở và nƣớc sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (chƣơng trình 134). Trong những năm qua, hiệu quả của các chƣơng trình phát triển này đã đƣợc thể hiện thông qua: sự ổn định sản xuất của ngƣời dân, ngƣời dân chuyển hƣớng thâm canh, áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, thu nhập của hộ gia đình đƣợc nâng cao, chất lƣợng cuộc sống đƣợc cải thiện. Tỷ lệ nữ đƣợc đi học phổ thông không ngừng tăng, hoạt động sản xuất của phụ nữ giảm sự vất vả và có nhiều thời gian giành cho bản thân hơn. -Văn hoá: nâng cao mức hƣởng thụ văn hoá của nhân dân (xây dựng nhà văn hoá và đặt cụm loa tới các xóm, thƣờng xuyên tổ chức hoạt động văn hoá lƣu động); bảo tồn văn hoá truyền thống; thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia về văn hoá. Với chính sách này đã giúp cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số nâng cao hiểu biết về khoa học kỹ thuật, bình đẳng giới, chăm sóc sức khoẻ sinh sản. - Y tế: cải thiện trang bị cơ sở vật chất cho vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, tăng cƣờng đội ngũ cán bộ về thôn bản; khám chữa bệnh miễn phí; thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia; chăm sóc sức khoẻ sinh sản, thực hiện kế hoạch hoá gia đình. - Giáo dục: Cải thiện trang bị, cơ sở vật chất chotrƣờng, lớp..., tăng cƣờng và nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên; có chính sách cử tuyển, miễn học phí, cấp phát giấy vở cho học sinh, thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia về giáo dục. Kết quả là số học sinh nghèo, học sinh dân tộc thiểu số đƣợc đi học ngày càng tăng, tỷ lệ học sinh nữ bị bỏ học đã giảm rõ rệt. - Khoa học, công nghệ: chuyển giao khoa học, công nghệ cho ngƣời dân làm thay đổi tập quán canh tác và năng lực sản xuất. Hàng năm đã mở các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 79.
    71 lớp dạy nghề,đào tạo nghề cho nông dân tới tận xóm bản nhằm cuốn hút đông đảo phụ nữ tham gia. - Quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ nữ: đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ trong quy hoạch các chức danh lãnh đạo thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc; cử và quan tâm tạo điều kiện để cán bộ nữ đƣợc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, chính trị, quản lý. Điều này đƣợc thể hiện trong các chức danh chính quyền, đoàn thể nhƣ: Ban dân vận, Phòng dân tộc của huyện. 2.2.3.2. Yếu tố cản trở * Điểm yếu: - Trình độ học vấn, sự tiếp cận và tiếp thu các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất nông lâm nghiệp của đại bộ phận phụ nữ vùng nghiên cứu còn chậm và hạn chế. Điều này ảnh hƣởng tới sự ra quyết định trong sản xuất, quản lý hộ và tham gia công tác quản lý cộng đồng. - Do ảnh hƣởng của tƣ tƣởng từ ngàn đời xƣa để lại, chính bản thân ngƣời phụ nữ vẫn còn tƣ tƣởng tự ti, an phận và thu động. Điều này đã hạn chế sự độc lập suy nghĩ, sáng tạo, khả năng cống hiến của phụ nữ, đó chính là lực cản bên trong kìm hãm họ. Nhiều phụ nữ ngại phát biểu ý kiến, không bộc bạch chính kiến, ngại tranh luận với nam giới, mặc dù ý kiến của họ có thể là chính xác. Nhiều phụ nữ không muốn học tập để nâng cao trình độ, từ chối tham gia các lớp tập huấn về khoa học kỹ thuật… Tâm lý tự ti, mặc cảm, không vận động để tự mình thoát mình đã hạn chế vai trò của chính họ. * Thách thức: - Mức độ kinh tế: Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006- 2010 của huyện là 23,55% (năm 2008).Qua nghiên cứu thấy rằng khi thu nhập của gia đình thấp, ngƣời phụ nữ phải vất vả hơn đề kiếm sống nuôi gia đình, với các hộ khó khăn nam giới có xu hƣớng ít chia sẻ công việc nội trợ với phụ nữ. Bên cạnh đó, do nghèo nên không có điều kiện để đầu tƣ cho sản xuất, hiệu quả sản xuất thấp. Dẫn tới chênh lệch về thu nhập bình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 80.
    72 quân/ngƣời/năm giữa cácnhóm hộ nghèo, trung bình còn khá cao. Nhƣ phân tích tại mục 2.2.1.6 thì có sự bất bình đẳng trong thu nhập cũng nhƣ trong tiêu dùng của các nhóm hộ, giữa các vùng trong huyện. - Gánh nặng công việc của phụ nữ: Hoạt động sản xuất ở vùng nông thôn chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp. Công việc chủ do phụ nữ thực hiện, nhất là đối với các hộ nghèo. Bên cạnh đó, phụ nữ còn đảm nhiệm hầu hết công việc nội trợ, chăm sóc con cái và chăm sóc các thành viên khác trong gia đình. Để thực hiện hết các công việc đó, chị em phải dậy rất sớm từ 5h để chuẩn bị cơm nƣớc cho cả nhà, chăn lợn, chăn gà, làm việc đồng áng… tới tận 21h mới đƣợc đi ngủ. - Cơ hội tiếp cận các nguồn lực: Vẫn còn hiện tƣợng khi đi lấy chồng, phụ nữ không đƣợc bố mẹ chia đất cũng nhƣ thừa kế các tài sản. Nguồn vốn thế chấp tại ngân hàng nông nghiệp ít có cơ hội cho phụ nữ đứng tên vay vốn. Ngân hàng chính sách và tín dụng của hội phụ nữ cho vay với mức rất thấp, không đủ để sản xuất. - Các định kiến xã hội về vai trò của phụ nữ: Bảng 2.20. Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng giới và công cuộc phát triển Một số định kiến phổ Những hậu quả đối với chất Tình trạng bất bình biến về vai trò, đặc điểm lƣợng cuộc sống và công đẳng giới phổ biến giới trong xã hội cuộc phát triển - Thu nhập của hộ gia đình thấp hơn. - Trẻ em gái ít đƣợc - Giáo dục giành cho trẻ em tiếp cận giáo dục. giảm. Thích con trai - Trẻ em gái và phụ -Giảm khả năng tiếp cận nữ có trình độ học của phụ nữ đối với những vấn thấp. công việc đƣợc trả công và những việc làm có thu nhập cao hơn. “Thiên chức”- về mặt - Sự phân công lao - Tình trạng mệt mỏi triền sinh học, chỉ có phụ nữ động không bình miên của phụ nữ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 81.
    73 mới có khảnăng mang đẳng giữa nam và - Chi phí chăm sóc sức thai, sinh con và cho con nữ: khoẻ cao hơn đối với phụ bú bằng chính bầu sữa + Gánh nặng công nữ của mình. Tuy nhiên, xã việc - Năng suất lao động thấp. hội lại gán cho phụ nữ +Ít thời gian nghỉ toàn bộ vai trò chăm sóc ngơi, giải trí con cái, chăm sóc các + Ít tham gia vào thành viên trong gia quá trình ra quyết đình. Cuối cùng công định trong cộng việc nội trợ cũng đƣợc đồng. gán cho phụ nữ và trẻ + Ít đƣợc tiếp tục em gái. học hành. - Xã hội thƣờng ủng hộ nam giới vào các - Các chính sách không đáp Phụ nữ thƣờng đƣợc vị trí lãnh đạo hơn ứng hiệu quả nhu cầu của xem là thiếu quyết đoán, nữ giới. Vì thế tỷ lệ mọi thành viên trong xã hành động thiên về tình nữ tham gia lãnh hội, cụ thể đối với phụ nữ. cảm nên khó để trở đạo thấp hơn. - Hiệu quả của tăng trƣởng thành ngƣời lãnh đạo tốt - Những ngƣời ở vị kinh tế chƣa cao. trí ra quyết định chủ yếu là nam giới. -Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng để tiến tới bình đẳng chưa cao: Thực tế tại địa bàn nghiên cứu, các lớp tập huấn nâng cao nhận thức về giới chủ yếu là phụ nữ tham dự. Nam giới ít tham gia nội dung này, nhất là nam giới giữ vai trò chủ chốt tại cơ sở. Dẫn tới hiệu quả công tác truyền thông về giới chƣa cao, chậm quá trình thay đổi nhận thức xã hội về giới. - Việc cụ thể hoá và thực thi các chính sách về bình đẳng giới còn hạn chế: Nhà nƣớc đã ban hành Luật bình đẳng giới, có nghị định hƣớng dẫn thực hiện Luật bình đẳng giới. Nhƣng cấp uỷ địa phƣơng chƣa có nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Luật bình đẳng giới và bàn về vấn đề phụ nữ. Hoạt động của ban vì sự tiến bộ của phụ nữ chủ yếu do cơ quan thƣờng trực của ban (Hội phụ nữ) thực hiện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 82.
    74 CHƢƠNG 3 QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG HƢỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ HUYỆN PHÚ LƢƠNG 3.1. Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ Sự khác biệt về giới hiện nay có thể hiểu là sự bất bình đẳng về quyền lực giữa nam và nữ mà ngƣời chịu thiệt thòi nhất là phụ nữ. Cuộc đấu tranh giành sự bình đẳng này nhằm tạo sự cân bằng về quyền lực chứ không phải giành quyền thống trị. Sự bình đẳng này cho phép phụ nữ tiếp cận cao hơn các nguồn lực và từ đây họ có điều kiện phát huy tốt vai trò của mình. Mục tiêu của chúng ta là xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, đây là mục tiêu phấn đấu của nữ giới. Sự công bằng, văn minh trong xã hội cũng nhƣ trong gia đình trƣớc tiên phải là sự đối xử công bằng và văn minh với phụ nữ. Sự cống hiến của phụ nữ trong suốt chiều dài lịch sử của đất nƣớc thật lớn lao, đặc biệt là qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Những cống hiến của phụ nữ đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta ghi nhận. Kể từ lúc xác định đƣờng lối đấu tranh giải phóng dân tộc cho đến nay, Đảng ta luôn luôn coi trọng giải phóng phụ nữ là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ đã giúp họ tăng cƣờng khả năng phấn đấu để giải quyết những vấn đề của chính họ. Một xã hội nếu không có sự bình đẳng giữa nam và nữ sẽ tạo nên những hẫng hụt mà theo đó là những căn bệnh của xã hội, nếu ngƣời phụ nữ bị đối xử không công bằng, vai trò của họ mờ nhạt sẽ dẫn đến hậu quả có những đứa con đƣợc nuôi dạy không tốt, ý thức và khả năng tiếp thu những tƣ tƣởng tiến bộ kém. Mâu thuẫn nội tại sẽ phát sinh và ngấm ngầm phá hoại hạnh phúc gia đình. Vai trò lãnh đạo cộng đồng, xã hội của phụ nữ không xứng với công lao và năng lực của họ sẽ dẫn đến nhìn phiến diện về thực tế và không huy động đƣợc đầy đủ tiềm năng trong mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội. Việc xây dựng hệ thống giải pháp phải dựa trên cơ sở nắm vững đƣờng lối chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, đặc biệt là: + Chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội (2001-2010) của Nhà nƣớc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 83.
    75 + Các nghị quyết và văn kiện của Đại hội phụ nữ toàn quốc. Đặc biệt là phải xuất phát từ thực trạng, nguyên nhân và khả năng thực tế của địa phƣơng để đƣa ra những giải pháp thiết thực và khả thi. Nhƣ vậy, việc tìm ra những giải pháp để nâng cao vai trò của ngƣời phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn là một tất yếu khách quan cho việc phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc. 3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế 3.2.1. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ các cấp trong thực hiện bình đẳng giới Cấp uỷ có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của tổ chức đảng các cấp, là cơ qua lãnh đạo thực hiện nghị quyết của cấp trên và cấp mình. Để thực hiện tốt hơn nữa bình đẳng giới, công tác cán bộ nữ cần chú trọng tới các giải pháp sau: - Cấp uỷ đảng nâng cao chất lƣợng việc ra nghị quyết, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo nâng cáo nhận thức, quan điểm về bình đẳng giới, công tác phụ nữ, cán bộ nữ. - Nâng cao chất lƣợng việc tổ chức, thực hiện nghị quyết và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết về thực hiện bình đẳng giới. - Tăng cƣờng vai trò của ngƣời đứng đầu: Bí thƣ cấp uỷ các cấp phải tự mình nâng cao trách nhiệm, tạo sự thống nhất trong cấp uỷ đảng, cơ quan, ban ngành đoàn thể về bình đẳng giới, công tác phụ nữ. - Xây dựng cơ chế đảm bảo thực hiện có hiệu quả bình đẳng giới, công tác phụ nữ. 3.2.2. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về giới trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Tăng cƣờng đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về bình đẳng giới, không chỉ cho phụ nữ mà cả nam giới, đặc biệt là cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt của địa phƣơng, đơn vị, nhằm tạo sự thay đổi nhận thức từ gốc về vị trí, vai trò của phụ nữ trong xã hội ngày nay, đảm bảo các điều kiện để chị em có cơ hội và điều kiện thuận lợi thực hiện quyền bình đẳng trong mọi lĩnh vực chính trị- kinh tế- xã hội- an ninh quốc phòng… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 84.
    76 Cấp uỷ đảng các cấp phải xây dựng nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động truyền thông về bình đẳng giới, về giới trong cộng đồng. Cơ quan truyền thông xây dựng kế hoạch tuyên truyền trên phƣơng tiện thông tin đại chúng theo từng thời gian cụ thể. Hội phụ nữ, ban vì sự tiến bộ xây dựng chƣơng trình hành động để thực hiện luật bình đẳng giới, chú trọng tới công tác phối hợp với các hội đoàn thể khác trong thực hiện tuyên truyền các nội dung của Luật bình đẳng giới, các nghị định, hƣớng dẫn thực hiện. Trong quá trình truyền thông, trƣớc tiên cần quan tâm hƣớng tới đối tƣợng là lãnh đạo chủ chốt của địa phƣơng đơn vị, nâng cao và thay đổi tƣ duy về giới cho họ là cách tốt nhất, sớm nhất có đƣợc những cơ hội cho phụ nữ phát huy khả năng, năng lực của mình trong mọi lĩnh vực. 3.2.3. Nâng cao trình độ mọi mặt cho phụ nữ kết hợp với giáo dục truyền thống, phẩm chất đạo đức trong đông đảo phụ nữ Nâng cao kiến thức về mọi mặt là nâng cao nội lực cho phụ nữ. Đây là biện pháp đầu tiên, cơ bản và quyết định nhằm tạo ra năng lực thực để họ có thể tiếp cận với thực tế mà không ngần ngại, lo lắng đồng thời có cơ sở để ra quyết định cũng nhƣ thực hiện quyết định của mình. Vì vậy, phải khuyến khích và tạo điều kiện cho chị em tham gia học tập để không ngừng nâng cao nhận thức, trình độ văn hoá, chuyên môn, tay nghề. Có chính sách thoả đáng cho phụ nữ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số khi tham gia học tập tại các trƣờng lớp, nhằm nâng cao chất lƣợng nhân lực nữ trên các địa bàn này, tiến tới xoá bỏ dần khoảng cách và sự chênh lệch kiến thức, trình độ giữa phụ nữ các vùng và giữa phụ nữ và nam giới. Nâng cao kiến thức, kỹ năng cho phụ nữ về chăm sóc sức khoẻ, nuôi dạy con, dân số và kế hoạch hoá gia đình, kỹ năng sống và tổ chức cuộc sống gia đình. Xây dựng ngƣời phụ nữ Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc “có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu, tích cực lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”. Nâng cao trình độ học vấn, kiến thức kinh tế, kỹ thuật, quản lý và pháp luật nhằm tạo nội lực cho phụ nữ. Hƣớng tới gia tăng đóng góp của họ cho gia đình, xã hội và tự khẳng định vai trò của mình. Trong thực tế, các trƣờng hợp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 85.
    77 phụ nữ khôngtham gia quyết định cũng nhƣ thực hiện quyết định là vì họ thiếu yếu tố nội lực. Hay nói cách khác là họ không biết nên không thể tham gia ý kiến. Có kiến thức sẽ giúp họ quyết định mạnh dạn hơn, tự tin hơn. Đối với đội ngũ cán bộ nữ, cần đào tạo, nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý... để cán bộ nữ có đủ điều kiện quy hoạch vào các chức danh lãnh đạo, quản lý, nâng cao vị trí, sự tham gia của họ trong quá trình ra quyết định, lập kế hoạch và lãnh đạo, chỉ đạo tại địa phƣơng, đơn vị. 3.2.4. Lồng ghép giới vào các chính sách, chƣơng trình hành động quốc gia, các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của các cấp, các ngành. Tăng cƣờng vai trò, trách nhiệm của các Bộ, ngành và địa phƣơng trong nâng cao nhận thức về Bình đẳng giới và thực hiện các mục tiêu về tiến bộ phụ nữ. Phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phƣơng trong giới thiệu triển khai thực hiện các mô hình tốt về bình đẳng giới. Thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ nữ, tạo nguồn cán bộ kế cận và đề bạt cán bộ nữ, đáp ứng yêu cầu mới. 3.2.5. Tăng khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực * Đất đai: Thực hiện tốt quy định của Luật đất đai năm 2003 và các nghị định sửa đổi bổ sung, tất cả các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều phải ghi tên cả vợ và chồng. * Tín dụng: Ngân hàng cần đơn giản hoá thủ tục, điều kiện vay và chấp nhận các mục tiêu sử dụng vốn vay đa dạng hơn. Các thủ tục và quy trình hoạt động cần có tính nhạy cảm về giới để đảm bảo cho phụ nữ và nam giới đƣợc tiếp cận nhƣ nhau với vốn vay của các tổ chức tín dụng, sao cho các chƣơng trình vay đến đƣợc với phụ nữ và nam giới một cách bình đẳng nhƣ đến với với những khách hàng đi vay và những ngƣời đƣợc hƣởng lợi ích. Các cán bộ và đại diện ngân hàng cần đƣợc tập huấn về giới có đƣợc nhận thức về vai trò giới và các đặc thù về văn hoá và gia đình. Đặc biệt cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ ngân hàng với cán bộ khuyến nông, khuyến lâm để hỗ trợ tập huấn về kỹ thuật và thông tin về thị trƣờng cũng nhƣ kỹ năng lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh cho tất cả các hộ vay vốn. Các hộ gia đình, nhất là phụ nữ, cần đƣợc thông tin một cách cụ thể về các hình thức tín dụng mà họ có thể nhận đƣợc. Dữ liệu về các khoản cho vay của ngân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 86.
    78 hàng và việcthực hiện các khoản cho vay này cần đƣợc phân chia theo giới của ngƣời vay. 3.2.6. Đưa các chỉ tiêu về giới, các công cụ giám sát và đánh giá có phân tích giới vào chính sách, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển của đất nước. Có sự cam kết của các cấp lãnh đạo địa phƣơng. Năng lực lồng ghép giới trong các khối cơ quan nhà nƣớc, bao gồm nguồn nhân lực, tài chính, các quy chế hoạt động và các thủ tục hành chính. Những hoạt động có đƣợc sự bắt đầu bằng việc nâng cao nhận thức và kiến thức giới của các cấp lãnh đạo cao nhất. Đội ngũ cán bộ quản lý chuyên môn, đặc biệt là những ngƣời chịu trách nhiệm xây dựng chính sách, kế hoạch, ngân sách và hoạch định việc cung cấp dịch vụ công trên toàn bộ hệ thống ngành cần đƣợc trang bị kiến thức, kỹ năng và đƣợc giao trách nhiệm báo cáo để đảm bảo các kế hoạch, ngân sách, các dịch vụ công có tính nhạy cảm giới và các nhu cầu của nam giới và phụ nữ sẽ đƣợc xem xét một cách bình đẳng. Thêm vào đó, cần lồng ghép các chỉ tiêu về giới, các số liệu có phân tích nam nữ vào hệ thống báo cáo. Song song với chiến lƣợc truyền thông có trọng điểm trong hệ thống ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ thiết kế và triển khai từng bƣớc chƣơng trình đào tạo chuyên môn nghiệp vụ có lồng ghép giới trong đó bao gồm đào tạo ban đầu tập huấn nâng cao nghiệp vụ hàng năm có phối hợp các dự án tại các trƣờng trên địa bàn. Các chứng chỉ đào tạo về giới cần đƣợc ghi nhận trong hồ sơ cán bộ và hàng năm báo cáo về đơn vị phụ trách công tác tổ chức cán bộ, trong đó có số liệu phân tách nam, nữ. Nhu cầu lao động nữ và nam phải đƣợc xem xét trong quá trình lựa chọn, khảo sát, thiết kế, thẩm định và triển khai các dự án, các chƣơng trình phát triển nông thôn. Tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động của các dự án xây dựng mới cơ sở hạ tầng nông thôn bao gồm dự án cấp nƣớc sinh hoạt, thủy lợi, cầu đƣờng, trạm y tế, thông tin liên lạc, trƣờng học và chợ... nhƣ một bộ phận của công tác thiết kế. Tiến hành các cuộc đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của ngƣời dân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 87.
    79 3.2.7. Thực hiện cách thức làm việc mang tính nhạy cảm giới và đạt được bình đẳng giới trong các hoạt động nghiên cứu, cung cấp dịch vụ công tác đào tạo Các hoạt động nghiên cứu về công nghệ mới và các cơ hội phát triển sản xuất kinh doanh cần nhằm vào những lĩnh vực trong đó cả nam và nữ đều có tiềm năng khai thác và hƣởng lợi. Các nghiên cứu phân tích rủi ro và mạng lƣới an sinh xã hội cần tính đến nhu cầu của cả nam và nữ cũng nhƣ vai trò giới ở hộ gia đình và cộng đồng. Tăng cƣờng phát triển các dịch vụ công trong nông nghiệp nông thôn nhất là các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm để đƣa các công nghệ mới về trồng trọt, chăn nuôi, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững. Để đảm bảo các chƣơng trình khuyến nông, khuyến lâm đƣợc thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu của cả nam và nữ trong ngành thì các cán bộ khuyến nông, khuyến lâm cần tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động nói trên nhƣ địa điểm, thời gian... đều cần đƣợc cân nhắc khi thiết kế và tiến hành các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm đồng thời các số liệu về nhu cầu, tính hữu ích và sự tham gia của nam và nữ cần đƣợc thƣờng xuyên thu nhập, phân tích và sử dụng nhƣ một công cụ quản lý để giám sát các hoạt động này. Cùng với các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm các khóa đào tạo nghề cần đặc biệt chú trọng tới đối tƣợng là phụ nữ, một mặt là để tăng kiến thức chuyên môn, mặt khác để củng cố lòng tự tin cho họ. Tại cấp cộng đồng, cần hình thành đƣợc những nhóm hạt nhân bao gồm nông dân cả nam và nữ sản xuất giỏi, hiểu biết tốt về công nghệ mới và có những mối liên hệ chặt chẽ với chính quyền và các tổ chức hội đoàn thể. 3.2.8. Tăng cường tạo quyền và khả năng tiếp cận của phụ nữ đối với quá trình ra quyết định ở các cơ quan, đơn vị Bình đẳng giới cần đƣợc coi nhƣ một nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình cải cách hành chính nhà nƣớc ta, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý và phát triển nguồn nhân lực. Tất cả các hoạt động của công tác quản lý nguồn nhân lực bao gồm xây dựng các bản mô tả công việc cho các chức danh, các chính sách tuyển dụng, phân công cán bộ, quy hoạch, đào tạo và đề bạt cán bộ đều thể hiện sự cam kết đảm bảo bình đẳng giới. Kết quả thực hiện mục tiêu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 88.
    80 bình đẳng giớiđã đƣa ra trong kế hoạch hành động cần đƣợc đƣa vào các cuộc đánh giá công các thƣờng kỳ. Cần nâng cao chất lƣợng hoạt động ban vì sự tiến bộ của phụ nữ cấp cơ sở, có cán bộ chuyên trách về giới nhƣ một mục tiêu cơ bản trong các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Phụ nữ và nam giới cần có cơ hội tiếp cận nhƣ nhau về giáo dục đào tạo, đối với các cộng đồng nông thôn, cần tính đến yếu tố giới trong việc nhập trƣờng ở cấp giáo dục tiểu học, trung học và trên trung học. Các địa phƣơng nên có chính sách cử cán bộ nữ đi đào tạo nâng cao trình độ nhằm mục tiêu phát triển họ thành các lãnh đạo cộng đồng. Giải pháp chính để đạt đƣợc bình đẳng giới trong quản lý cộng đồng và ra quyết định, đó chính là nâng cao năng lực nhận thức cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở nông thôn để họ có thể tham gia vào tất cả các hoạt động kinh tế. Tại cấp huyện, xã cần tăng cƣờng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của ban vì sự tiến bộ của phụ nữ và các ban ngành liên quan về việc thực hiện luật pháp và chính sách bình đẳng giới. Cần đảm bảo các cơ chế thông tin xã hội, tham vấn, tham dự và đóng góp ý kiến của cả nam và nữ trong quá trình xây dựng các kế hoạch và chƣơng trình phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với các yêu cầu nội dung và thành phần các nhóm mục tiêu ở cấp xã, thôn. 3.2.9. Giải pháp hoạt động khuyến nông và thông tin nông nghiệp đối với phụ nữ nông thôn * Nâng cao năng lực và hiệu quả bộ máy khuyến nông cấp cơ sở: Cần đẩy mạnh công tác lồng ghép các chƣơng trình giáo dục phụ nữ về sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, kế hoạch hoá gia đình với chƣơng trình tập huấn kỹ thuật nông lâm nghiệp cho phụ nữ (phối hợp với Hội phụ nữ). Nhà nƣớc cần hỗ trợ chi phí cho các chƣơng trình khuyến nông trên ti vi, đài về các kỹ thuật canh tác. Gắn chặt sự tham gia của phụ nữ trong những khoá tập huấn, xây dựng ô mẫu, hội thảo. Đây là cách thức đạt hiệu quả nhất, bền vững nhất, có khuyến khích sự tham gia cùng xây dựng kế hoạch, cùng nhau giám sát, bàn bạc, nhận xét, đánh giá các kết quả đạt đƣợc thì mới: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 89.
    81 Nâng cao năng lực truyền thông về thông tin nông nghiệp ở cấp cơ sở: Trƣớc mắt, nhà nƣớc và chính quyền địa phƣơng cần nâng cao trình độ học vấn cho nhóm nữ nông dân tƣơng lai, phổ cập văn hoá cho nhóm nữ sản xuất hiện tại để họ có khả năng đọc và tìm hiểu tài liệu kỹ thuật có liên quan đến đồng áng của họ. - Phụ nữ tự bản thân chủ động tiếp cận thông tin từ hệ thống thông tin đại chúng, gặp gỡ cán bộ kỹ thuật. Ban tổ chức các lớp khuyến nông và chính quyền địa phƣơng khi mời nông dân dự tập huấn, dự họp phải bố trí thời gian phù hợp để nữ có thể tham dự. Nhà nƣớc và chính quyền địa phƣơng cần mở rộng hệ thống thông tin nông nghiệp, ở mỗi xóm nên có điện để đặt loa phát thanh các chƣơng trình khuyến nông. Các thông tin khác về chất lƣợng giống, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón... nông dân cần mua giống tại các trạm cung cấp giống, trạm, cửa hàng dịch vụ vật tƣ nông nghiệp có đủ tin cậy. Trung tâm giống cần phân phối nguồn giống đạt tiêu chuẩn, có sự cam kết với ngƣời dân về kết quả đạt đƣợc. Nâng cao dân trí thông qua các hoạt động thông tin tuyên truyền, nhƣ tăng số giờ phát thanh lên, số bản quy trình sản xuất phát cho nông dân đƣợc phát nhiều hơn, thực hiện việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp. Tăng cƣờng khuyến nông giảm nghèo, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, giữ vững an ninh lƣơng thực trên địa bàn huyện và mở rộng khuyến nông vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 90.
    82 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Kết quả nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn tại huyện Phú Lƣơng, tác giả có những kết luận sau: (1) Cơ cấu dân số nữ và nam tƣơng đối cân bằng. Nữ trong độ tuổi lao động phần lớn tập trung trong nhóm tuổi từ 15- 35. Lao động nữ nông thôn có số lƣợng rất lớn, chiếm 44 % tổng số lao động và chiếm 93% tổng số lao động nữ. Tình hình lao động nữ trong độ tuổi ở khu vực thành thị và nông thôn của huyện Phú Lƣơng có xu hƣớng ổn định. (2) Trình độ văn hoá, chuyên môn, lý luận chính trị của phụ nữ còn thấp, nhất là nữ nông thôn: Chỉ có 6,4% cán từ cấp chi hội đến cấp xã có trình độ chuyên môn, 4,3% có trình độ lý luận chính trị sơ cấp, trung cấp. Lao động nữ chƣa tốt nghiệp tiểu học chiếm 9,56%, chƣa qua một lớp đào tạo nghề chiếm tới 88,69 %. Nữ công nhân viên chức có trình độ chuyên môn cao đẳng, đại học cũng chỉ chiếm 72%. (3) Số phụ nữ trong độ tuổi không tham gia sinh hoạt hội đoàn thể chiếm tỷ lệ lớn (21,81%) và lại thuộc các xã khó khăn. Phụ nữ tham gia các hoạt động cộng đồng, hoạt động xã hội ít hơn nam giới. (4) Tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo cấp uỷ, chính quyền, hội đồng nhân dân các cấp cao so với các huyện trong tỉnh và cao hơn mức bình quân chung của toàn quốc nhƣng vẫn thấp so với nam. (5) Nữ trong độ tuổi lao động tham gia chủ yếu vào các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp (trên 70,3%). Cả nữ và nam đều đóng góp vào hoạt động tạo ra thu nhập của gia đình. Nữ đảm nhiệm chính vai trò nội trợ và chăm sóc các thành viên trong gia đình, số đông cả nữ và nam đều bằng, lòng với vai trò đó. (6) Có sự không công bằng giữa nam và nữ trong công tác quản lý và kiểm soát các nguồn lực nhƣ đất đai, vốn, nguồn thông tin kỹ thuật… (7) Quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong gia đình thuộc về nam giới, phụ nữ thƣờng quyết định những việc liên quan đến nội trợ và chăm sóc các thành viên trong gia đình. (8) Còn rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn. (9) Cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu để nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 91.
    83 2. Kiến nghị Tạo điều kiện để phụ nữ phát triển cùng với nam giới không những đem lại lợi ích cho mỗi phụ nữ, mỗi gia đình mà cho toàn xã hội. Đó không phải là vấn đề công bằng xã hội, mà là lợi ích kinh tế. Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị một số vấn đề nhằm tạo sự hài hoà cân đối trong gia đình, tạo điều kiện phụ nữ có hội học tập, nâng cao trình độ mọi mặt, tham gia vào tất cả các khâu trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. (1) Đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo - Huyện uỷ tăng cƣờng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chƣơng trình hành động thực hiện Nghị quyết 11- NQ/TW của Bộ Chính trị về "Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", thực hiện Luật bình đẳng giới, có hội nghị ban chấp hành đảng bộ bàn và xây dựng nghị quyết chuyên đề về lãnh đạo thực hiện Luật bình đẳng giới trong nửa cuối của nhiệm kỳ, tổng kết việc thực tiễn thực hiện nghị quyết hàng năm. - Mở hội nghị quán triệt, triển khai Luật bình đẳng giới cho cán bộ chủ chốt của huyện, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục Luật bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Hôn nhân gia đình… sâu rộng trong quần chúng nhân dân, cán bộ công nhân viên chức cả nam và nữ. - Thƣờng xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện hiện Nghị quyết 11- NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật bình đẳng giới, các chế độ chính sách đối với phụ nữ. Kịp thời đề xuất với cấp có thẩm quyền chỉnh sửa, bổ sung những nội dung trong các quy định phù hợp với thực tế công tác nữ tại địa phƣơng. (2) Công tác tổ chức quy hoạch cán bộ - Kiện toàn Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện, có thành viên của ban là cán bộ chuyên trách hƣởng lƣơng từ ngân sách, nâng cao chất lƣợng hoạt động của ban, tránh tình trạng nhiệm vụ của ban là nhiệm vụ của Hội phụ nữ huyện. - Xây dựng tổ chức Hội phụ nữ huyện vững mạnh, phát huy hơn nữa vai trò là nơi tập hợp, tổ chức, đoàn kết phụ nữ trong khối thống nhất. Xây dựng những nội dung hoạt động thiết thực để thu hút phụ nữ trong độ tuổi vào sinh hoạt hội đạt tỷ lệ Đề án 01 của Tỉnh uỷ quy định. Huy động sức mạnh nội lực trong chị em giúp nhau bằng cây, con giống... kết hợp các chƣơng trình hỗ trợ của tổ chức trong và ngoài nƣớc về vốn, kiến thức cho phụ nữ phát triển kinh tế, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. - Trong công tác hoạch, bổ nhiệm cán bộ vào các chức danh lãnh đạo huyện thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc cần quan tâm tới số lƣợng, chất lƣợng cán bộ nữ. Tạo cơ hội để cán bộ nữ đƣợc tham gia xây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 92.
    84 dựng, lãnh đạothực hiện các chƣơng trình, đề án phát triển kinh tế- văn hoá- xã hội của địa phƣơng. (3) Công tác đào tạo, bồi dƣỡng kiến thức - Nghiên cứu đƣa một số tiết học về thực hiện bình đẳng giới, kiến thức giới vào các nội dung chƣơng trình học tập tại các trƣờng phổ thông, trung tâm bồi dƣỡng chính trị của huyện. - Tạo điều kiện cho chị em phụ nữ nông thôn học tập nâng cao trình độ văn hoá, cử các chị em là cán bộ, công nhân viên chức theo học các lớp đào tạo bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và có chính sách hỗ trợ kinh phí để chị em yên tâm học tập. - Trung tâm dạy nghề phối hợp chặt chẽ với các hội đoàn thể thực hiện tốt chƣơng trình đào tạo nghề cho nông dân hàng năm. Mở các lớp học dài ngày về trồng trọt, chăn nuôi, quản lý kinh tế gia đình có lồng ghép nội dung về bình đẳng giới, kỹ năng tổ chức cuộc sống gia đình… cho phụ nữ nông thôn ở các cụm xã. Để có chất lƣợng đào tạo nghề cho phụ nữ, cần nâng cao trình độ cho giáo viên giảng dạy tại trung tâm. - Phòng nông nghiệp, trạm khuyến nông huyện bên cạnh các chủ đề khuyến nông dƣới hình thức thuần tuý kỹ thuật, cần phát triển các chƣơng trình khuyến nông dƣới nhiều khía cạnh nhƣ kinh tế, marketing, quản lý tài chính, quản lý nhân lực…chú trọng xây dựng các mô hình sản xuất điểm để nhân rộng trong cộng đồng, phát huy trách nhiệm của cán bộ hợp đồng 248, hợp đồng 17 trong thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao. (4) Hỗ trợ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập - Ngân hàng nông nghiệp huyện, ngân hàng chính sách xã hội huyện tăng thêm nguồn vốn vay bằng tín chấp qua các tổ chức hội đoàn thể để phụ nữ có cơ hội tiếp cận dễ dàng hơn với tín dụng. Hƣớng các dự án vay vốn 120 tới đối tƣợng hộ có phụ nữ làm chủ, tăng lƣợng vốn vay trên hộ để chị em có điều kiện mở rộng sản xuất. - Đánh giá việc thực hiện 10 đề án phát triển kinh tế- xã hội của huyện, có giải pháp khắc phục một số thực trạng chăn nuôi bấp bênh, đƣợc mùa mất giá, nuôi trồng sản xuất theo phong trào và sự phân biệt do dãn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, làm cho phụ nữ nông thôn ngày càng vất vả. - Đầu tƣ cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, trong nội ngành nông lâm nghiệp gắn với phát triển thị trƣờng, tạo điều kiện cho phụ nữ và nam giới vùng nông thôn có việc làm tại chỗ, có điều kiện phát triển kinh tế gia đình không phải đi làm ăn xa, có điều kiện chia sẻ lẫn nhau trong thực hiện vai trò sản xuất, sinh sản nuôi dƣỡng, cộng đồng, chính trị. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 93.
    85 - Đẩy mạnh hoạt động của các làng nghề mây tre đan, mành cọ, các ngành nghề thủ công truyền thống, tạo điều kiện cho phụ nữ nông thôn tách khỏi công việc gia đình, tạo thu nhập bằng tiền mặt. Bên cạnh đó, qua sinh hoạt tại các câu lạc bộ, tổ sản xuất, ngƣời phụ nữ nông thôn có thể mở rộng giao tiếp, nâng cao nhận thức của họ về vấn đề xã hội và kiến thức chăm sóc gia đình. (5) Hỗ trợ phụ nữ xây dựng, tổ chức cuộc sống gia đình - Nâng cao nhận thức cho các thành viên trong gia đình, chú trọng đến phụ nữ về kiến thức tổ chức cuộc sống gia đình, nuôi dạy chăm sóc con cái, khuyến khích sự quan tâm của các thành viên trong gia đình chia sẻ các hoạt động lao động cũng nhƣ cuộc sống gia đình, tình cảm. - Mở rộng mạng lƣới nhà trẻ, mẫu giáo tới các cụm xóm nhằm giảm nhẹ công việc gia đình cho các bà mẹ. - Chăm sóc, cải thiện sức khoẻ của phụ nữ, khuyến khích chị em đến các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện cho chị em nâng cao kiến thức về chăm sóc sức khoẻ sinh sản./. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 94.
    86 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trần Thị Vân Anh, Giới và phát triển nông thôn- Tài liệu cho lớp tập huấn phát triển bền vững nông thôn của Chƣơng trình VNRP. 2. Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng khoá VII, Chỉ thị số 37- CT/TW, ngày 16/5/1994 về một số vấn đề công tác các bộ nữ trong tình hình mới. 3. Ban Dân vận Huyện uỷ Phú Lƣơng, Thống kê phụ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt hội đoàn thể năm 2008. 4. Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện Phú Lƣơng, Báo cáo tổng kết hoạt động của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện Phú Lương, năm 2006, 2007, 2008. 5. Đỗ Thị Bình, Trần Thị Vân Anh, Giới và công tác giảm nghèo, NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 2003. 6. Bộ Chính trị khoá VII, Nghị quyết số 04- NQ/TW, ngày 12/4/1993 về đổi mới và tăng cƣờng vận động phụ nữ trong tình hình mới. 7. Báo cáo Bridge số 56 (năm 2000), Thực trạng và phát triển. 8. Borje Ljunggren, Những thách thức trên con đường cải cách Đông Dương, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. Nguyễn Vân Chi (2007), Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò lao động nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Võ Nhai, Thái Nguyên. 10.Trƣơng Ngọc Chi, Ảnh hưởng của đặc tính nông hộ tiếp cận khuyến nông và thông tin nông nghiệp đến hoạt động sản xuất lúa của các hộ do nữ quản lý, tài liệu hội thảo nghiên cứu giảm nghèo ở nông thôn tiếp cận vĩ mô, 2002. 11. Vũ Thị Kim Dung, “sự khác biệt về giới trong thu nhập”, bước đầu nghiên cứu về tổ chức lao động ở Việt Nam, kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ 15-17/7/1998, tập III, NXB Thế giới, Hà Nội, 2001. 12. Đại học kinh tế quốc dân, kinh tế phát triển, NXB Thống kê, Hà Nội, năm 1997. 13. Đảng bộ xã Cổ Lũng, báo cáo tổng kết kinh tế- xã hội xã Cổ Lũng năm 2008. 14. Đảng bộ xã Ôn Lƣơng, báo cáo tổng kết kinh tế- xã hội xã Ôn Lương năm 2008. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 95.
    87 15. Đảng bộ xã Yên Trạch, báo cáo tổng kết kinh tế- xã hội xã Yên Trạch năm 2008. 16.Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. 17. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Đoàn Thanh niên huyện Phú Lƣơng (2007), Thống kê cán bộ đoàn cấp huyện, xã nhiệm kỳ 2007-2012. 19. Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin dùng cho khối ngành kinh tế- quản trị kinh doanh trong các trƣờng cao đẳng, đại học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006. 20. Nguyễn Hải Hà- Nguyễn Quốc Tuấn (2008), Phụ nữ trong việc tham gia lãnh đạo quản lý. 21. Nguyễn Kim Hà, phân công lao động nam nữ như một công cụ phân tích giới, NXB khoa học xã hội, năm 1999. 22. Bùi Đình Hoà, Điều tra đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cáo đời sống kinh tế- xã hội của phụ nữ các dân tộc ít người vùng cao tỉnh Bắc Cạn, báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học đề tài cấp Bộ, mã số B96- 02-14 ĐT. 23. Hội nông dân huyện Phú Lƣơng (2007), Thống kê cán bộ nông dân cấp huyện, xã nhiệm kỳ 2007-2012. 24. Hội liên hiệp phụ nữ Phú Lƣơng (2004), Thống kê nữ đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh, huyện, xã nhiệm kỳ 2004- 2009. 25. Hội liên hiệp phụ nữ Phú Lƣơng (2004), Thống kê cán bộ, hội viên phụ nữ nhiệm kỳ 2001- 2006. 26. Hội liên hiệp phụ nữ Phú Lƣơng (2006), Thống kê cán bộ, hội viên phụ nữ nhiệm kỳ 2006-2011. 27. Hội liên hiệp phụ nữ Phú Lƣơng (2006), Thống kê cán bộ, hội viên phụ nữ nhiệm kỳ 2006-2011. 28. Hội liên hiệp phụ nữ Phú Lƣơng (2006), Thống kê nữ cán bộ tham gia cấp uỷ huyện, xã, xóm bản nhiệm kỳ 2005-2010. 29. Http:/www.dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn. 30.Http:/www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungtaSuyNgan/Connguoi/ Vi_tri_cua_phu_nu. 31.Http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=5&News_ID= 12344708/ Hoạt động và đóng góp của phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá 32.Http://www.dostbinhdinh.org.vn/HNKH7/T_luan16.htm/Vai trò của phụ nữ và nam giới trong tổ chức cuộc sống gia đình ở Bình Định Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 96.
    88 33.Http://www.hua.edu.vn/tc_khktnn/download.asp?ID=256/Khảo sát vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp và nông thôn xã Nghĩa Hiệp, Yên Mỹ, Hưng Yên. 34.http://www.vietnamforumcsr.net/default.aspx/Vấn đề bình đẳng giới trong lao động việc làm của phụ nữ. 35.Nguyễn Thị Tuyết Lan (2000), nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong nông hộ ở xã Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh. 36.Nguyễn Thị Lân (2004), Vai trò của phụ nữ dân tộc dao huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Cạn trong hoạt động xoá đói giảm nghèo- Báo cáo khoa học. 37. Liên đoàn lao động huyện Phú Lƣơng, báo cáo tổng kết công tác năm 2008. 38. Liên hiệp quốc tại Việt Nam (2002), Tóm tắt tình hình thế giới tại Việt Nam. 39. Paul Read, Harry Minas &Steven Klimidis (1999), Việt Nam một thăm dò sơ bộ về tuổi thọ, của cải và phát triển kinh tế”, báo cáo hội thảo quốc tế chăm sóc sức khoẻ, Hạ Long 7-10/4/1999. 40. Phòng Lao động- TBXH huyện Phú Lƣơng, số liệu thống kê các năm 2006, 2007, 2008 41. Phòng Thống kê huyện Phú Lƣơng, báo cáo thường niên năm 2006, 2007, 2008 42. Pranklin, Barbara A.K. (1999), mở rộng chân trời: Thay đổi các vai trò giới ở Việt Nam, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, Hà Nội. 43. Lê Thi (1998), Phụ nữ nông thôn và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, NXB Khoa học- xã hội, Hà Nội. 44. Tổ chức Lao động quốc tế, Thúc đẩy bình đẳng giới, năm 2002. 45. Thủ tƣớng Chính phủ, Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, ngày 08/7/2005 ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010. 46. Thủ tƣớng Chính phủ, Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg, ngày 21/01/2002 về phê duyệt chiến lƣợc và kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001- 2010. 47. Đàm Thị Minh Thu (2005), Lao động nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên thực trạng và giải pháp. 48. Trung tâm dạy nghề huyện Phú Lƣơng, thống kê số liệu dạy nghề cho nông dân năm 2006, 2007, 2008. 49. Uỷ ban dân số- Kế hoạch hoá gia đình- GTZ (1996), Điều tra sức khoẻ sinh sản, Hà Nội, năm 1996. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 97.
    89 50. Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lƣơng, báo cáo tổng kết thực hiện dự án 661 các năm 2006,2007,2008. 51. Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lƣơng, báo cáo kết quả 3 năm thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2006- 2008. 52. Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lƣơng, báo cáo tình hình tăng giảm hộ nghèo các năm 2006, 2007, 2008. 53. Uỷ ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ, phân tích tình hình và đề xuất chính sách nhằm tăng cƣờng tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam, Hà Nội, năm 2000. 54. Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lƣơng, báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế xã hội năm 2006, 2007, 2008. 55. Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến, giáo trình kinh tế hộ nông dân, Đại học nông nghiệp I Hà Nội. 56. Viện nghiên cứu chính sách lƣơng thực Quốc tế, Chƣơng trình hỗ trợ ngành nông nghiệp, Trung tâm thông tin Nông nghiệp & phát triển nông thôn (2001), lựa chọn chính sách sử dụng chăn nuôi nhằm thúc đẩy tằn trƣởng và đa dạng nguồn thu nhập vùng nông thôn Việt Nam, tập I,II, Hà Nội. 57. World Bank, báo cáo ngân hàng Thế giới, năm 2000. 58. UNDP (1996), Gender & development briefing Kit, Hanoi, Vietnam Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 98.
    90 PHIẾU ĐIỀU TRA KINH TẾ HỘ Huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên Xóm:…………….…….....................Xã:……………………………………..……… Họ và tên chủ hộ: .................................................................................................... . Họ tên điều tra viên:…. ............................................................................................ . Ngày phỏng vấn: ...................................................................................................... . I- MỘT SỐ THÔNG TIN CHỦ YẾU VỀ HỘ. 1.1- Danh sánh những người trong gia đình (gồm cả chủ hộ): T Tuổi Quan hệ Văn hoá Đƣợc đào tạo Nghề nghiệp hiện tại T Họ và tên với chủ hộ o ( k biết chữ, (nghề, sơ cấp, trung (sản xuất N2, dịch vụ, nghề Nữ Nam (vợ, con…) cấp1, 2,3) cấp, khác…) phụ, cán bộ, khác…) 1 2 3 4 5 6 7 8 1.2- Nguồn gốc của hộ: + Bản địa + Từ nơi khác đến 1.3- Theo chuẩn nghèo mới: + Là hộ nghèo + Là hộ TB + Là hộ khá II- ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA HỘ 2.1- Ai trong gia đình ông bà đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Ông Bà Chồng Vợ Con trai Con gái 2.2- Tình hình sử dụng đất đai của hộ ông ( bà): Loại đất Diện tích (m2) 1- Đất đang sử dụng: - Đất thổ cƣ: - Đất nông nghiệp - Đất lâm nghiệp 2- Đất chƣa sử dụng - Đất bằng - Đất đồi núi - Mặt nƣớc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 99.
    91 2.3- Nguồn gốcđất của hộ ông (bà) Loại đất Diện tích (m2) - Có từ trƣớc - Nhà nƣớc giao - Mua - Cha mẹ cho 2.4.Những tài sản chủ yếu của gia đình ông (bà): Loại tài sản Đơn vị Số lƣợng Giá trị (1000đ) 1. Tài sản cho sinh hoạt 1-Nhà ở: - Nhà xây m2 - Nhà sàn, gỗ, ván m2 - Nhà tranh tre, nứa lá m2 2-Phƣơng tiện đi lại: - Xe đạp Chiếc - Xe máy Chiếc 3. Phƣơng tiện nghe nhìn: - Tivi Chiếc - Đài Chiếc 4.Trang bị nội thất: - Giƣờng Chiếc - Tủ Chiếc - Bàn ghế Chiếc 5. Quạt điện Chiếc 6. Tủ lạnh Chiếc 7. Điện thoại Chiếc 8.Bếp ga cái 9. Giếng nƣớc, bể nƣớc cái 10. Nhà vệ sinh cái 2. Tài sản là công cụ sản xuất: 1. ôtô tải Chiếc 2. Máy bơm Chiếc 3. Máy cày bừa Chiếc 4. Máy tuốt lúa Chiếc 5. Máy xay xát Chiếc 6. Máy cƣa Chiếc 7.Máy quay, vò chè Chiếc 8.Trâu, bò (cày, kéo) con 9.Chuồng trại, chăn nuôi 1000đ 10.Tài sản khác 1000đ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 100.
    92 2.5.Tìnhhình vốn dùng cho sản xuất kinh doanh trong năm Nguồn gốc vốn vay Số tiền Thời lãi điều kiện để hạn vay xuất đƣợc vay 1.Vay từ ngân hàng Nông nghiệp 2.Vay từ ngân hàng Chính sách 3.Vay từ dự án, quỹ..qua Hội đoàn thể. 4.Vay từ các cá nhân, ngƣời thân quen 5. Vốn tự tích luỹ đƣợc Cộng tổng vốn hiện có của gia đình ………triệu - Ông hay bà là ngƣời quản lý vốn? Vợ  chồng  cả vợ và chồng  - Ông hay bà là ngƣời đứng tên vay vốn Vợ  chồng  ngƣời khác  - Ông hay bà là ngƣời đi trả tiền lãi Vợ  chồng  ngƣời khác  - Ông hay bà là ngƣời quyết định sử dụng Vợ  chồng  cả vợ và chồng  III. THU NHẬP CỦA GIA ĐÌNH Số Số tiền/năm So mức độ đóng góp của chồng với vợ TT Các nguồn thu (đồng) Cao hơn Thấp hơn Ngang bằng 1 Trồng trọt 2 Chăn nuôi 3 Thuỷ sản 4 Lâm nghiệp 5 Tiểu thủ CN 6 Dịch vụ 7 Từ làm thuê IV- THÔNG TIN VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG Ai trong gia đình ông (bà) là ngƣời phân công lao động, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong gia đình: Chồng  vợ  3.1-Phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp Ai làm chính Các công việc sản xuất Vợ Chồng Vợ và chồng Đi thuê 1.Trồng lúa: -Làm đất ( cày, bừa) - Gieo mạ - Cấy - Bón phân - Làm cỏ, Phun thuốc - Gặt - Tuốt - Phơi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 101.
    93 2. Trồng màu: - Làm đất - Geo hạt, trồng cây - Bón phân - Phun thuốc - Thu hoạch 3. Trồng chè - Bón phân - Phun thuốc - Tƣới nƣớc - Hái chè - Sao, vò chè - Đi bán 4.Chăn nuôi: - Lấy ( mua) thức ăn - Chăm sóc: cho ăn, thuốc… - Đi bán 3.2. Phân công lao động trong hoạt động dịch vụ Ông bà bán hàng: +Tại nhà mình + Thuê cửa hàng để bán  + Bán ở chợ  Ai làm chính Các loại công việc Vợ Chồng Vợ và chồng Đi thuê - Chon mặt hàng để bán - Đi mua, chở hàng về - Bán hàng - Ghi sổ, quản lý -Trả nợ, đòi nợ khách hàng 3.3. Phân công lao động trong hoạt động Lâm nghiệp Ai làm chính Các loại công việc Vợ Chồng Vợ và chồng Đi thuê - Phát cây, dọn đồi, đốt - Cuốc hố, trồng cây -Chăm sóc rừng -Lấy măng, sản phẩm phụ - Khai thác gỗ, bán 3.4. Phân công lao động trong nghề tiểu thủ công nghiệp mây, tre, mành cọ Ai làm chính Các loại công việc Vợ Chồng Vợ và chồng Đi thuê - Lấy, mua nguyên liệu - Chẻ, vuốt nan - Đan, dệt - Sấy - Chở đi bán Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 102.
    94 3.5. Phân cônglao động trong các hoạt động khác Ai làm chính Các hoạt động Vợ Chồng Vợ và chồng 1.Hoạt động tái sản xuất: - Nội trợ: Nấu cơm, giặt… - Chăm sóc sức khoẻ gia đình - Kèm dạy học cho con - Lấy củi đun - Mua sắm, xây dựng, sửa chữa 2.Hoạt động cộng đồng -Tham gia các cuộc xóm - Dự tuyên truyền CS, PLuật… - Dự đám ma, đám cƣới, lễ… - Là hội viên hội đoàn thể - Lao động công ích, ZT - Tham gia bộ máy lãnh đạo xóm V- TIẾP CẬN THÔN TIN Ngƣời đƣợc tiếp cận Các nguồn thông tin Chồng Vợ (con trai) ( con gái) - Từ chồng - Hội phụ nữ, hội nông dân - Họ hàng, ngƣời thân quen - Từ chợ - Cán bộ khuyến nông - Cửa hàng vật tƣ nông nghiệp - Xem ti vi, đài, sách báo, tạp chí, bản tin - Kinh nghiệp của bản thân Ông bà có đƣợc tham dự các lớp tập huấn không: có  không  Ông bà đƣợc tham dự các nội dung gì sau đây : - Quản lý kinh tế hộ: Vợ  Chồng  - Kiến thức về Giới: Vợ  Chồng  - Kỹ thuật trồng trọt: Vợ  Chồng  - Kỹ thuật chăm nuôi: Vợ  Chồng  - Kỹ thuật trồng rừng : Vợ  Chồng  - Kỹ thuật trồng chè: Vợ  Chồng  - Phòng trừ dịch hại: Vợ  Chồng  Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 103.
    95 VI-TRONG GIA ĐÌNHÔNG BÀ AI LÀ NGƢỜI RA QUYẾT ĐỊNH. Ngƣời quyết định chính TT Nội dung Vợ Chồng cả vợ và chồng 1 Phân công công việc sản xuất, kinh doanh 2 Lựa chọn cây con giống, mặt hàng bán 3 Áp dụng khoa học kỹ thuật vào SX 4 Mua sắm, xây dựng, sửa chữa lớn trong nhà 5 Sử dụng thu nhập của gia đình 6 Cho con cái học hành 7 Định hƣớng nghề nghiệp cho con cái VII- SỬ DỤNG QUỸ THỜI GIAN CỦA PHỤ NỮ Trong một ngày, bà sử dụng quỹ thời gian cho từng việc nhƣ thế nào? Loại công việc Số giờ thực hiện (giờ) Công việc tạo thu nhập Công việc nội trợ Lấy củi đun Chăm sóc sức khỏe gia đình Dạy con học hành Tham gia công tác xã hội Vui chơi, thăm bạn bè Ngủ, nghỉ VIII- CÁC NỘI DUNG KHÁC 6.1. Lúc kết hôn bà (vợ ông) bao nhiêu tuổi? ………tuổi 6.2. Bà ( vợ ông) sinh con lần đầu vào khi nào? Dƣới 20 tuổi  Từ 21-30 tuổi  Từ 31- 40 tuổi  6.3. Lần sinh gần đây bà ( vợ ông) có đi khám thai không? Có  không  Nếu có trả lời tiếp: 01 lần  02 lần  03 lần  Trên 03 lần  6.4. Ông bà có sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình không? có  không  Nếu có, ông bà thƣờng sử dụng biện pháp nào sau đây? Đặt vòng  Bao cao su  Uống thuốc  Biện pháp khác 6.5. Ông (bà) có đưa con đi tiêm chủng theo hướng dẫn của y tế thôn bản không? Có  không  Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 104.
    96 6.6. Khi cóngười trong gia đình ốm (đặc biệt là cháu nhỏ) ông (bà ) thường: Tự mua thuốc về điều trị: ( vợ làm  chồng làm ) Đƣa đến trạm xá khám  Mời bác sỹ đến nhà  6.7. Ông (bà) hãy cho ý kiến của mình về các nội dung sau: + Việc nội trợ nấu cơm, giặt quần áo, chăm sóc con… là việc của phụ nữ : đúng  sai  + Đi họp, tập huấn, nghe tuyên truyền là việc của đàn ông: đúng  sai  + Làm nhà, mua bán tài sản lớn việc của đàn ông: đúng  sai  + Mua bán đồ dùng hàng ngày là việc của phụ nữ : đúng  sai  + Quyền quyết định cuối cùng là của đàn ông: đúng  sai  + Vợ phải nghe chồng: đúng  sai  CHỦ HỘ (ký tên) CÁN BỘ ĐIỀU TRA (ký tên) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  • 105.
    97 PHIẾU ĐIỀU TRA NHANH Huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên Họ và tên ngƣời đƣợc điều tra: ................................................................................ . Xóm:…………….…….....................Xã:……………………………………..……… Họ tên điều tra viên:…. ............................................................................................ . Ngày phỏng vấn: ...................................................................................................... . 1- Ai trong gia đình ông (bà) là ngƣời phân công lao động, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong gia đình: Chồng  vợ  2- Ông bà có đƣợc tham dự các lớp tập huấn không: có  không  Nếu có, ông bà đã đƣợc tham dự các nội dung gì sau đây : - Quản lý kinh tế hộ: Vợ  Chồng  - Kiến thức về Giới: Vợ  Chồng  - Kỹ thuật trồng trọt: Vợ  Chồng  - Kỹ thuật chăm nuôi: Vợ  Chồng  - Kỹ thuật trồng rừng : Vợ  Chồng  - Kỹ thuật trồng chè: Vợ  Chồng  - Phòng trừ dịch hại: Vợ  Chồng  NGƢỜI ĐƢỢC ĐIỀU TRA CÁN BỘ ĐIỀU TRA (ký tên) (ký tên) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn