ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
 TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH




                 HỨA ĐÌNH HÒA




       ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC TIẾP CẬN
NGUỒN NƢỚC ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN
  XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN




       LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ




              THÁI NGUYÊN, NĂM 2008
1


                   ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
      TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH




                                       HỨA ĐÌNH HÒA




         ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC TIẾP CẬN
  NGUỒN NƢỚC ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN
    XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN


                                            : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
                                        Mã số: 60.31.10



                   LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ


                Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Chí Thiện




                                THÁI NGUYÊN, NĂM 2008

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên           http://www.lrc-tnu.edu.vn
2


                                       LỜI CẢM ƠN


        Luận văn đuợc hoàn thành là quá trình học tập nghiên cứu và tích luỹ
kinh nghiệm của tác giả. Trước hết tôi xin bày tỏ lòng chân thành cảm ơn đối
với các lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái
Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn này.
        Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với lãnh đạo Khoa Đào tạo Sau
đại học - Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên
        Để có được kết quả này, tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâu
sắc đến TS. Trần Chí Thiện - người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi làm đề tài.
        Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo,
các bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn nhất
        Luận văn hoàn thành, không thể không nhắc tới sự giúp đỡ của các cán
bộ UBND xã Tân Lập, nơi tôi thực hiện luận văn này. Đã luôn tạo điều kiện
rất thuận lợi cho tôi trong việc thu thập số liệu, nghiên cứu địa bàn.
        Cuối cùng thôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thành viên trong gia đình
tôi, những người đã tạo điều kiện cho tôi cả về vật chất lẫn tinh thần, để tôi
hoàn thành kháo học cũng như luận văn này. Tôi cũng xin cảm ơn nhóm sinh
viên đã cùng tôi đi nghiên cứu địa bàn và thu thập số liệu.
        Một lần nữa tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của mọi người.
                                                  Thái nguyên, ngày tháng năm 2008
                                                            Tác giả luận văn


                                                            Hứa Đình Hoà




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên               http://www.lrc-tnu.edu.vn
3




                                       LỜI CAM ĐOAN

        Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi số
liệu sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn. Các số liệu sơ cấp là kết quả
điều tra, đánh giá của tôi, và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình
nghiên cứu nào khác.
                                                      Thái nguyên, ngày tháng
                                                          năm 2008
                                                              Tác giả luận văn
                                                              Hứa Đình Hoà




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên           http://www.lrc-tnu.edu.vn
4


            DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT       Nội dung                                     Ký hiệu, viết tắt
1        Khoa học và Công nghệ                        KH&CN
2        Tài nguyên nước                              TNN
3        Lưu vực sông                                 LVS
4        Uỷ ban nhân dân                              UBND
5        Tài nguyên và Môi trường                     TN&MT
6        Phát triển nông thôn                         PTNT
7        Xây dựng cơ bản                              XDCB
8        Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn      PCLB&TKCN
9        Vệ sinh môi trường nông thôn                 VSMTNN
10       Khoa học thuỷ lợi                            KHTL
11       Kinh tế xã hội                               KTXH
12       Hội nước quốc tế                             IWRA




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
5


                                               MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 3
2.1. Mục tiêu chung ........................................................................................... 3
2.2. Mục tiêu cụ thể ........................................................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài ................................................................... 3
4. Đóng góp mới của luận văn .......................................................................... 4
5. Bố cục của luận văn ...................................................................................... 4
Chƣơng I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
            NGHIÊN CỨU ................................................................................. 5
1.1. Cơ cở khoa học của đề tài .......................................................................... 5
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài ........................................................................... 5
1.1.1.1. Tình hình tài nguyên nước của Việt Nam ............................................ 5
1.1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước ....................... 8
1.1.1.3. Vai trò của nước và khả năng tiếp cận nguồn nước phục vụ
         sản xuất nông nghiệp ........................................................................... 14
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ...................................................................... 15
1.1.2.1. Đánh giá nguồn nước tại một số tỉnh khó khăn miền núi phía Bắc ....... 15
1.1.2.2. Tình hình nguồn nước của tỉnh Bắc Kạn ........................................... 18
1.1.2.3. Tình hình phát triển của hệ thống thuỷ lợi ở tỉnh Bắc Kạn ................... 22
1.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài ......................................................... 25
1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................... 25
1.2.2. Cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu ........................................... 26
1.2.3.Các phương pháp nghiên cứu cụ thể ...................................................... 26
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                                 http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin ......................................................... 26
1.2.3.2. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu ................................................. 26
1.2.3.3. Phương pháp phân tích số liệu ........................................................... 27
1.2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu ................................................................ 28
1.2.4.1. Chỉ tiêu phản ánh khả năng tiếp cận nguồn nước của hộ .................. 28
1.2.4.2. Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và chi phí của hộ ........................ 29
1.2.4.3. Một số chỉ tiêu bình quân ................................................................... 29
Chƣơng II: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC
            TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TẠI XÃ TÂN LẬP,
            CHỢ ĐỒN, BẮC KẠN ................................................................... 30
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu xã Tân Lập, Chợ Đồn, Bắc Kạn ............... 30
2.1.1. Điều kiện tự nhiên xã Tân Lập .............................................................. 30
2.1.1.1. Vị trí Địa lý ........................................................................................ 30
2.1.1.2. Đặc điểm địa hình huyện Chợ Đồn và xã Tân Lập............................ 30
2.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết của xã Tân Lập - huyện Chợ Đồn .......... 31
2.1.1.4. Đặc điểm thuỷ văn của xã .................................................................. 32
2.1.1.5. Đặc điểm tài nguyên đất đai của xã ................................................... 33
2.1.1.6. Tài nguyên khoáng sản của xã ........................................................... 35
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội của xã ............................................................. 36
2.1.2.1. Tình hình dân số và lao động ............................................................. 37
2.1.2.2. Cơ sở hạ tầng của xã .......................................................................... 37
2.1.2.3. Đánh giá những tác động của điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã
         hội phát triển nông nghiệp và hạ tầng thuỷ lợi của địa phương ........... 41
2.1.2.4. Đặc điểm của nhóm hộ điều tra. ........................................................ 42
2.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp và tiếp cận nguồn nước của người
         dân xã Tân Lập ...................................................................................... 45
2.2.1. Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra ................................................ 45
2.2.2. Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp của hộ ................................ 50
2.2.2.1 Kết quả sản xuất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra .......................... 50
2.2.3. Phân tích tình hình sản xuất lúa của hộ ................................................. 57
2.3. Phân tích quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất của hộ ............. 61
2.3.1. Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất lương thực của
         các hộ nông dân xã Tân Lập ................................................................. 61
2.3.2. Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước với cơ cấu thu nhập của hộ .... 62
2.3.3. Phân tích ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn nước đến thu
         nhập của hộ ........................................................................................... 65
2.3.4. Kết luận về tình hình thu nhập và ảnh hưởng của khả năng tiếp cận
         nguồn nước đến thu nhập của hộ .......................................................... 69
Chƣơng III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ TĂNG KHẢ NĂNG TIẾP
            CẬN NGUỒN NƢỚC VÀ TĂNG THU NHẬP CHO HỘ
            NÔNG DÂN XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN ....................... 71
3.1. Các giải pháp chung sử dụng nguồn nước ............................................... 71
3.1.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nước phục vụ SXNN ................ 71
3.1.2. Tình hình thuỷ lợi và một số giải pháp thuỷ lợi cho các tỉnh miền
         núi phía Bắc .......................................................................................... 72
3.2. Giải pháp của Nhà nước ........................................................................... 78
3.3. Giải pháp sử dụng nguồn nước cho xã Tân Lập, Chợ Đồn, Bắc Kạn ..... 82
3.3.1. Giải pháp của UBND xã Tân Lập ......................................................... 82
3.3.2. Giải pháp cho khu vực có điều kiện trung bình về nguồn nước ........... 86
3.3.3. Giải pháp cho khu vực không thuận lợi trong việc tiếp cận và sử
         dụng nguồn nước.................................................................................. 86
3.3.4. Giải pháp của các nhóm hộ nông dân xã Tân Lập ................................ 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 88
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 92
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU


Bảng 2.1: Tình lượng mưa, độ ẩm của huyện năm năm 2007 ........................ 31
Bảng 2.2: Tổng diện tích đất tự nhiên xã Tân Lập năm 2007 ........................ 34
Bảng 2.3: Thống kê các công trình thuỷ lợi .................................................... 38
Bảng 2.4: Tình hình nguồn nước xã Tân Lập năm 2007 ................................ 40
Bảng 2.5: Những đặc trưng của nhóm hộ điều tra .......................................... 42
Bảng 2.6: Thông tin chung về chủ hộ điều tra ................................................ 45
Bảng 2.7: Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ........................................ 45
Bảng 2.8: Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra .......................................... 47
Bảng 2.9: Tình hình tài sản phục vụ sản xuất của hộ ..................................... 48
Bảng 2.10: Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của hộ ................................ 50
Bảng 2.11: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của hộ ..................................... 51
Bảng 2.12: Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của hộ .................................... 53
Bảng 2.13: Chi phí ngành trồng trọt của hộ .................................................... 55
Bảng 2.14: Chi phí ngành chăn nuôi của hộ ................................................... 56
Bảng 2.15: Kết quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra................................... 57
Bảng 2.16: Chi phí sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào) .............. 59
Bảng 2.17: Hiệu quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào) ............. 60
Bảng 2.18: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất
           lương thực của các hộ nông dân xã Tân Lập năm 2005 ................... 61
Bảng 2.19: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước với xác định
           phương án sản xuất kinh doanh của hộ năm 2005 ............................ 62
Bảng 2.20: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng thu
           nhập từ nông nghiệp.......................................................................... 65
Bảng 2.21: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng tới
           năng suất lúa ..................................................................................... 67
1


                                   PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
         Nước là một trong những yếu tố cần thiết hàng đầu đến đời sống của
con người nói riêng và đến mọi sự sống trên trái đất nói chung.
         Nước là một yếu tố không thể thay thế của sự sống. N-íc lµ tµi s¶n quý
b¸u cña c¸c hé gia ®×nh lµm kinh tÕ n«ng nghiÖp vµ c¶i thiÖn viÖc sö dông
nguån n-íc lµ mét ph-¬ng ph¸p quan träng lµm ®a d¹ng ho¸ ph-¬ng kÕ vµ lµm
gi¶m yÕu tè yÕu thÕ cña c¸c hé n«ng d©n nghÌo. Mét ph-¬ng ph¸p sö dông
hiÖu qu¶ h¬n nguån n-íc cho viÖc s¶n xuÊt l-¬ng thùc b»ng viÖc tiÕt kiÖm
nguån n-íc quý gi¸ ®Ó ®¸p øng nhu cÇu cho c¸c ph-¬ng s¸ch kh¸c. T¨ng n¨ng
suÊt cña nguån n-íc ë vïng l-u vùc th-îng nguån ®-îc xem nh- lµ mét sù
can thiÖp cèt yÕu sÏ n©ng cao c«ng t¸c qu¶n lý ®Êt ®ai mét c¸ch tæng quan.
        Nước ngọt là nguồn tài nguyên quý hiếm của thế giới, lượng nước ngọt
trên mặt bao gồm các ao, hồ, sông, suối và nước ngầm tầng nông chỉ chiếm
khoảng 2% tổng lượng nước; toàn thế giới hiện có khoảng 430 triệu người
thiếu nước dùng. Việt Nam cũng không ít vùng thiếu nước ngọt và cũng
không ít vùng có nước nhưng bị ô nhiễm, khoảng hai phần ba số dân thiếu
nước và chưa được dùng nước sạch.
        Trên các vùng, nguồn nước ngọt có được nhờ vào nước mưa hằng năm,
lượng nước đó phục vụ đời sống dân cư và các lĩnh vực sản xuất. Với đặc
điểm lượng mưa hằng năm từng vùng khác nhau, nơi cao tới hơn 2.000 (mm)
ly, nơi thấp chỉ 600 - 700 ly; nhưng lượng mưa đó không phân đều trong năm
mà tập trung vào một số tháng trong năm, trong tháng cũng chỉ tập trung vào
một số ngày. Có những trận mưa hàng trăm ly trong ngày gây nên lũ lụt và
nạn xói mòn đất nghiêm trọng; đồng thời tình trạng mưa phân bố không đều
trong năm cũng gây nên những đợt hạn hán khắc nghiệt kéo dài. Vụ hạn từ
cuối năm 2004 đến 2005 kéo dài tới mười tháng ở các tỉnh cực nam Trung Bộ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
2


và Tây Nguyên không những đã gây nên thiệt hại to lớn cho sản xuất nông
nghiệp mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đời sống của cư dân trong vùng.
        Với những đặc điểm thiên nhiên và thiên tai kể trên, đòi hỏi chúng ta
muốn có nền sản xuất, nhất là nông nghiệp, bền vững và ổn định cuộc sống
của nhân dân, phải xây dựng một chiến lược sử dụng nước có cơ sở khoa học
kết hợp kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trên thế giới và trong nước để sử
dụng nguồn nước tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất.
        Các nước trên thế giới và nước ta nhiều năm cũng đã tích lũy được
nhiều kinh nghiệm, nhất là trong lĩnh vực chống xói mòn. Nhưng trong những
năm của thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ 20, do khai thác thiên nhiên, phát triển
kinh tế thiếu khoa học, lãng phí tài nguyên, làm mất cân bằng sinh thái, ô
nhiễm môi trường, nạn lụt lội, hạn hán xảy ra hằng năm ngày càng trầm trọng,
nạn thiếu nước ngọt cho cuộc sống và sản xuất đang trở thành nguy cơ số một
của thế giới. Các nước cần tính đến chiến lược nhằm từng bước giải quyết
một cách cơ bản vấn đề bức xúc này.
       Sản xuất nông nghiệp là một lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều của điều
kiện tự nhiên như: khí hậu, thời tiết, ánh sáng, độ ẩm, đất, nước. Trong đó,
nước là yếu tố quan trọng nhất.
       Tiếp cận nguồn nước, nói cách khác nguồn nước thuận lợi hay không
ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả sản xuất nông nghiệp, do đó ảnh hưởng đến
thu nhập của người dân. Nguồn nước cũng tác động đến phương án sản xuất
kinh doanh, do đó cũng ảnh hưởng đến thu nhập của hộ.
        Xã Tân Lập là một xã miền núi của huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn,
phần lớn diện tích của xã có khó khăn về nguồn nước do hệ thống thuỷ lợi và
khả năng dự trữ kém. Do vậy, thu nhập của hộ cũng bị hạn chế.
        Để có được những chính sách, giải pháp phát triển hệ thống thuỷ lợi nhằm
phục vụ cho người dân, đề tài phải nghiên cứu rõ những ảnh hưởng của khả năng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
3


tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộ, mà chủ yếu là từ nông nghiệp.Vì vậy,
tôi chọn nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của việc tiếp cận nguồn nước đến thu
nhập của hộ nông dân xã Tân Lập, huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn”
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
        Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc tiếp cận nguồn
nước đến thu nhập của hộ nông dân
2.2. Mục tiêu cụ thể
        1) Hệ thống hoá được những lý luận về phát triển sản xuất nông nghiệp và
vai trò của nguồn nước đối với sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân miền núi
        2) Đánh giá được tác động của nguồn nước tới sản xuất nông nghiệp và
thu nhập của hộ
        3) Đề ra được những giải pháp nhằm nâng cao khả nằng tiếp cận
nguồn nước cho các hộ gia đình nông dân
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
        Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khả năng tiếp cận các nguồn nước
và thu nhập của hộ nông dân
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.2.1. Phạm vi không gian
        Đề tài được tổ chức nghiên cứu tại xã Tân Lập - Chợ Đồn - Bắc Kạn
3.2.2. Phạm vi thời gian
        Đề tài nghiên cứu những số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2005 - 2007
        Số liệu sơ cấp năm 2007
3.2.3. Phạm vi nội dung
        Nước có vai trò quan trọng đối với mọi mặt của đời sống. Tuy nhiên,
nội dung đề tài chỉ giới hạn trong ảnh hưởng của nguồn nước sản xuất nông
nghiệp tơi các phương án sản xuất kinh doanh và thu nhập của hộ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
4


4. Đóng góp mới của luận văn
        Đây là một đề tài mới, một hướng nghiên cứu mới trong phát triển nông
nghiệp nông thôn liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý để phát
triển bền vững. Đề tài nghiên cứu sẽ chỉ ra được những ảnh hưởng của khả
năng tiếp cận nguồn nước đến khả năng tăng thu nhập cho hộ nông dân.
        Đề tài sử dụng hàm Cobb - Douglas để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng
của nguồn nước đến tăng thu nhập của người dân.
        Đề tài chỉ ra được những giải pháp cơ bản nhằm tăng khả năng tiếp cận
và hiệu quả sử dụng nguồn nước cho hộ nông dân miền núi xã Tân Lập -
huyện Chợ Đồn - Bắc Kạn.
5. Bố cục của luận văn
        Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, có 3 chương gồm:
        Chương I: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu
        Chương II: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và thực trạng vấn đề nghiên cứu
tại xã Tân lập - Chợ Đồn - Bắc Kạn
        Chương III: Một số giải pháp tăng khả năng tiếp cận nguồn nước và
tăng thu nhập cho hộ nông dân tại xã Tân lập, huyện Chợ Đồn




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
5


                                            Chƣơng I
   TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1.1. Tình hình tài nguyên nước của Việt Nam
        Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất,
nước biển. Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại
thường xuyên hay không thường xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất như:
sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng
tuyết. Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, được
sử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất. Do đó, tài nguyên nước nói
chung và tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định
sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia.
        Tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) của một vùng lãnh thổ hay
một quốc gia là tổng của lượng dòng chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy vào
và lượng dòng chảy được sinh ra trong vùng (dòng chảy nội địa).
         Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước ta
bằng khoảng 847 km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km 3
chiếm 60% và dòng chảy nội địa là 340 km3, chiếm 40%.
         Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương
đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế
giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế
giới. Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến
đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đều
trong năm) và còn phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
6


         Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3,
chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đó
đến hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%), hệ thống sông Đồng Nai 36,3
km3 (4,3%), sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau,
khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 - 2,6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái Bình
và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%), các sông còn lại là 94,5
km3 (11,1%).
        Một đặc điểm quan trọng nữa của tài nguyên nước sông của nước ta là
phần lớn nước sông (khoảng 60%) lại được hình thành trên phần lưu vực nằm
ở nước ngoài, trong đó hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất (447 km3,
88%). Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnh
thổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81,3
km3) chiếm 23,9%, sau đó đến hệ thống sông Mê Kông (53 km3, 15,6%), hệ
thống sông Đồng Nai (32,8 km3, 9,6%) [14].
       Việt Nam không giàu tài nguyên nước, đánh giá, kết luận này rất có giá
trị, giúp chúng ta nhận thức lại một thực tế Việt Nam không giàu có về tài
nguyên nước. Phụ thuộc nhiều vào nguồn nước bên ngoài
        Chúng ta thường nghĩ Việt Nam là quốc gia giàu về tài nguyên nước
(TNN). Hai hệ thống sông lớn Mê Kông, Hồng-Thái Bình của hai đồng bằng
lớn Cửu Long và Bắc bộ cùng những dòng sông dọc bờ biển miền Trung
khiến nhiều người cho rằng Việt Nam thừa nước. Thậm chí có người còn cho
rằng, TNN ở Việt Nam là vô hạn và các hệ thống sông thiên nhiên tiếp tục
cung cấp đủ nước chất lượng tốt cho tương lai. Thế nhưng, những số liệu mới
nhất của Dự án nghiên cứu về nguồn tài nguyên nước của Việt Nam lại khẳng
định điều ngược lại.
       Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn nước của các sông quốc tế. Chỉ
40% lượng nước mặt phát sinh trong nước, có 6 lưu vực sông lớn phụ thuộc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
7


vào dòng chảy từ các nước khác. Cụ thể, gần 57% tổng lượng nước thuộc lưu
vực sông (LVS) Cửu Long, hơn 16% thuộc LVS Hồng-Thái Bình. Hai hệ
thống này đều có nguồn từ Trung Quốc và chảy qua không chỉ một quốc gia.
    Theo tiêu chuẩn quốc tế, mức không đủ nước là dưới 1.700m3/người/năm,
nếu lượng nước sẵn có nằm trong khoảng 1.700m3-4.000m3/người/năm thì có
khả năng xảy ra thiếu nước. Lượng nước bình quân đầu người của cả nước là
9.856m3/năm, với con số này Việt Nam dồi dào về TNN; tuy nhiên, lượng
nước ở các lưu vực sông rất khác nhau, đặc biệt là trong mùa khô ở một số
lưu vực sông kéo dài tới 9 tháng với lượng nước chỉ đạt 20-30% tổng lượng
nước bình quân năm [14].
        Theo tiêu chuẩn quốc tế, trong mùa khô, có 4 trong 16 lưu vực sông
hiện thuộc nhóm “căng thẳng cao” là sông Mã, nhóm sông Đông Nam bộ,
sông Hương và Đồng Nai và có 6 lưu vực sông thuộc nhóm “căng thẳng trung
bình”. Trong đó, lưu vực sông Hồng có mức khai thác cao nhất trong nhóm
trung bình. Hiện nay 80% lượng nước mùa khô của sông Mã được khai thác.
Các sông ven biển Nam Trung bộ có mức khai thác sử dụng gần 75% lượng
nước mùa khô. Tính trung bình toàn quốc, gần 82% lượng nước mặt được
khai thác phục vụ nông nghiệp. Điều này cho thấy mức sử dụng nước cao và
không bền vững [14].
         Thực trạng trên làm gia tăng cạnh tranh đối với cả nước mặt và nước
dưới đất (ngầm) trong mùa khô, ngày càng ít nước cung cấp cho cộng đồng,
do đó 60% dân số sử dụng nguồn nước ngầm. Tuy nhiên, thực tế khai thác
nước ngầm ở mức cao đã gây nên sự sụt giảm nhanh mực nước ở các vùng
quanh Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Tây Nguyên. Đó là chưa kể tới chất lượng
nguồn nước sông và nước ngầm đang suy giảm nhanh do những hoạt động
phát triển liên quan đến nước và đất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
8


        Khoảng 8,5 triệu người ở các đô thị không được tiếp cận với nước sạch
và đối với những người được tiếp cận với nước sạch thì tiêu chuẩn hiện hành
là rất thấp theo tiêu chuẩn quốc tế. Mặc dù gần đây đã có rất nhiều nỗ lực,
nhưng vẫn còn 21 triệu người ở nông thôn không được tiếp cận với nước vệ
sinh và 41 triệu người không được cấp nước theo tiêu chuẩn nước sạch của
Bộ Y tế [14].
1.1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước
        Sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội trong thế kỷ 21 sẽ làm
gia tăng mạnh nhu cầu dùng nước và đồng thời tác động mạnh mẽ đến tài
nguyên nước. Tài nguyên nước (xét cả về lượng và chất) liệu có đảm bảo cho
sự phát triển bền vững kinh tế xã hội trong hiện tại và tương lai của nước ta
hay không. Đây là một vấn đề lớn cần được quan tâm.
         Trước hết, sự gia tăng dân số sẽ kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nước
sạch cho ăn uống và lượng nước cần dùng cho sản xuất. Đồng thời, tác động
của con người đến môi trường tự nhiên nói chung và tài nguyên nước nói
riêng sẽ ngày càng mạnh mẽ, có thể dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng.
        Ở nước ta, mức bảo đảm nước trung bình cho một người trong một năm
từ 12.800 m3/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m3/người vào năm 2000
và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m3/người vào khoảng năm 2020. Tuy
mức bảo đảm nước nói trên của nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 lần so với Châu
Á (3970 m3/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m3/người), nhưng nguồn
nước lại phân bố không đều giữa các vùng. Do đó, mức bảo đảm nước hiện
nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 m3/người đối với các hệ thống
sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã và chỉ đạt 2980 m3/người ở hệ thống
sông Đồng Nai. Nước nào có mức bảo đảm nước cho một người trong một
năm dưới 4000 m3/người thì nước đó thuộc loại thiếu nước và nếu nhỏ hơn
2000 m3/người thì thuộc loại hiếm nước [11]. Theo tiêu chí này, nếu xét
chung cho cả nước thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
9


vùng và lưu vực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu nước và hiếm nước, như
vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ lưu sông Đồng Nai. Đó là chưa
xét đến khả năng một phần đáng kể lượng nước được hình thành ở nước ngoài
sẽ bị sử dụng và tiêu hao đáng kể trong phần lãnh thổ đó.
        Hơn nữa, nguồn nước sông tự nhiên trong mùa cạn lại khá nhỏ chỉ
chiếm khoảng 10 - 40% tổng lượng nước toàn năm, thậm chí bị cạn kiệt và ô
nhiễm, nên mức bảo đảm nước trong mùa cạn nhỏ hơn nhiều so với mức bảo
đảm nước trung bình hàng năm.
        Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân số, nhu cầu
dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp sẽ tăng lên mạnh mẽ
trong tất cả các vùng. Theo kết quả đánh giá năm 1999, tổng lượng nước cần
dùng của cả nước chiếm khoảng 8,8% tổng lượng dòng chảy năm tương ứng
với tần suất 75%, tăng lên tới 12,5% vào năm 2000 và 16,5% vào khoảng năm
2010. Tổng lượng nước dùng để tưới cho cây trồng khá lớn, từ 41 km3 (chiếm
89,8%) năm 1985, tăng lên 46,9 km3 (năm 1990) và 60 km3 năm 2000 (chiếm
85%). Lượng nước cần dùng trong mùa cạn rất lớn, nhất là lượng nước dùng
cho nông nghiệp. Tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn năm 2000 đạt tới
70,7 km3, chiếm khoảng 42,4% tổng lượng nước có khả năng cung cấp trong
mùa cạn (bao gồm nước sông, nước dưới đất và nước do các hồ chứa điều
tiết), hay 51% tổng lượng dòng chảy mùa cạn tương ứng với tần suất 75%.
Vào khoảng năm 2010, tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn có thể tới 90
km3, chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cung cấp hay 65% tổng
lượng dòng chảy trong mùa cạn tương ứng với tần suất 75%. Đặc biệt, ở
không ít vùng và lưu vực sông, lượng nước cần dùng có thể gấp vài lần tổng
lượng nước có thể cung cấp, tức là chẳng những vượt quá xa ngưỡng lượng
nước cần có để duy trì sinh thái mà còn không có nguồn nước tại chỗ để cung
cấp cho sinh hoạt và sản xuất [11].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
10


        Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, đã, đang và sẽ tác động mạnh
mẽ đến nguồn tài nguyên nước. Theo đánh giá bước đầu, vào khoảng năm
2070, với kịch bản nhiệt độ không khí tăng thêm 2,5 - 4,50C, lượng dòng chảy
sông ngòi cũng sẽ biến đổi tuỳ theo mức độ biến đổi của lượng mưa, nếu
lượng mưa giảm 10% thì dòng chảy năm có thể giảm 17 - 53% đối với kịch
bản nhiệt độ không khí tăng 2,50C và giảm 26 - 90% với kịch bản nhiệt độ
không khí tăng 4,50C. Mức độ biến đổi mạnh nhất xẩy ra ở Nam Trung Bộ và
Đông Nam Bộ [11].
        Ngoài ra, trái đất nóng lên sẽ làm cho nước biển có thể dâng cao thêm
0,3 - 1,0m và do đó nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng
bằng châu thổ Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển.
Nếu nước biển dâng 1 m, diện tích ngập lụt là 40.000 km2, chủ yếu ở đồng
bằng sông Cửu Long, 1700 km2 vùng đất ngập nước cũng bị đe doạ và 17
triệu người sẽ chịu hậu quả của lũ lụt [11].
         Cuối cùng, sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước cũng như sự khan hiếm
nguồn nước sẽ càng trầm trọng nếu không có các biện pháp quản lý tốt tài
nguyên nước. Cũng vì lẽ đó mà người ta cho rằng, khủng hoảng nước hiện
nay không chỉ do nước quá ít không đủ để thoả mãn nhu cầu của con người
mà còn do sự quản lý nguồn nước quá kém gây nên hàng tỷ người và môi
trường gánh chịu hậu quả.
* Thực trạng và nguyên nhân gây lãng phí nguồn nƣớc sản xuất nông nghiệp
         1. Các hiện tượng chính gây lãng phí, thất thoát nước tưới phục vụ sản
xuất nông nghiệp, bao gồm:
         Tổn thất trong quá trình dẫn nước từ công trình đầu mối đến mặt
ruộng, do ngấm, kênh bị bồi lắng, sạt lở... cản trở dòng chảy, thiếu các công
trình điều tiết nước cho từng khu tưới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
11


        Tưới ngập thường xuyên: Đây là biện pháp tưới truyền thống, phù hợp
tưới cho lúa. Tuy nhiên, theo kết quả nhiều công trình nghiên cứu, việc tưới
nước cho cây lúa theo quy trình “nông, lộ, phơi” sẽ mang lại hiệu quả kinh tế
nhất, tức là có những thời kỳ chúng ta hạn chế cấp nước mà phải để lộ ruộng
và phơi ruộng theo yêu cầu sinh trưởng của cây trồng. Việc tưới ngập thường
xuyên suốt vụ theo tập quán của nông dân đã gây ra lãng phí nước rất lớn,
chưa kể tình trạng lượng nước dư thừa từ ruộng chảy xuống kênh tiêu.
        Chưa có biện pháp tích cực hạn chế bốc hơi mặt thoáng: Đây là hiện
tượng tự nhiên cũng gây tổn thất nước rất lớn, ví dụ: tổng lượng bốc hơi bình
quân tại trạm Tuyên Quang là 1.193,9mm/năm, lượng mưa là 1.145,8 mm/năm;
tại trạm Phan Rang - Ninh Thuận, tổng lượng nước bốc hơi bình quân là
1.730 mm/năm, trong khi đó lượng mưa có 815 mm/năm. Trước đây, người
nông dân có phong trào dùng bèo phủ lên mặt thoáng của ruộng, xung quanh
gốc cây trồng, vừa hạn chế bốc thoát hơi nước và làm phân xanh, tăng cường
độ đạm trong đất. Hiện nay, phong trào đó không còn, một vài địa phương,
người dân dùng ni lông để che phủ cho một số loại cây trồng, nhưng chi phí
tốn kém.
        Tưới tràn, vượt quá khu vực cây trồng có khả năng sử dụng được nước
tưới: Điều này xảy ra đối với việc cấp nước cho cây công nghiệp, cây ăn quả,
khi chúng ta tưới nước để chẩy tràn trên mặt đất.
        Tưới quá nhiều làm nước thấm quá sâu so với chiều sâu bộ rễ cây
trồng: Cây trồng chỉ có khả năng hấp thụ nước trong phạm vi của rễ cây, nếu
chúng ta tưới nhiều, nước sẽ ngấm sâu hơn so với chiều sâu của bộ rễ, gây
lãng phí.
        Tưới tiết kiệm nước và sử dụng nước tiết kiệm là những biện pháp cấp
nước theo yêu cầu và khả năng hấp thụ nước theo từng thời đoạn sinh trưởng
của cây trồng, hạn chế lượng nước dư thừa nhưng không ảnh hưởng đến năng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
12


suất, chất lượng cây trồng. Vụ 3 năm 2005, Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh An
Giang đã thử nghiệm xây dựng mô hình tưới tiết kiệm nước cho lúa trên diện
tích 17,3 ha của 19 hộ nông dân tại phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên,
tỉnh An Giang (trong đó: 8,3 ha của 9 hộ nông dân sử dụng biện pháp tưới tiết
kiệm nước; 9 ha của 10 hộ nông dân còn lại sử dụng biện pháp tưới truyền
thống để đối chứng). Bằng việc đặt ống theo dõi mực nước trong ruộng và áp
dụng biện pháp tưới ướt khô xen kẽ của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI),
nông dân làm thí nghiệm đã giảm bình quân 4 lần bơm nước vào ruộng trong
1 vụ lúa, so với 8 lần bơm nước theo tập quán nông dân, tiết kiệm nước tưới,
ít sâu bệnh, giảm được 7,9% số diện tích bị đổ ngã, tỷ lệ chắc chiếm 78,2%,
cho năng suất 5,8 tấn/ha, tăng 0,5 tấn/ha so với ruộng đối chứng. Giá thành
sản xuất của ruộng ""tưới tiết kiệm"" chỉ 1.142 đồng/kg lúa, trong khi ruộng
đối chứng tới 1.382 đồng/kg, mức chênh lệch 240 đồng/kg. (Nguồn NNVN).
        Như vậy, áp dụng biện pháp tưới cổ truyền đã làm cho lượng nước tưới
lãng phí rất lớn.
        Theo số liệu thống kê, hiện tại các hệ thống công trình thuỷ lợi đảm bảo tưới
cho 7,61 triệu ha lúa, nếu với mức tưới bình quân 4.500 m < sup >3 < / sup > / ha - vụ,
chỉ cần tiết kiệm được 10% lượng nước tưới thì sẽ tiết kiệm khoảng 3 tỷ
m<sup>3</sup> nước. Trong khi đó, để xây dựng hồ chứa Nước Trong thuộc
tỉnh Quảng Ngãi chỉ có dung tích 258 triệu m3 đã phải tốn gần 1.642 tỷ đồng.
Như vậy, nếu chúng ta tiết kiệm được nước tưới sẽ tiết kiệm được chi phí đầu
tư, xây dựng công trình thuỷ lợi và chi phí xã hội rất lớn.
        2. Nguyên nhân gây lãng phí, thất thoát nước tưới phục vụ sản xuất
nông nghiệp, bao gồm:
        Để xẩy ra hiện tượng lãng phí, thất thoát nước, ngoài nguyên nhân về
công trình, trang thiết bị chưa được đầu tư xây dựng, nâng cấp sửa chữa, còn
do những hạn chế trong công tác quản lý. Cụ thể:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên             http://www.lrc-tnu.edu.vn
13


        Công trình chưa có chủ thực sự: Theo Pháp lệnh khai thác &BVCTTL,
các công trình thuỷ lợi do các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi và
các hợp tác xã dùng nước quản lý, nhưng hầu hết các địa phương đều chưa
phân cấp rõ đâu là công trình do doanh nghiệp quản lý, công trình do hợp tác
xã dùng nước quản lý. Tình trạng vi phạm phạm vi bảo vệ công trình diễn ra
ngày một nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả cấp nước của
công trình. Kể cả công trình đã được phân cấp nhưng quyền hạn và trách
nhiệm chưa rõ ràng:
          + Đối với công trình do doanh nghiệp quản lý: Do không có hoặc
thiếu kinh phí quản lý, nâng cấp, sửa chữa nên doanh nghiệp quản lý theo
kiểu có đến đâu sửa đến đó, công trình còn đến đâu phục vụ đến đó, chỉ tập
trung chủ yếu vào sửa chữa máy móc thiết bị, còn phần công trình, kênh
mương gần như bỏ ngỏ. Chủ của các công trình này là Nhà nước và giao cho
Giám đốc doanh nghiệp quản lý, nhưng do cơ chế, chính sách trong quản lý
khai thác chưa đồng bộ, thiếu kính phí nên công trình xuống cấp, hư hỏng
cũng không ai chịu trách nhiệm.
          + Đối với công trình do hợp tác xã dùng nước quản lý (hiện nay chủ
yếu là hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp quản lý): Chủ nhiệm hợp tác xã do xã
viên bầu, chế độ tiền lương thấp, nên hầu hết làm việc theo kiểu “được chăng
hay chớ”, còn bầu thì làm, không thì nghỉ, các chế tài quản lý chưa đầy đủ,
nên trách nhiệm rất hạn chế. Trình độ chuyên môn của cán bộ thuỷ nông hầu
như không có, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm và lòng nhiệt tình. Chủ của
các công trình này là tập thể xã viên hợp tác xã nên không có ai chịu trách
nhiệm một cách cụ thể, công trình còn hoạt động được thì hợp tác xã quản lý
vận hành, khi công trình hư hỏng thì bàn giao trả Nhà nước.
         Các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý khai thác công
trình thuỷ lợi còn thiếu và chưa đồng bộ như các văn bản về hướng dẫn về tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
14


chức quản lý, chế độ tài chính, phân cấp công trình... Bên cạnh đó, nhiều địa
phương chưa triển khai thực thi đầy đủ các văn bản đã có.
        Ý thức sử dụng nước của người nông dân chưa cao: Họ thường coi
nước là ""của trời"", công trình cấp nước đã có Nhà nước đầu tư, bản thân họ
đã đóng thuỷ lợi phí nên họ phải sử dụng cho “đủ”. Kiến thức sử dụng nước
của hầu hết người dân còn nhiều hạn chế, họ không được trang bị kiến thức về
yêu cầu nước tưới theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây trồng... dẫn đến tình
trạng lấy nước quá nhiều, dư thừa.
        Trách nhiệm giữa đơn vị cung cấp nước và người hưởng lợi được thực
hiện thông qua hợp đồng kinh tế nhưng chưa rõ ràng và chưa nghiêm túc.
Theo Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, đơn vị cung cấp nước
và đơn vị sử dụng nước có trách nhiệm ký kết hợp đồng kinh tế ngay từ đầu
vụ làm cơ sở để thực hiện và thanh quyết toán vào cuối vụ sản xuất. Nhưng
thực tế nhiều địa phương xảy ra tình trạng đơn vị sử dụng nước ký hợp đồng
thấp hơn so với diện tích thực phục vụ và chây ỳ trong việc thanh toán thuỷ
lợi phí (từ năm 1999 đến năm 2003 cả nước nợ đọng thuỷ lợi phí 332,450 tỷ
đồng). Đây là hiện tượng vi phạm hợp đồng kinh tế nhưng Nhà nước cũng
chưa có chế tài cụ thể. Dẫn đến tình trạng các đơn vị cung cấp nước không có
kinh phí tu bổ công trình đảm bảo dẫn nước.
1.1.1.3. Vai trò của nước và khả năng tiếp cận nguồn nước phục vụ sản
        xuất nông nghiệp
        Nước là một loại vật chất đặc biệt, chiếm 3/4 bề mặt trái đất. Trong cấu
trúc động, thực vật thì nước chiếm tới 95 - 99% trọng lượng các laòi cây dưới
nước, 80% trọng lượng các loài cá, 70% các loại cây trên cạn, 65 - 75% trọng
lượng con người và các động vật [11].
        Nước là nền tảng của sự sống, không một sinh vật nào có thể sống thiếu
nước. Nước là điều kiện đầu tiên xác định sự sinh tồn của sự sống, của con
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
15


người cũng như của nền sản xuất nông nghiệp. Từ đó thấy được nghĩa vụ của
mình trong việc giữ gìn và bảo vệ nguồn tài nguyên nước.
        Do nguồn tài nguyên nước phân bố không đều, đối với Việt Nam, tài
nguyên nước ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững. Các kết quả nghiên cứu
gần đây ở Việt Nam dự báo, tổng lượng nước mặt của nước ta vào năm 2025
chỉ bằng khoảng 96%, đến năm 2070 xuống còn khoảng 90% và năm 2100
chỉ còn khoảng 86% so với hiện nay.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1.2.1. Đánh giá nguồn nước tại một số tỉnh khó khăn miền núi phía Bắc
       Gắn phát triển kinh tế - xã hội với thực hiện các chính sách dân tộc, từng
bước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân; bảo vệ môi trường sinh thái
cho vùng và hạ lưu ở đồng bằng Bắc Bộ; góp phần giữ vững an ninh quốc
phòng”. Để thực hiện được mục tiêu xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế -
xã hội ở 6 tỉnh miền núi phía Bắc đặc biệt khó khăn cần thiết phải đầu tư cơ
sở hạ tầng nói chung, cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nói riêng.
        Trên địa bàn các tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc có tổng diện
tích tự nhiên 58.265 km2, dân số 3,405 triệu người, được chia ra 956 đơn vị
cấp xã, trong đó có 444 xã, bản với số dân 1,403 triệu người thường xuyên
thiếu nước sinh hoạt và sản xuất [6]. Nguồn nước hiện nay được sử dụng chủ
yếu là nước tại các nguồn lộ, nước khe, nước suối với lưu lượng rất hạn chế,
hơn thế nữa các nguồn nước này đều không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh cho
ăn uống và sinh hoạt. Các cao nguyên đá vôi thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc
Kạn, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu có địa hình karst phân cắt mạnh không có
điều kiện tàng trữ nước mặt, nguồn nước cho sinh hoạt thường xuyên thiếu
trầm trọng đặc biệt về mùa khô. Một số tỉnh như: Sơn La, Lai Châu, Điện
Biên có nhu cầu lớn về nước sạch phục vụ các khu di dân, tái định cư, các
công trình thuỷ điện. Để từng bước giải quyết những khó khăn về nước cho
đồng bào các dân tộc vùng cao thuộc 6 tỉnh miền núi phía Bắc (Sơn La, Lai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
16


Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn) cần thiết phải tiến hành điều
tra, đánh giá khai thác nguồn nước ngầm.
       Công tác điều tra, đánh giá nước dưới đất phục vụ cấp nước cho nhân
dân ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung, trong đó có các tỉnh đặc biệt khó
khăn. Kết quả đạt được là rất đáng khích lệ, tính riêng năm 2002 đã điều tra,
đánh giá được trữ lượng khai thác 18.521 m3/ngày có khả năng cung cấp nước
sạch cho 300.000 người (mức 60 lít/người/ngày) [13]. Các công trình được lắp
máy bơm điện để khai thác, có bể chứa nước và bàn giao trực tiếp các công
trình cấp nước cho địa phương, kịp thời đáp ứng một phần nhu cầu cấp thiết
về nước sinh hoạt cho nhân dân các huyện Mộc Châu, Yên Sơn (Sơn La);
Mường Lay (Lai Châu); Mường Khương (Lào Cai); Quản Bạ (Hà Giang);
Trùng Khánh (Cao Bằng) và Chợ Đồn (Bắc Kạn). Tuy nhiên, so với số vùng,
số dân còn chưa có nước sạch để sử dụng cần phải điều tra đáp ứng thì những
kết quả trên còn rất nhỏ
         Do đó, để góp phần tích cực thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế –
xã hội tại các tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc theo tinh thần chỉ đạo
của Thủ tướng Chính phủ thì việc đầu tư thực hiện dự án điều tra, đánh giá
nước dưới đất trên địa bàn các tỉnh theo phương châm điều tra kết hợp khai
thác cấp nước sạch tại chỗ cho dân là rất cấp thiết.
         Sáu tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc có dạng địa hình chủ yếu
là núi cao, cao nguyên và các thung lũng giữa núi nhỏ hẹp, dốc đứng. Mức độ
phân cắt địa hình lớn, độ cao trung bình 1000 - 1500m. Do góc dốc địa hình
lớn nên các dòng mặt có trong vùng thường là các dòng tạm thời. Về mùa
mưa các dòng này hầu như cạn kiệt trơ đáy.
         Về tiền đề địa chất, địa chất thuỷ văn: Vùng nghiên cứu tồn tại các thể
địa chất từ già nhất đến trẻ nhất phân bố đan xen, nhiều khi không theo quy
luật do các hoạt động nội ngoại sinh. Nguồn gốc thạch học đa dạng gồm: trầm
tích, biến chất, macma và các sản phẩm phong hoá. Hoạt động tân kiến tạo và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
17


các vận động nội sinh phức tạp biểu hiện đa dạng như các hệ thống đứt gãy
chằng chịt, các hiện tượng lún trượt, lở đất xảy ra thường xuyên.
      Trong vùng nghiên cứu đã phát hiện được nhiều nguồn nước ngầm, nước
khoáng có giá trị. Nước dưới đất tồn tại và vận động chủ yếu ở các đới dập vỡ,
đứt gãy kiến tạo. Tầng chứa nước thường mỏng, phân bố không đồng nhất.
Thành phần hoá học của nước dưới đất đa dạng và có nguồn gốc hình thành
khác nhau. Đặc biệt là cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc và một số vùng khác
do có mực xâm thực rất sâu nên để trả lời câu hỏi có nước dưới đất hay không?,
nước dưới đất tồn tại bao nhiêu mét?, nguồn hình thành và đặc điểm tàng trữ và
vận động ra sao? Vẫn là một câu hỏi lớn cho các nhà địa chất thuỷ văn.
         Mục tiêu và nhiệm vụ của dự án là điều tra, phát hiện các nguồn nước
dưới đất, đánh giá trữ lượng, chất lượng nguồn nước tìm được, phục vụ cấp
nước sinh hoạt tại chỗ cho nhân dân. Cung cấp tài liệu cơ bản về địa chất, địa
chất thuỷ văn, khả năng cung cấp nước dưới đất, làm cơ sở cho quy hoạch
khai thác hợp lý nước dưới đất của địa phương. Ngoài ra, các lỗ khoan địa
chất thuỷ văn đáp ứng được yêu cầu cấp nước được tiến hành kết cấu thành
giếng khoan khai thác (như doa mở rộng đường kính, đặt ống chống, ống lọc
đảm bảo giếng khoan khai thác bền vững), lắp đặt thiết bị khai thác (máy
bơm, ống dẫn, đường điện) để đưa nước trong lỗ khoan lên bể chứa, bàn giao
cho địa phương quản lý, khai thác phục vụ nhân dân.
        Theo tài liệu tại phòng Địa chất cho biết: Cục Địa chất và Khoáng sản
đã có nguồn tài liệu phong phú về địa chất - địa chất thuỷ văn trên toàn lãnh
thổ Việt Nam, đó là thuận lợi cơ bản giúp Nhà nước giảm thiểu chi phí đầu tư.
Ngoài ra, với đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ cao và được đào
tạo cơ bản cả trong và ngoài nước, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt
động điều tra địa chất , chắc chắn dự án sẽ thành công và mang lại hiệu quả
kinh - tế xã hội đáp ứng lòng mong mỏi của đồng bào các dân tộc miền núi.
Kết quả dự án còn giúp các nhà chuyên môn nắm được quy luật hình thành và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
18


vận động của nước dưới đất cũng như quy mô khai thác có thể áp dụng, giúp
các cơ quan quản lý điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế khu vực.
        Đựơc biết, đến năm 2006 dự án sẽ hoàn thành, khoảng 250.000 người
dân thuộc các tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn được tiếp cận và sử dụng nước
sạch, khoảng hơn 100 vùng dân cư, đô thị, di dân được dùng nước trên một
diện tích gần 2.000km2. Đây là một đóng góp không nhỏ trong công cuộc
phát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh miền núi phía Bắc đặc biệt khó khăn. Số
vốn đề nghị để thực hiện dự án là hơn 25 tỷ đồng.
1.1.2.2. Tình hình nguồn nước của tỉnh Bắc Kạn
        Bắc Kạn là nguồn của 5 con sông lớn chảy sang các tỉnh lân cận, đó là
sông Phó Đáy, sông Năng chảy sang tỉnh Tuyên Quang về phía Tây, sông Bắc
Giang chảy sang Lạng Sơn về phía Đông, sông Bằng Giang chảy sang tỉnh Cao
Bằng về phía Bắc và sông Cầu chảy về tỉnh Thái Nguyên.
        Theo thống kê sơ bộ của Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi
trường nông thôn, tỉnh Bắc Kạn hiện có hơn 400 công trình cấp nước tập
trung qui mô vừa và nhỏ, thiết kế theo hệ tự chảy tại các địa bàn đông dân cư,
các trường học nơi vùng sâu vùng xa và khoảng 10.000 lu bể chứa, thiết bị
tích trữ nước sạch và hệ thống giếng khoan đạt chuẩn vệ sinh, chưa kể các
giếng nước do dân tự khơi. Với sự đầu tư của Nhà nước, các tổ chức phi
chính phủ, các nhà hảo tâm và sự đóng góp của nhân dân, Bắc Kạn đã nhanh
chóng đảm bảo cung cấp nhu cầu nước sạch hợp vệ sinh cho hơn 70% dân số,
tăng 59% so với năm 1999, trong đó hơn 18.000 nhân khẩu nơi định canh
định cư không còn thiếu nước sinh hoạt [10].
        Là tỉnh vùng cao, dân trí thấp, kinh tế chậm phát triển, dân cư sống
thưa thớt theo các lũng núi cao, nước sinh hoạt luôn là nhu cầu cấp thiết với
người dân nơi đây. Hơn nữa, thổ nhưỡng tại Bắc Kạn phần nhiều là núi đá
vôi, mùa hè các khe núi còn có nước chảy, bước sang mùa Thu hoặc mùa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
19


Đông và Xuân thì nước các khe núi thường cạn kiệt, người dân các bản vùng
sâu phải đi bộ hàng km mới kiếm được nước về nấu ăn, còn tắm rửa, giặt rũ
thì “mạnh ai ấy làm”. Đối với thanh niên và người có sức khoẻ thì còn leo núi
đi xa bản làng tìm được khe nước để tắm giặt, còn trẻ em, người già thì rất ít
có điều kiện tắm giặt trong mùa khô cạn, vì gùi được nước về nấu ăn đã khó,
lấy đâu ra nước sạch đẻ vệ sinh cơ thể.
        Trước hàng loạt khó khăn ở nơi vùng sâu, nhất là vùng khó khăn trong
việc tiếp cân nguồn nước, tỉnh Bắc Kạn đã ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng
phục vụ sự ổn định vững chắc nơi vùng sâu từ; giao thông, thuỷ lợi, điện lưới,
trường học, trạm y tế đến chuyển giao khoa học kỹ thuật giúp bà con thay đổi
tập quán sản xuất, hình thành những thôn bản định canh định cư và dần
chuyển nếp sinh hoạt cũ theo nếp sống mới. Trong đó, Bắc Kạn đã giành hơn
100 tỷ đồng đầu tư các công trình nước sạch sinh hoạt, giúp nhân dân có điều
kiện thay đổi dần nếp sinh hoạt cổ truyền theo lối hợp vệ sinh. Phương thức
Nhà nước và nhân dân cùng làm đối với các dự án về nước sạch, bà con chỉ
đóng góp công sức và lao động thủ công, nhà nước cấp tiền mua vật tư, thiết
bị, nhân công kỹ thuật. Sau bàn giao công trình cho dân hưởng lợi tự quản lý,
duy tu và sử dụng, do đó đã phát huy tốt hiệu quả các công trình, nhất là hệ
thống nước tự chảy nơi tập trung khu cụm dân cư. Nhờ có sự phối kết hợp
nhịp nhàng gữa nhà nước và người dân hưởng lợi, hàng trăm công trình nước
sạch tập trung tại khu cụm dân cư và hàng nghìn công trình cấp nước nhỏ lẻ
hình thành nhanh chóng xây dựng xong tại hầu khắp các khu cụm dân cư
vùng sâu, nhất là những địa hình núi đá vôi và cát tơ thường xuyên thiếu
nước, góp phần cấp nước sạch đầy đủ cho hơn 18.000 nhân khẩu đã định canh
định cư, góp phần tăng số dân của toàn tỉnh có nước sạch từ hơn 11% năm
1999 lên trên 70% năm 2008.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
20


        Có nước sạch sinh hoạt, ở các thôn bản vùng cao đã dần bắt nhịp theo
nếp sống mới như ăn ở hợp vệ sinh, góp phần loại bỏ tận gốc các mầm bệnh
ngoài da, đường ruột, sốt rét.
        Là tỉnh đầu nguồn sông Cầu, Bắc Kạn đang phải đối mặt với tình trạng
ô nhiễm môi trường đang gia tăng, lưu lượng nước ở đầu nguồn ngày càng
cạn kiệt, tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, gây ra những tác động xấu tới
môi trường và cảnh quan lưu vực sông Cầu
        Tình hình ô nhiễm nguồn nước
        Qua điều tra, khảo sát tổng quan hiện trạng ô nhiễm Arsenic (thạch tín)
nguồn nước của Bắc Kạn do Trung tâm Thông tin Kỹ thuật tài nguyên môi trường
tỉnh tiến hành đã cho thấy, tình trạng nhiễm thạch tín đang ở mức báo động...
Hàm lượng thạch tín tại sông, suối... cao
        Theo tài liệu của Phòng Môi trường (Sở TN & MT) khi phân tích mẫu
nước tại vị trí đuôi nước thải gần các xí nghiệp chế biến khoáng sản. Kết quả
cho thấy, nguồn nước tại các sông suối đều ô nhiễm thạch tín. Điều này cũng
khẳng định, ở những vùng nhiều khoáng sản như Chợ Đồn, Ngân Sơn nguy
cơ nhiễm thạch tín càng cao. Một vài xã ở cuối nguồn nước thải từ khu vực
khai thác quặng ở xã Bằng Lãng như Tủm Tó, Bản Lắc hàm lượng Arsenic
khi thử nhanh đều cao hơn mức quy định.
        Đoàn Trung tâm Thông tin Kỹ thuật TN - MT đã tiến hành điều tra ở 8
huyện thị với 72/122 xã, phường, tập trung vào giếng khoan, giếng đào và
những mạch lộ mà người dân sử dụng làm nước sinh hoạt. Cụ thể, 277 công
trình lấy nước từ khe, mạch lộ, 3 vị trí lấy nước mặt, 306 giếng đào và 114
giếng khoan. Đoàn sử dụng bộ dụng cụ phân tích tại hiện trường, phiếu điều
tra và gửi mẫu về phòng thí nghiệm... Kết quả là chỉ có duy nhất xã Bằng
Lãng (Chợ Đồn) có hàm lượng thạch tín 0,05mg/l (vượt quá tiêu chuẩn quy
định là 0,01mg/l). Những tài liệu nghiên cứu trước đó cũng khẳng định, tại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
21


một số huyện, nguồn nước mặt, nước sinh hoạt đều nhiễm thạch tín ở nhiều
mức độ, qua thời gian chúng sẽ ngấm vào mạch nước ngầm và lại được dùng
làm nước sinh hoạt.
        Bắc Kạn có nhiều sông suối như Sông Cầu, sông Năng, sông Phó Đáy,
sông Bắc Giang, sông Na Rì, sông Hiến, sông Bằng Khẩu... chưa kể hàng
trăm con suối, khe lạch khác.
        Hiện nay, nguồn nước một số vùng trên địa bàn đã chịu ảnh hưởng của
các chất thải, gây hiện tượng ô nhiễm, nguyên nhân gây ô nhiễm được các
khoa học khẳng định, một phần do cấu tạo địa chất. Tuy nhiên, nguyên nhân
chính vẫn do các nhà máy xả thải không qua xử lý, người dân sử dụng nhiều
chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, đào lấp giếng không đúng tiêu chuẩn.
Quan trọng hơn nữa là do hoạt động khai thác khoáng sản ngày càng phát
triển trên địa bàn tỉnh.
        Một trong những biện pháp được Trung tâm Thông tin Kỹ thuật Tài
nguyên và môi trường phổ biến, là dùng phương pháp lọc bằng cách cho
nước thô đi qua khối vật liệu bằng cát, than hoạt tính, vải lọc. Phương pháp
này có thể lọc bớt các chất bẩn nhìn thấy như mănggan, kết tủa sắt, vi khuẩn
và cả Arsenic. Điều này đặc biệt hữu dụng với rất nhiều hộ dân đang sử dụng
giếng đào, giếng khoan ở các thị trấn, thị tứ của tỉnh.
         Mặc dù, tình trạng nguồn nước nhiễm arsenic tại Bắc Kạn chưa quá
nghiêm trọng như tại Hà Nam, An Giang... nhưng nếu người dân sử dụng
trong thời gian dài thì khả năng mắc bệnh là không tránh khỏi. Cần phải có
các giải pháp và chính sách hợp lý để xử lý tình trạng nhiểm asenic.

        * Tình hình thuỷ lợi và phát triển nông nghiệp Miền Núi
        Thuỷ lợi là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứu
khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên
nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
22


        Hệ thống thuỷ lợi được xây dựng ở các tỉnh miền núi còn rất ít so với nhu
cầu của sản xuất. Hầu hết mới chỉ phục vụ tưới tiêu cho lúa và một ít cho cây
trồng cạn và hoa màu. Tưới cho cây ăn quả, cây công nghiệp chưa được đề cập,
còn yếu. Năng lực tưới mới chỉ đáp ứng 20% - 30% đất nông nghiệp hiện có.
Đồng thời mới đạt 40% - 60% công suất thiết kế của các công trình thuỷ lợi [5].
Chi phí đầu tư ban đầu cho công trình thuỷ lợi ở miền núi gấp 2 - 3 lần ở đồng
bằng cho 1 ha canh tác nông nghiệp. Địa hình miền núi phức tạp, lượng mưa
không nhiều, lại phân bố không đều, bốc hơi lớn, đất có tính thấm mạnh, hệ số
dòng chảy nhỏ, diện tích canh tác phân tán và không bằng phẳng nên rất khó
khăn về nguồn nước và bố trí hệ thống tưới mặt ruộng. Các công trình thuỷ lợi
ở Tây Nguyên được xây dựng sau giải phóng Miền Nam mới đảm bảo tưới
30.000 ha lúa đông xuân, 46.000 ha lúa mùa và 44.000 ha cà phê (khoảng 50
diện tích hiện có) và 15% so với diện tích đất ở 5 tỉnh Tây nguyên [5].
        Mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp chính ở các tỉnh miền núi và
Tây Nguyên là ổn định về lương thực, phát triển lợi thế về sản xuất hàng hoá,
đó là phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Phấn đấu
đến năm 2010 tổng sản lượng cây cà phê, cây điều các tỉnh miền núi tăng gấp
3 lần. Diện tích cây ăn quả tăng gấp 5 lần, cây công nghiệp tăng gấp 5 lần,
cây hoa màu tăng gấp 2,5 lần so với hiện nay. Yêu cầu về nước tưới và các
biện pháp thâm canh khác cũng phải đầu tư rất lớn [5].
1.1.2.3. Tình hình phát triển của hệ thống thuỷ lợi ở tỉnh Bắc Kạn
      Bắc Kạn là tỉnh thượng nguồn của lưu vực sông Cầu, có địa hình phức
tạp chủ yếu là núi cao. Hệ thống sông Cầu nằm trên địa bàn tỉnh có độ dốc
lớn, rừng đầu nguồn và thảm phủ thực vật bị thoái hoá, khai thác mạnh nên
hàng năm vào mùa mưa thường xảy ra lũ quét gây thiệt hại lớn về người và
nhà cửa, hoa màu, tài sản, đất đai của nhân dân. Vào mùa khô mực nước trên
các nhánh sông thường cạn gây khô hạn, thiếu nguồn nước cho sản xuất và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
23


sinh hoạt của nhân dân. Với tỉnh Bắc Kạn, phần lớn nhân dân sống bằng nghề
nông nghiệp do vậy nguồn nước trên các nhánh sông có ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống của nhân dân.
      Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các Bộ
ngành trung ương, tỉnh Bắc Kạn đã được đầu tư xây dựng nhiều công trình
thuỷ lợi để chủ động nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và
giảm nhẹ thiệt hại do lũ gây ra. Với các nguồn vốn ngân sách Nhà nước, tài
trợ, dân đóng góp đến nay toàn tỉnh đã xây dựng được hơn 500 công trình
gồm hồ chứa, đập dâng, hệ thống kênh mương, tưới chủ động bằng công trình
5.780 ha ruộng lúa.
      a. Kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất của tỉnh Bắc Kạn trong 6
tháng đầu năm 2006
      Từ đầu năm 2006 Sở Nông nghiệp và PTNT đã cùng các địa phương
kiểm tra, chỉ đạo nạo vét các hệ thống công trình thuỷ lợi, tích luỹ nước trong
các ao hồ, bảo dưỡng các máy bơm trên địa bàn, chủ động tốt công tác cày ải
trước vụ xuân, hoàn thiện thủ tục XDCB để tiến hành thi công một số công
trình trong thời gian tới và tiếp tục khảo sát thiết kế các công tình theo kế
hoạch đầu tư của tỉnh.
      b. Tình hình thiên tai và biện pháp khắc phục của địa phương
      Về hạn hán: Trong 6 tháng đầu năm 2006 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn tình
hình thời tiết diễn biến phức tạp, tình trạng khô hạn xảy ra trên diện rộng.
Việc xảy ra khô hạn đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất vụ xuân. Trước tình hình
đó, chính quyền địa phương đã chỉ đạo nhân dân tích nước vào các ao hồ, nạo
vét tu sửa kênh mương để đảm bảo nguồn nước tưới, mặt khác chỉ đạo nhân
dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp với nguồn nước và kịp thời vụ.
      Về lũ và công tác PCLB-TKCN: UBND tỉnh Bắc Kạn đã ban hành Chỉ
thị số 08/2006/CT - UBND ngày 10/5/2006 về công tác PCLB - TKCN và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
24


giảm nhẹ thiên tai; đã phê duyệt phương án PCLB - TKCN năm 2006 tại
Quyết định số 913/QĐ - UB ngày 10/5/2006, kiện toàn BCH PCLB - TKCN
của tỉnh và chỉ đạo các ngành, các cấp. Ngày 28/4/2006, tổ chức hội nghị tổng
kết công tác PCLB - TKCN giai đoạn 2001 - 2005 và triển khai công tác
PCLB -TKCN năm 2006. Phối hợp với Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn
tỉnh kiểm tra các hệ thống đo mưa, đo mực nước đảm bảo hoạt động tốt để
phục vụ cho công tác PCLB trên địa bàn tỉnh [10].
      c. Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, khó khăn, tồn tại và kiến nghị của
địa phương
      Các vấn đề phát sinh trong lưu vực: Hiện nay diện tích rừng, thảm phủ
thực vật mỏng, địa hình dốc khả năng giữ nước kém nên mùa mưa thường
ngập úng, lũ quét, vào mùa khô các sông suối cạn kiệt ảnh hưởng đến sản
xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Ngoài ra hiện nay các cơ sở công
nghiệp khai thác khoáng sản do công tác xử lý chất thải kém nên gây ô nhiễm
nguồn nước trên một số nhánh sông suối (huyện Chợ Đồn, Na Rì, Ngân Sơn).
        Khó khăn, tồn tại: Công tác quy hoạch thuỷ lợi chưa được thực hiện
toàn diện trên địa bàn toàn tỉnh do vậy việc hoạch định, cân đối sử dụng
nguồn nước lâu dài, đa mục tiêu chưa được tận dụng tối đa. Hiện nay tỉnh
đang tiến hành lập quy hoạch phát triển thuỷ lợi toàn tỉnh, dự kiến hoàn thành
cuối năm 2006.
      d. Yêu cầu phối hợp đa ngành và liên tỉnh trong phát triển lưu vực
      Để ổn định lưu vực sông sự phối hợp đa ngành, liên tỉnh là yếu tố cần
thiết. Trong công tác quản lý nguồn nước cần có sự phối hợp giữa các ngành,
các tỉnh để đảm bảo chất lượng nước và môi trường. Có các giải pháp công
trình và phi công trình để ổn định lâu dài, cân bằng môi trường sinh thái. Về
tổ chức quản lý, có chế chính sách phải có sự thống nhất, phù hợp với điều
kiện tổng thể của lưu vực.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
25


      e. Đề xuất ưu tiên đầu tư trong lưu vực
       Nâng cao năng lực quản lý và khai thác nguồn nước trong lưu vực sông.
      Đầu tư xây dựng công trình phục vụ đa mục tiêu: hồ chứa, đập dâng...
phục vụ sản xuất, nước sinh hoạt, hệ thống cảnh báo nguy cơ sạt lở, lũ quét.
        Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước; Trồng rừng tăng độ
che phủ đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn; Chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
        Đề nghị xem xét xây dựng hệ thống công trình trên toàn lưu vực để
thuận lợi trong việc thu hút các dự án đầu tư bằng nhiều nguồn vốn đông thời
huy động sự tham gia, đóng góp của các tỉnh có hiệu quả hơn.
1.2. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu
        Một là, tiếp cận nguồn nước ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nông
nghiệp và thu nhập của người dân.
        Xã Tân Lập là một xã nghèo của huyện Chơ Đồn, giao thông đi lại rất
khó khăn, nền kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp, trong đó chủ yếu là nông
nghiệp. Để có thu nhập cao từ nông nghiệp đòi hỏi người nông dân phải tiếp
cận tốt được với nguồn nước.
        Hai là, làm thế nào giúp cho các hộ nông dân miền núi tăng khả năng
tiếp cận nguồn nước.
        Đây là một vấn đề quan trọng đối với miền núi hiện nay. Với nền thu
nhập chủ yếu từ nông nghiệp, nhưng dù có nguồn tài nguyên nước dồi dào,
khả năng được tiếp cận nguồn nước của người nông dân lại chưa được nhiều.
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tiếp cận nguồn nước đến thu nhập, nhằm tìm
ra các nguyên nhân nhiều vùng chưa được tiếp cận nguồn nước, làm giảm thu
nhập của các hộ, từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao khả năng tiếp cận
nguồn nước, giúp tăng năng suất, tăng thu nhập của người nông dân nói
chung và người nông dân xã Tân Lập nói riêng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
26


1.2.2. Cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu
        Đề tài sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp
luận nghiên cứu. chủ nghĩa duy vật biện chứng cho chúng ta cái nhìn sự vật
hiện tượng trong mối quan hệ và sự vận động của chúng. Trong đề tài đó là
mối quan hệ giữa tiếp cận và sử dụng nguồn nước đến thu nhập và năng suất
lúa của hộ.
1.2.3.Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
1.2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin
a. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
        Thông tin thứ cấp là những thông tin đã được công bố chính thức. Các
thông tin thứ cấp được thu thập thông qua các báo cáo của các cơ quan
chuyên môn như: Phòng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, phòng kinh tế
- hạ tầng, trạm thuỷ nông, sở NN & PTNT, trên mạng Internet, các văn bản....
b. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
        Thông tin sơ cấp là những thông tin chưa công bố, được thu thập lần
đầu, trong nghiên cứu về nông nghiệp nông thôn, các thông tin sơ cấp có ý
nghĩa rất quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả nghiên cứu.
+ Xác định điểm điều tra
        Để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, căn cứ vào đặc điểm của địa bàn
nghiên cứu, tôi tiến hành lựa chọn điểm điều tra là xã Tân Lập - huyện Chợ Đồn.
+ Xác định mẫu điều tra
        Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa bàn, tôi sẽ tiến hành điều tra ngẫu
nhiên 140 hộ, trong đó mỗi vùng 70 hộ, bằng phiếu điều tra xây dựng trước.
1.2.3.2. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
a. Đối với thông tin thứ cấp
        Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tiến hành phân loại, sắp
xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin. Đối với các
thông tin là số liệu thì tiến hành lập lên các bảng biểu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
27


b. Đối với thông tin sơ cấp
        Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra và nhập vào máy
tính bằng phần mềm Excel để tiến hành tổng hợp, xử lý.
1.2.3.3. Phương pháp phân tích số liệu
a. Phương pháp phân tổ
        Phương pháp phân tổ nhằm mục đích chỉ ra sự khác biệt giữa các nhóm
hộ theo một chỉ tiêu định trước. Trong đề tài, chỉ tiêu dùng để phân tổ là khả
năng tiếp cận nguồn nước của các hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp, cụ
thể là phần trăm diện tích được cung cấp nước một cách chủ động.
        Nhóm một: từ 65% - 100% diện tích đất nông nghiệp được chủ động
nước (điều kiện thuỷ lợi thuận lợi)
        Nhóm hai: Từ 50% - 64% diện tích đất nông nghiệp được chủ động
nước (điều kiện thuỷ lợi trung bình)
        Nhóm ba: Từ 30% - 49% diện tích đất nông nghiệp được chủ động
nước (điều kiện thuỷ lợi khó khăn
        Nhóm bốn: Từ 0% - 29% diện tích đất nông nghiệp được chủ động
nước (điều kiện thuỷ lợi vô cùng khó khăn).
b. Phương pháp hồi quy
        Việc phân nhóm như vậy dựa trên nguyên tắc %diện tích chủ động
nước, ví dụ nhóm thuận lợi nhất trong việc tiếp cận nguồn nước có diện tích
đất tiếp cận được với nguồn nước chiếm 65% - 100%.
        Để phân tích ảnh hưởng của nguồn nước đến sản xuất nông nghiệp và
thu nhập của hộ, tôi sử dụng phương pháp hồi quy để ước lượng, cụ thể là sử
dụng hàm sản xuất cobb – Douglas (CD).
        Hàm CD có dạng:
                         Y      AX 1 1 X 2 2 ... X n e D1e D 2 ...e Dm
                                   b     b         bn




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.lrc-tnu.edu.vn
28


        Trong đó:
        Y: biến phụ thuộc. Trong mô hình Y năng suất lúa của hộ và thu nhập
từ nông nghiệp của hộ.
                                                       ___
        Xi: là các biến độc lập định lượng ( i 1, n )
                                                       ___
        Dj : là các biến độc lập thuộc tính ( j 1, m )
        Chỉ tiêu hiệu suất biên một đơn vị của biến độc lập
                                                                  _
                                                                  Y
                     (1)Đối với biến định lượng: Y           bi   _
                                                                  X

                     (2)Đối với biến thuộc tính: Y e D        j




        Ý nghĩa: đầu tư thêm 1 đơn vị yếu tố i sẽ mang lại thêm bao nhiêu đơn
vị yếu tố Y
        Hàm sản xuất CD được giải bằng phương pháp logarit hoá hai vế và
giải trên phầm mềm EXCEL.
        Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tôi sử dụng hàm CD nghiên cứu các
vấn đề sau:
        - Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tới thu nhập từ nông nghiệp
của hộ
        - Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tới năng suất lúa của hộ (cây
trồng chính của hộ gia đình trên địa bàn huyện)
c. Phương pháp đồ thị
        Để phản ánh sự biến động của thu nhập, năng suất cây trồng theo khả
năng sử dụng nguồn nước tôi dùng đồ thị để phản ánh.
1.2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
1.2.4.1. Chỉ tiêu phản ánh khả năng tiếp cận nguồn nước của hộ
        Khả năng tiếp cận nguồn nước của được định lượng bằng phần trăm
diện tích đất trồng cây hàng năm được chủ động nước (Sn):

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                   http://www.lrc-tnu.edu.vn
29


                                DT chủ động nước
              Sn =         –––––––––––––––––––––––––       x 100
                            Tổng diện tích đất NN của hộ

        Sn được tính cho khả năng chủ động nước 2 vụ (Sn2) và chủ động nước
1 vụ (Sn1)
1.2.4.2. Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và chi phí của hộ
        (1) Tổng giá thị sản xuất của hộ : GO (Gross output) là toàn bộ giá trị
sản phẩm do hộ làm ra, được tính bằng tổng của các sản phẩm làm ra quy về
giá trị.
        GO = ∑(qi x pi) (i = 1:n)
        Trong đó : qi khối lượng sản phẩm phẩm i
                       Pi : giá của sản phẩm i
        (2) Chi phí mua ngoài (IC): là toàn bộ những chi phí sản xuất mà hộ
phải thuê, mua ngoài
        IC = ∑ Ci (i = 1:n)
        Ci: Chi phí mua ngoài, thuê ngoài thứ i
        (3) Thu nhập biên (GM): GM (Gross Margin) là phần thu nhập của hộ
còn lại sau khi đã trừ đi những chi phí thuê, mua ngoài.
        GM = GO - IC
        (4) Thu nhập bằng tiên (Tm): Tm = tổng số tiền thu được của hộ (bán
sản phẩm, lương, trợ cấp,...)
1.2.4.3. Một số chỉ tiêu bình quân
        - Tổng giá trị sản xuất bình quân đầu người (GO/ người)
        - Thu nhập biên bình quân đầu người (GM/người)
        - Thu nhập bằng tiền bình quân đầu người (Tm/người)




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên          http://www.lrc-tnu.edu.vn
30


                                           Chƣơng II
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
       NGHIÊN CỨU TẠI XÃ TÂN LẬP, CHỢ ĐỒN, BẮC KẠN

2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu xã Tân Lập, Chợ Đồn, Bắc Kạn
2.1.1. Điều kiện tự nhiên xã Tân Lập
2.1.1.1. Vị trí Địa lý
        Huyện Chợ Đồn là huyện vùng cao nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Kạn, cách
thị xã Bắc Kạn 45km theo đường tỉnh lộ 257, trải từ 105 o26’ đến 105o42’ kinh
độ đông, và từ 21o57’ đến 22o26’ vĩ độ bắc. Phía Bắc giáp huyện Ba Bể, phía
Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Đông giáp huyện Bạch Thông, phía Tây
giáp tỉnh Tuyên Quang.
        Xã Tân Lập nằm ở phía Bắc, cách trung tâm của huyện Chợ Đồn 20km
tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên là 31,16 Km2. Phía Bắc giáp xã Nam
Cường, phía Nam giáp xã Phương Viên, phía Nam giáp xã Bằng Phúc huyện
Ba Bể, phía Tây giáp xã Quảng Bạch và Đồng Lạc.
2.1.1.2. Đặc điểm địa hình huyện Chợ Đồn và xã Tân Lập
        Có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, với 2 dạng
địa hình phổ biến:
        - Địa hình núi đá vôi: Kéo dài từ huyện Ba Bể đến thị trấn Bằng Lũng,
địa hình chia cắt phức tạp bởi những dãy đá vôi có độ cao trên 1000m xen
giữa các thung lũng hẹp, độ dốc bình quân từ 20 - 30 độ, đây là đầu nguồn
của các con suối chảy về hồ Ba Bể.
        - Địa hình núi đất: Gồm thị trấn Bằng Lũng và các xã phía Nam với độ
cao phổ biến từ 400m đến 600m, độ dốc bình quân 20 - 25 độ. Địa hình chi
cắt mạnh bởi hệ thống sông suối khá dầy đặc.
        Tân Lập là một xã vùng cao nên địa hình khá phức tạp, chủ yếu là đồi
núi chiếm trên 80% tổng diện tích đất tự nhiên, được phân bố trên toàn xã,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
31


xen kẽ giữa các dãy núi là các đồi thấp, những cánh đồng nhỏ hẹp và các
ruộng bậc thang nằm ở độ cao từ 200 - 300m so với mực nước biển.
         Nhìn chung đất đai xã Tân Lập không màu mỡ, hàm lượng mùn thấp,
độ chua trung bình, đất ruộng có tầng canh tác mỏng nên cần có biện pháp cải
tạo phù hợp. Đất rừng có tầng đất mặt trung bình phù hợp với việc phát triển
cây lâm nghiệp.
         Từ địa đặc điểm địa hình như vậy cho thấy, Tân Lập sẽ phân chia thành
nhiều vùng theo cấp độ tiếp cận nguồn nước khác nhau.
2.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết của xã Tân Lập - huyện Chợ Đồn
         Mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và
mùa hè nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình trong năm 23,2 độC, các tháng có nhiệt
độ trung bình cao nhất là tháng 6,7 và tháng 8, các tháng có nhiệt độ thấp nhất
là tháng 1 và tháng 2, nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,5 độC, tổng tích nhiệt cả
năm bình quân đạt từ 6.800 đến 7.000độC. Ngoài ra khí hậu xã Tân Lập
huyện Chợ Đồn còn có sương mù, sương muối, hiện tượng mưa đá co xảy ra
nhưng không thường xuyên. Lượng mưa bình quân 1.115mm/năm. Độ ẩm
không khí trung bình 82%, lượng bốc hơi trung bình năm là 830mm. Chế độ
gió chủ yếu là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam.
         Huyện Tân lập có khí hậu nhiệt đới, gió mùa, chịu ảnh hưởng lớn của
gió mùa đông bắc.
         Bảng 2.1: Tình lƣợng mƣa, độ ẩm của huyện năm năm 2007
                                                          Tháng
 Chỉ tiêu
               1      2      3      4      5          6      7      8      9      10     11     12
 Lượng         1,2    13,5 8,5      51,4 212,6 193,4 403,5 275,3 73,3 10,0 54,0 3,2
 mưa (mm)
 Độ ẩm (%) 77,0 85,0 82,0 79,0 81,0                   84,0   88,0   89,0   83,0 83,0 81,0 79,0


                            (Nguồn: Phòng thống kê huyện Chợ Đồn)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                        http://www.lrc-tnu.edu.vn
32


        Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.420 mm, lượng mưa phân bố
không đều trong năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Mùa mưa từ
tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa chiếm từ 85 - 90% lượng mưa hàng năm,
tập trung vào tháng 7,8 và 9 nên thường gây ra lũ quét ảnh hưởng lớn đến sản
xuất nông nghiệp của xã.
        Mùa đông có gió mùa đông bắc làm nhiệt độ hạ thấp, tác động xấu đến
cây trồng, vật nuôi và sức khoẻ con người. Vào thời kỳ giao mùa có gió mùa
đông bắc thường gây ra mưa đá, giông lốc làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất
nông nghiệp.
        Với đặc điểm khí hậu như vậy, xã Tân Lập huyện Chợ Đồn có thuận lợi
về nước để phát triển nông nghiệp, bên cạnh đó cũng có nhiều khó khăn trong
việc phòng chống thiên tai và những ảnh hưởng của thiên nhiên tác động đến
phát triển nông nghiệp. Do lượng mưa phân bố không đều nên vào mùa mưa
hiện tượng sói mòn, rửa trôi diễn ra rất mạnh mẽ, ngược lại vào mùa khô lại
thiếu nước phục vụ cho sản xuất. Do hiện tượng thời tiết này mà khu bờ sông
trung tâm xã Tân Lập chịu ảnh hưởng mạnh của hiện tượng sói mòn, rửa trôi
vào mùa mưa.
2.1.1.4. Đặc điểm thuỷ văn của xã
        Mạng lưới sông ngòi của của tỉnh Bắc Kạn tượng đối phong phú, phần
lớn các sông là nhánh thượng nguồn hệ thống sông Gâm có đặc điểm chung là
ngắn, dốc và thuỷ triều thất thường.
        Xã Tân Lập có 14,77 ha mặt nước sông suối, cùng hệ thống ao lớn nhỏ.
Mặc dù có nguồn nước dồi dào nhưng do địa hình dốc nên việc tưới tiêu cho
cây trồng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là những khu ruộng cao và ruộng
bậc thang.
        Sông chảy qua trung tâm xã Tân Lập có những đặc điểm cơ bản giống
như sông và suối nhỏ trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn như: Độ dốc lưu vực lớn,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.lrc-tnu.edu.vn
33


nước tập trung nhanh, thời gian lên thường bằng 1/4 thời gian lũ xuống.
Lượng dòng chảy tập trung chủ yếu vào mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10,
chiếm khoảng 70% tổng lượng nước trong năm, mùa cạn từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau chỉ chiếm khoảng 25% tổng lượng nước trong năm.
        Do đặc điểm thuỷ văn trên mà hiện tượng lũ ống, lũ quét thường xuyên
sảy ra trên con sông chảy qua trung tâm xã. Trong những năm gần đây, tại
một số khu vực trong trungâm xã đã làm hệ thống kè rọ đá để bảo vệ đường đi
và ruộng, nhưng sau mỗi mùa lũ đều bị phá hỏng nghiêm trọng. Dọc theo 2
bờ sông nước lũ phá hỏng rất nhiều vị trí gây nguy hiểm cho đường liên xã và
làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến những khu vực ruộng dọc theo sông.
2.1.1.5. Đặc điểm tài nguyên đất đai của xã
        Kết quả điều tra cho thấy huyện Chợ Đồn có những loại đất chính sau:
đất feralit màu vàng nhạt trên núi trung bình (FH) chiếm 13,38% diện tích,
phân bố trên tất cả các đỉnh núi cao trên 700 m, trên nền đá mắcma axit kết
tinh chua, đá trầm tích và biến chất. Tầng đất mỏng, đá nổi nhiều, đất ẩm và
có tầng thảm mục khá dày. Đất feralit điển hình vùng đồi núi và núi thấp (Ff –
Fk): chiếm 71,62% diện tích, phân bố tập trung ở phía bắc huyện Chợ Đồn.
Khu vực núi đá vôi thường rất ít đất trong các hang hốc, tầng đất mỏng màu
đen, đất rất tốt.
         Nói chung, cùng với khí hậu thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật
nuôi, đất đai trong tỉnh còn khá tốt và là cơ sở quan trọng để phát triển nông –
lâm nghiệp.
        Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Chợ Đồn là 91.115 ha, chiếm
19,04% diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Kạn. Trong đó: Đất nông nghiệp 63.505
ha, đất phi nông nghiệp là 6.408,5 ha, đất chưa sử dụng là 21.201,1 ha.
        Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Tân Lập là 3.116 ha, trong đó diện
tích đất nông nghiệp là 121,458 ha, chiếm 3,8 %. Diện tích đất lâm nghiệp là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
34


1.984,32 ha chiếm 63,6 % tổng diện tích đất tự nhiên của xã [9]. Qua bảng 2.2
cho thấy diện tích đất tuy nhều, tuy nhiên diện tích đất phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp, diện tích đất nông nghiệp chỉ chiếm 3,9% tổng
diện tích đất tự nhiên của xã. Tình hình phân bổ đất không đều, do đặc điểm
của xã chủ yếu là đồi núi chiếm trên 80 %, xen kẽ giữa các dãy núi là đồi thấp.
             Bảng 2.2: Tổng diện tích đất tự nhiên xã Tân Lập năm 2007
                                                                              ĐVT: Ha
              Chỉ tiêu                                 Diện tích
Tổng diện tích đất tự nhiên                             3.116
I - Diện tích đất nông nghiệp                          121,458
1 - Đất trồng lúa nước                                  72,628
+ đất 1 vụ lúa                                          17,645
+ Đất 2 vụ lúa                                          54,983
2 - Đất trồng cây lâu năm                                5,12
3 - Đất trồng cây hàng năm                              43,71
II - Đất lâm nghiệp                                    1.984,31
1 - Đất sản xuất                                       1.509,56
2 - Đất rừng phòng hộ                                   474,75

                                (Nguồn: UBND xã Tân Lập)
        Về tài nguyên đất:
        Đất đai của xã Tân Lập được hình thành từ đá mẹ như: Phiến thạch sét,
đá mắc ma axit, một số là đá mắc ma trung tính và đá biến chất. Nhìn chung
phần lớn đât đai có hàm lượng mùn, kali ở mức nghèo, tổng số nhỏ hơn 1,0%
        Tài nguyên nước:
        Nguồn nước mặt toàn xã hiện có 0.64 ha đất thuỷ lợi và 14.77 ha nước
sông suối và mặt nước chuyên dùng, đây là nguồn mặt nước để tạo điều kiện
cho phát triển sản xuất nông nghiệp và cân bằng sinh thái.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên             http://www.lrc-tnu.edu.vn
35


        Nguồn nước ngầm; Mực nước ngầm của xã ở độ sâu trung bình từ 15
đến 25m, là nguồn cung cấp nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân
trong toàn xã, chủ yếu được khai thác từ những giếng khơi và giếng khoan.
        Tài nguyên rừng:
        Tài nguyên của xã Tân Lập đa dạng và phong phú, có nhiều chủng loại
cây gỗ quý với diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 1984.31 ha chiếm 63.68%
tổng diện tích đất tự nhiên. Số diện tích rừng hiện nay chủ yếu là do các hộ
gia đình, cá nhân quản lý.
        Tài nguyên nhân văn:
        Theo tài liệu thống kê số người trong độ tuổi lao động của xã Tân Lập
chiếm khoảng 47.65% tổng dân số, đây là nguồn nhân lực dồi dào, cần cù
chịu khó nhưng trình độ dân trí còn thấp và không đồng đều, cán bộ có trình
độ khoa học kỹ thuật và năng lực ít. Mặt khác diện tích đất sản xuất nông
nghiệp thường xuyên bị xói lở, bị rửa trôi bạc màu, và thường xuyên bị vùi
lấp mỗi khi có lũ, dẫn đến đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.
2.1.1.6. Tài nguyên khoáng sản của xã
        Lãnh thổ Bắc Kạn nằm trong hai kiểu kiến trúc địa chất có chế độ địa
động khác nhau và do đó tạo nên bức tranh khoáng sản rất đặc trưng. Ở phía
Tây sông Cầu là các thành trầm tích cổ hơn tạo nên một kiến trúc dương rõ
nét được gọi là phức nếp lồi Lô Gâm, ở đó tập trung hầu hết các mỏ chì, kẽm.
Ở phía Đông sông Cầu là các thành trầm tích trẻ hơn tạo nên kiến trúc âm được
gọi là võng nguồn Rift nội lục sông Hiến, ở đó tập trung hầu hết các mỏ vàng.
Chì, kẽm và vàng là những loại khoáng sản có tiềm năng nhất của Bắc Kạn.
        Xã Tân Lập có đia hình chủ yếu là núi đá mắcma axit kết tinh chua, đá
trầm tích và biến chất, nguồn khoáng sản của xã không phong phú, chưa có
một mỏ khai thác khoáng sản nào.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
36


2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội của xã
        Đơn vị hành chính: Huyện Chợ Đồn được chia làm 22 đơn vị hành
chính, gồm thị trấn Bằng Lũng và 21 xã, Nam Cường, Đồng Lạc, Quảng
Bạch, Tân Lập, Ngọc Phái, Phương Viên, Bằng Phúc, Rã Bản, Đông Viên,
Yên Mỹ, Đại Sảo, Yên Nhuận, Bình Trung, Nghĩa Tá, Lương Bằng, Bằng
Lãng, Phong Huân, Xuân Lạc, Yên Thượng, Yên Thịnh, Bản Thi.
        Xã Tân Lập là một xã nghèo nằm ở hướng Đông của huyện Chợ Đồn,
giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, xã chưa có đường giao thông trải nhựa
        Tình hình kinh tế nông lâm nghiệp
        Về nông nghiệp: Tình hình sản xuất nông nghiệp có sự phát triển trung
bình do thời tiết không thuận lợi, thiên tai thường xuyên xảy ra, đặc biệt là
hiện tượng lũ ống, lũ quét vào mùa mưa gây thiệt hại nặng nề đến diện tích
đất canh tác của nhân dân. Khu vực trung tâm xã tập trung khoảng 20 ha
ruộng, trong những năm vừa qua thường xuyên chịu ảnh hưỏng của hiện
tượng thiên tai này. Diện tích ruộng bị ảnh hưởng do cát sỏi tràn vào dẫn đến
không canh tác được và bị mất do xói lở trực tiếp. Do đó năng suất, sản lượng
lương thực chỉ tăng ở mức trung bình.
        Chăn nuôi tiếp tục phát triển,tổng đàn trâu đến năm 2006 là 621 con,
đàn bò 331 con, đàn lợn 1116 con, đàn gia cầm khoảng 6000 con, bước đầu
phát triển theo phương pháp chăn nuôi khoa học [9].
        Lâm nghiệp: Sản xuất lâm nghiệp có dấu hiệu phát triển khả quan, diện
tích đất trồng của xã đang dần được phủ xanh trở lại, do đó diện tích rừng
trồng ngày càng được mở rộng.
        Nghành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
        Nghành tiểu thủ công nghiệp của xã tuy có phát triển, nhưng vẫn còn
rất chậm, chủ yếu là để tự phục vụ.
        Dịch vụ thương mại phát triển chậm do vị trí địa lý và xã hội không
thuận lợi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
37


        Các dịch vụ chế biến nông sản thủ công, may mặc, xay xát, sửa chữa,
mộc…đang dần được mở rộng và phát huy.
2.1.2.1. Tình hình dân số và lao động
        Tổng dân số toàn huyện 50.669 người(Báo cáo UBND huyện năm
2007) với 7 dân tộc anh em (Tày, Dao, Kinh, Nùng, Hoa, Mông, Sán Chí)
cùng sinh sống, trong đó dân tộc Tày chiếm 70%. Số người trong độ tuổi lao
động 33.102 người. Lương thực bình quân 451kg/người/năm.
        Thực trạng phân bố dân cư và lao động của xã
        Huyện Tân Lập có 1.286 nhân khẩu với 288 hộ [9].
        Trong những năm qua tình hình di cư tự do luôn diễn ra phức tạp, đáng
chú ý là việc di cư ồ ạt từ các tỉnh biên giới phía Bắc đi các tỉnh Tây nguyên,
trong đó chủ yếu là dân tộc Mông. Tình hình di cư tự do đã gây ảnh hưởng
không nhỏ đến việc hoạch định chính sách phát triển KT - XH của các địa
phương. Việc di cư không đơn thuần là mục đích sinh nhai mà còn tiểm ẩn
mục đích chính trị.
        Việc di cư thường lén lút vào ban đêm chánh sự kiểm soát của chính
quyền, không tuân thủ theo các quy định của Nhà nước.
        Số hộ nghèo của xã Tân Lập năm 2007 là 198/280 hộ, chiếm 70,7% [9].
2.1.2.2. Cơ sở hạ tầng của xã
a. Thực trạng giao thông
        Hệ thống giao thông liên xã Tân Lập bắt đầu từ khu trung tâm xã ra đến
đầu đường quốc lộ 254 chủ yếu là đường đất. Chiều rộng mặt đường từ 3 -
4m. Trên tuyến đường có nhiều chỗ bị hư hỏng, rất lầy lội khi có mưa và bụi
khi nắng, dẫn đến nhân dân đi lại rất khó khăn. Đặc biệt là đoạn đường gần
đến trụ sở UBND xã do mưa lũ đã bị sạt lở nghiêm trọng.
        Nhìn chung hệ giống giao thông xã kém phát triển, chất lượng đường
còn rất kém chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân trong xã. Hệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
38


thống đường giao thông liên thôn cũng rất nhỏ hẹp, đi lại khó khăn. Hiện tại
hệ thống giao thông trong xã đang rất cần đầu tư nâng cấp để nhân dân đi lại
được thuận tiện.
b. Thực trạng về công trình thủy lợi
        Tập trung đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp các công trình giao thông,
thuỷ lợi, Trường học, nước sạch, trạm Y tế, điện nông thôn...Trong những
năm qua đầu tư mở mới được trên 100km đường liên thôn, xây mới 12 cầu
treo, 35km công trình nước sạch, 50 công trình thuỷ lợi, 85% số hộ khu vực
thị trấn và 65% số hộ khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch.
                         Bảng 2.3: Thống kê các công trình thuỷ lợi
                         Năm          Diện tích tƣới tiêu
          Tên công                                             Độ dài      Độ        Đập
 STT                     bàn              của kênh
           trình                                               kênh        cao       dài
                         giao       Lúa xuân     Lúa mùa
   1        Nà bản       2004         24 ha        24 ha       2.300m    1,65m       20m
   2       Nà sắm         2004         35 ha           35 ha   2.700m     1,4m       9,8m
   3        Nà đán        2007            0            2 ha    436,4m    1,35m       13m

                                     (Nguồn: UBND xã Tân Lập)

        Kiên cố hoá kênh mương là một chương trình, chủ truơng lớn của
Chính Phủ nhằm nâng cao hệ thống kênh mương thuỷ lợi nội đồng năng cao
năng suất tưới tiêu (tiêu ứng, chống hạn) phục vụ sản xuất nông nghiệp và
góp phần đảm bảo vệ sinh môi trường trong nông nghiệp
        Khả năng tiếp cận nguồn nước được hiểu là tốc độ và độ tin cậy của hệ
thống kênh mương đối với sự phát triển nông nghiệp, tiếp cận và sử dụng
nguồn nước của người dân.
        Trên địa bàn huyện Chợ Đồn đã có một số công trình thuỷ lợi được xây
dựng nhằm phục vụ tưới cho đồng ruộng canh tác của thôn xã. Do vốn đầu tư
công trình hạn chế nên công trình xây dựng không đồng bộ hoặc chỉ còn là
các phai đập tạm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                http://www.lrc-tnu.edu.vn
39


        Công tác quản lý thuỷ lợi hiện nay: Các công trình thuỷ lợi được đưa vào
sử dụng đều giao cho địa phương có công trình hưởng lợi quản lý sử dụng.
        Xã Tân Lập là một xã vùng sâu, vùng xã thuộc diện chính sách theo
Quyết định 135 của Thủ tướng Chính phủ, nằm ở phía Bắc huyện lỵ, cách
trung tâm thị trấn Bằng Lũng 25km, địa hình độc đạo, ngõ cụt, không cóc
đường giao thông liên xã, dân cư có 288 hộ, 1286 nhân khẩu, gồm 5 dân tộc
anh em: Tày, Nùng, Dao, Mông và Kinh. Cum dân cư chia thành 8 thôn,
trong đó có 3 thôn định canh, định cư, măt bằng dân trí còn thấp, tỷ lệ hộ
nghèo còn cao, chiếm 65,2% số hộ [9].
        Tình hình kinh tế không đồng đều giữa các thôn, Thực hiện sự nghiệp
đổi mới của Đảng, Nhà nước, đặc biệt từ khi thực hiện Quyết định 135 của
Thủ tướng Chính phủ, bộ mặt của địa phương ngày càng được khởi sắc: Điện,
đường, trường, trạm được đầu tư đưa vào sử dụng, chương trình nước sạch
8/8 thôn được hưởng lợi, hệ thống thuỷ lợi được đầu tư kiên cố hoá, cơ bản
đảm bảo nước tưới tiêu phục vụ sản xuất lúa nước hai vụ. điện lưới quốc gia
đã đưa ánh sáng đến 7/8 thôn, sóng vô tuyến truyền hình đã được phủ khắp
các hộ trong xã.
        Thực hiện sử dụng nguồn vốn Chương trình 135 năm 2007, đầu năm
2008, xã Tân Lập tiếp tục triển khai xây dựng công trình kênh Nà Khâu thôn
Bản Chang, với tổng chiều dài tuyến kênh là 1.107,39 m, trong đó tuyến kênh
chính dài 553,12 m, tuyến kênh phụ dài 554,27 m để đưa vào sử dụng trong
năm 2008 nhằm phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp của xã.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
40


                Bảng 2.4: Tình hình nguồn nƣớc xã Tân Lập năm 2007
                      Chỉ tiêu                           ĐVT             Số lƣợng
Hồ tự nhiên                                               Cái                 0
Hồ nhân tạo                                               Cái                 0
- Kiên cố                                                 M                  139
- Không kiên cố                                           M                  141
Tổng vốn đầu tư cho thuỷ lợi năm 2006                  triệu đồng         814,18
DT chủ động nước                                          Ha                  6
% Chủ động nước                                           %                 0,73

                           (Nguồn: Phòng Thống kê huyện Chợ Đồn)
        Bảng tình hình nguồn nước cho thấy trên địa bà xã không có hồ nước
tự nhiên và hồ nước nhân tạo để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh
đó hệ thống kênh mương của xã là rất ít, trong đó kênh mương kiên cố là 139
m, kênh mương không kiên cố là 814,18 m. Điều đó càng thêm phần khó
khăn cho các hộ trong việc tiếp cận nguồn nước. Chính vì vậy diện tích chủ
động nước của xã là rất ít, chỉ có 6 ha tương ứng với 0,73%.
c. Thực trạng về hệ thống thông tin
        Về thông tin liên lạc: Huyện Chợ Đồn có 100% số xã có điện thoại đảm
bảo liên lạc được, 19 xã có điểm bưu điện văn hoá xã, mật độ điện thoại đạt
5,6 máy/100 người dân. 100% số xã có thư, báo đến trong ngày
        Xã Tân Lập có 01 điểm bưu điện văn hoá xã, nằm tại trung tâm xã, đảm
bảo phục vụ thông tin liên lạc cho nhân dân xã. Là một xã nghèo vùng sâu vùng
xa nên xã chỉ có điện thoại cố định, chưa được phủ song điện thoại di động.
d. Thực trạng hạ tầng phục vụ cho phát triển xã hội
         Giáo dục:
        Xã Tân Lập có 01 trường tiểu học và 01 trường mầm non nằm cùng
một địa điểm, trong đó phân hiệu có 2 lớp tiểu học nằm tại thôn Phiêng
Đeéng, cơ sở vật chất còn thiếu thốn và khó khăn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.lrc-tnu.edu.vn
41


         Y tế: Có 01 trung tâm y tế huyện, 22 trạm y tế xã, thị trấn, trong đó 17
trạm có bác sỹ. 03 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia (Bản Thi, Quảng Bạch, Bằng
Lãng). Nhìn chung hệ thống y tế đa số đã được xây dựng lâu, chủ yếu là nhà
cấp 4, đã xuống cấp, không đảm bảo điều kiện theo quy định
        Xã có 01 trung tâm y tế xã nằm tại UBND xã Tân Lập.
         Hệ thống cấp điện: 100% các xã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ số hộ được
sử dụng điện 86%. Tổng số có 100 MBA, trên 100km đường dây0,4 KV,
230,5 km đường dây 35 KV, 9.366 công tơ điện.
        Xã Tân Lập còn 01 thôn chưa có điện lưới đó là thôn Phiêng Đéng, là
một thôn vùng cao, nằn xa trung tâm xã.
2.1.2.3. Đánh giá những tác động của điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội
        phát triển nông nghiệp và hạ tầng thuỷ lợi của địa phương
a - Điểm mạnh
        Là một xã vùng sâu vùng xa nghèo, được sự quan tâm của chính quyền
địa phương, xã Tân Lập có thế mạnh về sản xuất lâm nghiệp, diện tích đất
trống của xã đang dần được phủ xanh do diện tích rừng trồng ngày càng tăng.
        Là huyện tiếp giáp với huyện Ba bể và tỉnh Tuyên Quang, Chợ Đồn có
thế mạnh về sản xuất nông nghiệp và khai thác xuất khẩu tài nguyên Khoáng
sản như : Kẽm, Chì, Quặng…góp phần phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Kạn.
b - Điểm yếu
        Xã Tân Lập là một xã vùng sâu vùng xa, nằm xa đường quốc lộ chính,
giao thông đi lại khó khăn, trung tâm xã nằm cách xa đường quốc lộ, giao
thông từ đường quốc lộ vào trung tâm xã là đường đất đỏ, chưa được giải
nhưa. Khi trời mưa đường rất trơn trượt và khó đi, trời nắng lại nhiều bụi,
nhiều đoạn đường đã bị hư hỏng và xuống cấp nghiêm trọng, dẫn đến phát
triển kinh tế của huyện gặp nhiều khó khăn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
42


        Xã Tân Lập nằm hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, không có chợ,
nên mọi hoạt động giao thương mua bán của người dân chủ yếu là tự cung tự
cấp, hoặc đi đến trung tâm huyện, vì vậy để phát triển kinh tế thông qua con
đường giao thương là rất hạn chế.
c - Cơ hội
        Bên cạnh những khó khăn, huyện Tân Lập có khí hậu thuận lợi để phát
triển một cây trồng, vật nuôi đa dạng, đặc biệt là cây công nghiệp, cây ăn quả,
chăn nuôi đại gia súc. Đây là lợi thế để phát triển một nền nông nghiệp sinh
thái, tạo ra các sản phẩm tập trung phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
d - Nguy cơ
        Chịu ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt, lũ ống và lũ quét xảy ra vào
mùa mưa, gây hiện tượng xói mòn, và nguy hiểm cho tính mạng của người
dân, hiện tuợng xói mòn sẽ gây mất đất, giảm diện tích đất nông nghiệp, trong
khi kinh tế người dân trong xã chủ yếu là nông và lâm nghiệp.
        Trình độ dân trí thấp, cộng với nhiều phong tục tập quán còn cổ hủ dẫn
đến sự đình trệ trong phát triển kinh tế của xã.
2.1.2.4. Đặc điểm của nhóm hộ điều tra.
                     Bảng 2.5: Những đặc trƣng của nhóm hộ điều tra
                                                  Những chiến lƣợc           Vấn đề
Kiểu nhóm          Đặc trƣng của nhóm
                                                       sản xuất         cần nghiên cứu
                 Độ tuổi trung bình 40,2          - Tập trung trồng Nghiên cứu gải pháp
                 Có diện tích đất lâm các cây hoa mà, tối ưu cho việc tiếp
                 nghiệp lớn, đất trồng cây lâu năm và cây cận nguồn nước, xây
                 lúa rộng, nhưng chỉ chủ lấy gỗ                      đập ngăn, bể chứa giữ
 Nhóm rất
                 yếu là đất 1vụ, do                                  nước.
  khó khăn
                 không chủ động được
                 nước tưới.
                 - Có đất để trồng cây
                 lâu năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.lrc-tnu.edu.vn
43


                                                  Những chiến lƣợc                Vấn đề
Kiểu nhóm          Đặc trƣng của nhóm
                                                         sản xuất            cần nghiên cứu
                 - Độ tuổi trung bình là Với diện tích đất Tiếp cận tốt nguồn
                 44,5                             canh tác rộng, cần nước, sử dụng đường
                 - Nguồn lao động dồi có các giải pháp ống dẫn nước từ bể
                 dào                              khắc     phục     khó chứa.
                 - Diện tích đất 1vụ và khăn về thuỷ lợi
                 2vụ lớn                          để tăng năng suất
                 - Diện tích đất trồng cây trồng.
                 cây lâu năm có điều
 Nhóm khó
                 kiện để phát triển cây
    khăn
                 lâu năm
                 - Khả năng tiếp cận
                 nguồn nước trung bình
                 do có được sử dụng hệ
                 thống      kênh      mương,
                 nhưng xa nguồn nước,
                 hệ thống kênh kiên cố
                 chưa có.
                 Độ tuổi trung bình 42,9. Xây dựng tốt hệ Nghiên cứu khả năng
                 số lao động nam trung thống                        kênh tiếp cận nguồn nước
                 bình 1hộ là 2,35 người, mương, để tất cả do được tiếp cận
                 nữ 2,95, ổn định về được hưởng thuỷ nguồn nước nhưng
                 nguồn lao động                   lợi, đào ao nuôi một số vùng còn xa
Nhóm thuận
                 - Tiếp cận nguồn nước thuỷ sản.                         nguồn và hệ thống
      lợi
                 tôt do nằm ven rung tâm Nguồn lao động thuỷ lợi
                 xã, nhưng một số vùng dồi dào, tập trung
                 còn có kênh mương thấp phát huy tối đa
                 hơn ruộng                        diện tích để canh
                                                  tác, lúa, ngô, sắn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                       http://www.lrc-tnu.edu.vn
44


                                                  Những chiến lƣợc           Vấn đề
Kiểu nhóm          Đặc trƣng của nhóm
                                                       sản xuất         cần nghiên cứu
                 - Độ tuổi trung bình là Được tiếp cận tôt Nghiên cứu sử dụng
                 44                               nguồn nước, cần tối đa lợi thế về
                 - Diện tích đất 1vụ và phòng chống thiên nguồn nước, chống
                 2vụ và ngô nhỏ                   tai gây ảnh hưởng xói mòn đất, cải tạo
                 - Diện tích đất canh tác đến diện tích đất đất để tăng năng suất.
 Nhóm rất        nhỏ do vùng trung tâm canh tác, xây kè
  thuận lợi      xã diện tích nhỏ                 chống xói.
                 - Tiếp cận nguồn nước Tập trung sản xuất
                 tôt nhất, do ở thấp, lúa, cây hao màu,
                 dòng sông nhỏ chảy qua phát triển dịch vụ.
                 trung tâm luôn đủ nước
                 để tưới tiêu.

        Bảng 2.5 cho ta thấy tình hình đặc điểm nổi bật của từng nhóm hộ điều
tra, ở nhóm hộ khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nước có sự thuận lợi
về đất lâm nghiệp và đất trồng cây lâu năm, đất trồng lúa rộng nhưng chỉ sử
dụng để trồng lúa một vụ do khả năng tiếp cận nguồn nước khó khăn, không
đủ nước tưới tiêu. Với sự thuận lợi về đất trồng cây lâm nghiệp và khó khăn
về nguồn nước, nhóm cần có các phương án trồng cây lâm nghiệp phù hợp,
bên cạnh đó cũng cần có các phương án giữ nước để phục vụ tưới tiêu. Tập
trung vào canh tác và tròng các loại cây có chi phí thấp hơn và chịu sự khô
cằn tốt hơn cây lúa.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.lrc-tnu.edu.vn
45


2.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp và tiếp cận nguồn nƣớc của ngƣời
      dân xã Tân Lập
2.2.1. Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra
                  Bảng 2.6: Thông tin chung về chủ hộ điều tra
                            Chỉ tiêu                                                           Rất
                                                        Rất         Thuận         Khó
  Nhóm hộ                                ĐVT                                                   khó
                                                      thuận lợi      lợi          khăn
                                                                                              khăn
  Số hộ điều tra                         Hộ              34              19        25          62
  Tuổi BQ chủ hộ                         Năm             44          42,9        44,56        40,2
  Trình độ VH chủ hộ                     Lớp           6,117         6,2          6,12         6,0
                                (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)
       Tổng số hộ điều tra gồm 140 hộ, độ tuổi bình quân của chủ hộ của
nhóm rất thuận lợi về nguồn nước là 44 và rất khó khăn là 40,2, cho thấy độ
tuổi bình quân của chủ hộ không chênh nhau là mấy. Điều đó có nghĩa độ tuổi
của các nhóm hộ không thể hiện xu hướng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và
thu nhập của các hộ. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, xã có 01 truờng tiểu họ và
01 trường mầm non, số lượng bỏ họ lớn, trình độ văn hoá của nhóm hộ điều
tra không cao, trung bình là lớp 6, chủ yếu là làm nông nghiệp, cùng với sự
khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước, dẫn đến năng suất không cao. Nền
kinh tế của xã chủ yếu là tự cung tự cấp.
                    Bảng 2.7: Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ
                Chỉ tiêu                      Rất                              Khó        Rất khó
                                ĐVT                           Thuận lợi
 Nhóm hộ                                    thuận lợi                          khăn        khăn
 Số hộ điều tra               Hộ               34                  19           25          62
 Bq nhân khẩu                 Người            3,5                5,3          4,96        4,14
 - Nam                        “               1,79                2,35         2,2         2,19
 - Nữ                         “               1,73                2,95         2,76        1,98
 Bq lao động                  Lđ              2,23                3,05         3,04        2,61
 - LĐ là nam                  “               1,17                1,5          1,52        1,3
 - LĐ là nữ                   “               1,06                1,55         1,52        1,3

                                   (Nguồn: Số liệu điều tra 2007)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                           http://www.lrc-tnu.edu.vn
46


        Tổng số nhân khẩu trên hộ nhóm rất khó khăn về nguồn nước bình
quân là 4,14 người, trong đó nhân khẩu nam bình quân là 2,19 người chiếm
52,8% trên hộ, nữ là 1,98 người chiếm 47,8%. Nhóm thuận lợi nhất có tổng
bình quân nhân khẩu trên hộ là 3,5 người, trong đó nhân khẩu nam là 1,79
người, chiếm 51,1%, nhân khẩu nữ là 1,73 người, chiếm 49,4%. Bảng 2.7 cho
ta thấy nhân khẩu bình quân của nhóm khó khăn nhất nhiều hơn nhóm thuận
lợi nhất, trong đó tỷ lệ nam và nữ cũng lớn hơn. Nhóm khó khăn nhất sống
tập trung tại các vùng cao, vùng núi, trình độ và nhận thức lạc hậu, dẫn đến sự
gia tăng dân số ở khu vực ày cao hơn.
        Về lao động, nhóm khó khăn nhất có tổng lao động bình quân là 2,61
người, trong đó la động nam là 1,3 chiếm 49,8%, lao động nữ cũng là 1,3
người bằng 49,8%. So với bình quân nhân khẩu trên hộ thì bình quân lao
động của nhóm này chiếm 63%. Lao động của nhóm thuận lợi nhất trung bình
là 2,23 người, trong đó lao động nam 1,17 người chiếm 52,4%, lao động nữ
là 1,06 người bằng 47,5%. So với bình quân nhân khẩu của nhóm này, lao
động chiếm 63,7%. Từ đó cho thấy, mặc dù tỷ trọng lao động trong tổng nhân
khẩu bình quân là không chênh lệch nhau là mấy, nhưng số lao động bình
quân của nhóm khó khăn là cao hơn cả lao động nam và lao động nữ.
        Nhóm thuận lợi về nguồn nước có số nhân khẩu bình quân cao nhất,
trong đó lao động bình quân là 3,05 ngưòi, chiếm 57,5%. Tuy chiếm tỷ trọng
thấp hơn về lao động so với 2 nhóm trên, nhưng tổng lao động bình quân là
lớn hơn, với tổng lao động bình quân là 3.05 người trong đố lao động nam là
1,5 người và nữ là 1,55 người. Số lao động nhóm này tương đương với nhóm
khó khăn trung bình là 3,04 người lao động. Với đặc điểm của nhóm thuận lợi
là tiếp cận tốt về nguồn nước và nằm ở vên trung tâm, không chịu sự xói mòn
đất, có điều kiện để tiếp cận nguồn nước và tăng thu nhập. Tình hình lao động
không chênh nhau là mấy so giữa các nhóm hộ, tuy nhiên, xã Tân Lập chủ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
47


yếu là sản xuất nông nghiệp, cho nên yếu tố nước tưới và đất canh tác là các
yếu tố quan trọng. Tuy nhiên đất sản xuất nông nghiệp của xã là không nhiều,
đều này phần nào đã gây ra những hạn chế đối với thu nhập từ nông nghiệp
của các nhóm hộ. Tình hình đất đai được thể hiện qua bảng số liệu sau:
                     Bảng 2.8: Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra
                                                                                        ĐVT: m2
         Nhóm hộ     Rất thuận lợi           Thuận lợi          Khó khăn            Rất khó khăn
Chỉ tiêu               SL         %          SL        %         SL         %         SL          %

                   41.562,67     100       41.935      100    34.391,48    100     69.386,48     100

1.Đất hàng năm 2.283,24          5,49     3.372,11     8,04   4.328,00    12,58 2.474,68         3,57
- Đất 1 vụ          1.392,68              2.015,38            3.350,00             2.049,41
- Đất 2 vụ          1.709,86              1.993,16             2.88,00             1.350,81
2. Đất trồng cây
                        0          0        275        0,65    1,200       3,49      1,175       1,69
lâu năm
Đất lâm nghiệp 38.393,33 92,37 37.540,00 89,52                27.730,77 80,63 65.116,4          93,84
Đất nuôi trồng
                      260        0,62       300        0,71     650        1,89     242,86       0,35
thuỷ sản
Đất vườn +
                     626,11      1,51      447,89      1,07    482,72       1,4     377,54       0,54
thổ cư

                                       (Nguồn: UBND xã Tân Lập)
          Đất đai là một yếu tố hết sức quan trọng, tác động nhiều đến năng suất
cây trồng, đến diện tích canh tác. Với ngành nghề chính là nông nghiệp và lâm
nghiệp cho nên diện tích của các hộ chủ yếu là trồng lúa, ngô và cây lấy gỗ
          Tổng diện tích bình quân của nhóm hộ có điều kiện khó khăn nhất
trong việc tiếp cận nguồn nước là 69.386,48 m2, nhóm hộ tiếp cận tốt nhất về
nguồn nước là 41.562,67 m2, nhỏ hơn so với diện tích bình quân nhóm hộ khó
khăn là 27.823,81 m2 là do diện tích đất của khu trung tâm xã là nơi tiếp cận
nguồn nước tốt nhất nhỏ, chịu sự xói mòn đất do thiên nhiên, và chưa được
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                       http://www.lrc-tnu.edu.vn
48


xây kè chống xói. Diện tích đất trồng 1vụ của nhóm hộ khó khăn nhất lớn hơn
diện tích trồng lúa 2vụ là do khả năng tiếp cận nguồn nước kém, chỉ có
1.35,82m2 so với 1.709,86m2 của nhóm thuận lợi nhất. Chính vì vậy nhóm
khó khăn nhất tập trung vào lợi thế của mình là trồng cây lâm nghiệp với diện
tích đất là 65.116,4m2 lớn hơn so với nhóm thuận lợi nhất.
        Với đặc điểm diện tích đất lâm nghiệp của nhóm hộ khó khăn nhất
rộng, thuận lợi cho việc phát triển trồng rừng. Cần chú trọng và có chính sách
đối với việc mở rộng quy mô trồng rừng ở các diện tích đầu nguồn, giao đất
giao rừng để gắn trách nhiệm cho người dân, nó không chỉ có tác động tới thu
nhập của hộ mà còn có tác dụng giữ nước đầu nguồn, tạo nên nguồn đất tốt để
trồng cây, tăng năng suất cây trồng.
        Như vậy, đất đai là một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong phát
triển sản xuất, nâng cao thu nhập của nhóm hộ điều tra. Đối với từng nhóm,
sự tiếp cận nguồn nước là yếu tố quan trọng tác động đến năng suất, tuy nhiên
diện tích đất canh tác là không thể thiếu.

                   Bảng 2.9: Tình hình tài sản phục vụ sản xuất của hộ
                                                                             ĐVT: Cái
                Nhóm hộ              Rất                                          Rất khó
                                                      Thuận lợi   Khó khăn
Chỉ tiêu                         thuận lợi                                          khăn
Tổng tài sản                         1,89               2,78        2,69            2,42
- Máy cày                            0,4                 0,5        0,6              0,3
- Máy tuốt lúa                       0,5                 1           1                 1
- Máy bơm nước                       0,09               0,28        0,09            0,12
- Máy sao chè                          0                 0           0                 0
- Máy khác                           0,9                 1           1                 1

                                (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.lrc-tnu.edu.vn
49


        Trong phát triển sản xuất nông nghiệp, trang thiết bị máy móc phục vụ
cho sản xuất là một yếu cầu khách quan và quan trọng. Việc trang bị máy móc
thiết bị vào sản xuất, một mặt làm giảm sức lao động chân tay của con người,
mặt khác làm tăng năng suất lao động, năng suất đất đai, từ đó giải phóng một
phần lao động thủ công, làm tăng khả năng được tiếp cận nguồn nước phục vụ
sản xuất nông nghiệp.
        Qua bảng số liệu trên cho thấy tình hình trang thiết những máy móc
thiết yếu còn thấp, với tổng tài sản trung bình của nhóm khó khăn nhất là 2,42
cái, nhóm thuận lợi nhất là 1,89 cái và 2 nhóm cao nhất là nhóm thuận lợi
2,78 cái và nhóm khó khăn là 2,69, cụ thể:
        Máy cày bình quân của nhóm khó khăn nhất là 0,3 cái chiếm 12,3%
tổng tài sản của nhóm, thì nhóm thuận lợi nhất cũng chỉ 0,4 cái, chiếm 21,2%
tổng tài sản của nhóm.
        Máy tuốt lúa của 3 nhóm khó khăn nhất, khó khăn và thuận lợi trung
bình là 1cái, trong khi đó nhóm thuận lợi nhất là 0,5cái. Nhóm khó khăn nhất
trung bình là 1 cái chiếm 41,3% tổng tài sản của nhóm. Nhóm thuận lợi nhất
là 0,5 cái, bằng 26,4% tổng tài sản đầu tư cho nông nghiệp của nhóm. Từ đó
cho thấy việc đầu tư về máy tuốt lúa của nhóm thuận lợi nhất là không cao so
với các nhóm.
        Là địa phương với kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tiếp cận được một
cách tốt nhất nguồn nước là điều vô cùng quan trọng, vì vậy máy bơm nước là
quan trọng đối với việc tưới tiêu. Qua bảng trên cho thấy, sự đầu tư về máy
bơm của các nhóm là chưa nhiều, cụ thể: Nhóm khó khăn nhất trung bình là
0,12cái, chiếm 4,9% tổng tài sản của nhóm, nhóm khó khăn là 0,09cái, chiếm
3,3%. Nhóm thuận lợi là 0,28cái chiếm 10% và nhóm thuận lợi nhất là
0,09cái chiếm 4,7% tổng tài sản của nhóm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
50


        Qua bảng trên cho thấy, tỷ trọng máy bơm nước trên tổng tài sản phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp của các nhóm là khác nhau, cụ thể: Nhóm thuận
lợi cao nhất với 10% là máy bơm nước, do đặc điểm địa hình của nhóm này
tốt, việc tiếp cận nguồn nước là khá dễ dàng. Tuy nhiên có một số còn có diện
tích đất canh tác nằm cao hơn kênh mương dẫn nước cho nên sự đầu tư về
máy bơm là hợp lý. Đứng thứ 2 là nhóm khó khăn, với đặc điểm không thuận
lợi trong việc tiếp cận nguồn nước, việc đầu tư các máy móc để dẫn nước,
bơm nước là vô cùng cần thiết, nó giúp nhóm hộ này có thể bơm dẫ nước từ
xa về để phục vụ tưới tiêu. Đối với nhóm khó khăn, là nhómđược hưởng điều
kiện về thuỷ lợi, tuy nhiên còn nằm xa nguồn nước, các kênh mương dẫn
nước, hoặc có kênh mương dẫn nước đến nhưng do kênh mương chưa kiên
cố, dẫn đến sự ngấm nước, làm cho nước chưa kịp đến với diện tích cần tưới
tươi đã bị ngấm hết, do vậy cần đầu tư thêm máy móc để để dẫn nước và giữ
nước, phục vụ sản xuất nông nghiệp.
2.2.2 Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp của hộ
2.2.2.1 Kết quả sản xuất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra

               Bảng 2.10: Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của hộ
                                                                               ĐVT: 1.000đ
                     Nhóm hộ             Rất                                           Rất
                                                      Thuận lợi    Khó khăn
Chỉ tiêu                             thuận lợi                                     khó khăn
Tổng thu từ nông nghiệp               7.448,96         11.825,19   10.219,78        8.598,09
- Thu từ trồng trọt                   4.139,91         6.152,82    6.685,44         4.374,87
- Thu từ chăn nuôi                    3.044,04         5.072,36     2.888,8         3.634,88
- Thu từ lâm nghiệp                      265             600        654,54           588,33

                                (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)
        Qua bảng kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của hộ cho thấy, hầu hết
các khoản thu nhập của hộ đều từ nông nghiệp. Tổng thu nhập bình quân của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                    http://www.lrc-tnu.edu.vn
51


nhóm khó khăn nhất sau khi đã trừ chi phí là 8.598,09 nghìn đồng, trong đó thu
từ trồng trọt là 4.374,87 nghìn đồng chiếm 50,8% tổng thu từ nông nghiệp, thu
từ chăn nuôi là 3.634,88 nghìn đồng chiếm 42,2%, thu từ lâm nghiệp là 588,33
nghìn đồng chiếm 6,8%, qua đó cho thấy thu nhập từ trồng trọt của nhóm này
chiếm tỷ trọng cao hơn so với thu từ chăn nuôi và lâm nghiệp.
        Nhóm thuận lợi nhất có tổng thu nhập bình quân từ nông nghiệp là
7.448,96 nghìn đồng, trong đó thu từ trồng trọt là 4.139,91 nghìn đồng chiếm
55,6%, thu từ chăn nuôi là 3.044,04 nghìn đồng chiếm 40,8% và thu từ lâm
nghiệp là 265 nghìn đồng chiếm 3,5%. So sánh giữa 2 nhóm trên ta thấy, thu
từ trồng trọt của nhóm thuận lợi nhất chiếm tỷ trọng trong tổng thu từ nông
nghiệp lớn hơn nhóm khó khăn là 4,8%. Tuy nhiên
        Qua nghiên cứu tình hình thu nhập và cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ
điều tra của xã Tân Lập có thể nhânh thấy tình trạng thuần nông của sản xuất
nông nghiệp. Để đưa ra cái nhìn sâu hơn về vấn đề sản xuất và thu nhập của
hộ từ việc tiếp cận nguồn nước, ta đi phân tích, đánh giá tình hình sản xuất
trồng trọt và chăn nuôi của nhóm hộ điều tra.

               Bảng 2.11: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của hộ
                                                                           ĐVT: 1000đ
             Nhóm hộ              Rất                                              Rất
                                                 Thuận lợi     Khó khăn
Chỉ tiêu                      thuận lợi                                        khó khăn

        Tổng số                4.139,92           6.152,82     6.685.44         4.374,87

- Thu từ lúa                   3.931,92           5.100,40     4.774,64         3.209,55

- Ngô                           634,47                973,47    1.894,8         1.141,13

- Đậu đỗ                         73,53                78,95       16              24,19

                                (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.lrc-tnu.edu.vn
52


        Là một xã nghèo vùng xâu vùng xa, điều kiện còn khó khăn, kỹ thuật
gieo trồng còn thủ công và lạc hậu, chưa áp dụng được sự tiến bộ của khoa
học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
        Thu nhập của các hộ trông xã đều chủ yếu từ nông nghiệp, nhưng thu
nhập từ các loại cây trồng và các vùng khác nhau, do quy mô và do sự tiếp
cận nguồn nước, do diện tích canh tác. Bảng 2.11 cho thấy thu nhập bình
quân từ lúa của nhóm khó khăn nhất về tiếp cận nguồn nước là 3.209,55 đồng,
so với nhóm hộ tiếp cận tốt nhất là 3.931,92, thấp hơn 722,37 đồng bằng
81,6% so với nhóm thuận lợi nhất về nguồn nước. Trong khi đó thu nhập từ
trồng ngô của nhóm khó khăn nhất trung bình là 1.141,13 đồng so với 634,47
đồng của nhóm thuận lợi nhất, nhiều hơn 506,66 đồng. Qua bảng ta thấy rằng,
thu nhập từ lúa của nhóm hộ khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nước
thấp hơn so với nhóm thuận lợi nhất, tuy nhiên sản lượng ngô lại cao hơn, từ
đó cho thấy, vùng tiếp cận nguồn nước khó khăn nhất đã biết chuyển đổi cây
trồng để phù hợp với khí khậu và đất đai. Do cây ngô có chi phí thấp hơn và
chịu sự khô cằn tốt hơn so với cây lúa.
              Đồ thị biểu thị thu nhập từ lúa của nhóm hộ điều tra

                                                                                                            RÊt thuËn lîi
                                                                                                            ThuËn lîi
                                5100.4
                                         4774.64




            6000
                                                                                                            Khã kh¨n
                      3931.92




            5000                                                                                            RÊt khã kh¨n
                                                   3209.55




            4000
                                                                               1894.8




            3000
                                                                                        1141.13
                                                                      973.47




            2000
                                                             634.47




                                                                                                          78.95




            1000
                                                                                                  73.53




                                                                                                                   24.19
                                                                                                          16




                0
                           Thu tõ lóa                                 Ng«                                 §ç


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                                                       http://www.lrc-tnu.edu.vn
53


                  Bảng 2.12: Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của hộ
                                                                            ĐVT: 1.000 đồng
            Nhóm hộ
                             Rất thuận lợi        Thuận lợi      Khó khăn       Rất khó khăn
 Chỉ tiêu
        Tổng số                 3.044,04              5.072,36    2.888,8          3.634,88
          - Lợn                 2.973,45              5.013,15    2.741,2          3.315,61
       - Trâu, bò                    -                   -           -              258,06
       - Gia cầm                  70,59                59,21      147,6              61,21

                                (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)

        Bắc Kạn là một tỉnh với nền nông nghiệp là chính. Dù ngành chăn nuôi
chưa đóng góp nhiều cho thu nhập của tỉnh và của người dân, chưa thực sự
nổi bật nhưng không phải vì thế nó không có những lợi thế trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Để chăn nuôi thực sự trở thành một ngành kinh tế
mũi nhọn, rất cần phải nhìn thẳng vào sự thật và đổi mới thực sự nhận thức
chung về vấn đề này.
        Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tự cung tự cấp, nhu cầu thực phẩm
của người dân ngày càng tăng, song sản phẩm chăn nuôi vẫn chưa đáp ứng đủ
nhu cầu tiêu dùng cho người dân xã Tân Lập. Do chưa thực sự có cách tiếp
cận mới, chăn nuôi truyền thống vẫn chiếm tỷ lệ cao, với những đặc điểm nổi
bật là nhỏ lẻ, phân tán, số lượng không tập trung đủ lớn để trở thành sản phẩm
hàng hóa, không đồng nhất về chất lượng, chưa chú trọng đến tính kế hoạch
thị trường và hạch toán về hiệu quả kinh tế. Phương thức chăn nuôi này tuy có
nhiều nhược điểm, nhưng là nguồn thực phẩm và thu nhập cần thiết nâng cao
mức sống của người dân.
        Tổng thu nhập bình quân từ chăn nuôi của nhóm khó khăn nhất trong
việc tiếp cận nguồn nước là 3.634,88 nghìn đồng, trong đó thu từ chăn nuôi
lợn là 3.315,61 nghìn đồng, chiếm 91,2% tổng thu nhập từ chăn nuôi của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                      http://www.lrc-tnu.edu.vn
54


nhóm. Thu nhập của nhóm thuận lợi nhất từ chăn nuôi lợn là 2.973,45 nghìn
đồng, chiếm 97,6% tổng thu nhập từ chăn nuôi của nhóm. Bảng 2.12 cho thấy
vùng tiếp cận nguồn nước thuận lợi nhất có thu nhập bình quân từ nuôi lợn
chiếm tỷ trọng trong tổng thu nhập từ chăn nuôi lớn, tuy nhiên thu nhập bình
quân từ chăn nuôi lợn so với nhóm hộ khó khăn về nguồn nước còn thấp hơn,
bên cạnh đó thu nhập từ chăn nuôi trâu, bò là không có, trong khi đó nhóm hộ
khó khăn nhất thu nhập bình quân từ chăn nuôi Trâu và Bò là 258,06đồng,
bằng 7% tổng thu nhập của nhóm.
        Đặc điểm các thôn trong vùng trung tâm xã là vùng được tiếp nguồn
nước thuận lợi nhất, dân cư mới di dời đến, tập trung chủ yếu là cán bộ xã,
nhà ít lao động, dẫn đến việc chăn nuôi ít được chú trọng, ví dụ chăn nuôi trâu
bò, do vậy thu nhập chủ yếu tập trung vào trồng trọt.
        Bên cạnh đó, bảng 2.12 cho thấy, thu nhập từ chăn nuôi của nhóm
thuận lợi về nguồn nước cao nhất, với tổng thu nhập từ chăn nuôi là 5.072,26
đồng, trong đó thu nhập từ chăn nuôi lợn là 5.013,15 đồng chiếm 98,8%,
chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu nhập từ chăn nuôi. Do đặc điểm địa
hình nằm ven trung tâm và ở các triền đồi thấp, cho nên việc tiếp cận nguồn
nước tốt, diện tích chăn thả rộng, thuận lợi cho việc thả lợn ăn tự do, cho nên
nhóm đã tập trung vào chăn nuôi chủ yếu là lợn, phù hợp với tập quán chăn
nuôi lợn của vùng.
        Nhóm khó khăn về tiếp cận nguồn nước có thu nhập từ chăn nuôi thấp
nhất, với tổng thu nhập bình quân là 2.888,8 đồng, trong đó thu từ chăn nuôi
lợn là 2.741,2 đồng , thấp hơn thu nhập từ chăn nuôi lợn của nhóm thuận lợi
(nhóm có thu nhập cao nhất từ chăn nuôi lợn) là 2.271,95 đồng bằng 54,6%.
Tuy nhiên, bảng 2.12 cho ta thấy thu nhập trung bình từ chăn nuôi gia cầm
của nhóm là 147,6 đồng, cao nhất trong 4 nhóm, chiếm 5,1% tổng thu nhập từ
chăn nuôi của nhóm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
55


         Thu nhập bình quân từ chăn nuôi lợn của các nhóm là chênh lệch nhau.
 Thu nhập từ chăn nuôi lợn của nhóm khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn
 nước chiếm 91,2% tổng thu nhập từ chăn nuôi. Nhóm khó khăn chiếm 94,8%,
 nhóm thuận lợi 98,8% và nhóm rất thuận lợi là 97,6%. Qua đó cho chúng ta
 thấy thu nhập từ chăn nuôi lợn của nhóm thuận lợi chiếm tỷ trọng lớn nhất
 trong tổng thu từ chăn nuôi. Nhóm khó khăn có thu nhập từ chăn nuôi lợn
 thâp nhất, tuy nhiên thu nhập từ chăn nuôi gia cầm lại cao nhất.
                          Bảng 2.13: Chi phí ngành trồng trọt của hộ
                                                                              ĐVT: 1.000 đồng
                Nhóm hộ
                               Rất thuận lợi           Thuận lợi   Khó khăn      Rất khó khăn
 Chỉ tiêu
 Tổng số                           5.897,33            3.906,59    3.149,23         2.494,35
 - Giống                            327,1               392,17      475,1             280,06
 - Phân bón                         523,95               673,4      643,23            533,5
- Dịch vụ mua ngoài                 5.000                3.135      1.930             1.680
- Chi phí lđ thuê ngoài             45,58                38,89        -                  -

                                 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)

         Qua bảng 2.13 ta thấy, tổng chi phí ngành trồng trọt của các hộ giảm
 dần từ nhóm rất thuận lợi đến nhóm rất khó khăn, cụ thể, nhóm rất thuận lợi
 có tổng chi phí bình quân là 5.897.000,33 đồng, nhóm thuận lợi là
 3.906.000,59 đồng, nhóm khó khăn là 3.149.000,23 đồng và nhóm rất khó
 khăn là 2.494.000,35 đồng. Thực tế có sự chênh lệch đó là do, có sự chênh
 lệch về dịch vụ thuê ngoài, nhóm rất thuận lợi có thuận lợi về nguồn vốn, thuê
 máy bơm nước vào những thời điểm khó khăn về nước, thuê máy tuốt lúa… ,
 vì vậy chi phí dịch vụ của họ cao so với các nhóm khác.
         Về chi phí lao động thuê ngoài, chỉ 2 nhóm rất thuận lợi và thuận lợi có
 chi phí. Nhóm rất thuận lợi do có số lao động bình quân ít nhất trong các
 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                      http://www.lrc-tnu.edu.vn
56


nhóm với 2,23 người/hộ, nên phải chi phí 45,58 nghìn đồng/hộ. Nhóm thuận
lợi có chi phí thuê ngoài là 38,89 nghìn đồng/hộ. Hai nhóm khó khăn và rất
khó khăn cũng có nhu cầu thuê lao động để phục vụ sản xuất, nhưng do điều
kiện về nguồn vốn không cho phép họ thực hiện điều này. Lượng phân bón
các nhóm hộ sử dụng không chênh lệch nhau nhiều.
                         Bảng 2.14: Chi phí ngành chăn nuôi của hộ
                                                                         ĐVT: 1.000 đồng
          Nhóm hộ
                          Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn                 Rất khó khăn
Chỉ tiêu

      Tổng số                  967,79            1.315,11    996,48             940,59

      - Giống                  888,76            1157,92     884,08             820,28

 - Thức ăn xanh                68,53              129,89      93,2              112,25

- Công lao động                 10,5                  27,3    19,2                8,06

                                (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)

        Qua bảng 2.14 cho ta thấy, tổng chi phí ngành chăn nuôi của nhóm hộ
thuận lợi là cao nhất, do nhóm hộ này nuôi số lượng lợn nhiều nhất, với chi
phí giống là 1.157.000,92 đồng, chi phí thức ăn là 129,89 nghìn đồng. Các
nhóm hộ không tiến hành mua thức ăn tinh, vì họ đã tận dụng các thức ăn
xanh trồng được và các sản phẩm phụ từ lúa như rơm, rạ, cám xát từ thóc.
Thực tế chi phí chăn nuôi của các nhóm hộ chủ yếu đối với lợn, và con vật
nuôi này cũng đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các hộ nông dân nơi đây




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                   http://www.lrc-tnu.edu.vn
57


2.2.3. Phân tích tình hình sản xuất lúa của hộ
                  Bảng 2.15: Kết quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra
       Nhóm hộ                              Rất                     Khó          Rất khó
                          ĐVT                          Thuận lợi
Chỉ tiêu                                thuận lợi                  khăn            khăn
Diện tích gieo
                            m2           2.424,41      3.338,42    4.056         2.254,92
      trồng
   Năng suất          Kg/1000m2           419,12        390,57     405,6          357,72
   Sản lượng                Kg           1.287,58      1.677,95    1.781,2       1.074,09

                                 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)

        Bảng 2.15 Cho ta thấy, diện tích gieo trồng lúa của nhóm hộ khó khăn
nhất là 2.254,92 m2, nhỏ nhất so với các nhóm khác, với sản lượng là
1.074,09 kg, thấp nhất. Với diện tích gieo trồng lúa nhỏ, cộng với sự khó khăn
nhất trong việc tiếp cận nguồn nước, dẫn đến sản lượng từ lúa là không cao.
So với nhóm khó khăn về nguồn nước có sản lượng 1.781,2 kg, thấp hơn
707,11 kg, bằng 60,3% sản lưởng của nhóm khó khăn. Điều đó cho ta thấy sự
chênh lệch về sản lượng giữa 2 nhóm này là khá cao là do:
        Diện tích đất gieo trồng của nhóm khó khăn nhất nhỏ hơn nhóm khó
khăn, cụ thể, nhóm rất khó khăn có diện tích gieo trồng là 2.254,92m2, trong
khi nhóm khó khăn có diện tích gieo trồng là 4.056 m2, nhỏ hơn 1.801,08 m2,
diện tích gieo trồng lúa của nhóm khó khăn nhất chỉ bằng 55,6% diện tích của
nhóm khó khăn. Với những đặc điểm khó khăn về diện tích trồng lúa cũng
như khả năng tiếp cận nguồn nước như vây, dẫn đến năng suất và sản lượng
lúa của nhóm thấp nhất.
        Nhìn vào bảng trên ta thấy, năng suất lúa của nhóm hộ thuận lợi thấp
hơn nhóm khó khăn, cụ thể: Năng suất của nhóm thuận lợi là 390,57
kg/1000m2, thấp hơn nhóm khó khăn có năng suất 405,6 kg/1000m2 là 15,03

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.lrc-tnu.edu.vn
58


kg/1000m2. Do diện tích gieo trồng lúa của nhóm thuận lợi là 3.338,42 m2
nhỏ hơn nhóm khó khăn có diện tích gieo trồng 4.056 m2, do vậy năng suất và
sản lượng thấp hơn, nhưng không đáng kể, cụ thể, sản lượng của nhóm thuận
lợi là 1.677,95 kg so với nhóm khó khăn có sản lượng 1.781,2 kg là 103 kg,
bằng 95% sản lượng của nhóm khó khăn.
        Nhóm thuận lợi nhất về tiếp cận nguồn nước có diện tích gieo trồng là
2.424,41 m2, chỉ lớn hơn nhóm khó khăn nhất, do nhóm khó khăn nhất chủ
yếu nằm ở vùng đồi núi cao, diện tích đất cho trồng lúa thấp, chủ yếu là
nương rẫy. Mặc dù nhóm thuận lợi nhất nằm ở trung tâm xã, nhưng diện tích
không lớn là do đất dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng như UBND xã, trạm ytế,
trường học…cộng với hiện tượng xói mòn rửa trôi đất do con suối chảy qua
trung tâm. Từ những lý do đó dẫn đến diện tích đất gieo trồng lúa không lớn.
Tuy vậy, năng suất lúa lại lớn nhất do được tiếp cận nguồn nước tốt nhất, với
năng suất là 419,12 kh/1000m2, so với nhóm có năng suất thấp nhất là nhóm
khó khăn nhất với năng suất 357,72 kg/1000m2, lớn hơn 61,4 kg/1000m2.
Nhưng sản lượng của nhóm này là không cao, chỉ có sản lượng là 1.287,58
kg, nguyên nhân do diện tích đất gieo trồng thấp, hàng năm lại phải chịu sự
tàn phá từ thiên nhiên.
        Từ việc phân tích bảng 2.16 ta nhận thấy, để tận dụng được tối đa
những điều kiện thuận lợi vốn sẵn có của từng vùng , người dân xã Tân Lập
cần nâng cao hơn nữa khả năng tiếp cận nguồn nước, bên cạnh đó cần có biện
pháp chống xói mòn, giữ đất, cải tạo đất, để tăng năng suất và sản lượng của
cây lúa cũng như các loại cây khác.
        Ngoài các biện pháp để tăng hiệu quả từ cây lúa, chi phí bỏ ra để đầu tư
cho năng suât cao như giống, đạm, lân, kaly…là vô cùng quan trọng.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
59


     Bảng 2.16: Chi phí sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào)
                                                                               ĐVT: 1000đ
             Nhóm hộ
                            Rất thuận lợi        Thuận lợi     Khó khăn        Rất khó khăn
Chỉ tiêu
Giống                            293,19               349,65    401,53              237,72
Đạm                             119,447           170,505      153,504              109,03
Lân                              106,22               146,32    154,52              101,92
Ka ly                             37,75               66,79     101,52              28,49
NPK                               3,088                 -          -                 5,59
Phân chuồng                      180,14               186,05    133,7               151,85
BVTV                              28,38               41,16      38,4               27,62
Dịch vụ mua ngoài                   5                   -         2,8                  -
Chi phí lao động
                                  1,47                 3,15        -                   -
thuê ngoài
Chi phí khác                      66,66                50         90                116,38
         Tổng                   841,345          1.013,625     1.075,974            778,6

                                (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)

        Lúa là một cây trồng quan trọng của người dân xã Tân Lập, vì vậy, tiếp
cận được nguồn nước thuận lợi để nâng cao năng suất là một điều kiện vô
cùng quan trọng, bên cạnh đó, giảm chi phí để nâng cao thu nhập cũng đã
đười dân chú ý đến. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ chính quyền như, không thu
thuỷ lợi phí cũng tạo điều kiện cho người dân nơi đây giảm bớt được một
khoản chi phí. Với số lao động bình quân/hộ thấp nhất, nhóm hộ thuận lợi
nhất có chi phí thuê lao động thuê ngoài là 1,47 nghìn đồng




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                     http://www.lrc-tnu.edu.vn
60


    Bảng 2.17: Hiệu quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào)
                                                                            ĐVT: 1000đ
          Nhóm hộ
                         Rất thuận lợi         Thuận lợi   Khó khăn         Rất khó khăn
Chỉ tiêu
        GO                  3.431,91            5.100,4    4.774,64            3.209,55
         IC                   834,12            1.074,98    917,16               686,65
        VA                  2.597,79           4.025.,42   3.857,47             2.522,9
      VA/DT                    1,11               1,25       0,88                  1,1
      VA/GO                    0,73               0,79       0,67                  0,7
      VA/IC                    3,79               4,57       5,47                 5,55

                                (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)

         Qua bảng 2.17, phản ánh hiệu quả sản xuất lúa của các nhóm hộ điều
tra, ta thấy giá trị sản xuất của nhóm hộ thuận lợi là lớn nhất do nhóm hộ này
có diện tích trồng lúa lớn, giá trị sản xuất của nhóm hộ này đạt 5.100.405
đồng. Nhóm khó khắn có giá trị sản xuất là it nhất là 3.209.555 đồng. Chi phí
trung gian của nhóm thuận lợi cũng là lớn nhất do họ phải đầu tư nhiều vào
diện tích lớn đó. Giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích của nhóm thuận lợi
là 1,256128 và nhóm thấp nhất là 0,8887326. Nhìn chung tình hình sản xuất
lúa của các hộ là tốt, song để nâng cao năng suất, sản lượng của các hộ nông
dân cần có biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, đặc
biệt là nguồn tài nguyên nước. Ta thấy, giá trị gia tăng (VA)/1 đơn vị diện
tích (DT) của nhóm 2 cũng lớn nhất do, nhóm hộ này đã đầu tư nhiều vào
diện tích trồng lúa mà họ có. Giá trị gia tăng (VA)/ 1 đơn vị chi phí chung
gian (IC) của nhóm rất khó khăn là cao nhất do nhóm này phải mất nhiều chi
phí hơn do khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.lrc-tnu.edu.vn
61

2.3. Phân tích quan hệ giữa tiếp cận nguồn nƣớc và sản xuất của hộ
2.3.1. Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất lương thực của
        các hộ nông dân xã Tân Lập
        Bảng 2.18: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nƣớc và sản xuất
             lƣơng thực của các hộ nông dân xã Tân Lập năm 2005
        Nhóm hộ                                 Rất     Thuận       Khó            Rất
                            ĐVT
Chỉ tiêu                                    thuận lợi     lợi       khăn        khó khăn
1. DT lúa bq/
                         M2/người             782,08     747,6     843,72         590,13
đầu người
 2. Lương thực
                         Kg/người             371,36    373,14     376,86         291,69
 bq đầu người
3. Thu nhập bq/
                       1.000đ/người          1.075,47   1.100,43   1.043,93       840,45
người

                                  (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)

        Nhóm rất khó khăn có diện tích lúa bình quân/đầu người thấp nhất là
590,13 m2, mặc dù diện tích đất lớn nhất, nhưng do khẳ năng tiếp cận nguồn
nước kém, cho nên họ không thể tiến hành trồng lúa nhiều. Nhóm khó khăn
có diện tích lúa bình quân/ đầu người lơn nhất là do số lao động lớn, nhu cầu
lương thực cao cho nên họ phải trồng nhiều lúa. Lương thực bình quân đàu
người của nhóm rất khó khăn là thấp nhất là 291,69 kg, điều đó khẳng định sự
tiếp cận nguồn nước ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đặc biệt là trong trồng lúa,
điều đó dẫn đến thu nhập thấp nhất trong các nhóm với 840.000,45 đồng.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.lrc-tnu.edu.vn
62


2.3.2. Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước với cơ cấu thu nhập của hộ
        Bảng 2.19: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nƣớc với xác định
                 phƣơng án sản xuất kinh doanh của hộ năm 2005
                                                                          ĐVT: Nghìn đồng
                Nhóm hộ              Rất                                             Rất
                                                      Thuận lợi   Khó khăn
Chỉ tiêu                         thuận lợi                                       khó khăn
 1. Thu từ trồng trọt             4.066,39            6.073,87    6.669,44        4.350,68
- Lúa                             3.431,92             5.100,4    4.774,64        3.209,55
- Ngô                              634,47              973,47      1.894,8        1.141,13
 2. Thu từ chăn nuôi              1.355,25            2.350,07    1.059,58        1.872,88
- Đại gia súc                          -                  -           -             193,54
- Lợn                             1.355,25            2.350,07    1.059,58        1.433,04
- Gia cầm                          - 13.72              - 11       - 57,92          246,30
3.Thu từ lâm nghiệp                  265                600        654,54           588,3

                                (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)

        Nhiều vùng trong xã Tân Lập hiện nay, rất cần các nguồn nước mới để
đáp ứng nhu cầu to lớn của người dân đang gia tăng nhanh chóng. .
        Nguồn nước truyền thống và tự do là nước trời, tuy vậy, chi phí xây
dựng các bể chứa nước mưa, đường ống dẫn và các nhà máy nước xử lý để có
nước sạch lại trở thành vấn đề khá quan trọng. Nước mưa cũng có những mặt
hạn chế, chẳng hạn khi xảy ra những đợt hạn hán, trong khi xã nghèo như Tân
Lập lại chưa có hệ thống kênh mương đáp ứng đầy đủ nhu cầu tưới tưới, bên
cạnh đó, hệ thống các bể chứa nước và các hộ tự nhiên chưa có. Vì vậy, để
người dân những vùng khó khăn, những vùng xa nguồn nước được tiếp cận và
sử dụng nguồn nước là một điều khó khăn.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                   http://www.lrc-tnu.edu.vn
63


        Với địa hình dốc, cộng với các cơ sở hạ tầng về thuỷ lợi chưa đáp ứng
được nhu cầu sử dụng nước như vậy, đã dẫn đến sự chênh lệch về năng suất
cây trồng cũng như vật nuôi, do mỗi vùng có sự khác nhau về tiếp cận và sử
dụng nguồn nước.Trong bảng 2.19 cho thấy, năng suất lúa, sau khi trừ chi phí
của nhóm rất khó khăn về nguồn nước là 3.209,555 đồng, so với nhóm có sự
thuận lợi nhất là 3.431,918 đồng, chênh lệch nhau 222.36 đồng, lý do của sự
chênh lệch thu nhập từ lúa giữa 2 vùng không cách biệt nhau là mấy, đó là
vùng khó khăn tuy không thuận lợi về nguồn nước, phải đi lấy nước xa về tưới
tiêu, nhưng có diện tích đất lớn hơn. Vùng có sự tiếp cận nguồn nước tốt hơn
nhưng diện tích đất canh tác nhỏ hơn, lại phải chịu nhiều thiệt hại từ thiên tai,
lụt lội gây xói mòn, làm mất chất mùn trong đất, giảm và có hộ mất diện tích
đất canh tác, dân tới năng suất không cao.
        Trong quá trình điều tra 4 thôn của xã đã có những sự khác biệt về vị trí
và sự tiếp cận nguồn nước khá rõ rệt. Những thôn ở vùng sâu, nằm trên các
triền núi, vị trí xa các nguồn nước và hệ thống thuỷ lợi, trong khi đó chưa có
những hồ tự nhiên và bể chứa nước, dẫn đến việc được tiếp cận và sử dụng
nguồn nước là rất khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, đến sức khoẻ và
năng suất cây trồng.
        Những thôn ở thấp hơn, nhưng cũng nằm trên các triền đồi cao và dốc,
và không có hồ chứa nước, tuy có được sử dụng hệ thống thuỷ lợi, nhưng số
được sử dụng còn thấp, hệ thống thuỷ lợi cũng chưa đáp ứng được nhu cầu sử
dụng của nguời dân.
        Những thôn ở khu trung tâm xã là những thôn có được sự tiếp cận
nguồn nước tốt nhất, do nằm ở vị trí bằng phẳng và thấp, hệ thống kênh
mương tương đối đầy đủ, do vậy khả năng tiếp cận nguồn nước của người dân
vùng này là khá tốt. Tuy nhiên cũng có những khó khăn, đó là những thôn
trung tâm được chia cắt bởi một dòng sông chảy qua, bên cạnh đó hiện tượng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
64


thiên tai, lũ quét lũ ống gây xói lở đất, dẫn đến hiện tượng mất đất canh tác của
những hộ nằm sát bờ, hoặc làm giảm diện tích đất canh tác.
        Qua điều tra thực tế tại 140 hộ điều tra đã có rất nhiều ý kiến khác khau
về việc khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn nước cho tưới tiêu, ví
dụ ý kiến về không có kênh mương đã có trên 20 ý kiến, chiếm 0,15%, những
ý kiến về việc xa nguồn nước, nước không đến được ruộng do hệ thống kênh
mương kém, hệ thống kênh mương đào nhưng chưa xây, dẫn đến thấm nước,
gây sạt lở khi mưa, dẫn đến nước không đến được ruộng là 50 ý kiến chiếm
35,7%. Bên cạnh đó còn rất nhiều ý kiến về việc chất lượng xây dựng các công
trình thuỷ lợi còn kém, chưa đáp ứng được nhu cầu như: hay phải đi sửa chữa
kênh mương, mương thiết kế chưa đúng kỹ thuật, mương bị sạt lở khi mưa,
hoặc mương làm chất lượng kém…
        Bên cạnh những ý kiến về khó khăn trong tiếp cận nguồn nước còn có
những ý kiến về khó khăn của thuỷ lợi, ví dụ: Kênh mương chưa được đầu tư
về cuối nguôn, vì vậy một số ruộng còn chưa có nước, chưa có kênh mương,
kênh mương kém chất lượng hoặc kênh mương chưa kiên cố…
        Cũng có nhiều ý kiến về tài sản, phương tiện phục vụ cho dẫn nước,
chứa nước chưa có, chưa có máy bơm nước.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
65


2.3.3. Phân tích ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn nước đến thu
        nhập của hộ
a. Phân tích sự tác động của các nhân tố tới thu nhập từ nông nghiệp của hộ
        Bảng 2.20: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hƣởng
                                  thu nhập từ nông nghiệp
                                                                        Mức ý
                                                      Hệ số
                                                                         nghĩa         Độ tin cậy
                                                       hồi    T stat
                                                                       thống kê         (Qt) (%)
                                                      quy
                                                                        (1 -Qt)
Biến phụ thuộc: Ln Thu nhập từ NN
Hệ số chặn                                            6.50    14.654   1.1E - 29         100.00
Các biến giải thích
      Ln Lao động của hộ                              0.34    2.771    6.4E - 03         0,9936
      Ln Diện tích đất 2 vụ                           0.02    1.873    6.3E - 02          0,937
      Ln Chi phí sản xuất NN                          0.24    3.427    8.1E - 04        0,99919
      Ln % diện tích chủ động nước                    0.02    4.049    8.6E - 05       0,999914
Hệ số xác định R2 = 0.3667
Mức ý nghĩa thống kê F = 1.53E - 13
F = 21.12
Số mẫu quan sát N = 140

                                   (Nguồn: Số liệu điều tra 2007)

        Hàm hồi quy có dạng:
        Ln(Y) = 6.50 + 0.34 Ln(X1) + 0,02 Ln(X2) + 0.24Ln(X3) + 0.02Ln(X4)
        * Nhận xét bài toán
        Mức ý nghĩa thống kê của F = 1.53E-13 (F = 21.12) có nghĩa với độ tin
cậy đạt 99,99% bác bỏ giả thiết H0 cho rằng các biến độc lập Xi không ảnh
hưởng tới thu nhập tử nông nghiệp của hộ: H0: (b1 = b2 = ..=bi = 0), chấp nhận
giả thiết H1 cho rằng có ít nhất 1 biến Xi ảnh hưởng đến thu nhập từ nông
nghiệp của hộ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                     http://www.lrc-tnu.edu.vn
66


        R2 = 0,3667 có nghĩa sự biến động của các biến độc lập trong mô hình
đã tạo ra 36.67% sự biến động của năng suất lúa. R2 = 0,3667 tuy thấp nhưng
chấp nhận được trong nghiên cứu nông nghiệp, đặc biệt, thu nhập từ nông
nghiệp của hộ được chi phối bởi rất nhiều yếu tố, nhất là các yếu tố tự nhiên.
        Qua kết quả bài toán cũng cho thấy dấu (+, -) của các biến trong mô
hình đều phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
        - Với độ tin cậy đạt 99% cho thấy khi lao động của hộ tăng thêm 1% thì
thu nhập từ nông nghiệp của hộ sẽ tăng thêm 0.34%. Với đặc thù của huyện
Chợ Đồn, thu nhập của hộ từ sản xuất nông nghiệp là chính. Lao động của hộ
hầu hết chỉ tham gia sản xuất nông nghiệp. Do đó, hộ nào có nhiều lao động
hơn thì thu nhập từ nông nghiệp sẽ cao hơn. Tuy nhiên, việc tăng lao động
của các hộ là điều không thể, tuy nhiên các hộ có thể bố trí lao động một cách
hợp lý hơn, tăng thời gian sử dụng lao động, tận dụng lao động gia đình để
tăng thu nhập của hộ.
        - Với độ tin cậy đạt trên 90% cho thấy nếu diện tích đất 2 vụ của hộ
tăng thêm 1% thì thu nhập từ nông nghiệp của hộ sẽ tăng thêm 0.02%. Thu
nhập của hộ mà chủ yếu từ sản xuất lúa là chính, vì thế nếu diện tích đất 2 vụ
tăng lên, đồng nghĩa với việc diện tích gieo trồng của hộ tăng lên dẫn đến thu
nhập tăng lên. Qua đây ta thấy vai trò của nguồn nước và thuỷ lợi quan trọng
như thế nào đối với các hộ gia đình miền núi. Hệ thống thuỷ lợi tốt sẽ làm cho
diện tích đất 2 vụ tăng lên, qua đó giúp cho thu nhập của hộ tăng lên.
        - Với độ tin cậy đạt trên 99% cho thấy khi chi phí sản xuất nông nghiệp
tăng thêm 1% thì thu nhập từ nông nghiệp sẽ tăng lên 0.24%. Chi phí nông
nghiệp tăng lên có nghĩa đầu tư cho nông nghiệp tăng lên. Điều này cho thấy
hiệu quả của việc đầu tư cho sản xuất nông nghiệp của các hộ.
        - Với độ tin cậy đạt 99.99% cho thấy nếu diện tích chủ động nước của
hộ tăng thêm 1% thì thu nhập từ nông nghiệp tăng thêm 0.02%. Nước là yếu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
67


tố quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Do đó, việc tăng thêm diện tích
đất chủ động nước sẽ tác động tích cực tới thu nhập từ nông nghiệp của hộ.
Điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Vì vậy, địa
phương cần chú trọng phát triển hệ thống thuỷ lợi nhằm nâng cao tích chủ
động nước trong sản xuất nông nghiệp, qua đó nâng cao thu nhập cho người
dân địa phương.
b. Phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lúa của hộ
                Bảng 2.21: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố
                               ảnh hƣởng tới năng suất lúa
                                                                                        Độ tin
                                                                      Mức ý nghĩa
                                                 Hệ số                                   cậy
                                                             T stat    thống kê
                                                hồi quy                                  (Qt)
                                                                        (1 - Qt)
                                                                                         (%)
Biến phụ thuộc: Ln Năng suất lúa
Hệ số chặn                                            4.89   117.16    2.8E - 135         100
Các biến giải thích
      Ln Giống giá/sào                                0.25   4.69      6.83E - 06        99.99
      Ln Lượng đạm/sào                                0.05   8.26      1.34E - 13         100
      Ln Lượng lân/sào                                0.02   1.83      0.069867          93.01
      Ln Lượng kali/sào                               0.01   2.61      0.010064          98.99
D. Được sử dụng hệ thống thuỷ lợi                     0.21   5.18      8.19E - 07        99.99
Hệ số xác định R2 = 0.6166
Mức ý nghĩa thống kê F = 6.77E-26
F = 42.46
Số mẫu quan sát N = 138

                                   (Nguồn: Số liệu điều tra 2007)

        Hàm hồi quy có dạng:
        Ln(Y) = 4.89 + 0.25 Ln(X1) + 0,05 Ln(X2) + 0.02Ln(X3) + 0.01Ln(X4)
+ e0,21D
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                     http://www.lrc-tnu.edu.vn
68


        * Nhận xét bài toán
        Mức ý nghĩa thống kê của F = 6.77E-26 (F = 42.46) có nghĩa với độ tin
cậy đạt 99,99% bác bỏ giả thiết H0 cho rằng các biến độc lập Xi không ảnh
hưởng tới năng suất lúa của hộ: H0: (b1 = b2 = ..=bi = 0), chấp nhận giả thiết H1
cho rằng có ít nhất 1 biến Xi ảnh hưởng đến năng suất lúa bình quân của hộ.
        R2 = 0,6166 có nghĩa sự biến động của các biến độc lập trong mô hình
đã tạo ra 61.66% sự biến động của năng suất lúa. R 2 = 0,6166 là chỉ tiêu chấp
nhận được trong nghiên cứu sản xuất nông nghiệp, đặc biệt phù hợp với
những địa phương miền núi đa dạng về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội.
        Qua kết quả bài toán cũng cho thấy dấu (+, -) của các biến trong mô
hình đều phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
        * Phân tích kết quả hồi quy
        - Với độ tin cậy đạt 99.99% cho thấy khi hộ tăng lượng giống đầu tư
cho một sào lên 1% thì năng suất lúa của hộ sẽ tăng lên 0.25%. Giống là yếu
tố quan trọng trong sản xuất lúa, nhiều khi các hộ gia đình đầu tư lượng giống
thấp, trong quá trình phát triển câu lúa bị hao hụt, dẫn đến năng suất thấp. Hộ
tăng lượng giống lên sẽ đảm bảo mật độ cây lúa dẫn đến năng suất và sản
lượng tăng lên. Tuy nhiên, việc tăng lượng lúa giống sẽ chịu sự giới hạn của
đặc tính kỹ thuật. Do đó, các hộ dân ở Chợ Đồn nên tăng thêm lượng giống
lúa nhưng phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của từng giống.
        - Với độ tin cậy 99.99% cho thấy khi hộ tăng lượng đầu tư phân đạm
thêm 1kg/sào thì năng suất lúa sẽ tăng thêm 0.05%.
        - Với độ tin cậy đạt trên 90%, khi lượng phân lân đầu tư thêm 1kg/ sào
thì năng suất lúa sẽ tăng thêm 0.02%.
        - Với độ tin cậy đạt trên 95% khi đầu tư thêm 1 kg kali/sào thì năng suất
lúa sẽ tăng thêm 0.01%.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
69


        Kết quả này cho thấy các hộ gia đình tại huyện Chợ Đồn - Bắc Kạn
chưa quan tâm nhiều đến đầu tư phân bón trong quá trình sản xuất lúa. Các hộ
hoàn toàn có thể tăng năng xuất lúa bằng cách tăng thêm lượng phân bón hữu
cơ cho lúa. Tuy nhiên, việc tăng phân bón cho lúa không phải là vô hạn, nếu
cứ tăng nhiều sẽ gây ra hậu quả không tốt cho cây lúa. Do đó, các hộ nên tăng
thêm lượng phân bón để tăng năng suất nhưng phải đảm bảo được theo yêu
cầu kỹ thuật của sản xuất lúa.
        - Với độ tin cậy đạt 99.99% cho thấy biến giả D (D = 1 hộ được sử
dụng hệ thống thuỷ lợi; D = 0 hộ không được sử dụng hệ thống thuỷ lợi) có
sự tác động tới năng suất lúa. Cụ thể, hộ được sử dụng hệ thống thuỷ lợi sẽ có
năng suất lúa cao hơn so với hộ không sử dụng hệ thống thuỷ lợi là 0.21%.
Lúa là cây trồng chịu sự tác động nhiều của nguồn nước, do đó, những diện
tích nào chủ động nguồn nước tốt hơn sẽ cho năng suất và sản lượng cao hơn.
Kết quả này càng khảng định sự quan trọng của việc sử dụng nguồn nước
trong sản xuất nông nghiệp của địa phương.
2.3.4. Kết luận về tình hình thu nhập và ảnh hưởng của khả năng tiếp cận
        nguồn nước đến thu nhập của hộ
         Xã có nguồn tài nguyên nước dồi dào, với lượng mưa trung bình năm
108,32%, độ ẩm trung bình là 82,58%, người dân xã Tân Lập cần phải có các
biện pháp khắc phục, và tiếp cận tốt hơn nguồn tài nguyên nước để phát triển
sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập cho gia đình. Cần có các giải pháp cho
từng vùng trong khả năng tiếp cận nguồn nước. Việc giữ nước, sử dụng nước
hợp lý trong sinh hoạt cũng như trong việc tưới tiêu
        Bên canh những thuận lợi, xã Tân Lập, huyện Chợ Đồn là một xã
nghèo, vùng sâu vùng xa, giao thông đi lại vô cùng khó khăn, cộng với tình
hình dân trí thấp, do đặc điểm địa lý xa xôi và cơ sở hạ tầng yếu kém, truờng
học còn thiếu thốn, chỉ có 01 trường tiểu học, trong đó có hai phân hiệu nằm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
70


tại một thôn khó khăn của xã, và chưa có điện lưới quốc gia. Thôn không có
chợ để giao dịch thương mại, thu nhập của người dân trong xã chủ yếu là
nông nghiệp, chủ yếu tự cung tự cấp.
        Là một xã nghèo với 198 hộ nghèo/280 hộ, chiếm tới 70,7%, dân cư
chủ yếu sống và canh tác trên các sườn đát dốc. Diện tích đất tự nhiên chủ yếu
là núi đá cao và đồi chiếm 80% diện tích đất tự nhiên của xã. Lượng mưa
phân bố không đều.Với điều kiện khó khăn về mọi mặt như vậy, dẫn đến nền
kinh tế của xã và thu nhập của người dân rất thấp.
        Phát huy những thế mạnh của từng vùng về khả năng tiếp cận nguồn tài
nguyên nước để phát triển kinh tế, những vùng có thế mạnh về nguồn nước
phải có biện pháp chống xói mòn đất, mở rộng thu nhập từ chăn nuôi. Do đặc
điểm vùng thấp và dân cư mới di dân đến vùng trung tâm, chưa mở rộng quy
mô và chưa chú trọng đến chăn nuôi, nhóm hộ tiếp cận nguồn nước thuận lợi
nhất cần khắc phục những khó khăn tác động đến chăn nuôi để tăng thu nhập
từ chăn nuôi cho nhóm hộ.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
71


                                           Chƣơng III
       MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ TĂNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
   NGUỒN NƢỚC VÀ TĂNG THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN
                        XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN

3.1. Các giải pháp chung sử dụng nguồn nƣớc
        Các chính sách vĩ mô của Nhà nước về phát triển hệ thống nước và làm
tăng khả năng tiếp cận và sử dụng nguồn nước của người dân nông thôn.
        Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam đang đứng trước nguy
cơ thiếu nước sạch trầm trọng vào năm 2010, do tình trạng khô hạn ngày càng
trầm trọng trong khi nhu cầu sử dụng nước lại tăng nhanh.
        Các chuyên gia về thủy văn và tài nguyên nước cho biết ở phía nam,
sông Thị Vải và Đồng Nai đang dần trở thành những con sông chết trong khi
tại phía nam sông Hồng cạn kiệt một cách nguy hiểm vào vụ đông xuân, đe
dọa đời sống của cư dân ven sông.
         Một trong những nguyên nhân dẫn đến khô hạn là do năm nay Việt
Nam nằm trong nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng nặng nề của
hiện tượng El-nino. Lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm, mùa mưa kết
thúc sớm, mực nước sông Hồng tại Hà Nội xuống mức thấp nhất trong vòng
100 năm qua. Do đó, theo các chuyên gia sắp tới tình trạng suy giảm nguồn
nước, hạn hán, thiếu nước có thể xảy ra trên diện rộng. Trong khi đó, nhu cầu
về nước sẽ tăng khoảng 97%.
3.1.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp
        Để khắc phục tình hình hạn hán xảy ra thường xuyên và trên diện rộng
trong những năm gần đây, ngoài việc đầu tư xây dựng công trình mới với chi
phí rất tốn kém, cần tập trung sửa chữa, nâng cấp công trình hiện có để nâng
cao năng lực, đi đôi với việc đổi mới công tác quản lý, tuyền truyền, hướng
dẫn, áp dụng công nghệ, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, sử dụng nước tiết kiệm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
72


          Trong những năm gần đây, do sự biến động của thời tiết, khí hậu, tình
trạng hạn hán đã xảy ra thường xuyên và khá nghiêm trọng trên phạm vi cả
nước, đặc biệt là ở các tỉnh miền Núi và Tây Nguyên, ảnh hưởng lớn đến sản
xuất và đời sống của nhân dân. Trước đây, chúng ta chủ yếu tập trung vào
việc tìm kiếm nguồn nước, đầu tư, xây dựng công trình để quản lý, khai thác
nguồn nước, còn việc sử dụng nước như thế nào cho hiệu quả chưa được coi
trọng. Trong thực tế, do tập quán canh tác, sự hiểu biết còn hạn chế về kỹ
thuật nông nghiệp, kỹ thuật tưới, tiêu theo yêu cầu của cây trồng trong từng
thời đoạn sinh trưởng đã dẫn đến việc sử dụng nước rất lãng phí.
         Vì vậy, đã đến lúc cần phải đặt vấn đề sử dụng nước làm sao cho hiệu
quả, đặc biệt sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, thay cho quan niệm
trước đây cho rằng nước là của trời cho, là nguồn tài nguyên vô hạn. Để thực
hiện được vấn đề này, từ cơ quan Trung ương đến các địa phương, từ cơ quan
quản lý đến các đơn vị cung cấp nước cần thông qua việc tuyên truyền, phổ
biến khoa học kỹ thuật, công nghệ tưới tiết kiệm nước để bà con nông dân sử
dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.
         Vậy, tại sao phải nâng cao hiệu quả sử dụng nước, tưới tiết kiệm nước,
phải chăng từ trước đến nay chúng ta sử dụng nước một cách lãng phí. Trong
bài viết này, tôi xin được đi sâu đề cập về công tác quản lý, khai thác công
trình thuỷ lợi, sử dụng nước trong nông nghiệp.
3.1.2. Tình hình thuỷ lợi và một số giải pháp thuỷ lợi cho các tỉnh miền núi
        phía Bắc
        Các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và 6 tỉnh đặc biệt khó khăn trong
vùng nói riêng là khu vực có nhiều tiềm năng, đồng thời có vị trí xung yếu về
an ninh - quốc phòng. Việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quan trọng
này luôn là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta. Điều đó chúng ta có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
73


thể thấy qua nhiều chủ trương, chính sách cụ thể, đặc biệt cuối tháng 9 vừa
qua Chính phủ đã triệu tập một hội nghị chuyên đề để bàn về phát triển kinh
tế - xã hội của 6 tỉnh này. Để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của
các tỉnh, tác giả đưa ra một số giải pháp về khoa học và công nghệ nhằm phát
triển lĩnh vực thủy lợi - một bộ phận của kết cấu hạ tầng, vấn đề quan trọng
đang được các địa phương này quan tâm.
        Công tác thuỷ lợi nói chung, công tác khoa học và công nghệ
(KH&CN) thuỷ lợi nói riêng có vai trò quan trọng góp phần thực hiện các chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội (KT -
XH) các tỉnh miền núi.
        Theo số liệu thống kê của Viện khoa học thuỷ lợi (KHTL), không kể
những công trình lớn như Thác Bà, Hoà Bình, đến nay tại khu vực miền núi
phía Bắc, Nhà nước và nhân dân địa phương đã xây dựng được 893 hồ chứa
nước loại vừa và nhỏ; 1 200 đập dâng; hàng trăm công trình thuỷ luân, thuỷ
điện nhỏ, trạm bơm; hàng vạn trạm thuỷ điện cực nhỏ có công suất 0,3-0,6
kw; hàng vạn công trình trung, tiểu thuỷ nông gồm kênh dẫn, mương phai;
hàng chục vạn bể chứa, giếng nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất; hàng trăm
kilômét đường ống dẫn nước kiên cố; đã phục vụ tưới chắc cho 100 000 ha
lúa chiêm, 210 000 ha lúa mùa, cung cấp 20 000 kW điện, giải quyết nước
sinh hoạt hợp vệ sinh cho hơn 30 vạn dân ở các vùng khan hiếm nước, vùng
núi đá, vùng biên giới và các vùng dân cư, kinh tế tập trung. Tuy nhiên, các
công trình thuỷ lợi ở đây còn bộc lộ nhiều nhược điểm, chưa đáp ứng được
yêu cầu về số lượng và chất lượng phục vụ nhiệm vụ phát triển KT-XH của
các tỉnh trong tình hình mới.
        Các công trình tạm, bán kiên cố còn chiếm tỷ lệ cao; các công trình do
Nhà nước đầu tư, thường mới chỉ kiên cố công trình đầu mối, còn kênh
mương do dân tự làm, công trình bị xuống cấp nghiêm trọng, nên hiệu suất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
74


còn rất thấp. Ví dụ: Trong tổng số 4 524 phai đập thì mới kiên cố được 1 200
đầu mối, chiếm 26,5% (chưa kể các công trình kiên cố còn bị xuống cấp
nghiêm trọng); các công trình thuỷ luân, thuỷ điện nhỏ đã được xây dựng đến
nay chỉ còn dưới 50% số trạm hoạt động.
        Để góp phần phát triển KT-XH các tỉnh miền núi phía Bắc, nhất là 6
tỉnh thuộc diện đặc biệt khó khăn (Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao
Bằng và Bắc Cạn), theo chúng tôi việc phát triển thuỷ lợi ở đây phải gắn với
việc xây dựng hồ chứa nước, kết hợp thuỷ điện nhỏ để cung cấp nước, điện
cho đời sống và sản xuất ở vùng thiếu nước, vùng sâu, vùng xa. Cụ thể là:
         Nâng cấp, tu bổ và kiên cố hoá công trình và cụm công trình đầu mối,
hoàn chỉnh các hệ thống kênh mương để phát huy hiệu suất các công trình
hiện có.
         Xây dựng một số công trình mới tại các khu vực sản xuất lương thực
tập trung và có tiềm năng, kết hợp với việc cấp nước cho các cụm dân cư, thị
trấn, thị xã, khu công nghiệp.
         Tăng cường trồng rừng kết hợp với làm hồ chứa nước nhỏ, ruộng bậc
thang nhằm bảo vệ tầng phủ, giảm lũ, giữ ẩm và tăng nguồn sinh thuỷ.
         Nghiên cứu xây dựng kè bảo vệ các đoạn sông suối, đặc biệt là sông
biên giới, kiểm soát nguồn nước và chất lượng nước vào lãnh thổ Việt Nam,
phòng chống lũ quét, lũ ống miền núi.
        Nhà nước đầu tư vốn ngân sách cho việc xây dựng các công trình thuỷ
lợi đầu mối, địa phương huy động nhân dân đóng góp công lao động để xây
dựng, tu bổ các hệ thống kênh mương.
        Xây dựng hệ thống thuỷ điện nhỏ cung cấp điện sinh hoạt cho đồng bào
vùng sâu, vùng xa, nơi không có điện lưới quốc gia.
        Cải tạo nâng cấp, mở rộng công trình cấp nước tự chảy: Đập dâng, hồ
chứa, kênh mương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
75


        Đối với công trình đập dâng (bao gồm đập tạm, bán kiên cố, kiên cố):
Phai đập tạm như phai gối, phai chân ếch, phai cũi, do nhân dân tự làm là chủ
yếu. Loại này xây dựng đơn giản nhưng phải sửa chữa, làm lại hàng năm, hơn
nữa các loại vật liệu để xây dựng tại chỗ hiếm, đặc biệt là gỗ không được
phép khai thác tự do, vì thế không nên phát triển .
        Đối với vùng núi nên cố gắng đầu tư xây dựng các loại phai đập bán
kiên cố như phai rọ đá, phai đá xếp (phai rọ đá hiện nay được dùng khá phổ
biến vì công nghệ và vật liệu làm rọ đá không khó khăn như thập niên 60-70,
thép làm rọ có thể được mạ lớp chống rỉ, hoặc bọc nhựa, bọc composite) và
các loại phai đập kiên cố như đập đá xây hoặc bê tông; đập có lõi đất đá, được
bọc đá xây hoặc bê tông; đập đá đổ cải tiến; phai đập tự động nâng lên, hạ
xuống theo mùa vụ.
          Hồ chứa nước: Chú ý sửa chữa, nâng cấp cải tạo hệ thống đóng mở
điều tiết hồ, chống thẩm lậu. Hầu hết hồ chứa ở miền núi là loại nhỏ, có dung
tích trên dưới 1 triệu mét khối, chiều cao đập xấp xỉ 10 m, diện tích tưới vài
chục hecta nên lưu lượng qua cống nhỏ, tiết diện cống bé, do đó vấn đề kín
nước cửa van và thao tác đóng mở cửa cống là rất quan trọng, cần được lưu ý.
        Hệ thống kênh mương, cầu máng: Hầu hết các hệ thống kênh mương
miền núi đều không hoàn chỉnh, hay bị sạt lở. Vì vậy cần đẩy mạnh việc kiên
cố hóa.
        Ngoài ra có thể áp dụng công nghệ tưới cây vùng đồi bằng vòi phun,
nhỏ giọt áp lực thấp đã được một số cơ quan trong nước nghiên cứu, chế tạo
và áp dụng ở miền núi như các loại vòi phun bằng nhựa, bằng đồng...
* Phát triển thuỷ luân, thuỷ điện nhỏ, trạm bơm
        Việc cấp điện cũng như cấp nước sinh hoạt ở miền núi cần được giải
quyết theo hướng triệt để kết hợp với công trình thuỷ lợi để lắp đặt thiết bị.
Thấy trước được vấn đề khó khăn về thiết bị, nhiều năm qua Viện KHTL đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
76


chủ động nghiên cứu chế tạo trong nước nhiều loại thiết bị thủy luân, thuỷ
điện nhỏ có kết hợp chạy các máy xay xát nông sản. Đến nay chúng ta có lực
lượng để giải quyết đủ yêu cầu về thiết bị thuỷ luân, thuỷ điện nhỏ và hiện
đang tập trung nghiên cứu nâng cao chất lượng thiết bị (như hiệu suất, độ bền)
và giảm giá thành sản phẩm để đáp ứng tốt hơn nhu cầu về các dạng thiết bị
này của các địa phương miền núi.
        Do đặc điểm của sông suối miền núi là có mức dao động mực nước lớn
giữa mùa lũ và mùa kiệt nên thiết bị bơm nước phải đáp ứng được yêu cầu đó.
Giải pháp bơm sử dụng năng lượng truyền thống, do chi phí vận hành cao nên
chỉ được sử dụng cho vùng có cột nước bơm thấp hoặc cho cây trồng có giá
trị kinh tế cao. Giải pháp sử dụng năng lượng nước như dốc nước, thác nước,
đập dâng để xây dựng, lắp đặt các loại bơm như bơm va, bơm thuỷ luân là
phù hợp, vì công nghệ này chưa được sử dụng rộng rãi nên còn nhiều địa
điểm có thể tận dụng được. Ngoài những công trình xây dựng mới, thì ngay
trong hệ thống thuỷ lợi đã có cũng có thể lợi dụng các bậc nước ở sau đập, ở
trên kênh để lắp đặt chúng, góp phần nâng cao hiệu quả tưới và cấp nước sinh
hoạt của công trình. Công nghệ này có thể đưa nước lên cao (10-100m) tạo
nguồn nước để cấp nước cho vùng đất dốc, cho cây ăn quả, cây công nghiệp,
cho nuôi cá, có thể dẫn nước đi xa để cấp nước sinh hoạt. Quy mô công trình
vừa và nhỏ, phù hợp với quy mô hộ gia đình ở miền núi, chi phí thấp (dưới 1
triệu đồng cho 1 trạm), người dân có thể tự đầu tư, xây dựng, quản lý vận
hành, góp phần xã hội hoá công tác thủy lợi .
         Hiện nay, Viện KHTL đã nghiên cứu chế tạo được 15 loại bơm thuỷ
luân, hợp tác nghiên cứu 4 loại bơm va, có thể đáp ứng rộng rãi nhu cầu phát
triển thuỷ lợi miền núi. Từ năm 1998 đến 2001 Viện đã đưa kết quả nghiên
cứu này vào sản xuất, góp phần xây mới và cải tạo trên 50 trạm bơm, trong đó
có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như Trạm bơm thuỷ luân Tà Xa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
77


(Sơn La), Hệ thống thuỷ lợi Văn Quán (Lạng Sơn) và một số điểm trình diễn
ở Tuyên Quang, được địa phương đánh giá cao.
        Đối với vùng sâu, vùng xa điện lưới quốc gia khó vươn tới được, vì vậy
việc tận dụng nguồn thủy năng sẵn có làm thuỷ điện nhỏ là một hướng quan
trọng để nâng cao đời sống dân cư ở các bản làng. Thiết bị thuỷ điện nhỏ
trước đây phần lớn được nhập khẩu từ nước ngoài, một số thiết bị sản xuất
trong nước có chất lượng chưa ổn định nên làm mất lòng tin của các cấp quản
lý và người sử dụng. Trong 10 năm gần đây, Viện KHTL đã tập trung nghiên
cứu, áp dụng các thành tựu mới về thuỷ điện nhỏ của thế giới và bước đầu đã
chế tạo được những thiết bị chính cho thuỷ điện nhỏ với quy mô công suất 5-
200 kW, phục vụ cho quy mô thôn, bản đến quy mô xã miền núi. Đặc biệt
trong 2 năm gần đây nhờ áp dụng một số tiến bộ KH&CN nên thiết bị thuỷ
điện do Viện nghiên cứu đã đạt trình độ của khu vực. Riêng mảng thiết bị
thuỷ điện cực nhỏ, do thiết bị của Trung Quốc giá quá thấp nên sản phẩm của
ta chưa cạnh tranh được. Được sự hỗ trợ của Bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn, Bộ khoa học, công nghệ và môi trường, Viện đang tập trung
nghiên cứu loại thiết bị này nhằm sớm đưa ra các thiết bị chất lượng cao, giá
thành thấp, phục vụ cho phát triển miền núi.
        Ngoài 2 nhóm công nghệ phục vụ cho thuỷ lợi và thuỷ điện nhỏ nêu
trên, Viện đang đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao các giải pháp tưới tiên
tiến, tưới tiết kiệm cho cây trồng, đặc biệt là cây ăn quả; sử dụng vật liệu mới
(vải địa kỹ thuật) để xây dựng bể chứa nước cỡ lớn phục vụ cấp nước sinh
hoạt cho vùng cao núi đá; sử dụng vật liệu mới kết hợp vật liệu địa phương để
xây dựng hồ chứa nước với chi phí thấp; một số loại bơm phù hợp với địa
hình miền núi...

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
78


        Để phát triển thuỷ lợi ở các tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn, ngoài các
giải pháp về công nghệ, chúng tôi cho rằng còn một số vấn đề khác mà các cơ
quan hữu quan và Nhà nước cần quan tâm giải quyết:
        Đẩy mạnh phổ biến những tiến bộ KH & CN bằng cách xây dựng các
mô hình trình diễn, tổ chức các lớp tập huấn và mạng lưới cán bộ chuyển giao
kỹ thuật (như mô hình khuyến nông).
        Với các trạm quy mô hộ gia đình, Nhà nước cần hỗ trợ vật tư (xi măng,
sắt thép), thiết bị. Các trạm có quy mô lớn hơn cần được hỗ trợ đầu tư như
đầu tư các dự án thuỷ lợi hiện nay, nhưng cần cải tiến phương thức quản lý
đầu tư.
        Cần hỗ trợ các cơ quan nghiên cứu - triển khai để sớm đưa kết quả
nghiên cứu vào sản xuất ở miền núi.
3.2. Giải pháp của Nhà nƣớc
        Để đối phó với tình trạng khan hiếm nước, Việt Nam cần giữ gìn, bảo
vệ, bảo tồn nguồn nước, ứng xử hợp lý với tài nguyên nước, nhất là sử dụng
nước tiết kiệm và đa mục đích, xây dựng cơ chế bảo đảm điều hòa, phân bổ
hợp lý tài nguyên nước, bảo vệ dòng sông và môi trường.
        Ngoài việc đầu tư, nâng cấp sửa chữa các công trình thuỷ lợi, việc hoàn
thiện một số giải pháp về cơ chế chính sách, tổ chức, quản lý công trình, sử
dụng nước như sau:
        1. Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý
khai thác công trình thuỷ lợi theo hướng các công trình phải có chủ “quản lý”
thực sự, quản lý kém người chủ phải chịu trách nhiệm về pháp luật và kinh tế.
Thực hiện giao đặt hàng với những hệ thống công trình lớn, kết hợp với đấu
thầu “quản lý” có điều kiện (về kỹ thuật và tài chính) từng phần việc, từng
hạng mục công trình hoặc toàn bộ hệ thống công trình vừa và nhỏ, tiến tới tư
nhân hoá, đa dạng hoá công tác quản lý.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
79


        2. Xây dựng các mô hình nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thiết bị tưới
tiết kiệm nước phù hợp với từng loại cây trồng, từng vùng khí hậu và từng
loại đất:
        Tưới nhỏ giọt: Là hình thức đưa nước trực tiếp trên mặt đất đến vùng
gốc cây trồng một cách liên tục dưới dạng từng giọt nhờ các thiết bị đặc trưng
là các vòi tạo giọt. Áp dụng cho vùng đất có địa hình phức tạp, khan hiếm
nước, gió thổi mạnh, tưới cho các cây trồng có giá trị kinh tế cao, đòi hỏi cấp
nước thường xuyên ở mức nhỏ.
        Tưới phun mưa: Là hình thức tưới nước cho cây trồng dưới dạng hạt
mưa. Áp dụng cho vùng đất có độ thấm ít, cho các loại cây trồng mềm yếu có
giá trị kinh tế cao.
         Tưới ngầm: Là hình thức đưa nước trực tiếp vào bộ rễ cây trồng. Áp
dụng cho các vùng đất có khả năng mao dẫn tốt, đất thịt, thịt pha cát, kết cấu
đất vào loại trung bình, có khí hậu khô hạn, thường xuyên có gió lớn
        3. Tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật thuỷ lợi, nông nghiệp đến tận bà con
nông dân, đặc biệt là kỹ thuật tưới tiêu phù hợp với yêu cầu nước theo từng
thời đoạn sinh trưởng của cây trồng, đặc biết đối với tưới lúa, để người nông
dân hiểu và biết cách sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.
        Nâng cao hiệu quả sử dụng nước
        Một là, đẩy mạnh xã hội hoá, phát triển mạnh mẽ thị trường nước sạch
và vệ sinh nông thôn. Xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch &VSMTNT, huy
động sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội, các thành phần kinh tế nhất là khu
vực nhân dân đầu tư phát triển cấp nước sạch &VSMTNT. Nhà nước khuyến
khích sự tham gia của các thành phần kinh tế thông qua các cơ chế chính sách
đảm bảo nguyên tắc các thành phần kinh tế được coi trọng và đối xử bình đẳng.
        Hai là, công tác thông tin- giáo dục- truyền thông phải được tăng cường
và tiến hành thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức khác nhau, như:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
80


truyền thông trực tiếp, truyền thông đại chúng, tiếp thị xã hội nhằm nâng cao
nhận thức của người dân và các cấp chính quyền, khuyến khích người dân đầu
tư, tham gia bảo vệ và sử dụng nước sạch và nhà vệ sinh.
        Ba là, đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch, xây dựng, rà soát, đánh
giá, bổ sung, cập nhật quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết về cấp nước
và VSMTNT làm cơ sở xây dựng kế họach phát triển 5 năm và hàng năm.
Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch theo phương pháp kế hoạch hoá. Việc
xây dựng kế hoạch của chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn phải căn cứ vào nhu cầu của người dân và được tiến hành theo lịch trình
5 năm và hàng năm phải xuất phát từ cơ sở để đảm bảo tính khả thi cao. Tăng
cường việc phân cấp quản lý để đảm bảo các tỉnh chủ động trong vịêc lập kế
hoạch, triển khai và quản lý các công trình cấp nước sạch &VSMTNT, đồng
thời có cơ chế kiểm tra, giám sát để đảm bảo thực hịên có hiệu quả.
        Bốn là, chủ trọng phát triển khoa học công nghệ, nghiên cứu và phát
triển theo hướng đa dạng hoá các loại hình công nghệ khai thác, sử dụng
nguồn nước hợp lý và nâng cao chất lựơng nứơc phù hợp với điều kịên tự
nhiên- kinh tế- xã hội của từng vùng, đảm bảo nguyên tắc bền vững. Ưu tiên
tìm kiếm và tận dụng các nguồn nước ổn định với các vùng đặc biệt khó khăn
( vùng thường xuyên hạn hán, lũ lụt, vùng núi cao, hải đảo…); cấp nước tập
trung cho nhũng vùng dân cư đông và tập trung; nâng cấp, mở rộng các công
trình cấp nước hịên có.
        Năm là, quản lý chặt chẽ đầu tư xây dựng, khai thác và bảo vệ công
trình cấp nước. Việc đầu tư xây dựng phải tuân thủ quy họach, kế hoạch, dự
án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các quy định hiện hành về quản lý
đầu tư xây dựng; đảm bảo công trình được đầu tư đúng mục đích, đúng đối
tượng, đúng giá trị và bền vững. Vịêc xác định dự án, công trình xuất phát từ
nhu cầu của người dân, đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công khai, người dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
81


được tham gia ngay từ khâu lập kế hoạch, chuẩn bị đầu tư, lựa chọn công
nghệ và giám sát thực hiện xây dựng công trình. Phương thức quản lý và chủ
sở hữu công trình sau xây dựng phải đựơc xác định ngay từ khi lập dự án, đặc
biệt cơ chế tài chính được thiết lập phù hợp với quy mô công trình và điều
kiện kinh tế xã hội của địa phương đảm bảo phát triển bền vững. Khuyến
khích việc phân cấp quản lý đầu tư bằng ngân sách Nhà nước cho tổ chức trực
tiếp khai thác công trình. Giá nước phải được tính toán đúng, tính đủ các chi
phí sản xuất, đảm bảo cho các tổ chức và cá nhân làm dịch vụ khai thác, các
nhà đầu tư tự chủ về tài chính trong hoạt động kinh doanh. Trường hợp giá
nước tiêu thụ thấp hơn giá thành, phải xác định nguồn kinh phí hỗ trợ. Người
sử dụng nước có trách nhịêm và nghĩa vụ trả tiền nứơc theo số lựơng sử dụng
thực tế và giá nước quy định.
        Sáu là, đa dạng hoá nguồn kinh phí, trong đó xã hội hoá nguồn lực tài
chính làm trong tâm bằng cách vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để
khuyến khích sự tham gia của nhân dân, các thành phần kinh tế và toàn xã hội
đầu tư vào nứơc sạch &VSMTNT. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để thu hút thêm
nguồn vốn đầu tư. Đồng thời, mở rộng thị trường nước sạch và VSMTNT
thông qua vốn vay ưu đãi của nhà nước và quốc tế cho các vùng kinh tế phát
triển và các vùng đồng bằng, giảm dần vốn ngân sách cho các vùng này để tập
trung ưu tiên cho các vùng miền núi, vùng khó khăn và các vùng thường
xuyên bị thiên tai.
         Với các giải pháp xây dựng mới công trình thuỷ lợi là rất tốn kém,
trong khi đó rất nhiều công trình đã có lại chưa phát huy hết năng lực. Giải
pháp về sửa chữa nâng cấp công trình hiện có, đi đôi với việc đổi mới công
tác quản lý, nâng cao hiệu quả công trình, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kỹ
thuật tưới tiết kiệm nước, sử dụng nước tiết kiệm thông qua việc xây dựng mô

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
82


hình điểm để nhân rộng sẽ đòi hỏi chi phí không cao nhưng hiệu quả kinh tế -
xã hội rất lớn. Đây là hướng đi đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn chỉ đạo thực hiện.
3.3. Giải pháp sử dụng nguồn nƣớc cho xã Tân Lập - Chợ Đồn - Bắc Kạn
3.3.1. Giải pháp của UBND xã Tân Lập
3.3.1.1. Giải pháp cho khu khực tiếp cận tốt nguồn nước
        Phát triển và bảo vệ tốt các công trình thuỷ lợi, cần tăng cường vai trò
của chính quyền cơ sở, bởi các điều kịên về nguồn lực, kỹ thuật về cấp nước
công tác vận hành- bảo dưỡng các công trình nước sạch và vệ sinh diễn ra
thường xuyên và lâu dài trong phạm vi quản lý của người dân và chính quyền
địa phương. Các họat động cấp nước và VSMTNT chỉ có thể thành công và
bền vững nếu có sự liên kết chặt chẽ với chính quyền cơ sở và sự phối hợp
của các cơ quan chức năng liên quan.
        Những năm qua, vấn đề xói mòn, suy thoái đất tại vùng trung tâm xã,
nơi có điều liện thuận lợi nhất trong việc tiếp cận nguồn nước, do tác động
của điều kiện tự nhiên và nạn phá rừng, cũng như các hoạt động canh tác
nông nghiệp không phù hợp trên đất dốc diễn ra với tốc độ nhanh, trong khi
vùng đồng bằng thích hợp cho cây hoa màu lương thực ngắn ngày trên thực tế
đã được khai thác tới hạn. Do vậy, việc phát triển nông lâm nghiệp trong
những năm tiếp theo phụ thuộc phần lớn vào vấn đề quản lý sử dụng hiệu quả
và lâu bền quỹ đất đồi núi vốn đang rất đa dạng, giàu tiềm năng, nhưng vấn
đề mấu chốt tiếp cận và sử dụng nguồn nước để phát triển nông nghiệp là giải
quyết nước tưới cho cây trồng và hạn chế chống xói mòn đất.
        Là vùng có thuận lợi về tiếp cận nguồn nước, nhưng còn gặp nhiều khó
khăn do phải hứng chịu những thiên tai từ thiên nhiên, cần xây các bể chứa
nước nhỏ. Dòng suối chảy qua trung tâm xã cần có các guồng quay dẫn nước

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
83


từ suối thấp lên các kênh mương hoặch ống dẫn nước để đến được với diện
tích cần tưới nước, đầu tư máy móc phục vụ tưới tiêu. Xây dựng kè chống xói
dọc bờ sông, chống hiện tượng xói mòn, làm mất diện tích đất canh tác.
        Hiện tại các vùng đồi núi nước ta nói chung và vùng khó khăn nhất về
tiếp cận nguồn nước của xã Tân Lập, hầu hết hệ thống công trình thuỷ lợi
nhỏ, mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu nước cho phát triển nông
nghiệp. Những khu vực đất dốc giàu tiềm năng trồng cây ăn quả thường nằm
ngoài phạm vi phục vụ của các hệ thống thuỷ lợi. Phát triển hệ thống tưới cho
các khu vực này thường không khả thi, hoặc nếu có thể thì chi phí đầu tư xây
dựng cũng như vận hành và quản lý sẽ rất lớn và không mang lại lợi nhuận.
Do vậy, giải pháp có chi phí thấp - giải pháp thu trữ nước có nhiều ưu điểm,
thích hợp với vùng đất này là một giải pháp tốt.
        Thu trữ nước là giải pháp tạo nguồn nước tưới hiệu quả cho những
vùng có điều kiện tiếp cận nguồn nước khó khăn nhất, không thể xây dựng
được công trình thuỷ lợi, đặc biệt thích hợp với những vùng trồng cây ăn quả
và cây công nghiệp trên các vùng đất dốc. Việc ứng dụng giải pháp này vừa
giải quyết được nguồn nước vào mùa khô vừa có tác dụng hạn chế xói mòn,
rửa trôi đất và các chất dinh dưỡng. Hệ thống thu trữ nước có kết cấu đơn
giản, rất dễ áp dụng và nhân rộng. Trong các hạng mục của hệ thống thu trữ
nước, bể chứa chiếm tỷ lệ kinh phí lớn nhất. Do đó, chính quyền UBND xã
Tân lập cần đưa một số loại vật liệu như gạch xây, xi măng đất, bê tông vỏ
mỏng vào thử nghiệm, bởi bể chứa bằng bê tông vỏ mỏng có giá thành thấp
nhất. Hình thức bể này đang được kiến nghị đưa vào ứng dụng đại trà cho
vùng trung du và miền núi phía Bắc.
         Khu vực không thuận lợi và rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn
nước, chính quyền địa phương cần có những giải pháp chung và đồng bộ, vì
đều có những khó khăn giống nhau như, xa nguồn nước, chưa được sử dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
84


hệ thông kênh mương thuỷ lợi, cùng nằm ở địa hình cao và dốc, không có các
công trình chứa nước như ao, hồ và bể chứa nước, vì vậy cần đầu từ xây dựng
các hồ chứa nước tự nhiên phù hợp để tránh lẵng phí.
        Cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa của chính quyền địa phương trong
việc đầu tư nâng cấp hệ thống thuỷ lợi, định hướng phát triển kinh tế phù hợp
với vùng. Sử dụng nguồn nước một cách hợp lý, phân bố cây trồng phù hợp,
ví dụ trồng các loại cây có khả năng chịu hạn cao…
        Một số giải pháp về giữ nước và sử dụng nước
        Một là, phải tính đến những giải pháp giữ nước, giữ tại chỗ, giữ từng
chặng, triệt để hạn chế lượng nước mưa chảy ra biển. Ðịa hình phần lớn của
huyện Chợ Đồn và xã Tân Lập là đều có độ dốc đổ ra Biển Ðông, nếu không
có những giải pháp giữ nước thì sau mỗi trận mưa tạo dòng chảy trên mặt đất
chiếm tới 90% lượng nước mưa, làm xói mòn đất mùn và lượng nước mưa quý
hiếm đó nhanh chóng theo sông chảy ra biển. Các giải pháp giữ nước tại chỗ và
từng chặng bao gồm tích trữ nước mặt, tăng lượng nước ngầm.
        Tổng thể các giải pháp là một hệ thống hoàn chỉnh chia nhiều bước,
thực hiện trong nhiều năm; nhỏ và dễ làm trước, to và khó làm sau, tùy theo
khả năng huy động nhân lực, sự hỗ trợ của dân và Nhà nước. Trước mắt cần
tổ chức một chương trình nghiên cứu xây dựng hệ thống giải pháp được bố trí
thành hệ thống kế hoạch, chia bước hằng năm, góp phần tăng trưởng kinh tế,
bảo đảm sản xuất bền vững và ổn định đời sống nhân dân. Mỗi khi tạo được
các công trình trữ nước lớn, nhỏ hay các đập tràn dâng mức nước, cần có kế
hoạch sử dụng có hiệu quả nguồn nước mới được tạo nên, lấy hiệu quả kinh tế
của bản thân nó để tạo điều kiện thực hiện tiếp kế hoạch của giai đoạn sau.
        Hai là, sử dụng nước hợp lý, phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Cần hình
thành một chương trình nghiên cứu khoa học để làm cơ sở phân phối nguồn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
85


nước quý hiếm này cho các lĩnh vực sử dụng như: Sinh hoạt, tưới tiêu, phát
triển cây trồng phù hợp với vùng.
        Ba là, chống ô nhiễm nguồn nước sạch và tái sinh nước đã sử dụng.
Hiện tượng tại huyện Chợ Đồn hiện nay là sử dụng nước lãng phí và làm ô
nhiễm nguồn nước, do huyện có một số công ty khai thác khoáng sản và khai
thác quặng đồng thời nước thải không xử lý càng làm tăng mức độ ô nhiễm
nguồn nước sạch. Là tiếng chuông cảnh báo, chúng ta cần khẩn trương tiến
hành các giải pháp khả thi để bảo vệ các nguồn nước ngọt quý. Nhiệm vụ
trước mắt cũng như lâu dài là tăng cường tuyên truyền, nâng cao dân trí về
bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước sạch, thực hiện các biện pháp chống ô
nhiễm nguồn nước sạch và tái sinh nước thải trong sinh hoạt cũng như trong
các lĩnh vực sản xuất để quay vòng sử dụng.
        Ba giải pháp trên bao gồm một hệ thống các giải pháp mang tính tổng
hợp, cần được tiến hành đồng bộ mới đạt được yêu cầu hỗ trợ lẫn nhau, chi
phí thấp, hiệu quả cao.
        Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tìm nguồn nước ngầm cho vùng núi
cao, xây lu chứa và bể chứa nước để chứa nước mưa. Nhưng thực tế cho thấy,
trong thời gian ngắn nếu không có mưa thì nước cũng bôc hơi hết. vì vậy giải
pháp tìm nguồn nước ngầm là vô cùng quan trọng đối với vùng cao khó khăn
về tiếp cận nguồn nước. Việc xây dựng các đường dẫn nước tự chảy từ các
mỏ nước sẽ rất lợi, nếu các mỏ nước tồn tại lâu dài.
        Đa số diện tích ở vùng này là đất đồi núi dốc, vấn đề xói mòn, suy thoái
đất canh tác do tác động của điều kiện tự nhiên va nạn phá rừng cũng như các
hoạt động canh tác nông nghiệp không phù hợp trên đất dốc diễn ra với tốc độ
nhanh. Vì vậy vấn đề hạn chế xói mòn và giải quyết nước tưới cho cây trồng
là vấn đề mấu chốt.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
86


3.3.2. Giải pháp cho khu vực có điều kiện trung bình về nguồn nước
         Để tạo điều kịên cho người dân nông thôn tiếp cận đựơc với nước sạch
và điều kiện vệ sinh tốt, Nhà nước và chính quyền địa phương cần phải ưu
tiên cải thiện điều kiện cấp nước và vệ sinh cho người nghèo, khu vực nghèo
và giải quyết đồng bộ các yếu tố xây dựng, quản lý, công nghệ, nâng cao năng
lực cộng đồng và thông tin, giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức. Đồng
thời thực hịên chủ trương tiếp cận dựa theo nhu cầu và phân cấp quản lý, thực
hiện công tác cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn một cách mạnh mẽ
hơn, trong đó đặc biệt chú trọng vào việc trao quyền cho cộng đồng và lấy
cộng đồng làm trọng tâm.
        Tiếp tục đầu tư cho việc xây dựng các kênh mương còn dang dở, kiên
cố hoá kênh mương, tránh tình trạng nước không đến được với những diện
tích cần tưới tiêu, tránh tình trạng nước bị thấm do mương chưa được xây
kiên cố hoá.
        Là khu vực có điều kiện thuận lợi về nguồn nước, mặc dù chưa thật sự
có điều kiện tốt nhất về tiếp cận nguồn nước, nhưng là một vùng có nguồn
nước dồi dào và có điều kiện thuận lợi. Vùng đã được hưởng hệ thống kênh
mương thuỷ lợi, nhưng do còn một số chỗ kênh mương còn thấp hơn mặt
ruộng và diện tích cần tưới nước, vì vậy cần có một quy hoạch đồng bộ, tránh
tình trạng diện tích cần tưới nước gần hệ thống thủy lợi, nhưng không thật sự
thuận tiện khi tiếp cận với nguồn nước đó.
3.3.3. Giải pháp cho khu vực không thuận lợi trong việc tiếp cận và sử
        dụng nguồn nước
        Những năm qua, vấn đề xói mòn, suy thoái đất tại vùng trung du miền
núi do tác động của điều kiện tự nhiên và nạn phá rừng, cũng như các hoạt
động canh tác nông nghiệp không phù hợp trên đất dốc diễn ra với tốc độ
nhanh, trong khi vùng đồng bằng thích hợp cho cây hoa màu lương thực ngắn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
87


ngày trên thực tế đã được khai thác tới hạn. Do vậy, chính quyền địa phương
cần chú trọng việc đầu tư hệ thống kênh mương thuỷ lợi, các đường ống dẫn
nước, phát triển nông lâm nghiệp trong những thập kỷ tiếp theo phụ thuộc
phần lớn vào vấn đề quản lý sử dụng hiệu quả và lâu bền quỹ đất đồi núi vốn
đang rất đa dạng, giàu tiềm năng, nhưng vấn đề mấu chốt để phát triển nông
nghiệp miền núi là giải quyết nước tưới cho cây trồng và hạn chế chống xói
mòn đất. Với nguồn kinh phí của một xã nghèo, xây các bể chứa lớn là khó
thực hiện, vì vậy, xây các bể chứa nhỏ bằng vật liệu xây dựng (xi măng, đá,
cát, sỏi, sắt, thép) sẽ tiết kiệm được chi phi và tăng khả năng giữu nước cho
vùng này. Xây dựng các trạm bơm nhỏ để bơm nước lên bể chứa theo các
đường ống dẫn trong trường hợp mừa khô, lượng mưa ít. Xây dựng kiên cố hệ
thống kênh mương, tránh tình trạng thấm nước.
3.3.4. Giải pháp của các nhóm hộ nông dân xã Tân Lập
        Kết hợp với chính quyền địa phương, góp sức cùng chính quyền đầu tư
và xây dựng hệ thống kênh mương, xây dựng lắp đặt các đường ống dẫn nước
nhỏ từ vùng thuận lợi lên vùng khó khăn, tưới phun đối với vùng triền đồi
cao. Bên cạnh đó cần tăng cường bảo vệ, tu sửa hệ thống kênh mương, đuờng
ống dẫn nước, kiểm tra và khơi thông hệ thống dẫn nước. Đối với vùng thuận
lợi, còn một số vùng, các hộ nông dân ở cao hơn hệ thống kênh mương, dùng
biện pháp tát nước bằng gầu lên mương, dùng ống dẫn nước vào diện tích cần
tưới tiêu. Đối với các hộ khó khăn về nguồn nước, biện pháp giữ nước là vô
cùng quan trọng, xây các bể chứa nước nhỏ hoặc chứa nước bằng các lu chứa
nước sẽ với chi phí ít hơn. Mặt khác, tranh thủ sự đầu tư của của Nhà nước
cũng như của chính quyền địa phương để tiếp cận tốt hơn nữa nguồn nước, để
tăng thu nhập của mình. Ngoài ra cũng cần có chiến lược và định hướng đúng
đắn đối với việc canh tác và trồng loại cây thích hợp với vùng đất canh tác, để
đạt được năng suất cao.
        Bên cạnh đó còn cần có giải pháp mang tính cộng đồng, trồng rừng để
giữ nước đầu nguồn, tạo nguồn nước mạch và độ màu mỡ cho đất trồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
88


                                 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

        Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, vì vậy
việc quan tâm của các cấp các ngành trong nước đã có nhiều sự quan tâm và
đầu tư lớn trong việc phát triển nông nghiệp bền vững, các chính sách khuyến
khích, hỗ trợ và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn nước, phát triển sản xuất
nông nghiệp, đưa nền kinh tế chúng ta phát triển cùng khu vực.
        Trong quá trình thực hiện Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng việc tiếp cận
nguồn nước tác động đến thu nhập của người nông dân xã Tân Lập, từ số liệu
điều tra thực tế, Luận văn rút ra một số kết luận sau:
        1. Trong những năm qua, cùng với sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, sự
phấn đấu nỗ lực của chính quyền địa phương và sự vươn lên khắc phục những
khó khăn của người dân, việc nâng cao khả năng tiếp cận nguồn nước đã và
đang dần được cải thiện, với nhiều điều đã đạt đươc trong phát triển nông
nghiệp của địa phương. Tuy nhiên, bên bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại cần
tháo gỡ, chính vì vậy vẫn cần có những nghiên cứu chi tiết hơn, cụ thể hơn
nữa về vấn đề nâng cao khả năng được tiếp cận với nguồn nước, và đề ra
những giả pháp mang tính tổng thể hơn.
        2. Tân Lập là một xã miền núi vùng sâu, vùng xa của huyện Chợ Đồn
tỉnh Bắc Kạn. Đời sống nhân dân còn nghèo nàn, lạc hậu, giao thông đi lại
giữa các vùng còn khó khăn, kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông
nghiệp và lâm nghiệp. Sạt lở bờ sông khu vực trung tâm xã Tân Lập sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến tính mạng, đời sống vật chất, tinh thần, đất đai, ruộng
vườn của người dân, cũng như các cơ sở hạ tầng quan trọng của xã như đường
giao thông liên thôn, đường điện, năng suất, thu nhập từ sản phẩm nông
nghiệp…Do đó việc xây dựng các kề chống xói lở là vô cùng cần thiết.
        3. Với điều kiện về nguồn nước khá dồi dào, nhưng do phân bố không
đều, cơ sở hạ tầng còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu nước tưới tiêu cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
89


người dân. Nhưng với sự cố gắng khắc phục khó khăn, cố gắng tiếp cận và sử
dụng nguồn nước để cải thiện thu nhập, đã phần nào tác động ít nhiều đến thu
nhập người dân trên địa bàn. Các vùng có điều kiện tiếp cận nguồn nước khác
nhau đã biết canh tác các loại cây trồng phù hợp để có thu nhập. Tuy nhiên,
trong quá trình điều tra, phân tích cho thấy một thực tế, tại khu vực tiếp cận
nguồn nước tôt nhất thu nhập từ lúa lại chưa cao do một số nguyên nhân như:
diện tích đất canh tác nhỏ, chịu ảnh hưởng nặng của thiên tai. Những vùng khó
khăn trong việc tiếp cận nguồn nước không canh tác được nhiều loại cây trồng.
        Các cấp lãnh đạo cần có sự quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa cho
huyện Chợ Đồn nói chung và xã Tân Lập nói riêng. Là một xã vùng sâu vùng
xa, giao thông đi lại khó khăn, tiềm lực kinh tế yếu kém, trình độ dân trí thấp,
cơ sở hạ tầng kém phát triển, giao thương nhỏ lẻ, chưa có chợ, nền kinh tế của
xã chủ yếu là nông nghiệp. Nhưng điều kiện để phát triển sản xuất nông
nghiệp còn rất hạn chế, điều kiện để tiếp cận và sử dụng nguồn nước còn khó
khăn, bên cạnh những yếu tố chủ quan còn có những yếu tố khách quan như
thiên nhiên, lũ lụt, làm xói mòn đất đai canh tác, làm giảm năng suất, cho dù
đó là vùng có thuận lợi về tiếp cận nguồn nước.
        Theo tài liệu của xã, xã còn 1 thôn chưa có điện lưới quốc gia để phục
vụ cho cuộc sống, trong khi đó lại là thôn vùng cao, khó khăn trong việc tiếp
cận nguồn nước. Với các giải pháp đầu tư xây dựng và cải tao mới công trình
thuỷ lợi là rất tốn kém, với nguồn ngân sách hạn hẹp, trong khi đó rất nhiều
công trình đã có lại chưa phát huy hết năng lực. Giải pháp về sửa chữa nâng
cấp công trình hiện có, đi đôi với việc đổi mới công tác quản lý, nâng cao
hiệu quả công trình, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật tưới tiết kiệm
nước, sử dụng nước tiết kiệm thông qua việc xây dựng mô hình điểm để nhân
rộng sẽ đòi hỏi chi phí không cao nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội rất lớn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
90


        4. Đề tài hoàn thành thể hiện sự cố gắng của tác giả trong quá trình học
tập, tích luỹ kinh nghiệm cũng như quá trình nghiên cứu thực tế. Có thể nói,
đề tài đã thu được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, do thời gian và
trình độ có hạn, cũng như để phù hợp với cấp độ một Luận văn thạc sỹ, bản
thân tác giả cũng nhận thấy một số điểm hạn chế:
        Công trình nghiên cứu khoa học mới dừng lại ở phân tích sự ảnh hưởng
của việc tiếp cận nguồn nước ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân từ
nông nghiệp.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
91


                     DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quyền Đình Hà (2004), Kinh tế phát triển nông thôn, Trường Đại học nông
    nghiệp I, Hà Nội.
2. PGS. TS. Phạm Ngọc Hải, GS. TS. Tống Đức Khang, GS. TS. Bùi Hiếu,
    TS. Phạm Việt Hoà (2007), Giáo trình quy hoạch và thiết kế hệ thống huỷ
    lợi, Nxb Xây dựng, Hà Nội.
3. Hội khoa học kinh tế nông – lâm nghiệp (2000), Giáo trình kinh tế và chính
    sách đất đai ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
4. Đỗ Hồng Phấn (2007), “Xin đừng lãng phí nước mưa”, Báo TTXVN
5. Nguyễn Quang Phi (2006), Nghiên cứu điển hình quy hoạch hệ thống
    thuỷ lợi
6. Đặng Đình Quang (2002), Đổi mới ở vùng Miền núi, Nxb Nông nghiệp,
    Hà Nội.
7. TS. Đỗ Anh Tài, TS. Nguyễn Minh Thọ, ThS. Nguyễn Thị Bình, Chiến
    lược phát triển nông nghiệp nông thôn miền Bắc Việt Nam.
8. Đặng Lim Vui, Nguyễn Thế Đặng, Trần Ngọc Ngoạn, Lương Văn Hinh,
    Nguyễn Ngọc Nông, Nguyễn Hữu Hồng, Nguyễn Thị Minh Thọ, Nguyễn
    Thị Thắc, (2002), Một số phương pháp tiếp cận và phát triển nông thôn,
    Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
9. Báo cáo thống kê UBND xã Tân Lập năm 2007
10. Báo cáo tình hình phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn năm 2007, Sở
    Nông nghiệp & PTNT Bắc Kạn.
11. Báo cáo của Hội Nước Quốc tế (IWRA)
12. Báo cáo của Cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam
13. Niên giám thống kê huyện Chợ Đồn năm 2003 - 2007
14. Tạp chí Tài nguyên và Môi truờng tháng 5 - 2008.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
92




                                   PHỤ LỤC




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên    http://www.lrc-tnu.edu.vn
93


                               PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ NÔNG DÂN

PhiÕu sè:...................
Th«n:……………….X·:………………...M·........ HuyÖn: ..............
Hä vµ tªn ng-êi pháng vÊn:........................................... M·...................................

I. Th«ng tin chung vÒ hé n«ng d©n
1. Hä vµ tªn chñ hé:.......................................... Giíi tÝnh  (nam: 0 ; n÷:1)
- Ngµy th¸ng n¨m sinh chñ hé:………………………..
- Tr×nh ®é v¨n ho¸ chñ hé: líp:……………………
- D©n téc cña chñ hé  (Kinh: 0; Tµy: 1; Dao: 2; Nïng: 3; M«ng: 4; Kh¸c: 5)
2. Nh©n khÈu cña hé
2.1. Tæng nh©n khÈu:……………….. ng­êi
Trong ®ã: sè nh©n khÈu lµ nam:……………. Ng­êi
             Sè nh©n khÈu lµ n÷:……………… ng­êi
2.2. Lao ®éng cña hé:……………………… lao ®éng
Trong ®ã: sè lao ®éng lµ nam:………………. Lao ®éng
Sè lao ®éng lµ n÷:………………… lao ®éng
Sè nh©n khÈu ngoµi ®é tuæi lao ®éng cã tham gia lao ®éng..... ng-êi?
             - Trªn 60 tuæi...... ng-êi?
             - D-íi 18 tuæi ...... ng-êi?
2.4. Ph©n lo¹i hé theo nghÒ nghiÖp
- Hé thuÇn n«ng:                             - Hé n«ng nghiÖp kiªm TTCN: 
- Hé NN kiªm DÞch vô:                       - Hé kh¸c:..................................
3. Nh÷ng tµi s¶n chñ yÕu cña hé
3.1. Nhµ ë
Nhµ kiªn cè:            Nhµ b¸n kiªn cè                     Nhµ t¹m 

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                            http://www.lrc-tnu.edu.vn
94


4. §Êt ®ai cña hé
               Lo¹i ®Êt               §VT       DiÖn tÝch   Thuû lîi C©y trång       Ghi chó

Tæng diÖn tÝch cña hé                                          *
1. §Êt thæ c-
2. §Êt v-ên nhµ
3. §Êt trång c©y hµng n¨m
M¶nh 1
M¶nh 2
M¶nh 3
M¶nh 4
M¶nh 5
M¶nh 6
M¶nh 7
M¶nh 8




4. §Êt trång c©y l©u n¨m
-§Êt trång chÌ
-§Êt trång c©y ¨n qu¶
5. §Êt v-ên rõng
6. §Êt ao, hå
7. §Êt kh¸c

*: Chñ ®éng: 1 kh«ng chñ ®éng:                   2
Ghi chó: 1: mét vô; 2: hai vô; 3: 3 vô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.lrc-tnu.edu.vn
95


5. Tµi s¶n phôc vô s¶n xuÊt cña hé
             Tµi s¶n                           Sè l-îng                         Gi¸ trÞ
M¸y kÐo
M¸y cµy
M¸y b¬m
M¸y xay x¸t
M¸y tuèt lóa
M¸y kh¸c
Cµy, bõa
M¸y tuèt lóa thñ c«ng
Tr©u bß cµy kÐo
Lîn n¸i
Chuång tr¹i ch¨n nu«i
Tµi s¶n kh¸c

6. Thu nhËp vµ vèn cña hé gia ®×nh
-Thu nhËp hµng n¨m cña hé:............................................................ ®
-Vèn cña hé gia ®×nh vµo thêi ®iÓm ®Çu n¨m:..................................®
-TiÒn göi tiÕt kiÖm cña hé gia ®×nh:...................................................®
II. KÕt qu¶ s¶n xuÊt cña hé gia ®×nh
1. KÕt qu¶ s¶n xuÊt ngµnh trång trät
                                DiÖn                                        L-îng
                                                NS             SL                             Gi¸
      C©y trång                 tÝch                                         b¸n
                                             (t¹/sµo)          (t¹)                        (1000®/kg)
                                (m2)                                         (kg)




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                        http://www.lrc-tnu.edu.vn
96


2. Thu tõ ngµnh ch¨n nu«i
                           Sè ®Çu gia           Träng            Tæng träng   L-îng
                                                                                               Gi¸
       VËt nu«i           sóc, gia cÇm l-îng BQ                    l-îng        b¸n
                                                                                            (1000®/kg)
                               (con)             (kg)               (kg)        (kg)
-Lîn thÞt
-Lîn con
-Gµ
-VÞt
-Tr©u
-Bß
- C¸




                 (TÝnh trong mét n¨m; riªng tr©u bß ®¬n vÞ tÝnh lµ con)

3. Thu tõ ho¹t ®éng l©m nghiÖp:................................ ®
4. Thu tõ c¸c nguån kh¸c
- Thu tõ ho¹t ®éng dÞch vô:.........................®
- Thu tõ lµm nghÒ:.......................................®
- Thu tõ lµm thuª:........................................®
- TiÒn l-¬ng:................................................®
- Thu kh¸c:..................................................®




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                           http://www.lrc-tnu.edu.vn
97


III. Chi phÝ s¶n xuÊt cña hé
1. Chi phÝ cho s¶n xuÊt trång trät (tÝnh b×nh qu©n cho 1 sµo)
        Chi phÝ               §VT           Lóa        C©y... C©y... C©y... C©y... C©y...

1. Gièng                       Kg

- Sè ®i mua                    Kg

- Gi¸                      1000®/kg

2. Ph©n bãn

- Ph©n chuång                  T¹

- §¹m                          Kg

- L©n                          Kg

- Kaly                         Kg

- NPK                          Kg

3. Thuèc trõ s©u             1000®

4. Thuèc diÖt cá             1000®

5. Lao ®éng                   C«ng

- Thuª ngoµi                  C«ng

- Gi¸                    1000®/c«ng

6. Chi phÝ b»ng tiÒn

- Thuû lîi phÝ               1000®

- DÞch vô lµm ®Êt            1000®

- VËn chuyÓn                 1000®

- Tuèt                       1000®

- B¶o vÖ ®ång ruéng          1000®

- Chi kh¸c                   1000®


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                   http://www.lrc-tnu.edu.vn
98


2. Chi phÝ cho ch¨n nu«i
                                                    Lîn             Lîn   Gia     Tr©u,
       Kho¶n môc                     §VT                                                       C¸
                                                    thÞt            n¸i   cÇm       bß
1. Gièng                              Kg
        - Gi¸                     1000®/kg
2. Thøc ¨n tinh
- G¹o                                 Kg
- Ng«                                 Kg
- C¸m g¹o                             Kg
- Khoai, s¾n                          Kg
- C¸m tæng hîp                        Kg
+ Gi¸                             1000®/kg
- Bét c¸                              Kg
+ Gi¸                             1000®/kg
-
-
3. Thøc ¨n xanh (rau)
- Tæng sè                             Kg
+ Mua ngoµi                           Kg
+ Gi¸                             1000®/kg
4. Chi b»ng tiÒn kh¸c               1000®
5. C«ng lao ®éng                     C«ng

                     (Ghi chó: tÝnh cho c¶ n¨m hay tÝnh cho mét løa)

3. Chi cho ho¹t ®éng l©m nghiÖp:....................................®
4. Chi cho ho¹t ®éng kh¸c:
- Chi cho ho¹t ®éng dÞch vô:.........................®
- Chi cho lµm nghÒ:.......................................®
- Chi kh¸c......................................................®
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                         http://www.lrc-tnu.edu.vn
99


IV. Th«ng tin tham kh¶o vÒ t×nh h×nh thuû lîi vµ sö dông hÖ thèng thuû lîi
          cña hé gia ®×nh
Gia ®×nh cã ®-îc sö dông hÖ thèng thuû lîi?  (cã: 1 ; kh«ng: 0)
NÕu cã: hÖ thèng thuû lîi ®· phôc vô tèt ch-a?  (tèt: 1 ; kh«ng: 0)
Bao nhiªu % diÖn tÝch cña gia ®×nh ®-îc sö dông thuû lîi? .................
Gia ®×nh cã gÆp khã kh¨n g× trong viÖc tiÕp cËn nguån n-íc?
Xin cô thÓ:
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Thuû lîi phÝ cña gia ®×nh ph¶i tr¶ cao hay thÊp?  (Cao: 1 ; b×nh th-êng: 0)
Mçi sµo sö dông gia ®×nh ph¶i tr¶ bao nhiªu? ............................1000®
Theo «ng (bµ) ®¸nh gi¸ thÕ nµo vÒ ®iÒu kiÖn thuû lîi cña ®Þa ph-¬ng?
ThuËn lîi.............................................................................................................
.............................................................................................................................
Khó kh¨n.............................................................................................................
.............................................................................................................................
Theo «ng bµ lµm thÕ nµo ®Ó n©ng cao kh¶ n¨ng tiÕp cËn nguån n-íc?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Xin ch©n thµnh c¶m ¬n sù hîp t¸c cña «ng (bµ)!




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                                          http://www.lrc-tnu.edu.vn

Luan van thac si kinh te (18)

  • 1.
    ĐẠI HỌC THÁINGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH HỨA ĐÌNH HÒA ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC TIẾP CẬN NGUỒN NƢỚC ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ THÁI NGUYÊN, NĂM 2008
  • 2.
    1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH HỨA ĐÌNH HÒA ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC TIẾP CẬN NGUỒN NƢỚC ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Mã số: 60.31.10 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Chí Thiện THÁI NGUYÊN, NĂM 2008 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 3.
    2 LỜI CẢM ƠN Luận văn đuợc hoàn thành là quá trình học tập nghiên cứu và tích luỹ kinh nghiệm của tác giả. Trước hết tôi xin bày tỏ lòng chân thành cảm ơn đối với các lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với lãnh đạo Khoa Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên Để có được kết quả này, tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đến TS. Trần Chí Thiện - người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi làm đề tài. Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo, các bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn nhất Luận văn hoàn thành, không thể không nhắc tới sự giúp đỡ của các cán bộ UBND xã Tân Lập, nơi tôi thực hiện luận văn này. Đã luôn tạo điều kiện rất thuận lợi cho tôi trong việc thu thập số liệu, nghiên cứu địa bàn. Cuối cùng thôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thành viên trong gia đình tôi, những người đã tạo điều kiện cho tôi cả về vật chất lẫn tinh thần, để tôi hoàn thành kháo học cũng như luận văn này. Tôi cũng xin cảm ơn nhóm sinh viên đã cùng tôi đi nghiên cứu địa bàn và thu thập số liệu. Một lần nữa tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của mọi người. Thái nguyên, ngày tháng năm 2008 Tác giả luận văn Hứa Đình Hoà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 4.
    3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi số liệu sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn. Các số liệu sơ cấp là kết quả điều tra, đánh giá của tôi, và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác. Thái nguyên, ngày tháng năm 2008 Tác giả luận văn Hứa Đình Hoà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 5.
    4 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT TT Nội dung Ký hiệu, viết tắt 1 Khoa học và Công nghệ KH&CN 2 Tài nguyên nước TNN 3 Lưu vực sông LVS 4 Uỷ ban nhân dân UBND 5 Tài nguyên và Môi trường TN&MT 6 Phát triển nông thôn PTNT 7 Xây dựng cơ bản XDCB 8 Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn PCLB&TKCN 9 Vệ sinh môi trường nông thôn VSMTNN 10 Khoa học thuỷ lợi KHTL 11 Kinh tế xã hội KTXH 12 Hội nước quốc tế IWRA Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 6.
    5 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1 1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1 2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 3 2.1. Mục tiêu chung ........................................................................................... 3 2.2. Mục tiêu cụ thể ........................................................................................... 3 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3 3.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 3 3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài ................................................................... 3 4. Đóng góp mới của luận văn .......................................................................... 4 5. Bố cục của luận văn ...................................................................................... 4 Chƣơng I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................................. 5 1.1. Cơ cở khoa học của đề tài .......................................................................... 5 1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài ........................................................................... 5 1.1.1.1. Tình hình tài nguyên nước của Việt Nam ............................................ 5 1.1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước ....................... 8 1.1.1.3. Vai trò của nước và khả năng tiếp cận nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp ........................................................................... 14 1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ...................................................................... 15 1.1.2.1. Đánh giá nguồn nước tại một số tỉnh khó khăn miền núi phía Bắc ....... 15 1.1.2.2. Tình hình nguồn nước của tỉnh Bắc Kạn ........................................... 18 1.1.2.3. Tình hình phát triển của hệ thống thuỷ lợi ở tỉnh Bắc Kạn ................... 22 1.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài ......................................................... 25 1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................... 25 1.2.2. Cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu ........................................... 26 1.2.3.Các phương pháp nghiên cứu cụ thể ...................................................... 26 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 7.
    1.2.3.1. Phương phápthu thập thông tin ......................................................... 26 1.2.3.2. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu ................................................. 26 1.2.3.3. Phương pháp phân tích số liệu ........................................................... 27 1.2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu ................................................................ 28 1.2.4.1. Chỉ tiêu phản ánh khả năng tiếp cận nguồn nước của hộ .................. 28 1.2.4.2. Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và chi phí của hộ ........................ 29 1.2.4.3. Một số chỉ tiêu bình quân ................................................................... 29 Chƣơng II: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TẠI XÃ TÂN LẬP, CHỢ ĐỒN, BẮC KẠN ................................................................... 30 2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu xã Tân Lập, Chợ Đồn, Bắc Kạn ............... 30 2.1.1. Điều kiện tự nhiên xã Tân Lập .............................................................. 30 2.1.1.1. Vị trí Địa lý ........................................................................................ 30 2.1.1.2. Đặc điểm địa hình huyện Chợ Đồn và xã Tân Lập............................ 30 2.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết của xã Tân Lập - huyện Chợ Đồn .......... 31 2.1.1.4. Đặc điểm thuỷ văn của xã .................................................................. 32 2.1.1.5. Đặc điểm tài nguyên đất đai của xã ................................................... 33 2.1.1.6. Tài nguyên khoáng sản của xã ........................................................... 35 2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội của xã ............................................................. 36 2.1.2.1. Tình hình dân số và lao động ............................................................. 37 2.1.2.2. Cơ sở hạ tầng của xã .......................................................................... 37 2.1.2.3. Đánh giá những tác động của điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội phát triển nông nghiệp và hạ tầng thuỷ lợi của địa phương ........... 41 2.1.2.4. Đặc điểm của nhóm hộ điều tra. ........................................................ 42 2.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp và tiếp cận nguồn nước của người dân xã Tân Lập ...................................................................................... 45 2.2.1. Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra ................................................ 45
  • 8.
    2.2.2. Tình hìnhphát triển sản xuất nông nghiệp của hộ ................................ 50 2.2.2.1 Kết quả sản xuất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra .......................... 50 2.2.3. Phân tích tình hình sản xuất lúa của hộ ................................................. 57 2.3. Phân tích quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất của hộ ............. 61 2.3.1. Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất lương thực của các hộ nông dân xã Tân Lập ................................................................. 61 2.3.2. Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước với cơ cấu thu nhập của hộ .... 62 2.3.3. Phân tích ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộ ........................................................................................... 65 2.3.4. Kết luận về tình hình thu nhập và ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộ .......................................................... 69 Chƣơng III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ TĂNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN NƢỚC VÀ TĂNG THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN ....................... 71 3.1. Các giải pháp chung sử dụng nguồn nước ............................................... 71 3.1.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nước phục vụ SXNN ................ 71 3.1.2. Tình hình thuỷ lợi và một số giải pháp thuỷ lợi cho các tỉnh miền núi phía Bắc .......................................................................................... 72 3.2. Giải pháp của Nhà nước ........................................................................... 78 3.3. Giải pháp sử dụng nguồn nước cho xã Tân Lập, Chợ Đồn, Bắc Kạn ..... 82 3.3.1. Giải pháp của UBND xã Tân Lập ......................................................... 82 3.3.2. Giải pháp cho khu vực có điều kiện trung bình về nguồn nước ........... 86 3.3.3. Giải pháp cho khu vực không thuận lợi trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn nước.................................................................................. 86 3.3.4. Giải pháp của các nhóm hộ nông dân xã Tân Lập ................................ 87 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 88 PHỤ LỤC ....................................................................................................... 92
  • 9.
    DANH MỤC CÁCBẢNG BIỂU Bảng 2.1: Tình lượng mưa, độ ẩm của huyện năm năm 2007 ........................ 31 Bảng 2.2: Tổng diện tích đất tự nhiên xã Tân Lập năm 2007 ........................ 34 Bảng 2.3: Thống kê các công trình thuỷ lợi .................................................... 38 Bảng 2.4: Tình hình nguồn nước xã Tân Lập năm 2007 ................................ 40 Bảng 2.5: Những đặc trưng của nhóm hộ điều tra .......................................... 42 Bảng 2.6: Thông tin chung về chủ hộ điều tra ................................................ 45 Bảng 2.7: Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ........................................ 45 Bảng 2.8: Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra .......................................... 47 Bảng 2.9: Tình hình tài sản phục vụ sản xuất của hộ ..................................... 48 Bảng 2.10: Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của hộ ................................ 50 Bảng 2.11: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của hộ ..................................... 51 Bảng 2.12: Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của hộ .................................... 53 Bảng 2.13: Chi phí ngành trồng trọt của hộ .................................................... 55 Bảng 2.14: Chi phí ngành chăn nuôi của hộ ................................................... 56 Bảng 2.15: Kết quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra................................... 57 Bảng 2.16: Chi phí sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào) .............. 59 Bảng 2.17: Hiệu quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào) ............. 60 Bảng 2.18: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất lương thực của các hộ nông dân xã Tân Lập năm 2005 ................... 61 Bảng 2.19: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước với xác định phương án sản xuất kinh doanh của hộ năm 2005 ............................ 62 Bảng 2.20: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng thu nhập từ nông nghiệp.......................................................................... 65 Bảng 2.21: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lúa ..................................................................................... 67
  • 10.
    1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước là một trong những yếu tố cần thiết hàng đầu đến đời sống của con người nói riêng và đến mọi sự sống trên trái đất nói chung. Nước là một yếu tố không thể thay thế của sự sống. N-íc lµ tµi s¶n quý b¸u cña c¸c hé gia ®×nh lµm kinh tÕ n«ng nghiÖp vµ c¶i thiÖn viÖc sö dông nguån n-íc lµ mét ph-¬ng ph¸p quan träng lµm ®a d¹ng ho¸ ph-¬ng kÕ vµ lµm gi¶m yÕu tè yÕu thÕ cña c¸c hé n«ng d©n nghÌo. Mét ph-¬ng ph¸p sö dông hiÖu qu¶ h¬n nguån n-íc cho viÖc s¶n xuÊt l-¬ng thùc b»ng viÖc tiÕt kiÖm nguån n-íc quý gi¸ ®Ó ®¸p øng nhu cÇu cho c¸c ph-¬ng s¸ch kh¸c. T¨ng n¨ng suÊt cña nguån n-íc ë vïng l-u vùc th-îng nguån ®-îc xem nh- lµ mét sù can thiÖp cèt yÕu sÏ n©ng cao c«ng t¸c qu¶n lý ®Êt ®ai mét c¸ch tæng quan. Nước ngọt là nguồn tài nguyên quý hiếm của thế giới, lượng nước ngọt trên mặt bao gồm các ao, hồ, sông, suối và nước ngầm tầng nông chỉ chiếm khoảng 2% tổng lượng nước; toàn thế giới hiện có khoảng 430 triệu người thiếu nước dùng. Việt Nam cũng không ít vùng thiếu nước ngọt và cũng không ít vùng có nước nhưng bị ô nhiễm, khoảng hai phần ba số dân thiếu nước và chưa được dùng nước sạch. Trên các vùng, nguồn nước ngọt có được nhờ vào nước mưa hằng năm, lượng nước đó phục vụ đời sống dân cư và các lĩnh vực sản xuất. Với đặc điểm lượng mưa hằng năm từng vùng khác nhau, nơi cao tới hơn 2.000 (mm) ly, nơi thấp chỉ 600 - 700 ly; nhưng lượng mưa đó không phân đều trong năm mà tập trung vào một số tháng trong năm, trong tháng cũng chỉ tập trung vào một số ngày. Có những trận mưa hàng trăm ly trong ngày gây nên lũ lụt và nạn xói mòn đất nghiêm trọng; đồng thời tình trạng mưa phân bố không đều trong năm cũng gây nên những đợt hạn hán khắc nghiệt kéo dài. Vụ hạn từ cuối năm 2004 đến 2005 kéo dài tới mười tháng ở các tỉnh cực nam Trung Bộ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 11.
    2 và Tây Nguyênkhông những đã gây nên thiệt hại to lớn cho sản xuất nông nghiệp mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đời sống của cư dân trong vùng. Với những đặc điểm thiên nhiên và thiên tai kể trên, đòi hỏi chúng ta muốn có nền sản xuất, nhất là nông nghiệp, bền vững và ổn định cuộc sống của nhân dân, phải xây dựng một chiến lược sử dụng nước có cơ sở khoa học kết hợp kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trên thế giới và trong nước để sử dụng nguồn nước tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất. Các nước trên thế giới và nước ta nhiều năm cũng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, nhất là trong lĩnh vực chống xói mòn. Nhưng trong những năm của thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ 20, do khai thác thiên nhiên, phát triển kinh tế thiếu khoa học, lãng phí tài nguyên, làm mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, nạn lụt lội, hạn hán xảy ra hằng năm ngày càng trầm trọng, nạn thiếu nước ngọt cho cuộc sống và sản xuất đang trở thành nguy cơ số một của thế giới. Các nước cần tính đến chiến lược nhằm từng bước giải quyết một cách cơ bản vấn đề bức xúc này. Sản xuất nông nghiệp là một lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên như: khí hậu, thời tiết, ánh sáng, độ ẩm, đất, nước. Trong đó, nước là yếu tố quan trọng nhất. Tiếp cận nguồn nước, nói cách khác nguồn nước thuận lợi hay không ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả sản xuất nông nghiệp, do đó ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Nguồn nước cũng tác động đến phương án sản xuất kinh doanh, do đó cũng ảnh hưởng đến thu nhập của hộ. Xã Tân Lập là một xã miền núi của huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn, phần lớn diện tích của xã có khó khăn về nguồn nước do hệ thống thuỷ lợi và khả năng dự trữ kém. Do vậy, thu nhập của hộ cũng bị hạn chế. Để có được những chính sách, giải pháp phát triển hệ thống thuỷ lợi nhằm phục vụ cho người dân, đề tài phải nghiên cứu rõ những ảnh hưởng của khả năng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 12.
    3 tiếp cận nguồnnước đến thu nhập của hộ, mà chủ yếu là từ nông nghiệp.Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của việc tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộ nông dân xã Tân Lập, huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn” 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục tiêu chung Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộ nông dân 2.2. Mục tiêu cụ thể 1) Hệ thống hoá được những lý luận về phát triển sản xuất nông nghiệp và vai trò của nguồn nước đối với sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân miền núi 2) Đánh giá được tác động của nguồn nước tới sản xuất nông nghiệp và thu nhập của hộ 3) Đề ra được những giải pháp nhằm nâng cao khả nằng tiếp cận nguồn nước cho các hộ gia đình nông dân 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khả năng tiếp cận các nguồn nước và thu nhập của hộ nông dân 3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.2.1. Phạm vi không gian Đề tài được tổ chức nghiên cứu tại xã Tân Lập - Chợ Đồn - Bắc Kạn 3.2.2. Phạm vi thời gian Đề tài nghiên cứu những số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2005 - 2007 Số liệu sơ cấp năm 2007 3.2.3. Phạm vi nội dung Nước có vai trò quan trọng đối với mọi mặt của đời sống. Tuy nhiên, nội dung đề tài chỉ giới hạn trong ảnh hưởng của nguồn nước sản xuất nông nghiệp tơi các phương án sản xuất kinh doanh và thu nhập của hộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 13.
    4 4. Đóng gópmới của luận văn Đây là một đề tài mới, một hướng nghiên cứu mới trong phát triển nông nghiệp nông thôn liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý để phát triển bền vững. Đề tài nghiên cứu sẽ chỉ ra được những ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn nước đến khả năng tăng thu nhập cho hộ nông dân. Đề tài sử dụng hàm Cobb - Douglas để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của nguồn nước đến tăng thu nhập của người dân. Đề tài chỉ ra được những giải pháp cơ bản nhằm tăng khả năng tiếp cận và hiệu quả sử dụng nguồn nước cho hộ nông dân miền núi xã Tân Lập - huyện Chợ Đồn - Bắc Kạn. 5. Bố cục của luận văn Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, có 3 chương gồm: Chương I: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu Chương II: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và thực trạng vấn đề nghiên cứu tại xã Tân lập - Chợ Đồn - Bắc Kạn Chương III: Một số giải pháp tăng khả năng tiếp cận nguồn nước và tăng thu nhập cho hộ nông dân tại xã Tân lập, huyện Chợ Đồn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 14.
    5 Chƣơng I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài 1.1.1.1. Tình hình tài nguyên nước của Việt Nam Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển. Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại thường xuyên hay không thường xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất như: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết. Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, được sử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất. Do đó, tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia là tổng của lượng dòng chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy vào và lượng dòng chảy được sinh ra trong vùng (dòng chảy nội địa). Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước ta bằng khoảng 847 km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km 3 chiếm 60% và dòng chảy nội địa là 340 km3, chiếm 40%. Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới. Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đều trong năm) và còn phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 15.
    6 Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3, chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đó đến hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%), hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 - 2,6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%), các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%). Một đặc điểm quan trọng nữa của tài nguyên nước sông của nước ta là phần lớn nước sông (khoảng 60%) lại được hình thành trên phần lưu vực nằm ở nước ngoài, trong đó hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất (447 km3, 88%). Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81,3 km3) chiếm 23,9%, sau đó đến hệ thống sông Mê Kông (53 km3, 15,6%), hệ thống sông Đồng Nai (32,8 km3, 9,6%) [14]. Việt Nam không giàu tài nguyên nước, đánh giá, kết luận này rất có giá trị, giúp chúng ta nhận thức lại một thực tế Việt Nam không giàu có về tài nguyên nước. Phụ thuộc nhiều vào nguồn nước bên ngoài Chúng ta thường nghĩ Việt Nam là quốc gia giàu về tài nguyên nước (TNN). Hai hệ thống sông lớn Mê Kông, Hồng-Thái Bình của hai đồng bằng lớn Cửu Long và Bắc bộ cùng những dòng sông dọc bờ biển miền Trung khiến nhiều người cho rằng Việt Nam thừa nước. Thậm chí có người còn cho rằng, TNN ở Việt Nam là vô hạn và các hệ thống sông thiên nhiên tiếp tục cung cấp đủ nước chất lượng tốt cho tương lai. Thế nhưng, những số liệu mới nhất của Dự án nghiên cứu về nguồn tài nguyên nước của Việt Nam lại khẳng định điều ngược lại. Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn nước của các sông quốc tế. Chỉ 40% lượng nước mặt phát sinh trong nước, có 6 lưu vực sông lớn phụ thuộc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 16.
    7 vào dòng chảytừ các nước khác. Cụ thể, gần 57% tổng lượng nước thuộc lưu vực sông (LVS) Cửu Long, hơn 16% thuộc LVS Hồng-Thái Bình. Hai hệ thống này đều có nguồn từ Trung Quốc và chảy qua không chỉ một quốc gia. Theo tiêu chuẩn quốc tế, mức không đủ nước là dưới 1.700m3/người/năm, nếu lượng nước sẵn có nằm trong khoảng 1.700m3-4.000m3/người/năm thì có khả năng xảy ra thiếu nước. Lượng nước bình quân đầu người của cả nước là 9.856m3/năm, với con số này Việt Nam dồi dào về TNN; tuy nhiên, lượng nước ở các lưu vực sông rất khác nhau, đặc biệt là trong mùa khô ở một số lưu vực sông kéo dài tới 9 tháng với lượng nước chỉ đạt 20-30% tổng lượng nước bình quân năm [14]. Theo tiêu chuẩn quốc tế, trong mùa khô, có 4 trong 16 lưu vực sông hiện thuộc nhóm “căng thẳng cao” là sông Mã, nhóm sông Đông Nam bộ, sông Hương và Đồng Nai và có 6 lưu vực sông thuộc nhóm “căng thẳng trung bình”. Trong đó, lưu vực sông Hồng có mức khai thác cao nhất trong nhóm trung bình. Hiện nay 80% lượng nước mùa khô của sông Mã được khai thác. Các sông ven biển Nam Trung bộ có mức khai thác sử dụng gần 75% lượng nước mùa khô. Tính trung bình toàn quốc, gần 82% lượng nước mặt được khai thác phục vụ nông nghiệp. Điều này cho thấy mức sử dụng nước cao và không bền vững [14]. Thực trạng trên làm gia tăng cạnh tranh đối với cả nước mặt và nước dưới đất (ngầm) trong mùa khô, ngày càng ít nước cung cấp cho cộng đồng, do đó 60% dân số sử dụng nguồn nước ngầm. Tuy nhiên, thực tế khai thác nước ngầm ở mức cao đã gây nên sự sụt giảm nhanh mực nước ở các vùng quanh Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Tây Nguyên. Đó là chưa kể tới chất lượng nguồn nước sông và nước ngầm đang suy giảm nhanh do những hoạt động phát triển liên quan đến nước và đất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 17.
    8 Khoảng 8,5 triệu người ở các đô thị không được tiếp cận với nước sạch và đối với những người được tiếp cận với nước sạch thì tiêu chuẩn hiện hành là rất thấp theo tiêu chuẩn quốc tế. Mặc dù gần đây đã có rất nhiều nỗ lực, nhưng vẫn còn 21 triệu người ở nông thôn không được tiếp cận với nước vệ sinh và 41 triệu người không được cấp nước theo tiêu chuẩn nước sạch của Bộ Y tế [14]. 1.1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước Sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội trong thế kỷ 21 sẽ làm gia tăng mạnh nhu cầu dùng nước và đồng thời tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Tài nguyên nước (xét cả về lượng và chất) liệu có đảm bảo cho sự phát triển bền vững kinh tế xã hội trong hiện tại và tương lai của nước ta hay không. Đây là một vấn đề lớn cần được quan tâm. Trước hết, sự gia tăng dân số sẽ kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nước sạch cho ăn uống và lượng nước cần dùng cho sản xuất. Đồng thời, tác động của con người đến môi trường tự nhiên nói chung và tài nguyên nước nói riêng sẽ ngày càng mạnh mẽ, có thể dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng. Ở nước ta, mức bảo đảm nước trung bình cho một người trong một năm từ 12.800 m3/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m3/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m3/người vào khoảng năm 2020. Tuy mức bảo đảm nước nói trên của nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 lần so với Châu Á (3970 m3/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m3/người), nhưng nguồn nước lại phân bố không đều giữa các vùng. Do đó, mức bảo đảm nước hiện nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 m3/người đối với các hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã và chỉ đạt 2980 m3/người ở hệ thống sông Đồng Nai. Nước nào có mức bảo đảm nước cho một người trong một năm dưới 4000 m3/người thì nước đó thuộc loại thiếu nước và nếu nhỏ hơn 2000 m3/người thì thuộc loại hiếm nước [11]. Theo tiêu chí này, nếu xét chung cho cả nước thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 18.
    9 vùng và lưuvực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu nước và hiếm nước, như vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ lưu sông Đồng Nai. Đó là chưa xét đến khả năng một phần đáng kể lượng nước được hình thành ở nước ngoài sẽ bị sử dụng và tiêu hao đáng kể trong phần lãnh thổ đó. Hơn nữa, nguồn nước sông tự nhiên trong mùa cạn lại khá nhỏ chỉ chiếm khoảng 10 - 40% tổng lượng nước toàn năm, thậm chí bị cạn kiệt và ô nhiễm, nên mức bảo đảm nước trong mùa cạn nhỏ hơn nhiều so với mức bảo đảm nước trung bình hàng năm. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân số, nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp sẽ tăng lên mạnh mẽ trong tất cả các vùng. Theo kết quả đánh giá năm 1999, tổng lượng nước cần dùng của cả nước chiếm khoảng 8,8% tổng lượng dòng chảy năm tương ứng với tần suất 75%, tăng lên tới 12,5% vào năm 2000 và 16,5% vào khoảng năm 2010. Tổng lượng nước dùng để tưới cho cây trồng khá lớn, từ 41 km3 (chiếm 89,8%) năm 1985, tăng lên 46,9 km3 (năm 1990) và 60 km3 năm 2000 (chiếm 85%). Lượng nước cần dùng trong mùa cạn rất lớn, nhất là lượng nước dùng cho nông nghiệp. Tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn năm 2000 đạt tới 70,7 km3, chiếm khoảng 42,4% tổng lượng nước có khả năng cung cấp trong mùa cạn (bao gồm nước sông, nước dưới đất và nước do các hồ chứa điều tiết), hay 51% tổng lượng dòng chảy mùa cạn tương ứng với tần suất 75%. Vào khoảng năm 2010, tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn có thể tới 90 km3, chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cung cấp hay 65% tổng lượng dòng chảy trong mùa cạn tương ứng với tần suất 75%. Đặc biệt, ở không ít vùng và lưu vực sông, lượng nước cần dùng có thể gấp vài lần tổng lượng nước có thể cung cấp, tức là chẳng những vượt quá xa ngưỡng lượng nước cần có để duy trì sinh thái mà còn không có nguồn nước tại chỗ để cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất [11]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 19.
    10 Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến nguồn tài nguyên nước. Theo đánh giá bước đầu, vào khoảng năm 2070, với kịch bản nhiệt độ không khí tăng thêm 2,5 - 4,50C, lượng dòng chảy sông ngòi cũng sẽ biến đổi tuỳ theo mức độ biến đổi của lượng mưa, nếu lượng mưa giảm 10% thì dòng chảy năm có thể giảm 17 - 53% đối với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 2,50C và giảm 26 - 90% với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 4,50C. Mức độ biến đổi mạnh nhất xẩy ra ở Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ [11]. Ngoài ra, trái đất nóng lên sẽ làm cho nước biển có thể dâng cao thêm 0,3 - 1,0m và do đó nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển. Nếu nước biển dâng 1 m, diện tích ngập lụt là 40.000 km2, chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, 1700 km2 vùng đất ngập nước cũng bị đe doạ và 17 triệu người sẽ chịu hậu quả của lũ lụt [11]. Cuối cùng, sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước cũng như sự khan hiếm nguồn nước sẽ càng trầm trọng nếu không có các biện pháp quản lý tốt tài nguyên nước. Cũng vì lẽ đó mà người ta cho rằng, khủng hoảng nước hiện nay không chỉ do nước quá ít không đủ để thoả mãn nhu cầu của con người mà còn do sự quản lý nguồn nước quá kém gây nên hàng tỷ người và môi trường gánh chịu hậu quả. * Thực trạng và nguyên nhân gây lãng phí nguồn nƣớc sản xuất nông nghiệp 1. Các hiện tượng chính gây lãng phí, thất thoát nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, bao gồm: Tổn thất trong quá trình dẫn nước từ công trình đầu mối đến mặt ruộng, do ngấm, kênh bị bồi lắng, sạt lở... cản trở dòng chảy, thiếu các công trình điều tiết nước cho từng khu tưới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 20.
    11 Tưới ngập thường xuyên: Đây là biện pháp tưới truyền thống, phù hợp tưới cho lúa. Tuy nhiên, theo kết quả nhiều công trình nghiên cứu, việc tưới nước cho cây lúa theo quy trình “nông, lộ, phơi” sẽ mang lại hiệu quả kinh tế nhất, tức là có những thời kỳ chúng ta hạn chế cấp nước mà phải để lộ ruộng và phơi ruộng theo yêu cầu sinh trưởng của cây trồng. Việc tưới ngập thường xuyên suốt vụ theo tập quán của nông dân đã gây ra lãng phí nước rất lớn, chưa kể tình trạng lượng nước dư thừa từ ruộng chảy xuống kênh tiêu. Chưa có biện pháp tích cực hạn chế bốc hơi mặt thoáng: Đây là hiện tượng tự nhiên cũng gây tổn thất nước rất lớn, ví dụ: tổng lượng bốc hơi bình quân tại trạm Tuyên Quang là 1.193,9mm/năm, lượng mưa là 1.145,8 mm/năm; tại trạm Phan Rang - Ninh Thuận, tổng lượng nước bốc hơi bình quân là 1.730 mm/năm, trong khi đó lượng mưa có 815 mm/năm. Trước đây, người nông dân có phong trào dùng bèo phủ lên mặt thoáng của ruộng, xung quanh gốc cây trồng, vừa hạn chế bốc thoát hơi nước và làm phân xanh, tăng cường độ đạm trong đất. Hiện nay, phong trào đó không còn, một vài địa phương, người dân dùng ni lông để che phủ cho một số loại cây trồng, nhưng chi phí tốn kém. Tưới tràn, vượt quá khu vực cây trồng có khả năng sử dụng được nước tưới: Điều này xảy ra đối với việc cấp nước cho cây công nghiệp, cây ăn quả, khi chúng ta tưới nước để chẩy tràn trên mặt đất. Tưới quá nhiều làm nước thấm quá sâu so với chiều sâu bộ rễ cây trồng: Cây trồng chỉ có khả năng hấp thụ nước trong phạm vi của rễ cây, nếu chúng ta tưới nhiều, nước sẽ ngấm sâu hơn so với chiều sâu của bộ rễ, gây lãng phí. Tưới tiết kiệm nước và sử dụng nước tiết kiệm là những biện pháp cấp nước theo yêu cầu và khả năng hấp thụ nước theo từng thời đoạn sinh trưởng của cây trồng, hạn chế lượng nước dư thừa nhưng không ảnh hưởng đến năng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 21.
    12 suất, chất lượngcây trồng. Vụ 3 năm 2005, Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh An Giang đã thử nghiệm xây dựng mô hình tưới tiết kiệm nước cho lúa trên diện tích 17,3 ha của 19 hộ nông dân tại phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (trong đó: 8,3 ha của 9 hộ nông dân sử dụng biện pháp tưới tiết kiệm nước; 9 ha của 10 hộ nông dân còn lại sử dụng biện pháp tưới truyền thống để đối chứng). Bằng việc đặt ống theo dõi mực nước trong ruộng và áp dụng biện pháp tưới ướt khô xen kẽ của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI), nông dân làm thí nghiệm đã giảm bình quân 4 lần bơm nước vào ruộng trong 1 vụ lúa, so với 8 lần bơm nước theo tập quán nông dân, tiết kiệm nước tưới, ít sâu bệnh, giảm được 7,9% số diện tích bị đổ ngã, tỷ lệ chắc chiếm 78,2%, cho năng suất 5,8 tấn/ha, tăng 0,5 tấn/ha so với ruộng đối chứng. Giá thành sản xuất của ruộng ""tưới tiết kiệm"" chỉ 1.142 đồng/kg lúa, trong khi ruộng đối chứng tới 1.382 đồng/kg, mức chênh lệch 240 đồng/kg. (Nguồn NNVN). Như vậy, áp dụng biện pháp tưới cổ truyền đã làm cho lượng nước tưới lãng phí rất lớn. Theo số liệu thống kê, hiện tại các hệ thống công trình thuỷ lợi đảm bảo tưới cho 7,61 triệu ha lúa, nếu với mức tưới bình quân 4.500 m < sup >3 < / sup > / ha - vụ, chỉ cần tiết kiệm được 10% lượng nước tưới thì sẽ tiết kiệm khoảng 3 tỷ m<sup>3</sup> nước. Trong khi đó, để xây dựng hồ chứa Nước Trong thuộc tỉnh Quảng Ngãi chỉ có dung tích 258 triệu m3 đã phải tốn gần 1.642 tỷ đồng. Như vậy, nếu chúng ta tiết kiệm được nước tưới sẽ tiết kiệm được chi phí đầu tư, xây dựng công trình thuỷ lợi và chi phí xã hội rất lớn. 2. Nguyên nhân gây lãng phí, thất thoát nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, bao gồm: Để xẩy ra hiện tượng lãng phí, thất thoát nước, ngoài nguyên nhân về công trình, trang thiết bị chưa được đầu tư xây dựng, nâng cấp sửa chữa, còn do những hạn chế trong công tác quản lý. Cụ thể: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 22.
    13 Công trình chưa có chủ thực sự: Theo Pháp lệnh khai thác &BVCTTL, các công trình thuỷ lợi do các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi và các hợp tác xã dùng nước quản lý, nhưng hầu hết các địa phương đều chưa phân cấp rõ đâu là công trình do doanh nghiệp quản lý, công trình do hợp tác xã dùng nước quản lý. Tình trạng vi phạm phạm vi bảo vệ công trình diễn ra ngày một nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả cấp nước của công trình. Kể cả công trình đã được phân cấp nhưng quyền hạn và trách nhiệm chưa rõ ràng: + Đối với công trình do doanh nghiệp quản lý: Do không có hoặc thiếu kinh phí quản lý, nâng cấp, sửa chữa nên doanh nghiệp quản lý theo kiểu có đến đâu sửa đến đó, công trình còn đến đâu phục vụ đến đó, chỉ tập trung chủ yếu vào sửa chữa máy móc thiết bị, còn phần công trình, kênh mương gần như bỏ ngỏ. Chủ của các công trình này là Nhà nước và giao cho Giám đốc doanh nghiệp quản lý, nhưng do cơ chế, chính sách trong quản lý khai thác chưa đồng bộ, thiếu kính phí nên công trình xuống cấp, hư hỏng cũng không ai chịu trách nhiệm. + Đối với công trình do hợp tác xã dùng nước quản lý (hiện nay chủ yếu là hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp quản lý): Chủ nhiệm hợp tác xã do xã viên bầu, chế độ tiền lương thấp, nên hầu hết làm việc theo kiểu “được chăng hay chớ”, còn bầu thì làm, không thì nghỉ, các chế tài quản lý chưa đầy đủ, nên trách nhiệm rất hạn chế. Trình độ chuyên môn của cán bộ thuỷ nông hầu như không có, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm và lòng nhiệt tình. Chủ của các công trình này là tập thể xã viên hợp tác xã nên không có ai chịu trách nhiệm một cách cụ thể, công trình còn hoạt động được thì hợp tác xã quản lý vận hành, khi công trình hư hỏng thì bàn giao trả Nhà nước. Các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý khai thác công trình thuỷ lợi còn thiếu và chưa đồng bộ như các văn bản về hướng dẫn về tổ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 23.
    14 chức quản lý,chế độ tài chính, phân cấp công trình... Bên cạnh đó, nhiều địa phương chưa triển khai thực thi đầy đủ các văn bản đã có. Ý thức sử dụng nước của người nông dân chưa cao: Họ thường coi nước là ""của trời"", công trình cấp nước đã có Nhà nước đầu tư, bản thân họ đã đóng thuỷ lợi phí nên họ phải sử dụng cho “đủ”. Kiến thức sử dụng nước của hầu hết người dân còn nhiều hạn chế, họ không được trang bị kiến thức về yêu cầu nước tưới theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây trồng... dẫn đến tình trạng lấy nước quá nhiều, dư thừa. Trách nhiệm giữa đơn vị cung cấp nước và người hưởng lợi được thực hiện thông qua hợp đồng kinh tế nhưng chưa rõ ràng và chưa nghiêm túc. Theo Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, đơn vị cung cấp nước và đơn vị sử dụng nước có trách nhiệm ký kết hợp đồng kinh tế ngay từ đầu vụ làm cơ sở để thực hiện và thanh quyết toán vào cuối vụ sản xuất. Nhưng thực tế nhiều địa phương xảy ra tình trạng đơn vị sử dụng nước ký hợp đồng thấp hơn so với diện tích thực phục vụ và chây ỳ trong việc thanh toán thuỷ lợi phí (từ năm 1999 đến năm 2003 cả nước nợ đọng thuỷ lợi phí 332,450 tỷ đồng). Đây là hiện tượng vi phạm hợp đồng kinh tế nhưng Nhà nước cũng chưa có chế tài cụ thể. Dẫn đến tình trạng các đơn vị cung cấp nước không có kinh phí tu bổ công trình đảm bảo dẫn nước. 1.1.1.3. Vai trò của nước và khả năng tiếp cận nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp Nước là một loại vật chất đặc biệt, chiếm 3/4 bề mặt trái đất. Trong cấu trúc động, thực vật thì nước chiếm tới 95 - 99% trọng lượng các laòi cây dưới nước, 80% trọng lượng các loài cá, 70% các loại cây trên cạn, 65 - 75% trọng lượng con người và các động vật [11]. Nước là nền tảng của sự sống, không một sinh vật nào có thể sống thiếu nước. Nước là điều kiện đầu tiên xác định sự sinh tồn của sự sống, của con Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 24.
    15 người cũng nhưcủa nền sản xuất nông nghiệp. Từ đó thấy được nghĩa vụ của mình trong việc giữ gìn và bảo vệ nguồn tài nguyên nước. Do nguồn tài nguyên nước phân bố không đều, đối với Việt Nam, tài nguyên nước ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững. Các kết quả nghiên cứu gần đây ở Việt Nam dự báo, tổng lượng nước mặt của nước ta vào năm 2025 chỉ bằng khoảng 96%, đến năm 2070 xuống còn khoảng 90% và năm 2100 chỉ còn khoảng 86% so với hiện nay. 1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 1.1.2.1. Đánh giá nguồn nước tại một số tỉnh khó khăn miền núi phía Bắc Gắn phát triển kinh tế - xã hội với thực hiện các chính sách dân tộc, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân; bảo vệ môi trường sinh thái cho vùng và hạ lưu ở đồng bằng Bắc Bộ; góp phần giữ vững an ninh quốc phòng”. Để thực hiện được mục tiêu xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh miền núi phía Bắc đặc biệt khó khăn cần thiết phải đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung, cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nói riêng. Trên địa bàn các tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc có tổng diện tích tự nhiên 58.265 km2, dân số 3,405 triệu người, được chia ra 956 đơn vị cấp xã, trong đó có 444 xã, bản với số dân 1,403 triệu người thường xuyên thiếu nước sinh hoạt và sản xuất [6]. Nguồn nước hiện nay được sử dụng chủ yếu là nước tại các nguồn lộ, nước khe, nước suối với lưu lượng rất hạn chế, hơn thế nữa các nguồn nước này đều không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh cho ăn uống và sinh hoạt. Các cao nguyên đá vôi thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu có địa hình karst phân cắt mạnh không có điều kiện tàng trữ nước mặt, nguồn nước cho sinh hoạt thường xuyên thiếu trầm trọng đặc biệt về mùa khô. Một số tỉnh như: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên có nhu cầu lớn về nước sạch phục vụ các khu di dân, tái định cư, các công trình thuỷ điện. Để từng bước giải quyết những khó khăn về nước cho đồng bào các dân tộc vùng cao thuộc 6 tỉnh miền núi phía Bắc (Sơn La, Lai Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 25.
    16 Châu, Lào Cai,Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn) cần thiết phải tiến hành điều tra, đánh giá khai thác nguồn nước ngầm. Công tác điều tra, đánh giá nước dưới đất phục vụ cấp nước cho nhân dân ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung, trong đó có các tỉnh đặc biệt khó khăn. Kết quả đạt được là rất đáng khích lệ, tính riêng năm 2002 đã điều tra, đánh giá được trữ lượng khai thác 18.521 m3/ngày có khả năng cung cấp nước sạch cho 300.000 người (mức 60 lít/người/ngày) [13]. Các công trình được lắp máy bơm điện để khai thác, có bể chứa nước và bàn giao trực tiếp các công trình cấp nước cho địa phương, kịp thời đáp ứng một phần nhu cầu cấp thiết về nước sinh hoạt cho nhân dân các huyện Mộc Châu, Yên Sơn (Sơn La); Mường Lay (Lai Châu); Mường Khương (Lào Cai); Quản Bạ (Hà Giang); Trùng Khánh (Cao Bằng) và Chợ Đồn (Bắc Kạn). Tuy nhiên, so với số vùng, số dân còn chưa có nước sạch để sử dụng cần phải điều tra đáp ứng thì những kết quả trên còn rất nhỏ Do đó, để góp phần tích cực thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội tại các tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thì việc đầu tư thực hiện dự án điều tra, đánh giá nước dưới đất trên địa bàn các tỉnh theo phương châm điều tra kết hợp khai thác cấp nước sạch tại chỗ cho dân là rất cấp thiết. Sáu tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc có dạng địa hình chủ yếu là núi cao, cao nguyên và các thung lũng giữa núi nhỏ hẹp, dốc đứng. Mức độ phân cắt địa hình lớn, độ cao trung bình 1000 - 1500m. Do góc dốc địa hình lớn nên các dòng mặt có trong vùng thường là các dòng tạm thời. Về mùa mưa các dòng này hầu như cạn kiệt trơ đáy. Về tiền đề địa chất, địa chất thuỷ văn: Vùng nghiên cứu tồn tại các thể địa chất từ già nhất đến trẻ nhất phân bố đan xen, nhiều khi không theo quy luật do các hoạt động nội ngoại sinh. Nguồn gốc thạch học đa dạng gồm: trầm tích, biến chất, macma và các sản phẩm phong hoá. Hoạt động tân kiến tạo và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 26.
    17 các vận độngnội sinh phức tạp biểu hiện đa dạng như các hệ thống đứt gãy chằng chịt, các hiện tượng lún trượt, lở đất xảy ra thường xuyên. Trong vùng nghiên cứu đã phát hiện được nhiều nguồn nước ngầm, nước khoáng có giá trị. Nước dưới đất tồn tại và vận động chủ yếu ở các đới dập vỡ, đứt gãy kiến tạo. Tầng chứa nước thường mỏng, phân bố không đồng nhất. Thành phần hoá học của nước dưới đất đa dạng và có nguồn gốc hình thành khác nhau. Đặc biệt là cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc và một số vùng khác do có mực xâm thực rất sâu nên để trả lời câu hỏi có nước dưới đất hay không?, nước dưới đất tồn tại bao nhiêu mét?, nguồn hình thành và đặc điểm tàng trữ và vận động ra sao? Vẫn là một câu hỏi lớn cho các nhà địa chất thuỷ văn. Mục tiêu và nhiệm vụ của dự án là điều tra, phát hiện các nguồn nước dưới đất, đánh giá trữ lượng, chất lượng nguồn nước tìm được, phục vụ cấp nước sinh hoạt tại chỗ cho nhân dân. Cung cấp tài liệu cơ bản về địa chất, địa chất thuỷ văn, khả năng cung cấp nước dưới đất, làm cơ sở cho quy hoạch khai thác hợp lý nước dưới đất của địa phương. Ngoài ra, các lỗ khoan địa chất thuỷ văn đáp ứng được yêu cầu cấp nước được tiến hành kết cấu thành giếng khoan khai thác (như doa mở rộng đường kính, đặt ống chống, ống lọc đảm bảo giếng khoan khai thác bền vững), lắp đặt thiết bị khai thác (máy bơm, ống dẫn, đường điện) để đưa nước trong lỗ khoan lên bể chứa, bàn giao cho địa phương quản lý, khai thác phục vụ nhân dân. Theo tài liệu tại phòng Địa chất cho biết: Cục Địa chất và Khoáng sản đã có nguồn tài liệu phong phú về địa chất - địa chất thuỷ văn trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đó là thuận lợi cơ bản giúp Nhà nước giảm thiểu chi phí đầu tư. Ngoài ra, với đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ cao và được đào tạo cơ bản cả trong và ngoài nước, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động điều tra địa chất , chắc chắn dự án sẽ thành công và mang lại hiệu quả kinh - tế xã hội đáp ứng lòng mong mỏi của đồng bào các dân tộc miền núi. Kết quả dự án còn giúp các nhà chuyên môn nắm được quy luật hình thành và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 27.
    18 vận động củanước dưới đất cũng như quy mô khai thác có thể áp dụng, giúp các cơ quan quản lý điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế khu vực. Đựơc biết, đến năm 2006 dự án sẽ hoàn thành, khoảng 250.000 người dân thuộc các tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn được tiếp cận và sử dụng nước sạch, khoảng hơn 100 vùng dân cư, đô thị, di dân được dùng nước trên một diện tích gần 2.000km2. Đây là một đóng góp không nhỏ trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh miền núi phía Bắc đặc biệt khó khăn. Số vốn đề nghị để thực hiện dự án là hơn 25 tỷ đồng. 1.1.2.2. Tình hình nguồn nước của tỉnh Bắc Kạn Bắc Kạn là nguồn của 5 con sông lớn chảy sang các tỉnh lân cận, đó là sông Phó Đáy, sông Năng chảy sang tỉnh Tuyên Quang về phía Tây, sông Bắc Giang chảy sang Lạng Sơn về phía Đông, sông Bằng Giang chảy sang tỉnh Cao Bằng về phía Bắc và sông Cầu chảy về tỉnh Thái Nguyên. Theo thống kê sơ bộ của Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn, tỉnh Bắc Kạn hiện có hơn 400 công trình cấp nước tập trung qui mô vừa và nhỏ, thiết kế theo hệ tự chảy tại các địa bàn đông dân cư, các trường học nơi vùng sâu vùng xa và khoảng 10.000 lu bể chứa, thiết bị tích trữ nước sạch và hệ thống giếng khoan đạt chuẩn vệ sinh, chưa kể các giếng nước do dân tự khơi. Với sự đầu tư của Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, các nhà hảo tâm và sự đóng góp của nhân dân, Bắc Kạn đã nhanh chóng đảm bảo cung cấp nhu cầu nước sạch hợp vệ sinh cho hơn 70% dân số, tăng 59% so với năm 1999, trong đó hơn 18.000 nhân khẩu nơi định canh định cư không còn thiếu nước sinh hoạt [10]. Là tỉnh vùng cao, dân trí thấp, kinh tế chậm phát triển, dân cư sống thưa thớt theo các lũng núi cao, nước sinh hoạt luôn là nhu cầu cấp thiết với người dân nơi đây. Hơn nữa, thổ nhưỡng tại Bắc Kạn phần nhiều là núi đá vôi, mùa hè các khe núi còn có nước chảy, bước sang mùa Thu hoặc mùa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 28.
    19 Đông và Xuânthì nước các khe núi thường cạn kiệt, người dân các bản vùng sâu phải đi bộ hàng km mới kiếm được nước về nấu ăn, còn tắm rửa, giặt rũ thì “mạnh ai ấy làm”. Đối với thanh niên và người có sức khoẻ thì còn leo núi đi xa bản làng tìm được khe nước để tắm giặt, còn trẻ em, người già thì rất ít có điều kiện tắm giặt trong mùa khô cạn, vì gùi được nước về nấu ăn đã khó, lấy đâu ra nước sạch đẻ vệ sinh cơ thể. Trước hàng loạt khó khăn ở nơi vùng sâu, nhất là vùng khó khăn trong việc tiếp cân nguồn nước, tỉnh Bắc Kạn đã ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng phục vụ sự ổn định vững chắc nơi vùng sâu từ; giao thông, thuỷ lợi, điện lưới, trường học, trạm y tế đến chuyển giao khoa học kỹ thuật giúp bà con thay đổi tập quán sản xuất, hình thành những thôn bản định canh định cư và dần chuyển nếp sinh hoạt cũ theo nếp sống mới. Trong đó, Bắc Kạn đã giành hơn 100 tỷ đồng đầu tư các công trình nước sạch sinh hoạt, giúp nhân dân có điều kiện thay đổi dần nếp sinh hoạt cổ truyền theo lối hợp vệ sinh. Phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm đối với các dự án về nước sạch, bà con chỉ đóng góp công sức và lao động thủ công, nhà nước cấp tiền mua vật tư, thiết bị, nhân công kỹ thuật. Sau bàn giao công trình cho dân hưởng lợi tự quản lý, duy tu và sử dụng, do đó đã phát huy tốt hiệu quả các công trình, nhất là hệ thống nước tự chảy nơi tập trung khu cụm dân cư. Nhờ có sự phối kết hợp nhịp nhàng gữa nhà nước và người dân hưởng lợi, hàng trăm công trình nước sạch tập trung tại khu cụm dân cư và hàng nghìn công trình cấp nước nhỏ lẻ hình thành nhanh chóng xây dựng xong tại hầu khắp các khu cụm dân cư vùng sâu, nhất là những địa hình núi đá vôi và cát tơ thường xuyên thiếu nước, góp phần cấp nước sạch đầy đủ cho hơn 18.000 nhân khẩu đã định canh định cư, góp phần tăng số dân của toàn tỉnh có nước sạch từ hơn 11% năm 1999 lên trên 70% năm 2008. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 29.
    20 Có nước sạch sinh hoạt, ở các thôn bản vùng cao đã dần bắt nhịp theo nếp sống mới như ăn ở hợp vệ sinh, góp phần loại bỏ tận gốc các mầm bệnh ngoài da, đường ruột, sốt rét. Là tỉnh đầu nguồn sông Cầu, Bắc Kạn đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường đang gia tăng, lưu lượng nước ở đầu nguồn ngày càng cạn kiệt, tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, gây ra những tác động xấu tới môi trường và cảnh quan lưu vực sông Cầu Tình hình ô nhiễm nguồn nước Qua điều tra, khảo sát tổng quan hiện trạng ô nhiễm Arsenic (thạch tín) nguồn nước của Bắc Kạn do Trung tâm Thông tin Kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh tiến hành đã cho thấy, tình trạng nhiễm thạch tín đang ở mức báo động... Hàm lượng thạch tín tại sông, suối... cao Theo tài liệu của Phòng Môi trường (Sở TN & MT) khi phân tích mẫu nước tại vị trí đuôi nước thải gần các xí nghiệp chế biến khoáng sản. Kết quả cho thấy, nguồn nước tại các sông suối đều ô nhiễm thạch tín. Điều này cũng khẳng định, ở những vùng nhiều khoáng sản như Chợ Đồn, Ngân Sơn nguy cơ nhiễm thạch tín càng cao. Một vài xã ở cuối nguồn nước thải từ khu vực khai thác quặng ở xã Bằng Lãng như Tủm Tó, Bản Lắc hàm lượng Arsenic khi thử nhanh đều cao hơn mức quy định. Đoàn Trung tâm Thông tin Kỹ thuật TN - MT đã tiến hành điều tra ở 8 huyện thị với 72/122 xã, phường, tập trung vào giếng khoan, giếng đào và những mạch lộ mà người dân sử dụng làm nước sinh hoạt. Cụ thể, 277 công trình lấy nước từ khe, mạch lộ, 3 vị trí lấy nước mặt, 306 giếng đào và 114 giếng khoan. Đoàn sử dụng bộ dụng cụ phân tích tại hiện trường, phiếu điều tra và gửi mẫu về phòng thí nghiệm... Kết quả là chỉ có duy nhất xã Bằng Lãng (Chợ Đồn) có hàm lượng thạch tín 0,05mg/l (vượt quá tiêu chuẩn quy định là 0,01mg/l). Những tài liệu nghiên cứu trước đó cũng khẳng định, tại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 30.
    21 một số huyện,nguồn nước mặt, nước sinh hoạt đều nhiễm thạch tín ở nhiều mức độ, qua thời gian chúng sẽ ngấm vào mạch nước ngầm và lại được dùng làm nước sinh hoạt. Bắc Kạn có nhiều sông suối như Sông Cầu, sông Năng, sông Phó Đáy, sông Bắc Giang, sông Na Rì, sông Hiến, sông Bằng Khẩu... chưa kể hàng trăm con suối, khe lạch khác. Hiện nay, nguồn nước một số vùng trên địa bàn đã chịu ảnh hưởng của các chất thải, gây hiện tượng ô nhiễm, nguyên nhân gây ô nhiễm được các khoa học khẳng định, một phần do cấu tạo địa chất. Tuy nhiên, nguyên nhân chính vẫn do các nhà máy xả thải không qua xử lý, người dân sử dụng nhiều chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, đào lấp giếng không đúng tiêu chuẩn. Quan trọng hơn nữa là do hoạt động khai thác khoáng sản ngày càng phát triển trên địa bàn tỉnh. Một trong những biện pháp được Trung tâm Thông tin Kỹ thuật Tài nguyên và môi trường phổ biến, là dùng phương pháp lọc bằng cách cho nước thô đi qua khối vật liệu bằng cát, than hoạt tính, vải lọc. Phương pháp này có thể lọc bớt các chất bẩn nhìn thấy như mănggan, kết tủa sắt, vi khuẩn và cả Arsenic. Điều này đặc biệt hữu dụng với rất nhiều hộ dân đang sử dụng giếng đào, giếng khoan ở các thị trấn, thị tứ của tỉnh. Mặc dù, tình trạng nguồn nước nhiễm arsenic tại Bắc Kạn chưa quá nghiêm trọng như tại Hà Nam, An Giang... nhưng nếu người dân sử dụng trong thời gian dài thì khả năng mắc bệnh là không tránh khỏi. Cần phải có các giải pháp và chính sách hợp lý để xử lý tình trạng nhiểm asenic. * Tình hình thuỷ lợi và phát triển nông nghiệp Miền Núi Thuỷ lợi là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứu khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 31.
    22 Hệ thống thuỷ lợi được xây dựng ở các tỉnh miền núi còn rất ít so với nhu cầu của sản xuất. Hầu hết mới chỉ phục vụ tưới tiêu cho lúa và một ít cho cây trồng cạn và hoa màu. Tưới cho cây ăn quả, cây công nghiệp chưa được đề cập, còn yếu. Năng lực tưới mới chỉ đáp ứng 20% - 30% đất nông nghiệp hiện có. Đồng thời mới đạt 40% - 60% công suất thiết kế của các công trình thuỷ lợi [5]. Chi phí đầu tư ban đầu cho công trình thuỷ lợi ở miền núi gấp 2 - 3 lần ở đồng bằng cho 1 ha canh tác nông nghiệp. Địa hình miền núi phức tạp, lượng mưa không nhiều, lại phân bố không đều, bốc hơi lớn, đất có tính thấm mạnh, hệ số dòng chảy nhỏ, diện tích canh tác phân tán và không bằng phẳng nên rất khó khăn về nguồn nước và bố trí hệ thống tưới mặt ruộng. Các công trình thuỷ lợi ở Tây Nguyên được xây dựng sau giải phóng Miền Nam mới đảm bảo tưới 30.000 ha lúa đông xuân, 46.000 ha lúa mùa và 44.000 ha cà phê (khoảng 50 diện tích hiện có) và 15% so với diện tích đất ở 5 tỉnh Tây nguyên [5]. Mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp chính ở các tỉnh miền núi và Tây Nguyên là ổn định về lương thực, phát triển lợi thế về sản xuất hàng hoá, đó là phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Phấn đấu đến năm 2010 tổng sản lượng cây cà phê, cây điều các tỉnh miền núi tăng gấp 3 lần. Diện tích cây ăn quả tăng gấp 5 lần, cây công nghiệp tăng gấp 5 lần, cây hoa màu tăng gấp 2,5 lần so với hiện nay. Yêu cầu về nước tưới và các biện pháp thâm canh khác cũng phải đầu tư rất lớn [5]. 1.1.2.3. Tình hình phát triển của hệ thống thuỷ lợi ở tỉnh Bắc Kạn Bắc Kạn là tỉnh thượng nguồn của lưu vực sông Cầu, có địa hình phức tạp chủ yếu là núi cao. Hệ thống sông Cầu nằm trên địa bàn tỉnh có độ dốc lớn, rừng đầu nguồn và thảm phủ thực vật bị thoái hoá, khai thác mạnh nên hàng năm vào mùa mưa thường xảy ra lũ quét gây thiệt hại lớn về người và nhà cửa, hoa màu, tài sản, đất đai của nhân dân. Vào mùa khô mực nước trên các nhánh sông thường cạn gây khô hạn, thiếu nguồn nước cho sản xuất và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 32.
    23 sinh hoạt củanhân dân. Với tỉnh Bắc Kạn, phần lớn nhân dân sống bằng nghề nông nghiệp do vậy nguồn nước trên các nhánh sông có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các Bộ ngành trung ương, tỉnh Bắc Kạn đã được đầu tư xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi để chủ động nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và giảm nhẹ thiệt hại do lũ gây ra. Với các nguồn vốn ngân sách Nhà nước, tài trợ, dân đóng góp đến nay toàn tỉnh đã xây dựng được hơn 500 công trình gồm hồ chứa, đập dâng, hệ thống kênh mương, tưới chủ động bằng công trình 5.780 ha ruộng lúa. a. Kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất của tỉnh Bắc Kạn trong 6 tháng đầu năm 2006 Từ đầu năm 2006 Sở Nông nghiệp và PTNT đã cùng các địa phương kiểm tra, chỉ đạo nạo vét các hệ thống công trình thuỷ lợi, tích luỹ nước trong các ao hồ, bảo dưỡng các máy bơm trên địa bàn, chủ động tốt công tác cày ải trước vụ xuân, hoàn thiện thủ tục XDCB để tiến hành thi công một số công trình trong thời gian tới và tiếp tục khảo sát thiết kế các công tình theo kế hoạch đầu tư của tỉnh. b. Tình hình thiên tai và biện pháp khắc phục của địa phương Về hạn hán: Trong 6 tháng đầu năm 2006 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, tình trạng khô hạn xảy ra trên diện rộng. Việc xảy ra khô hạn đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất vụ xuân. Trước tình hình đó, chính quyền địa phương đã chỉ đạo nhân dân tích nước vào các ao hồ, nạo vét tu sửa kênh mương để đảm bảo nguồn nước tưới, mặt khác chỉ đạo nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp với nguồn nước và kịp thời vụ. Về lũ và công tác PCLB-TKCN: UBND tỉnh Bắc Kạn đã ban hành Chỉ thị số 08/2006/CT - UBND ngày 10/5/2006 về công tác PCLB - TKCN và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 33.
    24 giảm nhẹ thiêntai; đã phê duyệt phương án PCLB - TKCN năm 2006 tại Quyết định số 913/QĐ - UB ngày 10/5/2006, kiện toàn BCH PCLB - TKCN của tỉnh và chỉ đạo các ngành, các cấp. Ngày 28/4/2006, tổ chức hội nghị tổng kết công tác PCLB - TKCN giai đoạn 2001 - 2005 và triển khai công tác PCLB -TKCN năm 2006. Phối hợp với Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh kiểm tra các hệ thống đo mưa, đo mực nước đảm bảo hoạt động tốt để phục vụ cho công tác PCLB trên địa bàn tỉnh [10]. c. Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, khó khăn, tồn tại và kiến nghị của địa phương Các vấn đề phát sinh trong lưu vực: Hiện nay diện tích rừng, thảm phủ thực vật mỏng, địa hình dốc khả năng giữ nước kém nên mùa mưa thường ngập úng, lũ quét, vào mùa khô các sông suối cạn kiệt ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Ngoài ra hiện nay các cơ sở công nghiệp khai thác khoáng sản do công tác xử lý chất thải kém nên gây ô nhiễm nguồn nước trên một số nhánh sông suối (huyện Chợ Đồn, Na Rì, Ngân Sơn). Khó khăn, tồn tại: Công tác quy hoạch thuỷ lợi chưa được thực hiện toàn diện trên địa bàn toàn tỉnh do vậy việc hoạch định, cân đối sử dụng nguồn nước lâu dài, đa mục tiêu chưa được tận dụng tối đa. Hiện nay tỉnh đang tiến hành lập quy hoạch phát triển thuỷ lợi toàn tỉnh, dự kiến hoàn thành cuối năm 2006. d. Yêu cầu phối hợp đa ngành và liên tỉnh trong phát triển lưu vực Để ổn định lưu vực sông sự phối hợp đa ngành, liên tỉnh là yếu tố cần thiết. Trong công tác quản lý nguồn nước cần có sự phối hợp giữa các ngành, các tỉnh để đảm bảo chất lượng nước và môi trường. Có các giải pháp công trình và phi công trình để ổn định lâu dài, cân bằng môi trường sinh thái. Về tổ chức quản lý, có chế chính sách phải có sự thống nhất, phù hợp với điều kiện tổng thể của lưu vực. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 34.
    25 e. Đề xuất ưu tiên đầu tư trong lưu vực Nâng cao năng lực quản lý và khai thác nguồn nước trong lưu vực sông. Đầu tư xây dựng công trình phục vụ đa mục tiêu: hồ chứa, đập dâng... phục vụ sản xuất, nước sinh hoạt, hệ thống cảnh báo nguy cơ sạt lở, lũ quét. Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước; Trồng rừng tăng độ che phủ đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn; Chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Đề nghị xem xét xây dựng hệ thống công trình trên toàn lưu vực để thuận lợi trong việc thu hút các dự án đầu tư bằng nhiều nguồn vốn đông thời huy động sự tham gia, đóng góp của các tỉnh có hiệu quả hơn. 1.2. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài 1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu Một là, tiếp cận nguồn nước ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nông nghiệp và thu nhập của người dân. Xã Tân Lập là một xã nghèo của huyện Chơ Đồn, giao thông đi lại rất khó khăn, nền kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp, trong đó chủ yếu là nông nghiệp. Để có thu nhập cao từ nông nghiệp đòi hỏi người nông dân phải tiếp cận tốt được với nguồn nước. Hai là, làm thế nào giúp cho các hộ nông dân miền núi tăng khả năng tiếp cận nguồn nước. Đây là một vấn đề quan trọng đối với miền núi hiện nay. Với nền thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, nhưng dù có nguồn tài nguyên nước dồi dào, khả năng được tiếp cận nguồn nước của người nông dân lại chưa được nhiều. Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tiếp cận nguồn nước đến thu nhập, nhằm tìm ra các nguyên nhân nhiều vùng chưa được tiếp cận nguồn nước, làm giảm thu nhập của các hộ, từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao khả năng tiếp cận nguồn nước, giúp tăng năng suất, tăng thu nhập của người nông dân nói chung và người nông dân xã Tân Lập nói riêng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 35.
    26 1.2.2. Cơ sởphương pháp luận trong nghiên cứu Đề tài sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu. chủ nghĩa duy vật biện chứng cho chúng ta cái nhìn sự vật hiện tượng trong mối quan hệ và sự vận động của chúng. Trong đề tài đó là mối quan hệ giữa tiếp cận và sử dụng nguồn nước đến thu nhập và năng suất lúa của hộ. 1.2.3.Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 1.2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin a. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp Thông tin thứ cấp là những thông tin đã được công bố chính thức. Các thông tin thứ cấp được thu thập thông qua các báo cáo của các cơ quan chuyên môn như: Phòng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, phòng kinh tế - hạ tầng, trạm thuỷ nông, sở NN & PTNT, trên mạng Internet, các văn bản.... b. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp Thông tin sơ cấp là những thông tin chưa công bố, được thu thập lần đầu, trong nghiên cứu về nông nghiệp nông thôn, các thông tin sơ cấp có ý nghĩa rất quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả nghiên cứu. + Xác định điểm điều tra Để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, căn cứ vào đặc điểm của địa bàn nghiên cứu, tôi tiến hành lựa chọn điểm điều tra là xã Tân Lập - huyện Chợ Đồn. + Xác định mẫu điều tra Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa bàn, tôi sẽ tiến hành điều tra ngẫu nhiên 140 hộ, trong đó mỗi vùng 70 hộ, bằng phiếu điều tra xây dựng trước. 1.2.3.2. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu a. Đối với thông tin thứ cấp Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tiến hành phân loại, sắp xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin. Đối với các thông tin là số liệu thì tiến hành lập lên các bảng biểu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 36.
    27 b. Đối vớithông tin sơ cấp Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra và nhập vào máy tính bằng phần mềm Excel để tiến hành tổng hợp, xử lý. 1.2.3.3. Phương pháp phân tích số liệu a. Phương pháp phân tổ Phương pháp phân tổ nhằm mục đích chỉ ra sự khác biệt giữa các nhóm hộ theo một chỉ tiêu định trước. Trong đề tài, chỉ tiêu dùng để phân tổ là khả năng tiếp cận nguồn nước của các hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp, cụ thể là phần trăm diện tích được cung cấp nước một cách chủ động. Nhóm một: từ 65% - 100% diện tích đất nông nghiệp được chủ động nước (điều kiện thuỷ lợi thuận lợi) Nhóm hai: Từ 50% - 64% diện tích đất nông nghiệp được chủ động nước (điều kiện thuỷ lợi trung bình) Nhóm ba: Từ 30% - 49% diện tích đất nông nghiệp được chủ động nước (điều kiện thuỷ lợi khó khăn Nhóm bốn: Từ 0% - 29% diện tích đất nông nghiệp được chủ động nước (điều kiện thuỷ lợi vô cùng khó khăn). b. Phương pháp hồi quy Việc phân nhóm như vậy dựa trên nguyên tắc %diện tích chủ động nước, ví dụ nhóm thuận lợi nhất trong việc tiếp cận nguồn nước có diện tích đất tiếp cận được với nguồn nước chiếm 65% - 100%. Để phân tích ảnh hưởng của nguồn nước đến sản xuất nông nghiệp và thu nhập của hộ, tôi sử dụng phương pháp hồi quy để ước lượng, cụ thể là sử dụng hàm sản xuất cobb – Douglas (CD). Hàm CD có dạng: Y AX 1 1 X 2 2 ... X n e D1e D 2 ...e Dm b b bn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 37.
    28 Trong đó: Y: biến phụ thuộc. Trong mô hình Y năng suất lúa của hộ và thu nhập từ nông nghiệp của hộ. ___ Xi: là các biến độc lập định lượng ( i 1, n ) ___ Dj : là các biến độc lập thuộc tính ( j 1, m ) Chỉ tiêu hiệu suất biên một đơn vị của biến độc lập _ Y (1)Đối với biến định lượng: Y bi _ X (2)Đối với biến thuộc tính: Y e D j Ý nghĩa: đầu tư thêm 1 đơn vị yếu tố i sẽ mang lại thêm bao nhiêu đơn vị yếu tố Y Hàm sản xuất CD được giải bằng phương pháp logarit hoá hai vế và giải trên phầm mềm EXCEL. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tôi sử dụng hàm CD nghiên cứu các vấn đề sau: - Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tới thu nhập từ nông nghiệp của hộ - Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tới năng suất lúa của hộ (cây trồng chính của hộ gia đình trên địa bàn huyện) c. Phương pháp đồ thị Để phản ánh sự biến động của thu nhập, năng suất cây trồng theo khả năng sử dụng nguồn nước tôi dùng đồ thị để phản ánh. 1.2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 1.2.4.1. Chỉ tiêu phản ánh khả năng tiếp cận nguồn nước của hộ Khả năng tiếp cận nguồn nước của được định lượng bằng phần trăm diện tích đất trồng cây hàng năm được chủ động nước (Sn): Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 38.
    29 DT chủ động nước Sn = ––––––––––––––––––––––––– x 100 Tổng diện tích đất NN của hộ Sn được tính cho khả năng chủ động nước 2 vụ (Sn2) và chủ động nước 1 vụ (Sn1) 1.2.4.2. Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và chi phí của hộ (1) Tổng giá thị sản xuất của hộ : GO (Gross output) là toàn bộ giá trị sản phẩm do hộ làm ra, được tính bằng tổng của các sản phẩm làm ra quy về giá trị. GO = ∑(qi x pi) (i = 1:n) Trong đó : qi khối lượng sản phẩm phẩm i Pi : giá của sản phẩm i (2) Chi phí mua ngoài (IC): là toàn bộ những chi phí sản xuất mà hộ phải thuê, mua ngoài IC = ∑ Ci (i = 1:n) Ci: Chi phí mua ngoài, thuê ngoài thứ i (3) Thu nhập biên (GM): GM (Gross Margin) là phần thu nhập của hộ còn lại sau khi đã trừ đi những chi phí thuê, mua ngoài. GM = GO - IC (4) Thu nhập bằng tiên (Tm): Tm = tổng số tiền thu được của hộ (bán sản phẩm, lương, trợ cấp,...) 1.2.4.3. Một số chỉ tiêu bình quân - Tổng giá trị sản xuất bình quân đầu người (GO/ người) - Thu nhập biên bình quân đầu người (GM/người) - Thu nhập bằng tiền bình quân đầu người (Tm/người) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 39.
    30 Chƣơng II ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TẠI XÃ TÂN LẬP, CHỢ ĐỒN, BẮC KẠN 2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu xã Tân Lập, Chợ Đồn, Bắc Kạn 2.1.1. Điều kiện tự nhiên xã Tân Lập 2.1.1.1. Vị trí Địa lý Huyện Chợ Đồn là huyện vùng cao nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Kạn, cách thị xã Bắc Kạn 45km theo đường tỉnh lộ 257, trải từ 105 o26’ đến 105o42’ kinh độ đông, và từ 21o57’ đến 22o26’ vĩ độ bắc. Phía Bắc giáp huyện Ba Bể, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Đông giáp huyện Bạch Thông, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang. Xã Tân Lập nằm ở phía Bắc, cách trung tâm của huyện Chợ Đồn 20km tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên là 31,16 Km2. Phía Bắc giáp xã Nam Cường, phía Nam giáp xã Phương Viên, phía Nam giáp xã Bằng Phúc huyện Ba Bể, phía Tây giáp xã Quảng Bạch và Đồng Lạc. 2.1.1.2. Đặc điểm địa hình huyện Chợ Đồn và xã Tân Lập Có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, với 2 dạng địa hình phổ biến: - Địa hình núi đá vôi: Kéo dài từ huyện Ba Bể đến thị trấn Bằng Lũng, địa hình chia cắt phức tạp bởi những dãy đá vôi có độ cao trên 1000m xen giữa các thung lũng hẹp, độ dốc bình quân từ 20 - 30 độ, đây là đầu nguồn của các con suối chảy về hồ Ba Bể. - Địa hình núi đất: Gồm thị trấn Bằng Lũng và các xã phía Nam với độ cao phổ biến từ 400m đến 600m, độ dốc bình quân 20 - 25 độ. Địa hình chi cắt mạnh bởi hệ thống sông suối khá dầy đặc. Tân Lập là một xã vùng cao nên địa hình khá phức tạp, chủ yếu là đồi núi chiếm trên 80% tổng diện tích đất tự nhiên, được phân bố trên toàn xã, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 40.
    31 xen kẽ giữacác dãy núi là các đồi thấp, những cánh đồng nhỏ hẹp và các ruộng bậc thang nằm ở độ cao từ 200 - 300m so với mực nước biển. Nhìn chung đất đai xã Tân Lập không màu mỡ, hàm lượng mùn thấp, độ chua trung bình, đất ruộng có tầng canh tác mỏng nên cần có biện pháp cải tạo phù hợp. Đất rừng có tầng đất mặt trung bình phù hợp với việc phát triển cây lâm nghiệp. Từ địa đặc điểm địa hình như vậy cho thấy, Tân Lập sẽ phân chia thành nhiều vùng theo cấp độ tiếp cận nguồn nước khác nhau. 2.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết của xã Tân Lập - huyện Chợ Đồn Mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình trong năm 23,2 độC, các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6,7 và tháng 8, các tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 và tháng 2, nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,5 độC, tổng tích nhiệt cả năm bình quân đạt từ 6.800 đến 7.000độC. Ngoài ra khí hậu xã Tân Lập huyện Chợ Đồn còn có sương mù, sương muối, hiện tượng mưa đá co xảy ra nhưng không thường xuyên. Lượng mưa bình quân 1.115mm/năm. Độ ẩm không khí trung bình 82%, lượng bốc hơi trung bình năm là 830mm. Chế độ gió chủ yếu là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam. Huyện Tân lập có khí hậu nhiệt đới, gió mùa, chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa đông bắc. Bảng 2.1: Tình lƣợng mƣa, độ ẩm của huyện năm năm 2007 Tháng Chỉ tiêu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Lượng 1,2 13,5 8,5 51,4 212,6 193,4 403,5 275,3 73,3 10,0 54,0 3,2 mưa (mm) Độ ẩm (%) 77,0 85,0 82,0 79,0 81,0 84,0 88,0 89,0 83,0 83,0 81,0 79,0 (Nguồn: Phòng thống kê huyện Chợ Đồn) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 41.
    32 Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.420 mm, lượng mưa phân bố không đều trong năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa chiếm từ 85 - 90% lượng mưa hàng năm, tập trung vào tháng 7,8 và 9 nên thường gây ra lũ quét ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp của xã. Mùa đông có gió mùa đông bắc làm nhiệt độ hạ thấp, tác động xấu đến cây trồng, vật nuôi và sức khoẻ con người. Vào thời kỳ giao mùa có gió mùa đông bắc thường gây ra mưa đá, giông lốc làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp. Với đặc điểm khí hậu như vậy, xã Tân Lập huyện Chợ Đồn có thuận lợi về nước để phát triển nông nghiệp, bên cạnh đó cũng có nhiều khó khăn trong việc phòng chống thiên tai và những ảnh hưởng của thiên nhiên tác động đến phát triển nông nghiệp. Do lượng mưa phân bố không đều nên vào mùa mưa hiện tượng sói mòn, rửa trôi diễn ra rất mạnh mẽ, ngược lại vào mùa khô lại thiếu nước phục vụ cho sản xuất. Do hiện tượng thời tiết này mà khu bờ sông trung tâm xã Tân Lập chịu ảnh hưởng mạnh của hiện tượng sói mòn, rửa trôi vào mùa mưa. 2.1.1.4. Đặc điểm thuỷ văn của xã Mạng lưới sông ngòi của của tỉnh Bắc Kạn tượng đối phong phú, phần lớn các sông là nhánh thượng nguồn hệ thống sông Gâm có đặc điểm chung là ngắn, dốc và thuỷ triều thất thường. Xã Tân Lập có 14,77 ha mặt nước sông suối, cùng hệ thống ao lớn nhỏ. Mặc dù có nguồn nước dồi dào nhưng do địa hình dốc nên việc tưới tiêu cho cây trồng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là những khu ruộng cao và ruộng bậc thang. Sông chảy qua trung tâm xã Tân Lập có những đặc điểm cơ bản giống như sông và suối nhỏ trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn như: Độ dốc lưu vực lớn, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 42.
    33 nước tập trungnhanh, thời gian lên thường bằng 1/4 thời gian lũ xuống. Lượng dòng chảy tập trung chủ yếu vào mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm khoảng 70% tổng lượng nước trong năm, mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm khoảng 25% tổng lượng nước trong năm. Do đặc điểm thuỷ văn trên mà hiện tượng lũ ống, lũ quét thường xuyên sảy ra trên con sông chảy qua trung tâm xã. Trong những năm gần đây, tại một số khu vực trong trungâm xã đã làm hệ thống kè rọ đá để bảo vệ đường đi và ruộng, nhưng sau mỗi mùa lũ đều bị phá hỏng nghiêm trọng. Dọc theo 2 bờ sông nước lũ phá hỏng rất nhiều vị trí gây nguy hiểm cho đường liên xã và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến những khu vực ruộng dọc theo sông. 2.1.1.5. Đặc điểm tài nguyên đất đai của xã Kết quả điều tra cho thấy huyện Chợ Đồn có những loại đất chính sau: đất feralit màu vàng nhạt trên núi trung bình (FH) chiếm 13,38% diện tích, phân bố trên tất cả các đỉnh núi cao trên 700 m, trên nền đá mắcma axit kết tinh chua, đá trầm tích và biến chất. Tầng đất mỏng, đá nổi nhiều, đất ẩm và có tầng thảm mục khá dày. Đất feralit điển hình vùng đồi núi và núi thấp (Ff – Fk): chiếm 71,62% diện tích, phân bố tập trung ở phía bắc huyện Chợ Đồn. Khu vực núi đá vôi thường rất ít đất trong các hang hốc, tầng đất mỏng màu đen, đất rất tốt. Nói chung, cùng với khí hậu thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi, đất đai trong tỉnh còn khá tốt và là cơ sở quan trọng để phát triển nông – lâm nghiệp. Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Chợ Đồn là 91.115 ha, chiếm 19,04% diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Kạn. Trong đó: Đất nông nghiệp 63.505 ha, đất phi nông nghiệp là 6.408,5 ha, đất chưa sử dụng là 21.201,1 ha. Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Tân Lập là 3.116 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 121,458 ha, chiếm 3,8 %. Diện tích đất lâm nghiệp là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 43.
    34 1.984,32 ha chiếm63,6 % tổng diện tích đất tự nhiên của xã [9]. Qua bảng 2.2 cho thấy diện tích đất tuy nhều, tuy nhiên diện tích đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp, diện tích đất nông nghiệp chỉ chiếm 3,9% tổng diện tích đất tự nhiên của xã. Tình hình phân bổ đất không đều, do đặc điểm của xã chủ yếu là đồi núi chiếm trên 80 %, xen kẽ giữa các dãy núi là đồi thấp. Bảng 2.2: Tổng diện tích đất tự nhiên xã Tân Lập năm 2007 ĐVT: Ha Chỉ tiêu Diện tích Tổng diện tích đất tự nhiên 3.116 I - Diện tích đất nông nghiệp 121,458 1 - Đất trồng lúa nước 72,628 + đất 1 vụ lúa 17,645 + Đất 2 vụ lúa 54,983 2 - Đất trồng cây lâu năm 5,12 3 - Đất trồng cây hàng năm 43,71 II - Đất lâm nghiệp 1.984,31 1 - Đất sản xuất 1.509,56 2 - Đất rừng phòng hộ 474,75 (Nguồn: UBND xã Tân Lập) Về tài nguyên đất: Đất đai của xã Tân Lập được hình thành từ đá mẹ như: Phiến thạch sét, đá mắc ma axit, một số là đá mắc ma trung tính và đá biến chất. Nhìn chung phần lớn đât đai có hàm lượng mùn, kali ở mức nghèo, tổng số nhỏ hơn 1,0% Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt toàn xã hiện có 0.64 ha đất thuỷ lợi và 14.77 ha nước sông suối và mặt nước chuyên dùng, đây là nguồn mặt nước để tạo điều kiện cho phát triển sản xuất nông nghiệp và cân bằng sinh thái. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 44.
    35 Nguồn nước ngầm; Mực nước ngầm của xã ở độ sâu trung bình từ 15 đến 25m, là nguồn cung cấp nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong toàn xã, chủ yếu được khai thác từ những giếng khơi và giếng khoan. Tài nguyên rừng: Tài nguyên của xã Tân Lập đa dạng và phong phú, có nhiều chủng loại cây gỗ quý với diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 1984.31 ha chiếm 63.68% tổng diện tích đất tự nhiên. Số diện tích rừng hiện nay chủ yếu là do các hộ gia đình, cá nhân quản lý. Tài nguyên nhân văn: Theo tài liệu thống kê số người trong độ tuổi lao động của xã Tân Lập chiếm khoảng 47.65% tổng dân số, đây là nguồn nhân lực dồi dào, cần cù chịu khó nhưng trình độ dân trí còn thấp và không đồng đều, cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực ít. Mặt khác diện tích đất sản xuất nông nghiệp thường xuyên bị xói lở, bị rửa trôi bạc màu, và thường xuyên bị vùi lấp mỗi khi có lũ, dẫn đến đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. 2.1.1.6. Tài nguyên khoáng sản của xã Lãnh thổ Bắc Kạn nằm trong hai kiểu kiến trúc địa chất có chế độ địa động khác nhau và do đó tạo nên bức tranh khoáng sản rất đặc trưng. Ở phía Tây sông Cầu là các thành trầm tích cổ hơn tạo nên một kiến trúc dương rõ nét được gọi là phức nếp lồi Lô Gâm, ở đó tập trung hầu hết các mỏ chì, kẽm. Ở phía Đông sông Cầu là các thành trầm tích trẻ hơn tạo nên kiến trúc âm được gọi là võng nguồn Rift nội lục sông Hiến, ở đó tập trung hầu hết các mỏ vàng. Chì, kẽm và vàng là những loại khoáng sản có tiềm năng nhất của Bắc Kạn. Xã Tân Lập có đia hình chủ yếu là núi đá mắcma axit kết tinh chua, đá trầm tích và biến chất, nguồn khoáng sản của xã không phong phú, chưa có một mỏ khai thác khoáng sản nào. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 45.
    36 2.1.2. Điều kiệnkinh tế xã hội của xã Đơn vị hành chính: Huyện Chợ Đồn được chia làm 22 đơn vị hành chính, gồm thị trấn Bằng Lũng và 21 xã, Nam Cường, Đồng Lạc, Quảng Bạch, Tân Lập, Ngọc Phái, Phương Viên, Bằng Phúc, Rã Bản, Đông Viên, Yên Mỹ, Đại Sảo, Yên Nhuận, Bình Trung, Nghĩa Tá, Lương Bằng, Bằng Lãng, Phong Huân, Xuân Lạc, Yên Thượng, Yên Thịnh, Bản Thi. Xã Tân Lập là một xã nghèo nằm ở hướng Đông của huyện Chợ Đồn, giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, xã chưa có đường giao thông trải nhựa Tình hình kinh tế nông lâm nghiệp Về nông nghiệp: Tình hình sản xuất nông nghiệp có sự phát triển trung bình do thời tiết không thuận lợi, thiên tai thường xuyên xảy ra, đặc biệt là hiện tượng lũ ống, lũ quét vào mùa mưa gây thiệt hại nặng nề đến diện tích đất canh tác của nhân dân. Khu vực trung tâm xã tập trung khoảng 20 ha ruộng, trong những năm vừa qua thường xuyên chịu ảnh hưỏng của hiện tượng thiên tai này. Diện tích ruộng bị ảnh hưởng do cát sỏi tràn vào dẫn đến không canh tác được và bị mất do xói lở trực tiếp. Do đó năng suất, sản lượng lương thực chỉ tăng ở mức trung bình. Chăn nuôi tiếp tục phát triển,tổng đàn trâu đến năm 2006 là 621 con, đàn bò 331 con, đàn lợn 1116 con, đàn gia cầm khoảng 6000 con, bước đầu phát triển theo phương pháp chăn nuôi khoa học [9]. Lâm nghiệp: Sản xuất lâm nghiệp có dấu hiệu phát triển khả quan, diện tích đất trồng của xã đang dần được phủ xanh trở lại, do đó diện tích rừng trồng ngày càng được mở rộng. Nghành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Nghành tiểu thủ công nghiệp của xã tuy có phát triển, nhưng vẫn còn rất chậm, chủ yếu là để tự phục vụ. Dịch vụ thương mại phát triển chậm do vị trí địa lý và xã hội không thuận lợi. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 46.
    37 Các dịch vụ chế biến nông sản thủ công, may mặc, xay xát, sửa chữa, mộc…đang dần được mở rộng và phát huy. 2.1.2.1. Tình hình dân số và lao động Tổng dân số toàn huyện 50.669 người(Báo cáo UBND huyện năm 2007) với 7 dân tộc anh em (Tày, Dao, Kinh, Nùng, Hoa, Mông, Sán Chí) cùng sinh sống, trong đó dân tộc Tày chiếm 70%. Số người trong độ tuổi lao động 33.102 người. Lương thực bình quân 451kg/người/năm. Thực trạng phân bố dân cư và lao động của xã Huyện Tân Lập có 1.286 nhân khẩu với 288 hộ [9]. Trong những năm qua tình hình di cư tự do luôn diễn ra phức tạp, đáng chú ý là việc di cư ồ ạt từ các tỉnh biên giới phía Bắc đi các tỉnh Tây nguyên, trong đó chủ yếu là dân tộc Mông. Tình hình di cư tự do đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc hoạch định chính sách phát triển KT - XH của các địa phương. Việc di cư không đơn thuần là mục đích sinh nhai mà còn tiểm ẩn mục đích chính trị. Việc di cư thường lén lút vào ban đêm chánh sự kiểm soát của chính quyền, không tuân thủ theo các quy định của Nhà nước. Số hộ nghèo của xã Tân Lập năm 2007 là 198/280 hộ, chiếm 70,7% [9]. 2.1.2.2. Cơ sở hạ tầng của xã a. Thực trạng giao thông Hệ thống giao thông liên xã Tân Lập bắt đầu từ khu trung tâm xã ra đến đầu đường quốc lộ 254 chủ yếu là đường đất. Chiều rộng mặt đường từ 3 - 4m. Trên tuyến đường có nhiều chỗ bị hư hỏng, rất lầy lội khi có mưa và bụi khi nắng, dẫn đến nhân dân đi lại rất khó khăn. Đặc biệt là đoạn đường gần đến trụ sở UBND xã do mưa lũ đã bị sạt lở nghiêm trọng. Nhìn chung hệ giống giao thông xã kém phát triển, chất lượng đường còn rất kém chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân trong xã. Hệ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 47.
    38 thống đường giaothông liên thôn cũng rất nhỏ hẹp, đi lại khó khăn. Hiện tại hệ thống giao thông trong xã đang rất cần đầu tư nâng cấp để nhân dân đi lại được thuận tiện. b. Thực trạng về công trình thủy lợi Tập trung đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp các công trình giao thông, thuỷ lợi, Trường học, nước sạch, trạm Y tế, điện nông thôn...Trong những năm qua đầu tư mở mới được trên 100km đường liên thôn, xây mới 12 cầu treo, 35km công trình nước sạch, 50 công trình thuỷ lợi, 85% số hộ khu vực thị trấn và 65% số hộ khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch. Bảng 2.3: Thống kê các công trình thuỷ lợi Năm Diện tích tƣới tiêu Tên công Độ dài Độ Đập STT bàn của kênh trình kênh cao dài giao Lúa xuân Lúa mùa 1 Nà bản 2004 24 ha 24 ha 2.300m 1,65m 20m 2 Nà sắm 2004 35 ha 35 ha 2.700m 1,4m 9,8m 3 Nà đán 2007 0 2 ha 436,4m 1,35m 13m (Nguồn: UBND xã Tân Lập) Kiên cố hoá kênh mương là một chương trình, chủ truơng lớn của Chính Phủ nhằm nâng cao hệ thống kênh mương thuỷ lợi nội đồng năng cao năng suất tưới tiêu (tiêu ứng, chống hạn) phục vụ sản xuất nông nghiệp và góp phần đảm bảo vệ sinh môi trường trong nông nghiệp Khả năng tiếp cận nguồn nước được hiểu là tốc độ và độ tin cậy của hệ thống kênh mương đối với sự phát triển nông nghiệp, tiếp cận và sử dụng nguồn nước của người dân. Trên địa bàn huyện Chợ Đồn đã có một số công trình thuỷ lợi được xây dựng nhằm phục vụ tưới cho đồng ruộng canh tác của thôn xã. Do vốn đầu tư công trình hạn chế nên công trình xây dựng không đồng bộ hoặc chỉ còn là các phai đập tạm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 48.
    39 Công tác quản lý thuỷ lợi hiện nay: Các công trình thuỷ lợi được đưa vào sử dụng đều giao cho địa phương có công trình hưởng lợi quản lý sử dụng. Xã Tân Lập là một xã vùng sâu, vùng xã thuộc diện chính sách theo Quyết định 135 của Thủ tướng Chính phủ, nằm ở phía Bắc huyện lỵ, cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng 25km, địa hình độc đạo, ngõ cụt, không cóc đường giao thông liên xã, dân cư có 288 hộ, 1286 nhân khẩu, gồm 5 dân tộc anh em: Tày, Nùng, Dao, Mông và Kinh. Cum dân cư chia thành 8 thôn, trong đó có 3 thôn định canh, định cư, măt bằng dân trí còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chiếm 65,2% số hộ [9]. Tình hình kinh tế không đồng đều giữa các thôn, Thực hiện sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nước, đặc biệt từ khi thực hiện Quyết định 135 của Thủ tướng Chính phủ, bộ mặt của địa phương ngày càng được khởi sắc: Điện, đường, trường, trạm được đầu tư đưa vào sử dụng, chương trình nước sạch 8/8 thôn được hưởng lợi, hệ thống thuỷ lợi được đầu tư kiên cố hoá, cơ bản đảm bảo nước tưới tiêu phục vụ sản xuất lúa nước hai vụ. điện lưới quốc gia đã đưa ánh sáng đến 7/8 thôn, sóng vô tuyến truyền hình đã được phủ khắp các hộ trong xã. Thực hiện sử dụng nguồn vốn Chương trình 135 năm 2007, đầu năm 2008, xã Tân Lập tiếp tục triển khai xây dựng công trình kênh Nà Khâu thôn Bản Chang, với tổng chiều dài tuyến kênh là 1.107,39 m, trong đó tuyến kênh chính dài 553,12 m, tuyến kênh phụ dài 554,27 m để đưa vào sử dụng trong năm 2008 nhằm phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp của xã. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 49.
    40 Bảng 2.4: Tình hình nguồn nƣớc xã Tân Lập năm 2007 Chỉ tiêu ĐVT Số lƣợng Hồ tự nhiên Cái 0 Hồ nhân tạo Cái 0 - Kiên cố M 139 - Không kiên cố M 141 Tổng vốn đầu tư cho thuỷ lợi năm 2006 triệu đồng 814,18 DT chủ động nước Ha 6 % Chủ động nước % 0,73 (Nguồn: Phòng Thống kê huyện Chợ Đồn) Bảng tình hình nguồn nước cho thấy trên địa bà xã không có hồ nước tự nhiên và hồ nước nhân tạo để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó hệ thống kênh mương của xã là rất ít, trong đó kênh mương kiên cố là 139 m, kênh mương không kiên cố là 814,18 m. Điều đó càng thêm phần khó khăn cho các hộ trong việc tiếp cận nguồn nước. Chính vì vậy diện tích chủ động nước của xã là rất ít, chỉ có 6 ha tương ứng với 0,73%. c. Thực trạng về hệ thống thông tin Về thông tin liên lạc: Huyện Chợ Đồn có 100% số xã có điện thoại đảm bảo liên lạc được, 19 xã có điểm bưu điện văn hoá xã, mật độ điện thoại đạt 5,6 máy/100 người dân. 100% số xã có thư, báo đến trong ngày Xã Tân Lập có 01 điểm bưu điện văn hoá xã, nằm tại trung tâm xã, đảm bảo phục vụ thông tin liên lạc cho nhân dân xã. Là một xã nghèo vùng sâu vùng xa nên xã chỉ có điện thoại cố định, chưa được phủ song điện thoại di động. d. Thực trạng hạ tầng phục vụ cho phát triển xã hội Giáo dục: Xã Tân Lập có 01 trường tiểu học và 01 trường mầm non nằm cùng một địa điểm, trong đó phân hiệu có 2 lớp tiểu học nằm tại thôn Phiêng Đeéng, cơ sở vật chất còn thiếu thốn và khó khăn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 50.
    41 Y tế: Có 01 trung tâm y tế huyện, 22 trạm y tế xã, thị trấn, trong đó 17 trạm có bác sỹ. 03 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia (Bản Thi, Quảng Bạch, Bằng Lãng). Nhìn chung hệ thống y tế đa số đã được xây dựng lâu, chủ yếu là nhà cấp 4, đã xuống cấp, không đảm bảo điều kiện theo quy định Xã có 01 trung tâm y tế xã nằm tại UBND xã Tân Lập. Hệ thống cấp điện: 100% các xã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ số hộ được sử dụng điện 86%. Tổng số có 100 MBA, trên 100km đường dây0,4 KV, 230,5 km đường dây 35 KV, 9.366 công tơ điện. Xã Tân Lập còn 01 thôn chưa có điện lưới đó là thôn Phiêng Đéng, là một thôn vùng cao, nằn xa trung tâm xã. 2.1.2.3. Đánh giá những tác động của điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội phát triển nông nghiệp và hạ tầng thuỷ lợi của địa phương a - Điểm mạnh Là một xã vùng sâu vùng xa nghèo, được sự quan tâm của chính quyền địa phương, xã Tân Lập có thế mạnh về sản xuất lâm nghiệp, diện tích đất trống của xã đang dần được phủ xanh do diện tích rừng trồng ngày càng tăng. Là huyện tiếp giáp với huyện Ba bể và tỉnh Tuyên Quang, Chợ Đồn có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp và khai thác xuất khẩu tài nguyên Khoáng sản như : Kẽm, Chì, Quặng…góp phần phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Kạn. b - Điểm yếu Xã Tân Lập là một xã vùng sâu vùng xa, nằm xa đường quốc lộ chính, giao thông đi lại khó khăn, trung tâm xã nằm cách xa đường quốc lộ, giao thông từ đường quốc lộ vào trung tâm xã là đường đất đỏ, chưa được giải nhưa. Khi trời mưa đường rất trơn trượt và khó đi, trời nắng lại nhiều bụi, nhiều đoạn đường đã bị hư hỏng và xuống cấp nghiêm trọng, dẫn đến phát triển kinh tế của huyện gặp nhiều khó khăn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 51.
    42 Xã Tân Lập nằm hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, không có chợ, nên mọi hoạt động giao thương mua bán của người dân chủ yếu là tự cung tự cấp, hoặc đi đến trung tâm huyện, vì vậy để phát triển kinh tế thông qua con đường giao thương là rất hạn chế. c - Cơ hội Bên cạnh những khó khăn, huyện Tân Lập có khí hậu thuận lợi để phát triển một cây trồng, vật nuôi đa dạng, đặc biệt là cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc. Đây là lợi thế để phát triển một nền nông nghiệp sinh thái, tạo ra các sản phẩm tập trung phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. d - Nguy cơ Chịu ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt, lũ ống và lũ quét xảy ra vào mùa mưa, gây hiện tượng xói mòn, và nguy hiểm cho tính mạng của người dân, hiện tuợng xói mòn sẽ gây mất đất, giảm diện tích đất nông nghiệp, trong khi kinh tế người dân trong xã chủ yếu là nông và lâm nghiệp. Trình độ dân trí thấp, cộng với nhiều phong tục tập quán còn cổ hủ dẫn đến sự đình trệ trong phát triển kinh tế của xã. 2.1.2.4. Đặc điểm của nhóm hộ điều tra. Bảng 2.5: Những đặc trƣng của nhóm hộ điều tra Những chiến lƣợc Vấn đề Kiểu nhóm Đặc trƣng của nhóm sản xuất cần nghiên cứu Độ tuổi trung bình 40,2 - Tập trung trồng Nghiên cứu gải pháp Có diện tích đất lâm các cây hoa mà, tối ưu cho việc tiếp nghiệp lớn, đất trồng cây lâu năm và cây cận nguồn nước, xây lúa rộng, nhưng chỉ chủ lấy gỗ đập ngăn, bể chứa giữ Nhóm rất yếu là đất 1vụ, do nước. khó khăn không chủ động được nước tưới. - Có đất để trồng cây lâu năm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 52.
    43 Những chiến lƣợc Vấn đề Kiểu nhóm Đặc trƣng của nhóm sản xuất cần nghiên cứu - Độ tuổi trung bình là Với diện tích đất Tiếp cận tốt nguồn 44,5 canh tác rộng, cần nước, sử dụng đường - Nguồn lao động dồi có các giải pháp ống dẫn nước từ bể dào khắc phục khó chứa. - Diện tích đất 1vụ và khăn về thuỷ lợi 2vụ lớn để tăng năng suất - Diện tích đất trồng cây trồng. cây lâu năm có điều Nhóm khó kiện để phát triển cây khăn lâu năm - Khả năng tiếp cận nguồn nước trung bình do có được sử dụng hệ thống kênh mương, nhưng xa nguồn nước, hệ thống kênh kiên cố chưa có. Độ tuổi trung bình 42,9. Xây dựng tốt hệ Nghiên cứu khả năng số lao động nam trung thống kênh tiếp cận nguồn nước bình 1hộ là 2,35 người, mương, để tất cả do được tiếp cận nữ 2,95, ổn định về được hưởng thuỷ nguồn nước nhưng nguồn lao động lợi, đào ao nuôi một số vùng còn xa Nhóm thuận - Tiếp cận nguồn nước thuỷ sản. nguồn và hệ thống lợi tôt do nằm ven rung tâm Nguồn lao động thuỷ lợi xã, nhưng một số vùng dồi dào, tập trung còn có kênh mương thấp phát huy tối đa hơn ruộng diện tích để canh tác, lúa, ngô, sắn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 53.
    44 Những chiến lƣợc Vấn đề Kiểu nhóm Đặc trƣng của nhóm sản xuất cần nghiên cứu - Độ tuổi trung bình là Được tiếp cận tôt Nghiên cứu sử dụng 44 nguồn nước, cần tối đa lợi thế về - Diện tích đất 1vụ và phòng chống thiên nguồn nước, chống 2vụ và ngô nhỏ tai gây ảnh hưởng xói mòn đất, cải tạo - Diện tích đất canh tác đến diện tích đất đất để tăng năng suất. Nhóm rất nhỏ do vùng trung tâm canh tác, xây kè thuận lợi xã diện tích nhỏ chống xói. - Tiếp cận nguồn nước Tập trung sản xuất tôt nhất, do ở thấp, lúa, cây hao màu, dòng sông nhỏ chảy qua phát triển dịch vụ. trung tâm luôn đủ nước để tưới tiêu. Bảng 2.5 cho ta thấy tình hình đặc điểm nổi bật của từng nhóm hộ điều tra, ở nhóm hộ khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nước có sự thuận lợi về đất lâm nghiệp và đất trồng cây lâu năm, đất trồng lúa rộng nhưng chỉ sử dụng để trồng lúa một vụ do khả năng tiếp cận nguồn nước khó khăn, không đủ nước tưới tiêu. Với sự thuận lợi về đất trồng cây lâm nghiệp và khó khăn về nguồn nước, nhóm cần có các phương án trồng cây lâm nghiệp phù hợp, bên cạnh đó cũng cần có các phương án giữ nước để phục vụ tưới tiêu. Tập trung vào canh tác và tròng các loại cây có chi phí thấp hơn và chịu sự khô cằn tốt hơn cây lúa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 54.
    45 2.2. Thực trạngphát triển nông nghiệp và tiếp cận nguồn nƣớc của ngƣời dân xã Tân Lập 2.2.1. Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra Bảng 2.6: Thông tin chung về chủ hộ điều tra Chỉ tiêu Rất Rất Thuận Khó Nhóm hộ ĐVT khó thuận lợi lợi khăn khăn Số hộ điều tra Hộ 34 19 25 62 Tuổi BQ chủ hộ Năm 44 42,9 44,56 40,2 Trình độ VH chủ hộ Lớp 6,117 6,2 6,12 6,0 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Tổng số hộ điều tra gồm 140 hộ, độ tuổi bình quân của chủ hộ của nhóm rất thuận lợi về nguồn nước là 44 và rất khó khăn là 40,2, cho thấy độ tuổi bình quân của chủ hộ không chênh nhau là mấy. Điều đó có nghĩa độ tuổi của các nhóm hộ không thể hiện xu hướng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và thu nhập của các hộ. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, xã có 01 truờng tiểu họ và 01 trường mầm non, số lượng bỏ họ lớn, trình độ văn hoá của nhóm hộ điều tra không cao, trung bình là lớp 6, chủ yếu là làm nông nghiệp, cùng với sự khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước, dẫn đến năng suất không cao. Nền kinh tế của xã chủ yếu là tự cung tự cấp. Bảng 2.7: Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ Chỉ tiêu Rất Khó Rất khó ĐVT Thuận lợi Nhóm hộ thuận lợi khăn khăn Số hộ điều tra Hộ 34 19 25 62 Bq nhân khẩu Người 3,5 5,3 4,96 4,14 - Nam “ 1,79 2,35 2,2 2,19 - Nữ “ 1,73 2,95 2,76 1,98 Bq lao động Lđ 2,23 3,05 3,04 2,61 - LĐ là nam “ 1,17 1,5 1,52 1,3 - LĐ là nữ “ 1,06 1,55 1,52 1,3 (Nguồn: Số liệu điều tra 2007) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 55.
    46 Tổng số nhân khẩu trên hộ nhóm rất khó khăn về nguồn nước bình quân là 4,14 người, trong đó nhân khẩu nam bình quân là 2,19 người chiếm 52,8% trên hộ, nữ là 1,98 người chiếm 47,8%. Nhóm thuận lợi nhất có tổng bình quân nhân khẩu trên hộ là 3,5 người, trong đó nhân khẩu nam là 1,79 người, chiếm 51,1%, nhân khẩu nữ là 1,73 người, chiếm 49,4%. Bảng 2.7 cho ta thấy nhân khẩu bình quân của nhóm khó khăn nhất nhiều hơn nhóm thuận lợi nhất, trong đó tỷ lệ nam và nữ cũng lớn hơn. Nhóm khó khăn nhất sống tập trung tại các vùng cao, vùng núi, trình độ và nhận thức lạc hậu, dẫn đến sự gia tăng dân số ở khu vực ày cao hơn. Về lao động, nhóm khó khăn nhất có tổng lao động bình quân là 2,61 người, trong đó la động nam là 1,3 chiếm 49,8%, lao động nữ cũng là 1,3 người bằng 49,8%. So với bình quân nhân khẩu trên hộ thì bình quân lao động của nhóm này chiếm 63%. Lao động của nhóm thuận lợi nhất trung bình là 2,23 người, trong đó lao động nam 1,17 người chiếm 52,4%, lao động nữ là 1,06 người bằng 47,5%. So với bình quân nhân khẩu của nhóm này, lao động chiếm 63,7%. Từ đó cho thấy, mặc dù tỷ trọng lao động trong tổng nhân khẩu bình quân là không chênh lệch nhau là mấy, nhưng số lao động bình quân của nhóm khó khăn là cao hơn cả lao động nam và lao động nữ. Nhóm thuận lợi về nguồn nước có số nhân khẩu bình quân cao nhất, trong đó lao động bình quân là 3,05 ngưòi, chiếm 57,5%. Tuy chiếm tỷ trọng thấp hơn về lao động so với 2 nhóm trên, nhưng tổng lao động bình quân là lớn hơn, với tổng lao động bình quân là 3.05 người trong đố lao động nam là 1,5 người và nữ là 1,55 người. Số lao động nhóm này tương đương với nhóm khó khăn trung bình là 3,04 người lao động. Với đặc điểm của nhóm thuận lợi là tiếp cận tốt về nguồn nước và nằm ở vên trung tâm, không chịu sự xói mòn đất, có điều kiện để tiếp cận nguồn nước và tăng thu nhập. Tình hình lao động không chênh nhau là mấy so giữa các nhóm hộ, tuy nhiên, xã Tân Lập chủ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 56.
    47 yếu là sảnxuất nông nghiệp, cho nên yếu tố nước tưới và đất canh tác là các yếu tố quan trọng. Tuy nhiên đất sản xuất nông nghiệp của xã là không nhiều, đều này phần nào đã gây ra những hạn chế đối với thu nhập từ nông nghiệp của các nhóm hộ. Tình hình đất đai được thể hiện qua bảng số liệu sau: Bảng 2.8: Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra ĐVT: m2 Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khăn Chỉ tiêu SL % SL % SL % SL % 41.562,67 100 41.935 100 34.391,48 100 69.386,48 100 1.Đất hàng năm 2.283,24 5,49 3.372,11 8,04 4.328,00 12,58 2.474,68 3,57 - Đất 1 vụ 1.392,68 2.015,38 3.350,00 2.049,41 - Đất 2 vụ 1.709,86 1.993,16 2.88,00 1.350,81 2. Đất trồng cây 0 0 275 0,65 1,200 3,49 1,175 1,69 lâu năm Đất lâm nghiệp 38.393,33 92,37 37.540,00 89,52 27.730,77 80,63 65.116,4 93,84 Đất nuôi trồng 260 0,62 300 0,71 650 1,89 242,86 0,35 thuỷ sản Đất vườn + 626,11 1,51 447,89 1,07 482,72 1,4 377,54 0,54 thổ cư (Nguồn: UBND xã Tân Lập) Đất đai là một yếu tố hết sức quan trọng, tác động nhiều đến năng suất cây trồng, đến diện tích canh tác. Với ngành nghề chính là nông nghiệp và lâm nghiệp cho nên diện tích của các hộ chủ yếu là trồng lúa, ngô và cây lấy gỗ Tổng diện tích bình quân của nhóm hộ có điều kiện khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nước là 69.386,48 m2, nhóm hộ tiếp cận tốt nhất về nguồn nước là 41.562,67 m2, nhỏ hơn so với diện tích bình quân nhóm hộ khó khăn là 27.823,81 m2 là do diện tích đất của khu trung tâm xã là nơi tiếp cận nguồn nước tốt nhất nhỏ, chịu sự xói mòn đất do thiên nhiên, và chưa được Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 57.
    48 xây kè chốngxói. Diện tích đất trồng 1vụ của nhóm hộ khó khăn nhất lớn hơn diện tích trồng lúa 2vụ là do khả năng tiếp cận nguồn nước kém, chỉ có 1.35,82m2 so với 1.709,86m2 của nhóm thuận lợi nhất. Chính vì vậy nhóm khó khăn nhất tập trung vào lợi thế của mình là trồng cây lâm nghiệp với diện tích đất là 65.116,4m2 lớn hơn so với nhóm thuận lợi nhất. Với đặc điểm diện tích đất lâm nghiệp của nhóm hộ khó khăn nhất rộng, thuận lợi cho việc phát triển trồng rừng. Cần chú trọng và có chính sách đối với việc mở rộng quy mô trồng rừng ở các diện tích đầu nguồn, giao đất giao rừng để gắn trách nhiệm cho người dân, nó không chỉ có tác động tới thu nhập của hộ mà còn có tác dụng giữ nước đầu nguồn, tạo nên nguồn đất tốt để trồng cây, tăng năng suất cây trồng. Như vậy, đất đai là một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập của nhóm hộ điều tra. Đối với từng nhóm, sự tiếp cận nguồn nước là yếu tố quan trọng tác động đến năng suất, tuy nhiên diện tích đất canh tác là không thể thiếu. Bảng 2.9: Tình hình tài sản phục vụ sản xuất của hộ ĐVT: Cái Nhóm hộ Rất Rất khó Thuận lợi Khó khăn Chỉ tiêu thuận lợi khăn Tổng tài sản 1,89 2,78 2,69 2,42 - Máy cày 0,4 0,5 0,6 0,3 - Máy tuốt lúa 0,5 1 1 1 - Máy bơm nước 0,09 0,28 0,09 0,12 - Máy sao chè 0 0 0 0 - Máy khác 0,9 1 1 1 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 58.
    49 Trong phát triển sản xuất nông nghiệp, trang thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất là một yếu cầu khách quan và quan trọng. Việc trang bị máy móc thiết bị vào sản xuất, một mặt làm giảm sức lao động chân tay của con người, mặt khác làm tăng năng suất lao động, năng suất đất đai, từ đó giải phóng một phần lao động thủ công, làm tăng khả năng được tiếp cận nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Qua bảng số liệu trên cho thấy tình hình trang thiết những máy móc thiết yếu còn thấp, với tổng tài sản trung bình của nhóm khó khăn nhất là 2,42 cái, nhóm thuận lợi nhất là 1,89 cái và 2 nhóm cao nhất là nhóm thuận lợi 2,78 cái và nhóm khó khăn là 2,69, cụ thể: Máy cày bình quân của nhóm khó khăn nhất là 0,3 cái chiếm 12,3% tổng tài sản của nhóm, thì nhóm thuận lợi nhất cũng chỉ 0,4 cái, chiếm 21,2% tổng tài sản của nhóm. Máy tuốt lúa của 3 nhóm khó khăn nhất, khó khăn và thuận lợi trung bình là 1cái, trong khi đó nhóm thuận lợi nhất là 0,5cái. Nhóm khó khăn nhất trung bình là 1 cái chiếm 41,3% tổng tài sản của nhóm. Nhóm thuận lợi nhất là 0,5 cái, bằng 26,4% tổng tài sản đầu tư cho nông nghiệp của nhóm. Từ đó cho thấy việc đầu tư về máy tuốt lúa của nhóm thuận lợi nhất là không cao so với các nhóm. Là địa phương với kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tiếp cận được một cách tốt nhất nguồn nước là điều vô cùng quan trọng, vì vậy máy bơm nước là quan trọng đối với việc tưới tiêu. Qua bảng trên cho thấy, sự đầu tư về máy bơm của các nhóm là chưa nhiều, cụ thể: Nhóm khó khăn nhất trung bình là 0,12cái, chiếm 4,9% tổng tài sản của nhóm, nhóm khó khăn là 0,09cái, chiếm 3,3%. Nhóm thuận lợi là 0,28cái chiếm 10% và nhóm thuận lợi nhất là 0,09cái chiếm 4,7% tổng tài sản của nhóm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 59.
    50 Qua bảng trên cho thấy, tỷ trọng máy bơm nước trên tổng tài sản phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các nhóm là khác nhau, cụ thể: Nhóm thuận lợi cao nhất với 10% là máy bơm nước, do đặc điểm địa hình của nhóm này tốt, việc tiếp cận nguồn nước là khá dễ dàng. Tuy nhiên có một số còn có diện tích đất canh tác nằm cao hơn kênh mương dẫn nước cho nên sự đầu tư về máy bơm là hợp lý. Đứng thứ 2 là nhóm khó khăn, với đặc điểm không thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn nước, việc đầu tư các máy móc để dẫn nước, bơm nước là vô cùng cần thiết, nó giúp nhóm hộ này có thể bơm dẫ nước từ xa về để phục vụ tưới tiêu. Đối với nhóm khó khăn, là nhómđược hưởng điều kiện về thuỷ lợi, tuy nhiên còn nằm xa nguồn nước, các kênh mương dẫn nước, hoặc có kênh mương dẫn nước đến nhưng do kênh mương chưa kiên cố, dẫn đến sự ngấm nước, làm cho nước chưa kịp đến với diện tích cần tưới tươi đã bị ngấm hết, do vậy cần đầu tư thêm máy móc để để dẫn nước và giữ nước, phục vụ sản xuất nông nghiệp. 2.2.2 Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp của hộ 2.2.2.1 Kết quả sản xuất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra Bảng 2.10: Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của hộ ĐVT: 1.000đ Nhóm hộ Rất Rất Thuận lợi Khó khăn Chỉ tiêu thuận lợi khó khăn Tổng thu từ nông nghiệp 7.448,96 11.825,19 10.219,78 8.598,09 - Thu từ trồng trọt 4.139,91 6.152,82 6.685,44 4.374,87 - Thu từ chăn nuôi 3.044,04 5.072,36 2.888,8 3.634,88 - Thu từ lâm nghiệp 265 600 654,54 588,33 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Qua bảng kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của hộ cho thấy, hầu hết các khoản thu nhập của hộ đều từ nông nghiệp. Tổng thu nhập bình quân của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 60.
    51 nhóm khó khănnhất sau khi đã trừ chi phí là 8.598,09 nghìn đồng, trong đó thu từ trồng trọt là 4.374,87 nghìn đồng chiếm 50,8% tổng thu từ nông nghiệp, thu từ chăn nuôi là 3.634,88 nghìn đồng chiếm 42,2%, thu từ lâm nghiệp là 588,33 nghìn đồng chiếm 6,8%, qua đó cho thấy thu nhập từ trồng trọt của nhóm này chiếm tỷ trọng cao hơn so với thu từ chăn nuôi và lâm nghiệp. Nhóm thuận lợi nhất có tổng thu nhập bình quân từ nông nghiệp là 7.448,96 nghìn đồng, trong đó thu từ trồng trọt là 4.139,91 nghìn đồng chiếm 55,6%, thu từ chăn nuôi là 3.044,04 nghìn đồng chiếm 40,8% và thu từ lâm nghiệp là 265 nghìn đồng chiếm 3,5%. So sánh giữa 2 nhóm trên ta thấy, thu từ trồng trọt của nhóm thuận lợi nhất chiếm tỷ trọng trong tổng thu từ nông nghiệp lớn hơn nhóm khó khăn là 4,8%. Tuy nhiên Qua nghiên cứu tình hình thu nhập và cơ cấu thu nhập của các nhóm hộ điều tra của xã Tân Lập có thể nhânh thấy tình trạng thuần nông của sản xuất nông nghiệp. Để đưa ra cái nhìn sâu hơn về vấn đề sản xuất và thu nhập của hộ từ việc tiếp cận nguồn nước, ta đi phân tích, đánh giá tình hình sản xuất trồng trọt và chăn nuôi của nhóm hộ điều tra. Bảng 2.11: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của hộ ĐVT: 1000đ Nhóm hộ Rất Rất Thuận lợi Khó khăn Chỉ tiêu thuận lợi khó khăn Tổng số 4.139,92 6.152,82 6.685.44 4.374,87 - Thu từ lúa 3.931,92 5.100,40 4.774,64 3.209,55 - Ngô 634,47 973,47 1.894,8 1.141,13 - Đậu đỗ 73,53 78,95 16 24,19 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 61.
    52 Là một xã nghèo vùng xâu vùng xa, điều kiện còn khó khăn, kỹ thuật gieo trồng còn thủ công và lạc hậu, chưa áp dụng được sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Thu nhập của các hộ trông xã đều chủ yếu từ nông nghiệp, nhưng thu nhập từ các loại cây trồng và các vùng khác nhau, do quy mô và do sự tiếp cận nguồn nước, do diện tích canh tác. Bảng 2.11 cho thấy thu nhập bình quân từ lúa của nhóm khó khăn nhất về tiếp cận nguồn nước là 3.209,55 đồng, so với nhóm hộ tiếp cận tốt nhất là 3.931,92, thấp hơn 722,37 đồng bằng 81,6% so với nhóm thuận lợi nhất về nguồn nước. Trong khi đó thu nhập từ trồng ngô của nhóm khó khăn nhất trung bình là 1.141,13 đồng so với 634,47 đồng của nhóm thuận lợi nhất, nhiều hơn 506,66 đồng. Qua bảng ta thấy rằng, thu nhập từ lúa của nhóm hộ khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nước thấp hơn so với nhóm thuận lợi nhất, tuy nhiên sản lượng ngô lại cao hơn, từ đó cho thấy, vùng tiếp cận nguồn nước khó khăn nhất đã biết chuyển đổi cây trồng để phù hợp với khí khậu và đất đai. Do cây ngô có chi phí thấp hơn và chịu sự khô cằn tốt hơn so với cây lúa. Đồ thị biểu thị thu nhập từ lúa của nhóm hộ điều tra RÊt thuËn lîi ThuËn lîi 5100.4 4774.64 6000 Khã kh¨n 3931.92 5000 RÊt khã kh¨n 3209.55 4000 1894.8 3000 1141.13 973.47 2000 634.47 78.95 1000 73.53 24.19 16 0 Thu tõ lóa Ng« §ç Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 62.
    53 Bảng 2.12: Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của hộ ĐVT: 1.000 đồng Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khăn Chỉ tiêu Tổng số 3.044,04 5.072,36 2.888,8 3.634,88 - Lợn 2.973,45 5.013,15 2.741,2 3.315,61 - Trâu, bò - - - 258,06 - Gia cầm 70,59 59,21 147,6 61,21 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Bắc Kạn là một tỉnh với nền nông nghiệp là chính. Dù ngành chăn nuôi chưa đóng góp nhiều cho thu nhập của tỉnh và của người dân, chưa thực sự nổi bật nhưng không phải vì thế nó không có những lợi thế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Để chăn nuôi thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, rất cần phải nhìn thẳng vào sự thật và đổi mới thực sự nhận thức chung về vấn đề này. Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tự cung tự cấp, nhu cầu thực phẩm của người dân ngày càng tăng, song sản phẩm chăn nuôi vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng cho người dân xã Tân Lập. Do chưa thực sự có cách tiếp cận mới, chăn nuôi truyền thống vẫn chiếm tỷ lệ cao, với những đặc điểm nổi bật là nhỏ lẻ, phân tán, số lượng không tập trung đủ lớn để trở thành sản phẩm hàng hóa, không đồng nhất về chất lượng, chưa chú trọng đến tính kế hoạch thị trường và hạch toán về hiệu quả kinh tế. Phương thức chăn nuôi này tuy có nhiều nhược điểm, nhưng là nguồn thực phẩm và thu nhập cần thiết nâng cao mức sống của người dân. Tổng thu nhập bình quân từ chăn nuôi của nhóm khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nước là 3.634,88 nghìn đồng, trong đó thu từ chăn nuôi lợn là 3.315,61 nghìn đồng, chiếm 91,2% tổng thu nhập từ chăn nuôi của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 63.
    54 nhóm. Thu nhậpcủa nhóm thuận lợi nhất từ chăn nuôi lợn là 2.973,45 nghìn đồng, chiếm 97,6% tổng thu nhập từ chăn nuôi của nhóm. Bảng 2.12 cho thấy vùng tiếp cận nguồn nước thuận lợi nhất có thu nhập bình quân từ nuôi lợn chiếm tỷ trọng trong tổng thu nhập từ chăn nuôi lớn, tuy nhiên thu nhập bình quân từ chăn nuôi lợn so với nhóm hộ khó khăn về nguồn nước còn thấp hơn, bên cạnh đó thu nhập từ chăn nuôi trâu, bò là không có, trong khi đó nhóm hộ khó khăn nhất thu nhập bình quân từ chăn nuôi Trâu và Bò là 258,06đồng, bằng 7% tổng thu nhập của nhóm. Đặc điểm các thôn trong vùng trung tâm xã là vùng được tiếp nguồn nước thuận lợi nhất, dân cư mới di dời đến, tập trung chủ yếu là cán bộ xã, nhà ít lao động, dẫn đến việc chăn nuôi ít được chú trọng, ví dụ chăn nuôi trâu bò, do vậy thu nhập chủ yếu tập trung vào trồng trọt. Bên cạnh đó, bảng 2.12 cho thấy, thu nhập từ chăn nuôi của nhóm thuận lợi về nguồn nước cao nhất, với tổng thu nhập từ chăn nuôi là 5.072,26 đồng, trong đó thu nhập từ chăn nuôi lợn là 5.013,15 đồng chiếm 98,8%, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu nhập từ chăn nuôi. Do đặc điểm địa hình nằm ven trung tâm và ở các triền đồi thấp, cho nên việc tiếp cận nguồn nước tốt, diện tích chăn thả rộng, thuận lợi cho việc thả lợn ăn tự do, cho nên nhóm đã tập trung vào chăn nuôi chủ yếu là lợn, phù hợp với tập quán chăn nuôi lợn của vùng. Nhóm khó khăn về tiếp cận nguồn nước có thu nhập từ chăn nuôi thấp nhất, với tổng thu nhập bình quân là 2.888,8 đồng, trong đó thu từ chăn nuôi lợn là 2.741,2 đồng , thấp hơn thu nhập từ chăn nuôi lợn của nhóm thuận lợi (nhóm có thu nhập cao nhất từ chăn nuôi lợn) là 2.271,95 đồng bằng 54,6%. Tuy nhiên, bảng 2.12 cho ta thấy thu nhập trung bình từ chăn nuôi gia cầm của nhóm là 147,6 đồng, cao nhất trong 4 nhóm, chiếm 5,1% tổng thu nhập từ chăn nuôi của nhóm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 64.
    55 Thu nhập bình quân từ chăn nuôi lợn của các nhóm là chênh lệch nhau. Thu nhập từ chăn nuôi lợn của nhóm khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nước chiếm 91,2% tổng thu nhập từ chăn nuôi. Nhóm khó khăn chiếm 94,8%, nhóm thuận lợi 98,8% và nhóm rất thuận lợi là 97,6%. Qua đó cho chúng ta thấy thu nhập từ chăn nuôi lợn của nhóm thuận lợi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu từ chăn nuôi. Nhóm khó khăn có thu nhập từ chăn nuôi lợn thâp nhất, tuy nhiên thu nhập từ chăn nuôi gia cầm lại cao nhất. Bảng 2.13: Chi phí ngành trồng trọt của hộ ĐVT: 1.000 đồng Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khăn Chỉ tiêu Tổng số 5.897,33 3.906,59 3.149,23 2.494,35 - Giống 327,1 392,17 475,1 280,06 - Phân bón 523,95 673,4 643,23 533,5 - Dịch vụ mua ngoài 5.000 3.135 1.930 1.680 - Chi phí lđ thuê ngoài 45,58 38,89 - - (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Qua bảng 2.13 ta thấy, tổng chi phí ngành trồng trọt của các hộ giảm dần từ nhóm rất thuận lợi đến nhóm rất khó khăn, cụ thể, nhóm rất thuận lợi có tổng chi phí bình quân là 5.897.000,33 đồng, nhóm thuận lợi là 3.906.000,59 đồng, nhóm khó khăn là 3.149.000,23 đồng và nhóm rất khó khăn là 2.494.000,35 đồng. Thực tế có sự chênh lệch đó là do, có sự chênh lệch về dịch vụ thuê ngoài, nhóm rất thuận lợi có thuận lợi về nguồn vốn, thuê máy bơm nước vào những thời điểm khó khăn về nước, thuê máy tuốt lúa… , vì vậy chi phí dịch vụ của họ cao so với các nhóm khác. Về chi phí lao động thuê ngoài, chỉ 2 nhóm rất thuận lợi và thuận lợi có chi phí. Nhóm rất thuận lợi do có số lao động bình quân ít nhất trong các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 65.
    56 nhóm với 2,23người/hộ, nên phải chi phí 45,58 nghìn đồng/hộ. Nhóm thuận lợi có chi phí thuê ngoài là 38,89 nghìn đồng/hộ. Hai nhóm khó khăn và rất khó khăn cũng có nhu cầu thuê lao động để phục vụ sản xuất, nhưng do điều kiện về nguồn vốn không cho phép họ thực hiện điều này. Lượng phân bón các nhóm hộ sử dụng không chênh lệch nhau nhiều. Bảng 2.14: Chi phí ngành chăn nuôi của hộ ĐVT: 1.000 đồng Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khăn Chỉ tiêu Tổng số 967,79 1.315,11 996,48 940,59 - Giống 888,76 1157,92 884,08 820,28 - Thức ăn xanh 68,53 129,89 93,2 112,25 - Công lao động 10,5 27,3 19,2 8,06 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Qua bảng 2.14 cho ta thấy, tổng chi phí ngành chăn nuôi của nhóm hộ thuận lợi là cao nhất, do nhóm hộ này nuôi số lượng lợn nhiều nhất, với chi phí giống là 1.157.000,92 đồng, chi phí thức ăn là 129,89 nghìn đồng. Các nhóm hộ không tiến hành mua thức ăn tinh, vì họ đã tận dụng các thức ăn xanh trồng được và các sản phẩm phụ từ lúa như rơm, rạ, cám xát từ thóc. Thực tế chi phí chăn nuôi của các nhóm hộ chủ yếu đối với lợn, và con vật nuôi này cũng đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các hộ nông dân nơi đây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 66.
    57 2.2.3. Phân tíchtình hình sản xuất lúa của hộ Bảng 2.15: Kết quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra Nhóm hộ Rất Khó Rất khó ĐVT Thuận lợi Chỉ tiêu thuận lợi khăn khăn Diện tích gieo m2 2.424,41 3.338,42 4.056 2.254,92 trồng Năng suất Kg/1000m2 419,12 390,57 405,6 357,72 Sản lượng Kg 1.287,58 1.677,95 1.781,2 1.074,09 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Bảng 2.15 Cho ta thấy, diện tích gieo trồng lúa của nhóm hộ khó khăn nhất là 2.254,92 m2, nhỏ nhất so với các nhóm khác, với sản lượng là 1.074,09 kg, thấp nhất. Với diện tích gieo trồng lúa nhỏ, cộng với sự khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nước, dẫn đến sản lượng từ lúa là không cao. So với nhóm khó khăn về nguồn nước có sản lượng 1.781,2 kg, thấp hơn 707,11 kg, bằng 60,3% sản lưởng của nhóm khó khăn. Điều đó cho ta thấy sự chênh lệch về sản lượng giữa 2 nhóm này là khá cao là do: Diện tích đất gieo trồng của nhóm khó khăn nhất nhỏ hơn nhóm khó khăn, cụ thể, nhóm rất khó khăn có diện tích gieo trồng là 2.254,92m2, trong khi nhóm khó khăn có diện tích gieo trồng là 4.056 m2, nhỏ hơn 1.801,08 m2, diện tích gieo trồng lúa của nhóm khó khăn nhất chỉ bằng 55,6% diện tích của nhóm khó khăn. Với những đặc điểm khó khăn về diện tích trồng lúa cũng như khả năng tiếp cận nguồn nước như vây, dẫn đến năng suất và sản lượng lúa của nhóm thấp nhất. Nhìn vào bảng trên ta thấy, năng suất lúa của nhóm hộ thuận lợi thấp hơn nhóm khó khăn, cụ thể: Năng suất của nhóm thuận lợi là 390,57 kg/1000m2, thấp hơn nhóm khó khăn có năng suất 405,6 kg/1000m2 là 15,03 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 67.
    58 kg/1000m2. Do diệntích gieo trồng lúa của nhóm thuận lợi là 3.338,42 m2 nhỏ hơn nhóm khó khăn có diện tích gieo trồng 4.056 m2, do vậy năng suất và sản lượng thấp hơn, nhưng không đáng kể, cụ thể, sản lượng của nhóm thuận lợi là 1.677,95 kg so với nhóm khó khăn có sản lượng 1.781,2 kg là 103 kg, bằng 95% sản lượng của nhóm khó khăn. Nhóm thuận lợi nhất về tiếp cận nguồn nước có diện tích gieo trồng là 2.424,41 m2, chỉ lớn hơn nhóm khó khăn nhất, do nhóm khó khăn nhất chủ yếu nằm ở vùng đồi núi cao, diện tích đất cho trồng lúa thấp, chủ yếu là nương rẫy. Mặc dù nhóm thuận lợi nhất nằm ở trung tâm xã, nhưng diện tích không lớn là do đất dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng như UBND xã, trạm ytế, trường học…cộng với hiện tượng xói mòn rửa trôi đất do con suối chảy qua trung tâm. Từ những lý do đó dẫn đến diện tích đất gieo trồng lúa không lớn. Tuy vậy, năng suất lúa lại lớn nhất do được tiếp cận nguồn nước tốt nhất, với năng suất là 419,12 kh/1000m2, so với nhóm có năng suất thấp nhất là nhóm khó khăn nhất với năng suất 357,72 kg/1000m2, lớn hơn 61,4 kg/1000m2. Nhưng sản lượng của nhóm này là không cao, chỉ có sản lượng là 1.287,58 kg, nguyên nhân do diện tích đất gieo trồng thấp, hàng năm lại phải chịu sự tàn phá từ thiên nhiên. Từ việc phân tích bảng 2.16 ta nhận thấy, để tận dụng được tối đa những điều kiện thuận lợi vốn sẵn có của từng vùng , người dân xã Tân Lập cần nâng cao hơn nữa khả năng tiếp cận nguồn nước, bên cạnh đó cần có biện pháp chống xói mòn, giữ đất, cải tạo đất, để tăng năng suất và sản lượng của cây lúa cũng như các loại cây khác. Ngoài các biện pháp để tăng hiệu quả từ cây lúa, chi phí bỏ ra để đầu tư cho năng suât cao như giống, đạm, lân, kaly…là vô cùng quan trọng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 68.
    59 Bảng 2.16: Chi phí sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào) ĐVT: 1000đ Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khăn Chỉ tiêu Giống 293,19 349,65 401,53 237,72 Đạm 119,447 170,505 153,504 109,03 Lân 106,22 146,32 154,52 101,92 Ka ly 37,75 66,79 101,52 28,49 NPK 3,088 - - 5,59 Phân chuồng 180,14 186,05 133,7 151,85 BVTV 28,38 41,16 38,4 27,62 Dịch vụ mua ngoài 5 - 2,8 - Chi phí lao động 1,47 3,15 - - thuê ngoài Chi phí khác 66,66 50 90 116,38 Tổng 841,345 1.013,625 1.075,974 778,6 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Lúa là một cây trồng quan trọng của người dân xã Tân Lập, vì vậy, tiếp cận được nguồn nước thuận lợi để nâng cao năng suất là một điều kiện vô cùng quan trọng, bên cạnh đó, giảm chi phí để nâng cao thu nhập cũng đã đười dân chú ý đến. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ chính quyền như, không thu thuỷ lợi phí cũng tạo điều kiện cho người dân nơi đây giảm bớt được một khoản chi phí. Với số lao động bình quân/hộ thấp nhất, nhóm hộ thuận lợi nhất có chi phí thuê lao động thuê ngoài là 1,47 nghìn đồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 69.
    60 Bảng 2.17: Hiệu quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào) ĐVT: 1000đ Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khăn Chỉ tiêu GO 3.431,91 5.100,4 4.774,64 3.209,55 IC 834,12 1.074,98 917,16 686,65 VA 2.597,79 4.025.,42 3.857,47 2.522,9 VA/DT 1,11 1,25 0,88 1,1 VA/GO 0,73 0,79 0,67 0,7 VA/IC 3,79 4,57 5,47 5,55 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Qua bảng 2.17, phản ánh hiệu quả sản xuất lúa của các nhóm hộ điều tra, ta thấy giá trị sản xuất của nhóm hộ thuận lợi là lớn nhất do nhóm hộ này có diện tích trồng lúa lớn, giá trị sản xuất của nhóm hộ này đạt 5.100.405 đồng. Nhóm khó khắn có giá trị sản xuất là it nhất là 3.209.555 đồng. Chi phí trung gian của nhóm thuận lợi cũng là lớn nhất do họ phải đầu tư nhiều vào diện tích lớn đó. Giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích của nhóm thuận lợi là 1,256128 và nhóm thấp nhất là 0,8887326. Nhìn chung tình hình sản xuất lúa của các hộ là tốt, song để nâng cao năng suất, sản lượng của các hộ nông dân cần có biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên nước. Ta thấy, giá trị gia tăng (VA)/1 đơn vị diện tích (DT) của nhóm 2 cũng lớn nhất do, nhóm hộ này đã đầu tư nhiều vào diện tích trồng lúa mà họ có. Giá trị gia tăng (VA)/ 1 đơn vị chi phí chung gian (IC) của nhóm rất khó khăn là cao nhất do nhóm này phải mất nhiều chi phí hơn do khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 70.
    61 2.3. Phân tíchquan hệ giữa tiếp cận nguồn nƣớc và sản xuất của hộ 2.3.1. Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất lương thực của các hộ nông dân xã Tân Lập Bảng 2.18: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nƣớc và sản xuất lƣơng thực của các hộ nông dân xã Tân Lập năm 2005 Nhóm hộ Rất Thuận Khó Rất ĐVT Chỉ tiêu thuận lợi lợi khăn khó khăn 1. DT lúa bq/ M2/người 782,08 747,6 843,72 590,13 đầu người 2. Lương thực Kg/người 371,36 373,14 376,86 291,69 bq đầu người 3. Thu nhập bq/ 1.000đ/người 1.075,47 1.100,43 1.043,93 840,45 người (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Nhóm rất khó khăn có diện tích lúa bình quân/đầu người thấp nhất là 590,13 m2, mặc dù diện tích đất lớn nhất, nhưng do khẳ năng tiếp cận nguồn nước kém, cho nên họ không thể tiến hành trồng lúa nhiều. Nhóm khó khăn có diện tích lúa bình quân/ đầu người lơn nhất là do số lao động lớn, nhu cầu lương thực cao cho nên họ phải trồng nhiều lúa. Lương thực bình quân đàu người của nhóm rất khó khăn là thấp nhất là 291,69 kg, điều đó khẳng định sự tiếp cận nguồn nước ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đặc biệt là trong trồng lúa, điều đó dẫn đến thu nhập thấp nhất trong các nhóm với 840.000,45 đồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 71.
    62 2.3.2. Mối quanhệ giữa tiếp cận nguồn nước với cơ cấu thu nhập của hộ Bảng 2.19: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nƣớc với xác định phƣơng án sản xuất kinh doanh của hộ năm 2005 ĐVT: Nghìn đồng Nhóm hộ Rất Rất Thuận lợi Khó khăn Chỉ tiêu thuận lợi khó khăn 1. Thu từ trồng trọt 4.066,39 6.073,87 6.669,44 4.350,68 - Lúa 3.431,92 5.100,4 4.774,64 3.209,55 - Ngô 634,47 973,47 1.894,8 1.141,13 2. Thu từ chăn nuôi 1.355,25 2.350,07 1.059,58 1.872,88 - Đại gia súc - - - 193,54 - Lợn 1.355,25 2.350,07 1.059,58 1.433,04 - Gia cầm - 13.72 - 11 - 57,92 246,30 3.Thu từ lâm nghiệp 265 600 654,54 588,3 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Nhiều vùng trong xã Tân Lập hiện nay, rất cần các nguồn nước mới để đáp ứng nhu cầu to lớn của người dân đang gia tăng nhanh chóng. . Nguồn nước truyền thống và tự do là nước trời, tuy vậy, chi phí xây dựng các bể chứa nước mưa, đường ống dẫn và các nhà máy nước xử lý để có nước sạch lại trở thành vấn đề khá quan trọng. Nước mưa cũng có những mặt hạn chế, chẳng hạn khi xảy ra những đợt hạn hán, trong khi xã nghèo như Tân Lập lại chưa có hệ thống kênh mương đáp ứng đầy đủ nhu cầu tưới tưới, bên cạnh đó, hệ thống các bể chứa nước và các hộ tự nhiên chưa có. Vì vậy, để người dân những vùng khó khăn, những vùng xa nguồn nước được tiếp cận và sử dụng nguồn nước là một điều khó khăn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 72.
    63 Với địa hình dốc, cộng với các cơ sở hạ tầng về thuỷ lợi chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước như vậy, đã dẫn đến sự chênh lệch về năng suất cây trồng cũng như vật nuôi, do mỗi vùng có sự khác nhau về tiếp cận và sử dụng nguồn nước.Trong bảng 2.19 cho thấy, năng suất lúa, sau khi trừ chi phí của nhóm rất khó khăn về nguồn nước là 3.209,555 đồng, so với nhóm có sự thuận lợi nhất là 3.431,918 đồng, chênh lệch nhau 222.36 đồng, lý do của sự chênh lệch thu nhập từ lúa giữa 2 vùng không cách biệt nhau là mấy, đó là vùng khó khăn tuy không thuận lợi về nguồn nước, phải đi lấy nước xa về tưới tiêu, nhưng có diện tích đất lớn hơn. Vùng có sự tiếp cận nguồn nước tốt hơn nhưng diện tích đất canh tác nhỏ hơn, lại phải chịu nhiều thiệt hại từ thiên tai, lụt lội gây xói mòn, làm mất chất mùn trong đất, giảm và có hộ mất diện tích đất canh tác, dân tới năng suất không cao. Trong quá trình điều tra 4 thôn của xã đã có những sự khác biệt về vị trí và sự tiếp cận nguồn nước khá rõ rệt. Những thôn ở vùng sâu, nằm trên các triền núi, vị trí xa các nguồn nước và hệ thống thuỷ lợi, trong khi đó chưa có những hồ tự nhiên và bể chứa nước, dẫn đến việc được tiếp cận và sử dụng nguồn nước là rất khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, đến sức khoẻ và năng suất cây trồng. Những thôn ở thấp hơn, nhưng cũng nằm trên các triền đồi cao và dốc, và không có hồ chứa nước, tuy có được sử dụng hệ thống thuỷ lợi, nhưng số được sử dụng còn thấp, hệ thống thuỷ lợi cũng chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của nguời dân. Những thôn ở khu trung tâm xã là những thôn có được sự tiếp cận nguồn nước tốt nhất, do nằm ở vị trí bằng phẳng và thấp, hệ thống kênh mương tương đối đầy đủ, do vậy khả năng tiếp cận nguồn nước của người dân vùng này là khá tốt. Tuy nhiên cũng có những khó khăn, đó là những thôn trung tâm được chia cắt bởi một dòng sông chảy qua, bên cạnh đó hiện tượng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 73.
    64 thiên tai, lũquét lũ ống gây xói lở đất, dẫn đến hiện tượng mất đất canh tác của những hộ nằm sát bờ, hoặc làm giảm diện tích đất canh tác. Qua điều tra thực tế tại 140 hộ điều tra đã có rất nhiều ý kiến khác khau về việc khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn nước cho tưới tiêu, ví dụ ý kiến về không có kênh mương đã có trên 20 ý kiến, chiếm 0,15%, những ý kiến về việc xa nguồn nước, nước không đến được ruộng do hệ thống kênh mương kém, hệ thống kênh mương đào nhưng chưa xây, dẫn đến thấm nước, gây sạt lở khi mưa, dẫn đến nước không đến được ruộng là 50 ý kiến chiếm 35,7%. Bên cạnh đó còn rất nhiều ý kiến về việc chất lượng xây dựng các công trình thuỷ lợi còn kém, chưa đáp ứng được nhu cầu như: hay phải đi sửa chữa kênh mương, mương thiết kế chưa đúng kỹ thuật, mương bị sạt lở khi mưa, hoặc mương làm chất lượng kém… Bên cạnh những ý kiến về khó khăn trong tiếp cận nguồn nước còn có những ý kiến về khó khăn của thuỷ lợi, ví dụ: Kênh mương chưa được đầu tư về cuối nguôn, vì vậy một số ruộng còn chưa có nước, chưa có kênh mương, kênh mương kém chất lượng hoặc kênh mương chưa kiên cố… Cũng có nhiều ý kiến về tài sản, phương tiện phục vụ cho dẫn nước, chứa nước chưa có, chưa có máy bơm nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 74.
    65 2.3.3. Phân tíchảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộ a. Phân tích sự tác động của các nhân tố tới thu nhập từ nông nghiệp của hộ Bảng 2.20: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hƣởng thu nhập từ nông nghiệp Mức ý Hệ số nghĩa Độ tin cậy hồi T stat thống kê (Qt) (%) quy (1 -Qt) Biến phụ thuộc: Ln Thu nhập từ NN Hệ số chặn 6.50 14.654 1.1E - 29 100.00 Các biến giải thích Ln Lao động của hộ 0.34 2.771 6.4E - 03 0,9936 Ln Diện tích đất 2 vụ 0.02 1.873 6.3E - 02 0,937 Ln Chi phí sản xuất NN 0.24 3.427 8.1E - 04 0,99919 Ln % diện tích chủ động nước 0.02 4.049 8.6E - 05 0,999914 Hệ số xác định R2 = 0.3667 Mức ý nghĩa thống kê F = 1.53E - 13 F = 21.12 Số mẫu quan sát N = 140 (Nguồn: Số liệu điều tra 2007) Hàm hồi quy có dạng: Ln(Y) = 6.50 + 0.34 Ln(X1) + 0,02 Ln(X2) + 0.24Ln(X3) + 0.02Ln(X4) * Nhận xét bài toán Mức ý nghĩa thống kê của F = 1.53E-13 (F = 21.12) có nghĩa với độ tin cậy đạt 99,99% bác bỏ giả thiết H0 cho rằng các biến độc lập Xi không ảnh hưởng tới thu nhập tử nông nghiệp của hộ: H0: (b1 = b2 = ..=bi = 0), chấp nhận giả thiết H1 cho rằng có ít nhất 1 biến Xi ảnh hưởng đến thu nhập từ nông nghiệp của hộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 75.
    66 R2 = 0,3667 có nghĩa sự biến động của các biến độc lập trong mô hình đã tạo ra 36.67% sự biến động của năng suất lúa. R2 = 0,3667 tuy thấp nhưng chấp nhận được trong nghiên cứu nông nghiệp, đặc biệt, thu nhập từ nông nghiệp của hộ được chi phối bởi rất nhiều yếu tố, nhất là các yếu tố tự nhiên. Qua kết quả bài toán cũng cho thấy dấu (+, -) của các biến trong mô hình đều phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. - Với độ tin cậy đạt 99% cho thấy khi lao động của hộ tăng thêm 1% thì thu nhập từ nông nghiệp của hộ sẽ tăng thêm 0.34%. Với đặc thù của huyện Chợ Đồn, thu nhập của hộ từ sản xuất nông nghiệp là chính. Lao động của hộ hầu hết chỉ tham gia sản xuất nông nghiệp. Do đó, hộ nào có nhiều lao động hơn thì thu nhập từ nông nghiệp sẽ cao hơn. Tuy nhiên, việc tăng lao động của các hộ là điều không thể, tuy nhiên các hộ có thể bố trí lao động một cách hợp lý hơn, tăng thời gian sử dụng lao động, tận dụng lao động gia đình để tăng thu nhập của hộ. - Với độ tin cậy đạt trên 90% cho thấy nếu diện tích đất 2 vụ của hộ tăng thêm 1% thì thu nhập từ nông nghiệp của hộ sẽ tăng thêm 0.02%. Thu nhập của hộ mà chủ yếu từ sản xuất lúa là chính, vì thế nếu diện tích đất 2 vụ tăng lên, đồng nghĩa với việc diện tích gieo trồng của hộ tăng lên dẫn đến thu nhập tăng lên. Qua đây ta thấy vai trò của nguồn nước và thuỷ lợi quan trọng như thế nào đối với các hộ gia đình miền núi. Hệ thống thuỷ lợi tốt sẽ làm cho diện tích đất 2 vụ tăng lên, qua đó giúp cho thu nhập của hộ tăng lên. - Với độ tin cậy đạt trên 99% cho thấy khi chi phí sản xuất nông nghiệp tăng thêm 1% thì thu nhập từ nông nghiệp sẽ tăng lên 0.24%. Chi phí nông nghiệp tăng lên có nghĩa đầu tư cho nông nghiệp tăng lên. Điều này cho thấy hiệu quả của việc đầu tư cho sản xuất nông nghiệp của các hộ. - Với độ tin cậy đạt 99.99% cho thấy nếu diện tích chủ động nước của hộ tăng thêm 1% thì thu nhập từ nông nghiệp tăng thêm 0.02%. Nước là yếu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 76.
    67 tố quan trọngđối với sản xuất nông nghiệp. Do đó, việc tăng thêm diện tích đất chủ động nước sẽ tác động tích cực tới thu nhập từ nông nghiệp của hộ. Điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Vì vậy, địa phương cần chú trọng phát triển hệ thống thuỷ lợi nhằm nâng cao tích chủ động nước trong sản xuất nông nghiệp, qua đó nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. b. Phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lúa của hộ Bảng 2.21: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hƣởng tới năng suất lúa Độ tin Mức ý nghĩa Hệ số cậy T stat thống kê hồi quy (Qt) (1 - Qt) (%) Biến phụ thuộc: Ln Năng suất lúa Hệ số chặn 4.89 117.16 2.8E - 135 100 Các biến giải thích Ln Giống giá/sào 0.25 4.69 6.83E - 06 99.99 Ln Lượng đạm/sào 0.05 8.26 1.34E - 13 100 Ln Lượng lân/sào 0.02 1.83 0.069867 93.01 Ln Lượng kali/sào 0.01 2.61 0.010064 98.99 D. Được sử dụng hệ thống thuỷ lợi 0.21 5.18 8.19E - 07 99.99 Hệ số xác định R2 = 0.6166 Mức ý nghĩa thống kê F = 6.77E-26 F = 42.46 Số mẫu quan sát N = 138 (Nguồn: Số liệu điều tra 2007) Hàm hồi quy có dạng: Ln(Y) = 4.89 + 0.25 Ln(X1) + 0,05 Ln(X2) + 0.02Ln(X3) + 0.01Ln(X4) + e0,21D Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 77.
    68 * Nhận xét bài toán Mức ý nghĩa thống kê của F = 6.77E-26 (F = 42.46) có nghĩa với độ tin cậy đạt 99,99% bác bỏ giả thiết H0 cho rằng các biến độc lập Xi không ảnh hưởng tới năng suất lúa của hộ: H0: (b1 = b2 = ..=bi = 0), chấp nhận giả thiết H1 cho rằng có ít nhất 1 biến Xi ảnh hưởng đến năng suất lúa bình quân của hộ. R2 = 0,6166 có nghĩa sự biến động của các biến độc lập trong mô hình đã tạo ra 61.66% sự biến động của năng suất lúa. R 2 = 0,6166 là chỉ tiêu chấp nhận được trong nghiên cứu sản xuất nông nghiệp, đặc biệt phù hợp với những địa phương miền núi đa dạng về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội. Qua kết quả bài toán cũng cho thấy dấu (+, -) của các biến trong mô hình đều phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. * Phân tích kết quả hồi quy - Với độ tin cậy đạt 99.99% cho thấy khi hộ tăng lượng giống đầu tư cho một sào lên 1% thì năng suất lúa của hộ sẽ tăng lên 0.25%. Giống là yếu tố quan trọng trong sản xuất lúa, nhiều khi các hộ gia đình đầu tư lượng giống thấp, trong quá trình phát triển câu lúa bị hao hụt, dẫn đến năng suất thấp. Hộ tăng lượng giống lên sẽ đảm bảo mật độ cây lúa dẫn đến năng suất và sản lượng tăng lên. Tuy nhiên, việc tăng lượng lúa giống sẽ chịu sự giới hạn của đặc tính kỹ thuật. Do đó, các hộ dân ở Chợ Đồn nên tăng thêm lượng giống lúa nhưng phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của từng giống. - Với độ tin cậy 99.99% cho thấy khi hộ tăng lượng đầu tư phân đạm thêm 1kg/sào thì năng suất lúa sẽ tăng thêm 0.05%. - Với độ tin cậy đạt trên 90%, khi lượng phân lân đầu tư thêm 1kg/ sào thì năng suất lúa sẽ tăng thêm 0.02%. - Với độ tin cậy đạt trên 95% khi đầu tư thêm 1 kg kali/sào thì năng suất lúa sẽ tăng thêm 0.01%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 78.
    69 Kết quả này cho thấy các hộ gia đình tại huyện Chợ Đồn - Bắc Kạn chưa quan tâm nhiều đến đầu tư phân bón trong quá trình sản xuất lúa. Các hộ hoàn toàn có thể tăng năng xuất lúa bằng cách tăng thêm lượng phân bón hữu cơ cho lúa. Tuy nhiên, việc tăng phân bón cho lúa không phải là vô hạn, nếu cứ tăng nhiều sẽ gây ra hậu quả không tốt cho cây lúa. Do đó, các hộ nên tăng thêm lượng phân bón để tăng năng suất nhưng phải đảm bảo được theo yêu cầu kỹ thuật của sản xuất lúa. - Với độ tin cậy đạt 99.99% cho thấy biến giả D (D = 1 hộ được sử dụng hệ thống thuỷ lợi; D = 0 hộ không được sử dụng hệ thống thuỷ lợi) có sự tác động tới năng suất lúa. Cụ thể, hộ được sử dụng hệ thống thuỷ lợi sẽ có năng suất lúa cao hơn so với hộ không sử dụng hệ thống thuỷ lợi là 0.21%. Lúa là cây trồng chịu sự tác động nhiều của nguồn nước, do đó, những diện tích nào chủ động nguồn nước tốt hơn sẽ cho năng suất và sản lượng cao hơn. Kết quả này càng khảng định sự quan trọng của việc sử dụng nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp của địa phương. 2.3.4. Kết luận về tình hình thu nhập và ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộ Xã có nguồn tài nguyên nước dồi dào, với lượng mưa trung bình năm 108,32%, độ ẩm trung bình là 82,58%, người dân xã Tân Lập cần phải có các biện pháp khắc phục, và tiếp cận tốt hơn nguồn tài nguyên nước để phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập cho gia đình. Cần có các giải pháp cho từng vùng trong khả năng tiếp cận nguồn nước. Việc giữ nước, sử dụng nước hợp lý trong sinh hoạt cũng như trong việc tưới tiêu Bên canh những thuận lợi, xã Tân Lập, huyện Chợ Đồn là một xã nghèo, vùng sâu vùng xa, giao thông đi lại vô cùng khó khăn, cộng với tình hình dân trí thấp, do đặc điểm địa lý xa xôi và cơ sở hạ tầng yếu kém, truờng học còn thiếu thốn, chỉ có 01 trường tiểu học, trong đó có hai phân hiệu nằm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 79.
    70 tại một thônkhó khăn của xã, và chưa có điện lưới quốc gia. Thôn không có chợ để giao dịch thương mại, thu nhập của người dân trong xã chủ yếu là nông nghiệp, chủ yếu tự cung tự cấp. Là một xã nghèo với 198 hộ nghèo/280 hộ, chiếm tới 70,7%, dân cư chủ yếu sống và canh tác trên các sườn đát dốc. Diện tích đất tự nhiên chủ yếu là núi đá cao và đồi chiếm 80% diện tích đất tự nhiên của xã. Lượng mưa phân bố không đều.Với điều kiện khó khăn về mọi mặt như vậy, dẫn đến nền kinh tế của xã và thu nhập của người dân rất thấp. Phát huy những thế mạnh của từng vùng về khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên nước để phát triển kinh tế, những vùng có thế mạnh về nguồn nước phải có biện pháp chống xói mòn đất, mở rộng thu nhập từ chăn nuôi. Do đặc điểm vùng thấp và dân cư mới di dân đến vùng trung tâm, chưa mở rộng quy mô và chưa chú trọng đến chăn nuôi, nhóm hộ tiếp cận nguồn nước thuận lợi nhất cần khắc phục những khó khăn tác động đến chăn nuôi để tăng thu nhập từ chăn nuôi cho nhóm hộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 80.
    71 Chƣơng III MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ TĂNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN NƢỚC VÀ TĂNG THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN 3.1. Các giải pháp chung sử dụng nguồn nƣớc Các chính sách vĩ mô của Nhà nước về phát triển hệ thống nước và làm tăng khả năng tiếp cận và sử dụng nguồn nước của người dân nông thôn. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu nước sạch trầm trọng vào năm 2010, do tình trạng khô hạn ngày càng trầm trọng trong khi nhu cầu sử dụng nước lại tăng nhanh. Các chuyên gia về thủy văn và tài nguyên nước cho biết ở phía nam, sông Thị Vải và Đồng Nai đang dần trở thành những con sông chết trong khi tại phía nam sông Hồng cạn kiệt một cách nguy hiểm vào vụ đông xuân, đe dọa đời sống của cư dân ven sông. Một trong những nguyên nhân dẫn đến khô hạn là do năm nay Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng nặng nề của hiện tượng El-nino. Lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm, mùa mưa kết thúc sớm, mực nước sông Hồng tại Hà Nội xuống mức thấp nhất trong vòng 100 năm qua. Do đó, theo các chuyên gia sắp tới tình trạng suy giảm nguồn nước, hạn hán, thiếu nước có thể xảy ra trên diện rộng. Trong khi đó, nhu cầu về nước sẽ tăng khoảng 97%. 3.1.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp Để khắc phục tình hình hạn hán xảy ra thường xuyên và trên diện rộng trong những năm gần đây, ngoài việc đầu tư xây dựng công trình mới với chi phí rất tốn kém, cần tập trung sửa chữa, nâng cấp công trình hiện có để nâng cao năng lực, đi đôi với việc đổi mới công tác quản lý, tuyền truyền, hướng dẫn, áp dụng công nghệ, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, sử dụng nước tiết kiệm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 81.
    72 Trong những năm gần đây, do sự biến động của thời tiết, khí hậu, tình trạng hạn hán đã xảy ra thường xuyên và khá nghiêm trọng trên phạm vi cả nước, đặc biệt là ở các tỉnh miền Núi và Tây Nguyên, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Trước đây, chúng ta chủ yếu tập trung vào việc tìm kiếm nguồn nước, đầu tư, xây dựng công trình để quản lý, khai thác nguồn nước, còn việc sử dụng nước như thế nào cho hiệu quả chưa được coi trọng. Trong thực tế, do tập quán canh tác, sự hiểu biết còn hạn chế về kỹ thuật nông nghiệp, kỹ thuật tưới, tiêu theo yêu cầu của cây trồng trong từng thời đoạn sinh trưởng đã dẫn đến việc sử dụng nước rất lãng phí. Vì vậy, đã đến lúc cần phải đặt vấn đề sử dụng nước làm sao cho hiệu quả, đặc biệt sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, thay cho quan niệm trước đây cho rằng nước là của trời cho, là nguồn tài nguyên vô hạn. Để thực hiện được vấn đề này, từ cơ quan Trung ương đến các địa phương, từ cơ quan quản lý đến các đơn vị cung cấp nước cần thông qua việc tuyên truyền, phổ biến khoa học kỹ thuật, công nghệ tưới tiết kiệm nước để bà con nông dân sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Vậy, tại sao phải nâng cao hiệu quả sử dụng nước, tưới tiết kiệm nước, phải chăng từ trước đến nay chúng ta sử dụng nước một cách lãng phí. Trong bài viết này, tôi xin được đi sâu đề cập về công tác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, sử dụng nước trong nông nghiệp. 3.1.2. Tình hình thuỷ lợi và một số giải pháp thuỷ lợi cho các tỉnh miền núi phía Bắc Các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và 6 tỉnh đặc biệt khó khăn trong vùng nói riêng là khu vực có nhiều tiềm năng, đồng thời có vị trí xung yếu về an ninh - quốc phòng. Việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quan trọng này luôn là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta. Điều đó chúng ta có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 82.
    73 thể thấy quanhiều chủ trương, chính sách cụ thể, đặc biệt cuối tháng 9 vừa qua Chính phủ đã triệu tập một hội nghị chuyên đề để bàn về phát triển kinh tế - xã hội của 6 tỉnh này. Để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, tác giả đưa ra một số giải pháp về khoa học và công nghệ nhằm phát triển lĩnh vực thủy lợi - một bộ phận của kết cấu hạ tầng, vấn đề quan trọng đang được các địa phương này quan tâm. Công tác thuỷ lợi nói chung, công tác khoa học và công nghệ (KH&CN) thuỷ lợi nói riêng có vai trò quan trọng góp phần thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) các tỉnh miền núi. Theo số liệu thống kê của Viện khoa học thuỷ lợi (KHTL), không kể những công trình lớn như Thác Bà, Hoà Bình, đến nay tại khu vực miền núi phía Bắc, Nhà nước và nhân dân địa phương đã xây dựng được 893 hồ chứa nước loại vừa và nhỏ; 1 200 đập dâng; hàng trăm công trình thuỷ luân, thuỷ điện nhỏ, trạm bơm; hàng vạn trạm thuỷ điện cực nhỏ có công suất 0,3-0,6 kw; hàng vạn công trình trung, tiểu thuỷ nông gồm kênh dẫn, mương phai; hàng chục vạn bể chứa, giếng nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất; hàng trăm kilômét đường ống dẫn nước kiên cố; đã phục vụ tưới chắc cho 100 000 ha lúa chiêm, 210 000 ha lúa mùa, cung cấp 20 000 kW điện, giải quyết nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho hơn 30 vạn dân ở các vùng khan hiếm nước, vùng núi đá, vùng biên giới và các vùng dân cư, kinh tế tập trung. Tuy nhiên, các công trình thuỷ lợi ở đây còn bộc lộ nhiều nhược điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng phục vụ nhiệm vụ phát triển KT-XH của các tỉnh trong tình hình mới. Các công trình tạm, bán kiên cố còn chiếm tỷ lệ cao; các công trình do Nhà nước đầu tư, thường mới chỉ kiên cố công trình đầu mối, còn kênh mương do dân tự làm, công trình bị xuống cấp nghiêm trọng, nên hiệu suất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 83.
    74 còn rất thấp.Ví dụ: Trong tổng số 4 524 phai đập thì mới kiên cố được 1 200 đầu mối, chiếm 26,5% (chưa kể các công trình kiên cố còn bị xuống cấp nghiêm trọng); các công trình thuỷ luân, thuỷ điện nhỏ đã được xây dựng đến nay chỉ còn dưới 50% số trạm hoạt động. Để góp phần phát triển KT-XH các tỉnh miền núi phía Bắc, nhất là 6 tỉnh thuộc diện đặc biệt khó khăn (Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng và Bắc Cạn), theo chúng tôi việc phát triển thuỷ lợi ở đây phải gắn với việc xây dựng hồ chứa nước, kết hợp thuỷ điện nhỏ để cung cấp nước, điện cho đời sống và sản xuất ở vùng thiếu nước, vùng sâu, vùng xa. Cụ thể là: Nâng cấp, tu bổ và kiên cố hoá công trình và cụm công trình đầu mối, hoàn chỉnh các hệ thống kênh mương để phát huy hiệu suất các công trình hiện có. Xây dựng một số công trình mới tại các khu vực sản xuất lương thực tập trung và có tiềm năng, kết hợp với việc cấp nước cho các cụm dân cư, thị trấn, thị xã, khu công nghiệp. Tăng cường trồng rừng kết hợp với làm hồ chứa nước nhỏ, ruộng bậc thang nhằm bảo vệ tầng phủ, giảm lũ, giữ ẩm và tăng nguồn sinh thuỷ. Nghiên cứu xây dựng kè bảo vệ các đoạn sông suối, đặc biệt là sông biên giới, kiểm soát nguồn nước và chất lượng nước vào lãnh thổ Việt Nam, phòng chống lũ quét, lũ ống miền núi. Nhà nước đầu tư vốn ngân sách cho việc xây dựng các công trình thuỷ lợi đầu mối, địa phương huy động nhân dân đóng góp công lao động để xây dựng, tu bổ các hệ thống kênh mương. Xây dựng hệ thống thuỷ điện nhỏ cung cấp điện sinh hoạt cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, nơi không có điện lưới quốc gia. Cải tạo nâng cấp, mở rộng công trình cấp nước tự chảy: Đập dâng, hồ chứa, kênh mương. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 84.
    75 Đối với công trình đập dâng (bao gồm đập tạm, bán kiên cố, kiên cố): Phai đập tạm như phai gối, phai chân ếch, phai cũi, do nhân dân tự làm là chủ yếu. Loại này xây dựng đơn giản nhưng phải sửa chữa, làm lại hàng năm, hơn nữa các loại vật liệu để xây dựng tại chỗ hiếm, đặc biệt là gỗ không được phép khai thác tự do, vì thế không nên phát triển . Đối với vùng núi nên cố gắng đầu tư xây dựng các loại phai đập bán kiên cố như phai rọ đá, phai đá xếp (phai rọ đá hiện nay được dùng khá phổ biến vì công nghệ và vật liệu làm rọ đá không khó khăn như thập niên 60-70, thép làm rọ có thể được mạ lớp chống rỉ, hoặc bọc nhựa, bọc composite) và các loại phai đập kiên cố như đập đá xây hoặc bê tông; đập có lõi đất đá, được bọc đá xây hoặc bê tông; đập đá đổ cải tiến; phai đập tự động nâng lên, hạ xuống theo mùa vụ. Hồ chứa nước: Chú ý sửa chữa, nâng cấp cải tạo hệ thống đóng mở điều tiết hồ, chống thẩm lậu. Hầu hết hồ chứa ở miền núi là loại nhỏ, có dung tích trên dưới 1 triệu mét khối, chiều cao đập xấp xỉ 10 m, diện tích tưới vài chục hecta nên lưu lượng qua cống nhỏ, tiết diện cống bé, do đó vấn đề kín nước cửa van và thao tác đóng mở cửa cống là rất quan trọng, cần được lưu ý. Hệ thống kênh mương, cầu máng: Hầu hết các hệ thống kênh mương miền núi đều không hoàn chỉnh, hay bị sạt lở. Vì vậy cần đẩy mạnh việc kiên cố hóa. Ngoài ra có thể áp dụng công nghệ tưới cây vùng đồi bằng vòi phun, nhỏ giọt áp lực thấp đã được một số cơ quan trong nước nghiên cứu, chế tạo và áp dụng ở miền núi như các loại vòi phun bằng nhựa, bằng đồng... * Phát triển thuỷ luân, thuỷ điện nhỏ, trạm bơm Việc cấp điện cũng như cấp nước sinh hoạt ở miền núi cần được giải quyết theo hướng triệt để kết hợp với công trình thuỷ lợi để lắp đặt thiết bị. Thấy trước được vấn đề khó khăn về thiết bị, nhiều năm qua Viện KHTL đã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 85.
    76 chủ động nghiêncứu chế tạo trong nước nhiều loại thiết bị thủy luân, thuỷ điện nhỏ có kết hợp chạy các máy xay xát nông sản. Đến nay chúng ta có lực lượng để giải quyết đủ yêu cầu về thiết bị thuỷ luân, thuỷ điện nhỏ và hiện đang tập trung nghiên cứu nâng cao chất lượng thiết bị (như hiệu suất, độ bền) và giảm giá thành sản phẩm để đáp ứng tốt hơn nhu cầu về các dạng thiết bị này của các địa phương miền núi. Do đặc điểm của sông suối miền núi là có mức dao động mực nước lớn giữa mùa lũ và mùa kiệt nên thiết bị bơm nước phải đáp ứng được yêu cầu đó. Giải pháp bơm sử dụng năng lượng truyền thống, do chi phí vận hành cao nên chỉ được sử dụng cho vùng có cột nước bơm thấp hoặc cho cây trồng có giá trị kinh tế cao. Giải pháp sử dụng năng lượng nước như dốc nước, thác nước, đập dâng để xây dựng, lắp đặt các loại bơm như bơm va, bơm thuỷ luân là phù hợp, vì công nghệ này chưa được sử dụng rộng rãi nên còn nhiều địa điểm có thể tận dụng được. Ngoài những công trình xây dựng mới, thì ngay trong hệ thống thuỷ lợi đã có cũng có thể lợi dụng các bậc nước ở sau đập, ở trên kênh để lắp đặt chúng, góp phần nâng cao hiệu quả tưới và cấp nước sinh hoạt của công trình. Công nghệ này có thể đưa nước lên cao (10-100m) tạo nguồn nước để cấp nước cho vùng đất dốc, cho cây ăn quả, cây công nghiệp, cho nuôi cá, có thể dẫn nước đi xa để cấp nước sinh hoạt. Quy mô công trình vừa và nhỏ, phù hợp với quy mô hộ gia đình ở miền núi, chi phí thấp (dưới 1 triệu đồng cho 1 trạm), người dân có thể tự đầu tư, xây dựng, quản lý vận hành, góp phần xã hội hoá công tác thủy lợi . Hiện nay, Viện KHTL đã nghiên cứu chế tạo được 15 loại bơm thuỷ luân, hợp tác nghiên cứu 4 loại bơm va, có thể đáp ứng rộng rãi nhu cầu phát triển thuỷ lợi miền núi. Từ năm 1998 đến 2001 Viện đã đưa kết quả nghiên cứu này vào sản xuất, góp phần xây mới và cải tạo trên 50 trạm bơm, trong đó có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như Trạm bơm thuỷ luân Tà Xa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 86.
    77 (Sơn La), Hệthống thuỷ lợi Văn Quán (Lạng Sơn) và một số điểm trình diễn ở Tuyên Quang, được địa phương đánh giá cao. Đối với vùng sâu, vùng xa điện lưới quốc gia khó vươn tới được, vì vậy việc tận dụng nguồn thủy năng sẵn có làm thuỷ điện nhỏ là một hướng quan trọng để nâng cao đời sống dân cư ở các bản làng. Thiết bị thuỷ điện nhỏ trước đây phần lớn được nhập khẩu từ nước ngoài, một số thiết bị sản xuất trong nước có chất lượng chưa ổn định nên làm mất lòng tin của các cấp quản lý và người sử dụng. Trong 10 năm gần đây, Viện KHTL đã tập trung nghiên cứu, áp dụng các thành tựu mới về thuỷ điện nhỏ của thế giới và bước đầu đã chế tạo được những thiết bị chính cho thuỷ điện nhỏ với quy mô công suất 5- 200 kW, phục vụ cho quy mô thôn, bản đến quy mô xã miền núi. Đặc biệt trong 2 năm gần đây nhờ áp dụng một số tiến bộ KH&CN nên thiết bị thuỷ điện do Viện nghiên cứu đã đạt trình độ của khu vực. Riêng mảng thiết bị thuỷ điện cực nhỏ, do thiết bị của Trung Quốc giá quá thấp nên sản phẩm của ta chưa cạnh tranh được. Được sự hỗ trợ của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ khoa học, công nghệ và môi trường, Viện đang tập trung nghiên cứu loại thiết bị này nhằm sớm đưa ra các thiết bị chất lượng cao, giá thành thấp, phục vụ cho phát triển miền núi. Ngoài 2 nhóm công nghệ phục vụ cho thuỷ lợi và thuỷ điện nhỏ nêu trên, Viện đang đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao các giải pháp tưới tiên tiến, tưới tiết kiệm cho cây trồng, đặc biệt là cây ăn quả; sử dụng vật liệu mới (vải địa kỹ thuật) để xây dựng bể chứa nước cỡ lớn phục vụ cấp nước sinh hoạt cho vùng cao núi đá; sử dụng vật liệu mới kết hợp vật liệu địa phương để xây dựng hồ chứa nước với chi phí thấp; một số loại bơm phù hợp với địa hình miền núi... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 87.
    78 Để phát triển thuỷ lợi ở các tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn, ngoài các giải pháp về công nghệ, chúng tôi cho rằng còn một số vấn đề khác mà các cơ quan hữu quan và Nhà nước cần quan tâm giải quyết: Đẩy mạnh phổ biến những tiến bộ KH & CN bằng cách xây dựng các mô hình trình diễn, tổ chức các lớp tập huấn và mạng lưới cán bộ chuyển giao kỹ thuật (như mô hình khuyến nông). Với các trạm quy mô hộ gia đình, Nhà nước cần hỗ trợ vật tư (xi măng, sắt thép), thiết bị. Các trạm có quy mô lớn hơn cần được hỗ trợ đầu tư như đầu tư các dự án thuỷ lợi hiện nay, nhưng cần cải tiến phương thức quản lý đầu tư. Cần hỗ trợ các cơ quan nghiên cứu - triển khai để sớm đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất ở miền núi. 3.2. Giải pháp của Nhà nƣớc Để đối phó với tình trạng khan hiếm nước, Việt Nam cần giữ gìn, bảo vệ, bảo tồn nguồn nước, ứng xử hợp lý với tài nguyên nước, nhất là sử dụng nước tiết kiệm và đa mục đích, xây dựng cơ chế bảo đảm điều hòa, phân bổ hợp lý tài nguyên nước, bảo vệ dòng sông và môi trường. Ngoài việc đầu tư, nâng cấp sửa chữa các công trình thuỷ lợi, việc hoàn thiện một số giải pháp về cơ chế chính sách, tổ chức, quản lý công trình, sử dụng nước như sau: 1. Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý khai thác công trình thuỷ lợi theo hướng các công trình phải có chủ “quản lý” thực sự, quản lý kém người chủ phải chịu trách nhiệm về pháp luật và kinh tế. Thực hiện giao đặt hàng với những hệ thống công trình lớn, kết hợp với đấu thầu “quản lý” có điều kiện (về kỹ thuật và tài chính) từng phần việc, từng hạng mục công trình hoặc toàn bộ hệ thống công trình vừa và nhỏ, tiến tới tư nhân hoá, đa dạng hoá công tác quản lý. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 88.
    79 2. Xây dựng các mô hình nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thiết bị tưới tiết kiệm nước phù hợp với từng loại cây trồng, từng vùng khí hậu và từng loại đất: Tưới nhỏ giọt: Là hình thức đưa nước trực tiếp trên mặt đất đến vùng gốc cây trồng một cách liên tục dưới dạng từng giọt nhờ các thiết bị đặc trưng là các vòi tạo giọt. Áp dụng cho vùng đất có địa hình phức tạp, khan hiếm nước, gió thổi mạnh, tưới cho các cây trồng có giá trị kinh tế cao, đòi hỏi cấp nước thường xuyên ở mức nhỏ. Tưới phun mưa: Là hình thức tưới nước cho cây trồng dưới dạng hạt mưa. Áp dụng cho vùng đất có độ thấm ít, cho các loại cây trồng mềm yếu có giá trị kinh tế cao. Tưới ngầm: Là hình thức đưa nước trực tiếp vào bộ rễ cây trồng. Áp dụng cho các vùng đất có khả năng mao dẫn tốt, đất thịt, thịt pha cát, kết cấu đất vào loại trung bình, có khí hậu khô hạn, thường xuyên có gió lớn 3. Tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật thuỷ lợi, nông nghiệp đến tận bà con nông dân, đặc biệt là kỹ thuật tưới tiêu phù hợp với yêu cầu nước theo từng thời đoạn sinh trưởng của cây trồng, đặc biết đối với tưới lúa, để người nông dân hiểu và biết cách sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Nâng cao hiệu quả sử dụng nước Một là, đẩy mạnh xã hội hoá, phát triển mạnh mẽ thị trường nước sạch và vệ sinh nông thôn. Xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch &VSMTNT, huy động sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội, các thành phần kinh tế nhất là khu vực nhân dân đầu tư phát triển cấp nước sạch &VSMTNT. Nhà nước khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế thông qua các cơ chế chính sách đảm bảo nguyên tắc các thành phần kinh tế được coi trọng và đối xử bình đẳng. Hai là, công tác thông tin- giáo dục- truyền thông phải được tăng cường và tiến hành thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức khác nhau, như: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 89.
    80 truyền thông trựctiếp, truyền thông đại chúng, tiếp thị xã hội nhằm nâng cao nhận thức của người dân và các cấp chính quyền, khuyến khích người dân đầu tư, tham gia bảo vệ và sử dụng nước sạch và nhà vệ sinh. Ba là, đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch, xây dựng, rà soát, đánh giá, bổ sung, cập nhật quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết về cấp nước và VSMTNT làm cơ sở xây dựng kế họach phát triển 5 năm và hàng năm. Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch theo phương pháp kế hoạch hoá. Việc xây dựng kế hoạch của chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn phải căn cứ vào nhu cầu của người dân và được tiến hành theo lịch trình 5 năm và hàng năm phải xuất phát từ cơ sở để đảm bảo tính khả thi cao. Tăng cường việc phân cấp quản lý để đảm bảo các tỉnh chủ động trong vịêc lập kế hoạch, triển khai và quản lý các công trình cấp nước sạch &VSMTNT, đồng thời có cơ chế kiểm tra, giám sát để đảm bảo thực hịên có hiệu quả. Bốn là, chủ trọng phát triển khoa học công nghệ, nghiên cứu và phát triển theo hướng đa dạng hoá các loại hình công nghệ khai thác, sử dụng nguồn nước hợp lý và nâng cao chất lựơng nứơc phù hợp với điều kịên tự nhiên- kinh tế- xã hội của từng vùng, đảm bảo nguyên tắc bền vững. Ưu tiên tìm kiếm và tận dụng các nguồn nước ổn định với các vùng đặc biệt khó khăn ( vùng thường xuyên hạn hán, lũ lụt, vùng núi cao, hải đảo…); cấp nước tập trung cho nhũng vùng dân cư đông và tập trung; nâng cấp, mở rộng các công trình cấp nước hịên có. Năm là, quản lý chặt chẽ đầu tư xây dựng, khai thác và bảo vệ công trình cấp nước. Việc đầu tư xây dựng phải tuân thủ quy họach, kế hoạch, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các quy định hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng; đảm bảo công trình được đầu tư đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng giá trị và bền vững. Vịêc xác định dự án, công trình xuất phát từ nhu cầu của người dân, đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công khai, người dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 90.
    81 được tham giangay từ khâu lập kế hoạch, chuẩn bị đầu tư, lựa chọn công nghệ và giám sát thực hiện xây dựng công trình. Phương thức quản lý và chủ sở hữu công trình sau xây dựng phải đựơc xác định ngay từ khi lập dự án, đặc biệt cơ chế tài chính được thiết lập phù hợp với quy mô công trình và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương đảm bảo phát triển bền vững. Khuyến khích việc phân cấp quản lý đầu tư bằng ngân sách Nhà nước cho tổ chức trực tiếp khai thác công trình. Giá nước phải được tính toán đúng, tính đủ các chi phí sản xuất, đảm bảo cho các tổ chức và cá nhân làm dịch vụ khai thác, các nhà đầu tư tự chủ về tài chính trong hoạt động kinh doanh. Trường hợp giá nước tiêu thụ thấp hơn giá thành, phải xác định nguồn kinh phí hỗ trợ. Người sử dụng nước có trách nhịêm và nghĩa vụ trả tiền nứơc theo số lựơng sử dụng thực tế và giá nước quy định. Sáu là, đa dạng hoá nguồn kinh phí, trong đó xã hội hoá nguồn lực tài chính làm trong tâm bằng cách vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích sự tham gia của nhân dân, các thành phần kinh tế và toàn xã hội đầu tư vào nứơc sạch &VSMTNT. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để thu hút thêm nguồn vốn đầu tư. Đồng thời, mở rộng thị trường nước sạch và VSMTNT thông qua vốn vay ưu đãi của nhà nước và quốc tế cho các vùng kinh tế phát triển và các vùng đồng bằng, giảm dần vốn ngân sách cho các vùng này để tập trung ưu tiên cho các vùng miền núi, vùng khó khăn và các vùng thường xuyên bị thiên tai. Với các giải pháp xây dựng mới công trình thuỷ lợi là rất tốn kém, trong khi đó rất nhiều công trình đã có lại chưa phát huy hết năng lực. Giải pháp về sửa chữa nâng cấp công trình hiện có, đi đôi với việc đổi mới công tác quản lý, nâng cao hiệu quả công trình, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, sử dụng nước tiết kiệm thông qua việc xây dựng mô Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 91.
    82 hình điểm đểnhân rộng sẽ đòi hỏi chi phí không cao nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội rất lớn. Đây là hướng đi đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo thực hiện. 3.3. Giải pháp sử dụng nguồn nƣớc cho xã Tân Lập - Chợ Đồn - Bắc Kạn 3.3.1. Giải pháp của UBND xã Tân Lập 3.3.1.1. Giải pháp cho khu khực tiếp cận tốt nguồn nước Phát triển và bảo vệ tốt các công trình thuỷ lợi, cần tăng cường vai trò của chính quyền cơ sở, bởi các điều kịên về nguồn lực, kỹ thuật về cấp nước công tác vận hành- bảo dưỡng các công trình nước sạch và vệ sinh diễn ra thường xuyên và lâu dài trong phạm vi quản lý của người dân và chính quyền địa phương. Các họat động cấp nước và VSMTNT chỉ có thể thành công và bền vững nếu có sự liên kết chặt chẽ với chính quyền cơ sở và sự phối hợp của các cơ quan chức năng liên quan. Những năm qua, vấn đề xói mòn, suy thoái đất tại vùng trung tâm xã, nơi có điều liện thuận lợi nhất trong việc tiếp cận nguồn nước, do tác động của điều kiện tự nhiên và nạn phá rừng, cũng như các hoạt động canh tác nông nghiệp không phù hợp trên đất dốc diễn ra với tốc độ nhanh, trong khi vùng đồng bằng thích hợp cho cây hoa màu lương thực ngắn ngày trên thực tế đã được khai thác tới hạn. Do vậy, việc phát triển nông lâm nghiệp trong những năm tiếp theo phụ thuộc phần lớn vào vấn đề quản lý sử dụng hiệu quả và lâu bền quỹ đất đồi núi vốn đang rất đa dạng, giàu tiềm năng, nhưng vấn đề mấu chốt tiếp cận và sử dụng nguồn nước để phát triển nông nghiệp là giải quyết nước tưới cho cây trồng và hạn chế chống xói mòn đất. Là vùng có thuận lợi về tiếp cận nguồn nước, nhưng còn gặp nhiều khó khăn do phải hứng chịu những thiên tai từ thiên nhiên, cần xây các bể chứa nước nhỏ. Dòng suối chảy qua trung tâm xã cần có các guồng quay dẫn nước Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 92.
    83 từ suối thấplên các kênh mương hoặch ống dẫn nước để đến được với diện tích cần tưới nước, đầu tư máy móc phục vụ tưới tiêu. Xây dựng kè chống xói dọc bờ sông, chống hiện tượng xói mòn, làm mất diện tích đất canh tác. Hiện tại các vùng đồi núi nước ta nói chung và vùng khó khăn nhất về tiếp cận nguồn nước của xã Tân Lập, hầu hết hệ thống công trình thuỷ lợi nhỏ, mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu nước cho phát triển nông nghiệp. Những khu vực đất dốc giàu tiềm năng trồng cây ăn quả thường nằm ngoài phạm vi phục vụ của các hệ thống thuỷ lợi. Phát triển hệ thống tưới cho các khu vực này thường không khả thi, hoặc nếu có thể thì chi phí đầu tư xây dựng cũng như vận hành và quản lý sẽ rất lớn và không mang lại lợi nhuận. Do vậy, giải pháp có chi phí thấp - giải pháp thu trữ nước có nhiều ưu điểm, thích hợp với vùng đất này là một giải pháp tốt. Thu trữ nước là giải pháp tạo nguồn nước tưới hiệu quả cho những vùng có điều kiện tiếp cận nguồn nước khó khăn nhất, không thể xây dựng được công trình thuỷ lợi, đặc biệt thích hợp với những vùng trồng cây ăn quả và cây công nghiệp trên các vùng đất dốc. Việc ứng dụng giải pháp này vừa giải quyết được nguồn nước vào mùa khô vừa có tác dụng hạn chế xói mòn, rửa trôi đất và các chất dinh dưỡng. Hệ thống thu trữ nước có kết cấu đơn giản, rất dễ áp dụng và nhân rộng. Trong các hạng mục của hệ thống thu trữ nước, bể chứa chiếm tỷ lệ kinh phí lớn nhất. Do đó, chính quyền UBND xã Tân lập cần đưa một số loại vật liệu như gạch xây, xi măng đất, bê tông vỏ mỏng vào thử nghiệm, bởi bể chứa bằng bê tông vỏ mỏng có giá thành thấp nhất. Hình thức bể này đang được kiến nghị đưa vào ứng dụng đại trà cho vùng trung du và miền núi phía Bắc. Khu vực không thuận lợi và rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước, chính quyền địa phương cần có những giải pháp chung và đồng bộ, vì đều có những khó khăn giống nhau như, xa nguồn nước, chưa được sử dụng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 93.
    84 hệ thông kênhmương thuỷ lợi, cùng nằm ở địa hình cao và dốc, không có các công trình chứa nước như ao, hồ và bể chứa nước, vì vậy cần đầu từ xây dựng các hồ chứa nước tự nhiên phù hợp để tránh lẵng phí. Cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa của chính quyền địa phương trong việc đầu tư nâng cấp hệ thống thuỷ lợi, định hướng phát triển kinh tế phù hợp với vùng. Sử dụng nguồn nước một cách hợp lý, phân bố cây trồng phù hợp, ví dụ trồng các loại cây có khả năng chịu hạn cao… Một số giải pháp về giữ nước và sử dụng nước Một là, phải tính đến những giải pháp giữ nước, giữ tại chỗ, giữ từng chặng, triệt để hạn chế lượng nước mưa chảy ra biển. Ðịa hình phần lớn của huyện Chợ Đồn và xã Tân Lập là đều có độ dốc đổ ra Biển Ðông, nếu không có những giải pháp giữ nước thì sau mỗi trận mưa tạo dòng chảy trên mặt đất chiếm tới 90% lượng nước mưa, làm xói mòn đất mùn và lượng nước mưa quý hiếm đó nhanh chóng theo sông chảy ra biển. Các giải pháp giữ nước tại chỗ và từng chặng bao gồm tích trữ nước mặt, tăng lượng nước ngầm. Tổng thể các giải pháp là một hệ thống hoàn chỉnh chia nhiều bước, thực hiện trong nhiều năm; nhỏ và dễ làm trước, to và khó làm sau, tùy theo khả năng huy động nhân lực, sự hỗ trợ của dân và Nhà nước. Trước mắt cần tổ chức một chương trình nghiên cứu xây dựng hệ thống giải pháp được bố trí thành hệ thống kế hoạch, chia bước hằng năm, góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm sản xuất bền vững và ổn định đời sống nhân dân. Mỗi khi tạo được các công trình trữ nước lớn, nhỏ hay các đập tràn dâng mức nước, cần có kế hoạch sử dụng có hiệu quả nguồn nước mới được tạo nên, lấy hiệu quả kinh tế của bản thân nó để tạo điều kiện thực hiện tiếp kế hoạch của giai đoạn sau. Hai là, sử dụng nước hợp lý, phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Cần hình thành một chương trình nghiên cứu khoa học để làm cơ sở phân phối nguồn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 94.
    85 nước quý hiếmnày cho các lĩnh vực sử dụng như: Sinh hoạt, tưới tiêu, phát triển cây trồng phù hợp với vùng. Ba là, chống ô nhiễm nguồn nước sạch và tái sinh nước đã sử dụng. Hiện tượng tại huyện Chợ Đồn hiện nay là sử dụng nước lãng phí và làm ô nhiễm nguồn nước, do huyện có một số công ty khai thác khoáng sản và khai thác quặng đồng thời nước thải không xử lý càng làm tăng mức độ ô nhiễm nguồn nước sạch. Là tiếng chuông cảnh báo, chúng ta cần khẩn trương tiến hành các giải pháp khả thi để bảo vệ các nguồn nước ngọt quý. Nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài là tăng cường tuyên truyền, nâng cao dân trí về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước sạch, thực hiện các biện pháp chống ô nhiễm nguồn nước sạch và tái sinh nước thải trong sinh hoạt cũng như trong các lĩnh vực sản xuất để quay vòng sử dụng. Ba giải pháp trên bao gồm một hệ thống các giải pháp mang tính tổng hợp, cần được tiến hành đồng bộ mới đạt được yêu cầu hỗ trợ lẫn nhau, chi phí thấp, hiệu quả cao. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tìm nguồn nước ngầm cho vùng núi cao, xây lu chứa và bể chứa nước để chứa nước mưa. Nhưng thực tế cho thấy, trong thời gian ngắn nếu không có mưa thì nước cũng bôc hơi hết. vì vậy giải pháp tìm nguồn nước ngầm là vô cùng quan trọng đối với vùng cao khó khăn về tiếp cận nguồn nước. Việc xây dựng các đường dẫn nước tự chảy từ các mỏ nước sẽ rất lợi, nếu các mỏ nước tồn tại lâu dài. Đa số diện tích ở vùng này là đất đồi núi dốc, vấn đề xói mòn, suy thoái đất canh tác do tác động của điều kiện tự nhiên va nạn phá rừng cũng như các hoạt động canh tác nông nghiệp không phù hợp trên đất dốc diễn ra với tốc độ nhanh. Vì vậy vấn đề hạn chế xói mòn và giải quyết nước tưới cho cây trồng là vấn đề mấu chốt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 95.
    86 3.3.2. Giải phápcho khu vực có điều kiện trung bình về nguồn nước Để tạo điều kịên cho người dân nông thôn tiếp cận đựơc với nước sạch và điều kiện vệ sinh tốt, Nhà nước và chính quyền địa phương cần phải ưu tiên cải thiện điều kiện cấp nước và vệ sinh cho người nghèo, khu vực nghèo và giải quyết đồng bộ các yếu tố xây dựng, quản lý, công nghệ, nâng cao năng lực cộng đồng và thông tin, giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức. Đồng thời thực hịên chủ trương tiếp cận dựa theo nhu cầu và phân cấp quản lý, thực hiện công tác cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn một cách mạnh mẽ hơn, trong đó đặc biệt chú trọng vào việc trao quyền cho cộng đồng và lấy cộng đồng làm trọng tâm. Tiếp tục đầu tư cho việc xây dựng các kênh mương còn dang dở, kiên cố hoá kênh mương, tránh tình trạng nước không đến được với những diện tích cần tưới tiêu, tránh tình trạng nước bị thấm do mương chưa được xây kiên cố hoá. Là khu vực có điều kiện thuận lợi về nguồn nước, mặc dù chưa thật sự có điều kiện tốt nhất về tiếp cận nguồn nước, nhưng là một vùng có nguồn nước dồi dào và có điều kiện thuận lợi. Vùng đã được hưởng hệ thống kênh mương thuỷ lợi, nhưng do còn một số chỗ kênh mương còn thấp hơn mặt ruộng và diện tích cần tưới nước, vì vậy cần có một quy hoạch đồng bộ, tránh tình trạng diện tích cần tưới nước gần hệ thống thủy lợi, nhưng không thật sự thuận tiện khi tiếp cận với nguồn nước đó. 3.3.3. Giải pháp cho khu vực không thuận lợi trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn nước Những năm qua, vấn đề xói mòn, suy thoái đất tại vùng trung du miền núi do tác động của điều kiện tự nhiên và nạn phá rừng, cũng như các hoạt động canh tác nông nghiệp không phù hợp trên đất dốc diễn ra với tốc độ nhanh, trong khi vùng đồng bằng thích hợp cho cây hoa màu lương thực ngắn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 96.
    87 ngày trên thựctế đã được khai thác tới hạn. Do vậy, chính quyền địa phương cần chú trọng việc đầu tư hệ thống kênh mương thuỷ lợi, các đường ống dẫn nước, phát triển nông lâm nghiệp trong những thập kỷ tiếp theo phụ thuộc phần lớn vào vấn đề quản lý sử dụng hiệu quả và lâu bền quỹ đất đồi núi vốn đang rất đa dạng, giàu tiềm năng, nhưng vấn đề mấu chốt để phát triển nông nghiệp miền núi là giải quyết nước tưới cho cây trồng và hạn chế chống xói mòn đất. Với nguồn kinh phí của một xã nghèo, xây các bể chứa lớn là khó thực hiện, vì vậy, xây các bể chứa nhỏ bằng vật liệu xây dựng (xi măng, đá, cát, sỏi, sắt, thép) sẽ tiết kiệm được chi phi và tăng khả năng giữu nước cho vùng này. Xây dựng các trạm bơm nhỏ để bơm nước lên bể chứa theo các đường ống dẫn trong trường hợp mừa khô, lượng mưa ít. Xây dựng kiên cố hệ thống kênh mương, tránh tình trạng thấm nước. 3.3.4. Giải pháp của các nhóm hộ nông dân xã Tân Lập Kết hợp với chính quyền địa phương, góp sức cùng chính quyền đầu tư và xây dựng hệ thống kênh mương, xây dựng lắp đặt các đường ống dẫn nước nhỏ từ vùng thuận lợi lên vùng khó khăn, tưới phun đối với vùng triền đồi cao. Bên cạnh đó cần tăng cường bảo vệ, tu sửa hệ thống kênh mương, đuờng ống dẫn nước, kiểm tra và khơi thông hệ thống dẫn nước. Đối với vùng thuận lợi, còn một số vùng, các hộ nông dân ở cao hơn hệ thống kênh mương, dùng biện pháp tát nước bằng gầu lên mương, dùng ống dẫn nước vào diện tích cần tưới tiêu. Đối với các hộ khó khăn về nguồn nước, biện pháp giữ nước là vô cùng quan trọng, xây các bể chứa nước nhỏ hoặc chứa nước bằng các lu chứa nước sẽ với chi phí ít hơn. Mặt khác, tranh thủ sự đầu tư của của Nhà nước cũng như của chính quyền địa phương để tiếp cận tốt hơn nữa nguồn nước, để tăng thu nhập của mình. Ngoài ra cũng cần có chiến lược và định hướng đúng đắn đối với việc canh tác và trồng loại cây thích hợp với vùng đất canh tác, để đạt được năng suất cao. Bên cạnh đó còn cần có giải pháp mang tính cộng đồng, trồng rừng để giữ nước đầu nguồn, tạo nguồn nước mạch và độ màu mỡ cho đất trồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 97.
    88 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, vì vậy việc quan tâm của các cấp các ngành trong nước đã có nhiều sự quan tâm và đầu tư lớn trong việc phát triển nông nghiệp bền vững, các chính sách khuyến khích, hỗ trợ và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn nước, phát triển sản xuất nông nghiệp, đưa nền kinh tế chúng ta phát triển cùng khu vực. Trong quá trình thực hiện Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng việc tiếp cận nguồn nước tác động đến thu nhập của người nông dân xã Tân Lập, từ số liệu điều tra thực tế, Luận văn rút ra một số kết luận sau: 1. Trong những năm qua, cùng với sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, sự phấn đấu nỗ lực của chính quyền địa phương và sự vươn lên khắc phục những khó khăn của người dân, việc nâng cao khả năng tiếp cận nguồn nước đã và đang dần được cải thiện, với nhiều điều đã đạt đươc trong phát triển nông nghiệp của địa phương. Tuy nhiên, bên bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại cần tháo gỡ, chính vì vậy vẫn cần có những nghiên cứu chi tiết hơn, cụ thể hơn nữa về vấn đề nâng cao khả năng được tiếp cận với nguồn nước, và đề ra những giả pháp mang tính tổng thể hơn. 2. Tân Lập là một xã miền núi vùng sâu, vùng xa của huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn. Đời sống nhân dân còn nghèo nàn, lạc hậu, giao thông đi lại giữa các vùng còn khó khăn, kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp. Sạt lở bờ sông khu vực trung tâm xã Tân Lập sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, đời sống vật chất, tinh thần, đất đai, ruộng vườn của người dân, cũng như các cơ sở hạ tầng quan trọng của xã như đường giao thông liên thôn, đường điện, năng suất, thu nhập từ sản phẩm nông nghiệp…Do đó việc xây dựng các kề chống xói lở là vô cùng cần thiết. 3. Với điều kiện về nguồn nước khá dồi dào, nhưng do phân bố không đều, cơ sở hạ tầng còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu nước tưới tiêu cho Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 98.
    89 người dân. Nhưngvới sự cố gắng khắc phục khó khăn, cố gắng tiếp cận và sử dụng nguồn nước để cải thiện thu nhập, đã phần nào tác động ít nhiều đến thu nhập người dân trên địa bàn. Các vùng có điều kiện tiếp cận nguồn nước khác nhau đã biết canh tác các loại cây trồng phù hợp để có thu nhập. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, phân tích cho thấy một thực tế, tại khu vực tiếp cận nguồn nước tôt nhất thu nhập từ lúa lại chưa cao do một số nguyên nhân như: diện tích đất canh tác nhỏ, chịu ảnh hưởng nặng của thiên tai. Những vùng khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước không canh tác được nhiều loại cây trồng. Các cấp lãnh đạo cần có sự quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa cho huyện Chợ Đồn nói chung và xã Tân Lập nói riêng. Là một xã vùng sâu vùng xa, giao thông đi lại khó khăn, tiềm lực kinh tế yếu kém, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, giao thương nhỏ lẻ, chưa có chợ, nền kinh tế của xã chủ yếu là nông nghiệp. Nhưng điều kiện để phát triển sản xuất nông nghiệp còn rất hạn chế, điều kiện để tiếp cận và sử dụng nguồn nước còn khó khăn, bên cạnh những yếu tố chủ quan còn có những yếu tố khách quan như thiên nhiên, lũ lụt, làm xói mòn đất đai canh tác, làm giảm năng suất, cho dù đó là vùng có thuận lợi về tiếp cận nguồn nước. Theo tài liệu của xã, xã còn 1 thôn chưa có điện lưới quốc gia để phục vụ cho cuộc sống, trong khi đó lại là thôn vùng cao, khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước. Với các giải pháp đầu tư xây dựng và cải tao mới công trình thuỷ lợi là rất tốn kém, với nguồn ngân sách hạn hẹp, trong khi đó rất nhiều công trình đã có lại chưa phát huy hết năng lực. Giải pháp về sửa chữa nâng cấp công trình hiện có, đi đôi với việc đổi mới công tác quản lý, nâng cao hiệu quả công trình, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, sử dụng nước tiết kiệm thông qua việc xây dựng mô hình điểm để nhân rộng sẽ đòi hỏi chi phí không cao nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội rất lớn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 99.
    90 4. Đề tài hoàn thành thể hiện sự cố gắng của tác giả trong quá trình học tập, tích luỹ kinh nghiệm cũng như quá trình nghiên cứu thực tế. Có thể nói, đề tài đã thu được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, do thời gian và trình độ có hạn, cũng như để phù hợp với cấp độ một Luận văn thạc sỹ, bản thân tác giả cũng nhận thấy một số điểm hạn chế: Công trình nghiên cứu khoa học mới dừng lại ở phân tích sự ảnh hưởng của việc tiếp cận nguồn nước ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân từ nông nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 100.
    91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Quyền Đình Hà (2004), Kinh tế phát triển nông thôn, Trường Đại học nông nghiệp I, Hà Nội. 2. PGS. TS. Phạm Ngọc Hải, GS. TS. Tống Đức Khang, GS. TS. Bùi Hiếu, TS. Phạm Việt Hoà (2007), Giáo trình quy hoạch và thiết kế hệ thống huỷ lợi, Nxb Xây dựng, Hà Nội. 3. Hội khoa học kinh tế nông – lâm nghiệp (2000), Giáo trình kinh tế và chính sách đất đai ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 4. Đỗ Hồng Phấn (2007), “Xin đừng lãng phí nước mưa”, Báo TTXVN 5. Nguyễn Quang Phi (2006), Nghiên cứu điển hình quy hoạch hệ thống thuỷ lợi 6. Đặng Đình Quang (2002), Đổi mới ở vùng Miền núi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 7. TS. Đỗ Anh Tài, TS. Nguyễn Minh Thọ, ThS. Nguyễn Thị Bình, Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn miền Bắc Việt Nam. 8. Đặng Lim Vui, Nguyễn Thế Đặng, Trần Ngọc Ngoạn, Lương Văn Hinh, Nguyễn Ngọc Nông, Nguyễn Hữu Hồng, Nguyễn Thị Minh Thọ, Nguyễn Thị Thắc, (2002), Một số phương pháp tiếp cận và phát triển nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 9. Báo cáo thống kê UBND xã Tân Lập năm 2007 10. Báo cáo tình hình phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn năm 2007, Sở Nông nghiệp & PTNT Bắc Kạn. 11. Báo cáo của Hội Nước Quốc tế (IWRA) 12. Báo cáo của Cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam 13. Niên giám thống kê huyện Chợ Đồn năm 2003 - 2007 14. Tạp chí Tài nguyên và Môi truờng tháng 5 - 2008. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 101.
    92 PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 102.
    93 PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ NÔNG DÂN PhiÕu sè:................... Th«n:……………….X·:………………...M·........ HuyÖn: .............. Hä vµ tªn ng-êi pháng vÊn:........................................... M·................................... I. Th«ng tin chung vÒ hé n«ng d©n 1. Hä vµ tªn chñ hé:.......................................... Giíi tÝnh  (nam: 0 ; n÷:1) - Ngµy th¸ng n¨m sinh chñ hé:……………………….. - Tr×nh ®é v¨n ho¸ chñ hé: líp:…………………… - D©n téc cña chñ hé  (Kinh: 0; Tµy: 1; Dao: 2; Nïng: 3; M«ng: 4; Kh¸c: 5) 2. Nh©n khÈu cña hé 2.1. Tæng nh©n khÈu:……………….. ng­êi Trong ®ã: sè nh©n khÈu lµ nam:……………. Ng­êi Sè nh©n khÈu lµ n÷:……………… ng­êi 2.2. Lao ®éng cña hé:……………………… lao ®éng Trong ®ã: sè lao ®éng lµ nam:………………. Lao ®éng Sè lao ®éng lµ n÷:………………… lao ®éng Sè nh©n khÈu ngoµi ®é tuæi lao ®éng cã tham gia lao ®éng..... ng-êi? - Trªn 60 tuæi...... ng-êi? - D-íi 18 tuæi ...... ng-êi? 2.4. Ph©n lo¹i hé theo nghÒ nghiÖp - Hé thuÇn n«ng:  - Hé n«ng nghiÖp kiªm TTCN:  - Hé NN kiªm DÞch vô:  - Hé kh¸c:.................................. 3. Nh÷ng tµi s¶n chñ yÕu cña hé 3.1. Nhµ ë Nhµ kiªn cè:  Nhµ b¸n kiªn cè  Nhµ t¹m  Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 103.
    94 4. §Êt ®aicña hé Lo¹i ®Êt §VT DiÖn tÝch Thuû lîi C©y trång Ghi chó Tæng diÖn tÝch cña hé * 1. §Êt thæ c- 2. §Êt v-ên nhµ 3. §Êt trång c©y hµng n¨m M¶nh 1 M¶nh 2 M¶nh 3 M¶nh 4 M¶nh 5 M¶nh 6 M¶nh 7 M¶nh 8 4. §Êt trång c©y l©u n¨m -§Êt trång chÌ -§Êt trång c©y ¨n qu¶ 5. §Êt v-ên rõng 6. §Êt ao, hå 7. §Êt kh¸c *: Chñ ®éng: 1 kh«ng chñ ®éng: 2 Ghi chó: 1: mét vô; 2: hai vô; 3: 3 vô Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 104.
    95 5. Tµi s¶nphôc vô s¶n xuÊt cña hé Tµi s¶n Sè l-îng Gi¸ trÞ M¸y kÐo M¸y cµy M¸y b¬m M¸y xay x¸t M¸y tuèt lóa M¸y kh¸c Cµy, bõa M¸y tuèt lóa thñ c«ng Tr©u bß cµy kÐo Lîn n¸i Chuång tr¹i ch¨n nu«i Tµi s¶n kh¸c 6. Thu nhËp vµ vèn cña hé gia ®×nh -Thu nhËp hµng n¨m cña hé:............................................................ ® -Vèn cña hé gia ®×nh vµo thêi ®iÓm ®Çu n¨m:..................................® -TiÒn göi tiÕt kiÖm cña hé gia ®×nh:...................................................® II. KÕt qu¶ s¶n xuÊt cña hé gia ®×nh 1. KÕt qu¶ s¶n xuÊt ngµnh trång trät DiÖn L-îng NS SL Gi¸ C©y trång tÝch b¸n (t¹/sµo) (t¹) (1000®/kg) (m2) (kg) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 105.
    96 2. Thu tõngµnh ch¨n nu«i Sè ®Çu gia Träng Tæng träng L-îng Gi¸ VËt nu«i sóc, gia cÇm l-îng BQ l-îng b¸n (1000®/kg) (con) (kg) (kg) (kg) -Lîn thÞt -Lîn con -Gµ -VÞt -Tr©u -Bß - C¸ (TÝnh trong mét n¨m; riªng tr©u bß ®¬n vÞ tÝnh lµ con) 3. Thu tõ ho¹t ®éng l©m nghiÖp:................................ ® 4. Thu tõ c¸c nguån kh¸c - Thu tõ ho¹t ®éng dÞch vô:.........................® - Thu tõ lµm nghÒ:.......................................® - Thu tõ lµm thuª:........................................® - TiÒn l-¬ng:................................................® - Thu kh¸c:..................................................® Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 106.
    97 III. Chi phÝs¶n xuÊt cña hé 1. Chi phÝ cho s¶n xuÊt trång trät (tÝnh b×nh qu©n cho 1 sµo) Chi phÝ §VT Lóa C©y... C©y... C©y... C©y... C©y... 1. Gièng Kg - Sè ®i mua Kg - Gi¸ 1000®/kg 2. Ph©n bãn - Ph©n chuång T¹ - §¹m Kg - L©n Kg - Kaly Kg - NPK Kg 3. Thuèc trõ s©u 1000® 4. Thuèc diÖt cá 1000® 5. Lao ®éng C«ng - Thuª ngoµi C«ng - Gi¸ 1000®/c«ng 6. Chi phÝ b»ng tiÒn - Thuû lîi phÝ 1000® - DÞch vô lµm ®Êt 1000® - VËn chuyÓn 1000® - Tuèt 1000® - B¶o vÖ ®ång ruéng 1000® - Chi kh¸c 1000® Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 107.
    98 2. Chi phÝcho ch¨n nu«i Lîn Lîn Gia Tr©u, Kho¶n môc §VT C¸ thÞt n¸i cÇm bß 1. Gièng Kg - Gi¸ 1000®/kg 2. Thøc ¨n tinh - G¹o Kg - Ng« Kg - C¸m g¹o Kg - Khoai, s¾n Kg - C¸m tæng hîp Kg + Gi¸ 1000®/kg - Bét c¸ Kg + Gi¸ 1000®/kg - - 3. Thøc ¨n xanh (rau) - Tæng sè Kg + Mua ngoµi Kg + Gi¸ 1000®/kg 4. Chi b»ng tiÒn kh¸c 1000® 5. C«ng lao ®éng C«ng (Ghi chó: tÝnh cho c¶ n¨m hay tÝnh cho mét løa) 3. Chi cho ho¹t ®éng l©m nghiÖp:....................................® 4. Chi cho ho¹t ®éng kh¸c: - Chi cho ho¹t ®éng dÞch vô:.........................® - Chi cho lµm nghÒ:.......................................® - Chi kh¸c......................................................® Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 108.
    99 IV. Th«ng tintham kh¶o vÒ t×nh h×nh thuû lîi vµ sö dông hÖ thèng thuû lîi cña hé gia ®×nh Gia ®×nh cã ®-îc sö dông hÖ thèng thuû lîi?  (cã: 1 ; kh«ng: 0) NÕu cã: hÖ thèng thuû lîi ®· phôc vô tèt ch-a?  (tèt: 1 ; kh«ng: 0) Bao nhiªu % diÖn tÝch cña gia ®×nh ®-îc sö dông thuû lîi? ................. Gia ®×nh cã gÆp khã kh¨n g× trong viÖc tiÕp cËn nguån n-íc? Xin cô thÓ: ............................................................................................................................. ............................................................................................................................. ............................................................................................................................. Thuû lîi phÝ cña gia ®×nh ph¶i tr¶ cao hay thÊp?  (Cao: 1 ; b×nh th-êng: 0) Mçi sµo sö dông gia ®×nh ph¶i tr¶ bao nhiªu? ............................1000® Theo «ng (bµ) ®¸nh gi¸ thÕ nµo vÒ ®iÒu kiÖn thuû lîi cña ®Þa ph-¬ng? ThuËn lîi............................................................................................................. ............................................................................................................................. Khó kh¨n............................................................................................................. ............................................................................................................................. Theo «ng bµ lµm thÕ nµo ®Ó n©ng cao kh¶ n¨ng tiÕp cËn nguån n-íc? ............................................................................................................................. ............................................................................................................................. ............................................................................................................................. ............................................................................................................................. Xin ch©n thµnh c¶m ¬n sù hîp t¸c cña «ng (bµ)! Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn