ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
  TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
         ----------------------------------------------------




                    NGUYỄN THU HẰNG




 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
       Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN




           LU ẬN V ĂN TH ẠC SĨ KINH TẾ




                    THÁI NGUYÊN - 2008
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
  TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
         ----------------------------------------------------




                    NGUYỄN THU HẰNG




 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
       Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN


         CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
                  MÃ SỐ: 60 -31-10



            LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ




  Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ MINH THỌ




                    THÁI NGUYÊN - 2008
i
                                     LỜI CAM ĐOAN

        Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào.
        Mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và
các thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc.


                                                          Tác giả luận văn




                                                          Nguyễn Thu Hằng




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên            http://www.lrc-tnu.edu.vn
ii
                                       LỜI CẢM ƠN

      Trong quá trình hoc tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá
nhân. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
      Cô giáo hướng dẫn luận văn Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thọ và các thầy
cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
      Ban giám hiệu, Khoa sau đại học trường Đại học Kinh tế & Quản trị
Kinh doanh Thái Nguyên.
      Ban lãnh đạo, phòng Tổng hợp Khoa Khoa học Tự nhiên & Xã hội - Đại
học Thái Nguyên.
      Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Thái Nguyên.
      UBND huyện Đồng Hỷ, phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê, phòng
Tài nguyên Môi trường huyện Đồng Hỷ.
      Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ nhiệt tình của các hộ nông dân
ở 3 xã: Hóa Thượng, Khe Mo, Hòa Bình.
      Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp đã tao điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.


                                                  Thái Nguyên, tháng 06 năm 2008
                                                             Tác giả




                                                        Nguyễn Thu Hằng




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                http://www.lrc-tnu.edu.vn
iii
                                           MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 01
2. Mục tiêu của đề tài ................................................................................ 03
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 03
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn ............................................................. 04
5. Bố cục của luận văn .............................................................................. 04
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP
                 NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tồn tại và phát triển kinh tế hộ nông
      dân theo hướng sản xuất hàng hoá...................................................... 05
   1.1.1. Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân ...................... 05
   1.1.2. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ........ 07
   1.1.3. Sản xuất hàng hoá và vai trò của nó trong nông nghiệp ................. 07
   1.1.4. Vai trò của kinh tế hộ sản xuất hàng hoá ....................................... 13
1.2. Tính tất yếu khách quan để chuyển kinh tế hộ nông dân tự cung tự
cấp sang sản xuất hàng hoá ....................................................................... 18
   1.2.1. Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ................................. 18
   1.2.2. Kinh tế hộ nông dân là chủ thể trong sản xuất nông nghiệp............ 19
   1.2.3. Tính tất yếu khách quan để chuyển kinh tế hộ nông dân tự cung
         tự cấp sang sản xuất hàng hoá ....................................................... 24
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá ... 26
   1.3.1. Các yếu tố về điều kiện tự nhiên................................................... 27
   1.3.2. Các nhân tố về điều kiện kinh tế và tổ chức quản lý ...................... 28
   1.3.3. Các nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ ................................. 30
   1.3.4. Các nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nước ........................ 31
1.4. Sơ lược tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất
      hàng hoá ở một số nước và ở Việt Nam .............................................. 32
   1.4.1. Trên thế giới................................................................................ 32
   1.4.2. Ở Việt Nam ................................................................................. 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                           http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv
1.5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 39
   1.5.1. Câu hỏi nghiên cứu...................................................................... 39
   1.5.2. Chọn điểm nghiên cứu ................................................................. 39
   1.5.3. Phương pháp thu thập số liệu ....................................................... 39
   1.5.4. Phương pháp phân tích số liệu...................................................... 41
   1.5.5. Các chỉ tiêu phản ánh trình độ và hiệu quả sản xuất hàng hoá của
           kinh tế hộ nông dân ..................................................................... 42
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN SẢN

                  XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .............................................................. 43
   2.1.1. Điều kiện tự nhiên ....................................................................... 43
   2.1.2. Điều kiện về kinh tế xã hội........................................................... 49
   2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã
           hội ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng
           sản xuất hàng hoá ở Đồng Hỷ ...................................................... 56
2.2. Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở huyện
      Đồng Hỷ Tỉnh Thái Nguyên .............................................................. 58
   2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân trong vùng ..................... 58
   2.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất
           hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ .......................................................... 60
   2.2.3. Tổ chức các hoạt động sản xuất của hộ nông dân .......................... 69
   2.2.4. Kết quả sản xuất của hộ nông dân................................................. 72
   2.2.5. Thu nhập và đời sống của hộ nông dân ......................................... 77
   2.2.6. Phân tích ảnh hưởng của các nguồn lực đến sản xuất hàng hoá
           của hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ ............................................... 85




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                         http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
   2.2.7. Những nhận xét và đánh giá chung trong phát triển kinh tế hộ
           nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ ............ 88
   2.2.8. Ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến sản xuất của hộ ......... 89
   2.2.9. Những nhận xét và đánh giá chung trong phát triển kinh tế hộ
           nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ ............ 91
CHƢƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH
                   TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ THEO HƢỚNG
                   SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
3.1. Quan điểm phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Đồng Hỷ theo
      hướng sản xuất hàng hoá ................................................................... 93
   3.1.1. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá
           nhằm khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã
           hội, bảo vệ môi trường sinh thái và tái tạo nguồn lực..................... 93
   3.1.2. Hình thành và phát triển kinh tế trang trại gia đình là một trong
           những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu trong thời
           gian tới nhằm tăng số lượng hộ nông dân theo hướng SXHH......... 95
   3.1.3. Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá phải gắn với
           quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, với qúa trình CNH, HĐH
           nông nghiệp nông thôn, với quá trình hội nhập vào nền kinh tế
           cả nước và nước ngoài ................................................................. 96
   3.1.4. Phát huy nội lực, tạo bước phát triển mới trong kinh tế hộ nhằm
           thu hút các nguồn lực bên ngoài để tạo điều kiện cho hộ nông
           dân sản xuất hàng hoá .................................................................. 97
3.2. Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng
      sản xuất hàng hoá .............................................................................. 98
   3.2.1. Mục tiêu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ....98
   3.2.2. Định hướng phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá........ 99



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                          http://www.lrc-tnu.edu.vn
vi
3.3. Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân nông
       dân trong vùng theo hướng sản xuất hàng hoá ...................................105
   3.3.1. Giải pháp chung .........................................................................105
   3.3.2. Giải pháp cụ thể đối với hộ nông dân...........................................116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận ..................................................................................................117
Kiến nghị ................................................................................................118
TÀI LIỆU THAM KHẢO




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                              http://www.lrc-tnu.edu.vn
vii
                             DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện Đồng Hỷ năm 2007 ........... 46
Bảng 2.2. Tình hình nhân khẩu và lao động của Huyện Đồng hỷ qua
            3 năm (2005-2007) ...................................................................... 51
Bảng 2.3. Kết quả sản xuất các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ giai đoạn
            (2005-2007) ................................................................................ 55
Bảng 2.4. Cơ cấu loại hình hộ nông dân sản xuất hàng hóa ở các vùng điều tra ........... 59
Bảng 2.5. Tình hình chủ hộ nông dân điều tra năm 2007 ............................. 60
Bảng 2.6. Cơ cấu đất đai của hộ điều tra năm 2007 ..................................... 62
Bảng 2.7. Một số chỉ tiêu về hộ điều tra theo thu nhập 2007 ........................ 63
Bảng 2.8. Cơ cấu lao động trong độ tuổi của các hộ nông dân năm 2007 ...... 63
Bảng 2.9. Trình độ học vấn của chủ hộ điều tra ở vùng nghiên cứu năm 2007........ 64
Bảng 2.10.Vốn bình quân của nông hộ điều tra năm 2007 theo
            vùng nghiên cứu ........................................................... 66
Bảng 2.11. Quy mô vốn bình quân của hộ nông dân tại thời điểm điều tra ............. 66
Bảng 2.12. TLSX chủ yếu bình quân của hộ nông dân năm 2007 theo
            quy mô sản xuất hàng hoá............................................................ 68
Bảng 2.13. Cơ cấu các nhóm hộ nông dân theo hướng SXKD chính ........... 67
Bảng 2.14. Quy mô và cơ cấu chi phí sản xuất nông lâm nghiệp của hộ
            nông dân điều tra năm 2007 ......................................................... 69
Bảng 2.15. Tổng thu từ sản xuất nông - lâm nghiệp ở hộ điều tra ................. 73
Bảng 2.16. Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân ở hộ
            nông dân điều tra năm 2007 ......................................................... 76
Bảng 2.17. Tổng thu nhập bình quân từ sản xuất nông lâm nghiệp của
            hộ điều tra................................................................................... 79



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                            http://www.lrc-tnu.edu.vn
viii
Bảng 2.18. Tình hình thu nhập của hộ nông dân điều tra năm 2007 ..............................81
Bảng 2.19. Mức thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu của hộ
            nông dân điều tra ......................................................................... 83
Bảng 2.20. Kết quả phân tích hàm Cobb - Douglas ở vùng nghiên cứu ........ 85
Bảng 2.21. Phương thức tiêu thụ một số sản phẩm của hộ nông dân
            vùng nghiên cứu năm 2007 .......................................................... 88
Bảng 2.22. Ảnh hưởng các yếu tố đến sản xuất hàng hoá của hộ nông
            dân ở vùng điều tra năm 2007. ..................................................... 90




                  DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ




Sơ đồ 1.1. Ảnh hưởng của các yếu tố đến hộ nông dân sản xuất hàng hoá ... 32
Biểu đồ 2.1. Giá trị gia tăng của các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ ............ 55
Đồ thị 2.2. Cơ cấu thu nhập từ sản xuất nông lâm nghiệp ........................... 78




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                          http://www.lrc-tnu.edu.vn
ix
               DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT


       TT              Ký hiệu viết tắt                           Nghĩa
        1                 TMDV                    Thương mại dịch vụ
        2                  CNXD                   Công nghiệp xây dựng
        3                   ĐVT                   Đơn vị tính
        4                  NLTS                   Nông lâm thuỷ sản
        5                   BQ                    Bình quân
        6                  NNDV                   Nông nghiệp dịch vụ
        7                  NLKH                   Nông lâm kết hợp
        8                   TN                    Thuần nông
        9                  SXKD                   Sản xuất kinh doanh
       10                  SXHH                   Sản xuất hàng hoá
       11                  CPSX                   Chi phí sản xuất
       12                    SL                   Sản lượng
       13                GTSPHH                   Giá trị sản phẩm hàng hoá
       14                   TN                    Thu nhập
       15                   NLN                   Nông lâm nghiệp
       16                   LĐ                    Lao động
       17                  TLSX                   Tư liệu sản xuất
       18                    TB                   Trung bình
       19                   HH                    Hàng hoá
       20               CNH-HĐH                   Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
       21                   HTX                   Hợp tác xã




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHỤ LỤC
Phụ bảng số 01. Thu nhập từ ngoài sản xuất nông lâm nghiệp của hộ điều tra
                                                                   Đơn vị tính: triệu đồng
                                   Tổng thu                      Trong đó
       Phân loại hộ                nhập phi           CN chế   Dịch vụ      LĐ làm        Thu
                                       NN              biến     NN            thuê        khác
 Bình quân chung           2,939                      0,553     0,821        0,422       1,143
 1. Theo vùng
 - Xã Hóa Thượng           3,275                      0,868     0,825        0,451       1,131
 - Xã Khe Mo               2,806                      0,412     0,798        0,411       1,185
 - Xã Hoà Bình             2,736                      0,385     0,811        0,428       1,112
 2. Theo hướng sản xuất
 - Cây hàng năm            2,466                      0,512     0,788        0,431       0,735
 - Cây ăn quả              2,754                      0,532     0,852        0,442       0,928
 - Cây CN lâu năm          2,574                      0,435     0,754        0,398       0,987
 - Chăn nuôi               2,241                      0,405     0,843        0,388       0,605
 - Lâm nghiệp              1,702                      0,387     0,597        0,296       0,422
 3. Theo dân tộc
  - Người Kinh             2,770                      0,513     0,722        0,453       1,082
  - Người Nùng             2,462                      0,502     0,802        0,434       0,724
  - Người Sán dìu          2,190                      0,498     0,654        0,400       0,638
  - Người Tày              2,091                      0,436     0,678        0,378       0,599
 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
 - Hộ hàng hoá lớn         3,765                      0,853     0,970        0,608       1,334
 - Hộ hàng hoá TB          2,680                      0,768     0,710        0,470.      0,732
 - Hộ hàng hoá nhỏ         2,456                      0,636     0,673        0,460       0,687
                       Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                     http://www.lrc-tnu.edu.vn
Phụ bảng số 02. Tình hình chi tiêu của các hộ điều tra năm 2007
                                                                  Trong đó
                                Tổng số chi
                                                      Chi ăn uống hút         Chi HĐ khác
    Phân loại hộ                Số                      Số                     Số
                                          Cơ cấu                Cơ cấu                  Cơ cấu
                              lƣợng                    lƣợng                lƣợng
                                            (%)                  ( %)                     (%)
                              (tr.đ)                   (tr.đ)                (tr.đ)
Bình quân chung       6,964      100                   3,797    54,52        3,167       45,48
1. Theo vùng
- Xã Hóa Thượng       7,170      100                  3,670     51,19        3,500       48,81
- Xã Khe Mo           6,934      100                  3,654     52,70        3,280       47,30
- Xã Hoà Bình         6,788      100                  4,049     59,66        2,738       40,34
2. Theo dân tộc
 - Người Kinh         7,104      100                   4,145     58,3        2,959        41,7
 - Người Nùng         6,891      100                   3,820     55,4        3,071        44,6
 - Người Sán dìu      6,643      100                   3,980     59,9        2,663        40,1
 - Người Tày          6,125      100                   3,740     61,0        2,385        39,0
 3. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
 - Hộ hàng hoá lớn     5,894     100                   3,050     51,7        2,844        48,3
 - Hộ hàng hoá TB      7,177     100                   4,170     58,1        3,007        41,9
 - Hộ hàng hoá nhỏ     6,642     100                   4,270     64,3        2,372        35,7
                       Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                     http://www.lrc-tnu.edu.vn
Phụ bảng số 03. Tổng hợp ý kiến và nguyện vọng của hộ nông dân
                                                                            Đơn vị tính: %
                                                               Trong đó nhóm hộ
                                                       Tính
                   Chỉ tiêu                                   HH       HH     HH
                                                      chung
                                                              Lớn     T.bình Nhỏ
Tổng số hộ được phỏng vấn                              100    100      100    100
1.Về đất đai
- Nhu cầu mở rộng quy mô đất đai                      20,1    38,4         20,6        15,3
Trong đó: + Dự định khai hoang                        61,8    31,3         52,4        83,2
           + Dự định mua lại                          15,4    40,0         14,3         -
           + Dự định đấu thầu                         14,9    25,7         33,3        16,8
2. Về vốn
- Đủ vốn                                              22,4    38,5         41,7         5,4
- Thiếu vốn sản xuất                                  77,6    60,5         58,3        94,6
3. Về lao động
- Đủ lao động                                         47,9    16,3         54,1        50,5
- Thiếu lao động cần thuê mướn                        22,9    80,6         37,7         -
- Thừa lao động                                       29,2     3,1          8,2        41,5
4. Về thị trƣờng
- Thiếu thông tin                                     64,8    55,6         64,5        68,2
- Giá cả thấp                                         23,5    83,6         38,2         2,3
- Tiêu thụ sản phẩm khó khăn                          22,8    67,8         44,3          -
- Ý kiến khác                                         11,0    16,5         16,3         4,1
5. Về chính sách của Nhà nƣớc
- Hỗ trợ vốn để phát triển sản xuất                   68,2    62,7         56,9        75,9
- Hỗ trợ công cụ, giống, kỹ thuật                     58,9    59,6         47,5        65,8
- Đào tạo chuyên môn nghiệp vụ                        75,3    64,5         67,2        85,5
- Hợp thức hoá đất đai                                 5,2    19,3         11,2         4,3
                       Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.lrc-tnu.edu.vn
Phụ lục số 04




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. TIẾNG VIỆT
1. Lê Hữu Ảnh, Nguyễn Công Tiệp (2000), “Một số giải pháp phát triển
          kinh tế trang trại huyện Sóc Sơn - Thành phố Hà nội, Tạp chí kinh tế
          nông nghiệp, số 10.
2. Vũ Đình Bách - Ngô Đình Giao - Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý
          kinh tế đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế bền vững. NXB Chính trị
          Quốc Gia, Hà nội, 1996.
3. Báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế xã hội năm 2007 của Uỷ Ban
          Nhân Dân Huyện Đồng Hỷ.
4. Bộ nông nghiệp và PTNT (2000), Một số chủ trương chính sách mới về
          nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và phát triển nông thôn,
          NXB Nông nghiệp, Hà nội.
5. Nguyễn Sinh Cúc (2000), “Những thành tựu nổi bật của nông nghiệp nước
          ta 15 năm đổi mới”, Tạp chí nghiên cứu Kinh tế (số 260), Hà nội.
6. Đảng Cộng sản Việt nam (1999), Nghị quyết số 06 - NQ/TW ngày
          10/11/1998 của Bộ chính trị về vấn đề phát triển nông nghiệp và nông
          thôn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội.
7. Nguyễn Đình Hương (2000), Thực trạng và những giải pháp phát triển
          kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt
          nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội.
8. Trần Bích Hồng, luận văn Thạc sĩ (2007) “Thực trạng và giải pháp chủ
          yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại địa bàn Huyện Đồng Hỷ,
          Tỉnh Thái Nguyên).




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
9. Nguyễn Đình Long (2000), “Thị trường nông thôn - cần khơi thông và mở
          rộng dòng chảy” Tạp chí kinh tế nông nghiệp (01/2000), Hà nội.
10. Nguyễn Văn Tiêm (2000), “Những vấn đề cần ưu tiên để công nghiệp hoá,
          hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí kinh tế nông nghiệp.
11. Niên giám thống kê huyện Đồng Hỷ năm 2005, năm 2006, năm 2007.
12. Niên giám Thống kê tỉnh Thái Nguyên, năm 2005, năm 2006.
13. Minh Trí (1999) “Tìm thấy lại A.V Traianốp”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế,
          số 176 -177, Hà nội.
14. Mai Văn Xuân - Nghiên cứu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng
          sản xuất hàng hoá trên các vùng sinh thái ở Hường Trà Tỉnh Thừa
          Thiên Huế - Luận án PTS khoa học kinh tế.
15. Vũ Thị Ngọc Phùng (1997), Kinh tế phát triển, NXB Thống kê, Hà nội.
16. Lê Đình Thắng - Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng
          hoá. NXB nông nghiệp, Hà nội 1993.
17. Thực trang kinh tế hộ nông dân Việt nam. NXB nông nghiệp, Hà nội. 1991.
18. Tô Dũng Tiến - Kinh tế hộ nông dân và vấn đề phát triển kinh tế trang
          trại ở Việt Nam. Đại học Nông nghiệp I . Hà nội.
19. Đào Thế Tuấn (1997), Kinh tế hộ nông dân, NXB Thống kê, Hà nội.
20. Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ (2007), Báo cáo các hệ thống chỉ tiêu
          kinh tế xã hội chủ yếu của huyện Đồng Hỷ qua các năm.
21. Lương Xuân Quỳ (1996), Những biện pháp kinh tế tổ chức và quản lý
          phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hoá và đổi mới cơ cấu kinh tế
          nông thôn Bắc Bộ, NXB Nông nghiệp, Hà nội.
22. Lê Trọng (2003), Phát triển bền vững kinh tế hộ nông dân gắn liền kế
          hoạch với hạch toán kinh doanh, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc.
23. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2002), Kinh tế nông nghiệp, Nhà xuất
          bản Thống kê, Hà Nội.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên          http://www.lrc-tnu.edu.vn
24. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2003), Bài giảng Kinh tế lượng, Nhà
          xuất bản Thống kê Hà Nội.
25. Trang trại gia đình, bước phát triển mới của kinh tế hộ nông dân (2000 )
          NXB Nông nghiệp - Hà nội.
26. Nguyễn Văn Tuấn (2000), Quản lý trang trại nông lâm nghiệp, NXB
          Nông nghiệp - Hà nội.

II. TIẾNG ANH
27. Raaman Weitz - Rehovot (1995), Intergrated Rural Development, Israel.
28. Economy and environment program for southeast Asia (January
          1999), "Impact of Agro - Chemical Use on Productivity and
          Health in Viet Nam".
29. Frank Ellis (1998), "Peasant Economics. Farm Households and Agrarian
          Development", Cambridge University press.
30. FAO (1999), Beyond sustainable forest resource management, Rome.
31. Donald A, Messerch M.(1993), Common forest resource management,
          UN Rome.
32. Chayanov A.V.(1925), On the Theory                of Peasant Enconomy,
          Homewood, Ohio.
33. English Dictionary (1964), The New Horizon Ladder Dictionary of the
English language, London.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
SUMMARY OUTPUT Khe Mo

         Regression Statistics
Multiple R             0.8944154
R Square              0.79997891
Adjusted R Square     0.76797554
Standard Error        0.10398972
Observations                30

ANOVA
                               df               SS          MS          F     Significance F
Regression                      4           1.0812436    0.2703109 24.9967056 2.01757E-08
Residual                       25           0.2703465   0.01081386
Total                          29           1.3515901

                                             Standard
                         Coefficients          Error       t Stat      P-value      Lower 95%      Upper 95%    Lower 95.0%   Upper 95.0%
Intercept                1.87554087         0.2313828   8.10579343   1.8477E-08    1.398999154    2.352082582   1.398999154   2.352082582
Ln Von                   0.21194592         0.0917811   2.30925462   0.02947603    0.022919216    0.400972627   0.022919216   0.400972627
Ln LD                    0.11384308         0.0547554   2.07912121   0.04801904    0.001072257      0.2266139   0.001072257     0.2266139
Ln Dat                   0.12819412         0.0542267   2.36403995    0.0261556    0.016512111     0.23987613   0.016512111    0.23987613
Ln VH                    0.34811808         0.0605344   5.75074545   5.4222E-06    0.223445096    0.472791067   0.223445096   0.472791067




  Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.lrc-tnu.edu.vn
SUMMARY OUTPUT Hoà Bình

      Regression Statistics
Multiple R        0.904616161
R Square          0.818330399
Adjusted R Square 0.789263263
Standard Error    0.106810767
Observations                30

ANOVA
                           df            SS          MS                   F      Significance F
Regression                        4 1.284743692 0.321185923            28.153114 6.18549E-09
Residual                         25 0.285213496 0.01140854
Total                            29 1.569957188

                                       Standard
                     Coefficients        Error            t Stat       P-value      Lower 95%        Upper 95% Lower 95.0% Upper 95.0%
Intercept            1.763239601      0.283096861      6.228396866   1.62698E-06    1.180190707      2.346288495 1.180190707 2.346288495
Ln Von               0.247778118      0.119779917      2.068611532   0.049073322    0.001086763      0.494469473 0.001086763 0.494469473
Ln LD                0.144261979      0.055241598      2.611473686   0.015026468     0.03048978      0.258034178  0.03048978 0.258034178
Ln Dat                0.15333204      0.047874706      3.202777706   0.003690756    0.054732239      0.251931842 0.054732239 0.251931842
Ln VH                0.338012568      0.074553468      4.533827581   0.000124756    0.184466828      0.491558307 0.184466828 0.491558307




 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                     http://www.lrc-tnu.edu.vn
SUMMARY OUTPUT Hoá Thƣợng

       Regression Statistics
Multiple R          0.956934034
R Square            0.915722745
Adjusted R Square 0.902238384
Standard Error      0.037691779
Observations              30

ANOVA
                           df               SS                    MS            F          Significance F
Regression                  4          0.385910772           0.096477693   67.90998531      4.63904E-13
Residual                   25          0.035516755            0.00142067
Total                      29          0.421427527

                      Coefficients Standard Error                t Stat       P-value        Lower 95%       Upper 95%    Lower 95.0%   Upper 95.0%
Intercept            1.346057769      0.137883903            9.762254616   5.19926E-10      1.062080557      1.63003498   1.062080557    1.63003498
Ln Von               0.505330907      0.053121067            9.512815525   8.70017E-10      0.395926023     0.614735791   0.395926023   0.614735791
Ln LD                0.079457753      0.032583735            2.438571056    0.02218785      0.012350295      0.14656521   0.012350295    0.14656521
Ln Dat               0.054901655      0.024291878            2.260082821   0.032779004      0.004871597     0.104931713   0.004871597   0.104931713
Ln VH                0.076232533      0.022919137            3.326152034   0.002723187      0.029029688     0.123435379   0.029029688   0.123435379




       Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                     http://www.lrc-tnu.edu.vn
SUMMARY OUTPUT Chung 3 xã

       Regression Statistics
Multiple R           0.884017574
R Square             0.781487072
Adjusted R Square     0.77120411
Standard Error       0.095354622
Observations               90

ANOVA
                                df               SS                MS            F         Significance F
Regression                       4          2.764057554       0.691014389   75.9982506      2.89716E-27
Residual                        85           0.77286283       0.009092504
Total                           89          3.536920384

                           Coefficients   Standard Error          t Stat       P-value       Lower 95%        Upper 95%    Lower 95.0%   Upper 95.0%
Intercept                 1.677897023      0.141190312        11.88393881   9.27673E-20     1.397172863      1.958621183   1.397172863   1.958621183
Ln Von                    0.311467855      0.056372032        5.525219612   3.53251E-07     0.199385156      0.423550555   0.199385156   0.423550555
Ln LD                     0.123079419       0.02908095        4.232303988   5.81958E-05     0.065258701      0.180900136   0.065258701   0.180900136
Ln Dat                     0.11914858      0.027718107        4.298582907   4.55813E-05     0.064037559      0.174259601   0.064037559   0.174259601
Ln VH                     0.251732026      0.032993403        7.629768507   3.12914E-11     0.186132303      0.317331749   0.186132303   0.317331749




            Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.lrc-tnu.edu.vn
1


                                       MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
      Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế phổ biến, đang có vai trò, vị trí
rất lớn và là bộ phận hữu cơ trong nền kinh tế, là chủ thể quan trọng trong
phát triển nông nghiệp và đổi mới nông thôn ở nước ta. Cùng với sự phát triển
của kinh tế xã hội nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng thì kinh tế hộ
nông dân không ngừng phát triển cả về quy mô và tính chất. Một bộ phận hộ
nông dân chuyển từ quy mô nhỏ thành quy mô lớn, từ sản xuất tự cấp tự túc
thành sản xuất hàng hoá, trao đổi sản phẩm trên thị trường. Nhiều hộ đã
khẳng định được vị trí vai trò sản xuất hàng hoá của mình trong nông nghiệp,
nông thôn. Họ sử dụng có hiệu quả đất đai, tiền vốn, lao động và đã vươn lên
làm giầu.
      Mặc dù có nhiều hộ đã thành công trong phát triển kinh tế hàng hoá
nhưng nhìn chung, kinh tế hộ chưa chuyển hẳn sang kinh tế hàng hoá. Do có
sự khác nhau về điều kiện, khả năng kinh nghiệm sản xuất cho nên có sự
chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các hộ. Bên cạnh những hộ nông
dân vươn lên mạnh mẽ, vẫn tồn tại một bộ phận khá lớn hộ nông dân gặp
nhiều khó khăn trong sản xuất hàng hoá. Mặt khác, bình quân diện tích canh
tác đầu người thấp và phân bố không đồng đều, thiếu vốn, thiếu tư liệu sản
xuất, năng suất lao động thấp...
      Vấn đề nêu trên đặt ra bức bách không những đối với nông nghiệp nông
thôn vùng đồng bằng mà cả vùng trung du, miền núi, hải đảo. Để giải quyết
được điều đó, trước hết cần phải có những giải pháp thiết thực và hữu hiệu
nhằm phát triển mạnh kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá trên
cả nước, cũng như tại mỗi vùng, mỗi địa phương, trên cơ sở đánh giá đúng
đắn thực trạng kinh tế hộ nông dân.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
2


      Trong những năm gần đây vùng miền núi đã được chú trọng đầu tư phát
triển kinh tế xã hội. Nhiều chương trình dự án như: Phủ xanh đất trống đồi núi
trọc, (dự án 661, dự án 327...), mở rộng giao thông miền núi, xây dựng các cơ
sở hạ tầng (dự án 135)... được dành riêng ưu tiên cho miền núi, đời sống vật
chất tinh thần của nhân dân dần dần được cải thiện. Tuy nhiên, những thay
đổi đó mới chỉ là bước đầu, về cơ bản miền núi vẫn là vùng kinh tế chậm phát
triển đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn yếu và thiếu.
Do đó để đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế xã hội, đưa miền núi hoà nhập
với miền xuôi, ngoài việc tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chúng ta
còn phải tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ nông dân miền núi nói riêng
trong tổng thể phát triển kinh tế hộ nông dân cả nước nói chung, lấy kinh tế
hộ làm khởi điểm cho việc thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi.
      Huyện Đồng Hỷ là một huyện trung du miền núi nằm ở phía Bắc của
tỉnh Thái Nguyên, gồm có 17 xã và 3 thị trấn. Tổng diện tích đất tự nhiên của
huyện là 47.037,94 ha trong đó đất nông nghiệp là 12.488,92 ha chiếm
26,55% diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp là 21.402,61 ha chiếm 45,5%
diện tích đất tự nhiên còn lại là các loại đất khác. Là huyện có nhiều tiềm
năng nông lâm nghiệp chưa được khai thác, cơ sở hạ tầng và kinh tế hộ nông
dân vẫn còn nhiều khó khăn.
      Một trong những nguyên nhân quan trọng là kinh tế hộ nông dân còn
gặp nhiều trở ngại, chưa thực sự đi vào sản xuất hàng hoá. Chính vì vậy
nghiên cứu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá là
hết sức cần thiết đối với từng vùng, từng địa phương và phạm vi toàn quốc.
Do đó tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu khả năng phát triển kinh tế hộ nông
dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở Huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên"
làm luận văn tốt nghiệp.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
3


2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
      Mục tiêu chung
      Trên cơ sở nghiên cứu khả năng phát triển hàng hoá của kinh tế hộ ở
huyện Đồng Hỷ, đề xuất một số giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy kinh tế hộ
nông dân huyện Đồng Hỷ theo huớng sản xuất hàng hoá.
      Mục tiêu cụ thể
      - Hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế hộ
nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá, đồng thời đi sâu nghiên cứu tính đặc
thù của kinh tế hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ.
      - Đánh giá đúng khá năng phát triển hàng hoá của kinh tế hộ nông dân ở
huyện Đồng Hỷ và phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá.
      - Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân ở
Đồng Hỷ trong những năm tới theo hướng sản xuất hàng hoá.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
      Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là những vấn đề có tính lý luận và
thực tiễn về kinh tế hộ, sự phát triển kinh tế hộ nông dân nói chung và hộ
nông dân sản xuất hàng hoá nói riêng trong những năm qua, những phương
hướng và những giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế
hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ.
      Phạm vi nghiên cứu: bao gồm phạm vi về nội dung nghiên cứu, địa
điểm và thời gian nghiên cứu.
      - Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu kinh tế hộ nông dân trong
bước chuyển sang cơ chế thị trường hiện nay, nghiên cứu những yếu tố kinh
tế chủ yếu tác động đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất
hàng hoá. Phân tích thực trạng kinh tế hộ nông dân trong bước chuyển đổi cơ
chế thị trường, sản xuất hàng hoá trong những năm 2006 - 2007 và nêu lên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
4


định hướng và những giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng
hoá của địa phương nghiên cứu đến năm 2010
      - Về không gian: Nghiên cứu tại Huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
      - Về thời gian: Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 5 năm 2007 đến tháng 5
năm 2008. Trong quá trình thực hiện, các tài liệu được thu thập trong giai đoạn
từ năm 2005 đến năm 2007 và số liệu điều tra hiện trạng của năm 2007.
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
        - Hệ thống hoá và bổ sung lý luận về kinh tế hộ và phát triển kinh tế hộ
theo hướng sản xuất hàng hoá trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay.
        - Phản ánh thực trạng của phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất
hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ trong những năm gần đây.
        - Đưa ra một số quan điểm và những giải pháp chủ yếu để phát triển
kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá.
5. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
      Mở đầu
      Chương I: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
      Chương II: Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản
xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ.
      Chương III: Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân
theo hướng sản xuất hàng hoá.
      Kết luận và kiến nghị




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
5


                                            Chƣơng 1
   TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
1.1.1. Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân
      Trong từ điển ngôn ngữ của Mỹ (Oxford Press - 1987) có nghĩa "Hộ là
tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà. Nhóm người đó bao
gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung". [33]
      Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa
là một đơn vị tiêu dùng. Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh
tế độc lập tuyệt đối toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh
tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Khi trình độ phát triển lên mức cao của
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường xã hội càng mở rộng và đi vào chiều
sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế
rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước. Điều này càng có ý
nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay.
      Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, trong
đó các nguồn lực của đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi
là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà,
ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc
vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển.
      Có ý kiến khác lại cho rằng, kinh tế nông hộ bao gồm toàn bộ các khâu
của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng.
Kinh tế hộ thể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như
hộ nông nghiệp, hộ nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,
thương nghiệp, ngư nghiệp.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
6


      Tôi đồng tình với quan niệm của Frank Ellis, về kinh tế hộ nông dân có
thể tóm tắt như sau: "Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có
quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia
đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham
gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường" (Ellis, 1988).
      Nhìn chung kinh tế hộ nông dân có những đặc điểm cơ bản sau:
      + Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành
viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống. Về
mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức: kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ
tự cấp tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hoá.
      + Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ
nông dân. Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất. Giải quyết mối quan hệ
giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ. Ở
nước ta, từ năm 1988 khi Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho
các hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp - mà đặc biệt là sản xuất lúa, đã có
mức tăng chưa từng có về năng suất và số lượng. Người nông dân phấn khởi
trong sản xuất. Một vấn đề rất quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được
quyền kiếm sống gắn bó với mảnh đất của họ.
      + Kinh tế hộ chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn lao
động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng
nhu cầu khác của gia đình. Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong
nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác.
      + Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các
thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn
của cộng đồng. Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông
nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa
gắn chặt với thị trường. Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
7


      Trước thực tiễn phong phú của sản xuất hiện nay, kinh tế hộ nông dân
đang được nghiên cứu để định hướng phát triển. Vấn đề này sẽ còn gây nhiều
tranh luận về mặt lý luận và thực tiễn ở nước ta trong nhiều năm tới.
1.1.2. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá
        Theo từ điển Larousse: phát triển là một quá trình, là "tổng hoà các hiện
tượng được quan niệm như một chuỗi nhân quả kế tiếp nhau diễn tiến". Có
thể hiểu phát triển kinh tế là quá trình biến đổi về mọi mặt của nền kinh tế
trong một thời kì nhất định.Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản
lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội. Cho nên phát triển kinh tế là
khái niệm chung nhất về một sự chuyển biến của nền kinh tế, từ trạng thái
thấp lên một trạng thái cao hơn.
        Căn cứ vào mục tiêu cơ chế hoạt động của hộ nông dân, có thể phân
biệt các kiểu hộ nông dân như sau: Kiểu hộ hoàn toàn tự cấp không phản ứng
với thị trường. Kiểu hộ chủ yếu tự cấp có bán một số lượng sản phẩm để đổi
lấy hàng tiêu dùng, có phản ứng ít nhiều với giá cả. Kiểu hộ bán phần lớn sản
lượng, phản ứng nhiều với giá thị trường. Kiểu hộ hoàn toàn sản xuất hàng
hoá có mục tiêu kiếm lợi nhuận như là một xí nghiệp.
1.1.3. Sản xuất hàng hoá và vai trò của nó trong nông nghiệp
      Sản xuất nông nghiệp có vị trí quan trọng, là ngành duy nhất tạo ra lương
thực, thực phẩm nuôi sống toàn xã hội. Trong một thời gian dài, nông nghiệp
tự cung tự cấp đã kìm hãm sự phát triển kinh tế, thu nhập và đời sống của
nông dân thấp kém. Chỉ từ khi chuyển sang kinh tế hàng hoá, sản xuất hàng
hoá trở thành động lực để thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Sản xuất hàng hoá
còn là quá trình phát huy tốt nhất các lợi thế, các tiềm năng kinh tế - xã hội
của các vùng sản xuất. Vì vậy nó có vai trò điều tiết sản xuất, điều tiết giữa
các vùng, giữa người tiêu dùng và người sản xuất. Ở các nước kinh tế phát
triển như Bắc Mỹ, Tây Âu, toàn bộ các trang trại gia đình đều tham gia sản


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
8


xuất hàng hoá. Ở các nước này, tỷ lệ dân số làm nông nghiệp rất thấp, quy mô
nông trại lớn. Trái lại, ở các nước kinh tế kém phát triển, phần lớn dân số là
nông dân. Nước ta có gần 80% dân số sống ở nông thôn, sản xuất nông
nghiệp còn mang nặng tính tự cung tự cấp, số hộ nông dân tham gia sản xuất
hàng hoá còn ít.
1.1.3.1. Sản xuất hàng hoá là xu thế phát triển của kinh tế hộ nông dân
      Kinh tế hộ nông dân và kinh tế trang trại đã xuất hiện và tồn tại từ lâu.
Nông hộ là tế bào kinh tế - xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông
nghiệp và nông thôn. Kinh tế hộ là hình thức kinh tế trong quy mô gia đình,
gắn với gia đình. Kinh tế hộ, theo Traianốp (nhà kinh tế lớn của Nga), là hộ
gia đình độc lập, có hình thức kinh tế phức tạp. Xét từ góc độ các quan hệ
kinh tế - tổ chức, là sự kết hợp những ngành, những công việc khác nhau
trong quy mô hộ gia đình nông dân. Trong hơn 30 năm hợp tác hoá ở nước ta,
kinh tế hộ gia đình bị hoà tan trong kinh tế hợp tác xã, chỉ còn lại một bộ phận
nhỏ dưới hình thức kinh tế phụ gia đình. Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính
trị, hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ thì khái niệm mô hình
phát triển về kinh tế hộ mới được chú ý nghiên cứu.
      Kinh tế trang trại là hình thức kinh tế theo quy mô gia đình hoặc theo
quy mô liên gia đình, đạt trình độ phát triển sản xuất hàng hoá cao, có khối
lượng hàng hoá lớn và tỷ suất hàng hoá cao. Trang trại là mô hình kinh tế
hướng tới của kinh tế hộ nông dân.
      Kinh tế hộ nông dân hình thành và phát triển trong điều kiện của nền
kinh tế thị trường sẽ xuất hiện ngày càng nhiều các hộ sản xuất hàng hoá. Cho
dù các cơ hội và điều kiện sản xuất ban đầu có khó khăn nhưng sau khi được
giao quyền sử dụng đất lâu dài, sức sản xuất được giải phóng, trong quá trình
phát triển sản xuất, kinh tế nông hộ sẽ có sự phân hoá. Một bộ phận nông dân
do điều kiện sản xuất gặp khó khăn, ít kinh nghiệm sản xuất, thiếu vốn, sản


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
9


xuất không có hiệu quả, mức sống rất thấp, họ có thể thoát ly sản xuất nông
nghiệp và chuyển sang làm dịch vụ, làm thuê hoặc sản xuất tiểu thủ công
nghiệp tuỳ theo khả năng và hoàn cảnh của họ, thậm chí có thể rời khỏi nơi
sinh sống cũ để ra thành thị hoặc lập nghiệp ở một nơi mới. Thu nhập từ
nguồn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cộng với các thu nhập khác có thể
giúp họ có cuộc sống tốt hơn so với làm nông nghiệp. Như vậy ruộng đất sẽ
từng bước được tích tụ trong tay những hộ làm ăn giỏi. Khi đã đạt tới một quy
mô nhất định, các sản phẩm nông nghiệp hàng hoá sẽ xuất hiện trên thị
trường, hình thành các hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Đó là xu hướng vận
động, phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân. Với xu thế này, các hộ sản
xuất hàng hoá sẽ không ngừng tăng lên về số lượng cũng như về quy mô nông
hộ. Chính những hộ sản xuất hàng hoá này đã góp phần to lớn vào việc phát
triển nhanh sản xuất nông nghiệp. Ở nước ta, từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ
Chính trị (tháng 4 năm 1988) giao quyền sử dụng đất ổn định cho hộ nông
dân, đã tạo ra những điều kiện và môi trường cho kinh tế hàng hoá phát triển.
      Có thể nói, lịch sử phát triển nông nghiệp là lịch sử vận động và phát
triển của kinh tế hộ nông dân và các trang trại gia đình. Sự vận động này tuân
theo quá trình từ thấp đến cao, từ sản xuất tự cấp, tự túc đến sản xuất hàng
hoá. Kinh tế hộ nông dân đã trải qua các hình thái sau:
      - Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: Là dạng phát triển rất thấp của kinh tế hộ.
Họ sản xuất một vài nông sản chủ yếu để duy trì sự sống của gia đình, họ có ít
vốn, công cụ sản xuất thô sơ, phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động thấp.
Hiện nay còn tồn tại ở một số dân tộc ít người thuộc các vùng xa xôi hẻo lánh,
các vùng núi cao biệt lập với xã hội. Thiếu lương thực, thực phẩm là nỗi lo
lắng thường xuyên của họ.
      - Nhóm hộ kinh tế tự cấp tự túc với nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc
hậu, phân tán. Đặc điểm của nhóm hộ này là sản xuất chủ yếu để cung cấp


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
10


lương thực, thực phẩm và một số loại nông sản cần thiết khác đáp ứng yêu
cầu tiêu dùng cho gia đình, ít tiếp xúc với thị trường. Trong quá trình phát
triển, nhóm hộ kinh tế tự cấp tự túc là bước phát triển cao hơn so với nhóm hộ
kinh tế sinh tồn. Hiện nay ở Đồng bằng sông Hồng, phần lớn hộ nông dân sản
xuất là để tự cấp tự túc. Kinh tế tự cấp tự túc thường dẫn đến sự bảo thủ,
chậm phát triển.
      - Nhóm hộ sản xuất hàng hoá nhỏ: Trong quá trình sản xuất, hộ nông dân
luôn muốn sản xuất hướng ra ngoài, một bộ phận hộ nông dân làm ăn khá giả,
ngoài phần tiêu dùng cho gia đình, còn dư ra một ít sản phẩm, họ đã đưa ra thị
trường. Khi cung đã vượt cầu, họ đem những sản phẩm thừa trao đổi trên thị
trường và trở thành những hộ sản xuất hàng hoá nhỏ. Nếu các yếu tố khách
quan và chủ quan thuận lợi như ruộng đất nhiều, giá nông sản cao, thời tiết
thuận lợi, vốn nhiều, những hộ này có cơ hội để phát triển thành các hộ sản
xuất hàng hoá lớn. Ngược lại, nếu gặp rủi ro trong sản xuất thì họ có thể trở
thành nhóm hộ tự cấp tự túc.
      - Nhóm hộ sản xuất hàng hoá lớn: Gặp điều kiện thuận lợi, một bộ phận
của nhóm hộ sản xuất hàng hoá lớn, thành các trang trại gia đình. Kinh tế
trang trại lấy sản xuất nông sản hàng hoá là chính, xuất phát từ yêu cầu của thị
trường mà lựa chọn loại nông sản hàng hoá để sản xuất. Nhưng dù có phát
triển sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp thì các trang trại gia đình vẫn
tỏ ra có hiệu quả nhất so với các loại trang trại khác. Kinh tế mỗi hộ vẫn độc
lập, sử dụng chủ yếu là lao động gia đình, thuê mướn nhân công ít hoặc chỉ
thuê lao động thời vụ.
      Như vậy sự vận động của kinh tế hộ nông dân đã trải qua các giai đoạn
từ sản xuất để sinh tồn đến sản xuất tự cung tự cấp rồi lên sản xuất hàng hoá.
Tiến lên sản xuất hàng hoá là xu thế tất yếu của phát triển kinh tế hộ mà động
lực của sự phát triển là tối ưu hoá lợi nhuận, hướng sản xuất tới trao đổi sản
phẩm trên thị trường.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
11


1.1.3.2. Sản xuất hàng hoá là động lực thúc đẩy từ sản xuất nhỏ lên sản
xuất lớn trong nông nghiệp
      Kinh tế hộ gia đình đã tồn tại từ hàng ngàn năm nay, thể hiện rất rõ vai
trò tích cực trong quá trình phát triển nông nghiệp. Trang trại gia đình ở các
nước phát triển, hộ nông dân ở các nước đang phát triển là lực lượng chủ yếu
sản xuất ra sản phẩm hàng hoá trong nông nghiệp. Ở Mỹ với 2,2 triệu trang
trại đã sản xuất ra 50% đậu tương của toàn thế giới, hàng năm xuất khẩu 40 -
50 triệu tấn ngô, hàng triệu tấn thịt các loại v.v...
      - Các trang trại gia đình đã hình thành cách đây hàng trăm năm. Lúc đầu
quy mô trang trại nhỏ, sản phẩm hàng hoá ít. Càng về sau quy mô các trang
trại càng lớn, năng suất lao động càng cao. Hiện nay nhờ áp dụng những
thành tựu kỹ thuật tiên tiến như hoá học hoá, cơ giới hoá và cách mạng sinh
học, tin học,... đã giúp các trang trại hiện đại hoá sản xuất. nhiều khu vực trên
thế giới như Tây Âu và Bắc Mỹ, sản phẩm hàng hoá nông nghiệp đã dư thừa,
1 lao động nông nghiệp nuôi được 35-100 người. Động lực dùng trong nông
nghiệp có tới 82% là sức máy móc cơ điện. Bằng việc hiện đại hoá các trang
trại gia đình, các nước phát triển đã đạt được nền sản xuất hàng hoá lớn trong
nông nghiệp.
      - Ở các nước đang phát triển, hàng hoá nông sản chủ yếu được sản xuất
tại các trang trại hoặc các hộ gia đình có quy mô nhỏ từ 1 - 5 ha. Trong một
số ngành, đặc biệt là trồng cây ăn quả, cây công nghiệp... tuy quy mô trang
trại nhỏ song vẫn tạo ra khối lượng nông sản hàng hoá lớn với tỷ suất hàng
hoá cao là nhờ tính năng động của mạng lưới tổ chức tốt về dịch vụ và lưu
thông hàng hoá. Các trang trại ở Malaixia năm 1992 sản xuất được 6,4 triệu
tấn dầu cọ, chiếm 53% sản lượng dầu cọ trên thế giới.
      - Ở nước ta, một thời gian dài kinh tế tập thể giữ vai trò chủ yếu, kinh tế
gia đình bị coi là kinh tế phụ. Cơ chế điều hành bằng mệnh lệnh hành chính


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
12


của hợp tác xã đã kìm hãm sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, sản xuất mất
động lực nên kinh tế bị trì trệ trong một thời gian dài, đặc biệt là ở các tỉnh
Đồng bằng Sông Hồng. Năng suất cây trồng không tăng, năm 1970 ngân sách
lúa đạt 20,1 tạ/ha thì năm 1980 đạt 21,79 tạ/ha. Trong 10 năm năng suất tăng
3,4%. Từ năm 1988 khi hộ nông dân được giao quyền sử dụng đất lâu dài,
nền kinh tế bắt đầu mở cửa tiếp xúc với cơ chế thị trường, sản xuất hàng hoá
của hộ nông dân bắt đầu phát triển.
      - Một số nông sản xuất khẩu quan trọng như gạo, cao su, cà phê, chè,
v.v... đang hoà nhập và có vị trí đáng kể trên thị trường thế giới.
      Như vậy sản xuất hàng hoá đã và đang là động lực mạnh mẽ thúc đẩy
các hộ gia đình từng bước chuyển từ sản xuất hàng hoá nhỏ lên sản xuất hàng
hoá lớn.
      Sự ra đời của sản xuất hàng hoá gắn liền với sự phát triển của phân công
lao động xã hội và trao đổi. Một khi sản xuất sản phẩm không phải để bản
thân tiêu dùng mà để bán thì sản xuất hàng hoá đó gọi là sản xuất hàng hóa.
        Trong sản xuất nông nghiệp, sản phẩm hàng hoá là những sản phẩm sản
xuất được bán ra ngoài tỉnh (nếu phạm vi là là tỉnh), ngoại huyện (nếu phạm
vi là huyện), ngoài xã (nếu phạm vi là xã), hoặc theo phạm vi hộ là những sản
phẩm hộ nông dân bán ra. Hộ nông dân là cơ sở của sản xuất hàng hoá trong
nông nghiệp. Chính vì vậy nghiên cứu hộ nông dân phát triển sản xuất hàng
hoá để có thể rút ra những kết luận, đưa ra những giải pháp biện pháp, biện
pháp tác động đến sản xuất hàng hoá nói chung.
      Sản xuất hàng hoá để tạo điều kiện phát huy tính năng động sáng tạo
trong việc khai thác và tận dụng những tiềm năng kinh tế xã hội cũng như lợi
thế so sánh của từng vùng kinh tế. Nó có vai trò quan trọng trong việc điều
tiết sản xuất, phân công lao động xã hội, điều tiết thị trường.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
13


      Đối với nước ta hiện nay nông nghiệp được coi là hàng đầu, có vai trò
quan trọng trong việc đảm bảo ổn định đời sống nhân dân, xuất khẩu thu
ngoại tệ... Để đẩy mạnh quá trình phát triển đất nước, Đảng ta đã xác định chỉ
có thể thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì nền kinh tế của chúng ta
mới không bị tụt hậu, đất nước mới thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Muốn vậy
chúng ta phải có vốn đầu tư để trang bị khoa học công nghệ, cả về máy móc
thiết bị lẫn con người. Trong khi đó với thực tại là một nước nông nghiệp thì
phải xuất phát từ nông nghiệp, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp lấy vốn đầu
tư phát triển các ngành khác. Và vì vậy chỉ có thể phát triển sản xuất hàng hoá
thì mới làm cho nông nghiệp phát triển nhanh, mạnh, tạo ra khối lượng nông
sản hàng hoá lớn, chất lượng cao cạnh tranh được trên thị trường quốc tế.
      Phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp có tác dụng rất lớn để
giải quyết việc làm ở nông thôn, nâng cao trình độ chất lượng lao động sản
xuất nông nghiệp.
1.1.4. Vai trò của kinh tế hộ sản xuất hàng hóa
      Vai trò kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá trước hết được kể đến từ
vai trò của hộ nông dân nói chung, từ đó được mở rộng và tăng thêm khi đã
trở thành hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Phân tích kết cấu xã hội nông dân
nước Nga, Lê nin đã lưu ý rằng hộ khai thác triệt để năng lượng sản xuất để
đáp ứng nhu cầu đa dạng của gia đình và xã hội. Lê Nin coi trọng vai trò của
kinh tế hộ nông dân thể hiện trong cương lĩnh ruộng đất lần hai bàn về “ chế
độ hợp tác”, đặc biệt sau này trong chính sách “ Kinh tế mới” và nhiều tác
phẩm khác [9]. Khi tổng kết kinh nghiệm của mô hình trang trại gia đình ở
Mỹ, Italia, Anh, Hà Lan, Traianốp đã chứng minh sức sống của “ Kinh tế hộ”,
của “ Kinh tế lao động trên mảnh đất gia đình” [13].
      Các tác giả của nhóm lý thuyết phát triển có cách nhìn về kinh tế hộ, họ
đã đưa ra ý kiến về phát triển chiến lược sử dụng các nguồn lực của hộ trong


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
14


xã hội nông thôn. Họ cho rằng kinh tế hộ là “hệ thống các nguồn lực”, có
nghĩa hộ là đơn vị duy trì, phát triển nguồn lao động, công cụ lao động, tài sản
vốn... đảm bảo cho quá trình phát triển nguồn thu nhập là góp phần phát triển
nguồn thu nhập của xã hội. Hệ thống các nguồn lực của các hộ được sử dụng
theo những phương thức khác nhau, do đó đem lại hiệu quả cao.
      Phân tích các quan hệ kinh tế hộ như là một đơn vị kinh tế cơ sở, các
kinh tế học. Mác xít cũng như lý thuyết phát triển đều khẳng định hộ có các
quan hệ kinh tế bên trong nội bộ hộ và các quan hệ kinh tế với các đơn vị kinh
tế khác. Các quan hệ kinh tế nội tại của hộ là quan hệ phân phối nguồn thu
nhập, quan hệ đóng góp vào quỹ thu nhập... giữa các thành viên trong hộ.
Quan hệ kinh tế của các thành viên trong hộ có tính chất ước định, nó còn
phải chịu sự chi phối của các quan hệ huyết tộc, quan hệ gia đình, tôn
giáo...Quan hệ kinh tế bên ngoài của hộ là quan hệ trao đổi sản phẩm hàng
hoá giữa các hộ và các kiểu tổ chức doanh nghiệp khác. Những quan hệ kinh
tế này chịu sự chi phối của các quan hệ thị trường [10].
      Ở Việt Nam, trải qua những bước biến động thăng trầm của kinh tế hộ,
vị trí, vai trò của nó ngày càng được khẳng định. Vai trò kinh tế hộ gia đình
đã được Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá VII, chỉ
rõ: “Phát huy hơn nữa tiềm năng to lớn và vị trí quan trọng, lâu dài của kinh
tế hộ gia đình. Nghị quyết 06 NQ/TƯ ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ
Chính trị Trung ương Đảng, một lần nữa khẳng định: “Kinh tế xã hội ở nông
thôn là loại hình tổ chức sản xuất có hiệu quả về kinh tế - xã hội, tồn tại, phát
triển lâu dài, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn,...”[6].
      Từ những căn cứ lý luận và thực tiễn nêu trên, có thể thấy vai trò của
kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá được biểu hiện cả về kinh tế và xã hội,
rộng hơn nữa còn cả về bảo vệ, phát triển tài nguyên - môi trường và văn hoá
- nhân văn.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
15


      - Thứ nhất hộ nông dân sản xuất hàng hoá là đơn vị kinh tế sơ sở chứa
đựng một hệ thống các nguồn lực (đất đai, vốn, lao động, tư liệu sản xuất...)
và sở hữu các sản phẩm mà mình sản xuất ra.
      Hộ nông dân tự chủ thực hiện quá trình tái sản xuất dựa trên các quyết
định phân bổ các nguồn lực cho các hoạt động sản xuất nhằm cung cấp
những loại nông sản phẩm không thể thiếu được cho con người, tạo nguồn
nguyên liệu cho các ngành sản xuất khác để thoả mãn nhu cầu ngày càng
tăng của mọi thành viên trong xã hội. Vì thế cho đến nay chưa có hình thức
nào có thể thay thế được kinh tế hộ nông dân trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp ở nông thôn.
      - Thứ hai, hộ nông dân sản xuất hàng hoá là đơn vị duy trì, tái tạo và
phát triển các nguồn lực có hiệu quả cao.
      Với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ, hoạt động sản xuất theo cơ chế thị
trường, các hộ nông dân nước ta đã tích cực đẩy mạnh phát triển sản xuất một
cách năng động, đa dạng, phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của mỗi
hộ, góp phần quan trọng tạo ra thị trường hàng hoá ngày càng phong phú, dồi
dào ngay tại các vùng nông thôn. Mặt khác, dưới tác động khách quan của các
quy luật kinh tế thị trường, các hộ nông dân đang tìm mọi biện pháp để nâng
cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu sản xuất, trên cơ
sở sử dụng tốt các nguồn lực sẵn có của từng hộ về vốn, đất đai, lao động, tư
liệu sản xuất và tri thức. Hệ thống nguồn lực của hộ được sử dụng theo
phương thức khác nhau do điều kiện và khả năng sản xuất của từng hộ khác
nhau. Việc coi hộ là đơn vị tự chủ, đã giúp cho hộ nông dân có điều kiện chủ
động đầu tư thâm canh, cải tạo đất làm cho đất ngày càng tốt hơn và sử dụng
tiền vốn, lao động có hiệu quả hơn. Họ biết tích luỹ vốn bằng cách “lấy ngắn
nuôi dài” trong sản xuất để mở rộng quy mô sản xuất. Sản xuất có thu nhập
cao là điều kiện để hộ có thể tái đầu tư các nguồn lực. Gia đình là tế bào của


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
16


xã hội, là nơi nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, là đơn vị tạo nguồn
lao động, tái sản xuất sức lao động xã hội.
      Ở nước ta, hộ nông dân sản xuất hàng hoá mới phát triển trong những
năm gần đây (nhất là kinh tế trang trại gia đình), nhưng đã thể hiện vai trò,
ưu thế của nó cả về mặt kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường. Có thể
khẳng định:
      - Hộ nông dân sản xuất hàng hoá góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn
      Hộ nông dân sản xuất hàng hoá đã mạnh dạn đầu tư, tích cực áp dụng
Khoa học kỹ thuật tiên tiến, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị
kinh tế cao, từng bước khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ, hiệu quả kinh tế
thấp sang sản xuất tập trung với quy mô hàng hoá nông sản không ngừng tăng
lên. Từ đó tạo nên vùng chuyên môn hoá, tập trung hoá và thâm canh cao,
góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mặt khác, hộ nông dân sản
xuất hàng hoá phát triển sẽ kéo theo theo các ngành kinh tế khác phát triển,
nhất là công nghiệp chế biến nông - lâm sản, dịch vụ phục vụ sản xuất nông -
lâm nghiệp và các hoạt động kinh tế khác trong nông thôn. Làm cho kinh tế
nông thôn phát triển đa dạng và chuyển dịch dần theo hướng giảm tỷ trọng
nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.
      - Hộ nông dân sản xuất hàng hoá góp phần giải quyết các vấn đề về văn
hoá - xã hội trong nông thôn
      Về mặt xã hội, trong điều kiện ngành kinh tế nông thôn phát triển còn
chậm, dân số nông thôn tăng nhanh, vấn đề lao động và việc làm đang là vấn
đề bức xúc thì phát triển hộ nông dân sản xuất hàng hoá có một ý nghĩa to
lớn. Bởi vì, hộ nông dân sản xuất hàng hoá phát triển sẽ tạo thêm nhiều việc
làm, thu hút được lao động đang dư thừa trong nông thôn, nhất là số lao động


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
17


trẻ thiếu việc làm đang có xu hướng gia tăng hiện nay. Mặt khác, hộ sản xuất
hàng hoá phát triển làm tăng thêm thu nhập của người lao động, đời sống
người dân được cải thiện, giảm hộ đói nghèo, tăng nhanh hộ khá giầu, góp
phần thúc đẩy kết cấu hạ tầng trong nông thôn. Cơ sở vật chất của các hộ
nông dân được tăng cường, nhà cửa khang trang, phương tiện sinh hoạt được
trang bị ngày càng đầy đủ và hiện đại làm cho bộ mặt xã hội nông thôn được
thay đổi nhanh chóng.
      Về mặt văn hoá, phát triển hộ sản xuất hàng hoá sẽ xoá dần những tập
quán canh tác, những tập tục lạc hậu trong sản xuất thay thế bằng những
quy trình kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, tạo tấm gương về cách
thức tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh. Mặt khác, đời sống người dân
ngày càng được nâng cao, những lễ hội truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay
được chú ý khôi phục và phát triển, góp phần xây dựng nông thôn mới, tạo
nên nét đẹp văn hoá trong cộng đồng làng, bản mang đậm nét nền văn minh
nông nghiệp.
      - Hộ nông dân sản xuất hàng hoá góp phần bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên và môi trường sinh thái
      Với chính sách giao đất, khoán rừng cho hộ nông dân, đã tạo điều kiện
thuận lợi cho hộ sản xuất hàng hoá hình thành và phát triển. Vì lợi ích lâu dài,
các hộ nông dân luôn quan tâm đến việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi
trường sinh thái, nơi mà họ đang sống, lao động để làm ra của cải vật chất
nuôi sống gia đình.
      Trong những năm qua các hộ sản xuất hàng hoá đã sử dụng hiệu quả tài
nguyên đất đai, thực hiện các biện pháp canh tác khoa học kỹ thuật và hợp lý,
không ngừng tăng thêm độ mầu mỡ của đất. Sử dụng vật tư nông nghiệp như
phân đạm, thuốc trừ sâu... một cách hợp lý làm cho đất, nguồn nước không bị
ô nhiễm. Các hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở vùng đồi núi đã tích cực trong


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
18


việc khoanh nuôi, bảo vệ rừng, trồng rừng tập trung, rừng đặc dụng, góp phần
phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, giữ được nguồn nước ở vùng cao. Từ đó góp
phần tích cực trong việc cải tạo tài nguyên đất, rừng, nguồn nước và bảo vệ
môi trường sinh thái trên các vùng trong cả nước.
      Trong nền kinh tế thị trường ngoài việc sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu
của thị trường về nông sản do họ sản xuất mà còn phải mở rộng quy mô sản
xuất, thuê thêm nhân công, ở mức cao có thể có một số hộ nông dân sẽ phát
triển thành trang trại gia đình. Kinh tế hộ nông dân phát triển trên thực tiễn đã
hình thành các nhóm kinh tế hộ nông dân khác nhau, đó là: nhóm kinh tế hộ
nông dân sản xuất hàng hoá theo mô hình kinh tế trang trại gia đình. Vì vậy,
kinh tế hộ nông dân muốn phát triển tốt cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước
về chính sách phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng và khoa học kỹ thuật.
1.2. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN ĐỂ CHUYỂN KINH TẾ HỘ NÔNG
DÂN TỰ CUNG TỰ CẤP SANG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
1.2.1. Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ
      Để đưa hộ nông dân tiến lên sản xuất hàng hoá thì điều quan trọng đầu
tiên là phải xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ về mặt kinh tế, pháp
lý, thể hiện trên các mặt sau:
      - Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: Hộ nông dân phải có quyền sở hữu
về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác. Ở nước ta chỉ khi giao quyền sử
dụng đất ổn định và lâu dài cho các hộ nông dân thì hộ nông dân mới bắt đầu
có quyền tự chủ trong sản xuất. Cùng với việc giao quyền sử dụng ruộng đất
cho hộ nông dân, họ còn được quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê,
thế chấp và thừa kế ruộng đất như Luật đất đai đã quy định.
      - Quan hệ về quản lý: Do làm chủ về tư liệu sản xuất nên hộ nông dân
cũng làm chủ trong quản lý sản xuất. Hộ là người lựa chọn, định hướng sản
xuất, định chỉ tiêu kế hoạch và thực hiện kế hoạch sản xuất về mặt pháp lý.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
19


Hộ nông dân là đơn vị kinh tế độc lập do một người chủ hộ hay một người có
năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý.
      Về hình thức quản lý cũng có những hộ liên doanh theo kiểu 2-3 hộ gia
đình tự nguyện hợp nhất trong một "hộ" lớn hơn với tư cách pháp nhân mới
để có thêm năng lực về vốn, ruộng đất, kỹ thuật, có thêm sức cạnh tranh với
các hộ khác. Các dạng nông hộ này hiện nay có ở một số ngành sản xuất
tương đối đặc biệt như nuôi tôm cá ven biển, sản xuất tiểu thủ công nghiệp -
những ngành cần nhiều vốn và kỹ thuật hơn sản xuất truyền thống.
      - Về phân phối: Hộ nông dân có toàn quyền phân phối các sản phẩm làm
ra, các chi phí đều được tính từ đầu vụ người nông dân được kích thích sản
xuất bằng vật chất do chính họ làm ra, không bị lãng phí hoặc bị chiếm đoạt
trong khâu phân phối sản phẩm. Sau khi dành cho tiêu dùng, họ có thể tự do
mang trao đổi sản phẩm của mình trên thị trường mà không gặp bất cứ một sự
ngăn cản nào. Điều này sẽ kích thích nông hộ sản xuất hàng hoá.
      Hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, tự họ chịu trách nhiệm về
những rủi ro trong sản xuất, tự quyết định sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Chính điều này làm cho hộ nông dân phải tính toán kỹ về hiệu quả kinh tế
trong sản xuất, họ trở nên năng động trong kinh doanh. Kết quả là tư liệu sản
xuất, sức lao động được sử dụng có hiệu quả nhất.
      Trong các yếu tố xác nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trình bày
ở trên, quyền được sử dụng ruộng đất lâu dài và làm chủ trong phân phối sản
phẩm làm ra là hai yếu tố quan trọng nhất.
1.2.2. Kinh tế hộ nông dân là chủ thể trong sản xuất nông nghiệp
      a. Sự tồn tại khách quan của kinh tế nông hộ
      Cũng giống như quá trình sản xuất vật chất khác của xã hội, quá trình
sản xuất nông nghiệp được tiến hành theo bốn giai đoạn: sản xuất - chế biến,
bảo quản - lưu thông - tiêu dùng. Ở bất cứ nước nông nghiệp nào, các quá


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
20


trình trên đều do hộ nông dân, các trang trại đảm nhận hoặc ở từng giai đoạn
đều có mối liên hệ chặt chẽ với nông dân. Sản xuất nông nghiệp ở mọi quốc
gia đều mang tính chất truyền thống lâu đời. Nền nông nghiệp đã trải qua các
hình thái kinh tế khác nhau như: nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội
chủ nghĩa. Hiện nay kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là hình thức kinh tế
có hiệu quả nhất trong nông nghiệp. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ và
trang trại trong suốt lịch sử phát triển của ngành nông nghiệp là do những
nguyên nhân khách quan sau:
      - Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật, các cơ thể sống,
quá trình sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp là quá trình chuyển hoá về vật
chất và năng lượng thông qua sự sinh trưởng của cây trồng, con gia súc. Đó là
quá trình liên tục đòi hỏi phải có sự chăm sóc thường xuyên của con người.
Nó khác hoàn toàn với các quy trình, các sản phẩm có thể phân chia rõ ràng
trong các dây chuyền sản xuất công nghiệp. Đặc thù trên của sản xuất nông
nghiệp phù hợp với lao động có trách nhiệm trong gia đình, nó cũng phù hợp
với kiểu tổ chức sản xuất gia đình, sản xuất trang trại.Traianốp - nhà nông học
Nga nổi tiếng đã rút ra kết luận: Càng gần, càng gắn bó với quá trình sinh học
thì sản xuất càng mang tính hộ gia đình; càng xa quá trình sinh học càng có
nhu cầu liên kết, tập trung hoá và chuyên môn hoá.
      - Về mặt xã hội, hộ nông dân là một tế bào bền vững của xã hội, là đơn
vị tiêu chuẩn sản xuất cơ bản của nông nghiệp, mang tính đa dạng, phân tán,
phức tạp của nghề nông, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và lao động. Đặc điểm
này làm cho sản xuất nông nghiệp phù hợp với sản xuất của hộ gia đình hơn
bất kỳ tổ chức nào khác.
      Sự phát triển của công cụ sản xuất từ chiếc gậy dùng để chọc lỗ gieo hạt
đến các công cụ thủ công và tiến bộ hơn là cày bừa, dùng sức kéo súc vật đến
máy móc cơ khí ngày nay vẫn không làm mất đi công trình của kinh tế hộ gia


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
21


đình. Đối tượng dùng các công cụ sản xuất ấy là lao động gia đình. Thực tiễn
ở nước ta cho thấy, kinh tế hộ gia đình có sức sống riêng của nó, tuy trong
thời gian dài ít được chú ý phát triển hoặc hạn chế và ngăn cản, nhưng sự tồn
tại khách quan đã quyết định sự vận động và phát triển của nó, thể hiện khá rõ
nét tính hiệu quả của sản xuất trên đất 5% của gia đình là bằng chứng mạnh
mẽ của kinh tế hộ gia đình. Đối với sản xuất nông nghiệp, không ở đâu,
không một tổ chức nào có hiệu quả sản xuất cao như ở khu vực gia đình. Thay
đổi công cụ lao động chỉ trợ giúp cho các quá trình biến đổi sinh học diễn ra
trong sản xuất chứ không làm thay đổi bản chất của quá trình đối với mục
đích khai thác tốt hơn các điều kiện tự nhiên phục vụ cho con người. Chính
đặc điểm này quy định sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình và kinh
tế trang trại.
      Trong sản xuất nông nghiệp cũng diễn ra quá trình xã hội hoá sản xuất.
Nhưng do đặc điểm riêng của ngành nông nghiệp - đối tượng của nó là các cá
thể hoặc quần thể sinh vật, kết quả của sản xuất là các sản phẩm nông nghiệp
- đòi hỏi quá trình sản xuất liên tục không thể phân chia thành các bán thành
phẩm, từ người đầu tiên bắt đầu quy trình sản xuất đến sản phẩm cuối cùng;
tốt nhất vẫn là do các hộ nông dân đảm nhận. Hơn ai hết, họ gắn liền cuộc
sống của gia đình họ với đất đai, với sản phẩm cuối cùng.
      Từ những nhận định như trên có thể kết luận, đặc thù riêng của quá trình
sản xuất nông nghiệp đã quyết định sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia
đình là một đơn vị chủ thể của tổ chức sản xuất xã hội.
      b. Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển nông nghiệp
      Như trên đã trình bày về sự tồn tại khách quan của hộ nông dân là do đặc
điểm rất riêng của sản xuất nông nghiệp. Nhiều nhà nghiên cứu đều thừa nhận
hộ là đơn vị kinh tế cơ bản, là chủ thể sản xuất nông nghiệp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
22


      Năm 1925, Traianốp - nhà nông học Nga xuất sắc đã nghiên cứu hình
thái của gia đình nông dân không có lao động làm thuê và chỉ sử dụng sức lao
động gia đình là hình thức tổ chức sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao
trong điều kiện sản xuất nông nghiệp còn làm bằng thủ công. Tổng kết kinh
nghiệm của mô hình trang trại ở Mỹ, Anh, Hà Lan, Italia, ông cũng chứng
minh sức sống của kinh tế hộ trên mảnh đất gia đình.
      Một số nhà khoa học khác của lý thuyết phát triển coi kinh tế hộ là: "hệ
thống các nguồn lực" có nghĩa hộ là đơn vị để duy trì và phát triển nguồn lao
động, vốn..., đảm bảo cho quá trình phát triển của ngành nông nghiệp cũng
như của toàn xã hội. Hệ thống nguồn lực của hộ được sử dụng theo phương
thức khác nhau, do đó đem lại hiệu quả khác nhau. Vì thế các tác giả đã đưa
ra ý kiến về chiến lược sử dụng các nguồn lực của hộ trong nông thôn.
      Về phương diện lịch sử thì một trong những con đường tích luỹ cơ bản
cũng bắt đầu từ quá trình kinh doanh của các gia đình. Xã hội càng phát triển
thì sự phân công lao động càng diễn ra sâu sắc, càng tạo nhiều cơ hội để các
cá nhân, các hộ tự nguyện tham gia vào sự phân công lao động của xã hội,
xoá bỏ sự ép buộc lao động đã có thời diễn ra ở một số nước, trong đó có
nước ta.
      Trong thành quả của cải cách kinh tế của các nước, có những đóng góp
quan trọng của kinh tế hộ. Ở Trung Quốc đã giao quyền tự chịu trách nhiệm
trong sản xuất và đơn vị sản xuất cơ bản ở nông thôn, vì thế sản xuất đạt kết
quả ngạc nhiên. Trong nông thôn hình thành nhiều loại hình nông hộ, công
nghiệp nông thôn phát triển nhanh, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế 12 -
13% năm của nước này.
      Các nước khác trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaixia,
Inđônêxia, Philippines... trong chiến lược phát triển kinh tế cũng rất chú ý tới
khu vực kinh tế nông thôn mà hạt nhân cơ bản là kinh tế nông hộ. Rất nhiều


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
23


cuộc hội thảo quốc tế về kinh tế hộ đã khẳng định, ở các nước trong khu vực
chủ thể kinh tế nông nghiệp là hộ nông dân. Khi sản xuất gặp khó khăn và có
biến động lớn thì kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng cao, nó có khả năng
phục hồi rất nhanh sau mỗi biến động.
      Ở nước ta trong thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp, kinh tế hộ cũng chỉ
được coi là "kinh tế phụ gia đình" nhưng trên thực tế sản xuất của nông hộ
chiếm tới 48% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, thu nhập từ kinh tế gia
đình chiếm 50-60% tổng thu nhập của hộ, Tuy kinh tế tập thể sử dụng trên
90% đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng thu nhập của người nông
dân từ kinh tế tập thể cũng chỉ chiếm 40-50%. Thời kỳ này thực chất là thời
kỳ trì trệ nhất của nông nghiệp nước ta trong hơn 30 năm qua. Từ khi Nghị
quyết 10 xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất - kinh doanh,
kinh tế hộ đã có những bước phát triển đáng kể và khẳng định vai trò quan
trọng trong sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá ở nước ta.
Nó thể hiện rõ trên các mặt:
      - Phát huy tốt các tiềm lực sản xuất (lao động, đất đai, tiền vốn và các
kinh nghiệm sản xuất...) để tạo ra nhiều nông sản phẩm hàng hoá cho xã hội,
tạo ra bước tiến quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta từ những
năm 1990 đến nay.
      - Phát triển kinh tế hộ tạo cho sản xuất phát triển, mặt khác mở rộng thị
trường nông sản phẩm hàng hoá cho quá trình phát triển công nghiệp thành
thị và nông thôn.
      - Phát triển kinh tế hộ không chỉ có vai trò to lớn về kinh tế mà nó
còn có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội vì việc gia tăng sản phẩm hàng hoá
và hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp đã tạo thêm việc làm, tăng thu
nhập, cải thiện và nâng cao đời sống - cơ sở kinh tế vũng chắc để giải
quyết các vấn đề xã hội.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
24


1.2.3. Tính tất yếu khách quan để chuyển kinh tế hộ nông dân tự cung tự
cấp sang sản xuất hàng hoá
      Quá trình phát triển nền nông nghiệp trải qua ba giai đoạn từ nông
nghiệp tự cung tự cấp đến đa dạng hoá sản xuất và sản xuất chuyên môn hoá.
Xã hội càng phát triển, đời sống ngày càng nâng cao, đòi hỏi nhu cầu nông
sản phẩm ngày càng lớn cả về số lượng và chất lượng, cùng với nó khoa học
kỹ thuật ngày càng phát triển làm cho sự phân công lao động xã hội ngày
càng chi tiết cụ thể hơn, sự chuyên môn hoá ngày càng sâu và sự gắn bó giữa
người sản xuất và tiêu dùng càng chặt chẽ, những hộ nông dân sản xuất tự
cung tự cấp có quy mô nhỏ, đầu tư thấp không có khả năng thích ứng. Một bộ
phận hộ nông dân có điều kiện phát triển sản xuất với quy mô lớn về đầu tư,
tích tụ ruộng đất, chuyên môn hoá…chuyển sang sản xuất hàng hoá, mục đích
thu được lợi nhuận cao.
      Nền kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường được hình thành là kết quả
phát triển của lực lượng sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường hộ nông dân
chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của thị trường.Thông qua sự vận
động của kinh tế thị trường, những hộ nông dân sản xuất kém hiệu quả phải
thu hẹp quy mô sản xuất, thậm chí bị phá sản. Trong khi đó những hộ nông
dân có lãi càng có điều kiện tích luỹ để mở rộng quy mô sản xuất ngày càng
lớn và tạo điều kiện tích luỹ để mở rộng quy mô sản xuất ngày càng lớn và
tạo ra nhiều sản phẩm hay dịch vụ hàng hoá lớn hơn.
      Quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn đã và đang dần
dần thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ giới máy móc, những thành
tựu khoa học kỹ thuật về lai tạo giống cây mới, chế tạo ra những sản phẩm
sản phẩm sinh học, hoá học đặc hiệu… giúp tăng cường khả năng chế ngự
thiên nhiên của con người, tăng hiệu quả sản xuất, tăng năng suất, chất
lượng nông sản, giải phóng sức lao động người nông dân thoát khỏi tình


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên    http://www.lrc-tnu.edu.vn
25


trạng sản xuất nhỏ bé tự cung tự cấp chuyển thành hộ nông dân sản xuất
hàng hoá. Ngày nay khi mà nền nông nghiệp thế giới đã trải qua nhiều bước
phát triển thăng trầm, người ta đã rút ra được kết luận đó là: Những đặc
điểm của sản xuất nông nghiệp tự nó quyết định phương thức sản xuất và
con đường phát triển thích hợp.
      Những đặc điểm chủ yếu quyết định con đường chuyển từ phát triển tự
nhiên, hiện vật sang nền nông nghiệp phát triển sản xuất hàng hoá mà trong
đó nông trại gia đình là nhân vật trung tâm.
      Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế
được. Con người biết sử dụng đất đai một cách hợp lý thì nó không những
không bị giảm độ phì mà ngày càng tốt hơn.Tuy nhiên diện tích ruộng đất
phục vụ nông nghiệp chỉ có giới hạn nhất định. Do vậy nền tảng của phát triển
nông nghiệp là sự gắn bó của người lao động với ruộng đất, với tư liệu sản
xuất. Chính điều này quy định nghề nông khác hẳn với sản xuất công nghiệp
và quy định đơn vị sản xuất trong nông nghiệp là hộ gia đình nông dân khác
hẳn với các xí nghiệp quy mô lớn như trong công nghiệp.
      Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi là những sinh
vật sống, có chu kỳ sản xuất dài, có phản ứng nhạy cảm với tự nhiên hay điều
kiện sống, do vậy đòi hỏi người nông dân phải am hiểu sâu sắc đối với từng
loại vật nuôi, cây trồng, từng điều kiện tác động. Do tính chất thời vụ, sự chịu
nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết nên trong nông
nghiệp không thể chuyên môn hoá cao một loại sản phẩm thuần nhất. Trong
sản xuất nông nghiệp chỉ có thế phát triển chuyên môn hoá kết hợp với phát
triển tổng hợp mới tận dụng được đất đai, lao động, tiền vốn…làm cho sản
xuất đạt hiệu quả kinh tế cao.
      Do sản xuất nông nghiệp diễn ra trong phạm vi không gian rộng lớn
mang tính thời vụ cao đòi hỏi người lao động phải có một tinh thần trách


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
26


nhiệm và tự giác cao. Vì thế hình thức tổ chức sản xuất theo kiểu hợp tác xã
tập thể là kém hiệu quả, chỉ có hộ gia đình nông dân là phù hợp nhất.
      Trong nông nghiệp quá trình tái sản xuất kinh tế và quá trình tái sản xuất
tự nhiên luôn đan xen để mạng lại hiệu quả và là một quá trình liên tục, hoàn
chỉnh không thể chia cắt về thời gian, không gian. Do vậy sản xuất nông
nghiệp không thể phân chia ra các công đoạn máy móc như công nghiệp
      Sự mâu thuẫn giữa chi phí sản xuất và thu nhập được gắn với sản phẩm
cuối cùng. Thái độ, kỹ năng, năng suất lao động có ảnh hưởng đến năng suất
cây trồng, vật nuôi, do vậy đòi hỏi có sự thống nhất giữa các đơn vị sản xuất và
đơn vị phân phối. Qua đây có thể thấy: Hình thức tổ chức sản xuất trong nông
nghiệp thích hợp nhất là hộ gia đình nông dân, khi hộ nông dân là đơn vị kinh
tế tự chủ trong sản xuất và lợi ích của mình được đảm bảo thì họ sẽ huy động
mọi nguồn lực để đầu tư vào sản xuất với ý thức hoàn toàn tự nguyện.
       Công cụ sản xuất hiện đại không làm mất đi tính chất sinh học của đối
tượng sản xuất nông nghiệp. Đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây con, nó
đòi hỏi sự thống nhất giữa quá trình quản lý với quá trình lao động, sản xuất
phân phối và tiêu dùng, sự thống nhất giữa chủ thể kinh tế và hoạt động kinh
tế. Đặc tính này quy định sự tồn tại lâu dài của kinh tế hộ.
      Như vậy có thể kết luận rằng: Cùng với sự phát triển của lực lượng sản
xuất mà nền sản xuất xã hội chuyển từ sản xuất tự nhiên, tự cung, tự cấp
thành sản xuất kinh tế hàng hoá, hộ gia đình nông dân là đơn vị kinh tế tự
chủ, là nhân vật trung tâm trong quá trình chuyển nền nông nghiệp tự nhiên
hiện vật sang nền nông nghiệp hàng hoá
1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
NÔNG DÂN SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
      Trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân sản xuất
hàng hoá chịu sự tác động bởi các nhóm yếu tố như điều kiện tự nhiên, điều


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên            http://www.lrc-tnu.edu.vn
27


kiện kinh tế và khả năng tổ chức quản lý và sản xuất, điều kiện về khoa học
kỹ thuật và các chính sách của Nhà nước
1.3.1. Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
      - Vị trí địa lý và đất đai
      Vị trí đại lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đến sự
phát triển kinh tế hộ nông dân. Những hộ nông dân có được những vị trí thuận
lợi như gần đường giao thông, gần cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường
tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn... sẽ có điều
kiện phát triển sản xuất hàng hoá. Thực tế cho thấy,càng ở những vùng xa,...
do vị trí không thuận lợi nên kinh tế hộ nông dân kém phát triển.
      Sản xuất của hộ nông dân hiện nay chủ yếu là nông nghiệp, mà đất đai là
tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được trong quá trình sản xuất
nông nghiệp. Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ
nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và
chất lượng sản phẩm sản xuất ra, tới giá trị lợi nhuận và lợi nhuận thu được.
      Những nhân tố về điều kiện tự nhiên phải kể đến là các ưu đãi của tự
nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dân canh tác, như
thời tiết khí hậu, quá trình hình thành đất có tác động quyết định đến độ phì tự
nhiên, vị trí của mảnh đất đó, hay có thể nói gọn lại là địa tô chênh lệch 1. Đất
đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, quỹ ruộng đất nhiều hay ít,
tốt hay xấu đều có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất; đến khả năng sản
xuất hàng hoá.
      - Khí hậu và môi trường sinh thái
      Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Điều
kiện thời tiết, khí hậu có lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng... có mối quan
hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất. Những nơi có điều kiện
thời tiết, khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế được những bất


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
28


lợi, những rủi ro do thiên nhiên gây ra và có cơ hội để phát triển nông nghiệp,
tăng cường nông sản hàng hoá của các hộ nông dân.
      Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân,
nhất là nguồn nước, không khí. Bởi vì, những cây trồng và con gia súc tồn tại
và phát triển theo quy luật sinh học. Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì
cây trồng, con gia súc phát triển tốt, cho năng suất sản phẩm cao. Nếu môi
trường sinh thái không phù hợp dẫn đến cây trồng, con gia súc phát triển,
năng suất, chất lượng sản phẩm giảm, từ đó sản xuất hiệu quả của hộ nông
dân thấp.
1.3.2. Các nhân tố về điều kiện kinh tế và tổ chức quản lý
      Đây là nhóm yếu tố kinh tế và tổ chức liên quan đến thị trường và các
nguồn lực chủ yếu, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói
chung và phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá nói riêng.
      Cũng giống như mọi ngành sản xuất của xã hội, sản xuất hàng hoá của
hộ nông dân bị chi phối bởi quan hệ cung cấp và chịu ảnh hưởng của rất nhiều
nhân tố.
      - Yếu tố về lao động, vốn sản xuất và cơ sở hạ tầng nông thôn
      Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu
tiến bộ khoa học kỹ thuật về kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản xuất
phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học
vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao. Trình độ học vấn và trình độ
chuyên môn, cũng như kinh nghiệm sản xuất của người chủ hộ có vị trí quan
trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và thất bại trong sản xuất hàng
hoá của hộ nông dân.
      Vốn là điều kiện không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nó
là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vốn là một
trong những yếu tố quyết định sự hình thành hộ sản xuất hàng hoá. Khi có
quy mô vốn đủ lớn kinh tế hộ mới chuyển thành kinh tế trang trại gia đình.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
29


      Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất lao động cao cần phải sử dụng một
hệ thống công cụ phù hợp. Ngày nay với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ
sản xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả kinh
tế rất lớn cho các hộ nông dân. Năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng
tăng lên, chất lượng sản phẩm được đảm bảo tốt hơn. Do đó nó ảnh hưởng rất
lớn đến kết quả sản xuất hàng hoá của hộ nông dân.
      Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: đường
giao thông nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, trang thiết bị trong
nông nghiệp...Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất
hàng hoá của kinh tế hộ nông dân. Thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng
phát triển nơi đó sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các hộ nông
dân được cải thiện.
      - Yếu tố thị trường
      Thị trường: Nói đến thị trường là nói đến yêu cầu của xã hội đối với
nông phẩm. Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa
chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất. Đối với từng hộ nông dân, để đáp
ứng yêu cầu thị trường về nông sản hàng hoá, họ có xu hướng liên kết, hợp
tác sản xuất với nhau.
      Nói cách khác thị trường là một quá trình mà trong đó người mua và
người bán tác động qua lại để xác định giá cả và sản lượng. Cơ chế thị trường
bao gồm nhiều nhân tố: hàng hoá, tiền, mua, bán, cung cầu tác động qua lại
với nhau.
      Sản xuất hàng hoá phụ thuộc chủ yếu vào giá cả trên thị trường, những
sản phẩm nào được giá thì hộ nông dân chú ý phát triển. Vì vậy nhu cầu thị
trường sẽ quyết định hộ sản xuất với số lượng hàng hoá bao nhiêu và theo tiêu
chuẩn chất lượng nào. Thực tế cho thấy vùng nào có thị trường thuận lợi, nơi
đó có sản xuất hàng hoá phát triển.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
30


      Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn hàng
hoá mà thị trường cần và họ có khả năng sản xuất. Từ đó kinh tế hộ có điều
kiện phát triển sản xuất hàng hoá.
      - Yếu tố về hợp tác trong sản xuất kinh doanh
      Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, để cạnh tranh có hiệu quả
các hộ nông dân càng cần có sự hợp tác để có thêm vốn, thêm nhân lực, thêm
kinh nghiệm sản xuất và tiến hành sản xuất hàng hoá có hiệu quả cao hơn, tự
vệ chống lại sự chèn ép (ép cấp, ép giá) của tư thương. Thực tế trong thời gian
qua cho thấy, để đáp ứng yêu cầu của thị trường về nông sản hàng hoá, các hộ
nông dân phải liên kết, hợp tác lại với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn,
kỹ thuật và điều quan trọng là giúp nhau tiêu thụ nông sản phẩm. Nhờ có các
hình thức liên kết hợp tác mà các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành
tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng
suất cây trồng, năng suất gia súc và năng suất lao động của mình.
1.3.3. Các nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ
      - Yếu tố kỹ thuật canh tác
      Do điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi vùng có khác nhau, với
yêu cầu giống cây, con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau.
Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa
phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát
triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá.
      - Yếu tố ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
      Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ
thuật, vì nó tạo ra cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt. Thực
tế cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản
xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong
sản xuất nông nghiệp, họ giầu lên rất nhanh. Nhờ có công nghệ mà các yếu


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
31


tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu
được kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp. Như vậy, việc ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất hàng hoá phát triển, thậm
chí những tiến bộ kỹ thuật có thể làm thay đổi hẳn trình độ sản xuất hàng
hoá của một vùng.
1.3.4. Các nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc
      Nhóm các yếu tố này bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và
Nhà nước như: Chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ sản
phẩm, trợ giá nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho
vay vốn, giải quyết việc làm, chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng
kinh tế mới… Ngoài các yếu tố như đã nêu ở trên, hộ nông dân còn có những
điều kiện khác ảnh hưởng đến mức độ sản xuất hàng hoá của hộ, đó là việc
nắm bắt được nhu cầu thị trường; khả năng gắn sản xuất, chế biến và bao tiêu
sản phẩm, đồng thời phải có kỹ năng tổ chức sản xuất và tiếp cận thị trường,
có sản phẩm thặng dư.
      - Các chính sách kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hoá của
nông hộ. Chính sách kinh tế là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp vào sản
xuất, khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất loại nông sản hàng hoá. Từ năm
1988 trở lại đây, theo tinh thần Nghị quyết 10 giao quyền sử dụng đất lâu dài
cho các hộ nông dân và hàng loạt các chính sách được ban hành như chính
sách thị trường thống nhất trong cả nước, chính sách một giá, chính sách cho
nông dân vay vốn, chính sách thuế đất v.v..., sản xuất hàng hoá đã phát triển
nhanh chưa từng có. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài
thập kỷ, năm 1989 nước ta đã có 1,4 triệu tấn gạo hàng hoá để xuất khẩu và từ
đó đến nay trung bình hàng năm đã xuất 1,5 - 2,0 triệu tấn gạo và một số nông
sản khác như cao su, cà phê v.v.... Giá trị nông sản xuất khẩu tăng nhanh.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
32


      Từ hộ sản xuất tự cấp tự túc muốn phát triển thành hộ nông dân sản xuất
hàng hoá phải phá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất
hàng hoá. Chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến bộ
kỹ thuật mới vào sản xuất để kinh tế hộ nông dân hoạt động có hiệu quả.
      Các nhóm yếu tố tác động, ảnh hưởng đến hộ nông dân sản xuất hàng
hoá được minh hoạ qua sơ đồ 1.1.

                                         Điều kiện tự nhiên
                                               Vị trí địa lý
                                                 Đất đai
                                                Khí hậu
                                               Môi trường




                                                                        Kinh tế - TC
    Khoa học - CN                           Hộ nông dân                     Vốn - CC
    Kỹ thuật canh tác                                                    Kết cấu hạ tầng
    Ứng dụng KHKT                         sản xuất hàng hoá                Thị trường
                                                                        Kỹ năng lao động
                                                                        Liên kết - hợp tác




                                           Quản lý vĩ mô
                                            Chính sách thuế
                                              CS đất đai
                                             CS tín dụng



Sơ đồ 1.1. Ảnh hưởng của các yếu tố đến hộ nông dân sản xuất hàng hoá

1.4. SƠ LƢỢC TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO
HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở MỘT SỐ NƢỚC VÀ Ở VIỆT NAM
1.4.1. Trên thế giới
      Lịch sử phát triển nông nghiệp thế giới đã chứng minh rằng sự tồn tại và
phát triển của kinh tế hộ nông dân là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy
luật sản xuất nông nghiệp, kể cả trong điều kiện nông nghiệp được công

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên            http://www.lrc-tnu.edu.vn
33


nghiệp hoá, hiện đại hoá, có trình độ sản xuất hàng hoá cao. Trang trại gia
đình đã khẳng định được vị trí và vai trò của nó trong phát triển kinh tế.
      - Tình hình phát triển kinh tế trang trại tại Pháp
      Ở Pháp, năm 1955 có 2.285.000 trang trại, đến năm 1993 còn 801.400
tràng trại. Tốc độ trang trại giảm mỗi năm bình quân 2,7% [24,tr 98]. Diện tích
bình quân của các trang trại tăng lên. Diện tích trang trại qua các năm có xu
hướng tăng lên ở Pháp năm 1955 là 12 ha, năm 1993 có 35,1 ha. Số trang trại
dưới 5 ha chiếm 27,6%, số trang trại từ 5-20 ha chiếm 22,6 %, số trang trại trên
20 ha chiếm 49,8%. Bình quân quy mô về diện tích của trang trại ở Pháp là
29,2 ha, 42% thu nhập của trang trại là từ ngoài nông nghiệp. Hiện nay, các
trang trại gia đình sản xuất ra lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước
với tỷ suất hàng hoá về ngủ cốc là 95%, thịt sữa 70-80%, rau quả trên 70% và
riêng năm 1981 đã xuất khẩu trên 24 triệu tấn ngũ cốc [24, tr112-113].
      - Tình hình phát triển trang trại ở Mỹ
      Trang trại gia đình đã và đang là lực lượng chủ yếu sản xuất ra các loại
nông sản, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người. Nước Mỹ là nơi có kinh tế
trang trại phát triển với trình độ cao. Năm 1950 ở Mỹ có 5.648.000 trang trại
và các trang trại có xu hướng giảm dần về số lượng. Năm 1960 có 3.962.000
trang trại, năm 1970 có 2.954.000, năm 1992 còn 1.925.000 trang trại. Trong
khi đó diện tích bình quân của các trang trại cũng tăng lên, năm 1950 là 86 ha,
năm 1960 là 120 ha, năm 1970 là 151 ha, và năm 1992 là 198,7 ha [7].
      Hiện nay ở Mỹ các trang trại gia đình đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng
đậu tương và ngô của toàn thế giới, xuất khẩu 40-50 triệu tấn lúa mỳ, 50 triệu
tấn ngô, đậu tương... Các trang trại ở Mỹ nhờ áp dụng các tiến bộ Khoa học
kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh nên sản lượng nông sản làm ra của một lao
động nông nghiệp đến năm 1990 đủ để nuôi được 80 người [7].


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
34


      - Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân các nước Châu Á.
      Ở các nước Châu Á, chế độ phong kiến kéo dài, kinh tế nông nghiệp sản
phẩm sản xuất hàng hoá ra đời chậm hơn. Sau chiến tranh thế giới thứ hai,
nhiều nước ở lãnh thổ Châu Á đã tiến hành cải cách ruộng đất với nội dung,
mức độ khác nhau nhằm chuyển giao ruộng đất cho những người nông dân
trực tiếp sản xuất nông nghiệp.
      Ở Nhật Bản, năm 1946-1949, Nhà nước đã mua 1,95 triệu ha đất của các
chủ ruộng để bán cho các nông dân thiếu ruộng hoặc không có ruộng. Nhìn
chung việc tiến hành cải cách ruộng đất đã có tác động trực tiếp đến quá trình
hình thành và phát triển các trang trại gia đình theo hướng sản xuất nông
nghiệp hàng hoá. Quy mô ruộng đất bình quân của một trang trại ở Nhật bản
năm 1990 là 1,2 ha tăng lên 1,5 lần trong vòng 40 năm. Số trang trại chuyên
làm nông nghiệp trong giai đoạn 1960-1998 giảm trên 3 lần, từ 2 triệu xuống
chỉ còn 620.000 cơ sở. Các trang trại có thu nhập từ nghề nông nghiệp giảm
dần, làm nghề ngoài nông nghiệp tăng lên [7].
      Ở Trung Quốc, từ năm 1982 đã nhanh chóng thực hiện chế độ khoán đến
từng hộ. Năm 1984 Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông
dân. Đồng thời Chính phủ đưa ra chính sách khuyến khích tích cực việc mở
mang ngành nghề và dịch vụ, khuyến khích sản xuất hàng hoá và khuyến
khích các thành phần kinh tế trong nông thôn cũng phát triển. Cải cách giá cả
thu mua nông sản theo hình thức “cách kéo giá cả hợp lý”, để bảo trợ sản
xuất và thu nhập của nông dân. Đẩy mạnh phát triển các xí nghiệp hương trấn
với ngành nghề chính như gia công nông phẩm, phát triển công nghiệp, dịch
vụ trên cơ sở “li nông bất li hương”, “lấy công bù nông” đã tạo điều kiện cho
phát triển sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá nông nghiệp và thu hút được số
lao động dư thừa trong nông nghiệp.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
35


      Ở Malaixia, kinh tế hộ nông dân đã đóng góp quan trọng vào phát triển
nông nghiệp, kinh tế hộ sản xuất hàng hoá ngày càng chiếm ưu thế. Năm
1990 kinh tế trang trại gia đình đóng góp 9% kinh ngạch xuất khẩu và 11%
GDP, thu hút tới 88% lực lượng lao động nông nghiệp, góp phần rõ rệt trong
việc xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và liên kết các bang nghèo xa xôi
vào sự thống nhất kinh tế đa sắc tộc của quốc gia [7].
      Ở Hàn Quốc năm 1950, Nhà nước mua lại ruộng đất của chủ ruộng trên
3 ha để bán cho nông dân. Việc chú trọng phát triển kinh tế trang trại đã tự túc
được vấn đề lương thực. Từ năm 1975, các trang trại ở Hàn Quốc đã chuyển
hướng đa dạng hoá cơ cấu sản xuất, tăng cường các loại vật nuôi, cây trồng có
giá trị kinh tế cao. Sản lượng rau quả sản phẩm chăn nuôi tăng bình quân
hằng năm 8-10% [7].
1.4.2. Ở Việt Nam
1.4.2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh
tế hộ nông dân
      Từ khi có Chỉ thị 100 CT (01/1981) của Ban Bí thư Trung ương, đặc biệt
là từ sau Nghị quyết số 10 - NQ/TƯ của Bộ Chính trị (4/1988), hộ nông dân
được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ, tiến hành sản xuất hàng hoá, hạch toán
kinh doanh và có đầy đủ tư cách pháp nhân và quyền bình đẳng như mọi chủ
thể kinh tế khác thì mô hình kinh tế hộ mới được chú ý, kinh tế hộ từng bước
được khởi sắc và phát triển.
      Với mục tiêu giải phóng sức lao động, phát huy mọi tiềm năng của các
thành phần kinh tế, chuyển nền nông nghiệp nước ta sang sản xuất hàng hoá.
Nghị quyết 10 đã nêu lên những chủ trương giải pháp cơ bản để phát triển
kinh tế hộ, đó là: Giao khoán ruộng đất đến hộ và nhóm hộ xã viên ổn định
lâu dài, hoá giá các tư liệu sản xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật của hợp tác xã
mà tập thể quản lý không có hiệu quả để bán cho xã viên sử dụng. Thực hiện


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
36


việc khoán đến hộ và khuyến khích làm giàu chính đáng. Khuyến khích phát
triển kinh tế gia đình, kinh tế các thể và tư nhân trong nông nghiệp. Mở rộng
thị trường nông sản, chấp nhận quyền tự chủ tiêu thụ nông sản của hộ nông
dân. Sắp xếp đổi mới cơ chế quản lý hợp tác xã, các đơn vị kinh tế quốc
doanh nông, lâm, ngư nghiệp...
      Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã đề ra một số chủ trương, chính
sách lớn nhằm khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng
hoá. Nghị quyết số 06 - NQ/TƯ ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ chính trị
về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn đã chỉ rõ “... Tiếp tục
khuyến khích kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ để tạo ra lượng sản phẩm hàng
hoá đa dạng có chất lượng, giá trị ngày càng cao, tăng thu nhập cho mỗi gia
đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm
cho đô thị, công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiện việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngày từ kinh tế hộ” [4,tr.12].
      Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại
được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm
mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu quả và sức
cạnh tranh trong cơ chế thị trường. Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02
tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã khẳng định “Kinh
tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông
thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu
quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng
rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” [4,tr27]. Nghị
quyết đã đề ra các biện pháp về kinh tế và tổ chức nhằm khuyến khích phát
triển kinh tế trang trại ở nước ta trong những năm tới. Vì vậy, thực hiện
đường lối đối với của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nông dân đã phát huy tác
dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự phát triển nông nghiệp và kinh tế
nông thôn.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
37


1.4.2.2. Thành tựu phát triển kinh tế trang trại, hộ nông dân hướng hàng
hoá ở Việt nam
      Thành tựu nổi bật của những năm đổi mới vừa qua là đã giải quyết vững
chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, biến Việt Nam
từ một nước thiếu lương thực triền miên thành nước xuất khẩu gạo lớn liên
tục từ năm 1988 theo hướng năm sau cao hơn năm trước trong nhiều năm
liền. Những sản phẩm hàng hoá về cây công nghiệp, cây ăn quả có nhiều khởi
sắc và phần lớn là các sản phẩm sản xuất ở vùng đồi núi.
      Tuy thời gian phát triển kinh tế trang trại chưa dài, nhưng những kết quả
đạt được đã thể hiện là nhân tố mới trong nông nghiệp và nông thôn, góp
phần tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn.
      Bình quân 10 năm 1990 - 2000 so với bình quân năm năm trước đó, sản
lượng lạc tăng 34%, mía tăng 74%, cà phê tăng 2,8 lần, cao su tăng 87%, hồ
tiêu tăng 68%, chè tăng 27,3%, bông tăng 2,38 lần [5]. Các loại cây ăn quả
đặc sản có chất lượng cao phát triển mạnh, nhất là nho, vải thiều, nhãn, mận
hậu, cam…đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét ở nhiều vùng trong cả
nước.Bình quân 5 năm trước đó đàn trâu tăng 5%, đàn bò tăng 10%, đàn lợn
tăng 20%, đàn gia cầm tăng 25%, sản lượng trứng tăng 33%. Đặc biệt đàn bò
sữa tăng gấp 3 lần so với năm 1990 [5].
      Sản lượng lâm nghiệp tiếp tục phát triển, trong khó khăn nhiều mặt
những vẫn đạt được kết quả và tiến độ nhất định trong cả hai lĩnh vực trồng
rừng và khai thác gỗ, lâm sản. Diện tích trồng rừng năm 1999 đạt 200 nghìn
ha, góp phần quan trọng giảm bớt diện tích đất trống đồi núi trọc và tăng tỷ lệ
che phủ đất rừng từ năm 1990 là 28,4% lên 33,2% năm 2000 [5].
      Sau hơn sáu năm thực hiện Nghị quyết số 03 của Chính phủ về kinh tế
trang trại (ngày 02-02-2000), kinh tế trang trại ở nước ta có bước phát triển


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
38


nhanh về số lượng, đa dạng về hình thức tổ chức sản xuất.Theo tiêu chí phân
loại trang trại thống nhất chung cả nước, tốc độ tăng số lượng trang trại bình
quân từ năm 2000 đến năm 2004, khoảng 6%. Hiện nay cả nước có gần 150
nghìn trang trại với hơn 900 nghìn ha (bình quân mỗi trang trại khoảng 6 ha).
Lấy năm 2004 so với năm 2000, thì vùng Đông Nam Bộ, số lượng trang trại
tăng khoảng 30,6%; Đồng Bằng Sông Cửu Long tăng hơn 11,6%. Vùng Đồng
Bằng sông Cửu Long có số trang trại nhiều nhất, chiếm tỷ trọng hơn 50%
tổng số trang trại của cả nước. Kinh tế trang trại thời gian qua phát triển với
nhiều loại hình: Trang trại trồng cây lâu năm, trang trại chăn nuôi, trang trại
nuôi trồng thuỷ sản, trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp. Theo điều tra
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2004, các trang trại đã sử
dụng gần 500 nghìn ha đất và mặt nước. Trong đó diện tích cây trồng hàng
năm chiếm khoảng 37,3%, diện tích trồng cây lâu năm chiếm 26%, đất lâm
nghiệp 18,7%, diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 18%. Đột phá lớn nhất
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là nuôi
trồng thuỷ sản với hiệu quả cao hơn nhiều lần so với các loại cây trồng, vật
nuôi khác. Đến nay cả nước đã có khoảng 30 nghìn trang trại nuôi trông thuỷ
sản, thu hút và giải quyết việc làm ổn định hàng trăm nghìn lao động. Ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là kinh tế mũi nhọn,
chiếm khoảng 78% số trang trại nuôi trồng thuỷ sản của cả nước. Năm 2004
bình quân giá trị sản lượng/ha canh tác của trang trại từ 35 triệu đồng đến 50
triệu đồng, trong đó trang trại nuôi trồng thuỷ sản, hoặc cây trồng đặc sản đạt
hơn 100 triệu đồng/ ha/ năm. Những kết quả trên đã mở ra khả năng và hướng
đầu để phát triển kinh tế trang trại. Theo số lượng của 45 tỉnh, thành phố
trong cả nước, trong năm 2004, tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ của các trang
trại đạt hơn 8500 tỷ đồng. Điều đáng nói là kinh tế trại đã mở ra hướng làm ăn
mới, được hộ nông dân tích cực hưởng ứng, hình thành đội ngủ nông dân
năng động, dám nghĩ, dám làm.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
39


1.5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1. Câu hỏi nghiên cứu
       Kinh tế hộ nông dân của nói chung và đặc biệt là vùng nông thôn của
Huyện Đồng Hỷ có nhiều khó khăn, tụt hậu. Vấn đề phát triển kinh tế hộ nông
dân theo hướng sản xuất hàng hoá đang được các cấp uỷ Đảng, chính quyền,
đoàn thể, các ngành và các nhà khoa học quan tâm. Những vấn đề đặt ra hay
câu hỏi cần nghiên cứu của đề tài là: Khả năng phát triển hàng hoá của kinh
tế hộ ở huyện Đồng Hỷ ra sao? Những giải pháp chủ yếu nào nhằm thúc đẩy
kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá?
1.5.2. Chọn điểm nghiên cứu
      Với đặc điểm riêng của các vùng sinh thái trong huyện Đồng Hỷ, để đảm
bảo tính đại diện và đáp ứng yêu cầu đề tài đặt ra huyện Đồng Hỷ có thể chia
thành 3 vùng rõ rệt.Về quy mô điều tra, ngoài việc nghiên cứu chung các hộ
nông dân trong toàn huyện, để đi sâu vào chi tiết chúng tôi tiến hành điều tra
mỗi vùng 1 xã, mỗi xã 30 hộ. Về cơ cấu điều tra như sau:
      Vùng bằng phẳng (Trung tâm): xã Hóa Thượng
      Vùng đồi dốc (Phía Nam): xã Khe Mo
      Vùng cao (Phía bắc): xã Hoà Bình
1.5.3. Phƣơng pháp thu thập số liệu
      Để đảm bảo tính chính xác của tài liệu, chúng tôi dùng các phương pháp
sau để thu thập số liệu:
      Thu thập các tài liệu sẵn có trong sách báo, số liệu của các phòng, ban
chuyên ngành như phòng thống kê, phòng thuỷ lợi, phòng nông nghiệp,
phòng tổng hợp... Các số liệu cơ bản: đất đai, lao động, một số chỉ tiêu kinh tế
xã hội địa phương.
      Tiến hành điều tra số liệu bằng các phương pháp chọn mẫu thông qua
điều tra trực tiếp các hộ đã chọn.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
40


      Trong quá trình điều tra chúng tôi thực hiện phỏng vấn hộ nông dân
      Việc thu thập số liệu được tiến hành qua các bước sau
      Bước 1: Chọn mẫu điều tra
      Phương pháp chọn mẫu điều tra là căn cứ vào danh sách các hộ trên địa
bàn, tiến hành phân loại hộ theo tiêu chí hộ giàu, hộ trung bình, hộ nghèo.
      Chọn mỗi xã 30 hộ nông dân, bằng phương pháp ngẫu nhiên dựa trên tỷ
lệ các nhóm hộ của từng xã đã được người dân tham gia bình chọn.
      Tính bước nhảy (Tính theo danh sách từng nhóm hộ của vùng điều tra)

                                            Tổng số hộ trong diện điều tra
        Bước nhảy (Kh) =                         Số hộ được điều tra

      Lấy ngẫu nhiên bất kỳ Nh trong khoảng 1. Kh, từ đó tính các giá trị: Nh,
Nh+kh, Nh+2kh… Các hộ được chọn là hộ có thứ tự trùng với giá trị trên.
      Bước 2: Xây dựng phiếu điều tra và thực hiện phỏng vấn điều tra về tình
hình cơ bản của hộ như: tên, tuổi, trình độ văn hoá, chuyên môn, tình trạng
kinh tế, tình hình đất đai, lao động, tiền vốn...
      Bước 3: Tổng hợp số liệu trên cơ sở phân tổ thống kê
      Để phản ánh và đánh giá thực trạng kinh tế hộ nông dân cần phải phân tổ
thồng kê để so sánh và đánh giá. Các tiêu thức phân tổ như sau:
      Theo xuất xứ của chủ hộ (hộ bản địa, hộ di dời, khai hoang); theo tộc
người (Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu...); Theo xã điều tra (xã Hoá Thượng, Khe
Mo, Hoà Bình); theo quy mô các nguồn lực sản xuất của hộ nông dân (như đất
đai, lao động, vốn...); theo quy mô sản xuất hàng hoá của hộ (hộ hàng hoá lớn,
hộ hàng hoá trung bình, hộ hàng hoá nhỏ). Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh
tế của hộ sản xuất hàng hoá của huyện Đồng Hỷ, chúng tôi xây dựng tiêu chí
về quy mô hộ sản xuất hàng hoá như sau: Hộ hàng hoá lớn có giá trị sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm từ 15 triệu đồng trở lên. Hộ hàng hoá
trung bình có giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ bình quân bán ra khỏi hộ từ
10 triệu đồng đến dưới 15 triệu đồng. Hộ hàng hoá nhỏ có giá trị sản phẩm bán


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                    http://www.lrc-tnu.edu.vn
41


ra khỏi hộ dưới 10 triệu đồng; theo hướng sản xuất kinh doanh chính (gồm cây
hàng năm, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, chăn nuôi và lâm nghiệp).
Hướng sản xuất kinh doanh chính là ngành có giá trị sản phẩm và sản phẩm
hàng hoá chiếm tỷ trọng cao (thường trên 50%) của hộ.
1.5.4. Phƣơng pháp phân tích số liệu
      - Phương pháp thống kê kinh tế:
      Phương pháp phân tổ thống kê bao gồm chủ yếu là thống kê mô tả và
thống kê so sánh. Phương pháp thống kê mô tả được thực hiện thông qua việc
sử dụng số bình quân, tần suất, số tối đa và tối thiểu. Phương pháp thống kê
so sánh bao gồm cả số tương đối và số tuyệt đối để đánh giá sự vật và hiện
tượng theo không gian và thời gian.
      Trên cơ sở các chỉ tiêu đã được tính toán cho từng dạng hộ nông dân
theo các dạng nhóm phân tổ, có thể so sánh các vùng khác nhau, giữa các năm
với nhau và giữa các dân tộc khác nhau, nhằm rút ra những ưu điểm, những
hạn chế của các đối tượng, làm cơ sở cho việc đề ra những giải pháp triển phù
hợp với các mô hình sản xuất của hộ trên vùng sinh thái.
      Phương pháp so sánh chỉ áp dụng đối với các chỉ tiêu và các đối tượng
so sánh có ý nghĩa nhằm phát hiện những nét đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ
nông dân. Đồng thời phương pháp này được sử dụng chủ yếu là so sánh kinh
tế hộ nông dân theo hướng phát triển kinh tế hàng hoá ở những mô hình kinh
tế trong các vùng ở các đồng bào dân tộc khác nhau.
      - Phương pháp toán kinh tế, tiếp cận hàm sản xuất Cobb - Douglas
      Phương pháp này nhằm phân tích tác động cụ thể của các yếu tố ảnh
hưởng đến thu nhập của hộ sản xuất hàng hoá. Thu nhập của hộ sản xuất hàng
hoá là chỉ tiêu quan trọng phản ánh kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh
của hộ. Nhưng, thu nhập của hộ sản xuất nông lâm nghiệp lại trực tiếp phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như vốn, lao động, diện tích đất.
      Xây dựng hàm sản xuất Cobb - Douglas
                                     Y = a0. X1a1. X2a2.X3a3X4 a4


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.lrc-tnu.edu.vn
42


      Lôgarit 2 vế đưa hàm sản xuất về dạng tuyến tính ta có:
                    LnY = lna0+ a1LnX1 + a2LnX2 + a3LnX3 + a4LnX4
       Trong đó:         Y là thu nhập của nông hộ sản xuất (1.000đ).
                a0: Hệ số tự do (hằng số);
                X1 : Vốn của hộ (1.000đ);
                X2 : Lao động gia đình của hộ (người);
                X3 : Diện tích đất nông nghiệp của hộ (ha);
                 X4: Trình độ văn hoá của chủ hộ (Cấp 1,2,3);
        a1, a2, a3, a4 Là hệ số tương quan ứng với biến thứ X1, X2, X3,X4
        Hàm này được xây dựng và phân tích cho tất cả các hộ điều tra.
        Hệ số a1, a2, a3,a4 cho biết khi tăng 1% các yếu tố đầu vào (Vốn, lao
động, đất, trình độ văn hoá) sẽ làm cho thu nhập của hộ tăng (Nếu a1, a2, a3
a4>0) hoặc giảm (Nếu a1, a2, a3,a4<0) tương ứng bằng a1, a2, a3,a 4 %.
1.5.5. Các chỉ tiêu phản ánh trình độ và hiệu quả sản xuất hàng hoá của
kinh tế hộ nông dân
      Nhóm chỉ tiêu phản ánh về chủ hộ nông dân: Trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm sản xuất, khả năng tiếp thu khoa học kỹ
thuật, khả năng tiếp cận thị trường, độ tuổi bình quân, giới tính.
      Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ nông dân:
đất đai bình quân 1 hộ, 1 lao động, 1 nhân khẩu; vốn sản xuất bình quân 1 hộ
và cơ cấu vốn theo tính chất vốn; lao động bình quân 1 hộ, lao động bình
quân/ người tiêu dùng bình quân.
      Nhóm chỉ tiêu phản ánh phương hướng và kết quả sản xuất hàng hoá của
hộ nông dân: giá trị sản xuất trong năm, cơ cấu giá trị sản xuất. Giá trị sản xuất
hàng hoá của hộ, tỷ trọng giá trị sản xuất hàng hoá, cơ cấu sản phẩm hàng hoá.
      Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập và thu chi của hộ nông dân: tổng
thu của hộ, tổng chi phí bình quân 1 hộ nông dân, thu nhập của hộ nông dân,
mức thu nhập bình quân / khẩu, cân đối thu chi trong năm của hộ.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên               http://www.lrc-tnu.edu.vn
43


                                            Chƣơng 2
       THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
      Huyện Đồng Hỷ là một huyện trung du - miền núi nằm ở phía Đông Bắc
của tỉnh Thái Nguyên. Trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 3 km
theo quốc lộ 1B. Phía Đông giáp với tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp với huyện
Phú Lương, phía Nam giáp với huyện Phú Bình và Thành phố Thái Nguyên,
phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Cạn (Phụ lục số 03).
      Có toạ độ địa lý: 21032' - 21051' độ vĩ Bắc. 105046' - 1060 04 độ kinh Đông.
      Với đặc trưng của vùng đất trung du miền núi, Đồng Hỷ có thế mạnh về
nông nghiệp, địa bàn lại nằm tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên có đường
quốc lộ 1B đi qua, nên đây là điều kiện thuận lợi để huyện tiêu thụ các mặt
hàng nông, lâm sản của mình. Trên địa bàn huyện có sông Cầu chảy qua hàng
năm được bồi đắp một lượng phù sa lớn từ con sông Cầu. Trên địa bàn huyện
có nhiều khu vực đất bằng phẳng, các khu ruộng nối liền với nhau thành một
cánh đồng lớn, có hệ thống tưới tiêu tốt rất thuận tiện cho phát triển trồng trọt
và chăn nuôi.
      Đồng Hỷ nằm gần thành phố Thái Nguyên, gần khu công nghiệp, gần
các trung tâm văn hoá, khoa học, giáo dục của các tỉnh trung du và miền núi
Bắc Bộ nên chịu sự tác động lớn về giao lưu trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã
hội, đây là điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ, phổ biến và quảng bá sản
phẩm hàng hoá sản xuất ra của trang trại và hộ nông dân trong huyện.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên           http://www.lrc-tnu.edu.vn
44


2.1.1.2. Địa hình
        Là một huyện điển hình cho vùng trung du và miền núi phía Bắc, nên
địa hình phức tạp không thống nhất. Với độ cao trung bình khoảng 100 mét
so với mặt nước biển, địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, cao
nhất là xã Văn Lăng 600 mét, thấp nhất là xã Đồng Bẩm, Huống Thượng độ
cao chỉ 20 mét. Vùng Bắc giáp với Huyện Võ Nhai có địa hình núi cao, diện
tích đất nông nghiệp ít, chiếm 9% tổng diện tích đất tự nhiên. Vùng trung du
nằm ở phía Tây Nam của Huyện tiếp giáp với thành phố Thái nguyên, địa
hình tương đối bằng phẳng, diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 20% diện
tích đất tự nhiên, thích hợp với sản xuất đất nông nghiệp, chăn nuôi (thuỷ
sản, gia cầm). Vùng núi phía đông nam tiếp giáp với huyện Yên Thế - Bắc
Giang có nhiều đồi núi thấp với diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 14%
diện tích đất tự nhiên của vùng.
        Địa hình huyện Đồng Hỷ có nhiều đồi núi xen lẫn nhau với những đồi
thấp nên mưa lớn xói mòn, rửa trôi mạnh. Sản phẩm của sự xói mòn đó là sự
bồi tụ đất tạo thành nhiều cánh đồng dốc tụ lại phân bố ở khắp mọi nơi,
chính vì thế đất dốc tụ thành thung lũng là loại đất trồng lúa, hoa màu chủ
yếu của huyện. Đất canh tác nông nghiệp chủ yếu là ruộng bậc thang.
        Huyện Đồng Hỷ có thể chia thành 3 vùng rõ rệt:
        - Vùng bằng phẳng (trung tâm) gồm các xã: Hoá Thượng, Cao Ngạn,
Chùa Hang, Đồng Bẩm, Linh Sơn, Huống Thượng, Nam Hoà. Vùng này có
địa hình thấp, nằm giáp với thành phố Thái Nguyên. Vùng này phát triển sản
xuất nông nghiệp như: Trồng lúa, rau, màu, chăn nuôi tiểu gia súc và dịch
vụ. Là trung tâm y tế, giáo dục, thương mại của huyện, người dân có cuộc
sống khá ổn định, sản xuất hàng hoá đã phát triển, trình độ dân trí khá hơn so
với các vùng khác.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
45


        - Vùng đồi dốc (phía Nam) gồm các xã: Khe Mo, Văn Hán, Cây Thị,
Trại Cau, Tân Lợi, Hợp Tiến. Vùng này chủ yếu là đất đồi dốc với độ cao, đất
đai bị rửa trôi, xói mòn, có đất ruộng nhưng ít. Ở đây chủ yếu trồng cây lâm
nghiệp, cây chè, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, trồng lúa nước.
        - Vùng cao (phía Bắc) gồm các xã: Văn Lăng, Hoà Bình, Tân Long,
Quang Sơn, Hoá Trung, Minh Lập, Sông Cầu. Vùng này đất đồi dốc và núi đá
là chủ yếu, đất lúa rất ít, vùng này thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, cây
công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, trồng lúa nương.
2.1.1.3. Đất đai và thổ nhưỡng của Huyện
        *Đất đai
        Diện tích đất tự nhiên là 47.037,94 ha, Đồng Hỷ là huyện có diện tích
tự nhiên lớn thứ 3 của tỉnh (sau huyện Võ Nhai và Đại Từ), bình quân diện
tích tự nhiên trên đầu người là 0,49 ha/ người, cao hơn bình quân của tỉnh
0,14 ha/ người. Cơ cấu diện tích các loại đất trong huyện được thể hiện ở
bảng sau:
        Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Đồng Hỷ là 47.037,94 ha, đất
lâm nghiệp của huyện chiếm 45,5% tổng diện tích đất tự nhiên, sau đó đến đất
nông nghiệp là 12.488,92 ha chiếm 26,55% tổng diện tích đất tự nhiên của
huyện và đất chưa sử dụng còn rất lớn chiếm 21,64% tổng diện tích đất tự
nhiên của huyện Đồng Hỷ (bảng 2.1).




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
46


                   Bảng 2.1: Tình hình đất đai và sử dụng đất đai
                              của huyện Đồng Hỷ năm 2007
                    Loại đất                           Diện tích (ha)          Cơ cấu (%)
 Tổng diện tích đất tự nhiên                             47.037,94                100,00
 I. Đất nông nghiệp                                      12.488,92                 26,55
 1. Đất trồng cây hàng năm                               6.969,83                  55,81
 2. Đất vườn tạp                                         1.357,06                  10,87
 3. Đất trồng cây lâu năm                                3.989,74                  31,95
 4. Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản                      172,29                    1,38
 II. Đất lâm nghiệp có rừng                              21.402,61                  45,5
 1. Rừng tự nhiên                                        12.071,84                 56,40
 2. Rừng trồng                                           9.329,44                  43,59
 3. Đất ươm cây giống                                      1,33                    0,006
 III. Đất chuyên dùng                                    2.101,29                   4,47
 IV. Đất ở                                                864,79                    1,87
 1. Đất ở đô thị                                          105,00                   12,14
 2. Đất ở nông thôn                                       759,79                   87,86
 V. Đất chƣa sử dụng                                     10.180,33                 21,64
 1. Đất bằng chưa sử dụng                                 384,93                    3,78
 2. Đất đồi núi chưa sử dụng                             7.670,39                  75,35
 3. Đất có mặt nước chưa sử dụng                           33,60                    0,33
 4. Sông, suối                                           1.112,26                  10,93
 5. Núi đá không có rừng cây                              463,70                    4,55
 6. Đất chưa sử dụng khác                                 515,45                    5,06
 7. Hệ số sử dụng ruộng đất                                1,99

                        Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                     http://www.lrc-tnu.edu.vn
47


      * Thổ nhưỡng
      Với địa hình phức tạp, đất đai đa dạng tạo điều kiện cho huyện Đồng Hỷ
phát triển các loại cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, cây lâm nghiệp. Những
cánh đồng ở thung lũng phát triển cây lương thực đảm bảo an toàn lương thực tại
chỗ cho toàn huyện, đồng thời phát triển phong phú các cây rau mầu, cây công
nghiệp ngắn ngày tạo điều kiện cho phát triển sản xuất hàng hoá.
        Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 47.037,94 ha, phân theo thổ
nhưỡng bao gồm các loại đất như sau: đất phù sa bồi tụ có 644 ha phân bố
chủ yếu ven sông Cầu thuộc các xã Đồng Bẩm, Huống Thượng. Đất phù sa
không được bồi là 1.258 ha, chủ yếu ở xã Đồng Bẩm, Huống Thượng, Linh
Sơn, Nam Hoà, Hoà Bình, Minh Lập, Hoá Thượng, Cao Ngạn.
        Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ và vàng là 410,5 ha phân bố nhiều ở
Huống Thượng. Đất phù sa ngòi suối có 100,6 ha thuộc các xã Khe Mo, Hóa
Trung, Hoá Thượng và Minh Lập.
2.1.1.4. Điều kiện khí hậu, thời tiết
        Huyện Đồng Hỷ nằm trong vùng có khí hậu mang tính đặc trưng của
các tỉnh miền núi và trung du phía Bắc, do đó từng vùng khác nhau có đặc
điểm khí hậu khác nhau:
        - Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 270C
        - Về độ ẩm không khí trung bình, thay đổi từ 78 - 86%
        Khí hậu huyện Đồng Hỷ nói trung là nóng và ẩm thuận lợi cho việc
phát triển ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, với điều kiện nhiệt độ cao có thể
làm nhiều vụ trong một năm mà vòng sinh trưởng của cây trồng vẫn có thể
đảm bảo, điều kiện mưa ẩm tạo điều kiện cho nhiều loại cây rau phát triển.
Nếu làm thuỷ lợi tốt biết cách giữ điều hoà nước có thể đảm bảo cung cấp
nước cho cây trồng trong cả năm. Khí hậu huyện Đồng Hỷ chia thành hai mùa
rõ rệt là mùa hè và mùa đông khô lạnh.
        Mùa hè từ khoảng tháng 5 đến tháng 10, mùa hè nhiệt độ trung bình
là 27 - 290C có lúc lên tới 30 - 310C, mùa này thường có mưa, mưa nhiều


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
48


nhất là tháng 7, tháng 8, trung bình lượng mưa trong tháng này là 300 - 500
mm và chiếm tổng số 40 - 46% lượng mưa cả năm. Mùa này nói trung thời
tiết khí hậu thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Song vào
mùa mưa, thỉnh thoảng có gió bão gây mưa to, gió lớn, úng lụt làm ảnh
hưởng đến sản xuất nông lâm nghiệp. Đồng thời do địa hình miền núi nên
những trận mưa to ở đầu nguồn dẫn đến xói mòn đất, gây bạc màu cho đất.
Mùa đông khô hanh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình là 150
- 220C, có lúc xuống thấp dưới 150C. Mùa này mưa ít thường hay bị hạn vào
tháng 12, tháng 1 có những đợt gió mùa Đông Bắc kèm theo thời tiết lạnh, đôi
khi có sương muối kéo dài, rét đậm gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
        Nhìn chung điều kiện thời tiết khí hậu có những thuận lợi cho sinh
trưởng phát triển cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên khi xẩy ra hạn hán, lũ lụt, sâu
bệnh…cũng gây khó khăn cho sản xuất lâm nghiệp.
2.1.1.5. Thuỷ văn
        Sông suối của huyện đều bắt nguồn từ khu vực núi cao phía Bắc và
Đông Bắc, mật độ sông suối bình quân 0,2km/km2. Huyện Đồng Hỷ có các
sông suối lớn là:
        - Sông Cầu là con sông lớn nhất chảy theo hướng Bắc Nam, chảy qua
phía Tây của huyện dài khoảng 47 km là nguồn nước chính cung cấp cho Đồng
Hỷ. Chế độ dòng chảy thất thường nhiều năm gây úng lụt, về mùa cạn nước
sông xuống thấp gây hạn hán.
         - Sông Linh Nham: Bắt nguồn từ huyện Võ Nhai và chảy qua xã Văn
Hán, Khe Mo, Hoá Thượng, Linh Sơn ra Sông Cầu, chiều dài chảy qua huyện
Đồng Hỷ là 28 km. Do rừng đầu nguồn bị chặt quá nhiều lên lưu lượng nước
giữa mùa mưa và mùa khô chênh lệch rất lớn, mùa mưa thường gây lũ lớn, mùa
khô mực nước sông xuống rất thấp.
        - Sông Ngòi Trẹo bắt nguồn từ xã Văn Hán chảy qua Nam Hoà dài 19
km; suối Ngàn Khe bắt nguồn từ Cây Thị chảy qua thị trấn Trại Cau và Nam


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
49


Hoà dài 21 km. Ngoài ra còn hàng chục con suối lớn nhỏ khác cộng với hàng
chục hồ nước lớn, nhỏ phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
2.1.1.6. Tài nguyên rừng và khoáng sản
         Huyện Đồng Hỷ có 21.402,61 ha rừng, trong đó diện tích rừng trồng
là 9.329,44 ha.
        Huyện Đồng Hỷ có nhiều loại khoáng sản như: Quặng sắt, kẽm, chì,
vàng sa khoáng, đá vôi.. điều này tao điều kiện thuận lợi cho huyện trong việc
phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp vật liệu xây dựng.
2.1.2. Điều kiện về kinh tế xã hội
2.1.2.1. Tình hình nhân khẩu và lao động
        Dân số toàn huyện Đồng Hỷ năm 2007 là 127.279 người, tốc độ tăng
trưởng dân số năm 2005 - 2007 là 2,17%. Mật độ dân số phân bố không đều,
nơi có mật độ dân số cao nhất là thị trấn Chùa Hang 3.124 người/km2 trong
khi đó nơi có mật độ dân số thấp là xã Văn Lăng 71 người/km2. Điều này ảnh
hưởng tới quy hoạch đầu tư và phát triển kinh tế xã hội của vùng.
        Nơi có mật độ dân số đông, thì vấn đề giải quyết việc làm rất cấp bách
nếu không giải quyết được sẽ kéo theo tệ nạn xã hội sẽ tăng. Còn nơi có mật
độ dân số thấp thì không có đủ nguồn lực để khai thác tiềm năng tự nhiên.
Đây chính là vấn đề cần giải quyết của Huyện trong những năm tới.
        Huyện Đồng hỷ có nhiều dân tộc anh em sinh sống, dân tộc Kinh chiếm
chủ yếu 93,26%, dân tộc Nùng 2,44%, Sán Dìu 2,28%, Dao 0,84%, Tày
0,47%, Sán Chay 0,1%, H Mông 0,23%, Hoa 0,05% các dân tộc khác 0,44%.
Trình độ dân trí ở các vùng khác nhau, vùng sâu vùng xa trình độ dân trí thấp,
cơ sở hạ tầng được đầu tư ít, kém phát triển, đời sống vấn còn nghèo.
        Qua bảng 2.2 ta thấy Dân số của huyện có sự biến động tăng qua các
năm cụ thể là năm 2005 là 124.566 người, năm 2006 là 125.811 người tăng
1% so với năm 2005, đến năm 2007 là 127.279 người tăng 1,17% so với năm


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
50


2006. Bình quân qua 3 năm (2005-2007) dân số tăng 1,09%. Đây là tỷ lệ tăng
dân số chưa phải là cao, nhưng để ổn định và phát triển kinh tế xã hội huyện
cần phải làm tốt công tác tuyên truyền kế hoạch hoá gia đình cho từng vùng,
thôn, xóm...
        Đồng Hỷ là huyện phần lớn là sản xuất nông nghiệp tính đến năm 2007
dân số nông nghiệp là 89.238 người chiếm 70,11% tổng dân số toàn huyện có
mức tăng bình quân qua 3 năm là 0,57%, nhân khẩu phi nông nghiệp chiếm
29,89% trong tổng dân số toàn huyện mức tăng bình quan qua 3 năm là
2,32% khá cao. Đây chính là dấu hiệu tốt cho việc phát triển các ngành nghề
dịch vụ, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.
        Bên cạnh sự gia tăng dân số thì số lao động trong huyện cũng tăng lên
năm 2005 là 67.119 lao động, năm 2006 là 67.879 lao động tăng 1,13% so với
năm 2005, năm 2007 là 68.563 lao động tăng 1% so với năm 2006. Bình quân
qua 3 năm tăng 1,06%.Trong đó lao động nông nghiệp chiếm phần lớn, nhưng
tỷ trọng của nó trong cơ cấu lao động lại có xu hướng giảm. Năm 2005 chiếm
71,16% trong tổng số lao động đến năm 2007 chiếm 71,09% trong tổng số lao
động. Số lao động phi nông nghiệp mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng
số lao động, ngược lại nó lại có xu hướng tăng lên về cơ cấu nhưng không
đáng kể năm 2005 là 28,84% trong tổng lao động, đến năm 2007 chiếm
28,91% trong tổng lao động.
        Khi dân số tăng kéo theo số hộ cũng sẽ tăng, bình quân qua 3 năm
1,06%. Trong đó cả hộ nông nghiệp tăng 1,33%, số hộ phi nông nghiệp tăng
cao hơn 8,18%.
        Như vậy qua tình hình dân số và lao động của huyện Đồng Hỷ ta thấy
lực lượng lao động tập trung vào sản xuất nông nghiệp và sản xuất công
nghiệp. Một bộ phận nhỏ làm ngành nghề khác. Đây là điều kiện thuận lợi để
phát triển nền nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
51
                                                                              51


                    Bảng 2.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện Đồng Hỷ qua 3 năm (2005-2007)
                                                        Năm 2005               Năm 2006                Năm 2007           Tốc độ phát triển (%)
                Chỉ tiêu                    ĐVT
                                                        SL      CC (%)        SL       CC (%)          SL      CC (%)   06/05    07/06      BQ
  I. Tổng nhân khẩu                        Ngƣời      124.566    100       125.811        100        127.279    100     101,00   101,17   101,09
  1.Nhân khẩu nông nghiệp                  Người      88.232    70,83       88.368      70,24        89.238    70,11    100,15   100,99   100,57
  2. Nhân khẩu phi nông nghiệp             Người      36.334    29,17       37.443      29,76        38.041    29,89    103,05   101,59   102,32
  II. Tổng số hộ                             Hộ       27.611     100        28.177        100        29.866     100     102,05   105,99   104,02
  1. Hộ nông nghiệp                          Hộ       19.075    69,02       19.126      67,88        19.858    66,49    100,27   102,39   101,33
  2. Hộ phi nông nghiệp                      Hộ       8.554     30,98       9.051       32,12        10.008    33,51    105,8    110,57   108,18
  III. Tổng số lao động                      LĐ       67.119     100        67.879        100        68.563     100     101,13   101,00   101,06
  1. Lao động nông nghiệp                    LĐ       47.763    71,16       48.259      71,15        48.738    71,09    101,11   100,99   101,05
  2. Lao động phi nông nghiệp                LĐ       19.356    28,84       19.584      28,85        19.825    28,91    101,18   101,23   101,21
  IV. Bình quân LĐNN/hộ NN                 LĐ/hộ       2,51       -          2,53          -          2,45       -      100,75   96,83     98,79
  V. Bình quân NKNN/hộ NN                  Ng/hộ       4,63       -          4,62          -          4,56       -      99,79    98,70     99,25

                                              ( Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ năm 2007)




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                      http://www.lrc-tnu.edu.vn
52


2.1.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện
        - Hệ thống đường giao thông: Mạng lưới giao thông huyện Đồng Hỷ đã
đảm bảo nhu cầu cơ bản cho việc đi lại, phát triển kinh tế - xã hội. Từ Thành phố
đi qua trung tâm huyện là tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ dài 47,5 km. Hệ thống
đường sông khoảng 45 km từ xã Văn Lăng đến xã Huống Thượng. Hiện nay
giao thông Đồng Hỷ có tổng số 667 km. Đến nay toàn bộ 20 xã thị trấn của
huyện đã có đã có đường giao thông nông thôn và trung tâm xã, ôtô đi lại thuận
tiện, giao lưu kinh tế - văn hoá - xã hội, phục vụ an ninh quốc phòng của nhân
dân và các dân tộc toàn huyện Đồng Hỷ. Tuy nhiên hệ thống giao thông ở
khu vực vùng sâu, vùng xa còn khó khăn, chưa có đường nhựa, có những
đường rải sỏi, đá ong, đường gồ ghề, lầy lội khi trời mưa cũng ảnh hưởng
đến việc giao lưu kinh tế - xã hội. Do vậy cần phải có những biện pháp,
giải pháp để nâng cao chất lượng hệ thống giao thông của huyện để đáp
ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế xã hội.
        - Thuỷ lợi của huyện: Những năm qua bằng nguồn vốn của tỉnh hỗ trợ
và ngân sách địa phương, huyện đã xây dựng được nhiều công trình thuỷ lợi
lớn, vừa và nhỏ. Toàn huyện có 49 hồ chứa nước; 52 đập dâng 68 trạm bơm
và 147,915 km kênh mương nội đồng được xây dựng kiên cố hoá, phân bố
đều trên địa bàn huyện.
        Trạm thuỷ nông: Công tác quản lý khai thác bảo vệ các công trình thuỷ
lợi được đảm bảo trong mùa mưa lũ, phục vụ tưới tiêu kịp thời theo yêu cầu
sản xuất. Trong vụ xuân diện tích tưới nước bằng các công trình thuỷ lợi
khoảng trên 2.200 ha; vụ đông khoảng trên 1.100 ha rau màu các loại.
        Tuy nhiên, ở một số xã vùng cao do địa bàn, địa hình chủ yếu là đồi núi nên
hệ thống thuỷ lợi còn gặp nhiều khó khăn, hầu hết là tưới nhờ nước trời, vì vậy
hạn chế cho việc luân canh cây trồng nhất là đối với cây trồng vụ đông xuân.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên          http://www.lrc-tnu.edu.vn
53


        - Trường học trạm xá: Toàn huyện có 47 trường phổ thông, trong đó có
2 trường phổ thông trung trường trung học; 20 trường trung học cơ sở và
trường toàn huyện có 22 trường mầm non. Đến nay đã có 100% số phòng học
được ngói hoá, đã xoá bỏ được chế độ học ba ca, các xã và thị trấn đã có
phòng học cao tầng.
        Toàn huyện có 1 bệnh viện một trung tâm y tế, 2 phòng khám khu vực,
20 trạm xá, đủ điều kiện chăm sóc sức khoẻ và khám chữa bệnh cho người
dân của huyện.
        - Các công trình xây dựng khác: Như vấn đề nước sạch nông thôn,
điện... đã được chính quyền huyện quan tâm. Tại các xã vùng cao đã ổn định
được vấn đề du canh du cư, giải quyết nước sạch ở các vùng xa đô thị, đưa
điện lưới quốc gia tới 20/20 xã thị trấn của huyện. Đồng hỷ có 6 tuyến lưới 35
KV và 4 tuyến 6KV, số trạm biến áp toàn huyện là 49 trạm.
        Các xã và thị trấn của huyện đã có điểm bưu điện văn hoá xã, số máy
điện toại của toàn huyện là hơn 6000 máy. 100% các xã huyện đã có báo đọc
trong ngày.
2.1.2.3. Tình hình kinh tế của huyện
        Năm 2007 sản xuất nông - lâm nghiệp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh
tế, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hô trợ giá giống và đưa giống
mới vào sản xuất, tích cực phòng trừ sâu, dịch bệnh hại cây trồng, vật nuôi. Vì
vậy về diện tích, năng suất, sản lượng đều hoàn thành các chỉ tiêu.
        Tổng sản lượng lương thực cả năm 2007 đạt 40.160 tấn/39.000 tấn KH
= 102,9%. Đã thực hiện chăm bón, thâm canh 1.100 ha chè, cải tạo 50 ha,
trồng mới 120,55 ha, sản lượng chè đạt 18.500 tấn [3].
        Sản lượng cây ăn quả các loại đạt 5000 tấn.
        Trong chăn nuôi một số con giống như: gà, bò, lợn, ong đã có hiệu quả
trong tăng năng suất, có lợi cho nhà nông. Hiện nay toàn huyện có đàn trâu:


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
54


15.789 con. Đàn bò 5.375 con; Đàn lợn 53.869 con. Tổng đàn gia cầm là
530.950 con.
        Về rừng đã trồng mới được được 1.325 ha, ươm được 125 vạn hom cây
giống tai vườn ươm chuẩn bị cho việc trồng rừng năm 2008 [3].
        Công tác khuyến nông: Thực hiện chuyển giao kỹ thuật theo nhu cầu
của nông dân tại các xã và thị trấn được 185 lớp cho gần 7.000 hộ nông dân.
Tổ chức hội thảo tổng kết mô hình 15 cuộc cho gần 1000 người tham dự. Các
mô hình đều thu được kết quả tốt. Đó là các mô hình: Nuôi giun quế tại Cao
Ngạn, Nuôi ong nội tại xã Hoà Bình. Chăn nuôi gà an toàn sinh học tại Khe
Mo. Gieo cấy giống lúa mới tại Minh Lập, Linh Sơn, Hoá Trung…
        Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Thương mại dịch vụ: Giá trị sản
lượng năm 2007 ước tính đạt 410 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch năm 2007.
Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương ước
đạt 248 tỷ đồng. Hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, tổng
mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt 183 tỷ đồng,
trong đó của các hộ cá thể đạt 158 tỷ đồng, các doanh nghiệp 25 tỷ đồng
        Công tác giao thông: Di tu bảo dưỡng trên 300 km đường giao thông,
nâng cấp 59 km, đổ bê tông 17,5 km
        Mặc dù nền kinh tế của huyện Đồng hỷ có những bước tăng trưởng và
phát triển. Tuy nhiên huyện Đồng Hỷ vẫn là một huyện thuần nông, sản xuất
mang tính tự cung tự cấp.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.lrc-tnu.edu.vn
55



        Bảng 2.3. Kết quả sản xuất các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ
                                    giai đoạn (2005-2007)
                           Năm 2005          Năm 2006               Năm 2007           So sánh (%)
                                                                                                       Tốc độ
                          Gi á trị Cơ cấu Gi á trị Cơ cấu          Gi á trị   Cơ cấu
       Chỉ tiêu                                                                         06/05 07/06 BQ 05-07
                           (tr.đ)   (% )     (tr.đ)        (% )    (tr.đ)      (% )

Tổng giá trị gia tăng 621.047 100           772.533        100    1.133.682    100      124,4 146,7     135,6

Ngành NLTS               159.998 25,76      211.332    27,36      273.415     24,12     132,1 129,4     130,8

Ngành CN- XDựng 215.617 34,72 259.557 33,60                       403.812     35,62     120,4 155,6      138

Ngành DVTM               245.432 39,52      301.644    39,05      456.456     40,26     122,9 151,3     137,1


                       Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ
        Tình hình phát triển kinh tế của huyện giai đoạn 2005-2007 được thể
hiện ở bảng trên. Giá trị gia tăng của các ngành sản xuất được thể hiện tại
biểu đồ sau:


   500000
   450000
   400000
   350000
   300000
                                                                                            Ngµnh NLTS
   250000                                                                                   Ngµnh CN-X D
   200000                                                                                   Ngµnh TMDV
   150000
   100000
     50000
          0
                    2005                   2006                    2007


   Biểu đồ 2.1: Giá trị gia tăng của các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                                   http://www.lrc-tnu.edu.vn
56


        Qua biểu đồ trên cho thấy trong giai đoạn 2005-2007, cơ cấu kinh tế
của huyện có sự chuyển dịch, tỷ trọng về ngành công nghiệp xây dựng và
ngành dịch vụ tăng dần. Giá trị gia tăng của ngành thương mại dịch vụ
chiếm cao nhất 40,26%. Nhưng xét về tốc độ gia tăng thì ngành công
nghiệp xây dựng, xây dựng tăng cao nhất là 38% thấp nhất là ngành nông
lâm thủy sản 30,8%. Sản xuất nông lâm thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng tương
đối lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện, vì vậy vai trò mô hình kinh tế trang
trại và hộ gia đình càng tương đối quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của huyện.
        Trong những năm gần đây do hệ thống giao thông của huyện được
nâng cấp và đầu tư, vị trí thuận lợi sẵn có về đường giao thông nên hoạt
động thương mại dịch vụ có bước chuyển biến tích cực.
2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
ảnh hƣởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất
hàng hoá ở Đồng Hỷ
2.1.3.1. Những thuận lợi
        Huyện Đồng Hỷ là một huyện thuộc trung du miền núi, nên được rất
nhiều chương trình dự án của Nhà nước cũng như tổ chức phi chính phủ đầu
tư. Điều này đã tạo điều kiện cho các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các
tiến độ khoa học vào sản xuất, nâng cao năng lực, thay đổi hệ thống cây trồng
và có giá trị sản lượng cao trên một đơn vị diện tích.
        - Là huyện có vị trí địa lý liền kề với thành phố Thái Nguyên, gần
các trung tâm kinh tế, văn hoá của tỉnh và gần các trường đại học, trung
học kỹ thuật, trung tâm nghiên cứu khoa học của vùng, có điều kiện tiếp
cận với khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới để phát triển. Rất thuận lợi
cho các hộ nông dân trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
quá trình sản xuất hàng hoá của mình.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
57


        - Đội ngũ cán bộ của huyện nhiệt tình, năng động, lực lượng lao
động đông đảo, cần cù, chịu khó lao động. Họ làm việc không quản nắng
mưa để làm giàu luôn luôn nghĩ cách gia tăng thu nhập cho gia đình và
đóng góp cho sự phát triển kinh tế chung của huyện.
        - Đất đai của huyện tương đối đa dạng, thuận lợi cho việc phát triển
nông, lâm nghiệp. Mặt khác, diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn có thể
mở rộng để phát triển trồng trọt.
        - Hệ thống sông ngòi, kênh rạch, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống giao
thông thuận tiện cho phát triển sản xuất hàng hoá. Đặc biệt nó là nhân tố
quyết định cây trồng lâu năm, cây ngắn ngày và cây lâm nghiệp.
        - Về giáo dục, đào tạo, y tế, thông tin liên lạc và các mặt kinh tế - xã hội
khác đã và đang phát triển, đời sống người dân từng bước được cải thiện.
2.1.3.2. Những khó khăn
        Điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp kém, phần lớn các hộ nông
dân còn sản xuất tự cung tự cấp. Các hộ sản xuất hàng hoá chủ yếu phát triển
ở các xã vùng sâu do đó hệ thống cơ sở hạ tầng rất kém. Thu nhập của người
dân còn thấp.
        Là huyện có nhiều dân tộc sinh sống, phần lớn dân cư có trình độ dân
trí thấp, lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao, số người được đào tạo nghề
còn ít, ngoài ra còn có nhiều phong tục tập quán lạc hậu, đã phần nào hạn
chế khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ của
người lao động.
        Hệ thống cơ sở hạ tầng mặc dù đã được quan tâm và chú trọng xong ở
các khu vực vùng sâu, vùng cao thì hệ thống này còn thiếu về số lượng, chưa
đảm bảo về chất lượng. Hệ thống dịch vụ triển khai ứng dụng khoa học kỹ
thuật như trạm giống cây trồng vật nuôi các cơ sở kỹ thuật khác chưa đáp ứng
được nhu cầu sản xuất và đời sồng.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên           http://www.lrc-tnu.edu.vn
58


2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN SẢN XUẤT
HÀNG HOÁ Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN
2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân trong vùng
        Với đặc điểm là một huyện sản xuất nông nghiệp là chủ yếu
        Trong quá trình sản xuất phát triển kinh tế, nhất là vào thời kỳ mở cửa
nền kinh tế thị trường hiện nay thì các hộ nông dân để tồn tại và phát triển đều
phải hướng vào vấn đề thị trường, tức là thực hiện sản xuất hàng hoá.
        Đối với huyện Đồng Hỷ, mặc dù vấn đề kinh tế thị trường còn là vấn đề
mới mẻ, song sản xuất hàng hoá đã được các hộ nông dân biết đến và tiếp cận
ở các mức độ khác nhau tuỳ theo cách sắp xếp tổ chức của các hộ. Có hộ sản
xuất ra khối lượng hàng hoá nhỏ, ví dụ mỗi năm chỉ xuất chuồng vài tạ lợn
hơi, vài tấn thóc… nhưng cũng có hộ sản xuất ra lượng hàng hoá lớn có giá trị
hàng chục đến hàng trăm triệu đồng. Quy mô sản xuất, mức độ thu nhập giữa
các hộ nông dân sản xuất hàng hoá trong một vùng và giữa các vùng các xã
cũng có sự khác nhau, trong luận văn này chúng tôi cũng đi sâu vào nghiên
cứu và phân tích.
        Vì số lượng hộ nông dân sản xuất hàng hoá của huyện Đồng Hỷ là rất
lớn cho nên chúng tôi không thể điều tra được toàn bộ, mà chỉ chọn ra những
hộ đại diện theo phương pháp chọn điển hình của các xã thuộc các vùng khác
nhau để phân tích phục vụ đề tài. Cho nên số liệu đưa ra trong luận văn có thể
là chưa chính xác tuyệt đối, nhưng chắc chắn những kết luận rút ra được sẽ
mang tính đại diện cho cho toàn huyện.
        Dựa trên tiêu chí xếp loại hộ nông dân theo quy mô hàng hoá. Qua quá
trình xét chọn chúng tôi đã chọn được 90 hộ nông dân tiêu biểu cho các loại hộ
nông dân theo quy mô hàng hoá của 3 xã thuộc ba vùng của huyện Đồng Hỷ.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
59


              Bảng 2.4. Cơ cấu hộ nông dân theo quy mô hàng hoá
                                ở các xã điều tra năm 2007
                                         Xã                   Xã              Xã
                                                                                           Tổng số
                                 Hóa Thƣợng              Khe Mo         Hòa Bình
           Chỉ tiêu
                                  SL          CC         SL        CC    SL        CC     SL     CC
                                 ( hộ)      (%)       ( hộ) (%)         ( hộ)      (%) ( hộ) (%)

 Hộ hàng hoá lớn                   8       26,67         6     20,00     5       16,66    19    21,11

 Hộ hàng hoá trung bình            10      33,33         11    36,67     11      36,67    32    35,56

 Hộ hàng hoá nhỏ                   12      40,00         13    43,33     14      46,67    39    43,33

         Tổng cộng                 30         100        30    100       30        100    90     100


                          (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra )

        Qua biểu trên ta thấy nếu nhìn vào tổng thể chung của 3 xã thì các hộ
hàng hoá không có sự chênh lệch lớn, Nếu xét theo từng vùng thì có sự chênh
lệch rõ rệt:
        Xã Hoá Thượng nằm ở vùng trung tâm của huyện, hộ hàng hoá lớn
chiếm 26,67% cao hơn so với các xã. Do nằm gần trung tâm huyện, thành
phần dân tộc Kinh chiếm đa số do vậy khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn là
xu hướng phát triển của các hộ.
        Phía Nam là xã Khe Mo có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp (cây
công nghiệp, cây ăn quả). Hộ hàng hoá nhỏ chiếm 43,33%, thấp nhất là hộ
hàng hoá lớn chiếm 20%.
        Xã Hoà Bình nằm ở vùng cao, phía Bắc của huyện, chính vì vậy hộ
hàng hoá nhỏ là chủ yếu chiếm 46,67%. Ở đây các hộ nông dân chủ yếu sản
xuất ra để tiêu dùng là chủ yếu.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                           http://www.lrc-tnu.edu.vn
60


2.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất
hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ
2.2.2.1. Tình hình về chủ hộ nông dân
    Bảng 2.5. Tình hình cơ bản của các chủ hộ đƣợc điều tra năm 2007
                                       Xã                    Xã                Xã            Chung
                                Hóa Thƣợng              Khe Mo          Hòa Bình                3xã
        Phân loại hộ
                                 SL      Tỷ lệ        SL      Tỷ lệ     SL      Tỷ lệ      SL     Tỷ lệ
                                (hộ)        (%)       (hộ)    (%)       (hộ)        (%)    (hộ)    (%)
Tổng số hộ điều tra              30         100       30      100       30          100    90      100
1. Chủ hộ theo giới tính
 - Nam                           25         83,3      26      86,7      27          90,0   78     86,7
 - Nữ                             5         16,7        4     13,3       3          10,0   12     13,3
2.Theo nguồn gốc chủ hộ
 - Dân bản địa                   28         93,3      26      86,7      26          86,7   80     88,9
 - Dân di dời                     2         6,67        4     13,3       3          10,0    9     10,0
 - Dân khai hoang                 0         0,0         0         0,0    1          3,3     1      1,1
3. Theo dân tộc
- Người Kinh                     25         83,3      21      70,0      20          66,7   66     73,3
- Người Nùng                      1         3,3         6     20,0       4          13,3   11     12,2
- Người Sán dìu                   0         0,0         1         3,3    4          13,3    5     5,6
- Người Tày                       4         13,4        2         6,7    2          6,7     8     8,9

                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)
         Qua bảng 2.5 ta thấy tình hình về chủ hộ nông dân giữa các xã là rất
khác nhau.
         Trong tổng số 90 hộ điều tra có 86,7% chủ hộ là nam giới và 13,3% chủ
hộ là nữ, xã Hoá Thượng có chủ hộ là nữ chiếm tỷ lệ cao nhất 16,7%, xã Hoà
Bình có chủ hộ là nữ thấp nhất chiếm 10%.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                            http://www.lrc-tnu.edu.vn
61


        Nguồn gốc của các chủ hộ cũng khác nhau, chủ hộ là người dân bản địa
chiếm 88,9%, dân di dời lòng hồ 10%, dân khai hoang 1,1%. Dân bản địa
chiếm tỷ lệ cao nhất ở xã Hoá Thượng 93,3%, dân khai hoang chiếm tỷ lệ rất
thấp chỉ có ở xã Hoà Bình chiếm 3,3%.
        Nếu phân theo dân tộc thì chủ hộ là người Kinh vẫn chiếm đa số, chiếm
73,3% thấp nhất là chủ hộ là người Sán dìu chiếm 5,6%.Chủ hộ là người Kinh
chiếm tỷ lệ cao nhất ở xã Hoá Thượng 83,3%; thấp nhất là dân tộc Sán dìu
cũng ở xã Hoá Thượng 0%. Như vậy là ở xã Hoà Bình xã vùng cao của huyện
thì ở đây tỷ lệ chủ hộ là người dân tộc thiểu số cao hơn các xã khác, tỷ lệ chủ
hộ là người Kinh ở xã này thấp nhất 66,7%.
2.2.2.2. Các yếu tố sản xuất của hộ nông dân
* Đất đai
        Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được trong sản
xuất nông, lâm nghiệp của hộ nông dân. Hộ nông dân muốn phát triển kinh tế
theo hướng sản xuất hàng hoá thì trước hết phải dựa vào đất.
        Nếu theo loại đất sử dụng thì đất nông nghiệp chung cho cả 3 xã là 42,2%.
Trong đó, những hộ hàng hoá nhỏ chiếm tỷ lệ cao nhất 45,1%, thấp nhất
là các hộ hàng hoá lớn 38,5%. Đất lâm nghiệp được phân bố tương đối
đồng đều ở các nhóm hộ. Đất ở và làm vườn ở hộ hàng hoá lớn chiếm tỷ
lệ cao nhất 21,4% và thấp nhất ở hộ hàng hoá nhỏ 16,3%.
        Thực tế cho thấy, đất vườn của các hộ nông dân có điều kiện trồng
những cây có giá trị kinh tế cao như các loại cây ăn quả, đặc sản, mặt khác
vườn ở gần nhà có điều kiện thâm canh tốt hơn đã tạo ra những sản phẩm
có giá trị kinh tế cao hơn.
        Về quy mô diện tích đất của hộ nông dân điều tra, các hộ hàng hoá lớn
quy mô đất chủ yếu là từ 2 ha trở lên chiếm 58,3%, quy mô đất từ 1-2 ha
chiếm 34,2%, các hộ hàng hoá trung bình quy mô đất đai chủ yếu từ 1-2 ha

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
62


chiếm 37,3%, từ 0,5-1ha chiếm 28,2%, các hộ hàng hoá nhỏ quy mô diện tích
đất chủ yếu từ 0,5-1ha chiếm 43,2% và dưới 0,5 ha chiếm 32,3%.
        Bảng 2.6: Cơ cấu đất đai của hộ điều tra năm 2007
                                                                           Đơn vị tính:%
                                        Chung          Hộ hàng   Hộ hàng       Hộ hàng
             Chỉ tiêu
                                        3 nhóm         hóa lớn   hóa TB        hóa nhỏ
 Tổng đất đai                             100            100       100           100
 1. Theo loại đất sử dụng
 - Đất nông nghiệp                        42,2          38,5      43,1            45,1
 - Đất sản xuất lâm nghiệp                38,7          40,1      37,3            38,6
 - Đất ở và làm vườn                      19,1          21,4      19,6            16,3
 2. Theo quy mô diện tích
 - Dưới 0,5 ha                            14,6           0,0      11,5            32,3
 - Từ 0,5- dưới 1 ha                      26,4           7,5      28,2            43,2
 - Từ 1- dưới 2 ha                        30,2          34,2      37,3            19,2
 - Từ 2 ha trở lên                        28,8          58,3      23,0             5,3

                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)

        * Nhân khẩu và lao động của hộ
        Nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và thu nhập của hộ
nông dân sản xuất hàng hoá đó là lao động, bao gồm số lượng và chất lượng
lao động.
        Qua bảng 2.7 cho thấy, chỉ tiêu bình quân khẩu / hộ cao nhất ở nhóm
hộ hàng hoá nhỏ 4,81 ngưòi, thấp nhất ở nhóm hộ có hàng hoá lớn 3,67
người. Bình quân lao động / hộ cao nhất là nhóm hộ hàng hoá lớn 2,72 người
và thấp nhất ở hộ hàng hoá nhỏ 2,20 người.
        Số người tiêu dùng/ 1 lao động cao nhất là hộ hàng hoá nhỏ 2,27 người,
thấp nhất là hàng hoá lớn 1,43 người. Như vậy nguyên nhân của sự đói nghèo
là số người ăn chiếm tỷ lệ cao, lao động bình quân/ hộ thấp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                http://www.lrc-tnu.edu.vn
63


          Bảng 2.7. Một số chỉ tiêu về hộ điều tra theo thu nhập năm 2007
                                                                    Đơn vị tính: Người
                                       Hộ hàng         Hộ hàng   Hộ hàng       Chung
             Chỉ tiêu
                                       hóa lớn         hóa TB    hóa nhỏ      nhóm hộ
 Tổng số hộ điều tra                     19              32        39            90
 - Bình quân số khẩu/hộ                   3,67          4,32      4,81           4,27
 - Bình quân lao động/hộ                  2,72          2,34      2,20           2.42
 - Số người tiêu dùng/1 LĐ                1,43          1,84      2,27           1,85

                                (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)

        Về quy mô lao động, số lượng lao động qua 90 hộ điều tra cho thấy, có
56 hộ có từ 1-2 lao động chiếm 62 %, 32 hộ có từ 3-4 lao động chiếm 35,5%
và 2 hộ có từ 5 lao động trở lên chiếm 2,5%.
    Bảng 2.8. Cơ cấu lao động trong độ tuổi của các hộ nông dân năm 2007
                                                                    Đơn vị tính: %
                                              Quy mô lao động
             Chỉ tiêu                                                        Tổng số
                                          1-2      3-4      5 trở lên
 Tổng số hộ                               62       35,5        2,5             100,0
 1. Theo xã điều tra
 - Xã Hoá Thượng             63,4                      35,2      1,4           100,0
 - Xã Khe Mo                 67,5                      30,0      2,5           100,0
 - Xã Hoà Bình               55,1                      41,2      3,7           100,0
 2. Theo dân tộc
 - Dân tộc Kinh              56,6                      42,0      1,4           100,0
 - Dân tộc Tày               57,0                      38,1      4,9           100,0
 - Dân tộc Nùng              65,2                      30,5      4,3           100,0
 - Dân tộc Sán dìu           63,2                      36,8       -            100,0
 3. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
 - Hộ hàng hoá lớn             -                       84,1      15,9          100,0
 - Hộ hàng hoá trung bình    34,8                      64,0       1,2          100,0
 - Hộ hàng hoá nhỏ           94,0                       6,0        -           100,0
                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên               http://www.lrc-tnu.edu.vn
64


        Qua bảng 2.8 nếu phân tích quy mô lao động theo các xã cho thấy, các
xã có quy mô lao động chủ yếu từ 1-2 lao động (xã Hoá Thượng 63,4%, xã
Khe Mo 67,5% và xã Hoà Bình 55,1%). Quy mô 3-4 lao động, cao nhất là xã
Hoá Bình chiếm tỷ lệ 41,2%, thấp nhất là xã Khe Mo chiếm 30,0%.
        Nếu xét theo dân tộc thì hộ nông dân là người Kinh có quy mô 1-2 lao
động chiếm 56,6%, dân tộc Tày,Nùng, Sán dìu 57,0% đên 65,2%. Nhóm hộ
có 5 lao động trở lên cao nhất là người Tày 4,9%, người Sán dìu không có hộ
nào thuộc quy mô này.
        Nếu theo quy mô sản xuất hàng hoá nhóm hộ hàng hoá lớn có quy mô
lao động 3-4 người chiếm tỷ lệ cao nhất 84,1% từ 5 lao động trở lên chỉ chiếm
15,9%. Nhóm hộ hàng hoá trung bình quy mô 3-4 lao động chiếm 64,0% và
từ 1-2 lao động chiếm 34,8%. Nhóm hộ hàng hoá nhỏ có quy mô 1-2 lao động
chiếm 94 %, quy mô 3-4 lao động chỉ chiếm 6%. Có thể thấy, quy mô lao
động đối với nhóm hộ hàng hoá lớn và trung bình chủ yếu là 3-4 lao động.
Còn những nhóm hộ hàng hoá nhỏ chỉ chủ yếu từ 1-2 lao động.
        Xét về chất lượng lao động, trong 90 hộ điều tra, chủ hộ có trình độ văn
hoá lớp 1-5 là 22 người, lớp 6-9 là 49 người và lớp 10-12 là 19 người. Như
vậy các chủ hộ đa phần là có trình độ từ lớp 6-9 (Bảng 2.9).
Bảng 2.9. Trình độ học vấn của chủ hộ điều tra ở vùng nghiên cứu năm 2007

                              Tổng cộng          Lớp 10-12       Lớp 6-9           Lớp 1-5
        Chỉ tiêu                                         Cơ                               Cơ
                            Số hộ    Cơ cấu     Số hộ          Số hộ   Cơ cấu Số hộ
                                                         cấu                              cấu
                             (hộ)     (%)        (hộ)           (hộ)    (%)    (hộ)
                                                        (%)                              (%)
 Tổng số hộ điều tra   90     100,0               19    21,1    49     54,5       22     24,4
 1. Theo xã điều tra
 - Xã Hoá Thượng       30     100,0               9     30,0    16     53,3        5     16,7
 - Xã Khe Mo           30     100,0               6     20,0    17     56,7        7     23,3
 - Xã Hoà Bình         30     100,0               4     13,3    16     53,3       10     33,3
 2. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
 - Hộ hàng hoá lớn     19     100,0               16    84,2     2     10,5        1      5,3
 - Hộ hàng hoá TB      32     100,0                3     9,4    24     75,0        5     15,6
 - Hộ hàng hoá nhỏ     39     100,0                0      0     23     59,0       16      41

                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                    http://www.lrc-tnu.edu.vn
65


        Nếu phân tích theo vùng điều tra cho thấy, xã Hoà Bình chủ hộ có trình
độ học vấn từ lớp 1-5 chiếm tỷ lệ cao nhất 33,3%, ở Khe Mo là 23,3% và ở
Hoá Thượng là 16,7%. Chủ hộ có trình độ từ lớp 10-12 ở xã Hoá Thượng là
30,0% chiếm tỷ lệ cao hơn 2 xã còn lại. Trình độ lớp 6-9 chiếm tỷ lệ cao nhất
ở xã Khe Mo 56,7%.
        Nếu phân tích quy mô sản xuất hàng hoá thì thấy rằng hộ hàng hoá lớn
có trình độ học vấn chủ yếu từ lớp 10-12 chiếm 84,2%, chỉ có 10,5% từ lớp 6-
9 và 5,3% từ lớp 1-5. Nhóm hộ hàng hoá trung bình có trình độ học vấn chủ
yếu từ lớp 6-9 chiếm 75,0%,. Nhóm hộ hàng hoá nhỏ có tỷ lệ chủ hộ trình độ
học vấn từ 1-5 nhiều nhất chiếm 41,0 %.
        Như vậy trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của các chủ
hộ ở các xã là rất thấp, ít được học hành, đặc biệt là một số chủ hộ là người
dân tộc ít người.
        * Vốn sản xuất: Vốn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả sản
xuất của hộ. Qua bảng 2.10 ta thấy lượng vốn bình quân cho hộ nông dân ở
các xã là 15,903 triệu đồng, trong đó cao nhất là xã Hoá Thượng 17,577 triệu
đồng thấp nhất là xã Hoà Bình 14,747 triệu đồng.
        Đa số các hộ ở các xã đều có số vốn tích luỹ cao chiếm tỷ lệ khoảng
73,46% cơ cấu vốn của gia đình. Điều này cho thấy việc chủ động vốn của hộ
đều phải dựa vào nguồn vốn tự có do tích luỹ đem lại qua các năm kinh
doanh, sản xuất. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy các hộ cũng biết tận dụng các
nguồn vốn như vay Nhà nước, vay tư nhân, vay qua dự án và các nguồn tài
trợ khác, để giải quyết tình trạng thiếu vốn đầu tư cho sản xuất.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
66


           Bảng 2.10. Vốn bình quân của nông hộ điều tra năm 2007
                                    theo vùng nghiên cứu
                                                              Đơn vị tính: triệu đồng
                               Xã                   Xã        Xã         Chung các
       Chỉ tiêu
                           Hóa Thƣợng             Khe Mo   Hòa Bình          xã
 Tổng nguồn vốn              17,577               15,384    14,747        15,903
 1. Vốn tự có                12,435               11,156    11,459        11,683
 2. Vốn vay                   4,232                3,248    2,948          3,476
 3. Vốn khác                  0,910                0,980    0,340          0,743
                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)
        Phân tích quy mô vốn của hộ nông dân theo dân tộc cho thấy có sự chênh
lệch giữa nhóm hộ người Kinh và nhóm hộ là người dân tộc thiểu số. Chủ hộ là
người Kinh ở xã Hoá Thượng có vốn bình quân là 18,506 triệu đồng ở xã Khe
Mo là 17,354 triệu đồng và ở xã Hoà Bình là 16,642 triệu đồng. Mức vốn bình
quân của các hộ là dân tộc thiểu số thấp hơn (xem bảng 2.11).
               Bảng 2.11. Quy mô vốn bình quân hộ nông dân
                                   tại thời điểm điều tra
                                                            Đơn vị tính: Triệu đồng
                            Xã      Xã                         Xã          BQ Chung
           Chỉ tiêu
                       Hóa Thƣợng Khe Mo                     Hòa Bình        3 xã
 Bình quân quy mô vốn     17,577  15,384                      14,747        15,903
 1. Theo dân tộc
 - Dân tộc Kinh           18,506  17,354                      16,642          17,380
 - Dân tộc Tày            17,344  15,935                      14,203          16,181
 - Dân tộc Nùng           16,542  15,712                      13,234          15,769
 - Dân tộc Sán dìu        16,403  11,254                      12,956          13,789
 2. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
 - Hộ hàng hoá lớn        23,056  21,386                      17,962          21,696
 - Hộ hàng hoá TB         16,335  15,630                      13,562          15,730
 - Hộ hàng hoá nhỏ        14,176  13,897                      11,507          13,579
                                (Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra)


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên              http://www.lrc-tnu.edu.vn
67


        Phân tích vốn đầu tư của các nhóm hộ theo quy sản xuất hàng hoá,
các hộ có chênh lệch đáng kể về vốn đầu tư. Hộ hàng hoá lớn có mức vốn
trung bình là 21,696 triệu đồng, hộ hàng hoá trung bình là 15,730 triệu
đồng và hộ hàng hoá nhỏ là 13,579 triệu đồng.
        Qua đây có thể thấy rằng vốn là yếu tố có hạn, cho nên chủ hộ phải
tích luỹ một lượng vốn nhất định. Mức vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh
của các chủ hộ nông dân rất khác nhau giữa các xã, các dân tộc có xu
hướng giảm dần theo vùng sâu vùng xa của thị trấn.
* Tài sản và tư liệu sản xuất của các hộ nông dân
        Tư liệu sản xuất là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong
sản xuất. Khi mà hộ nông dân được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ thì việc
mua sắm trang bị thêm tư liệu sản xuất góp phần giải phóng sức lao động,
tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm đã được hộ chú trọng
tới. Công cụ sản xuất của hộ nông dân được xem là một trong những nguồn
vốn cố định, mặt khác nó phản ánh trình độ trang bị kỹ thuật, là thước đo trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
68


               Bảng 2.12. TLSX chủ yếu bình quân của hộ nông dân
                       năm 2007 theo quy mô sản xuất hàng hoá
                                                  Hộ HH       Hộ HH         Hộ HH        Chung
                   Chỉ tiêu
                                                    lớn     trung bình       nhỏ         các hộ
 I. Tổng giá trị TLSX chủ yếu (triệu đồng)        21,696      15,730        13,579       15,903
 1. Nhà xưởng, chuồng trại                         3,206       1,606         1,505        2,123
 2. Máy kéo, phương tiện vận tải                   2,697       1,328         1,104        1,534
 3. Các loại máy khác                              0,836       0,706         0,605        0,740
 4. Đàn súc vật cơ bản                             3,687       2,768         2,044        2,568
 5. Giá trị của cây lâu năm                        6,574       5,602         5,007        5,290
 6. Giá trị tài sản sản xuất khác                  2,414       2,139         1,863        1,915
 7. Tiền mặt kinh doanh                            2,282       1,581         1,451        1,733
 II. Cơ cấu TLSX chủ yếu (%)                       100,0       100,0         100,0        100,0
 1. Nhà xưởng, chuồng trại                           14,8       10,2          11,1         12,0
 2. Máy kéo, phương tiện vận tải                     12,4         8,4           8,1          9,2
 3. Các loại máy khác                                 3,9         4,5           4,5          4,2
 4. Đàn súc vật cơ bản                               17,0       17,6          15,1         16,9
 5. Giá trị của cây lâu năm                          30,3       35,6          36,9         35,4
 6. Giá trị tài sản sản xuất khác                    11,1       13,6          13,7         12,2
 7. Tiền mặt kinh doanh                              10,5       10,1          10,6         10,1

                       (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)

        Qua bảng 2.12 dưới ta thấy các hộ nông dân đều trang bị cho mình
những tư liệu sản xuất tối thiểu và cần thiết phục vụ sản xuất như. Tỷ trọng
giá trị của vườn cây lâu năm bình quân 1 hộ điều tra chiếm khá cao 35,4%,
đàn giá súc chiếm 16,9%, chiếm tỷ trọng thấp nhất là máy kéo phương tiện
vận tải 9,2%, các loại máy khác chiếm 4,2%.
        Tóm lại: Do mục tiêu sản xuất hàng hoá của mình mà các hộ nông dân
từng bước mua sắm tư liệu sản xuất hiện đại để khắc phục tình trạng lao động
thủ công chân tay kém hiệu quả nhăm mục đích tạo ra khối lượng nông sản
hàng hoá lớn hơn, để có thể cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên do yếu tố về
vốn, khả năng quản lý và sử dụng lao động công hạn chế mà việc trang bị tư
liệu sản xuất còn tiến hành chậm chạp dẫn đến hiệu quả lao động chưa cao.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                      http://www.lrc-tnu.edu.vn
69


2.2.3. Tổ chức hoạt động sản xuất của hộ nông dân
2.2.3.1. Hướng sản xuất chính của hộ nông dân
        Các hộ nông dân đã kết hợp sức lao động, vốn và đất được giao để lựa
chọn hướng sản xuất kinh doanh của mình, khai thác triệt để tiềm năng sẵn có
để phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá.
    Bảng 2.13. Cơ cấu các nhóm hộ nông dân theo hƣớng SXKD chính
                                                                        Đơn vị tính: %
                                    Cây          Cây    Cây
                                                               Chăn     Lâm         Tổng
       Phân loại hộ                 hàng       CN lâu   ăn
                                                               nuôi    nghiệp         số
                                    năm         năm     quả
Bình quân chung           27,9                   17,1   24,7   18,1     12,2         100
1. Theo xã điều tra
- Xã Hóa Thượng           31,3                   26,0   18,5   15,0      9,2         100
- Xã Khe Mo                26                    12,1   29,2   20,2     12,5         100
- Xã Hoà Bình             26,5                   13,2   26,3   19,2     14,8         100
2. Theo dân tộc
- Người Kinh              37,6                   11,1   30,0    6,6     14,7         100
- Người Nùng              35,0                   10,5   25,2   12,4     16,9         100
- Người Sán dìu           30,3                   10,8   21,6   10,5     26,8         100
- Người Tày               27,6                   23,8   17,0    6,8     24,8         100
3. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
- Hộ hàng hoá lớn         28,0                   14,3   32,8   21,7      3,2         100
- Hộ hàng hoá TB          28,6                   16,5   29,6   21,5      3,8         100
- Hộ hàng hoá nhỏ         20,0                   17,1   21,8   14,1     27,0         100
                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)

        Qua số liệu điều tra được tổng hợp trên bảng 2.13 ta thấy nhóm hộ có tỷ
trọng cao nhất là nhóm hộ cây hàng năm chiếm 27,9%, sau đó đến nhóm hộ
cây ăn quả chiếm 24,7% và thấp nhất là nhóm hộ lâm nghiệp chiếm 12,2%.
        Phân tích theo vùng điều tra, thì các hộ chủ yếu là trồng cây hàng năm
chiếm tỷ lệ cao, ở Hoá Thượng 31,3%, Khe Mo 26%, Hoà Bình 26,5%.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên               http://www.lrc-tnu.edu.vn
70


        Phân theo dân tộc cho thấy, quy mô và cơ cấu diện tích cây trồng giữa
các nhóm hộ nông dân có sự khác nhau. Nhóm hộ người Kinh, cao nhất là
nhóm hộ trồng cây hàng năm chiếm 37,6%, người, Nùng chiếm 35%. Nhóm
hộ người Sán dìu trồng cây lâm nghiệp cao nhất chiếm 26,8%, nhóm hộ người
Tày chiếm 24,8%.
        Phân tích theo quy mô sản xuất hàng hoá, đối với hộ hàng hoá lớn cao
nhất là hộ trông cây ăn quả chiếm 32,8%, sau đó đến cây hàng năm chiếm
28%. Đối với hộ hàng hoá trung bình hộ trồng cây ăn quả chiếm 29,6%, cây
hàng năm chiếm 28,6%. Đối với hộ hàng hoá nhỏ có tỷ lệ hộ trồng cây lâm
nghiệp là 27%, cây ăn quả là 21,8%
        Nhìn chung hướng sản xuất chính của các hộ nông dân chủ yếu là nông
nghiệp: Cây hàng năm (chủ yếu là lúa, ngô, khoai, rau, đậu…); cây ăn quả
(chủ yếu là na, vải, nhãn, cam...). Cây công nghiệp lâu năm (chủ yếu là chè).
Hộ chăn nuôi là chính chưa nhiều, chủ yếu là chăn nuôi gia cầm, trâu bò và
lợn. Trong lâm nghiệp chủ yếu trồng rừng nguyên liệu, khoanh nuôi, thực
hiện nông lâm kết hợp. Với diện tích còn nhiều các hộ nông dân cần phải cải
tạo diện tích đất chuyển đổi cơ cấu cây trồng, để tăng diện tích đất trồng cây
công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng
thu nhập cho hộ nông dân.
2.2.3.2. Đầu tư chi phí sản xuất
        Chi phí sản xuất của hộ nông dân bao gồm chi phí sản xuất, giá trị công
lao động thuê ngoài, giá trị khấu hao tài sản cố định và chi phí khác.
        Qua bảng 2.14 ta thấy phân tích theo ngành sản xuất, bình quân toàn xã
chi phí của hộ là 5,478 triệu đồng, trong đó chi phí cho ngành trồng trọt là
3,336 triệu đồng chiếm 60,9%, ngành chăn nuôi là 1,423 triệu đồng chiếm 26
%, ngành lâm nghiệp 0,719 triệu đồng chỉ chiếm 13,1%.
        Nếu phân tích theo các xã thì giữa các xã có sự chênh lệch đáng kể. Chi
phí cho sản xuất cao nhất là xã Hoà Bình 6,181 triệu đồng trong đó chi phí
cho ngành trồng trọt là 59,1%, ngàn chăn nuôi là 26,4%, lâm nghiệp là 14,5%.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
71


Thấp nhất là xã Hoá Thượng bình quân chi phí sản xuất của hộ là 4,618 triệu
đồng trong đó chí phí cho trồng trọt là 3,137 triệu đồng tương đương 67,9%,
chi phí cho chăn nuôi là 1,220 triệu đồng chiếm 26,4% và ngành lâm nghiệp
0,261 triệu đồng chiếm 5,7%.
Bảng 2.14. Quy mô và cơ cấu chi phí sản xuất nông lâm nghiệp của hộ
nông dân điều tra năm 2007
                                                              Trong đó
                            Tổng CPSX
                                                 Trồng trọt Chăn nuôi            Lâm nghiệp
     Phân loại hộ
                               SL Tỷ lệ          SL Tỷ lệ    SL    Tỷ lệ          SL    Tỷ lệ
                              (tr.đ) (%)        (tr.đ) (%) ( tr.đ) (%)          ( tr.đ) (%)
Bình quân chung      5,478 100                  3,336 60,9     1,423    26      0,719     13,1
1. Theo vùng
- Xã Hoá Thượng      4,618 100                  3,137 67,9     1,220   26,4     0,261     5,7
- Xã Khe Mo          5,636 100                  3,515 62,4     1,421   25,2     0,700     12,4
- Xã Hoà Bình        6,181 100                  3,655 59,1     1,629   26,4     0,897     14,5
2. Theo hướng sản xuất
- Cây hàng năm       6,595 100                  4,504   68,3   1,562   23,7     0,529     8,0
- Cây ăn quả         5,742 100                  3,802   66,2   1,409   24,5     0,531     9,3
- Cây CN lâu năm     5,596 100                  3,376   60,3   1,630   29,1     0,590     10,6
- Chăn nuôi          7,762 100                  1.686   21,7   5,687   73,3     0,389     5,0
- Lâm nghiệp         5,193 100                  0,401   7,7    0,800   15,4     3.992     76,9
3. Theo tộc ng ười
- Người Kinh         6,297 100                  4,271   67,8   1,368   21,7     0,658     10,5
- Người Nùng         5,964 100                  4,198   70,4   1,208   20,2     0,558     9,4
- Người Sán dìu      5,517 100                  4,160   75,4   0,968   17,5     0,389     7,1
- Người Tày          4,981 100                  3,232   64,9   1,150   23,1     0,599     12,0
4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
- Hộ hàng hoá lớn    8,609 100,0                5,184 60,2     2,692   31,3     0,733      8,5
- Hộ hàng hoá TB     6,328 100,0                3,459 54,6     2,251   35,6     0,618      9,8
- Hộ hàng hoá nhỏ    5,011 100,0                3,918 78,2     0,651   13,0     0,442      8,8

                      (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)
        Phân tích theo tộc người, cơ cấu chi phí giữa các ngành trồng trọt -
chăn nuôi - lâm nghiệp là rất khác nhau. Qua bảng phân tích trên ta thấy cơ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                    http://www.lrc-tnu.edu.vn
72


cấu về tổng chi phí của người Kinh và người Nùng là gần giống nhau, người
Tày có cơ cấu chi phí cho ngành chăn nuôi và lâm nghiệp nhiều hơn.
        Theo quy mô sản xuất hàng hoá thì nhóm hộ hàng hoá nhỏ có cơ cấu
tổng chi phí từ ngành trồng trọt là 78,2% cao hơn nhóm hộ khác. Cơ cấu tổng
chi phí ngành chăn nuôi cao nhất là ở nhóm hộ hàng hoá TB 35,6%.
        Như vậy chi phí cho sản xuất của hộ hàng hoá lớn gấp 1,4 lần hộ hàng
hoá trung bình, 1,7 lần hộ hàng hoá nhỏ. Hộ hàng hoá lớn họ mạnh dạn đầu
tư phát triển các ngành nghề, chính ngành nghề nông thôn đã tạo công ăn
việc làm, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và theo hướng sản xuất hàng hoá.
2.2.4. Kết quả sản xuất của hộ nông dân
2.2.4.1. Tổng thu của các hộ nông dân
        Kinh tế hộ nông dân chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp và sản
xuất ngoài lâm nghiệp (công nghiệp chế biến, dịch vụ nông nghiệp…). Vì vậy
nguồn thu chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nông lâm nghiệp.
        - Thu nhập từ nông lâm nghiệp:
        Qua bảng 2.15 ta thấy tổng thu bình quân từ nông - lâm nghiệp của 90
hộ nông dân điều tra là 17,876 triệu đồng trong đó thu nhập từ trồng trọt là
12,083 triệu đồng, chăn nuôi 4,370 triệu đồng, lâm nghiệp 1,423 triệu đồng
        Theo vùng thì tổng thu nhập bình quân trên hộ cao nhất là xã Hoá
Thượng 18,847 triệu đồng, Hoà Bình 17,522 triệu đồng trong đó thu từ trồng
trọt là 11,987 triệu đồng, chăn nuôi là 3,560 triệu đồng, lâm nghiệp 1,975
triệu đồng; nhưng thấp nhất là xã Khe Mo 17,260 triệu đồng, trong đó thu từ
trồng trọt là 11,589 triệu đồng, lâm nghiệp 0,891 triệu đồng.
        Theo hướng sản xuất kinh doanh chính thì thu nhập bình quân cao nhất ở
các nhóm hộ cây hàng năm 16,559 triệu đồng, trong đó thu nhập trồng trọt là
12,123 triệu đồng, chăn nuôi 3,679 triệu đồng, lâm nghiệp 0,757 triệu đồng; thấp
nhất là nhóm hộ trồng cây lâm nghiệp 9,543 triệu đồng trong đó thu từ lâm nghiệp
là 5,997 triệu đồng, trồng trọt 2,306 triệu đồng, chăn nuôi 1,240 triệu đồng.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên           http://www.lrc-tnu.edu.vn
73


      Bảng 2.15. Tổng thu từ sản xuất nông - lâm nghiệp ở hộ điều tra
                                                                Đơn vị tính: Triệu đồng
                                                                  Trong đó
                                    Tổng thu nông
        Phân loại hộ                                   Trồng        Chăn           Lâm
                                       lâm nghiệp
                                                        trọt         nuôi         nghiệp
 Bình quân chung                          17,876       12,083       4,370          1,423
 1. Theo vùng
 - Xã Hóa Thượng                          18,847       12,672       4,769          1,406
 - Xã Khe Mo                              17,260       11,589       4,780          0,891
 - Xã Hoà Bình                            17,522       11,987       3,560          1,975
 2. Theo hướng sản xuất chính
 - Cây hàng năm                           16,559       12,123       3,679          0,757
 - Cây ăn quả                             15,859       11,618       3,565          0,676
 - Cây CN lâu năm                         15,392       11,420       3,251          0,721
 - Chăn nuôi                              15,826        6,543       8,839          0,444
 - Lâm nghiệp                              9,543        2,306       1,240          5,997
 3. Theo tộc người
 - Người Kinh                             17,392       13,012       3,521          0,859
 - Người Nùng                             15,812       12,500       2,548          0,764
 - Người Sán dìu                          14,306       11,102       2,654          0,550
 - Người Tày                              13,354        9,932       2,541          0,881
 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
 - Hộ hàng hoá lớn                        25,340       17,425       5,391          2,524
 - Hộ hàng hoá TB                         17,415       12,219       4,208          0,988
 - Hộ hàng hoá nhỏ                        14,862       10,975       2,853          1,034

                      (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                http://www.lrc-tnu.edu.vn
74


        Theo tộc người thì nhóm hộ có mức thu nhập cao nhất là người Kinh
17,392 triệu đồng trong đó trồng trọt 13,012 triệu đồng, chăn nuôi 3,521 triệu
đồng, lâm nghiệp 0,859 triệu đồng; thấp nhất là người Tày 13,354 triệu đồng,
trong đó từ trồng trọt 9,932 triệu đồng, chăn nuôi 2,541 triệu đồng, lâm
nghiệp 0,881 triệu đồng. Có thể thấy đồng bào dân tộc thiểu số do trình độ
văn hoá, điều kiện môi trường sống, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật còn
hạn chế, điều kiện canh tác còn mang tính truyền thống, năng suất thấp, nên
tổng thu nhập nông lâm nghiệp chưa cao.
        Phân tích theo quy mô sản xuất hàng hoá ta thấy những hộ hàng hoá
lớn có tổng thu bình quân là 25,340 triệu đồng trong đó thu từ trồng trọt
17,425 triệu đồng, chăn nuôi 5,391 triệu đồng, lâm nghiệp 2,524 triệu
đồng. Thấp nhất là hộ hàng hoá nhỏ 14,862 triệu đồng, trong đó thu nhập
từ trồng trọt là 10,975 triệu đồng, chăn nuôi là 2,853 triệu đồng, lâm
nghiệp là 1,034 triệu đồng. Như vậy, nhóm hộ hàng hoá lớn có tổng thu
nhập gấp 1,7 lần so với nhóm hộ hàng hoá nhỏ.
        - Thu từ ngoài sản xuất nông lâm nghiệp
        Qua điều tra các hộ nông dân cho thấy thu nhập ngoài sản xuất lâm
nghiệp bình quân của các hộ là 5,327 triệu đồng, trong đó công nghiệp chế
biến 0,747 triệu đồng, dịch vụ nông lâm nghiệp 1,904 triệu đồng, lao động
làm thuê 0,561 triệu đồng, thu khác là 2,115 triệu đồng. Đối với các hộ có quy
mô sản xuất hàng hoá lớn thì không chỉ có thu từ dịch vụ, công nghiệp chế
biến mà họ còn chú ý đến các ngành nghề khác như: mộc, mây tre đan…
nhằm đa dạng hoá nguồn thu của hộ.
2.2.4.2. Giá trị sản phẩm hàng hoá
        Các sản phẩm hàng hoá của hộ nông dân chủ yếu là nông sản. Rừng
ở đây đang trong thời kỳ tu bổ và trồng mới nên phần lớn là chưa khai thác,
chỉ có khai thác phần nhỏ ở diện tích khoanh nuôi và bảo vệ song chưa


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
75


nhiều, cho nên sản phẩm hàng hoá còn rất ít. Qua bảng 2.16 ta thấy, quy
mô giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân của hộ điều tra là 12,514 trệu
đồng, trong đó ngành trồng trọt 8,14 triệu đồng, chăn nuôi 3,954 triệu
đồng, lâm nghiệp 0,42 triệu đồng.
        Cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá của các nhóm hộ rất đa dạng. Tỷ
trọng ngành trồng trọt chiếm 65%, chủ yếu là các sản phẩm cây hàng năm
như lúa, ngô, lạc...; cây công nghiệp lâu năm như chè, na, bưởi...Ngành chăn
nuôi chiếm tỷ trọng 31,6% chủ yếu là chăn nuôi lợn và gia cầm. Tỷ trọng
hàng hoá của hộ có ngành lâm nghiệp rất thấp.
        Phân tích giá trị sản phẩm hàng hoá theo vùng, cao nhất là xã Hoá
Thượng 12,729 triệu đồng trong đó trồng trọt 8,753 triệu đồng, chăn nuôi
3,651 triệu đồng, lâm nghiệp 0,325 triệu đồng; thấp nhất là xã Khe Mo 12,293
triệu đồng, trong đó giá trị sản hẩm hàng hoá ngành trồng trọt là 7,845 triệu
đồng, chăn nuôi 4,025 triệu đồng, lâm nghiệp 0,423 triệu đồng. Cơ cấu s ản
phẩm hàng hoá ngành trồng trọt cao nhất là xã Hoá Thượng 68,8%, thấp nhất
là xã Hoà Bình 62,5%; ngành chăn nuôi cao nhất là xã Hoà Bình 33,4%, thấp
nhất là xã Hoá Thượng 28,7%; lâm nghiệp cao nhất là xã Hoà Bình 4,1%,
thấp nhất là xã Hoá Thượng 2,5%.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
76


 Bảng 2.16. Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân ở hộ
                               nông dân điều tra năm 2007
                                  Tổng                              Trong đó
                               GTSPHH             Trồng trọt        Chăn nuôi         Lâm nghiệp
     Phân loại hộ
                               SL      Tỷ lệ          SL   Tỷ lệ    SL        Tỷ lệ      SL    Tỷ lệ
                             (tr.đ)     (%)      (tr.đ)     (%)    (tr.đ)      (%)     ( tr.đ) (%)
  Bình quân chung            12,514     100       8,14      65     3,954       31,6     0,42     3,4
1. Theo vùng
- Xã Hóa Thượng              12,729     100      8,753      68,8   3,651       28,7 0,325        2,5
- Xã Khe Mo                  12,293     100      7,845      63,8   4,025       32,7 0,423        3,5
- Xã Hoà Bình                12,520     100      7,822      62,5   4,186       33,4 0,512        4,1
2. Theo hướng sản xuất
- Cây hàng năm               14,792     100     10,835 73,2        3,814       25,8 0,143        1,0
- Cây ăn quả                 13,102     100      8,709      66,5   4,050       30,9 0,343        2,6
- Cây CN lâu năm             10,703     100      7,110      66,4   3,272       30,6 0,321        3,0
- Chăn nuôi                  14,401     100      2,031      14,1 12,245 85,0 0,125               0,9
- Lâm nghiệp                  8,25      100      2,756      33,4   1,962       23,8 3,532 42,8
3. Theo tộc người
- Người Kinh                13,337      100     8,457       63,4 4,460        33,4    0,420 3,2
- Người Nùng                11,841      100     6,641       56,1 4,669        39,4    0,531 4,5
- Người Sán dìu             10,076      100     5,646       56,0 3,792        37,6    0,638 6,4
- Người Tày                 12,351      100     7,498       60,7 4,125        33,4    0,728 5,9
4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
- Hộ hàng hoá lớn           20,439      100     16,769 82,0        3,005      14,7    0,665 3,3
- Hộ hàng hoá TB            14,821      100     11,713 79,0        1,323      8,9     1,785 12,0
- Hộ hàng ho á nhỏ          9,533       100     6,184      64,9    2,339      24,5    1,010 10,6

                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                         http://www.lrc-tnu.edu.vn
77


        Theo cơ cấu ngành có sự khác nhau đáng kể giữa các nhóm hộ, Nhóm
hộ cây hàng năm là chính có cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá chiếm 73,2%,
hộ chăn nuôi chiếm 85%, hộ trồng cây lâm nghiệp chiếm 42,8% trong cơ cấu
giá trị sản phẩm hàng hóa của hộ.
        Phân tích theo tộc người, giá trị sản phẩm hàng hoá cao nhất là người
Kinh 13,337 triệu đồng, thấp nhất là người Sán dìu 10,076 triệu đồng. Nếu
theo ngành sản xuất, ngành trồng trọt có giá trị sản phẩm hàng hoá cao nhất là
người Kinh 63,4%, ngành chăn nuôi là người Nùng 39,4%, ngành lâm nghiệp
là người Sán dìu 6,4%.
        Phân tích giá trị sản phẩm hàng hoá theo quy mô sản xuất hàng hoá, thì
không có sự chênh lệch nhiều về cơ cấu giá trị hàng hoá giữa các ngành, điều
khác nhau chủ yếu là về quy mô giá trị hàng hoá. Nhóm hộ hàng hoá lớn có
quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá là: 20,439 triệu đồng, nhóm hộ hàng hoá
trung bình là: 14,821 triệu đồng, nhóm hộ hàng hoá nhỏ là 9,533 triệu đồng.
        Như vậy các hộ có hướng sản xuất khác nhau thì quy mô hàng hoá và
cơ cấu sản phẩm hàng hoá rất khác nhau. Nhóm hộ hàng hoá lớn có quy mô
giá trị sản phẩm hàng hoá gấp 1,38 lần hộ hàng hoá trung bình và gấp 2,14
lần hộ hàng hoá nhỏ. Vậy là khoảng cách quy mô sản xuất hàng hoá giữa các
hộ chênh lệch chưa cao, thể hiện mức độ sản xuất hàng hoá còn hạn chế.
2.2.5. Thu nhập và đời sống của hộ nông dân
2.2.5.1. Thu nhập của hộ nông dân
        - Thu nhập từ nông lâm nghiệp của hộ là phần thu nhập sau khi lấy tổng
thu trừ đi chi phí vật chất, trừ tiền công thuê ngoài và trừ đi chi phí khác. Như
vậy trong phần thu nhập của hộ nông dân bao gồm tiền công lao động của hộ,
tiền công lao động của các thành viên khác trong gia đình và lãi thuần của hộ



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
78


              Đồ thị 2.2. Cơ cấu thu nhập từ sản xuất nông lâm nghiệp



                                5.6
              23.8
                                                      70.6             Trồng trọt
                                                                       Chăn nuôi
                                                                       Lâm nghiệp




        Qua điều tra cho thấy, bình quân thu nhập của các hộ từ sản xuất nông
lâm nghiệp là 12,398 đồng, trong đó thu nhập từ trồng trọt là 8,747 triệu đồng
chiếm 70,6%, chăn nuôi là 2,947 triệu đồng chiếm 23,8%, lâm nghiệp là
0,704 triệu đồng chiếm 5,6%.
        Nếu phân tích theo vùng cho thấy, mức thu nhập bình quân từ nông lâm
nghiệp cao nhất ở xã Hoá Thượng 12,229 triệu đồng, trong đó thu nhập từ
trồng trọt là 9,535 triệu đồng, chăn nuôi 3,549 triệu đồng, lâm nghiệp 1,145
triệu đồng; thấp nhất là xã Hoà Bình 11,344 triệu đồng, trong đó thu nhập từ
nông nghiệp là 8,332 triệu đồng, chăn nuôi là 1,931 triệu đồng, lâm nghiệp là
1,078 triệu đồng.
        Phân tích thu nhập theo hướng sản xuất chính thì ta thấy có sự chênh
lệch nhiều giữa các nhóm hộ. Nhóm hộ trồng cây ăn quả có mức thu nhập cao
nhất 10, 117 triệu đồng, thấp nhất là nhóm hộ lâm nghiệp 4,35 triệu đồng.
        Phân tích thu nhập theo tộc người thì người Kinh có thu nhập cao nhất
11,095 triệu đồng, thấp là người Tày 8,373 triệu đồng. Phân tích theo quy mô
sản xuất hàng hoá, hộ hàng hoá lớn có mức thu nhập là 16,731 triệu đồng, hộ
hàng hoá trung bình có mức thu nhập là 11,087 triệu đồng, hộ hàng hoá nhỏ
có mức thu nhập là 9,851 triệu đồng.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên          http://www.lrc-tnu.edu.vn
79


     Bảng 2.17. Tổng thu nhập bình quân từ sản xuất nông lâm nghiệp
                                         của hộ điều tra
                                                                 Đơn vị tính: Triệu đồng

                                                                  Trong đó
                                        Tổng thu
          Phân loại hộ                                  Trồng       Chăn           Lâm
                                       nhập NLN
                                                         trọt       nuôi          nghiệp
 Bình quân chung                          12,398        8,747       2,947          0,704
 1. Theo vùng
 - Xã Hóa Thượng                          12,229        9,535       3,549          1,145
 - Xã Khe Mo                              11,624        8,074       3,359          0,191
 - Xã Hoà Bình                            11,344        8,332       1,931          1,078
 2. Theo hướng sản xuất
 - Cây hàng năm                            9,964        7,619       2,117          0,228
 - Cây ăn quả                             10,117        7,816       2,156          0,145
 - Cây CN lâu năm                          9,796        8,044       1,621          0,131
 - Chăn nuôi                               8,064        4,857       3,152          0,055
 - Lâm nghiệp                               4,35        1,905       0,44           2,005
 3. Theo tộc người
  - Người Kinh                            11,095        8,741       2,153          0,201
  - Người Nùng                             9,848        8,302       1,340          0,206
  - Người Sán dìu                          8,789        6,942       1,686          0,161
  - Người Tày                              8,373        6,700       1,391          0,282
 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
 - Hộ hàng hoá lớn                        16,731        12,241      2,699          1,791
 - Hộ hàng hoá TB                         11,087        8,760       1,957          0,370
 - Hộ hàng hoá nhỏ                         9,851        7,057       2,202          0,592

                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                 http://www.lrc-tnu.edu.vn
80


        - Thu nhập ngoài nông lâm nghiệp : Thu nhập của các hộ nông dân hiện
nay không chỉ đơn thuần là thu nhập từ nông nghiệp, mà còn thu nhập từ
nhiều nguồn khác nữa, đó là thu nhập từ làm thuê, từ dịch vụ chế biến, dịch
vụ tiêu thụ sản phẩm.
        Qua phụ bảng 01 cho thấy, thu nhập bình quân của hộ ngoài nông lâm
nghiệp là 2,939 triệu đồng, trong đó ngành chế biến 0,553 triệu đồng chiếm
18,8%, ngành dịch vụ nông nghiệp 0,821 triệu đồng chiếm 27,9%, từ lao động
làm thuê 0,422 triệu đồng chiếm 14,4% và các ngành nghề khác 1,143 triệu
đồng chiếm 38,9%.
        Một số hộ nông dân sản xuất giỏi, có điều kiện tích luỹ vốn, hộ đầu tư
mua sắm các thiết bị sản xuất hiện đại như: máy cày, máy bừa, máy say xát,
máy bơm nước, ôtô vận tải… ngoài để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của
gia đình họ còn mở các dịch vụ như: vận chuyển, sơ chế nông sản phẩm, làm
đất… Hiện nay nhiều hộ nông dân có xu hướng mở rộng quy mô sản xuất, mở
nhiều ngành nghề mới: chế bến thức ăn gia súc, dệt may, gò hàn và một số
mặt hàng thủ công mỹ nghệ nhằm khai thác nguyên liệu sẵn có của vùng và
để tận dụng lao động.
        - Tổng thu nhập của hộ nông dân: bao gồm nguồn thu từ nông lâm
nghiệp và nguồn thu ngoài nông lâm nghiệp
        Qua bảng 218 ta thấy nếu so sánh các nguồn thu nhập của hộ, thu nhập
từ NLN chiếm 80,81%, thu nhập từ các ngành khác chiếm 19,19%.
        Nếu phân tích thu nhập theo xã, thì ở các xã có sự chênh lệch đáng kể,
thu nhập cao nhất là xã Hoá Thượng 15,504 triệu đồng, trong đó thu nhập từ
NLN là 12,229 triệu đồng chiếm 78,88%, thấp nhất là xã Hoà Bình 14,080
triệu đồng trong đó thu nhập từ NLN là 11,344 triệu đồng chiếm 80,57%.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
81


    Bảng 2.18. Tình hình thu nhập của hộ nông dân điều tra năm 2007
                                                       Thu nhập ( triệu. đồng)
         Phân loại hộ
                                     Tổng thu nhập          TN từ NLN        TN ngoài NLN
 Bình quân chung               15,337                          12,398              2,939
 1. Theo vùng
 - Xã Hóa Thượng               15,504                          12,229              3,275
 - Xã Khe Mo                   14,430                          11,624              2,806
 - Xã Hoà Bình                 14,080                          11,344              2,736
 2. Theo hướng sản xuất
 - Cây hàng năm                12,430                          9,964               2,466
 - Cây ăn quả                  12,871                          10,117              2,754
 - Cây CN lâu năm              12,370                          9,796               2,574
 - Chăn nuôi                   10,305                          8,064               2,241
 - Lâm nghiệp                   6,052                           4,35               1,702
 3. Theo tộc người
 - Người Kinh                  13,865                          11,095              2,770
 - Người Nùng                  12,310                          9,848               2,462
 - Người Sán dìu               10,979                          8,789               2,190
 - Người Tày                   10,464                          8,373               2,091
 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
 - Hộ hàng hoá lớn             20,496                          16,731              3,765
 - Hộ hàng hoá TB              13,767                          11,087              2,680
 - Hộ hàng hoá nhỏ             12,307                          9,851               2,456
                   Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2007

        Nếu phân tích theo hướng sản xuất thì nhóm hộ trồng cây ăn quả có
mức thu nhập bình quân cao nhất 12,871 triệu đồng, trong đó thu từ NLN là
10,117 triệu đồng chiếm 78,60%, từ ngoài nông lâm nghiệp là 2,754 triệu
đồng chiếm 21,40%; thấp nhất là nhóm hộ sản xuất lâm nghiệp 6,052 triệu
đồng trong đó thu từ NLN là 4,35 triệu đồng chiếm 71,88%, thu ngoài nông
lâm nghiệp 1,702 triệu đồng chiếm 28,12%.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                     http://www.lrc-tnu.edu.vn
82


        Phân tích thu nhập của hộ nông dân theo tộc người thì các tộc người có
sự chênh lệch đáng kể, có thu nhập cao nhất là nhóm người Kinh 13,865 triệu
đồng, thấp nhất là nhóm hộ người Tày 10,464 triệu đồng.
        Phân tích theo quy mô sản xuất hàng hoá cho thấy khoảng cách thu
nhập giữa các nhóm hộ là cao. Nhóm hộ hàng hoá lớn có mức thu nhập
20,496 triệu đồng trong đó thu nhập từ NLN là 16,731 triệu đồng, thu nhập
ngoài NLN là 3,765 triệu đồng. Nhóm hộ hàng hoá nhỏ có mức thu nhập bình
quân 13,767 triệu đồng trong đó thu nhập từ NLN là 11,087 triệu đồng, ngoài
NLN là 2,456 triệu đồng.
        Như vậy có thể thấy mức độ thu nhập của hộ nông dân phụ thuộc rất
lớn vào hướng sản xuất kinh doanh chính và quy mô sản xuất hàng hoá của hộ
        - Nhóm hộ trồng cây ăn quả có thu nhập bình quân cao nhất và nhiều
hơn nhóm hộ lâm nghiệp là 6,819 triệu đồng/năm.
        - Thu nhập bình quân của nhóm hộ hàng hoá lớn gấp 1,49 lần so với
nhóm hộ hàng hoá trung bình và gấp 1,66 lần so với nhòm hộ hàng hoá nhỏ.
2.2.5.2. Tình hình đời sống của hộ nông dân
        Huyện Đồng Hỷ mặc dù là huyện nằm giáp với Thành phố Thái nguyên
nhưng cuộc sống của các hộ nông dân ở các xã trong huyện chưa thực sự cao,
sản phẩm của các hộ làm ra chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nhiều
hơn là sản phẩm đem bán ra thị trường.
        - Mức thu nhập:
        Mức thu nhập bình quân chung của các hộ ở các xã điều tra là 3,592
triệu đồng/ khẩu và 6,337 triệu đồng/ lao động ( Bảng 2.19)
        Như vậy mức sống của các hộ nông dân phụ thuộc rất nhiều vào sản
xuất nông lâm nghiệp chiếm 80,81%, ngoài sản xuất nông lâm nghiệp
chiếm 19,19%. Nếu phân theo các xã điều tra thì ta thấy xã Hoá Thượng có
mức sống của khẩu cao nhất 3,630 triệu đồng, thấp nhất là xã Hoà Bình
3,279 triệu đồng.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
83


        Nếu phân tích theo hướng sản xuất thì mức sống của các nhóm hộ cũng
khác nhau, nhóm hộ trồng cây hàng năm và cây ăn quả có mức sống cao hơn
nhóm hộ chăn nuôi và cây lâu năm, thấp nhất là nhóm hộ trồng cây lâm
nghiệp đạt 2,866 triệu đồng/khẩu.
        Nếu nhìn và phân tích theo tộc người thì người Kinh có đời sống khá
cao 4,390 triệu đồng, sau đó là người Nùng 3,411 triệu đồng, người Sán Dìu
3,224 triệu đồng, thấp nhất là người Tày 2,633 triệu đồng.
 Bảng 2.19. Mức thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu của hộ
                                       nông dân điều tra
                                                                Trong đó
        Phân loại hộ               Tổng thu nhập          Từ NLN     Từ ngoài NLN
                                   Khẩu     LĐ         Khẩu    LĐ    Khẩu     LĐ
 Bình quân chung                   3,592 6,337         2,903 5,123 0,688 1,214
 1. Theo vùng
 - Xã Hóa Thượng         3,630 6,406                   2,864   5,053    0,766      1,353
 - Xã Khe Mo             3,379 5,962                   2,722   4,803    0,657      1,159
 - Xã Hoà Bình           3,297 5,818                   2,656   4,688    0,641      1,130
 2. Theo hướng sản xuất
 - Cây hàng năm           3,511 6,445                  2,952   5,556     0,559      0,889
 - Cây ăn quả             3,480 6,172                  2,939   5,521     0,541      0,651
 - Cây CN lâu năm         3,382 6,092                  2,837   5,216     0,545      0,876
 - Chăn nuôi              3,287 6,027                  2,678   4,820     0,609      1,207
 - Lâm nghiệp             2,866 6,321                  2,272   5,397     0,594      0,924
 3. Theo tộc người
  - Người Kinh           4,390 6,531                   3,650   5,397    0,659      1,134
  - Người Nùng           3,411 6,217                   2,840   5,138    0,571      1,079
  - Người Sán dìu        3,224 6,065                   2,712   5,056    0,512      1,009
  - Người Tày            2,633 5,850                   2,132   4,912    0,501      0,938
 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá
 - Hộ hàng hoá lớn        5,554 7,535                  4,534   6,151     1,020      1,384
 - Hộ hàng hoá TB         3,186 5,883                  2,566   4,738     0,620      1,145
 - Hộ hàng hoá nhỏ        2,558 5,594                  2,048   4,477     0,510      1,116

                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                http://www.lrc-tnu.edu.vn
84


        Nếu phân tích theo quy mô sản xuất hàng hoá, nhóm hộ hàng hoá lớn
có mức thu nhập 5,554 triệu đồng gấp 1,74 lần so với hộ hàng hoá TB và gấp
2,2 lần nhóm hộ hàng hoá nhỏ.
        - Tình hình chi tiêu của hộ:
        Qua bảng phụ lục số 02 ta thấy, do thu nhập của các hộ nông dân ở
huyện Đồng Hỷ chưa cao nên mức chi cho đời sống còn nhiều hạn chế. Mức
chi tiêu bình quân chung của hộ điều tra là 6,964 triệu đồng. Chủ yếu là chi
cho ăn uống, lương thực, thực phẩm, chất đốt, hút thuốc, rượu chè... chiếm
59,63%. Còn lại 40,37% là chi giáo dục, y tế, điện nước, đi lại, mua sắm thiết
bị sản xuất, quần áo...
        Nếu theo vùng thì xã Hoá Thượng có mức chi tiêu cao nhất là 7,170 triệu
đồng, thấp nhất là xã Hoà Bình 6,788 triệu đồng. Theo cơ cấu chi tiêu cho thấy
xã Hoà Bình mặc dù thu nhập thấp nhưng cơ cấu chi tiêu cho ăn uống chiếm tỷ
trọng cao 59,66%, xã Hoá Thượng có thu nhập cao nhưng chi tiêu cho ăn uống
chiếm tỷ trọng thấp 51,19% và chi cho đời sống khác cao 48,81%.
        Phân tích mức chi tiêu theo quy mô sản xuất hàng hoá, hộ hàng hoá lớn
có mức chi tiêu là 5,894 triệu đồng, hộ hàng hoá TB là 7,177 triệu đồng, hộ
hàng hoá nhỏ là 6,642 triệu đồng. Theo cơ cấu chi tiêu thì hộ hàng hoá lớn có
tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống, hút chiếm tỷ trọng thấp ( 51,7%), chi cho hoạt
động khác chiếm tỷ trọng cao ( 48,3%). Nếu tính riêng cho ăn uống thì nhóm
hộ hàng hoá nhỏ và trung bình gấp từ 1,36-1,40 lần hộ hàng hoá lớn, nếu tính
chi cho các hoạt động khác thì hộ hàng hoá lớn chi gấp 1,1-1,3 lần hộ hàng
hoá TB và nhỏ. Nguyên nhân nhóm hộ hàng hoá lớn chi tiêu cho đời sống
thấp là do bình quân nhân khẩu của một hộ hàng hoá lớn thấp hơn so với các
nhóm hộ khác. Do vậy, các hộ hàng hoá lớn để dành phần thu nhập chi cho
sản xuất nhiều hơn.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
85


2.2.6. Phân tích ảnh hƣởng của các nguồn lực đến sản xuất hàng hoá của
hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ
        Kinh tế hộ và trang trại chỉ được hình thành và phát triển khi các yếu tố
sản xuất của nó được tập trung với một quy mô phù hợp. Trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh các yếu tố này không những có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau mà còn tác động trực tiếp đến kết quả sản xuất của hộ.
        Các yếu tố sản xuất có thể phân thành 2 nhóm:
        Nhóm các yếu tố chủ quan bên trong nội bộ hộ nông dân, nhóm này bao gồm:
Đất đai, lao động, tiền vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ hiểu biết của chủ hộ.
        Nhóm các yếu tố khách quan từ bên ngoài như: Cơ chế, chính sách của
Nhà nước, thị trường.
        Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới kết quả sản
xuất kinh doanh sẽ giúp cho các hộ xác định sự tác động nhân tố nào là chủ
yếu để đưa ra được những biện pháp giải quyết thật hợp lý.
        Trên cơ sở nghiên cứu thực tế một số hộ nông dân ở một số xã trên địa
bàn huyện Đồng Hỷ, chúng tôi sử dụng phương pháp hạch toán kinh tế, thông
qua hàm sản xuất Cobb - Douglas để phân tích mức độ ảnh hưởng của một số
nhân tố nội lực của hộ nông dân, phân tích các nguồn lực cho thấy giữa các
vùng cũng có sự khác nhau (Xem bảng 2.20).
  Bảng 2.20. Kết quả phân tích hàm Cobb - Douglas ở vùng nghiên cứu
                           Chung 3 xã          Xã Hóa Thƣợng          Xã Khe Mo            Xã Hòa Bình
       Tên biến
                          Hệ số   Gi á trị t    Hệ số   Gi á trị t   Hệ số    Gi á trị t   Hệ số    Gi á trị t
Hệ số chặn                1,677    11,88        1,346    9,76         1,875    8,10         1,763    6,22
Ln(Vốn)                   0,311    5,52**       0,505   9,51**        0,211   2,31**        0,247   2,06**
Ln(lao động)              0,123    4,23**       0,079   2,43**        0,113   2,07**        0,144   2,61**
Ln(diện tích đất)         0,119    4,29**       0,054   2,26**        1,128   2,36**        0,153   3,20**
Ln(Trình độ VH)           0,251    7,62**       0,076   3,32**        0,348   5,75**        0,338   4,53**
Adjusted R2               0,771                 0,902                 0,767                 0,789
Giá trị F                75,998                67,909                24,996                28,153
Mẫu quan sát                90                    30                    30                    30

                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)
        ** Độ tin cậy 95%

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                             http://www.lrc-tnu.edu.vn
86


        -Về nguồn lực đất đai
        Đất đai trong sản xuất nông nghiệp là yếu tố quan trọng. Độ phì của
đất, đặc điểm tính chất của đất…đều ảnh hưởng tới kết quả sản xuất của hộ
nông dân.
        Nguồn lực đất đai có sự biến động khác nhau. Nếu thay đổi 1% đất
đai toàn vùng sẽ làm thay đổi giá trị sản phẩm của hộ là 0,119% trong đó
cao nhất là xã Hoà Bình 0,153%, xã Khe Mo 0,113%, thấp nhất là xã Hoá
Thượng 0,054%. Như vậy là ở xã Hoá Bình sản xuất còn đang ở trong tình
trạng quảng canh, đất trống đồi núi trọc còn nhiều thì vấn đề mở rộng thêm
đất canh tác là quan trọng.
        - Về nguồn lực lao động
        Nếu thay đổi 1% lao động của toàn vùng sẽ làm thay đổi giá trị sản
phẩm hàng hoá của hộ là 0,123%, trong đó cao nhất là xã Hoà Bình 0,144%,
xã Khe Mo 0,113%, thấp nhất là xã Hoá Thượng 0,079%. Giải pháp cho xã
Khe Mo về lao động để tiếp tục phát huy tiềm năng về đất và vốn. Các hộ
phát triển sản xuất hàng hoá, đã bước đầu thu hút một bộ phận lao động sang
ngành nghề sản xuất phi nông nghiệp. Tuy vậy đó mới chỉ là về số lượng lao
động, vấn đề quan trọng còn là năng suất, chất lượng lao động.
        - Về nguồn lực vốn sản xuất
        Mọi quá trình sản xuất đều cần có vốn đầu tư. Lượng vốn nhiều hay ít
ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của hộ và tác động đến kết quả sản xuất.
Những hộ không có điều kiện về vốn thì việc đầu tư cho sản xuất thấp, làm
cho chất lượng sản xuất thấp và hiệu quả thu được cũng thấp. Những hộ có
điều kiện thì đầu tư cho việc thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng vật
nuôi, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển thêm các ngành nghề để mang lại
thu nhập cao hơn. Họ có điều kiện để tích luỹ nhiều hơn lên phần lớn vốn đầu


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
87


tư cho sản xuất là vốn tự có, bên cạnh đó họ cũng lợi dụng triệt để các nguồn
vốn khác vào mục đích sản xuất của mình. Những hộ nghèo thiếu vốn thì lại
sợ vay vốn không trả được do hiệu quả sản xuất thấp. Đây là một vấn đề trong
phát triển kinh tế hộ.
        Tính chung toàn vùng, nếu thay đổi 1% vốn sẽ làm thay đổi giá trị sản
phẩm hàng hoá của hộ là 0,311%. Vốn tác động manh nhất đến xã Hoá
Thượng 0,505%, xã Hoà Bình 0,247%, thấp nhất là xã Khe Mo 0,211%. Như
vậy là xã Khe Mo rất cần vốn để phát triển sản xuất hàng hoá. Việc tìm ra giải
pháp nhằm tạo ra nguồn vốn cho các hộ nông dân có một ý nghĩa hết sức to
lớn, nhằm khai thác những tiềm năng của vùng về lao động và đất đai để sản
xuất theo hướng hàng hoá.
        - Về trình độ văn hoá
        Nếu thay đổi 1% trình độ văn hoá sẽ làm thay đổi giá trị sản phẩm hàng
hoá của hộ là 0,251%. Trình độ văn hoá tác động mạnh nhất đến xã Khe Mo
0,348%, xã Hoà Bình 0,338 % thấp nhất là xã Hoá Thượng 0,076%.
      Mỗi vùng, mỗi xã đều có thế mạnh và tiềm năng riêng. Vì vậy các nhân tố
ảnh hưởng tới kết quả sản xuất cũng khác nhau. Qua phân tích ở trên cho thấy.
      Đối với xã Hoà Bình một xã vùng cao của huyện Đồng Hỷ hướng đầu tư
hơn cho trình độ văn hoá của chủ hộ, vốn, đất đai, lao động.
      Xã Hoá Thượng một xã nằm giáp với trung tâm huyện nên việc đầu tư
vốn là vấn đề quan trọng hơn cả, sau đó mới đến đất đai và lao động, trình độ
lao động của chủ hộ.
      Xã Khe Mo thứ tự ưu tiên là trình độ văn hoá của chủ hộ, vốn, lao động,
đất cần phát triển mạnh hơn nữa cây ăn quả đặc biệt là cây chè.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
88


         Qua kết quả phân tích trên cho chúng ta thấy các giải pháp về vốn, lao
động, đất đai và nâng cao trình độ văn hoá có ý nghĩa to lớn trong việc nâng
cao thu nhập cho hộ sản xuất hàng hoá.
2.2.7 Ảnh hƣởng của yếu tố thị trƣờng đến sản xuất của hộ
        Thị trường là nơi kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm hàng hoá, đồng
thời tác động đến quyết định loại sản phẩm hàng hoá cũng như quy mô sản
xuất lựa chọn của chủ hộ. Nơi nào tiêu thụ sản phẩm tốt, giá bán cao nơi đó
sản xuất hàng hóa sẽ có cơ hội để phát triển.
         Bảng 2.21 Phƣơng thức tiêu thụ một số sản phẩm của hộ nông dân
                                vùng nghiên cứu năm 2007
                                                                            Đơn vị tính: %
                                               Hộ có sản phẩm hàng hóa chủ yếu
             Chỉ tiêu
                                          Quả          Rau    Chè        Lợn           Gà
 1. Bán cho các đối tƣợng
 - Tư thương                              69,0         70,1   48,3       95,2         94,5
 - Nhóm hộ chế biến                       27,1         25,8   30,1        4,8          5,0
 - Nhà máy chế biến                        4,0          5,0   22,0        0,0          0,0
 2. Hình thức bán
 - Tại nhà                                55,2         10,5   22,7       87,7         42,5
 - Tại chợ                                15,8         27,2   14,5       11,1         41,1
 - Tại điểm thu gom                       22,4         18,1   52,2        1,2         16,4
 - Tại vườn                                6,6         45,0   10,6        0,0          0,0
 3. Phƣơng thức bán
 - Bán buôn                               84,4         56,3   28,3       18,6         24,6
 - Bán lẻ                                 15,6         43,7   71,7       81,4         75,4
 4. Thông tin giá cả
 - Biết trước khi bán                     55,6         58,7   60,3       68,6         62,6
 - Biết sau khi bán                       44,4         41,3   39,7       31,4         32,4
                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.lrc-tnu.edu.vn
89


        Qua biểu 2.21 cho thấy sản phẩm của hộ bán cho tư thương cao nhất là
sản phẩm thịt lợn hơi 95,2%, sản phẩm gà 94,5%; bán cho hộ thu gom chế
biến chủ yếu là chè búp tươi 30,1%. Hình thức bán tại nhà chủ yếu là sản
phẩm thịt lợn hơi 87,7%, quả tươi 55,2%; tại chợ chủ yếu là sản phẩm gà
ngan, vịt 41,1%, rau xanh 27,2%; bán tại vuờn chủ yếu là rau xanh 45%, chè
10,6%, quả 6,6%.
        Phương thức bán buôn chủ yếu tập trung chủ yếu là quả 84,4%,bán lẻ
chủ yếu là sản phẩm thịt lợn hơi.
        Thông tin về giá cả, các hộ nông dân biết trước giá cả cao nhất là sản
phẩm lợn 68,6%, thấp nhất là các loại hoa quả 55,6%. Chính vì vậy mà người
dân cần phải năm được thông tin về giá cả trên thị trường, để không bị các tư
thương ép giá.
        Các vùng cần phải tổ chức các đầu mối tiêu thụ sản phẩm, xây dựng
các nhà máy chế biến vừa và nhỏ để thu hút các sản phẩm của các hộ nông
dân sản xuất ra. Ở nơi nào tổ chức được công tác chế biến sản phẩm tốt thì
nơi đó sản xuất hàng hoá phát triển. Như nông trường chè Sông Cầu. Một số
nơi đường giao thông đi lại khó khăn, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ được dẫn
đến giá thấp, thu không đủ chi phí, hàng hoá kém phát triển.
        Để sản xuất hàng hoá phát triển, Nhà nước cần có sự hỗ trợ về đầu tư
về cơ sở vật chất, mở rộng và xây dựng các cơ sở chế biến, các chợ vừa và
nhỏ để tiêu thị sản phẩm. Mặt khác cần có chính sách trong việc chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, phát triển công nghiệp chế biến tại chỗ,
hướng dẫn việc ký kết hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản.
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp
chế biến nông sản và tiêu thụ sản phẩm. Tổ chức mở rộng ngành nghề
phi nông nghiệp ở nông thôn miền núi.
2.2.8 Ảnh hƣởng của các điều kiện bên ngoài đến sản xuất của hộ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
90


      Qua khảo điều tra lấy ý kiến của các hộ nông dân ở các xã điều tra,
những điều kiện tác động của các yếu tố ngoại lực đã thúc đẩy kinh tế hộ sản
xuất hàng hoá phát triển.
      Ở bảng 2.22 cho thấy bình quân ở 3 xã có tới 99,1% các ý kiến cho rằng
ổn định đất đai lâu dài cho hộ nông dân là vấn đề quan trọng, thị trường tiêu
thụ sản phẩm 95,3%, sau đó đến vốn 94,7%,
Bảng 2.22. Ảnh hƣởng các yếu tố bên ngoài đến sản xuất hàng hoá của hộ
                          nông dân ở vùng điều tra năm 2007
                                                        Đơn vị tính: % Các ý kiến được hỏi
                                   BQ chung               Xã           Xã              Xã
           Chỉ tiêu
                                       3 xã           Hóa Thƣợng     Khe Mo       Hòa Bình

1. Vị trí địa lý thuận lợi             82,3              85,6         82,1            79,3
2. Đất đai ổn định lâu dài             99,1              98,7         99,1            99,5
3. Vốn sản xuất                        94,7              95,8         91,1            97,4
4. Công cụ sản xuất                    84,2              85,6         86,7            80,3
5. Kết cấu hạ tầng                     67,8              67,8         76,9            58,9
6. Kỹ thuật canh tác                   89,9              87,6         92,4            89,9
7.Thị trường tiêu thụ sản phẩm         95,3              97,7         96,2            91,9
8. Ảnh hưởng của liên kết              60,9              62,3         55,7            64,9
9. Trợ giá nông nghiệp                 50,8              45,7         51,0            55,7

                           (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)

        Có nhiều yếu tố tác động đến sản xuất của hộ nông dân ở huyện Đồng
Hỷ. Qua phân tích trên có thể thấy trình độ của các hộ nông dân còn hạn chế
về chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, vốn sản xuất và
thị trường tiêu thụ nông sản phẩm.
        Tổng hợp ý kiến nguyện vọng của các hộ điều tra




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                   http://www.lrc-tnu.edu.vn
91


        Qua phụ bảng số 03 cho thấy về nhu cầu mở rộng quy mô đất đai để
sản xuất có tới 20,1% các hộ điều tra có nguyện vọng. Nếu xét theo nhóm hộ
thì nhóm hộ hàng hoá lớn có nhu cầu cao nhất 38,4%
        Về vốn sản xuất đa số các hộ đều có nhu cầu về vốn chiếm 77,6% cao nhất
là nhóm hộ hàng hoá nhỏ 94,6%, thấp nhất là hộ hàng hoá trung bình 58,3%.
        Về lao động, số hộ đủ lao động chiếm 47,9% số thiếu lao động 22,9%, số
thừa lao động 29,2%. Thiếu lao động nhiều nhất là ở nhóm hộ hàng hoá lớn 80,6%.
        Thị trường tiêu thụ nông sản phẩm các ý kiến được hỏi có tới 64,8% là
còn thiếu thông tin trong đó hộ hàng hoá nhỏ chiếm cao nhất 68,2%. Giá cả
thấp và tiêu thụ sản phẩm khó khăn chủ yếu ý kiến ở nhóm hộ hàng hoá lớn.
        Chính sách về hỗ trợ vốn ở các nhóm hộ đều có nhu cầu cao nhóm hộ
hàng hoá nhỏ 75,9% và hộ hàng hoá lớn 62,7%, hộ hàng hoá nhỏ 56,9%. Đào
tạo chuyên môn kỹ thuật 58,9%.
        Như vậy vấn đề đất đai hạn chế, thiếu vốn, thiếu thông tin và hiểu biết
về thị trường, thừa lao động…là nguyên nhân cơ bản dẫn đến quy mô sản
xuất hàng hoá của hộ nông dân chưa cao, chất lượng sản phẩm còn thấp.
2.2.9. Những nhận xét và đánh giá chung trong phát triển kinh tế hộ
nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ
        Qua quá trình khảo sát và phân tích thực trạng của 90 hộ nông dân ở 3
xã của huyện Đồng Hỷ có thể nhận thấy một số vấn đề sau:
        Các chủ hộ nông dân là nhiều thành phần dân tộc khác nhau như: Kinh,
Nùng, Sán Dìu, Tày..., xuất xứ khác nhau. Từ đó dẫn đến có sự chênh lệch khác
nhau về trình độ hiểu biết về về khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm kinh doanh
buôn bán, đặc biệt là các dân tộc thiểu số còn rất nhiều hạn chế về vấn đề này.
        Kinh tế hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ không ngừng phát triển theo
hướng sản xuất hàng hoá. Trên cơ sở kết hợp đa dạng hoá và chuyên môn hoá
sản xuất theo yêu cầu của thị trường. Cơ cấu đất trồng cây công nghiệp và cây
ăn quả có xu hướng tăng sản lượng cây ăn quả các loại năm 2007 đạt 5000
tấn, huyện tiếp tục chỉ đạo thâm canh tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
92


phẩm, tuyển chọn các loại cây mới phù hợp với nhu cầu của thị trường như:
Xoài, na, nhãn, vải chín muồi, cam, chanh, quýt… để trồng mới hoặc thay thế.
Trong chăn nuôi tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc ở các xã
vùng cao của huyện, ở xã thấp thì phát triển.
        Các hộ nông dân đã từng bước sử dụng hợp lý các yếu tố sản xuất và
đem lại hiệu quả kinh tế cao.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.lrc-tnu.edu.vn
93


                                            Chƣơng 3
 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ
        HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ THEO HƢỚNG
                                SẢN XUẤT HÀNG HOÁ

3.1. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ
THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
3.1.1. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá nhằm
khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội, bảo vệ môi
trƣờng sinh thái và tái tạo nguồn lợi
        Môi trường sống và môi trường sản xuất nông nghiệp đang đứng
trước nguy cơ ngày càng xấu đi nghiêm trọng. Nhiều tổ chức quốc tế Chính
phủ cũng như phi Chính phủ đang đấu tranh cho sự phát triển bền vững của
môi trường.
        Nhiều cuộc hội thảo trong nước cũng như quốc tế có sự tham gia của
hộ nông dân về vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong nông
nghiệp. Nhiều vùng nông nghiệp "sạch" đã hình thành với chủ trương không
dùng thuốc trừ sâu, không dùng hoặc dùng ít phân hàng hoá. Các sản phẩm
nông nghiệp "sạch" được thị trường quốc tế ưa chuộng.
        Xu hướng của phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp là hướng
tới một nền nông nghiệp phát triển bền vững được khái quát bằng 3 đặc
điểm sau:
        - Thoả mãn được nhu cầu của con người về nông sản.
        - Có khả năng thích ứng với các tiến bộ kỹ thuật ngày càng cao trong
nông nghiệp.
        - Đảm bảo môi trường sống, môi trường tự nhiên không bị phá huỷ.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên     http://www.lrc-tnu.edu.vn
94


        Hiện nay bảo vệ môi trường đang là vấn đề sống còn đối với mỗi gia
đình, mỗi quốc gia và toàn thế giới. Đối với nước ta, môi trường tự nhiên
cũng đã bị tàn phá nhiều song chưa nghiêm trọng như các nước công nghiệp
đã và đang phát triển. Chúng ta còn có cơ hội tốt để vừa sản xuất vừa có các
biện pháp bảo vệ môi trường. Chính sách bảo vệ môi trường chỉ thành công
khi từng hộ nông dân thời gian vào công việc này.
        Huyện Đồng Hỷ về tự nhiên, kinh tế xã hội khá thuận lợi cho việc phát
triển sản xuất nông sản hàng hoá, đặc biệt là tiềm năng về đất đai và thị
trường tiêu thụ nông sản phẩm thuận tiện. Mặc dù vậy cho đến nay các tiềm
năng và lợi thế đó chưa được khai thác tốt. Hầu hết các hộ nông dân còn có
quy mô nhỏ, chưa thoát hỏi tình trạng sản xuất tự cấp tự túc. Sản xuất hàng
hoá kém phát triển là nguyên nhân làm cho đời sống người dân còn thấp, tỷ lệ
nghèo đói còn cao. Nạn chặt phá rừng bừa bãi, ảnh hưởng rất lớn đến môi
trường sinh thái, lũ lụt, hạn hán đe dọa sản xuất, tài nguyên, khoáng sản và
tính mạng con người. Chính vì vậy cần phải huy động, khai thác đất đai, sức
lao động và các nguồn lực khác một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả.
Trong tình hình đó, phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá là điều
kiện để khai thác tốt các nguồn lực và lợi thế của vùng, nó thúc đẩy chuyên
môn hoá sản xuất, khai thác sử dụng hợp lý các nguồn lực, tạo điều kiện cho
các hộ nông dân đẩy mạnh thâm canh, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng
cao năng suất cây trồng, vật nuôi. Từ đó làm tăng khả năng bảo vệ môi trường
sinh thái, làm cho môi trường các tốt đẹp lên và các nguồn lợi tự nhiên được
tái tạo nhiều hơn do sử dụng hợp lý, khai thác đúng mức các nguồn lực, tạo ra
một hệ thống canh tác nông nghiệp bền vững cho đất dốc.
        Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở Huyện
Đồng Hỷ là yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế hộ của
vùng, nó tác động bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường. Đó chính là quá


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
95


trình thay thế sản xuất tự cấp tự túc bằng việc sản xuất các nông sản phẩm để
đáp ứng nhu cầu của thị trường và của xã hội. Nó tạo điều kiện bảo vệ môi
trường sinh thái, kết hợp khai thác tiềm năng với xây dựng hệ thống nông lâm
nghiệp bền vững nhằm tái tạo các nguồn lợi về đất, rừng phòng hộ đầu nguồn,
hệ thống động thực vật và các nguồn lợi thuỷ sản.
3.1.2. Hình thành và phát triển kinh tế trang trại gia đình là một trong
những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu trong thời gian tới
nhằm tăng số lƣợng hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá
      Sự phát triển của nền nông nghiệp chuyển từ tự cung tự cấp sang sản
xuất hàng hoá, gắn liền với sự ra đời và phát triển của các hộ trang trại. Vì sản
xuất nên các hộ nông dân phải căn cứ vào thị trường để xây dựng phương
hướng kinh doanh, phải khai thác tốt nhất các nguồn lực, phải dựa trên cơ sở
phát triển sản xuất chuyên môn hoá, tập trung hoá và thâm canh hoá. Mặt
khác để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá
thành sản xuất, các chủ hộ buộc phải đầu tư sản xuất đạt quy mô hợp lý,
thường xuyên đổi mới công cụ, thiết bị, công nghệ sản xuất và nâng cao trình
độ quản lý. Từ đó đạt hiệu quả kinh tế cao và tăng thu nhập. Những hộ khá,
giầu có điều kiện về vốn, về kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp
sẽ tiếp tục tích tụ đất đai và hình thành trang trại có quy mô phù hợp với từng
điều kiện của từng vùng và từng loại hình sản xuất.
      Ở nước ta kinh tế trang trại mặc dù mới phát triển trong những năm gần
đây, song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tế trang trại đã thể hiện rõ
nét trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường.
      Trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khắc phục dần tình
trạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn hoá, tập
trung hàng hoá và thâm canh cao. Trang trại góp phần thúc đẩy phát triển các
ngành nghề khác, nhất là công nghiệp chế biến và dịch vụ trong nông thôn,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
96


làm tăng hộ giầu trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập
cho người lao động.
      Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn
vốn trong dân, mở mạng thêm diện tích đất trồng, đồi núi trọc, đất hoang hoá,
nhất là vùng trung du, miền núi, góp phần giảm nghèo, tăng thêm nông sản
hàng hoá.
      Chính vì vậy, để tận dụng hết khả năng lợi thế so sánh của vùng thì việc
chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang phát triển sản xuất hàng hoá đối với
những hộ khá, giầu theo mô hình trang trại là một tất yếu.
3.1.3. Phát triển kinh tế hộ theo hƣớng sản xuất hàng hoá phải gắn với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp
nông thôn, với quá trình hội nhập vào nền kinh tế cả nƣớc và nƣớc ngoài
        Để đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất hàng hoá lớn
phải bắt đầu từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, gắn liền với
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển nông nghiệp và
xây dựng nông thôn. Đó chính là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính
trị, xã hội, củng cố liên minh giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức những
nhà khoa học.
        - Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp
với công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường để hình
thành sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường ngay trên địa
bàn nông thôn.
        - Công nghiệp hoá nông nghiệp tức là áp dụng quy trình công nghiệp
vào từng khâu và tiến tới tất cả các khâu của sản xuất nông nghiệp, bao gồm
các khâu trước và sau thu hoạch. Hiện nay ở nhiều nước, các công đoạn như
tưới nước, làm đất, gieo trồng, bón phân, chọn giống, thu hoạch... đã được
công nghiệp hoá (tất nhiên mức độ cơ giới hoá phụ thuộc vào từng loại cây


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên          http://www.lrc-tnu.edu.vn
97


trồng). Nhờ những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật cho phép sản xuất nông
nghiệp được thực hiện theo phương pháp sản xuất và quản lý theo kiểu công
nghiệp.Ví dụ hiện nay phương pháp trồng rau, hoa trong nhà kính đã phát
triển. Cũng giống như ngành công nghiệp, người ta có thể tính trước được
nguyên liệu "đầu vào" và sản lượng "đầu ra" của ngành trồng rau, hoa. Xu
hướng trong tương lai, các cây trồng khác đang từng bước được thực hiện
theo hướng công nghiệp hoá.
        - Hiện đại hoá nông nghiệp là ứng dụng những kiến thức, những thành tựu
khoa học tiên tiến nhất vào sản xuất. Nhờ có hoạt động nông nghiệp mà vùng
nông thông có thể tiến kịp thành thị, sản xuất nông nghiệp đạt được hiệu quả cao.
3.1.4. Phát huy nội lực, tạo bƣớc phát triển mới trong kinh tế hộ nhằm
thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để tạo điều kiện cho hộ nông dân sản
xuất hàng hoá
         Từ năm 1988 trở lại đây, trên cơ sở nhận thức lại, tổng kết thực tiễn,
tiến hành đổi mới chế độ kinh tế hợp tác đã tạo nên những động lực mới thúc
đẩy sản xuất phát triển. Như vậy trước hết trong quan điểm sản xuất cần
khẳng định dứt khoát vai trò của hộ nội dung là đơn vị kinh tế cơ bản của sản
xuất nông nghiệp hiện tại cũng như trong tương lai.
        Một khi đã thừa nhận vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân thì tất yếu
cũng phải thừa nhận sản xuất hàng hoá của nông hộ. Điều chúng tôi muốn
nhấn mạnh là cần khuyến khích hộ sản xuất hàng hoá làm giàu cho gia đình
họ và xã hội.
        Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, phát triển nền nông
nghiệp hàng hoá thì sự phân hoá kinh tế hộ thành những hộ giàu nghèo là tất
yếu của quá trình vận động phát triển. Không nên và không thể kìm hãm sản
xuất hàng hoá của hộ. Nhà nước phải coi những hộ chưa sản xuất hàng hoá
cần được khuyến khích và tạo điều kiện để trở thành hộ sản xuất hàng hoá.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
98


        Để hộ nông dân nhanh chóng phát triển thành những hộ sản xuất hàng
hoá. Nhà nước cần tạo ra môi trường pháp lý, thể chế hoá các chính sách của
Nhà nước về ruộng đất, thuế ruộng đất, tín dụng... để nông dân yên tâm đầu tư
phát triển sản xuất.
        Các chủ hộ nông dân sau nhiều năm trong cơ chế bao cấp họ chưa thể
trở thành một chủ hộ thực sự, nên cần có sự giúp đỡ, định hướng của Nhà
nước trong việc sản xuất hàng hoá, không để quan hệ cung cầu tác động quá
mức đối với sản xuất gây thiệt thòi cho nội dung. Ở đây chúng tôi muốn nói
đến một thị trường có sự can thiệp của Nhà nước.
        Khai thác lợi thế của địa phương để sản xuất hàng hoá, không thể điều
hành sản xuất bằng các biện pháp hành chính như trước đây. Các tổ chức nhà
nước và tập thể phát huy tốt vai trò dịch vụ cho sản xuất của hộ. Những năm
trước do thiếu lương thực nên hầu hết các xã ở huyện Đồng Hỷ đều cố gắng
sản xuất lương thực tới mức cao nhất, thậm chí sản xuất lương thực bằng mọi
giá. Hiện nay tình hình đã thay đổi, sản xuất lương thực đủ ăn và có dự trữ,
phải trên cơ sở phát huy lợi thế để khai thác tốt hơn tiềm năng của từng vùng.
3.2. MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG
DÂN Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ

3.2.1. Mục tiêu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá
3.2.1.1. Giá trị tổng sản phẩm và tổng sản phẩm hàng hoá nông lâm sản ngày
càng tăng
        Mục tiêu này có một ý nghĩa to lớn và bao trùm trong việc phát triển
kinh tế hộ nông dân. Sản lượng một số sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng thể
hiện hướng sản xuất hàng hoá của hộ ngày càng nâng lên, từ đó tăng thu nhập
và tích luỹ của hộ.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
99


3.2.1.2. Nâng cao giá trị sản phẩm hàng hoá trên đơn vị diện tích canh tác
      Mục tiêu của các hộ nông dân hiện nay là sản xuất cái gì và sản xuất như thế
nào để đạt giá trị sản phẩm hàng hóa cao nhất trên một đơn vị diện tích, sử dụng
được nhiều lao động trong điều kiện đất đai có hạn. Muốn đạt được giá trị sản
phẩm hàng hóa cao trên một đơn vị diện tích đất canh tác cần phải lựa chọn giống
cây trồng có năng suất, chất lượng cao, chế độ canh tác tiên tiến phù hợp điều kiện
của vùng. Bởi giá tri sản phẩm hàng hóa trên một đơn vị diện tích đất canh tác là
chỉ tiêu chất lượng quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất đai, đánh giá trình
độ và khả năng thâm canh của hộ.
      Trong những năm qua kinh tế hộ nông dân ở Huyện Đồng Hỷ đạt năng suất
lao động, hiệu quả sử dụng ruộng đất, hiệu quả sử dụng lao động và thu nhập nhìn
chung vẫn còn thấp. Cho nên việc nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa trên một
đơn vị diện tích ở đây là rất cần thiết. Cần phải tăng cường đầu tư giống mới,
hướng dần kỹ thuật công nghệ mới để đưa năng suất lúa lên 45,5 tạ/ ha, năng suất
ngô lên 41,5 tạ/ ha…vào năm 2008 và tăng năng suất cao hơn nữa của các loại cây
trồng vào năm 2010.
3.2.2. Định hƣớng phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá
3.2.2.1. Quy hoạch sản xuất hàng hoá gắn liền với thị trường và lợi thế so
sánh nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ nông dân sản xuất hàng
hoá, giảm dần tình trạng sản xuất manh mún
      Quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản và kinh tế nông thôn là
một bộ phận của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy cần
phải căn cứ vào yêu cầu thị trường trong tỉnh, trong nước và xuất khẩu để quy
hoạch lại các vùng, các tiểu vùng sản xuất hàng hóa trọng điểm với quy mô,
chủng loại và chất lượng phù hợp với thị trường.
      Trên cơ sở quy hoạch sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông lâm, thủy sản
và sản phẩm nghề, dịch vụ ở nông thôn. Nhà nước và các ngành, các cấp cần


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên          http://www.lrc-tnu.edu.vn
100


có cơ chế chính sách phù hợp để thực hiện các hợp đồng tiêu thụ nông sản
hàng hóa cho người sản xuất, và tổ chức dịch vụ để đảm bảo lợi ích của Nhà
nước và của nông dân.
      Cơ cấu sản xuất ở Đồng Hỷ đã có sự chuyển dịch nhất định nhờ sự đổi
mới cơ cấu sản xuất của các hộ nông dân. Tuy nhiên kết quả và hiệu quả sản
xuất đạt được còn chưa cao.Trong thời gian tới huyện cần phải tiếp tục
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ nông dân theo hướng giảm hộ thuận nông,
thực hiện chuyên môn hóa hợp lý kết hợp với da dạng hóa sản xuất kinh
doanh tổng hợp, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún.
      Chuyên môn hóa sản xuất phải kết hợp với đa dạng hóa sản xuất mới có
thể giảm được tính thời vụ trong việc sử dụng các nguồn lực của hộ nông dân.
Để sản xuất có hiệu quả không thể chỉ có trồng một loại cây trồng, đất đai
thích hợp cho việc canh tác nhiều loại cây trồng khác nhau,vì vậy ngoài
những sản phẩm chính mỗi hộ có thể chọn cho mình các sản phẩm khác hỗ
trợ cho sản phẩm chính để có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
      Trong quá trình phát triển nhiều hộ nông dân đã chuyển sang làm các
ngành nghề dịch vụ phi nông nghiệp khác, kể cả lâm nghiệp và công nghiệp
chế biến…
3.2.2.2. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất chuyên môn
hoá và đa dạng hoá
        - Chuyên môn hoá sản xuất trong kinh tế hộ nông dân là tập trung các
điều kiện sản xuất của hộ nông dân như đất đai, vốn, lao động... để sản xuất ra
một hay vài loài nông sản hàng hoá phù hợp với điều kiện sản xuất của hộ.
Chuyên môn hoá thực chất là sự bố trí sắp xếp hợp lý hơn trong sản xuất hàng
hoá nhằm:
        + Tạo điều kiện cho các hộ nông dân sử dụng đầy đủ và hợp lý hơn
nguồn tài nguyên sẵn có.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
101


        + Thực hiện sự phân công lao động giữa các hộ sản xuất hàng hoá hoặc
nghề nghiệp mà họ có kỹ năng, do đó phát huy được sự sáng tạo và tính năng
động của hộ.
        + Chỉ có chuyên môn hoá mới thúc đẩy nhanh được quá trình sản xuất
hàng hoá của hộ. Đối với các xã của Huyện Đồng Hỷ, quy mô nông hộ rất
nhỏ bé. Cần chuyển một bộ phận lớn hộ nông dân sang làm các ngành nghề
và dịch vụ. Đối với nông nghiệp, trong điều kiện ruộng đất ít có thể một số hộ
chuyên chăn nuôi để tạo ra khối lượng sản phẩm gia súc lớn.
      Đa dạng hoá sản xuất hàng hoá: Nguồn tài nguyên sử dụng trong "đầu
vào" của hộ nông dân rất đa dạng, gồm đất đai, lao động, vật tư kỹ thuật, thậm
chí cả khí hậu... Do vậy sản xuất hiệu quả nhất không thể chỉ là một loại sản
phẩm. Đa dạng hoá sản xuất không mâu thuẫn với chuyên môn hoá. Mỗi
nhóm hộ có thể tự chọn cho mình sản xuất loại sản phẩm nào là chính, các sản
phẩm khác hỗ trợ cho sản phẩm chính, làm cho nó có hiệu quả hơn. Trong
tương lai, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở chuyên môn hoá là
hướng đi tất yếu của Huyện Đồng Hỷ cũng như của ngành nông nghiệp tỉnh
Thái Nguyên.
3.2.2.3. Mở rộng liên kết hợp tác theo hướng đa dạng hoá nhằm phát triển
kinh tế hộ sản xuất hàng hoá gắn với chuyên môn hoá, tập trung hoá
       Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân càng phát triển họ càng có nhu cầu
liên kết, hợp tác với nhau về vốn, kỹ thuật, lao động, thị trường...
       Cơ sở của mọi sự hợp tác của hộ nông dân là tự nguyện, dựa trên lợi ích
kinh tế. Nếu sự hợp tác có lợi thì các hộ nông dân sẽ liên kết, hợp tác với
nhau thành từng tổ, nhóm, hợp tác xã (kiểu mới).
       Hiện nay ở Đồng Hỷ, các hợp tác xã đang chuyển đổi từ chức năng tổ
chức và điều hành sản xuất sang hoạt động dịch vụ. Tuy vậy, số hợp tác xã
hoạt động dịch vụ có hiệu quả chiếm tỷ trọng nhỏ, nhiều hợp tác xã tồn tại chỉ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
102


là hình thức. Cần thiết phải đổi mới căn bản theo Luật hợp tác xã và theo các
Nghị định của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành. Vì vậy Huyện cần căn cứ
vào điều kiện cụ thể của mình để có văn bản hướng dẫn cụ thể, phù hợp và có
hiệu quả thiết thực trong việc tổ chức đăng ký hoạt động của các hợp tác xã.
3.2.2.4. Đẩy mạnh ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học kỹ thuật
vào sản xuất và dịch vụ trong các hộ nông dân
        Những tiến bộ kỹ thuật hiện nay đang hàng ngày góp phần vào cải thiện
đời sống của mỗi chúng ta. Từ trước đến nay, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ
thuật trong nông nghiệp thường chậm hơn nhiều so với các ngành khác vì đối
tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi cần phải có thời gian
nhất định mới có thể thấy được kết quả. Một số cây trồng lâu năm như cây ăn
quả, cây công nghiệp dài ngày có chu kỳ sinh trưởng 20-30 năm hay hơn nữa
nên những tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp thường chậm được thể hiện.
        Hiện nay tình hình đã có thay đổi, việc ứng dụng các kỹ thuật mới, đặc
biệt là kỹ thuật tạo giống đã đạt được tiến bộ vượt bậc, nhiều gia đình nông
dân phát triển kinh tế hàng hoá trở nên giàu có là nhờ ứng dụng các tiến bộ
mới vào sản xuất. Có thể nói, không ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới thì
hàng hoá của họ không thể cạnh tranh được ở trong nước cũng như xuất khẩu
về giá cả cũng như về chất lượng.
        Nhà nước cần tổ chức nghiên cứu, nhập khẩu các tiến bộ kỹ thuật và
nhanh chóng giúp nông dân triển khai ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản
xuất thông qua các tổ chức nghiên cứu, các trung tâm khuyến nông có ở hầu
đến các địa phương. Các ngành mũi nhọn trong việc ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật là:
        - Ngành tạo giống: Giống luôn là yếu tố quyết định trong sản xuất nông
nghiệp. Người nông dân sản xuất hàng hoá luôn luôn phải tiếp cận với giống


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
103


mới để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Áp dụng giống mới là biện pháp kinh
tế nhất trong sản xuất hàng hoá của nông hộ.
        - Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong tổ chức quản lý sản xuất khoa
học. Cần phải đào tạo kiến thức quản lý kinh doanh cho các chủ hộ mà tương
lai là các chủ trang trại.
        Có thể nói rằng, đầu tư cho nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật là một biện pháp kinh tế nhất trong ngành nông nghiệp. Việc chuyển
giao công nghệ hay ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đến nông dân đã trở thành một
khâu trong sản xuất, là cầu nối giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất. Chúng
ta cần hiểu rằng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật là một cơ hội để hộ nông dân
ở huyện Đồng Hỷ vươn lên thoát khỏi nghèo đói, là động lực mạnh mẽ để
phát triển kinh tế hàng hoá của hộ nông dân.
        Tóm lại, để kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng
hoá cần nhất quán trong nhận thức và các chủ trương chính sách phải khẳng
định vai trò và vị trí quan trọng, tính hiệu quả của kinh tế hộ trong tiến trình
phát triển sản xuất hàng hoá. Để có sự tác động, khuyến khích, tạo môi trường
kinh tế - xã hội - pháp lý thuyết thuận lợi cho kinh tế hộ phát triển, Nhà nước
cần tác động, định hướng cho sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đa
dạng hoá sản xuất. Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật ngày càng có vai trò quan
trọng và là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất.
3.2.2.5. Khuyến khích phát triển ngành nghề, tạo thêm việc làm, góp phần
xoá đói giảm nghèo, tăng hộ khá, giầu
        Ở khu vực nông thôn, lao động dư thừa, từng đoàn người đổ về thành
thị tìm việc làm kiếm sống. Có thể nói đây là căn bệnh khó khắc phục của hầu
hết các nước đang phát triển như Thái Lan, Inđônêxia, Philippin... Nước ta
cũng đang trong tình trạng như vậy, nhưng mức độ thấp hơn. Nhiều ý kiến


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
104


cho rằng cần chú trọng phát triển kinh tế khu vực nông thôn, tạo thêm việc
làm, phát triển công nghiệp nông thôn, giữ cho khu vực nông thôn tương đối
ổn định để phát triển kinh tế hay nói đúng nghĩa là làm nền tảng để đẩy nhanh
tốc độ phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế khác. Nếu vì lý do kinh tế
nào đó mà khu vực nông thôn thiếu ổn định thì sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
        Công nghiệp nông thôn ra đời sẽ góp phần đắc lực vào phát triển công
nghiệp. Tăng năng động và ổn định, sức cạnh tranh của các công ty lớn có
hiệu quả ở các nước tư bản phát triển cũng nhờ vào khả năng sản xuất của các
xí nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có ngành công nghiệp nông thôn. Ở nước ta,
công nghiệp nông thôn chưa phát triển, không ai thống kê được tổng sản
lượng trong khu vực này nhưng sự khôi phục nhanh chóng trong mấy năm
gần đây của một số ngành nghề truyền thống như dệt, làm đồ gốm thủ công
mỹ nghệ, đồ gỗ... đã hứa hẹn trong những năm tới sẽ xuất hiện ngành công
nghiệp ở khu vực nông thôn, đáp ứng nhu cầu to lớn của thị trường nông thôn
về vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng...
        Phát triển công nghiệp nông thôn có ưu điểm là tạo thêm được việc làm
ở nông thôn, giá thuê nhân công thấp, gần nguồn nguyên liệu, gần thị trường
tiêu thụ. Cùng với nông nghiệp, nhất định ngành công nghiệp nông thôn sẽ
phát triển nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế nông thôn.
      Ở Đồng Hỷ ngành nghề nông thôn chưa phát triển, nhưng sự khôi phục
nhanh chóng trong những năm gần đây của một số ngành nghề truyền thống sẽ
là cơ sở cho sự phát triển tiếp theo ở mức cao hơn. Trong thời gian tới cần phải
phát triển các ngành nghề sau đây: Nghề mây tre đan, nghề mộc, chế biến màu
lương thực... sẽ góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho nông dân; thúc đẩy




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
105


các hộ sản xuất hàng hoá quy mô lớn ngày càng phát triển; giải quyết dư thừa
lao động, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho các hộ nông dân.
3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
NÔNG DÂN TRONG VÙNG THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ
3.3.1. Giải pháp chung
3.3.1.1. Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản phẩm
      Ở các khu vực miền núi và nông thôn thì vấn đề mở rộng thị trường tiêu
thụ nông sản phẩm là giải pháp quan trọng nhằm phát triển kinh tế ở vùng
này. Mở rộng thị trường kích thích sản xuất hàng hóa phát triển. Mà vấn đề
thị trường thị tứ các hộ nông dân kể cả những hộ sản xuất hàng hóa lớn không
thể tự mình giải quyết được, nên cần phải có sự can thiệp của Nhà nước để tạo
điều kiện cho hộ sản xuất hàng hóa theo hướng sau:
      - Cần tập trung xây dựng mới, mở rộng và nâng cấp các cơ sở chế biến,
dịch vụ tìm kiếm thị trường để giải quyết sản phẩm đầu ra cho nông sản hàng
hóa. Để giải quyết đầu ra, trước mặt và lâu dài cần thúc đẩy tăng năng suất lao
động, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa.
Đẩy mạnh mô hình phát triển sản xuất kinh doanh tổng hợp, hạn chế sự cạnh
tranh vô tổ chức, ép giá, hợp tác giữa các cơ sở kinh doanh thương mại và các
hộ nông dân với hình thức ứng vốn, đến vụ thu hoạch bán sản phẩm cho cơ
sở. Điều này sẽ làm cho các hộ yên tâm vào sản xuất, góp phần kích thích sản
xuất phát triển.
      - Tổ chức hệ thống các kênh lưu thông nông lâm sản
      - Đối với các hộ lâm nghiệp: thì vấn đề thị trường và sản phẩm đầu ra
của trồng rừng đang còn nhiều vướng mắc, và nó liên quan đến vấn đề môi
trường. Để các hộ yên tâm trong kinh doanh nghề rừng thì những vướng mắc
trên cần làm rõ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
106


      - Các hộ trồng cây ăn quả: Hầu hết ở các hộ nông dân ở huyện không có kỹ
thuật bảo quản, công nghệ chế biến thì lạc hậu. Chính vì vậy mà giải pháp về thị
trường cho các hộ này là: Bố trí sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường với chi
phí sản xuất rẻ, cải tạo nhiều giống mới tốt hơn, đầu tư cho công nghệ chế biến
và bảo quản đảm bảo cho ra thị trường sản phẩm tươi ngon.
      Thông tin thị trường nông sản phẩm là yếu cầu rất thiết thực và thường
xuyên của các hộ nông dân sản xuất hàng hóa. Trong khi đó họ rất thiếu thông
tin về thị trường nông sản mà các chủ hộ nhận được phần lớn qua những kênh
thông tin không chính thức, chắp vá, thiếu độ tin cậy. Do đó nhiều hộ quyết
định lựa chọn phương thức sản xuất thiếu cơ sở, dẫn đến sản xuất khó tiêu
thụ. Vì vậy cần phải tổ chức lại hệ thống thông tin về thị trường tiêu thụ sản
phẩm trong và ngoài nước cho cơ quan nghiên cứu thị trường và giá cả. Phát
hành bản tin thị trường nông sản định kì để cung cấp thường xuyên và kịp
thời cho các chủ hộ.
3.3.1.2. Tăng cường đầu tư vốn cho hộ nông dân
        Các cuộc điều tra của Tổng cục Thống kê, của các cơ quan nghiên cứu
từ nhiều năm nay đều xác nhận rằng có tới 70 - 75% số hộ nông dân thiếu vốn
để sản xuất và 90% số hộ có nhu cầu vay vốn. Nhà nước không có vốn để cho
tất cả các hộ nông dân là: nhóm hộ giàu vay vốn để mở rộng sản xuất kinh
doanh, mở thêm ngành nghề mới, chế biến nông sản, mua thiết bị máy móc...
làm giàu thêm cho gia đình. Các hộ có thu nhập trung bình và nghèo cũng có
nhu cầu vay vốn. Hộ nghèo có vốn để sản xuất đủ ăn, mua vật tư, con giống
phục vụ trực tiếp sản xuất. Nhóm hộ trung bình vay vốn không chỉ để đầu tư
vào sản xuất đáp ứng nhu cầu của gia đình mà còn mở rộng sản xuất hàng
hoá. Vay vốn là nhu cầu chung cho mọi loại hộ, mục đích vay vốn đầu tư cho
các lĩnh vực khác nhau và số lượng cũng rất khác nhau.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
107


        Về số lượng vốn cần vay: nhóm hộ nghèo, trung bình cần vay từ
300.000 - 500.000 đồng/ hộ cho 1 vụ 6 tháng, nhóm hộ trung bình cần vay 1
đến vài ba triệu đồng/ hộ. Nhóm hộ giàu cần vay hàng chục triệu, thậm chí
hàng trăm triệu để đầu tư cho mở rộng sản xuất.
        Tạo nguồn vốn cho vay
        Nguồn vốn cho vay tạo từ hai nguồn: nguồn vốn tín dụng của Nhà nước
và huy động tiền nhàn rỗi trong nhân dân.
        - Nguồn vốn huy động từ tiền nhàn rỗi trong nhân dân: Đối với bất cứ
Nhà nước nào, nguồn vốn huy động này cũng rất quan trọng. Xây dựng các
hợp tác, các quỹ tín dụng để huy động vốn trong nhân dân. Phương pháp này
hiện nay chưa có hiệu quả vì nông dân vay vốn qua HTX tín dụng tất yếu sẽ
phải chịu thêm một lệ phí nhất định cộng vào lãi suất tiền gửi nên lãi suất cho
vay thường cao, nông dân khó có thể vay vốn được. Mặt khác các HTX tín
dụng hoạt động trách nhiệm không cao, nghiệp vụ kém, ít được sự hỗ trợ
của Nhà nước nên số lượng các HTX tín dụng còn rất ít, hoạt động chưa có
hiệu quả.
        - Hình thức tín dụng do các đoàn thể tổ chức - phụ nữ nông dân, thanh
niên khai thác nguồn vốn trợ giúp từ nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ,
tổ chức từ thiện... để cho hội viên vay không lấy lãi hoặc lãi suất rất thấp.
        - Có một hình thức tín dụng khác phổ biến hơn là các hội giúp vốn
không thu lãi, các hội viên lần lượt được vay vốn. Với phương pháp này số
hội viên không thể nhiều trong một nhóm vì phải đảm bảo độ tin cậy cao giữa
các thành viên. Đây thường là những nhóm hộ có quan hệ họ hàng hoặc
những hộ có cùng phương hướng sản xuất dễ dàng hợp tác với nhau.
        - Nguồn vốn cho vay từ Nhà nước: Nhà nước cho nông dân vay vốn
thông qua hệ thống Ngân hàng nông nghiệp. Gần đây Ngân hàng phục vụ
người nghèo ra đời. Đây là nguồn vốn chính mà nông dân vay được.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên          http://www.lrc-tnu.edu.vn
108


        Ở hầu hết các nước trong khu vực và thế giới, Nhà nước đều phải hỗ
trợ cho nông dân thông qua cho vay vốn với lãi suất thấp hoặc trợ giá bán
nông phẩm cho nông dân. Cần phải xác định rằng nguồn vốn cho nông dân
vay chủ yếu từ nguồn vốn của Nhà nước. Tạo nguồn vốn cho nông dân vay là
chính sách lớn của Nhà nước mà các địa phương, các tỉnh không thể tự làm
được. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Nhà nước vẫn
nhấn mạnh nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, về vốn thực sự cần có chính
sách ưu đãi tương ứng.
        Cải tiến điều kiện cho vay vốn
        Điều kiện cho vay vốn của các Ngân hàng nông nghiệp và ngân hàng
phục vụ người nghèo đã có những sáng tạo và thay đổi. Vấn đề vướng mắc
chính là nông dân vay vốn không có tài sản thế chấp. Nhiều nơi vẫn cho nông
dân vay vốn, nhưng có nơi nhiều hộ nông dân do nguyên nhân này mà chưa
được vay vốn của ngân hàng. Nhiều địa phương đã có cách giải quyết hợp lý
như sau:
        - Đối với các hộ giàu vay nhiều vốn, vay dài hạn, cần có thế chấp tài
sản nhà cửa, các vật dụng quy định, máy móc dùng trong sản xuất. Tài sản thế
chấp không phải là trở ngại đối với các nhóm hộ này.
        - Nhóm hộ trung bình và nghèo thường không có tài sản thế chấp khi
vay vốn. Cho nhóm hộ này vay vốn theo nhóm, vay ít và trả vốn khi kết thúc
vụ thu hoạch. Kiểu vay này có tác dụng rất rõ rệt. Đại bộ phận hộ nông dân
sau vụ thu hoạch đều trả được nợ vay của ngân hàng. Như vậy là ngay cả
những hộ nông dân nghèo vẫn có thể vay được. Vấn đề chính là tổ chức,
năng lực của các ngân hàng nông nghiệp địa phương phải kiểm tra cho vay
đúng mục đích sản xuất với số lượng vốn cho vay hợp lý để hộ nông dân có
thể trả được.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
109


        Tóm lại mọi quá trình sản xuất đều cần có vốn đầu tư. Lượng vốn nhiều
hay ít ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của hộ và tác động đến kết quả sản
xuất. Những hộ không có điều kiện về vốn thì việc đầu tư cho sản xuất thấp,
làm cho chất lượng sản xuất thấp và đương nhiên hiệu quả kinh tế thu được
cũng thấp. Những hộ có điều kiện thì đầu tư cho việc thâm canh tăng vụ, tăng
năng suất cây trồng vật nuôi, mở rộng quy mô sản xuất phát triển hơn các
ngành nghề mang lại thu nhập cao hơn. Họ có điều kiện để tích luỹ nhiều hơn
nên phần lớn vốn đầu tư cho sản xuất là vốn tự có, họ cũng lợi dụng triệt để
các nguồn vốn khác vào mục đích sản xuất của mình. Những hộ nghèo thiếu
vốn thì lại sợ vay vốn không trả được
        3.3.1.3. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp
để năng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, tổ chức sản xuất hàng hoá cho
hộ nông dân
        Ở nước ta, sau khi kinh tế hộ nông dân trở thành tế bào cơ bản của kinh
tế nông nghiệp và khoa học kỹ thuật đang tiến bộ vượt bậc, trở thành yếu tố
trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Sản xuất của người nông dân nếu
thiếu những tiến bộ kỹ thuật sẽ không thể tồn tại và cạnh tranh được.
        Trong điều kiện sản xuất hàng hoá, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
ngày càng có vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá
phát triển. Khoa học kỹ thuật thực sự là chìa khoá để phát triển sản xuất nông
nghiệp hiện đại. Khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và áp dụng các thành
tựu khoa học vào sản xuất ngày càng được rút ngắn về thời gian. Sự chuyển
giao khoa học công nghệ cho hộ nông dân là một quá trình. Để đáp ứng nhu
cầu này hàng loạt trung tâm khuyến nông ra đời, được nông dân hưởng ứng
và đánh giá cao. Việc chuyển giao những tiến bộ kỹ thuật, quy trình công
nghệ cho hộ nông dân là trọng tâm của công tác khuyến nông.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
110


        Trong sản xuất nông nghiệp giống là tiền đề là yếu tố quyết định 25-
30% năng xuất cây trồng, vật nuôi và chất lượng sản phẩm. Cần cải tiến khâu
chọn và làm giống. Tăng cường đưa giống mới có năng suất cao, chất lượng
sản phẩm tốt phù hợp với nhu cầu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng…
Trong chăn nuôi cần cần phổ biến tới các hộ nông dân về kỹ thuật chăm sóc,
phòng trừ dịch bệnh… Nâng cao kiến thức kinh doanh trong hộ nông dân.
        Qua thực tế điều tra kinh tế hộ nông dân ở một số xã của Huyện Đồng
Hỷ cho thấy, tỷ lệ lao động được tập huấn kỹ thuật còn thấp. Để phát triển
kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá việc nâng cao trình độ sản
xuất của chủ hộ là điều kiện có ý nghĩa quan trọng. Chính vì vậy cần phải coi
trọng các biện pháp sau:
        - Tổ chức tốt các hoạt động khuyến nông, truyền bá kiến thức, khoa học
kỹ thuật, kinh nghiệm ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp
        -Tổ chức khoá bồi dưỡng ngắn hạn kiến thức tổ chức quản lý sản xuất
kinh doanh cho các chủ hộ sản xuất hàng hoá, đặc biệt là chủ các trang trại.
        - Các hộ nông dân trong huyện cần phải có nhiều hơn nữa các tài liệu
hướng dẫn kỹ thuật sản xuất trồng trọt, chăn nuôi.
3.3.1.4. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu trong nông thôn
        Những hạn chế về cơ sở hạ tầng như giao thông, hệ thống thuỷ lợi, hệ
thống bảo quản, công nghiệp chế biến… là những trở ngại ở Đồng Hỷ đối với
việc khuyến khích hộ nội dung phát triển sản xuất hàng hoá.
        Để đảm bảo sự lưu thông hàng hoá, vấn đề quan trọng nhất là đường
giao thông. Các xã trong vùng đều có mạng lưới đường bộ phục vụ việc đi lại
bằng xe thô sơ, xe máy, ô tô vận chuyển vật tư... Tuy nhiên, mạng lưới giao
thông hiện còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất hàng hoá.
Nhiều hộ nông dân sản xuất các mặt hàng như rau, quả, thịt gia cầm nhưng do
đường sá xấu vận chuyển quá khó khăn do phải qua nhiều chặng, giá thành


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
111


mua có khi rẻ hơn chi phí vận chuyển. Hàng hoá nông sản lưu thông trong
vùng và ra ngoài vùng chưa nhanh chóng đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất
hàng hoá của hộ nông dân, nhiều vùng phát triển chậm, có những vùng không
phát triển được.
        Xây dựng và từng bước hoàn chỉnh đường giao thông liên xã, liên thôn,
đường ra đồng ruộng để đảm bảo cho lưu thông hàng hoá nông sản được
thuận lợi, chắc chắn sẽ kích thích hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Tỉnh cần
đầu tư một phần, nông dân sẽ góp công lao động để làm đường nông thôn,
đường nội đồng. Đây là lĩnh vực đầu tư rất tốn kém, phải xây dựng trong
nhiều năm liên tục.
        - Hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động, kênh
mương xuống cấp không đảm bảo đạo diện tích, hệ thống thuỷ lợi đang cần
được thay máy bơm nước, sửa chữa kênh mương đảm bảo tưới tiêu tốt, ổn
định sản xuất nông nghiệp.
        Chương trình thuỷ lợi kiên cố hoá kênh mương đến nay toàn huyện đã
có 140/220 km kênh mương được kiên cố hoá với tổng kinh phí là 26.591,1
triệu đồng đảm bảo tưới tiêu cho 60% diện tích lúa, 30% diện tích chè
        - Cải tạo hệ thống cung cấp điện ở nông thôn. Hầu hết các xã, thôn ở
Đồng hỷ đến nay đều đã có điện cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất nhưng
mạng lưới điện thô sơ, tổn thất điện năng quá lớn, giá mua điện lại cao. Muốn
phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn không thể thiếu điện năng. Đầu tư
cho ngành điện để phục vụ tưới tiêu, chế biến nông sản là biện pháp thực sự
thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Giá trị hàng hoá của vùng sẽ tăng
thêm nhiều nếu được đầu tư thêm lao động, chế biến.
        - Xây dựng điểm dân cư nông thôn: các điểm dân cư nông thôn được
phân bố sao cho đảm bảo sản xuất nông lâm nghiệp và ngành nghề phát triển;


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
112


đảm bảo điều kiện đi lại, ăn ở, sinh hoạt cộng đồng; đảm bảo sinh thái môi
trường phát triển bền vững
        Việc nâng cấp hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng không những giúp cho hộ phát
triển sản xuất hàng hoá mà còn làm thay đổi bộ mặt nông thôn, góp phần trực
tiếp nâng cao đời sống của nông dân.
        3.3.1.5. Giải pháp về đất đai đối với các hộ nông dân sản xuất hàng
hoá
        Đất đai là mối quan tâm hàng đầu đối với các hộ nông dân. Trên thực tế
trong những năm vừa qua Tỉnh Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ đã có nhiều
đổi mới về chủ trương, chính sách ruộng đất, tạo điều kiện cho quá trình tập
trung ruộng đất diễn ra trên nhiều xã, thị trấn. Trong điều kiện sản xuất hàng
hoá hiện nay, việc cần làm là ổn định sản xuất lâu dài, có như vậy các hộ
nông dân mới yên tâm sản xuất, mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất và thâm
canh tăng giá trị sản phẩm hàng hoá và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để
sản xuất. Chính vì vậy cần phải có chính sách về đất đai cụ thể:
        - Hoàn chỉnh về quy hoạch sử dụng đất đai theo từng vùng để làm cơ sở
cho việc cấp đất cho các hộ nông dân. Trong điều kiện hiện nay quy hoạch đất
đai sẽ giúp các hộ nông dân khai thác có hiệu quả đất đai, tránh tình trạng các
chủ hộ khai thác đất bừa bãi dẫn đến lãng phí đất, phá hoại môi trường, giảm
hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ nông dân, tạo điều kiện cho các hộ đi
vào tập trung sản xuất hơn.
        Cần khuyến khích các hộ tích cực chuyển đổi tích tụ ruộng đất, khắc
phục tình trạng ruộng đất manh mún của các hộ sẽ tạo điều kiện đi vào sản
xuất tập trung.
        - Khuyến khích tập trung đất đai và nguyện vọng của những người
muốn nhận đất ở những vùng đất trống, đồi trọc để hình thành các hộ nông
dân có quy mô sản xuất hợp lý.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
113


        - Khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún. Để trở thành các trang
trại thì các hộ phải có quy mô ruộng đất nhất định. Trên thực tế quá trình
ruộng đất diễn ra chậm, cần tiếp tục khuyến khích quá trình tập trung ruộng
đất. Tuy nhiên việc tập trung ruộng đất phải tiến hành một cách thận trọng,
phải có sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ của nhà nước, nhất là các cấp chính
quyền địa phương.
        Đối với huyện Đồng Hỷ trước hết cần quy hoạch đất đai cho từng vùng,
từng xã có các hộ phát triển về trồng trọt và chăn nuôi đảm bảo cho các hộ
trồng trọt và chăn nuôi phát triển bền vững, mở rộng sản xuất, đảm bảo vệ
sinh môi trường.
3.3.1.6. Phát triển các hình thức hợp tác đa dạng giữa các hộ nông dân
      Hợp tác là nhu cầu tất yếu của những người lao động, những người sản
xuất nhỏ để hỗ trợ giúp đỡ nhau giải quyết một cách có hiệu quả những vấn
đề của sản xuất kinh doanh mà từng hộ nếu tách riêng ra thì không thực hiện
được hoặc thực hiện kém hiệu quả.
      Trong điều kiện chuyển sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường
thì sự hợp tác sản xuất kinh doanh là một điều kiện rất quan trọng để đảm bảo
hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi ích kinh tế của các hộ nông dân.
      Các xã của huyện Đồng Hỷ qua điều tra cho thấy đại bộ phận các hộ
nông dân còn hoạt động sản xuất kinh doanh một cách độc lập, ít có sự liên
kết hợp tác với nhau. Sự liên kết hợp tác giữa các hộ còn hẹp là do trình độ
sản xuất nói chung và sản xuất hàng hóa nói riêng của các hộ còn kém phát
triển. Chính sự liên kết, hợp tác giữa các hộ trong vùng còn hẹp cũng đã làm
cho nền kinh tế hộ nông dân ở huyện còn chậm phát triển. Do đó cần có các
biện pháp khuyến khích sự liên kết giữa các hộ nông dân trong vùng với
nhiều hình thức khác nhau như:


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên      http://www.lrc-tnu.edu.vn
114


      - Tuyên truyền làm cho nông dân hiểu rõ hơn nữa bản chất, vai trò,
nguyên tắc của kinh tế hợp tác xã.
      - Hướng dẫn các hộ nông dân tự lựa chọn và quyết định các hình thức
hợp tác.
      - Đảm bảo nguyên tắc tự nguyện trong phát triển kinh tế hợp tác xã giữa
các hộ nông dân.
      Tóm lại kinh tế hợp tác đã khắc phục được một số mặt yếu của kinh tế
hộ như: thiếu vốn, công cụ, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất phát huy được tính
sáng tạo của tập thể dù là ít người, tăng sức cạnh tranh thị trường.... Cho nên
kinh tế hợp tác có lợi hơn là làm riêng biệt từng hộ.
3.3.2. Giải pháp cụ thể đối với hộ nông dân từng vùng sinh thái
        Kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá chịu sự tác động của các quy
luật trong nền kinh tế thị trường, cho nên ngày càng có nhiều hộ chuyển sang
sản xuất hàng hoá vừa cung cấp đủ cho nhu cầu vật chất và tinh thần của gia
đình vừa cung cấp sản phẩm cho xã hội.
        Thực tế cho thấy, mỗi vùng sinh thái, mỗi hộ nông dân có những hình
thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhau, thể hiện tính đa dạng phong phú
của các mô hình kinh tế hộ sản xuất hàng hoá. Sự tác động của các quy luật
phát triển không đồng đều sẽ tạo ra sự chênh lệch về mức độ sản xuất hàng
hoá giữa các vùng và giữa các hộ nông dân là không thể tránh khỏi.
        Xã Hoà Bình (Vùng núi phía Bắc): Có địa hình đồi núi dốc, cánh đồng
xen kẽ. Ở đây rất thích hợp cho việc phát triển trồng cây lâu năm, cây ăn quả.
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Hoà Bình là 1248.39 ha trong đó diện tích
đất nông nghiệp là 1043.47 ha và đất lâm nghiệp là 615.50 ha. Hộ nông dân ở
đây cũng chủ yếu là các dân tộc thiểu số. Sản xuất chủ yếu theo hướng sản
xuất kinh doanh tổng hợp.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
115


        Sản phẩm chính của các hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp ở đây là cây
chè và cây ăn quả. Để tăng năng suất lao động, tăng khối lượng sản phẩm đầu
ra với chất lượng tốt, chi phí sản xuất rẻ. Để thúc đẩy kinh tế hộ phát triển
theo hướng sản xuất hàng hoá cần phải thực hiện tốt các nội dung sau:
        Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hạn chế việc sử dụng các loại thuốc
cho các loại cây trồng để tạo sản phẩm an toàn.
        Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm cho các
hộ nông dân. Thì cần phải đầu tư vào hệ thống giao thông và thuỷ lợi. Chính
vì vậy mà Nhà nước cần phải đầu tư xây dựng hệ thống giao thông đến từng
thôn, bản nhằm kích thích sự phát triển sản xuất hàng hoá ở các hộ nông dân
phát triển.
        Xã Hóa Thượng (Vùng trung tâm): Địa hình bằng phẳng hơn các hộ
nông dân ở đây chủ yếu phát triển và mở rộng ngàn chăn nuôi hơn cả, bên
cạnh đó ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong vùng. Để nâng cao
năng suất, hạ giá thành sản phẩm cây trồng và vật nuôi thì các xã trong vùng
vẫn không thể không áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào quá trình
sản xuất của hộ mình. Những vấn đề về vốn, đất đai, trình độ văn hoá của chủ
hộ, năng suất cây trồng vật nuôi đang là vấn đề được các hộ hết sức quan tâm
        - Đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất cây trồng nhằm nâng cao giá trị
sản phẩm hàng hoá trên đơn vị diện tích đất canh tác trong các hộ nông dân.
        - Cần huy động vốn đầu tư cho các hộ chăn nuôi bằng cách phối hợp
với các công ty thức ăn gia súc, nơi cấp giống vật nuôi theo phương thức mua
trả chậm...
        - Nhà nước cần phải có những biện pháp và chính sách nhằm bảo hộ
những rủi ro mà các hộ nông dân chẳng may gặp phải.
        - Tạo thêm việc làm nhằm cải thiện đời sống người nông dân, ở vùng
này thường có lao động dư thừa. Chính vì vậy cần phải kết hợp phát triển


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
116


nông nghiệp toàn diện với việc phát triển các ngành nghề và dịch vụ nông
thôn. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, cung ứng vật tư
kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng cơ bản và hàng loạt các dịch vụ khác rất
cần cho sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Như vậy sự vận động này
sẽ tạo ra thị trường lao động rộng lớn ngay trên địa bàn nông thôn.
        Xã Khe Mo (Vùng núi phía nam): Có địa hình đồi núi dốc cao, thích
hợp cho phát triển rừng. Nên cần tập trung phát triển cây lâm nghiệp bản địa
ở những khu rừng khoanh nuôi. Cây ăn quả như vải, na...Cây công nghiệp
như chè. Chăn nuôi như trâu, bò, lợn...
        Cần thực hiện triệt để và nhất quán việc bảo vệ rừng.
        Tăng cường đưa giống mới năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợp với
nhu cầu thị trường đến với hộ nông dân.
        Nâng cao kiến thức quản lý kinh doanh cho chủ hộ, giúp hộ nông dân
nắm được những yêu cầu của thị trường một cách kịp thời.
        Hướng dẫn cho các hộ nông dân kỹ thuật canh tác bền vững trên
đất dốc.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên        http://www.lrc-tnu.edu.vn
117


                             KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận
        Qua quá trình phân tích và nghiên cứu đề tài chúng tôi rút ra những kết
luận sau:
        1. Khẳng định tính tất yếu khách quan kinh tế hộ trong thực trạng cơ
chế thị trường và các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển hộ sản
xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ. Kinh tế hộ sản xuất hàng hoá đã và đang
phát triển rộng khắp ở các xã trong huyện. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng sản xuất hàng hoá đã đem lại hiệu quả, tạo sức cuốn hút cho người
nông dân.
        2. Phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá kéo theo sự thay đổi về mọi
mặt của đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn, góp phần từng bước thực hiện
thắng lợi mục tiêu cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
        3. Kinh tế hộ sản xuất hàng hoá ở Đồng Hỷ chủ yếu phát triển theo
hướng thuần nông và nông lâm kết hợp, thu nhập chủ yếu vẫn là trồng trọt.
Trồng trọt chiếm 65% tổng GTSPHH, chăn nuôi chiếm 31,6%, lâm nghiệp
chỉ chiếm 3,4% tổng GTSPHH.
        4. Nguồn gốc của chủ hộ rất đa dạng, chủ hộ là dân bản địa chiếm
88,9%, di dời 10%, khai hoang 1,1%.Trình độ học vấn của các chủ hộ vẫn
còn rất thấp, chủ hộ có trình độ đại học và trung cấp chỉ chiếm 8,46%. Quy
mô đất đai bình quân của một hộ là 1,5 ha có sự chênh lệch giữa các hộ là
đáng kể.
        5. Nguồn thu nhập của các hộ chủ yếu từ nông lâm nghiệp chiếm
79,96%, thu từ dịch vụ là 20,04%. Thu nhập từ rừng chưa cao, người dân
chưa chú trọng đến việc trồng rừng, đất trống đồi núi trọc vẫn còn nhiều.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên       http://www.lrc-tnu.edu.vn
118


Kiến nghị
        * Đối với địa phương
        Cần tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là đường giao thông, hệ
thống thông tin liên lạc, điện, đường, chợ và phát triển cụm điểm dân cư nông
thôn, các cơ sở chế biến cho các khu vực vùng sâu, vùng xa nhằm tạo cơ hội
đồng đều cho KTTT phát triển.
        Đẩy mạnh phát triển hộ sản xuất hàng hoá theo mô hình kinh tế trang
trại nhưng phải đi đôi với việc giải quyết các vấn đề xã hội gắn với việc bảo
vệ tài nguyên và môi trường, hình thành các hình thức hợp tác đa dạng giữa
các hộ nông dân.
        Các chính sách cho vay vốn đối với các hộ cần phải điều chỉnh cho phù
hợp với đặc điểm của ngành nông nghiệp. Cho vay và thu hồi nợ phải dựa vào
chu kỳ sản xuất kinh doanh của từng loại cây trồng vật nuôi.
        * Đối với các chủ hộ
        Cần phải tích cực học hỏi trau dồi thêm kiến thức, tiếp thu các thông tin
thị trường để có khả năng nắm bắt được tiến bộ khoa học kỹ thuật mới.
        Xác định rõ mục tiêu và định hướng phương thức sản xuất kinh doanh
của hộ mình, loại bỏ những cây trồng vật nuôi kém hiệu quả, đầu tư thâm
canh để tăng năng suất chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của
sản phẩm trên thị trường.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên         http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ NÔNG DÂN
                                 Ngày phỏng vấn:......./....../ 2008

Họ và tên điều tra viên:.......................................................................
Tại: Huyện Đồng Hỷ - Xã:.................: Thôn:....................................

   PHẦN I. NHỮNG THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ HỘ ĐƢỢC PHỎNG VẤN
I. Thông tin về người được phỏng vấn
         - Họ và tên chủ hộ:........................................................................
         - Tuổi...........
         - Giới tính           Nam [ ]                    Nữ [ ]
         - Trình độ văn hoá
         Thất học          [ ]                          Sơ cấp             [ ]
         Cấp I            [ ]                           Trung cấp          [ ]
         Cấp II           [ ]                           Đại học           [ ]
         Cấp III           [ ]                          Trên ĐH            [ ]
II. Thông tin về hộ
         1. Nhân khẩu.................ngƣời, trong đó nam......., nữ..........
         2. Lao động....................ngƣời, trong đó năm........, nữ.........
         3. Hƣớng sản xuất của chủ hộ
                  - Cây hàng năm                          [ ]             - Cây ăn quả             [ ]
                  - Cây công nghiệp dài ngày [ ]                         - Cây lâm nghiệp [ ]
                  - Chăn nuôi đại gia súc                  [ ]           - Chăn nuôi lợn           [ ]
                  - Chăn nuôi gia cầm                      [ ]            - Thuỷ sản               [ ]
         4. Sản xuất kinh doanh khác......................................................
         5. Phân loại hộ theo nghề nghiệp
                  - Hộ thuần nông             [ ]                     - Hộ nông lâm kết hợp [ ]
                  - Hộ nông nghiệp kiêm dịch vụ [ ] - Hộ khác ...............
         6. Năm lập hộ.........




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                               http://www.lrc-tnu.edu.vn
7. Nguồn gốc chủ hộ
                  - Bản địa                  [ ]         - Định canh định cƣ [ ]
                  - Di rời lòng hồ           [ ]         - Xây dựng kinh tế    [ ]

          8. Những tài sản chủ yếu của gia đình
          a. Nhà ở
                  - Kiên cố                      [ ]
                  - Bán kiên cố                  [ ]
                  - Nhà tạm, loại khác           [ ]
          b. Đồ dùng lâu bền
            Loại tài sản                      ĐVT       Số lượng     Đơn giá           Giá trị
- Đầu Video
-Ti vi đen trắng
- Radio, Cassette
- Máy thu thanh
- Máy ảnh
- Tủ lạnh
- Máy điều hoà
- Máy giặt
- Quạt điện
- Xe mô tô
- Xe đạp
- Xe đẩy các loại
- Máy khâu
- Tủ các loại
- Giƣờng các loại
- Bàn ghế, xa lông
- Các đồ có giá trị khác




  Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                http://www.lrc-tnu.edu.vn
c. Đất đai

          Loại đất                  Diện tích          Của nhà    Đi thuê          Đấu thầu
- Đất cây hàng năm
- Đất cây lâu năm
- Đất cây ăn quả
- Đất lâm nghiệp
- Đất ao hồ đầm
- Đất thổ cƣ
       + Đất xây dựng
       + Đất vƣờn
- Đất khác

         d. Chăn nuôi

         Loại con                      Đơn vị              Số lượng                Giá trị
- Trâu
- Bò
- Lợn thịt
- Lợn nái
- Dê
- Gà
- Gia cầm khác...
- Cá
         Tổng cộng




 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                  http://www.lrc-tnu.edu.vn
e. Thiết bị sản xuất nông nghiệp
           Chủng loại                          Đơn vị             Số lượng           Giá trị
- Máy kéo nhỏ
- Dàn cày bừa
- Máy bơm nƣớc
- Dàn nƣớc tƣới
- Tuốt lúa động cơ
- Tuốt lúa thủ công
- Hàm quạt thóc
- Máy xay xát
- Máy nghiền thức ăn
- Bình bơm TTS động cơ
- Bình bơm TTS bằng tay
- Rơ moóc
- Xe bò
- Xe cải tiến
- Thuyền
- Mô tơ thuyền
- Lƣới đánh cá
- Máy cƣa gỗ
- Thiết bị khác
         f. Vốn
                 - Vốn tự có:.......................................đ
                 - Vay Nhà nƣớc:................................đ
                 - Vay tƣ nhân:...................................đ
                 - Vay dự án :.....................................đ
                 - Nguồn khác:...................................đ

 PHẦN II. KẾT QUẢ SẢN XUẤT CỦA HỘ
 I. Ngành trồng trọt
         1. Kết quả sản xuất ngành trồng trọt



 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                     http://www.lrc-tnu.edu.vn
Diện tích Năng suất Sản lượng            Đơn giá          Giá trị
STT     Cây trồng
                            (ha)     (Kg/ ha)   (Kg)                (đ/kg)         (1000đ )
 1
 2
 3
 4
 5
 6
 7
 8
      Tổng cộng
         2. Chi phí cho sản xuất ngành trồng trọt năm 2007
STT     Loại vật tư                 ĐVT       Số lượng Đơn giá (đ/kg) Giá trị ( 1000đ)
1   Chi phí giống cây




2       Phân chuồng
3       Phân đạm
4       Phân lân
5       Phân Kai
6       Phân NP K
7       Phân khác
8       Thuốc BVTV
           Tổng cộng




 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên               http://www.lrc-tnu.edu.vn
3. Thu nhập ngành trồng trọt năm 2007
                                                                Chi phí
STT Cây trồng Tổng thu                                                                             Thu nhập
                                       Vật tư     Khấu hao Khoản nộp Thuế                  LĐ
    1
    2
    4
    5




        Tổng số

        Ghi chú: Nếu không xác định đƣợc khấu hao vƣờn cây ? Xin ông bà
cho biết cây trồng
        - ............................................... trồng đƣợc.................năm
        - ............................................... trồng đƣợc.................năm
        - ............................................... trồng đƣợc.................năm

II. Ngành chăn nuôi
        1. Sản phẩm từ chăn nuôi năm 2007
STT       Vật nuôi          Số lượng          Tổng tr.          Đơn giá          Giá trị      Ghi chú
                             ( Con)         lượng ( kg)         ( đ/kg)         ( 1000đ)
1
2
3
4
5
        Tổng cộng




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                            http://www.lrc-tnu.edu.vn
2. Chi phí cho chăn nuôi năm 2007
                                            Đơn vị        Số lượng      Đơn giá         Giá trị
    STT            Loại vật tư
                                             tính           ( kg)        (kg)          ( 1000đ)
    1       Giống vật nuôi




    2       Thức gia súc
    3       Thuốc thú y
    4       Chất khoáng
                 Tổng cộng
            3. Thu nhập từ chăn nuôi
                                                              Chi phí
                            Tổng                                                             Thu
STT         Vật nuôi                                                                Chi
                             thu         Vật tư    Khấu hao     Đi thuê LĐ LĐGĐ              nhập
                                                                                    khác
1
2
3
          Tổng số
            4. Tình hình tham gia thị trường của hộ
            Giá trị sản phẩm đã bán
STT             Sản phẩm               Số lượng (kg) Đơn giá (đ/kg)              Giá trị (1000đ)
 1
 2
 3
 4
                Tổng cộng




    Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                   http://www.lrc-tnu.edu.vn
5. Tình hình tiêu thụ sản phẩm

                                  Hình thức tiêu thụ Hình thức sản phẩm tiêu thụ
                                 Bán trực Bán qua               SP sơ    SPCB
STT       Loại sản phẩm                              SP thô
                                   tiếp    tư thương             chế      100%
 1
 2
 3
       Tổng cộng
          6. Tình hình kinh doanh dịch vụ khác

     TT                       Ngành nghề                                 Thu nhập ( tr.đ)




III. Đời sống của hộ
          1. Cơ cấu chi tiêu trong năm                Tổng số ...................................... đ
          - Chi giáo dục                                .................................................. đ
          - Chi y tế                                    .................................................. đ
          - May mặc                                    .................................................. đ
          - Chất đốt, thắp sáng, nƣớc                  .................................................. đ
          - Giao thông bƣu điện                        .................................................. đ
          - Lƣơng thực, thực phẩm                       .................................................. đ
          - Chi khác                                   .................................................. đ




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                          http://www.lrc-tnu.edu.vn
2. Chi tiêu về lương thực thực phẩm ( Tiêu dùng của hộ)
STT          Mặt hàng                       ĐVT            Số lượng              Đơn giá            Thành tiền
1      Lƣơng thực
2      Thịt các loại
3      Đƣờng sữa
4      Chè, cà phê
5      Rƣợu, bia

       Khác
              Tổng cộng
         3. Tích luỹ của hộ                                  Tổng cộng ................................ đ
         - Sổ tiết kiệm ngân hàng nhà nƣớc                              ......................................... đ
         - Sổ tiết kiệm ở ngân hàng khác ( Kho bạc) ......................................... đ
         - Tín phiếu, kì phiếu                                          ......................................... đ
         - Tiền mặt                                                    ......................................... đ
         - Cho vay                                                      ......................................... đ
         - Tài sản cố định                                               ......................................... đ
         - Thóc gạo                                                    ......................................... đ
         - Khác                                                         ......................................... đ
 IV. Các ý kiến phỏng vấn
         1. Ông ( bà) có nhu cấu mở rộng thêm diện tích đất đai không?
         a. Không         Lý do .........................................................
         b. Có            Lý do..........................................................
          Ông ( bà) muốn mở rộng bằng cách nào?
         - Khai hoang           [ ]                                   - Mua lại [ ]
         - Đấu thầu             [ ]                                   - Thuê lại [ ]
         Cách khác..........................................................
         Ông (bà) muốn mở rộng diện tích là do?
         - Có vốn                  [ ]                                  - Có lao động [ ]


 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                                http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Sản xuất có lãi [ ]                                       - Ý kiến khác    [ ]
        2. Vốn sản xuất của họ thiếu hay đủ
        a. Đủ         [ ]
        b. Thiếu [ ]
        Ông ( bà) cần thêm bao nhiêu ?.................................đ
        Ông ( bà ) vay dùng vào việc gì?
        - Mở rộng quy mô sản xuất                [ ]         - Đầu tƣ thâm canh [ ]
        - Chi tiêu                               [ ]
        - Mục đích khác..........................................
        Ông (bà) muốn vay từ đâu?
        - Từ ngân hàng, tín dụng [ ]                        - Từ các dự án          [ ]
        - Từ các hội                       [ ]             - Từ phần khác..................
        Theo Ông (bà) lãi suất bao nhiêu thì phù hợp? ?...............%/tháng
        3. Lao động sản xuất của hộ có thiếu hay đủ hay thừa?
        a. Đủ                 [ ]                     b. Thiếu            [ ]
        Ông (bà) cần thuê bao nhiêu nhân công?.......................công
        Ông (bà) thuê những công việc gì vào thời điểm nào, trình độ nào?
        Trồng                   [ ]                - Chăm sóc             [ ]
        Thu hoạch               [ ]                   - Chế biến         [ ]
        Thƣờng xuyên             [ ]                  - Kỹ thuật         [ ]
        Thời vụ                  [ ]                  - Phổ thông        [ ]
        Lao động khác............................................
        Theo Ông (bà) giả tiền công là bao nhiêu cho công việc?
        Kỹ thuật........................đ/công - Phổ thông..............................đ/công
        Lao động khác......................................đ/công
        c. Thừa lao động [ ]
        Ông ( bà) có số lao động thừa là bao nhiêu ?................công



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                         http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thời điểm nào ?.........................., Tháng mấy ?...............
        Ông ( bà) có ý định sử dụng lao động thừa nhƣ thế nào ?
        Mở rộng sản xuất                 [ ]             - Mở rộng nông nghiệp           [ ]
        Cho đi làm thuê                  [ ]             - Cho đi học                    [ ]
        4. Hộ của Ông (bà) hiện nay đang gặp khó khăn gì ?
        a. Thiếu đất đai                [ ]              b. Thiếu vốn              [ ]
        c. Thiếu lao động               [ ]              d. Thiếu thông tin        [ ]
        e. Thiếu kiến thức              [ ]              f. Giá sản phẩm thấp [ ]
        h. Ý kiến khác...........................
        5. Ông (bà) có nguyện vọng phát triển thêm ngành nghề khác
không?
        a. Không                  [ ]
        b. Có                     [ ]
        Xin ông (bà) cho biết ý kiến cụ thể....................................
        6. Xin Ông (bà) cho biết ý kiến của mình về chính sách của nhà nước
        Hỗ trợ vốn để phát triển sản xuất                [ ]
        Hỗ trợ, dụng cụ, vốn, kỹ thuật                   [ ]
        Hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm                        [ ]
        Đầu tƣ cơ sở hạ tầng                            [ ]
        Hợp thức hoá đất đai                             [ ]
        Chính sách khác.............................................
        Xin chân thành cảm ơn Ông ( bà) !


        Xác nhận của chủ hộ                                              Điều tra viên
        ( Ký , ghi rõ họ tên)                                          ( Ký , ghi rõ họ tên)




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên                       http://www.lrc-tnu.edu.vn

Luan van thac si kinh te (28)

  • 1.
    ĐẠI HỌC THÁINGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ---------------------------------------------------- NGUYỄN THU HẰNG NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN LU ẬN V ĂN TH ẠC SĨ KINH TẾ THÁI NGUYÊN - 2008
  • 2.
    ĐẠI HỌC THÁINGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ---------------------------------------------------- NGUYỄN THU HẰNG NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP MÃ SỐ: 60 -31-10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ MINH THỌ THÁI NGUYÊN - 2008
  • 3.
    i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả luận văn Nguyễn Thu Hằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 4.
    ii LỜI CẢM ƠN Trong quá trình hoc tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Cô giáo hướng dẫn luận văn Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thọ và các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Ban giám hiệu, Khoa sau đại học trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên. Ban lãnh đạo, phòng Tổng hợp Khoa Khoa học Tự nhiên & Xã hội - Đại học Thái Nguyên. Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Thái Nguyên. UBND huyện Đồng Hỷ, phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê, phòng Tài nguyên Môi trường huyện Đồng Hỷ. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ nhiệt tình của các hộ nông dân ở 3 xã: Hóa Thượng, Khe Mo, Hòa Bình. Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tao điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Thái Nguyên, tháng 06 năm 2008 Tác giả Nguyễn Thu Hằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 5.
    iii MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 01 2. Mục tiêu của đề tài ................................................................................ 03 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 03 4. Ý nghĩa khoa học của luận văn ............................................................. 04 5. Bố cục của luận văn .............................................................................. 04 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tồn tại và phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá...................................................... 05 1.1.1. Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân ...................... 05 1.1.2. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ........ 07 1.1.3. Sản xuất hàng hoá và vai trò của nó trong nông nghiệp ................. 07 1.1.4. Vai trò của kinh tế hộ sản xuất hàng hoá ....................................... 13 1.2. Tính tất yếu khách quan để chuyển kinh tế hộ nông dân tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá ....................................................................... 18 1.2.1. Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ................................. 18 1.2.2. Kinh tế hộ nông dân là chủ thể trong sản xuất nông nghiệp............ 19 1.2.3. Tính tất yếu khách quan để chuyển kinh tế hộ nông dân tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá ....................................................... 24 1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá ... 26 1.3.1. Các yếu tố về điều kiện tự nhiên................................................... 27 1.3.2. Các nhân tố về điều kiện kinh tế và tổ chức quản lý ...................... 28 1.3.3. Các nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ ................................. 30 1.3.4. Các nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nước ........................ 31 1.4. Sơ lược tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở một số nước và ở Việt Nam .............................................. 32 1.4.1. Trên thế giới................................................................................ 32 1.4.2. Ở Việt Nam ................................................................................. 35 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 6.
    iv 1.5. Phương phápnghiên cứu .................................................................... 39 1.5.1. Câu hỏi nghiên cứu...................................................................... 39 1.5.2. Chọn điểm nghiên cứu ................................................................. 39 1.5.3. Phương pháp thu thập số liệu ....................................................... 39 1.5.4. Phương pháp phân tích số liệu...................................................... 41 1.5.5. Các chỉ tiêu phản ánh trình độ và hiệu quả sản xuất hàng hoá của kinh tế hộ nông dân ..................................................................... 42 CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN 2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .............................................................. 43 2.1.1. Điều kiện tự nhiên ....................................................................... 43 2.1.2. Điều kiện về kinh tế xã hội........................................................... 49 2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở Đồng Hỷ ...................................................... 56 2.2. Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ Tỉnh Thái Nguyên .............................................................. 58 2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân trong vùng ..................... 58 2.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ .......................................................... 60 2.2.3. Tổ chức các hoạt động sản xuất của hộ nông dân .......................... 69 2.2.4. Kết quả sản xuất của hộ nông dân................................................. 72 2.2.5. Thu nhập và đời sống của hộ nông dân ......................................... 77 2.2.6. Phân tích ảnh hưởng của các nguồn lực đến sản xuất hàng hoá của hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ ............................................... 85 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 7.
    v 2.2.7. Những nhận xét và đánh giá chung trong phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ ............ 88 2.2.8. Ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến sản xuất của hộ ......... 89 2.2.9. Những nhận xét và đánh giá chung trong phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ ............ 91 CHƢƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ 3.1. Quan điểm phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Đồng Hỷ theo hướng sản xuất hàng hoá ................................................................... 93 3.1.1. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá nhằm khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và tái tạo nguồn lực..................... 93 3.1.2. Hình thành và phát triển kinh tế trang trại gia đình là một trong những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu trong thời gian tới nhằm tăng số lượng hộ nông dân theo hướng SXHH......... 95 3.1.3. Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá phải gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, với qúa trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, với quá trình hội nhập vào nền kinh tế cả nước và nước ngoài ................................................................. 96 3.1.4. Phát huy nội lực, tạo bước phát triển mới trong kinh tế hộ nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoài để tạo điều kiện cho hộ nông dân sản xuất hàng hoá .................................................................. 97 3.2. Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá .............................................................................. 98 3.2.1. Mục tiêu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ....98 3.2.2. Định hướng phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá........ 99 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 8.
    vi 3.3. Những giảipháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân nông dân trong vùng theo hướng sản xuất hàng hoá ...................................105 3.3.1. Giải pháp chung .........................................................................105 3.3.2. Giải pháp cụ thể đối với hộ nông dân...........................................116 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận ..................................................................................................117 Kiến nghị ................................................................................................118 TÀI LIỆU THAM KHẢO Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 9.
    vii DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1. Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện Đồng Hỷ năm 2007 ........... 46 Bảng 2.2. Tình hình nhân khẩu và lao động của Huyện Đồng hỷ qua 3 năm (2005-2007) ...................................................................... 51 Bảng 2.3. Kết quả sản xuất các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ giai đoạn (2005-2007) ................................................................................ 55 Bảng 2.4. Cơ cấu loại hình hộ nông dân sản xuất hàng hóa ở các vùng điều tra ........... 59 Bảng 2.5. Tình hình chủ hộ nông dân điều tra năm 2007 ............................. 60 Bảng 2.6. Cơ cấu đất đai của hộ điều tra năm 2007 ..................................... 62 Bảng 2.7. Một số chỉ tiêu về hộ điều tra theo thu nhập 2007 ........................ 63 Bảng 2.8. Cơ cấu lao động trong độ tuổi của các hộ nông dân năm 2007 ...... 63 Bảng 2.9. Trình độ học vấn của chủ hộ điều tra ở vùng nghiên cứu năm 2007........ 64 Bảng 2.10.Vốn bình quân của nông hộ điều tra năm 2007 theo vùng nghiên cứu ........................................................... 66 Bảng 2.11. Quy mô vốn bình quân của hộ nông dân tại thời điểm điều tra ............. 66 Bảng 2.12. TLSX chủ yếu bình quân của hộ nông dân năm 2007 theo quy mô sản xuất hàng hoá............................................................ 68 Bảng 2.13. Cơ cấu các nhóm hộ nông dân theo hướng SXKD chính ........... 67 Bảng 2.14. Quy mô và cơ cấu chi phí sản xuất nông lâm nghiệp của hộ nông dân điều tra năm 2007 ......................................................... 69 Bảng 2.15. Tổng thu từ sản xuất nông - lâm nghiệp ở hộ điều tra ................. 73 Bảng 2.16. Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân ở hộ nông dân điều tra năm 2007 ......................................................... 76 Bảng 2.17. Tổng thu nhập bình quân từ sản xuất nông lâm nghiệp của hộ điều tra................................................................................... 79 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 10.
    viii Bảng 2.18. Tìnhhình thu nhập của hộ nông dân điều tra năm 2007 ..............................81 Bảng 2.19. Mức thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu của hộ nông dân điều tra ......................................................................... 83 Bảng 2.20. Kết quả phân tích hàm Cobb - Douglas ở vùng nghiên cứu ........ 85 Bảng 2.21. Phương thức tiêu thụ một số sản phẩm của hộ nông dân vùng nghiên cứu năm 2007 .......................................................... 88 Bảng 2.22. Ảnh hưởng các yếu tố đến sản xuất hàng hoá của hộ nông dân ở vùng điều tra năm 2007. ..................................................... 90 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ Sơ đồ 1.1. Ảnh hưởng của các yếu tố đến hộ nông dân sản xuất hàng hoá ... 32 Biểu đồ 2.1. Giá trị gia tăng của các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ ............ 55 Đồ thị 2.2. Cơ cấu thu nhập từ sản xuất nông lâm nghiệp ........................... 78 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 11.
    ix DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TT Ký hiệu viết tắt Nghĩa 1 TMDV Thương mại dịch vụ 2 CNXD Công nghiệp xây dựng 3 ĐVT Đơn vị tính 4 NLTS Nông lâm thuỷ sản 5 BQ Bình quân 6 NNDV Nông nghiệp dịch vụ 7 NLKH Nông lâm kết hợp 8 TN Thuần nông 9 SXKD Sản xuất kinh doanh 10 SXHH Sản xuất hàng hoá 11 CPSX Chi phí sản xuất 12 SL Sản lượng 13 GTSPHH Giá trị sản phẩm hàng hoá 14 TN Thu nhập 15 NLN Nông lâm nghiệp 16 LĐ Lao động 17 TLSX Tư liệu sản xuất 18 TB Trung bình 19 HH Hàng hoá 20 CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá 21 HTX Hợp tác xã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 12.
    PHỤ LỤC Phụ bảngsố 01. Thu nhập từ ngoài sản xuất nông lâm nghiệp của hộ điều tra Đơn vị tính: triệu đồng Tổng thu Trong đó Phân loại hộ nhập phi CN chế Dịch vụ LĐ làm Thu NN biến NN thuê khác Bình quân chung 2,939 0,553 0,821 0,422 1,143 1. Theo vùng - Xã Hóa Thượng 3,275 0,868 0,825 0,451 1,131 - Xã Khe Mo 2,806 0,412 0,798 0,411 1,185 - Xã Hoà Bình 2,736 0,385 0,811 0,428 1,112 2. Theo hướng sản xuất - Cây hàng năm 2,466 0,512 0,788 0,431 0,735 - Cây ăn quả 2,754 0,532 0,852 0,442 0,928 - Cây CN lâu năm 2,574 0,435 0,754 0,398 0,987 - Chăn nuôi 2,241 0,405 0,843 0,388 0,605 - Lâm nghiệp 1,702 0,387 0,597 0,296 0,422 3. Theo dân tộc - Người Kinh 2,770 0,513 0,722 0,453 1,082 - Người Nùng 2,462 0,502 0,802 0,434 0,724 - Người Sán dìu 2,190 0,498 0,654 0,400 0,638 - Người Tày 2,091 0,436 0,678 0,378 0,599 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 3,765 0,853 0,970 0,608 1,334 - Hộ hàng hoá TB 2,680 0,768 0,710 0,470. 0,732 - Hộ hàng hoá nhỏ 2,456 0,636 0,673 0,460 0,687 Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 13.
    Phụ bảng số02. Tình hình chi tiêu của các hộ điều tra năm 2007 Trong đó Tổng số chi Chi ăn uống hút Chi HĐ khác Phân loại hộ Số Số Số Cơ cấu Cơ cấu Cơ cấu lƣợng lƣợng lƣợng (%) ( %) (%) (tr.đ) (tr.đ) (tr.đ) Bình quân chung 6,964 100 3,797 54,52 3,167 45,48 1. Theo vùng - Xã Hóa Thượng 7,170 100 3,670 51,19 3,500 48,81 - Xã Khe Mo 6,934 100 3,654 52,70 3,280 47,30 - Xã Hoà Bình 6,788 100 4,049 59,66 2,738 40,34 2. Theo dân tộc - Người Kinh 7,104 100 4,145 58,3 2,959 41,7 - Người Nùng 6,891 100 3,820 55,4 3,071 44,6 - Người Sán dìu 6,643 100 3,980 59,9 2,663 40,1 - Người Tày 6,125 100 3,740 61,0 2,385 39,0 3. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 5,894 100 3,050 51,7 2,844 48,3 - Hộ hàng hoá TB 7,177 100 4,170 58,1 3,007 41,9 - Hộ hàng hoá nhỏ 6,642 100 4,270 64,3 2,372 35,7 Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 14.
    Phụ bảng số03. Tổng hợp ý kiến và nguyện vọng của hộ nông dân Đơn vị tính: % Trong đó nhóm hộ Tính Chỉ tiêu HH HH HH chung Lớn T.bình Nhỏ Tổng số hộ được phỏng vấn 100 100 100 100 1.Về đất đai - Nhu cầu mở rộng quy mô đất đai 20,1 38,4 20,6 15,3 Trong đó: + Dự định khai hoang 61,8 31,3 52,4 83,2 + Dự định mua lại 15,4 40,0 14,3 - + Dự định đấu thầu 14,9 25,7 33,3 16,8 2. Về vốn - Đủ vốn 22,4 38,5 41,7 5,4 - Thiếu vốn sản xuất 77,6 60,5 58,3 94,6 3. Về lao động - Đủ lao động 47,9 16,3 54,1 50,5 - Thiếu lao động cần thuê mướn 22,9 80,6 37,7 - - Thừa lao động 29,2 3,1 8,2 41,5 4. Về thị trƣờng - Thiếu thông tin 64,8 55,6 64,5 68,2 - Giá cả thấp 23,5 83,6 38,2 2,3 - Tiêu thụ sản phẩm khó khăn 22,8 67,8 44,3 - - Ý kiến khác 11,0 16,5 16,3 4,1 5. Về chính sách của Nhà nƣớc - Hỗ trợ vốn để phát triển sản xuất 68,2 62,7 56,9 75,9 - Hỗ trợ công cụ, giống, kỹ thuật 58,9 59,6 47,5 65,8 - Đào tạo chuyên môn nghiệp vụ 75,3 64,5 67,2 85,5 - Hợp thức hoá đất đai 5,2 19,3 11,2 4,3 Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 15.
    Phụ lục số04 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 16.
    TÀI LIỆU THAMKHẢO I. TIẾNG VIỆT 1. Lê Hữu Ảnh, Nguyễn Công Tiệp (2000), “Một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại huyện Sóc Sơn - Thành phố Hà nội, Tạp chí kinh tế nông nghiệp, số 10. 2. Vũ Đình Bách - Ngô Đình Giao - Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế bền vững. NXB Chính trị Quốc Gia, Hà nội, 1996. 3. Báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế xã hội năm 2007 của Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Đồng Hỷ. 4. Bộ nông nghiệp và PTNT (2000), Một số chủ trương chính sách mới về nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và phát triển nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà nội. 5. Nguyễn Sinh Cúc (2000), “Những thành tựu nổi bật của nông nghiệp nước ta 15 năm đổi mới”, Tạp chí nghiên cứu Kinh tế (số 260), Hà nội. 6. Đảng Cộng sản Việt nam (1999), Nghị quyết số 06 - NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ chính trị về vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội. 7. Nguyễn Đình Hương (2000), Thực trạng và những giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội. 8. Trần Bích Hồng, luận văn Thạc sĩ (2007) “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại địa bàn Huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 17.
    9. Nguyễn ĐìnhLong (2000), “Thị trường nông thôn - cần khơi thông và mở rộng dòng chảy” Tạp chí kinh tế nông nghiệp (01/2000), Hà nội. 10. Nguyễn Văn Tiêm (2000), “Những vấn đề cần ưu tiên để công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí kinh tế nông nghiệp. 11. Niên giám thống kê huyện Đồng Hỷ năm 2005, năm 2006, năm 2007. 12. Niên giám Thống kê tỉnh Thái Nguyên, năm 2005, năm 2006. 13. Minh Trí (1999) “Tìm thấy lại A.V Traianốp”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 176 -177, Hà nội. 14. Mai Văn Xuân - Nghiên cứu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá trên các vùng sinh thái ở Hường Trà Tỉnh Thừa Thiên Huế - Luận án PTS khoa học kinh tế. 15. Vũ Thị Ngọc Phùng (1997), Kinh tế phát triển, NXB Thống kê, Hà nội. 16. Lê Đình Thắng - Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá. NXB nông nghiệp, Hà nội 1993. 17. Thực trang kinh tế hộ nông dân Việt nam. NXB nông nghiệp, Hà nội. 1991. 18. Tô Dũng Tiến - Kinh tế hộ nông dân và vấn đề phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam. Đại học Nông nghiệp I . Hà nội. 19. Đào Thế Tuấn (1997), Kinh tế hộ nông dân, NXB Thống kê, Hà nội. 20. Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ (2007), Báo cáo các hệ thống chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của huyện Đồng Hỷ qua các năm. 21. Lương Xuân Quỳ (1996), Những biện pháp kinh tế tổ chức và quản lý phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hoá và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Bộ, NXB Nông nghiệp, Hà nội. 22. Lê Trọng (2003), Phát triển bền vững kinh tế hộ nông dân gắn liền kế hoạch với hạch toán kinh doanh, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc. 23. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2002), Kinh tế nông nghiệp, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 18.
    24. Trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân (2003), Bài giảng Kinh tế lượng, Nhà xuất bản Thống kê Hà Nội. 25. Trang trại gia đình, bước phát triển mới của kinh tế hộ nông dân (2000 ) NXB Nông nghiệp - Hà nội. 26. Nguyễn Văn Tuấn (2000), Quản lý trang trại nông lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp - Hà nội. II. TIẾNG ANH 27. Raaman Weitz - Rehovot (1995), Intergrated Rural Development, Israel. 28. Economy and environment program for southeast Asia (January 1999), "Impact of Agro - Chemical Use on Productivity and Health in Viet Nam". 29. Frank Ellis (1998), "Peasant Economics. Farm Households and Agrarian Development", Cambridge University press. 30. FAO (1999), Beyond sustainable forest resource management, Rome. 31. Donald A, Messerch M.(1993), Common forest resource management, UN Rome. 32. Chayanov A.V.(1925), On the Theory of Peasant Enconomy, Homewood, Ohio. 33. English Dictionary (1964), The New Horizon Ladder Dictionary of the English language, London. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 19.
    SUMMARY OUTPUT KheMo Regression Statistics Multiple R 0.8944154 R Square 0.79997891 Adjusted R Square 0.76797554 Standard Error 0.10398972 Observations 30 ANOVA df SS MS F Significance F Regression 4 1.0812436 0.2703109 24.9967056 2.01757E-08 Residual 25 0.2703465 0.01081386 Total 29 1.3515901 Standard Coefficients Error t Stat P-value Lower 95% Upper 95% Lower 95.0% Upper 95.0% Intercept 1.87554087 0.2313828 8.10579343 1.8477E-08 1.398999154 2.352082582 1.398999154 2.352082582 Ln Von 0.21194592 0.0917811 2.30925462 0.02947603 0.022919216 0.400972627 0.022919216 0.400972627 Ln LD 0.11384308 0.0547554 2.07912121 0.04801904 0.001072257 0.2266139 0.001072257 0.2266139 Ln Dat 0.12819412 0.0542267 2.36403995 0.0261556 0.016512111 0.23987613 0.016512111 0.23987613 Ln VH 0.34811808 0.0605344 5.75074545 5.4222E-06 0.223445096 0.472791067 0.223445096 0.472791067 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 20.
    SUMMARY OUTPUT HoàBình Regression Statistics Multiple R 0.904616161 R Square 0.818330399 Adjusted R Square 0.789263263 Standard Error 0.106810767 Observations 30 ANOVA df SS MS F Significance F Regression 4 1.284743692 0.321185923 28.153114 6.18549E-09 Residual 25 0.285213496 0.01140854 Total 29 1.569957188 Standard Coefficients Error t Stat P-value Lower 95% Upper 95% Lower 95.0% Upper 95.0% Intercept 1.763239601 0.283096861 6.228396866 1.62698E-06 1.180190707 2.346288495 1.180190707 2.346288495 Ln Von 0.247778118 0.119779917 2.068611532 0.049073322 0.001086763 0.494469473 0.001086763 0.494469473 Ln LD 0.144261979 0.055241598 2.611473686 0.015026468 0.03048978 0.258034178 0.03048978 0.258034178 Ln Dat 0.15333204 0.047874706 3.202777706 0.003690756 0.054732239 0.251931842 0.054732239 0.251931842 Ln VH 0.338012568 0.074553468 4.533827581 0.000124756 0.184466828 0.491558307 0.184466828 0.491558307 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 21.
    SUMMARY OUTPUT HoáThƣợng Regression Statistics Multiple R 0.956934034 R Square 0.915722745 Adjusted R Square 0.902238384 Standard Error 0.037691779 Observations 30 ANOVA df SS MS F Significance F Regression 4 0.385910772 0.096477693 67.90998531 4.63904E-13 Residual 25 0.035516755 0.00142067 Total 29 0.421427527 Coefficients Standard Error t Stat P-value Lower 95% Upper 95% Lower 95.0% Upper 95.0% Intercept 1.346057769 0.137883903 9.762254616 5.19926E-10 1.062080557 1.63003498 1.062080557 1.63003498 Ln Von 0.505330907 0.053121067 9.512815525 8.70017E-10 0.395926023 0.614735791 0.395926023 0.614735791 Ln LD 0.079457753 0.032583735 2.438571056 0.02218785 0.012350295 0.14656521 0.012350295 0.14656521 Ln Dat 0.054901655 0.024291878 2.260082821 0.032779004 0.004871597 0.104931713 0.004871597 0.104931713 Ln VH 0.076232533 0.022919137 3.326152034 0.002723187 0.029029688 0.123435379 0.029029688 0.123435379 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 22.
    SUMMARY OUTPUT Chung3 xã Regression Statistics Multiple R 0.884017574 R Square 0.781487072 Adjusted R Square 0.77120411 Standard Error 0.095354622 Observations 90 ANOVA df SS MS F Significance F Regression 4 2.764057554 0.691014389 75.9982506 2.89716E-27 Residual 85 0.77286283 0.009092504 Total 89 3.536920384 Coefficients Standard Error t Stat P-value Lower 95% Upper 95% Lower 95.0% Upper 95.0% Intercept 1.677897023 0.141190312 11.88393881 9.27673E-20 1.397172863 1.958621183 1.397172863 1.958621183 Ln Von 0.311467855 0.056372032 5.525219612 3.53251E-07 0.199385156 0.423550555 0.199385156 0.423550555 Ln LD 0.123079419 0.02908095 4.232303988 5.81958E-05 0.065258701 0.180900136 0.065258701 0.180900136 Ln Dat 0.11914858 0.027718107 4.298582907 4.55813E-05 0.064037559 0.174259601 0.064037559 0.174259601 Ln VH 0.251732026 0.032993403 7.629768507 3.12914E-11 0.186132303 0.317331749 0.186132303 0.317331749 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 23.
    1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế phổ biến, đang có vai trò, vị trí rất lớn và là bộ phận hữu cơ trong nền kinh tế, là chủ thể quan trọng trong phát triển nông nghiệp và đổi mới nông thôn ở nước ta. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng thì kinh tế hộ nông dân không ngừng phát triển cả về quy mô và tính chất. Một bộ phận hộ nông dân chuyển từ quy mô nhỏ thành quy mô lớn, từ sản xuất tự cấp tự túc thành sản xuất hàng hoá, trao đổi sản phẩm trên thị trường. Nhiều hộ đã khẳng định được vị trí vai trò sản xuất hàng hoá của mình trong nông nghiệp, nông thôn. Họ sử dụng có hiệu quả đất đai, tiền vốn, lao động và đã vươn lên làm giầu. Mặc dù có nhiều hộ đã thành công trong phát triển kinh tế hàng hoá nhưng nhìn chung, kinh tế hộ chưa chuyển hẳn sang kinh tế hàng hoá. Do có sự khác nhau về điều kiện, khả năng kinh nghiệm sản xuất cho nên có sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các hộ. Bên cạnh những hộ nông dân vươn lên mạnh mẽ, vẫn tồn tại một bộ phận khá lớn hộ nông dân gặp nhiều khó khăn trong sản xuất hàng hoá. Mặt khác, bình quân diện tích canh tác đầu người thấp và phân bố không đồng đều, thiếu vốn, thiếu tư liệu sản xuất, năng suất lao động thấp... Vấn đề nêu trên đặt ra bức bách không những đối với nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng mà cả vùng trung du, miền núi, hải đảo. Để giải quyết được điều đó, trước hết cần phải có những giải pháp thiết thực và hữu hiệu nhằm phát triển mạnh kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá trên cả nước, cũng như tại mỗi vùng, mỗi địa phương, trên cơ sở đánh giá đúng đắn thực trạng kinh tế hộ nông dân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 24.
    2 Trong những năm gần đây vùng miền núi đã được chú trọng đầu tư phát triển kinh tế xã hội. Nhiều chương trình dự án như: Phủ xanh đất trống đồi núi trọc, (dự án 661, dự án 327...), mở rộng giao thông miền núi, xây dựng các cơ sở hạ tầng (dự án 135)... được dành riêng ưu tiên cho miền núi, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân dần dần được cải thiện. Tuy nhiên, những thay đổi đó mới chỉ là bước đầu, về cơ bản miền núi vẫn là vùng kinh tế chậm phát triển đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn yếu và thiếu. Do đó để đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế xã hội, đưa miền núi hoà nhập với miền xuôi, ngoài việc tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chúng ta còn phải tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ nông dân miền núi nói riêng trong tổng thể phát triển kinh tế hộ nông dân cả nước nói chung, lấy kinh tế hộ làm khởi điểm cho việc thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi. Huyện Đồng Hỷ là một huyện trung du miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, gồm có 17 xã và 3 thị trấn. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 47.037,94 ha trong đó đất nông nghiệp là 12.488,92 ha chiếm 26,55% diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp là 21.402,61 ha chiếm 45,5% diện tích đất tự nhiên còn lại là các loại đất khác. Là huyện có nhiều tiềm năng nông lâm nghiệp chưa được khai thác, cơ sở hạ tầng và kinh tế hộ nông dân vẫn còn nhiều khó khăn. Một trong những nguyên nhân quan trọng là kinh tế hộ nông dân còn gặp nhiều trở ngại, chưa thực sự đi vào sản xuất hàng hoá. Chính vì vậy nghiên cứu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá là hết sức cần thiết đối với từng vùng, từng địa phương và phạm vi toàn quốc. Do đó tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu khả năng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở Huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên" làm luận văn tốt nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 25.
    3 2. MỤC TIÊUCỦA ĐỀ TÀI Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu khả năng phát triển hàng hoá của kinh tế hộ ở huyện Đồng Hỷ, đề xuất một số giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy kinh tế hộ nông dân huyện Đồng Hỷ theo huớng sản xuất hàng hoá. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá, đồng thời đi sâu nghiên cứu tính đặc thù của kinh tế hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ. - Đánh giá đúng khá năng phát triển hàng hoá của kinh tế hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ và phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá. - Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân ở Đồng Hỷ trong những năm tới theo hướng sản xuất hàng hoá. 3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về kinh tế hộ, sự phát triển kinh tế hộ nông dân nói chung và hộ nông dân sản xuất hàng hoá nói riêng trong những năm qua, những phương hướng và những giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ. Phạm vi nghiên cứu: bao gồm phạm vi về nội dung nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu. - Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu kinh tế hộ nông dân trong bước chuyển sang cơ chế thị trường hiện nay, nghiên cứu những yếu tố kinh tế chủ yếu tác động đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá. Phân tích thực trạng kinh tế hộ nông dân trong bước chuyển đổi cơ chế thị trường, sản xuất hàng hoá trong những năm 2006 - 2007 và nêu lên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 26.
    4 định hướng vànhững giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá của địa phương nghiên cứu đến năm 2010 - Về không gian: Nghiên cứu tại Huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên - Về thời gian: Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 5 năm 2007 đến tháng 5 năm 2008. Trong quá trình thực hiện, các tài liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2007 và số liệu điều tra hiện trạng của năm 2007. 4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN - Hệ thống hoá và bổ sung lý luận về kinh tế hộ và phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. - Phản ánh thực trạng của phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ trong những năm gần đây. - Đưa ra một số quan điểm và những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá. 5. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN Mở đầu Chương I: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương II: Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ. Chương III: Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá. Kết luận và kiến nghị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 27.
    5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ 1.1.1. Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân Trong từ điển ngôn ngữ của Mỹ (Oxford Press - 1987) có nghĩa "Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung". [33] Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước. Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay. Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, trong đó các nguồn lực của đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển. Có ý kiến khác lại cho rằng, kinh tế nông hộ bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Kinh tế hộ thể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, ngư nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 28.
    6 Tôi đồng tình với quan niệm của Frank Ellis, về kinh tế hộ nông dân có thể tóm tắt như sau: "Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường" (Ellis, 1988). Nhìn chung kinh tế hộ nông dân có những đặc điểm cơ bản sau: + Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống. Về mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức: kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ tự cấp tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hoá. + Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân. Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất. Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ. Ở nước ta, từ năm 1988 khi Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp - mà đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng chưa từng có về năng suất và số lượng. Người nông dân phấn khởi trong sản xuất. Một vấn đề rất quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được quyền kiếm sống gắn bó với mảnh đất của họ. + Kinh tế hộ chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình. Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác. + Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng. Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường. Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 29.
    7 Trước thực tiễn phong phú của sản xuất hiện nay, kinh tế hộ nông dân đang được nghiên cứu để định hướng phát triển. Vấn đề này sẽ còn gây nhiều tranh luận về mặt lý luận và thực tiễn ở nước ta trong nhiều năm tới. 1.1.2. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá Theo từ điển Larousse: phát triển là một quá trình, là "tổng hoà các hiện tượng được quan niệm như một chuỗi nhân quả kế tiếp nhau diễn tiến". Có thể hiểu phát triển kinh tế là quá trình biến đổi về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kì nhất định.Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội. Cho nên phát triển kinh tế là khái niệm chung nhất về một sự chuyển biến của nền kinh tế, từ trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn. Căn cứ vào mục tiêu cơ chế hoạt động của hộ nông dân, có thể phân biệt các kiểu hộ nông dân như sau: Kiểu hộ hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường. Kiểu hộ chủ yếu tự cấp có bán một số lượng sản phẩm để đổi lấy hàng tiêu dùng, có phản ứng ít nhiều với giá cả. Kiểu hộ bán phần lớn sản lượng, phản ứng nhiều với giá thị trường. Kiểu hộ hoàn toàn sản xuất hàng hoá có mục tiêu kiếm lợi nhuận như là một xí nghiệp. 1.1.3. Sản xuất hàng hoá và vai trò của nó trong nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp có vị trí quan trọng, là ngành duy nhất tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống toàn xã hội. Trong một thời gian dài, nông nghiệp tự cung tự cấp đã kìm hãm sự phát triển kinh tế, thu nhập và đời sống của nông dân thấp kém. Chỉ từ khi chuyển sang kinh tế hàng hoá, sản xuất hàng hoá trở thành động lực để thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Sản xuất hàng hoá còn là quá trình phát huy tốt nhất các lợi thế, các tiềm năng kinh tế - xã hội của các vùng sản xuất. Vì vậy nó có vai trò điều tiết sản xuất, điều tiết giữa các vùng, giữa người tiêu dùng và người sản xuất. Ở các nước kinh tế phát triển như Bắc Mỹ, Tây Âu, toàn bộ các trang trại gia đình đều tham gia sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 30.
    8 xuất hàng hoá.Ở các nước này, tỷ lệ dân số làm nông nghiệp rất thấp, quy mô nông trại lớn. Trái lại, ở các nước kinh tế kém phát triển, phần lớn dân số là nông dân. Nước ta có gần 80% dân số sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính tự cung tự cấp, số hộ nông dân tham gia sản xuất hàng hoá còn ít. 1.1.3.1. Sản xuất hàng hoá là xu thế phát triển của kinh tế hộ nông dân Kinh tế hộ nông dân và kinh tế trang trại đã xuất hiện và tồn tại từ lâu. Nông hộ là tế bào kinh tế - xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn. Kinh tế hộ là hình thức kinh tế trong quy mô gia đình, gắn với gia đình. Kinh tế hộ, theo Traianốp (nhà kinh tế lớn của Nga), là hộ gia đình độc lập, có hình thức kinh tế phức tạp. Xét từ góc độ các quan hệ kinh tế - tổ chức, là sự kết hợp những ngành, những công việc khác nhau trong quy mô hộ gia đình nông dân. Trong hơn 30 năm hợp tác hoá ở nước ta, kinh tế hộ gia đình bị hoà tan trong kinh tế hợp tác xã, chỉ còn lại một bộ phận nhỏ dưới hình thức kinh tế phụ gia đình. Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ thì khái niệm mô hình phát triển về kinh tế hộ mới được chú ý nghiên cứu. Kinh tế trang trại là hình thức kinh tế theo quy mô gia đình hoặc theo quy mô liên gia đình, đạt trình độ phát triển sản xuất hàng hoá cao, có khối lượng hàng hoá lớn và tỷ suất hàng hoá cao. Trang trại là mô hình kinh tế hướng tới của kinh tế hộ nông dân. Kinh tế hộ nông dân hình thành và phát triển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường sẽ xuất hiện ngày càng nhiều các hộ sản xuất hàng hoá. Cho dù các cơ hội và điều kiện sản xuất ban đầu có khó khăn nhưng sau khi được giao quyền sử dụng đất lâu dài, sức sản xuất được giải phóng, trong quá trình phát triển sản xuất, kinh tế nông hộ sẽ có sự phân hoá. Một bộ phận nông dân do điều kiện sản xuất gặp khó khăn, ít kinh nghiệm sản xuất, thiếu vốn, sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 31.
    9 xuất không cóhiệu quả, mức sống rất thấp, họ có thể thoát ly sản xuất nông nghiệp và chuyển sang làm dịch vụ, làm thuê hoặc sản xuất tiểu thủ công nghiệp tuỳ theo khả năng và hoàn cảnh của họ, thậm chí có thể rời khỏi nơi sinh sống cũ để ra thành thị hoặc lập nghiệp ở một nơi mới. Thu nhập từ nguồn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cộng với các thu nhập khác có thể giúp họ có cuộc sống tốt hơn so với làm nông nghiệp. Như vậy ruộng đất sẽ từng bước được tích tụ trong tay những hộ làm ăn giỏi. Khi đã đạt tới một quy mô nhất định, các sản phẩm nông nghiệp hàng hoá sẽ xuất hiện trên thị trường, hình thành các hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Đó là xu hướng vận động, phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân. Với xu thế này, các hộ sản xuất hàng hoá sẽ không ngừng tăng lên về số lượng cũng như về quy mô nông hộ. Chính những hộ sản xuất hàng hoá này đã góp phần to lớn vào việc phát triển nhanh sản xuất nông nghiệp. Ở nước ta, từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4 năm 1988) giao quyền sử dụng đất ổn định cho hộ nông dân, đã tạo ra những điều kiện và môi trường cho kinh tế hàng hoá phát triển. Có thể nói, lịch sử phát triển nông nghiệp là lịch sử vận động và phát triển của kinh tế hộ nông dân và các trang trại gia đình. Sự vận động này tuân theo quá trình từ thấp đến cao, từ sản xuất tự cấp, tự túc đến sản xuất hàng hoá. Kinh tế hộ nông dân đã trải qua các hình thái sau: - Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: Là dạng phát triển rất thấp của kinh tế hộ. Họ sản xuất một vài nông sản chủ yếu để duy trì sự sống của gia đình, họ có ít vốn, công cụ sản xuất thô sơ, phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động thấp. Hiện nay còn tồn tại ở một số dân tộc ít người thuộc các vùng xa xôi hẻo lánh, các vùng núi cao biệt lập với xã hội. Thiếu lương thực, thực phẩm là nỗi lo lắng thường xuyên của họ. - Nhóm hộ kinh tế tự cấp tự túc với nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán. Đặc điểm của nhóm hộ này là sản xuất chủ yếu để cung cấp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 32.
    10 lương thực, thựcphẩm và một số loại nông sản cần thiết khác đáp ứng yêu cầu tiêu dùng cho gia đình, ít tiếp xúc với thị trường. Trong quá trình phát triển, nhóm hộ kinh tế tự cấp tự túc là bước phát triển cao hơn so với nhóm hộ kinh tế sinh tồn. Hiện nay ở Đồng bằng sông Hồng, phần lớn hộ nông dân sản xuất là để tự cấp tự túc. Kinh tế tự cấp tự túc thường dẫn đến sự bảo thủ, chậm phát triển. - Nhóm hộ sản xuất hàng hoá nhỏ: Trong quá trình sản xuất, hộ nông dân luôn muốn sản xuất hướng ra ngoài, một bộ phận hộ nông dân làm ăn khá giả, ngoài phần tiêu dùng cho gia đình, còn dư ra một ít sản phẩm, họ đã đưa ra thị trường. Khi cung đã vượt cầu, họ đem những sản phẩm thừa trao đổi trên thị trường và trở thành những hộ sản xuất hàng hoá nhỏ. Nếu các yếu tố khách quan và chủ quan thuận lợi như ruộng đất nhiều, giá nông sản cao, thời tiết thuận lợi, vốn nhiều, những hộ này có cơ hội để phát triển thành các hộ sản xuất hàng hoá lớn. Ngược lại, nếu gặp rủi ro trong sản xuất thì họ có thể trở thành nhóm hộ tự cấp tự túc. - Nhóm hộ sản xuất hàng hoá lớn: Gặp điều kiện thuận lợi, một bộ phận của nhóm hộ sản xuất hàng hoá lớn, thành các trang trại gia đình. Kinh tế trang trại lấy sản xuất nông sản hàng hoá là chính, xuất phát từ yêu cầu của thị trường mà lựa chọn loại nông sản hàng hoá để sản xuất. Nhưng dù có phát triển sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp thì các trang trại gia đình vẫn tỏ ra có hiệu quả nhất so với các loại trang trại khác. Kinh tế mỗi hộ vẫn độc lập, sử dụng chủ yếu là lao động gia đình, thuê mướn nhân công ít hoặc chỉ thuê lao động thời vụ. Như vậy sự vận động của kinh tế hộ nông dân đã trải qua các giai đoạn từ sản xuất để sinh tồn đến sản xuất tự cung tự cấp rồi lên sản xuất hàng hoá. Tiến lên sản xuất hàng hoá là xu thế tất yếu của phát triển kinh tế hộ mà động lực của sự phát triển là tối ưu hoá lợi nhuận, hướng sản xuất tới trao đổi sản phẩm trên thị trường. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 33.
    11 1.1.3.2. Sản xuấthàng hoá là động lực thúc đẩy từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn trong nông nghiệp Kinh tế hộ gia đình đã tồn tại từ hàng ngàn năm nay, thể hiện rất rõ vai trò tích cực trong quá trình phát triển nông nghiệp. Trang trại gia đình ở các nước phát triển, hộ nông dân ở các nước đang phát triển là lực lượng chủ yếu sản xuất ra sản phẩm hàng hoá trong nông nghiệp. Ở Mỹ với 2,2 triệu trang trại đã sản xuất ra 50% đậu tương của toàn thế giới, hàng năm xuất khẩu 40 - 50 triệu tấn ngô, hàng triệu tấn thịt các loại v.v... - Các trang trại gia đình đã hình thành cách đây hàng trăm năm. Lúc đầu quy mô trang trại nhỏ, sản phẩm hàng hoá ít. Càng về sau quy mô các trang trại càng lớn, năng suất lao động càng cao. Hiện nay nhờ áp dụng những thành tựu kỹ thuật tiên tiến như hoá học hoá, cơ giới hoá và cách mạng sinh học, tin học,... đã giúp các trang trại hiện đại hoá sản xuất. nhiều khu vực trên thế giới như Tây Âu và Bắc Mỹ, sản phẩm hàng hoá nông nghiệp đã dư thừa, 1 lao động nông nghiệp nuôi được 35-100 người. Động lực dùng trong nông nghiệp có tới 82% là sức máy móc cơ điện. Bằng việc hiện đại hoá các trang trại gia đình, các nước phát triển đã đạt được nền sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp. - Ở các nước đang phát triển, hàng hoá nông sản chủ yếu được sản xuất tại các trang trại hoặc các hộ gia đình có quy mô nhỏ từ 1 - 5 ha. Trong một số ngành, đặc biệt là trồng cây ăn quả, cây công nghiệp... tuy quy mô trang trại nhỏ song vẫn tạo ra khối lượng nông sản hàng hoá lớn với tỷ suất hàng hoá cao là nhờ tính năng động của mạng lưới tổ chức tốt về dịch vụ và lưu thông hàng hoá. Các trang trại ở Malaixia năm 1992 sản xuất được 6,4 triệu tấn dầu cọ, chiếm 53% sản lượng dầu cọ trên thế giới. - Ở nước ta, một thời gian dài kinh tế tập thể giữ vai trò chủ yếu, kinh tế gia đình bị coi là kinh tế phụ. Cơ chế điều hành bằng mệnh lệnh hành chính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 34.
    12 của hợp tácxã đã kìm hãm sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, sản xuất mất động lực nên kinh tế bị trì trệ trong một thời gian dài, đặc biệt là ở các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng. Năng suất cây trồng không tăng, năm 1970 ngân sách lúa đạt 20,1 tạ/ha thì năm 1980 đạt 21,79 tạ/ha. Trong 10 năm năng suất tăng 3,4%. Từ năm 1988 khi hộ nông dân được giao quyền sử dụng đất lâu dài, nền kinh tế bắt đầu mở cửa tiếp xúc với cơ chế thị trường, sản xuất hàng hoá của hộ nông dân bắt đầu phát triển. - Một số nông sản xuất khẩu quan trọng như gạo, cao su, cà phê, chè, v.v... đang hoà nhập và có vị trí đáng kể trên thị trường thế giới. Như vậy sản xuất hàng hoá đã và đang là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các hộ gia đình từng bước chuyển từ sản xuất hàng hoá nhỏ lên sản xuất hàng hoá lớn. Sự ra đời của sản xuất hàng hoá gắn liền với sự phát triển của phân công lao động xã hội và trao đổi. Một khi sản xuất sản phẩm không phải để bản thân tiêu dùng mà để bán thì sản xuất hàng hoá đó gọi là sản xuất hàng hóa. Trong sản xuất nông nghiệp, sản phẩm hàng hoá là những sản phẩm sản xuất được bán ra ngoài tỉnh (nếu phạm vi là là tỉnh), ngoại huyện (nếu phạm vi là huyện), ngoài xã (nếu phạm vi là xã), hoặc theo phạm vi hộ là những sản phẩm hộ nông dân bán ra. Hộ nông dân là cơ sở của sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp. Chính vì vậy nghiên cứu hộ nông dân phát triển sản xuất hàng hoá để có thể rút ra những kết luận, đưa ra những giải pháp biện pháp, biện pháp tác động đến sản xuất hàng hoá nói chung. Sản xuất hàng hoá để tạo điều kiện phát huy tính năng động sáng tạo trong việc khai thác và tận dụng những tiềm năng kinh tế xã hội cũng như lợi thế so sánh của từng vùng kinh tế. Nó có vai trò quan trọng trong việc điều tiết sản xuất, phân công lao động xã hội, điều tiết thị trường. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 35.
    13 Đối với nước ta hiện nay nông nghiệp được coi là hàng đầu, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ổn định đời sống nhân dân, xuất khẩu thu ngoại tệ... Để đẩy mạnh quá trình phát triển đất nước, Đảng ta đã xác định chỉ có thể thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì nền kinh tế của chúng ta mới không bị tụt hậu, đất nước mới thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Muốn vậy chúng ta phải có vốn đầu tư để trang bị khoa học công nghệ, cả về máy móc thiết bị lẫn con người. Trong khi đó với thực tại là một nước nông nghiệp thì phải xuất phát từ nông nghiệp, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp lấy vốn đầu tư phát triển các ngành khác. Và vì vậy chỉ có thể phát triển sản xuất hàng hoá thì mới làm cho nông nghiệp phát triển nhanh, mạnh, tạo ra khối lượng nông sản hàng hoá lớn, chất lượng cao cạnh tranh được trên thị trường quốc tế. Phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp có tác dụng rất lớn để giải quyết việc làm ở nông thôn, nâng cao trình độ chất lượng lao động sản xuất nông nghiệp. 1.1.4. Vai trò của kinh tế hộ sản xuất hàng hóa Vai trò kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá trước hết được kể đến từ vai trò của hộ nông dân nói chung, từ đó được mở rộng và tăng thêm khi đã trở thành hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Phân tích kết cấu xã hội nông dân nước Nga, Lê nin đã lưu ý rằng hộ khai thác triệt để năng lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu đa dạng của gia đình và xã hội. Lê Nin coi trọng vai trò của kinh tế hộ nông dân thể hiện trong cương lĩnh ruộng đất lần hai bàn về “ chế độ hợp tác”, đặc biệt sau này trong chính sách “ Kinh tế mới” và nhiều tác phẩm khác [9]. Khi tổng kết kinh nghiệm của mô hình trang trại gia đình ở Mỹ, Italia, Anh, Hà Lan, Traianốp đã chứng minh sức sống của “ Kinh tế hộ”, của “ Kinh tế lao động trên mảnh đất gia đình” [13]. Các tác giả của nhóm lý thuyết phát triển có cách nhìn về kinh tế hộ, họ đã đưa ra ý kiến về phát triển chiến lược sử dụng các nguồn lực của hộ trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 36.
    14 xã hội nôngthôn. Họ cho rằng kinh tế hộ là “hệ thống các nguồn lực”, có nghĩa hộ là đơn vị duy trì, phát triển nguồn lao động, công cụ lao động, tài sản vốn... đảm bảo cho quá trình phát triển nguồn thu nhập là góp phần phát triển nguồn thu nhập của xã hội. Hệ thống các nguồn lực của các hộ được sử dụng theo những phương thức khác nhau, do đó đem lại hiệu quả cao. Phân tích các quan hệ kinh tế hộ như là một đơn vị kinh tế cơ sở, các kinh tế học. Mác xít cũng như lý thuyết phát triển đều khẳng định hộ có các quan hệ kinh tế bên trong nội bộ hộ và các quan hệ kinh tế với các đơn vị kinh tế khác. Các quan hệ kinh tế nội tại của hộ là quan hệ phân phối nguồn thu nhập, quan hệ đóng góp vào quỹ thu nhập... giữa các thành viên trong hộ. Quan hệ kinh tế của các thành viên trong hộ có tính chất ước định, nó còn phải chịu sự chi phối của các quan hệ huyết tộc, quan hệ gia đình, tôn giáo...Quan hệ kinh tế bên ngoài của hộ là quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hoá giữa các hộ và các kiểu tổ chức doanh nghiệp khác. Những quan hệ kinh tế này chịu sự chi phối của các quan hệ thị trường [10]. Ở Việt Nam, trải qua những bước biến động thăng trầm của kinh tế hộ, vị trí, vai trò của nó ngày càng được khẳng định. Vai trò kinh tế hộ gia đình đã được Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá VII, chỉ rõ: “Phát huy hơn nữa tiềm năng to lớn và vị trí quan trọng, lâu dài của kinh tế hộ gia đình. Nghị quyết 06 NQ/TƯ ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, một lần nữa khẳng định: “Kinh tế xã hội ở nông thôn là loại hình tổ chức sản xuất có hiệu quả về kinh tế - xã hội, tồn tại, phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn,...”[6]. Từ những căn cứ lý luận và thực tiễn nêu trên, có thể thấy vai trò của kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá được biểu hiện cả về kinh tế và xã hội, rộng hơn nữa còn cả về bảo vệ, phát triển tài nguyên - môi trường và văn hoá - nhân văn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 37.
    15 - Thứ nhất hộ nông dân sản xuất hàng hoá là đơn vị kinh tế sơ sở chứa đựng một hệ thống các nguồn lực (đất đai, vốn, lao động, tư liệu sản xuất...) và sở hữu các sản phẩm mà mình sản xuất ra. Hộ nông dân tự chủ thực hiện quá trình tái sản xuất dựa trên các quyết định phân bổ các nguồn lực cho các hoạt động sản xuất nhằm cung cấp những loại nông sản phẩm không thể thiếu được cho con người, tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành sản xuất khác để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội. Vì thế cho đến nay chưa có hình thức nào có thể thay thế được kinh tế hộ nông dân trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở nông thôn. - Thứ hai, hộ nông dân sản xuất hàng hoá là đơn vị duy trì, tái tạo và phát triển các nguồn lực có hiệu quả cao. Với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ, hoạt động sản xuất theo cơ chế thị trường, các hộ nông dân nước ta đã tích cực đẩy mạnh phát triển sản xuất một cách năng động, đa dạng, phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của mỗi hộ, góp phần quan trọng tạo ra thị trường hàng hoá ngày càng phong phú, dồi dào ngay tại các vùng nông thôn. Mặt khác, dưới tác động khách quan của các quy luật kinh tế thị trường, các hộ nông dân đang tìm mọi biện pháp để nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu sản xuất, trên cơ sở sử dụng tốt các nguồn lực sẵn có của từng hộ về vốn, đất đai, lao động, tư liệu sản xuất và tri thức. Hệ thống nguồn lực của hộ được sử dụng theo phương thức khác nhau do điều kiện và khả năng sản xuất của từng hộ khác nhau. Việc coi hộ là đơn vị tự chủ, đã giúp cho hộ nông dân có điều kiện chủ động đầu tư thâm canh, cải tạo đất làm cho đất ngày càng tốt hơn và sử dụng tiền vốn, lao động có hiệu quả hơn. Họ biết tích luỹ vốn bằng cách “lấy ngắn nuôi dài” trong sản xuất để mở rộng quy mô sản xuất. Sản xuất có thu nhập cao là điều kiện để hộ có thể tái đầu tư các nguồn lực. Gia đình là tế bào của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 38.
    16 xã hội, lànơi nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, là đơn vị tạo nguồn lao động, tái sản xuất sức lao động xã hội. Ở nước ta, hộ nông dân sản xuất hàng hoá mới phát triển trong những năm gần đây (nhất là kinh tế trang trại gia đình), nhưng đã thể hiện vai trò, ưu thế của nó cả về mặt kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường. Có thể khẳng định: - Hộ nông dân sản xuất hàng hoá góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn Hộ nông dân sản xuất hàng hoá đã mạnh dạn đầu tư, tích cực áp dụng Khoa học kỹ thuật tiên tiến, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, từng bước khắc phục dần tình trạng sản xuất nhỏ, hiệu quả kinh tế thấp sang sản xuất tập trung với quy mô hàng hoá nông sản không ngừng tăng lên. Từ đó tạo nên vùng chuyên môn hoá, tập trung hoá và thâm canh cao, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mặt khác, hộ nông dân sản xuất hàng hoá phát triển sẽ kéo theo theo các ngành kinh tế khác phát triển, nhất là công nghiệp chế biến nông - lâm sản, dịch vụ phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp và các hoạt động kinh tế khác trong nông thôn. Làm cho kinh tế nông thôn phát triển đa dạng và chuyển dịch dần theo hướng giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. - Hộ nông dân sản xuất hàng hoá góp phần giải quyết các vấn đề về văn hoá - xã hội trong nông thôn Về mặt xã hội, trong điều kiện ngành kinh tế nông thôn phát triển còn chậm, dân số nông thôn tăng nhanh, vấn đề lao động và việc làm đang là vấn đề bức xúc thì phát triển hộ nông dân sản xuất hàng hoá có một ý nghĩa to lớn. Bởi vì, hộ nông dân sản xuất hàng hoá phát triển sẽ tạo thêm nhiều việc làm, thu hút được lao động đang dư thừa trong nông thôn, nhất là số lao động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 39.
    17 trẻ thiếu việclàm đang có xu hướng gia tăng hiện nay. Mặt khác, hộ sản xuất hàng hoá phát triển làm tăng thêm thu nhập của người lao động, đời sống người dân được cải thiện, giảm hộ đói nghèo, tăng nhanh hộ khá giầu, góp phần thúc đẩy kết cấu hạ tầng trong nông thôn. Cơ sở vật chất của các hộ nông dân được tăng cường, nhà cửa khang trang, phương tiện sinh hoạt được trang bị ngày càng đầy đủ và hiện đại làm cho bộ mặt xã hội nông thôn được thay đổi nhanh chóng. Về mặt văn hoá, phát triển hộ sản xuất hàng hoá sẽ xoá dần những tập quán canh tác, những tập tục lạc hậu trong sản xuất thay thế bằng những quy trình kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, tạo tấm gương về cách thức tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh. Mặt khác, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, những lễ hội truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay được chú ý khôi phục và phát triển, góp phần xây dựng nông thôn mới, tạo nên nét đẹp văn hoá trong cộng đồng làng, bản mang đậm nét nền văn minh nông nghiệp. - Hộ nông dân sản xuất hàng hoá góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái Với chính sách giao đất, khoán rừng cho hộ nông dân, đã tạo điều kiện thuận lợi cho hộ sản xuất hàng hoá hình thành và phát triển. Vì lợi ích lâu dài, các hộ nông dân luôn quan tâm đến việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái, nơi mà họ đang sống, lao động để làm ra của cải vật chất nuôi sống gia đình. Trong những năm qua các hộ sản xuất hàng hoá đã sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, thực hiện các biện pháp canh tác khoa học kỹ thuật và hợp lý, không ngừng tăng thêm độ mầu mỡ của đất. Sử dụng vật tư nông nghiệp như phân đạm, thuốc trừ sâu... một cách hợp lý làm cho đất, nguồn nước không bị ô nhiễm. Các hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở vùng đồi núi đã tích cực trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 40.
    18 việc khoanh nuôi,bảo vệ rừng, trồng rừng tập trung, rừng đặc dụng, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, giữ được nguồn nước ở vùng cao. Từ đó góp phần tích cực trong việc cải tạo tài nguyên đất, rừng, nguồn nước và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng trong cả nước. Trong nền kinh tế thị trường ngoài việc sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường về nông sản do họ sản xuất mà còn phải mở rộng quy mô sản xuất, thuê thêm nhân công, ở mức cao có thể có một số hộ nông dân sẽ phát triển thành trang trại gia đình. Kinh tế hộ nông dân phát triển trên thực tiễn đã hình thành các nhóm kinh tế hộ nông dân khác nhau, đó là: nhóm kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá theo mô hình kinh tế trang trại gia đình. Vì vậy, kinh tế hộ nông dân muốn phát triển tốt cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước về chính sách phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng và khoa học kỹ thuật. 1.2. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN ĐỂ CHUYỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN TỰ CUNG TỰ CẤP SANG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ 1.2.1. Kinh tế hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ Để đưa hộ nông dân tiến lên sản xuất hàng hoá thì điều quan trọng đầu tiên là phải xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ về mặt kinh tế, pháp lý, thể hiện trên các mặt sau: - Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: Hộ nông dân phải có quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác. Ở nước ta chỉ khi giao quyền sử dụng đất ổn định và lâu dài cho các hộ nông dân thì hộ nông dân mới bắt đầu có quyền tự chủ trong sản xuất. Cùng với việc giao quyền sử dụng ruộng đất cho hộ nông dân, họ còn được quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế ruộng đất như Luật đất đai đã quy định. - Quan hệ về quản lý: Do làm chủ về tư liệu sản xuất nên hộ nông dân cũng làm chủ trong quản lý sản xuất. Hộ là người lựa chọn, định hướng sản xuất, định chỉ tiêu kế hoạch và thực hiện kế hoạch sản xuất về mặt pháp lý. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 41.
    19 Hộ nông dânlà đơn vị kinh tế độc lập do một người chủ hộ hay một người có năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý. Về hình thức quản lý cũng có những hộ liên doanh theo kiểu 2-3 hộ gia đình tự nguyện hợp nhất trong một "hộ" lớn hơn với tư cách pháp nhân mới để có thêm năng lực về vốn, ruộng đất, kỹ thuật, có thêm sức cạnh tranh với các hộ khác. Các dạng nông hộ này hiện nay có ở một số ngành sản xuất tương đối đặc biệt như nuôi tôm cá ven biển, sản xuất tiểu thủ công nghiệp - những ngành cần nhiều vốn và kỹ thuật hơn sản xuất truyền thống. - Về phân phối: Hộ nông dân có toàn quyền phân phối các sản phẩm làm ra, các chi phí đều được tính từ đầu vụ người nông dân được kích thích sản xuất bằng vật chất do chính họ làm ra, không bị lãng phí hoặc bị chiếm đoạt trong khâu phân phối sản phẩm. Sau khi dành cho tiêu dùng, họ có thể tự do mang trao đổi sản phẩm của mình trên thị trường mà không gặp bất cứ một sự ngăn cản nào. Điều này sẽ kích thích nông hộ sản xuất hàng hoá. Hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, tự họ chịu trách nhiệm về những rủi ro trong sản xuất, tự quyết định sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Chính điều này làm cho hộ nông dân phải tính toán kỹ về hiệu quả kinh tế trong sản xuất, họ trở nên năng động trong kinh doanh. Kết quả là tư liệu sản xuất, sức lao động được sử dụng có hiệu quả nhất. Trong các yếu tố xác nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trình bày ở trên, quyền được sử dụng ruộng đất lâu dài và làm chủ trong phân phối sản phẩm làm ra là hai yếu tố quan trọng nhất. 1.2.2. Kinh tế hộ nông dân là chủ thể trong sản xuất nông nghiệp a. Sự tồn tại khách quan của kinh tế nông hộ Cũng giống như quá trình sản xuất vật chất khác của xã hội, quá trình sản xuất nông nghiệp được tiến hành theo bốn giai đoạn: sản xuất - chế biến, bảo quản - lưu thông - tiêu dùng. Ở bất cứ nước nông nghiệp nào, các quá Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 42.
    20 trình trên đềudo hộ nông dân, các trang trại đảm nhận hoặc ở từng giai đoạn đều có mối liên hệ chặt chẽ với nông dân. Sản xuất nông nghiệp ở mọi quốc gia đều mang tính chất truyền thống lâu đời. Nền nông nghiệp đã trải qua các hình thái kinh tế khác nhau như: nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Hiện nay kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là hình thức kinh tế có hiệu quả nhất trong nông nghiệp. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ và trang trại trong suốt lịch sử phát triển của ngành nông nghiệp là do những nguyên nhân khách quan sau: - Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật, các cơ thể sống, quá trình sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp là quá trình chuyển hoá về vật chất và năng lượng thông qua sự sinh trưởng của cây trồng, con gia súc. Đó là quá trình liên tục đòi hỏi phải có sự chăm sóc thường xuyên của con người. Nó khác hoàn toàn với các quy trình, các sản phẩm có thể phân chia rõ ràng trong các dây chuyền sản xuất công nghiệp. Đặc thù trên của sản xuất nông nghiệp phù hợp với lao động có trách nhiệm trong gia đình, nó cũng phù hợp với kiểu tổ chức sản xuất gia đình, sản xuất trang trại.Traianốp - nhà nông học Nga nổi tiếng đã rút ra kết luận: Càng gần, càng gắn bó với quá trình sinh học thì sản xuất càng mang tính hộ gia đình; càng xa quá trình sinh học càng có nhu cầu liên kết, tập trung hoá và chuyên môn hoá. - Về mặt xã hội, hộ nông dân là một tế bào bền vững của xã hội, là đơn vị tiêu chuẩn sản xuất cơ bản của nông nghiệp, mang tính đa dạng, phân tán, phức tạp của nghề nông, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và lao động. Đặc điểm này làm cho sản xuất nông nghiệp phù hợp với sản xuất của hộ gia đình hơn bất kỳ tổ chức nào khác. Sự phát triển của công cụ sản xuất từ chiếc gậy dùng để chọc lỗ gieo hạt đến các công cụ thủ công và tiến bộ hơn là cày bừa, dùng sức kéo súc vật đến máy móc cơ khí ngày nay vẫn không làm mất đi công trình của kinh tế hộ gia Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 43.
    21 đình. Đối tượngdùng các công cụ sản xuất ấy là lao động gia đình. Thực tiễn ở nước ta cho thấy, kinh tế hộ gia đình có sức sống riêng của nó, tuy trong thời gian dài ít được chú ý phát triển hoặc hạn chế và ngăn cản, nhưng sự tồn tại khách quan đã quyết định sự vận động và phát triển của nó, thể hiện khá rõ nét tính hiệu quả của sản xuất trên đất 5% của gia đình là bằng chứng mạnh mẽ của kinh tế hộ gia đình. Đối với sản xuất nông nghiệp, không ở đâu, không một tổ chức nào có hiệu quả sản xuất cao như ở khu vực gia đình. Thay đổi công cụ lao động chỉ trợ giúp cho các quá trình biến đổi sinh học diễn ra trong sản xuất chứ không làm thay đổi bản chất của quá trình đối với mục đích khai thác tốt hơn các điều kiện tự nhiên phục vụ cho con người. Chính đặc điểm này quy định sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại. Trong sản xuất nông nghiệp cũng diễn ra quá trình xã hội hoá sản xuất. Nhưng do đặc điểm riêng của ngành nông nghiệp - đối tượng của nó là các cá thể hoặc quần thể sinh vật, kết quả của sản xuất là các sản phẩm nông nghiệp - đòi hỏi quá trình sản xuất liên tục không thể phân chia thành các bán thành phẩm, từ người đầu tiên bắt đầu quy trình sản xuất đến sản phẩm cuối cùng; tốt nhất vẫn là do các hộ nông dân đảm nhận. Hơn ai hết, họ gắn liền cuộc sống của gia đình họ với đất đai, với sản phẩm cuối cùng. Từ những nhận định như trên có thể kết luận, đặc thù riêng của quá trình sản xuất nông nghiệp đã quyết định sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình là một đơn vị chủ thể của tổ chức sản xuất xã hội. b. Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển nông nghiệp Như trên đã trình bày về sự tồn tại khách quan của hộ nông dân là do đặc điểm rất riêng của sản xuất nông nghiệp. Nhiều nhà nghiên cứu đều thừa nhận hộ là đơn vị kinh tế cơ bản, là chủ thể sản xuất nông nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 44.
    22 Năm 1925, Traianốp - nhà nông học Nga xuất sắc đã nghiên cứu hình thái của gia đình nông dân không có lao động làm thuê và chỉ sử dụng sức lao động gia đình là hình thức tổ chức sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện sản xuất nông nghiệp còn làm bằng thủ công. Tổng kết kinh nghiệm của mô hình trang trại ở Mỹ, Anh, Hà Lan, Italia, ông cũng chứng minh sức sống của kinh tế hộ trên mảnh đất gia đình. Một số nhà khoa học khác của lý thuyết phát triển coi kinh tế hộ là: "hệ thống các nguồn lực" có nghĩa hộ là đơn vị để duy trì và phát triển nguồn lao động, vốn..., đảm bảo cho quá trình phát triển của ngành nông nghiệp cũng như của toàn xã hội. Hệ thống nguồn lực của hộ được sử dụng theo phương thức khác nhau, do đó đem lại hiệu quả khác nhau. Vì thế các tác giả đã đưa ra ý kiến về chiến lược sử dụng các nguồn lực của hộ trong nông thôn. Về phương diện lịch sử thì một trong những con đường tích luỹ cơ bản cũng bắt đầu từ quá trình kinh doanh của các gia đình. Xã hội càng phát triển thì sự phân công lao động càng diễn ra sâu sắc, càng tạo nhiều cơ hội để các cá nhân, các hộ tự nguyện tham gia vào sự phân công lao động của xã hội, xoá bỏ sự ép buộc lao động đã có thời diễn ra ở một số nước, trong đó có nước ta. Trong thành quả của cải cách kinh tế của các nước, có những đóng góp quan trọng của kinh tế hộ. Ở Trung Quốc đã giao quyền tự chịu trách nhiệm trong sản xuất và đơn vị sản xuất cơ bản ở nông thôn, vì thế sản xuất đạt kết quả ngạc nhiên. Trong nông thôn hình thành nhiều loại hình nông hộ, công nghiệp nông thôn phát triển nhanh, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế 12 - 13% năm của nước này. Các nước khác trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Philippines... trong chiến lược phát triển kinh tế cũng rất chú ý tới khu vực kinh tế nông thôn mà hạt nhân cơ bản là kinh tế nông hộ. Rất nhiều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 45.
    23 cuộc hội thảoquốc tế về kinh tế hộ đã khẳng định, ở các nước trong khu vực chủ thể kinh tế nông nghiệp là hộ nông dân. Khi sản xuất gặp khó khăn và có biến động lớn thì kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng cao, nó có khả năng phục hồi rất nhanh sau mỗi biến động. Ở nước ta trong thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp, kinh tế hộ cũng chỉ được coi là "kinh tế phụ gia đình" nhưng trên thực tế sản xuất của nông hộ chiếm tới 48% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, thu nhập từ kinh tế gia đình chiếm 50-60% tổng thu nhập của hộ, Tuy kinh tế tập thể sử dụng trên 90% đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng thu nhập của người nông dân từ kinh tế tập thể cũng chỉ chiếm 40-50%. Thời kỳ này thực chất là thời kỳ trì trệ nhất của nông nghiệp nước ta trong hơn 30 năm qua. Từ khi Nghị quyết 10 xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất - kinh doanh, kinh tế hộ đã có những bước phát triển đáng kể và khẳng định vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá ở nước ta. Nó thể hiện rõ trên các mặt: - Phát huy tốt các tiềm lực sản xuất (lao động, đất đai, tiền vốn và các kinh nghiệm sản xuất...) để tạo ra nhiều nông sản phẩm hàng hoá cho xã hội, tạo ra bước tiến quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta từ những năm 1990 đến nay. - Phát triển kinh tế hộ tạo cho sản xuất phát triển, mặt khác mở rộng thị trường nông sản phẩm hàng hoá cho quá trình phát triển công nghiệp thành thị và nông thôn. - Phát triển kinh tế hộ không chỉ có vai trò to lớn về kinh tế mà nó còn có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội vì việc gia tăng sản phẩm hàng hoá và hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống - cơ sở kinh tế vũng chắc để giải quyết các vấn đề xã hội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 46.
    24 1.2.3. Tính tấtyếu khách quan để chuyển kinh tế hộ nông dân tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá Quá trình phát triển nền nông nghiệp trải qua ba giai đoạn từ nông nghiệp tự cung tự cấp đến đa dạng hoá sản xuất và sản xuất chuyên môn hoá. Xã hội càng phát triển, đời sống ngày càng nâng cao, đòi hỏi nhu cầu nông sản phẩm ngày càng lớn cả về số lượng và chất lượng, cùng với nó khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển làm cho sự phân công lao động xã hội ngày càng chi tiết cụ thể hơn, sự chuyên môn hoá ngày càng sâu và sự gắn bó giữa người sản xuất và tiêu dùng càng chặt chẽ, những hộ nông dân sản xuất tự cung tự cấp có quy mô nhỏ, đầu tư thấp không có khả năng thích ứng. Một bộ phận hộ nông dân có điều kiện phát triển sản xuất với quy mô lớn về đầu tư, tích tụ ruộng đất, chuyên môn hoá…chuyển sang sản xuất hàng hoá, mục đích thu được lợi nhuận cao. Nền kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường được hình thành là kết quả phát triển của lực lượng sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường hộ nông dân chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế của thị trường.Thông qua sự vận động của kinh tế thị trường, những hộ nông dân sản xuất kém hiệu quả phải thu hẹp quy mô sản xuất, thậm chí bị phá sản. Trong khi đó những hộ nông dân có lãi càng có điều kiện tích luỹ để mở rộng quy mô sản xuất ngày càng lớn và tạo điều kiện tích luỹ để mở rộng quy mô sản xuất ngày càng lớn và tạo ra nhiều sản phẩm hay dịch vụ hàng hoá lớn hơn. Quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn đã và đang dần dần thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ giới máy móc, những thành tựu khoa học kỹ thuật về lai tạo giống cây mới, chế tạo ra những sản phẩm sản phẩm sinh học, hoá học đặc hiệu… giúp tăng cường khả năng chế ngự thiên nhiên của con người, tăng hiệu quả sản xuất, tăng năng suất, chất lượng nông sản, giải phóng sức lao động người nông dân thoát khỏi tình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 47.
    25 trạng sản xuấtnhỏ bé tự cung tự cấp chuyển thành hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Ngày nay khi mà nền nông nghiệp thế giới đã trải qua nhiều bước phát triển thăng trầm, người ta đã rút ra được kết luận đó là: Những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp tự nó quyết định phương thức sản xuất và con đường phát triển thích hợp. Những đặc điểm chủ yếu quyết định con đường chuyển từ phát triển tự nhiên, hiện vật sang nền nông nghiệp phát triển sản xuất hàng hoá mà trong đó nông trại gia đình là nhân vật trung tâm. Trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được. Con người biết sử dụng đất đai một cách hợp lý thì nó không những không bị giảm độ phì mà ngày càng tốt hơn.Tuy nhiên diện tích ruộng đất phục vụ nông nghiệp chỉ có giới hạn nhất định. Do vậy nền tảng của phát triển nông nghiệp là sự gắn bó của người lao động với ruộng đất, với tư liệu sản xuất. Chính điều này quy định nghề nông khác hẳn với sản xuất công nghiệp và quy định đơn vị sản xuất trong nông nghiệp là hộ gia đình nông dân khác hẳn với các xí nghiệp quy mô lớn như trong công nghiệp. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi là những sinh vật sống, có chu kỳ sản xuất dài, có phản ứng nhạy cảm với tự nhiên hay điều kiện sống, do vậy đòi hỏi người nông dân phải am hiểu sâu sắc đối với từng loại vật nuôi, cây trồng, từng điều kiện tác động. Do tính chất thời vụ, sự chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết nên trong nông nghiệp không thể chuyên môn hoá cao một loại sản phẩm thuần nhất. Trong sản xuất nông nghiệp chỉ có thế phát triển chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp mới tận dụng được đất đai, lao động, tiền vốn…làm cho sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao. Do sản xuất nông nghiệp diễn ra trong phạm vi không gian rộng lớn mang tính thời vụ cao đòi hỏi người lao động phải có một tinh thần trách Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 48.
    26 nhiệm và tựgiác cao. Vì thế hình thức tổ chức sản xuất theo kiểu hợp tác xã tập thể là kém hiệu quả, chỉ có hộ gia đình nông dân là phù hợp nhất. Trong nông nghiệp quá trình tái sản xuất kinh tế và quá trình tái sản xuất tự nhiên luôn đan xen để mạng lại hiệu quả và là một quá trình liên tục, hoàn chỉnh không thể chia cắt về thời gian, không gian. Do vậy sản xuất nông nghiệp không thể phân chia ra các công đoạn máy móc như công nghiệp Sự mâu thuẫn giữa chi phí sản xuất và thu nhập được gắn với sản phẩm cuối cùng. Thái độ, kỹ năng, năng suất lao động có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, vật nuôi, do vậy đòi hỏi có sự thống nhất giữa các đơn vị sản xuất và đơn vị phân phối. Qua đây có thể thấy: Hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp thích hợp nhất là hộ gia đình nông dân, khi hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất và lợi ích của mình được đảm bảo thì họ sẽ huy động mọi nguồn lực để đầu tư vào sản xuất với ý thức hoàn toàn tự nguyện. Công cụ sản xuất hiện đại không làm mất đi tính chất sinh học của đối tượng sản xuất nông nghiệp. Đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây con, nó đòi hỏi sự thống nhất giữa quá trình quản lý với quá trình lao động, sản xuất phân phối và tiêu dùng, sự thống nhất giữa chủ thể kinh tế và hoạt động kinh tế. Đặc tính này quy định sự tồn tại lâu dài của kinh tế hộ. Như vậy có thể kết luận rằng: Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất mà nền sản xuất xã hội chuyển từ sản xuất tự nhiên, tự cung, tự cấp thành sản xuất kinh tế hàng hoá, hộ gia đình nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, là nhân vật trung tâm trong quá trình chuyển nền nông nghiệp tự nhiên hiện vật sang nền nông nghiệp hàng hoá 1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá chịu sự tác động bởi các nhóm yếu tố như điều kiện tự nhiên, điều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 49.
    27 kiện kinh tếvà khả năng tổ chức quản lý và sản xuất, điều kiện về khoa học kỹ thuật và các chính sách của Nhà nước 1.3.1. Các nhân tố về điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý và đất đai Vị trí đại lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân. Những hộ nông dân có được những vị trí thuận lợi như gần đường giao thông, gần cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn... sẽ có điều kiện phát triển sản xuất hàng hoá. Thực tế cho thấy,càng ở những vùng xa,... do vị trí không thuận lợi nên kinh tế hộ nông dân kém phát triển. Sản xuất của hộ nông dân hiện nay chủ yếu là nông nghiệp, mà đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra, tới giá trị lợi nhuận và lợi nhuận thu được. Những nhân tố về điều kiện tự nhiên phải kể đến là các ưu đãi của tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dân canh tác, như thời tiết khí hậu, quá trình hình thành đất có tác động quyết định đến độ phì tự nhiên, vị trí của mảnh đất đó, hay có thể nói gọn lại là địa tô chênh lệch 1. Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, quỹ ruộng đất nhiều hay ít, tốt hay xấu đều có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất; đến khả năng sản xuất hàng hoá. - Khí hậu và môi trường sinh thái Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Điều kiện thời tiết, khí hậu có lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng... có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất. Những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế được những bất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 50.
    28 lợi, những rủiro do thiên nhiên gây ra và có cơ hội để phát triển nông nghiệp, tăng cường nông sản hàng hoá của các hộ nông dân. Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, nhất là nguồn nước, không khí. Bởi vì, những cây trồng và con gia súc tồn tại và phát triển theo quy luật sinh học. Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì cây trồng, con gia súc phát triển tốt, cho năng suất sản phẩm cao. Nếu môi trường sinh thái không phù hợp dẫn đến cây trồng, con gia súc phát triển, năng suất, chất lượng sản phẩm giảm, từ đó sản xuất hiệu quả của hộ nông dân thấp. 1.3.2. Các nhân tố về điều kiện kinh tế và tổ chức quản lý Đây là nhóm yếu tố kinh tế và tổ chức liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá nói riêng. Cũng giống như mọi ngành sản xuất của xã hội, sản xuất hàng hoá của hộ nông dân bị chi phối bởi quan hệ cung cấp và chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố. - Yếu tố về lao động, vốn sản xuất và cơ sở hạ tầng nông thôn Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật về kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao. Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, cũng như kinh nghiệm sản xuất của người chủ hộ có vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và thất bại trong sản xuất hàng hoá của hộ nông dân. Vốn là điều kiện không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nó là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vốn là một trong những yếu tố quyết định sự hình thành hộ sản xuất hàng hoá. Khi có quy mô vốn đủ lớn kinh tế hộ mới chuyển thành kinh tế trang trại gia đình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 51.
    29 Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất lao động cao cần phải sử dụng một hệ thống công cụ phù hợp. Ngày nay với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ sản xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho các hộ nông dân. Năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên, chất lượng sản phẩm được đảm bảo tốt hơn. Do đó nó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất hàng hoá của hộ nông dân. Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: đường giao thông nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, trang thiết bị trong nông nghiệp...Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất hàng hoá của kinh tế hộ nông dân. Thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các hộ nông dân được cải thiện. - Yếu tố thị trường Thị trường: Nói đến thị trường là nói đến yêu cầu của xã hội đối với nông phẩm. Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất. Đối với từng hộ nông dân, để đáp ứng yêu cầu thị trường về nông sản hàng hoá, họ có xu hướng liên kết, hợp tác sản xuất với nhau. Nói cách khác thị trường là một quá trình mà trong đó người mua và người bán tác động qua lại để xác định giá cả và sản lượng. Cơ chế thị trường bao gồm nhiều nhân tố: hàng hoá, tiền, mua, bán, cung cầu tác động qua lại với nhau. Sản xuất hàng hoá phụ thuộc chủ yếu vào giá cả trên thị trường, những sản phẩm nào được giá thì hộ nông dân chú ý phát triển. Vì vậy nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất với số lượng hàng hoá bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng nào. Thực tế cho thấy vùng nào có thị trường thuận lợi, nơi đó có sản xuất hàng hoá phát triển. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 52.
    30 Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá mà thị trường cần và họ có khả năng sản xuất. Từ đó kinh tế hộ có điều kiện phát triển sản xuất hàng hoá. - Yếu tố về hợp tác trong sản xuất kinh doanh Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, để cạnh tranh có hiệu quả các hộ nông dân càng cần có sự hợp tác để có thêm vốn, thêm nhân lực, thêm kinh nghiệm sản xuất và tiến hành sản xuất hàng hoá có hiệu quả cao hơn, tự vệ chống lại sự chèn ép (ép cấp, ép giá) của tư thương. Thực tế trong thời gian qua cho thấy, để đáp ứng yêu cầu của thị trường về nông sản hàng hoá, các hộ nông dân phải liên kết, hợp tác lại với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và điều quan trọng là giúp nhau tiêu thụ nông sản phẩm. Nhờ có các hình thức liên kết hợp tác mà các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, năng suất gia súc và năng suất lao động của mình. 1.3.3. Các nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ - Yếu tố kỹ thuật canh tác Do điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi vùng có khác nhau, với yêu cầu giống cây, con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau. Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá. - Yếu tố ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật, vì nó tạo ra cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt. Thực tế cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, họ giầu lên rất nhanh. Nhờ có công nghệ mà các yếu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 53.
    31 tố sản xuấtnhư lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu được kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp. Như vậy, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất hàng hoá phát triển, thậm chí những tiến bộ kỹ thuật có thể làm thay đổi hẳn trình độ sản xuất hàng hoá của một vùng. 1.3.4. Các nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc Nhóm các yếu tố này bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước như: Chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ sản phẩm, trợ giá nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới… Ngoài các yếu tố như đã nêu ở trên, hộ nông dân còn có những điều kiện khác ảnh hưởng đến mức độ sản xuất hàng hoá của hộ, đó là việc nắm bắt được nhu cầu thị trường; khả năng gắn sản xuất, chế biến và bao tiêu sản phẩm, đồng thời phải có kỹ năng tổ chức sản xuất và tiếp cận thị trường, có sản phẩm thặng dư. - Các chính sách kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hoá của nông hộ. Chính sách kinh tế là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp vào sản xuất, khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất loại nông sản hàng hoá. Từ năm 1988 trở lại đây, theo tinh thần Nghị quyết 10 giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ nông dân và hàng loạt các chính sách được ban hành như chính sách thị trường thống nhất trong cả nước, chính sách một giá, chính sách cho nông dân vay vốn, chính sách thuế đất v.v..., sản xuất hàng hoá đã phát triển nhanh chưa từng có. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài thập kỷ, năm 1989 nước ta đã có 1,4 triệu tấn gạo hàng hoá để xuất khẩu và từ đó đến nay trung bình hàng năm đã xuất 1,5 - 2,0 triệu tấn gạo và một số nông sản khác như cao su, cà phê v.v.... Giá trị nông sản xuất khẩu tăng nhanh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 54.
    32 Từ hộ sản xuất tự cấp tự túc muốn phát triển thành hộ nông dân sản xuất hàng hoá phải phá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất hàng hoá. Chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất để kinh tế hộ nông dân hoạt động có hiệu quả. Các nhóm yếu tố tác động, ảnh hưởng đến hộ nông dân sản xuất hàng hoá được minh hoạ qua sơ đồ 1.1. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Đất đai Khí hậu Môi trường Kinh tế - TC Khoa học - CN Hộ nông dân Vốn - CC Kỹ thuật canh tác Kết cấu hạ tầng Ứng dụng KHKT sản xuất hàng hoá Thị trường Kỹ năng lao động Liên kết - hợp tác Quản lý vĩ mô Chính sách thuế CS đất đai CS tín dụng Sơ đồ 1.1. Ảnh hưởng của các yếu tố đến hộ nông dân sản xuất hàng hoá 1.4. SƠ LƢỢC TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở MỘT SỐ NƢỚC VÀ Ở VIỆT NAM 1.4.1. Trên thế giới Lịch sử phát triển nông nghiệp thế giới đã chứng minh rằng sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ nông dân là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật sản xuất nông nghiệp, kể cả trong điều kiện nông nghiệp được công Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 55.
    33 nghiệp hoá, hiệnđại hoá, có trình độ sản xuất hàng hoá cao. Trang trại gia đình đã khẳng định được vị trí và vai trò của nó trong phát triển kinh tế. - Tình hình phát triển kinh tế trang trại tại Pháp Ở Pháp, năm 1955 có 2.285.000 trang trại, đến năm 1993 còn 801.400 tràng trại. Tốc độ trang trại giảm mỗi năm bình quân 2,7% [24,tr 98]. Diện tích bình quân của các trang trại tăng lên. Diện tích trang trại qua các năm có xu hướng tăng lên ở Pháp năm 1955 là 12 ha, năm 1993 có 35,1 ha. Số trang trại dưới 5 ha chiếm 27,6%, số trang trại từ 5-20 ha chiếm 22,6 %, số trang trại trên 20 ha chiếm 49,8%. Bình quân quy mô về diện tích của trang trại ở Pháp là 29,2 ha, 42% thu nhập của trang trại là từ ngoài nông nghiệp. Hiện nay, các trang trại gia đình sản xuất ra lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước với tỷ suất hàng hoá về ngủ cốc là 95%, thịt sữa 70-80%, rau quả trên 70% và riêng năm 1981 đã xuất khẩu trên 24 triệu tấn ngũ cốc [24, tr112-113]. - Tình hình phát triển trang trại ở Mỹ Trang trại gia đình đã và đang là lực lượng chủ yếu sản xuất ra các loại nông sản, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người. Nước Mỹ là nơi có kinh tế trang trại phát triển với trình độ cao. Năm 1950 ở Mỹ có 5.648.000 trang trại và các trang trại có xu hướng giảm dần về số lượng. Năm 1960 có 3.962.000 trang trại, năm 1970 có 2.954.000, năm 1992 còn 1.925.000 trang trại. Trong khi đó diện tích bình quân của các trang trại cũng tăng lên, năm 1950 là 86 ha, năm 1960 là 120 ha, năm 1970 là 151 ha, và năm 1992 là 198,7 ha [7]. Hiện nay ở Mỹ các trang trại gia đình đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của toàn thế giới, xuất khẩu 40-50 triệu tấn lúa mỳ, 50 triệu tấn ngô, đậu tương... Các trang trại ở Mỹ nhờ áp dụng các tiến bộ Khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh nên sản lượng nông sản làm ra của một lao động nông nghiệp đến năm 1990 đủ để nuôi được 80 người [7]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 56.
    34 - Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân các nước Châu Á. Ở các nước Châu Á, chế độ phong kiến kéo dài, kinh tế nông nghiệp sản phẩm sản xuất hàng hoá ra đời chậm hơn. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước ở lãnh thổ Châu Á đã tiến hành cải cách ruộng đất với nội dung, mức độ khác nhau nhằm chuyển giao ruộng đất cho những người nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Ở Nhật Bản, năm 1946-1949, Nhà nước đã mua 1,95 triệu ha đất của các chủ ruộng để bán cho các nông dân thiếu ruộng hoặc không có ruộng. Nhìn chung việc tiến hành cải cách ruộng đất đã có tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển các trang trại gia đình theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá. Quy mô ruộng đất bình quân của một trang trại ở Nhật bản năm 1990 là 1,2 ha tăng lên 1,5 lần trong vòng 40 năm. Số trang trại chuyên làm nông nghiệp trong giai đoạn 1960-1998 giảm trên 3 lần, từ 2 triệu xuống chỉ còn 620.000 cơ sở. Các trang trại có thu nhập từ nghề nông nghiệp giảm dần, làm nghề ngoài nông nghiệp tăng lên [7]. Ở Trung Quốc, từ năm 1982 đã nhanh chóng thực hiện chế độ khoán đến từng hộ. Năm 1984 Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân. Đồng thời Chính phủ đưa ra chính sách khuyến khích tích cực việc mở mang ngành nghề và dịch vụ, khuyến khích sản xuất hàng hoá và khuyến khích các thành phần kinh tế trong nông thôn cũng phát triển. Cải cách giá cả thu mua nông sản theo hình thức “cách kéo giá cả hợp lý”, để bảo trợ sản xuất và thu nhập của nông dân. Đẩy mạnh phát triển các xí nghiệp hương trấn với ngành nghề chính như gia công nông phẩm, phát triển công nghiệp, dịch vụ trên cơ sở “li nông bất li hương”, “lấy công bù nông” đã tạo điều kiện cho phát triển sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá nông nghiệp và thu hút được số lao động dư thừa trong nông nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 57.
    35 Ở Malaixia, kinh tế hộ nông dân đã đóng góp quan trọng vào phát triển nông nghiệp, kinh tế hộ sản xuất hàng hoá ngày càng chiếm ưu thế. Năm 1990 kinh tế trang trại gia đình đóng góp 9% kinh ngạch xuất khẩu và 11% GDP, thu hút tới 88% lực lượng lao động nông nghiệp, góp phần rõ rệt trong việc xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và liên kết các bang nghèo xa xôi vào sự thống nhất kinh tế đa sắc tộc của quốc gia [7]. Ở Hàn Quốc năm 1950, Nhà nước mua lại ruộng đất của chủ ruộng trên 3 ha để bán cho nông dân. Việc chú trọng phát triển kinh tế trang trại đã tự túc được vấn đề lương thực. Từ năm 1975, các trang trại ở Hàn Quốc đã chuyển hướng đa dạng hoá cơ cấu sản xuất, tăng cường các loại vật nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao. Sản lượng rau quả sản phẩm chăn nuôi tăng bình quân hằng năm 8-10% [7]. 1.4.2. Ở Việt Nam 1.4.2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế hộ nông dân Từ khi có Chỉ thị 100 CT (01/1981) của Ban Bí thư Trung ương, đặc biệt là từ sau Nghị quyết số 10 - NQ/TƯ của Bộ Chính trị (4/1988), hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ, tiến hành sản xuất hàng hoá, hạch toán kinh doanh và có đầy đủ tư cách pháp nhân và quyền bình đẳng như mọi chủ thể kinh tế khác thì mô hình kinh tế hộ mới được chú ý, kinh tế hộ từng bước được khởi sắc và phát triển. Với mục tiêu giải phóng sức lao động, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, chuyển nền nông nghiệp nước ta sang sản xuất hàng hoá. Nghị quyết 10 đã nêu lên những chủ trương giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế hộ, đó là: Giao khoán ruộng đất đến hộ và nhóm hộ xã viên ổn định lâu dài, hoá giá các tư liệu sản xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật của hợp tác xã mà tập thể quản lý không có hiệu quả để bán cho xã viên sử dụng. Thực hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 58.
    36 việc khoán đếnhộ và khuyến khích làm giàu chính đáng. Khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, kinh tế các thể và tư nhân trong nông nghiệp. Mở rộng thị trường nông sản, chấp nhận quyền tự chủ tiêu thụ nông sản của hộ nông dân. Sắp xếp đổi mới cơ chế quản lý hợp tác xã, các đơn vị kinh tế quốc doanh nông, lâm, ngư nghiệp... Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã đề ra một số chủ trương, chính sách lớn nhằm khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Nghị quyết số 06 - NQ/TƯ ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn đã chỉ rõ “... Tiếp tục khuyến khích kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ để tạo ra lượng sản phẩm hàng hoá đa dạng có chất lượng, giá trị ngày càng cao, tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho đô thị, công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày từ kinh tế hộ” [4,tr.12]. Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường. Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã khẳng định “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” [4,tr27]. Nghị quyết đã đề ra các biện pháp về kinh tế và tổ chức nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại ở nước ta trong những năm tới. Vì vậy, thực hiện đường lối đối với của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nông dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 59.
    37 1.4.2.2. Thành tựuphát triển kinh tế trang trại, hộ nông dân hướng hàng hoá ở Việt nam Thành tựu nổi bật của những năm đổi mới vừa qua là đã giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, biến Việt Nam từ một nước thiếu lương thực triền miên thành nước xuất khẩu gạo lớn liên tục từ năm 1988 theo hướng năm sau cao hơn năm trước trong nhiều năm liền. Những sản phẩm hàng hoá về cây công nghiệp, cây ăn quả có nhiều khởi sắc và phần lớn là các sản phẩm sản xuất ở vùng đồi núi. Tuy thời gian phát triển kinh tế trang trại chưa dài, nhưng những kết quả đạt được đã thể hiện là nhân tố mới trong nông nghiệp và nông thôn, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Bình quân 10 năm 1990 - 2000 so với bình quân năm năm trước đó, sản lượng lạc tăng 34%, mía tăng 74%, cà phê tăng 2,8 lần, cao su tăng 87%, hồ tiêu tăng 68%, chè tăng 27,3%, bông tăng 2,38 lần [5]. Các loại cây ăn quả đặc sản có chất lượng cao phát triển mạnh, nhất là nho, vải thiều, nhãn, mận hậu, cam…đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét ở nhiều vùng trong cả nước.Bình quân 5 năm trước đó đàn trâu tăng 5%, đàn bò tăng 10%, đàn lợn tăng 20%, đàn gia cầm tăng 25%, sản lượng trứng tăng 33%. Đặc biệt đàn bò sữa tăng gấp 3 lần so với năm 1990 [5]. Sản lượng lâm nghiệp tiếp tục phát triển, trong khó khăn nhiều mặt những vẫn đạt được kết quả và tiến độ nhất định trong cả hai lĩnh vực trồng rừng và khai thác gỗ, lâm sản. Diện tích trồng rừng năm 1999 đạt 200 nghìn ha, góp phần quan trọng giảm bớt diện tích đất trống đồi núi trọc và tăng tỷ lệ che phủ đất rừng từ năm 1990 là 28,4% lên 33,2% năm 2000 [5]. Sau hơn sáu năm thực hiện Nghị quyết số 03 của Chính phủ về kinh tế trang trại (ngày 02-02-2000), kinh tế trang trại ở nước ta có bước phát triển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 60.
    38 nhanh về sốlượng, đa dạng về hình thức tổ chức sản xuất.Theo tiêu chí phân loại trang trại thống nhất chung cả nước, tốc độ tăng số lượng trang trại bình quân từ năm 2000 đến năm 2004, khoảng 6%. Hiện nay cả nước có gần 150 nghìn trang trại với hơn 900 nghìn ha (bình quân mỗi trang trại khoảng 6 ha). Lấy năm 2004 so với năm 2000, thì vùng Đông Nam Bộ, số lượng trang trại tăng khoảng 30,6%; Đồng Bằng Sông Cửu Long tăng hơn 11,6%. Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long có số trang trại nhiều nhất, chiếm tỷ trọng hơn 50% tổng số trang trại của cả nước. Kinh tế trang trại thời gian qua phát triển với nhiều loại hình: Trang trại trồng cây lâu năm, trang trại chăn nuôi, trang trại nuôi trồng thuỷ sản, trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp. Theo điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2004, các trang trại đã sử dụng gần 500 nghìn ha đất và mặt nước. Trong đó diện tích cây trồng hàng năm chiếm khoảng 37,3%, diện tích trồng cây lâu năm chiếm 26%, đất lâm nghiệp 18,7%, diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 18%. Đột phá lớn nhất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là nuôi trồng thuỷ sản với hiệu quả cao hơn nhiều lần so với các loại cây trồng, vật nuôi khác. Đến nay cả nước đã có khoảng 30 nghìn trang trại nuôi trông thuỷ sản, thu hút và giải quyết việc làm ổn định hàng trăm nghìn lao động. Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là kinh tế mũi nhọn, chiếm khoảng 78% số trang trại nuôi trồng thuỷ sản của cả nước. Năm 2004 bình quân giá trị sản lượng/ha canh tác của trang trại từ 35 triệu đồng đến 50 triệu đồng, trong đó trang trại nuôi trồng thuỷ sản, hoặc cây trồng đặc sản đạt hơn 100 triệu đồng/ ha/ năm. Những kết quả trên đã mở ra khả năng và hướng đầu để phát triển kinh tế trang trại. Theo số lượng của 45 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong năm 2004, tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ của các trang trại đạt hơn 8500 tỷ đồng. Điều đáng nói là kinh tế trại đã mở ra hướng làm ăn mới, được hộ nông dân tích cực hưởng ứng, hình thành đội ngủ nông dân năng động, dám nghĩ, dám làm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 61.
    39 1.5. PHƢƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 1.5.1. Câu hỏi nghiên cứu Kinh tế hộ nông dân của nói chung và đặc biệt là vùng nông thôn của Huyện Đồng Hỷ có nhiều khó khăn, tụt hậu. Vấn đề phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá đang được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, các ngành và các nhà khoa học quan tâm. Những vấn đề đặt ra hay câu hỏi cần nghiên cứu của đề tài là: Khả năng phát triển hàng hoá của kinh tế hộ ở huyện Đồng Hỷ ra sao? Những giải pháp chủ yếu nào nhằm thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá? 1.5.2. Chọn điểm nghiên cứu Với đặc điểm riêng của các vùng sinh thái trong huyện Đồng Hỷ, để đảm bảo tính đại diện và đáp ứng yêu cầu đề tài đặt ra huyện Đồng Hỷ có thể chia thành 3 vùng rõ rệt.Về quy mô điều tra, ngoài việc nghiên cứu chung các hộ nông dân trong toàn huyện, để đi sâu vào chi tiết chúng tôi tiến hành điều tra mỗi vùng 1 xã, mỗi xã 30 hộ. Về cơ cấu điều tra như sau: Vùng bằng phẳng (Trung tâm): xã Hóa Thượng Vùng đồi dốc (Phía Nam): xã Khe Mo Vùng cao (Phía bắc): xã Hoà Bình 1.5.3. Phƣơng pháp thu thập số liệu Để đảm bảo tính chính xác của tài liệu, chúng tôi dùng các phương pháp sau để thu thập số liệu: Thu thập các tài liệu sẵn có trong sách báo, số liệu của các phòng, ban chuyên ngành như phòng thống kê, phòng thuỷ lợi, phòng nông nghiệp, phòng tổng hợp... Các số liệu cơ bản: đất đai, lao động, một số chỉ tiêu kinh tế xã hội địa phương. Tiến hành điều tra số liệu bằng các phương pháp chọn mẫu thông qua điều tra trực tiếp các hộ đã chọn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 62.
    40 Trong quá trình điều tra chúng tôi thực hiện phỏng vấn hộ nông dân Việc thu thập số liệu được tiến hành qua các bước sau Bước 1: Chọn mẫu điều tra Phương pháp chọn mẫu điều tra là căn cứ vào danh sách các hộ trên địa bàn, tiến hành phân loại hộ theo tiêu chí hộ giàu, hộ trung bình, hộ nghèo. Chọn mỗi xã 30 hộ nông dân, bằng phương pháp ngẫu nhiên dựa trên tỷ lệ các nhóm hộ của từng xã đã được người dân tham gia bình chọn. Tính bước nhảy (Tính theo danh sách từng nhóm hộ của vùng điều tra) Tổng số hộ trong diện điều tra Bước nhảy (Kh) = Số hộ được điều tra Lấy ngẫu nhiên bất kỳ Nh trong khoảng 1. Kh, từ đó tính các giá trị: Nh, Nh+kh, Nh+2kh… Các hộ được chọn là hộ có thứ tự trùng với giá trị trên. Bước 2: Xây dựng phiếu điều tra và thực hiện phỏng vấn điều tra về tình hình cơ bản của hộ như: tên, tuổi, trình độ văn hoá, chuyên môn, tình trạng kinh tế, tình hình đất đai, lao động, tiền vốn... Bước 3: Tổng hợp số liệu trên cơ sở phân tổ thống kê Để phản ánh và đánh giá thực trạng kinh tế hộ nông dân cần phải phân tổ thồng kê để so sánh và đánh giá. Các tiêu thức phân tổ như sau: Theo xuất xứ của chủ hộ (hộ bản địa, hộ di dời, khai hoang); theo tộc người (Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu...); Theo xã điều tra (xã Hoá Thượng, Khe Mo, Hoà Bình); theo quy mô các nguồn lực sản xuất của hộ nông dân (như đất đai, lao động, vốn...); theo quy mô sản xuất hàng hoá của hộ (hộ hàng hoá lớn, hộ hàng hoá trung bình, hộ hàng hoá nhỏ). Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế của hộ sản xuất hàng hoá của huyện Đồng Hỷ, chúng tôi xây dựng tiêu chí về quy mô hộ sản xuất hàng hoá như sau: Hộ hàng hoá lớn có giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm từ 15 triệu đồng trở lên. Hộ hàng hoá trung bình có giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ bình quân bán ra khỏi hộ từ 10 triệu đồng đến dưới 15 triệu đồng. Hộ hàng hoá nhỏ có giá trị sản phẩm bán Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 63.
    41 ra khỏi hộdưới 10 triệu đồng; theo hướng sản xuất kinh doanh chính (gồm cây hàng năm, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, chăn nuôi và lâm nghiệp). Hướng sản xuất kinh doanh chính là ngành có giá trị sản phẩm và sản phẩm hàng hoá chiếm tỷ trọng cao (thường trên 50%) của hộ. 1.5.4. Phƣơng pháp phân tích số liệu - Phương pháp thống kê kinh tế: Phương pháp phân tổ thống kê bao gồm chủ yếu là thống kê mô tả và thống kê so sánh. Phương pháp thống kê mô tả được thực hiện thông qua việc sử dụng số bình quân, tần suất, số tối đa và tối thiểu. Phương pháp thống kê so sánh bao gồm cả số tương đối và số tuyệt đối để đánh giá sự vật và hiện tượng theo không gian và thời gian. Trên cơ sở các chỉ tiêu đã được tính toán cho từng dạng hộ nông dân theo các dạng nhóm phân tổ, có thể so sánh các vùng khác nhau, giữa các năm với nhau và giữa các dân tộc khác nhau, nhằm rút ra những ưu điểm, những hạn chế của các đối tượng, làm cơ sở cho việc đề ra những giải pháp triển phù hợp với các mô hình sản xuất của hộ trên vùng sinh thái. Phương pháp so sánh chỉ áp dụng đối với các chỉ tiêu và các đối tượng so sánh có ý nghĩa nhằm phát hiện những nét đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân. Đồng thời phương pháp này được sử dụng chủ yếu là so sánh kinh tế hộ nông dân theo hướng phát triển kinh tế hàng hoá ở những mô hình kinh tế trong các vùng ở các đồng bào dân tộc khác nhau. - Phương pháp toán kinh tế, tiếp cận hàm sản xuất Cobb - Douglas Phương pháp này nhằm phân tích tác động cụ thể của các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ sản xuất hàng hoá. Thu nhập của hộ sản xuất hàng hoá là chỉ tiêu quan trọng phản ánh kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ. Nhưng, thu nhập của hộ sản xuất nông lâm nghiệp lại trực tiếp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vốn, lao động, diện tích đất. Xây dựng hàm sản xuất Cobb - Douglas Y = a0. X1a1. X2a2.X3a3X4 a4 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 64.
    42 Lôgarit 2 vế đưa hàm sản xuất về dạng tuyến tính ta có: LnY = lna0+ a1LnX1 + a2LnX2 + a3LnX3 + a4LnX4 Trong đó: Y là thu nhập của nông hộ sản xuất (1.000đ). a0: Hệ số tự do (hằng số); X1 : Vốn của hộ (1.000đ); X2 : Lao động gia đình của hộ (người); X3 : Diện tích đất nông nghiệp của hộ (ha); X4: Trình độ văn hoá của chủ hộ (Cấp 1,2,3); a1, a2, a3, a4 Là hệ số tương quan ứng với biến thứ X1, X2, X3,X4 Hàm này được xây dựng và phân tích cho tất cả các hộ điều tra. Hệ số a1, a2, a3,a4 cho biết khi tăng 1% các yếu tố đầu vào (Vốn, lao động, đất, trình độ văn hoá) sẽ làm cho thu nhập của hộ tăng (Nếu a1, a2, a3 a4>0) hoặc giảm (Nếu a1, a2, a3,a4<0) tương ứng bằng a1, a2, a3,a 4 %. 1.5.5. Các chỉ tiêu phản ánh trình độ và hiệu quả sản xuất hàng hoá của kinh tế hộ nông dân Nhóm chỉ tiêu phản ánh về chủ hộ nông dân: Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm sản xuất, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, khả năng tiếp cận thị trường, độ tuổi bình quân, giới tính. Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ nông dân: đất đai bình quân 1 hộ, 1 lao động, 1 nhân khẩu; vốn sản xuất bình quân 1 hộ và cơ cấu vốn theo tính chất vốn; lao động bình quân 1 hộ, lao động bình quân/ người tiêu dùng bình quân. Nhóm chỉ tiêu phản ánh phương hướng và kết quả sản xuất hàng hoá của hộ nông dân: giá trị sản xuất trong năm, cơ cấu giá trị sản xuất. Giá trị sản xuất hàng hoá của hộ, tỷ trọng giá trị sản xuất hàng hoá, cơ cấu sản phẩm hàng hoá. Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập và thu chi của hộ nông dân: tổng thu của hộ, tổng chi phí bình quân 1 hộ nông dân, thu nhập của hộ nông dân, mức thu nhập bình quân / khẩu, cân đối thu chi trong năm của hộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 65.
    43 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN 2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2.1.1. Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý Huyện Đồng Hỷ là một huyện trung du - miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 3 km theo quốc lộ 1B. Phía Đông giáp với tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp với huyện Phú Lương, phía Nam giáp với huyện Phú Bình và Thành phố Thái Nguyên, phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Cạn (Phụ lục số 03). Có toạ độ địa lý: 21032' - 21051' độ vĩ Bắc. 105046' - 1060 04 độ kinh Đông. Với đặc trưng của vùng đất trung du miền núi, Đồng Hỷ có thế mạnh về nông nghiệp, địa bàn lại nằm tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên có đường quốc lộ 1B đi qua, nên đây là điều kiện thuận lợi để huyện tiêu thụ các mặt hàng nông, lâm sản của mình. Trên địa bàn huyện có sông Cầu chảy qua hàng năm được bồi đắp một lượng phù sa lớn từ con sông Cầu. Trên địa bàn huyện có nhiều khu vực đất bằng phẳng, các khu ruộng nối liền với nhau thành một cánh đồng lớn, có hệ thống tưới tiêu tốt rất thuận tiện cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi. Đồng Hỷ nằm gần thành phố Thái Nguyên, gần khu công nghiệp, gần các trung tâm văn hoá, khoa học, giáo dục của các tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ nên chịu sự tác động lớn về giao lưu trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, đây là điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ, phổ biến và quảng bá sản phẩm hàng hoá sản xuất ra của trang trại và hộ nông dân trong huyện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 66.
    44 2.1.1.2. Địa hình Là một huyện điển hình cho vùng trung du và miền núi phía Bắc, nên địa hình phức tạp không thống nhất. Với độ cao trung bình khoảng 100 mét so với mặt nước biển, địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, cao nhất là xã Văn Lăng 600 mét, thấp nhất là xã Đồng Bẩm, Huống Thượng độ cao chỉ 20 mét. Vùng Bắc giáp với Huyện Võ Nhai có địa hình núi cao, diện tích đất nông nghiệp ít, chiếm 9% tổng diện tích đất tự nhiên. Vùng trung du nằm ở phía Tây Nam của Huyện tiếp giáp với thành phố Thái nguyên, địa hình tương đối bằng phẳng, diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 20% diện tích đất tự nhiên, thích hợp với sản xuất đất nông nghiệp, chăn nuôi (thuỷ sản, gia cầm). Vùng núi phía đông nam tiếp giáp với huyện Yên Thế - Bắc Giang có nhiều đồi núi thấp với diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 14% diện tích đất tự nhiên của vùng. Địa hình huyện Đồng Hỷ có nhiều đồi núi xen lẫn nhau với những đồi thấp nên mưa lớn xói mòn, rửa trôi mạnh. Sản phẩm của sự xói mòn đó là sự bồi tụ đất tạo thành nhiều cánh đồng dốc tụ lại phân bố ở khắp mọi nơi, chính vì thế đất dốc tụ thành thung lũng là loại đất trồng lúa, hoa màu chủ yếu của huyện. Đất canh tác nông nghiệp chủ yếu là ruộng bậc thang. Huyện Đồng Hỷ có thể chia thành 3 vùng rõ rệt: - Vùng bằng phẳng (trung tâm) gồm các xã: Hoá Thượng, Cao Ngạn, Chùa Hang, Đồng Bẩm, Linh Sơn, Huống Thượng, Nam Hoà. Vùng này có địa hình thấp, nằm giáp với thành phố Thái Nguyên. Vùng này phát triển sản xuất nông nghiệp như: Trồng lúa, rau, màu, chăn nuôi tiểu gia súc và dịch vụ. Là trung tâm y tế, giáo dục, thương mại của huyện, người dân có cuộc sống khá ổn định, sản xuất hàng hoá đã phát triển, trình độ dân trí khá hơn so với các vùng khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 67.
    45 - Vùng đồi dốc (phía Nam) gồm các xã: Khe Mo, Văn Hán, Cây Thị, Trại Cau, Tân Lợi, Hợp Tiến. Vùng này chủ yếu là đất đồi dốc với độ cao, đất đai bị rửa trôi, xói mòn, có đất ruộng nhưng ít. Ở đây chủ yếu trồng cây lâm nghiệp, cây chè, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, trồng lúa nước. - Vùng cao (phía Bắc) gồm các xã: Văn Lăng, Hoà Bình, Tân Long, Quang Sơn, Hoá Trung, Minh Lập, Sông Cầu. Vùng này đất đồi dốc và núi đá là chủ yếu, đất lúa rất ít, vùng này thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, trồng lúa nương. 2.1.1.3. Đất đai và thổ nhưỡng của Huyện *Đất đai Diện tích đất tự nhiên là 47.037,94 ha, Đồng Hỷ là huyện có diện tích tự nhiên lớn thứ 3 của tỉnh (sau huyện Võ Nhai và Đại Từ), bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người là 0,49 ha/ người, cao hơn bình quân của tỉnh 0,14 ha/ người. Cơ cấu diện tích các loại đất trong huyện được thể hiện ở bảng sau: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Đồng Hỷ là 47.037,94 ha, đất lâm nghiệp của huyện chiếm 45,5% tổng diện tích đất tự nhiên, sau đó đến đất nông nghiệp là 12.488,92 ha chiếm 26,55% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện và đất chưa sử dụng còn rất lớn chiếm 21,64% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Đồng Hỷ (bảng 2.1). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 68.
    46 Bảng 2.1: Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện Đồng Hỷ năm 2007 Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 47.037,94 100,00 I. Đất nông nghiệp 12.488,92 26,55 1. Đất trồng cây hàng năm 6.969,83 55,81 2. Đất vườn tạp 1.357,06 10,87 3. Đất trồng cây lâu năm 3.989,74 31,95 4. Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 172,29 1,38 II. Đất lâm nghiệp có rừng 21.402,61 45,5 1. Rừng tự nhiên 12.071,84 56,40 2. Rừng trồng 9.329,44 43,59 3. Đất ươm cây giống 1,33 0,006 III. Đất chuyên dùng 2.101,29 4,47 IV. Đất ở 864,79 1,87 1. Đất ở đô thị 105,00 12,14 2. Đất ở nông thôn 759,79 87,86 V. Đất chƣa sử dụng 10.180,33 21,64 1. Đất bằng chưa sử dụng 384,93 3,78 2. Đất đồi núi chưa sử dụng 7.670,39 75,35 3. Đất có mặt nước chưa sử dụng 33,60 0,33 4. Sông, suối 1.112,26 10,93 5. Núi đá không có rừng cây 463,70 4,55 6. Đất chưa sử dụng khác 515,45 5,06 7. Hệ số sử dụng ruộng đất 1,99 Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 69.
    47 * Thổ nhưỡng Với địa hình phức tạp, đất đai đa dạng tạo điều kiện cho huyện Đồng Hỷ phát triển các loại cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, cây lâm nghiệp. Những cánh đồng ở thung lũng phát triển cây lương thực đảm bảo an toàn lương thực tại chỗ cho toàn huyện, đồng thời phát triển phong phú các cây rau mầu, cây công nghiệp ngắn ngày tạo điều kiện cho phát triển sản xuất hàng hoá. Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 47.037,94 ha, phân theo thổ nhưỡng bao gồm các loại đất như sau: đất phù sa bồi tụ có 644 ha phân bố chủ yếu ven sông Cầu thuộc các xã Đồng Bẩm, Huống Thượng. Đất phù sa không được bồi là 1.258 ha, chủ yếu ở xã Đồng Bẩm, Huống Thượng, Linh Sơn, Nam Hoà, Hoà Bình, Minh Lập, Hoá Thượng, Cao Ngạn. Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ và vàng là 410,5 ha phân bố nhiều ở Huống Thượng. Đất phù sa ngòi suối có 100,6 ha thuộc các xã Khe Mo, Hóa Trung, Hoá Thượng và Minh Lập. 2.1.1.4. Điều kiện khí hậu, thời tiết Huyện Đồng Hỷ nằm trong vùng có khí hậu mang tính đặc trưng của các tỉnh miền núi và trung du phía Bắc, do đó từng vùng khác nhau có đặc điểm khí hậu khác nhau: - Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 270C - Về độ ẩm không khí trung bình, thay đổi từ 78 - 86% Khí hậu huyện Đồng Hỷ nói trung là nóng và ẩm thuận lợi cho việc phát triển ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, với điều kiện nhiệt độ cao có thể làm nhiều vụ trong một năm mà vòng sinh trưởng của cây trồng vẫn có thể đảm bảo, điều kiện mưa ẩm tạo điều kiện cho nhiều loại cây rau phát triển. Nếu làm thuỷ lợi tốt biết cách giữ điều hoà nước có thể đảm bảo cung cấp nước cho cây trồng trong cả năm. Khí hậu huyện Đồng Hỷ chia thành hai mùa rõ rệt là mùa hè và mùa đông khô lạnh. Mùa hè từ khoảng tháng 5 đến tháng 10, mùa hè nhiệt độ trung bình là 27 - 290C có lúc lên tới 30 - 310C, mùa này thường có mưa, mưa nhiều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 70.
    48 nhất là tháng7, tháng 8, trung bình lượng mưa trong tháng này là 300 - 500 mm và chiếm tổng số 40 - 46% lượng mưa cả năm. Mùa này nói trung thời tiết khí hậu thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Song vào mùa mưa, thỉnh thoảng có gió bão gây mưa to, gió lớn, úng lụt làm ảnh hưởng đến sản xuất nông lâm nghiệp. Đồng thời do địa hình miền núi nên những trận mưa to ở đầu nguồn dẫn đến xói mòn đất, gây bạc màu cho đất. Mùa đông khô hanh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình là 150 - 220C, có lúc xuống thấp dưới 150C. Mùa này mưa ít thường hay bị hạn vào tháng 12, tháng 1 có những đợt gió mùa Đông Bắc kèm theo thời tiết lạnh, đôi khi có sương muối kéo dài, rét đậm gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Nhìn chung điều kiện thời tiết khí hậu có những thuận lợi cho sinh trưởng phát triển cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên khi xẩy ra hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh…cũng gây khó khăn cho sản xuất lâm nghiệp. 2.1.1.5. Thuỷ văn Sông suối của huyện đều bắt nguồn từ khu vực núi cao phía Bắc và Đông Bắc, mật độ sông suối bình quân 0,2km/km2. Huyện Đồng Hỷ có các sông suối lớn là: - Sông Cầu là con sông lớn nhất chảy theo hướng Bắc Nam, chảy qua phía Tây của huyện dài khoảng 47 km là nguồn nước chính cung cấp cho Đồng Hỷ. Chế độ dòng chảy thất thường nhiều năm gây úng lụt, về mùa cạn nước sông xuống thấp gây hạn hán. - Sông Linh Nham: Bắt nguồn từ huyện Võ Nhai và chảy qua xã Văn Hán, Khe Mo, Hoá Thượng, Linh Sơn ra Sông Cầu, chiều dài chảy qua huyện Đồng Hỷ là 28 km. Do rừng đầu nguồn bị chặt quá nhiều lên lưu lượng nước giữa mùa mưa và mùa khô chênh lệch rất lớn, mùa mưa thường gây lũ lớn, mùa khô mực nước sông xuống rất thấp. - Sông Ngòi Trẹo bắt nguồn từ xã Văn Hán chảy qua Nam Hoà dài 19 km; suối Ngàn Khe bắt nguồn từ Cây Thị chảy qua thị trấn Trại Cau và Nam Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 71.
    49 Hoà dài 21km. Ngoài ra còn hàng chục con suối lớn nhỏ khác cộng với hàng chục hồ nước lớn, nhỏ phục vụ sản xuất và sinh hoạt. 2.1.1.6. Tài nguyên rừng và khoáng sản Huyện Đồng Hỷ có 21.402,61 ha rừng, trong đó diện tích rừng trồng là 9.329,44 ha. Huyện Đồng Hỷ có nhiều loại khoáng sản như: Quặng sắt, kẽm, chì, vàng sa khoáng, đá vôi.. điều này tao điều kiện thuận lợi cho huyện trong việc phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp vật liệu xây dựng. 2.1.2. Điều kiện về kinh tế xã hội 2.1.2.1. Tình hình nhân khẩu và lao động Dân số toàn huyện Đồng Hỷ năm 2007 là 127.279 người, tốc độ tăng trưởng dân số năm 2005 - 2007 là 2,17%. Mật độ dân số phân bố không đều, nơi có mật độ dân số cao nhất là thị trấn Chùa Hang 3.124 người/km2 trong khi đó nơi có mật độ dân số thấp là xã Văn Lăng 71 người/km2. Điều này ảnh hưởng tới quy hoạch đầu tư và phát triển kinh tế xã hội của vùng. Nơi có mật độ dân số đông, thì vấn đề giải quyết việc làm rất cấp bách nếu không giải quyết được sẽ kéo theo tệ nạn xã hội sẽ tăng. Còn nơi có mật độ dân số thấp thì không có đủ nguồn lực để khai thác tiềm năng tự nhiên. Đây chính là vấn đề cần giải quyết của Huyện trong những năm tới. Huyện Đồng hỷ có nhiều dân tộc anh em sinh sống, dân tộc Kinh chiếm chủ yếu 93,26%, dân tộc Nùng 2,44%, Sán Dìu 2,28%, Dao 0,84%, Tày 0,47%, Sán Chay 0,1%, H Mông 0,23%, Hoa 0,05% các dân tộc khác 0,44%. Trình độ dân trí ở các vùng khác nhau, vùng sâu vùng xa trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng được đầu tư ít, kém phát triển, đời sống vấn còn nghèo. Qua bảng 2.2 ta thấy Dân số của huyện có sự biến động tăng qua các năm cụ thể là năm 2005 là 124.566 người, năm 2006 là 125.811 người tăng 1% so với năm 2005, đến năm 2007 là 127.279 người tăng 1,17% so với năm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 72.
    50 2006. Bình quânqua 3 năm (2005-2007) dân số tăng 1,09%. Đây là tỷ lệ tăng dân số chưa phải là cao, nhưng để ổn định và phát triển kinh tế xã hội huyện cần phải làm tốt công tác tuyên truyền kế hoạch hoá gia đình cho từng vùng, thôn, xóm... Đồng Hỷ là huyện phần lớn là sản xuất nông nghiệp tính đến năm 2007 dân số nông nghiệp là 89.238 người chiếm 70,11% tổng dân số toàn huyện có mức tăng bình quân qua 3 năm là 0,57%, nhân khẩu phi nông nghiệp chiếm 29,89% trong tổng dân số toàn huyện mức tăng bình quan qua 3 năm là 2,32% khá cao. Đây chính là dấu hiệu tốt cho việc phát triển các ngành nghề dịch vụ, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Bên cạnh sự gia tăng dân số thì số lao động trong huyện cũng tăng lên năm 2005 là 67.119 lao động, năm 2006 là 67.879 lao động tăng 1,13% so với năm 2005, năm 2007 là 68.563 lao động tăng 1% so với năm 2006. Bình quân qua 3 năm tăng 1,06%.Trong đó lao động nông nghiệp chiếm phần lớn, nhưng tỷ trọng của nó trong cơ cấu lao động lại có xu hướng giảm. Năm 2005 chiếm 71,16% trong tổng số lao động đến năm 2007 chiếm 71,09% trong tổng số lao động. Số lao động phi nông nghiệp mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong tổng số lao động, ngược lại nó lại có xu hướng tăng lên về cơ cấu nhưng không đáng kể năm 2005 là 28,84% trong tổng lao động, đến năm 2007 chiếm 28,91% trong tổng lao động. Khi dân số tăng kéo theo số hộ cũng sẽ tăng, bình quân qua 3 năm 1,06%. Trong đó cả hộ nông nghiệp tăng 1,33%, số hộ phi nông nghiệp tăng cao hơn 8,18%. Như vậy qua tình hình dân số và lao động của huyện Đồng Hỷ ta thấy lực lượng lao động tập trung vào sản xuất nông nghiệp và sản xuất công nghiệp. Một bộ phận nhỏ làm ngành nghề khác. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 73.
    51 51 Bảng 2.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện Đồng Hỷ qua 3 năm (2005-2007) Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Tốc độ phát triển (%) Chỉ tiêu ĐVT SL CC (%) SL CC (%) SL CC (%) 06/05 07/06 BQ I. Tổng nhân khẩu Ngƣời 124.566 100 125.811 100 127.279 100 101,00 101,17 101,09 1.Nhân khẩu nông nghiệp Người 88.232 70,83 88.368 70,24 89.238 70,11 100,15 100,99 100,57 2. Nhân khẩu phi nông nghiệp Người 36.334 29,17 37.443 29,76 38.041 29,89 103,05 101,59 102,32 II. Tổng số hộ Hộ 27.611 100 28.177 100 29.866 100 102,05 105,99 104,02 1. Hộ nông nghiệp Hộ 19.075 69,02 19.126 67,88 19.858 66,49 100,27 102,39 101,33 2. Hộ phi nông nghiệp Hộ 8.554 30,98 9.051 32,12 10.008 33,51 105,8 110,57 108,18 III. Tổng số lao động LĐ 67.119 100 67.879 100 68.563 100 101,13 101,00 101,06 1. Lao động nông nghiệp LĐ 47.763 71,16 48.259 71,15 48.738 71,09 101,11 100,99 101,05 2. Lao động phi nông nghiệp LĐ 19.356 28,84 19.584 28,85 19.825 28,91 101,18 101,23 101,21 IV. Bình quân LĐNN/hộ NN LĐ/hộ 2,51 - 2,53 - 2,45 - 100,75 96,83 98,79 V. Bình quân NKNN/hộ NN Ng/hộ 4,63 - 4,62 - 4,56 - 99,79 98,70 99,25 ( Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ năm 2007) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 74.
    52 2.1.2.2. Cơ sởvật chất kỹ thuật của huyện - Hệ thống đường giao thông: Mạng lưới giao thông huyện Đồng Hỷ đã đảm bảo nhu cầu cơ bản cho việc đi lại, phát triển kinh tế - xã hội. Từ Thành phố đi qua trung tâm huyện là tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ dài 47,5 km. Hệ thống đường sông khoảng 45 km từ xã Văn Lăng đến xã Huống Thượng. Hiện nay giao thông Đồng Hỷ có tổng số 667 km. Đến nay toàn bộ 20 xã thị trấn của huyện đã có đã có đường giao thông nông thôn và trung tâm xã, ôtô đi lại thuận tiện, giao lưu kinh tế - văn hoá - xã hội, phục vụ an ninh quốc phòng của nhân dân và các dân tộc toàn huyện Đồng Hỷ. Tuy nhiên hệ thống giao thông ở khu vực vùng sâu, vùng xa còn khó khăn, chưa có đường nhựa, có những đường rải sỏi, đá ong, đường gồ ghề, lầy lội khi trời mưa cũng ảnh hưởng đến việc giao lưu kinh tế - xã hội. Do vậy cần phải có những biện pháp, giải pháp để nâng cao chất lượng hệ thống giao thông của huyện để đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế xã hội. - Thuỷ lợi của huyện: Những năm qua bằng nguồn vốn của tỉnh hỗ trợ và ngân sách địa phương, huyện đã xây dựng được nhiều công trình thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ. Toàn huyện có 49 hồ chứa nước; 52 đập dâng 68 trạm bơm và 147,915 km kênh mương nội đồng được xây dựng kiên cố hoá, phân bố đều trên địa bàn huyện. Trạm thuỷ nông: Công tác quản lý khai thác bảo vệ các công trình thuỷ lợi được đảm bảo trong mùa mưa lũ, phục vụ tưới tiêu kịp thời theo yêu cầu sản xuất. Trong vụ xuân diện tích tưới nước bằng các công trình thuỷ lợi khoảng trên 2.200 ha; vụ đông khoảng trên 1.100 ha rau màu các loại. Tuy nhiên, ở một số xã vùng cao do địa bàn, địa hình chủ yếu là đồi núi nên hệ thống thuỷ lợi còn gặp nhiều khó khăn, hầu hết là tưới nhờ nước trời, vì vậy hạn chế cho việc luân canh cây trồng nhất là đối với cây trồng vụ đông xuân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 75.
    53 - Trường học trạm xá: Toàn huyện có 47 trường phổ thông, trong đó có 2 trường phổ thông trung trường trung học; 20 trường trung học cơ sở và trường toàn huyện có 22 trường mầm non. Đến nay đã có 100% số phòng học được ngói hoá, đã xoá bỏ được chế độ học ba ca, các xã và thị trấn đã có phòng học cao tầng. Toàn huyện có 1 bệnh viện một trung tâm y tế, 2 phòng khám khu vực, 20 trạm xá, đủ điều kiện chăm sóc sức khoẻ và khám chữa bệnh cho người dân của huyện. - Các công trình xây dựng khác: Như vấn đề nước sạch nông thôn, điện... đã được chính quyền huyện quan tâm. Tại các xã vùng cao đã ổn định được vấn đề du canh du cư, giải quyết nước sạch ở các vùng xa đô thị, đưa điện lưới quốc gia tới 20/20 xã thị trấn của huyện. Đồng hỷ có 6 tuyến lưới 35 KV và 4 tuyến 6KV, số trạm biến áp toàn huyện là 49 trạm. Các xã và thị trấn của huyện đã có điểm bưu điện văn hoá xã, số máy điện toại của toàn huyện là hơn 6000 máy. 100% các xã huyện đã có báo đọc trong ngày. 2.1.2.3. Tình hình kinh tế của huyện Năm 2007 sản xuất nông - lâm nghiệp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hô trợ giá giống và đưa giống mới vào sản xuất, tích cực phòng trừ sâu, dịch bệnh hại cây trồng, vật nuôi. Vì vậy về diện tích, năng suất, sản lượng đều hoàn thành các chỉ tiêu. Tổng sản lượng lương thực cả năm 2007 đạt 40.160 tấn/39.000 tấn KH = 102,9%. Đã thực hiện chăm bón, thâm canh 1.100 ha chè, cải tạo 50 ha, trồng mới 120,55 ha, sản lượng chè đạt 18.500 tấn [3]. Sản lượng cây ăn quả các loại đạt 5000 tấn. Trong chăn nuôi một số con giống như: gà, bò, lợn, ong đã có hiệu quả trong tăng năng suất, có lợi cho nhà nông. Hiện nay toàn huyện có đàn trâu: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 76.
    54 15.789 con. Đànbò 5.375 con; Đàn lợn 53.869 con. Tổng đàn gia cầm là 530.950 con. Về rừng đã trồng mới được được 1.325 ha, ươm được 125 vạn hom cây giống tai vườn ươm chuẩn bị cho việc trồng rừng năm 2008 [3]. Công tác khuyến nông: Thực hiện chuyển giao kỹ thuật theo nhu cầu của nông dân tại các xã và thị trấn được 185 lớp cho gần 7.000 hộ nông dân. Tổ chức hội thảo tổng kết mô hình 15 cuộc cho gần 1000 người tham dự. Các mô hình đều thu được kết quả tốt. Đó là các mô hình: Nuôi giun quế tại Cao Ngạn, Nuôi ong nội tại xã Hoà Bình. Chăn nuôi gà an toàn sinh học tại Khe Mo. Gieo cấy giống lúa mới tại Minh Lập, Linh Sơn, Hoá Trung… Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Thương mại dịch vụ: Giá trị sản lượng năm 2007 ước tính đạt 410 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch năm 2007. Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương ước đạt 248 tỷ đồng. Hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục tăng trưởng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt 183 tỷ đồng, trong đó của các hộ cá thể đạt 158 tỷ đồng, các doanh nghiệp 25 tỷ đồng Công tác giao thông: Di tu bảo dưỡng trên 300 km đường giao thông, nâng cấp 59 km, đổ bê tông 17,5 km Mặc dù nền kinh tế của huyện Đồng hỷ có những bước tăng trưởng và phát triển. Tuy nhiên huyện Đồng Hỷ vẫn là một huyện thuần nông, sản xuất mang tính tự cung tự cấp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 77.
    55 Bảng 2.3. Kết quả sản xuất các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ giai đoạn (2005-2007) Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 So sánh (%) Tốc độ Gi á trị Cơ cấu Gi á trị Cơ cấu Gi á trị Cơ cấu Chỉ tiêu 06/05 07/06 BQ 05-07 (tr.đ) (% ) (tr.đ) (% ) (tr.đ) (% ) Tổng giá trị gia tăng 621.047 100 772.533 100 1.133.682 100 124,4 146,7 135,6 Ngành NLTS 159.998 25,76 211.332 27,36 273.415 24,12 132,1 129,4 130,8 Ngành CN- XDựng 215.617 34,72 259.557 33,60 403.812 35,62 120,4 155,6 138 Ngành DVTM 245.432 39,52 301.644 39,05 456.456 40,26 122,9 151,3 137,1 Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ Tình hình phát triển kinh tế của huyện giai đoạn 2005-2007 được thể hiện ở bảng trên. Giá trị gia tăng của các ngành sản xuất được thể hiện tại biểu đồ sau: 500000 450000 400000 350000 300000 Ngµnh NLTS 250000 Ngµnh CN-X D 200000 Ngµnh TMDV 150000 100000 50000 0 2005 2006 2007 Biểu đồ 2.1: Giá trị gia tăng của các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 78.
    56 Qua biểu đồ trên cho thấy trong giai đoạn 2005-2007, cơ cấu kinh tế của huyện có sự chuyển dịch, tỷ trọng về ngành công nghiệp xây dựng và ngành dịch vụ tăng dần. Giá trị gia tăng của ngành thương mại dịch vụ chiếm cao nhất 40,26%. Nhưng xét về tốc độ gia tăng thì ngành công nghiệp xây dựng, xây dựng tăng cao nhất là 38% thấp nhất là ngành nông lâm thủy sản 30,8%. Sản xuất nông lâm thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện, vì vậy vai trò mô hình kinh tế trang trại và hộ gia đình càng tương đối quan trọng trong sự phát triển kinh tế của huyện. Trong những năm gần đây do hệ thống giao thông của huyện được nâng cấp và đầu tư, vị trí thuận lợi sẵn có về đường giao thông nên hoạt động thương mại dịch vụ có bước chuyển biến tích cực. 2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hƣởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá ở Đồng Hỷ 2.1.3.1. Những thuận lợi Huyện Đồng Hỷ là một huyện thuộc trung du miền núi, nên được rất nhiều chương trình dự án của Nhà nước cũng như tổ chức phi chính phủ đầu tư. Điều này đã tạo điều kiện cho các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các tiến độ khoa học vào sản xuất, nâng cao năng lực, thay đổi hệ thống cây trồng và có giá trị sản lượng cao trên một đơn vị diện tích. - Là huyện có vị trí địa lý liền kề với thành phố Thái Nguyên, gần các trung tâm kinh tế, văn hoá của tỉnh và gần các trường đại học, trung học kỹ thuật, trung tâm nghiên cứu khoa học của vùng, có điều kiện tiếp cận với khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới để phát triển. Rất thuận lợi cho các hộ nông dân trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất hàng hoá của mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 79.
    57 - Đội ngũ cán bộ của huyện nhiệt tình, năng động, lực lượng lao động đông đảo, cần cù, chịu khó lao động. Họ làm việc không quản nắng mưa để làm giàu luôn luôn nghĩ cách gia tăng thu nhập cho gia đình và đóng góp cho sự phát triển kinh tế chung của huyện. - Đất đai của huyện tương đối đa dạng, thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm nghiệp. Mặt khác, diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn có thể mở rộng để phát triển trồng trọt. - Hệ thống sông ngòi, kênh rạch, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống giao thông thuận tiện cho phát triển sản xuất hàng hoá. Đặc biệt nó là nhân tố quyết định cây trồng lâu năm, cây ngắn ngày và cây lâm nghiệp. - Về giáo dục, đào tạo, y tế, thông tin liên lạc và các mặt kinh tế - xã hội khác đã và đang phát triển, đời sống người dân từng bước được cải thiện. 2.1.3.2. Những khó khăn Điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp kém, phần lớn các hộ nông dân còn sản xuất tự cung tự cấp. Các hộ sản xuất hàng hoá chủ yếu phát triển ở các xã vùng sâu do đó hệ thống cơ sở hạ tầng rất kém. Thu nhập của người dân còn thấp. Là huyện có nhiều dân tộc sinh sống, phần lớn dân cư có trình độ dân trí thấp, lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao, số người được đào tạo nghề còn ít, ngoài ra còn có nhiều phong tục tập quán lạc hậu, đã phần nào hạn chế khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ của người lao động. Hệ thống cơ sở hạ tầng mặc dù đã được quan tâm và chú trọng xong ở các khu vực vùng sâu, vùng cao thì hệ thống này còn thiếu về số lượng, chưa đảm bảo về chất lượng. Hệ thống dịch vụ triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật như trạm giống cây trồng vật nuôi các cơ sở kỹ thuật khác chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 80.
    58 2.2. THỰC TRẠNGPHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN SẢN XUẤT HÀNG HOÁ Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN 2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân trong vùng Với đặc điểm là một huyện sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Trong quá trình sản xuất phát triển kinh tế, nhất là vào thời kỳ mở cửa nền kinh tế thị trường hiện nay thì các hộ nông dân để tồn tại và phát triển đều phải hướng vào vấn đề thị trường, tức là thực hiện sản xuất hàng hoá. Đối với huyện Đồng Hỷ, mặc dù vấn đề kinh tế thị trường còn là vấn đề mới mẻ, song sản xuất hàng hoá đã được các hộ nông dân biết đến và tiếp cận ở các mức độ khác nhau tuỳ theo cách sắp xếp tổ chức của các hộ. Có hộ sản xuất ra khối lượng hàng hoá nhỏ, ví dụ mỗi năm chỉ xuất chuồng vài tạ lợn hơi, vài tấn thóc… nhưng cũng có hộ sản xuất ra lượng hàng hoá lớn có giá trị hàng chục đến hàng trăm triệu đồng. Quy mô sản xuất, mức độ thu nhập giữa các hộ nông dân sản xuất hàng hoá trong một vùng và giữa các vùng các xã cũng có sự khác nhau, trong luận văn này chúng tôi cũng đi sâu vào nghiên cứu và phân tích. Vì số lượng hộ nông dân sản xuất hàng hoá của huyện Đồng Hỷ là rất lớn cho nên chúng tôi không thể điều tra được toàn bộ, mà chỉ chọn ra những hộ đại diện theo phương pháp chọn điển hình của các xã thuộc các vùng khác nhau để phân tích phục vụ đề tài. Cho nên số liệu đưa ra trong luận văn có thể là chưa chính xác tuyệt đối, nhưng chắc chắn những kết luận rút ra được sẽ mang tính đại diện cho cho toàn huyện. Dựa trên tiêu chí xếp loại hộ nông dân theo quy mô hàng hoá. Qua quá trình xét chọn chúng tôi đã chọn được 90 hộ nông dân tiêu biểu cho các loại hộ nông dân theo quy mô hàng hoá của 3 xã thuộc ba vùng của huyện Đồng Hỷ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 81.
    59 Bảng 2.4. Cơ cấu hộ nông dân theo quy mô hàng hoá ở các xã điều tra năm 2007 Xã Xã Xã Tổng số Hóa Thƣợng Khe Mo Hòa Bình Chỉ tiêu SL CC SL CC SL CC SL CC ( hộ) (%) ( hộ) (%) ( hộ) (%) ( hộ) (%) Hộ hàng hoá lớn 8 26,67 6 20,00 5 16,66 19 21,11 Hộ hàng hoá trung bình 10 33,33 11 36,67 11 36,67 32 35,56 Hộ hàng hoá nhỏ 12 40,00 13 43,33 14 46,67 39 43,33 Tổng cộng 30 100 30 100 30 100 90 100 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra ) Qua biểu trên ta thấy nếu nhìn vào tổng thể chung của 3 xã thì các hộ hàng hoá không có sự chênh lệch lớn, Nếu xét theo từng vùng thì có sự chênh lệch rõ rệt: Xã Hoá Thượng nằm ở vùng trung tâm của huyện, hộ hàng hoá lớn chiếm 26,67% cao hơn so với các xã. Do nằm gần trung tâm huyện, thành phần dân tộc Kinh chiếm đa số do vậy khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn là xu hướng phát triển của các hộ. Phía Nam là xã Khe Mo có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp (cây công nghiệp, cây ăn quả). Hộ hàng hoá nhỏ chiếm 43,33%, thấp nhất là hộ hàng hoá lớn chiếm 20%. Xã Hoà Bình nằm ở vùng cao, phía Bắc của huyện, chính vì vậy hộ hàng hoá nhỏ là chủ yếu chiếm 46,67%. Ở đây các hộ nông dân chủ yếu sản xuất ra để tiêu dùng là chủ yếu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 82.
    60 2.2.2. Thực trạngphát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ 2.2.2.1. Tình hình về chủ hộ nông dân Bảng 2.5. Tình hình cơ bản của các chủ hộ đƣợc điều tra năm 2007 Xã Xã Xã Chung Hóa Thƣợng Khe Mo Hòa Bình 3xã Phân loại hộ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ (hộ) (%) (hộ) (%) (hộ) (%) (hộ) (%) Tổng số hộ điều tra 30 100 30 100 30 100 90 100 1. Chủ hộ theo giới tính - Nam 25 83,3 26 86,7 27 90,0 78 86,7 - Nữ 5 16,7 4 13,3 3 10,0 12 13,3 2.Theo nguồn gốc chủ hộ - Dân bản địa 28 93,3 26 86,7 26 86,7 80 88,9 - Dân di dời 2 6,67 4 13,3 3 10,0 9 10,0 - Dân khai hoang 0 0,0 0 0,0 1 3,3 1 1,1 3. Theo dân tộc - Người Kinh 25 83,3 21 70,0 20 66,7 66 73,3 - Người Nùng 1 3,3 6 20,0 4 13,3 11 12,2 - Người Sán dìu 0 0,0 1 3,3 4 13,3 5 5,6 - Người Tày 4 13,4 2 6,7 2 6,7 8 8,9 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Qua bảng 2.5 ta thấy tình hình về chủ hộ nông dân giữa các xã là rất khác nhau. Trong tổng số 90 hộ điều tra có 86,7% chủ hộ là nam giới và 13,3% chủ hộ là nữ, xã Hoá Thượng có chủ hộ là nữ chiếm tỷ lệ cao nhất 16,7%, xã Hoà Bình có chủ hộ là nữ thấp nhất chiếm 10%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 83.
    61 Nguồn gốc của các chủ hộ cũng khác nhau, chủ hộ là người dân bản địa chiếm 88,9%, dân di dời lòng hồ 10%, dân khai hoang 1,1%. Dân bản địa chiếm tỷ lệ cao nhất ở xã Hoá Thượng 93,3%, dân khai hoang chiếm tỷ lệ rất thấp chỉ có ở xã Hoà Bình chiếm 3,3%. Nếu phân theo dân tộc thì chủ hộ là người Kinh vẫn chiếm đa số, chiếm 73,3% thấp nhất là chủ hộ là người Sán dìu chiếm 5,6%.Chủ hộ là người Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất ở xã Hoá Thượng 83,3%; thấp nhất là dân tộc Sán dìu cũng ở xã Hoá Thượng 0%. Như vậy là ở xã Hoà Bình xã vùng cao của huyện thì ở đây tỷ lệ chủ hộ là người dân tộc thiểu số cao hơn các xã khác, tỷ lệ chủ hộ là người Kinh ở xã này thấp nhất 66,7%. 2.2.2.2. Các yếu tố sản xuất của hộ nông dân * Đất đai Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được trong sản xuất nông, lâm nghiệp của hộ nông dân. Hộ nông dân muốn phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá thì trước hết phải dựa vào đất. Nếu theo loại đất sử dụng thì đất nông nghiệp chung cho cả 3 xã là 42,2%. Trong đó, những hộ hàng hoá nhỏ chiếm tỷ lệ cao nhất 45,1%, thấp nhất là các hộ hàng hoá lớn 38,5%. Đất lâm nghiệp được phân bố tương đối đồng đều ở các nhóm hộ. Đất ở và làm vườn ở hộ hàng hoá lớn chiếm tỷ lệ cao nhất 21,4% và thấp nhất ở hộ hàng hoá nhỏ 16,3%. Thực tế cho thấy, đất vườn của các hộ nông dân có điều kiện trồng những cây có giá trị kinh tế cao như các loại cây ăn quả, đặc sản, mặt khác vườn ở gần nhà có điều kiện thâm canh tốt hơn đã tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn. Về quy mô diện tích đất của hộ nông dân điều tra, các hộ hàng hoá lớn quy mô đất chủ yếu là từ 2 ha trở lên chiếm 58,3%, quy mô đất từ 1-2 ha chiếm 34,2%, các hộ hàng hoá trung bình quy mô đất đai chủ yếu từ 1-2 ha Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 84.
    62 chiếm 37,3%, từ0,5-1ha chiếm 28,2%, các hộ hàng hoá nhỏ quy mô diện tích đất chủ yếu từ 0,5-1ha chiếm 43,2% và dưới 0,5 ha chiếm 32,3%. Bảng 2.6: Cơ cấu đất đai của hộ điều tra năm 2007 Đơn vị tính:% Chung Hộ hàng Hộ hàng Hộ hàng Chỉ tiêu 3 nhóm hóa lớn hóa TB hóa nhỏ Tổng đất đai 100 100 100 100 1. Theo loại đất sử dụng - Đất nông nghiệp 42,2 38,5 43,1 45,1 - Đất sản xuất lâm nghiệp 38,7 40,1 37,3 38,6 - Đất ở và làm vườn 19,1 21,4 19,6 16,3 2. Theo quy mô diện tích - Dưới 0,5 ha 14,6 0,0 11,5 32,3 - Từ 0,5- dưới 1 ha 26,4 7,5 28,2 43,2 - Từ 1- dưới 2 ha 30,2 34,2 37,3 19,2 - Từ 2 ha trở lên 28,8 58,3 23,0 5,3 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) * Nhân khẩu và lao động của hộ Nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và thu nhập của hộ nông dân sản xuất hàng hoá đó là lao động, bao gồm số lượng và chất lượng lao động. Qua bảng 2.7 cho thấy, chỉ tiêu bình quân khẩu / hộ cao nhất ở nhóm hộ hàng hoá nhỏ 4,81 ngưòi, thấp nhất ở nhóm hộ có hàng hoá lớn 3,67 người. Bình quân lao động / hộ cao nhất là nhóm hộ hàng hoá lớn 2,72 người và thấp nhất ở hộ hàng hoá nhỏ 2,20 người. Số người tiêu dùng/ 1 lao động cao nhất là hộ hàng hoá nhỏ 2,27 người, thấp nhất là hàng hoá lớn 1,43 người. Như vậy nguyên nhân của sự đói nghèo là số người ăn chiếm tỷ lệ cao, lao động bình quân/ hộ thấp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 85.
    63 Bảng 2.7. Một số chỉ tiêu về hộ điều tra theo thu nhập năm 2007 Đơn vị tính: Người Hộ hàng Hộ hàng Hộ hàng Chung Chỉ tiêu hóa lớn hóa TB hóa nhỏ nhóm hộ Tổng số hộ điều tra 19 32 39 90 - Bình quân số khẩu/hộ 3,67 4,32 4,81 4,27 - Bình quân lao động/hộ 2,72 2,34 2,20 2.42 - Số người tiêu dùng/1 LĐ 1,43 1,84 2,27 1,85 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Về quy mô lao động, số lượng lao động qua 90 hộ điều tra cho thấy, có 56 hộ có từ 1-2 lao động chiếm 62 %, 32 hộ có từ 3-4 lao động chiếm 35,5% và 2 hộ có từ 5 lao động trở lên chiếm 2,5%. Bảng 2.8. Cơ cấu lao động trong độ tuổi của các hộ nông dân năm 2007 Đơn vị tính: % Quy mô lao động Chỉ tiêu Tổng số 1-2 3-4 5 trở lên Tổng số hộ 62 35,5 2,5 100,0 1. Theo xã điều tra - Xã Hoá Thượng 63,4 35,2 1,4 100,0 - Xã Khe Mo 67,5 30,0 2,5 100,0 - Xã Hoà Bình 55,1 41,2 3,7 100,0 2. Theo dân tộc - Dân tộc Kinh 56,6 42,0 1,4 100,0 - Dân tộc Tày 57,0 38,1 4,9 100,0 - Dân tộc Nùng 65,2 30,5 4,3 100,0 - Dân tộc Sán dìu 63,2 36,8 - 100,0 3. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn - 84,1 15,9 100,0 - Hộ hàng hoá trung bình 34,8 64,0 1,2 100,0 - Hộ hàng hoá nhỏ 94,0 6,0 - 100,0 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 86.
    64 Qua bảng 2.8 nếu phân tích quy mô lao động theo các xã cho thấy, các xã có quy mô lao động chủ yếu từ 1-2 lao động (xã Hoá Thượng 63,4%, xã Khe Mo 67,5% và xã Hoà Bình 55,1%). Quy mô 3-4 lao động, cao nhất là xã Hoá Bình chiếm tỷ lệ 41,2%, thấp nhất là xã Khe Mo chiếm 30,0%. Nếu xét theo dân tộc thì hộ nông dân là người Kinh có quy mô 1-2 lao động chiếm 56,6%, dân tộc Tày,Nùng, Sán dìu 57,0% đên 65,2%. Nhóm hộ có 5 lao động trở lên cao nhất là người Tày 4,9%, người Sán dìu không có hộ nào thuộc quy mô này. Nếu theo quy mô sản xuất hàng hoá nhóm hộ hàng hoá lớn có quy mô lao động 3-4 người chiếm tỷ lệ cao nhất 84,1% từ 5 lao động trở lên chỉ chiếm 15,9%. Nhóm hộ hàng hoá trung bình quy mô 3-4 lao động chiếm 64,0% và từ 1-2 lao động chiếm 34,8%. Nhóm hộ hàng hoá nhỏ có quy mô 1-2 lao động chiếm 94 %, quy mô 3-4 lao động chỉ chiếm 6%. Có thể thấy, quy mô lao động đối với nhóm hộ hàng hoá lớn và trung bình chủ yếu là 3-4 lao động. Còn những nhóm hộ hàng hoá nhỏ chỉ chủ yếu từ 1-2 lao động. Xét về chất lượng lao động, trong 90 hộ điều tra, chủ hộ có trình độ văn hoá lớp 1-5 là 22 người, lớp 6-9 là 49 người và lớp 10-12 là 19 người. Như vậy các chủ hộ đa phần là có trình độ từ lớp 6-9 (Bảng 2.9). Bảng 2.9. Trình độ học vấn của chủ hộ điều tra ở vùng nghiên cứu năm 2007 Tổng cộng Lớp 10-12 Lớp 6-9 Lớp 1-5 Chỉ tiêu Cơ Cơ Số hộ Cơ cấu Số hộ Số hộ Cơ cấu Số hộ cấu cấu (hộ) (%) (hộ) (hộ) (%) (hộ) (%) (%) Tổng số hộ điều tra 90 100,0 19 21,1 49 54,5 22 24,4 1. Theo xã điều tra - Xã Hoá Thượng 30 100,0 9 30,0 16 53,3 5 16,7 - Xã Khe Mo 30 100,0 6 20,0 17 56,7 7 23,3 - Xã Hoà Bình 30 100,0 4 13,3 16 53,3 10 33,3 2. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 19 100,0 16 84,2 2 10,5 1 5,3 - Hộ hàng hoá TB 32 100,0 3 9,4 24 75,0 5 15,6 - Hộ hàng hoá nhỏ 39 100,0 0 0 23 59,0 16 41 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 87.
    65 Nếu phân tích theo vùng điều tra cho thấy, xã Hoà Bình chủ hộ có trình độ học vấn từ lớp 1-5 chiếm tỷ lệ cao nhất 33,3%, ở Khe Mo là 23,3% và ở Hoá Thượng là 16,7%. Chủ hộ có trình độ từ lớp 10-12 ở xã Hoá Thượng là 30,0% chiếm tỷ lệ cao hơn 2 xã còn lại. Trình độ lớp 6-9 chiếm tỷ lệ cao nhất ở xã Khe Mo 56,7%. Nếu phân tích quy mô sản xuất hàng hoá thì thấy rằng hộ hàng hoá lớn có trình độ học vấn chủ yếu từ lớp 10-12 chiếm 84,2%, chỉ có 10,5% từ lớp 6- 9 và 5,3% từ lớp 1-5. Nhóm hộ hàng hoá trung bình có trình độ học vấn chủ yếu từ lớp 6-9 chiếm 75,0%,. Nhóm hộ hàng hoá nhỏ có tỷ lệ chủ hộ trình độ học vấn từ 1-5 nhiều nhất chiếm 41,0 %. Như vậy trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của các chủ hộ ở các xã là rất thấp, ít được học hành, đặc biệt là một số chủ hộ là người dân tộc ít người. * Vốn sản xuất: Vốn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất của hộ. Qua bảng 2.10 ta thấy lượng vốn bình quân cho hộ nông dân ở các xã là 15,903 triệu đồng, trong đó cao nhất là xã Hoá Thượng 17,577 triệu đồng thấp nhất là xã Hoà Bình 14,747 triệu đồng. Đa số các hộ ở các xã đều có số vốn tích luỹ cao chiếm tỷ lệ khoảng 73,46% cơ cấu vốn của gia đình. Điều này cho thấy việc chủ động vốn của hộ đều phải dựa vào nguồn vốn tự có do tích luỹ đem lại qua các năm kinh doanh, sản xuất. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy các hộ cũng biết tận dụng các nguồn vốn như vay Nhà nước, vay tư nhân, vay qua dự án và các nguồn tài trợ khác, để giải quyết tình trạng thiếu vốn đầu tư cho sản xuất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 88.
    66 Bảng 2.10. Vốn bình quân của nông hộ điều tra năm 2007 theo vùng nghiên cứu Đơn vị tính: triệu đồng Xã Xã Xã Chung các Chỉ tiêu Hóa Thƣợng Khe Mo Hòa Bình xã Tổng nguồn vốn 17,577 15,384 14,747 15,903 1. Vốn tự có 12,435 11,156 11,459 11,683 2. Vốn vay 4,232 3,248 2,948 3,476 3. Vốn khác 0,910 0,980 0,340 0,743 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Phân tích quy mô vốn của hộ nông dân theo dân tộc cho thấy có sự chênh lệch giữa nhóm hộ người Kinh và nhóm hộ là người dân tộc thiểu số. Chủ hộ là người Kinh ở xã Hoá Thượng có vốn bình quân là 18,506 triệu đồng ở xã Khe Mo là 17,354 triệu đồng và ở xã Hoà Bình là 16,642 triệu đồng. Mức vốn bình quân của các hộ là dân tộc thiểu số thấp hơn (xem bảng 2.11). Bảng 2.11. Quy mô vốn bình quân hộ nông dân tại thời điểm điều tra Đơn vị tính: Triệu đồng Xã Xã Xã BQ Chung Chỉ tiêu Hóa Thƣợng Khe Mo Hòa Bình 3 xã Bình quân quy mô vốn 17,577 15,384 14,747 15,903 1. Theo dân tộc - Dân tộc Kinh 18,506 17,354 16,642 17,380 - Dân tộc Tày 17,344 15,935 14,203 16,181 - Dân tộc Nùng 16,542 15,712 13,234 15,769 - Dân tộc Sán dìu 16,403 11,254 12,956 13,789 2. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 23,056 21,386 17,962 21,696 - Hộ hàng hoá TB 16,335 15,630 13,562 15,730 - Hộ hàng hoá nhỏ 14,176 13,897 11,507 13,579 (Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 89.
    67 Phân tích vốn đầu tư của các nhóm hộ theo quy sản xuất hàng hoá, các hộ có chênh lệch đáng kể về vốn đầu tư. Hộ hàng hoá lớn có mức vốn trung bình là 21,696 triệu đồng, hộ hàng hoá trung bình là 15,730 triệu đồng và hộ hàng hoá nhỏ là 13,579 triệu đồng. Qua đây có thể thấy rằng vốn là yếu tố có hạn, cho nên chủ hộ phải tích luỹ một lượng vốn nhất định. Mức vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh của các chủ hộ nông dân rất khác nhau giữa các xã, các dân tộc có xu hướng giảm dần theo vùng sâu vùng xa của thị trấn. * Tài sản và tư liệu sản xuất của các hộ nông dân Tư liệu sản xuất là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong sản xuất. Khi mà hộ nông dân được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ thì việc mua sắm trang bị thêm tư liệu sản xuất góp phần giải phóng sức lao động, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm đã được hộ chú trọng tới. Công cụ sản xuất của hộ nông dân được xem là một trong những nguồn vốn cố định, mặt khác nó phản ánh trình độ trang bị kỹ thuật, là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 90.
    68 Bảng 2.12. TLSX chủ yếu bình quân của hộ nông dân năm 2007 theo quy mô sản xuất hàng hoá Hộ HH Hộ HH Hộ HH Chung Chỉ tiêu lớn trung bình nhỏ các hộ I. Tổng giá trị TLSX chủ yếu (triệu đồng) 21,696 15,730 13,579 15,903 1. Nhà xưởng, chuồng trại 3,206 1,606 1,505 2,123 2. Máy kéo, phương tiện vận tải 2,697 1,328 1,104 1,534 3. Các loại máy khác 0,836 0,706 0,605 0,740 4. Đàn súc vật cơ bản 3,687 2,768 2,044 2,568 5. Giá trị của cây lâu năm 6,574 5,602 5,007 5,290 6. Giá trị tài sản sản xuất khác 2,414 2,139 1,863 1,915 7. Tiền mặt kinh doanh 2,282 1,581 1,451 1,733 II. Cơ cấu TLSX chủ yếu (%) 100,0 100,0 100,0 100,0 1. Nhà xưởng, chuồng trại 14,8 10,2 11,1 12,0 2. Máy kéo, phương tiện vận tải 12,4 8,4 8,1 9,2 3. Các loại máy khác 3,9 4,5 4,5 4,2 4. Đàn súc vật cơ bản 17,0 17,6 15,1 16,9 5. Giá trị của cây lâu năm 30,3 35,6 36,9 35,4 6. Giá trị tài sản sản xuất khác 11,1 13,6 13,7 12,2 7. Tiền mặt kinh doanh 10,5 10,1 10,6 10,1 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Qua bảng 2.12 dưới ta thấy các hộ nông dân đều trang bị cho mình những tư liệu sản xuất tối thiểu và cần thiết phục vụ sản xuất như. Tỷ trọng giá trị của vườn cây lâu năm bình quân 1 hộ điều tra chiếm khá cao 35,4%, đàn giá súc chiếm 16,9%, chiếm tỷ trọng thấp nhất là máy kéo phương tiện vận tải 9,2%, các loại máy khác chiếm 4,2%. Tóm lại: Do mục tiêu sản xuất hàng hoá của mình mà các hộ nông dân từng bước mua sắm tư liệu sản xuất hiện đại để khắc phục tình trạng lao động thủ công chân tay kém hiệu quả nhăm mục đích tạo ra khối lượng nông sản hàng hoá lớn hơn, để có thể cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên do yếu tố về vốn, khả năng quản lý và sử dụng lao động công hạn chế mà việc trang bị tư liệu sản xuất còn tiến hành chậm chạp dẫn đến hiệu quả lao động chưa cao. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 91.
    69 2.2.3. Tổ chứchoạt động sản xuất của hộ nông dân 2.2.3.1. Hướng sản xuất chính của hộ nông dân Các hộ nông dân đã kết hợp sức lao động, vốn và đất được giao để lựa chọn hướng sản xuất kinh doanh của mình, khai thác triệt để tiềm năng sẵn có để phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá. Bảng 2.13. Cơ cấu các nhóm hộ nông dân theo hƣớng SXKD chính Đơn vị tính: % Cây Cây Cây Chăn Lâm Tổng Phân loại hộ hàng CN lâu ăn nuôi nghiệp số năm năm quả Bình quân chung 27,9 17,1 24,7 18,1 12,2 100 1. Theo xã điều tra - Xã Hóa Thượng 31,3 26,0 18,5 15,0 9,2 100 - Xã Khe Mo 26 12,1 29,2 20,2 12,5 100 - Xã Hoà Bình 26,5 13,2 26,3 19,2 14,8 100 2. Theo dân tộc - Người Kinh 37,6 11,1 30,0 6,6 14,7 100 - Người Nùng 35,0 10,5 25,2 12,4 16,9 100 - Người Sán dìu 30,3 10,8 21,6 10,5 26,8 100 - Người Tày 27,6 23,8 17,0 6,8 24,8 100 3. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 28,0 14,3 32,8 21,7 3,2 100 - Hộ hàng hoá TB 28,6 16,5 29,6 21,5 3,8 100 - Hộ hàng hoá nhỏ 20,0 17,1 21,8 14,1 27,0 100 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Qua số liệu điều tra được tổng hợp trên bảng 2.13 ta thấy nhóm hộ có tỷ trọng cao nhất là nhóm hộ cây hàng năm chiếm 27,9%, sau đó đến nhóm hộ cây ăn quả chiếm 24,7% và thấp nhất là nhóm hộ lâm nghiệp chiếm 12,2%. Phân tích theo vùng điều tra, thì các hộ chủ yếu là trồng cây hàng năm chiếm tỷ lệ cao, ở Hoá Thượng 31,3%, Khe Mo 26%, Hoà Bình 26,5%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 92.
    70 Phân theo dân tộc cho thấy, quy mô và cơ cấu diện tích cây trồng giữa các nhóm hộ nông dân có sự khác nhau. Nhóm hộ người Kinh, cao nhất là nhóm hộ trồng cây hàng năm chiếm 37,6%, người, Nùng chiếm 35%. Nhóm hộ người Sán dìu trồng cây lâm nghiệp cao nhất chiếm 26,8%, nhóm hộ người Tày chiếm 24,8%. Phân tích theo quy mô sản xuất hàng hoá, đối với hộ hàng hoá lớn cao nhất là hộ trông cây ăn quả chiếm 32,8%, sau đó đến cây hàng năm chiếm 28%. Đối với hộ hàng hoá trung bình hộ trồng cây ăn quả chiếm 29,6%, cây hàng năm chiếm 28,6%. Đối với hộ hàng hoá nhỏ có tỷ lệ hộ trồng cây lâm nghiệp là 27%, cây ăn quả là 21,8% Nhìn chung hướng sản xuất chính của các hộ nông dân chủ yếu là nông nghiệp: Cây hàng năm (chủ yếu là lúa, ngô, khoai, rau, đậu…); cây ăn quả (chủ yếu là na, vải, nhãn, cam...). Cây công nghiệp lâu năm (chủ yếu là chè). Hộ chăn nuôi là chính chưa nhiều, chủ yếu là chăn nuôi gia cầm, trâu bò và lợn. Trong lâm nghiệp chủ yếu trồng rừng nguyên liệu, khoanh nuôi, thực hiện nông lâm kết hợp. Với diện tích còn nhiều các hộ nông dân cần phải cải tạo diện tích đất chuyển đổi cơ cấu cây trồng, để tăng diện tích đất trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập cho hộ nông dân. 2.2.3.2. Đầu tư chi phí sản xuất Chi phí sản xuất của hộ nông dân bao gồm chi phí sản xuất, giá trị công lao động thuê ngoài, giá trị khấu hao tài sản cố định và chi phí khác. Qua bảng 2.14 ta thấy phân tích theo ngành sản xuất, bình quân toàn xã chi phí của hộ là 5,478 triệu đồng, trong đó chi phí cho ngành trồng trọt là 3,336 triệu đồng chiếm 60,9%, ngành chăn nuôi là 1,423 triệu đồng chiếm 26 %, ngành lâm nghiệp 0,719 triệu đồng chỉ chiếm 13,1%. Nếu phân tích theo các xã thì giữa các xã có sự chênh lệch đáng kể. Chi phí cho sản xuất cao nhất là xã Hoà Bình 6,181 triệu đồng trong đó chi phí cho ngành trồng trọt là 59,1%, ngàn chăn nuôi là 26,4%, lâm nghiệp là 14,5%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 93.
    71 Thấp nhất làxã Hoá Thượng bình quân chi phí sản xuất của hộ là 4,618 triệu đồng trong đó chí phí cho trồng trọt là 3,137 triệu đồng tương đương 67,9%, chi phí cho chăn nuôi là 1,220 triệu đồng chiếm 26,4% và ngành lâm nghiệp 0,261 triệu đồng chiếm 5,7%. Bảng 2.14. Quy mô và cơ cấu chi phí sản xuất nông lâm nghiệp của hộ nông dân điều tra năm 2007 Trong đó Tổng CPSX Trồng trọt Chăn nuôi Lâm nghiệp Phân loại hộ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ (tr.đ) (%) (tr.đ) (%) ( tr.đ) (%) ( tr.đ) (%) Bình quân chung 5,478 100 3,336 60,9 1,423 26 0,719 13,1 1. Theo vùng - Xã Hoá Thượng 4,618 100 3,137 67,9 1,220 26,4 0,261 5,7 - Xã Khe Mo 5,636 100 3,515 62,4 1,421 25,2 0,700 12,4 - Xã Hoà Bình 6,181 100 3,655 59,1 1,629 26,4 0,897 14,5 2. Theo hướng sản xuất - Cây hàng năm 6,595 100 4,504 68,3 1,562 23,7 0,529 8,0 - Cây ăn quả 5,742 100 3,802 66,2 1,409 24,5 0,531 9,3 - Cây CN lâu năm 5,596 100 3,376 60,3 1,630 29,1 0,590 10,6 - Chăn nuôi 7,762 100 1.686 21,7 5,687 73,3 0,389 5,0 - Lâm nghiệp 5,193 100 0,401 7,7 0,800 15,4 3.992 76,9 3. Theo tộc ng ười - Người Kinh 6,297 100 4,271 67,8 1,368 21,7 0,658 10,5 - Người Nùng 5,964 100 4,198 70,4 1,208 20,2 0,558 9,4 - Người Sán dìu 5,517 100 4,160 75,4 0,968 17,5 0,389 7,1 - Người Tày 4,981 100 3,232 64,9 1,150 23,1 0,599 12,0 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 8,609 100,0 5,184 60,2 2,692 31,3 0,733 8,5 - Hộ hàng hoá TB 6,328 100,0 3,459 54,6 2,251 35,6 0,618 9,8 - Hộ hàng hoá nhỏ 5,011 100,0 3,918 78,2 0,651 13,0 0,442 8,8 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Phân tích theo tộc người, cơ cấu chi phí giữa các ngành trồng trọt - chăn nuôi - lâm nghiệp là rất khác nhau. Qua bảng phân tích trên ta thấy cơ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 94.
    72 cấu về tổngchi phí của người Kinh và người Nùng là gần giống nhau, người Tày có cơ cấu chi phí cho ngành chăn nuôi và lâm nghiệp nhiều hơn. Theo quy mô sản xuất hàng hoá thì nhóm hộ hàng hoá nhỏ có cơ cấu tổng chi phí từ ngành trồng trọt là 78,2% cao hơn nhóm hộ khác. Cơ cấu tổng chi phí ngành chăn nuôi cao nhất là ở nhóm hộ hàng hoá TB 35,6%. Như vậy chi phí cho sản xuất của hộ hàng hoá lớn gấp 1,4 lần hộ hàng hoá trung bình, 1,7 lần hộ hàng hoá nhỏ. Hộ hàng hoá lớn họ mạnh dạn đầu tư phát triển các ngành nghề, chính ngành nghề nông thôn đã tạo công ăn việc làm, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và theo hướng sản xuất hàng hoá. 2.2.4. Kết quả sản xuất của hộ nông dân 2.2.4.1. Tổng thu của các hộ nông dân Kinh tế hộ nông dân chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp và sản xuất ngoài lâm nghiệp (công nghiệp chế biến, dịch vụ nông nghiệp…). Vì vậy nguồn thu chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nông lâm nghiệp. - Thu nhập từ nông lâm nghiệp: Qua bảng 2.15 ta thấy tổng thu bình quân từ nông - lâm nghiệp của 90 hộ nông dân điều tra là 17,876 triệu đồng trong đó thu nhập từ trồng trọt là 12,083 triệu đồng, chăn nuôi 4,370 triệu đồng, lâm nghiệp 1,423 triệu đồng Theo vùng thì tổng thu nhập bình quân trên hộ cao nhất là xã Hoá Thượng 18,847 triệu đồng, Hoà Bình 17,522 triệu đồng trong đó thu từ trồng trọt là 11,987 triệu đồng, chăn nuôi là 3,560 triệu đồng, lâm nghiệp 1,975 triệu đồng; nhưng thấp nhất là xã Khe Mo 17,260 triệu đồng, trong đó thu từ trồng trọt là 11,589 triệu đồng, lâm nghiệp 0,891 triệu đồng. Theo hướng sản xuất kinh doanh chính thì thu nhập bình quân cao nhất ở các nhóm hộ cây hàng năm 16,559 triệu đồng, trong đó thu nhập trồng trọt là 12,123 triệu đồng, chăn nuôi 3,679 triệu đồng, lâm nghiệp 0,757 triệu đồng; thấp nhất là nhóm hộ trồng cây lâm nghiệp 9,543 triệu đồng trong đó thu từ lâm nghiệp là 5,997 triệu đồng, trồng trọt 2,306 triệu đồng, chăn nuôi 1,240 triệu đồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 95.
    73 Bảng 2.15. Tổng thu từ sản xuất nông - lâm nghiệp ở hộ điều tra Đơn vị tính: Triệu đồng Trong đó Tổng thu nông Phân loại hộ Trồng Chăn Lâm lâm nghiệp trọt nuôi nghiệp Bình quân chung 17,876 12,083 4,370 1,423 1. Theo vùng - Xã Hóa Thượng 18,847 12,672 4,769 1,406 - Xã Khe Mo 17,260 11,589 4,780 0,891 - Xã Hoà Bình 17,522 11,987 3,560 1,975 2. Theo hướng sản xuất chính - Cây hàng năm 16,559 12,123 3,679 0,757 - Cây ăn quả 15,859 11,618 3,565 0,676 - Cây CN lâu năm 15,392 11,420 3,251 0,721 - Chăn nuôi 15,826 6,543 8,839 0,444 - Lâm nghiệp 9,543 2,306 1,240 5,997 3. Theo tộc người - Người Kinh 17,392 13,012 3,521 0,859 - Người Nùng 15,812 12,500 2,548 0,764 - Người Sán dìu 14,306 11,102 2,654 0,550 - Người Tày 13,354 9,932 2,541 0,881 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 25,340 17,425 5,391 2,524 - Hộ hàng hoá TB 17,415 12,219 4,208 0,988 - Hộ hàng hoá nhỏ 14,862 10,975 2,853 1,034 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 96.
    74 Theo tộc người thì nhóm hộ có mức thu nhập cao nhất là người Kinh 17,392 triệu đồng trong đó trồng trọt 13,012 triệu đồng, chăn nuôi 3,521 triệu đồng, lâm nghiệp 0,859 triệu đồng; thấp nhất là người Tày 13,354 triệu đồng, trong đó từ trồng trọt 9,932 triệu đồng, chăn nuôi 2,541 triệu đồng, lâm nghiệp 0,881 triệu đồng. Có thể thấy đồng bào dân tộc thiểu số do trình độ văn hoá, điều kiện môi trường sống, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật còn hạn chế, điều kiện canh tác còn mang tính truyền thống, năng suất thấp, nên tổng thu nhập nông lâm nghiệp chưa cao. Phân tích theo quy mô sản xuất hàng hoá ta thấy những hộ hàng hoá lớn có tổng thu bình quân là 25,340 triệu đồng trong đó thu từ trồng trọt 17,425 triệu đồng, chăn nuôi 5,391 triệu đồng, lâm nghiệp 2,524 triệu đồng. Thấp nhất là hộ hàng hoá nhỏ 14,862 triệu đồng, trong đó thu nhập từ trồng trọt là 10,975 triệu đồng, chăn nuôi là 2,853 triệu đồng, lâm nghiệp là 1,034 triệu đồng. Như vậy, nhóm hộ hàng hoá lớn có tổng thu nhập gấp 1,7 lần so với nhóm hộ hàng hoá nhỏ. - Thu từ ngoài sản xuất nông lâm nghiệp Qua điều tra các hộ nông dân cho thấy thu nhập ngoài sản xuất lâm nghiệp bình quân của các hộ là 5,327 triệu đồng, trong đó công nghiệp chế biến 0,747 triệu đồng, dịch vụ nông lâm nghiệp 1,904 triệu đồng, lao động làm thuê 0,561 triệu đồng, thu khác là 2,115 triệu đồng. Đối với các hộ có quy mô sản xuất hàng hoá lớn thì không chỉ có thu từ dịch vụ, công nghiệp chế biến mà họ còn chú ý đến các ngành nghề khác như: mộc, mây tre đan… nhằm đa dạng hoá nguồn thu của hộ. 2.2.4.2. Giá trị sản phẩm hàng hoá Các sản phẩm hàng hoá của hộ nông dân chủ yếu là nông sản. Rừng ở đây đang trong thời kỳ tu bổ và trồng mới nên phần lớn là chưa khai thác, chỉ có khai thác phần nhỏ ở diện tích khoanh nuôi và bảo vệ song chưa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 97.
    75 nhiều, cho nênsản phẩm hàng hoá còn rất ít. Qua bảng 2.16 ta thấy, quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân của hộ điều tra là 12,514 trệu đồng, trong đó ngành trồng trọt 8,14 triệu đồng, chăn nuôi 3,954 triệu đồng, lâm nghiệp 0,42 triệu đồng. Cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá của các nhóm hộ rất đa dạng. Tỷ trọng ngành trồng trọt chiếm 65%, chủ yếu là các sản phẩm cây hàng năm như lúa, ngô, lạc...; cây công nghiệp lâu năm như chè, na, bưởi...Ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng 31,6% chủ yếu là chăn nuôi lợn và gia cầm. Tỷ trọng hàng hoá của hộ có ngành lâm nghiệp rất thấp. Phân tích giá trị sản phẩm hàng hoá theo vùng, cao nhất là xã Hoá Thượng 12,729 triệu đồng trong đó trồng trọt 8,753 triệu đồng, chăn nuôi 3,651 triệu đồng, lâm nghiệp 0,325 triệu đồng; thấp nhất là xã Khe Mo 12,293 triệu đồng, trong đó giá trị sản hẩm hàng hoá ngành trồng trọt là 7,845 triệu đồng, chăn nuôi 4,025 triệu đồng, lâm nghiệp 0,423 triệu đồng. Cơ cấu s ản phẩm hàng hoá ngành trồng trọt cao nhất là xã Hoá Thượng 68,8%, thấp nhất là xã Hoà Bình 62,5%; ngành chăn nuôi cao nhất là xã Hoà Bình 33,4%, thấp nhất là xã Hoá Thượng 28,7%; lâm nghiệp cao nhất là xã Hoà Bình 4,1%, thấp nhất là xã Hoá Thượng 2,5%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 98.
    76 Bảng 2.16.Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân ở hộ nông dân điều tra năm 2007 Tổng Trong đó GTSPHH Trồng trọt Chăn nuôi Lâm nghiệp Phân loại hộ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ (tr.đ) (%) (tr.đ) (%) (tr.đ) (%) ( tr.đ) (%) Bình quân chung 12,514 100 8,14 65 3,954 31,6 0,42 3,4 1. Theo vùng - Xã Hóa Thượng 12,729 100 8,753 68,8 3,651 28,7 0,325 2,5 - Xã Khe Mo 12,293 100 7,845 63,8 4,025 32,7 0,423 3,5 - Xã Hoà Bình 12,520 100 7,822 62,5 4,186 33,4 0,512 4,1 2. Theo hướng sản xuất - Cây hàng năm 14,792 100 10,835 73,2 3,814 25,8 0,143 1,0 - Cây ăn quả 13,102 100 8,709 66,5 4,050 30,9 0,343 2,6 - Cây CN lâu năm 10,703 100 7,110 66,4 3,272 30,6 0,321 3,0 - Chăn nuôi 14,401 100 2,031 14,1 12,245 85,0 0,125 0,9 - Lâm nghiệp 8,25 100 2,756 33,4 1,962 23,8 3,532 42,8 3. Theo tộc người - Người Kinh 13,337 100 8,457 63,4 4,460 33,4 0,420 3,2 - Người Nùng 11,841 100 6,641 56,1 4,669 39,4 0,531 4,5 - Người Sán dìu 10,076 100 5,646 56,0 3,792 37,6 0,638 6,4 - Người Tày 12,351 100 7,498 60,7 4,125 33,4 0,728 5,9 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 20,439 100 16,769 82,0 3,005 14,7 0,665 3,3 - Hộ hàng hoá TB 14,821 100 11,713 79,0 1,323 8,9 1,785 12,0 - Hộ hàng ho á nhỏ 9,533 100 6,184 64,9 2,339 24,5 1,010 10,6 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 99.
    77 Theo cơ cấu ngành có sự khác nhau đáng kể giữa các nhóm hộ, Nhóm hộ cây hàng năm là chính có cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá chiếm 73,2%, hộ chăn nuôi chiếm 85%, hộ trồng cây lâm nghiệp chiếm 42,8% trong cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hóa của hộ. Phân tích theo tộc người, giá trị sản phẩm hàng hoá cao nhất là người Kinh 13,337 triệu đồng, thấp nhất là người Sán dìu 10,076 triệu đồng. Nếu theo ngành sản xuất, ngành trồng trọt có giá trị sản phẩm hàng hoá cao nhất là người Kinh 63,4%, ngành chăn nuôi là người Nùng 39,4%, ngành lâm nghiệp là người Sán dìu 6,4%. Phân tích giá trị sản phẩm hàng hoá theo quy mô sản xuất hàng hoá, thì không có sự chênh lệch nhiều về cơ cấu giá trị hàng hoá giữa các ngành, điều khác nhau chủ yếu là về quy mô giá trị hàng hoá. Nhóm hộ hàng hoá lớn có quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá là: 20,439 triệu đồng, nhóm hộ hàng hoá trung bình là: 14,821 triệu đồng, nhóm hộ hàng hoá nhỏ là 9,533 triệu đồng. Như vậy các hộ có hướng sản xuất khác nhau thì quy mô hàng hoá và cơ cấu sản phẩm hàng hoá rất khác nhau. Nhóm hộ hàng hoá lớn có quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá gấp 1,38 lần hộ hàng hoá trung bình và gấp 2,14 lần hộ hàng hoá nhỏ. Vậy là khoảng cách quy mô sản xuất hàng hoá giữa các hộ chênh lệch chưa cao, thể hiện mức độ sản xuất hàng hoá còn hạn chế. 2.2.5. Thu nhập và đời sống của hộ nông dân 2.2.5.1. Thu nhập của hộ nông dân - Thu nhập từ nông lâm nghiệp của hộ là phần thu nhập sau khi lấy tổng thu trừ đi chi phí vật chất, trừ tiền công thuê ngoài và trừ đi chi phí khác. Như vậy trong phần thu nhập của hộ nông dân bao gồm tiền công lao động của hộ, tiền công lao động của các thành viên khác trong gia đình và lãi thuần của hộ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 100.
    78 Đồ thị 2.2. Cơ cấu thu nhập từ sản xuất nông lâm nghiệp 5.6 23.8 70.6 Trồng trọt Chăn nuôi Lâm nghiệp Qua điều tra cho thấy, bình quân thu nhập của các hộ từ sản xuất nông lâm nghiệp là 12,398 đồng, trong đó thu nhập từ trồng trọt là 8,747 triệu đồng chiếm 70,6%, chăn nuôi là 2,947 triệu đồng chiếm 23,8%, lâm nghiệp là 0,704 triệu đồng chiếm 5,6%. Nếu phân tích theo vùng cho thấy, mức thu nhập bình quân từ nông lâm nghiệp cao nhất ở xã Hoá Thượng 12,229 triệu đồng, trong đó thu nhập từ trồng trọt là 9,535 triệu đồng, chăn nuôi 3,549 triệu đồng, lâm nghiệp 1,145 triệu đồng; thấp nhất là xã Hoà Bình 11,344 triệu đồng, trong đó thu nhập từ nông nghiệp là 8,332 triệu đồng, chăn nuôi là 1,931 triệu đồng, lâm nghiệp là 1,078 triệu đồng. Phân tích thu nhập theo hướng sản xuất chính thì ta thấy có sự chênh lệch nhiều giữa các nhóm hộ. Nhóm hộ trồng cây ăn quả có mức thu nhập cao nhất 10, 117 triệu đồng, thấp nhất là nhóm hộ lâm nghiệp 4,35 triệu đồng. Phân tích thu nhập theo tộc người thì người Kinh có thu nhập cao nhất 11,095 triệu đồng, thấp là người Tày 8,373 triệu đồng. Phân tích theo quy mô sản xuất hàng hoá, hộ hàng hoá lớn có mức thu nhập là 16,731 triệu đồng, hộ hàng hoá trung bình có mức thu nhập là 11,087 triệu đồng, hộ hàng hoá nhỏ có mức thu nhập là 9,851 triệu đồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 101.
    79 Bảng 2.17. Tổng thu nhập bình quân từ sản xuất nông lâm nghiệp của hộ điều tra Đơn vị tính: Triệu đồng Trong đó Tổng thu Phân loại hộ Trồng Chăn Lâm nhập NLN trọt nuôi nghiệp Bình quân chung 12,398 8,747 2,947 0,704 1. Theo vùng - Xã Hóa Thượng 12,229 9,535 3,549 1,145 - Xã Khe Mo 11,624 8,074 3,359 0,191 - Xã Hoà Bình 11,344 8,332 1,931 1,078 2. Theo hướng sản xuất - Cây hàng năm 9,964 7,619 2,117 0,228 - Cây ăn quả 10,117 7,816 2,156 0,145 - Cây CN lâu năm 9,796 8,044 1,621 0,131 - Chăn nuôi 8,064 4,857 3,152 0,055 - Lâm nghiệp 4,35 1,905 0,44 2,005 3. Theo tộc người - Người Kinh 11,095 8,741 2,153 0,201 - Người Nùng 9,848 8,302 1,340 0,206 - Người Sán dìu 8,789 6,942 1,686 0,161 - Người Tày 8,373 6,700 1,391 0,282 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 16,731 12,241 2,699 1,791 - Hộ hàng hoá TB 11,087 8,760 1,957 0,370 - Hộ hàng hoá nhỏ 9,851 7,057 2,202 0,592 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 102.
    80 - Thu nhập ngoài nông lâm nghiệp : Thu nhập của các hộ nông dân hiện nay không chỉ đơn thuần là thu nhập từ nông nghiệp, mà còn thu nhập từ nhiều nguồn khác nữa, đó là thu nhập từ làm thuê, từ dịch vụ chế biến, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm. Qua phụ bảng 01 cho thấy, thu nhập bình quân của hộ ngoài nông lâm nghiệp là 2,939 triệu đồng, trong đó ngành chế biến 0,553 triệu đồng chiếm 18,8%, ngành dịch vụ nông nghiệp 0,821 triệu đồng chiếm 27,9%, từ lao động làm thuê 0,422 triệu đồng chiếm 14,4% và các ngành nghề khác 1,143 triệu đồng chiếm 38,9%. Một số hộ nông dân sản xuất giỏi, có điều kiện tích luỹ vốn, hộ đầu tư mua sắm các thiết bị sản xuất hiện đại như: máy cày, máy bừa, máy say xát, máy bơm nước, ôtô vận tải… ngoài để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của gia đình họ còn mở các dịch vụ như: vận chuyển, sơ chế nông sản phẩm, làm đất… Hiện nay nhiều hộ nông dân có xu hướng mở rộng quy mô sản xuất, mở nhiều ngành nghề mới: chế bến thức ăn gia súc, dệt may, gò hàn và một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ nhằm khai thác nguyên liệu sẵn có của vùng và để tận dụng lao động. - Tổng thu nhập của hộ nông dân: bao gồm nguồn thu từ nông lâm nghiệp và nguồn thu ngoài nông lâm nghiệp Qua bảng 218 ta thấy nếu so sánh các nguồn thu nhập của hộ, thu nhập từ NLN chiếm 80,81%, thu nhập từ các ngành khác chiếm 19,19%. Nếu phân tích thu nhập theo xã, thì ở các xã có sự chênh lệch đáng kể, thu nhập cao nhất là xã Hoá Thượng 15,504 triệu đồng, trong đó thu nhập từ NLN là 12,229 triệu đồng chiếm 78,88%, thấp nhất là xã Hoà Bình 14,080 triệu đồng trong đó thu nhập từ NLN là 11,344 triệu đồng chiếm 80,57%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 103.
    81 Bảng 2.18. Tình hình thu nhập của hộ nông dân điều tra năm 2007 Thu nhập ( triệu. đồng) Phân loại hộ Tổng thu nhập TN từ NLN TN ngoài NLN Bình quân chung 15,337 12,398 2,939 1. Theo vùng - Xã Hóa Thượng 15,504 12,229 3,275 - Xã Khe Mo 14,430 11,624 2,806 - Xã Hoà Bình 14,080 11,344 2,736 2. Theo hướng sản xuất - Cây hàng năm 12,430 9,964 2,466 - Cây ăn quả 12,871 10,117 2,754 - Cây CN lâu năm 12,370 9,796 2,574 - Chăn nuôi 10,305 8,064 2,241 - Lâm nghiệp 6,052 4,35 1,702 3. Theo tộc người - Người Kinh 13,865 11,095 2,770 - Người Nùng 12,310 9,848 2,462 - Người Sán dìu 10,979 8,789 2,190 - Người Tày 10,464 8,373 2,091 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 20,496 16,731 3,765 - Hộ hàng hoá TB 13,767 11,087 2,680 - Hộ hàng hoá nhỏ 12,307 9,851 2,456 Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra hộ năm 2007 Nếu phân tích theo hướng sản xuất thì nhóm hộ trồng cây ăn quả có mức thu nhập bình quân cao nhất 12,871 triệu đồng, trong đó thu từ NLN là 10,117 triệu đồng chiếm 78,60%, từ ngoài nông lâm nghiệp là 2,754 triệu đồng chiếm 21,40%; thấp nhất là nhóm hộ sản xuất lâm nghiệp 6,052 triệu đồng trong đó thu từ NLN là 4,35 triệu đồng chiếm 71,88%, thu ngoài nông lâm nghiệp 1,702 triệu đồng chiếm 28,12%. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 104.
    82 Phân tích thu nhập của hộ nông dân theo tộc người thì các tộc người có sự chênh lệch đáng kể, có thu nhập cao nhất là nhóm người Kinh 13,865 triệu đồng, thấp nhất là nhóm hộ người Tày 10,464 triệu đồng. Phân tích theo quy mô sản xuất hàng hoá cho thấy khoảng cách thu nhập giữa các nhóm hộ là cao. Nhóm hộ hàng hoá lớn có mức thu nhập 20,496 triệu đồng trong đó thu nhập từ NLN là 16,731 triệu đồng, thu nhập ngoài NLN là 3,765 triệu đồng. Nhóm hộ hàng hoá nhỏ có mức thu nhập bình quân 13,767 triệu đồng trong đó thu nhập từ NLN là 11,087 triệu đồng, ngoài NLN là 2,456 triệu đồng. Như vậy có thể thấy mức độ thu nhập của hộ nông dân phụ thuộc rất lớn vào hướng sản xuất kinh doanh chính và quy mô sản xuất hàng hoá của hộ - Nhóm hộ trồng cây ăn quả có thu nhập bình quân cao nhất và nhiều hơn nhóm hộ lâm nghiệp là 6,819 triệu đồng/năm. - Thu nhập bình quân của nhóm hộ hàng hoá lớn gấp 1,49 lần so với nhóm hộ hàng hoá trung bình và gấp 1,66 lần so với nhòm hộ hàng hoá nhỏ. 2.2.5.2. Tình hình đời sống của hộ nông dân Huyện Đồng Hỷ mặc dù là huyện nằm giáp với Thành phố Thái nguyên nhưng cuộc sống của các hộ nông dân ở các xã trong huyện chưa thực sự cao, sản phẩm của các hộ làm ra chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nhiều hơn là sản phẩm đem bán ra thị trường. - Mức thu nhập: Mức thu nhập bình quân chung của các hộ ở các xã điều tra là 3,592 triệu đồng/ khẩu và 6,337 triệu đồng/ lao động ( Bảng 2.19) Như vậy mức sống của các hộ nông dân phụ thuộc rất nhiều vào sản xuất nông lâm nghiệp chiếm 80,81%, ngoài sản xuất nông lâm nghiệp chiếm 19,19%. Nếu phân theo các xã điều tra thì ta thấy xã Hoá Thượng có mức sống của khẩu cao nhất 3,630 triệu đồng, thấp nhất là xã Hoà Bình 3,279 triệu đồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 105.
    83 Nếu phân tích theo hướng sản xuất thì mức sống của các nhóm hộ cũng khác nhau, nhóm hộ trồng cây hàng năm và cây ăn quả có mức sống cao hơn nhóm hộ chăn nuôi và cây lâu năm, thấp nhất là nhóm hộ trồng cây lâm nghiệp đạt 2,866 triệu đồng/khẩu. Nếu nhìn và phân tích theo tộc người thì người Kinh có đời sống khá cao 4,390 triệu đồng, sau đó là người Nùng 3,411 triệu đồng, người Sán Dìu 3,224 triệu đồng, thấp nhất là người Tày 2,633 triệu đồng. Bảng 2.19. Mức thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu của hộ nông dân điều tra Trong đó Phân loại hộ Tổng thu nhập Từ NLN Từ ngoài NLN Khẩu LĐ Khẩu LĐ Khẩu LĐ Bình quân chung 3,592 6,337 2,903 5,123 0,688 1,214 1. Theo vùng - Xã Hóa Thượng 3,630 6,406 2,864 5,053 0,766 1,353 - Xã Khe Mo 3,379 5,962 2,722 4,803 0,657 1,159 - Xã Hoà Bình 3,297 5,818 2,656 4,688 0,641 1,130 2. Theo hướng sản xuất - Cây hàng năm 3,511 6,445 2,952 5,556 0,559 0,889 - Cây ăn quả 3,480 6,172 2,939 5,521 0,541 0,651 - Cây CN lâu năm 3,382 6,092 2,837 5,216 0,545 0,876 - Chăn nuôi 3,287 6,027 2,678 4,820 0,609 1,207 - Lâm nghiệp 2,866 6,321 2,272 5,397 0,594 0,924 3. Theo tộc người - Người Kinh 4,390 6,531 3,650 5,397 0,659 1,134 - Người Nùng 3,411 6,217 2,840 5,138 0,571 1,079 - Người Sán dìu 3,224 6,065 2,712 5,056 0,512 1,009 - Người Tày 2,633 5,850 2,132 4,912 0,501 0,938 4. Theo quy mô sản xuất hàng hoá - Hộ hàng hoá lớn 5,554 7,535 4,534 6,151 1,020 1,384 - Hộ hàng hoá TB 3,186 5,883 2,566 4,738 0,620 1,145 - Hộ hàng hoá nhỏ 2,558 5,594 2,048 4,477 0,510 1,116 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 106.
    84 Nếu phân tích theo quy mô sản xuất hàng hoá, nhóm hộ hàng hoá lớn có mức thu nhập 5,554 triệu đồng gấp 1,74 lần so với hộ hàng hoá TB và gấp 2,2 lần nhóm hộ hàng hoá nhỏ. - Tình hình chi tiêu của hộ: Qua bảng phụ lục số 02 ta thấy, do thu nhập của các hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ chưa cao nên mức chi cho đời sống còn nhiều hạn chế. Mức chi tiêu bình quân chung của hộ điều tra là 6,964 triệu đồng. Chủ yếu là chi cho ăn uống, lương thực, thực phẩm, chất đốt, hút thuốc, rượu chè... chiếm 59,63%. Còn lại 40,37% là chi giáo dục, y tế, điện nước, đi lại, mua sắm thiết bị sản xuất, quần áo... Nếu theo vùng thì xã Hoá Thượng có mức chi tiêu cao nhất là 7,170 triệu đồng, thấp nhất là xã Hoà Bình 6,788 triệu đồng. Theo cơ cấu chi tiêu cho thấy xã Hoà Bình mặc dù thu nhập thấp nhưng cơ cấu chi tiêu cho ăn uống chiếm tỷ trọng cao 59,66%, xã Hoá Thượng có thu nhập cao nhưng chi tiêu cho ăn uống chiếm tỷ trọng thấp 51,19% và chi cho đời sống khác cao 48,81%. Phân tích mức chi tiêu theo quy mô sản xuất hàng hoá, hộ hàng hoá lớn có mức chi tiêu là 5,894 triệu đồng, hộ hàng hoá TB là 7,177 triệu đồng, hộ hàng hoá nhỏ là 6,642 triệu đồng. Theo cơ cấu chi tiêu thì hộ hàng hoá lớn có tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống, hút chiếm tỷ trọng thấp ( 51,7%), chi cho hoạt động khác chiếm tỷ trọng cao ( 48,3%). Nếu tính riêng cho ăn uống thì nhóm hộ hàng hoá nhỏ và trung bình gấp từ 1,36-1,40 lần hộ hàng hoá lớn, nếu tính chi cho các hoạt động khác thì hộ hàng hoá lớn chi gấp 1,1-1,3 lần hộ hàng hoá TB và nhỏ. Nguyên nhân nhóm hộ hàng hoá lớn chi tiêu cho đời sống thấp là do bình quân nhân khẩu của một hộ hàng hoá lớn thấp hơn so với các nhóm hộ khác. Do vậy, các hộ hàng hoá lớn để dành phần thu nhập chi cho sản xuất nhiều hơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 107.
    85 2.2.6. Phân tíchảnh hƣởng của các nguồn lực đến sản xuất hàng hoá của hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ Kinh tế hộ và trang trại chỉ được hình thành và phát triển khi các yếu tố sản xuất của nó được tập trung với một quy mô phù hợp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh các yếu tố này không những có mối quan hệ chặt chẽ với nhau mà còn tác động trực tiếp đến kết quả sản xuất của hộ. Các yếu tố sản xuất có thể phân thành 2 nhóm: Nhóm các yếu tố chủ quan bên trong nội bộ hộ nông dân, nhóm này bao gồm: Đất đai, lao động, tiền vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ hiểu biết của chủ hộ. Nhóm các yếu tố khách quan từ bên ngoài như: Cơ chế, chính sách của Nhà nước, thị trường. Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới kết quả sản xuất kinh doanh sẽ giúp cho các hộ xác định sự tác động nhân tố nào là chủ yếu để đưa ra được những biện pháp giải quyết thật hợp lý. Trên cơ sở nghiên cứu thực tế một số hộ nông dân ở một số xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, chúng tôi sử dụng phương pháp hạch toán kinh tế, thông qua hàm sản xuất Cobb - Douglas để phân tích mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố nội lực của hộ nông dân, phân tích các nguồn lực cho thấy giữa các vùng cũng có sự khác nhau (Xem bảng 2.20). Bảng 2.20. Kết quả phân tích hàm Cobb - Douglas ở vùng nghiên cứu Chung 3 xã Xã Hóa Thƣợng Xã Khe Mo Xã Hòa Bình Tên biến Hệ số Gi á trị t Hệ số Gi á trị t Hệ số Gi á trị t Hệ số Gi á trị t Hệ số chặn 1,677 11,88 1,346 9,76 1,875 8,10 1,763 6,22 Ln(Vốn) 0,311 5,52** 0,505 9,51** 0,211 2,31** 0,247 2,06** Ln(lao động) 0,123 4,23** 0,079 2,43** 0,113 2,07** 0,144 2,61** Ln(diện tích đất) 0,119 4,29** 0,054 2,26** 1,128 2,36** 0,153 3,20** Ln(Trình độ VH) 0,251 7,62** 0,076 3,32** 0,348 5,75** 0,338 4,53** Adjusted R2 0,771 0,902 0,767 0,789 Giá trị F 75,998 67,909 24,996 28,153 Mẫu quan sát 90 30 30 30 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) ** Độ tin cậy 95% Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 108.
    86 -Về nguồn lực đất đai Đất đai trong sản xuất nông nghiệp là yếu tố quan trọng. Độ phì của đất, đặc điểm tính chất của đất…đều ảnh hưởng tới kết quả sản xuất của hộ nông dân. Nguồn lực đất đai có sự biến động khác nhau. Nếu thay đổi 1% đất đai toàn vùng sẽ làm thay đổi giá trị sản phẩm của hộ là 0,119% trong đó cao nhất là xã Hoà Bình 0,153%, xã Khe Mo 0,113%, thấp nhất là xã Hoá Thượng 0,054%. Như vậy là ở xã Hoá Bình sản xuất còn đang ở trong tình trạng quảng canh, đất trống đồi núi trọc còn nhiều thì vấn đề mở rộng thêm đất canh tác là quan trọng. - Về nguồn lực lao động Nếu thay đổi 1% lao động của toàn vùng sẽ làm thay đổi giá trị sản phẩm hàng hoá của hộ là 0,123%, trong đó cao nhất là xã Hoà Bình 0,144%, xã Khe Mo 0,113%, thấp nhất là xã Hoá Thượng 0,079%. Giải pháp cho xã Khe Mo về lao động để tiếp tục phát huy tiềm năng về đất và vốn. Các hộ phát triển sản xuất hàng hoá, đã bước đầu thu hút một bộ phận lao động sang ngành nghề sản xuất phi nông nghiệp. Tuy vậy đó mới chỉ là về số lượng lao động, vấn đề quan trọng còn là năng suất, chất lượng lao động. - Về nguồn lực vốn sản xuất Mọi quá trình sản xuất đều cần có vốn đầu tư. Lượng vốn nhiều hay ít ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của hộ và tác động đến kết quả sản xuất. Những hộ không có điều kiện về vốn thì việc đầu tư cho sản xuất thấp, làm cho chất lượng sản xuất thấp và hiệu quả thu được cũng thấp. Những hộ có điều kiện thì đầu tư cho việc thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng vật nuôi, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển thêm các ngành nghề để mang lại thu nhập cao hơn. Họ có điều kiện để tích luỹ nhiều hơn lên phần lớn vốn đầu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 109.
    87 tư cho sảnxuất là vốn tự có, bên cạnh đó họ cũng lợi dụng triệt để các nguồn vốn khác vào mục đích sản xuất của mình. Những hộ nghèo thiếu vốn thì lại sợ vay vốn không trả được do hiệu quả sản xuất thấp. Đây là một vấn đề trong phát triển kinh tế hộ. Tính chung toàn vùng, nếu thay đổi 1% vốn sẽ làm thay đổi giá trị sản phẩm hàng hoá của hộ là 0,311%. Vốn tác động manh nhất đến xã Hoá Thượng 0,505%, xã Hoà Bình 0,247%, thấp nhất là xã Khe Mo 0,211%. Như vậy là xã Khe Mo rất cần vốn để phát triển sản xuất hàng hoá. Việc tìm ra giải pháp nhằm tạo ra nguồn vốn cho các hộ nông dân có một ý nghĩa hết sức to lớn, nhằm khai thác những tiềm năng của vùng về lao động và đất đai để sản xuất theo hướng hàng hoá. - Về trình độ văn hoá Nếu thay đổi 1% trình độ văn hoá sẽ làm thay đổi giá trị sản phẩm hàng hoá của hộ là 0,251%. Trình độ văn hoá tác động mạnh nhất đến xã Khe Mo 0,348%, xã Hoà Bình 0,338 % thấp nhất là xã Hoá Thượng 0,076%. Mỗi vùng, mỗi xã đều có thế mạnh và tiềm năng riêng. Vì vậy các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả sản xuất cũng khác nhau. Qua phân tích ở trên cho thấy. Đối với xã Hoà Bình một xã vùng cao của huyện Đồng Hỷ hướng đầu tư hơn cho trình độ văn hoá của chủ hộ, vốn, đất đai, lao động. Xã Hoá Thượng một xã nằm giáp với trung tâm huyện nên việc đầu tư vốn là vấn đề quan trọng hơn cả, sau đó mới đến đất đai và lao động, trình độ lao động của chủ hộ. Xã Khe Mo thứ tự ưu tiên là trình độ văn hoá của chủ hộ, vốn, lao động, đất cần phát triển mạnh hơn nữa cây ăn quả đặc biệt là cây chè. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 110.
    88 Qua kết quả phân tích trên cho chúng ta thấy các giải pháp về vốn, lao động, đất đai và nâng cao trình độ văn hoá có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao thu nhập cho hộ sản xuất hàng hoá. 2.2.7 Ảnh hƣởng của yếu tố thị trƣờng đến sản xuất của hộ Thị trường là nơi kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm hàng hoá, đồng thời tác động đến quyết định loại sản phẩm hàng hoá cũng như quy mô sản xuất lựa chọn của chủ hộ. Nơi nào tiêu thụ sản phẩm tốt, giá bán cao nơi đó sản xuất hàng hóa sẽ có cơ hội để phát triển. Bảng 2.21 Phƣơng thức tiêu thụ một số sản phẩm của hộ nông dân vùng nghiên cứu năm 2007 Đơn vị tính: % Hộ có sản phẩm hàng hóa chủ yếu Chỉ tiêu Quả Rau Chè Lợn Gà 1. Bán cho các đối tƣợng - Tư thương 69,0 70,1 48,3 95,2 94,5 - Nhóm hộ chế biến 27,1 25,8 30,1 4,8 5,0 - Nhà máy chế biến 4,0 5,0 22,0 0,0 0,0 2. Hình thức bán - Tại nhà 55,2 10,5 22,7 87,7 42,5 - Tại chợ 15,8 27,2 14,5 11,1 41,1 - Tại điểm thu gom 22,4 18,1 52,2 1,2 16,4 - Tại vườn 6,6 45,0 10,6 0,0 0,0 3. Phƣơng thức bán - Bán buôn 84,4 56,3 28,3 18,6 24,6 - Bán lẻ 15,6 43,7 71,7 81,4 75,4 4. Thông tin giá cả - Biết trước khi bán 55,6 58,7 60,3 68,6 62,6 - Biết sau khi bán 44,4 41,3 39,7 31,4 32,4 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 111.
    89 Qua biểu 2.21 cho thấy sản phẩm của hộ bán cho tư thương cao nhất là sản phẩm thịt lợn hơi 95,2%, sản phẩm gà 94,5%; bán cho hộ thu gom chế biến chủ yếu là chè búp tươi 30,1%. Hình thức bán tại nhà chủ yếu là sản phẩm thịt lợn hơi 87,7%, quả tươi 55,2%; tại chợ chủ yếu là sản phẩm gà ngan, vịt 41,1%, rau xanh 27,2%; bán tại vuờn chủ yếu là rau xanh 45%, chè 10,6%, quả 6,6%. Phương thức bán buôn chủ yếu tập trung chủ yếu là quả 84,4%,bán lẻ chủ yếu là sản phẩm thịt lợn hơi. Thông tin về giá cả, các hộ nông dân biết trước giá cả cao nhất là sản phẩm lợn 68,6%, thấp nhất là các loại hoa quả 55,6%. Chính vì vậy mà người dân cần phải năm được thông tin về giá cả trên thị trường, để không bị các tư thương ép giá. Các vùng cần phải tổ chức các đầu mối tiêu thụ sản phẩm, xây dựng các nhà máy chế biến vừa và nhỏ để thu hút các sản phẩm của các hộ nông dân sản xuất ra. Ở nơi nào tổ chức được công tác chế biến sản phẩm tốt thì nơi đó sản xuất hàng hoá phát triển. Như nông trường chè Sông Cầu. Một số nơi đường giao thông đi lại khó khăn, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ được dẫn đến giá thấp, thu không đủ chi phí, hàng hoá kém phát triển. Để sản xuất hàng hoá phát triển, Nhà nước cần có sự hỗ trợ về đầu tư về cơ sở vật chất, mở rộng và xây dựng các cơ sở chế biến, các chợ vừa và nhỏ để tiêu thị sản phẩm. Mặt khác cần có chính sách trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, phát triển công nghiệp chế biến tại chỗ, hướng dẫn việc ký kết hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp chế biến nông sản và tiêu thụ sản phẩm. Tổ chức mở rộng ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn miền núi. 2.2.8 Ảnh hƣởng của các điều kiện bên ngoài đến sản xuất của hộ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 112.
    90 Qua khảo điều tra lấy ý kiến của các hộ nông dân ở các xã điều tra, những điều kiện tác động của các yếu tố ngoại lực đã thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất hàng hoá phát triển. Ở bảng 2.22 cho thấy bình quân ở 3 xã có tới 99,1% các ý kiến cho rằng ổn định đất đai lâu dài cho hộ nông dân là vấn đề quan trọng, thị trường tiêu thụ sản phẩm 95,3%, sau đó đến vốn 94,7%, Bảng 2.22. Ảnh hƣởng các yếu tố bên ngoài đến sản xuất hàng hoá của hộ nông dân ở vùng điều tra năm 2007 Đơn vị tính: % Các ý kiến được hỏi BQ chung Xã Xã Xã Chỉ tiêu 3 xã Hóa Thƣợng Khe Mo Hòa Bình 1. Vị trí địa lý thuận lợi 82,3 85,6 82,1 79,3 2. Đất đai ổn định lâu dài 99,1 98,7 99,1 99,5 3. Vốn sản xuất 94,7 95,8 91,1 97,4 4. Công cụ sản xuất 84,2 85,6 86,7 80,3 5. Kết cấu hạ tầng 67,8 67,8 76,9 58,9 6. Kỹ thuật canh tác 89,9 87,6 92,4 89,9 7.Thị trường tiêu thụ sản phẩm 95,3 97,7 96,2 91,9 8. Ảnh hưởng của liên kết 60,9 62,3 55,7 64,9 9. Trợ giá nông nghiệp 50,8 45,7 51,0 55,7 (Nguồn: Số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra) Có nhiều yếu tố tác động đến sản xuất của hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ. Qua phân tích trên có thể thấy trình độ của các hộ nông dân còn hạn chế về chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, vốn sản xuất và thị trường tiêu thụ nông sản phẩm. Tổng hợp ý kiến nguyện vọng của các hộ điều tra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 113.
    91 Qua phụ bảng số 03 cho thấy về nhu cầu mở rộng quy mô đất đai để sản xuất có tới 20,1% các hộ điều tra có nguyện vọng. Nếu xét theo nhóm hộ thì nhóm hộ hàng hoá lớn có nhu cầu cao nhất 38,4% Về vốn sản xuất đa số các hộ đều có nhu cầu về vốn chiếm 77,6% cao nhất là nhóm hộ hàng hoá nhỏ 94,6%, thấp nhất là hộ hàng hoá trung bình 58,3%. Về lao động, số hộ đủ lao động chiếm 47,9% số thiếu lao động 22,9%, số thừa lao động 29,2%. Thiếu lao động nhiều nhất là ở nhóm hộ hàng hoá lớn 80,6%. Thị trường tiêu thụ nông sản phẩm các ý kiến được hỏi có tới 64,8% là còn thiếu thông tin trong đó hộ hàng hoá nhỏ chiếm cao nhất 68,2%. Giá cả thấp và tiêu thụ sản phẩm khó khăn chủ yếu ý kiến ở nhóm hộ hàng hoá lớn. Chính sách về hỗ trợ vốn ở các nhóm hộ đều có nhu cầu cao nhóm hộ hàng hoá nhỏ 75,9% và hộ hàng hoá lớn 62,7%, hộ hàng hoá nhỏ 56,9%. Đào tạo chuyên môn kỹ thuật 58,9%. Như vậy vấn đề đất đai hạn chế, thiếu vốn, thiếu thông tin và hiểu biết về thị trường, thừa lao động…là nguyên nhân cơ bản dẫn đến quy mô sản xuất hàng hoá của hộ nông dân chưa cao, chất lượng sản phẩm còn thấp. 2.2.9. Những nhận xét và đánh giá chung trong phát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ Qua quá trình khảo sát và phân tích thực trạng của 90 hộ nông dân ở 3 xã của huyện Đồng Hỷ có thể nhận thấy một số vấn đề sau: Các chủ hộ nông dân là nhiều thành phần dân tộc khác nhau như: Kinh, Nùng, Sán Dìu, Tày..., xuất xứ khác nhau. Từ đó dẫn đến có sự chênh lệch khác nhau về trình độ hiểu biết về về khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm kinh doanh buôn bán, đặc biệt là các dân tộc thiểu số còn rất nhiều hạn chế về vấn đề này. Kinh tế hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ không ngừng phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Trên cơ sở kết hợp đa dạng hoá và chuyên môn hoá sản xuất theo yêu cầu của thị trường. Cơ cấu đất trồng cây công nghiệp và cây ăn quả có xu hướng tăng sản lượng cây ăn quả các loại năm 2007 đạt 5000 tấn, huyện tiếp tục chỉ đạo thâm canh tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 114.
    92 phẩm, tuyển chọncác loại cây mới phù hợp với nhu cầu của thị trường như: Xoài, na, nhãn, vải chín muồi, cam, chanh, quýt… để trồng mới hoặc thay thế. Trong chăn nuôi tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc ở các xã vùng cao của huyện, ở xã thấp thì phát triển. Các hộ nông dân đã từng bước sử dụng hợp lý các yếu tố sản xuất và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 115.
    93 Chƣơng 3 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ 3.1. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ 3.1.1. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá nhằm khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội, bảo vệ môi trƣờng sinh thái và tái tạo nguồn lợi Môi trường sống và môi trường sản xuất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ ngày càng xấu đi nghiêm trọng. Nhiều tổ chức quốc tế Chính phủ cũng như phi Chính phủ đang đấu tranh cho sự phát triển bền vững của môi trường. Nhiều cuộc hội thảo trong nước cũng như quốc tế có sự tham gia của hộ nông dân về vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong nông nghiệp. Nhiều vùng nông nghiệp "sạch" đã hình thành với chủ trương không dùng thuốc trừ sâu, không dùng hoặc dùng ít phân hàng hoá. Các sản phẩm nông nghiệp "sạch" được thị trường quốc tế ưa chuộng. Xu hướng của phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp là hướng tới một nền nông nghiệp phát triển bền vững được khái quát bằng 3 đặc điểm sau: - Thoả mãn được nhu cầu của con người về nông sản. - Có khả năng thích ứng với các tiến bộ kỹ thuật ngày càng cao trong nông nghiệp. - Đảm bảo môi trường sống, môi trường tự nhiên không bị phá huỷ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 116.
    94 Hiện nay bảo vệ môi trường đang là vấn đề sống còn đối với mỗi gia đình, mỗi quốc gia và toàn thế giới. Đối với nước ta, môi trường tự nhiên cũng đã bị tàn phá nhiều song chưa nghiêm trọng như các nước công nghiệp đã và đang phát triển. Chúng ta còn có cơ hội tốt để vừa sản xuất vừa có các biện pháp bảo vệ môi trường. Chính sách bảo vệ môi trường chỉ thành công khi từng hộ nông dân thời gian vào công việc này. Huyện Đồng Hỷ về tự nhiên, kinh tế xã hội khá thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông sản hàng hoá, đặc biệt là tiềm năng về đất đai và thị trường tiêu thụ nông sản phẩm thuận tiện. Mặc dù vậy cho đến nay các tiềm năng và lợi thế đó chưa được khai thác tốt. Hầu hết các hộ nông dân còn có quy mô nhỏ, chưa thoát hỏi tình trạng sản xuất tự cấp tự túc. Sản xuất hàng hoá kém phát triển là nguyên nhân làm cho đời sống người dân còn thấp, tỷ lệ nghèo đói còn cao. Nạn chặt phá rừng bừa bãi, ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái, lũ lụt, hạn hán đe dọa sản xuất, tài nguyên, khoáng sản và tính mạng con người. Chính vì vậy cần phải huy động, khai thác đất đai, sức lao động và các nguồn lực khác một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả. Trong tình hình đó, phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá là điều kiện để khai thác tốt các nguồn lực và lợi thế của vùng, nó thúc đẩy chuyên môn hoá sản xuất, khai thác sử dụng hợp lý các nguồn lực, tạo điều kiện cho các hộ nông dân đẩy mạnh thâm canh, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi. Từ đó làm tăng khả năng bảo vệ môi trường sinh thái, làm cho môi trường các tốt đẹp lên và các nguồn lợi tự nhiên được tái tạo nhiều hơn do sử dụng hợp lý, khai thác đúng mức các nguồn lực, tạo ra một hệ thống canh tác nông nghiệp bền vững cho đất dốc. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá ở Huyện Đồng Hỷ là yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế hộ của vùng, nó tác động bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường. Đó chính là quá Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 117.
    95 trình thay thếsản xuất tự cấp tự túc bằng việc sản xuất các nông sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường và của xã hội. Nó tạo điều kiện bảo vệ môi trường sinh thái, kết hợp khai thác tiềm năng với xây dựng hệ thống nông lâm nghiệp bền vững nhằm tái tạo các nguồn lợi về đất, rừng phòng hộ đầu nguồn, hệ thống động thực vật và các nguồn lợi thuỷ sản. 3.1.2. Hình thành và phát triển kinh tế trang trại gia đình là một trong những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu trong thời gian tới nhằm tăng số lƣợng hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá Sự phát triển của nền nông nghiệp chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, gắn liền với sự ra đời và phát triển của các hộ trang trại. Vì sản xuất nên các hộ nông dân phải căn cứ vào thị trường để xây dựng phương hướng kinh doanh, phải khai thác tốt nhất các nguồn lực, phải dựa trên cơ sở phát triển sản xuất chuyên môn hoá, tập trung hoá và thâm canh hoá. Mặt khác để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất, các chủ hộ buộc phải đầu tư sản xuất đạt quy mô hợp lý, thường xuyên đổi mới công cụ, thiết bị, công nghệ sản xuất và nâng cao trình độ quản lý. Từ đó đạt hiệu quả kinh tế cao và tăng thu nhập. Những hộ khá, giầu có điều kiện về vốn, về kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp sẽ tiếp tục tích tụ đất đai và hình thành trang trại có quy mô phù hợp với từng điều kiện của từng vùng và từng loại hình sản xuất. Ở nước ta kinh tế trang trại mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây, song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tế trang trại đã thể hiện rõ nét trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường. Trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn hoá, tập trung hàng hoá và thâm canh cao. Trang trại góp phần thúc đẩy phát triển các ngành nghề khác, nhất là công nghiệp chế biến và dịch vụ trong nông thôn, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 118.
    96 làm tăng hộgiầu trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập cho người lao động. Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mạng thêm diện tích đất trồng, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là vùng trung du, miền núi, góp phần giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hoá. Chính vì vậy, để tận dụng hết khả năng lợi thế so sánh của vùng thì việc chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang phát triển sản xuất hàng hoá đối với những hộ khá, giầu theo mô hình trang trại là một tất yếu. 3.1.3. Phát triển kinh tế hộ theo hƣớng sản xuất hàng hoá phải gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, với quá trình hội nhập vào nền kinh tế cả nƣớc và nƣớc ngoài Để đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất hàng hoá lớn phải bắt đầu từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn. Đó chính là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố liên minh giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức những nhà khoa học. - Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn. - Công nghiệp hoá nông nghiệp tức là áp dụng quy trình công nghiệp vào từng khâu và tiến tới tất cả các khâu của sản xuất nông nghiệp, bao gồm các khâu trước và sau thu hoạch. Hiện nay ở nhiều nước, các công đoạn như tưới nước, làm đất, gieo trồng, bón phân, chọn giống, thu hoạch... đã được công nghiệp hoá (tất nhiên mức độ cơ giới hoá phụ thuộc vào từng loại cây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 119.
    97 trồng). Nhờ nhữngtiến bộ trong khoa học kỹ thuật cho phép sản xuất nông nghiệp được thực hiện theo phương pháp sản xuất và quản lý theo kiểu công nghiệp.Ví dụ hiện nay phương pháp trồng rau, hoa trong nhà kính đã phát triển. Cũng giống như ngành công nghiệp, người ta có thể tính trước được nguyên liệu "đầu vào" và sản lượng "đầu ra" của ngành trồng rau, hoa. Xu hướng trong tương lai, các cây trồng khác đang từng bước được thực hiện theo hướng công nghiệp hoá. - Hiện đại hoá nông nghiệp là ứng dụng những kiến thức, những thành tựu khoa học tiên tiến nhất vào sản xuất. Nhờ có hoạt động nông nghiệp mà vùng nông thông có thể tiến kịp thành thị, sản xuất nông nghiệp đạt được hiệu quả cao. 3.1.4. Phát huy nội lực, tạo bƣớc phát triển mới trong kinh tế hộ nhằm thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để tạo điều kiện cho hộ nông dân sản xuất hàng hoá Từ năm 1988 trở lại đây, trên cơ sở nhận thức lại, tổng kết thực tiễn, tiến hành đổi mới chế độ kinh tế hợp tác đã tạo nên những động lực mới thúc đẩy sản xuất phát triển. Như vậy trước hết trong quan điểm sản xuất cần khẳng định dứt khoát vai trò của hộ nội dung là đơn vị kinh tế cơ bản của sản xuất nông nghiệp hiện tại cũng như trong tương lai. Một khi đã thừa nhận vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân thì tất yếu cũng phải thừa nhận sản xuất hàng hoá của nông hộ. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là cần khuyến khích hộ sản xuất hàng hoá làm giàu cho gia đình họ và xã hội. Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, phát triển nền nông nghiệp hàng hoá thì sự phân hoá kinh tế hộ thành những hộ giàu nghèo là tất yếu của quá trình vận động phát triển. Không nên và không thể kìm hãm sản xuất hàng hoá của hộ. Nhà nước phải coi những hộ chưa sản xuất hàng hoá cần được khuyến khích và tạo điều kiện để trở thành hộ sản xuất hàng hoá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 120.
    98 Để hộ nông dân nhanh chóng phát triển thành những hộ sản xuất hàng hoá. Nhà nước cần tạo ra môi trường pháp lý, thể chế hoá các chính sách của Nhà nước về ruộng đất, thuế ruộng đất, tín dụng... để nông dân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất. Các chủ hộ nông dân sau nhiều năm trong cơ chế bao cấp họ chưa thể trở thành một chủ hộ thực sự, nên cần có sự giúp đỡ, định hướng của Nhà nước trong việc sản xuất hàng hoá, không để quan hệ cung cầu tác động quá mức đối với sản xuất gây thiệt thòi cho nội dung. Ở đây chúng tôi muốn nói đến một thị trường có sự can thiệp của Nhà nước. Khai thác lợi thế của địa phương để sản xuất hàng hoá, không thể điều hành sản xuất bằng các biện pháp hành chính như trước đây. Các tổ chức nhà nước và tập thể phát huy tốt vai trò dịch vụ cho sản xuất của hộ. Những năm trước do thiếu lương thực nên hầu hết các xã ở huyện Đồng Hỷ đều cố gắng sản xuất lương thực tới mức cao nhất, thậm chí sản xuất lương thực bằng mọi giá. Hiện nay tình hình đã thay đổi, sản xuất lương thực đủ ăn và có dự trữ, phải trên cơ sở phát huy lợi thế để khai thác tốt hơn tiềm năng của từng vùng. 3.2. MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ 3.2.1. Mục tiêu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hƣớng sản xuất hàng hoá 3.2.1.1. Giá trị tổng sản phẩm và tổng sản phẩm hàng hoá nông lâm sản ngày càng tăng Mục tiêu này có một ý nghĩa to lớn và bao trùm trong việc phát triển kinh tế hộ nông dân. Sản lượng một số sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng thể hiện hướng sản xuất hàng hoá của hộ ngày càng nâng lên, từ đó tăng thu nhập và tích luỹ của hộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 121.
    99 3.2.1.2. Nâng caogiá trị sản phẩm hàng hoá trên đơn vị diện tích canh tác Mục tiêu của các hộ nông dân hiện nay là sản xuất cái gì và sản xuất như thế nào để đạt giá trị sản phẩm hàng hóa cao nhất trên một đơn vị diện tích, sử dụng được nhiều lao động trong điều kiện đất đai có hạn. Muốn đạt được giá trị sản phẩm hàng hóa cao trên một đơn vị diện tích đất canh tác cần phải lựa chọn giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao, chế độ canh tác tiên tiến phù hợp điều kiện của vùng. Bởi giá tri sản phẩm hàng hóa trên một đơn vị diện tích đất canh tác là chỉ tiêu chất lượng quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất đai, đánh giá trình độ và khả năng thâm canh của hộ. Trong những năm qua kinh tế hộ nông dân ở Huyện Đồng Hỷ đạt năng suất lao động, hiệu quả sử dụng ruộng đất, hiệu quả sử dụng lao động và thu nhập nhìn chung vẫn còn thấp. Cho nên việc nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa trên một đơn vị diện tích ở đây là rất cần thiết. Cần phải tăng cường đầu tư giống mới, hướng dần kỹ thuật công nghệ mới để đưa năng suất lúa lên 45,5 tạ/ ha, năng suất ngô lên 41,5 tạ/ ha…vào năm 2008 và tăng năng suất cao hơn nữa của các loại cây trồng vào năm 2010. 3.2.2. Định hƣớng phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá 3.2.2.1. Quy hoạch sản xuất hàng hoá gắn liền với thị trường và lợi thế so sánh nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ nông dân sản xuất hàng hoá, giảm dần tình trạng sản xuất manh mún Quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản và kinh tế nông thôn là một bộ phận của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy cần phải căn cứ vào yêu cầu thị trường trong tỉnh, trong nước và xuất khẩu để quy hoạch lại các vùng, các tiểu vùng sản xuất hàng hóa trọng điểm với quy mô, chủng loại và chất lượng phù hợp với thị trường. Trên cơ sở quy hoạch sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông lâm, thủy sản và sản phẩm nghề, dịch vụ ở nông thôn. Nhà nước và các ngành, các cấp cần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 122.
    100 có cơ chếchính sách phù hợp để thực hiện các hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa cho người sản xuất, và tổ chức dịch vụ để đảm bảo lợi ích của Nhà nước và của nông dân. Cơ cấu sản xuất ở Đồng Hỷ đã có sự chuyển dịch nhất định nhờ sự đổi mới cơ cấu sản xuất của các hộ nông dân. Tuy nhiên kết quả và hiệu quả sản xuất đạt được còn chưa cao.Trong thời gian tới huyện cần phải tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ nông dân theo hướng giảm hộ thuận nông, thực hiện chuyên môn hóa hợp lý kết hợp với da dạng hóa sản xuất kinh doanh tổng hợp, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún. Chuyên môn hóa sản xuất phải kết hợp với đa dạng hóa sản xuất mới có thể giảm được tính thời vụ trong việc sử dụng các nguồn lực của hộ nông dân. Để sản xuất có hiệu quả không thể chỉ có trồng một loại cây trồng, đất đai thích hợp cho việc canh tác nhiều loại cây trồng khác nhau,vì vậy ngoài những sản phẩm chính mỗi hộ có thể chọn cho mình các sản phẩm khác hỗ trợ cho sản phẩm chính để có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Trong quá trình phát triển nhiều hộ nông dân đã chuyển sang làm các ngành nghề dịch vụ phi nông nghiệp khác, kể cả lâm nghiệp và công nghiệp chế biến… 3.2.2.2. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất chuyên môn hoá và đa dạng hoá - Chuyên môn hoá sản xuất trong kinh tế hộ nông dân là tập trung các điều kiện sản xuất của hộ nông dân như đất đai, vốn, lao động... để sản xuất ra một hay vài loài nông sản hàng hoá phù hợp với điều kiện sản xuất của hộ. Chuyên môn hoá thực chất là sự bố trí sắp xếp hợp lý hơn trong sản xuất hàng hoá nhằm: + Tạo điều kiện cho các hộ nông dân sử dụng đầy đủ và hợp lý hơn nguồn tài nguyên sẵn có. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 123.
    101 + Thực hiện sự phân công lao động giữa các hộ sản xuất hàng hoá hoặc nghề nghiệp mà họ có kỹ năng, do đó phát huy được sự sáng tạo và tính năng động của hộ. + Chỉ có chuyên môn hoá mới thúc đẩy nhanh được quá trình sản xuất hàng hoá của hộ. Đối với các xã của Huyện Đồng Hỷ, quy mô nông hộ rất nhỏ bé. Cần chuyển một bộ phận lớn hộ nông dân sang làm các ngành nghề và dịch vụ. Đối với nông nghiệp, trong điều kiện ruộng đất ít có thể một số hộ chuyên chăn nuôi để tạo ra khối lượng sản phẩm gia súc lớn. Đa dạng hoá sản xuất hàng hoá: Nguồn tài nguyên sử dụng trong "đầu vào" của hộ nông dân rất đa dạng, gồm đất đai, lao động, vật tư kỹ thuật, thậm chí cả khí hậu... Do vậy sản xuất hiệu quả nhất không thể chỉ là một loại sản phẩm. Đa dạng hoá sản xuất không mâu thuẫn với chuyên môn hoá. Mỗi nhóm hộ có thể tự chọn cho mình sản xuất loại sản phẩm nào là chính, các sản phẩm khác hỗ trợ cho sản phẩm chính, làm cho nó có hiệu quả hơn. Trong tương lai, đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở chuyên môn hoá là hướng đi tất yếu của Huyện Đồng Hỷ cũng như của ngành nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên. 3.2.2.3. Mở rộng liên kết hợp tác theo hướng đa dạng hoá nhằm phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá gắn với chuyên môn hoá, tập trung hoá Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân càng phát triển họ càng có nhu cầu liên kết, hợp tác với nhau về vốn, kỹ thuật, lao động, thị trường... Cơ sở của mọi sự hợp tác của hộ nông dân là tự nguyện, dựa trên lợi ích kinh tế. Nếu sự hợp tác có lợi thì các hộ nông dân sẽ liên kết, hợp tác với nhau thành từng tổ, nhóm, hợp tác xã (kiểu mới). Hiện nay ở Đồng Hỷ, các hợp tác xã đang chuyển đổi từ chức năng tổ chức và điều hành sản xuất sang hoạt động dịch vụ. Tuy vậy, số hợp tác xã hoạt động dịch vụ có hiệu quả chiếm tỷ trọng nhỏ, nhiều hợp tác xã tồn tại chỉ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 124.
    102 là hình thức.Cần thiết phải đổi mới căn bản theo Luật hợp tác xã và theo các Nghị định của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành. Vì vậy Huyện cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình để có văn bản hướng dẫn cụ thể, phù hợp và có hiệu quả thiết thực trong việc tổ chức đăng ký hoạt động của các hợp tác xã. 3.2.2.4. Đẩy mạnh ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất và dịch vụ trong các hộ nông dân Những tiến bộ kỹ thuật hiện nay đang hàng ngày góp phần vào cải thiện đời sống của mỗi chúng ta. Từ trước đến nay, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp thường chậm hơn nhiều so với các ngành khác vì đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi cần phải có thời gian nhất định mới có thể thấy được kết quả. Một số cây trồng lâu năm như cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày có chu kỳ sinh trưởng 20-30 năm hay hơn nữa nên những tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp thường chậm được thể hiện. Hiện nay tình hình đã có thay đổi, việc ứng dụng các kỹ thuật mới, đặc biệt là kỹ thuật tạo giống đã đạt được tiến bộ vượt bậc, nhiều gia đình nông dân phát triển kinh tế hàng hoá trở nên giàu có là nhờ ứng dụng các tiến bộ mới vào sản xuất. Có thể nói, không ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới thì hàng hoá của họ không thể cạnh tranh được ở trong nước cũng như xuất khẩu về giá cả cũng như về chất lượng. Nhà nước cần tổ chức nghiên cứu, nhập khẩu các tiến bộ kỹ thuật và nhanh chóng giúp nông dân triển khai ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất thông qua các tổ chức nghiên cứu, các trung tâm khuyến nông có ở hầu đến các địa phương. Các ngành mũi nhọn trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật là: - Ngành tạo giống: Giống luôn là yếu tố quyết định trong sản xuất nông nghiệp. Người nông dân sản xuất hàng hoá luôn luôn phải tiếp cận với giống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 125.
    103 mới để đápứng nhu cầu của thị trường. Áp dụng giống mới là biện pháp kinh tế nhất trong sản xuất hàng hoá của nông hộ. - Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong tổ chức quản lý sản xuất khoa học. Cần phải đào tạo kiến thức quản lý kinh doanh cho các chủ hộ mà tương lai là các chủ trang trại. Có thể nói rằng, đầu tư cho nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật là một biện pháp kinh tế nhất trong ngành nông nghiệp. Việc chuyển giao công nghệ hay ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đến nông dân đã trở thành một khâu trong sản xuất, là cầu nối giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất. Chúng ta cần hiểu rằng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật là một cơ hội để hộ nông dân ở huyện Đồng Hỷ vươn lên thoát khỏi nghèo đói, là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế hàng hoá của hộ nông dân. Tóm lại, để kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá cần nhất quán trong nhận thức và các chủ trương chính sách phải khẳng định vai trò và vị trí quan trọng, tính hiệu quả của kinh tế hộ trong tiến trình phát triển sản xuất hàng hoá. Để có sự tác động, khuyến khích, tạo môi trường kinh tế - xã hội - pháp lý thuyết thuận lợi cho kinh tế hộ phát triển, Nhà nước cần tác động, định hướng cho sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đa dạng hoá sản xuất. Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật ngày càng có vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất. 3.2.2.5. Khuyến khích phát triển ngành nghề, tạo thêm việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng hộ khá, giầu Ở khu vực nông thôn, lao động dư thừa, từng đoàn người đổ về thành thị tìm việc làm kiếm sống. Có thể nói đây là căn bệnh khó khắc phục của hầu hết các nước đang phát triển như Thái Lan, Inđônêxia, Philippin... Nước ta cũng đang trong tình trạng như vậy, nhưng mức độ thấp hơn. Nhiều ý kiến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 126.
    104 cho rằng cầnchú trọng phát triển kinh tế khu vực nông thôn, tạo thêm việc làm, phát triển công nghiệp nông thôn, giữ cho khu vực nông thôn tương đối ổn định để phát triển kinh tế hay nói đúng nghĩa là làm nền tảng để đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế khác. Nếu vì lý do kinh tế nào đó mà khu vực nông thôn thiếu ổn định thì sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp nông thôn ra đời sẽ góp phần đắc lực vào phát triển công nghiệp. Tăng năng động và ổn định, sức cạnh tranh của các công ty lớn có hiệu quả ở các nước tư bản phát triển cũng nhờ vào khả năng sản xuất của các xí nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có ngành công nghiệp nông thôn. Ở nước ta, công nghiệp nông thôn chưa phát triển, không ai thống kê được tổng sản lượng trong khu vực này nhưng sự khôi phục nhanh chóng trong mấy năm gần đây của một số ngành nghề truyền thống như dệt, làm đồ gốm thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ... đã hứa hẹn trong những năm tới sẽ xuất hiện ngành công nghiệp ở khu vực nông thôn, đáp ứng nhu cầu to lớn của thị trường nông thôn về vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng... Phát triển công nghiệp nông thôn có ưu điểm là tạo thêm được việc làm ở nông thôn, giá thuê nhân công thấp, gần nguồn nguyên liệu, gần thị trường tiêu thụ. Cùng với nông nghiệp, nhất định ngành công nghiệp nông thôn sẽ phát triển nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Ở Đồng Hỷ ngành nghề nông thôn chưa phát triển, nhưng sự khôi phục nhanh chóng trong những năm gần đây của một số ngành nghề truyền thống sẽ là cơ sở cho sự phát triển tiếp theo ở mức cao hơn. Trong thời gian tới cần phải phát triển các ngành nghề sau đây: Nghề mây tre đan, nghề mộc, chế biến màu lương thực... sẽ góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho nông dân; thúc đẩy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 127.
    105 các hộ sảnxuất hàng hoá quy mô lớn ngày càng phát triển; giải quyết dư thừa lao động, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho các hộ nông dân. 3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN TRONG VÙNG THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ 3.3.1. Giải pháp chung 3.3.1.1. Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản phẩm Ở các khu vực miền núi và nông thôn thì vấn đề mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản phẩm là giải pháp quan trọng nhằm phát triển kinh tế ở vùng này. Mở rộng thị trường kích thích sản xuất hàng hóa phát triển. Mà vấn đề thị trường thị tứ các hộ nông dân kể cả những hộ sản xuất hàng hóa lớn không thể tự mình giải quyết được, nên cần phải có sự can thiệp của Nhà nước để tạo điều kiện cho hộ sản xuất hàng hóa theo hướng sau: - Cần tập trung xây dựng mới, mở rộng và nâng cấp các cơ sở chế biến, dịch vụ tìm kiếm thị trường để giải quyết sản phẩm đầu ra cho nông sản hàng hóa. Để giải quyết đầu ra, trước mặt và lâu dài cần thúc đẩy tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa. Đẩy mạnh mô hình phát triển sản xuất kinh doanh tổng hợp, hạn chế sự cạnh tranh vô tổ chức, ép giá, hợp tác giữa các cơ sở kinh doanh thương mại và các hộ nông dân với hình thức ứng vốn, đến vụ thu hoạch bán sản phẩm cho cơ sở. Điều này sẽ làm cho các hộ yên tâm vào sản xuất, góp phần kích thích sản xuất phát triển. - Tổ chức hệ thống các kênh lưu thông nông lâm sản - Đối với các hộ lâm nghiệp: thì vấn đề thị trường và sản phẩm đầu ra của trồng rừng đang còn nhiều vướng mắc, và nó liên quan đến vấn đề môi trường. Để các hộ yên tâm trong kinh doanh nghề rừng thì những vướng mắc trên cần làm rõ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 128.
    106 - Các hộ trồng cây ăn quả: Hầu hết ở các hộ nông dân ở huyện không có kỹ thuật bảo quản, công nghệ chế biến thì lạc hậu. Chính vì vậy mà giải pháp về thị trường cho các hộ này là: Bố trí sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí sản xuất rẻ, cải tạo nhiều giống mới tốt hơn, đầu tư cho công nghệ chế biến và bảo quản đảm bảo cho ra thị trường sản phẩm tươi ngon. Thông tin thị trường nông sản phẩm là yếu cầu rất thiết thực và thường xuyên của các hộ nông dân sản xuất hàng hóa. Trong khi đó họ rất thiếu thông tin về thị trường nông sản mà các chủ hộ nhận được phần lớn qua những kênh thông tin không chính thức, chắp vá, thiếu độ tin cậy. Do đó nhiều hộ quyết định lựa chọn phương thức sản xuất thiếu cơ sở, dẫn đến sản xuất khó tiêu thụ. Vì vậy cần phải tổ chức lại hệ thống thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước cho cơ quan nghiên cứu thị trường và giá cả. Phát hành bản tin thị trường nông sản định kì để cung cấp thường xuyên và kịp thời cho các chủ hộ. 3.3.1.2. Tăng cường đầu tư vốn cho hộ nông dân Các cuộc điều tra của Tổng cục Thống kê, của các cơ quan nghiên cứu từ nhiều năm nay đều xác nhận rằng có tới 70 - 75% số hộ nông dân thiếu vốn để sản xuất và 90% số hộ có nhu cầu vay vốn. Nhà nước không có vốn để cho tất cả các hộ nông dân là: nhóm hộ giàu vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, mở thêm ngành nghề mới, chế biến nông sản, mua thiết bị máy móc... làm giàu thêm cho gia đình. Các hộ có thu nhập trung bình và nghèo cũng có nhu cầu vay vốn. Hộ nghèo có vốn để sản xuất đủ ăn, mua vật tư, con giống phục vụ trực tiếp sản xuất. Nhóm hộ trung bình vay vốn không chỉ để đầu tư vào sản xuất đáp ứng nhu cầu của gia đình mà còn mở rộng sản xuất hàng hoá. Vay vốn là nhu cầu chung cho mọi loại hộ, mục đích vay vốn đầu tư cho các lĩnh vực khác nhau và số lượng cũng rất khác nhau. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 129.
    107 Về số lượng vốn cần vay: nhóm hộ nghèo, trung bình cần vay từ 300.000 - 500.000 đồng/ hộ cho 1 vụ 6 tháng, nhóm hộ trung bình cần vay 1 đến vài ba triệu đồng/ hộ. Nhóm hộ giàu cần vay hàng chục triệu, thậm chí hàng trăm triệu để đầu tư cho mở rộng sản xuất. Tạo nguồn vốn cho vay Nguồn vốn cho vay tạo từ hai nguồn: nguồn vốn tín dụng của Nhà nước và huy động tiền nhàn rỗi trong nhân dân. - Nguồn vốn huy động từ tiền nhàn rỗi trong nhân dân: Đối với bất cứ Nhà nước nào, nguồn vốn huy động này cũng rất quan trọng. Xây dựng các hợp tác, các quỹ tín dụng để huy động vốn trong nhân dân. Phương pháp này hiện nay chưa có hiệu quả vì nông dân vay vốn qua HTX tín dụng tất yếu sẽ phải chịu thêm một lệ phí nhất định cộng vào lãi suất tiền gửi nên lãi suất cho vay thường cao, nông dân khó có thể vay vốn được. Mặt khác các HTX tín dụng hoạt động trách nhiệm không cao, nghiệp vụ kém, ít được sự hỗ trợ của Nhà nước nên số lượng các HTX tín dụng còn rất ít, hoạt động chưa có hiệu quả. - Hình thức tín dụng do các đoàn thể tổ chức - phụ nữ nông dân, thanh niên khai thác nguồn vốn trợ giúp từ nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện... để cho hội viên vay không lấy lãi hoặc lãi suất rất thấp. - Có một hình thức tín dụng khác phổ biến hơn là các hội giúp vốn không thu lãi, các hội viên lần lượt được vay vốn. Với phương pháp này số hội viên không thể nhiều trong một nhóm vì phải đảm bảo độ tin cậy cao giữa các thành viên. Đây thường là những nhóm hộ có quan hệ họ hàng hoặc những hộ có cùng phương hướng sản xuất dễ dàng hợp tác với nhau. - Nguồn vốn cho vay từ Nhà nước: Nhà nước cho nông dân vay vốn thông qua hệ thống Ngân hàng nông nghiệp. Gần đây Ngân hàng phục vụ người nghèo ra đời. Đây là nguồn vốn chính mà nông dân vay được. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 130.
    108 Ở hầu hết các nước trong khu vực và thế giới, Nhà nước đều phải hỗ trợ cho nông dân thông qua cho vay vốn với lãi suất thấp hoặc trợ giá bán nông phẩm cho nông dân. Cần phải xác định rằng nguồn vốn cho nông dân vay chủ yếu từ nguồn vốn của Nhà nước. Tạo nguồn vốn cho nông dân vay là chính sách lớn của Nhà nước mà các địa phương, các tỉnh không thể tự làm được. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Nhà nước vẫn nhấn mạnh nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, về vốn thực sự cần có chính sách ưu đãi tương ứng. Cải tiến điều kiện cho vay vốn Điều kiện cho vay vốn của các Ngân hàng nông nghiệp và ngân hàng phục vụ người nghèo đã có những sáng tạo và thay đổi. Vấn đề vướng mắc chính là nông dân vay vốn không có tài sản thế chấp. Nhiều nơi vẫn cho nông dân vay vốn, nhưng có nơi nhiều hộ nông dân do nguyên nhân này mà chưa được vay vốn của ngân hàng. Nhiều địa phương đã có cách giải quyết hợp lý như sau: - Đối với các hộ giàu vay nhiều vốn, vay dài hạn, cần có thế chấp tài sản nhà cửa, các vật dụng quy định, máy móc dùng trong sản xuất. Tài sản thế chấp không phải là trở ngại đối với các nhóm hộ này. - Nhóm hộ trung bình và nghèo thường không có tài sản thế chấp khi vay vốn. Cho nhóm hộ này vay vốn theo nhóm, vay ít và trả vốn khi kết thúc vụ thu hoạch. Kiểu vay này có tác dụng rất rõ rệt. Đại bộ phận hộ nông dân sau vụ thu hoạch đều trả được nợ vay của ngân hàng. Như vậy là ngay cả những hộ nông dân nghèo vẫn có thể vay được. Vấn đề chính là tổ chức, năng lực của các ngân hàng nông nghiệp địa phương phải kiểm tra cho vay đúng mục đích sản xuất với số lượng vốn cho vay hợp lý để hộ nông dân có thể trả được. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 131.
    109 Tóm lại mọi quá trình sản xuất đều cần có vốn đầu tư. Lượng vốn nhiều hay ít ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của hộ và tác động đến kết quả sản xuất. Những hộ không có điều kiện về vốn thì việc đầu tư cho sản xuất thấp, làm cho chất lượng sản xuất thấp và đương nhiên hiệu quả kinh tế thu được cũng thấp. Những hộ có điều kiện thì đầu tư cho việc thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng vật nuôi, mở rộng quy mô sản xuất phát triển hơn các ngành nghề mang lại thu nhập cao hơn. Họ có điều kiện để tích luỹ nhiều hơn nên phần lớn vốn đầu tư cho sản xuất là vốn tự có, họ cũng lợi dụng triệt để các nguồn vốn khác vào mục đích sản xuất của mình. Những hộ nghèo thiếu vốn thì lại sợ vay vốn không trả được 3.3.1.3. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp để năng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, tổ chức sản xuất hàng hoá cho hộ nông dân Ở nước ta, sau khi kinh tế hộ nông dân trở thành tế bào cơ bản của kinh tế nông nghiệp và khoa học kỹ thuật đang tiến bộ vượt bậc, trở thành yếu tố trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Sản xuất của người nông dân nếu thiếu những tiến bộ kỹ thuật sẽ không thể tồn tại và cạnh tranh được. Trong điều kiện sản xuất hàng hoá, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng có vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển. Khoa học kỹ thuật thực sự là chìa khoá để phát triển sản xuất nông nghiệp hiện đại. Khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất ngày càng được rút ngắn về thời gian. Sự chuyển giao khoa học công nghệ cho hộ nông dân là một quá trình. Để đáp ứng nhu cầu này hàng loạt trung tâm khuyến nông ra đời, được nông dân hưởng ứng và đánh giá cao. Việc chuyển giao những tiến bộ kỹ thuật, quy trình công nghệ cho hộ nông dân là trọng tâm của công tác khuyến nông. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 132.
    110 Trong sản xuất nông nghiệp giống là tiền đề là yếu tố quyết định 25- 30% năng xuất cây trồng, vật nuôi và chất lượng sản phẩm. Cần cải tiến khâu chọn và làm giống. Tăng cường đưa giống mới có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt phù hợp với nhu cầu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng… Trong chăn nuôi cần cần phổ biến tới các hộ nông dân về kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh… Nâng cao kiến thức kinh doanh trong hộ nông dân. Qua thực tế điều tra kinh tế hộ nông dân ở một số xã của Huyện Đồng Hỷ cho thấy, tỷ lệ lao động được tập huấn kỹ thuật còn thấp. Để phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá việc nâng cao trình độ sản xuất của chủ hộ là điều kiện có ý nghĩa quan trọng. Chính vì vậy cần phải coi trọng các biện pháp sau: - Tổ chức tốt các hoạt động khuyến nông, truyền bá kiến thức, khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp -Tổ chức khoá bồi dưỡng ngắn hạn kiến thức tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh cho các chủ hộ sản xuất hàng hoá, đặc biệt là chủ các trang trại. - Các hộ nông dân trong huyện cần phải có nhiều hơn nữa các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật sản xuất trồng trọt, chăn nuôi. 3.3.1.4. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu trong nông thôn Những hạn chế về cơ sở hạ tầng như giao thông, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống bảo quản, công nghiệp chế biến… là những trở ngại ở Đồng Hỷ đối với việc khuyến khích hộ nội dung phát triển sản xuất hàng hoá. Để đảm bảo sự lưu thông hàng hoá, vấn đề quan trọng nhất là đường giao thông. Các xã trong vùng đều có mạng lưới đường bộ phục vụ việc đi lại bằng xe thô sơ, xe máy, ô tô vận chuyển vật tư... Tuy nhiên, mạng lưới giao thông hiện còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất hàng hoá. Nhiều hộ nông dân sản xuất các mặt hàng như rau, quả, thịt gia cầm nhưng do đường sá xấu vận chuyển quá khó khăn do phải qua nhiều chặng, giá thành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 133.
    111 mua có khirẻ hơn chi phí vận chuyển. Hàng hoá nông sản lưu thông trong vùng và ra ngoài vùng chưa nhanh chóng đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất hàng hoá của hộ nông dân, nhiều vùng phát triển chậm, có những vùng không phát triển được. Xây dựng và từng bước hoàn chỉnh đường giao thông liên xã, liên thôn, đường ra đồng ruộng để đảm bảo cho lưu thông hàng hoá nông sản được thuận lợi, chắc chắn sẽ kích thích hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Tỉnh cần đầu tư một phần, nông dân sẽ góp công lao động để làm đường nông thôn, đường nội đồng. Đây là lĩnh vực đầu tư rất tốn kém, phải xây dựng trong nhiều năm liên tục. - Hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động, kênh mương xuống cấp không đảm bảo đạo diện tích, hệ thống thuỷ lợi đang cần được thay máy bơm nước, sửa chữa kênh mương đảm bảo tưới tiêu tốt, ổn định sản xuất nông nghiệp. Chương trình thuỷ lợi kiên cố hoá kênh mương đến nay toàn huyện đã có 140/220 km kênh mương được kiên cố hoá với tổng kinh phí là 26.591,1 triệu đồng đảm bảo tưới tiêu cho 60% diện tích lúa, 30% diện tích chè - Cải tạo hệ thống cung cấp điện ở nông thôn. Hầu hết các xã, thôn ở Đồng hỷ đến nay đều đã có điện cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất nhưng mạng lưới điện thô sơ, tổn thất điện năng quá lớn, giá mua điện lại cao. Muốn phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn không thể thiếu điện năng. Đầu tư cho ngành điện để phục vụ tưới tiêu, chế biến nông sản là biện pháp thực sự thúc đẩy sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Giá trị hàng hoá của vùng sẽ tăng thêm nhiều nếu được đầu tư thêm lao động, chế biến. - Xây dựng điểm dân cư nông thôn: các điểm dân cư nông thôn được phân bố sao cho đảm bảo sản xuất nông lâm nghiệp và ngành nghề phát triển; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 134.
    112 đảm bảo điềukiện đi lại, ăn ở, sinh hoạt cộng đồng; đảm bảo sinh thái môi trường phát triển bền vững Việc nâng cấp hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng không những giúp cho hộ phát triển sản xuất hàng hoá mà còn làm thay đổi bộ mặt nông thôn, góp phần trực tiếp nâng cao đời sống của nông dân. 3.3.1.5. Giải pháp về đất đai đối với các hộ nông dân sản xuất hàng hoá Đất đai là mối quan tâm hàng đầu đối với các hộ nông dân. Trên thực tế trong những năm vừa qua Tỉnh Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ đã có nhiều đổi mới về chủ trương, chính sách ruộng đất, tạo điều kiện cho quá trình tập trung ruộng đất diễn ra trên nhiều xã, thị trấn. Trong điều kiện sản xuất hàng hoá hiện nay, việc cần làm là ổn định sản xuất lâu dài, có như vậy các hộ nông dân mới yên tâm sản xuất, mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất và thâm canh tăng giá trị sản phẩm hàng hoá và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để sản xuất. Chính vì vậy cần phải có chính sách về đất đai cụ thể: - Hoàn chỉnh về quy hoạch sử dụng đất đai theo từng vùng để làm cơ sở cho việc cấp đất cho các hộ nông dân. Trong điều kiện hiện nay quy hoạch đất đai sẽ giúp các hộ nông dân khai thác có hiệu quả đất đai, tránh tình trạng các chủ hộ khai thác đất bừa bãi dẫn đến lãng phí đất, phá hoại môi trường, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ nông dân, tạo điều kiện cho các hộ đi vào tập trung sản xuất hơn. Cần khuyến khích các hộ tích cực chuyển đổi tích tụ ruộng đất, khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún của các hộ sẽ tạo điều kiện đi vào sản xuất tập trung. - Khuyến khích tập trung đất đai và nguyện vọng của những người muốn nhận đất ở những vùng đất trống, đồi trọc để hình thành các hộ nông dân có quy mô sản xuất hợp lý. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 135.
    113 - Khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún. Để trở thành các trang trại thì các hộ phải có quy mô ruộng đất nhất định. Trên thực tế quá trình ruộng đất diễn ra chậm, cần tiếp tục khuyến khích quá trình tập trung ruộng đất. Tuy nhiên việc tập trung ruộng đất phải tiến hành một cách thận trọng, phải có sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ của nhà nước, nhất là các cấp chính quyền địa phương. Đối với huyện Đồng Hỷ trước hết cần quy hoạch đất đai cho từng vùng, từng xã có các hộ phát triển về trồng trọt và chăn nuôi đảm bảo cho các hộ trồng trọt và chăn nuôi phát triển bền vững, mở rộng sản xuất, đảm bảo vệ sinh môi trường. 3.3.1.6. Phát triển các hình thức hợp tác đa dạng giữa các hộ nông dân Hợp tác là nhu cầu tất yếu của những người lao động, những người sản xuất nhỏ để hỗ trợ giúp đỡ nhau giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề của sản xuất kinh doanh mà từng hộ nếu tách riêng ra thì không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả. Trong điều kiện chuyển sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường thì sự hợp tác sản xuất kinh doanh là một điều kiện rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi ích kinh tế của các hộ nông dân. Các xã của huyện Đồng Hỷ qua điều tra cho thấy đại bộ phận các hộ nông dân còn hoạt động sản xuất kinh doanh một cách độc lập, ít có sự liên kết hợp tác với nhau. Sự liên kết hợp tác giữa các hộ còn hẹp là do trình độ sản xuất nói chung và sản xuất hàng hóa nói riêng của các hộ còn kém phát triển. Chính sự liên kết, hợp tác giữa các hộ trong vùng còn hẹp cũng đã làm cho nền kinh tế hộ nông dân ở huyện còn chậm phát triển. Do đó cần có các biện pháp khuyến khích sự liên kết giữa các hộ nông dân trong vùng với nhiều hình thức khác nhau như: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 136.
    114 - Tuyên truyền làm cho nông dân hiểu rõ hơn nữa bản chất, vai trò, nguyên tắc của kinh tế hợp tác xã. - Hướng dẫn các hộ nông dân tự lựa chọn và quyết định các hình thức hợp tác. - Đảm bảo nguyên tắc tự nguyện trong phát triển kinh tế hợp tác xã giữa các hộ nông dân. Tóm lại kinh tế hợp tác đã khắc phục được một số mặt yếu của kinh tế hộ như: thiếu vốn, công cụ, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất phát huy được tính sáng tạo của tập thể dù là ít người, tăng sức cạnh tranh thị trường.... Cho nên kinh tế hợp tác có lợi hơn là làm riêng biệt từng hộ. 3.3.2. Giải pháp cụ thể đối với hộ nông dân từng vùng sinh thái Kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá chịu sự tác động của các quy luật trong nền kinh tế thị trường, cho nên ngày càng có nhiều hộ chuyển sang sản xuất hàng hoá vừa cung cấp đủ cho nhu cầu vật chất và tinh thần của gia đình vừa cung cấp sản phẩm cho xã hội. Thực tế cho thấy, mỗi vùng sinh thái, mỗi hộ nông dân có những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhau, thể hiện tính đa dạng phong phú của các mô hình kinh tế hộ sản xuất hàng hoá. Sự tác động của các quy luật phát triển không đồng đều sẽ tạo ra sự chênh lệch về mức độ sản xuất hàng hoá giữa các vùng và giữa các hộ nông dân là không thể tránh khỏi. Xã Hoà Bình (Vùng núi phía Bắc): Có địa hình đồi núi dốc, cánh đồng xen kẽ. Ở đây rất thích hợp cho việc phát triển trồng cây lâu năm, cây ăn quả. Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Hoà Bình là 1248.39 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 1043.47 ha và đất lâm nghiệp là 615.50 ha. Hộ nông dân ở đây cũng chủ yếu là các dân tộc thiểu số. Sản xuất chủ yếu theo hướng sản xuất kinh doanh tổng hợp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 137.
    115 Sản phẩm chính của các hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp ở đây là cây chè và cây ăn quả. Để tăng năng suất lao động, tăng khối lượng sản phẩm đầu ra với chất lượng tốt, chi phí sản xuất rẻ. Để thúc đẩy kinh tế hộ phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá cần phải thực hiện tốt các nội dung sau: Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hạn chế việc sử dụng các loại thuốc cho các loại cây trồng để tạo sản phẩm an toàn. Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ nông dân. Thì cần phải đầu tư vào hệ thống giao thông và thuỷ lợi. Chính vì vậy mà Nhà nước cần phải đầu tư xây dựng hệ thống giao thông đến từng thôn, bản nhằm kích thích sự phát triển sản xuất hàng hoá ở các hộ nông dân phát triển. Xã Hóa Thượng (Vùng trung tâm): Địa hình bằng phẳng hơn các hộ nông dân ở đây chủ yếu phát triển và mở rộng ngàn chăn nuôi hơn cả, bên cạnh đó ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong vùng. Để nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm cây trồng và vật nuôi thì các xã trong vùng vẫn không thể không áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào quá trình sản xuất của hộ mình. Những vấn đề về vốn, đất đai, trình độ văn hoá của chủ hộ, năng suất cây trồng vật nuôi đang là vấn đề được các hộ hết sức quan tâm - Đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất cây trồng nhằm nâng cao giá trị sản phẩm hàng hoá trên đơn vị diện tích đất canh tác trong các hộ nông dân. - Cần huy động vốn đầu tư cho các hộ chăn nuôi bằng cách phối hợp với các công ty thức ăn gia súc, nơi cấp giống vật nuôi theo phương thức mua trả chậm... - Nhà nước cần phải có những biện pháp và chính sách nhằm bảo hộ những rủi ro mà các hộ nông dân chẳng may gặp phải. - Tạo thêm việc làm nhằm cải thiện đời sống người nông dân, ở vùng này thường có lao động dư thừa. Chính vì vậy cần phải kết hợp phát triển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 138.
    116 nông nghiệp toàndiện với việc phát triển các ngành nghề và dịch vụ nông thôn. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, cung ứng vật tư kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng cơ bản và hàng loạt các dịch vụ khác rất cần cho sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Như vậy sự vận động này sẽ tạo ra thị trường lao động rộng lớn ngay trên địa bàn nông thôn. Xã Khe Mo (Vùng núi phía nam): Có địa hình đồi núi dốc cao, thích hợp cho phát triển rừng. Nên cần tập trung phát triển cây lâm nghiệp bản địa ở những khu rừng khoanh nuôi. Cây ăn quả như vải, na...Cây công nghiệp như chè. Chăn nuôi như trâu, bò, lợn... Cần thực hiện triệt để và nhất quán việc bảo vệ rừng. Tăng cường đưa giống mới năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợp với nhu cầu thị trường đến với hộ nông dân. Nâng cao kiến thức quản lý kinh doanh cho chủ hộ, giúp hộ nông dân nắm được những yêu cầu của thị trường một cách kịp thời. Hướng dẫn cho các hộ nông dân kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 139.
    117 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận Qua quá trình phân tích và nghiên cứu đề tài chúng tôi rút ra những kết luận sau: 1. Khẳng định tính tất yếu khách quan kinh tế hộ trong thực trạng cơ chế thị trường và các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển hộ sản xuất hàng hoá ở huyện Đồng Hỷ. Kinh tế hộ sản xuất hàng hoá đã và đang phát triển rộng khắp ở các xã trong huyện. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá đã đem lại hiệu quả, tạo sức cuốn hút cho người nông dân. 2. Phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá kéo theo sự thay đổi về mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn, góp phần từng bước thực hiện thắng lợi mục tiêu cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn 3. Kinh tế hộ sản xuất hàng hoá ở Đồng Hỷ chủ yếu phát triển theo hướng thuần nông và nông lâm kết hợp, thu nhập chủ yếu vẫn là trồng trọt. Trồng trọt chiếm 65% tổng GTSPHH, chăn nuôi chiếm 31,6%, lâm nghiệp chỉ chiếm 3,4% tổng GTSPHH. 4. Nguồn gốc của chủ hộ rất đa dạng, chủ hộ là dân bản địa chiếm 88,9%, di dời 10%, khai hoang 1,1%.Trình độ học vấn của các chủ hộ vẫn còn rất thấp, chủ hộ có trình độ đại học và trung cấp chỉ chiếm 8,46%. Quy mô đất đai bình quân của một hộ là 1,5 ha có sự chênh lệch giữa các hộ là đáng kể. 5. Nguồn thu nhập của các hộ chủ yếu từ nông lâm nghiệp chiếm 79,96%, thu từ dịch vụ là 20,04%. Thu nhập từ rừng chưa cao, người dân chưa chú trọng đến việc trồng rừng, đất trống đồi núi trọc vẫn còn nhiều. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 140.
    118 Kiến nghị * Đối với địa phương Cần tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, điện, đường, chợ và phát triển cụm điểm dân cư nông thôn, các cơ sở chế biến cho các khu vực vùng sâu, vùng xa nhằm tạo cơ hội đồng đều cho KTTT phát triển. Đẩy mạnh phát triển hộ sản xuất hàng hoá theo mô hình kinh tế trang trại nhưng phải đi đôi với việc giải quyết các vấn đề xã hội gắn với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường, hình thành các hình thức hợp tác đa dạng giữa các hộ nông dân. Các chính sách cho vay vốn đối với các hộ cần phải điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm của ngành nông nghiệp. Cho vay và thu hồi nợ phải dựa vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của từng loại cây trồng vật nuôi. * Đối với các chủ hộ Cần phải tích cực học hỏi trau dồi thêm kiến thức, tiếp thu các thông tin thị trường để có khả năng nắm bắt được tiến bộ khoa học kỹ thuật mới. Xác định rõ mục tiêu và định hướng phương thức sản xuất kinh doanh của hộ mình, loại bỏ những cây trồng vật nuôi kém hiệu quả, đầu tư thâm canh để tăng năng suất chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 141.
    PHIẾU ĐIỀU TRAHỘ NÔNG DÂN Ngày phỏng vấn:......./....../ 2008 Họ và tên điều tra viên:....................................................................... Tại: Huyện Đồng Hỷ - Xã:.................: Thôn:.................................... PHẦN I. NHỮNG THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ HỘ ĐƢỢC PHỎNG VẤN I. Thông tin về người được phỏng vấn - Họ và tên chủ hộ:........................................................................ - Tuổi........... - Giới tính Nam [ ] Nữ [ ] - Trình độ văn hoá Thất học [ ] Sơ cấp [ ] Cấp I [ ] Trung cấp [ ] Cấp II [ ] Đại học [ ] Cấp III [ ] Trên ĐH [ ] II. Thông tin về hộ 1. Nhân khẩu.................ngƣời, trong đó nam......., nữ.......... 2. Lao động....................ngƣời, trong đó năm........, nữ......... 3. Hƣớng sản xuất của chủ hộ - Cây hàng năm [ ] - Cây ăn quả [ ] - Cây công nghiệp dài ngày [ ] - Cây lâm nghiệp [ ] - Chăn nuôi đại gia súc [ ] - Chăn nuôi lợn [ ] - Chăn nuôi gia cầm [ ] - Thuỷ sản [ ] 4. Sản xuất kinh doanh khác...................................................... 5. Phân loại hộ theo nghề nghiệp - Hộ thuần nông [ ] - Hộ nông lâm kết hợp [ ] - Hộ nông nghiệp kiêm dịch vụ [ ] - Hộ khác ............... 6. Năm lập hộ......... Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 142.
    7. Nguồn gốcchủ hộ - Bản địa [ ] - Định canh định cƣ [ ] - Di rời lòng hồ [ ] - Xây dựng kinh tế [ ] 8. Những tài sản chủ yếu của gia đình a. Nhà ở - Kiên cố [ ] - Bán kiên cố [ ] - Nhà tạm, loại khác [ ] b. Đồ dùng lâu bền Loại tài sản ĐVT Số lượng Đơn giá Giá trị - Đầu Video -Ti vi đen trắng - Radio, Cassette - Máy thu thanh - Máy ảnh - Tủ lạnh - Máy điều hoà - Máy giặt - Quạt điện - Xe mô tô - Xe đạp - Xe đẩy các loại - Máy khâu - Tủ các loại - Giƣờng các loại - Bàn ghế, xa lông - Các đồ có giá trị khác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 143.
    c. Đất đai Loại đất Diện tích Của nhà Đi thuê Đấu thầu - Đất cây hàng năm - Đất cây lâu năm - Đất cây ăn quả - Đất lâm nghiệp - Đất ao hồ đầm - Đất thổ cƣ + Đất xây dựng + Đất vƣờn - Đất khác d. Chăn nuôi Loại con Đơn vị Số lượng Giá trị - Trâu - Bò - Lợn thịt - Lợn nái - Dê - Gà - Gia cầm khác... - Cá Tổng cộng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 144.
    e. Thiết bịsản xuất nông nghiệp Chủng loại Đơn vị Số lượng Giá trị - Máy kéo nhỏ - Dàn cày bừa - Máy bơm nƣớc - Dàn nƣớc tƣới - Tuốt lúa động cơ - Tuốt lúa thủ công - Hàm quạt thóc - Máy xay xát - Máy nghiền thức ăn - Bình bơm TTS động cơ - Bình bơm TTS bằng tay - Rơ moóc - Xe bò - Xe cải tiến - Thuyền - Mô tơ thuyền - Lƣới đánh cá - Máy cƣa gỗ - Thiết bị khác f. Vốn - Vốn tự có:.......................................đ - Vay Nhà nƣớc:................................đ - Vay tƣ nhân:...................................đ - Vay dự án :.....................................đ - Nguồn khác:...................................đ PHẦN II. KẾT QUẢ SẢN XUẤT CỦA HỘ I. Ngành trồng trọt 1. Kết quả sản xuất ngành trồng trọt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 145.
    Diện tích Năngsuất Sản lượng Đơn giá Giá trị STT Cây trồng (ha) (Kg/ ha) (Kg) (đ/kg) (1000đ ) 1 2 3 4 5 6 7 8 Tổng cộng 2. Chi phí cho sản xuất ngành trồng trọt năm 2007 STT Loại vật tư ĐVT Số lượng Đơn giá (đ/kg) Giá trị ( 1000đ) 1 Chi phí giống cây 2 Phân chuồng 3 Phân đạm 4 Phân lân 5 Phân Kai 6 Phân NP K 7 Phân khác 8 Thuốc BVTV Tổng cộng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 146.
    3. Thu nhậpngành trồng trọt năm 2007 Chi phí STT Cây trồng Tổng thu Thu nhập Vật tư Khấu hao Khoản nộp Thuế LĐ 1 2 4 5 Tổng số Ghi chú: Nếu không xác định đƣợc khấu hao vƣờn cây ? Xin ông bà cho biết cây trồng - ............................................... trồng đƣợc.................năm - ............................................... trồng đƣợc.................năm - ............................................... trồng đƣợc.................năm II. Ngành chăn nuôi 1. Sản phẩm từ chăn nuôi năm 2007 STT Vật nuôi Số lượng Tổng tr. Đơn giá Giá trị Ghi chú ( Con) lượng ( kg) ( đ/kg) ( 1000đ) 1 2 3 4 5 Tổng cộng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 147.
    2. Chi phícho chăn nuôi năm 2007 Đơn vị Số lượng Đơn giá Giá trị STT Loại vật tư tính ( kg) (kg) ( 1000đ) 1 Giống vật nuôi 2 Thức gia súc 3 Thuốc thú y 4 Chất khoáng Tổng cộng 3. Thu nhập từ chăn nuôi Chi phí Tổng Thu STT Vật nuôi Chi thu Vật tư Khấu hao Đi thuê LĐ LĐGĐ nhập khác 1 2 3 Tổng số 4. Tình hình tham gia thị trường của hộ Giá trị sản phẩm đã bán STT Sản phẩm Số lượng (kg) Đơn giá (đ/kg) Giá trị (1000đ) 1 2 3 4 Tổng cộng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 148.
    5. Tình hìnhtiêu thụ sản phẩm Hình thức tiêu thụ Hình thức sản phẩm tiêu thụ Bán trực Bán qua SP sơ SPCB STT Loại sản phẩm SP thô tiếp tư thương chế 100% 1 2 3 Tổng cộng 6. Tình hình kinh doanh dịch vụ khác TT Ngành nghề Thu nhập ( tr.đ) III. Đời sống của hộ 1. Cơ cấu chi tiêu trong năm Tổng số ...................................... đ - Chi giáo dục .................................................. đ - Chi y tế .................................................. đ - May mặc .................................................. đ - Chất đốt, thắp sáng, nƣớc .................................................. đ - Giao thông bƣu điện .................................................. đ - Lƣơng thực, thực phẩm .................................................. đ - Chi khác .................................................. đ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 149.
    2. Chi tiêuvề lương thực thực phẩm ( Tiêu dùng của hộ) STT Mặt hàng ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền 1 Lƣơng thực 2 Thịt các loại 3 Đƣờng sữa 4 Chè, cà phê 5 Rƣợu, bia Khác Tổng cộng 3. Tích luỹ của hộ Tổng cộng ................................ đ - Sổ tiết kiệm ngân hàng nhà nƣớc ......................................... đ - Sổ tiết kiệm ở ngân hàng khác ( Kho bạc) ......................................... đ - Tín phiếu, kì phiếu ......................................... đ - Tiền mặt ......................................... đ - Cho vay ......................................... đ - Tài sản cố định ......................................... đ - Thóc gạo ......................................... đ - Khác ......................................... đ IV. Các ý kiến phỏng vấn 1. Ông ( bà) có nhu cấu mở rộng thêm diện tích đất đai không? a. Không Lý do ......................................................... b. Có Lý do.......................................................... Ông ( bà) muốn mở rộng bằng cách nào? - Khai hoang [ ] - Mua lại [ ] - Đấu thầu [ ] - Thuê lại [ ] Cách khác.......................................................... Ông (bà) muốn mở rộng diện tích là do? - Có vốn [ ] - Có lao động [ ] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 150.
    - Sản xuấtcó lãi [ ] - Ý kiến khác [ ] 2. Vốn sản xuất của họ thiếu hay đủ a. Đủ [ ] b. Thiếu [ ] Ông ( bà) cần thêm bao nhiêu ?.................................đ Ông ( bà ) vay dùng vào việc gì? - Mở rộng quy mô sản xuất [ ] - Đầu tƣ thâm canh [ ] - Chi tiêu [ ] - Mục đích khác.......................................... Ông (bà) muốn vay từ đâu? - Từ ngân hàng, tín dụng [ ] - Từ các dự án [ ] - Từ các hội [ ] - Từ phần khác.................. Theo Ông (bà) lãi suất bao nhiêu thì phù hợp? ?...............%/tháng 3. Lao động sản xuất của hộ có thiếu hay đủ hay thừa? a. Đủ [ ] b. Thiếu [ ] Ông (bà) cần thuê bao nhiêu nhân công?.......................công Ông (bà) thuê những công việc gì vào thời điểm nào, trình độ nào? Trồng [ ] - Chăm sóc [ ] Thu hoạch [ ] - Chế biến [ ] Thƣờng xuyên [ ] - Kỹ thuật [ ] Thời vụ [ ] - Phổ thông [ ] Lao động khác............................................ Theo Ông (bà) giả tiền công là bao nhiêu cho công việc? Kỹ thuật........................đ/công - Phổ thông..............................đ/công Lao động khác......................................đ/công c. Thừa lao động [ ] Ông ( bà) có số lao động thừa là bao nhiêu ?................công Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 151.
    Thời điểm nào?.........................., Tháng mấy ?............... Ông ( bà) có ý định sử dụng lao động thừa nhƣ thế nào ? Mở rộng sản xuất [ ] - Mở rộng nông nghiệp [ ] Cho đi làm thuê [ ] - Cho đi học [ ] 4. Hộ của Ông (bà) hiện nay đang gặp khó khăn gì ? a. Thiếu đất đai [ ] b. Thiếu vốn [ ] c. Thiếu lao động [ ] d. Thiếu thông tin [ ] e. Thiếu kiến thức [ ] f. Giá sản phẩm thấp [ ] h. Ý kiến khác........................... 5. Ông (bà) có nguyện vọng phát triển thêm ngành nghề khác không? a. Không [ ] b. Có [ ] Xin ông (bà) cho biết ý kiến cụ thể.................................... 6. Xin Ông (bà) cho biết ý kiến của mình về chính sách của nhà nước Hỗ trợ vốn để phát triển sản xuất [ ] Hỗ trợ, dụng cụ, vốn, kỹ thuật [ ] Hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm [ ] Đầu tƣ cơ sở hạ tầng [ ] Hợp thức hoá đất đai [ ] Chính sách khác............................................. Xin chân thành cảm ơn Ông ( bà) ! Xác nhận của chủ hộ Điều tra viên ( Ký , ghi rõ họ tên) ( Ký , ghi rõ họ tên) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn