E-mail: gxmehangcuugiup@gmail.com Website: www.trungtammucvudcct.com
CHẲNG THỂ NÀO QUÊN
Tuần qua, khi có dịp trò chuyện với một bác sĩ trẻ, “cô bé”
là con dâu tương lai của bạn tôi. Trong bữa cơm đầu năm, anh chị
xin tôi giúp việc giáo lý cho hai cháu, đứa con trai cuối cùng trong
gia đình bây giờ mới chịu lo chuyện trăm năm, dù chàng đã ra
trường 7 năm rồi, nhưng vẫn cứ làm cho cha mẹ hồi hộp vì
thương và chờ cô bé mãi cho đến hôm nay.
Trong câu chuyện làm quen với hai “cháu bác sĩ”, các bạn
hỏi tôi về những hoạt động tôn giáo xã hội, có dịp, tôi nói với hai
bạn về chương trình Bảo Vệ Sự Sống mà anh em chúng tôi đã và
đang thực hiện. Để trả lời cho câu hỏi về việc giữ con hay bỏ ở
các ngôi nhà tạm lánh mà chúng tôi đang quản trị, tôi cho biết hầu
hết các trường hợp chúng tôi gặp hơn 10 năm nay các người mẹ
đơn thân đều giữ lại con mình, tôi trích dẫn một lời Kinh Thánh “có
người mẹ nào quên con bao giờ”, cô bé buột miệng nói: “Trên bàn
sinh, nhiều người cứ hỏi con nhờ giúp cho đứa bé”.
Theo kinh nghiệm của chúng tôi, rất nhiều chị em khi bị bỏ rơi, mất việc, không nơi trú ngụ,
không có thu nhập, sợ gia đình biết, ở đáy vực thẳm, họ oán hận người tình và ghét lây đứa trẻ, dù
được chia sẻ và vì nhiều nguyên do, họ không phá thai nhưng họ không muốn nuôi đứa bé. Nếu họ
được tiếp đón trong yêu thương, nếu họ thấy được nhiều người vẫn yêu thương và không bỏ rơi họ,
tình cảm mẹ con trỗi dậy, họ sẽ đón nhận đứa trẻ bằng tất cả sự bao dung, can đảm.
Có một lần, một em là sinh viên năm cuối ở một trường đại học, cô đau khổ cùng tột khi bị bỏ rơi,
cô đã nghĩ đến tự tử để chấm dứt cuộc đời vì không tìm được ai cứu giúp mình. Chúa quan phòng cho
cô gặp chúng tôi, được đón về ở trong một Mái Ấm BVSS mang tên Thánh Giêrađô – vị Thánh DCCT
bổn mạng các bà mẹ mang thai, sau một thời gian, cô tâm sự: “Lúc đầu con có ý định sinh rồi thì cho đi,
con không muốn nhìn thấy nó, dấu vết của khổ đau. Nhưng về đây một thời gian, con thấy mình được
yêu thương, mình không bị bỏ rơi, mọi người thương mình, rồi con nhận ra Chúa thương mình, con tự
hỏi vậy thì tại sao con lại bỏ rơi con của con ? Chúa không bỏ con tại sao con lại bỏ con của con ?”
Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình,
hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ?
Cho dù nó có quên đi nữa,
thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ
( Isaia 49, 15 ).
Khi ở chốn lưu đày, dân Thiên Chúa tuyệt vọng, Chúa dùng lời Ngôn Sứ để củng cố lòng dân,
củng cố lòng tin vào Chúa, Chúa là Đấng Trung Tín, Chúa hứa và Chúa giữ lời hứa. Dân Thiên Chúa đã
trở về cố quốc, xây dựng lại đền thờ, nghĩa là xây dựng lại niềm tin của mình, xây dựng lại lòng tín thác
vào Chúa, và có Chúa luôn ở cùng.
Rất nhiều khi chúng ta thất vọng về cuộc sống, bao quanh ta đầy những bất trắc gian nan, đạo
đức, luân lý xuống cấp, suy đồi, gian ác hoành hành, bạo lực lên ngôi, lòng thù hận, sự độc ác ngang
nhiên bước vào mọi lãnh vực của đời sống, trật tự xã hội đảo lộn. Sứ mạng của người Kitô hữu chúng
ta là làm thế nào để Lời của Chúa củng cố lòng tin của con người, thực sự mang lại cho con người niềm
hy vọng, sự tín thác. Tân Phúc Âm hóa hôm nay là làm cho người ta nhận ra quyền năng của Chúa, qua
Lời của Ngài, có thể và sẽ chữa lành xã hội này.
Chúng ta có tin và dám tin như thế không ?
1
NĂM THỨ 14 – SỐ 600 – CHÚA NHẬT 2.3.2014
Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình,
hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ?
Cho dù nó có quên đi nữa,
thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ.
Lm. VĨNH SANG, DCCT, Chúa Nhật 2.3.2014
MỤC LỤC TÌM BÀI:
CHẲNG THỂ NÀO QUÊN... ( Lm. Vĩnh Sang ) ...................................................................................... 01
ĐTC. GỬI THÔNG ĐIỆP VIDEO CHO CÁC TÍN HỮU TIN LÀNH ( Tâm Linh Vào Đời ) ....................... 02
TÔNG HUẤN NIỀM VUI CỦA TIN MỪNG – Chương 3 ( ĐTC. Phanxicô – Bản dịch Joseph C. Pham ) ... 04
TÔN THỜ CON BÒ VÀNG ( AM. Trần Bình An ) ...................................................................................08
"HÃY TÌM NƯỚC THIÊN CHÚA…" ( Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện ) ......................................................07
THIÊN CHÚA HAY THẦN TÀI ? ( Lm. Guy Maria Nguyễn Hồng Giáo ) .................................................09
NHÂN LỄ TẤN PHONG CÁC HỒNG Y MỚI – Phần 1 ( Lm. Vũ Khởi Phụng ) .......................................13
LỊCH SỬ MÙA CHAY THÁNH ( Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ ) ............................................................... 15
PHONG CÁCH PHANXICÔ – Bài 5: CHÚA GIÊSU CHỈ TỎ MÌNH RA… ( Nguyễn Trung ) ...................17
TRUYỀN GIÁO VÀ HỘI NHẬP ( Phùng Văn Hoá ) ................................................................................18
THẦN HỌC VỀ THÂN XÁC VÀ HOẠT ĐỘNG TÍNH DỤC – Kỳ 3 ( Lm. Nguyễn Anh Tuấn ) ..................21
ƠN CỨU CHUỘC NƠI NGƯỜI CHAN CHỨA – Kỳ 3 ( Lm. Kevin O’Shea, bản dịch Mai Tá ) ...............23
CÂU CHUYỆN 3 TỶ LÍT BIA… VÀ VĂN HOÁ ĂN NHẬU CỦA NGƯỜI VIỆT ( Vương Đoàn ) ...............25
CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI 3 TỶ LÍA BIA, 5 TRIỆU CON CHÓ ( Nguyễn Trung ) ....................................26
MỘT ĐỜI DÂNG MẸ ( Hạnh Nguyễn ) .................................................................................................. 28
NHỊP CẦU BÁC ÁI PHANXICÔ VÀ QUỸ MẸ HẰNG CỨU GIÚP ...........................................................30
ĐỨC THÁNH CHA GỞI THÔNG ĐIỆP VIDEO
CHO CÁC TÍN HỮU TIN LÀNH ĐANG TRONG
TUẦN CẦU NGUYỆN CHO HIỆP NHẤT KITÔ GIÁO
Hàng trăm các tín hữu Tin Lành thuộc phái Ngũ Tuần đang trong tuần lễ cầu nguyện cho hiệp
nhất Kitô Giáo tại Hoa Kỳ ( 18 – 25 tháng 1 năm 2014 ) đã theo dõi
một đoạn video do vị Giám Mục của họ là Tony Palmer ghi bằng
iphone trong cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha Phanxicô hôm 14
tháng Giêng. Trong đoạn video này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã
gởi đến Đại Hội của họ những tâm tình mong muốn sự hiệp nhất
Kitô Giáo của ngài.
Qua người vợ Ý thuộc Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng
Công Giáo, Tony Palmer đã trở thành gạch nối với Giáo Hội Công
Giáo và đã từng làm việc với nhiều giới chức Công Giáo tại Rôma.
Đặc biệt nhất là trong giai đoạn hoạt động tại Á Căn Đình, ông đã
quen biết với Đức Tổng Giám Mục Bergolio từ năm 2006 và nhận
Đức Tổng Giám Mục làm linh hướng.
Theo lời ông trình bày trước Đại Hội, thì giữa tháng Mười Hai vừa qua, ông nhận được cú điện
thoại từ Đức Phanxicô ngỏ ý muốn gặp ông. Trong cuộc tiếp kiến ngày 14 tháng 1 tại Vatican, ông cho
Đức Phanxicô hay mình sắp sửa tham dự Đại Hội này, nếu Đức Phanxicô có mấy lời nhắn với Đại Hội
thì hay biết mấy.
Giám Mục Tony Palmer nói: "Tôi hỏi: Đức Thánh Cha có muốn tôi viết xuống không ? Ngài nói:
sao anh không thu một đoạn video ? Tôi thực sự đã nghĩ đến chuyện này, tôi luôn có iPhone trong túi.
Tôi đã nghĩ đến việc xin ngài điều này ... nhưng tôi không muốn lạm dụng tình bạn của chúng tôi."
Trong đoạn video Đức Thánh Cha nói bằng tiếng Anh nhưng pha với tiếng Ý: “Xin lỗi anh chị em
vì đôi khi tôi nói bằng tiếng Ý. Nhưng tôi nói chẳng bằng tiếng Anh hay tiếng Ý, nhưng bằng tiếng nói
con tim. Đó là thứ ngôn ngữ đơn giản và chân thật hơn, và thứ ngôn ngữ này có từ vựng và văn phạm
của nó. Một văn phạm đơn giản với hai luật: Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu mến tha
nhân vì họ là anh chị em của chúng ta. Với hai luật ấy, chúng ta có thể tiến về phiá trước.
2
CÙNG THÔNG TIN
Tôi đang ở đây với người anh
em mình, với Giám Mục anh em
Tony Palmer. Chúng tôi đã là bạn cố
tri trong nhiều năm. Ngài bảo với tôi
về Đại Hội của anh chị em, về cuộc
gặp gỡ của anh chị em. Và tôi thật
hân hạnh được chào đón anh chị em
với cả niềm vui và nỗi khát khao.
Vui vì thấy anh chị em cùng
tụ họp để tôn thờ Chúa Giêsu Kitô là
Chúa duy nhất và cầu nguyện cùng
Chúa Cha để đón nhận Thánh Thần.
Điều này thật vui vì chúng ta có thể
thấy Chúa đang hoạt động khắp
cùng bờ cõi trái đất.
Khát khao vì điều xảy ra là trong chỗ chòm xóm với nhau có những gia đình yêu mến nhau
nhưng cũng có những gia đình không ưa nhau. Những gia đình tụ họp cùng nhau và những gia đình
phân rẽ. Chúng ta thuộc loại, cho phép tôi được nói, là phân rẽ. Phân rẽ vì tội lỗi đã chia cách chúng
ta, tội lỗi của tất cả chúng ta. Những hiểu lầm xuyên suốt trong lịch sử. Đó là hành trình dài của tội lỗi
mà tất cả chúng ta đều dự phần. Trách ai bây giờ ?
Tôi khát khao rằng sự phân rẽ này đến hồi kết thúc để chúng ta được hiệp nhất. Tôi khao khát
sự chấp nhận lẫn nhau này. Thánh Kinh đã đề cập đến gia đình của anh em Giuse khi nạn đói xảy ra họ
trẩy sang Ai Cập để mua cái gì đó để ăn. Họ có tiền nhưng họ không ăn tiền được. Nhưng ở đó họ gặp
được cái còn quý hơn thực phẩm: đó là người anh em của mình.
Tất cả chúng ta đều có tiền là văn hóa, là lịch sử của chúng ta. Chúng ta giầu có về văn hóa, tôn
giáo và chúng ta có những truyền thống dị biệt. Nhưng chúng ta phải gặp gỡ người khác như những
anh chị em của mình. Chúng ta phải khóc cùng nhau như Giuse đã từng khóc. Những giọt nước mắt
này hiệp nhất chúng ta. Những giọt lệ của yêu thương.
Tôi nói chuyện với quý vị như những anh chị em với nhau bằng những từ ngữ đơn giản. Với
niềm vui và nỗi khát khao. Chúng ta hãy để nỗi khát khao được gặp gỡ và ôm lấy nhau tăng trưởng
trong chúng ta vì điều này thúc đẩy chúng ta tìm kiếm nhau và chấp nhận nhau. Và cùng tôn thờ Chúa
Giêsu Kitô là Chủ Tể của lịch sử, là Chúa và là Chúa duy nhất của Giáo Hội, chúng ta hãy cầu nguyện
với Ngài cho sự hiệp nhất.
Tôi chân thành cám ơn anh chị em đã lắng nghe tôi. Tôi chân thành cám ơn anh chị em đã cho
tôi nói ngôn ngữ của con tim. Và tôi cũng xin anh chị em hãy cầu nguyện cho tôi vì tôi cần những lời
cầu nguyện của anh chị em. Và chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta được hiệp nhất. Chúng ta là
anh chị em với nhau.
Chúng ta hãy tiến về phía trước, chúng ta là anh
chị em với nhau và trong tinh thần chúng ta hãy ôm lấy
nhau. Xin Chúa hoàn thành công việc Ngài đã bắt đầu.
Cơ may này là một phép lạ, phép lạ của tình hiệp nhất đã
bắt đầu. Một nhà văn Ý nổi tiếng là Manzoni, đã viết về
điều này trong những tiểu thuyết của ông. Ông là một
người đơn giản và ông đã viết: "Tôi chưa bao giờ nhìn
thấy một phép lạ Chúa đã bắt đầu mà lại không kết thúc
nó một cách chính xác.’ Chúa sẽ hoàn thành phép lạ của
sự hiệp nhất này."
Thông điệp video của Đức Giáo Hoàng làm sững
sờ những người hiện diện. Đức Thánh Cha sau đó đã yêu
cầu các tham dự viên cầu nguyện theo ước nguyện của
Chúa Kitô “Ut unum sint – Để Chúng Nên Một.”
Cộng đồng Ngũ Tuần đáp lại bằng những lời cầu
nguyện và gửi đến Đức Thánh Cha một video của họ được thực hiện trong dịp này.
Đăng lại từ TÂM LINH VÀO ĐỜI, 28.2.2014
3
TÔNG HUẤN CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ – Kỳ 11
"NIỀM VUI CỦA TIN MỪNG – EVANGELII GAUDIUM"
CHƯƠNG IV – CHIỀU KÍCH XÃ HỘI CỦA VIỆC PHÚC ÂM HOÁ
II. Việc hoà nhập xã hội của người nghèo
186. Niềm tin của chúng ta vào Đức Kitô, Đấng đã trở nên nghèo khó và luôn luôn gần gũi với
những người nghèo khó và bị bỏ rơi là nền tảng căn bản cho sự quan tâm của chúng ta đối với sự phát
triển toàn diện của những thành viên bị lãng quên nhất của xã hội.
Trong sự kết hiệp với Thiên Chúa, chúng ta nghe được tiếng van nài
187. Mỗi một cá nhân Kitô hữu và mọi cộng đoàn đều
được mời gọi để trở nên khí cụ của Thiên Chúa cho sự giải thoát
và thăng tiến người nghèo, và làm cho họ trở thành một thành
phần trọn vẹn nhất của xã hội. Điều này đòi hỏi rằng chúng ta phải
ngoan ngoãn và để ý đến tiếng kêu khóc của người nghèo và đến
giúp đỡ họ. Một cái lướt nhìn thuần tuý vào Kinh Thánh cũng đủ
để làm cho chúng ta thấy được là Cha đầy ân sủng của chúng ta
khao khát lắng nghe người nghèo thế nào: "Ta đã thấy rõ cảnh
khổ cực của dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than
vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng. Ta
xuống giải thoát chúng...Ta sai ngươi..." ( Xh 3, 7 – 8, 10 ).
Chúng ta cũng có thể thấy là Ngài quan tâm đến những
nhu cầu của họ thế nào: "Bấy giờ con cái Ít-ra-en kêu lên Ðức
Chúa, Ðức Chúa liền cho xuất hiện một vị cứu tinh" ( Tl 3, 15 ).
Nếu chúng ta, những người là những phương tiện của Thiên Chúa
lắng nghe người nghèo, bưng tai giả điếc làm ngơ trước tiếng kêu
than này, thì chúng ta đang chống lại ý Cha và kế hoạch của Ngài;
và người nghèo ấy "sẽ kêu lên Ðức Chúa tố cáo anh ( em ) và anh
( em ) sẽ mang tội" ( Đnl 15, 9 ). Một sự thiếu liên đới đối với
những nhu cầu của họ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ
của chúng ta với Thiên Chúa: "Ai cay đắng trong lòng mà nguyền rủa con, thì Ðấng tạo thành ra nó sẽ
nghe lời nó thỉnh nguyện" ( Hc 4, 6 ).
Một câu hỏi cũ vẫn luôn luôn quay trở lại: "Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm
cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy
được ?" ( 1 Ga 3, 17 ). Chúng ta hãy hồi tưởng lại cũng cùng một cách thế mà Thánh Giacôbê tông đồ
đã khẳng khái nói về tiếng kêu khóc của những người bị áp bức: "Các người đã gian lận mà giữ lại tiền
lương của những người thợ đi cắt lúa trong ruộng của các người. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán
trách các người, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh" ( 5, 4 ).
188. Giáo Hội đã nhận thức rằng nhu cầu để lưu tâm đến tiếng kêu than này tự nó được sinh ra
bởi hành động giải thoát của ân sủng có ở trong mỗi người chúng ta, và do đó nó không phải là một vấn
đề của sứ mạng chỉ dành cho một vài người: "Giáo Hội, được hướng dẫn bởi Tin Mừng của lòng
thương xót và bởi tình yêu dành cho nhân loại, lắng nghe tiếng kêu khóc của công lý và có chủ ý đáp trả
tiếng kêu ấy bằng tất cả sức mạnh của mình".
Trong ngữ cảnh này chúng ta có thể hiểu được lệnh truyền của Chúa Giêsu dành cho các môn
đệ của Ngài: "Chính các con hãy cho họ ăn !" ( Mc 6, 37 ), có nghĩa là làm việc để loại bỏ các nguyên
nhân có tính cấu trúc của sự nghèo và thăng tiến sự phát triển toàn diện cho người nghèo, cùng với
những việc làm nhỏ thường nhật của sự liên đới trong việc đáp ứng những nhu cầu thật mà chúng ta
gặp phải. Từ "liên đới" đã bị bào mòn đôi chút và đôi khi lại được hiểu cách nghèo nàn, nhưng nó ám
chỉ đến một điều gì đó hơn cả một vài hành động ban phát rời rạc của sự rộng lượng. Nó ngầm định một
sự sáng tạo về một tâm thức mới biết suy nghĩ trong bối cảnh cộng đồng và sự ưu tiên cho sự sống của
tất cả so với việc sở hữu của cải bởi một số người.
189. Tình liên đới là một sự đáp trả đồng thời bởi những người nhận ra rằng chức năng xã hội
của tài sản và đích điểm mang tính toàn cầu của mọi của cải là những thực tại phải đến trước tài sản
riêng tư. Việc tư hữu của cải được biện minh bằng việc bảo vệ và làm gia tăng chúng hầu có thể phục
4
CÙNG ĐÓN NHẬN
vụ tốt hơn cho thiện ích chung; do đó, liên đới cần phải được sống như một quyết định để phục hồi
người nghèo về những gì thuộc về họ. Những xác tín và thói quen của tình liên đới này, khi được thực
hiện, sẽ mở ra một con đường dẫn đến những biến đổi có tính cấu trúc khác và làm cho chúng trở nên
khả thể. Thay đổi cấu trúc mà không tạo nên những xác tín và thái độ mới sẽ chỉ đảm bảo rằng những
cấu trúc tương tự sẽ hình thành, không sớm thì muộn, sẽ bị phá huỷ, chế tài và vô hiệu lực.
190. Đôi khi đó là vấn đề của việc nghe tiếng kêu khóc của
toàn bộ các dân tộc, các dân tộc nghèo nhất của trái đất này, bởi vì
"hoà bình chỉ được thiết lập không chỉ trên sự tôn trọng nhân quyền,
nhưng là còn dựa trên sự tôn trọng quyền của các dân tộc". Thật
đáng buồn, ngay cả nhân quyền còn có thể được sử dụng như là
một sự biện minh cho một sự bảo vệ không chính đáng đối với
quyền lợi cá nhân hoặc quyền lợi của những dân tộc giàu có hơn.
Bằng việc tôn trọng quyền tự chủ và văn hoá của mọi quốc
gia, chúng ta phải không bao giờ được phép quên rằng hành tinh
này thuộc về tất cả nhân loại và nó được dựng nên cho tất cả nhân
loại này; sự thật thuần tuý là một số người được sinh ra ở những
nơi có ít các tài nguyên hơn hoặc kém phát triển hơn thì không biện
minh cho sự thật là họ đang sống với ít nhân phẩm hơn.
Cũng cần phải nhắc lại rằng "những người may mắn hơn
nên khước từ một số quyền của họ cũng như là sử dụng các của
cải của họ một cách rộng rãi hơn cho việc phục vụ những người
khác". Nói một cách đúng đắn về quyền của chúng ta, chúng ta
cần phải mở rộng cách nhìn và để nghe được tiếng kêu của các
dân tộc khác và các vùng lãnh thổ khác hơn là nghe những con
người của riêng đất nước chúng ta. Chúng ta cần phải lớn lên
trong tình liên đới mà "vốn cho phép tất cả các dân tộc được
quyền tạo nên vận mệnh của họ", và "mọi người được mời gọi để đạt tới sự hoàn thiện".
191. Ở tất cả mọi nơi và mọi hoàn cảnh, các Kitô hữu, cùng với sự trợ giúp của các mục tử của
mình, đều được mời gọi để nghe tiếng kêu khóc của người nghèo. Điều này đã được thể hiện cách rõ
ràng bởi Hội Đồng Giám Mục Brazil: "Chúng tôi mong muốn mang lấy niềm hy vọng và niềm vui mỗi ngày,
những khó khăn và ưu sầu của người Brazil, đặc biệt của những ai đang sống ở các khu dân cư và ngoại
ô – không có đất đai, không có nhà cửa, thiếu thực phẩm và chăm sóc sức khoẻ – đến sự xâm phạm
quyền lợi của họ. Nhìn thấy sự nghèo khổ của họ, nghe thấy tiếng kêu khóc của họ và biết được nỗi thống
khổ của họ, chúng tôi bị sốc bởi vì chúng tôi biết rằng không đủ thực phẩm cho hết mọi người và rằng nạn
đói là hậu quả của sự phân bố nghèo nàn về của cải và thu nhập. Vấn để đã trở nên tệ hại hơn bởi lối
sống đại đồng về sự lãng phí". ( Ảnh minh hoạ: khu nhà của người nghèo ở Brazil )
192. Nhưng thậm chí chúng ta còn khao khát nhiều hơn cả điều này; ước mơ của chúng ta còn
bay cao hơn. Chúng ta không chỉ đơn giản là nói về việc đảm bảo về của ăn nuôi dưỡng hoặc "của ăn
xứng đáng" cho tất cả mọi người, nhưng còn về "phúc lợi và sự thịnh vượng chung hiện tại của
họ". Điều này nghĩa là việc giáo dục, việc được hưởng quyền chăm sóc sức khoẻ, và trên hết là việc
làm, bởi vì thông qua công việc lao động có tính tự do, sáng tạo, đóng góp và hỗ trợ qua lại mà con
người diễn tả và gia tăng phẩm giá đời sống của họ. Một mức lương công bằng sẽ giúp họ có được sự
tận hưởng đầy đủ tất cả những sự tốt đẹp khác vốn đã được định sẵn cho thiện ích chung.
Trung thành với Tin Mừng, để chúng ta đừng chạy cách vô ích
193. Chúng ta mặc lấy nghĩa vụ nghe tiếng kêu khóc của người nghèo khi chúng ta bị đánh động
sâu sắc bởi nỗi thống khổ của những người khác. Chúng ta hãy lắng nghe điều Lời Chúa dạy chúng ta
về lòng thương xót, và để cho lời ấy vang vọng trong đời sống của Giáo Hội. Tin Mừng dạy rằng: "Phúc
thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương" ( Mt 5, 7 ). Thánh Giacôbê Tông Đồ
dạy rằng lòng thương xót của chúng ta dành cho những người khác sẽ biện hộ cho chúng ta vào ngày
phán xét của Thiên Chúa: "Anh em hãy nói năng và hành động như những người sẽ bị xét xử theo luật
tự do. Vì Thiên Chúa không thương xót khi xét xử kẻ không biết thương xót. Còn ai thương xót, thì
chẳng quan tâm đến việc xét xử" ( Gc 2, 12 – 13 ).
Ở đây Thánh Giacôbê trung thành với truyền thống tốt đẹp nhất đời sống tinh thần của người Do
Thái thời hậu lưu đày, bổ sung một giá trị hữu ích đặc biệt cho lòng thương xót: "Đái tội lập công, bằng
cách làm việc nghĩa, là tỏ lòng từ bi đối với người nghèo, may ra thời thịnh vượng của ngài sẽ được kéo
dài thêm chăng" ( Đn 4, 24 ). Áng văn khôn ngoan cũng xem việc bố thí là một việc làm thi thố lòng
thương xót đối với những người đang cần: "Việc bố thí cứu cho khỏi chết và tẩy sạch mọi tội lỗi" ( Tb 12,
5
9 ). Ý tưởng này được diễn tả thậm chí giàu hình ảnh hơn ở sách Huấn Ca: "Nước dập tắt lửa hồng, bố
thí đền bù tội lỗi" ( Hc 3, 30 ). Cùng một cách tổng hợp này xuất hiện trong Tân Ước: "Anh em hãy yêu
thương nhau nồng nàn, vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi" ( 1 Pr 4, 8 ).
Chân lý này ảnh hưởng cách mạnh mẽ trên tư
tưởng các Giáo Phụ của Hội Thánh và giúp tạo nên một
sự chống lại có tính tiên tri, phản văn hoá đối với chủ
nghĩa khoái lạc của dân ngoại. Chúng ta có thể nhắc đến
một ví dụ: "Nếu chúng ta đang ở trong mối nguy của
đám cháy, thì chúng ta chắc chắn sẽ lấy nước để dập tắt
đám cháy... cùng một cách thế, nếu một tia lửa của tội
bùng phát trong đám rơm của chúng ta, và chúng ta bị
bối rối vì điều ấy, bất cứ khi nào chúng ta có cơ hội để
thực thi công việc của lòng thương xót, chúng ta hãy vui
lên, như thể đó là một suối nguồn mở ra trước đám cháy
để đám cháy được dập tắt".
194. Thông điệp này quá rõ ràng và trực tiếp, quá
đơn giản và mạch lạc, chớ gì không một diễn giải nào
của Giáo Hội có quyền để tương đối hoá nó. Suy tư của Giáo Hội về những bản văn này cần phải không
được che đậy hoặc làm yếu đi sức mạnh của chúng, nhưng là thôi thúc chúng ta chấp nhận những huấn
quyền của chúng bằng sự can đảm và lòng nhiệt thành. Tại sao lại làm phức tạp một việc vốn quá đơn
giản ? Những công cụ mang tính khái niệm tồn tại là để làm bật lên mối liên hệ với các thực tại mà nó
muốn giải thích, chứ không phải là làm cho chúng ta xa cách chúng.
Đây là trường hợp đặc biệt với những lời dạy của Kinh Thánh vốn mời gọi chúng ta quá mạnh
mẽ hướng tới tình huynh đệ, tới sự phục vụ khiêm tốn và rộng lượng, tới công lý và lòng thương xót
hướng đến người nghèo. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta cách nhìn này dành cho những người khác bằng
cả lời nói và hành động của Ngài. Thế thì tại sao phải che đậy những điều đã quá rõ ràng ? Chúng ta
không nên đơn giản quan tâm đến việc rơi vào sai lạc về mặt tín lý, nhưng là luôn trung thành với con
đường đầy ánh sáng và sự khôn ngoan này. Bởi vì "những người bảo vệ sự chính thống đôi khi bị tố
cáo về sự thụ động, sự đặc quyền, hoặc mang tội đồng loã khi xem xét những tình huống bất công
không thể chấp nhận nổi và các thể chế chính trị vốn dung dưỡng những tình huống ấy".
195. Khi Thánh Phaolô tiếp cận các Tông Đồ ở Giêrusalem để biện phân liệu là Ngài có đang
"ngược xuôi, và đã ngược xuôi vô ích" ( Gl 2, 2 ), tiêu chuẩn chính của sự xác thực mà các tông đồ trình
bày là Ngài không nên quên người nghèo ( x. Gl 2, 10 ). Nguyên tắc quan trọng này, nguyên tắc mà các
cộng đoàn của Thánh Phaolô không được rơi vào lối sống tập trung vào bản thân của những người dân
ngoại, vẫn còn đúng cho đến tận hôm nay, khi mà một trào lưu quy ngã mới theo chủ nghĩa dân ngoại
đang lớn mạnh. Có lẽ chúng ta không phải lúc nào cũng có thể phản chiếu cách đầy đủ vẻ đẹp của Tin
Mừng, song có một dấu chỉ mà chúng ta không giờ được phép thiếu: chọn lựa dành cho những người
bé mọn nhất, những con người mà xã hội loại bỏ.
196. Đôi khi chúng ta cũng thể hiện sự cứng lòng và cứng đầu; chúng ta xao nhãng, ham vui và
bị cuốn phăng đi bởi những khả năng vô giới hạn của sự hưởng thụ và sự ham vui do xã hội đương đại
mang lại. Điều này dẫn đến một loại tha hoá ở mọi cấp độ, bởi vì "một xã hội trở nên tha hoá khi các
hình thức về tổ chức, sản phẩm và tiêu thụ mang tính xã hội làm cho xã hội ấy trở nên khó khăn hơn để
trao ban quà tặng của bản thân và để thiết lập tình liên đới giữa con người với nhau".
Vị trí đặc biệt của người nghèo trong Dân Chúa
197. Trái tim của Thiên Chúa có một chỗ đặc biệt cho người nghèo, quá đặc biệt đến nỗi chính
Ngài "trở nên nghèo" ( 2 Cr 8, 9 ). Toàn bộ Lịch Sử Cứu Độ của chúng ta được đánh dấu bởi sự hiện
diện của người nghèo. Ơn Cứu Độ đến với chúng ta từ tiếng "vâng" cất lên từ môi miệng của một cô
thôn nữ ở một làng nhỏ ngay ngoại biên của một đế chế khổng lồ. Đấng Cứu Độ đã được sinh ra trong
một máng cỏ, giữa các thú vật, giống như các đứa trẻ khác của các gia đình nghèo; Ngài cũng được
dâng lên Đền Thờ cùng với một cặp bồ câu non, của lễ được thực hiện bởi những người không có khả
năng mua một con cừu ( x. Lc 2, 24; Lv 5, 7 ); Ngài được nuôi dưỡng trong một gia đình lao động bình
thường và làm việc bằng chính đôi bàn tay của Ngài để có của ăn.
Khi Ngài bắt đầu rao giảng về Vương Quốc Thiên Chúa, đám đông những người bị bóc lột đi
theo Ngài, minh hoạ lời Ngài nói: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi
loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn" ( Lc 4, 18 ). Ngài đoan chắc rằng những ai bị đè nặng bởi đau
buồn và bị nghiền nát bởi sự nghèo nàn rằng Thiên Chúa có một nơi đặc biệt dành cho họ trong trái tim
của Ngài: "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó,vì Nước Thiên Chúa là của anh em" ( Lc 6, 20 );
6
Ngài tự biến mình trở thành một trọng số họ: "Ta đói, các ngươi đã cho ăn", và Ngài dạy họ rằng lòng
thương xót dành cho tất cả những người này là chìa khoá để vào thiên đàng ( x. Mt 25, 35 tt ).
198. Đối với Giáo Hội, chọn lựa dành cho người nghèo thì chủ yếu là một lựa mang tính thần
học hơn là một chọn lựa mang tính văn hoá, xã hội học, chính trị, hay triết học. Thiên Chúa cho người
nghèo thấy "lòng thương xót đầu tiên của Ngài". Sự ưu tiên thánh này có những hiệu quả đối với đời
sống Đức Tin của tất cả các Kitô hữu, bởi vì chúng ta được mời gọi để có "tâm tình... như chính Đức
Kitô Giêsu" ( Pl 2, 5 ). Được thôi thúc bởi điều này, Giáo Hội đã thực hiện một chọn lựa dành cho người
nghèo được hiểu như là một "hình thức đặc biệt của sự ưu tiên trong việc thi hành bác ái Kitô Giáo, mà
toàn thể truyền thống của Giáo Hội làm chứng".
Chọn lựa này – như Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI đã dạy – "là một sự tiềm ẩn trong niềm tin
Kitô của chúng ta vào một Thiên Chúa Đấng trở nên nghèo nàn vì chúng ta, để làm cho chúng ta trở
nên giàu có bằng sự nghèo khó của Ngài". Đây là lý do vì sao tôi muốn một Giáo Hội nghèo và vì người
nghèo. Họ có rất nhiều điều để dạy chúng ta. Họ không chỉ chia sẻ Cảm Thức Đức Tin Sensus
Fidei, nhưng cả trong những khốn khó mà họ biết Đức Kitô chịu đau khổ. Chúng ta cần phải để cho bản
thân mình được Phúc Âm Hoá bởi họ. Việc tân Phúc Âm Hoá là một lời mời gọi để nhận biết năng
quyền cứu độ đang hoạt động nơi chính cuộc sống của họ và để đặt họ vào ngay trung tâm của con
đường lữ hành của Giáo Hội. Chúng ta được mời gọi để tìm gặp Đức Kitô nơi họ, và lên tiếng bênh vực
họ, nhưng cũng đồng thời là bạn hữu của họ, lắng nghe họ, nói thay cho họ và ôm lấy sự khôn ngoan
nhiệm mầu mà Thiên Chúa muốn chia sẻ với chúng ta ngang qua họ.
199. Sự cam kết dấn thân của chúng ta không chỉ hệ tại ở nơi các hoạt động hoặc các chương
trình thăng tiến và hỗ trợ; điều mà Chúa Thánh Thần thôi thúc không phải là sự hoạt động cách thiếu
kiểm soát, nhưng trên hết tất cả là một sự chú tâm đến những người khác "trong một cảm thức chắc
chắn là một với chính bản thân chúng ta". Sự chú tâm đầy yêu thương này là khởi đầu của một sự quan
tâm thật sự dành cho con người họ vốn thôi thúc tôi một cách quyết liệt để tìm kiếm sự tốt lành của họ.
Điều này đòi hỏi việc trân trọng người nghèo trong sự tốt lành của họ, trong kinh nghiệm cuộc
sống của họ, trong văn hoá của họ, và trong các cách thế sống Đức Tin của họ. Tình yêu thực sự thì
luôn luôn chiêm ngắm, và cho phép chúng ta phục vụ người khác không phải vì sự cần thiết hay sự
khoe mẽ, nhưng hơn thế nữa là vì anh hay chị đẹp hơn và vượt trên tất cả vẻ bề ngoài thuần tuý: "Tình
yêu mà ngang qua đó chúng ta thấy người khác hài lòng dẫn chúng ta đến việc trao ban cho người ấy
một điều gì đó cách nhưng-không".
Người nghèo, khi được yêu, "thì được tôn trọng như giá trị lớn lao", và đây là điều tạo nên sự
chọn lựa đích thực dành cho người nghèo khác hẳn với bất kỳ một chủ thuyết nào khác, với bất kỳ một
nỗ lực nào để khai thác người nghèo vì tư lợi hoặc lợi ích chính trị. Chỉ ở nơi nền tảng căn bản của sự
gần gũi thực sự và thân ái này mà chúng ta mới có thể thực sự đồng hành với người nghèo trên con
đường giải phóng của họ. Chỉ điều này mới đảm bảo rằng "ở nơi mọi cộng đồng Kitô hữu người nghèo
được cảm thấy như nhà mình.
Lẽ nào cách tiếp cận này lại không là một
cách trình bày tuyệt vời và hữu hiệu nhất về Tin
Mừng Nước Trời ?" Không có sự chọn lựa mang
tính ưu tiên dành cho người nghèo, "thì việc loan
báo Tin Mừng, tự bản chất là hình thức cao nhất
của đức ái, sẽ có nguy cơ bị hiểu lầm hoặc nhận
chìm bởi một đại dương các ngôn từ mà hằng
ngày cũng nhận chìm chúng ta bởi các phương
tiện truyền thông đại chúng của xã hội hôm nay".
200. Bởi vì Tông Huấn này sẽ được gửi
đến các thành viên của Giáo Hội Công Giáo, nên
tôi muốn nói, bằng cả sự hối tiếc, rằng sự phân
biệt tồi tệ nhất mà người nghèo đang phải chịu
đựng là một sự thiếu quan tâm chăm sóc về mặt
thiêng liêng. Đại đa số người nghèo có một sự
mở lòng đặc biệt đối với Đức Tin; họ cần Thiên Chúa và chúng ta phải không được thất bại trong việc
trao ban cho họ tình bằng hữu của Ngài, phúc lành của Ngài, lời của Ngài, và việc cử hành các bí tích
và một hành trình phát triển và trưởng thành trong Đức Tin. Chọn lựa mang tính ưu tiên của chúng ta
dành cho người nghèo phải chính thức biến đổi thành một sự quan tâm đặc quyền và tôn giáo.
201. Không ai được phép nói rằng họ không thể gần gũi với người nghèo bởi vì lối sống của họ đòi
hỏi nhiều sự chú tâm hơn những lãnh vực khác. Đây là một lời biện hộ thường được nghe trong các nhóm
7
học thuật, kinh doanh hoặc chuyên gia, và ngay cả trong Giáo Hội. Trong khi thật sự là ơn gọi và sứ mạng
thiết yếu của người tín hữu là nỗ lực để đạt tới điều này là các thực tại trần gian và mọi hoạt động của con
người đều được biến đổi bởi Tin Mừng, thì không một ai trong chúng ta được nghĩ rằng chúng ta là một
ngoại lệ trong việc quan tâm đến người nghèo và đến công bằng xã hội: "Sự hoán cải thiêng liêng, sự
mãnh liệt của tình yêu dành cho Thiên Chúa và anh em đồng loại, lòng nhiệt thành dành cho công lý và
hoà bình, ý nghĩa Tin Mừng về người nghèo và về sự nghèo, là việc đòi hỏi hết tất cả mọi người".
Tôi e rằng những lời này cũng chỉ gợi lên để bình luận hoặc tranh luận mà không có một hiệu
quả thực tế nào. Điều đã được nói, tôi tín thác tất cả ở nơi sự cởi mở và sự sẵn sàng của tất cả mọi Kitô
hữu, và tôi mời gọi các bạn tìm kiếm, trong tư cách là một cộng đồng, các cách thế sáng tạo về việc đón
nhận lời mời gọi đổi mới này.
ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ,
bản dịch của JOSEPH C. PHẠM ( còn tiếp nhiều kỳ )
THỜI TÔN THỜ CON BÒ VÀNG
Sau khi trận động đất tại Nhật Bản hồi
tháng 3 năm 2011 vừa qua đi, lực lượng cứu hộ
bắt đầu các hoạt động tìm kiếm cứu nạn. Và khi
họ tiếp cận đống đổ nát từ ngôi nhà của một phụ
nữ trẻ, họ thấy thi thể của cô qua các vết nứt.
Nhưng tư thế của cô có gì đó rất lạ, tựa như một
người đang quỳ gối cầu nguyện; cơ thể nghiêng
về phía trước, và hai tay cô đang đỡ lấy một vật
gì đó. Ngôi nhà sập lên lưng và đầu cô.
Đội trưởng đội cứu hộ đã gặp rất nhiều
khó khăn khi anh luồn tay mình qua một khe
hẹp trên tường để với tới thi thể nạn nhân. Anh
hy vọng rằng, người phụ nữ này có thể vẫn
còn sống. Thế nhưng cơ thể lạnh và cứng đờ
cho thấy cô đã chết.
Cả đội rời đi và tiếp tục cuộc tìm kiếm ở tòa nhà đổ sập bên cạnh. Không hiểu sao, viên đội
trưởng cảm thấy như bị một lực hút kéo trở lại ngôi nhà của người phụ nữ. Một lần nữa, anh quỳ xuống
và luồn tay qua khe hẹp để tìm kiếm ở khoảng không nhỏ bên dưới xác chết. Bỗng nhiên, anh hét lên
sung sướng: "Một đứa bé ! Có một đứa bé !"
Cả đội đã cùng nhau làm việc; họ cẩn thận dỡ bỏ những cái cọc trong đống đổ nát xung quanh
người phụ nữ. Có một cậu bé 3 tháng tuổi được bọc trong một chiếc chăn hoa bên dưới thi thể của
người mẹ. Rõ ràng, người phụ nữ đã hy sinh để cứu con mình. Khi ngôi nhà sập, cô đã lấy thân mình
làm tấm chắn bảo vệ con trai. Cậu bé vẫn đang ngủ một cách yên bình khi đội cứu hộ nhấc em lên.
Bác sĩ đã nhanh chóng kiểm tra sức khỏe của cậu bé. Sau khi mở tấm chăn, ông nhìn thấy một
điện thoại di động bên trong. Có một tin nhắn trên màn hình, viết: "Nếu con có thể sống sót, con phải
nhớ rằng mẹ rất yêu con". Chiếc điện thoại di động đã được truyền từ tay người này sang tay người
khác. Tất cả những ai đã đọc mẩu tin đều không ngăn nổi dòng nước mắt.
Tình mẫu tử một lần nữa lại sáng chói trên bầu trời ảm đạm thế thái nhân tình. Tình mẹ phản
ảnh phần nào lòng thương yêu vô vàn của Thiên Chúa với con người, như Ngôn Sứ Isaia đã khéo ví
von: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng
đẻ đau ? Cho dù nó có quên đi nữa thì Ta, Ta sẽ cũng chẳng quên ngươi bao giờ" ( Is 49, 15 ).
Con bò vàng
Hầu hết các Cty, xí nghiệp và nhà của người ngoài Kitô giáo, đều có bàn thờ Thần Tài, Ông Địa
ở ngay phòng khách. Theo truyền thuyết, Thần Tài chính là Triệu Công Minh, người đời nhà Tần. Ông
lánh đời đi tu tại núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, ông được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên
Soái, coi việc đuổi trừ ôn dịch, cứu bệnh trừ tà. Hơn nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông thì được giúp
đỡ. Người buôn bán thì cúng cầu ông để được phát đạt may mắn.
8
CÙNG SUY NIỆM
Hiện tượng thờ bái vật không chỉ thờ Thần Tài, mà còn thờ tất cả những gì họ cho là có thể đem
lại danh lợi, thỏa mãn thị hiếu, cũng như tham vọng. Đó chính là hình thái thờ con bò vàng trong Cựu
Ước ( Xh 32, 1 – 35 ).
Con bò vàng hôm nay có thể là tiền bạc, của cải, chức
tước, bổng lộc, quyền hành, thế lực. Con bò vàng còn là những
phương tiện vật chất, nhà cao cửa rộng, tiện nghi, nội thất sang
trọng, áo quần diêm dúa thời trang, phương tiện nghe nhìn hiện
đại, vật dụng cá nhân cao cấp, xe cộ sa hoa đắt tiền… Dĩ nhiên,
khi tôn thờ con bò vàng, người ta dứt khoát chối bỏ Thiên Chúa,
hiện diện trong đời. Hoặc chỉ thờ lạy Chúa trên môi mép, còn lòng
trí thì quy hướng, tôn sùng con bò vàng. "Dân này thờ kính ta bằng
môi bằng miệng, nhưng tâm hồn chúng thì xa ta" ( Mc 7, 6 ).
Tín thác
Khi hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa Quan Phòng, đặt
hết vào Ngài lòng trông cậy, niềm hy vọng, mới có thể thoát khỏi
ách nô lệ con bò vàng, thoát khỏi những đam mê vật chất, cám
dỗ thực dụng, tham sân si u mê mù quáng. “Trước hết hãy tìm
kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả
những thứ kia Người sẽ thêm cho” ( Mt 6, 33 ).
Tìm kiếm Nước Thiên Chúa là đón nhận những điều mà
thiên hạ vẫn cho là điên dại, dở hơi hay ngu đần, lo tránh xa tựa
dịch bệnh, như tinh thần nghèo khó, chịu đau khổ, hiền lành, đói khát sự công chính, biết xót thương
yêu người, tâm hồn trong sạch, hòa nhã, chịu bắt bớ vì sự công chính. Tất cả đã được gói ghém đầy đủ
trong Bát Phúc, Hiến Chương Nước Trời.
Tìm đức công chính của Thiên Chúa là tuân theo, vâng phục Thánh Ý Chúa, trọn vẹn bổn phận,
trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Tu thân, tích đức cho cuộc đời sau viên mãn.
Tóm lại, "Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó sẽ ghét người này, và yêu mến người kia,
hoặc nó chuộng chủ này, và khinh chủ nọ.” ( Mt 6, 24 ). Đức Giêsu không chấp nhận sự chọn lựa cố tình
nhập nhằng giữa Thiên Chúa hằng hữu và thế gian phù phiếm hư ảo. "Ta biết các việc ngươi làm:
ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi ! Nhưng vì ngươi hâm
hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta" ( Kh 3, 16 ).
“Theo Thầy bấy lâu nay, con có thiếu gì không ?” – “Thưa Thầy không”. Con bỏ tất cả, nhưng
theo Chúa Quan Phòng, con còn lo gì ? ( Đường Hy Vọng, số 70 ).
Lạy Chúa Giêsu, Chúa dạy chúng con đường ngay nẻo chính để được hạnh phúc bên Chúa.
Nhưng chúng con còn nặng lòng với thế gian, còn nuối tiếc củ hành, củ tỏi như dân Do Thái xưa
nuối tiếc kiếp nô lệ Ai Cập. Xin Chúa ban cho chúng con ơn sủng ăn năn, sám hối, cũng như sáng
suốt và sức mạnh chiến thắng bản thân, thế gian và ma quỷ, để trở thành chiên ngoan của Chúa.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ giúp chúng con biết sống khiêm nhường, khó nghèo và trung thành
vâng theo Thánh Ý Chúa trọn đời. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN
“HÃY TÌM NƯỚC THIÊN CHÚA
VÀ ĐỨC CÔNG CHÍNH CỦA NGƯỜI”
Trong hai Chúa Nhật trước, các bài Tin Mừng nói về cách hành xử của Kitô hữu đối với những
người thân cận. Bài Tin Mừng hôm nay ( Mt 6, 24 – 34 ) dạy chúng ta về mối tương quan đối với những
giá trị và thực tại vật chất trần gian.
1. “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” ( c. 24 )
Trước hết, bài Tin Mừng bắt đầu bằng một giáo huấn quan trọng của Chúa Giêsu: “Không ai có
thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể
chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” ( c. 24 ).
Làm tôi ( douleuein ) là phục vụ với một lòng trung thành tuyệt đối, chấp nhận bị chủ sai khiến và
quyết định thế nào mặc lòng. Người nô lệ không có quyền gì trên cuộc đời mình. Là vật sở hữu của chủ, anh
9
ta phải chịu chủ sai khiến và phải tuyệt đối tùng phục theo những quyết định của chủ. Vì thế, không ai có thể
làm tôi hai chủ, nhất là khi hai chủ ấy hoàn toàn trái ngược nhau và cả hai đều là những người rất đòi hỏi.
Nhưng sự “làm tôi” mà Đức Giêsu nói đến ở đây còn đi xa hơn cách hiểu thông thường rất
nhiều. Khi đưa ra hai cặp đối lập yêu / ghét và gắn bó / khinh dể, Người muốn cho thấy sự “làm tôi” ở
đây phải là sự dấn thân phục vụ hết mình, trọn vẹn, chân thành, với tất cả lòng yêu mến. Theo nghĩa
này, người ta càng không thể làm tôi hai chủ được. “Vì anh ta hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia,
hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ”.
Cuối câu 24, Đức Giêsu nêu rõ danh tánh hai ông chủ: Thiên
Chúa và Tiền Của. Người khẳng định một cách rõ ràng và mạnh mẽ:
“Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của
được”. Hạn từ “Tiền Của” ở đây có thể được hiểu ở nhiều cấp độ khác
nhau. Một số người hiểu đó là tiền bạc theo nghĩa thông thường. Một
số khác hiểu đó là những tài sản vật chất khác nhau mà người ta kiếm
chác được, nhất là bằng những hoạt động bất chính. Nhiều người hiểu
( một cách hữu lý ) rằng “Tiền Của” ở đây là tất cả những gì người ta
tìm kiếm được và sở hữu được, ngay cả quyền lực, công danh, sự
nghiệp, tài năng…, nói tóm lại là tất cả những giá trị và thực tại trần
thế, không loại trừ đó là những thực tại tốt lành. Tất cả những thứ đó
đều có thể được người ta sùng bái quá đáng, và đều có thể trở thành
đối thủ cạnh tranh không khoan nhượng với Thiên Chúa trong tâm hồn
và cuộc sống của người ta.
Chúa Giêsu không lên án “Tiền Của”, nhưng Người không
chấp nhận những ai để cho thói tôn sùng “Tiền Của” làm chủ mình.
Người nặng lời phê phán những ai yêu mến và gắn bó với những
thực tại trần gian mà họ làm ra và sở hữu. Vấn đề không phải là
không có “Tiền Của”, mà là không được ưu tiên nó như là thực tại
quan trọng nhất và có sức chi phối khao khát, suy nghĩ, chọn lựa, quyết định và hành xử của chúng ta.
Thiên Chúa phải chiếm vị trí số một, và các đồ đệ của Đức Giêsu phải không được từ nan bất cứ điều gì
Thiên Chúa đòi hỏi. Họ phải làm tôi Thiên Chúa trong tình yêu và trong sự gắn bó sâu xa với Ngài.
Chính trong thái độ tâm linh căn bản đó, người đồ đệ sẽ có một cách hành xử đúng đắn đối với những
thực tại và giá trị trần thế, ngay cả những thực tại và giá trị cốt thiết để hiện hữu và sống còn, như của
ăn và áo mặc chẳng hạn.
2. Đừng lo lắng khi phải đối diện với những vấn đề của cuộc sống ( cc. 25-32 )
Những của cải và giá trị trần gian có thể chiếm trọn trái tim, chi phối hành động và biến thành
một thứ thước đo giá trị của con người. Con người bị các thực tại phàm trần tác động và điều kiện hoá,
vì ai cũng phải đối diện với những nhu cầu rất căn bản của cuộc sống như cái ăn, cái mặc… Các thực
tại vật chất là rất cần thiết để con người có thể sống được: chúng ta không thể chỉ sống bằng suy tưởng
hay bằng ý chí và không cần bất cứ thứ gì khác. Để sống, người ta buộc phải ăn, phải uống, phải mặc;
và chính trong sự tuỳ thuộc vào các thực tại vật chất như thế mà mối tương quan của người ta với của
cải trần gian được thực hiện. Không ai có thể tránh né được mối tương quan này. Vấn đề là chúng ta
phải sống sự tuỳ thuộc đó như thế nào.
Chúa Giêsu dạy: "Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng
lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo
mặc sao ? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em
trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao ? Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng,
mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay ? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì ? Hãy
ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo
sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp
bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn
mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi:
ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây ? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên
trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó” ( cc. 25-32 ).
Với một loạt những quan sát và suy tư, Đức Giêsu nhắc chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa biết rất
rõ chúng ta và Người luôn sẵn sàng bảo đảm cho cuộc sống của chúng ta. Người đã ban cho chúng ta
món quà lớn lao hơn tất cả: thân thể và mạng sống, lẽ nào Người lại chẳng sẵn sàng ban cho chúng ta
những món quà nhỏ hơn, tức là những phương tiện giúp chúng ta gìn giữ quà tặng lớn lao kia ? Chim
trời vẫn tìm được của ăn, cho dù không gieo không gặt. Đoá huệ ngoài đồng vẫn được trang điểm diễm
10
lệ, cho dù không làm lụng canh cửi. Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá, luôn lo liệu mọi sự cho chúng. Há
Người lại chẳng làm như thế cho con người, vốn là những con cái mà Người quý hơn tất cả và hằng âu
yếm lấy tình phụ tử mà chăm nom gìn giữ ? Và cuối cùng là một suy tư đơn giản: Hỏi có ai trong anh em
có thể nhờ lo lắng mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang không ? ( c. 27 ).
Chúng ta được mời gọi đón nhận những thực tại căn bản, ví dụ như độ dài của cuộc sống trần
gian của mỗi người, như Thiên Chúa đã ấn định. Nhưng Đức Giêsu không có ý nói rằng chúng ta đừng
làm lụng canh cửi, đừng gieo gặt trồng cấy, đừng để ý lưu tâm hay đừng xây dựng những dự phóng
tương lai… Người muốn nói rằng tất cả những điều đó phải được thực hiện nhưng không phải là với
một sự lo lắng bận tâm thái quá và mù quáng, mà là với lòng tin tưởng vào Thiên Chúa là Cha chúng ta.
Thiên Chúa đã ban cho con người bàn tay và khối óc, tức là Người đã lo liệu trước để chúng ta có thể
xây dựng cuộc sống cho phù hợp với phẩm giá cao cả của mình.
Đức Giêsu biết rõ sự vận hành bình thường của cuộc đời. Người không phủ nhận rằng đôi khi
chim trời và con người vẫn phải chết vì đói. Nhưng ngay cả trong những trường hợp cực đoan đó, sự lo
lắng thái quá cũng không hề giúp chúng ta tiến bước bình an và chắc chắn trong cuộc sống trần gian
này. Trái lại, trong những trường hợp cực đoan bi đát đó, chúng ta càng có lý do để trông cậy và hy
vọng nơi Thiên Chúa, không chỉ hy vọng về những thực tại trần gian mà thôi, mà nhất là hy vọng về
những thực tại Nước Trời, là nơi duy nhất có cuộc sống viên mãn thật sự.
Sự “không lo lắng” của chúng ta, như vậy, theo lời của Đức Giêsu, không đặt cơ sở trên một sự
lạc quan ngây thơ hay trên khả năng làm chủ cuộc sống của chúng ta ( khả năng ấy quá bé nhỏ ). Sự
“không lo lắng” đó được đặt cơ sở trên sự thực vững chắc, rằng Thiên Chúa quyền năng và thông biết
mọi sự, rằng Thiên Chúa luôn luôn nhân lành yêu thương ta, rằng Thiên Chúa luôn luôn trung thành với
lời sáng tạo của Người.
3. Chọn lựa căn bản của cuộc sống:
Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người ( cc. 33-34 )
Sau khi đã dạy chúng ta đừng lo lắng, Đức Giêsu nói cho chúng ta biết đâu là thực tại phải chi
phối ước muốn của chúng ta, lấp đầy con tim của chúng ta, xác định thước đo giá trị của chúng ta và đòi
hỏi những hoạt động của chúng ta. Người nói: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công
chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai:
ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” ( cc. 33-34 )
Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người. Đó là những giá trị cao cả nhất và sâu xa nhất;
và chúng ta được mời gọi hoàn toàn quy hướng tất cả con người của mình về những thực tại đó. Nước
Thiên Chúa là chính Thiên Chúa đang tỏ mình hoàn toàn cho chúng ta trong tư cách là Đức Chúa quyền
năng và tràn đầy ân nghĩa, Đấng luôn đón nhận và yêu thương che chở chúng ta trong sự hiệp thông
vào sự sống của chính Người. Tất cả lòng tin của chúng ta, tất cả niềm hy vọng của chúng ta và tất cả
lòng yêu mến của chúng ta đều phải được quy hướng về Người trong một ý hướng hoàn toàn thuần
khiết. Đó là tìm kiếm Nước Thiên Chúa. Sự công chính của Thiên Chúa là sự công chính đến từ chính
Thiên Chúa. Đó là cách hành xử của người công chính, phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa và được
Đức Giêsu nói rõ trong bài giảng trên núi. Tất cả nỗ lực của chúng ta và tất cả sức mạnh của chúng ta,
đều phải được huy động để thực hiện sự công chính ấy.
Nếu chúng ta trước hết chỉ tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người như thế, thì
những điều khác sẽ được ban cho chúng ta như những phương tiện để chúng ta thực hiện chọn lựa căn
bản đó của cuộc đời. Ý nghĩa của sự hiện hữu của chúng ta không tuỳ thuộc vào những mối bận tâm về
cuộc sống hiện tại này, mà là ở sự hoàn toàn quy chiếu của chúng ta, ngay trong cuộc sống thế tạm
hôm nay, vào Thiên Chúa, và ở sự chuẩn bị của chúng ta, nhờ những hành động công chính, cho cuộc
hiệp thông viên mãn vĩnh cửu với chính Thiên Chúa.
Đó mới là tương lai đích thật mà chúng ta phải hướng tới, chứ không phải là cái ngày mai trong
cuộc đời thế tạm này. Vì thật ra, cái ngày mai thế tạm vẫn sẽ là cái ngày mai vất vả: “Ngày nào có cái
khổ của ngày ấy” ( c. 34 ). Nhưng sự vất vả trong ngày mai thế tạm sẽ rất khác nhau. Đó sẽ là sự vất vả
nhọc nhằn và cay đắng, nếu chúng ta vất vả vì những lo lắng cho cuộc sống thế tạm và vật chất này.
Trái lại, đó sẽ là vất vả phúc lạc và bình an, nếu chúng ta tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính
của Người, tức là nếu chúng ta hoàn toàn quy hướng về Thiên Chúa và sống theo những mối phúc mà
Chúa Giêsu đã công bố trong bài giảng trên núi ( 5, 3 – 12 ).
Tất cả chúng ta đều chịu tác động của các thực tại thế tạm. Lời Chúa hôm nay nhắc cho chúng
ta rằng: ngay trong mối tương quan của chúng ta với những thực tại cần thiết cho cuộc sống thế tạm,
Thiên Chúa vẫn phải chiếm vị trí mang tính quyết định. Ta được mời gọi đừng để cho những lo toan về
các nhu cầu ( cho dù là khẩn thiết nhất ) của cuộc sống, hoàn toàn chi phối tâm trí chúng ta, đến nỗi
chúng ta đánh mất sự tin tưởng vào Thiên Chúa là Cha chúng ta. Quan trọng hơn tất cả những bận tâm
11
lớn nhỏ của cuộc sống, là lòng tin và niềm xác tín rằng: “Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất
cả những thứ đó” ( c. 32 ). Nếu lòng tin tưởng vững chắc vào Thiên Chúa và xác tín mạnh mẽ về sự
nhân lành vô biên của Người, làm người bạn đồng hành với những mối bận tâm về cuộc sống vật chất
của chúng ta, thì chắc chắn tâm hồn chúng ta sẽ được bình an, và chúng ta sẽ đối diện với cuộc sống
( có khi rất khắc nghiệt ) này với một sự tự do nội tâm đích thực.
“Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người” ( Mt 5, 33 ).
Lm. Giuse NGUYỄN THỂ HIỆN, DCCT
THIÊN CHÚA HAY THẦN TÀI ?
Trong bài Phúc Âm Mt 6, 24 – 34 mà chúng ta
nghe đọc trong Chúa Nhật 8 Thường Niên năm A, và
trong dịp Tết Nguyên Đán, Đức Giêsu dùng ba ví dụ
rất nên thơ gợi cảm để chỉ cho chúng ta thấy một sự
lo lắng thái quá về đời sống vật chất là vô lý nếu như
chúng ta còn tin có Thiên Chúa là Cha chúng ta. Ví dụ
thứ nhất: chim trời không gieo, không gặt nhưng
chúng vẫn được Cha trên Trời nuôi sống. Ví dụ thứ
hai: cuộc đời của mỗi người chúng ta có một quảng
thời gian nhất định sống ở trần gian này, – điều đó
chúng ta không thay đổi được, dù có lo lắng cũng chẳng kéo dài đời mình thêm một vài gang tấc ! Và
cuối cùng: hoa huệ ngoài đồng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà dù vua Salômon vinh hoa tột bậc
cũng không mặc đẹp bằng nó.
Kết luận của ba ví dụ là: nếu như Thiên Chúa quan tâm nuôi sống chim trời và ban áo mặc cho
hoa đồng cỏ nội, thì lẽ nào Chúa lại không lo lắng cho con người hơn gấp bội sao ? Kết thúc bài giảng,
Chúa Giêsu tuyên bố: "Vậy đừng quá lo lắng về ngày mai. Ngày mai cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái
khổ của ngày đó". Chúng ta đồng ý rằng lời Chúa Giêsu dạy chúng ta hôm nay thật là hấp dẫn. Có gì
đáng mong ước hơn là có Cha Trên Trời lo lắng cho ta ? Tuy nhiên, càng suy nghĩ và đi sâu vào thực
tế, chúng ta càng thấy mọi sự chẳng đơn giản chút nào.
Những lo lắng chính đáng
Con người thời đại ta cũng như mọi thời đại, đều có trăm ngàn nỗi lo, và những nỗi lo chính
đáng. Đừng nói gì xa xôi, chỉ nguyên những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống đã làm điên đầu nhiều bậc
cha mẹ gia đình: lo sao cho có cái ăn, cái mặc, cho căn nhà ở khỏi giột nát khi tới mùa mưa, cho con cái
được học hành, cho có thuốc thang khi bệnh tật, cho giá cả đừng tăng vọt, mùa màng không thất thoát...
Những nỗi lo như thế phát xuất từ trách nhiệm của mỗi người, đều chính đáng và đẹp lòng Chúa.
Chúa Giêsu không muốn cho chúng ta lười biếng hoặc sống vô trách nhiệm. Chim trời cũng phải vất
vả tìm mồi. Có những thứ chim phải bay thật xa mới tới chỗ có thức ăn. Hoa huệ ngoài đồng cũng có khi
phải đâm rễ len lỏi giữa sỏi đá để tìm chất nuôi sống. Đàng khác chính Chúa cũng nói rằng: "Ngày nào có
cái khó, cái khổ của ngày đó". Vậy khó nhọc, gian khổ là điều có thực, gắn vào thân phận con người.
Không những Chúa không muốn ta sống lười biếng, vô lo, vô trách nhiệm, mà còn muốn ta phải
làm việc để cùng với Người hoàn hiện thế giới này và góp phần vào công cuộc cứu độ thế giới. Ngay lúc
vừa mới dựng nên loài người, Thiên Chúa đã ra lệnh cho họ phải canh tác trái đất và làm chủ vạn vật.
Trong dụ ngôn về những nén bạc ( x. Mt 25, 15 – 25 ), Chúa Giêsu đã hỏi mỗi người đã dùng tài năng
Chúa ban mà làm lợi cho Người được bao nhiêu, chứ không phải đã chôn giấu nó an toàn như thế nào.
Thế thì ta có quyền và có bổn phận phải lo lắng, tính toán, phải có kế hoạch, phải phòng xa. Điều Chúa
không chấp nhận là chúng ta lo lắng về đời sống vật chất như thể đó đã là cùng đích của đời sống, là
tuyệt đối cho đời mình.
Thiên Chúa hay Thần Tài ?
Câu then chốt nhất của bài Phúc Âm hôm nay là: "Tiên vàn hãy lo tìm kiếm Nước Chúa và đời
sống công chính như Nguời đòi hỏi, còn các thứ kia ( nghĩa là của cải vật chất ), Người sẽ thêm cho."
Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa: đây mới là vấn đề ưu tiên. Nỗi lo số một của người môn đệ
Chúa Giêsu là Nước Thiên Chúa. Mọi sự khác cũng cần thiết. Nhưng không được đặt lên trên Nước
Thiên Chúa. Phải dành ưu tiên cho Nước Thiên Chúa, rồi mới đến các thứ khác. Đó là trật tự phải tôn
trọng. Nhưng đây không phải là vấn đề thời gian sau trước nhưng là vấn đề giá trị mà khi cần phải chọn
lựa, ta phải biết đâu là thiết yếu đâu là thứ yếu.
12
Lời dạy của Chúa Giêsu là hệ trọng. Và nó cũng phù hợp với kinh nghiệm sống của chúng ta.
Người ta thường lấy của cải vật chất làm ưu tiên số một và cho rằng của cải giàu sang sẽ giải quyết
được mọi vấn đề của xã hội và của con người. Nhưng thực tế luôn luôn chứng minh rằng suy nghĩ và
hành động như thế là sai lầm. Xã hội tư bản lấy sự sản xuất của cải hàng hoá dư dật và sự hưởng thụ
tự do làm mục tiêu, và bắt mọi sự khác phải phục vụ cho mục tiêu ấy, nên đã rơi vào khủng hoảng về
tinh thần, về lý tưởng sống. Và vì mục tiêu ấy, người ta khai thác các tài nguyên thiên nhiên một cách vô
độ và ngày nay thiên nhiên quay lại "trả thù" con người, đe dọa cuộc sống trên trái đất.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, theo lý thuyết người ta coi kinh tế là yếu tố quyết định
mọi sự khác, và tuy vẫn nói kinh tế phải phục vụ con người, nhưng trên thực tế con người và các giá trị
đạo đức bị chà đạp trầm trọng... Sau khi hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, những nước
khác đã quay sang kinh tế thị trường và cũng đang phát triển theo hướng phương Tây, liệu có tránh nổi
những tiêu cực gắn liền vào tư bản chủ nghĩa không ? Của cải vật chất là ông chủ không dễ gì khuất
phục nổi. Tinh thần thường tỏ ra yếu đuối và không hấp dẫn bằng của cải giàu sang. Ở Việt Nam xã hội
chủ nghĩa "thời mở cửa", điều đó cũng đang được chứng minh.
Của cải là cần thiết. Nhưng của cải tự nó không mang lại hạnh phúc cho con người. Nó phải là
một phương tiện, một người tôi tớ. Nhưng khốn thay, tên đầy tớ này rất có uy quyền, rất dễ trở thành
ông chủ của con người, để con người phục dịch nó với bất cứ giá nào.
"Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đời sống công chính như Người đòi hỏi": Sống theo
ưu tiên đó, có nghĩa là chúng ta vẫn phải làm việc, phải vất vả, phải lo lắng và biết tiên liệu, nhưng
chúng ta sẽ không nô lệ vật chất, sẽ không bán rẻ lương tâm vì đồng tiền bát gạo, sẽ coi trọng con
người hơn của cải và đặt các giá trị luân lý đạo đức lên trên các giá trị vật chất.
Sống theo ưu tiên của Nước Thiên Chúa, người Kitô hữu sẽ giữ được sự tự do thanh thoát và
bình an ngay giữa những nhiệm vụ nặng nề nhất, vì họ biết có Chúa là Cha yêu thương cùng lo cho họ
và với họ, và chỉ có Người mới đem lại cho họ niềm hạnh phúc đích thực mà họ hằng mong ước.
Lm. Guy Maria NGUYỄN HỒNG GIÁO, Dòng Thánh Phanxicô
NHÂN LỄ TẤN PHONG CÁC HỒNG Y MỚI – Phần 1
Ngày 22 tháng 2 vừa qua, lễ kính Tòa
Thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tấn
phong 19 vị Hồng Y mới của Giáo Hội Công Giáo
Rôma. Trên cung thánh hôm ấy, bất ngờ xuất
hiện một bóng áo trắng quen thuộc nhưng đã ẩn
cư từ một năm nay. Đức nguyên Giáo Hoàng
Bênêđitô XVI đã đến dự nghi lễ. Ngài ngồi hàng
đầu bên cạnh các Hồng Y mới.
Đức Hồng Y Lejolo, trước đây là quản lý
đô thành Vatican, trong một cuộc phỏng vấn của
báo La Stampa-Vatican Insider đã cho biết: “Tất
cả các Hồng Y lập tức đổ về phía ngài để chào
kính. Thật vui khi thấy các vị chen chúc nhau như
thuở còn là học trò để được đến với Đức
Bênêđitô. Ngài trông khỏe mạnh, thư thái, bình an
và vẫn thân thiện như thuở nào. Ngài hỏi thăm từng người, cung cách vẫn nhã nhặn và đơn sơ như xưa
nay ngài vẫn thế”. ( Ảnh chụp Đức Giáo Hoàng Phanxicô tấn phong 19 Hồng Y vào ngày 22.2.2014 ).
Khi Đức Thánh Cha Phanxicô bước lên cung thánh, việc đầu tiên là ngài đến chào vị tiền nhiệm
một cách nồng nhiệt. Và ngay từ đầu bài diễn văn ngắn nhân danh các tân Hồng Y, Quốc Vụ Khanh Tòa
Thánh Parolin đã bảy tỏ sự vui mừng được Đức Bênêđitô hiện diện trong nghi lễ này, mọi người trong đền
thờ đã vỗ tay vang dội. Sự hiện diện của Đức Bênêđitô có ý nghĩa rất lớn: Hội Thánh là một thực thể duy
nhất vừa liên tục vừa đổi mới theo thời gian. Vật đổi sao dời, sẽ xuất hiện những người mới, những việc
mới nhưng vẫn một Đức Tin, một mầu nhiệm hiệp thông vĩnh hằng. Không có cái vĩnh hằng đó thì cũng
không có đổi mới. Cho nên Hội Thánh trân quý cái phần tinh hoa bất biến của mình mà ở đây, trong lúc
này, Đức nguyên Giáo Hoàng Bênêđitô là biểu tượng và là chứng nhân. Đó là một đặc ân ban cho Hội
Thánh hôm nay, không phải lúc nào cũng có một cơ hội hiếm hoi như thế.
13
CÙNG BÌNH LUẬN
Từ cõi thâm tâm đó của Hội Thánh, nay ta thử tìm hiểu 19 vị Hồng Y mới đó có cho ta một tiên
báo gì về chặng đường sắp tới của Hội Thánh chăng ? Người ta thường đặc biệt chú ý tới lễ phong
Hồng Y đầu tiên trong một triều đại Giáo Hoàng. Nhất là đối với một vị đã để lại rất nhiều ấn tượng
mạnh như Đức Phanxicô trong năm qua, dư
luận càng chờ đợi. Thành phần các vị mới gia
nhập Hồng Y đoàn có thể làm rõ nét một tinh
thần, một nội dung tư tưởng và mục vụ, một
phong cách nhất định nào đó trong Dân
Chúa. ( Ảnh chụp: Đức Phanxicô chào đón
Đức Nguyên Giáo Hoàng Bênêđitô XVI tại lễ
tấn phong 19 Hồng Y, 22.2.2014 ).
Tìm hiểu danh sách các vị tân Hồng Y,
giới quan sát có mấy nhận xét:
1. Đây là lần đầu tiên, người Châu Âu
không còn chiếm đa số trong Hồng Y đoàn.
Với 122 vị Hồng Y đang trong độ tuổi thi hành
nhiệm vụ quan trọng là suy cử Giáo Hoàng, thì
61 vị là người Châu Âu, trong số này 29 vị là
người Ý. Vậy người châu Âu hiện nay là 50% của Hồng Y Đoàn. Sự thể này phản ảnh phần nào những
thay đổi trong phân phối dân số Công Giáo giữa các vùng miền thế giới.
Theo số thống kê mới đây của tổ chức Pew Research Center ở Hoa Kỳ thì trong 100 năm từ 1910
– 2010, dân số Công Giáo trên thế giới đã tăng gấp 3 lần, làm thay đổi địa bàn cư trú của người Công
Giáo. Năm 1910, 65% người Công Giáo là người Châu Âu và 24% là người Châu Mỹ Latinh. Đến năm
2010, tỷ lệ người Châu Âu trong Giáo Hội chỉ còn 24%, trong khi Châu Mỹ Latinh là 39%. Như vậy mật độ
người Công Giáo đã chuyển từ Châu Âu sang Châu Mỹ Latinh. Không phải là sự ngẫu nhiên nếu từ kỳ
bầu Giáo Hoàng năm 2005 người ta đã dự đoán sẽ có vị Giáo Hoàng đầu tiên người Châu Mỹ Latinh.
Đến mật hội bầu Giáo Hoàng năm 2013, dự đoán ấy đã thành sự thật với Đức Thánh Cha
Phanxicô, người Argentina ( trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, có cả thẩy 208 vị Giáo Hoàng người
Italia, trong đó có 112 quê gốc Roma, điều này dễ hiểu vì Đức Giáo Hoàng chính là Giám Mục Roma, kế
vị Thánh Phêrô. Ngoài các vị người Italia này còn có một vị người Do Thái, 16 vị người Pháp, 15 vị
người Hy Lạp, 7 vị người Đức, 6 vị người Syria, 3 vị người Bắc Phi, 1 vị người Hà Lan, 1 vị người Ba
Lan, và ngày nay 1 vị người Argentina.
Người ta lại dự đoán, nếu tình hình cứ diễn biến như hiện nay thì đến năm 2050 dân số Công
Giáo ở Châu Phi sẽ tăng vượt bậc là 146%, Châu Á tăng 65%, Châu Mỹ Latinh tăng 42%, Bắc Mỹ tăng
38%, trong khi Châu Âu lại giảm 6%. Nếu cộng cả Bắc lẫn Nam Mỹ, thì 50% người Công Giáo là người
Châu Mỹ, Châu Âu chỉ chiếm tỷ lệ m5 phần tư và còn giảm nữa.
Như vậy, so với trước đây các vị Hồng Y người Châu Âu chiếm tuyệt đại đa số, với một tỷ lệ rất
cao người Ý, thì tỷ lệ 50% người Châu Âu trong Hồng Y Đoàn hiện nay phản ảnh phần nào xu hướng
thay đổi trong thành phần dân số Công Giáo.
Tuy vậy, tỷ lệ các vị người Châu Âu trong Hồng Y đoàn vẫn cao so với tỷ lệ dân số Công Giáo, lý
do là vì Châu Âu là vùng đất lịch sử, trong đó phần lớn Giáo Hội Công Giáo đã phát triển suốt 20 thế kỷ
qua với những thành tựu rực rỡ cả về tâm linh, tôn giáo lẫn văn hóa. Ở đây Hội Thánh Công Giáo đã
bám rễ rất sâu và đã đạt mức chín tới. Tuy ngày nay, dân Châu Âu nói chung không còn giữ được lòng
đạo như xưa, xã hội có xu hướng “thế tục hóa”, và cho đến nay tuy có vài tia hy vọng nhưng chưa nhìn
thấy rõ những thế hệ kế thừa đông đảo, Châu Âu vẫn chứa đựng nhiều tinh hoa Kitô Giáo, hơn nữa lại
là nơi có Tòa của Thánh Phêrô.
Mới đây báo Figaro của Pháp có bài nhận xét: trong số 6 vị Hồng Y mới người Châu Âu đợt này
thì đã có đến 4 vị có kinh nghiệm sâu sắc về Châu Mỹ Latinh. Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh, nhân vật số
2 ở Vatican, thì đã từng phục vụ ở Mexico và Venezuela; Đức Hồng Y Stella, Bộ trưởng Bộ Giáo Sĩ
phục vụ ở Công Hòa Dominicana, Cuba và Columbia, Đức Hồng Y Baldisseri Tổng thư ký Thượng Hội
Đồng Giám Mục phục vụ ở Paraguay và Brasil. Còn vị Bộ trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, Đức Hồng Y
Muller, người Đức, do Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI bổ nhiệm, thì đã cùng viết một tác phẩm chung với
người đã mở đường tạo ra Thần Học Giải Phóng, vị Linh Mục người Peru là cha Gutierrez và nay mai
ngài lại cho xuất bản một tác phẩm nữa về cùng một đề tài. Phải chăng đó cũng là một hệ quả của việc
Giáo Hội Công Giáo đang có một Giáo Hoàng người Châu Mỹ Latinh ?
Báo Figaro nhận xét: “Đúng là gió Nam đang thổi vào Giáo Hội Công Giáo”, đồng thời nhà báo
cũng nhắc lại một câu nói vui của một vị đang được coi là sao sáng trong Giáo Hội, Đức Hồng Y Tagle
14
người Philippines, có tên trong danh sách các vị papabili, nói rằng ngài lấy làm mừng vì đất nước
Philippines đã tăng gấp đôi số Hồng Y từ 1 thành 2 vị, mặc dù người Công Giáo Philippines tổng số
cũng ngang bằng người Công Giáo Mỹ và Italia cộng lại. Thế nhưng Mỹ và Italia đang có những 70
Hồng Y, kể cả các vị đã về hưu ( Figaro, 21.2.2014 )
Như vậy ta thấy, phía Châu Âu với quá khứ tôn giáo hết sức phong phú của mình, đang lộ ra
những triệu chứng già cỗi và chưa biết khi nào sẽ tìm lại một mùa xuân mới, thì bù lại Giáo Hội Mỹ
Latinh và Á Phi lại đang phát triển dào dạt, tuy nhiên số lượng và lòng sốt sắng còn phải đi thêm vào
chiều sâu nội tâm.
Cũng vì sự tăng triển của Giáo Hội, con số truyền thống 70 Hồng Y do Đức Giáo Hoàng Sixto
V ( 1585 – 1590 ) ấn định đã được Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII vượt qua từ năm 1958.
Con số các Hồng Y còn được bầu Giáo Hoàng hiện nay được ấn định là 120. Dù vậy, các nhu cầu đa
dạng của Giáo Hội ngày nay khiến cho Đức Phanxicô đã bỏ qua những tục lệ đáng quý…
Lm. VŨ KHỞI PHỤNG, DCCT ( Còn tiếp )
LỊCH SỬ MÙA CHAY THÁNH
Tứ thời bát tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông, thay đổi tuần hoàn luân
vòng chuyển đổi. Niên Lịch Phụng Vụ của Giáo Hội Công Giáo cũng nằm
trong chu kỳ ấy.
Phụng Vụ Giáo Hội cũng có bốn Mùa như: Mùa Vọng, Mùa Giáng
Sinh qua đi, Mùa Thường niên tiếp nối, chúng ta chuẩn bị bước vào Mùa
Chay Thánh, cao điểm là Tuần Thánh và Đêm Vọng Phục Sinh. Vậy Mùa
Chay có từ bao giờ, kéo dài bao lâu ? Những việc chúng ta làm trong Mùa
Chay có ý nghĩa thế nào ? Mùa Chay đến rồi lại đi, chúng ta làm gì để Mùa
Chay không trở nên nhàm chán và có ý nghĩa ?
Mùa Chay có từ bao giờ, kéo dài bao lâu ?
Vào những thế kỷ đầu Kitô giáo, để sống đạo và thực hành đạo,
các Kitô hữu tiên khởi đã quan sát những người chung quanh xem họ
sống đạo và thực hành đạo thế nào, cụ thể như việc người Do Thái giữ
ngày Sabát, hay lên Đền Thờ cầu nguyện. Tuy các Kitô hữu tiên khởi họp
nhau thành một cộng đoàn tế tự, cử hành phép rửa nhân danh Cha và
Con và Thánh Thần theo một công thức tuyên xưng Đức Tin. Nhưng khi
cử hành các ngày đại lễ như lễ Vượt Qua, lễ Năm Mươi, dù vẫn giữ nguyên những ngày lễ của người
Do Thái nhưng lại mặc cho các ngày lễ ấy một ý nghĩa mới, chẳng hạn : khi cử hành, họ không chỉ nhắc
lại các biến cố Xuất Hành Cựu Ước, mà còn tưởng nhớ cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô, cũng
như việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ.
Mãi đến thế kỷ thứ IV, trong Giáo Hội mới nảy sinh những ý kiến khác nhau như : liệu có cử
hành lễ Phục Sinh vào ngày lễ Vượt Qua của người Do Thái không ? Tại các Giáo đoàn thuộc Tiểu Á,
họ vẫn giữ nghi lễ chiên vượt qua. Riêng Giáo đoàn Antiokia lại ấn định lễ Phục Sinh vào ngày Chúa
Nhật sau lễ Vượt Qua của người Do Thái, trong khi đó, các Kitô hữu tại Alexandria do các nhà chiêm
tinh tính toán nên đã chuyển rời lễ Phục Sinh vào dịp phân xuân.
Cho dù có sự khác nhau về ngày cử hành các ngày lễ, nhưng lễ Phục Sinh vẫn là lễ chung của
toàn thể cộng đoàn Kitô giáo, vì lễ Phục Sinh dựa trên nền tảng Đức Tin, trước lễ Phục Sinh, có một
thời gian chuẩn bị tương đối dài gọi là Mùa Chay hay " 40 ngày ", tưởng nhớ 40 Chúa Giêsu ở trong
hoang địa 40 đêm ngày.
Việc thực hành Mùa Chay đã có từ thời thì đầu Kitô giáo, nhưng trải qua những bước thăng
trầm, mãi tới thế kỷ thứ II, thời Thánh Irênê, Giám Mục thành Lyon, việc giữ chay ngắn hạn từ hai đến
ba ngày, không ăn bất kỳ thức ăn nào mới được phổ biến. Sang kỷ thứ III tại Alexandria, người ta kéo
dài việc ăn chay ra hết một tuần. Những dấu tích của Mùa Chay hay "40 ngày" được tìm thấy ở thế kỷ
thứ IV, trong lễ quy của Công Đồng Nicêa. Đây là thời gian chuẩn bị mừng lễ, nhưng ưu tiên vẫn là việc
giúp các người dự tòng chuẩn bị lãnh Phép Rửa Tội và Đêm Vọng Phục Sinh.
Cuối thế kỷ thứ IV, Giáo Đoàn tại Giêrusalem bắt đầu giữ chay 40 ngày hay còn gọi là Mùa Chay
8 tuần, người ta ăn chay suốt thời gian này, trừ thứ bẩy và Chúa Nhật. Sang thế kỷ thứ V, tại Ai Cập
15
CÙNG TÌM HIỂU
người ta cũng giữ chay, tiếp đến là xứ Gaules, người ta ăn chay ngày thứ bẩy và thứ sáu tuần trong
Mùa Chay. Trong khi giữ chay, các Kitô hữu chỉ ăn một bữa mỗi ngày, thức ăn gồm có bánh, rau và
nước. Giữ nghiêm ngặt nhất là ngày Thứ Sáu và Thứ Bẩy Tuần Thánh, người ta không ăn một chút
thức ăn nào. Giờ ăn chay được qui định tùy theo sự khác nhau của mỗi giáo đoàn.
Vì mùa chay gồm 6 tuần không thể tương ứng với 40 ngày được. Nên sang thế kỷ thứ VII, người
ta đã lùi về trước Mùa Chay mấy ngày, cụ thể như bắt đầu từ ngày thứ tư cho đến ngày thứ bẩy tuần
trước khi bước vào Mùa Chay, ngày mà hôm nay chúng ta gọi là Thứ Tư Lễ Tro, ngày ăn chay. Đồng
thời, ba Chúa Nhật trước Mùa Chay, là gồm tóm thời gian chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh, cách Lễ Phục
Sinh chín tuần. Việc giữ chay ngày càng đòi hỏi nghiêm ngặt hơn, chẳng hạn như buộc chỉ ăn bữa tối.
Nhưng đến thế kỷ thứ VIII, việc giữ chay được nới rộng ra, nghĩa là cho phép những người ốm
đau bệnh tật được ăn trứng, bơ, sữa, cá và được uống rượu nữa. Sang thế kỷ XII và XIII, bữa ăn ngày
chay được ấn định là trước giờ trưa 3 giờ tức 9 chín giờ sáng, tiếp theo được ăn "bữa ăn nhẹ" vào buổi
tối. Sang thế kỷ XVII việc ăn chay giảm dần và Giáo Hội cho phép được ăn cháo, sữa và cá nhỏ. Trong
ngày chay, tại các hoàng gia, nhà bếp thi nhau trổ tài làm ăn với những thực đơn sao cho dồi dào phong
phú hơn ngày thường. ( Tranh cổ: Một cảnh chợ cá ngày Thứ Tư Lễ Tro )
Từ năm 1949, Giáo Hội Công Giáo qui định
việc giữ chay và kiêng thịt là ngày Thứ Tư lễ Tro và
Thứ Sáu Tuần Thánh mà thôi. Lý do vì hai ngày đó
là ngày tưởng nhớ sự chết: ngày Thứ Tư Lễ Tro,
Linh Mục chính thức làm phép tro được đốt từ
những cành lá đã làm phép vào ngày Lễ Lá năm
trước rồi vẽ hình Thánh Giá trên trán người nhận
tro và nhắc lại rằng "ngươi là tro bụi, và người sẽ
trở về tro bụi", nhắc lại cái chết của mỗi người
chúng ta, tiếp đến, ngày Thứ Sáu Tuần Thánh,
ngày tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu trên
Thập giá.
Trong Phụng Vụ của Giáo Hội Chính Thống,
thời gian chuẩn bị bước vào Mùa Chay kéo dài năm
tuần liền, mỗi tuần đọc một đoạn Tim Mừng riêng, với cách thức sám hối sâu xa. Tuần thứ bốn, được ấn
định là ngày kiêng thịt và ăn chay trong toàn Giáo Hội. Chúa Nhật thứ năm được gọi là Chúa Nhật Hòa
Giải, mỗi người hòa giải với người bên cạnh trước khi toàn thể cộng đoàn xin lỗi Chúa.
Cảm tưởng chung là một bầu không khí "vui và buồn". Mỗi tín hữu, với sự hiểu biết có giới hạn
và khác nhau về Phụng Vụ, nên khi bước vào Nhà Thờ với các kinh nguyện của Mùa Chay, mỗi người
mỗi cảm tưởng khác nhau. Một phần vì những lời kinh tiếng hát mang đậm nét buồn, màu áo tím,
những bài đọc dài hơn, đơn điệu hơn ngày thường, và hầu như không có nét vui tươi. Một nét đẹp nội
tâm rực sáng, tựa như ánh sáng ban mai chiếu rọi từ thung lũng tối tăm lên tận đỉnh cao của núi đồi.
Niềm vui âm thầm, êm dịu và toàn bộ các bài Sách Thánh trong Mùa Chay nghe thật đơn điệu cho
thấy sự bình an đã dẫn đưa người ta tới những điệp ca hòa tấu Hallêluya trong Đêm Vọng Phục Sinh.
Chúa Nhật Lễ Lá là thời gian không còn dành riêng cho việc tưởng niệm cuộc khổ nạn nữa,
bước vào một Tuần Thánh, với những bài đọc nhắc lại những ngày sau hết của Chúa Kitô trên trần gian
và sự Phục Sinh của Ngài.
Tại sao lại gọi là 40 Ngày Chay Thánh ?
Từ "Mùa Chay" là một từ tương phản với từ gốc Latinh là "quadragesima" có nghĩa là 40. Trong
Kinh Thánh, con số 40 có ý diễn tả một khoảng thời gian chờ đợi, một quá trình, tượng trưng cho việc
chuẩn bị gặp gỡ Thiên Chúa. Số 40 còn diễn tả hành trình trong sa mạc trên đường về Đất Hứa của dân
Do Thái kéo dài 40 năm. Ông Môsê đã ở trên núi Chúa 40 ngày ( x. Xh 24, 18; 34, 28 ). Những người
trinh sát đã ở trong vùng đấy 40 ngày ( x. Ds 13, 25 ). Elia đã đi 40 ngày trước khi tới được hang ở đó
ngài được thị kiến ( x. 1V 19, 8 ). Ninivê đã được cho 40 ngày để sám hối ( x. Gn 3, 4 ). Và quan trọng
nhất là Chúa Giêsu được Chúa Thánh Thần thúc đẩy vào trong hoang địa 40 ngày để ăn chay cầu
nguyện trước khi thi hành sứ vụ công khai ( x. Mt 4, 2 ).
Như vậy Mùa Chay là mùa nhắc nhớ 40 năm hành trình trong sa mạc của dân Do Thái, 40 ngày
trong hoang địa của Chúa Giêsu. Con số 40 ngày, là thời gian đi vào hoang địa của cõi lòng, thinh lặng
để chuẩn bị gặp gỡ Chúa. Đây là thời gian Phụng Vụ cao điểm thuận tiện thích hợp cho các Kitô hữu
noi gương Đức Kitô dùng 40 ngày để ăn năn đền tội và dấn thân phục vụ anh chị em. Và bằng 40 ngày
long trọng của Mùa Chay, mỗi người được liên kết mật thiết hơn với các Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu,
Đấng đang tiến đến cái chết và sự sống lại.
16
Mùa Chay mang lại cho chúng ta điều gì ?
Phần lớn người Kitô hữu không thực hành việc ăn
chay, nguyện ngắm, nên Mùa Chay không có ảnh hưởng tới
đời sống của họ là bao ? Khi nói về Mùa Chay, người ta
thường hiểu một cách không tích cực lắm. Đại đa số dân
chúng cho rằng trong Mùa Chay việc kiêng ăn, kiêng uống giữ
chay chiếm vị trí hàng đầu.
Tuy nhiên điều đáng lưu ý là đại đa số người Kitô hữu
không thực hành đạo trong đời sống nhưng họ vẫn đến nhận tro
vào Thứ Tư Lễ Tro. Đây là một nghi thức giầu tính biểu tượng,
nó tác động đến tận đáy lòng con người, nhắc nhớ người ta suy
nghĩ về thân phận của mình khi nhận tro và mời gọi con người
trở về với Chúa. Vì nhiều khi con người quên đi thân phận yếu hèn, mỏng giòn của mình, dẫn đến đau
thương và đổ vỡ. Bi kịch cuộc đời con người đều từ đó mà ra. Con người phạm tội, tội cắt đứt sự hiệp
thông giữa con người với Thiên Chúa, làm cho con người mất đi hạnh phúc, phải đau khổ và phải chết.
Chuyện sa ngã của Nguyên Tổ đã chứng minh điều đó. Lịch Sử Cứu Độ của Dân Chúa, tội thì
Chúa phạt, hối cải thì Chúa tha và cứu. Nên mỗi khi lâm vào hoàn cảnh bi đát đau thương hay thất
vọng, Dân Chúa đều nhận ra rằng cần phải sám hối trở về giao hòa với Thiên Chúa để được chữa lành.
Mùa Chay là mùa sám hỗi, chúng ta hãy ra sức làm những việc cần thiết để được giao hòa và hiệp
thông với Chúa, hầu được Chúa ban ơn.
Trong đời sống người Kitô hữu, nhiều khi lắng nghe Lời Chúa xong, chúng ta đã có quyết tâm đi
xưng tội, làm việc đền tội, nhưng rồi kết quả không mấy khả quan, thì Mùa Chay là cơ hội rất thuận lợi.
Thư Thánh Phaolô nói với chúng ta: "Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ" ( 2 Cr 6, 2 ). Đây là thời
gian khẩn trương trong Năm Phụng Vụ, thời gian thuận tiện được ban cho chúng ta để đẩy mạnh quyết
tâm hoán cải, tăng cường việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, thống hối, mở rộng tâm hồn đón nhận
thánh ý Chúa, thực hành khổ chế một cách quảng đại hơn, để đi tới và giúp đỡ tha nhân đang túng
thiếu: đó là một hành trình tinh thần giúp chúng ta chuẩn bị sống Mầu Nhiệm Phục Sinh. Vậy chúng ta
hãy tin tưởng điều đó và bước vào Mùa Chay Thánh.
Lm. Antôn NGUYỄN VĂN ĐỘ
PHONG CÁCH PHANXICÔ
BÀI 5. CHÚA GIÊSU CHỈ TỎ MÌNH RA CHO NHỮNG KẺ BÉ MỌN
Trong toàn bộ lịch sử nhân loại, Chúa Giêsu vẫn luôn luôn là nhân vật được người ta viết về và
nói đến nhiều nhất, dù với bất kỳ ý đồ gì.
Vào năm 1966, John Lennon, thành viên nòng cốt soạn ca khúc và trình diễn của ban nhạc The
Beatles, trên đỉnh cao của vinh quang rực rỡ đã hồ hởi tuyên bố họ được người ta ái mộ còn hơn Chúa
Giêsu nữa. Nhưng nay ban nhạc này đã trôi dần vào dĩ vãng. Năm 2013, nhân kỷ niệm 50 năm thành
lập ban nhạc, báo chí cũng có nhắc về họ, nhưng theo kiểu Thăng Long Hoài Cổ:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương ( Bà Huyện Thanh Quan )
Những fan xưa kia cuồng nhiệt ái mộ The Beatles thì nay cũng đã quá già hay đã qua đời, những nơi
chốn gắn liền với ban nhạc này cũng đã thay đổi nhiều, đa số bạn trẻ bây giờ không còn biết họ là ai nữa.
Giáo sư Thái Bá Tân đã viết rất hay và đúng về tuổi trẻ của ông ( và cả của tôi nữa ):
Liên quan đến thần tượng,
Phải khẳng định một điều:
Lênin là vô địch,
Được thờ như giáo điều.
Ông nổi tiếng hơn Chúa.
Sách nhiều hơn Thánh Kinh.
Tượng cả trong hẻm phố.
Tư tưởng trong giáo trình.
Nhưng ông đã phải ngậm ngùi khi được đến thăm lăng Lênin ( Hà Nội 17.7.2012, Facebook TBT )
Quảng trường Đỏ vẫn thế.
Vẫn thế lăng Lênin,
Không ai xếp hàng viếng,
Thậm chí chẳng ai nhìn.
Lại đi, lại hậm hực,
Lầm lũi giữa ban trưa,
Với cảm giác chua xót
Nửa thế kỷ bị lừa.
17
CÙNG TRÂN TRỌNG
Ngày 21.2.2014, truyền thông thế giới
chiếu nhiều cảnh nhân dân Ukraina hò reo khi
giật sập các tượng Lênin tại một số nơi.
Rất nhiều người thường đề cập về Chúa
Giêsu cho ý đồ riêng của mình. Hiếm thấy có
người lãnh tụ theo quan điểm duy vật nào mà lại
có thái độ kính trọng khi nói về Chúa Giêsu
như… Hồ Chí Minh ( Trích website Ban Tôn
Giáo Chính phủ: www.btgcp.gov.vn ).
Trên 2.000 năm qua, kể từ khi Chúa
Giêsu phục sinh và về trời với lời hứa là sẽ ở
cùng người tin mọi ngày cho đến tận thế, là lúc
Người quay lại trần gian trong vinh quang để kết
thúc lịch sử, đã và đang có vô số các tác giả viết
về Người. Riêng trong Hội Thánh có đến 35 vị Thánh được phong Tiến Sĩ vì có trước tác về Chúa Giêsu
được nhìn nhận do Chúa Thánh Thần thôi thúc và mang giá trị cho mọi thời đại. Thánh Anphong được
phong Tiến Sĩ vào năm 1871, Thánh Têrêsa Lisieux vào năm 1997, Thánh Gioan Avila và nữ Thánh
Hildegard Bingen cùng vào năm 2012. Riêng Thánh Anphong đã viết trên 100 quyển sách. Có bỏ ra một
đời cũng không thể nghiền ngẫm hết các tác phẩm của các vị Thánh Tiến Sĩ này. Mà có đọc xong hết đi
chăng nữa, hiểu được Chúa Giêsu là một điều hoàn toàn bất khả thi.
Người là Con Thiên Chúa nên chỉ có Thiên Chúa Cha mới có thể hiểu được về Người. “Không ai
biết rõ người Con, trừ Chúa Cha” ( Mt 11, 27 ). Phải được phép đặc biệt của Chúa Cha thì người ta mới
gặp gỡ được Người. “Không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho” ( Ga 6, 65 ).
Tuy nhiên, điều tưởng chừng như bất khả thi đó, lại được Chúa Cha ban cho những người bé
mọn một cách rất dễ dàng và nhưng không. Điều này cũng làm cho chính Chúa Giêsu, được Thánh
Thần thôi thúc, phải ngỡ ngàng và vui mừng. Trong toàn bộ cuộc đời của Chúa Giêsu, đây là đoạn Tin
Mừng duy nhất nói rằng Người được hân hoan trào dâng.
Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: “Lạy Cha là
Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông
thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là
điều đẹp ý Cha” ( Lc 10, 21 ).
“Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được
vào Nước Trời” ( Mt 18, 3 ).
NGUYỄN TRUNG, 2.2014
TRUYỀN GIÁO VÀ HỘI NHẬP
Trong thời gọi là “Toàn Cầu Hóa” này thì việc hội nhập đối với các quốc gia và tôn giáo dù muốn
hay không cũng không thể thoát ra được. Làm sao có thể không… hội, không… nhập, khi mà ngày nay
với các phương tiện truyền thông như truyền hình, internet, con người có thể giao tiếp với nhau chỉ
trong chớp mắt.
Một cái tin đánh bom khủng bố xảy ra tại một xó xỉnh, một góc phố nào đó nước Siria, nước
Pakistan, cũng có thể được loan truyền đi ngay lập tức với đầy đủ âm thanh, hình ảnh một cách sống
động: nhà cửa đổ nát, xác người máu me be bét kinh tởm v.v… Một sản phẩm vừa mới làm ra cũng
được quảng cáo tiếp thị rầm rộ với giá cả, hình thức mẫu mã vô cùng hấp dẫn… Chỉ cần mở TV, lướt
qua các kênh, người ta cũng có thể biết đến đủ mọi sự kiện xảy ra trên hành tinh…
Phải nhìn nhận là chưa có thời nào mà cái sự biết của con người lại nhanh, lại nhiều như bây
giờ. Thế nhưng có thể nói, cũng chưa có thời nào mà nhân loại lại sống trong vòng u mê lầm lạc như
hiện thời. Lý do bởi vì tất cả những cái gọi là… biết ấy, đã không làm cho con người hiểu được nhau
hầu xích lại gần nhau hơn. Có hiểu nhau thì mới xích lại gần nhau, trái lại thì ngày càng xa cách.
Việc xích lại gần để hiểu nhau ấy chính là mục đích và ý nghĩa của hội nhập. Người ta có thể hô
hào và cả nỗ lực hội nhập trong tất cả các lãnh vực kinh tế, chính trị hay tôn giáo. Thế nhưng sẽ chẳng
bao giờ có thể hội, có thể nhập, nếu người ta vẫn chưa hiểu được nhau.
18
CÙNG TRÂN TRỌNG
Cả đời lẫn đạo thì ý nghĩa của việc hội nhập, chẳng qua như đã
nói, là để cho con người hiểu và chấp nhận được mình. Xét trên khía
cạnh đời thì hội nhập kinh tế là làm sao để người ta chấp nhận, người
ta thích thú với sản phẩm của mình. Còn trong lãnh vực ngoại giao
mục đích cũng vậy, chỉ là để cho thiên hạ có thể chấp nhận đường lối
chính sách của quốc gia mình v.v…
Với đạo xét ra cũng không khác. Nếu trong lãnh vực kinh tế tiếp
thị, hội nhập là để người ta chấp nhận sản phẩm của mình thì trong tôn
giáo, sản phẩm ấy chính là nội dung của việc truyền giáo.
Hiện nay việc truyền giáo của Giáo Hội đang có vấn đề nghĩa là
không được chấp nhận. “Nhiều quốc gia trước đây có một đời sống
Kitô phồn thịnh và có khả năng làm phát sinh những cộng đồng Đức
Tin sống động, nay bị thử thách nặng nề, hay có khi bị biến đổi sâu xa
vì những hiện tượng thờ ơ, tục hóa và vô thần. Đây đặc biệt là hoàn
cảnh của các nước thuộc thế giới tân tiến. Tại các vùng khác trên thế giới, các truyền thống đạo đức và
các tâm tình Công Giáo vẫn còn được bảo tồn sống động. Nhưng các gia sản thiêng liêng đó đang gặp
nguy cơ bị tan biến dưới sức mạnh của nhiều trào lưu, trong đó có trào lưu tục hóa và sự lan tràn của các
giáo phái ( sette )" ( Nguồn: GPXL.org, Đức Ông Đinh Đức Đạo, Truyền giáo và tân Phúc Âm Hóa ).
Tại các quốc gia Kitô giáo bên Âu Châu trước đây rất phồn thịnh thì nay lại đang tàn lụi. Còn tại
các xứ truyền giáo như tại Á Châu, Phi Châu… thì cũng sẽ bị nguy cơ tục hóa làm cho tan biến… Để
chống chọi với những nguy cơ ấy, Giáo Hội đang ra sức cổ võ việc hội nhập. Tuy nhiên việc ấy có thể
đem lại kết quả hay không thì còn tùy thuộc nội dung của hội nhập. Theo thần học thì nội dung đó chính
là Đức Tin: “Sứ mệnh của Giáo Hội là loan báo Đức Tin Kitô giáo cho tất cả mọi người thuộc các nền
văn hóa được xem là mối quan tâm hàng đầu.
Trong thực tế, sự quan tâm của Giáo Hội đối với tương quan này vẫn còn thiếu sót nhất định.
Nội dung của Đức Tin Kitô giáo thường được diễn tả mang đậm dấu ấn của nền văn hóa La Hy, trong
khi nhiều nền văn hóa khác lại bị lãng quên, chẳng hạn các nền văn hóa Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ
Latinh và Châu Đại Dương. Hậu quả là sứ mệnh của Giáo Hội không phát huy đầy đủ tác dụng, thậm
chí, không sinh hoa kết trái ở nhiều nơi trên thế giới” ( Nguồn: Lamhong.org, Lm. Phêrô Nguyễn Văn
Viên, Bản chất và vai trò của Hội Nhập Văn Hóa ).
Cho rằng sứ mệnh của Giáo Hội là loan báo Đức Tin Kitô giáo, điều ấy hoàn toàn không đúng.
Lý do bởi vì đó không phải là sứ mạng được trao bởi Đức Kitô. Trước khi về Trời, Chúa Phục Sinh phán
với các Tông Đồ: “Hãy ra đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Ai tin và chịu phép rửa thì
được cứu, còn ai không tin sẽ bị định tội” ( Mc 16, 15 – 16 ). Ở đây ta thấy rõ ràng là Chúa đã trao cho
các Tông Đồ, cũng tức là cho Giáo Hội, sứ mạng rao giảng Tin Mừng chứ không phải như thần học nói
là Đức Tin Kitô giáo.
Rao giảng Tin Mừng cố nhiên không phải là rao giảng Đức Tin Kitô giáo. Tin Mừng cần rao giảng
ấy chính là Tin Mừng của Đức Kitô về Nước Trời mầu nhiệm nội tại, còn cái gọi là Đức Tin Kitô giáo là
về Đấng Thiên Chúa Tạo Hóa mà thuần túy đó chỉ là một thứ khái niệm triết học không hơn không kém.
Chính bởi Thiên Chúa của thần học chỉ là khái niệm, thế nên cũng chẳng thể có cái gọi là Đức Tin Kitô
giáo. Niềm tin trong tôn giáo được nâng lên thành một thứ đức hạnh, bởi vậy nó phải đặt trên một cơ sở
vững chắc là Đấng Thiên Chúa Hằng Sống: “Đức Chúa Trời của Apraham, Đức Chúa Trời của Isaac và
Đức Chúa Trời của Giacóp. Ấy Ngài chẳng phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết đâu, bèn là của kẻ sống.
Bởi ai nấy đều vì Ngài mà sống” ( Lc 20, 37 – 38 ).
Tin sự hiện hữu của Thiên Chúa Hằng Sống, đây mới chính là niềm tin chân thật của Giáo Hội
xưa nay. Tuy nhiên niềm tin ấy sẽ không thể được nếu không có mạc khải của Đức Kitô về Đấng Cha
nội tại, bởi duy chỉ Ngài mới thấy biết về Đấng ấy: “Các ngươi chẳng từng biết Ngài nhưng Ta biết Ngài.
Nếu Ta nói rằng Ta không biết Ngài thì Ta cũng sẽ nói dối như các ngươi vậy. Song Ta biết Ngài và
cũng giữ Đạo Ngài” ( Ga 8, 55 – 56 ).
Sự thấy biết Chúa nói ở đây không phải là của giác quan nhưng là của trí tuệ vô phân biệt. Chỉ
có sự thấy biết vô phân biệt ấy mới đem lại cho con người niềm vui giải thoát thật sự. Trái lại, người
thế gian do nơi cái chấp phân biệt ( thấy biết bằng giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể ) mà đã hình
thành nên một “Cái Tôi” ( bản ngã ) hoàn toàn khác biệt với người ( tha nhân ). Bao lâu còn khư khư
ôm giữ lấy một “Cái Tôi” chỉ có trong ảo tưởng như thế thì không thể nói chi đến hội nhập. Tại sao ?
Bởi chưng hội nhập trong tính chất sâu xa của nó chỉ có thể hiểu đó là việc quay vào với chính mình:
Luật pháp và tiên tri đến Gioan là hết. Rồi từ đó Tin Mừng Nước Đức Chúa Trời được rao giảng và ai
nấy đều phải nỗ lực mà vào.
19
Chúa nói phải nỗ lực mà vào thì “vào” ở đây chỉ có thể là
để “hội nhập” với Nước Trời ở nơi chính mình. Có hội nhập
được với Nước Trời ở nơi mình thì mới thực hiện công việc hội
nhập, tức truyền giáo cho mọi người được.
Trong suốt hai mươi thế kỷ qua, công cuộc truyền giáo của
Giáo Hội đã gặt hái được biết bao thành quả lớn lao: Ơn Cứu Độ
đã được đón nhận trên khắp các châu lục từ Âu sang Á, Mỹ Châu,
Phi Châu v.v… Thành quả ấy do đâu nếu không phải là của những
con người đã nhận ra chân lý Tin Mừng của Đức Kitô ? Các ngài
đã thực hiện chân lý cho chính mình để rồi đem chân lý ấy đến cho
muôn người bất kể gian lao nguy hiểm kể cả hy sinh tính mạng.
Sự hy sinh của những nhà truyền giáo hết thế hệ này đến
thế hệ khác đã nói lên điều gì nếu chẳng phải là giá trị vô song
của Tin Mừng ? Đem giá trị ấy đến cho các dân tộc, các xứ sở với
đủ mọi thứ văn hóa, tín ngưỡng khác biệt, nếu các nhà truyền giáo ấy không xác tín chân lý cao cả ở nơi
mình thì làm sao có thể dấn thân truyền giáo cách hăng say như vậy được ?
Để có thể nhiệt thành trong sứ mạng truyền giáo thì không thể không xác tín chân lý mà mình
đã lãnh nhận. Thế nhưng điều ấy không có nghĩa có thể áp đặt chân lý lên người khác. Cha Đắc Lộ
( Alexandre de Rhodes ), một nhà truyền giáo kiệt xuất đã có lần nhắc nhở:
“Điều mà tôi không hài lòng hơn cả… đó là việc sau khi người ngoại trở lại, người ta bắt họ bỏ y
phục nước họ… ít ra người ta phải hiểu rằng cái đó làm họ cực lòng lắm. Tôi không hiểu vì sao người ta
lại đòi hỏi bắt buộc một điều mà Chúa không bao giờ đòi hỏi, một điều trái lại làm cản trở họ không
muốn chịu phép rửa và do đó làm họ xa Nước Thiên Đàng. Riêng tôi ở vùng Trung Quốc tôi đã hết sức
phản đối những ai muốn bắt người có đạo phải cắt tóc vắn. Ở đây đàn ông cũng như đàn bà đều để tóc
dài… Tôi đã nói với những người ấy rằng Tin Lành Phúc Âm chỉ bắt buộc người theo Đạo tẩy trừ khỏi
tâm trí họ những mê tín dị đoan chứ đâu có buộc cắt bỏ tóc dài” ( Nguồn: Lm. Nguyễn Hồng – Lịch Sử
Truyền Giáo ở Việt Nam, Quyển I ).
Quần áo tóc tai kể cả ngôn ngữ là những thứ hình thức bên ngoài, không trở ngại chi cho việc
tiếp nhận Tin Mừng. Trái lại cái làm trở ngại và bắt buộc phải tẩy trừ đó là những mối dị đoan mê tín. Lý
do cần tẩy trừ là bởi nó hoàn toàn chống chỏi với Đạo Chúa là Đạo Đức Tin: “Đạo ở gần ngươi, ở trong
miệng ngươi và ở trong lòng ngươi, tức Đạo Đức Tin mà chúng tôi rao giảng đây. Vậy nếu miệng ngươi
nhận Giêsu là Chúa và lòng ngươi tin Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ
được cứu” ( Rm 10, 8 – 9 ).
Truyền giáo tức rao giảng Đạo Đức Tin nhưng cần nên nhớ Đức Tin ấy là tin sự hiện hữu của
Thiên Chúa Đấng ở nơi mình. Tin Thiên Chúa ở nơi mình đó mới thật là lòng tin có cơ sở ( chánh tín ).
Tuy nhiên để cho lòng tin ấy có thể nảy nở và phát huy, thì không thể không bước đi trên con đường hội
nhập là chính Chúa Giesu Kitô: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà
không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ).
Lời Chúa là lời chân thật, một khi Ngài đã khẳng định như thế thì phải đúng là như thế, có nghĩa
không có một thứ văn hóa, triết học hay tôn giáo nào có thể dẫn đưa con người đến với Đấng Cha
được. Chúa khẳng định như thế mục đích là để cho ta có thể vững tin mà theo Ngài. Tuy nhiên, sự vững
tin ấy dù là ơn nhưng-không Chúa ban, nhưng nó cần phải được củng cố bởi việc làm và việc làm ấy tất
cả cũng không ngoài giới răn yêu thương của Chúa. “Ai có các điều răn của Ta và giữ lấy ấy là kẻ
thương yêu Ta. Còn ai thương yêu Ta sẽ được Cha Ta thương yêu lại, Ta cũng thương yêu người và tỏ
chính mình Ta cho người” ( Ga 14, 21 ).
Tình yêu chân thật không bao giờ chấp nhận sẻ chia, hơn nữa đó lại là Tình Yêu với Chúa Giêsu
– Đấng Cứu Độ duy nhất của mình.
PHÙNG VĂN HOÁ, Trảng Bom 2.2014
THẦN HỌC VỀ THÂN XÁC VÀ HOẠT ĐỘNG TÍNH DỤC – Kỳ 3
III. Hoạt động tính dục dưới ánh sáng của Thần Học về thân xác
Trước hết, chúng ta lướt nhanh qua bối cảnh văn hóa và lịch sử của hôn nhân thời Chúa Giêsu.
Thực ra, ly dị khi ấy không phải là hiện tượng hiếm hoi và tỉ lệ kết hôn cũng không phải là cao. Như thế
20
thời Chúa Giêsu cũng không khác gì thời đại chúng ta ngày nay. Nhưng điều quan trọng là mặc dầu hôn
nhân khi ấy không được hết sức quí trọng, nhưng Đức Kitô vẫn loan báo và giảng dạy chân lý về nó.
Hội Thánh được mời gọi thực thi giống như vậy ngày hôm nay.
Một đàng, xã hội Do Thái thời của Đức Giêsu cho phép người
ta ly dị. Vì thế mà những người Pharisêu mới đặt câu hỏi với Đức
Giêsu. Môsê đã từng cho phép ly dị. Đức Giêsu tuyên bố sỡ dĩ Môsê
cho phép là vì lòng dạ người ta ra chai đá. Và Người mời gọi mọi
người trở về với “thuở ban đầu” khi ấy không hề có giải pháp ly dị, để
hiểu sâu hơn bản chất của hôn nhân.
Đàng khác, đất nước Do Thái khi ấy bị một thế lực hùng mạnh
chiếm đóng thống trị: đế quốc Rôma. Một trong những nét của nền
văn hóa Rôma là có tỉ lệ kết hôn thấp. Hoàn cảnh ấy nghiêm trọng đến
nỗi nhiều lúc các hoàng đế phải ra sắc lệnh bắt buộc người ta kết hôn.
Xem ra người ta ít kết hôn vì người ta muốn ở vậy để được thong
dong tự do khỏi mọi lo âu bận rộn. Dẫu có luật như vậy, nhưng thực tế
con số hôn nhân vẫn tiếp tục giảm.
Chính trong bối cảnh đó mà Đức Giêsu dẫn đưa các thính giả
về với “thuở ban đầu”. Người tái khẳng định chân lý về hôn nhân.
Theo gương Đức Kitô, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II trở về với
“thuở ban đầu” khi thảo ra thần học về thân xác của ngài. Khởi đi từ đó, ngài rút ra và kết nối ba kinh
nghiệm nguyên thủy trước tội nguyên tổ. Những kinh nghiệm đó giúp ta nhận ra các phẩm chất cơ bản
của thân xác con người. Từ đó, ta hiểu được tại sao hôn nhân là một giao ước.
1. Hôn nhân như là một giao ước và sự ly dị
Giao ước là một hợp đồng hay một sự cùng cam kết trong tự do của hai bên. Toàn bộ Cựu Ước
xoay quanh trục Giao Ước của Thiên Chúa với Dân của Ngài. Noe là người đầu tiên đón nhận quà tặng
giao ước, rồi đến Abraham một Giao ước kỳ diệu, rồi đến Môsê. Người ta có thể đọc tường thuật các sự
kiện này trong các sách Sáng Thế và Xuất Hành. Giao ước mới Thiên Chúa thiết lập với nhân loại cách
vĩnh viễn nhờ sự chết của Chúa Kitô trên thập giá.
Giao ước mới và vĩnh cửu này được kí kết không phải bằng mực mà bằng máu. Các bên trao
đổi với nhau không bằng những hiện vật nhưng bằng những nhân vị. Thiên Chúa trao ban cho chúng ta
chính sự sống của Ngài và đáp lại Ngài yêu cầu chúng ta trao hiến sự sống của chúng ta cho Ngài.
Nhớ lại những lời trong sách Sáng Thế. Ađam, tức con người, khi thấy người đàn bà, thay đổi triệt
để cuộc sống mình. Con người gắn bó với vợ mình. Cả hai kết hợp với nhau và nên một xương một thịt. Nói
cách khác, họ thiết lập một giao ước. Họ đón nhận nhau và trao hiến bản thân cho nhau. Họ không trao đổi
"một cái gì đó" mà trao ban cho nhau tất cả. Tặng phẩm trao hiến là chính bản thân họ, toàn thể ngã vị.
Chính từ đó, người chồng và người vợ thiết lập giữa họ với nhau một sợi dây liên kết không thể
phân ly. Hôn nhân không như một viên thuốc aspirine hòa tan, nhưng đúng hơn như một tảng đá chống
chọi được trước mọi bão táp cuộc đời. Đó là một giao ước.
Giao ước mà Thiên Chúa ký kết với Dân Người gồm hai mặt chính yếu. Một mặt, dân tham dự
vào giao ước. Trong Cựu Ước, việc ấy làm bằng nhiều cách khác nhau, như: một hiến lễ dâng kính, một
người đàn ông được cắt bì, một người nam và một người nữ kết ước hôn nhân.... Trong Tân Ước, Giao
ước mới được thiết lập theo một thể thức dứt khoát. Đó là điều mà chúng ta gọi là Thánh Thể. Chúng ta
hoàn toàn tham dự thực sự và tích cực vào Giao Ước ấy. Đức Kitô ban cho chúng ta Mình và Máu
Người dưới hình thức bánh và rượu, để chúng ta dự phần vào đó trong một hành động của đức tin. Mặt
khác, dân Chúa, bằng chính cách sống của mình, làm hiện diện hay hiện tại hóa Giao Ước đó.
Khi Môsê đón nhận từ Thiên Chúa Mười Điều Răn trên núi Sinai, ông công bố lời Chúa nói rằng,
nếu dân trung thành giữ Luật Mười Điều Răn, họ sẽ trở thành dân tự do. Nói cách khác, họ sẽ giống
như Thiên Chúa. Như thế, bởi tự do của mình dân Israel sẽ là một dấu chỉ sống động của chính Thiên
Chúa cho các dân tộc khác. Họ sẽ là một chứng từ của sự hiện diện của Thiên Chúa trên trái đất nhờ
cách sống của họ.
Cũng như thế, hôn nhân tham dự vào Giao Ước mới do Đức Kitô thiết lập, và hiện tại hóa Giao
ước mới này. Khi một người nam và một người nữ kết hôn với nhau, họ đón nhận các phúc lành bí tích
của Giao Ước mới. Thiên Chúa cho họ tham dự vào chính sự trung tín của Ngài. Họ vốn đã tham dự
vào Giao Ước mới khi chịu Bí Tích Rửa Tội xét như một cá nhân tham dự vào Thân Mình Đức Kitô, là
Hội Thánh. Nay, họ tham dự vào Giao Ước mới trong tư cách mới như một đôi vợ chồng, một cộng
đoàn Hội Thánh tại gia trong cộng đoàn Hội Thánh toàn thể.
21
Chúng ta nhớ lại rằng trong vườn Êđen, Ađam
không tìm được cho mình một người “trợ tá tương
xứng” nào, Thiên Chúa đã làm cho ông đi vào một
“giấc ngủ mê” ( x. St 2, 21 ). “Giấc ngủ mê” trong
tiếng Hípri có ý nói Thiên Chúa tiến hành một hành
động rất nhiệm mầu và ý nghĩa. Khi Ađam thức dậy,
ông thấy đã xảy ra một điều rất kỳ diệu. Thiên Chúa
dẫn đến trước mặt ông người phụ nữ, “trợ tá tương
xứng” của ông, đã được tạo dựng cách huyền nhiệm,
và ông ngây ngất la lên: “Phen này, đây là xương bởi
xương tôi, thịt bởi thịt tôi !” ( x. St 2, 23 ).
Đây là sáng kiến của chính Thiên Chúa. Khi
ấy, và chỉ khi ấy Ađam mới hành động. Đó là lúc
Thiên Chúa sáng tạo nên hôn nhân, và thiết lập nó
như một giao ước. Theo một nghĩa nào đó, hôn nhân
giống như một đứa con mới sinh, được tạo dựng từ hư không và không bao giờ có thể bị tiêu diệt. Hôn
nhân là một tạo thành của Thiên Chúa và là một tặng phẩm bởi Ngài.
Hơn nữa, tình yêu chung thủy của vợ chồng giống như một chiếc gương soi. Khi nhìn vào chiếc
gương soi hôn phối này, nghĩa là chính khi ta sống hay nhìn vào cuộc sống hôn nhân thủy chung của
các đôi vợ chồng quanh ta, ta nhận ra Tình yêu trung thành của Thiên Chúa. Hôn nhân làm hiện diện
trong thế giới Tình yêu trung thành của Thiên Chúa, Giao ước của Thiên Chúa.
Mỗi nhân vị, dù nam hay nữ, đều được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, giống như Thiên
Chúa. Trong tư cách đó, người ấy có thể tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa và làm cho Thiên
Chúa hiện diện giữa trần gian. Nhưng Thiên Chúa còn muốn hơn thế nữa. Ngài còn muốn người đàn ông và
người đàn bà nên một trong hôn ước, để làm một hình ảnh phản chiếu Ngài còn rõ ràng và mãnh liệt hơn.
Chính Chúa nói con người ở một mình không tốt. Ngài muốn con người sống thành cộng đoàn
hiệp nhất huynh đệ, chứ không như những cá nhân sống biệt lập, như những “ốc đảo” cô lập. Vì chính
Thiên Chúa là mầu nhiệm Hiệp Thông của Ba Ngôi, Tình Yêu sâu thẳm giữa Cha, Con, và Thánh Thần.
Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài, được gọi sống như Ngài.
Như thế, khi một người nam và một người nữ kết hợp với nhau trong hôn nhân, họ trở thành một
hình ảnh của Thiên Chúa rõ rệt hơn, mạnh mẽ hơn. Khi ấy đôi bạn làm cho Thiên Chúa hiện diện theo
một cách thức độc đáo, cách mà khi ở một mình họ không thể làm được. Như Đức Gioan-Phaolô II dạy
rằng "con người trở nên hình ảnh của Thiên Chúa không chủ yếu tại yếu tố đơn độc cho bằng là ở tại
sự hiệp thông".
Như vậy, hôn nhân là một giao ước, vừa tham dự vào chính đời sống của Thiên Chúa vừa làm
cho Chúa hiện diện trên trần gian. Một hôn nhân, cách chính xác, được tạo nên theo cách thức mô tả
trong sách Sáng thế, cần đến hai hành động. Thứ nhất, hai người nam và nữ cam kết sống trung thành
với nhau đến trọn đời, đến khi một trong hai người qua đời. Kế đến, qua quan hệ tính dục của vợ chồng
hôn nhân ấy trở thành hoàn hợp ( consummatum ). Qua hai hành động khác biệt nhưng không tách biệt
này sự kết hợp thành vợ chồng ( “nên một xương một thịt” ) bất khả phân li được hoàn tất. Giao ước
hôn phối thành một thực tại.
2. Gian dâm ( quan hệ tính dục trước hôn nhân ) và sự sống chung không hôn nhân
Như chúng ta đã thấy, giao ước hôn phối trực tiếp xuất phát từ những kinh nghiệm nhân bản
nguyên thủy và những phẩm chất của thân xác con người. Các nhân vị thì duy nhất. Họ đơn độc trước
mặt Thiên Chúa. Họ có thân xác vốn có tính "biểu tượng" ( dấu chỉ bề ngoài của một thực tại bên trong ).
Hơn nữa, kinh nghiệm đơn độc dẫn đến kinh nghiệm hợp nhất. Con người được tạo dựng cho tình yêu.
Thân xác họ là dành cho "sự hợp hôn", và đó là lý do tại sao một người đàn ông và một người đàn bà có
thể trở thành "một xương một thịt".
Tính dục nhân bản không chỉ thuộc thế giới vật lý, nó còn hơn nữa thuộc về thế giới biểu tượng
và thế giới của tình yêu. Tính dục không phải là một trò chơi hay một môn thể thao trong nhà không có ý
nghĩa liên hệ gì. Người ta cũng không thể giản lược tính dục chỉ còn như là một hoạt động thử nghiệm.
Người ta không thể "thử lửa" tình dục như thử nghiệm một chiếc xe hơi. Không thể lao mình vào thực
nghiệm một mối quan hệ để xem thử nó "chạy" tốt hay không. Tính dục còn hơn thế nhiều. Nó "hoàn
hợp" một mối quan hệ. Nó nâng cao một quan hệ giữa một người nam và một người nữ lên một cấp độ
hoàn hảo hơn. Nó thiết lập tình yêu giữa người đàn ông và người phụ nữ trên mảnh đất thiêng thánh.
Tính dục là một mầu nhiệm chính vì nó mang tính "biểu tượng" và tính hôn phối. Vì thế, nó cần phải
được gìn giữ và trân trọng. Nó cần những lời lẽ cam kết được công bố ra ngày thành hôn.
22
Như vậy, tính dục đóng ấn cho một mối quan hệ thành toàn, chứ không phải để ghi dấu sự bắt
đầu của nó. Khi hai người, đàn ông và đàn bà, quan hệ tình dục trước hôn nhân, họ có thể dễ dàng lẫn
lộn thú vui tình dục với tình yêu. Họ có thể lầm lẫn tình yêu với dục vọng ích kỉ chỉ biết tìm lạc thú do
người kia mang lại cho tôi. Thế cho nên, người ta hiểu được lý do tại sao có tới 60 đến 70 % các cuộc
hôn nhân vốn bắt đầu bằng sự sống chung không cưới xin kết thúc bằng ly dị.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy tầm quan trọng cực kỳ của sự giao hợp tình dục đối với
người phụ nữ. Cơ thể người phụ nữ sản xuất ra các hoóc-môn kết hợp ( "bonding hormones" ) ở ba loại
thời kỳ trong cuộc sống: trong khi giao hợp tình dục, thời kỳ sinh con, và trong thời kỳ cho con bú. Từ
"hoóc-môn kết hợp" này cũng khá thú vị. "Hoóc-môn" là thuật ngữ thuộc lãnh vự sinh lý học, và "kết
hợp" lại tham chiếu đến phạm vi tinh thần. Đấy là một từ ngữ mang tính biểu tượng lại được dùng trong
y khoa. Rõ ràng là quan hệ tình dục đòi hỏi phải được kèm theo một dấn thân sâu sắc và trung thành
với nhau và cho nhau. Dấn thân ấy chính là cuộc hôn nhân.
Do đó, giao hợp tình dục trong hôn nhân dẫn đến một kinh nghiệm sâu xa của hợp nhất.
Ngược lại, khi ta quan hệ tình dục với nhiều người trước hôn nhân, mỗi lần quan hệ ta để rơi lại
đó một mảnh của bản thân ta. Một phần cua ta cho người này, một mảnh của ta cho người nọ, và vân
vân. Ta bị phân chia trong nội tâm, và cuộc sống sẽ trở nên khó khăn hơn. Đức khiết tịnh giúp bảo vệ ta
khỏi mối nguy hiểm này.
Dĩ nhiên, giao hợp tính dục không chỉ là hành động của tình yêu. Nó còn là một hành động của sự
sống. Hành vi tính dục có ý nghĩa vừa để kết hợp tình yêu vừa mở ngỏ cho sự sống từ đó có thể hình
thành. Có người đưa ra lời khuyên sau đây. Khi bạn thường xuyên gặp gỡ hẹn hò với một người bạn khác
phái, hãy tự hỏi: "Có thực sự tôi muốn có con với người đàn ông ( phụ nữ ) này hay không ? Tôi có muốn
làm mẹ ( cha ) của đứa con của người này hay không ?" Câu hỏi này rất ý nghĩa. Nó giúp ta loại trừ nhiều
người mà ta cảm nhận hấp dẫn về giới tính nhưng ta lại không muốn kết hôn với người ấy.
Lm. Luy NGUYỄN ANH TUẤN ( Còn tiếp )
ƠN CỨU CHUỘC NƠI NGÀI CHAN CHỨA ! – Kỳ 3
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ CỨU CHUỘC
Phần 4: Ơn Cứu Chuộc và những ý kiến bổ sung
Thiết tưởng, ta cũng nên đưa các ý kiến vừa nói ở trên vào nghị luận. Thêm vào đó, là đôi lời
bàn của tác giả Mark Massa, Dòng Tên từng phát biểu tại phân khoa Tôn Giáo và Văn Hoá thuộc Đại
Học Fordham, năm 2006. Theo ông thì Đạo Công Giáo lâu nay đại diện cho một nền văn hoá rất doanh
thương vốn từng làm cho người Mỹ và nhiều người Công Giáo ở Mỹ thấy lo lắng, khó xử, hoặc hãi sợ.
Theo câu chuyện kể về Ơn Cứu Chuộc, hiểu theo ý nghĩa có tính “bài bác những người sống ở Mỹ”, thì
tính cách cộng đoàn vẫn quan trọng hơn cá nhân tư riêng của mỗi người, cũng rất nhiều. Nói như thế là
bảo rằng: theo ý các vị này, sở dĩ ta có được ơn cứu rỗi là nhờ thông qua và “ở trong” cộng đoàn mà
thôi. Tác giả Mark Massa, S.J. còn thêm vào đó đôi ba ý kiến cứ bảo rằng: nếu không nhờ có cộng đoàn
làm trung gian giảng hoà, e rằng các kẻ tin chúng ta có giỏi lắm, cũng sẽ lầm lạc không ít.
Những ai chưa từng biết và sống ở Hoa Kỳ, e sẽ không nắm bắt được ảnh hưởng của chủ nghĩa
bảo thủ từng đè nặng lên kẻ tin cũng rất nhiều, chí ít là ngang qua sự kiện: Đạo của ta luôn kình chống
thuyết tiến hoá ở con người.
Có một khảo sát mới đây từng cho thấy: hiện có đến 42% dân số gồm 125 triệu người Mỹ lại cứ
cho rằng: sự sống trên trái đất này, lâu nay, vẫn hiện hữu theo hình thái giống bây giờ, tức đa số bảo
rằng: khởi từ thuở tạo thiên lập địa mãi đến nay, tất cả đều vẫn vậy. Đây, cũng là ý kiến của nhà giảng
thuyết có tên là Billy Sunday từng khẳng định: “Tôi tin rằng mình từng hiện hữu cũng như Thiên Chúa đã
dựng nên tôi, có thế thôi.”
Các nhà thừa sai bảo thủ người da trắng, nay đạt con số lên đến 26% so với số dân trên toàn
nước Mỹ, tức: có hơn 30 triệu người ở Mỹ đã và đang làm thừa sai mục vụ khá hăng say, năng nổ.
Trong khi đó, lại có đến 25 triệu giảng viên Tin Mừng vốn là người da màu và khoảng 8 triệu đấng bậc
chuyên rao giảng Phúc Âm lại là những người đến từ Châu Mỹ Latinh.
Đến như cựu Tổng thống George W. Bush khi trước từng đạt nhiều phiếu bầu từ người Công Giáo
có lúc lên đến 52%, lại đã tụt xuống còn 47% ở cuộc bầu cử diễn tiến hồi năm 2004. Một phần của lý do
23
đã tạo nên sự việc này, là hồi ấy đã thấy xảy ra cuộc chống đối dữ dội từ phía người Thệ Phản bảo thủ ở
Hoa kỳ vẫn cứ tin rằng: họ có niềm tin rất vững chắc khả dĩ đảm bảo cho họ có được “Ơn cứu chuộc”. Và
sở dĩ có chuyện sụt giảm số phiếu bầu vào thời đó, là vì cựu tổng thống George W. Bush đã mạnh miệng
tuyên bố một câu rất “xanh rờn” rằng: Đức
Giêsu là nhà hiền triết mà ông ưa thích nhất, bởi
lẽ Ngài đã hoán cải đời ông rất nhiều lần. ( xem
J.P Moore trong One Nation Under God: the
History of Prayer in America, Doubleday, 2005 ).
Ở Pháp cũng thế, có truyện kể tương tự
dưới hình thức rao truyền Phúc Âm theo kiểu
mới của người Thệ phản, cứ nở rộ. Trong khi
đó, thì: sinh hoạt cùng loại của Giáo Hội khác,
lại cứ dần dà sa sút. Và, sở dĩ có sự khác biệt
đến độ như thế, là vì các nhà truyền giáo người
Thệ Phản ở Mỹ đã biết cách tập trung/nhấn
mạnh vào Kinh Thánh, thập giá cùng những sự
việc hồi hướng trở về. Và chính do bởi họ có
quyết tâm cao trong nhiều việc, nên họ có được
một niềm tin khá vững chãi. Công việc của họ, phần lớn lấy thập giá làm trọng tâm. Họ sử dụng nhiều mẫu
mã bằng cách hy sinh mọi sự khác để chỉ diễn giải niềm tin rất mạnh của họ thôi.
Ở nơi họ, vẫn có những thứ và những sự từng xảy đến “như thời trước” ( do bởi con người bắt
đầu phạm phải lỗi lầm, sai quấy rất khủng khiếp ); rồi sau đó cũng không lâu, nhờ ân huệ Chúa ban, nên
đã bớt. Sau lần hồi hướng trở về, bản thân họ như đã dấn thân rất can trường vào các nhóm hội của
Nhà Thờ, tựa như các vị “tân tòng” khi trước từng hồi hướng về với Kitô giáo. Một số vị được gọi là
nhóm “sùng đạo theo kiểu chính thống giáo” như các vị suốt ngày quỳ “chầu lượt”, nhóm hội, đoàn thể
vẫn ê a đọc kinh suốt buổi hội và nhóm tìm về với Kinh Thánh cũng tương tự như nhóm tìm về cuộc
sống cách hoàn thiện như Chúa dạy v.v…
Các đoàn thể khác như nhóm hội được gọi là “Nhóm Hiện Xuống có Ân huệ tự tại” lại chỉ lo kiếm
tìm cho mình thật nhiều phép lạ, tìm cách “nói tiếng lạ”, hoặc chuyên chăm trở thành ngôn sứ của thời
đại, v.v… Xem ra, niềm tin của nhiều nhóm hội đạo đức đều thấy mang tính trải nghiệm rất khác nhau
trong cuộc sống hằng ngày.
Theo các nhóm này, thì việc giữ Đạo bằng vào tổ chức lễ lạy cho thất nhiều, đã nở rộ ở nhiều
nơi rất dễ thấy. Các cộng đoàn ở đây đó, đều hỗ trợ một cách đích thực cho hội viên mình. Có thể nói,
các vị này vẫn khước từ động thái trần tục hóa chuyện đi Đạo và giữ đạo. Thái độ của các vị, đối với
việc hiện đại hóa Phúc Âm, lại mang nhiều tính chất khá mâu thuẫn, dị biệt. Các vị sử dụng hình thái
như loại kỹ thuật hiện đại chuyên tiếp cận thị trường, tin tưởng nhiều vào thể chế dân chủ, ưa thích các
tiết mục trình diễn trong phụng vụ. Bởi thế nên, trên thực tế, các vị lại đã bác bỏ việc mở rộng vòng tay
để mọi người được tự do hơn về lòng đạo. Mặt khác, các vị lại kình chống thái độ trí thức hóa và hợp lý
hóa việc đi đạo và giữ đạo.
Phải gọi đây là cung cách sống đích thực “Ơn cứu chuộc” của các nhóm, hội lâu rày vẫn như
thế. Có thể nói: với họ, chỉ duy nhất một đường độc đạo khiến họ sống đích thực Ơn cứu chuộc là: chỉ
làm có mỗi thế. Nhưng, Ơn cứu chuộc vẫn còn đó, rất thực tế. Ơn lành Cứu chuộc Chúa ban vẫn có đó,
dù họ có hành xử ra sao, nguội lạnh thế nào hoặc có sốt sắng chuyện Nhà Thờ Nhà Thánh đến cỡ nào
đi nữa, Ơn cứu chuộc Chúa ban vẫn đến với mọi người, ở mọi nơi. Vào mọi thời.
Vốn có được một quá trình học hỏi về đạo lý Công Giáo khá vững vàng, nên nhiều vị, đôi lúc,
cũng “bốc lên” khi suy tư về “Ơn cứu chuộc” thường xuyên hơn trong nhiều thập niên qua. Thập niên
’60, cách riêng, lại thấy xuất hiện chủ thuyết đa nguyên bộc phát rất dữ dội. Song song với xuất hiện
này, lại thấy nảy sinh hai phong trào rất đáng nể là: chủ nghĩa phóng khoáng về chính trị và đặc tính độc
đoán chuyên trừng trị trong Hội Thánh.
Thập niên ’60 khi ấy người người lại cũng thấy có chủ thuyết khá lạc quan so với thập niên ’50 là
những tháng ngày Giáo Hội chỉ chuyên chú vào những chuyện xem ra hơi ù lỳ, chậm chạp rất an phận.
Và, nhiều người, nếu không muốn nói là nhiều vị thức giả Công Giáo, lại đã sẵn sàng tự đồng hoá chính
mình với các trào lưu mới về loại hình văn hoá đang xuất hiện ở quanh họ. Có thể nói: vào thời đó, nhiều
chuyển động theo chiều hướng đi lên, rất phong phú, đa dạng và đầy tính chủ quan về tôn giáo mà có
người gọi đó là phong trào “thiêng liêng linh đạo”, rất đạo mạo. Các vị khác lại có động thái “trường mặt” ra
với kinh nghiệm tổng thể, mà qua đó có giới truyền thông báo chí cũng rất mới, như: truyền hình phát
sóng rất cường điệu, để rồi kéo theo hệ quả khác, là: đi đến việc tư nhân hoá Đạo của Chúa.
24
Cũng từ đó, nhiều vị lại đã lui về dĩ vãng như một thứ “tiểu văn hoá” cũng khá già. Các vị khác lại
cứ kiếm tìm các loại tổ chức rất mới mẻ của Đạo Chúa – dù không mang hình thức giáo xứ cũng đã trở
thành mái ấm, cơ ngơi phụ thuộc vào nhau, đượm tính “lý sự” hơn. Thật ra thì, họ không thực sự tìm ra
được đạo giáo nào giống như thế và cũng chẳng kiến tạo ra được thứ tôn giáo giống như vậy, cả.
Thật ra thì, ở vào tình huống giống như thế, người người ít chú tâm đến sự thể là không còn nói
nhiều về tội lỗi nữa, nhưng chú tâm hơn đến sự thể là: mình tự chấp nhận chính mình, dễ tự tin và tự giúp
mình nhiều hơn trước. Xem thế thì đã thấy xuất hiện một thể loại văn chương “linh đạo” rất mới đã ra đời.
Kitô hữu khi ấy, lại những lo toan kiếm tìm ý nghĩa tập thể nơi thế giới tư riêng của họ. Nhưng họ
lại không tìm ra được thế giới ấy và bị lạc lõng đến độ không chỉ mỗi hy vọng có được Ơn cứu chuộc đã
để mất mà cả đến ý nghĩa của Ơn Cứu Chuộc được thành hình cũng bị mất luôn. Xem thế thì viễn ảnh
của việc thực sự xã hội hoá và hiệp thông hai chiều cũng không sáng giá là bao.
Lm. KEVIN O’SHEA, DCCT, bản dịch của MAI TÁ ( Còn tiếp )
CÂU CHUYỆN 3 TỶ LÍT BIA, 5 TRIỆU CON CHÓ
VÀ VĂN HÓA ĂN NHẬU CỦA NGƯỜI VIỆT NGÀY NAY
Từ hè phố cho đến sâu vào tận ngõ, chỗ nào cũng la liệt bia rượu để nhậu, nó làm cho bầu
không khí, dáng vẻ, khuôn mặt của đô thị nhàu nhĩ, nhốn nháo. Và cũng chính vì vậy mà số lượng bia
tiêu thụ của người Việt Nam trong năm vừa qua lên đến con số 3 tỷ lít, tính ra trung bình mỗi người Việt
Nam uống 32 lít/năm.
Theo thống kê của tổ chức nghiên cứu thị trường trong năm 2013 vừa qua, người Việt Nam đã
uống 3 tỷ lít bia và ăn 5 triệu con chó, con số kỷ lục
cao nhất so với các nước trong khu vực Đông Nam
Á mặc dù thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam
chỉ xếp hạng 8/11 so với các nước trong khu vực
Đông Nam Á. Con số trên cũng đã đưa Việt Nam
vào danh sách một trong những nước tiêu thụ bia
rượu nhiều nhất thế giới và xếp thứ 3 ở khu vực
Châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật trong năm
2013.
Có thể một số người trong chúng ta chẳng
mấy ngạc nhiên với những con số trên vì trong
những năm vừa qua ai ai cũng đã được biết rằng
Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo phá thai lớn nhất thế
giới, là nước có giá sữa nhập khẩu cao nhất thế
giới, là nước có giá xe oto nhập khẩu mắc nhất thế
giới, giá bệnh viện, chữa bệnh đắt vào top của thế giới, và giờ đây lại thêm một kỷ lục mới, Việt Nam là
nước có số lượng người tiêu thụ bia rượu, thuốc lá và ăn thịt chó nhiều nhất thế giới. Hơn nữa, Việt
Nam hiện cũng đang là nước có giá thành bia rượu và thuốc lá rẻ nhất so với nhiều nước trên thế giới.
Có ý kiến được đưa ra sở dĩ Việt Nam lập kỷ lục bởi những con số trên là vì chuyện ăn nhậu ở
Việt Nam là nét văn hóa đặc trưng của người Việt, và do người Việt mình đã trải qua những năm tháng
kinh tế khó khăn, đói khổ nên bây giờ khi đất nước đang trên đà phát triển, thu nhập bình quân đầu
người cũng đang tăng trưởng nên có nhiều người đang đi vào xu hướng hưởng thụ để bù đắp lại quá
khứ thiếu thốn. Cũng có ý kiến trái chiều cho rằng, không có văn hóa ăn nhậu gì ở đây, những con số
trên là những con số biết nói để thể hiện niềm vui cho các doanh nghiệp sản xuất bia ở Việt Nam và đó
cũng là nguyên nhân để phản ánh thực trạng nền kinh tế, tệ nạn xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Tôi thì tôi thấy chẳng quan trọng mấy cái lý do hay ý nghĩa của những con số kỷ lục trên, tôi chỉ
thấy rằng đây là một thực trạng đáng lo ngại không chỉ về kinh tế xã hội, mà còn về đạo đức, tri thức
người dân Việt. Không biết người Việt Nam nghĩ thế nào khi Liên minh bảo vệ chó Châu Á đã ra thông
báo về mức độ nguy hiểm cần được bảo vệ của loài động vật này ở Việt Nam khi con số 5 triệu con chó
được “hóa kiếp” lên bàn nhậu ở Việt Nam trong năm vừa qua ?
Chẳng có cái quốc gia nào trên thế giới mà ăn thịt chó đến mức báo động như Việt Nam mình,
cảm thấy vừa xấu hổ vừa vô nhân đạo cho dân Việt mình. Có thể với nhiều người dân Việt, điều đó chẳng
25
CÙNG TRĂN TRỞ
đáng lo ngại gì, vì đã nhậu, có rượu bia thì phải có mồi, mà thịt chó lại là món khoái khẩu của rất nhiều
dân nhậu. Họ có thể xem con vật trung thành, gần gũi nhất với mình là mồi nhậu khoái khẩu khi nhậu lúc
vui, lúc buồn, hay không vui không buồn cũng nhậu.
Trên các trang báo trong những năm gần đây, đã có
biết bao hệ quả, biết bao tệ nạn từ chuyện “cẩu tặc” ăn cắp
chó bị người dân bắt được và đánh đập đến chết đến chuyện
buôn chó xuyên biên giới vì chủ các cửa hàng thịt cầy không
thể đáp ứng nổi nhu cầu quá lớn của dân nhậu trong nước.
Vậy cũng đủ để mỗi người chúng ta thấy vì một món mồi
nhậu từ con chó, nhiều người Việt không màn đến tính mạng
và đạo đức của mình.
Bởi vậy những năm gần đây, mỗi khi về lại quê
hương, tôi bỗng dưng thấy khan hiếm hẳn hình ảnh những
chú chó chạy chơi quanh xóm nhà mình mà thay vào đó là
quán nhậu mọc lên như nấm sau mưa. Nếu ở một số trên thế
giới, quán nhậu, quán bar được quy định phải cách xa trường
học, bệnh viện, nhà thờ, thì ở Việt Nam mình không có những quy định đó, cho nên cứ thế mà quán nhậu
mở khắp nơi, nhà nhà mở quán nhậu, người người đi nhậu, vui nhậu, buồn nhậu, không vui hay không
buồn cũng nhậu, giờ nào cũng nhậu, sáng nhậu, trưa nhậu, chiều nhậu, tối cũng nhậu, không chỉ đàn ông
nhậu, mà đàn bà cũng nhậu, mấy đứa thanh niên choai choai mới lớn cũng tập tành nhậu. Tôi không dám
dùng chữ suy đồi trong vấn nạn này nhưng có thể xem đó là sự xuống cấp văn hóa ẩm thực, văn hóa tiêu
dùng của người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Thực tế là nếu nhìn vào các quán bia vỉa hè, các quán nhậu la liệt ở đô thị, chúng ta có thể thấy
đặc tính của các quán bia này cũng có yếu tố phù hợp với đặc tính của một bộ phận người Việt, đó là
ưa sự tiện lợi, bạ đâu ngồi đấy, bạ đâu cũng uống, cũng nhậu được. Từ hè phố cho đến sâu vào tận
ngõ, chỗ nào cũng la liệt bia rượu để nhậu, nó làm cho bầu không khí, dáng vẻ, khuôn mặt của đô thị
nhàu nhĩ, nhốn nháo. Và cũng chính vì vậy mà số lượng bia tiêu thụ của người Việt Nam trong năm vừa
qua lên đến con số 3 tỷ lít, tính ra trung bình mỗi người Việt Nam uống 32 lít/năm.
Nhìn những con số kỷ lục trên, mới hiểu rõ tại sao người Việt Nam đã nghèo lại càng nghèo thêm,
bao nhiêu tiền bạc làm ra tiêu xài hết vào quán nhậu. Ăn nhiều, uống nhiều, nhậu nhiều, chơi nhiều mà ít
vận động trí óc, ít biết cách nâng cao trình độ tri thức của mình, điển hình là theo thống kê hàng năm mỗi
người Việt đọc trung bình 0,8 cuốn sách, có nghĩa là mỗi người Việt Nam không đọc xong hết nổi một cuốn
sách mỗi năm. Vì vậy mà có thể kết luận là với người Việt Nam, nhậu thì bao giờ cũng vui và dễ dàng hơn
đọc sách, cho nên đừng hỏi tại sao Việt Nam mình không thể phát triển bằng những nước khác.
VƯƠNG ĐOÀN
CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI 3 TỶ LÍT BIA, 5 TRIỆU CON CHÓ
Dịp Tết vừa qua, không ai rủ, không ai mời, tôi vẫn cứ tự động vào một ngôi Chùa, trước để vãn
cảnh thiện nam tín nữ đi hái lộc chùa, sau để ăn cơm chùa. Nói là cơm chùa nhưng vào dịp đầu năm,
chùa lại chiêu đãi các món hủ tíu, phở, mì, bánh chưng chay… Các món ăn để sẵn trên một dãy bàn
dài, muốn ăn gì cứ tự động lấy chén đũa ra bỏ vào, các nồi nước lèo để sẵn trên bếp nóng nghi ngút
khói. Sau đó cứ tự động tìm chỗ ngồi ăn một cách trầm lặng. Người ta không nói chuyện với nhau khi
ăn, hoặc có nói thì rất ít và rất khẽ. Không có cảnh ồn ào náo nhiệt chúc tụng hoa mỹ nâng cốc rượu
bia. Ăn xong tự đi rửa chén đũa, cất vào chỗ cũ cho người đến sau dùng, rồi cứ thoải mái ra về không
phải trả tiền vì là… cơm chùa mà.
Tại phòng khách kế bên chánh điện, sư trụ trì ngồi tại bàn làm việc khoan thai niềm nở tiếp
khách thập phương. Ai có tâm sự gì cứ thổ lộ cùng ngài. Ngài lắng nghe thấu hiểu và sẽ hồi hướng lên
cho Đức Như Lai. Phật Tử xếp hàng dài để đợi đến phiên vào hội kiến ngài. Cách nói và cách nghe rất
là “thiền”. Có đứng sát bên cũng không nghe nổi họ đang nói cái gì.
Tôi không cho rằng đây là đặc trưng của Phật Đạo mà chính là văn hóa truyền thống Việt Nam,
mà không hiểu do đâu, bên Công Giáo mình đã không duy trì được.
Dù cố ngụy trang bằng kiếng mát và mũ rộng vành phủ kín khuôn mặt, một số người quen vẫn
nhận ra tôi. Có kẻ, trong ngày đầu năm mà không giữ được Tâm Phật, hích cùi chỏ và kê ngay một câu:
“Đạo thịt chó mà cũng đi chùa à ?” Chưa buông tha đâu, hắn còn bồi tiếp: “Tết này bên Nhà Thờ mấy
ông đã hóa kiếp cho mấy con chó ?” Ngay khi đó di động reng inh ỏi, ông Bẩy, phó ban Mục Vụ… lè
26
nhè: “Đợi hoài hổng thấy ông đâu, tụi tôi dzô rồi. Có món rựa mận đặc biệt do thằng Sáu tự làm. Rượu
bia thì khỏi lo, dzô số kể !”
Chẳng trách chi cha Vĩnh Sang ( báo Ephata 597 )
đã than thở ( không riêng gì ở xã Cần Thạnh đâu ): Sáng
Mồng Một anh chị em tín hữu kéo đến đầy Nhà Thờ, tràn
cả ra ngoài sân, cha sở ngạc nhiên vì có nhiều “kẻ lạ mặt”
đi dự lễ, hỏi ra mới biết con cháu từ xa về ăn Tết với gia
đình. Không khí vui tươi náo nhiệt nơi Nhà Thờ kéo dài
khoảng hơn 1 giờ đồng hồ, tôi hỏi cha sở: “Sau đó thì
sao ?” Ngài nói: “Ai về nhà ấy, bắt đầu những… sòng bạc
và những chiếu nhậu”. Hết ! Tết ở đây là vậy !
Trong đám táng linh đình của một Linh Mục ở
vùng cao lao xao nhiều tiếng xì xầm: “Đáng lẽ chưa chết
đâu. Uống nhiều quá mới chết sớm như vậy.” Mà ngài
thì còn muốn ở lại trần gian lâu hơn để phục vụ Chúa và Hội Thánh nên đã năm lần bẩy lượt đi ra nước
ngoài chữa bệnh.
Nói về bia thì có một ngộ nhận rất tai hại tại Việt Nam: Bia rất bổ cho sức khỏe. Theo nhiều cuộc
nghiên cứu khoa học thì bia cũng là một loại chất độc tai hại không kém rượu đối với con người.
Vào thời Linh Mục rất hiếm hoi, có một Giáo Xứ sau nhiều năm thiếu vắng Linh Mục lại mất đi
một cha quản nhiệm vì rượu. Vào Mùa Chay, ngài đi tăng viện giải tội cho Giáo Xứ khác. Buổi tối các
cha ngồi ăn cơm chung với nhau. Có Việt Kiều về mang tặng cho cha ở đây một chai rượu quý. Một loại
hàng độc vào thời còn nhiều khó khăn ( thời nào cũng có khó khăn ). Rượu quý thì phải chiêu đãi khách
quý. Cha này quên mất lời dặn của bác sĩ, uống vào mấy ly nhỏ, có chút xíu mà nhằm nhò gì, hơn nữa
chung quanh toàn các cha cả thì lo gì. Thế là ngài bị choáng, xin được nằm nghỉ một tí trước khi ra về.
Nhưng ngài không bao giờ dậy nữa. Sau đó thì Giáo Xứ đó phải đợi thêm 5 năm mới có cha khác về.
Ở Việt Nam có một ngộ nhận rất tai hại là bia thì bổ, rượu mới có hại.
Một cuộc nghiên cứu tại Johns Hopkins Bloomberg School of Public Health cho biết 70% ca cấp
cứu tại bệnh viện Baltimore có nguyên nhân vì uống bia.
http://www.healthline.com/health-news/aging-health-benefits-of-coffee-beer-082013
Bia làm giảm đi khả năng tiêu hóa các chất béo và khả năng hấp thụ vitamin và khoáng chất của
cơ thể con người. Bia còn tiêu diệt luôn vitamin C và B complex.
http://www.ask.com/question/why-is-beer-bad-for-you
Nếu bia không được tiêu thụ ngay sau khi sản xuất mà được bảo quản trong thùng, chai, lon thì
sẽ nẩy sinh một số phản ứng hóa học biến bia thành một dạng độc chất. Một lon bia loại rất nhẹ cũng
làm phát sinh 150 calori thừa thãi trong cơ thể. Để loại bỏ đi 150 calori tai hại này phải đi bộ 40 phút với
tốc độ 5 cây số/giờ. http://www.realbeer.com/edu/health/good-bad.php
Bợm nhậu ở Việt Nam có khi uống cả thùng bia và đi ngủ thẳng cẳng vì ngày mai đâu cần phải
dậy nữa !?!
NGUYỄN TRUNG
MỘT ĐỜI DÂNG MẸ
Suốt trung tuần tháng 2 vừa qua, tín hữu Boston nhộn nhịp tới lui khắp mọi nẻo đường đổ về từ
Vương Cung Thánh Đường Mẹ Hằng Cứu Giúp Boston đến các Nhà Thờ lân cận có cộng đoàn tín hữu
Việt Nam, nơi quý thầy DCCT từng giúp mục vụ trước ngày nhận sứ vụ Linh Mục. Tiểu bang
Massachusetts không tập trung đông đảo người Việt như California hay Texas, nhưng phần lớn cư ngụ
tại thủ phủ Boston. Hoa Kỳ, đất hội tụ nhiều sắc dân. Boston cũng chưa có Nhà Thờ Việt Nam riêng biệt,
nhưng được bề trên ưu ái gửi Linh Mục quản nhiệm Việt Nam về mỗi cộng đoàn để tiện cử hành Phụng
Vụ cho giáo hữu.
Quý thầy DCCT vài năm qua tu học tại Boston, hè 2013 trở về Tỉnh Dòng mẹ Việt Nam lãnh sứ
vụ Phó Tế, khi qua Mỹ được cử đi giúp các cộng đoàn có cha quản nhiệm Việt Nam như: Giáo Xứ Saint
Ambrose ( vùng Dorchester ), Saint Bernadette ( Randolph ), Sacred Hearts ( East Boston ), Sacred
Hearts ( Malden ) Vào ngày 15.2.2014, tại Vương Cung Thánh Đường Mẹ Hằng Cứu Giúp Boston quý
27
CÙNG TẠ ƠN
thầy được trao ban thánh chức Linh Mục. Hai tuần liên tiếp sau vào các ngày thứ bẩy và Chúa Nhật,
Thánh Lễ Tạ Ơn được cử hành tại 4 Nhà Thờ quý tiến chức đã phục vụ.
Trước đây khi còn ở quê nhà, tôi đã ba lần được dự Lễ Tạ Ơn của tân Linh Mục, nhưng hồi đó
tuổi trẻ, chỉ ham vui trong ca đoàn tập hát nhộn nhịp, tiệc tùng ăn theo, chẳng ý thức gì. Sau 1975, Giáo
Hội bị cấm cách mọi thứ, hiếm khi nào được phong chức Linh Mục công khai, cho tới khi tôi rời Việt
Nam. Giờ đây trong một xã hội tục hóa, ơn gọi hiếm hoi, đã lâu lắm tôi mới có dịp dự lễ thụ phong Linh
Mục, lại là người đồng hương, một niềm vui đặc biệt chắc không chỉ riêng mình tôi mà biết bao tín hữu
Boston cũng chung niềm hạnh phúc đó.
Vài năm mới qua Mỹ, thỉnh thoảng dự Lễ Noel
hay Phục Sinh tại Nhà Thờ Chính Tòa, thời Đức Hồng
Y Bernard Law còn phụ trách Tổng Giáo Phận Boston,
ngài đặc biệt quý mến cộng đoàn Việt Nam. Có năm,
sau đáp từ phần cám ơn của đại diện công đoàn,
hướng về ca đoàn ngài nói: “Tôi tha thiết mời gọi các
bạn trẻ Việt Nam hãy dấn thân theo Chúa, giáo hữu
Việt Nam nhiệt thành đạo đức, nhưng ơn gọi hiếm
quá !” Sau đó ngài tiếp: “Bạn nào muốn đi tu xin cho
tôi biết ?” Nhưng không có một ai hồi đáp !
Cách nay hai tuần, người bạn gửi Email cho
tôi tâm sự, bạn đi Lễ Chúa Nhật thấy có thông báo
Giáo Phận sắp có vài tân Linh Mục xin tín hữu cầu nguyện, bạn mừng ứa nước mắt xúc động khi nghe
những tên Mỹ gốc Việt: Vincent Đặng, Thomas Nguyên… Ra về đến cuối Nhà Thờ nhìn bảng thông tin,
hình ảnh các Tu Sĩ trẻ Mỹ lẫn Việt khuôn mặt rạng rỡ, nụ cười tươi, bạn chợt lo lắng, nghĩ không biết các
Linh Mục tương lai này có giữ trọn cuộc đời dâng hiến không, khi thấy bao cạm bẫy, khó khăn trong một
xã hội tục hóa, hưởng thụ… Bạn trở lại Nhà Thờ quỳ trước Nhà Tạm để cầu nguyện riêng cho các ngài.
Email của bạn đến với tôi trong những ngày Giáo Phận Boston cũng đang có bốn bạn trẻ can đảm
sắp dấn thân trong đời phục vụ hiến dâng. Chắc chắn quý thầy hôm nhận sứ vụ Linh Mục có lời cầu
nguyện chân thành của người bạn tôi, và còn biết bao nhiêu tấm lòng yêu mến Giáo Hội ở khắp nơi nữa.
Trong Thánh Lễ tấn phong bốn tiến chức vừa qua, khoảng 60 Linh Mục đồng tế, tôi nhận thấy phần
nhiều khá trẻ và gốc Việt, giới Tu Sĩ tham dự cũng thế, thật đúng như thống kê về ơn gọi Hoa Kỳ 2013 tôi
đọc trước đây: ơn gọi vĩnh khấn tăng nhiều trong cộng đồng Á Châu, nhất là người Mỹ gốc Việt. Điều đó
cũng nói lên phần nào lòng đạo đức nơi tín hữu Việt Nam và hoa trái tốt đẹp của gia đình Công Giáo.
Tuyên ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo của Công Đồng Vatican II viết: “Vì là người truyền sự sống
cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng là giáo dục chúng và vì thế họ được coi là
những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu
sót thì khó lòng bổ khuyết được” ( Gravissimum Educationis, số 3 ).
Nói đến gia đình, mái ấm yêu thương là nghĩ đến người mẹ hiền, Thượng Đế đã tạo ra kiệt tác
tuyệt vời nhất trần gian là trái tim người mẹ, lòng mẹ bao dung hiền dịu, cội nguồn yêu thương, đường
ta đi tương lai bóng mẹ hiền dõi theo, là chốn bình yên ta trở về lúc vấp ngã đau buồn… Đại văn
hào nga Macxim Gorki đã ca ngợi: "Đời thiếu mẹ hiền, không phụ nữ - Anh hùng, thi sĩ, hỏi còn đâu ?"
Thiên chức người mẹ Công Giáo còn cao cả hơn, qua Bí Tích Hôn Nhân, cộng tác vào chương
trình cứu độ của Thiên Chúa, giáo dục con cái nên thánh, liên đới yêu thương mọi người. Giáo Hội
không thiếu những tấm gương các bà mẹ thánh dưỡng dục con bằng một đời cầu nguyện hy sinh. Đức
Giáo Hoàng Piô X, ngay sau khi được tấn phong Giám Mục Montava liền khoe chiếc nhẫn Giám Mục
của mình với mẹ: “Mẹ xem chiếc nhẫn có đẹp không ?” Bà mẹ bèn giơ chiếc nhẫn cưới trên tay và bảo:
“Nếu không có chiếc này thì làm gì có chiếc kia !”
Điều rất đặc biệt an ủi với bốn tân Linh Mục ngày hôm đó là có sự hiện diện của cha mẹ đến từ
Việt Nam. Trông ai cũng hiền lành, giản dị, nhất là các bà mẹ trong chiếc áo dài truyền thống Việt Nam:
“Mẹ Việt Nam không son không phấn.
Mẹ Việt Nam chân lấm tay bùn..." ( Trần Cao Tường )
“Thông thường, ơn gọi Linh Mục xuất phát từ gia đình, trong tình yêu của cha mẹ và môi trường
giáo dục Đức Tin đầu tiên. Chính mảnh đất màu mỡ ấy, việc sẵn sàng đón nhận và vâng theo thánh ý
Thiên Chúa mới có thể bén rễ và hút được dưỡng chất cần thiết… Chúa Kitô hoạt động trong cuộc đời
những người Ngài đã kêu gọi và tuyển chọn, từ tất cả mọi người trong gia đình đến cả những người thân
cận đều có ảnh hưởng, nhưng đặc biệt hơn là sự góp phần bởi chính đời sống của người mẹ. Các bà
mẹ Linh Mục và Chủng Sinh xứng đáng được toàn thể Giáo Hội ngưỡng mộ và biết ơn vì đã nuôi dạy
28
con mình trong đức tin và nâng đỡ họ trong ơn gọi”. ( Hồng Y Mauro Piacenza, Tổng Trưởng Bộ Giáo
Sĩ. Lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, 1.1.2013 – Trần Quốc Tuyến chuyển ngữ )
Tín hữu Boston tham dự Thánh Lễ Truyền Chức và Tạ Ơn không hẳn vì tình cảm riêng với bốn tân
Linh Mục, nhưng hơn cả, đó là tấm lòng với DCCT và Giáo Hội quê nhà. Hơn ai hết họ cảm thông thân phận
xa nhà, nỗi buồn ly hương nơi quý tân chức khi thiếu vắng người thân yêu trong những ngày đặc biệt. Có
người tôi chưa gặp mặt lần nào, hôm nay đã nên quen, vì gặp gỡ tới 5 lần, từ lễ trao sứ vụ Linh Mục đến lễ
Tạ Ơn, họ cũng như tôi, nhận đủ các phép lành đầu tay trong đầu đời Linh Mục nơi tân chức.
Thánh Lễ Tạ Ơn cuối cùng của tân Linh
Mục Giuse Trần Đức Hùng ít quý cha đồng tế
nhất, vì tổ chức sau đó một tuần, quý cha và thân
hữu ở xa phải ra về, thế nhưng vẫn có đầy đủ tín
hữu Boston. Trong các Thánh Lễ Tạ Ơn, người
đặc biệt nhất là tân Linh Mục rồi đến thân sinh của
Linh Mục. Hạnh phúc biết bao trong những ngày
đặc biệt có sự hiện diện đầy đủ của các đấng sinh
thành, quý báu hơn nữa từ quê hương xa xôi
cách nửa vòng trái đất đến với người con Linh
Mục tại vùng đất mùa đông khắc nghiệt, chưa bao
giờ họ phải chịu đựng như thế ở quê nhà. Mùa
đông năm nay tại nước Mỹ, lại là mùa đông lạnh
nhất trong hơn 20 năm qua.
Biết bao lời cám ơn chân thành xúc động từ tân Linh Mục gửi đến mọi người, có cha đã không
ngăn được xúc động. Thông thường người ta chọn dâng Thánh Lễ Tạ Ơn tại quê nhà, nơi sinh ra, cất
tiếng khóc chào đời, lớn lên cùng kỷ niệm thân thương, nhưng hôm nay các tân chức lại chọn Boston
dâng Thánh Lễ Tạ Ơn, đây là một niềm hạnh phúc cho chúng tôi, nhưng đổi vào đó cũng là sự hy sinh
của bao người thân yêu nơi quê nhà đã gửi gấm ước vọng, chung lời cầu nguyện, hy sinh giúp đỡ chân
thành trên đường tiến tới lý tưởng Linh Mục. Cả bốn tân chức đều gửi tặng cha mẹ chiếc khăn lau tay
được xức dầu thánh khi truyền chức, đó là giây phút xúc động với nhiều người.
“Ta mắc nợ ai bao năm rồi vẫn chưa trả nổi.
Nợ quê hương một chùm khế ngọt.
Nợ cuộc đời một lần đắng cay.
Nợ trời quê một cánh diều bay.
Ta nợ lời ru mẹ ầu ơ... bên cánh võng năm nào.”
( Mắc nợ, Nguyễn Văn Thiên )
Với riêng tôi, nghi thức đọc Kinh Cầu Các Thánh là xúc động nhất, hiệp với tân Linh Mục,
nguyện cầu cho các ngài trọn vẹn hiến thân như Đức Kitô, từ giây phút này đời Linh Mục đã được hiến
thánh cho mọi người, chết trong đời trần tục nhưng sống trong ơn thánh, mùa xuân hy lễ nối dài.
Thánh Lễ Tạ Ơn của tân Linh Mục Giuse Trần Đức Hùng tạm kết thúc những ngày lễ nhộn nhịp
hạnh phúc của bốn tân Linh Mục và tín hữu Boston cũng như thân hữu xa gần. Một ngày gần đây, chia tay
cha mẹ, bà con thân hữu, tân Linh Mục trở về với bổn phận, một cuộc
đời không cho riêng mình, cho mọi người, một trọng trách tưởng chừng
như quá sức chịu đựng… Ngày vui ngắn chẳng tày gang, chỉ còn lại
những kỷ niệm, lời nguyện cầu, lời ru của mẹ nơi quê xa vẫn mãi mang
theo trong cuộc đời dâng hiến.
“Mẹ yêu… Tiếng mẹ ru cho con vững buớc.
Trên đuờng đời chông gai phía truớc.
Cho con nhớ mãi.
Tình mẹ cao vời.
Tiếng mẹ ru ấm suốt đời… mùa xuân…”
( Dzuy Sơn Tuyền )
Đức Hồng Y Fulton Sheen nói: "Mỗi Linh Mục có hai người mẹ,
một theo xác thịt, một theo tinh thần". Người mẹ tinh thần của Linh
Mục là Đức Maria.
Hình ảnh tân Linh Mục Trần Đức Hùng sau Thánh Lễ Tạ Ơn
nguyện cầu trước bàn thờ Đức Mẹ Phù Hộ các Tín Hữu của cộng đoàn
Nữ Vương Hòa Bình ( Malden ) như lời nguyện kết thúc thay cho bốn
tân Linh Mục và tất cả mọi người. Chúng ta cùng dâng lên Mẹ tất cả quá
29
khứ, hiện tại, tương lai, đặc biệt con đường tận hiến của các tân Linh Mục. Hãy tin tưởng đặt đời sống
chúng ta vào bàn tay Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ Maria đã xin vâng trong suốt cuộc đời sẽ giúp chúng ta tin
tưởng nơi sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúng ta cùng với Mẹ mang Chúa đến người khác như Mẹ đã
thực hiện từ giây phút được sứ thần truyền tin đến cuối cuộc đời của Chúa trên đồi Canvê. Xin mượn tâm
tình bài Thánh Ca dưới đây nguyện cầu cho tân Linh Mục với Mẹ Maria bởi vì Mẹ là Nữ Vương Linh Mục.
“Ngày hôm nay con bước lên đường.
Ngày hôm nay con đã lên đường.
Đường con đi loan truyền ánh Tin Vui tình thương.
Mẹ yêu ơi ! Xin Mẹ giúp con đi bình an.
Ôi Mẹ của Linh Mục. Xin Mẹ hãy dẫn đường chỉ lối.
Con nguyện thề tín trung ơn gọi làm chứng nhân cho Con Mẹ”.
( Ôi Mẹ Linh Mục – Nguyễn Duy )
HẠNH NGUYỄN, Boston, 2.2014
CHƯƠNG TRÌNH NHỊP CẦU BÁC ÁI PHANXICÔ
TRỢ GIÚP CÔ ANNA TRẦN THỊ SÂM Ở SÀIGÒN, BỊ UNG THƯ VÚ
Cô Maria Phạm Thị Vân, Dòng Ba Đa Minh, giới thiệu cô ANNA TRẦN
THỊ SÂM, sinh năm 1960, ngụ tại tổ 6, ấp 4, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn,
Sàigòn. Chồng cô đã qua đời gần 1 năm. Cô còn cưu mang 2 đứa cháu nội. Cô
Sâm bị ung thư vú đã di căn vào tim và phổi, gia đình khó khăn nên đã phải
bán nửa căn nhà để chạy chữa bệnh. Tháng 12.2013, bệnh tình nguy kịch nên
các đoàn viên Huynh Đoàn Đa Minh, Giáo Xứ Tân Đông, đã đến thăm và đưa cô
vào bệnh viện cấp cứu và điều trị. Chúng tôi xin trợ giúp 5.500.000 VND, số tiền
được trích từ Chương Trình Nhịp Cầu Bác Ái Phanxicô ( có 6 biên lai ).
TRỢ GIÚP BÀ NGUYỄN THỊ TIẾN Ở BÌNH DƯƠNG, BỊ SỎI MẬT VÀ
TIỂU ĐƯỜNG
Cô Isave Nguyễn Thị Nỡ, cộng tác viên Trung Tâm Mục Vụ DCCT,
giới thiệu bà NGUYỄN THỊ TIẾN, sinh 1956, tạm trú tại 54 ấp Tân Lập, huyện
Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Chồng chết, bà sống với con gái út 22 tuổi, còn 2
người con lớn đã lập gia đình nhưng ở xa và chỉ đủ sống. Bà Tiến bị tiểu
đường và sỏi mật, cuộc sống khó khăn không có tiền mua thuốc theo toa
của Bác Sĩ nên mỗi ngày càng biến chứng nhiều bệnh, bà đau bụng thường
xuyên. Ngày 14.2.2014 bà đau bụng nhiều nên phải nhập viện và mổ khẩn
cấp vì sỏi mật. Chúng tôi xin trợ giúp 2.500.000 VND, số tiền được trích từ
Chương Trình Nhịp Cầu Bác Ái Phanxicô ( có 1 biên lai ).
TRỢ GIÚP ÔNG LÊ QUANG MỘT Ở SÀI GÒN, BỊ UNG THƯ THANH QUẢN
Ông Vinh Sơn Maria Nguyễn Văn Khiên, cộng tác viên Trung Tâm Mục
Vụ DCCT, giới thiệu ông LÊ QUANG MỘT, sinh 1962, ngụ tại 67 B/67 Trần Văn
Đang, P. 9, Q. 3, Sàigòn. Ông Một có 4 người con, 1 người con bị tâm thần. Ông
Một bị ung thư thanh quản, phải điều trị tại Bệnh Viện Ung Bướu Sàigòn. Chúng tôi
xin trợ giúp 3.000.000 VND, số tiền được trích từ Chương Trình Nhịp Cầu Bác Ái
Phanxicô ( có 2 biên lai ).
TRỢ GIÚP ÔNG GIUSE VÕ ĐỨC HÀO Ở
SÀIGÒN, BỊ NHIỄM TRÙNG MÁU
Cô Isave Nguyễn Thị Nỡ, cộng tác viên Trung Tâm
Mục Vụ DCCT, giới thiệu ông GIUSE VÕ ĐỨC HÀO, sinh 1947,
ngụ tại 61/24/6 đường số 2, P. Bình Hưng Hoà, Q. Bình Tân,
Sàigòn. Ông Hào có 4 người con, 3 người đã lập gia đình ở xa,
cuộc sống khó khăn, hiện tại ông đang sống với con trai út. Ông
Hào bị nhiễm trùng máu, sức khoẻ yếu nên gần 10 năm nay ông không làm gì được, sống nhờ vào
30
CÙNG TƯƠNG TRỢ
con út. Ngày 3.2.2014, ông phải nhập viện, chi phí hết gần 10 triệu, chưa tính tiền mua máu ở ngoài,
gia đình không có tiền để điều trị nên xin bác sĩ cho về. đến ngày 12.2.2014, ông lại phải nhập viện
cấp cứu, lần này Bác sĩ không cho về, nên gia đình phải chạy vay khắp nơi để mượn tiền lo cho ông.
Chúng tôi xin trợ giúp 5.000.000 VND, số tiền được trích từ Chương Trình Nhịp Cầu Bác Ái
Phanxicô ( có 1 biên lai ).
444. QUỸ MẸ HẰNG CỨU GIÚP
ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG CHO
BÀ LÊ THỊ NHI HOA Ở BÌNH THUẬN
Cô Anna Nguyễn Thị Thành, cộng tác viên Trung Tâm Mục Vụ DCCT, giới thiệu bà LÊ THỊ
NHI HOA, sinh năm 1971, hiện ngụ tại khu phố 7, thị trấn Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận,
thuộc Giáo Xứ Tân Châu, điện thoại: 01626.022.052. Người chồng bỏ đi lấy vợ khác, bà có một con gái 7
tuổi và nuôi mẹ già trên 76 tuổi đang bị bệnh phổi, gia đình thuộc diện nghèo nên được cấp BHYT hộ
nghèo cho người mẹ già, riêng bà không có Bảo Hiểm Y Tế, hoàn cảnh nghèo, thu nhập thấp và neo đơn.
Bà Nhi Hoa buôn bán trái cây theo thời vụ, mua trái cây tại vườn và tự hái. Ngày 20.5.2013, bà leo
lên cây xoài để hái nốt những trái trên cao đem bán, chẳng may gặp nhánh cây bị sâu mục, ngã xuống đất,
chấn thương cột sống, gẫy đốt sống L2, được đưa đi Bệnh Viện tỉnh Bình Thuận, rồi chuyển vào Bệnh
Viện Chợ Rẫy, Sàigòn. Ngày 21.5, bà được mổ, gia đình phải vay mượn các nơi để đóng tạm ứng ngay số
tiền 30.000.000 đồng. Ca mổ thành công tốt đẹp, ngày 24.5.2013, bà được đưa về lại Bệnh Viện tỉnh để
theo dõi và điều trị tiếp. Gia đình hiện đang phải chịu áp lực trả cho hết món nợ quá lớn.
Ngày 22.2.2014, chúng tôi xin mở Quỹ Trợ Giúp điều trị chấn thương cột sống cho bà Lê Thị
Nhi Hoa với số tiền là 20.000.000 VND. Mọi liên hệ trợ giúp xin gửi về cho Lm. Lê Quang Uy, Trung
Tâm Mục Vụ DCCT, 38 Kỳ Đồng, P. 9, Q. 3, Sàigòn. Email: gxmehangcuugiup@gmail.com
Danh sách các ân nhân gần xa:
Chuyển từ Quỹ giúp em Ngọc Trang ( Sàigòn ): 2.300.000 VND
Hội Bác Ái Phanxicô ( Hoa Kỳ ): 4.000.000 VND
Trích chia sẻ của ông Đinh Đức Trung ( Hoa Kỳ ): 400 USD
Gia đình bé Nguyễn Đoàn Bích ( Sàigòn ): 300.000 VND
Cô Hồ Mỹ Linh ( Sàigòn ): 500.000 VND
Một người ẩn danh ( Đức ): 500.000 VND
Một ân nhân ở Q. Bình Chánh ( Sàigòn ): 500.000 VND
Một gia đình ẩn danh ( Sàigòn ): 500.000 VND
Một Linh Mục ( gốc Bắc Ninh ): 1.000.000 VND
Ba người dự Lễ Xa Quê DCCT ( Sàigòn ): 2.000.000 VND
Tổng kết đến 18g15 chiều thứ ba 25.2.2014:
10.600.000 VND + 400 USD = 20.000.000 VND
Như vậy sau 4 ngày quyên góp, chúng ta đã có được 20 triệu đồng giúp bà Lê Thị Nhi
Hoa. Xin tạ ơn Chúa, biết ơn Mẹ và cám ơn quý ân nhân gần xa.
445. QUỸ MẸ HẰNG CỨU GIÚP ĐIỀU TRỊ ĐA CHẤN THƯƠNG
CHO ANH MAI ĐĂNG SƠN Ở GIA LAI
Thầy Giuse Vinh Sơn Nguyễn Ngọc Biển, SSP, điện thoại: 0982.706.966, giới thiệu anh MAI
ĐĂNG SƠN, sinh ngày 1.1.1974, quê quán tại thị trấn Vĩnh Trụ, xã Đồng Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà
Nam, hiện đang thường trú tại điểm 9, xã Ea H’leo, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Anh Sơn cùng vợ là
chị Maria Đỗ Thị Thu Hoài và 2 người cháu đã vào Gia Lai năm 2002 để mưu sinh. điện thoại
0977.305.491, liên hệ với chị Thu Hoài.
Ngày 9.1.2014 vừa qua, tại Ngã Ba Cây Xoài, thuộc địa bàn thị trấn Ayun Pa, huyện Ayun Pa, tỉnh
Gia Lai, anh đang chạy xe honda về hướng Phú Thiện, do tránh người sang đường, anh bị một chiếc xe
tải chạy ngược chiều đâm vào, gây trọng thương, được đưa vào cấp cứu tại Bệnh Viện Quân Y 211, tỉnh
Gia Lai. Anh Sơn bị chấn thương sọ não kín, bể xương sọ, gãy xương quai sanh, gãy xương bả vai
trái, tróc thịt các ngón tay của bàn tay trái. Các bác sĩ cho biết chi phí cho ca mổ đợt 1 và đợt 2 ( sau 6
tháng nữa ), kể cả thuốc men điều trị hết khoảng trên 150.000.000 VND. Gia cảnh quá khó khăn, số tiền
lớn như thế, không thể tự lo được, cố gắng vay mượn và cầm cố chỉ được khoảng 30.000.000 VND.
31
Ngày 25.2.2014, chúng tôi xin mở Quỹ Trợ Giúp điều trị đa chấn thương cho anh Mai Đăng Sơn
với số tiền là 35.000.000 VND. Mọi liên hệ trợ giúp xin gửi về cho Lm. Lê Quang Uy, TTMV DCCT, 38 Kỳ
Đồng, P. 9, Q. 3, Sàigòn. Email: gxmehangcuugiup@gmail.com
Danh sách các ân nhân gần xa:
Hội Bác Ái Phanxicô ( Hoa Kỳ ): 4.000.000 VND
Hai bạn Fiat Trung Hiếu – Trúc Thuỷ: 1.000.000 VND
Trích chia sẻ của ông Đinh Đức Trung ( Hoa Kỳ ): 400 USD
Trích chia sẻ của cô Bích Nguyệt ( Sàigòn ): 10.000.000 VND
Anh Thơm, Hố Nai ( Đồng Nai ): 500.000 VND
Gia đình bạn Fiat Quỳnh Anh ( Sàigòn ): 500.000 VND
Cô Thảo Ly ( Úc ): 100 AUD
Ca đoàn Việt Linh, Cali ( Hoa Kỳ ): 200 USD
Bác Lê Văn Đức ( Sàigòn ): 500.000 VND
Gia đình bạn Fiat Bảo Ngọc ( Đồng Nai ): 1.000.000 VND
Một ân nhân ẩn danh ( Hoa Kỳ ): 200 USD
Tổng kết đến 21g30 tối thứ bảy 1.3.2014:
17.500.000 VND + 800 USD + 100 AUD = 36.200.000 VND
Như vậy sau 5 ngày quyên góp, chúng ta đã có được 35 triệu đồng giúp anh Mai Đăng
Sơn. Số tiền 1.200.000 VND dôi ra xin chuyển cho trường hợp ngặt nghèo kế tiếp. Xin tạ ơn
Chúa, biết ơn Mẹ và cám ơn quý ân nhân gần xa.
DANH SÁCH CÁC ÂN NHÂN TRỢ GIÚP
CHƯƠNG TRÌNH BẢO VỆ SỰ SỐNG THÁNG 1.2014
Gia đình Nho – Na ( Sàigòn ) góp 2 lần, ngày 6.1 và 30.1 ............................................... 1.000.000 VND
Cô Kiều Vinh, Falls Church, Virginia ( Hoa Kỳ ) gửi 9.1 ............................................................. 200 USD
Bác Hiếu, Gx. Đa Minh Ba Chuông ( Sàigòn ) góp 10.1 .................................................... 2.000.000 VND
Chị Maria Nguyễn Thuý Ngà, Gx. Hà Nội, Gò Vấp ( Sàigòn ) góp 11.1 ............................ 2.500.000 VND
Ba người ẩn danh ( Sàigòn ) góp trong các ngày 11.1, 14.1, và 27.1 .............................. 1.700.000 VND
Cô Maria Nguyễn Thị Thu Trang ( Sàigòn ) góp 11.1........................................................ 2.000.000 VND
Một chị ẩn danh ở quận 10 ( Sàigòn ) góp 14.1.................................................................. 100.000 VND
Cô Phùng Uyên Vũ ( Sàigòn ) góp 15.1 ........................................................................... 1.000.000 VND
Anh Phan Xuân Bửu, Nhóm BVSS ( Sàigòn ) góp 18.1 ................................................... 1.500.000 VND
Anh Peter Nguyễn Nghĩa ( Hoa Kỳ ) gửi về 19.1 ........................................................................ 200 USD
Chị Trần Thị Hoàng Ngọc ( Cà Mau ) góp 21.1........................................................................... 100 CAD
Cô Nguyễn Thị Sa ( Hoa Kỳ ) gửi về 23.1 .................................................................................. 200 USD
Kim Thanh và Tuyết Trang ( Canada ) góp 23.1......................................................................... 200 CAD
Chị Thuỳ Trang ( Đăk Nông ) góp 25.1............................................................................. 2.000.000 VND
Ông bà cụ Điển – Hằng, Giáo Xứ Vườn Xoài ( Sàigòn ) góp 26.1 ................................... 1.000.000 VND
Cô Trần Thị Tường Vi, Phú Nhuận ( Sàigòn ) góp 26.1 ................................................... 4.000.000 VND
Cô Diệu Anh, North Carolina ( Hoa Kỳ ) gửi về 28.1 ................................................................... 100 USD
Tổng kết ân nhân giúp trong tháng 1.2014: ............................700 USD + 300 CAD + 18.800.000 VND
32

Ephata 600

  • 1.
    E-mail: gxmehangcuugiup@gmail.com Website:www.trungtammucvudcct.com CHẲNG THỂ NÀO QUÊN Tuần qua, khi có dịp trò chuyện với một bác sĩ trẻ, “cô bé” là con dâu tương lai của bạn tôi. Trong bữa cơm đầu năm, anh chị xin tôi giúp việc giáo lý cho hai cháu, đứa con trai cuối cùng trong gia đình bây giờ mới chịu lo chuyện trăm năm, dù chàng đã ra trường 7 năm rồi, nhưng vẫn cứ làm cho cha mẹ hồi hộp vì thương và chờ cô bé mãi cho đến hôm nay. Trong câu chuyện làm quen với hai “cháu bác sĩ”, các bạn hỏi tôi về những hoạt động tôn giáo xã hội, có dịp, tôi nói với hai bạn về chương trình Bảo Vệ Sự Sống mà anh em chúng tôi đã và đang thực hiện. Để trả lời cho câu hỏi về việc giữ con hay bỏ ở các ngôi nhà tạm lánh mà chúng tôi đang quản trị, tôi cho biết hầu hết các trường hợp chúng tôi gặp hơn 10 năm nay các người mẹ đơn thân đều giữ lại con mình, tôi trích dẫn một lời Kinh Thánh “có người mẹ nào quên con bao giờ”, cô bé buột miệng nói: “Trên bàn sinh, nhiều người cứ hỏi con nhờ giúp cho đứa bé”. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, rất nhiều chị em khi bị bỏ rơi, mất việc, không nơi trú ngụ, không có thu nhập, sợ gia đình biết, ở đáy vực thẳm, họ oán hận người tình và ghét lây đứa trẻ, dù được chia sẻ và vì nhiều nguyên do, họ không phá thai nhưng họ không muốn nuôi đứa bé. Nếu họ được tiếp đón trong yêu thương, nếu họ thấy được nhiều người vẫn yêu thương và không bỏ rơi họ, tình cảm mẹ con trỗi dậy, họ sẽ đón nhận đứa trẻ bằng tất cả sự bao dung, can đảm. Có một lần, một em là sinh viên năm cuối ở một trường đại học, cô đau khổ cùng tột khi bị bỏ rơi, cô đã nghĩ đến tự tử để chấm dứt cuộc đời vì không tìm được ai cứu giúp mình. Chúa quan phòng cho cô gặp chúng tôi, được đón về ở trong một Mái Ấm BVSS mang tên Thánh Giêrađô – vị Thánh DCCT bổn mạng các bà mẹ mang thai, sau một thời gian, cô tâm sự: “Lúc đầu con có ý định sinh rồi thì cho đi, con không muốn nhìn thấy nó, dấu vết của khổ đau. Nhưng về đây một thời gian, con thấy mình được yêu thương, mình không bị bỏ rơi, mọi người thương mình, rồi con nhận ra Chúa thương mình, con tự hỏi vậy thì tại sao con lại bỏ rơi con của con ? Chúa không bỏ con tại sao con lại bỏ con của con ?” Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ ( Isaia 49, 15 ). Khi ở chốn lưu đày, dân Thiên Chúa tuyệt vọng, Chúa dùng lời Ngôn Sứ để củng cố lòng dân, củng cố lòng tin vào Chúa, Chúa là Đấng Trung Tín, Chúa hứa và Chúa giữ lời hứa. Dân Thiên Chúa đã trở về cố quốc, xây dựng lại đền thờ, nghĩa là xây dựng lại niềm tin của mình, xây dựng lại lòng tín thác vào Chúa, và có Chúa luôn ở cùng. Rất nhiều khi chúng ta thất vọng về cuộc sống, bao quanh ta đầy những bất trắc gian nan, đạo đức, luân lý xuống cấp, suy đồi, gian ác hoành hành, bạo lực lên ngôi, lòng thù hận, sự độc ác ngang nhiên bước vào mọi lãnh vực của đời sống, trật tự xã hội đảo lộn. Sứ mạng của người Kitô hữu chúng ta là làm thế nào để Lời của Chúa củng cố lòng tin của con người, thực sự mang lại cho con người niềm hy vọng, sự tín thác. Tân Phúc Âm hóa hôm nay là làm cho người ta nhận ra quyền năng của Chúa, qua Lời của Ngài, có thể và sẽ chữa lành xã hội này. Chúng ta có tin và dám tin như thế không ? 1 NĂM THỨ 14 – SỐ 600 – CHÚA NHẬT 2.3.2014
  • 2.
    Có phụ nữnào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ. Lm. VĨNH SANG, DCCT, Chúa Nhật 2.3.2014 MỤC LỤC TÌM BÀI: CHẲNG THỂ NÀO QUÊN... ( Lm. Vĩnh Sang ) ...................................................................................... 01 ĐTC. GỬI THÔNG ĐIỆP VIDEO CHO CÁC TÍN HỮU TIN LÀNH ( Tâm Linh Vào Đời ) ....................... 02 TÔNG HUẤN NIỀM VUI CỦA TIN MỪNG – Chương 3 ( ĐTC. Phanxicô – Bản dịch Joseph C. Pham ) ... 04 TÔN THỜ CON BÒ VÀNG ( AM. Trần Bình An ) ...................................................................................08 "HÃY TÌM NƯỚC THIÊN CHÚA…" ( Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện ) ......................................................07 THIÊN CHÚA HAY THẦN TÀI ? ( Lm. Guy Maria Nguyễn Hồng Giáo ) .................................................09 NHÂN LỄ TẤN PHONG CÁC HỒNG Y MỚI – Phần 1 ( Lm. Vũ Khởi Phụng ) .......................................13 LỊCH SỬ MÙA CHAY THÁNH ( Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ ) ............................................................... 15 PHONG CÁCH PHANXICÔ – Bài 5: CHÚA GIÊSU CHỈ TỎ MÌNH RA… ( Nguyễn Trung ) ...................17 TRUYỀN GIÁO VÀ HỘI NHẬP ( Phùng Văn Hoá ) ................................................................................18 THẦN HỌC VỀ THÂN XÁC VÀ HOẠT ĐỘNG TÍNH DỤC – Kỳ 3 ( Lm. Nguyễn Anh Tuấn ) ..................21 ƠN CỨU CHUỘC NƠI NGƯỜI CHAN CHỨA – Kỳ 3 ( Lm. Kevin O’Shea, bản dịch Mai Tá ) ...............23 CÂU CHUYỆN 3 TỶ LÍT BIA… VÀ VĂN HOÁ ĂN NHẬU CỦA NGƯỜI VIỆT ( Vương Đoàn ) ...............25 CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI 3 TỶ LÍA BIA, 5 TRIỆU CON CHÓ ( Nguyễn Trung ) ....................................26 MỘT ĐỜI DÂNG MẸ ( Hạnh Nguyễn ) .................................................................................................. 28 NHỊP CẦU BÁC ÁI PHANXICÔ VÀ QUỸ MẸ HẰNG CỨU GIÚP ...........................................................30 ĐỨC THÁNH CHA GỞI THÔNG ĐIỆP VIDEO CHO CÁC TÍN HỮU TIN LÀNH ĐANG TRONG TUẦN CẦU NGUYỆN CHO HIỆP NHẤT KITÔ GIÁO Hàng trăm các tín hữu Tin Lành thuộc phái Ngũ Tuần đang trong tuần lễ cầu nguyện cho hiệp nhất Kitô Giáo tại Hoa Kỳ ( 18 – 25 tháng 1 năm 2014 ) đã theo dõi một đoạn video do vị Giám Mục của họ là Tony Palmer ghi bằng iphone trong cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha Phanxicô hôm 14 tháng Giêng. Trong đoạn video này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gởi đến Đại Hội của họ những tâm tình mong muốn sự hiệp nhất Kitô Giáo của ngài. Qua người vợ Ý thuộc Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng Công Giáo, Tony Palmer đã trở thành gạch nối với Giáo Hội Công Giáo và đã từng làm việc với nhiều giới chức Công Giáo tại Rôma. Đặc biệt nhất là trong giai đoạn hoạt động tại Á Căn Đình, ông đã quen biết với Đức Tổng Giám Mục Bergolio từ năm 2006 và nhận Đức Tổng Giám Mục làm linh hướng. Theo lời ông trình bày trước Đại Hội, thì giữa tháng Mười Hai vừa qua, ông nhận được cú điện thoại từ Đức Phanxicô ngỏ ý muốn gặp ông. Trong cuộc tiếp kiến ngày 14 tháng 1 tại Vatican, ông cho Đức Phanxicô hay mình sắp sửa tham dự Đại Hội này, nếu Đức Phanxicô có mấy lời nhắn với Đại Hội thì hay biết mấy. Giám Mục Tony Palmer nói: "Tôi hỏi: Đức Thánh Cha có muốn tôi viết xuống không ? Ngài nói: sao anh không thu một đoạn video ? Tôi thực sự đã nghĩ đến chuyện này, tôi luôn có iPhone trong túi. Tôi đã nghĩ đến việc xin ngài điều này ... nhưng tôi không muốn lạm dụng tình bạn của chúng tôi." Trong đoạn video Đức Thánh Cha nói bằng tiếng Anh nhưng pha với tiếng Ý: “Xin lỗi anh chị em vì đôi khi tôi nói bằng tiếng Ý. Nhưng tôi nói chẳng bằng tiếng Anh hay tiếng Ý, nhưng bằng tiếng nói con tim. Đó là thứ ngôn ngữ đơn giản và chân thật hơn, và thứ ngôn ngữ này có từ vựng và văn phạm của nó. Một văn phạm đơn giản với hai luật: Yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu mến tha nhân vì họ là anh chị em của chúng ta. Với hai luật ấy, chúng ta có thể tiến về phiá trước. 2 CÙNG THÔNG TIN
  • 3.
    Tôi đang ởđây với người anh em mình, với Giám Mục anh em Tony Palmer. Chúng tôi đã là bạn cố tri trong nhiều năm. Ngài bảo với tôi về Đại Hội của anh chị em, về cuộc gặp gỡ của anh chị em. Và tôi thật hân hạnh được chào đón anh chị em với cả niềm vui và nỗi khát khao. Vui vì thấy anh chị em cùng tụ họp để tôn thờ Chúa Giêsu Kitô là Chúa duy nhất và cầu nguyện cùng Chúa Cha để đón nhận Thánh Thần. Điều này thật vui vì chúng ta có thể thấy Chúa đang hoạt động khắp cùng bờ cõi trái đất. Khát khao vì điều xảy ra là trong chỗ chòm xóm với nhau có những gia đình yêu mến nhau nhưng cũng có những gia đình không ưa nhau. Những gia đình tụ họp cùng nhau và những gia đình phân rẽ. Chúng ta thuộc loại, cho phép tôi được nói, là phân rẽ. Phân rẽ vì tội lỗi đã chia cách chúng ta, tội lỗi của tất cả chúng ta. Những hiểu lầm xuyên suốt trong lịch sử. Đó là hành trình dài của tội lỗi mà tất cả chúng ta đều dự phần. Trách ai bây giờ ? Tôi khát khao rằng sự phân rẽ này đến hồi kết thúc để chúng ta được hiệp nhất. Tôi khao khát sự chấp nhận lẫn nhau này. Thánh Kinh đã đề cập đến gia đình của anh em Giuse khi nạn đói xảy ra họ trẩy sang Ai Cập để mua cái gì đó để ăn. Họ có tiền nhưng họ không ăn tiền được. Nhưng ở đó họ gặp được cái còn quý hơn thực phẩm: đó là người anh em của mình. Tất cả chúng ta đều có tiền là văn hóa, là lịch sử của chúng ta. Chúng ta giầu có về văn hóa, tôn giáo và chúng ta có những truyền thống dị biệt. Nhưng chúng ta phải gặp gỡ người khác như những anh chị em của mình. Chúng ta phải khóc cùng nhau như Giuse đã từng khóc. Những giọt nước mắt này hiệp nhất chúng ta. Những giọt lệ của yêu thương. Tôi nói chuyện với quý vị như những anh chị em với nhau bằng những từ ngữ đơn giản. Với niềm vui và nỗi khát khao. Chúng ta hãy để nỗi khát khao được gặp gỡ và ôm lấy nhau tăng trưởng trong chúng ta vì điều này thúc đẩy chúng ta tìm kiếm nhau và chấp nhận nhau. Và cùng tôn thờ Chúa Giêsu Kitô là Chủ Tể của lịch sử, là Chúa và là Chúa duy nhất của Giáo Hội, chúng ta hãy cầu nguyện với Ngài cho sự hiệp nhất. Tôi chân thành cám ơn anh chị em đã lắng nghe tôi. Tôi chân thành cám ơn anh chị em đã cho tôi nói ngôn ngữ của con tim. Và tôi cũng xin anh chị em hãy cầu nguyện cho tôi vì tôi cần những lời cầu nguyện của anh chị em. Và chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta được hiệp nhất. Chúng ta là anh chị em với nhau. Chúng ta hãy tiến về phía trước, chúng ta là anh chị em với nhau và trong tinh thần chúng ta hãy ôm lấy nhau. Xin Chúa hoàn thành công việc Ngài đã bắt đầu. Cơ may này là một phép lạ, phép lạ của tình hiệp nhất đã bắt đầu. Một nhà văn Ý nổi tiếng là Manzoni, đã viết về điều này trong những tiểu thuyết của ông. Ông là một người đơn giản và ông đã viết: "Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một phép lạ Chúa đã bắt đầu mà lại không kết thúc nó một cách chính xác.’ Chúa sẽ hoàn thành phép lạ của sự hiệp nhất này." Thông điệp video của Đức Giáo Hoàng làm sững sờ những người hiện diện. Đức Thánh Cha sau đó đã yêu cầu các tham dự viên cầu nguyện theo ước nguyện của Chúa Kitô “Ut unum sint – Để Chúng Nên Một.” Cộng đồng Ngũ Tuần đáp lại bằng những lời cầu nguyện và gửi đến Đức Thánh Cha một video của họ được thực hiện trong dịp này. Đăng lại từ TÂM LINH VÀO ĐỜI, 28.2.2014 3
  • 4.
    TÔNG HUẤN CỦAĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ – Kỳ 11 "NIỀM VUI CỦA TIN MỪNG – EVANGELII GAUDIUM" CHƯƠNG IV – CHIỀU KÍCH XÃ HỘI CỦA VIỆC PHÚC ÂM HOÁ II. Việc hoà nhập xã hội của người nghèo 186. Niềm tin của chúng ta vào Đức Kitô, Đấng đã trở nên nghèo khó và luôn luôn gần gũi với những người nghèo khó và bị bỏ rơi là nền tảng căn bản cho sự quan tâm của chúng ta đối với sự phát triển toàn diện của những thành viên bị lãng quên nhất của xã hội. Trong sự kết hiệp với Thiên Chúa, chúng ta nghe được tiếng van nài 187. Mỗi một cá nhân Kitô hữu và mọi cộng đoàn đều được mời gọi để trở nên khí cụ của Thiên Chúa cho sự giải thoát và thăng tiến người nghèo, và làm cho họ trở thành một thành phần trọn vẹn nhất của xã hội. Điều này đòi hỏi rằng chúng ta phải ngoan ngoãn và để ý đến tiếng kêu khóc của người nghèo và đến giúp đỡ họ. Một cái lướt nhìn thuần tuý vào Kinh Thánh cũng đủ để làm cho chúng ta thấy được là Cha đầy ân sủng của chúng ta khao khát lắng nghe người nghèo thế nào: "Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng. Ta xuống giải thoát chúng...Ta sai ngươi..." ( Xh 3, 7 – 8, 10 ). Chúng ta cũng có thể thấy là Ngài quan tâm đến những nhu cầu của họ thế nào: "Bấy giờ con cái Ít-ra-en kêu lên Ðức Chúa, Ðức Chúa liền cho xuất hiện một vị cứu tinh" ( Tl 3, 15 ). Nếu chúng ta, những người là những phương tiện của Thiên Chúa lắng nghe người nghèo, bưng tai giả điếc làm ngơ trước tiếng kêu than này, thì chúng ta đang chống lại ý Cha và kế hoạch của Ngài; và người nghèo ấy "sẽ kêu lên Ðức Chúa tố cáo anh ( em ) và anh ( em ) sẽ mang tội" ( Đnl 15, 9 ). Một sự thiếu liên đới đối với những nhu cầu của họ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa: "Ai cay đắng trong lòng mà nguyền rủa con, thì Ðấng tạo thành ra nó sẽ nghe lời nó thỉnh nguyện" ( Hc 4, 6 ). Một câu hỏi cũ vẫn luôn luôn quay trở lại: "Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được ?" ( 1 Ga 3, 17 ). Chúng ta hãy hồi tưởng lại cũng cùng một cách thế mà Thánh Giacôbê tông đồ đã khẳng khái nói về tiếng kêu khóc của những người bị áp bức: "Các người đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những người thợ đi cắt lúa trong ruộng của các người. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các người, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa các đạo binh" ( 5, 4 ). 188. Giáo Hội đã nhận thức rằng nhu cầu để lưu tâm đến tiếng kêu than này tự nó được sinh ra bởi hành động giải thoát của ân sủng có ở trong mỗi người chúng ta, và do đó nó không phải là một vấn đề của sứ mạng chỉ dành cho một vài người: "Giáo Hội, được hướng dẫn bởi Tin Mừng của lòng thương xót và bởi tình yêu dành cho nhân loại, lắng nghe tiếng kêu khóc của công lý và có chủ ý đáp trả tiếng kêu ấy bằng tất cả sức mạnh của mình". Trong ngữ cảnh này chúng ta có thể hiểu được lệnh truyền của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ của Ngài: "Chính các con hãy cho họ ăn !" ( Mc 6, 37 ), có nghĩa là làm việc để loại bỏ các nguyên nhân có tính cấu trúc của sự nghèo và thăng tiến sự phát triển toàn diện cho người nghèo, cùng với những việc làm nhỏ thường nhật của sự liên đới trong việc đáp ứng những nhu cầu thật mà chúng ta gặp phải. Từ "liên đới" đã bị bào mòn đôi chút và đôi khi lại được hiểu cách nghèo nàn, nhưng nó ám chỉ đến một điều gì đó hơn cả một vài hành động ban phát rời rạc của sự rộng lượng. Nó ngầm định một sự sáng tạo về một tâm thức mới biết suy nghĩ trong bối cảnh cộng đồng và sự ưu tiên cho sự sống của tất cả so với việc sở hữu của cải bởi một số người. 189. Tình liên đới là một sự đáp trả đồng thời bởi những người nhận ra rằng chức năng xã hội của tài sản và đích điểm mang tính toàn cầu của mọi của cải là những thực tại phải đến trước tài sản riêng tư. Việc tư hữu của cải được biện minh bằng việc bảo vệ và làm gia tăng chúng hầu có thể phục 4 CÙNG ĐÓN NHẬN
  • 5.
    vụ tốt hơncho thiện ích chung; do đó, liên đới cần phải được sống như một quyết định để phục hồi người nghèo về những gì thuộc về họ. Những xác tín và thói quen của tình liên đới này, khi được thực hiện, sẽ mở ra một con đường dẫn đến những biến đổi có tính cấu trúc khác và làm cho chúng trở nên khả thể. Thay đổi cấu trúc mà không tạo nên những xác tín và thái độ mới sẽ chỉ đảm bảo rằng những cấu trúc tương tự sẽ hình thành, không sớm thì muộn, sẽ bị phá huỷ, chế tài và vô hiệu lực. 190. Đôi khi đó là vấn đề của việc nghe tiếng kêu khóc của toàn bộ các dân tộc, các dân tộc nghèo nhất của trái đất này, bởi vì "hoà bình chỉ được thiết lập không chỉ trên sự tôn trọng nhân quyền, nhưng là còn dựa trên sự tôn trọng quyền của các dân tộc". Thật đáng buồn, ngay cả nhân quyền còn có thể được sử dụng như là một sự biện minh cho một sự bảo vệ không chính đáng đối với quyền lợi cá nhân hoặc quyền lợi của những dân tộc giàu có hơn. Bằng việc tôn trọng quyền tự chủ và văn hoá của mọi quốc gia, chúng ta phải không bao giờ được phép quên rằng hành tinh này thuộc về tất cả nhân loại và nó được dựng nên cho tất cả nhân loại này; sự thật thuần tuý là một số người được sinh ra ở những nơi có ít các tài nguyên hơn hoặc kém phát triển hơn thì không biện minh cho sự thật là họ đang sống với ít nhân phẩm hơn. Cũng cần phải nhắc lại rằng "những người may mắn hơn nên khước từ một số quyền của họ cũng như là sử dụng các của cải của họ một cách rộng rãi hơn cho việc phục vụ những người khác". Nói một cách đúng đắn về quyền của chúng ta, chúng ta cần phải mở rộng cách nhìn và để nghe được tiếng kêu của các dân tộc khác và các vùng lãnh thổ khác hơn là nghe những con người của riêng đất nước chúng ta. Chúng ta cần phải lớn lên trong tình liên đới mà "vốn cho phép tất cả các dân tộc được quyền tạo nên vận mệnh của họ", và "mọi người được mời gọi để đạt tới sự hoàn thiện". 191. Ở tất cả mọi nơi và mọi hoàn cảnh, các Kitô hữu, cùng với sự trợ giúp của các mục tử của mình, đều được mời gọi để nghe tiếng kêu khóc của người nghèo. Điều này đã được thể hiện cách rõ ràng bởi Hội Đồng Giám Mục Brazil: "Chúng tôi mong muốn mang lấy niềm hy vọng và niềm vui mỗi ngày, những khó khăn và ưu sầu của người Brazil, đặc biệt của những ai đang sống ở các khu dân cư và ngoại ô – không có đất đai, không có nhà cửa, thiếu thực phẩm và chăm sóc sức khoẻ – đến sự xâm phạm quyền lợi của họ. Nhìn thấy sự nghèo khổ của họ, nghe thấy tiếng kêu khóc của họ và biết được nỗi thống khổ của họ, chúng tôi bị sốc bởi vì chúng tôi biết rằng không đủ thực phẩm cho hết mọi người và rằng nạn đói là hậu quả của sự phân bố nghèo nàn về của cải và thu nhập. Vấn để đã trở nên tệ hại hơn bởi lối sống đại đồng về sự lãng phí". ( Ảnh minh hoạ: khu nhà của người nghèo ở Brazil ) 192. Nhưng thậm chí chúng ta còn khao khát nhiều hơn cả điều này; ước mơ của chúng ta còn bay cao hơn. Chúng ta không chỉ đơn giản là nói về việc đảm bảo về của ăn nuôi dưỡng hoặc "của ăn xứng đáng" cho tất cả mọi người, nhưng còn về "phúc lợi và sự thịnh vượng chung hiện tại của họ". Điều này nghĩa là việc giáo dục, việc được hưởng quyền chăm sóc sức khoẻ, và trên hết là việc làm, bởi vì thông qua công việc lao động có tính tự do, sáng tạo, đóng góp và hỗ trợ qua lại mà con người diễn tả và gia tăng phẩm giá đời sống của họ. Một mức lương công bằng sẽ giúp họ có được sự tận hưởng đầy đủ tất cả những sự tốt đẹp khác vốn đã được định sẵn cho thiện ích chung. Trung thành với Tin Mừng, để chúng ta đừng chạy cách vô ích 193. Chúng ta mặc lấy nghĩa vụ nghe tiếng kêu khóc của người nghèo khi chúng ta bị đánh động sâu sắc bởi nỗi thống khổ của những người khác. Chúng ta hãy lắng nghe điều Lời Chúa dạy chúng ta về lòng thương xót, và để cho lời ấy vang vọng trong đời sống của Giáo Hội. Tin Mừng dạy rằng: "Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương" ( Mt 5, 7 ). Thánh Giacôbê Tông Đồ dạy rằng lòng thương xót của chúng ta dành cho những người khác sẽ biện hộ cho chúng ta vào ngày phán xét của Thiên Chúa: "Anh em hãy nói năng và hành động như những người sẽ bị xét xử theo luật tự do. Vì Thiên Chúa không thương xót khi xét xử kẻ không biết thương xót. Còn ai thương xót, thì chẳng quan tâm đến việc xét xử" ( Gc 2, 12 – 13 ). Ở đây Thánh Giacôbê trung thành với truyền thống tốt đẹp nhất đời sống tinh thần của người Do Thái thời hậu lưu đày, bổ sung một giá trị hữu ích đặc biệt cho lòng thương xót: "Đái tội lập công, bằng cách làm việc nghĩa, là tỏ lòng từ bi đối với người nghèo, may ra thời thịnh vượng của ngài sẽ được kéo dài thêm chăng" ( Đn 4, 24 ). Áng văn khôn ngoan cũng xem việc bố thí là một việc làm thi thố lòng thương xót đối với những người đang cần: "Việc bố thí cứu cho khỏi chết và tẩy sạch mọi tội lỗi" ( Tb 12, 5
  • 6.
    9 ). Ýtưởng này được diễn tả thậm chí giàu hình ảnh hơn ở sách Huấn Ca: "Nước dập tắt lửa hồng, bố thí đền bù tội lỗi" ( Hc 3, 30 ). Cùng một cách tổng hợp này xuất hiện trong Tân Ước: "Anh em hãy yêu thương nhau nồng nàn, vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi" ( 1 Pr 4, 8 ). Chân lý này ảnh hưởng cách mạnh mẽ trên tư tưởng các Giáo Phụ của Hội Thánh và giúp tạo nên một sự chống lại có tính tiên tri, phản văn hoá đối với chủ nghĩa khoái lạc của dân ngoại. Chúng ta có thể nhắc đến một ví dụ: "Nếu chúng ta đang ở trong mối nguy của đám cháy, thì chúng ta chắc chắn sẽ lấy nước để dập tắt đám cháy... cùng một cách thế, nếu một tia lửa của tội bùng phát trong đám rơm của chúng ta, và chúng ta bị bối rối vì điều ấy, bất cứ khi nào chúng ta có cơ hội để thực thi công việc của lòng thương xót, chúng ta hãy vui lên, như thể đó là một suối nguồn mở ra trước đám cháy để đám cháy được dập tắt". 194. Thông điệp này quá rõ ràng và trực tiếp, quá đơn giản và mạch lạc, chớ gì không một diễn giải nào của Giáo Hội có quyền để tương đối hoá nó. Suy tư của Giáo Hội về những bản văn này cần phải không được che đậy hoặc làm yếu đi sức mạnh của chúng, nhưng là thôi thúc chúng ta chấp nhận những huấn quyền của chúng bằng sự can đảm và lòng nhiệt thành. Tại sao lại làm phức tạp một việc vốn quá đơn giản ? Những công cụ mang tính khái niệm tồn tại là để làm bật lên mối liên hệ với các thực tại mà nó muốn giải thích, chứ không phải là làm cho chúng ta xa cách chúng. Đây là trường hợp đặc biệt với những lời dạy của Kinh Thánh vốn mời gọi chúng ta quá mạnh mẽ hướng tới tình huynh đệ, tới sự phục vụ khiêm tốn và rộng lượng, tới công lý và lòng thương xót hướng đến người nghèo. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta cách nhìn này dành cho những người khác bằng cả lời nói và hành động của Ngài. Thế thì tại sao phải che đậy những điều đã quá rõ ràng ? Chúng ta không nên đơn giản quan tâm đến việc rơi vào sai lạc về mặt tín lý, nhưng là luôn trung thành với con đường đầy ánh sáng và sự khôn ngoan này. Bởi vì "những người bảo vệ sự chính thống đôi khi bị tố cáo về sự thụ động, sự đặc quyền, hoặc mang tội đồng loã khi xem xét những tình huống bất công không thể chấp nhận nổi và các thể chế chính trị vốn dung dưỡng những tình huống ấy". 195. Khi Thánh Phaolô tiếp cận các Tông Đồ ở Giêrusalem để biện phân liệu là Ngài có đang "ngược xuôi, và đã ngược xuôi vô ích" ( Gl 2, 2 ), tiêu chuẩn chính của sự xác thực mà các tông đồ trình bày là Ngài không nên quên người nghèo ( x. Gl 2, 10 ). Nguyên tắc quan trọng này, nguyên tắc mà các cộng đoàn của Thánh Phaolô không được rơi vào lối sống tập trung vào bản thân của những người dân ngoại, vẫn còn đúng cho đến tận hôm nay, khi mà một trào lưu quy ngã mới theo chủ nghĩa dân ngoại đang lớn mạnh. Có lẽ chúng ta không phải lúc nào cũng có thể phản chiếu cách đầy đủ vẻ đẹp của Tin Mừng, song có một dấu chỉ mà chúng ta không giờ được phép thiếu: chọn lựa dành cho những người bé mọn nhất, những con người mà xã hội loại bỏ. 196. Đôi khi chúng ta cũng thể hiện sự cứng lòng và cứng đầu; chúng ta xao nhãng, ham vui và bị cuốn phăng đi bởi những khả năng vô giới hạn của sự hưởng thụ và sự ham vui do xã hội đương đại mang lại. Điều này dẫn đến một loại tha hoá ở mọi cấp độ, bởi vì "một xã hội trở nên tha hoá khi các hình thức về tổ chức, sản phẩm và tiêu thụ mang tính xã hội làm cho xã hội ấy trở nên khó khăn hơn để trao ban quà tặng của bản thân và để thiết lập tình liên đới giữa con người với nhau". Vị trí đặc biệt của người nghèo trong Dân Chúa 197. Trái tim của Thiên Chúa có một chỗ đặc biệt cho người nghèo, quá đặc biệt đến nỗi chính Ngài "trở nên nghèo" ( 2 Cr 8, 9 ). Toàn bộ Lịch Sử Cứu Độ của chúng ta được đánh dấu bởi sự hiện diện của người nghèo. Ơn Cứu Độ đến với chúng ta từ tiếng "vâng" cất lên từ môi miệng của một cô thôn nữ ở một làng nhỏ ngay ngoại biên của một đế chế khổng lồ. Đấng Cứu Độ đã được sinh ra trong một máng cỏ, giữa các thú vật, giống như các đứa trẻ khác của các gia đình nghèo; Ngài cũng được dâng lên Đền Thờ cùng với một cặp bồ câu non, của lễ được thực hiện bởi những người không có khả năng mua một con cừu ( x. Lc 2, 24; Lv 5, 7 ); Ngài được nuôi dưỡng trong một gia đình lao động bình thường và làm việc bằng chính đôi bàn tay của Ngài để có của ăn. Khi Ngài bắt đầu rao giảng về Vương Quốc Thiên Chúa, đám đông những người bị bóc lột đi theo Ngài, minh hoạ lời Ngài nói: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn" ( Lc 4, 18 ). Ngài đoan chắc rằng những ai bị đè nặng bởi đau buồn và bị nghiền nát bởi sự nghèo nàn rằng Thiên Chúa có một nơi đặc biệt dành cho họ trong trái tim của Ngài: "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó,vì Nước Thiên Chúa là của anh em" ( Lc 6, 20 ); 6
  • 7.
    Ngài tự biếnmình trở thành một trọng số họ: "Ta đói, các ngươi đã cho ăn", và Ngài dạy họ rằng lòng thương xót dành cho tất cả những người này là chìa khoá để vào thiên đàng ( x. Mt 25, 35 tt ). 198. Đối với Giáo Hội, chọn lựa dành cho người nghèo thì chủ yếu là một lựa mang tính thần học hơn là một chọn lựa mang tính văn hoá, xã hội học, chính trị, hay triết học. Thiên Chúa cho người nghèo thấy "lòng thương xót đầu tiên của Ngài". Sự ưu tiên thánh này có những hiệu quả đối với đời sống Đức Tin của tất cả các Kitô hữu, bởi vì chúng ta được mời gọi để có "tâm tình... như chính Đức Kitô Giêsu" ( Pl 2, 5 ). Được thôi thúc bởi điều này, Giáo Hội đã thực hiện một chọn lựa dành cho người nghèo được hiểu như là một "hình thức đặc biệt của sự ưu tiên trong việc thi hành bác ái Kitô Giáo, mà toàn thể truyền thống của Giáo Hội làm chứng". Chọn lựa này – như Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI đã dạy – "là một sự tiềm ẩn trong niềm tin Kitô của chúng ta vào một Thiên Chúa Đấng trở nên nghèo nàn vì chúng ta, để làm cho chúng ta trở nên giàu có bằng sự nghèo khó của Ngài". Đây là lý do vì sao tôi muốn một Giáo Hội nghèo và vì người nghèo. Họ có rất nhiều điều để dạy chúng ta. Họ không chỉ chia sẻ Cảm Thức Đức Tin Sensus Fidei, nhưng cả trong những khốn khó mà họ biết Đức Kitô chịu đau khổ. Chúng ta cần phải để cho bản thân mình được Phúc Âm Hoá bởi họ. Việc tân Phúc Âm Hoá là một lời mời gọi để nhận biết năng quyền cứu độ đang hoạt động nơi chính cuộc sống của họ và để đặt họ vào ngay trung tâm của con đường lữ hành của Giáo Hội. Chúng ta được mời gọi để tìm gặp Đức Kitô nơi họ, và lên tiếng bênh vực họ, nhưng cũng đồng thời là bạn hữu của họ, lắng nghe họ, nói thay cho họ và ôm lấy sự khôn ngoan nhiệm mầu mà Thiên Chúa muốn chia sẻ với chúng ta ngang qua họ. 199. Sự cam kết dấn thân của chúng ta không chỉ hệ tại ở nơi các hoạt động hoặc các chương trình thăng tiến và hỗ trợ; điều mà Chúa Thánh Thần thôi thúc không phải là sự hoạt động cách thiếu kiểm soát, nhưng trên hết tất cả là một sự chú tâm đến những người khác "trong một cảm thức chắc chắn là một với chính bản thân chúng ta". Sự chú tâm đầy yêu thương này là khởi đầu của một sự quan tâm thật sự dành cho con người họ vốn thôi thúc tôi một cách quyết liệt để tìm kiếm sự tốt lành của họ. Điều này đòi hỏi việc trân trọng người nghèo trong sự tốt lành của họ, trong kinh nghiệm cuộc sống của họ, trong văn hoá của họ, và trong các cách thế sống Đức Tin của họ. Tình yêu thực sự thì luôn luôn chiêm ngắm, và cho phép chúng ta phục vụ người khác không phải vì sự cần thiết hay sự khoe mẽ, nhưng hơn thế nữa là vì anh hay chị đẹp hơn và vượt trên tất cả vẻ bề ngoài thuần tuý: "Tình yêu mà ngang qua đó chúng ta thấy người khác hài lòng dẫn chúng ta đến việc trao ban cho người ấy một điều gì đó cách nhưng-không". Người nghèo, khi được yêu, "thì được tôn trọng như giá trị lớn lao", và đây là điều tạo nên sự chọn lựa đích thực dành cho người nghèo khác hẳn với bất kỳ một chủ thuyết nào khác, với bất kỳ một nỗ lực nào để khai thác người nghèo vì tư lợi hoặc lợi ích chính trị. Chỉ ở nơi nền tảng căn bản của sự gần gũi thực sự và thân ái này mà chúng ta mới có thể thực sự đồng hành với người nghèo trên con đường giải phóng của họ. Chỉ điều này mới đảm bảo rằng "ở nơi mọi cộng đồng Kitô hữu người nghèo được cảm thấy như nhà mình. Lẽ nào cách tiếp cận này lại không là một cách trình bày tuyệt vời và hữu hiệu nhất về Tin Mừng Nước Trời ?" Không có sự chọn lựa mang tính ưu tiên dành cho người nghèo, "thì việc loan báo Tin Mừng, tự bản chất là hình thức cao nhất của đức ái, sẽ có nguy cơ bị hiểu lầm hoặc nhận chìm bởi một đại dương các ngôn từ mà hằng ngày cũng nhận chìm chúng ta bởi các phương tiện truyền thông đại chúng của xã hội hôm nay". 200. Bởi vì Tông Huấn này sẽ được gửi đến các thành viên của Giáo Hội Công Giáo, nên tôi muốn nói, bằng cả sự hối tiếc, rằng sự phân biệt tồi tệ nhất mà người nghèo đang phải chịu đựng là một sự thiếu quan tâm chăm sóc về mặt thiêng liêng. Đại đa số người nghèo có một sự mở lòng đặc biệt đối với Đức Tin; họ cần Thiên Chúa và chúng ta phải không được thất bại trong việc trao ban cho họ tình bằng hữu của Ngài, phúc lành của Ngài, lời của Ngài, và việc cử hành các bí tích và một hành trình phát triển và trưởng thành trong Đức Tin. Chọn lựa mang tính ưu tiên của chúng ta dành cho người nghèo phải chính thức biến đổi thành một sự quan tâm đặc quyền và tôn giáo. 201. Không ai được phép nói rằng họ không thể gần gũi với người nghèo bởi vì lối sống của họ đòi hỏi nhiều sự chú tâm hơn những lãnh vực khác. Đây là một lời biện hộ thường được nghe trong các nhóm 7
  • 8.
    học thuật, kinhdoanh hoặc chuyên gia, và ngay cả trong Giáo Hội. Trong khi thật sự là ơn gọi và sứ mạng thiết yếu của người tín hữu là nỗ lực để đạt tới điều này là các thực tại trần gian và mọi hoạt động của con người đều được biến đổi bởi Tin Mừng, thì không một ai trong chúng ta được nghĩ rằng chúng ta là một ngoại lệ trong việc quan tâm đến người nghèo và đến công bằng xã hội: "Sự hoán cải thiêng liêng, sự mãnh liệt của tình yêu dành cho Thiên Chúa và anh em đồng loại, lòng nhiệt thành dành cho công lý và hoà bình, ý nghĩa Tin Mừng về người nghèo và về sự nghèo, là việc đòi hỏi hết tất cả mọi người". Tôi e rằng những lời này cũng chỉ gợi lên để bình luận hoặc tranh luận mà không có một hiệu quả thực tế nào. Điều đã được nói, tôi tín thác tất cả ở nơi sự cởi mở và sự sẵn sàng của tất cả mọi Kitô hữu, và tôi mời gọi các bạn tìm kiếm, trong tư cách là một cộng đồng, các cách thế sáng tạo về việc đón nhận lời mời gọi đổi mới này. ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ, bản dịch của JOSEPH C. PHẠM ( còn tiếp nhiều kỳ ) THỜI TÔN THỜ CON BÒ VÀNG Sau khi trận động đất tại Nhật Bản hồi tháng 3 năm 2011 vừa qua đi, lực lượng cứu hộ bắt đầu các hoạt động tìm kiếm cứu nạn. Và khi họ tiếp cận đống đổ nát từ ngôi nhà của một phụ nữ trẻ, họ thấy thi thể của cô qua các vết nứt. Nhưng tư thế của cô có gì đó rất lạ, tựa như một người đang quỳ gối cầu nguyện; cơ thể nghiêng về phía trước, và hai tay cô đang đỡ lấy một vật gì đó. Ngôi nhà sập lên lưng và đầu cô. Đội trưởng đội cứu hộ đã gặp rất nhiều khó khăn khi anh luồn tay mình qua một khe hẹp trên tường để với tới thi thể nạn nhân. Anh hy vọng rằng, người phụ nữ này có thể vẫn còn sống. Thế nhưng cơ thể lạnh và cứng đờ cho thấy cô đã chết. Cả đội rời đi và tiếp tục cuộc tìm kiếm ở tòa nhà đổ sập bên cạnh. Không hiểu sao, viên đội trưởng cảm thấy như bị một lực hút kéo trở lại ngôi nhà của người phụ nữ. Một lần nữa, anh quỳ xuống và luồn tay qua khe hẹp để tìm kiếm ở khoảng không nhỏ bên dưới xác chết. Bỗng nhiên, anh hét lên sung sướng: "Một đứa bé ! Có một đứa bé !" Cả đội đã cùng nhau làm việc; họ cẩn thận dỡ bỏ những cái cọc trong đống đổ nát xung quanh người phụ nữ. Có một cậu bé 3 tháng tuổi được bọc trong một chiếc chăn hoa bên dưới thi thể của người mẹ. Rõ ràng, người phụ nữ đã hy sinh để cứu con mình. Khi ngôi nhà sập, cô đã lấy thân mình làm tấm chắn bảo vệ con trai. Cậu bé vẫn đang ngủ một cách yên bình khi đội cứu hộ nhấc em lên. Bác sĩ đã nhanh chóng kiểm tra sức khỏe của cậu bé. Sau khi mở tấm chăn, ông nhìn thấy một điện thoại di động bên trong. Có một tin nhắn trên màn hình, viết: "Nếu con có thể sống sót, con phải nhớ rằng mẹ rất yêu con". Chiếc điện thoại di động đã được truyền từ tay người này sang tay người khác. Tất cả những ai đã đọc mẩu tin đều không ngăn nổi dòng nước mắt. Tình mẫu tử một lần nữa lại sáng chói trên bầu trời ảm đạm thế thái nhân tình. Tình mẹ phản ảnh phần nào lòng thương yêu vô vàn của Thiên Chúa với con người, như Ngôn Sứ Isaia đã khéo ví von: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ? Cho dù nó có quên đi nữa thì Ta, Ta sẽ cũng chẳng quên ngươi bao giờ" ( Is 49, 15 ). Con bò vàng Hầu hết các Cty, xí nghiệp và nhà của người ngoài Kitô giáo, đều có bàn thờ Thần Tài, Ông Địa ở ngay phòng khách. Theo truyền thuyết, Thần Tài chính là Triệu Công Minh, người đời nhà Tần. Ông lánh đời đi tu tại núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, ông được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái, coi việc đuổi trừ ôn dịch, cứu bệnh trừ tà. Hơn nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông thì được giúp đỡ. Người buôn bán thì cúng cầu ông để được phát đạt may mắn. 8 CÙNG SUY NIỆM
  • 9.
    Hiện tượng thờbái vật không chỉ thờ Thần Tài, mà còn thờ tất cả những gì họ cho là có thể đem lại danh lợi, thỏa mãn thị hiếu, cũng như tham vọng. Đó chính là hình thái thờ con bò vàng trong Cựu Ước ( Xh 32, 1 – 35 ). Con bò vàng hôm nay có thể là tiền bạc, của cải, chức tước, bổng lộc, quyền hành, thế lực. Con bò vàng còn là những phương tiện vật chất, nhà cao cửa rộng, tiện nghi, nội thất sang trọng, áo quần diêm dúa thời trang, phương tiện nghe nhìn hiện đại, vật dụng cá nhân cao cấp, xe cộ sa hoa đắt tiền… Dĩ nhiên, khi tôn thờ con bò vàng, người ta dứt khoát chối bỏ Thiên Chúa, hiện diện trong đời. Hoặc chỉ thờ lạy Chúa trên môi mép, còn lòng trí thì quy hướng, tôn sùng con bò vàng. "Dân này thờ kính ta bằng môi bằng miệng, nhưng tâm hồn chúng thì xa ta" ( Mc 7, 6 ). Tín thác Khi hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa Quan Phòng, đặt hết vào Ngài lòng trông cậy, niềm hy vọng, mới có thể thoát khỏi ách nô lệ con bò vàng, thoát khỏi những đam mê vật chất, cám dỗ thực dụng, tham sân si u mê mù quáng. “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia Người sẽ thêm cho” ( Mt 6, 33 ). Tìm kiếm Nước Thiên Chúa là đón nhận những điều mà thiên hạ vẫn cho là điên dại, dở hơi hay ngu đần, lo tránh xa tựa dịch bệnh, như tinh thần nghèo khó, chịu đau khổ, hiền lành, đói khát sự công chính, biết xót thương yêu người, tâm hồn trong sạch, hòa nhã, chịu bắt bớ vì sự công chính. Tất cả đã được gói ghém đầy đủ trong Bát Phúc, Hiến Chương Nước Trời. Tìm đức công chính của Thiên Chúa là tuân theo, vâng phục Thánh Ý Chúa, trọn vẹn bổn phận, trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Tu thân, tích đức cho cuộc đời sau viên mãn. Tóm lại, "Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó sẽ ghét người này, và yêu mến người kia, hoặc nó chuộng chủ này, và khinh chủ nọ.” ( Mt 6, 24 ). Đức Giêsu không chấp nhận sự chọn lựa cố tình nhập nhằng giữa Thiên Chúa hằng hữu và thế gian phù phiếm hư ảo. "Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi ! Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta" ( Kh 3, 16 ). “Theo Thầy bấy lâu nay, con có thiếu gì không ?” – “Thưa Thầy không”. Con bỏ tất cả, nhưng theo Chúa Quan Phòng, con còn lo gì ? ( Đường Hy Vọng, số 70 ). Lạy Chúa Giêsu, Chúa dạy chúng con đường ngay nẻo chính để được hạnh phúc bên Chúa. Nhưng chúng con còn nặng lòng với thế gian, còn nuối tiếc củ hành, củ tỏi như dân Do Thái xưa nuối tiếc kiếp nô lệ Ai Cập. Xin Chúa ban cho chúng con ơn sủng ăn năn, sám hối, cũng như sáng suốt và sức mạnh chiến thắng bản thân, thế gian và ma quỷ, để trở thành chiên ngoan của Chúa. Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ giúp chúng con biết sống khiêm nhường, khó nghèo và trung thành vâng theo Thánh Ý Chúa trọn đời. Amen. AM. TRẦN BÌNH AN “HÃY TÌM NƯỚC THIÊN CHÚA VÀ ĐỨC CÔNG CHÍNH CỦA NGƯỜI” Trong hai Chúa Nhật trước, các bài Tin Mừng nói về cách hành xử của Kitô hữu đối với những người thân cận. Bài Tin Mừng hôm nay ( Mt 6, 24 – 34 ) dạy chúng ta về mối tương quan đối với những giá trị và thực tại vật chất trần gian. 1. “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” ( c. 24 ) Trước hết, bài Tin Mừng bắt đầu bằng một giáo huấn quan trọng của Chúa Giêsu: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” ( c. 24 ). Làm tôi ( douleuein ) là phục vụ với một lòng trung thành tuyệt đối, chấp nhận bị chủ sai khiến và quyết định thế nào mặc lòng. Người nô lệ không có quyền gì trên cuộc đời mình. Là vật sở hữu của chủ, anh 9
  • 10.
    ta phải chịuchủ sai khiến và phải tuyệt đối tùng phục theo những quyết định của chủ. Vì thế, không ai có thể làm tôi hai chủ, nhất là khi hai chủ ấy hoàn toàn trái ngược nhau và cả hai đều là những người rất đòi hỏi. Nhưng sự “làm tôi” mà Đức Giêsu nói đến ở đây còn đi xa hơn cách hiểu thông thường rất nhiều. Khi đưa ra hai cặp đối lập yêu / ghét và gắn bó / khinh dể, Người muốn cho thấy sự “làm tôi” ở đây phải là sự dấn thân phục vụ hết mình, trọn vẹn, chân thành, với tất cả lòng yêu mến. Theo nghĩa này, người ta càng không thể làm tôi hai chủ được. “Vì anh ta hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ”. Cuối câu 24, Đức Giêsu nêu rõ danh tánh hai ông chủ: Thiên Chúa và Tiền Của. Người khẳng định một cách rõ ràng và mạnh mẽ: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được”. Hạn từ “Tiền Của” ở đây có thể được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau. Một số người hiểu đó là tiền bạc theo nghĩa thông thường. Một số khác hiểu đó là những tài sản vật chất khác nhau mà người ta kiếm chác được, nhất là bằng những hoạt động bất chính. Nhiều người hiểu ( một cách hữu lý ) rằng “Tiền Của” ở đây là tất cả những gì người ta tìm kiếm được và sở hữu được, ngay cả quyền lực, công danh, sự nghiệp, tài năng…, nói tóm lại là tất cả những giá trị và thực tại trần thế, không loại trừ đó là những thực tại tốt lành. Tất cả những thứ đó đều có thể được người ta sùng bái quá đáng, và đều có thể trở thành đối thủ cạnh tranh không khoan nhượng với Thiên Chúa trong tâm hồn và cuộc sống của người ta. Chúa Giêsu không lên án “Tiền Của”, nhưng Người không chấp nhận những ai để cho thói tôn sùng “Tiền Của” làm chủ mình. Người nặng lời phê phán những ai yêu mến và gắn bó với những thực tại trần gian mà họ làm ra và sở hữu. Vấn đề không phải là không có “Tiền Của”, mà là không được ưu tiên nó như là thực tại quan trọng nhất và có sức chi phối khao khát, suy nghĩ, chọn lựa, quyết định và hành xử của chúng ta. Thiên Chúa phải chiếm vị trí số một, và các đồ đệ của Đức Giêsu phải không được từ nan bất cứ điều gì Thiên Chúa đòi hỏi. Họ phải làm tôi Thiên Chúa trong tình yêu và trong sự gắn bó sâu xa với Ngài. Chính trong thái độ tâm linh căn bản đó, người đồ đệ sẽ có một cách hành xử đúng đắn đối với những thực tại và giá trị trần thế, ngay cả những thực tại và giá trị cốt thiết để hiện hữu và sống còn, như của ăn và áo mặc chẳng hạn. 2. Đừng lo lắng khi phải đối diện với những vấn đề của cuộc sống ( cc. 25-32 ) Những của cải và giá trị trần gian có thể chiếm trọn trái tim, chi phối hành động và biến thành một thứ thước đo giá trị của con người. Con người bị các thực tại phàm trần tác động và điều kiện hoá, vì ai cũng phải đối diện với những nhu cầu rất căn bản của cuộc sống như cái ăn, cái mặc… Các thực tại vật chất là rất cần thiết để con người có thể sống được: chúng ta không thể chỉ sống bằng suy tưởng hay bằng ý chí và không cần bất cứ thứ gì khác. Để sống, người ta buộc phải ăn, phải uống, phải mặc; và chính trong sự tuỳ thuộc vào các thực tại vật chất như thế mà mối tương quan của người ta với của cải trần gian được thực hiện. Không ai có thể tránh né được mối tương quan này. Vấn đề là chúng ta phải sống sự tuỳ thuộc đó như thế nào. Chúa Giêsu dạy: "Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao ? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao ? Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay ? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì ? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây ? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó” ( cc. 25-32 ). Với một loạt những quan sát và suy tư, Đức Giêsu nhắc chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa biết rất rõ chúng ta và Người luôn sẵn sàng bảo đảm cho cuộc sống của chúng ta. Người đã ban cho chúng ta món quà lớn lao hơn tất cả: thân thể và mạng sống, lẽ nào Người lại chẳng sẵn sàng ban cho chúng ta những món quà nhỏ hơn, tức là những phương tiện giúp chúng ta gìn giữ quà tặng lớn lao kia ? Chim trời vẫn tìm được của ăn, cho dù không gieo không gặt. Đoá huệ ngoài đồng vẫn được trang điểm diễm 10
  • 11.
    lệ, cho dùkhông làm lụng canh cửi. Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá, luôn lo liệu mọi sự cho chúng. Há Người lại chẳng làm như thế cho con người, vốn là những con cái mà Người quý hơn tất cả và hằng âu yếm lấy tình phụ tử mà chăm nom gìn giữ ? Và cuối cùng là một suy tư đơn giản: Hỏi có ai trong anh em có thể nhờ lo lắng mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang không ? ( c. 27 ). Chúng ta được mời gọi đón nhận những thực tại căn bản, ví dụ như độ dài của cuộc sống trần gian của mỗi người, như Thiên Chúa đã ấn định. Nhưng Đức Giêsu không có ý nói rằng chúng ta đừng làm lụng canh cửi, đừng gieo gặt trồng cấy, đừng để ý lưu tâm hay đừng xây dựng những dự phóng tương lai… Người muốn nói rằng tất cả những điều đó phải được thực hiện nhưng không phải là với một sự lo lắng bận tâm thái quá và mù quáng, mà là với lòng tin tưởng vào Thiên Chúa là Cha chúng ta. Thiên Chúa đã ban cho con người bàn tay và khối óc, tức là Người đã lo liệu trước để chúng ta có thể xây dựng cuộc sống cho phù hợp với phẩm giá cao cả của mình. Đức Giêsu biết rõ sự vận hành bình thường của cuộc đời. Người không phủ nhận rằng đôi khi chim trời và con người vẫn phải chết vì đói. Nhưng ngay cả trong những trường hợp cực đoan đó, sự lo lắng thái quá cũng không hề giúp chúng ta tiến bước bình an và chắc chắn trong cuộc sống trần gian này. Trái lại, trong những trường hợp cực đoan bi đát đó, chúng ta càng có lý do để trông cậy và hy vọng nơi Thiên Chúa, không chỉ hy vọng về những thực tại trần gian mà thôi, mà nhất là hy vọng về những thực tại Nước Trời, là nơi duy nhất có cuộc sống viên mãn thật sự. Sự “không lo lắng” của chúng ta, như vậy, theo lời của Đức Giêsu, không đặt cơ sở trên một sự lạc quan ngây thơ hay trên khả năng làm chủ cuộc sống của chúng ta ( khả năng ấy quá bé nhỏ ). Sự “không lo lắng” đó được đặt cơ sở trên sự thực vững chắc, rằng Thiên Chúa quyền năng và thông biết mọi sự, rằng Thiên Chúa luôn luôn nhân lành yêu thương ta, rằng Thiên Chúa luôn luôn trung thành với lời sáng tạo của Người. 3. Chọn lựa căn bản của cuộc sống: Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người ( cc. 33-34 ) Sau khi đã dạy chúng ta đừng lo lắng, Đức Giêsu nói cho chúng ta biết đâu là thực tại phải chi phối ước muốn của chúng ta, lấp đầy con tim của chúng ta, xác định thước đo giá trị của chúng ta và đòi hỏi những hoạt động của chúng ta. Người nói: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” ( cc. 33-34 ) Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người. Đó là những giá trị cao cả nhất và sâu xa nhất; và chúng ta được mời gọi hoàn toàn quy hướng tất cả con người của mình về những thực tại đó. Nước Thiên Chúa là chính Thiên Chúa đang tỏ mình hoàn toàn cho chúng ta trong tư cách là Đức Chúa quyền năng và tràn đầy ân nghĩa, Đấng luôn đón nhận và yêu thương che chở chúng ta trong sự hiệp thông vào sự sống của chính Người. Tất cả lòng tin của chúng ta, tất cả niềm hy vọng của chúng ta và tất cả lòng yêu mến của chúng ta đều phải được quy hướng về Người trong một ý hướng hoàn toàn thuần khiết. Đó là tìm kiếm Nước Thiên Chúa. Sự công chính của Thiên Chúa là sự công chính đến từ chính Thiên Chúa. Đó là cách hành xử của người công chính, phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa và được Đức Giêsu nói rõ trong bài giảng trên núi. Tất cả nỗ lực của chúng ta và tất cả sức mạnh của chúng ta, đều phải được huy động để thực hiện sự công chính ấy. Nếu chúng ta trước hết chỉ tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người như thế, thì những điều khác sẽ được ban cho chúng ta như những phương tiện để chúng ta thực hiện chọn lựa căn bản đó của cuộc đời. Ý nghĩa của sự hiện hữu của chúng ta không tuỳ thuộc vào những mối bận tâm về cuộc sống hiện tại này, mà là ở sự hoàn toàn quy chiếu của chúng ta, ngay trong cuộc sống thế tạm hôm nay, vào Thiên Chúa, và ở sự chuẩn bị của chúng ta, nhờ những hành động công chính, cho cuộc hiệp thông viên mãn vĩnh cửu với chính Thiên Chúa. Đó mới là tương lai đích thật mà chúng ta phải hướng tới, chứ không phải là cái ngày mai trong cuộc đời thế tạm này. Vì thật ra, cái ngày mai thế tạm vẫn sẽ là cái ngày mai vất vả: “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” ( c. 34 ). Nhưng sự vất vả trong ngày mai thế tạm sẽ rất khác nhau. Đó sẽ là sự vất vả nhọc nhằn và cay đắng, nếu chúng ta vất vả vì những lo lắng cho cuộc sống thế tạm và vật chất này. Trái lại, đó sẽ là vất vả phúc lạc và bình an, nếu chúng ta tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, tức là nếu chúng ta hoàn toàn quy hướng về Thiên Chúa và sống theo những mối phúc mà Chúa Giêsu đã công bố trong bài giảng trên núi ( 5, 3 – 12 ). Tất cả chúng ta đều chịu tác động của các thực tại thế tạm. Lời Chúa hôm nay nhắc cho chúng ta rằng: ngay trong mối tương quan của chúng ta với những thực tại cần thiết cho cuộc sống thế tạm, Thiên Chúa vẫn phải chiếm vị trí mang tính quyết định. Ta được mời gọi đừng để cho những lo toan về các nhu cầu ( cho dù là khẩn thiết nhất ) của cuộc sống, hoàn toàn chi phối tâm trí chúng ta, đến nỗi chúng ta đánh mất sự tin tưởng vào Thiên Chúa là Cha chúng ta. Quan trọng hơn tất cả những bận tâm 11
  • 12.
    lớn nhỏ củacuộc sống, là lòng tin và niềm xác tín rằng: “Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó” ( c. 32 ). Nếu lòng tin tưởng vững chắc vào Thiên Chúa và xác tín mạnh mẽ về sự nhân lành vô biên của Người, làm người bạn đồng hành với những mối bận tâm về cuộc sống vật chất của chúng ta, thì chắc chắn tâm hồn chúng ta sẽ được bình an, và chúng ta sẽ đối diện với cuộc sống ( có khi rất khắc nghiệt ) này với một sự tự do nội tâm đích thực. “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người” ( Mt 5, 33 ). Lm. Giuse NGUYỄN THỂ HIỆN, DCCT THIÊN CHÚA HAY THẦN TÀI ? Trong bài Phúc Âm Mt 6, 24 – 34 mà chúng ta nghe đọc trong Chúa Nhật 8 Thường Niên năm A, và trong dịp Tết Nguyên Đán, Đức Giêsu dùng ba ví dụ rất nên thơ gợi cảm để chỉ cho chúng ta thấy một sự lo lắng thái quá về đời sống vật chất là vô lý nếu như chúng ta còn tin có Thiên Chúa là Cha chúng ta. Ví dụ thứ nhất: chim trời không gieo, không gặt nhưng chúng vẫn được Cha trên Trời nuôi sống. Ví dụ thứ hai: cuộc đời của mỗi người chúng ta có một quảng thời gian nhất định sống ở trần gian này, – điều đó chúng ta không thay đổi được, dù có lo lắng cũng chẳng kéo dài đời mình thêm một vài gang tấc ! Và cuối cùng: hoa huệ ngoài đồng không làm lụng, không kéo sợi, thế mà dù vua Salômon vinh hoa tột bậc cũng không mặc đẹp bằng nó. Kết luận của ba ví dụ là: nếu như Thiên Chúa quan tâm nuôi sống chim trời và ban áo mặc cho hoa đồng cỏ nội, thì lẽ nào Chúa lại không lo lắng cho con người hơn gấp bội sao ? Kết thúc bài giảng, Chúa Giêsu tuyên bố: "Vậy đừng quá lo lắng về ngày mai. Ngày mai cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày đó". Chúng ta đồng ý rằng lời Chúa Giêsu dạy chúng ta hôm nay thật là hấp dẫn. Có gì đáng mong ước hơn là có Cha Trên Trời lo lắng cho ta ? Tuy nhiên, càng suy nghĩ và đi sâu vào thực tế, chúng ta càng thấy mọi sự chẳng đơn giản chút nào. Những lo lắng chính đáng Con người thời đại ta cũng như mọi thời đại, đều có trăm ngàn nỗi lo, và những nỗi lo chính đáng. Đừng nói gì xa xôi, chỉ nguyên những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống đã làm điên đầu nhiều bậc cha mẹ gia đình: lo sao cho có cái ăn, cái mặc, cho căn nhà ở khỏi giột nát khi tới mùa mưa, cho con cái được học hành, cho có thuốc thang khi bệnh tật, cho giá cả đừng tăng vọt, mùa màng không thất thoát... Những nỗi lo như thế phát xuất từ trách nhiệm của mỗi người, đều chính đáng và đẹp lòng Chúa. Chúa Giêsu không muốn cho chúng ta lười biếng hoặc sống vô trách nhiệm. Chim trời cũng phải vất vả tìm mồi. Có những thứ chim phải bay thật xa mới tới chỗ có thức ăn. Hoa huệ ngoài đồng cũng có khi phải đâm rễ len lỏi giữa sỏi đá để tìm chất nuôi sống. Đàng khác chính Chúa cũng nói rằng: "Ngày nào có cái khó, cái khổ của ngày đó". Vậy khó nhọc, gian khổ là điều có thực, gắn vào thân phận con người. Không những Chúa không muốn ta sống lười biếng, vô lo, vô trách nhiệm, mà còn muốn ta phải làm việc để cùng với Người hoàn hiện thế giới này và góp phần vào công cuộc cứu độ thế giới. Ngay lúc vừa mới dựng nên loài người, Thiên Chúa đã ra lệnh cho họ phải canh tác trái đất và làm chủ vạn vật. Trong dụ ngôn về những nén bạc ( x. Mt 25, 15 – 25 ), Chúa Giêsu đã hỏi mỗi người đã dùng tài năng Chúa ban mà làm lợi cho Người được bao nhiêu, chứ không phải đã chôn giấu nó an toàn như thế nào. Thế thì ta có quyền và có bổn phận phải lo lắng, tính toán, phải có kế hoạch, phải phòng xa. Điều Chúa không chấp nhận là chúng ta lo lắng về đời sống vật chất như thể đó đã là cùng đích của đời sống, là tuyệt đối cho đời mình. Thiên Chúa hay Thần Tài ? Câu then chốt nhất của bài Phúc Âm hôm nay là: "Tiên vàn hãy lo tìm kiếm Nước Chúa và đời sống công chính như Nguời đòi hỏi, còn các thứ kia ( nghĩa là của cải vật chất ), Người sẽ thêm cho." Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa: đây mới là vấn đề ưu tiên. Nỗi lo số một của người môn đệ Chúa Giêsu là Nước Thiên Chúa. Mọi sự khác cũng cần thiết. Nhưng không được đặt lên trên Nước Thiên Chúa. Phải dành ưu tiên cho Nước Thiên Chúa, rồi mới đến các thứ khác. Đó là trật tự phải tôn trọng. Nhưng đây không phải là vấn đề thời gian sau trước nhưng là vấn đề giá trị mà khi cần phải chọn lựa, ta phải biết đâu là thiết yếu đâu là thứ yếu. 12
  • 13.
    Lời dạy củaChúa Giêsu là hệ trọng. Và nó cũng phù hợp với kinh nghiệm sống của chúng ta. Người ta thường lấy của cải vật chất làm ưu tiên số một và cho rằng của cải giàu sang sẽ giải quyết được mọi vấn đề của xã hội và của con người. Nhưng thực tế luôn luôn chứng minh rằng suy nghĩ và hành động như thế là sai lầm. Xã hội tư bản lấy sự sản xuất của cải hàng hoá dư dật và sự hưởng thụ tự do làm mục tiêu, và bắt mọi sự khác phải phục vụ cho mục tiêu ấy, nên đã rơi vào khủng hoảng về tinh thần, về lý tưởng sống. Và vì mục tiêu ấy, người ta khai thác các tài nguyên thiên nhiên một cách vô độ và ngày nay thiên nhiên quay lại "trả thù" con người, đe dọa cuộc sống trên trái đất. Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, theo lý thuyết người ta coi kinh tế là yếu tố quyết định mọi sự khác, và tuy vẫn nói kinh tế phải phục vụ con người, nhưng trên thực tế con người và các giá trị đạo đức bị chà đạp trầm trọng... Sau khi hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, những nước khác đã quay sang kinh tế thị trường và cũng đang phát triển theo hướng phương Tây, liệu có tránh nổi những tiêu cực gắn liền vào tư bản chủ nghĩa không ? Của cải vật chất là ông chủ không dễ gì khuất phục nổi. Tinh thần thường tỏ ra yếu đuối và không hấp dẫn bằng của cải giàu sang. Ở Việt Nam xã hội chủ nghĩa "thời mở cửa", điều đó cũng đang được chứng minh. Của cải là cần thiết. Nhưng của cải tự nó không mang lại hạnh phúc cho con người. Nó phải là một phương tiện, một người tôi tớ. Nhưng khốn thay, tên đầy tớ này rất có uy quyền, rất dễ trở thành ông chủ của con người, để con người phục dịch nó với bất cứ giá nào. "Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đời sống công chính như Người đòi hỏi": Sống theo ưu tiên đó, có nghĩa là chúng ta vẫn phải làm việc, phải vất vả, phải lo lắng và biết tiên liệu, nhưng chúng ta sẽ không nô lệ vật chất, sẽ không bán rẻ lương tâm vì đồng tiền bát gạo, sẽ coi trọng con người hơn của cải và đặt các giá trị luân lý đạo đức lên trên các giá trị vật chất. Sống theo ưu tiên của Nước Thiên Chúa, người Kitô hữu sẽ giữ được sự tự do thanh thoát và bình an ngay giữa những nhiệm vụ nặng nề nhất, vì họ biết có Chúa là Cha yêu thương cùng lo cho họ và với họ, và chỉ có Người mới đem lại cho họ niềm hạnh phúc đích thực mà họ hằng mong ước. Lm. Guy Maria NGUYỄN HỒNG GIÁO, Dòng Thánh Phanxicô NHÂN LỄ TẤN PHONG CÁC HỒNG Y MỚI – Phần 1 Ngày 22 tháng 2 vừa qua, lễ kính Tòa Thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tấn phong 19 vị Hồng Y mới của Giáo Hội Công Giáo Rôma. Trên cung thánh hôm ấy, bất ngờ xuất hiện một bóng áo trắng quen thuộc nhưng đã ẩn cư từ một năm nay. Đức nguyên Giáo Hoàng Bênêđitô XVI đã đến dự nghi lễ. Ngài ngồi hàng đầu bên cạnh các Hồng Y mới. Đức Hồng Y Lejolo, trước đây là quản lý đô thành Vatican, trong một cuộc phỏng vấn của báo La Stampa-Vatican Insider đã cho biết: “Tất cả các Hồng Y lập tức đổ về phía ngài để chào kính. Thật vui khi thấy các vị chen chúc nhau như thuở còn là học trò để được đến với Đức Bênêđitô. Ngài trông khỏe mạnh, thư thái, bình an và vẫn thân thiện như thuở nào. Ngài hỏi thăm từng người, cung cách vẫn nhã nhặn và đơn sơ như xưa nay ngài vẫn thế”. ( Ảnh chụp Đức Giáo Hoàng Phanxicô tấn phong 19 Hồng Y vào ngày 22.2.2014 ). Khi Đức Thánh Cha Phanxicô bước lên cung thánh, việc đầu tiên là ngài đến chào vị tiền nhiệm một cách nồng nhiệt. Và ngay từ đầu bài diễn văn ngắn nhân danh các tân Hồng Y, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Parolin đã bảy tỏ sự vui mừng được Đức Bênêđitô hiện diện trong nghi lễ này, mọi người trong đền thờ đã vỗ tay vang dội. Sự hiện diện của Đức Bênêđitô có ý nghĩa rất lớn: Hội Thánh là một thực thể duy nhất vừa liên tục vừa đổi mới theo thời gian. Vật đổi sao dời, sẽ xuất hiện những người mới, những việc mới nhưng vẫn một Đức Tin, một mầu nhiệm hiệp thông vĩnh hằng. Không có cái vĩnh hằng đó thì cũng không có đổi mới. Cho nên Hội Thánh trân quý cái phần tinh hoa bất biến của mình mà ở đây, trong lúc này, Đức nguyên Giáo Hoàng Bênêđitô là biểu tượng và là chứng nhân. Đó là một đặc ân ban cho Hội Thánh hôm nay, không phải lúc nào cũng có một cơ hội hiếm hoi như thế. 13 CÙNG BÌNH LUẬN
  • 14.
    Từ cõi thâmtâm đó của Hội Thánh, nay ta thử tìm hiểu 19 vị Hồng Y mới đó có cho ta một tiên báo gì về chặng đường sắp tới của Hội Thánh chăng ? Người ta thường đặc biệt chú ý tới lễ phong Hồng Y đầu tiên trong một triều đại Giáo Hoàng. Nhất là đối với một vị đã để lại rất nhiều ấn tượng mạnh như Đức Phanxicô trong năm qua, dư luận càng chờ đợi. Thành phần các vị mới gia nhập Hồng Y đoàn có thể làm rõ nét một tinh thần, một nội dung tư tưởng và mục vụ, một phong cách nhất định nào đó trong Dân Chúa. ( Ảnh chụp: Đức Phanxicô chào đón Đức Nguyên Giáo Hoàng Bênêđitô XVI tại lễ tấn phong 19 Hồng Y, 22.2.2014 ). Tìm hiểu danh sách các vị tân Hồng Y, giới quan sát có mấy nhận xét: 1. Đây là lần đầu tiên, người Châu Âu không còn chiếm đa số trong Hồng Y đoàn. Với 122 vị Hồng Y đang trong độ tuổi thi hành nhiệm vụ quan trọng là suy cử Giáo Hoàng, thì 61 vị là người Châu Âu, trong số này 29 vị là người Ý. Vậy người châu Âu hiện nay là 50% của Hồng Y Đoàn. Sự thể này phản ảnh phần nào những thay đổi trong phân phối dân số Công Giáo giữa các vùng miền thế giới. Theo số thống kê mới đây của tổ chức Pew Research Center ở Hoa Kỳ thì trong 100 năm từ 1910 – 2010, dân số Công Giáo trên thế giới đã tăng gấp 3 lần, làm thay đổi địa bàn cư trú của người Công Giáo. Năm 1910, 65% người Công Giáo là người Châu Âu và 24% là người Châu Mỹ Latinh. Đến năm 2010, tỷ lệ người Châu Âu trong Giáo Hội chỉ còn 24%, trong khi Châu Mỹ Latinh là 39%. Như vậy mật độ người Công Giáo đã chuyển từ Châu Âu sang Châu Mỹ Latinh. Không phải là sự ngẫu nhiên nếu từ kỳ bầu Giáo Hoàng năm 2005 người ta đã dự đoán sẽ có vị Giáo Hoàng đầu tiên người Châu Mỹ Latinh. Đến mật hội bầu Giáo Hoàng năm 2013, dự đoán ấy đã thành sự thật với Đức Thánh Cha Phanxicô, người Argentina ( trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, có cả thẩy 208 vị Giáo Hoàng người Italia, trong đó có 112 quê gốc Roma, điều này dễ hiểu vì Đức Giáo Hoàng chính là Giám Mục Roma, kế vị Thánh Phêrô. Ngoài các vị người Italia này còn có một vị người Do Thái, 16 vị người Pháp, 15 vị người Hy Lạp, 7 vị người Đức, 6 vị người Syria, 3 vị người Bắc Phi, 1 vị người Hà Lan, 1 vị người Ba Lan, và ngày nay 1 vị người Argentina. Người ta lại dự đoán, nếu tình hình cứ diễn biến như hiện nay thì đến năm 2050 dân số Công Giáo ở Châu Phi sẽ tăng vượt bậc là 146%, Châu Á tăng 65%, Châu Mỹ Latinh tăng 42%, Bắc Mỹ tăng 38%, trong khi Châu Âu lại giảm 6%. Nếu cộng cả Bắc lẫn Nam Mỹ, thì 50% người Công Giáo là người Châu Mỹ, Châu Âu chỉ chiếm tỷ lệ m5 phần tư và còn giảm nữa. Như vậy, so với trước đây các vị Hồng Y người Châu Âu chiếm tuyệt đại đa số, với một tỷ lệ rất cao người Ý, thì tỷ lệ 50% người Châu Âu trong Hồng Y Đoàn hiện nay phản ảnh phần nào xu hướng thay đổi trong thành phần dân số Công Giáo. Tuy vậy, tỷ lệ các vị người Châu Âu trong Hồng Y đoàn vẫn cao so với tỷ lệ dân số Công Giáo, lý do là vì Châu Âu là vùng đất lịch sử, trong đó phần lớn Giáo Hội Công Giáo đã phát triển suốt 20 thế kỷ qua với những thành tựu rực rỡ cả về tâm linh, tôn giáo lẫn văn hóa. Ở đây Hội Thánh Công Giáo đã bám rễ rất sâu và đã đạt mức chín tới. Tuy ngày nay, dân Châu Âu nói chung không còn giữ được lòng đạo như xưa, xã hội có xu hướng “thế tục hóa”, và cho đến nay tuy có vài tia hy vọng nhưng chưa nhìn thấy rõ những thế hệ kế thừa đông đảo, Châu Âu vẫn chứa đựng nhiều tinh hoa Kitô Giáo, hơn nữa lại là nơi có Tòa của Thánh Phêrô. Mới đây báo Figaro của Pháp có bài nhận xét: trong số 6 vị Hồng Y mới người Châu Âu đợt này thì đã có đến 4 vị có kinh nghiệm sâu sắc về Châu Mỹ Latinh. Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh, nhân vật số 2 ở Vatican, thì đã từng phục vụ ở Mexico và Venezuela; Đức Hồng Y Stella, Bộ trưởng Bộ Giáo Sĩ phục vụ ở Công Hòa Dominicana, Cuba và Columbia, Đức Hồng Y Baldisseri Tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám Mục phục vụ ở Paraguay và Brasil. Còn vị Bộ trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, Đức Hồng Y Muller, người Đức, do Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI bổ nhiệm, thì đã cùng viết một tác phẩm chung với người đã mở đường tạo ra Thần Học Giải Phóng, vị Linh Mục người Peru là cha Gutierrez và nay mai ngài lại cho xuất bản một tác phẩm nữa về cùng một đề tài. Phải chăng đó cũng là một hệ quả của việc Giáo Hội Công Giáo đang có một Giáo Hoàng người Châu Mỹ Latinh ? Báo Figaro nhận xét: “Đúng là gió Nam đang thổi vào Giáo Hội Công Giáo”, đồng thời nhà báo cũng nhắc lại một câu nói vui của một vị đang được coi là sao sáng trong Giáo Hội, Đức Hồng Y Tagle 14
  • 15.
    người Philippines, cótên trong danh sách các vị papabili, nói rằng ngài lấy làm mừng vì đất nước Philippines đã tăng gấp đôi số Hồng Y từ 1 thành 2 vị, mặc dù người Công Giáo Philippines tổng số cũng ngang bằng người Công Giáo Mỹ và Italia cộng lại. Thế nhưng Mỹ và Italia đang có những 70 Hồng Y, kể cả các vị đã về hưu ( Figaro, 21.2.2014 ) Như vậy ta thấy, phía Châu Âu với quá khứ tôn giáo hết sức phong phú của mình, đang lộ ra những triệu chứng già cỗi và chưa biết khi nào sẽ tìm lại một mùa xuân mới, thì bù lại Giáo Hội Mỹ Latinh và Á Phi lại đang phát triển dào dạt, tuy nhiên số lượng và lòng sốt sắng còn phải đi thêm vào chiều sâu nội tâm. Cũng vì sự tăng triển của Giáo Hội, con số truyền thống 70 Hồng Y do Đức Giáo Hoàng Sixto V ( 1585 – 1590 ) ấn định đã được Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII vượt qua từ năm 1958. Con số các Hồng Y còn được bầu Giáo Hoàng hiện nay được ấn định là 120. Dù vậy, các nhu cầu đa dạng của Giáo Hội ngày nay khiến cho Đức Phanxicô đã bỏ qua những tục lệ đáng quý… Lm. VŨ KHỞI PHỤNG, DCCT ( Còn tiếp ) LỊCH SỬ MÙA CHAY THÁNH Tứ thời bát tiết Xuân, Hạ, Thu, Đông, thay đổi tuần hoàn luân vòng chuyển đổi. Niên Lịch Phụng Vụ của Giáo Hội Công Giáo cũng nằm trong chu kỳ ấy. Phụng Vụ Giáo Hội cũng có bốn Mùa như: Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh qua đi, Mùa Thường niên tiếp nối, chúng ta chuẩn bị bước vào Mùa Chay Thánh, cao điểm là Tuần Thánh và Đêm Vọng Phục Sinh. Vậy Mùa Chay có từ bao giờ, kéo dài bao lâu ? Những việc chúng ta làm trong Mùa Chay có ý nghĩa thế nào ? Mùa Chay đến rồi lại đi, chúng ta làm gì để Mùa Chay không trở nên nhàm chán và có ý nghĩa ? Mùa Chay có từ bao giờ, kéo dài bao lâu ? Vào những thế kỷ đầu Kitô giáo, để sống đạo và thực hành đạo, các Kitô hữu tiên khởi đã quan sát những người chung quanh xem họ sống đạo và thực hành đạo thế nào, cụ thể như việc người Do Thái giữ ngày Sabát, hay lên Đền Thờ cầu nguyện. Tuy các Kitô hữu tiên khởi họp nhau thành một cộng đoàn tế tự, cử hành phép rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần theo một công thức tuyên xưng Đức Tin. Nhưng khi cử hành các ngày đại lễ như lễ Vượt Qua, lễ Năm Mươi, dù vẫn giữ nguyên những ngày lễ của người Do Thái nhưng lại mặc cho các ngày lễ ấy một ý nghĩa mới, chẳng hạn : khi cử hành, họ không chỉ nhắc lại các biến cố Xuất Hành Cựu Ước, mà còn tưởng nhớ cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô, cũng như việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ. Mãi đến thế kỷ thứ IV, trong Giáo Hội mới nảy sinh những ý kiến khác nhau như : liệu có cử hành lễ Phục Sinh vào ngày lễ Vượt Qua của người Do Thái không ? Tại các Giáo đoàn thuộc Tiểu Á, họ vẫn giữ nghi lễ chiên vượt qua. Riêng Giáo đoàn Antiokia lại ấn định lễ Phục Sinh vào ngày Chúa Nhật sau lễ Vượt Qua của người Do Thái, trong khi đó, các Kitô hữu tại Alexandria do các nhà chiêm tinh tính toán nên đã chuyển rời lễ Phục Sinh vào dịp phân xuân. Cho dù có sự khác nhau về ngày cử hành các ngày lễ, nhưng lễ Phục Sinh vẫn là lễ chung của toàn thể cộng đoàn Kitô giáo, vì lễ Phục Sinh dựa trên nền tảng Đức Tin, trước lễ Phục Sinh, có một thời gian chuẩn bị tương đối dài gọi là Mùa Chay hay " 40 ngày ", tưởng nhớ 40 Chúa Giêsu ở trong hoang địa 40 đêm ngày. Việc thực hành Mùa Chay đã có từ thời thì đầu Kitô giáo, nhưng trải qua những bước thăng trầm, mãi tới thế kỷ thứ II, thời Thánh Irênê, Giám Mục thành Lyon, việc giữ chay ngắn hạn từ hai đến ba ngày, không ăn bất kỳ thức ăn nào mới được phổ biến. Sang kỷ thứ III tại Alexandria, người ta kéo dài việc ăn chay ra hết một tuần. Những dấu tích của Mùa Chay hay "40 ngày" được tìm thấy ở thế kỷ thứ IV, trong lễ quy của Công Đồng Nicêa. Đây là thời gian chuẩn bị mừng lễ, nhưng ưu tiên vẫn là việc giúp các người dự tòng chuẩn bị lãnh Phép Rửa Tội và Đêm Vọng Phục Sinh. Cuối thế kỷ thứ IV, Giáo Đoàn tại Giêrusalem bắt đầu giữ chay 40 ngày hay còn gọi là Mùa Chay 8 tuần, người ta ăn chay suốt thời gian này, trừ thứ bẩy và Chúa Nhật. Sang thế kỷ thứ V, tại Ai Cập 15 CÙNG TÌM HIỂU
  • 16.
    người ta cũnggiữ chay, tiếp đến là xứ Gaules, người ta ăn chay ngày thứ bẩy và thứ sáu tuần trong Mùa Chay. Trong khi giữ chay, các Kitô hữu chỉ ăn một bữa mỗi ngày, thức ăn gồm có bánh, rau và nước. Giữ nghiêm ngặt nhất là ngày Thứ Sáu và Thứ Bẩy Tuần Thánh, người ta không ăn một chút thức ăn nào. Giờ ăn chay được qui định tùy theo sự khác nhau của mỗi giáo đoàn. Vì mùa chay gồm 6 tuần không thể tương ứng với 40 ngày được. Nên sang thế kỷ thứ VII, người ta đã lùi về trước Mùa Chay mấy ngày, cụ thể như bắt đầu từ ngày thứ tư cho đến ngày thứ bẩy tuần trước khi bước vào Mùa Chay, ngày mà hôm nay chúng ta gọi là Thứ Tư Lễ Tro, ngày ăn chay. Đồng thời, ba Chúa Nhật trước Mùa Chay, là gồm tóm thời gian chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh, cách Lễ Phục Sinh chín tuần. Việc giữ chay ngày càng đòi hỏi nghiêm ngặt hơn, chẳng hạn như buộc chỉ ăn bữa tối. Nhưng đến thế kỷ thứ VIII, việc giữ chay được nới rộng ra, nghĩa là cho phép những người ốm đau bệnh tật được ăn trứng, bơ, sữa, cá và được uống rượu nữa. Sang thế kỷ XII và XIII, bữa ăn ngày chay được ấn định là trước giờ trưa 3 giờ tức 9 chín giờ sáng, tiếp theo được ăn "bữa ăn nhẹ" vào buổi tối. Sang thế kỷ XVII việc ăn chay giảm dần và Giáo Hội cho phép được ăn cháo, sữa và cá nhỏ. Trong ngày chay, tại các hoàng gia, nhà bếp thi nhau trổ tài làm ăn với những thực đơn sao cho dồi dào phong phú hơn ngày thường. ( Tranh cổ: Một cảnh chợ cá ngày Thứ Tư Lễ Tro ) Từ năm 1949, Giáo Hội Công Giáo qui định việc giữ chay và kiêng thịt là ngày Thứ Tư lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh mà thôi. Lý do vì hai ngày đó là ngày tưởng nhớ sự chết: ngày Thứ Tư Lễ Tro, Linh Mục chính thức làm phép tro được đốt từ những cành lá đã làm phép vào ngày Lễ Lá năm trước rồi vẽ hình Thánh Giá trên trán người nhận tro và nhắc lại rằng "ngươi là tro bụi, và người sẽ trở về tro bụi", nhắc lại cái chết của mỗi người chúng ta, tiếp đến, ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá. Trong Phụng Vụ của Giáo Hội Chính Thống, thời gian chuẩn bị bước vào Mùa Chay kéo dài năm tuần liền, mỗi tuần đọc một đoạn Tim Mừng riêng, với cách thức sám hối sâu xa. Tuần thứ bốn, được ấn định là ngày kiêng thịt và ăn chay trong toàn Giáo Hội. Chúa Nhật thứ năm được gọi là Chúa Nhật Hòa Giải, mỗi người hòa giải với người bên cạnh trước khi toàn thể cộng đoàn xin lỗi Chúa. Cảm tưởng chung là một bầu không khí "vui và buồn". Mỗi tín hữu, với sự hiểu biết có giới hạn và khác nhau về Phụng Vụ, nên khi bước vào Nhà Thờ với các kinh nguyện của Mùa Chay, mỗi người mỗi cảm tưởng khác nhau. Một phần vì những lời kinh tiếng hát mang đậm nét buồn, màu áo tím, những bài đọc dài hơn, đơn điệu hơn ngày thường, và hầu như không có nét vui tươi. Một nét đẹp nội tâm rực sáng, tựa như ánh sáng ban mai chiếu rọi từ thung lũng tối tăm lên tận đỉnh cao của núi đồi. Niềm vui âm thầm, êm dịu và toàn bộ các bài Sách Thánh trong Mùa Chay nghe thật đơn điệu cho thấy sự bình an đã dẫn đưa người ta tới những điệp ca hòa tấu Hallêluya trong Đêm Vọng Phục Sinh. Chúa Nhật Lễ Lá là thời gian không còn dành riêng cho việc tưởng niệm cuộc khổ nạn nữa, bước vào một Tuần Thánh, với những bài đọc nhắc lại những ngày sau hết của Chúa Kitô trên trần gian và sự Phục Sinh của Ngài. Tại sao lại gọi là 40 Ngày Chay Thánh ? Từ "Mùa Chay" là một từ tương phản với từ gốc Latinh là "quadragesima" có nghĩa là 40. Trong Kinh Thánh, con số 40 có ý diễn tả một khoảng thời gian chờ đợi, một quá trình, tượng trưng cho việc chuẩn bị gặp gỡ Thiên Chúa. Số 40 còn diễn tả hành trình trong sa mạc trên đường về Đất Hứa của dân Do Thái kéo dài 40 năm. Ông Môsê đã ở trên núi Chúa 40 ngày ( x. Xh 24, 18; 34, 28 ). Những người trinh sát đã ở trong vùng đấy 40 ngày ( x. Ds 13, 25 ). Elia đã đi 40 ngày trước khi tới được hang ở đó ngài được thị kiến ( x. 1V 19, 8 ). Ninivê đã được cho 40 ngày để sám hối ( x. Gn 3, 4 ). Và quan trọng nhất là Chúa Giêsu được Chúa Thánh Thần thúc đẩy vào trong hoang địa 40 ngày để ăn chay cầu nguyện trước khi thi hành sứ vụ công khai ( x. Mt 4, 2 ). Như vậy Mùa Chay là mùa nhắc nhớ 40 năm hành trình trong sa mạc của dân Do Thái, 40 ngày trong hoang địa của Chúa Giêsu. Con số 40 ngày, là thời gian đi vào hoang địa của cõi lòng, thinh lặng để chuẩn bị gặp gỡ Chúa. Đây là thời gian Phụng Vụ cao điểm thuận tiện thích hợp cho các Kitô hữu noi gương Đức Kitô dùng 40 ngày để ăn năn đền tội và dấn thân phục vụ anh chị em. Và bằng 40 ngày long trọng của Mùa Chay, mỗi người được liên kết mật thiết hơn với các Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu, Đấng đang tiến đến cái chết và sự sống lại. 16
  • 17.
    Mùa Chay manglại cho chúng ta điều gì ? Phần lớn người Kitô hữu không thực hành việc ăn chay, nguyện ngắm, nên Mùa Chay không có ảnh hưởng tới đời sống của họ là bao ? Khi nói về Mùa Chay, người ta thường hiểu một cách không tích cực lắm. Đại đa số dân chúng cho rằng trong Mùa Chay việc kiêng ăn, kiêng uống giữ chay chiếm vị trí hàng đầu. Tuy nhiên điều đáng lưu ý là đại đa số người Kitô hữu không thực hành đạo trong đời sống nhưng họ vẫn đến nhận tro vào Thứ Tư Lễ Tro. Đây là một nghi thức giầu tính biểu tượng, nó tác động đến tận đáy lòng con người, nhắc nhớ người ta suy nghĩ về thân phận của mình khi nhận tro và mời gọi con người trở về với Chúa. Vì nhiều khi con người quên đi thân phận yếu hèn, mỏng giòn của mình, dẫn đến đau thương và đổ vỡ. Bi kịch cuộc đời con người đều từ đó mà ra. Con người phạm tội, tội cắt đứt sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa, làm cho con người mất đi hạnh phúc, phải đau khổ và phải chết. Chuyện sa ngã của Nguyên Tổ đã chứng minh điều đó. Lịch Sử Cứu Độ của Dân Chúa, tội thì Chúa phạt, hối cải thì Chúa tha và cứu. Nên mỗi khi lâm vào hoàn cảnh bi đát đau thương hay thất vọng, Dân Chúa đều nhận ra rằng cần phải sám hối trở về giao hòa với Thiên Chúa để được chữa lành. Mùa Chay là mùa sám hỗi, chúng ta hãy ra sức làm những việc cần thiết để được giao hòa và hiệp thông với Chúa, hầu được Chúa ban ơn. Trong đời sống người Kitô hữu, nhiều khi lắng nghe Lời Chúa xong, chúng ta đã có quyết tâm đi xưng tội, làm việc đền tội, nhưng rồi kết quả không mấy khả quan, thì Mùa Chay là cơ hội rất thuận lợi. Thư Thánh Phaolô nói với chúng ta: "Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ" ( 2 Cr 6, 2 ). Đây là thời gian khẩn trương trong Năm Phụng Vụ, thời gian thuận tiện được ban cho chúng ta để đẩy mạnh quyết tâm hoán cải, tăng cường việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, thống hối, mở rộng tâm hồn đón nhận thánh ý Chúa, thực hành khổ chế một cách quảng đại hơn, để đi tới và giúp đỡ tha nhân đang túng thiếu: đó là một hành trình tinh thần giúp chúng ta chuẩn bị sống Mầu Nhiệm Phục Sinh. Vậy chúng ta hãy tin tưởng điều đó và bước vào Mùa Chay Thánh. Lm. Antôn NGUYỄN VĂN ĐỘ PHONG CÁCH PHANXICÔ BÀI 5. CHÚA GIÊSU CHỈ TỎ MÌNH RA CHO NHỮNG KẺ BÉ MỌN Trong toàn bộ lịch sử nhân loại, Chúa Giêsu vẫn luôn luôn là nhân vật được người ta viết về và nói đến nhiều nhất, dù với bất kỳ ý đồ gì. Vào năm 1966, John Lennon, thành viên nòng cốt soạn ca khúc và trình diễn của ban nhạc The Beatles, trên đỉnh cao của vinh quang rực rỡ đã hồ hởi tuyên bố họ được người ta ái mộ còn hơn Chúa Giêsu nữa. Nhưng nay ban nhạc này đã trôi dần vào dĩ vãng. Năm 2013, nhân kỷ niệm 50 năm thành lập ban nhạc, báo chí cũng có nhắc về họ, nhưng theo kiểu Thăng Long Hoài Cổ: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bóng tịch dương ( Bà Huyện Thanh Quan ) Những fan xưa kia cuồng nhiệt ái mộ The Beatles thì nay cũng đã quá già hay đã qua đời, những nơi chốn gắn liền với ban nhạc này cũng đã thay đổi nhiều, đa số bạn trẻ bây giờ không còn biết họ là ai nữa. Giáo sư Thái Bá Tân đã viết rất hay và đúng về tuổi trẻ của ông ( và cả của tôi nữa ): Liên quan đến thần tượng, Phải khẳng định một điều: Lênin là vô địch, Được thờ như giáo điều. Ông nổi tiếng hơn Chúa. Sách nhiều hơn Thánh Kinh. Tượng cả trong hẻm phố. Tư tưởng trong giáo trình. Nhưng ông đã phải ngậm ngùi khi được đến thăm lăng Lênin ( Hà Nội 17.7.2012, Facebook TBT ) Quảng trường Đỏ vẫn thế. Vẫn thế lăng Lênin, Không ai xếp hàng viếng, Thậm chí chẳng ai nhìn. Lại đi, lại hậm hực, Lầm lũi giữa ban trưa, Với cảm giác chua xót Nửa thế kỷ bị lừa. 17 CÙNG TRÂN TRỌNG
  • 18.
    Ngày 21.2.2014, truyềnthông thế giới chiếu nhiều cảnh nhân dân Ukraina hò reo khi giật sập các tượng Lênin tại một số nơi. Rất nhiều người thường đề cập về Chúa Giêsu cho ý đồ riêng của mình. Hiếm thấy có người lãnh tụ theo quan điểm duy vật nào mà lại có thái độ kính trọng khi nói về Chúa Giêsu như… Hồ Chí Minh ( Trích website Ban Tôn Giáo Chính phủ: www.btgcp.gov.vn ). Trên 2.000 năm qua, kể từ khi Chúa Giêsu phục sinh và về trời với lời hứa là sẽ ở cùng người tin mọi ngày cho đến tận thế, là lúc Người quay lại trần gian trong vinh quang để kết thúc lịch sử, đã và đang có vô số các tác giả viết về Người. Riêng trong Hội Thánh có đến 35 vị Thánh được phong Tiến Sĩ vì có trước tác về Chúa Giêsu được nhìn nhận do Chúa Thánh Thần thôi thúc và mang giá trị cho mọi thời đại. Thánh Anphong được phong Tiến Sĩ vào năm 1871, Thánh Têrêsa Lisieux vào năm 1997, Thánh Gioan Avila và nữ Thánh Hildegard Bingen cùng vào năm 2012. Riêng Thánh Anphong đã viết trên 100 quyển sách. Có bỏ ra một đời cũng không thể nghiền ngẫm hết các tác phẩm của các vị Thánh Tiến Sĩ này. Mà có đọc xong hết đi chăng nữa, hiểu được Chúa Giêsu là một điều hoàn toàn bất khả thi. Người là Con Thiên Chúa nên chỉ có Thiên Chúa Cha mới có thể hiểu được về Người. “Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha” ( Mt 11, 27 ). Phải được phép đặc biệt của Chúa Cha thì người ta mới gặp gỡ được Người. “Không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho” ( Ga 6, 65 ). Tuy nhiên, điều tưởng chừng như bất khả thi đó, lại được Chúa Cha ban cho những người bé mọn một cách rất dễ dàng và nhưng không. Điều này cũng làm cho chính Chúa Giêsu, được Thánh Thần thôi thúc, phải ngỡ ngàng và vui mừng. Trong toàn bộ cuộc đời của Chúa Giêsu, đây là đoạn Tin Mừng duy nhất nói rằng Người được hân hoan trào dâng. Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” ( Lc 10, 21 ). “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” ( Mt 18, 3 ). NGUYỄN TRUNG, 2.2014 TRUYỀN GIÁO VÀ HỘI NHẬP Trong thời gọi là “Toàn Cầu Hóa” này thì việc hội nhập đối với các quốc gia và tôn giáo dù muốn hay không cũng không thể thoát ra được. Làm sao có thể không… hội, không… nhập, khi mà ngày nay với các phương tiện truyền thông như truyền hình, internet, con người có thể giao tiếp với nhau chỉ trong chớp mắt. Một cái tin đánh bom khủng bố xảy ra tại một xó xỉnh, một góc phố nào đó nước Siria, nước Pakistan, cũng có thể được loan truyền đi ngay lập tức với đầy đủ âm thanh, hình ảnh một cách sống động: nhà cửa đổ nát, xác người máu me be bét kinh tởm v.v… Một sản phẩm vừa mới làm ra cũng được quảng cáo tiếp thị rầm rộ với giá cả, hình thức mẫu mã vô cùng hấp dẫn… Chỉ cần mở TV, lướt qua các kênh, người ta cũng có thể biết đến đủ mọi sự kiện xảy ra trên hành tinh… Phải nhìn nhận là chưa có thời nào mà cái sự biết của con người lại nhanh, lại nhiều như bây giờ. Thế nhưng có thể nói, cũng chưa có thời nào mà nhân loại lại sống trong vòng u mê lầm lạc như hiện thời. Lý do bởi vì tất cả những cái gọi là… biết ấy, đã không làm cho con người hiểu được nhau hầu xích lại gần nhau hơn. Có hiểu nhau thì mới xích lại gần nhau, trái lại thì ngày càng xa cách. Việc xích lại gần để hiểu nhau ấy chính là mục đích và ý nghĩa của hội nhập. Người ta có thể hô hào và cả nỗ lực hội nhập trong tất cả các lãnh vực kinh tế, chính trị hay tôn giáo. Thế nhưng sẽ chẳng bao giờ có thể hội, có thể nhập, nếu người ta vẫn chưa hiểu được nhau. 18 CÙNG TRÂN TRỌNG
  • 19.
    Cả đời lẫnđạo thì ý nghĩa của việc hội nhập, chẳng qua như đã nói, là để cho con người hiểu và chấp nhận được mình. Xét trên khía cạnh đời thì hội nhập kinh tế là làm sao để người ta chấp nhận, người ta thích thú với sản phẩm của mình. Còn trong lãnh vực ngoại giao mục đích cũng vậy, chỉ là để cho thiên hạ có thể chấp nhận đường lối chính sách của quốc gia mình v.v… Với đạo xét ra cũng không khác. Nếu trong lãnh vực kinh tế tiếp thị, hội nhập là để người ta chấp nhận sản phẩm của mình thì trong tôn giáo, sản phẩm ấy chính là nội dung của việc truyền giáo. Hiện nay việc truyền giáo của Giáo Hội đang có vấn đề nghĩa là không được chấp nhận. “Nhiều quốc gia trước đây có một đời sống Kitô phồn thịnh và có khả năng làm phát sinh những cộng đồng Đức Tin sống động, nay bị thử thách nặng nề, hay có khi bị biến đổi sâu xa vì những hiện tượng thờ ơ, tục hóa và vô thần. Đây đặc biệt là hoàn cảnh của các nước thuộc thế giới tân tiến. Tại các vùng khác trên thế giới, các truyền thống đạo đức và các tâm tình Công Giáo vẫn còn được bảo tồn sống động. Nhưng các gia sản thiêng liêng đó đang gặp nguy cơ bị tan biến dưới sức mạnh của nhiều trào lưu, trong đó có trào lưu tục hóa và sự lan tràn của các giáo phái ( sette )" ( Nguồn: GPXL.org, Đức Ông Đinh Đức Đạo, Truyền giáo và tân Phúc Âm Hóa ). Tại các quốc gia Kitô giáo bên Âu Châu trước đây rất phồn thịnh thì nay lại đang tàn lụi. Còn tại các xứ truyền giáo như tại Á Châu, Phi Châu… thì cũng sẽ bị nguy cơ tục hóa làm cho tan biến… Để chống chọi với những nguy cơ ấy, Giáo Hội đang ra sức cổ võ việc hội nhập. Tuy nhiên việc ấy có thể đem lại kết quả hay không thì còn tùy thuộc nội dung của hội nhập. Theo thần học thì nội dung đó chính là Đức Tin: “Sứ mệnh của Giáo Hội là loan báo Đức Tin Kitô giáo cho tất cả mọi người thuộc các nền văn hóa được xem là mối quan tâm hàng đầu. Trong thực tế, sự quan tâm của Giáo Hội đối với tương quan này vẫn còn thiếu sót nhất định. Nội dung của Đức Tin Kitô giáo thường được diễn tả mang đậm dấu ấn của nền văn hóa La Hy, trong khi nhiều nền văn hóa khác lại bị lãng quên, chẳng hạn các nền văn hóa Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh và Châu Đại Dương. Hậu quả là sứ mệnh của Giáo Hội không phát huy đầy đủ tác dụng, thậm chí, không sinh hoa kết trái ở nhiều nơi trên thế giới” ( Nguồn: Lamhong.org, Lm. Phêrô Nguyễn Văn Viên, Bản chất và vai trò của Hội Nhập Văn Hóa ). Cho rằng sứ mệnh của Giáo Hội là loan báo Đức Tin Kitô giáo, điều ấy hoàn toàn không đúng. Lý do bởi vì đó không phải là sứ mạng được trao bởi Đức Kitô. Trước khi về Trời, Chúa Phục Sinh phán với các Tông Đồ: “Hãy ra đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Ai tin và chịu phép rửa thì được cứu, còn ai không tin sẽ bị định tội” ( Mc 16, 15 – 16 ). Ở đây ta thấy rõ ràng là Chúa đã trao cho các Tông Đồ, cũng tức là cho Giáo Hội, sứ mạng rao giảng Tin Mừng chứ không phải như thần học nói là Đức Tin Kitô giáo. Rao giảng Tin Mừng cố nhiên không phải là rao giảng Đức Tin Kitô giáo. Tin Mừng cần rao giảng ấy chính là Tin Mừng của Đức Kitô về Nước Trời mầu nhiệm nội tại, còn cái gọi là Đức Tin Kitô giáo là về Đấng Thiên Chúa Tạo Hóa mà thuần túy đó chỉ là một thứ khái niệm triết học không hơn không kém. Chính bởi Thiên Chúa của thần học chỉ là khái niệm, thế nên cũng chẳng thể có cái gọi là Đức Tin Kitô giáo. Niềm tin trong tôn giáo được nâng lên thành một thứ đức hạnh, bởi vậy nó phải đặt trên một cơ sở vững chắc là Đấng Thiên Chúa Hằng Sống: “Đức Chúa Trời của Apraham, Đức Chúa Trời của Isaac và Đức Chúa Trời của Giacóp. Ấy Ngài chẳng phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết đâu, bèn là của kẻ sống. Bởi ai nấy đều vì Ngài mà sống” ( Lc 20, 37 – 38 ). Tin sự hiện hữu của Thiên Chúa Hằng Sống, đây mới chính là niềm tin chân thật của Giáo Hội xưa nay. Tuy nhiên niềm tin ấy sẽ không thể được nếu không có mạc khải của Đức Kitô về Đấng Cha nội tại, bởi duy chỉ Ngài mới thấy biết về Đấng ấy: “Các ngươi chẳng từng biết Ngài nhưng Ta biết Ngài. Nếu Ta nói rằng Ta không biết Ngài thì Ta cũng sẽ nói dối như các ngươi vậy. Song Ta biết Ngài và cũng giữ Đạo Ngài” ( Ga 8, 55 – 56 ). Sự thấy biết Chúa nói ở đây không phải là của giác quan nhưng là của trí tuệ vô phân biệt. Chỉ có sự thấy biết vô phân biệt ấy mới đem lại cho con người niềm vui giải thoát thật sự. Trái lại, người thế gian do nơi cái chấp phân biệt ( thấy biết bằng giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể ) mà đã hình thành nên một “Cái Tôi” ( bản ngã ) hoàn toàn khác biệt với người ( tha nhân ). Bao lâu còn khư khư ôm giữ lấy một “Cái Tôi” chỉ có trong ảo tưởng như thế thì không thể nói chi đến hội nhập. Tại sao ? Bởi chưng hội nhập trong tính chất sâu xa của nó chỉ có thể hiểu đó là việc quay vào với chính mình: Luật pháp và tiên tri đến Gioan là hết. Rồi từ đó Tin Mừng Nước Đức Chúa Trời được rao giảng và ai nấy đều phải nỗ lực mà vào. 19
  • 20.
    Chúa nói phảinỗ lực mà vào thì “vào” ở đây chỉ có thể là để “hội nhập” với Nước Trời ở nơi chính mình. Có hội nhập được với Nước Trời ở nơi mình thì mới thực hiện công việc hội nhập, tức truyền giáo cho mọi người được. Trong suốt hai mươi thế kỷ qua, công cuộc truyền giáo của Giáo Hội đã gặt hái được biết bao thành quả lớn lao: Ơn Cứu Độ đã được đón nhận trên khắp các châu lục từ Âu sang Á, Mỹ Châu, Phi Châu v.v… Thành quả ấy do đâu nếu không phải là của những con người đã nhận ra chân lý Tin Mừng của Đức Kitô ? Các ngài đã thực hiện chân lý cho chính mình để rồi đem chân lý ấy đến cho muôn người bất kể gian lao nguy hiểm kể cả hy sinh tính mạng. Sự hy sinh của những nhà truyền giáo hết thế hệ này đến thế hệ khác đã nói lên điều gì nếu chẳng phải là giá trị vô song của Tin Mừng ? Đem giá trị ấy đến cho các dân tộc, các xứ sở với đủ mọi thứ văn hóa, tín ngưỡng khác biệt, nếu các nhà truyền giáo ấy không xác tín chân lý cao cả ở nơi mình thì làm sao có thể dấn thân truyền giáo cách hăng say như vậy được ? Để có thể nhiệt thành trong sứ mạng truyền giáo thì không thể không xác tín chân lý mà mình đã lãnh nhận. Thế nhưng điều ấy không có nghĩa có thể áp đặt chân lý lên người khác. Cha Đắc Lộ ( Alexandre de Rhodes ), một nhà truyền giáo kiệt xuất đã có lần nhắc nhở: “Điều mà tôi không hài lòng hơn cả… đó là việc sau khi người ngoại trở lại, người ta bắt họ bỏ y phục nước họ… ít ra người ta phải hiểu rằng cái đó làm họ cực lòng lắm. Tôi không hiểu vì sao người ta lại đòi hỏi bắt buộc một điều mà Chúa không bao giờ đòi hỏi, một điều trái lại làm cản trở họ không muốn chịu phép rửa và do đó làm họ xa Nước Thiên Đàng. Riêng tôi ở vùng Trung Quốc tôi đã hết sức phản đối những ai muốn bắt người có đạo phải cắt tóc vắn. Ở đây đàn ông cũng như đàn bà đều để tóc dài… Tôi đã nói với những người ấy rằng Tin Lành Phúc Âm chỉ bắt buộc người theo Đạo tẩy trừ khỏi tâm trí họ những mê tín dị đoan chứ đâu có buộc cắt bỏ tóc dài” ( Nguồn: Lm. Nguyễn Hồng – Lịch Sử Truyền Giáo ở Việt Nam, Quyển I ). Quần áo tóc tai kể cả ngôn ngữ là những thứ hình thức bên ngoài, không trở ngại chi cho việc tiếp nhận Tin Mừng. Trái lại cái làm trở ngại và bắt buộc phải tẩy trừ đó là những mối dị đoan mê tín. Lý do cần tẩy trừ là bởi nó hoàn toàn chống chỏi với Đạo Chúa là Đạo Đức Tin: “Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng ngươi và ở trong lòng ngươi, tức Đạo Đức Tin mà chúng tôi rao giảng đây. Vậy nếu miệng ngươi nhận Giêsu là Chúa và lòng ngươi tin Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu” ( Rm 10, 8 – 9 ). Truyền giáo tức rao giảng Đạo Đức Tin nhưng cần nên nhớ Đức Tin ấy là tin sự hiện hữu của Thiên Chúa Đấng ở nơi mình. Tin Thiên Chúa ở nơi mình đó mới thật là lòng tin có cơ sở ( chánh tín ). Tuy nhiên để cho lòng tin ấy có thể nảy nở và phát huy, thì không thể không bước đi trên con đường hội nhập là chính Chúa Giesu Kitô: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ). Lời Chúa là lời chân thật, một khi Ngài đã khẳng định như thế thì phải đúng là như thế, có nghĩa không có một thứ văn hóa, triết học hay tôn giáo nào có thể dẫn đưa con người đến với Đấng Cha được. Chúa khẳng định như thế mục đích là để cho ta có thể vững tin mà theo Ngài. Tuy nhiên, sự vững tin ấy dù là ơn nhưng-không Chúa ban, nhưng nó cần phải được củng cố bởi việc làm và việc làm ấy tất cả cũng không ngoài giới răn yêu thương của Chúa. “Ai có các điều răn của Ta và giữ lấy ấy là kẻ thương yêu Ta. Còn ai thương yêu Ta sẽ được Cha Ta thương yêu lại, Ta cũng thương yêu người và tỏ chính mình Ta cho người” ( Ga 14, 21 ). Tình yêu chân thật không bao giờ chấp nhận sẻ chia, hơn nữa đó lại là Tình Yêu với Chúa Giêsu – Đấng Cứu Độ duy nhất của mình. PHÙNG VĂN HOÁ, Trảng Bom 2.2014 THẦN HỌC VỀ THÂN XÁC VÀ HOẠT ĐỘNG TÍNH DỤC – Kỳ 3 III. Hoạt động tính dục dưới ánh sáng của Thần Học về thân xác Trước hết, chúng ta lướt nhanh qua bối cảnh văn hóa và lịch sử của hôn nhân thời Chúa Giêsu. Thực ra, ly dị khi ấy không phải là hiện tượng hiếm hoi và tỉ lệ kết hôn cũng không phải là cao. Như thế 20
  • 21.
    thời Chúa Giêsucũng không khác gì thời đại chúng ta ngày nay. Nhưng điều quan trọng là mặc dầu hôn nhân khi ấy không được hết sức quí trọng, nhưng Đức Kitô vẫn loan báo và giảng dạy chân lý về nó. Hội Thánh được mời gọi thực thi giống như vậy ngày hôm nay. Một đàng, xã hội Do Thái thời của Đức Giêsu cho phép người ta ly dị. Vì thế mà những người Pharisêu mới đặt câu hỏi với Đức Giêsu. Môsê đã từng cho phép ly dị. Đức Giêsu tuyên bố sỡ dĩ Môsê cho phép là vì lòng dạ người ta ra chai đá. Và Người mời gọi mọi người trở về với “thuở ban đầu” khi ấy không hề có giải pháp ly dị, để hiểu sâu hơn bản chất của hôn nhân. Đàng khác, đất nước Do Thái khi ấy bị một thế lực hùng mạnh chiếm đóng thống trị: đế quốc Rôma. Một trong những nét của nền văn hóa Rôma là có tỉ lệ kết hôn thấp. Hoàn cảnh ấy nghiêm trọng đến nỗi nhiều lúc các hoàng đế phải ra sắc lệnh bắt buộc người ta kết hôn. Xem ra người ta ít kết hôn vì người ta muốn ở vậy để được thong dong tự do khỏi mọi lo âu bận rộn. Dẫu có luật như vậy, nhưng thực tế con số hôn nhân vẫn tiếp tục giảm. Chính trong bối cảnh đó mà Đức Giêsu dẫn đưa các thính giả về với “thuở ban đầu”. Người tái khẳng định chân lý về hôn nhân. Theo gương Đức Kitô, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II trở về với “thuở ban đầu” khi thảo ra thần học về thân xác của ngài. Khởi đi từ đó, ngài rút ra và kết nối ba kinh nghiệm nguyên thủy trước tội nguyên tổ. Những kinh nghiệm đó giúp ta nhận ra các phẩm chất cơ bản của thân xác con người. Từ đó, ta hiểu được tại sao hôn nhân là một giao ước. 1. Hôn nhân như là một giao ước và sự ly dị Giao ước là một hợp đồng hay một sự cùng cam kết trong tự do của hai bên. Toàn bộ Cựu Ước xoay quanh trục Giao Ước của Thiên Chúa với Dân của Ngài. Noe là người đầu tiên đón nhận quà tặng giao ước, rồi đến Abraham một Giao ước kỳ diệu, rồi đến Môsê. Người ta có thể đọc tường thuật các sự kiện này trong các sách Sáng Thế và Xuất Hành. Giao ước mới Thiên Chúa thiết lập với nhân loại cách vĩnh viễn nhờ sự chết của Chúa Kitô trên thập giá. Giao ước mới và vĩnh cửu này được kí kết không phải bằng mực mà bằng máu. Các bên trao đổi với nhau không bằng những hiện vật nhưng bằng những nhân vị. Thiên Chúa trao ban cho chúng ta chính sự sống của Ngài và đáp lại Ngài yêu cầu chúng ta trao hiến sự sống của chúng ta cho Ngài. Nhớ lại những lời trong sách Sáng Thế. Ađam, tức con người, khi thấy người đàn bà, thay đổi triệt để cuộc sống mình. Con người gắn bó với vợ mình. Cả hai kết hợp với nhau và nên một xương một thịt. Nói cách khác, họ thiết lập một giao ước. Họ đón nhận nhau và trao hiến bản thân cho nhau. Họ không trao đổi "một cái gì đó" mà trao ban cho nhau tất cả. Tặng phẩm trao hiến là chính bản thân họ, toàn thể ngã vị. Chính từ đó, người chồng và người vợ thiết lập giữa họ với nhau một sợi dây liên kết không thể phân ly. Hôn nhân không như một viên thuốc aspirine hòa tan, nhưng đúng hơn như một tảng đá chống chọi được trước mọi bão táp cuộc đời. Đó là một giao ước. Giao ước mà Thiên Chúa ký kết với Dân Người gồm hai mặt chính yếu. Một mặt, dân tham dự vào giao ước. Trong Cựu Ước, việc ấy làm bằng nhiều cách khác nhau, như: một hiến lễ dâng kính, một người đàn ông được cắt bì, một người nam và một người nữ kết ước hôn nhân.... Trong Tân Ước, Giao ước mới được thiết lập theo một thể thức dứt khoát. Đó là điều mà chúng ta gọi là Thánh Thể. Chúng ta hoàn toàn tham dự thực sự và tích cực vào Giao Ước ấy. Đức Kitô ban cho chúng ta Mình và Máu Người dưới hình thức bánh và rượu, để chúng ta dự phần vào đó trong một hành động của đức tin. Mặt khác, dân Chúa, bằng chính cách sống của mình, làm hiện diện hay hiện tại hóa Giao Ước đó. Khi Môsê đón nhận từ Thiên Chúa Mười Điều Răn trên núi Sinai, ông công bố lời Chúa nói rằng, nếu dân trung thành giữ Luật Mười Điều Răn, họ sẽ trở thành dân tự do. Nói cách khác, họ sẽ giống như Thiên Chúa. Như thế, bởi tự do của mình dân Israel sẽ là một dấu chỉ sống động của chính Thiên Chúa cho các dân tộc khác. Họ sẽ là một chứng từ của sự hiện diện của Thiên Chúa trên trái đất nhờ cách sống của họ. Cũng như thế, hôn nhân tham dự vào Giao Ước mới do Đức Kitô thiết lập, và hiện tại hóa Giao ước mới này. Khi một người nam và một người nữ kết hôn với nhau, họ đón nhận các phúc lành bí tích của Giao Ước mới. Thiên Chúa cho họ tham dự vào chính sự trung tín của Ngài. Họ vốn đã tham dự vào Giao Ước mới khi chịu Bí Tích Rửa Tội xét như một cá nhân tham dự vào Thân Mình Đức Kitô, là Hội Thánh. Nay, họ tham dự vào Giao Ước mới trong tư cách mới như một đôi vợ chồng, một cộng đoàn Hội Thánh tại gia trong cộng đoàn Hội Thánh toàn thể. 21
  • 22.
    Chúng ta nhớlại rằng trong vườn Êđen, Ađam không tìm được cho mình một người “trợ tá tương xứng” nào, Thiên Chúa đã làm cho ông đi vào một “giấc ngủ mê” ( x. St 2, 21 ). “Giấc ngủ mê” trong tiếng Hípri có ý nói Thiên Chúa tiến hành một hành động rất nhiệm mầu và ý nghĩa. Khi Ađam thức dậy, ông thấy đã xảy ra một điều rất kỳ diệu. Thiên Chúa dẫn đến trước mặt ông người phụ nữ, “trợ tá tương xứng” của ông, đã được tạo dựng cách huyền nhiệm, và ông ngây ngất la lên: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi !” ( x. St 2, 23 ). Đây là sáng kiến của chính Thiên Chúa. Khi ấy, và chỉ khi ấy Ađam mới hành động. Đó là lúc Thiên Chúa sáng tạo nên hôn nhân, và thiết lập nó như một giao ước. Theo một nghĩa nào đó, hôn nhân giống như một đứa con mới sinh, được tạo dựng từ hư không và không bao giờ có thể bị tiêu diệt. Hôn nhân là một tạo thành của Thiên Chúa và là một tặng phẩm bởi Ngài. Hơn nữa, tình yêu chung thủy của vợ chồng giống như một chiếc gương soi. Khi nhìn vào chiếc gương soi hôn phối này, nghĩa là chính khi ta sống hay nhìn vào cuộc sống hôn nhân thủy chung của các đôi vợ chồng quanh ta, ta nhận ra Tình yêu trung thành của Thiên Chúa. Hôn nhân làm hiện diện trong thế giới Tình yêu trung thành của Thiên Chúa, Giao ước của Thiên Chúa. Mỗi nhân vị, dù nam hay nữ, đều được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa. Trong tư cách đó, người ấy có thể tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa và làm cho Thiên Chúa hiện diện giữa trần gian. Nhưng Thiên Chúa còn muốn hơn thế nữa. Ngài còn muốn người đàn ông và người đàn bà nên một trong hôn ước, để làm một hình ảnh phản chiếu Ngài còn rõ ràng và mãnh liệt hơn. Chính Chúa nói con người ở một mình không tốt. Ngài muốn con người sống thành cộng đoàn hiệp nhất huynh đệ, chứ không như những cá nhân sống biệt lập, như những “ốc đảo” cô lập. Vì chính Thiên Chúa là mầu nhiệm Hiệp Thông của Ba Ngôi, Tình Yêu sâu thẳm giữa Cha, Con, và Thánh Thần. Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài, được gọi sống như Ngài. Như thế, khi một người nam và một người nữ kết hợp với nhau trong hôn nhân, họ trở thành một hình ảnh của Thiên Chúa rõ rệt hơn, mạnh mẽ hơn. Khi ấy đôi bạn làm cho Thiên Chúa hiện diện theo một cách thức độc đáo, cách mà khi ở một mình họ không thể làm được. Như Đức Gioan-Phaolô II dạy rằng "con người trở nên hình ảnh của Thiên Chúa không chủ yếu tại yếu tố đơn độc cho bằng là ở tại sự hiệp thông". Như vậy, hôn nhân là một giao ước, vừa tham dự vào chính đời sống của Thiên Chúa vừa làm cho Chúa hiện diện trên trần gian. Một hôn nhân, cách chính xác, được tạo nên theo cách thức mô tả trong sách Sáng thế, cần đến hai hành động. Thứ nhất, hai người nam và nữ cam kết sống trung thành với nhau đến trọn đời, đến khi một trong hai người qua đời. Kế đến, qua quan hệ tính dục của vợ chồng hôn nhân ấy trở thành hoàn hợp ( consummatum ). Qua hai hành động khác biệt nhưng không tách biệt này sự kết hợp thành vợ chồng ( “nên một xương một thịt” ) bất khả phân li được hoàn tất. Giao ước hôn phối thành một thực tại. 2. Gian dâm ( quan hệ tính dục trước hôn nhân ) và sự sống chung không hôn nhân Như chúng ta đã thấy, giao ước hôn phối trực tiếp xuất phát từ những kinh nghiệm nhân bản nguyên thủy và những phẩm chất của thân xác con người. Các nhân vị thì duy nhất. Họ đơn độc trước mặt Thiên Chúa. Họ có thân xác vốn có tính "biểu tượng" ( dấu chỉ bề ngoài của một thực tại bên trong ). Hơn nữa, kinh nghiệm đơn độc dẫn đến kinh nghiệm hợp nhất. Con người được tạo dựng cho tình yêu. Thân xác họ là dành cho "sự hợp hôn", và đó là lý do tại sao một người đàn ông và một người đàn bà có thể trở thành "một xương một thịt". Tính dục nhân bản không chỉ thuộc thế giới vật lý, nó còn hơn nữa thuộc về thế giới biểu tượng và thế giới của tình yêu. Tính dục không phải là một trò chơi hay một môn thể thao trong nhà không có ý nghĩa liên hệ gì. Người ta cũng không thể giản lược tính dục chỉ còn như là một hoạt động thử nghiệm. Người ta không thể "thử lửa" tình dục như thử nghiệm một chiếc xe hơi. Không thể lao mình vào thực nghiệm một mối quan hệ để xem thử nó "chạy" tốt hay không. Tính dục còn hơn thế nhiều. Nó "hoàn hợp" một mối quan hệ. Nó nâng cao một quan hệ giữa một người nam và một người nữ lên một cấp độ hoàn hảo hơn. Nó thiết lập tình yêu giữa người đàn ông và người phụ nữ trên mảnh đất thiêng thánh. Tính dục là một mầu nhiệm chính vì nó mang tính "biểu tượng" và tính hôn phối. Vì thế, nó cần phải được gìn giữ và trân trọng. Nó cần những lời lẽ cam kết được công bố ra ngày thành hôn. 22
  • 23.
    Như vậy, tínhdục đóng ấn cho một mối quan hệ thành toàn, chứ không phải để ghi dấu sự bắt đầu của nó. Khi hai người, đàn ông và đàn bà, quan hệ tình dục trước hôn nhân, họ có thể dễ dàng lẫn lộn thú vui tình dục với tình yêu. Họ có thể lầm lẫn tình yêu với dục vọng ích kỉ chỉ biết tìm lạc thú do người kia mang lại cho tôi. Thế cho nên, người ta hiểu được lý do tại sao có tới 60 đến 70 % các cuộc hôn nhân vốn bắt đầu bằng sự sống chung không cưới xin kết thúc bằng ly dị. Những nghiên cứu gần đây cho thấy tầm quan trọng cực kỳ của sự giao hợp tình dục đối với người phụ nữ. Cơ thể người phụ nữ sản xuất ra các hoóc-môn kết hợp ( "bonding hormones" ) ở ba loại thời kỳ trong cuộc sống: trong khi giao hợp tình dục, thời kỳ sinh con, và trong thời kỳ cho con bú. Từ "hoóc-môn kết hợp" này cũng khá thú vị. "Hoóc-môn" là thuật ngữ thuộc lãnh vự sinh lý học, và "kết hợp" lại tham chiếu đến phạm vi tinh thần. Đấy là một từ ngữ mang tính biểu tượng lại được dùng trong y khoa. Rõ ràng là quan hệ tình dục đòi hỏi phải được kèm theo một dấn thân sâu sắc và trung thành với nhau và cho nhau. Dấn thân ấy chính là cuộc hôn nhân. Do đó, giao hợp tình dục trong hôn nhân dẫn đến một kinh nghiệm sâu xa của hợp nhất. Ngược lại, khi ta quan hệ tình dục với nhiều người trước hôn nhân, mỗi lần quan hệ ta để rơi lại đó một mảnh của bản thân ta. Một phần cua ta cho người này, một mảnh của ta cho người nọ, và vân vân. Ta bị phân chia trong nội tâm, và cuộc sống sẽ trở nên khó khăn hơn. Đức khiết tịnh giúp bảo vệ ta khỏi mối nguy hiểm này. Dĩ nhiên, giao hợp tính dục không chỉ là hành động của tình yêu. Nó còn là một hành động của sự sống. Hành vi tính dục có ý nghĩa vừa để kết hợp tình yêu vừa mở ngỏ cho sự sống từ đó có thể hình thành. Có người đưa ra lời khuyên sau đây. Khi bạn thường xuyên gặp gỡ hẹn hò với một người bạn khác phái, hãy tự hỏi: "Có thực sự tôi muốn có con với người đàn ông ( phụ nữ ) này hay không ? Tôi có muốn làm mẹ ( cha ) của đứa con của người này hay không ?" Câu hỏi này rất ý nghĩa. Nó giúp ta loại trừ nhiều người mà ta cảm nhận hấp dẫn về giới tính nhưng ta lại không muốn kết hôn với người ấy. Lm. Luy NGUYỄN ANH TUẤN ( Còn tiếp ) ƠN CỨU CHUỘC NƠI NGÀI CHAN CHỨA ! – Kỳ 3 Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ CỨU CHUỘC Phần 4: Ơn Cứu Chuộc và những ý kiến bổ sung Thiết tưởng, ta cũng nên đưa các ý kiến vừa nói ở trên vào nghị luận. Thêm vào đó, là đôi lời bàn của tác giả Mark Massa, Dòng Tên từng phát biểu tại phân khoa Tôn Giáo và Văn Hoá thuộc Đại Học Fordham, năm 2006. Theo ông thì Đạo Công Giáo lâu nay đại diện cho một nền văn hoá rất doanh thương vốn từng làm cho người Mỹ và nhiều người Công Giáo ở Mỹ thấy lo lắng, khó xử, hoặc hãi sợ. Theo câu chuyện kể về Ơn Cứu Chuộc, hiểu theo ý nghĩa có tính “bài bác những người sống ở Mỹ”, thì tính cách cộng đoàn vẫn quan trọng hơn cá nhân tư riêng của mỗi người, cũng rất nhiều. Nói như thế là bảo rằng: theo ý các vị này, sở dĩ ta có được ơn cứu rỗi là nhờ thông qua và “ở trong” cộng đoàn mà thôi. Tác giả Mark Massa, S.J. còn thêm vào đó đôi ba ý kiến cứ bảo rằng: nếu không nhờ có cộng đoàn làm trung gian giảng hoà, e rằng các kẻ tin chúng ta có giỏi lắm, cũng sẽ lầm lạc không ít. Những ai chưa từng biết và sống ở Hoa Kỳ, e sẽ không nắm bắt được ảnh hưởng của chủ nghĩa bảo thủ từng đè nặng lên kẻ tin cũng rất nhiều, chí ít là ngang qua sự kiện: Đạo của ta luôn kình chống thuyết tiến hoá ở con người. Có một khảo sát mới đây từng cho thấy: hiện có đến 42% dân số gồm 125 triệu người Mỹ lại cứ cho rằng: sự sống trên trái đất này, lâu nay, vẫn hiện hữu theo hình thái giống bây giờ, tức đa số bảo rằng: khởi từ thuở tạo thiên lập địa mãi đến nay, tất cả đều vẫn vậy. Đây, cũng là ý kiến của nhà giảng thuyết có tên là Billy Sunday từng khẳng định: “Tôi tin rằng mình từng hiện hữu cũng như Thiên Chúa đã dựng nên tôi, có thế thôi.” Các nhà thừa sai bảo thủ người da trắng, nay đạt con số lên đến 26% so với số dân trên toàn nước Mỹ, tức: có hơn 30 triệu người ở Mỹ đã và đang làm thừa sai mục vụ khá hăng say, năng nổ. Trong khi đó, lại có đến 25 triệu giảng viên Tin Mừng vốn là người da màu và khoảng 8 triệu đấng bậc chuyên rao giảng Phúc Âm lại là những người đến từ Châu Mỹ Latinh. Đến như cựu Tổng thống George W. Bush khi trước từng đạt nhiều phiếu bầu từ người Công Giáo có lúc lên đến 52%, lại đã tụt xuống còn 47% ở cuộc bầu cử diễn tiến hồi năm 2004. Một phần của lý do 23
  • 24.
    đã tạo nênsự việc này, là hồi ấy đã thấy xảy ra cuộc chống đối dữ dội từ phía người Thệ Phản bảo thủ ở Hoa kỳ vẫn cứ tin rằng: họ có niềm tin rất vững chắc khả dĩ đảm bảo cho họ có được “Ơn cứu chuộc”. Và sở dĩ có chuyện sụt giảm số phiếu bầu vào thời đó, là vì cựu tổng thống George W. Bush đã mạnh miệng tuyên bố một câu rất “xanh rờn” rằng: Đức Giêsu là nhà hiền triết mà ông ưa thích nhất, bởi lẽ Ngài đã hoán cải đời ông rất nhiều lần. ( xem J.P Moore trong One Nation Under God: the History of Prayer in America, Doubleday, 2005 ). Ở Pháp cũng thế, có truyện kể tương tự dưới hình thức rao truyền Phúc Âm theo kiểu mới của người Thệ phản, cứ nở rộ. Trong khi đó, thì: sinh hoạt cùng loại của Giáo Hội khác, lại cứ dần dà sa sút. Và, sở dĩ có sự khác biệt đến độ như thế, là vì các nhà truyền giáo người Thệ Phản ở Mỹ đã biết cách tập trung/nhấn mạnh vào Kinh Thánh, thập giá cùng những sự việc hồi hướng trở về. Và chính do bởi họ có quyết tâm cao trong nhiều việc, nên họ có được một niềm tin khá vững chãi. Công việc của họ, phần lớn lấy thập giá làm trọng tâm. Họ sử dụng nhiều mẫu mã bằng cách hy sinh mọi sự khác để chỉ diễn giải niềm tin rất mạnh của họ thôi. Ở nơi họ, vẫn có những thứ và những sự từng xảy đến “như thời trước” ( do bởi con người bắt đầu phạm phải lỗi lầm, sai quấy rất khủng khiếp ); rồi sau đó cũng không lâu, nhờ ân huệ Chúa ban, nên đã bớt. Sau lần hồi hướng trở về, bản thân họ như đã dấn thân rất can trường vào các nhóm hội của Nhà Thờ, tựa như các vị “tân tòng” khi trước từng hồi hướng về với Kitô giáo. Một số vị được gọi là nhóm “sùng đạo theo kiểu chính thống giáo” như các vị suốt ngày quỳ “chầu lượt”, nhóm hội, đoàn thể vẫn ê a đọc kinh suốt buổi hội và nhóm tìm về với Kinh Thánh cũng tương tự như nhóm tìm về cuộc sống cách hoàn thiện như Chúa dạy v.v… Các đoàn thể khác như nhóm hội được gọi là “Nhóm Hiện Xuống có Ân huệ tự tại” lại chỉ lo kiếm tìm cho mình thật nhiều phép lạ, tìm cách “nói tiếng lạ”, hoặc chuyên chăm trở thành ngôn sứ của thời đại, v.v… Xem ra, niềm tin của nhiều nhóm hội đạo đức đều thấy mang tính trải nghiệm rất khác nhau trong cuộc sống hằng ngày. Theo các nhóm này, thì việc giữ Đạo bằng vào tổ chức lễ lạy cho thất nhiều, đã nở rộ ở nhiều nơi rất dễ thấy. Các cộng đoàn ở đây đó, đều hỗ trợ một cách đích thực cho hội viên mình. Có thể nói, các vị này vẫn khước từ động thái trần tục hóa chuyện đi Đạo và giữ đạo. Thái độ của các vị, đối với việc hiện đại hóa Phúc Âm, lại mang nhiều tính chất khá mâu thuẫn, dị biệt. Các vị sử dụng hình thái như loại kỹ thuật hiện đại chuyên tiếp cận thị trường, tin tưởng nhiều vào thể chế dân chủ, ưa thích các tiết mục trình diễn trong phụng vụ. Bởi thế nên, trên thực tế, các vị lại đã bác bỏ việc mở rộng vòng tay để mọi người được tự do hơn về lòng đạo. Mặt khác, các vị lại kình chống thái độ trí thức hóa và hợp lý hóa việc đi đạo và giữ đạo. Phải gọi đây là cung cách sống đích thực “Ơn cứu chuộc” của các nhóm, hội lâu rày vẫn như thế. Có thể nói: với họ, chỉ duy nhất một đường độc đạo khiến họ sống đích thực Ơn cứu chuộc là: chỉ làm có mỗi thế. Nhưng, Ơn cứu chuộc vẫn còn đó, rất thực tế. Ơn lành Cứu chuộc Chúa ban vẫn có đó, dù họ có hành xử ra sao, nguội lạnh thế nào hoặc có sốt sắng chuyện Nhà Thờ Nhà Thánh đến cỡ nào đi nữa, Ơn cứu chuộc Chúa ban vẫn đến với mọi người, ở mọi nơi. Vào mọi thời. Vốn có được một quá trình học hỏi về đạo lý Công Giáo khá vững vàng, nên nhiều vị, đôi lúc, cũng “bốc lên” khi suy tư về “Ơn cứu chuộc” thường xuyên hơn trong nhiều thập niên qua. Thập niên ’60, cách riêng, lại thấy xuất hiện chủ thuyết đa nguyên bộc phát rất dữ dội. Song song với xuất hiện này, lại thấy nảy sinh hai phong trào rất đáng nể là: chủ nghĩa phóng khoáng về chính trị và đặc tính độc đoán chuyên trừng trị trong Hội Thánh. Thập niên ’60 khi ấy người người lại cũng thấy có chủ thuyết khá lạc quan so với thập niên ’50 là những tháng ngày Giáo Hội chỉ chuyên chú vào những chuyện xem ra hơi ù lỳ, chậm chạp rất an phận. Và, nhiều người, nếu không muốn nói là nhiều vị thức giả Công Giáo, lại đã sẵn sàng tự đồng hoá chính mình với các trào lưu mới về loại hình văn hoá đang xuất hiện ở quanh họ. Có thể nói: vào thời đó, nhiều chuyển động theo chiều hướng đi lên, rất phong phú, đa dạng và đầy tính chủ quan về tôn giáo mà có người gọi đó là phong trào “thiêng liêng linh đạo”, rất đạo mạo. Các vị khác lại có động thái “trường mặt” ra với kinh nghiệm tổng thể, mà qua đó có giới truyền thông báo chí cũng rất mới, như: truyền hình phát sóng rất cường điệu, để rồi kéo theo hệ quả khác, là: đi đến việc tư nhân hoá Đạo của Chúa. 24
  • 25.
    Cũng từ đó,nhiều vị lại đã lui về dĩ vãng như một thứ “tiểu văn hoá” cũng khá già. Các vị khác lại cứ kiếm tìm các loại tổ chức rất mới mẻ của Đạo Chúa – dù không mang hình thức giáo xứ cũng đã trở thành mái ấm, cơ ngơi phụ thuộc vào nhau, đượm tính “lý sự” hơn. Thật ra thì, họ không thực sự tìm ra được đạo giáo nào giống như thế và cũng chẳng kiến tạo ra được thứ tôn giáo giống như vậy, cả. Thật ra thì, ở vào tình huống giống như thế, người người ít chú tâm đến sự thể là không còn nói nhiều về tội lỗi nữa, nhưng chú tâm hơn đến sự thể là: mình tự chấp nhận chính mình, dễ tự tin và tự giúp mình nhiều hơn trước. Xem thế thì đã thấy xuất hiện một thể loại văn chương “linh đạo” rất mới đã ra đời. Kitô hữu khi ấy, lại những lo toan kiếm tìm ý nghĩa tập thể nơi thế giới tư riêng của họ. Nhưng họ lại không tìm ra được thế giới ấy và bị lạc lõng đến độ không chỉ mỗi hy vọng có được Ơn cứu chuộc đã để mất mà cả đến ý nghĩa của Ơn Cứu Chuộc được thành hình cũng bị mất luôn. Xem thế thì viễn ảnh của việc thực sự xã hội hoá và hiệp thông hai chiều cũng không sáng giá là bao. Lm. KEVIN O’SHEA, DCCT, bản dịch của MAI TÁ ( Còn tiếp ) CÂU CHUYỆN 3 TỶ LÍT BIA, 5 TRIỆU CON CHÓ VÀ VĂN HÓA ĂN NHẬU CỦA NGƯỜI VIỆT NGÀY NAY Từ hè phố cho đến sâu vào tận ngõ, chỗ nào cũng la liệt bia rượu để nhậu, nó làm cho bầu không khí, dáng vẻ, khuôn mặt của đô thị nhàu nhĩ, nhốn nháo. Và cũng chính vì vậy mà số lượng bia tiêu thụ của người Việt Nam trong năm vừa qua lên đến con số 3 tỷ lít, tính ra trung bình mỗi người Việt Nam uống 32 lít/năm. Theo thống kê của tổ chức nghiên cứu thị trường trong năm 2013 vừa qua, người Việt Nam đã uống 3 tỷ lít bia và ăn 5 triệu con chó, con số kỷ lục cao nhất so với các nước trong khu vực Đông Nam Á mặc dù thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam chỉ xếp hạng 8/11 so với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Con số trên cũng đã đưa Việt Nam vào danh sách một trong những nước tiêu thụ bia rượu nhiều nhất thế giới và xếp thứ 3 ở khu vực Châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật trong năm 2013. Có thể một số người trong chúng ta chẳng mấy ngạc nhiên với những con số trên vì trong những năm vừa qua ai ai cũng đã được biết rằng Việt Nam là nước có tỷ lệ nạo phá thai lớn nhất thế giới, là nước có giá sữa nhập khẩu cao nhất thế giới, là nước có giá xe oto nhập khẩu mắc nhất thế giới, giá bệnh viện, chữa bệnh đắt vào top của thế giới, và giờ đây lại thêm một kỷ lục mới, Việt Nam là nước có số lượng người tiêu thụ bia rượu, thuốc lá và ăn thịt chó nhiều nhất thế giới. Hơn nữa, Việt Nam hiện cũng đang là nước có giá thành bia rượu và thuốc lá rẻ nhất so với nhiều nước trên thế giới. Có ý kiến được đưa ra sở dĩ Việt Nam lập kỷ lục bởi những con số trên là vì chuyện ăn nhậu ở Việt Nam là nét văn hóa đặc trưng của người Việt, và do người Việt mình đã trải qua những năm tháng kinh tế khó khăn, đói khổ nên bây giờ khi đất nước đang trên đà phát triển, thu nhập bình quân đầu người cũng đang tăng trưởng nên có nhiều người đang đi vào xu hướng hưởng thụ để bù đắp lại quá khứ thiếu thốn. Cũng có ý kiến trái chiều cho rằng, không có văn hóa ăn nhậu gì ở đây, những con số trên là những con số biết nói để thể hiện niềm vui cho các doanh nghiệp sản xuất bia ở Việt Nam và đó cũng là nguyên nhân để phản ánh thực trạng nền kinh tế, tệ nạn xã hội ở Việt Nam hiện nay. Tôi thì tôi thấy chẳng quan trọng mấy cái lý do hay ý nghĩa của những con số kỷ lục trên, tôi chỉ thấy rằng đây là một thực trạng đáng lo ngại không chỉ về kinh tế xã hội, mà còn về đạo đức, tri thức người dân Việt. Không biết người Việt Nam nghĩ thế nào khi Liên minh bảo vệ chó Châu Á đã ra thông báo về mức độ nguy hiểm cần được bảo vệ của loài động vật này ở Việt Nam khi con số 5 triệu con chó được “hóa kiếp” lên bàn nhậu ở Việt Nam trong năm vừa qua ? Chẳng có cái quốc gia nào trên thế giới mà ăn thịt chó đến mức báo động như Việt Nam mình, cảm thấy vừa xấu hổ vừa vô nhân đạo cho dân Việt mình. Có thể với nhiều người dân Việt, điều đó chẳng 25 CÙNG TRĂN TRỞ
  • 26.
    đáng lo ngạigì, vì đã nhậu, có rượu bia thì phải có mồi, mà thịt chó lại là món khoái khẩu của rất nhiều dân nhậu. Họ có thể xem con vật trung thành, gần gũi nhất với mình là mồi nhậu khoái khẩu khi nhậu lúc vui, lúc buồn, hay không vui không buồn cũng nhậu. Trên các trang báo trong những năm gần đây, đã có biết bao hệ quả, biết bao tệ nạn từ chuyện “cẩu tặc” ăn cắp chó bị người dân bắt được và đánh đập đến chết đến chuyện buôn chó xuyên biên giới vì chủ các cửa hàng thịt cầy không thể đáp ứng nổi nhu cầu quá lớn của dân nhậu trong nước. Vậy cũng đủ để mỗi người chúng ta thấy vì một món mồi nhậu từ con chó, nhiều người Việt không màn đến tính mạng và đạo đức của mình. Bởi vậy những năm gần đây, mỗi khi về lại quê hương, tôi bỗng dưng thấy khan hiếm hẳn hình ảnh những chú chó chạy chơi quanh xóm nhà mình mà thay vào đó là quán nhậu mọc lên như nấm sau mưa. Nếu ở một số trên thế giới, quán nhậu, quán bar được quy định phải cách xa trường học, bệnh viện, nhà thờ, thì ở Việt Nam mình không có những quy định đó, cho nên cứ thế mà quán nhậu mở khắp nơi, nhà nhà mở quán nhậu, người người đi nhậu, vui nhậu, buồn nhậu, không vui hay không buồn cũng nhậu, giờ nào cũng nhậu, sáng nhậu, trưa nhậu, chiều nhậu, tối cũng nhậu, không chỉ đàn ông nhậu, mà đàn bà cũng nhậu, mấy đứa thanh niên choai choai mới lớn cũng tập tành nhậu. Tôi không dám dùng chữ suy đồi trong vấn nạn này nhưng có thể xem đó là sự xuống cấp văn hóa ẩm thực, văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Thực tế là nếu nhìn vào các quán bia vỉa hè, các quán nhậu la liệt ở đô thị, chúng ta có thể thấy đặc tính của các quán bia này cũng có yếu tố phù hợp với đặc tính của một bộ phận người Việt, đó là ưa sự tiện lợi, bạ đâu ngồi đấy, bạ đâu cũng uống, cũng nhậu được. Từ hè phố cho đến sâu vào tận ngõ, chỗ nào cũng la liệt bia rượu để nhậu, nó làm cho bầu không khí, dáng vẻ, khuôn mặt của đô thị nhàu nhĩ, nhốn nháo. Và cũng chính vì vậy mà số lượng bia tiêu thụ của người Việt Nam trong năm vừa qua lên đến con số 3 tỷ lít, tính ra trung bình mỗi người Việt Nam uống 32 lít/năm. Nhìn những con số kỷ lục trên, mới hiểu rõ tại sao người Việt Nam đã nghèo lại càng nghèo thêm, bao nhiêu tiền bạc làm ra tiêu xài hết vào quán nhậu. Ăn nhiều, uống nhiều, nhậu nhiều, chơi nhiều mà ít vận động trí óc, ít biết cách nâng cao trình độ tri thức của mình, điển hình là theo thống kê hàng năm mỗi người Việt đọc trung bình 0,8 cuốn sách, có nghĩa là mỗi người Việt Nam không đọc xong hết nổi một cuốn sách mỗi năm. Vì vậy mà có thể kết luận là với người Việt Nam, nhậu thì bao giờ cũng vui và dễ dàng hơn đọc sách, cho nên đừng hỏi tại sao Việt Nam mình không thể phát triển bằng những nước khác. VƯƠNG ĐOÀN CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI 3 TỶ LÍT BIA, 5 TRIỆU CON CHÓ Dịp Tết vừa qua, không ai rủ, không ai mời, tôi vẫn cứ tự động vào một ngôi Chùa, trước để vãn cảnh thiện nam tín nữ đi hái lộc chùa, sau để ăn cơm chùa. Nói là cơm chùa nhưng vào dịp đầu năm, chùa lại chiêu đãi các món hủ tíu, phở, mì, bánh chưng chay… Các món ăn để sẵn trên một dãy bàn dài, muốn ăn gì cứ tự động lấy chén đũa ra bỏ vào, các nồi nước lèo để sẵn trên bếp nóng nghi ngút khói. Sau đó cứ tự động tìm chỗ ngồi ăn một cách trầm lặng. Người ta không nói chuyện với nhau khi ăn, hoặc có nói thì rất ít và rất khẽ. Không có cảnh ồn ào náo nhiệt chúc tụng hoa mỹ nâng cốc rượu bia. Ăn xong tự đi rửa chén đũa, cất vào chỗ cũ cho người đến sau dùng, rồi cứ thoải mái ra về không phải trả tiền vì là… cơm chùa mà. Tại phòng khách kế bên chánh điện, sư trụ trì ngồi tại bàn làm việc khoan thai niềm nở tiếp khách thập phương. Ai có tâm sự gì cứ thổ lộ cùng ngài. Ngài lắng nghe thấu hiểu và sẽ hồi hướng lên cho Đức Như Lai. Phật Tử xếp hàng dài để đợi đến phiên vào hội kiến ngài. Cách nói và cách nghe rất là “thiền”. Có đứng sát bên cũng không nghe nổi họ đang nói cái gì. Tôi không cho rằng đây là đặc trưng của Phật Đạo mà chính là văn hóa truyền thống Việt Nam, mà không hiểu do đâu, bên Công Giáo mình đã không duy trì được. Dù cố ngụy trang bằng kiếng mát và mũ rộng vành phủ kín khuôn mặt, một số người quen vẫn nhận ra tôi. Có kẻ, trong ngày đầu năm mà không giữ được Tâm Phật, hích cùi chỏ và kê ngay một câu: “Đạo thịt chó mà cũng đi chùa à ?” Chưa buông tha đâu, hắn còn bồi tiếp: “Tết này bên Nhà Thờ mấy ông đã hóa kiếp cho mấy con chó ?” Ngay khi đó di động reng inh ỏi, ông Bẩy, phó ban Mục Vụ… lè 26
  • 27.
    nhè: “Đợi hoàihổng thấy ông đâu, tụi tôi dzô rồi. Có món rựa mận đặc biệt do thằng Sáu tự làm. Rượu bia thì khỏi lo, dzô số kể !” Chẳng trách chi cha Vĩnh Sang ( báo Ephata 597 ) đã than thở ( không riêng gì ở xã Cần Thạnh đâu ): Sáng Mồng Một anh chị em tín hữu kéo đến đầy Nhà Thờ, tràn cả ra ngoài sân, cha sở ngạc nhiên vì có nhiều “kẻ lạ mặt” đi dự lễ, hỏi ra mới biết con cháu từ xa về ăn Tết với gia đình. Không khí vui tươi náo nhiệt nơi Nhà Thờ kéo dài khoảng hơn 1 giờ đồng hồ, tôi hỏi cha sở: “Sau đó thì sao ?” Ngài nói: “Ai về nhà ấy, bắt đầu những… sòng bạc và những chiếu nhậu”. Hết ! Tết ở đây là vậy ! Trong đám táng linh đình của một Linh Mục ở vùng cao lao xao nhiều tiếng xì xầm: “Đáng lẽ chưa chết đâu. Uống nhiều quá mới chết sớm như vậy.” Mà ngài thì còn muốn ở lại trần gian lâu hơn để phục vụ Chúa và Hội Thánh nên đã năm lần bẩy lượt đi ra nước ngoài chữa bệnh. Nói về bia thì có một ngộ nhận rất tai hại tại Việt Nam: Bia rất bổ cho sức khỏe. Theo nhiều cuộc nghiên cứu khoa học thì bia cũng là một loại chất độc tai hại không kém rượu đối với con người. Vào thời Linh Mục rất hiếm hoi, có một Giáo Xứ sau nhiều năm thiếu vắng Linh Mục lại mất đi một cha quản nhiệm vì rượu. Vào Mùa Chay, ngài đi tăng viện giải tội cho Giáo Xứ khác. Buổi tối các cha ngồi ăn cơm chung với nhau. Có Việt Kiều về mang tặng cho cha ở đây một chai rượu quý. Một loại hàng độc vào thời còn nhiều khó khăn ( thời nào cũng có khó khăn ). Rượu quý thì phải chiêu đãi khách quý. Cha này quên mất lời dặn của bác sĩ, uống vào mấy ly nhỏ, có chút xíu mà nhằm nhò gì, hơn nữa chung quanh toàn các cha cả thì lo gì. Thế là ngài bị choáng, xin được nằm nghỉ một tí trước khi ra về. Nhưng ngài không bao giờ dậy nữa. Sau đó thì Giáo Xứ đó phải đợi thêm 5 năm mới có cha khác về. Ở Việt Nam có một ngộ nhận rất tai hại là bia thì bổ, rượu mới có hại. Một cuộc nghiên cứu tại Johns Hopkins Bloomberg School of Public Health cho biết 70% ca cấp cứu tại bệnh viện Baltimore có nguyên nhân vì uống bia. http://www.healthline.com/health-news/aging-health-benefits-of-coffee-beer-082013 Bia làm giảm đi khả năng tiêu hóa các chất béo và khả năng hấp thụ vitamin và khoáng chất của cơ thể con người. Bia còn tiêu diệt luôn vitamin C và B complex. http://www.ask.com/question/why-is-beer-bad-for-you Nếu bia không được tiêu thụ ngay sau khi sản xuất mà được bảo quản trong thùng, chai, lon thì sẽ nẩy sinh một số phản ứng hóa học biến bia thành một dạng độc chất. Một lon bia loại rất nhẹ cũng làm phát sinh 150 calori thừa thãi trong cơ thể. Để loại bỏ đi 150 calori tai hại này phải đi bộ 40 phút với tốc độ 5 cây số/giờ. http://www.realbeer.com/edu/health/good-bad.php Bợm nhậu ở Việt Nam có khi uống cả thùng bia và đi ngủ thẳng cẳng vì ngày mai đâu cần phải dậy nữa !?! NGUYỄN TRUNG MỘT ĐỜI DÂNG MẸ Suốt trung tuần tháng 2 vừa qua, tín hữu Boston nhộn nhịp tới lui khắp mọi nẻo đường đổ về từ Vương Cung Thánh Đường Mẹ Hằng Cứu Giúp Boston đến các Nhà Thờ lân cận có cộng đoàn tín hữu Việt Nam, nơi quý thầy DCCT từng giúp mục vụ trước ngày nhận sứ vụ Linh Mục. Tiểu bang Massachusetts không tập trung đông đảo người Việt như California hay Texas, nhưng phần lớn cư ngụ tại thủ phủ Boston. Hoa Kỳ, đất hội tụ nhiều sắc dân. Boston cũng chưa có Nhà Thờ Việt Nam riêng biệt, nhưng được bề trên ưu ái gửi Linh Mục quản nhiệm Việt Nam về mỗi cộng đoàn để tiện cử hành Phụng Vụ cho giáo hữu. Quý thầy DCCT vài năm qua tu học tại Boston, hè 2013 trở về Tỉnh Dòng mẹ Việt Nam lãnh sứ vụ Phó Tế, khi qua Mỹ được cử đi giúp các cộng đoàn có cha quản nhiệm Việt Nam như: Giáo Xứ Saint Ambrose ( vùng Dorchester ), Saint Bernadette ( Randolph ), Sacred Hearts ( East Boston ), Sacred Hearts ( Malden ) Vào ngày 15.2.2014, tại Vương Cung Thánh Đường Mẹ Hằng Cứu Giúp Boston quý 27 CÙNG TẠ ƠN
  • 28.
    thầy được traoban thánh chức Linh Mục. Hai tuần liên tiếp sau vào các ngày thứ bẩy và Chúa Nhật, Thánh Lễ Tạ Ơn được cử hành tại 4 Nhà Thờ quý tiến chức đã phục vụ. Trước đây khi còn ở quê nhà, tôi đã ba lần được dự Lễ Tạ Ơn của tân Linh Mục, nhưng hồi đó tuổi trẻ, chỉ ham vui trong ca đoàn tập hát nhộn nhịp, tiệc tùng ăn theo, chẳng ý thức gì. Sau 1975, Giáo Hội bị cấm cách mọi thứ, hiếm khi nào được phong chức Linh Mục công khai, cho tới khi tôi rời Việt Nam. Giờ đây trong một xã hội tục hóa, ơn gọi hiếm hoi, đã lâu lắm tôi mới có dịp dự lễ thụ phong Linh Mục, lại là người đồng hương, một niềm vui đặc biệt chắc không chỉ riêng mình tôi mà biết bao tín hữu Boston cũng chung niềm hạnh phúc đó. Vài năm mới qua Mỹ, thỉnh thoảng dự Lễ Noel hay Phục Sinh tại Nhà Thờ Chính Tòa, thời Đức Hồng Y Bernard Law còn phụ trách Tổng Giáo Phận Boston, ngài đặc biệt quý mến cộng đoàn Việt Nam. Có năm, sau đáp từ phần cám ơn của đại diện công đoàn, hướng về ca đoàn ngài nói: “Tôi tha thiết mời gọi các bạn trẻ Việt Nam hãy dấn thân theo Chúa, giáo hữu Việt Nam nhiệt thành đạo đức, nhưng ơn gọi hiếm quá !” Sau đó ngài tiếp: “Bạn nào muốn đi tu xin cho tôi biết ?” Nhưng không có một ai hồi đáp ! Cách nay hai tuần, người bạn gửi Email cho tôi tâm sự, bạn đi Lễ Chúa Nhật thấy có thông báo Giáo Phận sắp có vài tân Linh Mục xin tín hữu cầu nguyện, bạn mừng ứa nước mắt xúc động khi nghe những tên Mỹ gốc Việt: Vincent Đặng, Thomas Nguyên… Ra về đến cuối Nhà Thờ nhìn bảng thông tin, hình ảnh các Tu Sĩ trẻ Mỹ lẫn Việt khuôn mặt rạng rỡ, nụ cười tươi, bạn chợt lo lắng, nghĩ không biết các Linh Mục tương lai này có giữ trọn cuộc đời dâng hiến không, khi thấy bao cạm bẫy, khó khăn trong một xã hội tục hóa, hưởng thụ… Bạn trở lại Nhà Thờ quỳ trước Nhà Tạm để cầu nguyện riêng cho các ngài. Email của bạn đến với tôi trong những ngày Giáo Phận Boston cũng đang có bốn bạn trẻ can đảm sắp dấn thân trong đời phục vụ hiến dâng. Chắc chắn quý thầy hôm nhận sứ vụ Linh Mục có lời cầu nguyện chân thành của người bạn tôi, và còn biết bao nhiêu tấm lòng yêu mến Giáo Hội ở khắp nơi nữa. Trong Thánh Lễ tấn phong bốn tiến chức vừa qua, khoảng 60 Linh Mục đồng tế, tôi nhận thấy phần nhiều khá trẻ và gốc Việt, giới Tu Sĩ tham dự cũng thế, thật đúng như thống kê về ơn gọi Hoa Kỳ 2013 tôi đọc trước đây: ơn gọi vĩnh khấn tăng nhiều trong cộng đồng Á Châu, nhất là người Mỹ gốc Việt. Điều đó cũng nói lên phần nào lòng đạo đức nơi tín hữu Việt Nam và hoa trái tốt đẹp của gia đình Công Giáo. Tuyên ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo của Công Đồng Vatican II viết: “Vì là người truyền sự sống cho con cái, nên cha mẹ có bổn phận hết sức quan trọng là giáo dục chúng và vì thế họ được coi là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của chúng. Vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi nếu thiếu sót thì khó lòng bổ khuyết được” ( Gravissimum Educationis, số 3 ). Nói đến gia đình, mái ấm yêu thương là nghĩ đến người mẹ hiền, Thượng Đế đã tạo ra kiệt tác tuyệt vời nhất trần gian là trái tim người mẹ, lòng mẹ bao dung hiền dịu, cội nguồn yêu thương, đường ta đi tương lai bóng mẹ hiền dõi theo, là chốn bình yên ta trở về lúc vấp ngã đau buồn… Đại văn hào nga Macxim Gorki đã ca ngợi: "Đời thiếu mẹ hiền, không phụ nữ - Anh hùng, thi sĩ, hỏi còn đâu ?" Thiên chức người mẹ Công Giáo còn cao cả hơn, qua Bí Tích Hôn Nhân, cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, giáo dục con cái nên thánh, liên đới yêu thương mọi người. Giáo Hội không thiếu những tấm gương các bà mẹ thánh dưỡng dục con bằng một đời cầu nguyện hy sinh. Đức Giáo Hoàng Piô X, ngay sau khi được tấn phong Giám Mục Montava liền khoe chiếc nhẫn Giám Mục của mình với mẹ: “Mẹ xem chiếc nhẫn có đẹp không ?” Bà mẹ bèn giơ chiếc nhẫn cưới trên tay và bảo: “Nếu không có chiếc này thì làm gì có chiếc kia !” Điều rất đặc biệt an ủi với bốn tân Linh Mục ngày hôm đó là có sự hiện diện của cha mẹ đến từ Việt Nam. Trông ai cũng hiền lành, giản dị, nhất là các bà mẹ trong chiếc áo dài truyền thống Việt Nam: “Mẹ Việt Nam không son không phấn. Mẹ Việt Nam chân lấm tay bùn..." ( Trần Cao Tường ) “Thông thường, ơn gọi Linh Mục xuất phát từ gia đình, trong tình yêu của cha mẹ và môi trường giáo dục Đức Tin đầu tiên. Chính mảnh đất màu mỡ ấy, việc sẵn sàng đón nhận và vâng theo thánh ý Thiên Chúa mới có thể bén rễ và hút được dưỡng chất cần thiết… Chúa Kitô hoạt động trong cuộc đời những người Ngài đã kêu gọi và tuyển chọn, từ tất cả mọi người trong gia đình đến cả những người thân cận đều có ảnh hưởng, nhưng đặc biệt hơn là sự góp phần bởi chính đời sống của người mẹ. Các bà mẹ Linh Mục và Chủng Sinh xứng đáng được toàn thể Giáo Hội ngưỡng mộ và biết ơn vì đã nuôi dạy 28
  • 29.
    con mình trongđức tin và nâng đỡ họ trong ơn gọi”. ( Hồng Y Mauro Piacenza, Tổng Trưởng Bộ Giáo Sĩ. Lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, 1.1.2013 – Trần Quốc Tuyến chuyển ngữ ) Tín hữu Boston tham dự Thánh Lễ Truyền Chức và Tạ Ơn không hẳn vì tình cảm riêng với bốn tân Linh Mục, nhưng hơn cả, đó là tấm lòng với DCCT và Giáo Hội quê nhà. Hơn ai hết họ cảm thông thân phận xa nhà, nỗi buồn ly hương nơi quý tân chức khi thiếu vắng người thân yêu trong những ngày đặc biệt. Có người tôi chưa gặp mặt lần nào, hôm nay đã nên quen, vì gặp gỡ tới 5 lần, từ lễ trao sứ vụ Linh Mục đến lễ Tạ Ơn, họ cũng như tôi, nhận đủ các phép lành đầu tay trong đầu đời Linh Mục nơi tân chức. Thánh Lễ Tạ Ơn cuối cùng của tân Linh Mục Giuse Trần Đức Hùng ít quý cha đồng tế nhất, vì tổ chức sau đó một tuần, quý cha và thân hữu ở xa phải ra về, thế nhưng vẫn có đầy đủ tín hữu Boston. Trong các Thánh Lễ Tạ Ơn, người đặc biệt nhất là tân Linh Mục rồi đến thân sinh của Linh Mục. Hạnh phúc biết bao trong những ngày đặc biệt có sự hiện diện đầy đủ của các đấng sinh thành, quý báu hơn nữa từ quê hương xa xôi cách nửa vòng trái đất đến với người con Linh Mục tại vùng đất mùa đông khắc nghiệt, chưa bao giờ họ phải chịu đựng như thế ở quê nhà. Mùa đông năm nay tại nước Mỹ, lại là mùa đông lạnh nhất trong hơn 20 năm qua. Biết bao lời cám ơn chân thành xúc động từ tân Linh Mục gửi đến mọi người, có cha đã không ngăn được xúc động. Thông thường người ta chọn dâng Thánh Lễ Tạ Ơn tại quê nhà, nơi sinh ra, cất tiếng khóc chào đời, lớn lên cùng kỷ niệm thân thương, nhưng hôm nay các tân chức lại chọn Boston dâng Thánh Lễ Tạ Ơn, đây là một niềm hạnh phúc cho chúng tôi, nhưng đổi vào đó cũng là sự hy sinh của bao người thân yêu nơi quê nhà đã gửi gấm ước vọng, chung lời cầu nguyện, hy sinh giúp đỡ chân thành trên đường tiến tới lý tưởng Linh Mục. Cả bốn tân chức đều gửi tặng cha mẹ chiếc khăn lau tay được xức dầu thánh khi truyền chức, đó là giây phút xúc động với nhiều người. “Ta mắc nợ ai bao năm rồi vẫn chưa trả nổi. Nợ quê hương một chùm khế ngọt. Nợ cuộc đời một lần đắng cay. Nợ trời quê một cánh diều bay. Ta nợ lời ru mẹ ầu ơ... bên cánh võng năm nào.” ( Mắc nợ, Nguyễn Văn Thiên ) Với riêng tôi, nghi thức đọc Kinh Cầu Các Thánh là xúc động nhất, hiệp với tân Linh Mục, nguyện cầu cho các ngài trọn vẹn hiến thân như Đức Kitô, từ giây phút này đời Linh Mục đã được hiến thánh cho mọi người, chết trong đời trần tục nhưng sống trong ơn thánh, mùa xuân hy lễ nối dài. Thánh Lễ Tạ Ơn của tân Linh Mục Giuse Trần Đức Hùng tạm kết thúc những ngày lễ nhộn nhịp hạnh phúc của bốn tân Linh Mục và tín hữu Boston cũng như thân hữu xa gần. Một ngày gần đây, chia tay cha mẹ, bà con thân hữu, tân Linh Mục trở về với bổn phận, một cuộc đời không cho riêng mình, cho mọi người, một trọng trách tưởng chừng như quá sức chịu đựng… Ngày vui ngắn chẳng tày gang, chỉ còn lại những kỷ niệm, lời nguyện cầu, lời ru của mẹ nơi quê xa vẫn mãi mang theo trong cuộc đời dâng hiến. “Mẹ yêu… Tiếng mẹ ru cho con vững buớc. Trên đuờng đời chông gai phía truớc. Cho con nhớ mãi. Tình mẹ cao vời. Tiếng mẹ ru ấm suốt đời… mùa xuân…” ( Dzuy Sơn Tuyền ) Đức Hồng Y Fulton Sheen nói: "Mỗi Linh Mục có hai người mẹ, một theo xác thịt, một theo tinh thần". Người mẹ tinh thần của Linh Mục là Đức Maria. Hình ảnh tân Linh Mục Trần Đức Hùng sau Thánh Lễ Tạ Ơn nguyện cầu trước bàn thờ Đức Mẹ Phù Hộ các Tín Hữu của cộng đoàn Nữ Vương Hòa Bình ( Malden ) như lời nguyện kết thúc thay cho bốn tân Linh Mục và tất cả mọi người. Chúng ta cùng dâng lên Mẹ tất cả quá 29
  • 30.
    khứ, hiện tại,tương lai, đặc biệt con đường tận hiến của các tân Linh Mục. Hãy tin tưởng đặt đời sống chúng ta vào bàn tay Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ Maria đã xin vâng trong suốt cuộc đời sẽ giúp chúng ta tin tưởng nơi sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúng ta cùng với Mẹ mang Chúa đến người khác như Mẹ đã thực hiện từ giây phút được sứ thần truyền tin đến cuối cuộc đời của Chúa trên đồi Canvê. Xin mượn tâm tình bài Thánh Ca dưới đây nguyện cầu cho tân Linh Mục với Mẹ Maria bởi vì Mẹ là Nữ Vương Linh Mục. “Ngày hôm nay con bước lên đường. Ngày hôm nay con đã lên đường. Đường con đi loan truyền ánh Tin Vui tình thương. Mẹ yêu ơi ! Xin Mẹ giúp con đi bình an. Ôi Mẹ của Linh Mục. Xin Mẹ hãy dẫn đường chỉ lối. Con nguyện thề tín trung ơn gọi làm chứng nhân cho Con Mẹ”. ( Ôi Mẹ Linh Mục – Nguyễn Duy ) HẠNH NGUYỄN, Boston, 2.2014 CHƯƠNG TRÌNH NHỊP CẦU BÁC ÁI PHANXICÔ TRỢ GIÚP CÔ ANNA TRẦN THỊ SÂM Ở SÀIGÒN, BỊ UNG THƯ VÚ Cô Maria Phạm Thị Vân, Dòng Ba Đa Minh, giới thiệu cô ANNA TRẦN THỊ SÂM, sinh năm 1960, ngụ tại tổ 6, ấp 4, xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, Sàigòn. Chồng cô đã qua đời gần 1 năm. Cô còn cưu mang 2 đứa cháu nội. Cô Sâm bị ung thư vú đã di căn vào tim và phổi, gia đình khó khăn nên đã phải bán nửa căn nhà để chạy chữa bệnh. Tháng 12.2013, bệnh tình nguy kịch nên các đoàn viên Huynh Đoàn Đa Minh, Giáo Xứ Tân Đông, đã đến thăm và đưa cô vào bệnh viện cấp cứu và điều trị. Chúng tôi xin trợ giúp 5.500.000 VND, số tiền được trích từ Chương Trình Nhịp Cầu Bác Ái Phanxicô ( có 6 biên lai ). TRỢ GIÚP BÀ NGUYỄN THỊ TIẾN Ở BÌNH DƯƠNG, BỊ SỎI MẬT VÀ TIỂU ĐƯỜNG Cô Isave Nguyễn Thị Nỡ, cộng tác viên Trung Tâm Mục Vụ DCCT, giới thiệu bà NGUYỄN THỊ TIẾN, sinh 1956, tạm trú tại 54 ấp Tân Lập, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Chồng chết, bà sống với con gái út 22 tuổi, còn 2 người con lớn đã lập gia đình nhưng ở xa và chỉ đủ sống. Bà Tiến bị tiểu đường và sỏi mật, cuộc sống khó khăn không có tiền mua thuốc theo toa của Bác Sĩ nên mỗi ngày càng biến chứng nhiều bệnh, bà đau bụng thường xuyên. Ngày 14.2.2014 bà đau bụng nhiều nên phải nhập viện và mổ khẩn cấp vì sỏi mật. Chúng tôi xin trợ giúp 2.500.000 VND, số tiền được trích từ Chương Trình Nhịp Cầu Bác Ái Phanxicô ( có 1 biên lai ). TRỢ GIÚP ÔNG LÊ QUANG MỘT Ở SÀI GÒN, BỊ UNG THƯ THANH QUẢN Ông Vinh Sơn Maria Nguyễn Văn Khiên, cộng tác viên Trung Tâm Mục Vụ DCCT, giới thiệu ông LÊ QUANG MỘT, sinh 1962, ngụ tại 67 B/67 Trần Văn Đang, P. 9, Q. 3, Sàigòn. Ông Một có 4 người con, 1 người con bị tâm thần. Ông Một bị ung thư thanh quản, phải điều trị tại Bệnh Viện Ung Bướu Sàigòn. Chúng tôi xin trợ giúp 3.000.000 VND, số tiền được trích từ Chương Trình Nhịp Cầu Bác Ái Phanxicô ( có 2 biên lai ). TRỢ GIÚP ÔNG GIUSE VÕ ĐỨC HÀO Ở SÀIGÒN, BỊ NHIỄM TRÙNG MÁU Cô Isave Nguyễn Thị Nỡ, cộng tác viên Trung Tâm Mục Vụ DCCT, giới thiệu ông GIUSE VÕ ĐỨC HÀO, sinh 1947, ngụ tại 61/24/6 đường số 2, P. Bình Hưng Hoà, Q. Bình Tân, Sàigòn. Ông Hào có 4 người con, 3 người đã lập gia đình ở xa, cuộc sống khó khăn, hiện tại ông đang sống với con trai út. Ông Hào bị nhiễm trùng máu, sức khoẻ yếu nên gần 10 năm nay ông không làm gì được, sống nhờ vào 30 CÙNG TƯƠNG TRỢ
  • 31.
    con út. Ngày3.2.2014, ông phải nhập viện, chi phí hết gần 10 triệu, chưa tính tiền mua máu ở ngoài, gia đình không có tiền để điều trị nên xin bác sĩ cho về. đến ngày 12.2.2014, ông lại phải nhập viện cấp cứu, lần này Bác sĩ không cho về, nên gia đình phải chạy vay khắp nơi để mượn tiền lo cho ông. Chúng tôi xin trợ giúp 5.000.000 VND, số tiền được trích từ Chương Trình Nhịp Cầu Bác Ái Phanxicô ( có 1 biên lai ). 444. QUỸ MẸ HẰNG CỨU GIÚP ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG CHO BÀ LÊ THỊ NHI HOA Ở BÌNH THUẬN Cô Anna Nguyễn Thị Thành, cộng tác viên Trung Tâm Mục Vụ DCCT, giới thiệu bà LÊ THỊ NHI HOA, sinh năm 1971, hiện ngụ tại khu phố 7, thị trấn Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, thuộc Giáo Xứ Tân Châu, điện thoại: 01626.022.052. Người chồng bỏ đi lấy vợ khác, bà có một con gái 7 tuổi và nuôi mẹ già trên 76 tuổi đang bị bệnh phổi, gia đình thuộc diện nghèo nên được cấp BHYT hộ nghèo cho người mẹ già, riêng bà không có Bảo Hiểm Y Tế, hoàn cảnh nghèo, thu nhập thấp và neo đơn. Bà Nhi Hoa buôn bán trái cây theo thời vụ, mua trái cây tại vườn và tự hái. Ngày 20.5.2013, bà leo lên cây xoài để hái nốt những trái trên cao đem bán, chẳng may gặp nhánh cây bị sâu mục, ngã xuống đất, chấn thương cột sống, gẫy đốt sống L2, được đưa đi Bệnh Viện tỉnh Bình Thuận, rồi chuyển vào Bệnh Viện Chợ Rẫy, Sàigòn. Ngày 21.5, bà được mổ, gia đình phải vay mượn các nơi để đóng tạm ứng ngay số tiền 30.000.000 đồng. Ca mổ thành công tốt đẹp, ngày 24.5.2013, bà được đưa về lại Bệnh Viện tỉnh để theo dõi và điều trị tiếp. Gia đình hiện đang phải chịu áp lực trả cho hết món nợ quá lớn. Ngày 22.2.2014, chúng tôi xin mở Quỹ Trợ Giúp điều trị chấn thương cột sống cho bà Lê Thị Nhi Hoa với số tiền là 20.000.000 VND. Mọi liên hệ trợ giúp xin gửi về cho Lm. Lê Quang Uy, Trung Tâm Mục Vụ DCCT, 38 Kỳ Đồng, P. 9, Q. 3, Sàigòn. Email: gxmehangcuugiup@gmail.com Danh sách các ân nhân gần xa: Chuyển từ Quỹ giúp em Ngọc Trang ( Sàigòn ): 2.300.000 VND Hội Bác Ái Phanxicô ( Hoa Kỳ ): 4.000.000 VND Trích chia sẻ của ông Đinh Đức Trung ( Hoa Kỳ ): 400 USD Gia đình bé Nguyễn Đoàn Bích ( Sàigòn ): 300.000 VND Cô Hồ Mỹ Linh ( Sàigòn ): 500.000 VND Một người ẩn danh ( Đức ): 500.000 VND Một ân nhân ở Q. Bình Chánh ( Sàigòn ): 500.000 VND Một gia đình ẩn danh ( Sàigòn ): 500.000 VND Một Linh Mục ( gốc Bắc Ninh ): 1.000.000 VND Ba người dự Lễ Xa Quê DCCT ( Sàigòn ): 2.000.000 VND Tổng kết đến 18g15 chiều thứ ba 25.2.2014: 10.600.000 VND + 400 USD = 20.000.000 VND Như vậy sau 4 ngày quyên góp, chúng ta đã có được 20 triệu đồng giúp bà Lê Thị Nhi Hoa. Xin tạ ơn Chúa, biết ơn Mẹ và cám ơn quý ân nhân gần xa. 445. QUỸ MẸ HẰNG CỨU GIÚP ĐIỀU TRỊ ĐA CHẤN THƯƠNG CHO ANH MAI ĐĂNG SƠN Ở GIA LAI Thầy Giuse Vinh Sơn Nguyễn Ngọc Biển, SSP, điện thoại: 0982.706.966, giới thiệu anh MAI ĐĂNG SƠN, sinh ngày 1.1.1974, quê quán tại thị trấn Vĩnh Trụ, xã Đồng Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, hiện đang thường trú tại điểm 9, xã Ea H’leo, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Anh Sơn cùng vợ là chị Maria Đỗ Thị Thu Hoài và 2 người cháu đã vào Gia Lai năm 2002 để mưu sinh. điện thoại 0977.305.491, liên hệ với chị Thu Hoài. Ngày 9.1.2014 vừa qua, tại Ngã Ba Cây Xoài, thuộc địa bàn thị trấn Ayun Pa, huyện Ayun Pa, tỉnh Gia Lai, anh đang chạy xe honda về hướng Phú Thiện, do tránh người sang đường, anh bị một chiếc xe tải chạy ngược chiều đâm vào, gây trọng thương, được đưa vào cấp cứu tại Bệnh Viện Quân Y 211, tỉnh Gia Lai. Anh Sơn bị chấn thương sọ não kín, bể xương sọ, gãy xương quai sanh, gãy xương bả vai trái, tróc thịt các ngón tay của bàn tay trái. Các bác sĩ cho biết chi phí cho ca mổ đợt 1 và đợt 2 ( sau 6 tháng nữa ), kể cả thuốc men điều trị hết khoảng trên 150.000.000 VND. Gia cảnh quá khó khăn, số tiền lớn như thế, không thể tự lo được, cố gắng vay mượn và cầm cố chỉ được khoảng 30.000.000 VND. 31
  • 32.
    Ngày 25.2.2014, chúngtôi xin mở Quỹ Trợ Giúp điều trị đa chấn thương cho anh Mai Đăng Sơn với số tiền là 35.000.000 VND. Mọi liên hệ trợ giúp xin gửi về cho Lm. Lê Quang Uy, TTMV DCCT, 38 Kỳ Đồng, P. 9, Q. 3, Sàigòn. Email: gxmehangcuugiup@gmail.com Danh sách các ân nhân gần xa: Hội Bác Ái Phanxicô ( Hoa Kỳ ): 4.000.000 VND Hai bạn Fiat Trung Hiếu – Trúc Thuỷ: 1.000.000 VND Trích chia sẻ của ông Đinh Đức Trung ( Hoa Kỳ ): 400 USD Trích chia sẻ của cô Bích Nguyệt ( Sàigòn ): 10.000.000 VND Anh Thơm, Hố Nai ( Đồng Nai ): 500.000 VND Gia đình bạn Fiat Quỳnh Anh ( Sàigòn ): 500.000 VND Cô Thảo Ly ( Úc ): 100 AUD Ca đoàn Việt Linh, Cali ( Hoa Kỳ ): 200 USD Bác Lê Văn Đức ( Sàigòn ): 500.000 VND Gia đình bạn Fiat Bảo Ngọc ( Đồng Nai ): 1.000.000 VND Một ân nhân ẩn danh ( Hoa Kỳ ): 200 USD Tổng kết đến 21g30 tối thứ bảy 1.3.2014: 17.500.000 VND + 800 USD + 100 AUD = 36.200.000 VND Như vậy sau 5 ngày quyên góp, chúng ta đã có được 35 triệu đồng giúp anh Mai Đăng Sơn. Số tiền 1.200.000 VND dôi ra xin chuyển cho trường hợp ngặt nghèo kế tiếp. Xin tạ ơn Chúa, biết ơn Mẹ và cám ơn quý ân nhân gần xa. DANH SÁCH CÁC ÂN NHÂN TRỢ GIÚP CHƯƠNG TRÌNH BẢO VỆ SỰ SỐNG THÁNG 1.2014 Gia đình Nho – Na ( Sàigòn ) góp 2 lần, ngày 6.1 và 30.1 ............................................... 1.000.000 VND Cô Kiều Vinh, Falls Church, Virginia ( Hoa Kỳ ) gửi 9.1 ............................................................. 200 USD Bác Hiếu, Gx. Đa Minh Ba Chuông ( Sàigòn ) góp 10.1 .................................................... 2.000.000 VND Chị Maria Nguyễn Thuý Ngà, Gx. Hà Nội, Gò Vấp ( Sàigòn ) góp 11.1 ............................ 2.500.000 VND Ba người ẩn danh ( Sàigòn ) góp trong các ngày 11.1, 14.1, và 27.1 .............................. 1.700.000 VND Cô Maria Nguyễn Thị Thu Trang ( Sàigòn ) góp 11.1........................................................ 2.000.000 VND Một chị ẩn danh ở quận 10 ( Sàigòn ) góp 14.1.................................................................. 100.000 VND Cô Phùng Uyên Vũ ( Sàigòn ) góp 15.1 ........................................................................... 1.000.000 VND Anh Phan Xuân Bửu, Nhóm BVSS ( Sàigòn ) góp 18.1 ................................................... 1.500.000 VND Anh Peter Nguyễn Nghĩa ( Hoa Kỳ ) gửi về 19.1 ........................................................................ 200 USD Chị Trần Thị Hoàng Ngọc ( Cà Mau ) góp 21.1........................................................................... 100 CAD Cô Nguyễn Thị Sa ( Hoa Kỳ ) gửi về 23.1 .................................................................................. 200 USD Kim Thanh và Tuyết Trang ( Canada ) góp 23.1......................................................................... 200 CAD Chị Thuỳ Trang ( Đăk Nông ) góp 25.1............................................................................. 2.000.000 VND Ông bà cụ Điển – Hằng, Giáo Xứ Vườn Xoài ( Sàigòn ) góp 26.1 ................................... 1.000.000 VND Cô Trần Thị Tường Vi, Phú Nhuận ( Sàigòn ) góp 26.1 ................................................... 4.000.000 VND Cô Diệu Anh, North Carolina ( Hoa Kỳ ) gửi về 28.1 ................................................................... 100 USD Tổng kết ân nhân giúp trong tháng 1.2014: ............................700 USD + 300 CAD + 18.800.000 VND 32