Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Sử dụng phương tiện CNTT trong dạy học là một yêu cầu quan trọng của viêc đổi
mới phương pháp dạy học. Sở Giáo dục và Đào tạo Hậu Giang rất quan tâm đến việc
nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh, một trong những biện pháp nâng cao chất lượng
này là việc đòi hỏi mỗi giáo viên phải tích cực thay đổi phương pháp giảng dạy. Trong
những năm qua trường THPT Long Mỹ đã sử dụng phương tiện CNTT trong việc đổi
mới phương pháp trong nhiều môn học, trong đó có môn Lịch Sử, giúp cho người học
hoạt động tích cực, hiểu bài hơn.
Giải pháp của tôi là sử dụng một số phần mềm để thiết kế bài giảng có nội dung
dung phù hợp với bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI
– XVIII, lịch sử lớp 10 theo chương trình chuẩn.
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương: Lớp 10TN10 là lớp thực
nghiệm, lớp 10TN13 là lớp đối chứng của trường THPT Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Kết
quả cho thấy đổi mới phương pháp dạy học lịch sử qua việc ứng dụng CNTT đã có ảnh
hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh: Lớp thực nghiệm đã đạt được kết quả học
tập cao hơn so với lớp đối chứng.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 2
NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đang thực hiện đường lối đổi mới và tiến hành công cuộc công nghiệp
hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH), bên cạnh những thành tựu quan trọng về kinh tế, văn
hóa xã hội, đời sống của nhân dân ta tiếp tục được cải thiện, giáo dục và đào tạo
(GD&ĐT) cũng đang phát triển về quy mô và cơ sở vật chất, trình độ dân trí và chất
lượng nguồn nhân lực được nhân lên.
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ CNH-HĐH ở nước ta hiện nay
trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển. trước tác động ngày càng mạnh của xu
thế toàn cầu hóa, chúng ta cũng đang gặp nhiều khó khăn trở ngại do chất lượng và hiệu
quả GD&ĐT còn thấp so với yêu cầu.
GD&ĐT có vị trí quan trọng trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước ta trong giai đoạn CNH-HĐH hiện nay. Nghị quyết
Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII nêu rõ : “Thực sự coi
GD&ĐT là quốc sách hàng đầu. NhậnthứcGD&ĐT cùng với khoa học và công nghệ là
nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho GD&ĐT là
đầu tư cho phát triển”.
Trước những thay đổi to lớn của nền khoa học thế giới, nền giáo dục thế giới đã có
bước tiến dài và chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp (cách mạng khoa học kỹ thuật
lần thứ ba, giáo dục được song hành tại các nước xem là nguồn tri thức bổ trợ chủ lực
công cuộc phát triển quốc gia). Hòa chung vào dòng biến đổi của thế giới, nền giáo dục
nước ta cũng đã có những biến đổi qua quá trình “đổi mới” từ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI khi nền kinh tế thị trường bắt đầu được áp dụng vào Việt Nam. Tuy nhiên căn
bệnh thành tích tại các bậc học phổ thông đã làm suy giảm chất lượng của việc dạy và
học bộ môn lịch sử, qua kết quả thi tốt nghiệp THPT và nhất là thi đại học, những thí
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 3
sinh chọn môn sử là ngành thi đại học của mình mà có cả đến chục ngàn thí sinh có điểm
0, điểm 1.
Lịch sử là môn học tái hiện lại cho học sinh biết về quá khứ dân tộc qua các thời kì
để các thế hệ nối tiếp theo vận dụng những bài học kinh nghiệm của người xưa vào công
cuộc đấu tranh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Môn lịch sử còn giáo dục những phẩm chất
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giáo dục lòng yêu nước, biết ơn tiền nhân, hoài bão và
ý chí xây dựng đất nước cho các thế hệ tiếp theo. Mặt khác, trong giai đoạn mở cửa hiện
nay, môn lịch sử còn là một trong những môn học quan trọng trong việc bảo tồn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Môn lịch sử ở trường THPT được coi là môn trụ cột của ngành khoa học xã hội, vì
nó liên quan đến nhiều môn học khác từ văn học, địa lý cho đến các lĩnh vực văn hóa,
nghệ thuật … đều gắn liền với lịch sử.
Những năm gần đây Bộ GD&ĐT liên tiếp cho thi môn lịch sử trong kì thi tốt nghiệp
THPT cùng với hai môn thi bắt buộc là văn, toán. Đó là chủ trương đúng đắn để học sinh
không còn tâm lý xem thường môn lịch sử là môn học phụ trong trường THPT.
Việc dạy và học môn lịch sử hiện nay đang thu hút sự quan tâm chú ý của toàn xã
hội. Qua bốn năm cải cách ở bậc THCS, kể từ năm học 2006 – 2007, Bộ GD&ĐT bắt
đầu triển khai chương trình thay sách lớp 10 bậc THPT và mở chuyên đề giảng dạy bồi
dưỡng kiến thức cho giáo viên môn lịch sử về “Một số vấn đề đổi mới nội dung và
phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT”.
Việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử đòi hỏi giáo viên phải có một
trình độ hiểu biết liên quan đến nhiều bộ môn thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu ngày
càng cao của việc dạy học lịch sử.
Yêu cầu hiểu biết lịch sử, nhu cầu cuộc sống hiện tại và tương lai đặt ra cho toàn xã
hội, cho ngành giáo dục, nhất là đội ngũ giáo viên dạy lịch sử nhiều nhiệm vụ phải bổ
sung, nâng cao kỹ năng giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, làm thế
nào cho môn lịch sử ở trường THPT xứng đáng với vị trí vốn có của nó.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 4
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của việc nghiên cứu việc đổi mới dạy học lịch sử ở trường THPT là nhằm
nâng cao hiệu quả của một bài, một chương hay cả khóa trình trong việc dạy học lịch sử.
Vì thế mục đích áp dụng việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử chính là
tìm ra lời giải về hiệu quả hay chất lượng của việc dạy học lịch sử.
Hiện nay việc dạy và học lịch sử còn nhiều bất cập, nhiều học sinh sau khi học xong
vẫn không thể nhớ và hiểu biết đúng lịch sử. Các em thường có quan niệm sai lầm là học
lịch sử chỉ cần học thuộc lòng, ghi nhớ các sự kiện, không cần phải suy luận tư duy hiểu
biết sâu sắc về các sự kiện lịch sử.
Tuy nhiên, từ thực tế đã cho thấy rằng việc ghi nhớ các sự kiện lịch sử sẽ không bền
vững nếu như không hiểu được các sự kiện vì sao lại diễn ra. Nếu chỉ ghi nhớ các sự
kiện lịch sử chưa phải là hoàn thành yêu cầu của việc học tập môn lịch sử. Biết để hiểu
và có hiểu thì mới biết một cách sâu sắc và vững chắc.
Tất cả các nước hiện nay, đặc biệt là các nước phát triển, đều phải tiến hành đổi mới
giáo dục, coi đổi mới giáo dục là một trong những chiến lược để phát triển đất nước của
mình. Hội đồng về “ Giáo dục thế kỉ XXI ” của UNESCO, Liên Hiệp quốc đã đưa ra
khuyến cáo về 4 trụ cột của giáo dục là:
-Học để biết.
-Học để làm việc.
-Học để cùng chung sống.
-Học để làm người.
Vì thế ngoài mục tiêu đào tạo ra những con người sống tốt có trách nhiệm với cộng
đồng, nền giáo dục hiện nay còn phải chú trọng để trang bị những năng lực chìa khóa để
học sinh có thể thích ứng và phát triển trong một xã hội phát triển và thường xuyên biến
đổi. Đó chính là năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự khẳng định mình, năng
lực hành động có hiệu quả.
Học sinh sau khi rời khỏi trường THPT không thể là những con người thụ động mà
phải có tư duy nhạy bén, vừa là con người dân tộc Việt Nam, vừa là con người quốc tế,
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 5
hoàn thành nhiệm vụ của mình trong gia đình, cộng đồng xã hội và lao động hợp tác
quốc tế.
Trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế, vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc trở thành một yêu cầu cấp thiết, đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học
môn lịch sử là môn học có liên quan đến quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta,
liên quan đến tất cả các môn khoa học xã hội - nhân văn nhằm hình thành phẩm chất đạo
đức và tính cách của con người Việt Nam.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
“Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trong trường THPT qua một tiết dạy bằng giáo
án điện tử” ở lớp 10TN10 trường THPT Long Mỹ
1.4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
1.4.1. Giới hạn nghiên cứu:
Năm học 2010-2011 là năm học các trường THPT tiếp tục áp dụng chương trình
sách giáo khoa mới cho học sinh lớp 10 trong lộ trình cải cách giáo dục. Vì thế đề tài
“Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT qua một tiết dạy bằng giáo án
điện tử” là vấn đề thời sự. Bộ GD&ĐT chưa tổng kết đánh giá việc thay sách và đổi mới
phương pháp giảng dạy bộ môn lịch sử vì nước ta đang trong quá trình tiếp tục thực hiện
đổi mới.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, mức độ nghiên cứu chỉ giới hạn trong 2 vấn đề
lớn:
-Vận dụng phươngpháp giảng dạy tích cực qua một tiết dạy cụ thể của môn lịch sử lớp
10 ban cơ bản.
- Sử dụng giáo án điện tử trong quá trình soạn giảng bài dạy.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu :
- Phần hai: lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX.
- Chương III: Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỷ XVIII
- Bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII
1.5. Tầm quan trọng của đề tài:
Hiện nay nền kinh tế tri thức đang đóng vai trò quyết định trong sản xuất vật chất.
Nhờ những phương tiện thông tin hiện đại mà khoảng cách về không gian được rút ngắn
hơn. Xu thế toàn cầu hóa yêu cầu con người phải thay đổi nhịp sống của mình thì mới
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 6
nắm bắt kịp những thay đổi nhanh chóng của nhân loại, mới thích ứng và phát triển theo
nhịp sống đương đại.
Khối lượng kiến thức của nhân loại ngày càng nhiều, thời gian và điều kiện tiếp thu
lại có hạn mà yêu cầu của ngành giáo dục về chất lượng đào tạo phải ngày càng cao.
Chính vì thế việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử có tầm quan trọng
đặc biệt. Làm thế nào để học sinh không bị nhồi nhét kiến thức, lo học tủ, học vẹt để thi
cử?
Với chủ trương vận động của Bộ GD&ĐT “Nói không với tiêu cực trong thi cử,
chống bệnh thành tích trong giáo dục” càng đòi hỏi người giáo viên dạy học môn lịch
sử phải cải tiến phương pháp soạn giảng, làm thế nào để học sinh có hứng thú, phát huy
tư duy, óc phán đoán trong các vấn đề về các sự kiện lịch sử để các em hiểu được
nguyên nhân, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm lịch sử trong quá trình dạy học lịch sử.
Luật Giáo dục của nước ta được thông qua năm 1998, trong chương I “Những quy
định chung”, đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và phương
pháp dạy học nói riêng là : “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng
tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
Đảng ta vạch ra mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001-2010),
nhiệm vụ GD&ĐT được xác định rõ là : “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện, đổi mới về nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống
quản lý giáo dục”.
Việt Nam đang bước vào hội nhập quốc tế và khu vực cho nên càng đòi hỏi cấp bách
việc giáo dục phải đổi mới và nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu trên. Trước tiên
và quan trọng hơn cả là việc dạy học lịch sử phải phấn đấu vươn tới chuẩn chung về
chương trình đào tạo, về mô hình quản lý, đặc biệt là phải đạt chuẩn về chất lượng và
các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo.
Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng tìm được lời giải cho vấn đề nầy cũng có nghĩa là
tìm được hướng cải cách chương trình, thay sách giáo khoa, cũng chính là mục dích tìm
ra một hướng di cho phù hợp tình hình hiện nay của đơn vị.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 7
Đề tài “Đổi mới phương pháp dạyhọc lịch sử ở trường THPT qua một tiết dạy bằng
giáo án điện tử” nhằm giải quyết vấn đề cấp bách của giáo viên bộ môn lịch sử và của
công tác dạy học lịch sử mà xã hội đang quan tâm hiện nay.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 8
CHƯƠNG 2: NỀN TẢNG LÝ THUYẾT
2.1. Tìm hiểu lịch sử đề tài:
Trong tình hình hiện nay môn lịch sử với chất lượng giảm sút, học sinh còn có thành
kiến xem là môn học phụ thì giáo viên phải tìm biện pháp làm thế nào để tạo sự hứng
thú học tập ở học sinh. Những phương pháp vận dụng còn tùy thuộc vào hoàn cảnh của
từng trường, tùy lớp học và học sinh. Điều nầy đòi hỏi người giáo viên phải có sự chuẩn
bị kỹ về giáo án, dụng cụ trực quan, câu hỏi và bài tập.
Theo phương pháp dạy truyền thống, giáo viên là người truyền đạt kiến thức cho học
sinh. Kiến thức đã được thầy chuẩn bị sẵn và cung cấp cho học sinh ở trên lớp theo kiểu
giáo viên giảng (đọc), học sinh chép. Giáo viên là trung tâm của lớp học, còn học sinh
đóng vai trò thụ động.
Nếu đề tài cần tìm hiểu do quá trình chủ động lĩnh hội kiến thức của học sinh và do
học sinh “tự đào tạo” thì việc nắm vững kiến thức của học sinh mới lâu dài và bền vững.
Dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học
lịch sử là dạy học nêu vấn đề, học liên môn, sử dụng kiến thức lịch sử thế giới để dạy
lịch sử Việt Nam.
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, nay tôi tiếp
tục nghiên cứu về “đổi phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT qua một tiết dạy
bằng giáo án điện tử”
2.2. Một số nhận thức về đổi mới pháp dạy học lịch sử:
Để có năng lực thích nghi và sáng tạo, học sinh phải được đào tạo trên tinh thần chủ
động học tập, độc lập tư duy, học theo kiểu nghiên cứu khoa học, hướng vào năng lực
“đặtvà giải quyết vấn đề”, học theo kiểu “xử lý các tình huống”, mặt khác phải có năng
lực tổ chức, quản lý quá trình xử lý thông tin, giải quyết vấn đề trong tập thể làm việc,
trong môi trường học tập của một tiết dạy.
+Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần
giải quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ … và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu và giải
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 9
quyết tình huống có vấn đề sẽ là trí thức mới, nhận thức mới hoặc phương thức hành
động mới đối với học sinh.
+Tình huống có vấn đề được đặc trưng bởi một trạng thái tâm lý ở học sinh trong giải
quyết một câu hỏi của giáo viên đưa ra, mà việc giải quyết vấn đề đó lại cần đến tri thức
mới, cách thức hành động mới mà học sinh chưa hề biết trước đó.
Có 3 yếu tố cấu thành tình huống có vấn đề :
-Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của học sinh.
-Sự tìm kiếm những tri thức và phương thức hành động mà học sinh chưa biết.
-Khả năng trí tuệ của học sinh, thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực.
+Đặc trưng cơ bản của việc giải quyết tình huống có vấn đề là học sinh gặp lúng túng về
lý thuyết và thực hành để giải quyết vấn đế; nó xuất hiện nhờ tính tích cực nghiên cứu
của chính học sinh. Tình huống có vấn đề là một hiện tượng chủ quan, một trạng thái
tâm lý của chủ thể, trạng thái lúng túng xuất hiện trong quá trình nhận thức như một mâu
thuẫn giữa chủ thể và khách thể trong họat động của học sinh.
+Ứng với mục tiêu xác định, những thành phần chủ yếu của một tình huống học tập gồm
có như sau :
-Nội dung của bài học hoặc chủ đề trong từng mục.
-Tình huống khởi đầu.
-Hoạt động trí lực của học sinh trong việc trả lời câu hỏi hoặc giải quyết vấn đề.
-Kết quả hoặc sản phẩm của hoạt động làm được.
-Đánh giá kết quả.
2.3. Đổi mới dạy học lịch sử theo phương pháp giải quyết vấn đề được chia thành
những bước, những giai đoạn có tính chuyên biệt:
2.3.1. Theo Jonh Dewey đề nghị có 5 bước để học sinh giải quyết vấn đề :
-Tìm hiểu vấn đề.
-Xác định vấn đề.
-Đưa ra những giả thuyết khác nhau để giải quyết vấn đề.
-Xem xét hệ quả của từng giả thuyết dưới ánh sáng của những kinh nghiệm trước đây.
-Thử nghiệm giải pháp thích hợp nhất.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 10
2.3.2. Theo Kudriasev chia làm 4 giai đoạn để học sinh giải quyết vấn đề:
-Sự xuất hiện của chính vấn đề và những kích thích đầu tiên thúc đẩy học sinh giải quyết
vấn đề.
-Học sinh nhận thức sâu sắc và chấp nhận vấn đề cần giải quyết.
-Quá trình tìm kiếm lời giải cho vấn đề được “chấp nhận” giải quyết, lý giải, chứng
minh, kiểm tra.
-Tìm được kết quả cuối cùng và đánh giá toàn diện các kết quả tìm được.
Như vậy học tập theo phương pháp giải quyết vấn đề là hình thức dạy học ở đó
giáo viên tổ chức được tình huống có vấn đề, giúp học sinh nhận thức vấn đề, chấp nhận
giải quyết và tìm kiếm lời giải trong quá trình “hoạt động hợp tác” giữa thầy và trò,
phát huy tối đa tính độc lập của học sinh kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên.
Đặc trưng độc đáo của phương pháp đổi mới dạy học lịch sử theo phương pháp
giải quyết vấn đề là việc học sinh tiếp thu tri thức trong hoạt động tư duy sáng tạo.
2.3.3. Đổi mới dạy học lịch sử theo phương pháp giải quyết vấn đề bao gồm nhiều
hình thức tổ chức đa dạng :
Quá trình học tập có thể diễn ra với những cách tổ chức đa dạng lôi cuốn học sinh
tham gia cùng tập thể, động não, tranh luận dưới sự dẫn dắt, gợi mở, cố vấn của giáo
viên:
-Làm việc theo nhóm nhỏ : trao đổi ý kiến, khuyến khích tìm tòi ... Thực hiện những kỹ
thuật hỗ trợ tranh luận : ngồi vòng tròn, chia nhóm theo những ý kiến cùng loại …
-Tấn công não : đây thường là bước thứ nhất trong sự tìm tòi giải quyết vấn đề, học sinh
thường được yêu cầu suy nghĩ, đề ra những ý kiến hoặc giải pháp ở mức độ tối đa có thể
có của mình.
-Xếp hạng : một cáchkích thích học sinh suy nghĩ sâu hơn về một vấn đề gay cấn và làm
rõ những ưu tiên.
-Sắm vai : tập luyện cho học sinh tăng thêm khả năng nghĩ ra những hướng khác, phát
triển kỹ năng giải quyết vấn đề và giải quyết xung đột …
-Mô phỏng : có thể coi như sự mở rộng của cách sắm vai, thu hút cả lớp đồng thời tham
gia, trên cơ sở tất cả học sinh đã hiểu rõ những gay cấn gốc, nhằm giải quyết những vấn
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 11
đề phức tạp liên quan đến những con người, những nhóm học sinh có những quan tâm đa
dạng.
-Những chiến lược ra quyết định : nhằm đạo tạo những kỹ năng cần thiết cho học sinh
tham gia dân chủ trong tương lai.
-Báo cáo và trình bày : thực hiện nhiều cách làm, từ việc học sinh viết, trình bày ở nhóm
nhỏ, báo cáo của nhóm trước cả lớp …
2.4. Đổi mới dạy học lịch sử theo hướng kết hợp kiểu truyền thống (nghe giảng -
đọc - chép) với kiểu đưa vào vấn đề (kết quả do học sinh tự nghiên cứu, tổng kết
nhằm giải quyết vấn đề thực tế do giáo viên đưa ra) :
Một hướng rất quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường
THPT hiện nay là bên cạnh tiếp tục dạy học các kiến thức, kỹ năng theo kiểu truyền
thống là xoay quanh trục “môn học”, coi như tế bào, đơn vị cơ sở của việc dạy học, cần
phải coi trọng một kiểu dạy học mới, bổ sung cho kiểu truyền thống là xoay quanh trục
“đặt vấn đề”, coi như kết quả của nghiên cứu khoa học công nghệ, của tổng kết thực tiễn
sáng kiến kinh nghiệm.
Học sinh đảm bảo phải có sách giáo khoa khi học lịch sử, giáo viên sử dụng công
nghệ thông tin thay cho bảng đen phấn trắng, giáo viên thay việc đọc chép bằng các gợi
ý các vấn đề trong nội dung bài học để học sinh tranh luận, tìm hiểu qua thư viện điện
tử, qua mạng internet, tự thực hành giải quyết vấn đề theo yêu cầu của giáo viên ở lớp và
tiếp tục ở nhà cho đến khi xong nội dung bài học, nội dung chương trình cần ứng dụng
vào thực tiễn.
Giáo viên thay thế việc kiểm tra đánh giá bằng các hình thức mới phù hợp, chủ yếu
là đánh giá qua thực tế học sinh xử lý, giải quyết tình huống vấn đề của giáo viên đã đưa
ra.
Để có năng lực thích nghi và sáng tạo, không những giáo viên cần có kinh nghiệm
rút ra từ thực tiễn dạy học, mà quan trọng hơn, cơ bản hơn, học sinh phải được đào tạo
để có nền kiến thức cơ bản đủ vững, nền kiến thức đại cương đủ rộng và có kỹ năng vận
dụng những cái cơ bản, đại cương ấy một cách thích hợp, mà trọng tâm là học sinh được
giáo viên hướng dẫn về phương pháp tự đi tìm kiếm những kiến thức, tự rèn luyện
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 12
những kỹ năng để có biện pháp tự học, tự cập nhật thường xuyên sau khi đã tốt nghiệp
THPT.
Đó chính là giáo viên đã dạy cho học sinh biết cách “học cách học” từ việc đổi mới
phương pháp dạy học lịch sử hiện nay.
2.5. Giáo viên sử dụng phương pháp giao tiếp thích hợp để giảng dạy có hiệu quả.
2.5.1. Quá trình giảng dạy là hạt nhân của công cuộc giáo dục.
Vì thế giảng dạy phải thực sự hiệu quả để trường THPT có thể đạt được thành công
như mục tiêu đặt ra. Giáo viên cần phải biết cách giao tiếp để khuyến khích và động viên
học sinh rèn luyện khả năng tư duy và sáng tạo. Kỹ năng giao tiếp giúp học sinh đặt ra
những câu hỏi trung gian thúc đẩy quá trình học tập của học sinh.
Học tập tích cực hướng tới quá trình dạy và học năng động, trong đó người học được
coi là những thành viên được chủ động quá trình dạy học. Cả giáo viên và học sinh đều
học được thông qua việc làm, hành động trong những hoạt động cụ thể như : trò chơi vui
nhộn, mô phỏng, đóng kịch thể hiện nội tâm . . . Việc nầy sẽ tạo điều kiện khuyến khích
cho các hoạt động phản hồi với mục đích phát triển tăng cường kỹ năng và năng lực.
Học tập tích cực cũng được xem như là quá trình học tập hợp tác giữa giáo viên và học
sinh.
2.5.2. Một số ví dụ về học tập tích cực :
+Tư duy, làm việc theo từng cặp, chia sẻ : giao cho học sinh một bài tập như câu hỏi hay
vấn đề cần giải quyết. Giáo viên yêu cầu học sinh làm từ 2-5 phút (tư duy). Sau đó học
sinh trao đổi với bạn kế bên từ 3-5 phút (từng cặp). Cuối cùng giáo viên chọn ra từng
cặp trình bày ý kiến trước cả lớp (chia sẻ).
+Nhóm học tập hợp tác : giáo viên xếp nhóm học sinh từ 3-6 học sinh và tự chọn nhóm
trưởng, thư ký. Giáo viên giao việc theo từng nhóm đã chia và yêu cầu học sinh chuẩn bị
về nhà. Sau đó nhóm đưa ra câu trả lời chung theo nhóm, hoặc ghi ra giấy, hoặc viết
thành bài tiểu luận.
+Những trò chơi : trả lời trắc nghiệm hoặc câu đố dùng để cho ôn tập, bài tập hay thi cử.
Có thể áp dụng từng học sinh, theo nhóm hay cả lớp.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 13
+Phân tích hay chia sẻ ý kiến qua băng VCD : đoạn băng VCD nên ngắn từ 5-20 phút.
Giáo viên nên xem trước để đảm bảo nội dung có giá trị. Giáo viên giao thời gian, thảo
luận câu hỏi, liệt kê trọng tâm. Sau khi xem băng xong, giáo viên yêu cầu học sinh làm
việc một mình hay từng cặp để trả lời câu hỏi, viết tóm tắt về hành động hay ứng dụng lý
thuyết đã xem qua.
+Tạo sự tranh luận trong học sinh : giáo viên tạo cơ hội để học sinh tranh luận, thu thập
dữ liệu và lôgic để bảo vệ quan điểm và tạo cho học sinh có kinh nghiệm thuyết trình và
tranh luận với các bạn có quan điểm trái ngược.
+Để học sinh đối thoại : giúp học sinh hình thành các ý tưởng một cách dễ dàng và là
nền tảng của việc học tập hợp tác hiệu quả.
+Học sinh đặt câu hỏi trong đề thi : áp dụng cho học sinh ôn bài cho kỳ thi. Giúp học
sinh chủ động xử lý tài liệu, biết trả lời câu hỏi bài thi chính xác.
+Tiểu luận, đề cương nghiên cứu, bài thu hoạch : giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu
một chủ đề và trình bày kết quả nghiên cứu trong giờ tiểu luận của lớp giống như một
buổi báo cáo đề tài.
+Sử dụng dữ liệu thô : giáo viên yêu cầu học sinh thu thập các dữ liệu thô về một số chủ
đề cụ thể. Sau đó học sinh phân tích dữ liệu và rút ra kết luận. Giáo viên cho nhận xét để
hướng dẫn học sinh cách sử dụng dữ liệu thô một cách có hiệu quả nhất.
+Phân tích tình huống dựa trên đối tượng và hoàn cảnh cụ thể : giáo viên chiếu trên
máy chiếu một tình huống cụ thể và yêu cầu học sinh bàn bạc, phân tích tình huống, sử
dụng quan niệm, dữ liệu và lý thuyết đã học. Học sinh có thể phân tích một mình, theo
nhóm hay từng cặp và kết nối các ý tưởng viết thành một bài luận ngắn trong lớp.
+Ghi chép lại hay viết nhật ký : giáo viên yêu cầu học sinh viết nhật ký theo định kỳ trên
máy tính, trên giấy trong giờ học hay ở nhà bằng một đoạn ngắn bày tỏ suy nghĩ hay
phân tích một mục nào đó của bài học.
+Viết bảng tin : kết hợp đoàn thanh niên để một nhóm học sinh viết bảng tin về một đề
tài cụ thể có liên quan đến bài học. Học sinh có thể kèm theo những bài báo cáo có liên
quan đến chủ đề.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 14
+Vẽ sơ đồ các khái niệm : học sinh tạo ra những mô hình, ý tưởng và mối liên hệ giữa
các khái niệm một cách trực quan. Học sinh có thể tự thực hiện cá nhân, theo nhóm về
những nội dung mới học có thể chia sẻ, bàn bạc và nhận xét trước lớp.
Tóm lại để việc giảng dạy có hiệu quả, giáo viên phải phát triển kỹ năng đặt câu hỏi
mang tính tư duy để thúc đẩy việc học tập của học sinh. Nếu giáo viên đưa ra câu hỏi
hay sẽ kích thích kỹ năng tư duy bậc cao, phát triển sự sáng tạo và sự hiểu biết của học
sinh thay vì học sinh phải trả lời bằng những câu hỏi gợi nhớ học vẹt.
2.5.3. Phương pháp đổi những câu đơn giản thành những câu khó :
-Đúng, nhưng vì sao ?
-Sử dụng thông tin nào ?
-Khác nhau ở điểm nào ? ( Thích ứng, thay đổi, thay thế, phóng đại, giảm xuống, sắp
xếp lại, đảo vị trí, liên tưởng ) .
-Các em có thể chứng minh được không ?
-Đúng, sai hay không có đáp án cụ thể ?
-Tất cả những câu trên ?
-Giống nhau hay khác nhau ?
-Nồi tròn, vung méo ( Râu ông nọ cắm cằm bà kia ) .
2.5.4. Khi đặt câu hỏi giáo viên cần lưu ý :
+Đặt những câu hỏi phù hợp với kiến thức học sinh.
+Khơi dậy khả năng tư duy bằng việc đặt nhiều câu hỏi khác nhau.
+Hãy chuẩn bị sẵn những câu hỏi.
+Đặt câu hỏi đúng lúc.
+Gọi học sinh trả lời câu hỏi một cách ngẫu nhiên.
+Hãy lặp lại câu hỏi trước khi học sinh trả lời.
+Cho học sinh có đủ thời gian trả lời câu hỏi.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 15
2.6. Vận dụng lý thuyết áp dụng vào thực tế trong 1 tiết dạy bằng giáo án điện tử.
2.6.1. Giáo viên soạn giáo án mẫu bình thường theo đúng mẫu quy định của Bộ
GD&ĐT đã hướng dẫn ở lớp tập huấn thay sách hè 2006 :
-Trước hết cần xác định loại bài và vị trí của bài trong khóa trình để có nội dung và
phương pháp dạy học cho phù hợp.
-Thứ hai, phải xác định rõ mục tiêu (mục đích yêu cầu) của bài học. Nội dung mức độ
bài học bao gồm các yếu tố : kiến thức, thái độ tình cảm, tư tưởng và kĩ năng. Đây là
công việc khó và phức tạp, quyết định hiệu quả của các công việc tiếp theo khi soạn bài.
-Về việc xác định nội dung kiến thức, giáo viên phải nghiên cứu nội dung bài viết trong
sách giáo khoa, hướng dẫn của sách giáo viên, các tài liệu tham khảo cần thiết để tìm ra
nội dung chính của bài học, những sự kiện cơ bản, mức độ trình bày cho đúng và đủ
trong thời gian một tiết dạy.
-Để xác định nhiệm vụ giáo dục thái độ tình cảm, tư tưởng của bài học, giáo viên cần
căn cứ vào nhiệm vụ giáo dục chung của khóa trình và nội dung cụ thể của bài học. Như
vậy sẽ không rơi vào công thức giáo điều.
-Muốn xác định nhiệm vụ phát triển kỹ năng, giáo viên nên dựa vào mức độ cần đạt
trong chương trình lịch sử lớp 10, đặc điểm trình độ học sinh, nội dung cụ thể của bài
học mà xác định cụ thể.
Tổng hợp các yêu cầu trên đây, giáo viên sẽ xác định một cách toàn diện cụ thể mục
đích bài học.
-Thứ ba, phải xây dựng đề cương và viết giáo án.
Để xây dựng nội dung và đề cương bài học, giáo viên phải xem xét mối tương quan
giữa bài viết của sách giáo khoa với nội dung bài giảng. Căn cứ vào nội dung chính của
bài (đã xác định), thời gian của tiết học, giáo viên xác định khối lượng thông tin học sinh
cần nắm, mức độ lãnh hội tiếp thu các thông tin nầy (những sự kiện cần đi sâu, sự kiện
đi lướt và những sự kiện hướng dẫn học sinh về nhà đọc), các phương tiện học tập (tài
liệu tham khảo, đồ dùng trực quan …).
Nội dung bài soạn cần tránh lối dạy học nhồi nhét kiến thức, kiểu cổ động giáo dục
bằng những “khẩu hiệu chính trị” không xuất phát từ sự kiện lịch sử cụ thể, mà phải thể
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 16
hiện được các hoạt động điều khiển, tổ chức của giáo viên trên cơ sở phát huy tính tích
cực học tập của học sinh. Muốn vậy, khi xác định cách tổ chức công việc của giáo viên
và học sinh phải kết hợp việc truyền thụ kiến thức có sẵn với hoạt động của các em.
Lãnh hội kiến thức và phát triển năng lực nhận thức là hai mặt khắng khít với nhau của
một quá trình.
+Giáo án cần thể hiện đầy đủ các yêu cầu sau đây :
-Phản ánh được nội dung cơ bản của chương trình, sách giáo khoa và tình hình học sinh.
-Thể hiện được các điều kiện cụ thể của từng lớp, từng trường, từng vùng, từng địa
phương.
-Tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên lên lớp đạt hiệu quả cao.
-Tạo điều kiện cho học sinh lãnh hội tiếp thu bài tốt.
+Theo quan niệm cũ về cấu trúc bài học phải đầy đủ và thực hiện theo trình tự các bước
lên lớp :
-Ổn định lớp.
-Kiểm tra bài cũ.
-Dẫn dắt vào bài mới.
-Giảng bài mới.
-Củng cố, dặn dò học sinh.
+Theo quan niệm hiện nay đó là những công việc của một bài học mà giáo viên cần
thực hiện không nhất thiết phải tuân thủ theo trình tự và đủ cả 5 bước, mà tùy thuộc vào
điều kiện cụ thể đối tượng học sinh, cơ sở vật chất, nội dung bài học mà vận dụng sao
cho linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo, không cứng nhắc và máy móc.
Cấu trúc của bài học phải phụ thuộc vào loại bài, nội dung và mục tiêu bài học :
+Ổn định và tổ chức các hoạt động dạy học : kiểm tra sỉ số học sinh, ổn định trật tự và
tổ chức học sinh hoạt động để tiếp thu iến thức trong suốt giờ học.
+Kiểm tra bài cũ : nhằm kiểm tra khả năng nhận thức kiến thức cũ của học sinh, đồng
thời dẫn dắt học sinh vào bài mới.
+Giới thiệu bài mới : có nhiều cách giới thiệu bài mới, chẳng hạn nêu tình huống có vấn
đề khái quát kiến thức cũ để dẫn dắt vào bài mới. Về cơ bản, đây là công việc nêu rõ
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 17
mục tiêu của bài học mà học sinh cần đạt được dưới sự hướng dẫn, tổ chức các hoạt
động của giáo viên.
+Tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp :
-Thiết kế theo hoạt động của giáo viên và học sinh.
-Mỗi mục của bài trong sách giáo khoa có thể có một hoặc nhiều hoạt động tùy theo nội
dung của bài.
-Mỗi hoạt động thường được tiến hành các công việc sau :
-Thứ nhất : Xác định mức độ kiến thức cần đạt của hoạt động đó : thông qua hoạt động
đó học sinh nắm được nội dung kiến thức gì, mức độ như thế nào? (nắm nội dung chính,
những nét khái quát, hay hiểu được bản chất, so sánh, đối chiếu với các sự kiện khác).
-Thứ hai : Tổ chức thực hiện với hoạt động của giáo viên và học sinh bao gồm các bước
sau :
-Thông báo thông tin, cho học sinh làm việc với sách giáo khoa, tư liệu lịch sử, tranh
ảnh, bản đồ, xem băng, tuy nhiên thông tin phải có định hướng của giáo viên.
-Xử lý các thông tin, với việc nêu các câu hỏi, bài tập, vấn đề thảo luận thông qua các
hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm hoặc cả lớp với sự tổ chức hướng dẫn của giao viên.
-Kết quả xử lý và kết luận, với việc học sinh thông báo kết quả xử lý thông tin do giáo
viên tổ chức hướng dẫn và giáo viên đưa ra nhận xét đúng, sai, sửa chữa, bổ sung và
cuối cùng giáo viên đưa ra kết luận.
Ví dụ sau đây thể hiện cụ thể theo hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh.
Hoạt động của giáo viên và học sinh Kiến thức cơ bản học
sinh cần nắm vững
*Hoạt động 1 : cá nhân, nhóm hay cả lớp.
-Mức độ kiến thức cần đạt …………
-Tổ chức thực hiện :
+GV thông báo thông tin, cho HS làm việc với
SGK, tư liệu lịch sử, tranh ảnh, bản đồ, xem băng,
tuy nhiên thông tin phải có định hướng của GV.
Mục 1 …….
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 18
+HS xử lý các thông tin, với việc nêu các câu hỏi,
bài tập, vấn đề thảo luận thông qua các hoạt động
cá nhân, hoạt động nhóm hoặc cả lớp dưới sự tổ
chức hướng dẫn của GV.
+HS thông báo kết quả xử lý thông tin.
*Hoạt động 2 : (Thông tin phản hồi)
GV nhận xét đúng sai, sửa chữa, bổ sung và chốt ý.
*Tiếp tục các hoạt động theo từng mục nội dung
của bài học.
-Mức độ kiến thức cần đạt ………………..
-Tổ chức thực hiện ………………
+Sơ kết bài học :
-Củng cố :
Sau khi kết thúc bài học giáo viên khái quát và tổng kết toàn bộ nội dung của bài; có thể
củng cố, sơ kết sau mỗi mục nếu thấy cần thiết.
Việc củng cố còn có thể tiến hành bằng cách giáo viên nêu các câu hỏi kiểm tra hoạt
động nhận thức của học sinh, hoặc bằng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan, yêu cầu
học sinh trả lời.
-Dặn dò, ra bài tập :
Dặn dò học sinh chuẩn bị công việc ở nhà phục vụ cho bài mới như : tìm hiểu SGK, sưu
tầm tranh ảnh, tư liệu tham khảo, làm đồ dùng học tập …
Giáo viên ra bài tập hướng dẫn học sinh làm bài ở lớp hoặc ở nhà.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 19
2.6.2. Vídụ thiết kế mộtgiáoán cụ thể:
CHƯƠNG III:
VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN THẾ KỶ XVIII
Bài 21:
NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN TRONG CÁC
THẾ KỶ XVI – XVIII
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
Sau khi học xong bài học yêu cầu học sinh (HS) nắm và hiểu được:
1. Về kiến thức:
- Sự sụp đổ của triều đình nhà Lê đã dẫn đến sự phát triển của các thế lực phong kiến.
- Nhà Mạc ra đời và tồn tại hơn nửa thế kỷ đã góp phần ổn định xã hội trong một thời gian.
- Chiến tranh phong kiến diễn ra trong bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XVI - XVIII đã
dẫn đến sự chia cắt đất nước.
- Tuy ở mỗi miền (Đàng Trong, Đàng Ngoài) có chính quyền riêng nhưng chưa hình thành
hai nước.
2. Về tư tưởng tình cảm:
- Bồi dưỡng ý thức xây dựng và bảo vệ đất nước thống nhất.
- Bồi dưỡng tinh thần dân tộc.
3. Về kĩ năng:
Rèn luyện kĩ năng phân tích, tổng hợp vấn đề.
Khả năng nhận xét về tính giai cấp trong xã hội.
II. THIẾT BỊ, TÀI LIỆU DẠY - HỌC
- Bản đồ Việt Nam phân rõ ranh giới hai miền.
- Một số tranh vẽ thời Lê – Trịnh.
- Một số tài liệu về nhà nước hai miền.
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1. Ổn định lớp: 1 phút
2. Kiểm tra bài cũ: 4 phút
Câu 1: Thế kỷ XV, tôn giáo nào vươn lên thành đạo chính, thành hệ tư tưởng của
giai cấp phong kiến nước ta?
A. Nho giáo B. Phật giáo
C. Thiên chúa giáo D. Đạo giáo
Câu 2: Bộ sử học “Đại Việt Sử Ký toàn thư” do ai biên soạn ?
A. Lê Quý Đôn B. Nguyễn Bỉnh Khiêm
C. Lê Văn Hưu D. Ngô Sĩ Liên
Câu 3: Bộ luật thành văn của nước ta thế kỷ XV có tên gọi là:
A. Hình luật – thời Trần.
Tiết: 26
Ngày soạn: 05/11
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 20
B. Quốc triều hình luật – thời Lê Thánh Tông.
C. Hình thư –thời Lý.
D. Hình luật- thời Lê Sơ.
Đáp án: 1.A; 2.D; 3.B
Câu hỏi 4: Em có những nhận xét gì về đời sống văn hóa của nhân dân thời Lí,
Trần, Hồ?
+ Văn hóa Đại Việt thế kỷ X - XV phát triển phong phú, đa dạng.
+ Chịu ảnh hưởng của yếu tố ngoài song vẫn mang đậm tính dân tộc và dân gian.
3. Dẫn dắt vào bài mới:
4. Tổ chức các hoạt động dạy và học trên lớp:
TG Hoạt động của thầy và trò Kiến thức cơ bản HS cần nắm vững
9”
 Hoạt động 1: Cả lớp, cá nhân:
- Trước hết GV nhắc lại: Triều đình nhà Lê
sơ được đánh giá là một triều đại thịnh trị
trong lịch sử phong kiến Việt Nam:…
từ đầu thế kỷ XVI nhà Lê sơ lâm vào khủng
hoảng, suy sụp.
- Sau đó GV yêu cầu HS theo dõi SGK trả
lời câu hỏi: Tại sao thế kỷ XVI nhà Lê sơ
suy yếu? Biểu hiện của sự suy yếu đó?
- HS theo dõi SGK trả lời.
- GV nhận xét, bổ sung kết luận về biểu
hiện suy yếu của nhà Lê sơ.
GV: Cho HS quan sát lược đồ các cuộc khởi
nghĩa nông dân....
- GV cho HS phát biểu về nhân vật Mạc
Đăng Dung(1483 - 1541):
- GV trình bày tiếp: Trong bối cảnh nhà Lê
sơ suy yếu, bất lực, Mạc Đăng Dung đã phế
truất vua Lê lập ra nhà Mạc. Đây là một sự
thay ngôi, đổi địa vị hợp qui luật khi mà
triều đình thống trị đương thời đã suy yếu
và bất lực.
 Hoạt động 2: Cả lớp, cá nhân:
- GV yêu cầu HS theo dõi SGK trả lời câu
hỏi: ? Sau khi lên cầm quyền nhà Mạc đã
thi hành những chính sách gì?
1.Sự sụp đổ của triều Lê sơ. Nhà Mạc
được thành lập:
a. Sự sụp đổ của nhà Lê sơ:
- Đầu thế kỷ XVI nhà Lê Sơ lâm vào
khủng hoảng, suy yếu.
- Biểu hiện:
+ Các thế lực phong kiến nổi dậy tranh
chấp quyền lực, mạnh nhất là thế lực Mạc
Đăng Dung.
+ Phong trào đấu tranh của nhân dân bùng
nổ ở nhiều nơi.
b. Nhà Mạc được thành lập:
- 1527 Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê
lập ra triều Mạc.
- Chính sách của nhà Mạc:
+ Nhà Mạc xây dựng chính quyền theo
mô hình cũ của nhà Lê sơ.
+ Tổ chức thi cử đều đặn.
+ Xây dựng quân đội mạnh.
+ Giải quyết vấn đề ruộng đất cho
nông dân.
=> Ổn định tạm thời
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 21
TG Hoạt động của thầy và trò Kiến thức cơ bản HS cần nắm vững
- HS theo dõi SGK trả lời.
- GV bổ sung, kết luận.
- GV giảng giải thêm ở thời Lê sơ:
- GV kết luận về tác dụng của những chính
sách của nhà Mạc.
- GV phát vấn: Trong thời gian cầm
quyền nhà Mạc đã gặp phải những khó
khăn gì?
- HS theo dõi SGK trả lời.
- GV bổ sung, kết luận về những khó khăn
của nhà Mạc và lí giải tạo sao nhà Mạc bị
cô lập.
GV có thể bổ sung thêm: âm mưu của nhà
Minh(TQ)
- Nhà Mạc chịu nhiều sức ép khó khăn:
- Do sự chống đối của cựu thần nhà Lê
- Hạn chế: Lúng túng trong ngoại
giao( sách cắt đất, thần phục nhà
Minh)  nhân dân phản đối.
 Nhà Mạc bị cô lập.
9”
 Hoạt động 1:
- GV giảng giải: Nhà Mạc ra đời trong bối
cảnh chiến tranh phong kiến bùng nổ. Tuy
bước đầu nhà Mạc có ổn định xã hội nhưng
cũng chính nhà Mạc là nguyên cớ gây ra
cuộc chiến tranh: Chiến tranh Nam – Bắc
triều.
- GV yêu cầu HS theo dõi SGK để thấy
được nguyên nhân của cuộc chiến tranh
Nam – Bắc triều, kết quả.
- HS theo dõi SGK trả lời.
- GV nhận xét, bổ sung, kết luận.
+ GV giải thích thêm: Bộ phận cựu thần nhà
Lê không chấp nhận nền thống trị của họ
Mạc, đã nổi lên ở Thanh Hóa – quê hương
của nhà Lê sơ để chống lại nhà Mạc =>
chiến tranh Nam – Bắc triều.
GV: Cho HS xem lược đồ “Chiến tranh
Nam-Bắc triều” và tường thuật sơ lược diễn
biến ....
* Hoạt động 2: theo nhóm
GV Chia lớp 6 nhóm thảo luận(3 phút) vấn
đề sau:
- Nhóm 1,4: Nguyên nhân dẫn đến chiến
tranh Trịnh – Nguyễn và hậu quả của nó.
2.Đất nước bị chia cắt:
a. Chiến tranh Nam-Bắc triều:
- Nguyên nhân:
+ Cựu thần nhà Lê chống Mạc (Nguyễn
Kim)
=> Hình thành Nam triều(Nhà Lê- Thanh
Hoá), đối đầu với Bắc triều (Nhà Mạc -
Thăng Long).
- Diễn biến:
- Chiến tranh bùng nổ từ năm 1545 đến
năm 1592  kết thúc
- Kết quả: Nhà Mạc bị lật đổ, đất nước
thống nhất.
* Chiến tranh Trịnh – Nguyễn:
- Nguyên nhân:
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 22
TG Hoạt động của thầy và trò Kiến thức cơ bản HS cần nắm vững
- Nhóm 2,5: Tính chất của cuộc chiến
tranh
Nam-Bắc triều và chiến tranh Trịnh-
Nguyễn?
- Nhóm 3,6: Đất nước chia thành Đàng
Trong-Đàng Ngoài nhưng nhân dân ta quan
niệm thế nào về sự chia cắt này?
- HS thảo luận và phát biểu, HS khác bổ
sung
- GV nhận xét, chốt ý:...
GV cho HS khai thác ảnh Trịnh Kiểm,
Nguyễn Hoàng
GV cho HS xem lược đồ chiến tranh TRịnh
–Nguyễn.
GV liên hệ: Các thời kì chia cắt đất
nước...
+ Ở Thanh Hóa, Nam Triều vẫn tồn tại
nhưng quyền lực nằm trong tay họ Trịnh.
+ Ở mạn Nam: Họ Nguyễn cát cứ xây
dựng chính quyền riêng.
- Diễn biến:
+ 1627 họ Trịnh đem quân đánh họ
Nguyễn, chiến tranh Trịnh – Nguyễn bùng
nổ.
+ Kết quả: 1672 hai bên giảng hòa, lấy
sông Gianh (Quảng Bình) làm giới tuyến
chia đất nước làm hai miền
8”
 Hoạt động 1:
- GV diễn giảng về sự kiện Nam Triều
chuyển về Thăng Long, triều Lê được tái
thiết hoàn chỉnh với danh nghĩa tự trị toàn
bộ đất nước. Song dựa vào công lao đánh
đổ nhà Mạc, Chúa Trịnh ngày càng lấn
quyền vua Lê.
- GV yêu cầu HS theo dõi SGK để thấy
được tổ chức chính quyền trung ương và địa
phương của nhà nước Lê – Trịnh ở Đàng
Ngoài:
- HS theo dõi SGK trả lời.
GV cho Hs khai thác tranh “Hội chầu của
vua Lê, chúa Trinh”
- GV bổ sung, kết luận về tổ chức chính
quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài.
- Minh họa bằng sơ đồ đơn giản, cho HS
thấy được vai trò quyền lực thật sự của
Chúa Trịnh.
- GV có phát vấn: Trong hoàn cảnh ấy tại
sao Chúa Trịnh không lật đổ vua Lê, độc
chiếm quyền bính?
- HS suy nghĩ, trả lời.
3.Nhà nước phong kiến ở Đàng Ngoài:
Cuối thế kỷ XVI Nam Triều chuyển về
Thăng Long.
- Chính quyền địa phương: chia thành các
trấn, phủ, huyện, châu, xã như cũ.
- Chế độ tuyển dụng quan lại như thời Lê.
- Luật pháp: Tiếp tục dùng Quốc triều
hình luật (có bổ sung).
Phủ chúa Trịnh
(nắm quyền)
Quan
văn
Quan
võ
6
phiên
Triều đình
Lê (bù nhìn)
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 23
TG Hoạt động của thầy và trò Kiến thức cơ bản HS cần nắm vững
- GV giảng giải:
- GV phát vấn: Em có nhận xét gì về bộ
máy nhà nước thời Lê – Trịnh?
- HS trả lời.
- GV kết luận: Về cơ bản, bộ máy nhà nước
được tổ chức như thời Lê sơ. Chỉ khác là
triều đình nhà Lê không còn nắm thực
quyền, mà quyền lực lại nằm trong tay chúa
Trịnh.
- HS nghe ghi nhớ.
- Quân đội gồm:
+ Quân thường trực (Tam phủ), tuyển chủ
yếu ở Thanh Hóa.
+ Ngoại binh: Tuyển từ 4 trấn quanh kinh
thành.
- Đối ngoại: Hòa hiếu với nhà Thanh ở
Trung Quốc.
9”
 Hoạt động 1:
- GV giảng giải về quá trình mở rộng lãnh
thổ Đàng Trong của các chúa Nguyễn và
nguyên nhân tại sao các chúa Nguyễn chú
trọng mở rộng lãnh thổ (để có một vùng đất
rộng đối phó với Đàng Ngoài).
- HS nghe ghi chép.
- GV giảng và kết hợp với vẽ sơ đồ chính
quyền Đàng Trong:
-GV phát vấn: Em có nhận xét gì về chính
quyền Đàng Trong, điểm khác biệt với
nhà nước Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài?
- HS suy nghĩ, trả lời.
- GV bổ sung, kết luận: ...
4.Chính quyền ở Đàng Trong:
- Thế kỷ XVII lãnh thổ Đàng Trong được
mở rộng từ Nam Quảng Bình đến Nam Bộ
ngày nay.
- Địa phương:
Chia làm 12 dinh, nơi đóng phủ chúa (Phú
Xuân) là dinh chính do chúa Nguyễn trực
tiếp cai quản.
- Dười dinh là: phủ, huyện, thuộc, ấp.
- Quân đội là quân thường trực, tuyển
theo nghĩa vụ, trang bị vũ khí đầy đủ.
- Tuyển chọn quan lại bằng nhiều cách:
Theo dòng dõi hay đề cử, học hành.
- 1744 chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng
vương, thành lập chính quyền trung ương.
Song đến cuối thế kỷ XVIII vẫn chưa
hoàn chỉnh.
Chúa
12 dinh
Phủ Huyện Thuộc Ấp
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 24
TG Hoạt động của thầy và trò Kiến thức cơ bản HS cần nắm vững
- GV diễn giảng về quân đội, cách tuyển
chọn quan lại (sự ổn định bước đầu của
chính quyền).
Sự kiện 1744 Nguyễn Phúc Khoát xưng
vương xây dựng triều đình trung ương và hệ
quả của việc làm này (nước Đại Việt có
nguy cơ tách thành hai nước).
5. Sơ kết bài học: 4 phút
Củng cố:
C©u 1: M¹c §¨ng Dung b¾t Ðp Cung hoµng ®Õ nhêng ng«i lËp
ra nhµ M¹c vµo thêi gian nµo ?
A. N¨m 1524 B. N¨m 1525
C. N¨m 1526 D. N¨m 1527
C©u 2: Ai lµ ngêi ®· quy tô ®îc ®«ng ®¶o c¸c lùc lîng cùu
thÇn nhµ Lª chèng l¹i Nhµ M¹c ?
A.NguyÔn Hoµng
B.TrÞnh KiÓm
C. NguyÔn Kim
D.Lª Duy Ninh
C©u 3: Tõ n¨m 1527 ®Õn n¨m 1592, ®Êt níc ta diÔn ra côc
diÖn Nam- B¾c triÒu. §ã lµ cuéc tranh giµnh quyÒn lùc gi÷a
hai tËp ®oµn phong kiÕn nµo?
A. Lª( Nam triÒu)- TrÞnh( B¾c triÒu)
B. TrÞnh( Nam triÒu)- M¹c( B¾c triÒu)
C. M¹c ( Nam triÒu )- NguyÔn( B¾c triÒu)
D. Lª, TrÞnh( Nam triÒu )- M¹c( B¾c triÒu)
Đáp án: 1.D; 2.C; 3.D
6. Dặn dò và Bài tập: 1 phút
- Dặn dò:
+ Vẽ sơ đồ đơn giản bộ máy chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài? So sánh,
nhận xét?
+ Học bài , xem trước bài 22: Tình hình kinh tế ở các thê kỉ XVI – XVIII.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 25
2.6.3. Giáo viên soạn giáo án điện tử bằng Microsoft PowerPoint 2003, phần mềm
mã nguồn mở OpenOffice 3.2, hoặc phần mền Violet: (Đính kèm giáo án điện tử
ghi sang đĩa CD )
- Slide 1: Kiểm tra bài cũ
- Slide 2: Số tiết theo phân phối chương trình, tên bài dạy.
- Đến các slide tiếp theo : các nội dung tương ứng với từng phần trong nội dung bài dạy,
tương ứng với từng phần trong thiết kế giảng dạy của giáo án.
Trong các slide nầy giáo viên có thể chèn các slide mang nội dung câu hỏi, bài tập
nhóm để học sinh dễ quan sát và nắm các yêu cầu thực hành để cả nhóm cùng làm việc
mà hình thành bài học.
Giáo viên cũng có thể chèn các hình ảnh minh họa cho bài học từ tranh tư liệu hoặc
băng hình, phim tư liệu liên quan đến nội dung bài học nhằm giúp học sinh có ấn tượng
rõ hơn, khắc sâu kiến thức, nắm vững bài học.
- Slide n-1 : Phần củng cố bài giáo viên có thể vận dụng bằng hình thức câu hỏi trắc
nghiệm khách quan một cách thuận lợi trên các slide nầy.
Giáo viên cũng có thể sử dụng hình thức củng cố bài bằng sơ đồ trong slide một cách
thuận tiện mà không cần bảng phụ.
- Hoặc ở slide củng cố bài là băng hình minh họa nếu có.
- Slide n: Phần dặn dò. Giáo viên dặn dò học sinh việc chuẩn bị bài ở nhà bằng toàn bộ
slide nầy.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 26
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 10TN10, 10TN13 Trường THPT Long
Mỹ năm học 2010-2011, là hai lớp tương đương, do cùng chung một trường, cùng
một một giáo viên giảng dạy môn Lịch sử, hai giáo viên chủ nhiệm có kinh
nghiệm,…
Bảng 1: Giới tính và thành phần dân tộc
Lớp
Số HS các nhóm Dân tộc
Tổng số Nam Nữ Kinh Khác
Lớp 10TN10 39 20 19 39
Lớp 10TN13 39 21 18 39
Về ý thực học tập tất cả các em học ở hai lớp này tích cực chủ động.
Về thành tích học tập: Hai lớp này tương đương về điểm số các môn học.
3.2. Thiết kế:
Chọn nguyên vẹn hai lớp: Lớp 10TN10 là lớp thực nghiệm, lớp 10TN13 là lớp đối
chứng. Tôi làm bài kiểm tra trước tác động, kết quả kiểm tra cho thấy điểm TB của hai
nhóm khác nhau, do đó chúng tôi dùng phép kiểm chứng t-test để kiểm chứng sự chênh
lệch giữa điểm số TB của hai nhóm. Kết quả
Bảng 2. Kiểm chứng để xác định hai nhóm tương đương
Nhóm Đối chứng 10TN13 Thực nghiệm 10TN10
TB 6,66 6,33
P = 0,5
p = 0,5 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm thực
nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương.
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương
(được mô tả ở bảng 2)
Bảng 3. Thiết kế nghiên cứu:
Nhóm KT trước TĐ Tác động KT sau TĐ
Thực nghiệm O1
Dạy học có đổi mới phương pháp
qua sử dụng phương tiện CNTT. O3
Đối chứng O2
Dạy học theo phương pháp
truyền thống không có sử dụng
phương tiện CNTT
O4
Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng t-test độc lập.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 27
3.3. Quy trình nghiên cứu:
3.3.1. Chuẩn bị bài của giáo viên:
- Nhóm thực nghiệm: Thiết kế kế hoạch bài 21: Những biến đổi của nhà nước
phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII, có đổi mới phương pháp qua việc sử
dụng phương tiện CNTT.
- Nhóm đối chứng: Thiết kế kế bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến
trong các thế kỉ XVI – XVIII, không đổi mới phương pháp và sử dụng phương
tiện CNTT (dạy bình thường).
3.3.2. Tiến hành giảng dạy:
Thời gian tiến hành giảng dạy tuân thủ theo khung, tiết phân phối chương trình của
nhà trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan.
Bảng 4. Thời gian thực hiện
Thứ, ngày Môn/Lớp Tiết PPCT Tên bài dạy
Hai
08/11/2010
10TN10 26 Bài 21: Những biến đổi của nhà nước
phong kiến trong các thế kỉ XVI –
XVIII
Ba
09/11/2010
10TN13 26 Bài 21: Những biến đổi của nhà nước
phong kiến trong các thế kỉ XVI –
XVIII
3.4. Đo lường:
Đề kiểm tra này chung cho các học sinh 2 lớp 10TN10, 10TN13 của trường THPT
Long Mỹ. Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra sau khi học sinh học xong bài 21:
Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII. Hình thức
kiểm tra nhanh sau tiết học. Sau đó tiến hành chấm bài theo đáp án đã xây dựng.
Phân tích dữ liệu và kết quả
Bảng 5. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Nhóm Đối chứng 10TN13 Thực nghiệm 10TN10
ĐTB 7.02 7.69
Độ lệch chuẩn 3.61 4.28
Giá trị p của t-test 0,47
Chênh lệch giá trị TB
chuẩn
0.18
Như trên đã chứng minh rằng kết quả của hai nhóm trước tác động là tương đương.
Sau tác động kiểm chứng độ chênh lệch ĐTB bằng t-test chokeets quả p = 0,47, cho
thấy sự chênh lệch giữa ĐTB nhóm thực nghiệm và nhóm ĐC rất có ý nghĩa tức là
chênh lệch kết quả ĐTB nhóm TN cao hơn ĐTB nhóm ĐC không ngẫu nhiên mà do
kết quả của tác động. Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn
SMD = (7.69 – 7.02)/3.61 = 0,18.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 28
Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của dạy học có sử dụng phương tiện Công nghệ
thông tin đến TBC học tập của nhóm thực nghiệm còn nhỏ.
Đề tài “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trong trường THPT qua một tiết
dạy bằng giáoán điện tử” học sinh lớp 10 trường THPT Long Mỹ đã được kiểm chứng.
Hình 1. Biểu đồ ĐTB sau tác động của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm.
0
1
2
3
4
5
6
7
8
Trước
tác
động
Sau
tác
động
ĐỐI CHỨNG
THỰC NGHIỆM
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 29
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. Kết luận:
Hiện nay những thành tựu của công nghệ thông tin được áp dụng ngày một rộng rãi
với cường độ ngày một cao hơn vào hệ thống giáo dục, trường THPT Long Mỹ được
trang bị 1 phòng máy tính nối mạng internet dành cho giáo viên. Cách giảng dạy theo
hướng đổi mới sử dụng tích hợp các phương tiện. Trong tương lai dự báo sẽ xuất hiện
một xã hội thông tin được nối mạng, học sinh có thể truy cập tìm hiểu nhiều dữ liệu,
thông tin từ mạng máy tính.
Mặc dù hiện đang có sự thay đổi hết sức lớn lao trong việc đổi mới phương pháp dạy
học lịch sử qua một tiết dạy bằng giáo án điện tử, do sự áp dụng những công nghệ tiên
tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin. Tuy nhiên quá trình giáo dục con người không thể
“công nghệ hóa” hoàn toàn được, có nhiều mặt giáo dục không thể quy trình hóa được,
“máy tính hóa” được như việc giáo dục nhân văn, đạo đức, thẫm mĩ, lòng yêu quê
hương tổ quốc … Vai trò của giáo viên, bạn học, nhà trường, gia đình, xã hội … đều vẫn
hết sức quan trọng và nếu có sự hỗ trợ những công nghệ tiên tiến thì chất lượng hiệu quả
của chất lượng dạy học sẽ cao hơn.
Tin học được đưa vào giảng dạy trong nhà trường từ phổ thông trở lên không những
để học sinh dùng nó như một công cụ học tập, giáo viên dùng nó như một công cụ sư
phạm mà còn chuẩn bị cho học sinh sẽ có một kỹ năng làm việc trong xã hội ngày càng
dựa trên công nghệ thông tin, cũng như trong kỹ năng hoạt động trong đời sống hàng
ngày ở gia đình và ngoài xã hội, là những môi trường áp dụng những thành tựu của tin
học ngày càng nhiều.
Ưu điểm đối với giáo viên khi sử dụng giáo án điện tử là : cá nhân hóa quá trình dạy,
thích ứng việc dạy với khả năng từng người học, cải tiến hoặc thay thế những phương
pháp truyền thống về dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, có
những kỹ năng sư phạm mới, có triển vọng áp dụng công nghệ thông tin có tính sư
phạm. Tuy nhiên còn nhiều giáo viên rất ngại phải làm chủ kỹ thuật phức tạp của máy
tính, sự ngần ngại nầy có thể khắc phục, nếu giáo viên biết rõ là không cần thiết tất cả
mọi giáo viên phải nắm vững những kỹ năng điện tử phức tạp khi sử dụng giáo án điện
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 30
tử. Ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trong trường
THPT hiện nay cho phù hợp với “xã hội thông tin” là xu hướng tất yếu ngày nay. Một số
trường và giáo viên đã mạnh dạn đi tiên phong trong việc soạn giáo án điện tử, phần
mềm dạy học, giảng dạy bằng máy chiếu … song do nặng tính tự phát nên thiếu chiều
sâu và bề rộng. Thực tế cho thấy các buổi học bằng giáo án điện tử sinh động, thu hút,
tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc trao đổi, thảo luận giữa giáo viên – học sinh, học
sinh – học sinh.
Việc tìm kiếm hình ảnh, tài liệu, mô phỏng cho bài dạy bằng giáo án điện tử đang
khiến giáo viên mất rất nhiều thời gian, công sức. Vì thế Bộ GD&ĐT cần đầu tư xây
dựng kho tư liệu tổng hợp điện tử gốc để giáo viên có thể tải về sử dụng khi cần.
Trung tâm tin học của Bộ GD&ĐT vừa thành lập một câu lạc bộ giáo án điện tử hay
hiệp hội E-learning trên mạng internet để nâng cao năng lực cho giáo viên có đủ điều
kiện đẩy mạnh mô hình học tập bằng giáo án điện tử trong nhà trường THPT.
Làm thế nào để tạo một cuộc cách mạng thực sự trong đổi mới phương pháp dạy học
? Theo bà Carmerita L. Villanueva – Giám đốc Thông tin UNESCO Bangkok (Thái
Lan) : “Giáo viên phải năng động tích cực hơn trong việc sử dụng giáo án điện tử vào
việc giảng dạy… Muốn vậy ngànhGD&ĐT phảibồi dưỡng giáo viên một cách đầy đủ.
Họ cần biết về máy tính, Word, Excel. PowerPoint … Điều tối quan trọng là thiết bị phải
đi kèm với đào tạo giáo viên và đưa vào sử dụng, chứ không phảichỉ đầu tư vào hạ tầng
cơ sở các trường học các phòng chức năng là có ngaymột cuộc cách mạng trong trường
học”.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới dạy học bằng giáo án điện tử là
một tất yếu trong xu thế chung toàn cầu đã làm thay đổi toàn bộ cách thức dạy học
truyền thống. Khi đưa công nghệ thông tin vào dạy học, công tác đào tạo học sinh sẽ
theo đa chiều, cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Cách thức nghiên cứu khoa học cũng sẽ thay
đổi, bởi máy tính đã hỗ trợ. Máy tính có thể nối dài bộ óc của con người. Làm công tác
giáo dục là đào tạo kiến thức cho các bộ óc con người, vì vậy việc ứng dụng công nghệ
thông tin kết hợp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, nêu vấn đề là một
việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay ở trường THPT.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 31
Rất mong được sự góp ý của Hội đồng xét duyệt để tôi làm tốt hơn trong công
tác dạy học lịch sử năm học 2011-2012.
4.2. Kiến nghị:
4.2.1. Đối với cấp lãnh đạo:
- Nhận thức được chất lượng giáo dục của bộ môn lịch sử ở trường THPT muốn
được nâng cao cần phải có sự đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử, đổi mới nội
dung chương trình và đánh giá kết quả học tập nhằm thực sự phát triển những năng lực
trí tuệ của học sinh bằng cách sử dụng những phương pháp dạy học đạt trình độ cao nhất
và những tiến bộ nhanh chóng của các công nghệ thông tin và viễn thông.
- Trang bị máy tính, projector, màn hình lớn với điều kiện có thể để các nhiều
trường có thể áp dụng.
- Bồi dưỡng kiến thức tin học cơ bản, tập huấn các phần mềm soạn giảng, phần
mềm ứng dụng vào một số môn học.
- Tổ chức các cuộc thi phần mềm sáng tạo, thi giáo viên giỏi để kích thích phong
trào sử dụng phương tiện CNTT trong dạy học.
4.2.2. Đối với giáo viên:
- Tự học, tự nghiên cứu về Công nghệ thông tin.
- Biết tìm nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy trên mạng.
- Chia sẻ thông tin với các đồng nghiệp.
Với kết quả của đề tài này, tôi mong rằng các đồng nghiệp quan tâm chia sẻ và phát
triển đề tài này để góp phần phát triển chất lượng giáo dục ngày càng tốt hơn.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng CSVN, NXB Chính trị quốc
gia, 1997.
2. Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCHTW khóa VIII, Đảng CSVN, NXBCTQG, 1997.
3. Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 BCHTW khóa VIII, Đảng CSVN, NXBCTQG. 1998.
4. Vũ Văn Tảo - Trần Văn Hà, Dạy học giải quyết vấn đề - một hướng đổi mới trong
giáo dục – đào tạo huấn luyện, Trường CBQLGDĐT xuất bản, Hà Nội, 1996.
5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng CSVN, NXBCTQG, Hà Nội,
2001.
6. Đào Huy Ngọc, ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam, NXBCTQG, 1997.
7. Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo 2001-2010, Bộ GD&ĐT
8. Chiến lược phát triển ngành công nghệ thông tin 2001-2010, Bộ KH&CN.
9. Đề án phát triển đào tạo nguồn nhân lực 10 năm thời kì 2001-2010. Bộ KH&ĐT,
2001.
10. Đặng Mộng Lân,Kinh tế trí thức, NXB Thanh niên, 2001.
11. Trần Phú Tài, Trình diễn PowerPont 2003, NXB Thống kê, 2006.
12. Sử dụng phần mềm Microsoft PowerPont trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông,
PGS-TS Nguyễn Thị Côi.
13. Nghiêm Đình Vỳ, Tìm hiểu kiến thức lịch sử 10, NXBGD, 2006.
14. Nguyễn Văn Ánh, Tư liệu lịch sử 10. NXBGD, 2006.
15. Tài liệu bồi dưỡng GV môn lịch sử, NXBGD,2006.
16. Ngô Minh Oanh, Một số vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở
trường THPT, Trường ĐHSP TP HCM, 2006.
17. Trương Hữu Quýnh(chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 1, NXBGD,2001.
18. Nguyễn Đình Đầu, Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại, NXB
TRẺ,2003.
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 33
MỤC LỤC

TÓM TẮT ĐỀ TÀI: ……………………………………………………......……….......1
NỘI DUNG …………………………………………………………………………......2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU……………………………………………………...............2
1.1. Lý do chọn đề tài: ……………………………………………………......................2
1.2. Mục đíchnghiên cứu: ……………………………………………………................4
1.3. Đốitượng nghiên cứu: ……………………………………………………...............5
1.4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu: …………………………………………..............5
1.4.1. Giới hạn nghiên cứu:
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu:
1.5. Tầm quan trọng của đề tài: ……………………………………………………........5
CHƯƠNG 2: NỀN TẢNG LÝ THUYẾT: ………………………………………...…....8
2.1. Tìm hiểu lịch sử đề tài: ………………………………………………………..…...8
2.2. Một số nhận thức về đổi mới pháp dạy học lịch sử: ………………………....……8
2.3. Đổi mới dạy học lịch sử theo phương pháp giải quyết vấn đề được chia thành
những bước, những giai đoạn có tính chuyên biệt:...........................................................9
2.3.1. Theo Jonh Dewey đề nghị có 5 bước để học sinh giải quyết vấn đề:...................10
2.3.2. Theo Kudriasev chia làm 4 giai đoạn để học sinh giải quyết vấn đề....................10
2.3.3. Đổi mới dạy học lịch sử theo phương pháp giải quyết vấn đề bao gồm nhiều hình
thức tổ chức đa dạng : ....................................................................................................10
2.4. Đổi mới dạy học lịch sử theo hướng kết hợp kiểu truyền thống với kiểu đưa vào
vấn đề (kết quả do học sinh tự nghiên cứu, tổng kết nhằm giải quyết vấn đề thực tế do
giáo viên đưa ra) :............................................................................................................11
2.5. Giáo viên sử dụng phương pháp giao tiếp thích hợp để giảng dạy có hiệu quả.......12
2.5.1. Quá trình giảng dạy là hạt nhân của công cuộc giáo dục......................................12
2.5.2. Một số ví dụ về học tập tíchcực: .........................................................................12
2.5.3. Phương pháp đổinhững câu đơn giản thành những câu khó: ..............................14
2.5.4. Khi đặt câu hỏi giáo viên cần lưu ý:......................................................................14
2.6. Vận dụng lý thuyết áp dụng vào thực tế trong 1 tiết dạy bằng giáo án điện tử........15
2.6.1. Giáo viên soạn giáo án mẫu bình thường theo đúng mẫu quy định của Bộ
GD&ĐT đã hướng dẫn ở lớp tập huấn thay sáchhè 2006: ............................................15
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên: Lê Văn Cường 34
2.6.2. Ví dụ thiết kế một giáo án cụ thể: .........................................................................19
2.6.3. Giáo viên soạn giáo án điện tử bằng Microsoft PowerPoint 2003, phần mềm mã
nguồn mở OpenOffice 3.2, hoặc phần mền Violet: (Đính kèm giáo án điện tử ghi sang
đĩaCD)............................................................................................................................25
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................26
3.1. Khách thể nghiên cứu:..............................................................................................26
3.2. Thiết kế:....................................................................................................................26
3.3. Quy trình nghiên cứu:...............................................................................................27
3.3.1. Chuẩn bị bài của giáo viên:
3.3.2. Tiến hành giảng dạy:
3.4. Đo lường:..................................................................................................................27
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..................................................................29
4.1. Kết luận: ..................................................................................................................29
4.2. Kiến nghị:.................................................................................................................31
4.2.1. Đối với cấp lãnh đạo:
4.2.2. Đối với giáo viên:
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................32
MỤC LỤC........................................................................................................................33

Ung dung cntt 1 tiet day Lich su

  • 1.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI  Sử dụng phương tiện CNTT trong dạy học là một yêu cầu quan trọng của viêc đổi mới phương pháp dạy học. Sở Giáo dục và Đào tạo Hậu Giang rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh, một trong những biện pháp nâng cao chất lượng này là việc đòi hỏi mỗi giáo viên phải tích cực thay đổi phương pháp giảng dạy. Trong những năm qua trường THPT Long Mỹ đã sử dụng phương tiện CNTT trong việc đổi mới phương pháp trong nhiều môn học, trong đó có môn Lịch Sử, giúp cho người học hoạt động tích cực, hiểu bài hơn. Giải pháp của tôi là sử dụng một số phần mềm để thiết kế bài giảng có nội dung dung phù hợp với bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII, lịch sử lớp 10 theo chương trình chuẩn. Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương: Lớp 10TN10 là lớp thực nghiệm, lớp 10TN13 là lớp đối chứng của trường THPT Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Kết quả cho thấy đổi mới phương pháp dạy học lịch sử qua việc ứng dụng CNTT đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh: Lớp thực nghiệm đã đạt được kết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng.
  • 2.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 2 NỘI DUNG  CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1. Lý do chọn đề tài: Đất nước ta đang thực hiện đường lối đổi mới và tiến hành công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH), bên cạnh những thành tựu quan trọng về kinh tế, văn hóa xã hội, đời sống của nhân dân ta tiếp tục được cải thiện, giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) cũng đang phát triển về quy mô và cơ sở vật chất, trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nhân lên. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ CNH-HĐH ở nước ta hiện nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển. trước tác động ngày càng mạnh của xu thế toàn cầu hóa, chúng ta cũng đang gặp nhiều khó khăn trở ngại do chất lượng và hiệu quả GD&ĐT còn thấp so với yêu cầu. GD&ĐT có vị trí quan trọng trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta trong giai đoạn CNH-HĐH hiện nay. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII nêu rõ : “Thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu. NhậnthứcGD&ĐT cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho GD&ĐT là đầu tư cho phát triển”. Trước những thay đổi to lớn của nền khoa học thế giới, nền giáo dục thế giới đã có bước tiến dài và chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp (cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ ba, giáo dục được song hành tại các nước xem là nguồn tri thức bổ trợ chủ lực công cuộc phát triển quốc gia). Hòa chung vào dòng biến đổi của thế giới, nền giáo dục nước ta cũng đã có những biến đổi qua quá trình “đổi mới” từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khi nền kinh tế thị trường bắt đầu được áp dụng vào Việt Nam. Tuy nhiên căn bệnh thành tích tại các bậc học phổ thông đã làm suy giảm chất lượng của việc dạy và học bộ môn lịch sử, qua kết quả thi tốt nghiệp THPT và nhất là thi đại học, những thí
  • 3.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 3 sinh chọn môn sử là ngành thi đại học của mình mà có cả đến chục ngàn thí sinh có điểm 0, điểm 1. Lịch sử là môn học tái hiện lại cho học sinh biết về quá khứ dân tộc qua các thời kì để các thế hệ nối tiếp theo vận dụng những bài học kinh nghiệm của người xưa vào công cuộc đấu tranh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Môn lịch sử còn giáo dục những phẩm chất truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giáo dục lòng yêu nước, biết ơn tiền nhân, hoài bão và ý chí xây dựng đất nước cho các thế hệ tiếp theo. Mặt khác, trong giai đoạn mở cửa hiện nay, môn lịch sử còn là một trong những môn học quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Môn lịch sử ở trường THPT được coi là môn trụ cột của ngành khoa học xã hội, vì nó liên quan đến nhiều môn học khác từ văn học, địa lý cho đến các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật … đều gắn liền với lịch sử. Những năm gần đây Bộ GD&ĐT liên tiếp cho thi môn lịch sử trong kì thi tốt nghiệp THPT cùng với hai môn thi bắt buộc là văn, toán. Đó là chủ trương đúng đắn để học sinh không còn tâm lý xem thường môn lịch sử là môn học phụ trong trường THPT. Việc dạy và học môn lịch sử hiện nay đang thu hút sự quan tâm chú ý của toàn xã hội. Qua bốn năm cải cách ở bậc THCS, kể từ năm học 2006 – 2007, Bộ GD&ĐT bắt đầu triển khai chương trình thay sách lớp 10 bậc THPT và mở chuyên đề giảng dạy bồi dưỡng kiến thức cho giáo viên môn lịch sử về “Một số vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT”. Việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử đòi hỏi giáo viên phải có một trình độ hiểu biết liên quan đến nhiều bộ môn thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của việc dạy học lịch sử. Yêu cầu hiểu biết lịch sử, nhu cầu cuộc sống hiện tại và tương lai đặt ra cho toàn xã hội, cho ngành giáo dục, nhất là đội ngũ giáo viên dạy lịch sử nhiều nhiệm vụ phải bổ sung, nâng cao kỹ năng giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, làm thế nào cho môn lịch sử ở trường THPT xứng đáng với vị trí vốn có của nó.
  • 4.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 4 1.2. Mục đích nghiên cứu: Mục đích của việc nghiên cứu việc đổi mới dạy học lịch sử ở trường THPT là nhằm nâng cao hiệu quả của một bài, một chương hay cả khóa trình trong việc dạy học lịch sử. Vì thế mục đích áp dụng việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử chính là tìm ra lời giải về hiệu quả hay chất lượng của việc dạy học lịch sử. Hiện nay việc dạy và học lịch sử còn nhiều bất cập, nhiều học sinh sau khi học xong vẫn không thể nhớ và hiểu biết đúng lịch sử. Các em thường có quan niệm sai lầm là học lịch sử chỉ cần học thuộc lòng, ghi nhớ các sự kiện, không cần phải suy luận tư duy hiểu biết sâu sắc về các sự kiện lịch sử. Tuy nhiên, từ thực tế đã cho thấy rằng việc ghi nhớ các sự kiện lịch sử sẽ không bền vững nếu như không hiểu được các sự kiện vì sao lại diễn ra. Nếu chỉ ghi nhớ các sự kiện lịch sử chưa phải là hoàn thành yêu cầu của việc học tập môn lịch sử. Biết để hiểu và có hiểu thì mới biết một cách sâu sắc và vững chắc. Tất cả các nước hiện nay, đặc biệt là các nước phát triển, đều phải tiến hành đổi mới giáo dục, coi đổi mới giáo dục là một trong những chiến lược để phát triển đất nước của mình. Hội đồng về “ Giáo dục thế kỉ XXI ” của UNESCO, Liên Hiệp quốc đã đưa ra khuyến cáo về 4 trụ cột của giáo dục là: -Học để biết. -Học để làm việc. -Học để cùng chung sống. -Học để làm người. Vì thế ngoài mục tiêu đào tạo ra những con người sống tốt có trách nhiệm với cộng đồng, nền giáo dục hiện nay còn phải chú trọng để trang bị những năng lực chìa khóa để học sinh có thể thích ứng và phát triển trong một xã hội phát triển và thường xuyên biến đổi. Đó chính là năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự khẳng định mình, năng lực hành động có hiệu quả. Học sinh sau khi rời khỏi trường THPT không thể là những con người thụ động mà phải có tư duy nhạy bén, vừa là con người dân tộc Việt Nam, vừa là con người quốc tế,
  • 5.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 5 hoàn thành nhiệm vụ của mình trong gia đình, cộng đồng xã hội và lao động hợp tác quốc tế. Trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế, vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trở thành một yêu cầu cấp thiết, đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử là môn học có liên quan đến quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, liên quan đến tất cả các môn khoa học xã hội - nhân văn nhằm hình thành phẩm chất đạo đức và tính cách của con người Việt Nam. 1.3. Đối tượng nghiên cứu: “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trong trường THPT qua một tiết dạy bằng giáo án điện tử” ở lớp 10TN10 trường THPT Long Mỹ 1.4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu: 1.4.1. Giới hạn nghiên cứu: Năm học 2010-2011 là năm học các trường THPT tiếp tục áp dụng chương trình sách giáo khoa mới cho học sinh lớp 10 trong lộ trình cải cách giáo dục. Vì thế đề tài “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT qua một tiết dạy bằng giáo án điện tử” là vấn đề thời sự. Bộ GD&ĐT chưa tổng kết đánh giá việc thay sách và đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn lịch sử vì nước ta đang trong quá trình tiếp tục thực hiện đổi mới. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, mức độ nghiên cứu chỉ giới hạn trong 2 vấn đề lớn: -Vận dụng phươngpháp giảng dạy tích cực qua một tiết dạy cụ thể của môn lịch sử lớp 10 ban cơ bản. - Sử dụng giáo án điện tử trong quá trình soạn giảng bài dạy. 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu : - Phần hai: lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX. - Chương III: Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỷ XVIII - Bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII 1.5. Tầm quan trọng của đề tài: Hiện nay nền kinh tế tri thức đang đóng vai trò quyết định trong sản xuất vật chất. Nhờ những phương tiện thông tin hiện đại mà khoảng cách về không gian được rút ngắn hơn. Xu thế toàn cầu hóa yêu cầu con người phải thay đổi nhịp sống của mình thì mới
  • 6.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 6 nắm bắt kịp những thay đổi nhanh chóng của nhân loại, mới thích ứng và phát triển theo nhịp sống đương đại. Khối lượng kiến thức của nhân loại ngày càng nhiều, thời gian và điều kiện tiếp thu lại có hạn mà yêu cầu của ngành giáo dục về chất lượng đào tạo phải ngày càng cao. Chính vì thế việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử có tầm quan trọng đặc biệt. Làm thế nào để học sinh không bị nhồi nhét kiến thức, lo học tủ, học vẹt để thi cử? Với chủ trương vận động của Bộ GD&ĐT “Nói không với tiêu cực trong thi cử, chống bệnh thành tích trong giáo dục” càng đòi hỏi người giáo viên dạy học môn lịch sử phải cải tiến phương pháp soạn giảng, làm thế nào để học sinh có hứng thú, phát huy tư duy, óc phán đoán trong các vấn đề về các sự kiện lịch sử để các em hiểu được nguyên nhân, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm lịch sử trong quá trình dạy học lịch sử. Luật Giáo dục của nước ta được thông qua năm 1998, trong chương I “Những quy định chung”, đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và phương pháp dạy học nói riêng là : “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Đảng ta vạch ra mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001-2010), nhiệm vụ GD&ĐT được xác định rõ là : “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới về nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục”. Việt Nam đang bước vào hội nhập quốc tế và khu vực cho nên càng đòi hỏi cấp bách việc giáo dục phải đổi mới và nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu trên. Trước tiên và quan trọng hơn cả là việc dạy học lịch sử phải phấn đấu vươn tới chuẩn chung về chương trình đào tạo, về mô hình quản lý, đặc biệt là phải đạt chuẩn về chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo. Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng tìm được lời giải cho vấn đề nầy cũng có nghĩa là tìm được hướng cải cách chương trình, thay sách giáo khoa, cũng chính là mục dích tìm ra một hướng di cho phù hợp tình hình hiện nay của đơn vị.
  • 7.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 7 Đề tài “Đổi mới phương pháp dạyhọc lịch sử ở trường THPT qua một tiết dạy bằng giáo án điện tử” nhằm giải quyết vấn đề cấp bách của giáo viên bộ môn lịch sử và của công tác dạy học lịch sử mà xã hội đang quan tâm hiện nay.
  • 8.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 8 CHƯƠNG 2: NỀN TẢNG LÝ THUYẾT 2.1. Tìm hiểu lịch sử đề tài: Trong tình hình hiện nay môn lịch sử với chất lượng giảm sút, học sinh còn có thành kiến xem là môn học phụ thì giáo viên phải tìm biện pháp làm thế nào để tạo sự hứng thú học tập ở học sinh. Những phương pháp vận dụng còn tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng trường, tùy lớp học và học sinh. Điều nầy đòi hỏi người giáo viên phải có sự chuẩn bị kỹ về giáo án, dụng cụ trực quan, câu hỏi và bài tập. Theo phương pháp dạy truyền thống, giáo viên là người truyền đạt kiến thức cho học sinh. Kiến thức đã được thầy chuẩn bị sẵn và cung cấp cho học sinh ở trên lớp theo kiểu giáo viên giảng (đọc), học sinh chép. Giáo viên là trung tâm của lớp học, còn học sinh đóng vai trò thụ động. Nếu đề tài cần tìm hiểu do quá trình chủ động lĩnh hội kiến thức của học sinh và do học sinh “tự đào tạo” thì việc nắm vững kiến thức của học sinh mới lâu dài và bền vững. Dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học lịch sử là dạy học nêu vấn đề, học liên môn, sử dụng kiến thức lịch sử thế giới để dạy lịch sử Việt Nam. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, nay tôi tiếp tục nghiên cứu về “đổi phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT qua một tiết dạy bằng giáo án điện tử” 2.2. Một số nhận thức về đổi mới pháp dạy học lịch sử: Để có năng lực thích nghi và sáng tạo, học sinh phải được đào tạo trên tinh thần chủ động học tập, độc lập tư duy, học theo kiểu nghiên cứu khoa học, hướng vào năng lực “đặtvà giải quyết vấn đề”, học theo kiểu “xử lý các tình huống”, mặt khác phải có năng lực tổ chức, quản lý quá trình xử lý thông tin, giải quyết vấn đề trong tập thể làm việc, trong môi trường học tập của một tiết dạy. +Tình huống có vấn đề luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ … và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu và giải
  • 9.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 9 quyết tình huống có vấn đề sẽ là trí thức mới, nhận thức mới hoặc phương thức hành động mới đối với học sinh. +Tình huống có vấn đề được đặc trưng bởi một trạng thái tâm lý ở học sinh trong giải quyết một câu hỏi của giáo viên đưa ra, mà việc giải quyết vấn đề đó lại cần đến tri thức mới, cách thức hành động mới mà học sinh chưa hề biết trước đó. Có 3 yếu tố cấu thành tình huống có vấn đề : -Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của học sinh. -Sự tìm kiếm những tri thức và phương thức hành động mà học sinh chưa biết. -Khả năng trí tuệ của học sinh, thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực. +Đặc trưng cơ bản của việc giải quyết tình huống có vấn đề là học sinh gặp lúng túng về lý thuyết và thực hành để giải quyết vấn đế; nó xuất hiện nhờ tính tích cực nghiên cứu của chính học sinh. Tình huống có vấn đề là một hiện tượng chủ quan, một trạng thái tâm lý của chủ thể, trạng thái lúng túng xuất hiện trong quá trình nhận thức như một mâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể trong họat động của học sinh. +Ứng với mục tiêu xác định, những thành phần chủ yếu của một tình huống học tập gồm có như sau : -Nội dung của bài học hoặc chủ đề trong từng mục. -Tình huống khởi đầu. -Hoạt động trí lực của học sinh trong việc trả lời câu hỏi hoặc giải quyết vấn đề. -Kết quả hoặc sản phẩm của hoạt động làm được. -Đánh giá kết quả. 2.3. Đổi mới dạy học lịch sử theo phương pháp giải quyết vấn đề được chia thành những bước, những giai đoạn có tính chuyên biệt: 2.3.1. Theo Jonh Dewey đề nghị có 5 bước để học sinh giải quyết vấn đề : -Tìm hiểu vấn đề. -Xác định vấn đề. -Đưa ra những giả thuyết khác nhau để giải quyết vấn đề. -Xem xét hệ quả của từng giả thuyết dưới ánh sáng của những kinh nghiệm trước đây. -Thử nghiệm giải pháp thích hợp nhất.
  • 10.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 10 2.3.2. Theo Kudriasev chia làm 4 giai đoạn để học sinh giải quyết vấn đề: -Sự xuất hiện của chính vấn đề và những kích thích đầu tiên thúc đẩy học sinh giải quyết vấn đề. -Học sinh nhận thức sâu sắc và chấp nhận vấn đề cần giải quyết. -Quá trình tìm kiếm lời giải cho vấn đề được “chấp nhận” giải quyết, lý giải, chứng minh, kiểm tra. -Tìm được kết quả cuối cùng và đánh giá toàn diện các kết quả tìm được. Như vậy học tập theo phương pháp giải quyết vấn đề là hình thức dạy học ở đó giáo viên tổ chức được tình huống có vấn đề, giúp học sinh nhận thức vấn đề, chấp nhận giải quyết và tìm kiếm lời giải trong quá trình “hoạt động hợp tác” giữa thầy và trò, phát huy tối đa tính độc lập của học sinh kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên. Đặc trưng độc đáo của phương pháp đổi mới dạy học lịch sử theo phương pháp giải quyết vấn đề là việc học sinh tiếp thu tri thức trong hoạt động tư duy sáng tạo. 2.3.3. Đổi mới dạy học lịch sử theo phương pháp giải quyết vấn đề bao gồm nhiều hình thức tổ chức đa dạng : Quá trình học tập có thể diễn ra với những cách tổ chức đa dạng lôi cuốn học sinh tham gia cùng tập thể, động não, tranh luận dưới sự dẫn dắt, gợi mở, cố vấn của giáo viên: -Làm việc theo nhóm nhỏ : trao đổi ý kiến, khuyến khích tìm tòi ... Thực hiện những kỹ thuật hỗ trợ tranh luận : ngồi vòng tròn, chia nhóm theo những ý kiến cùng loại … -Tấn công não : đây thường là bước thứ nhất trong sự tìm tòi giải quyết vấn đề, học sinh thường được yêu cầu suy nghĩ, đề ra những ý kiến hoặc giải pháp ở mức độ tối đa có thể có của mình. -Xếp hạng : một cáchkích thích học sinh suy nghĩ sâu hơn về một vấn đề gay cấn và làm rõ những ưu tiên. -Sắm vai : tập luyện cho học sinh tăng thêm khả năng nghĩ ra những hướng khác, phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và giải quyết xung đột … -Mô phỏng : có thể coi như sự mở rộng của cách sắm vai, thu hút cả lớp đồng thời tham gia, trên cơ sở tất cả học sinh đã hiểu rõ những gay cấn gốc, nhằm giải quyết những vấn
  • 11.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 11 đề phức tạp liên quan đến những con người, những nhóm học sinh có những quan tâm đa dạng. -Những chiến lược ra quyết định : nhằm đạo tạo những kỹ năng cần thiết cho học sinh tham gia dân chủ trong tương lai. -Báo cáo và trình bày : thực hiện nhiều cách làm, từ việc học sinh viết, trình bày ở nhóm nhỏ, báo cáo của nhóm trước cả lớp … 2.4. Đổi mới dạy học lịch sử theo hướng kết hợp kiểu truyền thống (nghe giảng - đọc - chép) với kiểu đưa vào vấn đề (kết quả do học sinh tự nghiên cứu, tổng kết nhằm giải quyết vấn đề thực tế do giáo viên đưa ra) : Một hướng rất quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay là bên cạnh tiếp tục dạy học các kiến thức, kỹ năng theo kiểu truyền thống là xoay quanh trục “môn học”, coi như tế bào, đơn vị cơ sở của việc dạy học, cần phải coi trọng một kiểu dạy học mới, bổ sung cho kiểu truyền thống là xoay quanh trục “đặt vấn đề”, coi như kết quả của nghiên cứu khoa học công nghệ, của tổng kết thực tiễn sáng kiến kinh nghiệm. Học sinh đảm bảo phải có sách giáo khoa khi học lịch sử, giáo viên sử dụng công nghệ thông tin thay cho bảng đen phấn trắng, giáo viên thay việc đọc chép bằng các gợi ý các vấn đề trong nội dung bài học để học sinh tranh luận, tìm hiểu qua thư viện điện tử, qua mạng internet, tự thực hành giải quyết vấn đề theo yêu cầu của giáo viên ở lớp và tiếp tục ở nhà cho đến khi xong nội dung bài học, nội dung chương trình cần ứng dụng vào thực tiễn. Giáo viên thay thế việc kiểm tra đánh giá bằng các hình thức mới phù hợp, chủ yếu là đánh giá qua thực tế học sinh xử lý, giải quyết tình huống vấn đề của giáo viên đã đưa ra. Để có năng lực thích nghi và sáng tạo, không những giáo viên cần có kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn dạy học, mà quan trọng hơn, cơ bản hơn, học sinh phải được đào tạo để có nền kiến thức cơ bản đủ vững, nền kiến thức đại cương đủ rộng và có kỹ năng vận dụng những cái cơ bản, đại cương ấy một cách thích hợp, mà trọng tâm là học sinh được giáo viên hướng dẫn về phương pháp tự đi tìm kiếm những kiến thức, tự rèn luyện
  • 12.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 12 những kỹ năng để có biện pháp tự học, tự cập nhật thường xuyên sau khi đã tốt nghiệp THPT. Đó chính là giáo viên đã dạy cho học sinh biết cách “học cách học” từ việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay. 2.5. Giáo viên sử dụng phương pháp giao tiếp thích hợp để giảng dạy có hiệu quả. 2.5.1. Quá trình giảng dạy là hạt nhân của công cuộc giáo dục. Vì thế giảng dạy phải thực sự hiệu quả để trường THPT có thể đạt được thành công như mục tiêu đặt ra. Giáo viên cần phải biết cách giao tiếp để khuyến khích và động viên học sinh rèn luyện khả năng tư duy và sáng tạo. Kỹ năng giao tiếp giúp học sinh đặt ra những câu hỏi trung gian thúc đẩy quá trình học tập của học sinh. Học tập tích cực hướng tới quá trình dạy và học năng động, trong đó người học được coi là những thành viên được chủ động quá trình dạy học. Cả giáo viên và học sinh đều học được thông qua việc làm, hành động trong những hoạt động cụ thể như : trò chơi vui nhộn, mô phỏng, đóng kịch thể hiện nội tâm . . . Việc nầy sẽ tạo điều kiện khuyến khích cho các hoạt động phản hồi với mục đích phát triển tăng cường kỹ năng và năng lực. Học tập tích cực cũng được xem như là quá trình học tập hợp tác giữa giáo viên và học sinh. 2.5.2. Một số ví dụ về học tập tích cực : +Tư duy, làm việc theo từng cặp, chia sẻ : giao cho học sinh một bài tập như câu hỏi hay vấn đề cần giải quyết. Giáo viên yêu cầu học sinh làm từ 2-5 phút (tư duy). Sau đó học sinh trao đổi với bạn kế bên từ 3-5 phút (từng cặp). Cuối cùng giáo viên chọn ra từng cặp trình bày ý kiến trước cả lớp (chia sẻ). +Nhóm học tập hợp tác : giáo viên xếp nhóm học sinh từ 3-6 học sinh và tự chọn nhóm trưởng, thư ký. Giáo viên giao việc theo từng nhóm đã chia và yêu cầu học sinh chuẩn bị về nhà. Sau đó nhóm đưa ra câu trả lời chung theo nhóm, hoặc ghi ra giấy, hoặc viết thành bài tiểu luận. +Những trò chơi : trả lời trắc nghiệm hoặc câu đố dùng để cho ôn tập, bài tập hay thi cử. Có thể áp dụng từng học sinh, theo nhóm hay cả lớp.
  • 13.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 13 +Phân tích hay chia sẻ ý kiến qua băng VCD : đoạn băng VCD nên ngắn từ 5-20 phút. Giáo viên nên xem trước để đảm bảo nội dung có giá trị. Giáo viên giao thời gian, thảo luận câu hỏi, liệt kê trọng tâm. Sau khi xem băng xong, giáo viên yêu cầu học sinh làm việc một mình hay từng cặp để trả lời câu hỏi, viết tóm tắt về hành động hay ứng dụng lý thuyết đã xem qua. +Tạo sự tranh luận trong học sinh : giáo viên tạo cơ hội để học sinh tranh luận, thu thập dữ liệu và lôgic để bảo vệ quan điểm và tạo cho học sinh có kinh nghiệm thuyết trình và tranh luận với các bạn có quan điểm trái ngược. +Để học sinh đối thoại : giúp học sinh hình thành các ý tưởng một cách dễ dàng và là nền tảng của việc học tập hợp tác hiệu quả. +Học sinh đặt câu hỏi trong đề thi : áp dụng cho học sinh ôn bài cho kỳ thi. Giúp học sinh chủ động xử lý tài liệu, biết trả lời câu hỏi bài thi chính xác. +Tiểu luận, đề cương nghiên cứu, bài thu hoạch : giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu một chủ đề và trình bày kết quả nghiên cứu trong giờ tiểu luận của lớp giống như một buổi báo cáo đề tài. +Sử dụng dữ liệu thô : giáo viên yêu cầu học sinh thu thập các dữ liệu thô về một số chủ đề cụ thể. Sau đó học sinh phân tích dữ liệu và rút ra kết luận. Giáo viên cho nhận xét để hướng dẫn học sinh cách sử dụng dữ liệu thô một cách có hiệu quả nhất. +Phân tích tình huống dựa trên đối tượng và hoàn cảnh cụ thể : giáo viên chiếu trên máy chiếu một tình huống cụ thể và yêu cầu học sinh bàn bạc, phân tích tình huống, sử dụng quan niệm, dữ liệu và lý thuyết đã học. Học sinh có thể phân tích một mình, theo nhóm hay từng cặp và kết nối các ý tưởng viết thành một bài luận ngắn trong lớp. +Ghi chép lại hay viết nhật ký : giáo viên yêu cầu học sinh viết nhật ký theo định kỳ trên máy tính, trên giấy trong giờ học hay ở nhà bằng một đoạn ngắn bày tỏ suy nghĩ hay phân tích một mục nào đó của bài học. +Viết bảng tin : kết hợp đoàn thanh niên để một nhóm học sinh viết bảng tin về một đề tài cụ thể có liên quan đến bài học. Học sinh có thể kèm theo những bài báo cáo có liên quan đến chủ đề.
  • 14.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 14 +Vẽ sơ đồ các khái niệm : học sinh tạo ra những mô hình, ý tưởng và mối liên hệ giữa các khái niệm một cách trực quan. Học sinh có thể tự thực hiện cá nhân, theo nhóm về những nội dung mới học có thể chia sẻ, bàn bạc và nhận xét trước lớp. Tóm lại để việc giảng dạy có hiệu quả, giáo viên phải phát triển kỹ năng đặt câu hỏi mang tính tư duy để thúc đẩy việc học tập của học sinh. Nếu giáo viên đưa ra câu hỏi hay sẽ kích thích kỹ năng tư duy bậc cao, phát triển sự sáng tạo và sự hiểu biết của học sinh thay vì học sinh phải trả lời bằng những câu hỏi gợi nhớ học vẹt. 2.5.3. Phương pháp đổi những câu đơn giản thành những câu khó : -Đúng, nhưng vì sao ? -Sử dụng thông tin nào ? -Khác nhau ở điểm nào ? ( Thích ứng, thay đổi, thay thế, phóng đại, giảm xuống, sắp xếp lại, đảo vị trí, liên tưởng ) . -Các em có thể chứng minh được không ? -Đúng, sai hay không có đáp án cụ thể ? -Tất cả những câu trên ? -Giống nhau hay khác nhau ? -Nồi tròn, vung méo ( Râu ông nọ cắm cằm bà kia ) . 2.5.4. Khi đặt câu hỏi giáo viên cần lưu ý : +Đặt những câu hỏi phù hợp với kiến thức học sinh. +Khơi dậy khả năng tư duy bằng việc đặt nhiều câu hỏi khác nhau. +Hãy chuẩn bị sẵn những câu hỏi. +Đặt câu hỏi đúng lúc. +Gọi học sinh trả lời câu hỏi một cách ngẫu nhiên. +Hãy lặp lại câu hỏi trước khi học sinh trả lời. +Cho học sinh có đủ thời gian trả lời câu hỏi.
  • 15.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 15 2.6. Vận dụng lý thuyết áp dụng vào thực tế trong 1 tiết dạy bằng giáo án điện tử. 2.6.1. Giáo viên soạn giáo án mẫu bình thường theo đúng mẫu quy định của Bộ GD&ĐT đã hướng dẫn ở lớp tập huấn thay sách hè 2006 : -Trước hết cần xác định loại bài và vị trí của bài trong khóa trình để có nội dung và phương pháp dạy học cho phù hợp. -Thứ hai, phải xác định rõ mục tiêu (mục đích yêu cầu) của bài học. Nội dung mức độ bài học bao gồm các yếu tố : kiến thức, thái độ tình cảm, tư tưởng và kĩ năng. Đây là công việc khó và phức tạp, quyết định hiệu quả của các công việc tiếp theo khi soạn bài. -Về việc xác định nội dung kiến thức, giáo viên phải nghiên cứu nội dung bài viết trong sách giáo khoa, hướng dẫn của sách giáo viên, các tài liệu tham khảo cần thiết để tìm ra nội dung chính của bài học, những sự kiện cơ bản, mức độ trình bày cho đúng và đủ trong thời gian một tiết dạy. -Để xác định nhiệm vụ giáo dục thái độ tình cảm, tư tưởng của bài học, giáo viên cần căn cứ vào nhiệm vụ giáo dục chung của khóa trình và nội dung cụ thể của bài học. Như vậy sẽ không rơi vào công thức giáo điều. -Muốn xác định nhiệm vụ phát triển kỹ năng, giáo viên nên dựa vào mức độ cần đạt trong chương trình lịch sử lớp 10, đặc điểm trình độ học sinh, nội dung cụ thể của bài học mà xác định cụ thể. Tổng hợp các yêu cầu trên đây, giáo viên sẽ xác định một cách toàn diện cụ thể mục đích bài học. -Thứ ba, phải xây dựng đề cương và viết giáo án. Để xây dựng nội dung và đề cương bài học, giáo viên phải xem xét mối tương quan giữa bài viết của sách giáo khoa với nội dung bài giảng. Căn cứ vào nội dung chính của bài (đã xác định), thời gian của tiết học, giáo viên xác định khối lượng thông tin học sinh cần nắm, mức độ lãnh hội tiếp thu các thông tin nầy (những sự kiện cần đi sâu, sự kiện đi lướt và những sự kiện hướng dẫn học sinh về nhà đọc), các phương tiện học tập (tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan …). Nội dung bài soạn cần tránh lối dạy học nhồi nhét kiến thức, kiểu cổ động giáo dục bằng những “khẩu hiệu chính trị” không xuất phát từ sự kiện lịch sử cụ thể, mà phải thể
  • 16.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 16 hiện được các hoạt động điều khiển, tổ chức của giáo viên trên cơ sở phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Muốn vậy, khi xác định cách tổ chức công việc của giáo viên và học sinh phải kết hợp việc truyền thụ kiến thức có sẵn với hoạt động của các em. Lãnh hội kiến thức và phát triển năng lực nhận thức là hai mặt khắng khít với nhau của một quá trình. +Giáo án cần thể hiện đầy đủ các yêu cầu sau đây : -Phản ánh được nội dung cơ bản của chương trình, sách giáo khoa và tình hình học sinh. -Thể hiện được các điều kiện cụ thể của từng lớp, từng trường, từng vùng, từng địa phương. -Tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên lên lớp đạt hiệu quả cao. -Tạo điều kiện cho học sinh lãnh hội tiếp thu bài tốt. +Theo quan niệm cũ về cấu trúc bài học phải đầy đủ và thực hiện theo trình tự các bước lên lớp : -Ổn định lớp. -Kiểm tra bài cũ. -Dẫn dắt vào bài mới. -Giảng bài mới. -Củng cố, dặn dò học sinh. +Theo quan niệm hiện nay đó là những công việc của một bài học mà giáo viên cần thực hiện không nhất thiết phải tuân thủ theo trình tự và đủ cả 5 bước, mà tùy thuộc vào điều kiện cụ thể đối tượng học sinh, cơ sở vật chất, nội dung bài học mà vận dụng sao cho linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo, không cứng nhắc và máy móc. Cấu trúc của bài học phải phụ thuộc vào loại bài, nội dung và mục tiêu bài học : +Ổn định và tổ chức các hoạt động dạy học : kiểm tra sỉ số học sinh, ổn định trật tự và tổ chức học sinh hoạt động để tiếp thu iến thức trong suốt giờ học. +Kiểm tra bài cũ : nhằm kiểm tra khả năng nhận thức kiến thức cũ của học sinh, đồng thời dẫn dắt học sinh vào bài mới. +Giới thiệu bài mới : có nhiều cách giới thiệu bài mới, chẳng hạn nêu tình huống có vấn đề khái quát kiến thức cũ để dẫn dắt vào bài mới. Về cơ bản, đây là công việc nêu rõ
  • 17.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 17 mục tiêu của bài học mà học sinh cần đạt được dưới sự hướng dẫn, tổ chức các hoạt động của giáo viên. +Tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp : -Thiết kế theo hoạt động của giáo viên và học sinh. -Mỗi mục của bài trong sách giáo khoa có thể có một hoặc nhiều hoạt động tùy theo nội dung của bài. -Mỗi hoạt động thường được tiến hành các công việc sau : -Thứ nhất : Xác định mức độ kiến thức cần đạt của hoạt động đó : thông qua hoạt động đó học sinh nắm được nội dung kiến thức gì, mức độ như thế nào? (nắm nội dung chính, những nét khái quát, hay hiểu được bản chất, so sánh, đối chiếu với các sự kiện khác). -Thứ hai : Tổ chức thực hiện với hoạt động của giáo viên và học sinh bao gồm các bước sau : -Thông báo thông tin, cho học sinh làm việc với sách giáo khoa, tư liệu lịch sử, tranh ảnh, bản đồ, xem băng, tuy nhiên thông tin phải có định hướng của giáo viên. -Xử lý các thông tin, với việc nêu các câu hỏi, bài tập, vấn đề thảo luận thông qua các hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm hoặc cả lớp với sự tổ chức hướng dẫn của giao viên. -Kết quả xử lý và kết luận, với việc học sinh thông báo kết quả xử lý thông tin do giáo viên tổ chức hướng dẫn và giáo viên đưa ra nhận xét đúng, sai, sửa chữa, bổ sung và cuối cùng giáo viên đưa ra kết luận. Ví dụ sau đây thể hiện cụ thể theo hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh. Hoạt động của giáo viên và học sinh Kiến thức cơ bản học sinh cần nắm vững *Hoạt động 1 : cá nhân, nhóm hay cả lớp. -Mức độ kiến thức cần đạt ………… -Tổ chức thực hiện : +GV thông báo thông tin, cho HS làm việc với SGK, tư liệu lịch sử, tranh ảnh, bản đồ, xem băng, tuy nhiên thông tin phải có định hướng của GV. Mục 1 …….
  • 18.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 18 +HS xử lý các thông tin, với việc nêu các câu hỏi, bài tập, vấn đề thảo luận thông qua các hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm hoặc cả lớp dưới sự tổ chức hướng dẫn của GV. +HS thông báo kết quả xử lý thông tin. *Hoạt động 2 : (Thông tin phản hồi) GV nhận xét đúng sai, sửa chữa, bổ sung và chốt ý. *Tiếp tục các hoạt động theo từng mục nội dung của bài học. -Mức độ kiến thức cần đạt ……………….. -Tổ chức thực hiện ……………… +Sơ kết bài học : -Củng cố : Sau khi kết thúc bài học giáo viên khái quát và tổng kết toàn bộ nội dung của bài; có thể củng cố, sơ kết sau mỗi mục nếu thấy cần thiết. Việc củng cố còn có thể tiến hành bằng cách giáo viên nêu các câu hỏi kiểm tra hoạt động nhận thức của học sinh, hoặc bằng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan, yêu cầu học sinh trả lời. -Dặn dò, ra bài tập : Dặn dò học sinh chuẩn bị công việc ở nhà phục vụ cho bài mới như : tìm hiểu SGK, sưu tầm tranh ảnh, tư liệu tham khảo, làm đồ dùng học tập … Giáo viên ra bài tập hướng dẫn học sinh làm bài ở lớp hoặc ở nhà.
  • 19.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 19 2.6.2. Vídụ thiết kế mộtgiáoán cụ thể: CHƯƠNG III: VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN THẾ KỶ XVIII Bài 21: NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN TRONG CÁC THẾ KỶ XVI – XVIII I. MỤC TIÊU BÀI HỌC: Sau khi học xong bài học yêu cầu học sinh (HS) nắm và hiểu được: 1. Về kiến thức: - Sự sụp đổ của triều đình nhà Lê đã dẫn đến sự phát triển của các thế lực phong kiến. - Nhà Mạc ra đời và tồn tại hơn nửa thế kỷ đã góp phần ổn định xã hội trong một thời gian. - Chiến tranh phong kiến diễn ra trong bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XVI - XVIII đã dẫn đến sự chia cắt đất nước. - Tuy ở mỗi miền (Đàng Trong, Đàng Ngoài) có chính quyền riêng nhưng chưa hình thành hai nước. 2. Về tư tưởng tình cảm: - Bồi dưỡng ý thức xây dựng và bảo vệ đất nước thống nhất. - Bồi dưỡng tinh thần dân tộc. 3. Về kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng phân tích, tổng hợp vấn đề. Khả năng nhận xét về tính giai cấp trong xã hội. II. THIẾT BỊ, TÀI LIỆU DẠY - HỌC - Bản đồ Việt Nam phân rõ ranh giới hai miền. - Một số tranh vẽ thời Lê – Trịnh. - Một số tài liệu về nhà nước hai miền. III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC 1. Ổn định lớp: 1 phút 2. Kiểm tra bài cũ: 4 phút Câu 1: Thế kỷ XV, tôn giáo nào vươn lên thành đạo chính, thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến nước ta? A. Nho giáo B. Phật giáo C. Thiên chúa giáo D. Đạo giáo Câu 2: Bộ sử học “Đại Việt Sử Ký toàn thư” do ai biên soạn ? A. Lê Quý Đôn B. Nguyễn Bỉnh Khiêm C. Lê Văn Hưu D. Ngô Sĩ Liên Câu 3: Bộ luật thành văn của nước ta thế kỷ XV có tên gọi là: A. Hình luật – thời Trần. Tiết: 26 Ngày soạn: 05/11
  • 20.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 20 B. Quốc triều hình luật – thời Lê Thánh Tông. C. Hình thư –thời Lý. D. Hình luật- thời Lê Sơ. Đáp án: 1.A; 2.D; 3.B Câu hỏi 4: Em có những nhận xét gì về đời sống văn hóa của nhân dân thời Lí, Trần, Hồ? + Văn hóa Đại Việt thế kỷ X - XV phát triển phong phú, đa dạng. + Chịu ảnh hưởng của yếu tố ngoài song vẫn mang đậm tính dân tộc và dân gian. 3. Dẫn dắt vào bài mới: 4. Tổ chức các hoạt động dạy và học trên lớp: TG Hoạt động của thầy và trò Kiến thức cơ bản HS cần nắm vững 9”  Hoạt động 1: Cả lớp, cá nhân: - Trước hết GV nhắc lại: Triều đình nhà Lê sơ được đánh giá là một triều đại thịnh trị trong lịch sử phong kiến Việt Nam:… từ đầu thế kỷ XVI nhà Lê sơ lâm vào khủng hoảng, suy sụp. - Sau đó GV yêu cầu HS theo dõi SGK trả lời câu hỏi: Tại sao thế kỷ XVI nhà Lê sơ suy yếu? Biểu hiện của sự suy yếu đó? - HS theo dõi SGK trả lời. - GV nhận xét, bổ sung kết luận về biểu hiện suy yếu của nhà Lê sơ. GV: Cho HS quan sát lược đồ các cuộc khởi nghĩa nông dân.... - GV cho HS phát biểu về nhân vật Mạc Đăng Dung(1483 - 1541): - GV trình bày tiếp: Trong bối cảnh nhà Lê sơ suy yếu, bất lực, Mạc Đăng Dung đã phế truất vua Lê lập ra nhà Mạc. Đây là một sự thay ngôi, đổi địa vị hợp qui luật khi mà triều đình thống trị đương thời đã suy yếu và bất lực.  Hoạt động 2: Cả lớp, cá nhân: - GV yêu cầu HS theo dõi SGK trả lời câu hỏi: ? Sau khi lên cầm quyền nhà Mạc đã thi hành những chính sách gì? 1.Sự sụp đổ của triều Lê sơ. Nhà Mạc được thành lập: a. Sự sụp đổ của nhà Lê sơ: - Đầu thế kỷ XVI nhà Lê Sơ lâm vào khủng hoảng, suy yếu. - Biểu hiện: + Các thế lực phong kiến nổi dậy tranh chấp quyền lực, mạnh nhất là thế lực Mạc Đăng Dung. + Phong trào đấu tranh của nhân dân bùng nổ ở nhiều nơi. b. Nhà Mạc được thành lập: - 1527 Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê lập ra triều Mạc. - Chính sách của nhà Mạc: + Nhà Mạc xây dựng chính quyền theo mô hình cũ của nhà Lê sơ. + Tổ chức thi cử đều đặn. + Xây dựng quân đội mạnh. + Giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân. => Ổn định tạm thời
  • 21.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 21 TG Hoạt động của thầy và trò Kiến thức cơ bản HS cần nắm vững - HS theo dõi SGK trả lời. - GV bổ sung, kết luận. - GV giảng giải thêm ở thời Lê sơ: - GV kết luận về tác dụng của những chính sách của nhà Mạc. - GV phát vấn: Trong thời gian cầm quyền nhà Mạc đã gặp phải những khó khăn gì? - HS theo dõi SGK trả lời. - GV bổ sung, kết luận về những khó khăn của nhà Mạc và lí giải tạo sao nhà Mạc bị cô lập. GV có thể bổ sung thêm: âm mưu của nhà Minh(TQ) - Nhà Mạc chịu nhiều sức ép khó khăn: - Do sự chống đối của cựu thần nhà Lê - Hạn chế: Lúng túng trong ngoại giao( sách cắt đất, thần phục nhà Minh)  nhân dân phản đối.  Nhà Mạc bị cô lập. 9”  Hoạt động 1: - GV giảng giải: Nhà Mạc ra đời trong bối cảnh chiến tranh phong kiến bùng nổ. Tuy bước đầu nhà Mạc có ổn định xã hội nhưng cũng chính nhà Mạc là nguyên cớ gây ra cuộc chiến tranh: Chiến tranh Nam – Bắc triều. - GV yêu cầu HS theo dõi SGK để thấy được nguyên nhân của cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều, kết quả. - HS theo dõi SGK trả lời. - GV nhận xét, bổ sung, kết luận. + GV giải thích thêm: Bộ phận cựu thần nhà Lê không chấp nhận nền thống trị của họ Mạc, đã nổi lên ở Thanh Hóa – quê hương của nhà Lê sơ để chống lại nhà Mạc => chiến tranh Nam – Bắc triều. GV: Cho HS xem lược đồ “Chiến tranh Nam-Bắc triều” và tường thuật sơ lược diễn biến .... * Hoạt động 2: theo nhóm GV Chia lớp 6 nhóm thảo luận(3 phút) vấn đề sau: - Nhóm 1,4: Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh Trịnh – Nguyễn và hậu quả của nó. 2.Đất nước bị chia cắt: a. Chiến tranh Nam-Bắc triều: - Nguyên nhân: + Cựu thần nhà Lê chống Mạc (Nguyễn Kim) => Hình thành Nam triều(Nhà Lê- Thanh Hoá), đối đầu với Bắc triều (Nhà Mạc - Thăng Long). - Diễn biến: - Chiến tranh bùng nổ từ năm 1545 đến năm 1592  kết thúc - Kết quả: Nhà Mạc bị lật đổ, đất nước thống nhất. * Chiến tranh Trịnh – Nguyễn: - Nguyên nhân:
  • 22.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 22 TG Hoạt động của thầy và trò Kiến thức cơ bản HS cần nắm vững - Nhóm 2,5: Tính chất của cuộc chiến tranh Nam-Bắc triều và chiến tranh Trịnh- Nguyễn? - Nhóm 3,6: Đất nước chia thành Đàng Trong-Đàng Ngoài nhưng nhân dân ta quan niệm thế nào về sự chia cắt này? - HS thảo luận và phát biểu, HS khác bổ sung - GV nhận xét, chốt ý:... GV cho HS khai thác ảnh Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng GV cho HS xem lược đồ chiến tranh TRịnh –Nguyễn. GV liên hệ: Các thời kì chia cắt đất nước... + Ở Thanh Hóa, Nam Triều vẫn tồn tại nhưng quyền lực nằm trong tay họ Trịnh. + Ở mạn Nam: Họ Nguyễn cát cứ xây dựng chính quyền riêng. - Diễn biến: + 1627 họ Trịnh đem quân đánh họ Nguyễn, chiến tranh Trịnh – Nguyễn bùng nổ. + Kết quả: 1672 hai bên giảng hòa, lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm giới tuyến chia đất nước làm hai miền 8”  Hoạt động 1: - GV diễn giảng về sự kiện Nam Triều chuyển về Thăng Long, triều Lê được tái thiết hoàn chỉnh với danh nghĩa tự trị toàn bộ đất nước. Song dựa vào công lao đánh đổ nhà Mạc, Chúa Trịnh ngày càng lấn quyền vua Lê. - GV yêu cầu HS theo dõi SGK để thấy được tổ chức chính quyền trung ương và địa phương của nhà nước Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài: - HS theo dõi SGK trả lời. GV cho Hs khai thác tranh “Hội chầu của vua Lê, chúa Trinh” - GV bổ sung, kết luận về tổ chức chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài. - Minh họa bằng sơ đồ đơn giản, cho HS thấy được vai trò quyền lực thật sự của Chúa Trịnh. - GV có phát vấn: Trong hoàn cảnh ấy tại sao Chúa Trịnh không lật đổ vua Lê, độc chiếm quyền bính? - HS suy nghĩ, trả lời. 3.Nhà nước phong kiến ở Đàng Ngoài: Cuối thế kỷ XVI Nam Triều chuyển về Thăng Long. - Chính quyền địa phương: chia thành các trấn, phủ, huyện, châu, xã như cũ. - Chế độ tuyển dụng quan lại như thời Lê. - Luật pháp: Tiếp tục dùng Quốc triều hình luật (có bổ sung). Phủ chúa Trịnh (nắm quyền) Quan văn Quan võ 6 phiên Triều đình Lê (bù nhìn)
  • 23.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 23 TG Hoạt động của thầy và trò Kiến thức cơ bản HS cần nắm vững - GV giảng giải: - GV phát vấn: Em có nhận xét gì về bộ máy nhà nước thời Lê – Trịnh? - HS trả lời. - GV kết luận: Về cơ bản, bộ máy nhà nước được tổ chức như thời Lê sơ. Chỉ khác là triều đình nhà Lê không còn nắm thực quyền, mà quyền lực lại nằm trong tay chúa Trịnh. - HS nghe ghi nhớ. - Quân đội gồm: + Quân thường trực (Tam phủ), tuyển chủ yếu ở Thanh Hóa. + Ngoại binh: Tuyển từ 4 trấn quanh kinh thành. - Đối ngoại: Hòa hiếu với nhà Thanh ở Trung Quốc. 9”  Hoạt động 1: - GV giảng giải về quá trình mở rộng lãnh thổ Đàng Trong của các chúa Nguyễn và nguyên nhân tại sao các chúa Nguyễn chú trọng mở rộng lãnh thổ (để có một vùng đất rộng đối phó với Đàng Ngoài). - HS nghe ghi chép. - GV giảng và kết hợp với vẽ sơ đồ chính quyền Đàng Trong: -GV phát vấn: Em có nhận xét gì về chính quyền Đàng Trong, điểm khác biệt với nhà nước Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài? - HS suy nghĩ, trả lời. - GV bổ sung, kết luận: ... 4.Chính quyền ở Đàng Trong: - Thế kỷ XVII lãnh thổ Đàng Trong được mở rộng từ Nam Quảng Bình đến Nam Bộ ngày nay. - Địa phương: Chia làm 12 dinh, nơi đóng phủ chúa (Phú Xuân) là dinh chính do chúa Nguyễn trực tiếp cai quản. - Dười dinh là: phủ, huyện, thuộc, ấp. - Quân đội là quân thường trực, tuyển theo nghĩa vụ, trang bị vũ khí đầy đủ. - Tuyển chọn quan lại bằng nhiều cách: Theo dòng dõi hay đề cử, học hành. - 1744 chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, thành lập chính quyền trung ương. Song đến cuối thế kỷ XVIII vẫn chưa hoàn chỉnh. Chúa 12 dinh Phủ Huyện Thuộc Ấp
  • 24.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 24 TG Hoạt động của thầy và trò Kiến thức cơ bản HS cần nắm vững - GV diễn giảng về quân đội, cách tuyển chọn quan lại (sự ổn định bước đầu của chính quyền). Sự kiện 1744 Nguyễn Phúc Khoát xưng vương xây dựng triều đình trung ương và hệ quả của việc làm này (nước Đại Việt có nguy cơ tách thành hai nước). 5. Sơ kết bài học: 4 phút Củng cố: C©u 1: M¹c §¨ng Dung b¾t Ðp Cung hoµng ®Õ nhêng ng«i lËp ra nhµ M¹c vµo thêi gian nµo ? A. N¨m 1524 B. N¨m 1525 C. N¨m 1526 D. N¨m 1527 C©u 2: Ai lµ ngêi ®· quy tô ®îc ®«ng ®¶o c¸c lùc lîng cùu thÇn nhµ Lª chèng l¹i Nhµ M¹c ? A.NguyÔn Hoµng B.TrÞnh KiÓm C. NguyÔn Kim D.Lª Duy Ninh C©u 3: Tõ n¨m 1527 ®Õn n¨m 1592, ®Êt níc ta diÔn ra côc diÖn Nam- B¾c triÒu. §ã lµ cuéc tranh giµnh quyÒn lùc gi÷a hai tËp ®oµn phong kiÕn nµo? A. Lª( Nam triÒu)- TrÞnh( B¾c triÒu) B. TrÞnh( Nam triÒu)- M¹c( B¾c triÒu) C. M¹c ( Nam triÒu )- NguyÔn( B¾c triÒu) D. Lª, TrÞnh( Nam triÒu )- M¹c( B¾c triÒu) Đáp án: 1.D; 2.C; 3.D 6. Dặn dò và Bài tập: 1 phút - Dặn dò: + Vẽ sơ đồ đơn giản bộ máy chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài? So sánh, nhận xét? + Học bài , xem trước bài 22: Tình hình kinh tế ở các thê kỉ XVI – XVIII.
  • 25.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 25 2.6.3. Giáo viên soạn giáo án điện tử bằng Microsoft PowerPoint 2003, phần mềm mã nguồn mở OpenOffice 3.2, hoặc phần mền Violet: (Đính kèm giáo án điện tử ghi sang đĩa CD ) - Slide 1: Kiểm tra bài cũ - Slide 2: Số tiết theo phân phối chương trình, tên bài dạy. - Đến các slide tiếp theo : các nội dung tương ứng với từng phần trong nội dung bài dạy, tương ứng với từng phần trong thiết kế giảng dạy của giáo án. Trong các slide nầy giáo viên có thể chèn các slide mang nội dung câu hỏi, bài tập nhóm để học sinh dễ quan sát và nắm các yêu cầu thực hành để cả nhóm cùng làm việc mà hình thành bài học. Giáo viên cũng có thể chèn các hình ảnh minh họa cho bài học từ tranh tư liệu hoặc băng hình, phim tư liệu liên quan đến nội dung bài học nhằm giúp học sinh có ấn tượng rõ hơn, khắc sâu kiến thức, nắm vững bài học. - Slide n-1 : Phần củng cố bài giáo viên có thể vận dụng bằng hình thức câu hỏi trắc nghiệm khách quan một cách thuận lợi trên các slide nầy. Giáo viên cũng có thể sử dụng hình thức củng cố bài bằng sơ đồ trong slide một cách thuận tiện mà không cần bảng phụ. - Hoặc ở slide củng cố bài là băng hình minh họa nếu có. - Slide n: Phần dặn dò. Giáo viên dặn dò học sinh việc chuẩn bị bài ở nhà bằng toàn bộ slide nầy.
  • 26.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 26 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 10TN10, 10TN13 Trường THPT Long Mỹ năm học 2010-2011, là hai lớp tương đương, do cùng chung một trường, cùng một một giáo viên giảng dạy môn Lịch sử, hai giáo viên chủ nhiệm có kinh nghiệm,… Bảng 1: Giới tính và thành phần dân tộc Lớp Số HS các nhóm Dân tộc Tổng số Nam Nữ Kinh Khác Lớp 10TN10 39 20 19 39 Lớp 10TN13 39 21 18 39 Về ý thực học tập tất cả các em học ở hai lớp này tích cực chủ động. Về thành tích học tập: Hai lớp này tương đương về điểm số các môn học. 3.2. Thiết kế: Chọn nguyên vẹn hai lớp: Lớp 10TN10 là lớp thực nghiệm, lớp 10TN13 là lớp đối chứng. Tôi làm bài kiểm tra trước tác động, kết quả kiểm tra cho thấy điểm TB của hai nhóm khác nhau, do đó chúng tôi dùng phép kiểm chứng t-test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số TB của hai nhóm. Kết quả Bảng 2. Kiểm chứng để xác định hai nhóm tương đương Nhóm Đối chứng 10TN13 Thực nghiệm 10TN10 TB 6,66 6,33 P = 0,5 p = 0,5 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương. Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương (được mô tả ở bảng 2) Bảng 3. Thiết kế nghiên cứu: Nhóm KT trước TĐ Tác động KT sau TĐ Thực nghiệm O1 Dạy học có đổi mới phương pháp qua sử dụng phương tiện CNTT. O3 Đối chứng O2 Dạy học theo phương pháp truyền thống không có sử dụng phương tiện CNTT O4 Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng t-test độc lập.
  • 27.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 27 3.3. Quy trình nghiên cứu: 3.3.1. Chuẩn bị bài của giáo viên: - Nhóm thực nghiệm: Thiết kế kế hoạch bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII, có đổi mới phương pháp qua việc sử dụng phương tiện CNTT. - Nhóm đối chứng: Thiết kế kế bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII, không đổi mới phương pháp và sử dụng phương tiện CNTT (dạy bình thường). 3.3.2. Tiến hành giảng dạy: Thời gian tiến hành giảng dạy tuân thủ theo khung, tiết phân phối chương trình của nhà trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan. Bảng 4. Thời gian thực hiện Thứ, ngày Môn/Lớp Tiết PPCT Tên bài dạy Hai 08/11/2010 10TN10 26 Bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII Ba 09/11/2010 10TN13 26 Bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII 3.4. Đo lường: Đề kiểm tra này chung cho các học sinh 2 lớp 10TN10, 10TN13 của trường THPT Long Mỹ. Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra sau khi học sinh học xong bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI – XVIII. Hình thức kiểm tra nhanh sau tiết học. Sau đó tiến hành chấm bài theo đáp án đã xây dựng. Phân tích dữ liệu và kết quả Bảng 5. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động Nhóm Đối chứng 10TN13 Thực nghiệm 10TN10 ĐTB 7.02 7.69 Độ lệch chuẩn 3.61 4.28 Giá trị p của t-test 0,47 Chênh lệch giá trị TB chuẩn 0.18 Như trên đã chứng minh rằng kết quả của hai nhóm trước tác động là tương đương. Sau tác động kiểm chứng độ chênh lệch ĐTB bằng t-test chokeets quả p = 0,47, cho thấy sự chênh lệch giữa ĐTB nhóm thực nghiệm và nhóm ĐC rất có ý nghĩa tức là chênh lệch kết quả ĐTB nhóm TN cao hơn ĐTB nhóm ĐC không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động. Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = (7.69 – 7.02)/3.61 = 0,18.
  • 28.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 28 Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của dạy học có sử dụng phương tiện Công nghệ thông tin đến TBC học tập của nhóm thực nghiệm còn nhỏ. Đề tài “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trong trường THPT qua một tiết dạy bằng giáoán điện tử” học sinh lớp 10 trường THPT Long Mỹ đã được kiểm chứng. Hình 1. Biểu đồ ĐTB sau tác động của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm. 0 1 2 3 4 5 6 7 8 Trước tác động Sau tác động ĐỐI CHỨNG THỰC NGHIỆM
  • 29.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 29 CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 4.1. Kết luận: Hiện nay những thành tựu của công nghệ thông tin được áp dụng ngày một rộng rãi với cường độ ngày một cao hơn vào hệ thống giáo dục, trường THPT Long Mỹ được trang bị 1 phòng máy tính nối mạng internet dành cho giáo viên. Cách giảng dạy theo hướng đổi mới sử dụng tích hợp các phương tiện. Trong tương lai dự báo sẽ xuất hiện một xã hội thông tin được nối mạng, học sinh có thể truy cập tìm hiểu nhiều dữ liệu, thông tin từ mạng máy tính. Mặc dù hiện đang có sự thay đổi hết sức lớn lao trong việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử qua một tiết dạy bằng giáo án điện tử, do sự áp dụng những công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin. Tuy nhiên quá trình giáo dục con người không thể “công nghệ hóa” hoàn toàn được, có nhiều mặt giáo dục không thể quy trình hóa được, “máy tính hóa” được như việc giáo dục nhân văn, đạo đức, thẫm mĩ, lòng yêu quê hương tổ quốc … Vai trò của giáo viên, bạn học, nhà trường, gia đình, xã hội … đều vẫn hết sức quan trọng và nếu có sự hỗ trợ những công nghệ tiên tiến thì chất lượng hiệu quả của chất lượng dạy học sẽ cao hơn. Tin học được đưa vào giảng dạy trong nhà trường từ phổ thông trở lên không những để học sinh dùng nó như một công cụ học tập, giáo viên dùng nó như một công cụ sư phạm mà còn chuẩn bị cho học sinh sẽ có một kỹ năng làm việc trong xã hội ngày càng dựa trên công nghệ thông tin, cũng như trong kỹ năng hoạt động trong đời sống hàng ngày ở gia đình và ngoài xã hội, là những môi trường áp dụng những thành tựu của tin học ngày càng nhiều. Ưu điểm đối với giáo viên khi sử dụng giáo án điện tử là : cá nhân hóa quá trình dạy, thích ứng việc dạy với khả năng từng người học, cải tiến hoặc thay thế những phương pháp truyền thống về dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, có những kỹ năng sư phạm mới, có triển vọng áp dụng công nghệ thông tin có tính sư phạm. Tuy nhiên còn nhiều giáo viên rất ngại phải làm chủ kỹ thuật phức tạp của máy tính, sự ngần ngại nầy có thể khắc phục, nếu giáo viên biết rõ là không cần thiết tất cả mọi giáo viên phải nắm vững những kỹ năng điện tử phức tạp khi sử dụng giáo án điện
  • 30.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 30 tử. Ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trong trường THPT hiện nay cho phù hợp với “xã hội thông tin” là xu hướng tất yếu ngày nay. Một số trường và giáo viên đã mạnh dạn đi tiên phong trong việc soạn giáo án điện tử, phần mềm dạy học, giảng dạy bằng máy chiếu … song do nặng tính tự phát nên thiếu chiều sâu và bề rộng. Thực tế cho thấy các buổi học bằng giáo án điện tử sinh động, thu hút, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc trao đổi, thảo luận giữa giáo viên – học sinh, học sinh – học sinh. Việc tìm kiếm hình ảnh, tài liệu, mô phỏng cho bài dạy bằng giáo án điện tử đang khiến giáo viên mất rất nhiều thời gian, công sức. Vì thế Bộ GD&ĐT cần đầu tư xây dựng kho tư liệu tổng hợp điện tử gốc để giáo viên có thể tải về sử dụng khi cần. Trung tâm tin học của Bộ GD&ĐT vừa thành lập một câu lạc bộ giáo án điện tử hay hiệp hội E-learning trên mạng internet để nâng cao năng lực cho giáo viên có đủ điều kiện đẩy mạnh mô hình học tập bằng giáo án điện tử trong nhà trường THPT. Làm thế nào để tạo một cuộc cách mạng thực sự trong đổi mới phương pháp dạy học ? Theo bà Carmerita L. Villanueva – Giám đốc Thông tin UNESCO Bangkok (Thái Lan) : “Giáo viên phải năng động tích cực hơn trong việc sử dụng giáo án điện tử vào việc giảng dạy… Muốn vậy ngànhGD&ĐT phảibồi dưỡng giáo viên một cách đầy đủ. Họ cần biết về máy tính, Word, Excel. PowerPoint … Điều tối quan trọng là thiết bị phải đi kèm với đào tạo giáo viên và đưa vào sử dụng, chứ không phảichỉ đầu tư vào hạ tầng cơ sở các trường học các phòng chức năng là có ngaymột cuộc cách mạng trong trường học”. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới dạy học bằng giáo án điện tử là một tất yếu trong xu thế chung toàn cầu đã làm thay đổi toàn bộ cách thức dạy học truyền thống. Khi đưa công nghệ thông tin vào dạy học, công tác đào tạo học sinh sẽ theo đa chiều, cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Cách thức nghiên cứu khoa học cũng sẽ thay đổi, bởi máy tính đã hỗ trợ. Máy tính có thể nối dài bộ óc của con người. Làm công tác giáo dục là đào tạo kiến thức cho các bộ óc con người, vì vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, nêu vấn đề là một việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay ở trường THPT.
  • 31.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 31 Rất mong được sự góp ý của Hội đồng xét duyệt để tôi làm tốt hơn trong công tác dạy học lịch sử năm học 2011-2012. 4.2. Kiến nghị: 4.2.1. Đối với cấp lãnh đạo: - Nhận thức được chất lượng giáo dục của bộ môn lịch sử ở trường THPT muốn được nâng cao cần phải có sự đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử, đổi mới nội dung chương trình và đánh giá kết quả học tập nhằm thực sự phát triển những năng lực trí tuệ của học sinh bằng cách sử dụng những phương pháp dạy học đạt trình độ cao nhất và những tiến bộ nhanh chóng của các công nghệ thông tin và viễn thông. - Trang bị máy tính, projector, màn hình lớn với điều kiện có thể để các nhiều trường có thể áp dụng. - Bồi dưỡng kiến thức tin học cơ bản, tập huấn các phần mềm soạn giảng, phần mềm ứng dụng vào một số môn học. - Tổ chức các cuộc thi phần mềm sáng tạo, thi giáo viên giỏi để kích thích phong trào sử dụng phương tiện CNTT trong dạy học. 4.2.2. Đối với giáo viên: - Tự học, tự nghiên cứu về Công nghệ thông tin. - Biết tìm nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy trên mạng. - Chia sẻ thông tin với các đồng nghiệp. Với kết quả của đề tài này, tôi mong rằng các đồng nghiệp quan tâm chia sẻ và phát triển đề tài này để góp phần phát triển chất lượng giáo dục ngày càng tốt hơn.
  • 32.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 32 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng CSVN, NXB Chính trị quốc gia, 1997. 2. Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCHTW khóa VIII, Đảng CSVN, NXBCTQG, 1997. 3. Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 BCHTW khóa VIII, Đảng CSVN, NXBCTQG. 1998. 4. Vũ Văn Tảo - Trần Văn Hà, Dạy học giải quyết vấn đề - một hướng đổi mới trong giáo dục – đào tạo huấn luyện, Trường CBQLGDĐT xuất bản, Hà Nội, 1996. 5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng CSVN, NXBCTQG, Hà Nội, 2001. 6. Đào Huy Ngọc, ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam, NXBCTQG, 1997. 7. Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo 2001-2010, Bộ GD&ĐT 8. Chiến lược phát triển ngành công nghệ thông tin 2001-2010, Bộ KH&CN. 9. Đề án phát triển đào tạo nguồn nhân lực 10 năm thời kì 2001-2010. Bộ KH&ĐT, 2001. 10. Đặng Mộng Lân,Kinh tế trí thức, NXB Thanh niên, 2001. 11. Trần Phú Tài, Trình diễn PowerPont 2003, NXB Thống kê, 2006. 12. Sử dụng phần mềm Microsoft PowerPont trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, PGS-TS Nguyễn Thị Côi. 13. Nghiêm Đình Vỳ, Tìm hiểu kiến thức lịch sử 10, NXBGD, 2006. 14. Nguyễn Văn Ánh, Tư liệu lịch sử 10. NXBGD, 2006. 15. Tài liệu bồi dưỡng GV môn lịch sử, NXBGD,2006. 16. Ngô Minh Oanh, Một số vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT, Trường ĐHSP TP HCM, 2006. 17. Trương Hữu Quýnh(chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 1, NXBGD,2001. 18. Nguyễn Đình Đầu, Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại, NXB TRẺ,2003.
  • 33.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 33 MỤC LỤC  TÓM TẮT ĐỀ TÀI: ……………………………………………………......……….......1 NỘI DUNG …………………………………………………………………………......2 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU……………………………………………………...............2 1.1. Lý do chọn đề tài: ……………………………………………………......................2 1.2. Mục đíchnghiên cứu: ……………………………………………………................4 1.3. Đốitượng nghiên cứu: ……………………………………………………...............5 1.4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu: …………………………………………..............5 1.4.1. Giới hạn nghiên cứu: 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu: 1.5. Tầm quan trọng của đề tài: ……………………………………………………........5 CHƯƠNG 2: NỀN TẢNG LÝ THUYẾT: ………………………………………...…....8 2.1. Tìm hiểu lịch sử đề tài: ………………………………………………………..…...8 2.2. Một số nhận thức về đổi mới pháp dạy học lịch sử: ………………………....……8 2.3. Đổi mới dạy học lịch sử theo phương pháp giải quyết vấn đề được chia thành những bước, những giai đoạn có tính chuyên biệt:...........................................................9 2.3.1. Theo Jonh Dewey đề nghị có 5 bước để học sinh giải quyết vấn đề:...................10 2.3.2. Theo Kudriasev chia làm 4 giai đoạn để học sinh giải quyết vấn đề....................10 2.3.3. Đổi mới dạy học lịch sử theo phương pháp giải quyết vấn đề bao gồm nhiều hình thức tổ chức đa dạng : ....................................................................................................10 2.4. Đổi mới dạy học lịch sử theo hướng kết hợp kiểu truyền thống với kiểu đưa vào vấn đề (kết quả do học sinh tự nghiên cứu, tổng kết nhằm giải quyết vấn đề thực tế do giáo viên đưa ra) :............................................................................................................11 2.5. Giáo viên sử dụng phương pháp giao tiếp thích hợp để giảng dạy có hiệu quả.......12 2.5.1. Quá trình giảng dạy là hạt nhân của công cuộc giáo dục......................................12 2.5.2. Một số ví dụ về học tập tíchcực: .........................................................................12 2.5.3. Phương pháp đổinhững câu đơn giản thành những câu khó: ..............................14 2.5.4. Khi đặt câu hỏi giáo viên cần lưu ý:......................................................................14 2.6. Vận dụng lý thuyết áp dụng vào thực tế trong 1 tiết dạy bằng giáo án điện tử........15 2.6.1. Giáo viên soạn giáo án mẫu bình thường theo đúng mẫu quy định của Bộ GD&ĐT đã hướng dẫn ở lớp tập huấn thay sáchhè 2006: ............................................15
  • 34.
    Nghiên cứu khoahọc sư phạm ứng dụng Giáo viên: Lê Văn Cường 34 2.6.2. Ví dụ thiết kế một giáo án cụ thể: .........................................................................19 2.6.3. Giáo viên soạn giáo án điện tử bằng Microsoft PowerPoint 2003, phần mềm mã nguồn mở OpenOffice 3.2, hoặc phần mền Violet: (Đính kèm giáo án điện tử ghi sang đĩaCD)............................................................................................................................25 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................26 3.1. Khách thể nghiên cứu:..............................................................................................26 3.2. Thiết kế:....................................................................................................................26 3.3. Quy trình nghiên cứu:...............................................................................................27 3.3.1. Chuẩn bị bài của giáo viên: 3.3.2. Tiến hành giảng dạy: 3.4. Đo lường:..................................................................................................................27 CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..................................................................29 4.1. Kết luận: ..................................................................................................................29 4.2. Kiến nghị:.................................................................................................................31 4.2.1. Đối với cấp lãnh đạo: 4.2.2. Đối với giáo viên: DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................32 MỤC LỤC........................................................................................................................33