Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-1-
Bộ Công Thương
Trường Đại Học Công Nghiệp Tp Hồ Chí Minh
Khoa Quản Trị Kinh Doanh

Tiểu Luận Môn: Kinh Tế Vi Mô
Đề tài: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả hoạt động và
lợi nhuận của Công ty may Hồ Gươm
GVHD: Bùi Huy Khôi
Nhóm:
1. Trần Xuân Mẫn
2. Nguyễn Thị Như Ý
3. Huỳnh Thị Như Hảo
4. Nguyễn Anh Tùng
5. Nguyễn Thị Ngọc Huyền
6. Mai Thị Đào
TP HỒ CHÍ MINH,THÁNG 1 NĂM 2013
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-2-
Chương I: Mở đầu
Bước vào thế kỷ 21- kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn nhưng cũng nhiều thách
thức, xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế đang là một vấn đề diễn ra sôi động và
cấp bách.
Trước xu hướng đó, đối với nền kinh tế Việt Nam ngành dệt may được coi
là một trong những ngành rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước.
Mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ của ngành là góp phần thực hiện đường lối của
Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nước, đảm bảo
nhu cầu toàn xã hội đang không ngừng tăng lên về mọi mặt, không ngừng tăng
cường sản xuất, xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động- vấn đề
mà toàn xã hội đang quan tâm. Việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá
tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, cùng xu thế mở cửa
hội nhập với nền kinh tế thế giới. Công ty may Hồ Gươm là một doanh nghiệp nhà
nước đã được cổ phần hoá trực thuộc Tổng Công ty mayViệt Nam đang đứng trước
những cơ hội và thách thức lớn lao trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Để có thể
tồn tại, đứng vững và phát triển đòi hỏi Công ty phải xác định được cho mình
những phương thức hoạt động, những chính sách, những chiến lược cạnh tranh
đúng đắn
Nhận thức được tầm quan trọng của xu thế hội nhập và cạnh tranh cũng như
mong muốn được đóng góp những ý kiến để Công ty may Hộ Gươm đẩy mạnh
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nên nhóm chúng em quyết định lựa chọn đề tài
“Giảipháp nâng caokhả năng cạnhtranh,hiệu quả hoạt động và lợi nhuận của
Công ty may Hồ Gươm” để làm đề tài tiểu luận.
Tiểu luận dùng phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê và so sánh là chủ
yếu. Vì thế, việc vận dụng phương pháp này sẽ mang tính trung thực và khách
quan hơn.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tiểu luận được kết cấu gồm 3 chương:
Chương II: Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao năng lực
canh tranh,hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận.
Chương III: Thực trạng và khả năng cạnh tranh của Công ty may Hồ
Gươm
Chương IV: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
Công ty may HồGươm.
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-3-
Chương II
Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh
tranh, hiệu quả hoạt động và lợi nhuận.
1. Lý thuyết cạnh tranh
1.1.Kháiniệm cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh cạnh tranh được hiểu là sự ganh
đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành được ưu thế hơn về cùng
một loại sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với
các đối thủ cạnh tranh .
Môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lúc này đầy sự biến
động và vấn đề cạnh tranh đã trở nên cấp bách, sôi động trên cả thị trường trong
nước và thị trường quốc tế. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trong
bất cứ một lĩnh vực nào, bất cứ một hoạt động nào của con người cũng nổi cộm
lên vấn đề cạnh tranh.
Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất đó
là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với
nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay
thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận. Các doanh
nghiệp thương mại cần nhận thức đúng đắn về canh tranh để một mặt chấp nhận
canh tranh theo khía cạnh tích cực để từ đó phát huy yếu tố nội lực nâng cao
chất lượng phục vụ khách hàng, mặt khác tranhd tình trạng cạnh tranh bất hợp lý
dẫn đến làm tổn hại đến lợi ích cộng đồng cũng như làm suy yếu chính mình.
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh.
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. ở đâu có
nền kinh tế thị trường thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh. Bất kỳ một doanh
nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh
nghiệp mình tồn tại và đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh. Trong giai
đoạn hiện nay do tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước
ta đang ngày càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở
mức cao hơn rất nhiều.Con người không chỉ cần có nhu cầu “ăn chắc mặc bền”
như trước kia mà còn cần “ăn ngon mặc đẹp”. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó,
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-4-
doanh nghiệp phải không ngừng điều tra nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu
của khách hàng, doanh nghiệp nào bắt kịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ
chiến thắng trong cạnh tranh. Chính vì vậy cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp
cho doanh nghiệp:
- Tồn tại và đứng vững trên thị trường: Cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường
kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, làm
cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp
với thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng nhất. Doanh nghiệp nào càng đáp ứng
tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong
nền kinh tế thị trường hiện nay.
- Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển
Muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi
cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu
khách hàng. Các doanh nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để đáp ứng nhu cầu
thị hiếu của người tiêu dùng như sản xuất ra nhiều loại hàng hoá có chất lượng
cao, giá cả phù hợp với chất lượng sản phẩm, phù hợp với mức thu nhập của
từng đối tượng khách hàng. Có như vậy hàng hoá của doanh nghiệp bán ra mới
ngày một nhiều, tạo được lòng tin đối với khách hàng. Muốn tồn tại và phát triển
được thì doanh nghiệp cần phải phát huy hết ưu thế của mình, tạo ra những điểm
khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh từ đó doanh nghiệp mới có khả năng tồn
tại, phát triển và thu được lợi nhuận cao.
- Doanh nghiệp phải cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu
Để đạt được các mục tiêu doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh
tranh thì doanh nghiệp mới bằng mọi giá tìm ra phương cách, biện pháp tối ưu
để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng cao hơn, cung ứng những
dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thỏa mãn nhu cầu khách hàng ngày càng
tăng. Chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển.
2. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay đổi, thay thế những
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội bằng các
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội,
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-5-
thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển. Tuy nhiên để cạnh tranh được và cạnh
tranh một cách lành mạnh không phải là dễ bởi nó phụ thuộc vào tiềm năng, lợi
thế và nhiều yếu tố khác của doanh nghiệp hay một quốc gia, đó chính là khả
năng cạnh tranh của mỗi quốc gia, hay một ngành, một công ty xí nghiệp.
2.1.Cácnhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
2.1.1. Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc yếu tố bên trong doanh nghiệp.
Các yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh và khả năng
cạnh tranh của Công ty. Bởi vậy mà nó được coi là các yếu tố cấu thành khả năng
cạnh tranh của Công ty.
2.1.1.1. Khả năng về tài chính.
Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Bất
cứ hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xem xét tính toán
đến tiềm lực tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tiềm lực lớn về tài
chính sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư, trong mua sắm đổi mới công
nghệ và máy móc cũng như có điều kiện để đào tạo và đãi ngộ nhân sự. Những
thuận lợi đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được trình độ chuyên môn tay nghề
cho cán bộ, nhân viên, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí để nâng cao
sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nghiệp nào yếu kém về tài
chính sẽ không có điều kiện để mua sắm, trang trải nợ và như vậy sẽ không tạo
được uy tín về khả năng thanh toán và khả năng đáp ứng những sản phẩm có chất
lượng cao đối với khách hàng. Làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
không tiến triển được và có nguy cơ bị thụt lùi hoặc phá sản. Như vậy khả năng tài
chính là yếu tố quan trọng đầu tiên để doanh nghiệp hình thành và phát triển.
2.1.1.2. Nguồnlực và vật chấtkỹ thuật
Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp đối với
thủ cạnh tranh về trang thiết bị hiện có được tận dụng và khai thác trong quá trình
hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Bởi vì:
Trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị
máy móc, công nghệ hiện đại thì các sản phẩm của doanh nghiệp nhất định sẽ được
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-6-
bảo toàn về chất lượng khi đến tay người tiêu dùng. Có hệ thống máy móc hiện đại
sẽ thúc đẩy nhanh qua trình tiêu thụ hàng hoá, tăng nhanh vòng quay về vốn, giảm
bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng hoá có được bảo đảm hay không. Nếu
xét về công nghệ máy móc có ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm và như vậy
sẽ ảnh hưởng đến giá bán của doanh nghiệp thương mại. Ngày nay do tác động của
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cuộc chiến giữa các doanh nghiệp đang
trở thành cuộc cạnh tranh về trí tuệ, về trình độ công nghệ. Công nghệ tiên tiến
không những đảm bảo năng suất lao động, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ
mà còn có thể xác lập tiêu chuẩn mới cho từng ngành sản xuất kỹ thuật. Mặt khác
khi mà việc bảo vệ môi trường như hiện nay đang trở thành một vấn đề của toàn
cầu thì doanh nghiệp nào có trình độ công nghệ cao thiết bị máy móc nhất định sẽ
dành được ưu thế trong cạnhh tranh.
2.1.1.3. Nguồnnhân lực.
Con người là yếu tố quyết điịnh mọi thành bại của hoạt động kinh doanh.
Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con người phát triển nhân sự, xây
dụng môi trường văn hoá và có nề nếp, tổ chức của doanh nghiệp. Đồng thời doanh
nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bản như số lượng lao động, trình độ
nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập bình quân. năng lực của cán bộ quản lý.
Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị cao nhất
của doanh nghiệp. Bởi chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến để sáng tạo
ra sản phẩm, chỉ có con người mới biết và khơi dậy được nhu cầu con người, chỉ
có con người mới tạo được uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp mà tất những yếu
tố này hình thành nên khả năng cạnh tranh. Vậy muốn nâng cao khả năng cạnh
tranh của mình doanh nghiệp phải chú ý quan tâm đến tất cả mọi người trong
doanh nghiệp, từ những người lao động bậc thấp đến nhà quản trị cấp cao nhất,
bởi mỗi người đều có một vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Những người lãnh đạo chính là những người cầm lái con tàu doanh
nghiệp, họ là những người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh
nghiệp, là những người có quyền lực cao nhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là
nặng nề nhất. Họ chính là những người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh
nghiệp, còn thực hiện quyết định của họ là những nhân viên dưới quyền.
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-7-
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào chỉ mới có nhà lãnh đạo giỏi vẫn chưa
đủ, vẫn chỉ mới có người ra quyết định mà chưa có người thực hiện những quyết
định đó. Bên cạnh đó phải có một đội ngũ nhân viên giỏi cả về trình độ và tay
nghề, có óc sáng tạo có trách nhiệm và có ý thức trong công việc. Có như vậy họ
mới có thể đưa ra những sản phẩm có chất lượng tốt mang tính cạnh tranh cao.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước kia ban lãnh đạo có thể họ không
có trình độ chuyên môn cao chỉ cần họ có thâm niên công tác lâu năm trong nghề
là họ yên trí đứng ở vị trí lãnh đạo, và đội ngũ nhân viên không cần giỏi về
chuyên môn, tay nghề, vẫn có thể tồn tại lâu dài trong doanh nghiệp. Ngày nay
với quy luật đào của nền kinh tế thị trường nếu như nếu ban lãnh đạo không có đủ
trình độ chuyên môn cao, không có năng lực lãnh đạo thì trước sau họ cũng sẽ bị
đào thải, sẽ phải rời khỏi vị trí mà họ đang nắm giữ.
Như vậy để có năng lực cạnh tranh thì những người trong doanh nghiệp đó
phải có ý thức và trách nhiệm và nghĩa vụ về công việc của mình. Muốn vậy khâu
tuyển dụng đào tạo và đại nghộ nhân sự là vấn đề quan trọng, nó quyết định đến
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
2.1.2. Các nhân tố kháchquan
Là hệ thống toàn bộ các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp, có liên quan và
ảnh hưởng đến quá trình tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp. Các yếu
tố khách quan bao gồm:
2.1.2.1. Nhà cung cấp
Nhà cung cấp đối với doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng, nó đảm bảo
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành ổn định theo kế hoạch
đã định trước. Trên thực tế nhà cung cấp thường được phân thành ba loại chủ yếu:
loại cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu, loại cung cấp nhân công, loại cung cấp tiền
và các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm. Như vậy mỗi doanh nghiệp cùng một lúc có
quan hệ với nhiều nguồn cung cấp thuộc cả ba loại trên. Vấn đề đặt ra là yêu cầu
của việc cung cấp phải đầy đủ về số lượng, kịp thời về thời gian, đảm bảo về chất
lượng và ổn định về giá cả. Mỗi sự sai lệch trong quan hệ với nhà cung cấp đều
ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, điều đó sẽ làm giảm sức
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-8-
2.1.2.2. Kháchhàng
Khách hàng là những người đang mua và sẽ mua hàng của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp khách hàng là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đối
với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tính chất quyết của khách hàng thể
hiện ở các mặt sau:
Khách hàng quyết định hàng hoá của doanh nghiệp được bán theo giá nào?
Trên thực tế doanh nghiệp chỉ có thể bán với giá mà người tiêu dùng chấp nhận
Khách hàng quyết định doanh nghiệp bán sản phẩm như thế nào? Phương thức
bán hàng và phương thức phục vụ khách hàng do khách hàng lựa chọn, vì trong
nền kinh tế thị trường người mua có quyền lưạ chọn theo ý thích của mình và đồng
quyết định phương thức phục của người bán. Điều này cho thấy tính chất quyết
định của khách hàng làm cho thị trường chuyển từ thị trường người bán sang thị
trường người mua, khách hàng trở thành thượng đế. Do vậy doanh nghiệp chịu ảnh
hưởng rất nhiều bởi yếu tố khách hàng, khách hàng có thể ganh đua với doanh
nghiệp bằng cách yêu cầu chất lượng sản phẩm cao hơn, hoặc ép giảm giá xuống,
mặt khác khách hàng còn làm cho các đối thủ cạnh tranh chống chọi lại nhau và
dẫn đến làm tổn hao đến làm tổn hao đến lợi nhuận của doanh nghiệp . Nhóm
khách hàng thường gây áp lực với doanh nghiệp là những nhóm khách hàng tập
trung và mua với khối lượng lớn. Nhóm khách hàng mua đúng tiêu chuẩn phổ biến
và không có gì khác biệt vì họ có thể tìm được nhà cung cấp khác một cách dễ
dàng hoặc nhóm khách có đầy dủ thông tin về sản phẩm , giá cả thị trường, giá
thành của nhà cung cấp. Điều này đem lại cho khách một lợi thế mạnh hơn trong
cuộc mặc cả so với trường hợp họ chỉ có ít thông tin.
2.1.2.3. Các đốithủ cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn
Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt các đối thủ cạnh tranh. Vấn đề
quan trọng ở đây là không được coi thường bất kỳ đối thủ nào, nhưng cũng không
nên coi đối thủ là kẻ địch. Cách xử lý khôn ngoan nhất không phải là hướng mũi
nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại vừa phải xác định, điều khiển và hoà giải,
lại vừa phải hướng suy nghĩ và sự quan tâm của mình vào khách hàng có nghĩa là
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-9-
mình đã thành công một phần trong cạnh tranh. Mặt khác cũng nên quan tâm tới
việc dự đoán trong tương lai và định hướng tới khách hàng. Trên thực tế cho thấy
cạnh tranh có thể diễn ra trên nhiều mặt khác nhau nhưng có thể nói cạnh tranh với
nhau chủ yếu là khách hàng. Vì thế, trong cạnh tranh người được lợi nhất là khách
hàng, nhờ có cạnh tranh mà khách hàng được tôn vinh là thượng đế. Để có và giữ
được khách hàng, doanh nghiệp cần phải tìm cách sản xuất ra những sản phẩm có
chất lượng tốt hơn, đẹp hơn và rẻ hơn, không những thế còn phải chiều lòng khách
hàng lôi kéo khác hàng bằng cách hoạt động quảng cáo khuyến mãi và tiếp thị.
Có thể nói rằng khi doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác mới bắt
đầu bước chân vào thị trường thì họ là những đồng nghiệp, những đối tác để gây
dựng thị trường, để hình thành nên một khu vực cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho
khách hàng. Nhưng khi có người khách hàng đầu tiên bước vào khu vực thị trường
này, thì họ sẽ trở thành đối thủ của nhau, họ tìm mọi cách để lôi kéo khách hàng về
phía mình
Nếu ở trong một thị trường kinh doanh nhất định, doanh nghiệp vượt trội lên
các đối thủ về chất lượng sản phẩm, về giá cả và chất lượng phục vụ thì doanh
nghiệp đó có khả năng cạnh tranh và sẽ có điều kiện để tiến xa hơn so với các đối
thủ
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-10-
Chương III
Thực trạng và khả năng cạnh tranh của công ty may hồ gươm
1. Đặc điểm tình hình tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty may Hồ Gư-
ơm.
Tên giao dịch: Công ty may Hồ Gươm.
Tên giao dịch: HoGuom garment Company.
Tên viết tắt : HOGACO.
Trụ sở : 7B - Tương Mai - Trương Định - Hai Bà Trưng - Hà Nội.
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty may Hồ Gươm.
Công ty may Hồ Gươm là một công ty thuộc liên hiệp sản xuất và xuất khẩu
may “confectiex”, trực thuộc Tổng Công ty may Việt Nam. Công ty may Hồ Gư-
ơm được thành lập theo quyết định số 147 QĐ-TCLĐ ngày 25/ 11/ 1995 của Tổng
Công ty may Việt Nam. Thực ra Công ty đã trải qua một quá trình phát triển khá
nhanh với tiền thân là “xưởng may 2” của xí nghiệp sản xuất và dịch vụ may. Sau
một thời gian hoạt động có hiệu quả và được sự cho phép của Tổng Công ty dệt
may Việt Nam. Xưởng may 2 được tách ra thành một đơn vị kinh doanh độc lập và
chịu sự quản lý của Tổng Công ty dệt may Việt Nam. Ban đầu khi mới thành lập
Công ty có tên là “Xí nghiệp may thời trang Trương Định”, trong những ngày đầu
thành lập, xí nghiệp đã gặp không ít những khó khăn với 264 cán bộ công nhân
viên được phân bổ cho hai phân xưởng sản xuất và 4 phòng ban nghiệp vụ. Số cán
bộ tốt nghiệp đại học và có trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn rất ít, số công nhân
có tay nghề cao không nhiều, Do đó Công ty phải cử người đi học và mở các lớp
đào tạo tay nghề cho nhân công mới được tuyển dụng .
Về cơ sở vật chất hầu hết thiết bị máy móc của Công ty đều đã lạc hậu cũ kỹ,
tổng diện tích sử dụng ban đầu là 1280 m2 trên diện tích mặt bằng đất đai 535m
gồm hai đơn nguyên nhà. Nhà hai tầng và nhà ba tầng, hệ thống kho tàng thiếu
thốn chật hẹp .
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-11-
Tuy vậy với sự nỗ lực của tập thể công nhân viên và đường lối lãnh đạo
đúng đắn của ban giám đốc Công ty, chỉ sau một thời gian ngắn Công ty không
những đã vượt qua những khó khăn mà còn thu được những thành quả đáng kể.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm tăng trưởng bình quân trên 30% năm thu nhập bình
quân ngời lao động tăng 5% năm.
Sản phẩm của Công ty xuất khẩu có uy tín không chỉ trên thị trường trong n-
ước mà còn ở thị trường nước ngoài. Với chính sách thực hiện đổi mới công nghệ,
hiện đại hoá cơ sở vật chất, kỹ thuật Công ty đảm bảo cung ứng một cách đẩy đủ,
kịp thời nhanh chóng cho mọi khách hàng theo đúng chủng loại, yêu cầu với chất
lượng tốt, số lượng chính xác, giá cả hợp lý. Mặt khác do quản lý mạng lới phân
phối, cộng được sự tín nhiệm của khách hàng, nên mấy năm gần đây Công ty đã
chiếm được thị trường lớn.
1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý và phân phối cấp quản lý của Công ty may Hồ
Gươm
Sơ đồ
1: Sơ đồ tổ chức quản lý ở Công ty may Hồ Gươm
Để phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới với ngành nghề kinh doanh và số
lượng công nhân viên trong Công ty, bộ máy của Công ty được tổ chức khá đơn
giản nhưng đầy đủ các phòng ban cần thiết để đảm bảo thực hiện tốt chiến lược và
kế hoạch kinh doanh của mình. Công ty may Hồ Gươm là Công ty hạch toán kinh
Phòng
kế toán
tài vụ
Giám Đốc Công Ty
Phó Giám Đốc công
ty
Phòng
kế
hoạch
Phòng
thị
trường
KD
Phòng
kĩ
thuật
KCS
Phòng tổ
chức
hành
chính
Phòng
bảo vệ
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-12-
doanh độc lập, trực thuộc Tổng công ty Dệt may Việt Nam, được tổ chức theo mô
hình trực tuyến tham mưu: trên là Giám đốc, dưới là các phòng ban chức năng.
2. Hiệu quả hoạtđộng của Công ty may Hồ Gươm.
2.1. Phân tích kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Biểu 1: Phân tích kết quả hoạtđộng kinh doanh của công ty trong 3 năm
(2010 - 2012)
Đơn vị: Triệu(VNĐ)
Stt Các chỉ tiêu Thực hiện 2011/2010 2012/2011
2010 2011 2012 CL TL(%) CL TL(%)
1 Tổng doanh thu 18733 20817 24047 2084 11,12 3230 15,5
2 Doanh thu xuất khẩu 17301 18661 22334 1360 7,86 3673 19,68
3 Các khoản giảm trừ 27 32 36 5 18,5 4 12,5
- Giảm giá hàng bán 27 32 36 5 18,5 4 12,5
4 Doanh thu thuần 18706 20785 24011 2079 11,11 3226 15,5
5 Giá vốn hàng bán 14235 16176 17740 1941 13 1564 9,7
Chi phí sản xuất 2968 3131 3315 163 5,5 184 5,8
6 Chi phí kinh doanh 2740 2866 3009 126 4,6 143 4,98
- Chi phí bán hàng 1590 1678 1775 88 5,58 97 5,78
- Chi phí quản lý 1160 1188 1234 28 2,42 46 3,87
7 Lợi nhuận sau thuế 490 548 646 58 12 98 17,8
8 Tổng nguồn vốn 37678 38862 40896 1184 3,14 2034 5,2
9 TSLN/Điện tử Viễn
thông Quân dội(%)
2,62 2,64 2,68 0,02 0,04
10 TSLN/NV(%) 1,3 1,4 1,58 0,1 0,18
11 TSCF/Điện tử Viễn
thông Quân dội(%)
14,65 13,8 12,53 - 0,85 -1,27
12 Nộp ngân sách 77 83 91 6 7,79 8 9,63
13 Thu nhập bình quân 750 870 1020 120 16 150 17
(Nguồn:Từ bảng thuyết minh báo cáo tài chính 3 năm (2010-2012) của Công ty
may Hồ Gươm)
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-13-
Qua số liệu tính toán ở biểu 1 ta thấy kết quả hoạt động kinh doanh của
Công ty tăng dần qua các năm. Tổng doanh thu năm 2011 tăng 2084(tr) tương ứng
tỷ lệ tăng 11,12% so với năm 2010, tổng doanh thu năm 2012 tăng 3230(tr) tương
ứng tỷ lệ tăng 15,5% so với năm 2011. Do đặc thù của Công ty là các mặt hàng
may mặc chủ yếu xuất khẩu ra nước ngoài. Do vậy doanh thu xuất khẩu chiếm tỷ
lệ trọng rất cao trong tổng doanh thu. Cụ thể doanh thu hàng xuất khẩu năm 2011
tăng 1360 (tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 7,86% so với năm 2010 và doanh thu xuất
khẩu năm 2012 tăng 3673 (tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 19,68% so với năm 2011.
Công ty đã thực hiện tốt kế hoạch tiêu thụ hàng hoá, tăng sản lượng bán ra qua mỗi
năm bằng cách cải tiến sản phẩm, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá với sự phong phú
về mẫu mã chủng loại, đáp ứng nhu cầu đa dạng, phù hợp với khả năng thanh toán
của những khách hàng có mức thu nhập cao, những khách hàng có mức thu nhập
trung bình và những khách hàng bình dân. Tuy nhiên vẫn có một số hàng hoá còn
tồn kho do số hàng này một phần là hàng lỗi mốt, hàng kém phẩm chất và hàng
bán ra không đúng thời vụ. Công ty đã thực hiện chính sách giảm giá nhằm tăng
lượng khách hàng mua đồng thời giải phóng những mặt hàng còn tồn đọng, tránh
tình trạng để lượng hàng tồn từ năm này qua năm khác. Các khoản giảm trừ chủ
yếu là khoản giảm giá hàng bán, không có hàng bán bị trả lại và không có thuế tiêu
thụ đặc biệt. Năm 2011 giảm giá hàng bán tăng 5 (tr) tương ứng với tỷ lệ tăng
18,5% so với năm 2010, năm 2012 giảm giá hàng bán tăng 4 (tr) tương ứng với tỷ
lệ tăng 12,5% so với năm 2011. Mức tăng đã giảm so với tỷ lệ tăng năm 2011.
Tổng doanh thu sau khi trừ đi khoản giảm giá hàng bán, phần còn lại là
doanh thu thuần. Doanh thu thuần năm 2011 tăng 2079 (tr) tương ứng với tỷ lệ
tăng 11,11% so với năm 2010,năm 2012 tăng 3226(tr) tương ứng với tỷ lệ tăng
15,5% so với năm 2011. Sự phản ánh doanh thu thuần của Công ty trong 3 năm
vừa qua cho thấy tình hình hoạt động kinh doanh rất khả quan, doanh thu của Công
ty tăng lên chủ yếu do tăng sản lượng bán ra qua mỗi năm.
- Chi phí: Chi phí kinh doanh năm 2011 tăng 126(tr) tương ứng tỷ lệ tăng
4,6% so với năm 2010 và năm 2012 tăng 143 (tr) tương ứng với tỷ lệ tăng
4,98%.Trong đó chi phí bán hàng năm 2011 tăng 88(tr) tương ứng với tỷ lệ tăng
5,58% so với năm 2010 và năm 2012 tăng 97(tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 5,78% so
với năm 2011. Chi phí quản lý năm 2011 tăng 28(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 2,42% so
với năm 2010 năm 2012 tăng 46(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 3,87% so với năm 2011.
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-14-
Mặc dù Công ty đã lập ra kế hoạch mua hàng từ nhiều nhà cung cấp để dủ về số
lượng và đúng thời gian yêu cầu của sản xuất và tiêu thụ, nhưng giá vốn hàng bán
cũng tăng dần qua các năm, giá vốn hàng bán năm 2011 so với năm 2010 tăng
1851(tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 13%, năm 2012 so với năm 2011 tăng 1564(tr)
tương ứng với tỷ lệ tăng 9,7%. Như vậy tốc độ tăng giá vốn hàng bán của năm
2012 thấp hơn tốc dộ tăng giá vốn hàng bán của năm 2011. Giá vốn hàng bán tăng
đây là một biểu hiện tốt khi giá vốn tăng lên đồng thời số lượng mua nguyên vật
liệu đầu vào của Công ty cũng tăng lên để đáp ứng cho nhu cầu tăng lên của sản
xuất và tiêu thụ . Một mặt nó biểu hiện là không tốt khi giá vốn hàng bán tăng lên
nhưng số lượng nguyên vật liệu đầu vào của Công ty cũng không thay đổi, trong
trường hợp này một phần giá vốn tăng lên là do khan hiếm nguyên vật liệu đầu vào
nên số nhà cung ứng nâng giá, và một phần giá vốn tăng lên là do một số nhà cung
ứng đã không giao hàng đúng thời gian ký kết trong hợp đồng , do sự chậm trễ này
Công ty đã phải chuyển mua nguyên vật liệu đầu vào ở một số nhà cung ứng khác
với mức giá cao hơn để đáp ứng kịp thời cho nhu cầu sản xuất và bán ra cho đúng
thời vụ.
- Thu nhập bình quân: Do doanh thu tăng, lợi nhuận tăng nên mức thu nhập
bình quân của người lao động cũng tăng dần qua các năm, biểu hiện năm 2011 so
với năm 2010 mức lương bình quân tăng 120.000(đ) tương ứng tỷ lệ tăng 16%,
năm 2012 so với năm 2011 mức lương bình quân tăng 150.000(đ ) tương ứng tỷ lệ
tăn 17%. Điều đó chứng tỏ rằng Công ty đang từng ngày phát triển, đời sống của
người lao động được nâng cao, được ban lãnh đạo Công ty quan tâm một cách
đúng mức thông qua việc khuyến khích bằng tinh thần và vật chất những nhân viên
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có nhiều sáng tạo trong công việc v.v. Bên cạnh
việc khích lệ là kỷ luật nghiêm minh những nhân viên không tuân theo quy chế làm
việc của Công ty hoặc có thái độ không tốt làm hư hại đến tài sản của Công ty v.v.
Qua kết quả phân tích trên ta thấy rằng tình hình hoạt động kinh doanh của
Công ty được đánh gía là tốt bởi doanh thu và lợi nhuận đều tăng lên qua các năm
và tốc độ tăng của lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu. Tuy nhiên cần xem
xét ở mặt không tốt của giá vốn hàng hoá tăng lên. Để phát huy tốt hơn nữa Công
tác này Công ty cần phải tìm hiểu kỹ nguồn hàng mua và giá trên thị trường, nên
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-15-
có quan hệ tốt với nhiều bạn hàng trong số đó tìm ra cho mình một bạn hàng chính,
bạn hàng truyền thống để phân tán rủi ro, tránh tình trạng hàng mua bị thiếu, bạn
hàng không thực hiện đúng theo quy định trong hợp đồng hoặc bị bạn hàng ép giá.
Những kết quả mà Công ty đã đạt được điều đó chứng tỏ rằng khả năng
cạnh tranh của Công ty ngày càng được nâng cao. Đó là kết quả của sự nỗ lực, cố
gắng của cả Công ty từ ban lãnh đạo của Công ty đến bộ phận sản xuất, đến bộ
phận bán hàng. Tuy nhiên nguyên nhân sâu xa dẫn đến kết quả đó là do sản phẩm
của Công ty sản xuất ngày càng có chất lượng tốt hơn. Kết quả này đạt được là một
thành tích của một quá trình cạnh tranh gay gắt, nhằm lôi kéo được khách hàng về
phía mình đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hoá. Doanh thu của Công ty tăng chủ
yếu là do sản lượng tiêu thụ hàng hoá tăng lên chứ không phải do tăng giá. Do vậy
một phần nào đó có thể khẳng định rằng khả lực cạnh tranh của Công ty đã được
nâng cao hơn so với các năm trước.
Biểu 2: Biểu phân tích kết quả tiêu thụ hàng hoá của Công ty trong 3 năm
(2010 2012)
Đơn vị: sản phẩm
Stt Tên sản phẩm Thực hiện 2011/2010 2012/2011
2010 2011 2012 CL TL
(%)
Chất
lượng
TL
(%)
1 Tổng SP tiêu thụ 710857 807022 925891 96165 13 118869 14
2 Quần áo trẻ em 150485 182989 223978 32504 21,6 40989 22,4
3 Quần bò, quần âu 80485 95375 113687 14890 18,5 18312 19,2
4 Aó sơ mi các loại 81128 91561 104361 10433 12,86 12800 13,9
5 Aó nỷ 6966 7237 7468 271 3,9 231 3,2
6 Ao dệt kim 51186 53950 57510 2764 5,4 3560 6,6
7 Quần sooc 10197 10778 11457 581 5,7 679 6,3
8 áo jacket các loại 82622 89231 96547 6609 8 7316 7,7
9 áo gile các 5794 7416 7646 1622 2,8 230 3,1
10 Bộ thể thao 1513 1552 1603 39 2,6 51 3,3
11 Quần áo các loại 240481 266933 301634 26452 11 34701 13
(Nguồn: Số liệu lấy từ phòng kinh doanh của Công ty may Hồ Gươm)
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-16-
Qua số liệu tính ở biểu 2 ta thấy sản lượng trên tiêu thụ của Công ty không
ngừng tăng lên qua các năm, hầu hết các sản phẩm của Công ty đều tăng, đặc biệt
là mặt hàng áo sơ mi, quần âu, quần áo của trẻ em, các sản phẩm dệt kim. Điều này
chứng tỏ năng suất lao động của công ty tăng lên qua các năm, và doanh nghiệp đã
luôn chủ động tìm kiếm, khai thác và mở rộng thị trường thúc đẩy hoạt động tiêu
thụ tăng dần qua mỗi năm.
2.2. Phân tích khả năng cạnh tranh của Công ty thông qua các yếu tố nội
lực.
2.2.1. Nguồnlực tài chính và vật chất.
Một doanh nghiệp muốn thành lập Công ty thì yếu tố đầu tiên mà doanh
nghiệp cần phải có đó là nguồn lực tài chính. Do vậy nguồn lực tài chính là điều
kiện trên quyết cho bất kỳ một doanh nghiệp nào, vốn chính là tiền đề vật chất để
thành lập Công ty, để Công ty có thể tồn tại và phát triển. Thiếu vốn hoặc không có
vốn sẽ là chiếc gọng kìm chặn mọi đường tiến, khiến cho doanh nghiệp rơi vào
vòng luân quẩn cuả cái cũ, cái nghèo nàn. Trong công cuộc cạnh tranh gay gắt và
khốc liệt của nền kinh tế thị trường vốn đóng một vai trò rất quan trọng trong mỗi
bước tiến của doanh nghiệp. Nguồn lực tài chính của Công ty thể hiện sức sống,
tình trạng sức khoẻ của Công ty. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào quy mô và đặc điểm kinh
doanh mà nhu cầu vốn của mỗi doanh nghiệp là khác nhau cũng như việc phân bổ
vốn là khác nhau. Công ty may Hồ Gươm trước đây là Công ty nhà nước trực
thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam, được nhà nước cấp hoàn toàn nguồn vốn
kinh doanh. Cách đây một năm theo quyết định của Hội đồng quản trị Tổng công
ty dệt may Việt Nam, Công ty may Hồ Gươm đã chuyển sang thành Công ty cổ
phần may Hồ Gươm. Nguồn vốn của Công ty bây giờ một phần nhỏ là vốn của nhà
nước cấp để khuyến khích nghành may phát triển, phần lớn còn lại là vốn góp của
các Cổ đông.
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-17-
Biểu 3: Tình hình nguồn vốn kinh doanh của Công ty (2010-2012)
Đơn vị: Triệu (VNĐ)
Các chỉ tiêu Thực hiện 2011/2010 2012/2011
2010 2011 2012 CL TL
(%)
CL TL
(%)
Tổng giá trị tài sản 37678 38862 40896 1184 3,14 2034 5,2
- Giá trị TSCĐ 18421 19536 20756 1112 6,04 1220 6,25
- Giá trị TSLĐ 19254 19326 20140 72 0,38 814 4,21
Tổng nguồn vốn 37678 38862 40896 1184 3,14 2034 5,2
- Nguồn vốn cấp 4370 4770 5270 400 9,15 500 10,48
- Nguồn vốn bổ sung 33308 34092 35626 784 2,35 1534 4,5
(Nguồn: Số liệu lấy từ phòng kế toán của Công ty may Hồ Gươm)
Qua số liệu tính ở biểu 3 ta thấy tổng giá trị tài sản hay nguồn vốn của Công
ty đều tăng dần qua các năm. Cụ thể năm 2011 giá trị tổng tài sản tăng1184(tr)
tương ứng tỷ lệ tăng 3,14% so với năm 2010, năm 2012 tăng 2034(tr) tương ứng
với tỷ lệ tăng 5,2% so với năm 2011. Trong đó giá trị tài sản cố định chiếm tỷ
trọng trên 50% tổng giá trị tài sản và năm 2011 gía trị tài sản cố định tăng 1112(tr)
tương ứng tỷ lệ tăng 6,04% so với năm 2011, năm 2012 tăng 1220(tr) tương ứng tỷ
lệ tăng 6,25% so với năm 2011.
Giá trị tài sản lưu động chiếm tỷ trọng dưới 50% trong tổng giá trị tài sản,
năm 2011 giá trị tài sản lưu động tăng 72(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 0,38% so với
năm 2010, năm 2012 tăng 814 (tr) tương ứng tỷ lệ tăng 4,21%. Qua số liệu trên ta
thấy rằng tốc độ tăng của tài sản cố định lớn hơn tốc độ tăng trưởng của tài sản lưu
động trong 3 năm vừa qua. Điều này chứng tỏ Công ty đã đầu tư nhiều hơn, mua
sắm thêm trang thiết bị máy móc mới, nâng cấp và sửa chữa lại một số máy móc
cũ, nâng cấp và cải thiện cơ sở hạ tầng, phân xưởng. Gíá trị tài sản lưu động cũng
tăng lên điều đó chứng tỏ vốn bằng tiền vốn hàng hoá, vốn dự trữ và vốn trong
khâu lưu thông của Công ty đều lên qua các năm. Trong 3 năm vừa qua tốc độ vốn
lưu động tăng lên chủ yếu là do vốn hàng hoá và vốn dự trữ tăng lên.
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-18-
Trên phương diện là một Công ty nhà nước đã được cổ phần hoá vừa thực
hiện chức năng sản xuất, vừa thực hiện chức năng thương mại. Do vậy giá trị tài
sản lưu động và giá trị tài sản cố định chiếm tỷ trọng gần bằng nhau trong tổng giá
trị tài sản cũng là một sự phân bổ hợp lý.
2.2.2. Uy tín của Công ty
Với thâm niên hoạt động kinh doanh chưa dài nhưng Công ty may Hồ Gươm
đã tạo được uy tín đối với các bạn hàng quốc tế như Nhật, Mỹ, Singapo...Sự tín
nhiệm đó được biểu hiện thông qua các hợp đồng xuất khẩu may mặc tăng lên qua
các năm và mở rộng hoạt động kinh doanh ra nhiều khu vực thị trường mới và
nhiều tiềm năng như EU, Bắc mỹ. Trước đây hoạt động xuất khẩu của Công ty chủ
yếu theo hình thức gia công, bán sản phẩm nhờ vào nhãn mác của các nước có tên
tuổi, có tiềm lực kinh tế mạnh và nhiều lợi thế. Nhưng hiện nay Công ty đã chuyển
sang xuất khẩu phẩm trực tiếp do vậy mà nhãn hiệu sản phẩm của cũng như uy tín
của Công ty đã đi vào tiềm thức của người tiêu dùng. Có được thành quả này là
nhờ vào những chiến lược, những quyết định sáng suốt của ban lãnh đạo chủ chốt
trong Công ty. Trên cơ sở khai thác lợi thế của mình Công ty may Hồ Gươm đã
chuyển từ phương thức xuất khẩu gia công sang hình thức xuất khẩu trực tiếp. Đó
là một thành quả lớn của Công ty may Hồ Gươm nói riêng và của ngành Dệt may
nói chung.
2.3. Lợi nhuận của công ty may mặc Hồ Gươm
2.3.1. Lợinhuận và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi tất cả các khoản chi
phí chi dùng vào các hoạt động kinh doanh của Công ty. Bởi vậy nó được coi là chỉ
tiêu quan trọng nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty. Tuy nhiên lợi
nhuận không những là thu nhập mặc nhiên của vốn đầu tư, mà còn là phần thưởng
cho những ai giám chấp nhận rủi ro và mạo hiểm, cho những ai giám đổi mới và
giám chịu trách nhiệm về sự đổi mới của mình. Mặt khác trong nền kinh tế thị
trường, lợi nhuận góp phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả, đồng thời nó là chỉ
tiêu tổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty. Nếu lợi nhuận cao thì khả
năng cạnh tranh cao, năng lực cạnh tranh càng mạnh và ngược lại. Để đánh giá và
xem xét năng lực cạnh tranh giữa Công ty may Hồ Gươm và các đối thủ cạnh tranh
ta cần phải dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chứ không phải lợi
nhuận từ hoạt dộng tài chính và bất thường.
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-19-
Biểu 9: Tình hình lợi nhuận của Công ty và các Công ty khác
Đơn vị: Triệu (VNĐ)
Tên công ty Thực hiện 2011/2010 2012/2011
2010 2011 2012 CL TL CL TL
Công ty may Hồ Gươm 490 553 653 63 12,85 100 18,1
Công ty may Thăng Long 2053 2276 2613 223 10,86 337 14,8
Công ty may 10 2210 2471 2866 261 11,8 395 16
Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động nhu cầu mặc đẹp mặc bền
của con người ngày càng gia tăng, sản lượng hàng năm may mặc tiêu thụ hàng năm
tăng lên. Điều đó phản ánh trong 3 năm qua lợi nhuận ở cả 3 Công ty đều tăng lên.
Trong đó lợi nhuận của Công ty may Hồ Gươm tăng với tốc độ là cao nhất. Cụ thể
năm 2011 lợi nhuận tăng 12,85% so với năm 2010, năm 2012 tăng 18,1% so với
năm 2011. Công ty may 10 năm 2011 tỷ lệ lợi nhuận tăng 10,86% so với năm
2010, năm 2012 tăng 14,8% so năm 2011.Công ty may Thăng Long tỷ lệ lợi nhuận
năm 2011 tăng 11,8% so năm 2010, năm2012 tăng 16% so với năm 2011. Sở dĩ lợi
nhuận của Công ty may Hồ Gươm đều tăng lên trong ba năm qua là do cả doanh
thu và chi phí đều tăng nhưng tốc độ tăng của doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng
của chi phí.
Biểu 10: Tương quan tỷ suất lợi nhuận của Công ty và các Công ty khác
Đơn vị: (%)
Tên Công ty Thực hiện 2011/2010 2012/2011
2010 2011 2012 CL TL CL TL
Công ty may Hồ Gươm 2,62 2,66 2,72 0,04 0,06
Công ty may Thăng Long 2,5 2,52 2,56 0,02 0,04
Công ty may 10 2,54 2,57 2,62 0,03 0,05
Qua bảng số liệu 10 trên ta thấy tỷ suất lợi nhuận của 3 Công ty đều tăng lên
qua các năm. Nhưng tốc độ tăng tỷ suất lợi nhuận của Công ty may Hồ Gươm là
cao nhất. Biểu hiện năm 2011 tỷ suất lợi nhuận tăng 0,04% so với năm 2010, năm
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-20-
2012 tỷ suất lợi nhuận tăng 0,06% so với năm 2011.Điều đó chứng tỏ rằng hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp thu được hiệu quả cao. Trong 3 năm vừa qua
Công ty đã đẩy nhanh được sản lượng bán ra, mở rộng thị trường kinh doanh sang
một số nước như Đức, EU, Mỹ, điều đó được thể hiện qua tổng doanh thu tăng dần
qua các năm. Ngoài ra Công ty đã tìm được một số nguồn thu mua nguyên vật liệu
với giá rẻ hơn nhưng chất lượng vẫn được đảm bảo. Do vậy mà Công ty đã giảm
được một phần giá vốn hàng bán, bên cạnh đó Công ty còn giảm được một phần
chi phí sửa chữa lớn máy móc so với mấy năm trước đó, chất lượng dần được nâng
cao, bộ máy quản lý của Công ty được cải tiến tốt hơn, những vấn đề đó đã tạo lên
một hiệu quả rất rõ rệt.
4. Những kết luận rút ra từ việc đánh giá thực trạng của Công ty.
4.1. Những thành tựu đã đạt được.
Công ty may Hồ Gươm đã lựa chọn cho mình một hướng đi đúng là coi
trọng thúc đẩy phát triển thị trường xuất khẩu, Nhờ vậy mà doanh thu của Công ty
đạt được và vượt mức các chỉ tiêu đề ra tăng từ 85-90% hàng xuất khẩu, còn lại là
doanh thu hàng nội địa. Thành tựu quan trọng nhất mà Công ty đã được đó là
chuyển từ hình thức xuất khẩu gia công sang hình thức xuất khẩu trực tiếp. Tăng vị
thế và uy tín của Công ty trên thị trường thế giới.
Trước tình hình khó khăn chung của toàn nghành dệt may hiện nay do thị
trường trong nước và thế giới luôn biến động, nhu cầu tăng nhưng sức mua giảm.
Ban lãnh đạo Công ty đã quyết thực hiện chủ trương giữ vững thị trường đã có, mở
rộng thêm nhiều thị trường mới, khách hàng mới như Mỹ và các nước EU. Sau một
thời gian thực hiện, kết quả cho thấy Công ty luôn hoàn thành kế hoạch đề ra, bảo
đảm đạt mức doanh thu và lợi nhuận dự kiến. Trong 3 năm tốc độ tăng trưởng bình
quân là 14%. Sản phẩm của Công ty đã có mặt ở hơn 40 nước trên thế giới. trong
đó có rất nhiều thị trường lớn và tiềm năng Công ty đang tiếp thụ khảo sát và
nghiên cứu để tiếp cận và chiếm lĩnh thị phần như Eu, Mỹ, Nhật Bản.
- Chất lượng hàng hoá của Công ty nhất là hàng xuất khẩu được nâng cao,
sản phẩm ngày càng phong phú đa dạng, về chất liệu kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc,
giá cả. Công ty không chỉ tạo được uy tín trên thị trường nội địa mà còn tạo được
uy tín trên thị trường thế giới.
- Công ty đã không ngừng đầu tư trang thiết bị máy móc, ứng dụng khoa học
kỹ thuật mới vào sản xuất. Hiện nay Công ty đã có một cơ sở vật chất vững mạnh,
nhờ vậy Công ty đã nâng cao đươc chất lượng sản phẩm đáp ứng kịp thời và đúng
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-21-
yêu cầu của khách hàng, đồng thời Công ty đã nâng cao được lợi thế so sánh sản
phẩm của mình đối với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Công ty đã xây dựng
được một đội ngũ quản lý về trình độ chuyên môn, giàu kinh nghiệm và lực lượng
công nhân có tay nghề cao, có nhiệt huyết trong công việc. Công ty luôn tạo điều
kiện thời gian và kinh phí, cử các cán bộ đi học các khoá học về chính trị tổ chức
các lớp nâng cao tay nghề cho công nhân cơ khí điện, công nhân may. Công ty đã
tổ chức tốt các hoạt động giao dịch và thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng với
khách hàng nước ngoài.
-Công ty đã biết kết hợp giữa nhu cầu thị trường và các thế mạnh của mình
để đạt được những thành công nhất định trong hoạt động kinh doanh của mình, góp
phần nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của mình.
- Thị trường của Công ty ngày càng được mở rộng sang các nước khác nhau,
đấy là do Công ty đã duy trì được chính sách thâm nhập thị trường mới và giữ
vững thị trường truyền thống.
Bên cạnh những thành tựu được trong hoạt động kinh doanh Công ty còn
thực hiện tốt chế độ, nghĩa vụ đối với nhà nước. Công ty luôn thực hiện nghiêm túc
các chế độ chính sách cề thuế, nộp ngân sách nhà nước .
4.2. Những mặt còn tồn tại
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp còn bộc lộ một số hạn chế, có thể là do khách quan đưa lại nhưng cũng có
thể là do chủ quan của bản thân Công ty. Những hạn chế này chính là nguyên nhân
làm giảm tính hiệu quả của việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu và nâng cao khả
năng cạnh tranh mặt hàng may mặc của Công ty.
- Trong sản xuất có những bộ phận chưa chấp hành triệt để quy trình công
nghệ sản xuất hoặc việc theo dõi giám sát của các phòng ban chuyên ngành, của
cán bộ quản lý không thường xuyên, không chặt chẽ đã dẫn đến sản phẩm làm ra
không đạt yêu cầu. Nhiều khi phải làm lại, ghi nhầm cỡ số, giao hàng cho khách
hàng thiếu đã gây nên hiệu quả thấp, thiệt hại cho Công ty về cả thời gian, chi phí
lẫn uy tín. Do chưa có kỹ năng chủ động tìm kiếm bạn hàng nên Công ty gặp phải
nhiều khó khăn trong quá trình tìm kiếm nguyên vật liệu để sản xuất.
Do việc nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài, nên Công ty thường rơi
vào thế bị động và kéo theo sự bị động trong việc xuất khẩu các sản phẩm. Công
tác kế hoạch chuẩn bị vật tư, nguyên liệu cho sản xuất có lúc chưa kịp thời, chưa
đồng bộ có khi xảy ra tình trạng người chờ việc, việc chờ người hoặc đang sản xuất
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-22-
đơn hàng mã hàng này phải chuyển sang sản xuất đơn hàng mã hàng khác. Đôi khi
trong những trường hợp như vậy Công ty phải trả giá cao hơn, chi phí cao hơn đã
làm giảm hiệu quả kinh doanh, ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất và năng suất lao
động trong Công ty.
- Vấn đề nguyên vật liệu đầu vào còn gặp nhiều khó khăn di chuyển, giá cả
cao, không ổn định vì ngành dệt và các ngành cung cấp phụ liệu cho ngành may
nước ta chưa phát triển mà chủ yếu nhập nguyên liệu từ nước ngoài.
- Công nghệ máy móc thiết bị của Công ty tuy được chú trọng đầu tư, song
còn tồn tại một phần là những công nghệ lạc hậu của các nước phát triển. Điều này
đã hạn chế một phần việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm của
Công ty.
- Mặc dù Công ty đã xây dựng cho mình chiến lược về mặt hàng nhưng các
sản phẩm xuất khẩu của Công ty chưa đảm bảo được sự đa dạng về chủng loại,
mẫu mã.
- Chính sách tập trung vào thị trường trọng điểm là EU tuy có ưu điểm
nhưng bên cạnh đó còn có những hạn chế nhất định như là gặp nhiều rủi ro trọng
sự biến động của thị trường. Gần đây EU luôn có những chính sách mới như áp
dụng hạn ngạch nhằm ngăn cản hàng của Việt Nam vào EU.
- Hoạt động sản xuất và tiêu thụ còn chưa ăn khớp, hàng tháng lượng hàng
tồn kho còn quá lớn do Công ty chưa xây dựng được các kế hoạch tiêu thụ cụ thể.
Chính sách phân phối chưa được chú trọng.
Sản phẩm mua đứt bán đoạn đòi hỏi chất lượng rất khắt khe. Các khách
hàng mua thẳng của Công ty chưa thực sự hài lòng về một số mặt hàng của Công
ty đặc biệt là các khách hàng Mỹ, Nhật Bản. Phía đối tác chưa thực sự tin tưởng
vào các nguồn nguyên vật liệu Công ty mua về để sản xuất các sản phẩm may mặc
cho họ. Hơn thế nữa phía đối tác thường thích quan hệ theo hình thức gia công. Vì
như vậy có thể cung cấp các nguyên vật liệu rẻ và đồng bộ hơn và hàng được theo
thiết kế của họ. Năng lực và thiết bị công nghệ chưa huy động hết công suất, nhiều
thiết bị công nghệ còn kém đồng bộ giữa các khâu.
- Công tác nghiên cứu, thiết kế tạo mẫu thời trang chưa được quan tâm đúng
mức để phát triển phục vụ cho ngành may chuyển từ gia công sang xuất khẩu sản
phẩm trực tiếp.
- Chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn nhiều bất cập, lực lượng lao động đông
nhưng số lượng công nhân kỹ thuật trình độ bậc thợ cao, giỏi còn ít. Đội ngũ quản
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-23-
lý chủ chốt trong doanh nghiệp còn hạn chế trong tiếp cận với phong cách quản lý
mới. Số lượng lao động nữ chiếm tỷ lệ quá lớn trong tổng lao động của Công ty,
điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng công việc khi người phụ
nữ thực hiện chức năng làm mẹ, mặt khác lao động nữ chỉ đảm đương được những
công việc nhẹ mà không đảm đương được những công việc liên quan đến máy
móc, kỹ thuật. Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất lao động
của Công ty.
- Để đảm bảo nguồn vốn phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh. Ngoài
phần vốn đã có Công ty còn phải vay thêm ngân hàng số vốn dùng trong dài hạn
nên số tiền phải dùng để trả lãi suất rất lớn. Do vậy nó có ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả kinh doanh của Công ty.
Qua phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh đã phản ánh khái
quát tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty may Hồ Gươm trong thời gian
gần đây. Đánh giá được những thành tựu và những khó nhăn tồn tại của hoạt động
này. Để từ đó có thể xác định phương hướng sản xuất kinh doanh sao cho có thể
phát huy được những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu. Trên cơ sở đó đẩy
mạnh hoạt động kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-24-
Chương IV
Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của
công ty may Hồ Gươm.
1 . Xu hướng phát triển của ngành dệt may việt nam nói chung và của công
ty may hồ gươm nói riêng
1.1. Phương hướng phát triển của Công ty may Hồ Gươm.
Với hơn 11 năm tồn tại và phát triển Công ty may Hồ Gươm đã từng bước
trưởng thành và mở rộng hơn về quy mô kinh doanh trên thị trường trong nước và
thế giới. Sản phẩm của Công ty sản xuất ra đã đủ tiêu chuẩn để đáp ứng nhu cầu
xuất khẩu còn lại là đáp ứng nhu cầu trong nước. Tuy nhiên để có thể cạnh tranh
được với các Công ty trong nước và ngoài nước, Công ty cần đề ra phương hướng
hoạt động cho các năm tới trên cơ sở kết quả hoạt động kinh doanh, kết quả cạnh
trạnh và kết quả hoạt động xuất khẩu của các năm trước, kết quả nghiên cứu thị
trường, đồng thời đánh giá điều kiện thuận lơị và khó khăn của Công ty. Cùng với
việc mở rộng đầu tư xây dựng thêm phân xưởng may. Tiếp tục phát huy sức mạnh
của mình và góp phần với các doanh nghiệp trong toàn ngành thực hiện chiến lược
tăng tốc phát triển ngành dệt may Việt Nam.
* Mở rộng hoạt động của Công ty tới thị trường nhiều tiềm năng
Từng bước đẩy mạnh kinh doanh theo phương thức mua đứt bán đoạn( xuất
khẩu trực tiếp). Theo phương thức mua đứt bán đoạn Công ty sẽ chủ động được
trong sản xuất kinh doanh và lợi nhuận thu hồi về sẽ lớn hơn so với hoạt động gia
công cho khách hàng. Tuy nhiên Công ty vẫn duy trì phương thức gia công vì
những ưu điểm của nó. Mặt khác hiện nay Công ty chưa đủ vốn để mua nguyên vật
liệu sản xuất cho tất cả các đơn hàng. Thực hiện phương thức mua đứt bán đoạn
đòi hỏi Công ty phải có vốn lưu động lớn, luôn luôn có nguồn nguyên liệu dự trữ.
Nhưng hiện nay nguồn nguyên liệu Công ty tìm được vẫn chưa đáp ứng được đầy
đủ về cả số lượng và chất lượng cho nhiều đơn hàng. Vì thế phương thức gia công
vẫn được duy trì trong thời gian này.
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-25-
* Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng may mặc
Trong những năm tới Công ty đề ra những phương hướng phấn đấu tăng
trưởng hàng năm từ 8%- 12%. Công ty đã nghiên cứu tìm những biện pháp tổ chức
sản xuất, quản lý, khai thác nhiều đơn hàng trực tiếp để nâng cao được tỷ lệ lợi
nhuận đầu tư cho phát triển doanh nghiệp. Tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho các
cán bộ công nhân viên, tăng đóng góp vào ngân sách nhà nước và tăng thu nhập
bình quân cho người lao động. Mặt khác Công ty không ngừng tìm kiếm nguồn
nguyên vật liệu với giá rẻ phục vụ cho sản xuất được chủ động, tiết kiệm chi phí,
giảm giá thành cho sản phẩm. Đồng thời liên kết với các đơn vị khác trong ngành
đặc biệt là các công nghiệp dệt cung cấp nguyên vật liệu có chất lượng tốt để chủ
động xuất khẩu sàng thị trường Mỹ và các thị trường khác. Công ty đang triển
khai xây dựng cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành may như khoá, kéo, cúc
nhựa, mex nhãn dệt và băng rôn các loại đã được Tổng Công ty dệt may phê duyệt
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh trên thị
trường quốc tế và phát triển thị trường nội địa.
Công ty đang từng bước chủ động đâu tư máy móc thiết bị công nghệ hiện
đại(hệ thống cắt tự động, thiết kế bằng máy vi tính) mở rộng sản xuất kinh doanh
tại các khu vực Nam Định, Hà Nam, Hải Phòng, Hưng Yên để tăng nhanh năng lực
sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh, tạo điều kiện thâm nhập vào thị trường Mỹ khi
Việt Nam đang được hưởng quy chế tối huệ quốc, tập trung vào các mặt hàng mũi
nhọn của Công ty như quần bò, quần áo trẻ em, quần jean.
Tiếp tục hoàn thiện công tác tổ chức, sắp xếp lao động phù hợp với cơ cấu
xây dựng các xí nghiệp thành viên, hoạch toán độc lập nhằm đạt được hiệu quả cao
hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh .
1.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty.
Trải qua một chặng đường tồn tại và phát triển Công ty may Hồ Gươm đã có
những thành công nhất định trong lĩnh vực sản xuất hàng may mặc, đáp ứng được
yêu cầu của thị trường, có được tập khách hàng truyền thống trung thành, tin cậy
đối với Công ty, sản phẩm của Công ty đã có một vị thế nhất định trên thị trường
trong nước và quốc tế. Tuy nhiên do đặc trưng của nền kinh tế thị trường cạnh
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-26-
trạnh ngày càng găy gắt và khốc liệt. Công ty muốn tồn tại và phát triển hơn nữa
thì luôn phải chú trọng việc nâng cao khả năng cạnh tranh. Nếu không Công ty sẽ
mắc phải nguy cơ tụt hậu là điều không tránh khỏi. Thông qua thông tin về khả
năng cạnh tranh hiện tại của Công ty, đồng thời thông qua lợi thế cạnh tranh mà
Công ty có được và những tồn tại còn vướng mắc. Thông qua phương hướng phát
triển của ngành nhất là phương hướng phát triển của Công ty, em xin mạnh dạn đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty:
1.2.1.Nâng caochấtlượng sản phẩm
Khi mua một sản phẩm ngoài việc mong muốn sản phẩm, dịch vụ phải có
khả năng thoả mãn một nhu cầu xác định, người tiêu dùng còn mong muốn sản
phẩm đó có độ tin cậy, độ an toàn và chi phí để thoả mãn nhu cầu phải thấp hơn
các sản phẩm cùng loại. Đây chính là một trong những yếu tố làm tăng tính cạnh
ttranh của sản phẩm trên thị trường.Trong mấy năm vừa qua chất lượng sản phẩm
của Công ty đã được nâng cao lên rất nhiều nhưng với nhu cầu thị hiếu của khách
hàng ngày càng thay đổi theo chiều hướng khắt khe hơn về việc lựa chọn những
sản phẩm phải có chất lượng cao hơn.Do vậy để đảm bảo chất lượng của hàng hoá
thì ngay từ khi chọn bạn hàng phải lựa chọn những bạn hàng có uy tín bởi những
nguyên vật liệu đầu vào nếu có kiểm tra thì rất khó có thể nhận thấy được chất
lượng của nó mà chỉ khi đưa vào sử dụng mới nhận thấy được chất lượng của
nguyên vật liệu đầu vào đó có đạt tiêu chuẩn hay không. Ngoài ra để nâng cao
chất lượng sản phẩm Công ty cần phải chú trọng ngay từ khi thiết kế sản phẩm, lập
kế hoạch trong qúa trình sản xuất bởi vì chất lượng sản phẩm được đảm bảo suốttừ
khi chuẩn bị sản xuất và sản xuất theo những tiêu chuẩn đã đề ra khi thiết kế. Công
ty may Hồ Gươm đa số xuất khẩu các mặt hàng may mặc do chính Công ty sản
xuất. Bên cạnh đó Công ty có thể nâng cao chất lượng sản phẩm bằng việc đầu tư
vào các máy móc thiết bị, cải tiến công nghệ sản xuất tăng khả năng tự động hoá
quá trình sản xuất kết hợp với việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn ISO 9002. Bởi vì máy móc thiết bị có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản
phẩm xuất khẩu của Công ty. Máy móc thiết bị lạc hậu không đồng bộ sẽ gây hỏng
hóc ngưng trệ sản xuất, tiêu tốn lao động ảnh hưởng đến chất khối lượng sản phẩm
xuất khẩu. Như vậy đầu tư hiện đại hoá máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-27-
mở rộng quy mô, tăng năng lực sản xuất là biện pháp cần thiết và cấp bách của
Công ty hiện nay.
1.2.2 Chính sáchgiá hợp lý
Giá cả sản phẩm là yếu tố hạn chế của hàng may Việt Nam cũng như hàng
may mặc của Công ty vì giá của chúng ta thường cao hơn giá cả cùng loại của các
nước trong khu vực từ 10 - 15%, đặc biệt so với sản phẩm dệt may của Trung
Quốc, giá của hàng may Việt Nam đến 20%. Mà giá thành sản phẩm là một yếu tố
cạnh tranh khá mạnh trong thị trường may mặc thế giới. Để giảm giá thành Công
ty cần phải tìm nguồn hàng hợp lý, giảm giá vốn hàng bán, cắt giảm những chi phí
khong mang lại hiệu quả cho Công ty. Bên cạnh đó Công ty cần quan tâm áp dụng
mọi biện pháp để tiết kiệm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông nhỏ nhất. Cụ thể :
+ Giảm chi phí nguyên vật liệu: Đối với hàng dệt may, chi phí nguyên vật
liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm. Chính vì vậy, giảm chi phí
nguyên vật liệu có vị trí quan trọng trong công tác hạ giá thành sản phẩm. Tuy
nhiên giảm chi phí nguyên vật liệu không có nghĩa là cắt giảm nguyên vật liệu
dưới mức định mức kỹ thuật cho phép. Bởi làm như vậy sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới
chất lượng sản phẩm. Công ty chỉ có thể giảm chi phí nguyên vật liệu bằng cách
định mức tiêu hao chặt chẽ hơn, tổ chức thu mua nguyên vật liệu hiệu quả hơn,
thường xuyên bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị để giảm bớt tối thiểu phần vải
bị xô, bị đứt hoặc không đảm bảo mật độ sợi, nâng cao ý thức trách nhiệm của
công nhân ở mọi khâu sản xuất, xử lý nghiêm khác với những hành vi làm lãng phí
nguyên liệu.
+ Giảm chi phí cố định: Chi phí cố định là loại chi phí không thay đổi khi
sản lượng tăng hoặc giảm. Nhưng chi phí cố định bình quân trên một đơn vị sản
phẩm sẽ thay đổi và biến động ngược chiều với sản lượng. Do đó, khi sản lượng
sản xuất tăng sẽ giảm chi phí cố định bình quân tính trên một đơn vị sản phẩm.sẽ
giảm. Muốn tăng sản lượng trên quy mô hiện có thì Công ty phải tăng năng suất
lao động, tận dụng triệt để năng lực máy móc thiết bị, bảo quản tốt tài sản cố định
để tránh hỏng hóc, giảm chi phí sửa chữa. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường,
không lúc nào giá bán thấp hơn giá đối thủ cạnh tranh là cũng có thể thu hút được
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-28-
khách hàng vì nhiều khi giá bán thấp hơn sẽ gây nghi ngờ của khách hàng về chất
lượng sản phẩm.
Bên cạnh việc hạ giá thành sản phẩm để giảm giá bán sản phẩm, muốn giá
cả thực sự là công cụ cạnh tranh đắc lực thì Công ty phải có một chính sách giá
hợp lý. Hiện tại Công ty mới phân định được hai mức giá (giá trả ngay và giá trả
chậm). Chính sách giá này chưa thật phù hợp với cơ chế thị trường, chưa có tác
dụng kích thích mức tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Trong tình hình hiện nay,
chính sách giá phải phù hợp với từng sản phẩm cụ thể, từng khách hàng cụ thể, phù
hợp với môi trường chiến lược của Công ty.
Việc sử dụng các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ ở các thị trường nước ngoài cũng
phải được tính toán cẩn thận sao cho hiệu quả cao nhất với một mức chi phí hợp lý.
Nếu cứ quảng cáo, khuyến mãi tràn lan và không phù hợp với các thị trường nước
ngoài thì có khi rất tốn kém mà chẳng có tác dụng gì, thậm chí đôi khi còn phản tác
dụng.
Ngoài ra Công ty cần tiếp cận gần người tiêu dùng càng tốt vì khi đó hàng có
thể bán được với giá cao hơn và có được thông tin, nhu cầu khách hàng kịp thời
hơn. Hiện nay có những chi phí rất lớn mà chúng ta ít để ý tới đó là lãng phí thời
gian và lãng phí sức người. Công ty cần quan tâm sử dụng có hiệu quả để giảm chi
phí bình quân sản phẩm từ đó giảm giá thành sản phẩm.
1.2.3. Pháttriển các kênhphân phối sảnphẩm của Công ty
Do sản phẩm của Công ty chủ yếu là xuất khẩu, khách hàng của Công ty
thường là những khách hàng lớn, kênh phân phối chủ yếu là kênh phân phối tực
tiếp. Qua các năm 2010-2012 số lượng sản phẩm tiêu thụ qua các kênh phân phối
trực tiếp chiếm tỷ lệ bình quân 79,6% sản lượng tiêu thụ hàng năm. Số còn khoảng
20,4% tổng số sản phẩm được tiêu thụ thông qua các kênh gián tiếp. Kết quả trên
đã cho thấy thế mạnh thuộc về kênh phân phối trực tiếp. Khách hàng liên hệ trực
tiếp với Công ty để đặt hàng, nếu khách hàng ở xa có thể thông qua điện thoại.
Theo cách này Công ty có thể nắm được những yêu cầu của khách hàng một cách
chuẩn xác về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật...Từ đó có thể đáp ứng một
cách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng. Tuy nhiên cách này thường gây bất lợi
cho những khách hàng ở xa. Khoảng cách về không gian đã làm tiến độ giao hàng
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-29-
chậm lại nếu trong quá trình luân chuyển gặp trở ngại. Tiến độ giao hàng chậm có
thể làm lỡ dở, gián đoạn tiến độ của hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng
gây nên sự chuyển mối mua hàng. Như vậy có thể gây thiệt hại về lợi ích rất lớn
đối với Công ty. Như vậy có thể phát triển kênh phân phối gián tiếp bằng cách gia
tăng đại lý ở các nước nhập khẩu và các đại lý trên các tỉnh thành phố ở xa để khắc
phục nhược điểm của kênh phân phối trực tiếp. Các đại lý này được đặt tại những
nơi có số lượng khách hàng lớn và trực tiếp làm đại diện cho Công ty. Làm như
vậy có thể rút ngắn khoảng cách giữa Công ty và các khách hàng ở xa, tạo điều
kiện thuận lợi cho khách hàng về mọi mặt. Công ty nên mở rộng đại lý trong kênh
phân phối. Hoạt động này có thể làm tăng khả năng tiêu thụ của, nâng cao được
khả năng cạnh tranh của Công ty.
Như vậy, để tăng cường khả năng cạnh tranh thì bên cạnh việc giữ vững, vừa
ổn định kênh phân phối trực tiếp đồng thời hình thành, tham gia kênh phân phối
gián tiếp, tạo điều kiện thuận lợi trong việc nhận đơn đặt hàng, giao hàng đúng tiến
độ.
1.2.4. Nâng cao hoạtđộng Maketing
Trong nền kinh tế thị trường, Công ty cần phải bán cái mà thị trường cần chứ
không phải bán cái mà Công ty có. Nhưng để biết thị trường đang có nhu cầu về
loại sản phẩm nào Công ty phải tiến hành nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu thị
trường là một công việc phức tạp, đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ chuyên môn về
maketing. Do đó công việc này không thể trà trộn công việc này với bất cứ phòng
ban nào trong Công ty mà phải có bộ phận chuyên trách đảm nhận, đó là bộ phận
maketing. So với mấy năm trước đây hoạt động bán hàng của Công ty đã khá hơn
rất nhiều, song vẫn còn điểm yếu so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Đội ngũ xúc tiến thương mại, tiếp thị, hệ thống nhân viên bán hàng còn yếu về
kinh nghiệm. Công ty cần thiết lập mạng lưới trao đổi thông tin, đại lý tiêu thụ hay
văn phòng giao dịch ở nước ngoài và trong khu vực còn rất ít. Hạn chế này đã làm
ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Công ty, ảnh hưởng đến khả năng phản
ứng nhanh, khả năng xoay chuyển tình thế của Công ty. Quy luật đã chỉ ra rằng:
sản xuất cần được thực hiện tại các khu vực có lao động rẻ, có hạ tầng cơ sở tốt, và
có nguồn lao động dồi dào. Còn thương mại thì cần được tiến hành tại các khu vực
giàu có, nền kinh tế phát triển. Để giải quyết vấn đề này tự bản thân Công ty phải
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-30-
sớm xây dựng một đội ngũ bán hàng và đội ngũ tiếp thị có kỹ năng cao và thiết lập
các kênh phân phối rộng lớn. Đối với thị trường khu vực và toàn cầu cần liên kết
hợp lực với những Công ty khác trong ngành để có mặt thường trực tại các thị
trường tiềm năng nâng cao chất lượng nguồn.
1.2.5. Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên
Dù hoạt động ở lĩnh vực nào trong môi trường cạnh tranh và hội nhập đều
cần phải xác định trước là thách thức luôn đi đôi với cơ hội. Các Công ty có khả
năng cạnh tranh hay không là nhờ ở trình độ, phẩm chất và sự gắn bó của nhân
viên đối với Công ty. Chính vì con người lập ra mục tiêu, chiến lược và kế hoạch
hoạt động, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động của doanh
nghiệp. Do vậy con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng của doanh
nghiệp. Do vậy để có thể khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực Công ty
cần phải xây dựng chương trình đào tạo các bộ công viên. Cách thức đào tạo có thể
là kèm cặp trọng sản xuất, tổ chức các lớp tại Công ty hoặc có thể cho công nhân
theo học các lớp đào tạo chính quy. Bên cạnh đó để nâng cao trình độ nghiệp vụ
Công ty nên tổ chức các cuộc hội thảo trao đổi kinh nghiệm, hội thảo trao đổi kỹ
thuật, phát động phong trào thi đua sản xuất... Đó là biện pháp hữu hiệu giúp công
nhân viên trong Công ty nâng cao trình độ hiểu biết về mọi lĩnh vực. Bên cạnh đó
Công ty cần phải xây dựng nội quy, kỷ luật rõ ràng bắt buộc mọi người phải tuân
thủ đảm bảo tính kỷ luật tron khi làm việc. Mặt khác cũng phải xây dựng một chế
độ, chính sách khuyến khích về kinh tế có nghĩa là Công ty nên chú trọng khen
thưởng kịp thời, phần thưởng tài chính sẽ có tác dụng thúc đẩy hiệu lực nhất mà
các nhà quản trị hay sử dụng để quản lý nhân viên được tốt hơn.
Hiện nay trong Công ty còn tồn tại một số cán bộ lãnh đạo lâu năm và như
thế việc quản lý sẽ có thể không theo kịp sự phát triển của thời đại. Việc nâng cao
trình độ đội ngũ lãnh đạo, các nhà quản trị là một yếu tố quyết định đến việc nâng
cao khả năng cạnh tranh. Đội ngũ quản lý này tham gia vào tất cả các hoạt động
kinh doanh nên có ảnh hưởng lớn đến hiêụ quả hoạt động của Công ty. Là một nhà
quản trị phải biết khéo léo kết hợp giữa lợi ích của các thảnh viên và lợi ích chung
của Công ty. Một Công ty có đội ngũ quản ký, cán bộ giỏi chắc chắn hoạt động
kinh doanh của họ có hiệu quả hơn.
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-31-
Hơn nữa Công ty cần có kế hoạch tuyển dụng nhà quản trị có năng lực,
tuyển công nhân viên có tay nghề giỏi để thay thế những người có khả năng lao
động kém nhằm toạ ra đội ngũ lao động đủ về số lượng đảm baỏ về chất lượng
trong suốt quá trình kinh doanh. Có như vậy mới đảm bảo khả năng cạnh tranh trên
thị trường cũng như đối với các đối thủ cạnh tranh của mình. Biện pháp này được
các Công ty chú ý rất nhiều và ngày càng quan tâm hơn nữa.
1.2.6. Giảipháp về mẫu, mốt
Tập trung xây dựng đầu tư và hoàn thiện trung tâm thiết kế mẫu mốt hoàn
chỉnh hơn nữa đặc biệt coi trọng tới công tác nghiên cứu và phát triển mẫu mốt
thời trang phù hợp với nhu cầu thị hiếu của thị trương nhập khẩu và thị trường
trong nước. Khi tham gia vào thị trường may mặc thế giới Công ty phải đương đầu
với vấn đề lớn là cạnh tranh, trọng quá trình này thì giá trị thẩm mỹ của sản phẩm
được coi trọng do tác động của mẫu mốt thời trang. Nói một cách khác yếu tố mẫu
mốt thời trang tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ nhất cho sản phẩm may mặc do đó
Công ty cần phải:
+ Liên kết tinh tế và kỹ thuật chặt chẽ với các cơ sở nghiên cứu mẫu mốt để
có thể tập trung nguồn vốn trí tuệ cho việc hình thành và phát triẻn các nghiên cứu
sáng tạo mẫu mốt, đồng thời phát triển hơn nữa trung tâm mẫu mốt của Công ty.
Với thiết bị đã được trang bị trong thời gian qua. Công ty cũng cần tổ chức nguồn
tư liệu và thông tin phục vụ cho nghiên cứu sáng tác mẫu mốt một cách hệ thống
và cung cấp kịp thời để đảm bảo cho sự tiếp cận nhanh nhất
+ Chu kỳ mẫu mốt ngày càng trở nên ngắn hơn, do con người ngày càng có
nhứng ý tưởng phong phú và phức tạp hơn đòi hỏi sản phẩm cũng phải thay đổi
liên tục theo mong muốn đó. Vì vậy Công ty sẽ chỉ thành công khi thường xuyên
thay đổi mẫu mốt, tìm kiếm sáng tạo nhiều kiểu mốt với nhiều cỡ số mầu sắc, chất
liệu khác nhau. Mỗi khu vực thì lại ưu chuộng một loại mẫu mốt khác nhau. Công
ty cần phải lưu ý điều này để sản xuất và xuất khẩu cho phù hợp. Việc thay điổi
mẫu mốt đối với mặt hàng may mặc là rát dễ dàng mà không cần phải thay đổi
công nghệ, chỉ cần thay đổi nguyên vật liệu hay cách thức kiểu dáng là ta có một
sản phẩm khác về hình thức. Vì vậy Công ty nên chú ý vào khâu này nhiều hiơn
nữa
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-32-
+ Tổ chức hệ thống thông tin phản ánh kịp thời sự thay đổi nhu cầu ( mẫu,
mốt), đồng thời phát hiện nhu cầu mới trên thị trường trọng điểm. Để xây dựng hệ
thống thông tin này Công ty cần có sự liên kết, hỗ trợ của các đối tác trên thị
trường các khu vực. Đặc biệt Công ty cần đẩy mạnh sử dụng thế mạnh của công
nghệ thông tin như internet giúp thu thập, xử lý và dự báo về thị trường nhanh
chóng, chính xác.
1.2.7. Giảipháp huy động vốn
Để có thể đáp ứng được nhu cầu gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh,
để có điều kiện mua sắm thêm trang thiết bị máy móc và xây dựng thêm cơ sở hạ
tầng. Công ty rất cần có một nguồn vốn đủ lớn để có thể chi trả cho hoạt động mua
sắm này. Ngoài phần vốn tự có Công ty vẫn phải vay thêm vốn từ các ngân hàng
nhưng với lãi suất rất cao. Hạn chế này có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt
kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Công ty. Để giảm giảm bớt số tiền vay trả
lãi ngân hàng Công có thể huy động nguồn vốn vay từ Tổng công ty và có thể vay
trực tiếp từ lượng vốn nhàn rỗi của người lao động. áp dụng phương thức vay này
một mặt nó giảm được số tiền trả lãi vay cho Công ty, một mặt nó bảo đảm tính an
toàn cho người lao động, kích thích người lao động làm việc và có trách nhiệm hơn
bởi vì một phần tài sản của họ đang nằm trong Công ty, do Công ty quản lý và sử
dụng.
1.2.8. Tăng năng suất lao động
Để tăng năng suất lao động, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
Bên cạnh việc đầu tư mua sắm thêm trang thiết bị máy móc và xây dựng thêm cơ
sở hạ tầng mới thì Công ty cần chú trọng đến việc bố trí lao động cho phù hợp với
trình độ chuyên môn, khả năng đáp ứng công việc của người lao động. Hiện nay
trong Công ty số lao động nữ chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng số lao động của
toàn Công ty(75%-85%). Với sự chênh lệch này có ảnh hưởng rất lớn đến năng
suất lao động và chất lượng công việc khi người phụ nữ thực hiện chức năng làm
mẹ. Mặt khác lao động nữ chỉ đảm đương được những công việc nhẹ mà không
đảm đương được những công việc liên quan đến máy móc, kỹ thuật. Điều này có
ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của Công ty. Để
khắc phục nhược điểm này Công ty nên tuyển dụng thêm số lao động nam, sắp xếp
họ vào những vị trí chuyên trách về kỹ thuật cũng như sắp xếp thêm số lao động
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-33-
nam vào các như phòng kế toán, phòng xuất nhập khẩu, phòng thị trường của Công
ty, phòng kế hoạch bởi các phòng ban này có số lao động nữ khá lớn mà số lao
động nam thì ít. Ngoài ra Công ty cần tuyển thêm những người có trình độ đại học
và kinh nghiệm nghề nghiệp để bổ xung vào vị trí quản lý của Công ty hiện đang
còn thiếu
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-34-
Kết luận
Cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh có vai trò hết sức quan trọng
đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nói chung và đối với Công ty
may Hồ Gươm nói riêng trong giai đoạn hiện nay. Bởi nó đảm bảo cho sự tồn tại
và phát triển của Công ty trong sự sàng lọc nghiệt ngã của cạnh tranh. Không có
ý thức nâng cao khả năng cạnh tranh Công ty sẽ bị rơi vào nguy cơ tụt hậu và sẽ
bị loại ra khỏi thị trường. Do đó, đây là một vấn đề được các Công ty rất quan
tâm để nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm đạt được những mục tiêu cuối cùng
của mình là thu lợi nhuận cao nhất, chiếm lĩnh được thị trường, chiến thắng các
đối thủ cạnh tranh, khẳng định được vị trí của mình trên thị trường. Muốn đạt
được mục tiêu đó Công ty cần thực hiện nhiều biện pháp như nâng cao chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành, làm tăng uy tín của sản phẩm trên thị trường. Bên
cạnh đó cần có nhứng chính sách hỗ trợ và khuyến khích của nhà nước để tạo ra
môi trường kinh doanh ổn định và thuận lợi. Nếu thực hiện được điều này thì
chắc chắn trong tương lai không xa ản phẩm của Công ty may Hồ Gươm sẽ có
một vị thế mạnh trên cả thị trường trong nước và thế giới. Với khả năng của
một Sinh viên mới qua quá trình thực tập ngắn. Em hy vọng với các biện pháp
này dù không nhiều song phần nào là tư liệu cho việc đề ra chiến lược kinh
doanh của Công ty trong thời gian tới.
Bài tiểu luận còn nhiều sai xót, xin thầy và các bạn đóng góp ý kiến cho bài làm
hoàn thiện hơn.
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-35-
Mục Lục
Chương I: Mở đầu..........................................................................................2
Chương II..........................................................................................................3
Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu
quả hoạt động và lợi nhuận...............................................................................3
1. Lý thuyết cạnh tranh.....................................................................................3
1.1.Khái niệm cạnh tranh...............................................................................3
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh........................................3
2. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp .........................................................4
2.1.Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh.......................................5
2.1.1. Các nhân tố chủ quan........................................................................5
2.1.1.1. Khả năng về tài chính..................................................................5
2.1.1.2. Nguồn lực và vật chất kỹ thuật ....................................................5
2.1.1.3. Nguồn nhân lực...........................................................................6
2.1.2. Các nhân tố khách quan ....................................................................7
2.1.2.1. Nhà cung cấp..............................................................................7
2.1.2.2. Khách hàng.................................................................................8
2.1.2.3. Các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn ....................................8
Chương III......................................................................................................10
Thực trạng và khả năng cạnh tranh của công ty may hồ gươm .....................10
1. Đặc điểm tình hình tổ chức hoạt động kinh doanh của côngty may Hồ Gươm.
.....................................................................................................................10
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty may Hồ Gươm...............10
1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý và phân phối cấp quản lý của Công ty may Hồ
Gươm.........................................................................................................11
2. Hiệu quả hoạt động của Công ty may Hồ Gươm..........................................12
2.1. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.................12
2.2. Phân tích khả năng cạnh tranh của Công ty thông qua các yếu tố nội lực.16
2.2.1. Nguồn lực tài chính và vật chất. ......................................................16
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-36-
2.2.2. Uy tín của Công ty..........................................................................18
2.3. Lợi nhuận của công ty may mặc Hồ Gươm............................................18
2.3.1. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.........................................................18
4. Những kết luận rút ra từ việc đánh giá thực trạng của Công ty......................20
4.1. Những thành tựu đã đạt được. ..............................................................20
4.2. Những mặt còn tồn tại...........................................................................21
Chương IV......................................................................................................24
Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sảnphẩm của công ty
may Hồ Gươm.................................................................................................24
1 . Xu hướng phát triển của ngành dệt may việt nam nói chung và của công ty
may hồ gươm nói riêng ..................................................................................24
1.1. Phương hướng phát triển của Công ty may Hồ Gươm. ...........................24
1.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty. ........25
1.2.1.Nâng cao chất lượng sản phẩm.........................................................26
1.2.2 Chính sách giá hợp lý.......................................................................27
1.2.3. Phát triển các kênh phân phối sản phẩm của Công ty........................28
1.2.4. Nâng cao hoạt động Maketing ........................................................29
1.2.5. Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên.............................30
1.2.6. Giải pháp về mẫu, mốt....................................................................31
1.2.7. Giải pháp huy động vốn..................................................................32
1.2.8. Tăng năng suất lao động..................................................................32
Kết luận.......................................................................................................... 34
Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi
-37-

THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP KHU CHẾ XUẤT Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI (TẢI FREE ZALO: 0934 573 149)

  • 1.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -1- Bộ Công Thương Trường Đại Học Công Nghiệp Tp Hồ Chí Minh Khoa Quản Trị Kinh Doanh  Tiểu Luận Môn: Kinh Tế Vi Mô Đề tài: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả hoạt động và lợi nhuận của Công ty may Hồ Gươm GVHD: Bùi Huy Khôi Nhóm: 1. Trần Xuân Mẫn 2. Nguyễn Thị Như Ý 3. Huỳnh Thị Như Hảo 4. Nguyễn Anh Tùng 5. Nguyễn Thị Ngọc Huyền 6. Mai Thị Đào TP HỒ CHÍ MINH,THÁNG 1 NĂM 2013
  • 2.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -2- Chương I: Mở đầu Bước vào thế kỷ 21- kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn nhưng cũng nhiều thách thức, xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế đang là một vấn đề diễn ra sôi động và cấp bách. Trước xu hướng đó, đối với nền kinh tế Việt Nam ngành dệt may được coi là một trong những ngành rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ của ngành là góp phần thực hiện đường lối của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nước, đảm bảo nhu cầu toàn xã hội đang không ngừng tăng lên về mọi mặt, không ngừng tăng cường sản xuất, xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động- vấn đề mà toàn xã hội đang quan tâm. Việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, cùng xu thế mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới. Công ty may Hồ Gươm là một doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá trực thuộc Tổng Công ty mayViệt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn lao trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển đòi hỏi Công ty phải xác định được cho mình những phương thức hoạt động, những chính sách, những chiến lược cạnh tranh đúng đắn Nhận thức được tầm quan trọng của xu thế hội nhập và cạnh tranh cũng như mong muốn được đóng góp những ý kiến để Công ty may Hộ Gươm đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Nên nhóm chúng em quyết định lựa chọn đề tài “Giảipháp nâng caokhả năng cạnhtranh,hiệu quả hoạt động và lợi nhuận của Công ty may Hồ Gươm” để làm đề tài tiểu luận. Tiểu luận dùng phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê và so sánh là chủ yếu. Vì thế, việc vận dụng phương pháp này sẽ mang tính trung thực và khách quan hơn. Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, tiểu luận được kết cấu gồm 3 chương: Chương II: Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao năng lực canh tranh,hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận. Chương III: Thực trạng và khả năng cạnh tranh của Công ty may Hồ Gươm Chương IV: Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty may HồGươm.
  • 3.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -3- Chương II Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả hoạt động và lợi nhuận. 1. Lý thuyết cạnh tranh 1.1.Kháiniệm cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh . Môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lúc này đầy sự biến động và vấn đề cạnh tranh đã trở nên cấp bách, sôi động trên cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trong bất cứ một lĩnh vực nào, bất cứ một hoạt động nào của con người cũng nổi cộm lên vấn đề cạnh tranh. Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất đó là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận. Các doanh nghiệp thương mại cần nhận thức đúng đắn về canh tranh để một mặt chấp nhận canh tranh theo khía cạnh tích cực để từ đó phát huy yếu tố nội lực nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, mặt khác tranhd tình trạng cạnh tranh bất hợp lý dẫn đến làm tổn hại đến lợi ích cộng đồng cũng như làm suy yếu chính mình. 1.2. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh. Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. ở đâu có nền kinh tế thị trường thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh. Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh. Trong giai đoạn hiện nay do tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều.Con người không chỉ cần có nhu cầu “ăn chắc mặc bền” như trước kia mà còn cần “ăn ngon mặc đẹp”. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó,
  • 4.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -4- doanh nghiệp phải không ngừng điều tra nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp nào bắt kịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Chính vì vậy cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp cho doanh nghiệp: - Tồn tại và đứng vững trên thị trường: Cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng nhất. Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trong nền kinh tế thị trường hiện nay. - Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển Muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng. Các doanh nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng như sản xuất ra nhiều loại hàng hoá có chất lượng cao, giá cả phù hợp với chất lượng sản phẩm, phù hợp với mức thu nhập của từng đối tượng khách hàng. Có như vậy hàng hoá của doanh nghiệp bán ra mới ngày một nhiều, tạo được lòng tin đối với khách hàng. Muốn tồn tại và phát triển được thì doanh nghiệp cần phải phát huy hết ưu thế của mình, tạo ra những điểm khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh từ đó doanh nghiệp mới có khả năng tồn tại, phát triển và thu được lợi nhuận cao. - Doanh nghiệp phải cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu Để đạt được các mục tiêu doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới bằng mọi giá tìm ra phương cách, biện pháp tối ưu để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng cao hơn, cung ứng những dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thỏa mãn nhu cầu khách hàng ngày càng tăng. Chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển. 2. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay đổi, thay thế những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội bằng các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội,
  • 5.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -5- thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển. Tuy nhiên để cạnh tranh được và cạnh tranh một cách lành mạnh không phải là dễ bởi nó phụ thuộc vào tiềm năng, lợi thế và nhiều yếu tố khác của doanh nghiệp hay một quốc gia, đó chính là khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia, hay một ngành, một công ty xí nghiệp. 2.1.Cácnhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh 2.1.1. Các nhân tố chủ quan Các nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc yếu tố bên trong doanh nghiệp. Các yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Công ty. Bởi vậy mà nó được coi là các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của Công ty. 2.1.1.1. Khả năng về tài chính. Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Bất cứ hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xem xét tính toán đến tiềm lực tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tiềm lực lớn về tài chính sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư, trong mua sắm đổi mới công nghệ và máy móc cũng như có điều kiện để đào tạo và đãi ngộ nhân sự. Những thuận lợi đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được trình độ chuyên môn tay nghề cho cán bộ, nhân viên, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí để nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nghiệp nào yếu kém về tài chính sẽ không có điều kiện để mua sắm, trang trải nợ và như vậy sẽ không tạo được uy tín về khả năng thanh toán và khả năng đáp ứng những sản phẩm có chất lượng cao đối với khách hàng. Làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không tiến triển được và có nguy cơ bị thụt lùi hoặc phá sản. Như vậy khả năng tài chính là yếu tố quan trọng đầu tiên để doanh nghiệp hình thành và phát triển. 2.1.1.2. Nguồnlực và vật chấtkỹ thuật Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp đối với thủ cạnh tranh về trang thiết bị hiện có được tận dụng và khai thác trong quá trình hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Bởi vì: Trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thì các sản phẩm của doanh nghiệp nhất định sẽ được
  • 6.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -6- bảo toàn về chất lượng khi đến tay người tiêu dùng. Có hệ thống máy móc hiện đại sẽ thúc đẩy nhanh qua trình tiêu thụ hàng hoá, tăng nhanh vòng quay về vốn, giảm bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng hoá có được bảo đảm hay không. Nếu xét về công nghệ máy móc có ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm và như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá bán của doanh nghiệp thương mại. Ngày nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cuộc chiến giữa các doanh nghiệp đang trở thành cuộc cạnh tranh về trí tuệ, về trình độ công nghệ. Công nghệ tiên tiến không những đảm bảo năng suất lao động, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ mà còn có thể xác lập tiêu chuẩn mới cho từng ngành sản xuất kỹ thuật. Mặt khác khi mà việc bảo vệ môi trường như hiện nay đang trở thành một vấn đề của toàn cầu thì doanh nghiệp nào có trình độ công nghệ cao thiết bị máy móc nhất định sẽ dành được ưu thế trong cạnhh tranh. 2.1.1.3. Nguồnnhân lực. Con người là yếu tố quyết điịnh mọi thành bại của hoạt động kinh doanh. Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con người phát triển nhân sự, xây dụng môi trường văn hoá và có nề nếp, tổ chức của doanh nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bản như số lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập bình quân. năng lực của cán bộ quản lý. Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị cao nhất của doanh nghiệp. Bởi chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến để sáng tạo ra sản phẩm, chỉ có con người mới biết và khơi dậy được nhu cầu con người, chỉ có con người mới tạo được uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp mà tất những yếu tố này hình thành nên khả năng cạnh tranh. Vậy muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình doanh nghiệp phải chú ý quan tâm đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp, từ những người lao động bậc thấp đến nhà quản trị cấp cao nhất, bởi mỗi người đều có một vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Những người lãnh đạo chính là những người cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là những người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp, là những người có quyền lực cao nhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất. Họ chính là những người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp, còn thực hiện quyết định của họ là những nhân viên dưới quyền.
  • 7.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -7- Trong bất cứ một doanh nghiệp nào chỉ mới có nhà lãnh đạo giỏi vẫn chưa đủ, vẫn chỉ mới có người ra quyết định mà chưa có người thực hiện những quyết định đó. Bên cạnh đó phải có một đội ngũ nhân viên giỏi cả về trình độ và tay nghề, có óc sáng tạo có trách nhiệm và có ý thức trong công việc. Có như vậy họ mới có thể đưa ra những sản phẩm có chất lượng tốt mang tính cạnh tranh cao. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước kia ban lãnh đạo có thể họ không có trình độ chuyên môn cao chỉ cần họ có thâm niên công tác lâu năm trong nghề là họ yên trí đứng ở vị trí lãnh đạo, và đội ngũ nhân viên không cần giỏi về chuyên môn, tay nghề, vẫn có thể tồn tại lâu dài trong doanh nghiệp. Ngày nay với quy luật đào của nền kinh tế thị trường nếu như nếu ban lãnh đạo không có đủ trình độ chuyên môn cao, không có năng lực lãnh đạo thì trước sau họ cũng sẽ bị đào thải, sẽ phải rời khỏi vị trí mà họ đang nắm giữ. Như vậy để có năng lực cạnh tranh thì những người trong doanh nghiệp đó phải có ý thức và trách nhiệm và nghĩa vụ về công việc của mình. Muốn vậy khâu tuyển dụng đào tạo và đại nghộ nhân sự là vấn đề quan trọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. 2.1.2. Các nhân tố kháchquan Là hệ thống toàn bộ các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp, có liên quan và ảnh hưởng đến quá trình tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp. Các yếu tố khách quan bao gồm: 2.1.2.1. Nhà cung cấp Nhà cung cấp đối với doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng, nó đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành ổn định theo kế hoạch đã định trước. Trên thực tế nhà cung cấp thường được phân thành ba loại chủ yếu: loại cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu, loại cung cấp nhân công, loại cung cấp tiền và các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm. Như vậy mỗi doanh nghiệp cùng một lúc có quan hệ với nhiều nguồn cung cấp thuộc cả ba loại trên. Vấn đề đặt ra là yêu cầu của việc cung cấp phải đầy đủ về số lượng, kịp thời về thời gian, đảm bảo về chất lượng và ổn định về giá cả. Mỗi sự sai lệch trong quan hệ với nhà cung cấp đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, điều đó sẽ làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
  • 8.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -8- 2.1.2.2. Kháchhàng Khách hàng là những người đang mua và sẽ mua hàng của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp khách hàng là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tính chất quyết của khách hàng thể hiện ở các mặt sau: Khách hàng quyết định hàng hoá của doanh nghiệp được bán theo giá nào? Trên thực tế doanh nghiệp chỉ có thể bán với giá mà người tiêu dùng chấp nhận Khách hàng quyết định doanh nghiệp bán sản phẩm như thế nào? Phương thức bán hàng và phương thức phục vụ khách hàng do khách hàng lựa chọn, vì trong nền kinh tế thị trường người mua có quyền lưạ chọn theo ý thích của mình và đồng quyết định phương thức phục của người bán. Điều này cho thấy tính chất quyết định của khách hàng làm cho thị trường chuyển từ thị trường người bán sang thị trường người mua, khách hàng trở thành thượng đế. Do vậy doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu tố khách hàng, khách hàng có thể ganh đua với doanh nghiệp bằng cách yêu cầu chất lượng sản phẩm cao hơn, hoặc ép giảm giá xuống, mặt khác khách hàng còn làm cho các đối thủ cạnh tranh chống chọi lại nhau và dẫn đến làm tổn hao đến làm tổn hao đến lợi nhuận của doanh nghiệp . Nhóm khách hàng thường gây áp lực với doanh nghiệp là những nhóm khách hàng tập trung và mua với khối lượng lớn. Nhóm khách hàng mua đúng tiêu chuẩn phổ biến và không có gì khác biệt vì họ có thể tìm được nhà cung cấp khác một cách dễ dàng hoặc nhóm khách có đầy dủ thông tin về sản phẩm , giá cả thị trường, giá thành của nhà cung cấp. Điều này đem lại cho khách một lợi thế mạnh hơn trong cuộc mặc cả so với trường hợp họ chỉ có ít thông tin. 2.1.2.3. Các đốithủ cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt các đối thủ cạnh tranh. Vấn đề quan trọng ở đây là không được coi thường bất kỳ đối thủ nào, nhưng cũng không nên coi đối thủ là kẻ địch. Cách xử lý khôn ngoan nhất không phải là hướng mũi nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại vừa phải xác định, điều khiển và hoà giải, lại vừa phải hướng suy nghĩ và sự quan tâm của mình vào khách hàng có nghĩa là
  • 9.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -9- mình đã thành công một phần trong cạnh tranh. Mặt khác cũng nên quan tâm tới việc dự đoán trong tương lai và định hướng tới khách hàng. Trên thực tế cho thấy cạnh tranh có thể diễn ra trên nhiều mặt khác nhau nhưng có thể nói cạnh tranh với nhau chủ yếu là khách hàng. Vì thế, trong cạnh tranh người được lợi nhất là khách hàng, nhờ có cạnh tranh mà khách hàng được tôn vinh là thượng đế. Để có và giữ được khách hàng, doanh nghiệp cần phải tìm cách sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đẹp hơn và rẻ hơn, không những thế còn phải chiều lòng khách hàng lôi kéo khác hàng bằng cách hoạt động quảng cáo khuyến mãi và tiếp thị. Có thể nói rằng khi doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác mới bắt đầu bước chân vào thị trường thì họ là những đồng nghiệp, những đối tác để gây dựng thị trường, để hình thành nên một khu vực cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng. Nhưng khi có người khách hàng đầu tiên bước vào khu vực thị trường này, thì họ sẽ trở thành đối thủ của nhau, họ tìm mọi cách để lôi kéo khách hàng về phía mình Nếu ở trong một thị trường kinh doanh nhất định, doanh nghiệp vượt trội lên các đối thủ về chất lượng sản phẩm, về giá cả và chất lượng phục vụ thì doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh và sẽ có điều kiện để tiến xa hơn so với các đối thủ
  • 10.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -10- Chương III Thực trạng và khả năng cạnh tranh của công ty may hồ gươm 1. Đặc điểm tình hình tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty may Hồ Gư- ơm. Tên giao dịch: Công ty may Hồ Gươm. Tên giao dịch: HoGuom garment Company. Tên viết tắt : HOGACO. Trụ sở : 7B - Tương Mai - Trương Định - Hai Bà Trưng - Hà Nội. 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty may Hồ Gươm. Công ty may Hồ Gươm là một công ty thuộc liên hiệp sản xuất và xuất khẩu may “confectiex”, trực thuộc Tổng Công ty may Việt Nam. Công ty may Hồ Gư- ơm được thành lập theo quyết định số 147 QĐ-TCLĐ ngày 25/ 11/ 1995 của Tổng Công ty may Việt Nam. Thực ra Công ty đã trải qua một quá trình phát triển khá nhanh với tiền thân là “xưởng may 2” của xí nghiệp sản xuất và dịch vụ may. Sau một thời gian hoạt động có hiệu quả và được sự cho phép của Tổng Công ty dệt may Việt Nam. Xưởng may 2 được tách ra thành một đơn vị kinh doanh độc lập và chịu sự quản lý của Tổng Công ty dệt may Việt Nam. Ban đầu khi mới thành lập Công ty có tên là “Xí nghiệp may thời trang Trương Định”, trong những ngày đầu thành lập, xí nghiệp đã gặp không ít những khó khăn với 264 cán bộ công nhân viên được phân bổ cho hai phân xưởng sản xuất và 4 phòng ban nghiệp vụ. Số cán bộ tốt nghiệp đại học và có trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn rất ít, số công nhân có tay nghề cao không nhiều, Do đó Công ty phải cử người đi học và mở các lớp đào tạo tay nghề cho nhân công mới được tuyển dụng . Về cơ sở vật chất hầu hết thiết bị máy móc của Công ty đều đã lạc hậu cũ kỹ, tổng diện tích sử dụng ban đầu là 1280 m2 trên diện tích mặt bằng đất đai 535m gồm hai đơn nguyên nhà. Nhà hai tầng và nhà ba tầng, hệ thống kho tàng thiếu thốn chật hẹp .
  • 11.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -11- Tuy vậy với sự nỗ lực của tập thể công nhân viên và đường lối lãnh đạo đúng đắn của ban giám đốc Công ty, chỉ sau một thời gian ngắn Công ty không những đã vượt qua những khó khăn mà còn thu được những thành quả đáng kể. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm tăng trưởng bình quân trên 30% năm thu nhập bình quân ngời lao động tăng 5% năm. Sản phẩm của Công ty xuất khẩu có uy tín không chỉ trên thị trường trong n- ước mà còn ở thị trường nước ngoài. Với chính sách thực hiện đổi mới công nghệ, hiện đại hoá cơ sở vật chất, kỹ thuật Công ty đảm bảo cung ứng một cách đẩy đủ, kịp thời nhanh chóng cho mọi khách hàng theo đúng chủng loại, yêu cầu với chất lượng tốt, số lượng chính xác, giá cả hợp lý. Mặt khác do quản lý mạng lới phân phối, cộng được sự tín nhiệm của khách hàng, nên mấy năm gần đây Công ty đã chiếm được thị trường lớn. 1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý và phân phối cấp quản lý của Công ty may Hồ Gươm Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức quản lý ở Công ty may Hồ Gươm Để phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới với ngành nghề kinh doanh và số lượng công nhân viên trong Công ty, bộ máy của Công ty được tổ chức khá đơn giản nhưng đầy đủ các phòng ban cần thiết để đảm bảo thực hiện tốt chiến lược và kế hoạch kinh doanh của mình. Công ty may Hồ Gươm là Công ty hạch toán kinh Phòng kế toán tài vụ Giám Đốc Công Ty Phó Giám Đốc công ty Phòng kế hoạch Phòng thị trường KD Phòng kĩ thuật KCS Phòng tổ chức hành chính Phòng bảo vệ
  • 12.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -12- doanh độc lập, trực thuộc Tổng công ty Dệt may Việt Nam, được tổ chức theo mô hình trực tuyến tham mưu: trên là Giám đốc, dưới là các phòng ban chức năng. 2. Hiệu quả hoạtđộng của Công ty may Hồ Gươm. 2.1. Phân tích kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Biểu 1: Phân tích kết quả hoạtđộng kinh doanh của công ty trong 3 năm (2010 - 2012) Đơn vị: Triệu(VNĐ) Stt Các chỉ tiêu Thực hiện 2011/2010 2012/2011 2010 2011 2012 CL TL(%) CL TL(%) 1 Tổng doanh thu 18733 20817 24047 2084 11,12 3230 15,5 2 Doanh thu xuất khẩu 17301 18661 22334 1360 7,86 3673 19,68 3 Các khoản giảm trừ 27 32 36 5 18,5 4 12,5 - Giảm giá hàng bán 27 32 36 5 18,5 4 12,5 4 Doanh thu thuần 18706 20785 24011 2079 11,11 3226 15,5 5 Giá vốn hàng bán 14235 16176 17740 1941 13 1564 9,7 Chi phí sản xuất 2968 3131 3315 163 5,5 184 5,8 6 Chi phí kinh doanh 2740 2866 3009 126 4,6 143 4,98 - Chi phí bán hàng 1590 1678 1775 88 5,58 97 5,78 - Chi phí quản lý 1160 1188 1234 28 2,42 46 3,87 7 Lợi nhuận sau thuế 490 548 646 58 12 98 17,8 8 Tổng nguồn vốn 37678 38862 40896 1184 3,14 2034 5,2 9 TSLN/Điện tử Viễn thông Quân dội(%) 2,62 2,64 2,68 0,02 0,04 10 TSLN/NV(%) 1,3 1,4 1,58 0,1 0,18 11 TSCF/Điện tử Viễn thông Quân dội(%) 14,65 13,8 12,53 - 0,85 -1,27 12 Nộp ngân sách 77 83 91 6 7,79 8 9,63 13 Thu nhập bình quân 750 870 1020 120 16 150 17 (Nguồn:Từ bảng thuyết minh báo cáo tài chính 3 năm (2010-2012) của Công ty may Hồ Gươm)
  • 13.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -13- Qua số liệu tính toán ở biểu 1 ta thấy kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty tăng dần qua các năm. Tổng doanh thu năm 2011 tăng 2084(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 11,12% so với năm 2010, tổng doanh thu năm 2012 tăng 3230(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 15,5% so với năm 2011. Do đặc thù của Công ty là các mặt hàng may mặc chủ yếu xuất khẩu ra nước ngoài. Do vậy doanh thu xuất khẩu chiếm tỷ lệ trọng rất cao trong tổng doanh thu. Cụ thể doanh thu hàng xuất khẩu năm 2011 tăng 1360 (tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 7,86% so với năm 2010 và doanh thu xuất khẩu năm 2012 tăng 3673 (tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 19,68% so với năm 2011. Công ty đã thực hiện tốt kế hoạch tiêu thụ hàng hoá, tăng sản lượng bán ra qua mỗi năm bằng cách cải tiến sản phẩm, sản xuất ra nhiều loại hàng hoá với sự phong phú về mẫu mã chủng loại, đáp ứng nhu cầu đa dạng, phù hợp với khả năng thanh toán của những khách hàng có mức thu nhập cao, những khách hàng có mức thu nhập trung bình và những khách hàng bình dân. Tuy nhiên vẫn có một số hàng hoá còn tồn kho do số hàng này một phần là hàng lỗi mốt, hàng kém phẩm chất và hàng bán ra không đúng thời vụ. Công ty đã thực hiện chính sách giảm giá nhằm tăng lượng khách hàng mua đồng thời giải phóng những mặt hàng còn tồn đọng, tránh tình trạng để lượng hàng tồn từ năm này qua năm khác. Các khoản giảm trừ chủ yếu là khoản giảm giá hàng bán, không có hàng bán bị trả lại và không có thuế tiêu thụ đặc biệt. Năm 2011 giảm giá hàng bán tăng 5 (tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 18,5% so với năm 2010, năm 2012 giảm giá hàng bán tăng 4 (tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 12,5% so với năm 2011. Mức tăng đã giảm so với tỷ lệ tăng năm 2011. Tổng doanh thu sau khi trừ đi khoản giảm giá hàng bán, phần còn lại là doanh thu thuần. Doanh thu thuần năm 2011 tăng 2079 (tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 11,11% so với năm 2010,năm 2012 tăng 3226(tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 15,5% so với năm 2011. Sự phản ánh doanh thu thuần của Công ty trong 3 năm vừa qua cho thấy tình hình hoạt động kinh doanh rất khả quan, doanh thu của Công ty tăng lên chủ yếu do tăng sản lượng bán ra qua mỗi năm. - Chi phí: Chi phí kinh doanh năm 2011 tăng 126(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 4,6% so với năm 2010 và năm 2012 tăng 143 (tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 4,98%.Trong đó chi phí bán hàng năm 2011 tăng 88(tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 5,58% so với năm 2010 và năm 2012 tăng 97(tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 5,78% so với năm 2011. Chi phí quản lý năm 2011 tăng 28(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 2,42% so với năm 2010 năm 2012 tăng 46(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 3,87% so với năm 2011.
  • 14.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -14- Mặc dù Công ty đã lập ra kế hoạch mua hàng từ nhiều nhà cung cấp để dủ về số lượng và đúng thời gian yêu cầu của sản xuất và tiêu thụ, nhưng giá vốn hàng bán cũng tăng dần qua các năm, giá vốn hàng bán năm 2011 so với năm 2010 tăng 1851(tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 13%, năm 2012 so với năm 2011 tăng 1564(tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 9,7%. Như vậy tốc độ tăng giá vốn hàng bán của năm 2012 thấp hơn tốc dộ tăng giá vốn hàng bán của năm 2011. Giá vốn hàng bán tăng đây là một biểu hiện tốt khi giá vốn tăng lên đồng thời số lượng mua nguyên vật liệu đầu vào của Công ty cũng tăng lên để đáp ứng cho nhu cầu tăng lên của sản xuất và tiêu thụ . Một mặt nó biểu hiện là không tốt khi giá vốn hàng bán tăng lên nhưng số lượng nguyên vật liệu đầu vào của Công ty cũng không thay đổi, trong trường hợp này một phần giá vốn tăng lên là do khan hiếm nguyên vật liệu đầu vào nên số nhà cung ứng nâng giá, và một phần giá vốn tăng lên là do một số nhà cung ứng đã không giao hàng đúng thời gian ký kết trong hợp đồng , do sự chậm trễ này Công ty đã phải chuyển mua nguyên vật liệu đầu vào ở một số nhà cung ứng khác với mức giá cao hơn để đáp ứng kịp thời cho nhu cầu sản xuất và bán ra cho đúng thời vụ. - Thu nhập bình quân: Do doanh thu tăng, lợi nhuận tăng nên mức thu nhập bình quân của người lao động cũng tăng dần qua các năm, biểu hiện năm 2011 so với năm 2010 mức lương bình quân tăng 120.000(đ) tương ứng tỷ lệ tăng 16%, năm 2012 so với năm 2011 mức lương bình quân tăng 150.000(đ ) tương ứng tỷ lệ tăn 17%. Điều đó chứng tỏ rằng Công ty đang từng ngày phát triển, đời sống của người lao động được nâng cao, được ban lãnh đạo Công ty quan tâm một cách đúng mức thông qua việc khuyến khích bằng tinh thần và vật chất những nhân viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có nhiều sáng tạo trong công việc v.v. Bên cạnh việc khích lệ là kỷ luật nghiêm minh những nhân viên không tuân theo quy chế làm việc của Công ty hoặc có thái độ không tốt làm hư hại đến tài sản của Công ty v.v. Qua kết quả phân tích trên ta thấy rằng tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty được đánh gía là tốt bởi doanh thu và lợi nhuận đều tăng lên qua các năm và tốc độ tăng của lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu. Tuy nhiên cần xem xét ở mặt không tốt của giá vốn hàng hoá tăng lên. Để phát huy tốt hơn nữa Công tác này Công ty cần phải tìm hiểu kỹ nguồn hàng mua và giá trên thị trường, nên
  • 15.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -15- có quan hệ tốt với nhiều bạn hàng trong số đó tìm ra cho mình một bạn hàng chính, bạn hàng truyền thống để phân tán rủi ro, tránh tình trạng hàng mua bị thiếu, bạn hàng không thực hiện đúng theo quy định trong hợp đồng hoặc bị bạn hàng ép giá. Những kết quả mà Công ty đã đạt được điều đó chứng tỏ rằng khả năng cạnh tranh của Công ty ngày càng được nâng cao. Đó là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng của cả Công ty từ ban lãnh đạo của Công ty đến bộ phận sản xuất, đến bộ phận bán hàng. Tuy nhiên nguyên nhân sâu xa dẫn đến kết quả đó là do sản phẩm của Công ty sản xuất ngày càng có chất lượng tốt hơn. Kết quả này đạt được là một thành tích của một quá trình cạnh tranh gay gắt, nhằm lôi kéo được khách hàng về phía mình đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hoá. Doanh thu của Công ty tăng chủ yếu là do sản lượng tiêu thụ hàng hoá tăng lên chứ không phải do tăng giá. Do vậy một phần nào đó có thể khẳng định rằng khả lực cạnh tranh của Công ty đã được nâng cao hơn so với các năm trước. Biểu 2: Biểu phân tích kết quả tiêu thụ hàng hoá của Công ty trong 3 năm (2010 2012) Đơn vị: sản phẩm Stt Tên sản phẩm Thực hiện 2011/2010 2012/2011 2010 2011 2012 CL TL (%) Chất lượng TL (%) 1 Tổng SP tiêu thụ 710857 807022 925891 96165 13 118869 14 2 Quần áo trẻ em 150485 182989 223978 32504 21,6 40989 22,4 3 Quần bò, quần âu 80485 95375 113687 14890 18,5 18312 19,2 4 Aó sơ mi các loại 81128 91561 104361 10433 12,86 12800 13,9 5 Aó nỷ 6966 7237 7468 271 3,9 231 3,2 6 Ao dệt kim 51186 53950 57510 2764 5,4 3560 6,6 7 Quần sooc 10197 10778 11457 581 5,7 679 6,3 8 áo jacket các loại 82622 89231 96547 6609 8 7316 7,7 9 áo gile các 5794 7416 7646 1622 2,8 230 3,1 10 Bộ thể thao 1513 1552 1603 39 2,6 51 3,3 11 Quần áo các loại 240481 266933 301634 26452 11 34701 13 (Nguồn: Số liệu lấy từ phòng kinh doanh của Công ty may Hồ Gươm)
  • 16.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -16- Qua số liệu tính ở biểu 2 ta thấy sản lượng trên tiêu thụ của Công ty không ngừng tăng lên qua các năm, hầu hết các sản phẩm của Công ty đều tăng, đặc biệt là mặt hàng áo sơ mi, quần âu, quần áo của trẻ em, các sản phẩm dệt kim. Điều này chứng tỏ năng suất lao động của công ty tăng lên qua các năm, và doanh nghiệp đã luôn chủ động tìm kiếm, khai thác và mở rộng thị trường thúc đẩy hoạt động tiêu thụ tăng dần qua mỗi năm. 2.2. Phân tích khả năng cạnh tranh của Công ty thông qua các yếu tố nội lực. 2.2.1. Nguồnlực tài chính và vật chất. Một doanh nghiệp muốn thành lập Công ty thì yếu tố đầu tiên mà doanh nghiệp cần phải có đó là nguồn lực tài chính. Do vậy nguồn lực tài chính là điều kiện trên quyết cho bất kỳ một doanh nghiệp nào, vốn chính là tiền đề vật chất để thành lập Công ty, để Công ty có thể tồn tại và phát triển. Thiếu vốn hoặc không có vốn sẽ là chiếc gọng kìm chặn mọi đường tiến, khiến cho doanh nghiệp rơi vào vòng luân quẩn cuả cái cũ, cái nghèo nàn. Trong công cuộc cạnh tranh gay gắt và khốc liệt của nền kinh tế thị trường vốn đóng một vai trò rất quan trọng trong mỗi bước tiến của doanh nghiệp. Nguồn lực tài chính của Công ty thể hiện sức sống, tình trạng sức khoẻ của Công ty. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào quy mô và đặc điểm kinh doanh mà nhu cầu vốn của mỗi doanh nghiệp là khác nhau cũng như việc phân bổ vốn là khác nhau. Công ty may Hồ Gươm trước đây là Công ty nhà nước trực thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam, được nhà nước cấp hoàn toàn nguồn vốn kinh doanh. Cách đây một năm theo quyết định của Hội đồng quản trị Tổng công ty dệt may Việt Nam, Công ty may Hồ Gươm đã chuyển sang thành Công ty cổ phần may Hồ Gươm. Nguồn vốn của Công ty bây giờ một phần nhỏ là vốn của nhà nước cấp để khuyến khích nghành may phát triển, phần lớn còn lại là vốn góp của các Cổ đông.
  • 17.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -17- Biểu 3: Tình hình nguồn vốn kinh doanh của Công ty (2010-2012) Đơn vị: Triệu (VNĐ) Các chỉ tiêu Thực hiện 2011/2010 2012/2011 2010 2011 2012 CL TL (%) CL TL (%) Tổng giá trị tài sản 37678 38862 40896 1184 3,14 2034 5,2 - Giá trị TSCĐ 18421 19536 20756 1112 6,04 1220 6,25 - Giá trị TSLĐ 19254 19326 20140 72 0,38 814 4,21 Tổng nguồn vốn 37678 38862 40896 1184 3,14 2034 5,2 - Nguồn vốn cấp 4370 4770 5270 400 9,15 500 10,48 - Nguồn vốn bổ sung 33308 34092 35626 784 2,35 1534 4,5 (Nguồn: Số liệu lấy từ phòng kế toán của Công ty may Hồ Gươm) Qua số liệu tính ở biểu 3 ta thấy tổng giá trị tài sản hay nguồn vốn của Công ty đều tăng dần qua các năm. Cụ thể năm 2011 giá trị tổng tài sản tăng1184(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 3,14% so với năm 2010, năm 2012 tăng 2034(tr) tương ứng với tỷ lệ tăng 5,2% so với năm 2011. Trong đó giá trị tài sản cố định chiếm tỷ trọng trên 50% tổng giá trị tài sản và năm 2011 gía trị tài sản cố định tăng 1112(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 6,04% so với năm 2011, năm 2012 tăng 1220(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 6,25% so với năm 2011. Giá trị tài sản lưu động chiếm tỷ trọng dưới 50% trong tổng giá trị tài sản, năm 2011 giá trị tài sản lưu động tăng 72(tr) tương ứng tỷ lệ tăng 0,38% so với năm 2010, năm 2012 tăng 814 (tr) tương ứng tỷ lệ tăng 4,21%. Qua số liệu trên ta thấy rằng tốc độ tăng của tài sản cố định lớn hơn tốc độ tăng trưởng của tài sản lưu động trong 3 năm vừa qua. Điều này chứng tỏ Công ty đã đầu tư nhiều hơn, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc mới, nâng cấp và sửa chữa lại một số máy móc cũ, nâng cấp và cải thiện cơ sở hạ tầng, phân xưởng. Gíá trị tài sản lưu động cũng tăng lên điều đó chứng tỏ vốn bằng tiền vốn hàng hoá, vốn dự trữ và vốn trong khâu lưu thông của Công ty đều lên qua các năm. Trong 3 năm vừa qua tốc độ vốn lưu động tăng lên chủ yếu là do vốn hàng hoá và vốn dự trữ tăng lên.
  • 18.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -18- Trên phương diện là một Công ty nhà nước đã được cổ phần hoá vừa thực hiện chức năng sản xuất, vừa thực hiện chức năng thương mại. Do vậy giá trị tài sản lưu động và giá trị tài sản cố định chiếm tỷ trọng gần bằng nhau trong tổng giá trị tài sản cũng là một sự phân bổ hợp lý. 2.2.2. Uy tín của Công ty Với thâm niên hoạt động kinh doanh chưa dài nhưng Công ty may Hồ Gươm đã tạo được uy tín đối với các bạn hàng quốc tế như Nhật, Mỹ, Singapo...Sự tín nhiệm đó được biểu hiện thông qua các hợp đồng xuất khẩu may mặc tăng lên qua các năm và mở rộng hoạt động kinh doanh ra nhiều khu vực thị trường mới và nhiều tiềm năng như EU, Bắc mỹ. Trước đây hoạt động xuất khẩu của Công ty chủ yếu theo hình thức gia công, bán sản phẩm nhờ vào nhãn mác của các nước có tên tuổi, có tiềm lực kinh tế mạnh và nhiều lợi thế. Nhưng hiện nay Công ty đã chuyển sang xuất khẩu phẩm trực tiếp do vậy mà nhãn hiệu sản phẩm của cũng như uy tín của Công ty đã đi vào tiềm thức của người tiêu dùng. Có được thành quả này là nhờ vào những chiến lược, những quyết định sáng suốt của ban lãnh đạo chủ chốt trong Công ty. Trên cơ sở khai thác lợi thế của mình Công ty may Hồ Gươm đã chuyển từ phương thức xuất khẩu gia công sang hình thức xuất khẩu trực tiếp. Đó là một thành quả lớn của Công ty may Hồ Gươm nói riêng và của ngành Dệt may nói chung. 2.3. Lợi nhuận của công ty may mặc Hồ Gươm 2.3.1. Lợinhuận và tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận là phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi tất cả các khoản chi phí chi dùng vào các hoạt động kinh doanh của Công ty. Bởi vậy nó được coi là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty. Tuy nhiên lợi nhuận không những là thu nhập mặc nhiên của vốn đầu tư, mà còn là phần thưởng cho những ai giám chấp nhận rủi ro và mạo hiểm, cho những ai giám đổi mới và giám chịu trách nhiệm về sự đổi mới của mình. Mặt khác trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận góp phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả, đồng thời nó là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty. Nếu lợi nhuận cao thì khả năng cạnh tranh cao, năng lực cạnh tranh càng mạnh và ngược lại. Để đánh giá và xem xét năng lực cạnh tranh giữa Công ty may Hồ Gươm và các đối thủ cạnh tranh ta cần phải dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chứ không phải lợi nhuận từ hoạt dộng tài chính và bất thường.
  • 19.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -19- Biểu 9: Tình hình lợi nhuận của Công ty và các Công ty khác Đơn vị: Triệu (VNĐ) Tên công ty Thực hiện 2011/2010 2012/2011 2010 2011 2012 CL TL CL TL Công ty may Hồ Gươm 490 553 653 63 12,85 100 18,1 Công ty may Thăng Long 2053 2276 2613 223 10,86 337 14,8 Công ty may 10 2210 2471 2866 261 11,8 395 16 Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động nhu cầu mặc đẹp mặc bền của con người ngày càng gia tăng, sản lượng hàng năm may mặc tiêu thụ hàng năm tăng lên. Điều đó phản ánh trong 3 năm qua lợi nhuận ở cả 3 Công ty đều tăng lên. Trong đó lợi nhuận của Công ty may Hồ Gươm tăng với tốc độ là cao nhất. Cụ thể năm 2011 lợi nhuận tăng 12,85% so với năm 2010, năm 2012 tăng 18,1% so với năm 2011. Công ty may 10 năm 2011 tỷ lệ lợi nhuận tăng 10,86% so với năm 2010, năm 2012 tăng 14,8% so năm 2011.Công ty may Thăng Long tỷ lệ lợi nhuận năm 2011 tăng 11,8% so năm 2010, năm2012 tăng 16% so với năm 2011. Sở dĩ lợi nhuận của Công ty may Hồ Gươm đều tăng lên trong ba năm qua là do cả doanh thu và chi phí đều tăng nhưng tốc độ tăng của doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí. Biểu 10: Tương quan tỷ suất lợi nhuận của Công ty và các Công ty khác Đơn vị: (%) Tên Công ty Thực hiện 2011/2010 2012/2011 2010 2011 2012 CL TL CL TL Công ty may Hồ Gươm 2,62 2,66 2,72 0,04 0,06 Công ty may Thăng Long 2,5 2,52 2,56 0,02 0,04 Công ty may 10 2,54 2,57 2,62 0,03 0,05 Qua bảng số liệu 10 trên ta thấy tỷ suất lợi nhuận của 3 Công ty đều tăng lên qua các năm. Nhưng tốc độ tăng tỷ suất lợi nhuận của Công ty may Hồ Gươm là cao nhất. Biểu hiện năm 2011 tỷ suất lợi nhuận tăng 0,04% so với năm 2010, năm
  • 20.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -20- 2012 tỷ suất lợi nhuận tăng 0,06% so với năm 2011.Điều đó chứng tỏ rằng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thu được hiệu quả cao. Trong 3 năm vừa qua Công ty đã đẩy nhanh được sản lượng bán ra, mở rộng thị trường kinh doanh sang một số nước như Đức, EU, Mỹ, điều đó được thể hiện qua tổng doanh thu tăng dần qua các năm. Ngoài ra Công ty đã tìm được một số nguồn thu mua nguyên vật liệu với giá rẻ hơn nhưng chất lượng vẫn được đảm bảo. Do vậy mà Công ty đã giảm được một phần giá vốn hàng bán, bên cạnh đó Công ty còn giảm được một phần chi phí sửa chữa lớn máy móc so với mấy năm trước đó, chất lượng dần được nâng cao, bộ máy quản lý của Công ty được cải tiến tốt hơn, những vấn đề đó đã tạo lên một hiệu quả rất rõ rệt. 4. Những kết luận rút ra từ việc đánh giá thực trạng của Công ty. 4.1. Những thành tựu đã đạt được. Công ty may Hồ Gươm đã lựa chọn cho mình một hướng đi đúng là coi trọng thúc đẩy phát triển thị trường xuất khẩu, Nhờ vậy mà doanh thu của Công ty đạt được và vượt mức các chỉ tiêu đề ra tăng từ 85-90% hàng xuất khẩu, còn lại là doanh thu hàng nội địa. Thành tựu quan trọng nhất mà Công ty đã được đó là chuyển từ hình thức xuất khẩu gia công sang hình thức xuất khẩu trực tiếp. Tăng vị thế và uy tín của Công ty trên thị trường thế giới. Trước tình hình khó khăn chung của toàn nghành dệt may hiện nay do thị trường trong nước và thế giới luôn biến động, nhu cầu tăng nhưng sức mua giảm. Ban lãnh đạo Công ty đã quyết thực hiện chủ trương giữ vững thị trường đã có, mở rộng thêm nhiều thị trường mới, khách hàng mới như Mỹ và các nước EU. Sau một thời gian thực hiện, kết quả cho thấy Công ty luôn hoàn thành kế hoạch đề ra, bảo đảm đạt mức doanh thu và lợi nhuận dự kiến. Trong 3 năm tốc độ tăng trưởng bình quân là 14%. Sản phẩm của Công ty đã có mặt ở hơn 40 nước trên thế giới. trong đó có rất nhiều thị trường lớn và tiềm năng Công ty đang tiếp thụ khảo sát và nghiên cứu để tiếp cận và chiếm lĩnh thị phần như Eu, Mỹ, Nhật Bản. - Chất lượng hàng hoá của Công ty nhất là hàng xuất khẩu được nâng cao, sản phẩm ngày càng phong phú đa dạng, về chất liệu kiểu dáng, mẫu mã, màu sắc, giá cả. Công ty không chỉ tạo được uy tín trên thị trường nội địa mà còn tạo được uy tín trên thị trường thế giới. - Công ty đã không ngừng đầu tư trang thiết bị máy móc, ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất. Hiện nay Công ty đã có một cơ sở vật chất vững mạnh, nhờ vậy Công ty đã nâng cao đươc chất lượng sản phẩm đáp ứng kịp thời và đúng
  • 21.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -21- yêu cầu của khách hàng, đồng thời Công ty đã nâng cao được lợi thế so sánh sản phẩm của mình đối với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Công ty đã xây dựng được một đội ngũ quản lý về trình độ chuyên môn, giàu kinh nghiệm và lực lượng công nhân có tay nghề cao, có nhiệt huyết trong công việc. Công ty luôn tạo điều kiện thời gian và kinh phí, cử các cán bộ đi học các khoá học về chính trị tổ chức các lớp nâng cao tay nghề cho công nhân cơ khí điện, công nhân may. Công ty đã tổ chức tốt các hoạt động giao dịch và thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng với khách hàng nước ngoài. -Công ty đã biết kết hợp giữa nhu cầu thị trường và các thế mạnh của mình để đạt được những thành công nhất định trong hoạt động kinh doanh của mình, góp phần nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của mình. - Thị trường của Công ty ngày càng được mở rộng sang các nước khác nhau, đấy là do Công ty đã duy trì được chính sách thâm nhập thị trường mới và giữ vững thị trường truyền thống. Bên cạnh những thành tựu được trong hoạt động kinh doanh Công ty còn thực hiện tốt chế độ, nghĩa vụ đối với nhà nước. Công ty luôn thực hiện nghiêm túc các chế độ chính sách cề thuế, nộp ngân sách nhà nước . 4.2. Những mặt còn tồn tại Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn bộc lộ một số hạn chế, có thể là do khách quan đưa lại nhưng cũng có thể là do chủ quan của bản thân Công ty. Những hạn chế này chính là nguyên nhân làm giảm tính hiệu quả của việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu và nâng cao khả năng cạnh tranh mặt hàng may mặc của Công ty. - Trong sản xuất có những bộ phận chưa chấp hành triệt để quy trình công nghệ sản xuất hoặc việc theo dõi giám sát của các phòng ban chuyên ngành, của cán bộ quản lý không thường xuyên, không chặt chẽ đã dẫn đến sản phẩm làm ra không đạt yêu cầu. Nhiều khi phải làm lại, ghi nhầm cỡ số, giao hàng cho khách hàng thiếu đã gây nên hiệu quả thấp, thiệt hại cho Công ty về cả thời gian, chi phí lẫn uy tín. Do chưa có kỹ năng chủ động tìm kiếm bạn hàng nên Công ty gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình tìm kiếm nguyên vật liệu để sản xuất. Do việc nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài, nên Công ty thường rơi vào thế bị động và kéo theo sự bị động trong việc xuất khẩu các sản phẩm. Công tác kế hoạch chuẩn bị vật tư, nguyên liệu cho sản xuất có lúc chưa kịp thời, chưa đồng bộ có khi xảy ra tình trạng người chờ việc, việc chờ người hoặc đang sản xuất
  • 22.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -22- đơn hàng mã hàng này phải chuyển sang sản xuất đơn hàng mã hàng khác. Đôi khi trong những trường hợp như vậy Công ty phải trả giá cao hơn, chi phí cao hơn đã làm giảm hiệu quả kinh doanh, ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất và năng suất lao động trong Công ty. - Vấn đề nguyên vật liệu đầu vào còn gặp nhiều khó khăn di chuyển, giá cả cao, không ổn định vì ngành dệt và các ngành cung cấp phụ liệu cho ngành may nước ta chưa phát triển mà chủ yếu nhập nguyên liệu từ nước ngoài. - Công nghệ máy móc thiết bị của Công ty tuy được chú trọng đầu tư, song còn tồn tại một phần là những công nghệ lạc hậu của các nước phát triển. Điều này đã hạn chế một phần việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm của Công ty. - Mặc dù Công ty đã xây dựng cho mình chiến lược về mặt hàng nhưng các sản phẩm xuất khẩu của Công ty chưa đảm bảo được sự đa dạng về chủng loại, mẫu mã. - Chính sách tập trung vào thị trường trọng điểm là EU tuy có ưu điểm nhưng bên cạnh đó còn có những hạn chế nhất định như là gặp nhiều rủi ro trọng sự biến động của thị trường. Gần đây EU luôn có những chính sách mới như áp dụng hạn ngạch nhằm ngăn cản hàng của Việt Nam vào EU. - Hoạt động sản xuất và tiêu thụ còn chưa ăn khớp, hàng tháng lượng hàng tồn kho còn quá lớn do Công ty chưa xây dựng được các kế hoạch tiêu thụ cụ thể. Chính sách phân phối chưa được chú trọng. Sản phẩm mua đứt bán đoạn đòi hỏi chất lượng rất khắt khe. Các khách hàng mua thẳng của Công ty chưa thực sự hài lòng về một số mặt hàng của Công ty đặc biệt là các khách hàng Mỹ, Nhật Bản. Phía đối tác chưa thực sự tin tưởng vào các nguồn nguyên vật liệu Công ty mua về để sản xuất các sản phẩm may mặc cho họ. Hơn thế nữa phía đối tác thường thích quan hệ theo hình thức gia công. Vì như vậy có thể cung cấp các nguyên vật liệu rẻ và đồng bộ hơn và hàng được theo thiết kế của họ. Năng lực và thiết bị công nghệ chưa huy động hết công suất, nhiều thiết bị công nghệ còn kém đồng bộ giữa các khâu. - Công tác nghiên cứu, thiết kế tạo mẫu thời trang chưa được quan tâm đúng mức để phát triển phục vụ cho ngành may chuyển từ gia công sang xuất khẩu sản phẩm trực tiếp. - Chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn nhiều bất cập, lực lượng lao động đông nhưng số lượng công nhân kỹ thuật trình độ bậc thợ cao, giỏi còn ít. Đội ngũ quản
  • 23.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -23- lý chủ chốt trong doanh nghiệp còn hạn chế trong tiếp cận với phong cách quản lý mới. Số lượng lao động nữ chiếm tỷ lệ quá lớn trong tổng lao động của Công ty, điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng công việc khi người phụ nữ thực hiện chức năng làm mẹ, mặt khác lao động nữ chỉ đảm đương được những công việc nhẹ mà không đảm đương được những công việc liên quan đến máy móc, kỹ thuật. Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất lao động của Công ty. - Để đảm bảo nguồn vốn phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh. Ngoài phần vốn đã có Công ty còn phải vay thêm ngân hàng số vốn dùng trong dài hạn nên số tiền phải dùng để trả lãi suất rất lớn. Do vậy nó có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của Công ty. Qua phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh đã phản ánh khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty may Hồ Gươm trong thời gian gần đây. Đánh giá được những thành tựu và những khó nhăn tồn tại của hoạt động này. Để từ đó có thể xác định phương hướng sản xuất kinh doanh sao cho có thể phát huy được những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu. Trên cơ sở đó đẩy mạnh hoạt động kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
  • 24.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -24- Chương IV Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của công ty may Hồ Gươm. 1 . Xu hướng phát triển của ngành dệt may việt nam nói chung và của công ty may hồ gươm nói riêng 1.1. Phương hướng phát triển của Công ty may Hồ Gươm. Với hơn 11 năm tồn tại và phát triển Công ty may Hồ Gươm đã từng bước trưởng thành và mở rộng hơn về quy mô kinh doanh trên thị trường trong nước và thế giới. Sản phẩm của Công ty sản xuất ra đã đủ tiêu chuẩn để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu còn lại là đáp ứng nhu cầu trong nước. Tuy nhiên để có thể cạnh tranh được với các Công ty trong nước và ngoài nước, Công ty cần đề ra phương hướng hoạt động cho các năm tới trên cơ sở kết quả hoạt động kinh doanh, kết quả cạnh trạnh và kết quả hoạt động xuất khẩu của các năm trước, kết quả nghiên cứu thị trường, đồng thời đánh giá điều kiện thuận lơị và khó khăn của Công ty. Cùng với việc mở rộng đầu tư xây dựng thêm phân xưởng may. Tiếp tục phát huy sức mạnh của mình và góp phần với các doanh nghiệp trong toàn ngành thực hiện chiến lược tăng tốc phát triển ngành dệt may Việt Nam. * Mở rộng hoạt động của Công ty tới thị trường nhiều tiềm năng Từng bước đẩy mạnh kinh doanh theo phương thức mua đứt bán đoạn( xuất khẩu trực tiếp). Theo phương thức mua đứt bán đoạn Công ty sẽ chủ động được trong sản xuất kinh doanh và lợi nhuận thu hồi về sẽ lớn hơn so với hoạt động gia công cho khách hàng. Tuy nhiên Công ty vẫn duy trì phương thức gia công vì những ưu điểm của nó. Mặt khác hiện nay Công ty chưa đủ vốn để mua nguyên vật liệu sản xuất cho tất cả các đơn hàng. Thực hiện phương thức mua đứt bán đoạn đòi hỏi Công ty phải có vốn lưu động lớn, luôn luôn có nguồn nguyên liệu dự trữ. Nhưng hiện nay nguồn nguyên liệu Công ty tìm được vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ về cả số lượng và chất lượng cho nhiều đơn hàng. Vì thế phương thức gia công vẫn được duy trì trong thời gian này.
  • 25.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -25- * Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng may mặc Trong những năm tới Công ty đề ra những phương hướng phấn đấu tăng trưởng hàng năm từ 8%- 12%. Công ty đã nghiên cứu tìm những biện pháp tổ chức sản xuất, quản lý, khai thác nhiều đơn hàng trực tiếp để nâng cao được tỷ lệ lợi nhuận đầu tư cho phát triển doanh nghiệp. Tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho các cán bộ công nhân viên, tăng đóng góp vào ngân sách nhà nước và tăng thu nhập bình quân cho người lao động. Mặt khác Công ty không ngừng tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu với giá rẻ phục vụ cho sản xuất được chủ động, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành cho sản phẩm. Đồng thời liên kết với các đơn vị khác trong ngành đặc biệt là các công nghiệp dệt cung cấp nguyên vật liệu có chất lượng tốt để chủ động xuất khẩu sàng thị trường Mỹ và các thị trường khác. Công ty đang triển khai xây dựng cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành may như khoá, kéo, cúc nhựa, mex nhãn dệt và băng rôn các loại đã được Tổng Công ty dệt may phê duyệt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và phát triển thị trường nội địa. Công ty đang từng bước chủ động đâu tư máy móc thiết bị công nghệ hiện đại(hệ thống cắt tự động, thiết kế bằng máy vi tính) mở rộng sản xuất kinh doanh tại các khu vực Nam Định, Hà Nam, Hải Phòng, Hưng Yên để tăng nhanh năng lực sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh, tạo điều kiện thâm nhập vào thị trường Mỹ khi Việt Nam đang được hưởng quy chế tối huệ quốc, tập trung vào các mặt hàng mũi nhọn của Công ty như quần bò, quần áo trẻ em, quần jean. Tiếp tục hoàn thiện công tác tổ chức, sắp xếp lao động phù hợp với cơ cấu xây dựng các xí nghiệp thành viên, hoạch toán độc lập nhằm đạt được hiệu quả cao hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh . 1.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty. Trải qua một chặng đường tồn tại và phát triển Công ty may Hồ Gươm đã có những thành công nhất định trong lĩnh vực sản xuất hàng may mặc, đáp ứng được yêu cầu của thị trường, có được tập khách hàng truyền thống trung thành, tin cậy đối với Công ty, sản phẩm của Công ty đã có một vị thế nhất định trên thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên do đặc trưng của nền kinh tế thị trường cạnh
  • 26.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -26- trạnh ngày càng găy gắt và khốc liệt. Công ty muốn tồn tại và phát triển hơn nữa thì luôn phải chú trọng việc nâng cao khả năng cạnh tranh. Nếu không Công ty sẽ mắc phải nguy cơ tụt hậu là điều không tránh khỏi. Thông qua thông tin về khả năng cạnh tranh hiện tại của Công ty, đồng thời thông qua lợi thế cạnh tranh mà Công ty có được và những tồn tại còn vướng mắc. Thông qua phương hướng phát triển của ngành nhất là phương hướng phát triển của Công ty, em xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty: 1.2.1.Nâng caochấtlượng sản phẩm Khi mua một sản phẩm ngoài việc mong muốn sản phẩm, dịch vụ phải có khả năng thoả mãn một nhu cầu xác định, người tiêu dùng còn mong muốn sản phẩm đó có độ tin cậy, độ an toàn và chi phí để thoả mãn nhu cầu phải thấp hơn các sản phẩm cùng loại. Đây chính là một trong những yếu tố làm tăng tính cạnh ttranh của sản phẩm trên thị trường.Trong mấy năm vừa qua chất lượng sản phẩm của Công ty đã được nâng cao lên rất nhiều nhưng với nhu cầu thị hiếu của khách hàng ngày càng thay đổi theo chiều hướng khắt khe hơn về việc lựa chọn những sản phẩm phải có chất lượng cao hơn.Do vậy để đảm bảo chất lượng của hàng hoá thì ngay từ khi chọn bạn hàng phải lựa chọn những bạn hàng có uy tín bởi những nguyên vật liệu đầu vào nếu có kiểm tra thì rất khó có thể nhận thấy được chất lượng của nó mà chỉ khi đưa vào sử dụng mới nhận thấy được chất lượng của nguyên vật liệu đầu vào đó có đạt tiêu chuẩn hay không. Ngoài ra để nâng cao chất lượng sản phẩm Công ty cần phải chú trọng ngay từ khi thiết kế sản phẩm, lập kế hoạch trong qúa trình sản xuất bởi vì chất lượng sản phẩm được đảm bảo suốttừ khi chuẩn bị sản xuất và sản xuất theo những tiêu chuẩn đã đề ra khi thiết kế. Công ty may Hồ Gươm đa số xuất khẩu các mặt hàng may mặc do chính Công ty sản xuất. Bên cạnh đó Công ty có thể nâng cao chất lượng sản phẩm bằng việc đầu tư vào các máy móc thiết bị, cải tiến công nghệ sản xuất tăng khả năng tự động hoá quá trình sản xuất kết hợp với việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002. Bởi vì máy móc thiết bị có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm xuất khẩu của Công ty. Máy móc thiết bị lạc hậu không đồng bộ sẽ gây hỏng hóc ngưng trệ sản xuất, tiêu tốn lao động ảnh hưởng đến chất khối lượng sản phẩm xuất khẩu. Như vậy đầu tư hiện đại hoá máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng
  • 27.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -27- mở rộng quy mô, tăng năng lực sản xuất là biện pháp cần thiết và cấp bách của Công ty hiện nay. 1.2.2 Chính sáchgiá hợp lý Giá cả sản phẩm là yếu tố hạn chế của hàng may Việt Nam cũng như hàng may mặc của Công ty vì giá của chúng ta thường cao hơn giá cả cùng loại của các nước trong khu vực từ 10 - 15%, đặc biệt so với sản phẩm dệt may của Trung Quốc, giá của hàng may Việt Nam đến 20%. Mà giá thành sản phẩm là một yếu tố cạnh tranh khá mạnh trong thị trường may mặc thế giới. Để giảm giá thành Công ty cần phải tìm nguồn hàng hợp lý, giảm giá vốn hàng bán, cắt giảm những chi phí khong mang lại hiệu quả cho Công ty. Bên cạnh đó Công ty cần quan tâm áp dụng mọi biện pháp để tiết kiệm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông nhỏ nhất. Cụ thể : + Giảm chi phí nguyên vật liệu: Đối với hàng dệt may, chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm. Chính vì vậy, giảm chi phí nguyên vật liệu có vị trí quan trọng trong công tác hạ giá thành sản phẩm. Tuy nhiên giảm chi phí nguyên vật liệu không có nghĩa là cắt giảm nguyên vật liệu dưới mức định mức kỹ thuật cho phép. Bởi làm như vậy sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Công ty chỉ có thể giảm chi phí nguyên vật liệu bằng cách định mức tiêu hao chặt chẽ hơn, tổ chức thu mua nguyên vật liệu hiệu quả hơn, thường xuyên bảo dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị để giảm bớt tối thiểu phần vải bị xô, bị đứt hoặc không đảm bảo mật độ sợi, nâng cao ý thức trách nhiệm của công nhân ở mọi khâu sản xuất, xử lý nghiêm khác với những hành vi làm lãng phí nguyên liệu. + Giảm chi phí cố định: Chi phí cố định là loại chi phí không thay đổi khi sản lượng tăng hoặc giảm. Nhưng chi phí cố định bình quân trên một đơn vị sản phẩm sẽ thay đổi và biến động ngược chiều với sản lượng. Do đó, khi sản lượng sản xuất tăng sẽ giảm chi phí cố định bình quân tính trên một đơn vị sản phẩm.sẽ giảm. Muốn tăng sản lượng trên quy mô hiện có thì Công ty phải tăng năng suất lao động, tận dụng triệt để năng lực máy móc thiết bị, bảo quản tốt tài sản cố định để tránh hỏng hóc, giảm chi phí sửa chữa. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, không lúc nào giá bán thấp hơn giá đối thủ cạnh tranh là cũng có thể thu hút được
  • 28.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -28- khách hàng vì nhiều khi giá bán thấp hơn sẽ gây nghi ngờ của khách hàng về chất lượng sản phẩm. Bên cạnh việc hạ giá thành sản phẩm để giảm giá bán sản phẩm, muốn giá cả thực sự là công cụ cạnh tranh đắc lực thì Công ty phải có một chính sách giá hợp lý. Hiện tại Công ty mới phân định được hai mức giá (giá trả ngay và giá trả chậm). Chính sách giá này chưa thật phù hợp với cơ chế thị trường, chưa có tác dụng kích thích mức tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Trong tình hình hiện nay, chính sách giá phải phù hợp với từng sản phẩm cụ thể, từng khách hàng cụ thể, phù hợp với môi trường chiến lược của Công ty. Việc sử dụng các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ ở các thị trường nước ngoài cũng phải được tính toán cẩn thận sao cho hiệu quả cao nhất với một mức chi phí hợp lý. Nếu cứ quảng cáo, khuyến mãi tràn lan và không phù hợp với các thị trường nước ngoài thì có khi rất tốn kém mà chẳng có tác dụng gì, thậm chí đôi khi còn phản tác dụng. Ngoài ra Công ty cần tiếp cận gần người tiêu dùng càng tốt vì khi đó hàng có thể bán được với giá cao hơn và có được thông tin, nhu cầu khách hàng kịp thời hơn. Hiện nay có những chi phí rất lớn mà chúng ta ít để ý tới đó là lãng phí thời gian và lãng phí sức người. Công ty cần quan tâm sử dụng có hiệu quả để giảm chi phí bình quân sản phẩm từ đó giảm giá thành sản phẩm. 1.2.3. Pháttriển các kênhphân phối sảnphẩm của Công ty Do sản phẩm của Công ty chủ yếu là xuất khẩu, khách hàng của Công ty thường là những khách hàng lớn, kênh phân phối chủ yếu là kênh phân phối tực tiếp. Qua các năm 2010-2012 số lượng sản phẩm tiêu thụ qua các kênh phân phối trực tiếp chiếm tỷ lệ bình quân 79,6% sản lượng tiêu thụ hàng năm. Số còn khoảng 20,4% tổng số sản phẩm được tiêu thụ thông qua các kênh gián tiếp. Kết quả trên đã cho thấy thế mạnh thuộc về kênh phân phối trực tiếp. Khách hàng liên hệ trực tiếp với Công ty để đặt hàng, nếu khách hàng ở xa có thể thông qua điện thoại. Theo cách này Công ty có thể nắm được những yêu cầu của khách hàng một cách chuẩn xác về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật...Từ đó có thể đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng. Tuy nhiên cách này thường gây bất lợi cho những khách hàng ở xa. Khoảng cách về không gian đã làm tiến độ giao hàng
  • 29.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -29- chậm lại nếu trong quá trình luân chuyển gặp trở ngại. Tiến độ giao hàng chậm có thể làm lỡ dở, gián đoạn tiến độ của hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng gây nên sự chuyển mối mua hàng. Như vậy có thể gây thiệt hại về lợi ích rất lớn đối với Công ty. Như vậy có thể phát triển kênh phân phối gián tiếp bằng cách gia tăng đại lý ở các nước nhập khẩu và các đại lý trên các tỉnh thành phố ở xa để khắc phục nhược điểm của kênh phân phối trực tiếp. Các đại lý này được đặt tại những nơi có số lượng khách hàng lớn và trực tiếp làm đại diện cho Công ty. Làm như vậy có thể rút ngắn khoảng cách giữa Công ty và các khách hàng ở xa, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng về mọi mặt. Công ty nên mở rộng đại lý trong kênh phân phối. Hoạt động này có thể làm tăng khả năng tiêu thụ của, nâng cao được khả năng cạnh tranh của Công ty. Như vậy, để tăng cường khả năng cạnh tranh thì bên cạnh việc giữ vững, vừa ổn định kênh phân phối trực tiếp đồng thời hình thành, tham gia kênh phân phối gián tiếp, tạo điều kiện thuận lợi trong việc nhận đơn đặt hàng, giao hàng đúng tiến độ. 1.2.4. Nâng cao hoạtđộng Maketing Trong nền kinh tế thị trường, Công ty cần phải bán cái mà thị trường cần chứ không phải bán cái mà Công ty có. Nhưng để biết thị trường đang có nhu cầu về loại sản phẩm nào Công ty phải tiến hành nghiên cứu thị trường. Nghiên cứu thị trường là một công việc phức tạp, đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ chuyên môn về maketing. Do đó công việc này không thể trà trộn công việc này với bất cứ phòng ban nào trong Công ty mà phải có bộ phận chuyên trách đảm nhận, đó là bộ phận maketing. So với mấy năm trước đây hoạt động bán hàng của Công ty đã khá hơn rất nhiều, song vẫn còn điểm yếu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đội ngũ xúc tiến thương mại, tiếp thị, hệ thống nhân viên bán hàng còn yếu về kinh nghiệm. Công ty cần thiết lập mạng lưới trao đổi thông tin, đại lý tiêu thụ hay văn phòng giao dịch ở nước ngoài và trong khu vực còn rất ít. Hạn chế này đã làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Công ty, ảnh hưởng đến khả năng phản ứng nhanh, khả năng xoay chuyển tình thế của Công ty. Quy luật đã chỉ ra rằng: sản xuất cần được thực hiện tại các khu vực có lao động rẻ, có hạ tầng cơ sở tốt, và có nguồn lao động dồi dào. Còn thương mại thì cần được tiến hành tại các khu vực giàu có, nền kinh tế phát triển. Để giải quyết vấn đề này tự bản thân Công ty phải
  • 30.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -30- sớm xây dựng một đội ngũ bán hàng và đội ngũ tiếp thị có kỹ năng cao và thiết lập các kênh phân phối rộng lớn. Đối với thị trường khu vực và toàn cầu cần liên kết hợp lực với những Công ty khác trong ngành để có mặt thường trực tại các thị trường tiềm năng nâng cao chất lượng nguồn. 1.2.5. Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên Dù hoạt động ở lĩnh vực nào trong môi trường cạnh tranh và hội nhập đều cần phải xác định trước là thách thức luôn đi đôi với cơ hội. Các Công ty có khả năng cạnh tranh hay không là nhờ ở trình độ, phẩm chất và sự gắn bó của nhân viên đối với Công ty. Chính vì con người lập ra mục tiêu, chiến lược và kế hoạch hoạt động, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng của doanh nghiệp. Do vậy để có thể khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực Công ty cần phải xây dựng chương trình đào tạo các bộ công viên. Cách thức đào tạo có thể là kèm cặp trọng sản xuất, tổ chức các lớp tại Công ty hoặc có thể cho công nhân theo học các lớp đào tạo chính quy. Bên cạnh đó để nâng cao trình độ nghiệp vụ Công ty nên tổ chức các cuộc hội thảo trao đổi kinh nghiệm, hội thảo trao đổi kỹ thuật, phát động phong trào thi đua sản xuất... Đó là biện pháp hữu hiệu giúp công nhân viên trong Công ty nâng cao trình độ hiểu biết về mọi lĩnh vực. Bên cạnh đó Công ty cần phải xây dựng nội quy, kỷ luật rõ ràng bắt buộc mọi người phải tuân thủ đảm bảo tính kỷ luật tron khi làm việc. Mặt khác cũng phải xây dựng một chế độ, chính sách khuyến khích về kinh tế có nghĩa là Công ty nên chú trọng khen thưởng kịp thời, phần thưởng tài chính sẽ có tác dụng thúc đẩy hiệu lực nhất mà các nhà quản trị hay sử dụng để quản lý nhân viên được tốt hơn. Hiện nay trong Công ty còn tồn tại một số cán bộ lãnh đạo lâu năm và như thế việc quản lý sẽ có thể không theo kịp sự phát triển của thời đại. Việc nâng cao trình độ đội ngũ lãnh đạo, các nhà quản trị là một yếu tố quyết định đến việc nâng cao khả năng cạnh tranh. Đội ngũ quản lý này tham gia vào tất cả các hoạt động kinh doanh nên có ảnh hưởng lớn đến hiêụ quả hoạt động của Công ty. Là một nhà quản trị phải biết khéo léo kết hợp giữa lợi ích của các thảnh viên và lợi ích chung của Công ty. Một Công ty có đội ngũ quản ký, cán bộ giỏi chắc chắn hoạt động kinh doanh của họ có hiệu quả hơn.
  • 31.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -31- Hơn nữa Công ty cần có kế hoạch tuyển dụng nhà quản trị có năng lực, tuyển công nhân viên có tay nghề giỏi để thay thế những người có khả năng lao động kém nhằm toạ ra đội ngũ lao động đủ về số lượng đảm baỏ về chất lượng trong suốt quá trình kinh doanh. Có như vậy mới đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường cũng như đối với các đối thủ cạnh tranh của mình. Biện pháp này được các Công ty chú ý rất nhiều và ngày càng quan tâm hơn nữa. 1.2.6. Giảipháp về mẫu, mốt Tập trung xây dựng đầu tư và hoàn thiện trung tâm thiết kế mẫu mốt hoàn chỉnh hơn nữa đặc biệt coi trọng tới công tác nghiên cứu và phát triển mẫu mốt thời trang phù hợp với nhu cầu thị hiếu của thị trương nhập khẩu và thị trường trong nước. Khi tham gia vào thị trường may mặc thế giới Công ty phải đương đầu với vấn đề lớn là cạnh tranh, trọng quá trình này thì giá trị thẩm mỹ của sản phẩm được coi trọng do tác động của mẫu mốt thời trang. Nói một cách khác yếu tố mẫu mốt thời trang tạo sức cạnh tranh mạnh mẽ nhất cho sản phẩm may mặc do đó Công ty cần phải: + Liên kết tinh tế và kỹ thuật chặt chẽ với các cơ sở nghiên cứu mẫu mốt để có thể tập trung nguồn vốn trí tuệ cho việc hình thành và phát triẻn các nghiên cứu sáng tạo mẫu mốt, đồng thời phát triển hơn nữa trung tâm mẫu mốt của Công ty. Với thiết bị đã được trang bị trong thời gian qua. Công ty cũng cần tổ chức nguồn tư liệu và thông tin phục vụ cho nghiên cứu sáng tác mẫu mốt một cách hệ thống và cung cấp kịp thời để đảm bảo cho sự tiếp cận nhanh nhất + Chu kỳ mẫu mốt ngày càng trở nên ngắn hơn, do con người ngày càng có nhứng ý tưởng phong phú và phức tạp hơn đòi hỏi sản phẩm cũng phải thay đổi liên tục theo mong muốn đó. Vì vậy Công ty sẽ chỉ thành công khi thường xuyên thay đổi mẫu mốt, tìm kiếm sáng tạo nhiều kiểu mốt với nhiều cỡ số mầu sắc, chất liệu khác nhau. Mỗi khu vực thì lại ưu chuộng một loại mẫu mốt khác nhau. Công ty cần phải lưu ý điều này để sản xuất và xuất khẩu cho phù hợp. Việc thay điổi mẫu mốt đối với mặt hàng may mặc là rát dễ dàng mà không cần phải thay đổi công nghệ, chỉ cần thay đổi nguyên vật liệu hay cách thức kiểu dáng là ta có một sản phẩm khác về hình thức. Vì vậy Công ty nên chú ý vào khâu này nhiều hiơn nữa
  • 32.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -32- + Tổ chức hệ thống thông tin phản ánh kịp thời sự thay đổi nhu cầu ( mẫu, mốt), đồng thời phát hiện nhu cầu mới trên thị trường trọng điểm. Để xây dựng hệ thống thông tin này Công ty cần có sự liên kết, hỗ trợ của các đối tác trên thị trường các khu vực. Đặc biệt Công ty cần đẩy mạnh sử dụng thế mạnh của công nghệ thông tin như internet giúp thu thập, xử lý và dự báo về thị trường nhanh chóng, chính xác. 1.2.7. Giảipháp huy động vốn Để có thể đáp ứng được nhu cầu gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh, để có điều kiện mua sắm thêm trang thiết bị máy móc và xây dựng thêm cơ sở hạ tầng. Công ty rất cần có một nguồn vốn đủ lớn để có thể chi trả cho hoạt động mua sắm này. Ngoài phần vốn tự có Công ty vẫn phải vay thêm vốn từ các ngân hàng nhưng với lãi suất rất cao. Hạn chế này có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt kinh doanh và khả năng cạnh tranh của Công ty. Để giảm giảm bớt số tiền vay trả lãi ngân hàng Công có thể huy động nguồn vốn vay từ Tổng công ty và có thể vay trực tiếp từ lượng vốn nhàn rỗi của người lao động. áp dụng phương thức vay này một mặt nó giảm được số tiền trả lãi vay cho Công ty, một mặt nó bảo đảm tính an toàn cho người lao động, kích thích người lao động làm việc và có trách nhiệm hơn bởi vì một phần tài sản của họ đang nằm trong Công ty, do Công ty quản lý và sử dụng. 1.2.8. Tăng năng suất lao động Để tăng năng suất lao động, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Bên cạnh việc đầu tư mua sắm thêm trang thiết bị máy móc và xây dựng thêm cơ sở hạ tầng mới thì Công ty cần chú trọng đến việc bố trí lao động cho phù hợp với trình độ chuyên môn, khả năng đáp ứng công việc của người lao động. Hiện nay trong Công ty số lao động nữ chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng số lao động của toàn Công ty(75%-85%). Với sự chênh lệch này có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động và chất lượng công việc khi người phụ nữ thực hiện chức năng làm mẹ. Mặt khác lao động nữ chỉ đảm đương được những công việc nhẹ mà không đảm đương được những công việc liên quan đến máy móc, kỹ thuật. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của Công ty. Để khắc phục nhược điểm này Công ty nên tuyển dụng thêm số lao động nam, sắp xếp họ vào những vị trí chuyên trách về kỹ thuật cũng như sắp xếp thêm số lao động
  • 33.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -33- nam vào các như phòng kế toán, phòng xuất nhập khẩu, phòng thị trường của Công ty, phòng kế hoạch bởi các phòng ban này có số lao động nữ khá lớn mà số lao động nam thì ít. Ngoài ra Công ty cần tuyển thêm những người có trình độ đại học và kinh nghiệm nghề nghiệp để bổ xung vào vị trí quản lý của Công ty hiện đang còn thiếu
  • 34.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -34- Kết luận Cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nói chung và đối với Công ty may Hồ Gươm nói riêng trong giai đoạn hiện nay. Bởi nó đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Công ty trong sự sàng lọc nghiệt ngã của cạnh tranh. Không có ý thức nâng cao khả năng cạnh tranh Công ty sẽ bị rơi vào nguy cơ tụt hậu và sẽ bị loại ra khỏi thị trường. Do đó, đây là một vấn đề được các Công ty rất quan tâm để nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm đạt được những mục tiêu cuối cùng của mình là thu lợi nhuận cao nhất, chiếm lĩnh được thị trường, chiến thắng các đối thủ cạnh tranh, khẳng định được vị trí của mình trên thị trường. Muốn đạt được mục tiêu đó Công ty cần thực hiện nhiều biện pháp như nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, làm tăng uy tín của sản phẩm trên thị trường. Bên cạnh đó cần có nhứng chính sách hỗ trợ và khuyến khích của nhà nước để tạo ra môi trường kinh doanh ổn định và thuận lợi. Nếu thực hiện được điều này thì chắc chắn trong tương lai không xa ản phẩm của Công ty may Hồ Gươm sẽ có một vị thế mạnh trên cả thị trường trong nước và thế giới. Với khả năng của một Sinh viên mới qua quá trình thực tập ngắn. Em hy vọng với các biện pháp này dù không nhiều song phần nào là tư liệu cho việc đề ra chiến lược kinh doanh của Công ty trong thời gian tới. Bài tiểu luận còn nhiều sai xót, xin thầy và các bạn đóng góp ý kiến cho bài làm hoàn thiện hơn.
  • 35.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -35- Mục Lục Chương I: Mở đầu..........................................................................................2 Chương II..........................................................................................................3 Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả hoạt động và lợi nhuận...............................................................................3 1. Lý thuyết cạnh tranh.....................................................................................3 1.1.Khái niệm cạnh tranh...............................................................................3 1.2. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh........................................3 2. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp .........................................................4 2.1.Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh.......................................5 2.1.1. Các nhân tố chủ quan........................................................................5 2.1.1.1. Khả năng về tài chính..................................................................5 2.1.1.2. Nguồn lực và vật chất kỹ thuật ....................................................5 2.1.1.3. Nguồn nhân lực...........................................................................6 2.1.2. Các nhân tố khách quan ....................................................................7 2.1.2.1. Nhà cung cấp..............................................................................7 2.1.2.2. Khách hàng.................................................................................8 2.1.2.3. Các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn ....................................8 Chương III......................................................................................................10 Thực trạng và khả năng cạnh tranh của công ty may hồ gươm .....................10 1. Đặc điểm tình hình tổ chức hoạt động kinh doanh của côngty may Hồ Gươm. .....................................................................................................................10 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty may Hồ Gươm...............10 1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý và phân phối cấp quản lý của Công ty may Hồ Gươm.........................................................................................................11 2. Hiệu quả hoạt động của Công ty may Hồ Gươm..........................................12 2.1. Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.................12 2.2. Phân tích khả năng cạnh tranh của Công ty thông qua các yếu tố nội lực.16 2.2.1. Nguồn lực tài chính và vật chất. ......................................................16
  • 36.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -36- 2.2.2. Uy tín của Công ty..........................................................................18 2.3. Lợi nhuận của công ty may mặc Hồ Gươm............................................18 2.3.1. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.........................................................18 4. Những kết luận rút ra từ việc đánh giá thực trạng của Công ty......................20 4.1. Những thành tựu đã đạt được. ..............................................................20 4.2. Những mặt còn tồn tại...........................................................................21 Chương IV......................................................................................................24 Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sảnphẩm của công ty may Hồ Gươm.................................................................................................24 1 . Xu hướng phát triển của ngành dệt may việt nam nói chung và của công ty may hồ gươm nói riêng ..................................................................................24 1.1. Phương hướng phát triển của Công ty may Hồ Gươm. ...........................24 1.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty. ........25 1.2.1.Nâng cao chất lượng sản phẩm.........................................................26 1.2.2 Chính sách giá hợp lý.......................................................................27 1.2.3. Phát triển các kênh phân phối sản phẩm của Công ty........................28 1.2.4. Nâng cao hoạt động Maketing ........................................................29 1.2.5. Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên.............................30 1.2.6. Giải pháp về mẫu, mốt....................................................................31 1.2.7. Giải pháp huy động vốn..................................................................32 1.2.8. Tăng năng suất lao động..................................................................32 Kết luận.......................................................................................................... 34
  • 37.
    Tiểu Luận KinhTế Vi Mô ThS: Bùi Huy Khôi -37-