TRADE VÀNG CÙNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI
Có rất nhiều bạn mới vào trade Vàng còn nhiều lúng túng và thiếu nhiều kinh nghiệm.
Taichinhthegioi xin mạng phép trình bày những kinh nghiệm thực tế về trade Vàng mà
Taichinhthegioi đã trải qua bao lâu nay. Taichinhthegioi xin trình bài các vấn đề sau:
Bài 1. Trade Vàng cần quan tâm đến gì?
Bài 2. Vàng bị ảnh hưởng bởi những gì? Hay những gì tạo ra xu hướng Vàng?
Bài 3: Cách xác lập hay nhận biết, bắt đáy, đón đỉnh của Vàng Thế giới.
Bài 4. Vàng có là bong bóng? Xu hướng Vàng trong tương lai.
Bài 5. Tổng hợp những kinh nghiệm của Taichinhthegioi.
Taichinhthegioi sẽ cố gắng dành thời gian để trình bài 5 bài trên.
Tất cả năm bài trên đều là bài viết được đúc kết từ kinh nghiệm thực tế của Taichinhthegioi
+ tham khảo 1 số nguồn!
Hôm nay Taichinhthegioi sẽ trình bài Bài đầu tiên!
Bài 1. Trade Vàng cần quan tâm đến gì?
Taichinhthegioi sẽ cố gắng viết 5 bài này thật ngắn gọn, dễ hiểu, và trong thời gian nhanh
nhất.
Taichinhthegioi kính chào cả nhà,
Bài 1: Trade Vàng cần quan tâm đến những yếu tố gì?
Như chúng ta đã biết Vàng thế giới biến động theo từng giây từng phút, traders trade Vàng
thì gồm có rất nhiều thành phần, kể cả các ngân hàng TW trên thế giới. Và trade Vàng rất
khắc nghiệt, nó có thể cho ta lãi khủng nhưng chính nó cũng sẽ lấy đi của ta tất cả. Vậy làm
khi chúng ta trade Vàng, chúng ta cần quan tâm đến gì để chiến thắng?
1. Cần trang bị 1 số kiến thức cơ bản hay sơ đẳng về trade Vàng FX hay Vàng thế giới
2. Tuyệt đối tuân thủ stop loss và tuân thủ kỉ luật: thà chấp nhận cut loss để vào trạng thái
khác. ==> khôn ngoan
3. Đừng bao giờ quá tham vọn, tham lam hay đặt mục tiêu quá cao: Chẳng hạn như bạn Bán
giá $1,385, kì vọng bạn là $1,350 nhưng khi Vàng xuống $1,356 bạn đừng quá tham mà
không chốt lời, chờ nó xuống $1,350 hay thấp hơn nhưng nó không xuống thêm mà quay
đầu tăng lại trên $1,400 ===> xem như mất cả chì lẫn chài.
4. Phải có tính kiên nhẫn nhạy bén, và có cái đầu lạnh: nghĩa là trade vàng đừng quá hấp tấp,
phải kiên nhẫn. Ví dụ: ta Mua $1,380. ( dự tính cut loss tuyêt đối tại $1,374) nhưng khi Mua
mà giá có giảm $1,378, $1,376.... rồi ta sợ ta nhảy và Bán lại... nhưng sau đó Vàng tăng vù
vù. Do đó khi Mua hay Bán thì cứ kiên nhẫn chờ đợi, chừng nào chạm cut loss thì cắt, không
thì thôi. Tuyệt đối không tin vào những lời đồn đoán. Chỉ tham khảo!
5. Quên đi khái niệm giá cao, giá thấp của Vàng: Khi chúng ta trade Vàng chúng ta cứ trade
theo xu hướng chủ đạo của thị trường, take profit theo kì vọng, khi đó cho dù Vàng có tăng
hay giảm gì ta cũng take profit được. Chính thời điểm hay thời cơ sẽ cho ta thắng lợi. Cứ
theo xu hướng chính mà đánh. Thắng cao!
6. Làm sao xác định xu hướng chính của Vàng? Thông thường xu hướng chính, xu hướng
chủ đạo của Vàng sẽ ở Phiên Mỹ. Nếu trong Phiên Mỹ xu hướnbg là Tăng thì Phiên Á,
Phiên Âu liền sau đó là chủ đạo tăng hay ngược lại. Còn nếu xu hướng vàng tại Phiên Mỹ là
sideway thì 2 phiên Á, Âu tiếp theo khả năng sideway cho đến giảm là cao.
7. Biết cách nắm bắt và phân tích các hot news kịp thời ( để chạy trước). Vì dụ như tin Trung
Quốc tăng LSCB thì phải Bán là chủ đạo
8. Nên nhớ Vàng phụ thuộc rất nhiều vào tin của Mỹ, do đó khi tin Mỹ xấu vàng thường
Tăng, khi Mỹ Tốt Vàng thường giảm. Trong mọi trường hợp thì tin là cái quan trọng nhất nó
sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ các cặp tiền vào thời điểm tin đó đưa ra. Ngoài trừ dầu và vàng nó
không có quy luật lên xuống rõ ràng thì hầu như các cặp tiền nó đều có những biến động lâu
và dài hơn, có thể nói khi mà một cặp tiền cứ xuôi theo trend là nó sẽ có những cái đỉnh và
đáy được thiết lập và theo thời gian cái trend đó ngày càng dài ra, khi mà độ dài của cái
trend đó đủ mạnh thì nó sẽ tạo sốt ở thời điểm sau tùy theo mức độ sốt nóng hay lạnh lâu dài
thì lúc đó là vàng và dầu sẽ ảnh hưởng mạnh với xu thế đó
9. Khi Vàng bắt đầu tại Phiên Mỹ, các bạn chú ý 3 mốc thời gian sau đây: Lúc Phiên Mỹ bắt
đầu ( 19h20 hoặc 20h20, tùy theo mùa mà sẽ có 1 trong 2 mốc giờ trên) nếu Vàng giảm 1 lèo
trên $10 mà sau (21h30 hay 22h30, tùy theo mùa) Vàng hồi phục lại gần $10 thì xem xét
Mua lại Ngay. Còn nếu Vàng không hồi phục mà tăng giảm hồi phục nhưng đà tăng yếu hơn
đà giảm thì có nghĩa là Vàng sẽ còn giảm tiếp nữa ===> Canh Bán ngay. Sau 23h30 hay sau
24h30, tùy theo mùa) thì thông thường vàng sẽ sideway ở giá hiện tại thời điểm đó ===> có
thể yên tâm giữ lệnh hay chốt lời. Tương tự cho trường hợp Vàng tăng. Chú ý: Sau 21h30
hay sau 22h30 xu hướng vàng tăng hay giảm sẽ là xu hướng chính của Vàng cho đến thời
điểm close. Cho nên khi vào đầu phiên Mỹ Vàng có tăng hay giảm 1 lèo $10 - $20 cũng
không ăn thua, ăn thua là sau 21h30 hay sau 22h30 Vàng có bị đảo chiều không? Nếu không
đảo chiều thì ta yên tâm.
10. Chú ý 3 yếu tố: Tin hot news, USDX, và giá của bạc, bạch Kim và cả chứng khoán Mỹ.
Vì khi ta nhìn vào USDX và kết hợp với nhìn vào giá của Bạch Kim, Bạc ta có thể suy ra xu
hướng tiếp của Vàng.
Ví dụ cụ thể cho hôm nay: Tin Mỹ hay tin hot news là tin LSCB của Trung Quốc tăng ===>
kì vọng Vàng giảm.
- USDX hiện tại đang giảm ===> hổ trợ chút ít cho Vàng
- Bạc đang giảm nhẹ ( mức giảm ít hơn vàng, nhìn vào tỷ lệ % tăng, giảm của bạc mà so
sánh tỷ lệ % tăng giảm của Vàng) ==> mức giảm ít hơn Vàng ===> cũng hổ trợ Vàng khó
giảm mạnh hơn
- Bạch Kim đang tăng $18 lên $1,731. ===> Bạch Kim không giảm mà tăng ===> hổ trợ
Vàng khó giảm thêm
Tổng hợp các yếu tố đó lại xem xét đến Vàng thì Vàng đang giảm nhẹ ( không tăng), tương
ứng với USDX giảm, Bạc giảm nhưng không đáng kể, Bạch Kim Tăng ===> Vàng không
thể giảm thêm hiện tại. Trừ khi đột nhiên các thứ trên đột ngột giảm mạnh thì vàng sẽ giảm
mạnh.
Do đó, khả năng đêm nay vàng khó bị giảm dưới $1,380. Mà sideway nhiều hơn do nhìn vào
các hàng hóa kim loại khác như Bạc, bạch kim, Palladium tăng. Tuy nhiên do hot news từ
Trung Quốc vẫn mạnh nên vàng không tăng được mạnh. ===> Xem xét Mua quanh trên
dưới $1,380.
Hết bài 1
Bài 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến gía vàng.
Trước hết, vàng là một loại hàng hóa, do đó dao động giá của vàng phải được xem xét dựa
trên các yếu tố tác động của cung và cầu. Nguồn cung vàng trên thế giới đến từ các quốc gia
có trữ lượng vàng lớn và sản lượng xuất khẩu có tầm ảnh hưởng đến thị trường như Nam
Phi, Mỹ, Canada, Nga, Úc...
Xét về nhu cầu vàng thì phải thấy rằng, toàn thế giới đều muốn có thứ kim loại này và tùy
vào mục đích sử dụng mà có những nhu cầu khác nhau: phục vụ cho hoạt động chế tác trang
sức, tích lũy, đầu tư, thanh toán…
Tùy vào từng thời điểm mà nhu cầu tăng cao trong những thời kỳ khác nhau và đôi khi xảy
ra cùng lúc, do đó tác động mạnh đến cầu vàng trong cùng thời điểm.
Hiện nay, USD được xem là đồng tiền mang tính thanh toán toàn cầu, do đó theo thông lệ,
các loại hàng hóa hay ngoại tệ khi giao dịch trên thế giới thường được định giá theo USD và
vàng cũng không ngoại lệ. Chính vì vậy, bất cứ tác động nào ảnh hưởng đến giá trị đồng
USD thì cũng tác động trực tiếp đến biến động giá cả của vàng.
Khi xem xét giá trị đồng USD, người ta thường đánh giá thông qua nền kinh tế Mỹ và những
yếu tố chính được xem là “chỉ báo” phản ánh sức mạnh hay suy yếu của nền kinh tế Mỹ, đó
là tình trạng thị trường nhà ở, thị trường lao động, thị trường tín dụng và thị trường vốn.
Ngoài ra, một chỉ báo không thể không kể đến khi đánh giá giá trị đồng USD, đó là quyết
định về lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Bất kỳ quyết định nào ảnh hưởng đến
việc tăng hay giảm, giữ nguyên lãi suất của Mỹ do FED công bố qua các kỳ họp của Ủy ban
Thị trường mở Liên bang (FOMC) đều tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá trị đồng
USD.
Dù quyết định tăng/giảm lãi suất của FED với mục đích kích thích hay kìm hãm tốc độ phát
triển của nền kinh tế hay nhằm giải quyết các vấn đề khác thì trong ngắn hạn hay tức thời,
quyết định tăng/giảm lãi suất của Mỹ cũng sẽ làm tăng/giảm giá trị của đồng USD do trong
ngắn hạn hay tức thời, giá trị của đồng USD được nâng lên/hạ xuống so với các ngoại tệ
khác trong mối tương quan so sánh.
Khi giá trị của đồng USD dao động, giá trị các loại hàng hóa được định giá bằng USD cũng
dao động tức thời theo quyết định của FED. Ví dụ, trước khi FED cắt giảm lãi suất cơ bản, 1
ounce vàng có giá là 1000 USD nhưng khi FED cắt giảm lãi suất thì vàng “vô tình” bị định
giá thấp do USD mất giá nên thị trường sẽ tự động điều chỉnh bằng cách nâng giá vàng lên,
trong trường hợp này 1 ounce vàng sẽ có giá là 1050 USD....
Như vậy ý Taichinhthegioi muốn nói là vàng bị tác động chính bởi USD, mà USD được
quyết định bởi FED mà các quyết định bởi FED được dựa trên các tin kinh tế vĩ mô của Mỹ.
Như vậy: Những tin Vĩ Mô nào cũng Mỹ ảnh hưởng mạnh nhất đến Vàng???
1. Tin Bảng lương phi nông nghiệp Mỹ và Tin Tỷ lệ thất nghiệp.
* Ý nghĩa bảng lương phi nông nghiệp của Mỹ
Đây là một trong những bản báo cáo được mong đợi nhất của Mỹ, Non-farm payrolls là một
bản báo cáo kịp thời về bức tranh của thị trường việc làm ở Mỹ : gia tăng, tụt giảm, số giờ
làm việc, số lương thưởng ... Những tư liệu trong bản báo cáo được thu thập từ 2 cuộc khảo
sát là Household Surveys và Establishment ( payroll) Survey ( Báo cáo theo hộ gia đình và
báo cáo theo bảng lương).
Trong đó Establishment Survey được ưa chuộng hơn vì bản báo cáo này đánh giá tình trạng
của các doanh nghiệp chứ ko chỉ gói gọn trong các hộ gia đình. Bản báo cáo có những chỉ số
đầy ý nghĩa như : Change in nonfarm payrolls, Unemployment, Manufacturing Payrolls, và
Average Hourly Earnings.
Trong quá trình khai thác cũng như phân tích về bản báo cáo mình sẽ có cơ hội để mở ra
trước mắt các bạn nhiều hơn nữa những news và yếu tố liên quan đến tình trạng lao động.
Nonfarm Payrolls ( NFP)
Nonfarm payrolls (NFP) là một báo cáo về tình hình kinh tế của Mỹ được thông báo hàng
tháng.
Tên của bản báo cáo được biên soạn để sử dụng cho những công ty về sản xuất, xây dựng,
và các công ty chế tạo sản phẩm. Ban Thống Kê Lao động của bộ Lao động cho ra những tài
liệu sơ bộ của cuộc khảo sát dành cho tháng trước đó. Tin ra vào thời điểm 8h30 ET thức
đầu tiên của hàng tháng, hoặc theo Ban này bản báo cáo sẽ được đưa ra vào thứ 6 thứ 3 trong
tháng sau khi có kết luận về tài liệu của tuần
Các con số về NFP được sử dụng để đại diện cho số công việc gia tăng hay mất đi trong kinh
tế trong tháng gần nhất, ko bao gồm những công việc liên quan đến ngành công nghiệp trồng
trọt. Vì ngành này thường có tính chất thuê nhân công theo mùa mà điều này sẽ làm cho chỉ
số xung quanh thời điểm gặt ko còn chính xác nữa ( vì các nông trang thường tăng thêm số
công nhân và sau đó thì chỉ số vào mùa gặt mới được công bố). Bản báo cáo này cũng cho
biết về số giờ làm việc trung bình hàng tuần và số thu nhập kiếm được bình theo tuần của tất
cả những công nhân thuộc những ngành có trong báo cáo.
NFP bao gồm các thông tin sau :
- Sự thay đổi về chỉ số NFP
- Tỉ lệ thất nghiệp
- Thay đổi về chỉ số Manufacturing Payrolls : chỉ số Payrolls dành riêng cho các ngành sản
xuất.
- Thu nhập trung bình tính theo giờ
- Số giờ làm việc trung bình tính theo tuần.
Nói chung báo cáo phản ánh khoảng 80% tổng số công nhân làm việc để tăng sản lượng
GDP của Mỹ và đưowjc sử dụng để hỗ trợ các chính khách và các nhà kinh tế đưa ra những
chính xác mới để quyết định hiện trạng của kinh tế và phỏng đoán tương lai.
Ý nghĩa của NFP đối với nền kinh tế:
Nói chung, khi chỉ số lao động gia tăng có nghĩa là các công ty đang phát triển và cần tuyển
dụng nhân lực và điều đó cũng đồng nghĩa với việc nhiều người sẽ có việc làm và có tiền để
chi tiêu vào các sản phẩm hay dịch vụ giúp kích thích phát triển. Điều ngược lại cũng hoàn
toàn đúng trong trường hợp NFP hạ.
Ý nghĩa của Nonfarm với thị trường tài chính:
Trong khi tổng số việc làm tăng lên hay giảm đi đối với nền kinh tế là một kim chỉ nam rất
quan trọng cho hiện trạng kinh tế thì báo cáo này lãi có những thông kê mà hoàn toàn có ảnh
hưởng đến thị trường tài chính:
- Chỉ số thất nghiệp đối với kinh tế như một tỷ lệ của toàn bộ lực lượng lao động. Đây là một
phần quan trọng của bản báo cáo vì số người thất nghiệp là một dấu hiệu của tổng thể kinh
tế, và đây là một con số được ngân hàng Liên Bang theo dõi rất kĩ vì khi chỉ số này hạ xuống
mức qúa thấp ( thường là dứới 5%) thì lạm phát sẽ bắt đầu hình thành vì các doanh nghiệp sẽ
phải trả nhiều tiền hơn để thuê những thợ lành nghề và việc giá thành sản phẩm gia tăng
cũng là điều đương nhiên.
- Chỉ ra bộ phận nào có sự tăng hay giảm về công việc: Bản baó cáo có thể đưa ra sự cảnh
báo cho những trader về mảng kinh tế nào có thể bung nổ phát triển.
- Thu nhập trung bình hàng giờ : Đây là một yếu tố quan trọng vì nếu cùng một lượng nhân
công như nhau nhưng lại kiếm nhiều hơn hay ít hơn cho một khối lượng công việc , điều này
về căn bản là nói lên việc cần phải tăng hay giảm nhân công cho khối lượng công việc đó.
- Dùng để xem lại chỉ số của lần ra tin NFP trước đó: Một yếu tố quan trọng khác của báo
cáo là có thể gây ra những biến động trong thị trường vì traders tự lên khung những chiều
hướng phát triển của news dựa vào chỉ số cũ.
2. Tin Lạm phát CPI
3. Tin Nhà đất Mỹ
4. Tin GDP
5. Tin niềm tin tiêu dùng hay tin khảo sát niềm tin
6. Thông tin sản xuất và buôn bán lẻ của Mỹ
===> Nếu 6 thông tin trên Tốt ===> chứng tỏ kinh tế Mỹ dần hồi phục ===> tạo công ăn
việc làm cho người dân Mỹ ===> Tỷ lệ thất nghiệp giảm ===> tác động đến chính sách lãi
suất Mỹ ===> làm cho USD tăng giá ===> làm cho Vàng giảm.
Do đó, yếu tố thứ 7 chính là FED. Sẽ tác động rất mạnh lên Vàng. Nên mọi lời phát biểu của
FED rất đáng lưu ý vì nó sẽ tác động rất mạnh lên vàng.
Song song đó, ngoài những yếu tố thông tin kinh tế Mỹ nêu trên tác động mạnh đến Vàng
còn có những yếu tố sau đây!
- Chính sách lãi suất của các nước lớn khác so với Mỹ như Trung quốc, Úc, Canada, Châu
Âu....
- Tình hình nợ công của các nước lớn khác, điển hình là Châu Âu.
- Căng thẳng chính trị giữa các nước , làm phức tạp thêm tình hình, gây nguy cơ chiến tranh
- Nguồn cung của Vàng và tâm lí traders
*** Khi Vàng tăng hay giảm mạnh đều có lí do và nguyên nhân, do đó chúng ta phải tự
mình đặt ra câu hỏi là " TẠI SAO VÀNG GIẢM MẠNH HAY VÀNG TĂNG MẠNH?", "
Và nếu lí do đó được duy trì thì liệu vàng có còn tiếp tục tăng hay nếu nhân tố đó mất đi thì
Vàng sẽ thế nào?". Chúng ta phải tìn ra được nguyên nhân và lí do khiến Vàng tăng hay
giảm mạnh để từ đó sẽ có câu trả lời chính xác.
Ví dụ cụ thể: Vàng đang tăng mạnh lên $1,400 do những nguyên nhân sau: LSCB Mỹ và 1
số nước như kv Châu Âu thấp ==> lạm phát, chính sách "tung" tiền ra thị trường ===> làm
Tiền mất giá ==> vàng trở thành công cụ thay thế, tình hình nợ công châu Âu, kinh tế Mỹ
còn yếu thông qua tỷ lệ thất nghiệp cao.
Như vậy nếu các yếu tố trên vẫn còn bền vững thì Vàng sẽ tiếp tục tăng, và ngược lại Vàng
phải giảm mạnh do vai trò phònhg thủ đầu tự thay thế của vàng bị mất trước tình hình kinh
tế phát triển ===> LSCB được tăng ===> Tiền có gái trị hơn ===> Vàng phải giảm.
Và yếu tố nào giúp ta nhận ra tình hình kinh tế Mỹ hay thế giới đã ổn định và khả quan hay
chưa? Đó là các thông tin kinh tế Vĩ Mô của Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Anh, Canada, Úc...
công bố hàng tuần.
Tóm lại:
Taichinhthegioi viết nãy giờ khá dài dòng, nay xin tóm lại thật ngắn gọn như sau:
Vàng bi tác động bởi các nhan tố:
1. Tin kinh tế vĩ mô Mỹ (tin lao động việc làm, tin nhà đất, tin sản xuất, tin GDP, Tin niềm
tin tiêu dùng và đặc biệt là tin FED)
2. Ảnh hưởng bởi tình hình nợ công các nước
3. Chính sách tiền tệ của các nước lớn khác trên thế gới
4. Căng thẳng chính trị
5. Nguồn cung và cái chính là tâm lí traders.
Dưới đây, Taichinhthegioi xin trình bày thêm các nhân tố tác động đến đồng USD. Vì thông
qua đồng USD mạnh hay yếu sẽ tác động đến Vàng tăng hay giảm
Các nhân tố ảnh hưởng đến đồng USD
Sơ nét một số các chỉ số, thông tin kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng chính của Mỹ thường
được sử dụng trong phân tích
a) Thông tin kinh tế
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Bất cứ một quốc gia nào cũng muốn duy trì một nền kinh
tế tăng trưởng cùng với sự ổn định tiền tệ và công ăn việc làm cho dân cư mà GDP là một
trong những tín hiệu cụ thể của những nỗ lực của chính phủ. Vì thế việc nghiên cứu khuynh
hướng của sự tăng trưởng GDP, tỉ lệ thất nghiệp cũng như tỉ lệ lạm phát giúp chính phủ có
thể thay đổi chính sách tiền tệ để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Ví dụ khi có thông tin
GDP của nước nào đó tăng lên thì đó là tin tốt cho đồng tiền nước đó…
- Chỉ số giá cả tiêu dùng(CPI): Là một trong những chỉ số kinh tế quan trọng của một quốc
gia. Vì vậy sự gia tăng nhanh hoặc giảm nhanh của lạm phát là một dấu hiệu cho thấy rất có
khả năng có một sự thay đổi trong chính sách tiền tệ.
- Sản lượng công nghiệp (Industrial Production): Vì giá trị của ngành công nghiệp chiếm
một tỉ trọng lớn trong GDP nên một sự thay đổi nhỏ của chỉ số này cũng có thể gây ra những
thay đổi lớn về tốc độ tăng trưởng GDP và vì thế sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ của mỗi
quốc gia.
- Số lượng hàng hóa bán lẻ (Retail sales): Bằng việc theo dõi số lượng hàng hóa bán lẻ trong
một thời gian nhất định chính phủ có thể đánh giá được một cách gần chính xác sự tăng
trưởng của việc tiêu dùng cá nhân của dân cư, mà việc tiêu dùng của xã hội đóng góp rất lớn
vào giá trị của GDP.
- Hàng tồn kho (Inventories): Tỉ lệ hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng đối với sự phát
triển của nền kinh tế. Ví dụ nếu tỉ lệ tồn kho tăng cao tức là sức mua trong nền kinh tế đang
có chiều hướng giảm sút sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất hàng hóa trong nền kinh
tế và ngược lại.
……….
- Ngoài ra trên thị trường còn có rất nhiều các chỉ số quan trong khác mà bất cứ một dealer
nào cũng quan tâm như: cung tiền M2, chỉ số thất nghiệp, doanh số nhà mới khởi công,
doanh số bán nhà hiện có, đơn hàng nhà máy, đơn hàng hoá lâu bền, chi tiêu tiêu dùng, thu
nhập cá nhân, bảng lương phi nông nghiệp, chỉ số ISM ngành sản xuất và dịch vụ, cán cân
thương mại…
b)- FED-FOMC- Fed fund Rate & Discuont rate
Federal Reserve Bank ( FED): Cục dự trữ liên bang Mỹ.
Được toàn quyền thiết lập chính sách tiền tệ của Mỹ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và
lạm phát thấp. chính sách chính của FED được thể hiện ở hoạt động thị trường mở, lãi suất
chiết khấu ( Discuont rate), lãi suất mục tiêu (Fed Fund rate).
Federal Open Market Committee ( FOMC): ủy ban điều hành thị trường mở, chịu trách
nhiệm ra quyết định điều hành chính sách tiền tệ, quan trọng là công bố lãi suất cơ bản 8 lần/
năm. 12 thành viên của hội đồng bao gồm 7 thành viên của hội đồng thống đốc ( Board of
Governors), chủ tịch của ngân hàng dự trữ New York ( Federal Reserve Bank of New York),
và 4 thành viên còn lại được luân phiên giữa chủ tịch 11 Ngân hàng dự trữ còn lại.
Fed fund Rate (lãi suất mục tiêu, lãi suất cơ bản của đồng USD): đây là mức lãi suất quan
trọng nhất, nó là mức lãi suất mà các tổ chức tài chính sử dụng cho những khoản vay nợ hay
gửi tiền qua đêm. Thông thường khi có sự thay đổi trong mức lãi suất này ám chỉ dấu hiệu
sự thay đổi trong chính sách tiện tệ của Fed. Những thông báo liên quan tới vấn đề này gây
ảnh hưởng rất lớn lên thị trường chứng khoán, trái phiếu, thị trường ngoại hối.
Discuont rate (lãi suất chiết khấu): lãi suất mà Fed áp dụng cho ngân hàng thương mại khi
vay lại Fed, sự thay đổi trong mức lãi suất này cũng ám chỉ đến chính sách tiền tệ của Fed.
Thông thường discount rate thấp hơn Fed Fund rate.
c) Trái phiếu và lãi suất kỳ hạn 3 tháng của USD
-10 year treasury note: lãi suất trái phiếu 10 năm.
Sau khi phát hành trái phiếu kỳ hạn 30 năm chấm dứt vào tháng 10/2001. Trái phiếu kỳ hạn
10 năm trở thành tiêu chuẩn cho mức lãi suất dài hạn. Đó là dấu hiệu quan trọng nhất trên thị
trường về tín hiệu lạm phát. Thông thường thị trường dùng mức lợi tức ( hơn là giá) để xác
định mức độ trái phiếu. Giá trái phiếu có tỷ lệ nghịch chiều với tỷ lệ lãi suất.
Không có mối quan hệ rõ ràng giữa trái phiếu dài hạn và đồng USD tuy nhiên có thể sử dụng
ý tưởng sau: một sự sụt giảm trong giá trị của trái phiếu ( do lợi tức tăng) thông thường do
tác động của lạm phát tăng có thể gây áp lực lên USD.
- Lợi tức 10 năm trái phiếu: thị trường trái phiếu ngoại hối thường đánh giá sự khác biệt giữa
lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm với các loại trái phiếu cùng kỳ hạn của các nước khác như
Đức ( German 10 year bund), Nhật (10 year JGB), Anh (10 year gilt), sự chênh lệnh có thể
tác động đến biến động tỷ giá, thường thì một sự gia tăng của lợi tức 10 năm của trái phiếu
Mỹ làm cho đồng USD tăng giá.
- 3 month Eurodollar Deposits: đây là mức lãi suất kỳ hạn 3 tháng của USD tại các ngân
hàng ngoài biên giới nước Mỹ.
Thông thường được sử dụng như một tiêu chuẩn trong việc xác định sự chênh lệch lãi suất từ
đó có thể dự báo biến động tỷ giá. Ví dụ như trường hợp tỷ giá USDJPY, nếu như lãi suất
chênh lệch giữa eursdollar và euryen càng lớn thì khả năng tỷ giá USDJPY bị tác động theo
xu hướng tăng lên.
d) Các nhà chính trị hay các lãnh đạo kinh tế
Các thành viên chính phủ hay những người đứng đầu các ngân hàng trung ương, chính
những người này có thể gây ảnh hưởng tới giá trị của một loại tiền tệ nào đó qua những gì họ
noí, những gì họ làm. Các chức vụ quan trọng như: tổng thống, thủ tướng, thống đốc hay chủ
tịch các ngân hàng… luôn có sự thay đổi theo nhiệm kỳ hay có lý do khác. Nhưng chúng
luôn được quan tâm chặt chẽ từ các nhà đầu tư, dù ai ngồi vào các vị trí đó thì những quyết
sách của họ đều rất quan trọng và đều có những thay đổi, những tác động nhất định tới thị
trường ngoại hối.
Ở NHTW, đối với Mỹ là Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thì khi tỷ giá biến động theo một
chiều hướng bất lợi tác động xấu tới nền kinh tế, NHTW có thể can thiệp vào nhằm ổn định
tỷ giá và đưa tỷ giá trở về tầm kiểm soát theo hướng có lợi cho chính sách tiền tệ. Việc can
thiệp này trong những năm gần đây thường thực hiện bằng hai cách: can thiệp miệng ( verbal
intervention) hoặc can thiệp trực tiếp vào thị trường.
e) Những nhân tố chính trị ( ví dụ điển hình)
Những nhân tố chính trị đôi khi có thể tác động và gây ra ảnh hưởng lớn đến biến động tỷ
giá. Nó làm tỷ giá biến động khá nhanh và mạnh tùy theo từng trường hợp có thể kéo dài hay
chấm dứt nhanh chóng.
- Việc Anh gia nhập EU.
- Việc các nước Châu Âu không ký hiệp ước Châu Âu.
- Việc bầu cử tổng thống Mỹ.
- Việc ông Sarkozy thắng cử tổng thống Pháp.
- Căng thẳng Trung Đông, Bắc Triều Tiên…
- Vấn đề định giá lại CNY.
Ngoài những yếu tố cơ bản trên thì những nguyên nhân sau làm biến động tỷ giá như:
+ Sự gia tăng đáng kể các thành viên tham gia thị trường nhằm mục đích tìm kiếm các cơ
hội sinh lới khi tỷ giá biến động. đối với các đối tượng này thì tỷ giá biến động theo hướng
nào là không quan trọng cái chính họ cần là thị trường phải biến động.
+ Các luồng vốn di chuyển nhằm thanh toán sự mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế
giữa các quốc gia.Các nhà đi vay cũng có xu hướng tìm kiếm các nguồn vốn bằng các đồng
tiền khác nhau nhằm giảm chi phí vay, các quỹ đầu tư cũng di chuyển nguồn vốn vào các
đồng tiền có lợi nhuận cao nhất. Cộng thêm các biến động về lãi suất càng làm các quá trình
trên diễn ra mạnh mẽ.
Các nhà đầu cơ trên thị trường bao gồm:
1.Nhà đầu cơ hay leveraged investor (Hedge fund).
2.Định chề đầu tư (pension fund, thường thông qua các công ty quản lý tài sản, investmen
bank)
3.Các công ty
4.Các loại khác (bao gồm cả các NHTW)
+ Tỷ giá chéo: tỷ giá USD và một đồng tiền khác đôi khi bị ảnh hưởng bởi các cặp tỷ giá
khác. Ví dụ như một sự gia tăng nhanh chóng của đồng JPY so với EUR (EURJPY) tạo nên
một sự mất giá của EUR, bao gồm luôn cả sự sụt giảm EURUSD.
+ Tác động của nhân tố mang tính chu kỳ: Đây là các hoạt động ngoại có tính chất lặp lại
hàng năm trong những thời điểm nhất định, có thể gây ra những biến động tỷ giá mà ta có
thể định trước, tuy nhiên quá trình này không phải lúc nào cũng xảy ra giống nhau mà có thể
có sự điều chỉnh biến động khác đi.
+ Tác động của những nhân tố khác: Những nhân tố khác, ít xảy ra thường xuyên cũng có
tác động lớn tới biến động tỷ giá như các kỳ họp của G7, IMF, hội nghị kinh tế các nước, các
khu vực … các thông tin mua bán, sát nhập các công ty có giá trị trên hàng tỷ USD.
Hết bài 2
Bài 3: Cách nhận biết xu hướng Vàng Thế giới, cách đón đỉnh, bắt đáy, cách chốt lời, cắt lỗ
cũng như cách phân biệt giảm điều chỉnh hay sell off.
1. Cách nhận biết xu hướng Vàng Thế giới là tăng hay giảm?
Trước hết Taichinhthegioi xin nói là Vàng Tăng hay Giảm điều có nguyên nhân của nó. Một
sự bất ổn về tiền tệ hay lạm phát, căng thẳng chính trị, kinh tế yếu kém, lãi suất thấp… đều
là những nhân tố hổ trợ Xu hướng Tăng của Vàng. Ngược lại nếu các yếu tố trên Tốt và sẽ
Giảm.
** Nhân biết xu hướng Tăng ( tất nhiên phải có kèm theo các nhân tố hỗ trợ)
- Khi bắt đầu một xu hướng tăng thì trước đó vàng phải từ đà tăng giảm xuống để hình thành
trend giảm. Chúng ta chú ý trend giảm này giảm đến đâu? Và trụ được tại đó bao lâu? Nếu
ngày qua ngày càng mức close càng thấp hơn, thì trend giảm vẫn còn, nhưng nếu ngày qua
ngày mức close cao hơn, hay mức close tăng giảm zic zac tại điểm nào đó, hay vàng xoay
quanh điểm nào đó trong vòng 1 tuần lễ đến 10 ngày ( nghĩa là nếu Vàng có giảm xuống và
tăng gì cũng về trở lại mức cũ) rồi sao đó đột nhiên tăng và close 1 cái tăng từ $5 - $10 so
dấu hiện Vàng sắp đảo chiều là Tăng, rồi ngày
Vàng đã trong xu thế Tăng và canh MUA theo. Lúc này ta phải
tự mình đặt ra các cản cứng xem Vàng có break được không? Nếu break được và sao đó
close với giá trên điểm Vàng break được thì xem như trend tăng vẫn còn ( nếu Vàng break
được cản mạnh nhưng không close được trên cản cứng đó, thì xem như Vàng chưa thực sự
Tăng vững). Cứ thế xem xét đà Tăng của vàng theo từng ngày với giá close. Miển sao giá
close trong 3 ngày liên tiếp không được thấp hơn liên tục thì Vàng vẫn trong trend tăng. Nếu
giá close 2 ngày close tục bị giảm thì đà tăng của Vàng có nguy cơ bị kết thúc, còn nếu trong
3 ngày giảm thì chắc chắn đà tăng của Vàng kết thúc, mở ra hướng giảm. Còn trong trường
hợp giá close 1 ngày tăng, 1 ngày giảm thì không sao. Nhưng không được close theo kiểu
ngày hôm nay giảm $10 - $15, ngày mai tăng nhẹ chỉ $5 so với giá close hôm qua, và ngày
kế nữa giảm $10. Tuy có ngày tăng ngày giảm nhưng mức giảm nhiều hơn Tăng là cũng rơi
vào nguy cơ đảo chiều giảm. Đà tăng vẫn còn khi mức giá close tăng giảm hầu như ngang
như là được. Tiếp tục xem xét nếu đà tăng đã quá yếu (khi nhiều lần không break được các
mức cản tiếp theo) là Vàng đang sắp đảo chiều..
** Nhân biết xu hướng Giảm ( tất nhiên phải có kèm theo các nhân tố hỗ trợ)
- Khi bắt đầu một xu hướng giảm thì trước đó vàng phải từ đà giảm và tăng lên để hình
thành trend tăng. Chúng ta chú ý trend Tăng này tăng đến đâu? Và trụ được tại đó bao lâu?
Nếu ngày qua ngày càng mức close càng tăng cao hơn, thì trend tăng vẫn còn, nhưng nếu
ngày qua ngày mức close giảm thấp hơn, hay mức close tăng giảm zic zac tại điểm nào đó,
hay vàng xoay quanh điểm nào đó trong vòng 1 tuần lễ đến 10 ngày ( nghĩa là nếu Vàng có
giảm xuống và tăng gì cũng về trở lại mức cũ) rồi sao đó đột nhiên tăng và close 1 cái giảm
từ trên $5 - $10 so với giá mà nó xoay quanh cả tuần lễ hơn dấu hiện Vàng sắp đảo chiều
Vàng đã trong xu thế Giảm và canh Bán
theo. Lúc này ta phải tự mình đặt ra các hổ trơg xem Vàng có break được không? Nếu break
được và sao đó close với giá dưới điểm Vàng break được thì xem như trend tăng vẫn còn (
nếu Vàng break được cản hưng không close được dưới cản hổ trợ đó, thì xem như Vàng
chưa thực sự giảm bền vững). Cứ thế xem xét đà Giảm của vàng theo từng ngày với giá
close. Miển sao giá close trong 3 ngày liên tiếp không được tăng cao hơn liên tục thì Vàng
vẫn trong trend giảm. Nếu giá close 2 ngày close tục bị tăng thì đà giảm của Vàng có nguy
cơ bị kết thúc, còn nếu trong 3 ngày tăng thì chắc chắn đà giảm của Vàng kết thúc, mở ra
hướng tăng. Còn trong trường hợp giá close 1 ngày tăng, 1 ngày giảm thì không sao. Nhưng
không được close theo kiểu ngày hôm nay tăng $10 - $15, ngày mai giảm nhẹ chỉ $5 so với
giá close hôm qua, và ngày kế nữa tăng $10. Tuy có ngày tăng ngày giảm nhưng mức Tăng
nhiều hơn giảm là cũng rơi vào nguy cơ đảo chiều giảm. Đà giảm vẫn còn khi mức giá close
tăng giảm hầu như ngang như là được. Tiếp tục xem xét nếu đà giảm đã quá yếu (khi nhiều
lần không break được các mức cản tiếp theo) là Vàng đang sắp đảo chiều..
2. * Cách đón đỉnh, bắt đáy của vàng thế giới.
Kết hợp với phần cách nhận biết xu hướng Vàng Thế Giới là tăng hay giảm ta cần xem xét
những yếu tố sau:
** Cách bắt đáy: Xem xét các nhận biết xu hướng Tăng của phần trên để biết vàng sắp hay
khi nào đảo chiều?
Khi Vàng giảm mạnh hay mở ra xu hướng giảm ( sau khi tăng) thì chúng ta phải đu theo
trend để Bán mạnh theo, khi chúng ta thấy dầu hiệu Vàng giảm yếu đi hay thật kiên nhẫn
chờ Vàng đi hết quá trình giảm của nó. Làm sao biết Vàng đã sắp đi xong quá trình giảm để
chúng ta bắt đáy?
Chúng ta phải chú ý và nhớ đến cái giá “ đáy” của kì liền kề trước đó là bao nhiêu? Chúng ta
xem xem Vàng có khả năng break qua đáy đó không? Nếu vàng break được qua đáy đó
nhưng bật trở lại liền hay 2 phiên liên tục không thể phá vùng đáy đó. Thì lúc này ta có thể
xem xét Mua vào mạnh tay. Hoặc kí liền trước đáy vàng là $1,35x chẳng hạn, nhưng cứ đến
$1,37x hay $1,36x là Vàng vọt tăng trở lại và khoảng 2 đến 3 lần như vậy thì chúng ta nên
xem xét bắt đầu Mua vào lại là vừa. Một yếu tố nữa là khi Vàng sideway quanh 1 vùng nào
đó hơi lâu khoảng tuần lễ và đột nhiên có “ triệu chứng” tăng nhẹ và close tăng đều trong 2
ngày liên tục trở lên và sau đó có giảm lại vẫn giảm tại mức cũ mà nó sideway thì lúc này ta
cũng cóm thể Mua vào được. Thêm nữa là, chú ý kĩ phần này, khi Vàng đang ở ngưỡng
sideway và có 1 số tin hổ trợ cho Vàng và làm Vàng tăng thì cũng là lúc ta xem xét Mua vào
khi Vàng giảm nhẹ điều chỉnh. ( chú ý trong trường hợp này tính từ mức vàng sideway thì đà
tăng mạnh trong 1 phiên phải từ $15 - $25)
Một nhân tố quan trọng mà chúng ta cần chú ý là xem xét Mua vào khi Vàng có mức giảm
trung bình $125 so với lúc tăng cuối cùng.
** Cách đón đỉnh : Xem xét các nhận biết xu hướng giả của phần trên để biết vàng sắp hay
khi nào đảo chiều?
Khi Vàng tăng mạnh hay mở ra xu hướng tăng ( sau khi giảm) thì chúng ta phải đu theo
trend để Mua vào theo, khi chúng ta thấy dầu hiệu Vàng tăng yếu đi hay thật kiên nhẫn chờ
Vàng đi hết quá trình tăng của nó. Trong quá trình đó, hãy chú ý đến những dấu hiệu nguy
hiểm. Đó là khi trong phiên giao dịch, giá đột ngột rớt mạnh rồi lại phục hồi ngay sau đó.
Những ngày sau đó, giá có thể lên tiếp nhưng lực lên yếu dần và không thể vượt qua những
đỉnh cao mới. Lúc đó chúng ta nên cân nhắc chốt lời và thoát khỏi thị trường. Làm sao biết
Vàng đã sắp đi xong quá trình giảm để chúng ta bắt đáy?
* Những dấu hiệu nhận biết vàng sắp đảo chiều để giảm để Bắt đỉnh, Bán ra
húng ta phải chú ý và nhớ đến cái giá “ đình” của kì liền kề trước đó là bao nhiêu? Chúng ta
xem xem Vàng có khả năng break qua đỉnh đó không? Nếu vàng break được qua đỉnh đó
nhưng bật trở lại liền hay 2 phiên liên tục không thể phá vùng đỉnh đó. Thì lúc này ta có thể
xem xét Bán ra mạnh tay. Hoặc kí liền trước đỉnh vàng là $1,430 chẳng hạn, nhưng cứ đến
$1,41x hay $1,42xlà Vàng vọt giảm trở lại và khoảng 2 đến 3 lần như vậy thì chúng ta nên
xem xét bắt đầu Bán ra là vừa. Một yếu tố nữa là khi Vàng sideway quanh 1 vùng nào đó hơi
lâu khoảng tuần lễ và đột nhiên có “ triệu chứng” giảm nhẹ và close giảm đều trong 2 ngày
liên tục trở lên và sau đó có tăng lại vẫn tăng tại mức cũ mà nó sideway thì lúc này ta cũng
cóm thể Bán ra được. Thêm nữa là, chú ý kĩ phần này, khi Vàng đang ở ngưỡng sideway và
có 1 số tin bất lợi cho Vàng và làm Vàng giảm thì cũng là lúc ta xem xét Bán ra khi Vàng
giảm điều chỉnh. ( chú ý trong trường hợp này tính từ mức vàng sideway thì đà giảm mạnh
trong 1 phiên phải từ $15 - $25).
Một nhân tố quan trọng mà chúng ta cần chú ý là xem xét Bán ra khi Vàng có mức tăng
trung bình $125 so với lúc giảm cuối cùng.
Chu ý chung: Điều quan trọng sau khi xác định được đỉnh và đáy, chúng ta phải vào lệnh
trong vòng 48 tiếng khi bắt đầu 1 xu hướng. Vì sao? Vì nó cho ta khao3n lợi nhuận tới ưu
nhất và đảm bảo để chúng ta có thể đủ sức. vượt qua những đợt điều chỉnh thông thường
xuất hiện trong tiến trình di chuyển của xu hướng
3 . Cách cắt lỗ cũng như chốt lời thế nào cho hiệu quả?
Như chúng ta đã biết và thế giới biến động vô cùng phức tạp và khó lường cho nên chúng ta
phải tuân thù cut loss và biết cách chốt lời cho thật hiệu quả.
Khi bắt đầu 1 xu hướng mới, Vàng thường trụ tại xu hướng mới này khoảng 1 tuần cho đến
hơn cả tháng. Vì một xu hướng thật sự không kết thúc ngay khi nó bắt đầu. Nó cần thời gian
để đi hết tiến trình di chuyển hợp lý. Trong tiến trình đó sẽ có nhiều đợt điều chỉnh xảy ra.
Trường hợp chốt lời.
Khi chúng ta đang đi đúng hướng thì tất nhiên những lệnh mà chúng ta triển khai sẽ cho ta 1
lợi nhuận to lớn, và để bảo vệ an toàn cho lợi nhuận đó chúng ta nên di chuyển điểm cut loss
để nhằm bảo đảm lợi nhuận của mình.
Giả sử chúng ta đã đạt được lợi nhuận là 30 USD thì hãy di chuyển điểm cắt lỗ để đảm bảo
chúng ta giữ được 25 lợi nhuận khi giá di chuyển theo hướng ngược lại.
Về trường hợp đặt mức dừng lỗ.
Như Taichinhthegioi đã nói trong trade Vàng cần tuân thủ kĩ luật Stop loss. Thông thường,
mức cắt lỗ tối đa không quá 10%. Hãy hạn chế mức lỗ càng ít càng tốt. Nếu sau khi đặt lệnh
mà giá chạy ngược chiều khiến bạn thua lỗ, thì hãy cắt ngay. Khi đó mức lỗ nằm trong phạm
vi cho phép và chúng ta có thể bảo toàn được vốn cho lần đặt lệnh sau. Và chúng ta nên xem
xét mua lại quanh mức dừng lỗ để chờ Bán tiếp ( nếu chúng ta kì vọng vàng giảm) hay
ngược lại. Chính lệnh Mua này sẽ bù lỗ phần nào cho ta ( có khi có lời) ở lệnh Bán trước đó
bị lỗ. Nghĩa là luôn tuân thủ stop loss để bảo toàn vốn và hạn chế rủi ro. Vì vậy, sau khi đặt
lệnh, nếu thấy giá chạy ngược chiều thì hãy cắt ngay và mua lướt hay bán lướt để chờ bán
hay mua tiếp hoặc đứng ra ngoài để nhìn nhận lại xu hướng thị trường.
Còn 1 cách nữa, là chúng ta Mua hay Bán đối ứng…
(Còn tiếp…)
( Taichinhthegioi tạm thời viết bao nhiêu đây trước, còn phần Mua Bán đối ứng, cách pah6n
biệt giảm điểu chỉnh và sell off..Taichinhthegioi sẽ trình bày trong tối nay)
Taichinhthegioi kính chào cả nhà
Bài 3 ( hoàn chỉnh): Cách nhận biết xu hướng Vàng Thế giới, cách đón đỉnh, bắt đáy, cách
chốt lời, cắt lỗ cũng như cách phân biệt giảm điều chỉnh hay sell off.
1. Cách nhận biết xu hướng Vàng Thế giới là tăng hay giảm?
Trước hết Taichinhthegioi xin nói là Vàng Tăng hay Giảm điều có nguyên nhân của nó. Một
sự bất ổn về tiền tệ hay lạm phát, căng thẳng chính trị, kinh tế yếu kém, lãi suất thấp… đều
là những nhân tố hổ trợ Xu hướng Tăng của Vàng. Ngược lại nếu các yếu tố trên Tốt và sẽ
Giảm.
** Nhân biết xu hướng Tăng ( tất nhiên phải có kèm theo các nhân tố hỗ trợ)
- Khi bắt đầu một xu hướng tăng thì trước đó vàng phải từ đà tăng giảm xuống để hình thành
trend giảm. Chúng ta chú ý trend giảm này giảm đến đâu? Và trụ được tại đó bao lâu? Nếu
ngày qua ngày càng mức close càng thấp hơn, thì trend giảm vẫn còn, nhưng nếu ngày qua
ngày mức close cao hơn, hay mức close tăng giảm zic zac tại điểm nào đó, hay vàng xoay
quanh điểm nào đó trong vòng 1 tuần lễ đến 10 ngày ( nghĩa là nếu Vàng có giảm xuống và
tăng gì cũng về trở lại mức cũ) rồi sao đó đột nhiên tăng và close 1 cái tăng từ $5 - $10 so
dấu hiện Vàng sắp đảo chiều là Tăng, rồi ngày
Vàng đã trong xu thế Tăng và canh MUA theo. Lúc này ta phải
tự mình đặt ra các cản cứng xem Vàng có break được không? Nếu break được và sao đó
close với giá trên điểm Vàng break được thì xem như trend tăng vẫn còn ( nếu Vàng break
được cản mạnh nhưng không close được trên cản cứng đó, thì xem như Vàng chưa thực sự
Tăng vững). Cứ thế xem xét đà Tăng của vàng theo từng ngày với giá close. Miển sao giá
close trong 3 ngày liên tiếp không được thấp hơn liên tục thì Vàng vẫn trong trend tăng. Nếu
giá close 2 ngày close tục bị giảm thì đà tăng của Vàng có nguy cơ bị kết thúc, còn nếu trong
3 ngày giảm thì chắc chắn đà tăng của Vàng kết thúc, mở ra hướng giảm. Còn trong trường
hợp giá close 1 ngày tăng, 1 ngày giảm thì không sao. Nhưng không được close theo kiểu
ngày hôm nay giảm $10 - $15, ngày mai tăng nhẹ chỉ $5 so với giá close hôm qua, và ngày
kế nữa giảm $10. Tuy có ngày tăng ngày giảm nhưng mức giảm nhiều hơn Tăng là cũng rơi
vào nguy cơ đảo chiều giảm. Đà tăng vẫn còn khi mức giá close tăng giảm hầu như ngang
như là được. Tiếp tục xem xét nếu đà tăng đã quá yếu (khi nhiều lần không break được các
mức cản tiếp theo) là Vàng đang sắp đảo chiều..
** Nhân biết xu hướng Giảm ( tất nhiên phải có kèm theo các nhân tố hỗ trợ)
- Khi bắt đầu một xu hướng giảm thì trước đó vàng phải từ đà giảm và tăng lên để hình
thành trend tăng. Chúng ta chú ý trend Tăng này tăng đến đâu? Và trụ được tại đó bao lâu?
Nếu ngày qua ngày càng mức close càng tăng cao hơn, thì trend tăng vẫn còn, nhưng nếu
ngày qua ngày mức close giảm thấp hơn, hay mức close tăng giảm zic zac tại điểm nào đó,
hay vàng xoay quanh điểm nào đó trong vòng 1 tuần lễ đến 10 ngày ( nghĩa là nếu Vàng có
giảm xuống và tăng gì cũng về trở lại mức cũ) rồi sao đó đột nhiên tăng và close 1 cái giảm
từ trên $5 - $10 so với giá mà nó xoay quanh cả tuần lễ hơn dấu hiện Vàng sắp đảo chiều
Vàng đã trong xu thế Giảm và canh Bán
theo. Lúc này ta phải tự mình đặt ra các hổ trơg xem Vàng có break được không? Nếu break
được và sao đó close với giá dưới điểm Vàng break được thì xem như trend tăng vẫn còn (
nếu Vàng break được cản hưng không close được dưới cản hổ trợ đó, thì xem như Vàng
chưa thực sự giảm bền vững). Cứ thế xem xét đà Giảm của vàng theo từng ngày với giá
close. Miển sao giá close trong 3 ngày liên tiếp không được tăng cao hơn liên tục thì Vàng
vẫn trong trend giảm. Nếu giá close 2 ngày close tục bị tăng thì đà giảm của Vàng có nguy
cơ bị kết thúc, còn nếu trong 3 ngày tăng thì chắc chắn đà giảm của Vàng kết thúc, mở ra
hướng tăng. Còn trong trường hợp giá close 1 ngày tăng, 1 ngày giảm thì không sao. Nhưng
không được close theo kiểu ngày hôm nay tăng $10 - $15, ngày mai giảm nhẹ chỉ $5 so với
giá close hôm qua, và ngày kế nữa tăng $10. Tuy có ngày tăng ngày giảm nhưng mức Tăng
nhiều hơn giảm là cũng rơi vào nguy cơ đảo chiều giảm. Đà giảm vẫn còn khi mức giá close
tăng giảm hầu như ngang như là được. Tiếp tục xem xét nếu đà giảm đã quá yếu (khi nhiều
lần không break được các mức cản tiếp theo) là Vàng đang sắp đảo chiều..
2. Cách đón đỉnh, bắt đáy của vàng thế giới.
Kết hợp với phần cách nhận biết xu hướng Vàng Thế Giới là tăng hay giảm ta cần xem xét
những yếu tố sau:
** Cách bắt đáy:
Xem xét các nhận biết xu hướng Tăng của phần trên để biết vàng sắp hay khi nào đảo
chiều?
Khi Vàng giảm mạnh hay mở ra xu hướng giảm ( sau khi tăng) thì chúng ta phải đu theo
trend để Bán mạnh theo, khi chúng ta thấy dầu hiệu Vàng giảm yếu đi hay thật kiên nhẫn
chờ Vàng đi hết quá trình giảm của nó. Làm sao biết Vàng đã sắp đi xong quá trình giảm để
chúng ta bắt đáy?
Chúng ta phải chú ý và nhớ đến cái giá “ đáy” của kì liền kề trước đó là bao nhiêu? Chúng ta
xem xem Vàng có khả năng break qua đáy đó không? Nếu vàng break được qua đáy đó
nhưng bật trở lại liền hay 2 phiên liên tục không thể phá vùng đáy đó. Thì lúc này ta có thể
xem xét Mua vào mạnh tay. Hoặc kí liền trước đáy vàng là $1,35x chẳng hạn, nhưng cứ đến
$1,37x hay $1,36x là Vàng vọt tăng trở lại và khoảng 2 đến 3 lần như vậy thì chúng ta nên
xem xét bắt đầu Mua vào lại là vừa. Một yếu tố nữa là khi Vàng sideway quanh 1 vùng nào
đó hơi lâu khoảng tuần lễ và đột nhiên có “ triệu chứng” tăng nhẹ và close tăng đều trong 2
ngày liên tục trở lên và sau đó có giảm lại vẫn giảm tại mức cũ mà nó sideway thì lúc này ta
cũng cóm thể Mua vào được. Thêm nữa là, chú ý kĩ phần này, khi Vàng đang ở ngưỡng
sideway và có 1 số tin hổ trợ cho Vàng và làm Vàng tăng thì cũng là lúc ta xem xét Mua vào
khi Vàng giảm nhẹ điều chỉnh. ( chú ý trong trường hợp này tính từ mức vàng sideway thì đà
tăng mạnh trong 1 phiên phải từ $15 - $25)
Một nhân tố quan trọng mà chúng ta cần chú ý là xem xét Mua vào khi Vàng có mức giảm
trung bình $125 so với lúc tăng cuối cùng.
** Cách đón đỉnh : Xem xét các nhận biết xu hướng giả của phần trên để biết vàng sắp hay
khi nào đảo chiều?
Khi Vàng tăng mạnh hay mở ra xu hướng tăng ( sau khi giảm) thì chúng ta phải đu theo
trend để Mua vào theo, khi chúng ta thấy dầu hiệu Vàng tăng yếu đi hay thật kiên nhẫn chờ
Vàng đi hết quá trình tăng của nó. Trong quá trình đó, hãy chú ý đến những dấu hiệu nguy
hiểm. Đó là khi trong phiên giao dịch, giá đột ngột rớt mạnh rồi lại phục hồi ngay sau đó.
Những ngày sau đó, giá có thể lên tiếp nhưng lực lên yếu dần và không thể vượt qua những
đỉnh cao mới. Lúc đó chúng ta nên cân nhắc chốt lời và thoát khỏi thị trường. Làm sao biết
Vàng đã sắp đi xong quá trình giảm để chúng ta bắt đáy?
* Những dấu hiệu nhận biết vàng sắp đảo chiều để giảm để Bắt đỉnh, Bán ra
Chúng ta phải chú ý và nhớ đến cái giá “ đình” của kì liền kề trước đó là bao nhiêu? Chúng
ta xem xem Vàng có khả năng break qua đỉnh đó không? Nếu vàng break được qua đỉnh đó
nhưng bật trở lại liền hay 2 phiên liên tục không thể phá vùng đỉnh đó. Thì lúc này ta có thể
xem xét Bán ra mạnh tay. Hoặc kí liền trước đỉnh vàng là $1,430 chẳng hạn, nhưng cứ đến
$1,41x hay $1,42x là Vàng vọt giảm trở lại và khoảng 2 đến 3 lần như vậy thì chúng ta nên
xem xét bắt đầu Bán ra là vừa. Một yếu tố nữa là khi Vàng sideway quanh 1 vùng nào đó hơi
lâu khoảng tuần lễ và đột nhiên có “ triệu chứng” giảm nhẹ và close giảm đều trong 2 ngày
liên tục trở lên và sau đó có tăng lại vẫn tăng tại mức cũ mà nó sideway thì lúc này ta cũng
cóm thể Bán ra được. Thêm nữa là, chú ý kĩ phần này, khi Vàng đang ở ngưỡng sideway và
có 1 số tin bất lợi cho Vàng và làm Vàng giảm thì cũng là lúc ta xem xét Bán ra khi Vàng
giảm điều chỉnh. ( chú ý trong trường hợp này tính từ mức vàng sideway thì đà giảm mạnh
trong 1 phiên phải từ $15 - $25).
Một nhân tố quan trọng mà chúng ta cần chú ý là xem xét Bán ra khi Vàng có mức tăng
trung bình $125 so với lúc giảm cuối cùng.
Chu ý chung: Điều quan trọng sau khi xác định được đỉnh và đáy, chúng ta phải vào lệnh
trong vòng 48 tiếng khi bắt đầu 1 xu hướng. Vì sao? Vì nó cho ta khao3n lợi nhuận tới ưu
nhất và đảm bảo để chúng ta có thể đủ sức. vượt qua những đợt điều chỉnh thông thường
xuất hiện trong tiến trình di chuyển của xu hướng
3 . Cách cắt lỗ cũng như chốt lời thế nào cho hiệu quả?
Như chúng ta đã biết và thế giới biến động vô cùng phức tạp và khó lường cho nên chúng ta
phải tuân thù cut loss và biết cách chốt lời cho thật hiệu quả.
Khi bắt đầu 1 xu hướng mới, Vàng thường trụ tại xu hướng mới này khoảng 1 tuần cho đến
hơn cả tháng. Vì một xu hướng thật sự không kết thúc ngay khi nó bắt đầu. Nó cần thời gian
để đi hết tiến trình di chuyển hợp lý. Trong tiến trình đó sẽ có nhiều đợt điều chỉnh xảy ra.
Trường hợp chốt lời.
Khi chúng ta đang đi đúng hướng thì tất nhiên những lệnh mà chúng ta triển khai sẽ cho ta 1
lợi nhuận to lớn, và để bảo vệ an toàn cho lợi nhuận đó chúng ta nên di chuyển điểm cut loss
để nhằm bảo đảm lợi nhuận của mình.
Giả sử chúng ta đã đạt được lợi nhuận là 30 USD thì hãy di chuyển điểm cắt lỗ để đảm bảo
chúng ta giữ được 25 lợi nhuận khi giá di chuyển theo hướng ngược lại.
Về trường hợp đặt mức dừng lỗ.
Như Taichinhthegioi đã nói trong trade Vàng cần tuân thủ kĩ luật Stop loss. Thông thường,
mức cắt lỗ tối đa không quá 10%. Hãy hạn chế mức lỗ càng ít càng tốt. Nếu sau khi đặt lệnh
mà giá chạy ngược chiều khiến bạn thua lỗ, thì hãy cắt ngay. Khi đó mức lỗ nằm trong phạm
vi cho phép và chúng ta có thể bảo toàn được vốn cho lần đặt lệnh sau. Và chúng ta nên xem
xét mua lại quanh mức dừng lỗ để chờ Bán tiếp ( nếu chúng ta kì vọng vàng giảm) hay
ngược lại. Chính lệnh Mua này sẽ bù lỗ phần nào cho ta ( có khi có lời) ở lệnh Bán trước đó
bị lỗ. Nghĩa là luôn tuân thủ stop loss để bảo toàn vốn và hạn chế rủi ro. Vì vậy, sau khi đặt
lệnh, nếu thấy giá chạy ngược chiều thì hãy cắt ngay và mua lướt hay bán lướt để chờ bán
hay mua tiếp hoặc đứng ra ngoài để nhìn nhận lại xu hướng thị trường.
4. Cách phân biệt giảm điều chỉnh hay Sell Off
A. Giảm điều chỉnh
Khi Vàng đột nhiên giảm mạnh nhưng sau đó lực giảm yếu dần và mức close ngày này qua
ngày kia tuy có tăng giảm zic zac nhưng có mức tăng nhẹ, mức giảm trong 3 ngày liên tục
không được giảm nhiều hơn $30. Thông thường giá điểu chỉnh giảm chỉ khoảng $15 cho đến
$20 rồi sau đó trở lại xu hướng chính là tăng.
Lưu ý: không được có 3 ngày liên tục close giá thấp dần đều.
B. Giảm mạnh - Sell Off
Trạng thái Sell Off là quá trình giảm giá, rớt giá liên tục, cường độ giảm cáng lúc càng
mạnh, và nếu sau khi rớt, giá có hồi lại nhưng sau đó giảm mạnh hơn. Thông thường nếu
vàng hồi lại 1 mà giảm lại đến 2 hay 3 là coi chừng sell off.
Quá trình Sell off thông thường khoảng từ $100 đến $140.
Nếu 3 ngày liên tiếp giá close thấp dần đều và có tổng mức giảm trong 1 ngày là khoảng $25
hay tổng 3 ngày liên tục là $35 - $40 thì vàng đang Sell off, quá trình sell off sẽ còn tiếp tục
( canh hồi là chúng ta Bán), vì khi Sell off giá sẽ giảm khoảng trên dưới $100 so với gia lúc
đỉnh trước đó.
Hết Bài 3
Taichinhthegioi kính chào cả nhà,
Bài Số 3B: Các Trade Vàng lạc quan!
Phương Pháp Trade Vàng lạc quan!
Phương pháp này là 1 trong những phương do Taichinhthegioi nghĩ ra và Taichinhthegioi
luôn trade theo kiểu này, 99% không lỗ mà chỉ có lời.
Phương pháp này là phương pháp mà khiến bạn không phải quá bận tâm là Vàng sắp tới tăng
hay giảm? Vàng đã tới đỉnh hay tới đáy chưa…? Nói chung phương pháp này tránh cho tài
khảon của ta bị thua lỗ
Đó là phương pháp trade theo xu hướng chủ đạo của thị trường. Phương pháp này khởi cần
áp dụng tin tức cơ bản gì hết! Cứ đánh, trade lạc quan.
Muốn áp dụng được phương pháp này bạn nên:
1. Tuân thủ Stop loss và đảo chiều đánh ( vì dụ đang Bán, chạm stop loss chuyển sang Mua
liền)
2. Xác định biên độ Vàng dao động, xác định các cản cứng và cản hổ trợ cũng như mức phải
take profit.
Chú ý phương pháp này take profit hơi ít nhưng rất chắc ăn:
Trường hợp Bán ( Vì chúng ta kì vọng vàng xuống)
Ví dụ Bạn đặt lệnh Bán tại $1,414, dừng lỗ $1,417. Nếu như xu hướng vàng như ý chúng ta
là giảm thì chúng ta cứ chờ đợi take profit nhưng nếu xu hướng Vàng tăng và chúng ta bị
chạm Stop loss thì khi đó, chúng ta phải Mua vào liền quanh mức Stop loss là $1,415 hay
$1,416 chẳng hạn ( vì chắc chắn rằng sau khi chạm Stop loss $1,417 vàng sẽ hồi xuống 1
chút tại $1,415 hay $1,416, cho chắc ăn ta nên Mua vùng Stop loss trừ đi 1 usd. Sau đó ta
phải xác định điểm Bán tiếp hay điểm chốt lời. Ví dụ ta xác định điểm Bán tiếp là quanh
$1,421, dừng lỗ $1,425. Thì ta chốt lời lệnh Mua tại $1,420 rồi Bán. Tương tự nếu chạm
$1,425 dừng lỗ thì ta canh Mua tiếp quanh $1,424 rồi chốt lời và canh Bán quanh $1,430.
Tổng kết lệnh Bán $1,414 đến $1,417 lỗ $3. Lệnh Mua $1,416 chốt tại
lãi $4. Rồi lệnh Bán $1,420 đến $1,425 ==> lỗ $5. Lệnh Mua $1,424 chốt tại
quanh $1,430 lời $6.
Suy ra: -3 +4 -5 +6 = lãi $2, hoặc nếu ai có chốt vội vã cũng hều vốn hoặc lãi $1.
Tương tự cho Trường Hợp Mua ( cho nên Taichinhthegioi xin không trình bày vì nó tương
tự)
Cách trade này chỉ sử dụng khi mà Vàng đi nghịch kì vọng của ta. Nhưng chỉ được sử dụng
tối đa 3 lần. Vi1 dụ: Như ta kì vọng vàng giảm mà ta cứ Bán rối Mua, Mua rồi Bán…từ lúc
$1,415 cho đến $1,430 mà vàng vẫn tăng thì nên duy trì theo 1 hướng luôn. ( Thông thường
cách này chúng ta sẽ sử dụng tại Phiên Mỹ nhiều hơn khi nó đi ngược với phân tích và kì
vọng của ta).
Còn Phiên Á và Phiên Âu thì trade rất đơn giản. Thông thường nếu Vàng phiên Mỹ Giảm là
Phiên Á và Phiên Âu sau đó xu hướng chính là Giảm, Phiên Mỹ tăng thì Phiên Á và Phiên
Âu sau đó xu hướng chính là tăng ( chính xác 90%, vẫn còn 10% sai).
Cách này chúng ta cần phải có kĩ năng xác lập và tính các mức Stop loss cũng như các
mứccản cứng, cản hổ trợ. Nhưng nếu bạn nào không biết thì có thể tham khảo các tư vấn để
tìm ra các điểm hổ trợ hay cản hay điểm Stop loss.
Nếu chúng ta tìm đúng được cản ( và đặt stop loss tại đây) thì khi Vàng break qua hay chạm
Stop loss, Vàng sẽ tăng tiếp hay giảm tiếp 1 đoạn trên $5 nữa.
Lưu ý quan trọng:
- Trong trường hợp sau khi ta Mua hay Bán lại ( khi chạm Stop loss) mà Vàng cứ sideway
quanh điểm ta Mua hay Bán lại suốt khoảng 3 tiếng đồng hồ thì Ta biết rằng vàng khó break
điểm đó ( trong 1 phiên nhất định, chẳng hạn như Phiên Mỹ, sau 3 tiếng rồi mà không break
nổi, hay Phiên Âu cũng vậy, vì nếu qua 1 phiên khác nó sẽ khác, chỉ tính trong 1 phiên và
không áp dụng cho khoảng thời gian liền kề chuyển tiếp giữa 2 phiên) thì lúc này Ta nên
Bán hya Mua tại điểm sideway đó.
- Một trường hợp nữa là ví dụ khi khi Ta bán $1,415, dừng lỗ $1,417, Vàng break qua điểm
dừng lỗ $1,417. Khi đó ta Mua lại quanh $1,416 chờ chốt lời và Bán tại $1,420 nhưng Vàng
không tăng đến $1,420 sau khi ta Mua lại $1,416 1 lúc sáu Vàng lại giảm trở lại qua $1,416
ví dụ như giảm lại $1,412 ( làm ta bị dừng lỗ 2 chiều luôn). Tức làm ta lỗ thêm khoảng $4
nữa. Thí các bạn yên tâm, hãy bán mạnh theo đà giảm này ( tức nhiên canh hồi lại 1 chút rồi
Bán). Lúc này đà giảm sẽ xuống mạnh hơn, vì Vàng đã không thể trụ vững trên cản đó ===>
đỉnh tạm thời trong ngày hôm đó.
Cách này giúp ta không bị thua lỗ!
BÀI SỐ 4: Vàng có phải là bong bóng? Nhận định về xu hướng Vàng trong năm 2011.
A. Yếu Tố làm Vàng Tăng?
Trước Tiên chúng ta cùng tìm hiểu nguyên nhân tại sao Vàng tăng lien tục trong suốt 10 năm
nay?
1. Chiến Tranh tại Irac do Mỹ dẫn đầu. Chính thời điểm này Vàng bắt đầu chu kì tăng.
2. Kinh tế mỹ và 1 số nước lớn rơi về trì trệ, và dẫn đến kết quả là đồng USD giảm giá
3. Khủng hoảng kinh tế lan ra tại Mỹ
4. Lãi suất được cắt giảm trên toàn cầu, đặc biệt lãi suất Mỹ gần như bằng 0 => làm cho Tiền
giấy mất tác dụng
5. Chính sách tiền tệ của 1 số nước như Mỹ, Nhật, Châu Âu là tiền giấy in ra nhiều thể hiện
qua việc sử dụng các biện pháp kích thích kinh tế, nới lỏng định lượng của Mỹ, các gói cứu
trợ của liên minh châu âu, và việc bơm thêm tiền của nhiều quốc gia lớn như Trung Quốc,
Nhật bản vào để kích thích kinh tế trong nước.... Khi tiền giấy được in ra quá nhiều, trong
khi lượng vàng khai thác được lại không tăng tương xứng sẽ dẫn tới việc tăng giá của đồng
tiền vàng.
6. Tỷ lệ lạm phát dần hình thành
7. Tâm lý của người dân, các nhà đầu tư, nhằm chống lại sự mất giá của đồng tiền nội địa,
vàng là một tài sản đã liên tục tăng trong suốt chục năm qua.
8. Khủng hoảng nợ công khu vực Châu Á rồi Châu Âu.
9. Chính phủ các nước muốn đa dạng hóa kho dự trữ ngoại tệ của mình nhằm tránh rủi ro khi
bị lệ thuộc vào chính sách tiền tệ của nước khác
10. Nguy cơ chiến tranh ở 1 số nước như Iran, Triều Tiên và các cuộc xung đột chính trị trên
toàn cầu.
Trên đây là 10 lí do chính để Vàng có sự tăng giá mãnh liệt từ quanh $300 cho đến trên
$1,400. ( Tăng gấp 5 lần)
Vậy câu hỏi được đặt ra là Vàng còn tăng tiếp? Và tăng đến đâu trong năm 2011?
Taichinhthegioi xin thưa rằng Vàng sẽ còn tăng tiếp trong năm 2011 khi các yếu tố sau đây
vẫn còn:
1. Tình hình kinh kế thế giới chưa có triển vọng, đặc biệt là kinh tế Mỹ vẫn còn xấu với tình
hình lao động việc làm không được cải thiện.
2. Chính sách duy trì lãi suất của các nền kinh tế lớn, đặc biệt là Mỹ cũng như các chính sách
tiền tệ như thể hiện qua việc sử dụng các biện pháp kích thích kinh tế, nới lỏng định lượng
của Mỹ, các gói cứu trợ của liên minh châu âu, và việc bơm thêm tiền của nhiều quốc gia lớn
như Trung Quốc, Nhật bản vào để kích thích kinh tế trong nước vẫn còn tiếp tục.
3. Lạm phát tăng cao
Lời bình:
Như vậy nếu thế, Vàng sẽ tăng đến đâu trong năm 2011? Taichinhthegioi cho rằng nếu các
yếu tố trên luôn hiện hữu trong năm 2011 thì Vàng sẽ có cơ hội là TĂNG và mức tăng sẽ là
khoảng $1,600 ( khó có thể hơn mức này).
Như Taichinhthegioi đã có nói rằng Vàng đang là đối trọng rất mạnh đối với USD. Vàng
tăng hay giảm điều có nguyên nhân của nó. Không tự nhiên mà Vàng tăng, cũng không tự
nhiên mà Vàng giảm. Tất cả đều có lí do của nó.
Đó cũng là lí do mà tại sao 1 số tổ chức Ngân hang trên Thế giới nhận định rằng Vàng trong
năm nay sẽ tăng lên $1,600 hay $1,700. Lí do để họ đưa ra con số này là vì họ cho rằng có 1
số yếu tố hổ trợ cho Vàng như lãi suất thấp của Mỹ, tình hình kinh tế Châu Âu và Mỹ vẫn
kém trong năm nay…..Họ dự đoán thế là vì họ cho rằng như vậy. Nhưng song song đó cũng
có 1 phe cho rằng trong năm 2011 vàng giảm về vùng $1,200 chẳng hạn. Vì sao? Vì họ cũng
có những lí do riêng như kinh tế Mỹ và thế giới sẽ tăng trưởng trong năm nay, Lãi suất các
nước sẽ tăng và Mỹ cũng thế…..Nghĩa là họ dự đoán dựa vào các phân tích riêng. Vậy ai
đúng? Ai sai? Taichinhthegioi cho rằng không có ai đúng hay ai sai mà là yếu tố thực tế sẽ
tác động lên giá Vàng. Ví dụ như nếu trong năm 2011, kinh tế Mỹ và thế giới có tiến triển rõ
rệt, FED phát đi tín hiệu Tăng Lãi suất… thì vàng Giảm về $1,200 hay nếu ngược lại Vàng
tăng lên $1,600. Nói chung tất cả phụ thuộc vào hoàn cảnh hiện tại vào thời điểm đó.
Đó cũng là lí do tại sao tuần tồi khi Bloomberg khảo sát những chuyên gia dự đoán giá Vàng
sẽ tăng hay giảm trong tuần ngày 03 – 07 tháng 1, đa số 90% cho rằng Vàng tiếp tục tăng, vì
sao họ cho rằng Vàng tăng? Vì họ không kì vọng cho các tin Mỹ sẽ Tốt, nhưng dự đoán của
họ hoàn toàn sai khi Vàng đã giảm rất mạnh trong tuần này do các tin Mỹ, Âu rất khả quan.
Tại sao Taichinhthegioi nói rõ phần này? Vì nó rất quan trọng, dự đoán của mọi người, mọi
chuyên gia, tổ chức đều gắn liền với cái yếu tố mà họ kì vọng tác điộng lên vàng. Vì như
Taichinhthegioi có nói rằng: “ Vàng tăng hay giảm đều có nguyên nhân của nó, không tự
nhiên Vàng tăng và cũng không tự nhiên Vàng giảm”
Khi kinh tế xấu, tiền giấy không còn giá trị thì cho dù Vàng $1,900 hay $2,000 họ cũng Mua
hay ngược lại khi kinh tế phát triển, lãi suất tăng và tiền giấy có gái trị thì cho dù lúc đó
Vàng có $1000 hay $900 họ cũng không Mua. Vì mua để làm gì?
B. Yếu tố làm Vàng giảm!
Bên cạnh rất nhiều chuyên gia thề giới cho rằng Vàng sẽ tăng cao trong năm nay, thì cũng có
1 số chuyên gia cho rằng Vàng khả năng giảm trong năm nay như nhà đầu tư chứng khoán
nổi tiếng người Mỹ George Soros đã nhiều lần cảnh báo về bong bóng giá vàng. Ông nhấn
mạnh đến sự lặp lại của mô hình đầu cơ đối với những tài sản như vàng bởi sau khi đạt đỉnh,
giá sẽ đột ngột đi xuống. Và ông này cũng cho rằng vàng đang sắp ở thời kì bong bong.
Sử dụng số liệu từ Hội đồng Vàng thế giới và công ty đá quý Kitco, nhà phân tích Alex
Dumortier cho rằng, nếu tính theo những mức giá được điều chỉnh theo lạm phát trở lại năm
1851, vàng đã tạo ra mức lãi trung bình của vàng trong suốt 154 năm là 0,7%/năm. Ông
nhấn mạnh: “Thực tế, trước năm 2005, lãi thực trung bình của vàng trong suốt 154 năm là
0%”. Ông lập luận rằng, vàng là một tài sản ít biến động trong dài hạn nên không hợp để tích
trữ giá trị. Người đầu cơ vào vàng có thể đối mặt với nguy cơ mất giá lớn. Giá vàng đảo
chiều sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng.
Nhà phân tích như Dumortier tin rằng giá vàng có thể giảm rất mạnh. Theo tính toán của
ông, giá vàng cần giảm 2/3 giá trị để trở lại mức giá trung bình dài hạn là 456 USD/ounce.
Dumortier cho rằng, nếu sự phục hồi kinh tế ổn định và lạm phát duy trì ở mức thấp, giá
vàng có thể giảm đáng kể so với mức hiện nay. Nhưng một câu hỏi nữa lại được đặt ra là con
đường phục hồi kéo dài bao lâu và liệu những đám mây bao phủ nền kinh tế Mỹ có tan hay
không? Theo ông Raghu, bức tranh kinh tế vĩ mô năm 2011 vẫn chưa rõ ràng nếu Mỹ tăng
trưởng dưới mức trung bình hoặc rơi vào một cuộc suy thoái kép. Khi bất ổn kinh tế tiếp tục,
vàng vẫn sẽ được định giá cao và là nơi đầu tư an toàn.
Nhưng chuyên gia Dumortier lập luận rằng, mức giá vàng như hiện nay không phải là bến đỗ
an toàn. Hiện nhà đầu tư lớn John Pauson đặt niềm tin vào vàng vì cho rằng Mỹ sẽ lạm phát
2 con số. Nhưng nếu điều đó không xảy ra, John Pauson sẽ phải trả một cái giá đắt.
Về phần mình, chuyên gia chứng khoán Soros lưu ý, trong khi được xem như công cụ an
toàn để tích trữ của cải, vàng lại không phải lựa chọn hiện nay của người Trung Quốc. Quốc
gia này đang tích trữ dầu mỏ.
Theo phân tích và nhận định riêng của Taichinhthegioi thì Vàng phải giảm trong năm nay
khi Vàng gặp những bất lợi như sau:
1. Tình hình nợ công Châu Âu có lối thoát và kinh tê Châu Âu ổn định và tăng trưởng. Sự ổn
định của đồng euro sẽ khó bền vững nếu vàng cứ tiếp tục đà tăng. Taichinhthegioi cho rằng
với sự nổ lực của công đồng Châu Âu nhằm cứu nguy đồng Euro cũng như giúp các nước
trong kv Châu Âu bị khủng hoảng nợ công sớm ổn định thì sớm hay muộn gì kv Châu Âu
cũng khả quan và tốt đẹp
2. Kinh tế Mỹ có dấu hiệu phục hồi rõ nét thong qua các chỉ số kinh tế chính và khi đó chắc
chắn tình hình lao động việc làm của Mỹ sẽ rất tốt đẹp. Một khi kinh tế Mỹ tăng trưởng thì
sẽ là lúc lạm phát phát huy tác động. Và FED sẽ biết cách phải làm gì? Ví dụ như: thu hồi
các chương trình nói lỏng định lượng hay phát đi tín hiệu tăng lãi suất. Lưu ý them chỉ cần
FED phát đi tín hiệu chuẩn bị tăng lãi suất thôi là Vàng chính thức giảm dần đều. Vậy điều
này có khả thi là trong năm nay Kinh tế Mỹ sẽ có triển vọng? Taichinhthegioi cho rằng hoàn
toàn có thể khi Chính phủ Mỹ và Mỹ đã và đang ra sức và làm tất cả những gì có thể để
nhằm giúp nền kinh tế Mỹ tăng trưởng và đời sống người dân Mỹ tốt hơn như tung ra các
chương trình QE1, QE2, chương trỉnh giảm thuế, giảm lãi suất, hổ trợ….nói chung làm tất
cả mọi thứ có thể và chúng ta biết rằng nước Mỹ giỏi làm kinh tế thế nào? Cho nên 1 ngày
không xa nước Mỹ sẽ tăng trưởng và khi đó FED bắt đầu tăng LSCB.
3. Trung Quốc và các nước khác bắt đầu quá trình thắt chặt tiền tệ và tăng LSCB nhằm
chống lại lạm phát và tăng trưởng nóng. Chính điều này làm Vàng mất đi tác dụng đầu tư
thay thế.
Tóm lại:
Khi các nước lớn bắt đầu tăng LSCB và đặc biệt là khi Mỹ chỉ cần phát đi tín hiệu tăng
LSCB thôi là Vàng chính thức mất đi thời hoàng kim. Do đó, trong những tháng tới đây
chúng ta phải theo dõi xem các tin kinh tế Vĩ Mô của Mỹ cũng như tin lao động việc làm có
cải thiện không? Thì từ đó chúng ta suy ra động thái của FED và xu hướng Vàng. Nếu tình
hình ngày càng khả quan với nền kinh tế Mỹ thì chúng ta sẽ thấy vàng bắt đầu đà giảm. FED
chắc chắn phải tăng LSCB chỉ sớm hay muộn mà thôi.
Vậy nếu Vàng giảm thì vàng sẽ giảm về bao nhiêu?
Taichinhthegioi cho rằng nếu vàng giảm do các yếu tố bất lợi trên thì khả năng Vàng sẽ
giảm về tận $1,170 nếu các yếu tố kể trên mà Taichinhthegioi đề cập phát huy tác dụng. Một
khi Vàng break $1,300 là 1 điều chỉ báo rằng Vàng đã chính thức đạt đỉnh và trong quá trình
tìm về giá trị thực của nó ( Tất nhiên phải kèm theo những yếu tố bất lợi với Vàng mà
Taichinhthegioi đã nói). Bất cứ thong tin kinh tế nào sang sủa, tốt đẹp của Mỹ và Châu Âu
sẽ làm ngăn chặn đà tiến của Vàng.
Taichinhthegioi xin nhắc lại một khi FED phát đi tín hiệu tăng LSCB thì Vàng chính thức
mất đi vai trì phòng thủ trú ẩn và phải Giảm mạnh! ( Thời Hoàng Kim của vàng chính thức
mất đi khi FED tăng LSCB). Thời gian sống “ hung mạnh” của Vàng ngắn hay dài tùy thuộc
hoàn toàn và triển vọng kinh tế Mỹ.
C. Vàng bến đỗ lý tưởng hay bong bóng sắp vỡ? ( Sưu tầm)
Trong mấy tháng trở lại đây, vàng đã vài lần cán vạch 1.400 USD/ounce.Vì sao? Vì niềm tin
vào các đồng tiền chủ chốt lại đang lung lay. Trong khi đó, nỗ lực nới lỏng chính sách tài
chính của các nhà cầm quyền Mỹ khiến vấn đề lạm phát và hiện tượng mất giá của USD
càng trở nên đáng ngại. Martin Murenbeeld, một nhà kinh tế tại DundeeWealth Economics
của Canada chỉ ra rằng trong thập kỷ vừa qua, giá vàng chuyển động song hành với tính
thanh khoản quốc tế (cung USD cộng với dự trữ ngoại tệ của nước ngoài). Cả hai đều tăng
gấp 5 lần.
Chính phủ Mỹ, cũng giống như những người anh em ở châu Âu và Nhật, đã mạo hiểm đưa
ra một số cam kết phúc lợi hào phóng cho cử tri. Do vậy, in thêm tiền sẽ là giải pháp an toàn
được các nhà chính trị ưu tiên thay vì tăng thuế hay cắt giảm ngân sách. Và cứ thế, giá vàng
sẽ chinh phục những đỉnh cao mới.
Một yếu tố quan trọng khác phải kể tới là nhu cầu vàng của các quốc gia đang tăng mạnh.
Người Trung Quốc và Ấn Độ, với thu nhập tăng chóng mặt, thi nhau đầu tư vào kim loại,
đặc biệt là vàng và kim cương. Ngân hàng trung ương của các quốc gia mới nổi đã đa dạng
dự trữ ngoại hối của mình bằng cách mua vào khối lượng vàng lớn.
Vàng cung cấp cho người ta nơi trú ẩn an toàn trước bão lạm phát. Không chỉ có vậy, nó còn
giúp các nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục của mình một cách hiệu quả do vàng không
chuyển động cùng chiều với cổ phiếu và trái phiếu.
Bong bóng sắp vỡ
Sự lạc quan thái quá của các nhà đầu tư có thể khiến họ phải trả giá đắt. Khi giá một loại mặt
hàng gia tăng, càng nhiều người cảm thấy bị cuốn hút. Và cứ như thế tới một thời điểm nào
đó, người ta sẽ sẵn sàng chấp nhận mức giá được coi là điên rồ.
Trong suốt thời kỳ vàng son của cổ phiếu công nghệ thông tin những năm 1990, cổ phần
được giao dịch cao hơn cả mức mà các công ty có thể kiếm được để đảm bảo giá trị cổ phiếu
của mình. Tiếp đó là sự bùng nổ của bong bóng nhà đất khi giá nhà vượt qua giới hạn của
nhu cầu và thị trường tín dụng.
Rất có thể thị trường vàng sẽ lặp lại vết xe đổ trên. Giới đầu cơ cho rằng vàng sẽ trở thành
một "đồng tiền" chung trên toàn thế giới sau khi đồng đô trượt dốc và các quốc gia phát triển
sa lầy trong đống nợ khổng lồ. Tuy nhiên, có một thực tế là vàng không phù hợp để đảm
đương vai trò của một đồng tiền do tính biến động của nó.
Giá vàng có thể giảm thậm chí ngay cả trong giai đoạn lạm phát. Không giống những kênh
đầu tư khác, vàng không mang lại cho chủ sở hữu cổ tức và cũng không được ứng dụng rộng
rãi trong công nghiệp.
Có ý kiến cho rằng vàng là tấm lá chắn vững chắc trước biến động kinh tế, chính trị. Tuy
nhiên, người ta vẫn còn rất nhiều lựa chọn an toàn khác, đặc biệt là khi giá vàng ngấp nghé
ngưỡng nguy hiểm.
Trên đây là toàn cảnh nhận định của Taichinhthegioi về thị trường Vàng TG trong năm
2011.
Vậy thị trường Vàng vc trong nước sẽ thế nào?
Trước tiên Taichinhthegioi xin lập lại là Giá Vàng trong nước phụ thuộc hoàn toàn vào giá
Vàng TG và Tỷ Giá USD/VND.
Xét về yếu tố tỷ giá thì Taichinhthegioi cho rằng trong năm nay nếu tỷ giá USD/VND có
tăng MAX cũng chỉ đạt 22300 VNĐ ăn 1 USD.
Do đó nếu Vàng TG có tăng lên $1,600 thì Vàng trong nước sẽ có Giá Bán ra cao nhất là 43
triệu 500 /L( tính theo tỷ giá giả sử đạt cao nhất là 22300)
Và nếu vàng TG có giảm xuống khảong $1,200 thì Vàng trong nước sẽ có Giá Bán ra thấp
nhất là 32 triệu 500 /L( tính theo tỷ giá giả sử đạt cao nhất là 22300)
Do đó Taichinhthegioi cho rằng Vàng SJC trong đó sẽ có giá dao động trong vùng 32 triệu
đến 43 triệu đồng. Khó có giá nằm ngoài 2 biên này.
Do đó những bạn nào lỡ Bán Vàng SJC ra với giá từ 33 triệu trở xuống nên xem xét có vàng
giá thấp Mua lại ngay. Về dài hạn nếu Vàng TG giảm mà tỷ gía USD/VND tăng thì vàng
SJC cũng khó giảm theo.
Lưu ý thêm: Giá Vàng SJC mua Tốt là giá Vàng ngang ngữa hay cao hơn vàng TG khoảng
350 ngàn .
Hết bài 4.
Bài số 5: Những kinh nghiệm trade Vàng của Taichinhthegioi.
( Chủ yếu Vàng thường biến động tại Phiên Mỹ và Vàng cũng chịu tác động mạnh nhất tại
Phiên Mỹ, do đó Taichinhthegioi sẽ ưu tiên xét xác tin kinh tế Mỹ cũng như xu hướng của
Phiên Mỹ)
Múi giờ các phiên tương ứng với giờ Việt nam:
* Mùa Hè ( tứ thàng 4 đến tháng 11)
- Phiên Á bắt đầu từ 5h sáng
- Phiên Âu bắt đầu từ 14h20 đến 22h20
- Phiên Mỹ bắt đầu từ 19h20 đến 4h sáng hôm sau
* Mùa Đông ( tứ tháng 11 đến tháng 4)
- Phiên Á bắt đầu từ 6h sáng
- Phiên Âu bắt đầu từ 15h20 đến 23h20
- Phiên Mỹ bắt đầu từ 20h20 đến 5h sáng hôm sau
1. Vàng bị tác động bởi các hot news và nhất là các hot news hay các tin công bố tại Phiên
Mỹ:
- Khi các tin Mỹ ra Tốt thì Vàng thường Giảm vì thế Ưu tiên các lệnh Bán
- Khi các tin Mỹ ra Xấu thì Vàng thường Tăng vì thế Ưu tiên các lệnh Mua
2. Cách xem xét tin ra xấu tốt và so sánh qua lại
- Ta xem xét xem tại Phiên Mỹ có bao nhiêu tin quan trọng nhất? ( Tin quan trọng thường
chỉ báo 5 sao hoặc màu đỏ).
- Nếu chỉ có 1 tin quan trọng công bố thì đơn giản. Ta chỉ xem tin này Tốt hay xấu mà sẽ ưu
tiên lệnh Mua hay Bán.
- Nếu có nhiều tin quan trọng ( củng 5 sao hay cùng màu đỏ) thì ta xem tin nào là quan trọng
hơn? Thì chính tin đó sẽ có giá trị quyết định xu hướng Vàng.
- Hay nếu có gần 2/3 tin quan trọng ra là Tốt thì ta sẽ ưu tiên lệnh Bán và ngược lại nếu có
gần 2/3 tin quan trọng ra xấu thì ta ưu tiên Mua.
- Còn nếu số lượng tin ra là ½ tin Tốt, ½ Tin xấu thì ta sẽ thực hiện cùng chiến lược có Mua
có Bán.
Ví dụ: Tin Mỹ hôm nay có 5 tin quan trọng. Nếu có 3 tin ra Tốt thì ta Bán. Ngược lại 3 tin ra
Xấu thì ta Mua.
Luu ý : Tin Mỹ nào công bố trước thì vẫn Mua hay bán theo tin Mỹ Mỹ đó là tốt hay xấu.
Sau đó, chờ ra hết các tin ta tổng kết lại và ra chiến lược chính.
Ví dụ : Tin Mỹ hôm nay có 5 tin quan trọng. Lúc 20h30 có 1 tin công bố trước, nếu tin này
tốt ta Bán, tin này xấu ta Mua. Sau đó 21h có 2 tin nữa ra Tiếp, lúc này ta xem xét phân tích
xem 2 tin này vối tin lúc 20h30 ra thế nào ? Tin xấu nhiều hay tin Tốt nhiều ? Nếu tốt nhiều
ta Bán, xấu nhiều ta Mua. Tương tự cho 2 tin cuối ra lúc 22h.
- Nếu tin Mỹ có các tin sau đây là các tin có giá trị quan trọng hơn so với các tin quan trọng
khác được công bố trong ngày : Tin Lãi suất Mỹ hoặc tin FOMC meeting,Tin lao động việc
làm Mỹ, Tin Nhà đất, Tin GDP, Tin niềm tin tiêu dùng, Tin Bán lẽ
- Trong ngày thứ 5 hang tuần thường có tin trợ cấp thất nghiệp công bố do đó nếu có kèm
thêm 1 tin Mỹ quan trọng nữa công bố thì ta sẽ xem xét ưu tiên cho tin Mỹ quan trọng này
nếu Tin trợ cấp kì rồi ra đã Tốt. Còn nếu tin trợ cấp thất nghiệp kì rồi ra xấu mà kì này ra
xấu nữa + kết hợp với tin quan trọng công bố liền kề sau đó ra Xấu nữa thì chỉ có Mua.
Ngược lại, nếu tin trợ cấp thất nghiệp kì rồi ra xấu mà kì này ra xấu nữa + kết hợp với tin
quan trọng công bố liền kề sau đó ra Tốt vẫn ưu tiên Mua, tuy nhiên lại Mua có phần hạn
chế vì Vàng sẽ không tăng mạnh.
- Khi ta xem xét các tin Mỹ công bố ta phải chú ý đến tin kỳ rồi công bố. Thông thường nếu
tin mà công bố như kì vọng trở lên thì nghĩa là tin tốt. Tuy nhiên, nếu tin công bố mà Tốt
hơn kì trước nhưng gần bằng kì vọng vẫn được cho là tin tốt :
Ví dụ : Tin GDP kì trước là 2,6%, kì vọng là 3,4%, tin ra là 3,1% thì vẫn là tin Tốt
Hay tin bảng lương phi nông nghiệp kì rồi ra là 103K, kì vọng là 133K, nhưng tin ra là 110K
thì vẫn là tin Tốt.
Nhưng nếu tin ra tốt hơn kì trước nhưng kém xa so với kì vọng là tin Xấu.
Ví dụ : Tin bảng lương phi nông nghiệp kì rồi ra là 103K, kì vọng là 180K, nhưng tin ra là
120K thì là Tin Xấu. Trừ khi tin ra lq 150K thì mới là Tin tốt ( vì gần so với kì vọng + tốt
hơn kì trước)
3. Cách dự đoán xu hướng Vàng vào Phiên kế tiếp
- Thông thường nếu Vàng Phiên Mỹ là tăng hay giảm thì Phiên Á, Âu liền sau đó là Tăng
hay giảm theo Phiên Mỹ ( áp dụng cho trường họp tăng hay giảm khoảng $10)
- Nếu gần đến Phiên Âu 30 phút mà xu hướng Vàng là tăng hay giảm thì khả năng Vàng
Phiên Âu sẽ là tăng hay giảm tiếp theo
- Nếu xu hướng Phiên Mỹ là Tăng hay giảm mạnh trên $20 thì Phiên Á kế tiếp vẫn canh Bán
chính nhưng lúc này Vàng sẽ hồi phục lại đôi chút ( tăng hay giảm lại đôi chút tầm $5) rồi ta
bán hay Mua chính theo xu hướng Phiên Mỹ trước đó.
- Thông thường ta nhìn vào giá close để cho xu hướng Phiên Mỹ đó là tăng hay giảm :
Ví dụ : Đêm qua Phiên Mỹ closed $1,330. Đêm nay close dưới $1,330 là xu hướng Giảm,
close trên $1,330 là xu hướng tăng.
Nhưng lưu ý trường hợp này cho dù close trên $1,330 Vàng xu hướng vẫn là Giảm
Ví dụ: Đêm qua Phiên Mỹ closed $1,330, Phiên Á sang nay Tăng lên $1,342, Phiên Âu tăng
tiếp $1,348. Nhưng đến Phiên Mỹ Vàng giảm mạnh xuống $1,33x và close tại $1,338. Tuy
Vàng close ở $1,338 là tăng $8 so với đêm qua $1,330 nhưng thực tế xu hướng Vàng ở
Phiên Mỹ là Giảm từ các mức cao hơn cho nên Phiên Á sang mai là Giảm!
4. Xem xét dấu hiệu Vàng theo thời gian trong 1 Phiên và ảnh hưởng của nó đến Phiên kế
tiếp
A. Phiên Á:
- Chú ý 2 mốc thời gian sau đây: 12h nếu giờ Mùa Hè và 13h nếu giờ Mùa đông và mốc gần
14h nếu giờ Mùa hè và gần 15h nếu giờ Mùa đông. Nếu khi đến 2 mốc thời điểm đó mà
Vàng tăng hay giảm sẽ báo hiệu xu hướng vàng là tăng hay giảm hay đảo chiều trong Phiên
Âu kế tiếp. Đặc biêt khi đến hay đi qua 2 mốc thời điểm đó mà Vàng vẫn không thể tăng hay
giảm tiếp thêm tầm $3 đến $5 so với giá ta Mua hay bán thì khả năng cao vàng sẽ bị đảo
chiều Phiên Âu.
Ví dụ: ta Mua $1,341. Sau đó Vàng tăng lên $1,345 hay $1,346 nhưng sau 13h ( Mùa đông)
Vàng vận không thể trụ được trên vùng $1,345 mà Giảm lại gần Vùng ta đã mua, sau đó ta
theo dõi tiếp đến gần 15h Vàng vẫn sideway cho đến giảm ta đó là báo hiệu 1 sự đảo chiều
nhẹ hay mạnh tại 1 phiên kế tiếp là Phiên Âu.
B. Phiên Âu.
Cũng tương tự như Phiên Á nhưng chú ý 2 mốc thời gian sau đây: 17h nếu giờ Mùa Hè và
18h nếu giờ Mùa đông và mốc gần 19h nếu giờ Mùa hè và gần 20h nếu giờ Mùa đông. Nếu
khi đến 2 mốc thời điểm đó mà Vàng tăng hay giảm sẽ báo hiệu xu hướng vàng là tăng hay
giảm hay đảo chiều trong Phiên Mỹ kế tiếp
C. Phiên Mỹ
- Các bạn chú ý 3 mốc thời gian sau đây: Lúc Phiên Mỹ bắt đầu ( 19h20 ( mùa hè)hoặc
20h20 ( mùa đông), tùy theo mùa mà sẽ có 1 trong 2 mốc giờ trên) nếu Vàng giảm 1 lèo trên
$10 mà sau (21h30 hay 22h30, tùy theo mùa) Vàng hồi phục lại gần $10 thì xem xét Mua lại
Ngay. Còn nếu Vàng không hồi phục mà tăng giảm hồi phục nhưng đà tăng yếu hơn đà giảm
thì có nghĩa là Vàng sẽ còn giảm tiếp nữa ===> Canh Bán ngay. Sau 23h30 hay sau 24h30,
tùy theo mùa) Vàng sẽ có thêm 1 đợt tăng giảm cuối cùng trong phiên Mỹ ( trừ những ngày
có tin quan trọng như tin LS FED lúc 1h15 ahy 2h15 thì sẽ khác) và sau đó thì thông thường
vàng sẽ sideway ở giá hiện tại thời điểm đó sau khi đã biến động cuối cùng trong ngày hoặc
nếu không có sự biến động nào xảy ra sau 23h30 hay sau 24h30 thì Vàng sẽ sideway ở gái
hiện tại cho đến khi close ===> có thể yên tâm giữ lệnh hay chốt lời. Tương tự cho trường
hợp Vàng tăng. Chú ý: Sau 21h30 hay sau 22h30 xu hướng vàng tăng hay giảm sẽ là xu
hướng chính của Vàng cho đến thời điểm close. Cho nên khi vào đầu phiên Mỹ Vàng có
tăng hay giảm 1 lèo $10 - $20 cũng không ăn thua, ăn thua là sau 21h30 hay sau 22h30 Vàng
có bị đảo chiều không? Nếu không đảo chiều thì ta yên tâm.
- Chỉ cần chú ý mốc sau 21h30 hay mốc sau 22h30 ( tùy theo mùa), nếu tự nhiên Vàng đột
ngột có tín hiệu tăng hay giảm trên $5 đến $10 ( bất chấp tin ra thế nào) thì khả năng Vàng
sẽ tăng hay giảm đó cho đến khi close và khả năng xuất hiện 1 hot news nào đó. ( giống như
hôm thứ 6 qua ngày 28/1), Vàng đột ngột tăng mạnh trên $5 sau 22h. Và tăng luôn đến khi
close
D. Phiên Á kết hợp Âu ảnh hưởng đến xu hướng Vàng.
Xin lưu ý thêm cho Taichinhthegioi 1 trường hợp rất quan trọng là thong thường Vàng Phiên
Á và Âu sẽ đi theo xu hướng chính của Phiên Mỹ là Tăng hay giảm nhưng đột nhiên Vàng
Phiên Á đi ngược lại Phiên Mỹ với sự tăng giảm trên $5 và sau đó Phiên Âu vào xu hướng
tăng giảm đó vẫn được duy trì ( tuy có phục hồi đôi chút) nhưng vẫn xu hướng là tăng giảm
lại trên $5 với cường độ mạnh hơn, thì coi chừng phiên Mỹ xu hướng tăng hay giảm theo
Phiên Á và Âu là 90% ( có khả có 1 hot news nào đó tác động vào)
Ví dụ: Xu hướng Vàng đêm qua Phiên Mỹ là tăng và close ở $1,337. Đến phiên Á ngày mai
xu hướng tăng lên tiếp $1,345, nhưng đột ngột Vàng có cú giảm lại dưới $1,340 ( giảm trên
$5) và sau đó đến Phiên Âu vẫn có tin hiệu giảm và đà giảm mạnh thêm thì khả năng vào
Phiên Mỹ Vàng sẽ giảm tiếp, cho nên canh vàng hồi mà bán tại Phiên Mỹ, nếu phiên Mỹ này
có tin quan trọng ra Tốt thì đà giảm sẽ mạnh hơn nữa, còn tin xấu thì đà giảm sẽ hạn chế
hơn.
5. Phân tích các hot news.
Khi các tin Mỹ công bố xấu hay tốt mà đột nhiên có 1 hot news nào đó có tính ảnh hưởng
quan trọng hơn cả tin Mỹ vừa công bố thì Vàng sẽ tạm thời chạy theo hot news đó.
Làm saoi nhận biết? Chúng ta tất nhiên không thể biết trước được các hot news khi nào sẽ
xảy ra ( vì đã là hot news thì không ai có khả năng biết trước, vì đó là tin bất ngờ, mà đã là
bất ngờ thì tính ảnh hưởng rất mạnh). Do đó, chúng ta cứ trade bình thường theo các phân
tích tin tốt xấu công bố, nhưng đột nhiên Vàng biến động thất thường không theo ý mình đã
phân tích thì khả năng đã có 1 hot news nào đó. Ta xem trên kitco.com hay
finance.yahoo.com để update xem hot news gì đã ảnh hưởng đến Vàng? Và tất nhiên ta phải
theo xu thế chủ đạo của thị trường, không thể cãi được.
Và khi đã là hot news thì yếu tố hot news không bao giờ bền vững, và khả năng tính ảnh
hưởng của hot news sẽ mất đi khi đó Vàng cũng giảm theo hay tăng theo.
6. Ngày thứ 6 của tuần thứ 2 hàng tuần
Thông thường trong ngày thứ 6 Vàng thường không giảm nhiều( trứ ngày thứ 6 đầu tiên của
tháng), khả năng tăng lên khá cao nếu trước đó Vàng đã có sự giảm mạnh. Cho nên ưu tiên
lệnh Mua trong ngày thứ 6 tuần thứ 2 trở đi của tháng
7. Xu hướng có cố định?
Vàng tăng hay giảm ở Phiên Á hay Âu không nói lên được điều gì, Phiên Mỹ sẽ là phiên cho
xu hướng chính. Và thông thường nếu 2 Phiên Á và Âu Vàng tăng lien tục ( mà không có sự
góp mặt của hot news) thì khả năng đảo chiều giảm hay tăng tại Phiên Mỹ là rất cao.
8. Trade Vàng trong ngày không có tin Mỹ công bố và trade khi chạm Stop loss
Nếu trong ngày hôm đó Tin Mỹ không có tin nào quan trọng công bố thì xu hướng Vàng sẽ
bị tác động bởi xu hướng Vàng Phiên Âu + các tin Mỹ công bố những ngày trước đó.
- Nếu Vàng sau khi chạm điểm Stop loss chúng ta phải Mua hay Bán lại ngay và thông
thường sau khi chạm điểm Stop loss Vàng sẽ tăng hay giảm tiếp tầm trên $5 ( xem lại bài số
3B: Ca1h trade Vàng lạc quan
9. Xem xét tín hiệu đảo chiều? Xem lại bài số 3
10. Những yếu tố khác
- Nếu tất cả ai ai cũng nghĩ rằng Vàng tăng thì chính là lúc ta nên quyết định Bán Vàng và
ngược lại.
- Vàng không tự nhiên tăng mà cũng không tự nhiên giảm, tất cả điều có lí do và yếu tố ảnh
hưởng lên xu hướng Vàng. Và chúng ta phải phân tích tìm hiểu kỉ xem đó là nguyên nhân
nào? Nó có bền vững không? Và nếu nó mất đi Vàng sẽ thề nào?
- Cái gì cũng vậy, trên thế giới này tất cả đều có tốt có xấu, có giàu có nghèo và có đỉnh có
đáy. Chân lý!Khi kinh tế phát triển hùng mạnh và đi lên đến 1 lúc nào đó ( tức đỉnh) sẽ quay
đầu đi xuống. Giống như khi ta leo lên đến đỉnh núi thì chắc chắn rằng ta phải tìm cách leo
xuống lại hay khi ta ở dưới mặt đất ta chỉ có thể leo lên! Vàng cũng vậy! Taichinhthegioi
luôn tin Vàng cũng có đỉnh có đáy! Bài học thập niên 80 vẫn còn đó
- Cuối cùng, cái này hơi mê tín 1 chút nhưng nếu các bạn tin thì làm theo ( không khuyến
khích). Đó là theo tâm linh, thì Taichinhthegioi thường trade ngược theo kì vọng của
KITCO. Xác suất thắng khá cao. Đó là khi Kitco tuyên bố Mua hay Bán và nói là XU
HƯỚNG CHÍNH TRONG NGÀY LÀ TĂNG HAY GIẢM. Thì 90% Vàng sẽ diễn biến
ngược theo kì vọng của Kitco. Taichinhthegioi thống kê đa số Kitco nói Giảm là vàng tăng
và nói tăng là vàng giảm.
(Còn tiếp).
Taichinhthegioi tạm thời post trước 10 kinh nghiệm trade Vàng mà Taichinhthegioi nghiệm
ra và có được trong thời gian qua
Lưu ý rằng tất cả kinh nghiệm trên đều mang tính chất tương đối (90%), chứ không mang
tính tuyệt đối, cho nên cách để hạn chế rủi ro có thể xảy ra là tuân thể chặt chẽ Stop loss!
Dưới đây là Bảng phụ lục về các thông số cơ bản về kinh tế của Mỹ, để các bạn mới vào
trade Vàng nắm rõ. ( Phần này Taichinhthegioi tham khảo và trích từ 1 số nguồn khác
nhau). Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đồng tiền của một quốc gia, sự tăng hay giảm tỉ
giá đồng tiền phụ thuộc vào các chỉ số kinh tế. Dưới đây là những thông tin kinh tế đáng chú
ý để đánh giá và dự đoán tỉ giá.
VIỆC LÀM
Các báo cáo về tình trạng thất nghiệp:
Được công bố hàng tuần, chí số này cho biết có bao nhiêu người đang xin trợ cấp thất nghiệp
lần đầu tiên. Số lượng người càng ít cho dấu hiệu nền kinh tế đang có dấu hiệu tốt, bởi vì
những người thất nghiệp thì thường có xu hướng chi tiêu ít hơn, điều này có tác động xấu
đến nền kinh tế của quốc gia.
Bảng lương phi nông nghiệp:
Được công bố hàng tháng cho biết số lượng các công việc mới được tạo ra (ngoài lĩnh vực
nông nghiệp). Số lượng công việc càng nhiều thì đồng tiền của quốc gia càng mạnh, bởi vì
càng nhiều người có việc làm thì họ kiếm được nhiều tiền hơn và họ sẽ chi tiêu nhiều hơn.
TIÊU DÙNG:
Chỉ số tiêu dùng cá nhân:
Cho thấy mức độ lạm phát mà mọi người phải gánh chịu, nó phản ảnh sự thay đổi trong giá
cả của các mặt hàng tiêu dùng và các dịch vụ (không bao gồm thực phẩm và năng lượng).
Những biến động lớn về giá cả sẽ có tác động xấu lên nền kinh tế bởi vì nó thể hiện sự
không ổn định và sự không ổn định này sẽ khiến cho người dân chi tiêu ít hơn.
Doanh số bán lẻ:
Được công bố 1 lần mỗi tháng, nó đo lường giá trị của doanh số bán lẻ. Sự gia tăng trong
doanh số bán lẻ cũng đồng nghĩa là nền kinh tế quốc gia đang phát triển mạnh hơn, bởi vì nó
cho thấy người dân đang chi tiêu nhiều hơn.
Tổng sản phẩm quốc nội GDP:
Được tổng kết hàng năm, thể hiện giá trị của tất cả các hàng hoá và dịch vụ mà nền kinh tế
của quốc gia sản xuất ra. Sự tăng lên của GDP cho thấy nền kinh tế của quốc gia đang phát
triển mạnh hơn. Nó khuyến khích người dân đầu tư nhiều hơn vào thị trường cổ phiếu và trái
phiếu trong nước đồng thời cũng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Cán cân thương mại:
Thể hiện sự chênh lệch về giá trị của các hàng hoá dịch vụ xuất khẩu và nhập khẩu. Sự thặng
dư trong cán cân thương mại có nghĩa là giá trị của các hàng hoá dịch vụ được xuất khẩu
đang nhiều hơn nhập khẩu. Sự tăng lên trong cán cân thương mại cho thấy đồng tiền của
quốc gia đang mạnh dần lên bởi vì khi nhu cầu xuất khẩu nhiều hơn thì số lượng công ăn
việc làm sẽ tăng lên và mức độ sản xuất gia tăng ở các nước xuất khẩu. Điều này cũng sẽ
khiến cho các nhà nhập khẩu nước ngoài sẽ phải đổi đồng tiền của họ sang đồng tiền của
nước xuất khẩu để mua hàng.
Chỉ số giá tiêu dùng CPI:
Chỉ số CPI đo lường sự gia tăng của giá cả trong một rổ hàng hoá và dịch vụ (như thực
phẩm, vận tải, nhà ở, v.v…). Chỉ số CPI này tăng lên nghĩa là giá cả của rổ hàng hoá dịch vụ
đó đã gia tăng và chúng ta phải tốn nhiều tiền hơn để mua một rổ hàng hoá dịch vụ tương tự.
Sự tăng lên của chỉ số CPI sẽ có tác động tích cực lên nền kinh tế (và đương nhiên là đồng
tiền của quốc gia) bởi vì nó cho thấy người ta có đủ tiền để mua hàng hoá và dịch vụ mặc dù
giá của chúng có gia tăng.
BẤT ĐỘNG SẢN:
Doanh số nhà mới:
Các số liệu về doanh số bán nhà mới là một chỉ số rất quan trọng cho thấy xu hướng chung
của nền kinh tế. Sự tăng lên trong doanh số bán nhà mới cho thấy ngành xây dựng đang phát
triển rất tốt và người tiêu dùng có đủ tiền để mua những tài sản có giá trị lớn. Những người
mua nhà này sẽ mua thêm nhiều hàng hoá khác, cùng lúc đó thì các công ty xây dựng cũng
cần phải thuê công nhân và mua vật liệu, vì vậy nó tạo nên một tác động, một làn sóng tích
cực cho nền kinh tế và thúc đẩy sự tăng giá của đồng tiền.
Doanh số nhà chờ bán:
Đo lường hoạt động của doanh số bán nhà hiện tại. Nó bao gồm nhà của các gia đình riêng
lẻ, chung cư. Nhu cầu mua nhà càng tăng chứng tỏ nền kinh tế đang phát triển tốt bởi vì
người dân cảm thấy rất thoải mái và sẵn sàn đầu tư vào nhà ở. Ngoài ra, việc đầu tư này
cũng thường kéo theo các hoạt động mua hàng khác như các thiết bị điện, tủ bàn ghế … sẽ
mang lại thu nhập cho những nhà kinh doanh bất động sản, tất cả những điều này đều rất tốt
cho nền kinh tế.
Chỉ số nhà xây mới:
Cho biết số lượng các cao ốc đang được xây dựng. Con số này càng cao thì giá trị của đồng
tiền của quốc gia cũng cao bởi vì nó cho thấy ngành xây dựng đang phát triển tốt và nhiều
người đang đầu tư vào lĩnh vực này.
SẢN XUÂT:
Chỉ số sản xuất ISM:
Đo lường hoạt động thu mua trong khu vực sản xuất. Sự tăng lên của ISM cho thấy đồng
tiền của quốc gia đang mạnh dần lên. Các chỉ số thể hiện hoạt động thu mua này là những
chỉ số tốt bởi vì chúng đánh giá tình hình hoạt động của một công ty, thường đi đôi với
những biểu hiện toàn diện của nền kinh tế.
Sản xuất công nghiệp:
Đo lường giá trị của sản lượng đầu ra được sản xuất bởi các nhà máy, hầm mỏ. Sự tăng lên
trong sản xuất công nghiệp cho thấy đồng tiền của quốc gia đang mạnh dần lên bởi vì giá trị
của nó càng cao cho thấy số lượng lớn các sản phẩm đang được sản xuất và bán ra, vì thế
người dân có thu nhập và sẵn sàng chi tiêu.
Chỉ số giá của các nhà sản xuất PPI:
Kiểm tra sự khác biệt trong giá bán hàng hoá và dịch vụ của các nhà sản xuất. Bởi vì các nhà
sản xuất thường có xu hướng tăng giá bán lẻ khi các chi phí sản xuất gia tăng, PPI có thể
được xem là một chỉ số biểu hiện sự lạm phát. PPI tăng lên sẽ khiến cho Ngân hàng Trung
Ương cũng tăng lãi suất theo. Sự tụt giảm của PPI cho thấy giá cả đang giảm xuống và suy
thoái kinh tế đang bắt đầu xuất hiện.
Các đơn hàng cho những hàng hoá sử dụng lâu bền:
Đo lường giá trị của các loại hàng hoá có vòng đời lâu hơn 3 năm, mà người tiêu dùng mua -
được sản xuất ở thị trường nội địa. Chỉ số này giúp dự đoán xem các nhà sản xuất đang bận
rộn đến mức nào bởi vì họ cần phải làm việc tích cực để đáp ứng kịp các đơn hàng. Vì thế,
xu hướng tăng lên sẽ có tác động tích cực lên đồng tiền quốc gia.
LÃI SUẤT NGÂN HÀNG:
Công bố của ngân hàng trung ương Anh (BoE):
Uỷ ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung Ương Anh thường tổ chức bỏ phiếu biểu
quyết hàng tháng để đưa ra mức lãi suất của quốc gia trong ngắn hạn.
Công bố của Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (ECB):
Ban quản lý của Ngân hàng Trung ương Châu Au thường bỏ phiếu biểu quyết hàng tháng để
đưa ra mức lãi suất của cộng đồng này trong ngắn hạn.
Công bố của Cục dự trư Liên bang Mỹ (FED):
Uỷ ban kiểm soát thị trường tự do của Fed thường bỏ phiếu biểu quyết 8 năm một lần.
Kết quả của các cuộc bỏ phiếu của (BoE; ECB hay FED) sẽ được công bố nhanh chóng. Nó
thường đi kèm với một vài lời bình luận vắn tắt về tình hình kinh tế và các nhân tố tác động.
Mức lãi suất thường được quyết định dựa trên tình hình lạm phát. Mục đích là để giữ cho giá
cả ổn định, vì thế khi lạm phát tăng trên mức lãi suất của năm 2% thì các ngân hàng này
thường cũng tăng lãi suất để kìm giá xuống. Mức lãi suất cao sẽ thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài, làm gia tăng nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ để lấy nội tệ. Có thể nói rằng xu hướng gia
tăng của lãi suất có tác động tích cực lên nền kinh tế của quốc gia.
Biên bản cuộc họp của FOMC
Biên bản cuộc họp của Uỷ ban kiểm soát thị trường tự do sẽ giúp cho các thành viên đưa ra
các chính sách và quyết định liên quan tới lãi suất.
KHẢO SÁT KINH TẾ:
Cuộc khảo sát của ZEW:
Sẽ giúp cung cấp các nhận định của các chuyên gia tài chính có đề cập tới xu hướng kinh tế
trong thời gian tới cho cộng đồng chung Châu Âu. Sự khác biệt về số lượng nhà đầu tư hàng
tháng sẽ giúp dự đoán được sự tăng trưởng của nền kinh tế là tăng hay giảm.
Chỉ số PMI của Chicago (Mỹ):
Thể hiện tình hình chung của môi trường kinh doanh ở Chicago. Tình hình thu mua hàng
tháng sẽ trả lời cho cuộc khảo sát có liên quan đến hoạt động của tổ chức họ (nó cao hơn,
bằng, hay thấp hơn so với tháng trước) các vấn đề về sản lượng đầu ra, tình hình thu mua, số
lượng việc làm, số lượng hàng tồn kho, các đơn hàng và các chỉ số giá cả.
Quỹ ngân khố quốc tế TIC:
Theo dõi dòng chảy của dòng tiền của các quỹ ra và vào lãnh thổ nước Mỹ (trên thị trường
cổ phiếu, trái phiếu). Con số này sẽ được thể hiện theo mức triệu đôla, thể hiện sự chênh
lệch giữa chi tiêu của nước Mỹ vào cổ phiếu của các công ty nước ngoài và cổ phiếu của các
công ty Mỹ. Đây là chỉ số quan trọng của nền kinh tế Mỹ và giúp họ có cái nhìn thấu đáo về
nhu cầu của nước ngoài vào các lĩnh vực đầu tư và đồng đôla Mỹ. Ví dụ, nếu Mỹ mua 10 tỷ
đôla cổ phiếu của các công ty nước ngoài và các nhà đầu tư nước ngoài mua 30 tỷ đôla
chứng khoán của các công ty Mỹ để đầu tư dài hạn, thì con số chênh lệch sẽ là 20 tỷ đôla.
Niềm tin tiêu dùng:
Đo lường thái độ của người tiêu dùng đối với các tình hình kinh tế, họ đánh giá như thế nào
vào các triển vọng kinh tế trong tương lai. Con số cao sẽ thể hiện sự lạc quan của người tiêu
dùng; có thể nói là người tiêu dùng đang rất lạc quan về các triển vọng phát triển kinh tế. Và
kết quả là họ sẽ chi tiêu nhiều hơn, điều này sẽ kích thích lại nền kinh tế.
Mức độ nhạy cảm của người tiêu dùng:
Đo lường thái độ của người tiêu dùng cả về tình hình hiện tại và các kỳ vọng vào tương lai.
Nó xuất phát từ kết quả của cuộc khảo sát trên 500 người hàng tháng của trường đại học
Michigan. Mức độ nhạy cảm càng cao sẽ cho thấy mức chi tiêu dùng sẽ gia tăng, nó chiếm
tới 2/3 nền kinh tế.
CHÚ Ý:
Các thông tin kinh tế được công bố sẽ có ảnh hưởng tới giá thị trường khi có sự chênh lệch
giữa số liệu kỳ vọng và số liệu thực tế được công bố. Có thể xem lịch thông tin ở địa chỉ
@ http://www.forexfactory.com/calendar.php
Thị trường có những biến động đều đặn thì sẽ không bị ảnh hưởng nhiều bởi các tin tức
được công bố. Ngược lại, khi thị trường đi ngang, không có nhiều biến động thì khi tin được
công bố sẽ có thể có nhiều biến động lớn.
Hãy lưu ý rằng thông tin kinh tế được công bố vẫn rất tiềm ẩn sự rủi ro.
Dưới đây là sự giải thích thêm mà Taichinhthegioi muốn các bạn phải cần hiểu rõ.
Các chỉ số kinh tế cơ bản
Tiền tệ không tự nhiên trở nên yếu hơn hay mạnh hơn. Phần lớn giá trị tiền tệ được dựa trên
sự bảo mật trong sức mạnh kinh tế của 1 quốc gia. Sức mạnh kinh tế được thẩm định bằng
những chỉ số quan trọng nhất định được theo dõi rất sát trong giao dịch FX. Khi những chỉ
số kinh tế này thay đổi thì giá trị của tiền tệ sẽ dao động. Tiền tệ là sự ủy quyền cho quốc gia
mà nó tượng trưng và tiềm lực kinh tế của quốc gia đó được định giá thành tiền tệ. Tại sao
những sự kiện kinh tế lại quan trọng đối với những người giao dịch tiền tệ?
Tiền tệ là sự ủy quyền cho một quốc gia mà nó tượng trưng, tiềm lực kinh tế của đất nước
được định giá sẽ thông qua tiền tệ. Những chỉ số kinh tế là thước đo tiềm lực của một nền
kinh tế. Điều thách thức ở đây là nền kinh tế của đất nước có theo kịp tiềm lực kinh tế của
một đất nước khác nào đó hay không.
Biết rõ thời gian những chỉ số được chuẩn bị công bố rất quan trọng. Theo dõi trong tương
lai và biết những tin tức nào sẽ được tung ra và được thị trường đánh giá sẽ giúp người giao
dịch dự đoán dược xu hướng thị trường.
Tại sao những chỉ số lại quan trọng hơn những thứ khác?
Những điều kiện thị trường hiện tại sẽ ảnh hưởng đến những tin tức nào trên thị trường cho
là quan trọng nhất. Quan trọng là bạn đánh giá được những chỉ số kinh tế nào đang chiếm
giữ sự chú ý nhất trên thị trường. Ví dụ, khi Mỹ đang gánh chịu 1 số lượng tiền thiếu hụt
trong giao dịch, thị trường sẽ tập trung vào dữ liệu cân bằng thương mại. Tin tức được công
bố có thể phân loại khối lượng lớn và những di chuyển về giá. Tuy nhiên, trong sự bùng nổ
kinh tế của Mỹ với việc làm cao, thị trường sẽ không tập trung vào nạn thất nghiệp.
Những điều kiện kinh tế có thể thay đổi. Sự thiếu hụt lớn tiền trong giao dịch của Mỹ có thể
làm yếu đồng đô la. Khi đồng đô la bị yếu, thị trường sẽ chuyển sự tập trung của nó sang sự
lạm phát. Những người theo dõi thị trường sẽ chuyển sự tập trung đến CPI (Chỉ số giá tiêu
dùng) và những quyết định về lãi suất của FOMC.
Ý nghĩa của “hiện thực so với dự đoán của thị trường” là gì?
Bản thân dữ liệu không quan trọng khi nó giảm hay không nếu không có sự kì vọng của thị
trường. Bí quyết là biết khi nào dữ liệu sẽ được công bố, thêm vào đó những người dự báo
thị trường đang trông mong chỉ số nào.
Một khi bạn biết được kì vọng của thị trường cho chỉ số kinh tế, hãy để ý nếu ý kiến số đông
(đồng tình) được thỏa mãn. Sự khác nhau mạnh mẽ giữa sự đồng tình và những kết quả thật
sự có thể gây ra sự biến động giá.
Kết quả của sự gia tăng hằng tháng không mong đợi 0.3% trong chỉ số giá tiêu dùng (CPI),
hiện thực không thật sự quan trọng tới những quyết định giao dịch ngắn hạn của bạn vì
người ta biết rằng thị trường sẽ trông đợi CPI rớt 0.1%, đó là sự đồng tình.
Hãy đợi đến sau khi bạn tận dụng được từ dữ liệu những cơ hội giao dịch ngắn hạn, thông
thường là trong vòng 30 phút đầu tiên kể từ khi được công bố, để phân tích những xu hướng
phân nhánh dài hạn của sự gia tăng không mong đợi hằng tháng trong giá tiêu dùng.
Nhớ rằng những chờ đợi của thị trường cho tất cả những thông tin kinh kế được công bố trên
lịch kinh tế của chúng ta.
Tại sao những người giao dịch kỹ thuật lại chú ý đến tác động của tin tức?
Phân tích kỹ thuật không hoạt động khi những yếu tố thông tin hoặc những dữ liệu kinh tế
trở thành tâm điểm chính của thị trường vì những người tham gia sẽ trở nên nhạy cảm với
bất kỳ sự phát triển nào. Với sự xem xét giá thị trường trên những kết quả có thể, những tin
tức cơ bản được công bố như Bảng lương phi nông nghiệp Mỹ đã tạo ra những tình huống
trên thị trường và không tham gia vào phân tích kỹ thuật như khối lượng và tính đột ngột.
Mặc dù kết quả sẽ lại 1 lần nữa không tham gia vào, sự xem xét giá thị trường hàng loạt sinh
ra sự đảm bảo rằng các nhà giao dịch đang góp nhặt những giá tốt nhất có sẵn để điền vào
những vị trí của họ hơn là áp dụng moving average hàng ngày của bạn hay oscillator.
Giao dịch sử dụng tin tức: 5 chỉ số thường được theo dõi nhất.
Tiền tệ không tự nhiên trở nên yếu hơn hay mạnh hơn. Phần lớn giá trị tiền tệ được dựa trên
sự bảo mật trong sức mạnh kinh tế của 1 quốc gia. Sức mạnh kinh tế được thẩm định bằng
những chỉ số quan trọng nhất định được theo dõi rất sát trong giao dịch FX. Khi những chỉ
số kinh tế này thay đổi thì giá trị của tiền tệ sẽ dao động. Tiền tệ là sự ủy quyền cho quốc gia
mà nó tượng trưng và tiềm lực kinh tế của quốc gia đó được định giá thành tiền tệ.
Những thông tin được công bố cơ bản đã trở thành người chuyển dịch thị trường quan trọng.
Khi tập trung vào tác động ảnh hưởng của chỉ số kinh tế có giá trên thị trường FX, có 5 chỉ
số được theo dõi nhiều nhất bởi vì chúng có tiềm năng phát ra khối lượng và làm thay đổi
giá trong thị trường.
Những biên độ giao động trung bình:
Chỉ số
Độ dịch chuyển trung bình
Bảng lương phi nông nghiệp
124
Quyết định về lãi suất của FOMC
74
Cán cân thương mại
64
CPI - lạm phát
44
Chỉ số bán lẻ
44
Tại sao những tin tức kinh tế lại tác động đến giao dịch ngắn hạn?
Bản thân dữ liệu không quan trọng khi nó rớt hay không trong sự chờ đợi của thị trường.
Bên cạnh việc biết được khi nào tất cả những dữ liệu được công bố, nó còn rất quan trọng để
biết nền kinh tế nào đang dự báo cho chỉ số nào. Ví dụ, biết được kết quả kinh tế của sự gia
tăng không mong đợi hằng tháng của chỉ số giá tiêu dùng là 0.3%, hiện thực thì không thật
sự cần thiết đến những quyết định giao dịch ngắn hạn của bạn vì nó biết rằng tháng này thị
trường đa số đang trông đợi CPI giảm 0.1%.
Phân tích những phân nhánh dài hạn của sự gia tăng không mong đợi hằng tháng về giá có
thể đợi đến sau khi bạn tận dụng được dữ liệu để có những cơ hội giao dịch ngắn hạn,
thường là trong vòng 30 phút đầu tiên. Sự mong chờ thị trường cho tất cả những tin tức kinh
tế được công bố trên lịch kinh tế của chúng ta và bạn có thể theo dõi những mong đợi này
vào ngày công bố của chỉ số.
Bảng lương Non Farm - thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp là thước đo của thị trường lao động. Một trong những cách phân tích thước
đo sức mạnh của 1 nền kinh tế là số việc làm được tạo ra. Chỉ số này mạnh chỉ ra sự phát
triển của nền kinh tế vì những công ty phải tạo ra năng lực để thỏa mãn nhu cầu.
Lịch công bố: Thứ Sáu đầu tiên của tháng vào lúc 8g30 sáng EST
EUR/USD giảm khi Bảng lương phi nông nghiệp của Mỹ được công bố.
Những quyết định về lãi suất của FOMC:
Thị trường mở liên bang thành lập ra giảm giá lãi suất mà Cục dự trữ liên bang tính vào
thành viên gởi tiền ở ngân hàng cho những số nợ qua đêm. Lãi suất được thiêt lập trong suốt
những cuộc họp FOMC của những ngân hàng khu vực và Cục dự trữ liên bang
Lịch công bố: mỗi năm có 8 cuộc họp. Ngày được biết trước vì thế hãy kiểm tra trên lịch
kinh tế.
EUR/USD giảm sau Quyết định về lãi suất của FOMC.
Cán cân thương mại:
Cán cân thương mại đo sự khác nhau của giá trị hàng hóa và dịch vụ mà 1 quốc gia xuất
khẩu và giá trị hàng hoá dịch vụ mà nó nhập khẩu. Cán cân thương mại thặng dư nếu giá trị
của hàng xuất khẩu vượt qua hàng nhập khẩu, ngược lại, nếu cán cân thương mại thâm hụt
xảy ra nếu hàng nhập khẩu vượt quá hàng xuất khẩu.
Lịch công bố: nói chung thường được công bố vào khoảng giữa của tháng thứ 2 theo sau
thời kỳ báo cáo. Bạn nên kiểm tra lịch kinh tế mỗi tháng.
EUR/USD biến động sau khi cán cân thương mại được công bố.
CPI - Chỉ số giá tiêu dùng
CPI là thước đo chính của nạn lạm phát vì nó đo giá của giá cố định hàng hoá tiêu dùng. Giá
cao hơn được xem là tiêu cực cho 1 nền kinh tế, nhưng vì ngân hàng trung tâm thường đáp
lại sự lạm phát giá bằng cách tăng lãi suất nên thỉnh thoảng tiền tệ phản ứng lại 1 cách tích
cực trong những báo cáo của lạm phát cao hơn.
Lịch công bố: hàng tháng - khoảng ngày 13 mỗi tháng vào lúc 8g30 sáng EST
EUR/USD biến động sau khi CPI được công bố.
Chỉ số bán lẻ:
Chỉ số bán lẻ là thước đo tổng số lượng hàng hoá đã bán bằng cách lấy ví dụ của 1 cửa hàng
bán lẻ. Nó được sử dụng như thước đo của hoạt động tiêu dùng và niềm tin khi những con số
bán cao hơn sẽ chỉ ra hoạt động kinh tế tăng.
Lịch công bố: hàng tháng - khoảng ngày 11 mỗi tháng vào lúc 8g30 sáng EST.
EUR/USD biến động sau khi chỉ số bán lẻ được công bố.
(Maxi-Forex.com)
-----------------------------------------------------------
Ý nghĩa bảng lương phi nông nghiệp của Mỹ
Đây là một trong những bản báo cáo được mong đợi nhất của Mỹ, Non-farm payrolls là một
bản báo cáo kịp thời về bức tranh của thị trường việc làm ở Mỹ : gia tăng, tụt giảm, số giờ
làm việc, số lương thưởng ... Những tư liệu trong bản báo cáo được thu thập từ 2 cuộc khảo
sát là Household Surveys và Establishment ( payroll) Survey ( Báo cáo theo hộ gia đình và
báo cáo theo bảng lương).
Trong đó Establishment Survey được ưa chuộng hơn vì bản báo cáo này đánh giá tình trạng
của các doanh nghiệp chứ ko chỉ gói gọn trong các hộ gia đình. Bản báo cáo có những chỉ số
đầy ý nghĩa như : Change in nonfarm payrolls, Unemployment, Manufacturing Payrolls, và
Average Hourly Earnings.
Trong quá trình khai thác cũng như phân tích về bản báo cáo mình sẽ có cơ hội để mở ra
trước mắt các bạn nhiều hơn nữa những news và yếu tố liên quan đến tình trạng lao động.
Nonfarm Payrolls ( NFP)
Nonfarm payrolls (NFP) là một báo cáo về tình hình kinh tế của Mỹ được thông báo hàng
tháng.
Tên của bản báo cáo được biên soạn để sử dụng cho những công ty về sản xuất, xây dựng,
và các công ty chế tạo sản phẩm. Ban Thống Kê Lao động của bộ Lao động cho ra những tài
liệu sơ bộ của cuộc khảo sát dành cho tháng trước đó. Tin ra vào thời điểm 8h30 ET thức
đầu tiên của hàng tháng, hoặc theo Ban này bản báo cáo sẽ được đưa ra vào thứ 6 thứ 3 trong
tháng sau khi có kết luận về tài liệu của tuần
Các con số về NFP được sử dụng để đại diện cho số công việc gia tăng hay mất đi trong kinh
tế trong tháng gần nhất, ko bao gồm những công việc liên quan đến ngành công nghiệp trồng
trọt. Vì ngành này thường có tính chất thuê nhân công theo mùa mà điều này sẽ làm cho chỉ
số xung quanh thời điểm gặt ko còn chính xác nữa ( vì các nông trang thường tăng thêm số
công nhân và sau đó thì chỉ số vào mùa gặt mới được công bố). Bản báo cáo này cũng cho
biết về số giờ làm việc trung bình hàng tuần và số thu nhập kiếm được bình theo tuần của tất
cả những công nhân thuộc những ngành có trong báo cáo.
NFP bao gồm các thông tin sau :
- Sự thay đổi về chỉ số NFP
- Tỉ lệ thất nghiệp
- Thay đổi về chỉ số Manufacturing Payrolls : chỉ số Payrolls dành riêng cho các ngành sản
xuất.
- Thu nhập trung bình tính theo giờ
- Số giờ làm việc trung bình tính theo tuần.
Nói chung báo cáo phản ánh khoảng 80% tổng số công nhân làm việc để tăng sản lượng
GDP của Mỹ và đưowjc sử dụng để hỗ trợ các chính khách và các nhà kinh tế đưa ra những
chính xác mới để quyết định hiện trạng của kinh tế và phỏng đoán tương lai.
Ý nghĩa của NFP đối với nền kinh tế:
Nói chung, khi chỉ số lao động gia tăng có nghĩa là các công ty đang phát triển và cần tuyển
dụng nhân lực và điều đó cũng đồng nghĩa với việc nhiều người sẽ có việc làm và có tiền để
chi tiêu vào các sản phẩm hay dịch vụ giúp kích thích phát triển. Điều ngược lại cũng hoàn
toàn đúng trong trường hợp NFP hạ.
Ý nghĩa của Nonfarm với thị trường tài chính:
Trong khi tổng số việc làm tăng lên hay giảm đi đối với nền kinh tế là một kim chỉ nam rất
quan trọng cho hiện trạng kinh tế thì báo cáo này lãi có những thông kê mà hoàn toàn có ảnh
hưởng đến thị trường tài chính:
- Chỉ số thất nghiệp đối với kinh tế như một tỷ lệ của toàn bộ lực lượng lao động. Đây là một
phần quan trọng của bản báo cáo vì số người thất nghiệp là một dấu hiệu của tổng thể kinh
tế, và đây là một con số được ngân hàng Liên Bang theo dõi rất kĩ vì khi chỉ số này hạ xuống
mức qúa thấp ( thường là dứới 5%) thì lạm phát sẽ bắt đầu hình thành vì các doanh nghiệp sẽ
phải trả nhiều tiền hơn để thuê những thợ lành nghề và việc giá thành sản phẩm gia tăng
cũng là điều đương nhiên.
- Chỉ ra bộ phận nào có sự tăng hay giảm về công việc: Bản baó cáo có thể đưa ra sự cảnh
báo cho những trader về mảng kinh tế nào có thể bung nổ phát triển.
- Thu nhập trung bình hàng giờ : Đây là một yếu tố quan trọng vì nếu cùng một lượng nhân
công như nhau nhưng lại kiếm nhiều hơn hay ít hơn cho một khối lượng công việc , điều này
về căn bản là nói lên việc cần phải tăng hay giảm nhân công cho khối lượng công việc đó.
- Dùng để xem lại chỉ số của lần ra tin NFP trước đó: Một yếu tố quan trọng khác của báo
cáo là có thể gây ra những biến động trong thị trường vì traders tự lên khung những chiều
hướng phát triển của news dựa vào chỉ số cũ.
----------------------------------------------------------------------------------------
Doanh số bán lẻ của thị trường Mỹ
Chi tiêu tiêu dùng chiếm 70% trong tất cả các hoạt động kinh tế của Hoa Kỳ. Doanh số bán
lẻ chiếm 1/3 trong số đó. Nếu người tiêu dùng tiếp tục chi tiêu, đó là tín hiệu của sự gia tăng
toàn bộ trong nền kinh tế. Để theo dõi sự tiêu dùng, Viện điều ra dân số Hoa Kỳ đề nghị
hàng ngàn nhà bán lẻ mỗi tháng cung cấp doanh số mới nhất của họ. Nhờ vậy mà mỗi tháng
chúng ta có được bản báo cáo doanh số bán lẻ như là một trong những công cụ đo lường tốt
nhất sự thay đổi trong mô hình chi tiêu của ngưởi tiêu dùng.
Nhưng doanh số bán lẻ cũng còn một vài thiếu sót nhất định.
Nó chỉ cho biết sức mua hàng hóa hiện tại, chẳng hạn như các mặt hàng có thể tìm thấy ở :
cửa hàng đồ điện, cửa hàng ôtô, trạm gas và nhà hàng. Bản báo cáo không cho chúng ta biết
về việc chi tiêu trong lĩnh vực dịch vụ như : hàng không, nha khoa, làm tóc, bảo hiểm và
điện ảnh. Cho đến bây giờ, ngành kinh doanh dịch vụ chiếm gần 2/3 chi tiêu cá nhân.
Nó được đo lường như thế nào?
Một bảng khảo sát được gởi ngẫu nhiên đến 5.000 cửa hàng bán lẻ lớn, nhỏ trên khắp đất
nước. Những cửa hàng nhận được chúng vào khoảng 3 ngày cuối tháng. Sau đó họ sẽ trả
lời,r ồi trả lại trong vòng một tuần. Tuy nhiên, chỉ có ít hơn 50% cửa hàng được hỏi trả lại
đúng hạn. Mặc dù vậy chính phủ vẫn xem lại dữ liệu để chuẩn bị cho bản báo tạm – một
trong ba bản sẽ được công bố trong tháng. Bản tạm này cung cấp một cái nhìn nhanh và
đánh giá về sự thay đổi trong cách chi của người tiêu dùng sơ lược.
Khoảng 8.000 người bán lẻ khác thì được thăm dò trong nhiều ngày để có được một bức
tranh toàn diện về hoạt động của các chủ hàng. Kết quả của bảng khảo sát sẽ được điều
chỉnh và cho ra bản báo cáo thứ 2. Bốn tuần sau, Bản báo cáo Doanh số bán lẻ cuối cùng
được công bố. Tổng cộng có khoảng 13.000 người được hỏi và có khoảng 75% trả lời.
Làm thế nào để hiểu được nó?
Có một sự mạo hiểm khi lệ thuộc quá nhiều vào Bản khảo sát sơ bộ bởi vì chúng dựa trên
một số nhỏ lượng người được khảo sát. Để có được cái nhìn chính xác về thói quen tiêu
dùng cần phải dựa vào doanh số bán ra trung bình trong ba tháng hoặc xem qua dữ liệu trong
ba tháng qua rồi so sánh nó với cùng thời kỳ của năm trước.
Doanh số bán lẻ trừ ôtô là gì?
Khoảng 25% tổng số lượng tiền chi tiêu của người tiêu dùng là mua các sản phẩm giao
thông và các sản phẩm liên quan. Số liệu này thay đổi rất mạnh từ tháng này sang tháng khác
và nó bóp méo bức tranh doanh số bán lẻ. Để loại trừ nó, có một hàng riêng trong bản báo
cáo, nơi mà chính phủ loại bỏ chi tiêu cho ôtô để mọi người có thể theo dõi rõ hơn xu thế
tiêu dùng.
Nó ảnh hưởng như thế nào đối với đồng đô?
Thị trường tiền tệ nhận thấy bản báo cáo Doanh số bán lẻ như là một công cụ đòi hỏi sự tinh
tế để phân tích. Trong khi, những người nước ngoài thì thích thấy được tinh thần mua sắm
của người tiêu dùng Hoa Kỳ vì nó sẽ khẳng định việc sự chắc chắn của lãi suất (điều mà làm
USD tăng giá), một sự chi tiêu quá mức sẽ báo hiệu sự rắc rối cho USD bởi vì hàng nhập
khẩu quá nhiều. Một sự nhảy vọt trong việc nhập khẩu sẽ làm gia tăng nhu cầu đối với các
đồng tiền nước ngoài để chi trả cho hàng nhập khẩu và điều này có thể làm tổn thương USD.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------
FED và lãi suất
Cục dự trữ liên bang Mỹ, gọi tắt là FED, là Ngân hàng trung ương của nước Mỹ. Trong vai
trò của một Ngân hàng trung ương, FED là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng
của Chính phủ liên bang.
FED được xây dựng để đảm bảo duy trì cho nước Mỹ một chính sách tiền tệ linh hoạt hơn,
an toàn hơn, và ổn định hơn. Trong quá trình tồn tại và phát triển cùng với lịch sử nước Mỹ,
FED ngày càng chứng mình được vai trò vô cùng quan trọng của nó trong hệ thống ngân
hàng cũng như trong nền kinh tế Mỹ.
Được thành lập ngày 23/12/1913 theo đạo luật mang tên "Federal Reserve Act" do tổng
thống Woodrow Wilson kí, FED là một mạng lưới gồm 12 Ngân hàng dự trữ liên bang và
một số chi nhánh khác. Về mặt quản lý, FED chia nước Mỹ làm 12 khu vực, được gọi là các
"Quận" (District), mỗi ngân hàng Dự trữ liên bang đại diện cho một quận và được đặt tên
theo tên thành phố mà nó đặt trụ sở, đó là Boston, New York, Philadelphia, Cleveland,
Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas, San Francisco,
trong đó Ngân hàng dự trữ New York có vai trò nổi bật hơn một chút so với các ngân hàng
còn lại.
Lãnh đạo FED là Ban thống đốc (Board of Governors) gồm có 7 thành viên do Tổng thống
bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn. 7 thành viên của Ban thống đốc đóng vai trò như là đa
số trong Uỷ ban thị trường mở Hoa Kì (FOMC), là cơ quan quyết định tất cả các chính sách
tiền tệ của Mỹ. 5 thành viên còn lại của FOMC là chủ tịch của Ngân hàng dự trữ liên bang
New York và 4 chủ tịch ngân hàng dự trữ liên bang khác. Nhiệm kì của mỗi thành viên Ban
thống đốc kéo dài 14 năm, và các thành viên chỉ có thể được tái bổ nhiệm nếu nhiệm kì
trước của ông ta không phải là một nhiệm kì trọn vẹn. Tổng thống tiếp tục bổ nhiệm Chủ
tịch và phó Chủ tịch Ban thống đốc, hai người này giữ chức trong vòng 4 năm và có thể
được tái bổ nhiệm không hạn chế chừng nào họ còn là thành viên của Ban thống đốc. Chủ
tịch của FED hiện nay là Ben Bernanke, người đã thay thế Alan Greenspan vào ngày
01/01/2006. Alan Greenspan đã từng phục vụ ở cương vị Chủ tịch FED từ năm 1987.
FED có một số nhiệm vụ chính như:
*
Thực thi những chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì mức việc làm, giá cả ổn định và lãi suất
tương đối thấp.
*
Giám sát và quản lý các thể chế ngân hàng để đảm bảo đó là những nơi an toàn để gửi tiền
và để bảo vệ quyền lợi tín dụng của người dân.
*
Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức tín dụng, Chính phủ Mỹ và Ngân hàng trung
ương các nước khác như thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử, phát hành tiền...
*
Ngoài ra FED còn tiến hành các nghiên cứu về nền kinh tế Mỹ cũng như kinh tế các bang,
cung cấp thông tin về nền kinh tế thông qua các ấn phẩm, hội thảo giáo dục và qua website.
Với vai trò là Ngân hàng trung ương của nền kinh tế mạnh nhất thế giới, mỗi quyết định của
FED đều gián tiếp ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Người ta hay nói vui rằng "một
cái hắt hơi sổ mũi của chủ tịch FED" cũng đủ làm chao đảo nền kinh tế thế giới, xét về mặt
nào đó cũng không phải là không có lý. Vậy FED đã tác động đến nền kinh tế toàn cầu như
thế nào?
Thứ nhất các quyết định về tăng giảm lãi suất của FED tác động trực tiếp đến sức mạnh của
đồng USD, qua đó ảnh hưởng mạnh đến các đối tác thương mại của Mỹ. Nếu FED tăng lãi
suất đồng USD nhằm kiềm chế lạm phát, vô hình chung làm tăng sức mạnh của đồng USD
trên thị trường tiền tệ quốc tế, làm tăng nhập khẩu, giảm xuất khẩu, giảm đầu tư vào Mỹ.
Thứ hai, FED còn trực tiếp can thiệp vào việc xác lập giá trị đồng USD thông qua hoạt động
mua bán USD và các ngoại tệ khác. Ví dụ, nếu Mỹ bán đồng Yen ra đồng thời mua vào USD
thì giá trị của USD sẽ tăng, trong khi giá trị Yen giảm xuống, dẫn đến tỉ giá USD/Yen tăng.
Chính vì vậy những chuyên tham gia vào thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế không bao giờ
bỏ qua những diễn biến của FED.
Lãi suất FED được ấn định như thế nào?
Cục dự trữ liên bang thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu bằng cách định hướng " lãi suất
quỷ vốn của FED" Đây là tỷ lệ các ngân hàng ấn định với nhau cho khoản vay qua đêm các
quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang. Tỷ lệ này do thị trường quyết định chứ Fed không ép
buộc. Tuy vậy, Fed sẽ cố gắng tác động tỷ lệ này ở con số phù hợp với tỷ lệ mong muốn
bằng cách bổ su*** hoặc hạn chế nguồn cung tiền tệ thông qua hoạt động của nó trên thị
trường.
Cục dự trữ liên bang còn ấn định tỷ lệ chiếc khấu ,lãi suất mà các ngân hàng thương mại
phải trả khi vay tiền từ Fed. Tuy nhiên, các ngân hàng thường lựa chọn cách vay quỹ đặt cọc
tại Fed từ một ngân hàng khác mặc dù lãi suất này cao hơn tỷ lệ chiết khấu của Fed. Lý do
của cách lựa chọn này là việc vay tiền từ Fed mang tính công khai rộng rãi, nó sẽ đưa đến
chú ý của công chúng về khả năng thanh khoản và mức độ tin cậy của ngân hàng đang đi
vay.
Cả hai tỷ lệ trên chi phối lãi xuất ưu đãi và là tỷ lệ thường cao hơn 3% so với lãi suất quỷ
vốn tại FED .Lãi suất ưu đãi là tỷ lệ mà các ngân hàng tính lãi đối với khoản vay của những
khách hàng tin cậy nhất. Ở mức lãi suất thấp, các hoạt động kinh tế được thúc đẩy vì chi phí
đi vay thấp, do đó mà người tiêu dùng và các doanh nghiệp tăng cường mua bán. Ngược lại,
lãi suất cao đưa đến kìm hãm kinh tế vì chi phí đi vay cao hơn.
Cục dự trữ liên bang thường điều chỉnh “lãi suất quỹ vốn tại Fed” mỗi lần ở mức 0,25%
hoặc 0,5%. Từ năm 2001 đến giữa năm 2003, Fed hạ lãi suất 13 lần, từ 6,25% xuống 1%
nhằm chống lại xu hướng suy thoái kinh tế .Tháng 11 năm 2002, lãi suất do Fed điều chỉnh
chỉ còn 1,75% và nhiều mức thấp hơn cả tỷ lệ lạm phát .
Ngày 25/03/2003 "lãi suất quỷ vốn tại Fed" tụt xuống mức 1%, con số thấp nhất kể từ tháng
07 năm 1958 – 0,68%. Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, Cục dự trữ liên bang bắt đầu nâng lãi
suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày 08/08/2006. Sau đó FED hạ dần lãi suất cho
đến gần = 0 vào năm 2008 và giữ nguyên cho đến nay.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
---------------
Thị trường bất động sản và kinh tế Hoa Kỳ
Thị trường bất động sản đã và đang điều chỉnh nền kinh tế Hoa Kỳ
Sau khi Fed cắt giảm lãi suất 1% sau vụ tấng công ngày 11/09/2001, việc mượn tiền thế chấp
đã trở nên rẻ hơn để mua nhà. Khi lãi suất vẫn giữ nguyên mức tương đối thấp qua nhiều
năm, một làn sống mua nhà đã trổi dậy kết quả là giá nhà đã tăng lên “tận trời xanh”.
Các nhà đầu cơ bất động sản, các nhà đầu tư, những người kinh doanh nhà quy mô nhỏ…
kiếm tiền dễ như trở bàn tay khi mà giá nhà không ngừng tăng. Ngày càng có nhiều người
thấy được công việc kiếm tiền dễ dàng này vì thế họ quyết định tham gia vào thị trường bất
động sản, tạo ra thêm nhiều nhu cầu đối với nhà ở, kết quả là giá nhà liên tục tăng cao.
Đột ngột, Ngôi nhà của anh B lúc trước đáng giá $200.000 sau một năm đáng giá $350.000,
bây giờ anh B có thêm $150.000 trong giá trị căn nhà của mình. Nhưng anh ta không muốn
bán căn nhà đó đi vì thế anh đi mượn một khoảng nợ tương đương với giá trị dư ra của căn
nhà. Anh ta sẽ tiêu xài số tiền “tự do” này vào việc gì. Giờ đây anh ta có thể mua một xe hơi
mới, tivi, một chuyến nghĩ mát ở Hawaii…
Đây là điều thật sự thường xảy ra ở Hoa Kỳ. Người dân Hoa Kỳ đang sử dụng ngôi nhà của
mình như là một máy rút tiền ATM. Người tiêu dùng Hoa Kỳ đã khám phá ra một nguồn lực
mua mới từ việc thế chấp nhà của mình. Họ tiêu xài nhiều hơn số tiền họ có thể thực sự
kiếm. Nhờ vào việc thế chấp căn nhà của mình cho phép họ làm điều đó.
Thị trường nhà ở đã và đang trở thành nhân tố chính điều chỉnh nền kinh tế bằng cách cho
phép người tiêu dùng mượn tiền từ việc thế chấp căn nhà của mình để họ có thể tiếp tục tiêu
xài và mua nhiều thứ hơn.
Điều này chỉ thật sự hữu dụng cho đến khi giá nhà còn tăng. Nếu không có một nguồn cung
tiền từ thị trường nhà, mức chi tiêu của người tiêu dùng có thể chậm lại một cách đột ngột.
Anh B sẽ không thế chấp nhà để mượn tiền nữa và sẽ phải ngừng việc chi tiêu.
Số lượng tiền rút ra từ tài sản thế chấp (MEW) đã trở thành một yếu tố đáng kể trong GDP.
MEW diễn tả số lượng tiền mượn từ chủ nhà so với gái trị căn nhà của họ để làm công tác tài
chính cho tiêu dùng của mình.
Người chủ nhà xem MEW giống như bữa ăn trưa miễn phí. Gia nhà tăng một cách kỳ diệu,
sản sinh ra một số lượng tiền không thấy rõ có thể chuyển thành tiền mặt. Nó thật sự là
không miễn phí vì người chủ nhà phải trả lãi cho khoản nợ
Dưới đây là một vài thông tin làm nhiều người ngạc nhiên:.
• Theo một nguyên cứu của Nguyên chủ tịch cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ - Alan Greenspan
ước lượng có hơn 600 tỷ USD tiền mặt rút ra trong năm 2004.
• Goldman Sachs ước lượng trong năm 2005, những người sở hữu nhà đã rút ra 834 tỷ USD.
Ước lượng có khoảng từ 50% đến 68% số tiền này đã được người tiêu dùng tiêu xài tùy ý.
Nếu chúng ta tính những con số này trong vòng hai năm qua số tiền này đã vượt hơn 1000 tỷ
USD đã được người tiêu dùng tiêu xài.
Hãy thử tưởng tượng thử xem điều gì sẽ xảy ra một khi người tiêu dùng không thế chấp nhà
để mượn tiền
Một vần đề khác mà anh B cần phải bắt đầu nghĩ đến đó là bên cạnh việc chi tiêu số tiền
ngoài nguồn thu thực sự đó là tiền lãi anh ta phảt trả cho món nợ mà anh ta mượn. Kể từ khi
Fed tăng lãi suất và có thể tiếp tục tăng lãi suất trong tương lai, số tiền lãi anh ta phải trả sẽ
tăng.
Điều này có nghĩa là nguồn thu của anh ta sẽ phải dùng cho việc trả lãi nhiều hơn là việc chi
tiêu vào những thứ khác. Và nên nhớ rằng khi người tiêu dùng chi tiêu đó là nhân tố lèo lái
nền kinh tế.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo lường mức độ lạm phát
PPI là gì? Nó đo lường cái gì?
Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo lường mức độ lạm phát trải qua bởi các nhà sản xuất. Số liệu
này mô tả mức độ thay đổi giá cả trung bình trong rổ hàng hóa cố định được mua bởi nhà
sản xuất. Một cách tổng thể, lạm phát cao dẫn đến lãi suất cao, điều này sẽ có xu hướng làm
mạnh đồng tiền của quốc gia.
Nó nghe có vẻ giống CPI, vậy đâu là sự khác biệt?
PPI là một chỉ số của giá thương phẩm. Ngược lại, CPI đo lường cả giá của thương phẩm và
dịch vụ - nhà, giao thông, y tế và những dịch vụ khác chiếm 50% của CPI. CPI cũng bao
gồm hàng hóa nhập khẩu trong khi PPI thì không.
Một sự khác biệt giữa PPI và CPI là PPI đo lường giá trị của đồng vốn dành cho trang thiết
bị trong kinh doanh.
“Rổ hàng hóa ” bao gồm những gì?
Các hàng hóa liên qua đến tiều dùng chiếm 75% biểu đồ tròn. Hàng hóa tiêu dùng, chủ yếu
là xe hơi chiếm 40%. Thực phẩm chiếm 26% gồm : thịt, cá, sản phẩm liên quan đến bơ sữa,
trái cây và rau quả. Danh mục năng lượng, chủ yếu là gas và dầu nhiên liệu chiếm thêm 9%.
Danh mục trang thiết bị chiếm 25% gồm: ôtô và xe tải.
Các số liệu được đặt với nhau như thế nào ?
Các nhà kinh tế Bộ Lao động so sánh giá của nhiều món hàng – khoảng 3.450. Giá thì được
lấy mẫu hàng tháng.
PPI lõi là gì?
Nhiều nhà kinh tế xem xét PPI trừ đi thực phẩm và năng lượng cái mà được gọi là PPI
lõi.Vậy tại sao? Bởi vì giá thực phẩm và năng lượng thay đổi rất nhanh. Giá năng lượng có
thể bị ảnh hưởng bởi thời tiết chẳn hạn như nếu bão gây ảnh hưởng đến các dàn khoan dầu
thì sẽ anh hưởng đến sản lượng khai thác. Điều tương tự cũng có thể xảy ra đối với thực
phẩm. Đó là lý do tại sao phải loại trừ chúng để thấy được xu thế lạm phát thật của PPI.
Các “nhà chuyên nghiệp” xem xét PPI như thế nào ?
Các “nhà chuyên nghiệp” xem xét PPI một cách chung chung và xem xét nhiều phương
pháp:
• So sánh tháng gần đây nhất với hai đến ba tháng trước
• Xem xét sự thay đổi trung bình của chỉ số PPI được công bố trong sáu hoặc mười hai tháng
trước.
• Xác định tỉ lệ lạm phát giữa các năm.
Điểm chính ở đây là không nên để ý quá nhiều vào bản báo cáo đơn độc. Tốt hơn là hãy xác
định xu thế và liệu có một xu thế mới sắp xuất hiện không.
PPI ảnh hưởng như thế nào đối với USD?
Đồng đô có xu hướng mạnh lên khi tăng lãi suất ngắn hạn. Vì thế nếu Fed tăng lãi suất, thì
USD tăng giá.
Nếu lạm phát cao, USD thường sẽ tăng vì điều này cho thấy Fed có lý do để tăng lãi suất.
--------------------------------------------------------------------------------------
Chỉ số giá tiêu dùng CPI
Chỉ số giá tiêu dùng CPI là gì? Nó đo lường cái gì?
CPI là một công cụ đo lường sự thay đổi giá do người dùng chi trả theo thời gian cho các
hàng hóa trong rổ hàng hóa và dịch vụ.
Rổ hàng hóa và dịch vụ bao gồm những gì?
Hàng hóa và dịch vụ bao gồm: thực phẩm, quần áo, chỗ ở, báo chí và các loại đĩa CD. Các
mòn hàng mà người tiêu dùng thường chi tiêu nhiều như : thực phẩm, thì chiếm tỉ trọng lớn,
quan trọng, trong việc tính toán chỉ số hơn là cách sản phẩm khác như: kem đánh răng, vé
xem phim là những sản phẩm mà người tiêu dùng ít chi tiêu hơn.
Các khoản đầu tư thì sao?
CPI không bao gồm các đồi tượng đầu tư như: cổ phiếu, trái phiếu, bầt động sản, bào hiểm
nhân thọ. Những đối tượng này liên quan đến tiết kiệm chứ không phải là sự chi tiêu hằng
ngày.
Tại sao nó quan trọng để đo lường nền kinh tế?
CPI đo lường sức mua của người tiêu dùng xài đồng đô.
Mối liên hệ giữa CPI và lạm phát là gì?
CPI đo lường lạm phát được trải qua bởi người tiêu dùng trong việc chi tiêu hằng ngày của
họ.
Sự gia tăng trong chỉ số CPI sẽ được nhiều người nghĩ rằng như là “tỉ lệ lạm phát”. Nó được
sự dụng bởi các thương nhân bán lẻ để dự đoán giá trong tương lai, bời các ông chủ để tính
tiền lương và bởi chính phủ để xác định mức tăng cho quỹ bảo trợ xã hội.
CPI được thu thập và xem xét như thế nào?
Mỗi tháng, các nhà thu thập dữ liệu từ cục thống kê của bộ Lao động ra lệnh cho các trợ lý
kinh tế ghế thăm hoặc kêu gọi hàng ngàn cửa hàng bán lẻ, cơ sở dịch vụ, các tổ chức cho
thuê, phòng mạch,và toàn bộ Hoa Kỳ để thu thập thông tin giá cả của hàng ngàn đối tượng
được sử dụng để theo dõi và đo lường sự thay đổi trong chỉ số CPI. Các trợ lý sẽ lưu lại giá
của khoảng 80.000 đối tượng mỗi tháng. Tám mươi ngàn đối tượng giá này diễn tả các mẫu
được chọn có tính khoa học được mua bởi người tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ được
mua.
Trong suốt mỗi cuộc gọi hay chuyến ghé thăm, các trợ lý kinh tế thu thập giá của một hàng
hóa hoặc dịch vụ nhất định, cái mà đã được xác định chính xác từ lần trước. Nếu đối tượng
được chọn sẵn sàng, thì giá sẽ được lưu lại. Nếu đối tượng được chọn không sẵn sàng hoặc
có sự thay đổi về số lượng hoặc chất lượnag (ví dụ như: trứng được bán trong một gói 8
trứng khi lần trước đã được bán là 12) của hàng hóa hoặc dịch vụ kể từ lần thu thập lần
trước, các nhà trợ lý kinh tế chọn một đối tượng mới hoặc ghi lại sự thay đổi của đối tượng
hiện tại.
Các số liệu thu thập được sẽ được gởi tới văn phòng quốc gia của Cục thống kê bộ Lao
động, các chuyên gia thương phẩm sẽ xem xét chi tiết các thông tin về giá của hàng hóa và
dịch vụ Các nhà phân tích sẽ kiểm tra tính chính xác và nhất quán của dữ liệu, và tạo ra
những sự điều chỉnh cần thiết.
CPI ảnh hưởng như thế nào đối với đồng tiền của quốc gia?
Dầu hiệu của lạm phát có nghĩa là NHTW sẽ phải tăng lãi suất. Đa số dùng công cụ đo lạm
phát là chỉ số CPI. Nếu CPI tăng, thì nó sẽ cho các NHTW như Fed các dự liệu hỗ cho việc
tăng lãi suất. Lãi suất tăng thì đồng tiền của quốc gia tăng.
Tổng hợp&biên dịch: Trường Giang
Nguồn: babypips.com
CPI là tên viết tắt tiếng Anh của Chỉ số giá tiêu dùng. Trong rất nhiều trường hợp các quốc
gia còn dùng CPI như đại diện cho thông số về lạm phát, mặc dù không phải bao giờ cũng
đúng, hoặc chỉ phản ánh tương đối. Chúng ta xem xét ý nghĩa của CPI trong bài viết này, bổ
su*** cho khái niệm CPI đã có trong phần Tra cứu của Saga. Phần nhiều thông tin và kiến
thức ở đây được sử dụng với căn cứ tính toán cho nền kinh tế Mỹ và Anh, do đó khi sử dụng
cho Việt Nam thì cần những hiệu chỉnh nhất định để phù hợp thực tế.
Giá cả của hàng hoá dịch vụ luôn luôn biến động theo thời gian, tuy nhiên nếu như giá cả
thay đổi quá nhanh chóng, nó có thể là một cú sốc đối với nền kinh tế. Chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) là một chỉ số cơ bản đo lường giá cả hàng hoá dịch vụ và cho biết liệu nền kinh tế có
bị lạm phát hoặc giảmphát hay không. Chỉ số giả cả thường rất được quan tâm theo dõi và
nó đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định tài chính quan trọng như
chính sách lãi suất của cục dự trữ liên bang Mỹ hay quyết định tiến hành hedging của các
ngân hàng và doanh nghiệp lớn. Cũng rất có lợi cho các nhàđầu tưcá nhân tiến nếu họ tính
đến chỉ số CPI khi tiến hành hedging hoặc đưa ra quyết định phân bổ vốn đầu tư.
CPI được hình thành từ các thông tin chi tiêu của hang nghìn hộ gia đình trên toàn quốc.
Thông tin được thu thập thông qua phỏng vấn và nhật kí chi tiêu của các đối tượng lựa chọn
để nghiên cứu. Rổ hànghoá dịch vụ được sử dụng để tính bao gồm hơn 200 danh mục, thuộc
8 nhóm: thực phẩm và đồuống, nhà đất, may mặc, vận tải, chăm sóc sức khoẻ, giải trí, giáo
dục và truyền thông,và một số loại hàng hoá dịch vụ khác. Giá cả của khoảng 800.000 hàng
hoá dịch vụ trong rổ tính được thu thập hàng tháng từ hàng ngàn các cửa hàng bán lẻ, các
nhà cung cấp dịch vụ, các công ty cho thuê nhà đất và các phòng khám sức khoẻ.
Vậy chỉ số CPI mách bảo điều gì?
Các số liệu trên sẽ hình thành lên một bức tranh về sự biến động của chi phí sinh hoạt từ đó
giúp các chuyên gia tài chính nhận định được khả năng lạm phát cónguy cơlàm suy sup cả
một nền kinh tế nếu ở lạm phát ở mức độ quá cao. cả lạm phát và giảm phát quá mức đều rất
đáng sợ mặc dù giảm phát quá mức ít khi xảy ra hơn.
Chúng ta thường nhìn nhận giảm phát và giảm giá là những dấu hiệu tốt. Và thực tế điều này
có thể là tốt trong một chừng mực nào đó. Ví dụ giá của dịchvụđiện thoại đã liên tục giảm
xuống trong nhiều năm qua và chắc chắn sẽ còn tiếp tục giảm nữa vì internet ngày càng
chiếm ưu thế. Và chắc chắn bạn chẳng bao giờ nghe thấy người tiêu dùng nào phàn nàn về
điều này. Tuy nhiên giảm phát chắc chắn cũng là một hiện tượng không tốt đối với nền kinh
tế. Bằng chứng là cuộc đại suy thoái diễn ra vào những năm 30 khi mà có cả núi người thất
nghiệp không có nổi một đồng để mua hàng hoá và dịch vụ cho dù chúng được chào bán với
mức giá cực kì hấp dẫn.
Khi giá cả tăng tới mức không thể kiểm soát nổi thì lạm phát trở thành siêu lam phát. điển
hình là ở Đức vào những năm 20, lạm phát của Đức trong thời gian này đã có lúc đạt mức
3.25 triệu phần trăm một tháng. Trong suốt chiến tranh thế giới thứ II, Hy Lạp có mức lạm
phát 8.55 tỉ phần trăm một tháng, Hungary thì thậm chí còn kinh khủng hơn. Hungary đã cho
phát hành giấy bạc mệnh giá 100 triệu Pengo vào năm 1946 nhưng vào thời điểm này tờ giấy
bạc này chả có nghĩa gì do đó chính phủ buộc phải định giá lại đồng tiền của nước mình.
Giấy bạc 1triệu pengo giờ đây cũng chỉ có giá tương đương với 1 pengo trước kia, và
nghiễm nhiên nó trở thành đơn vị tiền tệ thấp nhất. Đưa ra ví dụ này để thấy được cho dù chỉ
số CPI có biến động theo chiều nào thì nó vẫn khiến cho nhiều người phải lo sợ.
Có một số hình thức biến động giá cả trong nền kinh tế, như làm giảmphát hoặc thiểu
phát(disinflation) hoặc làm tăng lạm phát (reflation).Làm giảm lạm phát là việc làm cho lạm
phát chững lại, nhưng vẫn đang trong tình trạng lạm phát. Khi lạm phát xảy ra đối với một
nền kinh tế không tăng trưởng, ta gọi đó là lạm phát đình đốn, khiến cho lạm phát càng trở
nên nghiêm trọng.
Một số ứng dụng của CPI
CPI thường được sử dụng để điều chỉnh thu nhập của người dân và các hoạt động kinh tế
khác.Cụcan ninh xã hội Mỹ thường xem xét CPIđểđưa ra mức thu nhập phù hợp cho người
dân, cấu trúc thuế của cục dự trữ liên bang cũng dựa trên CPI để điều chỉnh mức thuế cho
phù hợp,vàcácông chủthì sử dụng CPI để điều chỉnh lương nhân viên cho phù hợp với chi
phí sinh hoạt. các thông tin về hoạt động bán lẻ, thu nhập theo giờ và theo tuần, tổng thu
nhập và tổng sản phẩm quốc dân được gắn kết với CPI để lý giải các chỉ số có liên quan
trong thời kì không cóảnh hưởng củalạm phát.
CPI và thị trường
Thay đổi của giá cả của hàng hoá dịch vụ trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến các chứng
khoán có lãi suất cố định. Nếu giá cả tăng, các khoản lãi cố định sẽ có giá trị thực tế thấp
hơn và do đó làm giảm mức sinh lợi của các chứng khoán. Lạm phát cũng sẽ gây ảnh hưởng
đến các khoản tiền lương, trợ cấp, hưu trí vì chúng là các khoản tiền trả cố định. Những
người hưởng lương hưu sẽ phải nhìn đồng tiền của họ "biến mất" dần dần vì giảm sức mua
theo thời gian.
Biến động giá cả có thể ảnh hưởng xấu đến các công ty. Người ta thường kì vọng mức độ
lạm phát nhẹ trong nền kinh tế đang tăng trưởng, tuy nhiên nếu giá cả của các yếu tố đầu vào
tăng quá nhanh các nhà sản xuất sẽ bị giảm lợi nhuận. Mặt khác giảm phát chắc chắn sẽ dẫn
tới giảm mức cầu của người tiêu dùng. Trong trường hợp này các nhà sản xuất buộc phải
giảm giá để bán được hàng, tuy nhiên giá cả các yếu tố đầu vào có thể không giảm một
lượng tương ứng. Vì thế biên lợi nhuận của nhà sản xuất cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Tự bảo vệ mình trước tác động của lạm phát.
Tuy nhiên do thị trường ngày càng được hoàn thiện hơn nên các sản phẩm đầu tư có thể giúp
ta đối phó với ảnh hưởng của lạm phát. Các quỹ tương hỗ hoặc các ngân hàng có thể mua
các chứng khoán ngăn ngừa lạm phát, còn được gọi là TIPS (inflation-protected securities).
Ngoài ra còn có thể sử dụng các hợp đồng tương lai để ngăn ngừa rủi ro. Tương tự nhiều
người nắm giữ trong tay những cổ phiếu mà các cổ phiếu này lại trở thành một công cụ hết
sức hữu hiệu chống lại lam phát. Đầu tư của các cá nhân trong nhiều trường hợp không chỉ
bù đắp được thiệt hại do lạm phát gây ra mà cònđem lại một khoản lãi cho người nắm giữ.
CPI có lẽ là chỉ số quan trọng nhất và được quan tâm chú ý nhất. Nó cũng là chỉ số đo lường
sự thay đổi trong chi phí sinh hoạt được biết đến nhiều nhất. CPI được sử dụng để điều chỉnh
tiền lương, phúc lợi xã hội, lương hưu, thuế và các chỉ số kinh tế khác nữa. Nó cũng cung
cấp cho các nhà đầu tư các thông tin về những biến động có thể xảy ra trên thị trường tài
chính_nơi mà cổ phiếu có mối quan hệ cả trực tiếp và gián tiếp đối với CPI. Nắm chắc chỉ số
giá cả trong tay, các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp và bảo vệ mình
bằng cách mua các công cụ đầu tư như TIPS.
Một trong những tác giả được biết nhiều tới các nghiên cứu lạm phát thành công và sâu sắc
là Giáo sư Paul Samuelson. Khi nghiên cứu về thông tin lạm phát, nhà vật lý học vĩ đại
Stephen Hawkin có trầm ngâm cho rằng hiện tượng lạm phát phức tạp và có thể xem như
một hiện tượng vật lý thì đúng hơn là khoa học xã hội-nhân văn... Còn nói chung thì chúng
ta với tư cách là người tiêu dùng luôn lo ngại lạm phát cao dẫn tới mất giá đồng tiền, do sụt
giảm sức mua.
----------------------------------------------------------------------------------------------------
Bảng khảo sát thái độ của người tiêu dùng Niềm tin tiêu dùng là Bảng khảo sát thái độ của
người tiêu dùng về cả điều kiện hiện tại cũng như sự kỳ vọng về các điều kiện kinh tế, được
chỉ đạo bời Ủy ban hội nghị. Năm ngàn người tiêu dùng khắp đất nước sẽ được điều tra mỗi
tháng. Mức độ niềm tin của người tiêu dùng liên quan trực tiếp tới mức độ chi tiêu của họ.
Niềm tin tiêu dùng và ý kiến của người tiêu dùng chỉ là hai cách để nói về thái độ của người
tiêu dùng. Trong số các bản báo cáo kinh tế, Ý kiến người tiêu thì được khảo sát bởi ĐH
Michigan trong khi Niềm tin tiêu dùng thì được khảo sát bởi Ủy ban hội nghị.
Sự chi tiêu của người tiêu dùng chiếm 2/3 nền kinh tế, vì vậy thị trường luôn khát khao
muốn biết người tiêu dùng đang quan tâm vào cái gì và họ sẽ ăn, ở như thế nào trong tương
lai gần.
Sự tin tưởng của người tiêu dùng vào nền kinh tế và khả năng tài chính của mình càng nhiều
thì nhiều khả năng họ sẽ chi tiêu nhiều hơn.
Với ý nghĩ như vậy, thật dễ dàng để thấy chỉ số về thái độ của người tiêu dùng ảnh hưởng
trực tiếp như thế nào vào xu thế của nền kinh tế. Hãy nhớ rằng sự thay đổi của Niềm tin tiêu
dùng và doanh số bán lẻ không di chuyển nối tiếp nhau qua từng tháng.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bản khảo sát chỉ số sản xuất ISM Bản khảo sát chỉ số sản xuất ISM dựa trên những lời bình
luận của những nhà quản lý thu mua trong lĩnh vực sản xuất.
Nó là mẫu tin tức đầu tiên của nền kinh tế được công bố mỗi tháng và nó cung cấp những
bằng chứng sớm nhất cho thấy nền kinh tế đã biểu hiện như thế nào trong 4 tuần trước.
Tại sao nó được xem xét?
Những người chi trả cho những thứ mua trong công ty của họ được gọi là Người quản lý thu
mua. Các công ty sản xuất cần nguồn cung cấp để tạo ra sản phẩm. Các mẫu sản phẩm họ có
thể đặt hàng bao gồm: cáp, hộp đóng hàng, và máy vi tính. Nếu có một sự gia tăng trong nhu
cầu của các sản phẩm, Người quản lý thu mua sẽ phản ứng lại bằng cách gia tăng đơn hàng
nguyên liệu sản xuất và những nguồn khác. Nếu doanh số của công việc sản xuất giảm, điều
này sẽ liên kết với việc những ngưởi mua sẽ cắt giảm đơn hàng công nghiệp trở lại.
Do vị trí của họ, bạn có thể có được những thông tin rất đáng tin cậy về các hoạt động sản
xuất bằng cách theo dõi điều mà những người quản lý thu mua đang làm. Đây là điều quan
trọng vì các hàng hóa sản xuất chiếm khoảng một nữa nền kinh tế.
Nó được tính như thế nào?
Hằng tháng, ISM gửi qua bưu điện bảng câu hỏi đến khoảng 400 công ty thành viên khắp
Hoa Kỳ, trải đều ra 20 lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Những người quản lý thu mua của
các công ty được hỏi để xác định xem liệu các hoạt động sản xuất đang tăng, giảm, hoặc
không thay đổi trong các nhóm sau:
1. Đơn hàng mới: Các đơn hàng mới mua bởi các đại lý.
2. Sản lượng: Số lượng hàng hóa được sản xuất.
3. Việc làm: tình trạng thuê nhân công trong công ty.
4. Nguồn cung: Tốc độ cung cấp hàng của nhà cung cấp.
5. Dự trữ: Tỉ lệ thanh toán hàng dự trữ của nhà sản xuất.
6. Dự trữ của khách hàng: Các đại lý phỏng đoán mức độ dự trữ của khách hàng của họ.
7. Giá hàng hóa: Giá nhà sản xuẩt trả cho nhà cung cấp.
8. Đơn hàng tồn đọng: Các đơn hàng chưa được thực hiện.
9. Đơn hàng xuất khẩu mới: Tỷ lệ đơn hàng mới từ các quốc gia khác.
10. Nhập khẩu: Các nguyên liệu mà các đại lý mua từ các quốc gia khác.
Chỉ số ISM tự bản thân nó được sưu tập dựa trên các câu trả lời cho 5 câu hỏi đầu tiên của
bảng câu hỏi. Chúng lần lượt chiếm tỉ trọng như sau: đơn hàng (30%), sản lượng sản xuất
(25%), việc làm (20%), nguồn cung (15%), và dự trữ (10%). Năm câu hỏi cuối thì cung cấp
thêm các tin tức cho thấy các hoạt động sản xuất đang được tiến hành như thế nào.
Đọc bản số liệu này như thế nào?
Trên 50: Cả hai các hoạt độg sản xuất và nền kinh tế đang mở rộng.
Dưới 50 nhưng trên 43: Các hoạt động sản xuất đang co lại, Manufacturing activity is
contracting, lúc này toàn bộ nền kinh tế vẫn tăng trưởng.
Dưới 43: Cả hai các hoạt độg sản xuất và nền kinh tế rất có thể suy thoái. Kỳ vọng Fed sẽ cắt
giảm lãi suất để cố gắng và kích thích nền kinh tế tăng trưởng.
Nó ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường tiền tệ?
ISM trên 50 thì đồng đô tăng giá
ISM dưới 50 thì đồng đô rớt giá

Tai chinh the gioi

  • 1.
    TRADE VÀNG CÙNGTÀI CHÍNH THẾ GIỚI Có rất nhiều bạn mới vào trade Vàng còn nhiều lúng túng và thiếu nhiều kinh nghiệm. Taichinhthegioi xin mạng phép trình bày những kinh nghiệm thực tế về trade Vàng mà Taichinhthegioi đã trải qua bao lâu nay. Taichinhthegioi xin trình bài các vấn đề sau: Bài 1. Trade Vàng cần quan tâm đến gì? Bài 2. Vàng bị ảnh hưởng bởi những gì? Hay những gì tạo ra xu hướng Vàng? Bài 3: Cách xác lập hay nhận biết, bắt đáy, đón đỉnh của Vàng Thế giới. Bài 4. Vàng có là bong bóng? Xu hướng Vàng trong tương lai. Bài 5. Tổng hợp những kinh nghiệm của Taichinhthegioi. Taichinhthegioi sẽ cố gắng dành thời gian để trình bài 5 bài trên. Tất cả năm bài trên đều là bài viết được đúc kết từ kinh nghiệm thực tế của Taichinhthegioi + tham khảo 1 số nguồn! Hôm nay Taichinhthegioi sẽ trình bài Bài đầu tiên! Bài 1. Trade Vàng cần quan tâm đến gì? Taichinhthegioi sẽ cố gắng viết 5 bài này thật ngắn gọn, dễ hiểu, và trong thời gian nhanh nhất. Taichinhthegioi kính chào cả nhà, Bài 1: Trade Vàng cần quan tâm đến những yếu tố gì? Như chúng ta đã biết Vàng thế giới biến động theo từng giây từng phút, traders trade Vàng thì gồm có rất nhiều thành phần, kể cả các ngân hàng TW trên thế giới. Và trade Vàng rất khắc nghiệt, nó có thể cho ta lãi khủng nhưng chính nó cũng sẽ lấy đi của ta tất cả. Vậy làm khi chúng ta trade Vàng, chúng ta cần quan tâm đến gì để chiến thắng? 1. Cần trang bị 1 số kiến thức cơ bản hay sơ đẳng về trade Vàng FX hay Vàng thế giới 2. Tuyệt đối tuân thủ stop loss và tuân thủ kỉ luật: thà chấp nhận cut loss để vào trạng thái khác. ==> khôn ngoan 3. Đừng bao giờ quá tham vọn, tham lam hay đặt mục tiêu quá cao: Chẳng hạn như bạn Bán giá $1,385, kì vọng bạn là $1,350 nhưng khi Vàng xuống $1,356 bạn đừng quá tham mà không chốt lời, chờ nó xuống $1,350 hay thấp hơn nhưng nó không xuống thêm mà quay đầu tăng lại trên $1,400 ===> xem như mất cả chì lẫn chài.
  • 2.
    4. Phải cótính kiên nhẫn nhạy bén, và có cái đầu lạnh: nghĩa là trade vàng đừng quá hấp tấp, phải kiên nhẫn. Ví dụ: ta Mua $1,380. ( dự tính cut loss tuyêt đối tại $1,374) nhưng khi Mua mà giá có giảm $1,378, $1,376.... rồi ta sợ ta nhảy và Bán lại... nhưng sau đó Vàng tăng vù vù. Do đó khi Mua hay Bán thì cứ kiên nhẫn chờ đợi, chừng nào chạm cut loss thì cắt, không thì thôi. Tuyệt đối không tin vào những lời đồn đoán. Chỉ tham khảo! 5. Quên đi khái niệm giá cao, giá thấp của Vàng: Khi chúng ta trade Vàng chúng ta cứ trade theo xu hướng chủ đạo của thị trường, take profit theo kì vọng, khi đó cho dù Vàng có tăng hay giảm gì ta cũng take profit được. Chính thời điểm hay thời cơ sẽ cho ta thắng lợi. Cứ theo xu hướng chính mà đánh. Thắng cao! 6. Làm sao xác định xu hướng chính của Vàng? Thông thường xu hướng chính, xu hướng chủ đạo của Vàng sẽ ở Phiên Mỹ. Nếu trong Phiên Mỹ xu hướnbg là Tăng thì Phiên Á, Phiên Âu liền sau đó là chủ đạo tăng hay ngược lại. Còn nếu xu hướng vàng tại Phiên Mỹ là sideway thì 2 phiên Á, Âu tiếp theo khả năng sideway cho đến giảm là cao. 7. Biết cách nắm bắt và phân tích các hot news kịp thời ( để chạy trước). Vì dụ như tin Trung Quốc tăng LSCB thì phải Bán là chủ đạo 8. Nên nhớ Vàng phụ thuộc rất nhiều vào tin của Mỹ, do đó khi tin Mỹ xấu vàng thường Tăng, khi Mỹ Tốt Vàng thường giảm. Trong mọi trường hợp thì tin là cái quan trọng nhất nó sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ các cặp tiền vào thời điểm tin đó đưa ra. Ngoài trừ dầu và vàng nó không có quy luật lên xuống rõ ràng thì hầu như các cặp tiền nó đều có những biến động lâu và dài hơn, có thể nói khi mà một cặp tiền cứ xuôi theo trend là nó sẽ có những cái đỉnh và đáy được thiết lập và theo thời gian cái trend đó ngày càng dài ra, khi mà độ dài của cái trend đó đủ mạnh thì nó sẽ tạo sốt ở thời điểm sau tùy theo mức độ sốt nóng hay lạnh lâu dài thì lúc đó là vàng và dầu sẽ ảnh hưởng mạnh với xu thế đó 9. Khi Vàng bắt đầu tại Phiên Mỹ, các bạn chú ý 3 mốc thời gian sau đây: Lúc Phiên Mỹ bắt đầu ( 19h20 hoặc 20h20, tùy theo mùa mà sẽ có 1 trong 2 mốc giờ trên) nếu Vàng giảm 1 lèo trên $10 mà sau (21h30 hay 22h30, tùy theo mùa) Vàng hồi phục lại gần $10 thì xem xét Mua lại Ngay. Còn nếu Vàng không hồi phục mà tăng giảm hồi phục nhưng đà tăng yếu hơn đà giảm thì có nghĩa là Vàng sẽ còn giảm tiếp nữa ===> Canh Bán ngay. Sau 23h30 hay sau 24h30, tùy theo mùa) thì thông thường vàng sẽ sideway ở giá hiện tại thời điểm đó ===> có thể yên tâm giữ lệnh hay chốt lời. Tương tự cho trường hợp Vàng tăng. Chú ý: Sau 21h30 hay sau 22h30 xu hướng vàng tăng hay giảm sẽ là xu hướng chính của Vàng cho đến thời điểm close. Cho nên khi vào đầu phiên Mỹ Vàng có tăng hay giảm 1 lèo $10 - $20 cũng không ăn thua, ăn thua là sau 21h30 hay sau 22h30 Vàng có bị đảo chiều không? Nếu không đảo chiều thì ta yên tâm. 10. Chú ý 3 yếu tố: Tin hot news, USDX, và giá của bạc, bạch Kim và cả chứng khoán Mỹ. Vì khi ta nhìn vào USDX và kết hợp với nhìn vào giá của Bạch Kim, Bạc ta có thể suy ra xu hướng tiếp của Vàng. Ví dụ cụ thể cho hôm nay: Tin Mỹ hay tin hot news là tin LSCB của Trung Quốc tăng ===> kì vọng Vàng giảm.
  • 3.
    - USDX hiệntại đang giảm ===> hổ trợ chút ít cho Vàng - Bạc đang giảm nhẹ ( mức giảm ít hơn vàng, nhìn vào tỷ lệ % tăng, giảm của bạc mà so sánh tỷ lệ % tăng giảm của Vàng) ==> mức giảm ít hơn Vàng ===> cũng hổ trợ Vàng khó giảm mạnh hơn - Bạch Kim đang tăng $18 lên $1,731. ===> Bạch Kim không giảm mà tăng ===> hổ trợ Vàng khó giảm thêm Tổng hợp các yếu tố đó lại xem xét đến Vàng thì Vàng đang giảm nhẹ ( không tăng), tương ứng với USDX giảm, Bạc giảm nhưng không đáng kể, Bạch Kim Tăng ===> Vàng không thể giảm thêm hiện tại. Trừ khi đột nhiên các thứ trên đột ngột giảm mạnh thì vàng sẽ giảm mạnh. Do đó, khả năng đêm nay vàng khó bị giảm dưới $1,380. Mà sideway nhiều hơn do nhìn vào các hàng hóa kim loại khác như Bạc, bạch kim, Palladium tăng. Tuy nhiên do hot news từ Trung Quốc vẫn mạnh nên vàng không tăng được mạnh. ===> Xem xét Mua quanh trên dưới $1,380. Hết bài 1 Bài 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến gía vàng. Trước hết, vàng là một loại hàng hóa, do đó dao động giá của vàng phải được xem xét dựa trên các yếu tố tác động của cung và cầu. Nguồn cung vàng trên thế giới đến từ các quốc gia có trữ lượng vàng lớn và sản lượng xuất khẩu có tầm ảnh hưởng đến thị trường như Nam Phi, Mỹ, Canada, Nga, Úc... Xét về nhu cầu vàng thì phải thấy rằng, toàn thế giới đều muốn có thứ kim loại này và tùy vào mục đích sử dụng mà có những nhu cầu khác nhau: phục vụ cho hoạt động chế tác trang sức, tích lũy, đầu tư, thanh toán… Tùy vào từng thời điểm mà nhu cầu tăng cao trong những thời kỳ khác nhau và đôi khi xảy ra cùng lúc, do đó tác động mạnh đến cầu vàng trong cùng thời điểm. Hiện nay, USD được xem là đồng tiền mang tính thanh toán toàn cầu, do đó theo thông lệ, các loại hàng hóa hay ngoại tệ khi giao dịch trên thế giới thường được định giá theo USD và vàng cũng không ngoại lệ. Chính vì vậy, bất cứ tác động nào ảnh hưởng đến giá trị đồng USD thì cũng tác động trực tiếp đến biến động giá cả của vàng. Khi xem xét giá trị đồng USD, người ta thường đánh giá thông qua nền kinh tế Mỹ và những yếu tố chính được xem là “chỉ báo” phản ánh sức mạnh hay suy yếu của nền kinh tế Mỹ, đó là tình trạng thị trường nhà ở, thị trường lao động, thị trường tín dụng và thị trường vốn. Ngoài ra, một chỉ báo không thể không kể đến khi đánh giá giá trị đồng USD, đó là quyết định về lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Bất kỳ quyết định nào ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm, giữ nguyên lãi suất của Mỹ do FED công bố qua các kỳ họp của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) đều tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá trị đồng USD. Dù quyết định tăng/giảm lãi suất của FED với mục đích kích thích hay kìm hãm tốc độ phát triển của nền kinh tế hay nhằm giải quyết các vấn đề khác thì trong ngắn hạn hay tức thời, quyết định tăng/giảm lãi suất của Mỹ cũng sẽ làm tăng/giảm giá trị của đồng USD do trong ngắn hạn hay tức thời, giá trị của đồng USD được nâng lên/hạ xuống so với các ngoại tệ
  • 4.
    khác trong mốitương quan so sánh. Khi giá trị của đồng USD dao động, giá trị các loại hàng hóa được định giá bằng USD cũng dao động tức thời theo quyết định của FED. Ví dụ, trước khi FED cắt giảm lãi suất cơ bản, 1 ounce vàng có giá là 1000 USD nhưng khi FED cắt giảm lãi suất thì vàng “vô tình” bị định giá thấp do USD mất giá nên thị trường sẽ tự động điều chỉnh bằng cách nâng giá vàng lên, trong trường hợp này 1 ounce vàng sẽ có giá là 1050 USD.... Như vậy ý Taichinhthegioi muốn nói là vàng bị tác động chính bởi USD, mà USD được quyết định bởi FED mà các quyết định bởi FED được dựa trên các tin kinh tế vĩ mô của Mỹ. Như vậy: Những tin Vĩ Mô nào cũng Mỹ ảnh hưởng mạnh nhất đến Vàng??? 1. Tin Bảng lương phi nông nghiệp Mỹ và Tin Tỷ lệ thất nghiệp. * Ý nghĩa bảng lương phi nông nghiệp của Mỹ Đây là một trong những bản báo cáo được mong đợi nhất của Mỹ, Non-farm payrolls là một bản báo cáo kịp thời về bức tranh của thị trường việc làm ở Mỹ : gia tăng, tụt giảm, số giờ làm việc, số lương thưởng ... Những tư liệu trong bản báo cáo được thu thập từ 2 cuộc khảo sát là Household Surveys và Establishment ( payroll) Survey ( Báo cáo theo hộ gia đình và báo cáo theo bảng lương). Trong đó Establishment Survey được ưa chuộng hơn vì bản báo cáo này đánh giá tình trạng của các doanh nghiệp chứ ko chỉ gói gọn trong các hộ gia đình. Bản báo cáo có những chỉ số đầy ý nghĩa như : Change in nonfarm payrolls, Unemployment, Manufacturing Payrolls, và Average Hourly Earnings. Trong quá trình khai thác cũng như phân tích về bản báo cáo mình sẽ có cơ hội để mở ra trước mắt các bạn nhiều hơn nữa những news và yếu tố liên quan đến tình trạng lao động. Nonfarm Payrolls ( NFP) Nonfarm payrolls (NFP) là một báo cáo về tình hình kinh tế của Mỹ được thông báo hàng tháng. Tên của bản báo cáo được biên soạn để sử dụng cho những công ty về sản xuất, xây dựng, và các công ty chế tạo sản phẩm. Ban Thống Kê Lao động của bộ Lao động cho ra những tài liệu sơ bộ của cuộc khảo sát dành cho tháng trước đó. Tin ra vào thời điểm 8h30 ET thức đầu tiên của hàng tháng, hoặc theo Ban này bản báo cáo sẽ được đưa ra vào thứ 6 thứ 3 trong tháng sau khi có kết luận về tài liệu của tuần Các con số về NFP được sử dụng để đại diện cho số công việc gia tăng hay mất đi trong kinh tế trong tháng gần nhất, ko bao gồm những công việc liên quan đến ngành công nghiệp trồng trọt. Vì ngành này thường có tính chất thuê nhân công theo mùa mà điều này sẽ làm cho chỉ số xung quanh thời điểm gặt ko còn chính xác nữa ( vì các nông trang thường tăng thêm số công nhân và sau đó thì chỉ số vào mùa gặt mới được công bố). Bản báo cáo này cũng cho biết về số giờ làm việc trung bình hàng tuần và số thu nhập kiếm được bình theo tuần của tất cả những công nhân thuộc những ngành có trong báo cáo.
  • 5.
    NFP bao gồmcác thông tin sau : - Sự thay đổi về chỉ số NFP - Tỉ lệ thất nghiệp - Thay đổi về chỉ số Manufacturing Payrolls : chỉ số Payrolls dành riêng cho các ngành sản xuất. - Thu nhập trung bình tính theo giờ - Số giờ làm việc trung bình tính theo tuần. Nói chung báo cáo phản ánh khoảng 80% tổng số công nhân làm việc để tăng sản lượng GDP của Mỹ và đưowjc sử dụng để hỗ trợ các chính khách và các nhà kinh tế đưa ra những chính xác mới để quyết định hiện trạng của kinh tế và phỏng đoán tương lai. Ý nghĩa của NFP đối với nền kinh tế: Nói chung, khi chỉ số lao động gia tăng có nghĩa là các công ty đang phát triển và cần tuyển dụng nhân lực và điều đó cũng đồng nghĩa với việc nhiều người sẽ có việc làm và có tiền để chi tiêu vào các sản phẩm hay dịch vụ giúp kích thích phát triển. Điều ngược lại cũng hoàn toàn đúng trong trường hợp NFP hạ. Ý nghĩa của Nonfarm với thị trường tài chính: Trong khi tổng số việc làm tăng lên hay giảm đi đối với nền kinh tế là một kim chỉ nam rất quan trọng cho hiện trạng kinh tế thì báo cáo này lãi có những thông kê mà hoàn toàn có ảnh hưởng đến thị trường tài chính: - Chỉ số thất nghiệp đối với kinh tế như một tỷ lệ của toàn bộ lực lượng lao động. Đây là một phần quan trọng của bản báo cáo vì số người thất nghiệp là một dấu hiệu của tổng thể kinh tế, và đây là một con số được ngân hàng Liên Bang theo dõi rất kĩ vì khi chỉ số này hạ xuống mức qúa thấp ( thường là dứới 5%) thì lạm phát sẽ bắt đầu hình thành vì các doanh nghiệp sẽ phải trả nhiều tiền hơn để thuê những thợ lành nghề và việc giá thành sản phẩm gia tăng cũng là điều đương nhiên. - Chỉ ra bộ phận nào có sự tăng hay giảm về công việc: Bản baó cáo có thể đưa ra sự cảnh báo cho những trader về mảng kinh tế nào có thể bung nổ phát triển. - Thu nhập trung bình hàng giờ : Đây là một yếu tố quan trọng vì nếu cùng một lượng nhân công như nhau nhưng lại kiếm nhiều hơn hay ít hơn cho một khối lượng công việc , điều này về căn bản là nói lên việc cần phải tăng hay giảm nhân công cho khối lượng công việc đó. - Dùng để xem lại chỉ số của lần ra tin NFP trước đó: Một yếu tố quan trọng khác của báo cáo là có thể gây ra những biến động trong thị trường vì traders tự lên khung những chiều hướng phát triển của news dựa vào chỉ số cũ.
  • 6.
    2. Tin Lạmphát CPI 3. Tin Nhà đất Mỹ 4. Tin GDP 5. Tin niềm tin tiêu dùng hay tin khảo sát niềm tin 6. Thông tin sản xuất và buôn bán lẻ của Mỹ ===> Nếu 6 thông tin trên Tốt ===> chứng tỏ kinh tế Mỹ dần hồi phục ===> tạo công ăn việc làm cho người dân Mỹ ===> Tỷ lệ thất nghiệp giảm ===> tác động đến chính sách lãi suất Mỹ ===> làm cho USD tăng giá ===> làm cho Vàng giảm. Do đó, yếu tố thứ 7 chính là FED. Sẽ tác động rất mạnh lên Vàng. Nên mọi lời phát biểu của FED rất đáng lưu ý vì nó sẽ tác động rất mạnh lên vàng. Song song đó, ngoài những yếu tố thông tin kinh tế Mỹ nêu trên tác động mạnh đến Vàng còn có những yếu tố sau đây! - Chính sách lãi suất của các nước lớn khác so với Mỹ như Trung quốc, Úc, Canada, Châu Âu.... - Tình hình nợ công của các nước lớn khác, điển hình là Châu Âu. - Căng thẳng chính trị giữa các nước , làm phức tạp thêm tình hình, gây nguy cơ chiến tranh - Nguồn cung của Vàng và tâm lí traders *** Khi Vàng tăng hay giảm mạnh đều có lí do và nguyên nhân, do đó chúng ta phải tự mình đặt ra câu hỏi là " TẠI SAO VÀNG GIẢM MẠNH HAY VÀNG TĂNG MẠNH?", " Và nếu lí do đó được duy trì thì liệu vàng có còn tiếp tục tăng hay nếu nhân tố đó mất đi thì Vàng sẽ thế nào?". Chúng ta phải tìn ra được nguyên nhân và lí do khiến Vàng tăng hay giảm mạnh để từ đó sẽ có câu trả lời chính xác. Ví dụ cụ thể: Vàng đang tăng mạnh lên $1,400 do những nguyên nhân sau: LSCB Mỹ và 1 số nước như kv Châu Âu thấp ==> lạm phát, chính sách "tung" tiền ra thị trường ===> làm Tiền mất giá ==> vàng trở thành công cụ thay thế, tình hình nợ công châu Âu, kinh tế Mỹ còn yếu thông qua tỷ lệ thất nghiệp cao. Như vậy nếu các yếu tố trên vẫn còn bền vững thì Vàng sẽ tiếp tục tăng, và ngược lại Vàng phải giảm mạnh do vai trò phònhg thủ đầu tự thay thế của vàng bị mất trước tình hình kinh tế phát triển ===> LSCB được tăng ===> Tiền có gái trị hơn ===> Vàng phải giảm. Và yếu tố nào giúp ta nhận ra tình hình kinh tế Mỹ hay thế giới đã ổn định và khả quan hay chưa? Đó là các thông tin kinh tế Vĩ Mô của Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Anh, Canada, Úc...
  • 7.
    công bố hàngtuần. Tóm lại: Taichinhthegioi viết nãy giờ khá dài dòng, nay xin tóm lại thật ngắn gọn như sau: Vàng bi tác động bởi các nhan tố: 1. Tin kinh tế vĩ mô Mỹ (tin lao động việc làm, tin nhà đất, tin sản xuất, tin GDP, Tin niềm tin tiêu dùng và đặc biệt là tin FED) 2. Ảnh hưởng bởi tình hình nợ công các nước 3. Chính sách tiền tệ của các nước lớn khác trên thế gới 4. Căng thẳng chính trị 5. Nguồn cung và cái chính là tâm lí traders. Dưới đây, Taichinhthegioi xin trình bày thêm các nhân tố tác động đến đồng USD. Vì thông qua đồng USD mạnh hay yếu sẽ tác động đến Vàng tăng hay giảm Các nhân tố ảnh hưởng đến đồng USD Sơ nét một số các chỉ số, thông tin kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng chính của Mỹ thường được sử dụng trong phân tích a) Thông tin kinh tế - Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Bất cứ một quốc gia nào cũng muốn duy trì một nền kinh tế tăng trưởng cùng với sự ổn định tiền tệ và công ăn việc làm cho dân cư mà GDP là một trong những tín hiệu cụ thể của những nỗ lực của chính phủ. Vì thế việc nghiên cứu khuynh hướng của sự tăng trưởng GDP, tỉ lệ thất nghiệp cũng như tỉ lệ lạm phát giúp chính phủ có thể thay đổi chính sách tiền tệ để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Ví dụ khi có thông tin GDP của nước nào đó tăng lên thì đó là tin tốt cho đồng tiền nước đó… - Chỉ số giá cả tiêu dùng(CPI): Là một trong những chỉ số kinh tế quan trọng của một quốc gia. Vì vậy sự gia tăng nhanh hoặc giảm nhanh của lạm phát là một dấu hiệu cho thấy rất có khả năng có một sự thay đổi trong chính sách tiền tệ. - Sản lượng công nghiệp (Industrial Production): Vì giá trị của ngành công nghiệp chiếm một tỉ trọng lớn trong GDP nên một sự thay đổi nhỏ của chỉ số này cũng có thể gây ra những thay đổi lớn về tốc độ tăng trưởng GDP và vì thế sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ của mỗi quốc gia. - Số lượng hàng hóa bán lẻ (Retail sales): Bằng việc theo dõi số lượng hàng hóa bán lẻ trong một thời gian nhất định chính phủ có thể đánh giá được một cách gần chính xác sự tăng trưởng của việc tiêu dùng cá nhân của dân cư, mà việc tiêu dùng của xã hội đóng góp rất lớn
  • 8.
    vào giá trịcủa GDP. - Hàng tồn kho (Inventories): Tỉ lệ hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Ví dụ nếu tỉ lệ tồn kho tăng cao tức là sức mua trong nền kinh tế đang có chiều hướng giảm sút sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế và ngược lại. ………. - Ngoài ra trên thị trường còn có rất nhiều các chỉ số quan trong khác mà bất cứ một dealer nào cũng quan tâm như: cung tiền M2, chỉ số thất nghiệp, doanh số nhà mới khởi công, doanh số bán nhà hiện có, đơn hàng nhà máy, đơn hàng hoá lâu bền, chi tiêu tiêu dùng, thu nhập cá nhân, bảng lương phi nông nghiệp, chỉ số ISM ngành sản xuất và dịch vụ, cán cân thương mại… b)- FED-FOMC- Fed fund Rate & Discuont rate Federal Reserve Bank ( FED): Cục dự trữ liên bang Mỹ. Được toàn quyền thiết lập chính sách tiền tệ của Mỹ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát thấp. chính sách chính của FED được thể hiện ở hoạt động thị trường mở, lãi suất chiết khấu ( Discuont rate), lãi suất mục tiêu (Fed Fund rate). Federal Open Market Committee ( FOMC): ủy ban điều hành thị trường mở, chịu trách nhiệm ra quyết định điều hành chính sách tiền tệ, quan trọng là công bố lãi suất cơ bản 8 lần/ năm. 12 thành viên của hội đồng bao gồm 7 thành viên của hội đồng thống đốc ( Board of Governors), chủ tịch của ngân hàng dự trữ New York ( Federal Reserve Bank of New York), và 4 thành viên còn lại được luân phiên giữa chủ tịch 11 Ngân hàng dự trữ còn lại. Fed fund Rate (lãi suất mục tiêu, lãi suất cơ bản của đồng USD): đây là mức lãi suất quan trọng nhất, nó là mức lãi suất mà các tổ chức tài chính sử dụng cho những khoản vay nợ hay gửi tiền qua đêm. Thông thường khi có sự thay đổi trong mức lãi suất này ám chỉ dấu hiệu sự thay đổi trong chính sách tiện tệ của Fed. Những thông báo liên quan tới vấn đề này gây ảnh hưởng rất lớn lên thị trường chứng khoán, trái phiếu, thị trường ngoại hối. Discuont rate (lãi suất chiết khấu): lãi suất mà Fed áp dụng cho ngân hàng thương mại khi vay lại Fed, sự thay đổi trong mức lãi suất này cũng ám chỉ đến chính sách tiền tệ của Fed. Thông thường discount rate thấp hơn Fed Fund rate. c) Trái phiếu và lãi suất kỳ hạn 3 tháng của USD -10 year treasury note: lãi suất trái phiếu 10 năm. Sau khi phát hành trái phiếu kỳ hạn 30 năm chấm dứt vào tháng 10/2001. Trái phiếu kỳ hạn 10 năm trở thành tiêu chuẩn cho mức lãi suất dài hạn. Đó là dấu hiệu quan trọng nhất trên thị trường về tín hiệu lạm phát. Thông thường thị trường dùng mức lợi tức ( hơn là giá) để xác định mức độ trái phiếu. Giá trái phiếu có tỷ lệ nghịch chiều với tỷ lệ lãi suất.
  • 9.
    Không có mốiquan hệ rõ ràng giữa trái phiếu dài hạn và đồng USD tuy nhiên có thể sử dụng ý tưởng sau: một sự sụt giảm trong giá trị của trái phiếu ( do lợi tức tăng) thông thường do tác động của lạm phát tăng có thể gây áp lực lên USD. - Lợi tức 10 năm trái phiếu: thị trường trái phiếu ngoại hối thường đánh giá sự khác biệt giữa lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm với các loại trái phiếu cùng kỳ hạn của các nước khác như Đức ( German 10 year bund), Nhật (10 year JGB), Anh (10 year gilt), sự chênh lệnh có thể tác động đến biến động tỷ giá, thường thì một sự gia tăng của lợi tức 10 năm của trái phiếu Mỹ làm cho đồng USD tăng giá. - 3 month Eurodollar Deposits: đây là mức lãi suất kỳ hạn 3 tháng của USD tại các ngân hàng ngoài biên giới nước Mỹ. Thông thường được sử dụng như một tiêu chuẩn trong việc xác định sự chênh lệch lãi suất từ đó có thể dự báo biến động tỷ giá. Ví dụ như trường hợp tỷ giá USDJPY, nếu như lãi suất chênh lệch giữa eursdollar và euryen càng lớn thì khả năng tỷ giá USDJPY bị tác động theo xu hướng tăng lên. d) Các nhà chính trị hay các lãnh đạo kinh tế Các thành viên chính phủ hay những người đứng đầu các ngân hàng trung ương, chính những người này có thể gây ảnh hưởng tới giá trị của một loại tiền tệ nào đó qua những gì họ noí, những gì họ làm. Các chức vụ quan trọng như: tổng thống, thủ tướng, thống đốc hay chủ tịch các ngân hàng… luôn có sự thay đổi theo nhiệm kỳ hay có lý do khác. Nhưng chúng luôn được quan tâm chặt chẽ từ các nhà đầu tư, dù ai ngồi vào các vị trí đó thì những quyết sách của họ đều rất quan trọng và đều có những thay đổi, những tác động nhất định tới thị trường ngoại hối. Ở NHTW, đối với Mỹ là Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thì khi tỷ giá biến động theo một chiều hướng bất lợi tác động xấu tới nền kinh tế, NHTW có thể can thiệp vào nhằm ổn định tỷ giá và đưa tỷ giá trở về tầm kiểm soát theo hướng có lợi cho chính sách tiền tệ. Việc can thiệp này trong những năm gần đây thường thực hiện bằng hai cách: can thiệp miệng ( verbal intervention) hoặc can thiệp trực tiếp vào thị trường. e) Những nhân tố chính trị ( ví dụ điển hình) Những nhân tố chính trị đôi khi có thể tác động và gây ra ảnh hưởng lớn đến biến động tỷ giá. Nó làm tỷ giá biến động khá nhanh và mạnh tùy theo từng trường hợp có thể kéo dài hay chấm dứt nhanh chóng. - Việc Anh gia nhập EU. - Việc các nước Châu Âu không ký hiệp ước Châu Âu. - Việc bầu cử tổng thống Mỹ.
  • 10.
    - Việc ôngSarkozy thắng cử tổng thống Pháp. - Căng thẳng Trung Đông, Bắc Triều Tiên… - Vấn đề định giá lại CNY. Ngoài những yếu tố cơ bản trên thì những nguyên nhân sau làm biến động tỷ giá như: + Sự gia tăng đáng kể các thành viên tham gia thị trường nhằm mục đích tìm kiếm các cơ hội sinh lới khi tỷ giá biến động. đối với các đối tượng này thì tỷ giá biến động theo hướng nào là không quan trọng cái chính họ cần là thị trường phải biến động. + Các luồng vốn di chuyển nhằm thanh toán sự mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế giữa các quốc gia.Các nhà đi vay cũng có xu hướng tìm kiếm các nguồn vốn bằng các đồng tiền khác nhau nhằm giảm chi phí vay, các quỹ đầu tư cũng di chuyển nguồn vốn vào các đồng tiền có lợi nhuận cao nhất. Cộng thêm các biến động về lãi suất càng làm các quá trình trên diễn ra mạnh mẽ. Các nhà đầu cơ trên thị trường bao gồm: 1.Nhà đầu cơ hay leveraged investor (Hedge fund). 2.Định chề đầu tư (pension fund, thường thông qua các công ty quản lý tài sản, investmen bank) 3.Các công ty 4.Các loại khác (bao gồm cả các NHTW) + Tỷ giá chéo: tỷ giá USD và một đồng tiền khác đôi khi bị ảnh hưởng bởi các cặp tỷ giá khác. Ví dụ như một sự gia tăng nhanh chóng của đồng JPY so với EUR (EURJPY) tạo nên một sự mất giá của EUR, bao gồm luôn cả sự sụt giảm EURUSD. + Tác động của nhân tố mang tính chu kỳ: Đây là các hoạt động ngoại có tính chất lặp lại hàng năm trong những thời điểm nhất định, có thể gây ra những biến động tỷ giá mà ta có thể định trước, tuy nhiên quá trình này không phải lúc nào cũng xảy ra giống nhau mà có thể có sự điều chỉnh biến động khác đi. + Tác động của những nhân tố khác: Những nhân tố khác, ít xảy ra thường xuyên cũng có tác động lớn tới biến động tỷ giá như các kỳ họp của G7, IMF, hội nghị kinh tế các nước, các khu vực … các thông tin mua bán, sát nhập các công ty có giá trị trên hàng tỷ USD. Hết bài 2 Bài 3: Cách nhận biết xu hướng Vàng Thế giới, cách đón đỉnh, bắt đáy, cách chốt lời, cắt lỗ cũng như cách phân biệt giảm điều chỉnh hay sell off.
  • 11.
    1. Cách nhậnbiết xu hướng Vàng Thế giới là tăng hay giảm? Trước hết Taichinhthegioi xin nói là Vàng Tăng hay Giảm điều có nguyên nhân của nó. Một sự bất ổn về tiền tệ hay lạm phát, căng thẳng chính trị, kinh tế yếu kém, lãi suất thấp… đều là những nhân tố hổ trợ Xu hướng Tăng của Vàng. Ngược lại nếu các yếu tố trên Tốt và sẽ Giảm. ** Nhân biết xu hướng Tăng ( tất nhiên phải có kèm theo các nhân tố hỗ trợ) - Khi bắt đầu một xu hướng tăng thì trước đó vàng phải từ đà tăng giảm xuống để hình thành trend giảm. Chúng ta chú ý trend giảm này giảm đến đâu? Và trụ được tại đó bao lâu? Nếu ngày qua ngày càng mức close càng thấp hơn, thì trend giảm vẫn còn, nhưng nếu ngày qua ngày mức close cao hơn, hay mức close tăng giảm zic zac tại điểm nào đó, hay vàng xoay quanh điểm nào đó trong vòng 1 tuần lễ đến 10 ngày ( nghĩa là nếu Vàng có giảm xuống và tăng gì cũng về trở lại mức cũ) rồi sao đó đột nhiên tăng và close 1 cái tăng từ $5 - $10 so dấu hiện Vàng sắp đảo chiều là Tăng, rồi ngày Vàng đã trong xu thế Tăng và canh MUA theo. Lúc này ta phải tự mình đặt ra các cản cứng xem Vàng có break được không? Nếu break được và sao đó close với giá trên điểm Vàng break được thì xem như trend tăng vẫn còn ( nếu Vàng break được cản mạnh nhưng không close được trên cản cứng đó, thì xem như Vàng chưa thực sự Tăng vững). Cứ thế xem xét đà Tăng của vàng theo từng ngày với giá close. Miển sao giá close trong 3 ngày liên tiếp không được thấp hơn liên tục thì Vàng vẫn trong trend tăng. Nếu giá close 2 ngày close tục bị giảm thì đà tăng của Vàng có nguy cơ bị kết thúc, còn nếu trong 3 ngày giảm thì chắc chắn đà tăng của Vàng kết thúc, mở ra hướng giảm. Còn trong trường hợp giá close 1 ngày tăng, 1 ngày giảm thì không sao. Nhưng không được close theo kiểu ngày hôm nay giảm $10 - $15, ngày mai tăng nhẹ chỉ $5 so với giá close hôm qua, và ngày kế nữa giảm $10. Tuy có ngày tăng ngày giảm nhưng mức giảm nhiều hơn Tăng là cũng rơi vào nguy cơ đảo chiều giảm. Đà tăng vẫn còn khi mức giá close tăng giảm hầu như ngang như là được. Tiếp tục xem xét nếu đà tăng đã quá yếu (khi nhiều lần không break được các mức cản tiếp theo) là Vàng đang sắp đảo chiều.. ** Nhân biết xu hướng Giảm ( tất nhiên phải có kèm theo các nhân tố hỗ trợ) - Khi bắt đầu một xu hướng giảm thì trước đó vàng phải từ đà giảm và tăng lên để hình thành trend tăng. Chúng ta chú ý trend Tăng này tăng đến đâu? Và trụ được tại đó bao lâu? Nếu ngày qua ngày càng mức close càng tăng cao hơn, thì trend tăng vẫn còn, nhưng nếu ngày qua ngày mức close giảm thấp hơn, hay mức close tăng giảm zic zac tại điểm nào đó, hay vàng xoay quanh điểm nào đó trong vòng 1 tuần lễ đến 10 ngày ( nghĩa là nếu Vàng có giảm xuống và tăng gì cũng về trở lại mức cũ) rồi sao đó đột nhiên tăng và close 1 cái giảm từ trên $5 - $10 so với giá mà nó xoay quanh cả tuần lễ hơn dấu hiện Vàng sắp đảo chiều Vàng đã trong xu thế Giảm và canh Bán theo. Lúc này ta phải tự mình đặt ra các hổ trơg xem Vàng có break được không? Nếu break được và sao đó close với giá dưới điểm Vàng break được thì xem như trend tăng vẫn còn ( nếu Vàng break được cản hưng không close được dưới cản hổ trợ đó, thì xem như Vàng chưa thực sự giảm bền vững). Cứ thế xem xét đà Giảm của vàng theo từng ngày với giá close. Miển sao giá close trong 3 ngày liên tiếp không được tăng cao hơn liên tục thì Vàng
  • 12.
    vẫn trong trendgiảm. Nếu giá close 2 ngày close tục bị tăng thì đà giảm của Vàng có nguy cơ bị kết thúc, còn nếu trong 3 ngày tăng thì chắc chắn đà giảm của Vàng kết thúc, mở ra hướng tăng. Còn trong trường hợp giá close 1 ngày tăng, 1 ngày giảm thì không sao. Nhưng không được close theo kiểu ngày hôm nay tăng $10 - $15, ngày mai giảm nhẹ chỉ $5 so với giá close hôm qua, và ngày kế nữa tăng $10. Tuy có ngày tăng ngày giảm nhưng mức Tăng nhiều hơn giảm là cũng rơi vào nguy cơ đảo chiều giảm. Đà giảm vẫn còn khi mức giá close tăng giảm hầu như ngang như là được. Tiếp tục xem xét nếu đà giảm đã quá yếu (khi nhiều lần không break được các mức cản tiếp theo) là Vàng đang sắp đảo chiều.. 2. * Cách đón đỉnh, bắt đáy của vàng thế giới. Kết hợp với phần cách nhận biết xu hướng Vàng Thế Giới là tăng hay giảm ta cần xem xét những yếu tố sau: ** Cách bắt đáy: Xem xét các nhận biết xu hướng Tăng của phần trên để biết vàng sắp hay khi nào đảo chiều? Khi Vàng giảm mạnh hay mở ra xu hướng giảm ( sau khi tăng) thì chúng ta phải đu theo trend để Bán mạnh theo, khi chúng ta thấy dầu hiệu Vàng giảm yếu đi hay thật kiên nhẫn chờ Vàng đi hết quá trình giảm của nó. Làm sao biết Vàng đã sắp đi xong quá trình giảm để chúng ta bắt đáy? Chúng ta phải chú ý và nhớ đến cái giá “ đáy” của kì liền kề trước đó là bao nhiêu? Chúng ta xem xem Vàng có khả năng break qua đáy đó không? Nếu vàng break được qua đáy đó nhưng bật trở lại liền hay 2 phiên liên tục không thể phá vùng đáy đó. Thì lúc này ta có thể xem xét Mua vào mạnh tay. Hoặc kí liền trước đáy vàng là $1,35x chẳng hạn, nhưng cứ đến $1,37x hay $1,36x là Vàng vọt tăng trở lại và khoảng 2 đến 3 lần như vậy thì chúng ta nên xem xét bắt đầu Mua vào lại là vừa. Một yếu tố nữa là khi Vàng sideway quanh 1 vùng nào đó hơi lâu khoảng tuần lễ và đột nhiên có “ triệu chứng” tăng nhẹ và close tăng đều trong 2 ngày liên tục trở lên và sau đó có giảm lại vẫn giảm tại mức cũ mà nó sideway thì lúc này ta cũng cóm thể Mua vào được. Thêm nữa là, chú ý kĩ phần này, khi Vàng đang ở ngưỡng sideway và có 1 số tin hổ trợ cho Vàng và làm Vàng tăng thì cũng là lúc ta xem xét Mua vào khi Vàng giảm nhẹ điều chỉnh. ( chú ý trong trường hợp này tính từ mức vàng sideway thì đà tăng mạnh trong 1 phiên phải từ $15 - $25) Một nhân tố quan trọng mà chúng ta cần chú ý là xem xét Mua vào khi Vàng có mức giảm trung bình $125 so với lúc tăng cuối cùng. ** Cách đón đỉnh : Xem xét các nhận biết xu hướng giả của phần trên để biết vàng sắp hay khi nào đảo chiều? Khi Vàng tăng mạnh hay mở ra xu hướng tăng ( sau khi giảm) thì chúng ta phải đu theo trend để Mua vào theo, khi chúng ta thấy dầu hiệu Vàng tăng yếu đi hay thật kiên nhẫn chờ
  • 13.
    Vàng đi hếtquá trình tăng của nó. Trong quá trình đó, hãy chú ý đến những dấu hiệu nguy hiểm. Đó là khi trong phiên giao dịch, giá đột ngột rớt mạnh rồi lại phục hồi ngay sau đó. Những ngày sau đó, giá có thể lên tiếp nhưng lực lên yếu dần và không thể vượt qua những đỉnh cao mới. Lúc đó chúng ta nên cân nhắc chốt lời và thoát khỏi thị trường. Làm sao biết Vàng đã sắp đi xong quá trình giảm để chúng ta bắt đáy? * Những dấu hiệu nhận biết vàng sắp đảo chiều để giảm để Bắt đỉnh, Bán ra húng ta phải chú ý và nhớ đến cái giá “ đình” của kì liền kề trước đó là bao nhiêu? Chúng ta xem xem Vàng có khả năng break qua đỉnh đó không? Nếu vàng break được qua đỉnh đó nhưng bật trở lại liền hay 2 phiên liên tục không thể phá vùng đỉnh đó. Thì lúc này ta có thể xem xét Bán ra mạnh tay. Hoặc kí liền trước đỉnh vàng là $1,430 chẳng hạn, nhưng cứ đến $1,41x hay $1,42xlà Vàng vọt giảm trở lại và khoảng 2 đến 3 lần như vậy thì chúng ta nên xem xét bắt đầu Bán ra là vừa. Một yếu tố nữa là khi Vàng sideway quanh 1 vùng nào đó hơi lâu khoảng tuần lễ và đột nhiên có “ triệu chứng” giảm nhẹ và close giảm đều trong 2 ngày liên tục trở lên và sau đó có tăng lại vẫn tăng tại mức cũ mà nó sideway thì lúc này ta cũng cóm thể Bán ra được. Thêm nữa là, chú ý kĩ phần này, khi Vàng đang ở ngưỡng sideway và có 1 số tin bất lợi cho Vàng và làm Vàng giảm thì cũng là lúc ta xem xét Bán ra khi Vàng giảm điều chỉnh. ( chú ý trong trường hợp này tính từ mức vàng sideway thì đà giảm mạnh trong 1 phiên phải từ $15 - $25). Một nhân tố quan trọng mà chúng ta cần chú ý là xem xét Bán ra khi Vàng có mức tăng trung bình $125 so với lúc giảm cuối cùng. Chu ý chung: Điều quan trọng sau khi xác định được đỉnh và đáy, chúng ta phải vào lệnh trong vòng 48 tiếng khi bắt đầu 1 xu hướng. Vì sao? Vì nó cho ta khao3n lợi nhuận tới ưu nhất và đảm bảo để chúng ta có thể đủ sức. vượt qua những đợt điều chỉnh thông thường xuất hiện trong tiến trình di chuyển của xu hướng 3 . Cách cắt lỗ cũng như chốt lời thế nào cho hiệu quả? Như chúng ta đã biết và thế giới biến động vô cùng phức tạp và khó lường cho nên chúng ta phải tuân thù cut loss và biết cách chốt lời cho thật hiệu quả. Khi bắt đầu 1 xu hướng mới, Vàng thường trụ tại xu hướng mới này khoảng 1 tuần cho đến hơn cả tháng. Vì một xu hướng thật sự không kết thúc ngay khi nó bắt đầu. Nó cần thời gian để đi hết tiến trình di chuyển hợp lý. Trong tiến trình đó sẽ có nhiều đợt điều chỉnh xảy ra. Trường hợp chốt lời. Khi chúng ta đang đi đúng hướng thì tất nhiên những lệnh mà chúng ta triển khai sẽ cho ta 1 lợi nhuận to lớn, và để bảo vệ an toàn cho lợi nhuận đó chúng ta nên di chuyển điểm cut loss để nhằm bảo đảm lợi nhuận của mình. Giả sử chúng ta đã đạt được lợi nhuận là 30 USD thì hãy di chuyển điểm cắt lỗ để đảm bảo chúng ta giữ được 25 lợi nhuận khi giá di chuyển theo hướng ngược lại. Về trường hợp đặt mức dừng lỗ.
  • 14.
    Như Taichinhthegioi đãnói trong trade Vàng cần tuân thủ kĩ luật Stop loss. Thông thường, mức cắt lỗ tối đa không quá 10%. Hãy hạn chế mức lỗ càng ít càng tốt. Nếu sau khi đặt lệnh mà giá chạy ngược chiều khiến bạn thua lỗ, thì hãy cắt ngay. Khi đó mức lỗ nằm trong phạm vi cho phép và chúng ta có thể bảo toàn được vốn cho lần đặt lệnh sau. Và chúng ta nên xem xét mua lại quanh mức dừng lỗ để chờ Bán tiếp ( nếu chúng ta kì vọng vàng giảm) hay ngược lại. Chính lệnh Mua này sẽ bù lỗ phần nào cho ta ( có khi có lời) ở lệnh Bán trước đó bị lỗ. Nghĩa là luôn tuân thủ stop loss để bảo toàn vốn và hạn chế rủi ro. Vì vậy, sau khi đặt lệnh, nếu thấy giá chạy ngược chiều thì hãy cắt ngay và mua lướt hay bán lướt để chờ bán hay mua tiếp hoặc đứng ra ngoài để nhìn nhận lại xu hướng thị trường. Còn 1 cách nữa, là chúng ta Mua hay Bán đối ứng… (Còn tiếp…) ( Taichinhthegioi tạm thời viết bao nhiêu đây trước, còn phần Mua Bán đối ứng, cách pah6n biệt giảm điểu chỉnh và sell off..Taichinhthegioi sẽ trình bày trong tối nay) Taichinhthegioi kính chào cả nhà Bài 3 ( hoàn chỉnh): Cách nhận biết xu hướng Vàng Thế giới, cách đón đỉnh, bắt đáy, cách chốt lời, cắt lỗ cũng như cách phân biệt giảm điều chỉnh hay sell off. 1. Cách nhận biết xu hướng Vàng Thế giới là tăng hay giảm? Trước hết Taichinhthegioi xin nói là Vàng Tăng hay Giảm điều có nguyên nhân của nó. Một sự bất ổn về tiền tệ hay lạm phát, căng thẳng chính trị, kinh tế yếu kém, lãi suất thấp… đều là những nhân tố hổ trợ Xu hướng Tăng của Vàng. Ngược lại nếu các yếu tố trên Tốt và sẽ Giảm. ** Nhân biết xu hướng Tăng ( tất nhiên phải có kèm theo các nhân tố hỗ trợ) - Khi bắt đầu một xu hướng tăng thì trước đó vàng phải từ đà tăng giảm xuống để hình thành trend giảm. Chúng ta chú ý trend giảm này giảm đến đâu? Và trụ được tại đó bao lâu? Nếu ngày qua ngày càng mức close càng thấp hơn, thì trend giảm vẫn còn, nhưng nếu ngày qua ngày mức close cao hơn, hay mức close tăng giảm zic zac tại điểm nào đó, hay vàng xoay quanh điểm nào đó trong vòng 1 tuần lễ đến 10 ngày ( nghĩa là nếu Vàng có giảm xuống và tăng gì cũng về trở lại mức cũ) rồi sao đó đột nhiên tăng và close 1 cái tăng từ $5 - $10 so dấu hiện Vàng sắp đảo chiều là Tăng, rồi ngày Vàng đã trong xu thế Tăng và canh MUA theo. Lúc này ta phải tự mình đặt ra các cản cứng xem Vàng có break được không? Nếu break được và sao đó close với giá trên điểm Vàng break được thì xem như trend tăng vẫn còn ( nếu Vàng break được cản mạnh nhưng không close được trên cản cứng đó, thì xem như Vàng chưa thực sự Tăng vững). Cứ thế xem xét đà Tăng của vàng theo từng ngày với giá close. Miển sao giá close trong 3 ngày liên tiếp không được thấp hơn liên tục thì Vàng vẫn trong trend tăng. Nếu giá close 2 ngày close tục bị giảm thì đà tăng của Vàng có nguy cơ bị kết thúc, còn nếu trong 3 ngày giảm thì chắc chắn đà tăng của Vàng kết thúc, mở ra hướng giảm. Còn trong trường hợp giá close 1 ngày tăng, 1 ngày giảm thì không sao. Nhưng không được close theo kiểu ngày hôm nay giảm $10 - $15, ngày mai tăng nhẹ chỉ $5 so với giá close hôm qua, và ngày kế nữa giảm $10. Tuy có ngày tăng ngày giảm nhưng mức giảm nhiều hơn Tăng là cũng rơi
  • 15.
    vào nguy cơđảo chiều giảm. Đà tăng vẫn còn khi mức giá close tăng giảm hầu như ngang như là được. Tiếp tục xem xét nếu đà tăng đã quá yếu (khi nhiều lần không break được các mức cản tiếp theo) là Vàng đang sắp đảo chiều.. ** Nhân biết xu hướng Giảm ( tất nhiên phải có kèm theo các nhân tố hỗ trợ) - Khi bắt đầu một xu hướng giảm thì trước đó vàng phải từ đà giảm và tăng lên để hình thành trend tăng. Chúng ta chú ý trend Tăng này tăng đến đâu? Và trụ được tại đó bao lâu? Nếu ngày qua ngày càng mức close càng tăng cao hơn, thì trend tăng vẫn còn, nhưng nếu ngày qua ngày mức close giảm thấp hơn, hay mức close tăng giảm zic zac tại điểm nào đó, hay vàng xoay quanh điểm nào đó trong vòng 1 tuần lễ đến 10 ngày ( nghĩa là nếu Vàng có giảm xuống và tăng gì cũng về trở lại mức cũ) rồi sao đó đột nhiên tăng và close 1 cái giảm từ trên $5 - $10 so với giá mà nó xoay quanh cả tuần lễ hơn dấu hiện Vàng sắp đảo chiều Vàng đã trong xu thế Giảm và canh Bán theo. Lúc này ta phải tự mình đặt ra các hổ trơg xem Vàng có break được không? Nếu break được và sao đó close với giá dưới điểm Vàng break được thì xem như trend tăng vẫn còn ( nếu Vàng break được cản hưng không close được dưới cản hổ trợ đó, thì xem như Vàng chưa thực sự giảm bền vững). Cứ thế xem xét đà Giảm của vàng theo từng ngày với giá close. Miển sao giá close trong 3 ngày liên tiếp không được tăng cao hơn liên tục thì Vàng vẫn trong trend giảm. Nếu giá close 2 ngày close tục bị tăng thì đà giảm của Vàng có nguy cơ bị kết thúc, còn nếu trong 3 ngày tăng thì chắc chắn đà giảm của Vàng kết thúc, mở ra hướng tăng. Còn trong trường hợp giá close 1 ngày tăng, 1 ngày giảm thì không sao. Nhưng không được close theo kiểu ngày hôm nay tăng $10 - $15, ngày mai giảm nhẹ chỉ $5 so với giá close hôm qua, và ngày kế nữa tăng $10. Tuy có ngày tăng ngày giảm nhưng mức Tăng nhiều hơn giảm là cũng rơi vào nguy cơ đảo chiều giảm. Đà giảm vẫn còn khi mức giá close tăng giảm hầu như ngang như là được. Tiếp tục xem xét nếu đà giảm đã quá yếu (khi nhiều lần không break được các mức cản tiếp theo) là Vàng đang sắp đảo chiều.. 2. Cách đón đỉnh, bắt đáy của vàng thế giới. Kết hợp với phần cách nhận biết xu hướng Vàng Thế Giới là tăng hay giảm ta cần xem xét những yếu tố sau: ** Cách bắt đáy: Xem xét các nhận biết xu hướng Tăng của phần trên để biết vàng sắp hay khi nào đảo chiều? Khi Vàng giảm mạnh hay mở ra xu hướng giảm ( sau khi tăng) thì chúng ta phải đu theo trend để Bán mạnh theo, khi chúng ta thấy dầu hiệu Vàng giảm yếu đi hay thật kiên nhẫn chờ Vàng đi hết quá trình giảm của nó. Làm sao biết Vàng đã sắp đi xong quá trình giảm để chúng ta bắt đáy? Chúng ta phải chú ý và nhớ đến cái giá “ đáy” của kì liền kề trước đó là bao nhiêu? Chúng ta xem xem Vàng có khả năng break qua đáy đó không? Nếu vàng break được qua đáy đó nhưng bật trở lại liền hay 2 phiên liên tục không thể phá vùng đáy đó. Thì lúc này ta có thể
  • 16.
    xem xét Muavào mạnh tay. Hoặc kí liền trước đáy vàng là $1,35x chẳng hạn, nhưng cứ đến $1,37x hay $1,36x là Vàng vọt tăng trở lại và khoảng 2 đến 3 lần như vậy thì chúng ta nên xem xét bắt đầu Mua vào lại là vừa. Một yếu tố nữa là khi Vàng sideway quanh 1 vùng nào đó hơi lâu khoảng tuần lễ và đột nhiên có “ triệu chứng” tăng nhẹ và close tăng đều trong 2 ngày liên tục trở lên và sau đó có giảm lại vẫn giảm tại mức cũ mà nó sideway thì lúc này ta cũng cóm thể Mua vào được. Thêm nữa là, chú ý kĩ phần này, khi Vàng đang ở ngưỡng sideway và có 1 số tin hổ trợ cho Vàng và làm Vàng tăng thì cũng là lúc ta xem xét Mua vào khi Vàng giảm nhẹ điều chỉnh. ( chú ý trong trường hợp này tính từ mức vàng sideway thì đà tăng mạnh trong 1 phiên phải từ $15 - $25) Một nhân tố quan trọng mà chúng ta cần chú ý là xem xét Mua vào khi Vàng có mức giảm trung bình $125 so với lúc tăng cuối cùng. ** Cách đón đỉnh : Xem xét các nhận biết xu hướng giả của phần trên để biết vàng sắp hay khi nào đảo chiều? Khi Vàng tăng mạnh hay mở ra xu hướng tăng ( sau khi giảm) thì chúng ta phải đu theo trend để Mua vào theo, khi chúng ta thấy dầu hiệu Vàng tăng yếu đi hay thật kiên nhẫn chờ Vàng đi hết quá trình tăng của nó. Trong quá trình đó, hãy chú ý đến những dấu hiệu nguy hiểm. Đó là khi trong phiên giao dịch, giá đột ngột rớt mạnh rồi lại phục hồi ngay sau đó. Những ngày sau đó, giá có thể lên tiếp nhưng lực lên yếu dần và không thể vượt qua những đỉnh cao mới. Lúc đó chúng ta nên cân nhắc chốt lời và thoát khỏi thị trường. Làm sao biết Vàng đã sắp đi xong quá trình giảm để chúng ta bắt đáy? * Những dấu hiệu nhận biết vàng sắp đảo chiều để giảm để Bắt đỉnh, Bán ra Chúng ta phải chú ý và nhớ đến cái giá “ đình” của kì liền kề trước đó là bao nhiêu? Chúng ta xem xem Vàng có khả năng break qua đỉnh đó không? Nếu vàng break được qua đỉnh đó nhưng bật trở lại liền hay 2 phiên liên tục không thể phá vùng đỉnh đó. Thì lúc này ta có thể xem xét Bán ra mạnh tay. Hoặc kí liền trước đỉnh vàng là $1,430 chẳng hạn, nhưng cứ đến $1,41x hay $1,42x là Vàng vọt giảm trở lại và khoảng 2 đến 3 lần như vậy thì chúng ta nên xem xét bắt đầu Bán ra là vừa. Một yếu tố nữa là khi Vàng sideway quanh 1 vùng nào đó hơi lâu khoảng tuần lễ và đột nhiên có “ triệu chứng” giảm nhẹ và close giảm đều trong 2 ngày liên tục trở lên và sau đó có tăng lại vẫn tăng tại mức cũ mà nó sideway thì lúc này ta cũng cóm thể Bán ra được. Thêm nữa là, chú ý kĩ phần này, khi Vàng đang ở ngưỡng sideway và có 1 số tin bất lợi cho Vàng và làm Vàng giảm thì cũng là lúc ta xem xét Bán ra khi Vàng giảm điều chỉnh. ( chú ý trong trường hợp này tính từ mức vàng sideway thì đà giảm mạnh trong 1 phiên phải từ $15 - $25). Một nhân tố quan trọng mà chúng ta cần chú ý là xem xét Bán ra khi Vàng có mức tăng trung bình $125 so với lúc giảm cuối cùng.
  • 17.
    Chu ý chung:Điều quan trọng sau khi xác định được đỉnh và đáy, chúng ta phải vào lệnh trong vòng 48 tiếng khi bắt đầu 1 xu hướng. Vì sao? Vì nó cho ta khao3n lợi nhuận tới ưu nhất và đảm bảo để chúng ta có thể đủ sức. vượt qua những đợt điều chỉnh thông thường xuất hiện trong tiến trình di chuyển của xu hướng 3 . Cách cắt lỗ cũng như chốt lời thế nào cho hiệu quả? Như chúng ta đã biết và thế giới biến động vô cùng phức tạp và khó lường cho nên chúng ta phải tuân thù cut loss và biết cách chốt lời cho thật hiệu quả. Khi bắt đầu 1 xu hướng mới, Vàng thường trụ tại xu hướng mới này khoảng 1 tuần cho đến hơn cả tháng. Vì một xu hướng thật sự không kết thúc ngay khi nó bắt đầu. Nó cần thời gian để đi hết tiến trình di chuyển hợp lý. Trong tiến trình đó sẽ có nhiều đợt điều chỉnh xảy ra. Trường hợp chốt lời. Khi chúng ta đang đi đúng hướng thì tất nhiên những lệnh mà chúng ta triển khai sẽ cho ta 1 lợi nhuận to lớn, và để bảo vệ an toàn cho lợi nhuận đó chúng ta nên di chuyển điểm cut loss để nhằm bảo đảm lợi nhuận của mình. Giả sử chúng ta đã đạt được lợi nhuận là 30 USD thì hãy di chuyển điểm cắt lỗ để đảm bảo chúng ta giữ được 25 lợi nhuận khi giá di chuyển theo hướng ngược lại. Về trường hợp đặt mức dừng lỗ. Như Taichinhthegioi đã nói trong trade Vàng cần tuân thủ kĩ luật Stop loss. Thông thường, mức cắt lỗ tối đa không quá 10%. Hãy hạn chế mức lỗ càng ít càng tốt. Nếu sau khi đặt lệnh mà giá chạy ngược chiều khiến bạn thua lỗ, thì hãy cắt ngay. Khi đó mức lỗ nằm trong phạm vi cho phép và chúng ta có thể bảo toàn được vốn cho lần đặt lệnh sau. Và chúng ta nên xem xét mua lại quanh mức dừng lỗ để chờ Bán tiếp ( nếu chúng ta kì vọng vàng giảm) hay ngược lại. Chính lệnh Mua này sẽ bù lỗ phần nào cho ta ( có khi có lời) ở lệnh Bán trước đó bị lỗ. Nghĩa là luôn tuân thủ stop loss để bảo toàn vốn và hạn chế rủi ro. Vì vậy, sau khi đặt lệnh, nếu thấy giá chạy ngược chiều thì hãy cắt ngay và mua lướt hay bán lướt để chờ bán hay mua tiếp hoặc đứng ra ngoài để nhìn nhận lại xu hướng thị trường. 4. Cách phân biệt giảm điều chỉnh hay Sell Off A. Giảm điều chỉnh Khi Vàng đột nhiên giảm mạnh nhưng sau đó lực giảm yếu dần và mức close ngày này qua ngày kia tuy có tăng giảm zic zac nhưng có mức tăng nhẹ, mức giảm trong 3 ngày liên tục không được giảm nhiều hơn $30. Thông thường giá điểu chỉnh giảm chỉ khoảng $15 cho đến $20 rồi sau đó trở lại xu hướng chính là tăng. Lưu ý: không được có 3 ngày liên tục close giá thấp dần đều. B. Giảm mạnh - Sell Off Trạng thái Sell Off là quá trình giảm giá, rớt giá liên tục, cường độ giảm cáng lúc càng mạnh, và nếu sau khi rớt, giá có hồi lại nhưng sau đó giảm mạnh hơn. Thông thường nếu vàng hồi lại 1 mà giảm lại đến 2 hay 3 là coi chừng sell off.
  • 18.
    Quá trình Selloff thông thường khoảng từ $100 đến $140. Nếu 3 ngày liên tiếp giá close thấp dần đều và có tổng mức giảm trong 1 ngày là khoảng $25 hay tổng 3 ngày liên tục là $35 - $40 thì vàng đang Sell off, quá trình sell off sẽ còn tiếp tục ( canh hồi là chúng ta Bán), vì khi Sell off giá sẽ giảm khoảng trên dưới $100 so với gia lúc đỉnh trước đó. Hết Bài 3 Taichinhthegioi kính chào cả nhà, Bài Số 3B: Các Trade Vàng lạc quan! Phương Pháp Trade Vàng lạc quan! Phương pháp này là 1 trong những phương do Taichinhthegioi nghĩ ra và Taichinhthegioi luôn trade theo kiểu này, 99% không lỗ mà chỉ có lời. Phương pháp này là phương pháp mà khiến bạn không phải quá bận tâm là Vàng sắp tới tăng hay giảm? Vàng đã tới đỉnh hay tới đáy chưa…? Nói chung phương pháp này tránh cho tài khảon của ta bị thua lỗ Đó là phương pháp trade theo xu hướng chủ đạo của thị trường. Phương pháp này khởi cần áp dụng tin tức cơ bản gì hết! Cứ đánh, trade lạc quan. Muốn áp dụng được phương pháp này bạn nên: 1. Tuân thủ Stop loss và đảo chiều đánh ( vì dụ đang Bán, chạm stop loss chuyển sang Mua liền) 2. Xác định biên độ Vàng dao động, xác định các cản cứng và cản hổ trợ cũng như mức phải take profit. Chú ý phương pháp này take profit hơi ít nhưng rất chắc ăn: Trường hợp Bán ( Vì chúng ta kì vọng vàng xuống) Ví dụ Bạn đặt lệnh Bán tại $1,414, dừng lỗ $1,417. Nếu như xu hướng vàng như ý chúng ta là giảm thì chúng ta cứ chờ đợi take profit nhưng nếu xu hướng Vàng tăng và chúng ta bị chạm Stop loss thì khi đó, chúng ta phải Mua vào liền quanh mức Stop loss là $1,415 hay $1,416 chẳng hạn ( vì chắc chắn rằng sau khi chạm Stop loss $1,417 vàng sẽ hồi xuống 1 chút tại $1,415 hay $1,416, cho chắc ăn ta nên Mua vùng Stop loss trừ đi 1 usd. Sau đó ta phải xác định điểm Bán tiếp hay điểm chốt lời. Ví dụ ta xác định điểm Bán tiếp là quanh $1,421, dừng lỗ $1,425. Thì ta chốt lời lệnh Mua tại $1,420 rồi Bán. Tương tự nếu chạm $1,425 dừng lỗ thì ta canh Mua tiếp quanh $1,424 rồi chốt lời và canh Bán quanh $1,430. Tổng kết lệnh Bán $1,414 đến $1,417 lỗ $3. Lệnh Mua $1,416 chốt tại lãi $4. Rồi lệnh Bán $1,420 đến $1,425 ==> lỗ $5. Lệnh Mua $1,424 chốt tại
  • 19.
    quanh $1,430 lời$6. Suy ra: -3 +4 -5 +6 = lãi $2, hoặc nếu ai có chốt vội vã cũng hều vốn hoặc lãi $1. Tương tự cho Trường Hợp Mua ( cho nên Taichinhthegioi xin không trình bày vì nó tương tự) Cách trade này chỉ sử dụng khi mà Vàng đi nghịch kì vọng của ta. Nhưng chỉ được sử dụng tối đa 3 lần. Vi1 dụ: Như ta kì vọng vàng giảm mà ta cứ Bán rối Mua, Mua rồi Bán…từ lúc $1,415 cho đến $1,430 mà vàng vẫn tăng thì nên duy trì theo 1 hướng luôn. ( Thông thường cách này chúng ta sẽ sử dụng tại Phiên Mỹ nhiều hơn khi nó đi ngược với phân tích và kì vọng của ta). Còn Phiên Á và Phiên Âu thì trade rất đơn giản. Thông thường nếu Vàng phiên Mỹ Giảm là Phiên Á và Phiên Âu sau đó xu hướng chính là Giảm, Phiên Mỹ tăng thì Phiên Á và Phiên Âu sau đó xu hướng chính là tăng ( chính xác 90%, vẫn còn 10% sai). Cách này chúng ta cần phải có kĩ năng xác lập và tính các mức Stop loss cũng như các mứccản cứng, cản hổ trợ. Nhưng nếu bạn nào không biết thì có thể tham khảo các tư vấn để tìm ra các điểm hổ trợ hay cản hay điểm Stop loss. Nếu chúng ta tìm đúng được cản ( và đặt stop loss tại đây) thì khi Vàng break qua hay chạm Stop loss, Vàng sẽ tăng tiếp hay giảm tiếp 1 đoạn trên $5 nữa. Lưu ý quan trọng: - Trong trường hợp sau khi ta Mua hay Bán lại ( khi chạm Stop loss) mà Vàng cứ sideway quanh điểm ta Mua hay Bán lại suốt khoảng 3 tiếng đồng hồ thì Ta biết rằng vàng khó break điểm đó ( trong 1 phiên nhất định, chẳng hạn như Phiên Mỹ, sau 3 tiếng rồi mà không break nổi, hay Phiên Âu cũng vậy, vì nếu qua 1 phiên khác nó sẽ khác, chỉ tính trong 1 phiên và không áp dụng cho khoảng thời gian liền kề chuyển tiếp giữa 2 phiên) thì lúc này Ta nên Bán hya Mua tại điểm sideway đó. - Một trường hợp nữa là ví dụ khi khi Ta bán $1,415, dừng lỗ $1,417, Vàng break qua điểm dừng lỗ $1,417. Khi đó ta Mua lại quanh $1,416 chờ chốt lời và Bán tại $1,420 nhưng Vàng không tăng đến $1,420 sau khi ta Mua lại $1,416 1 lúc sáu Vàng lại giảm trở lại qua $1,416 ví dụ như giảm lại $1,412 ( làm ta bị dừng lỗ 2 chiều luôn). Tức làm ta lỗ thêm khoảng $4 nữa. Thí các bạn yên tâm, hãy bán mạnh theo đà giảm này ( tức nhiên canh hồi lại 1 chút rồi Bán). Lúc này đà giảm sẽ xuống mạnh hơn, vì Vàng đã không thể trụ vững trên cản đó ===> đỉnh tạm thời trong ngày hôm đó. Cách này giúp ta không bị thua lỗ! BÀI SỐ 4: Vàng có phải là bong bóng? Nhận định về xu hướng Vàng trong năm 2011.
  • 20.
    A. Yếu Tốlàm Vàng Tăng? Trước Tiên chúng ta cùng tìm hiểu nguyên nhân tại sao Vàng tăng lien tục trong suốt 10 năm nay? 1. Chiến Tranh tại Irac do Mỹ dẫn đầu. Chính thời điểm này Vàng bắt đầu chu kì tăng. 2. Kinh tế mỹ và 1 số nước lớn rơi về trì trệ, và dẫn đến kết quả là đồng USD giảm giá 3. Khủng hoảng kinh tế lan ra tại Mỹ 4. Lãi suất được cắt giảm trên toàn cầu, đặc biệt lãi suất Mỹ gần như bằng 0 => làm cho Tiền giấy mất tác dụng 5. Chính sách tiền tệ của 1 số nước như Mỹ, Nhật, Châu Âu là tiền giấy in ra nhiều thể hiện qua việc sử dụng các biện pháp kích thích kinh tế, nới lỏng định lượng của Mỹ, các gói cứu trợ của liên minh châu âu, và việc bơm thêm tiền của nhiều quốc gia lớn như Trung Quốc, Nhật bản vào để kích thích kinh tế trong nước.... Khi tiền giấy được in ra quá nhiều, trong khi lượng vàng khai thác được lại không tăng tương xứng sẽ dẫn tới việc tăng giá của đồng tiền vàng. 6. Tỷ lệ lạm phát dần hình thành 7. Tâm lý của người dân, các nhà đầu tư, nhằm chống lại sự mất giá của đồng tiền nội địa, vàng là một tài sản đã liên tục tăng trong suốt chục năm qua. 8. Khủng hoảng nợ công khu vực Châu Á rồi Châu Âu. 9. Chính phủ các nước muốn đa dạng hóa kho dự trữ ngoại tệ của mình nhằm tránh rủi ro khi bị lệ thuộc vào chính sách tiền tệ của nước khác 10. Nguy cơ chiến tranh ở 1 số nước như Iran, Triều Tiên và các cuộc xung đột chính trị trên toàn cầu. Trên đây là 10 lí do chính để Vàng có sự tăng giá mãnh liệt từ quanh $300 cho đến trên $1,400. ( Tăng gấp 5 lần) Vậy câu hỏi được đặt ra là Vàng còn tăng tiếp? Và tăng đến đâu trong năm 2011? Taichinhthegioi xin thưa rằng Vàng sẽ còn tăng tiếp trong năm 2011 khi các yếu tố sau đây vẫn còn: 1. Tình hình kinh kế thế giới chưa có triển vọng, đặc biệt là kinh tế Mỹ vẫn còn xấu với tình hình lao động việc làm không được cải thiện.
  • 21.
    2. Chính sáchduy trì lãi suất của các nền kinh tế lớn, đặc biệt là Mỹ cũng như các chính sách tiền tệ như thể hiện qua việc sử dụng các biện pháp kích thích kinh tế, nới lỏng định lượng của Mỹ, các gói cứu trợ của liên minh châu âu, và việc bơm thêm tiền của nhiều quốc gia lớn như Trung Quốc, Nhật bản vào để kích thích kinh tế trong nước vẫn còn tiếp tục. 3. Lạm phát tăng cao Lời bình: Như vậy nếu thế, Vàng sẽ tăng đến đâu trong năm 2011? Taichinhthegioi cho rằng nếu các yếu tố trên luôn hiện hữu trong năm 2011 thì Vàng sẽ có cơ hội là TĂNG và mức tăng sẽ là khoảng $1,600 ( khó có thể hơn mức này). Như Taichinhthegioi đã có nói rằng Vàng đang là đối trọng rất mạnh đối với USD. Vàng tăng hay giảm điều có nguyên nhân của nó. Không tự nhiên mà Vàng tăng, cũng không tự nhiên mà Vàng giảm. Tất cả đều có lí do của nó. Đó cũng là lí do mà tại sao 1 số tổ chức Ngân hang trên Thế giới nhận định rằng Vàng trong năm nay sẽ tăng lên $1,600 hay $1,700. Lí do để họ đưa ra con số này là vì họ cho rằng có 1 số yếu tố hổ trợ cho Vàng như lãi suất thấp của Mỹ, tình hình kinh tế Châu Âu và Mỹ vẫn kém trong năm nay…..Họ dự đoán thế là vì họ cho rằng như vậy. Nhưng song song đó cũng có 1 phe cho rằng trong năm 2011 vàng giảm về vùng $1,200 chẳng hạn. Vì sao? Vì họ cũng có những lí do riêng như kinh tế Mỹ và thế giới sẽ tăng trưởng trong năm nay, Lãi suất các nước sẽ tăng và Mỹ cũng thế…..Nghĩa là họ dự đoán dựa vào các phân tích riêng. Vậy ai đúng? Ai sai? Taichinhthegioi cho rằng không có ai đúng hay ai sai mà là yếu tố thực tế sẽ tác động lên giá Vàng. Ví dụ như nếu trong năm 2011, kinh tế Mỹ và thế giới có tiến triển rõ rệt, FED phát đi tín hiệu Tăng Lãi suất… thì vàng Giảm về $1,200 hay nếu ngược lại Vàng tăng lên $1,600. Nói chung tất cả phụ thuộc vào hoàn cảnh hiện tại vào thời điểm đó. Đó cũng là lí do tại sao tuần tồi khi Bloomberg khảo sát những chuyên gia dự đoán giá Vàng sẽ tăng hay giảm trong tuần ngày 03 – 07 tháng 1, đa số 90% cho rằng Vàng tiếp tục tăng, vì sao họ cho rằng Vàng tăng? Vì họ không kì vọng cho các tin Mỹ sẽ Tốt, nhưng dự đoán của họ hoàn toàn sai khi Vàng đã giảm rất mạnh trong tuần này do các tin Mỹ, Âu rất khả quan. Tại sao Taichinhthegioi nói rõ phần này? Vì nó rất quan trọng, dự đoán của mọi người, mọi chuyên gia, tổ chức đều gắn liền với cái yếu tố mà họ kì vọng tác điộng lên vàng. Vì như Taichinhthegioi có nói rằng: “ Vàng tăng hay giảm đều có nguyên nhân của nó, không tự nhiên Vàng tăng và cũng không tự nhiên Vàng giảm” Khi kinh tế xấu, tiền giấy không còn giá trị thì cho dù Vàng $1,900 hay $2,000 họ cũng Mua hay ngược lại khi kinh tế phát triển, lãi suất tăng và tiền giấy có gái trị thì cho dù lúc đó Vàng có $1000 hay $900 họ cũng không Mua. Vì mua để làm gì? B. Yếu tố làm Vàng giảm! Bên cạnh rất nhiều chuyên gia thề giới cho rằng Vàng sẽ tăng cao trong năm nay, thì cũng có 1 số chuyên gia cho rằng Vàng khả năng giảm trong năm nay như nhà đầu tư chứng khoán
  • 22.
    nổi tiếng ngườiMỹ George Soros đã nhiều lần cảnh báo về bong bóng giá vàng. Ông nhấn mạnh đến sự lặp lại của mô hình đầu cơ đối với những tài sản như vàng bởi sau khi đạt đỉnh, giá sẽ đột ngột đi xuống. Và ông này cũng cho rằng vàng đang sắp ở thời kì bong bong. Sử dụng số liệu từ Hội đồng Vàng thế giới và công ty đá quý Kitco, nhà phân tích Alex Dumortier cho rằng, nếu tính theo những mức giá được điều chỉnh theo lạm phát trở lại năm 1851, vàng đã tạo ra mức lãi trung bình của vàng trong suốt 154 năm là 0,7%/năm. Ông nhấn mạnh: “Thực tế, trước năm 2005, lãi thực trung bình của vàng trong suốt 154 năm là 0%”. Ông lập luận rằng, vàng là một tài sản ít biến động trong dài hạn nên không hợp để tích trữ giá trị. Người đầu cơ vào vàng có thể đối mặt với nguy cơ mất giá lớn. Giá vàng đảo chiều sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng. Nhà phân tích như Dumortier tin rằng giá vàng có thể giảm rất mạnh. Theo tính toán của ông, giá vàng cần giảm 2/3 giá trị để trở lại mức giá trung bình dài hạn là 456 USD/ounce. Dumortier cho rằng, nếu sự phục hồi kinh tế ổn định và lạm phát duy trì ở mức thấp, giá vàng có thể giảm đáng kể so với mức hiện nay. Nhưng một câu hỏi nữa lại được đặt ra là con đường phục hồi kéo dài bao lâu và liệu những đám mây bao phủ nền kinh tế Mỹ có tan hay không? Theo ông Raghu, bức tranh kinh tế vĩ mô năm 2011 vẫn chưa rõ ràng nếu Mỹ tăng trưởng dưới mức trung bình hoặc rơi vào một cuộc suy thoái kép. Khi bất ổn kinh tế tiếp tục, vàng vẫn sẽ được định giá cao và là nơi đầu tư an toàn. Nhưng chuyên gia Dumortier lập luận rằng, mức giá vàng như hiện nay không phải là bến đỗ an toàn. Hiện nhà đầu tư lớn John Pauson đặt niềm tin vào vàng vì cho rằng Mỹ sẽ lạm phát 2 con số. Nhưng nếu điều đó không xảy ra, John Pauson sẽ phải trả một cái giá đắt. Về phần mình, chuyên gia chứng khoán Soros lưu ý, trong khi được xem như công cụ an toàn để tích trữ của cải, vàng lại không phải lựa chọn hiện nay của người Trung Quốc. Quốc gia này đang tích trữ dầu mỏ. Theo phân tích và nhận định riêng của Taichinhthegioi thì Vàng phải giảm trong năm nay khi Vàng gặp những bất lợi như sau: 1. Tình hình nợ công Châu Âu có lối thoát và kinh tê Châu Âu ổn định và tăng trưởng. Sự ổn định của đồng euro sẽ khó bền vững nếu vàng cứ tiếp tục đà tăng. Taichinhthegioi cho rằng với sự nổ lực của công đồng Châu Âu nhằm cứu nguy đồng Euro cũng như giúp các nước trong kv Châu Âu bị khủng hoảng nợ công sớm ổn định thì sớm hay muộn gì kv Châu Âu cũng khả quan và tốt đẹp 2. Kinh tế Mỹ có dấu hiệu phục hồi rõ nét thong qua các chỉ số kinh tế chính và khi đó chắc chắn tình hình lao động việc làm của Mỹ sẽ rất tốt đẹp. Một khi kinh tế Mỹ tăng trưởng thì sẽ là lúc lạm phát phát huy tác động. Và FED sẽ biết cách phải làm gì? Ví dụ như: thu hồi các chương trình nói lỏng định lượng hay phát đi tín hiệu tăng lãi suất. Lưu ý them chỉ cần FED phát đi tín hiệu chuẩn bị tăng lãi suất thôi là Vàng chính thức giảm dần đều. Vậy điều này có khả thi là trong năm nay Kinh tế Mỹ sẽ có triển vọng? Taichinhthegioi cho rằng hoàn toàn có thể khi Chính phủ Mỹ và Mỹ đã và đang ra sức và làm tất cả những gì có thể để nhằm giúp nền kinh tế Mỹ tăng trưởng và đời sống người dân Mỹ tốt hơn như tung ra các chương trình QE1, QE2, chương trỉnh giảm thuế, giảm lãi suất, hổ trợ….nói chung làm tất
  • 23.
    cả mọi thứcó thể và chúng ta biết rằng nước Mỹ giỏi làm kinh tế thế nào? Cho nên 1 ngày không xa nước Mỹ sẽ tăng trưởng và khi đó FED bắt đầu tăng LSCB. 3. Trung Quốc và các nước khác bắt đầu quá trình thắt chặt tiền tệ và tăng LSCB nhằm chống lại lạm phát và tăng trưởng nóng. Chính điều này làm Vàng mất đi tác dụng đầu tư thay thế. Tóm lại: Khi các nước lớn bắt đầu tăng LSCB và đặc biệt là khi Mỹ chỉ cần phát đi tín hiệu tăng LSCB thôi là Vàng chính thức mất đi thời hoàng kim. Do đó, trong những tháng tới đây chúng ta phải theo dõi xem các tin kinh tế Vĩ Mô của Mỹ cũng như tin lao động việc làm có cải thiện không? Thì từ đó chúng ta suy ra động thái của FED và xu hướng Vàng. Nếu tình hình ngày càng khả quan với nền kinh tế Mỹ thì chúng ta sẽ thấy vàng bắt đầu đà giảm. FED chắc chắn phải tăng LSCB chỉ sớm hay muộn mà thôi. Vậy nếu Vàng giảm thì vàng sẽ giảm về bao nhiêu? Taichinhthegioi cho rằng nếu vàng giảm do các yếu tố bất lợi trên thì khả năng Vàng sẽ giảm về tận $1,170 nếu các yếu tố kể trên mà Taichinhthegioi đề cập phát huy tác dụng. Một khi Vàng break $1,300 là 1 điều chỉ báo rằng Vàng đã chính thức đạt đỉnh và trong quá trình tìm về giá trị thực của nó ( Tất nhiên phải kèm theo những yếu tố bất lợi với Vàng mà Taichinhthegioi đã nói). Bất cứ thong tin kinh tế nào sang sủa, tốt đẹp của Mỹ và Châu Âu sẽ làm ngăn chặn đà tiến của Vàng. Taichinhthegioi xin nhắc lại một khi FED phát đi tín hiệu tăng LSCB thì Vàng chính thức mất đi vai trì phòng thủ trú ẩn và phải Giảm mạnh! ( Thời Hoàng Kim của vàng chính thức mất đi khi FED tăng LSCB). Thời gian sống “ hung mạnh” của Vàng ngắn hay dài tùy thuộc hoàn toàn và triển vọng kinh tế Mỹ. C. Vàng bến đỗ lý tưởng hay bong bóng sắp vỡ? ( Sưu tầm) Trong mấy tháng trở lại đây, vàng đã vài lần cán vạch 1.400 USD/ounce.Vì sao? Vì niềm tin vào các đồng tiền chủ chốt lại đang lung lay. Trong khi đó, nỗ lực nới lỏng chính sách tài chính của các nhà cầm quyền Mỹ khiến vấn đề lạm phát và hiện tượng mất giá của USD càng trở nên đáng ngại. Martin Murenbeeld, một nhà kinh tế tại DundeeWealth Economics của Canada chỉ ra rằng trong thập kỷ vừa qua, giá vàng chuyển động song hành với tính thanh khoản quốc tế (cung USD cộng với dự trữ ngoại tệ của nước ngoài). Cả hai đều tăng gấp 5 lần. Chính phủ Mỹ, cũng giống như những người anh em ở châu Âu và Nhật, đã mạo hiểm đưa ra một số cam kết phúc lợi hào phóng cho cử tri. Do vậy, in thêm tiền sẽ là giải pháp an toàn được các nhà chính trị ưu tiên thay vì tăng thuế hay cắt giảm ngân sách. Và cứ thế, giá vàng sẽ chinh phục những đỉnh cao mới. Một yếu tố quan trọng khác phải kể tới là nhu cầu vàng của các quốc gia đang tăng mạnh. Người Trung Quốc và Ấn Độ, với thu nhập tăng chóng mặt, thi nhau đầu tư vào kim loại,
  • 24.
    đặc biệt làvàng và kim cương. Ngân hàng trung ương của các quốc gia mới nổi đã đa dạng dự trữ ngoại hối của mình bằng cách mua vào khối lượng vàng lớn. Vàng cung cấp cho người ta nơi trú ẩn an toàn trước bão lạm phát. Không chỉ có vậy, nó còn giúp các nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục của mình một cách hiệu quả do vàng không chuyển động cùng chiều với cổ phiếu và trái phiếu. Bong bóng sắp vỡ Sự lạc quan thái quá của các nhà đầu tư có thể khiến họ phải trả giá đắt. Khi giá một loại mặt hàng gia tăng, càng nhiều người cảm thấy bị cuốn hút. Và cứ như thế tới một thời điểm nào đó, người ta sẽ sẵn sàng chấp nhận mức giá được coi là điên rồ. Trong suốt thời kỳ vàng son của cổ phiếu công nghệ thông tin những năm 1990, cổ phần được giao dịch cao hơn cả mức mà các công ty có thể kiếm được để đảm bảo giá trị cổ phiếu của mình. Tiếp đó là sự bùng nổ của bong bóng nhà đất khi giá nhà vượt qua giới hạn của nhu cầu và thị trường tín dụng. Rất có thể thị trường vàng sẽ lặp lại vết xe đổ trên. Giới đầu cơ cho rằng vàng sẽ trở thành một "đồng tiền" chung trên toàn thế giới sau khi đồng đô trượt dốc và các quốc gia phát triển sa lầy trong đống nợ khổng lồ. Tuy nhiên, có một thực tế là vàng không phù hợp để đảm đương vai trò của một đồng tiền do tính biến động của nó. Giá vàng có thể giảm thậm chí ngay cả trong giai đoạn lạm phát. Không giống những kênh đầu tư khác, vàng không mang lại cho chủ sở hữu cổ tức và cũng không được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp. Có ý kiến cho rằng vàng là tấm lá chắn vững chắc trước biến động kinh tế, chính trị. Tuy nhiên, người ta vẫn còn rất nhiều lựa chọn an toàn khác, đặc biệt là khi giá vàng ngấp nghé ngưỡng nguy hiểm. Trên đây là toàn cảnh nhận định của Taichinhthegioi về thị trường Vàng TG trong năm 2011. Vậy thị trường Vàng vc trong nước sẽ thế nào? Trước tiên Taichinhthegioi xin lập lại là Giá Vàng trong nước phụ thuộc hoàn toàn vào giá Vàng TG và Tỷ Giá USD/VND. Xét về yếu tố tỷ giá thì Taichinhthegioi cho rằng trong năm nay nếu tỷ giá USD/VND có tăng MAX cũng chỉ đạt 22300 VNĐ ăn 1 USD. Do đó nếu Vàng TG có tăng lên $1,600 thì Vàng trong nước sẽ có Giá Bán ra cao nhất là 43 triệu 500 /L( tính theo tỷ giá giả sử đạt cao nhất là 22300) Và nếu vàng TG có giảm xuống khảong $1,200 thì Vàng trong nước sẽ có Giá Bán ra thấp nhất là 32 triệu 500 /L( tính theo tỷ giá giả sử đạt cao nhất là 22300)
  • 25.
    Do đó Taichinhthegioicho rằng Vàng SJC trong đó sẽ có giá dao động trong vùng 32 triệu đến 43 triệu đồng. Khó có giá nằm ngoài 2 biên này. Do đó những bạn nào lỡ Bán Vàng SJC ra với giá từ 33 triệu trở xuống nên xem xét có vàng giá thấp Mua lại ngay. Về dài hạn nếu Vàng TG giảm mà tỷ gía USD/VND tăng thì vàng SJC cũng khó giảm theo. Lưu ý thêm: Giá Vàng SJC mua Tốt là giá Vàng ngang ngữa hay cao hơn vàng TG khoảng 350 ngàn . Hết bài 4. Bài số 5: Những kinh nghiệm trade Vàng của Taichinhthegioi. ( Chủ yếu Vàng thường biến động tại Phiên Mỹ và Vàng cũng chịu tác động mạnh nhất tại Phiên Mỹ, do đó Taichinhthegioi sẽ ưu tiên xét xác tin kinh tế Mỹ cũng như xu hướng của Phiên Mỹ) Múi giờ các phiên tương ứng với giờ Việt nam: * Mùa Hè ( tứ thàng 4 đến tháng 11) - Phiên Á bắt đầu từ 5h sáng - Phiên Âu bắt đầu từ 14h20 đến 22h20 - Phiên Mỹ bắt đầu từ 19h20 đến 4h sáng hôm sau * Mùa Đông ( tứ tháng 11 đến tháng 4) - Phiên Á bắt đầu từ 6h sáng - Phiên Âu bắt đầu từ 15h20 đến 23h20 - Phiên Mỹ bắt đầu từ 20h20 đến 5h sáng hôm sau 1. Vàng bị tác động bởi các hot news và nhất là các hot news hay các tin công bố tại Phiên Mỹ: - Khi các tin Mỹ ra Tốt thì Vàng thường Giảm vì thế Ưu tiên các lệnh Bán - Khi các tin Mỹ ra Xấu thì Vàng thường Tăng vì thế Ưu tiên các lệnh Mua 2. Cách xem xét tin ra xấu tốt và so sánh qua lại
  • 26.
    - Ta xemxét xem tại Phiên Mỹ có bao nhiêu tin quan trọng nhất? ( Tin quan trọng thường chỉ báo 5 sao hoặc màu đỏ). - Nếu chỉ có 1 tin quan trọng công bố thì đơn giản. Ta chỉ xem tin này Tốt hay xấu mà sẽ ưu tiên lệnh Mua hay Bán. - Nếu có nhiều tin quan trọng ( củng 5 sao hay cùng màu đỏ) thì ta xem tin nào là quan trọng hơn? Thì chính tin đó sẽ có giá trị quyết định xu hướng Vàng. - Hay nếu có gần 2/3 tin quan trọng ra là Tốt thì ta sẽ ưu tiên lệnh Bán và ngược lại nếu có gần 2/3 tin quan trọng ra xấu thì ta ưu tiên Mua. - Còn nếu số lượng tin ra là ½ tin Tốt, ½ Tin xấu thì ta sẽ thực hiện cùng chiến lược có Mua có Bán. Ví dụ: Tin Mỹ hôm nay có 5 tin quan trọng. Nếu có 3 tin ra Tốt thì ta Bán. Ngược lại 3 tin ra Xấu thì ta Mua. Luu ý : Tin Mỹ nào công bố trước thì vẫn Mua hay bán theo tin Mỹ Mỹ đó là tốt hay xấu. Sau đó, chờ ra hết các tin ta tổng kết lại và ra chiến lược chính. Ví dụ : Tin Mỹ hôm nay có 5 tin quan trọng. Lúc 20h30 có 1 tin công bố trước, nếu tin này tốt ta Bán, tin này xấu ta Mua. Sau đó 21h có 2 tin nữa ra Tiếp, lúc này ta xem xét phân tích xem 2 tin này vối tin lúc 20h30 ra thế nào ? Tin xấu nhiều hay tin Tốt nhiều ? Nếu tốt nhiều ta Bán, xấu nhiều ta Mua. Tương tự cho 2 tin cuối ra lúc 22h. - Nếu tin Mỹ có các tin sau đây là các tin có giá trị quan trọng hơn so với các tin quan trọng khác được công bố trong ngày : Tin Lãi suất Mỹ hoặc tin FOMC meeting,Tin lao động việc làm Mỹ, Tin Nhà đất, Tin GDP, Tin niềm tin tiêu dùng, Tin Bán lẽ - Trong ngày thứ 5 hang tuần thường có tin trợ cấp thất nghiệp công bố do đó nếu có kèm thêm 1 tin Mỹ quan trọng nữa công bố thì ta sẽ xem xét ưu tiên cho tin Mỹ quan trọng này nếu Tin trợ cấp kì rồi ra đã Tốt. Còn nếu tin trợ cấp thất nghiệp kì rồi ra xấu mà kì này ra xấu nữa + kết hợp với tin quan trọng công bố liền kề sau đó ra Xấu nữa thì chỉ có Mua. Ngược lại, nếu tin trợ cấp thất nghiệp kì rồi ra xấu mà kì này ra xấu nữa + kết hợp với tin quan trọng công bố liền kề sau đó ra Tốt vẫn ưu tiên Mua, tuy nhiên lại Mua có phần hạn chế vì Vàng sẽ không tăng mạnh. - Khi ta xem xét các tin Mỹ công bố ta phải chú ý đến tin kỳ rồi công bố. Thông thường nếu tin mà công bố như kì vọng trở lên thì nghĩa là tin tốt. Tuy nhiên, nếu tin công bố mà Tốt hơn kì trước nhưng gần bằng kì vọng vẫn được cho là tin tốt : Ví dụ : Tin GDP kì trước là 2,6%, kì vọng là 3,4%, tin ra là 3,1% thì vẫn là tin Tốt Hay tin bảng lương phi nông nghiệp kì rồi ra là 103K, kì vọng là 133K, nhưng tin ra là 110K thì vẫn là tin Tốt. Nhưng nếu tin ra tốt hơn kì trước nhưng kém xa so với kì vọng là tin Xấu. Ví dụ : Tin bảng lương phi nông nghiệp kì rồi ra là 103K, kì vọng là 180K, nhưng tin ra là 120K thì là Tin Xấu. Trừ khi tin ra lq 150K thì mới là Tin tốt ( vì gần so với kì vọng + tốt hơn kì trước) 3. Cách dự đoán xu hướng Vàng vào Phiên kế tiếp - Thông thường nếu Vàng Phiên Mỹ là tăng hay giảm thì Phiên Á, Âu liền sau đó là Tăng hay giảm theo Phiên Mỹ ( áp dụng cho trường họp tăng hay giảm khoảng $10) - Nếu gần đến Phiên Âu 30 phút mà xu hướng Vàng là tăng hay giảm thì khả năng Vàng Phiên Âu sẽ là tăng hay giảm tiếp theo - Nếu xu hướng Phiên Mỹ là Tăng hay giảm mạnh trên $20 thì Phiên Á kế tiếp vẫn canh Bán chính nhưng lúc này Vàng sẽ hồi phục lại đôi chút ( tăng hay giảm lại đôi chút tầm $5) rồi ta
  • 27.
    bán hay Muachính theo xu hướng Phiên Mỹ trước đó. - Thông thường ta nhìn vào giá close để cho xu hướng Phiên Mỹ đó là tăng hay giảm : Ví dụ : Đêm qua Phiên Mỹ closed $1,330. Đêm nay close dưới $1,330 là xu hướng Giảm, close trên $1,330 là xu hướng tăng. Nhưng lưu ý trường hợp này cho dù close trên $1,330 Vàng xu hướng vẫn là Giảm Ví dụ: Đêm qua Phiên Mỹ closed $1,330, Phiên Á sang nay Tăng lên $1,342, Phiên Âu tăng tiếp $1,348. Nhưng đến Phiên Mỹ Vàng giảm mạnh xuống $1,33x và close tại $1,338. Tuy Vàng close ở $1,338 là tăng $8 so với đêm qua $1,330 nhưng thực tế xu hướng Vàng ở Phiên Mỹ là Giảm từ các mức cao hơn cho nên Phiên Á sang mai là Giảm! 4. Xem xét dấu hiệu Vàng theo thời gian trong 1 Phiên và ảnh hưởng của nó đến Phiên kế tiếp A. Phiên Á: - Chú ý 2 mốc thời gian sau đây: 12h nếu giờ Mùa Hè và 13h nếu giờ Mùa đông và mốc gần 14h nếu giờ Mùa hè và gần 15h nếu giờ Mùa đông. Nếu khi đến 2 mốc thời điểm đó mà Vàng tăng hay giảm sẽ báo hiệu xu hướng vàng là tăng hay giảm hay đảo chiều trong Phiên Âu kế tiếp. Đặc biêt khi đến hay đi qua 2 mốc thời điểm đó mà Vàng vẫn không thể tăng hay giảm tiếp thêm tầm $3 đến $5 so với giá ta Mua hay bán thì khả năng cao vàng sẽ bị đảo chiều Phiên Âu. Ví dụ: ta Mua $1,341. Sau đó Vàng tăng lên $1,345 hay $1,346 nhưng sau 13h ( Mùa đông) Vàng vận không thể trụ được trên vùng $1,345 mà Giảm lại gần Vùng ta đã mua, sau đó ta theo dõi tiếp đến gần 15h Vàng vẫn sideway cho đến giảm ta đó là báo hiệu 1 sự đảo chiều nhẹ hay mạnh tại 1 phiên kế tiếp là Phiên Âu. B. Phiên Âu. Cũng tương tự như Phiên Á nhưng chú ý 2 mốc thời gian sau đây: 17h nếu giờ Mùa Hè và 18h nếu giờ Mùa đông và mốc gần 19h nếu giờ Mùa hè và gần 20h nếu giờ Mùa đông. Nếu khi đến 2 mốc thời điểm đó mà Vàng tăng hay giảm sẽ báo hiệu xu hướng vàng là tăng hay giảm hay đảo chiều trong Phiên Mỹ kế tiếp C. Phiên Mỹ - Các bạn chú ý 3 mốc thời gian sau đây: Lúc Phiên Mỹ bắt đầu ( 19h20 ( mùa hè)hoặc 20h20 ( mùa đông), tùy theo mùa mà sẽ có 1 trong 2 mốc giờ trên) nếu Vàng giảm 1 lèo trên $10 mà sau (21h30 hay 22h30, tùy theo mùa) Vàng hồi phục lại gần $10 thì xem xét Mua lại Ngay. Còn nếu Vàng không hồi phục mà tăng giảm hồi phục nhưng đà tăng yếu hơn đà giảm thì có nghĩa là Vàng sẽ còn giảm tiếp nữa ===> Canh Bán ngay. Sau 23h30 hay sau 24h30, tùy theo mùa) Vàng sẽ có thêm 1 đợt tăng giảm cuối cùng trong phiên Mỹ ( trừ những ngày có tin quan trọng như tin LS FED lúc 1h15 ahy 2h15 thì sẽ khác) và sau đó thì thông thường vàng sẽ sideway ở giá hiện tại thời điểm đó sau khi đã biến động cuối cùng trong ngày hoặc nếu không có sự biến động nào xảy ra sau 23h30 hay sau 24h30 thì Vàng sẽ sideway ở gái hiện tại cho đến khi close ===> có thể yên tâm giữ lệnh hay chốt lời. Tương tự cho trường hợp Vàng tăng. Chú ý: Sau 21h30 hay sau 22h30 xu hướng vàng tăng hay giảm sẽ là xu hướng chính của Vàng cho đến thời điểm close. Cho nên khi vào đầu phiên Mỹ Vàng có
  • 28.
    tăng hay giảm1 lèo $10 - $20 cũng không ăn thua, ăn thua là sau 21h30 hay sau 22h30 Vàng có bị đảo chiều không? Nếu không đảo chiều thì ta yên tâm. - Chỉ cần chú ý mốc sau 21h30 hay mốc sau 22h30 ( tùy theo mùa), nếu tự nhiên Vàng đột ngột có tín hiệu tăng hay giảm trên $5 đến $10 ( bất chấp tin ra thế nào) thì khả năng Vàng sẽ tăng hay giảm đó cho đến khi close và khả năng xuất hiện 1 hot news nào đó. ( giống như hôm thứ 6 qua ngày 28/1), Vàng đột ngột tăng mạnh trên $5 sau 22h. Và tăng luôn đến khi close D. Phiên Á kết hợp Âu ảnh hưởng đến xu hướng Vàng. Xin lưu ý thêm cho Taichinhthegioi 1 trường hợp rất quan trọng là thong thường Vàng Phiên Á và Âu sẽ đi theo xu hướng chính của Phiên Mỹ là Tăng hay giảm nhưng đột nhiên Vàng Phiên Á đi ngược lại Phiên Mỹ với sự tăng giảm trên $5 và sau đó Phiên Âu vào xu hướng tăng giảm đó vẫn được duy trì ( tuy có phục hồi đôi chút) nhưng vẫn xu hướng là tăng giảm lại trên $5 với cường độ mạnh hơn, thì coi chừng phiên Mỹ xu hướng tăng hay giảm theo Phiên Á và Âu là 90% ( có khả có 1 hot news nào đó tác động vào) Ví dụ: Xu hướng Vàng đêm qua Phiên Mỹ là tăng và close ở $1,337. Đến phiên Á ngày mai xu hướng tăng lên tiếp $1,345, nhưng đột ngột Vàng có cú giảm lại dưới $1,340 ( giảm trên $5) và sau đó đến Phiên Âu vẫn có tin hiệu giảm và đà giảm mạnh thêm thì khả năng vào Phiên Mỹ Vàng sẽ giảm tiếp, cho nên canh vàng hồi mà bán tại Phiên Mỹ, nếu phiên Mỹ này có tin quan trọng ra Tốt thì đà giảm sẽ mạnh hơn nữa, còn tin xấu thì đà giảm sẽ hạn chế hơn. 5. Phân tích các hot news. Khi các tin Mỹ công bố xấu hay tốt mà đột nhiên có 1 hot news nào đó có tính ảnh hưởng quan trọng hơn cả tin Mỹ vừa công bố thì Vàng sẽ tạm thời chạy theo hot news đó. Làm saoi nhận biết? Chúng ta tất nhiên không thể biết trước được các hot news khi nào sẽ xảy ra ( vì đã là hot news thì không ai có khả năng biết trước, vì đó là tin bất ngờ, mà đã là bất ngờ thì tính ảnh hưởng rất mạnh). Do đó, chúng ta cứ trade bình thường theo các phân tích tin tốt xấu công bố, nhưng đột nhiên Vàng biến động thất thường không theo ý mình đã phân tích thì khả năng đã có 1 hot news nào đó. Ta xem trên kitco.com hay finance.yahoo.com để update xem hot news gì đã ảnh hưởng đến Vàng? Và tất nhiên ta phải theo xu thế chủ đạo của thị trường, không thể cãi được. Và khi đã là hot news thì yếu tố hot news không bao giờ bền vững, và khả năng tính ảnh hưởng của hot news sẽ mất đi khi đó Vàng cũng giảm theo hay tăng theo. 6. Ngày thứ 6 của tuần thứ 2 hàng tuần Thông thường trong ngày thứ 6 Vàng thường không giảm nhiều( trứ ngày thứ 6 đầu tiên của tháng), khả năng tăng lên khá cao nếu trước đó Vàng đã có sự giảm mạnh. Cho nên ưu tiên lệnh Mua trong ngày thứ 6 tuần thứ 2 trở đi của tháng 7. Xu hướng có cố định?
  • 29.
    Vàng tăng haygiảm ở Phiên Á hay Âu không nói lên được điều gì, Phiên Mỹ sẽ là phiên cho xu hướng chính. Và thông thường nếu 2 Phiên Á và Âu Vàng tăng lien tục ( mà không có sự góp mặt của hot news) thì khả năng đảo chiều giảm hay tăng tại Phiên Mỹ là rất cao. 8. Trade Vàng trong ngày không có tin Mỹ công bố và trade khi chạm Stop loss Nếu trong ngày hôm đó Tin Mỹ không có tin nào quan trọng công bố thì xu hướng Vàng sẽ bị tác động bởi xu hướng Vàng Phiên Âu + các tin Mỹ công bố những ngày trước đó. - Nếu Vàng sau khi chạm điểm Stop loss chúng ta phải Mua hay Bán lại ngay và thông thường sau khi chạm điểm Stop loss Vàng sẽ tăng hay giảm tiếp tầm trên $5 ( xem lại bài số 3B: Ca1h trade Vàng lạc quan 9. Xem xét tín hiệu đảo chiều? Xem lại bài số 3 10. Những yếu tố khác - Nếu tất cả ai ai cũng nghĩ rằng Vàng tăng thì chính là lúc ta nên quyết định Bán Vàng và ngược lại. - Vàng không tự nhiên tăng mà cũng không tự nhiên giảm, tất cả điều có lí do và yếu tố ảnh hưởng lên xu hướng Vàng. Và chúng ta phải phân tích tìm hiểu kỉ xem đó là nguyên nhân nào? Nó có bền vững không? Và nếu nó mất đi Vàng sẽ thề nào? - Cái gì cũng vậy, trên thế giới này tất cả đều có tốt có xấu, có giàu có nghèo và có đỉnh có đáy. Chân lý!Khi kinh tế phát triển hùng mạnh và đi lên đến 1 lúc nào đó ( tức đỉnh) sẽ quay đầu đi xuống. Giống như khi ta leo lên đến đỉnh núi thì chắc chắn rằng ta phải tìm cách leo xuống lại hay khi ta ở dưới mặt đất ta chỉ có thể leo lên! Vàng cũng vậy! Taichinhthegioi luôn tin Vàng cũng có đỉnh có đáy! Bài học thập niên 80 vẫn còn đó - Cuối cùng, cái này hơi mê tín 1 chút nhưng nếu các bạn tin thì làm theo ( không khuyến khích). Đó là theo tâm linh, thì Taichinhthegioi thường trade ngược theo kì vọng của KITCO. Xác suất thắng khá cao. Đó là khi Kitco tuyên bố Mua hay Bán và nói là XU HƯỚNG CHÍNH TRONG NGÀY LÀ TĂNG HAY GIẢM. Thì 90% Vàng sẽ diễn biến ngược theo kì vọng của Kitco. Taichinhthegioi thống kê đa số Kitco nói Giảm là vàng tăng và nói tăng là vàng giảm. (Còn tiếp). Taichinhthegioi tạm thời post trước 10 kinh nghiệm trade Vàng mà Taichinhthegioi nghiệm ra và có được trong thời gian qua Lưu ý rằng tất cả kinh nghiệm trên đều mang tính chất tương đối (90%), chứ không mang tính tuyệt đối, cho nên cách để hạn chế rủi ro có thể xảy ra là tuân thể chặt chẽ Stop loss! Dưới đây là Bảng phụ lục về các thông số cơ bản về kinh tế của Mỹ, để các bạn mới vào trade Vàng nắm rõ. ( Phần này Taichinhthegioi tham khảo và trích từ 1 số nguồn khác
  • 30.
    nhau). Có rấtnhiều yếu tố ảnh hưởng đến đồng tiền của một quốc gia, sự tăng hay giảm tỉ giá đồng tiền phụ thuộc vào các chỉ số kinh tế. Dưới đây là những thông tin kinh tế đáng chú ý để đánh giá và dự đoán tỉ giá. VIỆC LÀM Các báo cáo về tình trạng thất nghiệp: Được công bố hàng tuần, chí số này cho biết có bao nhiêu người đang xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tiên. Số lượng người càng ít cho dấu hiệu nền kinh tế đang có dấu hiệu tốt, bởi vì những người thất nghiệp thì thường có xu hướng chi tiêu ít hơn, điều này có tác động xấu đến nền kinh tế của quốc gia. Bảng lương phi nông nghiệp: Được công bố hàng tháng cho biết số lượng các công việc mới được tạo ra (ngoài lĩnh vực nông nghiệp). Số lượng công việc càng nhiều thì đồng tiền của quốc gia càng mạnh, bởi vì càng nhiều người có việc làm thì họ kiếm được nhiều tiền hơn và họ sẽ chi tiêu nhiều hơn. TIÊU DÙNG: Chỉ số tiêu dùng cá nhân: Cho thấy mức độ lạm phát mà mọi người phải gánh chịu, nó phản ảnh sự thay đổi trong giá cả của các mặt hàng tiêu dùng và các dịch vụ (không bao gồm thực phẩm và năng lượng). Những biến động lớn về giá cả sẽ có tác động xấu lên nền kinh tế bởi vì nó thể hiện sự không ổn định và sự không ổn định này sẽ khiến cho người dân chi tiêu ít hơn. Doanh số bán lẻ: Được công bố 1 lần mỗi tháng, nó đo lường giá trị của doanh số bán lẻ. Sự gia tăng trong doanh số bán lẻ cũng đồng nghĩa là nền kinh tế quốc gia đang phát triển mạnh hơn, bởi vì nó cho thấy người dân đang chi tiêu nhiều hơn. Tổng sản phẩm quốc nội GDP: Được tổng kết hàng năm, thể hiện giá trị của tất cả các hàng hoá và dịch vụ mà nền kinh tế của quốc gia sản xuất ra. Sự tăng lên của GDP cho thấy nền kinh tế của quốc gia đang phát triển mạnh hơn. Nó khuyến khích người dân đầu tư nhiều hơn vào thị trường cổ phiếu và trái phiếu trong nước đồng thời cũng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Cán cân thương mại: Thể hiện sự chênh lệch về giá trị của các hàng hoá dịch vụ xuất khẩu và nhập khẩu. Sự thặng dư trong cán cân thương mại có nghĩa là giá trị của các hàng hoá dịch vụ được xuất khẩu đang nhiều hơn nhập khẩu. Sự tăng lên trong cán cân thương mại cho thấy đồng tiền của quốc gia đang mạnh dần lên bởi vì khi nhu cầu xuất khẩu nhiều hơn thì số lượng công ăn việc làm sẽ tăng lên và mức độ sản xuất gia tăng ở các nước xuất khẩu. Điều này cũng sẽ khiến cho các nhà nhập khẩu nước ngoài sẽ phải đổi đồng tiền của họ sang đồng tiền của nước xuất khẩu để mua hàng. Chỉ số giá tiêu dùng CPI: Chỉ số CPI đo lường sự gia tăng của giá cả trong một rổ hàng hoá và dịch vụ (như thực
  • 31.
    phẩm, vận tải,nhà ở, v.v…). Chỉ số CPI này tăng lên nghĩa là giá cả của rổ hàng hoá dịch vụ đó đã gia tăng và chúng ta phải tốn nhiều tiền hơn để mua một rổ hàng hoá dịch vụ tương tự. Sự tăng lên của chỉ số CPI sẽ có tác động tích cực lên nền kinh tế (và đương nhiên là đồng tiền của quốc gia) bởi vì nó cho thấy người ta có đủ tiền để mua hàng hoá và dịch vụ mặc dù giá của chúng có gia tăng. BẤT ĐỘNG SẢN: Doanh số nhà mới: Các số liệu về doanh số bán nhà mới là một chỉ số rất quan trọng cho thấy xu hướng chung của nền kinh tế. Sự tăng lên trong doanh số bán nhà mới cho thấy ngành xây dựng đang phát triển rất tốt và người tiêu dùng có đủ tiền để mua những tài sản có giá trị lớn. Những người mua nhà này sẽ mua thêm nhiều hàng hoá khác, cùng lúc đó thì các công ty xây dựng cũng cần phải thuê công nhân và mua vật liệu, vì vậy nó tạo nên một tác động, một làn sóng tích cực cho nền kinh tế và thúc đẩy sự tăng giá của đồng tiền. Doanh số nhà chờ bán: Đo lường hoạt động của doanh số bán nhà hiện tại. Nó bao gồm nhà của các gia đình riêng lẻ, chung cư. Nhu cầu mua nhà càng tăng chứng tỏ nền kinh tế đang phát triển tốt bởi vì người dân cảm thấy rất thoải mái và sẵn sàn đầu tư vào nhà ở. Ngoài ra, việc đầu tư này cũng thường kéo theo các hoạt động mua hàng khác như các thiết bị điện, tủ bàn ghế … sẽ mang lại thu nhập cho những nhà kinh doanh bất động sản, tất cả những điều này đều rất tốt cho nền kinh tế. Chỉ số nhà xây mới: Cho biết số lượng các cao ốc đang được xây dựng. Con số này càng cao thì giá trị của đồng tiền của quốc gia cũng cao bởi vì nó cho thấy ngành xây dựng đang phát triển tốt và nhiều người đang đầu tư vào lĩnh vực này. SẢN XUÂT: Chỉ số sản xuất ISM: Đo lường hoạt động thu mua trong khu vực sản xuất. Sự tăng lên của ISM cho thấy đồng tiền của quốc gia đang mạnh dần lên. Các chỉ số thể hiện hoạt động thu mua này là những chỉ số tốt bởi vì chúng đánh giá tình hình hoạt động của một công ty, thường đi đôi với những biểu hiện toàn diện của nền kinh tế. Sản xuất công nghiệp: Đo lường giá trị của sản lượng đầu ra được sản xuất bởi các nhà máy, hầm mỏ. Sự tăng lên trong sản xuất công nghiệp cho thấy đồng tiền của quốc gia đang mạnh dần lên bởi vì giá trị của nó càng cao cho thấy số lượng lớn các sản phẩm đang được sản xuất và bán ra, vì thế người dân có thu nhập và sẵn sàng chi tiêu. Chỉ số giá của các nhà sản xuất PPI: Kiểm tra sự khác biệt trong giá bán hàng hoá và dịch vụ của các nhà sản xuất. Bởi vì các nhà sản xuất thường có xu hướng tăng giá bán lẻ khi các chi phí sản xuất gia tăng, PPI có thể
  • 32.
    được xem làmột chỉ số biểu hiện sự lạm phát. PPI tăng lên sẽ khiến cho Ngân hàng Trung Ương cũng tăng lãi suất theo. Sự tụt giảm của PPI cho thấy giá cả đang giảm xuống và suy thoái kinh tế đang bắt đầu xuất hiện. Các đơn hàng cho những hàng hoá sử dụng lâu bền: Đo lường giá trị của các loại hàng hoá có vòng đời lâu hơn 3 năm, mà người tiêu dùng mua - được sản xuất ở thị trường nội địa. Chỉ số này giúp dự đoán xem các nhà sản xuất đang bận rộn đến mức nào bởi vì họ cần phải làm việc tích cực để đáp ứng kịp các đơn hàng. Vì thế, xu hướng tăng lên sẽ có tác động tích cực lên đồng tiền quốc gia. LÃI SUẤT NGÂN HÀNG: Công bố của ngân hàng trung ương Anh (BoE): Uỷ ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung Ương Anh thường tổ chức bỏ phiếu biểu quyết hàng tháng để đưa ra mức lãi suất của quốc gia trong ngắn hạn. Công bố của Ngân hàng Trung Ương Châu Âu (ECB): Ban quản lý của Ngân hàng Trung ương Châu Au thường bỏ phiếu biểu quyết hàng tháng để đưa ra mức lãi suất của cộng đồng này trong ngắn hạn. Công bố của Cục dự trư Liên bang Mỹ (FED): Uỷ ban kiểm soát thị trường tự do của Fed thường bỏ phiếu biểu quyết 8 năm một lần. Kết quả của các cuộc bỏ phiếu của (BoE; ECB hay FED) sẽ được công bố nhanh chóng. Nó thường đi kèm với một vài lời bình luận vắn tắt về tình hình kinh tế và các nhân tố tác động. Mức lãi suất thường được quyết định dựa trên tình hình lạm phát. Mục đích là để giữ cho giá cả ổn định, vì thế khi lạm phát tăng trên mức lãi suất của năm 2% thì các ngân hàng này thường cũng tăng lãi suất để kìm giá xuống. Mức lãi suất cao sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, làm gia tăng nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ để lấy nội tệ. Có thể nói rằng xu hướng gia tăng của lãi suất có tác động tích cực lên nền kinh tế của quốc gia. Biên bản cuộc họp của FOMC Biên bản cuộc họp của Uỷ ban kiểm soát thị trường tự do sẽ giúp cho các thành viên đưa ra các chính sách và quyết định liên quan tới lãi suất. KHẢO SÁT KINH TẾ: Cuộc khảo sát của ZEW: Sẽ giúp cung cấp các nhận định của các chuyên gia tài chính có đề cập tới xu hướng kinh tế trong thời gian tới cho cộng đồng chung Châu Âu. Sự khác biệt về số lượng nhà đầu tư hàng tháng sẽ giúp dự đoán được sự tăng trưởng của nền kinh tế là tăng hay giảm.
  • 33.
    Chỉ số PMIcủa Chicago (Mỹ): Thể hiện tình hình chung của môi trường kinh doanh ở Chicago. Tình hình thu mua hàng tháng sẽ trả lời cho cuộc khảo sát có liên quan đến hoạt động của tổ chức họ (nó cao hơn, bằng, hay thấp hơn so với tháng trước) các vấn đề về sản lượng đầu ra, tình hình thu mua, số lượng việc làm, số lượng hàng tồn kho, các đơn hàng và các chỉ số giá cả. Quỹ ngân khố quốc tế TIC: Theo dõi dòng chảy của dòng tiền của các quỹ ra và vào lãnh thổ nước Mỹ (trên thị trường cổ phiếu, trái phiếu). Con số này sẽ được thể hiện theo mức triệu đôla, thể hiện sự chênh lệch giữa chi tiêu của nước Mỹ vào cổ phiếu của các công ty nước ngoài và cổ phiếu của các công ty Mỹ. Đây là chỉ số quan trọng của nền kinh tế Mỹ và giúp họ có cái nhìn thấu đáo về nhu cầu của nước ngoài vào các lĩnh vực đầu tư và đồng đôla Mỹ. Ví dụ, nếu Mỹ mua 10 tỷ đôla cổ phiếu của các công ty nước ngoài và các nhà đầu tư nước ngoài mua 30 tỷ đôla chứng khoán của các công ty Mỹ để đầu tư dài hạn, thì con số chênh lệch sẽ là 20 tỷ đôla. Niềm tin tiêu dùng: Đo lường thái độ của người tiêu dùng đối với các tình hình kinh tế, họ đánh giá như thế nào vào các triển vọng kinh tế trong tương lai. Con số cao sẽ thể hiện sự lạc quan của người tiêu dùng; có thể nói là người tiêu dùng đang rất lạc quan về các triển vọng phát triển kinh tế. Và kết quả là họ sẽ chi tiêu nhiều hơn, điều này sẽ kích thích lại nền kinh tế. Mức độ nhạy cảm của người tiêu dùng: Đo lường thái độ của người tiêu dùng cả về tình hình hiện tại và các kỳ vọng vào tương lai. Nó xuất phát từ kết quả của cuộc khảo sát trên 500 người hàng tháng của trường đại học Michigan. Mức độ nhạy cảm càng cao sẽ cho thấy mức chi tiêu dùng sẽ gia tăng, nó chiếm tới 2/3 nền kinh tế. CHÚ Ý: Các thông tin kinh tế được công bố sẽ có ảnh hưởng tới giá thị trường khi có sự chênh lệch giữa số liệu kỳ vọng và số liệu thực tế được công bố. Có thể xem lịch thông tin ở địa chỉ @ http://www.forexfactory.com/calendar.php Thị trường có những biến động đều đặn thì sẽ không bị ảnh hưởng nhiều bởi các tin tức được công bố. Ngược lại, khi thị trường đi ngang, không có nhiều biến động thì khi tin được công bố sẽ có thể có nhiều biến động lớn. Hãy lưu ý rằng thông tin kinh tế được công bố vẫn rất tiềm ẩn sự rủi ro. Dưới đây là sự giải thích thêm mà Taichinhthegioi muốn các bạn phải cần hiểu rõ. Các chỉ số kinh tế cơ bản Tiền tệ không tự nhiên trở nên yếu hơn hay mạnh hơn. Phần lớn giá trị tiền tệ được dựa trên sự bảo mật trong sức mạnh kinh tế của 1 quốc gia. Sức mạnh kinh tế được thẩm định bằng những chỉ số quan trọng nhất định được theo dõi rất sát trong giao dịch FX. Khi những chỉ
  • 34.
    số kinh tếnày thay đổi thì giá trị của tiền tệ sẽ dao động. Tiền tệ là sự ủy quyền cho quốc gia mà nó tượng trưng và tiềm lực kinh tế của quốc gia đó được định giá thành tiền tệ. Tại sao những sự kiện kinh tế lại quan trọng đối với những người giao dịch tiền tệ? Tiền tệ là sự ủy quyền cho một quốc gia mà nó tượng trưng, tiềm lực kinh tế của đất nước được định giá sẽ thông qua tiền tệ. Những chỉ số kinh tế là thước đo tiềm lực của một nền kinh tế. Điều thách thức ở đây là nền kinh tế của đất nước có theo kịp tiềm lực kinh tế của một đất nước khác nào đó hay không. Biết rõ thời gian những chỉ số được chuẩn bị công bố rất quan trọng. Theo dõi trong tương lai và biết những tin tức nào sẽ được tung ra và được thị trường đánh giá sẽ giúp người giao dịch dự đoán dược xu hướng thị trường. Tại sao những chỉ số lại quan trọng hơn những thứ khác? Những điều kiện thị trường hiện tại sẽ ảnh hưởng đến những tin tức nào trên thị trường cho là quan trọng nhất. Quan trọng là bạn đánh giá được những chỉ số kinh tế nào đang chiếm giữ sự chú ý nhất trên thị trường. Ví dụ, khi Mỹ đang gánh chịu 1 số lượng tiền thiếu hụt trong giao dịch, thị trường sẽ tập trung vào dữ liệu cân bằng thương mại. Tin tức được công bố có thể phân loại khối lượng lớn và những di chuyển về giá. Tuy nhiên, trong sự bùng nổ kinh tế của Mỹ với việc làm cao, thị trường sẽ không tập trung vào nạn thất nghiệp. Những điều kiện kinh tế có thể thay đổi. Sự thiếu hụt lớn tiền trong giao dịch của Mỹ có thể làm yếu đồng đô la. Khi đồng đô la bị yếu, thị trường sẽ chuyển sự tập trung của nó sang sự lạm phát. Những người theo dõi thị trường sẽ chuyển sự tập trung đến CPI (Chỉ số giá tiêu dùng) và những quyết định về lãi suất của FOMC. Ý nghĩa của “hiện thực so với dự đoán của thị trường” là gì? Bản thân dữ liệu không quan trọng khi nó giảm hay không nếu không có sự kì vọng của thị trường. Bí quyết là biết khi nào dữ liệu sẽ được công bố, thêm vào đó những người dự báo thị trường đang trông mong chỉ số nào. Một khi bạn biết được kì vọng của thị trường cho chỉ số kinh tế, hãy để ý nếu ý kiến số đông (đồng tình) được thỏa mãn. Sự khác nhau mạnh mẽ giữa sự đồng tình và những kết quả thật sự có thể gây ra sự biến động giá. Kết quả của sự gia tăng hằng tháng không mong đợi 0.3% trong chỉ số giá tiêu dùng (CPI), hiện thực không thật sự quan trọng tới những quyết định giao dịch ngắn hạn của bạn vì người ta biết rằng thị trường sẽ trông đợi CPI rớt 0.1%, đó là sự đồng tình. Hãy đợi đến sau khi bạn tận dụng được từ dữ liệu những cơ hội giao dịch ngắn hạn, thông thường là trong vòng 30 phút đầu tiên kể từ khi được công bố, để phân tích những xu hướng phân nhánh dài hạn của sự gia tăng không mong đợi hằng tháng trong giá tiêu dùng. Nhớ rằng những chờ đợi của thị trường cho tất cả những thông tin kinh kế được công bố trên lịch kinh tế của chúng ta. Tại sao những người giao dịch kỹ thuật lại chú ý đến tác động của tin tức? Phân tích kỹ thuật không hoạt động khi những yếu tố thông tin hoặc những dữ liệu kinh tế trở thành tâm điểm chính của thị trường vì những người tham gia sẽ trở nên nhạy cảm với bất kỳ sự phát triển nào. Với sự xem xét giá thị trường trên những kết quả có thể, những tin tức cơ bản được công bố như Bảng lương phi nông nghiệp Mỹ đã tạo ra những tình huống trên thị trường và không tham gia vào phân tích kỹ thuật như khối lượng và tính đột ngột. Mặc dù kết quả sẽ lại 1 lần nữa không tham gia vào, sự xem xét giá thị trường hàng loạt sinh ra sự đảm bảo rằng các nhà giao dịch đang góp nhặt những giá tốt nhất có sẵn để điền vào những vị trí của họ hơn là áp dụng moving average hàng ngày của bạn hay oscillator. Giao dịch sử dụng tin tức: 5 chỉ số thường được theo dõi nhất. Tiền tệ không tự nhiên trở nên yếu hơn hay mạnh hơn. Phần lớn giá trị tiền tệ được dựa trên
  • 35.
    sự bảo mậttrong sức mạnh kinh tế của 1 quốc gia. Sức mạnh kinh tế được thẩm định bằng những chỉ số quan trọng nhất định được theo dõi rất sát trong giao dịch FX. Khi những chỉ số kinh tế này thay đổi thì giá trị của tiền tệ sẽ dao động. Tiền tệ là sự ủy quyền cho quốc gia mà nó tượng trưng và tiềm lực kinh tế của quốc gia đó được định giá thành tiền tệ. Những thông tin được công bố cơ bản đã trở thành người chuyển dịch thị trường quan trọng. Khi tập trung vào tác động ảnh hưởng của chỉ số kinh tế có giá trên thị trường FX, có 5 chỉ số được theo dõi nhiều nhất bởi vì chúng có tiềm năng phát ra khối lượng và làm thay đổi giá trong thị trường. Những biên độ giao động trung bình: Chỉ số Độ dịch chuyển trung bình Bảng lương phi nông nghiệp 124 Quyết định về lãi suất của FOMC 74 Cán cân thương mại 64 CPI - lạm phát 44 Chỉ số bán lẻ 44 Tại sao những tin tức kinh tế lại tác động đến giao dịch ngắn hạn? Bản thân dữ liệu không quan trọng khi nó rớt hay không trong sự chờ đợi của thị trường. Bên cạnh việc biết được khi nào tất cả những dữ liệu được công bố, nó còn rất quan trọng để biết nền kinh tế nào đang dự báo cho chỉ số nào. Ví dụ, biết được kết quả kinh tế của sự gia tăng không mong đợi hằng tháng của chỉ số giá tiêu dùng là 0.3%, hiện thực thì không thật sự cần thiết đến những quyết định giao dịch ngắn hạn của bạn vì nó biết rằng tháng này thị trường đa số đang trông đợi CPI giảm 0.1%. Phân tích những phân nhánh dài hạn của sự gia tăng không mong đợi hằng tháng về giá có thể đợi đến sau khi bạn tận dụng được dữ liệu để có những cơ hội giao dịch ngắn hạn, thường là trong vòng 30 phút đầu tiên. Sự mong chờ thị trường cho tất cả những tin tức kinh tế được công bố trên lịch kinh tế của chúng ta và bạn có thể theo dõi những mong đợi này vào ngày công bố của chỉ số. Bảng lương Non Farm - thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp là thước đo của thị trường lao động. Một trong những cách phân tích thước đo sức mạnh của 1 nền kinh tế là số việc làm được tạo ra. Chỉ số này mạnh chỉ ra sự phát triển của nền kinh tế vì những công ty phải tạo ra năng lực để thỏa mãn nhu cầu. Lịch công bố: Thứ Sáu đầu tiên của tháng vào lúc 8g30 sáng EST EUR/USD giảm khi Bảng lương phi nông nghiệp của Mỹ được công bố. Những quyết định về lãi suất của FOMC: Thị trường mở liên bang thành lập ra giảm giá lãi suất mà Cục dự trữ liên bang tính vào
  • 36.
    thành viên gởitiền ở ngân hàng cho những số nợ qua đêm. Lãi suất được thiêt lập trong suốt những cuộc họp FOMC của những ngân hàng khu vực và Cục dự trữ liên bang Lịch công bố: mỗi năm có 8 cuộc họp. Ngày được biết trước vì thế hãy kiểm tra trên lịch kinh tế. EUR/USD giảm sau Quyết định về lãi suất của FOMC. Cán cân thương mại: Cán cân thương mại đo sự khác nhau của giá trị hàng hóa và dịch vụ mà 1 quốc gia xuất khẩu và giá trị hàng hoá dịch vụ mà nó nhập khẩu. Cán cân thương mại thặng dư nếu giá trị của hàng xuất khẩu vượt qua hàng nhập khẩu, ngược lại, nếu cán cân thương mại thâm hụt xảy ra nếu hàng nhập khẩu vượt quá hàng xuất khẩu. Lịch công bố: nói chung thường được công bố vào khoảng giữa của tháng thứ 2 theo sau thời kỳ báo cáo. Bạn nên kiểm tra lịch kinh tế mỗi tháng. EUR/USD biến động sau khi cán cân thương mại được công bố. CPI - Chỉ số giá tiêu dùng CPI là thước đo chính của nạn lạm phát vì nó đo giá của giá cố định hàng hoá tiêu dùng. Giá cao hơn được xem là tiêu cực cho 1 nền kinh tế, nhưng vì ngân hàng trung tâm thường đáp lại sự lạm phát giá bằng cách tăng lãi suất nên thỉnh thoảng tiền tệ phản ứng lại 1 cách tích cực trong những báo cáo của lạm phát cao hơn. Lịch công bố: hàng tháng - khoảng ngày 13 mỗi tháng vào lúc 8g30 sáng EST EUR/USD biến động sau khi CPI được công bố. Chỉ số bán lẻ: Chỉ số bán lẻ là thước đo tổng số lượng hàng hoá đã bán bằng cách lấy ví dụ của 1 cửa hàng bán lẻ. Nó được sử dụng như thước đo của hoạt động tiêu dùng và niềm tin khi những con số bán cao hơn sẽ chỉ ra hoạt động kinh tế tăng. Lịch công bố: hàng tháng - khoảng ngày 11 mỗi tháng vào lúc 8g30 sáng EST. EUR/USD biến động sau khi chỉ số bán lẻ được công bố. (Maxi-Forex.com) ----------------------------------------------------------- Ý nghĩa bảng lương phi nông nghiệp của Mỹ Đây là một trong những bản báo cáo được mong đợi nhất của Mỹ, Non-farm payrolls là một bản báo cáo kịp thời về bức tranh của thị trường việc làm ở Mỹ : gia tăng, tụt giảm, số giờ làm việc, số lương thưởng ... Những tư liệu trong bản báo cáo được thu thập từ 2 cuộc khảo sát là Household Surveys và Establishment ( payroll) Survey ( Báo cáo theo hộ gia đình và báo cáo theo bảng lương). Trong đó Establishment Survey được ưa chuộng hơn vì bản báo cáo này đánh giá tình trạng của các doanh nghiệp chứ ko chỉ gói gọn trong các hộ gia đình. Bản báo cáo có những chỉ số đầy ý nghĩa như : Change in nonfarm payrolls, Unemployment, Manufacturing Payrolls, và Average Hourly Earnings. Trong quá trình khai thác cũng như phân tích về bản báo cáo mình sẽ có cơ hội để mở ra trước mắt các bạn nhiều hơn nữa những news và yếu tố liên quan đến tình trạng lao động. Nonfarm Payrolls ( NFP)
  • 37.
    Nonfarm payrolls (NFP)là một báo cáo về tình hình kinh tế của Mỹ được thông báo hàng tháng. Tên của bản báo cáo được biên soạn để sử dụng cho những công ty về sản xuất, xây dựng, và các công ty chế tạo sản phẩm. Ban Thống Kê Lao động của bộ Lao động cho ra những tài liệu sơ bộ của cuộc khảo sát dành cho tháng trước đó. Tin ra vào thời điểm 8h30 ET thức đầu tiên của hàng tháng, hoặc theo Ban này bản báo cáo sẽ được đưa ra vào thứ 6 thứ 3 trong tháng sau khi có kết luận về tài liệu của tuần Các con số về NFP được sử dụng để đại diện cho số công việc gia tăng hay mất đi trong kinh tế trong tháng gần nhất, ko bao gồm những công việc liên quan đến ngành công nghiệp trồng trọt. Vì ngành này thường có tính chất thuê nhân công theo mùa mà điều này sẽ làm cho chỉ số xung quanh thời điểm gặt ko còn chính xác nữa ( vì các nông trang thường tăng thêm số công nhân và sau đó thì chỉ số vào mùa gặt mới được công bố). Bản báo cáo này cũng cho biết về số giờ làm việc trung bình hàng tuần và số thu nhập kiếm được bình theo tuần của tất cả những công nhân thuộc những ngành có trong báo cáo. NFP bao gồm các thông tin sau : - Sự thay đổi về chỉ số NFP - Tỉ lệ thất nghiệp - Thay đổi về chỉ số Manufacturing Payrolls : chỉ số Payrolls dành riêng cho các ngành sản xuất. - Thu nhập trung bình tính theo giờ - Số giờ làm việc trung bình tính theo tuần. Nói chung báo cáo phản ánh khoảng 80% tổng số công nhân làm việc để tăng sản lượng GDP của Mỹ và đưowjc sử dụng để hỗ trợ các chính khách và các nhà kinh tế đưa ra những chính xác mới để quyết định hiện trạng của kinh tế và phỏng đoán tương lai. Ý nghĩa của NFP đối với nền kinh tế: Nói chung, khi chỉ số lao động gia tăng có nghĩa là các công ty đang phát triển và cần tuyển dụng nhân lực và điều đó cũng đồng nghĩa với việc nhiều người sẽ có việc làm và có tiền để chi tiêu vào các sản phẩm hay dịch vụ giúp kích thích phát triển. Điều ngược lại cũng hoàn toàn đúng trong trường hợp NFP hạ. Ý nghĩa của Nonfarm với thị trường tài chính: Trong khi tổng số việc làm tăng lên hay giảm đi đối với nền kinh tế là một kim chỉ nam rất quan trọng cho hiện trạng kinh tế thì báo cáo này lãi có những thông kê mà hoàn toàn có ảnh hưởng đến thị trường tài chính:
  • 38.
    - Chỉ sốthất nghiệp đối với kinh tế như một tỷ lệ của toàn bộ lực lượng lao động. Đây là một phần quan trọng của bản báo cáo vì số người thất nghiệp là một dấu hiệu của tổng thể kinh tế, và đây là một con số được ngân hàng Liên Bang theo dõi rất kĩ vì khi chỉ số này hạ xuống mức qúa thấp ( thường là dứới 5%) thì lạm phát sẽ bắt đầu hình thành vì các doanh nghiệp sẽ phải trả nhiều tiền hơn để thuê những thợ lành nghề và việc giá thành sản phẩm gia tăng cũng là điều đương nhiên. - Chỉ ra bộ phận nào có sự tăng hay giảm về công việc: Bản baó cáo có thể đưa ra sự cảnh báo cho những trader về mảng kinh tế nào có thể bung nổ phát triển. - Thu nhập trung bình hàng giờ : Đây là một yếu tố quan trọng vì nếu cùng một lượng nhân công như nhau nhưng lại kiếm nhiều hơn hay ít hơn cho một khối lượng công việc , điều này về căn bản là nói lên việc cần phải tăng hay giảm nhân công cho khối lượng công việc đó. - Dùng để xem lại chỉ số của lần ra tin NFP trước đó: Một yếu tố quan trọng khác của báo cáo là có thể gây ra những biến động trong thị trường vì traders tự lên khung những chiều hướng phát triển của news dựa vào chỉ số cũ. ---------------------------------------------------------------------------------------- Doanh số bán lẻ của thị trường Mỹ Chi tiêu tiêu dùng chiếm 70% trong tất cả các hoạt động kinh tế của Hoa Kỳ. Doanh số bán lẻ chiếm 1/3 trong số đó. Nếu người tiêu dùng tiếp tục chi tiêu, đó là tín hiệu của sự gia tăng toàn bộ trong nền kinh tế. Để theo dõi sự tiêu dùng, Viện điều ra dân số Hoa Kỳ đề nghị hàng ngàn nhà bán lẻ mỗi tháng cung cấp doanh số mới nhất của họ. Nhờ vậy mà mỗi tháng chúng ta có được bản báo cáo doanh số bán lẻ như là một trong những công cụ đo lường tốt nhất sự thay đổi trong mô hình chi tiêu của ngưởi tiêu dùng. Nhưng doanh số bán lẻ cũng còn một vài thiếu sót nhất định. Nó chỉ cho biết sức mua hàng hóa hiện tại, chẳng hạn như các mặt hàng có thể tìm thấy ở : cửa hàng đồ điện, cửa hàng ôtô, trạm gas và nhà hàng. Bản báo cáo không cho chúng ta biết về việc chi tiêu trong lĩnh vực dịch vụ như : hàng không, nha khoa, làm tóc, bảo hiểm và điện ảnh. Cho đến bây giờ, ngành kinh doanh dịch vụ chiếm gần 2/3 chi tiêu cá nhân. Nó được đo lường như thế nào? Một bảng khảo sát được gởi ngẫu nhiên đến 5.000 cửa hàng bán lẻ lớn, nhỏ trên khắp đất nước. Những cửa hàng nhận được chúng vào khoảng 3 ngày cuối tháng. Sau đó họ sẽ trả lời,r ồi trả lại trong vòng một tuần. Tuy nhiên, chỉ có ít hơn 50% cửa hàng được hỏi trả lại đúng hạn. Mặc dù vậy chính phủ vẫn xem lại dữ liệu để chuẩn bị cho bản báo tạm – một trong ba bản sẽ được công bố trong tháng. Bản tạm này cung cấp một cái nhìn nhanh và đánh giá về sự thay đổi trong cách chi của người tiêu dùng sơ lược. Khoảng 8.000 người bán lẻ khác thì được thăm dò trong nhiều ngày để có được một bức tranh toàn diện về hoạt động của các chủ hàng. Kết quả của bảng khảo sát sẽ được điều chỉnh và cho ra bản báo cáo thứ 2. Bốn tuần sau, Bản báo cáo Doanh số bán lẻ cuối cùng được công bố. Tổng cộng có khoảng 13.000 người được hỏi và có khoảng 75% trả lời.
  • 39.
    Làm thế nàođể hiểu được nó? Có một sự mạo hiểm khi lệ thuộc quá nhiều vào Bản khảo sát sơ bộ bởi vì chúng dựa trên một số nhỏ lượng người được khảo sát. Để có được cái nhìn chính xác về thói quen tiêu dùng cần phải dựa vào doanh số bán ra trung bình trong ba tháng hoặc xem qua dữ liệu trong ba tháng qua rồi so sánh nó với cùng thời kỳ của năm trước. Doanh số bán lẻ trừ ôtô là gì? Khoảng 25% tổng số lượng tiền chi tiêu của người tiêu dùng là mua các sản phẩm giao thông và các sản phẩm liên quan. Số liệu này thay đổi rất mạnh từ tháng này sang tháng khác và nó bóp méo bức tranh doanh số bán lẻ. Để loại trừ nó, có một hàng riêng trong bản báo cáo, nơi mà chính phủ loại bỏ chi tiêu cho ôtô để mọi người có thể theo dõi rõ hơn xu thế tiêu dùng. Nó ảnh hưởng như thế nào đối với đồng đô? Thị trường tiền tệ nhận thấy bản báo cáo Doanh số bán lẻ như là một công cụ đòi hỏi sự tinh tế để phân tích. Trong khi, những người nước ngoài thì thích thấy được tinh thần mua sắm của người tiêu dùng Hoa Kỳ vì nó sẽ khẳng định việc sự chắc chắn của lãi suất (điều mà làm USD tăng giá), một sự chi tiêu quá mức sẽ báo hiệu sự rắc rối cho USD bởi vì hàng nhập khẩu quá nhiều. Một sự nhảy vọt trong việc nhập khẩu sẽ làm gia tăng nhu cầu đối với các đồng tiền nước ngoài để chi trả cho hàng nhập khẩu và điều này có thể làm tổn thương USD. --------------------------------------------------------------------------------------------------------------- ------- FED và lãi suất Cục dự trữ liên bang Mỹ, gọi tắt là FED, là Ngân hàng trung ương của nước Mỹ. Trong vai trò của một Ngân hàng trung ương, FED là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng của Chính phủ liên bang. FED được xây dựng để đảm bảo duy trì cho nước Mỹ một chính sách tiền tệ linh hoạt hơn, an toàn hơn, và ổn định hơn. Trong quá trình tồn tại và phát triển cùng với lịch sử nước Mỹ, FED ngày càng chứng mình được vai trò vô cùng quan trọng của nó trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế Mỹ. Được thành lập ngày 23/12/1913 theo đạo luật mang tên "Federal Reserve Act" do tổng thống Woodrow Wilson kí, FED là một mạng lưới gồm 12 Ngân hàng dự trữ liên bang và một số chi nhánh khác. Về mặt quản lý, FED chia nước Mỹ làm 12 khu vực, được gọi là các "Quận" (District), mỗi ngân hàng Dự trữ liên bang đại diện cho một quận và được đặt tên theo tên thành phố mà nó đặt trụ sở, đó là Boston, New York, Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Minneapolis, Kansas City, Dallas, San Francisco, trong đó Ngân hàng dự trữ New York có vai trò nổi bật hơn một chút so với các ngân hàng còn lại.
  • 40.
    Lãnh đạo FEDlà Ban thống đốc (Board of Governors) gồm có 7 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn. 7 thành viên của Ban thống đốc đóng vai trò như là đa số trong Uỷ ban thị trường mở Hoa Kì (FOMC), là cơ quan quyết định tất cả các chính sách tiền tệ của Mỹ. 5 thành viên còn lại của FOMC là chủ tịch của Ngân hàng dự trữ liên bang New York và 4 chủ tịch ngân hàng dự trữ liên bang khác. Nhiệm kì của mỗi thành viên Ban thống đốc kéo dài 14 năm, và các thành viên chỉ có thể được tái bổ nhiệm nếu nhiệm kì trước của ông ta không phải là một nhiệm kì trọn vẹn. Tổng thống tiếp tục bổ nhiệm Chủ tịch và phó Chủ tịch Ban thống đốc, hai người này giữ chức trong vòng 4 năm và có thể được tái bổ nhiệm không hạn chế chừng nào họ còn là thành viên của Ban thống đốc. Chủ tịch của FED hiện nay là Ben Bernanke, người đã thay thế Alan Greenspan vào ngày 01/01/2006. Alan Greenspan đã từng phục vụ ở cương vị Chủ tịch FED từ năm 1987. FED có một số nhiệm vụ chính như: * Thực thi những chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì mức việc làm, giá cả ổn định và lãi suất tương đối thấp. * Giám sát và quản lý các thể chế ngân hàng để đảm bảo đó là những nơi an toàn để gửi tiền và để bảo vệ quyền lợi tín dụng của người dân. * Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức tín dụng, Chính phủ Mỹ và Ngân hàng trung ương các nước khác như thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử, phát hành tiền... * Ngoài ra FED còn tiến hành các nghiên cứu về nền kinh tế Mỹ cũng như kinh tế các bang, cung cấp thông tin về nền kinh tế thông qua các ấn phẩm, hội thảo giáo dục và qua website. Với vai trò là Ngân hàng trung ương của nền kinh tế mạnh nhất thế giới, mỗi quyết định của FED đều gián tiếp ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Người ta hay nói vui rằng "một cái hắt hơi sổ mũi của chủ tịch FED" cũng đủ làm chao đảo nền kinh tế thế giới, xét về mặt nào đó cũng không phải là không có lý. Vậy FED đã tác động đến nền kinh tế toàn cầu như thế nào? Thứ nhất các quyết định về tăng giảm lãi suất của FED tác động trực tiếp đến sức mạnh của đồng USD, qua đó ảnh hưởng mạnh đến các đối tác thương mại của Mỹ. Nếu FED tăng lãi suất đồng USD nhằm kiềm chế lạm phát, vô hình chung làm tăng sức mạnh của đồng USD trên thị trường tiền tệ quốc tế, làm tăng nhập khẩu, giảm xuất khẩu, giảm đầu tư vào Mỹ. Thứ hai, FED còn trực tiếp can thiệp vào việc xác lập giá trị đồng USD thông qua hoạt động mua bán USD và các ngoại tệ khác. Ví dụ, nếu Mỹ bán đồng Yen ra đồng thời mua vào USD thì giá trị của USD sẽ tăng, trong khi giá trị Yen giảm xuống, dẫn đến tỉ giá USD/Yen tăng. Chính vì vậy những chuyên tham gia vào thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế không bao giờ bỏ qua những diễn biến của FED. Lãi suất FED được ấn định như thế nào?
  • 41.
    Cục dự trữliên bang thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu bằng cách định hướng " lãi suất quỷ vốn của FED" Đây là tỷ lệ các ngân hàng ấn định với nhau cho khoản vay qua đêm các quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang. Tỷ lệ này do thị trường quyết định chứ Fed không ép buộc. Tuy vậy, Fed sẽ cố gắng tác động tỷ lệ này ở con số phù hợp với tỷ lệ mong muốn bằng cách bổ su*** hoặc hạn chế nguồn cung tiền tệ thông qua hoạt động của nó trên thị trường. Cục dự trữ liên bang còn ấn định tỷ lệ chiếc khấu ,lãi suất mà các ngân hàng thương mại phải trả khi vay tiền từ Fed. Tuy nhiên, các ngân hàng thường lựa chọn cách vay quỹ đặt cọc tại Fed từ một ngân hàng khác mặc dù lãi suất này cao hơn tỷ lệ chiết khấu của Fed. Lý do của cách lựa chọn này là việc vay tiền từ Fed mang tính công khai rộng rãi, nó sẽ đưa đến chú ý của công chúng về khả năng thanh khoản và mức độ tin cậy của ngân hàng đang đi vay. Cả hai tỷ lệ trên chi phối lãi xuất ưu đãi và là tỷ lệ thường cao hơn 3% so với lãi suất quỷ vốn tại FED .Lãi suất ưu đãi là tỷ lệ mà các ngân hàng tính lãi đối với khoản vay của những khách hàng tin cậy nhất. Ở mức lãi suất thấp, các hoạt động kinh tế được thúc đẩy vì chi phí đi vay thấp, do đó mà người tiêu dùng và các doanh nghiệp tăng cường mua bán. Ngược lại, lãi suất cao đưa đến kìm hãm kinh tế vì chi phí đi vay cao hơn. Cục dự trữ liên bang thường điều chỉnh “lãi suất quỹ vốn tại Fed” mỗi lần ở mức 0,25% hoặc 0,5%. Từ năm 2001 đến giữa năm 2003, Fed hạ lãi suất 13 lần, từ 6,25% xuống 1% nhằm chống lại xu hướng suy thoái kinh tế .Tháng 11 năm 2002, lãi suất do Fed điều chỉnh chỉ còn 1,75% và nhiều mức thấp hơn cả tỷ lệ lạm phát . Ngày 25/03/2003 "lãi suất quỷ vốn tại Fed" tụt xuống mức 1%, con số thấp nhất kể từ tháng 07 năm 1958 – 0,68%. Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, Cục dự trữ liên bang bắt đầu nâng lãi suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày 08/08/2006. Sau đó FED hạ dần lãi suất cho đến gần = 0 vào năm 2008 và giữ nguyên cho đến nay. --------------------------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Thị trường bất động sản và kinh tế Hoa Kỳ Thị trường bất động sản đã và đang điều chỉnh nền kinh tế Hoa Kỳ Sau khi Fed cắt giảm lãi suất 1% sau vụ tấng công ngày 11/09/2001, việc mượn tiền thế chấp đã trở nên rẻ hơn để mua nhà. Khi lãi suất vẫn giữ nguyên mức tương đối thấp qua nhiều năm, một làn sống mua nhà đã trổi dậy kết quả là giá nhà đã tăng lên “tận trời xanh”. Các nhà đầu cơ bất động sản, các nhà đầu tư, những người kinh doanh nhà quy mô nhỏ… kiếm tiền dễ như trở bàn tay khi mà giá nhà không ngừng tăng. Ngày càng có nhiều người thấy được công việc kiếm tiền dễ dàng này vì thế họ quyết định tham gia vào thị trường bất động sản, tạo ra thêm nhiều nhu cầu đối với nhà ở, kết quả là giá nhà liên tục tăng cao.
  • 42.
    Đột ngột, Ngôinhà của anh B lúc trước đáng giá $200.000 sau một năm đáng giá $350.000, bây giờ anh B có thêm $150.000 trong giá trị căn nhà của mình. Nhưng anh ta không muốn bán căn nhà đó đi vì thế anh đi mượn một khoảng nợ tương đương với giá trị dư ra của căn nhà. Anh ta sẽ tiêu xài số tiền “tự do” này vào việc gì. Giờ đây anh ta có thể mua một xe hơi mới, tivi, một chuyến nghĩ mát ở Hawaii… Đây là điều thật sự thường xảy ra ở Hoa Kỳ. Người dân Hoa Kỳ đang sử dụng ngôi nhà của mình như là một máy rút tiền ATM. Người tiêu dùng Hoa Kỳ đã khám phá ra một nguồn lực mua mới từ việc thế chấp nhà của mình. Họ tiêu xài nhiều hơn số tiền họ có thể thực sự kiếm. Nhờ vào việc thế chấp căn nhà của mình cho phép họ làm điều đó. Thị trường nhà ở đã và đang trở thành nhân tố chính điều chỉnh nền kinh tế bằng cách cho phép người tiêu dùng mượn tiền từ việc thế chấp căn nhà của mình để họ có thể tiếp tục tiêu xài và mua nhiều thứ hơn. Điều này chỉ thật sự hữu dụng cho đến khi giá nhà còn tăng. Nếu không có một nguồn cung tiền từ thị trường nhà, mức chi tiêu của người tiêu dùng có thể chậm lại một cách đột ngột. Anh B sẽ không thế chấp nhà để mượn tiền nữa và sẽ phải ngừng việc chi tiêu. Số lượng tiền rút ra từ tài sản thế chấp (MEW) đã trở thành một yếu tố đáng kể trong GDP. MEW diễn tả số lượng tiền mượn từ chủ nhà so với gái trị căn nhà của họ để làm công tác tài chính cho tiêu dùng của mình. Người chủ nhà xem MEW giống như bữa ăn trưa miễn phí. Gia nhà tăng một cách kỳ diệu, sản sinh ra một số lượng tiền không thấy rõ có thể chuyển thành tiền mặt. Nó thật sự là không miễn phí vì người chủ nhà phải trả lãi cho khoản nợ Dưới đây là một vài thông tin làm nhiều người ngạc nhiên:. • Theo một nguyên cứu của Nguyên chủ tịch cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ - Alan Greenspan ước lượng có hơn 600 tỷ USD tiền mặt rút ra trong năm 2004. • Goldman Sachs ước lượng trong năm 2005, những người sở hữu nhà đã rút ra 834 tỷ USD. Ước lượng có khoảng từ 50% đến 68% số tiền này đã được người tiêu dùng tiêu xài tùy ý. Nếu chúng ta tính những con số này trong vòng hai năm qua số tiền này đã vượt hơn 1000 tỷ USD đã được người tiêu dùng tiêu xài. Hãy thử tưởng tượng thử xem điều gì sẽ xảy ra một khi người tiêu dùng không thế chấp nhà để mượn tiền Một vần đề khác mà anh B cần phải bắt đầu nghĩ đến đó là bên cạnh việc chi tiêu số tiền ngoài nguồn thu thực sự đó là tiền lãi anh ta phảt trả cho món nợ mà anh ta mượn. Kể từ khi Fed tăng lãi suất và có thể tiếp tục tăng lãi suất trong tương lai, số tiền lãi anh ta phải trả sẽ tăng. Điều này có nghĩa là nguồn thu của anh ta sẽ phải dùng cho việc trả lãi nhiều hơn là việc chi tiêu vào những thứ khác. Và nên nhớ rằng khi người tiêu dùng chi tiêu đó là nhân tố lèo lái
  • 43.
    nền kinh tế. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Chỉsố giá sản xuất (PPI) đo lường mức độ lạm phát PPI là gì? Nó đo lường cái gì? Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo lường mức độ lạm phát trải qua bởi các nhà sản xuất. Số liệu này mô tả mức độ thay đổi giá cả trung bình trong rổ hàng hóa cố định được mua bởi nhà sản xuất. Một cách tổng thể, lạm phát cao dẫn đến lãi suất cao, điều này sẽ có xu hướng làm mạnh đồng tiền của quốc gia. Nó nghe có vẻ giống CPI, vậy đâu là sự khác biệt? PPI là một chỉ số của giá thương phẩm. Ngược lại, CPI đo lường cả giá của thương phẩm và dịch vụ - nhà, giao thông, y tế và những dịch vụ khác chiếm 50% của CPI. CPI cũng bao gồm hàng hóa nhập khẩu trong khi PPI thì không. Một sự khác biệt giữa PPI và CPI là PPI đo lường giá trị của đồng vốn dành cho trang thiết bị trong kinh doanh. “Rổ hàng hóa ” bao gồm những gì? Các hàng hóa liên qua đến tiều dùng chiếm 75% biểu đồ tròn. Hàng hóa tiêu dùng, chủ yếu là xe hơi chiếm 40%. Thực phẩm chiếm 26% gồm : thịt, cá, sản phẩm liên quan đến bơ sữa, trái cây và rau quả. Danh mục năng lượng, chủ yếu là gas và dầu nhiên liệu chiếm thêm 9%. Danh mục trang thiết bị chiếm 25% gồm: ôtô và xe tải. Các số liệu được đặt với nhau như thế nào ? Các nhà kinh tế Bộ Lao động so sánh giá của nhiều món hàng – khoảng 3.450. Giá thì được lấy mẫu hàng tháng. PPI lõi là gì? Nhiều nhà kinh tế xem xét PPI trừ đi thực phẩm và năng lượng cái mà được gọi là PPI lõi.Vậy tại sao? Bởi vì giá thực phẩm và năng lượng thay đổi rất nhanh. Giá năng lượng có thể bị ảnh hưởng bởi thời tiết chẳn hạn như nếu bão gây ảnh hưởng đến các dàn khoan dầu thì sẽ anh hưởng đến sản lượng khai thác. Điều tương tự cũng có thể xảy ra đối với thực phẩm. Đó là lý do tại sao phải loại trừ chúng để thấy được xu thế lạm phát thật của PPI. Các “nhà chuyên nghiệp” xem xét PPI như thế nào ? Các “nhà chuyên nghiệp” xem xét PPI một cách chung chung và xem xét nhiều phương pháp: • So sánh tháng gần đây nhất với hai đến ba tháng trước
  • 44.
    • Xem xétsự thay đổi trung bình của chỉ số PPI được công bố trong sáu hoặc mười hai tháng trước. • Xác định tỉ lệ lạm phát giữa các năm. Điểm chính ở đây là không nên để ý quá nhiều vào bản báo cáo đơn độc. Tốt hơn là hãy xác định xu thế và liệu có một xu thế mới sắp xuất hiện không. PPI ảnh hưởng như thế nào đối với USD? Đồng đô có xu hướng mạnh lên khi tăng lãi suất ngắn hạn. Vì thế nếu Fed tăng lãi suất, thì USD tăng giá. Nếu lạm phát cao, USD thường sẽ tăng vì điều này cho thấy Fed có lý do để tăng lãi suất. -------------------------------------------------------------------------------------- Chỉ số giá tiêu dùng CPI Chỉ số giá tiêu dùng CPI là gì? Nó đo lường cái gì? CPI là một công cụ đo lường sự thay đổi giá do người dùng chi trả theo thời gian cho các hàng hóa trong rổ hàng hóa và dịch vụ. Rổ hàng hóa và dịch vụ bao gồm những gì? Hàng hóa và dịch vụ bao gồm: thực phẩm, quần áo, chỗ ở, báo chí và các loại đĩa CD. Các mòn hàng mà người tiêu dùng thường chi tiêu nhiều như : thực phẩm, thì chiếm tỉ trọng lớn, quan trọng, trong việc tính toán chỉ số hơn là cách sản phẩm khác như: kem đánh răng, vé xem phim là những sản phẩm mà người tiêu dùng ít chi tiêu hơn. Các khoản đầu tư thì sao? CPI không bao gồm các đồi tượng đầu tư như: cổ phiếu, trái phiếu, bầt động sản, bào hiểm nhân thọ. Những đối tượng này liên quan đến tiết kiệm chứ không phải là sự chi tiêu hằng ngày. Tại sao nó quan trọng để đo lường nền kinh tế? CPI đo lường sức mua của người tiêu dùng xài đồng đô. Mối liên hệ giữa CPI và lạm phát là gì? CPI đo lường lạm phát được trải qua bởi người tiêu dùng trong việc chi tiêu hằng ngày của họ. Sự gia tăng trong chỉ số CPI sẽ được nhiều người nghĩ rằng như là “tỉ lệ lạm phát”. Nó được sự dụng bởi các thương nhân bán lẻ để dự đoán giá trong tương lai, bời các ông chủ để tính tiền lương và bởi chính phủ để xác định mức tăng cho quỹ bảo trợ xã hội. CPI được thu thập và xem xét như thế nào?
  • 45.
    Mỗi tháng, cácnhà thu thập dữ liệu từ cục thống kê của bộ Lao động ra lệnh cho các trợ lý kinh tế ghế thăm hoặc kêu gọi hàng ngàn cửa hàng bán lẻ, cơ sở dịch vụ, các tổ chức cho thuê, phòng mạch,và toàn bộ Hoa Kỳ để thu thập thông tin giá cả của hàng ngàn đối tượng được sử dụng để theo dõi và đo lường sự thay đổi trong chỉ số CPI. Các trợ lý sẽ lưu lại giá của khoảng 80.000 đối tượng mỗi tháng. Tám mươi ngàn đối tượng giá này diễn tả các mẫu được chọn có tính khoa học được mua bởi người tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ được mua. Trong suốt mỗi cuộc gọi hay chuyến ghé thăm, các trợ lý kinh tế thu thập giá của một hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định, cái mà đã được xác định chính xác từ lần trước. Nếu đối tượng được chọn sẵn sàng, thì giá sẽ được lưu lại. Nếu đối tượng được chọn không sẵn sàng hoặc có sự thay đổi về số lượng hoặc chất lượnag (ví dụ như: trứng được bán trong một gói 8 trứng khi lần trước đã được bán là 12) của hàng hóa hoặc dịch vụ kể từ lần thu thập lần trước, các nhà trợ lý kinh tế chọn một đối tượng mới hoặc ghi lại sự thay đổi của đối tượng hiện tại. Các số liệu thu thập được sẽ được gởi tới văn phòng quốc gia của Cục thống kê bộ Lao động, các chuyên gia thương phẩm sẽ xem xét chi tiết các thông tin về giá của hàng hóa và dịch vụ Các nhà phân tích sẽ kiểm tra tính chính xác và nhất quán của dữ liệu, và tạo ra những sự điều chỉnh cần thiết. CPI ảnh hưởng như thế nào đối với đồng tiền của quốc gia? Dầu hiệu của lạm phát có nghĩa là NHTW sẽ phải tăng lãi suất. Đa số dùng công cụ đo lạm phát là chỉ số CPI. Nếu CPI tăng, thì nó sẽ cho các NHTW như Fed các dự liệu hỗ cho việc tăng lãi suất. Lãi suất tăng thì đồng tiền của quốc gia tăng. Tổng hợp&biên dịch: Trường Giang Nguồn: babypips.com CPI là tên viết tắt tiếng Anh của Chỉ số giá tiêu dùng. Trong rất nhiều trường hợp các quốc gia còn dùng CPI như đại diện cho thông số về lạm phát, mặc dù không phải bao giờ cũng đúng, hoặc chỉ phản ánh tương đối. Chúng ta xem xét ý nghĩa của CPI trong bài viết này, bổ su*** cho khái niệm CPI đã có trong phần Tra cứu của Saga. Phần nhiều thông tin và kiến thức ở đây được sử dụng với căn cứ tính toán cho nền kinh tế Mỹ và Anh, do đó khi sử dụng cho Việt Nam thì cần những hiệu chỉnh nhất định để phù hợp thực tế. Giá cả của hàng hoá dịch vụ luôn luôn biến động theo thời gian, tuy nhiên nếu như giá cả thay đổi quá nhanh chóng, nó có thể là một cú sốc đối với nền kinh tế. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ số cơ bản đo lường giá cả hàng hoá dịch vụ và cho biết liệu nền kinh tế có bị lạm phát hoặc giảmphát hay không. Chỉ số giả cả thường rất được quan tâm theo dõi và nó đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định tài chính quan trọng như chính sách lãi suất của cục dự trữ liên bang Mỹ hay quyết định tiến hành hedging của các ngân hàng và doanh nghiệp lớn. Cũng rất có lợi cho các nhàđầu tưcá nhân tiến nếu họ tính đến chỉ số CPI khi tiến hành hedging hoặc đưa ra quyết định phân bổ vốn đầu tư. CPI được hình thành từ các thông tin chi tiêu của hang nghìn hộ gia đình trên toàn quốc.
  • 46.
    Thông tin đượcthu thập thông qua phỏng vấn và nhật kí chi tiêu của các đối tượng lựa chọn để nghiên cứu. Rổ hànghoá dịch vụ được sử dụng để tính bao gồm hơn 200 danh mục, thuộc 8 nhóm: thực phẩm và đồuống, nhà đất, may mặc, vận tải, chăm sóc sức khoẻ, giải trí, giáo dục và truyền thông,và một số loại hàng hoá dịch vụ khác. Giá cả của khoảng 800.000 hàng hoá dịch vụ trong rổ tính được thu thập hàng tháng từ hàng ngàn các cửa hàng bán lẻ, các nhà cung cấp dịch vụ, các công ty cho thuê nhà đất và các phòng khám sức khoẻ. Vậy chỉ số CPI mách bảo điều gì? Các số liệu trên sẽ hình thành lên một bức tranh về sự biến động của chi phí sinh hoạt từ đó giúp các chuyên gia tài chính nhận định được khả năng lạm phát cónguy cơlàm suy sup cả một nền kinh tế nếu ở lạm phát ở mức độ quá cao. cả lạm phát và giảm phát quá mức đều rất đáng sợ mặc dù giảm phát quá mức ít khi xảy ra hơn. Chúng ta thường nhìn nhận giảm phát và giảm giá là những dấu hiệu tốt. Và thực tế điều này có thể là tốt trong một chừng mực nào đó. Ví dụ giá của dịchvụđiện thoại đã liên tục giảm xuống trong nhiều năm qua và chắc chắn sẽ còn tiếp tục giảm nữa vì internet ngày càng chiếm ưu thế. Và chắc chắn bạn chẳng bao giờ nghe thấy người tiêu dùng nào phàn nàn về điều này. Tuy nhiên giảm phát chắc chắn cũng là một hiện tượng không tốt đối với nền kinh tế. Bằng chứng là cuộc đại suy thoái diễn ra vào những năm 30 khi mà có cả núi người thất nghiệp không có nổi một đồng để mua hàng hoá và dịch vụ cho dù chúng được chào bán với mức giá cực kì hấp dẫn. Khi giá cả tăng tới mức không thể kiểm soát nổi thì lạm phát trở thành siêu lam phát. điển hình là ở Đức vào những năm 20, lạm phát của Đức trong thời gian này đã có lúc đạt mức 3.25 triệu phần trăm một tháng. Trong suốt chiến tranh thế giới thứ II, Hy Lạp có mức lạm phát 8.55 tỉ phần trăm một tháng, Hungary thì thậm chí còn kinh khủng hơn. Hungary đã cho phát hành giấy bạc mệnh giá 100 triệu Pengo vào năm 1946 nhưng vào thời điểm này tờ giấy bạc này chả có nghĩa gì do đó chính phủ buộc phải định giá lại đồng tiền của nước mình. Giấy bạc 1triệu pengo giờ đây cũng chỉ có giá tương đương với 1 pengo trước kia, và nghiễm nhiên nó trở thành đơn vị tiền tệ thấp nhất. Đưa ra ví dụ này để thấy được cho dù chỉ số CPI có biến động theo chiều nào thì nó vẫn khiến cho nhiều người phải lo sợ. Có một số hình thức biến động giá cả trong nền kinh tế, như làm giảmphát hoặc thiểu phát(disinflation) hoặc làm tăng lạm phát (reflation).Làm giảm lạm phát là việc làm cho lạm phát chững lại, nhưng vẫn đang trong tình trạng lạm phát. Khi lạm phát xảy ra đối với một nền kinh tế không tăng trưởng, ta gọi đó là lạm phát đình đốn, khiến cho lạm phát càng trở nên nghiêm trọng. Một số ứng dụng của CPI CPI thường được sử dụng để điều chỉnh thu nhập của người dân và các hoạt động kinh tế khác.Cụcan ninh xã hội Mỹ thường xem xét CPIđểđưa ra mức thu nhập phù hợp cho người dân, cấu trúc thuế của cục dự trữ liên bang cũng dựa trên CPI để điều chỉnh mức thuế cho phù hợp,vàcácông chủthì sử dụng CPI để điều chỉnh lương nhân viên cho phù hợp với chi phí sinh hoạt. các thông tin về hoạt động bán lẻ, thu nhập theo giờ và theo tuần, tổng thu nhập và tổng sản phẩm quốc dân được gắn kết với CPI để lý giải các chỉ số có liên quan
  • 47.
    trong thời kìkhông cóảnh hưởng củalạm phát. CPI và thị trường Thay đổi của giá cả của hàng hoá dịch vụ trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến các chứng khoán có lãi suất cố định. Nếu giá cả tăng, các khoản lãi cố định sẽ có giá trị thực tế thấp hơn và do đó làm giảm mức sinh lợi của các chứng khoán. Lạm phát cũng sẽ gây ảnh hưởng đến các khoản tiền lương, trợ cấp, hưu trí vì chúng là các khoản tiền trả cố định. Những người hưởng lương hưu sẽ phải nhìn đồng tiền của họ "biến mất" dần dần vì giảm sức mua theo thời gian. Biến động giá cả có thể ảnh hưởng xấu đến các công ty. Người ta thường kì vọng mức độ lạm phát nhẹ trong nền kinh tế đang tăng trưởng, tuy nhiên nếu giá cả của các yếu tố đầu vào tăng quá nhanh các nhà sản xuất sẽ bị giảm lợi nhuận. Mặt khác giảm phát chắc chắn sẽ dẫn tới giảm mức cầu của người tiêu dùng. Trong trường hợp này các nhà sản xuất buộc phải giảm giá để bán được hàng, tuy nhiên giá cả các yếu tố đầu vào có thể không giảm một lượng tương ứng. Vì thế biên lợi nhuận của nhà sản xuất cũng sẽ bị ảnh hưởng. Tự bảo vệ mình trước tác động của lạm phát. Tuy nhiên do thị trường ngày càng được hoàn thiện hơn nên các sản phẩm đầu tư có thể giúp ta đối phó với ảnh hưởng của lạm phát. Các quỹ tương hỗ hoặc các ngân hàng có thể mua các chứng khoán ngăn ngừa lạm phát, còn được gọi là TIPS (inflation-protected securities). Ngoài ra còn có thể sử dụng các hợp đồng tương lai để ngăn ngừa rủi ro. Tương tự nhiều người nắm giữ trong tay những cổ phiếu mà các cổ phiếu này lại trở thành một công cụ hết sức hữu hiệu chống lại lam phát. Đầu tư của các cá nhân trong nhiều trường hợp không chỉ bù đắp được thiệt hại do lạm phát gây ra mà cònđem lại một khoản lãi cho người nắm giữ. CPI có lẽ là chỉ số quan trọng nhất và được quan tâm chú ý nhất. Nó cũng là chỉ số đo lường sự thay đổi trong chi phí sinh hoạt được biết đến nhiều nhất. CPI được sử dụng để điều chỉnh tiền lương, phúc lợi xã hội, lương hưu, thuế và các chỉ số kinh tế khác nữa. Nó cũng cung cấp cho các nhà đầu tư các thông tin về những biến động có thể xảy ra trên thị trường tài chính_nơi mà cổ phiếu có mối quan hệ cả trực tiếp và gián tiếp đối với CPI. Nắm chắc chỉ số giá cả trong tay, các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu tư phù hợp và bảo vệ mình bằng cách mua các công cụ đầu tư như TIPS. Một trong những tác giả được biết nhiều tới các nghiên cứu lạm phát thành công và sâu sắc là Giáo sư Paul Samuelson. Khi nghiên cứu về thông tin lạm phát, nhà vật lý học vĩ đại Stephen Hawkin có trầm ngâm cho rằng hiện tượng lạm phát phức tạp và có thể xem như một hiện tượng vật lý thì đúng hơn là khoa học xã hội-nhân văn... Còn nói chung thì chúng ta với tư cách là người tiêu dùng luôn lo ngại lạm phát cao dẫn tới mất giá đồng tiền, do sụt giảm sức mua. ---------------------------------------------------------------------------------------------------- Bảng khảo sát thái độ của người tiêu dùng Niềm tin tiêu dùng là Bảng khảo sát thái độ của người tiêu dùng về cả điều kiện hiện tại cũng như sự kỳ vọng về các điều kiện kinh tế, được chỉ đạo bời Ủy ban hội nghị. Năm ngàn người tiêu dùng khắp đất nước sẽ được điều tra mỗi tháng. Mức độ niềm tin của người tiêu dùng liên quan trực tiếp tới mức độ chi tiêu của họ.
  • 48.
    Niềm tin tiêudùng và ý kiến của người tiêu dùng chỉ là hai cách để nói về thái độ của người tiêu dùng. Trong số các bản báo cáo kinh tế, Ý kiến người tiêu thì được khảo sát bởi ĐH Michigan trong khi Niềm tin tiêu dùng thì được khảo sát bởi Ủy ban hội nghị. Sự chi tiêu của người tiêu dùng chiếm 2/3 nền kinh tế, vì vậy thị trường luôn khát khao muốn biết người tiêu dùng đang quan tâm vào cái gì và họ sẽ ăn, ở như thế nào trong tương lai gần. Sự tin tưởng của người tiêu dùng vào nền kinh tế và khả năng tài chính của mình càng nhiều thì nhiều khả năng họ sẽ chi tiêu nhiều hơn. Với ý nghĩ như vậy, thật dễ dàng để thấy chỉ số về thái độ của người tiêu dùng ảnh hưởng trực tiếp như thế nào vào xu thế của nền kinh tế. Hãy nhớ rằng sự thay đổi của Niềm tin tiêu dùng và doanh số bán lẻ không di chuyển nối tiếp nhau qua từng tháng. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Bản khảo sát chỉ số sản xuất ISM Bản khảo sát chỉ số sản xuất ISM dựa trên những lời bình luận của những nhà quản lý thu mua trong lĩnh vực sản xuất. Nó là mẫu tin tức đầu tiên của nền kinh tế được công bố mỗi tháng và nó cung cấp những bằng chứng sớm nhất cho thấy nền kinh tế đã biểu hiện như thế nào trong 4 tuần trước. Tại sao nó được xem xét? Những người chi trả cho những thứ mua trong công ty của họ được gọi là Người quản lý thu mua. Các công ty sản xuất cần nguồn cung cấp để tạo ra sản phẩm. Các mẫu sản phẩm họ có thể đặt hàng bao gồm: cáp, hộp đóng hàng, và máy vi tính. Nếu có một sự gia tăng trong nhu cầu của các sản phẩm, Người quản lý thu mua sẽ phản ứng lại bằng cách gia tăng đơn hàng nguyên liệu sản xuất và những nguồn khác. Nếu doanh số của công việc sản xuất giảm, điều này sẽ liên kết với việc những ngưởi mua sẽ cắt giảm đơn hàng công nghiệp trở lại. Do vị trí của họ, bạn có thể có được những thông tin rất đáng tin cậy về các hoạt động sản xuất bằng cách theo dõi điều mà những người quản lý thu mua đang làm. Đây là điều quan trọng vì các hàng hóa sản xuất chiếm khoảng một nữa nền kinh tế. Nó được tính như thế nào? Hằng tháng, ISM gửi qua bưu điện bảng câu hỏi đến khoảng 400 công ty thành viên khắp Hoa Kỳ, trải đều ra 20 lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Những người quản lý thu mua của các công ty được hỏi để xác định xem liệu các hoạt động sản xuất đang tăng, giảm, hoặc không thay đổi trong các nhóm sau: 1. Đơn hàng mới: Các đơn hàng mới mua bởi các đại lý. 2. Sản lượng: Số lượng hàng hóa được sản xuất. 3. Việc làm: tình trạng thuê nhân công trong công ty.
  • 49.
    4. Nguồn cung:Tốc độ cung cấp hàng của nhà cung cấp. 5. Dự trữ: Tỉ lệ thanh toán hàng dự trữ của nhà sản xuất. 6. Dự trữ của khách hàng: Các đại lý phỏng đoán mức độ dự trữ của khách hàng của họ. 7. Giá hàng hóa: Giá nhà sản xuẩt trả cho nhà cung cấp. 8. Đơn hàng tồn đọng: Các đơn hàng chưa được thực hiện. 9. Đơn hàng xuất khẩu mới: Tỷ lệ đơn hàng mới từ các quốc gia khác. 10. Nhập khẩu: Các nguyên liệu mà các đại lý mua từ các quốc gia khác. Chỉ số ISM tự bản thân nó được sưu tập dựa trên các câu trả lời cho 5 câu hỏi đầu tiên của bảng câu hỏi. Chúng lần lượt chiếm tỉ trọng như sau: đơn hàng (30%), sản lượng sản xuất (25%), việc làm (20%), nguồn cung (15%), và dự trữ (10%). Năm câu hỏi cuối thì cung cấp thêm các tin tức cho thấy các hoạt động sản xuất đang được tiến hành như thế nào. Đọc bản số liệu này như thế nào? Trên 50: Cả hai các hoạt độg sản xuất và nền kinh tế đang mở rộng. Dưới 50 nhưng trên 43: Các hoạt động sản xuất đang co lại, Manufacturing activity is contracting, lúc này toàn bộ nền kinh tế vẫn tăng trưởng. Dưới 43: Cả hai các hoạt độg sản xuất và nền kinh tế rất có thể suy thoái. Kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất để cố gắng và kích thích nền kinh tế tăng trưởng. Nó ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường tiền tệ? ISM trên 50 thì đồng đô tăng giá ISM dưới 50 thì đồng đô rớt giá