CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng với
thế giới, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, quá trình toàn cầu hóa ngày càng
diễn ra nhanh chóng, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, bên cạnh những cơ hội,
doanh nghiệp còn đứng trước những khó khăn, thách thức. Để đáp ứng được yêu
cầu của thị trường rộng lớn và đòi hỏi phát triển bền vững, các doanh nghiệp ngày
nay cần tiến hành phân tích và đánh giá lại cả quá trình từ khi còn là nghiên cứu
đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm xác định được lợi thế cạnh tranh nằm ở
giai đoạn nào để có chiến lược phát triển dựa trên thế mạnh sẵn có của mình. Về
phía Nhà nước cần có những chính sách cần thiết để tháo gỡ những nút thắt đối với
cả quá trình khởi điểm từ những ý tưởng, nghiên cứu, đến sản xuất, kênh phân
phối và tiêu thụ sản phẩm.
Theo Micheal Porter khởi xướng vào giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20 trong
cuốn sách Best-seller, có thể nói, chuỗi giá trị là một tập hợp những hoạt động để
đưa một sản phẩm từ khi còn ý tưởng đến khi được sản xuất, đưa vào sử dụng và
cả dịch vụ sau bán hàng. Như vậy, chuỗi giá trị đã bao gồm các hoạt động như
thiết kế mẫu mã, sản xuất, marketing, phân phối và dịch vụ sau bán hàng cho
người tiêu dùng cuối cùng. Các công đoạn này diễn ra kế tiếp nhau và tác động lẫn
nhau để cùng tạo ra sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm đó. Để chuỗi giá trị diễn ra
bình thường thì bên cạnh các hoạt động sản xuất phải có các hoạt động dịch vụ hỗ
trợ, đó là: quản lý hành chính, phát triển cơ sở hạ tầng, quản lý nguồn nhân lực,
cung cấp thông tin và những dịch vụ bảo trì thiết bị, nhà xưởng sản xuất,…
Vì vậy, việc phân tích chuỗi giá trị là một phương pháp hữu hiệu để đánh
giá tốt nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của một ngành hàng, cũng như
đánh giá vai trò và phạm vi ảnh hưởng của nó trong một quốc gia hay toàn cầu.
2
Ở Việt Nam, đối với một vài sản phẩm nông nghiệp đã được các chuyên
gia kinh tế hàng đầu tiến hành phân tích, theo đó, các công đoạn nghiên cứu, sản
xuất, phát triển và xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm của chuỗi là nhằm tạo
ra giá trị cao trong việc tạo lợi nhuận cho toàn chuỗi. Tuy nhiên với công nghệ còn
thấp kém, nên khả năng chế biến sau thu hoạch cần nổ lực vươn lên để chiếm lĩnh
công nghệ mới theo khả năng và lợi thế của mình, từ đó, nhằm giành lại lợi ích cả
công đoạn nghiên cứu tạo giống nông sản mới, giá trị gia tăng mới, cao hơn, nếu
không sẽ rơi vào tình trạng thua thiệt. Đây chính là thách thức to lớn đối với tác
nhân của nền kinh tế đang phát triển khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Sản xuất nông sản hàng hóa của đồng bằng sông Cửu Long nói chung và
Đồng Tháp nói riêng đã có nhiều đổi mới, tiến bộ nhưng nhìn chung vẫn chưa
thoát khỏi tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, giá thành cao, lợi nhuận thấp. Các
khâu sản xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ nông sản thiếu tính liên kết bền vững
cùng hỗ trợ nhau phát triển.
Ở tỉnh Đồng Tháp, về ngành nông sản - trái nhãn, ta thấy được: thu nhập
của người trồng nhãn bấp bênh do giá biến động, sản lượng được tiêu thụ qua
nhiều tác nhân trung gian. Có nhiều vấn đề xoay quanh các khâu sản xuất và tiêu
thụ được đặt ra cho sản phẩm trái nhãn tỉnh Đồng Tháp, cần được phân tích để có
thể giúp các tác nhân tham gia chuỗi giá trị có thể gia tăng thu nhập.
Doanh nghiệp chế biến nông sản, trong đó hướng đến trái nhãn, còn nhiều
lý do khác nhau, trong đó, việc hoạch toán kinh doanh cho mặc hàng còn thiếu cơ
sở về mặc bằng chi phí, công nghệ chế biến, … và thị trường tiêu thụ…. Nên chưa
mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh chế biến nông sản này tại Đồng Tháp.
Về khía cạnh những người quản lý còn thiếu cơ sở đánh giá hiệu quả kinh
tế xã hội về ngành hàng này như: khả năng và mức đóng góp về kinh tế xã hội từ
trái nhãn, khả năng giải quyết việc làm, mức giá trị và giá trị gia tăng toàn ngành
hàng… Khả năng tác động của các chính sách thương mại, xúc tiến thương mại,
3
việc triển khai áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất trái nhãn nói riêng
và nông sản nói chung…
Vì vậy, nhiều vấn đề xoay quanh các khâu trồng trọt và tiêu thụ, hoạch
định chiến lược phát triển được đặt ra cho sản phẩm trái nhãn Đồng Tháp, để giải
quyết vấn đề này nhất thiết phải tiến hành phân tích toàn bộ các tác nhân tham gia
trong chuỗi giá trị.
Nhận thức được vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phân tích chuỗi
giá trị và đề xuất giải pháp phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò - Đồng
Tháp” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình.
1.2. Tình hình nghiên cứu có liên quan
Nghiên cứu về chuỗi giá trị của các sản phẩm nông nghiệp đã được thực
hiện rất nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi một nghiên cứu lại tiếp cận vấn đề ở
khía cạnh, phạm vi và đối tượng khác nhau. Chưa có đề tài nào nghiên cứu về
chuỗi giá trị Trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. Phần dưới đây là điểm qua một số
nghiên cứu điển hình có liên quan đến phân tích chuỗi giá trị nông sản:
Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Cộng hòa Liên bang Đức (GTZ) đã phối
hợp với các tổ chức và các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện một số nghiên cứu
về chuỗi giá trị ở một số tỉnh thành chọn lọc. Một số nghiên cứu thực nghiệm được
công bố như “Áp dụng phương pháp chuỗi giá trị để phát triển ngành dâu tằm tơ
tại Tuyên Hóa, Quảng Bình” (Thanh, 2006a); “Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm
cao su ở Quảng Bình” (Thanh, 2006b), “Phân tích chuỗi giá trị bơ Đắc Lắc” (GTZ,
2006a), “Phân tích chuỗi giá trị rau cải ngọt Hưng Yên” (GTZ, 2006b), “Phân tích
chuỗi giá trị cá tra và ba sa ở ĐBSCL” (GTZ, 2009). Phương pháp nghiên cứu
phần lớn dựa vào cuốn “Cẩm nang Liên kết Giá trị: Phương pháp luận thúc đẩy
chuỗi giá trị” của GTZ phát hành (GTZ, 2007). Nền tảng phương pháp luận của
GTZ chủ yếu dựa vào nghiên cứu của Kaplinsky và Morris (2001). Hầu hết các
nghiên cứu đã cung cấp những kết quả và khuyến nghị có giá trị cho các bên có
liên quan trong chuỗi giá trị.
4
Công ty nghiên cứu thị trường Việt Nam (Axis Research) có nhiều nghiên
cứu phân tích chuỗi giá trị rau củ quả và trái cây. Các phân tích tiến hành xác định
cấu trúc chuỗi giá trị sản phẩm và phân tích đặc điểm sản xuất và thương mại, tính
toán lợi ích và chi phí nhằm xác định sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong
chuỗi. Axis Research (2006) đã phân tích cấu trúc thị trường tiêu thụ bưởi Vĩnh
Long, phân tích quan hệ của các tác nhân, người thu gom có vai trò quan trọng.
Tuy nhiên, so với chuỗi giá trị nho Ninh Thuận thì người trồng bưởi Vĩnh Long có
ưu thế hơn trong việc quyết định thời điểm bán và giá bán vì bưởi không dễ hư
hỏng và có thể neo trái lại trên cây hoặc thu hoạch và bảo quản. Đặc biệt, lượng
cung bưởi nhỏ nên thương lái phải cạnh tranh cao trong thu mua hàng.Các doanh
nghiệp chế biến bưởi gặp nhiều khó khăn do đầu ra không ổn định và chất lượng
bưởi Việt Nam không cao.
Nguyễn Thị Kim Nguyên (2013), cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng
khách hàng, tình hình thị trường và cạnh tranh đối với sản phẩm dừa trái tươi Bến
Tre. Bắt đầu từ thị trường tiêu thụ và lấy thị trường quyết định sản xuất, tác giả đã
phân tích từng tác nhân tham gia chuỗi. Khuyến nghị việc vận hành và phát triển
chuỗi cần sự chủ động phối hợp liên kết chuỗi trong tất cả các khâu. Lê Minh Tài
(2013), chuỗi giá trị cây Khóm huyện Tân Phước –Tiền Giang, với 3 tác nhân:
người sản xuất, thu gom và công ty chế biến. Bên cạnh việc đề nghị phát triển về
cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho chuỗi, đề tài nhấn mạnh đến mối liên kết dọc, trong đó,
người sản xuất đóng vai trò trung tâm bên cạnh nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và
sự hỗ trợ từ ngân hàng. Nguyễn Phú Son và cộng sự (2012), chuỗi giá trị các sản
phẩm Táo, Tỏi và Nho Ninh Thuận, nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc liên kết,
xây dựng kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm là yêu cầu cấp thiết. Vì cho rằng
kênh phân phối chủ yếu theo con đường truyền thống, nông hộ khá thụ động trong
thu hoạch và tiêu thụ. Hệ thống thu gom sản phẩm qua nhiều tầng nấc trung gian,
hoạt động thương mại dựa trên cơ sở mối thân quen và hợp đồng miệng. Rủi ro về
thời tiết, sâu bệnh và thị trường tiêu thụ luôn đe dọa. Người bán sỉ có quyền lực
định giá trong chuỗi giá trị sản phẩm này.
5
UBND Đồng Tháp (2014), đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đến năm
2020 và tầm nhìn đến 2030. Phạm vi của đề án chủ yếu tập trung phân tích và đề
xuất các định hướng cho tái cơ cấu ngành nông nghiệp, làm cơ sở cho việc triển
khai các chương trình hành động lớn của tỉnh. Đây là đề án khung, đề án mở và sẽ
liên tục cập nhật sau từng giai đoạn. Trong đó, đề án tiến hành phân tích chuỗi giá
trị 5 ngành hàng chủ lực của Đồng Tháp, đó là: “Ngành hàng Lúa gạo, Ngành hàng
Xoài, Ngành hàng Hoa Kiểng và Ngành hàng Cá da trơn, Ngành hàng Vịt”. Cung
cấp thực trạng quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, khả năng áp dụng tiêu chuẩn
chất lượng còn rất hạn chế. Bên cạnh việc liên kết sản xuất và tiêu thụ hàng hóa
chưa chặt chẽ, chưa hệ thống, thông tin về thị trường tiêu thụ chưa phát triển, chưa
được dự báo, xúc tiến thương mại còn thiếu và yếu. Hệ thống hạ tầng đối với vùng
sản xuất chưa được đảm bảo, doanh nghiệp đầu tàu trong việc thu mua sản phẩm
xuất khẩu chưa đáp ứng yêu cầu người sản xuất. Những kịch bản về tăng di cư lao
động, tích tụ ruộng đất, tập trung tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ và tái cơ cấu
kinh tế toàn diện đã được đưa ra và hướng tới các phương án tăng quy mô ruộng
đất, rút bớt lao động nông nghiệp, thay đổi kết cấu kinh tế và việc làm.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học khách quan về thực trạng sản xuất, phân
phối và tiêu thụ sản phẩm qua việc phân tích cụ thể từng tác nhân tham gia vào
chuỗi và trên cơ sở đánh giá hiệu quả chuỗi, đề xuất giải pháp nhằm góp phần phát
triển bền vững chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp.
Mục tiêu cụ thể:
1. Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị sản phẩm trái nhãn tiêu da bò –
Đồng Tháp.
2. Phân tích kinh tế và đánh giá hiệu quả chuỗi giá trị.
3. Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững trái nhãn tiêu
da bò – Đồng Tháp.
6
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
Để thỏa mãn các mục tiêu nghiên cứu cụ thể nêu trên, các câu hỏi nghiên
cứu sau đây được đặt ra:
(1) Thực trạng chuỗi giá trị Trái nhãn tiêu da bò Đồng Tháp như thế nào?
(2) Giá trị kinh tế từng tác nhân trong chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò –
Đồng Tháp như thế nào?
(3) Giái pháp nào để phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò –Đồng Tháp?
1.5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Các tác nhân tham gia vào chuỗi bao gồm: nhà sản xuất (hộ gia đình nông
dân - NH), TL thu gom, VN đầu mối, cơ sở chế biến (lò sấy - LS), doanh nghiệp
hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất khẩu trái nhãn tiêu da bò ít nhất một năm,
đến kênh phân phối tiêu dùng bao gồm Người Bán lẻ tại Chợ đầu mối trong Tỉnh,
Người bán lẻ tại Chợ đầu mối ngoài tỉnh. Ngoài ra còn tham khảo ý kiến thêm nhà
cung cấp sản phẩm đầu vào (phân bón, thuốc BVTV, cây giống). Thêm vào đó,
nghiên cứu cũng tham khảo ý kiến và phỏng vấn một số đơn vị/cá nhân có chức
năng hỗ trợ/thúc đẩy chuỗi giá trị là các Sở, Ngành Tỉnh, huyện có liên quan.
- Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Bao quát toàn bộ chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng
Tháp từ sản xuất đến tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
Địa điểm: Địa bàn sản xuất và tiêu thụ trong tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ
tác nhân tham gia chuỗi, nghiên cứu 2 địa điểm có dòng sản lượng tiêu thụ lớn (TP
HCM, TP Cần Thơ) và Doanh nghiệp xuất khẩu trái cây (Cái Bè - Tiền Giang)
thực hiện xuất khẩu trái nhãn tiêu da bò ra nước ngoài.
Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 11/2014 đến tháng 5/2015.
7
Phạm vi nội dung nghiên cứu của đề tài: Tập trung phân tích chuỗi giá trị
trái nhãn tiêu da bò và đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền vững chuỗi. Trong
đó, tiến hành phân tích và đánh giá về chi phí, phân phối thu nhập, kênh phân phối
cụ thể từng tác nhân tham gia chuỗi, đánh giá hiệu quả kinh tế toàn chuỗi.
1.6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Làm sáng tỏ và đánh giá đúng thực trạng, qua đó, cung cấp cơ sở dữ liệu
khách quan độc lập về chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. Trong đó,
nêu bật hiệu quả kinh tế, các giá trị đóng góp về mặt kinh tế, xã hội mà chuỗi
mang lại, những tồn tại và nguyên nhân được tìm thấy trong quá trình phân tích
chuỗi. Qua đó, đề xuất giải pháp phát triển chuỗi giá trị, nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động, định hướng phát triển bền vững đến năm 2020.
1.7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần phụ, kết cấu của Luận văn bao gồm:
Chương 1: Giới thiệu đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận & Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp
Chương 4: Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững trái nhãn
tiêu da bò – Đồng Tháp
Chương 5: Kết luận & Kiến nghị
--------------oOo--------------
8
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 cũng đã đi vào phân tích về sự cần thiết của việc thực hiện đề tài,
đề cập mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Trong đó, cũng đã tiến hành đánh
giá tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như những nghiên cứu về chuỗi
giá trị của các sản phẩm nông nghiệp, đề tài tái cơ cấu ngành nông nghiệp Đồng
Tháp nhằm định hướng khung cho những nghiên cứu tiếp theo.
Với vấn đề nghiên cứu và những câu hỏi đã được đặt ra, ta tiến hành đi vào
phần cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu về chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò
–Đồng Tháp tại chương 2.
--------------oOo--------------
9
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Các khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích chuỗi giá trị
Doanh thu hay tổng giá trị đầu ra
Doanh thu hay tổng giá trị đầu ra được tính bằng cách nhân số lượng hàng
bán với giá bán cộng thêm những nguồn thu nhập thêm như doanh thu từ việc thực
hiện những dịch vụ có liên quan, từ việc bán phể phẩm, tư vấn,… Chỉ tiêu này cho
biết đối tượng tham gia chuỗi gia trị thu được bao nhiêu tiền. Khi nghiên cứu chuỗi
giá trị trong khoảng thời gian dài, người ta cần phải lưu ý về tỷ lệ lạm phát do vậy
chọn một mốc thời gian cụ thể và quy giá trị của doanh thu về mối thời gian đó
mới chính xác.
Giá trị gia tăng hay tổng giá trị đầu ra dòng
Giá trị gia tăng hay tổng giá trị đầu ra dòng được tính bằng tổng giá trị đầu
ra trừ đi tổng giá trị đầu vào. Đây là một chỉ tiêu quan trọng trong phân tích chuỗi
giá trị bởi nó cho biết đối tượng tham gia chuỗi giá trị đóng góp được bao nhiêu
giá trị vào sản phẩm hay dịch vụ cuối cùng.
Giá trị gia tăng là mức đo lợi nhuận được tạo ra bởi tác nhân của từng khâu
trong chuỗi giá trị. Chuỗi giá trị chỉ mang lại lợi nhuận cho các tác nhân nếu người
tiêu dùng sẵn sàng chi trả giá sản phẩm cuối cùng. Người tiêu dùng, vì thế, không
tạo ra giá trị gia tăng.
Chi phí /Giá trị gia tăng thuần (lợi nhuận)
Việc phân tích chi phí và lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân
tích chuỗi giá trị bởi thông tin về chi phí và lợi nhuận là thông tin có ý nghĩa quan
trọng trong việc đưa ra những quyết định có liên quan đến chuỗi. Mục tiêu của
việc phân tích chuỗi giá trị trên khía cạnh chi phí và lợi nhuận là xác định chi phí
10
hoạt động đầu tư và lợi nhuận đã được phân chia giữa những người tham gia chuỗi
giá trị như thế nào, cũng như cơ hội để tăng giá trị của quá trình/công đoạn tham
gia đó.
Chi phí tăng thêm
Chi phí tăng thêm là những chi phí phát sinh ngoài chi phí dùng để mua
những sản phẩm trung gian, chi phí tăng thêm có thể là chi phí thuê lao động, chi
phí vận chuyển, liên lạc, điện, nước, chi phí bán hàng, v.v… Chi phí tăng thêm là
chi phí hoạt động đầu tư của từng tác nhân tham gia chuỗi giá trị và chính là hiệu
số giữa tổng giá trị đầu ra với lợi nhuận của tác nhân đó.
Các khâu, tác nhân tham gia chuỗi
Trong chuỗi giá trị có các “khâu” trong chuỗi. Các khâu có thể mô tả cụ thể
bằng các “hoạt động” để thể hiện rõ các công việc của khâu. Bên cạnh các Khâu
của chuỗi giá trị có “tác nhân”. Tác nhân là những người thực hiện các chức năng
của các khâu trong chuỗi, ví dụ như nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất, nông dân
sản xuất lúa, thương lái vận chuyển hàng hóa, v.v. Bên cạnh đó còn có các “nhà hỗ
trợ chuỗi giá trị”. Nhiệm vụ của các nhà hỗ trợ chuỗi là giúp phát triển của chuỗi
bằng cách tạo điều kiện nâng cấp chuỗi giá trị.
Các hình thức liên kết
Liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động, do các đơn vị kinh
tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các biện pháp có liên quan
đến hoạt động của mình, nhằm thúc đầy việc kinh doanh phát triển theo chiều
hướng có lợi nhất.
Liên kết dọc
Liên kết dọc là hình thức liên kết của hai hay nhiều chủ thể tham gia vào
quá trình sản xuất theo hướng hoàn thiện của sản phẩm hay dịch vụ. Thông thường
11
liên kết dọc giúp các chủ thể tăng cường khả năng nghiên cứu, đổi mới sản phẩm
và tiết kiệm chi phí sản xuất, định hướng thị trường tiêu thụ.
Liên kết ngang
Liên kết ngang là liên kết của những chủ thể có cùng vị trí với nhau trong
chuỗi giá trị. Chẳng hạn, liên kết của những nhà sản xuất với nhau, ở đây là những
nông hộ trồng nhãn như tổ hợp tác, hợp tác xã đứng ra để ký kết hợp đồng mua
phân bón, thuốc BVTV… và cung ứng sản phẩm. Liên kết của các doanh nghiệp
nhằm tìm kiếm và tăng cường khả năng bán hàng hay nghiên cứu và phát triển sản
phẩm… phân phối tiêu thụ.
2.1.2 Khái niệm chuỗi giá trị
Theo Porter. M.E (1985), chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động từ khâu
đầu tiên đến khâu cuối cùng của sản phẩm bao gồm các hoạt động chính và các
hoạt động bổ trợ để tạo nên lợi thế cạnh tranh của sản phẩm. Theo đó, khi đi qua
lần lượt các hoạt động của chuỗi mỗi sản phẩm nhận được một số giá trị. Các hoạt
động chính là các hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi về mặt vật lý, quản lý
sản phẩm cuối cùng để cung cấp cho khách hàng; các hoạt động bổ trợ nhằm hỗ
trợ cho các hoạt động chính.
Chuỗi giá trị nói đến cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản
phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm thông qua các giai đoạn sản xuất
khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã
sử dụng (Kaplinsky.R và Morris.M, 2001).
Một chuỗi giá trị là một hệ thống kinh tế có thể được mô tả như
Một chuỗi các hoạt động kinh doanh có liên quan mật thiết với nhau (các
chức năng) từ khi mua các đầu vào cụ thể dành cho việc sản xuất sản phẩm nào đó,
đến việc hoàn chỉnh và quảng cáo, cuối cùng là bán thành phẩm cho người tiêu
dùng.
12
Các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện những chức năng này, ví dụ
như: nhà sản xuất, người chế biến, thương gia, nhà phân phối sản phẩm cụ thể. Các
doanh nghiệp này được liên kết với nhau bởi một loạt các hoạt động kinh doanh
trong đó sản phẩm được chuyển từ các nhà sản xuất ban đầu tới những người tiêu
dùng cuối cùng.
Một mô hình kinh doanh đối với sản phẩm thương mại cụ thể, mô hình kinh
doanh này cho phép các khách hàng cụ thể được sử dụng công nghệ cụ thể và là
cách điều phối đặc biệt giữa hoạt động sản xuất và marketing giữa nhiều doanh
nghiệp.
2.2 Sơ đồ chuỗi giá trị (Khung khái niệm Porter)
Nguồn: Porter. M.E (1985)
Hình 2.1: Sơ đồ chuỗi giá trị - Porter
Porter. M.E (1985) phân biệt và nhóm gộp thành năm hoạt động chính
Logistics đầu vào (Inbound Logistics): những hoạt động này liên quan đến
việc nhận, lưu trữ và dịch chuyển đầu vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trị
nguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản phẩm
cho nhà cung cấp.
13
Sản xuất (Production): các hoạt động tương ứng với việc chuyển đổi đầu
vào thành sản phẩm hoàn thành, chẳng hạn như gia công cơ khí, đóng gói, lắp ráp,
bảo trì thiết bị, kiểm tra, in ấn và quản lý cơ sở vật chất.
Logistics đầu ra (Outbound Logistics): đây là những hoạt động kết hợp với
việc thu thập, lưu trữ và phân phối hàng hóa vật chất sản phẩm đến người mua,
chẳng hạn như quản lý kho bãi cho sản phẩm hoàn thành, quản trị nguyên vật liệu,
quản lý phương tiện vận tải, xử lý đơn hàng và lên lịch trình, kế hoạch.
Marketing và bán hàng (Marketing and Sales): những hoạt động này liên
quan đến việc quảng cáo, khuyến mãi, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan
hệ giữa các thành viên trong kênh và định giá
Dịch vụ khách hàng (Customer Service): các hoạt động liên quan đến việc
cung cấp dịch vụ nhằm gia tăng hoặc duy trì giá trị của sản phẩm, chẳng hạn như
cài đặt, sửa chữa và bảo trì, đào tạo, cung cấp thiết bị thay thế và điều chỉnh sản
phẩm.
Các hoạt động bổ trợ được nhóm thành bốn loại
Thu mua (Purchase): thu mua liên quan đến chức năng mua nguyên vật liệu
đầu vào được sử dụng trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp. Việc này bao gồm
nguyên vật liệu, nhà cung cấp và các thiết bị khác cũng như tài sản chẳng hạn như
máy móc, thiết bị thí nghiệm, các dụng cụ văn phòng và nhà xưởng.
Phát triển công nghệ (Technology Development): “Công nghệ” có ý nghĩa
rất rộng trong bối cảnh này, vì theo quan điểm của ông thì mọi hoạt động đều gắn
liền với công nghệ, có thể là bí quyết, các quy trình thủ tục hoặc công nghệ được
sử dụng trong tiến trình hoặc thiết kế sản phẩm.
Quản trị nguồn nhân lực (Human Resource Management): đây chính là
những hoạt động liên quan đến việc chiêu mộ, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và
quản trị thù lao cho toàn thể nhân viên trong tổ chức, có hiệu lực cho cả các hoạt
động chính và hoạt động bổ trợ.
14
Cơ sở hạ tầng (Infrastructure): nhìn nhận ở góc độ tổng quát, doanh nghiệp
chính là khách hàng của những hoạt động này. Chúng không hỗ trợ chỉ cho một
hoặc nhiều các hoạt động chính, mà thay vào đó chúng hỗ trợ cho cả tổ chức.
Phương pháp tiếp cận phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành hàng của
Micheal Porter là công cụ hữu dụng và hiệu quả để định vị sản phẩm trên thị
trường và đồng thời còn cung cấp thêm các thông tin về đối thủ cạnh tranh tiềm
tàng và quyền lực thị trường của Nhà cung cấp, cũng như Người mua. Theo
Michael Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất
kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau:
Nguồn: Porter.M.E (1985)
Hình 2.2 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter
(1) Áp lực từ đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn (đối thủ cạnh tranh tiềm tàng):
Theo M-Porter, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt
trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai. Đối thủ tiềm ẩn
nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu phụ thuộc vào sức hấp dẫn của
ngành, những rào cản gia nhập ngành như kỹ thuật, vốn, các yếu tố thương mại,
các nguồn lực đặc thù.
Đối thủ tiềm ẩn
(Những doanh nghiệp gia nhập
ngành hàng trong thời gian tới)
Nhà cung cấp
(Những yếu tố
đầu vào của
ngành)
Khách hàng
(Người tiêu
dùng, nhà
phân phối)
Sản phẩm thay thế
(Sản phẩm thuộc các ngành sản
xuất khác)
Cạnh tranh nội bộ ngành
(Cạnh tranh giữa những
doanh nghiệp đang có mặt
trên thị trường)
15
(2) Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành (cạnh tranh giữa các đối thủ trong
ngành): Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với
nhau tạo ra sức ép trở lại ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh.
(3) Áp lực cạnh tranh từ khách hàng (Năng lực thương lượng của người
mua): Khách hàng ở đây được hiểu là người tiêu dùng trực tiếp hoặc những nhà
phân phối sản phẩm. Sức mạnh khách hàng là ảnh hưởng của khách hàng đối với
một ngành sản xuất nào đó. Nhìn chung, khi sức mạnh khách hàng lớn, thì mối
quan hệ giữa khách hàng với ngành sản xuất sẽ gần với cái mà các nhà kinh tế gọi
là độc quyền mua – tức là thị trường có nhiều nhà cung cấp nhưng chỉ có một
người mua. Trong điều kiện thị trường như vậy, khách hàng có khả năng áp đặt
giá. Nếu khách hàng mạnh, họ có thể buộc giá hàng phải giảm xuống, khiến tỷ lệ
lợi nhuận của ngành giảm.
(4) Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp (Năng lực thương lượng của nhà
cung cấp): Một ngành sản xuất đòi hỏi phải có các nguyên liệu thô – bao gồm lao
động, các bộ phận cấu thành và các đầu vào khác. Đòi hỏi này dẫn đến mối quan
hệ bên mua – bên cung cấp giữa các ngành sản xuất và các hãng cung cấp các
nguyên liệu thô để chế tạo sản phẩm. Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện khả
năng quyết định các điều kiện giao dịch của họ đối với doanh nghiệp. Những nhà
cung cấp yếu thế có thể phải chấp nhận các điều khoản mà doanh nghiệp đưa ra,
nhờ đó doanh nghiệp giảm được chi phí và tăng lợi nhuận trong sản xuất, ngược
lại, những nhà cung cấp lớn có thể gây sức ép đối với ngành sản xuất bằng nhiều
cách, chẳng hạn đặt giá bán nguyên liệu cao để san sẻ phần lợi nhuận của ngành.
(5) Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế (đề cập đến sản phẩm thuộc các
ngành sản xuất khác): Nguy cơ thay thế xuất hiện khi nhu cầu về một sản phẩm bị
ảnh hưởng bởi sự thay đổi giá cả của một hàng hóa thay thế, độ co giãn nhu cầu
theo giá của một sản phẩm chịu tác động của sự thay đổi giá ở hàng hóa thay thế.
Càng có nhiều hàng hóa thay thế thì đồ thị thể hiện nhu cầu sản phẩm có độ co
giãn càng cao (có nghĩa là chỉ một sự thay đổi nhỏ trong giá sản phẩm cũng dẫn
đến sự thay đổi lớn trong lượng cầu sản phẩm) lúc này người mua có nhiều sự lựa
16
chọn hơn. Vì vậy, sự tồn tại của các hàng hóa thay thế làm hạn chế khả năng tăng
giá của doanh nghiệp trong một ngành sản xuất nhất định.
2.3 Sơ đồ chuỗi giá trị (Phân tích ngành hàng - CCA)
Chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan
hệ chặt chẽ với nhau, từ việc cung cấp các đầu vào cho đến sản xuất và phân phối
một sản phẩm nào đó đến người tiêu dùng cuối cùng. Trong đó, các tác nhân tham
gia vận hành chuỗi có những hoạt động cụ thể từ việc cung cấp nguyên vật liệu
đầu vào cho sản xuất, hoạt động sản xuất đến thu gom, sơ chế biến, kênh phân
phối và tiêu thụ sản phẩm.
Nguồn: Viện Đào tạo Doanh nhân Việt
Hình 2.3 Sơ đồ chuỗi giá trị Nông sản
17
2.4 Sự cần thiết phải tiến hành phân tích chuỗi giá trị
Phân tích chuỗi chuỗi giá trị giúp chúng ta xác định những khó khăn của
từng khâu trong chuỗi, từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục để sản phẩm đáp ứng
được yêu cầu của thị trường và phát triển bền vững.
Xây dựng chiến lược phát triển chuỗi giá trị liên quan tới những gì mà các
tác nhân tham gia chuỗi giá trị phải làm để trở nên cạnh tranh hơn và để tạo ra giá
trị gia tăng lớn hơn trong tương lai.
Phân tích chuỗi giá trị còn giúp các nhà hỗ trợ xác định được các nút thắt
cần hỗ trợ đối với các tác nhân trong các khâu của chuỗi và có những tác động hỗ
trợ phát triển của chuỗi.
2.5 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị
2.5.1 Lập sơ đồ chuỗi giá trị
Trước hết, để lập sơ đồ chuỗi giá trị về sản phẩm, chúng ta cần phải thu
thập thông tin về hiện trạng của chuỗi giá trị.
Lập sơ đồ chuỗi giá trị có nghĩa là xây dựng một sơ đồ có thể quan sát bằng
mắt thường về hệ thống chuỗi giá trị. Các bản đồ này có nhiệm vụ định dạng các
hoạt động kinh doanh (chức năng), các nhà vận hành chuỗi và những mối liên kết
của họ, cũng như các nhà hỗ trợ chuỗi nằm trong chuỗi giá trị này. Các bản đồ
chuỗi là cốt lõi của bất kỳ phân tích chuỗi giá trị nào vì thế chúng là yếu tố không
thể thiếu.
Lập sơ đồ chuỗi luôn bắt đầu bởi việc vẽ một bản đồ cơ sở cung cấp một cái
nhìn tổng quan về toàn bộ chuỗi giá trị. Bản đồ tổng quan này cần mô tả các liên
kết chính (các phân đoạn hay các khâu) của chuỗi giá trị.
2.5.2 Lượng hoá và mô tả chi tiết chuỗi giá trị
Lượng hoá và mô tả chi tiết chuỗi giá trị: bao gồm các con số kèm theo sơ
đồ chuỗi giá trị, như: số lượng chủ thể, lượng sản xuất hay thị phần của các khâu
cụ thể trong chuỗi, nghĩa là bổ sung các con số về các yếu tố của chuỗi. Ngoài các
18
số liệu về tài chính, có thể là khối lượng sản phẩm, số lượng người tham gia, số
công việc,… Mục đích của việc xác định được những yếu tố này là để có cái nhìn
tổng quát về quy mô của các kênh khác nhau trong chuỗi giá trị.
Một trong những yếu tố cơ bản của việc lập sơ đồ chuỗi giá trị là xác định
trên sơ đồ các giá trị về tiền trong suốt chuỗi giá trị. Giá trị là thứ có thể xác định
bằng nhiều cách như: chi phí và lợi nhuận. Cách mô tả dòng tiền đơn giản nhất là
nhìn vào các giá trị được tạo thêm ở mỗi bước của cả chuỗi giá trị, trừ khoản
chênh lệch đi sẽ biết được khái quát về khoản thu được ở mỗi giai đoạn khác nhau.
Các thông số kinh tế khác là doanh thu, cơ cấu chi phí, lãi và tỷ suất lợi nhuận trên
vốn đầu tư.
2.5.3 Phân tích kinh tế chuỗi giá trị (chi phí – lợi nhuận)
Phân tích kinh tế chuỗi giá trị là nhằm mục đích xác định giá trị gia tăng tại
từng khâu trong chuỗi, chi phí sản xuất và thu nhập của các tác nhân. Qua đó, xác
định được yếu tố quyết định chi phí tại từng khâu trong chuỗi và các yếu tố quyết
định giá trị gia tăng, nhằm mục đích đưa ra các giải pháp tác động tới từng khâu,
từng tác nhân phù hợp để giảm thiểu chi phí và nâng cao giá trị gia tăng cho chuỗi
giá trị.
Phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị
Là đánh giá năng lực hiệu suất kinh tế của chuỗi. Nó bao gồm việc xác định
giá trị gia tăng tại các giai đoạn trong chuỗi giá trị, chi phí sản xuất và thu nhập
của các nhà vận hành (trong phạm vi có thể). Một khía cạnh khác là chi phí giao
dịch – chính là chi phí triển khai công việc kinh doanh, chi phí thu thập thông tin
và thực hiện hợp đồng. Năng lực kinh tế của một chuỗi giá trị có thể được “so sánh
đối chuẩn”, ví dụ như giá trị của các tham số quan trọng có thể được so sánh với
các tham số này ở các chuỗi cạnh tranh tại các quốc gia khác hoặc của các ngành
công nghiệp tương đồng.
Phân tích kinh tế bao gồm
19
Các phân tích kinh tế của chuỗi giá trị là một đầu vào quan trọng của tiến
trình quyết định các mục tiêu phát triển và chiến lược nâng cấp. Ngoài ra, các chi
phí sản xuất là yếu tố quan trọng nhất để xác định năng lực cạnh tranh. Đánh giá
cấu trúc chi phí cho phép xác định các điểm cốt lõi cần giải quyết. Dữ liệu kinh tế
cũng cung cấp nền tảng để giám sát các tiến bộ đạt được trong quá trình nâng cấp
đối với cả nhà vận hành lẫn những người chịu trách nhiệm thúc đẩy chuỗi. Các
phân tích chi phí cung cấp dữ liệu giúp xây dựng nhận thức về tiềm năng của giá
trị gia tăng, về các yếu tố quyết định chi phí và về sự thay đổi hoặc chậm trễ của
các cuộc đàm phán giá cả.
Phân tích kinh tế sẽ tiến hành đánh giá:
- Toàn bộ giá trị gia tăng được sản sinh ra bởi chuỗi giá trị và tỷ trọng của
các giai đoạn khác nhau.
- Chi phí marketing và chi phí sản xuất tại mỗi giai đoạn trong chuỗi, cấu
trúc của chi phí trong các giai đoạn của chuỗi.
- Năng lực của các nhà vận hành (năng lực sản xuất, sản lượng, lợi nhuận).
- Phân phối thu nhập giữa các tác nhân trong chuỗi.
- Hiệu quả kinh tế của các tác nhân.
2.5.4 Phân tích quản trị chuỗi
Chuỗi giá trị chứa đựng sự tương tác giữa các mắt xích, vì vậy quản trị
chuỗi là một yếu tố quan trọng cần được phân tích. Quản trị chuỗi là sự đảm bảo
tương tác giữa các chủ thể/doanh nghiệp dọc theo chuỗi một cách có tổ chức chứ
không phải là ngẫu nhiên. Quản trị chuỗi liên quan đến việc đặt ra các tiêu chuẩn
liên quan đến sản phẩm, quy trình, hoạt động của các chủ thể trong chuỗi. Sự
chênh lệch về quyền lực là trung tâm của vấn đề quản trị chuỗi. Thông thường
trong mỗi chuỗi, có những chủ thể chính có quyền lực hơn và đặt ra các tiêu
chuẩn, quy tắc và có thể quyết định các chủ thể khác có được tham gia vào chuỗi
hay không, tham gia vào mắt xích nào và đến mức độ nào.
20
2.5.5 Phân tích khả năng nâng cấp chuỗi giá trị
Nâng cấp chuỗi giá trị là thực hiện các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn
trong chuỗi nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của thị
trường và phát triển chuỗi một cách bền vững.
Để nâng cấp chuỗi giá trị thành công, các tác nhân trong chuỗi đóng vai trò
chủ đạo thực hiện nhiệm vụ nâng cấp và các nhà hỗ trợ đóng vai trò các tác nhân
trong quá trình nâng cấp.
Để nâng cấp chuỗi giá trị, cần có một tầm nhìn. Tầm nhìn nâng cấp mô tả
những đổi thay mong muốn của chuỗi giá trị trong tương lai nhằm trả lời câu hỏi:
chuỗi giá trị này sẽ như thế nào sau 5 hay 10 năm tới.
Xác định tầm nhìn sẽ giúp chúng ta tập trung vào cơ hội, định hướng rõ
ràng viễn cảnh trong tương lai để đặt ưu tiên các hoạt động, giúp cho các tác nhân
thống nhất ý kiến trong việc nâng cấp chuỗi.
Sau khi phân tích kinh tế chuỗi và quản trị chuỗi, đề tài sẽ đề xuất giải pháp
nâng cấp chuỗi có thể được quan tâm và phân tích để đưa ra như:
- Các vấn đề về phân phối
- Phát triển vùng chuyên canh chất lượng cao.
- Đa dạng hóa sản phẩm – định hướng thị trường tiêu thụ
- Giải pháp thương mại – phát triển thương hiệu
21
2.5.6 Nội dung phân tích chuỗi giá trị của các lý thuyết
Bảng 2.1 Nội dung phân tích chuỗi giá trị của các lý thuyết
M4P WUP ACDI/VOCA
Raphael
Kaplinsky
and Mike
morris
GTZ
Công cụ 1:
Lựa chọn
chuỗi giá trị
ưu tiên cho
phân tích
Các cơ hội thị
trường cuối
cùng
Điểm bắt đầu
phân tích
chuỗi giá trị
Lựa chọn một
chuỗi giá trị
để thúc đẩy
Công cụ 2:
Sơ đồ hóa
chuỗi giá trị
Bước 1: Sơ đồ
hóa chuỗi giá
trị và các tác
nhân của
chuỗi
Kinh doanh và
tạo môi trường
kinh doanh
Sơ đồ hóa
chuỗi giá trị
Sơ đồ hóa
chuỗi giá trị
Công cụ 3:
Quản trị, điều
phối, quy định
và kiểm soát
Bước 2: Nhận
diện các yếu
tố thể chế then
chốt ảnh
hưởng đến
chuỗi giá trị
Liên kết dọc
Phân khúc sản
phẩm và các
nhân tố thành
công quan
trọng ở thị
trường cuối
cùng
Lượng hóa và
phân tích chi
tiết chuỗi giá
trị
Công cụ 4:
Các mối quan
hệ, liên kết và
tin cậy
Bước 3: Tổng
hợp các động
lực, xu hướng
và các vấn đề
Liên kết ngang
Các nhà sản
xuất tiếp cận
đến thị trường
cuối cùng như
thế nào
Phân tích kinh
tế chuỗi gía trị
22
Công cụ 5:
Nâng cấp
chuỗi theo
cầu, kiến
thức, kỹ năng,
công nghệ và
dịch vụ hỗ trợ
Bước 4:
Nghiên cứu
những kịch
bản và tầm
nhìn tương lai
Thị trường hỗ
trợ
Đánh giá hiệu
quả sản xuất
theo chuẩn
Thỏa thuận về
một tầm nhìn
và chiến lược
cho việc nâng
cấp chuỗi giá
trị
Công cụ 6:
Phân tích chi
phí và lợi
nhuận
Bước 5a: Xác
định những cơ
hội chủ yếu,
những rào cản
và những
nguyên nhân
quan trọng
Nâng cấp
Quản trị chuỗi
giá trị
Phân tích cơ
hội và cản
ngại
Công cụ 7:
Phân tích
phân phối thu
nhập
Bước 5b: Xác
định các lựa
chọn để vượt
qua rào cản và
xây dựng cơ
hội
Phối hợp giữa
các công ty
Nâng cấp
chuỗi giá trị
Xác lập các
mục tiêu nâng
cấp hoạt động
Công cụ 8 :
Phân tích
phân phối
việc làm
Bước 5c: Các
lựa chọn
nhóm và định
rõ những hàm
ý về thể chế
Chuyển giao
thông tin và
học hỏi giữa
các công ty với
nhau
Các vấn đề
phân bổ
Xác lập các
mục tiêu nâng
cấp hoạt động
Bước 6: Nhận
diện chiến
lược hỗ
Sức mạng
trong mối quan
hệ của các
Tiên đoán tác
động của việc
nâng cấp
23
trợ/Thúc đẩy
thay đổi
công ty với
nhau
chuỗi
Tạo điều kiện
thuận lợi cho
quá trình phát
triển chuỗi
Tăng cường
các mối liên
kết kinh
doanh tư nhân
Nguồn: Trần Tiến Khai (2013)
2.6 Phương pháp tiếp cận, nghiên cứu
2.6.1 Phương pháp tiếp cận
Với cách tiếp cận tư duy biện chứng, đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương
pháp nghiên cứu khác nhau như : nghiên cứu tại bàn, điều tra khảo sát với kỹ thuật
thu thập dữ liệu là phỏng vấn trực tiếp phiếu hỏi và phỏng vấn chuyên gia. Sau đây
là phương pháp tiếp cận và phương pháp phân tích số liệu.
Hiện nay, giới nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam thường áp dụng một vài
khung phương pháp luận về đánh giá chuỗi giá trị do các cơ quan quốc tế phát
triển và đề xuất, dựa trên các lý thuyết về chuỗi giá trị và chuỗi ngành hàng. Lý
thuyết “Liên kết chuỗi giá trị - ValueLinks” (2007) của Eschorn và khung phương
pháp luận về chuỗi giá trị được GTZ và M4P đề xuất, áp dụng khá phổ biến cho
các nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam và các nước đang phát triển. Mặc dù có
những khác biệt nhất định, các khung phân tích được áp dụng có nhiều điểm tương
đồng và đặc biệt là đều phù hợp cho bối cảnh nghiên cứu– phát triển cho khu vực
nông nghiệp và nông thôn Việt Nam.
Tuy nhiên, theo Trần Tiến Khai (2013), có 3 dòng nghiên cứu chính trong
tài liệu chuỗi giá trị được phân biệt như sau :
24
(1) Khung khái niệm của Porter. M.E (1985): xác định chuỗi giá trị theo
nghĩa hẹp: một chuỗi giá trị gồm một chuỗi các hoạt động được thực hiện trong
phạm vi một công ty để sản xuất ra một sản lượng nào đó. Dựa trên khung khái
niệm này, việc phân tích chuỗi giá trị nằm trong phạm vi hoạt động của một công
ty, mà mục đích cuối cùng là nâng cao lợi thế cạnh tranh của công ty. Theo cách
tiếp cận này, cần tìm lợi thế cạnh tranh của công ty bằng cách tách biệt các hoạt
động của công ty thành một chuỗi các hoạt động và lợi thế cạnh tranh được tìm
thấy ở một (hay nhiều hơn) của các hoạt động này. Sự cạnh tranh của doanh
nghiệp có thể được phân tích bằng cách nhìn vào chuỗi giá trị bao gồm các hoạt
động chi tiết khác nhau. Phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhắm vào việc hỗ trợ quyết
định quản lý và các chiến lược quản trị.
(2) Tiếp cận “filière” (Phân tích ngành hàng– Commodity Chain Analysis)
có các đặc điểm chính là:
- Tập trung vào những vấn đề của các mối quan hệ định lượng và vật chất
trong chuỗi.
- Sơ đồ hóa các dòng chảy của hàng hóa vật chất.
- Sơ đồ hóa các quan hệ chuyển dạng sản phẩm.
Trong phân tích, phương pháp phân tích ngành hàng có hai đường lối phân
tích chính. Đường lối thứ nhất tập trung vào đánh giá kinh tế và tài chính, mà chủ
yếu là tập trung vào phân tích việc tạo ra thu nhập và phân phối thu nhập trong
ngành hàng, tách chi phí và thu nhập giữa các thành phần thương mại địa phương
và quốc tế, và phân tích vai trò của ngành hàng đối với nền kinh tế quốc gia và sự
đóng góp của nó vào GDP. Đường lối thứ hai tập trung vào phân tích chiến lược,
đánh giá sự ảnh hưởng lẫn nhau của các mục tiêu, sự ràng buộc và kết quả của
từng tác nhân tham gia ngành hàng, xây dựng các chiến lược cá nhân và tập thể.
(3) Tiếp cận toàn cầu do Kaplinsky (1999), Gereffi (1994; 1999; 2003) và
Gereffi, và Korzeniewicz (1994) đề xuất : Phương pháp tiếp cận toàn cầu xem xét
25
cách thức mà các công ty và quốc gia hội nhập toàn cầu và đánh giá các yếu tố
quyết định của sự phân phối thu nhập toàn cầu, phân chia tổng thu nhập của chuỗi
giá trị thành tiền thưởng cho các tác nhân trong chuỗi và hiểu các công ty, khu vực
và quốc gia được liên kết với nền kinh tế toàn cầu như thế nào.
Căn cứ vào tình hình thực tế tại tỉnh Đồng Tháp, đáp ứng yêu cầu và khả
năng, tác giả tiến hành nghiên cứu thực hiện Đề tài bằng việc sử dụng phương
pháp tiếp cận chủ yếu là “Phân tích ngành hàng - Commodity Chain Analysis) kết
hợp với phân tích lợi thế cạnh tranh của Porter. M.E (1985). Đánh giá lợi thế so
sánh và khả năng cạnh tranh ngành hàng thông qua chi số DRC. Cụ thể ở một số
nội dung chính sau đây:
 Để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp phân
tích ngành hàng trong việc đánh giá kinh tế và tài chính, mà chủ yếu là
tập trung vào phân tích việc tạo ra thu nhập và phân phối thu nhập trong
ngành hàng.
 Phân tích lợi thế cạnh tranh ngành hàng: bằng cách nhìn vào chuỗi giá
trị bao gồm các hoạt động chi tiết tách biệt khác nhau và lợi thế cạnh
tranh tìm thấy ở một hay nhiều hơn của các hoạt động này, mục đích
cuối cùng là nâng cao lợi thế cạnh tranh toàn ngành.
 Phân tích lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh bằng hệ số chi phí
nguồn lực trong nước (DRC) thường được sử dụng để đánh giá lợi thế
của một số ngành hàng trong nông nghiệp.
2.6.2 Phương pháp nghiên cứu, phân tích
Đối với mục tiêu 1: sử dụng phương pháp phân tích định tính và thống kê
mô tả và phương pháp phân tích chuỗi giá trị.
Đối với mục tiêu 2: Sử dụng phương pháp phân tích lợi ích chi phí
Đối với mục tiêu 3: Sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT và kết
quả phân tích các mục tiêu 1 và mục tiêu 2.
26
Các phương pháp nghiên cứu định tính
Được sử dụng nhằm tìm hiểu bản chất của chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò
tỉnh Đồng Tháp, quá trình vận động, tương tác giữa các nhóm tác nhân, giữa chuỗi
giá trị và hệ thống chính sách tác động đến nó. Nghiên cứu này dùng các kỹ thuật
cụ thể như: thu thập dữ liệu mở, phân tích văn bản, số liệu thứ cấp, quan sát, tổng
hợp. Nhằm đánh giá tình hình sản xuất, tiêu thụ và diện tích, năng suất canh tác
từng huyện, thị, thành phố để có đánh giá thực trạng nhãn tiêu da bò Đồng Tháp.
Tiến hành phỏng vấn chuyên gia nhằm xác định, cũng như kiểm tra bản
chất của chuỗi làm cơ sở cho nghiên cứu, trong đó hình thành sơ đồ các tác nhân
tham gia vào chuỗi, chức năng nhiệm vụ của từng tác nhân. Từ đó làm cơ sở cho
Đề tài trong việc lấy mẫu các tác nhân và xây dựng bảng câu hỏi cho từng tác
nhân, để đảm bảo các câu hỏi đáp ứng được yêu cầu về thu thập thông tin, đề tài
tiến hành phỏng vấn sơ bộ lấy mẫu, kịp thời điều chỉnh nội dung bảng câu hỏi cho
từng tác nhân để phỏng vấn chính thức.
Đối với nhóm phương pháp định lượng
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, thuận tiện và sử
dụng các công cụ điều tra thống kê, phân tích chi phí – lợi nhuận (cost and return
analysis), phân tích giá trị gia tăng (value added analysis) cho từng công đoạn
(khâu) và toàn bộ chuỗi giá trị.
Phương pháp phân tích số liệu
Phân tích thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả,
trình bày số liệu và lập bảng phân phối tần số. Đây là cơ sở để tổng hợp và phân
tích cơ bản các dữ liệu được thu thập trên tất cả các tác nhân tham gia chuỗi.
Phân tích chuỗi bao gồm phân tích chức năng chuỗi, tác nhân tham gia
chuỗi, kênh thị trường và hỗ trợ thúc đẩy chuỗi.
27
Phân tích kinh tế chuỗi bao gồm phân tích chi phí trung gian (IC), doanh
thu (P), giá trị gia tăng(VA), lợi nhuận thuần (NPr) của mỗi tác nhân và của toàn
chuỗi (Phụ lục 13 – Bảng hạch toán tài chính cho từng tác nhân).
Giá trị gia tăng (VA - Value Added): Giá trị gia tăng là thước đo về giá trị
được tạo ra trong nền kinh tế. Khái niệm này tương đương với tổng giá trị (doanh
thu) được tạo ra bởi những nhà vận hành chuỗi. Giá trị gia tăng là hiệu số giữa giá
mà mỗi tác nhân bán được trừ đi chi phí trung gian đó là những chi phí để mua
nguyên vật liệu đầu vào của nhà sản xuất ban đầu hay chi phí mua sản phẩm đầu
vào của các tác nhân theo sau trong chuỗi.
Giá trị gia tăng = (Số lượng x Giá bán) – Chi phí trung gian
Giá trị gia tăng thuần hay lợi nhuận (NVA - Net Value Added) được xác
định như sau:
Giá trị gia tăng thuần = Giá trị gia tăng – Chi phí tăng thêm
Phân tích tỷ số tài chính: Phân tích tỷ số lợi nhuận/chi phí cho biết 1 đồng
chi phí tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Bảng chi tiêu kinh tế được áp dụng để phân tích tình hình doanh thu, chi
phí, lợi nhuận, trong đó phân tích chi phí trung gian, giá trị gia tăng và lãi gộp
được thực hiện theo Phụ lục 14 – Bảng chỉ tiêu kinh tế áp dụng.
2.7Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập thông tin
2.7.1 Số liệu nghiên cứu
Số liệu thứ cấp: Các báo cáo về tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản
phẩm cũng như những sản phẩm giá trị gia tăng của chúng được tạo ra ở tỉnh Đồng
Tháp. Những chương trình, dự án hỗ trợ ngành hàng nông nghiệp của tỉnh nói
chung và đối với các sản phẩm này nói riêng. Những nghiên cứu có liên quan về
chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp từ nhiều nguồn khác nhau.
Số liệu sơ cấp: Thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các tác
nhân tham gia chuỗi ngành hàng bằng bảng câu hỏi cấu trúc. Tham khảo ý kiến,
28
phỏng vấn chuyên gia/nhà quản lý có am hiểu về các ngành hàng này ở địa phương
(Phụ lục 1).
2.7.2 Cơ cấu mẫu điều tra
- Các tác nhân tham gia vào chuỗi
Sẽ tiến hành phỏng vấn các nhà sản xuất (hộ gia đình nông dân), thương lái
thu gom, vựa nhãn đầu mối, cơ sở chế biến (lò sấy), doanh nghiệp có hoạt động
kinh doanh trái nhãn ít nhất một năm, đến kênh phân phối tiêu dùng bao gồm
Người Bán lẻ ở Chợ đầu mối trong tỉnh Đồng Tháp, Người bán lẻ ở Chợ đầu mối
ngoài tỉnh Đồng Tháp.
Ngoài ra còn phỏng vấn sơ bộ, tham khảo ý kiến thêm một số Nhà cung cấp
sản phẩm đầu vào (phân bón, thuốc BVTV, cây giống), một số đơn vị/cá nhân có
chức năng hỗ trợ/thúc đẩy chuỗi giá trị như cán bộ của ngành NN&PTNT, Sở
Công thương, Ngân hàng NN&PTNT… và các cơ quan có liên quan (Phụ lục 1).
- Phương pháp chọn mẫu
Quan sát mẫu chọn bằng phương pháp thuận tiện tại các xã, phường, thị
trấn thuộc huyện, thị xã, thành phố. Tiêu chí chọn xã, huyện đại diện dựa vào tiêu
chí diện tích, sản lượng và vùng sinh thái khác nhau (Phụ lục 12 – Phân bố mẫu -
địa bàn khảo sát từng xã, phường, thị trấn trong huyện, thị, thành phố).
1. Đối với tác nhân là Nông hộ
Cở sở để phân bố mẫu và lấy mẫu sẽ thực hiện theo phụ lục 2 về tình hình
diện tích, năng suất, sản lượng cụ thể từng xã, thị trấn trong các huyện, thị, thành
phố thuộc tỉnh Đồng Tháp. Qua đó, đề tài thực hiện với lấy mẫu đối với 2 đối
tượng là NH đang canh tác – sản xuất kinh doanh và NH trồng mới nhằm tính
khấu hao đưa vào chi phí sản xuất. Số lượng mẫu được lấy như sau:
Nông hộ sản xuất
+ Đối tượng hộ gia đình/người trồng nhãn
+ Khung mẫu: hộ trồng nhãn trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
29
+ Phương pháp điều tra chọn mẫu: theo hai tiêu chí diện tích và sản lượng
và sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất mà cụ thể là chọn mẫu định mức
theo tỷ lệ kết hợp với chọn mẫu thuận tiện.
+ Xác định cở mẫu: 2
2
x
S
n

 với (n: cở mẫu, S: độ lệch chuẩn,  x:sai số
chuẩn)
Sai số mong muốn=Z*Sai số chuẩn => Sai số chuẩn=sai số mong muốn/Z
Quyết định mức độ tin cậy ớ mức 0.05 => z=1.96
Quyết định sai số đo lường mong muốn:1.25 tấn/ha
Cỡ mẫu = 6,8352
/(1,25/1,96)2
=114 (ha)
≈ 155 (hộ) (0,74ha/hộ)
Nông hộ trồng mới
Do vấn đề thời gian và kinh phí, việc lấy mẫu thực hiện theo nguyên tắc tỷ
lệ phần trăm đang được áp dụng tại tỉnh Đồng Tháp trong những năm qua là 1-5%
diện tích hay số hộ canh tác. Đề tài đã quyết định lấy mẫu ở mức trung bình trong
những năm qua là 2,5% tổng diện tích trồng mới toàn tỉnh Đồng Tháp.
Số mẫu (hộ) = 2,5%*diện tích trồng mới*diện tích canh tác/hộ
= 2,5%*590ha*0,74ha/hộ
≈ 20 (hộ)
2. Đối với tác nhân Thương lái
Đề tài chọn mẫu điều tra theo phương pháp chọn mẫu trên cơ sở danh sách
các TL đang hoạt động tương đối ổn định tại địa phương và đánh giá sơ bộ từ việc
khảo sát NH, để chọn mẫu TL có tỷ trọng lớn trong các dòng sản phẩm của các
kênh phân phối khác nhau, để tiến hành phỏng vấn: 12/26 thương lái.
3. Đối với tác nhân là Vựa nhãn
Đề tài chọn mẫu điều tra theo phương pháp chọn mẫu trên cơ sở danh sách
các VN đang hoạt động tương đối ổn định tại địa phương và đánh giá sơ bộ từ việc
30
khảo sát NH, TL, để chọn mẫu VN có tỷ trọng lớn trong các dòng sản phẩm của
các kênh phân phối khác nhau để tiến hành phỏng vấn: 9/18 Vựa nhãn, trong đó, 5
Vựa Nhãn tại Châu Thành, 3 Vựa Nhãn tại huyện Cao Lãnh, 1 tại huyện Lai Vung.
4. Đối với tác nhân là Lò sấy
Đề tài chọn mẫu điều tra theo phương pháp chọn mẫu trên cơ sở danh sách
các LS đang hoạt động tương đối ổn định tại địa phương và đánh giá sơ bộ từ việc
khảo sát NH, TL để chọn mẫu LS có tỷ trọng lớn trong các dòng sản phẩm của các
kênh phân phối khác nhau để tiến hành phỏng vấn: 4/7 Lò sấy, trong đó, 3 Lò sấy
tại Châu Thành, 1 tại huyện Cao Lãnh.
5. Đối với tác nhân là Doanh nghiệp Xuất khẩu trái cây
Sẽ tiến hành khảo sát 02 DN XK trong ngành đang hoạt động ổn định và
đánh giá sơ bộ từ việc khảo sát VN, LS để chọn mẫu DN XK có tỷ trọng lớn trong
các dòng sản phẩm của các kênh phân phối khác nhau qua chuỗi.
6. Đối với người bán lẻ tại chợ đầu mối trong tỉnh Đồng Tháp
Dựa vào đánh giá sơ bộ tỷ trọng sản lượng đi qua từng tác nhân, đề tài chọn
chợ đầu mối có mức tiêu thụ sản lượng cao để tiến hành khảo sát. Chọn khảo sát 6
tiểu thương: 2 Bán lẻ tại Chợ Cái Tàu Hạ và 2 tại Chợ Tp Sa Đéc, 2 tại chợ TP
Cao Lãnh Đồng Tháp.
7. Đối với người bán lẻ chợ đầu mối ngoài tỉnh Đồng Tháp
Dựa vào đánh giá sơ bộ tỷ trọng sản lượng đi qua từng tác nhân, đề tài chọn
chợ đầu mối có mức tiêu thụ sản lượng cao để tiến hành khảo sát. Chọn khảo sát 6
tiểu thương, Chợ Cầu Muối – TP HCM (3) và chợ Cái Răng – TP Cần Thơ (3).
- Thời gian tiến hành khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát trong thời gian 3 tháng, chia làm 2 đợt trước và
sau Tết Nguyên đán, đợt 1: từ ngày 21/01/2015 đến 9/02/2015 (7/12 – 27/12 âm
lịch) và đợt khoảng thời gian từ ngày 22/02 – 22/4/2015 (10/1 – 04/3 âm lịch).
31
Bảng 2.2 Cỡ mẫu và quan sát mẫu từng tác nhân địa bàn Huyện, thị, thành
Đơn vị Huyện, thị,
thành phố
NH
Sản Xuất
NH
trồng mới
Thương
Lái
Vựa
Nhãn
Lò
Sấy
1. Huyện Châu Thành 106 9 7 5 3
2. Huyện Cao Lãnh 32 5 3 3 1
3. Huyện Lấp Vò 8 2 1
4. Huyện Lai Vung 5 2 1 1
5. TP Sa Đéc 4 2
Tổng cộng: 155 20 12 9 4
Tổng số lượng mẫu khảo sát các tác nhân, phỏng vấn chuyên gia thực hiện
đề tài được tổng hợp tại Bảng 2.3
Bảng 2.3 Tổng quan sát mẫu, phỏng vấn
Stt Đối tượng quan sát, phỏng vấn Số lượng
1 Chuyên gia 18
2 Nông Hộ trồng mới 20
3 Nông Hộ sản xuất 155
4 Thương Lái 12
5 Vựa Nhãn 9
6 Lò Sấy 4
7 Người Bán lẻ tại chợ đầu mối trong Tỉnh 6
8 Người Bán lẻ tại chợ đầu mối ngoài tỉnh 6
9 Doanh nghiệp Xuất khẩu trái cây 2
Tổng cộng (đơn vị mẫu khảo sát, phỏng vấn): 232
2.8 Phương pháp phân tích ma trận SWOT
Mô hình phân tích SWOT để đưa ra chiến lược phát triển chuỗi giá trị sản
phẩm táo được thể hiện ở bảng sau đây :
32
Bảng 2.4 Mô hình phân tích SWOT
CƠ HỘI (O) THÁCH THỨC (T)
ĐIỂM MẠNH
(S)
SO: Giải pháp công kích
(Nhóm giải pháp này tận
dụng điểm mạnh để đeo đuổi
cơ hội)
ST: Giải pháp thích ứng (Nhóm
giải pháp này tận dụng điểm
mạnh để hạn chế những đe dọa
có thể xảy ra)
ĐIỂM YẾU
(W)
WO: Giải pháp điều chỉnh
(Nhóm giải pháp này tận
dụng cơ hội để khắc phục
điểm yếu).
WT: Giải pháp phòng thủ
(Nhóm giải pháp này đưa ra các
hoạt động chủ động khắc phục
điểm yếu và hạn chế những rủi
ro có thể xảy ra)
Phân tích ma trận SWOT được thực hiện với mục đích tổng hợp các yếu tố
từ bên trong và các yếu tố bên ngoài của đối tượng nghiên cứu bao gồm điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của mỗi tác nhân cũng như của toàn bộ ngành
hàng, là cơ sở đề ra các chiến lược phát triển và nâng cấp chuỗi giá trị.
2.9 Phương pháp phân tích lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh
Phân tích lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh bằng hệ số chi phí nguồn
lực trong nước (DRC) thường được sử dụng để đánh giá lợi thế của một số ngành
hàng trong nông nghiệp. Hệ số chi phí nguồn lực DRC là tỷ số giữa chi phí nguồn
lực được sử dụng đầu vào sản xuất không thể trao đổi được với thị trường quốc tế
tính theo giá xã hội để sản xuất ra sản phẩm và ngoại tệ thu được hoặc tiết kiệm
được khi sản xuất sản phẩm này thay thế nhập khẩu.
DRC phản ánh chi phí thật sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra một
đơn vị hàng hóa. Nếu DRC càng cao thì ngành hàng đó càng cần nhiều tài nguyên
để sản xuất ra 1 đơn vị giá trị gia tăng, và do đó, càng không có lợi và không có
tính cạnh tranh.
Với việc phân tích chuỗi giá trị ngành hàng trái nhãn tiêu da bò –Đồng
Tháp, đề tài sẽ tập trung vào phân tích lợi thế so sánh từ các chỉ số P/IC, VA/IC và
33
NPr/IC do sản phẩm chủ yếu sử dụng nguồn lực nội tại của tỉnh Đồng Tháp như:
đất đai, lao động, vốn, ít lệ thuộc vào nguồn lực bên ngoài.
2.10 Các bước cụ thể thực hiện
Qua nghiên cứu tài liệu tham khảo và các đề tài nghiên cứu có liên quan, cơ
sở lý thuyết về chuỗi giá trị, để phù hợp với tình hình thực tế, đề tài thực hiện các
bước đi cụ thể như sau:
Bước 1: Tiến hành phỏng vấn tham khảo ý kiến chuyên gia, nhằm tìm hiểu
và phác họa sơ đồ, bản chất chuỗi. Xây dựng bảng câu hỏi cho từng tác nhân của
chuỗi, tiến hành điều tra khảo sát sơ bộ, củng cố và xây dựng bản câu hỏi chính
thức, tiến hành khảo sát thu thập thông tin, dữ liệu.
Bước 2: Sơ đồ hóa chuỗi giá trị, lượng hóa các tác nhân tham gia chuỗi.
Bước 3: Phân tích các tác nhân tham gia chuỗi về phương thức hoạt động;
thị trường đầu vào; thị trường đầu ra; chi phí và cơ cấu chi phí; giá bán, doanh thu,
lợi nhuận và giá trị gia tăng; vai trò của các tác nhân…
Bước 4: Phân tích các tác nhân tham gia thúc đẩy, hỗ trợ chuỗi
Bước 5: Phân tích các Quan hệ liên kết
Bước 6: Phân tích hiệu quả tài chính và phân phối lợi ích
Bước 7: Phân tích SWOT
Bước 8: Đề xuất các giải pháp ứng với tình hình thực tế của chuỗi giá trị
--------------oOo--------------
34
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Qua chương 2, chúng ta có thể hiểu hơn về chuỗi giá trị, sự cần thiết phải
phân tích chuỗi giá trị. Việc sơ đồ hóa chuỗi giá trị là cốt lõi của bất kỳ phân tích
chuỗi giá trị nào vì thế chúng là yếu tố không thể thiếu và cung cấp cái nhìn tổng
quan về toàn bộ chuỗi, mô tả các liên kết chuỗi giá trị. Tiếp đến, việc lượng hóa và
mô tả chi tiết, cũng như phân tích quản trị và phân tích khả năng nâng cấp chuỗi
giá trị cần được quan tâm thực hiện.
Để làm cơ sở cho nghiên cứu, phân tích chuỗi giá trị, người ta thường đề
cập đến phương pháp tiếp cận, trong đó, phương pháp tiếp cận ngành hàng (CCA)
thường được áp dụng phân tích chuỗi giá trị vì nó cho phép việc đánh giá kinh tế
và tài chính, mà chủ yếu là tập trung vào phân tích việc tạo ra thu nhập và phân
phối thu nhập trong ngành hàng. Bên cạnh việc phân tích lợi thế cạnh tranh ngành
hàng nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao lợi thế cạnh tranh toàn ngành.
Trong quá trình thu thập thông tin làm cơ sở dữ liệu cho việc nghiên cứu, đề
tài thực hiện phương pháp chọn mẫu, khảo sát mẫu đối với các tác nhân tham gia
vận hành chuỗi bằng bảng câu hỏi. Bên cạnh việc tiến hành phỏng vấn chuyên gia,
phỏng vấn tác nhân hỗ trợ, thúc đẩy chuỗi.
Phương pháp phân tích thường dùng trong phân tích chuỗi giá trị ngành
hàng là: phương pháp phân tích định tính và phương pháp thống kê mô tả; phương
pháp phân tích lợi ích chi phí; phương pháp phân tích ma trận SWOT là cơ sở để
đề ra giải pháp phát triển, nâng cấp chuỗi. Bên cạnh, việc sử dụng phân tích lợi thế
so sánh và khả năng cạnh tranh bằng hệ số chi phí nguồn lực để đánh giá lợi thế
của ngàng hàng trong nông nghiệp.
--------------oOo--------------
35
CHƯƠNG 3
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ TRÁI NHÃN TIÊU DA BÒ – ĐỒNG THÁP
3.1 Tổng quan về ngành hàng trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp
Giới thiệu về điều kiện tự nhiên Đồng Tháp
Đồng Tháp là 1 trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nơi đầu nguồn
sông Tiền chảy qua biên giới vào Việt Nam. DT tự nhiên của tỉnh là 3.374,08km2
,
chiếm 8,17% diện tích vùng. Phía Bắc giáp tỉnh Prey Veng – Campuchia, đường
biên giới dài 48,7 km. Phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và TP Cần Thơ. Phía Tây
giáp tỉnh An Giang. Phía Đông giáp tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang. Toàn tỉnh
được thành 12 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm: TP Cao Lãnh, TP Sađéc, thị
xã Hồng Ngự và 9 huyện: Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp
Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung và Châu Thành.
Địa giới của tỉnh bị chia cắt bởi sông Tiền, trong 2 phần của vùng sinh thái
chính của ĐBSCL: Vùng Đồng Tháp mười và vùng giữa sông Tiền và sông Hậu.
Điều này gây bất lợi về phát triển giao thông đường bộ, chi phí vận chuyển cao,
khó thu hút đầu tư vào lĩnh vực công thương nghiệp, thêm vào đó tỉnh không có
nhiều khoáng, năng lượng và tay nghề lao động thấp nên bất lợi cho phát triển
công nghiệp.
Nhờ lợi thế vào vị trí nằm sát sông Tiền với các tuyến giao thông thủy bộ từ
biên giới Việt Nam – Campuchia ra biển, tạo điều kiện thuận lợi về giao thông
thủy và là kinh tế đối ngoại hướng ra các nước Đông Nam á và là cửa ngỏ của
vùng tứ giác Long Xuyên hướng về vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Thực trạng lao động và việc làm nông thôn
Dân số và lao động của Đồng Tháp phân bố không đều, các huyện phía
Nam như: Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò, Cao Lãnh có mật độ dân số tương đối
cao, việc đa dạng hóa sinh kế cho nông nghiệp đang được hướng đến. Tuy nhiên,
36
xu hướng đẩy lao động tương đối mạnh trung bình gần 5.000lao động/năm trong
giai đoạn 2007-2011, nhưng khả năng tạo việc làm mới của công nghiệp và dịch
vụ còn hạn chế. Trong khi đó, lao động ở lại khu vực nông nghiệp tiếp tục có trình
độ, kỹ năng và tay nghề thấp, lớn tuổi, khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật làm
cho năng suất lao động nông nghiệp tăng chậm. Tình trạng cơ giới hóa đang phát
triển và cơ giới hóa từng phần, từng khâu từng bước làm giảm áp lực lao động mùa
vụ nông nghiệp, tuy nhiên vẫn còn diễn ra khá gây gắt.
Giới thiệu về ngành nông nghiệp Đồng Tháp
Nông nghiệp là ngành sản xuất chính, năm 2012, đạt 14.211 tỷ đồng, chiếm
36% GDP của Tỉnh. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt mức cao
nhất mức 15,1% năm 2005, giảm còn 7,0% năm 2008, còn 4,6% năm 2010, năm
2013 đạt 12.923 tỷ đồng (giá 1994). Trong đó, trồng trọt là ngành đóng vai trò
quan trọng nhất, với các cây trồng chính là lúa, cây ăn trái, hoa màu và cây công
nghiệp ngắn ngày.
Năm 2013, DT cây ăn trái toàn Tỉnh là 24.444 ha, trong đó, xoài 9.200ha,
cây có múi 4.800 ha, cây nhãn 4.779 ha, còn lại là ổi và cây khác, tăng 1.799ha so
với năm 2012, tăng chủ yếu ở nhãn và xoài. Trên cây nhãn, DT bệnh chổi rồng
giảm so năm 2012 là 495,8ha do nông dân tích cực chăm sóc và áp dụng tốt quy
trình phòng trừ bệnh nên phần lớn các vườn nhãn đang phục hồi tốt. Chất lượng
vườn cây ăn trái, từng bước được nâng cao từ khâu cải tạo vườn, chọn giống, kỹ
thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch theo hướng VietGap. Công tác chuyển giao kỹ
thuật đối với cây trồng được xúc tiến từ nguồn kinh phí khuyến nông và Đồng
Tháp đã xây dựng mô hình canh tác xoài đủ điều kiện sản xuất an toàn ở huyện
Cao Lãnh và TP Cao Lãnh (50ha/63 hộ tham gia) sinh trưởng và phát triển tốt; Mô
hình trình diễn giống nhãn Tứ quý (nhãn Mỹ) chống chịu bệnh chổi rồng ở Châu
Thành (1ha/2 hộ tham gia).
Vùng chuyên cây ăn trái sẽ phát triển ven sông Tiền, sông Hậu với diện tích
trên dưới 15.000ha với các cây chủ lực như: xoài, nhãn, quýt, cam… Vùng chuyên
37
cây ăn trái ven sông Tiền và cù lao thuộc TP Cao Lãnh, huyện Cao Lãnh (cồn Mỹ
Xương, cồn Bình Thạnh) và một phần diện tích phía Nam huyện Tháp Mười sẽ có
DT từ 7000 – 8.000 ha cây trồng chủ lực như: xoài, nhãn, ổi, quýt, cam... Cây ăn
trái cũng sẽ được phát triển ở những nơi có điều kiện không bị ngập lũ, nhưng diện
tích không lớn, chủ yếu ở vùng cù lao và một số ít ở phía Nam kênh Tân Thành –
Lò Gạch thuộc huyện Tân Hồng với các cây chủ lực có khả năng chịu nước như ổi,
xoài, nhãn. Trong tương lai, vùng cây ăn trái sẽ được cải tạo và áp dụng cơ giới
hóa ở các khâu: làm đất cơ giới hóa 100% việc lên líp xây dựng vườn cây ăn trái;
Khâu tưới tiêu: 85% DT SX được tưới tiêu bằng bơm điện; Khâu chăm sóc: có
85% DT được phun thuốc bảo vệ thực vật bằng máy.
Hình 3.1 Phân bố diện tích cây nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp
Nguồn: Sở NN&PTNT Đồng Tháp – 2014
Riêng DT trồng cây nhãn toàn tỉnh là 4.857 ha, chủ yếu tập trung ở các
huyện: Châu Thành, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung và TP Sađéc,…(Hình 3.1).
Trong đó, nhãn tiêu da bò toàn tỉnh là 3.776ha.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ trái nhãn tiêu da bò:
38
Vùng SX nhãn của tỉnh Đồng Tháp được trồng tập trung tại các xã dọc theo
hai bên bờ sông Tiền thuộc huyện Châu Thành (2.621ha), Cao Lãnh (809ha), Lấp
Vò (111ha) và Lai Vung (91 ha), còn lại là TP Sa Đéc (77ha), TP Cao Lãnh
(27ha),… Với tổng DT canh tác toàn tỉnh riêng cây nhãn tiêu da bò là 3.776ha, với
năng suất bình quân 8,12tấn/ha. Vùng SX chủ yếu tập trung huyện Châu Thành,
Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung và TP Sa Đéc chiếm đến 98,2% diện tích toàn tỉnh
về cây nhãn tiêu da bò (Hình 1.1).
Hình 3.2 Năng suất trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp
Nguồn: Sở NN&PTNT Đồng Tháp – 2014
Năng suất bình quân trái nhãn da bò toàn tỉnh là 8,12 tấn/ha ước tính năm
2014, trong đó, năng suất cao nhất là huyện Châu Thành, Cao Lãnh do vùng cồn
đất bãi bồi phù sa quanh năm. Năng suất thấp là huyện Tam Nông thuộc vùng
trũng Đồng Tháp mười ít phù sa (Hình 3.2).
Cây nhãn hầu như được thu hoạch quanh năm tùy thuộc việc xử lý ra hoa
của Nông hộ, tuy nhiên, mùa vụ chính thường từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.
Bên cạnh, việc áp dụng kiến thức kỹ thuật chăm sóc và xử lý ra hoa, thì do đặc thù
39
vùng đất canh tác các xã ven hai bên sông Tiền, Hậu và vùng đất cồn bãi bồi, phù
sa do nước sông Tiền mang lại nên có năng suất cao. Các xã vùng lõi, thủy triều
lên, xuống thấp lượng phù sa bồi đắp không nhiều nên năng suất thấp. Trong
những năm qua, dịch bệnh chổi rồng tấn công trên vườn nhãn đang cho trái, gây
giảm năng suất, chất lượng cho trái. Nhìn chung, việc canh tác cây nhãn với DT
còn nhỏ lẻ, manh mún khoảng dưới 0,74ha/hộ. Hiện ngành nông nghiệp Tỉnh,
Huyện tiến hành hỗ trợ nông dân dập dịch có hiệu quả, tuy nhiên, nhìn chung năng
suất có giảm khoảng 5-7%/năm. Trong năm 2014, toàn tỉnh có 590 ha cây nhãn
được trồng mới, chủ yếu là giống nhãn EDOR, Tứ Quý thay thế vườn nhãn già cỗi,
sâu bệnh (Phụ lục 2).
Hình 3.3 Tình hình tiêu thụ trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp
Nguồn: Sở Công thương Đồng Tháp - 2014
Tình hình tiêu thụ: giá trái nhãn tươi thường biến động khoảng từ 6.000 đến
30.000 kg trái tươi, có thời điểm giá nhãn tươi sụt giảm nghiêm trọng, có lúc giảm
gần 80% mức giá, NH sản xuất không bù đắp được chi phí. Đặc biệt, thời gian
những năm gần đây, mặc dù giá đã tăng trở lại, nhưng năng suất giảm và chí phí
cao do phòng trừ dịch bệnh chổi rồng, nên lợi nhuận ròng trên 1 ha đất canh tác
không cao, điều đó, khiến người nông dân điêu đứng. Việc thu hoạch trái nhãn
thường được thực hiện bằng cách cắt cành – thành từng chùm nhãn trái, đặt trong
những cần xé xung quanh thường có lớp đệm, công việc này thường do TL thu
40
mua đảm nhận và thu hoạch, sau đó vận chuyển chủ yếu bằng ghe đến các VN tập
trung hay LS trên địa bàn để bán lại chiếm hầu hết sản lượng của NH. Tại các VN
sẽ tiến hành cắt tỉa cành đóng thùng và vận chuyển về Doanh nghiệp để xuất chủ
yếu sang thị trường Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch chiếm khoảng gần 28%
tổng lượng tiêu thụ, gần đây xuất sang Hàn Quốc, Mỹ nhưng sản lượng chưa
nhiều. Còn lại tiêu thụ chủ yếu ở TP HCM và các tỉnh, thành trong cả nước (Hình
3.3). Tỷ lệ hao hụt trái nhãn khi vận chuyển ra xa vùng SX đến thị trường thường
khá cao, chiếm gần 30% tổng SL SX của NH.
Đối với tỉnh Đồng Tháp, ngành cây ăn quả, đặc biệt là cây nhãn có vai trò
kinh tế - xã hội hết sức quan trọng và đóng góp rất có ý nghĩa vào phát triển nông
thôn, tạo lập sinh kế cho cộng đồng cư dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, giải
quyết việc làm cho lao động, giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân
và đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách. Vì vậy, các thể chế nhà nước tỉnh
Đồng Tháp, đã có nhiều hoạt động tích cực để hỗ trợ, kể từ giai đoạn SX đến chế
biến, xúc tiến thương mại…
Trong định hướng phát triển, Đồng Tháp đã chú ý đến cải thiện chất
lượng giống; chuyển giao khoa học kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ dịch bệnh, đặc
biệt tổ chức dập dịch chổi rồng trên cây nhãn; phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn
phục vụ cho sản xuất và vận chuyển sản phẩm; xây dựng mô hình liên kết sản xuất
– chế biến – tiêu thụ; xây dựng thương hiệu; xây dựng cụm– điểm công nghiệp–
tiểu thủ công nghiệp chế biến; xây dựng làng nghề truyền thống theo quy mô vừa
và nhỏ; hỗ trợ xúc tiến thương mại trong nông nghiệp.
Tùy theo chức năng và nhiệm vụ mà một số cơ quan quản lý Nhà nước
cũng như thể chế khác nhau có những vai trò quan trọng đối với sự phát triển
ngành trái nhãn. Bên cạnh chính sách là khuyến khích các ngân hàng hỗ trợ cho
các tác nhân trong chuỗi giá trị trái nhãn vay vốn với nhiều chương trình khác
nhau, như chương trình quốc gia giải quyết việc làm, chương trình dập dịch chổi
rồng, chương trình hỗ trợ đầu tư và phát triển…Đặc biệt là tổ chức triển khai sâu
rộng chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp nói chung.
41
- Trung tâm khuyến
nông
- Chi cục Bảo vệ thực
vật
- Viện Cây ăn quả Miền Nam
DN XK
VN
19.254
(-12%)
16.943
Trung tâm xúc tiến thương mại
Sở khoa học & công nghệ, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học công
nghệ, cơ quan khoa học công nghệ khác
Các ngân hàng : Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Thương mại, Đầu tư và Phát triển,
Chính sách xã hội,…
Hệ thống quản lý Nhà nước về sản xuất, chế biến và thương mại
Chợ
TT
1.503
(-19%)
1.217
NĐ
Sấy:1.615
14.609
TL
26.058
(-2%)
25.537
Cung
cấp
đầu
vào:
Giốn
g
phân
thuốc
bảo
vệ
thực
vật,
công
cụ
lao
động
, lao
động
N
H
28.889
(Tấn)
LS
2.520
(-2%)
2.470
Đầu
vào
Sản
xuất
Thu
gom
Sơ
chế
Thương
mại
Tiêu
dùng
XK
Sấy: 751
4.614
Chợ NT
17.169/1.648
-22%/-2%
13.392/1.615
3.2 Phân tích chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò
3.2.1 Sơ đồ chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò
3.2.1.1 Lập sơ đồ chuỗi
Dựa vào số liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được về hoạt động của từng tác
nhân trong chuỗi, sơ đồ chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp mô tả sau:
Hình 3.4 Sơ đồ chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp
Sấy (-2,86%)
2.470/2.399
Tươi (-2%)
12.623/12.370
42
3.2.1.2 Mô tả chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp hình thành dựa trên sự gắn
kết giữa 7 tác nhân chính, đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra còn có sự hiện diện
của các tác nhân có chức năng hỗ trợ, cung cấp hàng hóa đầu vào, dịch vụ khoa
học công nghệ, thông tin thị trường như các cơ quan xúc tiến đầu tư, xúc tiến
thương mại, hệ thống các ngân hàng, hệ thống các cơ quan quản lý nông nghiệp,
các tổ chức khoa học công nghệ và Viện nghiên cứu.
Chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp có những chức năng cơ bản
sau đây:
Chức năng đầu vào: gồm việc cung cấp giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực
vật, nhiện liệu bơm tưới nước, trang thiết bị, máy móc, công cụ lao động. Chức
năng này do các nhà cung cấp các yếu tố chi phí đầu vào đảm bảo như các đại lý
phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; cơ sở dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn cung cấp.
Chức năng sản xuất: do NH đảm nhận, bao gồm các hoạt động từ khâu làm
đất, trồng cây, xử lý ra hoa và chăm sóc đến khi thu hoạch.
Chức năng thu mua: chủ yếu tập trung vào TL chiếm 90,2% tổng sản lượng
sản xuất, đây là chức năng trung gian nhằm mục đích tiêu thụ sản phẩm và trung
chuyển đến các tác nhân sơ chế biến và cung ứng đến các chợ trong và ngoài tỉnh
bán đến người tiêu dùng.
Chức năng thương mại: là các hoạt động phân phối, chức năng này do DN
XK thực hiện và xuất khẩu bình quân là 36,3% và tiêu thụ nội địa qua các chợ
trong và ngoài tỉnh là 63,7%.
NH sản xuất thường với quy mô nông trại nhỏ, hệ thống thu mua có mạng
lưới phát triển rộng khắp tại địa phương, theo mùa vụ, bảo đảm chức năng thu mua
và cung ứng sản phẩm qua các tác nhân của chuỗi. Thị trường tiêu thụ, với kênh
tiêu thụ NĐ chiếm 78,36% tổng sản lượng, tiêu thụ tại các chợ trong và ngoài tỉnh.
Thị trường tiêu thụ NĐ rộng lớn như Tp HCM, TP Cần Thơ… Thị trường XK
như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ với 2 sản phẩm chủ lực là nhãn tươi đóng thùng
và nhãn sấy đóng gói chiếm 21,64% sản lượng sản xuất.
43
3.2.1.3 Kênh thị trường (phân phối) của chuỗi
Chưa tính tỷ lệ hao hụt do nhiều nguyên nhân khác nhau, trái rơi rụng, hư
kém phẩm chất, trái có kích thước hoành nhỏ hơn tiêu chuẩn quy định cần loại
bỏ… Thì với 4 kênh xuất khẩu, chiếm 21,64% tổng sản lượng. Còn lại, 11 kênh
tiêu thụ nội địa chiếm 78,36% sản lượng là thị trường trong và ngoài tỉnh.
Với tỷ lệ hao hụt qua các tác nhân TL là 2%, VN: 12%, LS:2%, DN XK:
2,86% nhãn sấy và 2% nhãn tươi, Chợ TT: 19% và Chợ NT là 22%, riêng nhãn
sấy Chợ NT: hao hụt là 2%. Tổng lượng hao hụt qua tất cả các kênh là 25% tổng
sản lượng NH SX (Bảng 3.1).
Chưa có
hao hụt
Có hao
hụt
Chưa có
hao hụt
Có hao
hụt
Sản
lượng
1 NH - TL- VN -DN XK 17,40% 14,70% 5.025 4.247
2 NH - TL - LS - DN XK (sấy) 1,89% 1,76% 546 510
3 NH - VN - DN XK 1,47% 1,27% 425 367
4 NH - LS - DN XK (sấy) 0,88% 0,83% 253 241
5 NH - LS - DN XK - Chợ NT (sấy) 1,92% 1,79% 556 518
6 NH - TL - LS - DN XK - Chợ NT(sấy) 4,15% 3,80% 1.199 1.097
7 NH - TL - VN -DN XK- Chợ NT 29,24% 19,28% 8.447 5.569
8 NH - TL - VN - Chợ NT 14,77% 9,94% 4.268 2.871
9 NH - VN - Chợ NT 1,25% 0,86% 361 248
10 NH - VN - DN XK - Chợ NT 2,48% 1,67% 715 481
11 NH - TL - Chợ NT 19,12% 14,62% 5.524 4.223
12 NH -TL - VN - Chợ TT 1,19% 0,83% 344 240
13 NH - TL - Chợ TT 2,44% 1,93% 704 558
14 NH -VN - Chợ TT 0,10% 0,07% 29 21
15 NH - Chợ TT 1,70% 1,38% 491 398
75% 25% 28.889
Bảng 3.1 Kênh tiêu thụ (phân phối)
78,36%
Nộiđịa
56,16%
Tổng cộng
Sản lượng
(tính toàn huyện tấn/năm)
16.224
Tỷ lệ Xkhẩu/Nđịa
Hao hụt &
%Lượng
hao hụt
3,07%22,21%
Kênh tiêu thụ
Toàn Tỉnh có 3.776 ha trồng nhãn tiêu da bò,
năng suất 7,65 tấn/ha. Tổng sản lượng trái
nhãn 28.889 tấn/năm.
% Tổng sản lượng
100%
Chưa
hao hụt
5.365
21,64%
Xuấtkhẩu
18,57%
21.588
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Về tình hình thị trường tiêu thụ: Thị trường XK là 5.365 tấn trái, chiếm
24,9%, trong đó, nhãn tươi là 4.614 tấn, chiếm 21,4% và nhãn sấy là 751 tấn,
chiếm 3,5% tổng sản lượng tiêu thụ. Thị trường tiêu dùng NĐ là 16.224 tấn, chiếm
44
75,1%, trong đó, nhãn tươi là 14.608 tấn, chiếm 67,7%; còn lại 1.615 tấn nhãn sấy,
chiếm 7,5% tổng sản lượng tiêu thụ của chuỗi (Hình 3.2).
Hình 3.5 Kênh phân phối trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp
3.2.2 Phân tích các tác nhân trong chuỗi
3.2.2.1 Phân tích tác nhân Nông hộ
NH là loại hình tổ chức sản xuất cơ bản ở Việt Nam, ĐBSCL, trong đó có
tỉnh Đồng Tháp. NH có các đặc trưng cơ bản là: vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn
vị tiêu dùng, các thành viên có quan hệ huyết thống và quan hệ kinh tế. Lao động
gia đình là lực lượng lao động chủ yếu cho các hoạt động kinh tế.
Về trình độ văn hóa, hầu hết chưa qua các lớp đào tạo nghề (từ sơ, trung cấp
trở lên), chiếm đến 87,2%. Trình độ sơ, trung cấp chiếm 11,3%. Trình độ cao
đẳng, đại học chiếm 1,5% tổng mẫu khảo sát.
Bảng 3.2 Phân bố quy mô diện tích - Nông hộ
Stt Qui mô diện tích trồng nhãn/hộ Số hộ Tỷ lệ (%)
1 Dưới 1ha 97 62,6%
2 Từ 1 ha đến 2 ha 55 35,5%
3 Trên 2 ha 3 1,9%
Tổng cộng 155 100%
Bình quân 1 nông hộ canh tác 0,65ha
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
45
Về đất đai trồng nhãn, trong phạm vi khảo sát, diện tích canh tác bình quân
là 0,65ha. Số hộ có diện tích canh tác dưới 1ha chiếm 62,6%, quy mô từ 1 – 2ha
chiếm 35,5%, quy mô trên 2ha chiếm 1,9% (Bảng 3.2).
Đặt trong quan hệ kinh tế thể hiện dưới dạng chuỗi giá trị, NH liên đới đến
hai nhóm tác nhân, đó là, nhóm tác nhân cung cấp các yếu tố đầu vào cho SX và
nhóm tác nhân tiêu thụ sản phẩm (Hình 3.1).
Nhóm tác nhân cung cấp đầu vào chủ yếu là phân bón, thuốc BVTV,… và
thị trường lao động tự do, cung cấp nhân lực trồng, chăm sóc và xử lý ra hoa. Lao
động chính của NH là 2 lao động, nhưng lao động sản xuất trên mảnh vườn của
mình chỉ bình quân là 0,60 lao động/0,65ha, do việc sử dụng lao động đòi hỏi số
lượng nhiều người cần thiết lúc làm đất, chăm sóc xử lý ra hoa,.. cao hơn 2 lao
động, do đó phải làm thuê cho NH SX khác vào lúc rỗi (Bảng 3.3).
Các đại lý vật tư nông nghiệp địa phương chính là nơi cung cấp phân bón,
thuốc BVTV và các công cụ sản xuất. Các cơ quan nông nghiệp như: Sở
NN&PTNT, Trung tâm Khuyến nông, Sở Khoa học công nghệ, Viện Cây ăn quả
miền Nam, Chi cục BVTV cung cấp kiến thức công nghệ và kỹ thuật, chủ yếu
thông qua các khóa tập huấn, tài liệu kỹ thuật và hoạt động thực tiễn của nhân viên
nông nghiệp. Hỗ trợ xây dựng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP…
Các ngân hàng, chủ yếu là Ngân hàng NN&PTNT cung ứng vốn bằng việc
thế chấp quyền sử dụng đất, Ngân hàng Chính sách xã hội hỗ trợ vốn cho nông dân
nghèo, giải quyết việc làm cho địa phương.
Bảng 3.3 Tình hình sử dụng lao động - Nông hộ
Stt Khoản mục
Định mức
ngày công
Số ngày
công
Giá trị VNĐ Tỷ lệ
1 Lao động gia đình 140.000 155 21.744.411 49,0%
2 Lao động Thuê mướn 140.000 162 22.613.273 51,0%
Tổng cộng 317 44.357.684 100,0%
Lao động bình quân/Hộ (mức 260 ngày/năm) 0,60
Lao động thuê bình quân/Hộ (mức 260 ngày/năm) 0,62
Nguồn: Kết quả khảo sát – 2015
46
Chi phí trong giai đoạn trồng mới (2 năm)
Với tổng chi phí đầu tư 469 triệu đồng/ha/2 năm, trong đó, chi phí lao động
chiếm cao nhất chiếm gần 59,8%; chi phí phân bón, thuốc BVTV chiếm 16,7%;
chi phí lãi vay chiếm 8,6% tổng phí đầu tư. Trong giai đoạn trồng mới, NH hết sức
khó khăn, do chưa có thu nhập, nhằm giảm gánh nặng, khoảng 80% tổng số NH có
vay tiền từ Ngân hàng và tiền trả chậm với các đại lý vật tư nông nghiệp nên chi
phí tài chính chiếm đến 8,6% (Bảng 3.4).
Chi phí trong giai đoạn sản xuất
NH chủ yếu chăm sóc và xử lý ra hoa cho trái, không phải tập trung lao
động đào đất lên líp, đắp mô, giâm cành,… nên chi phí lao động giảm hơn so giai
đoạn trồng mới và chiếm tỷ lệ 50%, vì phải xử lý ra hoa và phòng trừ dịch bệnh
chổi rồng nên chi phí phân bón, thuốc BVTV tăng và chiếm 36,9%, chi phí tài
chính chiếm 2,65% tổng phí sản xuất.
Bảng 3.4 Chi phí - Nông hộ (ha)
Stt Khoản mục
Giai đoạn
trồng mới (2 năm)
Giai đoạn
sản xuất (năm)
Giá trị
(Vnđ)
Tỷ lệ
(%)
Giá trị
(Vnđ)
Tỷ lệ
(%)
1 Giống 650.250 0,1%
2
Phân bón & Thuốc Bảo vệ
thực vật
78.313.050 16,7% 36.138.600 36,9%
3
Lao động (Gia đình & Thuê
mướn)
280.517.850 59,8% 49.541.400 50,6%
4
Phương tiện, Công cụ sản xuất
& Khấu hao
40.682.700 8,7% 2.149.650 2,2%
5
Chi phí tài chính (lãi ngân
hàng & trả chậm đại lý)
40.162.500 8,6% 2.593.350 2,6%
6
Chi phí khác (đi lại, ăn uống,
canh giữ vườn, nhiên liệu, vận
chuyển, thông tin liên lạc)
29.024.100 6,2% 7.451.100 7,6%
Tổng cộng 469.350.450 100% 97.874.100 100%
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
47
Cơ cấu chi phí canh tác 1 ha thể hiện ở Hình 3.3 (chưa tính chi phí đất đai).
Hình 3.6 Cơ cấu chi phí - Nông hộ
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của Nông hộ
Cây nhãn thường cho trái từ khi bắt đầu 24 tháng trồng mới và cho thu
hoạch kéo dài đến 15 - 20 năm, vì vậy để hoạch toán sản xuất kinh doanh, ta tính
chu kỳ canh tác là 15 năm, tính từ lúc thu hoạch - năm thứ 3 sau khi trồng.
Đánh giá hiệu quả sản xuất, ta thấy, lợi nhuận khoảng 14,3triệu đồng/năm.
Bình quân mỗi NH canh tác là 0,65ha với 2 lao động và 4 nhân khẩu thì thu nhập
bình quân đầu người khoảng gần 2 triệu đồng/tháng, tính cả tiền công lao động gia
đình và làm thuê mướn trong lúc rỗi, thu nhập từ các sản phẩm phụ.
Với giá bán và đầu mối tiêu thụ thời điểm khảo sát như sau:
Bảng 3.5 Giá bán và đầu mối tiêu thụ - Nông Hộ
Tác nhân
Khoản mục
Thương Lái Vựa Nhãn Lò Sấy Chợ TT
Sản lượng (Tấn) 26.058 1.531 809 491
Tỷ lệ (%) 90,2% 5,3% 2,8% 1,7%
Giá bán (Vnđ/Kg) 18.850 21.340 18.200 21.750
Giá Bình quân (Vnđ/Kg) 19.013
Tổng sản lượng (Tấn) 28.889
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
48
Bên cạnh, qua khảo sát nhận thấy, năng suất nhãn đang có biểu hiện giảm
sút do dịch bệnh chuỗi rồng đang bùng phát, năng suất là 8,21tấn/ha (Sở
NN&PTNT- 2014), thời điểm khảo sát thì năng suất sụt giảm còn 7,65 tấn/ha do
dịch bệnh chổi rồng. Dự báo của những chuyên gia ngành cho những năm tiếp là
giảm khoảng 5% năng suất và các yếu tố khác không đổi, thì thu nhập của người
dân sẽ giảm thấp xuống.
Nếu phân tích hiệu quả đầu tư, cho thấy các thông số: doanh thu/chi phí
trung gian (P/IC), giá trị gia tăng/chi phí trung gian (VA/IC), lợi nhuận nhuận
ròng/chi phí trung gian cũng khá cao. Điều này đã tạo động lực để NH chăm sóc
vườn nhãn tốt hơn để cải thiện thu nhập.
Bảng 3.6 Hoạch toán - Nông hộ (Tấn)
Stt Khoản mục
Giá trị
(1000đ)
Doanh thu
(%)
% IC,
VA
1 Doanh thu (P) 19.013 100,0%
2 Chi phí trung gian (IC) 5.412 28,5% 100%
+ Giống 6 0,1%
+ Phân bón 3.320 61,3%
+ Thuốc BVTV 2.086 38,6%
3 Gia trị gia tăng (VA) 13.601 71,5% 100%
+ Nhiên liệu 1.065 7,8%
+ Chi phí vận chuyển 261 1,9%
+ Lao động (gia đình + thuê mướn) 8.921 46,9% 65,6%
+ Lãi vay 689 3,6% 5,1%
+ Thông tin liên lạc 8 0,1%
+ Khác 154 1,1%
+ Lãi gộp 2.503 13,2% 18,4%
* Khấu hao công cụ 188 1,0% 8%
* Khấu hao kiến thiết cơ bản 447 2,4% 18%
* Lãi ròng (NPr) 1.868 9,8% 74,6%
4 P/IC 3,51
5 VA/IC 2,51
6 NPr/IC 0,35
7 NPr/P 9,82%
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
49
Với tỷ lệ lợi nhuận ròng/doanh thu khá cao đã chưa tính chi phí đất đai vào
chi phí sản xuất, nếu tính đất đai là thuê mướn khoảng từ 14,3 triệu đồng/năm/ha
trở lên, thì lợi nhuận sẽ âm.
Các vấn đề thương mại đối với Nông Hộ
Lý do bán sản phẩm cho người mua chủ yếu là do quen biết, ổn định từ
trước chiếm 75%, kế đến là thanh toán tiền ngay, giá phải chăng, điều kiện bán
buôn dễ dàng và nhân công thu hái, không đặt tiêu chuẩn về chất lượng (Bảng 3.7).
Thông tin về giá, thông thường dựa trên các nguồn như thương Lái (63%),
từ nông dân bán trước (57%), từ các vựa nhãn, lò sấy (37%) và nghe thông tin trên
Báo, đài (6,5%).
Về quan hệ mua bán: có đến 71,4% cho rằng việc định giá là do thương lái
quyết định, 21,7% số hộ cho rằng giá bán do hai bên thỏa thuận và 6,9% cho rằng
do NH định giá. Ta thấy vai trò của thương lái trong khâu quyết định giá vẫn còn
rất quan trọng, khuynh hướng định giá do hai bên thỏa thuận tuy có nhưng chưa rõ
ràng. Tỷ lệ NH quyết định giá bán không nhiều, chỉ đối với các NH có diện tích
canh tác lớn, năng suất, chất lượng cao thì họ mới có thể quyết định giá bán.
Bảng 3.7 Vấn đề thương mại đối với Nông hộ
Stt Lý do bán sản phẩm
Nguồn thông tin
định giá bán
Người định
giá bán
1
Mua giá cao, thanh
toán tiền ngay
12,5% Thương lái 63,1% Thương lái 71,4%
2
Mua ổn định (quen
biết từ trước)
75,0%
Nông dân bán
trước
57,2% Nông dân 6,9%
3 Nhân công thu hái 8,0%
Từ Vựa nhãn,
Lò sấy
37,0%
Hai bên
thỏa thuận
21,7%
4
Ứng tiền trước, đặt
tiền cọc
4,5% Báo, Đài 6,5% Khác 0%
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Những vấn đề khác
Ký kết hợp đồng tiêu thụ: Kết quả điều tra cho thấy không có NH nào ký
hợp đồng mua bán, vì phần lớn nông dân bán cho thương lái thu gom có mối quan
50
hệ lâu năm nên việc hợp đồng là không cần thiết. Tuy nhiên, có đến 58% số hộ
đồng ý là nên ký hợp đồng khi mua bán ngay đầu vụ (giá mua theo thời điểm bán),
còn 42% số hộ cho rằng không cần ký hợp đồng với lý do là thương lái quen biết,
hoặc không muốn ràng buộc bởi hợp đồng, hoặc ai mua giá cao thì bán không cần
ký hợp đồng trước.
Bảng 3.8 Lý do và Khó khăn khi trồng mới – Nông hộ
Stt Lý do trồng mới Khó khăn khi trồng mới
1
Vườn nhãn bị sâu bệnh nặng,
lão hóa
67,0% Vốn đầu tư 57,0%
2
Muốn có vườn nhãn năng suất,
chất lượng cao
89,0% Sâu bệnh (chuỗi rồng) 79,0%
3
Giống nhãn hiện tại chưa phù
hợp với thị trường xuất khẩu
67,0%
Mất thu nhập trong thời
gian trồng mới
42,0%
4
Trồng cây nhãn là phù hợp với
khả năng gia đình
35,0%
Kinh nghiệm canh tác
giống mới chất lượng cao
55,0%
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Những khó khăn khi trồng mới, cải tạo vườn là do phải đối phó với dịch
chuổi rồng (79%), vốn đầu tư (57%), tìm kiếm giống nhãn năng suất, chất lượng
cao (55%), vấn đề mất thu nhập trong thời gian trồng mới, cải tạo vườn (42%).
Tuy nhiên, NH cũng rất mong muốn cải tạo trồng mới vườn nhãn của mình
với những lý do như muốn có vườn nhãn với giống mới năng suất, chất lượng cao
xuất khẩu và để kháng dịch chuổi rồng.
Bảng 3.9 Tình hình cơ cấu thu nhập - Nông hộ
Stt Khoản mục
Đóng góp trong tổng thu
nhập
1 Cây nhãn 65,2%
2 Làm công, làm thuê 30,5%
3 Thu nhập từ sản phẩm cây trồng xen 2,4%
4 Vật nuôi, thủy sản 1,3%
5 Khác (Buôn bán nhỏ, tiểu thủ công…) 0,6%
Tổng cộng 100,0%
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
51
Về tình hình thu nhập trong thời gian đầu tư mới, cải tạo vườn, cũng như
thu nhập phụ trong thời gian sản xuất kinh doanh. Thu nhập từ cây nhãn chiếm đến
65,2% tổng thu nhập, tiếp đến là hơn 30,5% từ việc đổi công lao động lúc nhàn rỗi
và làm thuê.
3.2.2.2 Phân tích tác nhân Thương Lái
Tại Đồng Tháp, nhiều TL hợp thành mạng lưới thu mua rộng khắp trong
vùng. Qua khảo sát tại xã, thị trấn thường dao động là 1 đến 3 TL. Việc tiến hành
thu mua, thực hiện cả đường bộ và đường thủy để thuận tiện cho việc vận chuyển.
Trái nhãn được tiêu thụ thông qua TL chiếm đến 90,2%, với tổng sản lượng là
26.058 tấn trái, với tỷ lệ hao hụt là 2%, thì sản lượng tiêu thụ là 25.537 tấn.
Về phương thức mua hàng, không có TL nào ký hợp đồng mua bán ngay từ
đầu vụ hoặc ký hợp đồng khi mua. Phương thức mua hàng chủ yếu là thỏa thuận
giá thông qua đàm phám ngay lúc mua, được áp dụng 100%.
Về thông tin làm cơ sở cho việc định giá và phương thức mua, ta thấy việc
mua bán diễn ra bằng hình thức thỏa thuận miệng chiếm 95%, thông tin về giá chủ
yếu là dựa vào kênh tiêu thụ chủ yếu, chiếm đến 80%.
Về phân loại trái nhãn, 100% phân loại tương ứng với mức giá khác nhau
khi mua và thỏa thuận trực tiếp. Tuy nhiên việc phân loại này không đồng nhất, có
thể họ muốn tạo ra sự khác biệt để cho người bán tự thấy trái nhãn vườn mình ứng
với mức giá và sẽ lựa chọn thương lái thu mua phù hợp, đôi khi là sự dọa giá từ
những đầu mối tiêu thụ hay chợ đầu mối khác trước khi bán.
Bảng 3.10 Thông tin về giá và phương thức mua - Thương lái
Stt Thông tin về giá Phương thức mua
1 + Thương lái khác 11% + Hợp đồng văn bản 0%
2 + Vựa Nhãn 80% + Thỏa thuận miệng 95%
3 + Lò Sấy 5% + Ứng tiền trước, đặt cọc 5%
4 + Chợ đầu mối 4% + Khác 0%
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
52
Việc mua nhãn diễn ra quanh năm vì hiện tại việc xử lý ra hoa đã theo ý
muốn, tuy nhiên, vào mùa với trữ lượng lớn và trái nhãn sạch, đẹp sẽ bán được giá
hơn do XK, nhất là vào mùa Tết Nguyên đán, khi nhu cầu tăng cao.
Thị trường tiêu thụ
Các TL thường có khách hàng ổn định, chiếm đến 69,4% lượng hàng và có
thể cung cấp cho 01 VN chủ lực mà thôi, kế đến là các LS, với trái nhãn có chất
lượng thấp chiếm 6,7% và cung ứng 21,2% sản lượng đi ngoài tỉnh ngay trong
ngày, đêm họ thu mua được. Họ nhận đặt hàng (thông qua điện thoại) số lượng,
giá, nhu cầu về chất lượng và ngày để giao hàng. Vì các khách hàng thường có mối
quan hệ lâu năm nên có sự tin tưởng lẫn nhau. Đối với khách hàng mới thì ứng tiền
trước và nhận tiền mặt khi giao hàng.
Về định giá bán thường dựa trên cơ sở thông tin về giá có được, tuy nhiên
về chất lượng còn phân loại khác nhau nên trái nhãn chất lượng thấp, bán cho LS
với mức giá thấp tương ứng (Bảng 3.11).
Bình quân sử dụng 1,2 lao động gia đình chuyên nghề thu mua, và khoảng 2
đến 3 nhân công thường xuyên cho việc thu hái, bốc vác, vận chuyển tùy theo mùa
vụ. Chi phí thuê mướn khá biến động do giá thuê lao động tăng trong những năm
gần đây. Hầu hết trả lương theo việc khoán đầu tấn, tuy nhiên có xem xét đến
ngưỡng thu nhập, thấp nhất là ngày công lao động, thời gian làm việc thì tùy vào
lượng hàng thu mua, thu nhập bình quân khoảng 300.000đồng/tấn.
Bảng 3.11 Đầu mối tiêu thụ & Giá bán - Thương Lái
Tác nhân
Khoản mục
Vựa Nhãn Lò Sấy Chợ TT Chợ NT
Sản lượng (Tấn) 17.722 1.711 689 5.414
Tỷ lệ 69,4% 6,7% 2,7% 21,2%
Giá (Vnđ) 20.550 19.250 21.950 22.500
Giá bình quân (Vnđ) 20.914
Tổng sản lượng (Tấn) 25.537
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
53
Tiêu thụ được 1 tấn trái nhãn tươi, doanh thu là khoảng 20.914.000đồng,
trong đó, chi phí trung gian chiếm 91,9%, giá trị gia tăng chiếm 8,1%. Trong tổng
giá trị gia tăng thì công lao động chiếm 26,9%, lợi nhuận gộp chiếm gần 37,3%.
Lợi nhuận là 623.000đồng/tấn.
Vai trò thu gom trong chuỗi giá trị trái nhãn: ta thấy đã xóa bỏ được tình
trạng trái nhãn phải qua nhiều tầng nấc trung gian, điều này đã mang lại nhiều lợi
ích. Đồng thời, sự cạnh tranh giữa các đầu mối thu gom với nhau về giá cũng đã
làm vị thế của NH cao hơn trước.
Bảng 3.12 Hoạch toán - Thương lái (Tấn)
Stt Khoản mục
Giá trị
(1.000đ)
% Doanh
thu
% IC,
VA
1 Doanh thu (P) 20.914 100,0%
2 Chi phí trung gian (IC) 19.227 91,9% 100%
+ Nguyên liệu (Nhãn trái) 18.850 98,0%
+ Sản phẩm hao hụt (2%) 377 2,0%
3 Giá trị gia tăng (VA) 1.687 8,1% 100%
+ Chi phí vận chuyển 379 22,5%
+ Lao động (thu hái, gom, vận
chuyển) 453 26,9%
+ Chi phí lãi vay 207 12,3%
+ Chi phí thông tin liên lạc 10 0,6%
+ Chi phí khác 8 0,5%
+ Lãi gộp 30 37,3%
* Khấu hao và duy tu trang thiết bị 7 1,1%
* Lãi ròng 623 98,9%
4 P/IC 1,09
5 VA/IC 0,09
6 NPr/IC 0,03
7 NPr/P 2,98%
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Thực tế, hầu hết NH bán nhãn tại vườn (chiếm đến 90,2%). Điều này cho
thấy vai trò của TL khá quan trọng trong việc thực hiện chức năng thị trường, đó
54
là, tiêu thụ trực tiếp và cung ứng cho người tiêu dùng qua các kênh phân phối. Qua
đó, góp phần giải quyết việc làm cho địa phương.
Ta thấy tỷ lệ lợi nhuận so với doanh thu là 2,98% là khoảng lợi nhuận khá
cạnh tranh, là động cơ để gia nhập ngành hàng này, vì vậy, mức độ cạnh tranh
ngày càng cao.
3.2.2.3 Phân tích tác nhân Vựa Nhãn
Tổng sản lượng thu mua là 19.254 tấn, chiếm 66,65% tổng sản lượng sản
xuất, với tỷ lệ hao hụt do cắt tỉa cành, loại bỏ những trái nhỏ, trái kém chất lượng
là 12% thì sản lượng tiêu thụ là 16.944 tấn. Trong đó, cung ứng 74,5% sản lượng
đến DN XK, 23,6% đi ngoài tỉnh và 1,9% đến chợ trong tỉnh.
Là hệ thống chân rết thu mua đầu vào và sơ chế bảo quản, đóng thùng, vào
rổ theo quy cách. VN sử dụng 1,3 lao động quản lý, và khoảng 17 nhân công cắt
tỉa cành, loại bớt trái nhỏ, trái xấu, tiến hành đóng thùng, vào rổ, trang trí mặt và
tùy theo mùa vụ có thể huy động đến 40 lao động thường xuyên.
Về phương thức mua hàng, trên cơ sở nhận định về chất lượng làm cơ sở
định giá mua và bán. Về phân loại trái nhãn khi mua tương ứng với mức giá khác
nhau và thỏa thuận trực tiếp tùy theo tỷ lệ lượng hàng hóa hao hụt khi sơ chế. Việc
phân loại này chưa đồng nhất và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của đôi bên.
Bảng 3.13 Đầu mối thu mua/tiêu thụ - Vựa Nhãn
Tác nhân
Khoản mục
Đầu mối thu mua Đầu mối tiêu thụ
NH TL DN XK Chợ TT Chợ NT
Sản lượng (Tấn) 1.531 17.722 12.623 322 3.999
Tỷ lệ (%) 7,8% 92,2% 74,5% 1,9% 23,6%
Giá (Vnđ/Kg) 21.340 20.550 26.870 22.650 22.940
Giá Bình quân (Vnđ/Kg) 20.612 25.862
Tổng sản lượng (Tấn) 19.254 16.943
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Thực hiện việc thu mua, tiêu thụ với cơ cấu mức giá và sản lượng từ các tác
nhân có khác nhau. Giá thu mua trực tiếp từ NH có cao hơn do nhiều nguyên nhân,
55
trong đó, NH bán sản phẩm thường có chất lượng cao hơn đôi chút nhưng không
thỏa thuận bán được với TL. Việc tiêu thụ, giá bán DN XK cao hơn các đầu mối
tiêu thụ còn lại.
Các VN thường có số lượng ổn định làm chân rết thu mua cho DN XK, tuy
nhiên, các DN thường cung cấp bao bì, nhãn hiệu đưa ra tiêu chuẩn chất lượng và
giá sẽ mua, hướng xử lý sơ chế bảo quản và mua theo số lượng, từng chuyến xe
vận chuyển, từng đợt, có thể là hằng ngày.
Bảng 3.14 Hoạch toán - Vựa nhãn (Tấn)
Stt Khoản mục
Giá trị
(1.000đ)
% Doanh
thu
% IC,
VA
1 Doanh thu (P) 25.862 100%
2 Chi phí trung gian (IC) 23.085 89,3% 100%
+ Mua nhãn trái 20.612 89,3%
+ Sản phẩm hao hụt (12%) 2.473 10,7%
3 Giá trị gia tăng (VA) 2.777 10,7% 100%
+ Lao động 1.775 63,9%
+ Chi phí lãi vay 206 7,4%
+ Chi phí thông tin liên lạc 8 0,3%
+ Chi phí mặt bằng + điện + nước 256 9,2%
+ Chi phí vận chuyển 143 5,1%
+ Chi phí khác 25 0,9%
+ Lệ phí, thuế 207 7,4%
+ Lãi gộp 157 5,7%
* Khấu hao và duy tu trang thiết bị 9 5,7%
* Lãi ròng 148 94,3%
4 P/IC 1,12
5 VA/IC 0,12
6 NPr/IC 0,01
7 NPr/P 0,57%
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Chi phí của VN chủ yếu là chi phí mua nhãn trái, chiếm đến 89,3%, sản
phẩm hao hụt chiếm 10,7% chi phí mua, chi phí lao động bao gồm cắt tỉa cành,
loại trái nhãn xấu, vào rổ, đóng thùng làm mặt chiếm 63,9% giá trị gia tăng. Chi
phí lao động thuê mướn khá biến động do giá thuê lao động tăng trong những năm
56
gần đây. Hầu hết các VN trả lương theo việc khoán sản phẩm, thời gian làm việc
thì tùy vào lượng hàng thu mua hàng ngày và khả năng, số lượng người lao động
với thu nhập bình quân khoảng 140.000đồng/ngày.
Với tổng phí tính chung cho 1 tấn trái được vào rổ, đóng thùng quy cách
vận chuyển là 25.714.000đồng/tấn. Với 1 tấn sản phẩm, sẽ có lãi khoảng 148.000
đồng/tấn. Có những lúc vào mùa vụ, hằng ngày xuất hàng vài mươi tấn, thì cũng
đã phát sinh lãi vài triệu đồng/ngày (Bảng 3.14).
Việc tham gia vào chuỗi, VN đã đóng góp giá trị gia tăng gần 10,7% và giải
quyết lao động gần 63,9% giá trị gia tăng, thuế, lệ phí 7,4%. Tỷ lệ lợi nhuận so với
doanh thu là 0,57% là khoảng khá thấp, thể hiện mức độ cạnh tranh khá cao.
3.2.2.4 Phân tích tác nhân Lò sấy
Tổng sản lượng thu mua là 2.520 tấn, chiếm 8,72% sản lượng sản xuất, với
tỷ lệ hao hụt do cắt tỉa cành, loại bỏ những trái nhỏ, trái kém chất lượng là 2%, sản
lượng thành phẩm cung ứng ra thị trường là 2.470 tấn, nếu qui đổi 15 kg tươi ra 1
kg sấy khô, tương đương 165 tấn nhãn sấy. Trong đó, cung ứng 100% sản lượng
đến DN XK, nơi tập trung và là đầu mối cung cấp nhãn sấy khô và kênh phân phối
đến người tiêu dùng cuối cùng.
Bảng 3.15 Đầu mối thu mua/tiêu thụ - Lò Sấy
Tác nhân
Khoản mục
Đầu mối thu mua Đầu mối tiêu thụ
NH TL DN XK
Sản lượng (Tấn) 809 1.711 2.470
Tỷ lệ (%) 31,7% 68,3% 100,0%
Giá (Vnđ/Kg) 18.200 19.250 23.700
Giá Bình quân (Vnđ/Kg) 18.918 23.700
Tổng sản lượng (Tấn) 2.520 2.470
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Hiện trạng các LS không nhiều, hoạt động theo mùa vụ, quy mô trang thiết
bị lạc hậu, công suất thấp, tỷ lệ hao hụt nhiều, với khoảng 15 kg nhãn tươi cho ra 1
kg nhãn sấy, và sản phẩm đầu vào hao hụt khoảng 2% do loại bỏ những trái kém
phẩm chất, kích cở nhỏ, giảm trọng lượng tự nhiên.
57
Cơ sở vật chất tương đối lạc hậu, thô sơ và khả năng chế biến và phương
thức bảo quản chưa cao, sản phẩm chưa đảm bảo chất lượng xuất khẩu ngày càng
đòi hỏi cao của thị trường EU, Mỹ.
Về phương thức hoạt động kinh doanh khá đơn giản, do DN XK bao tiêu
100% sản phẩm đầu ra với định mức quy chuẩn chất lượng sản phẩm, độ ẩm và
chất bảo quản theo quy định, với mức giá đã được định giá. LS không kén chất
lượng sản phẩm đầu vào, tuy nhiên đòi hòi phân loại sản phẩm, để tính mức độ hao
hụt sản phẩm khi sản xuất. Việc phân loại sản phẩm thường được định giá mua
tương ứng cho từng đợt hàng và thỏa thuận (Bảng 3.15).
Bảng 3.16 Hoạch toán - Lò sấy (Kg)
Stt Khoản mục
Giá trị
(Vnđ)
% Doanh
thu
% IC,
VA
1 Doanh thu (P) 355.500 100,0%
2 Chi phí trung gian (IC) 289.438 81,4% 100%
+ Nguyên liệu (15 kg tươi : 1 sấy) 283.763 98,0%
+ Hao hụt 2% 5.675 2,0%
3 Giá trị gia tăng (VA) 66.062 18,6% 100%
+ Lao động 19.100 28,9%
+ Chi phí lãi vay 2.270 3,4%
+ Nhiên liệu 2.580 3,9%
+ Chi phí mặt bằng, điện, nước 750 1,1%
+ Chi phí thông tin liên lạc 150 0,2%
+ Chi phí khác 7.500 11,4%
+ Thuế, lệ phí 10.665 16,1%
+ Lãi gộp 23.046 34,9%
* Khấu hao 9.250 40,1%
*Lãi ròng 13.796 59,9%
4 P/IC 1,02
5 VA/IC 0,23
6 NPr/IC 0,05
7 NPr/P 3,9%
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Về hoạch toán sản xuất kinh doanh, chi phí trung gian chiếm 81,4%, gồm
phí nguyên liệu và hao hụt, giá trị gia tăng chiếm 18,6%, gồm lao động chiếm
58
28,9%, các khoản phí, thuế là 16,1%. Góp phần giải quyết việc làm và nguồn thu
phúc lợi xã hội. Tổng phí sản xuất ra 1 kg sản phẩm sấy là gần 342.000đ/kg, lợi
nhuận 13.796 đồng/kg (Bảng 3.16).
3.2.2.5 Phân tích tác nhân Doanh nghiệp Xuất khẩu trái cây
Việc xuất khẩu thường là đóng thùng nhãn tươi, nhãn sấy đóng gói xuất
sang thị trường Trung Quốc (cả Đài Loan), Hàn Quốc, Mỹ,… Đây là kênh tiêu thụ
quan trọng trong chuỗi nói riêng vì mang lại giá trị gia tăng, thu ngoại tệ, đòi hỏi
mức độ đầu tư vốn và công nghệ ngày càng hiện đại, đặc biệt thị trường tiêu thụ
tiềm năng rộng lớn.
Hầu hết các thị trường xuất khẩu do DN XK tự tìm, hoặc khách hàng nước
ngoài liên hệ và thiết lập mối quan hệ mua bán lâu năm. Đối thủ cạnh tranh trong
mặt hàng này khá nhiều, trong nước có nhiều nơi sản xuất và tiêu thụ trái nhãn
tương tự, ngoài nước chịu sự cạnh tranh từ nông sản Thái Lan,...
Tổng sản lượng thu mua là 15.093 tấn trái chiếm 52,2% sản lượng sản xuất,
trong đó, 165 tấn sấy và 12.623 tấn tươi, với tỷ lệ hao hụt do vận chuyển, trái kém
chất lượng theo thời gian là 2,86% (sấy) và 2% (tươi). Trong đó, xuất khẩu: 37,3%
nhãn tươi và 31,3% nhãn sấy, phần còn lại tiêu dung trong nước.
Bảng 3.17 Đầu mối thu mua/tiêu thụ - Doanh nghiệp Xuất khẩu
hoản mục
Đầu mối thu mua Đầu mối tiêu thụ
Lò Sấy
Vựa
Nhãn
Nội địa Xuất khẩu
Tươi Sấy Tươi Sấy
Sản lượng (Tấn) 2.469 12.623 7.757 1.648 4.614 751
Tỷ lệ (%) 13,7% 86,3% 62,7% 68,7% 37,3% 31,3%
Giá (Vnđ/Kg) 23.700 26.870 34.658 25.819 40.300 29.340
Giá bình quân (Vnđ/Kg) 26.435 31.842
Tổng sản lượng (Tấn) 15.093 14.770
Nguồn: Kết quả khảo sát – 2015
Doanh nghiệp có mối quen làm ăn lâu dài với các đầu mối thu mua rộng
khắp trên địa bàn vùng nguyên liệu. Đó là, hệ thống mạng lưới thu gom sơ chế
59
biến được cung cấp bao bì, nhãn hiệu, thông tin về chất lượng và giá, cam kết tiêu
thụ sản lượng, hỗ trợ chi phí vận chuyển theo nguyên tắc từng chuyến, trong ngày.
Chịu trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật tại chỗ, quy cách vào rổ, đóng thùng và kỹ
thuật sấy, đóng gói.
Về cơ cấu giá bán, DN XK thực hiện giá bán với 2 loại giá cho xuất khẩu
và nội địa, với 2 loại sản phẩm là: nhãn tươi và nhãn sấy. Đầu mối thu mua và thị
trường tiêu thụ thể hiện ở Bảng 3.17.
Thông thường DN XK giao hàng tại cảng xuất khẩu vì khi giao hàng tại nơi
mua thì người bán phải trả tiền vận chuyển và tìm ẩn nhiều rủi ro. Hiện tại khó
khăn chủ yếu là việc bảo quản nông sản hàng hóa vì khi vận chuyển xa đòi hỏi thời
gian dài, hàng hóa dễ dẫn đến giảm chất lượng.
Giá trị
(1.000đ)
% Doanh
thu
% IC,
VA
Giá trị
(1.000đ)
% Doanh
thu
% IC,
VA
1 Doanh thu (P) 40.300 100% 34.658 100%
2 Chi phí trung gian (IC) 27.407 68,0% 100% 27.407 79,1% 100%
+ Nguyên liệu 26.870 98,0% 26.870 98,0%
+ Hao hụt 537 2,0% 537 2,0%
3 Giá trị gia tăng (VA) 12.893 32,0% 100% 7.251 20,9% 100%
+ Chi phí vận chuyển 2.687 20,8% 1.344 18,5%
+ Chi phí giao hàng 537 4,2% 269 3,7%
+ Thông tin liên lạc 12 0,1% 6 0,1%
+ Chi phí nhân công 1.476 11,4% 1.328 18,3%
+ Chi phí quản lý 269 2,1% 228 3,2%
+ Chi phí lãi vay 322 2,5% 290 4,0%
+ Thuế 2.821 21,9% 2.150 29,6%
+ Chi phí khác 90 0,7% 45 0,6%
+ Lãi gộp 4.678 36,3% 1.591 21,9%
* Khấu hao 1.075 23,0% 967 60,8%
* Lãi ròng 3.603 77,0% 623 39,2%
4 P/IC 1,47 1,26
5 VA/IC 0,47 0,26
6 NPr/IC 0,13 0,02
7 NPr/P 8,9% 1,80%
Nội địa
Khoản mục
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Stt
Xuất khẩu
Bảng 3.18 Hoạch toán của Doanh nghiệp Xuất khẩu (1 tấn trái tươi)
60
Với 1 tấn trái nhãn tươi xuất khẩu, sẽ phát sinh 40,3 triệu đồng doanh thu,
3,6 triệu đồng lợi nhuận, tỷ lệ 8,9% doanh thu. Giá trị gia tăng là 12,9 triệu đồng
chiếm 32,0% doanh thu. Đóng góp thuế, phí 2,8 triệu đồng, chiếm 21,9% giá trị
gia tăng.
Về sản phẩm trái nhãn tươi khi bán nội địa, khi tiêu thụ 1 tấn trái tươi,
doanh nghiệp thu về 34,7 triệu đồng, lợi nhuận 623 ngàn đồng, chiếm 1,8% doanh
thu. Giá trị gia tăng phát sinh 7,3 triệu đồng, chiếm 20,9% doanh thu, trong đó, phí
nhân công chiếm 18,3%, góp phần giải quyết việc làm cho người dân địa phương.
Về xuất khẩu sản phẩm nhãn sấy, với 1 tấn tiêu thụ, phát sinh doanh thu là 440
triệu đồng, lợi nhuận 27,2 triệu đồng, tỷ lệ 6,2%, giá trị gia tăng là 73,7 triệu đồng
chiếm 16,8% doanh thu.
Với 1 tấn trái nhãn sấy tiêu thụ trong nước, doanh nghiệp thu về 387 triệu
đồng, lợi nhuận 1,2 triệu đồng, tỷ lệ 0,3% doanh thu. Tiêu thụ nội địa thì giá trị gia
tăng khá thấp chỉ đạt 5,4% so với xuất khẩu là 16,8% doanh thu.
Giá trị
(1.000đ)
% Doanh
thu
% IC,
VA
Giá trị
(1.000đ)
% Doanh
thu
% IC,
VA
1 Doanh thu (P) 440.100 100% 387.288 100%
2 Chi phí trung gian (IC) 366.378 83,2% 100% 366.378 94,6% 100%
+ Nguyên liệu 356.211 97,2% 356.211 97,2%
+ Hao hụt 10.167 2,8% 10.167 2,8%
3 Giá trị gia tăng (VA) 73.722 16,8% 100% 20.910 5,4% 100%
+ Chi phí vận chuyển 14.220 19,3% 7.110 34,0%
+ Chi phí giao hàng 1.778 2,4% 356 1,7%
+ Thông tin liên lạc 100 0,1% 50 0,2%
+ Chi phí nhân công 1.067 1,4% 711 3,4%
+ Chi phí quản lý 711 1,0% 355 1,7%
+ Chi phí lãi vay 2.844 3,9% 1.777 8,5%
+ Thuế, phí 14.220 19,3% 3.555 17,0%
+ Chi phí khác 885 1,2% 443 2,1%
+ Lãi gộp 37.898 51,4% 6.553 31,3%
* Khấu hao 10.665 28,1% 5.332 81,4%
* Lãi ròng 27.233 71,9% 1.221 18,6%
4 P/IC 1,201 1,057
5 VA/IC 0,201 0,057
6 NPr/IC 0,074 0,003
7 NPr/P 6,2% 0,3%
Stt
Bảng 3.19 Hoạch toán của Doanh nghiệp Xuất khẩu (1 tấn nhãn sấy)
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Khoản mục
Xuất khẩu Nội địa
61
3.2.2.6 Phân tích tác nhân Người Bán lẻ tại Chợ đầu mối trong tỉnh
Chợ đầu mối bán lẻ trong tỉnh, tiêu thụ nông sản tươi và giới thiệu với
người tiêu dùng và khách du lịch khi đến Đồng Tháp. Với tổng lượng tiêu thụ đến
1.217tấn trái, lượng hao hụt khi bán là 19%.
Bảng 3.20 Bảng Giá mua bán và Đầu mối thu mua/tiêu thụ
Người bán lẻ tại Chợ đầu mối trong Tỉnh
Khoản mục
Đầu mối thu mua
Tiêu thụ
NH TL VN
Sản lượng (Tấn) 491 689 322 1.217
Tỷ lệ (%) 31,9% 45,7% 22,3% 100%
Giá (Vnđ/Kg) 21.750 21.950 22.650 29.600
Giá Bình quân (Vnđ/Kg) 22.043 29.600
Tổng Sản lượng (Tấn) 1.503 1.217
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Đầu mối thu mua trái nhãn với 3 mức giá khác nhau, tùy thuộc việc loại bỏ
những sản phẩm kém chất lượng, cắt tỉa bớt cành không mang trái nên giá mua có
thay đổi. Giá mua bình quân ở mức 22.043đồng/kg trái tươi và giá bán bình quân
29.600đồng/kg. Hao hụt do trái rơi rụng, giảm phẩm chất theo thời gian, cần cắt tỉa
và trang trí đẹp hơn,.. và sản phẩm không bán được phải bỏ là 19% tổng lượng
hàng mua vào.
Về chi phí trung gian dùng cho việc mua nhãn trái và hao hụt đã chiếm
88,6% tổng chi phí. Giá trị gia tăng chiếm 11,4%, trong đó, phí mặt bằng và lao
động chiếm 65,3%. Phí lao động do người bán cung cấp hàng ngày bán được
khoảng 120kg sản phẩm trái tươi (định mức 144.000đ/ngày công).
Bán được 1 kg trái tươi 29.600 đồng, thì lợi nhuận 529đồng, chiếm 1,8%
doanh thu. Với lượng bán 120kg, thu nhập bình quân là 207.500đồng/ngày, góp
phần cải thiện thu nhập cho người bán.
62
Bảng 3.21 Hoạch toán - Người Bán lẻ tại Chợ đầu mối trong Tỉnh
Stt Khoản mục
Giá trị
(1.000đ)
% Doanh
thu
% IC,
VA
1 Doanh thu (P) 29.600 100,0%
2 Chi phí trung gian (IC) 26.231 88,6% 100%
+ Mua nhãn trái 22.043 84,0%
+ Sản phẩm hao hụt (19%) 4.188 16,0%
3 Giá trị gia tăng (VA) 3.369 11,4% 100%
+ Chi phí mặt bằng + điện + nước 1.000 29,7%
+ Chi phí thông tin liên lạc 80 2,4%
+ Lao động 1.200 35,6%
+ Chi phí lãi vay 441 13,1%
+ Lệ phí, thuế 90 2,7%
+ Lãi gộp 559 16,6%
* Khấu hao 30 5,4%
* Lãi ròng (NPr) 529 94,6%
4 P/IC 1,13
5 VA/IC 0,13
6 NPr/IC 0,02
7 NPr/P 1,8%
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
3.2.2.7 Phân tích tác nhân Người bán lẻ tại chợ đầu mối ngoài tỉnh
Với thị trường tiêu thụ ngoài tỉnh, với 15.007 tấn trái qui đổi/năm, trong đó,
nhãn tươi là 13.390 tấn, tỷ lệ hao hụt khi bán là 22% và 1.615 tấn nhãn sấy/năm
với tỷ lệ hao hụt là 2%.
Bảng 3.22 Bảng Giá mua bán & Đầu mối thu mua/tiêu thụ
Người Bán lẻ tại Chợ đầu mối ngoài Tỉnh
Khoản mục
Đầu mối thu mua Tiêu thụ
Nhãn tươi Nhãn sấy Nhãn
tươi
Nhãn
sấyTL VN DN XK DN XK
Sản lượng (Tấn) 5.414 3.999 7.756 1.648,00 13.391 1.615
Tỷ lệ (%) 23,10% 25,98% 50,92% 100% 100% 100%
Giá (Vnđ/Kg) 22.500 22.940 34.658 25.819 38.900 31.499
Giá Bình quân(Vnđ/Kg) 28.805 25.819 38.900 31.499
Tổng Sản lượng(Tấn) 17.168 1.648 13.391 1.615
Nguồn: Kết quả khảo sát – 2015
63
Đầu mối thu mua với 3 mức giá khác nhau, bao gồm việc loại bỏ những sản
phẩm kém chất lượng, cắt tỉa bớt cành không mang trái nên có giá mua khác nhau,
DN XK bao gồm phí vận chuyển và hao hụt sản phẩm, phí đóng thùng. Giá mua
bình quân ở mức 28.805đồng và giá bán bình quân 38.900đồng/kg trái tươi, và
lượng hao hụt chiếm đến 22%. Giá mua 25.819đồng, giá bán 31.499 đồng kg nhãn
tươi qui đổi (15 kg tươi : 1 kg sấy khô) và lượng hao hụt là 2%.
Phí trung gian dùng mua trái và hao hụt chiếm 90,3% tổng phí. Giá trị gia
tăng là 9,7%, trong đó, phí mặt bằng và lao động chiếm 26,6%.
Với việc bán 1 kg nhãn qui đổi theo tỷ lệ thì bình quân được 38.103đồng,
thì lợi nhuận 1.083đồng/kg, chiếm 2,9% doanh thu. Phí lao động do người bán
cung cấp hàng ngày bán được khoảng 150kg (150.000đ/ngày công). Như vậy,
hằng ngày người bán lẻ tại chợ thu nhập 312.430đồng/ngày (Bảng 3.23).
Giá trị % Doanhthu % IC, VA Giá trị % Doanhthu % IC, VA
1 Doanhthu(P) 38.900 100% 31.499 100%
2 Chi phí trung gian(IC) 35.142 90,3% 100,0% 26.336 83,6% 100%
+ Mua nhãntrái 28.805 82,0% 25.819 98,0%
+ Sảnphẩmhao hụt 6.337 18,0% 516 2,0%
3 Giá trị gia tăng (VA) 3.758 9,7% 100% 5.164 16,4% 100%
+ Chi phí mặt bằng + điện+ nước 1.000 26,6% 500 9,7%
+ Chi phí thông tinliênlạc 80 2,1% 200 3,9%
+ Lao động 1.000 26,6% 500 9,7%
+ Chi phí lãi vay 576 15,3% 824 16,0%
+ Lệ phí, thuế 90 2,4% 1.000 19,4%
+ Lãi gộp 1.012 26,9% 2.140 41,4%
* Khấuhao 20 2,0% 300 14,0%
* Lãi ròng (NPr) 992 98,0% 1.840 86,0%
4 P/IC 1,11 1,20
5 VA/IC 0,11 0,20
6 NPr/IC 0,03 0,07
7 NPr/P 2,5% 5,8%
Bảng 3.23 Hoạch toán của Người Bán lẻ tại Chợ đầu mối Ngoài tỉnh
Nhãnsấy
Nguồn:Kết quả khảo sát - 2015
Nhãntươi
KhoảnmụcStt
64
Về tỷ lệ hao hụt khi bán nhãn tươi là 22%, riêng nhãn sấy thì tỷ lệ hao hụt
chỉ 2% do bị bể, nát vỏ trái nhãn và khả năng bảo quản là khá tốt có thể để lâu
được, nên mức độ rủi ro thấp và nhưng khả năng chiếm dụng vốn lớn, doanh số
bán ra không nhiều và thường bán được vào mùa nghịch.
3.2.2.8 Phân tích các tác nhân thúc đẩy, hỗ trợ chuỗi
Tủy theo chức năng và nhiệm vụ mà một số cơ quan quản lý nhà nước có
những vai trò quan trọng đối với sự phát triển chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò –
Đồng Tháp.
Đối với Ủy ban nhân dân và Đoàn thể tỉnh Đồng Tháp
Chỉ đạo các ngành thuộc quyền quản lý phối hợp với các đoàn thể tuyên
truyền, vận động người dân thay đổi tập quán, cách thức sản xuất, để nâng cao
năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Tích cực vận động thành lập các THT, HTX trong vùng chuyên canh cây
nhãn để làm trung tâm cho việc chuyển giao khoa học kỹ thuật, thực hiện các
chính sách ưu đãi đối với sản xuất và đầu mối tổ chức sản xuất và tiêu thụ.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Các cơ quan khuyến nông
Là cơ quan thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về nông nghiệp, chịu trách
nhiệm lập kế hoạch cho việc phát triển cây nhãn, quản lý các hoạt động nông
nghiệp từ cây giống, kỹ thuật canh tác, hệ thống quy trình canh tác… Đào tạo, tập
huấn cho nông dân thông qua các mô hình trình diễn các cải tiến kỹ thuật, hệ thống
canh tác. Thực hiện việc giám sát và hướng dẫn các quy tắc sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật.
Tổ chức dập dịch chổi rồng trên cây nhãn bằng nguồn kinh phí hỗ trợ của
nhà nước, bằng việc tổ chức trình diễn mô hình phòng trừ, dập dịch chổi rồng tại
những vườn nhãn điểm, sau đó nhân rộng và hỗ trợ kinh phí dập dịch tùy theo mức
độ thiệt hại dịch bệnh gây ra (bình quân hỗ trợ khoảng 1 triệu đồng/ha). Mô hình
65
trình diễn giống nhãn Tứ quý chống chịu bệnh chổi rồng tại huyện Châu Thành,
Cao Lãnh.
Sở Khoa học công nghệ
Chủ trì nghiên cứu các công nghệ mới về trồng trọt và chuyển giao đến NH.
Tham gia hỗ trợ về áp dụng hệ thống quản lý nông sản sạch, các dự án năng suất,
chất lượng sản phẩm. Thực hiện các chương trình hỗ trợ các sản phẩm chủ lực của
tỉnh Đồng Tháp, trong đó, có cây nhãn.
Sở Công thương và Trung tâm xúc tiến thương mại
Thực hiện các chương trình thương mại, tham gia các hội chợ triển lãm
trưng bày, lễ hội trái cây, quảng bá sản phẩm, định hướng thị trường tiêu thụ. Thực
hiện chức năng quản lý thương mại, xuất nhập khẩu và nội địa.
Các trường, viện nghiên cứu
Đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu và phát triển giống và quy trình
canh tác để cải thiện chất lượng. Hỗ trợ kỹ thuật canh tác, chăm sóc…có chuyên
gia xử lý các dịch bệnh hại phát sinh trên cây nhãn như bệnh chổi rồng.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với chức năng, nhiệm vụ
của mình đã tiến hành giải ngân bằng thế chấp quyền sử dụng đất đai, năm 2014 đã
cung ứng vốn đến 80% , Ngân hàng chính sách xã hội cho vay từ quỹ quốc gia giải
quyết việc làm khoảng 5%. Tổng vốn vay bình quân 30 triệu đồng, chủ yếu là cho
vay ngắn, trung hạn, lãi suất trên dưới 10%/năm, vốn còn lại NH phải vay trả chậm
đại lý vật tư nông nghiệp thường lãi suất cao hơn.
3.2.3 Phân tích kinh tế chuỗi giá trị
3.2.3.1 Hiệu quả tài chính
Hiệu quả tài chính toàn chuỗi, với tổng sản lượng tiêu thụ là 104.832 tấn
(cộng dồn), tổng doanh thu (thu nhập) là 2.710.400 triệu đồng, lợi nhuận 116.049
triệu đồng, chiếm 4,28 doanh thu. Sản lượng sản xuất là 28.889 tấn, sản lượng tiêu
66
dùng là 21.588 tấn, trong đó, nội địa là 16.222 tấn, xuất khẩu là 5.365 tấn, hao hụt
là 25%, tương đương 7.302 tấn (Bảng 3.24).
Sản lượng qua tác nhân là yếu tố cấu thành hiệu quả sản xuất kinh doanh
của tác nhân đó. Ta thấy, sản lượng LS là 2.470 tấn khá thấp, do thường thu mua
sản phẩm chất lượng và giá thường thấp hơn. Chợ trong tỉnh tiêu thụ 1.217 tấn là
khách hàng tại chỗ và khách du lịch, vãng lai đến tỉnh. DN XK đã phân phối
14.770 tấn, trong đó, xuất khẩu 5.365 tấn trái qui đổi (15 tươi: 1sấy).
NH TL LS VN DN XK Chợ TT Chợ NT
1. Sản lượng (tấn) 23.407 20.101 1.697 12.236 9.405 1.217 15.005
2. Giá bán (kg) 19.013 20.914 23700 25.862 30.037 29600 38.104
3. Lợi nhuận (kg) 1.868 623 920 148 340 529 1.083
4. Tổng Lợi nhuận (triệu đồng) 43.718 12.518 1.561 1.814 3.198 643 16.248
5. Tổng Thu nhập (triệu đồng) 445.047 420.387 40.216 316.439 282.488 36.023 571.743
6. % Tổng Lợi nhuận 54,9% 15,7% 2,0% 2,3% 4,0% 0,8% 20,4%
7. % Tổng Thu nhập 21,1% 19,9% 1,9% 15,0% 13,4% 1,7% 27,1%
1. Sản lượng (tấn) 5.482 5.436 773 4.708 5.365 - -
2. Giá bán (kg) 19.013 20.914 23700 25.862 35.299
3. Lợi nhuận (kg) 1.868 623 920 148 2.787
4. Tổng Lợi nhuận (triệu đồng) 10.238 3.385 711 698 14.955 - -
5. Tổng Thu nhập (triệu đồng) 104.222 113.696 18.323 121.772 189.390 - -
6. % Tổng Lợi nhuận 34,1% 11,3% 2,4% 2,3% 49,9% 0,0% 0,0%
7. % Tổng Thu nhập 19,0% 20,8% 3,3% 22,2% 34,6% 0,0% 0,0%
1. Sản lượng (tấn) 28.889 25.537 2.470 16.944 14.770 1.217 15.005
2. Giá bán (kg) 19.013 20.914 23.700 25.862 35.378 29.600 38.103
3. Lợi nhuận (kg) 1.868 623 920 148 1.660 529 1.083
4. Tổng Lợi nhuận (triệu đồng) 53.956 15.903 2.272 2.512 24.515 643 16.248
5. Tổng Thu nhập (triệu đồng) 549.269 534.083 58.539 438.211 522.531 36.023 571.743
6. % Tổng Lợi nhuận 46,5% 13,7% 2,0% 2,2% 21,1% 0,6% 14,0%
7. % Tổng Thu nhập 20,3% 19,7% 2,2% 16,2% 19,3% 1,3% 21,1%
Chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - tỉnh Đồng Tháp - Nội địa
Chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - tỉnh Đồng Tháp - Xuất khẩu
Chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - tỉnh Đồng Tháp (bao gồm cả nội địa và xuất khẩu)
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Bảng 3.24 Phân tích tổng hợp kinh tế chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp
Nhìn chung, cơ cấu phân phối lợi nhuận khá tập trung vào khâu thương mại
sản phẩm, phân phối ít vào khâu sản xuất, chế biến. Như DN XK chiếm 21,1%, TL
chiếm 13,7%, Chợ NT là 14%, trong khi đó VN, LS chiếm tỷ lệ khoảng 2%.
67
Trong cơ cấu chi phí, ta thấy: TL, DN XK và NH có vốn đầu tư lớn, mỗi tác
nhân chiếm 20% tổng phí đầu tư, đây là những tác nhân thâm dụng vốn đầu tư sản
xuất kinh doanh cao – vì vậy, đến 80% số NH có vay vốn ngân hàng.
Bảng 3.25 Cơ cấu chi phí, lợi nhuận, thu nhập chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp
NH TL LS VN DN XK Chợ TT Chợ NT
Cơ cấu chi phí
Nội địa Giá trị 401.329 407.869 38.656 314.625 279.290 35.380 555.495
Tỷ trọng 19,7% 20,1% 1,9% 15,5% 13,7% 1,7% 27,3%
Xuất khẩu Giá trị 93.984 110.311 17.612 121.074 174.435 0 0
Tỷ trọng 18,2% 21,3% 3,4% 23,4% 33,7% 0,0% 0,0%
Toàn chuỗi Giá trị 495.313 518.180 56.267 435.699 498.017 35.380 555.494
Tỷ trọng 19,1% 20,0% 2,2% 16,8% 19,2% 1,4% 21,4%
Cơ cấu Lợi nhuận
Nội địa Giá trị 43.718 12.518 1.561 1.814 3.198 643 16.248
Tỷ trọng 54,9% 15,7% 2,0% 2,3% 4,0% 0,8% 20,4%
Xuất khẩu Giá trị 10.238 3.385 711 698 14.955 0 0
Tỷ trọng 34,1% 11,3% 2,4% 2,3% 49,9% 0,0% 0,0%
Toàn chuỗi Giá trị 53.956 15.903 2.272 2.512 24.515 643 16.248
Tỷ trọng 46,5% 13,7% 2,0% 2,2% 21,1% 0,6% 14,0%
Cơ cấu thu nhập chuỗi giá trị nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp
Nội địa Giá trị 445.047 420.387 40.216 316.439 282.488 36.023 571.743
Tỷ trọng 21,1% 19,9% 1,9% 15,0% 13,4% 1,7% 27,1%
Xuất khẩu Giá trị 104.222 113.696 18.323 121.772 189.390 0 0
Tỷ trọng 19,0% 20,8% 3,3% 22,2% 34,6% 0,0% 0,0%
Toàn chuỗi Giá trị 549.269 534.083 58.539 438.211 522.531 36.023 571.743
Tỷ trọng 20,3% 19,7% 2,2% 16,2% 19,3% 1,3% 21,1%
Cơ cấu chi phí, lợi nhuận
Hình 3.7 Cơ cấu lợi nhuận, chi phí của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị
68
Ghi chú: Tính theo sản lượng của 1 kg trái nhãn tươi đi qua từng tác nhân
Tính cho 1 kg trái nhãn tươi thì cơ cấu trong chi phí đầu tư, thì Chợ TT và
VN chiếm 15%, còn lại các tác nhân khác chiếm 14%. Cơ cấu lợi nhuận, ta thấy
NH chiếm 27%, DN XK 24%, Chợ NT 16%, LS 14%, TL 9%, Chợ TT 8% , VN là
2% lợi nhuận (Hình 3.7).
Cơ cấu chi phí đầu tư
Với kênh nội địa thì cao nhất Chợ NT là 27%, NH 20% thấp nhất là LS và
Chợ TT 2%. Kênh xuất khẩu cao nhất là DN XK 34%, VN 23%. Tính chung cho
toàn chuỗi thì thì Chợ NT là 22%, TL 20%, DN XK và NH là 19%, VN 17% và
LS là 2% (Bảng 3.25).
Ta thấy việc đầu tư chi phí cho 1 kg trái khá đồng đều, nhưng sản lượng đi
qua từng tác nhân khác nhau nên mức đầu tư chi phí cũng khác nhau cho từng
kênh nội địa, xuất khẩu và toàn bộ chuỗi.
Hình 3.8 Cơ cấu chi phí chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp
Cơ cấu phân phối lợi nhuận
Ta thấy rằng: NH, DN XK, TL chiếm tỷ lệ cao nhất qua các kênh xuất
khẩu. Riêng DN XK và TL đã chiếm 60%, theo hướng phân phối lợi nhuận toàn
bộ kênh. NH tuy chiếm tỷ lệ lợi nhuận cao, nhưng do chưa đưa chi phí sử dụng đất
đai vào sản xuất, nếu tính theo đơn giá thuê đất thực tế sẽ lỗ (Bảng 3.25).
69
Hình 3.9 Cơ cấu lợi nhuận chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp
Cơ cấu phân phối thu nhập
Việc phân phối thu nhập giữa các tác nhân chưa đồng đều, tham gia chuỗi
giá trị với 5.489 hộ, sản lượng 28.889 tấn, chiếm 20% thu nhập, như vậy, NH có
thu nhập là rất thấp. DN XK có ưu thế trong phân phối thu nhập đến 19% khi mà
sản lượng xuất khẩu là 5.365 tấn và có xu hướng tăng lên. LS chiếm tỷ trọng thấp
do sản lượng sản xuất kinh doanh là 2.470 tấn trái, chiếm 2% tổng thu nhập. VN
với việc cung ứng sản lượng 16.944 tấn, chiếm 16% tổng thu nhập. Chợ NT góp
phần tiêu thụ sản lượng 15.005 tấn , chiếm đến 21% tổng thu nhập. Chợ TT với
quy mô tiêu thụ ít sản lượng 1.217 tấn, nên thu nhập là 2%.
Hình 3.10 Cơ cấu phân phối thu nhập chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò–Đồng Tháp
3.2.3.2 Phân tích, đánh giá chỉ số giá trị gia tăng, lợi thế so sánh
Ta thấy, phí trung gian dùng để mua nguyên liệu đầu vào sản xuất qua các
tác nhân với 15 kênh tiêu thụ khác nhau thể hiện qua chỉ số P/IC. Với tác nhân
NH, chỉ số P/IC là 3,5 là khá, đây là chỉ số lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh
của ngành hàng, trong việc sử dụng các nguồn lực sẳn có như đất đai, tài nguyên
lao động và nguồn vốn.
70
Chi phí cơ hội của nhân tố sản xuất mặt hàng này khó thay thế bởi một nhân
tố sản xuất mặt hàng khác gần nhất, như ngành hàng xoài – Đồng Tháp ước tính là
P/IC ≈ 2,58 với canh tác theo cách truyền thống, với ngành hàng lúa gạo thường
xuất khẩu theo canh tác truyền thống với DRC là 0,98…(Đề án tái cơ cấu ngành
nông nghiệp – trang 89, 182).
Các chỉ số P/IC, VA, IC của từng tác nhân đã cho cho thấy việc sản xuất và
thương mại sản phẩm, chủ yếu sử dụng nguồn lực nội tại của Đồng Tháp như đất
đai, lao động và vốn, ít phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài.
Tổng giá trị gia tăng toàn ngành hàng là 681.571 triệu đồng, trong đó, NH
là 393.918 triệu đồng, chiếm 57,6%, TL là 43.084 triệu đồng, chiếm 6,3%, LS là
10.878 triệu đồng, chiếm 1,6%, VN là 47.058 triệu đồng, chiếm 6,9%, DN XK là
124.878 triệu đồng, chiếm 18,3%, chợ TT là 4.101 triệu đồng, chiếm 0,6% và Chợ
NT là 58.655 triệu đồng chiếm 8,6% tổng giá trị gia tăng.
Giá trị lao động NH là cao nhất lên đến 8.921đồng/kg, chiếm 59,5% giá trị
lao động toàn chuỗi, chi phí này chủ yếu là phí cơ hội của lao động trồng nhãn.
Tuy nhiên việc sử dụng lao động vẫn đạt thấp 0,6 lao động gia đình và 0,62 lao
động thuê mướn tại địa phương, với mỗi hộ gia đình là 2 lao động chính thì dôi dư
lao động gần 0,8 lao động/hộ.
Bảng 3.26 Tổng hợp giá trị gia tăng từng tác nhân
Đơn vị tính: Vnđ
Tác nhân
Khoản mục
NH TL LS VN
DN
XK
Chợ
TT
Chợ
NT
Giá bán 19.013 20.914 23.700 25.862 35.378 29.600 38.103
Chi phí trung gian 5.412 19.227 19.296 23.085 26.923 26.231 34.194
Giá trị gia tăng 13.601 1.687 4.404 2.777 8.455 3.369 3.909
Giá trị gia tăng thuần 1.868 623 920 148 1.660 529 1.083
P/IC 3,5 1,1 1,2 1,1 1,3 1,1 1,1
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Ghi chú: Tính theo sản lượng của 1 kg trái nhãn tươi (Qui đổi: 15 tươi: 1 sấy)
71
Tình hình này đặt ra vấn đề cần rút lao động từ nông nghiệp, nông thôn
sang các ngành nhề khác theo định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh
Đồng Tháp đến 2020 tầm nhìn 2030.
Bảng 3.27 Phân tích một số chỉ tiêu chi phí chuỗi giá trị
trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp
NH TL LS VN
DN
XK
Chợ
TT
Chợ
NT
Hao hụt
% Sản lượng 2% 2% 12% 2,14% 19% 22%
Tỷ trọng (%)
Lao động
Giá trị lao động (Vnđ) 8.921 453 287 1.775 1.420 1.200 946
Tỷ trọng (%) 59,5% 3,0% 1,9% 11,8% 9,5% 8,0% 6,3%
Chi phí tài chính
Giá trị (Vnđ) 689 207 34 206 299 441 603
Tỷ trọng (%) 27,8% 8,4% 1,4% 8,3% 12,0% 17,8% 24,3%
Chi phí vận chuyển
Giá trị (Vnđ) 261 379 - 143 1.817 - -
Tỷ trọng (%) 10,0% 14,6% 0,0% 5,5% 69,9% 0,0% 0,0%
Khấu hao
Giá trị (Vnđ) 636 7 139 9 997 30 50
Tỷ trọng (%) 34,0% 0,4% 7,4% 0,5% 53,4% 1,6% 2,7%
Ghi chú: Tính theo sản lương của 1 kg trái, tỷ lệ qui đổi: 15 kg tươi: 1 kg sấy
Chi phí vận chuyển và chi phí tài chính là khá cao, làm giảm khả năng cạnh
tranh khi phải vận chuyển xa để tiêu thụ và chiến lược đầu tư sản xuất kinh doanh
trong thời gian dài đòi hỏi vốn nhiều, bên cạnh khấu hao tài sản khá thấp, ngoài trừ
trong giai đoạn trồng mới nhằm đạt năng suất, chất lượng cao trong tương lai.
Hình 3.11 Biểu giá trị gia tăng, giá trị lao động từng tác nhân – 1 kg nhãn quy đổi
72
Tỷ lệ hao hụt qua toàn chuỗi là 25%, là tỷ lệ khá cao đòi hỏi phải có chiến
lược rút ngắn thời gian đưa hàng hóa sản xuất đến tiêu thụ, đẩy mạnh hoạt động sơ
chế biến để giảm tỷ lệ hao hụt này.
Giá trị gia tăng từng tác nhân tham gia chuỗi, ta thấy, NH và DN XK có giá
trị gia tăng tạo ra cao nhất, còn TL nằm ở vùng đáy của chuỗi giá trị, vị trí tạo ra ít
giá trị gia tăng nhất. Giá trị lao động từng tác nhân tham gia chuỗi, ta thấy NH là
tác nhân thâm dụng lao động nhiều nhất, kế đến tác nhân là VN (Hình 3.8).
Đối với lợi nhuận của từng tác nhân tham gia chuỗi, ta thấy lợi nhuận cao
nhất là NH và DN XK, còn tác nhân VN nằm ở vùng đáy biểu đồ lợi nhuận. Tình
Chi phí đầu tư, ta thấy, VN có chi phí đầu tư cao nhất, kế đến là Chợ TT, TL.
Nhận thấy rằng về tình hình chi phí, lợi nhuận DN XK có mức đầu tư chi phí thấp
nhưng có mức lợi nhuận cao (Hình 3.12).
Hình 3.12 Biểu đồ chi phí, lợi nhuận của từng tác nhân – tính 1 kg trái
3.2.3.3 Phân tích chi phí, lợi nhuận và sự đóng góp vào giá bán
Để làm cơ sở cho việc đánh giá mức đóng góp vào giá bán đến người tiêu
dùng, ta tiến hành phân tích từng kênh tiêu thụ riêng biệt toàn chuỗi (Bảng 3.28).
Ta thấy, về xuất khẩu thì kênh 1 nhãn tươi và kênh 4 nhãn sấy, về nội địa,
kênh 7 nhãn tươi, kênh 6 nhãn sấy có GTGT cao, khả năng sinh lợi nhuận lớn.
Mức hiệu quả kinh tế khá cao, cần được khuyến khích thực hiện trong thời gian
tới. Kênh 13 tiêu dùng nội tỉnh có chức năng quảng bá sản phẩm đến với du khách
đến tỉnh và là thị trường tiêu dùng truyền thống của nông dân.
73
TT Kênh GTGT NPr Sản lượng
1 K7 (NH-TL-VN-DN XK-Chợ NT) 29.074 7.714 5.569
2 K2 (NH-TL-LS-DN XK - XK) 28.147 (3.897) 510
3 K1 (NH-TL-VN-DN XK - XK) 27.420 4.854 4.247
4 K10 (NH-VN-DN XK - Chợ NT) 27.386 9.945 481
5 K4 (NH - LS - DN XK - XK) 26.460 4.440 241
6 K6 (NH - LS - DN XK - Chợ NT) 26.250 3.504 1.097
7 K3 (NH -VN - DN XK - XK) 25.733 5.619 367
8 K5 (NH - LS - DN XK - Chợ NT) 24.563 3.896 518
9 K8 (NH - TL- VN- Chợ NT) 21.823 181 2.871
10 K12 (NH - TL - VN - Chợ TT) 21.435 (572) 240
11 K9 (NH - VN - Chợ NT) 20.136 2.412 248
12 K14 (NH - VN Chợ TT) 19.748 1.659 21
13 K11 (NH - TL - Chợ NT) 18.657 3.892 4.223
14 K13 (NH - TL - Chợ TT) 18.657 3.892 558
15 K15 (NH - Chợ TT) 16.970 5.133 398
Bảng 3.28 Tổng hợp giá trị gia tăng, lợi nhuận qua các kênh tiêu thụ
Ghi chú: Tính cho 1 kg trái nhãn (qui đổi 15 kg nhãn tươi : 1 kg nhãn sấy)
Kênh 1 NH-TL-VN-DN XK xuất khẩu (sản lượng 4.247 Tấn)
Để sản xuất kinh doanh 1 kg nhãn, TL đã chi bình quân 20.291 đồng mua
sản phẩm đầu vào và phí tăng thêm là 3.146đồng, giá bán là 20.550đồng. VN đã
chi 25.714đồng mua sản phẩm đầu vào và phí tăng thêm 5.423đồng. DN XK đã
chi 35.028đồng mua sản phẩm đầu vào, phí tăng thêm 9.314đồng, giá bán
36.762đồng. Lợi nhuận NH thu được là 1.705đồng, chiếm 35,1%; TL là 259đồng,
chiếm 5,3%. VN là 1.156đồng, chiếm 23,8%; DN XK là 1.735đồng, chiếm 35,7%
tổng lợi nhuận. Sự đóng góp vào giá bán thì NH là 51,3%, TL: 4,6%, VN: 17,2%,
DN XK: 26,9% vào giá bán kênh 1.
Hình 3.13 Tỷ lệ chi phí tăng thêm, lợi nhuận, giá bán tiêu dùng – Kênh 1
74
Tổng sản lượng tiêu thụ qua kênh là 4.247 tấn, chiếm 19,67% tổng sản
lượng tiêu thụ, tổng doanh thu là 437,6 tỷ đồng, lợi nhuận kênh là 20,6 tỷ. Sự đóng
góp vào giá bán cuối cùng, ta thấy 51,28% là NH, kế đến DN XK là 26,91%,
tương ứng về giá trị tăng thêm NH là 48,95%, DN XK là 26,59%. Lợi nhuận thu
được NH là 35%,12%, DN XK là 35,74%.
Kênh 4 NH-LS-DN XK  Xuất khẩu (sản lượng 241 Tấn)
Để sản xuất kinh doanh 1 kg nhãn, LS đã chi ra 17.145 đồng mua sản phẩm
đầu vào và phí tăng thêm là 5.635đồng, chiếm tỷ lệ 16,7% tổng phí, giá bán là
23.700đồng. DN XK đã chi 33.718đồng mua sản phẩm đầu vào, phí tăng thêm
10.938đồng, chiếm 32,4% tổng phí, giá bán 35.378đồng. Lợi nhuận NH là
1.705đồng, chiếm 38,4%; LS là 920đồng, chiếm 20,7%; DN XK là 1.816đồng,
chiếm 40,9% tổng lợi nhuận.
Hình 3.14 Tỷ lệ chi phí tăng thêm, lợi nhuận, giá bán tiêu dùng – Kênh 4
Sự đóng góp vào giá bán cuối cùng, ta thấy 64,45% là NH, kế đến LS là
19,48%, tương ứng về phí tăng thêm NH là 50,85%, LS là 16,71%. Lợi nhuận thu
được NH là 38,39%, LS là 20,72%. Ta thấy giá trị gia tăng và lợi nhuận của DN
XK có cao hơn xét về mặt đóng góp vào giá bán. Tổng lượng tiêu thụ là 241 tấn,
chiếm 1,12%, tổng doanh thu là 18,6tỷ đồng, lợi nhuận gần 1,1 tỷ.
Kênh 6 NH – LS – DN XK – Chợ NT  nội địa (sản lượng 1.097Tấn)
75
Để sản xuất kinh doanh 1 kg nhãn, TL đã chi 20.291 đồng mua sản phẩm
đầu vào và phí tăng thêm là 3.146đồng, chiếm 10,6% tổng phí tăng thêm, giá bán
là 19.250đồng. LS đã chi 22.780đồng mua sản phẩm đầu vào, phí tăng thêm
2.489đồng, chiếm 8,4% tổng phí tăng thêm, giá bán 23.700đồng. DN XK chi
25.738 đồng, phí tăng thêm là 2.958đồng, chiếm 10,0%. Chợ NT chi 29.660đồng,
phí tăng thêm 3.922đồng, giá bán 31.499đồng. Lợi nhuận NH là 1.705đồng, chiếm
48,6%; TL lỗ 1.041đồng; LS lãi 920 đồng, DN XK là 81đồng, Chợ NT là
18.40đồng, chiếm 52,5% tổng lợi nhuận. Ta thấy tuy TL lỗ 1.041đồng do bán trái
nhãn chất lượng thấp hơn và chi phí được hoạch toán là bình quân, nhưng bù lại
TL bán nhãn cho tác nhân khác có lãi.
Hình 3.15 Tỷ lệ chi phí tăng thêm, lợi nhuận, giá bán tiêu dùng – Kênh 6
Sự đóng góp vào giá bán cuối cùng của chuỗi kênh 6, ta thấy 59,85% là
NH, kế đến DN XK là 18,03%, tương ứng về chi phí tăng thêm NH là 57,81%, DN
XK là 13,22%.
Kênh 7 NH – TL – VN – DN XK  Xuất khẩu (Sản lượng 5.569 Tấn)
Để sản xuất kinh doanh 1 kg nhãn, TL đã chi ra 20.291 đồng chi phí để mua
sản phẩm đầu vào và chi phí tăng thêm là 3.146đồng, chiếm tỷ lệ 8,3% tổng chi
phí tăng thêm, giá bán là 20.550đồng. VN đã chi 25.714đồng để mua sản phẩm
đầu vào, chi phí tăng thêm 5.423đồng, chiếm 14,3% tổng chi phí tăng thêm, giá
bán 26.870đồng. DN XK đã chi 31.055 đồng, chi phí tăng thêm là 5.341đồng
chiếm 14,1%. Chợ NT chi 37.908đồng, chi phí tăng thêm 6.853đồng, giá bán
76
38.900đồng. Lợi nhuận NH là 1.705đồng, chiếm 22,1%; TL lãi 259đồng, chiếm
3,4%, DN XK là 3.603đồng, Chợ NT là 992đồng, chiếm 12,9% tổng lợi nhuận.
Sự đóng góp vào giá bán cuối cùng, ta thấy 48,46% là NH, kế đến VN là
16,25%, tương ứng về chi phí tăng thêm NH là 45%, VN là 14%.
Hình 3.16 Tỷ lệ chi phí tăng thêm, lợi nhuận, giá bán tiêu dùng – Kênh 7
Kênh 13 NH – TL – Chợ TT  tiêu dùng nội tỉnh (Sản lượng 558 Tấn)
Tiêu thụ tại các chợ trong tỉnh, có tầm trọng trong việc tiêu thụ nông sản và
quảng bá hình ảnh, thương hiệu trái nhãn cho du khách đến Đồng Tháp. Để sản
xuất kinh doanh 1 kg nhãn, TL chi ra 20.291 đồng mua sản phẩm đầu vào và phí
tăng thêm là 3.146đồng, chiếm 10,8% tổng phí tăng thêm, giá bán là 21.50đồng.
Chợ TT chi 29.071đồng, phí tăng thêm 8.780đồng, giá bán 29.600đồng. Lợi nhuận
NH là 1.705đồng, chiếm 43,8%; TL lãi 1.659đồng, chiếm 42,6%, Chợ TT là
529đồng, chiếm 13,6% tổng lợi nhuận.
Hình 3.17 Tỷ lệ chi phí tăng thêm, lợi nhuận, giá bán tiêu dùng kênh 13
77
Sự đóng góp vào giá bán cuối cùng của chuỗi kênh 13, ta thấy 63,7% là
NH, kế đến là Chợ TT là 25,8%, tương ứng lợi nhuận 43,8% và 13,6%.
3.2.4 Quan hệ liên kết - chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp
3.2.4.1 Liên kết dọc
Các tác nhân liên kết với nhau mang tính thời điểm, đứt đoạn cả trong quá
trình sản xuất, chế biến và thương mại. Tác nhân của chuỗi chỉ có quan hệ trực tiếp
với tác nhân cung cấp yếu tố đầu vào và tác nhân thu mua sản phẩm đầu ra.
Phương thức mua và bán chủ yếu là thỏa thuận, cam kết miệng, không áp dụng cơ
chế hợp đồng kinh tế. Thông thường việc mua bán do người mua nắm vai trò quyết
định, cơ chế thỏa thuận có chiều hướng tăng nhưng chưa cao thường khoảng 30%
tổng thương vụ mua bán.
Liên kết giữa NH và TL là dạng liên kết tương đối chặt chẽ. Đa số NH có
mối quan hệ mạng lưới với TL để ổn định đầu ra. Bên cạnh đó, hình thức quan hệ
tại thời điểm vẫn chiếm số lượng tương đối, nhất là khi giá tăng, NH sẽ lựa chọn
nơi bán để có lợi ích tài chính tốt nhất. Liên kết giữa TL với VN, LS chủ yếu dưới
quan hệ mạng lưới và mức độ liên kết khá chặt, đôi khi cũng có quan hệ thời điểm.
Liên kết giữa LS đến DN XK là liên kết chặt chẽ, VN với DN XK là chặt chẽ có
mối quan hệ liên kết hỗ trợ về kỹ thuật sơ chế, phân loại và cung cấp bao bì….
Nhìn chung, liên kết giữa các tác nhân là khá lỏng lẻo, chưa mang tính hệ
thống, không có xây dựng cơ chế để hỗ trợ rỏ ràng, chính sách giá áp dụng thường
theo thời điểm và gần như là như nhau. Tuy nhiên, trong các quan hệ liên kết của
mình, tác nhân thường có sự đa dạng hóa đầu vào và đầu ra.
3.2.4.2 Liên kết ngang
Các quan hệ liên kết ngang giữa các tác nhân cùng nhóm nhưng chưa thật
sự rỏ nét. Giữa các tác nhân có mối liên kết nhưng khá lỏng lẻo. Liên kết trong sản
xuất chủ yếu là các hình thức thông qua đoàn thể Hội Nông dân, Hội Liên hiệp
Phụ nữ,… chỉ dừng ở việc hình thành THT, còn HTX chưa được thành lập. Liên
kết giữa các TL, VN, LS chưa được hình thành vì tình trạng cạnh tranh trong thu
mua vẫn diễn ra gay gắt, có thể phá giá lẫn nhau. Các hoạt động về giá, phân loại,
78
chất lượng chưa được thống nhất, chưa khuyến khích người trồng áp dụng mô hình
canh tác theo VietGAP, GlobalGAP .
Bảng 3.29 Quan hệ liên kết - chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp
Stt
Liên kết giữa
các tác nhân
Dạng liên kết
Mức độ
chặt chẽ
Phân bổ quyền lực:
tác nhân quyết định
1 NH - TL
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
+
+++ TL
2 NH - LS
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
+
++ LS
3 NH - VN
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
+
++ VN
4 NH – Chợ TT
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
+
+ Chợ TT
5 TL - LS
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
++
++ LS
6 TL – VN
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
++
++ VN
7 TL – Chợ TT
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
+
+ Chợ TT
8 TL – Chợ NT
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
+
++
Chợ NT
9 VN – DN XK
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
++
+++ DN XK
10 VN – Chợ NT
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
+
+ Chợ NT
11 VN – Chợ TT
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
+
++ Chợ TT
12 LS – DN XK
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
+++
+++ DN XK
13 DN XK–ChợNT
Quan hệ thời điểm
Quan hệ mạng lưới
++
++ DN XK
Ghi chú: + liên kết lỏng lẻo; ++ liên kết chặt; +++ liên kết rất chặt
79
3.3 Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp
3.3.1 Những kết quả đạt được
Kết quả đóng góp của toàn bộ các kênh tiêu thụ trái nhãn tiêu da bò là hết
sức quan trọng cho nền kinh tế tỉnh Đồng Tháp, góp phần vào GDP của cả nước.
Về khía cạnh tài chính, ngành hàng này đã tạo ra doanh thu là 2.710 tỷ đồng, chi
phí trung gian là 2.028,8 tỷ đồng, giá trị gia tăng là 681,6 tỷ đồng, lợi nhuận cho
các tác nhân tham gia chuỗi là 116 tỷ đồng. Trong đó, xã hội thụ hưởng dước các
hình thức tiền lương, tiền công trực tiếp, gián tiếp là 338,5 tỷ đồng.
Về khía cạnh hiệu quả kinh tế, chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò có năng lực
cạnh tranh là khá tốt. Chỉ số P/IC>>1 và là khá cao, thể hiện hiệu quả sử dụng
nguồn lực tại địa phương như đất đai, lao động và vốn, chỉ số VA/IC, NPr/IC khá
cao thể hiện hiệu quả đầu tư. 1 đồng đầu tư chi phí trung gian sẽ đem lại hiệu quả
0,34 đồng về giá trị gia tăng cho xã hội.
Về khía cạnh lao động và việc làm thì đây là ngành hàng thâm dụng lao
động lớn, chưa đòi hỏi trình độ tay nghề cao ở các công đoạn trồng, chăm sóc, thu
gom và vận chuyển. Hầu hết lao động là người địa phương có thu nhập thấp, có thể
khẳng định vai trò rất lớn đối với việc tạo ra công ăn việc làm và đảm bảo sinh kế
cho người dân địa phương nhằm kéo tỷ lệ thất nghiệp tại địa phương xuống thấp.
Stt
Khoảnmục
Tác nhân
P IC VA L NPr P/IC VA/IC NPr/IC NPr/P
1 NH 549,3 156,4 392,9 257,7 54,0 3,51 2,51 0,35 9,8%
2 TL 534,1 491,0 43,1 11,6 15,9 1,09 0,09 0,03 3,0%
3 LS 58,5 47,7 10,9 3,1 2,3 1,23 0,23 0,05 3,9%
4 VN 438,2 391,2 47,1 30,1 2,5 1,12 0,12 0,01 0,6%
5 DN XK 522,5 397,7 124,9 20,4 24,5 1,31 0,31 0,06 4,7%
6 Chợ TT 36,0 31,9 4,1 1,5 0,6 1,13 0,13 0,02 1,8%
7 Chợ NT 571,7 513,1 58,7 14,2 16,2 1,11 0,11 0,03 2,8%
2.710,4 2.028,8 681,6 338,5 116,0 1,34 0,34 0,06 4,3%
Bảng 3.30 Hoạch toán của từng tác nhân - chuỗi giá trị
Tổng cộng
80
3.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân
3.3.2.1 Đối với sản xuất, sơ chế biến, đa dạng hóa sản phẩm
- Quy mô sản xuất còn nhỏ, manh mún, diện tích canh tác dưới 1ha chiếm
đến 62% tổng mẫu khảo sát, diện tích canh tác bình quân cho NH là 0,65ha/hộ.
- Việc sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng còn hạn chế, hơn 65% diện tích
chưa áp dụng ViệtGAP, GlobalGAP…Thiếu hẳn vai trò liên kết cùng hỗ trợ nhau
và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
- Sản phẩm trái nhãn chưa phong phú để đáp ứng thị hiếu của người tiêu
dùng. Hiện tại, chỉ cung ứng ra thị trường 2 sản phẩm là sản phẩm trái nhãn tươi
và nhãn sấy.
- Tổ chức bộ máy để hỗ trợ cho sản xuất, phát triển sản phẩm, xuất khẩu
cũng như việc hỗ trợ nâng liên kết trong chuỗi trái nhãn chưa được đầu tư và hoạt
động hiệu quả, cũng như mong đợi, nên rất khó khăn nhân rộng mô hình các
THT/HTX sản xuất theo hướng VietGAP và GlobalGAP.
- Thiếu các cơ sở phục vụ ngay sau khi thu hoạch: Hệ thống kho lạnh, sơ
chế biến, bảo quản tại chổ so với nhu cầu, khiến việc vận chuyển đi xa làm ảnh
hưởng đến chất lượng xuất khẩu, cũng như tiêu thụ trong nướv. Hiện tại tỷ lệ hao
hụt này 25% tổng lượng sản xuất là khá cao.
3.3.2.2 Đối với lưu thông, phân phối và tiêu thụ sản phẩm
- Hệ thống thông tin thị trường còn chưa phát triển. Phần lớn dựa vào thông
tin về giá từ TL chiếm đến 63,1%, NH bán sản phẩm trước là 57% và định giá bán
thường do TL quyết định đến 71%, hai bên thỏa thuận chỉ là 21,7%.
- Thị trường tiêu thụ nước ngoài còn quá lệ thuộc vào Trung Quốc chiếm
đến gần 85% sản lượng, xuất sang Mỹ rất ít khoảng 1%.
- DN XK chưa nhiều, rất ít và chưa khẳng định là doanh nghiệp đầu tàu
trong chuỗi ngành hàng. Doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng cùng lúc và trái
nhãn chiếm khoảng dưới 15% tổng lượng xuất khẩu.
81
- Các hình thức liên kết dọc giữa các tác nhân trong chuỗi hầu như chưa
phát triển mạnh và chưa hệ thống. DN XK chưa thật sự có liên kết với NH, TL và
các tác nhân khác như VN, LS còn khá lỏng lẽo.
- Hệ thống hạ tầng hỗ trợ cho xuất khẩu còn thiếu và yếu. Xuất khẩu chủ
yếu bằng tiểu ngạch, thường ứ đọng tại các cửa khẩu xuất sang Trung Quốc diễn ra
khá phổ biến.
- THT/HTX chưa phát triển, đóng vai trò của pháp nhân tham gia ký kết các
hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.
---------oOo---------
82
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Từ kết quả khảo sát thu nhận được, kết hợp với phân tích kinh tế qua các số
liệu về hoạch toán chi phí, lợi nhuận và giá trị gia tăng, phân phối lợi ích cho toàn
chuỗi. Đề tài đã đánh giá đúng thực trạng về những kết quả đạt được và những tồn
tại, hạn chế của chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – tỉnh Đồng Tháp. Tiến hành đánh
giá quản trị chuỗi, sự tham gia vận hành chuỗi từ những liên kết ngang và liên kết
dọc giữa các tác nhân tham gia.
Với việc đánh giá lợi thế so sánh thông qua chỉ số kinh tế như P/IC, VA/IC
của ngành hàng trái nhãn tiêu da bò, cho thấy mức độ thâm dụng lao động, sử dụng
tài nguyên đất đai, lao động và vốn, ít phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài, với
chỉ số P/IC ở mức 3,5 là mức khá trong ngành hàng nông sản của tỉnh Đồng Tháp,
thể hiện được mức độ thu nhập của NH trên một đơn vị diện tích ở mức cao.
Đóng góp về khía cạnh kinh tế, tổng doanh thu là 2.710 tỷ đồng, lợi nhuận
116 tỷ đồng, giá trị gia tăng là 685 tỷ đồng. Sản lượng sản xuất là 28.889 tấn. Sản
lượng tiêu thụ là: 21.588 tấn trái, trong đó, nội địa là 16.222 tấn, xuất khẩu là
5.365 tấn, hao hụt là 25%, tương đương 7.302 tấn trái.
Tuy nhiên, việc phân phối thu nhập giữa các tác nhân tham gia chuỗi chưa
đồng đều so với việc đầu tư chi phí đã bỏ ra, cũng như giá trị gia tăng được tạo ra
tại mỗi tác nhân tham gia.
Tất cả những điều đó chính là nền tảng cho những chiến lược, giải pháp ưu
tiên sẽ được đề xuất ở chương 4, trên cơ sở kết hợp phân tích SWOT và định
hướng giải pháp phát triển trong đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp - Đồng Tháp
giai đoạn đến 2020 và tầm nhìn 2030.
---------oOo---------
83
CHƯƠNG 4
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TRÁI NHÃN TIÊU DA BÒ– ĐỒNG THÁP
Trên cơ sở phân tích thực tế từ chương 3, chương này là những đề xuất
chiến lược cùng các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm góp phần phát triển bền vững
chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp.
4.1 Định hướng phát triển chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò –Đồng Tháp.
Căn cứ vào Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp đến năm
2020 tầm nhìn 2030, trong thời gian tới, việc phát triển chuỗi giá trị trái nhãn tiêu
da bò nói riêng, ngành nông sản của tỉnh Đồng Tháp nói chung, cần được triển
khai dựa trên những định hướng sau đây:
Mục tiêu:
Phát triển ngành hàng trái nhãn tiêu da bò tỉnh Đồng Tháp thành ngành
hàng nằm trong nhóm ngành hàng chiến lược của tỉnh theo hướng bền vững, có giá
trị gia tăng cao. Cải tiến tổ chức và tăng quy mô sản xuất, áp dụng tiêu chuẩn GAP
và các tiêu chuẩn kỹ thuật vững bền, đầu tư phát triển chế biến, bảo quản, vận
chuyển, nâng cao chất lượng, khả năng tiếp thị và xây dựng thương hiệu của trái
nhãn tiêu da bò tỉnh Đồng Tháp ở trong nước và thế giới.
Định hướng thị trường:
Ưu tiên các thị trường đã nhập khẩu trái nhãn như: Trung Quốc, Hàn Quốc,
Mỹ. Nghiên cứu kỹ các thị trường Châu Âu và Mỹ để tìm các phân khúc phù hợp
cho trái nhãn Đồng Tháp, đặc biệt là phân khúc khách hàng là ngoại kiều Châu Á.
Tổ chức xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm, xây dựng thương hiệu, nghiên
cứu kênh phân phối, tìm đối tác kinh doanh.
Trong nước, hình thành chương trình giới thiệu sản phẩm (tham gia hội chợ,
biên soạn tài liệu quảng bá, giới thiệu, mở các cửa hàng giới thiệu và tiêu thụ sản
84
phẩm. Cải tiến phương thức, kỹ thuật sơ chế, bao gói và vận chuyển, tạo đột phá
trong việc giảm mạnh hao hụt quá cao hiện nay.
Phát triển vùng chuyên canh:
Phát triển vùng chuyên canh, định hướng chuyển đổi giống chất lượng cao
định hướng thị trường tiêu thụ với quy trình canh tác tiến bộ. Ứng dụng công nghệ
thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch, hướng tới tăng tỷ trọng nhãn đạt chứng nhận
chất lượng (VietGAP, GlobalGAP, có chiếu xạ, HACCP, ISO 14000, BRC,…)
Đổi mới kinh tế hợp tác sản xuất – kinh doanh
Hướng liên kết theo chiều dọc của chuỗi, tạo điều kiện ổn định vùng cung
nguyên liệu, khả năng thu gom vận chuyển hợp lý, đa dạng hóa sản phẩm sơ, chế
biến từ trái nhãn, hướng tới chủ động trong kinh doanh, bán sản phẩm tại thị
trường trong nước và ký hợp đồng xuất khẩu. Bên cạnh, tăng cường khả năng dự
báo, tiếp cận thông tin thị trường, xúc tiến thương mại và liên kết các doanh
nghiệp kinh doanh, xuất khẩu.
4.2 Phân tích ma trận SWOT - chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp
Từ các kết quả khảo sát định tính và định lượng, so sánh đối chiếu các kết
quả nghiên cứu với các nguồn thông tin khác, các đánh giá điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội và thách thức của ngành hàng trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp được nhận
định như sau: (Phụ lục 17)
4.2.1 Phân tích Điểm mạnh
Sản xuất
- Mức độ chuyên canh cây nhãn tiêu da bò tập trung cao với diện tích
3.776ha, cho phép tập trung thực hiện các chính sách đầu tư phát triển hiệu quả, có
điều kiện khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng phù hợp với năng suất và chất lượng cao.
- Đồng Tháp có những định hướng phát triển tái cơ cấu ngành nông nghiệp,
các hệ thống chính sách hỗ trợ sẽ được tiếp tục ban hành.
- Hoạt động tích cực của cơ quan khuyến nông, cơ quan xúc tiến thương
mại tạo ra sự hỗ trợ tích cực cho các tác nhân trong chuỗi, giúp nhận thức và thúc
đẩy hoạt động hỗ trợ sản xuất gắn kết với sự phát triển đang được thực hiện.
85
- Với truyền thống canh tác lâu năm, người trồng nhãn giàu kinh nghiệm là
thuận lợi cho việc truyền đạt, học hỏi kinh nghiệm giữa các tác nhân, có khả năng
áp dụng tiến bộ kỹ thuật, thâm canh hóa sản xuất để tăng năng suất và chất lượng.
- Đồng Tháp hiện đang xúc tiến tìm kiếm và lai ghép giống có năng suất và
chất lượng cao, thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, ngành nông nghiệp hỗ trợ về
khoa học công nghệ tạo ra năng suất cao.
Sản phẩm và kênh phân phối sản phẩm
Nhu cầu của thị trường, đặc biệt thị trường xuất khẩu đang hứa hẹn như
Mỹ, Châu Âu bên cạnh thị trường truyền thống xuất khẩu như Trung Quốc, vị thế
cho sản phẩm là rất cao. Đặc biệt là sự gắn kết với thị trường nội tỉnh và thị trường
tiêu thụ tại TP HCM.
Nhân lực:
Nguồn nhân lực của tỉnh có số lượng lớn, có kinh nghiệm, chi phí nhân
công tương đối rẻ so với mặt bằng giá lao động hiện tại.
4.2.2 Phân tích Điểm yếu
Sản xuất
- Trái nhãn tiêu da bò nói riêng và ngành hàng trái nhãn nói chung đã bắt
đầu nhận được sự hỗ trợ từ nhà nước cho các dự án phát triển ngành. Chiến lược
phát triển toàn diện về ngành nông nghiệp nói chung và cho trái trái nhãn tiêu da
bò đang trong bước đầu tiến hành nên chưa thực sự mang lại hiệu quả và sự hưởng
ứng từ các tác nhân.
- Cây nhãn cũng phải cạnh tranh rất nhiều với nhiều loại hình trồng trọt
khác và cây nhãn các tỉnh, thành khác. Nhất là thời gian gần đây, đứng trước sự
bấp bênh của giá, dịch bệnh chổi rồng và lợi ích trước mắt, diện tích canh tác toàn
tỉnh có hướng không tăng và khả năng mở rộng quy mô canh tác là rất thấp.
- Thói quen trồng dày cũng có thể hạn chế tiềm năng năng suất và rút ngắn
chu kỳ khai thác kinh doanh hiệu quả.
86
- Trước kia, người dân có thói quen mua cây giống giá rẻ, trôi nổi, áp dụng
tiến bộ khoa học về giống chậm cũng phần nào làm ảnh hưởng đến năng suất và
chất lượng chưa đồng đều ở thời điểm hiện tại
Sản phẩm và kênh phân phối sản phẩm
- Các tác nhân trong toàn chuỗi chưa quan tâm đến đầu tư chất lượng đồng
bộ hay tạo ra thêm giá trị gia tăng cho chuỗi bằng những sản phẩm phụ hay sự liên
kết, rút ngắn công đoạn để giảm bớt chi phí.
- Thời gian bảo quản trái nhãn tiêu da bò trong điều kiện tự nhiên khá ngắn.
- Các sản phẩm từ trái nhãn tiêu da bò chưa được đa dạng hóa phù hợp với
những phân khúc thị trường nhằm nâng cao giá trị kinh tế ngành hàng này.
- Việc phát triển các sản phẩm phụ làm tăng giá trị gia tăng cho toàn chuỗi
chưa được quan tâm đầu tư đúng mức.
- Kênh siêu thị chưa được khai thác, quan tâm đúng mức.
Thương mại – Tiêu dùng
- Đồng Tháp chưa có cơ chế điều tiết tài chính phù hợp để ổn định thị
trường nguyên liệu. Biến động giá liên tục gây ra thiệt hại lớn cho ngành nói
chung và trái nhãn nói riêng.
- Sản phẩm trái nhãn tiêu da bò chưa được chú trọng xây dựng thương hiệu,
nên chưa thật sự được chú ý từ khách hàng, để tạo thành thói quen chọn lựa của
người tiêu dùng.
- Quan hệ buôn bán chưa được xây dựng dựa trên nền tảng pháp lý nên
chưa đảm bảo nguồn cung ứng và chất lượng như mong đợi.
- Các mối liên kết giữa các tác nhân lỏng lẻo, dễ bị phá vỡ bởi các mâu
thuẫn lợi ích cá nhân. Hệ thống các tác nhân còn xa lạ với các cơ chế liên kết trong
chuỗi giá trị, dẫn đến hệ quả khó xây dựng vùng cung sản phẩm ổn định.
- Chưa tận dụng công nghệ thông tin trong việc quảng bá thương hiệu để
tiếp cận và kích thích nhu cầu của người tiêu dùng.
- Chưa tổ chức tốt các kênh thông tin về giá cả thị trường cho các tác nhân
trong chuỗi.
87
Công nghệ
- Vai trò của cơ quan nghiên cứu còn hạn chế trong việc phổ biến áp dụng
các kỹ thuật mới cho nông dân. Các cơ quan nghiên cứu chưa tạo ra những đột phá
trong công nghệ trồng nhãn, hoặc công nghệ trồng trọt hiện đại chưa được phát
triển, chưa đầu tư nghiên cứu, tìm hiểu về quy trình chế biến đa dạng hóa sản
phẩm trái nhãn.
- Thâm canh vườn nhãn chỉ mới được áp dụng bước đầu và còn nhiều chênh
lệch về trình độ sản xuất của nông dân đối với thâm canh phát triển.
Vốn
- Hiện nay, việc hỗ trợ vay vốn cho nông dân đầu tư trồng mới và cải tạo
vườn nhãn đã được quan tâm nhưng tâm lý người dân ngại vay và muốn duy trì
thu nhập từ vườn nhãn hiện có hơn là chờ đợi vài năm để thu hoạch từ đầu tư mới.
- Kinh phí chưa đủ mạnh để thực hiện chương trình đầu tư phát triển toàn
diện ngành hàng để tạo ra năng lực cạnh tranh mới và bảo đảm sự phát triển bền
vững của trái nhãn tiêu da bò trong nhiều năm tới.
4.2.3 Phân tích Cơ hội
- Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để đưa sản phẩm trái nhãn tiêu da bò
đến tay người tiêu dùng nước ngoài thông qua thế mạnh của sản phẩm mình. Đồng
thời, sự cạnh tranh lành mạnh cũng là cơ hội khẳng định và hoàn thiện hơn trên thị
trường, tạo điều kiện cho thương mại sản phẩm dễ dàng hơn.
- Nhà nước bắt đầu có những chú trọng đến vai trò của ngành hàng trái nhãn
và có các chính sách hỗ trợ cụ thể.
- Sự phát triển của xã hội, cùng với nhu cầu về trái cây tươi, trong đó, có
trái nhãn dùng làm thức ăn tăng cao và các sản phẩm khác được chế biến từ trái
nhãn đang hứa hẹn thị trường tiềm năng rộng lớn.
4.2.4 Phân tích Nguy cơ
Biến đổi khí hậu trong dài hạn, mực nước dân cao có thể nhấn chìm nhiều
diện tích vườn nhãn, chủ yếu nằm ven sông Tiền, vùng bãi bồi, có thể tác động
giảm quy mô canh tác và năng suất. Sự manh mún nhỏ lẻ gây khó khăn trong quy
88
hoạch phát triển để đạt được sản lượng và chất lượng đồng đều. Bên cạnh, Ý thức
và thói quen trồng trọt, kinh doanh nhỏ, thiếu hợp đồng.
Hiện tượng và vấn đề kiểm soát dịch bệnh mà chủ yếu là dịch bệnh chổi
rồng ảnh hưởng bất lợi đến năng suất, sản lượng và chất lượng.
Sự cạnh tranh từ các sản phẩm trái cây từ các tỉnh, thành khác. Bên cạnh,
việc thiếu thông tin kịp thời về biến động giá cả thị trường tiêu thụ.
4.3 Các chiến lược đề xuất ứng với tình hình thực tế của chuỗi giá trị.
4.3.1 Chiến lược SO: Theo đuổi các cơ hội phù hợp với điểm mạnh
4.3.1.1 Phát triển vùng chuyên canh - đẩy mạnh thâm canh sản xuất
Tăng đầu tư cải tạo vườn nhãn, thay thế vườn nhãn nhiều năm tuổi bằng
giống chất lượng cao, nhằm nâng cao khả năng phòng trừ sâu bệnh hại và đáp ứng
được yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng khoa
học kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc nhằm nâng cao năng suất trái, hiện mức
7,65tấn/ha là khá thấp so nhiều năm qua và khả năng tăng năng suất là có thể. Bên
cạnh, áp dụng quy trình sản xuất theo hướng VietGAP, GlobalGAP nhằm đạt chất
lượng đồng bộ cho vườn nhãn nhằm gia tăng giá bán sản phẩm và giảm tỷ lệ phế
phẩm (hao hụt 25% là quá cao). Nghiên cứu giảm chi phí phân bón, thuốc BVTV
hiện chiếm tỷ lệ 28% tổng phí sản xuất.
4.3.1.2 Tận dụng điều kiện cơ sở hạ tầng
Với lợi thế về cơ sở hạ tầng đường xá ngày càng phát triển, hiện chi phí vận
chuyển toàn chuỗi còn ở mức khá cao, cần tiến hành nghiên cứu phát triển và xây
dựng mạng lưới thu mua vận chuyển hợp lý từ vùng cung ứng nguyên liệu, đến các
tác nhân tham gia vận hành chuỗi và cung ứng thị trường tiêu thụ với chi phí vận
chuyển cho mỗi chuyến hàng ngày càng giảm. Với số lượng hàng lớn, nghiên cứu
chuyển đổi hình thức vận tải nhằm phát huy các Cảng Sa Đéc, cảng nước sâu Cần
Thơ tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu bằng đường thủy thay vì đường bộ với
chi phí cao. Cùng với việc rút ngắn được thời gian vận chuyển, tạo điều kiện cho
thời gian bảo quản sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng, qua đó, đảm bảo được
chất lượng hàng hóa và giảm lượng hao hụt hàng hóa.
89
4.3.1.3 Quảng bá sản phẩm, xúc tiến thương mại
Tuyên truyền về lợi ích của sản phẩm mang lại, qua các chợ đầu mối trái
cây, siêu thị về trái nhãn tươi và các sản phẩm chế biến từ trái nhãn. Vận dụng
công nghệ thông tin trong giới thiệu và quảng bá sản phẩm, đưa thông tin, hình
ảnh về trái nhãn qua những trang mạng và các liên kết trình duyệt để sản phẩm tiếp
cận và tạo nên thói quen tiêu dùng thường xuyên, cập nhật thông tin về sức khỏe
và những nghiên cứu thực tế về tác dụng của trái nhãn,…
4.3.1.4 Đa dạng hóa sản phẩm
Nhằm tăng cường khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ, khai thác khách
hàng tiềm năng với những nhu cầu khác nhau. Doanh nghiệp cần tiến hành nghiên
cứu đa dạng hóa sản phẩm để người tiêu dùng biết đến sản phẩm. Điều này còn là
sáng tạo để khẳng định thế đứng của mình trên thị trường. Một sản phẩm mới, chất
lượng và tốt cho sức khỏe, mang lại nhiều giá trị dinh dưỡng cho khách hàng luôn
là lựa chọn của những người tiêu dùng thông minh. Chính sự lựa chọn đó sẽ mang
đến sự gia tăng giá trị, lợi nhuận cho toàn chuỗi.
4.3.2 Chiến lược WO: Khắc phục các điểm yếu để theo đuổi các cơ hội
4.3.2.1 Nâng chất lượng và năng suất
Hạn chế trồng xen, trồng quá dày làm ảnh hưởng đến chất lượng và thời
gian cho trái. Đầu tư cải tạo vườn nhãn kém chất lượng, già cỗi bằng giống năng
suất và chất lượng, áp dụng quy trình sản xuất khoa học, mang lại niềm tin về chất
lượng sản phẩm cho người tiêu dùng. Chia sẽ kinh nghiệm trồng trọt sẵn có, trao
đổi, học hỏi lẫn nhau, tìm kiếm và áp dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhằm
giảm giá thành sản xuất. Bón phân và chăm sóc cây hợp lý: đa số người dân không
bón phân theo yêu cầu kỹ thuật, chỉ bón phân theo khả năng kinh phí và kinh
nghiệm của mình, làm giảm năng suất cho trái và chất lượng.
90
4.3.2.2 Nâng cao nhận thức các tác nhân tham gia chuỗi
Tăng cường cung cấp thông tin thị trường, giúp các tác nhân nắm bắt thông
tin thị trường đầy đủ, kịp thời. Kết quả phỏng vấn cho thấy thường giá là do
thương lái quyết định, nông dân chỉ khảo sát giá từ các nông hộ trong khu vực,
quyền lợi của người nông dân sẽ ít bị ảnh hưởng hơn khi có được những thông tin
đầy đủ từ thị trường. Điều này đòi hỏi nông dân phải chủ động trong tìm kiếm
thông tin và kết hợp với sự hỗ trợ từ cơ quan nhà nước thông qua các đoàn thể, tổ
chức, hội khuyến nông, hội nông dân, các phương tiện truyền thông theo sự định
hướng của các cơ quan chức năng, góp phần bảo vệ lợi ích cho người dân.
Giúp người dân ý thức trong việc tránh chạy theo lợi ích, thiếu phân tích,
tính toán kinh tế, ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài, rộng hơn là ảnh hưởng nguồn cung
trong khi sản phẩm mới đầu tư lại chưa mang lại kết quả như mong đợi hoặc nếu
có chỉ là trong ngắn hạn.
4.3.2.3 Thúc đẩy liên kết giữa các tác nhân
Thiết lập liên kết dọc nhằm xây dựng vùng cung sản phẩm có sản lượng ổn
định, chất lượng, góp phần quảng bá thương hiệu, định hướng thị trường tiêu thụ
trong nước và xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Mỹ, EU. Để đáp ứng được
mục tiêu xuất khẩu sang thị trường khó tính này thì đòi hỏi rất nhiều tiêu chuẩn an
toàn, vệ sinh thực phẩm, chất lượng,…, thời gian qua tỉnh có hội thảo nghiên cứu
công nghệ bảo quản trái cây xuất sang Châu Âu nhưng thành công chưa cao. Điều
này cho thấy sự cần thiết phải đi vào thực hiện chiến lược liên kết dọc kết hợp với
chiến lược ổn định, cải tạo, quy hoạch vườn nhãn, nâng chất lượng và năng suất đã
đề cập ở trên. Bên cạnh đó, giảm được chi phí tìm kiếm thông tin, liên kết giá,
giảm bớt các khâu trung gian không cần thiết hoặc cải tiến trong từng bước giúp
nâng cao giá trị của toàn chuỗi.
Liên kết ngang cần được phát triển, đặc biệt ở nhóm tác nhân sản xuất, từng
bước áp dụng thống nhất về quy trình canh tác và giống nhờ vào hoạt động của các
tổ chức đoàn thể, hội, vốn đã hình thành nhưng hoạt động chưa hiệu quả. Liên kết
91
ngang này có thể được xây dựng kết hợp với các chương trình hỗ trợ kỹ thuật,
chương trình đầu tư trồng mới, cải tạo thâm canh của cơ quan nông nghiệp.
4.3.3 Chiến lược WT: Xây dựng kế hoạch tránh mẫn cảm với tác động của
thách thức
4.3.3.1 Đảm bảo nguồn cung sản phẩm
Nâng cao ý thức cho người dân trong việc sản xuất, mua và bán như trong
giai đoạn hiện nay là cần thiết, cụ thể như việc chọn bán giá cao, chọn thời điểm
mùa vụ,… nhưng chưa được quy hoạch, định hướng nguồn cung sản phẩm cho
doanh nghiệp,… làm ảnh hưởng đến nguồn sản phẩm xuất khẩu theo lô hàng khi
chưa đủ sản lượng, doanh nghiệp kéo giá lên cao, khi hết đợt xuất hàng, doanh
nghiệp hạ giá xuống thấp.
4.3.3.2 Nâng cao năng lực phòng trị dịch bệnh
Các cơ quan khuyến nông, bảo vệ thực vật cần nghiên cứu, cập nhật kiến
thức mới, khoa học hiện đại, liên kết với các trường, viện nghiên cứu tổ chức nhiều
lớp tập huấn, hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật nhằm giúp nắm bắt thông tin về
giống, phòng trừ dịch bệnh là rủi ro đang gặp, nhất là dịch bệnh chổi rồng. Nếu có
biện pháp phòng ngừa dịch bệnh hợp lý thì sẽ hạn chế được thiệt hại. Ngoài ra, cần
tăng cường công tác cung cấp thuốc phòng dập dịch bệnh khi xảy ra. Qua đó, phát
hiện và xử lý kịp tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng.
4.4 Giải pháp phát triển chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò Đồng Tháp
Phân tích hiệu quả kinh tế chuỗi, ta thấy, mức lợi nhuận qua các kênh tiêu
thụ có khác nhau, kênh 2 & 10 có lợi nhuận âm (lỗ) không khuyến khích phát
triển. Kênh 10 có lợi nhuận cao, tuy nhiên sản lượng thấp (481 Tấn), do vậy tổng
lợi nhuận không cao.
Về kênh xuất khẩu, ta thấy, kênh 4 (sấy) có mức lợi nhuận 4.440đồng/kg và
giá trị gia tăng 26.460đồng/kg và kênh 1(tươi) có lợi nhuận 4.854đồng/kg, giá trị
gia tăng 27.420 đồng/kg là khá cao. Kênh nội địa, kênh 6&7 có mức lợi nhuận và
giá trị gia tăng cao (Bảng 3.28), vì vậy cần khuyến khích phân phối tiêu thụ theo
92
Chợ NT
(20.034)
NĐ
21.250
DN XK
Cung
cấp
đầu
vào:
Giống
, phân
thuốc
bảo
vệ
thực
vật,
công
cụ lao
động,
lao
động
Đầu
vào
Sản xuất Thu
gom
Sơ
chế
Thương
mại
Tiêu
dùng
Nông
hộ
28.889
(Tấn)
VN
-12%
21.418
LS
-2%
2.470
TL
-2%
25.325
XK
751/1989
Tiến hành phân
loại tiêu thụ :
tươi – sấy
Sơ chế biến, đa dạng
hóa sản phẩm. Xúc tiến
thương mại xuất khẩu
Cải thiện giống.
Chuẩn VietGap,
GlobalGAP
Đưa hàng
vào siêu thị
Kho lạnh
bảo quản
hướng này nhằm tăng sản lượng tiêu thụ. Kênh 13 là kênh tiêu thụ tại chợ tỉnh
nhằm giới thiệu quảng bá sản phẩm.
Như vậy, để phát triển bền vững chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng
Tháp - 2020, ngoài giải pháp đã nêu, cần nghiên cứu sơ đồ chuỗi giá trị Hình 4.1.
Hình 4.1 Sơ đồ chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò Đồng Tháp – 2020
(Sấy)
2.393
(Tươi)
20.976
- Trung tâm khuyến nông
- Chi cục Bảo vệ thực vật
- Viện Cây ăn quả Miền
Nam
Trung tâm xúc tiến thương mại
Sở khoa học & công nghệ, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, cơ quan
khoa học công nghệ khác
Ngân hàng : Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Thương mại, Đầu tư và Phát triển, Chính sách xã hội,…
Hệ thống quản lý Nhà nước về sản xuất, chế biến và thương mại
Chợ TT
(1.217)
93
Từ sơ đồ chuỗi giá trị hiện tại (Hình 3.1) với 15 kênh tiêu thụ khác nhau,
trong đó, 4 kênh xuất khẩu và 11 tiêu thụ nội địa. Trên cơ sở đánh giá về khả năng
tạo ra lợi nhuận và giá trị gia tăng, sơ đồ chuỗi giá trị trái nhản tiêu da bò tỉnh
Đồng Tháp tầm nhìn đến 2020 với 5 kênh tiêu thụ:
Bảng 4.1 Kênh tiêu thụ (phân phối) theo sơ đồ chuỗi giá trị đề xuất
Kênh tiêu thụ
Toàn huyện có 3.776 ha trồng
nhãn, năng suất 7,65 tấn/ha.
Tổng sản lượng trái nhãn
28.889 tấn trái nhãn tươi/năm.
% Tổng sản
lượng
Tỷ lệ
XK/NĐ
Sản lượng (tấn/năm)
Chưa
hoa
hụt
Có
hao
hụt
Chưa
hao
hụt
Hao
hụt
Chưa
hoa
hụt
Có
hao
hụt
Sản
lượng
1 NH-TL-VN-DN XK->XK (K1) 32,0% 27,1%
35%
XK
5,1%
9.258 7.824
8.573
2 NH - LS - DN XK -> XK (K4) 2,7% 2,6% 787 751
3 NH-TL-VN-DN XK->Chợ NT (K7) 53,9% 35,5%
65%
NĐ
19,9%
15.562 10.259
13.105
4 NH-LS-DN XK -> Chợ NT (K6 bỏ TL) 6,0% 5,6% 1.727 1.615
5 NH - TL - Chợ TT (K13) 5,4% 4,3% 1.556 1.235
Tổng cộng 100% 75% 25% 28.889 21.678
Với chiến lược phân phối tiêu thụ như trên và tỷ lệ hao hụt vẫn là 25% sản
lượng, từ các số liệu phân tích hiện tại, ta tạm tính được giá trị gia tăng và giá trị
gia tăng thuần như Bảng 4.2.
Bảng 4.2 Tổng hợp giá trị gia tăng, lợi nhuận - chuỗi giá trị đến 2020
Tác nhân
GTGT
(Vnđ)
NPr
(Vnđ)
Tổng GTGT Tổng NPr
Hiện tại
(Trđ)
Sơ đồ đề
xuất (Trđ)
Hiện tại
(Trđ)
Sơ đồ đề
xuất (Trđ)
NH 13.601 1.868 392.918 392.918 53.956 53.965
TL 1.687 623 43.084 42.723 15.903 15.778
LS 4.404 920 10.878 10.878 2.272 2.272
VN 2.777 148 47.058 59.478 2.512 3.170
DN XK 8.455 1.660 124.878 209.828 24.515 41.169
Cho TT 3.369 529 4.100 4.100 643 643
Cho NT 3.909 1.083 58.655 72.000 16.248 19.948
Tổng cộng: 681.571 791.925 116.049 136.945
94
Để mô hình chuỗi giá trị (Hình 4.1) phát huy hiệu quả, cần tiến hành thông
tin rộng rãi về tiêu chuẩn chất lượng, phân loại sản phẩm tiêu thụ cho từng loại
nhãn tươi hay nhãn sấy với mức giá cụ thể tại NH.
4.4.1 Giải pháp phát triển vùng chuyên canh, chất lượng cao
Quy hoạch và tập trung phát triển vùng chuyên canh sản xuất nhãn tại Châu
Thành và huyện Cao Lãnh với diện tích khá tập trung với chi phí sản xuất và năng
suất vượt trội so các vùng khác (Bảng 4.3) do điều kiện về thổ nhưỡng và khả năng
thâm canh sản xuất với chi phí khá cạnh tranh.
Bảng 4.3 Diện tích, năng suất, chi phí canh tác - Nông Hộ
Stt
Huyện, Thị xã,
thành phố
Diện tích
canh tác (ha)
Diện tích
(ha/hộ)
Năng suất
(Tấn/ha)
Chi phí/ha
(1.000đ)
1 Châu Thành 2.621,0 0,64 7,66 127.453
2 H. Cao Lãnh 809,0 0,74 7,70 128.124
3 Lấp Vò 110,0 0,60 7,35 132.256
4 Lai Vung 91,0 0,57 6,71 136.064
5 TP Sa Đéc 77,0 0,45 7,12 132.689
Bình quân 0,65 7,65 131.162
Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
Vai trò quan trọng trong giải pháp này là áp dụng khoa học công nghệ vào
sản xuất, ứng dụng quy trình sản xuất sạch theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP,
nhằm tạo sản phẩm chất lượng đồng đều định hướng thị trường tiêu thụ và bán với
giá cao.
Ưu tiên phát triển các mô hình liên kết trong sản xuất như THT, HTX giữa
các NH nhằm giúp tăng quy mô sản xuất, khắp phục dần tình trạng sản xuất nhỏ lẻ
manh múng với chi phí đầu vào cao và khó áp dụng cơ giới hóa.
Với sản lượng vùng chuyên canh chất lượng cao gần 30.000tấn trái/năm, là
vùng cung nguyên liệu ổn định để doanh nghiệp nâng cao năng lực tiếp cận thị
trường, thương thảo giá cả, hướng tới chủ động trong kinh doanh, bán sản phẩm ra
thị trường bằng việc ký kết hợp đồng xuất khẩu. Trước mắt, có thể thực hiện mô
hình LS, VN như là cơ sở sơ chế biến trực thuộc DN XK để tăng cường khả năng
cạnh tranh cho DN XK (Hình 4.1).
95
4.4.2 Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm – định hướng thị trường tiêu thụ
Từ thực tế nhìn thấy sản phẩm trái nhãn tiêu da bò khá đơn điệu, với 2 sản
phẩm là nhãn tươi và nhãn sấy. Sự cần thiết của việc đa dạng hóa sản phẩm đầu ra
cho trái nhãn đến với người tiêu dùng là bức thiết. Khi doanh nghiệp có được vùng
cung nguyên liệu ổn định sẽ tạo điều kiện nghiên cứu sơ chế biến các sản phẩm
như: sản phẩm nhãn đóng lon, thạch nhãn, kẹo nhãn, cơm nhãn đông lạnh,
cooktail… cung cấp ra thị trường trong và ngoài nước nhằm gia tăng giá trị cho
sản phẩm.
Bên cạnh, từng bước đưa vào hệ thống bảo quản, xử lý sau thu hoạch giảm
tỷ lệ hao hụt khi phân phối, trước mắt, Doanh nghiệp có thể nghiên cứu xây dựng
kho đông lạnh nhằm bảo quản trái nhãn tươi dùng cho xuất khẩu. Bên cạnh việc
phát triển kênh bán hàng truyền thống (chợ) với tỷ lệ hao hụt là 19-22%, nên phát
triển hệ thống bán hàng hiện đại thông qua các kênh siêu thị với hệ thống đông
lạnh sẽ giảm tỷ lệ hao hụt đáng kể.
4.4.3 Giải pháp về thương mại – phát triển thương hiệu
Tăng cường xúc tiến thương mại, kết hợp giới thiệu sản phẩm đến gần hơn
với người tiêu dùng. Trong đó, tăng cường công tác giới thiệu và quảng bá sản
phẩm, đưa thông tin, hình ảnh về trái nhãn tiêu da bò Đồng Tháp…tạo niềm tin
cho người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm để giới thiệu với những người xung
quanh. Trước mắt, từng bước hình thành và xác định từng loại, tiến hành dán nhãn
sản phẩm để tất cả tác nhân tham gia trong chuỗi nhận biết và hướng đến giúp
người tiêu dùng nhận diện sản phẩm. Cần tham gia vào các hoạt động du lịch nông
nghiệp của tỉnh Đồng Tháp với các vườn nhãn nhằm quảng bá chất lượng, thương
hiệu cũng như tiêu thụ trái nhãn tại chổ của khách du lịch.
---------oOo---------
96
TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Trên cơ sở định hướng phát triển ngành hàng nhãn tiêu da bò nằm trong
nhóm ngành hàng chiến lược của Đồng Tháp theo hướng bền vững, có giá trị gia
tăng cao, với quy mô sản xuất đủ lớn, áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật vững bền theo
hướng GAP, đầu tư phát triển chế biến, bảo quản, vận chuyển, khả năng tiếp thị và
phát triển thương hiệu.
Từ những kết quả đã phân tích tại chương 3, đề tài đi vào phân tích đánh giá
những điểm mạnh, cơ hội cũng như tìm thấy được những thách thác và nguy cơ
đối với trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp (Phụ lục 17). Trên cơ sở đó đề xuất các
giải pháp nhằm phát triển bền vững chuỗi giá trị, đó là, những chiến lược nhằm
theo đuỗi các cơ hội phù hợp với điểm mạnh, khắc phục điểm yếu và tránh mẫn
cảm với tác động của những thách thức.
Trước hết, giai đoạn đến 2020, đề tài đề xuất kênh phân phối tiêu thụ gồm 5
kênh theo Hình 4.1 với 3 giải pháp cơ bản đó là: Phát triển vùng chuyên canh, chất
lượng cao; Đa dạng hóa sản phẩm – định hướng thị trường tiêu thụ bên cạnh giải
pháp về thương mại – phát triển thương hiệu.
Bên cạnh các chiến lược và giải pháp là việc đưa ra các kiến nghị cụ thể
nhằm hỗ trợ về quy hoạch và phát triển vùng chuyên canh chất lượng cao, đẩy
mạnh công tác dự báo thông tin, tuyên truyền, tư vấn phát triển sản xuất, phân phối
và thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển các liên kết ngang, liên kết dọc trên cơ
sở tăng cường công tác quản trị chuỗi.
---------oOo---------
97
CHƯƠNG 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Thực trạng chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp với với các tác
nhân chính tham gia như: Nông Hộ, Thương Lái, Vựa Nhãn, Lò Sấy, Doanh
nghiệp, Người bán lẻ tại chợ trong ngoài tỉnh thực hiện chức năng từ sản xuất, thu
gom, sơ chế biến và cung ứng ra thị trường tiêu thụ. Bên cạnh các tác nhân hỗ trợ,
thúc đẩy chuỗi là các cửa hàng vật tư nông nghiệp cung cấp phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, các cơ quan khuyến nông hỗ trợ kỹ thuật sản xuất, Ngân hang Nông
nghiệp cung ứng vốn….
Với tổng sản lượng sản xuất là 28.889 tấn và 15 kênh tiêu thụ, trong đó 4
kênh xuất khẩu với 5.365 tấn và 11 kênh truyền thống 16.224 tấn, tỷ lệ hao hụt
toàn chuỗi 25%. Mức đóng góp thu nhập 2.710 tỷ đồng, lợi nhuận 116 tỷ đồng và
tạo giá trị gia tăng cho xã hội là 681,6 tỷ đồng. Cho thấy mức độ thâm dụng lao
động, sử dụng tài nguyên đất đai và vốn ít phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài thể
hiện chỉ số P/IC (Nông hộ) là 3,5 là mức khá trong ngành nông sản tỉnh Đồng
Tháp. Tuy vậy, liên kết trong quan hệ thương mại giữa các tác nhân chưa chặt chẽ,
chủ yếu dựa trên sự tin tưởng và thỏa thuận miệng, chưa chú trọng đến hợp đồng
thương mại.
Giải pháp phát triển bền vững chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp
đòi hỏi Nông hộ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bên cạnh việc liên kết
sản xuất thành vùng chuyên canh nhằm giảm chi phí, nâng cao chất lượng đạt
chuẩn VietGAP, GlobalGAP để bán được giá cao. Cần tiến hành thông tin rộng rãi
và phân loại sản phẩm trái nhãn ngay từ Nông hộ sản xuất để thu gom, chế biến và
phân phối sản phẩm theo từng kênh tiêu thụ thích hợp nhằm nâng cao giá trị gia
tăng và mức lợi nhuận. Doanh nghiệp cần nghiên cứu sơ chế biến đa dạng hóa sản
phẩm cung ứng ra thị trường, nghiên cứu xây dựng kho đông lạnh và phát triển hệ
thống bán hàng qua siêu thị nhằm giảm tỷ lệ hao hụt hiện ơ mức cao 25%. Bên
98
cạnh đẩy mạnh hoạt động xúc tiến về thương mại, nghiên cứu và khai thác thị
trường tiềm năng như EU và Mỹ trong tương lai.
5.1 Đóng góp của nghiên cứu
Làm sáng tỏ và đánh giá đúng thực trạng, qua đó, cung cấp cơ sở dữ liệu
khách quan độc lập về chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. Trong đó,
nêu bật hiệu quả kinh tế, các giá trị đóng góp về mặt kinh tế, xã hội mà chuỗi
mang lại, những tồn tại và nguyên nhân được tìm thấy trong quá trình phân tích
chuỗi. Qua đó, đề xuất giải pháp phát triển chuỗi giá trị, nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động, định hướng phát triển bền vững. Góp phần vào việc thực hiện đề án tái
cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Đồng Tháp đến 2020 và tầm nhìn 2030.
Thông qua đề tài cũng muốn kêu gọi sự quan tâm hơn nữa của các tổ chức,
các cơ quan chức năng thúc đẩy phát triển chuỗi nhằm tận dụng lợi thế sẵn có của
trái nhãn – Đồng Tháp. Đồng thời các tác nhân cần chủ động và phát huy tinh thần
chủ đạo phối hợp của mình trong việc phát triển và vận hành chuỗi.
5.2 Kiến nghị
Quy hoạch vùng chuyên canh cây nhãn chất lượng cao tại huyện Châu
Thành, Cao Lãnh, song song đó, xây dựng các chương trình tuyên truyền, vận
động sâu rộng đối với người dân và các tổ chức cơ sở, xây dựng mô hình thí điểm
về kinh tế hợp tác và liên kết chuỗi đa dạng để rút kinh nghiệm và nhân rộng nhằm
thay đổi hành vi sản xuất theo hướng quy mô lớn, liên kết chuỗi trong sản xuất. Để
tận dụng lợi thế của vùng, tạo nguồn cung sản lượng ổn định tạo điều kiện để
doanh nghiệp đầu tư đa dạng hóa sản phẩm, định hướng thị trường tiêu thụ.
Đẩy mạnh công tác thông tin, nghiên cứu thị trường, tư vấn phát triển thị
trường, xúc tiến thương mại, đẩy mạnh tổ chức liên kết chuỗi đầu ra sản phẩm.
Quản lý và khuyến khích phát triển Hiệp, Hội hoạt động hiệu quả nhằm tạo điều
kiện hỗ trợ cho các tác nhân tham gia vận hành chuỗi, nhằm đảm bảo giá đầu ra
cho sản phẩm. Đảm bảo cung cấp thông tin thị trường thông suốt đến từng tác
nhân trong chuỗi.
99
Tăng cường công tác tư vấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cải thiện chất
lượng giống, quy trình sản xuất, phòng trừ dịch bệnh. Nghiên cứu xử lý giảm thất
thoát sau thu hoạch đến lưu thông, phân phối và tiêu dùng. Nghiên cứu quy trình
bảo quản sản phẩm bảo đảm an toàn sức khỏe người tiêu dùng.
Định kỳ tổ chức hội thảo “4 nhà” kịp thời tư vấn thông tin, trao đổi về tình
hình sản xuất, khả năng cung ứng, dự báo thị trường tiêu thụ sản phẩm và tìm giải
pháp phối hợp hiệu quả.
5.3 Hạn chế của nghiên cứu
Hạn chế của đề tài theo quan điểm của tác giả: trước nay, các nghiên cứu
về chuỗi giá trị ngành hàng nông sản thường đi vào tổng quát toàn bộ chuỗi. Khi đi
sâu vào phân tích riêng trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp chưa tìm ra được so sánh
đối chuẩn phù hợp, trong khi so sánh đối chuẩn nên có trong quá trình phân tích
chuỗi. Cũng như chưa đánh giá hiệu quả chuỗi giá trị ngành hàng trong môi trường
các yêu tố có liên quan tác động ở tầm khu vực hay cả nước để toàn diện hơn. Bên
cạnh, đề tài chưa đi vào phân tích các giá trị thương hiệu hay chỉ dẫn địa lý “trái
nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp” trên thị trường tiêu thụ.
---------oOo---------
100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu trong nước
1. Đỗ Thị Đông. (2011). “Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liên
kết của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam”. (Trang 9-40)
2. Trần Tiến Khai. (2012). Giáo trình phân tích chuỗi giá trị và ngành
hàng, Chính sách phát triển kinh tế. Trường Đại học Kinh tế TP. HCM.
Bài 18. Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng.
3. Nguyễn Thị Kim Nguyên. (2013). Một số giải pháp nhằm hoàn thiện
chuỗi giá trị dừa tươi tỉnh Bến Tre. (Trang 8-63)
4. Nguyễn Phú Son. (2012). Báo cáo Chuỗi giá trị các sản phẩm Táo, Tỏi
và Nho tỉnh Ninh Thuận. (Trang 20-132)
5. Lê Minh Tài. (2013). Phân tích chuỗi giá trị và đề xuất giải pháp phát
triển bền vững cây Khóm huyện Tân Phước – tỉnh Tiền Giang. (Trang
64-96)
Danh mục tài liệu nước ngoài
1. Porter. M.E. (1985). Competitive advantage: creating and sustaining
superior Performance. New York: the Free Press.
2. M4P. (2008). Marking value chains work better for the poor: A toolbook
for practitioners of value chain analysis. A publication financed by the
UK department for international development (DFID).
3. GTZ Eschborn. (2007). Value Links Manual: The Methodology of
Value Chain Promotion.
Văn Bản của các cơ quan Chính phủ, Bộ, Ngành, Tỉnh
1. Cục thống kê tỉnh Đồng Tháp. (2014). Niên giám thống kê (Phần
Nông nghiệp).
2. Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp. (2014). (Trang
18-252)
3. UBND tỉnh Đồng Tháp. (2014). Báo cáo tổng kết ngành nông
nghiệp.

Đề tài: Phân tích chuỗi giá trị và đề xuất giải pháp phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò, 9 ĐIỂM!

  • 1.
    CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆUĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, quá trình toàn cầu hóa ngày càng diễn ra nhanh chóng, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, bên cạnh những cơ hội, doanh nghiệp còn đứng trước những khó khăn, thách thức. Để đáp ứng được yêu cầu của thị trường rộng lớn và đòi hỏi phát triển bền vững, các doanh nghiệp ngày nay cần tiến hành phân tích và đánh giá lại cả quá trình từ khi còn là nghiên cứu đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm xác định được lợi thế cạnh tranh nằm ở giai đoạn nào để có chiến lược phát triển dựa trên thế mạnh sẵn có của mình. Về phía Nhà nước cần có những chính sách cần thiết để tháo gỡ những nút thắt đối với cả quá trình khởi điểm từ những ý tưởng, nghiên cứu, đến sản xuất, kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Theo Micheal Porter khởi xướng vào giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20 trong cuốn sách Best-seller, có thể nói, chuỗi giá trị là một tập hợp những hoạt động để đưa một sản phẩm từ khi còn ý tưởng đến khi được sản xuất, đưa vào sử dụng và cả dịch vụ sau bán hàng. Như vậy, chuỗi giá trị đã bao gồm các hoạt động như thiết kế mẫu mã, sản xuất, marketing, phân phối và dịch vụ sau bán hàng cho người tiêu dùng cuối cùng. Các công đoạn này diễn ra kế tiếp nhau và tác động lẫn nhau để cùng tạo ra sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm đó. Để chuỗi giá trị diễn ra bình thường thì bên cạnh các hoạt động sản xuất phải có các hoạt động dịch vụ hỗ trợ, đó là: quản lý hành chính, phát triển cơ sở hạ tầng, quản lý nguồn nhân lực, cung cấp thông tin và những dịch vụ bảo trì thiết bị, nhà xưởng sản xuất,… Vì vậy, việc phân tích chuỗi giá trị là một phương pháp hữu hiệu để đánh giá tốt nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của một ngành hàng, cũng như đánh giá vai trò và phạm vi ảnh hưởng của nó trong một quốc gia hay toàn cầu.
  • 2.
    2 Ở Việt Nam,đối với một vài sản phẩm nông nghiệp đã được các chuyên gia kinh tế hàng đầu tiến hành phân tích, theo đó, các công đoạn nghiên cứu, sản xuất, phát triển và xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm của chuỗi là nhằm tạo ra giá trị cao trong việc tạo lợi nhuận cho toàn chuỗi. Tuy nhiên với công nghệ còn thấp kém, nên khả năng chế biến sau thu hoạch cần nổ lực vươn lên để chiếm lĩnh công nghệ mới theo khả năng và lợi thế của mình, từ đó, nhằm giành lại lợi ích cả công đoạn nghiên cứu tạo giống nông sản mới, giá trị gia tăng mới, cao hơn, nếu không sẽ rơi vào tình trạng thua thiệt. Đây chính là thách thức to lớn đối với tác nhân của nền kinh tế đang phát triển khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Sản xuất nông sản hàng hóa của đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Đồng Tháp nói riêng đã có nhiều đổi mới, tiến bộ nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, giá thành cao, lợi nhuận thấp. Các khâu sản xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ nông sản thiếu tính liên kết bền vững cùng hỗ trợ nhau phát triển. Ở tỉnh Đồng Tháp, về ngành nông sản - trái nhãn, ta thấy được: thu nhập của người trồng nhãn bấp bênh do giá biến động, sản lượng được tiêu thụ qua nhiều tác nhân trung gian. Có nhiều vấn đề xoay quanh các khâu sản xuất và tiêu thụ được đặt ra cho sản phẩm trái nhãn tỉnh Đồng Tháp, cần được phân tích để có thể giúp các tác nhân tham gia chuỗi giá trị có thể gia tăng thu nhập. Doanh nghiệp chế biến nông sản, trong đó hướng đến trái nhãn, còn nhiều lý do khác nhau, trong đó, việc hoạch toán kinh doanh cho mặc hàng còn thiếu cơ sở về mặc bằng chi phí, công nghệ chế biến, … và thị trường tiêu thụ…. Nên chưa mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh chế biến nông sản này tại Đồng Tháp. Về khía cạnh những người quản lý còn thiếu cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội về ngành hàng này như: khả năng và mức đóng góp về kinh tế xã hội từ trái nhãn, khả năng giải quyết việc làm, mức giá trị và giá trị gia tăng toàn ngành hàng… Khả năng tác động của các chính sách thương mại, xúc tiến thương mại,
  • 3.
    3 việc triển khaiáp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất trái nhãn nói riêng và nông sản nói chung… Vì vậy, nhiều vấn đề xoay quanh các khâu trồng trọt và tiêu thụ, hoạch định chiến lược phát triển được đặt ra cho sản phẩm trái nhãn Đồng Tháp, để giải quyết vấn đề này nhất thiết phải tiến hành phân tích toàn bộ các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị. Nhận thức được vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phân tích chuỗi giá trị và đề xuất giải pháp phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình. 1.2. Tình hình nghiên cứu có liên quan Nghiên cứu về chuỗi giá trị của các sản phẩm nông nghiệp đã được thực hiện rất nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi một nghiên cứu lại tiếp cận vấn đề ở khía cạnh, phạm vi và đối tượng khác nhau. Chưa có đề tài nào nghiên cứu về chuỗi giá trị Trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. Phần dưới đây là điểm qua một số nghiên cứu điển hình có liên quan đến phân tích chuỗi giá trị nông sản: Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Cộng hòa Liên bang Đức (GTZ) đã phối hợp với các tổ chức và các nhà nghiên cứu Việt Nam thực hiện một số nghiên cứu về chuỗi giá trị ở một số tỉnh thành chọn lọc. Một số nghiên cứu thực nghiệm được công bố như “Áp dụng phương pháp chuỗi giá trị để phát triển ngành dâu tằm tơ tại Tuyên Hóa, Quảng Bình” (Thanh, 2006a); “Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm cao su ở Quảng Bình” (Thanh, 2006b), “Phân tích chuỗi giá trị bơ Đắc Lắc” (GTZ, 2006a), “Phân tích chuỗi giá trị rau cải ngọt Hưng Yên” (GTZ, 2006b), “Phân tích chuỗi giá trị cá tra và ba sa ở ĐBSCL” (GTZ, 2009). Phương pháp nghiên cứu phần lớn dựa vào cuốn “Cẩm nang Liên kết Giá trị: Phương pháp luận thúc đẩy chuỗi giá trị” của GTZ phát hành (GTZ, 2007). Nền tảng phương pháp luận của GTZ chủ yếu dựa vào nghiên cứu của Kaplinsky và Morris (2001). Hầu hết các nghiên cứu đã cung cấp những kết quả và khuyến nghị có giá trị cho các bên có liên quan trong chuỗi giá trị.
  • 4.
    4 Công ty nghiêncứu thị trường Việt Nam (Axis Research) có nhiều nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị rau củ quả và trái cây. Các phân tích tiến hành xác định cấu trúc chuỗi giá trị sản phẩm và phân tích đặc điểm sản xuất và thương mại, tính toán lợi ích và chi phí nhằm xác định sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi. Axis Research (2006) đã phân tích cấu trúc thị trường tiêu thụ bưởi Vĩnh Long, phân tích quan hệ của các tác nhân, người thu gom có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, so với chuỗi giá trị nho Ninh Thuận thì người trồng bưởi Vĩnh Long có ưu thế hơn trong việc quyết định thời điểm bán và giá bán vì bưởi không dễ hư hỏng và có thể neo trái lại trên cây hoặc thu hoạch và bảo quản. Đặc biệt, lượng cung bưởi nhỏ nên thương lái phải cạnh tranh cao trong thu mua hàng.Các doanh nghiệp chế biến bưởi gặp nhiều khó khăn do đầu ra không ổn định và chất lượng bưởi Việt Nam không cao. Nguyễn Thị Kim Nguyên (2013), cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng khách hàng, tình hình thị trường và cạnh tranh đối với sản phẩm dừa trái tươi Bến Tre. Bắt đầu từ thị trường tiêu thụ và lấy thị trường quyết định sản xuất, tác giả đã phân tích từng tác nhân tham gia chuỗi. Khuyến nghị việc vận hành và phát triển chuỗi cần sự chủ động phối hợp liên kết chuỗi trong tất cả các khâu. Lê Minh Tài (2013), chuỗi giá trị cây Khóm huyện Tân Phước –Tiền Giang, với 3 tác nhân: người sản xuất, thu gom và công ty chế biến. Bên cạnh việc đề nghị phát triển về cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho chuỗi, đề tài nhấn mạnh đến mối liên kết dọc, trong đó, người sản xuất đóng vai trò trung tâm bên cạnh nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và sự hỗ trợ từ ngân hàng. Nguyễn Phú Son và cộng sự (2012), chuỗi giá trị các sản phẩm Táo, Tỏi và Nho Ninh Thuận, nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc liên kết, xây dựng kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm là yêu cầu cấp thiết. Vì cho rằng kênh phân phối chủ yếu theo con đường truyền thống, nông hộ khá thụ động trong thu hoạch và tiêu thụ. Hệ thống thu gom sản phẩm qua nhiều tầng nấc trung gian, hoạt động thương mại dựa trên cơ sở mối thân quen và hợp đồng miệng. Rủi ro về thời tiết, sâu bệnh và thị trường tiêu thụ luôn đe dọa. Người bán sỉ có quyền lực định giá trong chuỗi giá trị sản phẩm này.
  • 5.
    5 UBND Đồng Tháp(2014), đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030. Phạm vi của đề án chủ yếu tập trung phân tích và đề xuất các định hướng cho tái cơ cấu ngành nông nghiệp, làm cơ sở cho việc triển khai các chương trình hành động lớn của tỉnh. Đây là đề án khung, đề án mở và sẽ liên tục cập nhật sau từng giai đoạn. Trong đó, đề án tiến hành phân tích chuỗi giá trị 5 ngành hàng chủ lực của Đồng Tháp, đó là: “Ngành hàng Lúa gạo, Ngành hàng Xoài, Ngành hàng Hoa Kiểng và Ngành hàng Cá da trơn, Ngành hàng Vịt”. Cung cấp thực trạng quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, khả năng áp dụng tiêu chuẩn chất lượng còn rất hạn chế. Bên cạnh việc liên kết sản xuất và tiêu thụ hàng hóa chưa chặt chẽ, chưa hệ thống, thông tin về thị trường tiêu thụ chưa phát triển, chưa được dự báo, xúc tiến thương mại còn thiếu và yếu. Hệ thống hạ tầng đối với vùng sản xuất chưa được đảm bảo, doanh nghiệp đầu tàu trong việc thu mua sản phẩm xuất khẩu chưa đáp ứng yêu cầu người sản xuất. Những kịch bản về tăng di cư lao động, tích tụ ruộng đất, tập trung tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ và tái cơ cấu kinh tế toàn diện đã được đưa ra và hướng tới các phương án tăng quy mô ruộng đất, rút bớt lao động nông nghiệp, thay đổi kết cấu kinh tế và việc làm. 1.3. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học khách quan về thực trạng sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm qua việc phân tích cụ thể từng tác nhân tham gia vào chuỗi và trên cơ sở đánh giá hiệu quả chuỗi, đề xuất giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp. Mục tiêu cụ thể: 1. Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị sản phẩm trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. 2. Phân tích kinh tế và đánh giá hiệu quả chuỗi giá trị. 3. Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp.
  • 6.
    6 1.4. Câu hỏinghiên cứu Để thỏa mãn các mục tiêu nghiên cứu cụ thể nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu sau đây được đặt ra: (1) Thực trạng chuỗi giá trị Trái nhãn tiêu da bò Đồng Tháp như thế nào? (2) Giá trị kinh tế từng tác nhân trong chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp như thế nào? (3) Giái pháp nào để phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò –Đồng Tháp? 1.5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu Các tác nhân tham gia vào chuỗi bao gồm: nhà sản xuất (hộ gia đình nông dân - NH), TL thu gom, VN đầu mối, cơ sở chế biến (lò sấy - LS), doanh nghiệp hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất khẩu trái nhãn tiêu da bò ít nhất một năm, đến kênh phân phối tiêu dùng bao gồm Người Bán lẻ tại Chợ đầu mối trong Tỉnh, Người bán lẻ tại Chợ đầu mối ngoài tỉnh. Ngoài ra còn tham khảo ý kiến thêm nhà cung cấp sản phẩm đầu vào (phân bón, thuốc BVTV, cây giống). Thêm vào đó, nghiên cứu cũng tham khảo ý kiến và phỏng vấn một số đơn vị/cá nhân có chức năng hỗ trợ/thúc đẩy chuỗi giá trị là các Sở, Ngành Tỉnh, huyện có liên quan. - Phạm vi nghiên cứu Không gian: Bao quát toàn bộ chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp từ sản xuất đến tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Địa điểm: Địa bàn sản xuất và tiêu thụ trong tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ tác nhân tham gia chuỗi, nghiên cứu 2 địa điểm có dòng sản lượng tiêu thụ lớn (TP HCM, TP Cần Thơ) và Doanh nghiệp xuất khẩu trái cây (Cái Bè - Tiền Giang) thực hiện xuất khẩu trái nhãn tiêu da bò ra nước ngoài. Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 11/2014 đến tháng 5/2015.
  • 7.
    7 Phạm vi nộidung nghiên cứu của đề tài: Tập trung phân tích chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò và đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền vững chuỗi. Trong đó, tiến hành phân tích và đánh giá về chi phí, phân phối thu nhập, kênh phân phối cụ thể từng tác nhân tham gia chuỗi, đánh giá hiệu quả kinh tế toàn chuỗi. 1.6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Làm sáng tỏ và đánh giá đúng thực trạng, qua đó, cung cấp cơ sở dữ liệu khách quan độc lập về chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. Trong đó, nêu bật hiệu quả kinh tế, các giá trị đóng góp về mặt kinh tế, xã hội mà chuỗi mang lại, những tồn tại và nguyên nhân được tìm thấy trong quá trình phân tích chuỗi. Qua đó, đề xuất giải pháp phát triển chuỗi giá trị, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, định hướng phát triển bền vững đến năm 2020. 1.7 Kết cấu của luận văn Ngoài các phần phụ, kết cấu của Luận văn bao gồm: Chương 1: Giới thiệu đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận & Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp Chương 4: Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp Chương 5: Kết luận & Kiến nghị --------------oOo--------------
  • 8.
    8 TÓM TẮT CHƯƠNG1 Chương 1 cũng đã đi vào phân tích về sự cần thiết của việc thực hiện đề tài, đề cập mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Trong đó, cũng đã tiến hành đánh giá tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như những nghiên cứu về chuỗi giá trị của các sản phẩm nông nghiệp, đề tài tái cơ cấu ngành nông nghiệp Đồng Tháp nhằm định hướng khung cho những nghiên cứu tiếp theo. Với vấn đề nghiên cứu và những câu hỏi đã được đặt ra, ta tiến hành đi vào phần cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu về chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò –Đồng Tháp tại chương 2. --------------oOo--------------
  • 9.
    9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞLÝ LUẬN & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm 2.1.1 Các khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích chuỗi giá trị Doanh thu hay tổng giá trị đầu ra Doanh thu hay tổng giá trị đầu ra được tính bằng cách nhân số lượng hàng bán với giá bán cộng thêm những nguồn thu nhập thêm như doanh thu từ việc thực hiện những dịch vụ có liên quan, từ việc bán phể phẩm, tư vấn,… Chỉ tiêu này cho biết đối tượng tham gia chuỗi gia trị thu được bao nhiêu tiền. Khi nghiên cứu chuỗi giá trị trong khoảng thời gian dài, người ta cần phải lưu ý về tỷ lệ lạm phát do vậy chọn một mốc thời gian cụ thể và quy giá trị của doanh thu về mối thời gian đó mới chính xác. Giá trị gia tăng hay tổng giá trị đầu ra dòng Giá trị gia tăng hay tổng giá trị đầu ra dòng được tính bằng tổng giá trị đầu ra trừ đi tổng giá trị đầu vào. Đây là một chỉ tiêu quan trọng trong phân tích chuỗi giá trị bởi nó cho biết đối tượng tham gia chuỗi giá trị đóng góp được bao nhiêu giá trị vào sản phẩm hay dịch vụ cuối cùng. Giá trị gia tăng là mức đo lợi nhuận được tạo ra bởi tác nhân của từng khâu trong chuỗi giá trị. Chuỗi giá trị chỉ mang lại lợi nhuận cho các tác nhân nếu người tiêu dùng sẵn sàng chi trả giá sản phẩm cuối cùng. Người tiêu dùng, vì thế, không tạo ra giá trị gia tăng. Chi phí /Giá trị gia tăng thuần (lợi nhuận) Việc phân tích chi phí và lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân tích chuỗi giá trị bởi thông tin về chi phí và lợi nhuận là thông tin có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra những quyết định có liên quan đến chuỗi. Mục tiêu của việc phân tích chuỗi giá trị trên khía cạnh chi phí và lợi nhuận là xác định chi phí
  • 10.
    10 hoạt động đầutư và lợi nhuận đã được phân chia giữa những người tham gia chuỗi giá trị như thế nào, cũng như cơ hội để tăng giá trị của quá trình/công đoạn tham gia đó. Chi phí tăng thêm Chi phí tăng thêm là những chi phí phát sinh ngoài chi phí dùng để mua những sản phẩm trung gian, chi phí tăng thêm có thể là chi phí thuê lao động, chi phí vận chuyển, liên lạc, điện, nước, chi phí bán hàng, v.v… Chi phí tăng thêm là chi phí hoạt động đầu tư của từng tác nhân tham gia chuỗi giá trị và chính là hiệu số giữa tổng giá trị đầu ra với lợi nhuận của tác nhân đó. Các khâu, tác nhân tham gia chuỗi Trong chuỗi giá trị có các “khâu” trong chuỗi. Các khâu có thể mô tả cụ thể bằng các “hoạt động” để thể hiện rõ các công việc của khâu. Bên cạnh các Khâu của chuỗi giá trị có “tác nhân”. Tác nhân là những người thực hiện các chức năng của các khâu trong chuỗi, ví dụ như nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất, nông dân sản xuất lúa, thương lái vận chuyển hàng hóa, v.v. Bên cạnh đó còn có các “nhà hỗ trợ chuỗi giá trị”. Nhiệm vụ của các nhà hỗ trợ chuỗi là giúp phát triển của chuỗi bằng cách tạo điều kiện nâng cấp chuỗi giá trị. Các hình thức liên kết Liên kết kinh tế Liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động, do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các biện pháp có liên quan đến hoạt động của mình, nhằm thúc đầy việc kinh doanh phát triển theo chiều hướng có lợi nhất. Liên kết dọc Liên kết dọc là hình thức liên kết của hai hay nhiều chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất theo hướng hoàn thiện của sản phẩm hay dịch vụ. Thông thường
  • 11.
    11 liên kết dọcgiúp các chủ thể tăng cường khả năng nghiên cứu, đổi mới sản phẩm và tiết kiệm chi phí sản xuất, định hướng thị trường tiêu thụ. Liên kết ngang Liên kết ngang là liên kết của những chủ thể có cùng vị trí với nhau trong chuỗi giá trị. Chẳng hạn, liên kết của những nhà sản xuất với nhau, ở đây là những nông hộ trồng nhãn như tổ hợp tác, hợp tác xã đứng ra để ký kết hợp đồng mua phân bón, thuốc BVTV… và cung ứng sản phẩm. Liên kết của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm và tăng cường khả năng bán hàng hay nghiên cứu và phát triển sản phẩm… phân phối tiêu thụ. 2.1.2 Khái niệm chuỗi giá trị Theo Porter. M.E (1985), chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng của sản phẩm bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ để tạo nên lợi thế cạnh tranh của sản phẩm. Theo đó, khi đi qua lần lượt các hoạt động của chuỗi mỗi sản phẩm nhận được một số giá trị. Các hoạt động chính là các hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi về mặt vật lý, quản lý sản phẩm cuối cùng để cung cấp cho khách hàng; các hoạt động bổ trợ nhằm hỗ trợ cho các hoạt động chính. Chuỗi giá trị nói đến cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng (Kaplinsky.R và Morris.M, 2001). Một chuỗi giá trị là một hệ thống kinh tế có thể được mô tả như Một chuỗi các hoạt động kinh doanh có liên quan mật thiết với nhau (các chức năng) từ khi mua các đầu vào cụ thể dành cho việc sản xuất sản phẩm nào đó, đến việc hoàn chỉnh và quảng cáo, cuối cùng là bán thành phẩm cho người tiêu dùng.
  • 12.
    12 Các doanh nghiệp(nhà vận hành) thực hiện những chức năng này, ví dụ như: nhà sản xuất, người chế biến, thương gia, nhà phân phối sản phẩm cụ thể. Các doanh nghiệp này được liên kết với nhau bởi một loạt các hoạt động kinh doanh trong đó sản phẩm được chuyển từ các nhà sản xuất ban đầu tới những người tiêu dùng cuối cùng. Một mô hình kinh doanh đối với sản phẩm thương mại cụ thể, mô hình kinh doanh này cho phép các khách hàng cụ thể được sử dụng công nghệ cụ thể và là cách điều phối đặc biệt giữa hoạt động sản xuất và marketing giữa nhiều doanh nghiệp. 2.2 Sơ đồ chuỗi giá trị (Khung khái niệm Porter) Nguồn: Porter. M.E (1985) Hình 2.1: Sơ đồ chuỗi giá trị - Porter Porter. M.E (1985) phân biệt và nhóm gộp thành năm hoạt động chính Logistics đầu vào (Inbound Logistics): những hoạt động này liên quan đến việc nhận, lưu trữ và dịch chuyển đầu vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trị nguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản phẩm cho nhà cung cấp.
  • 13.
    13 Sản xuất (Production):các hoạt động tương ứng với việc chuyển đổi đầu vào thành sản phẩm hoàn thành, chẳng hạn như gia công cơ khí, đóng gói, lắp ráp, bảo trì thiết bị, kiểm tra, in ấn và quản lý cơ sở vật chất. Logistics đầu ra (Outbound Logistics): đây là những hoạt động kết hợp với việc thu thập, lưu trữ và phân phối hàng hóa vật chất sản phẩm đến người mua, chẳng hạn như quản lý kho bãi cho sản phẩm hoàn thành, quản trị nguyên vật liệu, quản lý phương tiện vận tải, xử lý đơn hàng và lên lịch trình, kế hoạch. Marketing và bán hàng (Marketing and Sales): những hoạt động này liên quan đến việc quảng cáo, khuyến mãi, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ giữa các thành viên trong kênh và định giá Dịch vụ khách hàng (Customer Service): các hoạt động liên quan đến việc cung cấp dịch vụ nhằm gia tăng hoặc duy trì giá trị của sản phẩm, chẳng hạn như cài đặt, sửa chữa và bảo trì, đào tạo, cung cấp thiết bị thay thế và điều chỉnh sản phẩm. Các hoạt động bổ trợ được nhóm thành bốn loại Thu mua (Purchase): thu mua liên quan đến chức năng mua nguyên vật liệu đầu vào được sử dụng trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp. Việc này bao gồm nguyên vật liệu, nhà cung cấp và các thiết bị khác cũng như tài sản chẳng hạn như máy móc, thiết bị thí nghiệm, các dụng cụ văn phòng và nhà xưởng. Phát triển công nghệ (Technology Development): “Công nghệ” có ý nghĩa rất rộng trong bối cảnh này, vì theo quan điểm của ông thì mọi hoạt động đều gắn liền với công nghệ, có thể là bí quyết, các quy trình thủ tục hoặc công nghệ được sử dụng trong tiến trình hoặc thiết kế sản phẩm. Quản trị nguồn nhân lực (Human Resource Management): đây chính là những hoạt động liên quan đến việc chiêu mộ, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho toàn thể nhân viên trong tổ chức, có hiệu lực cho cả các hoạt động chính và hoạt động bổ trợ.
  • 14.
    14 Cơ sở hạtầng (Infrastructure): nhìn nhận ở góc độ tổng quát, doanh nghiệp chính là khách hàng của những hoạt động này. Chúng không hỗ trợ chỉ cho một hoặc nhiều các hoạt động chính, mà thay vào đó chúng hỗ trợ cho cả tổ chức. Phương pháp tiếp cận phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành hàng của Micheal Porter là công cụ hữu dụng và hiệu quả để định vị sản phẩm trên thị trường và đồng thời còn cung cấp thêm các thông tin về đối thủ cạnh tranh tiềm tàng và quyền lực thị trường của Nhà cung cấp, cũng như Người mua. Theo Michael Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau: Nguồn: Porter.M.E (1985) Hình 2.2 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter (1) Áp lực từ đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn (đối thủ cạnh tranh tiềm tàng): Theo M-Porter, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai. Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu phụ thuộc vào sức hấp dẫn của ngành, những rào cản gia nhập ngành như kỹ thuật, vốn, các yếu tố thương mại, các nguồn lực đặc thù. Đối thủ tiềm ẩn (Những doanh nghiệp gia nhập ngành hàng trong thời gian tới) Nhà cung cấp (Những yếu tố đầu vào của ngành) Khách hàng (Người tiêu dùng, nhà phân phối) Sản phẩm thay thế (Sản phẩm thuộc các ngành sản xuất khác) Cạnh tranh nội bộ ngành (Cạnh tranh giữa những doanh nghiệp đang có mặt trên thị trường)
  • 15.
    15 (2) Áp lựccạnh tranh nội bộ ngành (cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành): Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở lại ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh. (3) Áp lực cạnh tranh từ khách hàng (Năng lực thương lượng của người mua): Khách hàng ở đây được hiểu là người tiêu dùng trực tiếp hoặc những nhà phân phối sản phẩm. Sức mạnh khách hàng là ảnh hưởng của khách hàng đối với một ngành sản xuất nào đó. Nhìn chung, khi sức mạnh khách hàng lớn, thì mối quan hệ giữa khách hàng với ngành sản xuất sẽ gần với cái mà các nhà kinh tế gọi là độc quyền mua – tức là thị trường có nhiều nhà cung cấp nhưng chỉ có một người mua. Trong điều kiện thị trường như vậy, khách hàng có khả năng áp đặt giá. Nếu khách hàng mạnh, họ có thể buộc giá hàng phải giảm xuống, khiến tỷ lệ lợi nhuận của ngành giảm. (4) Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp (Năng lực thương lượng của nhà cung cấp): Một ngành sản xuất đòi hỏi phải có các nguyên liệu thô – bao gồm lao động, các bộ phận cấu thành và các đầu vào khác. Đòi hỏi này dẫn đến mối quan hệ bên mua – bên cung cấp giữa các ngành sản xuất và các hãng cung cấp các nguyên liệu thô để chế tạo sản phẩm. Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện khả năng quyết định các điều kiện giao dịch của họ đối với doanh nghiệp. Những nhà cung cấp yếu thế có thể phải chấp nhận các điều khoản mà doanh nghiệp đưa ra, nhờ đó doanh nghiệp giảm được chi phí và tăng lợi nhuận trong sản xuất, ngược lại, những nhà cung cấp lớn có thể gây sức ép đối với ngành sản xuất bằng nhiều cách, chẳng hạn đặt giá bán nguyên liệu cao để san sẻ phần lợi nhuận của ngành. (5) Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế (đề cập đến sản phẩm thuộc các ngành sản xuất khác): Nguy cơ thay thế xuất hiện khi nhu cầu về một sản phẩm bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi giá cả của một hàng hóa thay thế, độ co giãn nhu cầu theo giá của một sản phẩm chịu tác động của sự thay đổi giá ở hàng hóa thay thế. Càng có nhiều hàng hóa thay thế thì đồ thị thể hiện nhu cầu sản phẩm có độ co giãn càng cao (có nghĩa là chỉ một sự thay đổi nhỏ trong giá sản phẩm cũng dẫn đến sự thay đổi lớn trong lượng cầu sản phẩm) lúc này người mua có nhiều sự lựa
  • 16.
    16 chọn hơn. Vìvậy, sự tồn tại của các hàng hóa thay thế làm hạn chế khả năng tăng giá của doanh nghiệp trong một ngành sản xuất nhất định. 2.3 Sơ đồ chuỗi giá trị (Phân tích ngành hàng - CCA) Chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ chặt chẽ với nhau, từ việc cung cấp các đầu vào cho đến sản xuất và phân phối một sản phẩm nào đó đến người tiêu dùng cuối cùng. Trong đó, các tác nhân tham gia vận hành chuỗi có những hoạt động cụ thể từ việc cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, hoạt động sản xuất đến thu gom, sơ chế biến, kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Nguồn: Viện Đào tạo Doanh nhân Việt Hình 2.3 Sơ đồ chuỗi giá trị Nông sản
  • 17.
    17 2.4 Sự cầnthiết phải tiến hành phân tích chuỗi giá trị Phân tích chuỗi chuỗi giá trị giúp chúng ta xác định những khó khăn của từng khâu trong chuỗi, từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục để sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường và phát triển bền vững. Xây dựng chiến lược phát triển chuỗi giá trị liên quan tới những gì mà các tác nhân tham gia chuỗi giá trị phải làm để trở nên cạnh tranh hơn và để tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn trong tương lai. Phân tích chuỗi giá trị còn giúp các nhà hỗ trợ xác định được các nút thắt cần hỗ trợ đối với các tác nhân trong các khâu của chuỗi và có những tác động hỗ trợ phát triển của chuỗi. 2.5 Phương pháp phân tích chuỗi giá trị 2.5.1 Lập sơ đồ chuỗi giá trị Trước hết, để lập sơ đồ chuỗi giá trị về sản phẩm, chúng ta cần phải thu thập thông tin về hiện trạng của chuỗi giá trị. Lập sơ đồ chuỗi giá trị có nghĩa là xây dựng một sơ đồ có thể quan sát bằng mắt thường về hệ thống chuỗi giá trị. Các bản đồ này có nhiệm vụ định dạng các hoạt động kinh doanh (chức năng), các nhà vận hành chuỗi và những mối liên kết của họ, cũng như các nhà hỗ trợ chuỗi nằm trong chuỗi giá trị này. Các bản đồ chuỗi là cốt lõi của bất kỳ phân tích chuỗi giá trị nào vì thế chúng là yếu tố không thể thiếu. Lập sơ đồ chuỗi luôn bắt đầu bởi việc vẽ một bản đồ cơ sở cung cấp một cái nhìn tổng quan về toàn bộ chuỗi giá trị. Bản đồ tổng quan này cần mô tả các liên kết chính (các phân đoạn hay các khâu) của chuỗi giá trị. 2.5.2 Lượng hoá và mô tả chi tiết chuỗi giá trị Lượng hoá và mô tả chi tiết chuỗi giá trị: bao gồm các con số kèm theo sơ đồ chuỗi giá trị, như: số lượng chủ thể, lượng sản xuất hay thị phần của các khâu cụ thể trong chuỗi, nghĩa là bổ sung các con số về các yếu tố của chuỗi. Ngoài các
  • 18.
    18 số liệu vềtài chính, có thể là khối lượng sản phẩm, số lượng người tham gia, số công việc,… Mục đích của việc xác định được những yếu tố này là để có cái nhìn tổng quát về quy mô của các kênh khác nhau trong chuỗi giá trị. Một trong những yếu tố cơ bản của việc lập sơ đồ chuỗi giá trị là xác định trên sơ đồ các giá trị về tiền trong suốt chuỗi giá trị. Giá trị là thứ có thể xác định bằng nhiều cách như: chi phí và lợi nhuận. Cách mô tả dòng tiền đơn giản nhất là nhìn vào các giá trị được tạo thêm ở mỗi bước của cả chuỗi giá trị, trừ khoản chênh lệch đi sẽ biết được khái quát về khoản thu được ở mỗi giai đoạn khác nhau. Các thông số kinh tế khác là doanh thu, cơ cấu chi phí, lãi và tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư. 2.5.3 Phân tích kinh tế chuỗi giá trị (chi phí – lợi nhuận) Phân tích kinh tế chuỗi giá trị là nhằm mục đích xác định giá trị gia tăng tại từng khâu trong chuỗi, chi phí sản xuất và thu nhập của các tác nhân. Qua đó, xác định được yếu tố quyết định chi phí tại từng khâu trong chuỗi và các yếu tố quyết định giá trị gia tăng, nhằm mục đích đưa ra các giải pháp tác động tới từng khâu, từng tác nhân phù hợp để giảm thiểu chi phí và nâng cao giá trị gia tăng cho chuỗi giá trị. Phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị Là đánh giá năng lực hiệu suất kinh tế của chuỗi. Nó bao gồm việc xác định giá trị gia tăng tại các giai đoạn trong chuỗi giá trị, chi phí sản xuất và thu nhập của các nhà vận hành (trong phạm vi có thể). Một khía cạnh khác là chi phí giao dịch – chính là chi phí triển khai công việc kinh doanh, chi phí thu thập thông tin và thực hiện hợp đồng. Năng lực kinh tế của một chuỗi giá trị có thể được “so sánh đối chuẩn”, ví dụ như giá trị của các tham số quan trọng có thể được so sánh với các tham số này ở các chuỗi cạnh tranh tại các quốc gia khác hoặc của các ngành công nghiệp tương đồng. Phân tích kinh tế bao gồm
  • 19.
    19 Các phân tíchkinh tế của chuỗi giá trị là một đầu vào quan trọng của tiến trình quyết định các mục tiêu phát triển và chiến lược nâng cấp. Ngoài ra, các chi phí sản xuất là yếu tố quan trọng nhất để xác định năng lực cạnh tranh. Đánh giá cấu trúc chi phí cho phép xác định các điểm cốt lõi cần giải quyết. Dữ liệu kinh tế cũng cung cấp nền tảng để giám sát các tiến bộ đạt được trong quá trình nâng cấp đối với cả nhà vận hành lẫn những người chịu trách nhiệm thúc đẩy chuỗi. Các phân tích chi phí cung cấp dữ liệu giúp xây dựng nhận thức về tiềm năng của giá trị gia tăng, về các yếu tố quyết định chi phí và về sự thay đổi hoặc chậm trễ của các cuộc đàm phán giá cả. Phân tích kinh tế sẽ tiến hành đánh giá: - Toàn bộ giá trị gia tăng được sản sinh ra bởi chuỗi giá trị và tỷ trọng của các giai đoạn khác nhau. - Chi phí marketing và chi phí sản xuất tại mỗi giai đoạn trong chuỗi, cấu trúc của chi phí trong các giai đoạn của chuỗi. - Năng lực của các nhà vận hành (năng lực sản xuất, sản lượng, lợi nhuận). - Phân phối thu nhập giữa các tác nhân trong chuỗi. - Hiệu quả kinh tế của các tác nhân. 2.5.4 Phân tích quản trị chuỗi Chuỗi giá trị chứa đựng sự tương tác giữa các mắt xích, vì vậy quản trị chuỗi là một yếu tố quan trọng cần được phân tích. Quản trị chuỗi là sự đảm bảo tương tác giữa các chủ thể/doanh nghiệp dọc theo chuỗi một cách có tổ chức chứ không phải là ngẫu nhiên. Quản trị chuỗi liên quan đến việc đặt ra các tiêu chuẩn liên quan đến sản phẩm, quy trình, hoạt động của các chủ thể trong chuỗi. Sự chênh lệch về quyền lực là trung tâm của vấn đề quản trị chuỗi. Thông thường trong mỗi chuỗi, có những chủ thể chính có quyền lực hơn và đặt ra các tiêu chuẩn, quy tắc và có thể quyết định các chủ thể khác có được tham gia vào chuỗi hay không, tham gia vào mắt xích nào và đến mức độ nào.
  • 20.
    20 2.5.5 Phân tíchkhả năng nâng cấp chuỗi giá trị Nâng cấp chuỗi giá trị là thực hiện các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn trong chuỗi nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của thị trường và phát triển chuỗi một cách bền vững. Để nâng cấp chuỗi giá trị thành công, các tác nhân trong chuỗi đóng vai trò chủ đạo thực hiện nhiệm vụ nâng cấp và các nhà hỗ trợ đóng vai trò các tác nhân trong quá trình nâng cấp. Để nâng cấp chuỗi giá trị, cần có một tầm nhìn. Tầm nhìn nâng cấp mô tả những đổi thay mong muốn của chuỗi giá trị trong tương lai nhằm trả lời câu hỏi: chuỗi giá trị này sẽ như thế nào sau 5 hay 10 năm tới. Xác định tầm nhìn sẽ giúp chúng ta tập trung vào cơ hội, định hướng rõ ràng viễn cảnh trong tương lai để đặt ưu tiên các hoạt động, giúp cho các tác nhân thống nhất ý kiến trong việc nâng cấp chuỗi. Sau khi phân tích kinh tế chuỗi và quản trị chuỗi, đề tài sẽ đề xuất giải pháp nâng cấp chuỗi có thể được quan tâm và phân tích để đưa ra như: - Các vấn đề về phân phối - Phát triển vùng chuyên canh chất lượng cao. - Đa dạng hóa sản phẩm – định hướng thị trường tiêu thụ - Giải pháp thương mại – phát triển thương hiệu
  • 21.
    21 2.5.6 Nội dungphân tích chuỗi giá trị của các lý thuyết Bảng 2.1 Nội dung phân tích chuỗi giá trị của các lý thuyết M4P WUP ACDI/VOCA Raphael Kaplinsky and Mike morris GTZ Công cụ 1: Lựa chọn chuỗi giá trị ưu tiên cho phân tích Các cơ hội thị trường cuối cùng Điểm bắt đầu phân tích chuỗi giá trị Lựa chọn một chuỗi giá trị để thúc đẩy Công cụ 2: Sơ đồ hóa chuỗi giá trị Bước 1: Sơ đồ hóa chuỗi giá trị và các tác nhân của chuỗi Kinh doanh và tạo môi trường kinh doanh Sơ đồ hóa chuỗi giá trị Sơ đồ hóa chuỗi giá trị Công cụ 3: Quản trị, điều phối, quy định và kiểm soát Bước 2: Nhận diện các yếu tố thể chế then chốt ảnh hưởng đến chuỗi giá trị Liên kết dọc Phân khúc sản phẩm và các nhân tố thành công quan trọng ở thị trường cuối cùng Lượng hóa và phân tích chi tiết chuỗi giá trị Công cụ 4: Các mối quan hệ, liên kết và tin cậy Bước 3: Tổng hợp các động lực, xu hướng và các vấn đề Liên kết ngang Các nhà sản xuất tiếp cận đến thị trường cuối cùng như thế nào Phân tích kinh tế chuỗi gía trị
  • 22.
    22 Công cụ 5: Nângcấp chuỗi theo cầu, kiến thức, kỹ năng, công nghệ và dịch vụ hỗ trợ Bước 4: Nghiên cứu những kịch bản và tầm nhìn tương lai Thị trường hỗ trợ Đánh giá hiệu quả sản xuất theo chuẩn Thỏa thuận về một tầm nhìn và chiến lược cho việc nâng cấp chuỗi giá trị Công cụ 6: Phân tích chi phí và lợi nhuận Bước 5a: Xác định những cơ hội chủ yếu, những rào cản và những nguyên nhân quan trọng Nâng cấp Quản trị chuỗi giá trị Phân tích cơ hội và cản ngại Công cụ 7: Phân tích phân phối thu nhập Bước 5b: Xác định các lựa chọn để vượt qua rào cản và xây dựng cơ hội Phối hợp giữa các công ty Nâng cấp chuỗi giá trị Xác lập các mục tiêu nâng cấp hoạt động Công cụ 8 : Phân tích phân phối việc làm Bước 5c: Các lựa chọn nhóm và định rõ những hàm ý về thể chế Chuyển giao thông tin và học hỏi giữa các công ty với nhau Các vấn đề phân bổ Xác lập các mục tiêu nâng cấp hoạt động Bước 6: Nhận diện chiến lược hỗ Sức mạng trong mối quan hệ của các Tiên đoán tác động của việc nâng cấp
  • 23.
    23 trợ/Thúc đẩy thay đổi côngty với nhau chuỗi Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển chuỗi Tăng cường các mối liên kết kinh doanh tư nhân Nguồn: Trần Tiến Khai (2013) 2.6 Phương pháp tiếp cận, nghiên cứu 2.6.1 Phương pháp tiếp cận Với cách tiếp cận tư duy biện chứng, đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như : nghiên cứu tại bàn, điều tra khảo sát với kỹ thuật thu thập dữ liệu là phỏng vấn trực tiếp phiếu hỏi và phỏng vấn chuyên gia. Sau đây là phương pháp tiếp cận và phương pháp phân tích số liệu. Hiện nay, giới nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam thường áp dụng một vài khung phương pháp luận về đánh giá chuỗi giá trị do các cơ quan quốc tế phát triển và đề xuất, dựa trên các lý thuyết về chuỗi giá trị và chuỗi ngành hàng. Lý thuyết “Liên kết chuỗi giá trị - ValueLinks” (2007) của Eschorn và khung phương pháp luận về chuỗi giá trị được GTZ và M4P đề xuất, áp dụng khá phổ biến cho các nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam và các nước đang phát triển. Mặc dù có những khác biệt nhất định, các khung phân tích được áp dụng có nhiều điểm tương đồng và đặc biệt là đều phù hợp cho bối cảnh nghiên cứu– phát triển cho khu vực nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, theo Trần Tiến Khai (2013), có 3 dòng nghiên cứu chính trong tài liệu chuỗi giá trị được phân biệt như sau :
  • 24.
    24 (1) Khung kháiniệm của Porter. M.E (1985): xác định chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp: một chuỗi giá trị gồm một chuỗi các hoạt động được thực hiện trong phạm vi một công ty để sản xuất ra một sản lượng nào đó. Dựa trên khung khái niệm này, việc phân tích chuỗi giá trị nằm trong phạm vi hoạt động của một công ty, mà mục đích cuối cùng là nâng cao lợi thế cạnh tranh của công ty. Theo cách tiếp cận này, cần tìm lợi thế cạnh tranh của công ty bằng cách tách biệt các hoạt động của công ty thành một chuỗi các hoạt động và lợi thế cạnh tranh được tìm thấy ở một (hay nhiều hơn) của các hoạt động này. Sự cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được phân tích bằng cách nhìn vào chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động chi tiết khác nhau. Phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhắm vào việc hỗ trợ quyết định quản lý và các chiến lược quản trị. (2) Tiếp cận “filière” (Phân tích ngành hàng– Commodity Chain Analysis) có các đặc điểm chính là: - Tập trung vào những vấn đề của các mối quan hệ định lượng và vật chất trong chuỗi. - Sơ đồ hóa các dòng chảy của hàng hóa vật chất. - Sơ đồ hóa các quan hệ chuyển dạng sản phẩm. Trong phân tích, phương pháp phân tích ngành hàng có hai đường lối phân tích chính. Đường lối thứ nhất tập trung vào đánh giá kinh tế và tài chính, mà chủ yếu là tập trung vào phân tích việc tạo ra thu nhập và phân phối thu nhập trong ngành hàng, tách chi phí và thu nhập giữa các thành phần thương mại địa phương và quốc tế, và phân tích vai trò của ngành hàng đối với nền kinh tế quốc gia và sự đóng góp của nó vào GDP. Đường lối thứ hai tập trung vào phân tích chiến lược, đánh giá sự ảnh hưởng lẫn nhau của các mục tiêu, sự ràng buộc và kết quả của từng tác nhân tham gia ngành hàng, xây dựng các chiến lược cá nhân và tập thể. (3) Tiếp cận toàn cầu do Kaplinsky (1999), Gereffi (1994; 1999; 2003) và Gereffi, và Korzeniewicz (1994) đề xuất : Phương pháp tiếp cận toàn cầu xem xét
  • 25.
    25 cách thức màcác công ty và quốc gia hội nhập toàn cầu và đánh giá các yếu tố quyết định của sự phân phối thu nhập toàn cầu, phân chia tổng thu nhập của chuỗi giá trị thành tiền thưởng cho các tác nhân trong chuỗi và hiểu các công ty, khu vực và quốc gia được liên kết với nền kinh tế toàn cầu như thế nào. Căn cứ vào tình hình thực tế tại tỉnh Đồng Tháp, đáp ứng yêu cầu và khả năng, tác giả tiến hành nghiên cứu thực hiện Đề tài bằng việc sử dụng phương pháp tiếp cận chủ yếu là “Phân tích ngành hàng - Commodity Chain Analysis) kết hợp với phân tích lợi thế cạnh tranh của Porter. M.E (1985). Đánh giá lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh ngành hàng thông qua chi số DRC. Cụ thể ở một số nội dung chính sau đây:  Để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích ngành hàng trong việc đánh giá kinh tế và tài chính, mà chủ yếu là tập trung vào phân tích việc tạo ra thu nhập và phân phối thu nhập trong ngành hàng.  Phân tích lợi thế cạnh tranh ngành hàng: bằng cách nhìn vào chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động chi tiết tách biệt khác nhau và lợi thế cạnh tranh tìm thấy ở một hay nhiều hơn của các hoạt động này, mục đích cuối cùng là nâng cao lợi thế cạnh tranh toàn ngành.  Phân tích lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh bằng hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC) thường được sử dụng để đánh giá lợi thế của một số ngành hàng trong nông nghiệp. 2.6.2 Phương pháp nghiên cứu, phân tích Đối với mục tiêu 1: sử dụng phương pháp phân tích định tính và thống kê mô tả và phương pháp phân tích chuỗi giá trị. Đối với mục tiêu 2: Sử dụng phương pháp phân tích lợi ích chi phí Đối với mục tiêu 3: Sử dụng phương pháp phân tích ma trận SWOT và kết quả phân tích các mục tiêu 1 và mục tiêu 2.
  • 26.
    26 Các phương phápnghiên cứu định tính Được sử dụng nhằm tìm hiểu bản chất của chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò tỉnh Đồng Tháp, quá trình vận động, tương tác giữa các nhóm tác nhân, giữa chuỗi giá trị và hệ thống chính sách tác động đến nó. Nghiên cứu này dùng các kỹ thuật cụ thể như: thu thập dữ liệu mở, phân tích văn bản, số liệu thứ cấp, quan sát, tổng hợp. Nhằm đánh giá tình hình sản xuất, tiêu thụ và diện tích, năng suất canh tác từng huyện, thị, thành phố để có đánh giá thực trạng nhãn tiêu da bò Đồng Tháp. Tiến hành phỏng vấn chuyên gia nhằm xác định, cũng như kiểm tra bản chất của chuỗi làm cơ sở cho nghiên cứu, trong đó hình thành sơ đồ các tác nhân tham gia vào chuỗi, chức năng nhiệm vụ của từng tác nhân. Từ đó làm cơ sở cho Đề tài trong việc lấy mẫu các tác nhân và xây dựng bảng câu hỏi cho từng tác nhân, để đảm bảo các câu hỏi đáp ứng được yêu cầu về thu thập thông tin, đề tài tiến hành phỏng vấn sơ bộ lấy mẫu, kịp thời điều chỉnh nội dung bảng câu hỏi cho từng tác nhân để phỏng vấn chính thức. Đối với nhóm phương pháp định lượng Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, thuận tiện và sử dụng các công cụ điều tra thống kê, phân tích chi phí – lợi nhuận (cost and return analysis), phân tích giá trị gia tăng (value added analysis) cho từng công đoạn (khâu) và toàn bộ chuỗi giá trị. Phương pháp phân tích số liệu Phân tích thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả, trình bày số liệu và lập bảng phân phối tần số. Đây là cơ sở để tổng hợp và phân tích cơ bản các dữ liệu được thu thập trên tất cả các tác nhân tham gia chuỗi. Phân tích chuỗi bao gồm phân tích chức năng chuỗi, tác nhân tham gia chuỗi, kênh thị trường và hỗ trợ thúc đẩy chuỗi.
  • 27.
    27 Phân tích kinhtế chuỗi bao gồm phân tích chi phí trung gian (IC), doanh thu (P), giá trị gia tăng(VA), lợi nhuận thuần (NPr) của mỗi tác nhân và của toàn chuỗi (Phụ lục 13 – Bảng hạch toán tài chính cho từng tác nhân). Giá trị gia tăng (VA - Value Added): Giá trị gia tăng là thước đo về giá trị được tạo ra trong nền kinh tế. Khái niệm này tương đương với tổng giá trị (doanh thu) được tạo ra bởi những nhà vận hành chuỗi. Giá trị gia tăng là hiệu số giữa giá mà mỗi tác nhân bán được trừ đi chi phí trung gian đó là những chi phí để mua nguyên vật liệu đầu vào của nhà sản xuất ban đầu hay chi phí mua sản phẩm đầu vào của các tác nhân theo sau trong chuỗi. Giá trị gia tăng = (Số lượng x Giá bán) – Chi phí trung gian Giá trị gia tăng thuần hay lợi nhuận (NVA - Net Value Added) được xác định như sau: Giá trị gia tăng thuần = Giá trị gia tăng – Chi phí tăng thêm Phân tích tỷ số tài chính: Phân tích tỷ số lợi nhuận/chi phí cho biết 1 đồng chi phí tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Bảng chi tiêu kinh tế được áp dụng để phân tích tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận, trong đó phân tích chi phí trung gian, giá trị gia tăng và lãi gộp được thực hiện theo Phụ lục 14 – Bảng chỉ tiêu kinh tế áp dụng. 2.7Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập thông tin 2.7.1 Số liệu nghiên cứu Số liệu thứ cấp: Các báo cáo về tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cũng như những sản phẩm giá trị gia tăng của chúng được tạo ra ở tỉnh Đồng Tháp. Những chương trình, dự án hỗ trợ ngành hàng nông nghiệp của tỉnh nói chung và đối với các sản phẩm này nói riêng. Những nghiên cứu có liên quan về chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp từ nhiều nguồn khác nhau. Số liệu sơ cấp: Thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các tác nhân tham gia chuỗi ngành hàng bằng bảng câu hỏi cấu trúc. Tham khảo ý kiến,
  • 28.
    28 phỏng vấn chuyêngia/nhà quản lý có am hiểu về các ngành hàng này ở địa phương (Phụ lục 1). 2.7.2 Cơ cấu mẫu điều tra - Các tác nhân tham gia vào chuỗi Sẽ tiến hành phỏng vấn các nhà sản xuất (hộ gia đình nông dân), thương lái thu gom, vựa nhãn đầu mối, cơ sở chế biến (lò sấy), doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh trái nhãn ít nhất một năm, đến kênh phân phối tiêu dùng bao gồm Người Bán lẻ ở Chợ đầu mối trong tỉnh Đồng Tháp, Người bán lẻ ở Chợ đầu mối ngoài tỉnh Đồng Tháp. Ngoài ra còn phỏng vấn sơ bộ, tham khảo ý kiến thêm một số Nhà cung cấp sản phẩm đầu vào (phân bón, thuốc BVTV, cây giống), một số đơn vị/cá nhân có chức năng hỗ trợ/thúc đẩy chuỗi giá trị như cán bộ của ngành NN&PTNT, Sở Công thương, Ngân hàng NN&PTNT… và các cơ quan có liên quan (Phụ lục 1). - Phương pháp chọn mẫu Quan sát mẫu chọn bằng phương pháp thuận tiện tại các xã, phường, thị trấn thuộc huyện, thị xã, thành phố. Tiêu chí chọn xã, huyện đại diện dựa vào tiêu chí diện tích, sản lượng và vùng sinh thái khác nhau (Phụ lục 12 – Phân bố mẫu - địa bàn khảo sát từng xã, phường, thị trấn trong huyện, thị, thành phố). 1. Đối với tác nhân là Nông hộ Cở sở để phân bố mẫu và lấy mẫu sẽ thực hiện theo phụ lục 2 về tình hình diện tích, năng suất, sản lượng cụ thể từng xã, thị trấn trong các huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh Đồng Tháp. Qua đó, đề tài thực hiện với lấy mẫu đối với 2 đối tượng là NH đang canh tác – sản xuất kinh doanh và NH trồng mới nhằm tính khấu hao đưa vào chi phí sản xuất. Số lượng mẫu được lấy như sau: Nông hộ sản xuất + Đối tượng hộ gia đình/người trồng nhãn + Khung mẫu: hộ trồng nhãn trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
  • 29.
    29 + Phương phápđiều tra chọn mẫu: theo hai tiêu chí diện tích và sản lượng và sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất mà cụ thể là chọn mẫu định mức theo tỷ lệ kết hợp với chọn mẫu thuận tiện. + Xác định cở mẫu: 2 2 x S n   với (n: cở mẫu, S: độ lệch chuẩn,  x:sai số chuẩn) Sai số mong muốn=Z*Sai số chuẩn => Sai số chuẩn=sai số mong muốn/Z Quyết định mức độ tin cậy ớ mức 0.05 => z=1.96 Quyết định sai số đo lường mong muốn:1.25 tấn/ha Cỡ mẫu = 6,8352 /(1,25/1,96)2 =114 (ha) ≈ 155 (hộ) (0,74ha/hộ) Nông hộ trồng mới Do vấn đề thời gian và kinh phí, việc lấy mẫu thực hiện theo nguyên tắc tỷ lệ phần trăm đang được áp dụng tại tỉnh Đồng Tháp trong những năm qua là 1-5% diện tích hay số hộ canh tác. Đề tài đã quyết định lấy mẫu ở mức trung bình trong những năm qua là 2,5% tổng diện tích trồng mới toàn tỉnh Đồng Tháp. Số mẫu (hộ) = 2,5%*diện tích trồng mới*diện tích canh tác/hộ = 2,5%*590ha*0,74ha/hộ ≈ 20 (hộ) 2. Đối với tác nhân Thương lái Đề tài chọn mẫu điều tra theo phương pháp chọn mẫu trên cơ sở danh sách các TL đang hoạt động tương đối ổn định tại địa phương và đánh giá sơ bộ từ việc khảo sát NH, để chọn mẫu TL có tỷ trọng lớn trong các dòng sản phẩm của các kênh phân phối khác nhau, để tiến hành phỏng vấn: 12/26 thương lái. 3. Đối với tác nhân là Vựa nhãn Đề tài chọn mẫu điều tra theo phương pháp chọn mẫu trên cơ sở danh sách các VN đang hoạt động tương đối ổn định tại địa phương và đánh giá sơ bộ từ việc
  • 30.
    30 khảo sát NH,TL, để chọn mẫu VN có tỷ trọng lớn trong các dòng sản phẩm của các kênh phân phối khác nhau để tiến hành phỏng vấn: 9/18 Vựa nhãn, trong đó, 5 Vựa Nhãn tại Châu Thành, 3 Vựa Nhãn tại huyện Cao Lãnh, 1 tại huyện Lai Vung. 4. Đối với tác nhân là Lò sấy Đề tài chọn mẫu điều tra theo phương pháp chọn mẫu trên cơ sở danh sách các LS đang hoạt động tương đối ổn định tại địa phương và đánh giá sơ bộ từ việc khảo sát NH, TL để chọn mẫu LS có tỷ trọng lớn trong các dòng sản phẩm của các kênh phân phối khác nhau để tiến hành phỏng vấn: 4/7 Lò sấy, trong đó, 3 Lò sấy tại Châu Thành, 1 tại huyện Cao Lãnh. 5. Đối với tác nhân là Doanh nghiệp Xuất khẩu trái cây Sẽ tiến hành khảo sát 02 DN XK trong ngành đang hoạt động ổn định và đánh giá sơ bộ từ việc khảo sát VN, LS để chọn mẫu DN XK có tỷ trọng lớn trong các dòng sản phẩm của các kênh phân phối khác nhau qua chuỗi. 6. Đối với người bán lẻ tại chợ đầu mối trong tỉnh Đồng Tháp Dựa vào đánh giá sơ bộ tỷ trọng sản lượng đi qua từng tác nhân, đề tài chọn chợ đầu mối có mức tiêu thụ sản lượng cao để tiến hành khảo sát. Chọn khảo sát 6 tiểu thương: 2 Bán lẻ tại Chợ Cái Tàu Hạ và 2 tại Chợ Tp Sa Đéc, 2 tại chợ TP Cao Lãnh Đồng Tháp. 7. Đối với người bán lẻ chợ đầu mối ngoài tỉnh Đồng Tháp Dựa vào đánh giá sơ bộ tỷ trọng sản lượng đi qua từng tác nhân, đề tài chọn chợ đầu mối có mức tiêu thụ sản lượng cao để tiến hành khảo sát. Chọn khảo sát 6 tiểu thương, Chợ Cầu Muối – TP HCM (3) và chợ Cái Răng – TP Cần Thơ (3). - Thời gian tiến hành khảo sát Đề tài tiến hành khảo sát trong thời gian 3 tháng, chia làm 2 đợt trước và sau Tết Nguyên đán, đợt 1: từ ngày 21/01/2015 đến 9/02/2015 (7/12 – 27/12 âm lịch) và đợt khoảng thời gian từ ngày 22/02 – 22/4/2015 (10/1 – 04/3 âm lịch).
  • 31.
    31 Bảng 2.2 Cỡmẫu và quan sát mẫu từng tác nhân địa bàn Huyện, thị, thành Đơn vị Huyện, thị, thành phố NH Sản Xuất NH trồng mới Thương Lái Vựa Nhãn Lò Sấy 1. Huyện Châu Thành 106 9 7 5 3 2. Huyện Cao Lãnh 32 5 3 3 1 3. Huyện Lấp Vò 8 2 1 4. Huyện Lai Vung 5 2 1 1 5. TP Sa Đéc 4 2 Tổng cộng: 155 20 12 9 4 Tổng số lượng mẫu khảo sát các tác nhân, phỏng vấn chuyên gia thực hiện đề tài được tổng hợp tại Bảng 2.3 Bảng 2.3 Tổng quan sát mẫu, phỏng vấn Stt Đối tượng quan sát, phỏng vấn Số lượng 1 Chuyên gia 18 2 Nông Hộ trồng mới 20 3 Nông Hộ sản xuất 155 4 Thương Lái 12 5 Vựa Nhãn 9 6 Lò Sấy 4 7 Người Bán lẻ tại chợ đầu mối trong Tỉnh 6 8 Người Bán lẻ tại chợ đầu mối ngoài tỉnh 6 9 Doanh nghiệp Xuất khẩu trái cây 2 Tổng cộng (đơn vị mẫu khảo sát, phỏng vấn): 232 2.8 Phương pháp phân tích ma trận SWOT Mô hình phân tích SWOT để đưa ra chiến lược phát triển chuỗi giá trị sản phẩm táo được thể hiện ở bảng sau đây :
  • 32.
    32 Bảng 2.4 Môhình phân tích SWOT CƠ HỘI (O) THÁCH THỨC (T) ĐIỂM MẠNH (S) SO: Giải pháp công kích (Nhóm giải pháp này tận dụng điểm mạnh để đeo đuổi cơ hội) ST: Giải pháp thích ứng (Nhóm giải pháp này tận dụng điểm mạnh để hạn chế những đe dọa có thể xảy ra) ĐIỂM YẾU (W) WO: Giải pháp điều chỉnh (Nhóm giải pháp này tận dụng cơ hội để khắc phục điểm yếu). WT: Giải pháp phòng thủ (Nhóm giải pháp này đưa ra các hoạt động chủ động khắc phục điểm yếu và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra) Phân tích ma trận SWOT được thực hiện với mục đích tổng hợp các yếu tố từ bên trong và các yếu tố bên ngoài của đối tượng nghiên cứu bao gồm điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của mỗi tác nhân cũng như của toàn bộ ngành hàng, là cơ sở đề ra các chiến lược phát triển và nâng cấp chuỗi giá trị. 2.9 Phương pháp phân tích lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh Phân tích lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh bằng hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC) thường được sử dụng để đánh giá lợi thế của một số ngành hàng trong nông nghiệp. Hệ số chi phí nguồn lực DRC là tỷ số giữa chi phí nguồn lực được sử dụng đầu vào sản xuất không thể trao đổi được với thị trường quốc tế tính theo giá xã hội để sản xuất ra sản phẩm và ngoại tệ thu được hoặc tiết kiệm được khi sản xuất sản phẩm này thay thế nhập khẩu. DRC phản ánh chi phí thật sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra một đơn vị hàng hóa. Nếu DRC càng cao thì ngành hàng đó càng cần nhiều tài nguyên để sản xuất ra 1 đơn vị giá trị gia tăng, và do đó, càng không có lợi và không có tính cạnh tranh. Với việc phân tích chuỗi giá trị ngành hàng trái nhãn tiêu da bò –Đồng Tháp, đề tài sẽ tập trung vào phân tích lợi thế so sánh từ các chỉ số P/IC, VA/IC và
  • 33.
    33 NPr/IC do sảnphẩm chủ yếu sử dụng nguồn lực nội tại của tỉnh Đồng Tháp như: đất đai, lao động, vốn, ít lệ thuộc vào nguồn lực bên ngoài. 2.10 Các bước cụ thể thực hiện Qua nghiên cứu tài liệu tham khảo và các đề tài nghiên cứu có liên quan, cơ sở lý thuyết về chuỗi giá trị, để phù hợp với tình hình thực tế, đề tài thực hiện các bước đi cụ thể như sau: Bước 1: Tiến hành phỏng vấn tham khảo ý kiến chuyên gia, nhằm tìm hiểu và phác họa sơ đồ, bản chất chuỗi. Xây dựng bảng câu hỏi cho từng tác nhân của chuỗi, tiến hành điều tra khảo sát sơ bộ, củng cố và xây dựng bản câu hỏi chính thức, tiến hành khảo sát thu thập thông tin, dữ liệu. Bước 2: Sơ đồ hóa chuỗi giá trị, lượng hóa các tác nhân tham gia chuỗi. Bước 3: Phân tích các tác nhân tham gia chuỗi về phương thức hoạt động; thị trường đầu vào; thị trường đầu ra; chi phí và cơ cấu chi phí; giá bán, doanh thu, lợi nhuận và giá trị gia tăng; vai trò của các tác nhân… Bước 4: Phân tích các tác nhân tham gia thúc đẩy, hỗ trợ chuỗi Bước 5: Phân tích các Quan hệ liên kết Bước 6: Phân tích hiệu quả tài chính và phân phối lợi ích Bước 7: Phân tích SWOT Bước 8: Đề xuất các giải pháp ứng với tình hình thực tế của chuỗi giá trị --------------oOo--------------
  • 34.
    34 TÓM TẮT CHƯƠNG2 Qua chương 2, chúng ta có thể hiểu hơn về chuỗi giá trị, sự cần thiết phải phân tích chuỗi giá trị. Việc sơ đồ hóa chuỗi giá trị là cốt lõi của bất kỳ phân tích chuỗi giá trị nào vì thế chúng là yếu tố không thể thiếu và cung cấp cái nhìn tổng quan về toàn bộ chuỗi, mô tả các liên kết chuỗi giá trị. Tiếp đến, việc lượng hóa và mô tả chi tiết, cũng như phân tích quản trị và phân tích khả năng nâng cấp chuỗi giá trị cần được quan tâm thực hiện. Để làm cơ sở cho nghiên cứu, phân tích chuỗi giá trị, người ta thường đề cập đến phương pháp tiếp cận, trong đó, phương pháp tiếp cận ngành hàng (CCA) thường được áp dụng phân tích chuỗi giá trị vì nó cho phép việc đánh giá kinh tế và tài chính, mà chủ yếu là tập trung vào phân tích việc tạo ra thu nhập và phân phối thu nhập trong ngành hàng. Bên cạnh việc phân tích lợi thế cạnh tranh ngành hàng nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao lợi thế cạnh tranh toàn ngành. Trong quá trình thu thập thông tin làm cơ sở dữ liệu cho việc nghiên cứu, đề tài thực hiện phương pháp chọn mẫu, khảo sát mẫu đối với các tác nhân tham gia vận hành chuỗi bằng bảng câu hỏi. Bên cạnh việc tiến hành phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn tác nhân hỗ trợ, thúc đẩy chuỗi. Phương pháp phân tích thường dùng trong phân tích chuỗi giá trị ngành hàng là: phương pháp phân tích định tính và phương pháp thống kê mô tả; phương pháp phân tích lợi ích chi phí; phương pháp phân tích ma trận SWOT là cơ sở để đề ra giải pháp phát triển, nâng cấp chuỗi. Bên cạnh, việc sử dụng phân tích lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh bằng hệ số chi phí nguồn lực để đánh giá lợi thế của ngàng hàng trong nông nghiệp. --------------oOo--------------
  • 35.
    35 CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCHCHUỖI GIÁ TRỊ TRÁI NHÃN TIÊU DA BÒ – ĐỒNG THÁP 3.1 Tổng quan về ngành hàng trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp Giới thiệu về điều kiện tự nhiên Đồng Tháp Đồng Tháp là 1 trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nơi đầu nguồn sông Tiền chảy qua biên giới vào Việt Nam. DT tự nhiên của tỉnh là 3.374,08km2 , chiếm 8,17% diện tích vùng. Phía Bắc giáp tỉnh Prey Veng – Campuchia, đường biên giới dài 48,7 km. Phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và TP Cần Thơ. Phía Tây giáp tỉnh An Giang. Phía Đông giáp tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang. Toàn tỉnh được thành 12 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm: TP Cao Lãnh, TP Sađéc, thị xã Hồng Ngự và 9 huyện: Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung và Châu Thành. Địa giới của tỉnh bị chia cắt bởi sông Tiền, trong 2 phần của vùng sinh thái chính của ĐBSCL: Vùng Đồng Tháp mười và vùng giữa sông Tiền và sông Hậu. Điều này gây bất lợi về phát triển giao thông đường bộ, chi phí vận chuyển cao, khó thu hút đầu tư vào lĩnh vực công thương nghiệp, thêm vào đó tỉnh không có nhiều khoáng, năng lượng và tay nghề lao động thấp nên bất lợi cho phát triển công nghiệp. Nhờ lợi thế vào vị trí nằm sát sông Tiền với các tuyến giao thông thủy bộ từ biên giới Việt Nam – Campuchia ra biển, tạo điều kiện thuận lợi về giao thông thủy và là kinh tế đối ngoại hướng ra các nước Đông Nam á và là cửa ngỏ của vùng tứ giác Long Xuyên hướng về vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Thực trạng lao động và việc làm nông thôn Dân số và lao động của Đồng Tháp phân bố không đều, các huyện phía Nam như: Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò, Cao Lãnh có mật độ dân số tương đối cao, việc đa dạng hóa sinh kế cho nông nghiệp đang được hướng đến. Tuy nhiên,
  • 36.
    36 xu hướng đẩylao động tương đối mạnh trung bình gần 5.000lao động/năm trong giai đoạn 2007-2011, nhưng khả năng tạo việc làm mới của công nghiệp và dịch vụ còn hạn chế. Trong khi đó, lao động ở lại khu vực nông nghiệp tiếp tục có trình độ, kỹ năng và tay nghề thấp, lớn tuổi, khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật làm cho năng suất lao động nông nghiệp tăng chậm. Tình trạng cơ giới hóa đang phát triển và cơ giới hóa từng phần, từng khâu từng bước làm giảm áp lực lao động mùa vụ nông nghiệp, tuy nhiên vẫn còn diễn ra khá gây gắt. Giới thiệu về ngành nông nghiệp Đồng Tháp Nông nghiệp là ngành sản xuất chính, năm 2012, đạt 14.211 tỷ đồng, chiếm 36% GDP của Tỉnh. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt mức cao nhất mức 15,1% năm 2005, giảm còn 7,0% năm 2008, còn 4,6% năm 2010, năm 2013 đạt 12.923 tỷ đồng (giá 1994). Trong đó, trồng trọt là ngành đóng vai trò quan trọng nhất, với các cây trồng chính là lúa, cây ăn trái, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Năm 2013, DT cây ăn trái toàn Tỉnh là 24.444 ha, trong đó, xoài 9.200ha, cây có múi 4.800 ha, cây nhãn 4.779 ha, còn lại là ổi và cây khác, tăng 1.799ha so với năm 2012, tăng chủ yếu ở nhãn và xoài. Trên cây nhãn, DT bệnh chổi rồng giảm so năm 2012 là 495,8ha do nông dân tích cực chăm sóc và áp dụng tốt quy trình phòng trừ bệnh nên phần lớn các vườn nhãn đang phục hồi tốt. Chất lượng vườn cây ăn trái, từng bước được nâng cao từ khâu cải tạo vườn, chọn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch theo hướng VietGap. Công tác chuyển giao kỹ thuật đối với cây trồng được xúc tiến từ nguồn kinh phí khuyến nông và Đồng Tháp đã xây dựng mô hình canh tác xoài đủ điều kiện sản xuất an toàn ở huyện Cao Lãnh và TP Cao Lãnh (50ha/63 hộ tham gia) sinh trưởng và phát triển tốt; Mô hình trình diễn giống nhãn Tứ quý (nhãn Mỹ) chống chịu bệnh chổi rồng ở Châu Thành (1ha/2 hộ tham gia). Vùng chuyên cây ăn trái sẽ phát triển ven sông Tiền, sông Hậu với diện tích trên dưới 15.000ha với các cây chủ lực như: xoài, nhãn, quýt, cam… Vùng chuyên
  • 37.
    37 cây ăn tráiven sông Tiền và cù lao thuộc TP Cao Lãnh, huyện Cao Lãnh (cồn Mỹ Xương, cồn Bình Thạnh) và một phần diện tích phía Nam huyện Tháp Mười sẽ có DT từ 7000 – 8.000 ha cây trồng chủ lực như: xoài, nhãn, ổi, quýt, cam... Cây ăn trái cũng sẽ được phát triển ở những nơi có điều kiện không bị ngập lũ, nhưng diện tích không lớn, chủ yếu ở vùng cù lao và một số ít ở phía Nam kênh Tân Thành – Lò Gạch thuộc huyện Tân Hồng với các cây chủ lực có khả năng chịu nước như ổi, xoài, nhãn. Trong tương lai, vùng cây ăn trái sẽ được cải tạo và áp dụng cơ giới hóa ở các khâu: làm đất cơ giới hóa 100% việc lên líp xây dựng vườn cây ăn trái; Khâu tưới tiêu: 85% DT SX được tưới tiêu bằng bơm điện; Khâu chăm sóc: có 85% DT được phun thuốc bảo vệ thực vật bằng máy. Hình 3.1 Phân bố diện tích cây nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp Nguồn: Sở NN&PTNT Đồng Tháp – 2014 Riêng DT trồng cây nhãn toàn tỉnh là 4.857 ha, chủ yếu tập trung ở các huyện: Châu Thành, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung và TP Sađéc,…(Hình 3.1). Trong đó, nhãn tiêu da bò toàn tỉnh là 3.776ha. Tình hình sản xuất và tiêu thụ trái nhãn tiêu da bò:
  • 38.
    38 Vùng SX nhãncủa tỉnh Đồng Tháp được trồng tập trung tại các xã dọc theo hai bên bờ sông Tiền thuộc huyện Châu Thành (2.621ha), Cao Lãnh (809ha), Lấp Vò (111ha) và Lai Vung (91 ha), còn lại là TP Sa Đéc (77ha), TP Cao Lãnh (27ha),… Với tổng DT canh tác toàn tỉnh riêng cây nhãn tiêu da bò là 3.776ha, với năng suất bình quân 8,12tấn/ha. Vùng SX chủ yếu tập trung huyện Châu Thành, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung và TP Sa Đéc chiếm đến 98,2% diện tích toàn tỉnh về cây nhãn tiêu da bò (Hình 1.1). Hình 3.2 Năng suất trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp Nguồn: Sở NN&PTNT Đồng Tháp – 2014 Năng suất bình quân trái nhãn da bò toàn tỉnh là 8,12 tấn/ha ước tính năm 2014, trong đó, năng suất cao nhất là huyện Châu Thành, Cao Lãnh do vùng cồn đất bãi bồi phù sa quanh năm. Năng suất thấp là huyện Tam Nông thuộc vùng trũng Đồng Tháp mười ít phù sa (Hình 3.2). Cây nhãn hầu như được thu hoạch quanh năm tùy thuộc việc xử lý ra hoa của Nông hộ, tuy nhiên, mùa vụ chính thường từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Bên cạnh, việc áp dụng kiến thức kỹ thuật chăm sóc và xử lý ra hoa, thì do đặc thù
  • 39.
    39 vùng đất canhtác các xã ven hai bên sông Tiền, Hậu và vùng đất cồn bãi bồi, phù sa do nước sông Tiền mang lại nên có năng suất cao. Các xã vùng lõi, thủy triều lên, xuống thấp lượng phù sa bồi đắp không nhiều nên năng suất thấp. Trong những năm qua, dịch bệnh chổi rồng tấn công trên vườn nhãn đang cho trái, gây giảm năng suất, chất lượng cho trái. Nhìn chung, việc canh tác cây nhãn với DT còn nhỏ lẻ, manh mún khoảng dưới 0,74ha/hộ. Hiện ngành nông nghiệp Tỉnh, Huyện tiến hành hỗ trợ nông dân dập dịch có hiệu quả, tuy nhiên, nhìn chung năng suất có giảm khoảng 5-7%/năm. Trong năm 2014, toàn tỉnh có 590 ha cây nhãn được trồng mới, chủ yếu là giống nhãn EDOR, Tứ Quý thay thế vườn nhãn già cỗi, sâu bệnh (Phụ lục 2). Hình 3.3 Tình hình tiêu thụ trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp Nguồn: Sở Công thương Đồng Tháp - 2014 Tình hình tiêu thụ: giá trái nhãn tươi thường biến động khoảng từ 6.000 đến 30.000 kg trái tươi, có thời điểm giá nhãn tươi sụt giảm nghiêm trọng, có lúc giảm gần 80% mức giá, NH sản xuất không bù đắp được chi phí. Đặc biệt, thời gian những năm gần đây, mặc dù giá đã tăng trở lại, nhưng năng suất giảm và chí phí cao do phòng trừ dịch bệnh chổi rồng, nên lợi nhuận ròng trên 1 ha đất canh tác không cao, điều đó, khiến người nông dân điêu đứng. Việc thu hoạch trái nhãn thường được thực hiện bằng cách cắt cành – thành từng chùm nhãn trái, đặt trong những cần xé xung quanh thường có lớp đệm, công việc này thường do TL thu
  • 40.
    40 mua đảm nhậnvà thu hoạch, sau đó vận chuyển chủ yếu bằng ghe đến các VN tập trung hay LS trên địa bàn để bán lại chiếm hầu hết sản lượng của NH. Tại các VN sẽ tiến hành cắt tỉa cành đóng thùng và vận chuyển về Doanh nghiệp để xuất chủ yếu sang thị trường Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch chiếm khoảng gần 28% tổng lượng tiêu thụ, gần đây xuất sang Hàn Quốc, Mỹ nhưng sản lượng chưa nhiều. Còn lại tiêu thụ chủ yếu ở TP HCM và các tỉnh, thành trong cả nước (Hình 3.3). Tỷ lệ hao hụt trái nhãn khi vận chuyển ra xa vùng SX đến thị trường thường khá cao, chiếm gần 30% tổng SL SX của NH. Đối với tỉnh Đồng Tháp, ngành cây ăn quả, đặc biệt là cây nhãn có vai trò kinh tế - xã hội hết sức quan trọng và đóng góp rất có ý nghĩa vào phát triển nông thôn, tạo lập sinh kế cho cộng đồng cư dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho lao động, giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân và đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách. Vì vậy, các thể chế nhà nước tỉnh Đồng Tháp, đã có nhiều hoạt động tích cực để hỗ trợ, kể từ giai đoạn SX đến chế biến, xúc tiến thương mại… Trong định hướng phát triển, Đồng Tháp đã chú ý đến cải thiện chất lượng giống; chuyển giao khoa học kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ dịch bệnh, đặc biệt tổ chức dập dịch chổi rồng trên cây nhãn; phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phục vụ cho sản xuất và vận chuyển sản phẩm; xây dựng mô hình liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ; xây dựng thương hiệu; xây dựng cụm– điểm công nghiệp– tiểu thủ công nghiệp chế biến; xây dựng làng nghề truyền thống theo quy mô vừa và nhỏ; hỗ trợ xúc tiến thương mại trong nông nghiệp. Tùy theo chức năng và nhiệm vụ mà một số cơ quan quản lý Nhà nước cũng như thể chế khác nhau có những vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngành trái nhãn. Bên cạnh chính sách là khuyến khích các ngân hàng hỗ trợ cho các tác nhân trong chuỗi giá trị trái nhãn vay vốn với nhiều chương trình khác nhau, như chương trình quốc gia giải quyết việc làm, chương trình dập dịch chổi rồng, chương trình hỗ trợ đầu tư và phát triển…Đặc biệt là tổ chức triển khai sâu rộng chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp nói chung.
  • 41.
    41 - Trung tâmkhuyến nông - Chi cục Bảo vệ thực vật - Viện Cây ăn quả Miền Nam DN XK VN 19.254 (-12%) 16.943 Trung tâm xúc tiến thương mại Sở khoa học & công nghệ, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, cơ quan khoa học công nghệ khác Các ngân hàng : Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Thương mại, Đầu tư và Phát triển, Chính sách xã hội,… Hệ thống quản lý Nhà nước về sản xuất, chế biến và thương mại Chợ TT 1.503 (-19%) 1.217 NĐ Sấy:1.615 14.609 TL 26.058 (-2%) 25.537 Cung cấp đầu vào: Giốn g phân thuốc bảo vệ thực vật, công cụ lao động , lao động N H 28.889 (Tấn) LS 2.520 (-2%) 2.470 Đầu vào Sản xuất Thu gom Sơ chế Thương mại Tiêu dùng XK Sấy: 751 4.614 Chợ NT 17.169/1.648 -22%/-2% 13.392/1.615 3.2 Phân tích chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò 3.2.1 Sơ đồ chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò 3.2.1.1 Lập sơ đồ chuỗi Dựa vào số liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được về hoạt động của từng tác nhân trong chuỗi, sơ đồ chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp mô tả sau: Hình 3.4 Sơ đồ chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp Sấy (-2,86%) 2.470/2.399 Tươi (-2%) 12.623/12.370
  • 42.
    42 3.2.1.2 Mô tảchuỗi giá trị Chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp hình thành dựa trên sự gắn kết giữa 7 tác nhân chính, đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra còn có sự hiện diện của các tác nhân có chức năng hỗ trợ, cung cấp hàng hóa đầu vào, dịch vụ khoa học công nghệ, thông tin thị trường như các cơ quan xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, hệ thống các ngân hàng, hệ thống các cơ quan quản lý nông nghiệp, các tổ chức khoa học công nghệ và Viện nghiên cứu. Chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp có những chức năng cơ bản sau đây: Chức năng đầu vào: gồm việc cung cấp giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhiện liệu bơm tưới nước, trang thiết bị, máy móc, công cụ lao động. Chức năng này do các nhà cung cấp các yếu tố chi phí đầu vào đảm bảo như các đại lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; cơ sở dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn cung cấp. Chức năng sản xuất: do NH đảm nhận, bao gồm các hoạt động từ khâu làm đất, trồng cây, xử lý ra hoa và chăm sóc đến khi thu hoạch. Chức năng thu mua: chủ yếu tập trung vào TL chiếm 90,2% tổng sản lượng sản xuất, đây là chức năng trung gian nhằm mục đích tiêu thụ sản phẩm và trung chuyển đến các tác nhân sơ chế biến và cung ứng đến các chợ trong và ngoài tỉnh bán đến người tiêu dùng. Chức năng thương mại: là các hoạt động phân phối, chức năng này do DN XK thực hiện và xuất khẩu bình quân là 36,3% và tiêu thụ nội địa qua các chợ trong và ngoài tỉnh là 63,7%. NH sản xuất thường với quy mô nông trại nhỏ, hệ thống thu mua có mạng lưới phát triển rộng khắp tại địa phương, theo mùa vụ, bảo đảm chức năng thu mua và cung ứng sản phẩm qua các tác nhân của chuỗi. Thị trường tiêu thụ, với kênh tiêu thụ NĐ chiếm 78,36% tổng sản lượng, tiêu thụ tại các chợ trong và ngoài tỉnh. Thị trường tiêu thụ NĐ rộng lớn như Tp HCM, TP Cần Thơ… Thị trường XK như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ với 2 sản phẩm chủ lực là nhãn tươi đóng thùng và nhãn sấy đóng gói chiếm 21,64% sản lượng sản xuất.
  • 43.
    43 3.2.1.3 Kênh thịtrường (phân phối) của chuỗi Chưa tính tỷ lệ hao hụt do nhiều nguyên nhân khác nhau, trái rơi rụng, hư kém phẩm chất, trái có kích thước hoành nhỏ hơn tiêu chuẩn quy định cần loại bỏ… Thì với 4 kênh xuất khẩu, chiếm 21,64% tổng sản lượng. Còn lại, 11 kênh tiêu thụ nội địa chiếm 78,36% sản lượng là thị trường trong và ngoài tỉnh. Với tỷ lệ hao hụt qua các tác nhân TL là 2%, VN: 12%, LS:2%, DN XK: 2,86% nhãn sấy và 2% nhãn tươi, Chợ TT: 19% và Chợ NT là 22%, riêng nhãn sấy Chợ NT: hao hụt là 2%. Tổng lượng hao hụt qua tất cả các kênh là 25% tổng sản lượng NH SX (Bảng 3.1). Chưa có hao hụt Có hao hụt Chưa có hao hụt Có hao hụt Sản lượng 1 NH - TL- VN -DN XK 17,40% 14,70% 5.025 4.247 2 NH - TL - LS - DN XK (sấy) 1,89% 1,76% 546 510 3 NH - VN - DN XK 1,47% 1,27% 425 367 4 NH - LS - DN XK (sấy) 0,88% 0,83% 253 241 5 NH - LS - DN XK - Chợ NT (sấy) 1,92% 1,79% 556 518 6 NH - TL - LS - DN XK - Chợ NT(sấy) 4,15% 3,80% 1.199 1.097 7 NH - TL - VN -DN XK- Chợ NT 29,24% 19,28% 8.447 5.569 8 NH - TL - VN - Chợ NT 14,77% 9,94% 4.268 2.871 9 NH - VN - Chợ NT 1,25% 0,86% 361 248 10 NH - VN - DN XK - Chợ NT 2,48% 1,67% 715 481 11 NH - TL - Chợ NT 19,12% 14,62% 5.524 4.223 12 NH -TL - VN - Chợ TT 1,19% 0,83% 344 240 13 NH - TL - Chợ TT 2,44% 1,93% 704 558 14 NH -VN - Chợ TT 0,10% 0,07% 29 21 15 NH - Chợ TT 1,70% 1,38% 491 398 75% 25% 28.889 Bảng 3.1 Kênh tiêu thụ (phân phối) 78,36% Nộiđịa 56,16% Tổng cộng Sản lượng (tính toàn huyện tấn/năm) 16.224 Tỷ lệ Xkhẩu/Nđịa Hao hụt & %Lượng hao hụt 3,07%22,21% Kênh tiêu thụ Toàn Tỉnh có 3.776 ha trồng nhãn tiêu da bò, năng suất 7,65 tấn/ha. Tổng sản lượng trái nhãn 28.889 tấn/năm. % Tổng sản lượng 100% Chưa hao hụt 5.365 21,64% Xuấtkhẩu 18,57% 21.588 Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Về tình hình thị trường tiêu thụ: Thị trường XK là 5.365 tấn trái, chiếm 24,9%, trong đó, nhãn tươi là 4.614 tấn, chiếm 21,4% và nhãn sấy là 751 tấn, chiếm 3,5% tổng sản lượng tiêu thụ. Thị trường tiêu dùng NĐ là 16.224 tấn, chiếm
  • 44.
    44 75,1%, trong đó,nhãn tươi là 14.608 tấn, chiếm 67,7%; còn lại 1.615 tấn nhãn sấy, chiếm 7,5% tổng sản lượng tiêu thụ của chuỗi (Hình 3.2). Hình 3.5 Kênh phân phối trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp 3.2.2 Phân tích các tác nhân trong chuỗi 3.2.2.1 Phân tích tác nhân Nông hộ NH là loại hình tổ chức sản xuất cơ bản ở Việt Nam, ĐBSCL, trong đó có tỉnh Đồng Tháp. NH có các đặc trưng cơ bản là: vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng, các thành viên có quan hệ huyết thống và quan hệ kinh tế. Lao động gia đình là lực lượng lao động chủ yếu cho các hoạt động kinh tế. Về trình độ văn hóa, hầu hết chưa qua các lớp đào tạo nghề (từ sơ, trung cấp trở lên), chiếm đến 87,2%. Trình độ sơ, trung cấp chiếm 11,3%. Trình độ cao đẳng, đại học chiếm 1,5% tổng mẫu khảo sát. Bảng 3.2 Phân bố quy mô diện tích - Nông hộ Stt Qui mô diện tích trồng nhãn/hộ Số hộ Tỷ lệ (%) 1 Dưới 1ha 97 62,6% 2 Từ 1 ha đến 2 ha 55 35,5% 3 Trên 2 ha 3 1,9% Tổng cộng 155 100% Bình quân 1 nông hộ canh tác 0,65ha Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
  • 45.
    45 Về đất đaitrồng nhãn, trong phạm vi khảo sát, diện tích canh tác bình quân là 0,65ha. Số hộ có diện tích canh tác dưới 1ha chiếm 62,6%, quy mô từ 1 – 2ha chiếm 35,5%, quy mô trên 2ha chiếm 1,9% (Bảng 3.2). Đặt trong quan hệ kinh tế thể hiện dưới dạng chuỗi giá trị, NH liên đới đến hai nhóm tác nhân, đó là, nhóm tác nhân cung cấp các yếu tố đầu vào cho SX và nhóm tác nhân tiêu thụ sản phẩm (Hình 3.1). Nhóm tác nhân cung cấp đầu vào chủ yếu là phân bón, thuốc BVTV,… và thị trường lao động tự do, cung cấp nhân lực trồng, chăm sóc và xử lý ra hoa. Lao động chính của NH là 2 lao động, nhưng lao động sản xuất trên mảnh vườn của mình chỉ bình quân là 0,60 lao động/0,65ha, do việc sử dụng lao động đòi hỏi số lượng nhiều người cần thiết lúc làm đất, chăm sóc xử lý ra hoa,.. cao hơn 2 lao động, do đó phải làm thuê cho NH SX khác vào lúc rỗi (Bảng 3.3). Các đại lý vật tư nông nghiệp địa phương chính là nơi cung cấp phân bón, thuốc BVTV và các công cụ sản xuất. Các cơ quan nông nghiệp như: Sở NN&PTNT, Trung tâm Khuyến nông, Sở Khoa học công nghệ, Viện Cây ăn quả miền Nam, Chi cục BVTV cung cấp kiến thức công nghệ và kỹ thuật, chủ yếu thông qua các khóa tập huấn, tài liệu kỹ thuật và hoạt động thực tiễn của nhân viên nông nghiệp. Hỗ trợ xây dựng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… Các ngân hàng, chủ yếu là Ngân hàng NN&PTNT cung ứng vốn bằng việc thế chấp quyền sử dụng đất, Ngân hàng Chính sách xã hội hỗ trợ vốn cho nông dân nghèo, giải quyết việc làm cho địa phương. Bảng 3.3 Tình hình sử dụng lao động - Nông hộ Stt Khoản mục Định mức ngày công Số ngày công Giá trị VNĐ Tỷ lệ 1 Lao động gia đình 140.000 155 21.744.411 49,0% 2 Lao động Thuê mướn 140.000 162 22.613.273 51,0% Tổng cộng 317 44.357.684 100,0% Lao động bình quân/Hộ (mức 260 ngày/năm) 0,60 Lao động thuê bình quân/Hộ (mức 260 ngày/năm) 0,62 Nguồn: Kết quả khảo sát – 2015
  • 46.
    46 Chi phí tronggiai đoạn trồng mới (2 năm) Với tổng chi phí đầu tư 469 triệu đồng/ha/2 năm, trong đó, chi phí lao động chiếm cao nhất chiếm gần 59,8%; chi phí phân bón, thuốc BVTV chiếm 16,7%; chi phí lãi vay chiếm 8,6% tổng phí đầu tư. Trong giai đoạn trồng mới, NH hết sức khó khăn, do chưa có thu nhập, nhằm giảm gánh nặng, khoảng 80% tổng số NH có vay tiền từ Ngân hàng và tiền trả chậm với các đại lý vật tư nông nghiệp nên chi phí tài chính chiếm đến 8,6% (Bảng 3.4). Chi phí trong giai đoạn sản xuất NH chủ yếu chăm sóc và xử lý ra hoa cho trái, không phải tập trung lao động đào đất lên líp, đắp mô, giâm cành,… nên chi phí lao động giảm hơn so giai đoạn trồng mới và chiếm tỷ lệ 50%, vì phải xử lý ra hoa và phòng trừ dịch bệnh chổi rồng nên chi phí phân bón, thuốc BVTV tăng và chiếm 36,9%, chi phí tài chính chiếm 2,65% tổng phí sản xuất. Bảng 3.4 Chi phí - Nông hộ (ha) Stt Khoản mục Giai đoạn trồng mới (2 năm) Giai đoạn sản xuất (năm) Giá trị (Vnđ) Tỷ lệ (%) Giá trị (Vnđ) Tỷ lệ (%) 1 Giống 650.250 0,1% 2 Phân bón & Thuốc Bảo vệ thực vật 78.313.050 16,7% 36.138.600 36,9% 3 Lao động (Gia đình & Thuê mướn) 280.517.850 59,8% 49.541.400 50,6% 4 Phương tiện, Công cụ sản xuất & Khấu hao 40.682.700 8,7% 2.149.650 2,2% 5 Chi phí tài chính (lãi ngân hàng & trả chậm đại lý) 40.162.500 8,6% 2.593.350 2,6% 6 Chi phí khác (đi lại, ăn uống, canh giữ vườn, nhiên liệu, vận chuyển, thông tin liên lạc) 29.024.100 6,2% 7.451.100 7,6% Tổng cộng 469.350.450 100% 97.874.100 100% Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
  • 47.
    47 Cơ cấu chiphí canh tác 1 ha thể hiện ở Hình 3.3 (chưa tính chi phí đất đai). Hình 3.6 Cơ cấu chi phí - Nông hộ Hiệu quả sản xuất kinh doanh của Nông hộ Cây nhãn thường cho trái từ khi bắt đầu 24 tháng trồng mới và cho thu hoạch kéo dài đến 15 - 20 năm, vì vậy để hoạch toán sản xuất kinh doanh, ta tính chu kỳ canh tác là 15 năm, tính từ lúc thu hoạch - năm thứ 3 sau khi trồng. Đánh giá hiệu quả sản xuất, ta thấy, lợi nhuận khoảng 14,3triệu đồng/năm. Bình quân mỗi NH canh tác là 0,65ha với 2 lao động và 4 nhân khẩu thì thu nhập bình quân đầu người khoảng gần 2 triệu đồng/tháng, tính cả tiền công lao động gia đình và làm thuê mướn trong lúc rỗi, thu nhập từ các sản phẩm phụ. Với giá bán và đầu mối tiêu thụ thời điểm khảo sát như sau: Bảng 3.5 Giá bán và đầu mối tiêu thụ - Nông Hộ Tác nhân Khoản mục Thương Lái Vựa Nhãn Lò Sấy Chợ TT Sản lượng (Tấn) 26.058 1.531 809 491 Tỷ lệ (%) 90,2% 5,3% 2,8% 1,7% Giá bán (Vnđ/Kg) 18.850 21.340 18.200 21.750 Giá Bình quân (Vnđ/Kg) 19.013 Tổng sản lượng (Tấn) 28.889 Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
  • 48.
    48 Bên cạnh, quakhảo sát nhận thấy, năng suất nhãn đang có biểu hiện giảm sút do dịch bệnh chuỗi rồng đang bùng phát, năng suất là 8,21tấn/ha (Sở NN&PTNT- 2014), thời điểm khảo sát thì năng suất sụt giảm còn 7,65 tấn/ha do dịch bệnh chổi rồng. Dự báo của những chuyên gia ngành cho những năm tiếp là giảm khoảng 5% năng suất và các yếu tố khác không đổi, thì thu nhập của người dân sẽ giảm thấp xuống. Nếu phân tích hiệu quả đầu tư, cho thấy các thông số: doanh thu/chi phí trung gian (P/IC), giá trị gia tăng/chi phí trung gian (VA/IC), lợi nhuận nhuận ròng/chi phí trung gian cũng khá cao. Điều này đã tạo động lực để NH chăm sóc vườn nhãn tốt hơn để cải thiện thu nhập. Bảng 3.6 Hoạch toán - Nông hộ (Tấn) Stt Khoản mục Giá trị (1000đ) Doanh thu (%) % IC, VA 1 Doanh thu (P) 19.013 100,0% 2 Chi phí trung gian (IC) 5.412 28,5% 100% + Giống 6 0,1% + Phân bón 3.320 61,3% + Thuốc BVTV 2.086 38,6% 3 Gia trị gia tăng (VA) 13.601 71,5% 100% + Nhiên liệu 1.065 7,8% + Chi phí vận chuyển 261 1,9% + Lao động (gia đình + thuê mướn) 8.921 46,9% 65,6% + Lãi vay 689 3,6% 5,1% + Thông tin liên lạc 8 0,1% + Khác 154 1,1% + Lãi gộp 2.503 13,2% 18,4% * Khấu hao công cụ 188 1,0% 8% * Khấu hao kiến thiết cơ bản 447 2,4% 18% * Lãi ròng (NPr) 1.868 9,8% 74,6% 4 P/IC 3,51 5 VA/IC 2,51 6 NPr/IC 0,35 7 NPr/P 9,82% Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
  • 49.
    49 Với tỷ lệlợi nhuận ròng/doanh thu khá cao đã chưa tính chi phí đất đai vào chi phí sản xuất, nếu tính đất đai là thuê mướn khoảng từ 14,3 triệu đồng/năm/ha trở lên, thì lợi nhuận sẽ âm. Các vấn đề thương mại đối với Nông Hộ Lý do bán sản phẩm cho người mua chủ yếu là do quen biết, ổn định từ trước chiếm 75%, kế đến là thanh toán tiền ngay, giá phải chăng, điều kiện bán buôn dễ dàng và nhân công thu hái, không đặt tiêu chuẩn về chất lượng (Bảng 3.7). Thông tin về giá, thông thường dựa trên các nguồn như thương Lái (63%), từ nông dân bán trước (57%), từ các vựa nhãn, lò sấy (37%) và nghe thông tin trên Báo, đài (6,5%). Về quan hệ mua bán: có đến 71,4% cho rằng việc định giá là do thương lái quyết định, 21,7% số hộ cho rằng giá bán do hai bên thỏa thuận và 6,9% cho rằng do NH định giá. Ta thấy vai trò của thương lái trong khâu quyết định giá vẫn còn rất quan trọng, khuynh hướng định giá do hai bên thỏa thuận tuy có nhưng chưa rõ ràng. Tỷ lệ NH quyết định giá bán không nhiều, chỉ đối với các NH có diện tích canh tác lớn, năng suất, chất lượng cao thì họ mới có thể quyết định giá bán. Bảng 3.7 Vấn đề thương mại đối với Nông hộ Stt Lý do bán sản phẩm Nguồn thông tin định giá bán Người định giá bán 1 Mua giá cao, thanh toán tiền ngay 12,5% Thương lái 63,1% Thương lái 71,4% 2 Mua ổn định (quen biết từ trước) 75,0% Nông dân bán trước 57,2% Nông dân 6,9% 3 Nhân công thu hái 8,0% Từ Vựa nhãn, Lò sấy 37,0% Hai bên thỏa thuận 21,7% 4 Ứng tiền trước, đặt tiền cọc 4,5% Báo, Đài 6,5% Khác 0% Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Những vấn đề khác Ký kết hợp đồng tiêu thụ: Kết quả điều tra cho thấy không có NH nào ký hợp đồng mua bán, vì phần lớn nông dân bán cho thương lái thu gom có mối quan
  • 50.
    50 hệ lâu nămnên việc hợp đồng là không cần thiết. Tuy nhiên, có đến 58% số hộ đồng ý là nên ký hợp đồng khi mua bán ngay đầu vụ (giá mua theo thời điểm bán), còn 42% số hộ cho rằng không cần ký hợp đồng với lý do là thương lái quen biết, hoặc không muốn ràng buộc bởi hợp đồng, hoặc ai mua giá cao thì bán không cần ký hợp đồng trước. Bảng 3.8 Lý do và Khó khăn khi trồng mới – Nông hộ Stt Lý do trồng mới Khó khăn khi trồng mới 1 Vườn nhãn bị sâu bệnh nặng, lão hóa 67,0% Vốn đầu tư 57,0% 2 Muốn có vườn nhãn năng suất, chất lượng cao 89,0% Sâu bệnh (chuỗi rồng) 79,0% 3 Giống nhãn hiện tại chưa phù hợp với thị trường xuất khẩu 67,0% Mất thu nhập trong thời gian trồng mới 42,0% 4 Trồng cây nhãn là phù hợp với khả năng gia đình 35,0% Kinh nghiệm canh tác giống mới chất lượng cao 55,0% Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Những khó khăn khi trồng mới, cải tạo vườn là do phải đối phó với dịch chuổi rồng (79%), vốn đầu tư (57%), tìm kiếm giống nhãn năng suất, chất lượng cao (55%), vấn đề mất thu nhập trong thời gian trồng mới, cải tạo vườn (42%). Tuy nhiên, NH cũng rất mong muốn cải tạo trồng mới vườn nhãn của mình với những lý do như muốn có vườn nhãn với giống mới năng suất, chất lượng cao xuất khẩu và để kháng dịch chuổi rồng. Bảng 3.9 Tình hình cơ cấu thu nhập - Nông hộ Stt Khoản mục Đóng góp trong tổng thu nhập 1 Cây nhãn 65,2% 2 Làm công, làm thuê 30,5% 3 Thu nhập từ sản phẩm cây trồng xen 2,4% 4 Vật nuôi, thủy sản 1,3% 5 Khác (Buôn bán nhỏ, tiểu thủ công…) 0,6% Tổng cộng 100,0% Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
  • 51.
    51 Về tình hìnhthu nhập trong thời gian đầu tư mới, cải tạo vườn, cũng như thu nhập phụ trong thời gian sản xuất kinh doanh. Thu nhập từ cây nhãn chiếm đến 65,2% tổng thu nhập, tiếp đến là hơn 30,5% từ việc đổi công lao động lúc nhàn rỗi và làm thuê. 3.2.2.2 Phân tích tác nhân Thương Lái Tại Đồng Tháp, nhiều TL hợp thành mạng lưới thu mua rộng khắp trong vùng. Qua khảo sát tại xã, thị trấn thường dao động là 1 đến 3 TL. Việc tiến hành thu mua, thực hiện cả đường bộ và đường thủy để thuận tiện cho việc vận chuyển. Trái nhãn được tiêu thụ thông qua TL chiếm đến 90,2%, với tổng sản lượng là 26.058 tấn trái, với tỷ lệ hao hụt là 2%, thì sản lượng tiêu thụ là 25.537 tấn. Về phương thức mua hàng, không có TL nào ký hợp đồng mua bán ngay từ đầu vụ hoặc ký hợp đồng khi mua. Phương thức mua hàng chủ yếu là thỏa thuận giá thông qua đàm phám ngay lúc mua, được áp dụng 100%. Về thông tin làm cơ sở cho việc định giá và phương thức mua, ta thấy việc mua bán diễn ra bằng hình thức thỏa thuận miệng chiếm 95%, thông tin về giá chủ yếu là dựa vào kênh tiêu thụ chủ yếu, chiếm đến 80%. Về phân loại trái nhãn, 100% phân loại tương ứng với mức giá khác nhau khi mua và thỏa thuận trực tiếp. Tuy nhiên việc phân loại này không đồng nhất, có thể họ muốn tạo ra sự khác biệt để cho người bán tự thấy trái nhãn vườn mình ứng với mức giá và sẽ lựa chọn thương lái thu mua phù hợp, đôi khi là sự dọa giá từ những đầu mối tiêu thụ hay chợ đầu mối khác trước khi bán. Bảng 3.10 Thông tin về giá và phương thức mua - Thương lái Stt Thông tin về giá Phương thức mua 1 + Thương lái khác 11% + Hợp đồng văn bản 0% 2 + Vựa Nhãn 80% + Thỏa thuận miệng 95% 3 + Lò Sấy 5% + Ứng tiền trước, đặt cọc 5% 4 + Chợ đầu mối 4% + Khác 0% Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
  • 52.
    52 Việc mua nhãndiễn ra quanh năm vì hiện tại việc xử lý ra hoa đã theo ý muốn, tuy nhiên, vào mùa với trữ lượng lớn và trái nhãn sạch, đẹp sẽ bán được giá hơn do XK, nhất là vào mùa Tết Nguyên đán, khi nhu cầu tăng cao. Thị trường tiêu thụ Các TL thường có khách hàng ổn định, chiếm đến 69,4% lượng hàng và có thể cung cấp cho 01 VN chủ lực mà thôi, kế đến là các LS, với trái nhãn có chất lượng thấp chiếm 6,7% và cung ứng 21,2% sản lượng đi ngoài tỉnh ngay trong ngày, đêm họ thu mua được. Họ nhận đặt hàng (thông qua điện thoại) số lượng, giá, nhu cầu về chất lượng và ngày để giao hàng. Vì các khách hàng thường có mối quan hệ lâu năm nên có sự tin tưởng lẫn nhau. Đối với khách hàng mới thì ứng tiền trước và nhận tiền mặt khi giao hàng. Về định giá bán thường dựa trên cơ sở thông tin về giá có được, tuy nhiên về chất lượng còn phân loại khác nhau nên trái nhãn chất lượng thấp, bán cho LS với mức giá thấp tương ứng (Bảng 3.11). Bình quân sử dụng 1,2 lao động gia đình chuyên nghề thu mua, và khoảng 2 đến 3 nhân công thường xuyên cho việc thu hái, bốc vác, vận chuyển tùy theo mùa vụ. Chi phí thuê mướn khá biến động do giá thuê lao động tăng trong những năm gần đây. Hầu hết trả lương theo việc khoán đầu tấn, tuy nhiên có xem xét đến ngưỡng thu nhập, thấp nhất là ngày công lao động, thời gian làm việc thì tùy vào lượng hàng thu mua, thu nhập bình quân khoảng 300.000đồng/tấn. Bảng 3.11 Đầu mối tiêu thụ & Giá bán - Thương Lái Tác nhân Khoản mục Vựa Nhãn Lò Sấy Chợ TT Chợ NT Sản lượng (Tấn) 17.722 1.711 689 5.414 Tỷ lệ 69,4% 6,7% 2,7% 21,2% Giá (Vnđ) 20.550 19.250 21.950 22.500 Giá bình quân (Vnđ) 20.914 Tổng sản lượng (Tấn) 25.537 Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015
  • 53.
    53 Tiêu thụ được1 tấn trái nhãn tươi, doanh thu là khoảng 20.914.000đồng, trong đó, chi phí trung gian chiếm 91,9%, giá trị gia tăng chiếm 8,1%. Trong tổng giá trị gia tăng thì công lao động chiếm 26,9%, lợi nhuận gộp chiếm gần 37,3%. Lợi nhuận là 623.000đồng/tấn. Vai trò thu gom trong chuỗi giá trị trái nhãn: ta thấy đã xóa bỏ được tình trạng trái nhãn phải qua nhiều tầng nấc trung gian, điều này đã mang lại nhiều lợi ích. Đồng thời, sự cạnh tranh giữa các đầu mối thu gom với nhau về giá cũng đã làm vị thế của NH cao hơn trước. Bảng 3.12 Hoạch toán - Thương lái (Tấn) Stt Khoản mục Giá trị (1.000đ) % Doanh thu % IC, VA 1 Doanh thu (P) 20.914 100,0% 2 Chi phí trung gian (IC) 19.227 91,9% 100% + Nguyên liệu (Nhãn trái) 18.850 98,0% + Sản phẩm hao hụt (2%) 377 2,0% 3 Giá trị gia tăng (VA) 1.687 8,1% 100% + Chi phí vận chuyển 379 22,5% + Lao động (thu hái, gom, vận chuyển) 453 26,9% + Chi phí lãi vay 207 12,3% + Chi phí thông tin liên lạc 10 0,6% + Chi phí khác 8 0,5% + Lãi gộp 30 37,3% * Khấu hao và duy tu trang thiết bị 7 1,1% * Lãi ròng 623 98,9% 4 P/IC 1,09 5 VA/IC 0,09 6 NPr/IC 0,03 7 NPr/P 2,98% Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Thực tế, hầu hết NH bán nhãn tại vườn (chiếm đến 90,2%). Điều này cho thấy vai trò của TL khá quan trọng trong việc thực hiện chức năng thị trường, đó
  • 54.
    54 là, tiêu thụtrực tiếp và cung ứng cho người tiêu dùng qua các kênh phân phối. Qua đó, góp phần giải quyết việc làm cho địa phương. Ta thấy tỷ lệ lợi nhuận so với doanh thu là 2,98% là khoảng lợi nhuận khá cạnh tranh, là động cơ để gia nhập ngành hàng này, vì vậy, mức độ cạnh tranh ngày càng cao. 3.2.2.3 Phân tích tác nhân Vựa Nhãn Tổng sản lượng thu mua là 19.254 tấn, chiếm 66,65% tổng sản lượng sản xuất, với tỷ lệ hao hụt do cắt tỉa cành, loại bỏ những trái nhỏ, trái kém chất lượng là 12% thì sản lượng tiêu thụ là 16.944 tấn. Trong đó, cung ứng 74,5% sản lượng đến DN XK, 23,6% đi ngoài tỉnh và 1,9% đến chợ trong tỉnh. Là hệ thống chân rết thu mua đầu vào và sơ chế bảo quản, đóng thùng, vào rổ theo quy cách. VN sử dụng 1,3 lao động quản lý, và khoảng 17 nhân công cắt tỉa cành, loại bớt trái nhỏ, trái xấu, tiến hành đóng thùng, vào rổ, trang trí mặt và tùy theo mùa vụ có thể huy động đến 40 lao động thường xuyên. Về phương thức mua hàng, trên cơ sở nhận định về chất lượng làm cơ sở định giá mua và bán. Về phân loại trái nhãn khi mua tương ứng với mức giá khác nhau và thỏa thuận trực tiếp tùy theo tỷ lệ lượng hàng hóa hao hụt khi sơ chế. Việc phân loại này chưa đồng nhất và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của đôi bên. Bảng 3.13 Đầu mối thu mua/tiêu thụ - Vựa Nhãn Tác nhân Khoản mục Đầu mối thu mua Đầu mối tiêu thụ NH TL DN XK Chợ TT Chợ NT Sản lượng (Tấn) 1.531 17.722 12.623 322 3.999 Tỷ lệ (%) 7,8% 92,2% 74,5% 1,9% 23,6% Giá (Vnđ/Kg) 21.340 20.550 26.870 22.650 22.940 Giá Bình quân (Vnđ/Kg) 20.612 25.862 Tổng sản lượng (Tấn) 19.254 16.943 Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Thực hiện việc thu mua, tiêu thụ với cơ cấu mức giá và sản lượng từ các tác nhân có khác nhau. Giá thu mua trực tiếp từ NH có cao hơn do nhiều nguyên nhân,
  • 55.
    55 trong đó, NHbán sản phẩm thường có chất lượng cao hơn đôi chút nhưng không thỏa thuận bán được với TL. Việc tiêu thụ, giá bán DN XK cao hơn các đầu mối tiêu thụ còn lại. Các VN thường có số lượng ổn định làm chân rết thu mua cho DN XK, tuy nhiên, các DN thường cung cấp bao bì, nhãn hiệu đưa ra tiêu chuẩn chất lượng và giá sẽ mua, hướng xử lý sơ chế bảo quản và mua theo số lượng, từng chuyến xe vận chuyển, từng đợt, có thể là hằng ngày. Bảng 3.14 Hoạch toán - Vựa nhãn (Tấn) Stt Khoản mục Giá trị (1.000đ) % Doanh thu % IC, VA 1 Doanh thu (P) 25.862 100% 2 Chi phí trung gian (IC) 23.085 89,3% 100% + Mua nhãn trái 20.612 89,3% + Sản phẩm hao hụt (12%) 2.473 10,7% 3 Giá trị gia tăng (VA) 2.777 10,7% 100% + Lao động 1.775 63,9% + Chi phí lãi vay 206 7,4% + Chi phí thông tin liên lạc 8 0,3% + Chi phí mặt bằng + điện + nước 256 9,2% + Chi phí vận chuyển 143 5,1% + Chi phí khác 25 0,9% + Lệ phí, thuế 207 7,4% + Lãi gộp 157 5,7% * Khấu hao và duy tu trang thiết bị 9 5,7% * Lãi ròng 148 94,3% 4 P/IC 1,12 5 VA/IC 0,12 6 NPr/IC 0,01 7 NPr/P 0,57% Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Chi phí của VN chủ yếu là chi phí mua nhãn trái, chiếm đến 89,3%, sản phẩm hao hụt chiếm 10,7% chi phí mua, chi phí lao động bao gồm cắt tỉa cành, loại trái nhãn xấu, vào rổ, đóng thùng làm mặt chiếm 63,9% giá trị gia tăng. Chi phí lao động thuê mướn khá biến động do giá thuê lao động tăng trong những năm
  • 56.
    56 gần đây. Hầuhết các VN trả lương theo việc khoán sản phẩm, thời gian làm việc thì tùy vào lượng hàng thu mua hàng ngày và khả năng, số lượng người lao động với thu nhập bình quân khoảng 140.000đồng/ngày. Với tổng phí tính chung cho 1 tấn trái được vào rổ, đóng thùng quy cách vận chuyển là 25.714.000đồng/tấn. Với 1 tấn sản phẩm, sẽ có lãi khoảng 148.000 đồng/tấn. Có những lúc vào mùa vụ, hằng ngày xuất hàng vài mươi tấn, thì cũng đã phát sinh lãi vài triệu đồng/ngày (Bảng 3.14). Việc tham gia vào chuỗi, VN đã đóng góp giá trị gia tăng gần 10,7% và giải quyết lao động gần 63,9% giá trị gia tăng, thuế, lệ phí 7,4%. Tỷ lệ lợi nhuận so với doanh thu là 0,57% là khoảng khá thấp, thể hiện mức độ cạnh tranh khá cao. 3.2.2.4 Phân tích tác nhân Lò sấy Tổng sản lượng thu mua là 2.520 tấn, chiếm 8,72% sản lượng sản xuất, với tỷ lệ hao hụt do cắt tỉa cành, loại bỏ những trái nhỏ, trái kém chất lượng là 2%, sản lượng thành phẩm cung ứng ra thị trường là 2.470 tấn, nếu qui đổi 15 kg tươi ra 1 kg sấy khô, tương đương 165 tấn nhãn sấy. Trong đó, cung ứng 100% sản lượng đến DN XK, nơi tập trung và là đầu mối cung cấp nhãn sấy khô và kênh phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng. Bảng 3.15 Đầu mối thu mua/tiêu thụ - Lò Sấy Tác nhân Khoản mục Đầu mối thu mua Đầu mối tiêu thụ NH TL DN XK Sản lượng (Tấn) 809 1.711 2.470 Tỷ lệ (%) 31,7% 68,3% 100,0% Giá (Vnđ/Kg) 18.200 19.250 23.700 Giá Bình quân (Vnđ/Kg) 18.918 23.700 Tổng sản lượng (Tấn) 2.520 2.470 Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Hiện trạng các LS không nhiều, hoạt động theo mùa vụ, quy mô trang thiết bị lạc hậu, công suất thấp, tỷ lệ hao hụt nhiều, với khoảng 15 kg nhãn tươi cho ra 1 kg nhãn sấy, và sản phẩm đầu vào hao hụt khoảng 2% do loại bỏ những trái kém phẩm chất, kích cở nhỏ, giảm trọng lượng tự nhiên.
  • 57.
    57 Cơ sở vậtchất tương đối lạc hậu, thô sơ và khả năng chế biến và phương thức bảo quản chưa cao, sản phẩm chưa đảm bảo chất lượng xuất khẩu ngày càng đòi hỏi cao của thị trường EU, Mỹ. Về phương thức hoạt động kinh doanh khá đơn giản, do DN XK bao tiêu 100% sản phẩm đầu ra với định mức quy chuẩn chất lượng sản phẩm, độ ẩm và chất bảo quản theo quy định, với mức giá đã được định giá. LS không kén chất lượng sản phẩm đầu vào, tuy nhiên đòi hòi phân loại sản phẩm, để tính mức độ hao hụt sản phẩm khi sản xuất. Việc phân loại sản phẩm thường được định giá mua tương ứng cho từng đợt hàng và thỏa thuận (Bảng 3.15). Bảng 3.16 Hoạch toán - Lò sấy (Kg) Stt Khoản mục Giá trị (Vnđ) % Doanh thu % IC, VA 1 Doanh thu (P) 355.500 100,0% 2 Chi phí trung gian (IC) 289.438 81,4% 100% + Nguyên liệu (15 kg tươi : 1 sấy) 283.763 98,0% + Hao hụt 2% 5.675 2,0% 3 Giá trị gia tăng (VA) 66.062 18,6% 100% + Lao động 19.100 28,9% + Chi phí lãi vay 2.270 3,4% + Nhiên liệu 2.580 3,9% + Chi phí mặt bằng, điện, nước 750 1,1% + Chi phí thông tin liên lạc 150 0,2% + Chi phí khác 7.500 11,4% + Thuế, lệ phí 10.665 16,1% + Lãi gộp 23.046 34,9% * Khấu hao 9.250 40,1% *Lãi ròng 13.796 59,9% 4 P/IC 1,02 5 VA/IC 0,23 6 NPr/IC 0,05 7 NPr/P 3,9% Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Về hoạch toán sản xuất kinh doanh, chi phí trung gian chiếm 81,4%, gồm phí nguyên liệu và hao hụt, giá trị gia tăng chiếm 18,6%, gồm lao động chiếm
  • 58.
    58 28,9%, các khoảnphí, thuế là 16,1%. Góp phần giải quyết việc làm và nguồn thu phúc lợi xã hội. Tổng phí sản xuất ra 1 kg sản phẩm sấy là gần 342.000đ/kg, lợi nhuận 13.796 đồng/kg (Bảng 3.16). 3.2.2.5 Phân tích tác nhân Doanh nghiệp Xuất khẩu trái cây Việc xuất khẩu thường là đóng thùng nhãn tươi, nhãn sấy đóng gói xuất sang thị trường Trung Quốc (cả Đài Loan), Hàn Quốc, Mỹ,… Đây là kênh tiêu thụ quan trọng trong chuỗi nói riêng vì mang lại giá trị gia tăng, thu ngoại tệ, đòi hỏi mức độ đầu tư vốn và công nghệ ngày càng hiện đại, đặc biệt thị trường tiêu thụ tiềm năng rộng lớn. Hầu hết các thị trường xuất khẩu do DN XK tự tìm, hoặc khách hàng nước ngoài liên hệ và thiết lập mối quan hệ mua bán lâu năm. Đối thủ cạnh tranh trong mặt hàng này khá nhiều, trong nước có nhiều nơi sản xuất và tiêu thụ trái nhãn tương tự, ngoài nước chịu sự cạnh tranh từ nông sản Thái Lan,... Tổng sản lượng thu mua là 15.093 tấn trái chiếm 52,2% sản lượng sản xuất, trong đó, 165 tấn sấy và 12.623 tấn tươi, với tỷ lệ hao hụt do vận chuyển, trái kém chất lượng theo thời gian là 2,86% (sấy) và 2% (tươi). Trong đó, xuất khẩu: 37,3% nhãn tươi và 31,3% nhãn sấy, phần còn lại tiêu dung trong nước. Bảng 3.17 Đầu mối thu mua/tiêu thụ - Doanh nghiệp Xuất khẩu hoản mục Đầu mối thu mua Đầu mối tiêu thụ Lò Sấy Vựa Nhãn Nội địa Xuất khẩu Tươi Sấy Tươi Sấy Sản lượng (Tấn) 2.469 12.623 7.757 1.648 4.614 751 Tỷ lệ (%) 13,7% 86,3% 62,7% 68,7% 37,3% 31,3% Giá (Vnđ/Kg) 23.700 26.870 34.658 25.819 40.300 29.340 Giá bình quân (Vnđ/Kg) 26.435 31.842 Tổng sản lượng (Tấn) 15.093 14.770 Nguồn: Kết quả khảo sát – 2015 Doanh nghiệp có mối quen làm ăn lâu dài với các đầu mối thu mua rộng khắp trên địa bàn vùng nguyên liệu. Đó là, hệ thống mạng lưới thu gom sơ chế
  • 59.
    59 biến được cungcấp bao bì, nhãn hiệu, thông tin về chất lượng và giá, cam kết tiêu thụ sản lượng, hỗ trợ chi phí vận chuyển theo nguyên tắc từng chuyến, trong ngày. Chịu trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật tại chỗ, quy cách vào rổ, đóng thùng và kỹ thuật sấy, đóng gói. Về cơ cấu giá bán, DN XK thực hiện giá bán với 2 loại giá cho xuất khẩu và nội địa, với 2 loại sản phẩm là: nhãn tươi và nhãn sấy. Đầu mối thu mua và thị trường tiêu thụ thể hiện ở Bảng 3.17. Thông thường DN XK giao hàng tại cảng xuất khẩu vì khi giao hàng tại nơi mua thì người bán phải trả tiền vận chuyển và tìm ẩn nhiều rủi ro. Hiện tại khó khăn chủ yếu là việc bảo quản nông sản hàng hóa vì khi vận chuyển xa đòi hỏi thời gian dài, hàng hóa dễ dẫn đến giảm chất lượng. Giá trị (1.000đ) % Doanh thu % IC, VA Giá trị (1.000đ) % Doanh thu % IC, VA 1 Doanh thu (P) 40.300 100% 34.658 100% 2 Chi phí trung gian (IC) 27.407 68,0% 100% 27.407 79,1% 100% + Nguyên liệu 26.870 98,0% 26.870 98,0% + Hao hụt 537 2,0% 537 2,0% 3 Giá trị gia tăng (VA) 12.893 32,0% 100% 7.251 20,9% 100% + Chi phí vận chuyển 2.687 20,8% 1.344 18,5% + Chi phí giao hàng 537 4,2% 269 3,7% + Thông tin liên lạc 12 0,1% 6 0,1% + Chi phí nhân công 1.476 11,4% 1.328 18,3% + Chi phí quản lý 269 2,1% 228 3,2% + Chi phí lãi vay 322 2,5% 290 4,0% + Thuế 2.821 21,9% 2.150 29,6% + Chi phí khác 90 0,7% 45 0,6% + Lãi gộp 4.678 36,3% 1.591 21,9% * Khấu hao 1.075 23,0% 967 60,8% * Lãi ròng 3.603 77,0% 623 39,2% 4 P/IC 1,47 1,26 5 VA/IC 0,47 0,26 6 NPr/IC 0,13 0,02 7 NPr/P 8,9% 1,80% Nội địa Khoản mục Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Stt Xuất khẩu Bảng 3.18 Hoạch toán của Doanh nghiệp Xuất khẩu (1 tấn trái tươi)
  • 60.
    60 Với 1 tấntrái nhãn tươi xuất khẩu, sẽ phát sinh 40,3 triệu đồng doanh thu, 3,6 triệu đồng lợi nhuận, tỷ lệ 8,9% doanh thu. Giá trị gia tăng là 12,9 triệu đồng chiếm 32,0% doanh thu. Đóng góp thuế, phí 2,8 triệu đồng, chiếm 21,9% giá trị gia tăng. Về sản phẩm trái nhãn tươi khi bán nội địa, khi tiêu thụ 1 tấn trái tươi, doanh nghiệp thu về 34,7 triệu đồng, lợi nhuận 623 ngàn đồng, chiếm 1,8% doanh thu. Giá trị gia tăng phát sinh 7,3 triệu đồng, chiếm 20,9% doanh thu, trong đó, phí nhân công chiếm 18,3%, góp phần giải quyết việc làm cho người dân địa phương. Về xuất khẩu sản phẩm nhãn sấy, với 1 tấn tiêu thụ, phát sinh doanh thu là 440 triệu đồng, lợi nhuận 27,2 triệu đồng, tỷ lệ 6,2%, giá trị gia tăng là 73,7 triệu đồng chiếm 16,8% doanh thu. Với 1 tấn trái nhãn sấy tiêu thụ trong nước, doanh nghiệp thu về 387 triệu đồng, lợi nhuận 1,2 triệu đồng, tỷ lệ 0,3% doanh thu. Tiêu thụ nội địa thì giá trị gia tăng khá thấp chỉ đạt 5,4% so với xuất khẩu là 16,8% doanh thu. Giá trị (1.000đ) % Doanh thu % IC, VA Giá trị (1.000đ) % Doanh thu % IC, VA 1 Doanh thu (P) 440.100 100% 387.288 100% 2 Chi phí trung gian (IC) 366.378 83,2% 100% 366.378 94,6% 100% + Nguyên liệu 356.211 97,2% 356.211 97,2% + Hao hụt 10.167 2,8% 10.167 2,8% 3 Giá trị gia tăng (VA) 73.722 16,8% 100% 20.910 5,4% 100% + Chi phí vận chuyển 14.220 19,3% 7.110 34,0% + Chi phí giao hàng 1.778 2,4% 356 1,7% + Thông tin liên lạc 100 0,1% 50 0,2% + Chi phí nhân công 1.067 1,4% 711 3,4% + Chi phí quản lý 711 1,0% 355 1,7% + Chi phí lãi vay 2.844 3,9% 1.777 8,5% + Thuế, phí 14.220 19,3% 3.555 17,0% + Chi phí khác 885 1,2% 443 2,1% + Lãi gộp 37.898 51,4% 6.553 31,3% * Khấu hao 10.665 28,1% 5.332 81,4% * Lãi ròng 27.233 71,9% 1.221 18,6% 4 P/IC 1,201 1,057 5 VA/IC 0,201 0,057 6 NPr/IC 0,074 0,003 7 NPr/P 6,2% 0,3% Stt Bảng 3.19 Hoạch toán của Doanh nghiệp Xuất khẩu (1 tấn nhãn sấy) Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Khoản mục Xuất khẩu Nội địa
  • 61.
    61 3.2.2.6 Phân tíchtác nhân Người Bán lẻ tại Chợ đầu mối trong tỉnh Chợ đầu mối bán lẻ trong tỉnh, tiêu thụ nông sản tươi và giới thiệu với người tiêu dùng và khách du lịch khi đến Đồng Tháp. Với tổng lượng tiêu thụ đến 1.217tấn trái, lượng hao hụt khi bán là 19%. Bảng 3.20 Bảng Giá mua bán và Đầu mối thu mua/tiêu thụ Người bán lẻ tại Chợ đầu mối trong Tỉnh Khoản mục Đầu mối thu mua Tiêu thụ NH TL VN Sản lượng (Tấn) 491 689 322 1.217 Tỷ lệ (%) 31,9% 45,7% 22,3% 100% Giá (Vnđ/Kg) 21.750 21.950 22.650 29.600 Giá Bình quân (Vnđ/Kg) 22.043 29.600 Tổng Sản lượng (Tấn) 1.503 1.217 Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Đầu mối thu mua trái nhãn với 3 mức giá khác nhau, tùy thuộc việc loại bỏ những sản phẩm kém chất lượng, cắt tỉa bớt cành không mang trái nên giá mua có thay đổi. Giá mua bình quân ở mức 22.043đồng/kg trái tươi và giá bán bình quân 29.600đồng/kg. Hao hụt do trái rơi rụng, giảm phẩm chất theo thời gian, cần cắt tỉa và trang trí đẹp hơn,.. và sản phẩm không bán được phải bỏ là 19% tổng lượng hàng mua vào. Về chi phí trung gian dùng cho việc mua nhãn trái và hao hụt đã chiếm 88,6% tổng chi phí. Giá trị gia tăng chiếm 11,4%, trong đó, phí mặt bằng và lao động chiếm 65,3%. Phí lao động do người bán cung cấp hàng ngày bán được khoảng 120kg sản phẩm trái tươi (định mức 144.000đ/ngày công). Bán được 1 kg trái tươi 29.600 đồng, thì lợi nhuận 529đồng, chiếm 1,8% doanh thu. Với lượng bán 120kg, thu nhập bình quân là 207.500đồng/ngày, góp phần cải thiện thu nhập cho người bán.
  • 62.
    62 Bảng 3.21 Hoạchtoán - Người Bán lẻ tại Chợ đầu mối trong Tỉnh Stt Khoản mục Giá trị (1.000đ) % Doanh thu % IC, VA 1 Doanh thu (P) 29.600 100,0% 2 Chi phí trung gian (IC) 26.231 88,6% 100% + Mua nhãn trái 22.043 84,0% + Sản phẩm hao hụt (19%) 4.188 16,0% 3 Giá trị gia tăng (VA) 3.369 11,4% 100% + Chi phí mặt bằng + điện + nước 1.000 29,7% + Chi phí thông tin liên lạc 80 2,4% + Lao động 1.200 35,6% + Chi phí lãi vay 441 13,1% + Lệ phí, thuế 90 2,7% + Lãi gộp 559 16,6% * Khấu hao 30 5,4% * Lãi ròng (NPr) 529 94,6% 4 P/IC 1,13 5 VA/IC 0,13 6 NPr/IC 0,02 7 NPr/P 1,8% Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 3.2.2.7 Phân tích tác nhân Người bán lẻ tại chợ đầu mối ngoài tỉnh Với thị trường tiêu thụ ngoài tỉnh, với 15.007 tấn trái qui đổi/năm, trong đó, nhãn tươi là 13.390 tấn, tỷ lệ hao hụt khi bán là 22% và 1.615 tấn nhãn sấy/năm với tỷ lệ hao hụt là 2%. Bảng 3.22 Bảng Giá mua bán & Đầu mối thu mua/tiêu thụ Người Bán lẻ tại Chợ đầu mối ngoài Tỉnh Khoản mục Đầu mối thu mua Tiêu thụ Nhãn tươi Nhãn sấy Nhãn tươi Nhãn sấyTL VN DN XK DN XK Sản lượng (Tấn) 5.414 3.999 7.756 1.648,00 13.391 1.615 Tỷ lệ (%) 23,10% 25,98% 50,92% 100% 100% 100% Giá (Vnđ/Kg) 22.500 22.940 34.658 25.819 38.900 31.499 Giá Bình quân(Vnđ/Kg) 28.805 25.819 38.900 31.499 Tổng Sản lượng(Tấn) 17.168 1.648 13.391 1.615 Nguồn: Kết quả khảo sát – 2015
  • 63.
    63 Đầu mối thumua với 3 mức giá khác nhau, bao gồm việc loại bỏ những sản phẩm kém chất lượng, cắt tỉa bớt cành không mang trái nên có giá mua khác nhau, DN XK bao gồm phí vận chuyển và hao hụt sản phẩm, phí đóng thùng. Giá mua bình quân ở mức 28.805đồng và giá bán bình quân 38.900đồng/kg trái tươi, và lượng hao hụt chiếm đến 22%. Giá mua 25.819đồng, giá bán 31.499 đồng kg nhãn tươi qui đổi (15 kg tươi : 1 kg sấy khô) và lượng hao hụt là 2%. Phí trung gian dùng mua trái và hao hụt chiếm 90,3% tổng phí. Giá trị gia tăng là 9,7%, trong đó, phí mặt bằng và lao động chiếm 26,6%. Với việc bán 1 kg nhãn qui đổi theo tỷ lệ thì bình quân được 38.103đồng, thì lợi nhuận 1.083đồng/kg, chiếm 2,9% doanh thu. Phí lao động do người bán cung cấp hàng ngày bán được khoảng 150kg (150.000đ/ngày công). Như vậy, hằng ngày người bán lẻ tại chợ thu nhập 312.430đồng/ngày (Bảng 3.23). Giá trị % Doanhthu % IC, VA Giá trị % Doanhthu % IC, VA 1 Doanhthu(P) 38.900 100% 31.499 100% 2 Chi phí trung gian(IC) 35.142 90,3% 100,0% 26.336 83,6% 100% + Mua nhãntrái 28.805 82,0% 25.819 98,0% + Sảnphẩmhao hụt 6.337 18,0% 516 2,0% 3 Giá trị gia tăng (VA) 3.758 9,7% 100% 5.164 16,4% 100% + Chi phí mặt bằng + điện+ nước 1.000 26,6% 500 9,7% + Chi phí thông tinliênlạc 80 2,1% 200 3,9% + Lao động 1.000 26,6% 500 9,7% + Chi phí lãi vay 576 15,3% 824 16,0% + Lệ phí, thuế 90 2,4% 1.000 19,4% + Lãi gộp 1.012 26,9% 2.140 41,4% * Khấuhao 20 2,0% 300 14,0% * Lãi ròng (NPr) 992 98,0% 1.840 86,0% 4 P/IC 1,11 1,20 5 VA/IC 0,11 0,20 6 NPr/IC 0,03 0,07 7 NPr/P 2,5% 5,8% Bảng 3.23 Hoạch toán của Người Bán lẻ tại Chợ đầu mối Ngoài tỉnh Nhãnsấy Nguồn:Kết quả khảo sát - 2015 Nhãntươi KhoảnmụcStt
  • 64.
    64 Về tỷ lệhao hụt khi bán nhãn tươi là 22%, riêng nhãn sấy thì tỷ lệ hao hụt chỉ 2% do bị bể, nát vỏ trái nhãn và khả năng bảo quản là khá tốt có thể để lâu được, nên mức độ rủi ro thấp và nhưng khả năng chiếm dụng vốn lớn, doanh số bán ra không nhiều và thường bán được vào mùa nghịch. 3.2.2.8 Phân tích các tác nhân thúc đẩy, hỗ trợ chuỗi Tủy theo chức năng và nhiệm vụ mà một số cơ quan quản lý nhà nước có những vai trò quan trọng đối với sự phát triển chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. Đối với Ủy ban nhân dân và Đoàn thể tỉnh Đồng Tháp Chỉ đạo các ngành thuộc quyền quản lý phối hợp với các đoàn thể tuyên truyền, vận động người dân thay đổi tập quán, cách thức sản xuất, để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Tích cực vận động thành lập các THT, HTX trong vùng chuyên canh cây nhãn để làm trung tâm cho việc chuyển giao khoa học kỹ thuật, thực hiện các chính sách ưu đãi đối với sản xuất và đầu mối tổ chức sản xuất và tiêu thụ. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Các cơ quan khuyến nông Là cơ quan thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về nông nghiệp, chịu trách nhiệm lập kế hoạch cho việc phát triển cây nhãn, quản lý các hoạt động nông nghiệp từ cây giống, kỹ thuật canh tác, hệ thống quy trình canh tác… Đào tạo, tập huấn cho nông dân thông qua các mô hình trình diễn các cải tiến kỹ thuật, hệ thống canh tác. Thực hiện việc giám sát và hướng dẫn các quy tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Tổ chức dập dịch chổi rồng trên cây nhãn bằng nguồn kinh phí hỗ trợ của nhà nước, bằng việc tổ chức trình diễn mô hình phòng trừ, dập dịch chổi rồng tại những vườn nhãn điểm, sau đó nhân rộng và hỗ trợ kinh phí dập dịch tùy theo mức độ thiệt hại dịch bệnh gây ra (bình quân hỗ trợ khoảng 1 triệu đồng/ha). Mô hình
  • 65.
    65 trình diễn giốngnhãn Tứ quý chống chịu bệnh chổi rồng tại huyện Châu Thành, Cao Lãnh. Sở Khoa học công nghệ Chủ trì nghiên cứu các công nghệ mới về trồng trọt và chuyển giao đến NH. Tham gia hỗ trợ về áp dụng hệ thống quản lý nông sản sạch, các dự án năng suất, chất lượng sản phẩm. Thực hiện các chương trình hỗ trợ các sản phẩm chủ lực của tỉnh Đồng Tháp, trong đó, có cây nhãn. Sở Công thương và Trung tâm xúc tiến thương mại Thực hiện các chương trình thương mại, tham gia các hội chợ triển lãm trưng bày, lễ hội trái cây, quảng bá sản phẩm, định hướng thị trường tiêu thụ. Thực hiện chức năng quản lý thương mại, xuất nhập khẩu và nội địa. Các trường, viện nghiên cứu Đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu và phát triển giống và quy trình canh tác để cải thiện chất lượng. Hỗ trợ kỹ thuật canh tác, chăm sóc…có chuyên gia xử lý các dịch bệnh hại phát sinh trên cây nhãn như bệnh chổi rồng. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với chức năng, nhiệm vụ của mình đã tiến hành giải ngân bằng thế chấp quyền sử dụng đất đai, năm 2014 đã cung ứng vốn đến 80% , Ngân hàng chính sách xã hội cho vay từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm khoảng 5%. Tổng vốn vay bình quân 30 triệu đồng, chủ yếu là cho vay ngắn, trung hạn, lãi suất trên dưới 10%/năm, vốn còn lại NH phải vay trả chậm đại lý vật tư nông nghiệp thường lãi suất cao hơn. 3.2.3 Phân tích kinh tế chuỗi giá trị 3.2.3.1 Hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính toàn chuỗi, với tổng sản lượng tiêu thụ là 104.832 tấn (cộng dồn), tổng doanh thu (thu nhập) là 2.710.400 triệu đồng, lợi nhuận 116.049 triệu đồng, chiếm 4,28 doanh thu. Sản lượng sản xuất là 28.889 tấn, sản lượng tiêu
  • 66.
    66 dùng là 21.588tấn, trong đó, nội địa là 16.222 tấn, xuất khẩu là 5.365 tấn, hao hụt là 25%, tương đương 7.302 tấn (Bảng 3.24). Sản lượng qua tác nhân là yếu tố cấu thành hiệu quả sản xuất kinh doanh của tác nhân đó. Ta thấy, sản lượng LS là 2.470 tấn khá thấp, do thường thu mua sản phẩm chất lượng và giá thường thấp hơn. Chợ trong tỉnh tiêu thụ 1.217 tấn là khách hàng tại chỗ và khách du lịch, vãng lai đến tỉnh. DN XK đã phân phối 14.770 tấn, trong đó, xuất khẩu 5.365 tấn trái qui đổi (15 tươi: 1sấy). NH TL LS VN DN XK Chợ TT Chợ NT 1. Sản lượng (tấn) 23.407 20.101 1.697 12.236 9.405 1.217 15.005 2. Giá bán (kg) 19.013 20.914 23700 25.862 30.037 29600 38.104 3. Lợi nhuận (kg) 1.868 623 920 148 340 529 1.083 4. Tổng Lợi nhuận (triệu đồng) 43.718 12.518 1.561 1.814 3.198 643 16.248 5. Tổng Thu nhập (triệu đồng) 445.047 420.387 40.216 316.439 282.488 36.023 571.743 6. % Tổng Lợi nhuận 54,9% 15,7% 2,0% 2,3% 4,0% 0,8% 20,4% 7. % Tổng Thu nhập 21,1% 19,9% 1,9% 15,0% 13,4% 1,7% 27,1% 1. Sản lượng (tấn) 5.482 5.436 773 4.708 5.365 - - 2. Giá bán (kg) 19.013 20.914 23700 25.862 35.299 3. Lợi nhuận (kg) 1.868 623 920 148 2.787 4. Tổng Lợi nhuận (triệu đồng) 10.238 3.385 711 698 14.955 - - 5. Tổng Thu nhập (triệu đồng) 104.222 113.696 18.323 121.772 189.390 - - 6. % Tổng Lợi nhuận 34,1% 11,3% 2,4% 2,3% 49,9% 0,0% 0,0% 7. % Tổng Thu nhập 19,0% 20,8% 3,3% 22,2% 34,6% 0,0% 0,0% 1. Sản lượng (tấn) 28.889 25.537 2.470 16.944 14.770 1.217 15.005 2. Giá bán (kg) 19.013 20.914 23.700 25.862 35.378 29.600 38.103 3. Lợi nhuận (kg) 1.868 623 920 148 1.660 529 1.083 4. Tổng Lợi nhuận (triệu đồng) 53.956 15.903 2.272 2.512 24.515 643 16.248 5. Tổng Thu nhập (triệu đồng) 549.269 534.083 58.539 438.211 522.531 36.023 571.743 6. % Tổng Lợi nhuận 46,5% 13,7% 2,0% 2,2% 21,1% 0,6% 14,0% 7. % Tổng Thu nhập 20,3% 19,7% 2,2% 16,2% 19,3% 1,3% 21,1% Chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - tỉnh Đồng Tháp - Nội địa Chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - tỉnh Đồng Tháp - Xuất khẩu Chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - tỉnh Đồng Tháp (bao gồm cả nội địa và xuất khẩu) Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Bảng 3.24 Phân tích tổng hợp kinh tế chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp Nhìn chung, cơ cấu phân phối lợi nhuận khá tập trung vào khâu thương mại sản phẩm, phân phối ít vào khâu sản xuất, chế biến. Như DN XK chiếm 21,1%, TL chiếm 13,7%, Chợ NT là 14%, trong khi đó VN, LS chiếm tỷ lệ khoảng 2%.
  • 67.
    67 Trong cơ cấuchi phí, ta thấy: TL, DN XK và NH có vốn đầu tư lớn, mỗi tác nhân chiếm 20% tổng phí đầu tư, đây là những tác nhân thâm dụng vốn đầu tư sản xuất kinh doanh cao – vì vậy, đến 80% số NH có vay vốn ngân hàng. Bảng 3.25 Cơ cấu chi phí, lợi nhuận, thu nhập chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp NH TL LS VN DN XK Chợ TT Chợ NT Cơ cấu chi phí Nội địa Giá trị 401.329 407.869 38.656 314.625 279.290 35.380 555.495 Tỷ trọng 19,7% 20,1% 1,9% 15,5% 13,7% 1,7% 27,3% Xuất khẩu Giá trị 93.984 110.311 17.612 121.074 174.435 0 0 Tỷ trọng 18,2% 21,3% 3,4% 23,4% 33,7% 0,0% 0,0% Toàn chuỗi Giá trị 495.313 518.180 56.267 435.699 498.017 35.380 555.494 Tỷ trọng 19,1% 20,0% 2,2% 16,8% 19,2% 1,4% 21,4% Cơ cấu Lợi nhuận Nội địa Giá trị 43.718 12.518 1.561 1.814 3.198 643 16.248 Tỷ trọng 54,9% 15,7% 2,0% 2,3% 4,0% 0,8% 20,4% Xuất khẩu Giá trị 10.238 3.385 711 698 14.955 0 0 Tỷ trọng 34,1% 11,3% 2,4% 2,3% 49,9% 0,0% 0,0% Toàn chuỗi Giá trị 53.956 15.903 2.272 2.512 24.515 643 16.248 Tỷ trọng 46,5% 13,7% 2,0% 2,2% 21,1% 0,6% 14,0% Cơ cấu thu nhập chuỗi giá trị nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp Nội địa Giá trị 445.047 420.387 40.216 316.439 282.488 36.023 571.743 Tỷ trọng 21,1% 19,9% 1,9% 15,0% 13,4% 1,7% 27,1% Xuất khẩu Giá trị 104.222 113.696 18.323 121.772 189.390 0 0 Tỷ trọng 19,0% 20,8% 3,3% 22,2% 34,6% 0,0% 0,0% Toàn chuỗi Giá trị 549.269 534.083 58.539 438.211 522.531 36.023 571.743 Tỷ trọng 20,3% 19,7% 2,2% 16,2% 19,3% 1,3% 21,1% Cơ cấu chi phí, lợi nhuận Hình 3.7 Cơ cấu lợi nhuận, chi phí của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị
  • 68.
    68 Ghi chú: Tínhtheo sản lượng của 1 kg trái nhãn tươi đi qua từng tác nhân Tính cho 1 kg trái nhãn tươi thì cơ cấu trong chi phí đầu tư, thì Chợ TT và VN chiếm 15%, còn lại các tác nhân khác chiếm 14%. Cơ cấu lợi nhuận, ta thấy NH chiếm 27%, DN XK 24%, Chợ NT 16%, LS 14%, TL 9%, Chợ TT 8% , VN là 2% lợi nhuận (Hình 3.7). Cơ cấu chi phí đầu tư Với kênh nội địa thì cao nhất Chợ NT là 27%, NH 20% thấp nhất là LS và Chợ TT 2%. Kênh xuất khẩu cao nhất là DN XK 34%, VN 23%. Tính chung cho toàn chuỗi thì thì Chợ NT là 22%, TL 20%, DN XK và NH là 19%, VN 17% và LS là 2% (Bảng 3.25). Ta thấy việc đầu tư chi phí cho 1 kg trái khá đồng đều, nhưng sản lượng đi qua từng tác nhân khác nhau nên mức đầu tư chi phí cũng khác nhau cho từng kênh nội địa, xuất khẩu và toàn bộ chuỗi. Hình 3.8 Cơ cấu chi phí chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp Cơ cấu phân phối lợi nhuận Ta thấy rằng: NH, DN XK, TL chiếm tỷ lệ cao nhất qua các kênh xuất khẩu. Riêng DN XK và TL đã chiếm 60%, theo hướng phân phối lợi nhuận toàn bộ kênh. NH tuy chiếm tỷ lệ lợi nhuận cao, nhưng do chưa đưa chi phí sử dụng đất đai vào sản xuất, nếu tính theo đơn giá thuê đất thực tế sẽ lỗ (Bảng 3.25).
  • 69.
    69 Hình 3.9 Cơcấu lợi nhuận chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp Cơ cấu phân phối thu nhập Việc phân phối thu nhập giữa các tác nhân chưa đồng đều, tham gia chuỗi giá trị với 5.489 hộ, sản lượng 28.889 tấn, chiếm 20% thu nhập, như vậy, NH có thu nhập là rất thấp. DN XK có ưu thế trong phân phối thu nhập đến 19% khi mà sản lượng xuất khẩu là 5.365 tấn và có xu hướng tăng lên. LS chiếm tỷ trọng thấp do sản lượng sản xuất kinh doanh là 2.470 tấn trái, chiếm 2% tổng thu nhập. VN với việc cung ứng sản lượng 16.944 tấn, chiếm 16% tổng thu nhập. Chợ NT góp phần tiêu thụ sản lượng 15.005 tấn , chiếm đến 21% tổng thu nhập. Chợ TT với quy mô tiêu thụ ít sản lượng 1.217 tấn, nên thu nhập là 2%. Hình 3.10 Cơ cấu phân phối thu nhập chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò–Đồng Tháp 3.2.3.2 Phân tích, đánh giá chỉ số giá trị gia tăng, lợi thế so sánh Ta thấy, phí trung gian dùng để mua nguyên liệu đầu vào sản xuất qua các tác nhân với 15 kênh tiêu thụ khác nhau thể hiện qua chỉ số P/IC. Với tác nhân NH, chỉ số P/IC là 3,5 là khá, đây là chỉ số lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh của ngành hàng, trong việc sử dụng các nguồn lực sẳn có như đất đai, tài nguyên lao động và nguồn vốn.
  • 70.
    70 Chi phí cơhội của nhân tố sản xuất mặt hàng này khó thay thế bởi một nhân tố sản xuất mặt hàng khác gần nhất, như ngành hàng xoài – Đồng Tháp ước tính là P/IC ≈ 2,58 với canh tác theo cách truyền thống, với ngành hàng lúa gạo thường xuất khẩu theo canh tác truyền thống với DRC là 0,98…(Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp – trang 89, 182). Các chỉ số P/IC, VA, IC của từng tác nhân đã cho cho thấy việc sản xuất và thương mại sản phẩm, chủ yếu sử dụng nguồn lực nội tại của Đồng Tháp như đất đai, lao động và vốn, ít phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài. Tổng giá trị gia tăng toàn ngành hàng là 681.571 triệu đồng, trong đó, NH là 393.918 triệu đồng, chiếm 57,6%, TL là 43.084 triệu đồng, chiếm 6,3%, LS là 10.878 triệu đồng, chiếm 1,6%, VN là 47.058 triệu đồng, chiếm 6,9%, DN XK là 124.878 triệu đồng, chiếm 18,3%, chợ TT là 4.101 triệu đồng, chiếm 0,6% và Chợ NT là 58.655 triệu đồng chiếm 8,6% tổng giá trị gia tăng. Giá trị lao động NH là cao nhất lên đến 8.921đồng/kg, chiếm 59,5% giá trị lao động toàn chuỗi, chi phí này chủ yếu là phí cơ hội của lao động trồng nhãn. Tuy nhiên việc sử dụng lao động vẫn đạt thấp 0,6 lao động gia đình và 0,62 lao động thuê mướn tại địa phương, với mỗi hộ gia đình là 2 lao động chính thì dôi dư lao động gần 0,8 lao động/hộ. Bảng 3.26 Tổng hợp giá trị gia tăng từng tác nhân Đơn vị tính: Vnđ Tác nhân Khoản mục NH TL LS VN DN XK Chợ TT Chợ NT Giá bán 19.013 20.914 23.700 25.862 35.378 29.600 38.103 Chi phí trung gian 5.412 19.227 19.296 23.085 26.923 26.231 34.194 Giá trị gia tăng 13.601 1.687 4.404 2.777 8.455 3.369 3.909 Giá trị gia tăng thuần 1.868 623 920 148 1.660 529 1.083 P/IC 3,5 1,1 1,2 1,1 1,3 1,1 1,1 Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Ghi chú: Tính theo sản lượng của 1 kg trái nhãn tươi (Qui đổi: 15 tươi: 1 sấy)
  • 71.
    71 Tình hình nàyđặt ra vấn đề cần rút lao động từ nông nghiệp, nông thôn sang các ngành nhề khác theo định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp đến 2020 tầm nhìn 2030. Bảng 3.27 Phân tích một số chỉ tiêu chi phí chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp NH TL LS VN DN XK Chợ TT Chợ NT Hao hụt % Sản lượng 2% 2% 12% 2,14% 19% 22% Tỷ trọng (%) Lao động Giá trị lao động (Vnđ) 8.921 453 287 1.775 1.420 1.200 946 Tỷ trọng (%) 59,5% 3,0% 1,9% 11,8% 9,5% 8,0% 6,3% Chi phí tài chính Giá trị (Vnđ) 689 207 34 206 299 441 603 Tỷ trọng (%) 27,8% 8,4% 1,4% 8,3% 12,0% 17,8% 24,3% Chi phí vận chuyển Giá trị (Vnđ) 261 379 - 143 1.817 - - Tỷ trọng (%) 10,0% 14,6% 0,0% 5,5% 69,9% 0,0% 0,0% Khấu hao Giá trị (Vnđ) 636 7 139 9 997 30 50 Tỷ trọng (%) 34,0% 0,4% 7,4% 0,5% 53,4% 1,6% 2,7% Ghi chú: Tính theo sản lương của 1 kg trái, tỷ lệ qui đổi: 15 kg tươi: 1 kg sấy Chi phí vận chuyển và chi phí tài chính là khá cao, làm giảm khả năng cạnh tranh khi phải vận chuyển xa để tiêu thụ và chiến lược đầu tư sản xuất kinh doanh trong thời gian dài đòi hỏi vốn nhiều, bên cạnh khấu hao tài sản khá thấp, ngoài trừ trong giai đoạn trồng mới nhằm đạt năng suất, chất lượng cao trong tương lai. Hình 3.11 Biểu giá trị gia tăng, giá trị lao động từng tác nhân – 1 kg nhãn quy đổi
  • 72.
    72 Tỷ lệ haohụt qua toàn chuỗi là 25%, là tỷ lệ khá cao đòi hỏi phải có chiến lược rút ngắn thời gian đưa hàng hóa sản xuất đến tiêu thụ, đẩy mạnh hoạt động sơ chế biến để giảm tỷ lệ hao hụt này. Giá trị gia tăng từng tác nhân tham gia chuỗi, ta thấy, NH và DN XK có giá trị gia tăng tạo ra cao nhất, còn TL nằm ở vùng đáy của chuỗi giá trị, vị trí tạo ra ít giá trị gia tăng nhất. Giá trị lao động từng tác nhân tham gia chuỗi, ta thấy NH là tác nhân thâm dụng lao động nhiều nhất, kế đến tác nhân là VN (Hình 3.8). Đối với lợi nhuận của từng tác nhân tham gia chuỗi, ta thấy lợi nhuận cao nhất là NH và DN XK, còn tác nhân VN nằm ở vùng đáy biểu đồ lợi nhuận. Tình Chi phí đầu tư, ta thấy, VN có chi phí đầu tư cao nhất, kế đến là Chợ TT, TL. Nhận thấy rằng về tình hình chi phí, lợi nhuận DN XK có mức đầu tư chi phí thấp nhưng có mức lợi nhuận cao (Hình 3.12). Hình 3.12 Biểu đồ chi phí, lợi nhuận của từng tác nhân – tính 1 kg trái 3.2.3.3 Phân tích chi phí, lợi nhuận và sự đóng góp vào giá bán Để làm cơ sở cho việc đánh giá mức đóng góp vào giá bán đến người tiêu dùng, ta tiến hành phân tích từng kênh tiêu thụ riêng biệt toàn chuỗi (Bảng 3.28). Ta thấy, về xuất khẩu thì kênh 1 nhãn tươi và kênh 4 nhãn sấy, về nội địa, kênh 7 nhãn tươi, kênh 6 nhãn sấy có GTGT cao, khả năng sinh lợi nhuận lớn. Mức hiệu quả kinh tế khá cao, cần được khuyến khích thực hiện trong thời gian tới. Kênh 13 tiêu dùng nội tỉnh có chức năng quảng bá sản phẩm đến với du khách đến tỉnh và là thị trường tiêu dùng truyền thống của nông dân.
  • 73.
    73 TT Kênh GTGTNPr Sản lượng 1 K7 (NH-TL-VN-DN XK-Chợ NT) 29.074 7.714 5.569 2 K2 (NH-TL-LS-DN XK - XK) 28.147 (3.897) 510 3 K1 (NH-TL-VN-DN XK - XK) 27.420 4.854 4.247 4 K10 (NH-VN-DN XK - Chợ NT) 27.386 9.945 481 5 K4 (NH - LS - DN XK - XK) 26.460 4.440 241 6 K6 (NH - LS - DN XK - Chợ NT) 26.250 3.504 1.097 7 K3 (NH -VN - DN XK - XK) 25.733 5.619 367 8 K5 (NH - LS - DN XK - Chợ NT) 24.563 3.896 518 9 K8 (NH - TL- VN- Chợ NT) 21.823 181 2.871 10 K12 (NH - TL - VN - Chợ TT) 21.435 (572) 240 11 K9 (NH - VN - Chợ NT) 20.136 2.412 248 12 K14 (NH - VN Chợ TT) 19.748 1.659 21 13 K11 (NH - TL - Chợ NT) 18.657 3.892 4.223 14 K13 (NH - TL - Chợ TT) 18.657 3.892 558 15 K15 (NH - Chợ TT) 16.970 5.133 398 Bảng 3.28 Tổng hợp giá trị gia tăng, lợi nhuận qua các kênh tiêu thụ Ghi chú: Tính cho 1 kg trái nhãn (qui đổi 15 kg nhãn tươi : 1 kg nhãn sấy) Kênh 1 NH-TL-VN-DN XK xuất khẩu (sản lượng 4.247 Tấn) Để sản xuất kinh doanh 1 kg nhãn, TL đã chi bình quân 20.291 đồng mua sản phẩm đầu vào và phí tăng thêm là 3.146đồng, giá bán là 20.550đồng. VN đã chi 25.714đồng mua sản phẩm đầu vào và phí tăng thêm 5.423đồng. DN XK đã chi 35.028đồng mua sản phẩm đầu vào, phí tăng thêm 9.314đồng, giá bán 36.762đồng. Lợi nhuận NH thu được là 1.705đồng, chiếm 35,1%; TL là 259đồng, chiếm 5,3%. VN là 1.156đồng, chiếm 23,8%; DN XK là 1.735đồng, chiếm 35,7% tổng lợi nhuận. Sự đóng góp vào giá bán thì NH là 51,3%, TL: 4,6%, VN: 17,2%, DN XK: 26,9% vào giá bán kênh 1. Hình 3.13 Tỷ lệ chi phí tăng thêm, lợi nhuận, giá bán tiêu dùng – Kênh 1
  • 74.
    74 Tổng sản lượngtiêu thụ qua kênh là 4.247 tấn, chiếm 19,67% tổng sản lượng tiêu thụ, tổng doanh thu là 437,6 tỷ đồng, lợi nhuận kênh là 20,6 tỷ. Sự đóng góp vào giá bán cuối cùng, ta thấy 51,28% là NH, kế đến DN XK là 26,91%, tương ứng về giá trị tăng thêm NH là 48,95%, DN XK là 26,59%. Lợi nhuận thu được NH là 35%,12%, DN XK là 35,74%. Kênh 4 NH-LS-DN XK  Xuất khẩu (sản lượng 241 Tấn) Để sản xuất kinh doanh 1 kg nhãn, LS đã chi ra 17.145 đồng mua sản phẩm đầu vào và phí tăng thêm là 5.635đồng, chiếm tỷ lệ 16,7% tổng phí, giá bán là 23.700đồng. DN XK đã chi 33.718đồng mua sản phẩm đầu vào, phí tăng thêm 10.938đồng, chiếm 32,4% tổng phí, giá bán 35.378đồng. Lợi nhuận NH là 1.705đồng, chiếm 38,4%; LS là 920đồng, chiếm 20,7%; DN XK là 1.816đồng, chiếm 40,9% tổng lợi nhuận. Hình 3.14 Tỷ lệ chi phí tăng thêm, lợi nhuận, giá bán tiêu dùng – Kênh 4 Sự đóng góp vào giá bán cuối cùng, ta thấy 64,45% là NH, kế đến LS là 19,48%, tương ứng về phí tăng thêm NH là 50,85%, LS là 16,71%. Lợi nhuận thu được NH là 38,39%, LS là 20,72%. Ta thấy giá trị gia tăng và lợi nhuận của DN XK có cao hơn xét về mặt đóng góp vào giá bán. Tổng lượng tiêu thụ là 241 tấn, chiếm 1,12%, tổng doanh thu là 18,6tỷ đồng, lợi nhuận gần 1,1 tỷ. Kênh 6 NH – LS – DN XK – Chợ NT  nội địa (sản lượng 1.097Tấn)
  • 75.
    75 Để sản xuấtkinh doanh 1 kg nhãn, TL đã chi 20.291 đồng mua sản phẩm đầu vào và phí tăng thêm là 3.146đồng, chiếm 10,6% tổng phí tăng thêm, giá bán là 19.250đồng. LS đã chi 22.780đồng mua sản phẩm đầu vào, phí tăng thêm 2.489đồng, chiếm 8,4% tổng phí tăng thêm, giá bán 23.700đồng. DN XK chi 25.738 đồng, phí tăng thêm là 2.958đồng, chiếm 10,0%. Chợ NT chi 29.660đồng, phí tăng thêm 3.922đồng, giá bán 31.499đồng. Lợi nhuận NH là 1.705đồng, chiếm 48,6%; TL lỗ 1.041đồng; LS lãi 920 đồng, DN XK là 81đồng, Chợ NT là 18.40đồng, chiếm 52,5% tổng lợi nhuận. Ta thấy tuy TL lỗ 1.041đồng do bán trái nhãn chất lượng thấp hơn và chi phí được hoạch toán là bình quân, nhưng bù lại TL bán nhãn cho tác nhân khác có lãi. Hình 3.15 Tỷ lệ chi phí tăng thêm, lợi nhuận, giá bán tiêu dùng – Kênh 6 Sự đóng góp vào giá bán cuối cùng của chuỗi kênh 6, ta thấy 59,85% là NH, kế đến DN XK là 18,03%, tương ứng về chi phí tăng thêm NH là 57,81%, DN XK là 13,22%. Kênh 7 NH – TL – VN – DN XK  Xuất khẩu (Sản lượng 5.569 Tấn) Để sản xuất kinh doanh 1 kg nhãn, TL đã chi ra 20.291 đồng chi phí để mua sản phẩm đầu vào và chi phí tăng thêm là 3.146đồng, chiếm tỷ lệ 8,3% tổng chi phí tăng thêm, giá bán là 20.550đồng. VN đã chi 25.714đồng để mua sản phẩm đầu vào, chi phí tăng thêm 5.423đồng, chiếm 14,3% tổng chi phí tăng thêm, giá bán 26.870đồng. DN XK đã chi 31.055 đồng, chi phí tăng thêm là 5.341đồng chiếm 14,1%. Chợ NT chi 37.908đồng, chi phí tăng thêm 6.853đồng, giá bán
  • 76.
    76 38.900đồng. Lợi nhuậnNH là 1.705đồng, chiếm 22,1%; TL lãi 259đồng, chiếm 3,4%, DN XK là 3.603đồng, Chợ NT là 992đồng, chiếm 12,9% tổng lợi nhuận. Sự đóng góp vào giá bán cuối cùng, ta thấy 48,46% là NH, kế đến VN là 16,25%, tương ứng về chi phí tăng thêm NH là 45%, VN là 14%. Hình 3.16 Tỷ lệ chi phí tăng thêm, lợi nhuận, giá bán tiêu dùng – Kênh 7 Kênh 13 NH – TL – Chợ TT  tiêu dùng nội tỉnh (Sản lượng 558 Tấn) Tiêu thụ tại các chợ trong tỉnh, có tầm trọng trong việc tiêu thụ nông sản và quảng bá hình ảnh, thương hiệu trái nhãn cho du khách đến Đồng Tháp. Để sản xuất kinh doanh 1 kg nhãn, TL chi ra 20.291 đồng mua sản phẩm đầu vào và phí tăng thêm là 3.146đồng, chiếm 10,8% tổng phí tăng thêm, giá bán là 21.50đồng. Chợ TT chi 29.071đồng, phí tăng thêm 8.780đồng, giá bán 29.600đồng. Lợi nhuận NH là 1.705đồng, chiếm 43,8%; TL lãi 1.659đồng, chiếm 42,6%, Chợ TT là 529đồng, chiếm 13,6% tổng lợi nhuận. Hình 3.17 Tỷ lệ chi phí tăng thêm, lợi nhuận, giá bán tiêu dùng kênh 13
  • 77.
    77 Sự đóng gópvào giá bán cuối cùng của chuỗi kênh 13, ta thấy 63,7% là NH, kế đến là Chợ TT là 25,8%, tương ứng lợi nhuận 43,8% và 13,6%. 3.2.4 Quan hệ liên kết - chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp 3.2.4.1 Liên kết dọc Các tác nhân liên kết với nhau mang tính thời điểm, đứt đoạn cả trong quá trình sản xuất, chế biến và thương mại. Tác nhân của chuỗi chỉ có quan hệ trực tiếp với tác nhân cung cấp yếu tố đầu vào và tác nhân thu mua sản phẩm đầu ra. Phương thức mua và bán chủ yếu là thỏa thuận, cam kết miệng, không áp dụng cơ chế hợp đồng kinh tế. Thông thường việc mua bán do người mua nắm vai trò quyết định, cơ chế thỏa thuận có chiều hướng tăng nhưng chưa cao thường khoảng 30% tổng thương vụ mua bán. Liên kết giữa NH và TL là dạng liên kết tương đối chặt chẽ. Đa số NH có mối quan hệ mạng lưới với TL để ổn định đầu ra. Bên cạnh đó, hình thức quan hệ tại thời điểm vẫn chiếm số lượng tương đối, nhất là khi giá tăng, NH sẽ lựa chọn nơi bán để có lợi ích tài chính tốt nhất. Liên kết giữa TL với VN, LS chủ yếu dưới quan hệ mạng lưới và mức độ liên kết khá chặt, đôi khi cũng có quan hệ thời điểm. Liên kết giữa LS đến DN XK là liên kết chặt chẽ, VN với DN XK là chặt chẽ có mối quan hệ liên kết hỗ trợ về kỹ thuật sơ chế, phân loại và cung cấp bao bì…. Nhìn chung, liên kết giữa các tác nhân là khá lỏng lẻo, chưa mang tính hệ thống, không có xây dựng cơ chế để hỗ trợ rỏ ràng, chính sách giá áp dụng thường theo thời điểm và gần như là như nhau. Tuy nhiên, trong các quan hệ liên kết của mình, tác nhân thường có sự đa dạng hóa đầu vào và đầu ra. 3.2.4.2 Liên kết ngang Các quan hệ liên kết ngang giữa các tác nhân cùng nhóm nhưng chưa thật sự rỏ nét. Giữa các tác nhân có mối liên kết nhưng khá lỏng lẻo. Liên kết trong sản xuất chủ yếu là các hình thức thông qua đoàn thể Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ,… chỉ dừng ở việc hình thành THT, còn HTX chưa được thành lập. Liên kết giữa các TL, VN, LS chưa được hình thành vì tình trạng cạnh tranh trong thu mua vẫn diễn ra gay gắt, có thể phá giá lẫn nhau. Các hoạt động về giá, phân loại,
  • 78.
    78 chất lượng chưađược thống nhất, chưa khuyến khích người trồng áp dụng mô hình canh tác theo VietGAP, GlobalGAP . Bảng 3.29 Quan hệ liên kết - chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp Stt Liên kết giữa các tác nhân Dạng liên kết Mức độ chặt chẽ Phân bổ quyền lực: tác nhân quyết định 1 NH - TL Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới + +++ TL 2 NH - LS Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới + ++ LS 3 NH - VN Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới + ++ VN 4 NH – Chợ TT Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới + + Chợ TT 5 TL - LS Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới ++ ++ LS 6 TL – VN Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới ++ ++ VN 7 TL – Chợ TT Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới + + Chợ TT 8 TL – Chợ NT Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới + ++ Chợ NT 9 VN – DN XK Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới ++ +++ DN XK 10 VN – Chợ NT Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới + + Chợ NT 11 VN – Chợ TT Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới + ++ Chợ TT 12 LS – DN XK Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới +++ +++ DN XK 13 DN XK–ChợNT Quan hệ thời điểm Quan hệ mạng lưới ++ ++ DN XK Ghi chú: + liên kết lỏng lẻo; ++ liên kết chặt; +++ liên kết rất chặt
  • 79.
    79 3.3 Đánh giáthực trạng chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp 3.3.1 Những kết quả đạt được Kết quả đóng góp của toàn bộ các kênh tiêu thụ trái nhãn tiêu da bò là hết sức quan trọng cho nền kinh tế tỉnh Đồng Tháp, góp phần vào GDP của cả nước. Về khía cạnh tài chính, ngành hàng này đã tạo ra doanh thu là 2.710 tỷ đồng, chi phí trung gian là 2.028,8 tỷ đồng, giá trị gia tăng là 681,6 tỷ đồng, lợi nhuận cho các tác nhân tham gia chuỗi là 116 tỷ đồng. Trong đó, xã hội thụ hưởng dước các hình thức tiền lương, tiền công trực tiếp, gián tiếp là 338,5 tỷ đồng. Về khía cạnh hiệu quả kinh tế, chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò có năng lực cạnh tranh là khá tốt. Chỉ số P/IC>>1 và là khá cao, thể hiện hiệu quả sử dụng nguồn lực tại địa phương như đất đai, lao động và vốn, chỉ số VA/IC, NPr/IC khá cao thể hiện hiệu quả đầu tư. 1 đồng đầu tư chi phí trung gian sẽ đem lại hiệu quả 0,34 đồng về giá trị gia tăng cho xã hội. Về khía cạnh lao động và việc làm thì đây là ngành hàng thâm dụng lao động lớn, chưa đòi hỏi trình độ tay nghề cao ở các công đoạn trồng, chăm sóc, thu gom và vận chuyển. Hầu hết lao động là người địa phương có thu nhập thấp, có thể khẳng định vai trò rất lớn đối với việc tạo ra công ăn việc làm và đảm bảo sinh kế cho người dân địa phương nhằm kéo tỷ lệ thất nghiệp tại địa phương xuống thấp. Stt Khoảnmục Tác nhân P IC VA L NPr P/IC VA/IC NPr/IC NPr/P 1 NH 549,3 156,4 392,9 257,7 54,0 3,51 2,51 0,35 9,8% 2 TL 534,1 491,0 43,1 11,6 15,9 1,09 0,09 0,03 3,0% 3 LS 58,5 47,7 10,9 3,1 2,3 1,23 0,23 0,05 3,9% 4 VN 438,2 391,2 47,1 30,1 2,5 1,12 0,12 0,01 0,6% 5 DN XK 522,5 397,7 124,9 20,4 24,5 1,31 0,31 0,06 4,7% 6 Chợ TT 36,0 31,9 4,1 1,5 0,6 1,13 0,13 0,02 1,8% 7 Chợ NT 571,7 513,1 58,7 14,2 16,2 1,11 0,11 0,03 2,8% 2.710,4 2.028,8 681,6 338,5 116,0 1,34 0,34 0,06 4,3% Bảng 3.30 Hoạch toán của từng tác nhân - chuỗi giá trị Tổng cộng
  • 80.
    80 3.3.2 Những tồntại và nguyên nhân 3.3.2.1 Đối với sản xuất, sơ chế biến, đa dạng hóa sản phẩm - Quy mô sản xuất còn nhỏ, manh mún, diện tích canh tác dưới 1ha chiếm đến 62% tổng mẫu khảo sát, diện tích canh tác bình quân cho NH là 0,65ha/hộ. - Việc sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng còn hạn chế, hơn 65% diện tích chưa áp dụng ViệtGAP, GlobalGAP…Thiếu hẳn vai trò liên kết cùng hỗ trợ nhau và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. - Sản phẩm trái nhãn chưa phong phú để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng. Hiện tại, chỉ cung ứng ra thị trường 2 sản phẩm là sản phẩm trái nhãn tươi và nhãn sấy. - Tổ chức bộ máy để hỗ trợ cho sản xuất, phát triển sản phẩm, xuất khẩu cũng như việc hỗ trợ nâng liên kết trong chuỗi trái nhãn chưa được đầu tư và hoạt động hiệu quả, cũng như mong đợi, nên rất khó khăn nhân rộng mô hình các THT/HTX sản xuất theo hướng VietGAP và GlobalGAP. - Thiếu các cơ sở phục vụ ngay sau khi thu hoạch: Hệ thống kho lạnh, sơ chế biến, bảo quản tại chổ so với nhu cầu, khiến việc vận chuyển đi xa làm ảnh hưởng đến chất lượng xuất khẩu, cũng như tiêu thụ trong nướv. Hiện tại tỷ lệ hao hụt này 25% tổng lượng sản xuất là khá cao. 3.3.2.2 Đối với lưu thông, phân phối và tiêu thụ sản phẩm - Hệ thống thông tin thị trường còn chưa phát triển. Phần lớn dựa vào thông tin về giá từ TL chiếm đến 63,1%, NH bán sản phẩm trước là 57% và định giá bán thường do TL quyết định đến 71%, hai bên thỏa thuận chỉ là 21,7%. - Thị trường tiêu thụ nước ngoài còn quá lệ thuộc vào Trung Quốc chiếm đến gần 85% sản lượng, xuất sang Mỹ rất ít khoảng 1%. - DN XK chưa nhiều, rất ít và chưa khẳng định là doanh nghiệp đầu tàu trong chuỗi ngành hàng. Doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng cùng lúc và trái nhãn chiếm khoảng dưới 15% tổng lượng xuất khẩu.
  • 81.
    81 - Các hìnhthức liên kết dọc giữa các tác nhân trong chuỗi hầu như chưa phát triển mạnh và chưa hệ thống. DN XK chưa thật sự có liên kết với NH, TL và các tác nhân khác như VN, LS còn khá lỏng lẽo. - Hệ thống hạ tầng hỗ trợ cho xuất khẩu còn thiếu và yếu. Xuất khẩu chủ yếu bằng tiểu ngạch, thường ứ đọng tại các cửa khẩu xuất sang Trung Quốc diễn ra khá phổ biến. - THT/HTX chưa phát triển, đóng vai trò của pháp nhân tham gia ký kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm. ---------oOo---------
  • 82.
    82 TÓM TẮT CHƯƠNG3 Từ kết quả khảo sát thu nhận được, kết hợp với phân tích kinh tế qua các số liệu về hoạch toán chi phí, lợi nhuận và giá trị gia tăng, phân phối lợi ích cho toàn chuỗi. Đề tài đã đánh giá đúng thực trạng về những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế của chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – tỉnh Đồng Tháp. Tiến hành đánh giá quản trị chuỗi, sự tham gia vận hành chuỗi từ những liên kết ngang và liên kết dọc giữa các tác nhân tham gia. Với việc đánh giá lợi thế so sánh thông qua chỉ số kinh tế như P/IC, VA/IC của ngành hàng trái nhãn tiêu da bò, cho thấy mức độ thâm dụng lao động, sử dụng tài nguyên đất đai, lao động và vốn, ít phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài, với chỉ số P/IC ở mức 3,5 là mức khá trong ngành hàng nông sản của tỉnh Đồng Tháp, thể hiện được mức độ thu nhập của NH trên một đơn vị diện tích ở mức cao. Đóng góp về khía cạnh kinh tế, tổng doanh thu là 2.710 tỷ đồng, lợi nhuận 116 tỷ đồng, giá trị gia tăng là 685 tỷ đồng. Sản lượng sản xuất là 28.889 tấn. Sản lượng tiêu thụ là: 21.588 tấn trái, trong đó, nội địa là 16.222 tấn, xuất khẩu là 5.365 tấn, hao hụt là 25%, tương đương 7.302 tấn trái. Tuy nhiên, việc phân phối thu nhập giữa các tác nhân tham gia chuỗi chưa đồng đều so với việc đầu tư chi phí đã bỏ ra, cũng như giá trị gia tăng được tạo ra tại mỗi tác nhân tham gia. Tất cả những điều đó chính là nền tảng cho những chiến lược, giải pháp ưu tiên sẽ được đề xuất ở chương 4, trên cơ sở kết hợp phân tích SWOT và định hướng giải pháp phát triển trong đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp - Đồng Tháp giai đoạn đến 2020 và tầm nhìn 2030. ---------oOo---------
  • 83.
    83 CHƯƠNG 4 MỘT SỐGIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRÁI NHÃN TIÊU DA BÒ– ĐỒNG THÁP Trên cơ sở phân tích thực tế từ chương 3, chương này là những đề xuất chiến lược cùng các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm góp phần phát triển bền vững chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp. 4.1 Định hướng phát triển chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò –Đồng Tháp. Căn cứ vào Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020 tầm nhìn 2030, trong thời gian tới, việc phát triển chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò nói riêng, ngành nông sản của tỉnh Đồng Tháp nói chung, cần được triển khai dựa trên những định hướng sau đây: Mục tiêu: Phát triển ngành hàng trái nhãn tiêu da bò tỉnh Đồng Tháp thành ngành hàng nằm trong nhóm ngành hàng chiến lược của tỉnh theo hướng bền vững, có giá trị gia tăng cao. Cải tiến tổ chức và tăng quy mô sản xuất, áp dụng tiêu chuẩn GAP và các tiêu chuẩn kỹ thuật vững bền, đầu tư phát triển chế biến, bảo quản, vận chuyển, nâng cao chất lượng, khả năng tiếp thị và xây dựng thương hiệu của trái nhãn tiêu da bò tỉnh Đồng Tháp ở trong nước và thế giới. Định hướng thị trường: Ưu tiên các thị trường đã nhập khẩu trái nhãn như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ. Nghiên cứu kỹ các thị trường Châu Âu và Mỹ để tìm các phân khúc phù hợp cho trái nhãn Đồng Tháp, đặc biệt là phân khúc khách hàng là ngoại kiều Châu Á. Tổ chức xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm, xây dựng thương hiệu, nghiên cứu kênh phân phối, tìm đối tác kinh doanh. Trong nước, hình thành chương trình giới thiệu sản phẩm (tham gia hội chợ, biên soạn tài liệu quảng bá, giới thiệu, mở các cửa hàng giới thiệu và tiêu thụ sản
  • 84.
    84 phẩm. Cải tiếnphương thức, kỹ thuật sơ chế, bao gói và vận chuyển, tạo đột phá trong việc giảm mạnh hao hụt quá cao hiện nay. Phát triển vùng chuyên canh: Phát triển vùng chuyên canh, định hướng chuyển đổi giống chất lượng cao định hướng thị trường tiêu thụ với quy trình canh tác tiến bộ. Ứng dụng công nghệ thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch, hướng tới tăng tỷ trọng nhãn đạt chứng nhận chất lượng (VietGAP, GlobalGAP, có chiếu xạ, HACCP, ISO 14000, BRC,…) Đổi mới kinh tế hợp tác sản xuất – kinh doanh Hướng liên kết theo chiều dọc của chuỗi, tạo điều kiện ổn định vùng cung nguyên liệu, khả năng thu gom vận chuyển hợp lý, đa dạng hóa sản phẩm sơ, chế biến từ trái nhãn, hướng tới chủ động trong kinh doanh, bán sản phẩm tại thị trường trong nước và ký hợp đồng xuất khẩu. Bên cạnh, tăng cường khả năng dự báo, tiếp cận thông tin thị trường, xúc tiến thương mại và liên kết các doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu. 4.2 Phân tích ma trận SWOT - chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò - Đồng Tháp Từ các kết quả khảo sát định tính và định lượng, so sánh đối chiếu các kết quả nghiên cứu với các nguồn thông tin khác, các đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành hàng trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp được nhận định như sau: (Phụ lục 17) 4.2.1 Phân tích Điểm mạnh Sản xuất - Mức độ chuyên canh cây nhãn tiêu da bò tập trung cao với diện tích 3.776ha, cho phép tập trung thực hiện các chính sách đầu tư phát triển hiệu quả, có điều kiện khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng phù hợp với năng suất và chất lượng cao. - Đồng Tháp có những định hướng phát triển tái cơ cấu ngành nông nghiệp, các hệ thống chính sách hỗ trợ sẽ được tiếp tục ban hành. - Hoạt động tích cực của cơ quan khuyến nông, cơ quan xúc tiến thương mại tạo ra sự hỗ trợ tích cực cho các tác nhân trong chuỗi, giúp nhận thức và thúc đẩy hoạt động hỗ trợ sản xuất gắn kết với sự phát triển đang được thực hiện.
  • 85.
    85 - Với truyềnthống canh tác lâu năm, người trồng nhãn giàu kinh nghiệm là thuận lợi cho việc truyền đạt, học hỏi kinh nghiệm giữa các tác nhân, có khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật, thâm canh hóa sản xuất để tăng năng suất và chất lượng. - Đồng Tháp hiện đang xúc tiến tìm kiếm và lai ghép giống có năng suất và chất lượng cao, thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, ngành nông nghiệp hỗ trợ về khoa học công nghệ tạo ra năng suất cao. Sản phẩm và kênh phân phối sản phẩm Nhu cầu của thị trường, đặc biệt thị trường xuất khẩu đang hứa hẹn như Mỹ, Châu Âu bên cạnh thị trường truyền thống xuất khẩu như Trung Quốc, vị thế cho sản phẩm là rất cao. Đặc biệt là sự gắn kết với thị trường nội tỉnh và thị trường tiêu thụ tại TP HCM. Nhân lực: Nguồn nhân lực của tỉnh có số lượng lớn, có kinh nghiệm, chi phí nhân công tương đối rẻ so với mặt bằng giá lao động hiện tại. 4.2.2 Phân tích Điểm yếu Sản xuất - Trái nhãn tiêu da bò nói riêng và ngành hàng trái nhãn nói chung đã bắt đầu nhận được sự hỗ trợ từ nhà nước cho các dự án phát triển ngành. Chiến lược phát triển toàn diện về ngành nông nghiệp nói chung và cho trái trái nhãn tiêu da bò đang trong bước đầu tiến hành nên chưa thực sự mang lại hiệu quả và sự hưởng ứng từ các tác nhân. - Cây nhãn cũng phải cạnh tranh rất nhiều với nhiều loại hình trồng trọt khác và cây nhãn các tỉnh, thành khác. Nhất là thời gian gần đây, đứng trước sự bấp bênh của giá, dịch bệnh chổi rồng và lợi ích trước mắt, diện tích canh tác toàn tỉnh có hướng không tăng và khả năng mở rộng quy mô canh tác là rất thấp. - Thói quen trồng dày cũng có thể hạn chế tiềm năng năng suất và rút ngắn chu kỳ khai thác kinh doanh hiệu quả.
  • 86.
    86 - Trước kia,người dân có thói quen mua cây giống giá rẻ, trôi nổi, áp dụng tiến bộ khoa học về giống chậm cũng phần nào làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng chưa đồng đều ở thời điểm hiện tại Sản phẩm và kênh phân phối sản phẩm - Các tác nhân trong toàn chuỗi chưa quan tâm đến đầu tư chất lượng đồng bộ hay tạo ra thêm giá trị gia tăng cho chuỗi bằng những sản phẩm phụ hay sự liên kết, rút ngắn công đoạn để giảm bớt chi phí. - Thời gian bảo quản trái nhãn tiêu da bò trong điều kiện tự nhiên khá ngắn. - Các sản phẩm từ trái nhãn tiêu da bò chưa được đa dạng hóa phù hợp với những phân khúc thị trường nhằm nâng cao giá trị kinh tế ngành hàng này. - Việc phát triển các sản phẩm phụ làm tăng giá trị gia tăng cho toàn chuỗi chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. - Kênh siêu thị chưa được khai thác, quan tâm đúng mức. Thương mại – Tiêu dùng - Đồng Tháp chưa có cơ chế điều tiết tài chính phù hợp để ổn định thị trường nguyên liệu. Biến động giá liên tục gây ra thiệt hại lớn cho ngành nói chung và trái nhãn nói riêng. - Sản phẩm trái nhãn tiêu da bò chưa được chú trọng xây dựng thương hiệu, nên chưa thật sự được chú ý từ khách hàng, để tạo thành thói quen chọn lựa của người tiêu dùng. - Quan hệ buôn bán chưa được xây dựng dựa trên nền tảng pháp lý nên chưa đảm bảo nguồn cung ứng và chất lượng như mong đợi. - Các mối liên kết giữa các tác nhân lỏng lẻo, dễ bị phá vỡ bởi các mâu thuẫn lợi ích cá nhân. Hệ thống các tác nhân còn xa lạ với các cơ chế liên kết trong chuỗi giá trị, dẫn đến hệ quả khó xây dựng vùng cung sản phẩm ổn định. - Chưa tận dụng công nghệ thông tin trong việc quảng bá thương hiệu để tiếp cận và kích thích nhu cầu của người tiêu dùng. - Chưa tổ chức tốt các kênh thông tin về giá cả thị trường cho các tác nhân trong chuỗi.
  • 87.
    87 Công nghệ - Vaitrò của cơ quan nghiên cứu còn hạn chế trong việc phổ biến áp dụng các kỹ thuật mới cho nông dân. Các cơ quan nghiên cứu chưa tạo ra những đột phá trong công nghệ trồng nhãn, hoặc công nghệ trồng trọt hiện đại chưa được phát triển, chưa đầu tư nghiên cứu, tìm hiểu về quy trình chế biến đa dạng hóa sản phẩm trái nhãn. - Thâm canh vườn nhãn chỉ mới được áp dụng bước đầu và còn nhiều chênh lệch về trình độ sản xuất của nông dân đối với thâm canh phát triển. Vốn - Hiện nay, việc hỗ trợ vay vốn cho nông dân đầu tư trồng mới và cải tạo vườn nhãn đã được quan tâm nhưng tâm lý người dân ngại vay và muốn duy trì thu nhập từ vườn nhãn hiện có hơn là chờ đợi vài năm để thu hoạch từ đầu tư mới. - Kinh phí chưa đủ mạnh để thực hiện chương trình đầu tư phát triển toàn diện ngành hàng để tạo ra năng lực cạnh tranh mới và bảo đảm sự phát triển bền vững của trái nhãn tiêu da bò trong nhiều năm tới. 4.2.3 Phân tích Cơ hội - Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để đưa sản phẩm trái nhãn tiêu da bò đến tay người tiêu dùng nước ngoài thông qua thế mạnh của sản phẩm mình. Đồng thời, sự cạnh tranh lành mạnh cũng là cơ hội khẳng định và hoàn thiện hơn trên thị trường, tạo điều kiện cho thương mại sản phẩm dễ dàng hơn. - Nhà nước bắt đầu có những chú trọng đến vai trò của ngành hàng trái nhãn và có các chính sách hỗ trợ cụ thể. - Sự phát triển của xã hội, cùng với nhu cầu về trái cây tươi, trong đó, có trái nhãn dùng làm thức ăn tăng cao và các sản phẩm khác được chế biến từ trái nhãn đang hứa hẹn thị trường tiềm năng rộng lớn. 4.2.4 Phân tích Nguy cơ Biến đổi khí hậu trong dài hạn, mực nước dân cao có thể nhấn chìm nhiều diện tích vườn nhãn, chủ yếu nằm ven sông Tiền, vùng bãi bồi, có thể tác động giảm quy mô canh tác và năng suất. Sự manh mún nhỏ lẻ gây khó khăn trong quy
  • 88.
    88 hoạch phát triểnđể đạt được sản lượng và chất lượng đồng đều. Bên cạnh, Ý thức và thói quen trồng trọt, kinh doanh nhỏ, thiếu hợp đồng. Hiện tượng và vấn đề kiểm soát dịch bệnh mà chủ yếu là dịch bệnh chổi rồng ảnh hưởng bất lợi đến năng suất, sản lượng và chất lượng. Sự cạnh tranh từ các sản phẩm trái cây từ các tỉnh, thành khác. Bên cạnh, việc thiếu thông tin kịp thời về biến động giá cả thị trường tiêu thụ. 4.3 Các chiến lược đề xuất ứng với tình hình thực tế của chuỗi giá trị. 4.3.1 Chiến lược SO: Theo đuổi các cơ hội phù hợp với điểm mạnh 4.3.1.1 Phát triển vùng chuyên canh - đẩy mạnh thâm canh sản xuất Tăng đầu tư cải tạo vườn nhãn, thay thế vườn nhãn nhiều năm tuổi bằng giống chất lượng cao, nhằm nâng cao khả năng phòng trừ sâu bệnh hại và đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng khoa học kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc nhằm nâng cao năng suất trái, hiện mức 7,65tấn/ha là khá thấp so nhiều năm qua và khả năng tăng năng suất là có thể. Bên cạnh, áp dụng quy trình sản xuất theo hướng VietGAP, GlobalGAP nhằm đạt chất lượng đồng bộ cho vườn nhãn nhằm gia tăng giá bán sản phẩm và giảm tỷ lệ phế phẩm (hao hụt 25% là quá cao). Nghiên cứu giảm chi phí phân bón, thuốc BVTV hiện chiếm tỷ lệ 28% tổng phí sản xuất. 4.3.1.2 Tận dụng điều kiện cơ sở hạ tầng Với lợi thế về cơ sở hạ tầng đường xá ngày càng phát triển, hiện chi phí vận chuyển toàn chuỗi còn ở mức khá cao, cần tiến hành nghiên cứu phát triển và xây dựng mạng lưới thu mua vận chuyển hợp lý từ vùng cung ứng nguyên liệu, đến các tác nhân tham gia vận hành chuỗi và cung ứng thị trường tiêu thụ với chi phí vận chuyển cho mỗi chuyến hàng ngày càng giảm. Với số lượng hàng lớn, nghiên cứu chuyển đổi hình thức vận tải nhằm phát huy các Cảng Sa Đéc, cảng nước sâu Cần Thơ tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu bằng đường thủy thay vì đường bộ với chi phí cao. Cùng với việc rút ngắn được thời gian vận chuyển, tạo điều kiện cho thời gian bảo quản sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng, qua đó, đảm bảo được chất lượng hàng hóa và giảm lượng hao hụt hàng hóa.
  • 89.
    89 4.3.1.3 Quảng básản phẩm, xúc tiến thương mại Tuyên truyền về lợi ích của sản phẩm mang lại, qua các chợ đầu mối trái cây, siêu thị về trái nhãn tươi và các sản phẩm chế biến từ trái nhãn. Vận dụng công nghệ thông tin trong giới thiệu và quảng bá sản phẩm, đưa thông tin, hình ảnh về trái nhãn qua những trang mạng và các liên kết trình duyệt để sản phẩm tiếp cận và tạo nên thói quen tiêu dùng thường xuyên, cập nhật thông tin về sức khỏe và những nghiên cứu thực tế về tác dụng của trái nhãn,… 4.3.1.4 Đa dạng hóa sản phẩm Nhằm tăng cường khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ, khai thác khách hàng tiềm năng với những nhu cầu khác nhau. Doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu đa dạng hóa sản phẩm để người tiêu dùng biết đến sản phẩm. Điều này còn là sáng tạo để khẳng định thế đứng của mình trên thị trường. Một sản phẩm mới, chất lượng và tốt cho sức khỏe, mang lại nhiều giá trị dinh dưỡng cho khách hàng luôn là lựa chọn của những người tiêu dùng thông minh. Chính sự lựa chọn đó sẽ mang đến sự gia tăng giá trị, lợi nhuận cho toàn chuỗi. 4.3.2 Chiến lược WO: Khắc phục các điểm yếu để theo đuổi các cơ hội 4.3.2.1 Nâng chất lượng và năng suất Hạn chế trồng xen, trồng quá dày làm ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian cho trái. Đầu tư cải tạo vườn nhãn kém chất lượng, già cỗi bằng giống năng suất và chất lượng, áp dụng quy trình sản xuất khoa học, mang lại niềm tin về chất lượng sản phẩm cho người tiêu dùng. Chia sẽ kinh nghiệm trồng trọt sẵn có, trao đổi, học hỏi lẫn nhau, tìm kiếm và áp dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhằm giảm giá thành sản xuất. Bón phân và chăm sóc cây hợp lý: đa số người dân không bón phân theo yêu cầu kỹ thuật, chỉ bón phân theo khả năng kinh phí và kinh nghiệm của mình, làm giảm năng suất cho trái và chất lượng.
  • 90.
    90 4.3.2.2 Nâng caonhận thức các tác nhân tham gia chuỗi Tăng cường cung cấp thông tin thị trường, giúp các tác nhân nắm bắt thông tin thị trường đầy đủ, kịp thời. Kết quả phỏng vấn cho thấy thường giá là do thương lái quyết định, nông dân chỉ khảo sát giá từ các nông hộ trong khu vực, quyền lợi của người nông dân sẽ ít bị ảnh hưởng hơn khi có được những thông tin đầy đủ từ thị trường. Điều này đòi hỏi nông dân phải chủ động trong tìm kiếm thông tin và kết hợp với sự hỗ trợ từ cơ quan nhà nước thông qua các đoàn thể, tổ chức, hội khuyến nông, hội nông dân, các phương tiện truyền thông theo sự định hướng của các cơ quan chức năng, góp phần bảo vệ lợi ích cho người dân. Giúp người dân ý thức trong việc tránh chạy theo lợi ích, thiếu phân tích, tính toán kinh tế, ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài, rộng hơn là ảnh hưởng nguồn cung trong khi sản phẩm mới đầu tư lại chưa mang lại kết quả như mong đợi hoặc nếu có chỉ là trong ngắn hạn. 4.3.2.3 Thúc đẩy liên kết giữa các tác nhân Thiết lập liên kết dọc nhằm xây dựng vùng cung sản phẩm có sản lượng ổn định, chất lượng, góp phần quảng bá thương hiệu, định hướng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Mỹ, EU. Để đáp ứng được mục tiêu xuất khẩu sang thị trường khó tính này thì đòi hỏi rất nhiều tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh thực phẩm, chất lượng,…, thời gian qua tỉnh có hội thảo nghiên cứu công nghệ bảo quản trái cây xuất sang Châu Âu nhưng thành công chưa cao. Điều này cho thấy sự cần thiết phải đi vào thực hiện chiến lược liên kết dọc kết hợp với chiến lược ổn định, cải tạo, quy hoạch vườn nhãn, nâng chất lượng và năng suất đã đề cập ở trên. Bên cạnh đó, giảm được chi phí tìm kiếm thông tin, liên kết giá, giảm bớt các khâu trung gian không cần thiết hoặc cải tiến trong từng bước giúp nâng cao giá trị của toàn chuỗi. Liên kết ngang cần được phát triển, đặc biệt ở nhóm tác nhân sản xuất, từng bước áp dụng thống nhất về quy trình canh tác và giống nhờ vào hoạt động của các tổ chức đoàn thể, hội, vốn đã hình thành nhưng hoạt động chưa hiệu quả. Liên kết
  • 91.
    91 ngang này cóthể được xây dựng kết hợp với các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, chương trình đầu tư trồng mới, cải tạo thâm canh của cơ quan nông nghiệp. 4.3.3 Chiến lược WT: Xây dựng kế hoạch tránh mẫn cảm với tác động của thách thức 4.3.3.1 Đảm bảo nguồn cung sản phẩm Nâng cao ý thức cho người dân trong việc sản xuất, mua và bán như trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, cụ thể như việc chọn bán giá cao, chọn thời điểm mùa vụ,… nhưng chưa được quy hoạch, định hướng nguồn cung sản phẩm cho doanh nghiệp,… làm ảnh hưởng đến nguồn sản phẩm xuất khẩu theo lô hàng khi chưa đủ sản lượng, doanh nghiệp kéo giá lên cao, khi hết đợt xuất hàng, doanh nghiệp hạ giá xuống thấp. 4.3.3.2 Nâng cao năng lực phòng trị dịch bệnh Các cơ quan khuyến nông, bảo vệ thực vật cần nghiên cứu, cập nhật kiến thức mới, khoa học hiện đại, liên kết với các trường, viện nghiên cứu tổ chức nhiều lớp tập huấn, hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật nhằm giúp nắm bắt thông tin về giống, phòng trừ dịch bệnh là rủi ro đang gặp, nhất là dịch bệnh chổi rồng. Nếu có biện pháp phòng ngừa dịch bệnh hợp lý thì sẽ hạn chế được thiệt hại. Ngoài ra, cần tăng cường công tác cung cấp thuốc phòng dập dịch bệnh khi xảy ra. Qua đó, phát hiện và xử lý kịp tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng. 4.4 Giải pháp phát triển chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò Đồng Tháp Phân tích hiệu quả kinh tế chuỗi, ta thấy, mức lợi nhuận qua các kênh tiêu thụ có khác nhau, kênh 2 & 10 có lợi nhuận âm (lỗ) không khuyến khích phát triển. Kênh 10 có lợi nhuận cao, tuy nhiên sản lượng thấp (481 Tấn), do vậy tổng lợi nhuận không cao. Về kênh xuất khẩu, ta thấy, kênh 4 (sấy) có mức lợi nhuận 4.440đồng/kg và giá trị gia tăng 26.460đồng/kg và kênh 1(tươi) có lợi nhuận 4.854đồng/kg, giá trị gia tăng 27.420 đồng/kg là khá cao. Kênh nội địa, kênh 6&7 có mức lợi nhuận và giá trị gia tăng cao (Bảng 3.28), vì vậy cần khuyến khích phân phối tiêu thụ theo
  • 92.
    92 Chợ NT (20.034) NĐ 21.250 DN XK Cung cấp đầu vào: Giống ,phân thuốc bảo vệ thực vật, công cụ lao động, lao động Đầu vào Sản xuất Thu gom Sơ chế Thương mại Tiêu dùng Nông hộ 28.889 (Tấn) VN -12% 21.418 LS -2% 2.470 TL -2% 25.325 XK 751/1989 Tiến hành phân loại tiêu thụ : tươi – sấy Sơ chế biến, đa dạng hóa sản phẩm. Xúc tiến thương mại xuất khẩu Cải thiện giống. Chuẩn VietGap, GlobalGAP Đưa hàng vào siêu thị Kho lạnh bảo quản hướng này nhằm tăng sản lượng tiêu thụ. Kênh 13 là kênh tiêu thụ tại chợ tỉnh nhằm giới thiệu quảng bá sản phẩm. Như vậy, để phát triển bền vững chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp - 2020, ngoài giải pháp đã nêu, cần nghiên cứu sơ đồ chuỗi giá trị Hình 4.1. Hình 4.1 Sơ đồ chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò Đồng Tháp – 2020 (Sấy) 2.393 (Tươi) 20.976 - Trung tâm khuyến nông - Chi cục Bảo vệ thực vật - Viện Cây ăn quả Miền Nam Trung tâm xúc tiến thương mại Sở khoa học & công nghệ, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, cơ quan khoa học công nghệ khác Ngân hàng : Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Thương mại, Đầu tư và Phát triển, Chính sách xã hội,… Hệ thống quản lý Nhà nước về sản xuất, chế biến và thương mại Chợ TT (1.217)
  • 93.
    93 Từ sơ đồchuỗi giá trị hiện tại (Hình 3.1) với 15 kênh tiêu thụ khác nhau, trong đó, 4 kênh xuất khẩu và 11 tiêu thụ nội địa. Trên cơ sở đánh giá về khả năng tạo ra lợi nhuận và giá trị gia tăng, sơ đồ chuỗi giá trị trái nhản tiêu da bò tỉnh Đồng Tháp tầm nhìn đến 2020 với 5 kênh tiêu thụ: Bảng 4.1 Kênh tiêu thụ (phân phối) theo sơ đồ chuỗi giá trị đề xuất Kênh tiêu thụ Toàn huyện có 3.776 ha trồng nhãn, năng suất 7,65 tấn/ha. Tổng sản lượng trái nhãn 28.889 tấn trái nhãn tươi/năm. % Tổng sản lượng Tỷ lệ XK/NĐ Sản lượng (tấn/năm) Chưa hoa hụt Có hao hụt Chưa hao hụt Hao hụt Chưa hoa hụt Có hao hụt Sản lượng 1 NH-TL-VN-DN XK->XK (K1) 32,0% 27,1% 35% XK 5,1% 9.258 7.824 8.573 2 NH - LS - DN XK -> XK (K4) 2,7% 2,6% 787 751 3 NH-TL-VN-DN XK->Chợ NT (K7) 53,9% 35,5% 65% NĐ 19,9% 15.562 10.259 13.105 4 NH-LS-DN XK -> Chợ NT (K6 bỏ TL) 6,0% 5,6% 1.727 1.615 5 NH - TL - Chợ TT (K13) 5,4% 4,3% 1.556 1.235 Tổng cộng 100% 75% 25% 28.889 21.678 Với chiến lược phân phối tiêu thụ như trên và tỷ lệ hao hụt vẫn là 25% sản lượng, từ các số liệu phân tích hiện tại, ta tạm tính được giá trị gia tăng và giá trị gia tăng thuần như Bảng 4.2. Bảng 4.2 Tổng hợp giá trị gia tăng, lợi nhuận - chuỗi giá trị đến 2020 Tác nhân GTGT (Vnđ) NPr (Vnđ) Tổng GTGT Tổng NPr Hiện tại (Trđ) Sơ đồ đề xuất (Trđ) Hiện tại (Trđ) Sơ đồ đề xuất (Trđ) NH 13.601 1.868 392.918 392.918 53.956 53.965 TL 1.687 623 43.084 42.723 15.903 15.778 LS 4.404 920 10.878 10.878 2.272 2.272 VN 2.777 148 47.058 59.478 2.512 3.170 DN XK 8.455 1.660 124.878 209.828 24.515 41.169 Cho TT 3.369 529 4.100 4.100 643 643 Cho NT 3.909 1.083 58.655 72.000 16.248 19.948 Tổng cộng: 681.571 791.925 116.049 136.945
  • 94.
    94 Để mô hìnhchuỗi giá trị (Hình 4.1) phát huy hiệu quả, cần tiến hành thông tin rộng rãi về tiêu chuẩn chất lượng, phân loại sản phẩm tiêu thụ cho từng loại nhãn tươi hay nhãn sấy với mức giá cụ thể tại NH. 4.4.1 Giải pháp phát triển vùng chuyên canh, chất lượng cao Quy hoạch và tập trung phát triển vùng chuyên canh sản xuất nhãn tại Châu Thành và huyện Cao Lãnh với diện tích khá tập trung với chi phí sản xuất và năng suất vượt trội so các vùng khác (Bảng 4.3) do điều kiện về thổ nhưỡng và khả năng thâm canh sản xuất với chi phí khá cạnh tranh. Bảng 4.3 Diện tích, năng suất, chi phí canh tác - Nông Hộ Stt Huyện, Thị xã, thành phố Diện tích canh tác (ha) Diện tích (ha/hộ) Năng suất (Tấn/ha) Chi phí/ha (1.000đ) 1 Châu Thành 2.621,0 0,64 7,66 127.453 2 H. Cao Lãnh 809,0 0,74 7,70 128.124 3 Lấp Vò 110,0 0,60 7,35 132.256 4 Lai Vung 91,0 0,57 6,71 136.064 5 TP Sa Đéc 77,0 0,45 7,12 132.689 Bình quân 0,65 7,65 131.162 Nguồn: Kết quả khảo sát - 2015 Vai trò quan trọng trong giải pháp này là áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, ứng dụng quy trình sản xuất sạch theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, nhằm tạo sản phẩm chất lượng đồng đều định hướng thị trường tiêu thụ và bán với giá cao. Ưu tiên phát triển các mô hình liên kết trong sản xuất như THT, HTX giữa các NH nhằm giúp tăng quy mô sản xuất, khắp phục dần tình trạng sản xuất nhỏ lẻ manh múng với chi phí đầu vào cao và khó áp dụng cơ giới hóa. Với sản lượng vùng chuyên canh chất lượng cao gần 30.000tấn trái/năm, là vùng cung nguyên liệu ổn định để doanh nghiệp nâng cao năng lực tiếp cận thị trường, thương thảo giá cả, hướng tới chủ động trong kinh doanh, bán sản phẩm ra thị trường bằng việc ký kết hợp đồng xuất khẩu. Trước mắt, có thể thực hiện mô hình LS, VN như là cơ sở sơ chế biến trực thuộc DN XK để tăng cường khả năng cạnh tranh cho DN XK (Hình 4.1).
  • 95.
    95 4.4.2 Giải phápđa dạng hóa sản phẩm – định hướng thị trường tiêu thụ Từ thực tế nhìn thấy sản phẩm trái nhãn tiêu da bò khá đơn điệu, với 2 sản phẩm là nhãn tươi và nhãn sấy. Sự cần thiết của việc đa dạng hóa sản phẩm đầu ra cho trái nhãn đến với người tiêu dùng là bức thiết. Khi doanh nghiệp có được vùng cung nguyên liệu ổn định sẽ tạo điều kiện nghiên cứu sơ chế biến các sản phẩm như: sản phẩm nhãn đóng lon, thạch nhãn, kẹo nhãn, cơm nhãn đông lạnh, cooktail… cung cấp ra thị trường trong và ngoài nước nhằm gia tăng giá trị cho sản phẩm. Bên cạnh, từng bước đưa vào hệ thống bảo quản, xử lý sau thu hoạch giảm tỷ lệ hao hụt khi phân phối, trước mắt, Doanh nghiệp có thể nghiên cứu xây dựng kho đông lạnh nhằm bảo quản trái nhãn tươi dùng cho xuất khẩu. Bên cạnh việc phát triển kênh bán hàng truyền thống (chợ) với tỷ lệ hao hụt là 19-22%, nên phát triển hệ thống bán hàng hiện đại thông qua các kênh siêu thị với hệ thống đông lạnh sẽ giảm tỷ lệ hao hụt đáng kể. 4.4.3 Giải pháp về thương mại – phát triển thương hiệu Tăng cường xúc tiến thương mại, kết hợp giới thiệu sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng. Trong đó, tăng cường công tác giới thiệu và quảng bá sản phẩm, đưa thông tin, hình ảnh về trái nhãn tiêu da bò Đồng Tháp…tạo niềm tin cho người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm để giới thiệu với những người xung quanh. Trước mắt, từng bước hình thành và xác định từng loại, tiến hành dán nhãn sản phẩm để tất cả tác nhân tham gia trong chuỗi nhận biết và hướng đến giúp người tiêu dùng nhận diện sản phẩm. Cần tham gia vào các hoạt động du lịch nông nghiệp của tỉnh Đồng Tháp với các vườn nhãn nhằm quảng bá chất lượng, thương hiệu cũng như tiêu thụ trái nhãn tại chổ của khách du lịch. ---------oOo---------
  • 96.
    96 TÓM TẮT CHƯƠNG4 Trên cơ sở định hướng phát triển ngành hàng nhãn tiêu da bò nằm trong nhóm ngành hàng chiến lược của Đồng Tháp theo hướng bền vững, có giá trị gia tăng cao, với quy mô sản xuất đủ lớn, áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật vững bền theo hướng GAP, đầu tư phát triển chế biến, bảo quản, vận chuyển, khả năng tiếp thị và phát triển thương hiệu. Từ những kết quả đã phân tích tại chương 3, đề tài đi vào phân tích đánh giá những điểm mạnh, cơ hội cũng như tìm thấy được những thách thác và nguy cơ đối với trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp (Phụ lục 17). Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển bền vững chuỗi giá trị, đó là, những chiến lược nhằm theo đuỗi các cơ hội phù hợp với điểm mạnh, khắc phục điểm yếu và tránh mẫn cảm với tác động của những thách thức. Trước hết, giai đoạn đến 2020, đề tài đề xuất kênh phân phối tiêu thụ gồm 5 kênh theo Hình 4.1 với 3 giải pháp cơ bản đó là: Phát triển vùng chuyên canh, chất lượng cao; Đa dạng hóa sản phẩm – định hướng thị trường tiêu thụ bên cạnh giải pháp về thương mại – phát triển thương hiệu. Bên cạnh các chiến lược và giải pháp là việc đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hỗ trợ về quy hoạch và phát triển vùng chuyên canh chất lượng cao, đẩy mạnh công tác dự báo thông tin, tuyên truyền, tư vấn phát triển sản xuất, phân phối và thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển các liên kết ngang, liên kết dọc trên cơ sở tăng cường công tác quản trị chuỗi. ---------oOo---------
  • 97.
    97 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬNVÀ KIẾN NGHỊ Thực trạng chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp với với các tác nhân chính tham gia như: Nông Hộ, Thương Lái, Vựa Nhãn, Lò Sấy, Doanh nghiệp, Người bán lẻ tại chợ trong ngoài tỉnh thực hiện chức năng từ sản xuất, thu gom, sơ chế biến và cung ứng ra thị trường tiêu thụ. Bên cạnh các tác nhân hỗ trợ, thúc đẩy chuỗi là các cửa hàng vật tư nông nghiệp cung cấp phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, các cơ quan khuyến nông hỗ trợ kỹ thuật sản xuất, Ngân hang Nông nghiệp cung ứng vốn…. Với tổng sản lượng sản xuất là 28.889 tấn và 15 kênh tiêu thụ, trong đó 4 kênh xuất khẩu với 5.365 tấn và 11 kênh truyền thống 16.224 tấn, tỷ lệ hao hụt toàn chuỗi 25%. Mức đóng góp thu nhập 2.710 tỷ đồng, lợi nhuận 116 tỷ đồng và tạo giá trị gia tăng cho xã hội là 681,6 tỷ đồng. Cho thấy mức độ thâm dụng lao động, sử dụng tài nguyên đất đai và vốn ít phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài thể hiện chỉ số P/IC (Nông hộ) là 3,5 là mức khá trong ngành nông sản tỉnh Đồng Tháp. Tuy vậy, liên kết trong quan hệ thương mại giữa các tác nhân chưa chặt chẽ, chủ yếu dựa trên sự tin tưởng và thỏa thuận miệng, chưa chú trọng đến hợp đồng thương mại. Giải pháp phát triển bền vững chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp đòi hỏi Nông hộ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bên cạnh việc liên kết sản xuất thành vùng chuyên canh nhằm giảm chi phí, nâng cao chất lượng đạt chuẩn VietGAP, GlobalGAP để bán được giá cao. Cần tiến hành thông tin rộng rãi và phân loại sản phẩm trái nhãn ngay từ Nông hộ sản xuất để thu gom, chế biến và phân phối sản phẩm theo từng kênh tiêu thụ thích hợp nhằm nâng cao giá trị gia tăng và mức lợi nhuận. Doanh nghiệp cần nghiên cứu sơ chế biến đa dạng hóa sản phẩm cung ứng ra thị trường, nghiên cứu xây dựng kho đông lạnh và phát triển hệ thống bán hàng qua siêu thị nhằm giảm tỷ lệ hao hụt hiện ơ mức cao 25%. Bên
  • 98.
    98 cạnh đẩy mạnhhoạt động xúc tiến về thương mại, nghiên cứu và khai thác thị trường tiềm năng như EU và Mỹ trong tương lai. 5.1 Đóng góp của nghiên cứu Làm sáng tỏ và đánh giá đúng thực trạng, qua đó, cung cấp cơ sở dữ liệu khách quan độc lập về chuỗi giá trị trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp. Trong đó, nêu bật hiệu quả kinh tế, các giá trị đóng góp về mặt kinh tế, xã hội mà chuỗi mang lại, những tồn tại và nguyên nhân được tìm thấy trong quá trình phân tích chuỗi. Qua đó, đề xuất giải pháp phát triển chuỗi giá trị, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, định hướng phát triển bền vững. Góp phần vào việc thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Đồng Tháp đến 2020 và tầm nhìn 2030. Thông qua đề tài cũng muốn kêu gọi sự quan tâm hơn nữa của các tổ chức, các cơ quan chức năng thúc đẩy phát triển chuỗi nhằm tận dụng lợi thế sẵn có của trái nhãn – Đồng Tháp. Đồng thời các tác nhân cần chủ động và phát huy tinh thần chủ đạo phối hợp của mình trong việc phát triển và vận hành chuỗi. 5.2 Kiến nghị Quy hoạch vùng chuyên canh cây nhãn chất lượng cao tại huyện Châu Thành, Cao Lãnh, song song đó, xây dựng các chương trình tuyên truyền, vận động sâu rộng đối với người dân và các tổ chức cơ sở, xây dựng mô hình thí điểm về kinh tế hợp tác và liên kết chuỗi đa dạng để rút kinh nghiệm và nhân rộng nhằm thay đổi hành vi sản xuất theo hướng quy mô lớn, liên kết chuỗi trong sản xuất. Để tận dụng lợi thế của vùng, tạo nguồn cung sản lượng ổn định tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư đa dạng hóa sản phẩm, định hướng thị trường tiêu thụ. Đẩy mạnh công tác thông tin, nghiên cứu thị trường, tư vấn phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, đẩy mạnh tổ chức liên kết chuỗi đầu ra sản phẩm. Quản lý và khuyến khích phát triển Hiệp, Hội hoạt động hiệu quả nhằm tạo điều kiện hỗ trợ cho các tác nhân tham gia vận hành chuỗi, nhằm đảm bảo giá đầu ra cho sản phẩm. Đảm bảo cung cấp thông tin thị trường thông suốt đến từng tác nhân trong chuỗi.
  • 99.
    99 Tăng cường côngtác tư vấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cải thiện chất lượng giống, quy trình sản xuất, phòng trừ dịch bệnh. Nghiên cứu xử lý giảm thất thoát sau thu hoạch đến lưu thông, phân phối và tiêu dùng. Nghiên cứu quy trình bảo quản sản phẩm bảo đảm an toàn sức khỏe người tiêu dùng. Định kỳ tổ chức hội thảo “4 nhà” kịp thời tư vấn thông tin, trao đổi về tình hình sản xuất, khả năng cung ứng, dự báo thị trường tiêu thụ sản phẩm và tìm giải pháp phối hợp hiệu quả. 5.3 Hạn chế của nghiên cứu Hạn chế của đề tài theo quan điểm của tác giả: trước nay, các nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành hàng nông sản thường đi vào tổng quát toàn bộ chuỗi. Khi đi sâu vào phân tích riêng trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp chưa tìm ra được so sánh đối chuẩn phù hợp, trong khi so sánh đối chuẩn nên có trong quá trình phân tích chuỗi. Cũng như chưa đánh giá hiệu quả chuỗi giá trị ngành hàng trong môi trường các yêu tố có liên quan tác động ở tầm khu vực hay cả nước để toàn diện hơn. Bên cạnh, đề tài chưa đi vào phân tích các giá trị thương hiệu hay chỉ dẫn địa lý “trái nhãn tiêu da bò – Đồng Tháp” trên thị trường tiêu thụ. ---------oOo---------
  • 100.
    100 TÀI LIỆU THAMKHẢO Tài liệu trong nước 1. Đỗ Thị Đông. (2011). “Phân tích chuỗi giá trị và tổ chức quan hệ liên kết của các doanh nghiệp may xuất khẩu ở Việt Nam”. (Trang 9-40) 2. Trần Tiến Khai. (2012). Giáo trình phân tích chuỗi giá trị và ngành hàng, Chính sách phát triển kinh tế. Trường Đại học Kinh tế TP. HCM. Bài 18. Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng. 3. Nguyễn Thị Kim Nguyên. (2013). Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi giá trị dừa tươi tỉnh Bến Tre. (Trang 8-63) 4. Nguyễn Phú Son. (2012). Báo cáo Chuỗi giá trị các sản phẩm Táo, Tỏi và Nho tỉnh Ninh Thuận. (Trang 20-132) 5. Lê Minh Tài. (2013). Phân tích chuỗi giá trị và đề xuất giải pháp phát triển bền vững cây Khóm huyện Tân Phước – tỉnh Tiền Giang. (Trang 64-96) Danh mục tài liệu nước ngoài 1. Porter. M.E. (1985). Competitive advantage: creating and sustaining superior Performance. New York: the Free Press. 2. M4P. (2008). Marking value chains work better for the poor: A toolbook for practitioners of value chain analysis. A publication financed by the UK department for international development (DFID). 3. GTZ Eschborn. (2007). Value Links Manual: The Methodology of Value Chain Promotion. Văn Bản của các cơ quan Chính phủ, Bộ, Ngành, Tỉnh 1. Cục thống kê tỉnh Đồng Tháp. (2014). Niên giám thống kê (Phần Nông nghiệp). 2. Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp. (2014). (Trang 18-252) 3. UBND tỉnh Đồng Tháp. (2014). Báo cáo tổng kết ngành nông nghiệp.