CÂU HỎI ÔN TẬP TRIẾT HỌC 
(THI GIỮA KỲ) 
1. Trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử cơ bản của chủ nghĩa duy vật:...................................2 
1b. Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của tri thức triết học. Mối quan hệ của triết học với các 
môn khoa học khác..............................................................................................................................................6 
2. Trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử của phép biện chứng..................................................8 
4. Triết học Mác - Lênin trong thời đại ngày nay.............................................................................................33 
3. Anh chị hãy trình bày những chức năng cơ bản của triết học và vai trò của triết học đối với đời sống xã 
hội......................................................................................................................................................................36 
4. Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học Phương Đông cổ - trung đại và nêu lên một số 
ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay........................................................................39 
5. Anh chị hãy trình bày quan điểm về “nhân-quả” của triết học Phật giáo trong thuyết Tứ diệu đế...............51 
6. Bằng sự ra đời của triết học Phật giáo, anh chị hãy chứng minh rằng nội dung của các học thuyết triết học 
nói riêng, đời sống tinh thần của con người nói chung bị điều kiện sống quy định..........................................53 
7. Bằng sự ra đời của triết học Nho gia, anh chị hãy chứng minh rằng nội dung của các học thuyết triết học 
nói riêng, đời sống tinh thần của con người nói chung bị điều kiện sống quy định..........................................54 
8. Anh chị hãy trình bày quan điểm “chính danh” của triết học Nho gia và nêu lên một số ảnh hưởng của nó 
đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.......................................................................................................56 
9. Anh chị hãy trình bày quan điểm của mình về thuyết “Chính danh” của Nho gia.......................................59 
10. Anh chị hãy trình bày nội dung về “lễ” trong “ngũ thường” của Nho gia và ảnh hưởng của nó đối với đời 
sống xã hội Việt Nam giai đoạn hiện tại............................................................................................................63 
11. Anh chị hãy trình bày nội dung cơ bản về “lễ” trong “ngũ thường” của Nho gia và quan điểm của anh chị 
về vai trò của “lễ” đối với đời sống xã hội........................................................................................................66 
12. Anh chị hãy trình bày đặc trưng cơ bản của triết học phương Tây cổ đại và nêu lên một số ảnh hưởng của 
nó đối với sự phát triển của khoa học Phương Tây hiện nay............................................................................71 
13. Anh chị hãy trình bày đặc trưng cơ bản của triết học thời phục hưng và ảnh hưởng của nó đối với sự phát 
triển của xã hội Tây Âu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX......................................................................................72 
Câu 13b: Trình bày những tiền đề ra đời của triết học Mác-Lênin...................................................................74 
14. Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Hêghen đối với sự ra đời của triết học Mác......................77 
15. Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Phoiơbác đối với sự ra đời của triết học Mác...................80 
16. Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Hêghen và Phoiơbác đối với sự ra đời của triết học Mác.83 
17. Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của những thành tựu của khoa học tự nhiên thế kỷ thứ XIX đối với sự 
ra đời của triết học Mác.....................................................................................................................................87 
18. Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của tri thức triết học. Mối quan hệ của triết học với các 
môn khoa học khác............................................................................................................................................89 
19. Anh chị hãy trình bày những đặc điểm chủ yếu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam..........................91 
20. Triết học có ý nghĩa gì đối với cuộc sống và học tập, công tác của bạn ? 
21. Tại sao đến nay thế kỷ XXI vẫn còn đấu tranh giữa CNDV & CNDT ? 
Lớp M12CQDT01-N Page 1
1. Trình bày khái quát và đánh giá các hình th c l ch s c b ứ ị ử ơ ản của chủ nghĩa duy vật: 
Cũng như tất cả các ngành khoa học khác, chủ nghĩa duy vật triết học đã có quá trình ra đời và 
phát triển qua các giai đoạn khác nhau mà biểu hiện tập trung nhất của nó là việc giải quyết vấn đề 
cơ bản của triết học theo lập trường duy vật - mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Với việc giải 
quyết theo lập trường duy vật biện chứng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật đã 
được nâng lên một tầm cao mới về chất, đặt nền tảng thế giới quan khoa học để giải quyết tất cả 
những vấn đề của nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn. 
Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học. Phạm trù vật chất và mối 
liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm 
khác nhau và luôn diển ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt 
lịch sử của triết học. 
Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế 
giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người. 
-Theo Lênin "Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con 
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ 
thuộc vào cảm giác". 
Ý thức: là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não người, là sự phản ánh 
thế giới khách quan vào bộ óc con người. 
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức: 
Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức. Vật chất là cái có trước nó sinh ra và 
quyết định ý thức: 
Nguồn gốc của ý thức chính là vật chất: Bộ não người, cơ quan phản ánh thế giới xung quanh, sự 
tác động của thế giới vật chất vào bộ não người, tạo thành nguồn gốc tự nhiên. 
Lao động và ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) trong hoạt động thực tiễn cùng với nguồn gốc tự nhiên 
quyết định sự hình thành tồn tại và phát triển của ý thức. 
Mặt khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Vật chất là đối tượng khách thể 
của ý thức, nó quy định nội dung, hình thức, khả năng và quá trình vận động của ý thức. 
Sự tác động trở lại của ý thức: 
Y thức do vật chất sinh ra và quy định nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đối của nó. Hơn nữa 
sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần, phản ánh sáng tạo và chủ động chứ 
không thụ động, máy móc, nguyên xi thế giới vật chất vì vậy nó có tác động trở lại đối với vật chất 
thông qua hoạt động thực tiễn của con người. 
Dựa trên các tri thức về quy luật khách quan, con người đề ra mục tiêu, phương hướng, xác định 
phương pháp, dùng ý chí để thực hiện mục tiêu ấy. Vì vậy ý thức tác động trực tiếp đến vật chất theo 
hai hướng chủ yếu: Nếu ý thức phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan thì sẽ 
thúc đẩy hoặc tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đặc trưng vật chất. Ngược lại nếu ý thức phản 
ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người không phù hợp với qluật khách quan do 
đó sẽ kìm hãm sự ptriển của vật chất. 
Tuy vậy sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất định chứ nó không 
thể sinh ra hay tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất được. Và suy cho cùng dù ở mức độ nào 
nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh thế giới vật chất. 
Biểu hiện của mối quan hệ giữa ý thức và vật chất trong đời sống xã hội là quan hệ tồn tại xã hội 
và ý thức xã hội trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội đồng thời ý thức xã hội có tính độc 
lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội. Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là 
Lớp M12CQDT01-N Page 2
cơ sở để nghiên cứu, xem xét các mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiễn, khách thể và chủ thể, 
vấn đề chân lý... 
* Từ mối quan hệ này ta đánh giá và rút ra được Quan điểm khách quan như sau: 
Nguyên tắc khách quan trong xem xét là hệ quả tất yếu của quan điểm DVBC về mối quan hệ 
giữa vật chất và ý thức. Vật chất quyết định ý thức là sự phản ánh vật chất cho nên trong nhận thức 
và hành động phải đảm bảo tính khách quan, trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ 
thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan. 
Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thân SVHT, 
từ thực tế khách quan, không được xuất phát từ ý thức chủ quan, không lấy ý muốn chủ quan của 
mình làm chính sách, không lấy ý chí áp đặt thực tế. Nắm vững nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải 
tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, nóng vội, định kiến, không trung thực. 
Nói như vậy không có nghĩa là quan điểm khách quan coi nhẹ tính năng động của ý thức. Quan 
điểm khách quan không những không loại trừ mà còn đòi hỏi phát huy tính năng động và sáng tạo 
của ý thức trong quá trình phản ánh sự vật. Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể 
phải phát huy tính năng động chủ quan trong việc tìm ra những con đường, những biện pháp để từng 
bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật. Điều đó phân biệt quan điểm khách quan với chủ nghĩa 
khách quan. Nguyên tắc khách quan có ý nghĩa ngăn ngừa tư duy khỏi những sai lầm do việc chủ thể 
nhận thức đưa vào sự vật (khách thể nhận thức) một số yếu tố chủ quan vốn không có trong bản thân 
sự vật. Tuân theo quan điểm khách quan góp phần ngăn ngừa bệnh chủ quan, duy ý chí. 
Yêu cầu của nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo 
quy luật khách quan. 
Từ những cơ sở lý luận trên chúng ta nhận thấy Bệnh chủ quan duy ý chí trong quá trình 
xây dựng CNXH thời kỳ trước đổi mới: 
Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm khá phổ biến ở nước ta và ở nhiều nước XHCN trước đây, 
gây tác hại nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng CNXH. 
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vo bộ ĩc nguời một cách sáng tạo, l ci thực tại chủ 
quan tồn tại ở trong óc người dưới dạng hình ảnh tinh thần của sự vật khch quan. Vì vậy nếu cường 
điệu tính sáng tạo của ý thức sẽ rơi vào bệnh chủ quan, duy ý chí. Bệnh chủ quan duy ý chí là 
khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, cường điệu tính sáng tạo của ý thức, của ý 
chí, xa thời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan lấy nhiệt tình Cách mạng thay cho 
sự yếu kém về tri thức khoa học. 
Sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo 
nguyện vọng chủ quan, sai lầm đó thể hiện rõ trong khi định ra chủ trương chính sách và lựa chọn 
phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn theo hướng áp đặt, rơi vào ảo tưởng, chủ quan. 
Bệnh chủ quan duy ý chí có nguồn gốc từ nhận thức, sự yếu kém về tri thức khoa học, tri thức lý 
luận không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Bệnh chủ quan duy ý chí còn do nguồn gốc lịch sử, 
xã hội, giai cấp, tâm lý của người sản xuất nhỏ chi phối. Cơ chế quan liêu bao cấp cũng tạo điều kiện 
cho sự ra đời của bệnh chủ quan, duy ý chí... 
Trước thời kỳ đổi mới (ĐH6), Đảng ta đã mắc bệnh chủ quan, duy ý chí trong việc xây dựng mục 
tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế, Đảng ta đã 
nóng vội muốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, muốn sau khi cải tạo XHCN chỉ còn lại 
hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể hay có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công 
nghiệp nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp nhẹ, chúng ta đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý 
kinh tế tập trung bao cấp mang tính quan liêu, cơ chế xin cho, có nhiều chủ trương sai trong việc cải 
cách giá cả, tiền lương, tiền tệ. 
Lớp M12CQDT01-N Page 3
Để khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp. Trước hết phải 
đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ lý luận của Đảng, trong hoạt động thực 
tiễn phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi 
mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chí trị, chống bảo thủ, trì trệ, quan liêu. 
Bài học kinh nghiệm của Đảng: 
Trong quá trình xác định đường lối Cách mạng và chỉ đạo thực tiễn. Đảng Cộng Sản Việt Nam 
luôn luôn quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng cộng sản Việt Nam "luôn 
luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và 
hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu đúng đắn của Đảng" là một bài học kinh 
nghiệm lớn rút ra từ thực tiễn Cách mạng nước ta. Đó chính là biểu hiện coi quan điểm vật chất, các 
quy luật khách quan có vai trò quyết định được ý thức đối với nhận thức. 
Đảng ta thừa nhận đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, muốn 
nhanh chống thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH trong điều kiện mới ở chặng đường đầu tiên. 
Chúng ta đã có những thành kiến không đúng trên thực tế chưa thật sự thừa nhận những quy luật của 
sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan (quy luật cung cầu, cạnh tranh, giá trị) do đó không chú ý 
vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương chính sách kinh tế làm cho nền kinh tế trì trệ, 
khủng hoảng trầm trọng. 
Để khắc phục được khuyết điểm, chuyển biến tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổi nhận 
thức, đổi mới tư duy. Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống quy luật khách 
quan, trong đó các quy luật đặc thù của CNXH ngày càng chi phối mạnh mẽ phương hướng phát 
triển chung của xã hội. 
Tiêu chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua chủ trương chính sách của 
Đảng và Nhà nước là sản xuất phát triển, lưu thông thông suốt, đời sống vật chất và tinh thần của 
nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, con người mới XHCN ngày càng hình thành rõ nét, 
xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ XHCN ngày càng được cũng cố. Điều đó là điều kiện đảm bảo 
sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng. Mọi chủ trương chính sách gây tác động ngược lại là biểu hiện sự 
vận dụng không đúng quy luật khách quan, phải được sữa đổi hay bãi bỏ. 
Trên cơ sở quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, rút kinh nghiệm từ những 
sai lầm do chủ quan duy ý chí, từ Đại hội VI của Đảng (1986) Đảng đã chỉ rõ bài học kinh nghiệm 
và đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ, trì trệ nhằm 
từng bước sửa chữa những sai lầm. Những phương hướng biện pháp đó là: 
- Một là phải tiến hành đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những hình thức, bước đi, cách 
làm phù hợp, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, nâng 
cao trình độ tri thức, năng lực nhận thức và vận dụng quy luật cho đội ngũ cán bộ Đảng viên. Đây là 
cuộc cách mạng triệt để, sâu sắc và đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, 
chính trị, văn hóa, xã hội…), từ đổi mới quan niệm, tư duy lý luận đến đổi mới cơ chế chính sách, tổ 
chức cán bộ, phong cách và lề lối làm việc. 
Để đảm bảo sự lãnh đạo thành công trong công cuộc đổi mới này thì Văn kiện Đại hội Đảng lần 
VI đã xác định: “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật là điều 
kiện đảm bảo sự dẫn đầu của Đảng. Năng lực nhận thức theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh 
đạo đúng đắn của Đảng”. Trên cơ sở hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và tình hình chính 
trị, ổn định xã hội, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tập trung trước hết vào việc 
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng KT-XH, tạo tiền đề cần thiết 
về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, 
tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống XH. Bên cạnh đó, với quan điểm tôn trọng và 
hành động theo quy luật khách quan, trong các chủ trương, chính sách kinh tế từ sau Đại hội Đảng 
lần VI đến nay đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cụ thể như: Đại hội VI xác định xây dựng quan hệ 
Lớp M12CQDT01-N Page 4
sản xuất mới xã hội chủ nghĩa là một công việc to lớn, không thể làm xong trong một thời gian ngắn, 
không thể nóng vội làm trái quy luật. Văn kiện Đại hội xác định: "Nay phải sửa lại cho đúng như 
sau: Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ 
lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp 
với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực 
lượng sản xuất". Đại hội cũng phát hiện một vấn đề lớn có tính lý luận, hoàn toàn mới mẻ: "Kinh 
nghiệm thực tiễn chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất 
lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình 
độ phát triển của lực lượng sản xuất". Trên cơ sở đó, Đại hội xác định: "Nền kinh tế nhiều thành 
phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ".Trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, tôn trọng nguyên 
tắc quan hệ SX phải phù hợp với lực lượng SX, Đại hội VI đã xác định phải điều chỉnh lại các cơ 
cấu này theo hướng "không bố trí xây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực 
tế", tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương trình mục tiêu: sản xuất lương thực-thực 
phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu. Đây là những chương trình chẳng 
những đáp ứng được nhu cầu bức xúc nhất lúc bấy giờ mà còn là điều kiện thúc đẩy sản xuất và lưu 
thông hàng hóa, là cái gốc tạo ra sphẩm hàng hóa 
- Hai là trong điều kiện ngày nay khi thế giới đang đi vào nền kinh tế tri thức thì chúng ta phải 
“nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển KTXH, từng bước phát triển kinh tế tri 
thức ở nước ta”(VKĐH IX) và VKĐH X tiếp tục phát triển tư tưởng đó trong điều kiện đất nuớc ta 
đã hội nhập với cộng đồng quốc tế và nhấn mạnh phải: “phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức 
là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đây là biện pháp 
nhằm khắc phục nguyên nhân sâu xa của bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ là sự yếu kém về 
lý luận, lạc hậu về trình độ, tri thức KH công nghệ. Văn kiện ĐH Đảng lần VIII đã nhấn mạnh: “phải 
lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”. Để 
thực hiện được điều đó, Đảng ta cũng đã đề ra phương hướng trong VK ĐH X là “phát huy tối đa 
khả năng về vật chất, trí tuệ và tinh thần của mọi người dân”, đặc biệt phải chú ý: “trọng dụng nhân 
tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công 
nhân có tay nghề cao. Có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và ngòai 
nước, trong cộng đồng người VN ở nước ngòai” 
Để đảm bảo công cuộc đổi mới đi đúng hướng và ngày càng đạt kết quả cao, Đảng ta đẽ đề ra 
biện pháp: “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng…”(VKĐH X), đồng thời phải: 
“tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc, nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí tự 
cường, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nghị quyết của ĐH, sớm đưa nuớc ta ra khỏi tình trạng kém 
phát triển và tiến mạnh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nuớc 
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. 
Từ những kinh nghiệm thời gian qua, tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011), Đảng ta đã 
rút ra những bài học kinh nghiệm sau: 
- Một là, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu 
đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, 
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đổi mới toàn diện, đồng bộ với những bước 
đi thích hợp. Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn với chú trọng xây dựng nền kinh 
tế độc lập, tự chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc. Mở rộng, phát huy dân chủ 
phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân, cơ quan, đơn vị, 
doanh nghiệp và cả cộng đồng. 
- Hai là, phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững, nâng cao 
chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, giữ vững ổn định 
kinh tế vĩ mô. Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, sử dụng tiết kiệm và hiệu 
quả các nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Phát triển lực lượng sản xuất phải đồng 
Lớp M12CQDT01-N Page 5
thời xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp; củng cố và tăng cường các yếu tố bảo đảm định 
hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế. 
- Ba là, phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công 
bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đối 
với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy 
giảm; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường quan hệ 
đối ngoại, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 
- Bốn là, đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thật sự 
phát huy dân chủ, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với 
nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. 
Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, trong sáng về đạo đức, lối 
sống, có sức chiến đấu cao, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản 
lý của Nhà nước, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. 
- Năm là, trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực 
tiễn đất nước; chú trọng công tác dự báo, kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp với tình hình mới; 
tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính 
trị, của toàn xã hội. 
Trên đây là phần trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử cơ bản của Chủ nghĩa duy 
vật gắn liền với tình hình KT-XH thực tiễn của Việt Nam thời gian qua. 
1b. Anh chi hãy trình bày nh̃ng đăc tr ng c ban cua tri th́c ̣ựư ở̉ư triết hoc̣. Mối quan hê ̣cuả 
triết hoc̣ vơí các môn khoa hoc̣ khác 
Hiện nay, vấn đề tri thức đang được quan tâm nghiên cứu sâu sắc cả về phương diện triết học lẫn 
nhận thức khoa học nói chung. Điều đó không chỉ do yêu cầu của kinh tế tri thức, mà còn do sự phát 
triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Trong nghiên cứu tri 
thức, một khía cạnh nổi lên, đó là xác định bản chất tri thức hay định nghĩa khái niệm tri thức. 
Tri thức là một thành phần của nhận thức, của toàn bộ đời sống tinh thần, ý thức con người nói 
chung. Tri thức liên quan đến mọi tồn tại, hoạt động của con người, xã hội và có những cơ sở tự 
nhiên nhất định của nó. Mỗi đặc trưng của tri thức sẽ được vạch ra dựa trên một hoặc những quan 
điểm xem xét nhất định, trong đó có quan điểm cơ bản, làm nền tảng của toàn bộ sự xem xét. Việc 
chỉ ra những đặc trưng của tri thức dưới đây sẽ mang nội dung và ý nghĩa như vậy. Phải thấy ngay 
rằng việc nhận thức bản chất của tri thức sẽ trở nên hỗn độn, khó xác định, nếu trước hết không thừa 
nhận tri thức là một dạng thái nhất định của tinh thần, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách 
quan”. Một trong những luận điểm tiêu biểu của triết học Mác về ý thức: “ý niệm chẳng qua chỉ là 
vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”. Luận điểm đó 
thể hiện rõ quan điểm duy vật khoa học về ý thức, cho thấy rõ ý thức là sự phản ánh hiện thực vật 
chất khách quan vào bộ óc người. Do đó, tri thức với tư cách thành phần của nhận thức và của ý 
thức, tất nhiên cũng được xem là cái phản ánh, cái tồn tại trong bộ óc người - chủ thể tri thức, phân 
biệt, đối lập với cái được phản ánh là hiện thực vật chất khách quan. Như vậy, tri thức là cái tinh 
thần, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Với tư cách là cái tinh thần, tri thức phản ánh 
các đối tượng vật chất không phải bằng cách tái hiện đối tượng đó bằng những đặc tính vật chất như 
những phản ánh vô cơ, vật lý, mà bằng những đặc tính tự nhiên - xã hội tổng hợp, đặc trưng cho hoạt 
động và chức năng phản ánh của bộ não người. 
Tri thức là hình thức cao nhất của sự tiến hoá các hình thức phản ánh. Cùng với việc hiểu tri thức 
theo quan điểm phản ánh luận duy vật mácxít, thì việc hiểu nó với tư cách một hình thức của sự tiến 
hoá của các hình thức phản ánh, lại là một góc nhìn khác, góc nhìn tiến hoá luận về tri thức. 
Lớp M12CQDT01-N Page 6
Tri thức là kết quả của nhận thức. Việc xem xét tri thức theo quan điểm phản ánh luận không tách 
rời tiếp cận tri thức theo quan điểm hoạt động. Nhận thức của con người dù dưới bất kỳ hình thức 
nào với mức độ nào, cũng đều là quá trình hoạt động. Theo cơ cấu chung, thì hoạt động nào cũng có 
yếu tố cuối cùng mang ý nghĩa “khép lại” một chu trình, đó là sản phẩm hay kết quả của nó. Không 
thể đồng nhất kết quả với quá trình tạo ra nó trong bất kỳ hoạt động nào của con người. Thí dụ, việc 
người ta đặt ra câu hỏi: “Trái đất có hình gì?”, việc người ta đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó và việc 
người ta đưa ra được câu trả lời rằng “Trái đất hình cầu”, rõ ràng là hai thành tố khác nhau của hoạt 
động nhận thức. Cái sau là kết quả và cái trước là quá trình đạt đến cái sau. Tất nhiên, trong quá 
trình đi đến kết luận “Trái đất hình cầu”, người ta phải vận dụng nhiều tri thức khác như những hiểu 
biết (tri thức) về “trái”, “đất”, “trái đất”, về “hình”, “cầu” và “hình cầu” v.v.. Những tri thức này cấu 
thành quá trình nhận thức, sáng tạo ra những tri thức mới, giúp người ta hiểu ra điều là “Trái đất 
hình cầu”. Nhưng những tri thức ấy khi tách riêng ra, chúng vẫn là kết quả của những quá trình nhận 
thức đã diễn ra trước đó, còn trong quá trình nhận thức để đạt đến tri thức mới (nhận ra “Trái đất 
hình cầu”), chúng là những yếu tố cấu thành quá trình ấy, là phương tiện, chứ không phải mục đích. 
Tri thức với tư cách là thông tin. Quan niệm tri thức, sự phản ánh ở giới tự nhiên hữu sinh nói 
chung, là thông tin. Như mọi vật mang thông tin, bộ não con người mang, lưu giữ tri thức không 
phải để cố định chúng trong trạng thái đã xong xuôi, kết thúc, hoặc thậm chí trong trạng thái chết, 
mà là để chuẩn bị, đem lại, cung cấp cho những yêu cầu, hoạt động mới của con người. Chỉ với ý 
nghĩa ấy, tri thức mới tồn tại với nghĩa là thông tin và cũng chỉ nhờ vậy, bộ óc con người mới trở 
thành vật mang thông tin là tri thức. Tuy nhiên, với tư cách là thông tin, tri thức khác với những hình 
thức thông tin tinh thần, vật chất khác. Tri thức không đem lại những thông tin về các cảm xúc, ý 
chí, niềm tin và khát vọng của con người. Mặt khác, những xúc cảm của con người cũng là những 
thông tin, nhưng chúng không trực tiếp đem lại tri thức. Tuy vậy, thông tin tri thức và thông tin tình 
cảm không tách rời nhau. Thí dụ, nhìn thấy một người gặp cảnh ngộ bi đát, đau thương, chúng ta 
cũng cảm thấy đau đớn. Nhưng tri thức không đem lại chính sự đau đớn ấy, mà chỉ cho chúng ta biết 
những “dấu hiệu” của sự đau thương, như sự buồn bã trên nét mặt, sự quằn quại, kêu rên… của 
người có cảnh ngộ ấy. Còn sự đau đớn của chúng ta không bắt nguồn chủ yếu từ sự nhận ra những 
dấu hiệu ấy, mà là từ chính cái tình cảnh của đối tượng mà những dấu hiệu nói trên đã đụng chạm 
đến và làm rung động cái lương năng bên trong của chúng ta. Thông tin - tri thức là thông tin sống, 
có khả năng sinh sôi không ngừng. Một mặt, nó không ngừng được nạp thêm, làm đầy thêm về khối 
lượng, loại hình, dung lượng từ môi trường; mặt khác, không ngừng truyền vào môi trường. Trong 
cả hai quá trình ấy, thông tin tri thức vẫn có thể vừa là sự nạp thêm, vừa là sự mất đi, vừa cung cấp 
và vừa sửa chữa, điều chỉnh. Đây là quá trình đặc biệt của thông tin tri thức. 
Tri thức là sự biểu hiện, khẳng định bản chất con người. Đây là sự tiếp cận con người, tiếp cận 
văn hóa về tri thức. Vì thế, câu hỏi trước tiên phải được đặt ra và giải đáp là: “Con người là gì?”. Sự 
giải đáp là toàn bộ những luận giải về tri thức phù hợp với nhận thức khoa học. 
Mối quan hệ của triết học với các môn khoa học khác: 
Triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về 
thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. 
Với quan niệm đó, triết học cổ đại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà được xem 
là"khoa học của mọi khoa học". 
Quan niệm macxit cho rằng:"Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là học thuyết 
về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con người đối với thế giới; là 
khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy". 
Sự hình thành, phát triển của triết học không thể tách rời sự phát triển của khoa học cụ thể, qua 
khái quát các thành tựu của khoa học cụ thể. Tuy nhiên, triết học cụ thể, nó là thế giới quan và 
phương pháp luận cho khoa học cụ thể, nó là thế giới quan và phương pháp luận cho khoa học cu 
Lớp M12CQDT01-N Page 7
thể, là cơ sở lý luận cho các khoa học cụ thể trong việc đánh giá các thành tựu đã đạt được, cũng như 
vạch ra phương hướng, phương pháp cho quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể. Khác với các khoa 
học cụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới, triết học xem xét thế giới như 
một chỉnh thể và đem lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Triết học là sự diễn tả thế giới 
quan bằng lý luận. Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ thống triết học, nhưng điểm chung của 
chúng là đều nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ 
của con người nói chung, của tư duy nói riêng với thế giới. 
Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển của khoa học, 
ngược lại chủ nghĩa duy tâm thường được sử dụng làm công cụ biện hộ cho tôn giáo và cản trở khoa 
học phát triển. Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn gắn liền với các thành tựu của khoa 
học hiện đại, là sự khái quát các thành tựu khoa học đồng thời nó đóng vai trò to lớn đối với sự định 
hình phát triển của khoa học hiện đại. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng không thể thay thế 
các khoa học khác. Theo yêu cầu của sự phát triển đòi hỏi phải có sự liên minh chặt chẽ giữa triết 
học với các khoa học khác. 
Như vậy, có thể kết luận: 
- Kết luận của các khoa học là những tư liệu để từ đó triết học rút ra những kết luận chung nhất. 
- Những kết luận chung nhất của triết học quay lại phục vụ cho các khoa học cụ thể với tư cách 
định hướng để các khoa học cụ thể có thể đạt được kết quả tối ưu 
2. Trình bày khái quát và đánh giá các hình th ức lịch sử của phép biện chứng 
Ngay từ rất sớm trong triết học xuất hiện hai phương pháp đối lập nhau trong việc xem xét thế 
giới: Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình. 
Trong thời kỳ cổ đại, phép biện chứng chất phác, ngây thơ, mà đỉnh cao của nó là phép biện 
chứng cổ đại Hy Lạp, chiếm vị trí ưu trội. Theo quan điểm biện chứng đó, thế giới là một chỉnh thể 
thống nhất; giữa các bộ phận của nó có mối liên hệ qua lại, thâm nhập vào nhau, tác động và ảnh 
hưởng lẫn nhau; thế giới và các bộ phận cấu thành thế giới ấy không ngừng vận động và phát triển. 
Điển hình như: 
Trường phái Milê: Trường phái duy vật đơn nguyên do 3 nhà triết học duy vật là Talét, 
Anaximăngđrơ, Anaximen xây dựng, nhằm làm sáng rõ bản nguyên vật chất của thế giới. Nếu bản 
nguyên vật chất của thế giới được Talét cho là nước, thì Anaximăngđrơ cho là apeiron, còn 
Anaximen cho là không khí. Những quan niệm triết học duy vật của trường phái Milê tuy còn mộc 
mạc, thô sơ nhưng có ý nghĩa vô thần chống lại thế giới quan thần thoại đương thời và đã chứa đựng 
những yếu tố biện chứng chất phác. 
Trường phái Hêraclít: Trường phái duy vật đơn nguyên do Hêraclít xây dựng, thể hiện rõ các tư 
tưởng biện chứng chất phác thời cổ Hi Lạp thông qua các phỏng đoán thiên tài về quy luật thống 
nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Dù chưa trình bày các quan niệm biện chứng như một hệ 
thống, nhưng hầu hết các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đều đã được ông đề cập đến dưới 
dạng danh ngôn, tỷ dụ, hay những phát biểu mang tính chất triết lý sâu sắc. Phép biện chứng duy vật 
chất phác là đóng góp của triết học Hêraclít vào kho tàng tư tưởng của nhân loại. 
Trường phái đa nguyên Empêđốc - Anaxago: Để lý giải tính đa dạng của vạn vật trong thế giới 
theo tinh thần duy vật, Empêđốc và Anaxago cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sơ khai của trường 
phái Milê và trường phái Hêraclít, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất 
đa dạng 
Trường phái nguyên tử luận Lơxíp - Đêmôcrít: Trường phái này là đỉnh cao của triết học duy 
vật Hi Lạp cổ đại trong giai đoạn cực thịnh với các đại biểu Lơxíp, Đêmôcrít; trong đó, Lơxíp là 
người đầu tiên nêu lên các quan niệm về nguyên tử, Đêmôcrít là người phát triển các quan niệm này 
Lớp M12CQDT01-N Page 8
thành một hệ thống chặt chẽ và có sức thuyết phục. Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế nhưng với những 
thành tựu đạt được, Đêmôcrít đã nâng chủ nghĩa duy vật Hi Lạp lên đỉnh cao, làm cho nó đủ sức 
đương đầu chống lại các trào lưu duy tâm đang thịnh hành bấy giờ, mà trước hết là trào lưu duy tâm 
nổi tiếng của Platon. Sang thời kỳ suy tàn của triết học Hi Lạp cổ đại (Hi Lạp hóa) Êpicua (Epicure) 
đã củng cố và bảo vệ và phát triển thêm học thuyết nguyên tử… 
Ta nhận thấy rằng triết học thời này có những đặc điểm sau: 
- Một là, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai 
cấp chủ nô thống trị. Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự xã hội, củng cố vai trò 
thống trị của mình. 
- Hai là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, 
trường phái duy vật - duy tâm, vô thần - hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng; 
trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của Đêmôcrít và trào lưu duy tâm của 
Platông… 
- Ba là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại đã xuất hiện phép biện chứng chất phác. Các nhà triết 
học Hy Lạp cổ đại là “những nhà biện chứng bẩm sinh”. Họ nghiên cứu và sử dụng phép biện chứng 
để nâng cao nghệ thuật hùng biện, để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý. Họ đã 
phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng, nhưng chưa trình bày chúng như một hệ thống lý 
luận chặt chẽ. 
- Bốn là, triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết 
về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống 
nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó. Do trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự 
nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới 
nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới. Vì vậy, các nhà triết 
học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra 
những kết luận triết học. 
- Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra 
nhiều quan niệm khác nhau về con người, cố lí giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác, về đời 
sống đạo đức - chính trị - xã hội của họ. Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìn chung các triết gia đều 
khẳng định con người là tinh hoa cao quí nhất của tạo hóa. 
Đánh giá mặt tích cực và sự hạn chế của quan điểm biện chứng chất phác thời cổ đại, Ph.Ăngghen 
cho rằng trong quan điểm đó, chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối 
liên hệ và những sự tác động qua lại, sự vận động và phát triển, nhưng chưa làm rõ được cái gì đang 
liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát triển. 
Nhằm khắc phục những hạn chế trên đây, để đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người 
và cũng nhờ sự tiến bộ của nhận thức, con người đã tiến hành nghiên cứu các bộ phận khác nhau của 
thế giới. Trong quá trình nghiên cứu, người ta tạm thời không chú ý tới mối liên hệ giữa khách thể 
đang nghiên cứu với các khách thể khác cũng như với thế giới nói chung, tạm thời cố định sự vật ở 
trạng thái hiện có mà không xem xét nó trong quá trình vận động và phát triển. Nhờ vậy tri thức con 
người về các bộ phận riêng rẽ của thế giới trong trạng thái tĩnh tại của chúng ngày càng trở nên sâu 
sắc hơn. Trước những thành quả to lớn trong việc nhận thức các bộ phận cấu thành thế giới do việc 
áp dụng phương pháp phân tích mang lại, một số nhà triết học đã tuyệt đối hóa phương pháp phân 
tích, và xem đó là phương pháp duy nhất để nhận thức thế giới. Từ đó ra đời phương pháp tư duy 
siêu hình - một phương pháp mang “tính hạn chế đặc thù của những thế kỷ gần đây”. 
Từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, khoa học tự nhiên chuyển dần trọng tâm sang việc nghiên cứu các 
quá trình trong sự liên hệ, vận động và phát triển của chúng. Những thành quả do khoa học tự nhiên 
mang lại đã chứng minh rằng, tự bản thân thế giới tồn tại một cách biện chứng. Quan điểm siêu hình 
Lớp M12CQDT01-N Page 9
bị chính khoa học tự nhiên làm mất đi cơ sở tồn tại của nó. Nhưng việc phủ định quan điểm siêu 
hình lúc này dẫn đến tới việc xác lập vị trí ưu trội của phép biện chứng duy tâm khách quan mà định 
cao là ở triết học Hêghen. 
Nhà triết học Ph.Hêghen, bộ óc bách khoa toàn thư vĩ đại nhất trong lịch sử triết học của nhân loại 
đã xây dựng hệ thống triết học duy tâm khách quan biện chứng nổi tiếng. Trong Hiện tượng luận 
tinh thần, ông nêu lên những nền tảng của một triết học mới, qua tác phẩm này Hêghen đã thoát ra 
khỏi sự ràng buộc mình với tư tưởng của Senlinh; Còn trong Bách khoa toàn thư các khoa học triết 
học, ông trình bày một cách chi tiết toàn bộ nội dung Hệ thống triết học mới của mình. 
Theo Hêghen, giới tự nhiên và xã hội loài người chỉ là sự tồn tại khác của “ý niệm”, do sự tha hóa 
của ý niệm mà thành. Ý niệm nằm trong quá trình vận động và phát triển không ngừng. Việc nghiên 
cứu tính biện chứng của ý niệm đã dẫn Hêghen đến chỗ đưa ra một hệ thống các khái niệm, các 
phạm trù và các quy luật cơ bản của phép biện chứng. Đây thực sự là công lao lớn của Hêghen. Song 
do bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm khách quan, Hêghen đã rút ra kết luận hoàn toàn sai lầm: Biện 
chứng của ý niệm quy định tính biện chứng của các sự vật và hiện tượng. 
Theo Hêghen: Hiện tượng luận tinh thần với 4 nền tảng của triết học mới 
Một là, thừa nhận tồn tại ý niệm tuyệt đối: Theo Hêghen, ý niệm tuyệt đối chứ không phải cái 
Tuyệt đối (Senlinh) là nền tảng của hiện thực. Ý niệm tuyệt đối là sự hợp nhất giữa thực thể - giới tự 
nhiên (Xpinôda) và cái Tôi tuyệt đối (Phíchtơ), là sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần 
và vật chất, là Đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên, con người và lịch sử nhân loại. Con người chỉ 
là một sản phẩm của quá trình vận động phát triển tự thân của ý niệm tuyệt đối. Hoạt động nhận thức 
và cải tạo thế giới của con người, tức lịch sử nhân loại chỉ là giai đoạn phát triển cao của ý niệm 
tuyệt đối, là công cụ để nó nhận thức chính bản thân mình và quay trở về với chính mình. Theo 
Hêghen, tư duy lôgích chứ không phải trực giác nghệ thuật (Senlinh) là hình thức thể hiện cao nhất 
của ý niệm tuyệt đối. 
Hai là, thừa nhận sự phát triển của ý niệm tuyệt đối: Phát triển được Hêghen hiểu như một chuỗi 
các hành động phủ định biện chứng, trong đó, cái mới liên tục thay thế cái cũ, nhưng đồng thời kế 
thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ. Quá trình phát triển của ý niệm tuyệt đối diễn ra theo tam đoạn 
thức “chính đề - phản đề - hợp đề”. Đó cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa cái 
vật chất và cái tinh thần, giữa khách thể và chủ thể... trong bản thân ý niệm tuyệt đối. 
Ba là, thừa nhận ý thức con người là sản phẩm của lịch sử: Hêghen coi lịch sử là hiện thân của ý 
niệm tuyệt đối, là đỉnh cao của sự phát triển ý niệm tuyệt đối trên trần gian. Lịch sử nhân loại có 
được nhờ vào hoạt động có ý thức của những cá nhân cụ thể, nhưng nó lại là nền tảng quy định ý 
thức của mỗi cá nhân. Ý thức cá nhân chỉ là sự khái quát, sự “đi tắt” toàn bộ lịch sử mà ý thức nhân 
loại đã trải qua. Ý thức nhân loại là sự tái hiện lại toàn bộ tiến trình của lịch sử nhân loại, là sản 
phẩm của lịch sử, là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. 
Bốn là, triết học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối: Hêghen thừa nhận có 3 hình thức thể hiện ý 
niệm tuyệt đối trên trần gian là nghệ thuật, tôn giáo và triết học, trong đó, triết học là hình thức thể 
hiện cao nhất, trọn vẹn và đầy đủ nhất ý niệm tuyệt đối. Theo Hêghen, triết học là khoa học của mọi 
khoa học, là khoa học vạn năng đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ thế giới quan và tư tưởng con 
người. Nhưng mỗi thời đại lại có một học thuyết triết học của riêng mình. Học thuyết này là tinh hoa 
tinh thần của thời đại đó, là thời đại được thể hiện dưới dạng tư tưởng. Mỗi hệ thống triết học của 
một thời đại nào đó đều là sự chắt lọc, kết tinh, khái quát lại toàn bộ lịch sử tư tưởng trước đó, đặc 
biệt là tư tưởng triết học. Triết học và lịch sử triết học thống nhất với nhau như là sự thống nhất giữa 
cái lôgích và cái lịch sử; vì vậy, triết học phải bao trùm toàn bộ lịch sử phát triển của ý niệm tuyệt 
đối. Theo quan điểm này thì triết học Hêghen, - khoa học về ý niệm tuyệt đối -, được chia thành 3 bộ 
phận là khoa học lôgích, triết học tự nhiên, triết học tinh thần; ứng với 3 giai đoạn phát triển của ý 
Lớp M12CQDT01-N Page 10
niệm tuyệt đối là ý niệm tuyệt đối trong chính nó, ý niệm tuyệt đối trong sự tồn tại khác của nó (tự 
tha hóa), ý niệm tuyệt đối khắc phục sự tự tha hóa quay về với no. 
Khoa học lôgích: Là tác phẩm quan trọng nhất của Hệ thống triết học Hêghen, Khoa học lôgích 
nghiên cứu ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai, nhưng lại là xuất phát điểm của hệ thống. Khi vạch 
ra những hạn chế của lôgích học cũ là chỉ nghiên cứu tư duy chủ quan trong phạm vi ý thức cá nhân 
mà không chỉ ra được ranh giới giữa lôgích học với các ngành khoa học khác cùng nghiên cứu tư 
duy, là chỉ dựa trên những phạm trù bất động, tách rời hình thức ra khỏi nội dung của nó..., Hêghen 
khởi thảo một lôgích học mới giúp vạch ra bản chất đích thực của tư duy, và đóng vai trò như một 
phương pháp luận triết học làm cơ sở cho mọi khoa học. 
Triết học tự nhiên: Đây là học thuyết về giới tự nhiên với tính cách là một dạng tồn tại khác của ý 
niệm tuyệt đối dưới dạng các sự vật vật chất. Hêghen không giải thích ý niệm tuyệt đối chuyển từ 
chính nó sang giới tự nhiên như thế nào và khi nào, mà chỉ nói rằng ý niệm tuyệt đối tồn tại bên 
ngoài thời gian, và giới tự nhiên cũng không có khởi đầu trong thời gian. Hêghen cho rằng, quá trình 
hình thành giới tự nhiên từ ý niệm tuyệt đối đồng thời cũng là quá trình ý niệm tuyệt đối ngày càng 
biểu hiện ra thành giới tự nhiên. Thế giới đã được tạo ra, hiện đang được tạo ra và sẽ vĩnh viễn được 
tạo ra. 
Triết học tinh thần: Trong tác phẩm này, Hêghen xem xét ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn cuối cùng 
trên con đường diễu hành nơi trần gian, từ bỏ giới tự nhiên, khắc phục sự tha hóa, quay về lại chính 
mình như thế nào. 
Nhận xét chung về Hệ thống triết học Hêghen 
Một là, thế giới quan duy tâm là thế giới quan xuyên suốt toàn bộ nội dung triết học Hêghen: Mọi 
sự vật, quá trình dù là vật chất hay tinh thần đều là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. Ý niệm tuyệt đối 
chi phối mọi sự sinh thành, tồn tại và tiêu vong của hết thảy mọi cái trong thế giới. Vật chất, giới tự 
nhiên chỉ là sự tự tha hóa, một sự tồn tại khác, một sản phẩm sơ cứng bất động của ý niệm tuyệt đối 
mà thôi. Đề cao cái tinh thần, khẳng định tính quyết định của nó trong việc đưa ra các phương thức 
giải quyết cho các vấn đề thuộc về lý luận cũng như thực tiễn là tư tưởng chủ đạo được trình bày 
trong toàn bộ nội dung triết học Hêghen. 
Hai là, phép biện chứng là linh hồn sống động của hệ thống triết học Hêghen: Tư tưởng về mối 
liên hệ phổ biến (mọi cái đều là hiện thân, là các giai đoạn khác nhau nhưng liên hệ lẫn nhau của ý 
niệm tuyệt đối) và tư tưởng về sự phát triển (quá trình phủ định biện chứng của ý niệm tuyệt đối) là 
những tư tưởng cơ bản xuyên suốt, là mạch suối ngầm thấm chảy qua toàn bộ hệ thống của Hêghen. 
Phát triển là một quá trình thay đổi từ thấp lên cao, bằng cách chuyển hóa qua lại giữa lượng và 
chất, do sự giải quyết những mâu thuẫn nội tại trong các hình thức cụ thể của ý niệm tuyệt đối tạo 
nên. Trên cơ sở mổ xẻ quá trình tự vận động của ý niệm tuyệt đối, Hêghen đã phát hiện ra các quy 
luật cơ bản của phép biện chứng và các quy luật không cơ bản - các cặp phạm trù. 
Hêghen còn xây dựng các nguyên tắc của lôgích biện chứng, các quan điểm biện chứng về nhận 
thức, ông đã đặt nền móng cho sự thống nhất giữa phép biện chứng, lôgích học và nhận thức luận. 
Theo Hêghen, nhận thức phải đi từ trừu tượng đến cụ thể, nhận thức lý thuyết phải thống nhất với 
hoạt động thực tiễn. Chân lý phải mang tính cụ thể, tính quá trình và là sự phù hợp của khái niệm với 
thực tiễn. Tuy nhiên, đối với Hêghen, nhận thức là khám phá ra ý niệm tuyệt đối chứ không phải 
khám phá ra giới tự nhiên vật chất; và thực tiễn không phải là hoạt động vật chất mà chỉ là những 
hoạt động tinh thần của chủ thể sáng tạo ra tư tưởng mà thôi. 
Phép biện chứng của Hêghen không chỉ là lý luận biện chứng về sự phát triển của thế giới ý niệm, 
mà còn là phương pháp biện chứng nghiên cứu thế giới ý niệm. Thông qua phép biện chứng của ý 
niệm, Hêghen đã đoán được phép biện chứng của sự vật, vì vậy, nó là phép biện chứng duy tâm. 
Lớp M12CQDT01-N Page 11
Phép biện chứng của Hêghen, về thực chất, là tích cực và cách mạng, nhưng nó lại bị giam hãm 
trong hệ thống triết học duy tâm thần bí của ông; vì vậy, trong triết học của Hêghen, bên cạnh những 
nội dung biện chứng, tiến bộ, vạch thời đại, khoa học và cách mạng lại có không ít quan điểm siêu 
hình, phản động, phản khoa học và bảo thủ, tư biện; nghĩa là trong nó chứa đựng nhiều mâu thuẫn. 
+ Hêghen đã phủ nhận sự phát triển trong giới tự nhiên, ông bất chấp hay phủ nhận nhiều thành 
tựu của khoa học tự nhiên bấy giờ nếu chúng không dung hợp với ý niệm tuyệt đối. 
+ Hêghen coi nhà nước Đức, văn minh Đức là đỉnh cao của hiện thân tinh thần tuyệt đối trên trần 
gian, là chuẩn mực cuối cùng mà mọi dân tộc trên thế giới phải vươn đến. 
+ Hêghen coi, trong triết học Đức - triết học Hêghen, ý niệm tuyệt đối đã khám phá ra chính mình 
từ cái không phải là mình để quay về với mình; do đó, tại đây, mọi sự phát triển tiếp tục đều chấm 
dứt… 
Dù có nhiều hạn chế không nhỏ nhưng thành tựu mà triết học Hêghen mang lại - phép biện chứng 
tư duy là một cống hiến vĩ đại cho kho tàng tư tưởng của nhân loại. Triết học Hêghen là một cội 
nguồn của triết học Mác. Cứu lấy phép biện chứng, giải phóng hạt nhân biện chứng ra khỏi lớp vỏ 
duy tâm thần bí của Hệ thống Hêghen là một yêu cầu cấp bách của triết học mà sau này Mác đã thực 
hiện. Khi cải tạo phép biện chứng duy tâm Hêghen theo tinh thần duy vật của triết học Phoiơbắc, 
Mác đã xây dựng phép biện chứng duy vật - phép biện chứng của sự vật - thế giới khách quan, mà 
phép biện chứng của ý niệm chỉ là hình ảnh biện chứng trong bộ óc con người phản ánh phép biện 
chứng của sự vật - thế giới khách quan. 
Tóm lại, với một hệ thống triết học tương đối hoàn chỉnh, với tri thức bách khoa, kiến thức uyên 
bác và thiên tài của mình, Hêghen trở thành nhà triết học lớn nhất thời bấy giờ. Học thuyết của ông 
khép lại một giai đoạn phát triển triết học đầy sôi động, đồng thời mở ra một giai đoạn cách mạng 
mới trong lịch sử triết học - giai đoạn gắn tư tưởng triết học với thực tiễn cách mạng. 
Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về chính con người, có sứ mạng mang 
lại cho con người một cuộc sống hạnh phúc thật sự trên trần gian mà Phoiơbắc lấy con người làm đối 
tượng nghiên cứu của triết học. Ông cho rằng, xưa nay triết học nghiên cứu vấn đề về quan hệ giữa 
tư duy và tồn tại, nhưng quan hệ này thuộc về bản chất của con người; bởi vì, chỉ có con người đang 
sống, đang tồn tại mới có tư duy. Theo ông, chỉ khi nào xuất phát từ con người thì vấn đề về quan hệ 
giữa tư duy và tồn tại mới được giải quyết một cách đúng đắn và có ý nghĩa thật sự. Do con người là 
đối tượng của triết học mới, và khoa học nghiên cứu bản chất của con người là nhân bản học, nên 
triết học mới đó phải là triết học nhân bản hay nhân bản học phải là khoa học cơ sở và chung nhất 
cho mọi ngành khoa học. Triết học mới mà Phoiơbắc đã xây dựng là triết học duy vật nhân bản. 
Triết học Phoiơbắc đã khôi phục được truyền thống duy vật thế kỷ XVIII trong hoàn cảnh chủ 
nghĩa duy tâm thống trị đời sống tinh thần ở Phương Tây, và phát triển chủ nghĩa duy vật thêm một 
bước. Ông đã trình bày sáng rõ nhiều quan điểm duy vật; ông phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm 
và Cơ đốc giáo; ông biết đặt con người vào đúng tâm điểm phân tích triết học. Triết học của ông chất 
chứa đầy tính duy vật khả tri và nhân bản, nó là một cội nguồn tư tưởng của triết học Mác. 
Triết học của Phoiơbắc không sâu, còn nhiều quan niệm siêu hình, phiếm diện trong lý giải đối 
tượng triết học, trong việc phân tích bản chất con người, trong việc tìm hiểu thực tiễn và xác định vai 
trò của nó trong nhận thức và cuộc sống…; Đặc biệt, trong việc xác định nguồn gốc, động lực phát 
triển và phương tiện cải tạo xã hội, quan điểm của Phoiơbắc còn đầy tính duy tâm; Thái độ đối với 
tôn giáo của ông không nhất quán… Điều này thể hiện như sau: 
- Một là, do phủ nhận hệ thống duy tâm của triết học Hêghen nên ông phủ nhận luôn phép biện 
chứng; hơn nữa, ông hiểu biện chứng rất hời hợt, - phép biện chứng không phải là sự độc thoại của 
một nhà tư tưởng với bản thân mình mà là sự đối thoại giữa Tôi và Anh… 
Lớp M12CQDT01-N Page 12
- Hai là, do đứng trên quan điểm nhân đạo chung chung mà quan niệm về con người rất trừu 
tượng, phi lịch sử; ông chỉ quan tâm đến mặt tự nhiên - sinh học mà không chú ý mặt xã hội và điều 
kiện chính trị - xã hội của con người; tuyệt đối hóa và coi tình yêu là bản chất con người. 
- Ba là, do bỏ qua hoạt động thực tiễn nên Phoiơbắc coi nhận thức là một quá trình tĩnh tại, thụ 
động của chủ thể tiếp nhận hình ảnh của khách thể mà không phải là quá trình mang tính thực tiễn 
năng động, sáng tạo thế giới của con người - chủ thể nhận thức; Phoiơbắc không chỉ không thấy 
được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức mà ông cũng không thấy được vai trò to lớn của thực 
tiễn đối với sự hoàn thiện con người, thúc đẩy phát triển sản xuất nói riêng, xã hội nói chung. Vì 
không thấy trong thực tiễn động lực phát triển xã hội nên ông cố đi tìm nó trong tình yêu. Do không 
xuất phát từ quan điểm thực tiễn mà trong lĩnh vực xã hội, Phoiơbắc cũng như mọi nhà tư tưởng 
trước Mác đều sa vào chủ nghĩa duy tâm, quá đề cao sức mạnh tinh thần, trước hết là giáo dục, đạo 
đức, pháp luật… mà không thấy được vai trò của nền sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát 
triển của xã hội. 
Phép biện chứng duy vật được C.Mác và Ph. Ăngghen xâydựng vào giữa thế kỷ XIX, sau đó được 
Lênin phát triển. Sự ra đời của phép biện chứng duy vật được chuẩn bị bằng toàn bộ sự phát triển xã 
hội, triết học và khoa học tự nhiên trứơc đó mà trực tiếp nhất là phép biện chứng của Hêghen và 
quan điểm duy vật của Phoiơbắc. Trong phép biện chứng duy vật luôn luôn có sự thống nhất hữu cơ 
giữa thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật. 
Phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy luật vận động và phát triển 
chung nhất của thế giới. Nhờ vậy, C.Mác và Ph. Ănghen khắc phục được những hạn chế vốn có của 
phép biện chứng tự phát thời cổ đại và những sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan thời 
cận đại, làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học. 
Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt những phạm 
trù, những nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực. Cho nên nó có khả năng phản ánh 
đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đúng như Ph. Ăngghen 
đã định nghĩa “phép biện chứng... là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động sự 
phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và tư duy”. Lênin đã gọi phép biện chứng duy vật là 
linh hồn của chủ nghĩa Mác. 
Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân 
chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản (trước năm 1844) 
Trong bước đầu hoạt động khoa học và chính trị, C.Mác và Ph.Ăngghen đứng trên lập trường của 
chủ nghĩa duy tâm và quan điểm dân chủ cách mạng. 
Các Mác (5/5/1818 - 14/3/1883) được sinh ra và lớn lên tại thành phố Tơrivơ, vùng Ranh của 
nước Đức. Ngay từ khi còn học trung học, C.Mác đã thể hiện là một thanh niên tài năng, yêu quê 
hương, đất nước và gắn hạnh phúc cá nhân với hạnh phúc chung của mọi người… Trong thời gian 
học tập và nghiên cứu tại Đại học Bon và Đại học Béclin, ông là người rất say mê nghiên cứu triết 
học, vì theo C.Mác, chỉ có triết học mới đem đến cho con người sự hiểu biết và khả năng cải tạo thế 
giới nhằm giải phóng con người… Từ năm 1837, C.Mác bắt đầu nghiên cứu triết học Hêghen, tham 
gia phái Hêghen trẻ. Nét nổi bật mà C.Mác nhận thấy ở Hêghen là phương pháp nhận thức, phương 
pháp tư duy biện chứng… Từ năm 1839, C.Mác bắt đầu nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại và triết 
học cận đại. Trong Luận án tiến sĩ Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự 
nhiên của Êpiquya, bảo vệ năm 1841, C.Mác vẫn đứng trên lập trường triết học duy tâm của Hêghen, 
coi sự vận động và phát triển của tự ý thức là động lực của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, ông vẫn 
đánh giá cao vai trò của Êpiquia trong lịch sử triết học, đã làm phong phú và đóng góp vào sự phát 
triển của học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít, chống tư tưởng tôn giáo, ủng hộ chủ nghĩa vô thần. 
Trong luận án này, C.Mác đã phê phán phái Hêghen trẻ, đề cao vai trò của phép biện chứng trong 
Lớp M12CQDT01-N Page 13
quá trình nhận thức và cải tạo xã hội, phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị, hướng đến hạnh phúc 
của con người. 
Phriđrích Ăngghen (28/11/1820 - 5/8/1895) sinh ra trong một gia đình chủ xưởng dệt. Mong 
muốn của gia đình là ông sớm trở thành một nhà kinh doanh… Từ năm 1839, vừa làm việc và tự 
học, ông bắt đầu nghiên cứu triết học Đức, nhất là nghiên cứu triết học Hêghen. Đứng trên lập 
trường dân chủ cách mạng, đối lập với chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, tháng 3 năm 1839, Ph.Ăngghen 
viết bài báo đầu tiên Những bức thư từ Vesphali đả kích bộ mặt thật của bọn chủ xưởng, ủng hộ 
những người lao động… Năm 1841, Ph.Ăngghen tới Béclin làm nghĩa vụ quân sự và dự nghe các 
bài giảng triết học tại Đại học Béclin, đồng thời tham gia vào nhóm Hêghen trẻ. Trong thời gian này, 
ông đã viết một số tác phẩm nhằm mục đích phê phán các quan điểm phản động của nhà triết học 
Sêlinh. Các tác phẩm Sêlinh và Hêghen, Sêlinh - nhà triết học nơi Chúa Kitô, và đặc biệt là tác phẩm 
Sêlinh và sự linh báo (1842) đã thể hiện tư tưởng dân chủ cách mạng, thấy được mâu thuẫn giữa mặt 
tiến bộ và mặt bảo thủ trong triết học Hêghen. Dù vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa duy 
tâm, Ph.Ăngghen vẫn đánh giá cao triết học Phoiơbắc, vì ông nhận thấy thế giới quan duy vật của 
Phoiơbắc triệt để hơn các nguyên lý triết học duy tâm Hêghen… Cuối năm 1842, Ph.Ăngghen sang 
Mantrextơ, làm việc trong một xưởng sợi, bắt đầu tìm hiểu phong trào công nhân và nghiên cứu kinh 
tế chính trị học cổ điển Anh. Hoạt động này có ý nghĩa quan trọng giúp ông thấy rõ mối liên hệ giữa 
lý luận và thực tiễn trong cuộc đấu tranh xã hội, tạo bước chuyển biến về quan điểm chính trị của 
ông. 
Sự chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ 
cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản 
Sự chuyển biến tư tưởng của C.Mác bắt đầu từ quá trình hoạt động báo chí và qua sự phê phán 
triết học Hêghen về nhà nước, pháp quyền, tôn giáo và vai trò của triết học: Thông qua báo Sông 
Ranh (1842 - 1843), C.Mác viết bài bảo vệ lợi ích của những con người lao động nghèo khổ, cổ vũ 
cuộc đấu tranh vì tự do và dân chủ; phê phán sâu sắc các tệ nạn bóc lột, áp bức người lao động, về sự 
bần cùng của nông dân. Hoạt động này giúp C.Mác nhận thức đầy đủ hơn về những mặt hạn chế của 
triết học Hêghen, tính chất phản động, bảo thủ của Nhà nước Phổ, và qua đó, quan điểm của C.Mác 
chuyển dần từ khuynh hướng duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biện 
chứng và chủ nghĩa cộng sản… Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của 
Hêghen (1943), C.Mác phủ nhận mệnh đề “tồn tại là hợp lý” của Hêghen, kiên quyết bác bỏ các hình 
thức đang tồn tại của nền chính trị nước Đức lúc bấy giờ là ý thức pháp quyền và nhà nước, đồng 
thời trình bày các vấn đề nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo trên nền tảng thế giới quan duy 
vật biện chứng; C.Mác coi triết học là vũ khí để cải tạo thế giới, là động lực cải tạo xã hội: Xuất phát 
từ tư tưởng “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực 
lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực 
lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”, C.Mác coi triết học là vũ khí tinh thần của 
giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ 
khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình”. Khi chỉ ra 
tôn giáo cũng là sản phẩm của các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ lịch sử, C.Mác vạch 
ra nguồn gốc và bản chất của tôn giáo trong mối quan hệ với đời sống hiện thực và nhu cầu tinh 
thần, tình cảm của con người. C.Mác viết: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo 
nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của 
chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của 
những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. 
Lúc bấy giờ, thông qua Niên giám Pháp - Đức, Ph.Ăngghen cũng đã đăng tải một số tác phẩm phê 
phán chế độ tư hữu và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phê phán các tư tưởng kinh tế chính 
trị học của A.Xmít và Đ.Ricácđô trên tinh thần biện chứng; đồng thời qua đó khẳng định vai trò sứ 
mệnh lịch sử của giai cấp vô sản… 
Lớp M12CQDT01-N Page 14
Tháng 8/1844, trên đường từ Anh về Đức, Ph.Ăngghen đã gặp C.Mác tại Pari. Và từ đây, giữa hai 
ông đã bắt đầu một tình bạn, tình đồng chí vĩ đại và cảm động trong suốt cả cuộc đời để sáng tạo nên 
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Như vậy, cho đến thời điểm này, C.Mác 
và Ph.Ăngghen đã có bước chuyển hoàn toàn từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật 
biện chứng, từ lập trường chính trị dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là một 
quá trình phức tạp, vừa cải biến phép biện chứng duy tâm của Hêghen thành phép biện chứng duy 
vật, vừa vận dụng phép biện chứng duy vật vào việc nhận thức xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt 
nền móng vững chắc cho một cuộc cách mạng trong triết học, để từng bước hoàn chỉnh hệ thống triết 
học của mình cả về thế giới quan và phương pháp luận. 
Thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật 
lịch sử (1844 - 1848): Hai ông đã trình bày một cách toàn diện những vấn đề về triết học, kinh tế 
chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học trên nền tảng thế giới quan duy vật triệt để và cách mạng, 
làm rõ những quy luật cơ bản của xã hội. Triết học Mác trở thành thế giới quan và phương pháp luận 
để nhận thức và cải tạo thực tiễn. 
Với tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học (1844), C.Mác trình bày những nghiên cứu về kinh tế 
học để rút ra những kết luận về triết học. 
Từ việc nghiên cứu kinh tế chính trị học Anh, nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, từ 
việc phân tích các phạm trù kinh tế cụ thể (tiền công, lợi nhuận, tư bản, địa tô, sức lao động...), 
C.Mác đã phát hiện ra bản chất của xã hội tư bản - xã hội đối kháng giữa người công nhân và nhà tư 
bản. C.Mác viết: “Tư bản là quyền chỉ huy lao động và sản phẩm của lao động. Nhà tư bản có được 
quyền đó không phải nhờ những phẩm chất cá nhân hay phẩm chất con người của hắn, mà chỉ có 
được với tư cách là người sở hữu tư bản. Sức mạnh của hắn là sức mua của tư bản của hắn, sức mua 
mà không có gì có thể chống lại nỗi” … 
Từ chỗ coi sức lao động của người công nhân là hàng hóa, được đem ra mua bán, trao đổi, nhằm 
mục đích duy trì sự tồn tại mang tính động vật của con người, C.Mác xem xét vấn đề lao động bị tha 
hóa, và ông kết luận: lao động bị tha hóa là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất xã hội trong chủ nghĩa 
tư bản. Nếu Hêghen coi sự tha hóa chỉ diễn ra trong ý thức, tinh thần; còn Phoiơbắc chỉ nhấn mạnh 
sự tha hóa của bản chất con người trong tôn giáo; thì C.Mác đã đi tới tận nguồn của sự tha hóa, đó là 
sự tha hóa của lao động, của bản chất con người, sự đánh mất bản chất người trong chính quá trình 
sản xuất vật chất. C.Mác viết: “Sự tha hóa thể hiện ở chỗ tư liệu sinh hoạt của tôi thuộc về người 
khác, ở chỗ đối tượng mong muốn của tôi là vật sở hữu của người khác mà tôi không với tới được, 
cũng như ở chỗ bản thân mỗi vật hóa ra là một cái khác với bản thân nó, ở chỗ hoạt động của tôi hóa 
ra là một cái khác nào đó và cuối cùng, điều này cũng đúng cả đối với nhà tư bản, lực lượng không 
phải người nói chung thống trị tất cả”. Vì vậy, quan hệ tha hóa đối lập ấy được biểu hiện như một sự 
kết tội bản chất xã hội tư bản chủ nghĩa: “Cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người, 
còn cái có tính người thì trở thành cái vốn có của súc vật”. Kết luận tất yếu được rút ra là, muốn giải 
phóng con người ra khỏi sự tha hóa thì phải xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, có 
như vậy mới trả con người trở về với chính bản chất của nó… 
Với tinh thần phê phán, C.Mác đã đánh giá phép biện chứng trong triết học Hêghen, cũng như chủ 
nghĩa duy vật của Phoiơbắc, làm rõ những đóng góp và hạn chế của họ, từ đó khẳng định vai trò và 
tính chất cách mạng của phép biện chứng duy vật. 
Năm 1845, C.Mác đã phác thảo Luận cương về Phoiơbắc chỉ ra những khuyết điểm cơ bản của 
chủ nghĩa duy vật trước đây trong việc nhận thức về con người, lịch sử và phương pháp nhận thức. 
C.Mác cũng nêu lên sự khác nhau căn bản giữa triết học của ông với các học thuyết triết học khác 
trong lịch sử. C.Mác viết: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay, - 
kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, - là sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức 
Lớp M12CQDT01-N Page 15
dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức la hoạt động cảm giác 
của con người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ quan” … 
Thông qua vai trò thực tiễn, C.Mác đã chứng minh tính lịch sử - xã hội quy định bản chất con 
người: “Phoiơbắc hòa tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người. Nhưng bản chất con người 
không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản 
chất con người là tổng hòa của những quan hệ xã hội”. Luận đề này thể hiện tính chất duy vật triệt 
để trong quan niệm của C.Mác về con người và lịch sử, chống lại những tư tưởng duy tâm siêu hình 
về xã hội và con người trong các hệ thống triết học khác trong lịch sử, nhất là triết học của Phoiơbắc. 
Từ năm 1945 - 1846, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cộng tác với nhau để hoàn thành một tác phẩm 
quan trọng Hệ tư tưởng Đức. Trong tác phẩm này, hai ông đã kết hợp một cách khoa học giữa chủ 
nghĩa duy vật và phép biện chứng; vận dụng phép biện chứng duy vật vào nhận thức lịch sử xã hội 
và phát hiện ra các quy luật của lịch sử, từ đó sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, làm sáng tỏ sứ 
mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, đặt cơ sở khoa học cho lý luận cách mạng của triết học Mác. 
Xuất phát từ hiện thực lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của 
con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có 
thể làm ra lịch sử”. Tuy nhiên, “muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống… 
Hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản 
xuất ra bản thân đời sống vật chất”. Như vậy, việc sản xuất ra đời sống vật chất là cơ sở quyết định 
sự tồn tại, mà yếu tố quan trọng nhất là lực lượng sản xuất, sẽ quyết định mọi trạng thái của lịch sử - 
xã hội. Quan niệm trên biểu hiện tư tưởng duy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen về lịch sử. Từ đó, hai 
ông đã phê phán những sai lầm của chủ nghĩa duy tâm Hêghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình 
Phoiơbắc trong việc nhận thức lịch sử - xã hội. 
C.Mác và Ph.Ăngghen nêu lên các hình thức sở hữu và sự thay thế của các phương thức sản xuất 
khác nhau trong lịch sử xã hội loài người. Khi trình bày các hình thức sở hữu trong lịch sử, C.Mác 
và Ph.Ăngghen đã trình bày quá trình phát triển của lịch sử dưới dạng vắn tắt mà hạt nhân của nó là 
sở hữu về tư liệu sản xuất; xét về thực chất, đó chỉ là biểu hiện của quy luật về sự phù hợp của quan 
hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, - một quy luật chung chi phối sự phát triển 
của các hình thái kinh tế - xã hội. 
C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội: “Ý 
thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là 
quá trình đời sống hiện thực của con người”, vì thế, “không phải ý thức quyết định đời sống mà 
chính đời sống quyết định ý thức”. Sự phát triển của toàn bộ lịch sử - xã hội là sự chứng minh vai trò 
quyết định của tồn tại xã hội, trong đó, phương thức sản xuất có ý nghĩa cơ bản nhất. “Ngay từ đầu, 
ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”. 
C.Mác và Ph.Ăngghen vạch ra bản chất nhà nước bị quy định bởi quan hệ lợi ích vật chất; nhà 
nước của giai cấp thống trị “chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người tư 
sản buộc phải dùng đến để đảm bảo lẫn cho nhau sở hữu và lợi ích của họ, ở ngoài nước cũng như ở 
trong nước”. Từ đây, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, “trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai 
cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất 
thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”. Vì vậy, nhiệm vụ của 
giai cấp vô sản là phải xóa bỏ trạng thái hiện tồn, xóa sự thống trị của giai cấp tư sản cả trong cơ sở 
hạ tầng lẫn trong kiến trúc thượng tầng, để xác lập sự thống trị của giai cấp vô sản, - giai cấp tiên 
tiến và cách mạng nhất của thời đại. “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng 
thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi 
chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay”. Mặc dù, phong trào 
công nhân trong giai đoạn này chưa biểu hiện tính tự giác của nó, tức là chưa ý thức được vai trò, sứ 
mệnh lịch sử của giai cấp mình một cách hoàn toàn đầy đủ. Song, sự phát triển tất yếu của lịch sử, 
địa vị khách quan của giai cấp vô sản cho phép họ giành lấy chính quyền về tay mình, “bằng một 
Lớp M12CQDT01-N Page 16
cuộc cách mạng, cuộc cách mạng này một mặt lật đổ thế lực của phương thức sản xuất và của sự 
giao tiếp trước đó và cả của cơ cấu xã hội cũ và mặt khác, phát triển tính phổ biến của giai cấp vô 
sản và nghị lực mà giai cấp vô sản cần có”. Điều đó, có nghĩa là giai cấp vô sản, - người đại diện cho 
lực lượng sản xuất mới trong xã hội, - phải thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình bằng việc phải giành 
lấy quyền lực chính trị. 
Tháng 2 năm 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen viết tác phẩm nổi tiếng Tuyên ngôn của Đảng Cộng 
sản. Đây là tác phẩm tuyên truyền cho tổ chức “Đồng minh những người cộng sản”, là cương lĩnh 
đầu tiên của Đảng Cộng sản về chủ nghĩa xã hội khoa học, vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, 
phép biện chứng duy vật vào lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô 
sản. Tác phẩm này đánh dấu sự hoàn thành giai đoạn khởi thảo những nguyên lý cơ bản của triết học 
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, thể hiện rõ thế giới quan mới của triết học Mác. Ngày nay, 
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Dù lịch sử đang vận 
động, biến đổi với nhiều bước ngoặt quanh co, gập ghềnh; dù chủ nghĩa xã hội đang tạm thời thoái 
trào, song mục tiêu mà tác phẩm đặt ra đang cổ vũ nhân loại đấu tranh vì hạnh phúc của con người - 
xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa cộng sản. 
Trong Chương 1 Tư sản và vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ những quy luật chi phối 
sự phát triển của xã hội, tức thay thế các phương thức sản xuất trong lao động. Vạch ra sứ mệnh lịch 
sử của giai cấp vô sản: “Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai 
cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước 
hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản 
và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”. 
Trong Chương 2 Những người vô sản và những người cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm 
sáng tỏ vai trò của Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lãnh đạo cuộc đấu tranh 
chính trị của giai cấp vô sản: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất 
trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về 
mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến 
trình và kết quả chung của phong trào vô sản”. Mục tiêu trước mắt là tổ chức cuộc đấu tranh chính 
trị để lật đổ giai cấp tư sản, giành chính quyền về tay mình, và mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành 
công chủ nghĩa cộng sản. “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của 
nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát 
triển tự do của tất cả mọi người”. 
Trong chương 3 Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê 
phán sâu sắc các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản và tư sản đang ảnh hưởng đến sự phát triển của phong 
trào đấu tranh của giai cấp công nhân như “Chủ nghĩa xã hội phản động”, “Chủ nghĩa xã hội bảo thủ 
hay chủ nghĩa xã hội tư sản”, “Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không tưởng phê phán”. 
Trong chương 4 Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập, C.Mác và 
Ph.Ăngghen trình bày chiến lược, sách lược, phương pháp và mục tiêu cách mạng: “Những người 
cộng sản… công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật 
đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành. Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc cách mạng 
cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những 
xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới”. 
Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển những quan điểm triết học: Từ năm 1848, 
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở Châu Âu chống áp bức, bóc lột, 
đòi dân chủ tự do đã phát triển và trở thành một làn sóng mạnh mẽ, nhưng gặp phải thất bại thảm 
hại. Sau thất bại này, các phong trào đấu tranh cách mạng ở Châu Âu bị giai cấp phong kiến, có sự 
tiếp tay của giai cấp tư sản và tiểu tư sản phản bội, đàn áp và bóp nghẹt. Từ sự thất bại của phong 
trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động, C.Mác và Ph.Ăngghen đã rút ra bài học là: Đảng 
Cộng sản phải hành động một cách tự giác và có tổ chức, phải hết sức thống nhất và độc lập để lãnh 
Lớp M12CQDT01-N Page 17
đạo phong trào đấu tranh vì lợi ích của quần chúng lao khổ. Dựa trên những kinh nghiệm chua xót 
này của thực tiễn cách mạng, bằng tư duy lý luận sâu sắc, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho ra đời 
những tác phẩm làm sáng tỏ những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử. 
Tư bản - bộ sách đồ sộ trình bày những nghiên cứu của C.Mác về quá trình vận động, phát triển 
của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, trên tinh thần duy vật lịch sử. Đây cũng là bộ tác phẩm thể hiện 
tuyệt vời phong cách tư duy biện chứng của C.Mác, tức thể hiện sự vận dụng tài tình phương pháp 
biện chứng vào nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. 
Xuất phát từ phương thức sản xuất, tức là từ hai mặt của một quá trình sản xuất vật chất trong đời 
sống xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, C.Mác đã khẳng định sự phát triển của “hình 
thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”. Ông chỉ rõ sự tác động của các quy luật 
khách quan đến quá trình sản xuất vật chất đã làm cho các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau. 
+ C.Mác đánh giá cao quá trình lao động; ông coi lao động là hành động lịch sử vĩ đại mà nhờ đó, 
con người tạo nên sự khác biệt căn bẳn giữa mình với loài vật, là động lực thúc đẩy sự phát triển của 
xã hội. 
+ Lao động sản xuất ra của cải vật chất là quá trình lịch sử; nó biểu hiện quan hệ biện chứng giữa 
con người với tự nhiên và giữa con người với con người trong xã hội. Theo C.Mác, lực lượng sản 
xuất là sự tổng hợp của hai yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động, trong đó, con người lao động 
đóng vai trò quyết định; nó biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Quan hệ sản xuất là 
biểu hiện mặt xã hội của quá trình sản xuất; nó thể hiện qua các mối quan hệ về sở hữu tư liệu sản 
xuất, về tổ chức quản lý sản xuất và về phân phối sản phẩm lao động; nó là đặc trưng của sự phát 
triển xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, là tiêu chuẩn để phân biệt các hình thái kinh tế - xã 
hội khác nhau. Với vai trò là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố 
quyết định đối với quan hệ sản xuất, tức là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất ấy. Quan hệ sản 
xuất tác động theo hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó tùy 
thuộc vào sự phù hợp hay không phù hợp của mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và 
quan hệ sản xuất. 
+ Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, tính chất xã hội hóa của quá trình sản xuất ngày càng mâu thuẫn 
với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Đó là cơ sở về kinh tế để dẫn tới cuộc cách mạng xã 
hội thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa cộng sản. “Sự độc quyền của tư bản trở thành những 
xiềng xích ràng buộc cái phương thức sản xuất đã thịnh vượng lên cùng với độc quyền đó và dưới 
độc quyền đó. Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không 
còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa… Phương thức chiếm hữu tư bản chủ nghĩa 
do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đẻ ra, và do đó cả chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nữa đều 
là sự phủ định đầu tiên đối với chế độ tư hữu cá nhân dựa trên lao động của bản thân. Nhưng nền sản 
xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên. 
Đó là sự phủ định cái phủ định”. Dù biện chứng của quá trình phát triển giữa lực lượng sản xuất và 
quan hệ sản xuất đã được C.Mác phân tích trong điều kiện lịch sử - xã hội tư bản chủ nghĩa, nhưng 
nó ý nghĩa phổ biến cho tiến trình vận động của lịch sử xã hội loài người. 
+ Qua bộ Tư bản, chúng ta có thể khẳng định rằng, toàn bộ quan niệm duy vật lịch sử của C.Mác 
trong Tư bản được biểu hiện ở phạm trù khoa học “hình thái kinh tế - xã hội”. C.Mác viết: “Tôi coi 
sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”. Bản chất của 
phạm trù hình thái kinh tế - xã hội chính là quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người 
bị quy định bởi các yếu tố cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. 
Đồng thời, các yếu tố khác trong lịch sử xã hội cũng có vai trò chi phối, tác động, nhưng trên cơ sở 
các yếu tố cơ bản đó. Tính lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội được chứng minh bởi sự phát 
triển vừa tuần tự vừa nhảy vọt, vừa đa dạng phong phú, phức tạp vừa thể hiện những quy luật phổ 
biến có ý nghĩa xuyên suốt toàn bộ tiến trình lịch sử xã hội loài người. 
Lớp M12CQDT01-N Page 18
Xuất phát từ việc nghiên cứu hàng hóa với tư cách là tế bào kinh tế của chủ nghĩa tư bản, bằng 
phương pháp thống nhất giữa lịch sử và lôgíc, giữa trừu tượng và cụ thể, C.Mác đã từng bước vạch 
ra bản chất của chủ nghĩa tư bản. 
+ C.Mác chỉ ra quá trình vận động và phát triển tất yếu của phương thức sản xuất tư bản chủ 
nghĩa biểu hiện thông qua tính đa dạng, phong phú, phức tạp của lịch sử của nó. Cho nên, lịch sử là 
bản thân quá trình sản xuất, lôgíc là bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là bóc lột giá trị 
thặng dư. C.Mác viết: “Phương pháp của chúng ta… phải bao gồm việc xem xét đối tượng về mặt 
lịch sử, nghĩa là những mục trong đó khoa kinh tế tư sản - khoa này chỉ là hình thức lịch sử của quá 
trình sản xuất - có những chỉ dẫn, vượt ra khỏi phạm vi của khoa kinh tế tư sản, về những phương 
thức sản xuất lịch sử đã tồn tại sớm hơn. Vì thế, muốn vạch rõ những quy luật của khoa kinh tế tư 
sản thì không cần thiết phải viết lịch sử thực sự về quan hệ sản xuất”. 
+ C.Mác cũng phân tích rõ mối quan hệ biện chứng giữa cái trừu tượng và cái cụ thể. Cái trừu 
tượng chỉ là sự phản ánh một mặt, một yếu tố của quá trình nhận thức đối tượng. Cái cụ thể lý tính, 
về bản chất, là sự phản ánh khái quát các thuộc tính của đối tượng trong tư duy. Bởi vậy, nền sản 
xuất xã hội biểu hiện từ sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng đến bản chất của nền kinh tế tư bản 
chủ nghĩa cũng chính là con đường đi từ trừu tượng đến cụ thể trong tư duy. C.Mác viết rằng: “Cái 
cụ thể sở dĩ là cụ thể vì nó là sự tổng hợp của nhiều tính quy định, do đó, nó là sự thống nhất của cái 
đa dạng. Cho nên trong tư duy, nó biểu hiện ra là một quá trình tổng hợp, là kết quả, chứ không phải 
là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cũng là điểm xuất phát của trực 
quan và của biểu tượng”. 
Các quy luật của phép biện chứng như quy luật lượng chất, quy luật phủ định của phủ định, quy 
luật mâu thuẫn đều được C.Mác vận dụng vào quá trình phân tích bản chất của chế độ tư bản chủ 
nghĩa. Phương pháp biện chứng của C.Mác là một biểu hiện thống nhất giữa nội dung và phương 
pháp, là phương pháp nhận thức thông qua sự vận động của nội dung. Vì vậy, Lênin đã nhận xét: 
“Mác không để lại cho chúng ta “lôgíc học” (với chữ Loại viết hoa), nhưng đã để lại cho chúng ta 
lôgíc của “Tư bản”… trong Tư bản, C.Mác áp dụng lôgíc, phép biện chứng và lý luận nhận thức… 
của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất”. Nhận xét này chứng tỏ rằng, phương pháp biện 
chứng của C.Mác là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ nội dung của Tư bản. C.Mác đã tự đánh giá: 
“Phương pháp biện chứng của tôi không những khác với phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà 
còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa. Đối với Hêghen, quá trình tư duy - mà ông ta thậm chí còn 
biến thành một chủ thể độc lập dưới cái tên gọi ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và 
hiện thực này chẳng qua chỉ là biểu hiện bên ngoài của tư duy mà thôi. Đối với tôi thì trái lại, ý niệm 
chẳng qua là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”. 
Tác phẩm Tư bản là một cống hiến vĩ đại của C.Mác. Bằng phương pháp triết học, phép biện 
chứng duy vật, C.Mác đã làm rõ quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người thông 
qua việc phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Mặc dù hiện nay, có những quan điểm tiếp cận lịch 
sử xã hội khác nhau, nhưng phương pháp tiếp cận từ giác độ hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác 
vẫn là một mẫu mực của việc nhận thức các quy luật xã hội. Vì vậy, bộ tác phẩm Tư bản thể hiện rõ 
vai trò nền tảng về mặt thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác. 
Với tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (1875), C.Mác phát triển đầy đủ học thuyết duy vật lịch 
sử, đặt cơ sở khoa học cho lý luận cách mạng của giai cấp vô sản để hướng đến xã hội tương lai. 
Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật, C.Mác trình bày lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, về 
cách mạng vô sản và nhà nước chuyên chính vô sản, về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ 
nghĩa xã hội, về hai giai đoạn của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa,… C.Mác viết: “Giữa 
xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ 
sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy 
không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”. Trong giai đoạn 
đầu của xã hội mới, C.Mác cho rằng “thoát thai từ chính xã hội tư bản chủ nghĩa, và do đó về mọi 
Lớp M12CQDT01-N Page 19
phương diện, kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”. 
Đồng thời, trong chủ nghĩa xã hội, nguyên tắc giữa cống hiến và hưởng thụ là “làm theo năng lực, 
hưởng theo số lượng và chất lượng lao động’. Trong chủ nghĩa cộng sản, mối quan hệ đó là “làm 
theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. 
Chống Đuyrinh (1876 - 1878) là một tác phẩm thể hiện thế giới quan duy vật biện chứng về triết 
học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Với phương pháp biện chứng duy vật, dựa 
trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen đã tổng kết toàn diện chủ nghĩa Mác, để 
đấu tranh chống lại các quan điểm đối lập. Tác phẩm này đã trở thành vũ khí lý luận sắc bén trong 
phong trào cách mạng của giai cấp vô sản thế giới. Lênin đã đánh giá cao tác phẩm này: “Đó là một 
cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích” vì đã “phân tích những vấn đề quan trọng nhất 
của triết học, của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội”. Nội dung cơ bản của tác phẩm có thể khái 
quát trong một số chủ đề sau đây: 
Về thế giới quan duy vật: Từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen đã phê 
phán quan điểm duy tâm của Đuyrinh, từ đó ông cho rằng, nhận thức của con người về vũ trụ không 
phải được rút ra từ bộ óc mà từ thế giới hiện thực. Vạch ra sai lầm duy tâm của ông Đuyrinh về vấn 
đề tồn tại, Ph.Ăngghen khẳng định rằng: “Tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của 
nó, mặc dù tồn tại là tiền đề của tính thống nhất của nó, vì trước khi thế giới có thể là một thể thống 
nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại đã… Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của 
nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo 
thuật, mà bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên”. Cũng trong 
tác phẩm này, Ph.Ăngghen đề cập đến vận động và mối quan hệ giữa vận động và vật chất. Vận 
động của vật chất bao hàm mọi quá trình, mọi thay đổi diễn ra trong vũ trụ, là sự biến đổi nói chung. 
Không có vật chất không vận động, cũng như không có sự vận động nào mà lại không phải là sự vận 
động của vật chất. Ph.Ăngghen cũng khái quát các hình thức vận động trong thế giới: vận động cơ 
học, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội. Tất cả các hình thức 
vận động đó không phải tách rời, mà liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau, trong không gian và thời gian. Từ 
đó, nguyên lý mà chúng ta rút ra biểu hiện thế giới quan duy vật triệt để là: Trong thế giới không có 
gì ngoài vật chất đang vận động, và vật chất vận động chỉ vận động trong không gian và thời gian. 
Về phép biện chứng duy vật: Khi coi “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những 
quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”, là 
công cụ để nhận thức thế giới tự nhiên và lịch sử, Ph.Ăngghen khẳng định từ trong giới tự nhiên và 
lịch sử mà tư duy biện chứng hình thành và phát triển. 
+ Phép biện chứng là khoa học của phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy xem xét sự vật 
hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, trong tính hệ thống, trong quá trình vận động 
theo khuynh hướng tiến lên. Về bản chất, tư duy biện chứng đối lập với tư duy siêu hình; phép biện 
chứng trong triết học Mác khác với phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, tức là phép biện 
chứng trong triết học Mác không được rút ra từ tư duy chủ quan của con người và không có mối liên 
hệ nào với thực tại khách quan, mà ngược lại, là sự phản ánh của giới tự nhiên và lịch sử vào tư duy: 
“Không thể đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng 
trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự nhiên”, thông qua sự phát triển của khoa học tự nhiên, 
của lịch sử xã hội và kinh tế chính trị. 
+ Sự phát triển của tư duy phản ánh thế giới khách quan được Ph.Ăngghen trình bày trong hệ 
thống các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Ph.Ăngghen đã chứng minh tính khách quan 
và tính phổ biến của mâu thuẫn với ý nghĩa là quy luật tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng, trong 
mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; qua đó, ông nhấn mạnh rằng, với tư duy biện chứng thì việc 
nhận thức và giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Thông qua sự phát triển 
của khoa học và trong đời sống xã hội Ph.Ăngghen chứng minh đã quy luật từ những thay đổi về 
lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại. Bản chất của quy luật chính là mối quan hệ biện 
Lớp M12CQDT01-N Page 20
chứng giữa chất và lượng trong thế giới khách quan. Lượng biến đổi để dẫn tới chuyển hóa về chất, 
đồng thời, chất tác động đến lượng để tạo nên sự chuyển hóa về lượng. Quá trình liên tục diễn ra, tạo 
thành cách thức của sự phát triển vừa tuần tự vừa nhảy vọt, hình thành quy luật phổ biến của thế giới 
khách quan. Tính khách quan và phổ biến của quy luật phủ định của phủ định được Ph.Angghen làm 
sáng tỏ trong mọi lĩnh vực của thế giới khách quan và tư duy con người; quy luật này vạch ra 
khuynh hướng chung của sự phát triển, thể hiện tính kế thừa và tiến lên, hình thành một quá trình 
liên tục trong sự vận động của sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao. Phát triển cũng không phải là một 
quá trình giản đơn, theo đường thẳng, mà là một quá trình phức tạp, lặp lại cái cũ nhưng không phải 
trùng khớp mà ở một trình độ mới cao hơn, thể hiện tính xoáy ốc của sự phát triển. Với bản chất như 
vậy, cái mới, theo quy luật, bao giờ cũng cao hơn và tiến bộ hơn so với cái cũ. Ph.Ăngghen cũng đòi 
hỏi cần phải có sự phân biệt giữa phủ định biện chứng và phủ định siêu hình: “Phủ định, trong phép 
biện chứng, không phải chỉ có ý nghĩa giản đơn là nói: không, hoặc giả là tuyên bố rằng một sự vật 
không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó”, mà nó là sự tự phủ định để hướng tới sự 
phát triển. 
Về lý luận nhận thức: Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ quan điểm duy vật biện chứng về bản chất của 
tư duy, về khả năng nhận thức chân lý, về tính cụ thể của chân lý, v.v.. 
+ Theo Ph.Angghen, tư duy con người không phải là sự nhận thức chân lý tuyệt đối như quan 
niệm của Đuyrinh, mà là sự phản ánh của thế giới khách quan vào bộ não con người, là hình ảnh chủ 
quan về thế giới khách quan. Nó là một quá trình vừa tương đối, vừa tuyệt đối; nó “vừa là tối cao 
vừa là không tối cao, và khả năng nhận thức của con người vừa là vô hạn, vừa là có hạn. Tối cao và 
vô hạn là xét theo bản tính, sứ mệnh khả năng và mục đích lịch sử cuối cùng; không tối cao và có 
hạn là xét theo sự thực hiện riêng biệt và thực tế trong mỗi một thời điểm nhất định”. 
+ Nhận thức chân lý là một quá trình lịch sử; vì vậy, không thể có chân lý bất biến, tuyệt đích 
cuối cùng như Đuyrinh quan niệm mà chân lý là một quá trình nhận thức từ thấp đến cao, phụ thuộc 
vào nhiều mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức. Tuyệt đối hóa tính tuyệt đối, tính vĩnh 
cửu của chân lý như Đuyrinh thì chỉ dẫn đến chủ nghĩa duy tâm và siêu hình về nhận thức. 
Ph.Ăngghen coi tính lịch sử của chân lý cũng giống như tính lịch sử của các quan hệ đạo đức: “Từ 
dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã 
biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau”. Hơn nữa, “chân lý và sai lầm, cũng 
giống như tất cả những phạm trù lôgíc học vận động trong những cực đối lập, chỉ có giá trị tuyệt đối 
trong một phạm vi cực kỳ hạn chế”. 
Lớp M12CQDT01-N Page 21
Về chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội 
+ Khi bác bỏ quan điểm của Đuyrinh xem bạo lực và chiến tranh (nguồn gốc quân sự) là cơ sở để 
hình thành các giai cấp trong xã hội, Ph.Ăngghen cho rằng, điều kiện kinh tế xã hội, sự phát triển 
của lực lượng sản xuất, chế độ sở hữu là cơ sở có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành các giai 
cấp khác nhau (nguồn gốc kinh tế). “… những cuộc xung đột không chỉ giữa những giai cấp do đại 
công nghiệp sinh ra, mà còn giữa lực lượng sản xuất và những phương thức trao đổi do nó tạo ra nữa 
- và mặt khác, đại công nghiệp ấy, thông qua sự phát triển lớn lao của chính lực lượng sản xuất ấy, 
cũng cung cấp những phương tiện để giải quyết những sự xung đột đó”. 
+ Angghen chỉ rõ, y thức xã hội, lịch sử và pháp quyền chỉ có thể có được trên cơ sở tồn tại xã 
hội; không có chân lý đạo đức và pháp quyền vĩnh cửu vượt qua mọi giai đoạn lịch sử của mỗi dân 
tộc và thời đại khác nhau, như Đuyrinh quan niệm, mà ngược lại, tư tưởng về đạo đức và pháp quyền 
chỉ có thể dựa trên những quan hệ về kinh tế, xã hội và giai cấp nhất định trong mỗi giai đoạn lịch 
sử. Từ đây, Ph.Ăngghen chỉ ra hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng của Xanh Ximông, Phuriê, 
mặc dù ý tưởng của họ tốt đẹp, nhưng họ đã không dựa trên những tiền đề tất yếu của điều kiện kinh 
tế - xã hội. Về điều này, Angghen viết: “Tư tưởng với một trạng thái chưa trưởng thành của nền sản 
xuất tư bản chủ nghĩa, với những quan hệ giai cấp chưa trưởng thành là những lý luận chưa trưởng 
thành”. 
+ Để hiểu và vận dụng quy luật vào đời sống xã hội, Ph.Ăngghen đã nêu lên quan niệm về tất yếu 
và tự do. “Tự do không phải là sự độc lập tưởng tượng đối với các quy luật của tự nhiên, mà là ở sự 
nhận thức được những quy luật đó và ở cái khả năng - có được nhờ sự nhận thức này - buộc những 
quy luật đó tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đích nhất định… Như vậy, tự do của ý 
chí không phải là cái gì khác hơn là cái năng lực quyết định một cách hiểu biết công việc. Do đó, sự 
phán đoán của một người về một vấn đề nhất định, càng tự do bao nhiêu thì nội dung của sự phán 
đoán đó sẽ được quyết định với một tính tất yếu càng lớn bấy nhiêu”. 
+ Ph.Ăngghen coi sự phát triển của triết học trong lịch sử, từ triết học cổ đại tới chủ nghĩa duy vật 
hiện đại là quá trình biểu hiện sự liên hệ thống nhất giữa triết học và khoa học: “Nói chung, đây 
không còn là một triết học nữa, mà là một thế giới quan, nó không cần phải được chứng thực và biểu 
hiện thành một khoa học đặc biệt nào đó của các khoa học, mà được chứng thực và biểu hiện trong 
các khoa học hiện thực”. 
Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã vận dụng phương pháp biện chứng duy 
vật vào việc giải quyết những vấn đề của tự nhiên và lịch sử; ông đã trình bày một cách khoa học về 
tính biện chứng khách quan của giới tự nhiên, về sự phát triển của khoa học tự nhiên trong mối quan 
hệ với triết học, về vật chất vận động, về nguồn gốc loài người và lịch sử xã hội... 
Về quan niệm vật chất và vận động: Trước hết, Ph.Ăngghen chỉ ra tính đa dạng (khác biệt về chất 
và về lượng) của sự thống nhất vật chất của thế giới, biểu hiện trong sự liên hệ, chuyển hóa, luôn vận 
động và phát triển theo một quá trình ngày càng đi lên, với sự phong phú và đa dạng trong tính hệ 
thống, tính chỉnh thể. Quan niệm về tính thống nhất vật chất của thế giới là kết quả khái quát quá 
trình phát triển lâu dài của nhận thức triết học duy vật và dựa trên những thành tựu của khoa học tự 
nhiên. Sau đó, Ph.Ăngghen trình bày các quan niệm về sự vận động của vật chất. Ông viết: “Vận 
động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một 
thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ 
trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”. Như vậy, vận động là sự biến đổi nói chung, 
bao hàm tất cả mọi tính chất, mọi kết cấu, mọi khuynh hướng…, với bản chất là phương thức tồn tại, 
là thuộc tính hữu cơ của vật chất. 
+ Ông cũng chỉ ra các hình thức vận động cơ bản của vật chất như vận động cơ giới các của khối 
lượng, vận động vật lý của các phân tử, vận động hóa học của các nguyên tử, và tiên đoán về sự vận 
Lớp M12CQDT01-N Page 22
động của trường điện từ và khẳng định giữa các hình thức vận động luôn có sự liên hệ, chuyển hóa 
lẫn nhau... 
+ Ph.Ăngghen đã đối lập quan niệm duy vật biện chứng với các quan niệm duy tâm, cơ giới máy 
móc, siêu hình về vận động, cho dù các quan niệm này cũng đã chứa đựng một số thành tựu của 
khoa học tự nhiên. Ông phê phán thuyết “cái chết nhiệt” của Clauđiuxơ và khẳng định tính bất diệt 
của vận động, cũng như của sự sống: “Khoa học tự nhiên hiện đại đã phải vay mượn của triết học 
luận điểm về tính không thể tiêu diệt được của vận động, không có luận điểm này thì khoa học tự 
nhiên không thể tồn tại được”. 
+ Như vậy, dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, Ph.Ăngghen đã nêu lên tính chỉnh 
thể, tính đa dạng của quá trình vận động, chuyển hóa của thế giới vật chất vô tận và vĩnh viễn. 
Về phép biện chứng: Bàn về phép biện chứng trong lịch sử, Ph.Ăngghen đề cập đến phép biện 
chứng của triết học Arixtốt, Đềcáctơ, Cantơ và Hêghen. 
+ Trên tinh thần phê phán, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy 
tâm của Hêghen. Theo quan niệm của C.Mác: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở 
trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách 
bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng. Ở Hêghen, phép biện 
chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái nhân hợp lý của nó ở 
đằng sau cái vỏ thần bí của nó”. Tư tưởng đó đã khẳng định rằng, biện chứng khách quan của thế 
giới tự nhiên đóng vai trò quyết định đối với biện chứng chủ quan trong tư duy con người. Những 
quy luật cơ bản của phép biện chứng như “quy luật về sự chuyển hóa từ số lượng thành chất lượng 
và ngược lại, quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập, quy luật về sự phủ định của phủ 
định” là sự phản ánh những mối liên hệ cơ bản và phổ biến trong giới tự nhiên và lịch sử. “Vậy là từ 
trong lịch sử của giới tự nhiên và lịch sử của xã hội loài người mà người ta đã rút ra được các quy 
luật của phép biện chứng… Những quy luật biện chứng là những quy luật thật sự của sự phát triển 
của giới tự nhiên…”. 
+ Ph.Ăngghen khẳng định: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự 
nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là sự phản ánh sự chi phối, 
trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt, thông 
qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng của chúng từ mặt đối lập này 
thành mặt đối lập kia”. Bản chất của quá trình biện chứng đó chính là sự bất diệt và vĩnh viễn của vật 
chất vận động. 
+ Ph.Ăngghen khẳng định, tư duy biện chứng là chìa khóa, là con đường để dẫn tới sự phát triển 
của khoa học, để khoa học làm tròn sứ mệnh cao cả của nó “… một dân tộc muốn đứng vững trên 
đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận … chỉ có phép biện chứng mới có thể 
giúp cho khoa học tự nhiên vượt khỏi những khó khăn về lý luận … Trên thực tế, ở đây, ngày nay 
không còn một lối thoát, không còn một khả năng nào để có thể nhìn thấy ánh sáng nếu không từ bỏ 
tư duy siêu hình mà quay trở lại với tư duy biện chứng, bằng cách này hay cách khác”. Bởi vậy, 
“Trong thực tế, khinh miệt phép biện chứng thì không thể không bị trừng phạt … sự khinh thường 
phép biện chứng theo kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa sẽ bị trừng phạt như sau: nó đưa một số người 
thực nghiệm chủ nghĩa tỉnh táo nhất sa vào chỗ dị đoan ngu xuẩn nhất, sa vào thần linh học cận đại”. 
+ Ph.Ăngghen cho rằng chính phép biện chứng đòi hỏi phải thống nhất giữa triết học và khoa học 
tự nhiên. Khoa học tự nhiên đặt cơ sở cho những khái quát phổ biến của triết học, còn những khái 
quát triết học lại trở thành phương pháp luận cho khoa học tự nhiên đi sâu vào nghiên cứu thế giới 
khách quan. Ph.Ăngghen viết: “Những nhà khoa học tự nhiên tưởng rằng họ thoát khỏi triết học 
bằng cách không để ý đến nó hoặc phỉ báng nó. Nhưng vì không có tư duy thì họ không thể tiến lên 
được một bước nào… Những ai phỉ báng triết học nhiều nhất lại chính là những kẻ nô lệ của những 
tàn tích thông tục hóa, tồi tệ nhất của những học thuyết triết học tồi tệ nhất. Dù những nhà khoa học 
Lớp M12CQDT01-N Page 23
tự nhiên có làm gì đi nữa thì họ cũng vẫn bị triết học chi phối. Vấn đề chỉ ở chỗ họ muốn bị chi phối 
bởi một thứ triết học tồi tệ hợp mốt hay họ muốn được hướng dẫn bởi một hình thức tư duy lý luận 
dựa trên sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng và những thành tựu của nó”. 
Về sự sống và nguồn gốc con người: Dựa trên những thành tựu khoa học tự nhiên vĩ đại của thời 
kỳ này, Ph.Ăngghen đã chỉ ra quá trình phát triển của thế giới tự nhiên là nguồn gốc của sự sống, 
nguồn gốc của sự hình thành con người và lịch sử xã hội. Ph.Ăngghen cũng chứng minh nguồn gốc 
của sự sống xuất phát từ những điều kiện tất yếu của các quá trình hóa học, sinh học, phủ định vai 
trò sáng tạo của Thượng đế hoặc du nhập sự sống từ không gian vũ trụ; từ đó, ông chỉ ra vai trò của 
lao động và ngôn ngữ trong việc hình thành con người. Ông chỉ ra vai trò quyết định của lao động 
trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người. “Đem so sánh con người với các loài vật, người ta 
sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng phát triển với lao động, đó là cách giải thích 
duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”. Từ đó, Ph.Ăngghen kết luận: “Trước hết là lao động, 
sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng 
đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người”; đồng 
thời, thông qua quá trình phát triển của lao động và ngôn ngữ mà các giác quan của con người ngày 
càng hoàn thiện, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội ra đời và phát triển. Bằng lao động, 
thông qua lao động, con người trở thành chủ thể của tự nhiên - xã hội, con người cải biến thế giới tự 
nhiên và xã hội phục vụ cho chính mình. 
Trong tác phẩm Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (1886 - 1888), 
Ph.Ăngghen đề cập đến vấn đề cơ bản của triết học, đánh giá về triết học cổ điển Đức, bàn về 
phương pháp luận triết học duy vật biện chứng, vạch ra thực chất của cuộc cách mạng trong lịch sử 
triết học do C.Mác và Ph.Angghen thực hiện. 
Về vấn đề cơ bản của triết học: Ph.Ăngghen đã xác định “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, 
đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” và chỉ ra hai mặt của nó: 
Mặt thứ nhất là: “Vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần với tự nhiên, một vấn đề tối 
cao của toàn bộ triết học … xem cái nào có trước, tinh thần hay tự nhiên? Vấn đề đó bất chấp giáo 
hội, lại mang một hình thức gay gắt: thế giới là do Chúa Trời sáng tạo ra, hay nó vẫn tồn tại từ trước 
đến nay?” và “cách giải đáp vấn đề ấy đã chia các nhà triết học thành hai phe lớn. Những người quả 
quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên … thuộc phe chủ nghĩa duy tâm. Còn những người cho rằng 
tự nhiên là cái có trước thì thuộc các học phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật”. Mặt thứ hai là: “Tư 
duy của chúng ta có thể nhận thức được thế giới hiện thực không? Trong các quan niệm và các khái 
niệm của chúng ta về thế giới hiện thực, chúng ta có thể phản ánh được một hình ảnh đúng đắn của 
hiện thực không?”. Ph.Ăngghen cho rằng phần lớn các nhà triết học thừa nhận con người có thể 
nhận thức được thế giới, còn một số nhà triết học như Hium và Cantơ lại phủ nhận khả năng nhận 
thức của con người. Theo Ph.Ăngghen thì sự phát triển của lịch sử triết học là cuộc đấu tranh giữa 
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xung quanh vấn đề cơ bản của triết học. 
Về đánh giá triết học Hêghen: Ph.Ăngghen cho rằng không nên dừng lại ở những mâu thuẫn của 
hệ thống triết học này mà phải vạch ra được hạt nhân hợp lý của nó là phép biện chứng. Ông viết: 
“Nhưng tất cả những điều đó không ngăn trở hệ thống Hêghen bao trùm một lĩnh vực hết sức rộng 
hơn bất cứ hệ thống nào trước kia, và phát triển, trong lĩnh vực đó, một sự phong phú về tư tưởng mà 
ngày nay người ta vẫn còn ngạc nhiên. Hiện tượng học tinh thần…, lôgíc học, triết học tự nhiên, triết 
học tinh thần…, triết học lịch sử, triết học pháp quyền, triết học tôn giáo, lịch sử triết học, mỹ học, 
v.v. trong từng lĩnh vực lịch sử khác nhau ấy. Hêghen cố gắng phát hiện ra và chỉ rõ sợi chỉ đỏ của 
sự phát triển xuyên suốt lĩnh vực ấy. Vì Hêghen không những chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là 
một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại”. Phương 
pháp biện chứng của triết học Hêghen thể hiện quá trình liên hệ, tác động, chuyển hóa và phát triển 
không ngừng của thế giới, vì vậy, nó có ý nghĩa cách mạng, “ý nghĩa thực sự và tính chất cách mạng 
của triết học Hêghen… chính là ở chỗ nó đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậu của những hệ quả của tư 
Lớp M12CQDT01-N Page 24
tưởng và của hành động con người”. “Đối với triết học biện chứng đó thì không có gì là tối hậu, là 
tuyệt đối, là thiêng liêng cả. Nó chỉ ra - trên mọi sự vật và trong mọi sự vật - dấu ấn của sự suy tàn 
tất yếu, và đối với nó, không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và sự tiêu 
vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp lên cao”. Do tính chất mâu thuẫn giữa hệ thống và 
phương pháp của triết học Hêghen mà hình thành các trường phái triết học khác nhau: “toàn bộ học 
thuyết của Hêghen đã để một khoảng rất rộng cho các quan điểm đảng phái thực tiễn hết sức khác 
nhau. Và trong giới lý luận Đức hồi ấy, trước hết có hai việc có ý nghĩa thực tiễn: tôn giáo và chính 
trị. Người nào chủ yếu coi trọng hệ thống của Hêghen, thì người đó có thể là khá bảo thủ trong hai 
lĩnh vực đó; còn người nào cho phương pháp biện chứng là chủ yếu thì người đó, về chính trị cũng 
như về tôn giáo, có thể thuộc vào phái đối lập cực đoan nhất”. 
Về đánh giá triết học Phoiơbắc: Ph.Ăngghen đánh giá cao thế giới quan duy vật của Phoiơbắc là 
đã đưa “chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua…”, đồng thời cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những 
hạn chế - tính chất máy móc, siêu hình và duy tâm về mặt lịch sử của triết học này… Do chưa vượt 
qua được hạn chế của thời đại mình và chịu ảnh hưởng bởi phương pháp tư duy siêu hình mà 
Phoiơbắc không chỉ phê phán thế giới quan duy tâm mà còn phủ định hạt nhân hợp lý và phép biện 
chứng trong triết học Hêghen. Ph.Ăngghen viết: “Lời khẳng định của Phoiơbắc cho rằng “các thời 
đại của loài người chỉ khác nhau bởi những thay đổi về phương diện tôn giáo” là hoàn toàn sai. Chỉ 
có thể nói đến những bước ngoặt lịch sử lớn có kèm theo những sự thay đổi về tôn giáo”. Khi phê 
phán cách hiểu trừu tượng về con người của Phoiơbắc, Ph.Angghen viết: “Về hình thức, ông là một 
người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con người làm xuất phát điểm, song ông hoàn toàn không nói đến 
thế giới trong đó con người ấy sống, vì vậy, con người mà ông nói, luôn luôn là con người trừu 
tượng”. Về đạo đức con người, Phoiơbắc đồng nhất quan hệ đạo đức trong mọi giai đoạn lịch sử, 
mọi thời đại khác nhau. Ph.Ăngghen cho rằng: “những vết tích cuối cùng của tính chất cách mạng 
trong triết học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp khúc cũ kỹ: Hãy yêu nhau đi, hãy ôm 
nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp. Thật là giấc mơ thiên hạ thuận hòa… Học thuyết 
của Phoiơbắc về đạo đức thì cũng giống như tất cả những học thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho 
thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể 
đem áp dụng được ở đâu cả”. 
Về bước ngoặt cách mạng trong triết học: Một là, khi chỉ ra tính không triệt để về thế giới quan và 
phương pháp biện chứng mà các nhà triết học Đức mắc phải, Ph.Ăngghen cho rằng triết học duy vật 
biện chứng là kết quả của sự cải tạo triệt để chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc và phép biện 
chứng duy tâm của Hêghen. Hai là, khi bàn về mối quan hệ giữa những thành tựu của khoa học tự 
nhiên với những kết luận triết học, Ph.Ăngghen khẳng định khoa học tự nhiên (đặc biệt là ba phát 
minh vĩ đại - thuyết tế bào, định luật chuyển hóa năng lượng và thuyết tiến hóa) đã đóng vai trò là 
tiền đề cho sự hình thành và phát triển của phương pháp biện chứng duy vật. Ba là, vận dụng triết 
học duy vật biện chứng vào nhận thức lịch sử là biểu hiện tính duy vật triệt để của triết học Mác (cho 
dù có sự khác nhau giữa quy luật tự nhiên và quy luật lịch sử - quy luật tự nhiên tự nó diễn ra, còn 
quy luật của lịch sử thì phải thông qua hoạt động tự giác, có mục đích của con người); Hơn nữa 
Ph.Angghen còn chỉ ra một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội là cuộc 
đấu tranh giữa các giai cấp có lợi ích của mình, mà trước hết là lợi ích kinh tế đối lập nhau; và suy 
đến cùng, các quan hệ về chính trị, nhà nước, pháp quyền, tôn giáo đều xuất phát từ nguồn gốc sâu 
xa là quan hệ về kinh tế. Từ đây, Ph.Angghen kết luận, quy luật của lịch sử chỉ được rút ra từ bản 
thân lịch sử, chứ không phải từ đầu óc chủ quan của con người: “Bằng chứng phải được rút ra từ bản 
thân lịch sử… Bây giờ thì bất cứ ở đâu, vấn đề không còn là tưởng tượng ra những mối liên hệ từ 
trong đầu óc, mà là phát hiện ra chúng từ những sự thật”. 
Ph.Ăngghen đánh giá vai trò của C.Mác trong việc sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ 
nghĩa duy vật lịch sử, và nói chung là toàn bộ chủ nghĩa Mác. Ph.Ăngghen viết: “Phần đóng góp của 
tôi - không kể có thể ngoại trừ một vài lĩnh vực chuyên môn - thì không có tôi, Mác vẫn có thể làm 
được. Nhưng điều mà Mác đã làm thì tôi không thể làm được. Mác đứng cao hơn, nhìn xa hơn, rộng 
Lớp M12CQDT01-N Page 25
hơn và nhanh hơn tất cả chúng tôi. Mác là một thiên tài. Còn chúng tôi may lắm cũng chỉ là những 
tài năng thôi. Nếu không có Mác thì lý luận thật khó mà được như ngày nay. Vì vậy, lý luận đó 
mang tên của Mác là điều chính đáng”. 
Tóm lại, từ năm 1848 đến năm 1895, C.Mác và Ph.Ăngghen đã bổ sung và phát triển toàn diện 
những vấn đề của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. 
Giai đoạn 1893 - 1907: Từ những năm 80 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác được truyền vào nước 
Nga thông qua nhóm “Giải phóng lao động” do Plêkhanốp đứng đầu. Do không đứng trên lập trường 
của giai cấp vô sản nên Plêkhanốp không thấy được vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và liên 
minh công - nông, vì vậy, ông đã xem giai cấp tư sản tự do chủ nghĩa là giai cấp cách mạng. Sai lầm 
này đã đưa Plêkhanốp xa rời lập trường mácxít và chuyển sang lập trường của nhóm cơ hội 
mensêvích. Trước tình hình đó, Lênin đã viết nhiều tác phẩm quan trọng để đấu tranh chống lại phái 
dân túy, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác. 
Tác phẩm Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra 
sao (1894) là bản cương lĩnh của một chính đảng mới ra đời ở nước Nga. Lênin vạch trần cơ sở triết 
học duy tâm chủ quan và phương pháp luận siêu hình của giai cấp tư sản tự do thể hiện trong cương 
lĩnh về kinh tế và chính trị của chúng. Người chỉ ra những mâu thuẫn trong xã hội Nga và con đường 
phát triển tất yếu của nước Nga, vai trò giai cấp vô sản trong sự liên minh với giai cấp nông dân 
nhằm lật đổ chế độ Nga hoàng, thiết lập chế độ mới xã hội chủ nghĩa. 
+ Khẳng định những quy luật khách quan quyết định sự vận động của lịch sử xã hội trải qua các 
hình thái kinh tế - xã hội, Lênin viết: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản 
xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta 
mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá 
trình lịch sử - tự nhiên. Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì không thể có một khoa 
học xã hội được”. 
+ Vận dụng phương pháp biện chứng của triết học Mác vào nhận thức quá trình vận động, phát 
triển của lịch sử để phát hiện ra các quy luật chi phối đời sống xã hội, Lênin đã làm cho phép biện 
chứng duy vật trở thành một khoa học chân chính. Người viết: “Không bao giờ có một người mácxít 
nào đã xây dựng những quan điểm dân chủ - xã hội của mình trên một cơ sở nào khác, ngoài cái cơ 
sở là sự phù hợp của những quan điểm ấy với hiện thực và với lịch sử những quan hệ kinh tế - xã hội 
nhất định… Vì về mặt lý luận thì sự đòi hỏi đó đã được chính bản thân Mác, người sáng lập ra “chủ 
nghĩa Mác”, nêu lên một cách hoàn toàn rõ ràng và chính xác, coi đó là cơ sở của toàn bộ học thuyết 
của mình”. 
+ Chỉ ra vai trò nhân tố chủ quan trong cách mạng xã hội, vai trò quần chúng nhân dân và cá nhân 
trong lịch sử… Tất cả những nội dung trên đều nhằm khẳng định một chân lý mà Lênin chỉ rõ: 
“Người ta không thể có một lý luận cách mạng nào ngoài chủ nghĩa Mác cả, họ càng mau chóng dồn 
hết tâm sức của mình ra để vận dụng lý luận đó vào nước Nga, cả về mặt lý luận lẫn về mặt thực 
tiễn, thì thắng lợi của công tác cách mạng sẽ càng chắc chắn và mau chóng”. “Sức hấp dẫn không gì 
cưỡng nỗi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là 
ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với 
tinh thần cách mạng… Một sự kết hợp nội tại và khăng khít”. 
Với tác phẩm Làm gì? (1902), Lênin đã làm sáng tỏ các hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp 
vô sản trước khi giành chính quyền: đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị, trong 
đó, đấu tranh chính trị có ý nghĩa quyết định để lật đổ giai cấp thống trị, giành lấy chính quyền cách 
mạng; chỉ ra vai trò rất quan trọng của hệ tư tưởng lý luận trong cuộc đấu tranh cách mạng. Hệ tư 
tưởng của chủ nghĩa Mác không hình thành một cách tự phát trong phong trào công nhân, mà nó 
được truyền bá, giáo dục một cách tự giác trong phong trào đó; vì vậy, tuyên truyền lý luận cách 
mạng là một nội dung quan trọng để hướng tới mục tiêu đấu tranh chính trị trong cách mạng vô sản. 
Lớp M12CQDT01-N Page 26
Trong tác phẩm Hai sách lược của Đảng dân chủ - xã hội trong cách mạng dân chủ (1905), Lênin 
nêu lên những nội dung của cách mạng tư sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chỉ rõ vai trò của 
quần chúng nhân dân, của nhân tố chủ quan, của các đảng chính trị trong cuộc đấu tranh cách mạng 
để giành thắng lợi. Lênin đã bác bỏ quan điểm của phái Mensêvích và phái xét lại Tây Âu lúc bấy 
giờ, đồng thời chỉ rõ tính chất của cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất là cuộc cách mạng tư sản, 
nhưng do giai cấp vô sản lãnh đạo trong mối quan hệ liên minh với giai cấp nông dân; vì vậy, cách 
mạng dân chủ tư sản sẽ chuyển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lênin cũng bác bỏ quan điểm của 
các lãnh tụ cơ hội trong Quốc tế II, để khẳng định rằng thắng lợi của cách mạng dân chủ là tiền đề 
cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. 
Giai đoạn 1907 đến Cách mạng Tháng Mười Nga: Trong giai đoạn này, chính phủ Nga hoàng đã 
thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố rộng rãi làm cho đời sống xã hội trở nên ngột ngạt, vì vậy đã 
xuất hiện những tư tưởng phản động, sự hình thành chủ nghĩa duy tâm tôn giáo. Trong bối cảnh đó, 
chủ nghĩa Makhơ mà thực chất là chủ nghĩa duy tâm phản động đã xuất hiện, và nó cố trở thành triết 
học khoa học duy nhất. Từ tình hình này đặt ra một nhiệm vụ cấp bách là phải tuyên chiến với các tư 
tưởng đối lập, bảo vệ và phát triển triết học Mác, xác lập thế giới quan duy vật và phương pháp biện 
chứng cho giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản phản động. 
Tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908 - 1909) thể hiện sự kết 
hợp sâu sắc giữa tính đảng và tính khoa học trong triết học Mác. Qua tác phẩm này, chúng ta nhận 
thấy Lênin đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ mà lịch sử đã đặt ra. 
+ Về vấn đề cơ bản của triết học: Trong tác phẩm này Lênin đã vạch ra bản chất duy tâm chủ 
quan của cái gọi là “phát minh vĩ đại” ra các yếu tố “trung gian” của phái Makhơ, Người viết: “Sự 
tồn tại của vật chất không phụ thuộc vào cảm giác. Vật chất là cái có trước; cảm giác, tư tưởng ý 
thức là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức theo một cách thức đặc biệt. Đó là quan điểm 
của chủ nghĩa duy vật, nói chung, và của C.Mác và Ph.Ăngghen nói riêng. Makhơ và Avênariút đã 
lén lút du nhập chủ nghĩa duy vật bằng cách dùng chữ “yếu tố”… Thật là trẻ con nếu nghĩ rằng bịa 
ra một từ mới, là có thể tránh được những trào lưu triết học cơ bản… Thưa các ngài, triết học các 
của ngài chỉ là chủ nghĩa duy tâm đã uổng công che đậy sự trần trụi của chủ nghĩa duy ngã của mình 
bằng một thuật ngữ “khách quan” hơn. Hoặc giả “yếu tố” không phải là cảm giác, và như vậy từ 
“mới” của các ngài tuyệt đối không có một chút ý nghĩa nào cả, và các ngài chỉ làm ồn lên vô ích mà 
thôi”. Mặt khác, Người cũng chỉ rõ và phê phán tính đảng trong triết học Makhơ và Avênariút: “Bây 
giờ hãy đứng trên quan điểm đảng phái trong triết học để xét Makhơ, Avênariút cùng trường phái 
của họ. Chà, các ngài ấy cứ tự hào về tính không đảng phái của mình, và nếu họ có một cực đối lập 
thì họ chỉ có một và chỉ có độc một… nhà duy vật mà thôi. Xuyên suốt tất cả những trước tác của hết 
thảy mọi người theo phái Makhơ, là cái tham vọng ngu dốt muốn vượt lên trên chủ nghĩa duy vật và 
chủ nghĩa duy tâm, muốn khắc phục sự đối lập “cũ kỹ” ấy, nhưng kỳ thật, thì cả đám người đó cứ 
mỗi lúc một sa vào chủ nghĩa duy tâm và kiên quyết tiến hành đến cùng một cuộc đấu tranh chống 
chủ nghĩa duy vật”. Vì thế, bản chất của các học giả tư sản đó, theo V.I.Lênin: “Nói chung và về đại 
thể các giáo sư môn kinh tế đều chỉ là những học giả làm thuê cho giai cấp tư bản, còn các giáo sư 
triết học đều chỉ là bọn học giả làm thuê cho phái thần học thôi”. “Triết học hiện đại cũng có tính 
đảng như triết học hai nghìn năm về trước. Những đảng phái đang đấu tranh với nhau, về thực chất - 
mặc dù thực chất đó bị che dấu bằng những nhãn hiệu mới của thủ đoạn lang băm hoặc tính phi đảng 
ngu xuẩn - là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm”. 
+ Về nhận thức luận: Khi phê phán quan điểm phủ nhận khả năng con người nhận thức thế giới 
khách quan của phái Makhơ, Lênin nêu lên những nguyên tắc cơ bản của nhận thức duy vật biện 
chứng: “1) Có những vật tồn tại độc lập đối với ý thức của chúng ta, độc lập đối với cảm giác của 
chúng ta, ở ngoài chúng ta… 2) Dứt khoát là không có và không thể có bất kỳ sự khác nhau nào về 
nguyên tắc giữa hiện tượng và vật tự nó. Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa 
được nhận thức… 3) Trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả những lĩnh vực khác của khoa 
Lớp M12CQDT01-N Page 27
học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất di 
bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh từ sự không hiểu biết như thế nào, sự 
hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào”. 
Theo V.I.Lênin, chân lý là sự phản ánh của thế giới khách quan vào đầu óc con người và được kiểm 
nghiệm qua thực tiễn, là quá trình nhận thức từ thấp đến cao, từ nghiên cứu chưa đầy đủ đến đầy đủ 
hơn, trong những hoàn cảnh điều kiện lịch sử nhất định nó biểu hiện trong chân lý tương đối và chân 
lý tuyệt đối. “Như vậy là theo bản chất của nó, tư duy của con người có thể cung cấp và đang cung 
cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lý này chỉ là tổng số những chân lý tương đối. Mỗi giai 
đoạn phát triển của khoa học lại đem thêm những hạt mới vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối, 
nhưng những giới hạn chân lý của mọi định lý khoa học đều là tương đối, khi thì mở rộng ra, khi thì 
thu hẹp lại, tùy theo sự tăng tiến của tri thức”. “Đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng thì giữa chân 
lý tương đối và chân lý tuyệt đối không có ranh giới không thể vượt qua”. Lênin khẳng định: “Quan 
điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”. 
Song, thực tiễn cần được xem trong mối quan hệ vừa tương đối, vừa tuyệt đối với quá trình nhận 
thức chân lý: “Dĩ nhiên không nên quên rằng tiêu chuẩn thực tiễn, xét về thực chất, không bao giờ có 
thể xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con người, dù biểu tượng 
ấy là thế nào chăng nữa. Tiêu chuẩn đó cũng khá “không xác định” để không cho phép các hiểu biết 
của con người trở thành một cái tuyệt đối”. Như vậy, thực tiễn đóng vai trò là tiêu chuẩn của nhận 
thức lý luận. Lênin viết: “Nếu cái mà thực tiễn của chúng ta xác nhận là chân lý khách quan, duy 
nhất, cuối cùng, thì như thế tức là con đường duy nhất dẫn đến chân lý đó là con đường của khoa học 
xây dựng trên quan điểm duy vật… Đi theo con đường mà lý luận của Mác vạch ra thì chúng ta ngày 
càng đi đến gần chân lý khách quan (tuy không bao giờ có thể nắm hết được); nếu đi theo bất cứ con 
đường nào khác, chúng ta chỉ có thể đi đến sự lẫn lộn và dối trá”. 
+ Về bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật trước những xuyên tạc của chủ nghĩa duy tâm đối với 
các thành tựu mới của vật lý học và nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng trong vật lý học: Lênin đã 
định nghĩa phạm trù vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan 
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh 
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. “Đương nhiên, sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý 
nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn 
đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn 
đó, thì không nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối”. Phạm trù vật chất thể hiện lập trường 
triết học duy vật biện chứng triệt để là cơ sở để phân biệt với các trường phái triết học đối lập khác, 
khắc phục sự khủng hoảng của các nhà vật lý học trong quá trình nhận thức thế giới vật chất. Quan 
niệm của Lênin càng chứng minh mối liên hệ thống nhất giữa triết học duy vật biện chứng với khoa 
học tự nhiên: “Vật lý học hiện đại đang nằm trên giường đẻ. Nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy vật biện 
chứng… Toàn bộ chủ nghĩa duy tâm vật lý học, toàn bộ triết học kinh nghiệm phê phán, cũng như 
thuyết kinh nghiệm tượng trương, thuyết kinh nghiệm nhất nguyên v.v… đều thuộc những thứ cặn 
bã phải vứt bỏ đi”. Lênin đã vạch rõ thực chất của cuộc khủng hoảng trong vật lý học là do các nhà 
vật không nắm được phép biện chứng, đi chệch hướng sang chủ nghĩa duy tâm: “Thực chất của cuộc 
khủng hoảng của vật lý học hiện đại là ở sự đảo lộn của những quy luật cũ và những nguyên lý cơ 
bản, ở sự gạt bỏ thực tại khách quan ở bên ngoài ý thức, tức là ở sự thay thế chủ nghĩa duy vật bằng 
chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa bất khả tri”. “Nhưng chủ nghĩa duy vật biện chứng kiên trì cho rằng 
bất kỳ lý luận khoa học nào về cấu trúc và đặc tính của vật chất cũng đều có tính chất gần đúng, 
tương đối; trong tự nhiên không hề có đường ranh giới nào tuyệt đối; bản chất đang vận động sẽ 
chuyển hóa từ một trạng thái này sang một trạng thái khác… Vật lý học mới sở dĩ đi chệch sang phía 
chủ nghĩa duy tâm, chủ yếu là vì các nhà vật lý học không hiểu được phép biện chứng… Trong khi 
phủ nhận tính bất biến của những nguyên tố và cả những đặc tính của vật chất đã được biết cho đến 
nay, họ đã rơi vào chỗ phủ nhận vật chất, nghĩa là phủ nhận tính thực tại khách quan của thế giới vật 
lý”. Những kết luận của Lênin có ý nghĩa định hướng cho các nhà khoa học tự nhiên không ngừng đi 
sâu nghiên cứu thế giới vật chất trên nền tảng thế giới quan duy vật và phép biện chứng mácxít. Thế 
Lớp M12CQDT01-N Page 28
giới vật chất là vô cùng vô tận, tồn tại độc lập với ý thức con người, ý thức con người phản ánh thế 
giới vật chất khách quan, vì vậy nó phải luôn luôn phát triển. Cũng vô cùng tận như thế giới vật chất, 
tri thức không bao giờ có giới hạn cuối cùng. 
Tác phẩm Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác (1913) đã chỉ ra nguyên 
nhân, bản chất và kết cấu của chủ nghĩa Mác. Trên cơ sở kế thừa biện chứng tinh hoa văn hóa của 
nhân loại mà đặc biệt là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội Pháp, vận 
dụng vào điều kiện lịch sử mới, bằng thiên tài của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng tạo nên học 
thuyết khoa học có ý nghĩa vạch thời đại, trở thành lý luận khoa học cho quá trình nhận thức và cải 
tạo thế giới. 
Trong tác phẩm Bút ký triết học, Lênin nhận xét, đánh giá các nhà triết học trong lịch sử để từ đó 
phát triển những nội dung của triết học duy vật biện chứng, đặc biệt là làm sáng rõ phép biện chứng 
duy vật và lý luận nhận thức duy vật. 
+ Về sự phát triển: Lênin so sánh hai quan niệm đối lập nhau: “Hai quan niệm cơ bản… về sự 
phát triển (sự tiến hóa); sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như là lặp lại, và sự phát triển 
coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập. Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan. 
Quan niệm thứ hai là sinh động. Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận 
động”, của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”, 
của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hóa thành mặt đối lập”, của “sự tiêu diệt cái cũ 
và sự nảy sinh cái mới”. Lênin cho rằng phép biện chứng là lý luận duy nhất đúng về sự phát triển; 
nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu sự vận động của các quá trình tự nhiên, xã hội và tư duy. “Phép biện 
chứng với tính cách là nhận thức sinh động, nhiều mặt (số các mặt không ngừng tăng lên mãi mãi) 
bao hàm vô số khía cạnh trong cách tiếp cận, đi gần tới hiện thực (với một hệ thống triết học đi từ 
mỗi khía cạnh mà phát triển thành một toàn thể) - đó là nội dung phong phú không lường được so 
với chủ nghĩa duy vật, siêu hình”. 
+ Về các quy luật của phép biện chứng: Khi bàn về quy luật phủ định của phủ định, Lênin viết: 
“không phải là sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ 
định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất 
trong phép biện chứng, - dĩ nhiên phép biện chứng bao hàm trong nó nhân tố phủ định, và thậm chí 
với tính cách là nhân tố quan trọng nhất của nó, - không, mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của 
sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định, tức là không có một sự do dự nào, không có một sự chiết 
trung nào”. Lênin luôn khẳng định bản chất, nguồn gốc, động lực của sự phát triển là cuộc đấu tranh 
giữa hai mặt đối lập, và coi quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hạt nhân của 
phép biện chứng: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó… 
đó là thực chất… của phép biện chứng”. “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối 
lập”. “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, 
tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng 
như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”. “Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt 
đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất, - trong những điều kiện nào chúng 
là đồng nhất, bằng cách chuyển hóa lẫn nhau, - tại sao lý trí con người không nên xem những mặt 
đối lập ấy là chết, cứng đờ, mà là sinh động, có điều kiện, năng động, chuyển hóa lẫn nhau”. “Có thể 
định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là 
nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự 
phát triển thêm”. 
+ Về sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học: “Mác không để lại cho 
chúng ta “lôgíc học” (với chữ L viết hoa, nhưng đã để lại cho chúng ta lôgíc của “Tư bản”, và cần 
phải tận dụng đầy đủ nhất lôgíc đó để giải quyết vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu. Trong “Tư 
bản”, Mác áp dụng lôgíc, phép biện chứng và lý luận nhận thức (không cần ba từ: đó là cùng một cái 
duy nhất) của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất”. Trong ba yếu tố trên, lý luận nhận 
Lớp M12CQDT01-N Page 29
thức là khoa học về sự phản ánh của tư duy con người đối với khách thể, phép biện chứng là khoa 
học về sự phát triển, lôgíc học là khoa học về những hình thức và quy luật của tư duy. Vì vậy, lý 
luận nhận thức bao hàm phép biện chứng và lôgíc học. Phép biện chứng là hạt nhân của lý luận nhận 
thức và lôgíc học. Cả ba yếu tố trên, theo Lênin, là sự đồng nhất trong tính khác biệt. 
+ Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý, “vì nó 
có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”. “Từ trực quan sinh 
động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của 
sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”. Như vậy, thực tiễn là một vòng khâu 
trong quá trình nhận thức thế giới khách quan. Thông qua thực tiễn mà con người mới chứng minh 
được tính chân lý của nhận thức. Xuất phát từ thực tiễn, theo V.I.Lênin, quá trình nhận thức biểu 
hiện sự thống nhất giữa lịch sử và lôgíc của tư duy: “Lôgíc không phải là học thuyết về những quy 
luật phát triển của “tất thảy mọi sự vật vật chất, tự nhiên và tinh thần”, tức là học thuyết về những 
quy luật phát triển của toàn bộ nội dung cụ thể của thế giới và nhận thức thế giới, tức là sự tổng kết, 
tổng số, kết luận của lịch sử nhận thức thế giới”. 
+ Về tính đảng trong triết học: Dựa trên lập trường duy vật triệt để, Lênin đã đấu tranh không 
khoan nhượng chống lại các trường phái đối lập, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng, 
trên tinh thần khoa học và cách mạng. Phê phán Cantơ và Hêghen, Lênin cho rằng: “Cantơ hạ thấp 
tri thức để dọn sạch đường cho lòng tin; Hêghen đề cao tri thức, quả quyết rằng tri thức tức là tri 
thức về Thượng đế. Người duy vật đề cao tri thức về vật chất, giới tự nhiên, tống Thượng đế và 
những bọn triết học đê tiện bảo vệ Thượng đế vào hố rác”. Lênin đánh giá chủ nghĩa duy tâm trên 
quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: “Theo quan điểm của một chủ nghĩa duy vật thô lỗ, 
đơn giản, siêu hình, thì chủ nghĩa duy tâm triết học chỉ là một sự ngu xuẩn. Trái lại, theo quan điểm 
của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì chủ nghĩa duy tâm triết học là một sự phát triển (một sự thổi 
phồng, bơm to) phiến diện, thái quá… của một trong những đặc trưng, của một trong những mặt, của 
một trong những khía cạnh của nhận thức thành một cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, khỏi giới tự 
nhiên, thần thánh hóa. Chủ nghĩa duy tâm, đó là chủ nghĩa thầy tu. Đúng như vậy. Nhưng chủ nghĩa 
duy tâm triết học là… con đường dẫn đến chủ nghĩa thầy tu, qua một trong những sắc thái của nhận 
thức (biện chứng) vô cùng phức tạp của con người”. Lênin chỉ ra sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật 
biện chứng và chủ nghĩa duy tâm xung quanh con đường nhận thức: “Nhận thức của con người 
không phải là… một đường thẳng, mà là một đường cong đi gần vô hạn đến một loạt những vòng 
tròn, đến một vòng xoáy ốc. Bất cứ đoạn nào, khúc nào, mảnh nào của đường cong ấy cũng có thể 
chuyển hóa (chuyển hóa một cách phiến diện) thành một đường thẳng đối lập, đầy đủ, đường thẳng 
này (nếu chỉ thấy cây không thấy rừng) sẽ dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thầy tu (ở đây nó sẽ bị 
lợi ích giai cấp của các giai cấp thống trị củng cố lại). Tính đường thẳng và tính phiến diện, sự chết 
cứng và cứng nhắc, chủ nghĩa chủ quan và sự mù quáng chủ quan đó là những nguồn gốc về nhận 
thức luận của chủ nghĩa duy tâm. Và chủ nghĩa thầy tu (bằng chủ nghĩa duy tâm triết học) đương 
nhiên có những nguồn gốc về nhận thức luận, nó không phải là không có cơ sở; không còn nghi ngờ 
gì nữa, đó là một đóa hoa không kết quả mọc trên cái cây sống của nhận thức sinh động, phong phú, 
chân thực, khỏe mạnh, toàn năng, khách quan, tuyệt đối của con người”. 
Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng (1917 - 1918), Lênin đã kế thừa tư tưởng về nhà nước 
của C.Mác và Ph.Ăngghen, tiến hành đấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa cơ hội hữu 
khuynh, tiếp tục phát triển quan điểm cơ bản về nhà nước chuyên chính vô sản và bạo lực cách 
mạng, về vai trò của Đảng Cộng sản và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hiện tại và chủ 
nghĩa cộng sản tương lai. Vì vậy, tác phẩm này đã đáp ứng kịp thời yêu cầu cấp bách về lý luận và 
thực tiễn lúc bấy giờ của phong trào cách mạng ở nước Nga và trên thế giới. 
+ Về nguồn gốc, bản chất của nhà nước, và con đường xác lập nhà nước chuyên chính vô sản: 
Người viết: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa 
được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp 
Lớp M12CQDT01-N Page 30
không thể điều hòa được thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng 
những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”. Nhà nước là công cụ thống trị của một giai 
cấp để áp đặt sự thống trị của mình lên các giai cấp khác và toàn xã hội. “… Nhà nước là một cơ 
quan thống trị giai cấp, là một cơ quan áp bức của một giai cấp này đối với một giai cấp khác”. “Nhà 
nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt, nó là tổ chức bạo lực dùng để trấn áp một giai cấp nào đó”. 
Nhà nước chuyên chính vô sản không được xác lập bằng điều hòa quan hệ giai cấp mà bằng bạo lực 
cách mạng; thông qua bạo lực cách mạng của quần chúng nhất định để xóa bỏ nhà nước tư sản, xác 
lập nhà nước của giai cấp vô sản: “Nhà nước tư sản bị thay thế bởi nhà nước vô sản (chuyên chính 
vô sản) không thể bằng con đường “tiêu vong” được, mà chỉ có thể, theo quy luật chung, bằng một 
cuộc cách mạng bạo lực thôi”. “Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản 
bằng nhà nước vô sản được”. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của nhà nước chuyên chính vô sản 
trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, một điều kiện tất yếu, theo V.I.Lênin, là vai trò lãnh đạo 
của Đảng Cộng sản: “Chủ nghĩa Mác giáo dục đảng công nhân, là giáo dục đội tiên phong của giai 
cấp vô sản, đội tiên phong này đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã 
hội, đủ sức lãnh đạo và tổ chức một chế độ mới, đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ 
của tất cả những người lao động và những người bị bóc lột để giúp họ tổ chức đời sống xã hội của 
họ, mà không cần đến giai cấp tư sản và chống lại giai cấp tư sản”. 
+ Về hai giai đoạn phát triển của xã hội tương lai (giai đoạn thấp - xã hội chủ nghĩa, và giai đoạn 
cao - cộng sản chủ nghĩa): “Trong giai đoạn đầu, trong nấc thang thứ nhất, chủ nghĩa cộng sản chưa 
thể hoàn toàn trưởng thành về mặt kinh tế, chưa thể hoàn toàn thoát khỏi những tập tục hay những 
tàn tích của chủ nghĩa tư bản”. Trong giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản, “toàn thể xã hội sẽ chỉ 
còn là một phòng làm việc, một xưởng máy, với chế độ lao động ngang nhau và lĩnh lương ngang 
nhau… Lúc bấy giờ, cửa sẽ mở thật rộng để cho ai cũng có thể bước vào được, từ giai đoạn đầu lên 
giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa, và do đó nhà nước sẽ tiêu vong hẳn”. 
Giai đoạn sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917: Cách mạng Tháng Mười Nga 
thành công mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên 
chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Trong giai đoạn này, Lênin tiếp tục phát triển chủ nghĩa 
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. 
Trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại (1919), Lênin phân tích sâu rộng ý nghĩa của những ngày thứ 
bảy cộng sản, tổng kết kinh nghiệm của quần chúng lao động trong thời kỳ bắt đầu xây dựng chủ 
nghĩa xã hội. 
+ Lênin chỉ ra năng suất lao động xã hội là yếu tố quyết định cho sự thắng lợi của xã hội mới: 
“Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một năng suất lao động chưa từng thấy dưới chế độ nông nô. Chủ nghĩa 
tư bản có thể bị đánh bại hẳn, và sẽ bị đánh bại hẳn, vì chủ nghĩa xã hội tạo ra một năng suất lao 
động mới, cao hơn nhiều”. Để xây dựng xã hội mới, theo V.I.Lênin, giai cấp vô sản phải thực hiện 
hai nhiệm vụ: một là, đánh đổ giai cấp tư sản, thiết lập chính quyền cách mạng, tức chuyên chính vô 
sản, và hai là, xây dựng xã hội mới. “Nhiệm vụ thứ hai này khó hơn nhiệm vụ thứ nhất, vì tuyệt 
nhiên không thể giải quyết được nhiệm vụ đó bằng một hành động anh hùng nhất thời, nhiệm vụ đó 
đòi hỏi phải có tinh thần dũng cảm lâu dài nhất, bền bỉ nhất, khó khăn nhất của công tác quần chúng 
hàng ngày”. 
+ Lênin đã nêu ra một định nghĩa nổi tiếng về giai cấp: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn 
to lớn gồm đã người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong 
lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định 
và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như 
vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. 
Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn 
khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”. 
Lớp M12CQDT01-N Page 31
Nội dung của tác phẩm Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920) hướng đến mục 
đích tuyên truyền kinh nghiệm cho các đảng cộng sản mới ra đời trong phong trào cộng sản quốc tế, 
vạch ra chiến lược và sách lược của các đảng cộng sản trong điều kiện lịch sử mới, nhằm tránh 
những sai lầm có tính chất bè phái, giáo điều trong cuộc đấu tranh cách mạng. 
+ Về bản chất và tác hại của chủ nghĩa cơ hội “tả khuynh”: Đó là chủ nghĩa chủ quan trong đánh 
giá sự kiện, bỏ qua những giai đoạn của phong trào cách mạng, hành động phiêu lưu, vô chính phủ. 
“Cái đầu óc gần giống như chủ nghĩa vô chính phủ hay đã có một số nét nào đó mượn của chủ nghĩa 
vô chính phủ và trong tất cả những vấn đề cơ bản, đều xa rời những điều kiện và những yêu cầu tất 
yếu của cuộc đấu tranh giai cấp triệt để của giai cấp vô sản”. 
+ Về tính phức tạp trong thời kỳ xây dựng xã hội mới: “Chuyên chính vô sản là một cuộc đấu 
tranh kiên trì, đổ máu và không đổ máu, bạo lực và hòa bình, bằng quân sự và bằng kinh tế, bằng 
giáo dục và bằng hành chính, chống những thế lực và những tập tục của xã hội cũ. Sức mạnh của tập 
quán ở hàng triệu và hàng chục triệu người là một sức mạnh ghê gớm nhất”. Trong cuộc đấu tranh 
thời kỳ chuyên chính vô sản, vai trò của Đảng Cộng sản có ý nghĩa quyết định: “Không có một đảng 
sắt thép được tôi luyện trong đấu tranh, không có một đảng được sự tín nhiệm của tất cả những phần 
tử trung thực trong giai cấp nói trên, không có một đảng biết nhận xét tâm trạng quần chúng và biết 
tác động vào tâm trạng đó thì không thể tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ấy được”. 
Bài báo nổi tiếng Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu (1922) được coi là di chúc triết 
học của V.I.Lênin; nó vạch ra vai trò của công tác tuyên truyền triết học vô thần, coi đó cũng là 
nhiệm vụ quan trọng của Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh gian khổ, khó khăn để xây dựng xã 
hội mới. 
+ Trong tác phẩm này, ông đặt ra nhiệm vụ phát triển triết học duy vật biện chứng trên cơ sở tổng 
kết lịch sử hiện đại, củng cố liên minh thống nhất giữa triết học và khoa học tự nhiên, phê phán chủ 
nghĩa duy tâm, tôn giáo trên tinh thần khoa học. “… Chúng ta cần hiểu rằng nếu không có một cơ sở 
triết học vững vàng thì tuyệt nhiên không có khoa học tự nhiên nào hay chủ nghĩa duy vật nào có thể 
tiến hành đấu tranh chống được sự lấn bước của những tư tưởng tư sản và sự phục hồi của thế giới 
quan tư sản. Muốn tiến hành được cuộc đấu tranh ấy và đưa nó đến thành công hoàn toàn, nhà khoa 
học tự nhiên phải là một nhà duy vật hiện đại, một đồ đệ tự giác của chủ nghĩa duy vật mà Mác là 
người đại diện. Nghĩa là nhà khoa học tự nhiên ấy phải là một nhà duy vật biện chứng”. “Không đặt 
ra và không thực hiện nhiệm vụ ấy một cách có hệ thống, thì chủ nghĩa duy vật không thể là một chủ 
nghĩa duy vật chiến đấu được… Nếu không làm thế, các nhà khoa học tự nhiên lớn cũng lại vẫn sẽ 
luôn luôn bất lực trong những kết luận và khái quát triết học của họ trước kia. Vì khoa học tự nhiên 
đang tiến bộ nhanh, đang trải qua một thời kỳ đảo lộn cách mạng sâu sắc trong tất cả mọi lĩnh vực, 
đến nỗi nó tuyệt đối không thể không cần đến những kết luận triết học”. 
+ Lênin nói: “Ăngghen nhắc nhở những người lãnh đạo của giai cấp vô sản đương thời là phải 
dịch các trước tác chiến đấu vô thần chủ nghĩa cuối thế kỷ XVIII, để truyền bá ra thật nhiều trong 
nhân dân. Đáng xấu hổ cho chúng ta là mãi đến nay chúng ta vẫn không làm được việc đó (đây là 
một trong nhiều bằng chứng nói lên rằng: cướp lấy chính quyền trong một thời kỳ cách mạng thì dễ 
hơn rất nhiều so với việc biết sử dụng đúng đắn chính quyền ấy)”. “Sai lầm lớn nhất và tệ hại nhất 
mà một người mácxít có thể mắc phải, là tưởng rằng quần chúng nhân dân đông hàng bao nhiêu triệu 
con người (và nhất là quần chúng nông dân và thợ thủ công), bị cái xã hội hiện đại đẩy vào vòng tối 
tăm, dốt nát và thiên kiến chỉ có thể thoát ra khỏi vòng tối tăm ấy bằng con đường trực tiếp của một 
nền giáo dục thuần túy mácxít”. Rõ ràng, những luận điểm triết học trên của Lênin có ý nghĩa 
phương pháp luận sâu sắc, nó vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại chúng ta. 
Ngoài ra, Lênin còn viết nhiều tác phẩm bàn về chính sách kinh tế mới bàn về đường lối kinh tế 
của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với các hình thức và bước đi thích hợp, nhằm bảo đảm cho 
sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. “Công tác kinh tế phải là sự nghiệp chung của tất cả mọi người… 
Lớp M12CQDT01-N Page 32
là hoạt động chính trị có ý nghĩa nhất”. “Cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là 
nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp”. 
4. Tri t h c Mác - Lênin ế ọ trong thời đại ngày nay 
Những biến đổi của thời đại 
Thời đại ngày nay được xác định từ Cách mạng Tháng Mười Nga 1917. Trong giai đoạn lịch sử 
này, trên thế giới đã và đang diễn ra những thay đổi lớn lao trên tất cả mọi mặt kinh tế, chính trị, 
khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội… 
Sự xuất hiện các nước xã hội chủ nghĩa sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã tạo ra một quá 
trình phát triển của hai hệ thống đối lập cơ bản trong lịch sử xã hội loài người: hệ thống xã hội chủ 
nghĩa và hệ thống tư bản chủ nghĩa. Trong một thời gian lịch sử khá dài, chủ nghĩa xã hội hiện thực 
đã trở thành mục tiêu lý tưởng tốt đẹp nhất của nhân loại tiến bộ. Sự lớn mạnh của hệ thống các 
nước xã hội chủ nghĩa là hậu phương vững chắc cho công cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, 
đấu tranh giải phóng dân tộc, vì mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội 
của nhân dân trên toàn thế giới. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, mà từ 
những năm 90 thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa rơi vào khủng hoảng và sụp đổ. Hệ thống các 
nước chủ nghĩa xã hội đã tan vỡ. Dù công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới đã 
bị thất bại; song, mục tiêu, lý tưởng và bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội vẫn vẫn còn; chúng tiếp 
tục là phương hướng phát triển của lịch sử xã hội loài người hôm nay và mai sau. Các quốc gia xã 
hội chủ nghĩa còn lại như Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba, … vẫn kiên định mục tiêu, tiếp tục sự 
nghiệp đổi mới, cải cách/mở cửa, tiếp tục giương cao ngọn cờ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Điều này đã 
và đang là niềm cổ vũ tinh thần cho một số nước Nam Mỹ Vênêduyêla, Nicaragua, … phấn đấu theo 
con đường xã hội chủ nghĩa. Đó là một tất yếu lịch sử. 
Bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột, thống trị, nhưng với sự điều chỉnh về kinh tế, về chính 
sách xã hội, về lợi ích… mà các nước tư bản đã giữ được sự ổn định và phát triển, nhất là phát triển 
kinh tế và khoa học - công nghệ. Điều đó đã tạo ra một sự ngộ nhận và dao động khi cho rằng chủ 
nghĩa tư bản là tương lai của loài người. Trong bối cảnh đó, cuộc đấu tranh ai thắng ai giữa chủ 
nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản càng gay go, phức tạp. 
Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, trên thế giới nổi lên các vấn đề mang tính toàn cầu như xung đột 
dân tộc, tôn giáo; khủng hoảng môi trường sinh thái; dịch bệnh liên quan đến sức khỏe con người; 
khủng bố thế giới… Đặc biệt là các cuộc chiến tranh cục bộ giữa các nước, biểu hiện cho tham vọng 
bá chủ toàn cầu của Mỹ, đã tạo nên tính không ổn định của môi trường chính trị trong từng khu vực 
cũng như trên toàn thế giới. Những vấn đề này suy đến cùng cũng chỉ là những biểu hiện tất yếu của 
những mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa. 
Thời đại ngày nay cũng được đánh dấu bằng sự phát triển như vũ bão của các cuộc cách mạng 
khoa học - kỹ thuật trước đây, và các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay trên toàn thế 
giới. Chúng đã tạo nên sự phát triển thần kỳ về mọi mặt trong đời sống xã hội của nhiều quốc gia, 
dẫn đến xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế tri thức mang tính toàn cầu. Xu hướng phát triển 
đó, một mặt, làm cho mối liên hệ giữa các quốc gia, dân tộc khác nhau về địa lý và bản sắc, ngày 
càng gắn chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau; nhưng mặt khác, chúng cũng làm cho mâu thuẫn 
giữa các nước giàu, phát triển và các nước nghèo, chậm phát triển ngày càng gay gắt, không chỉ trên 
phương diện kinh tế mà còn trên các mặt như chính trị, văn hóa và xã hội. 
Như vậy, thời đại ngày nay đang chứng kiến những sự đổi thay vô cùng to lớn trên nền tảng của 
sự phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội ngày càng cao. Sự tác động của hai quá trình cách mạng 
về xã hội và về khoa học - công nghệ đã tạo nên sự biến đổi nhanh chóng và phức tạp trên mọi mặt 
của đời sống xã hội. Đó cũng là một thách thức đặt ra đối với sự phát triển của chủ nghĩa Mác - 
Lớp M12CQDT01-N Page 33
Lênin nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng, nhằm chứng minh vai trò của lý luận khoa học và 
cách mạng trong điều kiện lịch sử - xã hội mới. 
Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác - Lênin trong thời đại ngày nay 
Từ khi ra đời đến nay, triết học Mác - Lênin luôn phát triển trong cuộc đấu tranh với các trường 
phái triết học đối lập. Các học giả tư sản luôn tìm cách phủ nhận những nguyên lý cơ bản của triết 
học Mác - Lênin. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các trường phái triết học phi mácxít hiện đại ở 
phương Tây đã thổi phồng vai trò của nền văn minh công nghiệp, phủ nhận cách mạng xã hội, xóa 
nhòa ranh giới giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; đặc biệt họ cho rằng triết học Mác đã lỗi 
thời, dẫn đến sự thất bại của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. 
Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải khẳng định rằng, vai trò triết học Mác - Lênin đang 
tăng lên cùng với sự phát triển của lịch sử - xã hội loài người trong các nước xã hội chủ nghĩa. Vì 
vậy, việc nghiên cứu và phát triển triết học Mác - Lênin là một yêu cầu cấp thiết. Thực tế đã chứng 
minh rằng, các đảng cộng sản trong các nước xã hội chủ nghĩa đã không ngừng phát triển và vận 
dụng lý luận triết học Mác - Lênin, để triết học Mác - Lênin đóng vai trò là thế giới quan khoa học 
và phương pháp luận cách mạng trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là biểu hiện của 
ý nghĩa khoa học và cách mạng, biểu hiện của các giá trị văn hóa và nhân văn, cũng như vai trò ngày 
càng tăng về nội dung lý luận cũng như phương pháp luận của triết học Mác - Lênin trong đời sống 
xã hội hiện đại. Tất nhiên, trong điều kiện lịch sử mới, cần phải bổ sung và phát triển triết học Mác - 
Lênin, vận dụng sáng tạo những nguyên lý, quy luật phổ biến đó một cách phù hợp với thời đại ngày 
nay. Điều đó đòi hỏi phải nắm vững cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác - 
Lênin, không rơi vào tả khuynh hoặc hữu khuynh, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, 
chủ nghĩa xét lại, nhằm vận dụng sáng tạo lý luận triết học Mác - Lênin vào thực tiễn. Đồng thời, để 
đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong thời đại ngày nay, đòi hỏi các đảng cộng sản phải nắm vững phép 
biện chứng duy vật, biết tổng kết và khái quát những bài học kinh nghiệm xương máu của lịch sử, 
những thành tựu to lớn của khoa học - công nghệ để bổ sung và phát triển lý luận. Đó là yêu cầu cấp 
thiết của sự phát triển lý luận triết học triết học Mác - Lênin hiện nay. 
Vai trò triết học Mác - Lênin thể hiện trong định hướng hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm 
thực hiện mục tiêu lịch sử của nhân loại. Dù chủ nghĩa tư bản đã tự điều chỉnh để tồn tại và phát 
triển, nhưng những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản vẫn không thể nào giải quyết được. Chỉ có 
chủ nghĩa xã hội mới là lý tưởng thật sự của đông đảo nhân loại hôm nay. Vận dụng sáng tạo nội 
dung thế giới quan và phương pháp luận triết học mácxít là cơ sở để giải quyết đúng những vấn đề 
do thời đại hiện nay đặt ra như: quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, những nội dung có tính toàn cầu 
về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - công nghệ, những vấn đề về con người. Chỉ có thể 
dựa trên những nguyên lý cơ bản của triết học Mác - Lênin, mới giải quyết đúng những vấn đề căn 
bản nhất của thời đại ngày nay, thúc đẩy lịch sử xã hội loài người phát triển theo xu thế tiến bộ, hợp 
quy luật. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang từng bước vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, 
tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã 
hội chủ nghĩa. Đảng ta yêu cầu: “Khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm 
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư 
duy lý luận của Đảng ta”, “làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ 
đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân”. Cơ sở lý luận đó là điều kiện cơ bản nhất có ý nghĩa 
quyết định để Đảng và nhân dân ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt 
Nam. Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đổi mới hiện nay là sự chứng minh hùng hồn cho 
những giá trị, chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho sức sống mãnh liệt của nó. 
Còn ở nước ta, từ khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị thực dân ở Việt Nam đã làm xuất 
hiện hai nhu cầu lớn của lịch sử: một là, giải thích sự thất bại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn; 
và hai là tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. 
Lớp M12CQDT01-N Page 34
Để giải quyết hai nhu cầu đó của lịch sử, các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này đã trở về với các 
hệ tư tưởng đã có trong lịch sử - thế giới quan và phương pháp luận của Nho giáo và Phật giáo (Ví 
dụ, Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX). Tuy nhiên, mọi 
cố gắng của các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này đều thất bại. Bởi lẽ: Về mặt thực tế, sự thất bại 
của triều đại phong kiến nhà Nguyễn là sự thất bại của một phương thức sản xuất ở trình độ thấp hơn 
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở phương Tây, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã 
chứng minh sức mạnh của nó bằng việc tiêu diệt không thương tiếc phương thức sản xuất phong 
kiến và tiếp tục bành trướng sức mạnh của nó trên phạm vi quốc tế. Về mặt ý thức, hệ tư tưởng tư 
sản ở trình độ phát triển cao hơn hệ tư tưởng phong kiến, nó dựa trên một thế giới quan duy vật thời 
cận đại, gắn liền với những tri thức khoa học tự nhiên ở thế kỷ XVII - XVIII, trong khi đó, hệ tư 
tưởng phong kiến Việt Nam trong lịch sử gần một ngàn năm thời kỳ độc lập tự chủ (từ thế kỷ X) là 
hệ tư tưởng được xác lập trên nền tảng duy tâm, gắn với những quan niệm tôn giáo và tín ngưỡng - 
đó là thế giới quan và phương pháp luận của Nho giáo và Phật giáo. Vì vậy, mọi nỗ lực của các nhà 
tư tưởng Việt Nam thời cận đại tìm kiếm lời giải đáp những nguyên nhân thất bại của triều đại Nhà 
Nguyễn cũng như con đường giải phóng dân tộc đều thất bại. 
Để tạo ra tầng lớp trí thức phục vụ cho mục tiêu khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã tiến hành 
tạo dựng một hệ thống giáo dục - đào tạo Tây học với nội dung cơ bản là các kiến thức khoa học kỹ 
thuật. Điều này đã tạo cơ hội cho sự du nhập những tư tưởng triết học phương Tây vào Việt Nam; 
nhưng những tư tưởng triết học phương Tây được du nhập vào Việt Nam qua tầng lớp trí thức Tây 
học căn bản là những tư tưởng triết học Tây Âu thời cận đại, thể hiện thế giới quan duy vật siêu 
hình, không triệt để (duy vật trong quan niệm về tự nhiên, còn duy tâm quan niệm về xã hội). Dù 
một số nhà tư tưởng Tây học có lòng yêu nước nhiệt thành nhưng với thế giới quan duy vật siêu 
hình, không triệt để họ đã không thể giải đáp được những nhu cầu lớn lao của lịch sử Việt Nam. 
Trước sự thất bại của tất cả các thế giới quan và phương pháp luận truyền thống Nho học, Phật 
học cũng như Tây học, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. 
Điểm xuất phát để Hồ Chí Minh đi ra nước ngoài tìm con đường cứu nước không phải trực tiếp là 
nhu cầu đi tìm một thế giới quan và một phương pháp luận triết học mới, không phải là một lý luận 
triết học trừu tượng, mà là những lý luận, những biện pháp có khả năng thực tế nhất để dẫn dắt, lãnh 
đạo phong trào yêu nước đi đến thành công trong thực tiễn chính trị là giải phóng dân tộc - cứu dân, 
cứu nước; là làm sao để dân tộc Việt Nam được độc lập, đồng bào Việt Nam ai cũng có cơm ăn, áo 
mặc, ai cũng được học hành. Cũng tức là độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho mỗi người dân 
lao động. Suốt ba mươi năm tìm đường cứu nước, như một tất yếu lịch sử Hồ Chí Minh đã đến với 
chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với hệ tư tưởng cách mạng và khoa học nhất của giai cấp công nhân và 
nhân dân lao động, đến với học thuyết thống nhất ba bộ phận lý luận cấu thành là Triết học, Kinh tế 
chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học. 
Triết học Mác - Lênin chính là thế giới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng nhất; là 
thành quả vĩ đại của lịch sử triết học thế giới. Linh hồn của nó, sức sống mãnh liệt nhất của nó là 
phép biện chứng duy vật ở trình độ lý luận cao nhất, khoa học nhất, vược qua không những phép 
siêu hình của triết học duy vật cận đại Tây Âu mà còn vượt qua phép biện chứng duy tâm cổ điển 
Đức. Thế giới quan duy vật của triết học Mác - Lênin đã khắc phục được hạn chế của thế giới quan 
duy vật cận đại Tây Âu chính ở chỗ nó đã đem lại một quan niệm duy vật và biện chứng về quá trình 
phát triển của lịch sử xã hội loài người, lịch sử phát triển của nhân loại. Trung tâm của những quan 
điểm duy vật về lịch sử chính là học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội. Chỉ có thế giới quan duy vật 
biện chứng và phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin mới có khả năng lý giải được một 
cách đúng đắn khoa học đối với các sự kiện lịch sử, dù là các sự kiện lịch sử ở phương Tây hay 
phương Đông Á. 
Hồ Chí Minh đã vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật để lý giải 
một cách đúng đắn khoa học những câu hỏi đặt ra của lịch sử Việt Nam thời cận đại mà không một 
Lớp M12CQDT01-N Page 35
nhà tư tưởng tiến bộ nào có thể làm được và đỉnh cao của sự vận dụng đó là tìm ra lý luận và phương 
pháp giải quyết đúng đắn khoa học con đường giải phóng dân tộc đồng thời xác định hướng phát 
triển của xã hội Việt Nam lên hình thái kinh tế - xã hội mới sau khi giành được độc lập - đó là con 
đường định hướng phát triển xã hội - xã hội chủ nghĩa. Điều này đã được khẳng định trong Văn kiện 
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một 
hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là 
kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước 
ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng 
con người, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội…”. Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí 
Minh, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đóng vai trò là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, 
cách mạng của những tư tưởng về độc lập dân tộc, về chủ nghĩa xã hội, về văn hóa, về đạo đức, nhân 
văn… Thế giới quan và phương pháp luận Hồ Chí Minh là một hệ thống toàn vẹn, thống nhất của 
những quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Hạt nhân của thế giới quan đó là triết học 
Mác - Lênin; sự phong phú của thế giới quan đó là những tổng kết kinh nghiệm cách mạng Việt 
Nam và cách mạng thế giới; vẻ đẹp của thế giới quan đó được tạo ra bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa 
tính khoa học của thế giới quan Mác - Lênin với các giá trị triết học truyền thống Việt Nam, cũng 
như các giá trị của lịch sử triết học phương Đông và phương Tây. 
Chúng ta có thể tìm thấy trong mỗi lời nói, việc làm, bài viết của Hồ Chí Minh sự vững chắc của 
các nguyên lý triết học Mác - Lênin, sự tinh tế của các triết lý trong nền triết học phương Đông, 
phương Tây và một chiều sâu thẳm của các giá trị tư tưởng triết học Việt Nam về độc lập dân tộc, về 
nhân văn, về đạo sống, đạo làm người của dân tộc Việt Nam. Với Hồ Chí Minh, lịch sử triết học Việt 
Nam đã chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, hiện đại. Thời kỳ hiện đại của lịch sử tư tưởng triết 
học Việt Nam là thời kỳ phát triển tư tưởng triết học với nội dung cơ bản của nó là nguyên cứu, vận 
dụng và phát triển các nguyên lý của triết học Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đó 
cũng là quá trình vượt qua những hạn chế và kế thừa có chọn lọc các giá trị trong lịch sử triết học 
Việt Nam cũng như lịch sử triết học phương Đông và phương Tây theo mục tiêu giải quyết các 
nhiệm vụ của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 
3. Anh chi hãy trình bày nh̃ng ch́c năng c ban cua triết hoc và ̣ư ư ợ̉̉vai trò cuả triết hoc̣ đôí 
vơí đơì sống xã hôị. 
Khi nói triết học nghiên cứu thế giới trong tính chỉnh thể và chỉ ra bản chất quy luật chung nhất 
của thế giới thì triết học đã thực hiện vai trò dẫn đường cho những tư tưởng nhìn thế giới quan và 
định hình cho sự phát triển thế giới quan. Tuỳ theo các quan điểm triết học đưa ra cách giải quyết 
vấn đề có khoa học hay không mà triết học phản ánh nó như một thấu kính. Triết học là hạt nhân lý 
luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng 
kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Cơ sở lý luận của các thế giới quan 
khác nhau như chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm là nền tảng cho các phương pháp luận. 
Triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về 
thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Với quan niệm đó, triết học cổ đại không 
có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà đợc xem là "khoa học của mọi khoa học". 
Khi lao động đã phát triển đến mức có sự phân chia lao động xã hội thành lao động trí óc và lao 
động chân tay, tạo điều kiện và khả năng nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc 
lại thành học thuyết, thành lý luận và trên cơ sở đó triết học đã ra đời. Đó là khi chế độ Công xã 
nguyên thuỷ đã bị thay thế bằng chế độ Chiếm hữu nô lệ - chế độ xã hội có giai cấp đầu tiên trong 
lịch sử nhân loại. Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ khi mới ra đời, triết học tự nó đã mang trong mình 
tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp xã hội nhất định. 
Lớp M12CQDT01-N Page 36
Khi con người đã có sự phát triển cả về thể lực và trí lực, có một vốn hiểu biết nhất định và đạt 
đến khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa để có thể rút ra đợc cái chung từ vô số các sự vật và hiện 
tượng riêng lẻ, xây dựng nên các học thuyết, lý luận.Như vậy, triết học đã ra đời từ thực tiễn và do 
nhu cầu của thực tiễn quy định. 
Chức năng cơ bản của triết học: 
+ Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan: Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm 
của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó. 
Đặc tính của tư duy con người là muốn đạt tới sự hiểu biết hoàn toàn, đầy đủ; song tri thức mà 
con người đạt đợc luôn luôn là có hạn. Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, 
song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con 
người. 
Khác với thế giới quan thần thoại và tôn giáo, thế giới quan triết học dựa vào tri thức, là sự diễn tả 
quan niệm của con nười dưới dạng hệ thống các quy luật, phạm trù đóng vai trò là những nấc thang 
trong quá trình nhận thức thế giới. 
+ Là nền tảng để giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn 
tại: bởi vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và xuất phát điểm để giải quyết các vấn đề khác của 
triết học. Đồng thời sẽ là tiêu chuẩn để xác định lập trường thế giới quan của các triết gia và các học 
thuyết của họ. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: 
- Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trớc, cái nào có sau, cái nào quyết định cái 
nào? 
- Mặt thứ hai: ý thức con người có thể phản ánh trung thực thế giới khách quan hay không? Nghĩa 
là con người có khả năng nhận thức hay không? 
Việc trả lời hai câu hỏi trên đã dẫn đến sự hình thành các trường phái và các học thuyết triết học 
khác nhau. 
Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học gắn liền với việc phân chia các học 
thuyết triết học thành hai trường phái triết học cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. 
a. Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tại một 
cách khách quan, độc lập với ý thức con người và không do ai sáng tạo ra; còn ý thức là sự phản ánh 
thế giới khách quan vào trong bộ óc con người; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất. 
b. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinh thần có trước và quyết định giới tự nhiên. Giới tự 
nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức. 
Cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức. 
Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng; 
nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với khoa học. Còn nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy 
tâm là các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối 
hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất. 
Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, 
tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư duy triết học. Đồng thời, nó biểu hiện cuộc đấu 
tranh về hệ tư tưởng giữa các giai cấp đối lập trong xã hội. 
Khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, đại đa số các nhà triết học (cả duy vật và 
duy tâm) đều thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, nhưng họ phủ nhận thế giới 
khách quan là nguồn gốc của nhận thức. Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ nữa 
là: các sự vật, hiện tợng của thế giới xung quanh ta tồn tại như thế nào? 
Lớp M12CQDT01-N Page 37
Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nhưng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính 
đối lập nhau là biện chứng và siêu hình. 
Như vậy, phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại 
với một tư duy cứng nhắc, ”chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ 
qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong 
của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ 
thấy cây mà không thấy rừng”. Còn phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong 
mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy 
mềm dẻo, linh hoạt, "không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa 
chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự 
vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây 
mà còn thấy cả rừng". 
Vai trò của triết học trong đời sống xã hội: 
Vai trò của triết học trong đời sống xã hội được thể hiện qua chức năng của triết học như chức 
năng nhận thức, chức năng đánh giá, chức năng giáo dục, nhưng quan trọng nhất là chức năng thế 
giới quan và chức năng phương pháp luận. 
Chức năng thế giới quan và phương pháp luận của triết học: 
Trong cuộc sống của con người và xã hội loài người, thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan 
trọng. Có thể ví thế giới quan như một thấu kính, qua đó con người nhìn nhận, xét đoán mọi sự vật, 
hiện tượng của thế giới xung quanh và tự xem xét chính mình. Từ đó, xác định thái độ, cách thức 
hoạt động, sinh sống của chính mình. Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan 
tích cực. 
Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển 
như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đem 
lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học. Sự phát triển của thực tiễn và khoa học đã dẫn đến 
sự ra đời của một lĩnh vực đặc thù của khoa học lý thuyết và triết học - Đó là phương pháp 
luận. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống những quan điểm chỉ đạo việc tìm 
tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp. 
Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người 
trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư 
duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất. Mỗi quan điểm lý luận của triết 
học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là một lý luận về phương pháp. 
Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện tượng của thế giới xung 
quanh ta tồn tại như thế nào? Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nhưng suy đến cùng đều 
quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình. 
Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người 
trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết 
học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất. Mỗi quan điểm lý luận của triết học đồng 
thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là một lý luận về phương pháp. 
Vai trò của triết học Mác - Lênin 
Triết học Mác - Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy nhân loại, 
sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc xem xét tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư 
duy con người. 
Trong triết học Mác-Lênin, lý luận duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật thống 
nhất hữu cơ với nhau. Sự thống nhất đó làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện 
chứng trở thành lý luận khoa học. Nhờ đó, triết học Mác - Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn tự 
Lớp M12CQDT01-N Page 38
nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng duy vật không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là lý 
luận về thế giới quan. Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành nhân tố định 
hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát điểm của phương 
pháp luận. 
Triết học Mác ra đời đã làm thay đổi mối quan hệ giữa triết học và khoa học; sự phát triển của 
khoa học tạo điều kiện cho sự phát triển của triết học. Ngược lại, triết học Mác - Lênin đem lại thế 
giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển khoa học. 
Ngày nay, khi khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ thì sự gắn bó giữa triết học Mác - Lênin 
và khoa học càng trở nên đặc biệt quan trọng. Lý luận triết học sẽ khô cứng và lạc hậu nếu tách rời 
các tri thức khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa 
học và thiếu tư duy biện chứng thì trước những phát hiện mới, người ta dễ mất phương hướng và đi 
đến những kết luận sai lầm về mặt triết học. 
Đời sống xã hội hiện đại đang có những biến đổi sâu sắc; việc nắm vững triết học Mác - Lênin 
giúp chúng ta tự giác trong quá trình trau dồi phẩm chất chính trị, tinh thần và năng lực tư duy sáng 
tạo của mình, tránh những sai lầm do chủ nghĩa chủ quan và phương pháp tư duy siêu hình gây ra. 
Tuy nhiên, triết học Mác - Lênin không phải là đơn thuốc vạn năng có thể giải quyết mọi vấn đề 
trong cuộc sống. Bởi vậy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần tránh cả hai khuynh hướng sai 
lầm: hoặc xem thường triết học hoặc là tuyệt đối hóa vai trò của triết học. Nếu xem thường triết học 
sẽ rơi vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, dễ mất phương 
hướng, thiếu chủ động và sáng tạo. Còn nếu tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ xa vào chủ nghĩa 
giáo điều, áp dụng máy móc những nguyên lý, quy luật chung mà không tính đến tình hình cụ thể 
trong những trường hợp riêng, dẫn đến những vấp váp, dễ thất bại. 
4. Anh chi hãy trình bày nh̃ng đăc tr ng c ban cua triết ̣ựư ở̉ hoc̣ Phương Đông cô ̉- trung 
đaị và nêu lên môṭ số an̉h hương cuả nó đối vơí xã hôị Viêṭ Nam giai đoaṇ hiêṇ nay 
Triết học phương Đông nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ. 
Những tộc người cổ đại phương Đông như Đravia ở ấn độ và Trung á; Hạ Vũ, ấn Thương, Chu Hán 
ở Trung quốc; Lạc Việt ở Việt nam,... sớm định cư canh tác nông nghiệp, nguồn sống là nông nghiệp 
quanh năm xanh tươi hoa lá đã hoà quyện con người vào đất trời bao la, giữa con người và vũ trụ 
dường như không có gì tách biệt. Cái cơ sở ban đầu biểu hiện ấy dần dần khái quát thành tư tưởng 
thiên nhân hợp nhất, con người chỉ là một tiểu vũ trụ mà thôi. 
Ở Trung quốc, "thiên nhân hợp nhất" là tư tưởng hợp nhất nhiều trường phái, học thuyết khác 
nhau. Trang Chu viết: "thiên địa ngã tinh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất" nghĩa là trời đất với ta cùng 
sinh, vạn vật với ta là một. Vì vậy người phương Đông cho rằng con người chứa đựng tất cả những 
tính chất, những huyền bí của vũ trụ. 
Một trong những cái nôi của triết học phương Đông là Trung quốc và ấn độ với sự ảnh hưởng của 
triết học phương Đông, đặc biệt là tư tưởng Nho giáo, Phật giáo. Việt nam chịu ảnh hưởng sâu sắc 
của hai trường phái triết học này. 
TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ, TRUNG ĐẠI 
1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Ấn độ cổ, trung đại 
Về điều kiện tự nhiên, Ấn Độ cổ đại là lục địa lớn ở phía nam châu Á có địa hình rất trái ngược 
nhau. Văn hoá Ấn Độ cổ, trung đại được chia làm ba giai đoạn: 
Thời kỳ văn minh sông Ấn với đặc trưng cơ bản là văn minh Harappa - văn minh thành thị 
(khoảng 2500 Tr.CN). 
Lớp M12CQDT01-N Page 39
Thời kỳ Vêđa. Đây là thời kỳ các bộ lạc Arya từ trung Á xâm nhập vào Ấn Độ, đã hình thành nên 
các tác phẩm văn học có tên là Vêđa (khoảng 1500Tr.CN). 
Thời kỳ 1000 năm Tr.CN. Đây là thời kỳ sôi động của Ấn Độ, có hệ thống số đếm, số thập phân, 
có lịch khá chính xác và những bộ sử thi nổi tiếng Mahabharata và Ramayana. 
Nhìn chung, công xã nông thôn tồn tại dai dẳng; ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước; sự phân chia 
đẳng cấp khắc nghiệt. 
Đặc điểm triết học ấn Độ cổ - trung đại 
Thứ nhất, nhìn chung các trường phái triết học Ấn Độ cổ - trung đại thường có sự chuyển từ thế 
giới quan duy vật sang thế giới quan duy tâm, còn chịu ảnh hưởng nhiều của tôn giáo. 
Thứ hai, triết học Ấn Độ cổ - trung đại phát triển từ từ chậm chạp ít có bước đột biến, nhảy vọt; 
đề cập nhiều tới vấn đề tâm linh, giải thoát. 
Thứ ba, triết học Ấn Độ cổ - trung đại thể hiện tư duy lôgic chặt chẽ, có hệ thống cao, kế tục các 
trường phái trước mà không gạt bỏ. 
Thứ tư, triết học Ấn Độ cổ - trung đại có tư tưởng biện chứng chất phác và thể hiện tinh thần nhân 
bản cao. 
2. Tư tưởng triết học Phật giáo 
Triết học Ấn Độ đa dạng, phức tạp, chúng ta tập trung vào các hệ thống triết học Ấn Độ thời kỳ 
Bà-la-môn giáo và Phật giáo là chủ yếu. Thời kỳ này, thông thường chia triết học Ấn Độ thành 9 
trường phái, trong đó 6 phái chính thống (thừa nhận tính đúng đắn của Veda hay của Upanisad) 
gồm: Mimamsa; Vedanta; Samkhya; Yoga; Nyaya; Vaisesika và 3 phái không chính thống (không 
thừa nhận Upanisad) gồm: Lokayata; Phật giáo và Jaina giáo. 
Trong 9 trường phái này thì Phật giáo ảnh hưởng nhiều nhất đến Việt Nam. Phật là âm Hán Việt 
của từ Buddha (nghĩa đen là giác ngộ). Phật giáo do Sakyamuni (Thích - ca - mau - ni) sáng lập. 
Thế giới quan Phật giáo thể hiện qua 4 điểm: 
+ Vô tạo giả - nghĩa là không có kẻ sáng tạo đầu tiên ra vũ trụ; 
+ Vô ngã - tức là không có cái tôi vĩnh hằng; 
+ Vô thường - tức là luôn luôn biến đổi và 
+ Nhân quả tương lục - nhân và quả liên tục không gián đoạn và không tạp loạn. 
Có thể nói, về thế giới quan Phật giáo có tư tưởng duy tâm chủ quan, mặc dù là vô thần. 
Nhân sinh quan Phật giáo thể hiện ở tứ thánh đế (bốn chân lý diệu kỳ). 
+ Một là khổ đế - học thuyết về nổi khổ, cho rằng đời người là bể khổ, ít nhất có 8 nổi khổ: sinh, 
lão, bệnh, tử, thương yêu nhau mà phải xa nhau, ghét nhau mà phải sống chung với nhau, mong mà 
không được và ngũ thụ uẩn khổ (nghĩa là do có 5 yếu tố mà cấu tạo nên con người, có con người vậy 
là khổ). 
+ Hai là tập đế hay nhân đế - chỉ ra nguyên nhân của nổi khổ. Theo Phật giáo có 12 nguyên nhân 
làm cho con người khổ: vô minh - tức ngu muội; hành - tác động để nghiệp hoạt động; thức - sự ý 
thức; danh (ý thức); sắc (vật chất) - là 2 thứ thống nhất tạo nên con người; lục nhập - tức là sự tác 
động vào các cơ quan cảm giác; xúc - sự tiếp xúc giữa sự vật với cơ quan cảm giác; thụ - có cảm 
giác; ái - ham muốn; thủ - chiếm lấy; hữu - là tồn tại; sinh - là sinh ra; lão, tử - là già và chết. 
+ Ba là diệt đế - tiêu diệt nguyên nhân nỗi khổ làm cho con người bừng sáng. 
+ Bốn là đạo đế - con đường diệt khổ. Muốn diệt khổ phải thực hiện Bát chính đạo - là tám con 
đường chân chính: chính kiến - hiểu biết đúng đắn về tứ đế; chính tư duy - suy nghĩ đúng đắn; chính 
Lớp M12CQDT01-N Page 40
ngữ - lời nói phải đúng đắn; chính nghiệp - giữ cho nghiệp không tác động xấu; chính mệnh - ngăn 
giữ dục vọng; chính tịnh tiến - rèn luyện tu tập không mệt mỏi; chính niệm - có niềm tin bền vững 
vào giải thoát; chính định - tập trung tư tưởng cao độ. 
Tóm lại, Phật giáo là tôn giáo vô thần nhưng không phải duy vật, mặc dù có những tư tưởng duy 
vật, biện chứng riêng biệt. Phật giáo đề cao việc chống bất bình đẳng xã hội, tu thân tích đức. 
II. TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ, TRUNG ĐẠI 
1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Trung hoa cổ, trung đại 
Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn, có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ III Tr.CN kéo 
dài tới tận thế kỷ III Tr.CN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa mở đầu cho thời kỳ 
phong kiến. Trong hơn 2000 năm lịch sử ấy, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm 2 thời kỳ lớn: 
Thời kỳ từ thế kỷ IX Tr.CN trở về trước và thời kỳ từ thế kỷ VIII Tr.CN đến cuối thế kỷ III Tr.CN. 
1.1.1. Thời kỳ thứ nhất: Có các triều đại nhà Hạ, nhà Thương và nhà Tây Chu. Theo các văn bản 
cổ, nhà Hạ ra đời vào khoảng thế kỷ XXI Tr.CN, đánh dấu sự mở dầu cho chế độ chiếm hữu nô lệ ở 
Trung Hoa. Khoảng nửa đầu thế kỷ XVII Tr.CN, người đứng đầu bộ tộc Thương là Thành Thang đã 
lật đổ nhà Hạ, lập ra nhà Thương, đóng đô ở đất Bạc (Hà Nam hiện nay). Đến thế kỷ XVI Tr.CN, 
Bàn Canh rời đô về đất Ân nên nhà Thương còn gọi là nhà Ân. Vào khoảng thế kỷ XI Tr.CN, Chu 
Vũ Vương đã giết vua Trụ nhà Ân lập ra nhà Chu (giai đoạn đầu là Tây Chu), đưa chế độ nô lệ ở 
Trung Hoa lên đỉnh cao. Nhà Chu đã thực hiện quốc hữu hóa về tư liệu sản xuất (gồm ruộng đất và 
sức lao động) rất nghiêm ngặt, tất cả đều thuộc quyền quản lý của vua nhà Chu. Đồng thời, thành lập 
những đô thị lớn tạo nên sự đối lập rất lớn giữa thành thị và nông thôn. 
Trong thời kỳ này, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong 
đời sống tinh thần. Những tư tưởng triết học đã xuất hiện, nhưng chưa đạt tới mức là một hệ thống. 
Nó đã gắn chặt thần quyền với thế quyền, lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị - xã hội 
với lĩnh vực đạo đức luân lý. Lúc này cũng đã xuất hiện những quan niệm có tính chất duy vật mộc 
mạc, những tư tưởng vô thần tiến bộ. 
Về khoa học, họ đã phát minh ra chữ viết và dựa vào sự quan sát vận hành của mặt trăng, các vì 
sao, tính chất chu kỳ của nước sông và quy luật sinh trưởng của cây trồng mà họ đã biết làm ra lịch 
(Âm lịch) 
1.1.2. Thời kỳ thứ hai: là thời kỳ Đông Chu (còn gọi là thời kỳ Xuân Thu - Chiến quốc), thời kỳ 
chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Sự phát triển của sức sản xuất đã tác 
động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội. Nếu dưới thời Tây 
Chu, đất đai thuộc sở hữu của nhà vua thì nay thuộc về tầng lớp địa chủ mới lên và chế độ sở hữu tư 
nhân về ruộng đất hình thành.Từ đó, sự phân hóa sang hèn dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện. Xã hội 
lâm vào cảnh loạn lạc, rối ren và chiến tranh xảy ra liên miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi 
giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành chế độ phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của 
chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường 
cho xã hội phát triển. 
Sự phát triển sôi động của xã hội đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm của 
những "kẻ sĩ" luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những mẫu hình của một xã hội trong 
tương lai. Lịch sử gọi đây là thời kỳ "Bách gia chư tử" (trăm nhà trăm thầy), "Bách gia tranh minh" 
(trăm nhà đua tiếng). Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra những nhà tư tưởng lớn và hình thành 
nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh. Đặc điểm của các trường phái này là lấy con người và 
xã hội làm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn 
chính trị - đạo đức của xã hội. Theo Lưu Hâm (đời Tây Hán), Trung Hoa thời kỳ này có chín trường 
phái triết học chính (gọi là Cửu lưu hay Cửu gia) là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm dương gia, 
Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia. Trừ Phật giáo được du nhập từ ấn Độ sau 
Lớp M12CQDT01-N Page 41
này, các trường phái triết học được hình thành vào thời kỳ này được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều 
giai đoạn lịch sử và tồn tại cho tới thời kỳ cận đại. 
Lịch sử Trung Hoa cổ đại chia làm hai thời kỳ lớn: thời kỳ Tây Chu về trước và thời kỳ Đông Chu 
(Xuân thu - Chiến Quốc) là thời kỳ từ chế độ nô lệ sang phong kiến, chiến tranh liên miên. Thời kỳ 
này: 
Nhà nước Trung Hoa cổ đại ra đời trên cơ sở trình độ kỹ thuật còn non kém, phân công lao động 
và phân hoá giai cấp chưa thật sâu sắc. 
Sở hữu ruộng đất thuộc nhà vua; hình thức bóc lột chủ yếu là cống nạp. 
Công xã nông thôn tồn tại dai dẳng; ít có những cải biến xã hội. 
Đặc điểm chủ yếu của triết học Trung Hoa cổ, trung đại 
Thứ nhất: đề cập nhiều vấn đề tề gia, trị quốc bình thiên hạ, vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức. 
Thứ hai: đề cập nhiều vấn đề con người và số phận con người. Vấn đề này nổi lên hàng đầu và 
thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc. 
Thứ ba: chú ý nhiều tới mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học, sự hài hòa giữa tự nhiên và 
xã hội. 
Thứ tư, các nhà triết học Trung Hoa cổ, trung đại thường đồng thời là các nhà hoạt động chính trị 
- xã hội. 
Thứ năm, thế giới quan trong triết học Trung Hoa cổ, trung đại thể hiện hỗn tạp (duy vật và duy 
tâm đan xen và có tư tưởng biện chứng sơ khai). 
Thứ nhất, triết học Trung Hoa cổ, trung đại luôn nhấn mạnh tinh thần nhân văn, chú trong đến 
các tư tưởng triết học liên quan đến con người, còn triết học tự nhiên có phần mờ nhạt. 
Thứ hai, triết học Trung Hoa cổ, trung đại chú trọng đến lĩnh vực chính trị -đạo đức của xã hội, 
coi việc thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người. Có thể nói, đây 
cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận và sự lạc hậu về khoa học 
thực chứng của Trung Hoa. 
Thứ ba, triết học Trung Hoa cổ, trung đại nhấn mạnh sự thống nhất hài hòa giữa tự nhiên và xã 
hội, phản đối sự "thái quá" hay"bất cập". 
Thứ tư, đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy của triết học Trung Hoa cổ, trung đại là nhận 
thức trực giác, coi trọng tác dụng của cái "Tâm", coi đó là gốc rễ của nhận thức. 
2. Một số học thuyết tiêu biểu của triết học trung Hoa cổ, trung đại 
a. Thuyết âm dương - ngũ hành và kinh dịch 
Âm dương - ngũ hành phản ánh quan niệm duy vật chất phác về tự nhiên, thể hiện tư tưởng biện 
chứng sơ khai của người Trung Quốc cổ đại. Âm - dương là 2 yếu tố đối chọi nhau nhưng lại thống 
nhất với nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, là động lực của mọi sự vận động, phát triển. 
Một biểu hiện cụ thể của âm - dương là ngũ hành (5 yếu tố: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ). Năm yếu tố 
này có quan hệ mật thiết với nhau, chuyển hoá lẫn nhau. Thể hiện ở tương sinh: thổ sinh kim; kim 
sinh thuỷ; thuỷ sinh mộc; mộc sinh hoả, v.v. Thể hiện ở tương khắc: thổ khắc thuỷ; thuỷ khắc hoả; 
hoả khắc kim, v.v. 
Thuyết Âm dương dùng năm tính năng của 5 yếu tố này giải thích nguồn gốc của tự nhiên. 
Ở Trung Hoa, những quan niệm triết lý về "âm - dương", "ngũ hành" đã được lưu truyền từ rất 
sớm. Tới thời Xuân thu - Chiến quốc, những tư tưởng về Âm dương - Ngũ hành đã đạt tới mức là 
một hệ thống các quan niệm về bản nguyên và tính biến dịch của thế giới. 
Lớp M12CQDT01-N Page 42
a. Tư tưởng triết học về Âm - Dương 
Triết học Âm - Dương có thiên hướng suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn 
vật; đó là sự tương tác của hai thế lực đối lập nhau là Âm và Dương. 
"Âm" là một phạm trù rất rộng, phản ánh khái quát những thuộc tính phổ biến của vạn vật như: 
nhu, thuận, tối, ẩm, phía dưới, phía phải, số chẵn (2,4,6...). "Dương" là phạm trù đối lập với "Âm", 
phản ánh khái quát những tính chất phổ biến của vạn vật như: cương, cường, sáng, khô, phía trên, 
phía trái, số lẻ (1,3,5...). Nhưng hai thế lực Âm - Dương không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với 
nhau, chế ước lẫn nhau theo ba nguyên lý căn bản. 
+ Âm - Dương thống nhất trong Thái cực (Thái cực được coi là nguyên lý của sự thống nhất của 
hai mặt đối lập là âm và dương). Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, chỉnh thể, cân bằng của cái đa 
và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi. 
+ Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm - 
Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực. 
Hai nguyên lý này thường được các học giả phái Âm - Dương khái quát bằng vòng tròn khép kín 
(tượng trưng cho Thái cực, trong đó được chia thành hai nửa (đen trắng) và trong nửa này đã bao 
hàm nhân tố của nửa kia (trong phần đen có nhân tố của phần trắng và ngược lại), biểu hiện cho 
nguyên lý trong Dương có Âm và trong Âm có Dương. 
+ Sự khái quát đồ hình Thái cực Âm - Dương còn bao hàm nguyên lý: Dương tiến đến đâu thì Âm 
lùi đến đó và ngược lại; đồng thời "Âm thịnh thì Dương khởi", "Dương cực thì Âm sinh". 
Để giải thích sự biến dịch từ cái duy nhất thành cái nhiều, đa dạng, phong phú của vạn vật, phái 
Âm - Dương đã đưa ra lôgíc tất định: Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm - Dương); Lưỡng nghi sinh Tứ 
tượng (Thái Dương - Thiếu Âm - Thiếu Dương - Thái Âm) và Tứ tượng sinh Bát quái ( Càn - Khảm 
- Cấn - Chấn - Tốn - Ly - Khôn - Đoài); Bát quái sinh vạn vật (vô cùng vô tận). 
Tư tưởng triết học về Âm - Dương đạt tới mức là một hệ thống hoàn chỉnh trong tác phẩm Kinh 
Dịch, trong đó gồm 64 quẻ kép. Mỗi quẻ kép là một động thái, một thời của vạn vật và nhân sinh, xã 
hội như: Kiền, Khôn, Bĩ, Thái, Truân...; Sự chú giải Kinh Dịch là của nhiều bậc trí thức ở nhiều thời 
đại khác nhau với những xu hướng khác nhau. Điều đó tạo ra một "tập đại thành" của sự chú giải, 
bao hàm những tư tưởng triết học hết sức phong phú và sâu sắc. 
b. Tư tưởng triết học về Ngũ hành 
Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng đi vào phân tích cấu trúc của vạn vật và quy nó về 
những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau, những tương tác (tương sinh, tương khắc) 
với nhau. Đó là năm yếu tố: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ. Kim tượng trưng cho tính chất trắng, 
khô, cay, phía Tây, v.v.; Thủy tượng trưng cho tính chất đen, mặn, phía Bắc, v.v.; Mộc tượng trưng 
cho tính chất xanh, chua, phía Đông,.v.v.; Hỏa tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, phía Nam,.v.v.; 
Thổ tượng trưng cho tính chất vàng, ngọt, ở giữa,.v.v. 
Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh - khắc với 
nhau theo hai nguyên tắc: 
+ Tương sinh (sinh hóa cho nhau): Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; 
Hỏa sinh Thổ.v.v. 
+ Tương khắc (chế ước lẫn nhau): Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc 
Mộc và Mộc khắc Thổ.v.v. 
Sự hợp nhất giữa tư tưởng triết học Âm - Dương và Ngũ hành đã làm cho mỗi thuyết có sự bổ túc, 
hoàn thiện hơn, thể hiện điển hình ở chỗ: các quẻ đơn (Càn - Khảm - Cấn - Chấn - Tốn - Ly - Khôn - 
Đoài) đều được quy về Ngũ hành để biện giải và ngược lại, Ngũ hành cũng mang tính cách Âm - 
Lớp M12CQDT01-N Page 43
Dương. Chẳng hạn: Kiền - Đoài thuộc hành Kim; chấn - Tốn thuộc hành Mộc v.v. và Kim cũng có 
Kim Âm và Kim Dương; Mộc cũng có Mộc Âm và Mộc Dương. 
b. Nho giáo (Nho gia) 
Nho giáo trải qua những giai đoạn phát triển: Nho tiên Tần, Hán nho và Tống nho. Nho tiên Tần 
với các đại biểu như Khổng Tử, Mạnh Kha (Mạnh Tử), Tuân Tử. Hán Nho với Đổng Trọng Thư. 
Tống Nho với Chu Đôn Hy, Trương Tải, v.v. 
Phần này chú ý tư tưởng của Khổng Tử - người sáng lập nho giáo. Tư tưởng nổi trội về chính trị 
của ông là muốn xây dựng một xã hội theo kiểu nhà Chu. Để thực hiện điều này theo ông phải thực 
hiện chính danh (ai ở phận vị nào phải nỗ lực thực hiện bổn phận, trách nhiệm của mình; danh đi đôi 
với thực); lễ (là nghi lễ, chuẩn tắc trong quan hệ giữa người với người từ hành vi, ngôn ngữ cho đến 
trang phục, nhà cửa, v.v.) và nhân (là yêu thương, nhân ái, mình không thích gì thì không làm cho 
người...). 
Về thế giới quan, nhìn chung ông là nhà duy tâm khách quan, có tư tưởng thiên mệnh, mặc dù có 
những yếu tố riêng biệt duy vật. 
Về nhận thức luận, ông đề cập dưới dạng tri thức của con người do đâu mà có. Ông trả lời câu hỏi 
thiếu nhất quán. Theo ông, có người sinh ra đã biết, có người học thì biết. Tuy nhiên, ông là người 
đề cao học tập, cho rằng ai học cũng có thể biết. Khi học phải chăm chỉ, không giấu dốt, v.v. 
Về lịch sử, ông là người có tư tưởng phục cổ, đề cao các triều đại đã qua. 
Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI Tr.CN dưới thời Xuân Thu, người sáng lập là Khổng Tử 
(551 - 479 Tr.CN). Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát 
triển theo hai xu hướng khác nhau: duy vật và duy tâm, trong đó dòng Nho gia Khổng - Mạnh có ảnh 
hưởng rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận. 
Kinh điển chủ yếu của Nho gia gồm Tứ Thư (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử) và Ngũ 
Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân Thu). Các kinh sách này hầu hết đều viết về xã hội, về kinh 
nghiệm lịch sử Trung Hoa. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị - đạo đức 
là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia. Những quan niệm đó được thể hiện ở những tư tưởng chủ yếu 
sau: 
Thứ nhất, Nho gia coi những quan hệ chính trị - đạo đức là những quan hệ nền tảng của xã hội, 
trong đó quan trọng nhất là quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ (gọi là Tam cương). Nếu xếp 
theo tôn ty trật tự, trên dưới thì vua ở vị trí cao nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang của quan hệ thì 
vua - cha - chồng xếp ở hàng làm chủ. Điều này phản ánh tư tưởng chính trị quân quyền và phụ 
quyền của Nho gia. 
Thứ hai, xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến, một xã hội đầy những 
biến động loạn lạc và chiến tranh nên lý tưởng của Nho gia là xây dựng một "xã hội đại đồng". Đó là 
một xã hội có trật tự trên - dưới, có vua sáng - tôi hiền, cha từ - con thảo, trong ấm - ngoài êm trên 
cơ sở địa vị và thân phận của mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại đến thứ dân. Có thể nói đó là lý 
tưởng của tầng lớp quý tộc cũ cũng như của giai cấp địa chủ phong kiến đang lên. 
Thứ ba, Nho gia lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt tới xã hội lý tưởng "đại đồng". Do 
không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xã hội nên nền giáo dục của Nho gia chủ yếu hướng 
vào việc rèn luyện đạo đức con người. Trong bảng giá trị đạo đức của Nho gia thì chuẩn mực gốc là 
"Nhân". Những chuẩn mực khác như Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu.v.v. đều là những biểu hiện cụ 
thể của Nhân. 
Thứ tư, Nho gia quan tâm đến vấn đề bản tính con người. Việc giải quyết những vấn đề chính trị 
-xã hội đòi hỏi Nho gia cũng như nhiều học thuyết khác của Trung Hoa thời cổ phải đặt ra và giải 
quyết vấn đề bản tính con người. Trong học thuyết Nho gia không có sự thống nhất quan điểm về 
Lớp M12CQDT01-N Page 44
vấn đề này, nhưng nổi bật là quan điểm của Mạnh Tử. Theo ông, "bản tính con người vốn là thiện" 
(Nhân chi sơ, tính bản thiện). Thiện là tổng hợp những đức tính vốn có của con người từ khi mới 
sinh ra như: Nhân, Nghĩa, Lễ.v.v. 
Mạnh Tử đã thần bí hóa những giá trị chính trị - đạo đức đến mức coi chúng là tiên thiên, bẩm 
sinh. Do quan niệm tính thiện nên Nho gia (dòng Khổng - Mạnh) đề cao sự giáo dục con người để 
con người trở về đường thiện với những chuẩn mực đạo đức có sẵn. 
Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là Thiện, Tuân Tử lại coi bản tính con người vốn là ác (Nhân 
chi sơ, tính bản ác). Mặc dù vậy, nhưng có thể giáo hóa trở thành thiện (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí....). 
Xuất phát từ quan niệm đó về tính người, Tuân Tử chủ trương đường lối trị nước kết hợp giữa Nho 
gia và Pháp gia. 
Người sáng lập ra Nho gia là Khổng Tử (551 - 479 Tr.CN) 
Trong quan niệm về thế giới, tư tưởng của Khổng Tử luôn có những mâu thuẫn. Một mặt, khi 
chống lại chủ nghĩa thần bí, tôn giáo đương thời, ông thừa nhận sự vật, hiện tượng trong tự nhiên 
luôn luôn tự vận động,biến hóa không phụ thuộc vào mệnh lệnh của Trời. “ Trời có nói gì đâu mà 
bốn mùa vận hành, vạn vật sinh hóa mãi mãi” (Luận ngữ, Dương Hóa, 18); hay “ cũng như dòng 
nước chảy, mọi vật đều trôi đi, ngày đêm không ngừng, không nghỉ” (Luận ngữ, Tử Hãn, 16). Đó là 
yếu tố duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát của ông. Mặt khác, ông lại cho rằng Trời có 
ý chí và có thể chi phối vận mệnh của con người (Thiên mệnh). Đó là yếu tố duy tâm khách qua 
trong quan điểm của ông. Ông nói: “Đạo của ta thi hành ra được cũng do mệnh Trời, mà bị bỏ phế 
cũng là do mệnh Trời” (Luận ngữ, Hiến vấn, 38); “làm sao có thể cải được mệnh Trời”. Hiểu biết 
mệnh Trời là một điều kiện tất yếu để trở thành con người hoàn thiện là người quân tử. Cũng như 
thế, một mặt Khổng Tử tuyên truyền sức mạnh của quỷ thần; nhưng mặt khác ông lại nhấn mạnh vai 
trò quan trọng của hoạt động con người trong đời sống. 
Quan niệm về nhận thức trong học thuyết của Khổng Tử không phát triển, không đặt ra vấn đề 
chân lý mà chỉ dừng lại ở vấn đề “tri thức luận” (tri thức do đâu mà có). Theo ông, tri thức có hai 
loại là “thượng trí” (không học cũng biết) và “hạ ngu”(học cũng không biết). Nghĩa là ông đã thừa 
nhận có tri thức tiên thiên, có trước sự nhận thức của con người. Đối tượng để dạy dỗ, giáo hóa nằm 
giữa “trí” và “ngu”, nếu chịu khó học tập có thể vươn tới thượng trí. Còn không học thì rơi xuống hạ 
ngu. Ưu điểm của ông là chủ trương “hữu giáo vô loại” (học thì không phân loại). Khổng Tử cũng 
nêu ra một số phương pháp học tập có ý nghĩa như: học phải đi đôi với luyện tập; học phải kết hợp 
với suy nghĩ; phải ôn cũ để biết mới; học phải nắm được cái cốt yếu”Tuy nhiên, hạn chế của Khổng 
Tử là ở quan niệm học theo lối “hoài cổ”, coi thường tri thức về sản xuất, lao động chân tay. 
Tư tưởng về luân lý, đạo đức, chính trị - xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi trong học thuyết 
Khổng Tử. Những nguyên lý đạo đức cơ bản nhất trong học thuyết đạo đức của Khổng Tử là: Nhân, 
lễ, trí, dũng...cùng với một hệ thống quan niệm về chính trị - xã hội như “nhân trị”, “chính danh”, 
“thượng hiền”, “quân tử”, “tiểu nhân”... 
Khổng Tử lấy chữ “Nhân” làm nguyên lý đạo đức cơ bản trong triết học của mình. Nhân có ý 
nghĩa rất rộng, bao hàm nhiều mặt trong đời sống con người, có lúc trừu tượng, có lúc cụ thể, tuỳ 
theo trình độ, hoàn cảnh mà ông giảng giải về nhân với nội dung khác nhau. “Sửa mình theo lẽ là 
nhân”, “ Điều gì mình không muốn, đừng đem nó làm cho người khác là nhân”, “yêu thương người 
là nhân”...Tư tưởng bao trùm của Nhân là yêu thương con người, là đạo làm người. 
Để điều nhân có thể thực hiện được thì phải bằng “lễ”. Lễ ở Khổng Tử là những phong tục, tập 
quán, những quy tắc, quy định trật tự xã hội và cả thể chế pháp luật Nhà nước như: sinh, tử, tang, 
hôn tế lễ, triều sính, luật lệ, hình pháp...Lễ được coi là hình thức biểu hiện của nhân. Mặc dù kiên trì 
bảo vệ lễ của nhà Chu, nhưng Khổng Tử cũng đưa thêm những nội dung mới và phát triển nó lên, 
biến lễ thành một phạm trù có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc. 
Lớp M12CQDT01-N Page 45
Mục đích của Khổng Tử là xây dựng một xã hội có tôn ty trật tự, kỷ cương. Để làm đươc điều đó 
cần phải có “lễ” và “chính danh”. “Chính danh là làm mọi việc cho ngay thẳng” (Luận ngữ, Nhan 
Uyên,1); “Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận chính đángcủa người ấy, trên dưới, vua tôi, 
cha con trật tự phân minh, vua lấy lễ mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua”(Luận ngữ, Bát Dật, 
19)...Theo Khổng Tử, muốn trị nước trước tiên phải sửa mình cho chính danh, vì “danh không chính 
thì lời nói không thuận; lời nói không thuận thì sự việc không thành công; sự việc không thành công 
thì lễ nhạc không hưng thịnh; lễ nhạc không hưng thịnh thì hình phạt không đúng; hình phạt không 
đúng thì dân không biết theo ai?” (Luận ngữ, Tử Lộ, 3). Xuất phát từ tình hình loạn lạc của xã hội 
Trung Quốc thời Xuân Thu, Khổng Tử đã nêu lên thuyết “chính danh”, nhưng trên thực tế, học 
thuyết này mang tính bảo thủ, bảo vệ cho lợi ích của quý tộc nhà Chu. 
Để thực hiện mục đích của mình, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống và chủ 
trương “thượng hiền”, dùng người không phân biệt đẳng cấp xuất thân của họ. Trong việc chính trị, 
vua phải biết “trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những kẻ cộng sự” (Luận ngữ, 
Tử Lộ, 2). Việc ông mở trường dạy học chính là nhằm mục đích đào tạo ra những người có tài, đức 
tham gia vào công cuộc cai trị. 
Toàn bộ học thuyết về nhân, lễ, chính danh... của Khổng Tử là nhằm phục vụ mục đích chính trị 
là “Đức trị”. Ông phản đối việc dùng hình phạt để trị dân vì làm như vậy, dân sợ mà phải theo chứ 
không phục. Theo ông, làm chính trị mà dùng đức cảm hóa người thì giống như sao Bắc Đẩu ở một 
nơi mà các sao khác đều chầu đến. 
Tóm lại: So với các học thuyết khác, Nho gia có nội dung phong phú và mang tính hệ thống hơn 
cả; hơn thế nữa, nó còn là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị Trung Hoa suốt hơn hai 
ngàn năm của xã hội phong kiến. Để trở thành hệ tư tưởng chính thống, Nho gia đã được bổ sung và 
hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử trung đại: Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, nhưng tiêu biểu 
hơn cả là dưới triều đại nhà Hán và nhà Tống, gắn liền với tên tuổi của các bậc danh Nho như Đổng 
Trọng Thư (thời Hán), Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy (thời Tống). Quá 
trình bổ sung và hoàn thiện Nho gia thời trung đại được tiến hành theo hai xu hướng cơ bản: 
Một là, hệ thống hóa kinh điển và chuẩn mực hóa các quan điểm triết học của Nho gia theo mục 
đích ứng dụng vào đời sống xã hội, phục vụ lợi ích thống trị của giai cấp phong kiến; vì thế Đổng 
Trọng Thư đã làm nghèo nàn đi nhiều giá trị nhân bản và biện chứng của Nho gia cổ đại. Tính duy 
tâm thần bí của Nho gia trong các quan điểm về xã hội cũng được đề cao. Tính khắc nghiệt một 
chiều trong các quan hệ Tam cương, Ngũ thường thường được nhấn mạnh. 
Hai là, hoàn thiện các quan điểm triết học về xã hội của Nho gia trên cơ sở bổ sung bằng các quan 
điểm triết học của thuyết Âm Dương - Ngũ hành, những quan niệm về bản thể của Đạo gia, tư tưởng 
về pháp trị của Pháp gia v.v. Vì vậy, có thể nói: Nho gia thời trung đại là tập đại thành của tư tưởng 
Trung Hoa. Nho gia còn có sự kết hợp với cả tư tưởng triết học ngoại lai là Phật giáo. Sự kết hợp các 
tư tưởng triết học của Nho gia với những tư tưởng triết học ngoài Nho gia đã có ngay từ thời Hán và 
ít nhiều có cội nguồn từ Mạnh Tử. Tuy nhiên, sự kết hợp đạt tới mức nhuần nhuyễn và sâu sắc chỉ có 
dưới thời nhà Tống (960 - 1279). 
c. Đạo gia 
“Đạo” là khái niệm trung tâm của Đạo gia. Đạo là bản nguyên của vũ trụ, có trước trời, đất, vạn 
vật, đạo là chúa tể của vạn vật, là phép tắc của vạn vật. đạo còn là quy luật tự thân biến hoá của bản 
thân vạn vật, quy luật ấy gọi là “Đức”. 
Phái này cho rằng bản tính của con người có hai khuynh hướng: “hữu vi” và “vô vi”. Xã hội loạn 
lạc là do chính con người đã can thiệp vào, con người đã phân thành sang - hèn, quân tử - tiểu nhân, 
v.v. Nói khác đi, con người đã dùng cái khuynh hướng “hữu vi” để can thiệp vào xã hội. Từ đó sinh 
ra mâu thuẫn, loạn lạc. Để tề gia, trị quốc bình thiên hạ có hiệu quả thì phải thực hiện tinh thần “vô 
Lớp M12CQDT01-N Page 46
vi” - không can thiệp vào xã hội, để cho nó phát triển tự nhiên. “Vô vi” là khuynh hướng trở về 
nguồn gốc, để sống với tự nhiên, để hợp với “Đức”. 
Về nhận thức, các đại biểu của phái đạo gia không nhất quán. Lão Tử - người sáng lập phái đạo 
gia coi nhẹ nghiên cứu sự vật cụ thể, đề cao tư duy trừu tượng. Trang Tử lại có quan điểm không thể 
biết về nhận thức. 
Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI tr. CN). Học thuyết của ông được Dương 
Chu và Trang Chu thời Chiến quốc hoàn thiện và phát triển theo hai hướng ít nhiều khác nhau. 
Những tư tưởng triết học của Đạo gia được khảo cứu chủ yếu qua Đạo đức kinh và Nam hoa kinh. 
Tư tưởng cốt lõi của Đạo gia là học thuyết về "Đạo" với những tư tưởng biện chứng, cùng với học 
thuyết "Vô vi" về lĩnh vực chính trị - xã hội. 
Về bản thể luận, tư tưởng về Đạo là nội dung cốt lõi trong bản thể luận của Đạo gia. Phạm trù 
Đạo bao gồm những nội dung cơ bản sau: 
- "Đạo" là bản nguyên của vạn vật. Tất cả từ Đạo mà sinh ra và trở về với cội nguồn của Đạo. 
- "Đạo" là cái vô hình, hiện hữu là cái "có"; song Đạo và hiện hữu không thể tách rời nhau. Trái 
lại, Đạo là cái bản chất, hiện hữu là cái biểu hiện của Đạo. Bởi vậy, có thể nói: Đạo là nguyên lý 
thống nhất của mọi tồn tại. 
- "Đạo" là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu. Nguyên lý ấy là "đạo pháp tự nhiên". 
Chính trong quan niệm về "Đạo" đã thể hiện một trình độ tư duy khái quát cao về những vấn đề 
bản nguyên thế giới, nhìn nhận thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất của nó. 
Quan niệm về tính biện chứng của thế giới không tách rời những quan niệm về "Đạo", trong đó 
bao hàm những tư tưởng chủ yếu sau: 
Mọi hiện hữu đều biến dịch theo nguyên tắc "bình quân" và "phản phục" (cân bằng và quay trở lại 
cái ban đầu). 
- Các mặt đối lập trong thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái 
này đã có cái kia. 
Do nhấn mạnh nguyên tắc "bình quân" và "phản phục" trong biến dịch nên Đạo gia không nhấn 
mạnh tư tưởng đấu tranh với tư cách là phương thức giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện sự phát 
triển; trái lại, đã đề cao tư tưởng điều hòa mâu thuẫn, coi đó là trạng thái lý tưởng. Bởi vậy triết học 
Đạo gia không bao hàm tư tưởng về sự phát triển. 
Học thuyết chính trị - xã hội với cốt lõi là luận điểm "Vô vi". Vô vi không phải là cái thụ động, 
bất động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản tính tự nhiên của "Đạo". 
2.4. Mặc gia 
Phái Mặc gia do Mặc Tử, tức Mặc Địch (khoảng từ 479 -381 Tr.CN) sáng lập thời Xuân Thu. 
Sang thời Chiến Quốc dã phát triển thành phái Hậu Mặc. Đây là một trong ba học thuyết lớn nhất 
đương thời (Nho - Đạo - Mặc). 
Tư tưởng triết học trung tâm của Mặc gia thể hiện ở quan niệm về "Phi thiên mệnh". Theo quan 
niệm này thì sự giàu, nghèo, thọ, yểu...không phải là do định mệnh của Trời mà là do người. Nếu 
người ta nỗ lực làm việc, tiết kiệm tiền của thì ắt giàu có, tránh được nghèo đói. Đây là quan niệm 
khác với quan niệm Thiên mệnh có tính chất thần bí của Nho giáo dòng Khổng - Mạnh. 
Học thuyết "Tam biểu" của Mặc gia mang tính cách là một học thuyết về nhận thức, có xu hướng 
duy vật và cảm giác luận, đề cao vai trò của kinh nghiệm, coi đó là bằng chứng xác thực của nhận 
thức. 
Lớp M12CQDT01-N Page 47
Thuyết "Kiêm ái" là một chủ thuyết chính trị - xã hội mang đậm tư tưởng tiểu nông. Mặc Địch 
phản đối quan điểm của Khổng Tử về sự phân biệt thứ bậc, thân sơ...trong học thuyết "Nhân". Ông 
chủ trương mọi người yêu thương nhau, không phân biệt thân sơ, đẳng cấp... 
Phái Hậu Mặc đã phát triển tư tưởng của Mặc gia sơ kỳ chủ yếu trên phương diện nhận thức luận. 
2.5. Pháp gia 
Là một trường phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, chủ trương dùng những luật lệ, hình pháp 
của nhà nước là tiêu chuẩn để điều chỉnh hành vi đạo đức của con người và củng cố chế độ chuyên 
chế thời Chiến quốc. 
Là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, đấu tranh kiên quyết chống lại tàn dư của chế độ 
công xã gia trưởng truyền thống và tư tưởng bảo thủ, mê tín tôn giáo đương thời. 
Đại diện của phái Pháp gia là Hàn Phi Tử (280 - 233 Tr.CN). Tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử 
dựa trên những luận cứ triết học cơ bản sau: 
Về tự nhiên: 
Ông giải thích sự phát sinh, phát triển của vạn vật theo tính quy luật khách quan mà ông gọi là 
Đạo. Đạo là quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn tồn tại và không thay đổi. Còn mỗi sự vật 
đều có "Lý" của nó. "Lý" là sự biểu hiện khác nhau của Đạo trong mỗi sự vật cụ thể và là cái luôn 
luôn biến hóa và phát triển. Từ đó, ông yêu cầu mọi hành động của con người không chỉ dựa trên 
quy luật khách quan, mà còn phải thay đổi theo sự biến hóa của "Lý", chống thái độ cố chấp và bảo 
thủ. 
Về lịch sử: 
Ông thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội, khẳng định rằng không thể có chế độ xã hội nào là 
không thay đổi. Do đó không thể có khuôn mẫu chung cho mọi xã hội. Ông đã phân chia sự tiến 
triển của xã hội làm 3 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn đó xã hội có những đặc điểm và tập quán riêng 
ứng với trình độ nhất định của sản xuất và văn minh. Đó là: 
+ Thời Thượng cổ: Con người biết lấy cây làm nhà và phát minh ra lửa để nấu chín thức ăn. 
+ Thời Trung cổ: Con người đã biết trị thủy, khắc phục thiên tai. 
+ Thời Cận cổ: Bắt đầu xuất hiện giai cấp và xảy ra các cuộc chinh phạt lẫn nhau. 
Động lực căn bản của sự thay đổi xã hội được ông quy về sự thay đổi của dân số và của cải xã 
hội. 
Về thuyết "Tính người": 
Ông theo quan niệm của Tuân Tử coi tính người là ác, đưa ra học thuyết luân lý cá nhân vị lợi, 
luôn có xu hướng lợi mình hại người, tránh hại cầu lợi...Kẻ thống trị phải nương theo tâm lý vị lợi 
của con người để đặt ra pháp luật, trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội. 
Tư tưởng về pháp trị. 
Trên cơ sở những luận điểm triết học cơ bản ấy, Hàn Phi Tử đã đề ra học thuyết Pháp trị, nhấn 
mạnh sự cần thiết phải cai trị xã hội bằng luật pháp. Ông cũng phản đối thuyết nhân trị, đức trị của 
Nho giáo, phép "vô vi trị" của Đạo gia. Phép trị quốc của Hàn Phi Tử bao gồm 3 yếu tố tổng hợp là 
pháp, thế và thuật, trong đó pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế và thuật là phương tiện để 
thực hiện chính sách đó. 
+ "Pháp" là một phạm trù của triết học Trung Hoa cổ đại. Theo nghĩa hẹp, là quy định, luật lệ có 
tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ; theo nghĩa rộng, pháp được coi là một 
thể chế, chế độ chính trị và xã hội. Vì vậy, pháp được coi là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan để định 
rõ danh phận, giúp cho mọi người thấy rõ được bổn phận, trách nhiệm của mình. 
Lớp M12CQDT01-N Page 48
+ "Thế" là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể. 
+ "Thuật" cũng là chính danh, là phương sách trong thuật lãnh đạo của nhà vua nhằm lấy danh mà 
tránh thực. 
======= 
3. Một số nhận định về triết học Trung Hoa cổ, trung đại 
Nền triết học Trung Hoa cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên chế độ 
phong kiến. Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung hoa cổ 
đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội. Tuy họ vẫn đứng trên 
quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng 
những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế 
độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức 
phong kiến phương Đông. 
Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung Hoa thời cổ còn cống 
hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc về sự biến dịch của vũ trụ. Những tư tưởng 
về Âm dương - Ngũ hành tuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc 
mang tính chất duy vật và biện chứng của người Trung Hoa thời cổ, có ảnh hưởng lớn đến thế giới 
quan triết học sau này ở Trung Hoa và một số nước khác trong khu vực. 
========= 
B. LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY ÂU TRƯỚC MÁC 
I. TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 
1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại 
a. Hoàn cảnh ra đời 
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời khoảng thế kỷ VII-VI Tr.CN. Khi ấy Hy Lạp thuộc chế độ chiếm 
hữu nô lệ; có sự phân công lao động cao; mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và nô lệ cũng như giữa 
phái chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc gay gắt. Hy Lạp là quê hương của các khoa học. Điều này đã 
góp phần thúc đẩy triết học phát triển. 
b. Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại 
Thứ nhất: có sự phân hoá thành duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình rõ nét. 
Thứ hai: đề cập nhiều cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học, tuy nhiên ưu tiên vấn đề tồn tại là 
gì? nguồn gốc của thế giới là gì? 
Thứ ba: có tinh thần biện chứng nhưng còn thô sơ chất phác. Đỉnh cao là tư tưởng biện của 
Hêraclít. 
Thứ tư đề cập nhiều tới con người và số phận con người. 
Thứ năm: gắn bó với khoa học đương thời, thường thì các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa 
học. 
2. Một số đại biểu tiêu biểu 
- Hêraclít (khoảng 530 - 470 Tr.CN, có tài liệu ghi khoảng 540 - 480 Tr.CN). Tư tưởng triết học 
của ông thường được thể hiện dưới các dạng các câu cách ngôn. Về vấn đề bản nguyên của thế giới, 
ông cho mọi sự vật đều trao đổi với lửa và lửa trao đổi với mọi sự vật. Cả vũ trụ với ông như là ngọn 
lửa vĩnh viễn cháy. Lửa không chỉ là khởi nguyên của vũ trụ mà còn là cơ sở của linh hồn con người. 
Lớp M12CQDT01-N Page 49
Hêraclit có những tư tưởng biện chứng chất phác. Theo ông, đất chết đi thì sinh ra nước; nước chết 
đi thì sinh ra không khí; không khí chết đi thì sinh ra lửa và ngược lại. Đây là quy luật của tự nhiên 
mà ông gọi là logos. Logos là quy luật của vũ trụ và cũng là quy luật "thống nhất và đấu tranh của 
các mặt đối lập". Với ông, mọi sự vật hiện tượng đều thay đổi, đều "chảy" như nước chảy trong dòng 
sông. Ông đã phần nào thấy được sự thống nhất của các mặt đối lập: cái đói làm cho cái no có giá trị; 
bệnh tật làm cho sức khỏe quý hơn, v.v. Những tư tưởng biện chứng này còn thô sơ, chất phác 
nhưng chứa đựng tư tưởng quý giá về sự vận động, phát triển không ngừng của sự vật, hiện tượng. 
Về nhận thức luận, Hêraclit đã phân biệt nhận thức cảm tính với nhận thức lý tính. Nhận thức cảm 
tính, theo ông không thể đạt được logos. Để đạt được logos phải dùng trí tuệ, nhưng không phải bất 
kỳ ai cũng có thể đạt được logos. Nhận thức được logos là hết sức khó khăn vì bản thân thế giới luôn 
bí mật. Hơn nữa khi nhận thức logos, con người còn bị ảnh hưởng của các nhà tư tưởng có uy tín 
khác, v.v. 
Về chính trị - xã hội, theo Hêraclit, con người về bản tính là bình đẳng nhưng trên thực tế lại 
không vậy. Sự bất bình đẳng của con người, theo ông là hậu quả của sự bất bình đẳng về lợi ích. 
Phần lớn mọi người trong xã hội, theo ông là sống không theo logos mà theo sự tính toán. Họ bị trói 
buộc bởi những mong muốn cá nhân của mình. Hạnh phúc với ông, không phải là sự thỏa mãn về 
thể xác mà là ở sự suy tư, suy nghĩ, ở việc biết nói sự thật, biết hành động theo tiếng nói của tự 
nhiên. Bản thân Hêraclit là quý tộc nên ông luôn có tinh thần quý tộc, coi thường người lao động, 
tuy nhiên ông không ủng hộ chủ nô quý tộc. 
- Đêmôcrít (khoảng 460-370 Tr.CN) - nhà duy vật theo đường lối nguyên tử cho nguyên tử là hạt 
vật chất nhỏ nhất là nguồn gốc của mọi sự vật hiện tượng. Về bản thể luận, ông cho nguyên tử (tồn 
tại) và khoảng không trống rỗng (không tồn tại) là nguồn gốc của thế giới. Nhờ có khoảng không 
trống rỗng mà các nguyên tử mới vận động được. Nguyên tử là những hạt vật chất nhỏ nhất, không 
thể phân chia được nữa. Nguyên tử không màu sắc, không mùi vị, không âm thanh, không nóng lên, 
không lạnh đi, v.v. Các nguyên tử khác nhau về hình thức, chẳng hạn như chữ A khác chữ B, về trật 
tự sắp xếp, chẳng hạn như A.N khác N.A, về tư thế chẳng hạn như chữ M khác W. Các nguyên tử 
liên kết với nhau tạo nên sự vật, các nguyên tử tách rời khỏi nhau thì sự vật mất đi. Các nguyên tử 
luôn luôn vận động trong khoảng không trống rỗng. Chính sự vận động của các nguyên tử là cơ sở 
để hình thành nên vũ trụ của chúng ta. Ông chống lại triết học duy tâm của Platôn, bảo vệ nền dân 
chủ Aten. 
- Platôn (427-347 Tr.CN) - nhà triết học duy tâm khách quan cho ý niệm có trước sự vật và quyết 
định sự vật. Về bản thể luận, theo Platôn vũ trụ có hai thế giới. Một là thế giới ý niệm. Hai là thế 
giới các sự vật cảm tính (sông, núi, cây, cỏ, v.v). Thế giới ý niệm là thế giới tinh thần, nó hoàn hảo, 
đúng đắn, chân thực, vĩnh viễn không đổi. Nó là cơ sở của thế giới các sự vật cảm tính. Thế giới các 
sự vật cảm tính là không chân thật, không hoàn hảo, không đúng đắn vì mọi cái trong nó luôn biến 
đổi có sinh ra và mất đi. Nó chỉ là cái bóng của thế giới ý niệm do thế giới ý niệm quyết định. Ý 
niệm ở Platôn như là khuôn mẫu để các sự vật "mô phỏng" theo. Có rất nhiều ý niệm khác nhau. Bản 
thân vũ trụ gồm hai thế giới này cũng là sản phẩm của thần. Do vậy, vũ trụ giống như cơ thể sống có 
linh hồn, có trí tuệ. 
Về nhận thức luận, Platôn cũng đứng trên lập trường duy tâm khách quan để xem xét. Theo ông, 
tri thức có trước sự vật, nhận thức lý tính có trước nhận thức cảm tính. Nhận thức về thực chất chỉ là 
quá trình hồi tưởng lại, nhớ lại những cái mà linh hồn trước khi nhập vào thể xác con người đã có 
sẵn, đã trải qua. Ông có tư tưởng bảo thủ của phái chủ nô quý tộc, bảo vệ chế độ nô lệ trên tinh thần 
của phái chủ nô quý tộc. 
- Arixtốt (384-322 Tr.CN) - nhà triết học duy tâm cho mọi sự vật đều do 4 nguyên nhân cấu tạo 
nên. Đó là nguyên nhân “hình thức”, nguyên nhân vật chất, nguyên nhân hành động và nguyên nhân 
mục đích. Trong đó, nguyên nhân vật chất quyết định. Đồng thời ông công nhận sự thống trị của 
mục đích trong vũ trụ. Do đó, ông là nhà duy tâm. Arixtốt còn là người khởi xướng thuyết địa tâm 
Lớp M12CQDT01-N Page 50
(cho trái đất là trung tâm của vũ trụ). Ông cũng là người phủ định tính thống nhất vật chất của thế 
giới. Tuy nhiên, trong quan niệm về tự nhiên Arixtốt cũng có những yếu tố duy vật nhưng còn hạn 
chế. Chẳng hạn, ông cho rằng thế giới được cấu tạo bởi: đất, nước, lửa, không khí và ête - một dạng 
vật chất để cấu tạo nên các vật thể bầu trời. Trong vũ trụ có vận động. Bốn nguyên tố: đất, nước, lửa 
và không khí tác động qua lại với nhau để chuyển hóa, tạo nên các sự vật, v.v. Nhưng trong vật lý lại 
có những quan niệm tiến bộ duy vật, khoa học. Ông tin tưởng khả năng nhận thước của con người. 
Ông là người sáng lập ra lôgíc hình thức. Ông được coi là bộ óc bách khoa vĩ đại nhất Hy Lạp cổ 
đại. 
5. Anh chi hãy trình bày quan điêm về “nhân-qua” cua triết hoc ̣̣̉̉̉Phâṭ giáo trong thuyết 
Tứ diêụ đế 
Phật giáo cho rằng: nhân là nguyên nhân, quả là kết quả. Trong thế giới tương quan của hiện 
tượng, mỗi hiện hữu đều có nguyên nhân của nó. Nguyên nhân của sự có mặt của các hiện hữu gọi là 
nhân và hiện hữu gọi là quả. Mỗi hiện tượng vừa là kết quả vừa là nguyên nhân. Tương quan “Nhân- 
Quả” ấy gọi là tương quan duyên sinh. 
Một số nội dung chính trong thuyết “Nhân- Quả”: 
+ Nhân thế nào thì quả thế ấy. 
+ Một nhân không thể sinh ra quả: Sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên. 
Cho nên không có một nhân nào có thể tự tác thành kết quả được, nếu không có sự giúp đỡ của 
nhiều nhân khác. 
+ Trong nhân có quả, trong quả có nhân: Trong nhân đã có sẵn mầm giống của quả. Mỗi vật, vì 
thế đều có thể gọi là nhân hay quả đều được, đối với quá khứ thì nó là quả, nhưng đối với tương lai 
thì nó là nhân. Nhân và quả là sự tiếp nối và đắp đổi cho nhau. 
Sự chuyển biến từ nhân thành quả có lúc nhanh nhưng cũng có lúc chậm, chứ không phải bao giờ 
cũng đồng nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Vì thế, các nhà nghiên cứu đã phân loại Nhân 
quả thành Nhân quả đồng thời và Nhân quả khác thời. 
Như vậy, Triết học Phật giáo đã khẳng định rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng trên đời đều có 
nguyên nhân của nó. Nhân kết hợp với duyên thì sinh ra quả, quả lại kết hợp với duyên lại biến 
thành nhân và sinh ra quả khác. Nhân và quả tạo thành một chuỗi không ngừng nghỉ mà Phật gọi là 
“Nhân quả tương tục vô gián đoạn". 
Ngoài ra, Phật giáo đã kế thừa thuyết luân hồi, nghiệp báo trong đạo Balamôn và vì thế Đức 
Thích Ca Mâu Ni đã đưa ra thuyết “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên” nhằm giải thoát chúng 
sinh ra khỏi mọi nỗi khổ ải và kiếp nghiệp báo, luân hồi. Đây là tư tưởng triết lý nhân sinh quan chủ 
yếu của đạo Phật. 
“Tứ diệu đế” là bốn chân lý vĩnh hằng, thiêng liêng, cao cả, đúng đắn gồm có: Khổ đế, Nhân đế, 
Diệt đế và Đạo đế. 
+ Khổ đế: là lý luận về những nỗi khổ rõ ràng ở thế gian. 
Theo Phật có 8 nỗi khổ trầm luân bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu là: 
1. sinh khổ, 
2. lão khổ, 
3. bệnh khổ, 
4. tử khổ, 
Lớp M12CQDT01-N Page 51
5. ái biệt ly khổ (yêu thương mà phải chia ly), 
6. sở cầu bất đắc khổ (muốn mà không được), 
7. oán tăng hội khổ (ghét nhau mà phải sống với nhau), 
8. ngũ uẩn khổ (sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn - sắc, thụ, tưởng, hành, thức). 
Như vậy, ở đây ta thấy Phật cho rằng đời là bể khổ, và khi mỗi chúng ta được sinh ra thì tất nhiên 
sẽ khổ, đó là nguyên nhân và kết quả tất yếu, vì vậy Người đã chỉ dạy cho chúng sinh một điều là 
khổ và diệt khổ. 
+ Nhân đế: là lý luận về những nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ trong cuộc sống con người. Phật 
khẳng định rằng tất cả mọi nỗi khổ của con người đều có nguyên nhân của nó. Phật giáo cho rằng 
con người còn chìm đắm trong bể khổ khi không thoát ra khỏi dòng sông luân hồi. Mà luân hồi là do 
nghiệp tạo ra. Sở dĩ có nghiệp là do lòng ham muốn, tham lam (ham sống, ham lạc thú, ham giàu 
sang…), do sự ngu dốt và si mê, nói ngắn gọn là do Tam độc (tham, sân, si) gây ra. 
Ngoài ra, nhân đế được diễn giải một cách logic và cụ thể trong thuyết Thập nhị nhân duyên (12 
nguyên nhân dẫn đến bể khổ): vô minh, hành, thức, danh - sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, 
lão - tử. Trong 12 nguyên nhân ấy thì vô minh là nguyên nhân thâu tóm tất cả, vì vậy, diệt trừ vô 
minh là diệt trừ tận gốc sự đau khổ nhân sinh. 
+ Diệt đế: là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc sống thế gian để đạt tới niết bàn. 
Khi vô minh được khắc phục thì tam độc sẽ biến mất, luân hồi sẽ chấm dứt…, tâm sẽ thanh thản, 
thần sẽ minh mẫn, niết bàn sẽ xuất hiện… Diệt đế bộc lộ tinh thần lạc quan của Phật giáo ở chỗ nó 
vạch ra cho mọi người thấy cái hiện tại đen tối, xấu xa của mình, để cải đổi, kiến tạo lại nó thành 
một cuộc sống xán lạn, tốt đẹp hơn. Phật giáo thể hiện khát vọng nhân bản, muốn hướng con người 
đến cõi hạnh phúc "tuyệt đối", muốn hướng khát vọng chân chính của con người tới chân - thiện - 
mỹ. 
+ Đạo đế : là lý luận về con đường diệt khổ, giải thoát. Nội dung cơ bản của nó thể hiện trong 
thuyết Bát chính đạo (tám con đường đúng đắn) đưa chúng sinh đến niết bàn, đó là: 
1. chính kiến (hiểu biết đúng), 
2. chính tư duy (suy nghĩ đúng), 
3. chính ngữ (lời nói chân thật), 
4. chính nghiệp (hành động đúng đắn), 
5. chính mệnh (sống một cách chân chính), 
6. chính tinh tấn (thẳng tiến mục đích đã chọn), 
7. chính niệm (ghi nhớ những điều hay lẽ phải), 
8. chính định (tập trung tư tưởng vào một điều chính đáng). 
Chung quy, bát chính đạo là suy nghĩ, nói năng, hành động đúng đắn… ; nhưng về thực chất, thực 
hành bát chính đạo là khắc phục tam độc bằng cách thực hiện tam học (giới, định, tuệ). Trong đó, 
tham được khắc phục bằng giới (chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh); sân được khắc phục bằng 
định (chính tinh tấn, chính niệm, chính định); si được khắc phục bằng tuệ (chính kiến, chính tư duy). 
Như vậy, ta thấy thuyết “Tứ diệu đế” của Phật giáo đã thể hiện rất rõ quy luật “Nhân - Quả” của 
các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Mọi vấn đề đều có nguyên nhân và kết quả tất yếu của nó. 
Mọi sự vật, hiện tượng đều có sinh, có diệt và gắn bó mật thiết với nhau trong mối quan hệ Nhân - 
Quả. 
Lớp M12CQDT01-N Page 52
6. Bằng s ra đ̀i cua triết hoc Phât giáo, anh chi hãy ch́ng minh ư ợ̣̣̉ư rằng nôị dung cuả các 
hoc̣ thuyết triết hoc̣ nói riêng, đơì sống tinh thần cuả con ngươì nói chung bi ̣điều 
kiêṇ sống quy điṇh 
Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được con người Việt Nam bản địa hóa, khiến Phật giáo 
hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam. Phật giáo đã sinh tồn 
cùng dân tộc. Điểm này chúng ta dễ dàng nhận thấy những thời đại cực hưng thịnh của đất nước đều 
là những lúc Phật giáo cũng song hành hưng thịnh và các vị thiền sư có vị trí quan trọng trong các 
triều đại đó. Như thời Nhà Đinh, Lê, Lý Trần v.v... Dù được bản địa hóa để quyện mình vào lòng 
dân tộc nhưng tam tạng kinh điển Phật giáo Việt Nam vẫn giữ được vẻ tinh khiết vốn có của nó và 
dòng thiền đã được truyền thừa chưa từng gián đoạn, trong suốt hơn 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt 
Nam. 
Tính tổng hợp: Tổng hợp là một trong những đặc tính của lối tư duy nông nghiệp, chính vì thế 
tổng hợp là đặc tính nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam. 
- Tổng hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống: Phật giáo thờ Phật trong chùa, tín ngưỡng 
truyền thống Việt Nam là thờ Thần trong miếu và thờ Mẫu trong phủ, bốn vị thần được thờ nhiều 
nhất là Tứ pháp: Mây-Mưa-Sấm-Chớp. Tuy nhiên bốn vị thần này đã được "Phật Hóa", Các pho 
tượng này thường được gọi tượng Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi và Phật Pháp điện, 
trên thực tế các tượng này hoàn toàn điêu khắc theo tiêu chuẩn của một pho tượng Phật. Nghĩa là đầy 
đủ 32 tướng tốt cùng 80 vẽ đẹp, mà một trong những nét tiêu biểu chính là tướng nhục kế, những 
khế ấn, và khuông mặt đầy lòng từ mẫn v.v... Các hệ thống thờ phụ này tổng hợp với nhau tạo nên 
các ngôi chùa tiền Phật, hậu thần hay tiền Phật, hậu Mẫu. Người Việt Nam đưa các vị Thần, Thánh, 
Mẫu, thành hoàng thổ địa, anh hùng dân tộc... vào thờ trong chùa. Đa số các chùa còn để cả bia hậu, 
bát nhang cho các linh hồn đã khuất. Điều này đã giải thích tại sao Phật giáo đã hưng thịnh cùng đất 
nước. 
- Tổng hợp giữa các tông phái Phật giáo: Các tông phái Phật giáo Đại thừa sau khi du nhập vào 
Việt Nam trộn lẫn với nhau. Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi pha trộn với Mật giáo. Nhiều vị thiền sư 
đời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không,... đều giỏi pháp thuật và có tài thần 
thông biến hóa. Thiền tông còn kết hợp với Tịnh Độ tông như là trong việc tụng niệm Phật A Di Đà 
và Bồ Tát. 
Các điện thờ ở chùa miền Bắc có vô cùng phong phú các loại tượng Phật, bồ tát, la hán của các 
tông phái khác nhau. Các chùa miền Nam còn có xu hướng kết hợp Tiểu thừa với Đại thừa. Nhiều 
chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý 
Đại thừa; bên cạnh Phật Thích Ca Mâu Ni còn có các tượng Phật nhỏ khác, bên cạnh áo vàng còn có 
áo nâu, áo lam. 
Tính hài hòa âm dương: Sau tính tổng hợp, hài hòa âm dương là một trong những đặc tính khác 
của lối tư duy nông nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn đến Phật giáo Việt Nam làm cho Phật giáo Việt 
Nam có phần thiên về nữ tính. 
Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là nam giới, khi vào Việt Nam bị biến thành Phật ông - Phật bà. Phật 
Bà Quan Âm (biến thể của Quán Thế Âm Bồ Tát) là vị thần hộ mệnh của vùng Nam Á nên được gọi 
là Quan Âm Nam Hải. Ngoài ra người Việt còn có những vị Phật riêng của mình như Man Nương 
Phật Mẫu (tên khác: Phật Mẫu), Quan Âm Thị Kính (tên khác: Quan Âm Tống Tử), Quan Âm Diệu 
Thiện (tên khác: Phật Bà Chùa Hương, Bà chúa Ba). 
Tính linh hoạt: Phật giáo Việt Nam còn có một đặc điểm là rất linh hoạt, mà nhà Phật thường gọi 
là "tùy duyên bất biến; bất biến mà vẫn thường tùy duyên" nghĩa là tùy thuộc vào tình huống cụ thể 
mà người ta có thể tu, giải thích Phật giáo theo các cách khác nhau. Nhưng vẫn không xa rời giáo lý 
cơ bản của nhà Phật. 
Lớp M12CQDT01-N Page 53
Ví dụ: Các vị bồ tát, các vị hòa thượng đều được gọi chung là Phật, Phật Bà Quan Âm (vốn là bồ 
tát), Phật Di Lặc (vốn là hòa thượng),... 
Ngoài ra Phật ở Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa và dân dã: ông Bụt Ốc (Thích Ca tóc xoăn), 
ông Nhịn ăn mà mặc (chỉ Thích Ca Tuyết Sơn),... Trên đầu Phật Bà Chùa Hương còn có lọn tóc đuôi 
gà rất truyền thống của phụ nữ Việt Nam. 
Phật giáo và Văn hóa Việt: Phật giáo đã thấm nhuần vào cách suy tư và sinh hoạt của người Việt 
nên dấu vết Phật giáo trong văn hóa Việt khá đậm nét. Nhiều người Việt theo lệ ăn chay vào những 
ngày mồng một hay ngày rằm. 
Trong văn học thì truyện Nôm bình dân kể lại truyện Bà Chúa Ba tức truyện Quan âm chùa 
Hương. Nghệ thuật trình diễn có vở chèo Quan Âm Thị Kính. Truyện Kiều của Tố như Nguyễn Du 
cũng hàm chứa nhiều tư tưởng Phật giáo. 
Văn chương truyền khẩu thì số tục ngữ ca dao liên quan đến Phật giáo rất đa dạng. 
Khuyên người thì có: 
Dù xây chín đợt phù-đồ - Không bằng làm phúc cứu cho một người 
Nhận xét nhân thế thì có: 
Hiền như Bụt 
Oan Thị Kính 
Đi với Bụt mặc áo cà-sa - Đi với ma mặc áo giấy 
hay: Miệng thì nam-mô - Bụng bồ dao găm 
Châm biếm thì có: Trao lược cho sư - Nhất sư nhì vãi 
Quay đầu trở lại - Nhất vãi nhì sư. 
7. Bằng s ra đ̀i cua triết hoc Nho gia, anh chi hãy ch́ng minh rằng ư ợ̣̉ư nôị dung cuả các 
hoc̣ thuyết triết hoc̣ nói riêng, đơì sống tinh thần cuả con ngươì nói chung bi ̣điều 
kiêṇ sống quy điṇh 
1. Lịch sử hình thành và phát triển 
Cơ sở của Nho gia được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, 
còn gọi là Chu Công. 
Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và 
tiếp tục truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho 
gia. 
Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục Kinh gồm có Kinh Thi, 
Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. 
+ Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ Kinh thường được gọi là Ngũ Kinh. 
+ Sau khi Khổng Tử mất học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận Ngữ. 
+ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm (còn gọi là Tăng Tử) dựa vào lời thầy mà 
soạn ra sách Đại Học. 
+ Sau đó cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp (Tử Tư) viết ra cuốn Trung Dung. 
Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách 
Mạnh Tử. 
Lớp M12CQDT01-N Page 54
Từ Khổng Tử tới Mạnh Tử hình thành lên Nho gia Nguyên Thủy, còn gọi là Nho gia Tiên Tần. 
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. 
- Nho gia không dừng lại với tư cách một trường phái triết học vươn lên thành hệ tư tưởng xã hội 
mà còn được mở rộng thành một hệ thống niềm tin, tín ngưỡng - nghi thức được phổ biến trong toàn 
xã hội. Nho giáo xuất hiện và Khổng Tử được tôn làm Giáo chủ của đạo Học. Hán Nho đề cao 
quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng “lễ trị” để thay thế “pháp trị”. 
Đến đời Tống, Đại Học và Trung Dung tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận Ngữ và Mạnh Tử 
tạo nên bộ Tứ Thư. Điểm khác biệt của Tống Nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố 
“tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo 
quan lại và cai trị. 
2. Nội dung cơ bản của Nho gia 
Nho gia là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan 
trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử (quân 
= kẻ làm vua, quân tử = chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với “tiểu nhân”, những người thấp 
kém về điạ vị xã hội; sau “quân tử” còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm 
chất tốt đẹp, phân biệt với “tiểu nhân” là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện. 
Điều này có thể được lí giải bởi đối tượng mà Nho gia hướng đến trước tiên là những người cầm 
quyền). Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải “tự đào tạo”, phải “tu thân”. Sau khi 
tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải “hành đạo” (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí. 
Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả 
nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo đức do Nho gia 
đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) và cần phải tuân theo. Trời giáng mệnh làm vua cho 
kẻ nào có Đạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào 
con người sẽ được gọi là Mệnh). 
Khổng tử sống trong thời đại nhà Chu suy tàn, trật tự xã hội bị đảo lộn. trước tình hình đó, ông 
chủ trương lập lại lễ giáo nhà Chu, lập ra học thuyết, mở trường dạy học và đi khắp nơi để truyền bá 
tư tưởng của mình. Để thực hiện điều đó, ông đã xây dụng nên học thuyết về chính trị xã hội mà cốt 
lõi là 3 phạm trù: nhân - lễ - chính danh: 
- Quan niệm về đức nhân của Khổng Tử là một đóng góp lớn trong việc giáo dục đào tạo con 
người giúp con người phát triển toàn diện, vừa có đức vừa có tài. 
Tuy nhiên do hạn chế về lập trường giai cấp nên quan niệm về đức nhân của Khổng Tử cũng có 
nội dung giai cấp rõ ràng khi ông cho rằng chỉ có người quân tử mới có được đức nhân, còn kẻ tiểu 
nhân (tức nhân dân lao động) không có đức nhân; nghĩa là đạo nhân chỉ là đạo của người quân tử là 
của giai cấp thống trị. 
- Quan niệm về lễ: Khổng tử cho rằng để đạt được đức nhân, phải chủ trương dùng lễ để duy trì 
trật tự xã hội. 
Lễ trước hết là lễ nghi, cách thờ cúng, tế lễ; lễ là kỷ cương, trật tự xã hội, là những qui định có 
tính pháp luật đòi hỏi mọi người phải chấp hành. Ai làm trái những điều qui định đó là trái với đạo 
đức. Như vậy, lễ là biên pháp đạt đến đức nhân. 
- Quan niệm về chính danh: quy định rõ danh phận của mỗi người trong xã hội. Khổng Tử cũng 
như các nhà Nho có hoài bão về một xã hội kỷ cương. Vào thời đại Khổng Tử, xã hội rối ren, vì vậy, 
điều căn bản của việc làm chính trị là xây dựng xã hội chính danh để mỗi người mỗi đẳng cấp xác 
định rõ danh phận của mình mà thực hiện. 
3. Đánh giá 
Lớp M12CQDT01-N Page 55
Các đế vương Trung Hoa đã vận dụng Nho gia vào công việc cai trị của mình. Chủ trương 
“dương đức”, “âm pháp”, hay còn gọi là “ngoại Nho, nội pháp”, tức là chủ trương nhân trị chỉ còn là 
hình thức mà thực chất là pháp trị. 
Hạ thấp nhân trị, đề cao lễ trị. Vì nhân trị là cốt lõi của Nho gia nên họ không thể loại bỏ hoàn 
toàn mà dùng nhân trị như một cái vỏ bao bọc lễ trị. Loại bỏ tính dân chủ của Nho gia nguyên thủy. 
Dân là chủ bị lờ đi mà thay vào đó họ đề cao “trời”, tạo ra thuyết “thiên mệnh”. Vua là “thiên tử” 
(con trời), không nghe theo vua là phản lại trời. 
“Ngũ luân” trong Nho gia nguyên thủy được rút gọn thành “tam cương”: vua-tôi, cha-con, vợ- 
chồng. 
Quan hệ “trung dung” trong ngũ luân được chuyển thành quan hệ một chiều duy nhất được tóm 
gọn trong bốn chữ “trung-hiếu-tiết nghĩa”. Bề tôi phải tuyệt đối phục tùng vua, con phải tuyệt đối 
nghe lời cha, vợ phải tuyệt đối phục tùng chồng, đó là những mối quan hệ hết sức phi nhân bản: 
“Vua bảo tôi chết, tôi không chết là tôi bất trung; cha bảo con chết, con không chết là con bất hiếu”. 
Còn trách nhiệm của vợ đối với chồng thì được diễn đạt bằng ba công thức được gọi là tam tòng: “Ở 
nhà theo cha, lấy chống theo chồng, chồng chết theo con trai”. Hạn chế vai trò của văn hóa sao cho 
có lợi cho chế độ phong kiến. Quan hệ nam nữ bị giới hạn một cách quá đáng: “nam nữ thụ thụ bất 
thân”. Đề cao nam, hạ thấp nữ: “nam tôn, nữ ti”, “dương thiện, âm ác”. 
Nói tóm lại trong xã hội phong kiến các nhà triết học trường phái Nho gia cũng như những người 
dân trong thời kỳ này đều bị ảnh hưởng, chịu sự chi phối của điều kiện sống. Họ không thoát ra được 
trong hoàn cảnh này. 
Tuy nhiên Nho gia góp phần xây dựng các nhà nước phong kiến trung ương, tập quyền vững 
mạnh góp phần xây dựng một hệ thống quản lý thống trị xã hội chặt chẽ, nâng cao sức mạnh quân sự 
và kinh tế quốc gia. Nho gia cũng rất coi trọng trí thức, coi trọng học hành. Nho giáo hướng quản 
đạo quần chúng nhân dân vào việc học hành, tu dưỡng đạo đức theo Ngũ Thường “Nhân, Lễ, Nghĩa, 
Trí, Tín” làm cho xã hội ngày càng phát triển văn minh hơn. 
Nho giáo góp phần xây dựng mối quan hệ xã hội rộng rãi hơn, bền chặt hơn, có tôn tri trật tư… 
vượt quá phạm vi cục bộ là các làng xã, thô, ấp hướng tới tầm mức quốc gia, ngoài ra nó góp phần 
xây dựng mối quan hệ gia đình bền chặt hơn, có tôn ty hơn… nhờ tuân theo Ngũ Luân “Vua-tôi, 
cha-con, chồng-vợ, anh-em,bạn-bè”. Nho giáo vốn đặt mối quan hệ vua tôi ở vị trí cao nhất trong 
năm quan hệ giữa người với người, xây dựng tinh thần trung quân, ái quốc. Nhân nghĩa trong Khổng 
giáo là tình cảm sâu sắc, nghĩa vụ thiêng liêng của bề tôi đối với nhà vua, của con đối với cha, của 
vợ đối với chồng. 
8. Anh chi hãy trình bày quan điêm “chính danh” cua triết hoc ̣̣̉̉Nho gia và nêu lên môṭ số 
an̉h hương cuả nó đối vơí đơì sống xã hôị Viêṭ Nam hiêṇ nay 
Thời đại của Khổng Tử sống là thời đại "vương đạo" suy vi, "bá đạo" nổi lên lấn át "vương đạo", 
chế độ tông pháp nhà Chu bị đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi. Đứng trước tình hình đó các Nho gia 
có hoài bảo về một chế độ phong kiến có kỷ cương, thái binh và thịnh trị. Khi xét tư tưởng của 
Khổng Tử ta thấy có một quy tắc chính, một phát kiến của ông đó là học thuyết "chính danh". 
"Chính danh" là tư tưởng cơ bản của chính trị Nho giáo nhằm đưa xã hội loạn trở lại trị. Khổng 
Tử phản đối nhà cầm quyền dùng pháp chế, hình phạt trị dân mà chủ trương nhân trị. 
Sự vật tồn tại khách quan, để biểu hiện nó phải dùng ngôn ngữ, cái ngôn ngữ để biểu hiện đó là 
"danh". Danh đối lập với thực. Danh có nội hàm, sự vật luôn thay đổi nên nội hàm của danh cũng 
luôn thay đổi. Nhưng ngôn ngữ lại có tính ổn định nên danh thường lạc hậu hơn so với thực, không 
thay đổi kịp so với hiện thực, nhất là xã hội có biến loạn. Nguyên nhân khiến cho xã hội loạn lạc là 
Lớp M12CQDT01-N Page 56
do "danh" không hợp với "thực", xã hội đã xa rời đạo lý nhân nghĩa, kỷ cương phép nước bị đảo lộn. 
Muốn ổn định trật tự xã hội, Khổng Tử chủ trương giáo dục chính trị đạo đức là "chính danh, định 
phận". 
Theo học thuyết "chính danh" Khổng Tử đã chia xã hội thành các mối quan hệ cơ bản, trong đó 
mỗi mối quan hệ gọi là một luân. Theo Khổng Tử trong xã hội có 5 luân, đó là: 
Vua - Tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn - bè. 
Trong đó 3 luân đều được chú trọng hơn cả và gọi đó là tam cương (vua - tôi, chồng -vợ, cha - 
con), các luân đã nói rõ danh phận của từng người. Nếu mỗi người thực hiện đúng danh phận đó sao 
cho "vua phải giữ đạo vua, bề tôi phải giữ đạo bề tôi, cha phải giữ đạo cha, con phải giữ đạo con, 
chồng phải giữ đạo chồng, vợ phải giữ đạo vợ" (quân kính, thần trung, phu từ, tử hiếu, phu xớng, 
phụ tùng" thì có chính danh. Mỗi người giữ đúng danh phận của mình thì mới có thể gây lại được 
nền chính trị của thời thiên hạ có đạo". 
Vì vậy, Khổng Tử khẳng định muốn làm cho xã hội ổn định thì phải "chính danh", "chính danh" 
từ trên xuống: quân - quân, thần - thần, phụ - phụ, tử - tử. Khổng Tử chỉ từ: "quân" phải tu cho được 
là ông vua lý tưởng, vua phải ra vua, là ông vua minh, hiền, triết, yêu dân, yêu nớc. "Quân" lý tưởng 
ấy là địa vị chính đáng của vạn vật trong tự nhiên "như sao bắc đẩu đứng ở vị trí của nó mà các sao 
khác đều hướng theo...". Còn chữ "danh" trong xã hội là danh vị, hiểu theo ngôn ngữ ngày nay là c-ương 
vị và quyền hạn, còn chữ "phận" có nghĩa là "phần", là "bổn phận" tức là gồm cả quyền lợi, 
nghĩa vụ, mọi mặt. 
Trong quan hệ vua - tôi, Khổng Tử chủ trương dùng đức trị, tức là người thống trị tự lấy đạo đức 
của mình để cảm hóa người bị trị, làm cho họ không chống lại. Khác với hình chính, đức trị không 
quan tâm đến sản xuất, đến chính sách, không dùng biện pháp thưởng - phạt, mà chỉ cho rằng người 
thống trị chỉ cần có đạo đức là đủ, thậm chí không cần cả đẳng cấp xuất thân của họ. 
Theo ông đối với dân lòng tin là quan trọng nhất, sau đó mới đến lương thực và những thứ khác. 
Vì vậy, nhà cầm quyền phải giúp cho dân giàu có, sau khi đã giàu có rồi thì nhà cầm quyền phải giáo 
hóa dân. Và để làm được điều đó thì nhà cầm quyền phải làm ba việc: 
+ 1 là phân công cho người dưới quyền mình, họ làm xong phải xem xét lại. 
+ Thứ hai là phải dung thứ cho những người phạm phải lỗi nhỏ. 
+ Thứ ba là phải đề cử và dùng người hiền đức, tài cán 
Như vậy, ở đây ta thấy Khổng Tử chỉ rõ nhà cầm quyền để chính danh thì phải có nhân và lễ, nhà 
cầm quyền phải có lòng thương người, yêu người. Ông vua, kẻ sĩ lớn nhất cũng trước hết là từ chữ 
nhân mà trở thành ngôi sao bắc đẩu để cai trị các sao khác hướng theo. Người cầm quyền phải biết 
phát hiện và sử dụng những người tài đức, giúp họ trở thành nhân, làm cho cái đẹp, cái thiện trong 
mỗi người nảy nở, chớ không khơi dậy cái ác trong họ. 
Trong mối quan hệ cha - con, thì cha từ, con hiếu. Hiếu ở đây chủ yếu được xét trên góc độ tâm, 
hiếu không chỉ phụng dưỡng người sinh ra mình mà phải có lòng thành kính, còn nếu không chẳng 
khác gì nuôi chó ngựa. Hiếu không nhất nhất là theo cha mẹ, mà phận làm con thấy cha mẹ sai lầm 
phải can gián một cách nhẹ nhàng. Ông nói: "chỉ xét cái đáng theo mà theo mới gọi là trung, hiếu. 
- Trong quan hệ vợ chồng thì chồng phải giữ đạo chồng, vợ phải giữ đạo vợ, vợ phải nghe theo 
chồng, được như thế xã hội sẽ có trật tự, xã hội sẽ có trật tự kỷ cương, thái bình thịnh trị. 
Đánh giá vai trò của chính danh đối với cai trị, Khổng Tử khái quát: Nếu không chính danh tất 
loạn, có nghĩa là các chức trách của xã hội không chính được thì xã hội sẽ loạn. Nếu chính danh thì 
không cần ép buộc dân cũng theo, tất trị, nghĩa là nếu các chức trách xã hội chính danh được thì dân 
sẽ hưởng theo thì xã hội sẽ trị. 
Lớp M12CQDT01-N Page 57
Nhưng làm thế nào để thực hiện chính danh? ông cho rằng mọi người phải tự giác giữ lấy danh 
phận của mình. Từ thiên tử, chư hầu, đại phu đến "kẻ sĩ" phải tu dưỡng đạo nhân để có sự tự giác đó. 
Vậy muốn chính danh thì thân mình phải chính, ngôn ngữ cũng phải chính nữa, lời nói và việc 
làm phải hợp với nhau, không được nói nhiều mà làm ít, không được lời nói thì kính cẩn mà trong 
lòng thì không, hơn nữa "phải siêng năng về việc làm, thận trọng về lời nói" và nên "chậm chạp về 
lời nói, mau mắn về việc làm". 
Khổng Tử cho rằng đối với người cai trị thì "thân mình mà chính được thì không phải hạ lệnh mọi 
việc vẫn tiến hành, thân mình mà không chính được thì dù có hạ lệnh cũng chẳng ai theo". "Nếu thân 
mình mà chính được rồi thì đối với mọi việc chính sự có còn gì khó. Không thể chính được thân 
mình thì chính người khác thế nào? 
Khổng Tử khẳng định "để mang cái danh là vua, thì phải làm tròn trách nhiệm của ông vua, nếu 
không sẽ mất cái danh và mất luôn cả ngôi”. 
Tóm lại, quy tắc chính danh đưa tới quy kết: ai ở địa vị nào cũng phải làm tròn trách nhiệm, và ai 
giữ phận nấy, không được việt vị, nghĩa là không được hởng những quyền lợi cao hơn địa vị của 
mình. Khi Khổng Tử với tư cách một đại phu trí sĩ có trách nhiệm khuyến cáo vua Lỗ trừng trị một 
nghịch thần của một nước bạn, và ông đã theo "chính danh" nghiêm cẩn làm tròn trách nhiệm đó. 
Còn Hoàn Tử đã tự ban cho mình cái quyền dùng vũ "bát dật" mà chỉ thiên tử mới được dùng là trái 
với quy tắc chính danh. "Bất tại kỳ vị, bất mu kỳ chính" là quan điểm quan trọng đối với Khổng Tử, 
ai giữ phận nấy, cứ theo đúng tổ chức xã hội rất chặt chẽ, rất có tôn ti của chu công thì nư ớc sẽ trị, 
thiên hạ mới gọi là hữu đạo. Hay nói cách khác, mọi người phải trọng pháp điển, có tôn ti không ai 
được việt vị (lễ). Người trên phải đính chính, làm tròn nhiệm vụ, yêu dân (nhân), có tín đức thì mới 
chính danh, đáng đợc dân trọng. 
Liên hệ 
Đối với nước ta, những giá trị của Nho giáo mà đặc biệt là học thuyết chính danh vẫn có những 
giá trị tích cực trong giai ®o¹n hiÖn nay. Qua 20 năm đổi mới đất nước ta đã thu được 
những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng ta khẳng định phải đổi mới 
hệ thống chính trị, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền thực sự là nhà nước của nhân dân, 
do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật và các công cụ 
khác. Vì vậy, chúng ta phải đề ra một hệ thống pháp luật đồng bộ và đưa vào thực thi. Vấn đề đặt ra 
là khi chúng ta đã đề ra luật, ra chính sách thì chúng ta phải thực hiện bằng được, và phải trừng trị 
những người có hành động xâm phạm lợi ích của tổ quốc và của nhân dân. Để quyết tâm thực hiện 
được chủ trơng, chính sách, pháp luật thì đòi hỏi mỗi người dân phải có ý thức, trách nhiệm hay nói 
cách khác là phải "chính danh, định phận", nói phải đi đôi với làm, nói ít làm nhiều. Bên cạnh đó thì 
chúng ta phải kết hợp các biện pháp giáo dục đạo đức, truyền thống để nâng cao ý thức pháp luật cho 
người dân. 
Để làm được điều đó, nếu chúng ta vận dụng, phát triển học thuyết chính danh của Nho giáo ở 
những nhân tố hợp lý thì sẽ thu được hiệu quả rất cao. Chúng ta đang xây dựng một trật tự kỷ cương 
trong xã hội: thủ trưởng ra thủ trởng, nhân viên ra nhân viên, không có sự lẫn lộn. Mỗi người, mỗi tổ 
chức phải giữ đúng danh phận, chức trách của mình. Trước hết chúng ta phải xây dựng Đảng trong 
sạch, vững mạnh, có trí tuệ xứng đáng với vai trò lãnh đạo toàn xã hội. Muốn xây dựng Đảng trong 
sạch vững mạnh, điều quan trọng nhất là mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong sinh hoạt và 
công tác, không ngừng nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, nói đi đôi với làm, chấp hành nghiêm chỉnh cương 
lĩnh, điều lệ, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nớc, kiên quyết khắc phục sự suy thoái đạo 
đức cũng như những tiêu cực trong xã hội. Nói cách khác, người cán bộ, đảng viên phải thực hiện: 
cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư để làm gương cho nhân dân noi theo. 
Đó là điều rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tư- 
ởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên là rất nghiêm trọng, nó 
Lớp M12CQDT01-N Page 58
có ảnh hưởng rất lớn đối với lòng tin của nhân dân, với Đảng, với chế độ mà nguyên nhân chính là 
việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng chưa tốt, kỷ luật, kỷ cương chưa 
nghiêm và tinh thần trách nhiệm chấp hành của cán bộ và nhân dân chưa cao. Vì vậy, mỗi cán bộ, 
mỗi người đảng viên phải xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, hay nói cách khác là phải 
"chính danh, định phận" để góp phần đề ra chủ trương, chính sách cho phù hợp với thực tế và 
quyết tâm thực hiện tính nghiêm minh của pháp luật. 
- Trong giai đoạn hiện nay, nếu chúng ta vận dụng học thuyết "chính danh" để xây dựng đội ngũ 
cán bộ công chức nhà nước có vị trí xứng đáng với tài năng của mình, thì sẽ góp phần nâng cao 
hiệu quả làm việc của người lao động và năng suất lao động xã hội sẽ ngày càng cao hơn. Thực 
tế hiện nay ở các cấp, các ngành vẫn còn tồn tại một đội ngũ cán bộ kiêm chức khá đông, mà theo 
như Khổng Tử nói "danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không 
thành...". Cho nên hiệu quả công việc không cao, tình trạng ỷ lại cho nhau vẫn còn mà cụ thể nhất là 
vấn đề chịu trách nhiệm trước công việc chung. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ chúng ta phải coi 
trọng tài năng của họ để xây dựng đội ngũ cán bộ có tính chuyên nghiệp, nghĩa là biết người, biết 
dùng người tạo điều kiện cho họ phát huy hết tài năng và phẩm chất của mình, phải chính quy đội 
ngũ cán bộ, tránh tình trạng kiêm nhiệm, kiêm chức để xảy ra tình trạng "nhiều sãi không ai đóng 
cửa chùa". 
Ngoài ra những giá trị của học thuyết chính danh về quan hệ cha - con, phu - phụ, quân - thần 
cũng có những giá trị tích cực và ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng những tế bào gia đình của 
xã hội, lấy đạo đức làm trọng, kính trên nhường dưới theo đúng “lễ”, vợ chồng đồng thuận, gia đình 
êm ấm, là những nét tích cực trong Tam cương của thuyết “chính danh”. 
9. Anh chi hãy trình bày quan điêm cua mình về thuyết “Chính ̣̉̉ danh” cuả Nho gia 
I. Giới thiệu. 
Nho giáo là học thuyết về đạo xử thế của người quân tử: Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ. 
Được bắt nguồn bằng Chu Công Đán đời Tây Chu, được hệ thống hoá và phát triển bởi Khổng Tử 
(Người được coi như người sáng lập Nho giáo) đời Chiến Quốc, được kế tục xuất sắc bởi Mạnh Tử. 
Do đó đời sau gọi tư tưởng nho giáo là tư tưởng Khổng-Mạnh. 
Khổng Tử (551 - 479 Tr.CN), tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người Ấp Trâu, nước Lỗ, ông là nhà 
Triết học, nhà chính trị học và là nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc 
Khổng Tử không chỉ dạy học mà còn chỉnh lý các sách (san Thi, dịch Thư, tán Dịch, định Lễ, bút 
Xuân Thu). Lý luận của ông là một hệ thống triết lý sâu sắc về đạo đức - chính trị - xã hội, được học 
trò chép lại thành sách Luận ngữ. Lý luận về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng… tạo nên nội dung quan 
điểm về đạo đức của ông. 
II. Nội dung của Nho Giáo 
Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức 
xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý 
tưởng này gọi là quân tử. Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải “tự đào tạo”, phải 
“tu thân”. Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải “hành đạo” 
1. Tu thân 
Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức… để làm chuẩn mực cho mọi 
sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội. 
Lớp M12CQDT01-N Page 59
Tam cương và ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức 
mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được tam cương, ngũ thường, tam 
tòng, tứ đức thì xã hội được an bình. 
Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối. Tam cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), 
phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng). 
Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân: 
Đạt đạo: Đạo có nghĩa là “con đường”, hay “phương cách” ứng xử mà người quân tử phải thực 
hiện trong cuộc sống. “Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, 
đạo anh em, đạo bạn bè”, tương đương với “quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu”. Đó 
chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân. Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là “trung dung”. Tuy nhiên, 
đến Hán nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam 
thường hay còn gọi là Tam tòng. 
Đạt đức: Quân tử phải đạt được ba đức: “nhân - trí - dũng”. Khổng Tử nói: “Đức của người quân 
tử có ba mà ta chưa làm được. Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngại, người dũng 
không sợ hãi”. Về sau, Mạnh Tử thay “dũng” bằng “lễ, nghĩa” nên ba đức trở thành bốn đức: “nhân, 
nghĩa, lễ, trí”. Hán nho thêm một đức là “tín” nên có tất cả năm đức là: “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. 
Năm đức này còn gọi là ngũ thường. 
Biết thi, thư, lễ, nhạc: Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo” và “đức”, người quân tử còn phải biết “thi, 
thư, lễ, nhạc”. Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa toàn diện. 
2. Hành đạo 
Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của 
công việc này được công thức hóa thành “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Tức là phải hoàn thành 
những việc nhỏ - gia đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống 
nhất thiên hạ). Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương 
châm: 
Nhân trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và coi người như bản 
thân mình. 
Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người phải làm đúng 
chức phận của mình. “Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành”. 
Khổng tử nói với vua Tề Cảnh Công: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Vua ra vua, tôi ra tôi, 
cha ra cha, con ra con”. 
Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo, chúng được tóm gọi lại 
trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Và đến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục 
vụ mục đích cai trị mà thôi. 
1. Nội dung của học thuyết "chính danh' 
- Thời đại của Khổng Tử sống là thời đại "vương đạo" suy vi, "bá đạo" nổi lên lấn át "vương đạo", 
chế độ tông pháp nhà Chu bị đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi. Đứng trước tình hình đó các Nho gia 
có hoài bão về một chế độ phong kiến có kỷ cương, thái bịnh và thịnh trị. Khi xét tư tưởng của 
Khổng Tử ta thấy có một quy tắc chính, một phát kiến của ông đó là học thuyết "chính danh". 
"Chính danh" là tư tưởng cơ bản của chính trị Nho giáo nhằm đưa xã hội loạn trở lại trị. Khổng 
Tử phản đối nhà cầm quyền dùng pháp chế, hình phạt trị dân mà chủ trương nhân trị. 
Theo học thuyết "chính danh" Khổng Tử đã chia xã hội thành các mối quan hệ cơ bản, trong đó 
mỗi mối quan hệ gọi là một luân. Theo Khổng Tử trong xã hội có 5 luân, đó là: Vua - Tôi, cha - con, 
chồng - vợ, anh - em, bạn - bè. 
Lớp M12CQDT01-N Page 60
+ Vua - Tôi: bề tôi phải lấy chữ trung làm đầu 
+ Cha - Con: bề con phải lấy chữ hiếu làm đầu 
+ Chồng - Vợ: vợ phải lấy tiết hạnh làm đầu 
+ Anh - Em: phải lấy chữ hữu làm đầu 
+ Bạn - Bè: phải lấy chữ tín làm đầu 
Năm mối quan hệ này có tiêu chuẩn riêng: 
+ Vua thì phải nhất 
+ Tôi thì phải trung 
+ Cha phải hiền từ 
+ Con phải hiếu thảo 
+ Phu xướng phụ tuỳ… 
Trong năm quan hệ đó Khổng Tử nhấn mạnh ba quan hệ đầu là cơ bản nhất (Tam cương) cụ thể 
là: 
+ Vua - Tôi: vua là trụ cột 
+ Cha - Con: cha là trụ cột 
+ Chồng - Vợ: chồng là trụ cột 
Trong đó 3 luân đều được chú trọng hơn cả và gọi đó là tam cương, các luân đã nói rõ danh phận 
của từng người. Nếu mỗi người thực hiện đúng danh phận đó sao cho "vua phải giữ đạo vua, bề tôi 
phải giữ đạo bề tôi, cha phải giữ đạo cha, con phải giữ đạo con, chồng phải giữ đạo chồng, vợ phải 
giữ đạo vợ" (quân kính, thần trung, phu từ, tử hiếu, phu xướng, phụ tùng" thì có chính danh. Mỗi 
người giữ đúng danh phận của mình thì mới có thể gây lại được nền chính trị của thời thiên hạ có 
đạo". 
Vì vậy, Khổng Tử khẳng định muốn làm cho xã hội ổn định thì phải "chính danh", "chính danh" 
từ trên xuống: quân - quân, thần - thần, phụ - phụ, tử - tử. 
Trong quan hệ vua - tôi, Khổng Tử chủ trương dùng đức trị, tức là người thống trị tự lấy đạo đức 
của mình để cảm hóa người bị trị, làm cho họ không chống lại. Khác với hình chính, đức trị không 
quan tâm đến sản xuất, đến chính sách, không dùng biện pháp thưởng - phạt, mà chỉ cho rằng người 
thống trị chỉ cần có đạo đức là đủ, thậm chí không cần cả đẳng cấp xuất thân của họ. Ông thường nói 
làm chính trị mà có đức nhân là đã đứng vào vị trí của sao bắc đẩu, vị trí mà tất cả các ngôi sao khác 
phải hướng theo. 
Trong mối quan hệ cha - con, thì cha từ, con hiếu. Hiếu ở đây chủ yếu được xét trên góc độ tâm, 
hiếu không chỉ phụng dượng người sinh ra mình mà phải có lòng thành kính, còn nếu không chẳng 
khác gì nuôi chó ngựa. Hiếu không nhất nhất là theo cha mẹ, mà phận làm con thấy cha mẹ sai lầm 
phải can gián một cách nhẹ nhàng. Ông nói: "chỉ xét cái đáng theo mà theo mới gọi là trung, hiếu. 
Như vậy, ông không chủ trương ngu trung, ngu hiếu, quân có nhân thì thần mới trung, phụ có từ thì 
tử mới hiếu. Đó là quan hệ hai chiều mà ít người để ý. 
- Trong quan hệ vợ chồng thì chồng phải giữ đạo chồng, vợ phải giữ đạo vợ, vợ phải nghe theo 
chồng được như thế xã hội sẽ có trật tự xã hội sẽ có trật tự kỷ cương, thái bình thịnh trị. 
Quy tắc chính danh đưa tới quy kết: ai ở địa vị nào cũng phải làm tròn trách nhiệm, và ai giữ phận 
nấy, không được việt vị, nghĩa là không được hưởng những quyền lợi cao hơn địa vị của mình. 
Lớp M12CQDT01-N Page 61
Như vậy, theo Khổng Tử chính danh là điểm mấu chốt để đưa xã hội trở nên trật tự, nền nếp. 
Nhưng để có chính danh, mỗi người phải thực hiện đúng danh phận của mình không lạm quyền. Một 
xã hội có chính danh là một xã hội có trật tự kỷ cương, thái bình, thịnh trị. 
III. Quan điểm đánh giá: 
1. Những giá trị tích cực 
- Nho giáo là một học thuyết đức trị, lễ trị, nhân trị, văn trị, khẩu hiệu của nó là thu phục lòng 
người. Học thuyết chính danh đề ra là bài thuốc để chữa trị xã hội loạn, nhằm mục đích thu phục 
lòng người. Do vậy, dù đứng ở một góc độ nào đi chăng nữa thì đây cũng chính là một học thuyết 
chính trị xã hội, nó đưa xã hội vào kỷ cương có lợi cho giai cấp thống trị. 
- Khổng Tử đưa ra học thuyết chính danh, đòi hỏi nhà cầm quyền phải có tài đức xứng với địa vị 
của họ, lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau, trọng việc làm hơn lời nói. Dùng đạo đức của người 
cầm quyền để cai trị, cai trị bằng giáo dục, giáo dưỡng, giáo hóa chứ không phải là cai trị bằng 
gươm giáo, bằng bạo lực. Đây là giá trị phổ biến tích cực cho đến ngày nay. Bởi vì dù chính trị có 
hiện đại thế nào đi chăng nữa thì giáo dục, giáo dưỡng, giáo hóa vẫn rất quan trọng, kết hợp giáo dục 
với pháp luật chúng ta sẽ rèn dũa con người vào kỷ cương hơn. 
- Lời lẽ của học thuyết rất dân dã, ít tối tân, ít tư biện, ít mang tính bác học vì vậy nó dễ hiểu, dễ 
nhớ nên người ta dễ vận dụng, nó là món ăn tinh thần của nhiều người. "Chính danh là học thuyết 
mà ngoài những hạn chế thì có những yếu tố hợp lý, rất có ý nghĩa đối với xã hội hiện đại. Nếu 
chúng ta thực hiện nó thì sẽ đưa xã hội vào trật tự kỷ cương. 
- Học thuyết "chính danh" cũng đặt ra vấn đề coi trọng người hiền tài, sử dụng người hiền tài 
đúng với trình độ của họ. Như vậy, sẽ phát huy được hết tiềm năng của người hiền tài nhằm phục vụ 
cho dân, cho nước. 
Đây cũng là một học thuyết coi trọng sự học tập, có học mới được làm quan, coi sự học là tiêu chí 
để vào chính trị. Sự học ở đây là có giáo dục, được giáo dục, được giáo hóa để rèn dũa những phẩm 
chất đạo đức, rèn khí tiết, tu khí tiết, tu tâm. 
- Học thuyết chính danh còn có giá trị là khi thực hiện nó làm cho con người có trách nhiệm với 
bản thân hơn, có trách nhiệm với công việc của mình hơn, từ đó phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ 
được giao. 
2. Những hạn chế 
- Học thuyết của Khổng Tử quá tuyệt đối hóa đạo đức, cho đạo đức là tất cả, từ đấy đánh giá con 
người quy về đạo đức hết. Ông khẳng định ông vua chỉ cần đạo đức là đủ, hay khi đánh giá hiền tài 
ông đưa tiêu chuẩn đạo làm mục tiêu, nhân đức là chỗ dựa còn cái tài là chỉ để chơi. 
- Học thuyết chính danh của Khổng Tử còn có hạn chế đó là hoài cổ, bao hàm ý bảo thủ, phải 
trọng danh cũ, phải hành động hợp với tiêu chuẩn cũ. Trong học thuyết chính danh của Khổng Tử 
vẫn trọng danh hơn thực, trọng xưa hơn nay, từ đó ông đã gạt bỏ nhiều giá trị đạo đức mang tính 
nhân đạo. 
- Học thuyết chính danh mà Khổng Tử đưa ra "Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính", "thứ nhân bất 
nghị" là không cho dân có quyền bàn việc nước. Chỉ một ý đó thôi cũng cho ta thấy ở đây không có 
dân chủ. Mặc dù ông rất yêu dân, lo cho dân ănng không cho dân bàn việc nước vì dân không được 
học, không đủ tư cách bàn việc nước, cho họ làm việc nước thì sẽ loạn. 
- Hơn nữa, học thuyết chính danh còn thể hiện rõ sự bất bình đẳng, thang bậc trong xã hội, coi 
thường phụ nữ (người phụ nữ phải theo chồng thì mới đúng đạo làm vợ), coi thường lao động chân 
tay. Và vì ông không dám đả động đến "tông pháp" của Chu Công nên học thuyết chính danh của 
ông có vẻ lưng chừng, không triệt để. Và chỉ là lý thuyết suông vì đương thời danh và thực mâu 
thuẫn nhau sâu sắc. Cái thực của đời sống xã hội, trật tự xã hội đã có nhiều biến đổi làm cho cái 
Lớp M12CQDT01-N Page 62
danh phận cũ được quy định theo lễ chế của nhà Chu không còn phù hợp nữa. Do đó mà không thể 
làm được. 
IV. Kết Luận 
Tóm lại trong một thời gian dài Nho giáo đã giúp cho các chế độ quân chủ phong kiến xây dựng 
một xã hội thịnh vượng, có trật tự, pháp luật, một quốc gia thống nhất, người dân trong xã hội biết 
đối xử với nhau trên cơ sở “Nhân - lễ - nghĩa - trí - tín”. Đó là lý do tại sao trong quá khứ Trung Hoa 
nói riêng và các dân tộc châu Á nói chung, với sự ảnh hưởng của Nho giáo đã đạt được những thành 
tựu đáng kinh ngạc, đã tạo ra một nền văn minh bậc nhất của loài người lúc bấy giờ. 
Nhưng sự ổn định mà Nho giáo tạo ra cho xã hội, cộng với tư tưởng hướng nội của người châu Á 
- luôn suy xét ta là ai trong vũ trụ này, trong một thời gian dài nhiều trăn năm sự trì trệ cả về kinh tế 
lẫn quân sự. Cho đến khi nó phải đối đầu với nền văn minh phương Tây vốn có nhiều ưu điểm hơn 
trong kinh tế và quân sự, thì Nho giáo đã phải nhường bước trong đời sống kinh tế, chính trị, quân sự 
- như ngày xưa Phật giáo đã nhường bước Nho giáo. Có lẽ đây là một đặc điểm chung của nền văn 
hoá nhân loại. Nền văn hoá nông nghiệp thường bị các nền văn hoá du mục thôn tính. 
Ngày nay tuy không còn ảnh hưởng nhiều trong đời sống chính trị hàng ngày nhưng tư tưởng Nho 
giáo vẫn có ảnh hưởng rất mạnh trong đời sống hàng ngày, nó hiện diện trong tâm hồn mỗi người 
Việt Nam đó là những tư tưởng về lòng ái quốc, coi trọng học hành, chũ nghĩa, coi trọng các mối 
quan hệ xã hội (dựa trên tư tưởng về Lễ-Nghĩa). Về đời sống tâm linh thì có phong tục thờ cha mẹ, 
tổ tiên, các bậc tiền bối có công đức. Nói chung về mặt văn hoá Nho giáo có ảnh hưởng rất sâu nặng 
và ảnh hưởnh này ngày nay thường mang tính tích cực hơn là tiêu cực. 
10. Anh chi hãy trình bày nôi dung về “lễ” trong “ngũ th̀ng” cua ̣̣ưở Nho gia và an̉h hương 
cuả nó đối vơí đơì sống xã hôị Viêṭ Nam giai đoaṇ hiêṇ taị 
Quan niệm về Lễ : 
Để đạt được nhân, để lập lại trật tự, khôi phục lại kỷ cương cho xã hội Khổng Tử chủ trương phải 
dùng lễ, đặc biệt là lễ của nhà Chu. Vì lễ có thể: xác định được vị trí, vai trò của từng người; phân định 
trật tự, kỷ cương trong gia đình và ngoài xã hội; loại trừ những tật xấu và tạo ra những phẩm chất cá 
nhân mà xã hội đòi hỏi. Do nhận thấy tác dụng to lớn của lễ mà Khổng Tử đã dốc sức san định lại lễ. 
Ở Khổng Tử, trước hết, lễ được hiểu là lễ giáo phong kiến như những phong tục tập quán; những qui 
tắc, qui định về trật tự xã hội; thể chế, pháp luật nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn, tế lễ, luật lệ, hình 
pháp…; sau đó, lễ được hiểu là luân lý đạo đức như ý thức, thái độ, hành vi ứng xử, nếp sống của mỗi 
con người trong cộng đồng xã hội trước lễ nghi, trật tự, kỷ cương phong kiến. Nhân và lễ có quan hệ 
rất mật thiết. Nhân là nội dung bên trong của lễ, còn lễ là hình thức biểu hiện nhân ra bên ngoài. Nhân 
giống như cái nền tơ lụa trắng tốt mà trên đó người ta vẽ lên những bức tranh tuyệt đẹp. Khổng Tử cho 
rằng, trên đời không hề tồn tại người có nhân mà vô lễ. Vì vậy, ông khuyên chớ xem điều trái lễ, chớ 
nghe điều trái lễ, chớ nói điều trái lễ và chớ làm điều trái lễ. 
Ảnh hưởng của “lễ” đối với đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn hiện tại. 
Vài năm trở lại đây, mở mắt ra là đã có những thông tin, chẳng phải đâu xa, ở ngay bên cạnh 
mình, toàn những thông tin xấu, tin đen: Quan chức này tham nhũng tiền tỉ, quan chức kia lừa trên 
dối dưới không minh bạch bằng cấp học vị, Giáo sư tiến sĩ này “đạo” văn, Nghê sĩ nọ “đạo” tác 
phẩm… Nào là học trò đánh thầy, nào là bạo lực trẻ em, nào là “người của công chúng” khoe 
“hàng”, nào là chuyện mang nhau ra truyền thông chửi bới mắng nhiếc nhau… 
Và những chuyện bi hài vô văn hóa nhan nhản trong các lễ hội… Tất cả chung quy một chữ “Lễ”. 
Càng văn minh, càng có văn hóa thì càng thiếu chữ “Lễ”. 
Lớp M12CQDT01-N Page 63
Chữ Lễ là một trong những chữ thuộc phạm trù đạo đức phong kiến Nho giáo trong “ngũ 
thường”: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Trong cuộc sống hằng ngày, ta thường nói đến lễ phép, lễ nghi, 
tức là biết xử sự, tôn trọng nhau như người biết phép tắc, có văn hóa, có đạo đức truyền thống. 
Nhưng chữ “Lễ” không chỉ là lễ phép, lễ nghi, mà sâu xa hơn chính là mọi người phải biết tuân 
thủ các phép tắc, biết chấp hành các kỷ cương- trật tự- bổn phận để sống sao cho hợp với lẽ trời đất, 
xã hội, cộng đồng, gia đình, bè bạn. Nó là quy phạm, tư tưởng, hành vi của con người đối với mọi 
mối quan hệ xã hội và thiên nhiên, nhằm bảo vệ quyền con người và trật tự cộng đồng xã hội, giữ 
gìn sự phát triển hài hòa của xã hội và thiên nhiên, giúp cho quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân và tập 
thể cũng tồn tại và phát triển, làm cơ sở hình thành một xã hội văn minh, hạnh phúc. 
Chữ “Lễ” trong thời hiện tại thành xa xỉ Có lẽ chữ “Lễ” thời này không còn được coi trọng, thiếu 
vắng trong mọi sinh hoạt cộng đồng, trong xã hội, trong gia đình, và từng cá nhân, nên trở thành một 
thứ xa xỉ. Bởi không có ý thức về lễ nên con người hành xử như những người vô phép tắc, quy 
chuẩn, nôm na là “loạn”. Mà hiện tại thì có thể nói là “đại loạn”, loạn ở khắp hang cùng ngõ hẻm, 
loạn cả trong chính bản thân con người. Bất cứ lên rừng, xuống biển, trên trời, dưới đất đều có 
những “tặc”- giặc: Lâm tặc phá rừng, hải tặc cướp thuyền bè tôm cá, không tặc với những màn “đấu 
võ”, “sàm sỡ”, “đe dọa khủng bố” trên máy bay, “vằng tặc” ở các mỏ vàng, mỏ đá quý… 
Ngay cả ở những nơi tưởng chừng văn minh nhất thì cũng lộ ra những điều thất “Lễ” nhất. Ở các 
đô thị lớn thì xem chuyện an toàn giao thông là chuyện nhỏ, cứ việc đua xe, lạng lách, vượt đèn đỏ, 
không đội mũ bảo hiểm, hành hung cảnh sát, chèn ép người đi đường, nhồi nhét người vào xe khách, 
trộm cắp vặt trên xe bus… Những nam thanh nữ tú thì tham dự các lễ hội cứ y như người vô học, 
hành xử như những kẻ du thủ du thực: Bẻ hoa, cướp hoa, dẫm đạp lên cỏ, xả rác, nói tục, chửi bậy… 
Chốn công cộng mà hành xử như chốn riêng tư không kiêng dè ai hết. 
Trường học nào cũng có khẩu hiệu ở từng lớp “Tiên học Lễ, hậu học Văn”, nhưng xem chừng chỉ 
là khẩu hiệu suông, trang trí cho đẹp mắt. Chứ chữ “Lễ” trong trường đã bị tứ tán đâu hết. Thầy đánh 
trò, trò hành hung cô, học trò đâm chém nhau, thầy gạ tình lấy điểm, trò gian lận thi cử… Học 
đường trở thành môi trường bạo lực hỗn loạn. 
Khẩu hiệu “Lương y như từ mẫu” hay “lời thề Hypocrat” về y đức không có chữ “Lễ” nên mới có 
“loạn” phong bì, bao thư, mới có những bác sĩ vô lương tâm xem thường tính mạng của người bệnh, 
để bệnh nhân chết tức tưởi… 
Giới tưởng chừng nhiều văn hóa nhất, tưởng như có “Lễ” nhất, thì cũng là nơi “thị phi” nhiều 
nhất. Chuyện các vị giáo sư, tiến sĩ, văn nghệ sĩ “đạo” tác phẩm của nhau, copy ý tưởng, không chỉ 
gian lận, nhập nhằng trong chuyện học hàm học vị mà còn kiếm tìm danh lợi bằng sự lừa dối công 
chúng, như chuyện thưòng ngày, không còn là tin gây “sốc”. 
Không được học chữ “Lễ” một cách nghiêm túc, đến nơi đến chốn, nên ở rất nhiều sự kiện văn 
hóa tầm quốc gia, những đại diện tinh tú cho “vẻ đẹp, tài năng” của Việt Nam, những “chân dài”, 
“siêu mẫu”, hoa hậu, ca sĩ… thi nhau “khoe”, “lộ”, “hở”, “tụt”… thậm chí còn “thượng cẳng tay, hạ 
cẳng chân” không chỉ ở hậu trường sân khấu mà còn cả “võ mồm” lăng mạ nhau trên truyền thông… 
Bởi thiếu “Lễ” nên mặc dù giữ trọng trách thể diện quốc gia, người ta vẫn có thể trở thành dối 
trên gạt dưới, là kẻ cắp công quĩ, rút ruột công trình quốc gia để đánh bạc hay làm giàu bất chính.. 
Công chức thiếu “Lễ” nên lấy “hành”người dân là chính chứ không phải “công bộc” của dân.. 
Cán bộ quản lý nhà nước không giữ “Lễ” nên xem việc giả mạo văn bằng chứng chỉ học vị để tại 
vị hay thăng chức như chuyện bình thường, đương nhiên phải thế, không biết ngượng, xấu hổ. Và 
nhìn tới đâu, bất cứ chỗ nào, ngành nào, giai tầng địa vị xã hội nào cũng thấy thiếu “Lễ” trầm trọng. 
Thiếu “Lễ”, quan hệ cộng đồng bất an, gia đình bất hòa, xã hội bất ổn, dễ phạm tội, dễ bán 
mình… Và cũng chỉ là một khoảng cách nhỏ để quay lưng lại với dân tộc, với đất nước. 
Lớp M12CQDT01-N Page 64
Vì sao “Lễ” lại thiếu trầm trọng ở mọi lúc mọi nơi? Có người đổ tại nền kinh tế thị trưòng đã làm 
con người giàu lên nhanh, tiếp cận vật chất xa hoa xa xỉ nên đã không giữ mình, nhiều trật tự xã hội, 
đạo đức luân lý bị đảo lộn. Có người nói tại mấy lý thuyết như: Công nghệ cao, Toàn cầu hóa, Thế 
giới phẳng… đã du nhập vào Việt Nam, nhưng bản thân người Việt chưa đủ tâm thế và tầm để tiếp 
cận, tiếp nhận, nên lẫn lộn các giá trị thực- ảo, dẫn đến việc thiếu “Lễ” trong hành xử, hành vi. 
Ngưòi xưa đã từng kết luận: “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”, hay “Nhà dột từ nóc”… Và nhìn 
thẳng, nhìn thật vào vấn đề, có thể nhìn thấy thiếu “Lễ” xuất phát từ đâu. Tại ĐHĐ toàn quốc lần thứ 
IX, đánh giá một trong những nguy cơ thách thức của đất nước ta hiện nay là: “Tình trạng tham 
nhũng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên 
là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ 
chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”. 
Báo cáo chính trị tại ĐHĐ toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, 
phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham 
nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng”. 
Báo cáo chính trị ĐHĐ lần thứ XI lại nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo 
đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, 
quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến 
phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, 
nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát 
triển của đất nước”. 
Cũng trong văn kiện ĐHĐ lần thứ XI nêu đích danh: “Văn hóa phát triển chưa tương xứng với 
tăng trưởng kinh tế. Quản lý văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản còn thiếu chặt chẽ. Môi trường văn 
hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm 
và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu 
niên, rất đáng lo ngại”. 
Và về giáo dục, cái nơi “Tiên học Lễ” thì: “Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập. Xu hướng 
thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành 
nỗi bức xúc của xã hội.”- Trích văn kiện ĐHĐ lần thứ XI. 
Và trong nhiều nguyên nhân để dẫn đến sự thiếu “Lễ” ở mọi lúc, mọi nơi, mọi thành phần, giai 
tầng, chính là thiếu sự nghiêm minh của luật pháp. Luật thiếu và yếu, không cập nhật kịp với sự phát 
triển của xã hội, cũng như luôn chạy theo những gì đã diễn ra để làm luật mà không phải tiên đoán 
trưóc để xây dựng bộ luật hoàn chỉnh. Sự chế tài của luật pháp lại không đủ sức răn đe, công lý lại 
luôn bị xâm phạm bất bình đẳng, minh bạch. 
Cho dù khẩu hiệu giăng khắp nơi như một slogan cảnh báo mọi công dân Việt Nam: ”Sống, làm 
việc theo Hiến pháp và Pháp luật”, nhưng chuyện vi phạm pháp luật hàng ngày xảy ra đến trở thành 
một thành tố không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày. 
Học “Lễ” như thế nào? Vâng, lại người xưa: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Có thể lạc 
hậu vì đó là cách học “Lễ” của người xưa, theo Nho giáo, cho dù ở thời nay ở mặt nào đó nó vẫn có 
ý nghĩa tích cực dùng để “răn” những người có trọng trách với quốc gia, với nhân dân, cộng đồng xã 
hội. 
Nhưng ngay chính thời điểm hiện tại, khẩu hiệu được tất cả mọi ngưòi đang hướng tới: “Học tập 
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chính là một cách học “Lễ” thiết thực nhất. Chủ tịch 
Hồ Chí Minh đã để lại một di sản về những bài học đạo đức, cái gốc của chữ “Lễ”. 
Trong Di chúc của Người khi nói đến Đảng viên:”Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng 
viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, 
Lớp M12CQDT01-N Page 65
vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật 
trung thành của nhân dân”. 
Với học sinh, không ai đi học mà không nhớ “Năm điều Bác Hồ dạy”. Với công chức nhà nước, 8 
chữ Bác để lại là bài học suốt đời “tu thân” để phục vụ nhân dân, phục vụ quốc gia, đất nước: “Cần, 
Kiệm, Liêm, Chính, Chí công, Vô tư”. 
Hay với ngành Công an Nhân dân, Bác có 6 điều dạy: Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, 
chính. Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ. Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành. Đối với 
nhân dân, phải kính trọng, lễ phép. Đối với công việc, phải tận tụy. Đối với địch, phải cương quyết 
khôn khéo”. 
Và trong quân đội, không quân nhân nào lại không nhớ nằm lòng “10 lời thề danh dự” và học theo 
những chữ Bác trao tặng Quân đội Nhân dân Việt Nam: “Trung với Đảng. Hiếu với dân. Nhiệm vụ 
nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua. Kẻ thù nào cũng đánh thắng”. 
“Tiên học Lễ”, nếu chữ “Lễ” được hiểu thấu đáo, được mọi người tôn trọng và tuân thủ đúng 
“phép” thì có lẽ không còn những gì hiện đang diễn ra hàng ngày làm “đại loạn” xã hội, phá hoại sự 
bình yên cuộc sống, luân thường đạo lý đảo lộn…. 
Nhưng đó cũng chỉ là một ước mơ có phần lạc quan trong ảo tưởng. Bởi hiện tại, vấn đề này dù có 
được nêu ra, phản ảnh, nhưng cũng chỉ là lý thuyết. Chưa có một chiến lược gia nào, hay một nhà 
nghiên cứu xã hội học, đạo đức học…nào đưa vấn đề trở thành cấp bách để điều chỉnh, để thực thi 
một cách cụ thể, nhằm đưa “Lễ” vào đúng vị trí của nó. 
Và trên hết, khi chính bản thân con người không “tu thân” thì chẳng thể học chữ “Lễ” để mà có 
“Lễ”./. 
11. Anh chi hãy trình bày nôi dung c ban về “lễ” trong “ngũ ̣̣ởthươǹg” cuả Nho gia và 
quan điêm̉ cuả anh chi ̣về vai trò cuả “lễ” đối vơí đơì sống xã hôị 
Nội dung cơ bản về “lễ” trong ngũ thường của Nho gia: 
Lễ là một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực đạo đức dùng để chỉ tôn ti trật tự kỷ cương của xã 
hội mà mọi người, mọi giai cấp trong xã hội phải học, phải làm theo. Lễ cũng là chuẩn mực đạo đức. 
Nếu nhân là nội dung thì Lễ là hình thức của Nhân. 
Để đạt được nhân, để lập lại trật tự, khôi phục lại kỷ cương cho xã hội Khổng Tử chủ trương phải 
dùng lễ, đặc biệt là lễ của nhà Chu. Vì lễ có thể: xác định được vị trí, vai trò của từng người; phân 
định trật tự, kỷ cương trong gia đình và ngoài xã hội; loại trừ những tật xấu và tạo ra những phẩm 
chất cá nhân mà xã hội đòi hỏi. Do nhận thấy tác dụng to lớn của lễ mà Khổng Tử đã dốc sức san 
định lại lễ. Ở Khổng Tử, trước hết, lễ được hiểu là lễ giáo phong kiến như những phong tục tập 
quán; những qui tắc, qui định về trật tự xã hội; thể chế, pháp luật nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn, 
tế lễ, luật lệ, hình pháp…; sau đó, lễ được hiểu là luân lý đạo đức như ý thức, thái độ, hành vi ứng 
xử, nếp sống của mỗi con người trong cộng đồng xã hội trước lễ nghi, trật tự, kỷ cương phong kiến. 
Nhân và lễ có quan hệ rất mật thiết. Nhân là nội dung bên trong của lễ, còn lễ là hình thức biểu hiện 
nhân ra bên ngoài. Nhân giống như cái nền tơ lụa trắng tốt mà trên đó người ta vẽ lên những bức 
tranh tuyệt đẹp. Khổng Tử cho rằng, trên đời không hề tồn tại người có nhân mà vô lễ. Vì vậy, ông 
khuyên chớ xem điều trái lễ, chớ nghe điều trái lễ, chớ nói điều trái lễ và chớ làm điều trái lễ. 
Quan điểm về vai trò của “lễ” đối với đời sống xã hội: 
Trong đời sống xã hội thì “lễ” là những khuôn phép ứng xử của con người, tưng ứng với từng vị 
trí và vai trò của họ trong những mối quan hệ nhất định (vua ra vua, bề tôi ra bề bề tôi; cha ra cha, 
Lớp M12CQDT01-N Page 66
con ra con; chồng ra chồng, vợ ra vợ; anh em cho ra anh em; bầu bạn cho ra bầu bạn; thầy ra thầy, 
trò ra trò…). 
Mặt khác, “lễ” đòi hỏi sự tôn kính, cẩn trọng, hài hoà, đúng mực trong các mối quan hệ, trong đời 
sống xã hội. Biết giữ lễ tức là không thái quá, không cực đoan; cũng không khúm núm, không run 
sợ… Bởi: “Cung kính quá lễ thành ra lao nhọc thân hình; cẩn thận quá lễ thành ra nhát gan; dũng 
cảm quá lễ thành ra loạn nghịch; ngay thẳng quá lễ thành ra gắt gỏng”. 
Trong đời sống xã hội thì “lễ” đòi hỏi sự tương tác đa chiều, ít nhất là hai chiều cơ bản trong các 
mối quan hệ cụ thể, chẳng hạn như yêu cầu: làm vua phải sáng, làm tôi phải trung; làm cha mẹ phải 
thương con, làm con phải hiếu kính cha mẹ; làm chồng phải yêu quý vợ, làm vợ phải phục tùng 
chồng; làm thầy phải nêu gương, làm trò phải kính phục; làm quan thì phải thương dân như con; và 
nói chung, làm người phải thuận theo mệnh trời, kính sợ quỷ thần… 
Lễ, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả phép cư xử giữa con người với con người và giữa con người 
với quỷ thần, trời đất. Như thế, lễ là văn hoá ứng xử của con người, cả trong môi trường xã hội lẫn 
môi trường tự nhiên (khi một bộ phận của tự nhiên đã được thần thánh hoá, trở thành các thế lực siêu 
tự nhiên, trước hết là Trời và Đất). 
Lễ là đức của con người, nhất là người cai trị. Lễ còn là đạo đức của bậc quân tử cũng như kẻ thứ 
dân. 
Phạm trù Lễ với nội dung là những nghi thức, quy định trong tế lễ. Khổng Tử cho rằng tế lễ là để 
tỏ lòng thành kính, khi tế lễ phải tuân thủ theo những quy định đã định sẵn. Song không vì thế mà 
việc “Tế lễ” chỉ nhằm làm đúng một điều đó là nghi thức đúng đắn, lễ vật đầy đủ. Lễ có nội dung là 
tế lễ cũng có quan hệ mật thiết với đạo đức, tế là phải xuất phát từ sự thành thực, cung kính với trời 
đất, qủy thần, tổ tiên, ông bà, cha mẹ. 
Trong đời sống xã hội ngày nay, các nghi thức được sử dụng trong việc cúng giỗ tổ tiên, ma chay, 
để tang, cưới hỏi… chính là mục đích để phát huy tình cảm của con người. 
Lễ với nội dung là “Tế lễ” còn quy định thời gian tang chế, trang phục khi tế lễ, hội hè. Chẳng 
hạn, lễ quy định con người phải để tang cha mẹ là ba năm. Tại sao lại có quy định thời gian để tang 
đó, đó là thể hiện tình cảm nhiều hay ít cho xứng với nghi lễ và để phân biệt quan hệ đó là thân hay 
sơ. Khổng Tử quan niệm khi chúng ta sinh ra ba năm cha mẹ phải trông nom bế ẩm nên để tang ba 
năm mới hợp Lễ. “Trẻ con sau ba năm mới được rời vòng tay bế ẩm của cha mẹ cho nên khi cha mẹ 
mất đi, con cái phải báo đáp ân huệ vất vả nhất của cha mẹ trong ba năm, để tang cha mẹ ba năm đó 
là lễ tang thông thường của mọi người trong thiên hạ” và quy định trong ba năm đó, người quân tử 
không được tập lễ, không được tấu nhạc… 
Trong đời sống xã hội, “lễ” là những chuẩn mực những quy định, nguyên tắc, những yêu cầu 
trong các hoạt động của con người và trong các quan hệ xã hội: vua phải yêu thương bề tôi, bề tôi 
phải tận trung với vua, cha mẹ phải yêu thương con cái, con cái phải hiếu kính cha mẹ. 
Lễ phân ra trật tự khác nhau để cho vạn vật có thứ tự phân minh. Thánh nhân mới định ra lễ để 
phân định tôn ti trật tự khiến dân giữ lòng hiếu ố cho vừa phải và sửa lại cái đạo làm người cho 
chính vậy. “Ở trong xã hội có vua tôi, cha con, chồng vợ, có người thân kẻ sơ, có việc trái việc phải, 
có lễ để phân biệt cho rõ mọi lẽ, khiến người ta biết đường ăn ở cho phải đạo”. 
Như vậy, lễ có lợi hơn là có thể ngăn cấm được những việc chưa xẩy ra mà dùng pháp luật thì chỉ 
để trị cái việc đã rồi. Nho giáo dùng để giáo hóa đạo làm người, lễ đối với pháp luật là không mâu 
thuẫn mà mỗi phương pháp có một cách giải quyết các chuẩn mực của những mối quan hệ khác nhau 
trong xã hội, mỗi thứ đều có giá trị của nó. 
Nói tóm lại, trong đời sống xã hội, chữ “lễ” của Nho giáo có vai trò rất quan trọng, nó nằm trong 
chỉnh thể thống nhất hữu cơ “ngũ thường” (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). “Lễ” vừa là một phạm trù đạo 
đức vừa là một phạm trù pháp luật, kẻ vi phạm lễ không những bị dư luận xã hội lên án mà còn có 
Lớp M12CQDT01-N Page 67
thể bị quan xử phạt. Hay nói cách khác, hành xử theo lễ tức là phù hợp với chuẩn mực đạo đức và 
pháp luật phong kiến Á Đông (Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên). Qua đó cho chúng ta 
thấy vai trò quan trọng của “lễ” trong ngũ thường đối với đời sống xã hội của loài người và là một 
phạm trù không thể thiếu trong đời sống xã hội ngày xưa cũng như ngày nay. 
*Quan nieäm veà leã: Ñeå ñaït ñöôïc nhaân, ñeå laäp laïi traät töï, khoâi phuïc laïi kyû 
cöông cho xaõ hoäi Khoång Töû chuû tröông phaûi duøng leã, ñaëc bieät laø leã cuûa nhaø 
Chu. Vì leã coù theå: xaùc ñònh ñöôïc vò trí, vai troø cuûa töøng ngöôøi; phaân ñònh traät 
töï, kyû cöông trong gia ñình vaø ngoaøi xaõ hoäi; loaïi tröø nhöõng taät xaáu vaø taïo ra 
nhöõng phaåm chaát caù nhaân maø xaõ hoäi ñoøi hoûi. Do nhaän thaáy taùc duïng to lôùn 
cuûa leã maø Khoång Töû ñaõ doác söùc san ñònh laïi leã. ÔÛ Khoång Töû, tröôùc heát, 
leã ñöôïc hieåu laø leã giaùo phong kieán nhö nhöõng phong tuïc taäp quaùn; nhöõng qui taéc, 
qui ñònh veà traät töï xaõ hoäi; theå cheá, phaùp luaät nhaø nöôùc nhö: sinh, töû, tang, 
hoân, teá leã, luaät leä, hình phaùp…; sau ñoù, leã ñöôïc hieåu laø luaân lyù ñaïo ñöùc nhö yù 
thöùc, thaùi ñoä, haønh vi öùng xöû, neáp soáng cuûa moãi con ngöôøi trong coäng ñoàng 
xaõ hoäi tröôùc leã nghi, traät töï, kyû cöông phong kieán. Nhaân vaø leã coù quan heä raát 
maät thieát. Nhaân laø noäi dung beân trong cuûa leã, coøn leã laø hình thöùc bieåu hieän 
nhaân ra beân ngoaøi. Nhaân gioáng nhö caùi neàn tô luïa traéng toát maø treân ñoù 
ngöôøi ta veõ leân nhöõng böùc tranh tuyeät ñeïp. Khoång Töû cho raèng, treân ñôøi 
khoâng heà toàn taïi ngöôøi coù nhaân maø voâ leã. Vì vaäy, oâng khuyeân chôù xem ñieàu 
traùi leã, chôù nghe ñieàu traùi leã, chôù noùi ñieàu traùi leã vaø chôù laøm ñieàu traùi leã. 
*Ảnh hưởng của “lễ” đối với đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn hiện tại. 
Vài năm trở lại đây, mở mắt ra là đã có những thông tin, chẳng phải đâu xa, ở ngay bên cạnh mình, 
toàn những thông tin xấu, tin đen: Quan chức này tham nhũng tiền tỉ, quan chức kia lừa trên dối dưới 
không minh bạch bằng cấp học vị, Giáo sư tiến sĩ này “đạo” văn, Nghê sĩ nọ “đạo” tác phẩm… Nào 
là học trò đánh thầy, nào là bạo lực trẻ em, nào là “người của công chúng” khoe “hàng”, nào là 
chuyện mang nhau ra truyền thông chửi bới mắng nhiếc nhau… 
Và những chuyện bi hài vô văn hóa nhan nhản trong các lễ hội… Tất cả chung quy một chữ “Lễ”. 
Càng văn minh, càng có văn hóa thì càng thiếu chữ “Lễ”. 
Chữ Lễ là một trong những chữ thuộc phạm trù đạo đức phong kiến Nho giáo trong “ngũ thường”: 
Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Trong cuộc sống hằng ngày, ta thường nói đến lễ phép, lễ nghi, tức là biết 
xử sự, tôn trọng nhau như người biết phép tắc, có văn hóa, có đạo đức truyền thống. 
Nhưng chữ “Lễ” không chỉ là lễ phép, lễ nghi, mà sâu xa hơn chính là mọi người phải biết tuân thủ 
các phép tắc, biết chấp hành các kỷ cương- trật tự- bổn phận để sống sao cho hợp với lẽ trời đất, xã 
hội, cộng đồng, gia đình, bè bạn. Nó là quy phạm, tư tưởng, hành vi của con người đối với mọi mối 
quan hệ xã hội và thiên nhiên, nhằm bảo vệ quyền con người và trật tự cộng đồng xã hội, giữ gìn sự 
phát triển hài hòa của xã hội và thiên nhiên, giúp cho quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân và tập thể 
cũng tồn tại và phát triển, làm cơ sở hình thành một xã hội văn minh, hạnh phúc. 
Lớp M12CQDT01-N Page 68
Chữ “Lễ” trong thời hiện tại thành xa xỉ Có lẽ chữ “Lễ” thời này không còn được coi trọng, thiếu 
vắng trong mọi sinh hoạt cộng đồng, trong xã hội, trong gia đình, và từng cá nhân, nên trở thành một 
thứ xa xỉ. Bởi không có ý thức về lễ nên con người hành xử như những người vô phép tắc, quy 
chuẩn, nôm na là “loạn”. Mà hiện tại thì có thể nói là “đại loạn”, loạn ở khắp hang cùng ngõ hẻm, 
loạn cả trong chính bản thân con người. Bất cứ lên rừng, xuống biển, trên trời, dưới đất đều có 
những “tặc”- giặc: Lâm tặc phá rừng, hải tặc cướp thuyền bè tôm cá, không tặc với những màn “đấu 
võ”, “sàm sỡ”, “đe dọa khủng bố” trên máy bay, “vằng tặc” ở các mỏ vàng, mỏ đá quý… 
Ngay cả ở những nơi tưởng chừng văn minh nhất thì cũng lộ ra những điều thất “Lễ” nhất. Ở các đô 
thị lớn thì xem chuyện an toàn giao thông là chuyện nhỏ, cứ việc đua xe, lạng lách, vượt đèn đỏ, 
không đội mũ bảo hiểm, hành hung cảnh sát, chèn ép người đi đường, nhồi nhét người vào xe khách, 
trộm cắp vặt trên xe bus… Những nam thanh nữ tú thì tham dự các lễ hội cứ y như người vô học, 
hành xử như những kẻ du thủ du thực: Bẻ hoa, cướp hoa, dẫm đạp lên cỏ, xả rác, nói tục, chửi bậy… 
Chốn công cộng mà hành xử như chốn riêng tư không kiêng dè ai hết. 
Trường học nào cũng có khẩu hiệu ở từng lớp “Tiên học Lễ, hậu học Văn”, nhưng xem chừng chỉ là 
khẩu hiệu suông, trang trí cho đẹp mắt. Chứ chữ “Lễ” trong trường đã bị tứ tán đâu hết. Thầy đánh 
trò, trò hành hung cô, học trò đâm chém nhau, thầy gạ tình lấy điểm, trò gian lận thi cử… Học 
đường trở thành môi trường bạo lực hỗn loạn. 
Khẩu hiệu “Lương y như từ mẫu” hay “lời thề Hypocrat” về y đức không có chữ “Lễ” nên mới có 
“loạn” phong bì, bao thư, mới có những bác sĩ vô lương tâm xem thường tính mạng của người bệnh, 
để bệnh nhân chết tức tưởi… 
Giới tưởng chừng nhiều văn hóa nhất, tưởng như có “Lễ” nhất, thì cũng là nơi “thị phi” nhiều nhất. 
Chuyện các vị giáo sư, tiến sĩ, văn nghệ sĩ “đạo” tác phẩm của nhau, copy ý tưởng, không chỉ gian 
lận, nhập nhằng trong chuyện học hàm học vị mà còn kiếm tìm danh lợi bằng sự lừa dối công chúng, 
như chuyện thưòng ngày, không còn là tin gây “sốc”. 
Không được học chữ “Lễ” một cách nghiêm túc, đến nơi đến chốn, nên ở rất nhiều sự kiện văn hóa 
tầm quốc gia, những đại diện tinh tú cho “vẻ đẹp, tài năng” của Việt Nam, những “chân dài”, “siêu 
mẫu”, hoa hậu, ca sĩ… thi nhau “khoe”, “lộ”, “hở”, “tụt”… thậm chí còn “thượng cẳng tay, hạ cẳng 
chân” không chỉ ở hậu trường sân khấu mà còn cả “võ mồm” lăng mạ nhau trên truyền thông… 
Bởi thiếu “Lễ” nên mặc dù giữ trọng trách thể diện quốc gia, người ta vẫn có thể trở thành dối trên 
gạt dưới, là kẻ cắp công quĩ, rút ruột công trình quốc gia để đánh bạc hay làm giàu bất chính.. Công 
chức thiếu “Lễ” nên lấy “hành”người dân là chính chứ không phải “công bộc” của dân.. 
Cán bộ quản lý nhà nước không giữ “Lễ” nên xem việc giả mạo văn bằng chứng chỉ học vị để tại vị 
hay thăng chức như chuyện bình thường, đương nhiên phải thế, không biết ngượng, xấu hổ. Và nhìn 
tới đâu, bất cứ chỗ nào, ngành nào, giai tầng địa vị xã hội nào cũng thấy thiếu “Lễ” trầm trọng. 
Thiếu “Lễ”, quan hệ cộng đồng bất an, gia đình bất hòa, xã hội bất ổn, dễ phạm tội, dễ bán mình… 
Và cũng chỉ là một khoảng cách nhỏ để quay lưng lại với dân tộc, với đất nước. 
Vì sao “Lễ” lại thiếu trầm trọng ở mọi lúc mọi nơi? Có người đổ tại nền kinh tế thị trưòng đã làm 
con người giàu lên nhanh, tiếp cận vật chất xa hoa xa xỉ nên đã không giữ mình, nhiều trật tự xã hội, 
đạo đức luân lý bị đảo lộn. Có người nói tại mấy lý thuyết như: Công nghệ cao, Toàn cầu hóa, Thế 
giới phẳng… đã du nhập vào Việt Nam, nhưng bản thân người Việt chưa đủ tâm thế và tầm để tiếp 
cận, tiếp nhận, nên lẫn lộn các giá trị thực- ảo, dẫn đến việc thiếu “Lễ” trong hành xử, hành vi. 
Lớp M12CQDT01-N Page 69
Ngưòi xưa đã từng kết luận: “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”, hay “Nhà dột từ nóc”… Và nhìn 
thẳng, nhìn thật vào vấn đề, có thể nhìn thấy thiếu “Lễ” xuất phát từ đâu. Tại ĐHĐ toàn quốc lần thứ 
IX, đánh giá một trong những nguy cơ thách thức của đất nước ta hiện nay là: “Tình trạng tham 
nhũng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên 
là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ 
chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”. 
Báo cáo chính trị tại ĐHĐ toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, 
phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham 
nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng”. 
Báo cáo chính trị ĐHĐ lần thứ XI lại nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo 
đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, 
quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến 
phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, 
nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát 
triển của đất nước”. 
Cũng trong văn kiện ĐHĐ lần thứ XI nêu đích danh: “Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng 
trưởng kinh tế. Quản lý văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản còn thiếu chặt chẽ. Môi trường văn hóa 
bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự 
xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, 
rất đáng lo ngại”. 
Và về giáo dục, cái nơi “Tiên học Lễ” thì: “Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập. Xu hướng 
thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành 
nỗi bức xúc của xã hội.”- Trích văn kiện ĐHĐ lần thứ XI. 
Và trong nhiều nguyên nhân để dẫn đến sự thiếu “Lễ” ở mọi lúc, mọi nơi, mọi thành phần, giai tầng, 
chính là thiếu sự nghiêm minh của luật pháp. Luật thiếu và yếu, không cập nhật kịp với sự phát triển 
của xã hội, cũng như luôn chạy theo những gì đã diễn ra để làm luật mà không phải tiên đoán trưóc 
để xây dựng bộ luật hoàn chỉnh. Sự chế tài của luật pháp lại không đủ sức răn đe, công lý lại luôn bị 
xâm phạm bất bình đẳng, minh bạch. 
Cho dù khẩu hiệu giăng khắp nơi như một slogan cảnh báo mọi công dân Việt Nam: ”Sống, làm việc 
theo Hiến pháp và Pháp luật”, nhưng chuyện vi phạm pháp luật hàng ngày xảy ra đến trở thành một 
thành tố không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày. 
Học “Lễ” như thế nào? Vâng, lại ngưòi xưa: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Có thể lạc hậu 
vì đó là cách học “Lễ” của người xưa, theo Nho giáo, cho dù ở thời nay ở mặt nào đó nó vẫn có ý 
nghĩa tích cực dùng để “răn” những người có trọng trách với quốc gia, với nhân dân, cộng đồng xã 
hội. 
Nhưng ngay chính thời điểm hiện tại, khẩu hiệu được tất cả mọi ngưòi đang hướng tới: “Học tập và 
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chính là một cách học “Lễ” thiết thực nhất. Chủ tịch Hồ 
Chí Minh đã để lại một di sản về những bài học đạo đức, cái gốc của chữ “Lễ”. 
Trong Di chúc của Người khi nói đến Đảng viên:”Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên 
và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô 
tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung 
thành của nhân dân”. 
Lớp M12CQDT01-N Page 70
Với học sinh, không ai đi học mà không nhớ “Năm điều Bác Hồ dạy”. Với công chức nhà nước, 8 
chữ Bác để lại là bài học suốt đời “tu thân” để phục vụ nhân dân, phục vụ quốc gia, đất nước: “Cần, 
Kiệm, Liêm, Chính, Chí công, Vô tư”. 
Hay với ngành Công an Nhân dân, Bác có 6 điều dạy: Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính. 
Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ. Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành. Đối với nhân 
dân, phải kính trọng, lễ phép. Đối với công việc, phải tận tụy. Đối với địch, phải cương quyết khôn 
khéo”. 
Và trong quân đội, không quân nhân nào lại không nhớ nằm lòng “10 lời thề danh dự” và học theo 
những chữ Bác trao tặng Quân đội Nhân dân Việt Nam: “Trung với Đảng. Hiếu với dân. Nhiệm vụ 
nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua. Kẻ thù nào cũng đánh thắng”. 
“Tiên học Lễ”, nếu chữ “Lễ” được hiểu thấu đáo, được mọi người tôn trọng và tuân thủ đúng “phép” 
thì có lẽ không còn những gì hiện đang diễn ra hàng ngày làm “đại loạn” xã hội, phá hoại sự bình 
yên cuộc sống, luân thường đạo lý đảo lộn…. 
Nhưng đó cũng chỉ là một ước mơ có phần lạc quan trong ảo tưởng. Bởi hiện tại, vấn đề này dù có 
được nêu ra, phản ảnh, nhưng cũng chỉ là lý thuyết. Chưa có một chiến lược gia nào, hay một nhà 
nghiên cứu xã hội học, đạo đức học…nào đưa vấn đề trở thành cấp bách để điều chỉnh, để thực thi 
một cách cụ thể, nhằm đưa “Lễ” vào đúng vị trí của nó. 
Và trên hết, khi chính bản thân con người không “tu thân” thì chẳng thể học chữ “Lễ” để mà có 
“Lễ”./. 
12. Anh chi hãy trình bày đăc tr ng c ban cua triết hoc ̣̣ư ợ̉̉phương Tây cô ̉đaị và nêu lên 
môṭ số an̉h hương cuả nó đối vơí sư phát triên̉ cuả khoa hoc̣ Phương Tây hiêṇ nay 
Triết học Phương Tây thời cổ đại gắn liền với Triết học Hy Lạp cổ đại với những đặc điểm như 
sau 
- Một là, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai 
cấp chủ nô thống trị. Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự xã hội, củng cố vai trò 
thống trị của mình. 
- Hai là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, 
trường phái duy vật - duy tâm, vô thần - hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng; 
trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của Đêmôcrít và trào lưu duy tâm của 
Platông… 
- Ba là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại đã xuất hiện phép biện chứng chất phác. Các nhà triết 
học Hy Lạp cổ đại là “những nhà biện chứng bẩm sinh”. Họ nghiên cứu và sử dụng phép biện chứng 
để nâng cao nghệ thuật hùng biện, để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý. Họ đã 
phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng, nhưng chưa trình bày chúng như một hệ thống lý 
luận chặt chẽ. 
- Bốn là, triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết 
về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống 
nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó. Do trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự 
nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới 
nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới. Vì vậy, các nhà triết 
Lớp M12CQDT01-N Page 71
học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra 
những kết luận triết học. 
- Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra 
nhiều quan niệm khác nhau về con người, cố lí giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác, về đời 
sống đạo đức - chính trị - xã hội của họ. Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìn chung, các triết gia đều 
khẳng định con người là tinh hoa cao quí nhất của tạo hóa. 
Ảnh hưởng của Triết học Phương Tây cổ đại đến sự phát triển của khoa học phương tây 
hiện nay: 
Triết học phương tây cổ đại với những nhà triết học nỗi tiếng như Aristot, Platon, Democrit, 
Talet... cùng với những đặc điểm nêu trên đã ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển khoa học (vật lý 
học, đạo đức học, triết học, toán học, sinh học...) ở phương tây ngày nay. 
- Xây dựng nền tảng cho sự phát triển về chủ nghĩa Mac Le Nin sau này đó là sự manh nha tư 
tưởng về công bằng trao đổi sản phẩm làm nền tảng cho công bằng xã hội và bình đẳng cá nhân, 
Arixtốt đòi hỏi phải quan tâm đến lao động và phân công lao động. 
- Các triết học gia cũng đồng thời là nhà khoa học, họ đã quan sát, tìm hiều về thế giới và rút ra 
những kết luận về triết học như Đemocrit nhận thức về thuyết nguyên tử rằng mọi vật chất đều được 
cấu tạo từ nguyên tử tạo tiền đề cho sự phát phát triển trong lĩnh vực khoa học Vật lý, Hóa học. Và 
ngày nay, người ta đã phát minh ra vũ khí nguyên tử hiện đại, vũ khí sinh học...được ứng dụng trong 
y tế, quân sự... 
- Xây dựng nền tảng cho sự phát triển về Toán học điển hình là TaLet. 
13. Anh chi hãy trình bày đăc tr ng c ban cua triết hoc th̀i ̣̣ư ợ̉̉ơ phuc̣ hưng và an̉h hương 
cuả nó đối vơí sư phát triên̉ cuả xã hôị Tây Âu từ thế ky ̉XV đến thế ky ̉XIX 
- Thứ nhất, trên bình diện thế giới quan, triết học thời phục hưng - cận đại thể hiện rõ thế giới 
quan duy vật máy móc bên cạnh quan điểm tự nhiên thần luận của giai cấp tư sản - giai cấp đang 
vươn lên lãnh đạo xã hội. Sự xung đột giữa chủ nghĩa duy vật và khoa học với chủ nghĩa duy tâm và 
tôn giáo rất quyết liệt. Chủ nghĩa duy vật đã trở thành thế giới quan của giai cấp tư sản tiến bộ và 
cách mạng; còn khoa học đã trở thành sức mạnh của họ trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp 
phong kiến và Nhà thờ nhằm xác lập một trật tự xã hội mới. Các quan điểm duy vật đã tìm được cơ 
sở khoa học cụ thể cho chính mình. Còn quan niệm khoa học, mà trước hết là cơ học, đã được mở 
rộng thành chủ nghĩa cơ giới (máy móc). Mặc dù các thành tựu khoa học tự nhiên, đặc biệt là cơ học, 
được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn cuộc sống và trong nhận thức; nhưng những niềm tin tôn giáo 
vẫn chưa bị đẩy lùi. Những giá trị của Thượng đế được thừa nhận trước đây, bây giờ được coi là 
những giá trị của Giới tự nhiên. Giới tự nhiên được gán ép cho những tính siêu nhiên - thần thánh. 
Do đó, màu sắc tự nhiên thần luận là một nét đặc sắc của chủ nghĩa duy vật máy móc lúc bấy giờ. 
- Thứ hai, trên bình diện nhận thức - phương pháp luận, triết học thời phục hưng - cận đại chủ yếu 
đi tìm phương pháp nhận thức mới để khắc phục triệt để phương pháp kinh viện giáo điều, nhằm xây 
dựng một triết học và một khoa học mới có liên hệ mật thiết với nhau, hướng đến xây dựng tri thức. 
Tuy nhiên, sự đối lập giữa cảm tính và lý tính rất gay gắt kéo theo sự đối lập giữa phương pháp quy 
nạp và phương pháp diễn dịch, giữa tư duy tổng hợp và tư duy phân tích đã sản sinh ra sự đối lập của 
chủ nghĩa kinh nghiệm - duy giác và chủ nghĩa duy lý - tư biện. Sự đối lập này đã sản sinh ra hai 
phương pháp tư duy siêu hình trong nhận thức khoa học: phương pháp kinh nghiệm trong nghiên 
cứu khoa học tự nhiên thực nghiệm và phương pháp tư duy tư biện trong nghiên cứu khoa học tự 
nhiên lý thuyết. Do khoa học thực nghiệm chiếm ưu thế nên phương pháp siêu hình kinh nghiệm 
được đề cao. Và do cơ học vươn lên vai trò hàng đầu trong các ngành khoa học tự nhiên nên chủ 
nghĩa cơ giới (máy móc) xuất hiện và xâm nhập trở lại các ngành khoa học đó. Vì vậy, trào lưu triết 
học thống trị trong giai đoạn này là chủ nghĩa duy vật siêu hình - máy móc. Tuy nhiên, sau đó chủ 
Lớp M12CQDT01-N Page 72
nghĩa duy vật siêu hình - máy móc lại bộc lộ những nhược điểm yếu kém của mình trong quá trình 
phát triển tư duy lý luận, vì vậy, phép biện chứng duy tâm đã ra đời thay thế. 
- Thứ ba, trên bình diện nhân sinh quan - ý thức hệ, nền triết học thời phục hưng - cận đại thể hiện 
rõ tinh thần khai sáng và chủ nghĩa nhân đạo tư sản. Nó là ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản để tập 
hợp, giác ngộ, hướng dẫn quần chúng thực hiện những hành động cách mạng nhằm cải tạo xã hội cũ 
và xây dựng xã hội mới -chủ nghĩa tư bản. Khát vọng giải phóng con người ra khỏi sự thống trị của 
chế độ phong kiến - giáo hội Nhà thờ, ra khỏi sự ngu dốt, ra khỏi chi phối âm thầm của các lực 
lượng tự nhiên nhằm hướng đến một cuộc sống tự do, hạnh phúc, công bằng, bác ái, sung túc cho 
con người trên trần gian được đặt ra. Khát vọng này có sức cuốn hút mạnh mẽ quần chúng đi đến 
một hành động cách mạng cụ thể để giải phóng mình và giải phóng xã hội. 
Lịch sử triết học Tây Âu thời phục hưng - cận đại là một cuộc đấu tranh của các trào lưu, khuynh 
hướng, trường phái triết học khác nhau trong bối cảnh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời 
và tự khẳng định mình, trong sự hiện thực hóa vai trò thống trị của giai cấp tư sản. Thế giới quan 
duy vật máy móc, nhân sinh quan nhân đạo tư sản, và phương pháp luận siêu hình thể hiện rất rõ 
trong quan điểm của các trường phái, trào lưu, khuynh hướng triết học xung đột nhau lúc bấy giờ. 
Cuối thời cận đại, khi tiếp tục đào sâu nhân sinh quan nhân đạo tư sản, khắc phục thế giới quan duy 
vật máy móc và phương pháp luận siêu hình của các trường phái triết học đầu thời cận đại đã xuất 
hiện Triết học cổ điển Đức - giai đoạn bản lề của triết học Phương Tây nối thời kỳ cận đại và với 
thời kỳ hiện đại. 
Ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của xã hội Tây Âu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX: 
- Vào thời phục hưng (thế kỷ XV - XVI), ở Tây Âu, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang 
hình thành gắn liền với phong trào Phục hưng văn hóa (khôi phục và phát triển những giá trị văn hóa 
thời cổ đại bị quên lãng) đã hình thành từ Ý và lan sang các nước Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Đức... Ở 
Ý, vào thời kỳ này, nhiều sáng chế kỹ thuật có giá trị như máy kéo sợi, máy dệt, các loại động cơ 
đơn giản hoạt động nhờ vào sức gió, sức nước... đã xuất hiện. Chúng làm cho các công trường thủ 
công nâng cao năng suất lao động và làm biến đổi đời sống xã hội lúc bấy giờ. Nhiều nước cộng hòa 
- thành thị nhanh chóng trở thành trung tâm công - thương nghiệp nổi tiếng của châu Âu. Nhiều nhà 
quý tộc mới, giàu có và thích phô trương đã cho xây dựng nhiều lâu đài tráng lệ và trang sức bằng 
các tác phẩm nghệ thuật có giá trị. Tình hình này có tác dụng khuyến khích giới văn nghệ sĩ Ý, trước 
hết là họa sĩ và nhà điêu khắc phát huy truyền thống văn minh La Mã cổ đại, đẩy mạnh sự nghiệp 
sáng tạo nghệ thuật của mình. Sau Ý, chủ nghĩa tư bản được hình thành ở Anh và các nước Tây Âu 
khác; nó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho phong trào văn hóa Phục hưng lan tỏa. Đặc biệt, 
việc tìm ra các đường biển dẫn đến các vùng đất mới, sự ra đời và phát triển của nhiều ngành khoa 
học tự nhiên, những cải tiến kỹ thuật trong giao thông hàng hải và sản xuất đã tạo điều kiện cho công 
- thương nghiệp tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển vững chắc. Điều này đã đưa đến sự hình thành 
các thị trường giữa các quốc gia hay giữa các châu lục. Cùng với sự ra đời và phát triển của nền công 
- thương nghiệp tư bản chủ nghĩa là sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt trong các cộng đồng dân 
cư. Giai cấp tư sản được hình thành từ đội ngũ các chủ công trường thủ công, các chủ thầu, những 
người cho vay nặng lãi... có vai trò ngày càng lớn trong đời sống kinh tế - xã hội. Giai cấp vô sản ra 
đời, quy tụ những người nông dân mất ruộng đất, những người nghèo khổ từ nông thôn di cư ra 
thành thị kiếm sống trong các công trường, xưởng thợ. Sự biến đổi điều kiện kinh tế - xã hội góp 
phần đẩy mạnh sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên. Toán học, cơ học, địa lý, thiên văn... 
đã đạt được những thành tựu đáng kể và đã bắt đầu tách ra khỏi triết học tự nhiên. Triết học đã thay 
đổi đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mình. Cùng với sự xuất hiện của triết học mới, khoa học tự 
nhiên thật sự ra đời. Chúng phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng trở thành công cụ tinh thần giúp giai 
cấp tư sản non trẻ đấu tranh chống lại những lực lượng chính trị - xã hội cũ ngăn cản bước đường 
phát triển tiến lên của xã hội. 
Lớp M12CQDT01-N Page 73
- Sang thời cận đại (thế kỷ XVII - XVIII) phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển 
mạnh mẽ dẫn đến sự xuất hiện và phát triển nhiều mâu thuẫn trong khắp các lĩnh vực đời sống xã 
hội. Sự phân hóa và xung đột trong lĩnh vực kinh tế kéo theo sự phân hóa và xung đột trong lĩnh vực 
xã hội đã làm nảy sinh những xung đột và mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị và tinh thần. Những 
xung đột, mâu thuẫn này đã làm nổ ra các cuộc cách mạng tư sản trên khắp các nước Tây Aâu như ở 
Hà Lan (1560 - 1570), ở Anh (1642 - 1648)…, đặc biệt là ở Pháp (1789 - 1794) - một cuộc cách 
mạng tư sản khá toàn diện và rất triệt để đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ phong kiến, xác lập chế độ cộng 
hòa tư sản. Các cuộc cách mạng tư sản đã đưa giai cấp tư sản lên vũ đài quyền lực chính trị, tạo ra 
nhiều điều kiện thuận lợi cho sự thống trị của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Để phương 
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thống trị một cách vững chắc, nền chính trị tư sản không thể không 
cần đến sự phát triển của khoa học mới - khoa học giúp khám phá và làm chủ giới tự nhiên. Các 
ngành khoa học tự nhiên, có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng, từng bước ra đời và tồn tại 
tương đối độc lập nhau, trong đó, cơ học là ngành khoa học phát triển nhất, còn thực nghiệm là 
phương pháp nghiên cứu tự nhiên phổ biến. Vì vậy, quan điểm cơ học và phương pháp nghiên cứu 
thực nghiệm đã thấm vào hầu hết các hoạt động thực tiễn và tư tưởng của con người lành mạnh lúc 
bấy giờ. 
- Cuối thế kỷ XVIII, dù chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập ở một số nước Châu Âu như Anh, 
Pháp, Ý… nhưng ở nước Đức vẫn duy trì chế độ phong kiến lạc hậu và phân quyền với nhà nước 
Phổ mạnh mẽ. Nước Phổ ngoan cố tăng cường quyền lực để duy trì chế độ quân chủ phong kiến thối 
nát và cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Giai cấp tư sản Đức, ít về số 
lượng lại bị phân tán, yếu về kinh tế, nhược về chính trị, nhưng có đời sống tư tưởng tinh thần rất 
phong phú… Họ muốn làm một cuộc cách mạng mà lực bất tòng tâm. Còn quần chúng nhân dân 
đang chịu sự bị áp bức nặng nề muốn thực hiện một hành động cách mạng, nhưng lại không có lực 
lượng lãnh đạo. Lúc bấy giờ, các nước Phương Tây đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ về khoa học, 
đặc biệt là khoa học tự nhiên. Các thành tựu này đã tạo tiền đề cho sự xem xét thế giới một cách biện 
chứng. Mặt khác, những thành tựu về văn hóa và nghệ thuật cũng như tinh thần của cuộc cách mạng 
tư sản Pháp đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình cảm và sức sáng tạo của tầng lớp trí thức Đức. Qua các 
công trình của mình, tầng lớp trí thức Đức đã tôn vinh mình và tôn vinh cả dân tộc Đức. Những tác 
phẩm của họ toát lên tinh thần phẫn nộ chống lại sự trì trệ và bất công của xã hội Đức thời đó. Cũng 
như giai cấp tư sản Đức, tầng lớp trí thức Đức cũng không đủ sức làm cách mạng trong hiện thực, vì 
vậy, họ đã làm cách mạng trong tư tưởng. Chính những điều kiện như thế đã tạo cho triết học cổ điển 
Đức một nét đặc thù hiếm thấy. Đó là nền triết học của người Đức phản ánh cuộc cách mạng của 
người Pháp. Triết học cổ điển Đức đã đóng góp vào di sản văn hóa nhân loại nhiều lý luận có giá trị, 
mà trước hết là phép biện chứng duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc. 
- Trong điều kiện thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế - chính trị - xã hội và gắn liền với những thành 
tựu khoa học - kỹ thuật lúc bấy giờ là sự hình thành và phát triển một nền triết học mới - Triết học 
Tây Âu thời phục hưng - cận đại. Mặc dù, nền triết học này được chia thành hai giai đoạn: triết học 
Tây Âu thời phục hưng (thế kỷ XV-XVI) và triết học Tây Âu thời cận đại (thế kỷ XVII - đầu XIX), 
ứng với hai giai đoạn hình thành và khẳng định của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng 
chúng thống nhất với nhau. Triết học Tây Âu thời cận đại tiếp nối triết học Tây Âu thời phục hưng, 
phản ánh sự thay đổi lớn trong đời sống kinh tế - chính trị - tư tưởng của xã hội Tây Âu lúc bấy giờ. 
Triết học Tây Âu thời cận đại được chia ra thành hai thời kỳ: đầu thời cận đại, tức thế kỷ XVII - đầu 
XVIII và cuối thời cận đại, tức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. 
Câu 13b: Trình bày nh̃ng tiền đề ra ư đơì cuả triết hoc̣ Mác-Lênin 
* Tiền đề kinh tế-xã hội 
Lớp M12CQDT01-N Page 74
Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, thời kỳ mà chủ nghĩa tư bản đã trở 
thành hệ thống kinh tế thống trị ở các nước Tây Âu và giai cấp vô sản đã bước lên vũ đài lịch sử như 
một lực lượng chính trị độc lập. 
Mác nhận xét rằng, đến thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã trở thành một cơ thể hoàn chỉnh, làm 
bộc lộ đầy đủ các mâu thuẫn trong bản chất của nó. Trước hết là mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng 
sản xuất có tính chất xã hội với quan hệ sản xuất có tính chất tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, mâu 
thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn xung đột giữa lao động với tư bản, giữa giai cấp vô 
sản với giai cấp tư sản. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cùng với các mâu thuẫn của nó, đã tạo ra 
một cơ sở hiện thực cho những phân tích và khái quát lý luận trong học thuyết của Mác và Ăngghen. 
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cùng với các mâu thuẫn của nó kéo theo sự phát triển của 
phong trào công nhân. Đến cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, phong trào công nhân ở các 
nước Tây Âu đã có bước phát triển mới về số lượng và chất lượng. Sự tập trung tư bản cùng với sự 
hình thành những trung tâm công nghiệp lớn thu hút công nhân thành lực lượng đông đảo, mâu 
thuẫn giữa lao động và tư bản trở nên gay gắt làm xuất hiện những cuộc đấu tranh chính trị ngày 
càng có tổ chức và tự giác. Các cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Xilêdi (Đức), ở Liông và Pari 
(Pháp), phong trào Hiến chương (Anh) vào những năm 30-40 chứng minh rằng: giai cấp công nhân 
trở thành lực lượng quyết định các quá trình kinh tế-xã hội-chính trị của thời đại và bước lên vũ đài 
lịch sử như một lực lượng chính trị độc lập. Phong trào công nhân thời kỳ này làm bộc lộ sai lầm của 
quan niệm tư sản về sự hân hoan chung giữa lao động và tư sản, tạo nên những thay đổi căn bản 
trong quan niệm về lịch sử của Mác và Ăngghen; mặt khác, nó đề ra nhu cầu giải thích về những 
thực tế của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản về tổ chức, con 
đường và phương tiện cách mạng của giai cấp vô sản. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng những đòi 
hỏi này. 
Những phân tích và khái quát lý luận về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và phong trào 
công nhân vào nửa đầu thế kỷ XIX là một bộ phận quan trọng trong học thuyết của Mác và 
Ăngghen. Vì vậy, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và phong trào công nhân thời kỳ đó là những 
điều kiện kinh tế-xã hội cho sự ra đời của triết học. 
* Tiền đề lý luận 
- Sự ra đời của triết học Mác trước hết có kế thừa những thành quả của triết học cổ điển Đức. 
Mác và Ăngghen luôn thừa nhận rằng trong sự phát triển trí tuệ của mình, hai ông đã chịu ơn nhiều 
nhà triết học Đức, trong đó nổi bật là Hêghen và Phoiơbắc. 
Công lao to lớn của Hêghen là ở chỗ: Ông đã phê phán những hạn chế cơ bản của phương 
pháp siêu hình, đã xây dựng phép biện chứng thành hệ thống và xem nó là phương pháp luận đúng 
đắn của mọi nhận thức khoa học. Nhưng Mác và Ăngghen cũng chỉ ra rằng, triết học Hêghen có 
những hạn chế lớn, đó là sự giải thích duy tâm về hiện thực; là sự biện hộ cho những thực tế lịch sử 
lỗi thời, cho tôn giáo; là triết học tự biện, trừu tượng, xa rời hiện thực và thực tiễn. Cho nên khi sáng 
lập triết học của mình Mác và Ăngghen đã không kế thừa toàn bộ triết học Hê-ghen mà chỉ kế thừa 
hạt nhân hợp lý, đó là phép biện chứng, đồng thời cải tạo và xây dựng lại phép biện chứng trên lập 
trường duy vật. 
Đánh giá về Phoiơbắc, Mác và Ăngghen cho rằng chính nhờ đọc được các tác phẩm của ông 
mà họ đã cương quyết đoạn tuyệt với triết học Hêghen. Công lao của Phoiơbắc là ở sự phê phán 
quyết liệt chủ nghĩa duy tâm-tôn giáo (nhất là phê phán Hê-ghen), là sự khẳng định cương quyết tính 
đúng đắn của các nguyên lý duy vật, là việc giải thích trên lập trường duy vật bản chất con người, 
bản chất tôn giáo và đề cao chủ nghĩa nhân đạo. Nhưng Phoiơbắc cũng có những hạn chế lớn, đó là 
phương pháp tư duy siêu hình, (khi phê phán Hêghen, ông đã không thấy được phép biện chứng là 
hạt nhân hợp lý nên đã bác bỏ và chuyển sang quan điểm siêu hình); quan điểm trực quan, trừu 
tượng, phi lịch sử về bản chất con người, duy tâm trong lĩnh vực xã hội. Vì vậy khi sáng lập ra triết 
Lớp M12CQDT01-N Page 75
học của mình, Mác và Ăngghen cũng không kế thừa toàn bộ triết học Phoiơbắc mà chỉ kế thừa hạt 
nhân cơ bản đúng đắn đó là nguyên lý duy vật, đồng thời cải tạo và xây dựng lại chủ nghĩa duy vật 
dựa trên quan điểm biện chứng. 
- Sự ra đời triết học Mác không chỉ do ảnh hưởng của triết học Hêghen và triết học Phoiơbắc. 
Mác và Ăngghen khi tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đã rút ra những tài 
liệu thực tiễn phong phú cho những kết luận duy vật-biện chứng của mình. Ngoài ra, việc hai ông đi 
sâu nghiên cứu kinh tế-chính trị học cổ điển và chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán, đã góp phần 
không nhỏ cho sự hình thành và hoàn thiện thế giới quan triết học của mình. 
* Tiền đề khoa học tự nhiên 
Sự ra đời triết học Mác còn được chuẩn bị bởi những thành quả của khoa học tự nhiên. 
Những thành quả của khoa học tự nhiên từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX làm bộc lộ những 
hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình, ngày càng chứng minh tính đúng đắn của các nguyên lý 
duy vật và biện chứng. 
Phát hiện bằng thực nghiệm của Maye (được Lômônôxốp công bố) về sự bảo toàn vật chất và 
vận động, lý luận của Cantơ về sự hình thành thái dương hệ đã góp phần khẳng định quan điểm biện 
chứng về lịch sử vũ trụ và giới tự nhiên: mặt khác đả phá quan niệm duy tâm, tôn giáo siêu hình về 
thế giới. 
Từ những năm 30 đến 50 của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã có những thành tựu to lớn. 
Thời kỳ này có ba phát minh vĩ đại đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống quan điểm 
siêu hình và chuẩn bị cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng. 
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX phát minh ra quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. 
Quy luật này chứng minh rằng: lực cơ học, nhiệt, ánh sáng, điện, từ các quá trình hóa học, nghĩa là 
các hình thức khác nhau của vận động vật chất không tách rời nhau, mà liên hệ và chuyển hóa lẫn 
nhau nên không hề mất đi. Nó chứng minh rằng không có sự sinh ra và mất đi của năng lượng, mà 
chỉ có sự chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác. Như vậy quy luật này là cơ sở khoa 
học tự nhiên cho quan điểm biện chứng về thế giới. 
Vào những năm 30 của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã phát minh ra học thuyết cấu tạo tế 
bào của cơ thể sống. Học thuyết này bác bỏ quan niệm siêu hình về sự khác biệt tuyệt đối giữa thực 
vật và động vật. Ngược lại, nó khẳng định sự thống nhất về nguồn gốc và hình thái giữa thực vật và 
động vật, giải thích quá trình phát triển của chúng, đặt cơ sở cho quan điểm duy vật biện chứng về sự 
phát triển của toàn hệ sinh học. 
Phát minh lớn thứ ba là học thuyết tiến hóa của sinh giới ra đời vào những năm 50 của thế kỷ 
XIX. Học thuyết tiến hóa chứng minh rằng sinh giới không phải là bất biến mà thường xuyên biến 
đổi, nằm trong quá trình tiến hóa không ngừng của giới tự nhiên. Nó khẳng định sự tiến hóa của sinh 
giới diễn ra theo con đường chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo. Lênin đánh giá rằng thuyết tiến 
hóa đánh dấu sự cáo chung của quan niệm siêu hình về tính bất biến của các loài và quan niệm về 
nguồn gốc thần thánh của sinh giới đem lại cơ sở thật sự khoa học cho sinh học. Mác và Ăngghen 
xác nhận rằng thuyết tiến hóa đem lại cái cơ sở lịch sử tự nhiên cho học thuyết của hai ông, đã đập 
tan thần học trong học thuyết về sự phát triển của thực vật và động vật; rằng trước đó chưa hề có một 
sự chứng minh nào thành công to lớn như thế về sự phát triển lịch sử trong giới tự nhiên. 
Như vậy, những thành tựu của khoa học tự nhiên nửa đầu thế kỷ XIX cũng là tiền đề cho các 
quan điểm duy vật và biện chứng về thế giới của Mác và Ăngghen. 
Lớp M12CQDT01-N Page 76
14. Anh chi hãy trình bày anh h ng cua triết hoc Hêghen đối ̣̉ượ̉vơí sư ra đơì cuả triết hoc̣ 
Mác 
HÊGHEN (1770 - 1831), là nhà biện chứng, đồng thời là nhà triết học duy tâm khách quan. 
Triết học của ông đầy mâu thuẫn. Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lý, chứa 
đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển, thì hệ thống triết học duy tâm của ông phủ nhận tính chất 
khách quan của những nguyên nhân bên trong vốn có của sự phát triển của tự nhên và xã hội. Ông 
cho rằng, khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế 
giới”. Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ý 
niệm tuyệt đối. Ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn. “Ý niệm tuyệt đối” theo nhận xét của Lênin chỉ là 
một cách nói theo đường vòng, một cách khác nói về Thượng đế mà thối. Cho nên triết học của 
Hêghen là sự biện hộ cho tôn giáo. 
Hêghen dã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu tiên trình bày 
toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động và biến 
đổi không ngừng. Đồng thời trong khuôn khổ của hệ thống triết học duy tâm của mình, Hêghen 
không chỉ trình bày các phạm trù như chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn,… mà còn nói đến các quy 
luật “lượng đổi dẫn đến chất đổỉ và ngược lại”, “phủ dịnh của phủ định” và “quy luật mâu thuẫn”. 
Nhưng tất cả cái đó chỉ là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối. 
Trong hệ thống triết học của Hêgen, không phải ý thức, tư tưởng phát triển trong sự phụ thuộc vào 
sự phát triển của tự nhiên và xã hội, mà ngược lại, tự nhiên phụ thuộc vào sự phát triển của ý niệm 
tuyệt đối.Ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới là tính thứ nhất, giới tự nhiên là tính thứ hai do tinh 
thần thế giới và ý niệm tuyệt đối quyết định. Nó là một sự “tồn tại khác” của tinh thần, sau khi trải 
qua giai đoạn “tồn tại khác” ấy, ý niệm tuyệt đối hay tinh thần thế giới mới trở lại “bản thân mình” 
và đó là giai đoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng, được Hêghn gọi là tinh thần tuyệt đối. 
Trong các quan điểm xã hội, Hêghen đứng trên lập trường của chủ nghĩa Sovanh, đề cao dân 
tộc Đức, miệt thị các dân tộc khác, coi nước Đức là hiện thân của tinh thần vũ trụ mới. Chế độ nhà 
nước Phổ đương thời được ông xem là đỉnh cao của sự phát triển nhà nước và pháp luật. 
Tóm lại, Hêghen là nhà triết học biện chứng duy tâm khách quan. Là nhà triết học duy tâm 
khách quan, Hêghen cho rằng “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước vật chất, tồn tại vĩnh viễn không phụ 
thuộc vào con người, tạo ra hiện thực khách quan. Giới tự nhiên chỉ là sự tồn tại khác của “ý niệm 
tuyệt đối” Tính đa dạng của thực tiễn được ông xem như là kết quả tác động và sáng tạo của ý niệm 
tuyệt đối. Là nhà biện chứng, ông đã có công nêu ra những phạm trù, quy luật cơ bản của phép biện 
chứng, nhưng phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm. Mặc dù vậy, ông vẫn là 
người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên và lịch sử dưới dạng một quá trình không ngừng vận 
động và biến đổi, phát triển và cố gắng vạch ra mối liên hệ bên trong của sự vận động và phát triển 
ấy. 
C.Mác và Ăng ghen đã phê phán một cách triệt để tính chất phản khoa học và thần bí của “ý 
niệm tuyệt đối” trong triết học Hêghen; đồng thời hai ông đánh giá cao và tiếp thu “hạt nhân hợp lý” 
Lớp M12CQDT01-N Page 77
trong phép biện chứng của Hêghen để xây dựng và phát triển học thuyết về phép biện chứng duy vật 
của mình. 
Tư tưởng của Marx thể hiện những ảnh hưởng mạnh từ phương pháp biện chứng và khuynh 
hướng lịch sử của Hegel. 
Quan điểm của Marx về lịch sử, được gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử, rõ ràng cho thấy ảnh 
hưởng của lời khẳng định từ Hegel rằng một người phải quan sát thực tế (và lịch sử) theo cách biện 
chứng. Hegel tin rằng lịch sử loài người có đặc trưng bởi sự di chuyển từ sự tan rã tới tổng thể và 
thực tế (cũng là sự di chuyển theo hướng ngày càng hợp lý hơn). Sự phát triển tiến hoá này của ý 
niệm Tuyệt đối liên quan tới sự tích tụ dần dần mang tính cách mạng lên tới đỉnh điểm là sự nhảy 
vọt cách mạng—những sự bất ổn theo tính chu kỳ chống lại tình trạng nguyên trạng đang hiện hữu. 
Ví dụ, Hegel phản đối mạnh mẽ chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ trong thời gian cuộc đời mình, và ông đã dự 
báo một thời điểm khi các quốc gia Thiên chúa giáo sẽ loại bỏ nó khỏi nền văn minh của mình. 
Sự chỉ trích của Marx với chủ nghĩa duy tâm triết học Đức, kinh tế chính trị Anh, và chủ nghĩa xã 
hội Pháp dựa chủ yếu vào sự ảnh hưởng của Feuerbach và Engels. Hegel đã suy nghĩ trong các khái 
niệm duy tâm, và Marx tìm cách viết lại các biện chứng theo các khái niệm duy vật. Ông viết rằng 
chủ nghĩa Hegel đặt sự vận động của thực tế trên đầu, và rằng mọi người cần phải đặt nó dưới chân. 
Sự chất nhận của Marx với khái niệm biện chứng duy vật này phản đối lại chủ nghĩa duy tâm của 
Hegel bị ảnh hưởng nhiều từ Ludwig Feuerbach. Trong Bản chất của Thiên chúa giáo, Feuerbach 
cho rằng Chúa thực tế là một sản phẩm của con người và rằng các tính chất mà loài người gán cho 
Chúa thực tế là các tính chất của loài người. Vì thế, Marx cho rằng chính thế giới vật chất là thực và 
rằng các tư tưởng của chúng ta là hậu quả của nó, chứ không phải là nguyên nhân của thế giới. Vì 
thế, như Hegel và các nhà triết học khác, Marx phân biệt giữa vẻ ngoài và thực tế. Nhưng ông không 
tin rằng thế giới vật chất ẩn giấu khỏi chúng ta thế giới "thực" của lý tưởng; trái lại, ông nghĩ rằng về 
mặt lịch sử và xã hội ý tưởng riêng biệt khiến con người không thấy được các điều kiện vật chất của 
cuộc đời họ một cách rõ ràng. 
Cống hiến quan trọng khác của Marx cho việc sửa đổi lại chủ nghĩa Hegel có trong cuốn sách của 
Engel, “Điều kiện của Tầng lớp Lao động” tại Anh năm 1844, khiến Marx hình thành biện chứng 
lịch sử theo những khái niệm xung đột giai cấp và xem giai cấp lao động hiện đại là lực lượng tiến 
bộ nhất của cách mạng. 
========= 
Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, thời kỳ mà chủ nghĩa tư bản đã trở thành 
hệ thống kinh tế thống trị ở các nước Tây Âu và giai cấp vô sản đã bước lên vũ đài lịch sử như một 
lực lượng chính trị độc lập. 
Triết học Mác là một hệ thống triết học khoa học và cách mạng và triết học Mác đã kế thừa những 
tinh hoa, từ đó đưa ra những nguyên lý khoa học giúp con người nhân thức đúng và cải tạo thế 
giới,đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy 
vật triết học triệt để, không điều hoà với chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình. Triết học Mác trước 
hết có kế thừa những thành quả của triết học cổ điển Đức, trong đó nổi bật là Hêghen và Phoiơbắc. 
Công lao to lớn của Hêghen là ở chỗ: Ông đã phê phán những hạn chế cơ bản của phương pháp 
siêu hình, đã xây dựng phép biện chứng thành hệ thống và xem nó là phương pháp luận đúng đắn 
của mọi nhận thức khoa học. Nên Mác và Ăngghen đã kế thừa một phần triết học Hê-ghen đó là 
những kế thừa hạt nhân hợp lý, đó là phép biện chứng, đồng thời cải tạo và xây dựng lại phép biện 
chứng trên lập trường duy vật. Để xây triết học duy vật biện chứng, Mác đã phải cải cả chủ nghĩa 
duy vật cũ và cả phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Đó là một cuộc cách mạng thật sự trong học 
Lớp M12CQDT01-N Page 78
thuyết về xã hội, một trong những yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà Mác và Ăngghen đã 
thực hiện trong triết học 
Triết học Hêghen là biểu hiện của sự phát triển đầy đủ nhất và rực rỡ nhất của chủ nghĩa duy tâm 
cổ điển Đức. Hêghen là nhà tư tưởng của giai cấp tư sản Đức, quan điểm triết học của ông là hệ 
thống duy tâm cổ điển cuối cùng, là trình độ cao nhất của sự phát triển phép biện chứng duy tâm. 
Hêghen là nhà duy tâm khách quan. Ông coi tinh thần thế giới là cái có trước, vật chất với tính 
cách dường như là sự thể hiện, sự biểu hiện cụ thể của tinh thần thế giới, là cái có sau; tinh thần là 
đấng sáng tạo ra vật chất. 
Học thuyết của Hêghen coi tính thứ nhất là tinh thần, tính thứ hai là vậtt chất. Đó cũng chính là sự 
thể hiện riêng về mặt triết học những lời khẳng định của tôn giáo rằng Thượng đế sáng tạo ra thế 
giới. Hêghen chỉ lặp lại những điều mà các nhà duy tâm trước đó đã nói. Song, cái mới trong học 
thuyết của ông, chính là chỗ ông xem xét tinh thần thế giới, ý niệm tuyệt đối là một quá trình tự phát 
triển không ngừng, và ông là một nhà triết học hoàn chỉnh phép biện chứng duy tâm, phép biện 
chứng của ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới với tính cách là cơ sở đầu tiên và nguồn gốc của mọi 
tồn tại. 
Mac đã học học ở Heghen 
Hai ông tiếp nhận phép biện chứng của Hêghen, song có thái độ đối lập với hệ thống siêu hình 
của triết học Hêghen. khi sử dụng phép biện chứng duy tâm và học thuyết về nhà nước và pháp 
quyền của Hêghen, Mác đã rơi vào tình trạng khó xử, không giải đáp được các vấn đề của thực tiễn 
chính trị xã hội đặt ra. Lúc này, chính Mác đã cảm thấy rằng những lợi ích vật chất của con người 
trong đời sống xã hội đã đóng một vai trò quan trọng đặc biệt. Mác đã đi tới kết luận rằng, phải 
nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề kinh tế chính trị và phải xem xét lại một cách có phê phán 
những quan điểm triết học và pháp quyền của Hêghen. 
Ông đã biết một bài luận văn lớn dành cho việc phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Tháng 
10-1843, ông sang Pari, cố gắng nghiên cứu các vấn đề kinh tế – chính trị học và lịch sử các phong 
trào cách mạng. Tại đây, ông đã tham gia các cuộc hội họp của công nhân, đặt mối quan hệ với các 
nhà lãnh đạo của các tổ chức công nhân bí mật Pháp và Đức. Những năm 1843-1844 là thời kỳ ông 
chuyển hoàn toàn sang lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản. Các bài 
của Mác đã thể hiện rõ sự chuyển biến đó. Trong thời kỳ này Mác, Ăngghen nghiên cứu tình cảnh 
giai cấp công nhân, sống gần gũi với họ, giải thích vai trò lịch sử thế giới của giai cấp công nhân với 
tính cách là giai cấp cách mạng triệt để, tiêu biểu cho lực lượng sản xuất mới và phương thức sản 
xuất mới trong tương lai, vượt chủ nghĩa tư bản. Trong thời kỳ này, qua nghiên cứu và thực tiễn, các 
ông đã khắc phục được phép biện chứng duy tâm, và sự hạn chế của chủ nghĩa duy vật siêu hình, 
hình thành những cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng. 
Sự phát triển của khoa học và thực tiễn chính trị – xã hội. Đó là một qúa trình thống nhất hai mặt, 
cải biến theo chủ nghĩa duy vật cái nội dung hợp lý của phép biện chứng duy tâm của Hêghen và giải 
thích theo phép biện chứng cách giải quyết duy vật vấn đề cơ bản của triết học, khắc phục phép siêu 
hình. Đó là một quá trình đồng thời khắc phục phép biện chứng duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu 
hình, đặt nền móng cho chủ nghĩa duy vật biện chứng. 
Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng ý niệm. Hêghen chỉ mới phỏng đoán phép biện 
chứng của sự vật trong phép biện chứng của ý niệm. Đối lập với Hêghen, Mác và Ănghen cho rằng 
phép biện chứng của khái niệm chỉ là sự phản ánh phép biện chứng của thế giới khách quan trong ý 
thức của con người. Mác từng viết: tác phẩm đầu tiên mà ông dành để giải quyết những nghi ngờ đã 
có trong ông là sự phân tích có phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Mác còn viết: nghiên cứu 
của ông đã dẫn ông đến kết luận rằng, những quan hệ pháp quyền, cũng như các hình thức nhà nước, 
không thể hiểu từ bản thân chúng, từ cái gọi là sự phát triển chung của tình thần con người, mà 
ngược lại, chúng ta có nguồn gốc từ những quan hệ vật chất của đời sống. 
Lớp M12CQDT01-N Page 79
Mác đã giải thích trên cơ sở chủ nghĩa duy vật vấn đề nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo. 
Khác với những nhà triết học trước Mác, ông đã hiểu một cách hoàn toàn mới những nhiệm vụ của 
triết học do ông đề ra, ông đã coi triết học là thứ vũ khí để cải tạo thế giới, nó có nhiệm vụ phục vụ 
cho thực tiễn đấu tranh chính trị – xã hội. Cùng với việc phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, 
Mác đã phê phán trên quan điểm chính trị thực tiễn cái mà nhà nước đương thời, cái hiện thực “tồn 
tại là hợp lý” của Hêghen, Mác đã kiên quyết phủ định cả cái hình thức đang tồn tại của ý thức pháp 
quyền và nền chính trị Đức đang tồn tại lúc đó. Đồng thời, Mác nhấn mạnh đến ý nghĩa to lớn của tư 
tưởng tiên tiến trong cải tạo xã hội và nhà nước. Ông chỉ ra sự tất yếu phải phát triển những tư tưởng 
tiên tiến trong quần chúng nhân dân, để nó trở thành một động lực thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. 
Trong tác phẩm Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen là ở chỗ, lần đầu tiên, Mác đã phát 
biểu với tư cách là nhà các mạng, trực tiếp hướng tới giai cấp vô sản, với tính cách là lãnh tụ của 
quần chúng nhân dân, và coi triết học của ông là triết học của giai cấp vô sản, là vũ khí tư tưởng của 
cuộc đấu tranh giai cấp vô sản để cải biến cách mạng đối với xã hội. Mác viết: “Giống như triết học 
thấy giai cấp vô sản là vũ khi vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh 
thần của mình” 
Lần đầu tiên trong lịch sử, ông chỉ ra sức mạnh và hiệu lực của phép biện chứng duy vật, là 
phương pháp tạo ra khả năng phát hiện các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, cho phép 
giải quyết một cách triệt để những nhiệm vụ nhận thức không thể giải quyết được nếu đứng trên lập 
trường của phép biện chứng duy tâm, hay đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật siêu hình. 
15. Anh chi hãy trình bày anh h ng cua triết hoc Phoi bác ̣̉ượ̉ơ đối vơí sư ra đơì cuả triết 
hoc̣ Mác 
LUTVICH PHOIƠBĂC (1804 -1872), là một trong những nhà triết học duy vật lớn nhất thời kỳ 
trước C.Mác. Công lao vĩ đại của Phoiơbăc là ở chỗ trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghiã duy 
tâm và thần học, ông đã khôi phục lại địa vị xứng đáng của triết học duy vật; đã giáng một đòn rất 
nặng vào triết học duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy tâm nói chung. 
Phoiơbắc chứng minh rằng, thế giới vật chất, giới tự nhiên không do ai sáng tạo ra, nó tồn tại độc 
lập với ý thức con người và không phụ thuộc vào bất cứ thứ triết học nào. Do đó cơ sở tồn tại của 
giới tự nhiên nằm ngay trong giới tự nhiên. Chống lại hệ thống duy tâm của Hêghen - hệ thống coi 
giới tự nhiên là sự tồn tại khác của tinh thần. Phoiơbắc chỉ ra rằng triết học mới này phải có tính chất 
nhân bản, phải kết hợp với khoa học tự nhiên. 
Nguyên lý nhân bản của triết học Phoiơbắc là xoá bỏ sự tách rời giữa tinh thần và thể xác do triết 
học duy tâm và triết học nhị nguyên tao ra. Mặt tích cực trong triết học nhân bản của Phoiơbắc còn ở 
chỗ ông đấu tranh chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo thiên chúa, đặc biệt là quan niệm 
về Thượng đế. Trái với các quan niệm tôn giáo và thần học cho rằng Thượng đế tạo ra con người, ông 
khẳng định chính con người tạo ra Thượng đế. Khác với Hêghen nói về sự tha hoá của ý niệm tuyệt 
đối. Phoiơbắc nói về sự tha hoá của bản chất con người vào Thượng đế. Ông lập luận rằng bản chất tự 
nhiên của con người là muốn hướng tới cái chân, cái thiện nghĩa là hướng tới cái gì đẹp nhất trong một 
hình tượng đẹp nhất về con người, nhưng trong thực tế những cái đó co người không đạt được nên đã 
gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào hình tượng Thượng đế; từ đó ông phủ nhận mọi thứ tôn giáo và 
thần học về một vị Thượng đế siêu nhiên đứng ngoài sáng tạo ra con người, chi phối cuộc sống con 
người. 
Tuy nhiên, triết học nhân bản của Phoiơbắc cũng bộc lộ những hạn chế. Khi ông đòi hỏi triết học 
mới - triết học nhân bản - phải gắn liền với tự nhiên thì đồng thời đã đứng luôn trên lập trường của 
chủ nghĩa tự nhiên để xem xét mọi hiện tượng thuộc về con người và xã hội. Con người trong quan 
Lớp M12CQDT01-N Page 80
niệm của Phoiơbắc là con người trừu tượng, phi xã hội, mang những đặc tính sinh học bẩm sinh. 
Triết học nhân bản của ông chứa đựng những yếu tố của chủ nghĩa duy tâm. Ông nói răng, bản tính 
con người là tình yêu, tôn giáo cũng là một tình yêu. Do vậy, thay thế cho một tôn giáo sùng một vị 
Thượng đế siêu nhiên cần xây dựng một tôn giáo mới phù hợp với tình yêu của con người. Ông cho 
rằng càn phải biến tình yêu thương của con người thành quan hệ chi phối mọi quan hệ xã hội khác, 
thành lý tưởng xã hội. Trong điều kiện của xã hội tư sản Đức thời đó, với sự phân chia giai cấp thì 
chủ nghĩa nhân đạo về tình yêu thương con người trở thành chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng, duy tâm. 
Công lao to lớn của Phoiơbắccòn ở chỗ, ông không chỉ đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm mà 
còn đáu tranh chống lại những người duy vật tầm thường. Ông đã có quan niệm đúng đắn là, không 
thể quy các hiện tượng tâm lý về các quá trình lý – hoá; công nhận con người có khả năng nhận thức 
được thế giới. Ông đã kịch liệt phê phán những người theo chủ nghĩa hoài nghi và thuyết không thể 
biết. Trong sự phát triển lý luận nhận thức duy vât, Phoiơbắc đã biết dựa vào thực tiễn là tổng hợp 
những yêu cầu về tinh thần, về sinh lý mà chưa nhận thức được nội dung cơ bản của thực tiễn là hoạt 
động vật chất của con người, là lao động sản xuất vật chất, đấu tranh giai cấp và hoạt động thực tiễn 
của nó là cơ sở của nhận thức cảm tính và lý tính. 
Như vậy, Phoiơbắc đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử đấu tranh của chủ nghĩa duy vật 
chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo. Ông đã vạch ra mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy tâm và tôn 
giáo, chỉ ra sự cần thiết phải đấu trnah loại bỏ tôn giáo hữu thần, coi đó là sự tha hoá bản chất của 
con người. Ông đã có công khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII, XVIII. 
Tuy nhiên trong lúc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm của triết học Hêghen, Phoiơbắc lại vứt bỏ 
luôn phép biện chứng của Hêghen. Cũng như các nhà triết học giai đoạn trước Mác, Phoiơbăc rơi 
vào duy tâm khi giải quyết các vấn đề xã hội. 
Mặc dù triết học của Phoiơbắc có những hạn chế, nhưng cuộc đấu tranh của ông chống lại chủ nghĩa 
duy tâm và tôn giáo nói chung đã có ý nghĩa lịch sử to lớn. Vì vậy, triết học của Phoiơbắc trở thành một 
trong những nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác. 
Triết học cổ điển Đức không chỉ là thành tựu to lớn của tư tưởng nhân loại mà nó còn là tiền đề lý 
luận của triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung. Trong đó TH Phoiơbắc với tính duy vật 
khả tri và nhân bản chính là cội nguồn tư tưởng, là tiền đề lý luận của TH Mác góp phần hình thành 
nên phương pháp biện chứng duy vật - linh hồn của chủ nghĩa Mác. 
Sơ lược về triết học Phoiơbác 
Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về chính con người, có sứ mạng mang 
lại cho con người một cuộc sống hạnh phúc thật sự trên trần gian mà Phoiơbắc lấy con người làm đối 
tượng nghiên cứu của triết học. Triết học mới mà Phoiơbắc đã xây dựng là triết học duy vật nhân 
bản, mà nội dung của nó bao gồm những quan niệm chủ yếu sau: 
a) Quan nieäm veà giôùi töï nhieân vaø con ngöôøi 
 Dựa trên truyền thống duy vật, Phoiơbắc cho rằng: giới tự nhiên vật chất có trước ý thức, tồn 
tại vô cùng đa dạng, phong phú và tự nó; không gian, thời gian và vận động là thuộc tính cố hữu, là 
phương thức tồn tại của vật chất - giới tự nhiên. 
 Phoiơbắc cho rằng không thể tách con người ra khỏi giới tự nhiên, vì con người là sản phẩm 
tất yếu cao nhất của giới tự nhiên, còn giới tự nhiên là cơ sở không thể thiếu của đời sống con 
người. 
Lớp M12CQDT01-N Page 81
 Do mang bản tính cá nhân, mà mỗi con người là một cá thể sinh học đặc biệt có lý trí, có ý 
chí, có trái tim… của riêng mình để nhận thức, để khát vọng đam mê, để rung động cảm xúc... Đó là 
con người đang tồn tại bằng xương, bằng thịt, đang sống, đang làm việc, đang yêu, đang nhận thức 
như mỗi chúng ta, chứ không phải con người trong ý tưởng - con người trừu tượng. 
 Do mang bản tính cộng đồng, mà mỗi con người cá nhân bị ràng buộc với những người khác. 
Hạnh phúc của mỗi cá nhân không là hạnh phúc đơn độc của mỗi con người mà là hạnh phúc được 
kiếm tìm trong sự hòa hợp với mọi người, trong cộng đồng. 
b) Quan niệm về nhận thức: Khi đứng vững trên quan điểm duy vật về khả năng con người nhận 
thức được và nhận thức ngày càng đầy đủ thế giới, Phoiơbắc cho rằng, giới tự nhiên và con người 
chứ không phải lý tính lôgích trừu tượng hay Thượng đế là khách thể của nhận thức. Chủ thể nhận 
thức cũng không phải là lý tính lôgích trừu tượng mà là con người sống động, tồn tại trong thực tế, 
có cảm giác và lý trí. Cảm tính trực quan là nguồn gốc của tư duy lý luận, còn tư duy lý luận xử lý 
tài liệu cảm tính để khám phá ra chân lý. 
c) Quan niệm về tôn giáo 
 Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo là sự tha hóa bản chất của con người, còn Thượng đế chỉ là tập 
hợp những giá trị, mơ ước, khát vọng mà con người muốn có. Như vậy, tôn giáo là sản phẩm tất yếu 
của tâm lý và nhận thức của con người; không phải Thượng đế sinh ra con người mà chính con 
người đã sinh ra Thượng đế. 
 Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo và niềm tin vào Thượng đế đã chia cắt thế giới cùng con người 
thành thế giới trần tục và thế giới thiên đường, tôn giáo làm tha hóa con người để dễ dàng thống trị 
nó. Tôn giáo không chỉ kìm hảm mà còn tước đi ở con người tính năng động sáng tạo, sự tự do và 
năng lực độc lập phán xét. Ông đòi hỏi phải lựa chọn: hoặc là tôn giáo - tín ngưỡng - thượng đế, 
hoặc là khoa học nhân bản - tình yêu - con người. 
 Phoiơbắc phê phán mạnh mẽ tôn giáo, đặc biệt là Cơ đốc giáo. Vì vậy, ông ra sức xây dựng 
một thứ tôn giáo mới thay cho Cơ đốc giáo. Đó là tôn giáo của tình yêu vĩnh cữu phổ quát giữa con 
người (trước hết là tình yêu nam nữ) dựa trên tính nhân bản mà trong đó vai trò Thượng đế được 
giao cho chính con người đảm trách. Trong tôn giáo mới đó, tình yêu vừa là cơ sở, vừa là cứu cánh 
của con người để con người thật sự sống đúng như bản tính của mình, nhằm biến trần gian thành 
thiên đàng trên mặt đất. 
1. Triết học Phoiơbắc là tiền đề lý luận của TH Mác 
Xuất phát từ giới tự nhiên vật chất, Phoiơbắc tìm hiểu các vấn đề về con người và xây dựng nên 
chủ nghĩa duy vật nhân bản. Do chưa vượt qua được hạn chế của thời đại mình và chịu ảnh hưởng 
bởi phương pháp tư duy siêu hình mà Phoiơbắc không chỉ phê phán thế giới quan duy tâm mà còn 
phủ định hạt nhân hợp lý và phép biện chứng trong triết học Hêghen. Ph.Ăngghen viết: “Lời khẳng 
định của Phoiơbắc cho rằng “các thời đại của loài người chỉ khác nhau bởi những thay đổi về 
phương diện tôn giáo” là hoàn toàn sai. Chỉ có thể nói đến những bước ngoặt lịch sử lớn có kèm theo 
những sự thay đổi về tôn giáo”. Khi phê phán cách hiểu trừu tượng về con người của Phoiơbắc, 
Ph.Angghen viết: “Về hình thức, ông là một người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con người làm xuất 
phát điểm, song ông hoàn toàn không nói đến thế giới trong đó con người ấy sống, vì vậy, con người 
mà ông nói, luôn luôn là con người trừu tượng”. Về đạo đức con người, Phoiơbắc đồng nhất quan hệ 
đạo đức trong mọi giai đoạn lịch sử, mọi thời đại khác nhau. Ph.Ăngghen cho rằng: “những vết tích 
cuối cùng của tính chất cách mạng trong triết học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp 
khúc cũ kỹ: Hãy yêu nhau đi, hãy ôm nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp. Thật là giấc 
mơ thiên hạ thuận hòa… Học thuyết của Phoiơbắc về đạo đức thì cũng giống như tất cả những học 
thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và 
chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả”. C.Mác và Ph.Ăngghen đã 
Lớp M12CQDT01-N Page 82
đánh giá cao chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, nhưng đồng thời cũng phê phán tư duy siêu hình, duy 
tâm về lịch sử của ông. Chính C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đã nhận thức một cách chính 
xác những thành tựu và hạn chế của triết học Phoiơbắc, và dựa trên hệ thống triết học này để xây 
dựng thế giới quan duy vật biện chứng của mình. 
2. Thực chất cuộc cách mạng trong Triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện 
 Triết học Mác ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử triết học nhân 
loại. Nó thể hiện giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn to lớn của học thuyết Mác. 
 Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng 
 Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử 
 Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn 
 Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng 
 Xác định đúng mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể 
3. Kết luận 
Sự ra đời của triết học Mác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trình phát triển của tư tưởng 
triết học của nhân loại. Trong đĩ cần phải khẳng định rằng cội nguồn tư tưởng và tiền đề lý luận trực 
tiếp cho sự ra đời của triết học Mác là triết học cổ điển Đức, mà tiêu biểu là triết học Phoiơbắc với 
tính duy vật khả tri và nhân bản. 
16. Anh chi hãy trình bày anh h ng cua triết hoc Hêghen và ̣̉ượ̉Phoiơbác đối vơí sư ra đơì 
cuả triết hoc̣ Mác 
I. Vai trò của phép biện chứng trong sự ra đời của triết học Mác 
Triết học Hêghen ảnh hưởng đến sự ra đời của triết học Mác ở phép biện chứng của ông khi Mác 
đánh giá cao tư tưởng biện chứng của Hêghen “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải 
trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách 
bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng. Ở Hêghen, phép biện 
chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của 
nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”. 
Tư tưởng đó đã khẳng định rằng, biện chứng khách quan của thế giới tự nhiên đóng vai trò quyết 
định đối với biện chứng chủ quan trong tư duy con người. Những quy luật cơ bản của phép biện 
chứng như “quy luật về sự chuyển hóa từ số lượng thành chất lượng và ngược lại, quy luật về sự 
xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập, quy luật về sự phủ định của phủ định” là sự phản ánh những 
mối liên hệ cơ bản và phổ biến trong giới tự nhiên và lịch sử. “Vậy là từ trong lịch sử của giới tự 
nhiên và lịch sử của xã hội loài người mà người ta đã rút ra được các quy luật của phép biện 
chứng… Những quy luật biện chứng là những quy luật thật sự của sự phát triển của giới tự nhiên…”. 
Bằng thiên tài của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cải tạo triệt để phép biện chứng duy tâm thành 
phép biện chứng duy vật để nó đóng vai trò công cụ tinh thần nhận thức các lĩnh vực tự nhiên, xã hội 
và tư duy con người. 
II. Các ảnh hưởng của phép biện chứng Hêghen đối với triết học Mác và Ăngghen thể hiện 
rõ nhất về các học thuyết trong khoa học logic của Hêghen (logic học) 
1. C.Mác đã thừa kế học thuyết về tồn tại quy định lẫn nhau giữa lượng và chất của Hêghen 
những thay đổi liên tục về lượng sẽ dẫn đến những biến đổi gián đoạn về chất và ngược lại. Sự quy 
định này nói lên cách thức tồn tại của sự vật. Thông qua sự phát triển của khoa học và trong đời sống 
xã hội Ph.Ăngghen đã chứng minh quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về 
Lớp M12CQDT01-N Page 83
chất và ngược lại. Bản chất của quy luật chính là mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng trong 
thế giới khách quan. Lượng biến đổi để dẫn tới chuyển hóa về chất, đồng thời, chất tác động đến 
lượng để tạo nên sự chuyển hóa về lượng. Quá trình liên tục diễn ra, tạo thành cách thức của sự phát 
triển vừa tuần tự vừa nhảy vọt, hình thành quy luật phổ biến của thế giới khách quan 
Ph. Ăngghen viết: “Vô số trường hợp thay đổi về lượng làm cho chất của sự vật biến đổi, cũng 
như thay đổi về chất làm cho lượng của sự vật biến dổi… Chúng ta có thể kể ra một việc này chẳng 
hạn: sự hợp tác của nhiều cá nhân, sự dung hợp của nhiều sức thành hợp sức, sẽ tạo ra, nói theo lối 
của Mác, một sức mới nào đó, căn bản khác với tổng số những sức cá biệt hợp thành nó” [Sđd 
t.20,tr.181] 
2. Ngoài ra ở Mác còn kế thừa học thuyết về bản chất đó là quy luật mâu thuẫn nội tại. Ông vạch 
ra sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát 
triển của sự vật. 
Xuất phát từ phương thức sản xuất, tức là từ hai mặt của một quá trình sản xuất vật chất trong đời 
sống xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, C.Mác đã khẳng định sự phát triển của “hình 
thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”. Ông chỉ ra sự tác động của các quy luật 
khách quan đến quá trình sản xuất vật chất đã làm cho các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau. 
Nhận xét này của Mác về hình thái kinh tế-xã hội thể hiện học thuyết mâu thuẫn Hêghen về sự thống 
nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động phát triển của sự 
vật. 
3. Một học thuyết khác của Hêghen đã được C.Mác và Ăngghen tiếp thu đó là học thuyết về 
khái niệm Hêghen vạch ra con đường phát triển của khái niệm theo xu hướng phủ định của 
phủ định, nghĩa là khái niệm phát triển theo đường xoắn ốc. 
C.Mác đã áp dụng quy luật phủ định của phủ định vào phân tích quá trình phát triễn giữa lực 
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong bộ Tư bản.Mác viết “ Sự độc quyền của tư bản trở thành 
những xiềng xích ràng buộc cái phương thức sản xuất đã thịnh vượng lên cùng với độc quyền đó và 
dưới độc quyền đó. Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng 
không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa… Phương thức chiếm hữu tư bản 
chủ nghĩa do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đẻ ra, và do đó cả chế độ tư hữu tư bản chủ 
nghĩa nữa đều là sự phủ định đầu tiên đối với chế độ tư hữu cá nhân dựa trên lao động của bản thân. 
Nhưng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá 
trình tự nhiên. Đó là sự phủ định cái phủ định” 
Tính khách quan và phổ biến của quy luật phủ định của phủ định còn được Ph.Ăngghen làm sáng 
tỏ trong mọi lĩnh vực của thế giới khách quan và tư duy con người; quy luật này vạch ra khuynh 
hướng chung của sự phát triển, thể hiện tính kế thừa và tiến lên, hình thành một quá trình liên tục 
trong sự vận động của sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao. Phát triển cũng không phải là một quá 
trình giản đơn, theo đường thẳng, mà là một quá trình phức tạp, lặp lại cái cũ nhưng khơng phải 
trùng khớp mà ở một trình độ mới cao hơn, thể hiện tính xóay ốc của sự phát triển. Với bản chất như 
vậy, cái mới, theo quy luật, bao giờ cũng cao hơn và tiến bộ hơn so với cái cũ. Ph.Ăngghen cũng đòi 
hỏi cần phải có sự phân biệt giữa phủ định biện chứng và phủ định siêu hình: “Phủ định, trong phép 
biện chứng, khơng phải chỉ có ý nghĩa giản đơn là nói: không, hoặc giả là tuyên bố rằng một sự vật 
không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó”, mà nó là sự tự phủ định để hướng tới sự 
phát triển. 
III. Mác và Ănghen kế thừa, phát triển và cải tạo phép biện chứng của Hêghen trên quan 
điểm “duy vật triết học hoàn bị” chứ không mang tính duy tâm thần bí của Hêghen. 
Phép biện chứng là khoa học của phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy xem xét sự vật 
hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, trong tính hệ thống, trong quá trình vận động 
theo khuynh hướng tiến lên. Về bản chất, tư duy biện chứng đối lập với tư duy siêu hình; phép biện 
Lớp M12CQDT01-N Page 84
chứng trong triết học Mác khác với phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, tức là phép biện 
chứng trong triết học Mác không được rút ra từ tư duy chủ quan của con người và không có mối liên 
hệ nào với thực tại khách quan, mà ngược lại, là sự phản ánh của giới tự nhiên và lịch sử vào tư duy: 
“Không thể đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng 
trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự nhiên”, thông qua sự phát triển của khoa học tự nhiên, 
của lịch sử xã hội và kinh tế chính trị. 
Trong tác phẩm Tư bản C. Mác có nhận xét phương pháp biện chứng là hạt nhân cơ bản xuyên 
suốt cả tác phẩm nhưng nó lại khác với Hêghen. “Phương pháp biện chứng của tôi không những 
khác với phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa. Đối với 
Hêghen, quá trình tư duy - mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập dưới cái tên gọi ý 
niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực này chẳng qua chỉ là biểu hiện bên ngoài 
của tư duy mà thôi. Đối với tôi thì trái lại, ý niệm chẳng qua là vật chất được đem chuyển vào trong 
đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”. 
Ph.Ăngghen cho rằng không nên dừng lại ở những mâu thuẫn của hệ thống triết học này mà phải 
vạch ra được hạt nhân hợp lý của nó là phép biện chứng. Ông viết: “Nhưng tất cả những điều đó 
không ngăn trở hệ thống Hêghen bao trùm một lĩnh vực hết sức rộng hơn bất cứ hệ thống nào trước 
kia, và phát triển, trong lĩnh vực đó, một sự phong phú về tư tưởng mà ngày nay người ta vẫn còn 
ngạc nhiên. Hiện tượng học tinh thần…, lôgíc học, triết học tự nhiên, triết học tinh thần…, triết học 
lịch sử, triết học pháp quyền, triết học tôn giáo, lịch sử triết học, mỹ học, v.v. trong từng lĩnh vực 
lịch sử khác nhau ấy. Hêghen cố gắng phát hiện ra và chỉ rõ sợi chỉ đỏ của sự phát triển xuyên suốt 
lĩnh vực ấy. Vì Hêghen không những chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri 
thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại”. Phương pháp biện chứng của triết 
học Hêghen thể hiện quá trình liên hệ, tác động, chuyển hóa và phát triển không ngừng của thế giới, 
vì vậy, nó có ý nghĩa cách mạng, “ý nghĩa thực sự và tính chất cách mạng của triết học Hêghen… 
chính là ở chỗ nó đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậu của những hệ quả của tư tưởng và của hành động 
con người”. “Đối với triết học biện chứng đó thì không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng 
cả. Nó chỉ ra - trên mọi sự vật và trong mọi sự vật - dấu ấn của sự suy tàn tất yếu, và đối với nó, 
không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và sự tiêu vong, của sự tiến triển 
vô cùng tận từ thấp lên cao”. Do tính chất mâu thuẫn giữa hệ thống và phương pháp của triết học 
Hêghen mà hình thành các trường phái triết học khác nhau: “toàn bộ học thuyết của Hêghen đã để 
một khoảng rất rộng cho các quan điểm đảng phái thực tiễn hết sức khác nhau. Và trong giới lý luận 
Đức hồi ấy, trước hết có hai việc có ý nghĩa thực tiễn: tôn giáo và chính trị. Người nào chủ yếu coi 
trọng hệ thống của Hêghen, thì người đó có thể là khá bảo thủ trong hai lĩnh vực đó; còn người nào 
cho phương pháp biện chứng là chủ yếu thì người đó, về chính trị cũng như về tôn giáo, có thể thuộc 
vào phái đối lập cực đoan nhất”. 
Ảnh hưởng của triết học Phoiơbắc 
Triết học cổ điển Đức không chỉ là thành tựu to lớn của tư tưởng nhân loại mà nó còn là tiền đề lý 
luận của triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung. Trong đó TH Phoiơbắc với tính duy vật 
khả tri và nhân bản chính là cội nguồn tư tưởng, là tiền đề lý luận của TH Mác góp phần hình thành 
nên phương pháp biện chứng duy vật - linh hồn của chủ nghĩa Mác. 
4. Sơ lược về triết học Phoiơbác 
Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về chính con người, có sứ mạng mang 
lại cho con người một cuộc sống hạnh phúc thật sự trên trần gian mà Phoiơbắc lấy con người làm đối 
tượng nghiên cứu của triết học. Triết học mới mà Phoiơbắc đã xây dựng là triết học duy vật nhân 
bản, mà nội dung của nó bao gồm những quan niệm chủ yếu sau: 
a) Quan niệm về giới tự nhiên và con người 
Lớp M12CQDT01-N Page 85
 Dựa trên truyền thống duy vật, Phoiơbắc cho rằng: giới tự nhiên vật chất có trước ý thức, tồn 
tại vô cùng đa dạng, phong phú và tự nó; không gian, thời gian và vận động là thuộc tính cố hữu, là 
phương thức tồn tại của vật chất - giới tự nhiên. 
 Phoiơbắc cho rằng không thể tách con người ra khỏi giới tự nhiên, vì con người là sản phẩm 
tất yếu cao nhất của giới tự nhiên, còn giới tự nhiên là cơ sở không thể thiếu của đời sống con 
người. 
 Do mang bản tính cá nhân, mà mỗi con người là một cá thể sinh học đặc biệt có lý trí, có ý 
chí, có trái tim… của riêng mình để nhận thức, để khát vọng đam mê, để rung động cảm xúc... Đó là 
con người đang tồn tại bằng xương, bằng thịt, đang sống, đang làm việc, đang yêu, đang nhận thức 
như mỗi chúng ta, chứ không phải con người trong ý tưởng - con người trừu tượng. 
 Do mang bản tính cộng đồng, mà mỗi con người cá nhân bị ràng buộc với những người khác. 
Hạnh phúc của mỗi cá nhân không là hạnh phúc đơn độc của mỗi con người mà là hạnh phúc được 
kiếm tìm trong sự hòa hợp với mọi người, trong cộng đồng. 
b) Quan niệm về nhận thức: Khi đứng vững trên quan điểm duy vật về khả năng con người nhận 
thức được và nhận thức ngày càng đầy đủ thế giới, Phoiơbắc cho rằng, giới tự nhiên và con người 
chứ không phải lý tính lôgích trừu tượng hay Thượng đế là khách thể của nhận thức. Chủ thể nhận 
thức cũng không phải là lý tính lôgích trừu tượng mà là con người sống động, tồn tại trong thực tế, 
có cảm giác và lý trí. Cảm tính trực quan là nguồn gốc của tư duy lý luận, còn tư duy lý luận xử lý 
tài liệu cảm tính để khám phá ra chân lý. 
c) Quan niệm về tôn giáo 
 Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo là sự tha hóa bản chất của con người, còn Thượng đế chỉ là tập 
hợp những giá trị, mơ ước, khát vọng mà con người muốn có. Như vậy, tôn giáo là sản phẩm tất yếu 
của tâm lý và nhận thức của con người; không phải Thượng đế sinh ra con người mà chính con 
người đã sinh ra Thượng đế. 
 Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo và niềm tin vào Thượng đế đã chia cắt thế giới cùng con người 
thành thế giới trần tục và thế giới thiên đường, tôn giáo làm tha hóa con người để dễ dàng thống trị 
nó. Tôn giáo không chỉ kìm hảm mà còn tước đi ở con người tính năng động sáng tạo, sự tự do và 
năng lực độc lập phán xét. Ông đòi hỏi phải lựa chọn: hoặc là tôn giáo - tín ngưỡng - thượng đế, 
hoặc là khoa học nhân bản - tình yêu - con người. 
 Phoiơbắc phê phán mạnh mẽ tôn giáo, đặc biệt là Cơ đốc giáo. Vì vậy, ông ra sức xây dựng 
một thứ tôn giáo mới thay cho Cơ đốc giáo. Đó là tôn giáo của tình yêu vĩnh cữu phổ quát giữa con 
người (trước hết là tình yêu nam nữ) dựa trên tính nhân bản mà trong đó vai trò Thượng đế được 
giao cho chính con người đảm trách. Trong tôn giáo mới đó, tình yêu vừa là cơ sở, vừa là cứu cánh 
của con người để con người thật sự sống đúng như bản tính của mình, nhằm biến trần gian thành 
thiên đàng trên mặt đất. 
5. Triết học Phoiơbắc là tiền đề lý luận của TH Mác 
Xuất phát từ giới tự nhiên vật chất, Phoiơbắc tìm hiểu các vấn đề về con người và xây dựng nên 
chủ nghĩa duy vật nhân bản. Do chưa vượt qua được hạn chế của thời đại mình và chịu ảnh hưởng 
bởi phương pháp tư duy siêu hình mà Phoiơbắc không chỉ phê phán thế giới quan duy tâm mà còn 
phủ định hạt nhân hợp lý và phép biện chứng trong triết học Hêghen. Ph.Ăngghen viết: “Lời khẳng 
định của Phoiơbắc cho rằng “các thời đại của loài người chỉ khác nhau bởi những thay đổi về 
phương diện tôn giáo” là hoàn toàn sai. Chỉ có thể nói đến những bước ngoặt lịch sử lớn có kèm theo 
những sự thay đổi về tôn giáo”. Khi phê phán cách hiểu trừu tượng về con người của Phoiơbắc, 
Ph.Angghen viết: “Về hình thức, ông là một người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con người làm xuất 
phát điểm, song ông hoàn toàn không nói đến thế giới trong đó con người ấy sống, vì vậy, con người 
Lớp M12CQDT01-N Page 86
mà ông nói, luôn luôn là con người trừu tượng”. Về đạo đức con người, Phoiơbắc đồng nhất quan hệ 
đạo đức trong mọi giai đoạn lịch sử, mọi thời đại khác nhau. Ph.Ăngghen cho rằng: “những vết tích 
cuối cùng của tính chất cách mạng trong triết học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp 
khúc cũ kỹ: Hãy yêu nhau đi, hãy ôm nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp. Thật là giấc 
mơ thiên hạ thuận hòa… Học thuyết của Phoiơbắc về đạo đức thì cũng giống như tất cả những học 
thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và 
chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả”. C.Mác và Ph.Ăngghen đã 
đánh giá cao chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, nhưng đồng thời cũng phê phán tư duy siêu hình, duy 
tâm về lịch sử của ông. Chính C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đã nhận thức một cách chính 
xác những thành tựu và hạn chế của triết học Phoiơbắc, và dựa trên hệ thống triết học này để xây 
dựng thế giới quan duy vật biện chứng của mình. 
6. Thực chất cuộc cách mạng trong Triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện 
 Triết học Mác ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử triết học nhân 
loại. Nó thể hiện giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn to lớn của học thuyết Mác. 
 Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng 
 Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử 
 Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn 
 Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng 
 Xác định đúng mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể 
7. Kết luận 
Sự ra đời của triết học Mác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trình phát triển của tư tưởng 
triết học của nhân loại. Trong đĩ cần phải khẳng định rằng cội nguồn tư tưởng và tiền đề lý luận trực 
tiếp cho sự ra đời của triết học Mác là triết học cổ điển Đức, mà tiêu biểu là triết học Phoiơbắc với 
tính duy vật khả tri và nhân bản. 
17. Anh chi hãy trình bày anh h ng cua nh̃ng thành t u ̣̉ưởư ư cuả khoa hoc̣ tư nhiên thế ky ̉ 
thứ XIX đối vơí sư ra đơì cuả triết hoc̣ Mác 
Vào thế kỷ XIX, con người đã đạt được những thành tựu nổi bật về khoa học tự nhiên. 
· Những năm 40 của thế kỷ XIX, R.Maye và P.PGuilơ đã phát hiện ra định luật bảo toàn 
và chuyển hóa năng lượng, cho phép khẳng định: năng lượng không tự nhiên sinh ra 
và cũng không bao giờ mất đi mà nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, năng 
lượng luôn gắn liền với sự vận động của vật chất, thế giới vật chất vận động và phát 
triển thông qua quá trình chuyển hóa từ thấp đến cao của các dạng năng lượng 
· Từ những năm 30 của thế kỷ XIX, Svan và slayđen xây dựng học thuyết tế bào cho 
phép khẳng định: tế bào là cở sở vật chất thống nhất của mọi sinh thể ( thực vật và 
động vật), tức thống nhất toàn bộ quá trình lịch sử của sự sộng từ thấp đến cao, từ đơn 
giản đến phức tạp, bản chất của sự sống là một quá trình phát triển biểu hiện tính thống 
nhất, tính liên hệ của thế giới tự nhiên. 
· Năm 1859, Đácuyn đã xây dựng học thuyết tiến hóa cho phép khẳng định: quá trình 
vận động, biến đổi từ thấp đến cao của động vật và thực vật thông qua quá trình chọn 
lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, tức khẳng định nguồn gốc, nguyên nhân vật chất của 
mọi sự phát triển trong thế giới sinh thể và phủ nhận vai trò sáng thế của CNDT, tôn 
giáo. 
Lớp M12CQDT01-N Page 87
· Những thành tựu này đã làm lung lay tận gốc các quan niệm duy tâm, siêu hình về 
nhận thức thế giới tự nhiên, đồng thời khẳng định các tư tưởng nền tảng (nguyên lí) 
của phép biện chứng duy vật ( hay chủ nghĩa duy vật biên chứng) về mọi sự tồn tại 
( thống nhất vật chất, liên hệ phổ biền, vận động và phát triển) trong thế giới. KHTN 
mang tính chất lý luận trong giai đoạn này là tiền đề cho sự ra đời của triết học Mác và 
những khái quát của triết học Mác đã đặt cơ sở về thê giơi quan và phương pháp luận 
cho các lĩnh vực khoa học cụ thể trong việc nhân thức thế giới khách quan. 
Như vậy, triết học Mác ra đời là sản phẩm của lịch sử, nó mang tính quy luật của sự phát triển của 
khoa học và triết học nói riêng, của toàn bộ lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung. Chính C.Mác và 
Ph. Anwgghen là những thiên tài khái quát được toàn bộ tiến trình lịch sử và văn hóa tinh thần mà 
loài người đã đạt được để xây dựng học thuyết triết học duy vật biện chứng, đáp ứng được nhu cầu 
nhận thức và cải tạo thực tiễn xã hội mà thời đại lịch sử mới đặt ra. V.I.Leenin viết: “ chủ nghĩa Mác 
không nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới. Trái lại, toàn bộ thiên tài 
của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra. 
Học thuyết của ông ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất 
sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội” 
Vào thế kỷ XIX, con người đã đạt được những thành tựu nổi bật về khoa học tự nhiên. 
• Những năm 40 của thế kỷ XIX, R.Maye và P.PGuilơ đã phát hiện ra định luật bảo toàn và 
chuyển hóa năng lượng, cho phép khẳng định: năng lượng không tự nhiên sinh ra và cũng không bao 
giờ mất đi mà nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, năng lượng luôn gắn liền với sự vận 
động của vật chất, thế giới vật chất vận động và phát triển thông qua quá trình chuyển hóa từ thấp 
đến cao của các dạng năng lượng 
• Từ những năm 30 của thế kỷ XIX, Svan và slayđen xây dựng học thuyết tế bào cho phép 
khẳng định: tế bào là cở sở vật chất thống nhất của mọi sinh thể ( thực vật và động vật), tức thống 
nhất toàn bộ quá trình lịch sử của sự sộng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, bản chất của sự 
sống là một quá trình phát triển biểu hiện tính thống nhất, tính liên hệ của thế giới tự nhiên. 
• Năm 1859, Đácuyn đã xây dựng học thuyết tiến hóa cho phép khẳng định: quá trình vận 
động, biến đổi từ thấp đến cao của động vật và thực vật thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên và 
chọn lọc nhân tạo, tức khẳng định nguồn gốc, nguyên nhân vật chất của mọi sự phát triển trong thế 
giới sinh thể và phủ nhận vai trò sáng thế của CNDT, tôn giáo. 
• Những thành tựu này đã làm lung lay tận gốc các quan niệm duy tâm, siêu hình về nhận thức 
thế giới tự nhiên, đồng thời khẳng định các tư tưởng nền tảng (nguyên lí) của phép biện chứng duy 
vật ( hay chủ nghĩa duy vật biên chứng) về mọi sự tồn tại ( thống nhất vật chất, liên hệ phổ biền, vận 
động và phát triển) trong thế giới. KHTN mang tính chất lý luận trong giai đoạn này là tiền đề cho 
sự ra đời của triết học Mác và những khái quát của triết học Mác đã đặt cơ sở về thê giơi quan và 
phương pháp luận cho các lĩnh vực khoa học cụ thể trong việc nhân thức thế giới khách quan. 
Như vậy, triết học Mác ra đời là sản phẩm của lịch sử, nó mang tính quy luật của sự phát triển của 
khoa học và triết học nói riêng, của toàn bộ lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung. Chính C.Mác và 
Ph. Anwgghen là những thiên tài khái quát được toàn bộ tiến trình lịch sử và văn hóa tinh thần mà 
loài người đã đạt được để xây dựng học thuyết triết học duy vật biện chứng, đáp ứng được nhu cầu 
nhận thức và cải tạo thực tiễn xã hội mà thời đại lịch sử mới đặt ra. V.I.Leenin viết: “ chủ nghĩa Mác 
không nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới. Trái lại, toàn bộ thiên tài 
của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra. 
Lớp M12CQDT01-N Page 88
Học thuyết của ông ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc 
nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội” 
18. Anh chi hãy trình bày nh̃ng đăc tr ng c ban cua tri th́c ̣ựư ở̉ư triết hoc̣. Mối quan hê ̣cuả 
triết hoc̣ vơí các môn khoa hoc̣ khác 
Hiện nay, vấn đề tri thức đang được quan tâm nghiên cứu sâu sắc cả về phương diện triết học lẫn 
nhận thức khoa học nói chung. Điều đó không chỉ do yêu cầu của kinh tế tri thức, mà còn do sự phát 
triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Trong nghiên cứu tri 
thức, một khía cạnh nổi lên, đó là xác định bản chất tri thức hay định nghĩa khái niệm tri thức. 
Tri thức là một thành phần của nhận thức, của toàn bộ đời sống tinh thần, ý thức con người nói 
chung. Tri thức liên quan đến mọi tồn tại, hoạt động của con người, xã hội và có những cơ sở tự 
nhiên nhất định của nó. Mỗi đặc trưng của tri thức sẽ được vạch ra dựa trên một hoặc những quan 
điểm xem xét nhất định, trong đó có quan điểm cơ bản, làm nền tảng của toàn bộ sự xem xét. Việc 
chỉ ra những đặc trưng của tri thức dưới đây sẽ mang nội dung và ý nghĩa như vậy. Phải thấy ngay 
rằng việc nhận thức bản chất của tri thức sẽ trở nên hỗn độn, khó xác định, nếu trước hết không thừa 
nhận tri thức là một dạng thái nhất định của tinh thần, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách 
quan”. Một trong những luận điểm tiêu biểu của triết học Mác về ý thức: “ý niệm chẳng qua chỉ là 
vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”(2). Luận điểm 
đó thể hiện rõ quan điểm duy vật khoa học về ý thức, cho thấy rõ ý thức là sự phản ánh hiện thực vật 
chất khách quan vào bộ óc người. Do đó, tri thức với tư cách thành phần của nhận thức và của ý 
thức, tất nhiên cũng được xem là cái phản ánh, cái tồn tại trong bộ óc người - chủ thể tri thức, phân 
biệt, đối lập với cái được phản ánh là hiện thực vật chất khách quan. Như vậy, tri thức là cái tinh 
thần, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Với tư cách là cái tinh thần, tri thức phản ánh 
các đối tượng vật chất không phải bằng cách tái hiện đối tượng đó bằng những đặc tính vật chất như 
những phản ánh vô cơ, vật lý, mà bằng những đặc tính tự nhiên - xã hội tổng hợp, đặc trưng cho hoạt 
động và chức năng phản ánh của bộ não người. 
Tri thức là hình thức cao nhất của sự tiến hoá các hình thức phản ánh. Cùng với việc hiểu tri thức 
theo quan điểm phản ánh luận duy vật mácxít, thì việc hiểu nó với tư cách một hình thức của sự tiến 
hoá của các hình thức phản ánh, lại là một góc nhìn khác, góc nhìn tiến hoá luận về tri thức. 
Tri thức là kết quả của nhận thức. Việc xem xét tri thức theo quan điểm phản ánh luận không tách 
rời tiếp cận tri thức theo quan điểm hoạt động. Nhận thức của con người dù dưới bất kỳ hình thức 
nào với mức độ nào, cũng đều là quá trình hoạt động. Theo cơ cấu chung, thì hoạt động nào cũng có 
yếu tố cuối cùng mang ý nghĩa “khép lại” một chu trình, đó là sản phẩm hay kết quả của nó. Không 
thể đồng nhất kết quả với quá trình tạo ra nó trong bất kỳ hoạt động nào của con người. Thí dụ, việc 
người ta đặt ra câu hỏi: “Trái đất có hình gì?”, việc người ta đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó và việc 
người ta đưa ra được câu trả lời rằng “Trái đất hình cầu”, rõ ràng là hai thành tố khác nhau của hoạt 
động nhận thức. Cái sau là kết quả và cái trước là quá trình đạt đến cái sau. Tất nhiên, trong quá 
trình đi đến kết luận “Trái đất hình cầu”, người ta phải vận dụng nhiều tri thức khác như những hiểu 
biết (tri thức) về “trái”, “đất”, “trái đất”, về “hình”, “cầu” và “hình cầu” v.v.. Những tri thức này cấu 
thành quá trình nhận thức, sáng tạo ra những tri thức mới, giúp người ta hiểu ra điều là “Trái đất 
hình cầu”. Nhưng những tri thức ấy khi tách riêng ra, chúng vẫn là kết quả của những quá trình nhận 
thức đã diễn ra trước đó, còn trong quá trình nhận thức để đạt đến tri thức mới (nhận ra “Trái đất 
hình cầu”), chúng là những yếu tố cấu thành quá trình ấy, là phương tiện, chứ không phải mục đích. 
Tri thức với tư cách là thông tin. Quan niệm tri thức, sự phản ánh ở giới tự nhiên hữu sinh nói 
chung, là thông tin. Như mọi vật mang thông tin, bộ não con người mang, lưu giữ tri thức không 
phải để cố định chúng trong trạng thái đã xong xuôi, kết thúc, hoặc thậm chí trong trạng thái chết, 
mà là để chuẩn bị, đem lại, cung cấp cho những yêu cầu, hoạt động mới của con người. Chỉ với ý 
Lớp M12CQDT01-N Page 89
nghĩa ấy, tri thức mới tồn tại với nghĩa là thông tin và cũng chỉ nhờ vậy, bộ óc con người mới trở 
thành vật mang thông tin là tri thức. Tuy nhiên, với tư cách là thông tin, tri thức khác với những hình 
thức thông tin tinh thần, vật chất khác. Tri thức không đem lại những thông tin về các cảm xúc, ý 
chí, niềm tin và khát vọng của con người. Mặt khác, những xúc cảm của con người cũng là những 
thông tin, nhưng chúng không trực tiếp đem lại tri thức. Tuy vậy, thông tin tri thức và thông tin tình 
cảm không tách rời nhau. Thí dụ, nhìn thấy một người gặp cảnh ngộ bi đát, đau thương, chúng ta 
cũng cảm thấy đau đớn. Nhưng tri thức không đem lại chính sự đau đớn ấy, mà chỉ cho chúng ta biết 
những “dấu hiệu” của sự đau thương, như sự buồn bã trên nét mặt, sự quằn quại, kêu rên… của 
người có cảnh ngộ ấy. Còn sự đau đớn của chúng ta không bắt nguồn chủ yếu từ sự nhận ra những 
dấu hiệu ấy, mà là từ chính cái tình cảnh của đối tượng mà những dấu hiệu nói trên đã đụng chạm 
đến và làm rung động cái lương năng bên trong của chúng ta. Thông tin - tri thức là thông tin sống, 
có khả năng sinh sôi không ngừng. Một mặt, nó không ngừng được nạp thêm, làm đầy thêm về khối 
lượng, loại hình, dung lượng từ môi trường; mặt khác, không ngừng truyền vào môi trường. Trong 
cả hai quá trình ấy, thông tin tri thức vẫn có thể vừa là sự nạp thêm, vừa là sự mất đi, vừa cung cấp 
và vừa sửa chữa, điều chỉnh. Đây là quá trình đặc biệt của thông tin tri thức. 
Tri thức là sự biểu hiện, khẳng định bản chất con người. Đây là sự tiếp cận con người, tiếp cận 
văn hóa về tri thức. Vì thế, câu hỏi trước tiên phải được đặt ra và giải đáp là: “Con người là gì?”. Sự 
giải đáp là toàn bộ những luận giải về tri thức phù hợp với nhận thức khoa học. 
Mối quan hệ của triết học với các môn khoa học khác: 
Triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về 
thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. 
Với quan niệm đó, triết học cổ đại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà được xem 
là"khoa học của mọi khoa học". 
Quan niệm macxit cho rằng:"Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là học thuyết 
về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con người đối với thế giới; là 
khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy". 
Sự hình thành, phát triển của triết học không thể tách rời sự phát triển của khoa học cụ thể, qua 
khái quát các thành tựu của khoa học cụ thể. Tuy nhiên, triết học cụ thể, nó là thế giới quan và 
phương pháp luận cho khoa học cụ thể, nó là thế giới quan và phương pháp luận cho khoa học cu 
thể, là cơ sở lý luận cho các khoa học cụ thể trong việc đánh giá các thành tựu đã đạt được, cũng như 
vạch ra phương hướng, phương pháp cho quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể. Khác với các khoa 
học cụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới, triết học xem xét thế giới như 
một chỉnh thể và đem lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Triết học là sự diễn tả thế giới 
quan bằng lý luận. Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ thống triết học, nhưng điểm chung của 
chúng là đều nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ 
của con người nói chung, của tư duy nói riêng với thế giới. 
Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển của khoa học, 
ngược lại chủ nghĩa duy tâm thường được sử dụng làm công cụ biện hộ cho tôn giáo và cản trở khoa 
học phát triển. Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn gắn liền với các thành tựu của khoa 
học hiện đại, là sự khái quát các thành tựu khoa học đồng thời nó đóng vai trò to lớn đối với sự định 
hình phát triển của khoa học hiện đại. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng không thể thay thế 
các khoa học khác. Theo yêu cầu của sự phát triển đòi hỏi phải có sự liên minh chặt chẽ giữa triết 
học với các khoa học khác. 
Như vậy, có thể kết luận: 
- Kết luận của các khoa học là những tư liệu để từ đó triết học rút ra những kết luận chung nhất. 
Lớp M12CQDT01-N Page 90
- Những kết luận chung nhất của triết học quay lại phục vụ cho các khoa học cụ thể với tư cách 
định hướng để các khoa học cụ thể có thể đạt được kết quả tối ưu 
19. Anh chi hãy trình bày nh̃ng đăc điêm chu yếu cua ̣ự̉̉̉ lic̣h sư tư tương triết hoc̣ Viêṭ 
Nam 
Việt Nam là một nước nằm ở đông nam châu á, có vị trí thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, 
chính trị, văn hóa với các nước có sự phát triển sớm là Ấn Độ và Trung Quốc, từ thời cận đại trở đi 
Việt Nam có sự tiếp xúc và giao lưu với nền tư tưởng và văn hóa thế giới. 
Với lịch sử hơn 2 ngàn năm văn hiến, dân tộc ta đã phải trải qua hơn 1 ngàn năm đấu tranh dựng 
nước và giữ nước do vậy lịch sử chính trị của việt nam trước hết là lịch sử chống giặc ngoại xâm để 
xây dựng, phát triển và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Hơn 1 ngàn năm bắc thuộc dân tộc việt nam cũng 
chịu nhiều ảnh hưởng cuả tư tưởng triết học Trung Quốc đặc biệt là tư tưởng Nho Giáo và Phật 
giáo… 
Việt Nam có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tồn tại hàng ngàn năm lại được bảo tồn bằng một 
cơ cấu xã hội khép kín của các làng xã đã trở thành cơ sở hiện thực của một “văn hóa làng mạc”. Tri 
thức cơ bản của các cư dân nông nghiệp Việt Nam đó là tri thức kinh nghiệm được hình thành một 
cách tự phát trong sinh hoạt đời sống hàng ngày. Những tri thức như vậy không đủ để hệ thống hóa 
thành lý luận khoa học tự nhiên, thành các hệ thống triết học thực sự nhưng chúng góp phần làm nảy 
sinh lịch sử tư tưởng Việt Nam trong đó có tư tưởng triết học. 
Từ những điều kiện hình thành đó làm cho lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam có những đặc 
điểm chủ yếu sau: 
Quá trình hình thành và phát triển các tư tửng triết học Việt Nam là quá trình phát triển thống 
nhất trong mình 2 xu hướng là hướng tự thân từ hiện thực cuộc sống của dân tộc Việt Nam và xu 
hướng tiếp biến các tư tưởng triết học được du nhập từ bên ngoài như Nho giáo từ Trung Quốc và 
Phật giáo có gốc từ Ấn Độ trước đó, còn hiện nay là chủ nghĩa Mác - Lenin. Rất nhiều quan điểm 
triết học của các học thuyết nói trên đã được biến đổi cho phù hợp với phong cách tư duy triết học 
truyền thống của người Việt Nam, trở thành nhân tố chủ đạo tạo nên quan điểm triết học của người 
Việt Nam. 
Về nội dung, tư tưởng triết học Việt Nam không chỉ phản ánh nhu cầu cố kết cộng đồng dân cư 
làng xã và cộng đồng quốc gia dân tộc để tạo nên nội lực. Mà còn phản ánh nhu cầu học tập người 
nước ngoài để chống lại sự xâm lược nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc để tìm kiếm thêm ngoại lực 
từ bê ngoài. Do vậy mà ý thức về cộng đồng, về độc lập chủ quyền đã được nảy sinh rất sớm, được 
nâng thành tư tưởng yêu nước và thường xuyên được nuôi dưỡng, phát triển trong suốt chiều dài lịch 
sử dân tộc để ngày nay trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. 
Về hình thức thể hiện, các tư tưởng triết học Việt Nam được thể hiện qua rất nhiều hình thức 
phong phú chứ không giới hạn trong các trước tác của các nhà tư tưởng. Từ các triết lý thể hiện 
thông qua các truyền thuyết, ca dao, tục ngữ mang nặng tính dân gian cho đến những tư tưởng được 
gọt dũa khá kỹ trong các tác phẩm, thậm chí ngay cả hoạt động của các phong trào dân tộc cũng là 
một hình thức và là một phương thức thể hiện tư tưởng ở chiều sâu của tư duy triết học. 
========= 
Triết học có ý nghĩa gì đối với cuộc sống và học tập, công tác của bạn ? 
Tại sao đến nay thế kỷ XXI vẫn còn đấu tranh giữa CNDV & CNDT ? 
Lớp M12CQDT01-N Page 91
============ 
SỨ MỆNH TRIẾT LÝ ĐÔNG PHƯƠNG 
KIM ĐỊNH 
Bài viết dưới đây là toàn văn chương 1 tác phẩm Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây 
của Kim Định. Sách được xuất bản lần đầu bởi Nxb. Ra Khơi, 1969. 
1. Có triết lý Đông phương chăng? 
Trước khi bàn đến sứ mệnh triết Đông, tưởng nên thanh toán vấn đề có triết Đông hay không? Vì 
nếu chưa chắc rằng có triết Đông thì bàn sao được đến sứ mệnh của nó. 
Nhắc tới vấn đề này, chúng tôi không khỏi thấy ái ngại, vì đang lúc ở đại học các cường quốc Âu 
Mỹ hầu hết đã có giảng đàn triết Đông, nhiều nơi như Oxford, Honolulu, Harvard lập riêng ra một 
viện chuyên biệt về triết Đông. Hơn thế nữa từ năm 1939 tới nay có cả thảy ba lần hội nghị quốc tế 
để tìm một đường lối tổng hợp triết lý đông tây, thì trên giải đất “Minh châu trời đông” của chúng ta 
còn phải đặt vấn đề có triết đông hay chăng? Như thế tránh sao khỏi hổ ngươi. Hơn thế nữa câu trả 
lời “La philosophie Orientale! Ca n’existe pas…” (nguyên văn) của một ông tai to mặt lớn nọ trong 
hội đồng giáo dục quốc gia năm trước vẫn còn ngân vang trong chương trình cả trung lẫn đại học, 
nơi đó triết Đông vẫn bị coi như một bà con nghèo: nghĩa là chỉ được dành một vài giờ sử rất bấp 
bênh và lạc lõng. Tình trạng tủi nhục đó hy vọng sẽ được chấm dứt ít lâu. 
Nhắc tới việc triết Tây làm chủ nhân ông trong chương trình giáo dục nước nhà, chúng tôi không 
hề có ý than trách một ai, chỉ nhận xét một sự trạng tất nhiên gây ra do sự mất nước. Một khi chủ 
quyền chính trị, kinh tế đã lọt vào tay ngoại bang thì làm sao bảo đảm được quyền tự do tư tưởng. 
Phương chi sự trạng đó lại nằm trong một trào lưu lớn lao hơn, tức sự khuynh loát của ảnh hưởng 
Tây Âu trên các nền văn minh cổ truyền. Vì thế trước đây người ta cho rằng chỉ Tây Âu mới có triết 
học cũng như chỉ Tây Âu mới có khoa học, không ai nghĩ tới việc phủ nhận điều ấy, và đó chỉ là một 
ý kiến thông thường phổ cập khắp Tây cũng như Đông trong thế kỷ 19, nên sự kiện bên ta nhiều 
người còn quan niệm theo như thế cũng là một chuyện thông thường. Nhưng mãi cho tới nay còn có 
người bênh vực cho ý nghĩ đó thì quả nước ta còn ở trạng thái kém mở mang cả về tinh thần. Xem 
sang nước người ngay từ thế kỷ 19, Schopenhauer đã cực lực tuyên dương triết lý Ấn Độ. Về ảnh 
hưởng chung trong làng triết, ông đã như ngôi sao sáng soi trên trời triết Tây suốt bốn mươi năm, 
nên lời ông rất có hiệu lực. 
Tuy nhiên về phương diện tranh đấu cho triết Đông chiếm được quyền công dân trong làng triết, 
giáo sư Zimmer có thuật lại sự kiện lúc ông còn làm sinh viên, thì trừ giáo sư Deussen, môn đệ của 
Schopenhauer, ngoài ra rất ít người nghĩ rằng Đông phương có triết lý. Và tiếng triết lý Ấn Độ được 
coi như một danh từ mâu thuẫn chẳng khác chi như nói thép bằng gỗ, hay thỏ có sừng… Tất cả các 
giáo sư và giới triết học thế kỷ 19 đều đồng thanh cho rằng tiếng triết học nảy nở bên Hy Lạp và chỉ 
ở Hy Lạp mới có triết lý, và ngày nay nó là di sản riêng của Âu Châu, không nơi nào khác có cả. 
Mặc dù những sử gia mà những người đứng đầu là Wilthem Dilhey, René Grousset v.v… đã tuyên 
dương sự cần thiết phải sát nhập tư tưởng Ấn Độ và Trung Hoa vào lịch sử tư tưởng nhân loại 
(Philosophie de l’Inde, Zimmer 30). Người ta vẫn theo thiên kiến trên (Đông phương không có triết 
học) vì nó được bảo trợ do những triết gia lớn như Hégel. Bởi thế triết Đông vẫn không được thừa 
nhận trong giới chính thức một cách dễ dàng. Nhưng ngày lại ngày những luồng tư tưởng đi sâu vào 
Đông phương trở nên đông thêm và người ta dần dần nhận ra thiên kiến trên kia là sai lầm. Nó chỉ là 
phát khởi do sự quan sát vòng ngoại diện, hời hợt và không thể đứng vững nếu người ta chịu đi sâu 
vào thực tế. Bởi vậy dần dần có những người chủ trương Đông phương cũng có triết lý như Tây 
phương, nhiều người còn đi xa hơn cho rằng triết Đông còn cao hơn triết Tây. 
Lớp M12CQDT01-N Page 92
Chẳng hạn Renouvier người Pháp có viết đại khái: ta phải quỳ gối thán phục trước sự cao cả của 
triết lý Đông phương. “Quand nous lisons avec attention les monuments poétiques et philosophies de 
l’Orient et surtout ceux de l’Inde qui commencent à se répandre en Europe, nous y découvrons 
maintes vérites si profondes et qui font un tel contraste avec la petitesse des résultats auxquels le 
génie européen s’est quelquefois arrêté que nous sommes contraints de plier le genou devant la 
philosophie Orientale et de voir dans ce berceau de la race humaine la terre natale de la plus haute 
philosophie (cité par Schwab dans Renaissances Orientales, p.104, Payot). 
Đề tựa quyển De la Bête à l’Ange của J.Demarquette, ông H. De Lacroix có viết: “Bên những lý 
thuyết chói lọi đem bàn đến trong sách này, những lý thuyết triết học chúng ta trở nên xám ngoách” 
(nos grises théories philosophiques pâlissent singulièrement auprès des doctrines éclatantes dont il 
est ici question. VIII). Đó chỉ là hai ví dụ nhỏ đại diện cho một trào lưu đi ngược ý kiến chối sự hiện 
hữu của triết Đông mỗi ngày mỗi bành trướng mạnh mẽ. Và cho tới nay triết Đông đã trở thành một 
sự hiển nhiên ít ra là trong các nước tiên tiến Âu Mỹ. Ở đấy không ai dám nghĩ tới chuyện chối rằng 
Đông phương không có triết học nữa. Trái lại nhiều người lo lắng cho số phận triết Tây thì có (xem 
bài địa vị triết Ấn bên Âu). 
Các sách triết sử mới xuất bản đều dành cho triết Đông một chỗ danh dự, như mấy quyển 
“Những triết gia lớn” của K.Jaspers đã để cho Khổng, Lão, Phật, Long Thọ, Mã Minh… những 
chương rất dài. Nhiều giáo sư người Á Châu đã được mời sang dạy triết Đông bên các đại học Tây 
phương. Nhiều vi đại diện cho nền triết học Đông phương một cách rât xuất sắc. Đây tôi xin đưa ra 
một vài ví dụ cụ thể về giáo sư người Á đầu tiên dạy triết Đông bên Anh, ông Radhakrisnan, phó 
tổng thống Ấn Độ. Nhân dịp kỷ niệm lục tuần của ông rất nhiều triết gia tên tuổi đã hợp tác viết một 
quyển nhan đề là: Radharkrisnan - comparative studies in philosophy presented in homour of his 
sixtieth Birthday. Trong lời đề tặng ta đọc thấy đại khái: Âu Tây đã đi tới chỗ nhận ra có nhiều giá 
trị tinh thần sâu xa ở bên Đông phương mà chưa được thám hiểm ra hết, nó sẽ đóng góp vào việc 
xây dựng hòa bình trong và ngoài, là cái cho tới nay còn thiếu sót. Sự trao đổi lớn lao đó nhờ rất 
nhiều vào tài trí và sự thông hiểu của giáo sư Radharkrisnan. [The West has to realise that they are 
spiritual depths in the Orient which it has not yet plumbed and which will contribute to the inner and 
outer peace which it has hitherto lacked. This great change largely due to sir S.Radharkrisnan’s 
genius and understanding.] (The Murhead library of philosophy, London 1932). 
Nhiều người như Lâm Ngữ Đường giáo sư đại học Harvard danh vang cả hoàn cầu. Và ta có thể 
nói triết Đông đang tiến lên tuy chậm nhưng chắc. Tại sao gió lại đổi chiều như thế? 
Sự dành lại độc lập của các nước Á Châu có lẽ đã gây một phần ảnh hưởng vào thái độ trên; 
nhưng nếu có thì chỉ mạnh ở đại chúng chứ đối với đại tư tưởng gia thường thường biết vượt lên trên 
những biến cố nhất thời về kinh tế, chính trị để xét tới những chân giá trị. Nếu lúc trước họ chưa 
thừa nhận triết Đông là tại sự bỡ ngỡ ở buổi gặp ban sơ. Và lúc ấy người ta không nhận ra rằng mới 
một tiếng triết học cũng đã biểu thị một sự thực rất phiền tạp, đến nỗi ngay giữa triết gia Âu Tây 
cũng chưa đồng ý nhau về câu định nghĩa triết học là gì như K.Jaspers nhận xét ngay đầu quyển triết 
học nhập môn. 
Nhận ra chỗ bất đồng ý kiến đó cũng là một sở đắc mới của giới triết học hiện đại mà những 
những người đầu tiên có công khám phá ra phải kể đến Oswald Spengler. Trong quyển Déclin de 
l’Occident ông đã nhấn mạnh rằng Âu Châu đã lầm coi triết học của mình là chính triết học, và nó 
buộc các luồng tư tưởng nào khác muốn khoác danh hiệu triết phải được đúc trong cái khuôn tư 
tưởng Hy Lạp. Chưa nhận thức rằng đó chỉ là một loại triết học trong đại gia đình triết học muôn 
màu muôn sắc. Une philosophie et non pas la philosophie. Đến nay tư tưởng loài người đã biến 
chuyển và đi đến chỗ truy nhận có nhiều nền văn hóa, nhiều nền văn minh nên cũng có nhiều nền 
triết học. Đã gọi là nhiều thì tất nhiên có những nét đặc thù phân biệt và bất tất phải theo phương 
pháp của Tây mới là triết. Cũng như người ta không cần mắt phải xanh, mũi phải lõ mới là người 
được. 
Lớp M12CQDT01-N Page 93
2. Nét đặc trưng của hai nền triết Đông triết Tây 
Bởi vậy không nên khăng khăng từ khước sự hiện hữu của nhiều thứ triết học, mà trái lại việc 
quan hệ đầu tiên là tìm ra những nét đặc thù của mỗi nền triết riêng biệt để làm giàu cho nền triết lý 
chung của nhân loại, và nhân đấy sự quy định sứ mạng triết lý cũng trở nên dễ dàng và đầy đủ hơn. 
Đó là mục phiêu chúng ta nhằm ở đây và để cho dễ dàng việc khám phá, chúng ta nên cùng nhau 
ước định về nội dung một số danh từ sau đây: thế nào là minh triết? Thế nào là triết lý? Thế nào là 
triết học? 
Minh triết (Sagesse) 
Nói về hình thức thì minh triết chỉ sự khôn sáng của các thánh hiền đã được kết tinh vào những 
câu triết ngôn thuộc Truyền Thống tinh thần. Các ngài là những vị siêu quần bạt chúng đã tới cái biết 
trí tri thể nghiệm nên những lời huấn đức của các ngài tuy vắn tắt kiểu châm ngôn nhưng có hiệu lực 
muôn đời như: Pythagore, Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca v.v… Các Ngài lo sống cái minh triết hơn là 
nghĩ đến viết ra sách vở. Phương pháp các ngài là thể nghiệm, trực giác, không dùng đến lý luận, 
phân tích hoặc dùng rất ít như trường hợp Khổng. 
Triết lý 
Là những sách vở do môn đệ các vị trên để lại như: Tuân Tử, Mạnh Tử, Chu Hy, Sankara, Vương 
Dương Minh… Những đề tài họ suy tư cũng là những vấn đề của thầy, nghĩa là, xoay quanh cứu 
cánh thân phận con người; phương pháp dùng lý luận biện chứng để tìm hiểu và phổ biến minh triết, 
nhờ thế mà quảng đại quần chúng hiểu rõ được chỗ sâu xa của minh triết, chẳng hạn đọc Tuân Tử 
hay Mạnh Tử ta thấy mạch lạc rõ ràng dễ hiểu hơn Khổng Tử nhiều lắm. 
Như vậy triết lý giống với minh triết ở đối tượng. Cả hai lấy cứu cánh con người làm trọng tâm 
suy nghĩ, lấy sự thực hiện đến rốt ráo cái tính bản nhiên con người làm mục tiêu (tận kỳ tính) nhưng 
khác với minh triết về phương pháp. Minh triết nhìn thẳng trực nghiệm, nói như thánh phán, vắng 
bóng một sự thiếu tin tưởng ở sức mình dù chỉ biểu thị bằng những lý chứng, luận bàn. Vì thế gọi là 
minh triết, là sáng suốt thấu triệt. 
Trái lại triết lý thì như không vững tâm được như minh triết, nên phải đưa ra lý sự biện chứng, 
bàn giải, bởi vậy gọi là triết lý, tức là thấu triệt bằng lý sự chứ không bằng trực thị (minh). Xét về 
nội tại, nó thấp hơn minh triết, nhưng đối với quảng đại quần chúng thì nó có ích không kém minh 
triết vì giúp cho nhiều người hiểu được cái thâm thuý của minh triết. Minh triết giống như sân 
thượng đứng trên có thể phóng tầm mắt ra xa, triết lý ví như thang lên sân thượng, thang đâu có bằng 
sân thượng, nhưng nếu không có thang thì hầu hết con người không thừa hưởng được gió mát trên 
sân thượng. Tuy nhiên triết lý vẫn không bằng minh triết. Tuân Tử lý luận rành rọt, Mạnh Tử minh 
biện nhiều trang giống Platon. Trang Tử với lối văn trào lộng huy hoàng, không có họ có lẽ triết của 
Lão, của Khổng đã mai một, vì họ làm cho người ta hiểu được Khổng (Zenker 234) nhưng bao giờ 
họ cũng chỉ được coi là môn đệ của Khổng, Lão tuy các vị này chỉ nói có những câu cụt ngủn. Minh 
triết và triết lý có thể coi là hương hỏa triết Đông, tuy nhiên không có nghĩa là Tây Âu không có 
minh triết hay triết lý, nhưng cứ trên chương trình chính thức qua các đời mà xét thì Tây Âu hướng 
về triết học. Triết học khác với triết lý ở ba đầu mối như sau: 
Trước nhất về đối tượng không lấy con người mà lấy thiên nhiên sự vật làm trung tâm suy tư. 
Chẳng hạn bàn về bản thể sự vật, sự hữu chung, bởi vậy các triết gia sơ khởi của Hy Lạp cũng gọi là 
thiên nhiên học (naturalistes), con người chỉ được bàn đến cách phụ thuộc, hay đúng hơn bằng 
những phạm trù của sự vật. 
Thứ đến phương pháp: theo lối khoa học phê phán và phân tách, cố tìm ra những ý niệm độc đáo 
và tích luỹ sự kiện để kết thành những hệ thống mạch lạc chặt chẽ và cũng hay bàn những vấn đề 
liên hệ đến khoa học. 
Lớp M12CQDT01-N Page 94
Nhân đó về mục phiêu lấy tri thức làm cùng đích. Triết học được coi là một việc tìm hiểu đối 
tượng khách quan, một phương pháp thăm dò ngoại vật, nhân đó mà triết học gia cũng thường kiêm 
nhiệm khoa học gia. Thí dụ điển hình là Aristote và Descartes. Vì thế nó không nhằm thực hiện vào 
bản thân như triết lý mà nhằm tìm biết sự khách quan. Nói về tầm hoạt động thì minh triết là công 
việc của những vị dẫn đạo nhân loại. Những người như Khổng, Phật không hề phải dùng đến ly luận. 
Có lẽ luồng điện từ bản thân của các ngài quá mạnh khỏi dùng tới luận lý mà hiệu lực vượt xa. 
Triết lý nhằm mục đích khiêm tốn hơn là cố duy trì và mở mang sự nghiệp do các vị hiền triết lưu 
lại, nhất là trong những thời đã chớm nở nghi kỵ; bớt sống đi và bắt đầu suy nghĩ nhiều. Mức suy 
nghĩ lý luận càng lên thì mức độ thực hiện càng xuống cho tới triết học thì tầm ảnh hưởng thường 
không ra khỏi phạm vi trường sở. Về cơ năng con người triết học thường mới đạt tới lý trí, chưa bao 
quát nổi tâm tình tiềm thức, phương chi nói gì đến cõi tâm linh, như ông Tomlin nhận xét về triết 
học. “Trong thế giới Tây Âu chúng ta, người ta thường phó thác cho các nhà huyền niệm hay thi sĩ 
sứ mệnh dẫn đường chỉ lối cho nhân sinh, chí như những nhà triết học, họ thường giới hạn chăm chú 
vào việc bàn cãi có hay chăng những ngoại vật chẳng hạn như cái bàn hay cái ghế. 
Sau những phân biệt như trên ta có thể nói Đông phương thiên về minh triết và triết lý, còn Tây 
Phương thiên về triết học. Chúng tôi gạch dưới chữ thiên để chỉ rõ khuynh hướng chung mà không 
chối những ngoại lệ. Đã thấy quan niệm Tây Đông khác nhau nhiều cả về đối tượng, phương pháp 
và cùng đích, không còn lạ gì lúc trước Âu Tây từ chối nhìn nhận triết Đông, vì một khi đã coi triết 
Tây là chính. Triết viết hoa thì triết Đông không phải là triết, chỉ nên gọi là tư tưởng Đông phương 
hay là đạo học gì đó. Càng khó nhận ra chính vì nó cố gắng thực hiện không phải ngoài cõi nhân 
sinh mà ngay trong đời sống, trong lối cư xử, trong cử chỉ… Tây nói sống đã rồi mới biết triết lý 
“Primum vivere deinde philosophari” thì Đông sẽ nói: Vivere est philosophari; sống chính là đã triết 
lý! Tây ăn uống đâu đấy rồi mới ra ngồi không mà triết lý; Đông trái lại coi chính việc ăn đã là triết 
lý. Đây là chỗ có thể áp dụng câu nói về nghệ thuật “nghệ thuật thành công chính là giấu được nghệ 
thuật”, “l’Art c’est cacher l’art”; triết lý giỏi chính cũng là giấu được triết lý. Triết lý chính tông phải 
được giấu vào trong cử chỉ, thể hiện vào đời sống và trong cả sự im lặng… chứ không phải triết lý 
kiểu nhà trường đặt chình ình bên cạnh đời sống nhưng trái lại phải là thực hiện, là đồng hóa triết lý 
với đời sống: mình với triết lý là một, xóa bỏ sự phân cách giữa mình với triết lý. Đó chính là điều 
được triết học hiện đại bắt đầu chú ý đến: hiện tượng luận nói phải bãi bỏ triết lý đi bằng cách thực 
hiện triết lý: “vous ne pouvez suprimer la philosophie qu’en la realisant. Nous avons realisé, c’est 
pourquoi nous avons supprimé la philosophie”. (Lyotard 126). Marx cũng đã nói đến lý tưởng phế 
bỏ triết lý bằng thực hiện triết lý. Xưa kia triết học đứng ngoài thời gian nay phải đi vào thời gian, 
phải gặp thế sự, hễ thế sự biến thành triết lý thì triết lý biến thành lý sự: thực hiện được triết lý tức là 
phế bỏ được triết lý. Triết Đông đã phần nào đi đến cái sống nên tất cả tâm lý, sinh lý, xã hội, lịch sử 
đều đáp ứng được những yêu sách của một triết lý cụ thể, hay triết lý nhân sinh. Triết lý bị bãi bỏ 
như một triết lý xa lìa đời sống mà chỉ còn là một triết lý vô hình vì đã hiện thân trong đời sống, 
trong thể chế, lịch sử, xã hội. 
Cái điểm xóa bỏ triết lý, giấu triết vào đời sống là một loại triết lý cần được lưu ý. Nếu cứ lấy 
nguyên cớ luận lý là mực xét đoán cao hay thấp thì nhiều khi triết Đông không đáng gọi là triết vì 
đang khi Aristote, Platon chẳng hạn đưa ra những phân tích chi ly, những hệ thống vững chắc như xe 
tăn, thì Khổng Tử dùng một vài chữ hay mấy câu nhát gừng nhiều khi không thiếu vẻ thô sơ. Nếu 
đứng ở cùng một quan điểm lý thuyết mà xét thì Khổng Tử không thể nào so sánh được dù chỉ với 
một quyển luận lý của Aristote. Ở phương diện này Chu Hy còn giá trị hơn Khổng nhiều. Nhưng nếu 
đứng vào quan điểm thiết thực thì ta thấy Khổng Tử hướng dẫn nổi cả một nhóm người lớn nhất 
trong nhân loại (đầu thế kỷ 17, nguyên một nước Tàu có 150 triệu dân đang khi Âu Châu mới có 50 
triệu) và những hướng tiến ông chỉ trỏ ra cho tới nay nhân loại còn đang phải cố gắng thực hiện. 
Chẳng hạn hướng triết lý vào những vấn đề thực tế và về thân phận con người. Đặt tiêu chuẩn luân 
lý nơi nội tâm thay vì nơi thần thoại và nhất là tranh đấu cho con người một địa vị xứng với phẩm 
Lớp M12CQDT01-N Page 95
giá của nó… Ngày nay đang khi nhiều vấn đề triết lý nơi khác bị ruồng bỏ như những vấn đề giả tạo 
thì các vấn đề Khổng Tử đặt ra trở nên khẩn thiết như chúng ta sẽ xem về sau. 
Vì thế trong thực tế cần phải xét lại quan điểm trước khi so sánh. Nếu không cùng quan điểm mà 
cứ so đo phê phán tức là đi ngược lại với khoa học, là bám riết lấy một khía cạnh để quên hẳn khía 
cạnh khác, rồi đôi bên trao đổi nhau những câu phê phán khinh miệt thí dụ chỉ Tây hay chỉ Đông 
mới có triết… 
Theo đó chúng ta nên bàn đến vấn đề danh từ triết, để xem có nên dùng chữ triết riêng cho triết 
học Tây Âu mà thôi chăng? Ai đã bước vào môn triết cũng biết rằng Philosophie do hiền triết 
Pythagore đặt ra kép bởi hai chữ gốc Hy Lạp: Philo là yêu mến và sophia là sự khôn ngoan, sự minh 
triết (sagesse). Philosophia như vậy là yêu mến minh triết, nó hàm chứa ý tưởng khiêm tốn không 
dám xưng mình đã có minh triết hay là hiền triết mà chỉ là yêu mến minh triết như cái gì mình đang 
cố đạt tới. Vậy minh triết là gì trong ý tưởng của Pythagore? Muốn trả lời đúng cần đặt Pythagore 
vào trong hoàn cảnh lịch sử của ông để xem ông hiểu thế nào. 
Ta sẽ thấy ông cũng hiểu tiếng minh triết như các hiền triết Đông phương mà ông đã được học 
hỏi trong chuyến Đông du (ông đã đến Chaldèe, Perse, Egypt… và có lẽ cả Ấn Độ) nên cũng quan 
niệm minh triết như một cấp bậc hiểu biết tối thượng về Thượng Đế, về con người và vạn vật, một 
sự hiểu biết thường là hậu quả của sự thánh thiện và nhân đức. Vì thế đạo lý của ông rất giống những 
huấn điều của thánh hiền Đông phương chẳng hạn về trai tâm, về thao thủ về sự im lặng v.v… Chỉ 
cần đọc qua quyển “đời đạo lý” ta sẽ thấy như đọc hiền triết Đông phương. Trường của ông được tổ 
chức như một dòng tu nhiệm nhặt. Người mới gia nhập phải giữ im lặng liền 7 năm thí dụ… Đó là 
đại để ý nghĩa uyên nguyên của chữ triết lý. Về sau phái thiên nhiên học của Thalès lấn át thì tiếng 
Philosophie cũng biến sang nghĩa tìm hiểu thiên nhiên và trở thành một tri thức, một khoa học. Phản 
đới hướng tiến đó, Socrate đã muốn kéo triết lý trở lại với con người bằng khẩu hiệu “connais-toi 
toi-même”, hãy tự biết mình mày. Tuy uy tín Socrate rất lớn, nhưng hai môn đệ ông là Platon và 
nhất là Aristote đã hướng triết học chúi hẳn sang phía tri thức và từ đấy tiếng Philosophie dần dần để 
trụt mất ý nghĩa nguyên thuỷ của nó và chỉ còn áp dụng cho một thứ tri thức phần nhiều lấy thiên 
nhiên làm đối tượng và nhân đấy Đông phương chính vì còn trung thành với ý nghĩa nguyên thuỷ, 
mới bị từ khước cái danh hiệu triết, mà đáng lý ra theo gốc tiếng thì chỉ có triết Đông mới còn đáng 
gọi là triết lý. Chứ như triết học Tây phương chỉ là những bài triết có tính cách trường ốc hàn lâm xa 
lìa đời sống chưa bao giờ đủ thành thục để thấu nhập vào đời sống đại chúng, như triết lý Đông 
phương. 
Nhưng nếu phân xử như vậy e lại rơi vào một thái quá như kiểu nói chỉ Tây mới có triết lý. Vì 
thế chúng tôi đề nghị dùng tiếng triết để chỉ cả hai nền suy tư Đông cũng như Tây; còn nếu muốn 
phân biệt thì nên dùng tiếng triết lý cho Đông, và triết học cho Tây. Vì lúc đó hai tiếng triết lý và 
triết học không còn nghĩa phổ thông như ta quen dùng coi như một, mà đã trở nên danh từ chuyên 
khoa với những dị biệt như đã trình bày ở trên về đối tượng và phương pháp. Nhưng đó chỉ là những 
danh từ ước định đề nghị ra để chỉ thị những thực tại khác nhau, có được chấp nhận cùng chăng 
không quan hệ cho bằng vấn đề trọng đại hơn là quy định sứ mạng triết lý, vì chính sứ mạng, chính 
mục phiêu của triết sẽ ảnh hưởng vào đường lối và đối tượng… Sứ mạng đó có phải là tri thức như 
Tây phương hiểu hay là hướng dẫn đời sống con người như Đông phương nhấn mạnh. 
3. Sứ mạng triết Đông 
Trả lời điểm này rất phiền tạp, vì câu thưa sẽ lại tuỳ thuộc khá nhiều vào quan niệm và tiêu 
chuẩn. Nếu theo tư tưởng cổ điển của Tây Âu thì quan niệm triết lý như một công việc tri thức về 
thiên nhiên là đúng, nghĩa là đúng với quan niệm Tây Âu; và ngược lại bảo rằng triết lý phải hướng 
dẫn đời sống thì cũng đúng, tức là đúng với quan niệm Đông phương. Vấn đề tế nhị là thế nên đây 
chúng ta tự hạn chế vào khía cạnh thời sự của luận đề tức là tìm hiểu hướng tiến được các triết gia 
lớn hiện đang theo đuổi. 
Lớp M12CQDT01-N Page 96
Chúng ta có thể nói khuynh hướng hiện nay là từ bỏ lối độc chiếm tự tôn để đi tới một tổng hợp, 
hay đúng hơn đi tới một cuộc thống nhất hòa tấu: untity orchestrated như danh từ đại hội triết học 
quốc tế 1949 đã dùng (Moore p.1). Hội nghị này đã nhấn mạnh ý chí của các đoàn viên cố gắng đi 
đến một sự bổ túc làm giàu lẫn nhau. Một đàng Đông phương chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Tây 
phương về: 1) phương diện lý luận trình bày và chú ý đến phần lịch sử hơn, 2) đàng khác đưa vào 
một óc phê phán được thức tỉnh và không chấp thuận dễ dàng mọi huấn điều tiền nhân, 3) dùng sự 
mổ xẻ phân tích dưới nhiều khía cạnh khác nhau để làm sáng tỏ vấn đề. Ảnh hưởng sâu xa đến nỗi 
ngày nay muốn bàn về triết Đông các họp thời phải là người đã đọc và hiểu khác lâu triết Tây: am 
hiểu phạm trù và lịch sử của nó. 
Ngược lại một triết gia Tây phương ngày nay mà không biết gì triết Ấn Độ và Trung Hoa ít ra là 
về lập trường chung thì bị coi là thuộc thời tiền Colomb (trước khi tìm thấy thế giới mới), hay nữa 
tuy không biết cách chuyên biệt thì ít ra lập trường cũng không còn giữ vững được như thời cổ điển 
Tây phương nữa, vì triết cổ điển đang bị chính các tư tưởng gia Tây phương đạp đổ trên khắp nẻo 
đường. Và triết học bị coi là một chứng bệnh (V.P 236). Pascal cho rằng triết học không đáng cho ai 
phí vào đó dù chỉ một giờ. 
Tóm lại đâu cũng là đổ vỡ. Cả một nền triết học mới vứt vào mặt những nguyên lý triết học cổ 
điển một tiếng Không tàn nhẫn. Sự cố gắng của triết học Tây Âu hiện đại chỉ là một cuộc tưng bừng 
phá đổ nền triết cổ điển của họ, đó là cảm tưởng chung sau khi đã đọc một số giáo sư lớn: một 
J.Wahl, một Gusdorf, các triết gia Nietzsche, Kierkegaard, K.Jaspers v.v… Bachelard viết cả một 
quyển triết lý Không để minh chứng rằng phương pháp không cần theo Newton nữa, danh lý không 
cần theo Aristote, vật lý không cần theo Newton… Ông Weber viết trong quyển Tableau de la 
philosophie contemporaine: “có lẽ nhà lịch sử tương lai sẽ lấy hội nghị các nước Á Phi ở Bandoeng 
năm 1955 làm tờ từ chức sứ mệnh của triết học Tây phương “L’historien de l’avenir tiendra peut être 
la confèrence afrasiatique Bandoeng de 1955 pour l’acte de démission de la philosophie européenne” 
(tr.20). 
Ta có thể nói tóm rằng triết học Tây phương hiện phát động một phong trào di cư vĩ đại: di cư từ 
những nền móng cũ đến định cư trên những nguyên lý mới: 
Nhận nguyên lý biến dịch thay vào ý niệm bản thể im lìm (xem bài triết lý Đông phương động) 
Nhận nguyên lý cơ thể thay vào ý niệm cơ khí… Bớt chú trọng về phía triết học thiên nhiên để 
nhấn mạnh đến thân phận con người. 
Nhận nguyên lý lưỡng nhất (Principe polarisable) thay cho nhị nguyên cũ. Nhân đó nhận phần 
nào quan niệm tương đối trong chân lý thay vào quan niệm tuyệt đối, và vì vậy óc tương dung được 
đề cao, nếu chưa phải là nhận cả nguyên lý của nó. 
Những nguyên lý này rồi đây chúng tôi sẽ đào sâu trong các cảo luận. Ở đây chỉ cần ghi nhận 
điều này: tất cả các nguyên lý trên đã được thừa nhận và dùng làm giềng mối cho triết Đông từ bao 
ngàn năm xưa liên tiếp cho tới ngày nay. Tuy nhiên chúng tôi không có ý nói những nguyên lý đó là 
của riêng Đông phương; trái lại chúng tôi ghi nhận thực tại lịch sử này: Tây phương có nhiều môn 
phái mâu thuẫn nhau như Truyền thống khác với cổ điển, Duy niệm khác với Hiện sinh, và chúng ta 
sẽ gặp nhiều may mắn đi đến thống nhất nền triết lý nhân loại nếu Tây phương tiến mạnh vào lối 
Truyền Thống và Hiện sinh, vì đó là những trào lưu đi gần Đông phương. Ta hãy nghe Nietzsche 
một trong những ông tổ của triết Hiện sinh bày tỏ sứ mệnh triết lý ra sao. Ông trưng lại lời của triết 
gia Alcuin: “Thiên sứ đích thực của triết gia là điều chỉnh những điều chênh lệch, kiện tráng những 
điều chính nghĩa, thăng hoa những điều thánh thiện (La véritable vocation royale pour une 
philosophie: Prava corrigere et recta corroborare et saneta sublimare. V.P.257). 
Trang 259 ông thêm: quy định điều phải điều trái, nhận xét những sự kiện cách chung là một việc 
khác hẳn với truyền lệnh và đổi mới, đào tạo và xây đắp, cai trị và quy hướng ý muốn. Đó mới là cốt 
Lớp M12CQDT01-N Page 97
tuỷ của triết lý. Đưa vào cho sự vật một ý nghĩa ấy là giả sử nếu sự vật chưa có. Đấy là nhiệm vụ còn 
lại cần phải làm cho xong. 
Cao lên một bậc nữa là đưa ra một mục đích và thích ứng các sự kiện theo đó để định hướng 
hành động, chứ không phải chỉ biến hình những ý niệm. Nếu có bao giờ ta tới được cùng đích văn 
hóa thì phải dùng những sức lực mỹ thuật phi thường để đập tan cái bản năng tri thức vô biên, để 
làm lại nền thống nhất. Phẩm giá tối cao của triết gia xuất hiện khi người tập trung bản năng tri thức 
tuyệt đối bắt nó quy phục vào nền thống nhất. 
Tương lai triết lý là gì? Là phải trở nên tòa thượng thẩm cho một nền văn minh mỹ thuật, một thứ 
tổng công an chống với mọi sự thái quá. 
Triết Hiện sinh đi rất sát lại triết Đông. Cũng như hội nghị triết lý Đông Tây đã công nhận rằng 
ngày nay Tây đã gần Đông hơn trước kia: but the West is nearer to the East than has just been seen 
(Moore p.204), gần vì thái độ cởi mở đó nhận trước kia ít có, và gần nữa vì triết học đã bắt đầu biết 
để khoa học lại cho khoa học hầu chuyên tâm nhiều vào những vấn đề thân phận và cứu cánh của 
con người, chăm lo đến đời sống. Đó là cùng hướng với triết Đông mà sứ mệnh được thâu gọn vào 
chữ Đạo học. Chữ đó thật là thâm thuý, tiếc thay hay bị coi thường; vì phần đông lẫn nó với mớ 
mệnh lệnh luân lý hình thức nên không định giá đúng mức được tiếng Đạo học, chứ nếu hiểu đến 
chỗ uyên nguyên thì danh từ Đạo học đã nói lên được sứ mệnh của triết lý; tức làm sáng tỏ và hướng 
đạo cho nhân sinh, nhận thức và giúp thực hiện được cái tính bản nhiên của con người: tận kỳ tính. 
“réaliser l’humanité en soi”. 
Như thế, việc làm chính cốt hiện nay của triết Đông phương không phải là đi rập mẫu triết học 
duy niệm để sản ra một thứ triết học duy trí không ăn nhằm chi tới nhân tâm thế đạo, với cuộc sống 
hưng vong của quê nước, đời sống bấp bênh đầy gian khổ của đồng bào, mà chỉ là thứ trao dồi tri 
thức quá thoát đời của mấy người nhàn rỗi. Không! Sứ mệnh nó là phải làm sống lại những nguyên 
lý hết sức phong phú của Truyền Thống còn lưu lại trong triết lý Đông phương, phải nhờ những tiến 
bộ về biện chứng và khoa học để khám phá ra những khía cạnh mới lạ khả dĩ hướng đạo cho con 
người thời đại. 
Tổng hợp những suy tư, những phân tích bất kể của Đông hay Tây, Nam hay Bắc. Nhận thức lại 
cái tinh thần sâu sắc để khơi nguồn cho đời sống tâm linh vươn lên; thống nhất lại các giá trị mới 
hãy còn vất ngổn ngang bừa bãi; đem lại cho nhân sinh một luồng sinh khí dồi dào vừa được canh 
tân; thổi sinh khí vào nhân loại đang ngạt thở trong trăm ngõ hẻm chuyên môn phân cách và bịt 
bùng, được thở bầu khí bao la khoáng đạt tinh thần của con người toàn diện. Đó là sứ mệnh triết lý 
Đông phương. Nó phải cố gắng lắm mới đáp lại được lòng mong chờ của người thời đại đặt để vào 
nó. 
4. Dự đoán tương lai 
Quả nhiên là “nhiệm trọng nhi đạo viễn”, gánh thì nặng mà đường thì xa, nhưng sự thành công 
chắc chắn sẽ chờ ở cuối đường. Sử gia Toynbee có dự đoán sự thành công đó sẽ đến trong giai đoạn 
hậu lai như sau: 
“Cái gì là hiện tượng bật nổi hơn hết, ở thời đại chúng ta mà trong những thế kỷ sau này các sử 
gia sẽ tách rời ra, khi họ khảo cứu đầu bán thế kỷ 20 để cứu xét các hoạt động? Nó sẽ không phải là 
những biến cố về kinh tế, về chính trị, về cơ khí mà các nhật báo hiện đang kéo tít trên trang nhất, đó 
chỉ là những biến cố nhất thời phù phiếm, nó làm cho ta lãng quên những biến động chậm chạp hơn, 
ít thấy xuất hiện trên mặt, nhưng lại tác động mạnh và tác động vào các tầm sâu. 
“Nhưng thật ra chính đó là những tác động bề sâu mà mai hậu sẽ hiện lên lớn lao, còn những biến 
chuyển bề mặt lại rút lui vào những tầm thước thực sự của chúng. Phải có sự lùi xa mới thấy được 
tầm kích đích xác của từng loại biến cố. 
Lớp M12CQDT01-N Page 98
“Cho nên tôi thiết tưởng các nhà sử gia tương lai sẽ cho biến cố lớn hơn hết trong thế kỷ 20 là sự 
xung động của nền văn minh Tây phương trên các xã hội khác trong khắp thế giới. Họ sẽ nói: sự 
xung động đó mạnh mẽ và có tính cách thấu nhập đến nỗi nó làm đảo lộn cuộc sống mọi xã hội, 
khuấy trộn mọi tập quán, làm tan rã mọi công hội cổ truyền. Đó là điều họ sẽ nói tới vào những năm 
2047, tức là 1000 năm sau (sách của tác giả xuất bản năm 1947) và họ sẽ nói gì năm 3047, tức là 
2000 năm sau? 
“Lúc ấy họ sẽ chú trọng đến những phản kích ghê sợ mà nền văn minh khác sẽ gây ra trong đời 
sống của người xâm chiếm (tức Âu Châu). Chừng ấy văn minh Âu Châu xét theo lúc ra khỏi thời 
Trung cổ sẽ biến thái đến nỗi không còn nhận ra được bộ mặt trước của họ dưới ảnh hưởng dồn dập 
của những nền văn minh khác: nào chính thống, nào Islam, nào Ấn Độ, nào Viễn Đông. 
“Đến năm 4047 thì sự khác biệt Đông Tây không còn nữa, mà chỉ còn là một khối nhân loại duy 
nhất. 
“Năm 5047 không còn chú trọng gì đến vấn đề kinh tế chính trị, kỹ thuật, mà chỉ còn có một vấn 
đề tinh thần: Tôn giáo” (lược dịch Civilisation à l’épreuve p.228-233). 
Đây là những dự đoán của một sử gia nổi tiếng vào hạng nhất hiện nay, dựa vào lịch trình của các 
sự gặp gỡ trên 20 nền văn minh mà lịch sử đã ghi lại dấu vết. Những sự gặp gỡ đó tuy xảy ra dưới 
những hình thức khác nhau, nhưng cuối cùng cũng đã đi đến câu kết trở thành ngạn ngữ: “tư tưởng 
hướng dẫn thế giới” (les idées gouvernent le monde). Mà với Đông phương chính triết lý là tinh 
thần, là hồn sống cho tôn giáo, tôn giáo chỉ là biến thể của minh triết. 
Năm 1848 là lúc người Anh còn nắm vững chủ quyền trên đất Ấn mà toàn quyền Hasting đã tiên 
đoán rằng: “không bao lâu nền đô hộ của Anh quốc trên đất Ấn Độ sẽ qua đi hết, nhưng triết lý Ấn 
Độ sẽ còn sống mãi mãi”. Hôm nay chúng ta cũng có thể nói rằng: một ngày kia người ta sẽ ít nhắc 
tới sự người Tây Âu lấn át người Á Châu trên các phương diện kinh tế, kỹ thuật. Những biến cố đó 
sẽ qua đi, nhưng triết lý Đông phương sẽ còn sống mãi, sẽ mở rộng thêm ảnh hưởng và hợp với triết 
Tây để làm nên một nền triết thống nhất có thể gọi là “Đa giáo đồng nguyên” của toàn thể nhân loại 
không phân biệt Đông Tây… 
Hiện nay nếu còn phải gọi tên triết Đông và triết Tây thì đó cũng là một việc bất đắc dĩ ở bước 
khởi đầu, là bước cần thiết phải vượt qua càng sớm càng hay. Bởi trong phạm vi triết lý bao lâu chưa 
vượt được những tên địa dư là dầu còn bất toàn, là chưa đi đến chỗ cùng tột. Trong các phạm vi khác 
thuộc văn học, chính trị, kinh tế, mỹ thuật, có thể dung hòa những đặc thù thuộc địa phương chứ 
trong triết lý phải cố gắng đi tới chỗ phổ biến. Nói triết Đông, triết Tây cũng là một sự hàm hồ. 
Chính ra phải nói những cố gắng về triết lý đã được khởi công ở bên Đông hay bên Tây thì đúng 
hơn. Vì nếu đã là triết lý chính tông thì sẽ vượt qua mọi đặc thù địa phương để không còn là Đông 
hay Tây, Nam hay Bắc, như lời nói của Lục Tượng Sơn “Đông hải có thánh nhân, tâm ấy đồng, lý ấy 
đồng; Tây hải có thánh nhân, tâm ấy đồng, lý ấy đồng. Ngàn đời về trước có thánh nhân, ngàn đời về 
sau này có thánh nhân, tâm ấy cũng đồng, lý ấy cũng đồng”. Đó là cùng đích ta phải cố gắng vươn 
tới. Điều đó ngày nay xem ra có nhiều hy vọng thực hiện được, có lẽ trong một thời hạn còn mau 
hơn dự đoán của Toynbee. Vì cơ khí đã đảo lộn mọi nếp sống cũ không cứ gì Đông mà cả Tây. Có 
biết bao giá trị cổ truyền đã hết hiệu lực, nhiều khi chỉ còn là bản kẽm cũ mòn thường hay bóp ngạt 
đời sống tinh thần hơn là đem lại luồng sinh khí mong muốn; có còn người theo cũng chẳng qua là 
tạm đỡ, nhưng không phải không có lòng mong đợi những giá trị mới về nhân sinh. 
Dựng lên những giá trị mới đấy là sứ mệnh triết lý; đem lại cho đời sống một ý nghĩa để đưa 
nhân loại thoát ra khỏi cơn khủng hoảng tinh thần hiện nay, đó là sứ mệnh triết lý. Hướng dẫn nhân 
loại trên đường đi về cứu cánh con người, đó là sứ mạng của một nền triết lý không phân biệt Đông 
hay Tây mà là triết nhân sinh, triết lý của con người muôn thưở. 
Lớp M12CQDT01-N Page 99
Tư duy hướng nội của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy của người Việt 
Theo bài viết, tư duy hướng nội của Phật giáo không chỉ là một sản phẩm đặc thù của lịch sử tư 
duy Ấn Độ, mà còn là một trong những đặc trưng nổi bật của tư duy phương Đông. Thực chất của tư 
duy hướng nội là sự nhận thức hướng vào trong, để tâm tĩnh lặng và nhờ đó, “thấy được sự vật như 
chúng tồn tại”. Đó chính là cơ sở của giáo lý giải thoát của Phật giáo. Đồng thời, bài viết chỉ ra rằng, 
do Việt Nam tiếp thu Phật giáo khá sớm nên sự ảnh hưởng của tư duy hướng nội tới tư duy người 
Việt trong lịch sử là khá đậm nét và phổ biến, từ giới Phật học tới giới trí thức phong kiến và tầng 
lớp bình dân ở Việt Nam. 
Tư duy hướng nội của Phật giáo là một sản phẩm đặc thù của lịch sử tư duy Ấn Độ từ thời Cổ - 
Trung đại, đồng thời là một trong những đặc trưng nổi bật của tư duy phương Đông. Phật giáo ra đời 
khi Ấn Độ đã có một nền tảng triết học và tôn giáo bề thế với lịch sử hơn 1500 năm trước CN và đã 
chuyển sang giai đoạn tư duy thứ ba, nghĩa là vượt qua các giai đoạn  thần (huyền) thoại và ? thần 
quyền để đến giai đoạn ? nhân bản, tức là đến giai đoạn bắt đầu giải thiêng, giải thần quyền và 
chuyển dần sang lấy con người làm trung tâm. 
Như vậy, ngay từ đầu, Phật giáo “nguyên thủy” không còn là hệ tư duy “nguyên thủy” với tư cách 
sơ khởi của văn minh loài người. Thậm chí, có thể nói, Phật giáo có tư duy triết học trước khi hoàn 
chỉnh tư duy tôn giáo. Nhờ vậy, tư duy hướng nội của Phật giáo không còn ở trình độ thấp, mà đã 
vượt qua giai đoạn cảm tính, bản năng đơn giản. Vậy, thực chất tư duy hướng nội của Phật giáo là 
gì? Việt Nam là một trong những nước du nhập Phật giáo từ rất sớm và do đó, cũng tiếp thu đặc 
trưng tư duy này của Phật giáo. Vậy, ảnh hưởng của loại tư duy này trong tư duy và lối sống của 
người Việt Nam trong lịch sử và hiện nay ra sao? 
1. Tư duy hướng nội của Phật giáo 
Trong kinh điển Phật giáo, đặc biệt là trong Phật học và Thiền học, thuật ngữ “nội quán” 
(vipssana) là một khái niệm chuyên chỉ tư duy hướng nội, có từ thời đức Phật. Người đã tiếp thu và 
phát triển phương thức tư duy hướng nội này từ truyền thống Bà La Môn giáo - một tôn giáo thần 
quyền của Ấn Độ. Ngày nay, phương thức tư duy hướng nội của Ấn Độ vẫn tồn tại trong các khóa tu 
tập cũng như trong các sách chuyên luận về thiền (Dhyana, Zen, Ch’an, Meditation) và Yoga, hay 
trong Kinh Yoga (Yoga Sutra) nổi tiếng của Ấn Độ do Patanjali biên tập từ thế kỷ thứ II sau CN. 
Nhiều tôn giáo phương Đông cũng thực hành phương thức này trong tu luyện, như Bà La Môn giáo 
(Ấn Độ giáo), Mật giáo Tây tạng, Đạo Lão, Phật giáo.(*) 
Nội quán được thể hiện một cách có hệ thống trong giáo lý Phật giáo. Có thể nói, toàn bộ giáo lý 
Phật giáo là một “tập kỳ đại thành” có hệ thống về con người như một chỉnh thể hướng nội/nội quán. 
Trước hết, Phật giáo quan niệm con người là con người - khổ với những quy định tâm - sinh lý (dục 
vọng, ngu dốt) từ bên trong. Để diệt được khổ phải hướng vào bên trong để diệt nguyên nhân của 
khổ trong mỗi người. Tứ diệu đế quyết định hướng tư duy của toàn bộ giáo lý Phật giáo là con người 
hướng nội. Trong đó, bản thể của vũ trụ gắn liền với bản thể con người ở tầm phổ quát qua các phạm 
trù: duyên khởi, vô thường và vô ngã. 
Cả ba phạm trù này đều phản ánh nguồn gốc, bản chất và quy luật không (tức duyên khởi, vô 
thường, vô ngã) của sự vận động của con người. Không không có nghĩa là trống không, mà là không 
có một thuộc tính hay sự vật riêng biệt, bất biến, vì chúng chỉ tồn tại thật trong các quan hệ (duyên 
khởi) có tính tương đối, nhất thời của các yếu tố tạo nên chúng. Do tồn tại của vũ trụ cũng như con 
người là sự hình thành, biến đổi, thay thế các quan hệ, nên chúng không có thuộc tính bất biến và do 
vậy, chúng là “vô thường”. Trên cơ sở đó, Phật giáo khẳng định bản thể người là không, tức vô ngã; 
vì đó chỉ là sự hợp tan trong quan hệ của các yếu tố (vật chất và tinh thần) trong các điều kiện (ngẫu 
nhiên, cần và đủ), nên nguồn gốc khổ đau của con người chính là do không hiểu quy luật phổ quát 
của vũ trụ, không hiểu con người cùng các quan hệ của nó luôn vận động, biến đổi (vô thường), mà 
cứ tưởng là có một ngã/ta đích thực tồn tại vĩnh viễn. Ý nghĩa tôn giáo ở đây là, khi con người giác 
Lớp M12CQDT01-N Page 100
ngộ được bản chất vô thường của vũ trụ, của tồn tại cũng như vô ngã của chính mình thì tức là đã 
giác ngộ được nguồn gốc của khổ và từ đó, chủ động, tự giác thoát được khổ. 
Tứ diệu đế của Phật giáo gồm bốn phần. 
Khổ đế chỉ ra các loại khổ, đó là: cái khổ tự nhiên do chính tồn tại có tính vô thường của con 
người quy định, như sinh, lão, bệnh, tử; cái khổ do tâm - sinh lý, ý thức của con người có tính xã hội 
quy định, như ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tăng hội; cái khổ do tính duyên khởi của các yếu tố (ngũ 
uẩn) hợp nên, gọi là ngũ uẩn xí thịnh khổ. Theo Khổ đế, tất cả mọi người đều bình đẳng với nhau về 
nỗi khổ. Phàm đã là người thì đều khổ, không có sự loại trừ về đẳng cấp, xuất thân hay dân tộc. Đó 
là cái khổ bị quy định từ bên trong và do vậy, khi con người ta càng hướng ra ngoài để khẳng định 
cái ta/ngã thì càng khổ, càng hướng ra ngoài để tìm kiếm, thỏa mãn tham, sân, si, thì càng chuốc 
thêm khổ. Cho nên, để diệt được khổ (vô vi, tự tại, giải thoát), người ta phải trở vào bên trong chính 
mình (hướng nội/ nội quán). 
Tập đế phân tích căn nguyên của khổ rằng, chính vì tư duy, ý thức phụ thuộc vào, chấp vào hình 
thức bên ngoài, nên con người không tự giác về bản chất đích thực của mình là vô ngã. Vì bám vào 
hình thức bên ngoài, nên con người thường nhầm lẫn (vô minh) tưởng có một ta/ngã đích thực. Một 
khi con người hướng ra ngoài thì ngay lập tức vướng vào các nghiệp (thân, khẩu, ý), tạo nên chuỗi 
các nguyên nhân gây ra khổ. Chuỗi nguyên nhân gây nên quả khổ đó được khái quát thành “Thập 
nhị nhân duyên”(1). 
Từ đó, Diệt đế chỉ ra rằng, con người cần phải hướng vào bên trong để diệt nguồn gốc của khổ, đó 
là diệt vô minh và dục vọng từ trong tâm tưởng. Diệt được vô minh và dục vọng là đạt tới giải thoát. 
Tiếp đó, Đạo đế phân tích con đường hướng nội đúng đắn và khả thi để đi tới giải thoát, đó là sự 
kết hợp tu giới - định - tuệ trong tám bước liên hoàn hướng nội, gọi là Bát chính đạo(2). Đây là một 
hệ thống hướng nội kết hợp tu dưỡng thân tâm không tách rời tu dưỡng trí tuệ, đạo đức và niềm tin 
theo quy trình trở về bên trong, trở về cái ban đầu của mọi cái, đó là trở về vô ngã, trở về không. 
Có thể nói, quan niệm giải thoát của Phật giáo là nhất quán con đường hướng nội. Trên con đường 
đó, mỗi người tự quay trở vào nhận thức về khả năng, căn cơ, trình độ của bản thân để tự đi, tự tới 
đích, chứ không nhờ sự ban ơn, cứu vớt của đấng siêu nhân nào. Một khi giác ngộ bản chất đích thực 
của mình, con người sẽ tự giác tránh xa ái dục và các căn nguyên tạo nên nghiệp báo và luân hồi, đó 
cũng là đích cuối cùng của con đường giải thoát. 
Giáo lý giải thoát Phật giáo dựa trên cơ sở lý luận nhận thức về hai loại chân lý và hai con đường 
nhận thức chân lý. Phật giáo cho rằng, có hai con đường nhận thức: hướng ngoại và hướng nội, với 
hai loại chân lý: chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Con đường thứ nhất là con đường của nhận 
thức thông thường (hướng ngoại), thường dựa vào kinh nghiệm và khái niệm về thế giới hiện tượng 
bên ngoài. Song, do bề ngoài luôn vận động và biến đổi theo quy luật vô thường nên con đường đó 
chỉ có thể tiệm cận vô cùng tới thực tại, chỉ nắm bắt được chân lý tương đối. 
Ngược lại, con đường thứ hai, hướng vào trong để trở về tâm tĩnh lặng đến lúc không còn cảm 
giác về thân nữa, không còn cảm thọ nữa, cũng không còn tưởng nữa, mọi hoạt động của tâm thức 
đều ngưng nghỉ (vô niệm, hay tịnh, chỉ), được gọi là “nội quán”. Khi đó, trực giác bừng sáng và nắm 
bắt trực tiếp được tồn tại, tức là giác ngộ được chân lý tuyệt đối. Phật giáo ý thức được rằng, sự phân 
đôi chủ - khách là chia chẻ, giết chết thực tại và do đó, không thể nhận thức được thực tại như là 
chính nó, là “khi thế giới với mọi thứ phân hai chưa bắt đầu hình thành”(3). Phật giáo khẳng định 
nội quán là phương thức khả thi nhất làm cho tâm bình lặng, “nhờ tâm bình lặng mà nhìn thấy được 
sự vật như chúng tồn tại... tâm bình lặng thì dục vọng, tham đắm do thế giới khách quan gây ra cũng 
không chi phối được tâm”(4), tức đạt tới giải thoát. 
Tư duy hướng nội của Phật giáo nguyên thủy được phát triển liên tục qua hai trường phái triết học 
Đại thừa là phái Duy thức (Hữu luận) và phái Trung quán (Không luận) với những vấn đề cơ bản về 
Lớp M12CQDT01-N Page 101
bản chất, đối tượng và con đường của thức. Phái Duy thức phát triển nguyên lý tính không về bản 
thể nguyên sơ của vô thức(5) trên cơ sở bảo tồn triết lý duyên khởi trong Thập nhị nhân duyên mà 
đức Phật đã chỉ ra. Theo đó, thức cũng chỉ là sự kết hợp tạm thời của nhiều yếu tố trong các điều 
kiện (nhân duyên) nhất định. Phái Duy thức chủ trương đối tượng của thức là A lại gia thức, tức là 
vô thức, vô niệm. Con đường nhận thức là trở về với A lại gia thức vốn có bên trong, chứ không phải 
thế giới bên ngoài chủ thể nhận thức. Do vậy, phái này tiếp tục phát triển phương pháp tu luyện nội 
tâm của Yoga với mục tiêu tu luyện năng lực trực giác bằng nội quán, trở về tới tận A lại gia thức. 
Phái Trung quán khai thác và phát triển chủ đề thức tập trung vào vấn đề khả năng và con đường 
nắm bắt chân lý. Xuất phát từ triết lý duyên khởi, phái Trung quán khẳng định rằng, để nắm bắt được 
bản chất tối hậu của tồn tại là không thì con người phải thoát khỏi thói quen nhận thức hướng ngoại, 
không được nương vào ngôn ngữ, khái niệm và kinh nghiệm, mà phải trở vào bên trong vắng lặng 
của vô thức, tại đó trực giác (tức Bát nhã; Pali: Prajna) sẽ bừng giác ngộ được tồn tại đích thực. Phái 
Trung quán tiếp tục khẳng định có hai chân lý: chân lý tương đối là khả năng nắm bắt tồn tại qua 
hình thức bên ngoài, nhưng hình thức là cái luôn vận động, biến đổi theo quy luật vô thường, cho 
nên nó không thể phản ánh đúng bản chất đích thực, tối hậu của tồn tại; chân lý tuyệt đối là khả năng 
nắm bắt tồn tại đích thực đằng sau hiện tượng bằng trực giác (Bát nhã). Con đường của trực giác là 
trực tiếp, không phụ thuộc vào hình thức, ngôn ngữ, suy lý, mà trở lui, lội ngược dòng tâm thức, cho 
tới vô niệm, vô thức. Như vậy, con đường nhận thức là đi ngược, theo cách hiểu về học của phương 
Đông là “học cho đến vô học!”. 
Đỉnh cao tư duy nội quán của Phật giáo được thể hiện ở Thiền tông Đại thừa của Trung Quốc. Đó 
là sự tiếp thu tổng hợp cả hai trường phái Duy thức và Trung quán của Phật giáo Ấn Độ, đồng thời 
kết hợp thêm Đạo của Lão - Trang để thể hiện thành nguyên tắc nhận thức độc đáo “vô chấp”, “vô 
trụ”, “vô trú” trong tư duy và lối sống của thiền sư và tu sĩ Phật giáo. 
Tóm lại, từ góc độ lịch sử tư tưởng, tư duy hướng nội luôn có ý nghĩa khẳng định giá trị độc đáo 
của tư duy Phật giáo với tư cách một trường phái tư duy của phương Đông. Nhận thức luận nội quán 
chính là lý luận về trực giác Bát nhã của Phật giáo Đại thừa - Thiền tông. Nó không chỉ góp phần 
làm phong phú thêm phạm trù trực giác (intuition) trong nhận thức luận của triết học hiện đại, mà 
còn mở ra một hướng rèn luyện, chủ động khai thác tư duy sáng tạo của con người từ một năng lực 
tiềm ẩn thành sức mạnh nội năng sẵn có. Ý nghĩa của tư duy hướng nội (nội quán/trực giác) của Phật 
giáo có thể đánh giá sơ bộ trên một số vấn đề của nhận thức luận hiện đại như sau: 
Thứ nhất, theo thuyết tính không của Phật giáo Đại thừa, tư duy hướng nội là loại nhận thức đặc 
biệt - trực giác (vượt qua cảm tính bản năng đơn giản và lý tính trừu tượng). Đó là phương thức nhận 
thức trực tiếp đối tượng, không thông qua bất kỳ trung gian nào với một số đặc tính sau: 1) trực tiếp; 
2) cụ thể, đặc thù; 3) phi ngôn ngữ; 4) có thể rèn luyện được theo kỹ thuật thiền định của Phật giáo. 
Thứ hai, nhận thức hướng nội của Phật giáo có thể so sánh và làm phong phú thêm nội dung quan 
niệm về trực giác của tư duy phương Tây nói riêng và tư duy nhân loại nói chung. Trực giác có 
nhiều loại khác nhau. Song, trực giác (Prajna) của Thiền Phật giáo đang được coi là cùng tầng, thậm 
chí cao hơn trực giác siêu nghiệm. Đây là trình độ trực giác đang còn được nghiên cứu và kiểm 
chứng bởi liên ngành một số khoa học hiện đại. 
Thứ ba, trực giác nắm bắt được bản chất thực tại hiện hữu, cá biệt đem lại thường là đúng đắn. 
Tuy nhiên, khi có sự can thiệp của suy luận, nhận thức lý tính, hoặc ảo tưởng, ảo giác, thì trực giác 
cũng có thể sai lầm. 
Thứ tư, trực giác có thể đóng vai trò tích cực và khả thi trong nhận thức thông thường hay nhận 
thức khoa học nói chung ở hai khía cạnh: 1) trực giác góp phần khám phá, phát minh ra tư tưởng 
mới; 2) trực giác là sự tổng hợp chuỗi dài các ý niệm được bừng sáng. Khả năng này có thể rèn 
luyện bằng thiền định hay tập trung nghiên cứu cao độ. 
Lớp M12CQDT01-N Page 102
Sự phê phán của Phật giáo đối với hạn chế của nhận thức hướng ngoại có mức độ hợp lý nhất 
định từ góc độ vấn đề tính tương đối của giá trị nhận thức. Từ cơ sở này, Phật giáo đã triển khai, xây 
dựng phương pháp nhận thức hướng nội. Nhìn chung, Phật học và Thiền học đã vận dụng nhận thức 
hướng nội trong quá trình phối hợp các yếu tố tâm linh, tâm lý qua kỹ năng tập trung điều chỉnh, 
thậm chí đạt tới trình độ dừng dòng suy nghĩ để khai thác và phát triển năng lực trực giác của cá 
nhân. Cho đến nay, đây vẫn là một nội dung thú vị, độc đáo của Thiền học và Phật học cũng như 
thực hành thiền định của Phật giáo ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. 
2. Con người Việt Nam đã tiếp thu tư duy hướng nội của Phật giáo như thế nào? 
Việt Nam đã tiếp thu Phật giáo từ nhiều hướng, nhiều lần, nhưng sớm nhất và trực tiếp là từ Ấn 
Độ, sớm hơn cả Trung Quốc, cho nên ảnh hưởng của tư duy Phật giáo đối với người Việt Nam 
không hoàn toàn giống với người Trung Quốc. Sự tiếp thu đó không đơn tuyến và không phải một 
lần, mà còn trong quan hệ với quá trình tiếp thu và ứng dụng Nho, Lão. Và, đặc biệt, chúng đều là 
các tư tưởng ngoại lai. Vì thế, khi bàn về Phật giáo nói chung và tư duy Phật giáo nói riêng của 
người Việt Nam, chúng ta không thể tách riêng tuyệt đối Phật giáo, mà phải trừu tượng hóa một cách 
tương đối bằng cách nghiên cứu tư tưởng Phật giáo qua một số tác phẩm của một số đại diện tư 
tưởng Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử. 
Lần thứ nhất, Phật giáo vào Việt Nam khi tư duy của người Việt chưa thoát khỏi thời kỳ thần 
(huyền) thoại để bước sang thời kỳ thần quyền, nên sự tiếp thu tư duy Phật giáo đang ở thời kỳ giải 
(giản) thần quyền đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tư duy của người Việt và tạo nên một tiền đề mở 
cho sự tiếp thu những cái mới, cái ngoại lai về sau, như Nho giáo, Thiền tông, v.v.. 
Hiện nay, chúng ta không có đủ tư liệu để phân tích tư duy của người Việt cổ đã có gì và thay đổi 
gì khi tiếp thu Phật giáo - Bụt từ Ấn Độ. Nhưng chắc chắn, biểu tượng ông “Bụt” từ bi với những 
triết lý về cuộc sống, như lẽ vô thường, khổ, giải thoát, luân hồi, cùng những lời khuyên con người 
nên kiềm chế dục vọng và làm điều thiện, tránh điều ác, tích phúc đức cho kiếp sau..., đã được tín 
ngưỡng dân gian của văn minh lúa nước Việt Nam tiếp nhận rất sớm và được lưu giữ trong một số 
chuyện cổ tích, huyền thoại, huyền sử, cũng như trong lễ nghi, lễ hội nông nghiệp lúa nước của 
người Việt. Tới thời Trần, ta vẫn thấy vua Phật Trần Nhân Tông dùng từ Bụt nhiều lần trong Cư trần 
lạc đạo, có lẽ vì Bụt đã thành Phật giáo của người dân Việt. 
Các trước tác và dịch phẩm Phật giáo ở Việt Nam thời kỳ này, như Lý hoặc luận của Mâu Tử, Lục 
độ tập kinh, Bát thiên tụng Bát nhã, An ban thủ ý..., đã giới thiệu các nội dung giáo lý cơ bản của 
Phật giáo và ảnh hưởng của chúng đến tư duy, lối sống người Việt rất ấn tượng. Trong các trước tác 
đó, tư duy hướng nội cũng là một trong những yếu tố được giới thiệu và được tiếp thu trong thời kỳ 
này: 
- Lý hoặc luận của Mâu Tử giới thiệu quan niệm cơ bản của Phật giáo trên tinh thần so sánh với 
Nho và Đạo để làm nổi ưu điểm của giáo lý Phật giáo về việc con người tự giác giải thoát khỏi khổ 
bằng cách hướng nội. Các phạm trù vô thường, Đạo, Đại giác, thành Phật, chúng sinh, nghiệp báo, 
ngũ giới, trì giới, ăn chay, bố thí, vô vi, giải thoát, Nê Viên,... được giới thiệu như một cách nhìn mới 
mẻ, độc đáo về thiện ác, về con người và lẽ sinh tử của Phật giáo cho người Việt Nam. 
- Lục độ tập kinh giới thiệu các khái niệm về vũ trụ, nhân sinh và thiên về luận giải nội tâm, 
khuyên người ta tự giác thực hành tu luyện thiền định và giữ giới, đó là con đường để đạt tới giác 
ngộ và giải thoát, như bản nguyên, vô số kiếp, tam giới, hình tướng, bản vô, tồn tại vắng lặng, bố thí, 
trì giới, nhẫn nhục, ngũ giới, hạnh Bồ Tát, cứu độ chúng sinh, quy y, Tam Tôn, Tam Bảo, Như Lai, 
Tứ Đại, Tứ Thiền,... 
- Bát thiên tụng Bát nhã là bộ kinh thuộc văn hệ Bát nhã, trình bày tư tưởng tính không - một tư 
tưởng cơ bản của Phật giáo Đại thừa. Tư tưởng này được phát triển đặc biệt ở Trung Quốc và là cơ 
sở hình thành nên xu hướng nội quán của Thiền tông. Nó “ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ thiền học 
Lớp M12CQDT01-N Page 103
Việt Nam nói riêng, cũng như toàn bộ Phật giáo Việt Nam nói chung, đặc biệt là Phật giáo thời kỳ 
Lý - Trần”. 
- An ban thủ ý là cuốn kinh có ý nghĩa như giáo trình dạy phép đếm hơi thở để điều tâm, thiền 
định, chủ yếu là thực hành tu luyện hướng nội. 
Những lần du nhập Phật giáo vào Việt Nam tiếp sau chủ yếu tiếp thu Phật giáo Đại thừa từ Trung 
Quốc, với các phái thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, chủ yếu qua tầng lớp 
trí thức, vua chúa, quan lại trong triều và một số người Trung Quốc di cư sang Việt Nam. Do đó, lần 
du nhập thứ hai này đã tạo nên một văn hóa Phật giáo bác học của Việt Nam với đỉnh cao là dòng 
thiền Trúc Lâm Yên Tử thời Trần. Tuy nhiên, Phật giáo dân gian không hề bị mất đi, mà nó tiếp tục 
phổ biến trong các tầng lớp lao động và vùng làng quê qua các lễ nghi, tín ngưỡng Phật giáo bình 
dân, thậm chí nhiều yếu tố Phật giáo dân gian còn ảnh hưởng trở lại một số dòng Phật giáo bác học 
và tạo nên đặc trưng Phật giáo Việt Nam như: 
- Tỳ Ni Đa Lưu Chi là phái thiền lấy tên vị thiền sư Ấn Độ. Đây là dòng thiền đầu tiên ở Việt 
Nam. Dòng thiền này chú trọng việc tu luyện thiền định để khai thác trí tuệ Bát nhã (trực giác nội 
quán) và các nội năng kỳ diệu trên cơ sở thuyết tính không của Trung quán luận. Thiền phái này chủ 
trương tư duy siêu việt ngôn ngữ, với “tinh thần không chấp trước,… vô trú nghĩa là không chấp có 
cũng không chấp không, không trú ở có, cũng không trú ở không… cảnh giới của thiền định siêu việt 
ngôn ngữ văn tự và tư duy khái niệm”. Các thiền sư Việt Nam thuộc các thế hệ sau của phái này đều 
chịu ảnh hưởng của tư tưởng đó. Điển hình là vua Lý Thái Tông (thế hệ thứ 7), Đạo Hạnh (thế hệ 
12) và Huệ Sinh (thế hệ 13) đều đề cao quan điểm về nhận thức này. 
- Vô Ngôn Thông là phái thiền thứ hai vào Việt Nam, lấy pháp hiệu của một thiền sư Trung Quốc. 
Tư tưởng cơ bản của thiền phái này là tu luyện thiền định để đạt tới cảnh giới vô niệm, vô ngôn. Đó 
là “một thế giới nội tâm hoàn toàn vắng lặng, khi dòng suy nghĩ miên man, liên tục, lộn xộn của tâm 
thức được chấm dứt. Khi ấy, trí tuệ vốn có của con người bừng sáng, thực tại sẽ hiển lộ rõ ràng trước 
mắt. Đó chính là sự giác ngộ và giải thoát. Đó chính là Niết Bàn”. Các thế hệ sau của dòng thiền Vô 
Ngôn Thông, như Cảm Thành (tổ thứ 2) và Thiện Hội (tổ thứ 3), … tiếp tục khẳng định rằng, “chân 
lý không phải ở đâu xa, mà ở ngay hiện tiền, ở trong bản thân mỗi người, nhưng chân lý đó chỉ có 
thể tu chứng trực tiếp, … mọi sự phân tích lý tính đều phương hại đến sự ngộ đạo (ngộ tâm - chân 
như)”. 
- Thảo Đường là thiền phái thứ ba của Việt Nam, ra đời trong thời Lý, do sư Thảo Đường sáng 
lập và truyền đạo cho vua Lý Thánh Tông (thế hệ thứ nhất), vua Lý Anh Tông (thế hệ thứ năm). 
Dòng thiền này chủ yếu phát triển trong Hoàng gia và giới quý tộc có thế lực thời đó. Do vậy, nó đã 
có sự tác động trực tiếp đến tư duy của họ trong đường lối trị nước. 
- Trúc Lâm Yên Tử là dòng thiền Phật giáo của Việt Nam, hình thành vào đời Trần. Vua Trần 
Nhân Tông là tổ sáng lập ra thiền phái này trên cơ sở tiếp thu, kế thừa tư tưởng cơ bản của các phái 
thiền đã có ở Việt Nam. Do đó, thiền phái này nằm ngoài đường hướng chung của Thiền tông Đại 
thừa. Có thể nói, đây là sự thống nhất giáo hội Phật giáo Việt Nam lần đầu tiên, “dứt bỏ các truyền 
thừa từ trước có nguồn gốc bên ngoài”. Các nhà tư tưởng Phật giáo Trúc Lâm đều là các vị vua chúa, 
hoàng tộc giữ các trọng trách lớn của quốc gia, đồng thời là các vị anh hùng dân tộc. Nhiều người đã 
để lại trước tác thể hiện tư tưởng Phật giáo Việt Nam thời kỳ này. Từ góc độ tư duy, nổi bật nhất là 
các trước tác bàn về các vấn đề bản thể tính không và nhận thức hướng nội đặc sắc của Thiền tông. 
“Điểm đáng chú ý là các nhà thiền học thời Trần rất tích cực trong việc kêu gọi hướng vào tâm 
mà tìm thấy tính”, “quay đầu nhìn vào phía bên trong”, coi sự “tìm thấy bản tính là một sự trở về” và 
“nếu tự mình không tìm thấy bản tính” thì “chẳng ai có thể truyền tâm cho mình”, do đó mọi người 
phải tự tìm lấy!”. Trong lời tựa của Thiền Tông Chỉ Nam, vua Trần Thái Tông đã đề cao vai trò của 
tư tưởng Phật giáo như là đường lối trị quốc lúc đó: “…phương tiện để mở lòng mê muội, con đường 
sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của đức Phật. Đặt mực thước cho hậu thế; làm khuôn mẫu cho tương 
Lớp M12CQDT01-N Page 104
lai, ấy là trọng trách của tiên thánh… nay lẽ nào trẫm không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách 
nhiệm của mình, giáo lý của Phật làm giáo lý của mình ư!”. Đến đây, ta có thể thấy khá rõ ràng là, tư 
duy hướng nội của Phật giáo đã được vận dụng linh hoạt trong hoạt động chính trị - xã hội ở Việt 
Nam thời kỳ phong kiến. 
Đến thời kỳ này, có thể nói, Phật giáo Việt Nam đã chấm dứt quá trình du nhập và đã khẳng định 
được đường hướng và phong cách độc lập với những đóng góp to lớn cho dân tộc. Về mặt tư duy, 
một số phạm trù cơ bản về con đường hướng nội của Phật giáo bác học đã được nhiều nhà Phật học 
và Thiền học giải thích bằng tâm hồn người Việt, khiến chúng trở nên gần gũi với tư duy của nhiều 
tầng lớp trong xã hội. Chẳng hạn, các thuật ngữ “vô chấp”, “vô trụ”, “vô trú” của Thiền Trung Quốc 
được luận giải qua các thuật ngữ Việt thông dụng và dễ hiểu hơn, như “trực nhập”, “vô niệm”, “vô 
ngôn”, “quay đầu trở vào phía bên trong”, “trở về”, “mở lòng”,… Giới trí thức, đặc biệt là các quan 
lại và quân vương trong triều, đều hiểu hoặc thông thạo Phật học, Thiền học và có thể ứng dụng 
những kiến thức đó vào các đối sách ngoại giao, văn hóa với nước lớn Trung Quốc - cũng là một 
nước có truyền thống Phật giáo. 
Đối với tầng lớp bình dân ở Việt Nam, Phật giáo được coi là tôn giáo truyền thống, tuy không cao 
siêu như là Thiền học hay Phật học, nhưng lại chứa đựng những triết lý nhân sinh, được thể hiện sinh 
động qua lối sống và tín ngưỡng của người Việt một cách giản dị. Nói cách khác, tư duy hướng nội 
cao siêu khi đi vào tầng lớp dân thường thì được đời thường hóa, dân gian hóa, nôm na hóa, và thông 
tục hóa. Đối với Phật giáo dân gian, có thể thấy rằng, tư duy hướng nội không bàn tới các chủ đề bản 
thể hay chân lý tuyệt đối, như Phật tính, tính không, Bát nhã, chân như, vô ngôn, vô trụ…, mà chú 
trọng tới việc tu dưỡng đạo đức cá nhân một cách tự giác theo nguyên tắc hướng nội: “Phật tại tâm”. 
Việc đánh giá hành vi đạo đức đúng hay sai, thiện hay ác không phải là từ người khác, mà phải tự 
mình ngay thẳng với tâm mình, hay tự “mình làm mình chịu”. Việc tự đánh giá này luôn phân biệt 
rõ: coi trọng cái đạo đức bên trong (tâm) hơn là cái tài có thể thi thố với thiên hạ. Người dân thường 
tự nhắc rằng, “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” và thực hiện phương châm “diệt Tam độc” (tham, 
sân, si) trong tâm để bỏ các hành vi gây nghiệp ác của bản thân, như ái, ố, hỉ, nộ; đồng thời coi đó là 
cách để xây dựng, bồi đắp các hành vi cao đẹp, như từ bi, bác ái, hỉ xả,… để tích nghiệp thiện. 
Hiện nay, để Phật giáo có thể đóng góp thực sự cho triết học nói chung, cũng như phù hợp với 
chủ trương “tôn giáo đồng hành cùng dân tộc”, thì việc triển khai phương thức nhận thức hướng nội 
này phải gắn liền với các vấn đề chung của tôn giáo dân tộc trên tinh thần “Đạo pháp - dân tộc - chủ 
nghĩa xã hội” mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã lựa chọn. Từ góc độ tư duy, đối với Phật giáo bác 
học của Việt Nam, có thể nói, tư duy nội quán của Phật giáo được tiếp thu nổi trội trên một số đặc 
trưng sau: 1) lý luận khái quát về con người nội tâm - đạo đức tôn giáo (khổ và giải thoát khỏi khổ là 
tự chính mình từ bên trong); 2) phương thức tư duy hướng nội, điển hình nhất là nhận thức trực giác 
của Thiền tông Phật giáo; 3) nguyên tắc siêu vượt khái niệm, kinh nghiệm và ngôn ngữ khiến hệ tư 
duy “mở”, nên dễ dàng chấp nhận các tư tưởng ngoại lai. 
Đồng thời, Phật giáo bác học Việt Nam vẫn tiếp tục nhấn mạnh đặc trưng con người nội tâm trên 
cơ sở thuyết vô thường, vô ngã để khắc phục “tình trạng thiếu cân đối trầm trọng giữa đời sống vật 
chất và cuộc sống tâm linh” nhằm hoàn thiện các chuẩn mực nhân cách hướng nội đặc trưng của một 
tín đồ Phật giáo truyền thống, kết hợp với các yêu cầu của tôn giáo dân tộc trong thời đại mới, đó là 
góp phần “giữ gìn giềng mối đạo đức kỷ cương, tránh sự phạm pháp, tránh sự lai căng mất gốc…”. 
Theo đó, biện pháp thực hiện là phải từ chính mỗi người. Đó là, “giúp con người hiểu rõ sự thật của 
tự thân, sự thật của thế giới mà con người đó đang sống, thấy rõ hướng đi của đời mình, và chịu 
trách nhiệm về mọi hành vi của mình”, “hướng tới xây dựng con người toàn diện, nhân bản và trí 
tuệ”. Hướng nội còn là một nội dung được Phật giáo đặc biệt chú trọng trong môn Duy thức học, vì 
môn Duy thức học “chú trọng phân tích nội tâm, kết hợp với tu tập thiền định”. Trong thực tế, Phật 
giáo Việt Nam đang tích cực mở thêm nhiều Thiền viện nhằm phổ biến kỹ thuật thiền định để tu 
luyện nội tâm và để có được “trực giác nhạy bén”. 
Lớp M12CQDT01-N Page 105
Đối với Phật giáo dân gian, ảnh hưởng của tư duy hướng nội chủ yếu dưới sự hướng đạo của Phật 
giáo bác học, qua các bộ luận giải về kinh Phật hay giáo lý Phật giáo của các thiền sư, các nhà Phật 
học và qua đó, gián tiếp tác động tới tín đồ bình dân qua các hoạt động tín ngưỡng, như tụng kinh, 
nghi lễ hay lễ hội của Phật tử tại gia hoặc trên chùa, dần dần điều chỉnh hành vi đạo đức và tư duy 
hướng nội của họ. 
Nhìn chung, tư duy hướng nội của Phật giáo đã góp phần tạo nên nét tư duy riêng, lối sống nhân 
văn của người Việt. Có thể nói, sức sống của Phật giáo phần nào cũng chính là sự cân bằng, điều 
hòa, chuyển giao giữa Phật giáo bác học với Phật giáo dân gian qua các phép tu luyện nội quán và 
đạo lý nhân văn của dân tộc Việt. Cho đến nay, nội quán của Phật giáo vẫn phát huy một số giá trị 
độc đáo có tính nhân văn cao. Chẳng hạn, nếu đặt mục đích để rèn luyện đạo đức từ nội tâm, làm chủ 
các cảm xúc, thư giãn tuyệt đối, điều chỉnh dòng ý thức và tập trung tư tưởng cao độ vượt qua các 
tác động nhiễu loạn bên ngoài, thì nội quán của Phật giáo vẫn là một khuynh hướng khả thi. Nó đã 
được khoa học về tâm - sinh lý hiện đại (phương Tây) kiểm chứng, chứng minh và đang được rất 
nhiều người theo học và thực hành tu tập, kể cả những người không phải tín đồ Phật giáo. 
II. NHỮNG NỘI DUNG CỦA TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM 
Yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử tư tưởng Việt Nam thể hiện ở: 
1. Những nhận thức về dân tộc và dân tộc độc lập 
Cộng đồng người Việt được hình thành sớm trong lịch sử, có tên gọi là Việt. Để phân biệt với 
nhiều tộc người Việt ở miền nam Trung Quốc, nó được gọi là Lạc Việt. Nhận thức về dân tộc và độc 
lập dân tộc của người Việt là cả một quá trình. 
Quan niệm về dân tộc Việt ngang hàng với các dân tộc khác, chứng minh rằng, Lạc Việt ở về phía 
sao Dực, sao Chẩn độc lập với sao của người Hán ở phương bắc. Dân tộc Việt Nam thuộc phía Nam 
Ngũ Lĩnh - nghĩa là có địa giới rõ ràng, được Trời phân định. Xuất phát từ thiên văn, địa lý, các nhà 
tư tưởng Việt Nam đã chứng minh về mặt lịch sử “Núi sông nước Nam thì vua nước Nam trị vì” (Lý 
Thường Kiệt). 
Nguyễn Trãi đã chứng minh dân tộc Việt Nam có đủ các yếu tố văn hiến, lãnh thổ, phong tục, lịch 
sử, nhân tài, có bề dày như các dân tộc khác. Nhận thức của Nguyễn Trãi là bước phát triển mới 
trong quan niệm về dân tộc và độc lập dân tộc. Điều đó chứng tỏ dân tộc Việt Nam là một dân tộc 
độc lập, có chủ quyền. 
2. Những quan niệm về nhà nước của một quốc gia độc lập ngang hàng với phương bắc 
Xây dựng nhà nước của dân tộc Việt Nam có quốc hiệu, quốc đô, đế hiệu, niên hiệu, v.v thể hiện 
sự ngang hàng và độc lập với nhà nước phương bắc. Ví dụ, tên hiệu của người đứng đầu nhà nước 
chuyển từ vương sang đế. Lý Bí bỏ những tên gọi mà phong kiến phương bắc áp đặt cho ta như Giao 
chỉ; Giao Châu, Nam Giao, v.v đặt tên mới. Điều đó nói lên rằng, nhà nước Việt Nam là nhà nước 
độc lập không phụ thuộc, ngang hàng với nhà nước phong kiến phương bắc. 
3. Những nhận thức về nguồn gốc, động lực của cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước 
Muốn có được nguồn gốc, động lực của cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước phải: Coi trọng 
sức mạnh cộng đồng người Việt; coi trọng sức mạnh của nhân dân, của cả dân tộc; coi trọng đoàn 
kết toàn dân tộc. 
Như vậy, tư tưởng yêu nước Việt Nam khác biệt với tư tưởng yêu nước của các dân tộc khác. Nó 
được đúc kết bằng xương máu và trí tuệ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. 
III. NHỮNG QUAN NIỆM VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI 
Lớp M12CQDT01-N Page 106
Các nhà tư tưởng Việt Nam quan tâm nhiều tới “đạo trời” và “đạo người”. Trong ba truyền thống: 
Nho - Phật - Lão-Trang, thì sau thời kỳ Lý - Trần, người ta hướng nhiều về đạo Nho. 
Các nhà yêu nước và nhân đạo thì khai thác những nội dung của Nho nhưng diễn đạt được sự yêu 
nước, yêu dân, yêu con người, tin ở sức mạnh lòng người Việt. Các nhà tư tưởng phong kiến khác thì 
khai thác những gì của Nho mà củng cố tôn ti, trật tự, đẳng cấp. 
Cùng với Nho, các nhà tư tưởng cũng tìm đến Phật trong việc giải quyết những công việc của đời 
thường. Khi thất thế trên đường danh lợi họ lại tìm đến Lão-Trang để tự tư tự tại, được an ủi. 
Như vậy, trong lịch sử tư tưởng Việt Nam các nhà tư tưởng khai thác những khía cạnh khác nhau 
của Nho - Phật - Lão-Trang phục vụ cho “đạo làm người” của mình. 
Lớp M12CQDT01-N Page 107

On tap thi triet hoc mac le nin

  • 1.
    CÂU HỎI ÔNTẬP TRIẾT HỌC (THI GIỮA KỲ) 1. Trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử cơ bản của chủ nghĩa duy vật:...................................2 1b. Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của tri thức triết học. Mối quan hệ của triết học với các môn khoa học khác..............................................................................................................................................6 2. Trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử của phép biện chứng..................................................8 4. Triết học Mác - Lênin trong thời đại ngày nay.............................................................................................33 3. Anh chị hãy trình bày những chức năng cơ bản của triết học và vai trò của triết học đối với đời sống xã hội......................................................................................................................................................................36 4. Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của triết học Phương Đông cổ - trung đại và nêu lên một số ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay........................................................................39 5. Anh chị hãy trình bày quan điểm về “nhân-quả” của triết học Phật giáo trong thuyết Tứ diệu đế...............51 6. Bằng sự ra đời của triết học Phật giáo, anh chị hãy chứng minh rằng nội dung của các học thuyết triết học nói riêng, đời sống tinh thần của con người nói chung bị điều kiện sống quy định..........................................53 7. Bằng sự ra đời của triết học Nho gia, anh chị hãy chứng minh rằng nội dung của các học thuyết triết học nói riêng, đời sống tinh thần của con người nói chung bị điều kiện sống quy định..........................................54 8. Anh chị hãy trình bày quan điểm “chính danh” của triết học Nho gia và nêu lên một số ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.......................................................................................................56 9. Anh chị hãy trình bày quan điểm của mình về thuyết “Chính danh” của Nho gia.......................................59 10. Anh chị hãy trình bày nội dung về “lễ” trong “ngũ thường” của Nho gia và ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn hiện tại............................................................................................................63 11. Anh chị hãy trình bày nội dung cơ bản về “lễ” trong “ngũ thường” của Nho gia và quan điểm của anh chị về vai trò của “lễ” đối với đời sống xã hội........................................................................................................66 12. Anh chị hãy trình bày đặc trưng cơ bản của triết học phương Tây cổ đại và nêu lên một số ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của khoa học Phương Tây hiện nay............................................................................71 13. Anh chị hãy trình bày đặc trưng cơ bản của triết học thời phục hưng và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của xã hội Tây Âu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX......................................................................................72 Câu 13b: Trình bày những tiền đề ra đời của triết học Mác-Lênin...................................................................74 14. Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Hêghen đối với sự ra đời của triết học Mác......................77 15. Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Phoiơbác đối với sự ra đời của triết học Mác...................80 16. Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của triết học Hêghen và Phoiơbác đối với sự ra đời của triết học Mác.83 17. Anh chị hãy trình bày ảnh hưởng của những thành tựu của khoa học tự nhiên thế kỷ thứ XIX đối với sự ra đời của triết học Mác.....................................................................................................................................87 18. Anh chị hãy trình bày những đặc trưng cơ bản của tri thức triết học. Mối quan hệ của triết học với các môn khoa học khác............................................................................................................................................89 19. Anh chị hãy trình bày những đặc điểm chủ yếu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam..........................91 20. Triết học có ý nghĩa gì đối với cuộc sống và học tập, công tác của bạn ? 21. Tại sao đến nay thế kỷ XXI vẫn còn đấu tranh giữa CNDV & CNDT ? Lớp M12CQDT01-N Page 1
  • 2.
    1. Trình bàykhái quát và đánh giá các hình th c l ch s c b ứ ị ử ơ ản của chủ nghĩa duy vật: Cũng như tất cả các ngành khoa học khác, chủ nghĩa duy vật triết học đã có quá trình ra đời và phát triển qua các giai đoạn khác nhau mà biểu hiện tập trung nhất của nó là việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường duy vật - mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Với việc giải quyết theo lập trường duy vật biện chứng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật đã được nâng lên một tầm cao mới về chất, đặt nền tảng thế giới quan khoa học để giải quyết tất cả những vấn đề của nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn. Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học. Phạm trù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diển ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triết học. Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người. -Theo Lênin "Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác". Ý thức: là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức: Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức. Vật chất là cái có trước nó sinh ra và quyết định ý thức: Nguồn gốc của ý thức chính là vật chất: Bộ não người, cơ quan phản ánh thế giới xung quanh, sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não người, tạo thành nguồn gốc tự nhiên. Lao động và ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) trong hoạt động thực tiễn cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành tồn tại và phát triển của ý thức. Mặt khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Vật chất là đối tượng khách thể của ý thức, nó quy định nội dung, hình thức, khả năng và quá trình vận động của ý thức. Sự tác động trở lại của ý thức: Y thức do vật chất sinh ra và quy định nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đối của nó. Hơn nữa sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần, phản ánh sáng tạo và chủ động chứ không thụ động, máy móc, nguyên xi thế giới vật chất vì vậy nó có tác động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Dựa trên các tri thức về quy luật khách quan, con người đề ra mục tiêu, phương hướng, xác định phương pháp, dùng ý chí để thực hiện mục tiêu ấy. Vì vậy ý thức tác động trực tiếp đến vật chất theo hai hướng chủ yếu: Nếu ý thức phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy hoặc tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đặc trưng vật chất. Ngược lại nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người không phù hợp với qluật khách quan do đó sẽ kìm hãm sự ptriển của vật chất. Tuy vậy sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất định chứ nó không thể sinh ra hay tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất được. Và suy cho cùng dù ở mức độ nào nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh thế giới vật chất. Biểu hiện của mối quan hệ giữa ý thức và vật chất trong đời sống xã hội là quan hệ tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội. Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là Lớp M12CQDT01-N Page 2
  • 3.
    cơ sở đểnghiên cứu, xem xét các mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiễn, khách thể và chủ thể, vấn đề chân lý... * Từ mối quan hệ này ta đánh giá và rút ra được Quan điểm khách quan như sau: Nguyên tắc khách quan trong xem xét là hệ quả tất yếu của quan điểm DVBC về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Vật chất quyết định ý thức là sự phản ánh vật chất cho nên trong nhận thức và hành động phải đảm bảo tính khách quan, trong hoạt động thực tiễn phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan. Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thân SVHT, từ thực tế khách quan, không được xuất phát từ ý thức chủ quan, không lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không lấy ý chí áp đặt thực tế. Nắm vững nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, nóng vội, định kiến, không trung thực. Nói như vậy không có nghĩa là quan điểm khách quan coi nhẹ tính năng động của ý thức. Quan điểm khách quan không những không loại trừ mà còn đòi hỏi phát huy tính năng động và sáng tạo của ý thức trong quá trình phản ánh sự vật. Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động chủ quan trong việc tìm ra những con đường, những biện pháp để từng bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật. Điều đó phân biệt quan điểm khách quan với chủ nghĩa khách quan. Nguyên tắc khách quan có ý nghĩa ngăn ngừa tư duy khỏi những sai lầm do việc chủ thể nhận thức đưa vào sự vật (khách thể nhận thức) một số yếu tố chủ quan vốn không có trong bản thân sự vật. Tuân theo quan điểm khách quan góp phần ngăn ngừa bệnh chủ quan, duy ý chí. Yêu cầu của nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan. Từ những cơ sở lý luận trên chúng ta nhận thấy Bệnh chủ quan duy ý chí trong quá trình xây dựng CNXH thời kỳ trước đổi mới: Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm khá phổ biến ở nước ta và ở nhiều nước XHCN trước đây, gây tác hại nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng CNXH. Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vo bộ ĩc nguời một cách sáng tạo, l ci thực tại chủ quan tồn tại ở trong óc người dưới dạng hình ảnh tinh thần của sự vật khch quan. Vì vậy nếu cường điệu tính sáng tạo của ý thức sẽ rơi vào bệnh chủ quan, duy ý chí. Bệnh chủ quan duy ý chí là khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, cường điệu tính sáng tạo của ý thức, của ý chí, xa thời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan lấy nhiệt tình Cách mạng thay cho sự yếu kém về tri thức khoa học. Sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, sai lầm đó thể hiện rõ trong khi định ra chủ trương chính sách và lựa chọn phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn theo hướng áp đặt, rơi vào ảo tưởng, chủ quan. Bệnh chủ quan duy ý chí có nguồn gốc từ nhận thức, sự yếu kém về tri thức khoa học, tri thức lý luận không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Bệnh chủ quan duy ý chí còn do nguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của người sản xuất nhỏ chi phối. Cơ chế quan liêu bao cấp cũng tạo điều kiện cho sự ra đời của bệnh chủ quan, duy ý chí... Trước thời kỳ đổi mới (ĐH6), Đảng ta đã mắc bệnh chủ quan, duy ý chí trong việc xây dựng mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế, Đảng ta đã nóng vội muốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, muốn sau khi cải tạo XHCN chỉ còn lại hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể hay có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp nhẹ, chúng ta đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp mang tính quan liêu, cơ chế xin cho, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền lương, tiền tệ. Lớp M12CQDT01-N Page 3
  • 4.
    Để khắc phụcbệnh chủ quan duy ý chí, phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp. Trước hết phải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ lý luận của Đảng, trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chí trị, chống bảo thủ, trì trệ, quan liêu. Bài học kinh nghiệm của Đảng: Trong quá trình xác định đường lối Cách mạng và chỉ đạo thực tiễn. Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn luôn quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Đảng cộng sản Việt Nam "luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu đúng đắn của Đảng" là một bài học kinh nghiệm lớn rút ra từ thực tiễn Cách mạng nước ta. Đó chính là biểu hiện coi quan điểm vật chất, các quy luật khách quan có vai trò quyết định được ý thức đối với nhận thức. Đảng ta thừa nhận đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, muốn nhanh chống thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH trong điều kiện mới ở chặng đường đầu tiên. Chúng ta đã có những thành kiến không đúng trên thực tế chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan (quy luật cung cầu, cạnh tranh, giá trị) do đó không chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương chính sách kinh tế làm cho nền kinh tế trì trệ, khủng hoảng trầm trọng. Để khắc phục được khuyết điểm, chuyển biến tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy. Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống quy luật khách quan, trong đó các quy luật đặc thù của CNXH ngày càng chi phối mạnh mẽ phương hướng phát triển chung của xã hội. Tiêu chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là sản xuất phát triển, lưu thông thông suốt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được ổn định và nâng cao, con người mới XHCN ngày càng hình thành rõ nét, xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ XHCN ngày càng được cũng cố. Điều đó là điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng. Mọi chủ trương chính sách gây tác động ngược lại là biểu hiện sự vận dụng không đúng quy luật khách quan, phải được sữa đổi hay bãi bỏ. Trên cơ sở quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, rút kinh nghiệm từ những sai lầm do chủ quan duy ý chí, từ Đại hội VI của Đảng (1986) Đảng đã chỉ rõ bài học kinh nghiệm và đề ra phương hướng, biện pháp khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ, trì trệ nhằm từng bước sửa chữa những sai lầm. Những phương hướng biện pháp đó là: - Một là phải tiến hành đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những hình thức, bước đi, cách làm phù hợp, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao trình độ tri thức, năng lực nhận thức và vận dụng quy luật cho đội ngũ cán bộ Đảng viên. Đây là cuộc cách mạng triệt để, sâu sắc và đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…), từ đổi mới quan niệm, tư duy lý luận đến đổi mới cơ chế chính sách, tổ chức cán bộ, phong cách và lề lối làm việc. Để đảm bảo sự lãnh đạo thành công trong công cuộc đổi mới này thì Văn kiện Đại hội Đảng lần VI đã xác định: “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu của Đảng. Năng lực nhận thức theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng”. Trên cơ sở hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và tình hình chính trị, ổn định xã hội, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng KT-XH, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống XH. Bên cạnh đó, với quan điểm tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, trong các chủ trương, chính sách kinh tế từ sau Đại hội Đảng lần VI đến nay đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cụ thể như: Đại hội VI xác định xây dựng quan hệ Lớp M12CQDT01-N Page 4
  • 5.
    sản xuất mớixã hội chủ nghĩa là một công việc to lớn, không thể làm xong trong một thời gian ngắn, không thể nóng vội làm trái quy luật. Văn kiện Đại hội xác định: "Nay phải sửa lại cho đúng như sau: Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất". Đại hội cũng phát hiện một vấn đề lớn có tính lý luận, hoàn toàn mới mẻ: "Kinh nghiệm thực tiễn chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất". Trên cơ sở đó, Đại hội xác định: "Nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ".Trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, tôn trọng nguyên tắc quan hệ SX phải phù hợp với lực lượng SX, Đại hội VI đã xác định phải điều chỉnh lại các cơ cấu này theo hướng "không bố trí xây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực tế", tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương trình mục tiêu: sản xuất lương thực-thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu. Đây là những chương trình chẳng những đáp ứng được nhu cầu bức xúc nhất lúc bấy giờ mà còn là điều kiện thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, là cái gốc tạo ra sphẩm hàng hóa - Hai là trong điều kiện ngày nay khi thế giới đang đi vào nền kinh tế tri thức thì chúng ta phải “nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển KTXH, từng bước phát triển kinh tế tri thức ở nước ta”(VKĐH IX) và VKĐH X tiếp tục phát triển tư tưởng đó trong điều kiện đất nuớc ta đã hội nhập với cộng đồng quốc tế và nhấn mạnh phải: “phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đây là biện pháp nhằm khắc phục nguyên nhân sâu xa của bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ là sự yếu kém về lý luận, lạc hậu về trình độ, tri thức KH công nghệ. Văn kiện ĐH Đảng lần VIII đã nhấn mạnh: “phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”. Để thực hiện được điều đó, Đảng ta cũng đã đề ra phương hướng trong VK ĐH X là “phát huy tối đa khả năng về vật chất, trí tuệ và tinh thần của mọi người dân”, đặc biệt phải chú ý: “trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân có tay nghề cao. Có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và ngòai nước, trong cộng đồng người VN ở nước ngòai” Để đảm bảo công cuộc đổi mới đi đúng hướng và ngày càng đạt kết quả cao, Đảng ta đẽ đề ra biện pháp: “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng…”(VKĐH X), đồng thời phải: “tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng, của dân tộc, nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nghị quyết của ĐH, sớm đưa nuớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và tiến mạnh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nuớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Từ những kinh nghiệm thời gian qua, tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011), Đảng ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm sau: - Một là, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đổi mới toàn diện, đồng bộ với những bước đi thích hợp. Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phải gắn với chú trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc. Mở rộng, phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả cộng đồng. - Hai là, phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Phát triển lực lượng sản xuất phải đồng Lớp M12CQDT01-N Page 5
  • 6.
    thời xây dựng,hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp; củng cố và tăng cường các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế. - Ba là, phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường quan hệ đối ngoại, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Bốn là, đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thật sự phát huy dân chủ, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, trong sáng về đạo đức, lối sống, có sức chiến đấu cao, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. - Năm là, trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực tiễn đất nước; chú trọng công tác dự báo, kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp với tình hình mới; tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội. Trên đây là phần trình bày khái quát và đánh giá các hình thức lịch sử cơ bản của Chủ nghĩa duy vật gắn liền với tình hình KT-XH thực tiễn của Việt Nam thời gian qua. 1b. Anh chi hãy trình bày nh̃ng đăc tr ng c ban cua tri th́c ̣ựư ở̉ư triết hoc̣. Mối quan hê ̣cuả triết hoc̣ vơí các môn khoa hoc̣ khác Hiện nay, vấn đề tri thức đang được quan tâm nghiên cứu sâu sắc cả về phương diện triết học lẫn nhận thức khoa học nói chung. Điều đó không chỉ do yêu cầu của kinh tế tri thức, mà còn do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Trong nghiên cứu tri thức, một khía cạnh nổi lên, đó là xác định bản chất tri thức hay định nghĩa khái niệm tri thức. Tri thức là một thành phần của nhận thức, của toàn bộ đời sống tinh thần, ý thức con người nói chung. Tri thức liên quan đến mọi tồn tại, hoạt động của con người, xã hội và có những cơ sở tự nhiên nhất định của nó. Mỗi đặc trưng của tri thức sẽ được vạch ra dựa trên một hoặc những quan điểm xem xét nhất định, trong đó có quan điểm cơ bản, làm nền tảng của toàn bộ sự xem xét. Việc chỉ ra những đặc trưng của tri thức dưới đây sẽ mang nội dung và ý nghĩa như vậy. Phải thấy ngay rằng việc nhận thức bản chất của tri thức sẽ trở nên hỗn độn, khó xác định, nếu trước hết không thừa nhận tri thức là một dạng thái nhất định của tinh thần, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Một trong những luận điểm tiêu biểu của triết học Mác về ý thức: “ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”. Luận điểm đó thể hiện rõ quan điểm duy vật khoa học về ý thức, cho thấy rõ ý thức là sự phản ánh hiện thực vật chất khách quan vào bộ óc người. Do đó, tri thức với tư cách thành phần của nhận thức và của ý thức, tất nhiên cũng được xem là cái phản ánh, cái tồn tại trong bộ óc người - chủ thể tri thức, phân biệt, đối lập với cái được phản ánh là hiện thực vật chất khách quan. Như vậy, tri thức là cái tinh thần, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Với tư cách là cái tinh thần, tri thức phản ánh các đối tượng vật chất không phải bằng cách tái hiện đối tượng đó bằng những đặc tính vật chất như những phản ánh vô cơ, vật lý, mà bằng những đặc tính tự nhiên - xã hội tổng hợp, đặc trưng cho hoạt động và chức năng phản ánh của bộ não người. Tri thức là hình thức cao nhất của sự tiến hoá các hình thức phản ánh. Cùng với việc hiểu tri thức theo quan điểm phản ánh luận duy vật mácxít, thì việc hiểu nó với tư cách một hình thức của sự tiến hoá của các hình thức phản ánh, lại là một góc nhìn khác, góc nhìn tiến hoá luận về tri thức. Lớp M12CQDT01-N Page 6
  • 7.
    Tri thức làkết quả của nhận thức. Việc xem xét tri thức theo quan điểm phản ánh luận không tách rời tiếp cận tri thức theo quan điểm hoạt động. Nhận thức của con người dù dưới bất kỳ hình thức nào với mức độ nào, cũng đều là quá trình hoạt động. Theo cơ cấu chung, thì hoạt động nào cũng có yếu tố cuối cùng mang ý nghĩa “khép lại” một chu trình, đó là sản phẩm hay kết quả của nó. Không thể đồng nhất kết quả với quá trình tạo ra nó trong bất kỳ hoạt động nào của con người. Thí dụ, việc người ta đặt ra câu hỏi: “Trái đất có hình gì?”, việc người ta đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó và việc người ta đưa ra được câu trả lời rằng “Trái đất hình cầu”, rõ ràng là hai thành tố khác nhau của hoạt động nhận thức. Cái sau là kết quả và cái trước là quá trình đạt đến cái sau. Tất nhiên, trong quá trình đi đến kết luận “Trái đất hình cầu”, người ta phải vận dụng nhiều tri thức khác như những hiểu biết (tri thức) về “trái”, “đất”, “trái đất”, về “hình”, “cầu” và “hình cầu” v.v.. Những tri thức này cấu thành quá trình nhận thức, sáng tạo ra những tri thức mới, giúp người ta hiểu ra điều là “Trái đất hình cầu”. Nhưng những tri thức ấy khi tách riêng ra, chúng vẫn là kết quả của những quá trình nhận thức đã diễn ra trước đó, còn trong quá trình nhận thức để đạt đến tri thức mới (nhận ra “Trái đất hình cầu”), chúng là những yếu tố cấu thành quá trình ấy, là phương tiện, chứ không phải mục đích. Tri thức với tư cách là thông tin. Quan niệm tri thức, sự phản ánh ở giới tự nhiên hữu sinh nói chung, là thông tin. Như mọi vật mang thông tin, bộ não con người mang, lưu giữ tri thức không phải để cố định chúng trong trạng thái đã xong xuôi, kết thúc, hoặc thậm chí trong trạng thái chết, mà là để chuẩn bị, đem lại, cung cấp cho những yêu cầu, hoạt động mới của con người. Chỉ với ý nghĩa ấy, tri thức mới tồn tại với nghĩa là thông tin và cũng chỉ nhờ vậy, bộ óc con người mới trở thành vật mang thông tin là tri thức. Tuy nhiên, với tư cách là thông tin, tri thức khác với những hình thức thông tin tinh thần, vật chất khác. Tri thức không đem lại những thông tin về các cảm xúc, ý chí, niềm tin và khát vọng của con người. Mặt khác, những xúc cảm của con người cũng là những thông tin, nhưng chúng không trực tiếp đem lại tri thức. Tuy vậy, thông tin tri thức và thông tin tình cảm không tách rời nhau. Thí dụ, nhìn thấy một người gặp cảnh ngộ bi đát, đau thương, chúng ta cũng cảm thấy đau đớn. Nhưng tri thức không đem lại chính sự đau đớn ấy, mà chỉ cho chúng ta biết những “dấu hiệu” của sự đau thương, như sự buồn bã trên nét mặt, sự quằn quại, kêu rên… của người có cảnh ngộ ấy. Còn sự đau đớn của chúng ta không bắt nguồn chủ yếu từ sự nhận ra những dấu hiệu ấy, mà là từ chính cái tình cảnh của đối tượng mà những dấu hiệu nói trên đã đụng chạm đến và làm rung động cái lương năng bên trong của chúng ta. Thông tin - tri thức là thông tin sống, có khả năng sinh sôi không ngừng. Một mặt, nó không ngừng được nạp thêm, làm đầy thêm về khối lượng, loại hình, dung lượng từ môi trường; mặt khác, không ngừng truyền vào môi trường. Trong cả hai quá trình ấy, thông tin tri thức vẫn có thể vừa là sự nạp thêm, vừa là sự mất đi, vừa cung cấp và vừa sửa chữa, điều chỉnh. Đây là quá trình đặc biệt của thông tin tri thức. Tri thức là sự biểu hiện, khẳng định bản chất con người. Đây là sự tiếp cận con người, tiếp cận văn hóa về tri thức. Vì thế, câu hỏi trước tiên phải được đặt ra và giải đáp là: “Con người là gì?”. Sự giải đáp là toàn bộ những luận giải về tri thức phù hợp với nhận thức khoa học. Mối quan hệ của triết học với các môn khoa học khác: Triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Với quan niệm đó, triết học cổ đại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà được xem là"khoa học của mọi khoa học". Quan niệm macxit cho rằng:"Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con người đối với thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy". Sự hình thành, phát triển của triết học không thể tách rời sự phát triển của khoa học cụ thể, qua khái quát các thành tựu của khoa học cụ thể. Tuy nhiên, triết học cụ thể, nó là thế giới quan và phương pháp luận cho khoa học cụ thể, nó là thế giới quan và phương pháp luận cho khoa học cu Lớp M12CQDT01-N Page 7
  • 8.
    thể, là cơsở lý luận cho các khoa học cụ thể trong việc đánh giá các thành tựu đã đạt được, cũng như vạch ra phương hướng, phương pháp cho quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể. Khác với các khoa học cụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới, triết học xem xét thế giới như một chỉnh thể và đem lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận. Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ thống triết học, nhưng điểm chung của chúng là đều nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy nói riêng với thế giới. Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển của khoa học, ngược lại chủ nghĩa duy tâm thường được sử dụng làm công cụ biện hộ cho tôn giáo và cản trở khoa học phát triển. Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn gắn liền với các thành tựu của khoa học hiện đại, là sự khái quát các thành tựu khoa học đồng thời nó đóng vai trò to lớn đối với sự định hình phát triển của khoa học hiện đại. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng không thể thay thế các khoa học khác. Theo yêu cầu của sự phát triển đòi hỏi phải có sự liên minh chặt chẽ giữa triết học với các khoa học khác. Như vậy, có thể kết luận: - Kết luận của các khoa học là những tư liệu để từ đó triết học rút ra những kết luận chung nhất. - Những kết luận chung nhất của triết học quay lại phục vụ cho các khoa học cụ thể với tư cách định hướng để các khoa học cụ thể có thể đạt được kết quả tối ưu 2. Trình bày khái quát và đánh giá các hình th ức lịch sử của phép biện chứng Ngay từ rất sớm trong triết học xuất hiện hai phương pháp đối lập nhau trong việc xem xét thế giới: Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình. Trong thời kỳ cổ đại, phép biện chứng chất phác, ngây thơ, mà đỉnh cao của nó là phép biện chứng cổ đại Hy Lạp, chiếm vị trí ưu trội. Theo quan điểm biện chứng đó, thế giới là một chỉnh thể thống nhất; giữa các bộ phận của nó có mối liên hệ qua lại, thâm nhập vào nhau, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau; thế giới và các bộ phận cấu thành thế giới ấy không ngừng vận động và phát triển. Điển hình như: Trường phái Milê: Trường phái duy vật đơn nguyên do 3 nhà triết học duy vật là Talét, Anaximăngđrơ, Anaximen xây dựng, nhằm làm sáng rõ bản nguyên vật chất của thế giới. Nếu bản nguyên vật chất của thế giới được Talét cho là nước, thì Anaximăngđrơ cho là apeiron, còn Anaximen cho là không khí. Những quan niệm triết học duy vật của trường phái Milê tuy còn mộc mạc, thô sơ nhưng có ý nghĩa vô thần chống lại thế giới quan thần thoại đương thời và đã chứa đựng những yếu tố biện chứng chất phác. Trường phái Hêraclít: Trường phái duy vật đơn nguyên do Hêraclít xây dựng, thể hiện rõ các tư tưởng biện chứng chất phác thời cổ Hi Lạp thông qua các phỏng đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Dù chưa trình bày các quan niệm biện chứng như một hệ thống, nhưng hầu hết các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đều đã được ông đề cập đến dưới dạng danh ngôn, tỷ dụ, hay những phát biểu mang tính chất triết lý sâu sắc. Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp của triết học Hêraclít vào kho tàng tư tưởng của nhân loại. Trường phái đa nguyên Empêđốc - Anaxago: Để lý giải tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật, Empêđốc và Anaxago cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sơ khai của trường phái Milê và trường phái Hêraclít, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất đa dạng Trường phái nguyên tử luận Lơxíp - Đêmôcrít: Trường phái này là đỉnh cao của triết học duy vật Hi Lạp cổ đại trong giai đoạn cực thịnh với các đại biểu Lơxíp, Đêmôcrít; trong đó, Lơxíp là người đầu tiên nêu lên các quan niệm về nguyên tử, Đêmôcrít là người phát triển các quan niệm này Lớp M12CQDT01-N Page 8
  • 9.
    thành một hệthống chặt chẽ và có sức thuyết phục. Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế nhưng với những thành tựu đạt được, Đêmôcrít đã nâng chủ nghĩa duy vật Hi Lạp lên đỉnh cao, làm cho nó đủ sức đương đầu chống lại các trào lưu duy tâm đang thịnh hành bấy giờ, mà trước hết là trào lưu duy tâm nổi tiếng của Platon. Sang thời kỳ suy tàn của triết học Hi Lạp cổ đại (Hi Lạp hóa) Êpicua (Epicure) đã củng cố và bảo vệ và phát triển thêm học thuyết nguyên tử… Ta nhận thấy rằng triết học thời này có những đặc điểm sau: - Một là, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị. Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự xã hội, củng cố vai trò thống trị của mình. - Hai là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật - duy tâm, vô thần - hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng; trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của Đêmôcrít và trào lưu duy tâm của Platông… - Ba là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại đã xuất hiện phép biện chứng chất phác. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là “những nhà biện chứng bẩm sinh”. Họ nghiên cứu và sử dụng phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý. Họ đã phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng, nhưng chưa trình bày chúng như một hệ thống lý luận chặt chẽ. - Bốn là, triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó. Do trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới. Vì vậy, các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận triết học. - Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về con người, cố lí giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức - chính trị - xã hội của họ. Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìn chung các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quí nhất của tạo hóa. Đánh giá mặt tích cực và sự hạn chế của quan điểm biện chứng chất phác thời cổ đại, Ph.Ăngghen cho rằng trong quan điểm đó, chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ và những sự tác động qua lại, sự vận động và phát triển, nhưng chưa làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát triển. Nhằm khắc phục những hạn chế trên đây, để đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người và cũng nhờ sự tiến bộ của nhận thức, con người đã tiến hành nghiên cứu các bộ phận khác nhau của thế giới. Trong quá trình nghiên cứu, người ta tạm thời không chú ý tới mối liên hệ giữa khách thể đang nghiên cứu với các khách thể khác cũng như với thế giới nói chung, tạm thời cố định sự vật ở trạng thái hiện có mà không xem xét nó trong quá trình vận động và phát triển. Nhờ vậy tri thức con người về các bộ phận riêng rẽ của thế giới trong trạng thái tĩnh tại của chúng ngày càng trở nên sâu sắc hơn. Trước những thành quả to lớn trong việc nhận thức các bộ phận cấu thành thế giới do việc áp dụng phương pháp phân tích mang lại, một số nhà triết học đã tuyệt đối hóa phương pháp phân tích, và xem đó là phương pháp duy nhất để nhận thức thế giới. Từ đó ra đời phương pháp tư duy siêu hình - một phương pháp mang “tính hạn chế đặc thù của những thế kỷ gần đây”. Từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, khoa học tự nhiên chuyển dần trọng tâm sang việc nghiên cứu các quá trình trong sự liên hệ, vận động và phát triển của chúng. Những thành quả do khoa học tự nhiên mang lại đã chứng minh rằng, tự bản thân thế giới tồn tại một cách biện chứng. Quan điểm siêu hình Lớp M12CQDT01-N Page 9
  • 10.
    bị chính khoahọc tự nhiên làm mất đi cơ sở tồn tại của nó. Nhưng việc phủ định quan điểm siêu hình lúc này dẫn đến tới việc xác lập vị trí ưu trội của phép biện chứng duy tâm khách quan mà định cao là ở triết học Hêghen. Nhà triết học Ph.Hêghen, bộ óc bách khoa toàn thư vĩ đại nhất trong lịch sử triết học của nhân loại đã xây dựng hệ thống triết học duy tâm khách quan biện chứng nổi tiếng. Trong Hiện tượng luận tinh thần, ông nêu lên những nền tảng của một triết học mới, qua tác phẩm này Hêghen đã thoát ra khỏi sự ràng buộc mình với tư tưởng của Senlinh; Còn trong Bách khoa toàn thư các khoa học triết học, ông trình bày một cách chi tiết toàn bộ nội dung Hệ thống triết học mới của mình. Theo Hêghen, giới tự nhiên và xã hội loài người chỉ là sự tồn tại khác của “ý niệm”, do sự tha hóa của ý niệm mà thành. Ý niệm nằm trong quá trình vận động và phát triển không ngừng. Việc nghiên cứu tính biện chứng của ý niệm đã dẫn Hêghen đến chỗ đưa ra một hệ thống các khái niệm, các phạm trù và các quy luật cơ bản của phép biện chứng. Đây thực sự là công lao lớn của Hêghen. Song do bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm khách quan, Hêghen đã rút ra kết luận hoàn toàn sai lầm: Biện chứng của ý niệm quy định tính biện chứng của các sự vật và hiện tượng. Theo Hêghen: Hiện tượng luận tinh thần với 4 nền tảng của triết học mới Một là, thừa nhận tồn tại ý niệm tuyệt đối: Theo Hêghen, ý niệm tuyệt đối chứ không phải cái Tuyệt đối (Senlinh) là nền tảng của hiện thực. Ý niệm tuyệt đối là sự hợp nhất giữa thực thể - giới tự nhiên (Xpinôda) và cái Tôi tuyệt đối (Phíchtơ), là sự đồng nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và vật chất, là Đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên, con người và lịch sử nhân loại. Con người chỉ là một sản phẩm của quá trình vận động phát triển tự thân của ý niệm tuyệt đối. Hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người, tức lịch sử nhân loại chỉ là giai đoạn phát triển cao của ý niệm tuyệt đối, là công cụ để nó nhận thức chính bản thân mình và quay trở về với chính mình. Theo Hêghen, tư duy lôgích chứ không phải trực giác nghệ thuật (Senlinh) là hình thức thể hiện cao nhất của ý niệm tuyệt đối. Hai là, thừa nhận sự phát triển của ý niệm tuyệt đối: Phát triển được Hêghen hiểu như một chuỗi các hành động phủ định biện chứng, trong đó, cái mới liên tục thay thế cái cũ, nhưng đồng thời kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ. Quá trình phát triển của ý niệm tuyệt đối diễn ra theo tam đoạn thức “chính đề - phản đề - hợp đề”. Đó cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn giữa cái vật chất và cái tinh thần, giữa khách thể và chủ thể... trong bản thân ý niệm tuyệt đối. Ba là, thừa nhận ý thức con người là sản phẩm của lịch sử: Hêghen coi lịch sử là hiện thân của ý niệm tuyệt đối, là đỉnh cao của sự phát triển ý niệm tuyệt đối trên trần gian. Lịch sử nhân loại có được nhờ vào hoạt động có ý thức của những cá nhân cụ thể, nhưng nó lại là nền tảng quy định ý thức của mỗi cá nhân. Ý thức cá nhân chỉ là sự khái quát, sự “đi tắt” toàn bộ lịch sử mà ý thức nhân loại đã trải qua. Ý thức nhân loại là sự tái hiện lại toàn bộ tiến trình của lịch sử nhân loại, là sản phẩm của lịch sử, là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. Bốn là, triết học là học thuyết về ý niệm tuyệt đối: Hêghen thừa nhận có 3 hình thức thể hiện ý niệm tuyệt đối trên trần gian là nghệ thuật, tôn giáo và triết học, trong đó, triết học là hình thức thể hiện cao nhất, trọn vẹn và đầy đủ nhất ý niệm tuyệt đối. Theo Hêghen, triết học là khoa học của mọi khoa học, là khoa học vạn năng đóng vai trò nền tảng cho toàn bộ thế giới quan và tư tưởng con người. Nhưng mỗi thời đại lại có một học thuyết triết học của riêng mình. Học thuyết này là tinh hoa tinh thần của thời đại đó, là thời đại được thể hiện dưới dạng tư tưởng. Mỗi hệ thống triết học của một thời đại nào đó đều là sự chắt lọc, kết tinh, khái quát lại toàn bộ lịch sử tư tưởng trước đó, đặc biệt là tư tưởng triết học. Triết học và lịch sử triết học thống nhất với nhau như là sự thống nhất giữa cái lôgích và cái lịch sử; vì vậy, triết học phải bao trùm toàn bộ lịch sử phát triển của ý niệm tuyệt đối. Theo quan điểm này thì triết học Hêghen, - khoa học về ý niệm tuyệt đối -, được chia thành 3 bộ phận là khoa học lôgích, triết học tự nhiên, triết học tinh thần; ứng với 3 giai đoạn phát triển của ý Lớp M12CQDT01-N Page 10
  • 11.
    niệm tuyệt đốilà ý niệm tuyệt đối trong chính nó, ý niệm tuyệt đối trong sự tồn tại khác của nó (tự tha hóa), ý niệm tuyệt đối khắc phục sự tự tha hóa quay về với no. Khoa học lôgích: Là tác phẩm quan trọng nhất của Hệ thống triết học Hêghen, Khoa học lôgích nghiên cứu ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai, nhưng lại là xuất phát điểm của hệ thống. Khi vạch ra những hạn chế của lôgích học cũ là chỉ nghiên cứu tư duy chủ quan trong phạm vi ý thức cá nhân mà không chỉ ra được ranh giới giữa lôgích học với các ngành khoa học khác cùng nghiên cứu tư duy, là chỉ dựa trên những phạm trù bất động, tách rời hình thức ra khỏi nội dung của nó..., Hêghen khởi thảo một lôgích học mới giúp vạch ra bản chất đích thực của tư duy, và đóng vai trò như một phương pháp luận triết học làm cơ sở cho mọi khoa học. Triết học tự nhiên: Đây là học thuyết về giới tự nhiên với tính cách là một dạng tồn tại khác của ý niệm tuyệt đối dưới dạng các sự vật vật chất. Hêghen không giải thích ý niệm tuyệt đối chuyển từ chính nó sang giới tự nhiên như thế nào và khi nào, mà chỉ nói rằng ý niệm tuyệt đối tồn tại bên ngoài thời gian, và giới tự nhiên cũng không có khởi đầu trong thời gian. Hêghen cho rằng, quá trình hình thành giới tự nhiên từ ý niệm tuyệt đối đồng thời cũng là quá trình ý niệm tuyệt đối ngày càng biểu hiện ra thành giới tự nhiên. Thế giới đã được tạo ra, hiện đang được tạo ra và sẽ vĩnh viễn được tạo ra. Triết học tinh thần: Trong tác phẩm này, Hêghen xem xét ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn cuối cùng trên con đường diễu hành nơi trần gian, từ bỏ giới tự nhiên, khắc phục sự tha hóa, quay về lại chính mình như thế nào. Nhận xét chung về Hệ thống triết học Hêghen Một là, thế giới quan duy tâm là thế giới quan xuyên suốt toàn bộ nội dung triết học Hêghen: Mọi sự vật, quá trình dù là vật chất hay tinh thần đều là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. Ý niệm tuyệt đối chi phối mọi sự sinh thành, tồn tại và tiêu vong của hết thảy mọi cái trong thế giới. Vật chất, giới tự nhiên chỉ là sự tự tha hóa, một sự tồn tại khác, một sản phẩm sơ cứng bất động của ý niệm tuyệt đối mà thôi. Đề cao cái tinh thần, khẳng định tính quyết định của nó trong việc đưa ra các phương thức giải quyết cho các vấn đề thuộc về lý luận cũng như thực tiễn là tư tưởng chủ đạo được trình bày trong toàn bộ nội dung triết học Hêghen. Hai là, phép biện chứng là linh hồn sống động của hệ thống triết học Hêghen: Tư tưởng về mối liên hệ phổ biến (mọi cái đều là hiện thân, là các giai đoạn khác nhau nhưng liên hệ lẫn nhau của ý niệm tuyệt đối) và tư tưởng về sự phát triển (quá trình phủ định biện chứng của ý niệm tuyệt đối) là những tư tưởng cơ bản xuyên suốt, là mạch suối ngầm thấm chảy qua toàn bộ hệ thống của Hêghen. Phát triển là một quá trình thay đổi từ thấp lên cao, bằng cách chuyển hóa qua lại giữa lượng và chất, do sự giải quyết những mâu thuẫn nội tại trong các hình thức cụ thể của ý niệm tuyệt đối tạo nên. Trên cơ sở mổ xẻ quá trình tự vận động của ý niệm tuyệt đối, Hêghen đã phát hiện ra các quy luật cơ bản của phép biện chứng và các quy luật không cơ bản - các cặp phạm trù. Hêghen còn xây dựng các nguyên tắc của lôgích biện chứng, các quan điểm biện chứng về nhận thức, ông đã đặt nền móng cho sự thống nhất giữa phép biện chứng, lôgích học và nhận thức luận. Theo Hêghen, nhận thức phải đi từ trừu tượng đến cụ thể, nhận thức lý thuyết phải thống nhất với hoạt động thực tiễn. Chân lý phải mang tính cụ thể, tính quá trình và là sự phù hợp của khái niệm với thực tiễn. Tuy nhiên, đối với Hêghen, nhận thức là khám phá ra ý niệm tuyệt đối chứ không phải khám phá ra giới tự nhiên vật chất; và thực tiễn không phải là hoạt động vật chất mà chỉ là những hoạt động tinh thần của chủ thể sáng tạo ra tư tưởng mà thôi. Phép biện chứng của Hêghen không chỉ là lý luận biện chứng về sự phát triển của thế giới ý niệm, mà còn là phương pháp biện chứng nghiên cứu thế giới ý niệm. Thông qua phép biện chứng của ý niệm, Hêghen đã đoán được phép biện chứng của sự vật, vì vậy, nó là phép biện chứng duy tâm. Lớp M12CQDT01-N Page 11
  • 12.
    Phép biện chứngcủa Hêghen, về thực chất, là tích cực và cách mạng, nhưng nó lại bị giam hãm trong hệ thống triết học duy tâm thần bí của ông; vì vậy, trong triết học của Hêghen, bên cạnh những nội dung biện chứng, tiến bộ, vạch thời đại, khoa học và cách mạng lại có không ít quan điểm siêu hình, phản động, phản khoa học và bảo thủ, tư biện; nghĩa là trong nó chứa đựng nhiều mâu thuẫn. + Hêghen đã phủ nhận sự phát triển trong giới tự nhiên, ông bất chấp hay phủ nhận nhiều thành tựu của khoa học tự nhiên bấy giờ nếu chúng không dung hợp với ý niệm tuyệt đối. + Hêghen coi nhà nước Đức, văn minh Đức là đỉnh cao của hiện thân tinh thần tuyệt đối trên trần gian, là chuẩn mực cuối cùng mà mọi dân tộc trên thế giới phải vươn đến. + Hêghen coi, trong triết học Đức - triết học Hêghen, ý niệm tuyệt đối đã khám phá ra chính mình từ cái không phải là mình để quay về với mình; do đó, tại đây, mọi sự phát triển tiếp tục đều chấm dứt… Dù có nhiều hạn chế không nhỏ nhưng thành tựu mà triết học Hêghen mang lại - phép biện chứng tư duy là một cống hiến vĩ đại cho kho tàng tư tưởng của nhân loại. Triết học Hêghen là một cội nguồn của triết học Mác. Cứu lấy phép biện chứng, giải phóng hạt nhân biện chứng ra khỏi lớp vỏ duy tâm thần bí của Hệ thống Hêghen là một yêu cầu cấp bách của triết học mà sau này Mác đã thực hiện. Khi cải tạo phép biện chứng duy tâm Hêghen theo tinh thần duy vật của triết học Phoiơbắc, Mác đã xây dựng phép biện chứng duy vật - phép biện chứng của sự vật - thế giới khách quan, mà phép biện chứng của ý niệm chỉ là hình ảnh biện chứng trong bộ óc con người phản ánh phép biện chứng của sự vật - thế giới khách quan. Tóm lại, với một hệ thống triết học tương đối hoàn chỉnh, với tri thức bách khoa, kiến thức uyên bác và thiên tài của mình, Hêghen trở thành nhà triết học lớn nhất thời bấy giờ. Học thuyết của ông khép lại một giai đoạn phát triển triết học đầy sôi động, đồng thời mở ra một giai đoạn cách mạng mới trong lịch sử triết học - giai đoạn gắn tư tưởng triết học với thực tiễn cách mạng. Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về chính con người, có sứ mạng mang lại cho con người một cuộc sống hạnh phúc thật sự trên trần gian mà Phoiơbắc lấy con người làm đối tượng nghiên cứu của triết học. Ông cho rằng, xưa nay triết học nghiên cứu vấn đề về quan hệ giữa tư duy và tồn tại, nhưng quan hệ này thuộc về bản chất của con người; bởi vì, chỉ có con người đang sống, đang tồn tại mới có tư duy. Theo ông, chỉ khi nào xuất phát từ con người thì vấn đề về quan hệ giữa tư duy và tồn tại mới được giải quyết một cách đúng đắn và có ý nghĩa thật sự. Do con người là đối tượng của triết học mới, và khoa học nghiên cứu bản chất của con người là nhân bản học, nên triết học mới đó phải là triết học nhân bản hay nhân bản học phải là khoa học cơ sở và chung nhất cho mọi ngành khoa học. Triết học mới mà Phoiơbắc đã xây dựng là triết học duy vật nhân bản. Triết học Phoiơbắc đã khôi phục được truyền thống duy vật thế kỷ XVIII trong hoàn cảnh chủ nghĩa duy tâm thống trị đời sống tinh thần ở Phương Tây, và phát triển chủ nghĩa duy vật thêm một bước. Ông đã trình bày sáng rõ nhiều quan điểm duy vật; ông phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và Cơ đốc giáo; ông biết đặt con người vào đúng tâm điểm phân tích triết học. Triết học của ông chất chứa đầy tính duy vật khả tri và nhân bản, nó là một cội nguồn tư tưởng của triết học Mác. Triết học của Phoiơbắc không sâu, còn nhiều quan niệm siêu hình, phiếm diện trong lý giải đối tượng triết học, trong việc phân tích bản chất con người, trong việc tìm hiểu thực tiễn và xác định vai trò của nó trong nhận thức và cuộc sống…; Đặc biệt, trong việc xác định nguồn gốc, động lực phát triển và phương tiện cải tạo xã hội, quan điểm của Phoiơbắc còn đầy tính duy tâm; Thái độ đối với tôn giáo của ông không nhất quán… Điều này thể hiện như sau: - Một là, do phủ nhận hệ thống duy tâm của triết học Hêghen nên ông phủ nhận luôn phép biện chứng; hơn nữa, ông hiểu biện chứng rất hời hợt, - phép biện chứng không phải là sự độc thoại của một nhà tư tưởng với bản thân mình mà là sự đối thoại giữa Tôi và Anh… Lớp M12CQDT01-N Page 12
  • 13.
    - Hai là,do đứng trên quan điểm nhân đạo chung chung mà quan niệm về con người rất trừu tượng, phi lịch sử; ông chỉ quan tâm đến mặt tự nhiên - sinh học mà không chú ý mặt xã hội và điều kiện chính trị - xã hội của con người; tuyệt đối hóa và coi tình yêu là bản chất con người. - Ba là, do bỏ qua hoạt động thực tiễn nên Phoiơbắc coi nhận thức là một quá trình tĩnh tại, thụ động của chủ thể tiếp nhận hình ảnh của khách thể mà không phải là quá trình mang tính thực tiễn năng động, sáng tạo thế giới của con người - chủ thể nhận thức; Phoiơbắc không chỉ không thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức mà ông cũng không thấy được vai trò to lớn của thực tiễn đối với sự hoàn thiện con người, thúc đẩy phát triển sản xuất nói riêng, xã hội nói chung. Vì không thấy trong thực tiễn động lực phát triển xã hội nên ông cố đi tìm nó trong tình yêu. Do không xuất phát từ quan điểm thực tiễn mà trong lĩnh vực xã hội, Phoiơbắc cũng như mọi nhà tư tưởng trước Mác đều sa vào chủ nghĩa duy tâm, quá đề cao sức mạnh tinh thần, trước hết là giáo dục, đạo đức, pháp luật… mà không thấy được vai trò của nền sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Phép biện chứng duy vật được C.Mác và Ph. Ăngghen xâydựng vào giữa thế kỷ XIX, sau đó được Lênin phát triển. Sự ra đời của phép biện chứng duy vật được chuẩn bị bằng toàn bộ sự phát triển xã hội, triết học và khoa học tự nhiên trứơc đó mà trực tiếp nhất là phép biện chứng của Hêghen và quan điểm duy vật của Phoiơbắc. Trong phép biện chứng duy vật luôn luôn có sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy luật vận động và phát triển chung nhất của thế giới. Nhờ vậy, C.Mác và Ph. Ănghen khắc phục được những hạn chế vốn có của phép biện chứng tự phát thời cổ đại và những sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cận đại, làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học. Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt những phạm trù, những nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực. Cho nên nó có khả năng phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đúng như Ph. Ăngghen đã định nghĩa “phép biện chứng... là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và tư duy”. Lênin đã gọi phép biện chứng duy vật là linh hồn của chủ nghĩa Mác. Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản (trước năm 1844) Trong bước đầu hoạt động khoa học và chính trị, C.Mác và Ph.Ăngghen đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm dân chủ cách mạng. Các Mác (5/5/1818 - 14/3/1883) được sinh ra và lớn lên tại thành phố Tơrivơ, vùng Ranh của nước Đức. Ngay từ khi còn học trung học, C.Mác đã thể hiện là một thanh niên tài năng, yêu quê hương, đất nước và gắn hạnh phúc cá nhân với hạnh phúc chung của mọi người… Trong thời gian học tập và nghiên cứu tại Đại học Bon và Đại học Béclin, ông là người rất say mê nghiên cứu triết học, vì theo C.Mác, chỉ có triết học mới đem đến cho con người sự hiểu biết và khả năng cải tạo thế giới nhằm giải phóng con người… Từ năm 1837, C.Mác bắt đầu nghiên cứu triết học Hêghen, tham gia phái Hêghen trẻ. Nét nổi bật mà C.Mác nhận thấy ở Hêghen là phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy biện chứng… Từ năm 1839, C.Mác bắt đầu nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại và triết học cận đại. Trong Luận án tiến sĩ Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự nhiên của Êpiquya, bảo vệ năm 1841, C.Mác vẫn đứng trên lập trường triết học duy tâm của Hêghen, coi sự vận động và phát triển của tự ý thức là động lực của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, ông vẫn đánh giá cao vai trò của Êpiquia trong lịch sử triết học, đã làm phong phú và đóng góp vào sự phát triển của học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít, chống tư tưởng tôn giáo, ủng hộ chủ nghĩa vô thần. Trong luận án này, C.Mác đã phê phán phái Hêghen trẻ, đề cao vai trò của phép biện chứng trong Lớp M12CQDT01-N Page 13
  • 14.
    quá trình nhậnthức và cải tạo xã hội, phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị, hướng đến hạnh phúc của con người. Phriđrích Ăngghen (28/11/1820 - 5/8/1895) sinh ra trong một gia đình chủ xưởng dệt. Mong muốn của gia đình là ông sớm trở thành một nhà kinh doanh… Từ năm 1839, vừa làm việc và tự học, ông bắt đầu nghiên cứu triết học Đức, nhất là nghiên cứu triết học Hêghen. Đứng trên lập trường dân chủ cách mạng, đối lập với chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, tháng 3 năm 1839, Ph.Ăngghen viết bài báo đầu tiên Những bức thư từ Vesphali đả kích bộ mặt thật của bọn chủ xưởng, ủng hộ những người lao động… Năm 1841, Ph.Ăngghen tới Béclin làm nghĩa vụ quân sự và dự nghe các bài giảng triết học tại Đại học Béclin, đồng thời tham gia vào nhóm Hêghen trẻ. Trong thời gian này, ông đã viết một số tác phẩm nhằm mục đích phê phán các quan điểm phản động của nhà triết học Sêlinh. Các tác phẩm Sêlinh và Hêghen, Sêlinh - nhà triết học nơi Chúa Kitô, và đặc biệt là tác phẩm Sêlinh và sự linh báo (1842) đã thể hiện tư tưởng dân chủ cách mạng, thấy được mâu thuẫn giữa mặt tiến bộ và mặt bảo thủ trong triết học Hêghen. Dù vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm, Ph.Ăngghen vẫn đánh giá cao triết học Phoiơbắc, vì ông nhận thấy thế giới quan duy vật của Phoiơbắc triệt để hơn các nguyên lý triết học duy tâm Hêghen… Cuối năm 1842, Ph.Ăngghen sang Mantrextơ, làm việc trong một xưởng sợi, bắt đầu tìm hiểu phong trào công nhân và nghiên cứu kinh tế chính trị học cổ điển Anh. Hoạt động này có ý nghĩa quan trọng giúp ông thấy rõ mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn trong cuộc đấu tranh xã hội, tạo bước chuyển biến về quan điểm chính trị của ông. Sự chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản Sự chuyển biến tư tưởng của C.Mác bắt đầu từ quá trình hoạt động báo chí và qua sự phê phán triết học Hêghen về nhà nước, pháp quyền, tôn giáo và vai trò của triết học: Thông qua báo Sông Ranh (1842 - 1843), C.Mác viết bài bảo vệ lợi ích của những con người lao động nghèo khổ, cổ vũ cuộc đấu tranh vì tự do và dân chủ; phê phán sâu sắc các tệ nạn bóc lột, áp bức người lao động, về sự bần cùng của nông dân. Hoạt động này giúp C.Mác nhận thức đầy đủ hơn về những mặt hạn chế của triết học Hêghen, tính chất phản động, bảo thủ của Nhà nước Phổ, và qua đó, quan điểm của C.Mác chuyển dần từ khuynh hướng duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản… Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1943), C.Mác phủ nhận mệnh đề “tồn tại là hợp lý” của Hêghen, kiên quyết bác bỏ các hình thức đang tồn tại của nền chính trị nước Đức lúc bấy giờ là ý thức pháp quyền và nhà nước, đồng thời trình bày các vấn đề nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng; C.Mác coi triết học là vũ khí để cải tạo thế giới, là động lực cải tạo xã hội: Xuất phát từ tư tưởng “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”, C.Mác coi triết học là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình”. Khi chỉ ra tôn giáo cũng là sản phẩm của các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ lịch sử, C.Mác vạch ra nguồn gốc và bản chất của tôn giáo trong mối quan hệ với đời sống hiện thực và nhu cầu tinh thần, tình cảm của con người. C.Mác viết: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Lúc bấy giờ, thông qua Niên giám Pháp - Đức, Ph.Ăngghen cũng đã đăng tải một số tác phẩm phê phán chế độ tư hữu và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phê phán các tư tưởng kinh tế chính trị học của A.Xmít và Đ.Ricácđô trên tinh thần biện chứng; đồng thời qua đó khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản… Lớp M12CQDT01-N Page 14
  • 15.
    Tháng 8/1844, trênđường từ Anh về Đức, Ph.Ăngghen đã gặp C.Mác tại Pari. Và từ đây, giữa hai ông đã bắt đầu một tình bạn, tình đồng chí vĩ đại và cảm động trong suốt cả cuộc đời để sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Như vậy, cho đến thời điểm này, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có bước chuyển hoàn toàn từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật biện chứng, từ lập trường chính trị dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa xã hội khoa học. Đó là một quá trình phức tạp, vừa cải biến phép biện chứng duy tâm của Hêghen thành phép biện chứng duy vật, vừa vận dụng phép biện chứng duy vật vào việc nhận thức xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt nền móng vững chắc cho một cuộc cách mạng trong triết học, để từng bước hoàn chỉnh hệ thống triết học của mình cả về thế giới quan và phương pháp luận. Thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (1844 - 1848): Hai ông đã trình bày một cách toàn diện những vấn đề về triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học trên nền tảng thế giới quan duy vật triệt để và cách mạng, làm rõ những quy luật cơ bản của xã hội. Triết học Mác trở thành thế giới quan và phương pháp luận để nhận thức và cải tạo thực tiễn. Với tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học (1844), C.Mác trình bày những nghiên cứu về kinh tế học để rút ra những kết luận về triết học. Từ việc nghiên cứu kinh tế chính trị học Anh, nghiên cứu quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, từ việc phân tích các phạm trù kinh tế cụ thể (tiền công, lợi nhuận, tư bản, địa tô, sức lao động...), C.Mác đã phát hiện ra bản chất của xã hội tư bản - xã hội đối kháng giữa người công nhân và nhà tư bản. C.Mác viết: “Tư bản là quyền chỉ huy lao động và sản phẩm của lao động. Nhà tư bản có được quyền đó không phải nhờ những phẩm chất cá nhân hay phẩm chất con người của hắn, mà chỉ có được với tư cách là người sở hữu tư bản. Sức mạnh của hắn là sức mua của tư bản của hắn, sức mua mà không có gì có thể chống lại nỗi” … Từ chỗ coi sức lao động của người công nhân là hàng hóa, được đem ra mua bán, trao đổi, nhằm mục đích duy trì sự tồn tại mang tính động vật của con người, C.Mác xem xét vấn đề lao động bị tha hóa, và ông kết luận: lao động bị tha hóa là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất xã hội trong chủ nghĩa tư bản. Nếu Hêghen coi sự tha hóa chỉ diễn ra trong ý thức, tinh thần; còn Phoiơbắc chỉ nhấn mạnh sự tha hóa của bản chất con người trong tôn giáo; thì C.Mác đã đi tới tận nguồn của sự tha hóa, đó là sự tha hóa của lao động, của bản chất con người, sự đánh mất bản chất người trong chính quá trình sản xuất vật chất. C.Mác viết: “Sự tha hóa thể hiện ở chỗ tư liệu sinh hoạt của tôi thuộc về người khác, ở chỗ đối tượng mong muốn của tôi là vật sở hữu của người khác mà tôi không với tới được, cũng như ở chỗ bản thân mỗi vật hóa ra là một cái khác với bản thân nó, ở chỗ hoạt động của tôi hóa ra là một cái khác nào đó và cuối cùng, điều này cũng đúng cả đối với nhà tư bản, lực lượng không phải người nói chung thống trị tất cả”. Vì vậy, quan hệ tha hóa đối lập ấy được biểu hiện như một sự kết tội bản chất xã hội tư bản chủ nghĩa: “Cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người, còn cái có tính người thì trở thành cái vốn có của súc vật”. Kết luận tất yếu được rút ra là, muốn giải phóng con người ra khỏi sự tha hóa thì phải xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, có như vậy mới trả con người trở về với chính bản chất của nó… Với tinh thần phê phán, C.Mác đã đánh giá phép biện chứng trong triết học Hêghen, cũng như chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, làm rõ những đóng góp và hạn chế của họ, từ đó khẳng định vai trò và tính chất cách mạng của phép biện chứng duy vật. Năm 1845, C.Mác đã phác thảo Luận cương về Phoiơbắc chỉ ra những khuyết điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật trước đây trong việc nhận thức về con người, lịch sử và phương pháp nhận thức. C.Mác cũng nêu lên sự khác nhau căn bản giữa triết học của ông với các học thuyết triết học khác trong lịch sử. C.Mác viết: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay, - kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, - là sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức Lớp M12CQDT01-N Page 15
  • 16.
    dưới hình thứckhách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức la hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ quan” … Thông qua vai trò thực tiễn, C.Mác đã chứng minh tính lịch sử - xã hội quy định bản chất con người: “Phoiơbắc hòa tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người. Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của những quan hệ xã hội”. Luận đề này thể hiện tính chất duy vật triệt để trong quan niệm của C.Mác về con người và lịch sử, chống lại những tư tưởng duy tâm siêu hình về xã hội và con người trong các hệ thống triết học khác trong lịch sử, nhất là triết học của Phoiơbắc. Từ năm 1945 - 1846, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cộng tác với nhau để hoàn thành một tác phẩm quan trọng Hệ tư tưởng Đức. Trong tác phẩm này, hai ông đã kết hợp một cách khoa học giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng; vận dụng phép biện chứng duy vật vào nhận thức lịch sử xã hội và phát hiện ra các quy luật của lịch sử, từ đó sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, đặt cơ sở khoa học cho lý luận cách mạng của triết học Mác. Xuất phát từ hiện thực lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử”. Tuy nhiên, “muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống… Hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất”. Như vậy, việc sản xuất ra đời sống vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại, mà yếu tố quan trọng nhất là lực lượng sản xuất, sẽ quyết định mọi trạng thái của lịch sử - xã hội. Quan niệm trên biểu hiện tư tưởng duy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen về lịch sử. Từ đó, hai ông đã phê phán những sai lầm của chủ nghĩa duy tâm Hêghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình Phoiơbắc trong việc nhận thức lịch sử - xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen nêu lên các hình thức sở hữu và sự thay thế của các phương thức sản xuất khác nhau trong lịch sử xã hội loài người. Khi trình bày các hình thức sở hữu trong lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã trình bày quá trình phát triển của lịch sử dưới dạng vắn tắt mà hạt nhân của nó là sở hữu về tư liệu sản xuất; xét về thực chất, đó chỉ là biểu hiện của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, - một quy luật chung chi phối sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội: “Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người”, vì thế, “không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức”. Sự phát triển của toàn bộ lịch sử - xã hội là sự chứng minh vai trò quyết định của tồn tại xã hội, trong đó, phương thức sản xuất có ý nghĩa cơ bản nhất. “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”. C.Mác và Ph.Ăngghen vạch ra bản chất nhà nước bị quy định bởi quan hệ lợi ích vật chất; nhà nước của giai cấp thống trị “chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người tư sản buộc phải dùng đến để đảm bảo lẫn cho nhau sở hữu và lợi ích của họ, ở ngoài nước cũng như ở trong nước”. Từ đây, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, “trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”. Vì vậy, nhiệm vụ của giai cấp vô sản là phải xóa bỏ trạng thái hiện tồn, xóa sự thống trị của giai cấp tư sản cả trong cơ sở hạ tầng lẫn trong kiến trúc thượng tầng, để xác lập sự thống trị của giai cấp vô sản, - giai cấp tiên tiến và cách mạng nhất của thời đại. “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay”. Mặc dù, phong trào công nhân trong giai đoạn này chưa biểu hiện tính tự giác của nó, tức là chưa ý thức được vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình một cách hoàn toàn đầy đủ. Song, sự phát triển tất yếu của lịch sử, địa vị khách quan của giai cấp vô sản cho phép họ giành lấy chính quyền về tay mình, “bằng một Lớp M12CQDT01-N Page 16
  • 17.
    cuộc cách mạng,cuộc cách mạng này một mặt lật đổ thế lực của phương thức sản xuất và của sự giao tiếp trước đó và cả của cơ cấu xã hội cũ và mặt khác, phát triển tính phổ biến của giai cấp vô sản và nghị lực mà giai cấp vô sản cần có”. Điều đó, có nghĩa là giai cấp vô sản, - người đại diện cho lực lượng sản xuất mới trong xã hội, - phải thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình bằng việc phải giành lấy quyền lực chính trị. Tháng 2 năm 1848, C.Mác và Ph.Ăngghen viết tác phẩm nổi tiếng Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Đây là tác phẩm tuyên truyền cho tổ chức “Đồng minh những người cộng sản”, là cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản về chủ nghĩa xã hội khoa học, vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật vào lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản. Tác phẩm này đánh dấu sự hoàn thành giai đoạn khởi thảo những nguyên lý cơ bản của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, thể hiện rõ thế giới quan mới của triết học Mác. Ngày nay, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vẫn còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Dù lịch sử đang vận động, biến đổi với nhiều bước ngoặt quanh co, gập ghềnh; dù chủ nghĩa xã hội đang tạm thời thoái trào, song mục tiêu mà tác phẩm đặt ra đang cổ vũ nhân loại đấu tranh vì hạnh phúc của con người - xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Trong Chương 1 Tư sản và vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ những quy luật chi phối sự phát triển của xã hội, tức thay thế các phương thức sản xuất trong lao động. Vạch ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản: “Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”. Trong Chương 2 Những người vô sản và những người cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ vai trò của Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”. Mục tiêu trước mắt là tổ chức cuộc đấu tranh chính trị để lật đổ giai cấp tư sản, giành chính quyền về tay mình, và mục tiêu cuối cùng là xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản. “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Trong chương 3 Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán sâu sắc các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản và tư sản đang ảnh hưởng đến sự phát triển của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân như “Chủ nghĩa xã hội phản động”, “Chủ nghĩa xã hội bảo thủ hay chủ nghĩa xã hội tư sản”, “Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không tưởng phê phán”. Trong chương 4 Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập, C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày chiến lược, sách lược, phương pháp và mục tiêu cách mạng: “Những người cộng sản… công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành. Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới”. Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển những quan điểm triết học: Từ năm 1848, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở Châu Âu chống áp bức, bóc lột, đòi dân chủ tự do đã phát triển và trở thành một làn sóng mạnh mẽ, nhưng gặp phải thất bại thảm hại. Sau thất bại này, các phong trào đấu tranh cách mạng ở Châu Âu bị giai cấp phong kiến, có sự tiếp tay của giai cấp tư sản và tiểu tư sản phản bội, đàn áp và bóp nghẹt. Từ sự thất bại của phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động, C.Mác và Ph.Ăngghen đã rút ra bài học là: Đảng Cộng sản phải hành động một cách tự giác và có tổ chức, phải hết sức thống nhất và độc lập để lãnh Lớp M12CQDT01-N Page 17
  • 18.
    đạo phong tràođấu tranh vì lợi ích của quần chúng lao khổ. Dựa trên những kinh nghiệm chua xót này của thực tiễn cách mạng, bằng tư duy lý luận sâu sắc, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho ra đời những tác phẩm làm sáng tỏ những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tư bản - bộ sách đồ sộ trình bày những nghiên cứu của C.Mác về quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, trên tinh thần duy vật lịch sử. Đây cũng là bộ tác phẩm thể hiện tuyệt vời phong cách tư duy biện chứng của C.Mác, tức thể hiện sự vận dụng tài tình phương pháp biện chứng vào nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Xuất phát từ phương thức sản xuất, tức là từ hai mặt của một quá trình sản xuất vật chất trong đời sống xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, C.Mác đã khẳng định sự phát triển của “hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”. Ông chỉ rõ sự tác động của các quy luật khách quan đến quá trình sản xuất vật chất đã làm cho các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau. + C.Mác đánh giá cao quá trình lao động; ông coi lao động là hành động lịch sử vĩ đại mà nhờ đó, con người tạo nên sự khác biệt căn bẳn giữa mình với loài vật, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. + Lao động sản xuất ra của cải vật chất là quá trình lịch sử; nó biểu hiện quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên và giữa con người với con người trong xã hội. Theo C.Mác, lực lượng sản xuất là sự tổng hợp của hai yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động, trong đó, con người lao động đóng vai trò quyết định; nó biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Quan hệ sản xuất là biểu hiện mặt xã hội của quá trình sản xuất; nó thể hiện qua các mối quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất, về tổ chức quản lý sản xuất và về phân phối sản phẩm lao động; nó là đặc trưng của sự phát triển xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, là tiêu chuẩn để phân biệt các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. Với vai trò là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định đối với quan hệ sản xuất, tức là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất ấy. Quan hệ sản xuất tác động theo hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó tùy thuộc vào sự phù hợp hay không phù hợp của mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. + Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, tính chất xã hội hóa của quá trình sản xuất ngày càng mâu thuẫn với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Đó là cơ sở về kinh tế để dẫn tới cuộc cách mạng xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa cộng sản. “Sự độc quyền của tư bản trở thành những xiềng xích ràng buộc cái phương thức sản xuất đã thịnh vượng lên cùng với độc quyền đó và dưới độc quyền đó. Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa… Phương thức chiếm hữu tư bản chủ nghĩa do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đẻ ra, và do đó cả chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nữa đều là sự phủ định đầu tiên đối với chế độ tư hữu cá nhân dựa trên lao động của bản thân. Nhưng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên. Đó là sự phủ định cái phủ định”. Dù biện chứng của quá trình phát triển giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã được C.Mác phân tích trong điều kiện lịch sử - xã hội tư bản chủ nghĩa, nhưng nó ý nghĩa phổ biến cho tiến trình vận động của lịch sử xã hội loài người. + Qua bộ Tư bản, chúng ta có thể khẳng định rằng, toàn bộ quan niệm duy vật lịch sử của C.Mác trong Tư bản được biểu hiện ở phạm trù khoa học “hình thái kinh tế - xã hội”. C.Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”. Bản chất của phạm trù hình thái kinh tế - xã hội chính là quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người bị quy định bởi các yếu tố cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Đồng thời, các yếu tố khác trong lịch sử xã hội cũng có vai trò chi phối, tác động, nhưng trên cơ sở các yếu tố cơ bản đó. Tính lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội được chứng minh bởi sự phát triển vừa tuần tự vừa nhảy vọt, vừa đa dạng phong phú, phức tạp vừa thể hiện những quy luật phổ biến có ý nghĩa xuyên suốt toàn bộ tiến trình lịch sử xã hội loài người. Lớp M12CQDT01-N Page 18
  • 19.
    Xuất phát từviệc nghiên cứu hàng hóa với tư cách là tế bào kinh tế của chủ nghĩa tư bản, bằng phương pháp thống nhất giữa lịch sử và lôgíc, giữa trừu tượng và cụ thể, C.Mác đã từng bước vạch ra bản chất của chủ nghĩa tư bản. + C.Mác chỉ ra quá trình vận động và phát triển tất yếu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa biểu hiện thông qua tính đa dạng, phong phú, phức tạp của lịch sử của nó. Cho nên, lịch sử là bản thân quá trình sản xuất, lôgíc là bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, là bóc lột giá trị thặng dư. C.Mác viết: “Phương pháp của chúng ta… phải bao gồm việc xem xét đối tượng về mặt lịch sử, nghĩa là những mục trong đó khoa kinh tế tư sản - khoa này chỉ là hình thức lịch sử của quá trình sản xuất - có những chỉ dẫn, vượt ra khỏi phạm vi của khoa kinh tế tư sản, về những phương thức sản xuất lịch sử đã tồn tại sớm hơn. Vì thế, muốn vạch rõ những quy luật của khoa kinh tế tư sản thì không cần thiết phải viết lịch sử thực sự về quan hệ sản xuất”. + C.Mác cũng phân tích rõ mối quan hệ biện chứng giữa cái trừu tượng và cái cụ thể. Cái trừu tượng chỉ là sự phản ánh một mặt, một yếu tố của quá trình nhận thức đối tượng. Cái cụ thể lý tính, về bản chất, là sự phản ánh khái quát các thuộc tính của đối tượng trong tư duy. Bởi vậy, nền sản xuất xã hội biểu hiện từ sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng đến bản chất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng chính là con đường đi từ trừu tượng đến cụ thể trong tư duy. C.Mác viết rằng: “Cái cụ thể sở dĩ là cụ thể vì nó là sự tổng hợp của nhiều tính quy định, do đó, nó là sự thống nhất của cái đa dạng. Cho nên trong tư duy, nó biểu hiện ra là một quá trình tổng hợp, là kết quả, chứ không phải là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cũng là điểm xuất phát của trực quan và của biểu tượng”. Các quy luật của phép biện chứng như quy luật lượng chất, quy luật phủ định của phủ định, quy luật mâu thuẫn đều được C.Mác vận dụng vào quá trình phân tích bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. Phương pháp biện chứng của C.Mác là một biểu hiện thống nhất giữa nội dung và phương pháp, là phương pháp nhận thức thông qua sự vận động của nội dung. Vì vậy, Lênin đã nhận xét: “Mác không để lại cho chúng ta “lôgíc học” (với chữ Loại viết hoa), nhưng đã để lại cho chúng ta lôgíc của “Tư bản”… trong Tư bản, C.Mác áp dụng lôgíc, phép biện chứng và lý luận nhận thức… của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất”. Nhận xét này chứng tỏ rằng, phương pháp biện chứng của C.Mác là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ nội dung của Tư bản. C.Mác đã tự đánh giá: “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác với phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa. Đối với Hêghen, quá trình tư duy - mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập dưới cái tên gọi ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực này chẳng qua chỉ là biểu hiện bên ngoài của tư duy mà thôi. Đối với tôi thì trái lại, ý niệm chẳng qua là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”. Tác phẩm Tư bản là một cống hiến vĩ đại của C.Mác. Bằng phương pháp triết học, phép biện chứng duy vật, C.Mác đã làm rõ quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người thông qua việc phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Mặc dù hiện nay, có những quan điểm tiếp cận lịch sử xã hội khác nhau, nhưng phương pháp tiếp cận từ giác độ hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác vẫn là một mẫu mực của việc nhận thức các quy luật xã hội. Vì vậy, bộ tác phẩm Tư bản thể hiện rõ vai trò nền tảng về mặt thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác. Với tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (1875), C.Mác phát triển đầy đủ học thuyết duy vật lịch sử, đặt cơ sở khoa học cho lý luận cách mạng của giai cấp vô sản để hướng đến xã hội tương lai. Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật, C.Mác trình bày lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, về cách mạng vô sản và nhà nước chuyên chính vô sản, về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, về hai giai đoạn của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa,… C.Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”. Trong giai đoạn đầu của xã hội mới, C.Mác cho rằng “thoát thai từ chính xã hội tư bản chủ nghĩa, và do đó về mọi Lớp M12CQDT01-N Page 19
  • 20.
    phương diện, kinhtế, đạo đức, tinh thần - còn mang dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”. Đồng thời, trong chủ nghĩa xã hội, nguyên tắc giữa cống hiến và hưởng thụ là “làm theo năng lực, hưởng theo số lượng và chất lượng lao động’. Trong chủ nghĩa cộng sản, mối quan hệ đó là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Chống Đuyrinh (1876 - 1878) là một tác phẩm thể hiện thế giới quan duy vật biện chứng về triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Với phương pháp biện chứng duy vật, dựa trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen đã tổng kết toàn diện chủ nghĩa Mác, để đấu tranh chống lại các quan điểm đối lập. Tác phẩm này đã trở thành vũ khí lý luận sắc bén trong phong trào cách mạng của giai cấp vô sản thế giới. Lênin đã đánh giá cao tác phẩm này: “Đó là một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích” vì đã “phân tích những vấn đề quan trọng nhất của triết học, của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội”. Nội dung cơ bản của tác phẩm có thể khái quát trong một số chủ đề sau đây: Về thế giới quan duy vật: Từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen đã phê phán quan điểm duy tâm của Đuyrinh, từ đó ông cho rằng, nhận thức của con người về vũ trụ không phải được rút ra từ bộ óc mà từ thế giới hiện thực. Vạch ra sai lầm duy tâm của ông Đuyrinh về vấn đề tồn tại, Ph.Ăngghen khẳng định rằng: “Tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó, mặc dù tồn tại là tiền đề của tính thống nhất của nó, vì trước khi thế giới có thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại đã… Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên”. Cũng trong tác phẩm này, Ph.Ăngghen đề cập đến vận động và mối quan hệ giữa vận động và vật chất. Vận động của vật chất bao hàm mọi quá trình, mọi thay đổi diễn ra trong vũ trụ, là sự biến đổi nói chung. Không có vật chất không vận động, cũng như không có sự vận động nào mà lại không phải là sự vận động của vật chất. Ph.Ăngghen cũng khái quát các hình thức vận động trong thế giới: vận động cơ học, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội. Tất cả các hình thức vận động đó không phải tách rời, mà liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau, trong không gian và thời gian. Từ đó, nguyên lý mà chúng ta rút ra biểu hiện thế giới quan duy vật triệt để là: Trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động, và vật chất vận động chỉ vận động trong không gian và thời gian. Về phép biện chứng duy vật: Khi coi “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”, là công cụ để nhận thức thế giới tự nhiên và lịch sử, Ph.Ăngghen khẳng định từ trong giới tự nhiên và lịch sử mà tư duy biện chứng hình thành và phát triển. + Phép biện chứng là khoa học của phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy xem xét sự vật hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, trong tính hệ thống, trong quá trình vận động theo khuynh hướng tiến lên. Về bản chất, tư duy biện chứng đối lập với tư duy siêu hình; phép biện chứng trong triết học Mác khác với phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, tức là phép biện chứng trong triết học Mác không được rút ra từ tư duy chủ quan của con người và không có mối liên hệ nào với thực tại khách quan, mà ngược lại, là sự phản ánh của giới tự nhiên và lịch sử vào tư duy: “Không thể đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự nhiên”, thông qua sự phát triển của khoa học tự nhiên, của lịch sử xã hội và kinh tế chính trị. + Sự phát triển của tư duy phản ánh thế giới khách quan được Ph.Ăngghen trình bày trong hệ thống các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Ph.Ăngghen đã chứng minh tính khách quan và tính phổ biến của mâu thuẫn với ý nghĩa là quy luật tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng, trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; qua đó, ông nhấn mạnh rằng, với tư duy biện chứng thì việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Thông qua sự phát triển của khoa học và trong đời sống xã hội Ph.Ăngghen chứng minh đã quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại. Bản chất của quy luật chính là mối quan hệ biện Lớp M12CQDT01-N Page 20
  • 21.
    chứng giữa chấtvà lượng trong thế giới khách quan. Lượng biến đổi để dẫn tới chuyển hóa về chất, đồng thời, chất tác động đến lượng để tạo nên sự chuyển hóa về lượng. Quá trình liên tục diễn ra, tạo thành cách thức của sự phát triển vừa tuần tự vừa nhảy vọt, hình thành quy luật phổ biến của thế giới khách quan. Tính khách quan và phổ biến của quy luật phủ định của phủ định được Ph.Angghen làm sáng tỏ trong mọi lĩnh vực của thế giới khách quan và tư duy con người; quy luật này vạch ra khuynh hướng chung của sự phát triển, thể hiện tính kế thừa và tiến lên, hình thành một quá trình liên tục trong sự vận động của sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao. Phát triển cũng không phải là một quá trình giản đơn, theo đường thẳng, mà là một quá trình phức tạp, lặp lại cái cũ nhưng không phải trùng khớp mà ở một trình độ mới cao hơn, thể hiện tính xoáy ốc của sự phát triển. Với bản chất như vậy, cái mới, theo quy luật, bao giờ cũng cao hơn và tiến bộ hơn so với cái cũ. Ph.Ăngghen cũng đòi hỏi cần phải có sự phân biệt giữa phủ định biện chứng và phủ định siêu hình: “Phủ định, trong phép biện chứng, không phải chỉ có ý nghĩa giản đơn là nói: không, hoặc giả là tuyên bố rằng một sự vật không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó”, mà nó là sự tự phủ định để hướng tới sự phát triển. Về lý luận nhận thức: Ph.Ăngghen đã làm sáng tỏ quan điểm duy vật biện chứng về bản chất của tư duy, về khả năng nhận thức chân lý, về tính cụ thể của chân lý, v.v.. + Theo Ph.Angghen, tư duy con người không phải là sự nhận thức chân lý tuyệt đối như quan niệm của Đuyrinh, mà là sự phản ánh của thế giới khách quan vào bộ não con người, là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Nó là một quá trình vừa tương đối, vừa tuyệt đối; nó “vừa là tối cao vừa là không tối cao, và khả năng nhận thức của con người vừa là vô hạn, vừa là có hạn. Tối cao và vô hạn là xét theo bản tính, sứ mệnh khả năng và mục đích lịch sử cuối cùng; không tối cao và có hạn là xét theo sự thực hiện riêng biệt và thực tế trong mỗi một thời điểm nhất định”. + Nhận thức chân lý là một quá trình lịch sử; vì vậy, không thể có chân lý bất biến, tuyệt đích cuối cùng như Đuyrinh quan niệm mà chân lý là một quá trình nhận thức từ thấp đến cao, phụ thuộc vào nhiều mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức. Tuyệt đối hóa tính tuyệt đối, tính vĩnh cửu của chân lý như Đuyrinh thì chỉ dẫn đến chủ nghĩa duy tâm và siêu hình về nhận thức. Ph.Ăngghen coi tính lịch sử của chân lý cũng giống như tính lịch sử của các quan hệ đạo đức: “Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau”. Hơn nữa, “chân lý và sai lầm, cũng giống như tất cả những phạm trù lôgíc học vận động trong những cực đối lập, chỉ có giá trị tuyệt đối trong một phạm vi cực kỳ hạn chế”. Lớp M12CQDT01-N Page 21
  • 22.
    Về chủ nghĩaduy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội + Khi bác bỏ quan điểm của Đuyrinh xem bạo lực và chiến tranh (nguồn gốc quân sự) là cơ sở để hình thành các giai cấp trong xã hội, Ph.Ăngghen cho rằng, điều kiện kinh tế xã hội, sự phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ sở hữu là cơ sở có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành các giai cấp khác nhau (nguồn gốc kinh tế). “… những cuộc xung đột không chỉ giữa những giai cấp do đại công nghiệp sinh ra, mà còn giữa lực lượng sản xuất và những phương thức trao đổi do nó tạo ra nữa - và mặt khác, đại công nghiệp ấy, thông qua sự phát triển lớn lao của chính lực lượng sản xuất ấy, cũng cung cấp những phương tiện để giải quyết những sự xung đột đó”. + Angghen chỉ rõ, y thức xã hội, lịch sử và pháp quyền chỉ có thể có được trên cơ sở tồn tại xã hội; không có chân lý đạo đức và pháp quyền vĩnh cửu vượt qua mọi giai đoạn lịch sử của mỗi dân tộc và thời đại khác nhau, như Đuyrinh quan niệm, mà ngược lại, tư tưởng về đạo đức và pháp quyền chỉ có thể dựa trên những quan hệ về kinh tế, xã hội và giai cấp nhất định trong mỗi giai đoạn lịch sử. Từ đây, Ph.Ăngghen chỉ ra hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng của Xanh Ximông, Phuriê, mặc dù ý tưởng của họ tốt đẹp, nhưng họ đã không dựa trên những tiền đề tất yếu của điều kiện kinh tế - xã hội. Về điều này, Angghen viết: “Tư tưởng với một trạng thái chưa trưởng thành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, với những quan hệ giai cấp chưa trưởng thành là những lý luận chưa trưởng thành”. + Để hiểu và vận dụng quy luật vào đời sống xã hội, Ph.Ăngghen đã nêu lên quan niệm về tất yếu và tự do. “Tự do không phải là sự độc lập tưởng tượng đối với các quy luật của tự nhiên, mà là ở sự nhận thức được những quy luật đó và ở cái khả năng - có được nhờ sự nhận thức này - buộc những quy luật đó tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đích nhất định… Như vậy, tự do của ý chí không phải là cái gì khác hơn là cái năng lực quyết định một cách hiểu biết công việc. Do đó, sự phán đoán của một người về một vấn đề nhất định, càng tự do bao nhiêu thì nội dung của sự phán đoán đó sẽ được quyết định với một tính tất yếu càng lớn bấy nhiêu”. + Ph.Ăngghen coi sự phát triển của triết học trong lịch sử, từ triết học cổ đại tới chủ nghĩa duy vật hiện đại là quá trình biểu hiện sự liên hệ thống nhất giữa triết học và khoa học: “Nói chung, đây không còn là một triết học nữa, mà là một thế giới quan, nó không cần phải được chứng thực và biểu hiện thành một khoa học đặc biệt nào đó của các khoa học, mà được chứng thực và biểu hiện trong các khoa học hiện thực”. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã vận dụng phương pháp biện chứng duy vật vào việc giải quyết những vấn đề của tự nhiên và lịch sử; ông đã trình bày một cách khoa học về tính biện chứng khách quan của giới tự nhiên, về sự phát triển của khoa học tự nhiên trong mối quan hệ với triết học, về vật chất vận động, về nguồn gốc loài người và lịch sử xã hội... Về quan niệm vật chất và vận động: Trước hết, Ph.Ăngghen chỉ ra tính đa dạng (khác biệt về chất và về lượng) của sự thống nhất vật chất của thế giới, biểu hiện trong sự liên hệ, chuyển hóa, luôn vận động và phát triển theo một quá trình ngày càng đi lên, với sự phong phú và đa dạng trong tính hệ thống, tính chỉnh thể. Quan niệm về tính thống nhất vật chất của thế giới là kết quả khái quát quá trình phát triển lâu dài của nhận thức triết học duy vật và dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên. Sau đó, Ph.Ăngghen trình bày các quan niệm về sự vận động của vật chất. Ông viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”. Như vậy, vận động là sự biến đổi nói chung, bao hàm tất cả mọi tính chất, mọi kết cấu, mọi khuynh hướng…, với bản chất là phương thức tồn tại, là thuộc tính hữu cơ của vật chất. + Ông cũng chỉ ra các hình thức vận động cơ bản của vật chất như vận động cơ giới các của khối lượng, vận động vật lý của các phân tử, vận động hóa học của các nguyên tử, và tiên đoán về sự vận Lớp M12CQDT01-N Page 22
  • 23.
    động của trườngđiện từ và khẳng định giữa các hình thức vận động luôn có sự liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau... + Ph.Ăngghen đã đối lập quan niệm duy vật biện chứng với các quan niệm duy tâm, cơ giới máy móc, siêu hình về vận động, cho dù các quan niệm này cũng đã chứa đựng một số thành tựu của khoa học tự nhiên. Ông phê phán thuyết “cái chết nhiệt” của Clauđiuxơ và khẳng định tính bất diệt của vận động, cũng như của sự sống: “Khoa học tự nhiên hiện đại đã phải vay mượn của triết học luận điểm về tính không thể tiêu diệt được của vận động, không có luận điểm này thì khoa học tự nhiên không thể tồn tại được”. + Như vậy, dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, Ph.Ăngghen đã nêu lên tính chỉnh thể, tính đa dạng của quá trình vận động, chuyển hóa của thế giới vật chất vô tận và vĩnh viễn. Về phép biện chứng: Bàn về phép biện chứng trong lịch sử, Ph.Ăngghen đề cập đến phép biện chứng của triết học Arixtốt, Đềcáctơ, Cantơ và Hêghen. + Trên tinh thần phê phán, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Theo quan niệm của C.Mác: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng. Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”. Tư tưởng đó đã khẳng định rằng, biện chứng khách quan của thế giới tự nhiên đóng vai trò quyết định đối với biện chứng chủ quan trong tư duy con người. Những quy luật cơ bản của phép biện chứng như “quy luật về sự chuyển hóa từ số lượng thành chất lượng và ngược lại, quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập, quy luật về sự phủ định của phủ định” là sự phản ánh những mối liên hệ cơ bản và phổ biến trong giới tự nhiên và lịch sử. “Vậy là từ trong lịch sử của giới tự nhiên và lịch sử của xã hội loài người mà người ta đã rút ra được các quy luật của phép biện chứng… Những quy luật biện chứng là những quy luật thật sự của sự phát triển của giới tự nhiên…”. + Ph.Ăngghen khẳng định: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là sự phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt, thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia”. Bản chất của quá trình biện chứng đó chính là sự bất diệt và vĩnh viễn của vật chất vận động. + Ph.Ăngghen khẳng định, tư duy biện chứng là chìa khóa, là con đường để dẫn tới sự phát triển của khoa học, để khoa học làm tròn sứ mệnh cao cả của nó “… một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận … chỉ có phép biện chứng mới có thể giúp cho khoa học tự nhiên vượt khỏi những khó khăn về lý luận … Trên thực tế, ở đây, ngày nay không còn một lối thoát, không còn một khả năng nào để có thể nhìn thấy ánh sáng nếu không từ bỏ tư duy siêu hình mà quay trở lại với tư duy biện chứng, bằng cách này hay cách khác”. Bởi vậy, “Trong thực tế, khinh miệt phép biện chứng thì không thể không bị trừng phạt … sự khinh thường phép biện chứng theo kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa sẽ bị trừng phạt như sau: nó đưa một số người thực nghiệm chủ nghĩa tỉnh táo nhất sa vào chỗ dị đoan ngu xuẩn nhất, sa vào thần linh học cận đại”. + Ph.Ăngghen cho rằng chính phép biện chứng đòi hỏi phải thống nhất giữa triết học và khoa học tự nhiên. Khoa học tự nhiên đặt cơ sở cho những khái quát phổ biến của triết học, còn những khái quát triết học lại trở thành phương pháp luận cho khoa học tự nhiên đi sâu vào nghiên cứu thế giới khách quan. Ph.Ăngghen viết: “Những nhà khoa học tự nhiên tưởng rằng họ thoát khỏi triết học bằng cách không để ý đến nó hoặc phỉ báng nó. Nhưng vì không có tư duy thì họ không thể tiến lên được một bước nào… Những ai phỉ báng triết học nhiều nhất lại chính là những kẻ nô lệ của những tàn tích thông tục hóa, tồi tệ nhất của những học thuyết triết học tồi tệ nhất. Dù những nhà khoa học Lớp M12CQDT01-N Page 23
  • 24.
    tự nhiên cólàm gì đi nữa thì họ cũng vẫn bị triết học chi phối. Vấn đề chỉ ở chỗ họ muốn bị chi phối bởi một thứ triết học tồi tệ hợp mốt hay họ muốn được hướng dẫn bởi một hình thức tư duy lý luận dựa trên sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng và những thành tựu của nó”. Về sự sống và nguồn gốc con người: Dựa trên những thành tựu khoa học tự nhiên vĩ đại của thời kỳ này, Ph.Ăngghen đã chỉ ra quá trình phát triển của thế giới tự nhiên là nguồn gốc của sự sống, nguồn gốc của sự hình thành con người và lịch sử xã hội. Ph.Ăngghen cũng chứng minh nguồn gốc của sự sống xuất phát từ những điều kiện tất yếu của các quá trình hóa học, sinh học, phủ định vai trò sáng tạo của Thượng đế hoặc du nhập sự sống từ không gian vũ trụ; từ đó, ông chỉ ra vai trò của lao động và ngôn ngữ trong việc hình thành con người. Ông chỉ ra vai trò quyết định của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người. “Đem so sánh con người với các loài vật, người ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng phát triển với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”. Từ đó, Ph.Ăngghen kết luận: “Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người”; đồng thời, thông qua quá trình phát triển của lao động và ngôn ngữ mà các giác quan của con người ngày càng hoàn thiện, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội ra đời và phát triển. Bằng lao động, thông qua lao động, con người trở thành chủ thể của tự nhiên - xã hội, con người cải biến thế giới tự nhiên và xã hội phục vụ cho chính mình. Trong tác phẩm Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (1886 - 1888), Ph.Ăngghen đề cập đến vấn đề cơ bản của triết học, đánh giá về triết học cổ điển Đức, bàn về phương pháp luận triết học duy vật biện chứng, vạch ra thực chất của cuộc cách mạng trong lịch sử triết học do C.Mác và Ph.Angghen thực hiện. Về vấn đề cơ bản của triết học: Ph.Ăngghen đã xác định “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” và chỉ ra hai mặt của nó: Mặt thứ nhất là: “Vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần với tự nhiên, một vấn đề tối cao của toàn bộ triết học … xem cái nào có trước, tinh thần hay tự nhiên? Vấn đề đó bất chấp giáo hội, lại mang một hình thức gay gắt: thế giới là do Chúa Trời sáng tạo ra, hay nó vẫn tồn tại từ trước đến nay?” và “cách giải đáp vấn đề ấy đã chia các nhà triết học thành hai phe lớn. Những người quả quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên … thuộc phe chủ nghĩa duy tâm. Còn những người cho rằng tự nhiên là cái có trước thì thuộc các học phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật”. Mặt thứ hai là: “Tư duy của chúng ta có thể nhận thức được thế giới hiện thực không? Trong các quan niệm và các khái niệm của chúng ta về thế giới hiện thực, chúng ta có thể phản ánh được một hình ảnh đúng đắn của hiện thực không?”. Ph.Ăngghen cho rằng phần lớn các nhà triết học thừa nhận con người có thể nhận thức được thế giới, còn một số nhà triết học như Hium và Cantơ lại phủ nhận khả năng nhận thức của con người. Theo Ph.Ăngghen thì sự phát triển của lịch sử triết học là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xung quanh vấn đề cơ bản của triết học. Về đánh giá triết học Hêghen: Ph.Ăngghen cho rằng không nên dừng lại ở những mâu thuẫn của hệ thống triết học này mà phải vạch ra được hạt nhân hợp lý của nó là phép biện chứng. Ông viết: “Nhưng tất cả những điều đó không ngăn trở hệ thống Hêghen bao trùm một lĩnh vực hết sức rộng hơn bất cứ hệ thống nào trước kia, và phát triển, trong lĩnh vực đó, một sự phong phú về tư tưởng mà ngày nay người ta vẫn còn ngạc nhiên. Hiện tượng học tinh thần…, lôgíc học, triết học tự nhiên, triết học tinh thần…, triết học lịch sử, triết học pháp quyền, triết học tôn giáo, lịch sử triết học, mỹ học, v.v. trong từng lĩnh vực lịch sử khác nhau ấy. Hêghen cố gắng phát hiện ra và chỉ rõ sợi chỉ đỏ của sự phát triển xuyên suốt lĩnh vực ấy. Vì Hêghen không những chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại”. Phương pháp biện chứng của triết học Hêghen thể hiện quá trình liên hệ, tác động, chuyển hóa và phát triển không ngừng của thế giới, vì vậy, nó có ý nghĩa cách mạng, “ý nghĩa thực sự và tính chất cách mạng của triết học Hêghen… chính là ở chỗ nó đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậu của những hệ quả của tư Lớp M12CQDT01-N Page 24
  • 25.
    tưởng và củahành động con người”. “Đối với triết học biện chứng đó thì không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả. Nó chỉ ra - trên mọi sự vật và trong mọi sự vật - dấu ấn của sự suy tàn tất yếu, và đối với nó, không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và sự tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp lên cao”. Do tính chất mâu thuẫn giữa hệ thống và phương pháp của triết học Hêghen mà hình thành các trường phái triết học khác nhau: “toàn bộ học thuyết của Hêghen đã để một khoảng rất rộng cho các quan điểm đảng phái thực tiễn hết sức khác nhau. Và trong giới lý luận Đức hồi ấy, trước hết có hai việc có ý nghĩa thực tiễn: tôn giáo và chính trị. Người nào chủ yếu coi trọng hệ thống của Hêghen, thì người đó có thể là khá bảo thủ trong hai lĩnh vực đó; còn người nào cho phương pháp biện chứng là chủ yếu thì người đó, về chính trị cũng như về tôn giáo, có thể thuộc vào phái đối lập cực đoan nhất”. Về đánh giá triết học Phoiơbắc: Ph.Ăngghen đánh giá cao thế giới quan duy vật của Phoiơbắc là đã đưa “chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua…”, đồng thời cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế - tính chất máy móc, siêu hình và duy tâm về mặt lịch sử của triết học này… Do chưa vượt qua được hạn chế của thời đại mình và chịu ảnh hưởng bởi phương pháp tư duy siêu hình mà Phoiơbắc không chỉ phê phán thế giới quan duy tâm mà còn phủ định hạt nhân hợp lý và phép biện chứng trong triết học Hêghen. Ph.Ăngghen viết: “Lời khẳng định của Phoiơbắc cho rằng “các thời đại của loài người chỉ khác nhau bởi những thay đổi về phương diện tôn giáo” là hoàn toàn sai. Chỉ có thể nói đến những bước ngoặt lịch sử lớn có kèm theo những sự thay đổi về tôn giáo”. Khi phê phán cách hiểu trừu tượng về con người của Phoiơbắc, Ph.Angghen viết: “Về hình thức, ông là một người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con người làm xuất phát điểm, song ông hoàn toàn không nói đến thế giới trong đó con người ấy sống, vì vậy, con người mà ông nói, luôn luôn là con người trừu tượng”. Về đạo đức con người, Phoiơbắc đồng nhất quan hệ đạo đức trong mọi giai đoạn lịch sử, mọi thời đại khác nhau. Ph.Ăngghen cho rằng: “những vết tích cuối cùng của tính chất cách mạng trong triết học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp khúc cũ kỹ: Hãy yêu nhau đi, hãy ôm nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp. Thật là giấc mơ thiên hạ thuận hòa… Học thuyết của Phoiơbắc về đạo đức thì cũng giống như tất cả những học thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả”. Về bước ngoặt cách mạng trong triết học: Một là, khi chỉ ra tính không triệt để về thế giới quan và phương pháp biện chứng mà các nhà triết học Đức mắc phải, Ph.Ăngghen cho rằng triết học duy vật biện chứng là kết quả của sự cải tạo triệt để chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc và phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Hai là, khi bàn về mối quan hệ giữa những thành tựu của khoa học tự nhiên với những kết luận triết học, Ph.Ăngghen khẳng định khoa học tự nhiên (đặc biệt là ba phát minh vĩ đại - thuyết tế bào, định luật chuyển hóa năng lượng và thuyết tiến hóa) đã đóng vai trò là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của phương pháp biện chứng duy vật. Ba là, vận dụng triết học duy vật biện chứng vào nhận thức lịch sử là biểu hiện tính duy vật triệt để của triết học Mác (cho dù có sự khác nhau giữa quy luật tự nhiên và quy luật lịch sử - quy luật tự nhiên tự nó diễn ra, còn quy luật của lịch sử thì phải thông qua hoạt động tự giác, có mục đích của con người); Hơn nữa Ph.Angghen còn chỉ ra một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp có lợi ích của mình, mà trước hết là lợi ích kinh tế đối lập nhau; và suy đến cùng, các quan hệ về chính trị, nhà nước, pháp quyền, tôn giáo đều xuất phát từ nguồn gốc sâu xa là quan hệ về kinh tế. Từ đây, Ph.Angghen kết luận, quy luật của lịch sử chỉ được rút ra từ bản thân lịch sử, chứ không phải từ đầu óc chủ quan của con người: “Bằng chứng phải được rút ra từ bản thân lịch sử… Bây giờ thì bất cứ ở đâu, vấn đề không còn là tưởng tượng ra những mối liên hệ từ trong đầu óc, mà là phát hiện ra chúng từ những sự thật”. Ph.Ăngghen đánh giá vai trò của C.Mác trong việc sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, và nói chung là toàn bộ chủ nghĩa Mác. Ph.Ăngghen viết: “Phần đóng góp của tôi - không kể có thể ngoại trừ một vài lĩnh vực chuyên môn - thì không có tôi, Mác vẫn có thể làm được. Nhưng điều mà Mác đã làm thì tôi không thể làm được. Mác đứng cao hơn, nhìn xa hơn, rộng Lớp M12CQDT01-N Page 25
  • 26.
    hơn và nhanhhơn tất cả chúng tôi. Mác là một thiên tài. Còn chúng tôi may lắm cũng chỉ là những tài năng thôi. Nếu không có Mác thì lý luận thật khó mà được như ngày nay. Vì vậy, lý luận đó mang tên của Mác là điều chính đáng”. Tóm lại, từ năm 1848 đến năm 1895, C.Mác và Ph.Ăngghen đã bổ sung và phát triển toàn diện những vấn đề của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Giai đoạn 1893 - 1907: Từ những năm 80 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác được truyền vào nước Nga thông qua nhóm “Giải phóng lao động” do Plêkhanốp đứng đầu. Do không đứng trên lập trường của giai cấp vô sản nên Plêkhanốp không thấy được vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và liên minh công - nông, vì vậy, ông đã xem giai cấp tư sản tự do chủ nghĩa là giai cấp cách mạng. Sai lầm này đã đưa Plêkhanốp xa rời lập trường mácxít và chuyển sang lập trường của nhóm cơ hội mensêvích. Trước tình hình đó, Lênin đã viết nhiều tác phẩm quan trọng để đấu tranh chống lại phái dân túy, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác. Tác phẩm Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao (1894) là bản cương lĩnh của một chính đảng mới ra đời ở nước Nga. Lênin vạch trần cơ sở triết học duy tâm chủ quan và phương pháp luận siêu hình của giai cấp tư sản tự do thể hiện trong cương lĩnh về kinh tế và chính trị của chúng. Người chỉ ra những mâu thuẫn trong xã hội Nga và con đường phát triển tất yếu của nước Nga, vai trò giai cấp vô sản trong sự liên minh với giai cấp nông dân nhằm lật đổ chế độ Nga hoàng, thiết lập chế độ mới xã hội chủ nghĩa. + Khẳng định những quy luật khách quan quyết định sự vận động của lịch sử xã hội trải qua các hình thái kinh tế - xã hội, Lênin viết: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên. Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì không thể có một khoa học xã hội được”. + Vận dụng phương pháp biện chứng của triết học Mác vào nhận thức quá trình vận động, phát triển của lịch sử để phát hiện ra các quy luật chi phối đời sống xã hội, Lênin đã làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học chân chính. Người viết: “Không bao giờ có một người mácxít nào đã xây dựng những quan điểm dân chủ - xã hội của mình trên một cơ sở nào khác, ngoài cái cơ sở là sự phù hợp của những quan điểm ấy với hiện thực và với lịch sử những quan hệ kinh tế - xã hội nhất định… Vì về mặt lý luận thì sự đòi hỏi đó đã được chính bản thân Mác, người sáng lập ra “chủ nghĩa Mác”, nêu lên một cách hoàn toàn rõ ràng và chính xác, coi đó là cơ sở của toàn bộ học thuyết của mình”. + Chỉ ra vai trò nhân tố chủ quan trong cách mạng xã hội, vai trò quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử… Tất cả những nội dung trên đều nhằm khẳng định một chân lý mà Lênin chỉ rõ: “Người ta không thể có một lý luận cách mạng nào ngoài chủ nghĩa Mác cả, họ càng mau chóng dồn hết tâm sức của mình ra để vận dụng lý luận đó vào nước Nga, cả về mặt lý luận lẫn về mặt thực tiễn, thì thắng lợi của công tác cách mạng sẽ càng chắc chắn và mau chóng”. “Sức hấp dẫn không gì cưỡng nỗi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng… Một sự kết hợp nội tại và khăng khít”. Với tác phẩm Làm gì? (1902), Lênin đã làm sáng tỏ các hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trước khi giành chính quyền: đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị, trong đó, đấu tranh chính trị có ý nghĩa quyết định để lật đổ giai cấp thống trị, giành lấy chính quyền cách mạng; chỉ ra vai trò rất quan trọng của hệ tư tưởng lý luận trong cuộc đấu tranh cách mạng. Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác không hình thành một cách tự phát trong phong trào công nhân, mà nó được truyền bá, giáo dục một cách tự giác trong phong trào đó; vì vậy, tuyên truyền lý luận cách mạng là một nội dung quan trọng để hướng tới mục tiêu đấu tranh chính trị trong cách mạng vô sản. Lớp M12CQDT01-N Page 26
  • 27.
    Trong tác phẩmHai sách lược của Đảng dân chủ - xã hội trong cách mạng dân chủ (1905), Lênin nêu lên những nội dung của cách mạng tư sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chỉ rõ vai trò của quần chúng nhân dân, của nhân tố chủ quan, của các đảng chính trị trong cuộc đấu tranh cách mạng để giành thắng lợi. Lênin đã bác bỏ quan điểm của phái Mensêvích và phái xét lại Tây Âu lúc bấy giờ, đồng thời chỉ rõ tính chất của cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất là cuộc cách mạng tư sản, nhưng do giai cấp vô sản lãnh đạo trong mối quan hệ liên minh với giai cấp nông dân; vì vậy, cách mạng dân chủ tư sản sẽ chuyển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lênin cũng bác bỏ quan điểm của các lãnh tụ cơ hội trong Quốc tế II, để khẳng định rằng thắng lợi của cách mạng dân chủ là tiền đề cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn 1907 đến Cách mạng Tháng Mười Nga: Trong giai đoạn này, chính phủ Nga hoàng đã thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố rộng rãi làm cho đời sống xã hội trở nên ngột ngạt, vì vậy đã xuất hiện những tư tưởng phản động, sự hình thành chủ nghĩa duy tâm tôn giáo. Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Makhơ mà thực chất là chủ nghĩa duy tâm phản động đã xuất hiện, và nó cố trở thành triết học khoa học duy nhất. Từ tình hình này đặt ra một nhiệm vụ cấp bách là phải tuyên chiến với các tư tưởng đối lập, bảo vệ và phát triển triết học Mác, xác lập thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng cho giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản phản động. Tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908 - 1909) thể hiện sự kết hợp sâu sắc giữa tính đảng và tính khoa học trong triết học Mác. Qua tác phẩm này, chúng ta nhận thấy Lênin đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ mà lịch sử đã đặt ra. + Về vấn đề cơ bản của triết học: Trong tác phẩm này Lênin đã vạch ra bản chất duy tâm chủ quan của cái gọi là “phát minh vĩ đại” ra các yếu tố “trung gian” của phái Makhơ, Người viết: “Sự tồn tại của vật chất không phụ thuộc vào cảm giác. Vật chất là cái có trước; cảm giác, tư tưởng ý thức là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức theo một cách thức đặc biệt. Đó là quan điểm của chủ nghĩa duy vật, nói chung, và của C.Mác và Ph.Ăngghen nói riêng. Makhơ và Avênariút đã lén lút du nhập chủ nghĩa duy vật bằng cách dùng chữ “yếu tố”… Thật là trẻ con nếu nghĩ rằng bịa ra một từ mới, là có thể tránh được những trào lưu triết học cơ bản… Thưa các ngài, triết học các của ngài chỉ là chủ nghĩa duy tâm đã uổng công che đậy sự trần trụi của chủ nghĩa duy ngã của mình bằng một thuật ngữ “khách quan” hơn. Hoặc giả “yếu tố” không phải là cảm giác, và như vậy từ “mới” của các ngài tuyệt đối không có một chút ý nghĩa nào cả, và các ngài chỉ làm ồn lên vô ích mà thôi”. Mặt khác, Người cũng chỉ rõ và phê phán tính đảng trong triết học Makhơ và Avênariút: “Bây giờ hãy đứng trên quan điểm đảng phái trong triết học để xét Makhơ, Avênariút cùng trường phái của họ. Chà, các ngài ấy cứ tự hào về tính không đảng phái của mình, và nếu họ có một cực đối lập thì họ chỉ có một và chỉ có độc một… nhà duy vật mà thôi. Xuyên suốt tất cả những trước tác của hết thảy mọi người theo phái Makhơ, là cái tham vọng ngu dốt muốn vượt lên trên chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, muốn khắc phục sự đối lập “cũ kỹ” ấy, nhưng kỳ thật, thì cả đám người đó cứ mỗi lúc một sa vào chủ nghĩa duy tâm và kiên quyết tiến hành đến cùng một cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy vật”. Vì thế, bản chất của các học giả tư sản đó, theo V.I.Lênin: “Nói chung và về đại thể các giáo sư môn kinh tế đều chỉ là những học giả làm thuê cho giai cấp tư bản, còn các giáo sư triết học đều chỉ là bọn học giả làm thuê cho phái thần học thôi”. “Triết học hiện đại cũng có tính đảng như triết học hai nghìn năm về trước. Những đảng phái đang đấu tranh với nhau, về thực chất - mặc dù thực chất đó bị che dấu bằng những nhãn hiệu mới của thủ đoạn lang băm hoặc tính phi đảng ngu xuẩn - là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm”. + Về nhận thức luận: Khi phê phán quan điểm phủ nhận khả năng con người nhận thức thế giới khách quan của phái Makhơ, Lênin nêu lên những nguyên tắc cơ bản của nhận thức duy vật biện chứng: “1) Có những vật tồn tại độc lập đối với ý thức của chúng ta, độc lập đối với cảm giác của chúng ta, ở ngoài chúng ta… 2) Dứt khoát là không có và không thể có bất kỳ sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa hiện tượng và vật tự nó. Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa được nhận thức… 3) Trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả những lĩnh vực khác của khoa Lớp M12CQDT01-N Page 27
  • 28.
    học, cần suyluận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào”. Theo V.I.Lênin, chân lý là sự phản ánh của thế giới khách quan vào đầu óc con người và được kiểm nghiệm qua thực tiễn, là quá trình nhận thức từ thấp đến cao, từ nghiên cứu chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn, trong những hoàn cảnh điều kiện lịch sử nhất định nó biểu hiện trong chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. “Như vậy là theo bản chất của nó, tư duy của con người có thể cung cấp và đang cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lý này chỉ là tổng số những chân lý tương đối. Mỗi giai đoạn phát triển của khoa học lại đem thêm những hạt mới vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối, nhưng những giới hạn chân lý của mọi định lý khoa học đều là tương đối, khi thì mở rộng ra, khi thì thu hẹp lại, tùy theo sự tăng tiến của tri thức”. “Đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng thì giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối không có ranh giới không thể vượt qua”. Lênin khẳng định: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”. Song, thực tiễn cần được xem trong mối quan hệ vừa tương đối, vừa tuyệt đối với quá trình nhận thức chân lý: “Dĩ nhiên không nên quên rằng tiêu chuẩn thực tiễn, xét về thực chất, không bao giờ có thể xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con người, dù biểu tượng ấy là thế nào chăng nữa. Tiêu chuẩn đó cũng khá “không xác định” để không cho phép các hiểu biết của con người trở thành một cái tuyệt đối”. Như vậy, thực tiễn đóng vai trò là tiêu chuẩn của nhận thức lý luận. Lênin viết: “Nếu cái mà thực tiễn của chúng ta xác nhận là chân lý khách quan, duy nhất, cuối cùng, thì như thế tức là con đường duy nhất dẫn đến chân lý đó là con đường của khoa học xây dựng trên quan điểm duy vật… Đi theo con đường mà lý luận của Mác vạch ra thì chúng ta ngày càng đi đến gần chân lý khách quan (tuy không bao giờ có thể nắm hết được); nếu đi theo bất cứ con đường nào khác, chúng ta chỉ có thể đi đến sự lẫn lộn và dối trá”. + Về bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật trước những xuyên tạc của chủ nghĩa duy tâm đối với các thành tựu mới của vật lý học và nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng trong vật lý học: Lênin đã định nghĩa phạm trù vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. “Đương nhiên, sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó, thì không nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó là tương đối”. Phạm trù vật chất thể hiện lập trường triết học duy vật biện chứng triệt để là cơ sở để phân biệt với các trường phái triết học đối lập khác, khắc phục sự khủng hoảng của các nhà vật lý học trong quá trình nhận thức thế giới vật chất. Quan niệm của Lênin càng chứng minh mối liên hệ thống nhất giữa triết học duy vật biện chứng với khoa học tự nhiên: “Vật lý học hiện đại đang nằm trên giường đẻ. Nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy vật biện chứng… Toàn bộ chủ nghĩa duy tâm vật lý học, toàn bộ triết học kinh nghiệm phê phán, cũng như thuyết kinh nghiệm tượng trương, thuyết kinh nghiệm nhất nguyên v.v… đều thuộc những thứ cặn bã phải vứt bỏ đi”. Lênin đã vạch rõ thực chất của cuộc khủng hoảng trong vật lý học là do các nhà vật không nắm được phép biện chứng, đi chệch hướng sang chủ nghĩa duy tâm: “Thực chất của cuộc khủng hoảng của vật lý học hiện đại là ở sự đảo lộn của những quy luật cũ và những nguyên lý cơ bản, ở sự gạt bỏ thực tại khách quan ở bên ngoài ý thức, tức là ở sự thay thế chủ nghĩa duy vật bằng chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa bất khả tri”. “Nhưng chủ nghĩa duy vật biện chứng kiên trì cho rằng bất kỳ lý luận khoa học nào về cấu trúc và đặc tính của vật chất cũng đều có tính chất gần đúng, tương đối; trong tự nhiên không hề có đường ranh giới nào tuyệt đối; bản chất đang vận động sẽ chuyển hóa từ một trạng thái này sang một trạng thái khác… Vật lý học mới sở dĩ đi chệch sang phía chủ nghĩa duy tâm, chủ yếu là vì các nhà vật lý học không hiểu được phép biện chứng… Trong khi phủ nhận tính bất biến của những nguyên tố và cả những đặc tính của vật chất đã được biết cho đến nay, họ đã rơi vào chỗ phủ nhận vật chất, nghĩa là phủ nhận tính thực tại khách quan của thế giới vật lý”. Những kết luận của Lênin có ý nghĩa định hướng cho các nhà khoa học tự nhiên không ngừng đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất trên nền tảng thế giới quan duy vật và phép biện chứng mácxít. Thế Lớp M12CQDT01-N Page 28
  • 29.
    giới vật chấtlà vô cùng vô tận, tồn tại độc lập với ý thức con người, ý thức con người phản ánh thế giới vật chất khách quan, vì vậy nó phải luôn luôn phát triển. Cũng vô cùng tận như thế giới vật chất, tri thức không bao giờ có giới hạn cuối cùng. Tác phẩm Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác (1913) đã chỉ ra nguyên nhân, bản chất và kết cấu của chủ nghĩa Mác. Trên cơ sở kế thừa biện chứng tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đặc biệt là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội Pháp, vận dụng vào điều kiện lịch sử mới, bằng thiên tài của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng tạo nên học thuyết khoa học có ý nghĩa vạch thời đại, trở thành lý luận khoa học cho quá trình nhận thức và cải tạo thế giới. Trong tác phẩm Bút ký triết học, Lênin nhận xét, đánh giá các nhà triết học trong lịch sử để từ đó phát triển những nội dung của triết học duy vật biện chứng, đặc biệt là làm sáng rõ phép biện chứng duy vật và lý luận nhận thức duy vật. + Về sự phát triển: Lênin so sánh hai quan niệm đối lập nhau: “Hai quan niệm cơ bản… về sự phát triển (sự tiến hóa); sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như là lặp lại, và sự phát triển coi như là sự thống nhất của các mặt đối lập. Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan. Quan niệm thứ hai là sinh động. Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động”, của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”, của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hóa thành mặt đối lập”, của “sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh cái mới”. Lênin cho rằng phép biện chứng là lý luận duy nhất đúng về sự phát triển; nó cho ta chìa khóa để tìm hiểu sự vận động của các quá trình tự nhiên, xã hội và tư duy. “Phép biện chứng với tính cách là nhận thức sinh động, nhiều mặt (số các mặt không ngừng tăng lên mãi mãi) bao hàm vô số khía cạnh trong cách tiếp cận, đi gần tới hiện thực (với một hệ thống triết học đi từ mỗi khía cạnh mà phát triển thành một toàn thể) - đó là nội dung phong phú không lường được so với chủ nghĩa duy vật, siêu hình”. + Về các quy luật của phép biện chứng: Khi bàn về quy luật phủ định của phủ định, Lênin viết: “không phải là sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng, - dĩ nhiên phép biện chứng bao hàm trong nó nhân tố phủ định, và thậm chí với tính cách là nhân tố quan trọng nhất của nó, - không, mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định, tức là không có một sự do dự nào, không có một sự chiết trung nào”. Lênin luôn khẳng định bản chất, nguồn gốc, động lực của sự phát triển là cuộc đấu tranh giữa hai mặt đối lập, và coi quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó… đó là thực chất… của phép biện chứng”. “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”. “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”. “Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất, - trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hóa lẫn nhau, - tại sao lý trí con người không nên xem những mặt đối lập ấy là chết, cứng đờ, mà là sinh động, có điều kiện, năng động, chuyển hóa lẫn nhau”. “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự phát triển thêm”. + Về sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học: “Mác không để lại cho chúng ta “lôgíc học” (với chữ L viết hoa, nhưng đã để lại cho chúng ta lôgíc của “Tư bản”, và cần phải tận dụng đầy đủ nhất lôgíc đó để giải quyết vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu. Trong “Tư bản”, Mác áp dụng lôgíc, phép biện chứng và lý luận nhận thức (không cần ba từ: đó là cùng một cái duy nhất) của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất”. Trong ba yếu tố trên, lý luận nhận Lớp M12CQDT01-N Page 29
  • 30.
    thức là khoahọc về sự phản ánh của tư duy con người đối với khách thể, phép biện chứng là khoa học về sự phát triển, lôgíc học là khoa học về những hình thức và quy luật của tư duy. Vì vậy, lý luận nhận thức bao hàm phép biện chứng và lôgíc học. Phép biện chứng là hạt nhân của lý luận nhận thức và lôgíc học. Cả ba yếu tố trên, theo Lênin, là sự đồng nhất trong tính khác biệt. + Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý, “vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”. “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”. Như vậy, thực tiễn là một vòng khâu trong quá trình nhận thức thế giới khách quan. Thông qua thực tiễn mà con người mới chứng minh được tính chân lý của nhận thức. Xuất phát từ thực tiễn, theo V.I.Lênin, quá trình nhận thức biểu hiện sự thống nhất giữa lịch sử và lôgíc của tư duy: “Lôgíc không phải là học thuyết về những quy luật phát triển của “tất thảy mọi sự vật vật chất, tự nhiên và tinh thần”, tức là học thuyết về những quy luật phát triển của toàn bộ nội dung cụ thể của thế giới và nhận thức thế giới, tức là sự tổng kết, tổng số, kết luận của lịch sử nhận thức thế giới”. + Về tính đảng trong triết học: Dựa trên lập trường duy vật triệt để, Lênin đã đấu tranh không khoan nhượng chống lại các trường phái đối lập, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng, trên tinh thần khoa học và cách mạng. Phê phán Cantơ và Hêghen, Lênin cho rằng: “Cantơ hạ thấp tri thức để dọn sạch đường cho lòng tin; Hêghen đề cao tri thức, quả quyết rằng tri thức tức là tri thức về Thượng đế. Người duy vật đề cao tri thức về vật chất, giới tự nhiên, tống Thượng đế và những bọn triết học đê tiện bảo vệ Thượng đế vào hố rác”. Lênin đánh giá chủ nghĩa duy tâm trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: “Theo quan điểm của một chủ nghĩa duy vật thô lỗ, đơn giản, siêu hình, thì chủ nghĩa duy tâm triết học chỉ là một sự ngu xuẩn. Trái lại, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì chủ nghĩa duy tâm triết học là một sự phát triển (một sự thổi phồng, bơm to) phiến diện, thái quá… của một trong những đặc trưng, của một trong những mặt, của một trong những khía cạnh của nhận thức thành một cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, khỏi giới tự nhiên, thần thánh hóa. Chủ nghĩa duy tâm, đó là chủ nghĩa thầy tu. Đúng như vậy. Nhưng chủ nghĩa duy tâm triết học là… con đường dẫn đến chủ nghĩa thầy tu, qua một trong những sắc thái của nhận thức (biện chứng) vô cùng phức tạp của con người”. Lênin chỉ ra sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy tâm xung quanh con đường nhận thức: “Nhận thức của con người không phải là… một đường thẳng, mà là một đường cong đi gần vô hạn đến một loạt những vòng tròn, đến một vòng xoáy ốc. Bất cứ đoạn nào, khúc nào, mảnh nào của đường cong ấy cũng có thể chuyển hóa (chuyển hóa một cách phiến diện) thành một đường thẳng đối lập, đầy đủ, đường thẳng này (nếu chỉ thấy cây không thấy rừng) sẽ dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thầy tu (ở đây nó sẽ bị lợi ích giai cấp của các giai cấp thống trị củng cố lại). Tính đường thẳng và tính phiến diện, sự chết cứng và cứng nhắc, chủ nghĩa chủ quan và sự mù quáng chủ quan đó là những nguồn gốc về nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm. Và chủ nghĩa thầy tu (bằng chủ nghĩa duy tâm triết học) đương nhiên có những nguồn gốc về nhận thức luận, nó không phải là không có cơ sở; không còn nghi ngờ gì nữa, đó là một đóa hoa không kết quả mọc trên cái cây sống của nhận thức sinh động, phong phú, chân thực, khỏe mạnh, toàn năng, khách quan, tuyệt đối của con người”. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng (1917 - 1918), Lênin đã kế thừa tư tưởng về nhà nước của C.Mác và Ph.Ăngghen, tiến hành đấu tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, tiếp tục phát triển quan điểm cơ bản về nhà nước chuyên chính vô sản và bạo lực cách mạng, về vai trò của Đảng Cộng sản và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hiện tại và chủ nghĩa cộng sản tương lai. Vì vậy, tác phẩm này đã đáp ứng kịp thời yêu cầu cấp bách về lý luận và thực tiễn lúc bấy giờ của phong trào cách mạng ở nước Nga và trên thế giới. + Về nguồn gốc, bản chất của nhà nước, và con đường xác lập nhà nước chuyên chính vô sản: Người viết: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp Lớp M12CQDT01-N Page 30
  • 31.
    không thể điềuhòa được thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”. Nhà nước là công cụ thống trị của một giai cấp để áp đặt sự thống trị của mình lên các giai cấp khác và toàn xã hội. “… Nhà nước là một cơ quan thống trị giai cấp, là một cơ quan áp bức của một giai cấp này đối với một giai cấp khác”. “Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt, nó là tổ chức bạo lực dùng để trấn áp một giai cấp nào đó”. Nhà nước chuyên chính vô sản không được xác lập bằng điều hòa quan hệ giai cấp mà bằng bạo lực cách mạng; thông qua bạo lực cách mạng của quần chúng nhất định để xóa bỏ nhà nước tư sản, xác lập nhà nước của giai cấp vô sản: “Nhà nước tư sản bị thay thế bởi nhà nước vô sản (chuyên chính vô sản) không thể bằng con đường “tiêu vong” được, mà chỉ có thể, theo quy luật chung, bằng một cuộc cách mạng bạo lực thôi”. “Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được”. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của nhà nước chuyên chính vô sản trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, một điều kiện tất yếu, theo V.I.Lênin, là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản: “Chủ nghĩa Mác giáo dục đảng công nhân, là giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô sản, đội tiên phong này đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo và tổ chức một chế độ mới, đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động và những người bị bóc lột để giúp họ tổ chức đời sống xã hội của họ, mà không cần đến giai cấp tư sản và chống lại giai cấp tư sản”. + Về hai giai đoạn phát triển của xã hội tương lai (giai đoạn thấp - xã hội chủ nghĩa, và giai đoạn cao - cộng sản chủ nghĩa): “Trong giai đoạn đầu, trong nấc thang thứ nhất, chủ nghĩa cộng sản chưa thể hoàn toàn trưởng thành về mặt kinh tế, chưa thể hoàn toàn thoát khỏi những tập tục hay những tàn tích của chủ nghĩa tư bản”. Trong giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản, “toàn thể xã hội sẽ chỉ còn là một phòng làm việc, một xưởng máy, với chế độ lao động ngang nhau và lĩnh lương ngang nhau… Lúc bấy giờ, cửa sẽ mở thật rộng để cho ai cũng có thể bước vào được, từ giai đoạn đầu lên giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa, và do đó nhà nước sẽ tiêu vong hẳn”. Giai đoạn sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917: Cách mạng Tháng Mười Nga thành công mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Trong giai đoạn này, Lênin tiếp tục phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại (1919), Lênin phân tích sâu rộng ý nghĩa của những ngày thứ bảy cộng sản, tổng kết kinh nghiệm của quần chúng lao động trong thời kỳ bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. + Lênin chỉ ra năng suất lao động xã hội là yếu tố quyết định cho sự thắng lợi của xã hội mới: “Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một năng suất lao động chưa từng thấy dưới chế độ nông nô. Chủ nghĩa tư bản có thể bị đánh bại hẳn, và sẽ bị đánh bại hẳn, vì chủ nghĩa xã hội tạo ra một năng suất lao động mới, cao hơn nhiều”. Để xây dựng xã hội mới, theo V.I.Lênin, giai cấp vô sản phải thực hiện hai nhiệm vụ: một là, đánh đổ giai cấp tư sản, thiết lập chính quyền cách mạng, tức chuyên chính vô sản, và hai là, xây dựng xã hội mới. “Nhiệm vụ thứ hai này khó hơn nhiệm vụ thứ nhất, vì tuyệt nhiên không thể giải quyết được nhiệm vụ đó bằng một hành động anh hùng nhất thời, nhiệm vụ đó đòi hỏi phải có tinh thần dũng cảm lâu dài nhất, bền bỉ nhất, khó khăn nhất của công tác quần chúng hàng ngày”. + Lênin đã nêu ra một định nghĩa nổi tiếng về giai cấp: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm đã người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”. Lớp M12CQDT01-N Page 31
  • 32.
    Nội dung củatác phẩm Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920) hướng đến mục đích tuyên truyền kinh nghiệm cho các đảng cộng sản mới ra đời trong phong trào cộng sản quốc tế, vạch ra chiến lược và sách lược của các đảng cộng sản trong điều kiện lịch sử mới, nhằm tránh những sai lầm có tính chất bè phái, giáo điều trong cuộc đấu tranh cách mạng. + Về bản chất và tác hại của chủ nghĩa cơ hội “tả khuynh”: Đó là chủ nghĩa chủ quan trong đánh giá sự kiện, bỏ qua những giai đoạn của phong trào cách mạng, hành động phiêu lưu, vô chính phủ. “Cái đầu óc gần giống như chủ nghĩa vô chính phủ hay đã có một số nét nào đó mượn của chủ nghĩa vô chính phủ và trong tất cả những vấn đề cơ bản, đều xa rời những điều kiện và những yêu cầu tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp triệt để của giai cấp vô sản”. + Về tính phức tạp trong thời kỳ xây dựng xã hội mới: “Chuyên chính vô sản là một cuộc đấu tranh kiên trì, đổ máu và không đổ máu, bạo lực và hòa bình, bằng quân sự và bằng kinh tế, bằng giáo dục và bằng hành chính, chống những thế lực và những tập tục của xã hội cũ. Sức mạnh của tập quán ở hàng triệu và hàng chục triệu người là một sức mạnh ghê gớm nhất”. Trong cuộc đấu tranh thời kỳ chuyên chính vô sản, vai trò của Đảng Cộng sản có ý nghĩa quyết định: “Không có một đảng sắt thép được tôi luyện trong đấu tranh, không có một đảng được sự tín nhiệm của tất cả những phần tử trung thực trong giai cấp nói trên, không có một đảng biết nhận xét tâm trạng quần chúng và biết tác động vào tâm trạng đó thì không thể tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ấy được”. Bài báo nổi tiếng Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu (1922) được coi là di chúc triết học của V.I.Lênin; nó vạch ra vai trò của công tác tuyên truyền triết học vô thần, coi đó cũng là nhiệm vụ quan trọng của Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh gian khổ, khó khăn để xây dựng xã hội mới. + Trong tác phẩm này, ông đặt ra nhiệm vụ phát triển triết học duy vật biện chứng trên cơ sở tổng kết lịch sử hiện đại, củng cố liên minh thống nhất giữa triết học và khoa học tự nhiên, phê phán chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo trên tinh thần khoa học. “… Chúng ta cần hiểu rằng nếu không có một cơ sở triết học vững vàng thì tuyệt nhiên không có khoa học tự nhiên nào hay chủ nghĩa duy vật nào có thể tiến hành đấu tranh chống được sự lấn bước của những tư tưởng tư sản và sự phục hồi của thế giới quan tư sản. Muốn tiến hành được cuộc đấu tranh ấy và đưa nó đến thành công hoàn toàn, nhà khoa học tự nhiên phải là một nhà duy vật hiện đại, một đồ đệ tự giác của chủ nghĩa duy vật mà Mác là người đại diện. Nghĩa là nhà khoa học tự nhiên ấy phải là một nhà duy vật biện chứng”. “Không đặt ra và không thực hiện nhiệm vụ ấy một cách có hệ thống, thì chủ nghĩa duy vật không thể là một chủ nghĩa duy vật chiến đấu được… Nếu không làm thế, các nhà khoa học tự nhiên lớn cũng lại vẫn sẽ luôn luôn bất lực trong những kết luận và khái quát triết học của họ trước kia. Vì khoa học tự nhiên đang tiến bộ nhanh, đang trải qua một thời kỳ đảo lộn cách mạng sâu sắc trong tất cả mọi lĩnh vực, đến nỗi nó tuyệt đối không thể không cần đến những kết luận triết học”. + Lênin nói: “Ăngghen nhắc nhở những người lãnh đạo của giai cấp vô sản đương thời là phải dịch các trước tác chiến đấu vô thần chủ nghĩa cuối thế kỷ XVIII, để truyền bá ra thật nhiều trong nhân dân. Đáng xấu hổ cho chúng ta là mãi đến nay chúng ta vẫn không làm được việc đó (đây là một trong nhiều bằng chứng nói lên rằng: cướp lấy chính quyền trong một thời kỳ cách mạng thì dễ hơn rất nhiều so với việc biết sử dụng đúng đắn chính quyền ấy)”. “Sai lầm lớn nhất và tệ hại nhất mà một người mácxít có thể mắc phải, là tưởng rằng quần chúng nhân dân đông hàng bao nhiêu triệu con người (và nhất là quần chúng nông dân và thợ thủ công), bị cái xã hội hiện đại đẩy vào vòng tối tăm, dốt nát và thiên kiến chỉ có thể thoát ra khỏi vòng tối tăm ấy bằng con đường trực tiếp của một nền giáo dục thuần túy mácxít”. Rõ ràng, những luận điểm triết học trên của Lênin có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc, nó vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại chúng ta. Ngoài ra, Lênin còn viết nhiều tác phẩm bàn về chính sách kinh tế mới bàn về đường lối kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với các hình thức và bước đi thích hợp, nhằm bảo đảm cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. “Công tác kinh tế phải là sự nghiệp chung của tất cả mọi người… Lớp M12CQDT01-N Page 32
  • 33.
    là hoạt độngchính trị có ý nghĩa nhất”. “Cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp”. 4. Tri t h c Mác - Lênin ế ọ trong thời đại ngày nay Những biến đổi của thời đại Thời đại ngày nay được xác định từ Cách mạng Tháng Mười Nga 1917. Trong giai đoạn lịch sử này, trên thế giới đã và đang diễn ra những thay đổi lớn lao trên tất cả mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội… Sự xuất hiện các nước xã hội chủ nghĩa sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã tạo ra một quá trình phát triển của hai hệ thống đối lập cơ bản trong lịch sử xã hội loài người: hệ thống xã hội chủ nghĩa và hệ thống tư bản chủ nghĩa. Trong một thời gian lịch sử khá dài, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã trở thành mục tiêu lý tưởng tốt đẹp nhất của nhân loại tiến bộ. Sự lớn mạnh của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa là hậu phương vững chắc cho công cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, đấu tranh giải phóng dân tộc, vì mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân trên toàn thế giới. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, mà từ những năm 90 thế kỷ XX, hệ thống xã hội chủ nghĩa rơi vào khủng hoảng và sụp đổ. Hệ thống các nước chủ nghĩa xã hội đã tan vỡ. Dù công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới đã bị thất bại; song, mục tiêu, lý tưởng và bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội vẫn vẫn còn; chúng tiếp tục là phương hướng phát triển của lịch sử xã hội loài người hôm nay và mai sau. Các quốc gia xã hội chủ nghĩa còn lại như Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba, … vẫn kiên định mục tiêu, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, cải cách/mở cửa, tiếp tục giương cao ngọn cờ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Điều này đã và đang là niềm cổ vũ tinh thần cho một số nước Nam Mỹ Vênêduyêla, Nicaragua, … phấn đấu theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đó là một tất yếu lịch sử. Bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột, thống trị, nhưng với sự điều chỉnh về kinh tế, về chính sách xã hội, về lợi ích… mà các nước tư bản đã giữ được sự ổn định và phát triển, nhất là phát triển kinh tế và khoa học - công nghệ. Điều đó đã tạo ra một sự ngộ nhận và dao động khi cho rằng chủ nghĩa tư bản là tương lai của loài người. Trong bối cảnh đó, cuộc đấu tranh ai thắng ai giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản càng gay go, phức tạp. Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, trên thế giới nổi lên các vấn đề mang tính toàn cầu như xung đột dân tộc, tôn giáo; khủng hoảng môi trường sinh thái; dịch bệnh liên quan đến sức khỏe con người; khủng bố thế giới… Đặc biệt là các cuộc chiến tranh cục bộ giữa các nước, biểu hiện cho tham vọng bá chủ toàn cầu của Mỹ, đã tạo nên tính không ổn định của môi trường chính trị trong từng khu vực cũng như trên toàn thế giới. Những vấn đề này suy đến cùng cũng chỉ là những biểu hiện tất yếu của những mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa. Thời đại ngày nay cũng được đánh dấu bằng sự phát triển như vũ bão của các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trước đây, và các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay trên toàn thế giới. Chúng đã tạo nên sự phát triển thần kỳ về mọi mặt trong đời sống xã hội của nhiều quốc gia, dẫn đến xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế tri thức mang tính toàn cầu. Xu hướng phát triển đó, một mặt, làm cho mối liên hệ giữa các quốc gia, dân tộc khác nhau về địa lý và bản sắc, ngày càng gắn chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau; nhưng mặt khác, chúng cũng làm cho mâu thuẫn giữa các nước giàu, phát triển và các nước nghèo, chậm phát triển ngày càng gay gắt, không chỉ trên phương diện kinh tế mà còn trên các mặt như chính trị, văn hóa và xã hội. Như vậy, thời đại ngày nay đang chứng kiến những sự đổi thay vô cùng to lớn trên nền tảng của sự phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội ngày càng cao. Sự tác động của hai quá trình cách mạng về xã hội và về khoa học - công nghệ đã tạo nên sự biến đổi nhanh chóng và phức tạp trên mọi mặt của đời sống xã hội. Đó cũng là một thách thức đặt ra đối với sự phát triển của chủ nghĩa Mác - Lớp M12CQDT01-N Page 33
  • 34.
    Lênin nói chung,triết học Mác - Lênin nói riêng, nhằm chứng minh vai trò của lý luận khoa học và cách mạng trong điều kiện lịch sử - xã hội mới. Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác - Lênin trong thời đại ngày nay Từ khi ra đời đến nay, triết học Mác - Lênin luôn phát triển trong cuộc đấu tranh với các trường phái triết học đối lập. Các học giả tư sản luôn tìm cách phủ nhận những nguyên lý cơ bản của triết học Mác - Lênin. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các trường phái triết học phi mácxít hiện đại ở phương Tây đã thổi phồng vai trò của nền văn minh công nghiệp, phủ nhận cách mạng xã hội, xóa nhòa ranh giới giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; đặc biệt họ cho rằng triết học Mác đã lỗi thời, dẫn đến sự thất bại của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải khẳng định rằng, vai trò triết học Mác - Lênin đang tăng lên cùng với sự phát triển của lịch sử - xã hội loài người trong các nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc nghiên cứu và phát triển triết học Mác - Lênin là một yêu cầu cấp thiết. Thực tế đã chứng minh rằng, các đảng cộng sản trong các nước xã hội chủ nghĩa đã không ngừng phát triển và vận dụng lý luận triết học Mác - Lênin, để triết học Mác - Lênin đóng vai trò là thế giới quan khoa học và phương pháp luận cách mạng trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là biểu hiện của ý nghĩa khoa học và cách mạng, biểu hiện của các giá trị văn hóa và nhân văn, cũng như vai trò ngày càng tăng về nội dung lý luận cũng như phương pháp luận của triết học Mác - Lênin trong đời sống xã hội hiện đại. Tất nhiên, trong điều kiện lịch sử mới, cần phải bổ sung và phát triển triết học Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo những nguyên lý, quy luật phổ biến đó một cách phù hợp với thời đại ngày nay. Điều đó đòi hỏi phải nắm vững cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, không rơi vào tả khuynh hoặc hữu khuynh, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, chủ nghĩa xét lại, nhằm vận dụng sáng tạo lý luận triết học Mác - Lênin vào thực tiễn. Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong thời đại ngày nay, đòi hỏi các đảng cộng sản phải nắm vững phép biện chứng duy vật, biết tổng kết và khái quát những bài học kinh nghiệm xương máu của lịch sử, những thành tựu to lớn của khoa học - công nghệ để bổ sung và phát triển lý luận. Đó là yêu cầu cấp thiết của sự phát triển lý luận triết học triết học Mác - Lênin hiện nay. Vai trò triết học Mác - Lênin thể hiện trong định hướng hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu lịch sử của nhân loại. Dù chủ nghĩa tư bản đã tự điều chỉnh để tồn tại và phát triển, nhưng những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản vẫn không thể nào giải quyết được. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là lý tưởng thật sự của đông đảo nhân loại hôm nay. Vận dụng sáng tạo nội dung thế giới quan và phương pháp luận triết học mácxít là cơ sở để giải quyết đúng những vấn đề do thời đại hiện nay đặt ra như: quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, những nội dung có tính toàn cầu về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - công nghệ, những vấn đề về con người. Chỉ có thể dựa trên những nguyên lý cơ bản của triết học Mác - Lênin, mới giải quyết đúng những vấn đề căn bản nhất của thời đại ngày nay, thúc đẩy lịch sử xã hội loài người phát triển theo xu thế tiến bộ, hợp quy luật. Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang từng bước vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng ta yêu cầu: “Khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta”, “làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân”. Cơ sở lý luận đó là điều kiện cơ bản nhất có ý nghĩa quyết định để Đảng và nhân dân ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đổi mới hiện nay là sự chứng minh hùng hồn cho những giá trị, chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho sức sống mãnh liệt của nó. Còn ở nước ta, từ khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị thực dân ở Việt Nam đã làm xuất hiện hai nhu cầu lớn của lịch sử: một là, giải thích sự thất bại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn; và hai là tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Lớp M12CQDT01-N Page 34
  • 35.
    Để giải quyếthai nhu cầu đó của lịch sử, các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này đã trở về với các hệ tư tưởng đã có trong lịch sử - thế giới quan và phương pháp luận của Nho giáo và Phật giáo (Ví dụ, Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX). Tuy nhiên, mọi cố gắng của các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này đều thất bại. Bởi lẽ: Về mặt thực tế, sự thất bại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn là sự thất bại của một phương thức sản xuất ở trình độ thấp hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở phương Tây, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh sức mạnh của nó bằng việc tiêu diệt không thương tiếc phương thức sản xuất phong kiến và tiếp tục bành trướng sức mạnh của nó trên phạm vi quốc tế. Về mặt ý thức, hệ tư tưởng tư sản ở trình độ phát triển cao hơn hệ tư tưởng phong kiến, nó dựa trên một thế giới quan duy vật thời cận đại, gắn liền với những tri thức khoa học tự nhiên ở thế kỷ XVII - XVIII, trong khi đó, hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam trong lịch sử gần một ngàn năm thời kỳ độc lập tự chủ (từ thế kỷ X) là hệ tư tưởng được xác lập trên nền tảng duy tâm, gắn với những quan niệm tôn giáo và tín ngưỡng - đó là thế giới quan và phương pháp luận của Nho giáo và Phật giáo. Vì vậy, mọi nỗ lực của các nhà tư tưởng Việt Nam thời cận đại tìm kiếm lời giải đáp những nguyên nhân thất bại của triều đại Nhà Nguyễn cũng như con đường giải phóng dân tộc đều thất bại. Để tạo ra tầng lớp trí thức phục vụ cho mục tiêu khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã tiến hành tạo dựng một hệ thống giáo dục - đào tạo Tây học với nội dung cơ bản là các kiến thức khoa học kỹ thuật. Điều này đã tạo cơ hội cho sự du nhập những tư tưởng triết học phương Tây vào Việt Nam; nhưng những tư tưởng triết học phương Tây được du nhập vào Việt Nam qua tầng lớp trí thức Tây học căn bản là những tư tưởng triết học Tây Âu thời cận đại, thể hiện thế giới quan duy vật siêu hình, không triệt để (duy vật trong quan niệm về tự nhiên, còn duy tâm quan niệm về xã hội). Dù một số nhà tư tưởng Tây học có lòng yêu nước nhiệt thành nhưng với thế giới quan duy vật siêu hình, không triệt để họ đã không thể giải đáp được những nhu cầu lớn lao của lịch sử Việt Nam. Trước sự thất bại của tất cả các thế giới quan và phương pháp luận truyền thống Nho học, Phật học cũng như Tây học, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Điểm xuất phát để Hồ Chí Minh đi ra nước ngoài tìm con đường cứu nước không phải trực tiếp là nhu cầu đi tìm một thế giới quan và một phương pháp luận triết học mới, không phải là một lý luận triết học trừu tượng, mà là những lý luận, những biện pháp có khả năng thực tế nhất để dẫn dắt, lãnh đạo phong trào yêu nước đi đến thành công trong thực tiễn chính trị là giải phóng dân tộc - cứu dân, cứu nước; là làm sao để dân tộc Việt Nam được độc lập, đồng bào Việt Nam ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Cũng tức là độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho mỗi người dân lao động. Suốt ba mươi năm tìm đường cứu nước, như một tất yếu lịch sử Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với hệ tư tưởng cách mạng và khoa học nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đến với học thuyết thống nhất ba bộ phận lý luận cấu thành là Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học. Triết học Mác - Lênin chính là thế giới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng nhất; là thành quả vĩ đại của lịch sử triết học thế giới. Linh hồn của nó, sức sống mãnh liệt nhất của nó là phép biện chứng duy vật ở trình độ lý luận cao nhất, khoa học nhất, vược qua không những phép siêu hình của triết học duy vật cận đại Tây Âu mà còn vượt qua phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức. Thế giới quan duy vật của triết học Mác - Lênin đã khắc phục được hạn chế của thế giới quan duy vật cận đại Tây Âu chính ở chỗ nó đã đem lại một quan niệm duy vật và biện chứng về quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, lịch sử phát triển của nhân loại. Trung tâm của những quan điểm duy vật về lịch sử chính là học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội. Chỉ có thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin mới có khả năng lý giải được một cách đúng đắn khoa học đối với các sự kiện lịch sử, dù là các sự kiện lịch sử ở phương Tây hay phương Đông Á. Hồ Chí Minh đã vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật để lý giải một cách đúng đắn khoa học những câu hỏi đặt ra của lịch sử Việt Nam thời cận đại mà không một Lớp M12CQDT01-N Page 35
  • 36.
    nhà tư tưởngtiến bộ nào có thể làm được và đỉnh cao của sự vận dụng đó là tìm ra lý luận và phương pháp giải quyết đúng đắn khoa học con đường giải phóng dân tộc đồng thời xác định hướng phát triển của xã hội Việt Nam lên hình thái kinh tế - xã hội mới sau khi giành được độc lập - đó là con đường định hướng phát triển xã hội - xã hội chủ nghĩa. Điều này đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội…”. Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đóng vai trò là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của những tư tưởng về độc lập dân tộc, về chủ nghĩa xã hội, về văn hóa, về đạo đức, nhân văn… Thế giới quan và phương pháp luận Hồ Chí Minh là một hệ thống toàn vẹn, thống nhất của những quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Hạt nhân của thế giới quan đó là triết học Mác - Lênin; sự phong phú của thế giới quan đó là những tổng kết kinh nghiệm cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới; vẻ đẹp của thế giới quan đó được tạo ra bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa tính khoa học của thế giới quan Mác - Lênin với các giá trị triết học truyền thống Việt Nam, cũng như các giá trị của lịch sử triết học phương Đông và phương Tây. Chúng ta có thể tìm thấy trong mỗi lời nói, việc làm, bài viết của Hồ Chí Minh sự vững chắc của các nguyên lý triết học Mác - Lênin, sự tinh tế của các triết lý trong nền triết học phương Đông, phương Tây và một chiều sâu thẳm của các giá trị tư tưởng triết học Việt Nam về độc lập dân tộc, về nhân văn, về đạo sống, đạo làm người của dân tộc Việt Nam. Với Hồ Chí Minh, lịch sử triết học Việt Nam đã chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, hiện đại. Thời kỳ hiện đại của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam là thời kỳ phát triển tư tưởng triết học với nội dung cơ bản của nó là nguyên cứu, vận dụng và phát triển các nguyên lý của triết học Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đó cũng là quá trình vượt qua những hạn chế và kế thừa có chọn lọc các giá trị trong lịch sử triết học Việt Nam cũng như lịch sử triết học phương Đông và phương Tây theo mục tiêu giải quyết các nhiệm vụ của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 3. Anh chi hãy trình bày nh̃ng ch́c năng c ban cua triết hoc và ̣ư ư ợ̉̉vai trò cuả triết hoc̣ đôí vơí đơì sống xã hôị. Khi nói triết học nghiên cứu thế giới trong tính chỉnh thể và chỉ ra bản chất quy luật chung nhất của thế giới thì triết học đã thực hiện vai trò dẫn đường cho những tư tưởng nhìn thế giới quan và định hình cho sự phát triển thế giới quan. Tuỳ theo các quan điểm triết học đưa ra cách giải quyết vấn đề có khoa học hay không mà triết học phản ánh nó như một thấu kính. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Cơ sở lý luận của các thế giới quan khác nhau như chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm là nền tảng cho các phương pháp luận. Triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Với quan niệm đó, triết học cổ đại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà đợc xem là "khoa học của mọi khoa học". Khi lao động đã phát triển đến mức có sự phân chia lao động xã hội thành lao động trí óc và lao động chân tay, tạo điều kiện và khả năng nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và trên cơ sở đó triết học đã ra đời. Đó là khi chế độ Công xã nguyên thuỷ đã bị thay thế bằng chế độ Chiếm hữu nô lệ - chế độ xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ khi mới ra đời, triết học tự nó đã mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp xã hội nhất định. Lớp M12CQDT01-N Page 36
  • 37.
    Khi con ngườiđã có sự phát triển cả về thể lực và trí lực, có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa để có thể rút ra đợc cái chung từ vô số các sự vật và hiện tượng riêng lẻ, xây dựng nên các học thuyết, lý luận.Như vậy, triết học đã ra đời từ thực tiễn và do nhu cầu của thực tiễn quy định. Chức năng cơ bản của triết học: + Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan: Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó. Đặc tính của tư duy con người là muốn đạt tới sự hiểu biết hoàn toàn, đầy đủ; song tri thức mà con người đạt đợc luôn luôn là có hạn. Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người. Khác với thế giới quan thần thoại và tôn giáo, thế giới quan triết học dựa vào tri thức, là sự diễn tả quan niệm của con nười dưới dạng hệ thống các quy luật, phạm trù đóng vai trò là những nấc thang trong quá trình nhận thức thế giới. + Là nền tảng để giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại: bởi vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và xuất phát điểm để giải quyết các vấn đề khác của triết học. Đồng thời sẽ là tiêu chuẩn để xác định lập trường thế giới quan của các triết gia và các học thuyết của họ. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: - Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trớc, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? - Mặt thứ hai: ý thức con người có thể phản ánh trung thực thế giới khách quan hay không? Nghĩa là con người có khả năng nhận thức hay không? Việc trả lời hai câu hỏi trên đã dẫn đến sự hình thành các trường phái và các học thuyết triết học khác nhau. Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học gắn liền với việc phân chia các học thuyết triết học thành hai trường phái triết học cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. a. Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người và không do ai sáng tạo ra; còn ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất. b. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinh thần có trước và quyết định giới tự nhiên. Giới tự nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức. Cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với khoa học. Còn nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất. Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư duy triết học. Đồng thời, nó biểu hiện cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa các giai cấp đối lập trong xã hội. Khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, đại đa số các nhà triết học (cả duy vật và duy tâm) đều thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, nhưng họ phủ nhận thế giới khách quan là nguồn gốc của nhận thức. Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ nữa là: các sự vật, hiện tợng của thế giới xung quanh ta tồn tại như thế nào? Lớp M12CQDT01-N Page 37
  • 38.
    Vấn đề nàycó nhiều cách trả lời khác nhau, nhưng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình. Như vậy, phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại với một tư duy cứng nhắc, ”chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”. Còn phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, "không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng". Vai trò của triết học trong đời sống xã hội: Vai trò của triết học trong đời sống xã hội được thể hiện qua chức năng của triết học như chức năng nhận thức, chức năng đánh giá, chức năng giáo dục, nhưng quan trọng nhất là chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận. Chức năng thế giới quan và phương pháp luận của triết học: Trong cuộc sống của con người và xã hội loài người, thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể ví thế giới quan như một thấu kính, qua đó con người nhìn nhận, xét đoán mọi sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh và tự xem xét chính mình. Từ đó, xác định thái độ, cách thức hoạt động, sinh sống của chính mình. Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực. Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đem lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học. Sự phát triển của thực tiễn và khoa học đã dẫn đến sự ra đời của một lĩnh vực đặc thù của khoa học lý thuyết và triết học - Đó là phương pháp luận. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống những quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp. Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất. Mỗi quan điểm lý luận của triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là một lý luận về phương pháp. Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh ta tồn tại như thế nào? Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nhưng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình. Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất. Mỗi quan điểm lý luận của triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là một lý luận về phương pháp. Vai trò của triết học Mác - Lênin Triết học Mác - Lênin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy nhân loại, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc xem xét tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người. Trong triết học Mác-Lênin, lý luận duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau. Sự thống nhất đó làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học. Nhờ đó, triết học Mác - Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn tự Lớp M12CQDT01-N Page 38
  • 39.
    nhiên, xã hộivà tư duy. Phép biện chứng duy vật không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là lý luận về thế giới quan. Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát điểm của phương pháp luận. Triết học Mác ra đời đã làm thay đổi mối quan hệ giữa triết học và khoa học; sự phát triển của khoa học tạo điều kiện cho sự phát triển của triết học. Ngược lại, triết học Mác - Lênin đem lại thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển khoa học. Ngày nay, khi khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ thì sự gắn bó giữa triết học Mác - Lênin và khoa học càng trở nên đặc biệt quan trọng. Lý luận triết học sẽ khô cứng và lạc hậu nếu tách rời các tri thức khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì trước những phát hiện mới, người ta dễ mất phương hướng và đi đến những kết luận sai lầm về mặt triết học. Đời sống xã hội hiện đại đang có những biến đổi sâu sắc; việc nắm vững triết học Mác - Lênin giúp chúng ta tự giác trong quá trình trau dồi phẩm chất chính trị, tinh thần và năng lực tư duy sáng tạo của mình, tránh những sai lầm do chủ nghĩa chủ quan và phương pháp tư duy siêu hình gây ra. Tuy nhiên, triết học Mác - Lênin không phải là đơn thuốc vạn năng có thể giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống. Bởi vậy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần tránh cả hai khuynh hướng sai lầm: hoặc xem thường triết học hoặc là tuyệt đối hóa vai trò của triết học. Nếu xem thường triết học sẽ rơi vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, dễ mất phương hướng, thiếu chủ động và sáng tạo. Còn nếu tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ xa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng máy móc những nguyên lý, quy luật chung mà không tính đến tình hình cụ thể trong những trường hợp riêng, dẫn đến những vấp váp, dễ thất bại. 4. Anh chi hãy trình bày nh̃ng đăc tr ng c ban cua triết ̣ựư ở̉ hoc̣ Phương Đông cô ̉- trung đaị và nêu lên môṭ số an̉h hương cuả nó đối vơí xã hôị Viêṭ Nam giai đoaṇ hiêṇ nay Triết học phương Đông nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ. Những tộc người cổ đại phương Đông như Đravia ở ấn độ và Trung á; Hạ Vũ, ấn Thương, Chu Hán ở Trung quốc; Lạc Việt ở Việt nam,... sớm định cư canh tác nông nghiệp, nguồn sống là nông nghiệp quanh năm xanh tươi hoa lá đã hoà quyện con người vào đất trời bao la, giữa con người và vũ trụ dường như không có gì tách biệt. Cái cơ sở ban đầu biểu hiện ấy dần dần khái quát thành tư tưởng thiên nhân hợp nhất, con người chỉ là một tiểu vũ trụ mà thôi. Ở Trung quốc, "thiên nhân hợp nhất" là tư tưởng hợp nhất nhiều trường phái, học thuyết khác nhau. Trang Chu viết: "thiên địa ngã tinh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất" nghĩa là trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một. Vì vậy người phương Đông cho rằng con người chứa đựng tất cả những tính chất, những huyền bí của vũ trụ. Một trong những cái nôi của triết học phương Đông là Trung quốc và ấn độ với sự ảnh hưởng của triết học phương Đông, đặc biệt là tư tưởng Nho giáo, Phật giáo. Việt nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai trường phái triết học này. TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ, TRUNG ĐẠI 1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Ấn độ cổ, trung đại Về điều kiện tự nhiên, Ấn Độ cổ đại là lục địa lớn ở phía nam châu Á có địa hình rất trái ngược nhau. Văn hoá Ấn Độ cổ, trung đại được chia làm ba giai đoạn: Thời kỳ văn minh sông Ấn với đặc trưng cơ bản là văn minh Harappa - văn minh thành thị (khoảng 2500 Tr.CN). Lớp M12CQDT01-N Page 39
  • 40.
    Thời kỳ Vêđa.Đây là thời kỳ các bộ lạc Arya từ trung Á xâm nhập vào Ấn Độ, đã hình thành nên các tác phẩm văn học có tên là Vêđa (khoảng 1500Tr.CN). Thời kỳ 1000 năm Tr.CN. Đây là thời kỳ sôi động của Ấn Độ, có hệ thống số đếm, số thập phân, có lịch khá chính xác và những bộ sử thi nổi tiếng Mahabharata và Ramayana. Nhìn chung, công xã nông thôn tồn tại dai dẳng; ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước; sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt. Đặc điểm triết học ấn Độ cổ - trung đại Thứ nhất, nhìn chung các trường phái triết học Ấn Độ cổ - trung đại thường có sự chuyển từ thế giới quan duy vật sang thế giới quan duy tâm, còn chịu ảnh hưởng nhiều của tôn giáo. Thứ hai, triết học Ấn Độ cổ - trung đại phát triển từ từ chậm chạp ít có bước đột biến, nhảy vọt; đề cập nhiều tới vấn đề tâm linh, giải thoát. Thứ ba, triết học Ấn Độ cổ - trung đại thể hiện tư duy lôgic chặt chẽ, có hệ thống cao, kế tục các trường phái trước mà không gạt bỏ. Thứ tư, triết học Ấn Độ cổ - trung đại có tư tưởng biện chứng chất phác và thể hiện tinh thần nhân bản cao. 2. Tư tưởng triết học Phật giáo Triết học Ấn Độ đa dạng, phức tạp, chúng ta tập trung vào các hệ thống triết học Ấn Độ thời kỳ Bà-la-môn giáo và Phật giáo là chủ yếu. Thời kỳ này, thông thường chia triết học Ấn Độ thành 9 trường phái, trong đó 6 phái chính thống (thừa nhận tính đúng đắn của Veda hay của Upanisad) gồm: Mimamsa; Vedanta; Samkhya; Yoga; Nyaya; Vaisesika và 3 phái không chính thống (không thừa nhận Upanisad) gồm: Lokayata; Phật giáo và Jaina giáo. Trong 9 trường phái này thì Phật giáo ảnh hưởng nhiều nhất đến Việt Nam. Phật là âm Hán Việt của từ Buddha (nghĩa đen là giác ngộ). Phật giáo do Sakyamuni (Thích - ca - mau - ni) sáng lập. Thế giới quan Phật giáo thể hiện qua 4 điểm: + Vô tạo giả - nghĩa là không có kẻ sáng tạo đầu tiên ra vũ trụ; + Vô ngã - tức là không có cái tôi vĩnh hằng; + Vô thường - tức là luôn luôn biến đổi và + Nhân quả tương lục - nhân và quả liên tục không gián đoạn và không tạp loạn. Có thể nói, về thế giới quan Phật giáo có tư tưởng duy tâm chủ quan, mặc dù là vô thần. Nhân sinh quan Phật giáo thể hiện ở tứ thánh đế (bốn chân lý diệu kỳ). + Một là khổ đế - học thuyết về nổi khổ, cho rằng đời người là bể khổ, ít nhất có 8 nổi khổ: sinh, lão, bệnh, tử, thương yêu nhau mà phải xa nhau, ghét nhau mà phải sống chung với nhau, mong mà không được và ngũ thụ uẩn khổ (nghĩa là do có 5 yếu tố mà cấu tạo nên con người, có con người vậy là khổ). + Hai là tập đế hay nhân đế - chỉ ra nguyên nhân của nổi khổ. Theo Phật giáo có 12 nguyên nhân làm cho con người khổ: vô minh - tức ngu muội; hành - tác động để nghiệp hoạt động; thức - sự ý thức; danh (ý thức); sắc (vật chất) - là 2 thứ thống nhất tạo nên con người; lục nhập - tức là sự tác động vào các cơ quan cảm giác; xúc - sự tiếp xúc giữa sự vật với cơ quan cảm giác; thụ - có cảm giác; ái - ham muốn; thủ - chiếm lấy; hữu - là tồn tại; sinh - là sinh ra; lão, tử - là già và chết. + Ba là diệt đế - tiêu diệt nguyên nhân nỗi khổ làm cho con người bừng sáng. + Bốn là đạo đế - con đường diệt khổ. Muốn diệt khổ phải thực hiện Bát chính đạo - là tám con đường chân chính: chính kiến - hiểu biết đúng đắn về tứ đế; chính tư duy - suy nghĩ đúng đắn; chính Lớp M12CQDT01-N Page 40
  • 41.
    ngữ - lờinói phải đúng đắn; chính nghiệp - giữ cho nghiệp không tác động xấu; chính mệnh - ngăn giữ dục vọng; chính tịnh tiến - rèn luyện tu tập không mệt mỏi; chính niệm - có niềm tin bền vững vào giải thoát; chính định - tập trung tư tưởng cao độ. Tóm lại, Phật giáo là tôn giáo vô thần nhưng không phải duy vật, mặc dù có những tư tưởng duy vật, biện chứng riêng biệt. Phật giáo đề cao việc chống bất bình đẳng xã hội, tu thân tích đức. II. TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ, TRUNG ĐẠI 1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Trung hoa cổ, trung đại Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn, có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ III Tr.CN kéo dài tới tận thế kỷ III Tr.CN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa mở đầu cho thời kỳ phong kiến. Trong hơn 2000 năm lịch sử ấy, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm 2 thời kỳ lớn: Thời kỳ từ thế kỷ IX Tr.CN trở về trước và thời kỳ từ thế kỷ VIII Tr.CN đến cuối thế kỷ III Tr.CN. 1.1.1. Thời kỳ thứ nhất: Có các triều đại nhà Hạ, nhà Thương và nhà Tây Chu. Theo các văn bản cổ, nhà Hạ ra đời vào khoảng thế kỷ XXI Tr.CN, đánh dấu sự mở dầu cho chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Hoa. Khoảng nửa đầu thế kỷ XVII Tr.CN, người đứng đầu bộ tộc Thương là Thành Thang đã lật đổ nhà Hạ, lập ra nhà Thương, đóng đô ở đất Bạc (Hà Nam hiện nay). Đến thế kỷ XVI Tr.CN, Bàn Canh rời đô về đất Ân nên nhà Thương còn gọi là nhà Ân. Vào khoảng thế kỷ XI Tr.CN, Chu Vũ Vương đã giết vua Trụ nhà Ân lập ra nhà Chu (giai đoạn đầu là Tây Chu), đưa chế độ nô lệ ở Trung Hoa lên đỉnh cao. Nhà Chu đã thực hiện quốc hữu hóa về tư liệu sản xuất (gồm ruộng đất và sức lao động) rất nghiêm ngặt, tất cả đều thuộc quyền quản lý của vua nhà Chu. Đồng thời, thành lập những đô thị lớn tạo nên sự đối lập rất lớn giữa thành thị và nông thôn. Trong thời kỳ này, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần. Những tư tưởng triết học đã xuất hiện, nhưng chưa đạt tới mức là một hệ thống. Nó đã gắn chặt thần quyền với thế quyền, lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị - xã hội với lĩnh vực đạo đức luân lý. Lúc này cũng đã xuất hiện những quan niệm có tính chất duy vật mộc mạc, những tư tưởng vô thần tiến bộ. Về khoa học, họ đã phát minh ra chữ viết và dựa vào sự quan sát vận hành của mặt trăng, các vì sao, tính chất chu kỳ của nước sông và quy luật sinh trưởng của cây trồng mà họ đã biết làm ra lịch (Âm lịch) 1.1.2. Thời kỳ thứ hai: là thời kỳ Đông Chu (còn gọi là thời kỳ Xuân Thu - Chiến quốc), thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Sự phát triển của sức sản xuất đã tác động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội. Nếu dưới thời Tây Chu, đất đai thuộc sở hữu của nhà vua thì nay thuộc về tầng lớp địa chủ mới lên và chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất hình thành.Từ đó, sự phân hóa sang hèn dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện. Xã hội lâm vào cảnh loạn lạc, rối ren và chiến tranh xảy ra liên miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành chế độ phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển. Sự phát triển sôi động của xã hội đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm của những "kẻ sĩ" luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những mẫu hình của một xã hội trong tương lai. Lịch sử gọi đây là thời kỳ "Bách gia chư tử" (trăm nhà trăm thầy), "Bách gia tranh minh" (trăm nhà đua tiếng). Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra những nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh. Đặc điểm của các trường phái này là lấy con người và xã hội làm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội. Theo Lưu Hâm (đời Tây Hán), Trung Hoa thời kỳ này có chín trường phái triết học chính (gọi là Cửu lưu hay Cửu gia) là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm dương gia, Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia. Trừ Phật giáo được du nhập từ ấn Độ sau Lớp M12CQDT01-N Page 41
  • 42.
    này, các trườngphái triết học được hình thành vào thời kỳ này được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử và tồn tại cho tới thời kỳ cận đại. Lịch sử Trung Hoa cổ đại chia làm hai thời kỳ lớn: thời kỳ Tây Chu về trước và thời kỳ Đông Chu (Xuân thu - Chiến Quốc) là thời kỳ từ chế độ nô lệ sang phong kiến, chiến tranh liên miên. Thời kỳ này: Nhà nước Trung Hoa cổ đại ra đời trên cơ sở trình độ kỹ thuật còn non kém, phân công lao động và phân hoá giai cấp chưa thật sâu sắc. Sở hữu ruộng đất thuộc nhà vua; hình thức bóc lột chủ yếu là cống nạp. Công xã nông thôn tồn tại dai dẳng; ít có những cải biến xã hội. Đặc điểm chủ yếu của triết học Trung Hoa cổ, trung đại Thứ nhất: đề cập nhiều vấn đề tề gia, trị quốc bình thiên hạ, vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức. Thứ hai: đề cập nhiều vấn đề con người và số phận con người. Vấn đề này nổi lên hàng đầu và thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc. Thứ ba: chú ý nhiều tới mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học, sự hài hòa giữa tự nhiên và xã hội. Thứ tư, các nhà triết học Trung Hoa cổ, trung đại thường đồng thời là các nhà hoạt động chính trị - xã hội. Thứ năm, thế giới quan trong triết học Trung Hoa cổ, trung đại thể hiện hỗn tạp (duy vật và duy tâm đan xen và có tư tưởng biện chứng sơ khai). Thứ nhất, triết học Trung Hoa cổ, trung đại luôn nhấn mạnh tinh thần nhân văn, chú trong đến các tư tưởng triết học liên quan đến con người, còn triết học tự nhiên có phần mờ nhạt. Thứ hai, triết học Trung Hoa cổ, trung đại chú trọng đến lĩnh vực chính trị -đạo đức của xã hội, coi việc thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người. Có thể nói, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận và sự lạc hậu về khoa học thực chứng của Trung Hoa. Thứ ba, triết học Trung Hoa cổ, trung đại nhấn mạnh sự thống nhất hài hòa giữa tự nhiên và xã hội, phản đối sự "thái quá" hay"bất cập". Thứ tư, đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy của triết học Trung Hoa cổ, trung đại là nhận thức trực giác, coi trọng tác dụng của cái "Tâm", coi đó là gốc rễ của nhận thức. 2. Một số học thuyết tiêu biểu của triết học trung Hoa cổ, trung đại a. Thuyết âm dương - ngũ hành và kinh dịch Âm dương - ngũ hành phản ánh quan niệm duy vật chất phác về tự nhiên, thể hiện tư tưởng biện chứng sơ khai của người Trung Quốc cổ đại. Âm - dương là 2 yếu tố đối chọi nhau nhưng lại thống nhất với nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, là động lực của mọi sự vận động, phát triển. Một biểu hiện cụ thể của âm - dương là ngũ hành (5 yếu tố: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ). Năm yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, chuyển hoá lẫn nhau. Thể hiện ở tương sinh: thổ sinh kim; kim sinh thuỷ; thuỷ sinh mộc; mộc sinh hoả, v.v. Thể hiện ở tương khắc: thổ khắc thuỷ; thuỷ khắc hoả; hoả khắc kim, v.v. Thuyết Âm dương dùng năm tính năng của 5 yếu tố này giải thích nguồn gốc của tự nhiên. Ở Trung Hoa, những quan niệm triết lý về "âm - dương", "ngũ hành" đã được lưu truyền từ rất sớm. Tới thời Xuân thu - Chiến quốc, những tư tưởng về Âm dương - Ngũ hành đã đạt tới mức là một hệ thống các quan niệm về bản nguyên và tính biến dịch của thế giới. Lớp M12CQDT01-N Page 42
  • 43.
    a. Tư tưởngtriết học về Âm - Dương Triết học Âm - Dương có thiên hướng suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật; đó là sự tương tác của hai thế lực đối lập nhau là Âm và Dương. "Âm" là một phạm trù rất rộng, phản ánh khái quát những thuộc tính phổ biến của vạn vật như: nhu, thuận, tối, ẩm, phía dưới, phía phải, số chẵn (2,4,6...). "Dương" là phạm trù đối lập với "Âm", phản ánh khái quát những tính chất phổ biến của vạn vật như: cương, cường, sáng, khô, phía trên, phía trái, số lẻ (1,3,5...). Nhưng hai thế lực Âm - Dương không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau theo ba nguyên lý căn bản. + Âm - Dương thống nhất trong Thái cực (Thái cực được coi là nguyên lý của sự thống nhất của hai mặt đối lập là âm và dương). Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi. + Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm - Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực. Hai nguyên lý này thường được các học giả phái Âm - Dương khái quát bằng vòng tròn khép kín (tượng trưng cho Thái cực, trong đó được chia thành hai nửa (đen trắng) và trong nửa này đã bao hàm nhân tố của nửa kia (trong phần đen có nhân tố của phần trắng và ngược lại), biểu hiện cho nguyên lý trong Dương có Âm và trong Âm có Dương. + Sự khái quát đồ hình Thái cực Âm - Dương còn bao hàm nguyên lý: Dương tiến đến đâu thì Âm lùi đến đó và ngược lại; đồng thời "Âm thịnh thì Dương khởi", "Dương cực thì Âm sinh". Để giải thích sự biến dịch từ cái duy nhất thành cái nhiều, đa dạng, phong phú của vạn vật, phái Âm - Dương đã đưa ra lôgíc tất định: Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm - Dương); Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái Dương - Thiếu Âm - Thiếu Dương - Thái Âm) và Tứ tượng sinh Bát quái ( Càn - Khảm - Cấn - Chấn - Tốn - Ly - Khôn - Đoài); Bát quái sinh vạn vật (vô cùng vô tận). Tư tưởng triết học về Âm - Dương đạt tới mức là một hệ thống hoàn chỉnh trong tác phẩm Kinh Dịch, trong đó gồm 64 quẻ kép. Mỗi quẻ kép là một động thái, một thời của vạn vật và nhân sinh, xã hội như: Kiền, Khôn, Bĩ, Thái, Truân...; Sự chú giải Kinh Dịch là của nhiều bậc trí thức ở nhiều thời đại khác nhau với những xu hướng khác nhau. Điều đó tạo ra một "tập đại thành" của sự chú giải, bao hàm những tư tưởng triết học hết sức phong phú và sâu sắc. b. Tư tưởng triết học về Ngũ hành Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng đi vào phân tích cấu trúc của vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau, những tương tác (tương sinh, tương khắc) với nhau. Đó là năm yếu tố: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ. Kim tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, phía Tây, v.v.; Thủy tượng trưng cho tính chất đen, mặn, phía Bắc, v.v.; Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, phía Đông,.v.v.; Hỏa tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, phía Nam,.v.v.; Thổ tượng trưng cho tính chất vàng, ngọt, ở giữa,.v.v. Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh - khắc với nhau theo hai nguyên tắc: + Tương sinh (sinh hóa cho nhau): Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; Hỏa sinh Thổ.v.v. + Tương khắc (chế ước lẫn nhau): Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc và Mộc khắc Thổ.v.v. Sự hợp nhất giữa tư tưởng triết học Âm - Dương và Ngũ hành đã làm cho mỗi thuyết có sự bổ túc, hoàn thiện hơn, thể hiện điển hình ở chỗ: các quẻ đơn (Càn - Khảm - Cấn - Chấn - Tốn - Ly - Khôn - Đoài) đều được quy về Ngũ hành để biện giải và ngược lại, Ngũ hành cũng mang tính cách Âm - Lớp M12CQDT01-N Page 43
  • 44.
    Dương. Chẳng hạn:Kiền - Đoài thuộc hành Kim; chấn - Tốn thuộc hành Mộc v.v. và Kim cũng có Kim Âm và Kim Dương; Mộc cũng có Mộc Âm và Mộc Dương. b. Nho giáo (Nho gia) Nho giáo trải qua những giai đoạn phát triển: Nho tiên Tần, Hán nho và Tống nho. Nho tiên Tần với các đại biểu như Khổng Tử, Mạnh Kha (Mạnh Tử), Tuân Tử. Hán Nho với Đổng Trọng Thư. Tống Nho với Chu Đôn Hy, Trương Tải, v.v. Phần này chú ý tư tưởng của Khổng Tử - người sáng lập nho giáo. Tư tưởng nổi trội về chính trị của ông là muốn xây dựng một xã hội theo kiểu nhà Chu. Để thực hiện điều này theo ông phải thực hiện chính danh (ai ở phận vị nào phải nỗ lực thực hiện bổn phận, trách nhiệm của mình; danh đi đôi với thực); lễ (là nghi lễ, chuẩn tắc trong quan hệ giữa người với người từ hành vi, ngôn ngữ cho đến trang phục, nhà cửa, v.v.) và nhân (là yêu thương, nhân ái, mình không thích gì thì không làm cho người...). Về thế giới quan, nhìn chung ông là nhà duy tâm khách quan, có tư tưởng thiên mệnh, mặc dù có những yếu tố riêng biệt duy vật. Về nhận thức luận, ông đề cập dưới dạng tri thức của con người do đâu mà có. Ông trả lời câu hỏi thiếu nhất quán. Theo ông, có người sinh ra đã biết, có người học thì biết. Tuy nhiên, ông là người đề cao học tập, cho rằng ai học cũng có thể biết. Khi học phải chăm chỉ, không giấu dốt, v.v. Về lịch sử, ông là người có tư tưởng phục cổ, đề cao các triều đại đã qua. Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI Tr.CN dưới thời Xuân Thu, người sáng lập là Khổng Tử (551 - 479 Tr.CN). Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau: duy vật và duy tâm, trong đó dòng Nho gia Khổng - Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận. Kinh điển chủ yếu của Nho gia gồm Tứ Thư (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử) và Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân Thu). Các kinh sách này hầu hết đều viết về xã hội, về kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị - đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia. Những quan niệm đó được thể hiện ở những tư tưởng chủ yếu sau: Thứ nhất, Nho gia coi những quan hệ chính trị - đạo đức là những quan hệ nền tảng của xã hội, trong đó quan trọng nhất là quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ (gọi là Tam cương). Nếu xếp theo tôn ty trật tự, trên dưới thì vua ở vị trí cao nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang của quan hệ thì vua - cha - chồng xếp ở hàng làm chủ. Điều này phản ánh tư tưởng chính trị quân quyền và phụ quyền của Nho gia. Thứ hai, xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến, một xã hội đầy những biến động loạn lạc và chiến tranh nên lý tưởng của Nho gia là xây dựng một "xã hội đại đồng". Đó là một xã hội có trật tự trên - dưới, có vua sáng - tôi hiền, cha từ - con thảo, trong ấm - ngoài êm trên cơ sở địa vị và thân phận của mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại đến thứ dân. Có thể nói đó là lý tưởng của tầng lớp quý tộc cũ cũng như của giai cấp địa chủ phong kiến đang lên. Thứ ba, Nho gia lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt tới xã hội lý tưởng "đại đồng". Do không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xã hội nên nền giáo dục của Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức con người. Trong bảng giá trị đạo đức của Nho gia thì chuẩn mực gốc là "Nhân". Những chuẩn mực khác như Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu.v.v. đều là những biểu hiện cụ thể của Nhân. Thứ tư, Nho gia quan tâm đến vấn đề bản tính con người. Việc giải quyết những vấn đề chính trị -xã hội đòi hỏi Nho gia cũng như nhiều học thuyết khác của Trung Hoa thời cổ phải đặt ra và giải quyết vấn đề bản tính con người. Trong học thuyết Nho gia không có sự thống nhất quan điểm về Lớp M12CQDT01-N Page 44
  • 45.
    vấn đề này,nhưng nổi bật là quan điểm của Mạnh Tử. Theo ông, "bản tính con người vốn là thiện" (Nhân chi sơ, tính bản thiện). Thiện là tổng hợp những đức tính vốn có của con người từ khi mới sinh ra như: Nhân, Nghĩa, Lễ.v.v. Mạnh Tử đã thần bí hóa những giá trị chính trị - đạo đức đến mức coi chúng là tiên thiên, bẩm sinh. Do quan niệm tính thiện nên Nho gia (dòng Khổng - Mạnh) đề cao sự giáo dục con người để con người trở về đường thiện với những chuẩn mực đạo đức có sẵn. Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là Thiện, Tuân Tử lại coi bản tính con người vốn là ác (Nhân chi sơ, tính bản ác). Mặc dù vậy, nhưng có thể giáo hóa trở thành thiện (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí....). Xuất phát từ quan niệm đó về tính người, Tuân Tử chủ trương đường lối trị nước kết hợp giữa Nho gia và Pháp gia. Người sáng lập ra Nho gia là Khổng Tử (551 - 479 Tr.CN) Trong quan niệm về thế giới, tư tưởng của Khổng Tử luôn có những mâu thuẫn. Một mặt, khi chống lại chủ nghĩa thần bí, tôn giáo đương thời, ông thừa nhận sự vật, hiện tượng trong tự nhiên luôn luôn tự vận động,biến hóa không phụ thuộc vào mệnh lệnh của Trời. “ Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vận hành, vạn vật sinh hóa mãi mãi” (Luận ngữ, Dương Hóa, 18); hay “ cũng như dòng nước chảy, mọi vật đều trôi đi, ngày đêm không ngừng, không nghỉ” (Luận ngữ, Tử Hãn, 16). Đó là yếu tố duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát của ông. Mặt khác, ông lại cho rằng Trời có ý chí và có thể chi phối vận mệnh của con người (Thiên mệnh). Đó là yếu tố duy tâm khách qua trong quan điểm của ông. Ông nói: “Đạo của ta thi hành ra được cũng do mệnh Trời, mà bị bỏ phế cũng là do mệnh Trời” (Luận ngữ, Hiến vấn, 38); “làm sao có thể cải được mệnh Trời”. Hiểu biết mệnh Trời là một điều kiện tất yếu để trở thành con người hoàn thiện là người quân tử. Cũng như thế, một mặt Khổng Tử tuyên truyền sức mạnh của quỷ thần; nhưng mặt khác ông lại nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạt động con người trong đời sống. Quan niệm về nhận thức trong học thuyết của Khổng Tử không phát triển, không đặt ra vấn đề chân lý mà chỉ dừng lại ở vấn đề “tri thức luận” (tri thức do đâu mà có). Theo ông, tri thức có hai loại là “thượng trí” (không học cũng biết) và “hạ ngu”(học cũng không biết). Nghĩa là ông đã thừa nhận có tri thức tiên thiên, có trước sự nhận thức của con người. Đối tượng để dạy dỗ, giáo hóa nằm giữa “trí” và “ngu”, nếu chịu khó học tập có thể vươn tới thượng trí. Còn không học thì rơi xuống hạ ngu. Ưu điểm của ông là chủ trương “hữu giáo vô loại” (học thì không phân loại). Khổng Tử cũng nêu ra một số phương pháp học tập có ý nghĩa như: học phải đi đôi với luyện tập; học phải kết hợp với suy nghĩ; phải ôn cũ để biết mới; học phải nắm được cái cốt yếu”Tuy nhiên, hạn chế của Khổng Tử là ở quan niệm học theo lối “hoài cổ”, coi thường tri thức về sản xuất, lao động chân tay. Tư tưởng về luân lý, đạo đức, chính trị - xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi trong học thuyết Khổng Tử. Những nguyên lý đạo đức cơ bản nhất trong học thuyết đạo đức của Khổng Tử là: Nhân, lễ, trí, dũng...cùng với một hệ thống quan niệm về chính trị - xã hội như “nhân trị”, “chính danh”, “thượng hiền”, “quân tử”, “tiểu nhân”... Khổng Tử lấy chữ “Nhân” làm nguyên lý đạo đức cơ bản trong triết học của mình. Nhân có ý nghĩa rất rộng, bao hàm nhiều mặt trong đời sống con người, có lúc trừu tượng, có lúc cụ thể, tuỳ theo trình độ, hoàn cảnh mà ông giảng giải về nhân với nội dung khác nhau. “Sửa mình theo lẽ là nhân”, “ Điều gì mình không muốn, đừng đem nó làm cho người khác là nhân”, “yêu thương người là nhân”...Tư tưởng bao trùm của Nhân là yêu thương con người, là đạo làm người. Để điều nhân có thể thực hiện được thì phải bằng “lễ”. Lễ ở Khổng Tử là những phong tục, tập quán, những quy tắc, quy định trật tự xã hội và cả thể chế pháp luật Nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn tế lễ, triều sính, luật lệ, hình pháp...Lễ được coi là hình thức biểu hiện của nhân. Mặc dù kiên trì bảo vệ lễ của nhà Chu, nhưng Khổng Tử cũng đưa thêm những nội dung mới và phát triển nó lên, biến lễ thành một phạm trù có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc. Lớp M12CQDT01-N Page 45
  • 46.
    Mục đích củaKhổng Tử là xây dựng một xã hội có tôn ty trật tự, kỷ cương. Để làm đươc điều đó cần phải có “lễ” và “chính danh”. “Chính danh là làm mọi việc cho ngay thẳng” (Luận ngữ, Nhan Uyên,1); “Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận chính đángcủa người ấy, trên dưới, vua tôi, cha con trật tự phân minh, vua lấy lễ mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua”(Luận ngữ, Bát Dật, 19)...Theo Khổng Tử, muốn trị nước trước tiên phải sửa mình cho chính danh, vì “danh không chính thì lời nói không thuận; lời nói không thuận thì sự việc không thành công; sự việc không thành công thì lễ nhạc không hưng thịnh; lễ nhạc không hưng thịnh thì hình phạt không đúng; hình phạt không đúng thì dân không biết theo ai?” (Luận ngữ, Tử Lộ, 3). Xuất phát từ tình hình loạn lạc của xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu, Khổng Tử đã nêu lên thuyết “chính danh”, nhưng trên thực tế, học thuyết này mang tính bảo thủ, bảo vệ cho lợi ích của quý tộc nhà Chu. Để thực hiện mục đích của mình, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống và chủ trương “thượng hiền”, dùng người không phân biệt đẳng cấp xuất thân của họ. Trong việc chính trị, vua phải biết “trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những kẻ cộng sự” (Luận ngữ, Tử Lộ, 2). Việc ông mở trường dạy học chính là nhằm mục đích đào tạo ra những người có tài, đức tham gia vào công cuộc cai trị. Toàn bộ học thuyết về nhân, lễ, chính danh... của Khổng Tử là nhằm phục vụ mục đích chính trị là “Đức trị”. Ông phản đối việc dùng hình phạt để trị dân vì làm như vậy, dân sợ mà phải theo chứ không phục. Theo ông, làm chính trị mà dùng đức cảm hóa người thì giống như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các sao khác đều chầu đến. Tóm lại: So với các học thuyết khác, Nho gia có nội dung phong phú và mang tính hệ thống hơn cả; hơn thế nữa, nó còn là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị Trung Hoa suốt hơn hai ngàn năm của xã hội phong kiến. Để trở thành hệ tư tưởng chính thống, Nho gia đã được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử trung đại: Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, nhưng tiêu biểu hơn cả là dưới triều đại nhà Hán và nhà Tống, gắn liền với tên tuổi của các bậc danh Nho như Đổng Trọng Thư (thời Hán), Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy (thời Tống). Quá trình bổ sung và hoàn thiện Nho gia thời trung đại được tiến hành theo hai xu hướng cơ bản: Một là, hệ thống hóa kinh điển và chuẩn mực hóa các quan điểm triết học của Nho gia theo mục đích ứng dụng vào đời sống xã hội, phục vụ lợi ích thống trị của giai cấp phong kiến; vì thế Đổng Trọng Thư đã làm nghèo nàn đi nhiều giá trị nhân bản và biện chứng của Nho gia cổ đại. Tính duy tâm thần bí của Nho gia trong các quan điểm về xã hội cũng được đề cao. Tính khắc nghiệt một chiều trong các quan hệ Tam cương, Ngũ thường thường được nhấn mạnh. Hai là, hoàn thiện các quan điểm triết học về xã hội của Nho gia trên cơ sở bổ sung bằng các quan điểm triết học của thuyết Âm Dương - Ngũ hành, những quan niệm về bản thể của Đạo gia, tư tưởng về pháp trị của Pháp gia v.v. Vì vậy, có thể nói: Nho gia thời trung đại là tập đại thành của tư tưởng Trung Hoa. Nho gia còn có sự kết hợp với cả tư tưởng triết học ngoại lai là Phật giáo. Sự kết hợp các tư tưởng triết học của Nho gia với những tư tưởng triết học ngoài Nho gia đã có ngay từ thời Hán và ít nhiều có cội nguồn từ Mạnh Tử. Tuy nhiên, sự kết hợp đạt tới mức nhuần nhuyễn và sâu sắc chỉ có dưới thời nhà Tống (960 - 1279). c. Đạo gia “Đạo” là khái niệm trung tâm của Đạo gia. Đạo là bản nguyên của vũ trụ, có trước trời, đất, vạn vật, đạo là chúa tể của vạn vật, là phép tắc của vạn vật. đạo còn là quy luật tự thân biến hoá của bản thân vạn vật, quy luật ấy gọi là “Đức”. Phái này cho rằng bản tính của con người có hai khuynh hướng: “hữu vi” và “vô vi”. Xã hội loạn lạc là do chính con người đã can thiệp vào, con người đã phân thành sang - hèn, quân tử - tiểu nhân, v.v. Nói khác đi, con người đã dùng cái khuynh hướng “hữu vi” để can thiệp vào xã hội. Từ đó sinh ra mâu thuẫn, loạn lạc. Để tề gia, trị quốc bình thiên hạ có hiệu quả thì phải thực hiện tinh thần “vô Lớp M12CQDT01-N Page 46
  • 47.
    vi” - khôngcan thiệp vào xã hội, để cho nó phát triển tự nhiên. “Vô vi” là khuynh hướng trở về nguồn gốc, để sống với tự nhiên, để hợp với “Đức”. Về nhận thức, các đại biểu của phái đạo gia không nhất quán. Lão Tử - người sáng lập phái đạo gia coi nhẹ nghiên cứu sự vật cụ thể, đề cao tư duy trừu tượng. Trang Tử lại có quan điểm không thể biết về nhận thức. Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI tr. CN). Học thuyết của ông được Dương Chu và Trang Chu thời Chiến quốc hoàn thiện và phát triển theo hai hướng ít nhiều khác nhau. Những tư tưởng triết học của Đạo gia được khảo cứu chủ yếu qua Đạo đức kinh và Nam hoa kinh. Tư tưởng cốt lõi của Đạo gia là học thuyết về "Đạo" với những tư tưởng biện chứng, cùng với học thuyết "Vô vi" về lĩnh vực chính trị - xã hội. Về bản thể luận, tư tưởng về Đạo là nội dung cốt lõi trong bản thể luận của Đạo gia. Phạm trù Đạo bao gồm những nội dung cơ bản sau: - "Đạo" là bản nguyên của vạn vật. Tất cả từ Đạo mà sinh ra và trở về với cội nguồn của Đạo. - "Đạo" là cái vô hình, hiện hữu là cái "có"; song Đạo và hiện hữu không thể tách rời nhau. Trái lại, Đạo là cái bản chất, hiện hữu là cái biểu hiện của Đạo. Bởi vậy, có thể nói: Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại. - "Đạo" là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu. Nguyên lý ấy là "đạo pháp tự nhiên". Chính trong quan niệm về "Đạo" đã thể hiện một trình độ tư duy khái quát cao về những vấn đề bản nguyên thế giới, nhìn nhận thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất của nó. Quan niệm về tính biện chứng của thế giới không tách rời những quan niệm về "Đạo", trong đó bao hàm những tư tưởng chủ yếu sau: Mọi hiện hữu đều biến dịch theo nguyên tắc "bình quân" và "phản phục" (cân bằng và quay trở lại cái ban đầu). - Các mặt đối lập trong thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái này đã có cái kia. Do nhấn mạnh nguyên tắc "bình quân" và "phản phục" trong biến dịch nên Đạo gia không nhấn mạnh tư tưởng đấu tranh với tư cách là phương thức giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện sự phát triển; trái lại, đã đề cao tư tưởng điều hòa mâu thuẫn, coi đó là trạng thái lý tưởng. Bởi vậy triết học Đạo gia không bao hàm tư tưởng về sự phát triển. Học thuyết chính trị - xã hội với cốt lõi là luận điểm "Vô vi". Vô vi không phải là cái thụ động, bất động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản tính tự nhiên của "Đạo". 2.4. Mặc gia Phái Mặc gia do Mặc Tử, tức Mặc Địch (khoảng từ 479 -381 Tr.CN) sáng lập thời Xuân Thu. Sang thời Chiến Quốc dã phát triển thành phái Hậu Mặc. Đây là một trong ba học thuyết lớn nhất đương thời (Nho - Đạo - Mặc). Tư tưởng triết học trung tâm của Mặc gia thể hiện ở quan niệm về "Phi thiên mệnh". Theo quan niệm này thì sự giàu, nghèo, thọ, yểu...không phải là do định mệnh của Trời mà là do người. Nếu người ta nỗ lực làm việc, tiết kiệm tiền của thì ắt giàu có, tránh được nghèo đói. Đây là quan niệm khác với quan niệm Thiên mệnh có tính chất thần bí của Nho giáo dòng Khổng - Mạnh. Học thuyết "Tam biểu" của Mặc gia mang tính cách là một học thuyết về nhận thức, có xu hướng duy vật và cảm giác luận, đề cao vai trò của kinh nghiệm, coi đó là bằng chứng xác thực của nhận thức. Lớp M12CQDT01-N Page 47
  • 48.
    Thuyết "Kiêm ái"là một chủ thuyết chính trị - xã hội mang đậm tư tưởng tiểu nông. Mặc Địch phản đối quan điểm của Khổng Tử về sự phân biệt thứ bậc, thân sơ...trong học thuyết "Nhân". Ông chủ trương mọi người yêu thương nhau, không phân biệt thân sơ, đẳng cấp... Phái Hậu Mặc đã phát triển tư tưởng của Mặc gia sơ kỳ chủ yếu trên phương diện nhận thức luận. 2.5. Pháp gia Là một trường phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, chủ trương dùng những luật lệ, hình pháp của nhà nước là tiêu chuẩn để điều chỉnh hành vi đạo đức của con người và củng cố chế độ chuyên chế thời Chiến quốc. Là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, đấu tranh kiên quyết chống lại tàn dư của chế độ công xã gia trưởng truyền thống và tư tưởng bảo thủ, mê tín tôn giáo đương thời. Đại diện của phái Pháp gia là Hàn Phi Tử (280 - 233 Tr.CN). Tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử dựa trên những luận cứ triết học cơ bản sau: Về tự nhiên: Ông giải thích sự phát sinh, phát triển của vạn vật theo tính quy luật khách quan mà ông gọi là Đạo. Đạo là quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn tồn tại và không thay đổi. Còn mỗi sự vật đều có "Lý" của nó. "Lý" là sự biểu hiện khác nhau của Đạo trong mỗi sự vật cụ thể và là cái luôn luôn biến hóa và phát triển. Từ đó, ông yêu cầu mọi hành động của con người không chỉ dựa trên quy luật khách quan, mà còn phải thay đổi theo sự biến hóa của "Lý", chống thái độ cố chấp và bảo thủ. Về lịch sử: Ông thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội, khẳng định rằng không thể có chế độ xã hội nào là không thay đổi. Do đó không thể có khuôn mẫu chung cho mọi xã hội. Ông đã phân chia sự tiến triển của xã hội làm 3 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn đó xã hội có những đặc điểm và tập quán riêng ứng với trình độ nhất định của sản xuất và văn minh. Đó là: + Thời Thượng cổ: Con người biết lấy cây làm nhà và phát minh ra lửa để nấu chín thức ăn. + Thời Trung cổ: Con người đã biết trị thủy, khắc phục thiên tai. + Thời Cận cổ: Bắt đầu xuất hiện giai cấp và xảy ra các cuộc chinh phạt lẫn nhau. Động lực căn bản của sự thay đổi xã hội được ông quy về sự thay đổi của dân số và của cải xã hội. Về thuyết "Tính người": Ông theo quan niệm của Tuân Tử coi tính người là ác, đưa ra học thuyết luân lý cá nhân vị lợi, luôn có xu hướng lợi mình hại người, tránh hại cầu lợi...Kẻ thống trị phải nương theo tâm lý vị lợi của con người để đặt ra pháp luật, trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội. Tư tưởng về pháp trị. Trên cơ sở những luận điểm triết học cơ bản ấy, Hàn Phi Tử đã đề ra học thuyết Pháp trị, nhấn mạnh sự cần thiết phải cai trị xã hội bằng luật pháp. Ông cũng phản đối thuyết nhân trị, đức trị của Nho giáo, phép "vô vi trị" của Đạo gia. Phép trị quốc của Hàn Phi Tử bao gồm 3 yếu tố tổng hợp là pháp, thế và thuật, trong đó pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế và thuật là phương tiện để thực hiện chính sách đó. + "Pháp" là một phạm trù của triết học Trung Hoa cổ đại. Theo nghĩa hẹp, là quy định, luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ; theo nghĩa rộng, pháp được coi là một thể chế, chế độ chính trị và xã hội. Vì vậy, pháp được coi là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan để định rõ danh phận, giúp cho mọi người thấy rõ được bổn phận, trách nhiệm của mình. Lớp M12CQDT01-N Page 48
  • 49.
    + "Thế" làđịa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể. + "Thuật" cũng là chính danh, là phương sách trong thuật lãnh đạo của nhà vua nhằm lấy danh mà tránh thực. ======= 3. Một số nhận định về triết học Trung Hoa cổ, trung đại Nền triết học Trung Hoa cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên chế độ phong kiến. Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung hoa cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội. Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị - đạo đức phong kiến phương Đông. Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung Hoa thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc về sự biến dịch của vũ trụ. Những tư tưởng về Âm dương - Ngũ hành tuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy vật và biện chứng của người Trung Hoa thời cổ, có ảnh hưởng lớn đến thế giới quan triết học sau này ở Trung Hoa và một số nước khác trong khu vực. ========= B. LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY ÂU TRƯỚC MÁC I. TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại a. Hoàn cảnh ra đời Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời khoảng thế kỷ VII-VI Tr.CN. Khi ấy Hy Lạp thuộc chế độ chiếm hữu nô lệ; có sự phân công lao động cao; mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và nô lệ cũng như giữa phái chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc gay gắt. Hy Lạp là quê hương của các khoa học. Điều này đã góp phần thúc đẩy triết học phát triển. b. Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại Thứ nhất: có sự phân hoá thành duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình rõ nét. Thứ hai: đề cập nhiều cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học, tuy nhiên ưu tiên vấn đề tồn tại là gì? nguồn gốc của thế giới là gì? Thứ ba: có tinh thần biện chứng nhưng còn thô sơ chất phác. Đỉnh cao là tư tưởng biện của Hêraclít. Thứ tư đề cập nhiều tới con người và số phận con người. Thứ năm: gắn bó với khoa học đương thời, thường thì các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học. 2. Một số đại biểu tiêu biểu - Hêraclít (khoảng 530 - 470 Tr.CN, có tài liệu ghi khoảng 540 - 480 Tr.CN). Tư tưởng triết học của ông thường được thể hiện dưới các dạng các câu cách ngôn. Về vấn đề bản nguyên của thế giới, ông cho mọi sự vật đều trao đổi với lửa và lửa trao đổi với mọi sự vật. Cả vũ trụ với ông như là ngọn lửa vĩnh viễn cháy. Lửa không chỉ là khởi nguyên của vũ trụ mà còn là cơ sở của linh hồn con người. Lớp M12CQDT01-N Page 49
  • 50.
    Hêraclit có nhữngtư tưởng biện chứng chất phác. Theo ông, đất chết đi thì sinh ra nước; nước chết đi thì sinh ra không khí; không khí chết đi thì sinh ra lửa và ngược lại. Đây là quy luật của tự nhiên mà ông gọi là logos. Logos là quy luật của vũ trụ và cũng là quy luật "thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập". Với ông, mọi sự vật hiện tượng đều thay đổi, đều "chảy" như nước chảy trong dòng sông. Ông đã phần nào thấy được sự thống nhất của các mặt đối lập: cái đói làm cho cái no có giá trị; bệnh tật làm cho sức khỏe quý hơn, v.v. Những tư tưởng biện chứng này còn thô sơ, chất phác nhưng chứa đựng tư tưởng quý giá về sự vận động, phát triển không ngừng của sự vật, hiện tượng. Về nhận thức luận, Hêraclit đã phân biệt nhận thức cảm tính với nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính, theo ông không thể đạt được logos. Để đạt được logos phải dùng trí tuệ, nhưng không phải bất kỳ ai cũng có thể đạt được logos. Nhận thức được logos là hết sức khó khăn vì bản thân thế giới luôn bí mật. Hơn nữa khi nhận thức logos, con người còn bị ảnh hưởng của các nhà tư tưởng có uy tín khác, v.v. Về chính trị - xã hội, theo Hêraclit, con người về bản tính là bình đẳng nhưng trên thực tế lại không vậy. Sự bất bình đẳng của con người, theo ông là hậu quả của sự bất bình đẳng về lợi ích. Phần lớn mọi người trong xã hội, theo ông là sống không theo logos mà theo sự tính toán. Họ bị trói buộc bởi những mong muốn cá nhân của mình. Hạnh phúc với ông, không phải là sự thỏa mãn về thể xác mà là ở sự suy tư, suy nghĩ, ở việc biết nói sự thật, biết hành động theo tiếng nói của tự nhiên. Bản thân Hêraclit là quý tộc nên ông luôn có tinh thần quý tộc, coi thường người lao động, tuy nhiên ông không ủng hộ chủ nô quý tộc. - Đêmôcrít (khoảng 460-370 Tr.CN) - nhà duy vật theo đường lối nguyên tử cho nguyên tử là hạt vật chất nhỏ nhất là nguồn gốc của mọi sự vật hiện tượng. Về bản thể luận, ông cho nguyên tử (tồn tại) và khoảng không trống rỗng (không tồn tại) là nguồn gốc của thế giới. Nhờ có khoảng không trống rỗng mà các nguyên tử mới vận động được. Nguyên tử là những hạt vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa. Nguyên tử không màu sắc, không mùi vị, không âm thanh, không nóng lên, không lạnh đi, v.v. Các nguyên tử khác nhau về hình thức, chẳng hạn như chữ A khác chữ B, về trật tự sắp xếp, chẳng hạn như A.N khác N.A, về tư thế chẳng hạn như chữ M khác W. Các nguyên tử liên kết với nhau tạo nên sự vật, các nguyên tử tách rời khỏi nhau thì sự vật mất đi. Các nguyên tử luôn luôn vận động trong khoảng không trống rỗng. Chính sự vận động của các nguyên tử là cơ sở để hình thành nên vũ trụ của chúng ta. Ông chống lại triết học duy tâm của Platôn, bảo vệ nền dân chủ Aten. - Platôn (427-347 Tr.CN) - nhà triết học duy tâm khách quan cho ý niệm có trước sự vật và quyết định sự vật. Về bản thể luận, theo Platôn vũ trụ có hai thế giới. Một là thế giới ý niệm. Hai là thế giới các sự vật cảm tính (sông, núi, cây, cỏ, v.v). Thế giới ý niệm là thế giới tinh thần, nó hoàn hảo, đúng đắn, chân thực, vĩnh viễn không đổi. Nó là cơ sở của thế giới các sự vật cảm tính. Thế giới các sự vật cảm tính là không chân thật, không hoàn hảo, không đúng đắn vì mọi cái trong nó luôn biến đổi có sinh ra và mất đi. Nó chỉ là cái bóng của thế giới ý niệm do thế giới ý niệm quyết định. Ý niệm ở Platôn như là khuôn mẫu để các sự vật "mô phỏng" theo. Có rất nhiều ý niệm khác nhau. Bản thân vũ trụ gồm hai thế giới này cũng là sản phẩm của thần. Do vậy, vũ trụ giống như cơ thể sống có linh hồn, có trí tuệ. Về nhận thức luận, Platôn cũng đứng trên lập trường duy tâm khách quan để xem xét. Theo ông, tri thức có trước sự vật, nhận thức lý tính có trước nhận thức cảm tính. Nhận thức về thực chất chỉ là quá trình hồi tưởng lại, nhớ lại những cái mà linh hồn trước khi nhập vào thể xác con người đã có sẵn, đã trải qua. Ông có tư tưởng bảo thủ của phái chủ nô quý tộc, bảo vệ chế độ nô lệ trên tinh thần của phái chủ nô quý tộc. - Arixtốt (384-322 Tr.CN) - nhà triết học duy tâm cho mọi sự vật đều do 4 nguyên nhân cấu tạo nên. Đó là nguyên nhân “hình thức”, nguyên nhân vật chất, nguyên nhân hành động và nguyên nhân mục đích. Trong đó, nguyên nhân vật chất quyết định. Đồng thời ông công nhận sự thống trị của mục đích trong vũ trụ. Do đó, ông là nhà duy tâm. Arixtốt còn là người khởi xướng thuyết địa tâm Lớp M12CQDT01-N Page 50
  • 51.
    (cho trái đấtlà trung tâm của vũ trụ). Ông cũng là người phủ định tính thống nhất vật chất của thế giới. Tuy nhiên, trong quan niệm về tự nhiên Arixtốt cũng có những yếu tố duy vật nhưng còn hạn chế. Chẳng hạn, ông cho rằng thế giới được cấu tạo bởi: đất, nước, lửa, không khí và ête - một dạng vật chất để cấu tạo nên các vật thể bầu trời. Trong vũ trụ có vận động. Bốn nguyên tố: đất, nước, lửa và không khí tác động qua lại với nhau để chuyển hóa, tạo nên các sự vật, v.v. Nhưng trong vật lý lại có những quan niệm tiến bộ duy vật, khoa học. Ông tin tưởng khả năng nhận thước của con người. Ông là người sáng lập ra lôgíc hình thức. Ông được coi là bộ óc bách khoa vĩ đại nhất Hy Lạp cổ đại. 5. Anh chi hãy trình bày quan điêm về “nhân-qua” cua triết hoc ̣̣̉̉̉Phâṭ giáo trong thuyết Tứ diêụ đế Phật giáo cho rằng: nhân là nguyên nhân, quả là kết quả. Trong thế giới tương quan của hiện tượng, mỗi hiện hữu đều có nguyên nhân của nó. Nguyên nhân của sự có mặt của các hiện hữu gọi là nhân và hiện hữu gọi là quả. Mỗi hiện tượng vừa là kết quả vừa là nguyên nhân. Tương quan “Nhân- Quả” ấy gọi là tương quan duyên sinh. Một số nội dung chính trong thuyết “Nhân- Quả”: + Nhân thế nào thì quả thế ấy. + Một nhân không thể sinh ra quả: Sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên. Cho nên không có một nhân nào có thể tự tác thành kết quả được, nếu không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác. + Trong nhân có quả, trong quả có nhân: Trong nhân đã có sẵn mầm giống của quả. Mỗi vật, vì thế đều có thể gọi là nhân hay quả đều được, đối với quá khứ thì nó là quả, nhưng đối với tương lai thì nó là nhân. Nhân và quả là sự tiếp nối và đắp đổi cho nhau. Sự chuyển biến từ nhân thành quả có lúc nhanh nhưng cũng có lúc chậm, chứ không phải bao giờ cũng đồng nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Vì thế, các nhà nghiên cứu đã phân loại Nhân quả thành Nhân quả đồng thời và Nhân quả khác thời. Như vậy, Triết học Phật giáo đã khẳng định rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng trên đời đều có nguyên nhân của nó. Nhân kết hợp với duyên thì sinh ra quả, quả lại kết hợp với duyên lại biến thành nhân và sinh ra quả khác. Nhân và quả tạo thành một chuỗi không ngừng nghỉ mà Phật gọi là “Nhân quả tương tục vô gián đoạn". Ngoài ra, Phật giáo đã kế thừa thuyết luân hồi, nghiệp báo trong đạo Balamôn và vì thế Đức Thích Ca Mâu Ni đã đưa ra thuyết “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên” nhằm giải thoát chúng sinh ra khỏi mọi nỗi khổ ải và kiếp nghiệp báo, luân hồi. Đây là tư tưởng triết lý nhân sinh quan chủ yếu của đạo Phật. “Tứ diệu đế” là bốn chân lý vĩnh hằng, thiêng liêng, cao cả, đúng đắn gồm có: Khổ đế, Nhân đế, Diệt đế và Đạo đế. + Khổ đế: là lý luận về những nỗi khổ rõ ràng ở thế gian. Theo Phật có 8 nỗi khổ trầm luân bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu là: 1. sinh khổ, 2. lão khổ, 3. bệnh khổ, 4. tử khổ, Lớp M12CQDT01-N Page 51
  • 52.
    5. ái biệtly khổ (yêu thương mà phải chia ly), 6. sở cầu bất đắc khổ (muốn mà không được), 7. oán tăng hội khổ (ghét nhau mà phải sống với nhau), 8. ngũ uẩn khổ (sự hội tụ và xung đột của ngũ uẩn - sắc, thụ, tưởng, hành, thức). Như vậy, ở đây ta thấy Phật cho rằng đời là bể khổ, và khi mỗi chúng ta được sinh ra thì tất nhiên sẽ khổ, đó là nguyên nhân và kết quả tất yếu, vì vậy Người đã chỉ dạy cho chúng sinh một điều là khổ và diệt khổ. + Nhân đế: là lý luận về những nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ trong cuộc sống con người. Phật khẳng định rằng tất cả mọi nỗi khổ của con người đều có nguyên nhân của nó. Phật giáo cho rằng con người còn chìm đắm trong bể khổ khi không thoát ra khỏi dòng sông luân hồi. Mà luân hồi là do nghiệp tạo ra. Sở dĩ có nghiệp là do lòng ham muốn, tham lam (ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang…), do sự ngu dốt và si mê, nói ngắn gọn là do Tam độc (tham, sân, si) gây ra. Ngoài ra, nhân đế được diễn giải một cách logic và cụ thể trong thuyết Thập nhị nhân duyên (12 nguyên nhân dẫn đến bể khổ): vô minh, hành, thức, danh - sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão - tử. Trong 12 nguyên nhân ấy thì vô minh là nguyên nhân thâu tóm tất cả, vì vậy, diệt trừ vô minh là diệt trừ tận gốc sự đau khổ nhân sinh. + Diệt đế: là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc sống thế gian để đạt tới niết bàn. Khi vô minh được khắc phục thì tam độc sẽ biến mất, luân hồi sẽ chấm dứt…, tâm sẽ thanh thản, thần sẽ minh mẫn, niết bàn sẽ xuất hiện… Diệt đế bộc lộ tinh thần lạc quan của Phật giáo ở chỗ nó vạch ra cho mọi người thấy cái hiện tại đen tối, xấu xa của mình, để cải đổi, kiến tạo lại nó thành một cuộc sống xán lạn, tốt đẹp hơn. Phật giáo thể hiện khát vọng nhân bản, muốn hướng con người đến cõi hạnh phúc "tuyệt đối", muốn hướng khát vọng chân chính của con người tới chân - thiện - mỹ. + Đạo đế : là lý luận về con đường diệt khổ, giải thoát. Nội dung cơ bản của nó thể hiện trong thuyết Bát chính đạo (tám con đường đúng đắn) đưa chúng sinh đến niết bàn, đó là: 1. chính kiến (hiểu biết đúng), 2. chính tư duy (suy nghĩ đúng), 3. chính ngữ (lời nói chân thật), 4. chính nghiệp (hành động đúng đắn), 5. chính mệnh (sống một cách chân chính), 6. chính tinh tấn (thẳng tiến mục đích đã chọn), 7. chính niệm (ghi nhớ những điều hay lẽ phải), 8. chính định (tập trung tư tưởng vào một điều chính đáng). Chung quy, bát chính đạo là suy nghĩ, nói năng, hành động đúng đắn… ; nhưng về thực chất, thực hành bát chính đạo là khắc phục tam độc bằng cách thực hiện tam học (giới, định, tuệ). Trong đó, tham được khắc phục bằng giới (chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh); sân được khắc phục bằng định (chính tinh tấn, chính niệm, chính định); si được khắc phục bằng tuệ (chính kiến, chính tư duy). Như vậy, ta thấy thuyết “Tứ diệu đế” của Phật giáo đã thể hiện rất rõ quy luật “Nhân - Quả” của các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Mọi vấn đề đều có nguyên nhân và kết quả tất yếu của nó. Mọi sự vật, hiện tượng đều có sinh, có diệt và gắn bó mật thiết với nhau trong mối quan hệ Nhân - Quả. Lớp M12CQDT01-N Page 52
  • 53.
    6. Bằng sra đ̀i cua triết hoc Phât giáo, anh chi hãy ch́ng minh ư ợ̣̣̉ư rằng nôị dung cuả các hoc̣ thuyết triết hoc̣ nói riêng, đơì sống tinh thần cuả con ngươì nói chung bi ̣điều kiêṇ sống quy điṇh Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được con người Việt Nam bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam. Phật giáo đã sinh tồn cùng dân tộc. Điểm này chúng ta dễ dàng nhận thấy những thời đại cực hưng thịnh của đất nước đều là những lúc Phật giáo cũng song hành hưng thịnh và các vị thiền sư có vị trí quan trọng trong các triều đại đó. Như thời Nhà Đinh, Lê, Lý Trần v.v... Dù được bản địa hóa để quyện mình vào lòng dân tộc nhưng tam tạng kinh điển Phật giáo Việt Nam vẫn giữ được vẻ tinh khiết vốn có của nó và dòng thiền đã được truyền thừa chưa từng gián đoạn, trong suốt hơn 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tính tổng hợp: Tổng hợp là một trong những đặc tính của lối tư duy nông nghiệp, chính vì thế tổng hợp là đặc tính nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam. - Tổng hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống: Phật giáo thờ Phật trong chùa, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam là thờ Thần trong miếu và thờ Mẫu trong phủ, bốn vị thần được thờ nhiều nhất là Tứ pháp: Mây-Mưa-Sấm-Chớp. Tuy nhiên bốn vị thần này đã được "Phật Hóa", Các pho tượng này thường được gọi tượng Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi và Phật Pháp điện, trên thực tế các tượng này hoàn toàn điêu khắc theo tiêu chuẩn của một pho tượng Phật. Nghĩa là đầy đủ 32 tướng tốt cùng 80 vẽ đẹp, mà một trong những nét tiêu biểu chính là tướng nhục kế, những khế ấn, và khuông mặt đầy lòng từ mẫn v.v... Các hệ thống thờ phụ này tổng hợp với nhau tạo nên các ngôi chùa tiền Phật, hậu thần hay tiền Phật, hậu Mẫu. Người Việt Nam đưa các vị Thần, Thánh, Mẫu, thành hoàng thổ địa, anh hùng dân tộc... vào thờ trong chùa. Đa số các chùa còn để cả bia hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất. Điều này đã giải thích tại sao Phật giáo đã hưng thịnh cùng đất nước. - Tổng hợp giữa các tông phái Phật giáo: Các tông phái Phật giáo Đại thừa sau khi du nhập vào Việt Nam trộn lẫn với nhau. Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi pha trộn với Mật giáo. Nhiều vị thiền sư đời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không,... đều giỏi pháp thuật và có tài thần thông biến hóa. Thiền tông còn kết hợp với Tịnh Độ tông như là trong việc tụng niệm Phật A Di Đà và Bồ Tát. Các điện thờ ở chùa miền Bắc có vô cùng phong phú các loại tượng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau. Các chùa miền Nam còn có xu hướng kết hợp Tiểu thừa với Đại thừa. Nhiều chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý Đại thừa; bên cạnh Phật Thích Ca Mâu Ni còn có các tượng Phật nhỏ khác, bên cạnh áo vàng còn có áo nâu, áo lam. Tính hài hòa âm dương: Sau tính tổng hợp, hài hòa âm dương là một trong những đặc tính khác của lối tư duy nông nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn đến Phật giáo Việt Nam làm cho Phật giáo Việt Nam có phần thiên về nữ tính. Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là nam giới, khi vào Việt Nam bị biến thành Phật ông - Phật bà. Phật Bà Quan Âm (biến thể của Quán Thế Âm Bồ Tát) là vị thần hộ mệnh của vùng Nam Á nên được gọi là Quan Âm Nam Hải. Ngoài ra người Việt còn có những vị Phật riêng của mình như Man Nương Phật Mẫu (tên khác: Phật Mẫu), Quan Âm Thị Kính (tên khác: Quan Âm Tống Tử), Quan Âm Diệu Thiện (tên khác: Phật Bà Chùa Hương, Bà chúa Ba). Tính linh hoạt: Phật giáo Việt Nam còn có một đặc điểm là rất linh hoạt, mà nhà Phật thường gọi là "tùy duyên bất biến; bất biến mà vẫn thường tùy duyên" nghĩa là tùy thuộc vào tình huống cụ thể mà người ta có thể tu, giải thích Phật giáo theo các cách khác nhau. Nhưng vẫn không xa rời giáo lý cơ bản của nhà Phật. Lớp M12CQDT01-N Page 53
  • 54.
    Ví dụ: Cácvị bồ tát, các vị hòa thượng đều được gọi chung là Phật, Phật Bà Quan Âm (vốn là bồ tát), Phật Di Lặc (vốn là hòa thượng),... Ngoài ra Phật ở Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa và dân dã: ông Bụt Ốc (Thích Ca tóc xoăn), ông Nhịn ăn mà mặc (chỉ Thích Ca Tuyết Sơn),... Trên đầu Phật Bà Chùa Hương còn có lọn tóc đuôi gà rất truyền thống của phụ nữ Việt Nam. Phật giáo và Văn hóa Việt: Phật giáo đã thấm nhuần vào cách suy tư và sinh hoạt của người Việt nên dấu vết Phật giáo trong văn hóa Việt khá đậm nét. Nhiều người Việt theo lệ ăn chay vào những ngày mồng một hay ngày rằm. Trong văn học thì truyện Nôm bình dân kể lại truyện Bà Chúa Ba tức truyện Quan âm chùa Hương. Nghệ thuật trình diễn có vở chèo Quan Âm Thị Kính. Truyện Kiều của Tố như Nguyễn Du cũng hàm chứa nhiều tư tưởng Phật giáo. Văn chương truyền khẩu thì số tục ngữ ca dao liên quan đến Phật giáo rất đa dạng. Khuyên người thì có: Dù xây chín đợt phù-đồ - Không bằng làm phúc cứu cho một người Nhận xét nhân thế thì có: Hiền như Bụt Oan Thị Kính Đi với Bụt mặc áo cà-sa - Đi với ma mặc áo giấy hay: Miệng thì nam-mô - Bụng bồ dao găm Châm biếm thì có: Trao lược cho sư - Nhất sư nhì vãi Quay đầu trở lại - Nhất vãi nhì sư. 7. Bằng s ra đ̀i cua triết hoc Nho gia, anh chi hãy ch́ng minh rằng ư ợ̣̉ư nôị dung cuả các hoc̣ thuyết triết hoc̣ nói riêng, đơì sống tinh thần cuả con ngươì nói chung bi ̣điều kiêṇ sống quy điṇh 1. Lịch sử hình thành và phát triển Cơ sở của Nho gia được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tiếp tục truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho gia. Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục Kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. + Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ Kinh thường được gọi là Ngũ Kinh. + Sau khi Khổng Tử mất học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận Ngữ. + Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm (còn gọi là Tăng Tử) dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại Học. + Sau đó cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp (Tử Tư) viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Lớp M12CQDT01-N Page 54
  • 55.
    Từ Khổng Tửtới Mạnh Tử hình thành lên Nho gia Nguyên Thủy, còn gọi là Nho gia Tiên Tần. Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. - Nho gia không dừng lại với tư cách một trường phái triết học vươn lên thành hệ tư tưởng xã hội mà còn được mở rộng thành một hệ thống niềm tin, tín ngưỡng - nghi thức được phổ biến trong toàn xã hội. Nho giáo xuất hiện và Khổng Tử được tôn làm Giáo chủ của đạo Học. Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng “lễ trị” để thay thế “pháp trị”. Đến đời Tống, Đại Học và Trung Dung tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận Ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Điểm khác biệt của Tống Nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị. 2. Nội dung cơ bản của Nho gia Nho gia là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua, quân tử = chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với “tiểu nhân”, những người thấp kém về điạ vị xã hội; sau “quân tử” còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với “tiểu nhân” là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện. Điều này có thể được lí giải bởi đối tượng mà Nho gia hướng đến trước tiên là những người cầm quyền). Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải “tự đào tạo”, phải “tu thân”. Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải “hành đạo” (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí. Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) và cần phải tuân theo. Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người sẽ được gọi là Mệnh). Khổng tử sống trong thời đại nhà Chu suy tàn, trật tự xã hội bị đảo lộn. trước tình hình đó, ông chủ trương lập lại lễ giáo nhà Chu, lập ra học thuyết, mở trường dạy học và đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình. Để thực hiện điều đó, ông đã xây dụng nên học thuyết về chính trị xã hội mà cốt lõi là 3 phạm trù: nhân - lễ - chính danh: - Quan niệm về đức nhân của Khổng Tử là một đóng góp lớn trong việc giáo dục đào tạo con người giúp con người phát triển toàn diện, vừa có đức vừa có tài. Tuy nhiên do hạn chế về lập trường giai cấp nên quan niệm về đức nhân của Khổng Tử cũng có nội dung giai cấp rõ ràng khi ông cho rằng chỉ có người quân tử mới có được đức nhân, còn kẻ tiểu nhân (tức nhân dân lao động) không có đức nhân; nghĩa là đạo nhân chỉ là đạo của người quân tử là của giai cấp thống trị. - Quan niệm về lễ: Khổng tử cho rằng để đạt được đức nhân, phải chủ trương dùng lễ để duy trì trật tự xã hội. Lễ trước hết là lễ nghi, cách thờ cúng, tế lễ; lễ là kỷ cương, trật tự xã hội, là những qui định có tính pháp luật đòi hỏi mọi người phải chấp hành. Ai làm trái những điều qui định đó là trái với đạo đức. Như vậy, lễ là biên pháp đạt đến đức nhân. - Quan niệm về chính danh: quy định rõ danh phận của mỗi người trong xã hội. Khổng Tử cũng như các nhà Nho có hoài bão về một xã hội kỷ cương. Vào thời đại Khổng Tử, xã hội rối ren, vì vậy, điều căn bản của việc làm chính trị là xây dựng xã hội chính danh để mỗi người mỗi đẳng cấp xác định rõ danh phận của mình mà thực hiện. 3. Đánh giá Lớp M12CQDT01-N Page 55
  • 56.
    Các đế vươngTrung Hoa đã vận dụng Nho gia vào công việc cai trị của mình. Chủ trương “dương đức”, “âm pháp”, hay còn gọi là “ngoại Nho, nội pháp”, tức là chủ trương nhân trị chỉ còn là hình thức mà thực chất là pháp trị. Hạ thấp nhân trị, đề cao lễ trị. Vì nhân trị là cốt lõi của Nho gia nên họ không thể loại bỏ hoàn toàn mà dùng nhân trị như một cái vỏ bao bọc lễ trị. Loại bỏ tính dân chủ của Nho gia nguyên thủy. Dân là chủ bị lờ đi mà thay vào đó họ đề cao “trời”, tạo ra thuyết “thiên mệnh”. Vua là “thiên tử” (con trời), không nghe theo vua là phản lại trời. “Ngũ luân” trong Nho gia nguyên thủy được rút gọn thành “tam cương”: vua-tôi, cha-con, vợ- chồng. Quan hệ “trung dung” trong ngũ luân được chuyển thành quan hệ một chiều duy nhất được tóm gọn trong bốn chữ “trung-hiếu-tiết nghĩa”. Bề tôi phải tuyệt đối phục tùng vua, con phải tuyệt đối nghe lời cha, vợ phải tuyệt đối phục tùng chồng, đó là những mối quan hệ hết sức phi nhân bản: “Vua bảo tôi chết, tôi không chết là tôi bất trung; cha bảo con chết, con không chết là con bất hiếu”. Còn trách nhiệm của vợ đối với chồng thì được diễn đạt bằng ba công thức được gọi là tam tòng: “Ở nhà theo cha, lấy chống theo chồng, chồng chết theo con trai”. Hạn chế vai trò của văn hóa sao cho có lợi cho chế độ phong kiến. Quan hệ nam nữ bị giới hạn một cách quá đáng: “nam nữ thụ thụ bất thân”. Đề cao nam, hạ thấp nữ: “nam tôn, nữ ti”, “dương thiện, âm ác”. Nói tóm lại trong xã hội phong kiến các nhà triết học trường phái Nho gia cũng như những người dân trong thời kỳ này đều bị ảnh hưởng, chịu sự chi phối của điều kiện sống. Họ không thoát ra được trong hoàn cảnh này. Tuy nhiên Nho gia góp phần xây dựng các nhà nước phong kiến trung ương, tập quyền vững mạnh góp phần xây dựng một hệ thống quản lý thống trị xã hội chặt chẽ, nâng cao sức mạnh quân sự và kinh tế quốc gia. Nho gia cũng rất coi trọng trí thức, coi trọng học hành. Nho giáo hướng quản đạo quần chúng nhân dân vào việc học hành, tu dưỡng đạo đức theo Ngũ Thường “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” làm cho xã hội ngày càng phát triển văn minh hơn. Nho giáo góp phần xây dựng mối quan hệ xã hội rộng rãi hơn, bền chặt hơn, có tôn tri trật tư… vượt quá phạm vi cục bộ là các làng xã, thô, ấp hướng tới tầm mức quốc gia, ngoài ra nó góp phần xây dựng mối quan hệ gia đình bền chặt hơn, có tôn ty hơn… nhờ tuân theo Ngũ Luân “Vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em,bạn-bè”. Nho giáo vốn đặt mối quan hệ vua tôi ở vị trí cao nhất trong năm quan hệ giữa người với người, xây dựng tinh thần trung quân, ái quốc. Nhân nghĩa trong Khổng giáo là tình cảm sâu sắc, nghĩa vụ thiêng liêng của bề tôi đối với nhà vua, của con đối với cha, của vợ đối với chồng. 8. Anh chi hãy trình bày quan điêm “chính danh” cua triết hoc ̣̣̉̉Nho gia và nêu lên môṭ số an̉h hương cuả nó đối vơí đơì sống xã hôị Viêṭ Nam hiêṇ nay Thời đại của Khổng Tử sống là thời đại "vương đạo" suy vi, "bá đạo" nổi lên lấn át "vương đạo", chế độ tông pháp nhà Chu bị đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi. Đứng trước tình hình đó các Nho gia có hoài bảo về một chế độ phong kiến có kỷ cương, thái binh và thịnh trị. Khi xét tư tưởng của Khổng Tử ta thấy có một quy tắc chính, một phát kiến của ông đó là học thuyết "chính danh". "Chính danh" là tư tưởng cơ bản của chính trị Nho giáo nhằm đưa xã hội loạn trở lại trị. Khổng Tử phản đối nhà cầm quyền dùng pháp chế, hình phạt trị dân mà chủ trương nhân trị. Sự vật tồn tại khách quan, để biểu hiện nó phải dùng ngôn ngữ, cái ngôn ngữ để biểu hiện đó là "danh". Danh đối lập với thực. Danh có nội hàm, sự vật luôn thay đổi nên nội hàm của danh cũng luôn thay đổi. Nhưng ngôn ngữ lại có tính ổn định nên danh thường lạc hậu hơn so với thực, không thay đổi kịp so với hiện thực, nhất là xã hội có biến loạn. Nguyên nhân khiến cho xã hội loạn lạc là Lớp M12CQDT01-N Page 56
  • 57.
    do "danh" khônghợp với "thực", xã hội đã xa rời đạo lý nhân nghĩa, kỷ cương phép nước bị đảo lộn. Muốn ổn định trật tự xã hội, Khổng Tử chủ trương giáo dục chính trị đạo đức là "chính danh, định phận". Theo học thuyết "chính danh" Khổng Tử đã chia xã hội thành các mối quan hệ cơ bản, trong đó mỗi mối quan hệ gọi là một luân. Theo Khổng Tử trong xã hội có 5 luân, đó là: Vua - Tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn - bè. Trong đó 3 luân đều được chú trọng hơn cả và gọi đó là tam cương (vua - tôi, chồng -vợ, cha - con), các luân đã nói rõ danh phận của từng người. Nếu mỗi người thực hiện đúng danh phận đó sao cho "vua phải giữ đạo vua, bề tôi phải giữ đạo bề tôi, cha phải giữ đạo cha, con phải giữ đạo con, chồng phải giữ đạo chồng, vợ phải giữ đạo vợ" (quân kính, thần trung, phu từ, tử hiếu, phu xớng, phụ tùng" thì có chính danh. Mỗi người giữ đúng danh phận của mình thì mới có thể gây lại được nền chính trị của thời thiên hạ có đạo". Vì vậy, Khổng Tử khẳng định muốn làm cho xã hội ổn định thì phải "chính danh", "chính danh" từ trên xuống: quân - quân, thần - thần, phụ - phụ, tử - tử. Khổng Tử chỉ từ: "quân" phải tu cho được là ông vua lý tưởng, vua phải ra vua, là ông vua minh, hiền, triết, yêu dân, yêu nớc. "Quân" lý tưởng ấy là địa vị chính đáng của vạn vật trong tự nhiên "như sao bắc đẩu đứng ở vị trí của nó mà các sao khác đều hướng theo...". Còn chữ "danh" trong xã hội là danh vị, hiểu theo ngôn ngữ ngày nay là c-ương vị và quyền hạn, còn chữ "phận" có nghĩa là "phần", là "bổn phận" tức là gồm cả quyền lợi, nghĩa vụ, mọi mặt. Trong quan hệ vua - tôi, Khổng Tử chủ trương dùng đức trị, tức là người thống trị tự lấy đạo đức của mình để cảm hóa người bị trị, làm cho họ không chống lại. Khác với hình chính, đức trị không quan tâm đến sản xuất, đến chính sách, không dùng biện pháp thưởng - phạt, mà chỉ cho rằng người thống trị chỉ cần có đạo đức là đủ, thậm chí không cần cả đẳng cấp xuất thân của họ. Theo ông đối với dân lòng tin là quan trọng nhất, sau đó mới đến lương thực và những thứ khác. Vì vậy, nhà cầm quyền phải giúp cho dân giàu có, sau khi đã giàu có rồi thì nhà cầm quyền phải giáo hóa dân. Và để làm được điều đó thì nhà cầm quyền phải làm ba việc: + 1 là phân công cho người dưới quyền mình, họ làm xong phải xem xét lại. + Thứ hai là phải dung thứ cho những người phạm phải lỗi nhỏ. + Thứ ba là phải đề cử và dùng người hiền đức, tài cán Như vậy, ở đây ta thấy Khổng Tử chỉ rõ nhà cầm quyền để chính danh thì phải có nhân và lễ, nhà cầm quyền phải có lòng thương người, yêu người. Ông vua, kẻ sĩ lớn nhất cũng trước hết là từ chữ nhân mà trở thành ngôi sao bắc đẩu để cai trị các sao khác hướng theo. Người cầm quyền phải biết phát hiện và sử dụng những người tài đức, giúp họ trở thành nhân, làm cho cái đẹp, cái thiện trong mỗi người nảy nở, chớ không khơi dậy cái ác trong họ. Trong mối quan hệ cha - con, thì cha từ, con hiếu. Hiếu ở đây chủ yếu được xét trên góc độ tâm, hiếu không chỉ phụng dưỡng người sinh ra mình mà phải có lòng thành kính, còn nếu không chẳng khác gì nuôi chó ngựa. Hiếu không nhất nhất là theo cha mẹ, mà phận làm con thấy cha mẹ sai lầm phải can gián một cách nhẹ nhàng. Ông nói: "chỉ xét cái đáng theo mà theo mới gọi là trung, hiếu. - Trong quan hệ vợ chồng thì chồng phải giữ đạo chồng, vợ phải giữ đạo vợ, vợ phải nghe theo chồng, được như thế xã hội sẽ có trật tự, xã hội sẽ có trật tự kỷ cương, thái bình thịnh trị. Đánh giá vai trò của chính danh đối với cai trị, Khổng Tử khái quát: Nếu không chính danh tất loạn, có nghĩa là các chức trách của xã hội không chính được thì xã hội sẽ loạn. Nếu chính danh thì không cần ép buộc dân cũng theo, tất trị, nghĩa là nếu các chức trách xã hội chính danh được thì dân sẽ hưởng theo thì xã hội sẽ trị. Lớp M12CQDT01-N Page 57
  • 58.
    Nhưng làm thếnào để thực hiện chính danh? ông cho rằng mọi người phải tự giác giữ lấy danh phận của mình. Từ thiên tử, chư hầu, đại phu đến "kẻ sĩ" phải tu dưỡng đạo nhân để có sự tự giác đó. Vậy muốn chính danh thì thân mình phải chính, ngôn ngữ cũng phải chính nữa, lời nói và việc làm phải hợp với nhau, không được nói nhiều mà làm ít, không được lời nói thì kính cẩn mà trong lòng thì không, hơn nữa "phải siêng năng về việc làm, thận trọng về lời nói" và nên "chậm chạp về lời nói, mau mắn về việc làm". Khổng Tử cho rằng đối với người cai trị thì "thân mình mà chính được thì không phải hạ lệnh mọi việc vẫn tiến hành, thân mình mà không chính được thì dù có hạ lệnh cũng chẳng ai theo". "Nếu thân mình mà chính được rồi thì đối với mọi việc chính sự có còn gì khó. Không thể chính được thân mình thì chính người khác thế nào? Khổng Tử khẳng định "để mang cái danh là vua, thì phải làm tròn trách nhiệm của ông vua, nếu không sẽ mất cái danh và mất luôn cả ngôi”. Tóm lại, quy tắc chính danh đưa tới quy kết: ai ở địa vị nào cũng phải làm tròn trách nhiệm, và ai giữ phận nấy, không được việt vị, nghĩa là không được hởng những quyền lợi cao hơn địa vị của mình. Khi Khổng Tử với tư cách một đại phu trí sĩ có trách nhiệm khuyến cáo vua Lỗ trừng trị một nghịch thần của một nước bạn, và ông đã theo "chính danh" nghiêm cẩn làm tròn trách nhiệm đó. Còn Hoàn Tử đã tự ban cho mình cái quyền dùng vũ "bát dật" mà chỉ thiên tử mới được dùng là trái với quy tắc chính danh. "Bất tại kỳ vị, bất mu kỳ chính" là quan điểm quan trọng đối với Khổng Tử, ai giữ phận nấy, cứ theo đúng tổ chức xã hội rất chặt chẽ, rất có tôn ti của chu công thì nư ớc sẽ trị, thiên hạ mới gọi là hữu đạo. Hay nói cách khác, mọi người phải trọng pháp điển, có tôn ti không ai được việt vị (lễ). Người trên phải đính chính, làm tròn nhiệm vụ, yêu dân (nhân), có tín đức thì mới chính danh, đáng đợc dân trọng. Liên hệ Đối với nước ta, những giá trị của Nho giáo mà đặc biệt là học thuyết chính danh vẫn có những giá trị tích cực trong giai ®o¹n hiÖn nay. Qua 20 năm đổi mới đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, Đảng ta khẳng định phải đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật và các công cụ khác. Vì vậy, chúng ta phải đề ra một hệ thống pháp luật đồng bộ và đưa vào thực thi. Vấn đề đặt ra là khi chúng ta đã đề ra luật, ra chính sách thì chúng ta phải thực hiện bằng được, và phải trừng trị những người có hành động xâm phạm lợi ích của tổ quốc và của nhân dân. Để quyết tâm thực hiện được chủ trơng, chính sách, pháp luật thì đòi hỏi mỗi người dân phải có ý thức, trách nhiệm hay nói cách khác là phải "chính danh, định phận", nói phải đi đôi với làm, nói ít làm nhiều. Bên cạnh đó thì chúng ta phải kết hợp các biện pháp giáo dục đạo đức, truyền thống để nâng cao ý thức pháp luật cho người dân. Để làm được điều đó, nếu chúng ta vận dụng, phát triển học thuyết chính danh của Nho giáo ở những nhân tố hợp lý thì sẽ thu được hiệu quả rất cao. Chúng ta đang xây dựng một trật tự kỷ cương trong xã hội: thủ trưởng ra thủ trởng, nhân viên ra nhân viên, không có sự lẫn lộn. Mỗi người, mỗi tổ chức phải giữ đúng danh phận, chức trách của mình. Trước hết chúng ta phải xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, có trí tuệ xứng đáng với vai trò lãnh đạo toàn xã hội. Muốn xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, điều quan trọng nhất là mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong sinh hoạt và công tác, không ngừng nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, nói đi đôi với làm, chấp hành nghiêm chỉnh cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nớc, kiên quyết khắc phục sự suy thoái đạo đức cũng như những tiêu cực trong xã hội. Nói cách khác, người cán bộ, đảng viên phải thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư để làm gương cho nhân dân noi theo. Đó là điều rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tư- ởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên là rất nghiêm trọng, nó Lớp M12CQDT01-N Page 58
  • 59.
    có ảnh hưởngrất lớn đối với lòng tin của nhân dân, với Đảng, với chế độ mà nguyên nhân chính là việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng chưa tốt, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm và tinh thần trách nhiệm chấp hành của cán bộ và nhân dân chưa cao. Vì vậy, mỗi cán bộ, mỗi người đảng viên phải xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, hay nói cách khác là phải "chính danh, định phận" để góp phần đề ra chủ trương, chính sách cho phù hợp với thực tế và quyết tâm thực hiện tính nghiêm minh của pháp luật. - Trong giai đoạn hiện nay, nếu chúng ta vận dụng học thuyết "chính danh" để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có vị trí xứng đáng với tài năng của mình, thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả làm việc của người lao động và năng suất lao động xã hội sẽ ngày càng cao hơn. Thực tế hiện nay ở các cấp, các ngành vẫn còn tồn tại một đội ngũ cán bộ kiêm chức khá đông, mà theo như Khổng Tử nói "danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không thành...". Cho nên hiệu quả công việc không cao, tình trạng ỷ lại cho nhau vẫn còn mà cụ thể nhất là vấn đề chịu trách nhiệm trước công việc chung. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ chúng ta phải coi trọng tài năng của họ để xây dựng đội ngũ cán bộ có tính chuyên nghiệp, nghĩa là biết người, biết dùng người tạo điều kiện cho họ phát huy hết tài năng và phẩm chất của mình, phải chính quy đội ngũ cán bộ, tránh tình trạng kiêm nhiệm, kiêm chức để xảy ra tình trạng "nhiều sãi không ai đóng cửa chùa". Ngoài ra những giá trị của học thuyết chính danh về quan hệ cha - con, phu - phụ, quân - thần cũng có những giá trị tích cực và ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng những tế bào gia đình của xã hội, lấy đạo đức làm trọng, kính trên nhường dưới theo đúng “lễ”, vợ chồng đồng thuận, gia đình êm ấm, là những nét tích cực trong Tam cương của thuyết “chính danh”. 9. Anh chi hãy trình bày quan điêm cua mình về thuyết “Chính ̣̉̉ danh” cuả Nho gia I. Giới thiệu. Nho giáo là học thuyết về đạo xử thế của người quân tử: Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ. Được bắt nguồn bằng Chu Công Đán đời Tây Chu, được hệ thống hoá và phát triển bởi Khổng Tử (Người được coi như người sáng lập Nho giáo) đời Chiến Quốc, được kế tục xuất sắc bởi Mạnh Tử. Do đó đời sau gọi tư tưởng nho giáo là tư tưởng Khổng-Mạnh. Khổng Tử (551 - 479 Tr.CN), tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người Ấp Trâu, nước Lỗ, ông là nhà Triết học, nhà chính trị học và là nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc Khổng Tử không chỉ dạy học mà còn chỉnh lý các sách (san Thi, dịch Thư, tán Dịch, định Lễ, bút Xuân Thu). Lý luận của ông là một hệ thống triết lý sâu sắc về đạo đức - chính trị - xã hội, được học trò chép lại thành sách Luận ngữ. Lý luận về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng… tạo nên nội dung quan điểm về đạo đức của ông. II. Nội dung của Nho Giáo Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử. Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải “tự đào tạo”, phải “tu thân”. Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải “hành đạo” 1. Tu thân Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức… để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội. Lớp M12CQDT01-N Page 59
  • 60.
    Tam cương vàngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được an bình. Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối. Tam cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng). Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân: Đạt đạo: Đạo có nghĩa là “con đường”, hay “phương cách” ứng xử mà người quân tử phải thực hiện trong cuộc sống. “Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè”, tương đương với “quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu”. Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân. Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là “trung dung”. Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng. Đạt đức: Quân tử phải đạt được ba đức: “nhân - trí - dũng”. Khổng Tử nói: “Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được. Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi”. Về sau, Mạnh Tử thay “dũng” bằng “lễ, nghĩa” nên ba đức trở thành bốn đức: “nhân, nghĩa, lễ, trí”. Hán nho thêm một đức là “tín” nên có tất cả năm đức là: “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Năm đức này còn gọi là ngũ thường. Biết thi, thư, lễ, nhạc: Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo” và “đức”, người quân tử còn phải biết “thi, thư, lễ, nhạc”. Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa toàn diện. 2. Hành đạo Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hóa thành “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ). Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm: Nhân trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và coi người như bản thân mình. Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người phải làm đúng chức phận của mình. “Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành”. Khổng tử nói với vua Tề Cảnh Công: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con”. Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo, chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Và đến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi. 1. Nội dung của học thuyết "chính danh' - Thời đại của Khổng Tử sống là thời đại "vương đạo" suy vi, "bá đạo" nổi lên lấn át "vương đạo", chế độ tông pháp nhà Chu bị đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi. Đứng trước tình hình đó các Nho gia có hoài bão về một chế độ phong kiến có kỷ cương, thái bịnh và thịnh trị. Khi xét tư tưởng của Khổng Tử ta thấy có một quy tắc chính, một phát kiến của ông đó là học thuyết "chính danh". "Chính danh" là tư tưởng cơ bản của chính trị Nho giáo nhằm đưa xã hội loạn trở lại trị. Khổng Tử phản đối nhà cầm quyền dùng pháp chế, hình phạt trị dân mà chủ trương nhân trị. Theo học thuyết "chính danh" Khổng Tử đã chia xã hội thành các mối quan hệ cơ bản, trong đó mỗi mối quan hệ gọi là một luân. Theo Khổng Tử trong xã hội có 5 luân, đó là: Vua - Tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn - bè. Lớp M12CQDT01-N Page 60
  • 61.
    + Vua -Tôi: bề tôi phải lấy chữ trung làm đầu + Cha - Con: bề con phải lấy chữ hiếu làm đầu + Chồng - Vợ: vợ phải lấy tiết hạnh làm đầu + Anh - Em: phải lấy chữ hữu làm đầu + Bạn - Bè: phải lấy chữ tín làm đầu Năm mối quan hệ này có tiêu chuẩn riêng: + Vua thì phải nhất + Tôi thì phải trung + Cha phải hiền từ + Con phải hiếu thảo + Phu xướng phụ tuỳ… Trong năm quan hệ đó Khổng Tử nhấn mạnh ba quan hệ đầu là cơ bản nhất (Tam cương) cụ thể là: + Vua - Tôi: vua là trụ cột + Cha - Con: cha là trụ cột + Chồng - Vợ: chồng là trụ cột Trong đó 3 luân đều được chú trọng hơn cả và gọi đó là tam cương, các luân đã nói rõ danh phận của từng người. Nếu mỗi người thực hiện đúng danh phận đó sao cho "vua phải giữ đạo vua, bề tôi phải giữ đạo bề tôi, cha phải giữ đạo cha, con phải giữ đạo con, chồng phải giữ đạo chồng, vợ phải giữ đạo vợ" (quân kính, thần trung, phu từ, tử hiếu, phu xướng, phụ tùng" thì có chính danh. Mỗi người giữ đúng danh phận của mình thì mới có thể gây lại được nền chính trị của thời thiên hạ có đạo". Vì vậy, Khổng Tử khẳng định muốn làm cho xã hội ổn định thì phải "chính danh", "chính danh" từ trên xuống: quân - quân, thần - thần, phụ - phụ, tử - tử. Trong quan hệ vua - tôi, Khổng Tử chủ trương dùng đức trị, tức là người thống trị tự lấy đạo đức của mình để cảm hóa người bị trị, làm cho họ không chống lại. Khác với hình chính, đức trị không quan tâm đến sản xuất, đến chính sách, không dùng biện pháp thưởng - phạt, mà chỉ cho rằng người thống trị chỉ cần có đạo đức là đủ, thậm chí không cần cả đẳng cấp xuất thân của họ. Ông thường nói làm chính trị mà có đức nhân là đã đứng vào vị trí của sao bắc đẩu, vị trí mà tất cả các ngôi sao khác phải hướng theo. Trong mối quan hệ cha - con, thì cha từ, con hiếu. Hiếu ở đây chủ yếu được xét trên góc độ tâm, hiếu không chỉ phụng dượng người sinh ra mình mà phải có lòng thành kính, còn nếu không chẳng khác gì nuôi chó ngựa. Hiếu không nhất nhất là theo cha mẹ, mà phận làm con thấy cha mẹ sai lầm phải can gián một cách nhẹ nhàng. Ông nói: "chỉ xét cái đáng theo mà theo mới gọi là trung, hiếu. Như vậy, ông không chủ trương ngu trung, ngu hiếu, quân có nhân thì thần mới trung, phụ có từ thì tử mới hiếu. Đó là quan hệ hai chiều mà ít người để ý. - Trong quan hệ vợ chồng thì chồng phải giữ đạo chồng, vợ phải giữ đạo vợ, vợ phải nghe theo chồng được như thế xã hội sẽ có trật tự xã hội sẽ có trật tự kỷ cương, thái bình thịnh trị. Quy tắc chính danh đưa tới quy kết: ai ở địa vị nào cũng phải làm tròn trách nhiệm, và ai giữ phận nấy, không được việt vị, nghĩa là không được hưởng những quyền lợi cao hơn địa vị của mình. Lớp M12CQDT01-N Page 61
  • 62.
    Như vậy, theoKhổng Tử chính danh là điểm mấu chốt để đưa xã hội trở nên trật tự, nền nếp. Nhưng để có chính danh, mỗi người phải thực hiện đúng danh phận của mình không lạm quyền. Một xã hội có chính danh là một xã hội có trật tự kỷ cương, thái bình, thịnh trị. III. Quan điểm đánh giá: 1. Những giá trị tích cực - Nho giáo là một học thuyết đức trị, lễ trị, nhân trị, văn trị, khẩu hiệu của nó là thu phục lòng người. Học thuyết chính danh đề ra là bài thuốc để chữa trị xã hội loạn, nhằm mục đích thu phục lòng người. Do vậy, dù đứng ở một góc độ nào đi chăng nữa thì đây cũng chính là một học thuyết chính trị xã hội, nó đưa xã hội vào kỷ cương có lợi cho giai cấp thống trị. - Khổng Tử đưa ra học thuyết chính danh, đòi hỏi nhà cầm quyền phải có tài đức xứng với địa vị của họ, lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau, trọng việc làm hơn lời nói. Dùng đạo đức của người cầm quyền để cai trị, cai trị bằng giáo dục, giáo dưỡng, giáo hóa chứ không phải là cai trị bằng gươm giáo, bằng bạo lực. Đây là giá trị phổ biến tích cực cho đến ngày nay. Bởi vì dù chính trị có hiện đại thế nào đi chăng nữa thì giáo dục, giáo dưỡng, giáo hóa vẫn rất quan trọng, kết hợp giáo dục với pháp luật chúng ta sẽ rèn dũa con người vào kỷ cương hơn. - Lời lẽ của học thuyết rất dân dã, ít tối tân, ít tư biện, ít mang tính bác học vì vậy nó dễ hiểu, dễ nhớ nên người ta dễ vận dụng, nó là món ăn tinh thần của nhiều người. "Chính danh là học thuyết mà ngoài những hạn chế thì có những yếu tố hợp lý, rất có ý nghĩa đối với xã hội hiện đại. Nếu chúng ta thực hiện nó thì sẽ đưa xã hội vào trật tự kỷ cương. - Học thuyết "chính danh" cũng đặt ra vấn đề coi trọng người hiền tài, sử dụng người hiền tài đúng với trình độ của họ. Như vậy, sẽ phát huy được hết tiềm năng của người hiền tài nhằm phục vụ cho dân, cho nước. Đây cũng là một học thuyết coi trọng sự học tập, có học mới được làm quan, coi sự học là tiêu chí để vào chính trị. Sự học ở đây là có giáo dục, được giáo dục, được giáo hóa để rèn dũa những phẩm chất đạo đức, rèn khí tiết, tu khí tiết, tu tâm. - Học thuyết chính danh còn có giá trị là khi thực hiện nó làm cho con người có trách nhiệm với bản thân hơn, có trách nhiệm với công việc của mình hơn, từ đó phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ được giao. 2. Những hạn chế - Học thuyết của Khổng Tử quá tuyệt đối hóa đạo đức, cho đạo đức là tất cả, từ đấy đánh giá con người quy về đạo đức hết. Ông khẳng định ông vua chỉ cần đạo đức là đủ, hay khi đánh giá hiền tài ông đưa tiêu chuẩn đạo làm mục tiêu, nhân đức là chỗ dựa còn cái tài là chỉ để chơi. - Học thuyết chính danh của Khổng Tử còn có hạn chế đó là hoài cổ, bao hàm ý bảo thủ, phải trọng danh cũ, phải hành động hợp với tiêu chuẩn cũ. Trong học thuyết chính danh của Khổng Tử vẫn trọng danh hơn thực, trọng xưa hơn nay, từ đó ông đã gạt bỏ nhiều giá trị đạo đức mang tính nhân đạo. - Học thuyết chính danh mà Khổng Tử đưa ra "Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính", "thứ nhân bất nghị" là không cho dân có quyền bàn việc nước. Chỉ một ý đó thôi cũng cho ta thấy ở đây không có dân chủ. Mặc dù ông rất yêu dân, lo cho dân ănng không cho dân bàn việc nước vì dân không được học, không đủ tư cách bàn việc nước, cho họ làm việc nước thì sẽ loạn. - Hơn nữa, học thuyết chính danh còn thể hiện rõ sự bất bình đẳng, thang bậc trong xã hội, coi thường phụ nữ (người phụ nữ phải theo chồng thì mới đúng đạo làm vợ), coi thường lao động chân tay. Và vì ông không dám đả động đến "tông pháp" của Chu Công nên học thuyết chính danh của ông có vẻ lưng chừng, không triệt để. Và chỉ là lý thuyết suông vì đương thời danh và thực mâu thuẫn nhau sâu sắc. Cái thực của đời sống xã hội, trật tự xã hội đã có nhiều biến đổi làm cho cái Lớp M12CQDT01-N Page 62
  • 63.
    danh phận cũđược quy định theo lễ chế của nhà Chu không còn phù hợp nữa. Do đó mà không thể làm được. IV. Kết Luận Tóm lại trong một thời gian dài Nho giáo đã giúp cho các chế độ quân chủ phong kiến xây dựng một xã hội thịnh vượng, có trật tự, pháp luật, một quốc gia thống nhất, người dân trong xã hội biết đối xử với nhau trên cơ sở “Nhân - lễ - nghĩa - trí - tín”. Đó là lý do tại sao trong quá khứ Trung Hoa nói riêng và các dân tộc châu Á nói chung, với sự ảnh hưởng của Nho giáo đã đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc, đã tạo ra một nền văn minh bậc nhất của loài người lúc bấy giờ. Nhưng sự ổn định mà Nho giáo tạo ra cho xã hội, cộng với tư tưởng hướng nội của người châu Á - luôn suy xét ta là ai trong vũ trụ này, trong một thời gian dài nhiều trăn năm sự trì trệ cả về kinh tế lẫn quân sự. Cho đến khi nó phải đối đầu với nền văn minh phương Tây vốn có nhiều ưu điểm hơn trong kinh tế và quân sự, thì Nho giáo đã phải nhường bước trong đời sống kinh tế, chính trị, quân sự - như ngày xưa Phật giáo đã nhường bước Nho giáo. Có lẽ đây là một đặc điểm chung của nền văn hoá nhân loại. Nền văn hoá nông nghiệp thường bị các nền văn hoá du mục thôn tính. Ngày nay tuy không còn ảnh hưởng nhiều trong đời sống chính trị hàng ngày nhưng tư tưởng Nho giáo vẫn có ảnh hưởng rất mạnh trong đời sống hàng ngày, nó hiện diện trong tâm hồn mỗi người Việt Nam đó là những tư tưởng về lòng ái quốc, coi trọng học hành, chũ nghĩa, coi trọng các mối quan hệ xã hội (dựa trên tư tưởng về Lễ-Nghĩa). Về đời sống tâm linh thì có phong tục thờ cha mẹ, tổ tiên, các bậc tiền bối có công đức. Nói chung về mặt văn hoá Nho giáo có ảnh hưởng rất sâu nặng và ảnh hưởnh này ngày nay thường mang tính tích cực hơn là tiêu cực. 10. Anh chi hãy trình bày nôi dung về “lễ” trong “ngũ th̀ng” cua ̣̣ưở Nho gia và an̉h hương cuả nó đối vơí đơì sống xã hôị Viêṭ Nam giai đoaṇ hiêṇ taị Quan niệm về Lễ : Để đạt được nhân, để lập lại trật tự, khôi phục lại kỷ cương cho xã hội Khổng Tử chủ trương phải dùng lễ, đặc biệt là lễ của nhà Chu. Vì lễ có thể: xác định được vị trí, vai trò của từng người; phân định trật tự, kỷ cương trong gia đình và ngoài xã hội; loại trừ những tật xấu và tạo ra những phẩm chất cá nhân mà xã hội đòi hỏi. Do nhận thấy tác dụng to lớn của lễ mà Khổng Tử đã dốc sức san định lại lễ. Ở Khổng Tử, trước hết, lễ được hiểu là lễ giáo phong kiến như những phong tục tập quán; những qui tắc, qui định về trật tự xã hội; thể chế, pháp luật nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn, tế lễ, luật lệ, hình pháp…; sau đó, lễ được hiểu là luân lý đạo đức như ý thức, thái độ, hành vi ứng xử, nếp sống của mỗi con người trong cộng đồng xã hội trước lễ nghi, trật tự, kỷ cương phong kiến. Nhân và lễ có quan hệ rất mật thiết. Nhân là nội dung bên trong của lễ, còn lễ là hình thức biểu hiện nhân ra bên ngoài. Nhân giống như cái nền tơ lụa trắng tốt mà trên đó người ta vẽ lên những bức tranh tuyệt đẹp. Khổng Tử cho rằng, trên đời không hề tồn tại người có nhân mà vô lễ. Vì vậy, ông khuyên chớ xem điều trái lễ, chớ nghe điều trái lễ, chớ nói điều trái lễ và chớ làm điều trái lễ. Ảnh hưởng của “lễ” đối với đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn hiện tại. Vài năm trở lại đây, mở mắt ra là đã có những thông tin, chẳng phải đâu xa, ở ngay bên cạnh mình, toàn những thông tin xấu, tin đen: Quan chức này tham nhũng tiền tỉ, quan chức kia lừa trên dối dưới không minh bạch bằng cấp học vị, Giáo sư tiến sĩ này “đạo” văn, Nghê sĩ nọ “đạo” tác phẩm… Nào là học trò đánh thầy, nào là bạo lực trẻ em, nào là “người của công chúng” khoe “hàng”, nào là chuyện mang nhau ra truyền thông chửi bới mắng nhiếc nhau… Và những chuyện bi hài vô văn hóa nhan nhản trong các lễ hội… Tất cả chung quy một chữ “Lễ”. Càng văn minh, càng có văn hóa thì càng thiếu chữ “Lễ”. Lớp M12CQDT01-N Page 63
  • 64.
    Chữ Lễ làmột trong những chữ thuộc phạm trù đạo đức phong kiến Nho giáo trong “ngũ thường”: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Trong cuộc sống hằng ngày, ta thường nói đến lễ phép, lễ nghi, tức là biết xử sự, tôn trọng nhau như người biết phép tắc, có văn hóa, có đạo đức truyền thống. Nhưng chữ “Lễ” không chỉ là lễ phép, lễ nghi, mà sâu xa hơn chính là mọi người phải biết tuân thủ các phép tắc, biết chấp hành các kỷ cương- trật tự- bổn phận để sống sao cho hợp với lẽ trời đất, xã hội, cộng đồng, gia đình, bè bạn. Nó là quy phạm, tư tưởng, hành vi của con người đối với mọi mối quan hệ xã hội và thiên nhiên, nhằm bảo vệ quyền con người và trật tự cộng đồng xã hội, giữ gìn sự phát triển hài hòa của xã hội và thiên nhiên, giúp cho quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân và tập thể cũng tồn tại và phát triển, làm cơ sở hình thành một xã hội văn minh, hạnh phúc. Chữ “Lễ” trong thời hiện tại thành xa xỉ Có lẽ chữ “Lễ” thời này không còn được coi trọng, thiếu vắng trong mọi sinh hoạt cộng đồng, trong xã hội, trong gia đình, và từng cá nhân, nên trở thành một thứ xa xỉ. Bởi không có ý thức về lễ nên con người hành xử như những người vô phép tắc, quy chuẩn, nôm na là “loạn”. Mà hiện tại thì có thể nói là “đại loạn”, loạn ở khắp hang cùng ngõ hẻm, loạn cả trong chính bản thân con người. Bất cứ lên rừng, xuống biển, trên trời, dưới đất đều có những “tặc”- giặc: Lâm tặc phá rừng, hải tặc cướp thuyền bè tôm cá, không tặc với những màn “đấu võ”, “sàm sỡ”, “đe dọa khủng bố” trên máy bay, “vằng tặc” ở các mỏ vàng, mỏ đá quý… Ngay cả ở những nơi tưởng chừng văn minh nhất thì cũng lộ ra những điều thất “Lễ” nhất. Ở các đô thị lớn thì xem chuyện an toàn giao thông là chuyện nhỏ, cứ việc đua xe, lạng lách, vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm, hành hung cảnh sát, chèn ép người đi đường, nhồi nhét người vào xe khách, trộm cắp vặt trên xe bus… Những nam thanh nữ tú thì tham dự các lễ hội cứ y như người vô học, hành xử như những kẻ du thủ du thực: Bẻ hoa, cướp hoa, dẫm đạp lên cỏ, xả rác, nói tục, chửi bậy… Chốn công cộng mà hành xử như chốn riêng tư không kiêng dè ai hết. Trường học nào cũng có khẩu hiệu ở từng lớp “Tiên học Lễ, hậu học Văn”, nhưng xem chừng chỉ là khẩu hiệu suông, trang trí cho đẹp mắt. Chứ chữ “Lễ” trong trường đã bị tứ tán đâu hết. Thầy đánh trò, trò hành hung cô, học trò đâm chém nhau, thầy gạ tình lấy điểm, trò gian lận thi cử… Học đường trở thành môi trường bạo lực hỗn loạn. Khẩu hiệu “Lương y như từ mẫu” hay “lời thề Hypocrat” về y đức không có chữ “Lễ” nên mới có “loạn” phong bì, bao thư, mới có những bác sĩ vô lương tâm xem thường tính mạng của người bệnh, để bệnh nhân chết tức tưởi… Giới tưởng chừng nhiều văn hóa nhất, tưởng như có “Lễ” nhất, thì cũng là nơi “thị phi” nhiều nhất. Chuyện các vị giáo sư, tiến sĩ, văn nghệ sĩ “đạo” tác phẩm của nhau, copy ý tưởng, không chỉ gian lận, nhập nhằng trong chuyện học hàm học vị mà còn kiếm tìm danh lợi bằng sự lừa dối công chúng, như chuyện thưòng ngày, không còn là tin gây “sốc”. Không được học chữ “Lễ” một cách nghiêm túc, đến nơi đến chốn, nên ở rất nhiều sự kiện văn hóa tầm quốc gia, những đại diện tinh tú cho “vẻ đẹp, tài năng” của Việt Nam, những “chân dài”, “siêu mẫu”, hoa hậu, ca sĩ… thi nhau “khoe”, “lộ”, “hở”, “tụt”… thậm chí còn “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân” không chỉ ở hậu trường sân khấu mà còn cả “võ mồm” lăng mạ nhau trên truyền thông… Bởi thiếu “Lễ” nên mặc dù giữ trọng trách thể diện quốc gia, người ta vẫn có thể trở thành dối trên gạt dưới, là kẻ cắp công quĩ, rút ruột công trình quốc gia để đánh bạc hay làm giàu bất chính.. Công chức thiếu “Lễ” nên lấy “hành”người dân là chính chứ không phải “công bộc” của dân.. Cán bộ quản lý nhà nước không giữ “Lễ” nên xem việc giả mạo văn bằng chứng chỉ học vị để tại vị hay thăng chức như chuyện bình thường, đương nhiên phải thế, không biết ngượng, xấu hổ. Và nhìn tới đâu, bất cứ chỗ nào, ngành nào, giai tầng địa vị xã hội nào cũng thấy thiếu “Lễ” trầm trọng. Thiếu “Lễ”, quan hệ cộng đồng bất an, gia đình bất hòa, xã hội bất ổn, dễ phạm tội, dễ bán mình… Và cũng chỉ là một khoảng cách nhỏ để quay lưng lại với dân tộc, với đất nước. Lớp M12CQDT01-N Page 64
  • 65.
    Vì sao “Lễ”lại thiếu trầm trọng ở mọi lúc mọi nơi? Có người đổ tại nền kinh tế thị trưòng đã làm con người giàu lên nhanh, tiếp cận vật chất xa hoa xa xỉ nên đã không giữ mình, nhiều trật tự xã hội, đạo đức luân lý bị đảo lộn. Có người nói tại mấy lý thuyết như: Công nghệ cao, Toàn cầu hóa, Thế giới phẳng… đã du nhập vào Việt Nam, nhưng bản thân người Việt chưa đủ tâm thế và tầm để tiếp cận, tiếp nhận, nên lẫn lộn các giá trị thực- ảo, dẫn đến việc thiếu “Lễ” trong hành xử, hành vi. Ngưòi xưa đã từng kết luận: “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”, hay “Nhà dột từ nóc”… Và nhìn thẳng, nhìn thật vào vấn đề, có thể nhìn thấy thiếu “Lễ” xuất phát từ đâu. Tại ĐHĐ toàn quốc lần thứ IX, đánh giá một trong những nguy cơ thách thức của đất nước ta hiện nay là: “Tình trạng tham nhũng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”. Báo cáo chính trị tại ĐHĐ toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng”. Báo cáo chính trị ĐHĐ lần thứ XI lại nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”. Cũng trong văn kiện ĐHĐ lần thứ XI nêu đích danh: “Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Quản lý văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản còn thiếu chặt chẽ. Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại”. Và về giáo dục, cái nơi “Tiên học Lễ” thì: “Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập. Xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội.”- Trích văn kiện ĐHĐ lần thứ XI. Và trong nhiều nguyên nhân để dẫn đến sự thiếu “Lễ” ở mọi lúc, mọi nơi, mọi thành phần, giai tầng, chính là thiếu sự nghiêm minh của luật pháp. Luật thiếu và yếu, không cập nhật kịp với sự phát triển của xã hội, cũng như luôn chạy theo những gì đã diễn ra để làm luật mà không phải tiên đoán trưóc để xây dựng bộ luật hoàn chỉnh. Sự chế tài của luật pháp lại không đủ sức răn đe, công lý lại luôn bị xâm phạm bất bình đẳng, minh bạch. Cho dù khẩu hiệu giăng khắp nơi như một slogan cảnh báo mọi công dân Việt Nam: ”Sống, làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật”, nhưng chuyện vi phạm pháp luật hàng ngày xảy ra đến trở thành một thành tố không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày. Học “Lễ” như thế nào? Vâng, lại người xưa: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Có thể lạc hậu vì đó là cách học “Lễ” của người xưa, theo Nho giáo, cho dù ở thời nay ở mặt nào đó nó vẫn có ý nghĩa tích cực dùng để “răn” những người có trọng trách với quốc gia, với nhân dân, cộng đồng xã hội. Nhưng ngay chính thời điểm hiện tại, khẩu hiệu được tất cả mọi ngưòi đang hướng tới: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chính là một cách học “Lễ” thiết thực nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản về những bài học đạo đức, cái gốc của chữ “Lễ”. Trong Di chúc của Người khi nói đến Đảng viên:”Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, Lớp M12CQDT01-N Page 65
  • 66.
    vô tư. Phảigiữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Với học sinh, không ai đi học mà không nhớ “Năm điều Bác Hồ dạy”. Với công chức nhà nước, 8 chữ Bác để lại là bài học suốt đời “tu thân” để phục vụ nhân dân, phục vụ quốc gia, đất nước: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công, Vô tư”. Hay với ngành Công an Nhân dân, Bác có 6 điều dạy: Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính. Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ. Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành. Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép. Đối với công việc, phải tận tụy. Đối với địch, phải cương quyết khôn khéo”. Và trong quân đội, không quân nhân nào lại không nhớ nằm lòng “10 lời thề danh dự” và học theo những chữ Bác trao tặng Quân đội Nhân dân Việt Nam: “Trung với Đảng. Hiếu với dân. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua. Kẻ thù nào cũng đánh thắng”. “Tiên học Lễ”, nếu chữ “Lễ” được hiểu thấu đáo, được mọi người tôn trọng và tuân thủ đúng “phép” thì có lẽ không còn những gì hiện đang diễn ra hàng ngày làm “đại loạn” xã hội, phá hoại sự bình yên cuộc sống, luân thường đạo lý đảo lộn…. Nhưng đó cũng chỉ là một ước mơ có phần lạc quan trong ảo tưởng. Bởi hiện tại, vấn đề này dù có được nêu ra, phản ảnh, nhưng cũng chỉ là lý thuyết. Chưa có một chiến lược gia nào, hay một nhà nghiên cứu xã hội học, đạo đức học…nào đưa vấn đề trở thành cấp bách để điều chỉnh, để thực thi một cách cụ thể, nhằm đưa “Lễ” vào đúng vị trí của nó. Và trên hết, khi chính bản thân con người không “tu thân” thì chẳng thể học chữ “Lễ” để mà có “Lễ”./. 11. Anh chi hãy trình bày nôi dung c ban về “lễ” trong “ngũ ̣̣ởthươǹg” cuả Nho gia và quan điêm̉ cuả anh chi ̣về vai trò cuả “lễ” đối vơí đơì sống xã hôị Nội dung cơ bản về “lễ” trong ngũ thường của Nho gia: Lễ là một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực đạo đức dùng để chỉ tôn ti trật tự kỷ cương của xã hội mà mọi người, mọi giai cấp trong xã hội phải học, phải làm theo. Lễ cũng là chuẩn mực đạo đức. Nếu nhân là nội dung thì Lễ là hình thức của Nhân. Để đạt được nhân, để lập lại trật tự, khôi phục lại kỷ cương cho xã hội Khổng Tử chủ trương phải dùng lễ, đặc biệt là lễ của nhà Chu. Vì lễ có thể: xác định được vị trí, vai trò của từng người; phân định trật tự, kỷ cương trong gia đình và ngoài xã hội; loại trừ những tật xấu và tạo ra những phẩm chất cá nhân mà xã hội đòi hỏi. Do nhận thấy tác dụng to lớn của lễ mà Khổng Tử đã dốc sức san định lại lễ. Ở Khổng Tử, trước hết, lễ được hiểu là lễ giáo phong kiến như những phong tục tập quán; những qui tắc, qui định về trật tự xã hội; thể chế, pháp luật nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn, tế lễ, luật lệ, hình pháp…; sau đó, lễ được hiểu là luân lý đạo đức như ý thức, thái độ, hành vi ứng xử, nếp sống của mỗi con người trong cộng đồng xã hội trước lễ nghi, trật tự, kỷ cương phong kiến. Nhân và lễ có quan hệ rất mật thiết. Nhân là nội dung bên trong của lễ, còn lễ là hình thức biểu hiện nhân ra bên ngoài. Nhân giống như cái nền tơ lụa trắng tốt mà trên đó người ta vẽ lên những bức tranh tuyệt đẹp. Khổng Tử cho rằng, trên đời không hề tồn tại người có nhân mà vô lễ. Vì vậy, ông khuyên chớ xem điều trái lễ, chớ nghe điều trái lễ, chớ nói điều trái lễ và chớ làm điều trái lễ. Quan điểm về vai trò của “lễ” đối với đời sống xã hội: Trong đời sống xã hội thì “lễ” là những khuôn phép ứng xử của con người, tưng ứng với từng vị trí và vai trò của họ trong những mối quan hệ nhất định (vua ra vua, bề tôi ra bề bề tôi; cha ra cha, Lớp M12CQDT01-N Page 66
  • 67.
    con ra con;chồng ra chồng, vợ ra vợ; anh em cho ra anh em; bầu bạn cho ra bầu bạn; thầy ra thầy, trò ra trò…). Mặt khác, “lễ” đòi hỏi sự tôn kính, cẩn trọng, hài hoà, đúng mực trong các mối quan hệ, trong đời sống xã hội. Biết giữ lễ tức là không thái quá, không cực đoan; cũng không khúm núm, không run sợ… Bởi: “Cung kính quá lễ thành ra lao nhọc thân hình; cẩn thận quá lễ thành ra nhát gan; dũng cảm quá lễ thành ra loạn nghịch; ngay thẳng quá lễ thành ra gắt gỏng”. Trong đời sống xã hội thì “lễ” đòi hỏi sự tương tác đa chiều, ít nhất là hai chiều cơ bản trong các mối quan hệ cụ thể, chẳng hạn như yêu cầu: làm vua phải sáng, làm tôi phải trung; làm cha mẹ phải thương con, làm con phải hiếu kính cha mẹ; làm chồng phải yêu quý vợ, làm vợ phải phục tùng chồng; làm thầy phải nêu gương, làm trò phải kính phục; làm quan thì phải thương dân như con; và nói chung, làm người phải thuận theo mệnh trời, kính sợ quỷ thần… Lễ, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả phép cư xử giữa con người với con người và giữa con người với quỷ thần, trời đất. Như thế, lễ là văn hoá ứng xử của con người, cả trong môi trường xã hội lẫn môi trường tự nhiên (khi một bộ phận của tự nhiên đã được thần thánh hoá, trở thành các thế lực siêu tự nhiên, trước hết là Trời và Đất). Lễ là đức của con người, nhất là người cai trị. Lễ còn là đạo đức của bậc quân tử cũng như kẻ thứ dân. Phạm trù Lễ với nội dung là những nghi thức, quy định trong tế lễ. Khổng Tử cho rằng tế lễ là để tỏ lòng thành kính, khi tế lễ phải tuân thủ theo những quy định đã định sẵn. Song không vì thế mà việc “Tế lễ” chỉ nhằm làm đúng một điều đó là nghi thức đúng đắn, lễ vật đầy đủ. Lễ có nội dung là tế lễ cũng có quan hệ mật thiết với đạo đức, tế là phải xuất phát từ sự thành thực, cung kính với trời đất, qủy thần, tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Trong đời sống xã hội ngày nay, các nghi thức được sử dụng trong việc cúng giỗ tổ tiên, ma chay, để tang, cưới hỏi… chính là mục đích để phát huy tình cảm của con người. Lễ với nội dung là “Tế lễ” còn quy định thời gian tang chế, trang phục khi tế lễ, hội hè. Chẳng hạn, lễ quy định con người phải để tang cha mẹ là ba năm. Tại sao lại có quy định thời gian để tang đó, đó là thể hiện tình cảm nhiều hay ít cho xứng với nghi lễ và để phân biệt quan hệ đó là thân hay sơ. Khổng Tử quan niệm khi chúng ta sinh ra ba năm cha mẹ phải trông nom bế ẩm nên để tang ba năm mới hợp Lễ. “Trẻ con sau ba năm mới được rời vòng tay bế ẩm của cha mẹ cho nên khi cha mẹ mất đi, con cái phải báo đáp ân huệ vất vả nhất của cha mẹ trong ba năm, để tang cha mẹ ba năm đó là lễ tang thông thường của mọi người trong thiên hạ” và quy định trong ba năm đó, người quân tử không được tập lễ, không được tấu nhạc… Trong đời sống xã hội, “lễ” là những chuẩn mực những quy định, nguyên tắc, những yêu cầu trong các hoạt động của con người và trong các quan hệ xã hội: vua phải yêu thương bề tôi, bề tôi phải tận trung với vua, cha mẹ phải yêu thương con cái, con cái phải hiếu kính cha mẹ. Lễ phân ra trật tự khác nhau để cho vạn vật có thứ tự phân minh. Thánh nhân mới định ra lễ để phân định tôn ti trật tự khiến dân giữ lòng hiếu ố cho vừa phải và sửa lại cái đạo làm người cho chính vậy. “Ở trong xã hội có vua tôi, cha con, chồng vợ, có người thân kẻ sơ, có việc trái việc phải, có lễ để phân biệt cho rõ mọi lẽ, khiến người ta biết đường ăn ở cho phải đạo”. Như vậy, lễ có lợi hơn là có thể ngăn cấm được những việc chưa xẩy ra mà dùng pháp luật thì chỉ để trị cái việc đã rồi. Nho giáo dùng để giáo hóa đạo làm người, lễ đối với pháp luật là không mâu thuẫn mà mỗi phương pháp có một cách giải quyết các chuẩn mực của những mối quan hệ khác nhau trong xã hội, mỗi thứ đều có giá trị của nó. Nói tóm lại, trong đời sống xã hội, chữ “lễ” của Nho giáo có vai trò rất quan trọng, nó nằm trong chỉnh thể thống nhất hữu cơ “ngũ thường” (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). “Lễ” vừa là một phạm trù đạo đức vừa là một phạm trù pháp luật, kẻ vi phạm lễ không những bị dư luận xã hội lên án mà còn có Lớp M12CQDT01-N Page 67
  • 68.
    thể bị quanxử phạt. Hay nói cách khác, hành xử theo lễ tức là phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật phong kiến Á Đông (Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên). Qua đó cho chúng ta thấy vai trò quan trọng của “lễ” trong ngũ thường đối với đời sống xã hội của loài người và là một phạm trù không thể thiếu trong đời sống xã hội ngày xưa cũng như ngày nay. *Quan nieäm veà leã: Ñeå ñaït ñöôïc nhaân, ñeå laäp laïi traät töï, khoâi phuïc laïi kyû cöông cho xaõ hoäi Khoång Töû chuû tröông phaûi duøng leã, ñaëc bieät laø leã cuûa nhaø Chu. Vì leã coù theå: xaùc ñònh ñöôïc vò trí, vai troø cuûa töøng ngöôøi; phaân ñònh traät töï, kyû cöông trong gia ñình vaø ngoaøi xaõ hoäi; loaïi tröø nhöõng taät xaáu vaø taïo ra nhöõng phaåm chaát caù nhaân maø xaõ hoäi ñoøi hoûi. Do nhaän thaáy taùc duïng to lôùn cuûa leã maø Khoång Töû ñaõ doác söùc san ñònh laïi leã. ÔÛ Khoång Töû, tröôùc heát, leã ñöôïc hieåu laø leã giaùo phong kieán nhö nhöõng phong tuïc taäp quaùn; nhöõng qui taéc, qui ñònh veà traät töï xaõ hoäi; theå cheá, phaùp luaät nhaø nöôùc nhö: sinh, töû, tang, hoân, teá leã, luaät leä, hình phaùp…; sau ñoù, leã ñöôïc hieåu laø luaân lyù ñaïo ñöùc nhö yù thöùc, thaùi ñoä, haønh vi öùng xöû, neáp soáng cuûa moãi con ngöôøi trong coäng ñoàng xaõ hoäi tröôùc leã nghi, traät töï, kyû cöông phong kieán. Nhaân vaø leã coù quan heä raát maät thieát. Nhaân laø noäi dung beân trong cuûa leã, coøn leã laø hình thöùc bieåu hieän nhaân ra beân ngoaøi. Nhaân gioáng nhö caùi neàn tô luïa traéng toát maø treân ñoù ngöôøi ta veõ leân nhöõng böùc tranh tuyeät ñeïp. Khoång Töû cho raèng, treân ñôøi khoâng heà toàn taïi ngöôøi coù nhaân maø voâ leã. Vì vaäy, oâng khuyeân chôù xem ñieàu traùi leã, chôù nghe ñieàu traùi leã, chôù noùi ñieàu traùi leã vaø chôù laøm ñieàu traùi leã. *Ảnh hưởng của “lễ” đối với đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn hiện tại. Vài năm trở lại đây, mở mắt ra là đã có những thông tin, chẳng phải đâu xa, ở ngay bên cạnh mình, toàn những thông tin xấu, tin đen: Quan chức này tham nhũng tiền tỉ, quan chức kia lừa trên dối dưới không minh bạch bằng cấp học vị, Giáo sư tiến sĩ này “đạo” văn, Nghê sĩ nọ “đạo” tác phẩm… Nào là học trò đánh thầy, nào là bạo lực trẻ em, nào là “người của công chúng” khoe “hàng”, nào là chuyện mang nhau ra truyền thông chửi bới mắng nhiếc nhau… Và những chuyện bi hài vô văn hóa nhan nhản trong các lễ hội… Tất cả chung quy một chữ “Lễ”. Càng văn minh, càng có văn hóa thì càng thiếu chữ “Lễ”. Chữ Lễ là một trong những chữ thuộc phạm trù đạo đức phong kiến Nho giáo trong “ngũ thường”: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Trong cuộc sống hằng ngày, ta thường nói đến lễ phép, lễ nghi, tức là biết xử sự, tôn trọng nhau như người biết phép tắc, có văn hóa, có đạo đức truyền thống. Nhưng chữ “Lễ” không chỉ là lễ phép, lễ nghi, mà sâu xa hơn chính là mọi người phải biết tuân thủ các phép tắc, biết chấp hành các kỷ cương- trật tự- bổn phận để sống sao cho hợp với lẽ trời đất, xã hội, cộng đồng, gia đình, bè bạn. Nó là quy phạm, tư tưởng, hành vi của con người đối với mọi mối quan hệ xã hội và thiên nhiên, nhằm bảo vệ quyền con người và trật tự cộng đồng xã hội, giữ gìn sự phát triển hài hòa của xã hội và thiên nhiên, giúp cho quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân và tập thể cũng tồn tại và phát triển, làm cơ sở hình thành một xã hội văn minh, hạnh phúc. Lớp M12CQDT01-N Page 68
  • 69.
    Chữ “Lễ” trongthời hiện tại thành xa xỉ Có lẽ chữ “Lễ” thời này không còn được coi trọng, thiếu vắng trong mọi sinh hoạt cộng đồng, trong xã hội, trong gia đình, và từng cá nhân, nên trở thành một thứ xa xỉ. Bởi không có ý thức về lễ nên con người hành xử như những người vô phép tắc, quy chuẩn, nôm na là “loạn”. Mà hiện tại thì có thể nói là “đại loạn”, loạn ở khắp hang cùng ngõ hẻm, loạn cả trong chính bản thân con người. Bất cứ lên rừng, xuống biển, trên trời, dưới đất đều có những “tặc”- giặc: Lâm tặc phá rừng, hải tặc cướp thuyền bè tôm cá, không tặc với những màn “đấu võ”, “sàm sỡ”, “đe dọa khủng bố” trên máy bay, “vằng tặc” ở các mỏ vàng, mỏ đá quý… Ngay cả ở những nơi tưởng chừng văn minh nhất thì cũng lộ ra những điều thất “Lễ” nhất. Ở các đô thị lớn thì xem chuyện an toàn giao thông là chuyện nhỏ, cứ việc đua xe, lạng lách, vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm, hành hung cảnh sát, chèn ép người đi đường, nhồi nhét người vào xe khách, trộm cắp vặt trên xe bus… Những nam thanh nữ tú thì tham dự các lễ hội cứ y như người vô học, hành xử như những kẻ du thủ du thực: Bẻ hoa, cướp hoa, dẫm đạp lên cỏ, xả rác, nói tục, chửi bậy… Chốn công cộng mà hành xử như chốn riêng tư không kiêng dè ai hết. Trường học nào cũng có khẩu hiệu ở từng lớp “Tiên học Lễ, hậu học Văn”, nhưng xem chừng chỉ là khẩu hiệu suông, trang trí cho đẹp mắt. Chứ chữ “Lễ” trong trường đã bị tứ tán đâu hết. Thầy đánh trò, trò hành hung cô, học trò đâm chém nhau, thầy gạ tình lấy điểm, trò gian lận thi cử… Học đường trở thành môi trường bạo lực hỗn loạn. Khẩu hiệu “Lương y như từ mẫu” hay “lời thề Hypocrat” về y đức không có chữ “Lễ” nên mới có “loạn” phong bì, bao thư, mới có những bác sĩ vô lương tâm xem thường tính mạng của người bệnh, để bệnh nhân chết tức tưởi… Giới tưởng chừng nhiều văn hóa nhất, tưởng như có “Lễ” nhất, thì cũng là nơi “thị phi” nhiều nhất. Chuyện các vị giáo sư, tiến sĩ, văn nghệ sĩ “đạo” tác phẩm của nhau, copy ý tưởng, không chỉ gian lận, nhập nhằng trong chuyện học hàm học vị mà còn kiếm tìm danh lợi bằng sự lừa dối công chúng, như chuyện thưòng ngày, không còn là tin gây “sốc”. Không được học chữ “Lễ” một cách nghiêm túc, đến nơi đến chốn, nên ở rất nhiều sự kiện văn hóa tầm quốc gia, những đại diện tinh tú cho “vẻ đẹp, tài năng” của Việt Nam, những “chân dài”, “siêu mẫu”, hoa hậu, ca sĩ… thi nhau “khoe”, “lộ”, “hở”, “tụt”… thậm chí còn “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân” không chỉ ở hậu trường sân khấu mà còn cả “võ mồm” lăng mạ nhau trên truyền thông… Bởi thiếu “Lễ” nên mặc dù giữ trọng trách thể diện quốc gia, người ta vẫn có thể trở thành dối trên gạt dưới, là kẻ cắp công quĩ, rút ruột công trình quốc gia để đánh bạc hay làm giàu bất chính.. Công chức thiếu “Lễ” nên lấy “hành”người dân là chính chứ không phải “công bộc” của dân.. Cán bộ quản lý nhà nước không giữ “Lễ” nên xem việc giả mạo văn bằng chứng chỉ học vị để tại vị hay thăng chức như chuyện bình thường, đương nhiên phải thế, không biết ngượng, xấu hổ. Và nhìn tới đâu, bất cứ chỗ nào, ngành nào, giai tầng địa vị xã hội nào cũng thấy thiếu “Lễ” trầm trọng. Thiếu “Lễ”, quan hệ cộng đồng bất an, gia đình bất hòa, xã hội bất ổn, dễ phạm tội, dễ bán mình… Và cũng chỉ là một khoảng cách nhỏ để quay lưng lại với dân tộc, với đất nước. Vì sao “Lễ” lại thiếu trầm trọng ở mọi lúc mọi nơi? Có người đổ tại nền kinh tế thị trưòng đã làm con người giàu lên nhanh, tiếp cận vật chất xa hoa xa xỉ nên đã không giữ mình, nhiều trật tự xã hội, đạo đức luân lý bị đảo lộn. Có người nói tại mấy lý thuyết như: Công nghệ cao, Toàn cầu hóa, Thế giới phẳng… đã du nhập vào Việt Nam, nhưng bản thân người Việt chưa đủ tâm thế và tầm để tiếp cận, tiếp nhận, nên lẫn lộn các giá trị thực- ảo, dẫn đến việc thiếu “Lễ” trong hành xử, hành vi. Lớp M12CQDT01-N Page 69
  • 70.
    Ngưòi xưa đãtừng kết luận: “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”, hay “Nhà dột từ nóc”… Và nhìn thẳng, nhìn thật vào vấn đề, có thể nhìn thấy thiếu “Lễ” xuất phát từ đâu. Tại ĐHĐ toàn quốc lần thứ IX, đánh giá một trong những nguy cơ thách thức của đất nước ta hiện nay là: “Tình trạng tham nhũng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”. Báo cáo chính trị tại ĐHĐ toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng”. Báo cáo chính trị ĐHĐ lần thứ XI lại nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”. Cũng trong văn kiện ĐHĐ lần thứ XI nêu đích danh: “Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Quản lý văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản còn thiếu chặt chẽ. Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại”. Và về giáo dục, cái nơi “Tiên học Lễ” thì: “Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập. Xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội.”- Trích văn kiện ĐHĐ lần thứ XI. Và trong nhiều nguyên nhân để dẫn đến sự thiếu “Lễ” ở mọi lúc, mọi nơi, mọi thành phần, giai tầng, chính là thiếu sự nghiêm minh của luật pháp. Luật thiếu và yếu, không cập nhật kịp với sự phát triển của xã hội, cũng như luôn chạy theo những gì đã diễn ra để làm luật mà không phải tiên đoán trưóc để xây dựng bộ luật hoàn chỉnh. Sự chế tài của luật pháp lại không đủ sức răn đe, công lý lại luôn bị xâm phạm bất bình đẳng, minh bạch. Cho dù khẩu hiệu giăng khắp nơi như một slogan cảnh báo mọi công dân Việt Nam: ”Sống, làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật”, nhưng chuyện vi phạm pháp luật hàng ngày xảy ra đến trở thành một thành tố không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày. Học “Lễ” như thế nào? Vâng, lại ngưòi xưa: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Có thể lạc hậu vì đó là cách học “Lễ” của người xưa, theo Nho giáo, cho dù ở thời nay ở mặt nào đó nó vẫn có ý nghĩa tích cực dùng để “răn” những người có trọng trách với quốc gia, với nhân dân, cộng đồng xã hội. Nhưng ngay chính thời điểm hiện tại, khẩu hiệu được tất cả mọi ngưòi đang hướng tới: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chính là một cách học “Lễ” thiết thực nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản về những bài học đạo đức, cái gốc của chữ “Lễ”. Trong Di chúc của Người khi nói đến Đảng viên:”Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Lớp M12CQDT01-N Page 70
  • 71.
    Với học sinh,không ai đi học mà không nhớ “Năm điều Bác Hồ dạy”. Với công chức nhà nước, 8 chữ Bác để lại là bài học suốt đời “tu thân” để phục vụ nhân dân, phục vụ quốc gia, đất nước: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công, Vô tư”. Hay với ngành Công an Nhân dân, Bác có 6 điều dạy: Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính. Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ. Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành. Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép. Đối với công việc, phải tận tụy. Đối với địch, phải cương quyết khôn khéo”. Và trong quân đội, không quân nhân nào lại không nhớ nằm lòng “10 lời thề danh dự” và học theo những chữ Bác trao tặng Quân đội Nhân dân Việt Nam: “Trung với Đảng. Hiếu với dân. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua. Kẻ thù nào cũng đánh thắng”. “Tiên học Lễ”, nếu chữ “Lễ” được hiểu thấu đáo, được mọi người tôn trọng và tuân thủ đúng “phép” thì có lẽ không còn những gì hiện đang diễn ra hàng ngày làm “đại loạn” xã hội, phá hoại sự bình yên cuộc sống, luân thường đạo lý đảo lộn…. Nhưng đó cũng chỉ là một ước mơ có phần lạc quan trong ảo tưởng. Bởi hiện tại, vấn đề này dù có được nêu ra, phản ảnh, nhưng cũng chỉ là lý thuyết. Chưa có một chiến lược gia nào, hay một nhà nghiên cứu xã hội học, đạo đức học…nào đưa vấn đề trở thành cấp bách để điều chỉnh, để thực thi một cách cụ thể, nhằm đưa “Lễ” vào đúng vị trí của nó. Và trên hết, khi chính bản thân con người không “tu thân” thì chẳng thể học chữ “Lễ” để mà có “Lễ”./. 12. Anh chi hãy trình bày đăc tr ng c ban cua triết hoc ̣̣ư ợ̉̉phương Tây cô ̉đaị và nêu lên môṭ số an̉h hương cuả nó đối vơí sư phát triên̉ cuả khoa hoc̣ Phương Tây hiêṇ nay Triết học Phương Tây thời cổ đại gắn liền với Triết học Hy Lạp cổ đại với những đặc điểm như sau - Một là, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị. Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự xã hội, củng cố vai trò thống trị của mình. - Hai là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật - duy tâm, vô thần - hữu thần và gắn liền với cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng; trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của Đêmôcrít và trào lưu duy tâm của Platông… - Ba là, trong nền triết học Hy Lạp cổ đại đã xuất hiện phép biện chứng chất phác. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là “những nhà biện chứng bẩm sinh”. Họ nghiên cứu và sử dụng phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý. Họ đã phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng, nhưng chưa trình bày chúng như một hệ thống lý luận chặt chẽ. - Bốn là, triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó. Do trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới. Vì vậy, các nhà triết Lớp M12CQDT01-N Page 71
  • 72.
    học đồng thờilà các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận triết học. - Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về con người, cố lí giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức - chính trị - xã hội của họ. Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quí nhất của tạo hóa. Ảnh hưởng của Triết học Phương Tây cổ đại đến sự phát triển của khoa học phương tây hiện nay: Triết học phương tây cổ đại với những nhà triết học nỗi tiếng như Aristot, Platon, Democrit, Talet... cùng với những đặc điểm nêu trên đã ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển khoa học (vật lý học, đạo đức học, triết học, toán học, sinh học...) ở phương tây ngày nay. - Xây dựng nền tảng cho sự phát triển về chủ nghĩa Mac Le Nin sau này đó là sự manh nha tư tưởng về công bằng trao đổi sản phẩm làm nền tảng cho công bằng xã hội và bình đẳng cá nhân, Arixtốt đòi hỏi phải quan tâm đến lao động và phân công lao động. - Các triết học gia cũng đồng thời là nhà khoa học, họ đã quan sát, tìm hiều về thế giới và rút ra những kết luận về triết học như Đemocrit nhận thức về thuyết nguyên tử rằng mọi vật chất đều được cấu tạo từ nguyên tử tạo tiền đề cho sự phát phát triển trong lĩnh vực khoa học Vật lý, Hóa học. Và ngày nay, người ta đã phát minh ra vũ khí nguyên tử hiện đại, vũ khí sinh học...được ứng dụng trong y tế, quân sự... - Xây dựng nền tảng cho sự phát triển về Toán học điển hình là TaLet. 13. Anh chi hãy trình bày đăc tr ng c ban cua triết hoc th̀i ̣̣ư ợ̉̉ơ phuc̣ hưng và an̉h hương cuả nó đối vơí sư phát triên̉ cuả xã hôị Tây Âu từ thế ky ̉XV đến thế ky ̉XIX - Thứ nhất, trên bình diện thế giới quan, triết học thời phục hưng - cận đại thể hiện rõ thế giới quan duy vật máy móc bên cạnh quan điểm tự nhiên thần luận của giai cấp tư sản - giai cấp đang vươn lên lãnh đạo xã hội. Sự xung đột giữa chủ nghĩa duy vật và khoa học với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo rất quyết liệt. Chủ nghĩa duy vật đã trở thành thế giới quan của giai cấp tư sản tiến bộ và cách mạng; còn khoa học đã trở thành sức mạnh của họ trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến và Nhà thờ nhằm xác lập một trật tự xã hội mới. Các quan điểm duy vật đã tìm được cơ sở khoa học cụ thể cho chính mình. Còn quan niệm khoa học, mà trước hết là cơ học, đã được mở rộng thành chủ nghĩa cơ giới (máy móc). Mặc dù các thành tựu khoa học tự nhiên, đặc biệt là cơ học, được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn cuộc sống và trong nhận thức; nhưng những niềm tin tôn giáo vẫn chưa bị đẩy lùi. Những giá trị của Thượng đế được thừa nhận trước đây, bây giờ được coi là những giá trị của Giới tự nhiên. Giới tự nhiên được gán ép cho những tính siêu nhiên - thần thánh. Do đó, màu sắc tự nhiên thần luận là một nét đặc sắc của chủ nghĩa duy vật máy móc lúc bấy giờ. - Thứ hai, trên bình diện nhận thức - phương pháp luận, triết học thời phục hưng - cận đại chủ yếu đi tìm phương pháp nhận thức mới để khắc phục triệt để phương pháp kinh viện giáo điều, nhằm xây dựng một triết học và một khoa học mới có liên hệ mật thiết với nhau, hướng đến xây dựng tri thức. Tuy nhiên, sự đối lập giữa cảm tính và lý tính rất gay gắt kéo theo sự đối lập giữa phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch, giữa tư duy tổng hợp và tư duy phân tích đã sản sinh ra sự đối lập của chủ nghĩa kinh nghiệm - duy giác và chủ nghĩa duy lý - tư biện. Sự đối lập này đã sản sinh ra hai phương pháp tư duy siêu hình trong nhận thức khoa học: phương pháp kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học tự nhiên thực nghiệm và phương pháp tư duy tư biện trong nghiên cứu khoa học tự nhiên lý thuyết. Do khoa học thực nghiệm chiếm ưu thế nên phương pháp siêu hình kinh nghiệm được đề cao. Và do cơ học vươn lên vai trò hàng đầu trong các ngành khoa học tự nhiên nên chủ nghĩa cơ giới (máy móc) xuất hiện và xâm nhập trở lại các ngành khoa học đó. Vì vậy, trào lưu triết học thống trị trong giai đoạn này là chủ nghĩa duy vật siêu hình - máy móc. Tuy nhiên, sau đó chủ Lớp M12CQDT01-N Page 72
  • 73.
    nghĩa duy vậtsiêu hình - máy móc lại bộc lộ những nhược điểm yếu kém của mình trong quá trình phát triển tư duy lý luận, vì vậy, phép biện chứng duy tâm đã ra đời thay thế. - Thứ ba, trên bình diện nhân sinh quan - ý thức hệ, nền triết học thời phục hưng - cận đại thể hiện rõ tinh thần khai sáng và chủ nghĩa nhân đạo tư sản. Nó là ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản để tập hợp, giác ngộ, hướng dẫn quần chúng thực hiện những hành động cách mạng nhằm cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới -chủ nghĩa tư bản. Khát vọng giải phóng con người ra khỏi sự thống trị của chế độ phong kiến - giáo hội Nhà thờ, ra khỏi sự ngu dốt, ra khỏi chi phối âm thầm của các lực lượng tự nhiên nhằm hướng đến một cuộc sống tự do, hạnh phúc, công bằng, bác ái, sung túc cho con người trên trần gian được đặt ra. Khát vọng này có sức cuốn hút mạnh mẽ quần chúng đi đến một hành động cách mạng cụ thể để giải phóng mình và giải phóng xã hội. Lịch sử triết học Tây Âu thời phục hưng - cận đại là một cuộc đấu tranh của các trào lưu, khuynh hướng, trường phái triết học khác nhau trong bối cảnh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và tự khẳng định mình, trong sự hiện thực hóa vai trò thống trị của giai cấp tư sản. Thế giới quan duy vật máy móc, nhân sinh quan nhân đạo tư sản, và phương pháp luận siêu hình thể hiện rất rõ trong quan điểm của các trường phái, trào lưu, khuynh hướng triết học xung đột nhau lúc bấy giờ. Cuối thời cận đại, khi tiếp tục đào sâu nhân sinh quan nhân đạo tư sản, khắc phục thế giới quan duy vật máy móc và phương pháp luận siêu hình của các trường phái triết học đầu thời cận đại đã xuất hiện Triết học cổ điển Đức - giai đoạn bản lề của triết học Phương Tây nối thời kỳ cận đại và với thời kỳ hiện đại. Ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của xã hội Tây Âu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX: - Vào thời phục hưng (thế kỷ XV - XVI), ở Tây Âu, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang hình thành gắn liền với phong trào Phục hưng văn hóa (khôi phục và phát triển những giá trị văn hóa thời cổ đại bị quên lãng) đã hình thành từ Ý và lan sang các nước Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Đức... Ở Ý, vào thời kỳ này, nhiều sáng chế kỹ thuật có giá trị như máy kéo sợi, máy dệt, các loại động cơ đơn giản hoạt động nhờ vào sức gió, sức nước... đã xuất hiện. Chúng làm cho các công trường thủ công nâng cao năng suất lao động và làm biến đổi đời sống xã hội lúc bấy giờ. Nhiều nước cộng hòa - thành thị nhanh chóng trở thành trung tâm công - thương nghiệp nổi tiếng của châu Âu. Nhiều nhà quý tộc mới, giàu có và thích phô trương đã cho xây dựng nhiều lâu đài tráng lệ và trang sức bằng các tác phẩm nghệ thuật có giá trị. Tình hình này có tác dụng khuyến khích giới văn nghệ sĩ Ý, trước hết là họa sĩ và nhà điêu khắc phát huy truyền thống văn minh La Mã cổ đại, đẩy mạnh sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của mình. Sau Ý, chủ nghĩa tư bản được hình thành ở Anh và các nước Tây Âu khác; nó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho phong trào văn hóa Phục hưng lan tỏa. Đặc biệt, việc tìm ra các đường biển dẫn đến các vùng đất mới, sự ra đời và phát triển của nhiều ngành khoa học tự nhiên, những cải tiến kỹ thuật trong giao thông hàng hải và sản xuất đã tạo điều kiện cho công - thương nghiệp tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển vững chắc. Điều này đã đưa đến sự hình thành các thị trường giữa các quốc gia hay giữa các châu lục. Cùng với sự ra đời và phát triển của nền công - thương nghiệp tư bản chủ nghĩa là sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt trong các cộng đồng dân cư. Giai cấp tư sản được hình thành từ đội ngũ các chủ công trường thủ công, các chủ thầu, những người cho vay nặng lãi... có vai trò ngày càng lớn trong đời sống kinh tế - xã hội. Giai cấp vô sản ra đời, quy tụ những người nông dân mất ruộng đất, những người nghèo khổ từ nông thôn di cư ra thành thị kiếm sống trong các công trường, xưởng thợ. Sự biến đổi điều kiện kinh tế - xã hội góp phần đẩy mạnh sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên. Toán học, cơ học, địa lý, thiên văn... đã đạt được những thành tựu đáng kể và đã bắt đầu tách ra khỏi triết học tự nhiên. Triết học đã thay đổi đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mình. Cùng với sự xuất hiện của triết học mới, khoa học tự nhiên thật sự ra đời. Chúng phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng trở thành công cụ tinh thần giúp giai cấp tư sản non trẻ đấu tranh chống lại những lực lượng chính trị - xã hội cũ ngăn cản bước đường phát triển tiến lên của xã hội. Lớp M12CQDT01-N Page 73
  • 74.
    - Sang thờicận đại (thế kỷ XVII - XVIII) phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự xuất hiện và phát triển nhiều mâu thuẫn trong khắp các lĩnh vực đời sống xã hội. Sự phân hóa và xung đột trong lĩnh vực kinh tế kéo theo sự phân hóa và xung đột trong lĩnh vực xã hội đã làm nảy sinh những xung đột và mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị và tinh thần. Những xung đột, mâu thuẫn này đã làm nổ ra các cuộc cách mạng tư sản trên khắp các nước Tây Aâu như ở Hà Lan (1560 - 1570), ở Anh (1642 - 1648)…, đặc biệt là ở Pháp (1789 - 1794) - một cuộc cách mạng tư sản khá toàn diện và rất triệt để đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ phong kiến, xác lập chế độ cộng hòa tư sản. Các cuộc cách mạng tư sản đã đưa giai cấp tư sản lên vũ đài quyền lực chính trị, tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho sự thống trị của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Để phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thống trị một cách vững chắc, nền chính trị tư sản không thể không cần đến sự phát triển của khoa học mới - khoa học giúp khám phá và làm chủ giới tự nhiên. Các ngành khoa học tự nhiên, có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng, từng bước ra đời và tồn tại tương đối độc lập nhau, trong đó, cơ học là ngành khoa học phát triển nhất, còn thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu tự nhiên phổ biến. Vì vậy, quan điểm cơ học và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đã thấm vào hầu hết các hoạt động thực tiễn và tư tưởng của con người lành mạnh lúc bấy giờ. - Cuối thế kỷ XVIII, dù chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập ở một số nước Châu Âu như Anh, Pháp, Ý… nhưng ở nước Đức vẫn duy trì chế độ phong kiến lạc hậu và phân quyền với nhà nước Phổ mạnh mẽ. Nước Phổ ngoan cố tăng cường quyền lực để duy trì chế độ quân chủ phong kiến thối nát và cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Giai cấp tư sản Đức, ít về số lượng lại bị phân tán, yếu về kinh tế, nhược về chính trị, nhưng có đời sống tư tưởng tinh thần rất phong phú… Họ muốn làm một cuộc cách mạng mà lực bất tòng tâm. Còn quần chúng nhân dân đang chịu sự bị áp bức nặng nề muốn thực hiện một hành động cách mạng, nhưng lại không có lực lượng lãnh đạo. Lúc bấy giờ, các nước Phương Tây đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ về khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên. Các thành tựu này đã tạo tiền đề cho sự xem xét thế giới một cách biện chứng. Mặt khác, những thành tựu về văn hóa và nghệ thuật cũng như tinh thần của cuộc cách mạng tư sản Pháp đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình cảm và sức sáng tạo của tầng lớp trí thức Đức. Qua các công trình của mình, tầng lớp trí thức Đức đã tôn vinh mình và tôn vinh cả dân tộc Đức. Những tác phẩm của họ toát lên tinh thần phẫn nộ chống lại sự trì trệ và bất công của xã hội Đức thời đó. Cũng như giai cấp tư sản Đức, tầng lớp trí thức Đức cũng không đủ sức làm cách mạng trong hiện thực, vì vậy, họ đã làm cách mạng trong tư tưởng. Chính những điều kiện như thế đã tạo cho triết học cổ điển Đức một nét đặc thù hiếm thấy. Đó là nền triết học của người Đức phản ánh cuộc cách mạng của người Pháp. Triết học cổ điển Đức đã đóng góp vào di sản văn hóa nhân loại nhiều lý luận có giá trị, mà trước hết là phép biện chứng duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc. - Trong điều kiện thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế - chính trị - xã hội và gắn liền với những thành tựu khoa học - kỹ thuật lúc bấy giờ là sự hình thành và phát triển một nền triết học mới - Triết học Tây Âu thời phục hưng - cận đại. Mặc dù, nền triết học này được chia thành hai giai đoạn: triết học Tây Âu thời phục hưng (thế kỷ XV-XVI) và triết học Tây Âu thời cận đại (thế kỷ XVII - đầu XIX), ứng với hai giai đoạn hình thành và khẳng định của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng chúng thống nhất với nhau. Triết học Tây Âu thời cận đại tiếp nối triết học Tây Âu thời phục hưng, phản ánh sự thay đổi lớn trong đời sống kinh tế - chính trị - tư tưởng của xã hội Tây Âu lúc bấy giờ. Triết học Tây Âu thời cận đại được chia ra thành hai thời kỳ: đầu thời cận đại, tức thế kỷ XVII - đầu XVIII và cuối thời cận đại, tức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Câu 13b: Trình bày nh̃ng tiền đề ra ư đơì cuả triết hoc̣ Mác-Lênin * Tiền đề kinh tế-xã hội Lớp M12CQDT01-N Page 74
  • 75.
    Triết học Mácra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, thời kỳ mà chủ nghĩa tư bản đã trở thành hệ thống kinh tế thống trị ở các nước Tây Âu và giai cấp vô sản đã bước lên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị độc lập. Mác nhận xét rằng, đến thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã trở thành một cơ thể hoàn chỉnh, làm bộc lộ đầy đủ các mâu thuẫn trong bản chất của nó. Trước hết là mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất có tính chất xã hội với quan hệ sản xuất có tính chất tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn xung đột giữa lao động với tư bản, giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cùng với các mâu thuẫn của nó, đã tạo ra một cơ sở hiện thực cho những phân tích và khái quát lý luận trong học thuyết của Mác và Ăngghen. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cùng với các mâu thuẫn của nó kéo theo sự phát triển của phong trào công nhân. Đến cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, phong trào công nhân ở các nước Tây Âu đã có bước phát triển mới về số lượng và chất lượng. Sự tập trung tư bản cùng với sự hình thành những trung tâm công nghiệp lớn thu hút công nhân thành lực lượng đông đảo, mâu thuẫn giữa lao động và tư bản trở nên gay gắt làm xuất hiện những cuộc đấu tranh chính trị ngày càng có tổ chức và tự giác. Các cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Xilêdi (Đức), ở Liông và Pari (Pháp), phong trào Hiến chương (Anh) vào những năm 30-40 chứng minh rằng: giai cấp công nhân trở thành lực lượng quyết định các quá trình kinh tế-xã hội-chính trị của thời đại và bước lên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị độc lập. Phong trào công nhân thời kỳ này làm bộc lộ sai lầm của quan niệm tư sản về sự hân hoan chung giữa lao động và tư sản, tạo nên những thay đổi căn bản trong quan niệm về lịch sử của Mác và Ăngghen; mặt khác, nó đề ra nhu cầu giải thích về những thực tế của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản về tổ chức, con đường và phương tiện cách mạng của giai cấp vô sản. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng những đòi hỏi này. Những phân tích và khái quát lý luận về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và phong trào công nhân vào nửa đầu thế kỷ XIX là một bộ phận quan trọng trong học thuyết của Mác và Ăngghen. Vì vậy, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và phong trào công nhân thời kỳ đó là những điều kiện kinh tế-xã hội cho sự ra đời của triết học. * Tiền đề lý luận - Sự ra đời của triết học Mác trước hết có kế thừa những thành quả của triết học cổ điển Đức. Mác và Ăngghen luôn thừa nhận rằng trong sự phát triển trí tuệ của mình, hai ông đã chịu ơn nhiều nhà triết học Đức, trong đó nổi bật là Hêghen và Phoiơbắc. Công lao to lớn của Hêghen là ở chỗ: Ông đã phê phán những hạn chế cơ bản của phương pháp siêu hình, đã xây dựng phép biện chứng thành hệ thống và xem nó là phương pháp luận đúng đắn của mọi nhận thức khoa học. Nhưng Mác và Ăngghen cũng chỉ ra rằng, triết học Hêghen có những hạn chế lớn, đó là sự giải thích duy tâm về hiện thực; là sự biện hộ cho những thực tế lịch sử lỗi thời, cho tôn giáo; là triết học tự biện, trừu tượng, xa rời hiện thực và thực tiễn. Cho nên khi sáng lập triết học của mình Mác và Ăngghen đã không kế thừa toàn bộ triết học Hê-ghen mà chỉ kế thừa hạt nhân hợp lý, đó là phép biện chứng, đồng thời cải tạo và xây dựng lại phép biện chứng trên lập trường duy vật. Đánh giá về Phoiơbắc, Mác và Ăngghen cho rằng chính nhờ đọc được các tác phẩm của ông mà họ đã cương quyết đoạn tuyệt với triết học Hêghen. Công lao của Phoiơbắc là ở sự phê phán quyết liệt chủ nghĩa duy tâm-tôn giáo (nhất là phê phán Hê-ghen), là sự khẳng định cương quyết tính đúng đắn của các nguyên lý duy vật, là việc giải thích trên lập trường duy vật bản chất con người, bản chất tôn giáo và đề cao chủ nghĩa nhân đạo. Nhưng Phoiơbắc cũng có những hạn chế lớn, đó là phương pháp tư duy siêu hình, (khi phê phán Hêghen, ông đã không thấy được phép biện chứng là hạt nhân hợp lý nên đã bác bỏ và chuyển sang quan điểm siêu hình); quan điểm trực quan, trừu tượng, phi lịch sử về bản chất con người, duy tâm trong lĩnh vực xã hội. Vì vậy khi sáng lập ra triết Lớp M12CQDT01-N Page 75
  • 76.
    học của mình,Mác và Ăngghen cũng không kế thừa toàn bộ triết học Phoiơbắc mà chỉ kế thừa hạt nhân cơ bản đúng đắn đó là nguyên lý duy vật, đồng thời cải tạo và xây dựng lại chủ nghĩa duy vật dựa trên quan điểm biện chứng. - Sự ra đời triết học Mác không chỉ do ảnh hưởng của triết học Hêghen và triết học Phoiơbắc. Mác và Ăngghen khi tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đã rút ra những tài liệu thực tiễn phong phú cho những kết luận duy vật-biện chứng của mình. Ngoài ra, việc hai ông đi sâu nghiên cứu kinh tế-chính trị học cổ điển và chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán, đã góp phần không nhỏ cho sự hình thành và hoàn thiện thế giới quan triết học của mình. * Tiền đề khoa học tự nhiên Sự ra đời triết học Mác còn được chuẩn bị bởi những thành quả của khoa học tự nhiên. Những thành quả của khoa học tự nhiên từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX làm bộc lộ những hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình, ngày càng chứng minh tính đúng đắn của các nguyên lý duy vật và biện chứng. Phát hiện bằng thực nghiệm của Maye (được Lômônôxốp công bố) về sự bảo toàn vật chất và vận động, lý luận của Cantơ về sự hình thành thái dương hệ đã góp phần khẳng định quan điểm biện chứng về lịch sử vũ trụ và giới tự nhiên: mặt khác đả phá quan niệm duy tâm, tôn giáo siêu hình về thế giới. Từ những năm 30 đến 50 của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã có những thành tựu to lớn. Thời kỳ này có ba phát minh vĩ đại đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống quan điểm siêu hình và chuẩn bị cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Vào những năm 40 của thế kỷ XIX phát minh ra quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Quy luật này chứng minh rằng: lực cơ học, nhiệt, ánh sáng, điện, từ các quá trình hóa học, nghĩa là các hình thức khác nhau của vận động vật chất không tách rời nhau, mà liên hệ và chuyển hóa lẫn nhau nên không hề mất đi. Nó chứng minh rằng không có sự sinh ra và mất đi của năng lượng, mà chỉ có sự chuyển hóa năng lượng từ dạng này sang dạng khác. Như vậy quy luật này là cơ sở khoa học tự nhiên cho quan điểm biện chứng về thế giới. Vào những năm 30 của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã phát minh ra học thuyết cấu tạo tế bào của cơ thể sống. Học thuyết này bác bỏ quan niệm siêu hình về sự khác biệt tuyệt đối giữa thực vật và động vật. Ngược lại, nó khẳng định sự thống nhất về nguồn gốc và hình thái giữa thực vật và động vật, giải thích quá trình phát triển của chúng, đặt cơ sở cho quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển của toàn hệ sinh học. Phát minh lớn thứ ba là học thuyết tiến hóa của sinh giới ra đời vào những năm 50 của thế kỷ XIX. Học thuyết tiến hóa chứng minh rằng sinh giới không phải là bất biến mà thường xuyên biến đổi, nằm trong quá trình tiến hóa không ngừng của giới tự nhiên. Nó khẳng định sự tiến hóa của sinh giới diễn ra theo con đường chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo. Lênin đánh giá rằng thuyết tiến hóa đánh dấu sự cáo chung của quan niệm siêu hình về tính bất biến của các loài và quan niệm về nguồn gốc thần thánh của sinh giới đem lại cơ sở thật sự khoa học cho sinh học. Mác và Ăngghen xác nhận rằng thuyết tiến hóa đem lại cái cơ sở lịch sử tự nhiên cho học thuyết của hai ông, đã đập tan thần học trong học thuyết về sự phát triển của thực vật và động vật; rằng trước đó chưa hề có một sự chứng minh nào thành công to lớn như thế về sự phát triển lịch sử trong giới tự nhiên. Như vậy, những thành tựu của khoa học tự nhiên nửa đầu thế kỷ XIX cũng là tiền đề cho các quan điểm duy vật và biện chứng về thế giới của Mác và Ăngghen. Lớp M12CQDT01-N Page 76
  • 77.
    14. Anh chihãy trình bày anh h ng cua triết hoc Hêghen đối ̣̉ượ̉vơí sư ra đơì cuả triết hoc̣ Mác HÊGHEN (1770 - 1831), là nhà biện chứng, đồng thời là nhà triết học duy tâm khách quan. Triết học của ông đầy mâu thuẫn. Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển, thì hệ thống triết học duy tâm của ông phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong vốn có của sự phát triển của tự nhên và xã hội. Ông cho rằng, khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới”. Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối. Ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn. “Ý niệm tuyệt đối” theo nhận xét của Lênin chỉ là một cách nói theo đường vòng, một cách khác nói về Thượng đế mà thối. Cho nên triết học của Hêghen là sự biện hộ cho tôn giáo. Hêghen dã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động và biến đổi không ngừng. Đồng thời trong khuôn khổ của hệ thống triết học duy tâm của mình, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù như chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn,… mà còn nói đến các quy luật “lượng đổi dẫn đến chất đổỉ và ngược lại”, “phủ dịnh của phủ định” và “quy luật mâu thuẫn”. Nhưng tất cả cái đó chỉ là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối. Trong hệ thống triết học của Hêgen, không phải ý thức, tư tưởng phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của tự nhiên và xã hội, mà ngược lại, tự nhiên phụ thuộc vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối.Ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới là tính thứ nhất, giới tự nhiên là tính thứ hai do tinh thần thế giới và ý niệm tuyệt đối quyết định. Nó là một sự “tồn tại khác” của tinh thần, sau khi trải qua giai đoạn “tồn tại khác” ấy, ý niệm tuyệt đối hay tinh thần thế giới mới trở lại “bản thân mình” và đó là giai đoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng, được Hêghn gọi là tinh thần tuyệt đối. Trong các quan điểm xã hội, Hêghen đứng trên lập trường của chủ nghĩa Sovanh, đề cao dân tộc Đức, miệt thị các dân tộc khác, coi nước Đức là hiện thân của tinh thần vũ trụ mới. Chế độ nhà nước Phổ đương thời được ông xem là đỉnh cao của sự phát triển nhà nước và pháp luật. Tóm lại, Hêghen là nhà triết học biện chứng duy tâm khách quan. Là nhà triết học duy tâm khách quan, Hêghen cho rằng “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước vật chất, tồn tại vĩnh viễn không phụ thuộc vào con người, tạo ra hiện thực khách quan. Giới tự nhiên chỉ là sự tồn tại khác của “ý niệm tuyệt đối” Tính đa dạng của thực tiễn được ông xem như là kết quả tác động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối. Là nhà biện chứng, ông đã có công nêu ra những phạm trù, quy luật cơ bản của phép biện chứng, nhưng phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm. Mặc dù vậy, ông vẫn là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên và lịch sử dưới dạng một quá trình không ngừng vận động và biến đổi, phát triển và cố gắng vạch ra mối liên hệ bên trong của sự vận động và phát triển ấy. C.Mác và Ăng ghen đã phê phán một cách triệt để tính chất phản khoa học và thần bí của “ý niệm tuyệt đối” trong triết học Hêghen; đồng thời hai ông đánh giá cao và tiếp thu “hạt nhân hợp lý” Lớp M12CQDT01-N Page 77
  • 78.
    trong phép biệnchứng của Hêghen để xây dựng và phát triển học thuyết về phép biện chứng duy vật của mình. Tư tưởng của Marx thể hiện những ảnh hưởng mạnh từ phương pháp biện chứng và khuynh hướng lịch sử của Hegel. Quan điểm của Marx về lịch sử, được gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử, rõ ràng cho thấy ảnh hưởng của lời khẳng định từ Hegel rằng một người phải quan sát thực tế (và lịch sử) theo cách biện chứng. Hegel tin rằng lịch sử loài người có đặc trưng bởi sự di chuyển từ sự tan rã tới tổng thể và thực tế (cũng là sự di chuyển theo hướng ngày càng hợp lý hơn). Sự phát triển tiến hoá này của ý niệm Tuyệt đối liên quan tới sự tích tụ dần dần mang tính cách mạng lên tới đỉnh điểm là sự nhảy vọt cách mạng—những sự bất ổn theo tính chu kỳ chống lại tình trạng nguyên trạng đang hiện hữu. Ví dụ, Hegel phản đối mạnh mẽ chế độ nô lệ ở Hoa Kỳ trong thời gian cuộc đời mình, và ông đã dự báo một thời điểm khi các quốc gia Thiên chúa giáo sẽ loại bỏ nó khỏi nền văn minh của mình. Sự chỉ trích của Marx với chủ nghĩa duy tâm triết học Đức, kinh tế chính trị Anh, và chủ nghĩa xã hội Pháp dựa chủ yếu vào sự ảnh hưởng của Feuerbach và Engels. Hegel đã suy nghĩ trong các khái niệm duy tâm, và Marx tìm cách viết lại các biện chứng theo các khái niệm duy vật. Ông viết rằng chủ nghĩa Hegel đặt sự vận động của thực tế trên đầu, và rằng mọi người cần phải đặt nó dưới chân. Sự chất nhận của Marx với khái niệm biện chứng duy vật này phản đối lại chủ nghĩa duy tâm của Hegel bị ảnh hưởng nhiều từ Ludwig Feuerbach. Trong Bản chất của Thiên chúa giáo, Feuerbach cho rằng Chúa thực tế là một sản phẩm của con người và rằng các tính chất mà loài người gán cho Chúa thực tế là các tính chất của loài người. Vì thế, Marx cho rằng chính thế giới vật chất là thực và rằng các tư tưởng của chúng ta là hậu quả của nó, chứ không phải là nguyên nhân của thế giới. Vì thế, như Hegel và các nhà triết học khác, Marx phân biệt giữa vẻ ngoài và thực tế. Nhưng ông không tin rằng thế giới vật chất ẩn giấu khỏi chúng ta thế giới "thực" của lý tưởng; trái lại, ông nghĩ rằng về mặt lịch sử và xã hội ý tưởng riêng biệt khiến con người không thấy được các điều kiện vật chất của cuộc đời họ một cách rõ ràng. Cống hiến quan trọng khác của Marx cho việc sửa đổi lại chủ nghĩa Hegel có trong cuốn sách của Engel, “Điều kiện của Tầng lớp Lao động” tại Anh năm 1844, khiến Marx hình thành biện chứng lịch sử theo những khái niệm xung đột giai cấp và xem giai cấp lao động hiện đại là lực lượng tiến bộ nhất của cách mạng. ========= Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, thời kỳ mà chủ nghĩa tư bản đã trở thành hệ thống kinh tế thống trị ở các nước Tây Âu và giai cấp vô sản đã bước lên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị độc lập. Triết học Mác là một hệ thống triết học khoa học và cách mạng và triết học Mác đã kế thừa những tinh hoa, từ đó đưa ra những nguyên lý khoa học giúp con người nhân thức đúng và cải tạo thế giới,đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triết học triệt để, không điều hoà với chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình. Triết học Mác trước hết có kế thừa những thành quả của triết học cổ điển Đức, trong đó nổi bật là Hêghen và Phoiơbắc. Công lao to lớn của Hêghen là ở chỗ: Ông đã phê phán những hạn chế cơ bản của phương pháp siêu hình, đã xây dựng phép biện chứng thành hệ thống và xem nó là phương pháp luận đúng đắn của mọi nhận thức khoa học. Nên Mác và Ăngghen đã kế thừa một phần triết học Hê-ghen đó là những kế thừa hạt nhân hợp lý, đó là phép biện chứng, đồng thời cải tạo và xây dựng lại phép biện chứng trên lập trường duy vật. Để xây triết học duy vật biện chứng, Mác đã phải cải cả chủ nghĩa duy vật cũ và cả phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Đó là một cuộc cách mạng thật sự trong học Lớp M12CQDT01-N Page 78
  • 79.
    thuyết về xãhội, một trong những yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà Mác và Ăngghen đã thực hiện trong triết học Triết học Hêghen là biểu hiện của sự phát triển đầy đủ nhất và rực rỡ nhất của chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức. Hêghen là nhà tư tưởng của giai cấp tư sản Đức, quan điểm triết học của ông là hệ thống duy tâm cổ điển cuối cùng, là trình độ cao nhất của sự phát triển phép biện chứng duy tâm. Hêghen là nhà duy tâm khách quan. Ông coi tinh thần thế giới là cái có trước, vật chất với tính cách dường như là sự thể hiện, sự biểu hiện cụ thể của tinh thần thế giới, là cái có sau; tinh thần là đấng sáng tạo ra vật chất. Học thuyết của Hêghen coi tính thứ nhất là tinh thần, tính thứ hai là vậtt chất. Đó cũng chính là sự thể hiện riêng về mặt triết học những lời khẳng định của tôn giáo rằng Thượng đế sáng tạo ra thế giới. Hêghen chỉ lặp lại những điều mà các nhà duy tâm trước đó đã nói. Song, cái mới trong học thuyết của ông, chính là chỗ ông xem xét tinh thần thế giới, ý niệm tuyệt đối là một quá trình tự phát triển không ngừng, và ông là một nhà triết học hoàn chỉnh phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng của ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới với tính cách là cơ sở đầu tiên và nguồn gốc của mọi tồn tại. Mac đã học học ở Heghen Hai ông tiếp nhận phép biện chứng của Hêghen, song có thái độ đối lập với hệ thống siêu hình của triết học Hêghen. khi sử dụng phép biện chứng duy tâm và học thuyết về nhà nước và pháp quyền của Hêghen, Mác đã rơi vào tình trạng khó xử, không giải đáp được các vấn đề của thực tiễn chính trị xã hội đặt ra. Lúc này, chính Mác đã cảm thấy rằng những lợi ích vật chất của con người trong đời sống xã hội đã đóng một vai trò quan trọng đặc biệt. Mác đã đi tới kết luận rằng, phải nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề kinh tế chính trị và phải xem xét lại một cách có phê phán những quan điểm triết học và pháp quyền của Hêghen. Ông đã biết một bài luận văn lớn dành cho việc phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Tháng 10-1843, ông sang Pari, cố gắng nghiên cứu các vấn đề kinh tế – chính trị học và lịch sử các phong trào cách mạng. Tại đây, ông đã tham gia các cuộc hội họp của công nhân, đặt mối quan hệ với các nhà lãnh đạo của các tổ chức công nhân bí mật Pháp và Đức. Những năm 1843-1844 là thời kỳ ông chuyển hoàn toàn sang lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa cộng sản. Các bài của Mác đã thể hiện rõ sự chuyển biến đó. Trong thời kỳ này Mác, Ăngghen nghiên cứu tình cảnh giai cấp công nhân, sống gần gũi với họ, giải thích vai trò lịch sử thế giới của giai cấp công nhân với tính cách là giai cấp cách mạng triệt để, tiêu biểu cho lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới trong tương lai, vượt chủ nghĩa tư bản. Trong thời kỳ này, qua nghiên cứu và thực tiễn, các ông đã khắc phục được phép biện chứng duy tâm, và sự hạn chế của chủ nghĩa duy vật siêu hình, hình thành những cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Sự phát triển của khoa học và thực tiễn chính trị – xã hội. Đó là một qúa trình thống nhất hai mặt, cải biến theo chủ nghĩa duy vật cái nội dung hợp lý của phép biện chứng duy tâm của Hêghen và giải thích theo phép biện chứng cách giải quyết duy vật vấn đề cơ bản của triết học, khắc phục phép siêu hình. Đó là một quá trình đồng thời khắc phục phép biện chứng duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình, đặt nền móng cho chủ nghĩa duy vật biện chứng. Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng ý niệm. Hêghen chỉ mới phỏng đoán phép biện chứng của sự vật trong phép biện chứng của ý niệm. Đối lập với Hêghen, Mác và Ănghen cho rằng phép biện chứng của khái niệm chỉ là sự phản ánh phép biện chứng của thế giới khách quan trong ý thức của con người. Mác từng viết: tác phẩm đầu tiên mà ông dành để giải quyết những nghi ngờ đã có trong ông là sự phân tích có phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Mác còn viết: nghiên cứu của ông đã dẫn ông đến kết luận rằng, những quan hệ pháp quyền, cũng như các hình thức nhà nước, không thể hiểu từ bản thân chúng, từ cái gọi là sự phát triển chung của tình thần con người, mà ngược lại, chúng ta có nguồn gốc từ những quan hệ vật chất của đời sống. Lớp M12CQDT01-N Page 79
  • 80.
    Mác đã giảithích trên cơ sở chủ nghĩa duy vật vấn đề nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo. Khác với những nhà triết học trước Mác, ông đã hiểu một cách hoàn toàn mới những nhiệm vụ của triết học do ông đề ra, ông đã coi triết học là thứ vũ khí để cải tạo thế giới, nó có nhiệm vụ phục vụ cho thực tiễn đấu tranh chính trị – xã hội. Cùng với việc phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, Mác đã phê phán trên quan điểm chính trị thực tiễn cái mà nhà nước đương thời, cái hiện thực “tồn tại là hợp lý” của Hêghen, Mác đã kiên quyết phủ định cả cái hình thức đang tồn tại của ý thức pháp quyền và nền chính trị Đức đang tồn tại lúc đó. Đồng thời, Mác nhấn mạnh đến ý nghĩa to lớn của tư tưởng tiên tiến trong cải tạo xã hội và nhà nước. Ông chỉ ra sự tất yếu phải phát triển những tư tưởng tiên tiến trong quần chúng nhân dân, để nó trở thành một động lực thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Trong tác phẩm Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen là ở chỗ, lần đầu tiên, Mác đã phát biểu với tư cách là nhà các mạng, trực tiếp hướng tới giai cấp vô sản, với tính cách là lãnh tụ của quần chúng nhân dân, và coi triết học của ông là triết học của giai cấp vô sản, là vũ khí tư tưởng của cuộc đấu tranh giai cấp vô sản để cải biến cách mạng đối với xã hội. Mác viết: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khi vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình” Lần đầu tiên trong lịch sử, ông chỉ ra sức mạnh và hiệu lực của phép biện chứng duy vật, là phương pháp tạo ra khả năng phát hiện các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, cho phép giải quyết một cách triệt để những nhiệm vụ nhận thức không thể giải quyết được nếu đứng trên lập trường của phép biện chứng duy tâm, hay đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật siêu hình. 15. Anh chi hãy trình bày anh h ng cua triết hoc Phoi bác ̣̉ượ̉ơ đối vơí sư ra đơì cuả triết hoc̣ Mác LUTVICH PHOIƠBĂC (1804 -1872), là một trong những nhà triết học duy vật lớn nhất thời kỳ trước C.Mác. Công lao vĩ đại của Phoiơbăc là ở chỗ trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghiã duy tâm và thần học, ông đã khôi phục lại địa vị xứng đáng của triết học duy vật; đã giáng một đòn rất nặng vào triết học duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy tâm nói chung. Phoiơbắc chứng minh rằng, thế giới vật chất, giới tự nhiên không do ai sáng tạo ra, nó tồn tại độc lập với ý thức con người và không phụ thuộc vào bất cứ thứ triết học nào. Do đó cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm ngay trong giới tự nhiên. Chống lại hệ thống duy tâm của Hêghen - hệ thống coi giới tự nhiên là sự tồn tại khác của tinh thần. Phoiơbắc chỉ ra rằng triết học mới này phải có tính chất nhân bản, phải kết hợp với khoa học tự nhiên. Nguyên lý nhân bản của triết học Phoiơbắc là xoá bỏ sự tách rời giữa tinh thần và thể xác do triết học duy tâm và triết học nhị nguyên tao ra. Mặt tích cực trong triết học nhân bản của Phoiơbắc còn ở chỗ ông đấu tranh chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo thiên chúa, đặc biệt là quan niệm về Thượng đế. Trái với các quan niệm tôn giáo và thần học cho rằng Thượng đế tạo ra con người, ông khẳng định chính con người tạo ra Thượng đế. Khác với Hêghen nói về sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối. Phoiơbắc nói về sự tha hoá của bản chất con người vào Thượng đế. Ông lập luận rằng bản chất tự nhiên của con người là muốn hướng tới cái chân, cái thiện nghĩa là hướng tới cái gì đẹp nhất trong một hình tượng đẹp nhất về con người, nhưng trong thực tế những cái đó co người không đạt được nên đã gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào hình tượng Thượng đế; từ đó ông phủ nhận mọi thứ tôn giáo và thần học về một vị Thượng đế siêu nhiên đứng ngoài sáng tạo ra con người, chi phối cuộc sống con người. Tuy nhiên, triết học nhân bản của Phoiơbắc cũng bộc lộ những hạn chế. Khi ông đòi hỏi triết học mới - triết học nhân bản - phải gắn liền với tự nhiên thì đồng thời đã đứng luôn trên lập trường của chủ nghĩa tự nhiên để xem xét mọi hiện tượng thuộc về con người và xã hội. Con người trong quan Lớp M12CQDT01-N Page 80
  • 81.
    niệm của Phoiơbắclà con người trừu tượng, phi xã hội, mang những đặc tính sinh học bẩm sinh. Triết học nhân bản của ông chứa đựng những yếu tố của chủ nghĩa duy tâm. Ông nói răng, bản tính con người là tình yêu, tôn giáo cũng là một tình yêu. Do vậy, thay thế cho một tôn giáo sùng một vị Thượng đế siêu nhiên cần xây dựng một tôn giáo mới phù hợp với tình yêu của con người. Ông cho rằng càn phải biến tình yêu thương của con người thành quan hệ chi phối mọi quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội. Trong điều kiện của xã hội tư sản Đức thời đó, với sự phân chia giai cấp thì chủ nghĩa nhân đạo về tình yêu thương con người trở thành chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng, duy tâm. Công lao to lớn của Phoiơbắccòn ở chỗ, ông không chỉ đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm mà còn đáu tranh chống lại những người duy vật tầm thường. Ông đã có quan niệm đúng đắn là, không thể quy các hiện tượng tâm lý về các quá trình lý – hoá; công nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới. Ông đã kịch liệt phê phán những người theo chủ nghĩa hoài nghi và thuyết không thể biết. Trong sự phát triển lý luận nhận thức duy vât, Phoiơbắc đã biết dựa vào thực tiễn là tổng hợp những yêu cầu về tinh thần, về sinh lý mà chưa nhận thức được nội dung cơ bản của thực tiễn là hoạt động vật chất của con người, là lao động sản xuất vật chất, đấu tranh giai cấp và hoạt động thực tiễn của nó là cơ sở của nhận thức cảm tính và lý tính. Như vậy, Phoiơbắc đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo. Ông đã vạch ra mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, chỉ ra sự cần thiết phải đấu trnah loại bỏ tôn giáo hữu thần, coi đó là sự tha hoá bản chất của con người. Ông đã có công khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII, XVIII. Tuy nhiên trong lúc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm của triết học Hêghen, Phoiơbắc lại vứt bỏ luôn phép biện chứng của Hêghen. Cũng như các nhà triết học giai đoạn trước Mác, Phoiơbăc rơi vào duy tâm khi giải quyết các vấn đề xã hội. Mặc dù triết học của Phoiơbắc có những hạn chế, nhưng cuộc đấu tranh của ông chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung đã có ý nghĩa lịch sử to lớn. Vì vậy, triết học của Phoiơbắc trở thành một trong những nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác. Triết học cổ điển Đức không chỉ là thành tựu to lớn của tư tưởng nhân loại mà nó còn là tiền đề lý luận của triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung. Trong đó TH Phoiơbắc với tính duy vật khả tri và nhân bản chính là cội nguồn tư tưởng, là tiền đề lý luận của TH Mác góp phần hình thành nên phương pháp biện chứng duy vật - linh hồn của chủ nghĩa Mác. Sơ lược về triết học Phoiơbác Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về chính con người, có sứ mạng mang lại cho con người một cuộc sống hạnh phúc thật sự trên trần gian mà Phoiơbắc lấy con người làm đối tượng nghiên cứu của triết học. Triết học mới mà Phoiơbắc đã xây dựng là triết học duy vật nhân bản, mà nội dung của nó bao gồm những quan niệm chủ yếu sau: a) Quan nieäm veà giôùi töï nhieân vaø con ngöôøi  Dựa trên truyền thống duy vật, Phoiơbắc cho rằng: giới tự nhiên vật chất có trước ý thức, tồn tại vô cùng đa dạng, phong phú và tự nó; không gian, thời gian và vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất - giới tự nhiên.  Phoiơbắc cho rằng không thể tách con người ra khỏi giới tự nhiên, vì con người là sản phẩm tất yếu cao nhất của giới tự nhiên, còn giới tự nhiên là cơ sở không thể thiếu của đời sống con người. Lớp M12CQDT01-N Page 81
  • 82.
     Do mangbản tính cá nhân, mà mỗi con người là một cá thể sinh học đặc biệt có lý trí, có ý chí, có trái tim… của riêng mình để nhận thức, để khát vọng đam mê, để rung động cảm xúc... Đó là con người đang tồn tại bằng xương, bằng thịt, đang sống, đang làm việc, đang yêu, đang nhận thức như mỗi chúng ta, chứ không phải con người trong ý tưởng - con người trừu tượng.  Do mang bản tính cộng đồng, mà mỗi con người cá nhân bị ràng buộc với những người khác. Hạnh phúc của mỗi cá nhân không là hạnh phúc đơn độc của mỗi con người mà là hạnh phúc được kiếm tìm trong sự hòa hợp với mọi người, trong cộng đồng. b) Quan niệm về nhận thức: Khi đứng vững trên quan điểm duy vật về khả năng con người nhận thức được và nhận thức ngày càng đầy đủ thế giới, Phoiơbắc cho rằng, giới tự nhiên và con người chứ không phải lý tính lôgích trừu tượng hay Thượng đế là khách thể của nhận thức. Chủ thể nhận thức cũng không phải là lý tính lôgích trừu tượng mà là con người sống động, tồn tại trong thực tế, có cảm giác và lý trí. Cảm tính trực quan là nguồn gốc của tư duy lý luận, còn tư duy lý luận xử lý tài liệu cảm tính để khám phá ra chân lý. c) Quan niệm về tôn giáo  Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo là sự tha hóa bản chất của con người, còn Thượng đế chỉ là tập hợp những giá trị, mơ ước, khát vọng mà con người muốn có. Như vậy, tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý và nhận thức của con người; không phải Thượng đế sinh ra con người mà chính con người đã sinh ra Thượng đế.  Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo và niềm tin vào Thượng đế đã chia cắt thế giới cùng con người thành thế giới trần tục và thế giới thiên đường, tôn giáo làm tha hóa con người để dễ dàng thống trị nó. Tôn giáo không chỉ kìm hảm mà còn tước đi ở con người tính năng động sáng tạo, sự tự do và năng lực độc lập phán xét. Ông đòi hỏi phải lựa chọn: hoặc là tôn giáo - tín ngưỡng - thượng đế, hoặc là khoa học nhân bản - tình yêu - con người.  Phoiơbắc phê phán mạnh mẽ tôn giáo, đặc biệt là Cơ đốc giáo. Vì vậy, ông ra sức xây dựng một thứ tôn giáo mới thay cho Cơ đốc giáo. Đó là tôn giáo của tình yêu vĩnh cữu phổ quát giữa con người (trước hết là tình yêu nam nữ) dựa trên tính nhân bản mà trong đó vai trò Thượng đế được giao cho chính con người đảm trách. Trong tôn giáo mới đó, tình yêu vừa là cơ sở, vừa là cứu cánh của con người để con người thật sự sống đúng như bản tính của mình, nhằm biến trần gian thành thiên đàng trên mặt đất. 1. Triết học Phoiơbắc là tiền đề lý luận của TH Mác Xuất phát từ giới tự nhiên vật chất, Phoiơbắc tìm hiểu các vấn đề về con người và xây dựng nên chủ nghĩa duy vật nhân bản. Do chưa vượt qua được hạn chế của thời đại mình và chịu ảnh hưởng bởi phương pháp tư duy siêu hình mà Phoiơbắc không chỉ phê phán thế giới quan duy tâm mà còn phủ định hạt nhân hợp lý và phép biện chứng trong triết học Hêghen. Ph.Ăngghen viết: “Lời khẳng định của Phoiơbắc cho rằng “các thời đại của loài người chỉ khác nhau bởi những thay đổi về phương diện tôn giáo” là hoàn toàn sai. Chỉ có thể nói đến những bước ngoặt lịch sử lớn có kèm theo những sự thay đổi về tôn giáo”. Khi phê phán cách hiểu trừu tượng về con người của Phoiơbắc, Ph.Angghen viết: “Về hình thức, ông là một người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con người làm xuất phát điểm, song ông hoàn toàn không nói đến thế giới trong đó con người ấy sống, vì vậy, con người mà ông nói, luôn luôn là con người trừu tượng”. Về đạo đức con người, Phoiơbắc đồng nhất quan hệ đạo đức trong mọi giai đoạn lịch sử, mọi thời đại khác nhau. Ph.Ăngghen cho rằng: “những vết tích cuối cùng của tính chất cách mạng trong triết học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp khúc cũ kỹ: Hãy yêu nhau đi, hãy ôm nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp. Thật là giấc mơ thiên hạ thuận hòa… Học thuyết của Phoiơbắc về đạo đức thì cũng giống như tất cả những học thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả”. C.Mác và Ph.Ăngghen đã Lớp M12CQDT01-N Page 82
  • 83.
    đánh giá caochủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, nhưng đồng thời cũng phê phán tư duy siêu hình, duy tâm về lịch sử của ông. Chính C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đã nhận thức một cách chính xác những thành tựu và hạn chế của triết học Phoiơbắc, và dựa trên hệ thống triết học này để xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng của mình. 2. Thực chất cuộc cách mạng trong Triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện  Triết học Mác ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử triết học nhân loại. Nó thể hiện giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn to lớn của học thuyết Mác.  Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng  Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử  Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn  Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng  Xác định đúng mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể 3. Kết luận Sự ra đời của triết học Mác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trình phát triển của tư tưởng triết học của nhân loại. Trong đĩ cần phải khẳng định rằng cội nguồn tư tưởng và tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác là triết học cổ điển Đức, mà tiêu biểu là triết học Phoiơbắc với tính duy vật khả tri và nhân bản. 16. Anh chi hãy trình bày anh h ng cua triết hoc Hêghen và ̣̉ượ̉Phoiơbác đối vơí sư ra đơì cuả triết hoc̣ Mác I. Vai trò của phép biện chứng trong sự ra đời của triết học Mác Triết học Hêghen ảnh hưởng đến sự ra đời của triết học Mác ở phép biện chứng của ông khi Mác đánh giá cao tư tưởng biện chứng của Hêghen “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng. Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”. Tư tưởng đó đã khẳng định rằng, biện chứng khách quan của thế giới tự nhiên đóng vai trò quyết định đối với biện chứng chủ quan trong tư duy con người. Những quy luật cơ bản của phép biện chứng như “quy luật về sự chuyển hóa từ số lượng thành chất lượng và ngược lại, quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập, quy luật về sự phủ định của phủ định” là sự phản ánh những mối liên hệ cơ bản và phổ biến trong giới tự nhiên và lịch sử. “Vậy là từ trong lịch sử của giới tự nhiên và lịch sử của xã hội loài người mà người ta đã rút ra được các quy luật của phép biện chứng… Những quy luật biện chứng là những quy luật thật sự của sự phát triển của giới tự nhiên…”. Bằng thiên tài của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cải tạo triệt để phép biện chứng duy tâm thành phép biện chứng duy vật để nó đóng vai trò công cụ tinh thần nhận thức các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người. II. Các ảnh hưởng của phép biện chứng Hêghen đối với triết học Mác và Ăngghen thể hiện rõ nhất về các học thuyết trong khoa học logic của Hêghen (logic học) 1. C.Mác đã thừa kế học thuyết về tồn tại quy định lẫn nhau giữa lượng và chất của Hêghen những thay đổi liên tục về lượng sẽ dẫn đến những biến đổi gián đoạn về chất và ngược lại. Sự quy định này nói lên cách thức tồn tại của sự vật. Thông qua sự phát triển của khoa học và trong đời sống xã hội Ph.Ăngghen đã chứng minh quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về Lớp M12CQDT01-N Page 83
  • 84.
    chất và ngượclại. Bản chất của quy luật chính là mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng trong thế giới khách quan. Lượng biến đổi để dẫn tới chuyển hóa về chất, đồng thời, chất tác động đến lượng để tạo nên sự chuyển hóa về lượng. Quá trình liên tục diễn ra, tạo thành cách thức của sự phát triển vừa tuần tự vừa nhảy vọt, hình thành quy luật phổ biến của thế giới khách quan Ph. Ăngghen viết: “Vô số trường hợp thay đổi về lượng làm cho chất của sự vật biến đổi, cũng như thay đổi về chất làm cho lượng của sự vật biến dổi… Chúng ta có thể kể ra một việc này chẳng hạn: sự hợp tác của nhiều cá nhân, sự dung hợp của nhiều sức thành hợp sức, sẽ tạo ra, nói theo lối của Mác, một sức mới nào đó, căn bản khác với tổng số những sức cá biệt hợp thành nó” [Sđd t.20,tr.181] 2. Ngoài ra ở Mác còn kế thừa học thuyết về bản chất đó là quy luật mâu thuẫn nội tại. Ông vạch ra sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát triển của sự vật. Xuất phát từ phương thức sản xuất, tức là từ hai mặt của một quá trình sản xuất vật chất trong đời sống xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, C.Mác đã khẳng định sự phát triển của “hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”. Ông chỉ ra sự tác động của các quy luật khách quan đến quá trình sản xuất vật chất đã làm cho các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau. Nhận xét này của Mác về hình thái kinh tế-xã hội thể hiện học thuyết mâu thuẫn Hêghen về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động phát triển của sự vật. 3. Một học thuyết khác của Hêghen đã được C.Mác và Ăngghen tiếp thu đó là học thuyết về khái niệm Hêghen vạch ra con đường phát triển của khái niệm theo xu hướng phủ định của phủ định, nghĩa là khái niệm phát triển theo đường xoắn ốc. C.Mác đã áp dụng quy luật phủ định của phủ định vào phân tích quá trình phát triễn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong bộ Tư bản.Mác viết “ Sự độc quyền của tư bản trở thành những xiềng xích ràng buộc cái phương thức sản xuất đã thịnh vượng lên cùng với độc quyền đó và dưới độc quyền đó. Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa… Phương thức chiếm hữu tư bản chủ nghĩa do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đẻ ra, và do đó cả chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nữa đều là sự phủ định đầu tiên đối với chế độ tư hữu cá nhân dựa trên lao động của bản thân. Nhưng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên. Đó là sự phủ định cái phủ định” Tính khách quan và phổ biến của quy luật phủ định của phủ định còn được Ph.Ăngghen làm sáng tỏ trong mọi lĩnh vực của thế giới khách quan và tư duy con người; quy luật này vạch ra khuynh hướng chung của sự phát triển, thể hiện tính kế thừa và tiến lên, hình thành một quá trình liên tục trong sự vận động của sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao. Phát triển cũng không phải là một quá trình giản đơn, theo đường thẳng, mà là một quá trình phức tạp, lặp lại cái cũ nhưng khơng phải trùng khớp mà ở một trình độ mới cao hơn, thể hiện tính xóay ốc của sự phát triển. Với bản chất như vậy, cái mới, theo quy luật, bao giờ cũng cao hơn và tiến bộ hơn so với cái cũ. Ph.Ăngghen cũng đòi hỏi cần phải có sự phân biệt giữa phủ định biện chứng và phủ định siêu hình: “Phủ định, trong phép biện chứng, khơng phải chỉ có ý nghĩa giản đơn là nói: không, hoặc giả là tuyên bố rằng một sự vật không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó”, mà nó là sự tự phủ định để hướng tới sự phát triển. III. Mác và Ănghen kế thừa, phát triển và cải tạo phép biện chứng của Hêghen trên quan điểm “duy vật triết học hoàn bị” chứ không mang tính duy tâm thần bí của Hêghen. Phép biện chứng là khoa học của phương pháp nhận thức, phương pháp tư duy xem xét sự vật hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, trong tính hệ thống, trong quá trình vận động theo khuynh hướng tiến lên. Về bản chất, tư duy biện chứng đối lập với tư duy siêu hình; phép biện Lớp M12CQDT01-N Page 84
  • 85.
    chứng trong triếthọc Mác khác với phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, tức là phép biện chứng trong triết học Mác không được rút ra từ tư duy chủ quan của con người và không có mối liên hệ nào với thực tại khách quan, mà ngược lại, là sự phản ánh của giới tự nhiên và lịch sử vào tư duy: “Không thể đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự nhiên”, thông qua sự phát triển của khoa học tự nhiên, của lịch sử xã hội và kinh tế chính trị. Trong tác phẩm Tư bản C. Mác có nhận xét phương pháp biện chứng là hạt nhân cơ bản xuyên suốt cả tác phẩm nhưng nó lại khác với Hêghen. “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác với phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa. Đối với Hêghen, quá trình tư duy - mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập dưới cái tên gọi ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực này chẳng qua chỉ là biểu hiện bên ngoài của tư duy mà thôi. Đối với tôi thì trái lại, ý niệm chẳng qua là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”. Ph.Ăngghen cho rằng không nên dừng lại ở những mâu thuẫn của hệ thống triết học này mà phải vạch ra được hạt nhân hợp lý của nó là phép biện chứng. Ông viết: “Nhưng tất cả những điều đó không ngăn trở hệ thống Hêghen bao trùm một lĩnh vực hết sức rộng hơn bất cứ hệ thống nào trước kia, và phát triển, trong lĩnh vực đó, một sự phong phú về tư tưởng mà ngày nay người ta vẫn còn ngạc nhiên. Hiện tượng học tinh thần…, lôgíc học, triết học tự nhiên, triết học tinh thần…, triết học lịch sử, triết học pháp quyền, triết học tôn giáo, lịch sử triết học, mỹ học, v.v. trong từng lĩnh vực lịch sử khác nhau ấy. Hêghen cố gắng phát hiện ra và chỉ rõ sợi chỉ đỏ của sự phát triển xuyên suốt lĩnh vực ấy. Vì Hêghen không những chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại”. Phương pháp biện chứng của triết học Hêghen thể hiện quá trình liên hệ, tác động, chuyển hóa và phát triển không ngừng của thế giới, vì vậy, nó có ý nghĩa cách mạng, “ý nghĩa thực sự và tính chất cách mạng của triết học Hêghen… chính là ở chỗ nó đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậu của những hệ quả của tư tưởng và của hành động con người”. “Đối với triết học biện chứng đó thì không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả. Nó chỉ ra - trên mọi sự vật và trong mọi sự vật - dấu ấn của sự suy tàn tất yếu, và đối với nó, không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và sự tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp lên cao”. Do tính chất mâu thuẫn giữa hệ thống và phương pháp của triết học Hêghen mà hình thành các trường phái triết học khác nhau: “toàn bộ học thuyết của Hêghen đã để một khoảng rất rộng cho các quan điểm đảng phái thực tiễn hết sức khác nhau. Và trong giới lý luận Đức hồi ấy, trước hết có hai việc có ý nghĩa thực tiễn: tôn giáo và chính trị. Người nào chủ yếu coi trọng hệ thống của Hêghen, thì người đó có thể là khá bảo thủ trong hai lĩnh vực đó; còn người nào cho phương pháp biện chứng là chủ yếu thì người đó, về chính trị cũng như về tôn giáo, có thể thuộc vào phái đối lập cực đoan nhất”. Ảnh hưởng của triết học Phoiơbắc Triết học cổ điển Đức không chỉ là thành tựu to lớn của tư tưởng nhân loại mà nó còn là tiền đề lý luận của triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung. Trong đó TH Phoiơbắc với tính duy vật khả tri và nhân bản chính là cội nguồn tư tưởng, là tiền đề lý luận của TH Mác góp phần hình thành nên phương pháp biện chứng duy vật - linh hồn của chủ nghĩa Mác. 4. Sơ lược về triết học Phoiơbác Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về chính con người, có sứ mạng mang lại cho con người một cuộc sống hạnh phúc thật sự trên trần gian mà Phoiơbắc lấy con người làm đối tượng nghiên cứu của triết học. Triết học mới mà Phoiơbắc đã xây dựng là triết học duy vật nhân bản, mà nội dung của nó bao gồm những quan niệm chủ yếu sau: a) Quan niệm về giới tự nhiên và con người Lớp M12CQDT01-N Page 85
  • 86.
     Dựa trêntruyền thống duy vật, Phoiơbắc cho rằng: giới tự nhiên vật chất có trước ý thức, tồn tại vô cùng đa dạng, phong phú và tự nó; không gian, thời gian và vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất - giới tự nhiên.  Phoiơbắc cho rằng không thể tách con người ra khỏi giới tự nhiên, vì con người là sản phẩm tất yếu cao nhất của giới tự nhiên, còn giới tự nhiên là cơ sở không thể thiếu của đời sống con người.  Do mang bản tính cá nhân, mà mỗi con người là một cá thể sinh học đặc biệt có lý trí, có ý chí, có trái tim… của riêng mình để nhận thức, để khát vọng đam mê, để rung động cảm xúc... Đó là con người đang tồn tại bằng xương, bằng thịt, đang sống, đang làm việc, đang yêu, đang nhận thức như mỗi chúng ta, chứ không phải con người trong ý tưởng - con người trừu tượng.  Do mang bản tính cộng đồng, mà mỗi con người cá nhân bị ràng buộc với những người khác. Hạnh phúc của mỗi cá nhân không là hạnh phúc đơn độc của mỗi con người mà là hạnh phúc được kiếm tìm trong sự hòa hợp với mọi người, trong cộng đồng. b) Quan niệm về nhận thức: Khi đứng vững trên quan điểm duy vật về khả năng con người nhận thức được và nhận thức ngày càng đầy đủ thế giới, Phoiơbắc cho rằng, giới tự nhiên và con người chứ không phải lý tính lôgích trừu tượng hay Thượng đế là khách thể của nhận thức. Chủ thể nhận thức cũng không phải là lý tính lôgích trừu tượng mà là con người sống động, tồn tại trong thực tế, có cảm giác và lý trí. Cảm tính trực quan là nguồn gốc của tư duy lý luận, còn tư duy lý luận xử lý tài liệu cảm tính để khám phá ra chân lý. c) Quan niệm về tôn giáo  Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo là sự tha hóa bản chất của con người, còn Thượng đế chỉ là tập hợp những giá trị, mơ ước, khát vọng mà con người muốn có. Như vậy, tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý và nhận thức của con người; không phải Thượng đế sinh ra con người mà chính con người đã sinh ra Thượng đế.  Phoiơbắc cho rằng, tôn giáo và niềm tin vào Thượng đế đã chia cắt thế giới cùng con người thành thế giới trần tục và thế giới thiên đường, tôn giáo làm tha hóa con người để dễ dàng thống trị nó. Tôn giáo không chỉ kìm hảm mà còn tước đi ở con người tính năng động sáng tạo, sự tự do và năng lực độc lập phán xét. Ông đòi hỏi phải lựa chọn: hoặc là tôn giáo - tín ngưỡng - thượng đế, hoặc là khoa học nhân bản - tình yêu - con người.  Phoiơbắc phê phán mạnh mẽ tôn giáo, đặc biệt là Cơ đốc giáo. Vì vậy, ông ra sức xây dựng một thứ tôn giáo mới thay cho Cơ đốc giáo. Đó là tôn giáo của tình yêu vĩnh cữu phổ quát giữa con người (trước hết là tình yêu nam nữ) dựa trên tính nhân bản mà trong đó vai trò Thượng đế được giao cho chính con người đảm trách. Trong tôn giáo mới đó, tình yêu vừa là cơ sở, vừa là cứu cánh của con người để con người thật sự sống đúng như bản tính của mình, nhằm biến trần gian thành thiên đàng trên mặt đất. 5. Triết học Phoiơbắc là tiền đề lý luận của TH Mác Xuất phát từ giới tự nhiên vật chất, Phoiơbắc tìm hiểu các vấn đề về con người và xây dựng nên chủ nghĩa duy vật nhân bản. Do chưa vượt qua được hạn chế của thời đại mình và chịu ảnh hưởng bởi phương pháp tư duy siêu hình mà Phoiơbắc không chỉ phê phán thế giới quan duy tâm mà còn phủ định hạt nhân hợp lý và phép biện chứng trong triết học Hêghen. Ph.Ăngghen viết: “Lời khẳng định của Phoiơbắc cho rằng “các thời đại của loài người chỉ khác nhau bởi những thay đổi về phương diện tôn giáo” là hoàn toàn sai. Chỉ có thể nói đến những bước ngoặt lịch sử lớn có kèm theo những sự thay đổi về tôn giáo”. Khi phê phán cách hiểu trừu tượng về con người của Phoiơbắc, Ph.Angghen viết: “Về hình thức, ông là một người hiện thực chủ nghĩa, ông lấy con người làm xuất phát điểm, song ông hoàn toàn không nói đến thế giới trong đó con người ấy sống, vì vậy, con người Lớp M12CQDT01-N Page 86
  • 87.
    mà ông nói,luôn luôn là con người trừu tượng”. Về đạo đức con người, Phoiơbắc đồng nhất quan hệ đạo đức trong mọi giai đoạn lịch sử, mọi thời đại khác nhau. Ph.Ăngghen cho rằng: “những vết tích cuối cùng của tính chất cách mạng trong triết học của ông đều biến mất hết và chỉ còn lại cái điệp khúc cũ kỹ: Hãy yêu nhau đi, hãy ôm nhau đi, không cần phân biệt nam nữ và đẳng cấp. Thật là giấc mơ thiên hạ thuận hòa… Học thuyết của Phoiơbắc về đạo đức thì cũng giống như tất cả những học thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả”. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đánh giá cao chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, nhưng đồng thời cũng phê phán tư duy siêu hình, duy tâm về lịch sử của ông. Chính C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đã nhận thức một cách chính xác những thành tựu và hạn chế của triết học Phoiơbắc, và dựa trên hệ thống triết học này để xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng của mình. 6. Thực chất cuộc cách mạng trong Triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện  Triết học Mác ra đời là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong lịch sử triết học nhân loại. Nó thể hiện giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn to lớn của học thuyết Mác.  Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng  Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử  Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn  Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng  Xác định đúng mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể 7. Kết luận Sự ra đời của triết học Mác là tổng hợp biện chứng của toàn bộ quá trình phát triển của tư tưởng triết học của nhân loại. Trong đĩ cần phải khẳng định rằng cội nguồn tư tưởng và tiền đề lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác là triết học cổ điển Đức, mà tiêu biểu là triết học Phoiơbắc với tính duy vật khả tri và nhân bản. 17. Anh chi hãy trình bày anh h ng cua nh̃ng thành t u ̣̉ưởư ư cuả khoa hoc̣ tư nhiên thế ky ̉ thứ XIX đối vơí sư ra đơì cuả triết hoc̣ Mác Vào thế kỷ XIX, con người đã đạt được những thành tựu nổi bật về khoa học tự nhiên. · Những năm 40 của thế kỷ XIX, R.Maye và P.PGuilơ đã phát hiện ra định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, cho phép khẳng định: năng lượng không tự nhiên sinh ra và cũng không bao giờ mất đi mà nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, năng lượng luôn gắn liền với sự vận động của vật chất, thế giới vật chất vận động và phát triển thông qua quá trình chuyển hóa từ thấp đến cao của các dạng năng lượng · Từ những năm 30 của thế kỷ XIX, Svan và slayđen xây dựng học thuyết tế bào cho phép khẳng định: tế bào là cở sở vật chất thống nhất của mọi sinh thể ( thực vật và động vật), tức thống nhất toàn bộ quá trình lịch sử của sự sộng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, bản chất của sự sống là một quá trình phát triển biểu hiện tính thống nhất, tính liên hệ của thế giới tự nhiên. · Năm 1859, Đácuyn đã xây dựng học thuyết tiến hóa cho phép khẳng định: quá trình vận động, biến đổi từ thấp đến cao của động vật và thực vật thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, tức khẳng định nguồn gốc, nguyên nhân vật chất của mọi sự phát triển trong thế giới sinh thể và phủ nhận vai trò sáng thế của CNDT, tôn giáo. Lớp M12CQDT01-N Page 87
  • 88.
    · Những thànhtựu này đã làm lung lay tận gốc các quan niệm duy tâm, siêu hình về nhận thức thế giới tự nhiên, đồng thời khẳng định các tư tưởng nền tảng (nguyên lí) của phép biện chứng duy vật ( hay chủ nghĩa duy vật biên chứng) về mọi sự tồn tại ( thống nhất vật chất, liên hệ phổ biền, vận động và phát triển) trong thế giới. KHTN mang tính chất lý luận trong giai đoạn này là tiền đề cho sự ra đời của triết học Mác và những khái quát của triết học Mác đã đặt cơ sở về thê giơi quan và phương pháp luận cho các lĩnh vực khoa học cụ thể trong việc nhân thức thế giới khách quan. Như vậy, triết học Mác ra đời là sản phẩm của lịch sử, nó mang tính quy luật của sự phát triển của khoa học và triết học nói riêng, của toàn bộ lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung. Chính C.Mác và Ph. Anwgghen là những thiên tài khái quát được toàn bộ tiến trình lịch sử và văn hóa tinh thần mà loài người đã đạt được để xây dựng học thuyết triết học duy vật biện chứng, đáp ứng được nhu cầu nhận thức và cải tạo thực tiễn xã hội mà thời đại lịch sử mới đặt ra. V.I.Leenin viết: “ chủ nghĩa Mác không nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới. Trái lại, toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra. Học thuyết của ông ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội” Vào thế kỷ XIX, con người đã đạt được những thành tựu nổi bật về khoa học tự nhiên. • Những năm 40 của thế kỷ XIX, R.Maye và P.PGuilơ đã phát hiện ra định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, cho phép khẳng định: năng lượng không tự nhiên sinh ra và cũng không bao giờ mất đi mà nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, năng lượng luôn gắn liền với sự vận động của vật chất, thế giới vật chất vận động và phát triển thông qua quá trình chuyển hóa từ thấp đến cao của các dạng năng lượng • Từ những năm 30 của thế kỷ XIX, Svan và slayđen xây dựng học thuyết tế bào cho phép khẳng định: tế bào là cở sở vật chất thống nhất của mọi sinh thể ( thực vật và động vật), tức thống nhất toàn bộ quá trình lịch sử của sự sộng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, bản chất của sự sống là một quá trình phát triển biểu hiện tính thống nhất, tính liên hệ của thế giới tự nhiên. • Năm 1859, Đácuyn đã xây dựng học thuyết tiến hóa cho phép khẳng định: quá trình vận động, biến đổi từ thấp đến cao của động vật và thực vật thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, tức khẳng định nguồn gốc, nguyên nhân vật chất của mọi sự phát triển trong thế giới sinh thể và phủ nhận vai trò sáng thế của CNDT, tôn giáo. • Những thành tựu này đã làm lung lay tận gốc các quan niệm duy tâm, siêu hình về nhận thức thế giới tự nhiên, đồng thời khẳng định các tư tưởng nền tảng (nguyên lí) của phép biện chứng duy vật ( hay chủ nghĩa duy vật biên chứng) về mọi sự tồn tại ( thống nhất vật chất, liên hệ phổ biền, vận động và phát triển) trong thế giới. KHTN mang tính chất lý luận trong giai đoạn này là tiền đề cho sự ra đời của triết học Mác và những khái quát của triết học Mác đã đặt cơ sở về thê giơi quan và phương pháp luận cho các lĩnh vực khoa học cụ thể trong việc nhân thức thế giới khách quan. Như vậy, triết học Mác ra đời là sản phẩm của lịch sử, nó mang tính quy luật của sự phát triển của khoa học và triết học nói riêng, của toàn bộ lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung. Chính C.Mác và Ph. Anwgghen là những thiên tài khái quát được toàn bộ tiến trình lịch sử và văn hóa tinh thần mà loài người đã đạt được để xây dựng học thuyết triết học duy vật biện chứng, đáp ứng được nhu cầu nhận thức và cải tạo thực tiễn xã hội mà thời đại lịch sử mới đặt ra. V.I.Leenin viết: “ chủ nghĩa Mác không nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới. Trái lại, toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra. Lớp M12CQDT01-N Page 88
  • 89.
    Học thuyết củaông ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội” 18. Anh chi hãy trình bày nh̃ng đăc tr ng c ban cua tri th́c ̣ựư ở̉ư triết hoc̣. Mối quan hê ̣cuả triết hoc̣ vơí các môn khoa hoc̣ khác Hiện nay, vấn đề tri thức đang được quan tâm nghiên cứu sâu sắc cả về phương diện triết học lẫn nhận thức khoa học nói chung. Điều đó không chỉ do yêu cầu của kinh tế tri thức, mà còn do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Trong nghiên cứu tri thức, một khía cạnh nổi lên, đó là xác định bản chất tri thức hay định nghĩa khái niệm tri thức. Tri thức là một thành phần của nhận thức, của toàn bộ đời sống tinh thần, ý thức con người nói chung. Tri thức liên quan đến mọi tồn tại, hoạt động của con người, xã hội và có những cơ sở tự nhiên nhất định của nó. Mỗi đặc trưng của tri thức sẽ được vạch ra dựa trên một hoặc những quan điểm xem xét nhất định, trong đó có quan điểm cơ bản, làm nền tảng của toàn bộ sự xem xét. Việc chỉ ra những đặc trưng của tri thức dưới đây sẽ mang nội dung và ý nghĩa như vậy. Phải thấy ngay rằng việc nhận thức bản chất của tri thức sẽ trở nên hỗn độn, khó xác định, nếu trước hết không thừa nhận tri thức là một dạng thái nhất định của tinh thần, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Một trong những luận điểm tiêu biểu của triết học Mác về ý thức: “ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”(2). Luận điểm đó thể hiện rõ quan điểm duy vật khoa học về ý thức, cho thấy rõ ý thức là sự phản ánh hiện thực vật chất khách quan vào bộ óc người. Do đó, tri thức với tư cách thành phần của nhận thức và của ý thức, tất nhiên cũng được xem là cái phản ánh, cái tồn tại trong bộ óc người - chủ thể tri thức, phân biệt, đối lập với cái được phản ánh là hiện thực vật chất khách quan. Như vậy, tri thức là cái tinh thần, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Với tư cách là cái tinh thần, tri thức phản ánh các đối tượng vật chất không phải bằng cách tái hiện đối tượng đó bằng những đặc tính vật chất như những phản ánh vô cơ, vật lý, mà bằng những đặc tính tự nhiên - xã hội tổng hợp, đặc trưng cho hoạt động và chức năng phản ánh của bộ não người. Tri thức là hình thức cao nhất của sự tiến hoá các hình thức phản ánh. Cùng với việc hiểu tri thức theo quan điểm phản ánh luận duy vật mácxít, thì việc hiểu nó với tư cách một hình thức của sự tiến hoá của các hình thức phản ánh, lại là một góc nhìn khác, góc nhìn tiến hoá luận về tri thức. Tri thức là kết quả của nhận thức. Việc xem xét tri thức theo quan điểm phản ánh luận không tách rời tiếp cận tri thức theo quan điểm hoạt động. Nhận thức của con người dù dưới bất kỳ hình thức nào với mức độ nào, cũng đều là quá trình hoạt động. Theo cơ cấu chung, thì hoạt động nào cũng có yếu tố cuối cùng mang ý nghĩa “khép lại” một chu trình, đó là sản phẩm hay kết quả của nó. Không thể đồng nhất kết quả với quá trình tạo ra nó trong bất kỳ hoạt động nào của con người. Thí dụ, việc người ta đặt ra câu hỏi: “Trái đất có hình gì?”, việc người ta đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó và việc người ta đưa ra được câu trả lời rằng “Trái đất hình cầu”, rõ ràng là hai thành tố khác nhau của hoạt động nhận thức. Cái sau là kết quả và cái trước là quá trình đạt đến cái sau. Tất nhiên, trong quá trình đi đến kết luận “Trái đất hình cầu”, người ta phải vận dụng nhiều tri thức khác như những hiểu biết (tri thức) về “trái”, “đất”, “trái đất”, về “hình”, “cầu” và “hình cầu” v.v.. Những tri thức này cấu thành quá trình nhận thức, sáng tạo ra những tri thức mới, giúp người ta hiểu ra điều là “Trái đất hình cầu”. Nhưng những tri thức ấy khi tách riêng ra, chúng vẫn là kết quả của những quá trình nhận thức đã diễn ra trước đó, còn trong quá trình nhận thức để đạt đến tri thức mới (nhận ra “Trái đất hình cầu”), chúng là những yếu tố cấu thành quá trình ấy, là phương tiện, chứ không phải mục đích. Tri thức với tư cách là thông tin. Quan niệm tri thức, sự phản ánh ở giới tự nhiên hữu sinh nói chung, là thông tin. Như mọi vật mang thông tin, bộ não con người mang, lưu giữ tri thức không phải để cố định chúng trong trạng thái đã xong xuôi, kết thúc, hoặc thậm chí trong trạng thái chết, mà là để chuẩn bị, đem lại, cung cấp cho những yêu cầu, hoạt động mới của con người. Chỉ với ý Lớp M12CQDT01-N Page 89
  • 90.
    nghĩa ấy, trithức mới tồn tại với nghĩa là thông tin và cũng chỉ nhờ vậy, bộ óc con người mới trở thành vật mang thông tin là tri thức. Tuy nhiên, với tư cách là thông tin, tri thức khác với những hình thức thông tin tinh thần, vật chất khác. Tri thức không đem lại những thông tin về các cảm xúc, ý chí, niềm tin và khát vọng của con người. Mặt khác, những xúc cảm của con người cũng là những thông tin, nhưng chúng không trực tiếp đem lại tri thức. Tuy vậy, thông tin tri thức và thông tin tình cảm không tách rời nhau. Thí dụ, nhìn thấy một người gặp cảnh ngộ bi đát, đau thương, chúng ta cũng cảm thấy đau đớn. Nhưng tri thức không đem lại chính sự đau đớn ấy, mà chỉ cho chúng ta biết những “dấu hiệu” của sự đau thương, như sự buồn bã trên nét mặt, sự quằn quại, kêu rên… của người có cảnh ngộ ấy. Còn sự đau đớn của chúng ta không bắt nguồn chủ yếu từ sự nhận ra những dấu hiệu ấy, mà là từ chính cái tình cảnh của đối tượng mà những dấu hiệu nói trên đã đụng chạm đến và làm rung động cái lương năng bên trong của chúng ta. Thông tin - tri thức là thông tin sống, có khả năng sinh sôi không ngừng. Một mặt, nó không ngừng được nạp thêm, làm đầy thêm về khối lượng, loại hình, dung lượng từ môi trường; mặt khác, không ngừng truyền vào môi trường. Trong cả hai quá trình ấy, thông tin tri thức vẫn có thể vừa là sự nạp thêm, vừa là sự mất đi, vừa cung cấp và vừa sửa chữa, điều chỉnh. Đây là quá trình đặc biệt của thông tin tri thức. Tri thức là sự biểu hiện, khẳng định bản chất con người. Đây là sự tiếp cận con người, tiếp cận văn hóa về tri thức. Vì thế, câu hỏi trước tiên phải được đặt ra và giải đáp là: “Con người là gì?”. Sự giải đáp là toàn bộ những luận giải về tri thức phù hợp với nhận thức khoa học. Mối quan hệ của triết học với các môn khoa học khác: Triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy. Với quan niệm đó, triết học cổ đại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà được xem là"khoa học của mọi khoa học". Quan niệm macxit cho rằng:"Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con người đối với thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy". Sự hình thành, phát triển của triết học không thể tách rời sự phát triển của khoa học cụ thể, qua khái quát các thành tựu của khoa học cụ thể. Tuy nhiên, triết học cụ thể, nó là thế giới quan và phương pháp luận cho khoa học cụ thể, nó là thế giới quan và phương pháp luận cho khoa học cu thể, là cơ sở lý luận cho các khoa học cụ thể trong việc đánh giá các thành tựu đã đạt được, cũng như vạch ra phương hướng, phương pháp cho quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể. Khác với các khoa học cụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới, triết học xem xét thế giới như một chỉnh thể và đem lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận. Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ thống triết học, nhưng điểm chung của chúng là đều nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy nói riêng với thế giới. Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển của khoa học, ngược lại chủ nghĩa duy tâm thường được sử dụng làm công cụ biện hộ cho tôn giáo và cản trở khoa học phát triển. Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn gắn liền với các thành tựu của khoa học hiện đại, là sự khái quát các thành tựu khoa học đồng thời nó đóng vai trò to lớn đối với sự định hình phát triển của khoa học hiện đại. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng không thể thay thế các khoa học khác. Theo yêu cầu của sự phát triển đòi hỏi phải có sự liên minh chặt chẽ giữa triết học với các khoa học khác. Như vậy, có thể kết luận: - Kết luận của các khoa học là những tư liệu để từ đó triết học rút ra những kết luận chung nhất. Lớp M12CQDT01-N Page 90
  • 91.
    - Những kếtluận chung nhất của triết học quay lại phục vụ cho các khoa học cụ thể với tư cách định hướng để các khoa học cụ thể có thể đạt được kết quả tối ưu 19. Anh chi hãy trình bày nh̃ng đăc điêm chu yếu cua ̣ự̉̉̉ lic̣h sư tư tương triết hoc̣ Viêṭ Nam Việt Nam là một nước nằm ở đông nam châu á, có vị trí thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa với các nước có sự phát triển sớm là Ấn Độ và Trung Quốc, từ thời cận đại trở đi Việt Nam có sự tiếp xúc và giao lưu với nền tư tưởng và văn hóa thế giới. Với lịch sử hơn 2 ngàn năm văn hiến, dân tộc ta đã phải trải qua hơn 1 ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước do vậy lịch sử chính trị của việt nam trước hết là lịch sử chống giặc ngoại xâm để xây dựng, phát triển và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Hơn 1 ngàn năm bắc thuộc dân tộc việt nam cũng chịu nhiều ảnh hưởng cuả tư tưởng triết học Trung Quốc đặc biệt là tư tưởng Nho Giáo và Phật giáo… Việt Nam có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tồn tại hàng ngàn năm lại được bảo tồn bằng một cơ cấu xã hội khép kín của các làng xã đã trở thành cơ sở hiện thực của một “văn hóa làng mạc”. Tri thức cơ bản của các cư dân nông nghiệp Việt Nam đó là tri thức kinh nghiệm được hình thành một cách tự phát trong sinh hoạt đời sống hàng ngày. Những tri thức như vậy không đủ để hệ thống hóa thành lý luận khoa học tự nhiên, thành các hệ thống triết học thực sự nhưng chúng góp phần làm nảy sinh lịch sử tư tưởng Việt Nam trong đó có tư tưởng triết học. Từ những điều kiện hình thành đó làm cho lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau: Quá trình hình thành và phát triển các tư tửng triết học Việt Nam là quá trình phát triển thống nhất trong mình 2 xu hướng là hướng tự thân từ hiện thực cuộc sống của dân tộc Việt Nam và xu hướng tiếp biến các tư tưởng triết học được du nhập từ bên ngoài như Nho giáo từ Trung Quốc và Phật giáo có gốc từ Ấn Độ trước đó, còn hiện nay là chủ nghĩa Mác - Lenin. Rất nhiều quan điểm triết học của các học thuyết nói trên đã được biến đổi cho phù hợp với phong cách tư duy triết học truyền thống của người Việt Nam, trở thành nhân tố chủ đạo tạo nên quan điểm triết học của người Việt Nam. Về nội dung, tư tưởng triết học Việt Nam không chỉ phản ánh nhu cầu cố kết cộng đồng dân cư làng xã và cộng đồng quốc gia dân tộc để tạo nên nội lực. Mà còn phản ánh nhu cầu học tập người nước ngoài để chống lại sự xâm lược nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc để tìm kiếm thêm ngoại lực từ bê ngoài. Do vậy mà ý thức về cộng đồng, về độc lập chủ quyền đã được nảy sinh rất sớm, được nâng thành tư tưởng yêu nước và thường xuyên được nuôi dưỡng, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc để ngày nay trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Về hình thức thể hiện, các tư tưởng triết học Việt Nam được thể hiện qua rất nhiều hình thức phong phú chứ không giới hạn trong các trước tác của các nhà tư tưởng. Từ các triết lý thể hiện thông qua các truyền thuyết, ca dao, tục ngữ mang nặng tính dân gian cho đến những tư tưởng được gọt dũa khá kỹ trong các tác phẩm, thậm chí ngay cả hoạt động của các phong trào dân tộc cũng là một hình thức và là một phương thức thể hiện tư tưởng ở chiều sâu của tư duy triết học. ========= Triết học có ý nghĩa gì đối với cuộc sống và học tập, công tác của bạn ? Tại sao đến nay thế kỷ XXI vẫn còn đấu tranh giữa CNDV & CNDT ? Lớp M12CQDT01-N Page 91
  • 92.
    ============ SỨ MỆNHTRIẾT LÝ ĐÔNG PHƯƠNG KIM ĐỊNH Bài viết dưới đây là toàn văn chương 1 tác phẩm Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây của Kim Định. Sách được xuất bản lần đầu bởi Nxb. Ra Khơi, 1969. 1. Có triết lý Đông phương chăng? Trước khi bàn đến sứ mệnh triết Đông, tưởng nên thanh toán vấn đề có triết Đông hay không? Vì nếu chưa chắc rằng có triết Đông thì bàn sao được đến sứ mệnh của nó. Nhắc tới vấn đề này, chúng tôi không khỏi thấy ái ngại, vì đang lúc ở đại học các cường quốc Âu Mỹ hầu hết đã có giảng đàn triết Đông, nhiều nơi như Oxford, Honolulu, Harvard lập riêng ra một viện chuyên biệt về triết Đông. Hơn thế nữa từ năm 1939 tới nay có cả thảy ba lần hội nghị quốc tế để tìm một đường lối tổng hợp triết lý đông tây, thì trên giải đất “Minh châu trời đông” của chúng ta còn phải đặt vấn đề có triết đông hay chăng? Như thế tránh sao khỏi hổ ngươi. Hơn thế nữa câu trả lời “La philosophie Orientale! Ca n’existe pas…” (nguyên văn) của một ông tai to mặt lớn nọ trong hội đồng giáo dục quốc gia năm trước vẫn còn ngân vang trong chương trình cả trung lẫn đại học, nơi đó triết Đông vẫn bị coi như một bà con nghèo: nghĩa là chỉ được dành một vài giờ sử rất bấp bênh và lạc lõng. Tình trạng tủi nhục đó hy vọng sẽ được chấm dứt ít lâu. Nhắc tới việc triết Tây làm chủ nhân ông trong chương trình giáo dục nước nhà, chúng tôi không hề có ý than trách một ai, chỉ nhận xét một sự trạng tất nhiên gây ra do sự mất nước. Một khi chủ quyền chính trị, kinh tế đã lọt vào tay ngoại bang thì làm sao bảo đảm được quyền tự do tư tưởng. Phương chi sự trạng đó lại nằm trong một trào lưu lớn lao hơn, tức sự khuynh loát của ảnh hưởng Tây Âu trên các nền văn minh cổ truyền. Vì thế trước đây người ta cho rằng chỉ Tây Âu mới có triết học cũng như chỉ Tây Âu mới có khoa học, không ai nghĩ tới việc phủ nhận điều ấy, và đó chỉ là một ý kiến thông thường phổ cập khắp Tây cũng như Đông trong thế kỷ 19, nên sự kiện bên ta nhiều người còn quan niệm theo như thế cũng là một chuyện thông thường. Nhưng mãi cho tới nay còn có người bênh vực cho ý nghĩ đó thì quả nước ta còn ở trạng thái kém mở mang cả về tinh thần. Xem sang nước người ngay từ thế kỷ 19, Schopenhauer đã cực lực tuyên dương triết lý Ấn Độ. Về ảnh hưởng chung trong làng triết, ông đã như ngôi sao sáng soi trên trời triết Tây suốt bốn mươi năm, nên lời ông rất có hiệu lực. Tuy nhiên về phương diện tranh đấu cho triết Đông chiếm được quyền công dân trong làng triết, giáo sư Zimmer có thuật lại sự kiện lúc ông còn làm sinh viên, thì trừ giáo sư Deussen, môn đệ của Schopenhauer, ngoài ra rất ít người nghĩ rằng Đông phương có triết lý. Và tiếng triết lý Ấn Độ được coi như một danh từ mâu thuẫn chẳng khác chi như nói thép bằng gỗ, hay thỏ có sừng… Tất cả các giáo sư và giới triết học thế kỷ 19 đều đồng thanh cho rằng tiếng triết học nảy nở bên Hy Lạp và chỉ ở Hy Lạp mới có triết lý, và ngày nay nó là di sản riêng của Âu Châu, không nơi nào khác có cả. Mặc dù những sử gia mà những người đứng đầu là Wilthem Dilhey, René Grousset v.v… đã tuyên dương sự cần thiết phải sát nhập tư tưởng Ấn Độ và Trung Hoa vào lịch sử tư tưởng nhân loại (Philosophie de l’Inde, Zimmer 30). Người ta vẫn theo thiên kiến trên (Đông phương không có triết học) vì nó được bảo trợ do những triết gia lớn như Hégel. Bởi thế triết Đông vẫn không được thừa nhận trong giới chính thức một cách dễ dàng. Nhưng ngày lại ngày những luồng tư tưởng đi sâu vào Đông phương trở nên đông thêm và người ta dần dần nhận ra thiên kiến trên kia là sai lầm. Nó chỉ là phát khởi do sự quan sát vòng ngoại diện, hời hợt và không thể đứng vững nếu người ta chịu đi sâu vào thực tế. Bởi vậy dần dần có những người chủ trương Đông phương cũng có triết lý như Tây phương, nhiều người còn đi xa hơn cho rằng triết Đông còn cao hơn triết Tây. Lớp M12CQDT01-N Page 92
  • 93.
    Chẳng hạn Renouvierngười Pháp có viết đại khái: ta phải quỳ gối thán phục trước sự cao cả của triết lý Đông phương. “Quand nous lisons avec attention les monuments poétiques et philosophies de l’Orient et surtout ceux de l’Inde qui commencent à se répandre en Europe, nous y découvrons maintes vérites si profondes et qui font un tel contraste avec la petitesse des résultats auxquels le génie européen s’est quelquefois arrêté que nous sommes contraints de plier le genou devant la philosophie Orientale et de voir dans ce berceau de la race humaine la terre natale de la plus haute philosophie (cité par Schwab dans Renaissances Orientales, p.104, Payot). Đề tựa quyển De la Bête à l’Ange của J.Demarquette, ông H. De Lacroix có viết: “Bên những lý thuyết chói lọi đem bàn đến trong sách này, những lý thuyết triết học chúng ta trở nên xám ngoách” (nos grises théories philosophiques pâlissent singulièrement auprès des doctrines éclatantes dont il est ici question. VIII). Đó chỉ là hai ví dụ nhỏ đại diện cho một trào lưu đi ngược ý kiến chối sự hiện hữu của triết Đông mỗi ngày mỗi bành trướng mạnh mẽ. Và cho tới nay triết Đông đã trở thành một sự hiển nhiên ít ra là trong các nước tiên tiến Âu Mỹ. Ở đấy không ai dám nghĩ tới chuyện chối rằng Đông phương không có triết học nữa. Trái lại nhiều người lo lắng cho số phận triết Tây thì có (xem bài địa vị triết Ấn bên Âu). Các sách triết sử mới xuất bản đều dành cho triết Đông một chỗ danh dự, như mấy quyển “Những triết gia lớn” của K.Jaspers đã để cho Khổng, Lão, Phật, Long Thọ, Mã Minh… những chương rất dài. Nhiều giáo sư người Á Châu đã được mời sang dạy triết Đông bên các đại học Tây phương. Nhiều vi đại diện cho nền triết học Đông phương một cách rât xuất sắc. Đây tôi xin đưa ra một vài ví dụ cụ thể về giáo sư người Á đầu tiên dạy triết Đông bên Anh, ông Radhakrisnan, phó tổng thống Ấn Độ. Nhân dịp kỷ niệm lục tuần của ông rất nhiều triết gia tên tuổi đã hợp tác viết một quyển nhan đề là: Radharkrisnan - comparative studies in philosophy presented in homour of his sixtieth Birthday. Trong lời đề tặng ta đọc thấy đại khái: Âu Tây đã đi tới chỗ nhận ra có nhiều giá trị tinh thần sâu xa ở bên Đông phương mà chưa được thám hiểm ra hết, nó sẽ đóng góp vào việc xây dựng hòa bình trong và ngoài, là cái cho tới nay còn thiếu sót. Sự trao đổi lớn lao đó nhờ rất nhiều vào tài trí và sự thông hiểu của giáo sư Radharkrisnan. [The West has to realise that they are spiritual depths in the Orient which it has not yet plumbed and which will contribute to the inner and outer peace which it has hitherto lacked. This great change largely due to sir S.Radharkrisnan’s genius and understanding.] (The Murhead library of philosophy, London 1932). Nhiều người như Lâm Ngữ Đường giáo sư đại học Harvard danh vang cả hoàn cầu. Và ta có thể nói triết Đông đang tiến lên tuy chậm nhưng chắc. Tại sao gió lại đổi chiều như thế? Sự dành lại độc lập của các nước Á Châu có lẽ đã gây một phần ảnh hưởng vào thái độ trên; nhưng nếu có thì chỉ mạnh ở đại chúng chứ đối với đại tư tưởng gia thường thường biết vượt lên trên những biến cố nhất thời về kinh tế, chính trị để xét tới những chân giá trị. Nếu lúc trước họ chưa thừa nhận triết Đông là tại sự bỡ ngỡ ở buổi gặp ban sơ. Và lúc ấy người ta không nhận ra rằng mới một tiếng triết học cũng đã biểu thị một sự thực rất phiền tạp, đến nỗi ngay giữa triết gia Âu Tây cũng chưa đồng ý nhau về câu định nghĩa triết học là gì như K.Jaspers nhận xét ngay đầu quyển triết học nhập môn. Nhận ra chỗ bất đồng ý kiến đó cũng là một sở đắc mới của giới triết học hiện đại mà những những người đầu tiên có công khám phá ra phải kể đến Oswald Spengler. Trong quyển Déclin de l’Occident ông đã nhấn mạnh rằng Âu Châu đã lầm coi triết học của mình là chính triết học, và nó buộc các luồng tư tưởng nào khác muốn khoác danh hiệu triết phải được đúc trong cái khuôn tư tưởng Hy Lạp. Chưa nhận thức rằng đó chỉ là một loại triết học trong đại gia đình triết học muôn màu muôn sắc. Une philosophie et non pas la philosophie. Đến nay tư tưởng loài người đã biến chuyển và đi đến chỗ truy nhận có nhiều nền văn hóa, nhiều nền văn minh nên cũng có nhiều nền triết học. Đã gọi là nhiều thì tất nhiên có những nét đặc thù phân biệt và bất tất phải theo phương pháp của Tây mới là triết. Cũng như người ta không cần mắt phải xanh, mũi phải lõ mới là người được. Lớp M12CQDT01-N Page 93
  • 94.
    2. Nét đặctrưng của hai nền triết Đông triết Tây Bởi vậy không nên khăng khăng từ khước sự hiện hữu của nhiều thứ triết học, mà trái lại việc quan hệ đầu tiên là tìm ra những nét đặc thù của mỗi nền triết riêng biệt để làm giàu cho nền triết lý chung của nhân loại, và nhân đấy sự quy định sứ mạng triết lý cũng trở nên dễ dàng và đầy đủ hơn. Đó là mục phiêu chúng ta nhằm ở đây và để cho dễ dàng việc khám phá, chúng ta nên cùng nhau ước định về nội dung một số danh từ sau đây: thế nào là minh triết? Thế nào là triết lý? Thế nào là triết học? Minh triết (Sagesse) Nói về hình thức thì minh triết chỉ sự khôn sáng của các thánh hiền đã được kết tinh vào những câu triết ngôn thuộc Truyền Thống tinh thần. Các ngài là những vị siêu quần bạt chúng đã tới cái biết trí tri thể nghiệm nên những lời huấn đức của các ngài tuy vắn tắt kiểu châm ngôn nhưng có hiệu lực muôn đời như: Pythagore, Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca v.v… Các Ngài lo sống cái minh triết hơn là nghĩ đến viết ra sách vở. Phương pháp các ngài là thể nghiệm, trực giác, không dùng đến lý luận, phân tích hoặc dùng rất ít như trường hợp Khổng. Triết lý Là những sách vở do môn đệ các vị trên để lại như: Tuân Tử, Mạnh Tử, Chu Hy, Sankara, Vương Dương Minh… Những đề tài họ suy tư cũng là những vấn đề của thầy, nghĩa là, xoay quanh cứu cánh thân phận con người; phương pháp dùng lý luận biện chứng để tìm hiểu và phổ biến minh triết, nhờ thế mà quảng đại quần chúng hiểu rõ được chỗ sâu xa của minh triết, chẳng hạn đọc Tuân Tử hay Mạnh Tử ta thấy mạch lạc rõ ràng dễ hiểu hơn Khổng Tử nhiều lắm. Như vậy triết lý giống với minh triết ở đối tượng. Cả hai lấy cứu cánh con người làm trọng tâm suy nghĩ, lấy sự thực hiện đến rốt ráo cái tính bản nhiên con người làm mục tiêu (tận kỳ tính) nhưng khác với minh triết về phương pháp. Minh triết nhìn thẳng trực nghiệm, nói như thánh phán, vắng bóng một sự thiếu tin tưởng ở sức mình dù chỉ biểu thị bằng những lý chứng, luận bàn. Vì thế gọi là minh triết, là sáng suốt thấu triệt. Trái lại triết lý thì như không vững tâm được như minh triết, nên phải đưa ra lý sự biện chứng, bàn giải, bởi vậy gọi là triết lý, tức là thấu triệt bằng lý sự chứ không bằng trực thị (minh). Xét về nội tại, nó thấp hơn minh triết, nhưng đối với quảng đại quần chúng thì nó có ích không kém minh triết vì giúp cho nhiều người hiểu được cái thâm thuý của minh triết. Minh triết giống như sân thượng đứng trên có thể phóng tầm mắt ra xa, triết lý ví như thang lên sân thượng, thang đâu có bằng sân thượng, nhưng nếu không có thang thì hầu hết con người không thừa hưởng được gió mát trên sân thượng. Tuy nhiên triết lý vẫn không bằng minh triết. Tuân Tử lý luận rành rọt, Mạnh Tử minh biện nhiều trang giống Platon. Trang Tử với lối văn trào lộng huy hoàng, không có họ có lẽ triết của Lão, của Khổng đã mai một, vì họ làm cho người ta hiểu được Khổng (Zenker 234) nhưng bao giờ họ cũng chỉ được coi là môn đệ của Khổng, Lão tuy các vị này chỉ nói có những câu cụt ngủn. Minh triết và triết lý có thể coi là hương hỏa triết Đông, tuy nhiên không có nghĩa là Tây Âu không có minh triết hay triết lý, nhưng cứ trên chương trình chính thức qua các đời mà xét thì Tây Âu hướng về triết học. Triết học khác với triết lý ở ba đầu mối như sau: Trước nhất về đối tượng không lấy con người mà lấy thiên nhiên sự vật làm trung tâm suy tư. Chẳng hạn bàn về bản thể sự vật, sự hữu chung, bởi vậy các triết gia sơ khởi của Hy Lạp cũng gọi là thiên nhiên học (naturalistes), con người chỉ được bàn đến cách phụ thuộc, hay đúng hơn bằng những phạm trù của sự vật. Thứ đến phương pháp: theo lối khoa học phê phán và phân tách, cố tìm ra những ý niệm độc đáo và tích luỹ sự kiện để kết thành những hệ thống mạch lạc chặt chẽ và cũng hay bàn những vấn đề liên hệ đến khoa học. Lớp M12CQDT01-N Page 94
  • 95.
    Nhân đó vềmục phiêu lấy tri thức làm cùng đích. Triết học được coi là một việc tìm hiểu đối tượng khách quan, một phương pháp thăm dò ngoại vật, nhân đó mà triết học gia cũng thường kiêm nhiệm khoa học gia. Thí dụ điển hình là Aristote và Descartes. Vì thế nó không nhằm thực hiện vào bản thân như triết lý mà nhằm tìm biết sự khách quan. Nói về tầm hoạt động thì minh triết là công việc của những vị dẫn đạo nhân loại. Những người như Khổng, Phật không hề phải dùng đến ly luận. Có lẽ luồng điện từ bản thân của các ngài quá mạnh khỏi dùng tới luận lý mà hiệu lực vượt xa. Triết lý nhằm mục đích khiêm tốn hơn là cố duy trì và mở mang sự nghiệp do các vị hiền triết lưu lại, nhất là trong những thời đã chớm nở nghi kỵ; bớt sống đi và bắt đầu suy nghĩ nhiều. Mức suy nghĩ lý luận càng lên thì mức độ thực hiện càng xuống cho tới triết học thì tầm ảnh hưởng thường không ra khỏi phạm vi trường sở. Về cơ năng con người triết học thường mới đạt tới lý trí, chưa bao quát nổi tâm tình tiềm thức, phương chi nói gì đến cõi tâm linh, như ông Tomlin nhận xét về triết học. “Trong thế giới Tây Âu chúng ta, người ta thường phó thác cho các nhà huyền niệm hay thi sĩ sứ mệnh dẫn đường chỉ lối cho nhân sinh, chí như những nhà triết học, họ thường giới hạn chăm chú vào việc bàn cãi có hay chăng những ngoại vật chẳng hạn như cái bàn hay cái ghế. Sau những phân biệt như trên ta có thể nói Đông phương thiên về minh triết và triết lý, còn Tây Phương thiên về triết học. Chúng tôi gạch dưới chữ thiên để chỉ rõ khuynh hướng chung mà không chối những ngoại lệ. Đã thấy quan niệm Tây Đông khác nhau nhiều cả về đối tượng, phương pháp và cùng đích, không còn lạ gì lúc trước Âu Tây từ chối nhìn nhận triết Đông, vì một khi đã coi triết Tây là chính. Triết viết hoa thì triết Đông không phải là triết, chỉ nên gọi là tư tưởng Đông phương hay là đạo học gì đó. Càng khó nhận ra chính vì nó cố gắng thực hiện không phải ngoài cõi nhân sinh mà ngay trong đời sống, trong lối cư xử, trong cử chỉ… Tây nói sống đã rồi mới biết triết lý “Primum vivere deinde philosophari” thì Đông sẽ nói: Vivere est philosophari; sống chính là đã triết lý! Tây ăn uống đâu đấy rồi mới ra ngồi không mà triết lý; Đông trái lại coi chính việc ăn đã là triết lý. Đây là chỗ có thể áp dụng câu nói về nghệ thuật “nghệ thuật thành công chính là giấu được nghệ thuật”, “l’Art c’est cacher l’art”; triết lý giỏi chính cũng là giấu được triết lý. Triết lý chính tông phải được giấu vào trong cử chỉ, thể hiện vào đời sống và trong cả sự im lặng… chứ không phải triết lý kiểu nhà trường đặt chình ình bên cạnh đời sống nhưng trái lại phải là thực hiện, là đồng hóa triết lý với đời sống: mình với triết lý là một, xóa bỏ sự phân cách giữa mình với triết lý. Đó chính là điều được triết học hiện đại bắt đầu chú ý đến: hiện tượng luận nói phải bãi bỏ triết lý đi bằng cách thực hiện triết lý: “vous ne pouvez suprimer la philosophie qu’en la realisant. Nous avons realisé, c’est pourquoi nous avons supprimé la philosophie”. (Lyotard 126). Marx cũng đã nói đến lý tưởng phế bỏ triết lý bằng thực hiện triết lý. Xưa kia triết học đứng ngoài thời gian nay phải đi vào thời gian, phải gặp thế sự, hễ thế sự biến thành triết lý thì triết lý biến thành lý sự: thực hiện được triết lý tức là phế bỏ được triết lý. Triết Đông đã phần nào đi đến cái sống nên tất cả tâm lý, sinh lý, xã hội, lịch sử đều đáp ứng được những yêu sách của một triết lý cụ thể, hay triết lý nhân sinh. Triết lý bị bãi bỏ như một triết lý xa lìa đời sống mà chỉ còn là một triết lý vô hình vì đã hiện thân trong đời sống, trong thể chế, lịch sử, xã hội. Cái điểm xóa bỏ triết lý, giấu triết vào đời sống là một loại triết lý cần được lưu ý. Nếu cứ lấy nguyên cớ luận lý là mực xét đoán cao hay thấp thì nhiều khi triết Đông không đáng gọi là triết vì đang khi Aristote, Platon chẳng hạn đưa ra những phân tích chi ly, những hệ thống vững chắc như xe tăn, thì Khổng Tử dùng một vài chữ hay mấy câu nhát gừng nhiều khi không thiếu vẻ thô sơ. Nếu đứng ở cùng một quan điểm lý thuyết mà xét thì Khổng Tử không thể nào so sánh được dù chỉ với một quyển luận lý của Aristote. Ở phương diện này Chu Hy còn giá trị hơn Khổng nhiều. Nhưng nếu đứng vào quan điểm thiết thực thì ta thấy Khổng Tử hướng dẫn nổi cả một nhóm người lớn nhất trong nhân loại (đầu thế kỷ 17, nguyên một nước Tàu có 150 triệu dân đang khi Âu Châu mới có 50 triệu) và những hướng tiến ông chỉ trỏ ra cho tới nay nhân loại còn đang phải cố gắng thực hiện. Chẳng hạn hướng triết lý vào những vấn đề thực tế và về thân phận con người. Đặt tiêu chuẩn luân lý nơi nội tâm thay vì nơi thần thoại và nhất là tranh đấu cho con người một địa vị xứng với phẩm Lớp M12CQDT01-N Page 95
  • 96.
    giá của nó…Ngày nay đang khi nhiều vấn đề triết lý nơi khác bị ruồng bỏ như những vấn đề giả tạo thì các vấn đề Khổng Tử đặt ra trở nên khẩn thiết như chúng ta sẽ xem về sau. Vì thế trong thực tế cần phải xét lại quan điểm trước khi so sánh. Nếu không cùng quan điểm mà cứ so đo phê phán tức là đi ngược lại với khoa học, là bám riết lấy một khía cạnh để quên hẳn khía cạnh khác, rồi đôi bên trao đổi nhau những câu phê phán khinh miệt thí dụ chỉ Tây hay chỉ Đông mới có triết… Theo đó chúng ta nên bàn đến vấn đề danh từ triết, để xem có nên dùng chữ triết riêng cho triết học Tây Âu mà thôi chăng? Ai đã bước vào môn triết cũng biết rằng Philosophie do hiền triết Pythagore đặt ra kép bởi hai chữ gốc Hy Lạp: Philo là yêu mến và sophia là sự khôn ngoan, sự minh triết (sagesse). Philosophia như vậy là yêu mến minh triết, nó hàm chứa ý tưởng khiêm tốn không dám xưng mình đã có minh triết hay là hiền triết mà chỉ là yêu mến minh triết như cái gì mình đang cố đạt tới. Vậy minh triết là gì trong ý tưởng của Pythagore? Muốn trả lời đúng cần đặt Pythagore vào trong hoàn cảnh lịch sử của ông để xem ông hiểu thế nào. Ta sẽ thấy ông cũng hiểu tiếng minh triết như các hiền triết Đông phương mà ông đã được học hỏi trong chuyến Đông du (ông đã đến Chaldèe, Perse, Egypt… và có lẽ cả Ấn Độ) nên cũng quan niệm minh triết như một cấp bậc hiểu biết tối thượng về Thượng Đế, về con người và vạn vật, một sự hiểu biết thường là hậu quả của sự thánh thiện và nhân đức. Vì thế đạo lý của ông rất giống những huấn điều của thánh hiền Đông phương chẳng hạn về trai tâm, về thao thủ về sự im lặng v.v… Chỉ cần đọc qua quyển “đời đạo lý” ta sẽ thấy như đọc hiền triết Đông phương. Trường của ông được tổ chức như một dòng tu nhiệm nhặt. Người mới gia nhập phải giữ im lặng liền 7 năm thí dụ… Đó là đại để ý nghĩa uyên nguyên của chữ triết lý. Về sau phái thiên nhiên học của Thalès lấn át thì tiếng Philosophie cũng biến sang nghĩa tìm hiểu thiên nhiên và trở thành một tri thức, một khoa học. Phản đới hướng tiến đó, Socrate đã muốn kéo triết lý trở lại với con người bằng khẩu hiệu “connais-toi toi-même”, hãy tự biết mình mày. Tuy uy tín Socrate rất lớn, nhưng hai môn đệ ông là Platon và nhất là Aristote đã hướng triết học chúi hẳn sang phía tri thức và từ đấy tiếng Philosophie dần dần để trụt mất ý nghĩa nguyên thuỷ của nó và chỉ còn áp dụng cho một thứ tri thức phần nhiều lấy thiên nhiên làm đối tượng và nhân đấy Đông phương chính vì còn trung thành với ý nghĩa nguyên thuỷ, mới bị từ khước cái danh hiệu triết, mà đáng lý ra theo gốc tiếng thì chỉ có triết Đông mới còn đáng gọi là triết lý. Chứ như triết học Tây phương chỉ là những bài triết có tính cách trường ốc hàn lâm xa lìa đời sống chưa bao giờ đủ thành thục để thấu nhập vào đời sống đại chúng, như triết lý Đông phương. Nhưng nếu phân xử như vậy e lại rơi vào một thái quá như kiểu nói chỉ Tây mới có triết lý. Vì thế chúng tôi đề nghị dùng tiếng triết để chỉ cả hai nền suy tư Đông cũng như Tây; còn nếu muốn phân biệt thì nên dùng tiếng triết lý cho Đông, và triết học cho Tây. Vì lúc đó hai tiếng triết lý và triết học không còn nghĩa phổ thông như ta quen dùng coi như một, mà đã trở nên danh từ chuyên khoa với những dị biệt như đã trình bày ở trên về đối tượng và phương pháp. Nhưng đó chỉ là những danh từ ước định đề nghị ra để chỉ thị những thực tại khác nhau, có được chấp nhận cùng chăng không quan hệ cho bằng vấn đề trọng đại hơn là quy định sứ mạng triết lý, vì chính sứ mạng, chính mục phiêu của triết sẽ ảnh hưởng vào đường lối và đối tượng… Sứ mạng đó có phải là tri thức như Tây phương hiểu hay là hướng dẫn đời sống con người như Đông phương nhấn mạnh. 3. Sứ mạng triết Đông Trả lời điểm này rất phiền tạp, vì câu thưa sẽ lại tuỳ thuộc khá nhiều vào quan niệm và tiêu chuẩn. Nếu theo tư tưởng cổ điển của Tây Âu thì quan niệm triết lý như một công việc tri thức về thiên nhiên là đúng, nghĩa là đúng với quan niệm Tây Âu; và ngược lại bảo rằng triết lý phải hướng dẫn đời sống thì cũng đúng, tức là đúng với quan niệm Đông phương. Vấn đề tế nhị là thế nên đây chúng ta tự hạn chế vào khía cạnh thời sự của luận đề tức là tìm hiểu hướng tiến được các triết gia lớn hiện đang theo đuổi. Lớp M12CQDT01-N Page 96
  • 97.
    Chúng ta cóthể nói khuynh hướng hiện nay là từ bỏ lối độc chiếm tự tôn để đi tới một tổng hợp, hay đúng hơn đi tới một cuộc thống nhất hòa tấu: untity orchestrated như danh từ đại hội triết học quốc tế 1949 đã dùng (Moore p.1). Hội nghị này đã nhấn mạnh ý chí của các đoàn viên cố gắng đi đến một sự bổ túc làm giàu lẫn nhau. Một đàng Đông phương chịu ảnh hưởng rất nhiều từ Tây phương về: 1) phương diện lý luận trình bày và chú ý đến phần lịch sử hơn, 2) đàng khác đưa vào một óc phê phán được thức tỉnh và không chấp thuận dễ dàng mọi huấn điều tiền nhân, 3) dùng sự mổ xẻ phân tích dưới nhiều khía cạnh khác nhau để làm sáng tỏ vấn đề. Ảnh hưởng sâu xa đến nỗi ngày nay muốn bàn về triết Đông các họp thời phải là người đã đọc và hiểu khác lâu triết Tây: am hiểu phạm trù và lịch sử của nó. Ngược lại một triết gia Tây phương ngày nay mà không biết gì triết Ấn Độ và Trung Hoa ít ra là về lập trường chung thì bị coi là thuộc thời tiền Colomb (trước khi tìm thấy thế giới mới), hay nữa tuy không biết cách chuyên biệt thì ít ra lập trường cũng không còn giữ vững được như thời cổ điển Tây phương nữa, vì triết cổ điển đang bị chính các tư tưởng gia Tây phương đạp đổ trên khắp nẻo đường. Và triết học bị coi là một chứng bệnh (V.P 236). Pascal cho rằng triết học không đáng cho ai phí vào đó dù chỉ một giờ. Tóm lại đâu cũng là đổ vỡ. Cả một nền triết học mới vứt vào mặt những nguyên lý triết học cổ điển một tiếng Không tàn nhẫn. Sự cố gắng của triết học Tây Âu hiện đại chỉ là một cuộc tưng bừng phá đổ nền triết cổ điển của họ, đó là cảm tưởng chung sau khi đã đọc một số giáo sư lớn: một J.Wahl, một Gusdorf, các triết gia Nietzsche, Kierkegaard, K.Jaspers v.v… Bachelard viết cả một quyển triết lý Không để minh chứng rằng phương pháp không cần theo Newton nữa, danh lý không cần theo Aristote, vật lý không cần theo Newton… Ông Weber viết trong quyển Tableau de la philosophie contemporaine: “có lẽ nhà lịch sử tương lai sẽ lấy hội nghị các nước Á Phi ở Bandoeng năm 1955 làm tờ từ chức sứ mệnh của triết học Tây phương “L’historien de l’avenir tiendra peut être la confèrence afrasiatique Bandoeng de 1955 pour l’acte de démission de la philosophie européenne” (tr.20). Ta có thể nói tóm rằng triết học Tây phương hiện phát động một phong trào di cư vĩ đại: di cư từ những nền móng cũ đến định cư trên những nguyên lý mới: Nhận nguyên lý biến dịch thay vào ý niệm bản thể im lìm (xem bài triết lý Đông phương động) Nhận nguyên lý cơ thể thay vào ý niệm cơ khí… Bớt chú trọng về phía triết học thiên nhiên để nhấn mạnh đến thân phận con người. Nhận nguyên lý lưỡng nhất (Principe polarisable) thay cho nhị nguyên cũ. Nhân đó nhận phần nào quan niệm tương đối trong chân lý thay vào quan niệm tuyệt đối, và vì vậy óc tương dung được đề cao, nếu chưa phải là nhận cả nguyên lý của nó. Những nguyên lý này rồi đây chúng tôi sẽ đào sâu trong các cảo luận. Ở đây chỉ cần ghi nhận điều này: tất cả các nguyên lý trên đã được thừa nhận và dùng làm giềng mối cho triết Đông từ bao ngàn năm xưa liên tiếp cho tới ngày nay. Tuy nhiên chúng tôi không có ý nói những nguyên lý đó là của riêng Đông phương; trái lại chúng tôi ghi nhận thực tại lịch sử này: Tây phương có nhiều môn phái mâu thuẫn nhau như Truyền thống khác với cổ điển, Duy niệm khác với Hiện sinh, và chúng ta sẽ gặp nhiều may mắn đi đến thống nhất nền triết lý nhân loại nếu Tây phương tiến mạnh vào lối Truyền Thống và Hiện sinh, vì đó là những trào lưu đi gần Đông phương. Ta hãy nghe Nietzsche một trong những ông tổ của triết Hiện sinh bày tỏ sứ mệnh triết lý ra sao. Ông trưng lại lời của triết gia Alcuin: “Thiên sứ đích thực của triết gia là điều chỉnh những điều chênh lệch, kiện tráng những điều chính nghĩa, thăng hoa những điều thánh thiện (La véritable vocation royale pour une philosophie: Prava corrigere et recta corroborare et saneta sublimare. V.P.257). Trang 259 ông thêm: quy định điều phải điều trái, nhận xét những sự kiện cách chung là một việc khác hẳn với truyền lệnh và đổi mới, đào tạo và xây đắp, cai trị và quy hướng ý muốn. Đó mới là cốt Lớp M12CQDT01-N Page 97
  • 98.
    tuỷ của triếtlý. Đưa vào cho sự vật một ý nghĩa ấy là giả sử nếu sự vật chưa có. Đấy là nhiệm vụ còn lại cần phải làm cho xong. Cao lên một bậc nữa là đưa ra một mục đích và thích ứng các sự kiện theo đó để định hướng hành động, chứ không phải chỉ biến hình những ý niệm. Nếu có bao giờ ta tới được cùng đích văn hóa thì phải dùng những sức lực mỹ thuật phi thường để đập tan cái bản năng tri thức vô biên, để làm lại nền thống nhất. Phẩm giá tối cao của triết gia xuất hiện khi người tập trung bản năng tri thức tuyệt đối bắt nó quy phục vào nền thống nhất. Tương lai triết lý là gì? Là phải trở nên tòa thượng thẩm cho một nền văn minh mỹ thuật, một thứ tổng công an chống với mọi sự thái quá. Triết Hiện sinh đi rất sát lại triết Đông. Cũng như hội nghị triết lý Đông Tây đã công nhận rằng ngày nay Tây đã gần Đông hơn trước kia: but the West is nearer to the East than has just been seen (Moore p.204), gần vì thái độ cởi mở đó nhận trước kia ít có, và gần nữa vì triết học đã bắt đầu biết để khoa học lại cho khoa học hầu chuyên tâm nhiều vào những vấn đề thân phận và cứu cánh của con người, chăm lo đến đời sống. Đó là cùng hướng với triết Đông mà sứ mệnh được thâu gọn vào chữ Đạo học. Chữ đó thật là thâm thuý, tiếc thay hay bị coi thường; vì phần đông lẫn nó với mớ mệnh lệnh luân lý hình thức nên không định giá đúng mức được tiếng Đạo học, chứ nếu hiểu đến chỗ uyên nguyên thì danh từ Đạo học đã nói lên được sứ mệnh của triết lý; tức làm sáng tỏ và hướng đạo cho nhân sinh, nhận thức và giúp thực hiện được cái tính bản nhiên của con người: tận kỳ tính. “réaliser l’humanité en soi”. Như thế, việc làm chính cốt hiện nay của triết Đông phương không phải là đi rập mẫu triết học duy niệm để sản ra một thứ triết học duy trí không ăn nhằm chi tới nhân tâm thế đạo, với cuộc sống hưng vong của quê nước, đời sống bấp bênh đầy gian khổ của đồng bào, mà chỉ là thứ trao dồi tri thức quá thoát đời của mấy người nhàn rỗi. Không! Sứ mệnh nó là phải làm sống lại những nguyên lý hết sức phong phú của Truyền Thống còn lưu lại trong triết lý Đông phương, phải nhờ những tiến bộ về biện chứng và khoa học để khám phá ra những khía cạnh mới lạ khả dĩ hướng đạo cho con người thời đại. Tổng hợp những suy tư, những phân tích bất kể của Đông hay Tây, Nam hay Bắc. Nhận thức lại cái tinh thần sâu sắc để khơi nguồn cho đời sống tâm linh vươn lên; thống nhất lại các giá trị mới hãy còn vất ngổn ngang bừa bãi; đem lại cho nhân sinh một luồng sinh khí dồi dào vừa được canh tân; thổi sinh khí vào nhân loại đang ngạt thở trong trăm ngõ hẻm chuyên môn phân cách và bịt bùng, được thở bầu khí bao la khoáng đạt tinh thần của con người toàn diện. Đó là sứ mệnh triết lý Đông phương. Nó phải cố gắng lắm mới đáp lại được lòng mong chờ của người thời đại đặt để vào nó. 4. Dự đoán tương lai Quả nhiên là “nhiệm trọng nhi đạo viễn”, gánh thì nặng mà đường thì xa, nhưng sự thành công chắc chắn sẽ chờ ở cuối đường. Sử gia Toynbee có dự đoán sự thành công đó sẽ đến trong giai đoạn hậu lai như sau: “Cái gì là hiện tượng bật nổi hơn hết, ở thời đại chúng ta mà trong những thế kỷ sau này các sử gia sẽ tách rời ra, khi họ khảo cứu đầu bán thế kỷ 20 để cứu xét các hoạt động? Nó sẽ không phải là những biến cố về kinh tế, về chính trị, về cơ khí mà các nhật báo hiện đang kéo tít trên trang nhất, đó chỉ là những biến cố nhất thời phù phiếm, nó làm cho ta lãng quên những biến động chậm chạp hơn, ít thấy xuất hiện trên mặt, nhưng lại tác động mạnh và tác động vào các tầm sâu. “Nhưng thật ra chính đó là những tác động bề sâu mà mai hậu sẽ hiện lên lớn lao, còn những biến chuyển bề mặt lại rút lui vào những tầm thước thực sự của chúng. Phải có sự lùi xa mới thấy được tầm kích đích xác của từng loại biến cố. Lớp M12CQDT01-N Page 98
  • 99.
    “Cho nên tôithiết tưởng các nhà sử gia tương lai sẽ cho biến cố lớn hơn hết trong thế kỷ 20 là sự xung động của nền văn minh Tây phương trên các xã hội khác trong khắp thế giới. Họ sẽ nói: sự xung động đó mạnh mẽ và có tính cách thấu nhập đến nỗi nó làm đảo lộn cuộc sống mọi xã hội, khuấy trộn mọi tập quán, làm tan rã mọi công hội cổ truyền. Đó là điều họ sẽ nói tới vào những năm 2047, tức là 1000 năm sau (sách của tác giả xuất bản năm 1947) và họ sẽ nói gì năm 3047, tức là 2000 năm sau? “Lúc ấy họ sẽ chú trọng đến những phản kích ghê sợ mà nền văn minh khác sẽ gây ra trong đời sống của người xâm chiếm (tức Âu Châu). Chừng ấy văn minh Âu Châu xét theo lúc ra khỏi thời Trung cổ sẽ biến thái đến nỗi không còn nhận ra được bộ mặt trước của họ dưới ảnh hưởng dồn dập của những nền văn minh khác: nào chính thống, nào Islam, nào Ấn Độ, nào Viễn Đông. “Đến năm 4047 thì sự khác biệt Đông Tây không còn nữa, mà chỉ còn là một khối nhân loại duy nhất. “Năm 5047 không còn chú trọng gì đến vấn đề kinh tế chính trị, kỹ thuật, mà chỉ còn có một vấn đề tinh thần: Tôn giáo” (lược dịch Civilisation à l’épreuve p.228-233). Đây là những dự đoán của một sử gia nổi tiếng vào hạng nhất hiện nay, dựa vào lịch trình của các sự gặp gỡ trên 20 nền văn minh mà lịch sử đã ghi lại dấu vết. Những sự gặp gỡ đó tuy xảy ra dưới những hình thức khác nhau, nhưng cuối cùng cũng đã đi đến câu kết trở thành ngạn ngữ: “tư tưởng hướng dẫn thế giới” (les idées gouvernent le monde). Mà với Đông phương chính triết lý là tinh thần, là hồn sống cho tôn giáo, tôn giáo chỉ là biến thể của minh triết. Năm 1848 là lúc người Anh còn nắm vững chủ quyền trên đất Ấn mà toàn quyền Hasting đã tiên đoán rằng: “không bao lâu nền đô hộ của Anh quốc trên đất Ấn Độ sẽ qua đi hết, nhưng triết lý Ấn Độ sẽ còn sống mãi mãi”. Hôm nay chúng ta cũng có thể nói rằng: một ngày kia người ta sẽ ít nhắc tới sự người Tây Âu lấn át người Á Châu trên các phương diện kinh tế, kỹ thuật. Những biến cố đó sẽ qua đi, nhưng triết lý Đông phương sẽ còn sống mãi, sẽ mở rộng thêm ảnh hưởng và hợp với triết Tây để làm nên một nền triết thống nhất có thể gọi là “Đa giáo đồng nguyên” của toàn thể nhân loại không phân biệt Đông Tây… Hiện nay nếu còn phải gọi tên triết Đông và triết Tây thì đó cũng là một việc bất đắc dĩ ở bước khởi đầu, là bước cần thiết phải vượt qua càng sớm càng hay. Bởi trong phạm vi triết lý bao lâu chưa vượt được những tên địa dư là dầu còn bất toàn, là chưa đi đến chỗ cùng tột. Trong các phạm vi khác thuộc văn học, chính trị, kinh tế, mỹ thuật, có thể dung hòa những đặc thù thuộc địa phương chứ trong triết lý phải cố gắng đi tới chỗ phổ biến. Nói triết Đông, triết Tây cũng là một sự hàm hồ. Chính ra phải nói những cố gắng về triết lý đã được khởi công ở bên Đông hay bên Tây thì đúng hơn. Vì nếu đã là triết lý chính tông thì sẽ vượt qua mọi đặc thù địa phương để không còn là Đông hay Tây, Nam hay Bắc, như lời nói của Lục Tượng Sơn “Đông hải có thánh nhân, tâm ấy đồng, lý ấy đồng; Tây hải có thánh nhân, tâm ấy đồng, lý ấy đồng. Ngàn đời về trước có thánh nhân, ngàn đời về sau này có thánh nhân, tâm ấy cũng đồng, lý ấy cũng đồng”. Đó là cùng đích ta phải cố gắng vươn tới. Điều đó ngày nay xem ra có nhiều hy vọng thực hiện được, có lẽ trong một thời hạn còn mau hơn dự đoán của Toynbee. Vì cơ khí đã đảo lộn mọi nếp sống cũ không cứ gì Đông mà cả Tây. Có biết bao giá trị cổ truyền đã hết hiệu lực, nhiều khi chỉ còn là bản kẽm cũ mòn thường hay bóp ngạt đời sống tinh thần hơn là đem lại luồng sinh khí mong muốn; có còn người theo cũng chẳng qua là tạm đỡ, nhưng không phải không có lòng mong đợi những giá trị mới về nhân sinh. Dựng lên những giá trị mới đấy là sứ mệnh triết lý; đem lại cho đời sống một ý nghĩa để đưa nhân loại thoát ra khỏi cơn khủng hoảng tinh thần hiện nay, đó là sứ mệnh triết lý. Hướng dẫn nhân loại trên đường đi về cứu cánh con người, đó là sứ mạng của một nền triết lý không phân biệt Đông hay Tây mà là triết nhân sinh, triết lý của con người muôn thưở. Lớp M12CQDT01-N Page 99
  • 100.
    Tư duy hướngnội của Phật giáo và vai trò của nó trong tư duy của người Việt Theo bài viết, tư duy hướng nội của Phật giáo không chỉ là một sản phẩm đặc thù của lịch sử tư duy Ấn Độ, mà còn là một trong những đặc trưng nổi bật của tư duy phương Đông. Thực chất của tư duy hướng nội là sự nhận thức hướng vào trong, để tâm tĩnh lặng và nhờ đó, “thấy được sự vật như chúng tồn tại”. Đó chính là cơ sở của giáo lý giải thoát của Phật giáo. Đồng thời, bài viết chỉ ra rằng, do Việt Nam tiếp thu Phật giáo khá sớm nên sự ảnh hưởng của tư duy hướng nội tới tư duy người Việt trong lịch sử là khá đậm nét và phổ biến, từ giới Phật học tới giới trí thức phong kiến và tầng lớp bình dân ở Việt Nam. Tư duy hướng nội của Phật giáo là một sản phẩm đặc thù của lịch sử tư duy Ấn Độ từ thời Cổ - Trung đại, đồng thời là một trong những đặc trưng nổi bật của tư duy phương Đông. Phật giáo ra đời khi Ấn Độ đã có một nền tảng triết học và tôn giáo bề thế với lịch sử hơn 1500 năm trước CN và đã chuyển sang giai đoạn tư duy thứ ba, nghĩa là vượt qua các giai đoạn  thần (huyền) thoại và ? thần quyền để đến giai đoạn ? nhân bản, tức là đến giai đoạn bắt đầu giải thiêng, giải thần quyền và chuyển dần sang lấy con người làm trung tâm. Như vậy, ngay từ đầu, Phật giáo “nguyên thủy” không còn là hệ tư duy “nguyên thủy” với tư cách sơ khởi của văn minh loài người. Thậm chí, có thể nói, Phật giáo có tư duy triết học trước khi hoàn chỉnh tư duy tôn giáo. Nhờ vậy, tư duy hướng nội của Phật giáo không còn ở trình độ thấp, mà đã vượt qua giai đoạn cảm tính, bản năng đơn giản. Vậy, thực chất tư duy hướng nội của Phật giáo là gì? Việt Nam là một trong những nước du nhập Phật giáo từ rất sớm và do đó, cũng tiếp thu đặc trưng tư duy này của Phật giáo. Vậy, ảnh hưởng của loại tư duy này trong tư duy và lối sống của người Việt Nam trong lịch sử và hiện nay ra sao? 1. Tư duy hướng nội của Phật giáo Trong kinh điển Phật giáo, đặc biệt là trong Phật học và Thiền học, thuật ngữ “nội quán” (vipssana) là một khái niệm chuyên chỉ tư duy hướng nội, có từ thời đức Phật. Người đã tiếp thu và phát triển phương thức tư duy hướng nội này từ truyền thống Bà La Môn giáo - một tôn giáo thần quyền của Ấn Độ. Ngày nay, phương thức tư duy hướng nội của Ấn Độ vẫn tồn tại trong các khóa tu tập cũng như trong các sách chuyên luận về thiền (Dhyana, Zen, Ch’an, Meditation) và Yoga, hay trong Kinh Yoga (Yoga Sutra) nổi tiếng của Ấn Độ do Patanjali biên tập từ thế kỷ thứ II sau CN. Nhiều tôn giáo phương Đông cũng thực hành phương thức này trong tu luyện, như Bà La Môn giáo (Ấn Độ giáo), Mật giáo Tây tạng, Đạo Lão, Phật giáo.(*) Nội quán được thể hiện một cách có hệ thống trong giáo lý Phật giáo. Có thể nói, toàn bộ giáo lý Phật giáo là một “tập kỳ đại thành” có hệ thống về con người như một chỉnh thể hướng nội/nội quán. Trước hết, Phật giáo quan niệm con người là con người - khổ với những quy định tâm - sinh lý (dục vọng, ngu dốt) từ bên trong. Để diệt được khổ phải hướng vào bên trong để diệt nguyên nhân của khổ trong mỗi người. Tứ diệu đế quyết định hướng tư duy của toàn bộ giáo lý Phật giáo là con người hướng nội. Trong đó, bản thể của vũ trụ gắn liền với bản thể con người ở tầm phổ quát qua các phạm trù: duyên khởi, vô thường và vô ngã. Cả ba phạm trù này đều phản ánh nguồn gốc, bản chất và quy luật không (tức duyên khởi, vô thường, vô ngã) của sự vận động của con người. Không không có nghĩa là trống không, mà là không có một thuộc tính hay sự vật riêng biệt, bất biến, vì chúng chỉ tồn tại thật trong các quan hệ (duyên khởi) có tính tương đối, nhất thời của các yếu tố tạo nên chúng. Do tồn tại của vũ trụ cũng như con người là sự hình thành, biến đổi, thay thế các quan hệ, nên chúng không có thuộc tính bất biến và do vậy, chúng là “vô thường”. Trên cơ sở đó, Phật giáo khẳng định bản thể người là không, tức vô ngã; vì đó chỉ là sự hợp tan trong quan hệ của các yếu tố (vật chất và tinh thần) trong các điều kiện (ngẫu nhiên, cần và đủ), nên nguồn gốc khổ đau của con người chính là do không hiểu quy luật phổ quát của vũ trụ, không hiểu con người cùng các quan hệ của nó luôn vận động, biến đổi (vô thường), mà cứ tưởng là có một ngã/ta đích thực tồn tại vĩnh viễn. Ý nghĩa tôn giáo ở đây là, khi con người giác Lớp M12CQDT01-N Page 100
  • 101.
    ngộ được bảnchất vô thường của vũ trụ, của tồn tại cũng như vô ngã của chính mình thì tức là đã giác ngộ được nguồn gốc của khổ và từ đó, chủ động, tự giác thoát được khổ. Tứ diệu đế của Phật giáo gồm bốn phần. Khổ đế chỉ ra các loại khổ, đó là: cái khổ tự nhiên do chính tồn tại có tính vô thường của con người quy định, như sinh, lão, bệnh, tử; cái khổ do tâm - sinh lý, ý thức của con người có tính xã hội quy định, như ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tăng hội; cái khổ do tính duyên khởi của các yếu tố (ngũ uẩn) hợp nên, gọi là ngũ uẩn xí thịnh khổ. Theo Khổ đế, tất cả mọi người đều bình đẳng với nhau về nỗi khổ. Phàm đã là người thì đều khổ, không có sự loại trừ về đẳng cấp, xuất thân hay dân tộc. Đó là cái khổ bị quy định từ bên trong và do vậy, khi con người ta càng hướng ra ngoài để khẳng định cái ta/ngã thì càng khổ, càng hướng ra ngoài để tìm kiếm, thỏa mãn tham, sân, si, thì càng chuốc thêm khổ. Cho nên, để diệt được khổ (vô vi, tự tại, giải thoát), người ta phải trở vào bên trong chính mình (hướng nội/ nội quán). Tập đế phân tích căn nguyên của khổ rằng, chính vì tư duy, ý thức phụ thuộc vào, chấp vào hình thức bên ngoài, nên con người không tự giác về bản chất đích thực của mình là vô ngã. Vì bám vào hình thức bên ngoài, nên con người thường nhầm lẫn (vô minh) tưởng có một ta/ngã đích thực. Một khi con người hướng ra ngoài thì ngay lập tức vướng vào các nghiệp (thân, khẩu, ý), tạo nên chuỗi các nguyên nhân gây ra khổ. Chuỗi nguyên nhân gây nên quả khổ đó được khái quát thành “Thập nhị nhân duyên”(1). Từ đó, Diệt đế chỉ ra rằng, con người cần phải hướng vào bên trong để diệt nguồn gốc của khổ, đó là diệt vô minh và dục vọng từ trong tâm tưởng. Diệt được vô minh và dục vọng là đạt tới giải thoát. Tiếp đó, Đạo đế phân tích con đường hướng nội đúng đắn và khả thi để đi tới giải thoát, đó là sự kết hợp tu giới - định - tuệ trong tám bước liên hoàn hướng nội, gọi là Bát chính đạo(2). Đây là một hệ thống hướng nội kết hợp tu dưỡng thân tâm không tách rời tu dưỡng trí tuệ, đạo đức và niềm tin theo quy trình trở về bên trong, trở về cái ban đầu của mọi cái, đó là trở về vô ngã, trở về không. Có thể nói, quan niệm giải thoát của Phật giáo là nhất quán con đường hướng nội. Trên con đường đó, mỗi người tự quay trở vào nhận thức về khả năng, căn cơ, trình độ của bản thân để tự đi, tự tới đích, chứ không nhờ sự ban ơn, cứu vớt của đấng siêu nhân nào. Một khi giác ngộ bản chất đích thực của mình, con người sẽ tự giác tránh xa ái dục và các căn nguyên tạo nên nghiệp báo và luân hồi, đó cũng là đích cuối cùng của con đường giải thoát. Giáo lý giải thoát Phật giáo dựa trên cơ sở lý luận nhận thức về hai loại chân lý và hai con đường nhận thức chân lý. Phật giáo cho rằng, có hai con đường nhận thức: hướng ngoại và hướng nội, với hai loại chân lý: chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Con đường thứ nhất là con đường của nhận thức thông thường (hướng ngoại), thường dựa vào kinh nghiệm và khái niệm về thế giới hiện tượng bên ngoài. Song, do bề ngoài luôn vận động và biến đổi theo quy luật vô thường nên con đường đó chỉ có thể tiệm cận vô cùng tới thực tại, chỉ nắm bắt được chân lý tương đối. Ngược lại, con đường thứ hai, hướng vào trong để trở về tâm tĩnh lặng đến lúc không còn cảm giác về thân nữa, không còn cảm thọ nữa, cũng không còn tưởng nữa, mọi hoạt động của tâm thức đều ngưng nghỉ (vô niệm, hay tịnh, chỉ), được gọi là “nội quán”. Khi đó, trực giác bừng sáng và nắm bắt trực tiếp được tồn tại, tức là giác ngộ được chân lý tuyệt đối. Phật giáo ý thức được rằng, sự phân đôi chủ - khách là chia chẻ, giết chết thực tại và do đó, không thể nhận thức được thực tại như là chính nó, là “khi thế giới với mọi thứ phân hai chưa bắt đầu hình thành”(3). Phật giáo khẳng định nội quán là phương thức khả thi nhất làm cho tâm bình lặng, “nhờ tâm bình lặng mà nhìn thấy được sự vật như chúng tồn tại... tâm bình lặng thì dục vọng, tham đắm do thế giới khách quan gây ra cũng không chi phối được tâm”(4), tức đạt tới giải thoát. Tư duy hướng nội của Phật giáo nguyên thủy được phát triển liên tục qua hai trường phái triết học Đại thừa là phái Duy thức (Hữu luận) và phái Trung quán (Không luận) với những vấn đề cơ bản về Lớp M12CQDT01-N Page 101
  • 102.
    bản chất, đốitượng và con đường của thức. Phái Duy thức phát triển nguyên lý tính không về bản thể nguyên sơ của vô thức(5) trên cơ sở bảo tồn triết lý duyên khởi trong Thập nhị nhân duyên mà đức Phật đã chỉ ra. Theo đó, thức cũng chỉ là sự kết hợp tạm thời của nhiều yếu tố trong các điều kiện (nhân duyên) nhất định. Phái Duy thức chủ trương đối tượng của thức là A lại gia thức, tức là vô thức, vô niệm. Con đường nhận thức là trở về với A lại gia thức vốn có bên trong, chứ không phải thế giới bên ngoài chủ thể nhận thức. Do vậy, phái này tiếp tục phát triển phương pháp tu luyện nội tâm của Yoga với mục tiêu tu luyện năng lực trực giác bằng nội quán, trở về tới tận A lại gia thức. Phái Trung quán khai thác và phát triển chủ đề thức tập trung vào vấn đề khả năng và con đường nắm bắt chân lý. Xuất phát từ triết lý duyên khởi, phái Trung quán khẳng định rằng, để nắm bắt được bản chất tối hậu của tồn tại là không thì con người phải thoát khỏi thói quen nhận thức hướng ngoại, không được nương vào ngôn ngữ, khái niệm và kinh nghiệm, mà phải trở vào bên trong vắng lặng của vô thức, tại đó trực giác (tức Bát nhã; Pali: Prajna) sẽ bừng giác ngộ được tồn tại đích thực. Phái Trung quán tiếp tục khẳng định có hai chân lý: chân lý tương đối là khả năng nắm bắt tồn tại qua hình thức bên ngoài, nhưng hình thức là cái luôn vận động, biến đổi theo quy luật vô thường, cho nên nó không thể phản ánh đúng bản chất đích thực, tối hậu của tồn tại; chân lý tuyệt đối là khả năng nắm bắt tồn tại đích thực đằng sau hiện tượng bằng trực giác (Bát nhã). Con đường của trực giác là trực tiếp, không phụ thuộc vào hình thức, ngôn ngữ, suy lý, mà trở lui, lội ngược dòng tâm thức, cho tới vô niệm, vô thức. Như vậy, con đường nhận thức là đi ngược, theo cách hiểu về học của phương Đông là “học cho đến vô học!”. Đỉnh cao tư duy nội quán của Phật giáo được thể hiện ở Thiền tông Đại thừa của Trung Quốc. Đó là sự tiếp thu tổng hợp cả hai trường phái Duy thức và Trung quán của Phật giáo Ấn Độ, đồng thời kết hợp thêm Đạo của Lão - Trang để thể hiện thành nguyên tắc nhận thức độc đáo “vô chấp”, “vô trụ”, “vô trú” trong tư duy và lối sống của thiền sư và tu sĩ Phật giáo. Tóm lại, từ góc độ lịch sử tư tưởng, tư duy hướng nội luôn có ý nghĩa khẳng định giá trị độc đáo của tư duy Phật giáo với tư cách một trường phái tư duy của phương Đông. Nhận thức luận nội quán chính là lý luận về trực giác Bát nhã của Phật giáo Đại thừa - Thiền tông. Nó không chỉ góp phần làm phong phú thêm phạm trù trực giác (intuition) trong nhận thức luận của triết học hiện đại, mà còn mở ra một hướng rèn luyện, chủ động khai thác tư duy sáng tạo của con người từ một năng lực tiềm ẩn thành sức mạnh nội năng sẵn có. Ý nghĩa của tư duy hướng nội (nội quán/trực giác) của Phật giáo có thể đánh giá sơ bộ trên một số vấn đề của nhận thức luận hiện đại như sau: Thứ nhất, theo thuyết tính không của Phật giáo Đại thừa, tư duy hướng nội là loại nhận thức đặc biệt - trực giác (vượt qua cảm tính bản năng đơn giản và lý tính trừu tượng). Đó là phương thức nhận thức trực tiếp đối tượng, không thông qua bất kỳ trung gian nào với một số đặc tính sau: 1) trực tiếp; 2) cụ thể, đặc thù; 3) phi ngôn ngữ; 4) có thể rèn luyện được theo kỹ thuật thiền định của Phật giáo. Thứ hai, nhận thức hướng nội của Phật giáo có thể so sánh và làm phong phú thêm nội dung quan niệm về trực giác của tư duy phương Tây nói riêng và tư duy nhân loại nói chung. Trực giác có nhiều loại khác nhau. Song, trực giác (Prajna) của Thiền Phật giáo đang được coi là cùng tầng, thậm chí cao hơn trực giác siêu nghiệm. Đây là trình độ trực giác đang còn được nghiên cứu và kiểm chứng bởi liên ngành một số khoa học hiện đại. Thứ ba, trực giác nắm bắt được bản chất thực tại hiện hữu, cá biệt đem lại thường là đúng đắn. Tuy nhiên, khi có sự can thiệp của suy luận, nhận thức lý tính, hoặc ảo tưởng, ảo giác, thì trực giác cũng có thể sai lầm. Thứ tư, trực giác có thể đóng vai trò tích cực và khả thi trong nhận thức thông thường hay nhận thức khoa học nói chung ở hai khía cạnh: 1) trực giác góp phần khám phá, phát minh ra tư tưởng mới; 2) trực giác là sự tổng hợp chuỗi dài các ý niệm được bừng sáng. Khả năng này có thể rèn luyện bằng thiền định hay tập trung nghiên cứu cao độ. Lớp M12CQDT01-N Page 102
  • 103.
    Sự phê pháncủa Phật giáo đối với hạn chế của nhận thức hướng ngoại có mức độ hợp lý nhất định từ góc độ vấn đề tính tương đối của giá trị nhận thức. Từ cơ sở này, Phật giáo đã triển khai, xây dựng phương pháp nhận thức hướng nội. Nhìn chung, Phật học và Thiền học đã vận dụng nhận thức hướng nội trong quá trình phối hợp các yếu tố tâm linh, tâm lý qua kỹ năng tập trung điều chỉnh, thậm chí đạt tới trình độ dừng dòng suy nghĩ để khai thác và phát triển năng lực trực giác của cá nhân. Cho đến nay, đây vẫn là một nội dung thú vị, độc đáo của Thiền học và Phật học cũng như thực hành thiền định của Phật giáo ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. 2. Con người Việt Nam đã tiếp thu tư duy hướng nội của Phật giáo như thế nào? Việt Nam đã tiếp thu Phật giáo từ nhiều hướng, nhiều lần, nhưng sớm nhất và trực tiếp là từ Ấn Độ, sớm hơn cả Trung Quốc, cho nên ảnh hưởng của tư duy Phật giáo đối với người Việt Nam không hoàn toàn giống với người Trung Quốc. Sự tiếp thu đó không đơn tuyến và không phải một lần, mà còn trong quan hệ với quá trình tiếp thu và ứng dụng Nho, Lão. Và, đặc biệt, chúng đều là các tư tưởng ngoại lai. Vì thế, khi bàn về Phật giáo nói chung và tư duy Phật giáo nói riêng của người Việt Nam, chúng ta không thể tách riêng tuyệt đối Phật giáo, mà phải trừu tượng hóa một cách tương đối bằng cách nghiên cứu tư tưởng Phật giáo qua một số tác phẩm của một số đại diện tư tưởng Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử. Lần thứ nhất, Phật giáo vào Việt Nam khi tư duy của người Việt chưa thoát khỏi thời kỳ thần (huyền) thoại để bước sang thời kỳ thần quyền, nên sự tiếp thu tư duy Phật giáo đang ở thời kỳ giải (giản) thần quyền đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tư duy của người Việt và tạo nên một tiền đề mở cho sự tiếp thu những cái mới, cái ngoại lai về sau, như Nho giáo, Thiền tông, v.v.. Hiện nay, chúng ta không có đủ tư liệu để phân tích tư duy của người Việt cổ đã có gì và thay đổi gì khi tiếp thu Phật giáo - Bụt từ Ấn Độ. Nhưng chắc chắn, biểu tượng ông “Bụt” từ bi với những triết lý về cuộc sống, như lẽ vô thường, khổ, giải thoát, luân hồi, cùng những lời khuyên con người nên kiềm chế dục vọng và làm điều thiện, tránh điều ác, tích phúc đức cho kiếp sau..., đã được tín ngưỡng dân gian của văn minh lúa nước Việt Nam tiếp nhận rất sớm và được lưu giữ trong một số chuyện cổ tích, huyền thoại, huyền sử, cũng như trong lễ nghi, lễ hội nông nghiệp lúa nước của người Việt. Tới thời Trần, ta vẫn thấy vua Phật Trần Nhân Tông dùng từ Bụt nhiều lần trong Cư trần lạc đạo, có lẽ vì Bụt đã thành Phật giáo của người dân Việt. Các trước tác và dịch phẩm Phật giáo ở Việt Nam thời kỳ này, như Lý hoặc luận của Mâu Tử, Lục độ tập kinh, Bát thiên tụng Bát nhã, An ban thủ ý..., đã giới thiệu các nội dung giáo lý cơ bản của Phật giáo và ảnh hưởng của chúng đến tư duy, lối sống người Việt rất ấn tượng. Trong các trước tác đó, tư duy hướng nội cũng là một trong những yếu tố được giới thiệu và được tiếp thu trong thời kỳ này: - Lý hoặc luận của Mâu Tử giới thiệu quan niệm cơ bản của Phật giáo trên tinh thần so sánh với Nho và Đạo để làm nổi ưu điểm của giáo lý Phật giáo về việc con người tự giác giải thoát khỏi khổ bằng cách hướng nội. Các phạm trù vô thường, Đạo, Đại giác, thành Phật, chúng sinh, nghiệp báo, ngũ giới, trì giới, ăn chay, bố thí, vô vi, giải thoát, Nê Viên,... được giới thiệu như một cách nhìn mới mẻ, độc đáo về thiện ác, về con người và lẽ sinh tử của Phật giáo cho người Việt Nam. - Lục độ tập kinh giới thiệu các khái niệm về vũ trụ, nhân sinh và thiên về luận giải nội tâm, khuyên người ta tự giác thực hành tu luyện thiền định và giữ giới, đó là con đường để đạt tới giác ngộ và giải thoát, như bản nguyên, vô số kiếp, tam giới, hình tướng, bản vô, tồn tại vắng lặng, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, ngũ giới, hạnh Bồ Tát, cứu độ chúng sinh, quy y, Tam Tôn, Tam Bảo, Như Lai, Tứ Đại, Tứ Thiền,... - Bát thiên tụng Bát nhã là bộ kinh thuộc văn hệ Bát nhã, trình bày tư tưởng tính không - một tư tưởng cơ bản của Phật giáo Đại thừa. Tư tưởng này được phát triển đặc biệt ở Trung Quốc và là cơ sở hình thành nên xu hướng nội quán của Thiền tông. Nó “ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ thiền học Lớp M12CQDT01-N Page 103
  • 104.
    Việt Nam nóiriêng, cũng như toàn bộ Phật giáo Việt Nam nói chung, đặc biệt là Phật giáo thời kỳ Lý - Trần”. - An ban thủ ý là cuốn kinh có ý nghĩa như giáo trình dạy phép đếm hơi thở để điều tâm, thiền định, chủ yếu là thực hành tu luyện hướng nội. Những lần du nhập Phật giáo vào Việt Nam tiếp sau chủ yếu tiếp thu Phật giáo Đại thừa từ Trung Quốc, với các phái thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, chủ yếu qua tầng lớp trí thức, vua chúa, quan lại trong triều và một số người Trung Quốc di cư sang Việt Nam. Do đó, lần du nhập thứ hai này đã tạo nên một văn hóa Phật giáo bác học của Việt Nam với đỉnh cao là dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử thời Trần. Tuy nhiên, Phật giáo dân gian không hề bị mất đi, mà nó tiếp tục phổ biến trong các tầng lớp lao động và vùng làng quê qua các lễ nghi, tín ngưỡng Phật giáo bình dân, thậm chí nhiều yếu tố Phật giáo dân gian còn ảnh hưởng trở lại một số dòng Phật giáo bác học và tạo nên đặc trưng Phật giáo Việt Nam như: - Tỳ Ni Đa Lưu Chi là phái thiền lấy tên vị thiền sư Ấn Độ. Đây là dòng thiền đầu tiên ở Việt Nam. Dòng thiền này chú trọng việc tu luyện thiền định để khai thác trí tuệ Bát nhã (trực giác nội quán) và các nội năng kỳ diệu trên cơ sở thuyết tính không của Trung quán luận. Thiền phái này chủ trương tư duy siêu việt ngôn ngữ, với “tinh thần không chấp trước,… vô trú nghĩa là không chấp có cũng không chấp không, không trú ở có, cũng không trú ở không… cảnh giới của thiền định siêu việt ngôn ngữ văn tự và tư duy khái niệm”. Các thiền sư Việt Nam thuộc các thế hệ sau của phái này đều chịu ảnh hưởng của tư tưởng đó. Điển hình là vua Lý Thái Tông (thế hệ thứ 7), Đạo Hạnh (thế hệ 12) và Huệ Sinh (thế hệ 13) đều đề cao quan điểm về nhận thức này. - Vô Ngôn Thông là phái thiền thứ hai vào Việt Nam, lấy pháp hiệu của một thiền sư Trung Quốc. Tư tưởng cơ bản của thiền phái này là tu luyện thiền định để đạt tới cảnh giới vô niệm, vô ngôn. Đó là “một thế giới nội tâm hoàn toàn vắng lặng, khi dòng suy nghĩ miên man, liên tục, lộn xộn của tâm thức được chấm dứt. Khi ấy, trí tuệ vốn có của con người bừng sáng, thực tại sẽ hiển lộ rõ ràng trước mắt. Đó chính là sự giác ngộ và giải thoát. Đó chính là Niết Bàn”. Các thế hệ sau của dòng thiền Vô Ngôn Thông, như Cảm Thành (tổ thứ 2) và Thiện Hội (tổ thứ 3), … tiếp tục khẳng định rằng, “chân lý không phải ở đâu xa, mà ở ngay hiện tiền, ở trong bản thân mỗi người, nhưng chân lý đó chỉ có thể tu chứng trực tiếp, … mọi sự phân tích lý tính đều phương hại đến sự ngộ đạo (ngộ tâm - chân như)”. - Thảo Đường là thiền phái thứ ba của Việt Nam, ra đời trong thời Lý, do sư Thảo Đường sáng lập và truyền đạo cho vua Lý Thánh Tông (thế hệ thứ nhất), vua Lý Anh Tông (thế hệ thứ năm). Dòng thiền này chủ yếu phát triển trong Hoàng gia và giới quý tộc có thế lực thời đó. Do vậy, nó đã có sự tác động trực tiếp đến tư duy của họ trong đường lối trị nước. - Trúc Lâm Yên Tử là dòng thiền Phật giáo của Việt Nam, hình thành vào đời Trần. Vua Trần Nhân Tông là tổ sáng lập ra thiền phái này trên cơ sở tiếp thu, kế thừa tư tưởng cơ bản của các phái thiền đã có ở Việt Nam. Do đó, thiền phái này nằm ngoài đường hướng chung của Thiền tông Đại thừa. Có thể nói, đây là sự thống nhất giáo hội Phật giáo Việt Nam lần đầu tiên, “dứt bỏ các truyền thừa từ trước có nguồn gốc bên ngoài”. Các nhà tư tưởng Phật giáo Trúc Lâm đều là các vị vua chúa, hoàng tộc giữ các trọng trách lớn của quốc gia, đồng thời là các vị anh hùng dân tộc. Nhiều người đã để lại trước tác thể hiện tư tưởng Phật giáo Việt Nam thời kỳ này. Từ góc độ tư duy, nổi bật nhất là các trước tác bàn về các vấn đề bản thể tính không và nhận thức hướng nội đặc sắc của Thiền tông. “Điểm đáng chú ý là các nhà thiền học thời Trần rất tích cực trong việc kêu gọi hướng vào tâm mà tìm thấy tính”, “quay đầu nhìn vào phía bên trong”, coi sự “tìm thấy bản tính là một sự trở về” và “nếu tự mình không tìm thấy bản tính” thì “chẳng ai có thể truyền tâm cho mình”, do đó mọi người phải tự tìm lấy!”. Trong lời tựa của Thiền Tông Chỉ Nam, vua Trần Thái Tông đã đề cao vai trò của tư tưởng Phật giáo như là đường lối trị quốc lúc đó: “…phương tiện để mở lòng mê muội, con đường sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của đức Phật. Đặt mực thước cho hậu thế; làm khuôn mẫu cho tương Lớp M12CQDT01-N Page 104
  • 105.
    lai, ấy làtrọng trách của tiên thánh… nay lẽ nào trẫm không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách nhiệm của mình, giáo lý của Phật làm giáo lý của mình ư!”. Đến đây, ta có thể thấy khá rõ ràng là, tư duy hướng nội của Phật giáo đã được vận dụng linh hoạt trong hoạt động chính trị - xã hội ở Việt Nam thời kỳ phong kiến. Đến thời kỳ này, có thể nói, Phật giáo Việt Nam đã chấm dứt quá trình du nhập và đã khẳng định được đường hướng và phong cách độc lập với những đóng góp to lớn cho dân tộc. Về mặt tư duy, một số phạm trù cơ bản về con đường hướng nội của Phật giáo bác học đã được nhiều nhà Phật học và Thiền học giải thích bằng tâm hồn người Việt, khiến chúng trở nên gần gũi với tư duy của nhiều tầng lớp trong xã hội. Chẳng hạn, các thuật ngữ “vô chấp”, “vô trụ”, “vô trú” của Thiền Trung Quốc được luận giải qua các thuật ngữ Việt thông dụng và dễ hiểu hơn, như “trực nhập”, “vô niệm”, “vô ngôn”, “quay đầu trở vào phía bên trong”, “trở về”, “mở lòng”,… Giới trí thức, đặc biệt là các quan lại và quân vương trong triều, đều hiểu hoặc thông thạo Phật học, Thiền học và có thể ứng dụng những kiến thức đó vào các đối sách ngoại giao, văn hóa với nước lớn Trung Quốc - cũng là một nước có truyền thống Phật giáo. Đối với tầng lớp bình dân ở Việt Nam, Phật giáo được coi là tôn giáo truyền thống, tuy không cao siêu như là Thiền học hay Phật học, nhưng lại chứa đựng những triết lý nhân sinh, được thể hiện sinh động qua lối sống và tín ngưỡng của người Việt một cách giản dị. Nói cách khác, tư duy hướng nội cao siêu khi đi vào tầng lớp dân thường thì được đời thường hóa, dân gian hóa, nôm na hóa, và thông tục hóa. Đối với Phật giáo dân gian, có thể thấy rằng, tư duy hướng nội không bàn tới các chủ đề bản thể hay chân lý tuyệt đối, như Phật tính, tính không, Bát nhã, chân như, vô ngôn, vô trụ…, mà chú trọng tới việc tu dưỡng đạo đức cá nhân một cách tự giác theo nguyên tắc hướng nội: “Phật tại tâm”. Việc đánh giá hành vi đạo đức đúng hay sai, thiện hay ác không phải là từ người khác, mà phải tự mình ngay thẳng với tâm mình, hay tự “mình làm mình chịu”. Việc tự đánh giá này luôn phân biệt rõ: coi trọng cái đạo đức bên trong (tâm) hơn là cái tài có thể thi thố với thiên hạ. Người dân thường tự nhắc rằng, “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” và thực hiện phương châm “diệt Tam độc” (tham, sân, si) trong tâm để bỏ các hành vi gây nghiệp ác của bản thân, như ái, ố, hỉ, nộ; đồng thời coi đó là cách để xây dựng, bồi đắp các hành vi cao đẹp, như từ bi, bác ái, hỉ xả,… để tích nghiệp thiện. Hiện nay, để Phật giáo có thể đóng góp thực sự cho triết học nói chung, cũng như phù hợp với chủ trương “tôn giáo đồng hành cùng dân tộc”, thì việc triển khai phương thức nhận thức hướng nội này phải gắn liền với các vấn đề chung của tôn giáo dân tộc trên tinh thần “Đạo pháp - dân tộc - chủ nghĩa xã hội” mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã lựa chọn. Từ góc độ tư duy, đối với Phật giáo bác học của Việt Nam, có thể nói, tư duy nội quán của Phật giáo được tiếp thu nổi trội trên một số đặc trưng sau: 1) lý luận khái quát về con người nội tâm - đạo đức tôn giáo (khổ và giải thoát khỏi khổ là tự chính mình từ bên trong); 2) phương thức tư duy hướng nội, điển hình nhất là nhận thức trực giác của Thiền tông Phật giáo; 3) nguyên tắc siêu vượt khái niệm, kinh nghiệm và ngôn ngữ khiến hệ tư duy “mở”, nên dễ dàng chấp nhận các tư tưởng ngoại lai. Đồng thời, Phật giáo bác học Việt Nam vẫn tiếp tục nhấn mạnh đặc trưng con người nội tâm trên cơ sở thuyết vô thường, vô ngã để khắc phục “tình trạng thiếu cân đối trầm trọng giữa đời sống vật chất và cuộc sống tâm linh” nhằm hoàn thiện các chuẩn mực nhân cách hướng nội đặc trưng của một tín đồ Phật giáo truyền thống, kết hợp với các yêu cầu của tôn giáo dân tộc trong thời đại mới, đó là góp phần “giữ gìn giềng mối đạo đức kỷ cương, tránh sự phạm pháp, tránh sự lai căng mất gốc…”. Theo đó, biện pháp thực hiện là phải từ chính mỗi người. Đó là, “giúp con người hiểu rõ sự thật của tự thân, sự thật của thế giới mà con người đó đang sống, thấy rõ hướng đi của đời mình, và chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình”, “hướng tới xây dựng con người toàn diện, nhân bản và trí tuệ”. Hướng nội còn là một nội dung được Phật giáo đặc biệt chú trọng trong môn Duy thức học, vì môn Duy thức học “chú trọng phân tích nội tâm, kết hợp với tu tập thiền định”. Trong thực tế, Phật giáo Việt Nam đang tích cực mở thêm nhiều Thiền viện nhằm phổ biến kỹ thuật thiền định để tu luyện nội tâm và để có được “trực giác nhạy bén”. Lớp M12CQDT01-N Page 105
  • 106.
    Đối với Phậtgiáo dân gian, ảnh hưởng của tư duy hướng nội chủ yếu dưới sự hướng đạo của Phật giáo bác học, qua các bộ luận giải về kinh Phật hay giáo lý Phật giáo của các thiền sư, các nhà Phật học và qua đó, gián tiếp tác động tới tín đồ bình dân qua các hoạt động tín ngưỡng, như tụng kinh, nghi lễ hay lễ hội của Phật tử tại gia hoặc trên chùa, dần dần điều chỉnh hành vi đạo đức và tư duy hướng nội của họ. Nhìn chung, tư duy hướng nội của Phật giáo đã góp phần tạo nên nét tư duy riêng, lối sống nhân văn của người Việt. Có thể nói, sức sống của Phật giáo phần nào cũng chính là sự cân bằng, điều hòa, chuyển giao giữa Phật giáo bác học với Phật giáo dân gian qua các phép tu luyện nội quán và đạo lý nhân văn của dân tộc Việt. Cho đến nay, nội quán của Phật giáo vẫn phát huy một số giá trị độc đáo có tính nhân văn cao. Chẳng hạn, nếu đặt mục đích để rèn luyện đạo đức từ nội tâm, làm chủ các cảm xúc, thư giãn tuyệt đối, điều chỉnh dòng ý thức và tập trung tư tưởng cao độ vượt qua các tác động nhiễu loạn bên ngoài, thì nội quán của Phật giáo vẫn là một khuynh hướng khả thi. Nó đã được khoa học về tâm - sinh lý hiện đại (phương Tây) kiểm chứng, chứng minh và đang được rất nhiều người theo học và thực hành tu tập, kể cả những người không phải tín đồ Phật giáo. II. NHỮNG NỘI DUNG CỦA TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM Yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử tư tưởng Việt Nam thể hiện ở: 1. Những nhận thức về dân tộc và dân tộc độc lập Cộng đồng người Việt được hình thành sớm trong lịch sử, có tên gọi là Việt. Để phân biệt với nhiều tộc người Việt ở miền nam Trung Quốc, nó được gọi là Lạc Việt. Nhận thức về dân tộc và độc lập dân tộc của người Việt là cả một quá trình. Quan niệm về dân tộc Việt ngang hàng với các dân tộc khác, chứng minh rằng, Lạc Việt ở về phía sao Dực, sao Chẩn độc lập với sao của người Hán ở phương bắc. Dân tộc Việt Nam thuộc phía Nam Ngũ Lĩnh - nghĩa là có địa giới rõ ràng, được Trời phân định. Xuất phát từ thiên văn, địa lý, các nhà tư tưởng Việt Nam đã chứng minh về mặt lịch sử “Núi sông nước Nam thì vua nước Nam trị vì” (Lý Thường Kiệt). Nguyễn Trãi đã chứng minh dân tộc Việt Nam có đủ các yếu tố văn hiến, lãnh thổ, phong tục, lịch sử, nhân tài, có bề dày như các dân tộc khác. Nhận thức của Nguyễn Trãi là bước phát triển mới trong quan niệm về dân tộc và độc lập dân tộc. Điều đó chứng tỏ dân tộc Việt Nam là một dân tộc độc lập, có chủ quyền. 2. Những quan niệm về nhà nước của một quốc gia độc lập ngang hàng với phương bắc Xây dựng nhà nước của dân tộc Việt Nam có quốc hiệu, quốc đô, đế hiệu, niên hiệu, v.v thể hiện sự ngang hàng và độc lập với nhà nước phương bắc. Ví dụ, tên hiệu của người đứng đầu nhà nước chuyển từ vương sang đế. Lý Bí bỏ những tên gọi mà phong kiến phương bắc áp đặt cho ta như Giao chỉ; Giao Châu, Nam Giao, v.v đặt tên mới. Điều đó nói lên rằng, nhà nước Việt Nam là nhà nước độc lập không phụ thuộc, ngang hàng với nhà nước phong kiến phương bắc. 3. Những nhận thức về nguồn gốc, động lực của cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước Muốn có được nguồn gốc, động lực của cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước phải: Coi trọng sức mạnh cộng đồng người Việt; coi trọng sức mạnh của nhân dân, của cả dân tộc; coi trọng đoàn kết toàn dân tộc. Như vậy, tư tưởng yêu nước Việt Nam khác biệt với tư tưởng yêu nước của các dân tộc khác. Nó được đúc kết bằng xương máu và trí tuệ trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. III. NHỮNG QUAN NIỆM VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI Lớp M12CQDT01-N Page 106
  • 107.
    Các nhà tưtưởng Việt Nam quan tâm nhiều tới “đạo trời” và “đạo người”. Trong ba truyền thống: Nho - Phật - Lão-Trang, thì sau thời kỳ Lý - Trần, người ta hướng nhiều về đạo Nho. Các nhà yêu nước và nhân đạo thì khai thác những nội dung của Nho nhưng diễn đạt được sự yêu nước, yêu dân, yêu con người, tin ở sức mạnh lòng người Việt. Các nhà tư tưởng phong kiến khác thì khai thác những gì của Nho mà củng cố tôn ti, trật tự, đẳng cấp. Cùng với Nho, các nhà tư tưởng cũng tìm đến Phật trong việc giải quyết những công việc của đời thường. Khi thất thế trên đường danh lợi họ lại tìm đến Lão-Trang để tự tư tự tại, được an ủi. Như vậy, trong lịch sử tư tưởng Việt Nam các nhà tư tưởng khai thác những khía cạnh khác nhau của Nho - Phật - Lão-Trang phục vụ cho “đạo làm người” của mình. Lớp M12CQDT01-N Page 107