Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                 GVHD: Phạm Ngọc Phong                                  PHẦ...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                  GVHD: Phạm Ngọc Phong                                    ...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                   GVHD: Phạm Ngọc Phonghiện theo đúng niên độ. Cuối năm ng...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                    GVHD: Phạm Ngọc Phong     Chi NSNN được chia thành chi ...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                    GVHD: Phạm Ngọc Phongninh và trật tự an toàn xã hội; ho...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                   GVHD: Phạm Ngọc Phonghướng đầu tư, kích thích hoặc hạn c...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                  GVHD: Phạm Ngọc Phonghiện có hơn 1 tỷ người đang phải sốn...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                 GVHD: Phạm Ngọc Phongthường xuyên cũng ưu tiên cho các vùn...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                     GVHD: Phạm Ngọc PhongChi NSNN nhằm mục tiêu xoá đói gi...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                  GVHD: Phạm Ngọc Phongvật chất và trang thiết bị của y tế ...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                 GVHD: Phạm Ngọc Phongnghèo trong hưởng thụ các dịch vụ này...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                  GVHD: Phạm Ngọc Phongchuyển giao phức tạp và dễ bị yếu tố...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                   GVHD: Phạm Ngọc PhongTừng bước đổi mới phương thức phân ...
Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo                 GVHD: Phạm Ngọc Phongquốc gia nhằm giảm đói nghèo, bởi vì ...
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

chi ngan sách

534

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
534
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
1
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Transcript of "chi ngan sách"

  1. 1. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phong PHẦN MỞ ĐẦU Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu, mục tiêu xoá đói giảm nghèokhông chỉ có ở nước ta mà còn nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Nghèo đóikhông chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội được hưởng thụ thành quả văn minhtiến bộ của loài người mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về vấn đề kinh tế xãhội đối với sự phát triển, sự tàn phá môi trường sinh thái. Vấn đề nghèo đói không đượcgiải quyết thì không một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế cũng như quốc gia định ranhư tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hoà bình ổn định, đảm bảo các quyền conngười được thực hiện. Đặc biệt ở nước ta, quá trình chuyển sang kinh tế thị trường vớixuất phát điểm nghèo nàn và lạc hậu thì tình trạng đói nghèo càng không thể tránh khỏi.Theo số liệu thống kê mới nhất, hiện nay cả nước có khoảng trên 2 triệu hộ nghèo đóichiếm 11% tổng số hộ trong cả nước. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói nhưngphải kể hơn cả là thiếu vốn và kỹ thuật làm ăn. Vốn cho người nghèo đang là một nghịsự nóng hổi trên diễn đàn kinh tế. Giải quyết vốn cho người nghèo để thực hiện mục tiêuxoá đói giảm nghèo đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Vậy, nhà nước đã quantâm tới người nghèo như thế nào? Nguồn vốn đó xuất phát từ đâu? Đó là lý do mà hômnay em chọn đề tài: “Chi ngân sách nhà nƣớc trong xóa đói giảm nghèo” để làm bàitiểu luận.Võ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 1
  2. 2. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phong NỘI DUNG⪧CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN1. Khái quát về ngân sách nhà nước (NSNN) và chi ngân sách nhà nước:Ngân sách nhà nước: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đãđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm đểbảo đảm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nướcThu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế,phí,lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của cáctổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luậtLà một trong hai nội dung cơ bản của ngân sách nhà nước: -Chi NSNN thể hiện các quan hệ Tài chính – Tiền tệ được hình thành trong quá trìnhphân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhànước và thực hiện các chức năng chính trị, kinh tế, xã hội của Nhà nước. -Chi NSNN là sự kết hợp hài hoà giữa quá trình phân phối quỹ NSNN để hình thànhcác quỹ tài chính của các cơ quan, đơn vị và quá trình sử dụng các quỹ tài chính này. -Chi NSNN là các khoản cấp phát, thanh toán từ quỹ NSNN cho các cơ quan, đơn vịvà cá nhân có tính không hoàn lại. Quy mô của chi NSNN phụ thuộc vào quy mô cáckhoản thu của NSNN và những nhiệm vụ chi mà nhà nước cần phải thực hiện -Chi NSNN gắn chặt với bộ máy quản lý nhà nước và việc triển khai thực hiệnnhững nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội mà nhà nước phải đảm nhận. -Chi NSNN là một quá trình liên tục, gắn bó mật thiết với sự tồn tại và phát triển củanền kinh tế và đời sống xã hội, việc xây dựng dự toán và quyết toán chi NSNN được thựcVõ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 2
  3. 3. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phonghiện theo đúng niên độ. Cuối năm ngân sách có số kết dư để chuyển sang năm sau, nếu cóthâm hụt, phải xác định rõ nguồn bù đắp và sẽ được xử lý vào năm ngân sách tiếp theo. *Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, là chủ thể duy nhất có quyềnquyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN; quyết định tổng dự toán và tổng quyếttoán NSNN; quyết định bổ sung, điều chỉnh chi NSNN giữa các nhiệm kì, kể cả tổng mứcchi đối với những công trình lớn, đặc biệt quan trọng của quốc gia. -Chi NSNN được phân cấp cho chính quyền địa phương quản lý và điều hành. ỞTrung Ương do Chính Phủ trực tiếp quản lý, ở các cấp chính quyền địa phương do UỷBan Nhân Dân quản lý dưới sự giám sát của Hội Đồng Nhân Dân Việc bố trí các khoản chi NSNN thường được xem xét đến tính hiệu quả ở tầm vĩmô, có tính đến lợi ích quốc gia, các vùng lãnh thổ, các khu vực, các địa phương trên cơsở thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và nâng cao đời sống nhândân đã được Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân các cấp thông qua. Các khoản chi NSNN nói chung thường không mang tính bồi hoàn trực tiếp; ngoạitrừ một số khoản chi NSNN cho vay hỗ trợ, ưu đãi thông qua tổ chức tín dụng đặc biệtcủa Nhà nước mang tính đặc thù của mỗi quốc gia trong từng thời kì nhất định. Các khoản chi NSNN gắn liền với các phạm trù kinh tế như đầu tư phát triển, lợinhuận, tiền lương, viện trợ... và thường chịu sự tác động trực tiếp của các phạm trù giá trịnhư giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền tệ, tín dụng...2. Phân loại chi ngân sách nhà nước Phân loại chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN vào các nhóm, các loại chikhác nhau theo những tiêu chí nhất định. - Theo mục đích kinh tế - xã hội của các khoản chi:Võ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 3
  4. 4. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phong Chi NSNN được chia thành chi tiêu dùng và chi đầu tư phát triển - Theo tính chất các khoản chi: Chi NSNN được chia thành chi cho Y tế; chi cho Giáo dục; chi Phúc lợi; chi quản lýNhà nước; chi đầu tư Kinh tế... - Theo chức năng của Nhà nước: Chi NSNN được chia thành chi nghiệp vụ và chi phát triển - Theo tính chất pháp lý: Chi NSNN được chia thành các khoản chi theo luật định; các khoản chi đã được camkết; các khoản chi có thể điều chỉnh. - Theo yếu tố các khoản chi: Chi NSNN được chia thành chi đầu tư phát triển; chi thường xuyên và chi khác.Trong đó: Chi đầu tư phát triển bao gồm các khoản chi về: đầu tư, xây dựng các công trình kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn; đầu tư và hỗ trợ cho cácdoanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần,liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theoquy định của pháp luật; bổ sung dự trữ của Nhà nước; đầu tư phát triển các chương trìnhmục tiêu Quốc gia, dự án Nhà nước; các khoản chi đầu tư phát triển theo quy định củapháp luật. Chi thường xuyên bao gồm các khoản chi về: các hoạt động sự nghiệp, giáo dục, đàotạo, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học vàcông nghệ; các sự nghiệp xã hội khác; các hoạt động sự nghiệp về kinh tế, quốc phòng, anVõ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 4
  5. 5. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phongninh và trật tự an toàn xã hội; hoạt đông của các cơ quan Nhà nước; hoạt động của ĐảngCộng sản Việt Nam, Uỷ Ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động ViệtNam, Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam...; trợ giátheo chính sách của Nhà nước; phần chi thường xuyên thuộc các chương trình mục tiêuquốc gia, dự án Nhà nước; hỗ trợ quỹ Bảo hiểm xã hội, trợ cấp cho các đối tượng chínhsách xã hội các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật; trả nợ gốc vàlãi các khoản tiền do Chính phủ vay.3. Vai trò của ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nướcNgân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triểnsản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội.- Điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tếNgân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích pháttriển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹđạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện chonền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kếtcấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môitrường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàngkhông đến hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc cấp vốn hìnhthành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độcquyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Và trongnhững điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗtrợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bịcho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huyđộng nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò địnhVõ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 5
  6. 6. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phonghướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh- Giải quyết các vấn đề xã hộiTrợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt nhưchi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu,các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗtrợ đồng bào bão lụt.- Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát, bình ổn giá cả thị trường hàng hoáNhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiếnlược. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữquốc gia. Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu củachính phủ. Kiềm chế lạm phát: cùng với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệthích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ.Dân giàu thì nước mới mạnh, vì vậy việc thực hiện xóa đói giảm nghèo rất được đảng vànhà nước quan tâm. Các chương trình xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam bắt đầu được triểnkhai thực hiện từ đầu thập kỷ 90, với các mục tiêu tăng thu nhập cho người nghèo, cảithiện mức sống và gia tăng phúc lợi xã hội thông qua các dịch vụ công thiết yếu và traoquyền nhiều hơn cho người nghèo. Chi NSNN cung cấp nguồn lực tài chính cho việc thựchiện những mục tiêu trên... Vậy chi ngân sách được nhà nước thực hiện như thế nào?Tình hình ra sao?⪧CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TRONG XÓA ĐÓIGIẢM NGHÈO:Đói nghèo không chỉ là thách thức đối với các nước nghèo và các nước đang phát triển,mà luôn là mối quan tâm hàng đầu của cả thế giới. Nghèo đói là tình trạng một bộ phậndân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Những nhucầu này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội, phong tục tập quán của từngvùng được xã hội thừa nhận. Chuẩn nghèo tuyệt đối do Ngân hàng Thế giới xác định là 1USD và 2 USD/người/ngày tính theo sức mua ngang giá (PPP) năm 1993. Trên thế giớiVõ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 6
  7. 7. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phonghiện có hơn 1 tỷ người đang phải sống trong cảnh nghèo khổ với mức thu nhập dưới 1USD/ngày. Song nếu xét theo chuẩn nghèo tương đối - thể hiện ở tình trạng một bộ phậndân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương tại một thời kỳnhất định - thì ngay cả ở các nước phát triển cũng có người nghèo. Chẳng hạn, các nướcEU xác định người nghèo là người có mức thu nhập ít hơn 60% mức thu nhập bình quânđầu người ở quốc gia đó.Ở Việt Nam, tuy mức chênh lệch giàu nghèo không lớn, song quá trình phân hoá diễn rakhá rõ nét. Năm 2006 thu nhập của 20% người giàu nhất gấp 8,37 lần so với thu nhập của20% người nghèo nhất,trong khi đó tỷ lệ này là 6,99 lần vào năm 1995. Sự chênh lệchgiàu nghèo còn được phản ánh trong việc hưởng thụ các hàng hoá và dịch vụ, bao gồm cảdịch vụ công – là những dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống của tất cả mọi người, trong đócó người nghèo. Chi tiêu của nhóm 20% người giàu nhất cho chăm sóc sức khoẻ năm2006 gấp 3,9 lần chi tiêu của nhóm người nghèo cho dịch vụ này, đối với giáo dục, tỷ lệnày là 5,75 lần.Chương trình xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam bắt đầu được triển khai thực hiện từ đầuthập kỷ 90 và đến năm 2002, Chính phủ đã đưa ra Chiến lược toàn diện về tăng trưởng vàgiảm nghèo. Trong những năm qua, Việt Nam đã thu được những thành tựu quan trọngtrong xoá đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo theo ngưỡng nghèo mới năm 2009 là 12,3% sovới mức 34,4% năm 1995 và 18,10% năm 2004.Chi tiêu ngân sách nhà nước là một công cụ quan trọng nhằm cung cấp nguồn lực tàichính cho việc thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Chi NSNN dưới các hình thứcnhư chi đầu tư, chi thường xuyên tự thân nó đã hướng đến thúc đẩy sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước, nâng cao thu nhập cho dân cư, trong đó có người nghèo. Hơn thếnữa, trong bố trí các loại chi nói trên, Chính phủ đã thể hiện sự quan tâm đến mục tiêuxoá đói giảm nghèo. Các định mức phân bổ chi thường xuyên và chi đầu tư cho các địaphương đều tính đến yếu tố nghèo. Tiêu chí phân bổ chi đầu tư cho các địa phương cótính đến tỷ lệ hộ nghèo, với mức 1 điểm cho 10% tỷ lệ hộ nghèo. Định mức phân bổ chiVõ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 7
  8. 8. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phongthường xuyên cũng ưu tiên cho các vùng núi, vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu và vùngcao. Chẳng hạn, mức chi cho giáo dục trên 1 người dân ở vùng sâu cao hơn ở vùng đô thịlà 1,5 lần, tương tự, mức chi cho y tế chênh lệch giữa hai vùng này gấp 1,7 lần. Đồngthời, định mức chi cho các dịch vụ công thiết yếu này đối với vùng núi, vùng đồng bàodân tộc, vùng sâu, vùng núi cao-hải đảo giai đoạn 2007 -2010 tăng so với giai đoạn 2004-2006 với tốc độ cao hơn so với định mức chi cho vùng đô thị và đồng bằng. Chẳng hạn,định mức chi cho y tế miền núi cao, hải đảo giai đoạn 2007-2010 tăng 2,8 lần so với thờikỳ 2004-2006, trong khi đó tỷ lệ này đối với vùng đồng bằng là 2,2 lần.Bên cạnh các nội dung chi cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nóichung, trong chi tiêu công có một nội dung chi riêng biệt tập trung vào mục tiêu xoá đóigiảm nghèo – đó là chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia. Các chương trình mụctiêu quốc gia này bao gồm: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khókhăn miền núi, vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135), Chương trình mục tiêu quốc giagiảm nghèo (Chương trình 143), Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đốivới 61 huyện nghèo theo Nghị quyết 30A/2008, các chương trình trong lĩnh vực y tế, vănhoá, giáo dục, vệ sinh môi trường… Chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho các chươngtrình này đã tăng lên nhanh chóng. Tổng chi tiêu cho các chương trình mục tiêu quốc gianăm 2009 đã tăng gấp 9 lần so với năm 1998. Hàng năm, chương trình mục tiêu quốc giavề giảm nghèo đã hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cho hàng trăm xã thuộc vùng đặc biệtkhó khăn và hải đảo, năm 2006 và 2007 mỗi năm xây dựng 347 công trình, năm 2008 là550 công trình. Các chương trình nói trên đã góp phần quan trọng vào mục tiêu xoá đóigiảm nghèo, đặc biệt là tăng sự hưởng thụ dịch vụ công của người nghèo như cải thiện cơsở hạ tầng cho các vùng nghèo, vùng núi, vùng sâu, tăng cường các dịch vụ giáo dục, y tếcho người nghèo, cải thiện môi trường sống và sinh hoạt cho người nghèo… Nhờ đó, khảnăng tiếp cận của người nghèo đối với một số dịch vụ công đã gần tương đương vớinhóm người giàu, chẳng hạn số người ở nhóm giàu nhất được sử dụng điện lưới là96,7%, trong khi số người nghèo nhất được sử dụng nguồn điện này là 90,7%.Võ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 8
  9. 9. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc PhongChi NSNN nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo còn được thực hiện thông qua các chínhsách hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước đối với người nghèo. Từ đầu những năm 1990, Chínhphủ đã thực hiện miễn giảm viện phí và học phí cho người nghèo. Số người nghèo nhấtđược miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khác đã tăng từ 20,5% năm 1998 lên59,5% tổng số người thuộc nhóm này vào năm 2006. Năm 1999, Chính phủ đã thiết lậpChương trình thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) miễn phí cho 4 triệu người nghèo nhấtViệt Nam. Tính đến năm 2006, tổng số đối tượng được cấp thẻ BHYT đã lên đến 15,2triệu người. Mệnh giá các thẻ BHYT cũng tăng liên tục: năm 2002 là 50.000đồng/người/năm; năm 2005 – 60.000 đồng, năm 2007 – 80.000 đồng, năm 2008 –130.000 đồng và hiện được nâng lên tương tương 3% mức lương tối thiểu chung.Tuy nhiên, bên cạnh các thành công nói trên, thực tế cho thấy sự cách biệt giữa ngườigiàu và người nghèo vẫn đang ngày càng lớn. Trong việc bảo đảm các dịch vụ công thiếtyếu cho xã hội, mặc dù Việt Nam được đánh giá là nước có các chính sách thực hiệncông bằng khá tốt, song vẫn còn không ít vấn đề đặt ra.Chi NSNN cho y tế ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 5% tổng chi của Nhà nước, trong khitỷ lệ này ở các nước cùng nhóm thu nhập (PPP bình quân đầu người ở mức 3.300 USD)là 9%. Trên thực tế, tỷ lệ chi tiêu từ tiền túi của người dân trong tổng chi tiêu cho y tếchiếm tới trên 70% là một tỷ rất cao. Kết quả phân tích điều tra y tế quốc gia 2002 chothấy, nếu người nghèo phải nằm viện mà không được Nhà nước hỗ trợ thì trung bình mỗiđợt ốm phải chi một số tiền tương đương 17 tháng chi tiêu phi lương thực, thực phẩm củahộ gia đình . Tình hình phân cấp ngân sách trong chi cho y tế cũng chưa bảo đảm hướngđến đối tượng người nghèo. Tỷ lệ NSNN cấp cho y tế tại tuyến trung ương là 36,8%,tuyến tỉnh là 44,7%, tuyến huyện là 16,2% và tuyến xã là 2,3%. Điều đáng lưu ý nữa là tỷlệ chi từ NSNN cho đầu tư phát triển hầu hết tập trung tại tuyến trung ương và tuyến tỉnh(chiếm đến 97%), như vậy mạng lưới y tế cơ sở hầu như không có kinh phí cho đầu tưphát triển từ nguồn ngân sách. Điều đó dẫn đến thực trạng nghèo nàn, lạc hậu về cơ sởVõ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 9
  10. 10. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phongvật chất và trang thiết bị của y tế cấp huyện và cấp xã. Trong khi đó người nghèo thườngsử dụng các dịch vụ y tế chủ yếu ở các trung tâm y tế xã và huyện.Chi cho giáo dục của nhóm người giàu nhất năm 2006 gấp 5,75 lần mức chi của nhónnghèo nhất, trong đó ở cấp tiểu học là 5,12 lần, đối với giáo dục trung học cơ sở là 3,55lần. Trong khi đó, chi tiêu ngân sách cho việc cung ứng dịch vụ công vẫn có xu hướngđem lại lợi ích nhiều hơn cho người giàu. Càng lên các bậc học cao hơn thì chi tiêu củangân sách phân bổ cho giáo dục càng đem lại lợi ích lớn hơn cho người giàu, chẳng hạn26% trong tổng lợi ích do giáo dục phổ thông trung học đem lại là dành cho 20% ngườigiàu nhất, trong khi chỉ có 9% trong tổng lợi ích là đến với nhóm người nghèo nhất.Hệ thống giao thông liên thôn ở các vùng nghèo còn rất hạn chế, đặc biệt ở Tây Bắc,Đông Bắc và Tây Nguyên. Ở những vùng này, số xã có đường liên thôn được nhựa hoá,bê tông hoá trên 50% chỉ chiếm dưới 20%, riêng Tây Bắc là 7,1%. Tỷ lệ dân số đượcdùng nước sạch ở thành thị là 80%, ở nông thôn là 38,9%, số dân ở nhóm nghèo nhấtđược dùng nước sạch là 32,4% .Không phải toàn bộ nguồn lực của các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảmnghèo đến được với người nghèo, một số khoản chi có hiệu quả không cao. Nguồn vốn bịphân tán, không tập trung để giải quyết dứt điểm mục tiêu đặt ra. Chi phí quản lý cácchương trình này còn khá lớn, chiếm khoảng 8% tổng kinh phí của chương trình. Một sốcông trình đầu tư có hiệu quả sử dụng kém, tình trạng rò rỉ nguồn lực từ trung ưongxuống địa phương, các sai phạm trong quản lý tài chính còn khá phổ biến.*Từ thực trạng trên cần có những biện pháp gì để phát huy tốt hơn tác động của chitiêu công tới mục tiêu giảm nghèo?Để phát huy tốt hơn tác động của chi tiêu công tới mục tiêu giảm nghèo, trong giai đoạntới, Chính phủ cần cải cách chi tiêu công theo các hướng sau đây:Thứ nhất, cải cách cơ cấu chi tiêu công theo hướng tập trung ngày càng nhiều hơn vàonhững loại dịch vụ công thiết yếu nhất của xã hội nhằm tạo cơ hội lớn hơn cho ngườiVõ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 10
  11. 11. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phongnghèo trong hưởng thụ các dịch vụ này. Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế đềukhuyến cáo rằng Chính phủ nên hỗ trợ ngân sách ở mức tối đa cho việc cung cấp các dịchvụ giáo dục tiểu học và chăm sóc sức khoẻ ban đầu - là những dịch vụ thiết yếu cho tất cảmọi người - để tăng cơ hội hưởng thụ của người nghèo. Ở Việt Nam, mục tiêu chi ngânsách cho giáo dục và y tế cũng được coi trọng, chẳng hạn Chính phủ dự kiến duy trì ngânsách chi cho giáo dục ở mức 20% tổng chi ngân sách và tăng tỷ trọng chi cho y tế trongtổng chi NSNN từ 5% hiện nay lên 12% vào năm 2015. Điều này là cần thiết để bảo đảmcó đủ kinh phí thực hiện mục tiêu giảm nghèo. Chẳng hạn, theo chủ trương của Chínhphủ về việc trợ cấp tài chính cho khám chữa bệnh đối với người nghèo và hỗ trợ mộtphần cho người cận nghèo, ước tính, diện bao phủ của chính sách BHYT miễn phí chongười nghèo năm 2008 là khoảng 27 triệu người, nếu tính cả số người cận nghèo dự kiếnđược trợ cấp 50% mệnh giá BHYT thì số người được nhận trợ cấp lên đến 41 triệu người.Để trợ cấp được toàn bộ số đối tượng nói trên, dự kiến NSNN phải chi 6,6 ngàn tỷđồng/năm, gấp hơn 2 lần số chi thực tế từ NSNN thông qua BHYT hiện nay.Thứ hai, tăng cường phân cấp ngân sách cho các cấp chính quyền địa phương để nângcao khả năng đáp ứng các dịch vụ công cho dân cư địa phương, đặc biệt là người nghèo.Thực tế cho thấy nguồn lực tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước ở địa phươngsẽ phục vụ chủ yếu cho việc cung ứng các dịch vụ công, trong khi cấp trung ương tậptrung nhiều hơn vào việc hoạch định chính sách và các chức năng quản lý nhà nước. Dođó, việc tăng cường phân cấp ngân sách cho cấp dưới sẽ tạo điều kiện cho các cấp nàythực hiện chức năng cung ứng dịch vụ công tốt hơn. Các dịch vụ công do cấp chínhquyền càng gần dân cung ứng thì càng có điều kiện sát hợp hơn với nhu cầu của ngườidân, đồng thời do cấp chính quyền này nắm vững hơn về dân cư trên địa bàn nên sẽ tăngkhả năng phục vụ đúng các đối tượng mà nhà nước quan tâm, đặc biệt là người nghèo.Chính quyền cấp dưới chỉ có thể chủ động cung ứng dịch vụ công cần thiết ở địa phươngkhi có nguồn thu xác định, đầy đủ và ổn định, đồng thời được giao các nhiệm vụ chi rõràng và phù hợp. Mặc dù cơ chế phân cấp hiện nay thực hiện theo mô hình tập trungquyền lực ở trung ương và bảo đảm sự điều hoà của trung ương cho các tỉnh, song việctập trung quá mức các nguồn thu ở trung ương sẽ dẫn đến chỗ hình thành một cơ chếVõ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 11
  12. 12. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phongchuyển giao phức tạp và dễ bị yếu tố chủ quan làm cho sai lệch. Cần bảo đảm để địaphương có đủ nguồn để trang trải khoảng 2/3 nhiệm vụ chi tiêu của địa phương, còn 1/3còn lại là dựa vào sự điều tiết và chuyển giao của trung ương.Cần thống nhất về nguyên tắc trong phương thức phân bổ ngân sách ở các tỉnh. Luật ngânsách nhà nước năm 2002 đã trao cho các tỉnh thẩm quyền tương đối rộng trong phân bổngân sách cho các cấp thấp hơn. Điều đó cho thấy, khi tính công bằng trong phân bổ ngânsách giữa các tỉnh được cải thiện, cũng chưa bảo đảm rằng sẽ khắc phục được tình trạngphân bổ không đồng đều giữa các cấp tỉnh, huyện và xã nếu cấp tỉnh không chú trọng đếntính công bằng trong phân bổ nguồn lực. Vì vậy, ngay tại từng tỉnh cũng cần có cơ chếphân cấp hợp lý giữa cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, sao cho các cấp cơ sở có điều kiệnđáp ứng tốt nhất dịch vụ công cho các đối tượng dân cư trên địa bàn và chú trọng đếnngười nghèo.Thứ ba, cải tiến cách thức phân bổ ngân sách để khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữacác khu vực về các dịch vụ công thiết yếu. Cùng với việc phân cấp nhiều hơn cho địaphương, cần đề phòng xu hướng do phân cấp mà làm sâu sắc thêm bất bình đẳng giữa cáckhu vực. Theo đó, khu vực nào có tiềm năng lớn hơn sẽ có điều kiện chi tiêu nhiều hơn,trong khi đó những vùng nghèo khó do thiếu kinh phí nên thường có xu hướng cắt giảmcác chi tiêu về dịch vụ công để đảm bảo kinh phí cho các hoạt động thiết yếu khác của bộmáy.Vì vậy, cần tính đến mức thu nhập bình quân đầu người của các địa phương trong việcphân bổ NSNN, kể cả chi đầu tư và chi thường xuyên. Việc phân bổ ngân sách hiện chưatính đầy đủ đến yếu tố mức thu nhập của dân cư. Chính mức thu nhập của dân cư tácđộng rõ nét đến quy mô chi tiêu công của tỉnh đó, đặc biệt trong lĩnh vực y tế thì chi y tếtừ tiền túi của gia đình (chiếm trên 70% tổng chi cho y tế) mới là nguyên nhân chính dẫnđến sự bất bình đẳng trong lĩnh vực này. Khi kinh phí từ NSNN còn hạn hẹp thì chính sựđóng góp của dân cư sẽ giúp chính quyền nâng cao số lượng và chất lượng dịch vụ côngở địa phương mình. Nếu không tính đến yếu tố này thì sự phân bổ ngân sách của Chínhphủ mới chỉ mang tính phiến diện và bất bình đẳng về tài chính giữa các địa phương sẽngày càng rộng.Võ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 12
  13. 13. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc PhongTừng bước đổi mới phương thức phân bổ NSNN cho các cơ sở cung ứng dịch vụ côngdựa theo các chỉ tiêu đầu vào như hiện nay sang phương thức phân bổ dựa trên kết quảcông việc, số lượng và chất lượng dịch vụ công, kèm theo cơ chế giám sát, đánh giá mứcđộ hoàn thành các chỉ tiêu được giao. Từng bước chuyển từ việc giao dự toán ngân sáchcho các đơn vị sự nghiệp công lập như hiện nay sang thực hiện phương thức đấu thầu, đặthàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp, không phân biệt cơ sở công lập, ngoàicông lập, cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài.Thứ tư, tăng cường hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo. Xu hướng chung hiện nay là Chínhphủ chuyển từ việc hỗ trợ gián tiếp thông qua các cơ sở cung ứng dịch vụ công sang hỗtrợ trực tiếp cho đối tượng hưởng thụ dịch vụ đó. Cách thức này tránh được những rủi rodo cơ sở cung ứng không chi cho đúng đối tượng được ưu đãi và sự lạm dụng nguồn lựcđể mưu lợi riêng.Nhà nước cần tiếp tục dành một nguồn kinh phí thoả đáng để hỗ trợ học sinh nghèo thôngqua chính sách miễn giảm học phí. Số kinh phí này nên phân bổ cho các địa phương căncứ vào số lượng học sinh, sinh viên và mức độ khó khăn của từng vùng. Hội đồng nhândân (HĐND) các cấp quyết định phân bổ quỹ này cho các địa phương cấp dưới trực tiếp.HĐND cấp cơ sở xem xét, quyết định danh sách học sinh, sinh viên trong xã, phườngđược cấp học bổng dưới hình thức phiếu thanh toán chỉ có giá trị trả học phí. Việc sửdụng quỹ khuyến học ở các cấp phải được công khai hoá cho nhân dân địa phương biếtđể giám sát và kiểm tra thực hiện.Để tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp cận nhiều hơn đến dịch vụ khám chữa bệnh,Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ chi phí y tế cho người nghèo và cận nghèo bằng cáchcấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo và hỗ trợ một phần cho người cận nghèo, đồngthời có cơ chế hỗ trợ tiền ăn ở, đi lại cho người nghèo khi họ phải điều trị nội trú tại cácbệnh viện. Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế để chia sẻ rủi ro cho các đối tượng thiệtthòi trong xã hội, đặc biệt là người nghèo.Thứ năm, nâng cao hiệu quả của các chương trình chi tiêu nhằm mục tiêu xoá đói giảmnghèo. Cần tăng mức cấp vốn từ ngân sách trung ương cho các chương trình mục tiêuVõ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 13
  14. 14. Chi ngân sách nhà nước trong xóa đói giảm nghèo GVHD: Phạm Ngọc Phongquốc gia nhằm giảm đói nghèo, bởi vì số kinh phí hiện tại còn nhỏ bé để tạo ra sự thayđổi cơ bản về cơ sở hạ tầng, việc làm và bảo đảm các dịch vụ công quan trọng khác.Việc xây dựng các chương trình trợ cấp cần có sự định hướng vừa theo vùng địa lý, vừatheo loại hàng hoá. Định hướng theo vùng địa lý sẽ bảo đảm chương trình trợ cấp đến vớicác vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa là nơi có nhiều người nghèo sinh sống. Địnhhướng theo loại hàng hoá sẽ giúp cho các chương trình trợ cấp đưa được những loại hànghoá, dịch vụ mà người nghèo sử dụng nhiều hơn các nhóm dân cư khác đến được với họ.Các chương trình cần tập trung hơn nữa vào đối tượng nghèo nhất thông qua việc tăngđịnh mức phân bổ ngân sách cho các vùng nghèo đói và bảo đảm phân bổ đúng cho cácđối tượng nghèo. Việc xây dựng năng lực cho các hộ nghèo để họ có thể tham gia vàoquá trình thực thi và giám sát các chương trình mục tiêu quốc gia nói trên là một đòi hỏiquan trọng để nâng cao hiệu quả của các chương trình. Ngoài ra, các vấn đề nghiệp vụtrong quản lý tài chính các chương trình phải được quan tâm đầy đủ hơn, chẳng hạn nhưphải cải tiến quy chế điều hành và các thủ tục quản lý tài chính hợp lý hơn, bảo đảm thờihạn cấp phát kinh phí phù hợp với tiến độ công việc...⪧CHƢƠNG 3: KẾT LUẬN:Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, mỗi quốc gia có nhiều cơ hội để phát triển,đồng thời, phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, cuộc sống của người dân luôn chứađựng những nguy cơ rủi ro bất ngờ. Vì vậy, việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống an sinhxã hội cũng như thực hiện tốt chính sách xóa đói giảm nghèo là một yêu cầu bức thiếtđảm bảo ổn định chính trị xã hội và phát triển đất nước hiện nay. Với sự lãnh đạo củaĐảng, quản lý của Nhà nước và quyết tâm của toàn xã hội, với những giải pháp chi ngânsách đúng đắn thiết thực, kịp thời, hệ thống an sinh xã hội sẽ ngày càng hoàn thiện, gópphần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, đẩy lùi sự nghèo đói để đưa đấtnước phát triển nhanh và bền vững, tích cực, chủ động hội nhập với thế giới.Võ Thị Lan Thanh ⪧K7– NH3 14

×