VIỆN NGHIÊN CỨU SINH THÁI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI (SPERI)
-------o0o-------
BÁO CÁO
HOẠT ĐỘNG GIAO ĐẤT GẮN VỚI GIAO RỪNG TẠI XÃ HẠNH DỊCH, HUYỆN
QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
Hà Nội, tháng 1 năm 2014
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND Ủy ban nhân dân
MLĐR Mạng lưới đất rừng
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GĐGR Giao đất giao rừng
BNNPTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
BTNMT Bộ tài nguyên và môi trường
TTLT Thông tư liên tịch
QĐ Quyết định
LISO Liên minh chủ quyền sinh kế
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
2
VIỆN NGHIÊN CỨU SINH THÁI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI – SPERI
------o0o------
BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG GIAO ĐẤT GẮN VỚI GIAO RỪNG XÃ HẠNH DỊCH,
HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
I. Bối cảnh
Hạnh Dịch là một xã miền núi thuộc huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An nằm giáp với
biên giới Việt Lào cách trung tâm thị trấn Kim Sơn 15 km về phía Tây Bắc. Trong xã có
748 hộ dân với 3.377 nhân khẩu chủ yếu là đồng bào dân tộc thái sống tập trung ở 11 bản
Bản Chiếng, Pà Kỉm, bản Chạm, Pà Cọ, Pỏm Om, Khốm, Chăm Pụt, Mứt, Cóong, Na Sai và
bản Hủa Mương (báo cáo xã Hạnh Dịch năm 2013). Các khu dân cư của xã không tập trung
mà nằm rải rác trên toàn địa bàn. Bên cạnh đó, do đặc thù là một xã miền núi nên dân cư
thường sống theo tập quán xưa, không tập trung thành chòm xóm mà nằm rải rác ở trên cao
những sườn đồi. Tuy nhiên, trong những năm gần đây do ảnh hưởng chung của sự phát triển
xã hội trong nền kinh tế thị trường khu dân cư đang có xu hướng tập trung và chuyển xuống
thấp, bám theo các trục đường chính, thuận tiện cho việc sản xuất, giao lưu kinh tế văn hóa
với các vùng trong và ngoài xã.
Xã Hạnh Dịch có tổng diện tích tự nhiên khoảng 18.026 ha (số liệu thống kê tính đến
1/1/2013). Đất lâm nghiệp có rừng chiếm phần lớn với khoảng 16.182 ha (số liệu dân số
năm 8/2013, chiếm 89,8% diện tích tự nhiên), bình quân tổng diện tích đất lâm nghiệp
22.7ha/hộ, trong đó hơn 85% diện tích do tổ chức nhà nước và UBND xã quản lý. Đất sản
xuất nông nghiệp chỉ có 287 ha (chiếm gần 1,7% diện tích tự nhiên), bình quân quỹ đất sản
xuất nông nghiệp khoảng 0,39ha/hộ và phân bố không đều giữa các vùng. Phương thức quản
lý bảo vệ rừng trong xã được tổ chức theo hướng giao và tạm giao cho các hộ gia đình, các
chi hội, cộng đồng tự tổ chức chăm sóc và bảo vệ. Ngoài các hộ gia đình của 9 bản được
giao đất, giao rừng theo Nghị định 163/CP năm 2003 còn có 01 bản được GĐGR cho cộng
đồng năm 2012 là Pỏm Om với diện tích hơn 426,52ha do Viện Nghiên cứu sinh thái chính
sách xã hội (SPERI) cùng phối kết hợp với chính quyền Huyện, Xã thực hiện. Nhìn chung
sau khi được GĐGR các hộ gia đình và cộng đồng đều khoanh nuôi, bảo vệ theo chiều
hướng tích cực đó là để tái sinh tự nhiên và chỉ tác động lên phần diện tích đất trống bằng
cách phát dọn để trồng cây Keo, cây Kè.
Xuất phát từ thực trạng và hiệu quả trong công tác hậu GĐGR tại bản Pỏm Om chính
quyền địa phương nhận thấy cần phải tiếp tục thực hiện GĐGR cho cộng đồng các bản còn
lại nên UBND xã Hạnh Dịch có văn bản đề nghị UBND huyện Quế Phong tiếp tục giao
3
rừng gắn với giao đất1
. Chính vì vậy UBND huyện Quế Phong dựa trên nhu cầu và căn cứ
thực tiễn đề xuất mong muốn của cộng đồng xã Hạnh Dịch với lãnh đạo Viện SPERI. Dựa
trên nhu cầu và thực tiễn Viện SPERI đã cử nhóm cán bộ thuộc chương trình LISO trực tiếp
đến cộng đồng xã Hạnh Dịch để khảo sát và tìm hiểu nhu cầu thực tiễn của người dân và
cuối cùng đi đến ký kết văn bản thỏa thuận GĐGR cho cộng đồng theo TTLT/07
BNNPTNT – BTNMT cho 4 bản: Chiếng, Pỏm Om, Khốm, Pà Kỉm thuộc xã Hạnh Dịch
giữa Viện SPERI với UBND huyện Quế Phong2
với tổng diện tích dự kiến hơn 300ha.
II. Mục tiêu
- Có được chủ trương và sự đồng thuận của UBND huyện Quế Phong, UBND xã Hạnh
Dịch và cộng đồng 4 bản trong việc phối kết hợp cùng triển khai GĐGR.
- Tiến hành GĐGR và trao giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất rừng cho cộng đồng 4
bản: Chiếng, Pà Kỉm, Pà Cọ, Khốm với diện tích hơn 300ha theo TTLT/07
BNNPTNT – BTNMT.
- Phát huy tối đa sự tham gia của người dân 4 bản trong quá trình thực hiện GĐGR
- Nâng cao năng lực của nhóm cán bộ, người dân khi tham gia các hoạt động GĐGR:
Điều tra thực địa, đo đếm trữ lượng, xử lý số liệu và lên bản đồ….
III. Phương pháp tiến hành và thành phần tham gia
- Tuân thủ các bước tiến hành GĐGR cho cộng đồng theo Thông tư/38/CP và
TTLT/07 BNNPTNT và BTNMT.
- Phát huy tối đa vai trò và nhiệm vụ đối với các bên tham gia: Phòng TNMT huyện
Quế Phong, chính quyền xã Hạnh Dịch, Công ty tư vấn Âu Lạc, cộng đồng, MLĐR
và nhóm cán bộ thuộc chương trình LISO theo kế hoạch GĐGR chi tiết được UBND
huyện Quế Phong phê duyệt.
- Quá trình thực hiện luôn luôn có sự tham gia của cộng đồng trong các bước triển
khai: Họp thôn, tổ chức điều tra hiện trạng, xử lý mâu thuẫn, đo đếm trữ lượng, xây
dựng quy chế, bàn giao ngoài thực địa….
- Trong quá trình triển khai nếu gặp gặp khó khăn, vướng mắc các bên đều chủ động
ngồi lại bàn bạc, thảo luận tìm ra hướng đi tối ưu để thực hiện đặc biệt luôn đề cao và
phát huy tối đa tiếng nói của chính cộng đồng người dân được GĐGR.
Thành phần tham gia:
1
Tờ trình sô 21/TTr – UBND xã Hạnh Dịch ngày 23/7/2013
2
Văn bản thỏa thuận MOU giữa Viện SPERI và UBND huyện Quế Phong ngày 12/8/2013
4
- Ban chỉ đạo GĐGR huyện Quế Phong
- Tổ GĐGR huyện huyện Quế Phong
- Hội đồng GĐGR cấp xã
- Tổ GDGR cấp xã
- Công ty tư vấn Âu Lạc
- Mạng lưới đất rừng Quế Phong
- Chuyên gia và nhóm cán bộ thực địa thuộc chương trình LISO
- Người dân cộng đồng 4 bản
IV. Tiến trình thực hiện chương trình GĐGR
Để có kết quả như trên Hội đồng tư vấn đất đai cấp xã đã kết hợp với cán bộ Phòng TNMT,
Hạt Kiểm lâm, tổ giao đất thôn bản, cán bộ Chương trình LISO, cán bộ công ty Âu lạc,
thành viên MLĐR Quế Phong đã tổ chức thực hiện qua các bước sau đây:
Bước 1. Khảo sát khu vực rừng dự kiến giao và tìm hiểu phương thức bảo vệ, quản lý tài
nguyên thiên nhiên dựa vào luật tục (đánh giá tiền dự án)
Dựa vào hoạt động trên các thành viên trong nhóm nghiên cứu đã đánh giá và xác định rõ
nhu cầu thực sự của người dân mong muốn được GĐGR cho cộng đồng cũng như xác định
vị trí, tên bản và diện tích dự kiến giao cho cộng đồng. Đây là bước rất quan trọng có tính
quyết định đến hiệu quả của hoạt động. Bên cạnh đó việc nghiên cứu phương thức quản lý,
bảo vệ tài nguyên giúp nhóm thực hiện dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với cộng đồng cũng
như lồng ghép kết quả nghiên cứu trong bản quy chế bảo vệ rừng, phương án quy hoạch và
định hướng tiếp theo.
Bước 2. Thành lập tổ công tác Giao đất giao rừng cấp huyện, cấp xã, thôn và thống nhất
nhiệm vụ các bên liên quan và chuẩn bị nguồn lực tham gia
- Ban chỉ đạo công tác GĐGR cập huyện bao gồm 01 phó chủ tịch UBND huyện làm
trưởng ban cùng với cùng với đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hạt Kiểm lâm huyện, Ban Quản lý rừng phòng
hộ Quế Phong làm thành viên.
- Tổ GĐGR cấp huyện được thành lập gồm đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường,
Hạt Kiểm lâm huyện, điều phối viên hỗ trợ dự án (ông Sầm Quốc Việt) cùng với sự
tư vấn của cán bộ SPERI.
5
- Hội đồng đồng giao đất giao rừng cấp xã gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hạnh
Dịch, cán bộ địa chính xã, đại diện Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Thanh niên, Phụ
nữ, Hội Nông dân và Trưởng bản Chiếng, Pà Kỉm, Pà Cọ, Khốm.
- Tổ giao đất cấp thôn bản (thành viên gồm các già làng, trưởng bản và những người có
uy tín tham gia xuyên suốt quá trình tiến hành đo đạc và giao đất).
Bước 3. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, rừng khu vực dự kiến giao đất
Tổ GĐGR thôn bản, cán bộ phòng TNMT, cán bộ Phòng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn, cán bộ kỹ thuật Hạt kiểm lâm, cán bộ xã, cán bộ Chương trình LISO, thành viên
MLĐR cùng phối kết hợp với người dân triển khai thực hiện.
+ Hướng dẫn người dân tự điều tra đánh giá được hiện trạng sử dụng đất, đánh giá trữ
lượng rừng.
+ Lập Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, rừng khu vực dự kiến giao.
+ Giải quyết các mâu thuẫn trong sử dụng đất lâm nghiệp (quá trình giải quyết mâu
thuẫn là quá trình phức tạp nên cần kế hoạch giải quyết cụ thể xuyên suốt quá trình để đảm
bảo thỏa đáng nguyện vọng các bên liên quan).
+ Báo cáo đánh giá hiện trạng sử dụng đất và đánh giá trữ lượng rừng tại các khu vực
dự kiến giao (biểu 09 kèm theo hồ sơ giao đất).
Bước 4. Họp thôn báo cáo kết quả đánh giá hiện trạng rừng; thảo luận lấy ý kiến về quy
hoạch sử dụng đất, rừng; xây dựng phương án giao đất giao rừng; xây dựng Quy ước Bảo
vệ phát triển rừng cộng đồng; xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên rừng trong 5
năm tiếp theo.
Họp thôn lần 1:
+ Báo cáo kết quả đánh giá hiện trạng rừng,
+ Thảo luận giải quyết các mâu thuẫn vướng mắc về đất đai,
+ Dự thảo phương án giao đất thôn bản.
Họp thôn lần 2:
+ Báo cáo giải quyết các mâu thuẫn, công bố các biên bản hòa giải của các mâu
thuẫn. Tiếp tục thảo luận các mâu thuẫn còn tồn tại (nếu có)
+ Thảo luận xây dựng kế hoạch quản lý bảo vệ rừng cộng đồng được giao 5 năm giai
đoạn 2013 – 2018 trình UBND xã.
+ Lập đơn xin giao đất, giao rừng (đơn thôn gửi xã).
6
Họp thôn lần 3:
Đây là cuộc họp dự bị để báo cáo và giải quyết các mâu thuẫn còn tồn tại trước khi
lập hồ sơ xin giao đất trình Hội đồng tư vấn đât đai cấp xã đồng thời thảo luận xây dựng quy
chế bảo vệ rừng.
Bước 5: Họp Hội đồng tư vấn đất đai xã Hạnh Dịch để thông qua phương án giao đất và
trình UBND huyện phê duyệt.
+ Thảo luận và thống nhất thông qua Phương án giao đất lâm nghiệp
+ Lập Hồ sơ (bao gồm hồ sơ xin giao đất, các biên bản giải quyết mâu thuẫn) và tờ
trình UBND huyện về việc giao rừng gắn với giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất lâm nghiệp.
Bước 6: Lập hồ xin sơ giao đất, giao rừng
+ Đơn vị tư vấn kết hợp với cán bộ Phòng TNMT, Hạt Kiểm lâm, Hội đồng giao đất
cấp xã, Tổ Công tác thôn, cán bộ Chương trình LISO thực hiện hoàn thiện hồ sơ xin giao
đất, rừng và cấp giây chứng nhận quyền sử dụng đất.
+ UBND xã đã lập tờ trình đề nghị giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư Bản
Chiếng, Pà Cọ, Pà Kỉm, Bản Khốm trình UBND huyện.
+ Bàn giao Hồ sơ xin giao đất với Phòng TNMT có biên bản bàn giao.
Bước 7. Duyệt Hồ sơ xin giao đất, giao rừng
Căn cứ đơn xin giao đất giao rừng của cộng đồng dân cư Bản Chiếng, Pà Cọ, Pà Kỉm,
Bản Khốm. Hội đồng tư vấn đất đai xã Hạnh Dịch đã tổ chức họp để xét duyệt và trình
UBND huyện Quế Phong.
Với hỗ trợ và giúp đỡ của cán bộ phòng Tài nguyên Môi trường, Hạt Kiểm lâm, tổ
công tác giao đất giao rừng cấp xã đã thống nhất thông qua đơn xin giao đất giao rừng và
xác nhận các thông tin về thửa đất trong đơn của cộng đồng 4 thôn bản.
Bước 8. Thẩm định giao đất giao rừng cấp huyện và ra quyết định cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và giao đất ngoài thực địa
Phòng TNMT phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Quế Phong cùng tiến hành kiểm tra
đối chiếu và tham mưu cho UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cộng
đồng dân cư Bản Chiếng, Pà Cọ, Pà Kỉm, Bản Khốm.
Bước 9: In và bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
7
Ảnh 1: Ông Lang Văn Minh – phó chủ tịch UBND
huyện thảo luận và làm việc với lãnh đạo Viện SPERI
về chương trinh GĐGR tại xã Hạnh Dịch
Sau khi in ấn Sổ bìa đỏ và được Chủ tịch UBND huyện ký giao, UBND xã Hạnh Dịch tổ
chức công bố quyết định và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bước 10: Tổ chức đóng bảng biển và tuyên truyền quy chế bảo vệ rừng
V. Kết quả đạt được
Chương trình thí điểm giao rừng gắn với giao đất khu vực đầu nguồn cho cộng đồng
dân cư Bản Chiếng, Pà Cọ, Pà Kỉm, Bản Khốm được triển khai từ tháng 8 năm 2013 và kết
thúc ngày 31 tháng 12 năm 2013. Qua 5 tháng thực hiện thực sự hoạt động này đã đạt được
kết quả ngoài dự kiến cũng như để lại dấu ấn đối toàn bộ các bên tham gia như Công ty tư
vấn Âu Lạc, UBND huyện Quế Phong, Hạt Kiểm Lâm, chính quyền địa phương xã Hạnh
Dịch, Mạng lưới đất rừng, cán bộ chương trình LISO và đặc biệt là cộng đồng người dân 4
bản xã Hạnh Dịch.
5.1. Có được sự đồng thuận của chính quyền địa phương cấp Huyện, Xã
Dựa trên kết quả nghiên cứu tiền khảo sát và
mong muốn được GĐGR của cộng đồng 4 bản
xã Hạnh Dịch, UBND huyện Quế Phong và
Viện Nghiên cứu Sinh thái Chính sách Xã hội –
SPERI đã ký kết biên bản thỏa thuận cùng phối
kết hợp thực hiện mở rộng mô hình giao rừng
gắn với giao đất cho cộng đồng dân cự tại các
thôn, bản xã Hạnh Dịch và các xã khác của
Huyện Quế Phong vào ngày 12/8/2013. Trong
biên bản đã nêu rõ mục tiêu cũng như nguyên
tắc, nội dung và trách nhiệm tham gia của các
bên trong công tác phối hợp tổ chức thực hiện
chương trình.
5.2. Tổ chức nghiên cứu phương thức quản lý bảo vệ tài nguyên rừng dựa vào luật tục
Nhóm nghiên cứu tiến hành và kết thúc hoạt động “khảo sát và nghiên cứu Luật tục
trong quản lý, quy hoạch và bảo vệ rừng của cộng đồng người Thái các bản Pà Kỉm, Bản
Chiếng, Bản Khốm và Bản Pà Cọ, xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An” trong
tháng 8 năm 2013. Nghiên cứu lần này không đi sâu vào tất cả các chi tiết của toàn bộ hệ
thống Luật tục của cộng đồng người Thái xã Hạnh Dịch, mà chỉ bổ sung thêm các thông tin
liên quan đến Luật tục trong quy hoạch, quản lý và sử dụng tài nguyên rừng. Kết quả
nghiên cứu đã chỉ ra những chỉ số quan trọng phản ánh được vai trò và thiết chế của cộng
đồng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên như:
8
- Quy định về bảo vệ rừng đầu nguồn: khu rừng đầu nguồn được người Thái quy
định là tuyệt đối cấm khai thác. Khu vực này thường là rừng già và người Thái quan
niệm những vùng rừng này là nơi ngự trị của Thần linh. Nếu ai vi phạm sẽ bị làng
phạt nặng, đặc biệt trước đây rất xa xưa có qui định người làm cháy rừng, cháy bản sẽ
bị giết thả trôi sông. Qui định này sau nhiều thập kỷ đã bị bỏ thay vào đó là gia đình
người vị phạm phải làm lễ chặt đầu một con chó thả trôi sông và người vi phạm phải
lặn theo xác con vật hiến sinh một quãng.
- Quy định đối với rừng thiên: rừng thiêng gắn với tục thờ Cây to hiện vẫn chiếm giữ một
vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của người dân. Những cánh rừng
đầu nguồn ngoài việc bảo vệ cho bản mường khỏi mưa lũ, đói, rét, ốm đau, còn là nơi mà
người dân gửi gắm những tâm tư, nguyện vọng của mình tới các vị thần linh thông qua các
lễ hội như ‘Tế Sần’ (Cũng rừng). Những Rừng nghĩa địa để chôn cất những người quá cố gọi
là "Đoống", Rừng cấm, Rừng kiêng, Rừng thiêng "Đông căm" luôn là những địa điểm ở mà
đó người dân thường thực hành những nghi lễ thờ cúng và cầu thần linh phù hộ.
- Quy định cấm làm cháy rừng: ai làm cháy nhà, cháy rừng là phạt đưa con trâu ra
làm thịt ở dưới sông. Ngày xa xưa người ta còn chém người gây cháy rừng, cháy nhà,
còn nay thì người đó phải ôm con chó ra ngoài sông, chém đầu con chó, rồi người
phạm tội phải lặn theo con chó dưới sông một đoạn, sau phải cúng xin thề không bao
giờ gây cháy nhà, cháy rừng nữa.
- Quy định về luân canh nương rẫy: trước đây việc xác định các khu vực sử dụng
cho sản xuất nương rẫy được các già làng cân nhắc rất kỹ về mức độ thuận lợi liên
quan đến các yếu tố: độ dốc, qui mô diện tích, nguồn nước, đi lại, độ màu mỡ của đất
và khả năng tái sinh của rừng sau các thời kỳ bỏ hóa. Trước đây do dân số ít, diện
tích để có thể khai thác làm nương rẫy lớn nên thông thường mỗi vùng nương rẫy sẽ
canh tác trong khoảng 2 năm và sau đó chuyển sang vùng khác để 4 đến 6 năm sau
quay lại khi thảm thực vật khu nương rẫy ban đầu đã phục hồi.
Kết quả của nghiên cứu là đầu vào để xây dựng quy chế quản lý bảo vệ rừng cho người dân
4 bản sẽ được người dân thảo luận và chính quyền thông qua làm cơ sở pháp lý để quản lý,
bảo vệ tốt hơn diện tích rừng giao cho cộng đồng.
Tham gia hoạt động có 01 cán bộ nghiên cứu của chương trình LISO, 02 thành viên trong
MLĐR Quế Phong và hơn 10 già làng đến từ các bản Chiếng, Khốm, Pà Kỉm, Pà Cọ.
5.3. Nâng cao năng lực cho các thành viên
Nhằm nâng cao năng lực cũng như nhận thức của các thành viên trong tổ GĐGR cấp huyện,
hội đồng GĐGR cấp xã, tổ GĐGR cấp bản, thành viên MLĐR huyện Quế Phong nhóm
chuyên môn đã tổ chức 02 đợt tập huấn nâng cao năng lực cho cộng đồng liên quan đến:
9
- Luật và Chính sách của Nhà nước về GĐGR, quản lý bảo vệ tài nguyên rừng và
hưởng lợi
- Đo đếm trữ lượng rừng bằng phương pháp lập Ô tiêu chuẩn và phương pháp
Bitteclich
Bên cạnh đó ngoài 02 đợt tập huấn, đào tạo chính thức các thành viên trong Hội đồng
GĐGR cấp xã đã tự tổ chức đào tạo lại cho toàn bộ dân bản của 4 bản cũng như toàn bộ các
thành viên trong MLĐR nhằm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi để tất cả người dân cùng nắm
được chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước cũng như quyền lợi của chính mình. Qua
các đợt tập huấn người dân trong thôn, bản đã
hiểu rõ hơn được quy trình GĐGR dựa vào
cộng đồng cũng như tự tin hơn trong quá trình
tham gia điều tra, đo đếm trữ lượng rừng.
Tham gia hoạt động có sự tham gia: của 02
cán bộ phòng tài nguyên môi trường, 01 cán
bộ kiểm lâm địa bàn,14 thành viên trong Hội
đồng GĐGR và tổ giao đất giao rừng, 16
thành viên MLĐR và 245 đại diện hộ gia đình
của 4 thôn bản tham gia, trong đó tổng số
thành viên nữ tham 121/245 thành viên.
5.4. Hoàn thiện công tác ngoại nghiệp và
nội nghiệp
Tổ kỹ thuật và nhóm công tác cùng nhau thảo luận, thống nhất xử lý toàn bộ số liệu thu thập
được ngoài thực địa để xử lý nội nghiệp và hoàn thiện các nội dung:
- 04 bản đồ hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp 4 bản
- Số liệu đo đếm trữ lượng rừng theo biểu 09 trong TTLT/07/ BNNPTNN - BTNMT
- 04 bản đồ hiện trạng rừng 4 bản
- 04 bản đồ quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp 4 bản
- 04 sơ đồ cột mốc ranh giới
- Phương án Giao đất gắn với giao rừng cho cộng đồng 4 bản
- Quy chế bảo vệ và phát triển rừng
- Đơn xin GĐGR và các biên bản liên quan
10
Ảnh 2: Tập huấn đo đếm trữ lượng rừng tại bản Khốm –
xã Hạnh Dịch
Toàn bộ số liệu được hoàn thiện gửi tới cấp có thẩm quyền phê duyệt như Phòng tài nguyên
và môi trường huyện Quế Phong.... Tham gia hoạt động này từ phía người dân đã huy động
hơn 80 lượt người tham gia liên quan đến hoạt động điều tra hiện trạng sử dụng đất và đo
đếm trữ lượng rừng của 4 bản, 14 cán bộ địa phương cấp xã và Huyện, 01 chuyên gia.
5.5. Giải quyết các vướng mắc, xung đột
Theo quy định đối với chương trình GĐGR cho hộ gia đình hay cộng đồng chỉ tiến hành và
thực hiện GĐGR ở những vị trí không xẩy ra tranh chấp, mâu thuẫn. Chính vì vậy hoạt động
này được tổ GĐGR cấp huyện, hội đồng GĐGR cấp xã và các thành viên tham gia xác định
cần phải rà soát toàn bộ các vướng mắc, xung đột và cùng với người dân tham gia giải quyết
các vướng mắc xung đột đó một cách triệt để. Qua đó trong quá trình thực hiện đã phát hiện
và giải quyết các dạng vướng mắc sau
Vướng mắc giữa cá nhân với cộng đồng (người trong cùng một bản hay cùng một xã)
Theo kết quả điều tra hiện trạng và thông qua
các buổi họp thôn phần lớn tại 4 bản đều có
vướng mắc này. Nguyên nhân được xác định
sau khi diện tích rừng tạm giao cho các tổ
chức, chi hội quản lý bảo vệ từ năm 2003 đến
nay công tác quản lý, bảo vệ không được triển
khai, duy trì thường xuyên dẫn đến tình trạng
một số hộ đã phát tỉa diện tích rừng để trồng
keo hay canh tác nông nghiệp nhưng không có
ai can thiệp và đình chỉ. Do đó, các hộ dân
lầm tưởng đây là diện tích khai hoang nên
được phép sử dụng lâu dài (nếu theo tập quán của người Thái thì hoàn toàn phù hợp). Vì
vậy, với trường hợp này nhóm tư vấn thảo luận với ban phát triển thôn bản cùng đưa ra
những giải pháp cũng như tìm ra hướng giải quyết ổn thỏa nhất và đặc biệt toàn bộ các
hướng đi đều được thảo luận trước toàn bộ dân bản thông qua các cuộc họp thôn lần 1, lần 2.
Qua đó người người dân của 4 bản cũng như các hộ gia đình đều thống nhất và đi đến quyết
định vẫn đồng ý cho các hộ đang sử dụng diện tích đất rừng cộng đồng để canh tác, trồng
cây nhưng không được phép mở rộng, lấn chiếm thêm diện tích nếu sau này không canh tác
nữa thì phải trả lại cho cộng đồng và không được phép chuyển lại cho người khác. Không
những vậy những hộ nào đang trồng keo phải có trách nhiệm đóng góp một phần lợi ích cho
cộng đồng đó theo hình thức đóng góp hàng năm hay sau mỗi kỳ thu hoạch (Vd hộ gia đình
Bà Hà Thị Dung ở Bản Khốm).
11
Ảnh 3: Họp dân bản Pà Kỉm thảo luận các vướng mắc,
mâu thuẫn
Vướng mắc ranh giới giữa bản với bản
Vướng mắc này xảy ra giữa bản Khốm với Pà Cọ, Pà Cọ với bản Pỏm Om. Tuy nhiên sau
khi các thành viên trong bản và tổ giao đất giao rừng cấp thôn cùng thảo luận chia sẻ đã
cùng đi đến thống nhất vẫn lấy ranh giới theo bản đồ 163 quy định và lấy các điểm như vị trí
các rông, khe làm ranh giới phân định giữa 2 bản đồng thời sau khi chính thức có quyết định
các bản sẽ làm cột mốc ranh giới để đóng ở cac vị trí phân định.
Vướng mắc giữa người ngoài bản/ngoài xã với cộng đồng
Theo kết quả điều tra trong 4 bản thì có bản Chiếng xẩy ra vướng mắc liên quan đến đất
rừng cộng đồng giữa người dân ở xác khác với cộng đồng người dân bản Chiếng. Cụ thể có
03 hộ là người dân xã Tiền Phong đến xâm canh, xâm cư tại bản Chiếng và ngược lại có 06
hộ người dân bản Chiếng xâm canh xâm cư diện tích đất rừng của xã Tiền Phong. Trong các
dạng mâu thuẫn và khúc mắc đây được coi là trở ngại lớn nhất đối với nhóm công tác giao
đất giao rừng. Để có được giải pháp tốt nhất nhóm đã chủ động chia sẻ kết quả điều tra hiện
trạng với chính quyền xã Hạnh Dịch, cộng đồng người dân Bản Chiếng nhằm tìm ra hướng
giải pháp tốt nhất. Sau 3 lần họp thôn và thảo luận đã đi đến thống nhất không cho các hộ
nhập khẩu vào bản; không được mở rộng diện tích đất rừng để canh tác hay trồng cây;
không được mua bán, chuyển nhượng; phải trả lại đất cho cộng đồng nếu không sử dụng và
phải đóng góp một phần lợi ích cho cộng đồng.
Tham gia hoạt động về phía cộng đồng có đầy đủ các hộ dân tham gia trong 2 buổi họp thôn
với tổng lượt tham gia gần 400 lượt (Bản Chiếng: 118 hộ, Khốm 37 hộ, Pà Cọ: 56, Pà Kỉm:
39) và đại diện đến từ Hội đồng GĐGR, tổ tư vấn.
5.6. Bàn giao đất và cắm mốc ngoài thực địa
Sau khi giải quyết toàn bộ những vướng mắc liên quan đến hoạt động GĐGR tổ kỹ thuật
cùng với các bên liên quan tiến hành bàn giao đất ngoài thực địa cho cộng đồng dân cư 4
bản đồng thời tiến hành đóng mốc ranh giới trên thực địa. Tổng số cột mốc được chôn là 82
cọc/4 bản. Tham gia hoạt động có đại diện các bên liên quan như các chủ thửa đất liền
kề/giáp ranh, cộng đồng, cán bộ phòng tài nguyên môi trường, hạt kiểm lâm với tổng số
thành viên tham gia 80 người.
5.7. Công bố quyết định và trao giấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Trong tháng 12/2013 UBND huyện Quế Phong ra 02 Quyết định số 869/QĐ-UBND
ngày 06/12/2013 và 935/QĐ –UBND ngày 18/12/2013 liên quan đến GĐGR và cấp 11 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho cộng đồng 4 bản tại xã Hạnh Dịch với tổng
diện tích 1.871.435 m2
qua đó diện tích được giao cụ thể của từng bản được phân vùng như
sau:
12
5.7.1. Bản Chiếng: Tổng diện tích được giao 564.636m2
a. Vùng rừng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh cho mục đích phòng hộ
Là vùng rừng được phép sử dụng theo mục đích kết hợp phòng hộ với bảo vệ môi trường và
bảo vệ nguồn nước với tổng diện tích 26.105m2
gồm có:
• Thửa 170, lô e, khoảnh 5, tiểu khu 85, tờ bản đồ 7 với diện tích 15.162 m2
• Thửa 181, lô c, khoảnh 6, tiểu khu 85, tờ bản đồ số 7 với diện tích 10.943 m2
b. Đất có rừng trồng
Là khu vực đang người dân đang khoanh nuôi, bảo vệ và trổng rừng bao gồm các loài cây
Cao Su, Keo, Xoan với tổng diện tích 109.876m2
bao gồm
• Thửa 170, lô (d, k, l, p) với tổng diện tích 57.067m2
, thuộc tiểu khu 85, khoảnh 6, tờ
bản đồ số 7
• Thửa 178, lô (a,d) với tổng diện tích 52.809m, thuộc tiểu khu 85, khoảnh 6, tờ bản đồ
số 7
c. Vùng sản xuất Nông – Lâm nghiệp
Là các vùng đất trống được phép trồng các loại cây nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi thả cá
(trang trại-nông lâm kết hợp). Ở bản Chiếng khu vực này được gọi khu Piếng Lằng Ban với
tổng diện tích 260.538m2
gồm các thửa:
• Thửa 170, các lô (h, i, n, o) với tổng diện tích 42.611m2
thuộc tiểu khu 85 khoảnh 5
tờ bản đồ số 7
• Thửa 178, các lô ( b, c, e, g) với tổng diện tích 34.902m 2
thuộc tiểu khu 85 khoảnh 6,
tờ bản đồ số 7
• Thửa 181, các lô (e, f, l, m, a, d, g) với tổng diện tích 183.034m2
thuộc tiểu khu 85
khoảnh 6, tờ bản đồ số 7
d. Đất dự phòng dân sinh (hiện tại đang là đất trống)
Khu vực Chắm Pánh, Piếng Lằng Ban, Piếng Cò Hưởng, Chắm Huống với tổng diện tích
168.017m2
bao gồm các thửa
• Thửa 170, lô (a, b, c, f, g, j, m, r,) với tổng diện tích 120.344 m2
thuộc tiểu khu 85,
khoảnh 5, tờ bản đồ số 7
• Thửa 178, lô f, với diện tích 18.451 m2
thuộc tiểu khu 85, khoảnh 6, tờ bản đồ số 7
• Thửa 181, lô (b, k, r), với tổng diện tích 29.222 m2
thuộc tiểu khu 85, khoảnh 6, tờ
bản đồ số 7
13
(Trong khi cộng đồng chưa quyết định cho người dân trong bản dãn dân, dãn cư thì khu vực
trên sử dụng cho mục đích sản xuất nông lâm kết hợp)
5.7.2. Bản Pà Kỉm: Tổng diện tích được giao 947.716m2
a. Vùng rừng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh cho mục đích phòng hộ.
Là vùng rừng được phép sử dụng theo mục đích kết hợp phòng hộ với bảo vệ môi
trường và bảo vệ nguồn nước. Pà Kỉm có 2 khu vực Rừng đầu nguồn và có 03 con suối nằm
ở vị trí bên này sông (giáp với bản) và bên kia sông: Phả Khoái, Phảng Ngám, Khe Chiếng
cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho cộng đồng bản Pà Kỉm và toàn bộ
thôn Bản Chiếng (suối Phẳng Ngắm).
Khu vực bên này sông (giáp ranh với bản) thuộc tiểu khu 85, khoảnh 5, tờ bản đồ số 7 với
tổng diện tích 169.249m2
bao gồm các lô, thửa:
- Thửa 167c, lô g với diện tích 91.126m2
- Thửa167c, lô m với diện tích 39.457 m2
- Thửa 167c, lô p với diện tích 7.706 m2
- Thửa 167c, lô q với diện tích 30.960 m2
Khu vực bên kia sông: Thuộc tiểu khu 82, khoảnh 5, tờ bản đồ số 7 với tổng diện tích
608.135m2
bao gồm các thửa
- Thửa 27, lô (a, b, c, d, e) với tổng diện tích 154.034 m2
- Thử 30, lô (a, b, c, d, f) với tổng diện tích 131.087 m2
- Thửa 51, lô (a, b, c, d, e, f, h, k, m, n) với tổng diện tích 207.363 m2
- Thửa 74, lô (a,b) với tổng diện tích 115.651 m2
b. Vùng sản xuất Nông – Lâm nghiệp
Là các vùng đất trống được phép trồng các loại cây nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi
thả cá (Trang trại-nông lâm kết hợp).
Khu vực bên này sông (giáp ranh với bản) thuộc tiểu khu 85, khoảnh 5, tờ bản đồ số 7 với
tổng diện tích 97.926m2
bao gồm các lô, thửa:
- Thửa 167c, lô h,l đang trồng keo với diện tích: 20.217 m2
- Thửa 167c, lô j đang sản xuất nông nghiệp với diện tích 43.076 m2
- Thửa 167c, lô m, n, r: đất trống với diện tích 34.633 m2
Khu vực bên kia sông: Thuộc tiểu khu 82, khoảnh 5, tờ bản đồ số 7 với tổng diện tích
31.111m2
bao gồm các thửa
- Thửa 51, lô i, với diện tích 3.933 m2
- Thửa 74, lô c với diện tích 27.178 m2
14
5.7.3. Bản Pà Cọ : Tổng diện tích được giao 231.101m2
a. Vùng rừng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh cho mục đích phòng hộ, rừng thuốc nam
Là vùng rừng được phép sử dụng theo mục đích kết hợp phòng hộ với bảo vệ môi
trường, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ cây thuốc nam. Rừng phòng hộ và rừng thuốc nam có
tên là Thăm Sứa và Phà Quái với diện tích là 128.053m2
thuộc thửa 167b, lô (i, e) khoảnh
5, tiểu khu 85 tờ bản đồ số 7.
Trong bản có 03 con suối: Huổi Đổng, Cảy Phù, Đổng Pênh cung cấp nước cho sinh
hoạt và sản xuất nông nghiệp cho cộng đồng bản Pà Cọ. Riêng suối Đổng Pênh bắt nguồn
từ rừng Cộng đồng bản Pà Cọ nhưng chảy về bản Pỏm Om cung cấp nước sản xuất nông
nghiệp cho thôn Pỏm Om và nước sinh hoạt cho Đồn Biên Phòng
b. Vùng sản xuất Nông – Lâm nghiệp
Là các vùng đất trống được phép trồng các loại cây nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi
thả cá (trang trại - nông lâm kết hợp).
Khu đất sản xuất NLKH có tên là chân dốc Bùa Mai thuộc các thửa 167a, lô (b,f)
khoảnh 5, tiểu khu 85 tờ bản đồ số 7, diện tích 103.048m2
5.7.4. Bản Khốm : Tổng diện tích được giao 127.982m2
a. Vùng rừng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh cho mục đích phòng hộ và bảo tồn, phát triển
cây thuốc nam
Là vùng rừng được phép sử dụng theo mục đích kết hợp phòng hộ với bảo vệ môi
trường và bảo vệ nguồn nước.
Rừng đầu nguồn Pà Cá và rừng bảo tồn phát triển cây thuốc nam có tổng diện tích
112.708m2
thuộc thửa 168, lô a, khoảnh 1, tiểu khu 85, tờ bản đồ số 6. Trong rừng nguồn
có 03 con suối là Huổi Tạch, Huổi Khốm, Huổi Cộng cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất
nông nghiệp cho cộng đồng bản Khốm và Pỏm Om
Rừng này được người Thái quy định tuyệt đối cấm khai thác vì đây là rừng già, có
nhiều cây to và là nơi ngự trị của Thần linh.
b. Vùng sản xuất Nông – Lâm nghiệp
Là các vùng đất trống được phép trồng các loại cây nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi
thả cá (Trang trại - nông lâm kết hợp). Cả bản có 04 thửa đất hiện đang sản xuất Nông –
Lâm nghiệp bao gồm các thửa:
- Thửa 168, lô d đang canh tác nông nghiệp với diện tích 720m2
, thuộc khoảnh 1, tiểu
khu 85, tờ bản đồ số 6
- Thửa 168, lô b Keo I với diện tích 9.719m2
, thuộc khoảnh 1, tiểu khu 85, tờ bản dồ số 6
15
- Thửa 168, lô (c,e,f) đất trống với tổng diện tích 4.890m2
, thuộc khoảnh 1, tiểu khu 85,
tờ bản đồ số 6
Ngày 23/12/2013 tại UBND xã Hạnh Dịch đã diễn ra lễ tổng kết chương trình GĐGR đồng
thời đọc quyết định, trao giấy chứng nhận QSDĐ cho cộng đồng 4 bản.
5.8. Hoàn thiện bảng biển quy chế bảo vệ rừng và tuyên truyền quy chế
Hoàn thiện và đưa vào sử dụng 04 bảng biển quy chế bảo vệ rừng của 4 thôn và quy chế bảo
vệ rừng được chính quyền xã thông qua.
VI. Câu chuyện điền hình
Nhận thức của người dân trong việc quyết tâm có được QSDĐ
Kết quả GĐGR cho bản Pỏm Om đã tác động rất lớn đến toàn bộ các bản còn lại đặc biệt là
các bản có ranh giới giáp ranh với xã Tiền Phong. Không những thế nguy cơ mất đất rừng là
rất hiện hữu với cộng đồng nơi đây bởi quyết định 340/UBND tỉnh Nghệ An liên quan đến
quy hoạch quỹ đất rừng cho khu bảo tồn Pù Hoạt và việc 2 lần công ty cổ phần cao su Nghệ
An lấn chiếm đất rừng Pỏm Om ngay cả khi đã có giấy chứng nhận QSDĐ. Ông Lương Văn
Bình – bí thư bản Khốm nói: “nguy cơ cộng đồng bị mất đất là rất lớn, nếu không có chủ
trương và định hướng kịp thời chắc chắn trong thời gian tới sẽ không còn đất giao cho cộng
đồng nữa. Vì vậy chúng ta phải cố gắng giữ lấy đất, giữ lấy rừng cho cộng đồng của ta, cho
con cháu ta”, cũng đồng quan điểm với Ông Bình, Ông Vi Đình Văn còn cương quyết và
quyết liệt hơn trong việc tham gia vận động cộng đồng người dân Bản Chiếng cùng nhau
đoàn kết, hỗ trợ đoàn công tác và tích cực tham gia hoạt động giải quyết các mâu thuẫn nảy
sinh trong quá trình GĐGR. Điều này chứng tỏ người dân đã nhận thức và thấy rõ vai trò
quan trọng của rừng cộng đồng cũng như nguy cơ bị xâm lấn, mất đất nếu cộng đồng không
cương quyết đoàn kết nhằm sớm có được quyền quản lý bảo vệ chính thức.
Thay đổi cách nhìn nhận và nâng cao năng lực của cấp chính quyền địa phương trong
công tác GĐGR cho cộng đồng
Qua 02 đợt xử lý và cùng giải quyết các vấn đề lấn chiếm đất rừng cộng đồng bản
Pỏm Om, chính quyền xã Hạnh Dịch nhận thấy rõ nếu không sớm tiến hành GĐGR và trao
giấy chứng nhận QSDĐ cho các cộng đồng trên các diện tích đất rừng tạm giao cho các chi
hội tại các bản thì nguy cơ bị xâm lấn, mất đất rất dễ xảy ra và ngày càng phức tạp. Do đó
trong quá trình tiến hành GĐGR tại 4 bản hội đồng GĐGR cấp xã tham gia tích cực trong
các vấn đề giải quyết mâu thuẫn và hỗ trợ đoàn công tác trong quá trình triển khai. Trong
cuộc họp giữa nhóm hỗ trợ GĐGR với Hội đồng GĐGR và các thành viên liên quan diễn ra
ngày 23/10/2013 Ông Lương Tiến Lê – chủ tịch xã Hạnh Dịch đã nhấn mạnh các nội dung
cần phải vào cuộc tích cực như: (i) tập trung tối đa thời gian và nguồn nhân lực hoàn thiện
16
hồ sơ giao đât giao rừng cho 4 bản trước 31/12/2013, (ii) cần có biên bản thực hiện quyết
định UBND huyện liên quan đến cao su đồng thời làm công văn báo cáo việc nông trường
cao su không chấp hành quyết định của huyện (vừa gửi cho Huyện, vừa gửi cho Nông
trường cao su), (iii) xử lý đối tượng mới phát rừng để canh tác: UBND xã cử người có thẩm
quyền tới hiện trường kiểm tra, lập biên bản và xác nhận của đối tượng sau đó xử lý theo
pháp luật, (iiii) cần mời huyện và xã Tiền Phong liên quan đến việc ranh giới bản Chiếng
với xã Tiền Phong (ngày 26/10 đại diện UBND xã Hạnh Dịch sẽ sang gặp đại diện UBND
xã Tiền Phong liên quan đến ranh giới bản Chiếng và xã Tiền Phong, các thành viên Mạng
lưới đất rừng Quế Phong cùng tham gia), (iiiii) các trưởng bản cần có số liệu cụ thể về các
hộ đang sử dụng đất rừng của cộng đồng, thảo luận hình thức tự quản lý, cam kết sử dụng
theo quy chế của cộng đồng, thảo luận thông qua quy hoạch kế hoạch sử dụng đất rừng giao
cho cộng đồng, các điều phối viên Mạng lưới đất rừng Quế Phong cùng tham gia họp với bà
con dân bản.
Bên cạnh đó thông qua các hoạt động như tập huấn nâng cao năng lực cho các thành viên
trong hội đồng GĐGR, cán bộ chủ chốt của xã Hạnh Dịch liên quan đến chính sách và cũng
như quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia đã thay đổi đáng kể cách nhìn
nhận khi cùng tham gia GĐGR cho cộng đồng. Bà Kim Thị Tuyên – Bí thư xã Hạnh Dịch
chia sẻ: Qua các đợt tập huấn, thảo luận cá nhân tôi nhận thấy rõ trách nhiệm của một lãnh
đạo xã và vai trò của các bên tham gia trong công tác phối kết hợp triển khai GĐGR cho
cộng đồng thông qua các bước theo quy định của nhà nước và biết rõ được quyền lợi của
cộng đồng khi có được GCNQSDĐ.
VI. Những bất cập ở xã Hạnh Dịch
Quy hoạch treo và chậm trễ trong thông báo quy hoạch trồng cao su
Mặc dù trên địa bàn xã có quỹ đất nhưng lại vướng quy hoạch “treo” cho nông trường Cao
su Quế Phong, Khu BTTN Pù Hoạt, nên không thể giao cho cộng đồng được. Theo quyết
định 4081/QĐ – UBND tỉnh Nghệ An ngày 13/9/2013 liên quan đến phê duyệt điều chỉnh,
bổ sung cây Cao su của Công ty cổ phần đầu tư phát triển cao su Nghệ An trên địa bàn
huyện Quế Phong giai đoạn 2013 – 2020 Huyện Quế Phong có 4 xã nằm trong diện quy
hoạch mở rộng trong đó có xã Hạnh Dịch với diện tích dự kiến là 49,8ha và nằm trọn trong
diện tích rừng Bản Chiếng thuộc tiểu khu 82. Điều này dẫn đến việc không thể giao diện tích
rừng hơn 113ha cho cộng đồng Bản Chiếng theo dự kiến. Tuy nhiên điều bất cập toàn bộ thủ
tục quyết định liên quan không được gửi trực tiếp tới chính quyền Huyện Quế Phong và xã
Hạnh Dịch dẫn đến việc vẫn triển khai hoạt động GĐGR cho cộng đồng Bản Chiếng theo dự
kiến ban đầu. Điểm đáng nói hơn mặc dù quyết định ra từ tháng 9/2013 tuy nhiên đến tháng
12/2013 mới có bản đồ quy hoạch của Công ty cổ phần đầu tư cao su Nghệ An và cũng
không có thời gia cụ thể để triển khai hoạt động trên
17
VII. Khó khăn, thách thức
7.1. Thách thức trước mắt
Nguy cơ các bản xã Hạnh Dịch sẽ không còn đất rừng
Quyết định số 340/QĐ-UBND của Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An ra ngày 24 tháng 01 năm 2013
về việc Phê duyệt Đề án chuyển dối Ban quản lý Rừng Phòng hộ Quế Phong thành Ban Quản lý
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt có nguy cơ đẩy hàng ngàn hộ gia đình người dân địa phương vào
cảnh đất mất rừng tan, màn trời chiếu đất.
Để thực hiện được mục tiêu của Khu bảo tồn, một trong những nhiệm vụ chính được đề cập trong
Mục 5 của Đề án là việc thực hiện chuyển đổi Ban Quản lý rừng Phòng hộ Quế Phong thành Ban
quản lý Khu BTTN Pù Hoạt. Theo đó, Ban Quản lý Khu BTTN Pù Hoạt sẽ là "chủ rừng duy nhất"
được công nhận với đầy đủ tư cách pháp nhân và điều kiện để thực hiện nhiệm vụ quản lý rừng đặc
dụng và rừng phòng hộ hiện có theo quy định của pháp luật tại địa phận huyện Quế Phong.
Tuy nhiên, theo thống kê của Phòng TN&MT Quế Phong và Hạt Kiểm Lâm Quế Phong thì từ năm
2003 đến nay Nhà nước đã có quyết định giao và tạm giao một diện tích lớn đất lâm nghiệp và rừng
cho người dân và các tổ chức tại 12 xã của huyện Quế Phong để quản lý, bảo vệ rừng và ổn định
cuộc sống. Cụ thể, có 1.636 gia đình và tổ chức đã được tạm giao hơn 50.265,62 ha diện tích đất
rừng (chủ yếu là rừng phòng hộ), 3.060 hộ gia đình đã được giao quyền quản lý, sử dụng đối với
18.510,57 ha đất rừng theo Nghị định 163/NĐ-CP/1999.
Như vậy hiển nhiên, nếu Đề án này triển khai, quyền quản lý, sử dụng và hưởng lợi từ rừng và đất
rừng của hàng ngàn hộ gia đình người dân cũng như hàng trăm tổ chức, cộng đồng trên địa bàn
huyện Quế Phong đã được Nhà nước công nhận bằng văn bản Pháp luật sẽ bị tước đoạt.
Nguy cơ đất rừng cộng đồng bị xâm hại ngay cả khi có giấy chứng nhận QSDĐ
Như vậy ngoài nguy cơ mất đất, mất rừng ảnh hưởng nghiêm trọng đến không gian sinh tồn của
toàn bộ người dân xã Hạnh Dịch theo quyết định 340/UBND tỉnh Nghệ An thì ngay cả diện tích đất
rừng giao cho cộng đồng Bản Chiếng, Pà Kỉm, Pỏm Om, Pà Cọ, Khốm cũng sẽ bị đe dọa. Khi tất cả
các diện tích đất rừng xung quanh đã có chủ thì điều không mong muốn rất dễ xảy ra là việc người
dân của bản mình sẽ tác động đến ngay chính diện tích rừng được giao chung cho cộng đồng nhằm
duy trì cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó dân số ngày càng tăng và nhu cầu con người ngày càng
lớn về quỹ đất rõ ràng sẽ tạo áp lực rất lớn lên diện tích đất rừng được giao cho cộng đồng trong
thời gian không xa.
Nguy cơ đất rừng cộng đồng bị lấn chiếm bởi công ty cổ phần Cao Su
18
Bài học ở Pỏm Om đang là vấn đề rất nóng bỏng trong việc quản lý, bảo vệ rừng sau
GĐGR. Mặc dù chính thức được trao GCNQSDĐ vào năm 2012 với tổng diện tích hơn
400ha. Tuy nhiên trong năm 2013 đã xảy ra 2 vụ lấn chiếm đất rừng từ Công ty cổ phần đầu
tư phát triển cao su Nghệ An với diện tích hơn 5ha. Mặc dù người dân trong bản, chính
quyền xã, huyện đã vào cuộc nhưng đến nay vấn đề này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm
và ổn thỏa. Cụ thể lần 1 lấn chiếm 1,7 ha và đã trồng hơn 200 cây cao su trên đất rừng bản
Pỏm Om vụ việc này đã được chính quyền huyện Quế Phong ra văn bản yêu cầu dừng lại và
di dời toàn bộ số cây đã trồng trên đất rừng Pỏm Om nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện.
Chưa dừng lại ở đó đến tháng 11/2013 phía công ty cao su tiếp tục lấn chiếm hơn 4ha diện
tích đất rừng cộng đồng để tiếp tục trồng cao su. Điều này thể hiện rõ nét ý đồ mong muốn
lấn chiếm đất rừng của cộng đồng vì lợi ích riêng.
Ngoài bản Pỏm Om rõ ràng những bản còn lại như bản Chiếng, Pà Kỉm, Pà Cọ cũng rất rễ
xẩy ra trường hợp như trên bởi diện tích rừng mới giao cho cộng đồng nằm liền kề với đất
quy hoạch trồng cao su. Vì vậy nếu cộng đồng và chính quyền xã không đoàn kết, mạnh dạn
đấu tranh chắc chắn nguy cơ đất rừng cộng đồng bị lấn chiếm là rất cao.
VIII. Đề xuất, kiến nghị
Các bên liên quan cần hỗ trợ và sớm bóc tách rõ phần diện tích đất rừng quy hoạch trồng
cao su ở Bản chiếng tại tiểu khu 82 (bên kia sông giáp ranh với xã Tiền Phong) nhằm giao
nốt diện tích còn lại cho cộng đồng bản Chiếng.
Mạng lưới đất rừng vùng Quế Phong và các cán bộ trong chương trình LISO cần tiếp tục hỗ
trợ cộng đồng 4 bản trong công tác hậu GĐGR: cách bảo, quản lý rừng bền vững; tuyên
truyền quy chế….
Chính quyền xã cần tích cực hỗ trợ và vào cuộc quyết liệt hơn nữa liên quan đến việc công
ty cổ phần cao su Nghệ An luôn có ý định lấn chiếm đất rừng cộng đồng của các bản ngay
cả khi đã có GCNQSDĐ.
19

T1.2014.baocao gägr.quephong

  • 1.
    VIỆN NGHIÊN CỨUSINH THÁI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI (SPERI) -------o0o------- BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG GIAO ĐẤT GẮN VỚI GIAO RỪNG TẠI XÃ HẠNH DỊCH, HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN Hà Nội, tháng 1 năm 2014 1
  • 2.
    DANH MỤC CÁCTỪ VIẾT TẮT UBND Ủy ban nhân dân MLĐR Mạng lưới đất rừng GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GĐGR Giao đất giao rừng BNNPTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn BTNMT Bộ tài nguyên và môi trường TTLT Thông tư liên tịch QĐ Quyết định LISO Liên minh chủ quyền sinh kế BTTN Bảo tồn thiên nhiên 2
  • 3.
    VIỆN NGHIÊN CỨUSINH THÁI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI – SPERI ------o0o------ BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG GIAO ĐẤT GẮN VỚI GIAO RỪNG XÃ HẠNH DỊCH, HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN I. Bối cảnh Hạnh Dịch là một xã miền núi thuộc huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An nằm giáp với biên giới Việt Lào cách trung tâm thị trấn Kim Sơn 15 km về phía Tây Bắc. Trong xã có 748 hộ dân với 3.377 nhân khẩu chủ yếu là đồng bào dân tộc thái sống tập trung ở 11 bản Bản Chiếng, Pà Kỉm, bản Chạm, Pà Cọ, Pỏm Om, Khốm, Chăm Pụt, Mứt, Cóong, Na Sai và bản Hủa Mương (báo cáo xã Hạnh Dịch năm 2013). Các khu dân cư của xã không tập trung mà nằm rải rác trên toàn địa bàn. Bên cạnh đó, do đặc thù là một xã miền núi nên dân cư thường sống theo tập quán xưa, không tập trung thành chòm xóm mà nằm rải rác ở trên cao những sườn đồi. Tuy nhiên, trong những năm gần đây do ảnh hưởng chung của sự phát triển xã hội trong nền kinh tế thị trường khu dân cư đang có xu hướng tập trung và chuyển xuống thấp, bám theo các trục đường chính, thuận tiện cho việc sản xuất, giao lưu kinh tế văn hóa với các vùng trong và ngoài xã. Xã Hạnh Dịch có tổng diện tích tự nhiên khoảng 18.026 ha (số liệu thống kê tính đến 1/1/2013). Đất lâm nghiệp có rừng chiếm phần lớn với khoảng 16.182 ha (số liệu dân số năm 8/2013, chiếm 89,8% diện tích tự nhiên), bình quân tổng diện tích đất lâm nghiệp 22.7ha/hộ, trong đó hơn 85% diện tích do tổ chức nhà nước và UBND xã quản lý. Đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 287 ha (chiếm gần 1,7% diện tích tự nhiên), bình quân quỹ đất sản xuất nông nghiệp khoảng 0,39ha/hộ và phân bố không đều giữa các vùng. Phương thức quản lý bảo vệ rừng trong xã được tổ chức theo hướng giao và tạm giao cho các hộ gia đình, các chi hội, cộng đồng tự tổ chức chăm sóc và bảo vệ. Ngoài các hộ gia đình của 9 bản được giao đất, giao rừng theo Nghị định 163/CP năm 2003 còn có 01 bản được GĐGR cho cộng đồng năm 2012 là Pỏm Om với diện tích hơn 426,52ha do Viện Nghiên cứu sinh thái chính sách xã hội (SPERI) cùng phối kết hợp với chính quyền Huyện, Xã thực hiện. Nhìn chung sau khi được GĐGR các hộ gia đình và cộng đồng đều khoanh nuôi, bảo vệ theo chiều hướng tích cực đó là để tái sinh tự nhiên và chỉ tác động lên phần diện tích đất trống bằng cách phát dọn để trồng cây Keo, cây Kè. Xuất phát từ thực trạng và hiệu quả trong công tác hậu GĐGR tại bản Pỏm Om chính quyền địa phương nhận thấy cần phải tiếp tục thực hiện GĐGR cho cộng đồng các bản còn lại nên UBND xã Hạnh Dịch có văn bản đề nghị UBND huyện Quế Phong tiếp tục giao 3
  • 4.
    rừng gắn vớigiao đất1 . Chính vì vậy UBND huyện Quế Phong dựa trên nhu cầu và căn cứ thực tiễn đề xuất mong muốn của cộng đồng xã Hạnh Dịch với lãnh đạo Viện SPERI. Dựa trên nhu cầu và thực tiễn Viện SPERI đã cử nhóm cán bộ thuộc chương trình LISO trực tiếp đến cộng đồng xã Hạnh Dịch để khảo sát và tìm hiểu nhu cầu thực tiễn của người dân và cuối cùng đi đến ký kết văn bản thỏa thuận GĐGR cho cộng đồng theo TTLT/07 BNNPTNT – BTNMT cho 4 bản: Chiếng, Pỏm Om, Khốm, Pà Kỉm thuộc xã Hạnh Dịch giữa Viện SPERI với UBND huyện Quế Phong2 với tổng diện tích dự kiến hơn 300ha. II. Mục tiêu - Có được chủ trương và sự đồng thuận của UBND huyện Quế Phong, UBND xã Hạnh Dịch và cộng đồng 4 bản trong việc phối kết hợp cùng triển khai GĐGR. - Tiến hành GĐGR và trao giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất rừng cho cộng đồng 4 bản: Chiếng, Pà Kỉm, Pà Cọ, Khốm với diện tích hơn 300ha theo TTLT/07 BNNPTNT – BTNMT. - Phát huy tối đa sự tham gia của người dân 4 bản trong quá trình thực hiện GĐGR - Nâng cao năng lực của nhóm cán bộ, người dân khi tham gia các hoạt động GĐGR: Điều tra thực địa, đo đếm trữ lượng, xử lý số liệu và lên bản đồ…. III. Phương pháp tiến hành và thành phần tham gia - Tuân thủ các bước tiến hành GĐGR cho cộng đồng theo Thông tư/38/CP và TTLT/07 BNNPTNT và BTNMT. - Phát huy tối đa vai trò và nhiệm vụ đối với các bên tham gia: Phòng TNMT huyện Quế Phong, chính quyền xã Hạnh Dịch, Công ty tư vấn Âu Lạc, cộng đồng, MLĐR và nhóm cán bộ thuộc chương trình LISO theo kế hoạch GĐGR chi tiết được UBND huyện Quế Phong phê duyệt. - Quá trình thực hiện luôn luôn có sự tham gia của cộng đồng trong các bước triển khai: Họp thôn, tổ chức điều tra hiện trạng, xử lý mâu thuẫn, đo đếm trữ lượng, xây dựng quy chế, bàn giao ngoài thực địa…. - Trong quá trình triển khai nếu gặp gặp khó khăn, vướng mắc các bên đều chủ động ngồi lại bàn bạc, thảo luận tìm ra hướng đi tối ưu để thực hiện đặc biệt luôn đề cao và phát huy tối đa tiếng nói của chính cộng đồng người dân được GĐGR. Thành phần tham gia: 1 Tờ trình sô 21/TTr – UBND xã Hạnh Dịch ngày 23/7/2013 2 Văn bản thỏa thuận MOU giữa Viện SPERI và UBND huyện Quế Phong ngày 12/8/2013 4
  • 5.
    - Ban chỉđạo GĐGR huyện Quế Phong - Tổ GĐGR huyện huyện Quế Phong - Hội đồng GĐGR cấp xã - Tổ GDGR cấp xã - Công ty tư vấn Âu Lạc - Mạng lưới đất rừng Quế Phong - Chuyên gia và nhóm cán bộ thực địa thuộc chương trình LISO - Người dân cộng đồng 4 bản IV. Tiến trình thực hiện chương trình GĐGR Để có kết quả như trên Hội đồng tư vấn đất đai cấp xã đã kết hợp với cán bộ Phòng TNMT, Hạt Kiểm lâm, tổ giao đất thôn bản, cán bộ Chương trình LISO, cán bộ công ty Âu lạc, thành viên MLĐR Quế Phong đã tổ chức thực hiện qua các bước sau đây: Bước 1. Khảo sát khu vực rừng dự kiến giao và tìm hiểu phương thức bảo vệ, quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào luật tục (đánh giá tiền dự án) Dựa vào hoạt động trên các thành viên trong nhóm nghiên cứu đã đánh giá và xác định rõ nhu cầu thực sự của người dân mong muốn được GĐGR cho cộng đồng cũng như xác định vị trí, tên bản và diện tích dự kiến giao cho cộng đồng. Đây là bước rất quan trọng có tính quyết định đến hiệu quả của hoạt động. Bên cạnh đó việc nghiên cứu phương thức quản lý, bảo vệ tài nguyên giúp nhóm thực hiện dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với cộng đồng cũng như lồng ghép kết quả nghiên cứu trong bản quy chế bảo vệ rừng, phương án quy hoạch và định hướng tiếp theo. Bước 2. Thành lập tổ công tác Giao đất giao rừng cấp huyện, cấp xã, thôn và thống nhất nhiệm vụ các bên liên quan và chuẩn bị nguồn lực tham gia - Ban chỉ đạo công tác GĐGR cập huyện bao gồm 01 phó chủ tịch UBND huyện làm trưởng ban cùng với cùng với đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hạt Kiểm lâm huyện, Ban Quản lý rừng phòng hộ Quế Phong làm thành viên. - Tổ GĐGR cấp huyện được thành lập gồm đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường, Hạt Kiểm lâm huyện, điều phối viên hỗ trợ dự án (ông Sầm Quốc Việt) cùng với sự tư vấn của cán bộ SPERI. 5
  • 6.
    - Hội đồngđồng giao đất giao rừng cấp xã gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hạnh Dịch, cán bộ địa chính xã, đại diện Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Thanh niên, Phụ nữ, Hội Nông dân và Trưởng bản Chiếng, Pà Kỉm, Pà Cọ, Khốm. - Tổ giao đất cấp thôn bản (thành viên gồm các già làng, trưởng bản và những người có uy tín tham gia xuyên suốt quá trình tiến hành đo đạc và giao đất). Bước 3. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, rừng khu vực dự kiến giao đất Tổ GĐGR thôn bản, cán bộ phòng TNMT, cán bộ Phòng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, cán bộ kỹ thuật Hạt kiểm lâm, cán bộ xã, cán bộ Chương trình LISO, thành viên MLĐR cùng phối kết hợp với người dân triển khai thực hiện. + Hướng dẫn người dân tự điều tra đánh giá được hiện trạng sử dụng đất, đánh giá trữ lượng rừng. + Lập Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, rừng khu vực dự kiến giao. + Giải quyết các mâu thuẫn trong sử dụng đất lâm nghiệp (quá trình giải quyết mâu thuẫn là quá trình phức tạp nên cần kế hoạch giải quyết cụ thể xuyên suốt quá trình để đảm bảo thỏa đáng nguyện vọng các bên liên quan). + Báo cáo đánh giá hiện trạng sử dụng đất và đánh giá trữ lượng rừng tại các khu vực dự kiến giao (biểu 09 kèm theo hồ sơ giao đất). Bước 4. Họp thôn báo cáo kết quả đánh giá hiện trạng rừng; thảo luận lấy ý kiến về quy hoạch sử dụng đất, rừng; xây dựng phương án giao đất giao rừng; xây dựng Quy ước Bảo vệ phát triển rừng cộng đồng; xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên rừng trong 5 năm tiếp theo. Họp thôn lần 1: + Báo cáo kết quả đánh giá hiện trạng rừng, + Thảo luận giải quyết các mâu thuẫn vướng mắc về đất đai, + Dự thảo phương án giao đất thôn bản. Họp thôn lần 2: + Báo cáo giải quyết các mâu thuẫn, công bố các biên bản hòa giải của các mâu thuẫn. Tiếp tục thảo luận các mâu thuẫn còn tồn tại (nếu có) + Thảo luận xây dựng kế hoạch quản lý bảo vệ rừng cộng đồng được giao 5 năm giai đoạn 2013 – 2018 trình UBND xã. + Lập đơn xin giao đất, giao rừng (đơn thôn gửi xã). 6
  • 7.
    Họp thôn lần3: Đây là cuộc họp dự bị để báo cáo và giải quyết các mâu thuẫn còn tồn tại trước khi lập hồ sơ xin giao đất trình Hội đồng tư vấn đât đai cấp xã đồng thời thảo luận xây dựng quy chế bảo vệ rừng. Bước 5: Họp Hội đồng tư vấn đất đai xã Hạnh Dịch để thông qua phương án giao đất và trình UBND huyện phê duyệt. + Thảo luận và thống nhất thông qua Phương án giao đất lâm nghiệp + Lập Hồ sơ (bao gồm hồ sơ xin giao đất, các biên bản giải quyết mâu thuẫn) và tờ trình UBND huyện về việc giao rừng gắn với giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Bước 6: Lập hồ xin sơ giao đất, giao rừng + Đơn vị tư vấn kết hợp với cán bộ Phòng TNMT, Hạt Kiểm lâm, Hội đồng giao đất cấp xã, Tổ Công tác thôn, cán bộ Chương trình LISO thực hiện hoàn thiện hồ sơ xin giao đất, rừng và cấp giây chứng nhận quyền sử dụng đất. + UBND xã đã lập tờ trình đề nghị giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư Bản Chiếng, Pà Cọ, Pà Kỉm, Bản Khốm trình UBND huyện. + Bàn giao Hồ sơ xin giao đất với Phòng TNMT có biên bản bàn giao. Bước 7. Duyệt Hồ sơ xin giao đất, giao rừng Căn cứ đơn xin giao đất giao rừng của cộng đồng dân cư Bản Chiếng, Pà Cọ, Pà Kỉm, Bản Khốm. Hội đồng tư vấn đất đai xã Hạnh Dịch đã tổ chức họp để xét duyệt và trình UBND huyện Quế Phong. Với hỗ trợ và giúp đỡ của cán bộ phòng Tài nguyên Môi trường, Hạt Kiểm lâm, tổ công tác giao đất giao rừng cấp xã đã thống nhất thông qua đơn xin giao đất giao rừng và xác nhận các thông tin về thửa đất trong đơn của cộng đồng 4 thôn bản. Bước 8. Thẩm định giao đất giao rừng cấp huyện và ra quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao đất ngoài thực địa Phòng TNMT phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện Quế Phong cùng tiến hành kiểm tra đối chiếu và tham mưu cho UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư Bản Chiếng, Pà Cọ, Pà Kỉm, Bản Khốm. Bước 9: In và bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 7
  • 8.
    Ảnh 1: ÔngLang Văn Minh – phó chủ tịch UBND huyện thảo luận và làm việc với lãnh đạo Viện SPERI về chương trinh GĐGR tại xã Hạnh Dịch Sau khi in ấn Sổ bìa đỏ và được Chủ tịch UBND huyện ký giao, UBND xã Hạnh Dịch tổ chức công bố quyết định và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bước 10: Tổ chức đóng bảng biển và tuyên truyền quy chế bảo vệ rừng V. Kết quả đạt được Chương trình thí điểm giao rừng gắn với giao đất khu vực đầu nguồn cho cộng đồng dân cư Bản Chiếng, Pà Cọ, Pà Kỉm, Bản Khốm được triển khai từ tháng 8 năm 2013 và kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2013. Qua 5 tháng thực hiện thực sự hoạt động này đã đạt được kết quả ngoài dự kiến cũng như để lại dấu ấn đối toàn bộ các bên tham gia như Công ty tư vấn Âu Lạc, UBND huyện Quế Phong, Hạt Kiểm Lâm, chính quyền địa phương xã Hạnh Dịch, Mạng lưới đất rừng, cán bộ chương trình LISO và đặc biệt là cộng đồng người dân 4 bản xã Hạnh Dịch. 5.1. Có được sự đồng thuận của chính quyền địa phương cấp Huyện, Xã Dựa trên kết quả nghiên cứu tiền khảo sát và mong muốn được GĐGR của cộng đồng 4 bản xã Hạnh Dịch, UBND huyện Quế Phong và Viện Nghiên cứu Sinh thái Chính sách Xã hội – SPERI đã ký kết biên bản thỏa thuận cùng phối kết hợp thực hiện mở rộng mô hình giao rừng gắn với giao đất cho cộng đồng dân cự tại các thôn, bản xã Hạnh Dịch và các xã khác của Huyện Quế Phong vào ngày 12/8/2013. Trong biên bản đã nêu rõ mục tiêu cũng như nguyên tắc, nội dung và trách nhiệm tham gia của các bên trong công tác phối hợp tổ chức thực hiện chương trình. 5.2. Tổ chức nghiên cứu phương thức quản lý bảo vệ tài nguyên rừng dựa vào luật tục Nhóm nghiên cứu tiến hành và kết thúc hoạt động “khảo sát và nghiên cứu Luật tục trong quản lý, quy hoạch và bảo vệ rừng của cộng đồng người Thái các bản Pà Kỉm, Bản Chiếng, Bản Khốm và Bản Pà Cọ, xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An” trong tháng 8 năm 2013. Nghiên cứu lần này không đi sâu vào tất cả các chi tiết của toàn bộ hệ thống Luật tục của cộng đồng người Thái xã Hạnh Dịch, mà chỉ bổ sung thêm các thông tin liên quan đến Luật tục trong quy hoạch, quản lý và sử dụng tài nguyên rừng. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những chỉ số quan trọng phản ánh được vai trò và thiết chế của cộng đồng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên như: 8
  • 9.
    - Quy địnhvề bảo vệ rừng đầu nguồn: khu rừng đầu nguồn được người Thái quy định là tuyệt đối cấm khai thác. Khu vực này thường là rừng già và người Thái quan niệm những vùng rừng này là nơi ngự trị của Thần linh. Nếu ai vi phạm sẽ bị làng phạt nặng, đặc biệt trước đây rất xa xưa có qui định người làm cháy rừng, cháy bản sẽ bị giết thả trôi sông. Qui định này sau nhiều thập kỷ đã bị bỏ thay vào đó là gia đình người vị phạm phải làm lễ chặt đầu một con chó thả trôi sông và người vi phạm phải lặn theo xác con vật hiến sinh một quãng. - Quy định đối với rừng thiên: rừng thiêng gắn với tục thờ Cây to hiện vẫn chiếm giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của người dân. Những cánh rừng đầu nguồn ngoài việc bảo vệ cho bản mường khỏi mưa lũ, đói, rét, ốm đau, còn là nơi mà người dân gửi gắm những tâm tư, nguyện vọng của mình tới các vị thần linh thông qua các lễ hội như ‘Tế Sần’ (Cũng rừng). Những Rừng nghĩa địa để chôn cất những người quá cố gọi là "Đoống", Rừng cấm, Rừng kiêng, Rừng thiêng "Đông căm" luôn là những địa điểm ở mà đó người dân thường thực hành những nghi lễ thờ cúng và cầu thần linh phù hộ. - Quy định cấm làm cháy rừng: ai làm cháy nhà, cháy rừng là phạt đưa con trâu ra làm thịt ở dưới sông. Ngày xa xưa người ta còn chém người gây cháy rừng, cháy nhà, còn nay thì người đó phải ôm con chó ra ngoài sông, chém đầu con chó, rồi người phạm tội phải lặn theo con chó dưới sông một đoạn, sau phải cúng xin thề không bao giờ gây cháy nhà, cháy rừng nữa. - Quy định về luân canh nương rẫy: trước đây việc xác định các khu vực sử dụng cho sản xuất nương rẫy được các già làng cân nhắc rất kỹ về mức độ thuận lợi liên quan đến các yếu tố: độ dốc, qui mô diện tích, nguồn nước, đi lại, độ màu mỡ của đất và khả năng tái sinh của rừng sau các thời kỳ bỏ hóa. Trước đây do dân số ít, diện tích để có thể khai thác làm nương rẫy lớn nên thông thường mỗi vùng nương rẫy sẽ canh tác trong khoảng 2 năm và sau đó chuyển sang vùng khác để 4 đến 6 năm sau quay lại khi thảm thực vật khu nương rẫy ban đầu đã phục hồi. Kết quả của nghiên cứu là đầu vào để xây dựng quy chế quản lý bảo vệ rừng cho người dân 4 bản sẽ được người dân thảo luận và chính quyền thông qua làm cơ sở pháp lý để quản lý, bảo vệ tốt hơn diện tích rừng giao cho cộng đồng. Tham gia hoạt động có 01 cán bộ nghiên cứu của chương trình LISO, 02 thành viên trong MLĐR Quế Phong và hơn 10 già làng đến từ các bản Chiếng, Khốm, Pà Kỉm, Pà Cọ. 5.3. Nâng cao năng lực cho các thành viên Nhằm nâng cao năng lực cũng như nhận thức của các thành viên trong tổ GĐGR cấp huyện, hội đồng GĐGR cấp xã, tổ GĐGR cấp bản, thành viên MLĐR huyện Quế Phong nhóm chuyên môn đã tổ chức 02 đợt tập huấn nâng cao năng lực cho cộng đồng liên quan đến: 9
  • 10.
    - Luật vàChính sách của Nhà nước về GĐGR, quản lý bảo vệ tài nguyên rừng và hưởng lợi - Đo đếm trữ lượng rừng bằng phương pháp lập Ô tiêu chuẩn và phương pháp Bitteclich Bên cạnh đó ngoài 02 đợt tập huấn, đào tạo chính thức các thành viên trong Hội đồng GĐGR cấp xã đã tự tổ chức đào tạo lại cho toàn bộ dân bản của 4 bản cũng như toàn bộ các thành viên trong MLĐR nhằm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi để tất cả người dân cùng nắm được chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước cũng như quyền lợi của chính mình. Qua các đợt tập huấn người dân trong thôn, bản đã hiểu rõ hơn được quy trình GĐGR dựa vào cộng đồng cũng như tự tin hơn trong quá trình tham gia điều tra, đo đếm trữ lượng rừng. Tham gia hoạt động có sự tham gia: của 02 cán bộ phòng tài nguyên môi trường, 01 cán bộ kiểm lâm địa bàn,14 thành viên trong Hội đồng GĐGR và tổ giao đất giao rừng, 16 thành viên MLĐR và 245 đại diện hộ gia đình của 4 thôn bản tham gia, trong đó tổng số thành viên nữ tham 121/245 thành viên. 5.4. Hoàn thiện công tác ngoại nghiệp và nội nghiệp Tổ kỹ thuật và nhóm công tác cùng nhau thảo luận, thống nhất xử lý toàn bộ số liệu thu thập được ngoài thực địa để xử lý nội nghiệp và hoàn thiện các nội dung: - 04 bản đồ hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp 4 bản - Số liệu đo đếm trữ lượng rừng theo biểu 09 trong TTLT/07/ BNNPTNN - BTNMT - 04 bản đồ hiện trạng rừng 4 bản - 04 bản đồ quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp 4 bản - 04 sơ đồ cột mốc ranh giới - Phương án Giao đất gắn với giao rừng cho cộng đồng 4 bản - Quy chế bảo vệ và phát triển rừng - Đơn xin GĐGR và các biên bản liên quan 10 Ảnh 2: Tập huấn đo đếm trữ lượng rừng tại bản Khốm – xã Hạnh Dịch
  • 11.
    Toàn bộ sốliệu được hoàn thiện gửi tới cấp có thẩm quyền phê duyệt như Phòng tài nguyên và môi trường huyện Quế Phong.... Tham gia hoạt động này từ phía người dân đã huy động hơn 80 lượt người tham gia liên quan đến hoạt động điều tra hiện trạng sử dụng đất và đo đếm trữ lượng rừng của 4 bản, 14 cán bộ địa phương cấp xã và Huyện, 01 chuyên gia. 5.5. Giải quyết các vướng mắc, xung đột Theo quy định đối với chương trình GĐGR cho hộ gia đình hay cộng đồng chỉ tiến hành và thực hiện GĐGR ở những vị trí không xẩy ra tranh chấp, mâu thuẫn. Chính vì vậy hoạt động này được tổ GĐGR cấp huyện, hội đồng GĐGR cấp xã và các thành viên tham gia xác định cần phải rà soát toàn bộ các vướng mắc, xung đột và cùng với người dân tham gia giải quyết các vướng mắc xung đột đó một cách triệt để. Qua đó trong quá trình thực hiện đã phát hiện và giải quyết các dạng vướng mắc sau Vướng mắc giữa cá nhân với cộng đồng (người trong cùng một bản hay cùng một xã) Theo kết quả điều tra hiện trạng và thông qua các buổi họp thôn phần lớn tại 4 bản đều có vướng mắc này. Nguyên nhân được xác định sau khi diện tích rừng tạm giao cho các tổ chức, chi hội quản lý bảo vệ từ năm 2003 đến nay công tác quản lý, bảo vệ không được triển khai, duy trì thường xuyên dẫn đến tình trạng một số hộ đã phát tỉa diện tích rừng để trồng keo hay canh tác nông nghiệp nhưng không có ai can thiệp và đình chỉ. Do đó, các hộ dân lầm tưởng đây là diện tích khai hoang nên được phép sử dụng lâu dài (nếu theo tập quán của người Thái thì hoàn toàn phù hợp). Vì vậy, với trường hợp này nhóm tư vấn thảo luận với ban phát triển thôn bản cùng đưa ra những giải pháp cũng như tìm ra hướng giải quyết ổn thỏa nhất và đặc biệt toàn bộ các hướng đi đều được thảo luận trước toàn bộ dân bản thông qua các cuộc họp thôn lần 1, lần 2. Qua đó người người dân của 4 bản cũng như các hộ gia đình đều thống nhất và đi đến quyết định vẫn đồng ý cho các hộ đang sử dụng diện tích đất rừng cộng đồng để canh tác, trồng cây nhưng không được phép mở rộng, lấn chiếm thêm diện tích nếu sau này không canh tác nữa thì phải trả lại cho cộng đồng và không được phép chuyển lại cho người khác. Không những vậy những hộ nào đang trồng keo phải có trách nhiệm đóng góp một phần lợi ích cho cộng đồng đó theo hình thức đóng góp hàng năm hay sau mỗi kỳ thu hoạch (Vd hộ gia đình Bà Hà Thị Dung ở Bản Khốm). 11 Ảnh 3: Họp dân bản Pà Kỉm thảo luận các vướng mắc, mâu thuẫn
  • 12.
    Vướng mắc ranhgiới giữa bản với bản Vướng mắc này xảy ra giữa bản Khốm với Pà Cọ, Pà Cọ với bản Pỏm Om. Tuy nhiên sau khi các thành viên trong bản và tổ giao đất giao rừng cấp thôn cùng thảo luận chia sẻ đã cùng đi đến thống nhất vẫn lấy ranh giới theo bản đồ 163 quy định và lấy các điểm như vị trí các rông, khe làm ranh giới phân định giữa 2 bản đồng thời sau khi chính thức có quyết định các bản sẽ làm cột mốc ranh giới để đóng ở cac vị trí phân định. Vướng mắc giữa người ngoài bản/ngoài xã với cộng đồng Theo kết quả điều tra trong 4 bản thì có bản Chiếng xẩy ra vướng mắc liên quan đến đất rừng cộng đồng giữa người dân ở xác khác với cộng đồng người dân bản Chiếng. Cụ thể có 03 hộ là người dân xã Tiền Phong đến xâm canh, xâm cư tại bản Chiếng và ngược lại có 06 hộ người dân bản Chiếng xâm canh xâm cư diện tích đất rừng của xã Tiền Phong. Trong các dạng mâu thuẫn và khúc mắc đây được coi là trở ngại lớn nhất đối với nhóm công tác giao đất giao rừng. Để có được giải pháp tốt nhất nhóm đã chủ động chia sẻ kết quả điều tra hiện trạng với chính quyền xã Hạnh Dịch, cộng đồng người dân Bản Chiếng nhằm tìm ra hướng giải pháp tốt nhất. Sau 3 lần họp thôn và thảo luận đã đi đến thống nhất không cho các hộ nhập khẩu vào bản; không được mở rộng diện tích đất rừng để canh tác hay trồng cây; không được mua bán, chuyển nhượng; phải trả lại đất cho cộng đồng nếu không sử dụng và phải đóng góp một phần lợi ích cho cộng đồng. Tham gia hoạt động về phía cộng đồng có đầy đủ các hộ dân tham gia trong 2 buổi họp thôn với tổng lượt tham gia gần 400 lượt (Bản Chiếng: 118 hộ, Khốm 37 hộ, Pà Cọ: 56, Pà Kỉm: 39) và đại diện đến từ Hội đồng GĐGR, tổ tư vấn. 5.6. Bàn giao đất và cắm mốc ngoài thực địa Sau khi giải quyết toàn bộ những vướng mắc liên quan đến hoạt động GĐGR tổ kỹ thuật cùng với các bên liên quan tiến hành bàn giao đất ngoài thực địa cho cộng đồng dân cư 4 bản đồng thời tiến hành đóng mốc ranh giới trên thực địa. Tổng số cột mốc được chôn là 82 cọc/4 bản. Tham gia hoạt động có đại diện các bên liên quan như các chủ thửa đất liền kề/giáp ranh, cộng đồng, cán bộ phòng tài nguyên môi trường, hạt kiểm lâm với tổng số thành viên tham gia 80 người. 5.7. Công bố quyết định và trao giấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - Trong tháng 12/2013 UBND huyện Quế Phong ra 02 Quyết định số 869/QĐ-UBND ngày 06/12/2013 và 935/QĐ –UBND ngày 18/12/2013 liên quan đến GĐGR và cấp 11 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho cộng đồng 4 bản tại xã Hạnh Dịch với tổng diện tích 1.871.435 m2 qua đó diện tích được giao cụ thể của từng bản được phân vùng như sau: 12
  • 13.
    5.7.1. Bản Chiếng:Tổng diện tích được giao 564.636m2 a. Vùng rừng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh cho mục đích phòng hộ Là vùng rừng được phép sử dụng theo mục đích kết hợp phòng hộ với bảo vệ môi trường và bảo vệ nguồn nước với tổng diện tích 26.105m2 gồm có: • Thửa 170, lô e, khoảnh 5, tiểu khu 85, tờ bản đồ 7 với diện tích 15.162 m2 • Thửa 181, lô c, khoảnh 6, tiểu khu 85, tờ bản đồ số 7 với diện tích 10.943 m2 b. Đất có rừng trồng Là khu vực đang người dân đang khoanh nuôi, bảo vệ và trổng rừng bao gồm các loài cây Cao Su, Keo, Xoan với tổng diện tích 109.876m2 bao gồm • Thửa 170, lô (d, k, l, p) với tổng diện tích 57.067m2 , thuộc tiểu khu 85, khoảnh 6, tờ bản đồ số 7 • Thửa 178, lô (a,d) với tổng diện tích 52.809m, thuộc tiểu khu 85, khoảnh 6, tờ bản đồ số 7 c. Vùng sản xuất Nông – Lâm nghiệp Là các vùng đất trống được phép trồng các loại cây nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi thả cá (trang trại-nông lâm kết hợp). Ở bản Chiếng khu vực này được gọi khu Piếng Lằng Ban với tổng diện tích 260.538m2 gồm các thửa: • Thửa 170, các lô (h, i, n, o) với tổng diện tích 42.611m2 thuộc tiểu khu 85 khoảnh 5 tờ bản đồ số 7 • Thửa 178, các lô ( b, c, e, g) với tổng diện tích 34.902m 2 thuộc tiểu khu 85 khoảnh 6, tờ bản đồ số 7 • Thửa 181, các lô (e, f, l, m, a, d, g) với tổng diện tích 183.034m2 thuộc tiểu khu 85 khoảnh 6, tờ bản đồ số 7 d. Đất dự phòng dân sinh (hiện tại đang là đất trống) Khu vực Chắm Pánh, Piếng Lằng Ban, Piếng Cò Hưởng, Chắm Huống với tổng diện tích 168.017m2 bao gồm các thửa • Thửa 170, lô (a, b, c, f, g, j, m, r,) với tổng diện tích 120.344 m2 thuộc tiểu khu 85, khoảnh 5, tờ bản đồ số 7 • Thửa 178, lô f, với diện tích 18.451 m2 thuộc tiểu khu 85, khoảnh 6, tờ bản đồ số 7 • Thửa 181, lô (b, k, r), với tổng diện tích 29.222 m2 thuộc tiểu khu 85, khoảnh 6, tờ bản đồ số 7 13
  • 14.
    (Trong khi cộngđồng chưa quyết định cho người dân trong bản dãn dân, dãn cư thì khu vực trên sử dụng cho mục đích sản xuất nông lâm kết hợp) 5.7.2. Bản Pà Kỉm: Tổng diện tích được giao 947.716m2 a. Vùng rừng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh cho mục đích phòng hộ. Là vùng rừng được phép sử dụng theo mục đích kết hợp phòng hộ với bảo vệ môi trường và bảo vệ nguồn nước. Pà Kỉm có 2 khu vực Rừng đầu nguồn và có 03 con suối nằm ở vị trí bên này sông (giáp với bản) và bên kia sông: Phả Khoái, Phảng Ngám, Khe Chiếng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho cộng đồng bản Pà Kỉm và toàn bộ thôn Bản Chiếng (suối Phẳng Ngắm). Khu vực bên này sông (giáp ranh với bản) thuộc tiểu khu 85, khoảnh 5, tờ bản đồ số 7 với tổng diện tích 169.249m2 bao gồm các lô, thửa: - Thửa 167c, lô g với diện tích 91.126m2 - Thửa167c, lô m với diện tích 39.457 m2 - Thửa 167c, lô p với diện tích 7.706 m2 - Thửa 167c, lô q với diện tích 30.960 m2 Khu vực bên kia sông: Thuộc tiểu khu 82, khoảnh 5, tờ bản đồ số 7 với tổng diện tích 608.135m2 bao gồm các thửa - Thửa 27, lô (a, b, c, d, e) với tổng diện tích 154.034 m2 - Thử 30, lô (a, b, c, d, f) với tổng diện tích 131.087 m2 - Thửa 51, lô (a, b, c, d, e, f, h, k, m, n) với tổng diện tích 207.363 m2 - Thửa 74, lô (a,b) với tổng diện tích 115.651 m2 b. Vùng sản xuất Nông – Lâm nghiệp Là các vùng đất trống được phép trồng các loại cây nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi thả cá (Trang trại-nông lâm kết hợp). Khu vực bên này sông (giáp ranh với bản) thuộc tiểu khu 85, khoảnh 5, tờ bản đồ số 7 với tổng diện tích 97.926m2 bao gồm các lô, thửa: - Thửa 167c, lô h,l đang trồng keo với diện tích: 20.217 m2 - Thửa 167c, lô j đang sản xuất nông nghiệp với diện tích 43.076 m2 - Thửa 167c, lô m, n, r: đất trống với diện tích 34.633 m2 Khu vực bên kia sông: Thuộc tiểu khu 82, khoảnh 5, tờ bản đồ số 7 với tổng diện tích 31.111m2 bao gồm các thửa - Thửa 51, lô i, với diện tích 3.933 m2 - Thửa 74, lô c với diện tích 27.178 m2 14
  • 15.
    5.7.3. Bản PàCọ : Tổng diện tích được giao 231.101m2 a. Vùng rừng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh cho mục đích phòng hộ, rừng thuốc nam Là vùng rừng được phép sử dụng theo mục đích kết hợp phòng hộ với bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ cây thuốc nam. Rừng phòng hộ và rừng thuốc nam có tên là Thăm Sứa và Phà Quái với diện tích là 128.053m2 thuộc thửa 167b, lô (i, e) khoảnh 5, tiểu khu 85 tờ bản đồ số 7. Trong bản có 03 con suối: Huổi Đổng, Cảy Phù, Đổng Pênh cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho cộng đồng bản Pà Cọ. Riêng suối Đổng Pênh bắt nguồn từ rừng Cộng đồng bản Pà Cọ nhưng chảy về bản Pỏm Om cung cấp nước sản xuất nông nghiệp cho thôn Pỏm Om và nước sinh hoạt cho Đồn Biên Phòng b. Vùng sản xuất Nông – Lâm nghiệp Là các vùng đất trống được phép trồng các loại cây nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi thả cá (trang trại - nông lâm kết hợp). Khu đất sản xuất NLKH có tên là chân dốc Bùa Mai thuộc các thửa 167a, lô (b,f) khoảnh 5, tiểu khu 85 tờ bản đồ số 7, diện tích 103.048m2 5.7.4. Bản Khốm : Tổng diện tích được giao 127.982m2 a. Vùng rừng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh cho mục đích phòng hộ và bảo tồn, phát triển cây thuốc nam Là vùng rừng được phép sử dụng theo mục đích kết hợp phòng hộ với bảo vệ môi trường và bảo vệ nguồn nước. Rừng đầu nguồn Pà Cá và rừng bảo tồn phát triển cây thuốc nam có tổng diện tích 112.708m2 thuộc thửa 168, lô a, khoảnh 1, tiểu khu 85, tờ bản đồ số 6. Trong rừng nguồn có 03 con suối là Huổi Tạch, Huổi Khốm, Huổi Cộng cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho cộng đồng bản Khốm và Pỏm Om Rừng này được người Thái quy định tuyệt đối cấm khai thác vì đây là rừng già, có nhiều cây to và là nơi ngự trị của Thần linh. b. Vùng sản xuất Nông – Lâm nghiệp Là các vùng đất trống được phép trồng các loại cây nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi thả cá (Trang trại - nông lâm kết hợp). Cả bản có 04 thửa đất hiện đang sản xuất Nông – Lâm nghiệp bao gồm các thửa: - Thửa 168, lô d đang canh tác nông nghiệp với diện tích 720m2 , thuộc khoảnh 1, tiểu khu 85, tờ bản đồ số 6 - Thửa 168, lô b Keo I với diện tích 9.719m2 , thuộc khoảnh 1, tiểu khu 85, tờ bản dồ số 6 15
  • 16.
    - Thửa 168,lô (c,e,f) đất trống với tổng diện tích 4.890m2 , thuộc khoảnh 1, tiểu khu 85, tờ bản đồ số 6 Ngày 23/12/2013 tại UBND xã Hạnh Dịch đã diễn ra lễ tổng kết chương trình GĐGR đồng thời đọc quyết định, trao giấy chứng nhận QSDĐ cho cộng đồng 4 bản. 5.8. Hoàn thiện bảng biển quy chế bảo vệ rừng và tuyên truyền quy chế Hoàn thiện và đưa vào sử dụng 04 bảng biển quy chế bảo vệ rừng của 4 thôn và quy chế bảo vệ rừng được chính quyền xã thông qua. VI. Câu chuyện điền hình Nhận thức của người dân trong việc quyết tâm có được QSDĐ Kết quả GĐGR cho bản Pỏm Om đã tác động rất lớn đến toàn bộ các bản còn lại đặc biệt là các bản có ranh giới giáp ranh với xã Tiền Phong. Không những thế nguy cơ mất đất rừng là rất hiện hữu với cộng đồng nơi đây bởi quyết định 340/UBND tỉnh Nghệ An liên quan đến quy hoạch quỹ đất rừng cho khu bảo tồn Pù Hoạt và việc 2 lần công ty cổ phần cao su Nghệ An lấn chiếm đất rừng Pỏm Om ngay cả khi đã có giấy chứng nhận QSDĐ. Ông Lương Văn Bình – bí thư bản Khốm nói: “nguy cơ cộng đồng bị mất đất là rất lớn, nếu không có chủ trương và định hướng kịp thời chắc chắn trong thời gian tới sẽ không còn đất giao cho cộng đồng nữa. Vì vậy chúng ta phải cố gắng giữ lấy đất, giữ lấy rừng cho cộng đồng của ta, cho con cháu ta”, cũng đồng quan điểm với Ông Bình, Ông Vi Đình Văn còn cương quyết và quyết liệt hơn trong việc tham gia vận động cộng đồng người dân Bản Chiếng cùng nhau đoàn kết, hỗ trợ đoàn công tác và tích cực tham gia hoạt động giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình GĐGR. Điều này chứng tỏ người dân đã nhận thức và thấy rõ vai trò quan trọng của rừng cộng đồng cũng như nguy cơ bị xâm lấn, mất đất nếu cộng đồng không cương quyết đoàn kết nhằm sớm có được quyền quản lý bảo vệ chính thức. Thay đổi cách nhìn nhận và nâng cao năng lực của cấp chính quyền địa phương trong công tác GĐGR cho cộng đồng Qua 02 đợt xử lý và cùng giải quyết các vấn đề lấn chiếm đất rừng cộng đồng bản Pỏm Om, chính quyền xã Hạnh Dịch nhận thấy rõ nếu không sớm tiến hành GĐGR và trao giấy chứng nhận QSDĐ cho các cộng đồng trên các diện tích đất rừng tạm giao cho các chi hội tại các bản thì nguy cơ bị xâm lấn, mất đất rất dễ xảy ra và ngày càng phức tạp. Do đó trong quá trình tiến hành GĐGR tại 4 bản hội đồng GĐGR cấp xã tham gia tích cực trong các vấn đề giải quyết mâu thuẫn và hỗ trợ đoàn công tác trong quá trình triển khai. Trong cuộc họp giữa nhóm hỗ trợ GĐGR với Hội đồng GĐGR và các thành viên liên quan diễn ra ngày 23/10/2013 Ông Lương Tiến Lê – chủ tịch xã Hạnh Dịch đã nhấn mạnh các nội dung cần phải vào cuộc tích cực như: (i) tập trung tối đa thời gian và nguồn nhân lực hoàn thiện 16
  • 17.
    hồ sơ giaođât giao rừng cho 4 bản trước 31/12/2013, (ii) cần có biên bản thực hiện quyết định UBND huyện liên quan đến cao su đồng thời làm công văn báo cáo việc nông trường cao su không chấp hành quyết định của huyện (vừa gửi cho Huyện, vừa gửi cho Nông trường cao su), (iii) xử lý đối tượng mới phát rừng để canh tác: UBND xã cử người có thẩm quyền tới hiện trường kiểm tra, lập biên bản và xác nhận của đối tượng sau đó xử lý theo pháp luật, (iiii) cần mời huyện và xã Tiền Phong liên quan đến việc ranh giới bản Chiếng với xã Tiền Phong (ngày 26/10 đại diện UBND xã Hạnh Dịch sẽ sang gặp đại diện UBND xã Tiền Phong liên quan đến ranh giới bản Chiếng và xã Tiền Phong, các thành viên Mạng lưới đất rừng Quế Phong cùng tham gia), (iiiii) các trưởng bản cần có số liệu cụ thể về các hộ đang sử dụng đất rừng của cộng đồng, thảo luận hình thức tự quản lý, cam kết sử dụng theo quy chế của cộng đồng, thảo luận thông qua quy hoạch kế hoạch sử dụng đất rừng giao cho cộng đồng, các điều phối viên Mạng lưới đất rừng Quế Phong cùng tham gia họp với bà con dân bản. Bên cạnh đó thông qua các hoạt động như tập huấn nâng cao năng lực cho các thành viên trong hội đồng GĐGR, cán bộ chủ chốt của xã Hạnh Dịch liên quan đến chính sách và cũng như quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia đã thay đổi đáng kể cách nhìn nhận khi cùng tham gia GĐGR cho cộng đồng. Bà Kim Thị Tuyên – Bí thư xã Hạnh Dịch chia sẻ: Qua các đợt tập huấn, thảo luận cá nhân tôi nhận thấy rõ trách nhiệm của một lãnh đạo xã và vai trò của các bên tham gia trong công tác phối kết hợp triển khai GĐGR cho cộng đồng thông qua các bước theo quy định của nhà nước và biết rõ được quyền lợi của cộng đồng khi có được GCNQSDĐ. VI. Những bất cập ở xã Hạnh Dịch Quy hoạch treo và chậm trễ trong thông báo quy hoạch trồng cao su Mặc dù trên địa bàn xã có quỹ đất nhưng lại vướng quy hoạch “treo” cho nông trường Cao su Quế Phong, Khu BTTN Pù Hoạt, nên không thể giao cho cộng đồng được. Theo quyết định 4081/QĐ – UBND tỉnh Nghệ An ngày 13/9/2013 liên quan đến phê duyệt điều chỉnh, bổ sung cây Cao su của Công ty cổ phần đầu tư phát triển cao su Nghệ An trên địa bàn huyện Quế Phong giai đoạn 2013 – 2020 Huyện Quế Phong có 4 xã nằm trong diện quy hoạch mở rộng trong đó có xã Hạnh Dịch với diện tích dự kiến là 49,8ha và nằm trọn trong diện tích rừng Bản Chiếng thuộc tiểu khu 82. Điều này dẫn đến việc không thể giao diện tích rừng hơn 113ha cho cộng đồng Bản Chiếng theo dự kiến. Tuy nhiên điều bất cập toàn bộ thủ tục quyết định liên quan không được gửi trực tiếp tới chính quyền Huyện Quế Phong và xã Hạnh Dịch dẫn đến việc vẫn triển khai hoạt động GĐGR cho cộng đồng Bản Chiếng theo dự kiến ban đầu. Điểm đáng nói hơn mặc dù quyết định ra từ tháng 9/2013 tuy nhiên đến tháng 12/2013 mới có bản đồ quy hoạch của Công ty cổ phần đầu tư cao su Nghệ An và cũng không có thời gia cụ thể để triển khai hoạt động trên 17
  • 18.
    VII. Khó khăn,thách thức 7.1. Thách thức trước mắt Nguy cơ các bản xã Hạnh Dịch sẽ không còn đất rừng Quyết định số 340/QĐ-UBND của Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An ra ngày 24 tháng 01 năm 2013 về việc Phê duyệt Đề án chuyển dối Ban quản lý Rừng Phòng hộ Quế Phong thành Ban Quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt có nguy cơ đẩy hàng ngàn hộ gia đình người dân địa phương vào cảnh đất mất rừng tan, màn trời chiếu đất. Để thực hiện được mục tiêu của Khu bảo tồn, một trong những nhiệm vụ chính được đề cập trong Mục 5 của Đề án là việc thực hiện chuyển đổi Ban Quản lý rừng Phòng hộ Quế Phong thành Ban quản lý Khu BTTN Pù Hoạt. Theo đó, Ban Quản lý Khu BTTN Pù Hoạt sẽ là "chủ rừng duy nhất" được công nhận với đầy đủ tư cách pháp nhân và điều kiện để thực hiện nhiệm vụ quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ hiện có theo quy định của pháp luật tại địa phận huyện Quế Phong. Tuy nhiên, theo thống kê của Phòng TN&MT Quế Phong và Hạt Kiểm Lâm Quế Phong thì từ năm 2003 đến nay Nhà nước đã có quyết định giao và tạm giao một diện tích lớn đất lâm nghiệp và rừng cho người dân và các tổ chức tại 12 xã của huyện Quế Phong để quản lý, bảo vệ rừng và ổn định cuộc sống. Cụ thể, có 1.636 gia đình và tổ chức đã được tạm giao hơn 50.265,62 ha diện tích đất rừng (chủ yếu là rừng phòng hộ), 3.060 hộ gia đình đã được giao quyền quản lý, sử dụng đối với 18.510,57 ha đất rừng theo Nghị định 163/NĐ-CP/1999. Như vậy hiển nhiên, nếu Đề án này triển khai, quyền quản lý, sử dụng và hưởng lợi từ rừng và đất rừng của hàng ngàn hộ gia đình người dân cũng như hàng trăm tổ chức, cộng đồng trên địa bàn huyện Quế Phong đã được Nhà nước công nhận bằng văn bản Pháp luật sẽ bị tước đoạt. Nguy cơ đất rừng cộng đồng bị xâm hại ngay cả khi có giấy chứng nhận QSDĐ Như vậy ngoài nguy cơ mất đất, mất rừng ảnh hưởng nghiêm trọng đến không gian sinh tồn của toàn bộ người dân xã Hạnh Dịch theo quyết định 340/UBND tỉnh Nghệ An thì ngay cả diện tích đất rừng giao cho cộng đồng Bản Chiếng, Pà Kỉm, Pỏm Om, Pà Cọ, Khốm cũng sẽ bị đe dọa. Khi tất cả các diện tích đất rừng xung quanh đã có chủ thì điều không mong muốn rất dễ xảy ra là việc người dân của bản mình sẽ tác động đến ngay chính diện tích rừng được giao chung cho cộng đồng nhằm duy trì cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó dân số ngày càng tăng và nhu cầu con người ngày càng lớn về quỹ đất rõ ràng sẽ tạo áp lực rất lớn lên diện tích đất rừng được giao cho cộng đồng trong thời gian không xa. Nguy cơ đất rừng cộng đồng bị lấn chiếm bởi công ty cổ phần Cao Su 18
  • 19.
    Bài học ởPỏm Om đang là vấn đề rất nóng bỏng trong việc quản lý, bảo vệ rừng sau GĐGR. Mặc dù chính thức được trao GCNQSDĐ vào năm 2012 với tổng diện tích hơn 400ha. Tuy nhiên trong năm 2013 đã xảy ra 2 vụ lấn chiếm đất rừng từ Công ty cổ phần đầu tư phát triển cao su Nghệ An với diện tích hơn 5ha. Mặc dù người dân trong bản, chính quyền xã, huyện đã vào cuộc nhưng đến nay vấn đề này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm và ổn thỏa. Cụ thể lần 1 lấn chiếm 1,7 ha và đã trồng hơn 200 cây cao su trên đất rừng bản Pỏm Om vụ việc này đã được chính quyền huyện Quế Phong ra văn bản yêu cầu dừng lại và di dời toàn bộ số cây đã trồng trên đất rừng Pỏm Om nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện. Chưa dừng lại ở đó đến tháng 11/2013 phía công ty cao su tiếp tục lấn chiếm hơn 4ha diện tích đất rừng cộng đồng để tiếp tục trồng cao su. Điều này thể hiện rõ nét ý đồ mong muốn lấn chiếm đất rừng của cộng đồng vì lợi ích riêng. Ngoài bản Pỏm Om rõ ràng những bản còn lại như bản Chiếng, Pà Kỉm, Pà Cọ cũng rất rễ xẩy ra trường hợp như trên bởi diện tích rừng mới giao cho cộng đồng nằm liền kề với đất quy hoạch trồng cao su. Vì vậy nếu cộng đồng và chính quyền xã không đoàn kết, mạnh dạn đấu tranh chắc chắn nguy cơ đất rừng cộng đồng bị lấn chiếm là rất cao. VIII. Đề xuất, kiến nghị Các bên liên quan cần hỗ trợ và sớm bóc tách rõ phần diện tích đất rừng quy hoạch trồng cao su ở Bản chiếng tại tiểu khu 82 (bên kia sông giáp ranh với xã Tiền Phong) nhằm giao nốt diện tích còn lại cho cộng đồng bản Chiếng. Mạng lưới đất rừng vùng Quế Phong và các cán bộ trong chương trình LISO cần tiếp tục hỗ trợ cộng đồng 4 bản trong công tác hậu GĐGR: cách bảo, quản lý rừng bền vững; tuyên truyền quy chế…. Chính quyền xã cần tích cực hỗ trợ và vào cuộc quyết liệt hơn nữa liên quan đến việc công ty cổ phần cao su Nghệ An luôn có ý định lấn chiếm đất rừng cộng đồng của các bản ngay cả khi đã có GCNQSDĐ. 19