BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ LOAN
THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI
LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI
HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ LOAN
THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI
LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI
HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG
Mã số: 60 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VÕ VĂN TUYỂN
Hà Nội - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả các số
liệu trong luận văn đƣợc đƣợc thu thập công khai, trung thực và chƣa từng
đƣợc công bố trong bất kỳ luận văn nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc
Gia, Lãnh đạo Khoa sau Đại học, Lãnh đạo Khoa Hành chính học, các thầy cô
giáo đã tận tình giảng dạy những kiến thức khoa học, tạo điều kiện thuận lợi
cho tác giả thực hiện tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu của chƣơng trình cao
học.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Tiến sĩ Võ Văn Tuyển ngƣời
Thầy đã trực tiếp hƣớng dẫn khoa học, tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo và giành
những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận
văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng chí lãnh đạo Ủy ban
nhân dân Huyện Đông Anh, Phòng Lao động – Thƣơng binh và Xã hội huyện
Đông Anh, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Đông Anh, Chi cục thống kê
huyện Đông Anh đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài
này.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những ngƣời thân, bạn bè đã cổ vũ, động
viên, tiếp thêm nghị lực cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Do thời gian nghiên cứu thực tế có hạn, đồng thời kinh nghiệm nghiên
cứu còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong
nhận đƣợc sự cảm thông, chia sẻ và những ý kiến đóng góp của các nhà khoa
học, quý thầy cô và những ngƣời quan tâm đến đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................... 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU .............................................................................. 6
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 7
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:....................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn................................ 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn......................................... 5
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ........................................ 5
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu............................................. 6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn………..................................14
7. Kết cấu của luận văn……………………………………………..........7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO VIỆC LÀM VÀ THỰC THI CHÍNH
SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT
NÔNG NGHIỆP................................................................................................ 8
1.1. Một số vấn đề về cơ sở lý luận về tạo việc làm, thực thi chính sách tạo
việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp .............................. 8
1.2. Kinh nghiệm ở một số địa phƣơng về thực thi chính sách tạo việc làm
cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ........................................... 25
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM
CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI
HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................................ 31
2.1. Khái quát về tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đông Anh..................... 31
2.2. Khái quát về tình hình thu hồi đất nông nghiệp của huyện Đông Anh từ
năm 2010 đến nay ........................................................................................ 43
2.3. Phân tích thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội ................... 47
2.4. Đánh giá thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nộ………….....66
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI
CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH ....................................... 70
3.1. Quan điểm của Đảng về tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp.................................................................................................. 70
3.2. Phƣơng hƣớng tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội ........................................... 74
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tạo việc làm cho
ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố
Hà Nội.......................................................................................................... 77
KẾT LUẬN..................................................................................................... 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 91
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ Ban chỉ đạo
CNH Công nghiệp hóa
CP Chính phủ
ĐTH Đô thị hóa
HĐH Hiện đại hóa
HĐND Hội đồng nhân dân
LĐ –TB & XH Lao động – Thƣơng binh và Xã hội
NHNN Ngân hàng Nhà nƣớc
NXB Nhà xuất bản
ODA Nguồn viện trợ phát triển chính thức
SWOT Phƣơng pháp nghiên cứu SWOT
TTg Thủ tƣớng
TW Trung ƣơng
TT Thông tƣ
UBND Ủy ban nhân dân
QĐ Quyết định
FDI Vốn đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng Nội dung Trang
Bảng 2.1.3 Tình hình nguồn lao động huyện Đông Anh giai đoạn
2011 - 2015
41
Bảng 2.2.1 Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 của huyện Đông Anh 45
Bảng 2.2.2 Danh sách các dự án thu hồi đất nông nghiệp trên địa
bàn huyện Đông Anh giai đoạn từ năm 2010 đến 2016
46
Bảng 2.4.1 So sánh tỷ lệ cơ cấu việc làm trƣớc và sau khi bị thu
hồi đất ở huyện Đông Anh năm 2015
64
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Vấn đề lao động và việc làm nói chung, việc làm cho ngƣời lao động ở
nông thôn nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lƣợc phát triển
kinh tế - xã hội của đất nƣớc, đã và đang đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt
quan tâm. Những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc đã đề ra nhiều chủ trƣơng,
chính sách thiết thực nhằm phát huy tối đa nội lực của lao động ở khu vực
này. Hệ thống cơ chế, chính sách về lao động, việc làm đƣợc chú trọng, phù
hợp với cơ chế thị trƣờng và từng bƣớc hội nhập với thị trƣờng lao động quốc
tế. Các văn bản quản lý nhà nƣớc về lao động, việc làm đƣợc bổ sung ngày
càng hoàn thiện. Nhiều luật mới ra ời và đi vào thực tiễn đời sống nhƣ Luật
Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Bảo hiểm xã hội và nhiều văn bản hƣớng dẫn
thi hành đã tạo ra hành lang pháp lý về tạo việc làm ở nông thôn. Đồng thời,
các chƣơng trình mục tiêu về việc làm đƣợc triển khai nhƣ: Chƣơng trình phát
triển nông nghiệp, nông thôn; Chƣơng trình phát triển công nghiệp, dịch vụ;
Chƣơng trình xây dựng và phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp tập
trung, khu công nghệ cao và các chƣơng trình, dự án trọng điểm kinh tế - xã
hội đƣợc thực hiện, góp phần giải quyết việc làm, từng bƣớc nâng cao đời
sống của ngƣời lao động , phát triển khu vực nông thôn.
Huyện Đông Anh nằm ở phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, với nhiều tiềm
năng để phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Trong
những năm qua huyện Đông Anh phát triển kinh tế nhanh, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hƣớng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp. Đồng thời đã thu hút đƣợc nhiều dự án lớn, có giá trị đầu
tƣ cao, giải quyết một số lƣợng lớn về việc làm cho ngƣời lao động, từng
bƣớc góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Công
2
tác giải quyết việc làm luôn đƣợc các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trên
địa bàn huyện quan tâm.
Từ năm 2010 đến nay có trên 150 dự án đƣợc triển khai thực hiện ở
huyện Đông Anh với diện tích đất nông nghiệp phải thu hồi là 1.700 ha, số hộ
bị thu hồi đất trên 21.000 hộ, số lao động bị ảnh hƣởng do thu hồi trên 26.000
lao động. Trên địa bàn huyện vẫn tiếp tục đón nhận các dự án của Trung ƣơng
và Thành phố. Thực tế hiện nay, việc chuyển quỹ đất nông nghiệp sang các
mục đích sử dụng khác ảnh hƣởng rất lớn đến đời sống của ngƣời lao động bị
thu hồi đất.Chính vì vậy, lực lƣợng lao động trong lĩnh vực này cần đƣợc
quan tâm tạo việc làm, đảm bảo đời sống của ngƣời dân, đồng thời giải quyết
ổn thoả tâm lý của ngƣời lao động sau khi thu hổi đất, đây là vấn đề cấp thiết
cần giải pháp thực hiện.
Xuất phát từ lý do trên với mong muốn góp phần nhỏ vào việc giải
quyết các vấn đề bức xúc đang đặt ra trên địa bàn huyện Đông Anh nên tác
giả chọn đề tài: “Thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà
Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tạo việc làm cho ngƣời lao động, đặc biệt ngƣời lao động sau thu hồi đất
nông nghiệp là vấn đề mang tính thiết thực và bức thiết ở nƣớc ta hiện nay,do
vậy đã có nhiều công trình của nhiều tác giả trong nƣớc nghiên cứu và công
bố.
Năm 1997, hai tác giả Trần Hữu Chung và Nguyễn Hữu Dũng đã xuất
bản cuốn sách “Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” NXB Chính trị
quốc gia [6]. Cuốn sách đề cập đến chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH. Các tác giả đã phân tích, đƣa ra đánh
giá về thực trạng việc làm nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng;
3
từ đó đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng thiếu việc làm ở
nƣớc ta, đặc biệt ở vùng nông thôn. Đồng thời, đã khái quát các dòng di
chuyển lao động trên thị trƣờng lao động, nhất là ngƣời lao động di chuyển từ
nông thôn ra thành thị để tìm việc. Trên cơ sở đó, tác giả đƣa ra hệ thống quan
điểm, giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình phát triển CNH – HĐH
hiện nay.
Công trình nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
(2005) về “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của ngƣời có đất bị thu
hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia”[2]. Nghiên cứu đƣợc
tiến hành phân tích đánh giá thực trạng về thu nhập, đời sống việc làm của
ngƣời có đất bị thu hồi trên địa bàn 07 tỉnh, thành phố. Đó là Bắc Ninh, Hà
Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,Bình Dƣơng, Cần Thơ, Tp Hồ Chí Minh. Qua kết
quả nghiên cứu cho thấy những hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất gặp nhiều
khó khăn trong đời sống, đặc biệt là về việc làm. Trƣớc thực trạng này,
nghiên cứu đã đề xuất các phƣơng hƣớng, giải pháp đi cùng với các điều kiện
giải quyết việc làm, tạo ra thu nhập, ổn định đời sống của ngƣời có đất bị thu
hồi.
Năm 2005, “Thị trƣờng lao động và định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời
lao động” của TS Nguyễn Hữu Dũng, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội [14].
Tác giả đã phân tích một cách sâu sắc các nội dung có liên quan đến lý luận
về thị trƣờng lao động, mối quan hệ giữa ngƣời lao động với thị trƣờng lao
động và định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời lao động; thực trạng thị trƣờng
lao động ở nƣớc ta, cũng nhƣ thực trạng định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời
lao động trong thời gian qua. Đƣa ra các dự báo cung cầu của thị trƣờng lao
động và các định hƣớng nghề nghiệp nhằm tạo việc làm cho ngƣời lao động.
4
Đây là công trình nghiên cứu đƣa ra cách nhìn toàn diện về thị trƣờng lao
động và định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời lao động của nƣớc ta.
Năm 2011, Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Nhƣờng “Chính sách
an sinh xã hội với ngƣời nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển khu công
nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)” [24]. Đề tài tập trung phân tích những nội
dung lý luận về chính sách an sinh xã hội đối với ngƣời nông dân bị thu hồi
đất nông nghiệp qua nghiên cứu tình huống ở tỉnh Bắc Ninh. Kết quả nghiên
cứu đã cho thấy sự cần thiết phải bảo đảm an sinh xã hội trong đó có tạo việc
làm cho ngƣời nông dân sau khi bị thu hồi đất sản xuất. Sử dụng mô hình
SWOT đề tài tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân, từ đó tác
giả đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện chính sách an sinh
xã hội đối với ngƣời nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp.
Năm 2012, Nguyễn Đình Tuấn, Học viện Chính trị - Hành chính đã hoàn
thành luận văn thạc sĩ với đề tài: “Giải quyết việc làm cho ngƣời nông dân bị
thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Thanh Hoá”
[34]. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định sự cần thiết phải giải quyết
việc làm cho ngƣời nông dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH. Luận
văn cho thấy thực trạng giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh
Thanh Hoá, từ đó đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi
trong giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu
công nghiệp, khu đô thị ở tỉnh Thanh Hoá.
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đề cập đến vấn đề tạo việc
làm cho lực lƣợng lao động nói chung, lao động bị thu hồi mất đất nông
nghiệp nói riêng. Tuy nhiên chƣa có công trình nào đề cập và phân tích một
cách có hệ thống vấn đề thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động
bị thu hồi mất đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Do
vậy, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài luận văn này để đề cập những vấn
5
đề còn đang bỏ trống trên đây và đề xuất giải pháp cho vấn đề còn đang bỏ
trống đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những lý luận cơ bản về chính sách tạo việc làm cho
ngƣời lao động bị thu hồi đất, luận văn tiến hành đánh giá thực trạng công tác
thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Từ đó đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời
lao động bị thu hồi đất trên địa bàn huyện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về tạo việc làm, chính sách tạo
việc làm, thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội từ năm
2010 đến nay.
- Đề xuất hoàn thiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách
cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố
Hà Nội.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Công tác thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
6
4.1. Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện
Đông Anh, thành phố Hà Nội. Đồng thời, tác giả có tham khảo và so sánh với
một số địa phƣơng khác.
+ Về thời gian: Dựa trên các tài liệu đã đƣợc công bố trong khoảng thời
gian từ năm 2010 đến nay của huyện Đông Anh.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin; tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh. Những đƣờng lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu và thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử
dụng phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu lý luận và các phƣơng pháp phân tích,
so sánh, thống kê toán học dựa trên những tƣ liệu thu thập đƣợc, so sánh và
minh hoạ bằng bảng thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa lý luận về
Góp phần làm sáng tỏ thêm một số lý luận về thực thi chính sách tạo việc làm
cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Luận văn là sự vận dụng lý luận nghiên cứu về thực thi chính sách đối
với lĩnh vực tạo việc vào một trƣờng hợp cụ thể là: ngƣời lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, Hà Nội.
7
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ bổ sung, gợi mở, góp phần nâng cao
hiệu quả công tác thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu
hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Luận văn đƣa ra các giải pháp, giúp cho các cơ quan chức năng làm tốt
công tác thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp của huyện Đông Anh nói riêng, cả nƣớc nói chung.
Là nguồn tƣ liệu cho cấp chính quyền huyện Đông Anh tham khảo trong
quá trình thực thi chính sách của mình.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung luận văn gồm ba chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo việc làm và thực thi chính sách tạo việc
làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp;
Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội;
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tạo
việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội
8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO VIỆC LÀM VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH
TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP
1.1. Một số vấn đề cơ sở lý luận về tạo việc làm, thực thi chính sách tạo
việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Việc làm, ngƣời lao động, tạo việc làm
 Khái niệm việc làm
Có nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra quan điểm về khái niệm việc làm.
Tuy nhiên ở mỗi thời điểm và không gian khác nhau thì lại có cách hiểu
không giống nhau về việc làm. Hiện nay có một số quan điểm về việc làm chủ
yếu sau:
Theo tổ chức Lao động thế giới (ILO) thì việc làm là những hoạt động
lao động đƣợc trả công bằng tiền hoặc hiện vật.
Theo điều 13, chƣơng 2 Bộ Luật Lao động: “Mọi hoạt động tạo ra
nguồn thu nhập và không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm”.
[31, tr42] Theo quy định này các hoạt động đƣợc xác định là việc làm bao
gồm:
- Tất cả các hoạt động tạo ra của cải, vật chất hoặc tinh thần, không bị
pháp luật cấm, đƣợc trả công dƣới dạng tiền hoặc hiện vật;
- Những công việc tự bản thân làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc
tạo thu nhập cho gia đình, cộng đồng, kể cả những việc không đƣợc trả
công bằng tiền hoặc hiện vật.
Khái niệm việc làm của Bộ Luật Lao động bao gồm một phạm vi rất
rộng, từ những công việc chính thức đƣợc thực hiện trong nhà máy, xí nghiệp
đến các hoạt động lao động hợp pháp tại khu vực phi chính thức đều đƣợc coi
9
là việc làm. Khái niệm này mang một ý nghĩa pháp luật – xã hội to lớn khi nó
đã xóa bỏ sự phân biệt đối xử lao động giữa các thành phần kinh tế, động viên
mọi tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho ngƣời lao động. Đồng thời cũng thể
hiện đặc trƣng của Nhà nƣớc pháp quyền là khuyến khích mọi ngƣời tham gia
làm những việc mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Trong quá trình tạo việc làm, mục tiêu cuối cùng là hƣớng tới việc làm
đầy đủ, việc làm hợp lý.
Việc làm đầy đủ đƣợc hiểu là sự thỏa mãn nhu cầu về việc làm cho bất
kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Cụ thể: Việc làm đầy
đủ ở trạng thái mỗi ngƣời có khả năng lao động muốn làm việc thì có thể tìm
đƣợc việc làm trong một khoảng thời gian tƣơng đối ngắn. Đƣơng nhiên, để
đạt tới mức độ đảm bảo việc làm đầy đủ phải có một quá trình nhất định. Quá
trình ấy ngắn hay dài phụthuộc vào trình độ, hoàn cảnh khách quan và chủ
quan ở mỗi quốc gia, mỗi địa phƣơng. Ở những quốc gia có điểm xuất phát
càng thấp thì trong quá trình phát triển, vấn đề đảm bảo việc làm đầy đủ cho
ngƣời lao động càng khó khăn và cấp thiết.
Việc làm hợp lý đƣợc hiểu là sự thỏa mãn nhu cầu làm việc cho bất kỳ
ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân và phù hợp với trình độ,
nguyện vọng, sở thích của họ.Việc làm hợp lý không những hàm chứa nội
dung việc làm đầy đủ mà còn hƣớng tới việc phù hợp với khả năng và nguyện
vọng của ngƣời lao động. Việc làm phù hợp có năng suất lao động và hiệu
quả kinh tế xã hội còn cao hơn so với việc làm đầy đủ. Do vậy, trong quá
trình thực hiện việc làm đầy đủ, cần từng bƣớc, từng bộ phận thực hiện việc
làm hợp lý. Việc làm hợp lý phản ánh sự phù hợp về mặt số lƣợng và chất
lƣợng của các yếu tố con ngƣời với điều kiện vật chất của quá trình sản xuất
và xã hội, sự hợp lý giữa lợi ích cá nhân ngƣời lao động và lợi ích của xã hội.
10
 Ngƣời lao động
Theo Điều 03 của Bộ Luật Lao động nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2012: “Ngƣời lao động là ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả
năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, đƣợc trả lƣơng và chịu sự
quản lý, điều hành của ngƣời sử dụng lao động” [31, tr .3].
Trên thực tế, ngoài nhóm đối tƣợng đƣợc quy định là ngƣời lao động ở
trên vẫn có nhu cầu làm việc nhƣng với mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ
nghiên cứu, luận văn tập trung hƣớng tới đối tƣợng ngƣời lao động quy định
trong Điều 03 Bộ Luật Lao động 2012 cụ thể là ngƣời lao động trong độ tuổi
lao động từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ.
 Tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2013): “Tạo việc làm là quá trình tạo điều
kiện kinh tế xã hội cần thiết để ngƣời lao động có thể kết hợp giữa sức lao
động và tƣ liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa
và dịch vụ theo yêu cầu thị trƣờng” [5, tr.377]
Việc làm là trạng thái phù hợp giữa hai yếu tố sức lao động và tƣ liệu sản
xuất bao gồm cả về mặt số lƣợng và chất lƣợng. Để tạo ra việc làm thực sự
còn cần có môi trƣờng thuận lợi cho sự kết hợp của hai yếu tố trên. Tạo việc
làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể đƣợc hiểu trên một
số khía cạnh sau:
Một là, tạo ra số lƣợng và chất lƣợng tƣ liệu sản xuất. Số lƣợng và chất
lƣợng của tƣ liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tƣ và tiến bộ khoa học kỹ
thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tƣ liệu
sản xuất đó.
Hai là, tạo ra số lƣợng và chất lƣợng sức lao động. Số lƣợng lao động phụ
thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động và sự
11
di chuyển của lao động. Chất lƣợng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của
giáo dục đào tạo và sự phát triển của y tế, thể thao và các yếu tố khác.
Ba là, hình thành môi trƣờng cho sự kết hợp các yếu tố sức lao động và tƣ
liệu sản xuất. Nó bao gồm các chính sách phát triển kinh tế- xã hội, chính
sách thu hút và khuyến khích đầu tƣ…
Trên thị trƣờng việc làm chỉ hình thành khi ngƣời lao động và ngƣời sử
dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi. Do vậy tạo việc làm cần đƣợc
xem xét cả phía ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và cả vai trò của Nhà
nƣớc.
Nhƣ vậy, tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp là
là tổng thể các biện pháp, các chính sách kinh tế - xã hội từ vi mô đến vĩ mô
tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo điều kiện để người lao động
sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp có thể có việc làm.
1.1.1.2. Khái niệm và nội dung chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp
 Khái niệm chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp
Đến nay, khái niệm chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu
hồi đất nông nghiệpvẫn chƣa đƣợc chuẩn hóa, chƣa có một nhà khoa học hay
tổ chức lý luận nào đƣa ra khái niệm chuẩn mực.
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chính sách tạo việc làm cho người
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể được hiểu là tổng thể các quan
điểm, tư tưởng, các giải pháp mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối
tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện
những mục tiêu về tạo việc làm cho người lao động sau thu hồi đất nông
nghiệp.
12
Chính sách tạo việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản
của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã
hội. Ở nƣớc ta, quá trình phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội
chủ nghĩa, đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nƣớc đang đặt ra
hàng loạt vấn đề bức xúc liên quan đến việc làm và chính sách tạo việc làm.
Điều 13, Bộ Luật Lao động khẳng định: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho
mọi ngƣời có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của
Nhà nƣớc, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội” [31, tr67]. Theo số liệu
mà Tổng cục thống kê công bố, dân số trung bình nƣớc ta năm 2016 ƣớc tính
là 93 triệu ngƣời, so với năm 2015, lực lƣợng lao động từ 15 tuổi trở lên của
cả nƣớc năm 2016 là 54,36 triệu ngƣời, tăng 654,3 nghìn ngƣời so với cùng
kỳ năm trƣớc. Lực lƣợng lao động ở khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng cao
68,1% trong lực lƣợng lao động chung của cả nƣớc. Lực lƣợng lao động trong
độ tuổi lao động ƣớc tính là 47,55 triệu ngƣời, tăng 227,5 nghìn ngƣời so với
cùng kỳ năm trƣớc.
Lực lƣợng lao động dồi dào là thế mạnh, đồng thời là tiềm năng của
việc phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên cũng tạo ra sức ép lớn đối với
chính quyền các cấp về tạo việc làm cho ngƣời lao động. Nếu không có
chính sách việc làm một cách đúng đắn và kịp thời thì sẽ gây lãng phí rất
lớn nguồn nhân lực quốc gia, đồng thời để lại hậu quả khó lƣờng đối với sự
phát triển của đất nƣớc. Chính sách tạo việc làm vừa có ý nghĩa về kinh tế,
vừa có ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội. Thực hiện tốt chính sách việc
làm, nguồn nhân lực đƣợc sử dụng có hiệu quả thì hiện tƣợng thất nghiệp
sẽ giảm đi, đi kèm đó là các chính sách bảo hiểm xã hội sẽ giảm chi phí
cho các trợ cấp thất nghiệp. Ngƣợc lại, khi chính sách tạo việc làm chƣa
đƣợc giải quyết tốt, nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái thì nạn thất
nghiệp tăng lên, khiến cho tình trạng đói nghèo, các tệ nạn xã hội cũng dễ
13
dàng phát sinh, sẽ không thể tránh khỏi sự gia tăng của các gánh nặng đối
với chính sách về bảo trợ xã hội, an sinh xã hội.
 Hệ thống chính sách tạo việc làm cho người lao động sau thu hồi đất
nông nghiệp
Chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động sau thu hồi đất nông
nghiệp bao gồm một hệ thống chính sách bộ phận với các mục tiêu và giải
pháp chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm tạo việc làm cho
ngƣời lao động khi không còn đất canh tác.
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau có thể có các chính sách bộ phận
khác nhau, trong khuôn khổ luận văn một số chính sách bộ phận đƣợc đề cập
đến của hệ thống bao gồm :
- Chính sách đào tạo nghề cho người lao động sau thu hồi đất nông
nghiệp;
- Chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề;
- Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tạo việc làm mới;
- Chính sách hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho người
lao động sau thu hồi đất nông nghiệp
1.1.1.3. Khái niệm và quy trình thực thi chính sách tạo việc làm cho
ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
 Khái niệm thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu
hồi đất nông nghiệp
Thực thi chính sách công là quá trình đƣa chính sách công vào thực tiễn
đời sống xã hội thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục, chƣơng trình
và thực hiện chúng nhằm đạt đƣợc mục tiêu chính sách.
Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp chính là quá trình triển khai các biện pháp nhằm đạt được mục
tiêu giải quyết việc làm cho người lao động, đem lại những biến đổi trên các
14
lĩnh vực của đời sống xã hội, phục vụ lợi ích của người dân sau khi bị thu hồi
đất nông nghiệp.
Trong quá trình thực thi chính sách, các nguồn lực vật chất, tài chính,
khoa học công nghệ và con ngƣời đƣợc đƣa vào các hoạt động có tính định
hƣớng để đạt các mục tiêu đã đề ra. Đây là quá trình kết hợp giữa con ngƣời
với các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ nhằm sử dụng các
nguồn lực này một cách có hiệu quả theo những mục tiêu đã đề ra.
Chủ thể thực thi chính sách trƣớc hết và quan trọng nhất là các cơ quan
hành chính Nhà nƣớc, bởi đây là các cơ quan có nhiệm vụ quản lý và tổ chức
triển khai các công việc hàng ngày của Nhà nƣớc trên các lĩnh vực. Chính
sách công cũng là những nhiệm vụ mà Nhà nƣớc đề ra trong đời sống kinh tế
- xã hội. Vì vậy việc quản lý tổ chức thực thi do các cơ quan hành chính đảm
nhận là hợp lý. Tuy nhiên, các cơ quan Lập pháp, Tƣ pháp cũng nhƣ các tổ
chức chính trị xã hội, các đoàn thể cũng có vai trò quan trọng trong việc huy
động và tổ chức lực lƣợng tham gia triển khai chính sách.
Trên thực tế, thực thi chính sách đƣợc coi là giai đoạn tổng hợp của
quy trình chính sách. Nhiều chính sách do cơ quan Nhà nƣớc ở trung ƣơng đề
ra và giao cho địa phƣơng thực hiện nhƣng khi chính sách về tới địa phƣơng
lại phải tiến hành nghiên cứu áp dụng nó phù hợp với thực tế của địa phƣơng.
Điều này thể hiện giai đoạn thực thi chính sách bao hàm luôn cả nội dung
hoạch định chính sách. Hơn nữa, trong quá trình thực hiện chính sách, phải
tiến hành đánh giá chính sách để có những điều chỉnh cho phù hợp với mục
tiêu. Lúc này giai đoạn thực thi bao gồm cả những công việc thuộc về đánh
giá chính sách.
15
 Quy trình triển khai thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp
Để đƣa chính sách vào thực tiễn, các chủ thể thực thi căn cứ vào thẩm
quyền của mình ban hành các văn bản, các chƣơng trình để cụ thể hóa mục
tiêu và biện pháp của chính sách trên địa bàn.
Thứ nhất, về xây dựng và ban hành văn bản, chƣơng trình, dự án thực
thi chính sách công gồm các hoạt động
- Nghiên cứu nội dung chính sách để xác định những văn bản, chƣơng
trình cần đƣợc ban hành hoặc phê duyệt.
- Xây dựng kế hoạch soạn thảo và ban hành các văn bản thực thi chính
sách; xây dựng kế hoạch lập và phê duyệt các chƣơng trình thực thi
chính sách.
- Tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch trên bảo đảm ban hành đƣợc
các văn bản, chƣơng trình có chất lƣợng, hợp pháp, đúng thời gian, tiết
kiệm và hiệu quả.
Thứ hai, sau khi các văn bản, chƣơng trình đƣợc ban hành và phê duyệt
các chủ thể thực thi đƣợc giao trách nhiệm tổ chức thực hiện văn bản, chƣơng
trình thực thi chính sách, gồm các nội dung hoạt động.
- Xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành văn bản hoặc lập kế hoạch thực
hiện chƣơng trình.
- Tuyên truyền, phổ biến nội dung văn bản, chƣơng trình.
- Tập huấn văn bản, bồi dƣỡng những kiến thức và kỹ năng cần thiết để
triển khai văn bản, chƣơng trình.
- Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực
triển khai thi hành văn bản, thực hiện chƣơng trình.
- Chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc thi hành văn bản, việc thực hiện
chƣơng trình.
16
Thứ ba, công tác sơ kết, tổng kết thực hiện văn bản, chƣơng trình thực
thi chính sách công. Định kì các chủ thể thực thi chính sách công tiến hành sơ
kết, tổng kết thực hiện chính sách theo trình tự từ dƣới lên trên.
- Các cơ quan đƣợc giao thi hành văn bản thực thi chính sách công nào
thì tiến hành sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản đó và báo cáo lên cơ
quan cấp cao hơn. Trong báo cáo cần thể hiện rõ quá trình triển khai
thực hiện, những kết quả đạt đƣợc, những hạn chế, nguyên nhân và đề
xuất những kiến nghị đối với cấp trên.
- Trên cơ sở các báo cáo sơ kết, tổng kết, báo cáo đánh giá giữa kỳ, báo
cáo kết thúc của các cơ quan, tổ chức thực thi chính sách cấp dƣới, cơ
quan, tổ chức thực thi chính sách cao nhất tổng hợp thành báo cáo sơ
kết, tổng kết thực thi chính sách. Cơ quan chịu trách nhiệm thực thi
chính sách cuối cùng này báo cáo và giải trình về kết quả thực thi chính
sách trƣớc cơ quan hoạch định chính sách và nhân dân.
1.1.2. Vai trò của chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp
Tạo việc làm cho ngƣời lao động không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là
vấn đề chính trị - xã hội, nối liền kinh tế với xã hội. Chính sách tạo việc làm
cho ngƣời lao động nói chung và ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
nói riêng phù hợp có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, chính trị và
xã hội.
 Đối với kinh tế
Chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp sẽ
góp phần khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế,
tránh lãng phí nguồn lực xã hội. Lao động trong khu vực nông thôn chiếm
hơn 70% lực lƣợng lao động cả nƣớc. Hàng năm lực lƣợng lao động này đã
đóng góp đáng kể cho tổng sản phẩm nội địa (GDP) của đất nƣớc. Nếu không
17
sử dụng lực lƣợng lao động này vào sản xuất sẽ gây lãng phí tài nguyên con
ngƣời - nguồn lực quan trọng nhất để phát triển đất nƣớc. Với những phẩm
chất đáng quý của nguồn nhân lực Việt Nam, nếu có những chính sách phù
hợp sẽ khuyến khích, tạo cơ hội cho lực lƣợng này tham gia vào các khu vực
ngoài sản xuất nông nghiệp nhƣ dịch vụ, công nghiệp và xuất khẩu lao động
ra nƣớc ngoài. Đồng thời với chính sách tạo việc làm hợp lý còn cho phép sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực khác nhƣ tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn,
công nghệ kĩ thuật. Tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp sẽ góp phần tích cực trong việc phân bổ lao động một cách hiệu quả,
hợp lý.Từ đó, góp phần thực hiện thành công chủ trƣơng Công nghiệp hóa -
Hiện đại hóa của Đảng và Nhà nƣớc ta.
 Đối với chính trị
Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ƣơng lần thứ bảy (Khóa XII) của Đảng
đã xác định vị trí của nông nghiệp, nông thôn và nông dân là cơ sở để ổn định
chính trị đất nƣớc trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập kinh tế Thế giới. Vì vậy, tạo việc làm cho ngƣời lao động không
những góp phần phát triển kinh tế- xã hội mà còn ảnh hƣởng đến sự ổn định
chính trị. Một chính sách không hợp lý sẽ không thu phục đƣợc lòng tin của
nhân dân. Do vậy, việc ban hành và thực thi chính sách tạo việc làm hợp lý,
giải quyết tình trạng thiếu việc làm cho ngƣời dân sau thu hồi đất sẽ góp phần
củng cố và duy trì lòng tin của hàng chục triệu lao động vào sự lãnh đạo của
Đảng và Nhà nƣớc.
 Đối với xã hội
Chính sách của Nhà nƣớc có vai trò tạo lập cân đối trong phát triển. Cách
thức tạo lập đƣợc thực hiện từ nhiều vai trò khác nhau của chính sách nhƣ
khuyến khích tiềm năng phát triển, hỗ trợ lĩnh vực còn yếu kém. Đồng thời
chính sách tạo lập môi trƣờng thích hợp cho các hoạt động kinh tế, xã hội,
18
giúp cho các thực thể vận động phát triển theo đúng quy luật. Chính sách tạo
việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp giúp con ngƣời nâng
cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm tình trạng thất
nghiệp. Sau thu hồi đất nông nghiệp ngƣời lao động không có việc làm là một
trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội nhƣ : Trộm cắp, lừa đảo,
mại dâm… Từ đó khiến các quan hệ gia đình, làng xã rạn nứt và xuống cấp
nghiêm trọng. Tạo việc làm cho ngƣời lao động, nhất làlao động ở lứa tuổi
thanh niên sau khi bị thu hồi đất góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội do không
có công ăn việc làm gây ra và giải quyết các vấn đề mà nhu cầu xã hội đòi
hỏi. Khi con ngƣời có việc làm, thông qua các hoạt động lao động sẽ thỏa
mãn đƣợc các nhu cầu về vật chất, tinh thần, góp phần nâng cao đời sống và
ổn định xã hội.
19
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách tạo việc làm cho
người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG
BÊN TRONG BÊN NGOÀI
Vị trí
và tài
nguyên
thiên
nhiên
Chất
lƣợng
hoạch
định
chính
sách
Trình
độ
phát
triển
kinh
tế xã
hội
Năng
lực
của
cơ
quan
và
cán
bộ
thực
thi
Thu
hút
đầu tƣ
nƣớc
ngoài
Sự
đồng
tình,
ủng hộ
của
ngƣời
dân
Sự hỗ
trợ của
các
nhà
lãnh
đạo
cấp
trên
Cung
cấp
thông
tin
quản
lý
một
cách
kịp
thời
Chính
sách
hƣớng
tới
mục
tiêu
chung
Tạo ra
động
lực và
khả thi
cao
Các
CQ
đảm
bảo đủ
nguồn
lực
trong
thực
thi
Cán bộ
thực thi
vững
về
chuyên
môn
Thái
độ và
tinh
thần
hƣởng
ứng
chính
sách
Tham
gia
giám
sát và
ủng hộ
chính
sách
Cung
cấp đủ
nhân
lực và
tài
chính
Đƣa ra
các
quyết
định
hỗ trợ
kịp
thời
20
Thực thi chính sách là một quá trình phức tạp, rộng lớn về phạm vi
tác động, đa dạng về đối tƣợng thực hiện từ trung ƣơng tới địa phƣơng. Quá
trình này diễn ra thƣờng xuyên và liên tục trong suốt thời gian tồn tại của
chính sách. Tuy nhiên, trong qúa trình tổ chức thực thi chính sách tạo việc
làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp cũng bị ảnh hƣởng của
một số yếu tố.
1.1.3.1. Nhóm yếu tố bên trong
Một là, vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên. Nếu nhƣ ở địa phƣơng có
vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp giao lƣu, trao đổi hành hóa, kinh tế phát triển,
đồng thời tạo ra nhiều việc làm cho ngƣời lao động. Ngƣợc lại, vị trí địa lý
kém thuận lợi cũng gây khó khăn không nhỏ cho quá trình thực thi, khiến
chính sách mất đi các cơ hội để đƣợc dễ dàng thành công trong thực tế.
Tƣơng ứng với điều kiện về tài nguyên thiên nhiên cũng vậy, một địa phƣơng
phong phú về tài nguyên khoáng sản, tài nguyên biển, đất sẽ là tiền đề tốt để
thực thi chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, tạo
ra nhiều việc làm cho ngƣời lao động. Tuy nhiên, việc thiếu thốn tài nguyên
thiên nhiên cũng gây hạn chế để phát triển kinh tế. Vì vậy Đảng và nhà nƣớc
ta cần có các biện pháp, chính sách tạo tạo việc làm phù hợp với điều kiện
của từng địa phƣơng, từ đó khai thác thế mạnh sẵn có của địa phƣơng và tận
lực giảm đi các hạn chế về vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên.
Hai là, chất lƣợng hoạch định chính sách. Hoạch định chính sách là bƣớc
khởi đầu trong chu trình chính sách, đây là bƣớc đặc biệt quan trọng. Hoạch
định chính sách đúng đắn, khoa học sẽ xây dựng đƣợc chính sách tốt, là tiền
đề để chính sách đó đi vào cuộc sống và mang lại hiệu quả cao. Ngƣợc lại,
hoạch định sai cho ra đời chính sách không phù hợp với thực tế, thiếu tính khả
thi sẽ mang lại hậu quả không mong muốn trong quá trình quản lý. Những
tổn hại này không chỉ tạm thời, cục bộ, mà nó ảnh hƣởng lâu dài, liên quan tới
21
nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong quá trình thực thi chính sách tạo việc làm
cho ngƣời lao động. Trong việc hoạch định chính sách công cần phải có sự
tổng kết, phân tích, đánh giá tình hình, tác động ảnh hƣởng tới quá trình thực
hiện chính sách, các biện pháp thực hiện chính sách và từ đó làm căn cứ để
lựa chọn phƣơng án chính sách phù hợp với thực tế. Muốn thực thi chính sách
hiệu quả cần thiết phải hoàn thiện việc hoạch định chính sách của Nhà nƣớc.
Ba là, trình độ phát triển kinh tế xã hội: Nền kinh tế có ổn định, phát
triển bền vững, thu nhập bình quân đầu ngƣời và trình độ học vấn của dân cƣ
có cao, xã hội ổn định thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động triển khai
chính sách tạo việc làm. Đi kèm đó, việc nhận biết các điều kiện về trình độ
phát triển kinh tế cùng nhiều phong tục, tập quán của đời sống dân cƣ trên
địa bàn sẽ giúp hạn chế những đặc tính có thể gây cản trở cho quá trình chính
sách,đồng thời phát huy tối đa những đặc tính phù hợp với quá trình thực hiện
chính sách.
Bốn là, năng lực của cơ quan và cán bộ thực thi chính sách. Chất lƣợng
của đội ngũ cán bộ, công chức có tác động, ảnh hƣởng trực tiếp tới mọi hoạt
động, sự vận hành của chính sách. Thực tế đã cho thấy, ở cơ quan, đơn vị
hoặc địa phƣơng nào có đội ngũ cán bộ, công chức làm việc năng nổ, tận tụy,
có trách nhiệm từ cấp trên đến cấp dƣới thì hiệu suất thực thi chính sách
thƣờng đạt cao. Ngƣợc lại, nếu còn tồn tại ngƣời thiếu ý thức trách nhiệm, chỉ
chăm chăm vun vén cho lợi ích của bản thân, thậm chí, lợi dụng chức vụ, vị
trí công tác để tƣ lợi thì sẽ trở thành lực cản kìm hãm sự phát triển lành mạnh
về mọi mặt của chính sách.
1.1.3.2. Nhóm yếu tố bên ngoài
Một là, thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong những năm qua, hoạt động
đầu tƣ và nâng cao hiệu quả đầu tƣ đã đạt nhiều kết quả quan trọng, thúc đẩy
sản xuất, xuất khẩu, nâng cao trình độ khoa học công nghệ, phát triển cơ sở hạ
22
tầng, tạo việc làm và thu nhập cho ngƣời lao động, tạo ra năng lực sản xuất
mới cho nền kinh tế, góp phần thực hiện các mục tiêu của chính sách tạo việc
làm đã đề ra. Tuy nhiên, hoạt động đầu tƣ thời gian qua hiệu quả chƣa cao,
chƣa tạo đƣợc động lực cần thiết thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và ổn định kinh
tế vĩ mô; Trong đó, nguyên nhân chủ yếu là do một số rào cản xuất phát từ thể
chế kinh tế, tổ chức hệ thống và quản lý kinh tế, các yếu tố đầu vào của sản
xuất và tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ đã làm ảnh hƣởng đến
việc nâng cao hiệu quả đầu tƣ, gây khó khăn trong việc thực thi một số nội
dung của chính sách tạo việc làm.
Hai là, sự đồng tình, ủng hộ của ngƣời dân. Hồ Chí Minh đã nói: “Dễ
mƣời lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Các cơ
quan Nhà nƣớc chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành công tác tổ chức thực thi
chính sách, còn các tầng lớp nhân dân là đối tƣợng thực hiện chính sách.
Nhân dân vừa là ngƣời trực tiếp tham gia thực hiện hóa mục tiêu chính sách
lại vừa trực tiếp thụ hƣởng những lợi ích mang lại từ chính sách. Vì vậy, một
chính sách đáp ứng đƣợc nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu và biện pháp
thừa hành thì nó sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, đƣợc nhân dân ủng hộ.
Ngƣợc lại, một chính sách không thiết thực với đời sống nhân dân, không phù
hợp với điều kiện, trình độ hiện có của dân sẽ bị tẩy chay hoặc bỏ rơi, không
đƣợc thực hiện.
Ba là, sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo cấp trên. Việc thực thi chính sách
đƣợc triển khai từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Việc triển khai các hoạt động
của chính sách ở cấp huyện khi đƣợc sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo cấp trên
về các điều kiện hỗ trợ chính sách nhƣ nhân lực và tài chính trở thành động
lực thúc đẩy chính sách thành công. Đồng thời, với sự theo dõi, giám sát của
nhà lãnh đạo cấp trên đối với việc triển khai sẽ kịp thời ban hành các quyết
23
định hỗ trợ kịp thời cho chính sách, góp phần giảm bớt các sai lầm và đẩy lùi
khó khăn.
Bốn là, ảnh hƣởng của việc cung cấp thông tin quản lý kịp thời. Trong
quản lý, thông tin đƣợc coi là chất liệu của đầu vào, là yếu tố quyết định đến
chất lƣợng sản phẩm của quản lý. Còn trong quá trình thực thi chính sách
thông tin không chỉ là chất liệu mà còn là dẫn liệu trong toàn bộ quá trình đến
kết quả của chính sách. Không có thông tin và thông tin không chính xác thì
không thể tạo nên bất kỳ kết quả nào của chính sách. Chúng ta có thấy đƣợc
vai trò quan trọng của thông tin qua nhận định của V.I.Lê-nin: “Không có
thông tin thì không có thắng lợi trong bất kỳ lĩnh vực nào, cả khoa học, kĩ
thuật và sản xuất”.
1.1.4. Đặc trưng của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Có thể thấy xuất phát từ nhu cầu của sự phát triển thì việc thu hồi đất
sản xuất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị là cần
thiết và đúng đắn, nhằm phục vụ cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hƣớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Tuy nhiên, đối với ngƣời lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp thƣờng là ngƣời nông dân đang tiến hành canh tác
trên đất bị thu hồi do vậy họ chịu những tác động không hề nhỏ đến việc làm
và đời sống. Việc quan tâm đến những đặc trƣng của họ để từ đó có những
hoạt động triển khai chính sách là việc cấp thiết. Vì vậy, ngƣời lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp thƣờng mang những nét đặc trƣng sau:
Thứ nhất, đất nông nghiệp là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, ngƣời lao động
gắn bó với canh tác nông nghiệp qua nhiều thế hệ.Ở Việt Nam, xuất phát
điểm của quá trình CNH-HĐH đất nƣớc là một nƣớc có nền kinh tế chủ yếu
dựa vào sản xuất nông nghiệp, sản xuất lƣơng thực bảo đảm cho sự sinh tồn
của dân cƣ. Vì vậy, nhiều thế hệ ngƣời nông dân cha truyền con nối, gắn bó
với đất nông nghiệp một cách sâu sắc. Quy mô việc làm cho đến nay vẫn chủ
24
yếu là quy mô làm việc manh mún, theo từng hộ gia đình. Mỗi hộ gia đình chỉ
giải quyết đƣợc việc làm cho ba đến bốn lao động theo mùa vụ. Phân công lao
động khu vực nông nghiệp kém phát triển điều này tạo ra áp lực buộc ngƣời
dân phải sống dựa vào đất nông nghiệp – con đƣờng cơ bản để duy trì sự
sống.
Thứ hai, phần lớn ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp chƣa đƣợc
đào tạo chuyên môn. Với tƣ duy làm nông nghiệp đơn giản “con trâu đi trƣớc
cái cày theo sau” nên ngƣời nông dân ít có sự học hỏi một cách bài bản đối
với các hoạt động sản xuất. Lao động của nông dân vẫn mang tính chất là lao
động giản đơn. Sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu gắn với tự nhiên, chịu sự
tác động của tự nhiên, đất đai là yếu tố chính, giữ vai trò quyết định đến sản
xuất nông nghiệp. Mặc dù có hàng ngàn năm canh tác lúa nƣớc nhƣng cho
đến nay mọi công cụ lao động phục vụ cho sản xuất vẫn chỉ là các dụng cụ
cầm tay thô sơ. Trong các khâu của ngành trồng trọt ngƣời nông dân vẫn tiến
hành bằng các phƣơng pháp thủ công. Mặc dù có sự cơ giới hoá một số khâu
nhƣ dùng máy cày, máy gặt đập liên hợp nhƣng không mang lại hiệu quả do
tình trạng sản xuất manh mún còn phổ biến, đồng thời thiếu lực lƣợng thợ bảo
dƣỡng, sửa chữa khi hỏng hóc và các thiết bị, chi tiết, phụ tùng thay thế để
duy trì hệ thống máy.
Thứ ba, thu nhập thấp khiến đời sống của ngƣời lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp gặp khó khăn.
Ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đa số phụ thuộc trực tiếp
vào hoạt động sản xuất nông nghiệp nhƣ trồng lúa, ngô, hoa màu… Phần lớn
thu nhập thƣờng bấp bênh dựa trên sản lƣợng và giá cả của nông sản trong
từng mùa vụ. Giá cả nông sản không ổn định,thƣờng thì các năm đƣợc mùa
nông sản thì giá lạigiảm, cùng với đó môi trƣờng sinh thái biến đổi, nhiều
25
thiên tai xảy ra ảnh hƣởng trực tiếp đến việc trồng trọt, chăn nuôi khiến thu
nhập của ngƣời nông dân thấp, ít có sự tăng trƣởng.
Thứ tƣ, trình độ hiểu biết về chính sách, pháp luật còn hạn chế.
Công việc đồng áng hàng ngày, đồng thời cùng sinh hoạt trong dòng
họ, làng xã làm cho cuộc sống của ngƣời nông dân yêu thƣơng, đùm bọc
trong giới hạn của luỹ tre làng. Sống lâu trong lệ làng cùng tâm lý “lão nông
tri điền, phép vua thua lệ làng”, trong sản xuất không có kỷ luật lao động
nghiêm ngặt nên họ cũng ít hoặc thƣờng không quan tâm đến chính sách,
pháp luật. Đồng thời, họ cũng ít có cơ hội tiếp xúc với sự thay đổi liên tục của
các văn bản pháp luật, từ đó càng gây hạn chế hơn đối với sự hiểu biết về
pháp luật.
1.2. Kinh nghiệm ở một số địa phƣơng về thực thi chính sách tạo việc
làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
1.2.1. Kinh nghiệm của huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng
Huyện Thuỷ Nguyên ở phía Bắc thành phố Hải Phòng, là huyện có nền
nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo, làm nông nghiệp tới hơn 80%. Tuy nhiên,
trƣớc yêu cầu phát triểnviệc thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ các dự án
công nghiệp trên địa bàn đã khiến tỉ lệ thiếu việc làm của ngƣời nông dân
tăng cao. Để giảm sức ép lao động, việc làm, huyện Thuỷ Nguyên tập trung
cao cho việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh
tế nông thôn, khôi phục làng nghề truyền thống và phát triển làng nghề
mới…Hàng năm tạo ra lƣợng việc làm mới cho trên một nghìn lao động ở
nông thôn bị thu hồi đất nông nghiệp.
Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện luôn xác định tạo việc làm cho ngƣời
lao động nông thôn, đặc biệt là ngƣời nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp là
một chƣơng trình cấp bách, coi đó là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống
chính trị. Các tổ chức chính trị - xã hội nhƣ Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân,
26
Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã
tích cực tuyên truyền các nội dung của chính sách tạo việc làm tới ngƣời lao
động, vận động và hƣớng dẫn họ tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh
để tạo việc làm.
Tập trung phát triển nhiều mô hình tạo việc làm ở các lĩnh vực,cụ thể
nhƣ vận động lập trang trại, thuê mặt nƣớc để nuôi trồng thuỷ sản dọc hệ
thống các sông trên địa bàn huyện. Đi cùng với đó là đẩy mạnh hoạt động
khuyến nông, khuyến ngƣ, tăng cƣờng chuyển giao kỹ thuật, mở các lớp huấn
luyện kỹ thuật bồi dƣỡng bổ túc nghề.
1.2.2. Kinh nghiệm của huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Trên địa bàn huyện Yên Phong, Bắc Ninh tập trung khu công nghiệp
Yên Phong I với diện tích 665,2 ha và cụm công nghiệp Đông Thọ với diện
tích 48,76 ha, đã góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế của huyện. Song
cũng đặt ra những thách thức lớn về việc làm do trong quá trình hình thành
các công nghiệp dẫn đến thu hồi đất của ngƣời lao động.
Để giải quyết vấn đề trên, huyện Yên Phong đã đặt ra mục tiêu trong
giai đoạn 2011 - 2016 là mỗi năm tạo việc làm mới cho từ 3 nghìn lao động.
Dự kiến trong 5 năm sẽ tạo việc làm cho trên 15 nghìn lao động. Thực hiện
các mục tiêu trên, Yên Phong đã đƣa ra một số biện pháp cơ bản:
Chủ trƣơng xây dựng kế hoạch chuyển đổi nghề nhằm tạo việc làm
ngay từ sau khi duyệt quy hoạch các khu công nghiệp. UBND các cấp trực
tiếp tham khảo ý kiến của các hộ nông dân bị tác động từ đó xây dựng kế
hoạch dƣới sự thông qua của HĐND cùng cấp xây dựng. Việc đền bù và thu
hồi đất chỉ đƣợc thực hiện khi có kế hoạch chuyển đổi nghề và tạo việc làm
đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Tạo việc làm thông qua chƣơng trình phát triển công nghiệp. Huyện có
văn bản quy định đối với các doanh nghiệp đƣợc giao đất tại các khu công
27
nghiệp trên địa bàn giải toả phải có trách nhiệm tiếp nhận ngƣời lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp vào làm việc tại doanh nghiệp. Đồng thời có thông
báo công khai về nhu cầu tuyển dụng tại bảng thông tincủa khu công nghiệp,
tạo điều kiện cho ngƣời lao động dễ dàng tiếp cận thông tin về tuyển dụng
việc làm của doanh nghiệp.
Huyện chủ động thành lập quỹ hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm để hỗ
trợ tài chính một cách kịp thời cho ngƣời lao động học nghề. Tổng mức kinh phí
hỗ trợ cho đào tạo nghề và tạo việc làm đối với nông dân bị thu hồi đất giai đoạn
từ 2011-2015 đƣợc tỉnh Bắc Ninh phê duyệt cho Yên Phong là 2,4 tỷ đồng.
Ngoài mức hỗ trợ nông dân chuyển đổi nghề sau khi thu hồi đất sản xuất nông
nghiệp, huyện còn hỗ trợ học nghề ngắn hạn cho nông dân. Mức hỗ trợ tính theo
số học viên thực tế tốt nghiệp khoá học, với quy định tối đa không quá
300.000đ/ngƣời/thángvà không quá 1.500.000đ/ngƣời/khoá học. Tuy nhiên với
mức hỗ trợ này đƣợc đánh giá là thấp, trên thực tế không thể nào đào tạo những
nghề mà doanh nghiệp cần nhƣ nghề hàn, nghề điện, nghề sửa chữa ô tô.
Với lao động dƣới 35 tuổi, đƣợc đào tạo nghề hoàn toàn mới để cung cấp
cho các doanh nghiệp trên địa bàn huyện. HĐND huyện phê duyệt kế hoạch đào
tạo nghề có địa chỉ, sau khi ngƣời lao động đƣợc tiếp nhận, học nghề. Kết thúc
khoá học học viên có năng lực sẽ đƣợc trực tiếp các doanh nghiệp tiếp nhận theo
đơn đặt hàng với UBND huyện. Mô hình kết hợp giữa UBND huyện, ngƣời lao
động, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo với việc xác định nhu cầu tuyển dụng, yêu
cầu về nghề nghiệp trên cơ sở cam kết tuyển dụng của doanh nghiệp đã tạo ra
chính sách đào tạo nghề hiệu quả, đảm bảo ngƣời lao động có khả năng làm việc
đồng thời đúng thời gian, nhu cầu tuyển dụng.
Trƣớc tác động của chính sách hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tạo việc
làm trên địa bàn huyện Yên Phong tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 37%
năm 2010 lên 45% năm 2014.
28
1.2.3. Kinh nghiệm của huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Trên cơ sở các văn bản quy định về tạo việc làm của Chính phủ và
thành phố Hà Nội, huyện Hoài Đức đã tổ chức thực hiện khá thành công một
số nội dung tạo việc làm cho đối tƣợng ngƣời lao động vùng thu hồi đất nông
nghiệp. UBND huyện thành lập Ban điều hành Đề án Hỗ trợ ngƣời lao động
bị thu hồi đất học nghề và tạo việc làm để triển khai các nội dung chính sách.
Huyện phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hộihỗ trợ cho ngƣời lao
động thuộc diện bị thu hồi đất vay vốn để sản xuất kinh doanh, tự tạo việc
làm. Đồng thời, sau khi vay vốn ngƣời lao động đƣợc hỗ trợ không mất lãi
suất trong 5 năm đầu tiên để yên tâm sản xuất, kinh doanh.
Ban điều hành Đề án tiến hành thu thập và xử lý thông tin về việc làm
và phối hợp với Phòng Chính sách lao động việc làm của Sở Lao động –
Thƣơng binh và Xã hội Thành phố Hà Nội tổ chức các phiên giao dịch việc
làm. Đặc biệt thành lập đƣợc các điểm tƣ vấn nghề và việc làm cho ngƣời lao
động ngay tại cơ sở. Từ năm 2010 đến nay, huyện Hoài Đức thƣờng niên tổ
chức các phiên giao dịch việc làm tại Nhà văn hoáhuyện. Các phiên giao dịch
đã thu hút hàng trăm doanh nghiệp đóng trên địa bàn với hàng nghìn lƣợt
ngƣời lao động có nhu cầu tìm kiếm việc làm. Trong phiên giao dịch đầu tiên
đạt kết quả phỏng vấn 1.745 lƣợt, tuyển dụng trực tiếp đƣợc 683 lao động và
453 lao động đƣợc hẹn phỏng vấn lần hai.
1.2.4. Những bài học kinh nghiệm thực thi chính sách tạo việc làm
cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đối với huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội
Qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tế về thực thi chính sách tạo việc làm
cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể rút ra đƣợc một số bài học
về tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất ở huyện Đông Anh nhƣ sau:
Thứ nhất, cần hệ thống chính sách một cách đồng bộ về tạo việc làm
cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. Từ đó, các địa phƣơng có sự
29
triển khai phù hợp với điều kiện tại địa bàn, nhằm phát huy hiệu quả các giải
pháp chính sách, tạo đƣợc việc làm, ổn định cuộc sống cho ngƣời lao động
sau thu hồi đất nông nghiệp.
Thứ hai, trong hệ thống chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp thì chính sách đào tạo nghề có vai trò quan trọng.
Chính sách này chính là cầu nối tạo cơ hội cho ngƣời lao động chuyển sang
làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp với thu nhập cao hơn. Hơn nữa,
thông qua việc hỗ trợ đã giúp cho ngƣời nông dân đƣợc học nghề, góp phần
nâng cao đƣợc tay nghề và cải thiện tác phong lao động. Ngoài ra, họ có cơ
hội đƣợc tiếp cận các phƣơng tiện khoa học công nghệ hiện đại, giúp giảm bớt
sức lao động nhƣng lại nâng cao năng suất công việc.
Thứ ba, khi thực hiện chính sách tạo làm tiến hành thực hiện đồng bộ
các chính sách khác cùng với chính sách đào tạo nghề nhƣ chính sách chuyển
đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chính sách hỗ trợ tài chính, vay vốn phát triển
làng nghề truyền thống và chính sách xuất khẩu lao động. Từ đó đa dạng hoá
các hình thức tạo việc làm, phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn một
cách toàn diện, đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi giúp
tạo việc làm tại chỗ trên địa bàn. Đồng thời trên cơ sở phát huy nội lực trong
nƣớc, mở rộng hợp tác quốc tế để kí kết các hợp đồng xuất khẩu lao động, mở
ra cơ hội cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đƣợc làm việc ở các
thị trƣờng lao động nƣớc ngoài nhƣ Nhật Bản, Hàn Quốc, Maylaysia.
Thứ tƣ, chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động là chính sách đầu
tƣ cho phát triển con ngƣời cả trong ngắn hạn và tƣơng lai. Đặc biệt tạo việc
làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp càng có vai trò quan trọng,
không những giúp ổn định cuộc sống về vật chất mà còn giúp họ ổn định tâm
lýsau khi họ không còn tƣ liệu sản xuất đặc biệt,vì vậy chính sách việc làm tại
khu vực nông thôn cần đƣợc xây dựng phù hợp với chiến lƣợc; đón đầu các
30
ngành nghề sẽ đƣợc phát triển tại địa phƣơng, có nhƣ vậy ngƣời lao động
mới thực sự có việc làm và yên tâm lao động phát triển kinh tế, nâng cao đời
sống.
Thứ năm, trách nhiệm thực hiện chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao
động bị thu hồi đất không chỉ của các cơ quan quản lý nhà nƣớc vì vậy việc
xã hội hoá, thu hút sự tham gia của các chủ thể khác nhƣ các doanh nghiệp,
nhà đầu tƣ, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và ngƣời lao động
là hoàn toàn cần thiết. Cụ thể, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
thành viên đối với việc tuyên truyền, vận động ngƣời lao động bị mất đất
nông nghiệp tích cực tham gia thực thi chính sách đóng vai trò quan trọng với
sự thành công của chính sách.
Ở mỗi địa phƣơng với các điều kiện riêng về tự nhiên, kinh tế, xã hội
thì các giải pháp về tạo việc làm lại mang đặc trƣng riêng, phù hợp với tiềm
năng và phát huy các lợi thế. Tuy nhiên, trong xu thế phát triển chung hiện
nay, huyện Đông Anh cần tham khảo, vận dụng linh hoạt những bài học
kinhnghiệm đƣợc rút ra ở các địa phƣơng để có thể vận dụng, nhằm tạo ra
nhiều việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn.
31
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO
NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN
ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Khái quát về tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đông Anh
2.1.1. Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Đông Anh là huyện ngoại thành nằm ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ
đô Hà Nội với diện tích tự nhiên 18.213,9ha (182,14km2
). Đông Anh có ranh
giới tự nhiên với các quận/huyện khác của Hà Nội chủ yếu là các con sông,
đó là sông Hồng, sông Đuống ở phía Nam huyện, là ranh giới giữa Đông Anh
với khu vực nội thành và sông Cà Lồ ở phía Bắc huyện, là ranh giới giữa
32
Đông Anh với huyện Sóc Sơn. Cụ thể địa giới hành chính của huyện Đông
Anh đƣợc xác định nhƣ sau:
+ Phía Bắc giáp huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
+ Phía Nam giáp quận Từ Liêm Bắc, quận Tây Hồ và quận Long Biên, Hà
Nội.
+ Phía Đông Bắc giáp huyện Yên Phong và thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc
Ninh; phía Đông Nam giáp huyện Gia Lâm, Hà Nội.
+ Phía Tây giáp huyện Mê Linh, Hà Nội.
Đông Anh có diện tích thuộc loại lớn trong các huyện ngoại thành Hà
Nội, đứng thứ bảy, sau huyện Ba Vì, Sóc Sơn, Chƣơng Mỹ, Mỹ Đức, Thạch
Thất, Ứng Hòa.
Với diện tích tự nhiên khá rộng, lại nằm hoàn toàn ở khu vực phía Bắc
sông Hồng và tiếp giáp với nội thành nên Đông Anh có vị trí và vai trò chiến
lƣợc trong định hƣớng phát triển đô thị của Thủ đô Hà Nội những năm tới.
2.1.1.2 . Điều kiện tự nhiên
a, Đặc điểm địa hình
Địa hình của Đông Anh tƣơng đối bằng phẳng, độ dốc thoải dần theo
hƣớng Tây Bắc - Đông Nam.
Các xã có địa hình cao (đất vàn và vàn cao) nằm ở phía Tây Bắc của
huyện (giáp với huyện Sóc Sơn và huyện Mê Linh) nhƣ Bắc Hồng, Nam
Hồng, Nguyên Khê, Xuân Nộn. Cốt đất cao nhất huyện là +14m, tại khu vực
xã Nguyên Khê và một phần xã Xuân Nộn. Tỷ lệ diện tích đất cao chiếm
13,4%, tỷ lệ diện tích đất vàn chiếm 56,2% tổng diện tích toàn huyện.
Các xã có địa hình tƣơng đối thấp (trũng) nằm ở phía Đông Nam của
huyện (giáp với huyện Gia Lâm và tỉnh Bắc Ninh)nhƣ Mai Lâm, Cổ Loa, Dục
Tú, Liên Hà, Vân Hà. Cốt đất thấp nhất huyện là +3,5m, tại khu vực lòng
33
sông Thiếp và một số xã kể trên. Tỷ lệ diện tích đất trũng chiếm 30,4% diện
tích toàn huyện.
Trên địa bàn huyện, địa hình đất cao thấp chênh lệch nhau khá lớn,
nên hình thành một câu cổ ngữ lạ nói lên tác động trực tiếp của đặc điểm địa
hình “Quậy ủ Chủ tƣơi/Quậy cƣời Chủ khóc”. Có nghĩa là: Gặp lúc lụt lội,
vùng trũng (Quậy) khổ, thì vùng cao (Chủ) đỡ hơn. Nhƣng khi khô hạn thì
vùng cao (Chủ) khổ, còn vùng trũng (Quậy) lại mát mặt.
Đặc điểm địa hình trên là yếu tố quan trọng để định hình sự phát triển
nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và quy hoạch các vùng
chuyên canh sản xuất: vùng đất cao nên tập trung trồng cây ăn quả, vùng đất
vàn trồng rau, hoa; vùng trũng trồng lúa hoặc cải tạo để nuôi trồng thủy sản.
Địa hình của huyện Đông Anh tƣơng đối bằng phẳng nhƣng cũng khá
đa dạng, rất phù hợp đối với việc phát triển toàn diện kinh tế - xã hội huyện
trong những năm tới. Toàn địa bàn huyện phù hợp với việc phát triển thảm
xanh thiên nhiên, xây dựng các công trình hạ tầng dân dụng, công nghiệp, đô
thị. Đối với từng khu vực thì khu vực phía Đông và Đông Nam của huyện có
thể phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái; khu vực Tây Nam và Đông Bắc
của huyện có thể phát triển các khu công nghiệp tập trung quy mô lớn; khu
vực phía Tây, Tây Bắc và trung tâm huyện có thể phát triển đô thị với tỷ lệ
diện tích đất xanh lớn, cùng với vùng nông nghiệp của huyện tạo nên vành đai
xanh cho khu vực nội thành Hà Nội hiện nay, hƣớng đến sự phát triển đô thị
bền vững và hài hòa với môi trƣờng thiên nhiên.
b, Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Đông Anh - Hà Nội nằm ở vùng đồng bằng Sông Hồng, có chung chế
độ khí hậu của miền Bắc nƣớc ta, đó là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Khoảng
từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm là mùa nóng, nhiều mƣa, khí hậu ẩm ƣớt.
Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa lạnh, có thời kỳ đầu thời tiết khô
34
lạnh và thời kỳ sau lạnh nhƣng độ ẩm cao do mƣa phùn. Giữa hai mùa có tính
chất tƣơng phản trên là các giai đoạn chuyển tiếp, tạo nên khí hậu bốn mùa
phong phú: xuân, hạ, thu, đông.
Nhiệt độ trung bình hàng năm của Đông Anh khoảng 250
C, nhiệt độ
tuyệt đối cao khoảng 400
C, nhiệt độ tuyệt đối thấp là 2,70
C. Hai tháng nóng
nhất trong năm là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất
khoảng 300
C. Hai tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ trung bình
của tháng thấp nhất khoảng 180
C.
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm nên số ngày mƣa trong năm
tƣơng đối lớn, khoảng 145 ngày/năm; lƣợng mƣa trung bình hàng năm
khoảng 1.300-1.600mm. Từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm tập trung tới 85%
lƣợng mƣa của cả năm (thời gian này còn gọi là mùa mƣa). Thƣờng tháng 7,
tháng 8 hàng năm có lƣợng mƣa lớn nhất, trung bình tháng khoảng 250-
350mm. Cũng trong khoảng tháng 5 đến tháng 8 hàng năm có thể có bão từ
phía Đông (xuất phát ngoài biển) đổ vào với tốc độ khoảng 30-34m/s, áp lực
lớn nhất 120kg/m2
.
Những tháng đầu mùa lạnh (tháng 11-12) là thời tiết khô, hầu nhƣ
không có mƣa. Những tháng cuối mùa lạnh (tháng 1-3) có nhiều mƣa phùn,
khí hậu ẩm ƣớt.Với khí hậu trên, độ ẩm trung bình của Đông Anh là 84%,
mức độ dao động về độ ẩm của các tháng trong năm nằm trong khoảng 80-
87%.
Nhìn chung, thời tiết của Đông Anh thuận lợi cho hoạt động sản xuất
nông nghiệp, nhất là các loại cây lƣơng thực, rau, cây ăn quả, hoa. Song, điều
kiện thời tiết cũng gây trở ngại nhất định cho cây trồng, nhƣ các đợt giông
bão mùa hè và gió mùa Đông Bắc mùa đông hay tính hai mặt của mƣa phùn
mùa xuân, vừa thích hợp cho sự phát triển của cây trồng, nhƣng đồng thời
cũng là điều kiện cho sâu bọ, nấm mốc phát triển.Bão lụt, mƣa phùn, gió mùa
35
Đông Bắc cũng là những điều kiện thời tiết gây nhiều khó khăn cho sinh hoạt
và đời sống của nhân dân.
c, Các nguồn tài nguyên
 Tài nguyên đất
Tài nguyên lớn nhất của huyện Đông Anh hiện nay là đất đai với quỹ
đất có thể sử dụng để phát triển công nghiệp và đô thị hiện còn rất lớn.
Đông Anh là huyện ngoại thành có diện tích thuộc loại lớn của Thủ đô
Hà Nội. Hơn nữa, toàn bộ diện tích Đông Anh là đất đồng bằng và bán sơn
địa, rất phù hợp để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị. Quỹ đất có
thể sử dụng để phát triển công nghiệp và đô thị của Đông Anh hiện nay vào
loại lớn nhất trong các huyện ngoại thành Hà Nội.
Hiện tại, khoảng 52% diện tích đất của huyện Đông Anh là đất nông
nghiệp, chủ yếu là đất trồng lúa và cây hàng năm khác nhƣ ngô, sắn, lạc, đậu
(chiếm 48% tổng diện tích đất của huyện). Diện tích đất nông nghiệp dành
cho trồng cây lâu năm chỉ chiếm 1% và đất cho nuôi trồng thủy sản chỉ chiếm
khoảng 3% tổng diện tích đất của huyện. Đất phi nông nghiệp chiếm khoảng
46% tổng diện tích đất của huyện, trong đó chủ yếu là đất ở (11,7%) và đất
chuyên dùng (21,8%). Đất chƣa sử dụng trên địa bàn huyện hiện còn 354,4
ha, chiếm gần 2% diện tích của huyện.
 Tài nguyên nước
- Nước mặt: nƣớc mặt đƣợc tạo nên do mƣa và đƣợc tích trữ tại các sông,
hồ trên địa bàn.
Lƣợng mƣa trung bình cả năm khoảng 1.600-1.800mm, trong đó 85%
tập trung vào mùa mƣa từ khoảng tháng 5 đến tháng 10. Mƣa phùn về cuối
đông và trong mùa xuân ít có ý nghĩa về cung cấp nƣớc nhƣng có ý nghĩa làm
tăng độ ẩm của đất và không khí. Mực nƣớc cao nhất ở mùa mƣa lên cốt +11
trong vòng 3 ngày, tuy nhiên do khả năng thoát nƣớc tự nhiên khá tốt nên ít
36
xảy ra úng ngập trên toàn địa bàn huyện, chỉ có hiện tƣợng úng ngập cục bộ
một số điểm tại các xã vùng trũng phía Đông Nam. Mƣa tạo nên nguồn nƣớc
mặt tích tụ tại các sông, hồ, đầm trên địa bàn huyện, gồm:
+ Sông Hồng chạy theo ranh giới giữa Đông Anh với huyện Từ Liêm
và quận Tây Hồ, đoạn chảy qua Đông Anh dài 15km. Sông Hồng có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng với Hà Nội nói chung và Đông Anh nói riêng.
+ Sông Đuống bắt nhánh với sông Hồng, chạy theo ranh giới giữa
Đông Anh với huyện Gia Lâm, đoạn chạy qua Đông Anh dài 8,5km từ xã
Xuân Canh đến xã Mai Lâm.
Sông Hồng và sông Đuống là hai con sông cung cấp nƣớc cho sản xuất
nông nghiệp của huyện, đồng thời tạo thành dải đất phù sa bãi sông đƣợc bồi
đắp hàng năm khá lớn phục vụ sản xuất nông nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên,
đây là hai con sông có chế độ thủy văn khá phức tạp, vào mùa mƣa mực nƣớc
sông rất thất thƣờng, dễ gây lụt lội ảnh hƣởng đến mùa màng; gây xói lở ảnh
hƣởng đến đời sống của ngƣời dân ở khu vực bãi sông. Vì thế, bên cạnh việc
khai thác các điều kiện thuận lợi do các con sông này đem lại cũng phải chú ý
củng cố đê điều, khắc phục tác động bất lợi của chúng.
+ Sông Cà Lồ chạy theo ranh giới giữa Đông Anh với huyện Sóc Sơn,
đoạn chảy qua Đông Anh dài 9km, có lƣu lƣợng nƣớc lớn và khá ổn định.
Đây không phải là con sông cung cấp lƣợng phù sa lớn, nhƣng là nguồn cung
cấp nƣớc tƣới chủ yếu cho một số xã phía Bắc huyện Đông Anh.
+ Sông Thiếp là sông nội huyện, bắt nguồn từ xã Tiền Phong (huyện
Mê Linh) chảy qua địa phận 10 xã của huyện Đông Anh và đổ ra sông Ngũ
Huyện Khê.
+ Đầm Vân Trì: là một đầm lớn, diện tích 130ha, mực nƣớc trung bình
6m, cao nhất 8,5m và thấp nhất 5m, đƣợc nối thông với sông Thiếp. Ngoài hệ
37
thống sông, đầm Vân Trì có vai trò quan trọng trong việc điều hòa nguồn
nƣớc mặt trên địa bàn huyện Đông Anh.
- Nước ngầm: Nƣớc ngầm trên địa bàn huyện Đông Anh bắt đầu từ độ sâu
20m; tuy nhiên nguồn nƣớc ngầm có trữ lƣợng lớn ở độ sâu 94 m. Nƣớc
ngầm có hàm lƣợng sắt từ 7 đến 11mg/lít. Nƣớc ngầm có ý nghĩa quan trọng
trong việc cung cấp nƣớc cho sản xuất, đặc biệt cho đời sống của ngƣời dân.
Nƣớc ngầm ở Đông Anh có chất lƣợng tốt, trữ lƣợng cao, đồng thời luôn
đƣợc bổ sung, cung cấp từ nguồn nƣớc giàu có của sông Hồng.
Có thể nói, nƣớc ngầm là một trong những tài nguyên thiên nhiên quý giá
và quan trọng của huyện Đông Anh phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội
và đời sống sinh hoạt của ngƣời dân trên địa bàn huyện trong tƣơng lai.
 Tài nguyên du lịch, nhân văn
Đông Anh là một trong những chiếc nôi của văn hiến Thăng Long - Hà
Nội, rất giàu truyền thống và bản sắc văn hóa. Đông Anh có tài nguyên du
lịch phong phú, độc đáo, giá trị, gồm các danh thắng; di tích lịch sử; các lễ hội
truyền thống; các loại hình nghệ thuật dân gian…
Cổ Loa là di tích lịch sử nổi tiếng nằm trên địa phận huyện Ðông Anh,
cách trung tâm Hà Nội khoảng 17 km về phía Tây Bắc, là một vùng thành trì
lớn, một dấu tích vật chất về kiến trúc quân sự và thành cổ cách đây hơn hai
thiên niên kỷ. Cổ Loa là thủ đô thứ hai của Việt Nam, sau Phong Châu (là thủ
đô thời các vua Hùng, thuộc tỉnh Phú Thọ).
Ngoài Cổ Loa, trên địa bàn Đông Anh còn có nhiều di tích lịch sử, văn
hoá nổi tiếng khác nhƣ Đền Sái, địa đạo Nam Hồng...
Đông Anh cũng có những khu vực có cảnh quan thuận lợi để phát triển
du lịch, nhƣ đầm Vân Trì, cảnh vật ven sông Cà Lồ...
Trên địa bàn huyện Đông Anh hàng năm có rất nhiều lễ hội truyền
thống, trong đó có những lễ hội lớn, có tiềm năng khai thác du lịch nhƣ: Hội
38
đền An Dƣơng Vƣơng (hay còn gọi là Hội Cổ Loa); Hội rƣớc vua giả Đền Sái
(xã Thuỵ Lâm); Hội làng Dục Tú (xã Dục Tú); Hội làng Xuân Nộn (xã Xuân
Nộn); Hội bà Máy hay còn gọi là lễ hội Giỗ (xã Liên Hà); Hội làng Cổ Dƣơng
(xã Tiên Dƣơng); Hội làng Quan Âm (xã Bắc Hồng); Hội làng Đƣờng Yên
(xã Xuân Nộn); Hội làng Sơn Du; Hội làng Xuân Trạch (xã Xuân Canh); Hội
làng Quậy; Hội làng Phúc Hậu (xã Dục Tú); Hội làng Thụy Hà (xã Bắc
Hồng).
Đông Anh cũng có nhiều làng nghề nổi tiếng, trong đó có các nghề đặc
sắc nhƣ chạm khảm trang trí đồ gỗ Vân Hà, bún Mạch Tràng...Tới Đông Anh,
du khách có thể tham quan các làng nghề truyền thống và thƣởng thức các
món ăn tiêu biểu, riêng có của mảnh đất lịch sử này.
2.1.2. Về điều kiện kinh tế
Giá trị sản xuất các ngành kinh tế không tính liên doanh trên địa bàn
năm 2015 tăng 1,48 lần so với năm 2011, tốc độ tăng trƣởng bình quân đạt
8,3%. Giá trị gia tăng các ngành kinh tế thuộc Huyện quản lý tăng 1,45 lần so
với năm 2011, tốc độ
tăng trƣởng bình quân 7,8%. Thu nhập đầu ngƣời khu vực nông thôn năm
2015 ƣớc đạt 32 triệu đồng/ngƣời/năm.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hƣớng tăng tỷ trọng ngành Thƣơng
mại dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành Công nghiệp - Xây dựng, Nông nghiệp.
Ngành Thƣơng mại - Dịch vụ chiếm 14,46%, tăng 3,63%; Công nghiệp - Xây
dựng chiếm 81,58% giảm 2,42%; Nông - Lâm - Thủy sản chiếm 3,96%, giảm
1,19%, trong đó:
- Thƣơng mại, dịch vụ phát triển và tăng trƣởng khá, cơ bản đáp ứng đƣợc
nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Tốc độ tăng trƣởng bình quân đạt
11,5%. Hệthống chợ, trung tâm thƣơng mại đã đƣợc quy hoạch; tập trung chỉ
đạo thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý kinh doanh khai thác chợ theo
39
phƣơng thức xã hội hóa, đã chuyển đổi đƣợc 17 chợ đƣa vào hoạt động có
hiệu quả. Hoạt động dịch vụ vận tải, bƣu chính viễn thông, tín dụng ngân
hàng... phát triển mạnh. Công tác quản lý thị trƣờng đƣợc tăng cƣờng, ngăn
chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hoạt động sản xuất và kinh doanh trái
pháp luật.
- Ngành Công nghiệp-Xây dựng: Chịu nhiều tác động của suy giảm kinh tế và
khủng hoảng tài chính, song ngành Công nghiệp - Xây dựng trên địa bàn
huyện vẫn có mức tăng trƣởng khá, tốc độ tăng trƣởng bình quân giai đoạn
2010–2015,trong 5 năm đạt 8,3%. Nhiều giải pháp hỗ trợ sản xuất, tháo gỡ
khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trƣờng, giải quyết nợ xấu đã phát huy
hiệu quả. Đặc biệt giá trị sản xuất khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tăng khá,
gấp 1,5 lần so với năm 2010. Các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, làng nghề
hoạt động có hiệu quả, sản phẩm đƣợc tiêu thụ mạnh trên thị trƣờng.
- Ngành Nông nghiệp: Mặc dù giảm về tỷ trọng nhƣng đƣợc phát triển theo
hƣớng nâng cao chất lƣợng, sản xuất hàng hóa, phát triển nông nghiệp sạch,
sinh thái và đô thị có giá trị kinh tế cao. Các chƣơng trình hỗ trợ ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển sản xuất thực hiện có hiệu quả nhƣ:
giống, thuốc bảo vệ thực vật, đầu tƣ hạ tầng, đẩy mạnh cơ giới hóa, chuyển
đổi cơ cấu cây trồng theo quy hoạch, phát triển, mở rộng các vùng sản xuất
chuyên canh; mô hình kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung, quy mô lớn, đa
dạng các loại vật nuôi không ngừng tăng lên(có 3 mô hình chăn nuôi, 03 mô
hình rau, củ, quả đạt tiêu chuẩn VietGap, đƣợc Thành phố đánh giá là một
trong những huyện đứng đầu công tác phát triển chăn nuôi. Tỷ trọng ngành
trồng trọt giảm từ 45,48% năm 2010 xuống còn 40,64% năm 2015; ngành
chăn nuôi tăng từ 54, 52% năm 2010 lên 59,36% năm 2015.
Tổng thu ngân sách Nhà nƣớc huyện trung bình hàng năm đạt 1.789 tỷ
đồng; tổng chi ngân sách huyện trung bình mỗi năm đạt 1.730 tỷ đồng.
40
Thu tiền sử dụng đất và đấu giá quyền sử dụng đất đất trung bình hàng
năm đạt 371,6 tỷ đồng.
2.1.3. Về dân số - lao động
a. Dân số:
Tổng số dân trên địa bàn huyện Đông Anh đến cuối năm 2015 khoảng
35,05 vạn ngƣời, chiếm khoảng 5,2% dân số Thủ đô Hà Nội. Mật độ dân số
năm 2015 là 1,924 ngƣời/1.000m2 (1.924 ngƣời/km2). Đông Anh là huyện có
dân số lớn thứ nhất trong các huyện ngoại thành và có số dân đứng thứ hai
trong các quận/huyện của Hà Nội (sau quận Đống Đa).
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện Đông Anh giai đoạn 2011-2015
(khoảng 1,4-1,5%/năm) cao hơn so với giai đoạn 2006 -2010 trƣớc đó
(khoảng 1,2-1,3%/năm). Đông Anh hiện có khoảng 65.000 phụ nữ trong độ
tuổi sinh đẻ có chồng (từ 18-49 tuổi). Trung bình có 6.000 trẻ em đƣợc sinh ra
mỗi năm trong giai đoạn 2011-2015. Số trẻ em từ 16 tuổi trở xuống (những
ngƣời sống phụ thuộc) của huyện Đông Anh chiếm khoảng 30% dân số toàn
huyện.
Có thể nói, quy mô dân số lớn là một nguồn lực đáng kể trong quá trình
phát triển của huyện Đông Anh. Nhƣng trong những năm gần đây, tỷ lệ sinh
và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có chiều hƣớng tăng, tỷ lệ sinh con thứ ba khá
cao. Nếu tỷ lệ tăng dân số tự nhiên không đƣợc kiểm soát thì sẽ lại gây trở
ngại lớn cho quá trình phát triển của huyện. Vì thế, việc kiểm soát tốc độ tăng
dân số tự nhiên cần là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.
b. Lao động:
- Về số lượng:
Tổng số nguồn lao động của huyện Đông Anh chiếm gần 60% số dân.
Tuy nhiên, tỷ lệ này có xu hƣớng giảm nhẹ. Điều này đƣợc lý giải bởi mức
tăng dân số tự nhiên cao những năm gần đây khiến số trẻ em và những ngƣời
41
chƣa đến tuổi lao động tăng tỷ trọng trong tổng dân số. Nguồn lao động đông
đảo chính là nguồn lực quan trọng bậc nhất để thực hiện quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh những năm tới đây.
Tỷ lệ lao động hoạt động kinh tế luôn chiếm khoảng 98% trong tổng số
nguồn lao động trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn 2011-2015. Về cơ
bản, Đông Anh đã huy động tốt đội ngũ lao động vào các hoạt động sản xuất
kinh doanh trên địa bàn thời gian qua.
Bảng 2.1.3: Tình hình nguồn lao động trên địa bàn huyện Đông Anh giai
đoạn 2011-2015
(Đơn vị: người)
Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014 2015
Tổng số nguồn lao
động
171.389 183.652 191.700 198.623 200.100
Tỷ lệ nguồn l/động/
số dân
57,70% 59,02% 58,90% 58,82% 58,24%
Phân bổ lao động theo các khu vực
Lao động nông
nghiệp
111.286 114.613 116.300 117.628 118.000
Tỷ lệ LĐNN/Tổng số
NLĐ
64,9% 62,4% 60,7% 59,2% 59,0%
Lao động công
nghiệp
52.340 53.600 55.453 57.345 58.100
42
Tỷ lệ LĐCN/Tổng số
NLĐ
30,5% 29,2% 28,9% 28,9% 29,0%
Lao động dịch vụ 7.763 15.439 19.947 23.560 24.000
Tỷ lệ LĐDV/Tổng số
NLĐ
4,6% 8,4% 10,4% 11,9% 12,0%
Nguồn: Phòng Lao động Thương binh Xã hội Huyện Đông Anh
Bên cạnh số lƣợng, cơ cấu và chất lƣợng nguồn nhân lực của huyện
Đông Anh đang đƣợc cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây.
- Về cơ cấu: Cơ cấu nguồn lao động huyện Đông Anh có sự chuyển
dịch tích cực trong giai đoạn 2011-2015. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong
tổng số lao động giảm mạnh, tỷ lệ lao động công nghiệp đƣợc duy trì và tỷ lệ
lao động dịch vụ tăng nhanh, biểu hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang
diễn ra mạnh mẽ theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi liền với quá
trình đô thị hóa trên địa bàn huyện. Cụ thể:
+ Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ gần 65% năm 2011 xuống 59%
năm 2015.
+ Tỷ lệ lao động công nghiệp duy trì ở mức 29-30%.
+ Tỷ lệ lao động dịch vụ tăng từ 4,6% năm 2011 lên 12% năm 2015.
Tuy nhiên, để đảm bảo một sự phát triển bền vững thì việc giảm tỷ lệ
lao động nông nghiệp cần phải là một quá trình chủ động với phƣơng án và
các giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp rõ ràng, có tính khả thi chứ không chỉ
đơn thuần là sự giảm số lao động nông nghiệp do bị thu hồi đất sản xuất trong
quá trình đô thị hóa.
- Về chất lượng: Chất lƣợng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định vị trí,
vai trò của nguồn lực này đối với sự phát triển. Việc khẳng định nguồn nhân
lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Đông
43
Anh tới đây có cơ sở ở chỗ chất lƣợng nguồn nhân lực của huyện đang ngày
càng đƣợc nâng cao.
Số lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật đang giảm dần
trong khi số lao động là công nhân kỹ thuật và lao động trung học chuyên
nghiệp tăng lên. Lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên - hầu hết là lao
động quản lý trong các doanh nghiệp và cán bộ trong các cơ quan, tổ chức
trên địa bàn - cũng tăng nhanh. Điều này cũng phù hợp với quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ. Đồng thời, sự gia tăng số lao động có trình độ chuyên môn
cũng là điều kiện thúc đẩy sự phát triển các khu, cụm công nghiệp và đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện Đông Anh hiện còn
thấp, chƣa tới 50%. Nhìn chung, chất lƣợng nguồn nhân lực chƣa theo kịp để
đáp ứng tốt yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển toàn diện, bền
vững kinh tế - xã hội huyện Đông Anh. Trong quá trình đô thị hoá, mỗi năm
có hàng nghìn lao động từ khu vực nông nghiệp chƣa đƣợc đào tạo, nâng cao
chất lƣợng kịp thời để chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Điều này tiềm ẩn những vấn đề về đời sống và việc làm cần đƣợc quan tâm
giải quyết.
2.2. Khái quát về tình hình thu hồi đất nông nghiệp của huyện Đông Anh
từ năm 2010 đến nay
2.2.1. Quỹ đất huyện Đông Anh
Đông Anh là huyện ngoại thành có diện tích thuộc loại lớn của Thủ đô
Hà Nội. Hơn nữa, toàn bộ diện tích Đông Anh là đất đồng bằng và bán sơn
địa, rất phù hợp để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị. Quỹ đất có
thể sử dụng để phát triển công nghiệp và đô thị của Đông Anh hiện nay vào
loại lớn nhất trong các huyện ngoại thành Hà Nội.
44
Hiện tại, khoảng 52% diện tích đất của huyện Đông Anh là đất nông
nghiệp, chủ yếu là đất trồng lúa và cây hàng năm khác nhƣ ngô, sắn, lạc, đậu
(chiếm 48% tổng diện tích đất của huyện). Diện tích đất nông nghiệp dành
cho trồng cây lâu năm chỉ chiếm 1% và đất cho nuôi trồng thủy sản chỉ chiếm
khoảng 3% tổng diện tích đất của huyện. Đất phi nông nghiệp chiếm khoảng
46% tổng diện tích đất của huyện, trong đó chủ yếu là đất ở (11,7%) và đất
chuyên dùng (21,8%). Đất chƣa sử dụng trên địa bàn huyện hiện còn 354,4
ha, chiếm gần 2% diện tích của huyện.
Bảng 2.2.1: Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 của huyện Đông Anh
TT Mục đích sử dụng đất Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
1 Đất nông nghiệp 9.485,30 52,08
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 8.932,04 49,04
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 8.740,42 47,99
1.1.1.1 Đất trồng lúa 7.822,98 42,95
1.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi - -
1.1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 917,44 5,04
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 191,62 1,05
1.2 Đất lâm nghiệp - -
1.3. Đất nuôi trồng thủy sản 553,26 3,04
2 Đất phi nông nghiệp 8.374,20 45,98
2.1 Đất ở 2.131,81 11,70
2.1.1 Đất ở tại nông thôn 2.027,47 11,13
2.1.2 Đất ở tại đô thị 104,34 0,57
2.2 Đất chuyên dùng 3.966,21 21,79
2.2.1 Đất trụ sở cơ quan, công trình
sự nghiệp
246,46 1,35
2.2.2 Đất quốc phòng, an ninh 94,53 0,52
45
2.2.3 Đất sản xuất, kinh doanh phi
nông nghiệp
898,96 4,95
2.2.4 Đất có mục đích công cộng 2.726,26 14,97
2.3 Đất tôn giáo, tín ngƣỡng 11,24 0,06
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 171,77 0,94
2.5 Đất sông suối và mặt nƣớc
chuyên dùng
2.049,03 11,25
2.6 Đất phi nông nghiệp khác 44,14 0,24
3 Đất chưa sử dụng 354,40 1,94
Tổng diện tích các loại đất 18.213,90 100
Nguồn: UBND Huyện Đông Anh
Nhƣ vậy, có thể thấy tiềm năng quỹ đất của huyện còn khá lớn,đây là
tiềm năng lớn nhất của huyện để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn đến
năm 2020.
Trong quá trình phát triển theo hƣớng đô thị hóa tới đây, với diện tích
đất chƣa sử dụng còn lại và gần 9.000 ha đất nông nghiệp mà phần lớn có thể
chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp, Đông Anh có thuận lợi lớn. Vấn đề đặt
ra là phải quy hoạch và sử dụng thật hữu hiệu nguồn lực quan trọng này phục
vụ cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của huyện.
2.2.2. Thực trạng việc triển khai các dự án thu hồi đất nông nghiệp để phục
vụ phát triển kinh tế, văn hoá
Trong những năm gần đây, trên địa bàn huyện Đông Anh đã triển khai
nhiều dự án phát triển kinh tế, đô thị. Tổng diện tích đất đã hoàn thành là 400
ha, trong đó nổi bật là các dự án: Đƣờng cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên,
đƣờng Võ Văn Kiệt, Cầu Đông Trù, cầu Nhật Tân và tuyến đƣờng Võ
Nguyên Giáp, bệnh viện nhiệt đới và nhiều dự án khác. Cụ thể:
46
Bảng 2.2.2. Danh sách các dự án thu hồi đất nông nghiệp trên địa
bàn huyện Đông Anh giai đoạn từ năm 2010 đến 2016.
STT TÊN DỰ ÁN ĐỊA ĐIỂM SỐ ĐẤT
THU HỒI
NĂM
1. Cầu Nhật Tân và tuyến
đƣờng dẫn
Vĩnh Ngọc, Tiên
Dƣơng, Vân Nội
91,86 ha 2010
2 Đƣờng nối cầu Nhật Tân
tới ga T2 sân bay Nội
Bài
Vân Nội, Tiên Dƣơng,
Bắc Hồng, Nguyên
Khê
48,89 ha 2010
3 Quốc lộ 3 mới Dục Tú, Liên Hà, Vân
Hà, Thụy Lâm
52,64 ha 2010
4 Đƣờng 5 kéo dài Đông Hội, Xuân Canh,
Tàm Xá, Vĩnh Ngọc,
Kim Nỗ, Kim Chung
82,45 ha 2010
5 Bệnh viện Nhiệt Đới Kim Chung 12 ha 2013
6 Công viên Kim Quy Vĩnh Ngọc 100 ha 2016
7 Trung tâm Triển lãm
Quốc Gia
Đông Hội, Xuân Canh 90 ha 2016
Nguồn: Ban Quản lý dự án huyện Đông Anh
47
2.3. Phân tích thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Quá trình triển khai chính sách tạo việc làm đƣợc thực hiện thông qua
nhiều chính sách khác nhau. Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 18 tháng 6 năm
2012 quy định các chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho ngƣời lao động gồm: đào
tạo nghề tín dụng ƣu đãi tạo việc làm; hỗ trợ chuyển dịch việc làm cho lao động
nông thôn; hỗ trợ đƣa lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng. Căn cứ
vào chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố Hà Nội, UBND huyện
Đông Anh đã quy định rõ trách nhiệm của các ban ngành, đoàn thể trong việc
triển khai, thực hiện chính sách.
Hàng năm, UBND huyện xây dựng chƣơng trình và dự trù nguồn kinh
phí tạo việc làm của địa phƣơng trình HĐND quyết định và thực hiện Quyết
định đó. UBND huyện định hƣớng, hỗ trợ, đôn đốc và kiểm tra chƣơng trình
thực thi chính sách tạo việc làm ở các 23 xã và 01 thị trấn. Các cơ quan Nhà
nƣớc, các doanh nghiệp, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội trong
phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia thực hiện
chính sách. Trong đó, Phòng Lao động – Thƣơng binh và Xã hội huyện Đông
Anh - cơ quan chuyên môn của UBND huyện - có chức năng tham mƣu giúp
UBND thực hiện chính sách về lao động, việc làm. Trong thực thi chính sách
tạo việc làm Phòng LĐ-TB-XH huyện là cơ quan quản lý, điều hành và tổng
hợp chung toàn bộ tình hình thực hiện chính sách. Chủ trì phối hợp với các
phòng ban, các tổ chức đoàn thể ở huyện cùng tổ chức thực hiện các chính
sách an sinh xã hội, tạo việc làm .
Đồng thời, Chủ tịch UBND huyện Đông Anh đã ra Quyết định thành
lập Ban chỉ đạo chƣơng trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm
trên địa bàn do Phó chủ tịch UBND huyện làm Trƣởng ban, Trƣởng phòng
LĐ-TB-XH làm Phó ban thƣờng trực và thành viên là đại diện của các ban
48
ngành trong toàn huyện. Sự phối hợp của các cơ quan ban ngành trong thực
thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động ngày càng trở nên chặt chẽ,
quy củ.
Hàng năm, Trƣởng Ban chỉ đạo đều căn cứ vào chỉ đạo của Trung
ƣơng, Thành phố và tình hình địa phƣơng để triển khai các chính sách về tạo
việc làm một cách thống nhất, đồng bộ. Trong đó, các chính sách hạt nhân là
chính sách đào tạo nghề cho lao động, chính sách hỗ trợ ngƣời lao động đi
làm việc tại nƣớc ngoài theo hợp đồng lao động, chính sách chuyển dịch cơ
cấu kinh tế tạo việc làm mới và chính sách hỗ trợ làng nghề truyền thống.
2.3.1. Chính sách đào tạo nghề nhằm tạo việc làm cho người lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp
Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ
tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông
thôn đến năm 2020, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 3940/QĐ–
UBND ngày 20/9/2010 về việc thành lập Ban chỉ đạo huyện Đông Anh thực
hiện Quyết định số 1956/QĐ–TTg của Thủ tƣớng Chính phủ, gọi tắt là Ban
chỉ đạo Quyết định 1956 huyện, đồng thời xây dựng Đề án số 01/ĐA –UBND
về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong đó chú trọng lao động bị thu
hồi đất nông nghiệptrên địa bàn huyện đến năm 2020.
Hàng năm, UBND Huyện xây dựng và ban hành kế hoạch về công tác
đào tạo nghề, kiểm tra, giám sát tình hình đào tạo nghề cho lao động nông
thôn trên địa bàn huyện và kiện toàn Ban chỉ đạo theo Quyết định số 1956 của
huyện.
 Về hoạt động tuyên truyền, tư vấn học nghề :
Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và
ngƣời lao động nông thôn về vai trò của đào tạo nghề đối với việc làm, tăng
49
thu nhập và nâng cao chất lƣợng cho lao động nông thôn luôn đƣợc quan tâm
chú trọng.
Trong giai đoạn 2011-2016, Ban chỉ đạo Quyết định 1956 Huyện đã chỉ
đạo các phòng, ngành, Hội đoàn thể tổ chức các hình thức tuyên tuyền đến
ngƣời lao động về công tác đào tạo nghề, đối tƣợng tham gia học nghề, các
ngành nghề đào tạo, các chế độ quy định mà học viên theo học đƣợc
hƣởng….thông qua các hình thức nhƣ phát tờ rơi tuyên truyền; Tuyên truyền
trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng; Lồng ghép Tƣ vấn học nghề cho lao
động nông thôn trong buổi tổ chức Hội chợ việc làm hoặc tại các buổi hội
nghị của chi hội thôn, làng.
 Về Công tác điều tra, hảo sát nhu c u dạy nghề cho lao động nông
thôn
Hàng năm, Ban chỉ đạo Quyết định 1956 Huyện yêu cầu UBND các xã
rà soát, thống kê nhu cầu học nghề lao động nông thôn trên địa bàn, để các xã
chủ động xây dựng kế hoạch, đề xuất phƣơng hƣớng phát triển đào tạo nghề.
Qua khảo sát thực tế, số lƣợng ngƣời lao động bị mất đất nông nghiệp có nhu
cầu học nghề tại các xã là rất lớn. Trong tổng số 8.245 ngƣời có nhu cầu học
nghề thì chiếm đến 60% là ngƣời lao động bị thu hồi đất.
BCĐ Quyết định 1956 Huyện thƣờng xuyên nắm bắt nhu cầu sử dụng
lao động của các doanh nghiệp. Đây là việc làm rất quan trọng, để đảm bảo
công tác xây dựng kế hoạch phù hợp với việc dạy nghề, sát với thực tế, có
hiệu quả.
 Về xây dựng các mô hình dạy nghề hiệu quả cho lao động nông thôn
Căn cứ phƣơng hƣớng phát triển kinh tế của Huyện, BCĐ Quyết định
1956 Huyện đã chỉ đạo, hƣớng dẫn BCĐ các xã hàng năm tiến hành khảo sát
lựa chọn các nghề đào tạo thu hút đƣợc nhiều lao động. Điển hình nhƣ mô
hình đào tạo nghề trồng nấm theo Đề án Nuôi trồng và chế biến nấm ăn, nấm
50
dƣợc liệu trên địa bàn các xã. Đây là nghề đào tạo phù hợp với quy hoạch
phát triển kinh tế- xã hội địa phƣơng. Vì ngƣời lao động không cần trực tiếp
sản xuất trên đất nông nghiệp mà sau khi hoàn thành khoá học và ứng dụng
vào đời sống khả năng tiêu thụ sản phẩm của ngƣời lao động đƣợc nâng cao.
Trong giai đoạn 2011-2016, Huyện đã mở 12 lớp với390 học viên, thời
gian đào tạo là 3 tháng. Đại đa số học viên sau khi học nghề có thu nhập cao
hơn so với trƣớc khi tham gia học nghề. Một số học viên đã mạnh dạn mở
rộng sản xuất kinh doanh tại gia đình, gia tăng thu nhập bình quân từ 2 đến
2,5 triệu/ ngƣời/ tháng.
2.3.2. Hỗ trợ làng nghề
Chính sách hỗ trợ làng nghề đã đƣợc quan tâm chú trọng. Trong đó,
các chính sách về vốn và đầu tƣ, tín dụng đã có nhiều đổi mới, góp phần tạo
môi trƣờng và điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình và các doanh nghiệp
trong làng nghề phát triển. Một số chính sách cụ thể đƣợc ban hành nhƣ:
- Công văn số 08/NHNN-TD ngày 4/1/2001 của Ngân hàng Nhà nƣớc
Việt Nam về hƣớng dẫn thực hiện Quyết định 132/2000/QĐ-TTg của Thủ
tƣớng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề
nông thôn.
- Thông tƣ số 113/2006/TT-BTC ngày 28/12/2006 của Bộ Tài chính
hƣớng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nƣớc hỗ trợ phát triển ngành
nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính
phủ.
- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 22/4/2010 của Chính phủ về chính
sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Thông tƣ số 14/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010 của Ngân hàng Nhà
nƣớc Việt Nam về hƣớng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định số 41/2010/NĐ-CP
51
ngày 22/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông
nghiệp, nông thôn.
Căn cứ vào các văn bản của Nhà nƣớc,UBND ban hành Quyết định số
32/2012/QĐ-UBND về một số chính sách khuyến khích phát triển làng nghề
tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn.
Đối với làng nghề, chủ đầu tƣ UBND cấp xã: Hỗ trợ đầu tƣ xây dựng
công trình bảo vệ môi trƣờng phục vụ chung cho làng nghề theo dự án nhƣng
tối đa không quá 60% tổng mức đầu tƣ dự án và không quá 1 tỷ đồng/dự án;
trong đó, ngân sách tỉnh hỗ trợ tối đa 40%; ngân sách huyện, thị xã hỗ trợ
20%; hỗ trợ xây dựng khu trƣng bày sản phẩm, tổ chức đào tạo nghề, truyền
nghề đƣợc ngân sách tỉnh hỗ trợ 40% tổng mức đầu tƣ dự án nhƣng không
quá 1 tỷ đồng; ngân sách huyện, thị xã hỗ trợ 20% tổng mức đầu tƣ dự án
nhƣng không quá 800 triệu đồng. Ngoài ra, làng nghề đƣợc xem xét hỗ trợ
xây dựng đƣờng bê tông xi măng và công trình nƣớc sạch.
Đối với các cơ sở sản xuất làng nghề: Cơ sở làng nghề tham gia hội
chợ triển lãm trong và ngoài nƣớc, tham gia Phiên chợ hàng Việt về nông
thôn đƣợc hƣởng chính sách quy định tại Quyết định số 46/2011/QĐ-UBND
ngày 02/11/2011 của UBND thành phố về việc điều chỉnh, bổ sung chính sách
hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất thuộc làng nghề trên địa bàn
tham dự hội chợ, triển lãm trong và ngoài nƣớc và Quyết định số
37/2011/QĐ-UBND ngày 15/11/2011 của UBND thành phố về việc hỗ trợ
doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn tham gia
bán hàng tại các Phiên chợ hàng Việt do Sở Công Thƣơng tổ chức nhằm thực
hiện cuộc vận động “Ngƣời Việt Nam ƣu tiên dùng hàng Việt Nam” của Bộ
Chính trị.
Bên cạnh đó, cơ sở làng nghề đƣợc hỗ trợ xây dựng Website thƣơng
mại điện tử với mức hỗ trợ tối đa 70% chi phí nhƣng không quá 5 triệu
52
đồng/Website. Cơ sở làng nghề xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật đƣợc hỗ
trợ kinh phí theo quy định. Cơ sở làng nghề mở lớp dạy nghề và nhận lao
động sau đào tạo vào làm việc tại cơ sở, các nghệ nhân ngành nghề thủ công
mỹ nghệ đăng ký tổ chức truyền nghề đƣợc hỗ trợ theo chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn đƣợc hỗ trợ theo quy định tại Quyết định
1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tƣớng Chính phủ.
2.3.3. Chuyển dịch cơ cấu inh tế nông thôn tạo việc làm mới
Căn cứ Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa X đã ban hành
Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nghị quyết này
khẳng định vị trí chiến lƣợc của nông nghiệp, nông thôn, nông dânvà cơ cấu
kinh tế nông thôn trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu đến năm 2020 lao động nông nghiệp chỉ chiếm
30% trong tổng cơ cấu lao động .
Để đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển nền kinh tế theo hƣớng Công nghiệp
hoá - Hiện đại hoá ngành nông lâm thuỷ sản cần phải có sự chuyển biến tích
cực, mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - lâm nghiệp -
thuỷ sản theo hƣớng sản xuất hàng hoá, tăng nhanh tỷ trọng giá trị ngành chăn
nuôi - thuỷ sản, giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt. Thực hiện quy hoạch vùng
chuyên canh, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung từng bƣớc
chuyển nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế nông nghiệp
phục vụ đô thị. Phát triển nông nghiệp theo hƣớng nông nghiệp đô thị và sinh
thái với các loại hình sản xuất tập trung, công nghệ cao, chất lƣợng cao và an
toàn thực phẩm, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhằm đạt hiệu quả cao
trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Các sản phẩm chủ yếu: Lƣơng thực: lúa,
ngô; rau đậu, hoa cây cảnh, cây ăn quả; thịt lợn, bò, gia cầm.
Theo đề xuất của Phòng Nông nghiệp với mục tiêu là giảm tối đa diện
tích cây trồng, vật nuôi hiệu quả thấp chuyển sang cây trồng, vật nuôi khác
53
hiệu quả cao, phát triển bền vững làm nền tảng cho việc nâng cao năng suất
lao động, tăng thu nhập nông dân, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa khu
vực thành thị và nông thôn, gắn chƣơng trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp với việc hình thành phong trào thi đua sản xuất, xây dựng và định hình
các vùng sản xuất giống cây, giống con đặc sản, Chủ tịch UBND huyện đã chỉ
đạo thực hiện chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn 2012-2016 (Quyết định số
67/2012/QĐ-UBND ngày 16/3/2012) nhằm khuyến khích các tổ chức, cá
nhân đầu tƣ cơ sở hạ tầng và chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, phát triển ngành
nghề nông thôn bao gồm: cải tạo đồng ruộng, xây dựng và nâng cấp bờ bao
nội đồng, hệ thống tƣới tiêu, đào ao, cải tạo ao, đầu tƣ chuồng trại, nhà lƣới,
nhà kính, thiết bị phục vụ sản xuất đƣợc ngân sách huyện hỗ trợ lãi vay.
Khuyến khích nông dân làm giàu thông qua việc khai thác, sử dụng có hiệu
quả đất đai, phát triển cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế, áp dụng mạnh
các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm tạo ra nguồn hàng hoá phục vụ trong
nƣớc và xuất khẩu. Phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn, tạo
việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân, giảm bớt hộ nông nghiệp thuần
tuý, tăng hộ nông dân kiêm ngành nghề và dịch vụ. Nâng cao trình độ dân trí
của nông dân, xây dựng nông thôn mới theo hƣớng văn minh, hiện đại.
Cơ chế chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp đã đƣợc các doanh nghiệp, hợp tác xã, các hộ gia đình, chủ trang trại,
cá nhân tích cực đón nhận và triển khai thực hiện theo các phƣơng án, đề án,
dự án đầu tƣ phát triển các loại cây trồng, vật nuôi, ngành nghề nông thôn, ký
kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, đầu tƣ xây dựng vùng nguyên
liệu, tổ chức chế biến, đầu tƣ sản xuất giống cây, con chất lƣợng cao phù hợp
với mục tiêu và danh mục khuyến khích của chƣơng trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp huyện giai đoạn 2012– 2016.
54
 Lĩnh vực nông - lâm - thủy sản:
Huyện có chủ trƣơng, chính sách giao quyền sử dụng đất nông nghiệp
ổn định lâu dài cho hộ nông dân. Đồng thời thực hiện chủ trƣơng dồn điền đổi
thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện, tạo điều kiện cho ngƣời dân
sản xuất trên quy mô diện tích đất lớn, tập trung. Cuối tháng 5/2012, UBND
huyện Đông Anh đã ban hành Kế hoạch số 36, sau đó, thành lập Ban chỉ đạo
triển khai thực hiện dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
huyện, giao phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là cơ quan thƣờng
trực, phối hợp với phòng Tài nguyên và Môi trƣờng, các phòng chuyên môn
có liên quan và UBND các xã tổ chức thực hiện. Phấn đấu đạt mục tiêu phát
triển theo hƣớng sản xuất hàng hóa, tập trung ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đƣa
các giống mới có năng suất, chất lƣợng cao vào sản xuất.
Ban chỉ đạo cũng tập trung đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo
hƣớng sản xuất cây hàng hóa có giá trị kinh tế cao, ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật trong nông nghiệp. Huyện đã hoàn thành việc lập quy hoạch chuyển
đổi cây trồng tại 23 xã và đang triển khai thực hiện quá trình chuyển đổi với
kết quả đến nay đã chuyển đổi đƣợc trên 600 ha. Nhiều mô hình trong trồng
trọt cho hiệu quả kinh tế cao nhƣ: mô hình rau an toàn đƣợc mở rộng quy mô,
mô hình ngô nếp, mô hình cây ăn quả,... và đặc biệt là mô hình lúa nếp cái
hoa vàng đƣợc triển khai thực hiện có hiệu quả cao với diện tích trên 600 ha ở
các xã Miền Đông của Huyện. Hoàn thành kế hoạch trồng 50.000 cây môi
sinh, môi trƣờng.
Hiện trên địa bàn huyện đã hình thành các vùng cây chuyên canh nhƣ:
vùng rau an toàn, vùng hoa, vùng lúa đặc sản, vùng ngô ... với tổng diện tích
chiếm khoảng 25% đất nông nghiệp.
Đông Anh đã trở thành một địa chỉ cung cấp rau sạch, rau an toàn cho
nội thành Hà Nội. Rau sạch Vân Nội đã trở thành một thƣơng hiệu đƣợc thị
55
trƣờng chấp nhận. Năm 2015, diện tích rau các loại trên địa bàn huyện
khoảng 2.500 ha, năng suất đạt 22 tấn/ha.
Bên cạnh đó, Đông Anh thực hiện chính sách khuyến khích phát triển
các mô hình chăn nuôi, trang trại chăn nuôi tách khỏi khu dân cƣ nhằm nâng
cao hiệu quả và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trƣờng. Chăn nuôi gia súc,
gia cầm và thủy sản đƣợc quan tâm phát triển. Hiện tại trên địa bàn huyện, tổng
đàn gia súc và gia cầm đƣợc duy trì ổn định ở mức 99.000 con lợn, 12.500 con
trâu bò và 2,3 triệu con gia cầm. Nhiều mô hình chăn nuôi tập trung cho hiệu
quả kinh tế cao, đƣợc nhân dân mạnh dạn đầu tƣ mở rộng quy mô: Mô hình gà
đẻ, mô hình chăn nuôi lợn nái ngoại, mô hình chăn nuôi lợn nạc thƣơng phẩm;
Chăn nuôi thủy sản vẫn đƣợc duy trì với diện tích trên 500 ha, cho sản lƣợng cá
1.500 tấn/năm; nhiều giống thủy đặc sản đƣợc đƣa vào sản xuất và đạt hiệu quả
kinh tế cao nhƣ: cá trắm đen, cá chày mắt đỏ, rô đầu vuông...
Đông Anh đã rất chú trọng phát triển mô hình kinh tế trang trại, đã ban
hành kịp thời các quy định về đầu tƣ và quản lý trang trại, chuyển đổi cây
trồng trên địa bàn, tạo điều kiện cho nhân dân phát triển sản xuất. Trên địa
bàn huyện Đông Anh hiện có 171 trang trại đã đƣợc huyện phê duyệt, chủ yếu
là các trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản. Cho đến nay, hầu hết các
trang trại đƣợc đầu tƣ đúng với dự án đƣợc duyệt, sử dụng đất đúng mục đích,
hoạt động có hiệu quả, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho
ngƣời lao động. Nhiều mô hình kinh tế trang trại cho hiệu quả kinh tế cao.
Bình quân mỗi trang trại đƣợc duyệt cho doanh thu khoảng 150-300 triệu
đồng/năm, cá biệt có nhiều trang trại cho thu 2-3 tỷ đồng/năm (trang trại chăn
nuôi gà đẻ trứng và lợn nái ngoại, lợn thƣơng phẩm...).
Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 45,48% năm 2011 xuống còn
40,64% năm 2015; ngành chăn nuôi tăng từ 54, 52% năm 2011 lên 59,36%
năm 2015.
56
 Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng:
Công nghiệp – xây dựng là ngành ngày càng thu hút đƣợc nhiều lao
động tham gia và tạo đƣợc rất nhiều cơ hội làm việc, nâng cao tay nghề kĩ
thuật chuyên môn cho ngƣời lao động nên ngày càng đƣợc chú trọng phát
triển. Huyện đã ban hành nhiều chính sách để phát triển công nghiệp – xây
dựng với mục tiêu đƣa công nghiệp – xây dựng phát triển nhanh, từng bƣớc
theo hƣớng hiện đại, công nghệ cao.
Sản xuất công nghiệp và xây dựng trên địa bàn huyện đã và đang tiếp
tục đƣợc quy hoạch theo các khu vực tập trung, hạn chế việc phát triển các cơ
sở sản xuất trong khu dân cƣ, tránh gây ô nhiễm môi trƣờng và ảnh hƣởng
đến đời sống, sinh hoạt của nhân dân. Các ngành sản xuất công nghiệp, xây
dựng phát triển mạnh trên địa bàn huyện là gia công cơ khí, may mặc và chế
biến lâm sản. Các khu vực tập trung công nghiệp và khu công nghiệp tập
trung, khu/cụm công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện Đông Anh hiện
nay bao gồm:
- Khu vực tập trung công nghiệp Đông Anh hình thành từ những năm
1970-1980 trên trục đƣờng quốc lộ 3. Khu vực này đƣợc phân bố trên quy mô
khoảng 70ha và hiện có khoảng 30 doanh nghiệp thuộc các ngành cơ khí, vật
liệu xây dựng... Hầu hết trƣớc đây là các doanh nghiệp nhà nƣớc, nay phần lớn
đã đƣợc cổ phần hoá. Các cơ sở công nghiệp trong khu vực này có quy mô diện
tích tƣơng đối lớn, mật độ xây dựng thấp, hệ số sử dụng đất không cao nhƣng
nằm phân tán (không theo mô hình khu công nghiệp tập trung). Các ngành
công nghiệp trong khu vực này đƣợc đánh giá có mức độ ô nhiễm môi trƣờng
không cao. Theo quy hoạch của thành phố Hà Nội thì trong khu vực này sẽ
dành một phần đất để di chuyển các cơ sở công nghiệp trong nội thành ra.
- Khu công nghiệp tập trung Thăng Long (Bắc Thăng Long), nằm trên
địa bàn các xã Kim Chung, Võng La do Công ty Khu Công nghiệp Thăng
57
Long (liên doanh giữa Sumitomo Corporation (Nhật Bản) và Công ty cơ khí
Đông Anh) làm chủ đầu tƣ. Tổng diện tích của khu công nghiệp là 274ha, là
khu công nghiệp tập trung lớn nhất của Hà Nội hiện nay, đã hoàn thành đầu tƣ
hạ tầng kỹ thuật của khu.
Khu công nghiệp Bắc Thăng Long hiện có cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn
chỉnh với hệ thống cấp nƣớc, cấp điện, thông tin liên lạc, hệ thống xử lý nƣớc
thải, có hệ thống giao thông kết nối với cảng và sân bay quốc tế tƣơng đối
thuận lợi.
Bắc Thăng Long đang là khu công nghiệp tập trung hoạt động hiệu quả,
mang tính điển hình của Hà Nội để các địa phƣơng khác tham khảo. Tại KCN
Bắc Thăng Long hiện có 67 nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ, tổng số vốn trên
1,5 tỷ USD với các sản phẩm công nghệ cao của các tập đoàn nổi tiếng nhƣ
Canon, Panasonic... Tổng số lao động đang làm việc trong KCN Bắc Thăng
Long là 48.000 ngƣời, trong đó có hơn 10.000 lao động là ngƣời Đông Anh.
Bắc Thăng Long cũng là một trong những KCN đi đầu của Hà Nội hiện
nay về xây dựng nhà ở cho công nhân (đã xây dựng dự án khu nhà ở công
nhân Kim Chung với tổng diện tích khoảng 20ha).
- Cụm công nghiệp Nguyên Khê với tổng diện tích 95,6 ha nằm trên địa
bàn xã Nguyên Khê. Đây là một trong số 49 cụm công nghiệp đã đầu tƣ xây
dựng và đi vào hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay. Giai đoạn I
(pha I) của cụm công nghiệp đã hoàn thành với quy mô diện tích 18ha và đã thu
hút 12 doanh nghiệp với cơ cấu ngành nghề khá đa dạng vào đầu tƣ sản xuất
kinh doanh. Giai đoạn II của khu công nghiệp này với quy mô khoảng 77ha đã
đang đƣợc chủ đầu tƣ là Ban Quản lý Dự án huyện triển khai thực hiện.
- Khu công nghiệp Đông Anh: quy mô khoảng 600ha, nằm trên địa bàn
các xã Xuân Nộn, Thụy Lâm và thị trấn Đông Anh, đang đƣợc nghiên cứu lập
và phê duyệt quy hoạch.
58
 Lĩnh vực dịch vụ:
Phát triển ngành dịch vụ trở thành mũi nhọn trong tƣơng lai là một
chiến lƣợc quan trọng để góp phần tạo việc làm cho ngƣời lao động nông thôn
của huyện. Khi nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng áp dụng tiến bộ, khoa
học kĩ thuật vào sản xuất thì tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành này sẽ
giảm đi, chuyển dần sang ngành dịch vụ. Đồng thời,Đông Anh cũng là huyện
có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái rất lớn với các danh lam thắng cảnh,
di tích lịch sử, di tích văn hoá và đƣợc phân bố rộng khắp trên địa bàn huyện.
Nắm bắt điều kiện lý tƣởng này, UBND huyện chỉ đạo Phòng Công
thƣơng kết hợp với Phòng Tài Nguyên và Môi trƣờng xây dựng chƣơng trình
phát triển Thƣơng mại, dịch vụ trên địa bàn huyện phát triển rộng khắp, hàng
hóa, dịch vụ phong phú về chủng loại, mẫu mã, đáp ứng đƣợc nhu cầu về sản
xuất và tiêu dùng của nhân dân trong huyện. Đồng thời, xây dựng dịch vụ du
lịch một cách nhanh chóng và bền vững với nhiều loại hình du lịch khác nhau
nhƣ: du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, ẩm thực, du lịch thể thao, lễ hội.
Huyện xác định việc phát triển mạnh du lịch sẽ có tác dụng thúc đẩy nhiều
ngành cùng phát triển nhƣ: việc khôi phục và phát triển các nghề truyền
thống, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ thƣơng mại.
Đông Anh đã và đang thực hiện quyết liệt việc chuyển đổi mô hình
quản lý kinh doanh khai thác chợ theo phƣơng thức xã hội hóa tại các xã. Đã
cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi mô hình quản lý, kinh doanh, khai thác
chợ gắn với đầu tƣ xây dựng và cho kết quả bƣớc đầu tích cực, nhƣ chợ tại
các xã Hải Bối, Thụy Lâm, Vân Nội, Kim Chung.... Đã có 07 chợ đƣợc giao
cho các doanh nghiệp tiếp nhận quản lí, đầu tƣ xây dựng, cải tạo với kinh phí
hàng chục tỷ đồng.
Một số chợ còn lại nhƣ chợ Vân Hà, Đông Hội, Dục Tú đang đƣợc chỉ
đạo lựa chọn địa điểm xây dựng chợ theo hình thức đầu tƣ mới. Đối với các
59
chợ lớn, phức tạp nhƣ chợ Trung Tâm, Chợ Tó, huyện đang chỉ đạo nghiên
cứu phƣơng án chuyển đổi phù hợp.Đến nay toàn huyện đã có 9/21 chợ đạt
chuẩn nông thôn mới.
Ngoài các chợ truyền thống, trong các thôn, xóm, các điểm dân cƣ đã
hình thành nhiều điểm mua bán trao đổi hàng hoá, các điểm bán lẻ hàng tiêu
dùng với nhiều nhóm mặt hàng phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân.
Tuy nhiên, Đông Anh chƣa hình thành hệ thống phân phối hiện đại
gồm các trung tâm thƣơng mại, siêu thị, cửa hàng tiện ích,... Hiện trên địa bàn
huyện mới chỉ có một số ít Trung tâm thƣơng mại kết hợp giữa nhà ở với
buôn bán tổng hợp tại thị trấn Đông Anh. Mức độ hiện đại của các Trung tâm
thƣơng mại hiện có còn khoảng cách rất xa so với các trung tâm thƣơng mại
cao cấp trong nội thành. Hệ thống phân phối trên địa bàn huyện phục vụ kinh
doanh và mua bán hàng hóa hiện vẫn dựa chủ yếu vào mạng lƣới chợ phân bổ
ở các xã và thị trấn.
Ngành dịch vụ du lịch của huyện cũng bƣớc đầu hình thành và có xu
hƣớng phát triển tốt dựa vào thế mạnh du lịch của huyện là các di tích lịch sử
văn hoá, đặc biệt là di tích Cổ Loa. Hình thành tuyến du lịch trọng điểm Cổ
Loa - Ca trù Lỗ Khê - Rối nƣớc Đào Thục - Làng nghề Vân Hà đƣợc du
khách nhiều nơi biết đến. Phƣờng rối nƣớc Đào Thục biểu diễn khoảng 150
buổi trong năm, đặc biệt là các ngày lễ lớn. Lễ hội truyền thống, di tích Cổ
Loa đón khoảng 100.000 lƣợt khách về tham dự lễ hội và thăm quan hàng
năm.
2.3.4. Hỗ trợ lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho người
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Xác định xuất khẩu lao động là một trong các giải pháp chính sách thiết
yếu để tạo việc làm, nâng cao thu nhập, nâng cấp tay nghề cho ngƣời nông
60
dân, đặc biệt ngƣời nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp. Ban chỉ đạo
xuất khẩu lao động của huyện đã chỉ đạo các xã, thị trấn phối hợp với các
doanh nghiệp có chức năng hợp pháp về tuyển lao động để xuất khẩu trên địa
bàn hỗ trợ ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đi xuất khẩu lao động.
Huyện căn cứ vào:
- Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 của Thủ tƣớng
Chính phủ về chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho ngƣời
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp;
- Thông tƣ Liên tịch số 102/2013/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày
30/7/2013 của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội, Bộ Tài chính quy định
quản lý và sử dụng nguồn vốn sự nghiệp thực hiện một số dự án của Chƣơng
trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012 - 2015;
- Công văn số 1040/CV-SLĐTBXH ngày 26/8/2013 của Sở Lao động –
Thƣơng binh và Xã hội thành phố Hà Nội về việc thực hiện dự án hỗ trợ lao
động đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng;
Ủy ban nhân dân huyện ban hành công văn hƣớng dẫn thực hiện dự án:
Căn cứ nhu cầu và số lƣợng lao động tham gia đào tạo nghề, ngoại ngữ,
bồi dƣỡng kiến thức cần thiết, mức chi phí đào tạo của từng nghề, ngoại ngữ
và dự toán đƣợc cấp có thẩm quyền giao; Phòng Lao động-Thƣơng binh và
Xã hội ký “Hợp đồng đặt hàng đào tạo và tổ chức thực hiện hỗ trợ cho ngƣời
lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài” với cơ sở dạy nghề hoặc doanh nghiệp
xuất khẩu lao động theo quy định.
Căn cứ “Hợp đồng đặt hàng đào tạo và tổ chức thực hiện hỗ trợ cho
ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài” đã ký và danh sách ngƣời lao động
tham gia đào tạo, Phòng Lao động – Thƣơng binh và Xã hội thực hiện tạm
ứng kinh phí cho cơ sở dạy nghề hoặc doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ. Số
61
lần tạm ứng, thời gian tạm ứng, mức tạm ứng đƣợc thực hiện theo thỏa thuận
trong hợp đồng trên cơ sở tiến độ thực hiện hợp đồng.
Cơ sở dạy nghề hoặc doanh nghiệp xuất khẩu lao động có trách nhiệm
chi trả tiền ăn và chi phí đi lại cho ngƣời học theo mức quy định tại khoản 2.
Trƣờng hợp ngƣời lao động tự ý nghỉ học, bỏ học, hoặc bị buộc thôi học thì
không đƣợc trả tiền ăn cho thời gian nghỉ học, bỏ học, thôi học và tiền đi lại
(lƣợt về).
Phòng Lao động – Thƣơng binh và Xã hội huyện có trách nhiệm tổ
chức nghiệm thu, thanh lý hợp đồng và thanh toán giá trị hợp đồng còn lại
(nếu có):
+ Trƣờng hợp có dƣới 70% số học viên sau khi hoàn thành khoá học
đƣợc đi làm việc ở nƣớc ngoài chỉ thanh toán tiền học nghề, ngoại ngữ, bồi
dƣỡng kiến thức cần thiết, tiền ăn, chi phí đi lại theo số lƣợng học viên và thời
gian thực tế tham gia khóa học và chi phí làm thủ tục đối với ngƣời lao động
đủ điều kiện đi làm việc ở nƣớc ngoài theo số lao động thực tế xuất cảnh.
+ Trƣờng hợp có từ 70% số học viên trở lên sau khi hoàn thành khoá
học đƣợc đi làm việc ở nƣớc ngoài đƣợc thanh toán 100 % tiền học nghề,
ngoại ngữ, bồi dƣỡng kiến thức cần thiết theo số lƣợng học viên tham gia
khóa học của Hợp đồng đã ký; tiền ăn, chi phí đi lại theo số lƣợng học viên và
thời gian thực tế tham gia khóa học và chi phí làm thủ tục đối với ngƣời lao
động đủ điều kiện đi làm việc ở nƣớc ngoài theo số lao động thực tế xuất
cảnh.
Phòng LĐ-TB&XH huyện hỗ trợ, hoàn thiện hồ sơ của đối tƣợng đã
đƣợc Ủy ban nhân dân xã xác nhận, trình Sở LĐ-TB&XH để xem xét, quyết
định hỗ trợ cho ngƣời lao động.
Đồng thời Ngân hàng chính sách xã hội huyện cùng phối hợp thực
hiện cho vay vốn không cần thế chấp đối với các đối tƣợng hộ gia đình có
62
ngƣời là đối tƣợng chính sách đi lao động, ngƣời lao động thuộc hộ nghèo, hộ
cận nghèo. Mức cho vay tối đa bằng 80% tổng chi phí cần thiết ghi trong hợp
đồng. Tùy từng thị trƣờng, đơn hàng sẽ điều chỉnh thời hạn cho vay cụ thể.
Hàng năm, căn cứ vào hợp đồng đƣa ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc
ngoài do doanh nghiệp xuất khẩu lao động ký với ngƣời lao động và phiếu thu
của doanh nghiệp hoặc ủy nhiệm chi của ngân hàng chuyển cho doanh nghiệp
xuất khẩu lao động, UBND huyện quyết định số lƣợng và danh sách lao động
cƣ trú trên địa bàn đi xuất khẩu lao động đƣợc hƣởng chính sách hỗ trợ; chi
trả trực tiếp cho ngƣời đƣợc ủy quyền hợp pháp của ngƣời lao động đi làm
việc ở nƣớc ngoài.
2.4. Đánh giá thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
2.4.1. Những kết quả đạt được
Với sự nỗ lực thực hiện chính sách của các cấp chính quyền, các tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp và ngƣời lao động,
Đông Anh đã thu đƣợc những thành quả đáng kể trong tạo việc làm cho ngƣời
lao động nói chung và ngƣời lao động sau thu hồi đất nông nghiệpnói riêng.
Thứ nhất, tỷ lệ ngƣời lao động đƣợc tạo việc làm thông qua đào tạo
nghề trên tổng số ngƣời lao động bị mất việc do thu hồi đất nông nghiệp theo
hƣớng gia tăng. Giai đoạn 2011-2016, Huyện đã mở đƣợc 155 lớp dạy nghề
với 5.289 lao động nông thôn. Trong đó, nghề phi nông nghiệp là 108 lớp với
số học viên là 3.705 ngƣời Trong đó: lao động nông thôn là 3703 học viên,
học viên là lao động bị thu hồi đất canh tác là 1570 học viên.
Hiệu quả dạy nghề đƣợc khẳng định cả về kinh tế và xã hội. Cụ thể là :
Về mặt kinh tế:
* Nghề nông nghiệp: 100% học viên đều ký cam kết tự tạo việc làm tại
nhà, hơn 80% lao động nông thôn sau khi học nghề đã có năng suất lao động
63
cao, góp phần tăng thu nhập. Một số nghề tỷ lệ lao động có việc làm đạt cao
nhƣ nghề Trồng và chế biến nấm ăn, nấm dƣợc liệu là 85%, nghề Kỹ thuật
trồng và chăm sóc cây cảnh là 86%. điển hình: học viên Nguyễn Trọng
Nguyên và Nguyễn Văn Quyến -xã Uy Nỗ, sau khi học lớp cây cảnh đã đầu
tƣ mở rộng vƣờn cây cảnh, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 10 triệu.
* Nghề phi nông nghiệp: Sau khi đào tạo, học viên đã nắm bắt đƣợc
kiến thức, chủ động xin việc làm, học viên có đƣợc việc làm ổn định sau khi
tốt nghiệp, cụ thể: Nghề mộc dân dụng, nhà trƣờng đã ký hợp đồng tuyển
dụng với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên gỗ Sông Hồng nhận 10
học viên vào làm, với mức thu nhập từ 2,5 triệu đến 3,5 triệu/ tháng. Ngoài ra,
công ty sẽ đảm nhận là đơn vị tiêu thụ sản phẩm cho 20 học viên của lớp.
Nghề Kỹ thuật chế biến món ăn, các học viên tự tạo việc làm tại nhà, thu nhập
tăng thêm của lao động tự tạo việc làm tại chỗ đƣợc nâng từ 1,5 triệu đồng
đến 3,5 triệu đồng/tháng. Ngoài ra,một số học viên đƣợc nhận vào các cơ sở
sản xuất, thu nhập của lao động từ 2,8 triệu đồng đến 3,5 triệu đồng/tháng.
Nghề tin học văn phòng, sau khi hoàn thành khóa học, học viên áp dụng các
kiến thức đã học vào sản xuất, giúp giảm bớt thời gian lao động, tăng năng
suất và làm việc tại các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn. Nghề điện dân
dụng và nghề hàn, chủ yếu học viên làm việc tại địa phƣơng, chủ động mở
xƣởng, thu nhập bình quân là từ 3 triệu – 5 triệu.
Về mặt xã hội: lao động sau đào tạo có việc làm đã góp phần ổn định
trật tự an ninh xã hội. Các xã đã gắn chƣơng trình xây dựng nông thôn mới
với đào tạo nghề, từng bƣớc chuyển dịch dần một bộ phận lao động nông
nghiệp sang làm việc ở các ngành nghề phi nông nghiệp.
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm thay đổi rõ rệt theo
hƣớng tỷ trọng nông nghiệp giảm và tỷ lệ lao động công nghiệp, dịch vụ gia
tăng.
64
Bảng 2.4.1. So sánh tỷ lệ cơ cấu việc làm trước và sau khi bị thu hồi
đất ở huyện Đông Anh năm 2015 ( Đơn vị %)
Ngành nghề Trƣớc thu hồi
đất
Sau thu hồi đất Ghi chú
1. Nông nghiệp 59 43
2. Buôn bán nhỏ 8.9 10.9
3. Thợ thủ công 10 15
4. Công nhân 3.5 10.4
5. Làm hành chính 7.4 8.6
6. Công việc khác 6.5 7,2
7. Thất nghiệp 2.5 4.9
(Nguồn: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đông Anh)
Qua số liệu khảo sát năm 2015 của Phòng Lao động Thƣơng binh - Xã
hội huyện Đông Anh cho thấy sau thu hồi đất, cơ cấu lao động việc làm trên
địa bàn có sự thay đổi đáng kể.Tỷ lệ lao động làm nông nghiệp sau thu hồi đất
giảm 16%. Sau thu hồi đất, ngƣời lao động có cơ hội làm việc trong các khu
công nghiệp đƣợc xây dựng ngay tại địa phƣơng, vì vậy tỷ lệ ngƣời lao động
là công nhân tăng 6,9% từ 3,5% lên 10,4%. Mặc dù vậy, tỷ lệ thất nghiệp có
xu hƣớng tăng từ 2,5% lên 4,9%. Mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ nhƣng cũng cần
đƣợc chú ý, quan tâm.
Có thể thấy, để đảm bảo một sự phát triển bền vững thì việc giảm tỷ lệ
lao động nông nghiệp cần phải là một quá trình chủ động với phƣơng án và
các giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp rõ ràng, có tính khả thi chứ không chỉ
đơn thuần là sự giảm số lao động nông nghiệp do bị thu hồi đất sản xuất trong
quá trình đô thị hóa.
65
Thứ ba về hỗ trợ lao động các làng nghề:
Nhìn chung, một số chính sách vốn và đầu tƣ mà Nhà nƣớc ban hành
đã góp phần tạo môi trƣờng thuận lợi cho việc phát triển làng nghề trên địa
bàn Đông Anh.Những năm gần đây, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn đã tập trung thực hiện cho vay dựa vào chƣơng trình, dự án mục
tiêu, hỗ trợ về tài chính tại các làng nghề. Một số chính sách tín dụng ngân
hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn đã quy định việc Nhà nƣớc
hỗ trợ tài chính dƣới hình thức tín dụng ngân hàng với lãi suất ƣu đãi, góp
phần mở rộng phạm vi và cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng hỗ trợ cho các
hộ sản xuất và doanh nghiệp tại các làng nghề. Chính phủ tiếp tục hỗ trợ lãi
suất vay vốn ngân hàng đối với một số mặt hàng xuất khẩu, trong đó có mặt
hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của các làng nghề (QĐ178/1998/QĐ-TTg
ngày 19/9/1998). Các làng nghề tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời dân
khu vực (trung bình thu nhập của ngƣời lao động trong các làng nghề cao gấp
3-4 lần so với ngƣời lao động thuần nông), đồng thời việc phát triển thƣơng
hiệu cũng đƣợc chú trọng.
Cụ thể, năm 2015 tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn Đông
Anh đã tạo ra 13.250 việc làm. Liên Hà, Vân Hà là hai xã có làng nghề phát
triển mạnh nhất Đông Anh, trong đó Liên Hà phát triển nghề sản xuất đồ gỗ
công nghiệp (gỗ phun sơn) và Vân Hà phát triển nghề mộc, chạm khắc, đồ gỗ
mỹ nghệ và gia dụng. Tiềm năng phát triển của hai làng nghề này còn rất lớn.
Khu sản xuất làng nghề tập trung xã Liên Hà có quy mô 6 héc-ta đã hoàn
thành đầu tƣ hạ tầng kỹ thuật, các hộ cũng đã đấu thầu quyền sử dụng đất thuê
50 năm. Khu sản xuất này tập trung các cơ sở sản xuất đồ gỗ phun sơn, giảm
ô nhiễm môi trƣờng cho khu dân cƣ.
Khu sản xuất tiểu thủ công nghiệp tập trung làng nghề xã Vân Hà với
hình thức tƣơng tự xã Liên Hà đã triển khai đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng.
66
Bên cạnh Liên Hà, Vân Hà nghề truyền thống tại các làng nghề khác
cũng đang phát triển mạnh, sản phẩm tiêu thụ tốt trên thị trƣờng. Trong đó,
Dục Tú phát triển nghề cơ kim khí (kéo sắt); Võng La, Cổ Loa phát triển nghề
chế biến thực phẩm, làm bún; Vân Nội, Đông Hội phát triển nghề đan lát, sản
xuất đồ gia dụng từ tre, nứa; Bắc Hồng, Uy Nỗ phát triển nghề may...
Thứ tư, về chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động:
Chính sách xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp hữu hiệu
trong quả nhà nƣớc về vấn đề việc làm. UBND huyện tổ chức thực thi nhiều
chính sách vận động tuyên truyền ngƣời lao động sang nƣớc ngoài làm việc,
đặc biệt ở các xã nghèo, hộ nghèo của huyện sang các thị trƣờng nhƣ Nhật
Bản, Malaixya, Đài Loan, Agola… Theo báo cáo về tình hình lao động, việc
làm của Phòng LĐ- TB&XH huyện Đông Anh, năm 2015, số lƣợng ngƣời
xuất khẩu lao động là 756 lao động.
Thông qua xuất khẩu lao động không chỉ giảm bớt đƣợc gánh nặng việc
làm trƣớc mắt mà còn thu đƣợc nguồn ngoại tệ do ngƣời lao động gửi về.
Đồng thời trình độ tay nghề, ngoại ngữ của ngƣời lao động cũng tăng cao.
2.4.2. Những tồn tại, hạn chế
Chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công
nghiệp, xây dựng, dịch vụ còn chậm, chƣa tạo ra đƣợc bƣớc chuyển biến
mạnh mẽ, nông nghiệp vẫn là ngành lao động chủ yếu, công nghiệp và dịch
vụ phát triển chƣa tƣơng xứng với tiềm năng của địa phƣơng. Tỷ lệ lao động
làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng cao.
Xuất khẩu lao động chƣa tƣơng xứng với tiềm năng và nhu cầu của
ngƣời lao động.Xuất khẩu lao động hiện nay là một trong những chính sách
quan trọng trong việc tạo việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn. Số lƣợng
ngƣời đi xuất khẩu lao động còn hạn chế.
Tốc độ đô thị hóa những năm qua còn chậm nên chƣa thu hút đƣợc lực
lƣợng lao động trong huyện. Các doanh nghiệp chƣa giải quyết đƣợc nhiều
67
việc làm cho ngƣời lao động. Sản xuất nông nghiệp và lao động trong nông
nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng tƣơng đối lớn, thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm hàng
hóa chƣa ổn định, khả năng hội nhập và sức cạnh tranh một số sản phẩm còn
yếu. Kinh tế phát triển chƣa thực sự bền vững, cơ cấu kinh tế chuyển dịch
chậm làm ảnh hƣởng đến cơ hội tìm kiếm việc làm.
Trong quá trình triển khai thực hiện việc dạy nghề cho lao động nông
thôn trên địa bàn huyện cũng đã gặp phải một số khó khăn.Công tác khảo sát
nhu cầu học nghề chƣa sát với thực tế, công tác tuyên truyền, tƣ vấn cho lao
động chọn nghề và tham gia học nghề chƣa phù hợp, chƣa gắn với quy hoạch
phát triển kinh tế-xã hội của huyện và gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn
mới. Công tác kiểm tra, giám sát tổ chức lớp học nghề ở các xã chƣa thƣờng
xuyên, một số xã chƣa chủ động trong việc xây dựng kế hoạch tổ chức thực
hiện đề án đào tạo nghề hàng năm.Một số ngành nghề lao động nông thôn có
nhu cầu theo học cao nhƣ các nghề: sửa chữa và lắp ráp điện thoại, lái xe ô tô,
sửa chữa ô tô... nhƣng không nằm trong nhóm các ngành nghề đƣợc UBND
Thành phố Hà Nội hỗ trợ.
Công tác giáo dục đào tạo, đào tạo nghề chƣa đồng bộ, chƣa đáp ứng
đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của huyện. Cơ sở vật chất, trang thiết
bị của các cơ sở đào tạo nghề còn thiếu, chƣa đáp ứng cho việc giảng dạy,
thực hành các nghề nhƣ: nghề hàn, điện công nghiệp, điện dân dụng, máy vi
tính…Ngành nghề đào tạo cũng chƣa thật sự phong phú và sát với nhu cầu
của lao động nông thôn, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu học nghề của ngƣời lao
động, nhất là trên địa bàn huyện Đông Anh có lực lƣợng lao động đông, số
lao động bị ảnh hƣởng chuyển đổi nghề do bị thu hồi diện tích đất nông
nghiệp lớn để phục vụ các Dự án xây dựng Khu công nghiệp. Để thực thi
chính sách hiệu quả cần đủ nguồn kinh phí. Trên thực tế, hiện nay nguồn kinh
phí còn eo hẹp. Công tác xã hội hóa trong tạo nguồn vốn cho tạo việc làm còn
68
hạn chế, chƣa huy động đƣợc các nguồn lực từ doanh nghiệp tƣ nhân, các tổ
chức xã hội và nhân dân.
Việc thực thi chính sách về tạo việc làm mang tính liên ngành và tổng
hợp rất rõ rệt, đòi hỏi sự phối hợp giữa các ngành, giữa Trung ƣơng, địa
phƣơng và cơ sở. Tuy nhiên trên thực tế do chƣa xây dựng đƣợc cơ chế phối
hợp, quy trình cụ thể nên trách nhiệm của các phòng, ban còn phân tán, đến
khi triển khai chính sách vào cuộc sống còn nhiều trở ngại.
Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ công chức còn nhiều hạn chế
trong quá trình thực thi chính sách. Cán bộ, công chức là đội ngũ trực tiếp
tham gia quá trình thực thi thì hiện nay vẫn còn hạn chế về số lƣợng và chất
lƣợng, thiếu chuyên môn và kỹ năng ra quyết định và thuyết phục, vận động
ngƣời dân tham gia.
Công tác thanh kiểm tra chƣa thật sự chật chẽ, đôi khi còn mang tính
hình thức. Trong quá trình thực thi chính sách sử dụng nhiều nguồn lực của
Nhà nƣớc nhƣng hoạt động thanh tra, kiểm tra trong những năm qua chƣa có
những hoạt động kiểm tra sâu sát, toàn diện và việc sử phạt cũng chƣa thực sự
nghiêm minh.
2.4.3. Nguyên nhân
Do xuất phát kinh tế của huyện chủ yếu vẫn là nông nghiệp, cơ cấu
kinh tế chuyển dịch chậm, nên sự chuyển dịch cơ cấu việc làm theo hƣớng
công nghiệp và dịch vụ không đáng kể. Khả năng tạo việc làm có chất lƣợng
cao cho ngƣời lao động còn gặp khó khăn. Cơ chế, chính sách của nhà nƣớc
chƣa thể giải quyết hết đƣợc số lao động chƣa qua đào tạo và giải quyết lao
động thất nghiệp.
Ngƣời nông dân trên địa bàn huyện chƣa thực sự hiểu rõ về các chính
sách trong hỗ trợ phát triển kinh tế, tạo việc làm của Nhà nƣớc. Một bộ phận
69
ngƣời dân sử dụng vốn vay từ quỹ quốc gia chƣa thực sự hiệu quả, thậm chí
còn sử dụng đầu tƣ sai lệch so với dự án trình vay vốn ban đầu.
Công tác khảo sát nhu cầu học nghề tại các xã chƣa sát với thực tế,
công tác tuyên truyền phổ biến tới ngƣời dân về chính sách dạy nghề chƣa
làm cho ngƣời lao động nhận thức đƣợc quyền lợi trong công tác đào tạo
nghề, chƣa hiểu đầy đủ về sự cần thiết lợi ích của việc đi học nghề nên còn
ngại đi học và chƣa chuyên cần trong học nghề.
Ngân sách của Nhà nƣớc đầu tƣ trực tiếp cho các chƣơng trình về tạo
việc làm còn hạn chế, chƣa thoả đáng với nhiệm vụ. Huyện Đông Anh trong
những năm qua chƣa tự xây dựng đƣợc quỹ vốn chuyên về tạo việc làm. Ngân
sách của cơ quan cấp trên đƣa xuống để tiến hành thực thi chính sách rất hạn
chế, không đủ để đầu tƣ, xây dựng những điều kiện cơ bản để hoàn thành
chính sách.
Bên cạnh đó trong thời gian qua huyện cũng chƣa có chủ trƣơng, giải
pháp cụ thể về tạo việc làm, do vậy trong lãnh đạo, chỉ đạo cũng nhƣ công tác
tham mƣu cho cấp ủy, chính quyền còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế.
Công tác dự báo còn yếu và còn thiếu chủ động trong việc xây dựng kế
hoạch đào tạo, bồi dƣỡng ngƣời lao động. Mặt khác huyện còn buông lỏng cơ
cấu đào tạo, để phát triển tự phát theo nhu cầu của ngƣời dân, chƣa chú trọng
định hƣớng và đào tạo ngành nghề phù hợp.
Quy mô các trƣờng dạy nghề, đào tạo chất lƣợng nguồn nhân lực chƣa
đáp ứng đƣợc nhu cầu học nghề, tự tạo việc làm của ngƣời dân. Chƣơng trình
đào tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo còn hạn chế, thiếu sự áp dụng của thông
tin, công nghệ, chƣa thực sự đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Cơ quan thực thi chính sách cấp huyện chƣa đảm bảo nguồn lực về số
lƣợng và chất lƣợng (sự hiểu biết, trình độ, năng lực). Do đó, khi thực hiện
chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động chƣa đạt đƣợc hiệu quả cao.
70
Chƣơng 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ
THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH
3.1. Quan điểm của Đảng về tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đề cập đến Chủ nghĩa xã hội đã chỉ rõ:
“Trƣớc hết cần làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi
ngƣời có công ăn việc làm, đƣợc ấm no và sống một đời hạnh phúc” và yêu
cầu xây dựng “một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông
nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến” để xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội là “một xã hội không có chế độ ngƣời bóc lột ngƣời; một xã hội
bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm ra
nhiều thì hƣởng nhiều, làm ít thì hƣởng ít, không làm không hƣởng”
Tuy nhiên, trƣớc khi Đảng và Nhà nƣớc ta có chủ trƣơng thực hiện
công cuộc đổi mới đất nƣớc, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm chƣa
đƣợc quan tâm đúng mức. Theo nhận thức của ngƣời lao động, chỉ có Nhà
nƣớc mới có khả năng tạo ra việc làm cho ngƣời lao động. Vì thế, việc làm
chỉ bó hẹp trong khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Từ đó dẫn tới
tình trạng ngƣời thừa việc trong khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập
thể, còn lại các khu vực kinh tế khác vẫn thiếu ngƣời do không tính toán đến
nhu cầu và hiệu quả kinh tế; không tính toán đƣợc hiệu quả sử dụng lao động.
Ngày 27/7/1978, tại hội nghị Trung ƣơng Khóa IV đã ra Nghị quyết về
“Kiện toàn tổ chức, cải tiến chế độ làm việc đáp ứng yêu cầu của tình hình và
nhiệm vụ mới”. Nghị quyết đã chỉ rõ “về kinh tế, bộ máy lãnh đạo và quản lý
phải xuất phát từ đỏi hỏi của việc xây dựng cơ cấu kinh tế mới (ngành, địa
phƣơng, cơ sở) và phƣơng thức quản lý kinh tế mới, phải phát huy tác dụng
71
tích cực đối với việc hình thành cơ cấu kinh tế mới và phƣơng thức quản lý
mới”. Trong đó “các cơ sở phải thực hiện cho đƣợc hoạch toán kinh tế, sản
xuất kinh doanh có lãi, hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với nhà nƣớc nâng cao thu
nhập của ngƣời lao động, phát triển phúc lợi tập thể tăng nguồn vốn tự có để
tái sản xuất mở rộng”. Trên cơ sở đảm bảo, hoàn thành kế hoạch nhà nƣớc, cơ
sở có quyền đặt quyền hạn trực tiếp với các đơn vị cơ sở khác bằng những
hợp đồng về phân công hợp tác sản xuất, về cung ứng vật tƣ và tiêu thụ sản
phẩm về vận chuyển hàng hóa, về đào tạo công nhân, về áp dụng và nâng cao
khoa học kỹ thuật.
Từ sau khi thực hiện đƣờng lối đổi mới tại Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ VI và cho đến nay, Đảng ta luôn khẳng định: Công nghiệp hóa - Hiện đại
hóa ở nƣớc ta là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản
xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội. Từ sử dụng mức lao động
thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến máy móc với công nghệ,
phƣơng pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Chính vì
thế, vấn đề việc làm và tạo việc làm cho ngƣời lao động nói chung và lao
động sau thu hồi đất nông nghiệp nói riêng đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta luôn
quan tâm đầu tƣ. Điều đó đã đƣợc thể hiện tại các văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VII, VIII, IX và lần thứ X.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII về đánh giá kết quả thực hiện
các mục tiêu nhiệm vụ kinh tế xã hội Đại hội VI, Đảng ta thừa nhận: tốc độ
tăng dân số quá nhanh tạo nên áp lực lớn về đời sống và việc làm; Vấn đề
việc làm đặc biệt gay gắt, do ngƣời lao động không có việc làm từ nhiều
nguồn tăng lên nhanh; Các chính sách và biện pháp tạo việc làm, giải quyết
việc làm còn bị động, chắp vá. Do đó, Đảng ta tiếp tục nêu rõ trong một số
nhiệm vụ kinh tế - xã hội cấp bách trong 5 năm 1991-1995 là phấn đấu tạo
thêm nhiều việc làm kể cả cho những ngƣời dôi ra trong quá trình sắp xếp lại
72
sản xuất kinh doanh và bộ máy quản lý, chú trọng đào tạo lại nghề nghiệp và
giúp một phần vốn cần thiết ban đầu. Đặc biệt trong Đại hội VII, Đảng ta đã
ghi trong Văn kiện Đảng cụm từ “thị trƣờng sức lao động”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, trong khi đặt nhiệm vụ phát triển
kinh tế, Đảng ta yêu cầu phải tiến hành công bằng xã hội. Trong đó chú trọng
vấn đề việc làm đang là vấn đề gay gắt; Vì thế cần tạo việc làm nhiều hơn, số
lao động tăng lên hàng năm giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp; tăng tỷ lệ lao
động qua đào tạo lên 22-25% và Đảng ta xác định đảm bảo công ăn việc làm
cho dân là mục tiêu xã hội hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành căn bệnh
kinh niên. Nhà nƣớc chú trọng đầu tƣ tạo việc làm, đồng thời tạo điều kiện
cho các thành phần kinh tế và ngƣời lao động tạo thêm chỗ làm việc và tự tạo
việc làm; Khuyến khích các tổ chức cá nhân cùng Nhà nƣớc tổ chức tốt dịch
vụ giới thiệu việc làm, đào tạo nghề nghiệp cụ thể là tạo việc làm cho 6,5-7
triệu ngƣời, tăng thời gian lao động đƣợc sử dụng ở nông thôn lên 75%.
Lần đầu tiên, khi đƣa vào trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX “thành phần kinh tế có vốn nƣớc ngoài”, Đảng ta yêu cầu cần lƣu ý
đến tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn ở mức cao đang là một trong những
vấn đề nổi cộm nhất của xã hội, cho nên tạo việc làm là một chính sách xã hội
cơ bản, bằng nhiều giải pháp tạo ra việc làm mới, tăng quỹ thời gian lao động
đƣợc sử dụng nhất là trong nông nghiệp và nông thôn; Các thành phần kinh tế
mở mang nhiều ngành nghề, các cơ sở sản xuất dịch vụ có khả năng sử dụng
nhiều lao động, chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh
lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho ngƣời lao động; Khôi
phục và phát triển các làng nghề, đẩy mạnh phong trào lập nghiệp của thanh
niên, tổ chức chặt chẽ hoạt động xuất khẩu lao động và bảo vệ quyền lợi cho
ngƣời lao động ở nƣớc ngoài; Khẩn trƣơng mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội
và an sinh xã hội, sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với
73
ngƣời lao động thất nghiệp. Với các chỉ tiêu chủ yếu trong giai đoạn 2001-
2005 là tạo việc làm cho khoảng 7,5 triệu lao động qua đào tạo, bình quân
1,5triệu lao động/năm; Đặc biệt là “mở rộng thị trƣờng lao động”.
Đại hội X của Đảng nêu rõ: “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới, đƣa đất nƣớc thoát khỏi tình trạng kém phát triển”, tạo nền tảng
đến năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp theo hƣớng
hiện đại; là “trong 5 năm tạo việc làm cho 8 triệu lao động”. Trong đó, ƣu tiên
dành vốn đầu tƣ của Nhà nƣớc và huy động vốn của toàn xã hội để tạo việc
làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích ngƣời lao động tự tạo việc làm,
phát triển các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều doanh nghiệp.
Đại hội XI, Đảng ta quán triệt quan điểm: “Phát triển đa dạng các
ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu nhập. Trên cơ sở đầu tƣ phát triển
kinh tế, phải hết sức quan tâm tới yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, giải
quyết việc làm cho ngƣời lao động; tạo điều kiện giải quyết ngày càng nhiều
việc làm, đặc biệt là cho nông dân. Hoàn thiện pháp luật về dạy nghề; ban
hành chính sách ƣu đãi về đất đai, thuế, đào tạo giáo viên, hỗ trợ cơ sở hạ
tầng… nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề. Đổi
mới phƣơng thức, nâng cao chất lƣợng dạy và học, gắn dạy nghề với nhu cầu
thực tế. Đẩy mạnh và chấn chỉnh công tác quản lý, tổ chức xuất khẩu lao
động”.
Đại hội Đảng XII, Đảng ta xác định gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế
với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lƣợng cuộc sống
của nhân dân, bảo đảm để nhân dân đƣợc hƣởng thụ ngày một tốt hơn thành
quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nƣớc. Phát triển nông
nghiệp và kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Xây dựng và
thực hiện các chƣơng trình, đề án đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực
74
mũi nhọn, đồng thời chú trọng đào tạo nghề cho nông dân, đặc biệt đối với
ngƣời bị thu hồi đất; nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo.
Nhƣ vậy, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, thấm nhuần tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà cốt lõi là phát triển sức
sản xuất, với tƣ duy đổi mới kinh tế, Đảng ta luôn xác định tạo việc làm cho
ngƣời lao động sau thu hồi đất nông nghiệp là một trong những vấn đề cực kỳ
quan trọng đối với nƣớc ta.
3.2. Phƣơng hƣớng tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Việc làm là một trong những vấn đề căn bản của xã hội. Thông qua tạo
việc làm cho ngƣời lao động, tiến tới việc làm có hiệu quả, đƣợc tự do lựa
chọn việc làm chính là giải quyết tận gốc những căn nguyên của các vấn đề xã
hội, đảm bảo giữ gìn trật tự, kỷ cƣơng, an toàn xã hội. Đây là vấn đề hết sức
to lớn và khó khăn đối với huyện Đông Anh. Vì trong bối cảnh kinh tế huyện
phát triển chƣa tƣơng xứng với tiềm năng, điểm xuất phát kinh tế thấp, các
yếu tố lợi thế chƣa đƣợc khai thác hiệu quả. Nguồn lao động tuy dồi dào về số
lƣợng nhƣng chất lƣợng còn hạn chế. Nhận thức của cán bộ, nhân dân về vấn
đề việc làm chƣa thống nhất. Để tạo việc làm cho ngƣời lao động nông thôn
sau thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cần quan tâm:
Thứ nhất, huyện cần nắm vững nội dung của những quan điểm và chủ
trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc về tạo việc làm để từ đó ban hành và triển khai
những văn bản phù hợp với chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc và đặc trƣng
riêng về điều kiện kinh tế, xã hội của huyện. Trong đó, chú trọng đến các nội
dung khi thực thi chính sách:
Chiến lƣợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 xác
định mục tiêu quan trọng hàng đầu là tạo việc làm, sử dụng tối đa tiềm năng
lao động xã hội. Chƣơng trình việc làm đến năm 2020 có mục tiêu là: Bằng
75
mọi hình thức và biện pháp tạo việc làm cho phần lớn lao động xã hội, đảm
bảo việc làm có đủ thu nhập để ngƣời lao động nuôi sống bản thân và gia
đình, đồng thời đóng góp xây dựng xã hội.
Luật Lao động nêu rõ: Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị
pháp luật ngăn cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm. Vì vậy, tạo việc làm cho
ngƣời lao động chính là tiếp tục giải phóng triệt để tiềm năng sức lao động
phù hợp với cơ chế chính sách và pháp luật. Nhà nƣớc tạo môi trƣờng và các
điều kiện hỗ trợ để ngƣời lao động tự do tìm kiếm việc làm, tự tạo việc làm
cho mình và cho ngƣời khác theo đúng quy định của pháp luật, phát huy đến
mức cao nhất các nhân tố con ngƣời.
Thứ hai, mọi ngƣời, mọi ngành, mọi thành phần kinh tế cùng tham gia
tạo việc làm cho ngƣời lao động. Tạo việc làm là sự nghiệp của toàn dân, thực
hiện phƣơng châm tự lo việc làm cho mình trong các thành phần kinh tế là
chính, khắc phục tâm lý ỷ lại trông chờ vào Nhà nƣớc. Nhà nƣớc có trách
nhiệm tổ chức quản lý, tạo việc làm cho ngƣời lao động nhƣ tạo ra môi trƣờng
làm việc, khuyến khích và bảo trợ cho ngƣời lao động tự tạo việc làm, xây
dựng kế hoạch, dự án tạo việc làm. Trên cơ sở đó, ngƣời lao động và ngƣời sử
dụng lao động có quyền tự do hành nghề, thuê mƣớn nhân công, đầu tƣ vào
sản xuất, tạo ra nhiều việc làm cho xã hội. Đồng thời trong điều kiện cạnh
tranh trên thị trƣờng lao động, một mặt ngƣời sử dụng lao động buộc phải
nâng cao không ngừng chất lƣợng việc làm, mức lƣơng, thƣởng để thu hút
đƣợc nhiều lao động có chất lƣợng cao. Mặt khác, ngƣời lao động nếu không
đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng cao của thị trƣờng lao động sẽ đƣợc Nhà
nƣớc hỗ trợ để học nghề hoặc bồi dƣỡng nâng cao tay nghề. Đối với những
ngƣời thất nghiệp hoặc quá tuổi lao động, ốm đau cần có mạng lƣới bảo hiểm
xã hội để họ duy trì cuộc sống tối thiểu và từng bƣớc tìm công việc mới. Tạo
việc làm là trách nhiệm của Nhà nƣớc, doanh nghiệp và toàn xã hội. Các
76
ngành, các tổ chức và mỗi ngƣời lao động cần phải chủ động tạo việc làm cho
bản thân mình, cho các thành viên của tổ chức mình và ngƣời lao động thuộc
địa bàn mình quản lý.
Thứ ba, tạo việc làm phải gắn liền với các chƣơng trình phát triển
kinh tế - xã hội. Chiến lƣợc phát triển con ngƣời, đầu tƣ cho con ngƣời là
đầu tƣ cơ bản và có hiệu quả nhất trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã
hội. Cơ sở của một nền kinh tế phát triển vững chắc chính là nền tảng việc
làm của ngƣời lao động. Việc sử dụng lao động đƣợc hƣớng vào các mục
tiêu tăng trƣởng kinh tế và trở thành yếu tố quan trọng của tăng trƣởng
kinh tế. Để đảm bảo tốc độ phát triển kinh tế cần thiết phải định hƣớng lựa
chọn công nghệ. Việc lựa chọn công nghệ cao, công nghệ mũi nhọn sử
dụng lao động có kỹ thuật góp phần tạo đà cho sự phát triển kinh tế. Đồng
thời cũng phải lựa chọn và áp dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động để
đáp ứng nhu cầu việc làm của xã hội.
Tạo việc làm phải hƣớng vào các mục tiêu hạn chế thất nghiệp, khắc
phục tình trạng thiếu việc làm và nâng cao hiệu quả việc làm, tăng thu nhập.
Về mặt kinh tế, tạo nhiều việc làm, giảm thất nghiệp cũng có nghĩa là giảm sự
lãng phí nguồn nhân lực. Về mặt xã hội, nó góp phần ổn định xã hội, làm
giảm các hành vi tiêu cực nảy sinh do thiếu việc làm nhƣ các tệ nạn xã hội ma
túy, mại dâm, cờ bạc …
Tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội là hai nội dung có mối quan
hệ đan xen vào nhau và cùng hƣớng vào mục tiêu hàng đầu là khai thác, sử
dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội. Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý đến
mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và sự lựa chọn công nghệ cao đòi hỏi một
lực lƣợng có chất lƣợng cao. Điều này vô hình chung đã không thu hút thêm
lao động xã hội mà còn đào thải một lực lƣợng lao động không có tay nghề
hoặc tay nghề thấp làm tình trạng thiếu việc làm gia tăng. Ngƣợc lại, nếu cứ
77
mãi lựa chọn và áp dụng kỹ thuật thủ công có khả năng thu hút nhiều lao
động, tạo ra nhiều việc làm nhƣng dễ dẫn đến nguy cơ tụt hậu về kinh tế. Do
vậy, việc lựa chọn công nghệ đòi hỏi cần phải có sự tính toán để dung hòa cả
hai nội dung phát triển và việc làm trong từng thời điểm.
3.3.Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tạo việc làm
cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội
3.3.1.Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về giáo dục, đào tạo và pháp luật về
tạo việc làmcho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Tăng cƣờng phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục - đào tạo, các tổ
chức khoa học và công nghệ với các phƣơng tiện thông tin đại chúng để tuyên
truyền các chủ trƣơng, chính sách, pháp luật về tạo việc làm của Đảng, Nhà
nƣớc và của địa phƣơng. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền về năng lực đào
tạo của các cơ sở đào tạo và cơ hội việc làm cho ngƣời lao động từ các doanh
nghiệp.
Tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày
11/4/2008 của Ban Thƣờng vụ Thành ủy, Nghị quyết số 04/2008/NQ-HĐND
ngày 22/4/2008 của Hội đồng nhân dân thành phố về một số chủ trƣơng, giải
pháp chủ yếu đáp ứng yêu cầu hội nhập công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành
phố đến năm 2010, định hƣớng 2020.
Phối hợp các hoạt động tƣ vấn nghề nghiệp tại các cơ sở đào tạo, dạy
nghề và tại các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên, học viên lựa chọn
nghề phù hợp, đồng thời có nhiều thông tin cần thiết về việc làm khi sắp tốt
nghiệp. Chú trọng tuyên truyền đối với các đối tƣợng học sinh và gia đình các
em đang trong độ tuổi học trung học cơ sở, trung học phổ thông để có nhận
thức đúng đắn về nghề nghiệp, chủ động lựa chọn các loại hình việc làm phù
hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình.
78
Củng cố nâng cao chất lƣợng và phát triển hệ thống thông tin về thị
trƣờng lao động nhằm giải quyết tốt hơn quan hệ cung cầu lao động, cung cấp
kịp thời đầy đủ thông tin về thu nhập, nhu cầu của thị trƣờng để ngƣời lao
động biết và lựa chọn đăng ký làm việc.
3.3.2. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ tạo việc làm cho
người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc làm đối với
nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông
thôn hiện nay. Quán triệt sâu sắc các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và
Nhà nƣớc nhằm tăng cƣờng công tác tạo việc làm, tạo sự thống nhất cao trong
nhận thức và hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn
thể, các cơ sở giáo dục - đào tạo.
Trƣớc tiên, sau khi chính sách đƣợc thực thi, cần tổ chức giới thiệu,
phổ biến rộng rãi công khai hoá các nội dung của chính sách để cán bộ, nhân
dân cùng biết và thực hiện. Sau khi triển khai vào đời sống, nội dung chính
sách phải trở thành văn kiện có tính chất pháp lý làm cơ sở cho các hoạt động
tạo việc làm trên địa bàn huyện. Chủ tịch UBND huyện trực tiếp chỉ đạo triển
khai, tổ chức kiểm tra, giám sát thực hiện. Các cấp uỷ Đảng thông qua hệ
thống của mình cần phải có đủ thông tin để kịp thời phát hiện vấn đề và có ý
kiến chỉ đạo. HĐND các cấp đại diện cho nhân dân, tạo điều kiện cho nhân
dân tham gia giám sát và phản hồi việc thực hiện chính sách. Chỉ đạo xây
dựng chi tiết các kế hoạch thực hiện các nội dung, chủ yếu là tập trung xây
dựng biện pháp thực hiện các định hƣớng phát triển các ngành chính trong
huyện để tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho ngƣời lao động.
Đổi mới nâng cao chất lƣợng hoạt động của các cơ quan tham mƣu, giúp
việc về công tác tổ chức, cán bộ, trong đó chú trọng nâng cao phẩm chất và
năng lực, kiện toàn đội ngũ cán bộ,công chức làm công tác tổ chức. Phân định
79
rõ thẩm quyền và trách nhiệm quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã, các phòng
ban, đơn vị trong việc theo dõi, dự báo, xây dựng kế hoạch để tạo việc làm.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo thuận lợi thu hút vốn đầu
tƣ, triển khai nhanh các dự án lớn trên địa bàn để phát triển kinh tế - xã hội
qua đó kích cầu, tạo môi trƣờng thu hút nhân lực trên địa bàn.
Tập trung phát triển các ngành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ ở các
lĩnh vực trọng tâm nhƣ: sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp, chế biến
nông lâm thủy sản dịch vụ, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đạt mục
tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3.3.3. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo mở việc
làmcho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Phát triển kinh tế - xã hội là mục tiêu cơ bản nhất quyết định việc tăng
giảm việc làm. Do vậy cần tập trung chỉ đạo thực hiện một số chƣơng trình
phát triển kinh tế trọng điểm, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành nghề sản
xuất, chuyển dần lao động nông nghiệp sang phát triển ngành nghề thủ công
nghiệp và dịch vụ trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Phát triển mạnh và
nâng cao chất lƣợng các ngành công nghiệp, dịch vụ và các ngành sử dụng
nhiều lao động hoặc sử dụng lao động có trình độ kĩ thuật cao trong các khu
công nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
 Ngành nông nghiệp:
Phát triển toàn diện nông- lâm-ngƣ nghiệp có năng lực sản xuất cao,
đáp ứng đƣợc nhu cầu CNH-HĐH và phát triển bền vững, bảo vệ môi trƣờng,
sinh thái, góp phần vào việc nâng cao mức sống, dân cƣ, chuyển đổi bộ mặt
nông thôn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ kinh tế thuần nông sang
kinh tế nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ, đồng thời chuyển dịch theo
hƣớng giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động dịch vụ, sản xuất, cung cấp
lực lƣợng lao động cho các ngành phi nông nghiệp. Tập trung sản xuất nông
80
sản hàng hóa theo nhóm sản phẩm trên cơ sở dự báo nhu cầu trong nƣớc và
xuất khẩu. Lựa chọn hiệu quả tối ƣu trên đơn vị diện tích. Đƣa khoa học công
nghệ vào sản xuất nông nghiệp, nâng cao trình độ quản lý sản xuất, chọn lọc
và ứng dụng nhanh các tiến bộ mới về công nghệ sinh học, hƣớng tới một nền
nông nghiệp sạch. Phát triển ngành trồng trọt theo hƣớng chuyển đổi cơ cấu
cây trồng có giá trị kinh tế cao, chuyển tình trạng chăn nuôi theo phƣơng pháp
nuôi trồng truyền thống sang chăn nuôi theo phƣơng pháp công nghiệp.
Phát triển những mô hình kinh tế trang trại, kinh tế hộ, hình thành các
vùng nguyên liệu tập trung gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Từng
bƣớc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông nghiệp theo hƣớng
chuyển dần sang ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.
Khuyến khích nông dân làm giàu thông qua việc khai thác, sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn, phát triển cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế, áp
dụng mạnh các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm tạo ra nguồn hàng hoá phục
vụ trong nƣớc và xuất khẩu. Phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ ở nông
thôn, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân, giảm bớt hộ nông
nghiệp thuần tuý, tăng hộ nông dân kiêm ngành nghề và dịch vụ. Nâng cao
trình độ dân trí của nông dân, xây dựng nông thôn mới theo hƣớng văn minh,
hiện đại.
 Ngành công nghiệp – xây dựng:
Công nghiệp phải tạo ra sự vƣợt trội trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao
động theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khai thác tiết kiệm, có hiệu
quả các nguồn tài nguyên, phát huy mọi tiềm năng lợi thế để đẩy mạnh phát
triển công nghiệp tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ trong nền kinh tế theo
hƣớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Tập trung đầu tƣ mở rộng sản xuất, củng cố và phát triển các cơ sở sản
xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp dƣới mọi hình thức và có sự tham gia
81
của các thành phần kinh tế trên địa bàn. Tập trung đầu tƣ duy trì và phát triển
các ngành nghề truyền thống nhƣ: mộc dân dụng, sản xuất đồ nội thất trang
trí, cơ khí.
Phát triển nhanh trên cơ sở trang bị kỹ thuật hiện đại với quy mô thích
hợp, đảm bảo tính bền vững hiệu quả, phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi
trƣờng. Góp phần quan trọng chuyển nền kinh tế huyện từ chƣa cân đối sang
nền kinh tế có sự phát triển đồng đều của các ngành dịch vụ, công nghiệp -
tiểu thủ công nghiệp.
Gắn việc phát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp với việc phát
triển các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong đó chú trọng đến tạo nguồn
nguyên liệu tại chỗ thực hiện công nghiệp hoá nông thôn thúc đẩy giao lƣu
kinh tế, phát triển thƣơng mại, dịch vụ ... Chú trọng thị trƣờng trong nƣớc,
đồng thời hƣớng mạnh ra xuất khẩu để tận dụng lợi thế so sánh về lao động.
Kế thừa và phát triển các ngành nghề truyền thống nhằm thu hút lao
động và nâng cao thu nhập của ngƣời dân.
Chú trọng đầu tƣ đổi mới thiết bị, dây truyền công nghệ theo hƣớng
tiên tiến, hiện đại nhằm tăng năng suất lao động hạ giá thành sản phẩm, đảm
bảo chất lƣợng cao... đáp ứng theo yêu cầu của thị trƣờng.
Đẩy mạnh việc xây dựng một số khu, cụm công nghiệp trên địa bàn
nhƣ: khu công nghiệp Bắc Thăng Long, cụm công nghiệp Nguyên Khê, khu
công nghiệp Đông Anh.
 Ngành dịch vụ:
Phấn đấu tốc độ tăng trƣởng ngành dịch vụ trong thời kì 2016- 2020
bình quân hàng năm là từ9%- 11%, góp phần phân bổ lại lao động trong các
ngành kinh tế của huyện.
Xây dựng chƣơng trình phát triển dịch vụ, du lịch của huyện phù hợp
với chƣơng trình phát triển du lịch của thành phố. Tiếp tục đầu tƣ để phát
82
triển mạnh ngành du lịch với các loại hình: tham quan, du lịch sinh thái, lễ
hội. Đầu tƣ mở rộng các dự án du lịch đã đƣợc xây dựng theo hƣớng đồng bộ
và hiện đại; bên cạnh đó cần đầu tƣ mạnh để tạo ra nhiều loại hình du lịch và
nhiều sản phẩm du lịch hơn nữa để thu hút khách quốc tế và khách nội địa,
từng bƣớc thể hiện đƣợc vai trò là một trong những điểm du lịch lịch sử, văn
hóa lớn của Thủ đô.
3.3.4. Đẩy mạnh thu hút đ u tư tạo nguồn vốn trong lĩnh vực tạo việc
làmcho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Bằng các giải pháp đồng bộ huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tƣ
và phát triển. Khuyến khích thu hút các nguồn vốn đầu tƣ, các loại hình xã hội
hóa, các lĩnh vực ngân sách Nhà nƣớc không đủ điều kiện đầu tƣ.
Tiếp tục cải thiện môi trƣờng kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính
theo hƣớng công khai, minh bạch. Chú trọng thu hút các nhà đầu tƣ có năng
lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tham gia đầu tƣ phát triển
huyện. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu, cụm công nghiệp, tạo mặt bằng
sạch cho các nhà đầu tƣ.Tăng cƣờng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài FDI và ODA,
đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đã cam kết; có định hƣớng thu hút
đầu tƣ vào các vùng, các lĩnh vực ƣu tiên một cách hợp lý. Huy động tối đa
các nguồn nội lực, trong đó chú trọng nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất
và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tƣ thực hiện dự án có sử dụng đất để đầu tƣ phát
triển cơ sở hạ tầng.
Tăng cƣờng huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp, các tổ chức, cá
nhân để tăng vốn Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm cho lao động nông thôn; đầu
tƣ ngân sách thỏa đáng để mở rộng mạng lƣới dạy nghề, phổ cập nghề, hỗ trợ
vốn cho doanh nhân nông thôn. Có chính sách, các cơ chế ƣu đãi về đất đai,
thuế và các nguồn lực khác để khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân đầu tƣ sản
xuất, kinh doanh, đầu tƣ đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp và cho xã hội
83
cho các cơ sở dạy nghề, đặc biệt là các nghề kỹ thuật cao. Đầu tƣ phát triển
kết cấu hạ tầng dịch vụ thị trƣờng lao động, tín dụng ƣu đãi cho ngƣời lao
động vay vốn tạo việc làm. Tạo môi trƣờng thuận lợi và khuyến khích các
thành phần kinh tế đầu tƣ vào khu vực nông thôn để phát triển sản xuất, tạo
việc làm mới, tăng thu nhập cho ngƣời lao động ở nông thôn cải thiện đời
sống.
3.3.5. Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của các cơ sở
đào tạo nghề và hệ thống các bậc học phổ thông của huyện
Chủ động triển khai các định hƣớng ƣu tiên về giáo dục của các Bộ,
ngành Trung ƣơng, Thành phố và bằng các hình thức liên kết hợp tác với các
trƣờng đại học để tiếp tục mở rộng quy mô đào tạo trình độ đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp trên địa bàn. Xây dựng và đầu tƣ nâng cấp mở rộng
các trƣờng dạy nghề có chất lƣợng. Chú trọng nâng cao trình độ của giáo viên
và trang thiết bị dạy nghề phù hợp với yêu cầu về tạo việc làm hiện nay. Đổi
mới chƣơng trình giảng dạy, nâng cao chất lƣợng giáo dục. Duy trì phổ cập
bậc trung học và nghề với quy mô học sinh ổn định ở mọi cấp học. Đẩy nhanh
tiến độ xây dựng trƣờng học đạt chuẩn quốc gia. Tăng cƣờng sự liên kết giữa
cơ quan quản lý nhà nƣớc, các cơ quan tổ chức và doanh nghiệp Trung ƣơng,
thành phố trên địa bàn huyện để hỗ trợ trong vấn đề đào tạo, cung ứng sử
dụng nhân lực có hiệu quả nhất.
Khai thác hiệu quả các chƣơng trình, đề án phát triển nhân lực của
Thành phố trong việc góp phần thúc đẩy công tác tạo việc làm của huyện.
3.3.6. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là một giải pháp quan trọng trong giải quyết việc
làm, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao trình độ tay
nghề cho ngƣời lao động. Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động cần
tăng cƣờng công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin cho ngƣời lao động về
84
chính sách xuất khẩu lao động của Nhà nƣớc, làm rõ lợi ích của việc xuất
khẩu lao động đối với vấn đề tạo việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời dân.
Đồng thời, chuẩn bị đủ nguồn lao động đảm bảo chất lƣợng đáp ứng yêu cầu
thị trƣờng xuất khẩu. Nâng cao chất lƣợng nguồn lao động, tăng khả năng
cạnh tranh với các địa phƣơng khác để đẩy mạnh xuất khẩu lao động trong
thời gian tới. Tiếp tục hoàn thiện chính sách ƣu đãi thuế, hỗ trợ tài chính đối
với các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động. Cải cách thủ tục hành
chính nhằm tạo sự thông thoáng và giảm phiền hà cho ngƣời lao động và
doanh nghiệp. Tiến hành kiểm tra thƣờng xuyên chất lƣợng của các doanh
nghiệp về xuất khẩu lao động, tạo ra các cầu nối giữa ngƣời lao động và
doanh nghiệp.
3.3.7. Hoàn thiện chuyên môn và kỹ năng của đội ngũ cán bộ, công chức
trong quá trình thực thi chính sách
Chủ thể thực thi chính sách chính là các cán bộ, công chức của bộ máy
hành chính. Đội ngũ này có ảnh hƣởng quan trọng đối với quá trình thực thi.
Trong những năm qua, chúng ta mới chỉ quan tâm đến việc tăng cƣờng năng
lực cho hệ thống tổ chức các cơ quan quản lý hành chính ở các cấp, các ngành
có chức năng, nhiệm vụ thực hiện chính sách và chƣa chú trọng đến hệ thống
các đơn vị sự nghiệp cấp cơ sở. Trong giai đoạn tới để bảo đảm thực thi tốt
chính sách cần quan tâm thực hiện các giải pháp sau:
Tăng cƣờng số lƣợng cán bộ đảm bảo đủ ngƣời làm công tác trợ giúp
xã hội. Việc tăng cƣờng gồm cả nâng cao trình độ chuyên môn và số lƣợng
cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở. Tập trung nâng cao chất lƣợng cán bộ chủ
chốt trong thực hiện chính sách vì đây là nhân tố quyết định tạo sự chuyển
biến sâu sắc các hoạt động triển khai ở cơ sở. Do đó, nếu quan tâm đến bồi
dƣỡng và đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt có trình độ ở ngay cấp huyện, xã
sẽ tạo bƣớc phát triển mới trong tổ chức triển khai thực hiện chính sách ở
85
địa bàn. Đồng thời, khi chính sách đƣợc triển khai xuống cấp huyện và
xuống cấp xã đội ngũ cán bộ, công chức là lực lƣợng nòng cốt trong việc tổ
chức triển khai thực hiện chính sách và có ý nghĩa quyết định đến kết quả
và hiệu quả của chính sách.
Đồng thời, phải quy định cụ thể chính sách đối với những cán bộ xã
hội, từ đó có hệ số lƣơng, phụ cấp đặc biệt. Chính phủcần quy định danh
mục nghề công tác xã hội, có mã nghề đào tạo, vị trí làm việc và tiêu chuẩn
nghiệp vụ, có hệ thống thang bảng lƣơng phù hợp với trình độ đào tạo và
tính chất công việc. Đối với một số lĩnh vực đặc biệt cần có chế độ phụ cấp
ƣu đãi. Giải quyết tình trạng yếu của cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ cấp xã,
huyện bằng cách tiếp tục tăng cƣờng đào tạo ngắn hạn thông qua việc tổ
chức tập huấn theo từng chuyên đề, tập huấn triển khai thực hiện chính
sách, thăm quan các mô hình...
Đây là những giải pháp cấp thiết và phù hợp trong thời gian ngắn,
nhằm đáp ứng nâng cao năng lực cán bộ cơ sở. Đội ngũ này cần hoàn thiện
hơn về chuyên môn và những kỹ năng trong quá trình thực thi. Chính là việc
năng cao khả năng hiểu biết về hệ thống pháp luật, đặc biệt là các bộ luật có
liên quan trực tiếp đến chính sách tạo việc làm. Nắm bắt rõ ràng tình hình
thực thi chính sách tạo việc làm của huyện để từ đó có thể thực thi đúng công
việc, quyền hạn và phù hợp với yêu cầu của chính sách. Kỹ năng thực thi
chính sách cũng là một yếu tố cần thiết, đó là khả năng thuyết trình, phổ biến
giải thích nội dung chính sách đến ngƣời dân, sao cho ngƣời dân biết đƣợc nội
dung chính sách và đồng thuận tham gia. Ngoài ra còn các kỹ năng làm việc
nhóm, kỹ năng ra quyết định cũng cần đƣợc bồi dƣỡng. Những vấn đề này
mỗi ngƣời cán bộ, công chức thực thi chính sách cần luôn luôn trau dồi và
không ngừng học hỏi.
86
3.3.8. Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát quá trình thực
thi chính sách, có cơ chế hen thưởng và kỷ luật thích hợp
Luật pháp và các chính sách cụ thể của Nhà nƣớc có tác động rất lớn
đến vấn đề tạo việc làm cho ngƣời lao động. Hoạt động thanh tra, kiểm tra
nếu đƣợc tiến hành thƣờng xuyên sẽ giúp cho việc thực thi chính sách phát
hiện kịp thời những sai xót để từ đó đƣa ra những quyết định kịp thời, không
ảnh hƣởng đến mục tiêu của chính sách đã đề ra. Vì vậy, huyện cần xây dựng
cơ chế kiểm tra, giám sát hợp lý, minh bạch. Hàng năm, cơ quan chức năng
cần tổ chức kiểm tra khoảng 30% số xã theo chuyên đề, công tác kiểm tra
cũng thực hiện thông qua các kênh thông tin đại chúng. Cùng với kiểm tra,
trong công tác giám sát đánh giá đã xây dựng chỉ tiêu báo cáo, các địa phƣơng
đã thực hiện thống kê đối tƣợng, kết quả thực hiện chính sách, có phân công
trách nhiệm các cấp, các ngành và huy động đƣợc sự tham gia của các tổ chức
đoàn thể trong việc giám sát thực hiện chính sách. Tuy nhiên, mới có chỉ tiêu
báo cáo thống kê về số lƣợng đối tƣợng, kết quả thực hiện trợ cấp, chƣa có chỉ
tiêu đánh giá chất lƣợng, mức độ chính sách, tác động chính sách và các địa
phƣơng làm cũng chƣa thƣờng xuyên, chất lƣợng số liệu báo cáo chƣa cao,
thiếu thông tin... Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, công tác kiểm
tra, giám sát đánh giá cũng cần từng bƣớc đổi mới phù hợp, cụ thể:
- Phải có đƣợc hệ thống chỉ số, thông tin báo cáo hợp lý ở từng cấp và
có phƣơng pháp thu thập thông tin khoa học để có thể thu thập đầy đủ thông
tin một cách trung thực nhất. Chỉ tiêu cảnh báo cho các cấp, các ngành các địa
phƣơng hiểu rõ hơn chất lƣợng và hiệu quả của việc thực hiện chính sách và
đo lƣờng mức độ tiến bộ của hệ thống chính sách.
- Tăng cƣờng sự tham gia của ngƣời dân vào quá trình tổ chức thực
hiện, nhất là việc xác định đối tƣợng hƣởng vay vốn, ƣu tiên bảo đảm tính
công khai minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện.
87
- Đổi mới về phƣơng thức theo dõi giám sát, xác định đối tƣợng, cần
đơn giản, phân cấp triệt để cho địa phƣơng. Duy trì chế độ thông tin báo cáo
trung thực và đầy đủ. Cần thiết lập chế độ thông tin báo cáo định kỳ hàng
tháng, hàng quý và hàng năm giữa xã với huyện; chế báo cáo hàng quý, 6
tháng, 1 năm giữa huyện với cấp thành phố. Để hoàn thiện đƣợc các quy
trình quản lý này đòi hỏi cần tăng cƣờng cán bộ cho cấp cơ sở, đào tạo nâng
cao nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng và đặc biệt là từng bƣớc đầu tƣ trang
thiết bị máy tính cho cấp huyện, xã.
Đồng thời, xây dựng và thực hiện cơ chế khen thƣởng thích hợp nhằm
động viên kịp thời các cá nhân, tổ chức có thành tích trong triển khai thực
hiện chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động. Song song với đó, khi phát
hiện sai phạm cần các biện pháp xử lý, kỷ luật thích đáng để ngăn chặn các
hành vi sai phạm, làm giảm hiệu quả của chính sách trong thực tiễn.
88
KẾT LUẬN
Tạo việc làm là chính sách đóng vai trò quan trọng, tác động trực tiếp
đến đời sống của ngƣời lao động. Là giải pháp giúp xoá đói, giảm nghèo,
thông qua tạo việc làm ngƣời lao động có công việc ổn định, tạo ra thu nhập
cho bản thân và xã hội. Tạo việc làm luôn là một vấn đề chính trị - kinh tế -
xã hội cấp bách hiện nay. Tạo việc làm cho ngƣời lao động phải gắn với phát
triển nguồn nhân lực, để kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển
văn hóa, xã hội. Con ngƣời là mục tiêu, động lực phát triển đồng thời cũng là
chủ thể sáng tạo đổi mới và hoàn thiện quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Mối quan hệ này vừa là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển vừa là đòi
hỏi chủ quan bức xúc của quản lý kinh tế - xã hội và nền kinh tế thị trƣờng có
sự quản lý của Nhà nƣớc thông qua việc triển khai các chính sách.
Việc làm thay đổi tích cực đời sống của ngƣời dân, góp phần chuyển
dịch cơ cấu lao động, hình thành thị trƣờng lao động, nâng cao chất lƣợng đời
sống, góp phần tích cực vào mục tiêu “dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”. Với tính chất quan trọng, vấn đề việc làm và tạo
việc làm cho ngƣời lao động luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc chỉ đạođầu tƣ, xây
dựng triển khai chiến lƣợc, chính sách, chƣơng trình. Trên cơ sở đó, Đảng bộ
và chính quyền huyện Đông Anh đã đẩy mạnh việc thực thi chính sách tạo
việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn. Mỗi năm
bình quân huyện tạo việc làm cho hàng nghìn lao động. Góp phần quan trọng
vào quá trình phát triển kinh tế, phát triển cộng đồng và cải tạo bộ mặt của
huyện, bƣớc đầu hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo,
nâng cao rõ rệt đời sống của ngƣời dân. Đồng thời, việc triển khai thực thi
chính sách tạo việc làm trong thời gian qua cũng đã để lại nhiều bài học kinh
nghiệm quý báu cho công tác quản lý. Làm sao để tạo đƣợc nhiều việc làm
cho ngƣời lao động và làm sao khai thác đƣợc hết tiềm năng của sức lao động
89
trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội luôn là câu hỏi cần đƣợc nghiên cứu
và trả lời trong toàn quá trình thực thi chính sách.
Xuất phát từ mục tiêu và yêu cầu, luận văn “Thực thi chính sách tạo
việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
Đông Anh, thành phố Hà Nội” đã giải quyết đƣợc những nội dung sau:
Luận văn đã hệ thống đƣợc vấn đề lý luận về việc làm, tạo việc làm,
chính sách tạo việc làm, thực thi chính sách tạo việc làm,sự cần thiết phải
thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp, là cơ sở lý luận khoa học để đề ra các giải pháp.
Đồng thời, đƣa ra các căn cứ thực tiễn, kinh nghiệm của các địa
phƣơng về thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp. Mỗi địa phƣơng đều có những đặc trƣng riêng với những cách
thực hiện cũng nhƣ các thế mạnh riêng trong công tác triển khai thực hiện
chính sách. Vì vậy, việc học hỏi, tiếp thu có chọn lọc để áp dụng vào thực tiễn
của Đông Anh là điều hoàn toàn cần thiết.
Để đánh giá thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao
động bị thu hồi đất trên địa bàn Đông Anh, thành phố Hà Nội, tác giả tập
trung phân tích thực trạng các nội dung chính sách về: chính sách đào tạo
nghề, chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chính sách phát triển làng nghề,
chính sách hỗ trợ ngƣời lao động đi làm việc tại nƣớc ngoài. Đây là cơ sở để
luận văn đƣa ra những đánh giá và nhận xét về hoạt động thực thi chính sách
tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất trên địa bàn Đông Anh.
Hoạt động thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu
hồi đất nông nghiệp trên địa bàn Đông Anh thời gian qua đã có nhiều thành
tựu. Việc triển khai chính sách đƣợc thực hiện đồng bộ, với nhiều hoạt động
thiết thực để tạo việc làm cho ngƣời lao động sau khi mất đi diện tích đất canh
tác nông nghiệp. Đồng thời, huyện cũng chủ động thực hiện các văn bản quy
90
phạm pháp luật về chính sách tạo việc làm, xây dựng các thiết chế hỗ trợ
ngƣời lao động tự tạo việc làm, thành lập và sử dụng Quỹ quốc gia về tạo việc
làm, gắn đào tạo nghề với tạo việc làm, phát huy và cải tiến các sản phẩm
truyền thống đặc sắc của các làng nghề và tổ chức xuất khẩu lao động cho lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp. Đã góp phần quan trọng huy động sự tham
gia của các cấp, các ngành và toàn xã hội về tạo việc làm cho ngƣời lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp.
Tuy nhiên do tiến trình phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nên diện tích đất canh tác bị thu hồi ngày càng tăng nên đặt ra những yêu cầu
lớn hơn, đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất cao của các cấp ủy Đảng, chính quyền
cùng ngƣời lao động để có thể đạt đƣợc kết quả cao nhất.
91
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Phƣơng Anh (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ nước ta, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Khoa học xã hội.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2005), Thực trạng thu nhập,
đời sống, việc làm, của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu
công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu
cầu công cộng và lợi ích quốc gia.
3. Nguyễn Kim Cam (2009), Giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp bị mất đất ở bốn huyện phía Tây Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ, Học
viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
4. Trần Thị Minh Châu, Vũ Văn Phúc, (2010), Chính sách hỗ trợ của nhà
nước ta đối với nông dân trong điều kiện Hội nhập WTO, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
5. Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nxb. Đại
học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
6. Trần Hữu Chung, Nguyễn Hữu Dũng, (1997), Chính sách giải quyết
việc làm ở Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại
hội VII, VIII, IX, X), Nxb Chính trị quốc gia, 2007.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2011.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2016.
10.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng về phát triển nông nghiệp,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
11.Đảng bộ huyện Đông Anh (2015), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành
Đảng bộ huyện khóa XXVII.
92
12.Đinh Văn Định (2004), Một số vấn đề lao động, việc làm và đời sống
người lao động ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lao động.
13.Lâm Thị Mỹ Dung, Đặng Hồng Sơn (2005), Báo cáo tổng hợp kết quả
nghiên cứu khảo cổ học huyện Đông Anh, Sóc Sơn thực hiện đề án
"Nghiên cứu Khảo cổ học trên địa bàn thành Thành phố Hà Nội năm
2004" của Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, tƣ liệu
thƣ viện Bảo tàng Nhân học, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, Hà Nội.
14.Nguyễn Hữu Dũng (2005), Thị trƣờng lao động và định hƣớng nghề
nghiệp cho ngƣời lao động, Nxb Lao động - xã hội.
15.Nguyễn Hữu Hải (2008), Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách
công, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội;
16.Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa (2013), Đại cương về chính sách công,
Nxb chính trị quốc gia.
17.Hồ Chí Minh toàn tập (1996), Nxb Chính trị quốc gia.
18.Hồ Chí Minh toàn tập (2000), Nxb Chính trị quốc gia.
19.Học viện Hành chính (2013), Giáo trình Hoạch định và thực thi chính
sách công, Nxb Chính trị Quốc gia.
20.Hội đồng nhân dân Huyện Đông Anh (2010), Quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội huyện Đông Anh giai đoạn 2010 -2014, định
hướng đến năm 2020.
21.Bùi Thị Thu Hiền (2015), Quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho lao
động nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Luận án thạc sĩ,
Học viện Hành chính Quốc gia.
22.Phạm Văn Khôi (2007), Giáo trình phân tích chính sách nông nghiệp,
nông thôn, Nxb Đại học kinh tế quốc dân.
93
23.Lê Chi Mai (2001), Những vấn đề cơ bản về chính sách và chính sách
công, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
24.Nguyễn Văn Nhƣờng (2011), Chính sách an sinh xã hội với người nông
dân sau khi thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp (nghiên cứu tại
Bắc Ninh), Luận án tiến sĩ, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
25. Lê Quang Phi (2007), Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia.
26. Nguyễn Minh Phong (2011), “Chính sách lao động - việc làm nhìn từ
góc độ kinh tế vĩ mô”, Tạp chí Tài chính điện tử, số 96 ngày 15/6/2011.
27. Hoàng Phê (2002), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
28. Nguyễn Ngọc Phú (ch.b) (2010), Thực trạng nguồn nhân lực, nhân tài
của đất nước hiện nay: Những vấn đề đặt ra - giải pháp, Nxb. Đại học
quốc gia, Hà Nội.
29. Chu Tiến Quang (2011), Việc làm ở nông thôn – thực trạng và giải
pháp, Nxb Nông nghiệp.
30. Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Đất
đai
31. Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012) Bộ luật Lao
động.
32. Nguyễn Đức Thắng (2011), “Những yếu tố ảnh hƣởng đến thực thi
chính sách công ở cấp cơ sở”, Nội san hành chính học, số 4.
33. Bùi Ngọc Thanh và cộng sự (1996), Nghiên cứu chính sách xã hội nông
thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
34. Nguyễn Đình Tuấn (2012), Giải quyết việc làm cho người nông dân bị
thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tỉnh Thanh
Hóa.
94
35.Văn Tất Thu (2016), “Năng lực thực hiện chính sách công – những vấn
đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, đăng ngày
29/11/2006 tại trang wed http://tcnn.vn.
36.Nguyễn Sơn Tùng (1998), Cơ sở lý luận và thực tiễn cho một số chính
sách và giải pháp nhằm giải quyết việc làm ở nông thôn trong quá trình
công nghiệp hóa, Viện quản lý kinh tế trung ƣơng.
37.Thủ tƣớng Chính phủ (2006), Chỉ thị số 11/2006/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ, ngày 27/3/2006 về giải pháp hỗ trợ nghề và việc làm cho lao
động vùng chuyển đổi mục đất.
38.Thủ tƣớng Chính phủ (2008), Quyết định số 103/2008/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ, ngày 21/7/2008 về việc phê duyệt Đề án hỗ trợ thanh
niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015.
39.Thủ tƣớng Chính phủ (2009), Quyết định số 1956/2009/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ, ngày 27/11/2009 về việc phê duyệt Đề án đào tạo
nghề cho thanh niên nông thôn đến năm 2020.
40. Thủ tƣớng Chính phủ (2012), Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ, ngày 16/11/2012 về chính sách hỗ trợ giải quyết việc
làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp.
41.Tổng cục Thống kê (2010), Niên giám thống kê Hà Nội giai đoạn 2010-
2014, Nxb Thống kê.
42.Tổng cục Thống kê (2011), Niên giám thống kêHà Nội giai đoạn 2011-
2015, Nxb Thống kê.
43.Nguyễn Tiệp (2011), “Việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá
trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất”, Tạp chí Cộng sản, đăng ngày
22/12/2011 tại trang http://www.tapchicongsan.org.vn.
44.Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
95
45.Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh (2011), Báo cáo tình hình lao động
huyện Đông Anh giai đoạn 2011 -2015.
46. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2015), Quyết định số 6630/QĐ-
UBND ngày 2/12/2015 về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng
Hai bên tuyến đường Nhật Tân - Nội Bài.
47.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Nxb Chính trị
quốc gia – Sự thật.

Đề tài: Tạo việc làm cho người bị thu hồi đất nông nghiệp tại Hà Nội

  • 1.
    BỘ GIÁO DỤCVÀ ĐÀO TẠO …………/………… BỘ NỘI VỤ ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN THỊ LOAN THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG Hà Nội - 2017 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO …………/………… BỘ NỘI VỤ ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN THỊ LOAN THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG Mã số: 60 34 04 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VÕ VĂN TUYỂN Hà Nội - 2017
  • 2.
    LỜI CAM ĐOAN Tôixin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả các số liệu trong luận văn đƣợc đƣợc thu thập công khai, trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ luận văn nào khác. Tác giả Nguyễn Thị Loan LỜI CẢM ƠN Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc Gia, Lãnh đạo Khoa sau Đại học, Lãnh đạo Khoa Hành chính học, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy những kiến thức khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả thực hiện tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu của chƣơng trình cao học. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Tiến sĩ Võ Văn Tuyển ngƣời Thầy đã trực tiếp hƣớng dẫn khoa học, tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo và giành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng chí lãnh đạo Ủy ban nhân dân Huyện Đông Anh, Phòng Lao động – Thƣơng binh và Xã hội huyện Đông Anh, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Đông Anh, Chi cục thống kê huyện Đông Anh đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài này. Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những ngƣời thân, bạn bè đã cổ vũ, động viên, tiếp thêm nghị lực cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Do thời gian nghiên cứu thực tế có hạn, đồng thời kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận đƣợc sự cảm thông, chia sẻ và những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, quý thầy cô và những ngƣời quan tâm đến đề tài. Xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Tác giả Nguyễn Thị Loan
  • 3.
    MỤC LỤC DANH MỤCCÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................... 5 DANH MỤC BẢNG BIỂU .............................................................................. 6 MỞ ĐẦU........................................................................................................... 7 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:....................................................... 1 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn................................ 2 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn......................................... 5 4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ........................................ 5 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu............................................. 6 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn………..................................14 7. Kết cấu của luận văn……………………………………………..........7 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO VIỆC LÀM VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP................................................................................................ 8 1.1. Một số vấn đề về cơ sở lý luận về tạo việc làm, thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp .............................. 8 1.2. Kinh nghiệm ở một số địa phƣơng về thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ........................................... 25 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................................ 31 2.1. Khái quát về tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đông Anh..................... 31 2.2. Khái quát về tình hình thu hồi đất nông nghiệp của huyện Đông Anh từ năm 2010 đến nay ........................................................................................ 43 2.3. Phân tích thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội ................... 47 2.4. Đánh giá thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nộ………….....66 Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH ....................................... 70 3.1. Quan điểm của Đảng về tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp.................................................................................................. 70 3.2. Phƣơng hƣớng tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội ........................................... 74 3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.......................................................................................................... 77 KẾT LUẬN..................................................................................................... 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 91
  • 4.
    DANH MỤC CÁCCHỮ VIẾT TẮT BCĐ Ban chỉ đạo CNH Công nghiệp hóa CP Chính phủ ĐTH Đô thị hóa HĐH Hiện đại hóa HĐND Hội đồng nhân dân LĐ –TB & XH Lao động – Thƣơng binh và Xã hội NHNN Ngân hàng Nhà nƣớc NXB Nhà xuất bản ODA Nguồn viện trợ phát triển chính thức SWOT Phƣơng pháp nghiên cứu SWOT TTg Thủ tƣớng TW Trung ƣơng TT Thông tƣ UBND Ủy ban nhân dân QĐ Quyết định FDI Vốn đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng Nội dung Trang Bảng 2.1.3 Tình hình nguồn lao động huyện Đông Anh giai đoạn 2011 - 2015 41 Bảng 2.2.1 Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 của huyện Đông Anh 45 Bảng 2.2.2 Danh sách các dự án thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn từ năm 2010 đến 2016 46 Bảng 2.4.1 So sánh tỷ lệ cơ cấu việc làm trƣớc và sau khi bị thu hồi đất ở huyện Đông Anh năm 2015 64
  • 5.
    1 MỞ ĐẦU 1. Tínhcấp thiết của đề tài nghiên cứu: Vấn đề lao động và việc làm nói chung, việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, đã và đang đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt quan tâm. Những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc đã đề ra nhiều chủ trƣơng, chính sách thiết thực nhằm phát huy tối đa nội lực của lao động ở khu vực này. Hệ thống cơ chế, chính sách về lao động, việc làm đƣợc chú trọng, phù hợp với cơ chế thị trƣờng và từng bƣớc hội nhập với thị trƣờng lao động quốc tế. Các văn bản quản lý nhà nƣớc về lao động, việc làm đƣợc bổ sung ngày càng hoàn thiện. Nhiều luật mới ra ời và đi vào thực tiễn đời sống nhƣ Luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Bảo hiểm xã hội và nhiều văn bản hƣớng dẫn thi hành đã tạo ra hành lang pháp lý về tạo việc làm ở nông thôn. Đồng thời, các chƣơng trình mục tiêu về việc làm đƣợc triển khai nhƣ: Chƣơng trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; Chƣơng trình phát triển công nghiệp, dịch vụ; Chƣơng trình xây dựng và phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao và các chƣơng trình, dự án trọng điểm kinh tế - xã hội đƣợc thực hiện, góp phần giải quyết việc làm, từng bƣớc nâng cao đời sống của ngƣời lao động , phát triển khu vực nông thôn. Huyện Đông Anh nằm ở phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, với nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Trong những năm qua huyện Đông Anh phát triển kinh tế nhanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp. Đồng thời đã thu hút đƣợc nhiều dự án lớn, có giá trị đầu tƣ cao, giải quyết một số lƣợng lớn về việc làm cho ngƣời lao động, từng bƣớc góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Công 2 tác giải quyết việc làm luôn đƣợc các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trên địa bàn huyện quan tâm. Từ năm 2010 đến nay có trên 150 dự án đƣợc triển khai thực hiện ở huyện Đông Anh với diện tích đất nông nghiệp phải thu hồi là 1.700 ha, số hộ bị thu hồi đất trên 21.000 hộ, số lao động bị ảnh hƣởng do thu hồi trên 26.000 lao động. Trên địa bàn huyện vẫn tiếp tục đón nhận các dự án của Trung ƣơng và Thành phố. Thực tế hiện nay, việc chuyển quỹ đất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng khác ảnh hƣởng rất lớn đến đời sống của ngƣời lao động bị thu hồi đất.Chính vì vậy, lực lƣợng lao động trong lĩnh vực này cần đƣợc quan tâm tạo việc làm, đảm bảo đời sống của ngƣời dân, đồng thời giải quyết ổn thoả tâm lý của ngƣời lao động sau khi thu hổi đất, đây là vấn đề cấp thiết cần giải pháp thực hiện. Xuất phát từ lý do trên với mong muốn góp phần nhỏ vào việc giải quyết các vấn đề bức xúc đang đặt ra trên địa bàn huyện Đông Anh nên tác giả chọn đề tài: “Thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Tạo việc làm cho ngƣời lao động, đặc biệt ngƣời lao động sau thu hồi đất nông nghiệp là vấn đề mang tính thiết thực và bức thiết ở nƣớc ta hiện nay,do vậy đã có nhiều công trình của nhiều tác giả trong nƣớc nghiên cứu và công bố. Năm 1997, hai tác giả Trần Hữu Chung và Nguyễn Hữu Dũng đã xuất bản cuốn sách “Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” NXB Chính trị quốc gia [6]. Cuốn sách đề cập đến chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH. Các tác giả đã phân tích, đƣa ra đánh giá về thực trạng việc làm nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng;
  • 6.
    3 từ đó đãchỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng thiếu việc làm ở nƣớc ta, đặc biệt ở vùng nông thôn. Đồng thời, đã khái quát các dòng di chuyển lao động trên thị trƣờng lao động, nhất là ngƣời lao động di chuyển từ nông thôn ra thành thị để tìm việc. Trên cơ sở đó, tác giả đƣa ra hệ thống quan điểm, giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình phát triển CNH – HĐH hiện nay. Công trình nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2005) về “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của ngƣời có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia”[2]. Nghiên cứu đƣợc tiến hành phân tích đánh giá thực trạng về thu nhập, đời sống việc làm của ngƣời có đất bị thu hồi trên địa bàn 07 tỉnh, thành phố. Đó là Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,Bình Dƣơng, Cần Thơ, Tp Hồ Chí Minh. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy những hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất gặp nhiều khó khăn trong đời sống, đặc biệt là về việc làm. Trƣớc thực trạng này, nghiên cứu đã đề xuất các phƣơng hƣớng, giải pháp đi cùng với các điều kiện giải quyết việc làm, tạo ra thu nhập, ổn định đời sống của ngƣời có đất bị thu hồi. Năm 2005, “Thị trƣờng lao động và định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời lao động” của TS Nguyễn Hữu Dũng, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội [14]. Tác giả đã phân tích một cách sâu sắc các nội dung có liên quan đến lý luận về thị trƣờng lao động, mối quan hệ giữa ngƣời lao động với thị trƣờng lao động và định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời lao động; thực trạng thị trƣờng lao động ở nƣớc ta, cũng nhƣ thực trạng định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời lao động trong thời gian qua. Đƣa ra các dự báo cung cầu của thị trƣờng lao động và các định hƣớng nghề nghiệp nhằm tạo việc làm cho ngƣời lao động. 4 Đây là công trình nghiên cứu đƣa ra cách nhìn toàn diện về thị trƣờng lao động và định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời lao động của nƣớc ta. Năm 2011, Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Nhƣờng “Chính sách an sinh xã hội với ngƣời nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)” [24]. Đề tài tập trung phân tích những nội dung lý luận về chính sách an sinh xã hội đối với ngƣời nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp qua nghiên cứu tình huống ở tỉnh Bắc Ninh. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy sự cần thiết phải bảo đảm an sinh xã hội trong đó có tạo việc làm cho ngƣời nông dân sau khi bị thu hồi đất sản xuất. Sử dụng mô hình SWOT đề tài tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân, từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đối với ngƣời nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp. Năm 2012, Nguyễn Đình Tuấn, Học viện Chính trị - Hành chính đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài: “Giải quyết việc làm cho ngƣời nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Thanh Hoá” [34]. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho ngƣời nông dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH. Luận văn cho thấy thực trạng giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở tỉnh Thanh Hoá, từ đó đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi trong giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị ở tỉnh Thanh Hoá. Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đề cập đến vấn đề tạo việc làm cho lực lƣợng lao động nói chung, lao động bị thu hồi mất đất nông nghiệp nói riêng. Tuy nhiên chƣa có công trình nào đề cập và phân tích một cách có hệ thống vấn đề thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi mất đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Do vậy, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài luận văn này để đề cập những vấn
  • 7.
    5 đề còn đangbỏ trống trên đây và đề xuất giải pháp cho vấn đề còn đang bỏ trống đó. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những lý luận cơ bản về chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất, luận văn tiến hành đánh giá thực trạng công tác thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất trên địa bàn huyện. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về tạo việc làm, chính sách tạo việc làm, thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. - Đánh giá thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến nay. - Đề xuất hoàn thiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4.1.Đối tượng nghiên cứu Công tác thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 6 4.1. Phạm vi nghiên cứu + Về không gian: Ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Đồng thời, tác giả có tham khảo và so sánh với một số địa phƣơng khác. + Về thời gian: Dựa trên các tài liệu đã đƣợc công bố trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến nay của huyện Đông Anh. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin; tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Những đƣờng lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Để đạt đƣợc mục tiêu và thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu lý luận và các phƣơng pháp phân tích, so sánh, thống kê toán học dựa trên những tƣ liệu thu thập đƣợc, so sánh và minh hoạ bằng bảng thống kê. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa lý luận về Góp phần làm sáng tỏ thêm một số lý luận về thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Luận văn là sự vận dụng lý luận nghiên cứu về thực thi chính sách đối với lĩnh vực tạo việc vào một trƣờng hợp cụ thể là: ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, Hà Nội.
  • 8.
    7 6.2. Ý nghĩathực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ bổ sung, gợi mở, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Luận văn đƣa ra các giải pháp, giúp cho các cơ quan chức năng làm tốt công tác thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp của huyện Đông Anh nói riêng, cả nƣớc nói chung. Là nguồn tƣ liệu cho cấp chính quyền huyện Đông Anh tham khảo trong quá trình thực thi chính sách của mình. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm ba chƣơng: Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo việc làm và thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp; Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO VIỆC LÀM VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1.1. Một số vấn đề cơ sở lý luận về tạo việc làm, thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 1.1.1. Các khái niệm cơ bản 1.1.1.1. Việc làm, ngƣời lao động, tạo việc làm  Khái niệm việc làm Có nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra quan điểm về khái niệm việc làm. Tuy nhiên ở mỗi thời điểm và không gian khác nhau thì lại có cách hiểu không giống nhau về việc làm. Hiện nay có một số quan điểm về việc làm chủ yếu sau: Theo tổ chức Lao động thế giới (ILO) thì việc làm là những hoạt động lao động đƣợc trả công bằng tiền hoặc hiện vật. Theo điều 13, chƣơng 2 Bộ Luật Lao động: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập và không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm”. [31, tr42] Theo quy định này các hoạt động đƣợc xác định là việc làm bao gồm: - Tất cả các hoạt động tạo ra của cải, vật chất hoặc tinh thần, không bị pháp luật cấm, đƣợc trả công dƣới dạng tiền hoặc hiện vật; - Những công việc tự bản thân làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cộng đồng, kể cả những việc không đƣợc trả công bằng tiền hoặc hiện vật. Khái niệm việc làm của Bộ Luật Lao động bao gồm một phạm vi rất rộng, từ những công việc chính thức đƣợc thực hiện trong nhà máy, xí nghiệp đến các hoạt động lao động hợp pháp tại khu vực phi chính thức đều đƣợc coi
  • 9.
    9 là việc làm.Khái niệm này mang một ý nghĩa pháp luật – xã hội to lớn khi nó đã xóa bỏ sự phân biệt đối xử lao động giữa các thành phần kinh tế, động viên mọi tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho ngƣời lao động. Đồng thời cũng thể hiện đặc trƣng của Nhà nƣớc pháp quyền là khuyến khích mọi ngƣời tham gia làm những việc mà không bị pháp luật ngăn cấm. Trong quá trình tạo việc làm, mục tiêu cuối cùng là hƣớng tới việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý. Việc làm đầy đủ đƣợc hiểu là sự thỏa mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Cụ thể: Việc làm đầy đủ ở trạng thái mỗi ngƣời có khả năng lao động muốn làm việc thì có thể tìm đƣợc việc làm trong một khoảng thời gian tƣơng đối ngắn. Đƣơng nhiên, để đạt tới mức độ đảm bảo việc làm đầy đủ phải có một quá trình nhất định. Quá trình ấy ngắn hay dài phụthuộc vào trình độ, hoàn cảnh khách quan và chủ quan ở mỗi quốc gia, mỗi địa phƣơng. Ở những quốc gia có điểm xuất phát càng thấp thì trong quá trình phát triển, vấn đề đảm bảo việc làm đầy đủ cho ngƣời lao động càng khó khăn và cấp thiết. Việc làm hợp lý đƣợc hiểu là sự thỏa mãn nhu cầu làm việc cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân và phù hợp với trình độ, nguyện vọng, sở thích của họ.Việc làm hợp lý không những hàm chứa nội dung việc làm đầy đủ mà còn hƣớng tới việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng của ngƣời lao động. Việc làm phù hợp có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế xã hội còn cao hơn so với việc làm đầy đủ. Do vậy, trong quá trình thực hiện việc làm đầy đủ, cần từng bƣớc, từng bộ phận thực hiện việc làm hợp lý. Việc làm hợp lý phản ánh sự phù hợp về mặt số lƣợng và chất lƣợng của các yếu tố con ngƣời với điều kiện vật chất của quá trình sản xuất và xã hội, sự hợp lý giữa lợi ích cá nhân ngƣời lao động và lợi ích của xã hội. 10  Ngƣời lao động Theo Điều 03 của Bộ Luật Lao động nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2012: “Ngƣời lao động là ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, đƣợc trả lƣơng và chịu sự quản lý, điều hành của ngƣời sử dụng lao động” [31, tr .3]. Trên thực tế, ngoài nhóm đối tƣợng đƣợc quy định là ngƣời lao động ở trên vẫn có nhu cầu làm việc nhƣng với mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn tập trung hƣớng tới đối tƣợng ngƣời lao động quy định trong Điều 03 Bộ Luật Lao động 2012 cụ thể là ngƣời lao động trong độ tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ.  Tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2013): “Tạo việc làm là quá trình tạo điều kiện kinh tế xã hội cần thiết để ngƣời lao động có thể kết hợp giữa sức lao động và tƣ liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu thị trƣờng” [5, tr.377] Việc làm là trạng thái phù hợp giữa hai yếu tố sức lao động và tƣ liệu sản xuất bao gồm cả về mặt số lƣợng và chất lƣợng. Để tạo ra việc làm thực sự còn cần có môi trƣờng thuận lợi cho sự kết hợp của hai yếu tố trên. Tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể đƣợc hiểu trên một số khía cạnh sau: Một là, tạo ra số lƣợng và chất lƣợng tƣ liệu sản xuất. Số lƣợng và chất lƣợng của tƣ liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tƣ và tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tƣ liệu sản xuất đó. Hai là, tạo ra số lƣợng và chất lƣợng sức lao động. Số lƣợng lao động phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động và sự
  • 10.
    11 di chuyển củalao động. Chất lƣợng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục đào tạo và sự phát triển của y tế, thể thao và các yếu tố khác. Ba là, hình thành môi trƣờng cho sự kết hợp các yếu tố sức lao động và tƣ liệu sản xuất. Nó bao gồm các chính sách phát triển kinh tế- xã hội, chính sách thu hút và khuyến khích đầu tƣ… Trên thị trƣờng việc làm chỉ hình thành khi ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi. Do vậy tạo việc làm cần đƣợc xem xét cả phía ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và cả vai trò của Nhà nƣớc. Nhƣ vậy, tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp là là tổng thể các biện pháp, các chính sách kinh tế - xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo điều kiện để người lao động sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp có thể có việc làm. 1.1.1.2. Khái niệm và nội dung chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp  Khái niệm chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Đến nay, khái niệm chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệpvẫn chƣa đƣợc chuẩn hóa, chƣa có một nhà khoa học hay tổ chức lý luận nào đƣa ra khái niệm chuẩn mực. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể được hiểu là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu về tạo việc làm cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp. 12 Chính sách tạo việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Ở nƣớc ta, quá trình phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nƣớc đang đặt ra hàng loạt vấn đề bức xúc liên quan đến việc làm và chính sách tạo việc làm. Điều 13, Bộ Luật Lao động khẳng định: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi ngƣời có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nƣớc, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội” [31, tr67]. Theo số liệu mà Tổng cục thống kê công bố, dân số trung bình nƣớc ta năm 2016 ƣớc tính là 93 triệu ngƣời, so với năm 2015, lực lƣợng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nƣớc năm 2016 là 54,36 triệu ngƣời, tăng 654,3 nghìn ngƣời so với cùng kỳ năm trƣớc. Lực lƣợng lao động ở khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng cao 68,1% trong lực lƣợng lao động chung của cả nƣớc. Lực lƣợng lao động trong độ tuổi lao động ƣớc tính là 47,55 triệu ngƣời, tăng 227,5 nghìn ngƣời so với cùng kỳ năm trƣớc. Lực lƣợng lao động dồi dào là thế mạnh, đồng thời là tiềm năng của việc phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên cũng tạo ra sức ép lớn đối với chính quyền các cấp về tạo việc làm cho ngƣời lao động. Nếu không có chính sách việc làm một cách đúng đắn và kịp thời thì sẽ gây lãng phí rất lớn nguồn nhân lực quốc gia, đồng thời để lại hậu quả khó lƣờng đối với sự phát triển của đất nƣớc. Chính sách tạo việc làm vừa có ý nghĩa về kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội. Thực hiện tốt chính sách việc làm, nguồn nhân lực đƣợc sử dụng có hiệu quả thì hiện tƣợng thất nghiệp sẽ giảm đi, đi kèm đó là các chính sách bảo hiểm xã hội sẽ giảm chi phí cho các trợ cấp thất nghiệp. Ngƣợc lại, khi chính sách tạo việc làm chƣa đƣợc giải quyết tốt, nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái thì nạn thất nghiệp tăng lên, khiến cho tình trạng đói nghèo, các tệ nạn xã hội cũng dễ
  • 11.
    13 dàng phát sinh,sẽ không thể tránh khỏi sự gia tăng của các gánh nặng đối với chính sách về bảo trợ xã hội, an sinh xã hội.  Hệ thống chính sách tạo việc làm cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp Chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động sau thu hồi đất nông nghiệp bao gồm một hệ thống chính sách bộ phận với các mục tiêu và giải pháp chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm tạo việc làm cho ngƣời lao động khi không còn đất canh tác. Tùy theo cách tiếp cận khác nhau có thể có các chính sách bộ phận khác nhau, trong khuôn khổ luận văn một số chính sách bộ phận đƣợc đề cập đến của hệ thống bao gồm : - Chính sách đào tạo nghề cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp; - Chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề; - Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tạo việc làm mới; - Chính sách hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho người lao động sau thu hồi đất nông nghiệp 1.1.1.3. Khái niệm và quy trình thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp  Khái niệm thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Thực thi chính sách công là quá trình đƣa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục, chƣơng trình và thực hiện chúng nhằm đạt đƣợc mục tiêu chính sách. Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp chính là quá trình triển khai các biện pháp nhằm đạt được mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động, đem lại những biến đổi trên các 14 lĩnh vực của đời sống xã hội, phục vụ lợi ích của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp. Trong quá trình thực thi chính sách, các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ và con ngƣời đƣợc đƣa vào các hoạt động có tính định hƣớng để đạt các mục tiêu đã đề ra. Đây là quá trình kết hợp giữa con ngƣời với các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ nhằm sử dụng các nguồn lực này một cách có hiệu quả theo những mục tiêu đã đề ra. Chủ thể thực thi chính sách trƣớc hết và quan trọng nhất là các cơ quan hành chính Nhà nƣớc, bởi đây là các cơ quan có nhiệm vụ quản lý và tổ chức triển khai các công việc hàng ngày của Nhà nƣớc trên các lĩnh vực. Chính sách công cũng là những nhiệm vụ mà Nhà nƣớc đề ra trong đời sống kinh tế - xã hội. Vì vậy việc quản lý tổ chức thực thi do các cơ quan hành chính đảm nhận là hợp lý. Tuy nhiên, các cơ quan Lập pháp, Tƣ pháp cũng nhƣ các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể cũng có vai trò quan trọng trong việc huy động và tổ chức lực lƣợng tham gia triển khai chính sách. Trên thực tế, thực thi chính sách đƣợc coi là giai đoạn tổng hợp của quy trình chính sách. Nhiều chính sách do cơ quan Nhà nƣớc ở trung ƣơng đề ra và giao cho địa phƣơng thực hiện nhƣng khi chính sách về tới địa phƣơng lại phải tiến hành nghiên cứu áp dụng nó phù hợp với thực tế của địa phƣơng. Điều này thể hiện giai đoạn thực thi chính sách bao hàm luôn cả nội dung hoạch định chính sách. Hơn nữa, trong quá trình thực hiện chính sách, phải tiến hành đánh giá chính sách để có những điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu. Lúc này giai đoạn thực thi bao gồm cả những công việc thuộc về đánh giá chính sách.
  • 12.
    15  Quy trìnhtriển khai thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Để đƣa chính sách vào thực tiễn, các chủ thể thực thi căn cứ vào thẩm quyền của mình ban hành các văn bản, các chƣơng trình để cụ thể hóa mục tiêu và biện pháp của chính sách trên địa bàn. Thứ nhất, về xây dựng và ban hành văn bản, chƣơng trình, dự án thực thi chính sách công gồm các hoạt động - Nghiên cứu nội dung chính sách để xác định những văn bản, chƣơng trình cần đƣợc ban hành hoặc phê duyệt. - Xây dựng kế hoạch soạn thảo và ban hành các văn bản thực thi chính sách; xây dựng kế hoạch lập và phê duyệt các chƣơng trình thực thi chính sách. - Tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch trên bảo đảm ban hành đƣợc các văn bản, chƣơng trình có chất lƣợng, hợp pháp, đúng thời gian, tiết kiệm và hiệu quả. Thứ hai, sau khi các văn bản, chƣơng trình đƣợc ban hành và phê duyệt các chủ thể thực thi đƣợc giao trách nhiệm tổ chức thực hiện văn bản, chƣơng trình thực thi chính sách, gồm các nội dung hoạt động. - Xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành văn bản hoặc lập kế hoạch thực hiện chƣơng trình. - Tuyên truyền, phổ biến nội dung văn bản, chƣơng trình. - Tập huấn văn bản, bồi dƣỡng những kiến thức và kỹ năng cần thiết để triển khai văn bản, chƣơng trình. - Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực triển khai thi hành văn bản, thực hiện chƣơng trình. - Chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc thi hành văn bản, việc thực hiện chƣơng trình. 16 Thứ ba, công tác sơ kết, tổng kết thực hiện văn bản, chƣơng trình thực thi chính sách công. Định kì các chủ thể thực thi chính sách công tiến hành sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách theo trình tự từ dƣới lên trên. - Các cơ quan đƣợc giao thi hành văn bản thực thi chính sách công nào thì tiến hành sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản đó và báo cáo lên cơ quan cấp cao hơn. Trong báo cáo cần thể hiện rõ quá trình triển khai thực hiện, những kết quả đạt đƣợc, những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất những kiến nghị đối với cấp trên. - Trên cơ sở các báo cáo sơ kết, tổng kết, báo cáo đánh giá giữa kỳ, báo cáo kết thúc của các cơ quan, tổ chức thực thi chính sách cấp dƣới, cơ quan, tổ chức thực thi chính sách cao nhất tổng hợp thành báo cáo sơ kết, tổng kết thực thi chính sách. Cơ quan chịu trách nhiệm thực thi chính sách cuối cùng này báo cáo và giải trình về kết quả thực thi chính sách trƣớc cơ quan hoạch định chính sách và nhân dân. 1.1.2. Vai trò của chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Tạo việc làm cho ngƣời lao động không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị - xã hội, nối liền kinh tế với xã hội. Chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động nói chung và ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng phù hợp có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội.  Đối với kinh tế Chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp sẽ góp phần khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế, tránh lãng phí nguồn lực xã hội. Lao động trong khu vực nông thôn chiếm hơn 70% lực lƣợng lao động cả nƣớc. Hàng năm lực lƣợng lao động này đã đóng góp đáng kể cho tổng sản phẩm nội địa (GDP) của đất nƣớc. Nếu không
  • 13.
    17 sử dụng lựclƣợng lao động này vào sản xuất sẽ gây lãng phí tài nguyên con ngƣời - nguồn lực quan trọng nhất để phát triển đất nƣớc. Với những phẩm chất đáng quý của nguồn nhân lực Việt Nam, nếu có những chính sách phù hợp sẽ khuyến khích, tạo cơ hội cho lực lƣợng này tham gia vào các khu vực ngoài sản xuất nông nghiệp nhƣ dịch vụ, công nghiệp và xuất khẩu lao động ra nƣớc ngoài. Đồng thời với chính sách tạo việc làm hợp lý còn cho phép sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác nhƣ tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, công nghệ kĩ thuật. Tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp sẽ góp phần tích cực trong việc phân bổ lao động một cách hiệu quả, hợp lý.Từ đó, góp phần thực hiện thành công chủ trƣơng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa của Đảng và Nhà nƣớc ta.  Đối với chính trị Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ƣơng lần thứ bảy (Khóa XII) của Đảng đã xác định vị trí của nông nghiệp, nông thôn và nông dân là cơ sở để ổn định chính trị đất nƣớc trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế Thế giới. Vì vậy, tạo việc làm cho ngƣời lao động không những góp phần phát triển kinh tế- xã hội mà còn ảnh hƣởng đến sự ổn định chính trị. Một chính sách không hợp lý sẽ không thu phục đƣợc lòng tin của nhân dân. Do vậy, việc ban hành và thực thi chính sách tạo việc làm hợp lý, giải quyết tình trạng thiếu việc làm cho ngƣời dân sau thu hồi đất sẽ góp phần củng cố và duy trì lòng tin của hàng chục triệu lao động vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nƣớc.  Đối với xã hội Chính sách của Nhà nƣớc có vai trò tạo lập cân đối trong phát triển. Cách thức tạo lập đƣợc thực hiện từ nhiều vai trò khác nhau của chính sách nhƣ khuyến khích tiềm năng phát triển, hỗ trợ lĩnh vực còn yếu kém. Đồng thời chính sách tạo lập môi trƣờng thích hợp cho các hoạt động kinh tế, xã hội, 18 giúp cho các thực thể vận động phát triển theo đúng quy luật. Chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp giúp con ngƣời nâng cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm tình trạng thất nghiệp. Sau thu hồi đất nông nghiệp ngƣời lao động không có việc làm là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội nhƣ : Trộm cắp, lừa đảo, mại dâm… Từ đó khiến các quan hệ gia đình, làng xã rạn nứt và xuống cấp nghiêm trọng. Tạo việc làm cho ngƣời lao động, nhất làlao động ở lứa tuổi thanh niên sau khi bị thu hồi đất góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội do không có công ăn việc làm gây ra và giải quyết các vấn đề mà nhu cầu xã hội đòi hỏi. Khi con ngƣời có việc làm, thông qua các hoạt động lao động sẽ thỏa mãn đƣợc các nhu cầu về vật chất, tinh thần, góp phần nâng cao đời sống và ổn định xã hội.
  • 14.
    19 1.1.3. Các yếutố ảnh hưởng đến thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG BÊN TRONG BÊN NGOÀI Vị trí và tài nguyên thiên nhiên Chất lƣợng hoạch định chính sách Trình độ phát triển kinh tế xã hội Năng lực của cơ quan và cán bộ thực thi Thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài Sự đồng tình, ủng hộ của ngƣời dân Sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo cấp trên Cung cấp thông tin quản lý một cách kịp thời Chính sách hƣớng tới mục tiêu chung Tạo ra động lực và khả thi cao Các CQ đảm bảo đủ nguồn lực trong thực thi Cán bộ thực thi vững về chuyên môn Thái độ và tinh thần hƣởng ứng chính sách Tham gia giám sát và ủng hộ chính sách Cung cấp đủ nhân lực và tài chính Đƣa ra các quyết định hỗ trợ kịp thời 20 Thực thi chính sách là một quá trình phức tạp, rộng lớn về phạm vi tác động, đa dạng về đối tƣợng thực hiện từ trung ƣơng tới địa phƣơng. Quá trình này diễn ra thƣờng xuyên và liên tục trong suốt thời gian tồn tại của chính sách. Tuy nhiên, trong qúa trình tổ chức thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp cũng bị ảnh hƣởng của một số yếu tố. 1.1.3.1. Nhóm yếu tố bên trong Một là, vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên. Nếu nhƣ ở địa phƣơng có vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp giao lƣu, trao đổi hành hóa, kinh tế phát triển, đồng thời tạo ra nhiều việc làm cho ngƣời lao động. Ngƣợc lại, vị trí địa lý kém thuận lợi cũng gây khó khăn không nhỏ cho quá trình thực thi, khiến chính sách mất đi các cơ hội để đƣợc dễ dàng thành công trong thực tế. Tƣơng ứng với điều kiện về tài nguyên thiên nhiên cũng vậy, một địa phƣơng phong phú về tài nguyên khoáng sản, tài nguyên biển, đất sẽ là tiền đề tốt để thực thi chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, tạo ra nhiều việc làm cho ngƣời lao động. Tuy nhiên, việc thiếu thốn tài nguyên thiên nhiên cũng gây hạn chế để phát triển kinh tế. Vì vậy Đảng và nhà nƣớc ta cần có các biện pháp, chính sách tạo tạo việc làm phù hợp với điều kiện của từng địa phƣơng, từ đó khai thác thế mạnh sẵn có của địa phƣơng và tận lực giảm đi các hạn chế về vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên. Hai là, chất lƣợng hoạch định chính sách. Hoạch định chính sách là bƣớc khởi đầu trong chu trình chính sách, đây là bƣớc đặc biệt quan trọng. Hoạch định chính sách đúng đắn, khoa học sẽ xây dựng đƣợc chính sách tốt, là tiền đề để chính sách đó đi vào cuộc sống và mang lại hiệu quả cao. Ngƣợc lại, hoạch định sai cho ra đời chính sách không phù hợp với thực tế, thiếu tính khả thi sẽ mang lại hậu quả không mong muốn trong quá trình quản lý. Những tổn hại này không chỉ tạm thời, cục bộ, mà nó ảnh hƣởng lâu dài, liên quan tới
  • 15.
    21 nhiều lĩnh vực,ngành nghề trong quá trình thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động. Trong việc hoạch định chính sách công cần phải có sự tổng kết, phân tích, đánh giá tình hình, tác động ảnh hƣởng tới quá trình thực hiện chính sách, các biện pháp thực hiện chính sách và từ đó làm căn cứ để lựa chọn phƣơng án chính sách phù hợp với thực tế. Muốn thực thi chính sách hiệu quả cần thiết phải hoàn thiện việc hoạch định chính sách của Nhà nƣớc. Ba là, trình độ phát triển kinh tế xã hội: Nền kinh tế có ổn định, phát triển bền vững, thu nhập bình quân đầu ngƣời và trình độ học vấn của dân cƣ có cao, xã hội ổn định thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động triển khai chính sách tạo việc làm. Đi kèm đó, việc nhận biết các điều kiện về trình độ phát triển kinh tế cùng nhiều phong tục, tập quán của đời sống dân cƣ trên địa bàn sẽ giúp hạn chế những đặc tính có thể gây cản trở cho quá trình chính sách,đồng thời phát huy tối đa những đặc tính phù hợp với quá trình thực hiện chính sách. Bốn là, năng lực của cơ quan và cán bộ thực thi chính sách. Chất lƣợng của đội ngũ cán bộ, công chức có tác động, ảnh hƣởng trực tiếp tới mọi hoạt động, sự vận hành của chính sách. Thực tế đã cho thấy, ở cơ quan, đơn vị hoặc địa phƣơng nào có đội ngũ cán bộ, công chức làm việc năng nổ, tận tụy, có trách nhiệm từ cấp trên đến cấp dƣới thì hiệu suất thực thi chính sách thƣờng đạt cao. Ngƣợc lại, nếu còn tồn tại ngƣời thiếu ý thức trách nhiệm, chỉ chăm chăm vun vén cho lợi ích của bản thân, thậm chí, lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để tƣ lợi thì sẽ trở thành lực cản kìm hãm sự phát triển lành mạnh về mọi mặt của chính sách. 1.1.3.2. Nhóm yếu tố bên ngoài Một là, thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong những năm qua, hoạt động đầu tƣ và nâng cao hiệu quả đầu tƣ đã đạt nhiều kết quả quan trọng, thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu, nâng cao trình độ khoa học công nghệ, phát triển cơ sở hạ 22 tầng, tạo việc làm và thu nhập cho ngƣời lao động, tạo ra năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế, góp phần thực hiện các mục tiêu của chính sách tạo việc làm đã đề ra. Tuy nhiên, hoạt động đầu tƣ thời gian qua hiệu quả chƣa cao, chƣa tạo đƣợc động lực cần thiết thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô; Trong đó, nguyên nhân chủ yếu là do một số rào cản xuất phát từ thể chế kinh tế, tổ chức hệ thống và quản lý kinh tế, các yếu tố đầu vào của sản xuất và tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ đã làm ảnh hƣởng đến việc nâng cao hiệu quả đầu tƣ, gây khó khăn trong việc thực thi một số nội dung của chính sách tạo việc làm. Hai là, sự đồng tình, ủng hộ của ngƣời dân. Hồ Chí Minh đã nói: “Dễ mƣời lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Các cơ quan Nhà nƣớc chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành công tác tổ chức thực thi chính sách, còn các tầng lớp nhân dân là đối tƣợng thực hiện chính sách. Nhân dân vừa là ngƣời trực tiếp tham gia thực hiện hóa mục tiêu chính sách lại vừa trực tiếp thụ hƣởng những lợi ích mang lại từ chính sách. Vì vậy, một chính sách đáp ứng đƣợc nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu và biện pháp thừa hành thì nó sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, đƣợc nhân dân ủng hộ. Ngƣợc lại, một chính sách không thiết thực với đời sống nhân dân, không phù hợp với điều kiện, trình độ hiện có của dân sẽ bị tẩy chay hoặc bỏ rơi, không đƣợc thực hiện. Ba là, sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo cấp trên. Việc thực thi chính sách đƣợc triển khai từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Việc triển khai các hoạt động của chính sách ở cấp huyện khi đƣợc sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo cấp trên về các điều kiện hỗ trợ chính sách nhƣ nhân lực và tài chính trở thành động lực thúc đẩy chính sách thành công. Đồng thời, với sự theo dõi, giám sát của nhà lãnh đạo cấp trên đối với việc triển khai sẽ kịp thời ban hành các quyết
  • 16.
    23 định hỗ trợkịp thời cho chính sách, góp phần giảm bớt các sai lầm và đẩy lùi khó khăn. Bốn là, ảnh hƣởng của việc cung cấp thông tin quản lý kịp thời. Trong quản lý, thông tin đƣợc coi là chất liệu của đầu vào, là yếu tố quyết định đến chất lƣợng sản phẩm của quản lý. Còn trong quá trình thực thi chính sách thông tin không chỉ là chất liệu mà còn là dẫn liệu trong toàn bộ quá trình đến kết quả của chính sách. Không có thông tin và thông tin không chính xác thì không thể tạo nên bất kỳ kết quả nào của chính sách. Chúng ta có thấy đƣợc vai trò quan trọng của thông tin qua nhận định của V.I.Lê-nin: “Không có thông tin thì không có thắng lợi trong bất kỳ lĩnh vực nào, cả khoa học, kĩ thuật và sản xuất”. 1.1.4. Đặc trưng của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Có thể thấy xuất phát từ nhu cầu của sự phát triển thì việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị là cần thiết và đúng đắn, nhằm phục vụ cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Tuy nhiên, đối với ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp thƣờng là ngƣời nông dân đang tiến hành canh tác trên đất bị thu hồi do vậy họ chịu những tác động không hề nhỏ đến việc làm và đời sống. Việc quan tâm đến những đặc trƣng của họ để từ đó có những hoạt động triển khai chính sách là việc cấp thiết. Vì vậy, ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp thƣờng mang những nét đặc trƣng sau: Thứ nhất, đất nông nghiệp là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, ngƣời lao động gắn bó với canh tác nông nghiệp qua nhiều thế hệ.Ở Việt Nam, xuất phát điểm của quá trình CNH-HĐH đất nƣớc là một nƣớc có nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, sản xuất lƣơng thực bảo đảm cho sự sinh tồn của dân cƣ. Vì vậy, nhiều thế hệ ngƣời nông dân cha truyền con nối, gắn bó với đất nông nghiệp một cách sâu sắc. Quy mô việc làm cho đến nay vẫn chủ 24 yếu là quy mô làm việc manh mún, theo từng hộ gia đình. Mỗi hộ gia đình chỉ giải quyết đƣợc việc làm cho ba đến bốn lao động theo mùa vụ. Phân công lao động khu vực nông nghiệp kém phát triển điều này tạo ra áp lực buộc ngƣời dân phải sống dựa vào đất nông nghiệp – con đƣờng cơ bản để duy trì sự sống. Thứ hai, phần lớn ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp chƣa đƣợc đào tạo chuyên môn. Với tƣ duy làm nông nghiệp đơn giản “con trâu đi trƣớc cái cày theo sau” nên ngƣời nông dân ít có sự học hỏi một cách bài bản đối với các hoạt động sản xuất. Lao động của nông dân vẫn mang tính chất là lao động giản đơn. Sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu gắn với tự nhiên, chịu sự tác động của tự nhiên, đất đai là yếu tố chính, giữ vai trò quyết định đến sản xuất nông nghiệp. Mặc dù có hàng ngàn năm canh tác lúa nƣớc nhƣng cho đến nay mọi công cụ lao động phục vụ cho sản xuất vẫn chỉ là các dụng cụ cầm tay thô sơ. Trong các khâu của ngành trồng trọt ngƣời nông dân vẫn tiến hành bằng các phƣơng pháp thủ công. Mặc dù có sự cơ giới hoá một số khâu nhƣ dùng máy cày, máy gặt đập liên hợp nhƣng không mang lại hiệu quả do tình trạng sản xuất manh mún còn phổ biến, đồng thời thiếu lực lƣợng thợ bảo dƣỡng, sửa chữa khi hỏng hóc và các thiết bị, chi tiết, phụ tùng thay thế để duy trì hệ thống máy. Thứ ba, thu nhập thấp khiến đời sống của ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp gặp khó khăn. Ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đa số phụ thuộc trực tiếp vào hoạt động sản xuất nông nghiệp nhƣ trồng lúa, ngô, hoa màu… Phần lớn thu nhập thƣờng bấp bênh dựa trên sản lƣợng và giá cả của nông sản trong từng mùa vụ. Giá cả nông sản không ổn định,thƣờng thì các năm đƣợc mùa nông sản thì giá lạigiảm, cùng với đó môi trƣờng sinh thái biến đổi, nhiều
  • 17.
    25 thiên tai xảyra ảnh hƣởng trực tiếp đến việc trồng trọt, chăn nuôi khiến thu nhập của ngƣời nông dân thấp, ít có sự tăng trƣởng. Thứ tƣ, trình độ hiểu biết về chính sách, pháp luật còn hạn chế. Công việc đồng áng hàng ngày, đồng thời cùng sinh hoạt trong dòng họ, làng xã làm cho cuộc sống của ngƣời nông dân yêu thƣơng, đùm bọc trong giới hạn của luỹ tre làng. Sống lâu trong lệ làng cùng tâm lý “lão nông tri điền, phép vua thua lệ làng”, trong sản xuất không có kỷ luật lao động nghiêm ngặt nên họ cũng ít hoặc thƣờng không quan tâm đến chính sách, pháp luật. Đồng thời, họ cũng ít có cơ hội tiếp xúc với sự thay đổi liên tục của các văn bản pháp luật, từ đó càng gây hạn chế hơn đối với sự hiểu biết về pháp luật. 1.2. Kinh nghiệm ở một số địa phƣơng về thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 1.2.1. Kinh nghiệm của huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng Huyện Thuỷ Nguyên ở phía Bắc thành phố Hải Phòng, là huyện có nền nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo, làm nông nghiệp tới hơn 80%. Tuy nhiên, trƣớc yêu cầu phát triểnviệc thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ các dự án công nghiệp trên địa bàn đã khiến tỉ lệ thiếu việc làm của ngƣời nông dân tăng cao. Để giảm sức ép lao động, việc làm, huyện Thuỷ Nguyên tập trung cao cho việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn, khôi phục làng nghề truyền thống và phát triển làng nghề mới…Hàng năm tạo ra lƣợng việc làm mới cho trên một nghìn lao động ở nông thôn bị thu hồi đất nông nghiệp. Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện luôn xác định tạo việc làm cho ngƣời lao động nông thôn, đặc biệt là ngƣời nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp là một chƣơng trình cấp bách, coi đó là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị. Các tổ chức chính trị - xã hội nhƣ Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, 26 Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã tích cực tuyên truyền các nội dung của chính sách tạo việc làm tới ngƣời lao động, vận động và hƣớng dẫn họ tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo việc làm. Tập trung phát triển nhiều mô hình tạo việc làm ở các lĩnh vực,cụ thể nhƣ vận động lập trang trại, thuê mặt nƣớc để nuôi trồng thuỷ sản dọc hệ thống các sông trên địa bàn huyện. Đi cùng với đó là đẩy mạnh hoạt động khuyến nông, khuyến ngƣ, tăng cƣờng chuyển giao kỹ thuật, mở các lớp huấn luyện kỹ thuật bồi dƣỡng bổ túc nghề. 1.2.2. Kinh nghiệm của huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Trên địa bàn huyện Yên Phong, Bắc Ninh tập trung khu công nghiệp Yên Phong I với diện tích 665,2 ha và cụm công nghiệp Đông Thọ với diện tích 48,76 ha, đã góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế của huyện. Song cũng đặt ra những thách thức lớn về việc làm do trong quá trình hình thành các công nghiệp dẫn đến thu hồi đất của ngƣời lao động. Để giải quyết vấn đề trên, huyện Yên Phong đã đặt ra mục tiêu trong giai đoạn 2011 - 2016 là mỗi năm tạo việc làm mới cho từ 3 nghìn lao động. Dự kiến trong 5 năm sẽ tạo việc làm cho trên 15 nghìn lao động. Thực hiện các mục tiêu trên, Yên Phong đã đƣa ra một số biện pháp cơ bản: Chủ trƣơng xây dựng kế hoạch chuyển đổi nghề nhằm tạo việc làm ngay từ sau khi duyệt quy hoạch các khu công nghiệp. UBND các cấp trực tiếp tham khảo ý kiến của các hộ nông dân bị tác động từ đó xây dựng kế hoạch dƣới sự thông qua của HĐND cùng cấp xây dựng. Việc đền bù và thu hồi đất chỉ đƣợc thực hiện khi có kế hoạch chuyển đổi nghề và tạo việc làm đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tạo việc làm thông qua chƣơng trình phát triển công nghiệp. Huyện có văn bản quy định đối với các doanh nghiệp đƣợc giao đất tại các khu công
  • 18.
    27 nghiệp trên địabàn giải toả phải có trách nhiệm tiếp nhận ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp vào làm việc tại doanh nghiệp. Đồng thời có thông báo công khai về nhu cầu tuyển dụng tại bảng thông tincủa khu công nghiệp, tạo điều kiện cho ngƣời lao động dễ dàng tiếp cận thông tin về tuyển dụng việc làm của doanh nghiệp. Huyện chủ động thành lập quỹ hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm để hỗ trợ tài chính một cách kịp thời cho ngƣời lao động học nghề. Tổng mức kinh phí hỗ trợ cho đào tạo nghề và tạo việc làm đối với nông dân bị thu hồi đất giai đoạn từ 2011-2015 đƣợc tỉnh Bắc Ninh phê duyệt cho Yên Phong là 2,4 tỷ đồng. Ngoài mức hỗ trợ nông dân chuyển đổi nghề sau khi thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, huyện còn hỗ trợ học nghề ngắn hạn cho nông dân. Mức hỗ trợ tính theo số học viên thực tế tốt nghiệp khoá học, với quy định tối đa không quá 300.000đ/ngƣời/thángvà không quá 1.500.000đ/ngƣời/khoá học. Tuy nhiên với mức hỗ trợ này đƣợc đánh giá là thấp, trên thực tế không thể nào đào tạo những nghề mà doanh nghiệp cần nhƣ nghề hàn, nghề điện, nghề sửa chữa ô tô. Với lao động dƣới 35 tuổi, đƣợc đào tạo nghề hoàn toàn mới để cung cấp cho các doanh nghiệp trên địa bàn huyện. HĐND huyện phê duyệt kế hoạch đào tạo nghề có địa chỉ, sau khi ngƣời lao động đƣợc tiếp nhận, học nghề. Kết thúc khoá học học viên có năng lực sẽ đƣợc trực tiếp các doanh nghiệp tiếp nhận theo đơn đặt hàng với UBND huyện. Mô hình kết hợp giữa UBND huyện, ngƣời lao động, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo với việc xác định nhu cầu tuyển dụng, yêu cầu về nghề nghiệp trên cơ sở cam kết tuyển dụng của doanh nghiệp đã tạo ra chính sách đào tạo nghề hiệu quả, đảm bảo ngƣời lao động có khả năng làm việc đồng thời đúng thời gian, nhu cầu tuyển dụng. Trƣớc tác động của chính sách hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tạo việc làm trên địa bàn huyện Yên Phong tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 37% năm 2010 lên 45% năm 2014. 28 1.2.3. Kinh nghiệm của huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội Trên cơ sở các văn bản quy định về tạo việc làm của Chính phủ và thành phố Hà Nội, huyện Hoài Đức đã tổ chức thực hiện khá thành công một số nội dung tạo việc làm cho đối tƣợng ngƣời lao động vùng thu hồi đất nông nghiệp. UBND huyện thành lập Ban điều hành Đề án Hỗ trợ ngƣời lao động bị thu hồi đất học nghề và tạo việc làm để triển khai các nội dung chính sách. Huyện phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hộihỗ trợ cho ngƣời lao động thuộc diện bị thu hồi đất vay vốn để sản xuất kinh doanh, tự tạo việc làm. Đồng thời, sau khi vay vốn ngƣời lao động đƣợc hỗ trợ không mất lãi suất trong 5 năm đầu tiên để yên tâm sản xuất, kinh doanh. Ban điều hành Đề án tiến hành thu thập và xử lý thông tin về việc làm và phối hợp với Phòng Chính sách lao động việc làm của Sở Lao động – Thƣơng binh và Xã hội Thành phố Hà Nội tổ chức các phiên giao dịch việc làm. Đặc biệt thành lập đƣợc các điểm tƣ vấn nghề và việc làm cho ngƣời lao động ngay tại cơ sở. Từ năm 2010 đến nay, huyện Hoài Đức thƣờng niên tổ chức các phiên giao dịch việc làm tại Nhà văn hoáhuyện. Các phiên giao dịch đã thu hút hàng trăm doanh nghiệp đóng trên địa bàn với hàng nghìn lƣợt ngƣời lao động có nhu cầu tìm kiếm việc làm. Trong phiên giao dịch đầu tiên đạt kết quả phỏng vấn 1.745 lƣợt, tuyển dụng trực tiếp đƣợc 683 lao động và 453 lao động đƣợc hẹn phỏng vấn lần hai. 1.2.4. Những bài học kinh nghiệm thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đối với huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tế về thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể rút ra đƣợc một số bài học về tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất ở huyện Đông Anh nhƣ sau: Thứ nhất, cần hệ thống chính sách một cách đồng bộ về tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. Từ đó, các địa phƣơng có sự
  • 19.
    29 triển khai phùhợp với điều kiện tại địa bàn, nhằm phát huy hiệu quả các giải pháp chính sách, tạo đƣợc việc làm, ổn định cuộc sống cho ngƣời lao động sau thu hồi đất nông nghiệp. Thứ hai, trong hệ thống chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp thì chính sách đào tạo nghề có vai trò quan trọng. Chính sách này chính là cầu nối tạo cơ hội cho ngƣời lao động chuyển sang làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp với thu nhập cao hơn. Hơn nữa, thông qua việc hỗ trợ đã giúp cho ngƣời nông dân đƣợc học nghề, góp phần nâng cao đƣợc tay nghề và cải thiện tác phong lao động. Ngoài ra, họ có cơ hội đƣợc tiếp cận các phƣơng tiện khoa học công nghệ hiện đại, giúp giảm bớt sức lao động nhƣng lại nâng cao năng suất công việc. Thứ ba, khi thực hiện chính sách tạo làm tiến hành thực hiện đồng bộ các chính sách khác cùng với chính sách đào tạo nghề nhƣ chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chính sách hỗ trợ tài chính, vay vốn phát triển làng nghề truyền thống và chính sách xuất khẩu lao động. Từ đó đa dạng hoá các hình thức tạo việc làm, phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện, đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi giúp tạo việc làm tại chỗ trên địa bàn. Đồng thời trên cơ sở phát huy nội lực trong nƣớc, mở rộng hợp tác quốc tế để kí kết các hợp đồng xuất khẩu lao động, mở ra cơ hội cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đƣợc làm việc ở các thị trƣờng lao động nƣớc ngoài nhƣ Nhật Bản, Hàn Quốc, Maylaysia. Thứ tƣ, chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động là chính sách đầu tƣ cho phát triển con ngƣời cả trong ngắn hạn và tƣơng lai. Đặc biệt tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp càng có vai trò quan trọng, không những giúp ổn định cuộc sống về vật chất mà còn giúp họ ổn định tâm lýsau khi họ không còn tƣ liệu sản xuất đặc biệt,vì vậy chính sách việc làm tại khu vực nông thôn cần đƣợc xây dựng phù hợp với chiến lƣợc; đón đầu các 30 ngành nghề sẽ đƣợc phát triển tại địa phƣơng, có nhƣ vậy ngƣời lao động mới thực sự có việc làm và yên tâm lao động phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Thứ năm, trách nhiệm thực hiện chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất không chỉ của các cơ quan quản lý nhà nƣớc vì vậy việc xã hội hoá, thu hút sự tham gia của các chủ thể khác nhƣ các doanh nghiệp, nhà đầu tƣ, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và ngƣời lao động là hoàn toàn cần thiết. Cụ thể, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đối với việc tuyên truyền, vận động ngƣời lao động bị mất đất nông nghiệp tích cực tham gia thực thi chính sách đóng vai trò quan trọng với sự thành công của chính sách. Ở mỗi địa phƣơng với các điều kiện riêng về tự nhiên, kinh tế, xã hội thì các giải pháp về tạo việc làm lại mang đặc trƣng riêng, phù hợp với tiềm năng và phát huy các lợi thế. Tuy nhiên, trong xu thế phát triển chung hiện nay, huyện Đông Anh cần tham khảo, vận dụng linh hoạt những bài học kinhnghiệm đƣợc rút ra ở các địa phƣơng để có thể vận dụng, nhằm tạo ra nhiều việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn.
  • 20.
    31 Chƣơng 2 THỰC TRẠNGTHỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1. Khái quát về tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đông Anh 2.1.1. Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý Đông Anh là huyện ngoại thành nằm ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội với diện tích tự nhiên 18.213,9ha (182,14km2 ). Đông Anh có ranh giới tự nhiên với các quận/huyện khác của Hà Nội chủ yếu là các con sông, đó là sông Hồng, sông Đuống ở phía Nam huyện, là ranh giới giữa Đông Anh với khu vực nội thành và sông Cà Lồ ở phía Bắc huyện, là ranh giới giữa 32 Đông Anh với huyện Sóc Sơn. Cụ thể địa giới hành chính của huyện Đông Anh đƣợc xác định nhƣ sau: + Phía Bắc giáp huyện Sóc Sơn, Hà Nội. + Phía Nam giáp quận Từ Liêm Bắc, quận Tây Hồ và quận Long Biên, Hà Nội. + Phía Đông Bắc giáp huyện Yên Phong và thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; phía Đông Nam giáp huyện Gia Lâm, Hà Nội. + Phía Tây giáp huyện Mê Linh, Hà Nội. Đông Anh có diện tích thuộc loại lớn trong các huyện ngoại thành Hà Nội, đứng thứ bảy, sau huyện Ba Vì, Sóc Sơn, Chƣơng Mỹ, Mỹ Đức, Thạch Thất, Ứng Hòa. Với diện tích tự nhiên khá rộng, lại nằm hoàn toàn ở khu vực phía Bắc sông Hồng và tiếp giáp với nội thành nên Đông Anh có vị trí và vai trò chiến lƣợc trong định hƣớng phát triển đô thị của Thủ đô Hà Nội những năm tới. 2.1.1.2 . Điều kiện tự nhiên a, Đặc điểm địa hình Địa hình của Đông Anh tƣơng đối bằng phẳng, độ dốc thoải dần theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam. Các xã có địa hình cao (đất vàn và vàn cao) nằm ở phía Tây Bắc của huyện (giáp với huyện Sóc Sơn và huyện Mê Linh) nhƣ Bắc Hồng, Nam Hồng, Nguyên Khê, Xuân Nộn. Cốt đất cao nhất huyện là +14m, tại khu vực xã Nguyên Khê và một phần xã Xuân Nộn. Tỷ lệ diện tích đất cao chiếm 13,4%, tỷ lệ diện tích đất vàn chiếm 56,2% tổng diện tích toàn huyện. Các xã có địa hình tƣơng đối thấp (trũng) nằm ở phía Đông Nam của huyện (giáp với huyện Gia Lâm và tỉnh Bắc Ninh)nhƣ Mai Lâm, Cổ Loa, Dục Tú, Liên Hà, Vân Hà. Cốt đất thấp nhất huyện là +3,5m, tại khu vực lòng
  • 21.
    33 sông Thiếp vàmột số xã kể trên. Tỷ lệ diện tích đất trũng chiếm 30,4% diện tích toàn huyện. Trên địa bàn huyện, địa hình đất cao thấp chênh lệch nhau khá lớn, nên hình thành một câu cổ ngữ lạ nói lên tác động trực tiếp của đặc điểm địa hình “Quậy ủ Chủ tƣơi/Quậy cƣời Chủ khóc”. Có nghĩa là: Gặp lúc lụt lội, vùng trũng (Quậy) khổ, thì vùng cao (Chủ) đỡ hơn. Nhƣng khi khô hạn thì vùng cao (Chủ) khổ, còn vùng trũng (Quậy) lại mát mặt. Đặc điểm địa hình trên là yếu tố quan trọng để định hình sự phát triển nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và quy hoạch các vùng chuyên canh sản xuất: vùng đất cao nên tập trung trồng cây ăn quả, vùng đất vàn trồng rau, hoa; vùng trũng trồng lúa hoặc cải tạo để nuôi trồng thủy sản. Địa hình của huyện Đông Anh tƣơng đối bằng phẳng nhƣng cũng khá đa dạng, rất phù hợp đối với việc phát triển toàn diện kinh tế - xã hội huyện trong những năm tới. Toàn địa bàn huyện phù hợp với việc phát triển thảm xanh thiên nhiên, xây dựng các công trình hạ tầng dân dụng, công nghiệp, đô thị. Đối với từng khu vực thì khu vực phía Đông và Đông Nam của huyện có thể phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái; khu vực Tây Nam và Đông Bắc của huyện có thể phát triển các khu công nghiệp tập trung quy mô lớn; khu vực phía Tây, Tây Bắc và trung tâm huyện có thể phát triển đô thị với tỷ lệ diện tích đất xanh lớn, cùng với vùng nông nghiệp của huyện tạo nên vành đai xanh cho khu vực nội thành Hà Nội hiện nay, hƣớng đến sự phát triển đô thị bền vững và hài hòa với môi trƣờng thiên nhiên. b, Đặc điểm khí hậu, thời tiết Đông Anh - Hà Nội nằm ở vùng đồng bằng Sông Hồng, có chung chế độ khí hậu của miền Bắc nƣớc ta, đó là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Khoảng từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm là mùa nóng, nhiều mƣa, khí hậu ẩm ƣớt. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa lạnh, có thời kỳ đầu thời tiết khô 34 lạnh và thời kỳ sau lạnh nhƣng độ ẩm cao do mƣa phùn. Giữa hai mùa có tính chất tƣơng phản trên là các giai đoạn chuyển tiếp, tạo nên khí hậu bốn mùa phong phú: xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ trung bình hàng năm của Đông Anh khoảng 250 C, nhiệt độ tuyệt đối cao khoảng 400 C, nhiệt độ tuyệt đối thấp là 2,70 C. Hai tháng nóng nhất trong năm là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất khoảng 300 C. Hai tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ trung bình của tháng thấp nhất khoảng 180 C. Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm nên số ngày mƣa trong năm tƣơng đối lớn, khoảng 145 ngày/năm; lƣợng mƣa trung bình hàng năm khoảng 1.300-1.600mm. Từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm tập trung tới 85% lƣợng mƣa của cả năm (thời gian này còn gọi là mùa mƣa). Thƣờng tháng 7, tháng 8 hàng năm có lƣợng mƣa lớn nhất, trung bình tháng khoảng 250- 350mm. Cũng trong khoảng tháng 5 đến tháng 8 hàng năm có thể có bão từ phía Đông (xuất phát ngoài biển) đổ vào với tốc độ khoảng 30-34m/s, áp lực lớn nhất 120kg/m2 . Những tháng đầu mùa lạnh (tháng 11-12) là thời tiết khô, hầu nhƣ không có mƣa. Những tháng cuối mùa lạnh (tháng 1-3) có nhiều mƣa phùn, khí hậu ẩm ƣớt.Với khí hậu trên, độ ẩm trung bình của Đông Anh là 84%, mức độ dao động về độ ẩm của các tháng trong năm nằm trong khoảng 80- 87%. Nhìn chung, thời tiết của Đông Anh thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhất là các loại cây lƣơng thực, rau, cây ăn quả, hoa. Song, điều kiện thời tiết cũng gây trở ngại nhất định cho cây trồng, nhƣ các đợt giông bão mùa hè và gió mùa Đông Bắc mùa đông hay tính hai mặt của mƣa phùn mùa xuân, vừa thích hợp cho sự phát triển của cây trồng, nhƣng đồng thời cũng là điều kiện cho sâu bọ, nấm mốc phát triển.Bão lụt, mƣa phùn, gió mùa
  • 22.
    35 Đông Bắc cũnglà những điều kiện thời tiết gây nhiều khó khăn cho sinh hoạt và đời sống của nhân dân. c, Các nguồn tài nguyên  Tài nguyên đất Tài nguyên lớn nhất của huyện Đông Anh hiện nay là đất đai với quỹ đất có thể sử dụng để phát triển công nghiệp và đô thị hiện còn rất lớn. Đông Anh là huyện ngoại thành có diện tích thuộc loại lớn của Thủ đô Hà Nội. Hơn nữa, toàn bộ diện tích Đông Anh là đất đồng bằng và bán sơn địa, rất phù hợp để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị. Quỹ đất có thể sử dụng để phát triển công nghiệp và đô thị của Đông Anh hiện nay vào loại lớn nhất trong các huyện ngoại thành Hà Nội. Hiện tại, khoảng 52% diện tích đất của huyện Đông Anh là đất nông nghiệp, chủ yếu là đất trồng lúa và cây hàng năm khác nhƣ ngô, sắn, lạc, đậu (chiếm 48% tổng diện tích đất của huyện). Diện tích đất nông nghiệp dành cho trồng cây lâu năm chỉ chiếm 1% và đất cho nuôi trồng thủy sản chỉ chiếm khoảng 3% tổng diện tích đất của huyện. Đất phi nông nghiệp chiếm khoảng 46% tổng diện tích đất của huyện, trong đó chủ yếu là đất ở (11,7%) và đất chuyên dùng (21,8%). Đất chƣa sử dụng trên địa bàn huyện hiện còn 354,4 ha, chiếm gần 2% diện tích của huyện.  Tài nguyên nước - Nước mặt: nƣớc mặt đƣợc tạo nên do mƣa và đƣợc tích trữ tại các sông, hồ trên địa bàn. Lƣợng mƣa trung bình cả năm khoảng 1.600-1.800mm, trong đó 85% tập trung vào mùa mƣa từ khoảng tháng 5 đến tháng 10. Mƣa phùn về cuối đông và trong mùa xuân ít có ý nghĩa về cung cấp nƣớc nhƣng có ý nghĩa làm tăng độ ẩm của đất và không khí. Mực nƣớc cao nhất ở mùa mƣa lên cốt +11 trong vòng 3 ngày, tuy nhiên do khả năng thoát nƣớc tự nhiên khá tốt nên ít 36 xảy ra úng ngập trên toàn địa bàn huyện, chỉ có hiện tƣợng úng ngập cục bộ một số điểm tại các xã vùng trũng phía Đông Nam. Mƣa tạo nên nguồn nƣớc mặt tích tụ tại các sông, hồ, đầm trên địa bàn huyện, gồm: + Sông Hồng chạy theo ranh giới giữa Đông Anh với huyện Từ Liêm và quận Tây Hồ, đoạn chảy qua Đông Anh dài 15km. Sông Hồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với Hà Nội nói chung và Đông Anh nói riêng. + Sông Đuống bắt nhánh với sông Hồng, chạy theo ranh giới giữa Đông Anh với huyện Gia Lâm, đoạn chạy qua Đông Anh dài 8,5km từ xã Xuân Canh đến xã Mai Lâm. Sông Hồng và sông Đuống là hai con sông cung cấp nƣớc cho sản xuất nông nghiệp của huyện, đồng thời tạo thành dải đất phù sa bãi sông đƣợc bồi đắp hàng năm khá lớn phục vụ sản xuất nông nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên, đây là hai con sông có chế độ thủy văn khá phức tạp, vào mùa mƣa mực nƣớc sông rất thất thƣờng, dễ gây lụt lội ảnh hƣởng đến mùa màng; gây xói lở ảnh hƣởng đến đời sống của ngƣời dân ở khu vực bãi sông. Vì thế, bên cạnh việc khai thác các điều kiện thuận lợi do các con sông này đem lại cũng phải chú ý củng cố đê điều, khắc phục tác động bất lợi của chúng. + Sông Cà Lồ chạy theo ranh giới giữa Đông Anh với huyện Sóc Sơn, đoạn chảy qua Đông Anh dài 9km, có lƣu lƣợng nƣớc lớn và khá ổn định. Đây không phải là con sông cung cấp lƣợng phù sa lớn, nhƣng là nguồn cung cấp nƣớc tƣới chủ yếu cho một số xã phía Bắc huyện Đông Anh. + Sông Thiếp là sông nội huyện, bắt nguồn từ xã Tiền Phong (huyện Mê Linh) chảy qua địa phận 10 xã của huyện Đông Anh và đổ ra sông Ngũ Huyện Khê. + Đầm Vân Trì: là một đầm lớn, diện tích 130ha, mực nƣớc trung bình 6m, cao nhất 8,5m và thấp nhất 5m, đƣợc nối thông với sông Thiếp. Ngoài hệ
  • 23.
    37 thống sông, đầmVân Trì có vai trò quan trọng trong việc điều hòa nguồn nƣớc mặt trên địa bàn huyện Đông Anh. - Nước ngầm: Nƣớc ngầm trên địa bàn huyện Đông Anh bắt đầu từ độ sâu 20m; tuy nhiên nguồn nƣớc ngầm có trữ lƣợng lớn ở độ sâu 94 m. Nƣớc ngầm có hàm lƣợng sắt từ 7 đến 11mg/lít. Nƣớc ngầm có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp nƣớc cho sản xuất, đặc biệt cho đời sống của ngƣời dân. Nƣớc ngầm ở Đông Anh có chất lƣợng tốt, trữ lƣợng cao, đồng thời luôn đƣợc bổ sung, cung cấp từ nguồn nƣớc giàu có của sông Hồng. Có thể nói, nƣớc ngầm là một trong những tài nguyên thiên nhiên quý giá và quan trọng của huyện Đông Anh phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống sinh hoạt của ngƣời dân trên địa bàn huyện trong tƣơng lai.  Tài nguyên du lịch, nhân văn Đông Anh là một trong những chiếc nôi của văn hiến Thăng Long - Hà Nội, rất giàu truyền thống và bản sắc văn hóa. Đông Anh có tài nguyên du lịch phong phú, độc đáo, giá trị, gồm các danh thắng; di tích lịch sử; các lễ hội truyền thống; các loại hình nghệ thuật dân gian… Cổ Loa là di tích lịch sử nổi tiếng nằm trên địa phận huyện Ðông Anh, cách trung tâm Hà Nội khoảng 17 km về phía Tây Bắc, là một vùng thành trì lớn, một dấu tích vật chất về kiến trúc quân sự và thành cổ cách đây hơn hai thiên niên kỷ. Cổ Loa là thủ đô thứ hai của Việt Nam, sau Phong Châu (là thủ đô thời các vua Hùng, thuộc tỉnh Phú Thọ). Ngoài Cổ Loa, trên địa bàn Đông Anh còn có nhiều di tích lịch sử, văn hoá nổi tiếng khác nhƣ Đền Sái, địa đạo Nam Hồng... Đông Anh cũng có những khu vực có cảnh quan thuận lợi để phát triển du lịch, nhƣ đầm Vân Trì, cảnh vật ven sông Cà Lồ... Trên địa bàn huyện Đông Anh hàng năm có rất nhiều lễ hội truyền thống, trong đó có những lễ hội lớn, có tiềm năng khai thác du lịch nhƣ: Hội 38 đền An Dƣơng Vƣơng (hay còn gọi là Hội Cổ Loa); Hội rƣớc vua giả Đền Sái (xã Thuỵ Lâm); Hội làng Dục Tú (xã Dục Tú); Hội làng Xuân Nộn (xã Xuân Nộn); Hội bà Máy hay còn gọi là lễ hội Giỗ (xã Liên Hà); Hội làng Cổ Dƣơng (xã Tiên Dƣơng); Hội làng Quan Âm (xã Bắc Hồng); Hội làng Đƣờng Yên (xã Xuân Nộn); Hội làng Sơn Du; Hội làng Xuân Trạch (xã Xuân Canh); Hội làng Quậy; Hội làng Phúc Hậu (xã Dục Tú); Hội làng Thụy Hà (xã Bắc Hồng). Đông Anh cũng có nhiều làng nghề nổi tiếng, trong đó có các nghề đặc sắc nhƣ chạm khảm trang trí đồ gỗ Vân Hà, bún Mạch Tràng...Tới Đông Anh, du khách có thể tham quan các làng nghề truyền thống và thƣởng thức các món ăn tiêu biểu, riêng có của mảnh đất lịch sử này. 2.1.2. Về điều kiện kinh tế Giá trị sản xuất các ngành kinh tế không tính liên doanh trên địa bàn năm 2015 tăng 1,48 lần so với năm 2011, tốc độ tăng trƣởng bình quân đạt 8,3%. Giá trị gia tăng các ngành kinh tế thuộc Huyện quản lý tăng 1,45 lần so với năm 2011, tốc độ tăng trƣởng bình quân 7,8%. Thu nhập đầu ngƣời khu vực nông thôn năm 2015 ƣớc đạt 32 triệu đồng/ngƣời/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hƣớng tăng tỷ trọng ngành Thƣơng mại dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành Công nghiệp - Xây dựng, Nông nghiệp. Ngành Thƣơng mại - Dịch vụ chiếm 14,46%, tăng 3,63%; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 81,58% giảm 2,42%; Nông - Lâm - Thủy sản chiếm 3,96%, giảm 1,19%, trong đó: - Thƣơng mại, dịch vụ phát triển và tăng trƣởng khá, cơ bản đáp ứng đƣợc nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Tốc độ tăng trƣởng bình quân đạt 11,5%. Hệthống chợ, trung tâm thƣơng mại đã đƣợc quy hoạch; tập trung chỉ đạo thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý kinh doanh khai thác chợ theo
  • 24.
    39 phƣơng thức xãhội hóa, đã chuyển đổi đƣợc 17 chợ đƣa vào hoạt động có hiệu quả. Hoạt động dịch vụ vận tải, bƣu chính viễn thông, tín dụng ngân hàng... phát triển mạnh. Công tác quản lý thị trƣờng đƣợc tăng cƣờng, ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hoạt động sản xuất và kinh doanh trái pháp luật. - Ngành Công nghiệp-Xây dựng: Chịu nhiều tác động của suy giảm kinh tế và khủng hoảng tài chính, song ngành Công nghiệp - Xây dựng trên địa bàn huyện vẫn có mức tăng trƣởng khá, tốc độ tăng trƣởng bình quân giai đoạn 2010–2015,trong 5 năm đạt 8,3%. Nhiều giải pháp hỗ trợ sản xuất, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trƣờng, giải quyết nợ xấu đã phát huy hiệu quả. Đặc biệt giá trị sản xuất khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tăng khá, gấp 1,5 lần so với năm 2010. Các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, làng nghề hoạt động có hiệu quả, sản phẩm đƣợc tiêu thụ mạnh trên thị trƣờng. - Ngành Nông nghiệp: Mặc dù giảm về tỷ trọng nhƣng đƣợc phát triển theo hƣớng nâng cao chất lƣợng, sản xuất hàng hóa, phát triển nông nghiệp sạch, sinh thái và đô thị có giá trị kinh tế cao. Các chƣơng trình hỗ trợ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển sản xuất thực hiện có hiệu quả nhƣ: giống, thuốc bảo vệ thực vật, đầu tƣ hạ tầng, đẩy mạnh cơ giới hóa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo quy hoạch, phát triển, mở rộng các vùng sản xuất chuyên canh; mô hình kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung, quy mô lớn, đa dạng các loại vật nuôi không ngừng tăng lên(có 3 mô hình chăn nuôi, 03 mô hình rau, củ, quả đạt tiêu chuẩn VietGap, đƣợc Thành phố đánh giá là một trong những huyện đứng đầu công tác phát triển chăn nuôi. Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 45,48% năm 2010 xuống còn 40,64% năm 2015; ngành chăn nuôi tăng từ 54, 52% năm 2010 lên 59,36% năm 2015. Tổng thu ngân sách Nhà nƣớc huyện trung bình hàng năm đạt 1.789 tỷ đồng; tổng chi ngân sách huyện trung bình mỗi năm đạt 1.730 tỷ đồng. 40 Thu tiền sử dụng đất và đấu giá quyền sử dụng đất đất trung bình hàng năm đạt 371,6 tỷ đồng. 2.1.3. Về dân số - lao động a. Dân số: Tổng số dân trên địa bàn huyện Đông Anh đến cuối năm 2015 khoảng 35,05 vạn ngƣời, chiếm khoảng 5,2% dân số Thủ đô Hà Nội. Mật độ dân số năm 2015 là 1,924 ngƣời/1.000m2 (1.924 ngƣời/km2). Đông Anh là huyện có dân số lớn thứ nhất trong các huyện ngoại thành và có số dân đứng thứ hai trong các quận/huyện của Hà Nội (sau quận Đống Đa). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện Đông Anh giai đoạn 2011-2015 (khoảng 1,4-1,5%/năm) cao hơn so với giai đoạn 2006 -2010 trƣớc đó (khoảng 1,2-1,3%/năm). Đông Anh hiện có khoảng 65.000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có chồng (từ 18-49 tuổi). Trung bình có 6.000 trẻ em đƣợc sinh ra mỗi năm trong giai đoạn 2011-2015. Số trẻ em từ 16 tuổi trở xuống (những ngƣời sống phụ thuộc) của huyện Đông Anh chiếm khoảng 30% dân số toàn huyện. Có thể nói, quy mô dân số lớn là một nguồn lực đáng kể trong quá trình phát triển của huyện Đông Anh. Nhƣng trong những năm gần đây, tỷ lệ sinh và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có chiều hƣớng tăng, tỷ lệ sinh con thứ ba khá cao. Nếu tỷ lệ tăng dân số tự nhiên không đƣợc kiểm soát thì sẽ lại gây trở ngại lớn cho quá trình phát triển của huyện. Vì thế, việc kiểm soát tốc độ tăng dân số tự nhiên cần là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. b. Lao động: - Về số lượng: Tổng số nguồn lao động của huyện Đông Anh chiếm gần 60% số dân. Tuy nhiên, tỷ lệ này có xu hƣớng giảm nhẹ. Điều này đƣợc lý giải bởi mức tăng dân số tự nhiên cao những năm gần đây khiến số trẻ em và những ngƣời
  • 25.
    41 chƣa đến tuổilao động tăng tỷ trọng trong tổng dân số. Nguồn lao động đông đảo chính là nguồn lực quan trọng bậc nhất để thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh những năm tới đây. Tỷ lệ lao động hoạt động kinh tế luôn chiếm khoảng 98% trong tổng số nguồn lao động trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn 2011-2015. Về cơ bản, Đông Anh đã huy động tốt đội ngũ lao động vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn thời gian qua. Bảng 2.1.3: Tình hình nguồn lao động trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn 2011-2015 (Đơn vị: người) Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014 2015 Tổng số nguồn lao động 171.389 183.652 191.700 198.623 200.100 Tỷ lệ nguồn l/động/ số dân 57,70% 59,02% 58,90% 58,82% 58,24% Phân bổ lao động theo các khu vực Lao động nông nghiệp 111.286 114.613 116.300 117.628 118.000 Tỷ lệ LĐNN/Tổng số NLĐ 64,9% 62,4% 60,7% 59,2% 59,0% Lao động công nghiệp 52.340 53.600 55.453 57.345 58.100 42 Tỷ lệ LĐCN/Tổng số NLĐ 30,5% 29,2% 28,9% 28,9% 29,0% Lao động dịch vụ 7.763 15.439 19.947 23.560 24.000 Tỷ lệ LĐDV/Tổng số NLĐ 4,6% 8,4% 10,4% 11,9% 12,0% Nguồn: Phòng Lao động Thương binh Xã hội Huyện Đông Anh Bên cạnh số lƣợng, cơ cấu và chất lƣợng nguồn nhân lực của huyện Đông Anh đang đƣợc cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây. - Về cơ cấu: Cơ cấu nguồn lao động huyện Đông Anh có sự chuyển dịch tích cực trong giai đoạn 2011-2015. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động giảm mạnh, tỷ lệ lao động công nghiệp đƣợc duy trì và tỷ lệ lao động dịch vụ tăng nhanh, biểu hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi liền với quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện. Cụ thể: + Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ gần 65% năm 2011 xuống 59% năm 2015. + Tỷ lệ lao động công nghiệp duy trì ở mức 29-30%. + Tỷ lệ lao động dịch vụ tăng từ 4,6% năm 2011 lên 12% năm 2015. Tuy nhiên, để đảm bảo một sự phát triển bền vững thì việc giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp cần phải là một quá trình chủ động với phƣơng án và các giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp rõ ràng, có tính khả thi chứ không chỉ đơn thuần là sự giảm số lao động nông nghiệp do bị thu hồi đất sản xuất trong quá trình đô thị hóa. - Về chất lượng: Chất lƣợng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định vị trí, vai trò của nguồn lực này đối với sự phát triển. Việc khẳng định nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Đông
  • 26.
    43 Anh tới đâycó cơ sở ở chỗ chất lƣợng nguồn nhân lực của huyện đang ngày càng đƣợc nâng cao. Số lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật đang giảm dần trong khi số lao động là công nhân kỹ thuật và lao động trung học chuyên nghiệp tăng lên. Lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên - hầu hết là lao động quản lý trong các doanh nghiệp và cán bộ trong các cơ quan, tổ chức trên địa bàn - cũng tăng nhanh. Điều này cũng phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Đồng thời, sự gia tăng số lao động có trình độ chuyên môn cũng là điều kiện thúc đẩy sự phát triển các khu, cụm công nghiệp và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện Đông Anh hiện còn thấp, chƣa tới 50%. Nhìn chung, chất lƣợng nguồn nhân lực chƣa theo kịp để đáp ứng tốt yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển toàn diện, bền vững kinh tế - xã hội huyện Đông Anh. Trong quá trình đô thị hoá, mỗi năm có hàng nghìn lao động từ khu vực nông nghiệp chƣa đƣợc đào tạo, nâng cao chất lƣợng kịp thời để chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Điều này tiềm ẩn những vấn đề về đời sống và việc làm cần đƣợc quan tâm giải quyết. 2.2. Khái quát về tình hình thu hồi đất nông nghiệp của huyện Đông Anh từ năm 2010 đến nay 2.2.1. Quỹ đất huyện Đông Anh Đông Anh là huyện ngoại thành có diện tích thuộc loại lớn của Thủ đô Hà Nội. Hơn nữa, toàn bộ diện tích Đông Anh là đất đồng bằng và bán sơn địa, rất phù hợp để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị. Quỹ đất có thể sử dụng để phát triển công nghiệp và đô thị của Đông Anh hiện nay vào loại lớn nhất trong các huyện ngoại thành Hà Nội. 44 Hiện tại, khoảng 52% diện tích đất của huyện Đông Anh là đất nông nghiệp, chủ yếu là đất trồng lúa và cây hàng năm khác nhƣ ngô, sắn, lạc, đậu (chiếm 48% tổng diện tích đất của huyện). Diện tích đất nông nghiệp dành cho trồng cây lâu năm chỉ chiếm 1% và đất cho nuôi trồng thủy sản chỉ chiếm khoảng 3% tổng diện tích đất của huyện. Đất phi nông nghiệp chiếm khoảng 46% tổng diện tích đất của huyện, trong đó chủ yếu là đất ở (11,7%) và đất chuyên dùng (21,8%). Đất chƣa sử dụng trên địa bàn huyện hiện còn 354,4 ha, chiếm gần 2% diện tích của huyện. Bảng 2.2.1: Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 của huyện Đông Anh TT Mục đích sử dụng đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) 1 Đất nông nghiệp 9.485,30 52,08 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 8.932,04 49,04 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 8.740,42 47,99 1.1.1.1 Đất trồng lúa 7.822,98 42,95 1.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi - - 1.1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 917,44 5,04 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 191,62 1,05 1.2 Đất lâm nghiệp - - 1.3. Đất nuôi trồng thủy sản 553,26 3,04 2 Đất phi nông nghiệp 8.374,20 45,98 2.1 Đất ở 2.131,81 11,70 2.1.1 Đất ở tại nông thôn 2.027,47 11,13 2.1.2 Đất ở tại đô thị 104,34 0,57 2.2 Đất chuyên dùng 3.966,21 21,79 2.2.1 Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 246,46 1,35 2.2.2 Đất quốc phòng, an ninh 94,53 0,52
  • 27.
    45 2.2.3 Đất sảnxuất, kinh doanh phi nông nghiệp 898,96 4,95 2.2.4 Đất có mục đích công cộng 2.726,26 14,97 2.3 Đất tôn giáo, tín ngƣỡng 11,24 0,06 2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 171,77 0,94 2.5 Đất sông suối và mặt nƣớc chuyên dùng 2.049,03 11,25 2.6 Đất phi nông nghiệp khác 44,14 0,24 3 Đất chưa sử dụng 354,40 1,94 Tổng diện tích các loại đất 18.213,90 100 Nguồn: UBND Huyện Đông Anh Nhƣ vậy, có thể thấy tiềm năng quỹ đất của huyện còn khá lớn,đây là tiềm năng lớn nhất của huyện để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn đến năm 2020. Trong quá trình phát triển theo hƣớng đô thị hóa tới đây, với diện tích đất chƣa sử dụng còn lại và gần 9.000 ha đất nông nghiệp mà phần lớn có thể chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp, Đông Anh có thuận lợi lớn. Vấn đề đặt ra là phải quy hoạch và sử dụng thật hữu hiệu nguồn lực quan trọng này phục vụ cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của huyện. 2.2.2. Thực trạng việc triển khai các dự án thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ phát triển kinh tế, văn hoá Trong những năm gần đây, trên địa bàn huyện Đông Anh đã triển khai nhiều dự án phát triển kinh tế, đô thị. Tổng diện tích đất đã hoàn thành là 400 ha, trong đó nổi bật là các dự án: Đƣờng cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, đƣờng Võ Văn Kiệt, Cầu Đông Trù, cầu Nhật Tân và tuyến đƣờng Võ Nguyên Giáp, bệnh viện nhiệt đới và nhiều dự án khác. Cụ thể: 46 Bảng 2.2.2. Danh sách các dự án thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn từ năm 2010 đến 2016. STT TÊN DỰ ÁN ĐỊA ĐIỂM SỐ ĐẤT THU HỒI NĂM 1. Cầu Nhật Tân và tuyến đƣờng dẫn Vĩnh Ngọc, Tiên Dƣơng, Vân Nội 91,86 ha 2010 2 Đƣờng nối cầu Nhật Tân tới ga T2 sân bay Nội Bài Vân Nội, Tiên Dƣơng, Bắc Hồng, Nguyên Khê 48,89 ha 2010 3 Quốc lộ 3 mới Dục Tú, Liên Hà, Vân Hà, Thụy Lâm 52,64 ha 2010 4 Đƣờng 5 kéo dài Đông Hội, Xuân Canh, Tàm Xá, Vĩnh Ngọc, Kim Nỗ, Kim Chung 82,45 ha 2010 5 Bệnh viện Nhiệt Đới Kim Chung 12 ha 2013 6 Công viên Kim Quy Vĩnh Ngọc 100 ha 2016 7 Trung tâm Triển lãm Quốc Gia Đông Hội, Xuân Canh 90 ha 2016 Nguồn: Ban Quản lý dự án huyện Đông Anh
  • 28.
    47 2.3. Phân tíchthực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Quá trình triển khai chính sách tạo việc làm đƣợc thực hiện thông qua nhiều chính sách khác nhau. Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 18 tháng 6 năm 2012 quy định các chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho ngƣời lao động gồm: đào tạo nghề tín dụng ƣu đãi tạo việc làm; hỗ trợ chuyển dịch việc làm cho lao động nông thôn; hỗ trợ đƣa lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng. Căn cứ vào chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố Hà Nội, UBND huyện Đông Anh đã quy định rõ trách nhiệm của các ban ngành, đoàn thể trong việc triển khai, thực hiện chính sách. Hàng năm, UBND huyện xây dựng chƣơng trình và dự trù nguồn kinh phí tạo việc làm của địa phƣơng trình HĐND quyết định và thực hiện Quyết định đó. UBND huyện định hƣớng, hỗ trợ, đôn đốc và kiểm tra chƣơng trình thực thi chính sách tạo việc làm ở các 23 xã và 01 thị trấn. Các cơ quan Nhà nƣớc, các doanh nghiệp, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia thực hiện chính sách. Trong đó, Phòng Lao động – Thƣơng binh và Xã hội huyện Đông Anh - cơ quan chuyên môn của UBND huyện - có chức năng tham mƣu giúp UBND thực hiện chính sách về lao động, việc làm. Trong thực thi chính sách tạo việc làm Phòng LĐ-TB-XH huyện là cơ quan quản lý, điều hành và tổng hợp chung toàn bộ tình hình thực hiện chính sách. Chủ trì phối hợp với các phòng ban, các tổ chức đoàn thể ở huyện cùng tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, tạo việc làm . Đồng thời, Chủ tịch UBND huyện Đông Anh đã ra Quyết định thành lập Ban chỉ đạo chƣơng trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm trên địa bàn do Phó chủ tịch UBND huyện làm Trƣởng ban, Trƣởng phòng LĐ-TB-XH làm Phó ban thƣờng trực và thành viên là đại diện của các ban 48 ngành trong toàn huyện. Sự phối hợp của các cơ quan ban ngành trong thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động ngày càng trở nên chặt chẽ, quy củ. Hàng năm, Trƣởng Ban chỉ đạo đều căn cứ vào chỉ đạo của Trung ƣơng, Thành phố và tình hình địa phƣơng để triển khai các chính sách về tạo việc làm một cách thống nhất, đồng bộ. Trong đó, các chính sách hạt nhân là chính sách đào tạo nghề cho lao động, chính sách hỗ trợ ngƣời lao động đi làm việc tại nƣớc ngoài theo hợp đồng lao động, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo việc làm mới và chính sách hỗ trợ làng nghề truyền thống. 2.3.1. Chính sách đào tạo nghề nhằm tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 3940/QĐ– UBND ngày 20/9/2010 về việc thành lập Ban chỉ đạo huyện Đông Anh thực hiện Quyết định số 1956/QĐ–TTg của Thủ tƣớng Chính phủ, gọi tắt là Ban chỉ đạo Quyết định 1956 huyện, đồng thời xây dựng Đề án số 01/ĐA –UBND về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong đó chú trọng lao động bị thu hồi đất nông nghiệptrên địa bàn huyện đến năm 2020. Hàng năm, UBND Huyện xây dựng và ban hành kế hoạch về công tác đào tạo nghề, kiểm tra, giám sát tình hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện và kiện toàn Ban chỉ đạo theo Quyết định số 1956 của huyện.  Về hoạt động tuyên truyền, tư vấn học nghề : Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và ngƣời lao động nông thôn về vai trò của đào tạo nghề đối với việc làm, tăng
  • 29.
    49 thu nhập vànâng cao chất lƣợng cho lao động nông thôn luôn đƣợc quan tâm chú trọng. Trong giai đoạn 2011-2016, Ban chỉ đạo Quyết định 1956 Huyện đã chỉ đạo các phòng, ngành, Hội đoàn thể tổ chức các hình thức tuyên tuyền đến ngƣời lao động về công tác đào tạo nghề, đối tƣợng tham gia học nghề, các ngành nghề đào tạo, các chế độ quy định mà học viên theo học đƣợc hƣởng….thông qua các hình thức nhƣ phát tờ rơi tuyên truyền; Tuyên truyền trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng; Lồng ghép Tƣ vấn học nghề cho lao động nông thôn trong buổi tổ chức Hội chợ việc làm hoặc tại các buổi hội nghị của chi hội thôn, làng.  Về Công tác điều tra, hảo sát nhu c u dạy nghề cho lao động nông thôn Hàng năm, Ban chỉ đạo Quyết định 1956 Huyện yêu cầu UBND các xã rà soát, thống kê nhu cầu học nghề lao động nông thôn trên địa bàn, để các xã chủ động xây dựng kế hoạch, đề xuất phƣơng hƣớng phát triển đào tạo nghề. Qua khảo sát thực tế, số lƣợng ngƣời lao động bị mất đất nông nghiệp có nhu cầu học nghề tại các xã là rất lớn. Trong tổng số 8.245 ngƣời có nhu cầu học nghề thì chiếm đến 60% là ngƣời lao động bị thu hồi đất. BCĐ Quyết định 1956 Huyện thƣờng xuyên nắm bắt nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp. Đây là việc làm rất quan trọng, để đảm bảo công tác xây dựng kế hoạch phù hợp với việc dạy nghề, sát với thực tế, có hiệu quả.  Về xây dựng các mô hình dạy nghề hiệu quả cho lao động nông thôn Căn cứ phƣơng hƣớng phát triển kinh tế của Huyện, BCĐ Quyết định 1956 Huyện đã chỉ đạo, hƣớng dẫn BCĐ các xã hàng năm tiến hành khảo sát lựa chọn các nghề đào tạo thu hút đƣợc nhiều lao động. Điển hình nhƣ mô hình đào tạo nghề trồng nấm theo Đề án Nuôi trồng và chế biến nấm ăn, nấm 50 dƣợc liệu trên địa bàn các xã. Đây là nghề đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội địa phƣơng. Vì ngƣời lao động không cần trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp mà sau khi hoàn thành khoá học và ứng dụng vào đời sống khả năng tiêu thụ sản phẩm của ngƣời lao động đƣợc nâng cao. Trong giai đoạn 2011-2016, Huyện đã mở 12 lớp với390 học viên, thời gian đào tạo là 3 tháng. Đại đa số học viên sau khi học nghề có thu nhập cao hơn so với trƣớc khi tham gia học nghề. Một số học viên đã mạnh dạn mở rộng sản xuất kinh doanh tại gia đình, gia tăng thu nhập bình quân từ 2 đến 2,5 triệu/ ngƣời/ tháng. 2.3.2. Hỗ trợ làng nghề Chính sách hỗ trợ làng nghề đã đƣợc quan tâm chú trọng. Trong đó, các chính sách về vốn và đầu tƣ, tín dụng đã có nhiều đổi mới, góp phần tạo môi trƣờng và điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình và các doanh nghiệp trong làng nghề phát triển. Một số chính sách cụ thể đƣợc ban hành nhƣ: - Công văn số 08/NHNN-TD ngày 4/1/2001 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam về hƣớng dẫn thực hiện Quyết định 132/2000/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn. - Thông tƣ số 113/2006/TT-BTC ngày 28/12/2006 của Bộ Tài chính hƣớng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nƣớc hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ. - Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 22/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. - Thông tƣ số 14/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010 của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam về hƣớng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định số 41/2010/NĐ-CP
  • 30.
    51 ngày 22/4/2010 củaChính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Căn cứ vào các văn bản của Nhà nƣớc,UBND ban hành Quyết định số 32/2012/QĐ-UBND về một số chính sách khuyến khích phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn. Đối với làng nghề, chủ đầu tƣ UBND cấp xã: Hỗ trợ đầu tƣ xây dựng công trình bảo vệ môi trƣờng phục vụ chung cho làng nghề theo dự án nhƣng tối đa không quá 60% tổng mức đầu tƣ dự án và không quá 1 tỷ đồng/dự án; trong đó, ngân sách tỉnh hỗ trợ tối đa 40%; ngân sách huyện, thị xã hỗ trợ 20%; hỗ trợ xây dựng khu trƣng bày sản phẩm, tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề đƣợc ngân sách tỉnh hỗ trợ 40% tổng mức đầu tƣ dự án nhƣng không quá 1 tỷ đồng; ngân sách huyện, thị xã hỗ trợ 20% tổng mức đầu tƣ dự án nhƣng không quá 800 triệu đồng. Ngoài ra, làng nghề đƣợc xem xét hỗ trợ xây dựng đƣờng bê tông xi măng và công trình nƣớc sạch. Đối với các cơ sở sản xuất làng nghề: Cơ sở làng nghề tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài nƣớc, tham gia Phiên chợ hàng Việt về nông thôn đƣợc hƣởng chính sách quy định tại Quyết định số 46/2011/QĐ-UBND ngày 02/11/2011 của UBND thành phố về việc điều chỉnh, bổ sung chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất thuộc làng nghề trên địa bàn tham dự hội chợ, triển lãm trong và ngoài nƣớc và Quyết định số 37/2011/QĐ-UBND ngày 15/11/2011 của UBND thành phố về việc hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn tham gia bán hàng tại các Phiên chợ hàng Việt do Sở Công Thƣơng tổ chức nhằm thực hiện cuộc vận động “Ngƣời Việt Nam ƣu tiên dùng hàng Việt Nam” của Bộ Chính trị. Bên cạnh đó, cơ sở làng nghề đƣợc hỗ trợ xây dựng Website thƣơng mại điện tử với mức hỗ trợ tối đa 70% chi phí nhƣng không quá 5 triệu 52 đồng/Website. Cơ sở làng nghề xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật đƣợc hỗ trợ kinh phí theo quy định. Cơ sở làng nghề mở lớp dạy nghề và nhận lao động sau đào tạo vào làm việc tại cơ sở, các nghệ nhân ngành nghề thủ công mỹ nghệ đăng ký tổ chức truyền nghề đƣợc hỗ trợ theo chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn đƣợc hỗ trợ theo quy định tại Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tƣớng Chính phủ. 2.3.3. Chuyển dịch cơ cấu inh tế nông thôn tạo việc làm mới Căn cứ Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nghị quyết này khẳng định vị trí chiến lƣợc của nông nghiệp, nông thôn, nông dânvà cơ cấu kinh tế nông thôn trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu đến năm 2020 lao động nông nghiệp chỉ chiếm 30% trong tổng cơ cấu lao động . Để đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển nền kinh tế theo hƣớng Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ngành nông lâm thuỷ sản cần phải có sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - lâm nghiệp - thuỷ sản theo hƣớng sản xuất hàng hoá, tăng nhanh tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi - thuỷ sản, giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt. Thực hiện quy hoạch vùng chuyên canh, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung từng bƣớc chuyển nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế nông nghiệp phục vụ đô thị. Phát triển nông nghiệp theo hƣớng nông nghiệp đô thị và sinh thái với các loại hình sản xuất tập trung, công nghệ cao, chất lƣợng cao và an toàn thực phẩm, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhằm đạt hiệu quả cao trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Các sản phẩm chủ yếu: Lƣơng thực: lúa, ngô; rau đậu, hoa cây cảnh, cây ăn quả; thịt lợn, bò, gia cầm. Theo đề xuất của Phòng Nông nghiệp với mục tiêu là giảm tối đa diện tích cây trồng, vật nuôi hiệu quả thấp chuyển sang cây trồng, vật nuôi khác
  • 31.
    53 hiệu quả cao,phát triển bền vững làm nền tảng cho việc nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập nông dân, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn, gắn chƣơng trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với việc hình thành phong trào thi đua sản xuất, xây dựng và định hình các vùng sản xuất giống cây, giống con đặc sản, Chủ tịch UBND huyện đã chỉ đạo thực hiện chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn 2012-2016 (Quyết định số 67/2012/QĐ-UBND ngày 16/3/2012) nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tƣ cơ sở hạ tầng và chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, phát triển ngành nghề nông thôn bao gồm: cải tạo đồng ruộng, xây dựng và nâng cấp bờ bao nội đồng, hệ thống tƣới tiêu, đào ao, cải tạo ao, đầu tƣ chuồng trại, nhà lƣới, nhà kính, thiết bị phục vụ sản xuất đƣợc ngân sách huyện hỗ trợ lãi vay. Khuyến khích nông dân làm giàu thông qua việc khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, phát triển cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế, áp dụng mạnh các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm tạo ra nguồn hàng hoá phục vụ trong nƣớc và xuất khẩu. Phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân, giảm bớt hộ nông nghiệp thuần tuý, tăng hộ nông dân kiêm ngành nghề và dịch vụ. Nâng cao trình độ dân trí của nông dân, xây dựng nông thôn mới theo hƣớng văn minh, hiện đại. Cơ chế chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã đƣợc các doanh nghiệp, hợp tác xã, các hộ gia đình, chủ trang trại, cá nhân tích cực đón nhận và triển khai thực hiện theo các phƣơng án, đề án, dự án đầu tƣ phát triển các loại cây trồng, vật nuôi, ngành nghề nông thôn, ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, đầu tƣ xây dựng vùng nguyên liệu, tổ chức chế biến, đầu tƣ sản xuất giống cây, con chất lƣợng cao phù hợp với mục tiêu và danh mục khuyến khích của chƣơng trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện giai đoạn 2012– 2016. 54  Lĩnh vực nông - lâm - thủy sản: Huyện có chủ trƣơng, chính sách giao quyền sử dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho hộ nông dân. Đồng thời thực hiện chủ trƣơng dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện, tạo điều kiện cho ngƣời dân sản xuất trên quy mô diện tích đất lớn, tập trung. Cuối tháng 5/2012, UBND huyện Đông Anh đã ban hành Kế hoạch số 36, sau đó, thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện, giao phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là cơ quan thƣờng trực, phối hợp với phòng Tài nguyên và Môi trƣờng, các phòng chuyên môn có liên quan và UBND các xã tổ chức thực hiện. Phấn đấu đạt mục tiêu phát triển theo hƣớng sản xuất hàng hóa, tập trung ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đƣa các giống mới có năng suất, chất lƣợng cao vào sản xuất. Ban chỉ đạo cũng tập trung đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hƣớng sản xuất cây hàng hóa có giá trị kinh tế cao, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp. Huyện đã hoàn thành việc lập quy hoạch chuyển đổi cây trồng tại 23 xã và đang triển khai thực hiện quá trình chuyển đổi với kết quả đến nay đã chuyển đổi đƣợc trên 600 ha. Nhiều mô hình trong trồng trọt cho hiệu quả kinh tế cao nhƣ: mô hình rau an toàn đƣợc mở rộng quy mô, mô hình ngô nếp, mô hình cây ăn quả,... và đặc biệt là mô hình lúa nếp cái hoa vàng đƣợc triển khai thực hiện có hiệu quả cao với diện tích trên 600 ha ở các xã Miền Đông của Huyện. Hoàn thành kế hoạch trồng 50.000 cây môi sinh, môi trƣờng. Hiện trên địa bàn huyện đã hình thành các vùng cây chuyên canh nhƣ: vùng rau an toàn, vùng hoa, vùng lúa đặc sản, vùng ngô ... với tổng diện tích chiếm khoảng 25% đất nông nghiệp. Đông Anh đã trở thành một địa chỉ cung cấp rau sạch, rau an toàn cho nội thành Hà Nội. Rau sạch Vân Nội đã trở thành một thƣơng hiệu đƣợc thị
  • 32.
    55 trƣờng chấp nhận.Năm 2015, diện tích rau các loại trên địa bàn huyện khoảng 2.500 ha, năng suất đạt 22 tấn/ha. Bên cạnh đó, Đông Anh thực hiện chính sách khuyến khích phát triển các mô hình chăn nuôi, trang trại chăn nuôi tách khỏi khu dân cƣ nhằm nâng cao hiệu quả và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trƣờng. Chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản đƣợc quan tâm phát triển. Hiện tại trên địa bàn huyện, tổng đàn gia súc và gia cầm đƣợc duy trì ổn định ở mức 99.000 con lợn, 12.500 con trâu bò và 2,3 triệu con gia cầm. Nhiều mô hình chăn nuôi tập trung cho hiệu quả kinh tế cao, đƣợc nhân dân mạnh dạn đầu tƣ mở rộng quy mô: Mô hình gà đẻ, mô hình chăn nuôi lợn nái ngoại, mô hình chăn nuôi lợn nạc thƣơng phẩm; Chăn nuôi thủy sản vẫn đƣợc duy trì với diện tích trên 500 ha, cho sản lƣợng cá 1.500 tấn/năm; nhiều giống thủy đặc sản đƣợc đƣa vào sản xuất và đạt hiệu quả kinh tế cao nhƣ: cá trắm đen, cá chày mắt đỏ, rô đầu vuông... Đông Anh đã rất chú trọng phát triển mô hình kinh tế trang trại, đã ban hành kịp thời các quy định về đầu tƣ và quản lý trang trại, chuyển đổi cây trồng trên địa bàn, tạo điều kiện cho nhân dân phát triển sản xuất. Trên địa bàn huyện Đông Anh hiện có 171 trang trại đã đƣợc huyện phê duyệt, chủ yếu là các trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản. Cho đến nay, hầu hết các trang trại đƣợc đầu tƣ đúng với dự án đƣợc duyệt, sử dụng đất đúng mục đích, hoạt động có hiệu quả, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời lao động. Nhiều mô hình kinh tế trang trại cho hiệu quả kinh tế cao. Bình quân mỗi trang trại đƣợc duyệt cho doanh thu khoảng 150-300 triệu đồng/năm, cá biệt có nhiều trang trại cho thu 2-3 tỷ đồng/năm (trang trại chăn nuôi gà đẻ trứng và lợn nái ngoại, lợn thƣơng phẩm...). Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 45,48% năm 2011 xuống còn 40,64% năm 2015; ngành chăn nuôi tăng từ 54, 52% năm 2011 lên 59,36% năm 2015. 56  Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng: Công nghiệp – xây dựng là ngành ngày càng thu hút đƣợc nhiều lao động tham gia và tạo đƣợc rất nhiều cơ hội làm việc, nâng cao tay nghề kĩ thuật chuyên môn cho ngƣời lao động nên ngày càng đƣợc chú trọng phát triển. Huyện đã ban hành nhiều chính sách để phát triển công nghiệp – xây dựng với mục tiêu đƣa công nghiệp – xây dựng phát triển nhanh, từng bƣớc theo hƣớng hiện đại, công nghệ cao. Sản xuất công nghiệp và xây dựng trên địa bàn huyện đã và đang tiếp tục đƣợc quy hoạch theo các khu vực tập trung, hạn chế việc phát triển các cơ sở sản xuất trong khu dân cƣ, tránh gây ô nhiễm môi trƣờng và ảnh hƣởng đến đời sống, sinh hoạt của nhân dân. Các ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng phát triển mạnh trên địa bàn huyện là gia công cơ khí, may mặc và chế biến lâm sản. Các khu vực tập trung công nghiệp và khu công nghiệp tập trung, khu/cụm công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện Đông Anh hiện nay bao gồm: - Khu vực tập trung công nghiệp Đông Anh hình thành từ những năm 1970-1980 trên trục đƣờng quốc lộ 3. Khu vực này đƣợc phân bố trên quy mô khoảng 70ha và hiện có khoảng 30 doanh nghiệp thuộc các ngành cơ khí, vật liệu xây dựng... Hầu hết trƣớc đây là các doanh nghiệp nhà nƣớc, nay phần lớn đã đƣợc cổ phần hoá. Các cơ sở công nghiệp trong khu vực này có quy mô diện tích tƣơng đối lớn, mật độ xây dựng thấp, hệ số sử dụng đất không cao nhƣng nằm phân tán (không theo mô hình khu công nghiệp tập trung). Các ngành công nghiệp trong khu vực này đƣợc đánh giá có mức độ ô nhiễm môi trƣờng không cao. Theo quy hoạch của thành phố Hà Nội thì trong khu vực này sẽ dành một phần đất để di chuyển các cơ sở công nghiệp trong nội thành ra. - Khu công nghiệp tập trung Thăng Long (Bắc Thăng Long), nằm trên địa bàn các xã Kim Chung, Võng La do Công ty Khu Công nghiệp Thăng
  • 33.
    57 Long (liên doanhgiữa Sumitomo Corporation (Nhật Bản) và Công ty cơ khí Đông Anh) làm chủ đầu tƣ. Tổng diện tích của khu công nghiệp là 274ha, là khu công nghiệp tập trung lớn nhất của Hà Nội hiện nay, đã hoàn thành đầu tƣ hạ tầng kỹ thuật của khu. Khu công nghiệp Bắc Thăng Long hiện có cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh với hệ thống cấp nƣớc, cấp điện, thông tin liên lạc, hệ thống xử lý nƣớc thải, có hệ thống giao thông kết nối với cảng và sân bay quốc tế tƣơng đối thuận lợi. Bắc Thăng Long đang là khu công nghiệp tập trung hoạt động hiệu quả, mang tính điển hình của Hà Nội để các địa phƣơng khác tham khảo. Tại KCN Bắc Thăng Long hiện có 67 nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ, tổng số vốn trên 1,5 tỷ USD với các sản phẩm công nghệ cao của các tập đoàn nổi tiếng nhƣ Canon, Panasonic... Tổng số lao động đang làm việc trong KCN Bắc Thăng Long là 48.000 ngƣời, trong đó có hơn 10.000 lao động là ngƣời Đông Anh. Bắc Thăng Long cũng là một trong những KCN đi đầu của Hà Nội hiện nay về xây dựng nhà ở cho công nhân (đã xây dựng dự án khu nhà ở công nhân Kim Chung với tổng diện tích khoảng 20ha). - Cụm công nghiệp Nguyên Khê với tổng diện tích 95,6 ha nằm trên địa bàn xã Nguyên Khê. Đây là một trong số 49 cụm công nghiệp đã đầu tƣ xây dựng và đi vào hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay. Giai đoạn I (pha I) của cụm công nghiệp đã hoàn thành với quy mô diện tích 18ha và đã thu hút 12 doanh nghiệp với cơ cấu ngành nghề khá đa dạng vào đầu tƣ sản xuất kinh doanh. Giai đoạn II của khu công nghiệp này với quy mô khoảng 77ha đã đang đƣợc chủ đầu tƣ là Ban Quản lý Dự án huyện triển khai thực hiện. - Khu công nghiệp Đông Anh: quy mô khoảng 600ha, nằm trên địa bàn các xã Xuân Nộn, Thụy Lâm và thị trấn Đông Anh, đang đƣợc nghiên cứu lập và phê duyệt quy hoạch. 58  Lĩnh vực dịch vụ: Phát triển ngành dịch vụ trở thành mũi nhọn trong tƣơng lai là một chiến lƣợc quan trọng để góp phần tạo việc làm cho ngƣời lao động nông thôn của huyện. Khi nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng áp dụng tiến bộ, khoa học kĩ thuật vào sản xuất thì tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành này sẽ giảm đi, chuyển dần sang ngành dịch vụ. Đồng thời,Đông Anh cũng là huyện có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái rất lớn với các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích văn hoá và đƣợc phân bố rộng khắp trên địa bàn huyện. Nắm bắt điều kiện lý tƣởng này, UBND huyện chỉ đạo Phòng Công thƣơng kết hợp với Phòng Tài Nguyên và Môi trƣờng xây dựng chƣơng trình phát triển Thƣơng mại, dịch vụ trên địa bàn huyện phát triển rộng khắp, hàng hóa, dịch vụ phong phú về chủng loại, mẫu mã, đáp ứng đƣợc nhu cầu về sản xuất và tiêu dùng của nhân dân trong huyện. Đồng thời, xây dựng dịch vụ du lịch một cách nhanh chóng và bền vững với nhiều loại hình du lịch khác nhau nhƣ: du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, ẩm thực, du lịch thể thao, lễ hội. Huyện xác định việc phát triển mạnh du lịch sẽ có tác dụng thúc đẩy nhiều ngành cùng phát triển nhƣ: việc khôi phục và phát triển các nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ thƣơng mại. Đông Anh đã và đang thực hiện quyết liệt việc chuyển đổi mô hình quản lý kinh doanh khai thác chợ theo phƣơng thức xã hội hóa tại các xã. Đã cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi mô hình quản lý, kinh doanh, khai thác chợ gắn với đầu tƣ xây dựng và cho kết quả bƣớc đầu tích cực, nhƣ chợ tại các xã Hải Bối, Thụy Lâm, Vân Nội, Kim Chung.... Đã có 07 chợ đƣợc giao cho các doanh nghiệp tiếp nhận quản lí, đầu tƣ xây dựng, cải tạo với kinh phí hàng chục tỷ đồng. Một số chợ còn lại nhƣ chợ Vân Hà, Đông Hội, Dục Tú đang đƣợc chỉ đạo lựa chọn địa điểm xây dựng chợ theo hình thức đầu tƣ mới. Đối với các
  • 34.
    59 chợ lớn, phứctạp nhƣ chợ Trung Tâm, Chợ Tó, huyện đang chỉ đạo nghiên cứu phƣơng án chuyển đổi phù hợp.Đến nay toàn huyện đã có 9/21 chợ đạt chuẩn nông thôn mới. Ngoài các chợ truyền thống, trong các thôn, xóm, các điểm dân cƣ đã hình thành nhiều điểm mua bán trao đổi hàng hoá, các điểm bán lẻ hàng tiêu dùng với nhiều nhóm mặt hàng phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Tuy nhiên, Đông Anh chƣa hình thành hệ thống phân phối hiện đại gồm các trung tâm thƣơng mại, siêu thị, cửa hàng tiện ích,... Hiện trên địa bàn huyện mới chỉ có một số ít Trung tâm thƣơng mại kết hợp giữa nhà ở với buôn bán tổng hợp tại thị trấn Đông Anh. Mức độ hiện đại của các Trung tâm thƣơng mại hiện có còn khoảng cách rất xa so với các trung tâm thƣơng mại cao cấp trong nội thành. Hệ thống phân phối trên địa bàn huyện phục vụ kinh doanh và mua bán hàng hóa hiện vẫn dựa chủ yếu vào mạng lƣới chợ phân bổ ở các xã và thị trấn. Ngành dịch vụ du lịch của huyện cũng bƣớc đầu hình thành và có xu hƣớng phát triển tốt dựa vào thế mạnh du lịch của huyện là các di tích lịch sử văn hoá, đặc biệt là di tích Cổ Loa. Hình thành tuyến du lịch trọng điểm Cổ Loa - Ca trù Lỗ Khê - Rối nƣớc Đào Thục - Làng nghề Vân Hà đƣợc du khách nhiều nơi biết đến. Phƣờng rối nƣớc Đào Thục biểu diễn khoảng 150 buổi trong năm, đặc biệt là các ngày lễ lớn. Lễ hội truyền thống, di tích Cổ Loa đón khoảng 100.000 lƣợt khách về tham dự lễ hội và thăm quan hàng năm. 2.3.4. Hỗ trợ lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Xác định xuất khẩu lao động là một trong các giải pháp chính sách thiết yếu để tạo việc làm, nâng cao thu nhập, nâng cấp tay nghề cho ngƣời nông 60 dân, đặc biệt ngƣời nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp. Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động của huyện đã chỉ đạo các xã, thị trấn phối hợp với các doanh nghiệp có chức năng hợp pháp về tuyển lao động để xuất khẩu trên địa bàn hỗ trợ ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đi xuất khẩu lao động. Huyện căn cứ vào: - Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 của Thủ tƣớng Chính phủ về chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp; - Thông tƣ Liên tịch số 102/2013/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 30/7/2013 của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội, Bộ Tài chính quy định quản lý và sử dụng nguồn vốn sự nghiệp thực hiện một số dự án của Chƣơng trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012 - 2015; - Công văn số 1040/CV-SLĐTBXH ngày 26/8/2013 của Sở Lao động – Thƣơng binh và Xã hội thành phố Hà Nội về việc thực hiện dự án hỗ trợ lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng; Ủy ban nhân dân huyện ban hành công văn hƣớng dẫn thực hiện dự án: Căn cứ nhu cầu và số lƣợng lao động tham gia đào tạo nghề, ngoại ngữ, bồi dƣỡng kiến thức cần thiết, mức chi phí đào tạo của từng nghề, ngoại ngữ và dự toán đƣợc cấp có thẩm quyền giao; Phòng Lao động-Thƣơng binh và Xã hội ký “Hợp đồng đặt hàng đào tạo và tổ chức thực hiện hỗ trợ cho ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài” với cơ sở dạy nghề hoặc doanh nghiệp xuất khẩu lao động theo quy định. Căn cứ “Hợp đồng đặt hàng đào tạo và tổ chức thực hiện hỗ trợ cho ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài” đã ký và danh sách ngƣời lao động tham gia đào tạo, Phòng Lao động – Thƣơng binh và Xã hội thực hiện tạm ứng kinh phí cho cơ sở dạy nghề hoặc doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ. Số
  • 35.
    61 lần tạm ứng,thời gian tạm ứng, mức tạm ứng đƣợc thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng trên cơ sở tiến độ thực hiện hợp đồng. Cơ sở dạy nghề hoặc doanh nghiệp xuất khẩu lao động có trách nhiệm chi trả tiền ăn và chi phí đi lại cho ngƣời học theo mức quy định tại khoản 2. Trƣờng hợp ngƣời lao động tự ý nghỉ học, bỏ học, hoặc bị buộc thôi học thì không đƣợc trả tiền ăn cho thời gian nghỉ học, bỏ học, thôi học và tiền đi lại (lƣợt về). Phòng Lao động – Thƣơng binh và Xã hội huyện có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu, thanh lý hợp đồng và thanh toán giá trị hợp đồng còn lại (nếu có): + Trƣờng hợp có dƣới 70% số học viên sau khi hoàn thành khoá học đƣợc đi làm việc ở nƣớc ngoài chỉ thanh toán tiền học nghề, ngoại ngữ, bồi dƣỡng kiến thức cần thiết, tiền ăn, chi phí đi lại theo số lƣợng học viên và thời gian thực tế tham gia khóa học và chi phí làm thủ tục đối với ngƣời lao động đủ điều kiện đi làm việc ở nƣớc ngoài theo số lao động thực tế xuất cảnh. + Trƣờng hợp có từ 70% số học viên trở lên sau khi hoàn thành khoá học đƣợc đi làm việc ở nƣớc ngoài đƣợc thanh toán 100 % tiền học nghề, ngoại ngữ, bồi dƣỡng kiến thức cần thiết theo số lƣợng học viên tham gia khóa học của Hợp đồng đã ký; tiền ăn, chi phí đi lại theo số lƣợng học viên và thời gian thực tế tham gia khóa học và chi phí làm thủ tục đối với ngƣời lao động đủ điều kiện đi làm việc ở nƣớc ngoài theo số lao động thực tế xuất cảnh. Phòng LĐ-TB&XH huyện hỗ trợ, hoàn thiện hồ sơ của đối tƣợng đã đƣợc Ủy ban nhân dân xã xác nhận, trình Sở LĐ-TB&XH để xem xét, quyết định hỗ trợ cho ngƣời lao động. Đồng thời Ngân hàng chính sách xã hội huyện cùng phối hợp thực hiện cho vay vốn không cần thế chấp đối với các đối tƣợng hộ gia đình có 62 ngƣời là đối tƣợng chính sách đi lao động, ngƣời lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo. Mức cho vay tối đa bằng 80% tổng chi phí cần thiết ghi trong hợp đồng. Tùy từng thị trƣờng, đơn hàng sẽ điều chỉnh thời hạn cho vay cụ thể. Hàng năm, căn cứ vào hợp đồng đƣa ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài do doanh nghiệp xuất khẩu lao động ký với ngƣời lao động và phiếu thu của doanh nghiệp hoặc ủy nhiệm chi của ngân hàng chuyển cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động, UBND huyện quyết định số lƣợng và danh sách lao động cƣ trú trên địa bàn đi xuất khẩu lao động đƣợc hƣởng chính sách hỗ trợ; chi trả trực tiếp cho ngƣời đƣợc ủy quyền hợp pháp của ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài. 2.4. Đánh giá thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 2.4.1. Những kết quả đạt được Với sự nỗ lực thực hiện chính sách của các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp và ngƣời lao động, Đông Anh đã thu đƣợc những thành quả đáng kể trong tạo việc làm cho ngƣời lao động nói chung và ngƣời lao động sau thu hồi đất nông nghiệpnói riêng. Thứ nhất, tỷ lệ ngƣời lao động đƣợc tạo việc làm thông qua đào tạo nghề trên tổng số ngƣời lao động bị mất việc do thu hồi đất nông nghiệp theo hƣớng gia tăng. Giai đoạn 2011-2016, Huyện đã mở đƣợc 155 lớp dạy nghề với 5.289 lao động nông thôn. Trong đó, nghề phi nông nghiệp là 108 lớp với số học viên là 3.705 ngƣời Trong đó: lao động nông thôn là 3703 học viên, học viên là lao động bị thu hồi đất canh tác là 1570 học viên. Hiệu quả dạy nghề đƣợc khẳng định cả về kinh tế và xã hội. Cụ thể là : Về mặt kinh tế: * Nghề nông nghiệp: 100% học viên đều ký cam kết tự tạo việc làm tại nhà, hơn 80% lao động nông thôn sau khi học nghề đã có năng suất lao động
  • 36.
    63 cao, góp phầntăng thu nhập. Một số nghề tỷ lệ lao động có việc làm đạt cao nhƣ nghề Trồng và chế biến nấm ăn, nấm dƣợc liệu là 85%, nghề Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cảnh là 86%. điển hình: học viên Nguyễn Trọng Nguyên và Nguyễn Văn Quyến -xã Uy Nỗ, sau khi học lớp cây cảnh đã đầu tƣ mở rộng vƣờn cây cảnh, thu nhập bình quân hàng tháng khoảng 10 triệu. * Nghề phi nông nghiệp: Sau khi đào tạo, học viên đã nắm bắt đƣợc kiến thức, chủ động xin việc làm, học viên có đƣợc việc làm ổn định sau khi tốt nghiệp, cụ thể: Nghề mộc dân dụng, nhà trƣờng đã ký hợp đồng tuyển dụng với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên gỗ Sông Hồng nhận 10 học viên vào làm, với mức thu nhập từ 2,5 triệu đến 3,5 triệu/ tháng. Ngoài ra, công ty sẽ đảm nhận là đơn vị tiêu thụ sản phẩm cho 20 học viên của lớp. Nghề Kỹ thuật chế biến món ăn, các học viên tự tạo việc làm tại nhà, thu nhập tăng thêm của lao động tự tạo việc làm tại chỗ đƣợc nâng từ 1,5 triệu đồng đến 3,5 triệu đồng/tháng. Ngoài ra,một số học viên đƣợc nhận vào các cơ sở sản xuất, thu nhập của lao động từ 2,8 triệu đồng đến 3,5 triệu đồng/tháng. Nghề tin học văn phòng, sau khi hoàn thành khóa học, học viên áp dụng các kiến thức đã học vào sản xuất, giúp giảm bớt thời gian lao động, tăng năng suất và làm việc tại các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn. Nghề điện dân dụng và nghề hàn, chủ yếu học viên làm việc tại địa phƣơng, chủ động mở xƣởng, thu nhập bình quân là từ 3 triệu – 5 triệu. Về mặt xã hội: lao động sau đào tạo có việc làm đã góp phần ổn định trật tự an ninh xã hội. Các xã đã gắn chƣơng trình xây dựng nông thôn mới với đào tạo nghề, từng bƣớc chuyển dịch dần một bộ phận lao động nông nghiệp sang làm việc ở các ngành nghề phi nông nghiệp. Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm thay đổi rõ rệt theo hƣớng tỷ trọng nông nghiệp giảm và tỷ lệ lao động công nghiệp, dịch vụ gia tăng. 64 Bảng 2.4.1. So sánh tỷ lệ cơ cấu việc làm trước và sau khi bị thu hồi đất ở huyện Đông Anh năm 2015 ( Đơn vị %) Ngành nghề Trƣớc thu hồi đất Sau thu hồi đất Ghi chú 1. Nông nghiệp 59 43 2. Buôn bán nhỏ 8.9 10.9 3. Thợ thủ công 10 15 4. Công nhân 3.5 10.4 5. Làm hành chính 7.4 8.6 6. Công việc khác 6.5 7,2 7. Thất nghiệp 2.5 4.9 (Nguồn: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đông Anh) Qua số liệu khảo sát năm 2015 của Phòng Lao động Thƣơng binh - Xã hội huyện Đông Anh cho thấy sau thu hồi đất, cơ cấu lao động việc làm trên địa bàn có sự thay đổi đáng kể.Tỷ lệ lao động làm nông nghiệp sau thu hồi đất giảm 16%. Sau thu hồi đất, ngƣời lao động có cơ hội làm việc trong các khu công nghiệp đƣợc xây dựng ngay tại địa phƣơng, vì vậy tỷ lệ ngƣời lao động là công nhân tăng 6,9% từ 3,5% lên 10,4%. Mặc dù vậy, tỷ lệ thất nghiệp có xu hƣớng tăng từ 2,5% lên 4,9%. Mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ nhƣng cũng cần đƣợc chú ý, quan tâm. Có thể thấy, để đảm bảo một sự phát triển bền vững thì việc giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp cần phải là một quá trình chủ động với phƣơng án và các giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp rõ ràng, có tính khả thi chứ không chỉ đơn thuần là sự giảm số lao động nông nghiệp do bị thu hồi đất sản xuất trong quá trình đô thị hóa.
  • 37.
    65 Thứ ba vềhỗ trợ lao động các làng nghề: Nhìn chung, một số chính sách vốn và đầu tƣ mà Nhà nƣớc ban hành đã góp phần tạo môi trƣờng thuận lợi cho việc phát triển làng nghề trên địa bàn Đông Anh.Những năm gần đây, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tập trung thực hiện cho vay dựa vào chƣơng trình, dự án mục tiêu, hỗ trợ về tài chính tại các làng nghề. Một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn đã quy định việc Nhà nƣớc hỗ trợ tài chính dƣới hình thức tín dụng ngân hàng với lãi suất ƣu đãi, góp phần mở rộng phạm vi và cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng hỗ trợ cho các hộ sản xuất và doanh nghiệp tại các làng nghề. Chính phủ tiếp tục hỗ trợ lãi suất vay vốn ngân hàng đối với một số mặt hàng xuất khẩu, trong đó có mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của các làng nghề (QĐ178/1998/QĐ-TTg ngày 19/9/1998). Các làng nghề tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời dân khu vực (trung bình thu nhập của ngƣời lao động trong các làng nghề cao gấp 3-4 lần so với ngƣời lao động thuần nông), đồng thời việc phát triển thƣơng hiệu cũng đƣợc chú trọng. Cụ thể, năm 2015 tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn Đông Anh đã tạo ra 13.250 việc làm. Liên Hà, Vân Hà là hai xã có làng nghề phát triển mạnh nhất Đông Anh, trong đó Liên Hà phát triển nghề sản xuất đồ gỗ công nghiệp (gỗ phun sơn) và Vân Hà phát triển nghề mộc, chạm khắc, đồ gỗ mỹ nghệ và gia dụng. Tiềm năng phát triển của hai làng nghề này còn rất lớn. Khu sản xuất làng nghề tập trung xã Liên Hà có quy mô 6 héc-ta đã hoàn thành đầu tƣ hạ tầng kỹ thuật, các hộ cũng đã đấu thầu quyền sử dụng đất thuê 50 năm. Khu sản xuất này tập trung các cơ sở sản xuất đồ gỗ phun sơn, giảm ô nhiễm môi trƣờng cho khu dân cƣ. Khu sản xuất tiểu thủ công nghiệp tập trung làng nghề xã Vân Hà với hình thức tƣơng tự xã Liên Hà đã triển khai đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng. 66 Bên cạnh Liên Hà, Vân Hà nghề truyền thống tại các làng nghề khác cũng đang phát triển mạnh, sản phẩm tiêu thụ tốt trên thị trƣờng. Trong đó, Dục Tú phát triển nghề cơ kim khí (kéo sắt); Võng La, Cổ Loa phát triển nghề chế biến thực phẩm, làm bún; Vân Nội, Đông Hội phát triển nghề đan lát, sản xuất đồ gia dụng từ tre, nứa; Bắc Hồng, Uy Nỗ phát triển nghề may... Thứ tư, về chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động: Chính sách xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp hữu hiệu trong quả nhà nƣớc về vấn đề việc làm. UBND huyện tổ chức thực thi nhiều chính sách vận động tuyên truyền ngƣời lao động sang nƣớc ngoài làm việc, đặc biệt ở các xã nghèo, hộ nghèo của huyện sang các thị trƣờng nhƣ Nhật Bản, Malaixya, Đài Loan, Agola… Theo báo cáo về tình hình lao động, việc làm của Phòng LĐ- TB&XH huyện Đông Anh, năm 2015, số lƣợng ngƣời xuất khẩu lao động là 756 lao động. Thông qua xuất khẩu lao động không chỉ giảm bớt đƣợc gánh nặng việc làm trƣớc mắt mà còn thu đƣợc nguồn ngoại tệ do ngƣời lao động gửi về. Đồng thời trình độ tay nghề, ngoại ngữ của ngƣời lao động cũng tăng cao. 2.4.2. Những tồn tại, hạn chế Chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ còn chậm, chƣa tạo ra đƣợc bƣớc chuyển biến mạnh mẽ, nông nghiệp vẫn là ngành lao động chủ yếu, công nghiệp và dịch vụ phát triển chƣa tƣơng xứng với tiềm năng của địa phƣơng. Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng cao. Xuất khẩu lao động chƣa tƣơng xứng với tiềm năng và nhu cầu của ngƣời lao động.Xuất khẩu lao động hiện nay là một trong những chính sách quan trọng trong việc tạo việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn. Số lƣợng ngƣời đi xuất khẩu lao động còn hạn chế. Tốc độ đô thị hóa những năm qua còn chậm nên chƣa thu hút đƣợc lực lƣợng lao động trong huyện. Các doanh nghiệp chƣa giải quyết đƣợc nhiều
  • 38.
    67 việc làm chongƣời lao động. Sản xuất nông nghiệp và lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng tƣơng đối lớn, thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa chƣa ổn định, khả năng hội nhập và sức cạnh tranh một số sản phẩm còn yếu. Kinh tế phát triển chƣa thực sự bền vững, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm làm ảnh hƣởng đến cơ hội tìm kiếm việc làm. Trong quá trình triển khai thực hiện việc dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện cũng đã gặp phải một số khó khăn.Công tác khảo sát nhu cầu học nghề chƣa sát với thực tế, công tác tuyên truyền, tƣ vấn cho lao động chọn nghề và tham gia học nghề chƣa phù hợp, chƣa gắn với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của huyện và gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Công tác kiểm tra, giám sát tổ chức lớp học nghề ở các xã chƣa thƣờng xuyên, một số xã chƣa chủ động trong việc xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện đề án đào tạo nghề hàng năm.Một số ngành nghề lao động nông thôn có nhu cầu theo học cao nhƣ các nghề: sửa chữa và lắp ráp điện thoại, lái xe ô tô, sửa chữa ô tô... nhƣng không nằm trong nhóm các ngành nghề đƣợc UBND Thành phố Hà Nội hỗ trợ. Công tác giáo dục đào tạo, đào tạo nghề chƣa đồng bộ, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của huyện. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở đào tạo nghề còn thiếu, chƣa đáp ứng cho việc giảng dạy, thực hành các nghề nhƣ: nghề hàn, điện công nghiệp, điện dân dụng, máy vi tính…Ngành nghề đào tạo cũng chƣa thật sự phong phú và sát với nhu cầu của lao động nông thôn, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu học nghề của ngƣời lao động, nhất là trên địa bàn huyện Đông Anh có lực lƣợng lao động đông, số lao động bị ảnh hƣởng chuyển đổi nghề do bị thu hồi diện tích đất nông nghiệp lớn để phục vụ các Dự án xây dựng Khu công nghiệp. Để thực thi chính sách hiệu quả cần đủ nguồn kinh phí. Trên thực tế, hiện nay nguồn kinh phí còn eo hẹp. Công tác xã hội hóa trong tạo nguồn vốn cho tạo việc làm còn 68 hạn chế, chƣa huy động đƣợc các nguồn lực từ doanh nghiệp tƣ nhân, các tổ chức xã hội và nhân dân. Việc thực thi chính sách về tạo việc làm mang tính liên ngành và tổng hợp rất rõ rệt, đòi hỏi sự phối hợp giữa các ngành, giữa Trung ƣơng, địa phƣơng và cơ sở. Tuy nhiên trên thực tế do chƣa xây dựng đƣợc cơ chế phối hợp, quy trình cụ thể nên trách nhiệm của các phòng, ban còn phân tán, đến khi triển khai chính sách vào cuộc sống còn nhiều trở ngại. Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ công chức còn nhiều hạn chế trong quá trình thực thi chính sách. Cán bộ, công chức là đội ngũ trực tiếp tham gia quá trình thực thi thì hiện nay vẫn còn hạn chế về số lƣợng và chất lƣợng, thiếu chuyên môn và kỹ năng ra quyết định và thuyết phục, vận động ngƣời dân tham gia. Công tác thanh kiểm tra chƣa thật sự chật chẽ, đôi khi còn mang tính hình thức. Trong quá trình thực thi chính sách sử dụng nhiều nguồn lực của Nhà nƣớc nhƣng hoạt động thanh tra, kiểm tra trong những năm qua chƣa có những hoạt động kiểm tra sâu sát, toàn diện và việc sử phạt cũng chƣa thực sự nghiêm minh. 2.4.3. Nguyên nhân Do xuất phát kinh tế của huyện chủ yếu vẫn là nông nghiệp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, nên sự chuyển dịch cơ cấu việc làm theo hƣớng công nghiệp và dịch vụ không đáng kể. Khả năng tạo việc làm có chất lƣợng cao cho ngƣời lao động còn gặp khó khăn. Cơ chế, chính sách của nhà nƣớc chƣa thể giải quyết hết đƣợc số lao động chƣa qua đào tạo và giải quyết lao động thất nghiệp. Ngƣời nông dân trên địa bàn huyện chƣa thực sự hiểu rõ về các chính sách trong hỗ trợ phát triển kinh tế, tạo việc làm của Nhà nƣớc. Một bộ phận
  • 39.
    69 ngƣời dân sửdụng vốn vay từ quỹ quốc gia chƣa thực sự hiệu quả, thậm chí còn sử dụng đầu tƣ sai lệch so với dự án trình vay vốn ban đầu. Công tác khảo sát nhu cầu học nghề tại các xã chƣa sát với thực tế, công tác tuyên truyền phổ biến tới ngƣời dân về chính sách dạy nghề chƣa làm cho ngƣời lao động nhận thức đƣợc quyền lợi trong công tác đào tạo nghề, chƣa hiểu đầy đủ về sự cần thiết lợi ích của việc đi học nghề nên còn ngại đi học và chƣa chuyên cần trong học nghề. Ngân sách của Nhà nƣớc đầu tƣ trực tiếp cho các chƣơng trình về tạo việc làm còn hạn chế, chƣa thoả đáng với nhiệm vụ. Huyện Đông Anh trong những năm qua chƣa tự xây dựng đƣợc quỹ vốn chuyên về tạo việc làm. Ngân sách của cơ quan cấp trên đƣa xuống để tiến hành thực thi chính sách rất hạn chế, không đủ để đầu tƣ, xây dựng những điều kiện cơ bản để hoàn thành chính sách. Bên cạnh đó trong thời gian qua huyện cũng chƣa có chủ trƣơng, giải pháp cụ thể về tạo việc làm, do vậy trong lãnh đạo, chỉ đạo cũng nhƣ công tác tham mƣu cho cấp ủy, chính quyền còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Công tác dự báo còn yếu và còn thiếu chủ động trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng ngƣời lao động. Mặt khác huyện còn buông lỏng cơ cấu đào tạo, để phát triển tự phát theo nhu cầu của ngƣời dân, chƣa chú trọng định hƣớng và đào tạo ngành nghề phù hợp. Quy mô các trƣờng dạy nghề, đào tạo chất lƣợng nguồn nhân lực chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu học nghề, tự tạo việc làm của ngƣời dân. Chƣơng trình đào tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo còn hạn chế, thiếu sự áp dụng của thông tin, công nghệ, chƣa thực sự đáp ứng yêu cầu của xã hội. Cơ quan thực thi chính sách cấp huyện chƣa đảm bảo nguồn lực về số lƣợng và chất lƣợng (sự hiểu biết, trình độ, năng lực). Do đó, khi thực hiện chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động chƣa đạt đƣợc hiệu quả cao. 70 Chƣơng 3 PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH 3.1. Quan điểm của Đảng về tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đề cập đến Chủ nghĩa xã hội đã chỉ rõ: “Trƣớc hết cần làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi ngƣời có công ăn việc làm, đƣợc ấm no và sống một đời hạnh phúc” và yêu cầu xây dựng “một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến” để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là “một xã hội không có chế độ ngƣời bóc lột ngƣời; một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm ra nhiều thì hƣởng nhiều, làm ít thì hƣởng ít, không làm không hƣởng” Tuy nhiên, trƣớc khi Đảng và Nhà nƣớc ta có chủ trƣơng thực hiện công cuộc đổi mới đất nƣớc, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Theo nhận thức của ngƣời lao động, chỉ có Nhà nƣớc mới có khả năng tạo ra việc làm cho ngƣời lao động. Vì thế, việc làm chỉ bó hẹp trong khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Từ đó dẫn tới tình trạng ngƣời thừa việc trong khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, còn lại các khu vực kinh tế khác vẫn thiếu ngƣời do không tính toán đến nhu cầu và hiệu quả kinh tế; không tính toán đƣợc hiệu quả sử dụng lao động. Ngày 27/7/1978, tại hội nghị Trung ƣơng Khóa IV đã ra Nghị quyết về “Kiện toàn tổ chức, cải tiến chế độ làm việc đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới”. Nghị quyết đã chỉ rõ “về kinh tế, bộ máy lãnh đạo và quản lý phải xuất phát từ đỏi hỏi của việc xây dựng cơ cấu kinh tế mới (ngành, địa phƣơng, cơ sở) và phƣơng thức quản lý kinh tế mới, phải phát huy tác dụng
  • 40.
    71 tích cực đốivới việc hình thành cơ cấu kinh tế mới và phƣơng thức quản lý mới”. Trong đó “các cơ sở phải thực hiện cho đƣợc hoạch toán kinh tế, sản xuất kinh doanh có lãi, hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với nhà nƣớc nâng cao thu nhập của ngƣời lao động, phát triển phúc lợi tập thể tăng nguồn vốn tự có để tái sản xuất mở rộng”. Trên cơ sở đảm bảo, hoàn thành kế hoạch nhà nƣớc, cơ sở có quyền đặt quyền hạn trực tiếp với các đơn vị cơ sở khác bằng những hợp đồng về phân công hợp tác sản xuất, về cung ứng vật tƣ và tiêu thụ sản phẩm về vận chuyển hàng hóa, về đào tạo công nhân, về áp dụng và nâng cao khoa học kỹ thuật. Từ sau khi thực hiện đƣờng lối đổi mới tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và cho đến nay, Đảng ta luôn khẳng định: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa ở nƣớc ta là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội. Từ sử dụng mức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến máy móc với công nghệ, phƣơng pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Chính vì thế, vấn đề việc làm và tạo việc làm cho ngƣời lao động nói chung và lao động sau thu hồi đất nông nghiệp nói riêng đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quan tâm đầu tƣ. Điều đó đã đƣợc thể hiện tại các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX và lần thứ X. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII về đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ kinh tế xã hội Đại hội VI, Đảng ta thừa nhận: tốc độ tăng dân số quá nhanh tạo nên áp lực lớn về đời sống và việc làm; Vấn đề việc làm đặc biệt gay gắt, do ngƣời lao động không có việc làm từ nhiều nguồn tăng lên nhanh; Các chính sách và biện pháp tạo việc làm, giải quyết việc làm còn bị động, chắp vá. Do đó, Đảng ta tiếp tục nêu rõ trong một số nhiệm vụ kinh tế - xã hội cấp bách trong 5 năm 1991-1995 là phấn đấu tạo thêm nhiều việc làm kể cả cho những ngƣời dôi ra trong quá trình sắp xếp lại 72 sản xuất kinh doanh và bộ máy quản lý, chú trọng đào tạo lại nghề nghiệp và giúp một phần vốn cần thiết ban đầu. Đặc biệt trong Đại hội VII, Đảng ta đã ghi trong Văn kiện Đảng cụm từ “thị trƣờng sức lao động”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, trong khi đặt nhiệm vụ phát triển kinh tế, Đảng ta yêu cầu phải tiến hành công bằng xã hội. Trong đó chú trọng vấn đề việc làm đang là vấn đề gay gắt; Vì thế cần tạo việc làm nhiều hơn, số lao động tăng lên hàng năm giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp; tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 22-25% và Đảng ta xác định đảm bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu xã hội hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên. Nhà nƣớc chú trọng đầu tƣ tạo việc làm, đồng thời tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế và ngƣời lao động tạo thêm chỗ làm việc và tự tạo việc làm; Khuyến khích các tổ chức cá nhân cùng Nhà nƣớc tổ chức tốt dịch vụ giới thiệu việc làm, đào tạo nghề nghiệp cụ thể là tạo việc làm cho 6,5-7 triệu ngƣời, tăng thời gian lao động đƣợc sử dụng ở nông thôn lên 75%. Lần đầu tiên, khi đƣa vào trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX “thành phần kinh tế có vốn nƣớc ngoài”, Đảng ta yêu cầu cần lƣu ý đến tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn ở mức cao đang là một trong những vấn đề nổi cộm nhất của xã hội, cho nên tạo việc làm là một chính sách xã hội cơ bản, bằng nhiều giải pháp tạo ra việc làm mới, tăng quỹ thời gian lao động đƣợc sử dụng nhất là trong nông nghiệp và nông thôn; Các thành phần kinh tế mở mang nhiều ngành nghề, các cơ sở sản xuất dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động, chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho ngƣời lao động; Khôi phục và phát triển các làng nghề, đẩy mạnh phong trào lập nghiệp của thanh niên, tổ chức chặt chẽ hoạt động xuất khẩu lao động và bảo vệ quyền lợi cho ngƣời lao động ở nƣớc ngoài; Khẩn trƣơng mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội, sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với
  • 41.
    73 ngƣời lao độngthất nghiệp. Với các chỉ tiêu chủ yếu trong giai đoạn 2001- 2005 là tạo việc làm cho khoảng 7,5 triệu lao động qua đào tạo, bình quân 1,5triệu lao động/năm; Đặc biệt là “mở rộng thị trƣờng lao động”. Đại hội X của Đảng nêu rõ: “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đƣa đất nƣớc thoát khỏi tình trạng kém phát triển”, tạo nền tảng đến năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại; là “trong 5 năm tạo việc làm cho 8 triệu lao động”. Trong đó, ƣu tiên dành vốn đầu tƣ của Nhà nƣớc và huy động vốn của toàn xã hội để tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích ngƣời lao động tự tạo việc làm, phát triển các loại hình doanh nghiệp để thu hút nhiều doanh nghiệp. Đại hội XI, Đảng ta quán triệt quan điểm: “Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu nhập. Trên cơ sở đầu tƣ phát triển kinh tế, phải hết sức quan tâm tới yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm cho ngƣời lao động; tạo điều kiện giải quyết ngày càng nhiều việc làm, đặc biệt là cho nông dân. Hoàn thiện pháp luật về dạy nghề; ban hành chính sách ƣu đãi về đất đai, thuế, đào tạo giáo viên, hỗ trợ cơ sở hạ tầng… nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề. Đổi mới phƣơng thức, nâng cao chất lƣợng dạy và học, gắn dạy nghề với nhu cầu thực tế. Đẩy mạnh và chấn chỉnh công tác quản lý, tổ chức xuất khẩu lao động”. Đại hội Đảng XII, Đảng ta xác định gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân đƣợc hƣởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nƣớc. Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Xây dựng và thực hiện các chƣơng trình, đề án đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực 74 mũi nhọn, đồng thời chú trọng đào tạo nghề cho nông dân, đặc biệt đối với ngƣời bị thu hồi đất; nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo. Nhƣ vậy, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, thấm nhuần tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà cốt lõi là phát triển sức sản xuất, với tƣ duy đổi mới kinh tế, Đảng ta luôn xác định tạo việc làm cho ngƣời lao động sau thu hồi đất nông nghiệp là một trong những vấn đề cực kỳ quan trọng đối với nƣớc ta. 3.2. Phƣơng hƣớng tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Việc làm là một trong những vấn đề căn bản của xã hội. Thông qua tạo việc làm cho ngƣời lao động, tiến tới việc làm có hiệu quả, đƣợc tự do lựa chọn việc làm chính là giải quyết tận gốc những căn nguyên của các vấn đề xã hội, đảm bảo giữ gìn trật tự, kỷ cƣơng, an toàn xã hội. Đây là vấn đề hết sức to lớn và khó khăn đối với huyện Đông Anh. Vì trong bối cảnh kinh tế huyện phát triển chƣa tƣơng xứng với tiềm năng, điểm xuất phát kinh tế thấp, các yếu tố lợi thế chƣa đƣợc khai thác hiệu quả. Nguồn lao động tuy dồi dào về số lƣợng nhƣng chất lƣợng còn hạn chế. Nhận thức của cán bộ, nhân dân về vấn đề việc làm chƣa thống nhất. Để tạo việc làm cho ngƣời lao động nông thôn sau thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện cần quan tâm: Thứ nhất, huyện cần nắm vững nội dung của những quan điểm và chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc về tạo việc làm để từ đó ban hành và triển khai những văn bản phù hợp với chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc và đặc trƣng riêng về điều kiện kinh tế, xã hội của huyện. Trong đó, chú trọng đến các nội dung khi thực thi chính sách: Chiến lƣợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 xác định mục tiêu quan trọng hàng đầu là tạo việc làm, sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội. Chƣơng trình việc làm đến năm 2020 có mục tiêu là: Bằng
  • 42.
    75 mọi hình thứcvà biện pháp tạo việc làm cho phần lớn lao động xã hội, đảm bảo việc làm có đủ thu nhập để ngƣời lao động nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp xây dựng xã hội. Luật Lao động nêu rõ: Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm. Vì vậy, tạo việc làm cho ngƣời lao động chính là tiếp tục giải phóng triệt để tiềm năng sức lao động phù hợp với cơ chế chính sách và pháp luật. Nhà nƣớc tạo môi trƣờng và các điều kiện hỗ trợ để ngƣời lao động tự do tìm kiếm việc làm, tự tạo việc làm cho mình và cho ngƣời khác theo đúng quy định của pháp luật, phát huy đến mức cao nhất các nhân tố con ngƣời. Thứ hai, mọi ngƣời, mọi ngành, mọi thành phần kinh tế cùng tham gia tạo việc làm cho ngƣời lao động. Tạo việc làm là sự nghiệp của toàn dân, thực hiện phƣơng châm tự lo việc làm cho mình trong các thành phần kinh tế là chính, khắc phục tâm lý ỷ lại trông chờ vào Nhà nƣớc. Nhà nƣớc có trách nhiệm tổ chức quản lý, tạo việc làm cho ngƣời lao động nhƣ tạo ra môi trƣờng làm việc, khuyến khích và bảo trợ cho ngƣời lao động tự tạo việc làm, xây dựng kế hoạch, dự án tạo việc làm. Trên cơ sở đó, ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động có quyền tự do hành nghề, thuê mƣớn nhân công, đầu tƣ vào sản xuất, tạo ra nhiều việc làm cho xã hội. Đồng thời trong điều kiện cạnh tranh trên thị trƣờng lao động, một mặt ngƣời sử dụng lao động buộc phải nâng cao không ngừng chất lƣợng việc làm, mức lƣơng, thƣởng để thu hút đƣợc nhiều lao động có chất lƣợng cao. Mặt khác, ngƣời lao động nếu không đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng cao của thị trƣờng lao động sẽ đƣợc Nhà nƣớc hỗ trợ để học nghề hoặc bồi dƣỡng nâng cao tay nghề. Đối với những ngƣời thất nghiệp hoặc quá tuổi lao động, ốm đau cần có mạng lƣới bảo hiểm xã hội để họ duy trì cuộc sống tối thiểu và từng bƣớc tìm công việc mới. Tạo việc làm là trách nhiệm của Nhà nƣớc, doanh nghiệp và toàn xã hội. Các 76 ngành, các tổ chức và mỗi ngƣời lao động cần phải chủ động tạo việc làm cho bản thân mình, cho các thành viên của tổ chức mình và ngƣời lao động thuộc địa bàn mình quản lý. Thứ ba, tạo việc làm phải gắn liền với các chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội. Chiến lƣợc phát triển con ngƣời, đầu tƣ cho con ngƣời là đầu tƣ cơ bản và có hiệu quả nhất trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội. Cơ sở của một nền kinh tế phát triển vững chắc chính là nền tảng việc làm của ngƣời lao động. Việc sử dụng lao động đƣợc hƣớng vào các mục tiêu tăng trƣởng kinh tế và trở thành yếu tố quan trọng của tăng trƣởng kinh tế. Để đảm bảo tốc độ phát triển kinh tế cần thiết phải định hƣớng lựa chọn công nghệ. Việc lựa chọn công nghệ cao, công nghệ mũi nhọn sử dụng lao động có kỹ thuật góp phần tạo đà cho sự phát triển kinh tế. Đồng thời cũng phải lựa chọn và áp dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động để đáp ứng nhu cầu việc làm của xã hội. Tạo việc làm phải hƣớng vào các mục tiêu hạn chế thất nghiệp, khắc phục tình trạng thiếu việc làm và nâng cao hiệu quả việc làm, tăng thu nhập. Về mặt kinh tế, tạo nhiều việc làm, giảm thất nghiệp cũng có nghĩa là giảm sự lãng phí nguồn nhân lực. Về mặt xã hội, nó góp phần ổn định xã hội, làm giảm các hành vi tiêu cực nảy sinh do thiếu việc làm nhƣ các tệ nạn xã hội ma túy, mại dâm, cờ bạc … Tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội là hai nội dung có mối quan hệ đan xen vào nhau và cùng hƣớng vào mục tiêu hàng đầu là khai thác, sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội. Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý đến mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và sự lựa chọn công nghệ cao đòi hỏi một lực lƣợng có chất lƣợng cao. Điều này vô hình chung đã không thu hút thêm lao động xã hội mà còn đào thải một lực lƣợng lao động không có tay nghề hoặc tay nghề thấp làm tình trạng thiếu việc làm gia tăng. Ngƣợc lại, nếu cứ
  • 43.
    77 mãi lựa chọnvà áp dụng kỹ thuật thủ công có khả năng thu hút nhiều lao động, tạo ra nhiều việc làm nhƣng dễ dẫn đến nguy cơ tụt hậu về kinh tế. Do vậy, việc lựa chọn công nghệ đòi hỏi cần phải có sự tính toán để dung hòa cả hai nội dung phát triển và việc làm trong từng thời điểm. 3.3.Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 3.3.1.Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về giáo dục, đào tạo và pháp luật về tạo việc làmcho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Tăng cƣờng phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục - đào tạo, các tổ chức khoa học và công nghệ với các phƣơng tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền các chủ trƣơng, chính sách, pháp luật về tạo việc làm của Đảng, Nhà nƣớc và của địa phƣơng. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền về năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo và cơ hội việc làm cho ngƣời lao động từ các doanh nghiệp. Tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TU ngày 11/4/2008 của Ban Thƣờng vụ Thành ủy, Nghị quyết số 04/2008/NQ-HĐND ngày 22/4/2008 của Hội đồng nhân dân thành phố về một số chủ trƣơng, giải pháp chủ yếu đáp ứng yêu cầu hội nhập công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố đến năm 2010, định hƣớng 2020. Phối hợp các hoạt động tƣ vấn nghề nghiệp tại các cơ sở đào tạo, dạy nghề và tại các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên, học viên lựa chọn nghề phù hợp, đồng thời có nhiều thông tin cần thiết về việc làm khi sắp tốt nghiệp. Chú trọng tuyên truyền đối với các đối tƣợng học sinh và gia đình các em đang trong độ tuổi học trung học cơ sở, trung học phổ thông để có nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp, chủ động lựa chọn các loại hình việc làm phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình. 78 Củng cố nâng cao chất lƣợng và phát triển hệ thống thông tin về thị trƣờng lao động nhằm giải quyết tốt hơn quan hệ cung cầu lao động, cung cấp kịp thời đầy đủ thông tin về thu nhập, nhu cầu của thị trƣờng để ngƣời lao động biết và lựa chọn đăng ký làm việc. 3.3.2. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc làm đối với nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông thôn hiện nay. Quán triệt sâu sắc các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc nhằm tăng cƣờng công tác tạo việc làm, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể, các cơ sở giáo dục - đào tạo. Trƣớc tiên, sau khi chính sách đƣợc thực thi, cần tổ chức giới thiệu, phổ biến rộng rãi công khai hoá các nội dung của chính sách để cán bộ, nhân dân cùng biết và thực hiện. Sau khi triển khai vào đời sống, nội dung chính sách phải trở thành văn kiện có tính chất pháp lý làm cơ sở cho các hoạt động tạo việc làm trên địa bàn huyện. Chủ tịch UBND huyện trực tiếp chỉ đạo triển khai, tổ chức kiểm tra, giám sát thực hiện. Các cấp uỷ Đảng thông qua hệ thống của mình cần phải có đủ thông tin để kịp thời phát hiện vấn đề và có ý kiến chỉ đạo. HĐND các cấp đại diện cho nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia giám sát và phản hồi việc thực hiện chính sách. Chỉ đạo xây dựng chi tiết các kế hoạch thực hiện các nội dung, chủ yếu là tập trung xây dựng biện pháp thực hiện các định hƣớng phát triển các ngành chính trong huyện để tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho ngƣời lao động. Đổi mới nâng cao chất lƣợng hoạt động của các cơ quan tham mƣu, giúp việc về công tác tổ chức, cán bộ, trong đó chú trọng nâng cao phẩm chất và năng lực, kiện toàn đội ngũ cán bộ,công chức làm công tác tổ chức. Phân định
  • 44.
    79 rõ thẩm quyềnvà trách nhiệm quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã, các phòng ban, đơn vị trong việc theo dõi, dự báo, xây dựng kế hoạch để tạo việc làm. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo thuận lợi thu hút vốn đầu tƣ, triển khai nhanh các dự án lớn trên địa bàn để phát triển kinh tế - xã hội qua đó kích cầu, tạo môi trƣờng thu hút nhân lực trên địa bàn. Tập trung phát triển các ngành nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ ở các lĩnh vực trọng tâm nhƣ: sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp, chế biến nông lâm thủy sản dịch vụ, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đạt mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 3.3.3. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo mở việc làmcho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Phát triển kinh tế - xã hội là mục tiêu cơ bản nhất quyết định việc tăng giảm việc làm. Do vậy cần tập trung chỉ đạo thực hiện một số chƣơng trình phát triển kinh tế trọng điểm, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành nghề sản xuất, chuyển dần lao động nông nghiệp sang phát triển ngành nghề thủ công nghiệp và dịch vụ trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Phát triển mạnh và nâng cao chất lƣợng các ngành công nghiệp, dịch vụ và các ngành sử dụng nhiều lao động hoặc sử dụng lao động có trình độ kĩ thuật cao trong các khu công nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.  Ngành nông nghiệp: Phát triển toàn diện nông- lâm-ngƣ nghiệp có năng lực sản xuất cao, đáp ứng đƣợc nhu cầu CNH-HĐH và phát triển bền vững, bảo vệ môi trƣờng, sinh thái, góp phần vào việc nâng cao mức sống, dân cƣ, chuyển đổi bộ mặt nông thôn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ kinh tế thuần nông sang kinh tế nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ, đồng thời chuyển dịch theo hƣớng giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động dịch vụ, sản xuất, cung cấp lực lƣợng lao động cho các ngành phi nông nghiệp. Tập trung sản xuất nông 80 sản hàng hóa theo nhóm sản phẩm trên cơ sở dự báo nhu cầu trong nƣớc và xuất khẩu. Lựa chọn hiệu quả tối ƣu trên đơn vị diện tích. Đƣa khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, nâng cao trình độ quản lý sản xuất, chọn lọc và ứng dụng nhanh các tiến bộ mới về công nghệ sinh học, hƣớng tới một nền nông nghiệp sạch. Phát triển ngành trồng trọt theo hƣớng chuyển đổi cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao, chuyển tình trạng chăn nuôi theo phƣơng pháp nuôi trồng truyền thống sang chăn nuôi theo phƣơng pháp công nghiệp. Phát triển những mô hình kinh tế trang trại, kinh tế hộ, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Từng bƣớc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông nghiệp theo hƣớng chuyển dần sang ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Khuyến khích nông dân làm giàu thông qua việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, phát triển cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế, áp dụng mạnh các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm tạo ra nguồn hàng hoá phục vụ trong nƣớc và xuất khẩu. Phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân, giảm bớt hộ nông nghiệp thuần tuý, tăng hộ nông dân kiêm ngành nghề và dịch vụ. Nâng cao trình độ dân trí của nông dân, xây dựng nông thôn mới theo hƣớng văn minh, hiện đại.  Ngành công nghiệp – xây dựng: Công nghiệp phải tạo ra sự vƣợt trội trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khai thác tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên, phát huy mọi tiềm năng lợi thế để đẩy mạnh phát triển công nghiệp tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ trong nền kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Tập trung đầu tƣ mở rộng sản xuất, củng cố và phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp dƣới mọi hình thức và có sự tham gia
  • 45.
    81 của các thànhphần kinh tế trên địa bàn. Tập trung đầu tƣ duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống nhƣ: mộc dân dụng, sản xuất đồ nội thất trang trí, cơ khí. Phát triển nhanh trên cơ sở trang bị kỹ thuật hiện đại với quy mô thích hợp, đảm bảo tính bền vững hiệu quả, phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trƣờng. Góp phần quan trọng chuyển nền kinh tế huyện từ chƣa cân đối sang nền kinh tế có sự phát triển đồng đều của các ngành dịch vụ, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Gắn việc phát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp với việc phát triển các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong đó chú trọng đến tạo nguồn nguyên liệu tại chỗ thực hiện công nghiệp hoá nông thôn thúc đẩy giao lƣu kinh tế, phát triển thƣơng mại, dịch vụ ... Chú trọng thị trƣờng trong nƣớc, đồng thời hƣớng mạnh ra xuất khẩu để tận dụng lợi thế so sánh về lao động. Kế thừa và phát triển các ngành nghề truyền thống nhằm thu hút lao động và nâng cao thu nhập của ngƣời dân. Chú trọng đầu tƣ đổi mới thiết bị, dây truyền công nghệ theo hƣớng tiên tiến, hiện đại nhằm tăng năng suất lao động hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo chất lƣợng cao... đáp ứng theo yêu cầu của thị trƣờng. Đẩy mạnh việc xây dựng một số khu, cụm công nghiệp trên địa bàn nhƣ: khu công nghiệp Bắc Thăng Long, cụm công nghiệp Nguyên Khê, khu công nghiệp Đông Anh.  Ngành dịch vụ: Phấn đấu tốc độ tăng trƣởng ngành dịch vụ trong thời kì 2016- 2020 bình quân hàng năm là từ9%- 11%, góp phần phân bổ lại lao động trong các ngành kinh tế của huyện. Xây dựng chƣơng trình phát triển dịch vụ, du lịch của huyện phù hợp với chƣơng trình phát triển du lịch của thành phố. Tiếp tục đầu tƣ để phát 82 triển mạnh ngành du lịch với các loại hình: tham quan, du lịch sinh thái, lễ hội. Đầu tƣ mở rộng các dự án du lịch đã đƣợc xây dựng theo hƣớng đồng bộ và hiện đại; bên cạnh đó cần đầu tƣ mạnh để tạo ra nhiều loại hình du lịch và nhiều sản phẩm du lịch hơn nữa để thu hút khách quốc tế và khách nội địa, từng bƣớc thể hiện đƣợc vai trò là một trong những điểm du lịch lịch sử, văn hóa lớn của Thủ đô. 3.3.4. Đẩy mạnh thu hút đ u tư tạo nguồn vốn trong lĩnh vực tạo việc làmcho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Bằng các giải pháp đồng bộ huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tƣ và phát triển. Khuyến khích thu hút các nguồn vốn đầu tƣ, các loại hình xã hội hóa, các lĩnh vực ngân sách Nhà nƣớc không đủ điều kiện đầu tƣ. Tiếp tục cải thiện môi trƣờng kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính theo hƣớng công khai, minh bạch. Chú trọng thu hút các nhà đầu tƣ có năng lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tham gia đầu tƣ phát triển huyện. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu, cụm công nghiệp, tạo mặt bằng sạch cho các nhà đầu tƣ.Tăng cƣờng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài FDI và ODA, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đã cam kết; có định hƣớng thu hút đầu tƣ vào các vùng, các lĩnh vực ƣu tiên một cách hợp lý. Huy động tối đa các nguồn nội lực, trong đó chú trọng nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tƣ thực hiện dự án có sử dụng đất để đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng. Tăng cƣờng huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân để tăng vốn Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm cho lao động nông thôn; đầu tƣ ngân sách thỏa đáng để mở rộng mạng lƣới dạy nghề, phổ cập nghề, hỗ trợ vốn cho doanh nhân nông thôn. Có chính sách, các cơ chế ƣu đãi về đất đai, thuế và các nguồn lực khác để khuyến khích doanh nghiệp, cá nhân đầu tƣ sản xuất, kinh doanh, đầu tƣ đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp và cho xã hội
  • 46.
    83 cho các cơsở dạy nghề, đặc biệt là các nghề kỹ thuật cao. Đầu tƣ phát triển kết cấu hạ tầng dịch vụ thị trƣờng lao động, tín dụng ƣu đãi cho ngƣời lao động vay vốn tạo việc làm. Tạo môi trƣờng thuận lợi và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tƣ vào khu vực nông thôn để phát triển sản xuất, tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho ngƣời lao động ở nông thôn cải thiện đời sống. 3.3.5. Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề và hệ thống các bậc học phổ thông của huyện Chủ động triển khai các định hƣớng ƣu tiên về giáo dục của các Bộ, ngành Trung ƣơng, Thành phố và bằng các hình thức liên kết hợp tác với các trƣờng đại học để tiếp tục mở rộng quy mô đào tạo trình độ đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên địa bàn. Xây dựng và đầu tƣ nâng cấp mở rộng các trƣờng dạy nghề có chất lƣợng. Chú trọng nâng cao trình độ của giáo viên và trang thiết bị dạy nghề phù hợp với yêu cầu về tạo việc làm hiện nay. Đổi mới chƣơng trình giảng dạy, nâng cao chất lƣợng giáo dục. Duy trì phổ cập bậc trung học và nghề với quy mô học sinh ổn định ở mọi cấp học. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng trƣờng học đạt chuẩn quốc gia. Tăng cƣờng sự liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nƣớc, các cơ quan tổ chức và doanh nghiệp Trung ƣơng, thành phố trên địa bàn huyện để hỗ trợ trong vấn đề đào tạo, cung ứng sử dụng nhân lực có hiệu quả nhất. Khai thác hiệu quả các chƣơng trình, đề án phát triển nhân lực của Thành phố trong việc góp phần thúc đẩy công tác tạo việc làm của huyện. 3.3.6. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là một giải pháp quan trọng trong giải quyết việc làm, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao trình độ tay nghề cho ngƣời lao động. Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động cần tăng cƣờng công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin cho ngƣời lao động về 84 chính sách xuất khẩu lao động của Nhà nƣớc, làm rõ lợi ích của việc xuất khẩu lao động đối với vấn đề tạo việc làm và tăng thu nhập cho ngƣời dân. Đồng thời, chuẩn bị đủ nguồn lao động đảm bảo chất lƣợng đáp ứng yêu cầu thị trƣờng xuất khẩu. Nâng cao chất lƣợng nguồn lao động, tăng khả năng cạnh tranh với các địa phƣơng khác để đẩy mạnh xuất khẩu lao động trong thời gian tới. Tiếp tục hoàn thiện chính sách ƣu đãi thuế, hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động. Cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo sự thông thoáng và giảm phiền hà cho ngƣời lao động và doanh nghiệp. Tiến hành kiểm tra thƣờng xuyên chất lƣợng của các doanh nghiệp về xuất khẩu lao động, tạo ra các cầu nối giữa ngƣời lao động và doanh nghiệp. 3.3.7. Hoàn thiện chuyên môn và kỹ năng của đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình thực thi chính sách Chủ thể thực thi chính sách chính là các cán bộ, công chức của bộ máy hành chính. Đội ngũ này có ảnh hƣởng quan trọng đối với quá trình thực thi. Trong những năm qua, chúng ta mới chỉ quan tâm đến việc tăng cƣờng năng lực cho hệ thống tổ chức các cơ quan quản lý hành chính ở các cấp, các ngành có chức năng, nhiệm vụ thực hiện chính sách và chƣa chú trọng đến hệ thống các đơn vị sự nghiệp cấp cơ sở. Trong giai đoạn tới để bảo đảm thực thi tốt chính sách cần quan tâm thực hiện các giải pháp sau: Tăng cƣờng số lƣợng cán bộ đảm bảo đủ ngƣời làm công tác trợ giúp xã hội. Việc tăng cƣờng gồm cả nâng cao trình độ chuyên môn và số lƣợng cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở. Tập trung nâng cao chất lƣợng cán bộ chủ chốt trong thực hiện chính sách vì đây là nhân tố quyết định tạo sự chuyển biến sâu sắc các hoạt động triển khai ở cơ sở. Do đó, nếu quan tâm đến bồi dƣỡng và đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt có trình độ ở ngay cấp huyện, xã sẽ tạo bƣớc phát triển mới trong tổ chức triển khai thực hiện chính sách ở
  • 47.
    85 địa bàn. Đồngthời, khi chính sách đƣợc triển khai xuống cấp huyện và xuống cấp xã đội ngũ cán bộ, công chức là lực lƣợng nòng cốt trong việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách và có ý nghĩa quyết định đến kết quả và hiệu quả của chính sách. Đồng thời, phải quy định cụ thể chính sách đối với những cán bộ xã hội, từ đó có hệ số lƣơng, phụ cấp đặc biệt. Chính phủcần quy định danh mục nghề công tác xã hội, có mã nghề đào tạo, vị trí làm việc và tiêu chuẩn nghiệp vụ, có hệ thống thang bảng lƣơng phù hợp với trình độ đào tạo và tính chất công việc. Đối với một số lĩnh vực đặc biệt cần có chế độ phụ cấp ƣu đãi. Giải quyết tình trạng yếu của cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ cấp xã, huyện bằng cách tiếp tục tăng cƣờng đào tạo ngắn hạn thông qua việc tổ chức tập huấn theo từng chuyên đề, tập huấn triển khai thực hiện chính sách, thăm quan các mô hình... Đây là những giải pháp cấp thiết và phù hợp trong thời gian ngắn, nhằm đáp ứng nâng cao năng lực cán bộ cơ sở. Đội ngũ này cần hoàn thiện hơn về chuyên môn và những kỹ năng trong quá trình thực thi. Chính là việc năng cao khả năng hiểu biết về hệ thống pháp luật, đặc biệt là các bộ luật có liên quan trực tiếp đến chính sách tạo việc làm. Nắm bắt rõ ràng tình hình thực thi chính sách tạo việc làm của huyện để từ đó có thể thực thi đúng công việc, quyền hạn và phù hợp với yêu cầu của chính sách. Kỹ năng thực thi chính sách cũng là một yếu tố cần thiết, đó là khả năng thuyết trình, phổ biến giải thích nội dung chính sách đến ngƣời dân, sao cho ngƣời dân biết đƣợc nội dung chính sách và đồng thuận tham gia. Ngoài ra còn các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng ra quyết định cũng cần đƣợc bồi dƣỡng. Những vấn đề này mỗi ngƣời cán bộ, công chức thực thi chính sách cần luôn luôn trau dồi và không ngừng học hỏi. 86 3.3.8. Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát quá trình thực thi chính sách, có cơ chế hen thưởng và kỷ luật thích hợp Luật pháp và các chính sách cụ thể của Nhà nƣớc có tác động rất lớn đến vấn đề tạo việc làm cho ngƣời lao động. Hoạt động thanh tra, kiểm tra nếu đƣợc tiến hành thƣờng xuyên sẽ giúp cho việc thực thi chính sách phát hiện kịp thời những sai xót để từ đó đƣa ra những quyết định kịp thời, không ảnh hƣởng đến mục tiêu của chính sách đã đề ra. Vì vậy, huyện cần xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát hợp lý, minh bạch. Hàng năm, cơ quan chức năng cần tổ chức kiểm tra khoảng 30% số xã theo chuyên đề, công tác kiểm tra cũng thực hiện thông qua các kênh thông tin đại chúng. Cùng với kiểm tra, trong công tác giám sát đánh giá đã xây dựng chỉ tiêu báo cáo, các địa phƣơng đã thực hiện thống kê đối tƣợng, kết quả thực hiện chính sách, có phân công trách nhiệm các cấp, các ngành và huy động đƣợc sự tham gia của các tổ chức đoàn thể trong việc giám sát thực hiện chính sách. Tuy nhiên, mới có chỉ tiêu báo cáo thống kê về số lƣợng đối tƣợng, kết quả thực hiện trợ cấp, chƣa có chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng, mức độ chính sách, tác động chính sách và các địa phƣơng làm cũng chƣa thƣờng xuyên, chất lƣợng số liệu báo cáo chƣa cao, thiếu thông tin... Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, công tác kiểm tra, giám sát đánh giá cũng cần từng bƣớc đổi mới phù hợp, cụ thể: - Phải có đƣợc hệ thống chỉ số, thông tin báo cáo hợp lý ở từng cấp và có phƣơng pháp thu thập thông tin khoa học để có thể thu thập đầy đủ thông tin một cách trung thực nhất. Chỉ tiêu cảnh báo cho các cấp, các ngành các địa phƣơng hiểu rõ hơn chất lƣợng và hiệu quả của việc thực hiện chính sách và đo lƣờng mức độ tiến bộ của hệ thống chính sách. - Tăng cƣờng sự tham gia của ngƣời dân vào quá trình tổ chức thực hiện, nhất là việc xác định đối tƣợng hƣởng vay vốn, ƣu tiên bảo đảm tính công khai minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện.
  • 48.
    87 - Đổi mớivề phƣơng thức theo dõi giám sát, xác định đối tƣợng, cần đơn giản, phân cấp triệt để cho địa phƣơng. Duy trì chế độ thông tin báo cáo trung thực và đầy đủ. Cần thiết lập chế độ thông tin báo cáo định kỳ hàng tháng, hàng quý và hàng năm giữa xã với huyện; chế báo cáo hàng quý, 6 tháng, 1 năm giữa huyện với cấp thành phố. Để hoàn thiện đƣợc các quy trình quản lý này đòi hỏi cần tăng cƣờng cán bộ cho cấp cơ sở, đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng và đặc biệt là từng bƣớc đầu tƣ trang thiết bị máy tính cho cấp huyện, xã. Đồng thời, xây dựng và thực hiện cơ chế khen thƣởng thích hợp nhằm động viên kịp thời các cá nhân, tổ chức có thành tích trong triển khai thực hiện chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động. Song song với đó, khi phát hiện sai phạm cần các biện pháp xử lý, kỷ luật thích đáng để ngăn chặn các hành vi sai phạm, làm giảm hiệu quả của chính sách trong thực tiễn. 88 KẾT LUẬN Tạo việc làm là chính sách đóng vai trò quan trọng, tác động trực tiếp đến đời sống của ngƣời lao động. Là giải pháp giúp xoá đói, giảm nghèo, thông qua tạo việc làm ngƣời lao động có công việc ổn định, tạo ra thu nhập cho bản thân và xã hội. Tạo việc làm luôn là một vấn đề chính trị - kinh tế - xã hội cấp bách hiện nay. Tạo việc làm cho ngƣời lao động phải gắn với phát triển nguồn nhân lực, để kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội. Con ngƣời là mục tiêu, động lực phát triển đồng thời cũng là chủ thể sáng tạo đổi mới và hoàn thiện quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Mối quan hệ này vừa là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển vừa là đòi hỏi chủ quan bức xúc của quản lý kinh tế - xã hội và nền kinh tế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc thông qua việc triển khai các chính sách. Việc làm thay đổi tích cực đời sống của ngƣời dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, hình thành thị trƣờng lao động, nâng cao chất lƣợng đời sống, góp phần tích cực vào mục tiêu “dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Với tính chất quan trọng, vấn đề việc làm và tạo việc làm cho ngƣời lao động luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc chỉ đạođầu tƣ, xây dựng triển khai chiến lƣợc, chính sách, chƣơng trình. Trên cơ sở đó, Đảng bộ và chính quyền huyện Đông Anh đã đẩy mạnh việc thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn. Mỗi năm bình quân huyện tạo việc làm cho hàng nghìn lao động. Góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế, phát triển cộng đồng và cải tạo bộ mặt của huyện, bƣớc đầu hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao rõ rệt đời sống của ngƣời dân. Đồng thời, việc triển khai thực thi chính sách tạo việc làm trong thời gian qua cũng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác quản lý. Làm sao để tạo đƣợc nhiều việc làm cho ngƣời lao động và làm sao khai thác đƣợc hết tiềm năng của sức lao động
  • 49.
    89 trong quá trìnhphát triển kinh tế- xã hội luôn là câu hỏi cần đƣợc nghiên cứu và trả lời trong toàn quá trình thực thi chính sách. Xuất phát từ mục tiêu và yêu cầu, luận văn “Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” đã giải quyết đƣợc những nội dung sau: Luận văn đã hệ thống đƣợc vấn đề lý luận về việc làm, tạo việc làm, chính sách tạo việc làm, thực thi chính sách tạo việc làm,sự cần thiết phải thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, là cơ sở lý luận khoa học để đề ra các giải pháp. Đồng thời, đƣa ra các căn cứ thực tiễn, kinh nghiệm của các địa phƣơng về thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. Mỗi địa phƣơng đều có những đặc trƣng riêng với những cách thực hiện cũng nhƣ các thế mạnh riêng trong công tác triển khai thực hiện chính sách. Vì vậy, việc học hỏi, tiếp thu có chọn lọc để áp dụng vào thực tiễn của Đông Anh là điều hoàn toàn cần thiết. Để đánh giá thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất trên địa bàn Đông Anh, thành phố Hà Nội, tác giả tập trung phân tích thực trạng các nội dung chính sách về: chính sách đào tạo nghề, chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chính sách phát triển làng nghề, chính sách hỗ trợ ngƣời lao động đi làm việc tại nƣớc ngoài. Đây là cơ sở để luận văn đƣa ra những đánh giá và nhận xét về hoạt động thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất trên địa bàn Đông Anh. Hoạt động thực thi chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn Đông Anh thời gian qua đã có nhiều thành tựu. Việc triển khai chính sách đƣợc thực hiện đồng bộ, với nhiều hoạt động thiết thực để tạo việc làm cho ngƣời lao động sau khi mất đi diện tích đất canh tác nông nghiệp. Đồng thời, huyện cũng chủ động thực hiện các văn bản quy 90 phạm pháp luật về chính sách tạo việc làm, xây dựng các thiết chế hỗ trợ ngƣời lao động tự tạo việc làm, thành lập và sử dụng Quỹ quốc gia về tạo việc làm, gắn đào tạo nghề với tạo việc làm, phát huy và cải tiến các sản phẩm truyền thống đặc sắc của các làng nghề và tổ chức xuất khẩu lao động cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. Đã góp phần quan trọng huy động sự tham gia của các cấp, các ngành và toàn xã hội về tạo việc làm cho ngƣời lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. Tuy nhiên do tiến trình phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên diện tích đất canh tác bị thu hồi ngày càng tăng nên đặt ra những yêu cầu lớn hơn, đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất cao của các cấp ủy Đảng, chính quyền cùng ngƣời lao động để có thể đạt đƣợc kết quả cao nhất.
  • 50.
    91 TÀI LIỆU THAMKHẢO 1. Trần Phƣơng Anh (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nước ta, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Khoa học xã hội. 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2005), Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm, của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia. 3. Nguyễn Kim Cam (2009), Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị mất đất ở bốn huyện phía Tây Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 4. Trần Thị Minh Châu, Vũ Văn Phúc, (2010), Chính sách hỗ trợ của nhà nước ta đối với nông dân trong điều kiện Hội nhập WTO, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 5. Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 6. Trần Hữu Chung, Nguyễn Hữu Dũng, (1997), Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội. 7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VII, VIII, IX, X), Nxb Chính trị quốc gia, 2007. 8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2011. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2016. 10.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng về phát triển nông nghiệp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009. 11.Đảng bộ huyện Đông Anh (2015), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XXVII. 92 12.Đinh Văn Định (2004), Một số vấn đề lao động, việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lao động. 13.Lâm Thị Mỹ Dung, Đặng Hồng Sơn (2005), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu khảo cổ học huyện Đông Anh, Sóc Sơn thực hiện đề án "Nghiên cứu Khảo cổ học trên địa bàn thành Thành phố Hà Nội năm 2004" của Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, tƣ liệu thƣ viện Bảo tàng Nhân học, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội. 14.Nguyễn Hữu Dũng (2005), Thị trƣờng lao động và định hƣớng nghề nghiệp cho ngƣời lao động, Nxb Lao động - xã hội. 15.Nguyễn Hữu Hải (2008), Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách công, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội; 16.Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa (2013), Đại cương về chính sách công, Nxb chính trị quốc gia. 17.Hồ Chí Minh toàn tập (1996), Nxb Chính trị quốc gia. 18.Hồ Chí Minh toàn tập (2000), Nxb Chính trị quốc gia. 19.Học viện Hành chính (2013), Giáo trình Hoạch định và thực thi chính sách công, Nxb Chính trị Quốc gia. 20.Hội đồng nhân dân Huyện Đông Anh (2010), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Đông Anh giai đoạn 2010 -2014, định hướng đến năm 2020. 21.Bùi Thị Thu Hiền (2015), Quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Luận án thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. 22.Phạm Văn Khôi (2007), Giáo trình phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn, Nxb Đại học kinh tế quốc dân.
  • 51.
    93 23.Lê Chi Mai(2001), Những vấn đề cơ bản về chính sách và chính sách công, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. 24.Nguyễn Văn Nhƣờng (2011), Chính sách an sinh xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh), Luận án tiến sĩ, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. 25. Lê Quang Phi (2007), Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia. 26. Nguyễn Minh Phong (2011), “Chính sách lao động - việc làm nhìn từ góc độ kinh tế vĩ mô”, Tạp chí Tài chính điện tử, số 96 ngày 15/6/2011. 27. Hoàng Phê (2002), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng. 28. Nguyễn Ngọc Phú (ch.b) (2010), Thực trạng nguồn nhân lực, nhân tài của đất nước hiện nay: Những vấn đề đặt ra - giải pháp, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội. 29. Chu Tiến Quang (2011), Việc làm ở nông thôn – thực trạng và giải pháp, Nxb Nông nghiệp. 30. Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Đất đai 31. Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012) Bộ luật Lao động. 32. Nguyễn Đức Thắng (2011), “Những yếu tố ảnh hƣởng đến thực thi chính sách công ở cấp cơ sở”, Nội san hành chính học, số 4. 33. Bùi Ngọc Thanh và cộng sự (1996), Nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 34. Nguyễn Đình Tuấn (2012), Giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tỉnh Thanh Hóa. 94 35.Văn Tất Thu (2016), “Năng lực thực hiện chính sách công – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, đăng ngày 29/11/2006 tại trang wed http://tcnn.vn. 36.Nguyễn Sơn Tùng (1998), Cơ sở lý luận và thực tiễn cho một số chính sách và giải pháp nhằm giải quyết việc làm ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, Viện quản lý kinh tế trung ƣơng. 37.Thủ tƣớng Chính phủ (2006), Chỉ thị số 11/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 27/3/2006 về giải pháp hỗ trợ nghề và việc làm cho lao động vùng chuyển đổi mục đất. 38.Thủ tƣớng Chính phủ (2008), Quyết định số 103/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 21/7/2008 về việc phê duyệt Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015. 39.Thủ tƣớng Chính phủ (2009), Quyết định số 1956/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 27/11/2009 về việc phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn đến năm 2020. 40. Thủ tƣớng Chính phủ (2012), Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 16/11/2012 về chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp. 41.Tổng cục Thống kê (2010), Niên giám thống kê Hà Nội giai đoạn 2010- 2014, Nxb Thống kê. 42.Tổng cục Thống kê (2011), Niên giám thống kêHà Nội giai đoạn 2011- 2015, Nxb Thống kê. 43.Nguyễn Tiệp (2011), “Việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất”, Tạp chí Cộng sản, đăng ngày 22/12/2011 tại trang http://www.tapchicongsan.org.vn. 44.Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  • 52.
    95 45.Ủy ban nhândân huyện Đông Anh (2011), Báo cáo tình hình lao động huyện Đông Anh giai đoạn 2011 -2015. 46. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2015), Quyết định số 6630/QĐ- UBND ngày 2/12/2015 về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng Hai bên tuyến đường Nhật Tân - Nội Bài. 47.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật.