15 Điều Phật Quy MỤC LỤC
1
MỤC LỤC
15 ĐIỀU PHẬT QUY
 LỜI GIỚI THIỆU ........................................................03
 TÔN KÍNH TIÊN PHẬT................................................05
 TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU....................................................13
 TỀ TRANG TRUNG CHÍNH ..........................................19
 TUÂN QUY ĐẠO CỦ ....................................................25
 TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI..........................................32
 TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM....................................39
 KHIÊM CUNG HÒA ÁI.................................................44
 VẬT KHÍ THÁNH HUẤN ..............................................50
 MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG ........................................55
 THỦ TỤC TẤT THANH .................................................62
 XUẤT CÁO PHẢN DIỆN...............................................67
 BẤT LOẠN HỆ THỐNG ................................................72
 ÁI TÍCH CÔNG VẬT ....................................................77
 HOẠT BÁT ỨNG SỰ.....................................................82
 CẨN NGÔN THẬN HÀNH.............................................87
10 Điều Đại Nguyện MỤC LỤC
2
10 ĐIỀU ĐẠI NGUYỆN
 THANH TÂM BẢO THỦ................................................96
 (NAM) THỰC TÂM SÁM HỐI.......................................100
 (NỮ) THỰC TÂM TU LUYỆN........................................100
 HƯ TÂM GIẢ Ý............................................................104
 THỐI RÚT BẤT TIỀN...................................................109
 KHI SƯ DIỆT TỔ.........................................................113
 MIỄU THỊ TIỀN NHÂN................................................117
 BẤT TUÂN PHẬT QUY.................................................121
 TIẾT LỘ THIÊN CƠ .....................................................124
 NẶC ĐẠO BẤT HIỆN ...................................................127
 (NAM) BẤT LƯỢNG LỰC NHI VI.................................132
 (NỮ) BẤT THÀNH TÂM TU LUYỆN GIẢ.......................132
15 Điều Phật Quy LỜI GIỚI THIỆU
3
LỜI GIỚI THIỆU
Ơn của Trời Đất không nơi nào không được ban bố.
Từ bi của Tiên Phật thực sự có thể cảm nhận được, khó
mà báo đáp được.
Cảm tạ HOÀNG THIÊN từ bi, cảm tạ lòng ái từ của Tiên
Phật. Vì sợ chúng sanh thời mạt hậu này căn cơ thấp
kém, khó tu được trở về trời. Cho nên nhiều lần lâm đàn,
vẫn đem chân ý của 15 điều Phật Quy trình bày lại.
Lần thứ nhất là ở Thái Lan, Liên Hoa Phật đường, vào
ngày 12 tháng 7 năm 1997, lúc tiết ôn tập lại 3 ngày
pháp hội, Hán Chung Ly Đại Tiên từ bi lâm đàn tường
thuật. Lần thứ 2 vào ngày 5 tháng 12 cùng năm tại
Malaysia, Chánh Nghĩa Phật đường, lúc mở lớp Phật quy,
Hoạt Phật Ân Sư lâm đàn thuật lại lần nữa. Vào ngày 28
tháng 2 năm 1998 (Âm lịch mùng 2 tháng 2), ngày
Thánh đản của Tế Công Hoạt Phật, tại Đài Bắc, Nhân
Đức Phật đường, Hoạt Phật Ân Sư lại một lần nữa lâm
15 ĐIỀU PHẬT QUY
15 Điều Phật Quy LỜI GIỚI THIỆU
4
đàn độ hóa, cũng đem hàm ý của 15 điều Phật quy bổ
sung thêm và giảng rõ hơn, càng được hoàn thiện.
Hán Chung Ly Đại Tiên có nói: “Đừng xem thường 15
điều Phật quy, đây là bậc thang tốt nhất nếu như chiếu
theo mà hành thì thành Phật có dư.”
Nay tập hợp lại ý nghĩa trọng yếu của ba thiên huấn văn
trên, hy vọng mỗi một vị Tiền Hiền có tâm tu Đạo bàn
Đạo, đều có thể thâm hiểu chân nghĩa 15 điều Phật Quy
này, đồng thời vĩnh viễn cảm ơn Thiên Ân và báo đáp
Thiên Ân !
15 Điều Phật Quy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT
5
Các con tôn kính Tiên Phật, không những chỉ là tôn
kính Tiên Phật nhìn thấy bên ngoài, mà còn phải tôn kính
vị Tiên Phật ở trong lòng mình nữa. Các trò đều rất tôn
kính Tiên Phật trong Phật đường, nhưng còn vị tự tánh
Phật trong lòng thì sao? Trò có tôn kính không? Có thật
sự kính trọng không? Các trò nếu có chút chuyện thì
luôn luôn nghĩ đến cầu xin Tiên Phật, có bao giờ nghĩ
đến cầu cứu ở bản thân mình, vị tự tánh Phật đó không?
Phật nói: “Tức tâm tức Phật” “Tâm tức thị Phật”,
vậy thật sự Phật tại đâu đây? Thật ra Phật tại trong tâm
các con! Chỉ là các con làm tất cả mọi việc đều không rời
tự tánh, ngoài không trái với Phật hành, mọi việc đều
hợp với thiên lý tất cả không trái với lương tâm, như thế
mới thật sự là tôn kính Tiên Phật!
Cũng như Phục Thánh Nhan Hồi đắc được nhất chỉ điểm
thì “quyền quyền phục ưng”, quyền quyền phục ưng
thành tâm bảo thủ đó mới chính là tôn kính Tiên Phật ở
bản thân mình. Vì sao Nhan Hồi phải “quyền quyền phục
ưng” như vậy? Tại vì ông ta biết được cuộc sống của con
người rất ngắn ngủi, việc đời thật vô thường, cho nên
1. TÔN KÍNH TIÊN PHẬT
(Đạo Tế Thiên Tôn Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT
6
ông ta muốn nắm lấy cơ hội đi hành thiện, đi tích đức,
tranh thủ cơ hội đi hành công đi lập đức.
Nhan Phu Tử rất thông minh, ông biết con người khó
sống tới trăm tuổi, cho nên không hướng ngoài tu,
không hướng nhìn bên ngoài, chỉ hết lòng hướng về nội
tâm để tu tự tánh Phật của mình, chuyên tâm chuyên ý
sửa đi thói hư tật xấu, cho nên mới có thể tu đến cảnh
giới “bất thiên nộ, bất nhị quá”, 32 tuổi đã trở thành
Thánh nhân kiệt xuất, nếu như không phải hướng vào
nội tâm tu, tôn kính tự tánh Phật thì có thể thành tựu
như thế không?
Tăng Phu tử cũng tu hành như nhau, đã từng nói qua:
“Ngô nhật tam tỉnh ngô thân: Vi nhân mưu nhi bất trung
hồ? Dĩ bằng hữu giao nhi bất tín hồ? Truyền nhi bất tập
hồ?”, tức là mỗi ngày phản tỉnh: Tôi làm việc cho người
ta đã tận tâm tận lực không? Giao tiếp với bạn bè có
chân thật hoặc thất tín không? Những gì Thầy dạy mình
có nỗ lực chăm chỉ học tập và ôn lại không?
Hai người đều để việc tu đi đầu, ngưng trên phương diện
một người hướng bên trong, một người hướng ra bên
ngoài, chỉ có một sai biệt nho nhỏ mà sau này thành tựu
tự nhiên có cao có thấp khác biệt hẳn. Nếu như các vị
hướng nội tu, lấy cái tự tánh Phật làm chủ, thì thứ bậc tự
nhiên sẽ cao. Nếu như hướng ngoại tu, chú trọng về
15 Điều Phật Quy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT
7
ngoại tướng, thì tầng thứ tự nhiên sẽ thấp. Tuy là thấy
sự sai biệt chỉ rất nhỏ, nhưng phải ghi nhớ điều sai biệt
rất nhỏ này, cho nên mới nói “sai chi hào li, mậu dĩ Thiên
Lý”.
Các đồ đệ hãy xem Nhan Phu tử, ngày ngày đêm
đêm nghiêm túc chăm chỉ sửa đi thói hư tật xấu,
tu tâm tánh, vun bồi nội đức. Vả lại nắm lấy thời
cơ hành thiện, hành Đạo, giờ phút nào cũng phải
cẩn thận và rất sợ hãi về giới luật như gần vực
thẳm, như đi trên băng mỏng, rất sợ mình mất
phải sai lầm dù nhỏ như tơ, giờ phút nào cũng hồi
quang phản chiếu, dùng cái giác đế làm Thầy, cho
nên cái sinh mạng ngắn ngủi đó đã được thành
tựu một vị Thánh nhân.
Mà Tăng Phu tử cũng tu tâm như vậy, nhưng chú trọng
về đãi người và xử thế, là những cái có hình tướng. Cho
nên thành tựu Thánh nhân có cao thấp, rốt cuộc là chỉ
khác nhau có một chút. Vì vậy các vị phải biết nắm bắt
lấy cơ hội tốt nhất, ở Tam Kỳ mạt kiếp này, phải thật tốt
tôn kính vị Tiên Phật trong bản thân mình.“Nhị lục thời
trung, doãn chấp quyết trung”, cho nên luôn luôn
giữ lấy trung Đạo, đồng thời phải nhận lý thật tu.“Đúng
với chân lý thì mau chóng đi làm, không đúng thì
thối lui”.
15 Điều Phật Quy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT
8
Nếu như tôn kính vị tự tánh Phật của mình đến cực điểm,
là lúc tâm của trò quên đi cái bản ngã, cũng tức là lòng
trò chỉ có Đạo mà không có tự ngã. Khi đó trò đã đạt tới
cảnh giới “không có cái tôi, không có đúng sai”. Vả lại
lúc “ thanh tâm quả dục” “hồn nhiên quên đi cái
tôi” “chỉ tồn Thiên Tâm” “không tôi không anh”
lúc đó cũng là tự tánh Phật của các trò được lộ
hiện, đó mới thật sự là Tôn Kính Tiên Phật !
Nhiên Đăng Cổ Phật giáng:
Nhiên khởi thánh quang độ chúng sanh
Đăng quang chiếu diệu khí doanh doanh
Cổ lai tiên cảnh tòng phàm tạo
Phật đạo tuân tuân thượng lí đình.
15 Điều Phật Quy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT
9
Tạm dịch
Đốt lên ánh sáng thần thánh cứu độ chúng sanh
Ánh đèn chiếu sáng rực rỡ tràn ngập khí thanh khiết
Từ xưa đến nay cảnh Tiên đều từ phàm tục mà tạo nên
Tuân theo Phật Đạo lên lí đình.
Lại đề thơ:
Tôn hiệu thiên tâm đạo đức hồng
Kính thần học thánh dương nho tông
Tiên chân cổ lễ phụng hành thủ
Phật pháp khởi khai hội tế công.
Tạm dịch
Tuân theo thiên lí lương tâm coi trọng đạo đức
Giữ tấm lòng tôn kính học tập theo tấm gương của thánh
hiền Tiên Phật, phát dương nho đạo
Tuân thủ và phụng hành theo cổ lễ
Phật pháp khởi khai hội tế công.
15 Điều Phật Quy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT
10
Giảng giải về “Tôn Kính Tiên Phật”
Con người ở tại thế gian, quan hệ giữa người với
người được viên mãn, không có khiếm khuyết là nhờ có
Đạo. Cha từ ái với con, con thì hiếu kính với cha mẹ, vợ
chồng kính trọng lẫn nhau, anh em thương yêu nhau,
giữa bạn bè thì giữ nghĩa khí,… Đều là nhờ sự kính trọng
mà sinh ra đạo đức, huống chi đối với Tiên Phật không
thể không tôn kính.
Vì vậy “Tôn Kính Tiên Phật” được xếp vào bước đầu tiên
trong quá trình tu đạo, là lực lượng, tư tưởng tín ngưỡng
trọng tâm của người tu đạo, có tín ngưỡng thì trong tâm
sẽ tràn đầy sự sùng kính, cung kính. Kính bái Tiên Phật
cần từ nội tâm chân thành, sau đó thì noi theo bước đi
15 Điều Phật Quy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT
11
của Tiên Phật. Bên ngoài bái lạy Tiên Phật, nhưng bên
trong tâm giả tạo hư ngụy, chỉ cầu Tiên Phật bảo hộ, thì
không có tác dụng, đây được coi là thiếu tôn kính Tiên
Phật.
“Tôn kính Tiên Phật” danh từ tuy một, mà được phân
làm hai ý như sau:
Một là từ bên trong mà nói, sự tôn kính là được phát ra
từ nội tâm, noi theo theo dấu chân của Tiên Phật đã đi
lúc còn tại thế mà hành, nghe theo chân lý do Tiên Phật
khải thị mà đi làm, không phản bội Thiên lý, đây đều là
Tôn Kính Tiên Phật. Người tu đạo nếu như không tồn
lương tâm cung cung kính kính đi học đạo, tu thân, nếu
như có tâm hư ngụy, thoát lykhỏi trọng tâm tu đạo, cũng
không thể gọi là “Tôn Kính Tiên Phật”.
Hai là tự tánh đồng với tánh của Tiên Phật, Phật Thích
Ca nói đại địa chúng sanh đều có Phật tánh. Tánh của
con người và của Tiên Phật đều giống như nhau, tôn
trọng tự tánh của chính mình, cũng gọi là tôn kính Tiên
Phật, trong lúc nằm ngồi đi đứng, đãi người tiếp vật, đều
không rời tác dụng của tự tánh, thì được gọi là “Tôn Kính
Tiên Phật”.
Trong không rời tự tánh, ngoài không rời Phật
hành, mới thật sự là “Tôn Kính Tiên Phật”.
15 Điều Phật Quy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT
12
“Tôn kính Tiên Phật” thật sự, Tiên Phật bên trong chính
là lương tính của bản thân mỗi người, làm bất cứ sự việc
không thiên không lệch. Tiên Phật ngoài thân, là các vị
cổ thánh Tiên Phật đã thành tựu, vì vậy ý nghĩa của “Tôn
Kính Tiên Phật” thực sự là chỉ nội thánh ngoại vương.
Con Đường Nhân Sinh Để Đạt Đến Cảnh Giới
Niết Bàn
Con đường của người đi trước đã đi qua là tấm gương
tốt nhất để chúng ta soi xét. Người khác có ưu điểm,
chúng ta cần noi theo, người khác có khuyết điểm,
chúng ta cần sửa đổi. Bỏ đi cái tôi cá nhân hư ngụy, niết
bàn lập tức hiện ra. Niết bàn chỉ là danh từ để độ, đã
không có chỗ để độ, thì cùng với Phật không khác,
không khác tức đồng, đồng tức đạt, người đạt thì gọi là
Phật.
Chú thích:
- Quyền quyền phục ưng: Luôn luôn nắm giữ, giây
phút nào cũng không dám để mất đi.
- Bất thiên nộ, bất nhị quá: Không giận hờn, không
lỗi lần thứ hai.
15 Điều Phật Quy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU
13
Cái gì gọi là “Tuân Tiền”? Cái gì gọi là “Đề
Hậu”? Tiền là chỉ Tiền Hiền, hậu là chỉ Hậu Học.
Người như thế nào mới đủ tư cách gọi là Tiền Hiền?
Và người như thế nào mới thật sự là Hậu Học?
Các đồ đệ, các trò đều nói, người cầu Đạo sớm gọi là
Tiền Hiền, hoặc lãnh Thiên Mệnh sớm thì gọi là Tiền Hiền.
Và người Dẫn Sư, Bảo Sư, Điểm Truyền Sư của mình đều
gọi là Tiền Hiền, có phải không? Các trò chỉ nhận định
vẻn vẹn những Tiền Hiền trên Đạo trường có hình tướng
bề ngoài đó thôi sao?
Các trò có biết rằng người có đức hạnh đủ, có trí tuệ cao,
lời nói và việc làm nhất trí với nhau, làm cho mọi người
mến phục, đủ để làm gương cho mọi người, đủ tài năng
dẫn dắt mọi người thì mới đủ tư cách gọi là Tiền Hiền.
Cũng chỉ có như vậy, những Tiền Hiền đó mới đủ tư cách
để mọi người tôn kính, mới để cho chúng sinh tự trong
đáy lòng thật sự tuân theo!
2. TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU
(Đạo Tế Thiên Tôn Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU
14
Nếu như trò đức hạnh không đủ, trí tuệ không đủ, đã
mù còn một mực hướng dẫn chúng sinh cùng mù thì
khác chi dắt nhau vào hố lửa, lại làm sao thật sự hướng
dẫn chúng sinh trở về Lý Thiên? Trò không thể lãnh đạo
chúng sinh trở về Lý thiên, trò có tư cách nào gọi là Tiền
Hiền? Đồng thời ai mới thật sự là Hậu Học đây? Có phải
là người cầu Đạo sau, hay là lãnh Thiên Mệnh? Hoặc là
người được Dẫn Bảo Sư dẫn?
Đồ đệ ơi, Thiên thời đã đến lúc mạt hậu rồi, nếu như các
trò còn không thể phá bỏ tất cả những hình tướng, trở
về thật sự cái tự tánh, cứ chấp vào hình tướng thì chỉ
uổng phí mà thôi, nếu như vậy, trò làm sao thật sự được
giải thoát? Mà phải thật sự nhận thức được Tự Tánh Lão
Mẫu nữa? Đồ đệ ơi, những ai còn đang học Đạo, tu Đạo,
bàn Đạo, và những chúng sinh chưa được giải thoát
sanh tử luân hồi, tất cả đều là Hậu Học đó thôi! Tất cả
còn phải cần đến chân lý của Tiên Phật Bồ Tát chỉ dẫn,
thì chúng sinh mới có thể từ mê chuyển ngộ!
Này đồ đệ các trò nói, người nào mới thật sự là Tiền
Hiền, và người nàomới là Hậu Học đây?
Vì thế, cái thật sự là “Tuân Tiền Đề Hậu”, là muốn
trò noi theo Thánh Hiền, tôn kính học tập theo
những người có Đạo. Đồng thời phải đề tâm hạ khí,
giúp đỡ chúng sinh, để mỗi một người có duyên
15 Điều Phật Quy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU
15
với mình đều được sự dìu dắt giúp đỡ, thật sự
được siêu phàm nhập Thánh, thoát khỏi luân hồi!
Thậm chí cả trong Phật đường, cầu Đạo sớm hơn
mình, lãnh Mệnh sớm hơn mình, cả những vị Tiền
Hiền có tư cách hơn mình, nếu như trò hiểu được
Đạo lý “Gặp Đạo có trước có sau, nhân duyên có
nhanh có chậm”, đồng thời người đó thật tâm tu
Đạo, cung kính mọi người, thì làm sao đối với họ
lại không tôn không kính, không nghe theo lệnh
mà đi làm ư? Còn những vị cầu Đạo sau mình, cần
sự dìu dắt giúp đỡ của mình, nếu như mình có
lòng từ bi noi theo Tiên Phật thì làm sao trong
lòng lại không thương yêu dìu dắt hơn nữa.
Cho nên, cái thật sự “Tuân Tiền Đề Hậu”, là muốn
chúng ta học tập bỏ đi cái chấp vào bản ngã, và
tôn kính Tiền Hiền, dìu dắt Hậu Học, đồng thời còn
phải từ bi với tất cả những người có duyên với
mình.
Nam Bình Đạo Tế giáng
Nam phong hốt diện hạ thiên đường
Bình khứ tư tâm dương chánh tông
Đạo đức tịnh hành vô bội lí
15 Điều Phật Quy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU
16
Tế nhân lợi chúng hóa nguyên đồng
Lại đề thơ:
Tuân thủ giới quy tu đạo cẩn
Tiền nhân hậu quả tác nhân thân
Đề huy loan bút khuyến chu tử
Hậu vọng hiền đồ bộ chí chân
Giảng giải về “Tuân Tiền Đề Hậu”
“Tuân Tiền Đề Hậu” là tuân thủ theo sự dẫn dắt của
Tiền Hiền, và đề bạt tiến cử thế hệ sau. Tu đạo nếu như
không “tuân tiền đề hậu” thì sẽ có hiện tượng “sư sinh
đạo tuyệt”, đạo không thể được kế tục. Vì vậy “Tuân
Tiền Đề Hậu” được xếp làm bước thứ hai trong tiến trình
15 Điều Phật Quy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU
17
tu đạo, điều kiện thành Tiên thành Phật. Điều này không
thực hiện được thì vạn kiếp tu luyện cũng khó thành.
Trong quá trình tu đạo, Tuân Tiền có nghĩa là: “Tiền”
ở đây là chỉ tiền bối có tu đạo, chỉ người tu đạo trước
mình, trưởng làng, người trụ cột trong gia đình, người
nhiều tuổi hơn, người có kinh nghiệm, huynh trưởng,
người có đạo đức, người giác trước cũng đều được coi là
“tiền”. Tóm lại “Tuân Tiền” là noi theo ưu điểm của
trưởng bối, “Đề Hậu” là đề bạt hậu bối.
Người biết trước giác trước được ví như ngọn đèn, soi
sáng dẫn dắt hậu bối, tuân theo thiên lý mà hành, trên
dưới nhất quán có thể viên dung thiên tánh mà thành
Phật
Những sự việc trên thế gian, giữa người và người, có rất
nhiều chỗ không được viên mãn, viên dung. Chúng ta tự
tác tự chuyên, tức là tự ý tùy tiện làm, thì sẽ đi vào cảnh
mê. Dưới không nghe trên, trên không đề bạt dưới, làm
sao có thể bước vào cảnh tượng đại đồng. Vì vậy người
đang tu đạo, muốn tu được viên mãn, nhất định cần
phải tuân theo Tiền Hiền, hành theo đúng theo quy tắc.
Người giác trước thì dẫn dắt hậu học phía sau giác ngộ
theo, thể hành thiên đạo, mọi người cùng nhau đề huề,
cùng nhau đồng tâm, mới có thể tu được thân Phật Bạch
Dương không hư hoại.
15 Điều Phật Quy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU
18
Làm Sao Có Thể Hiểu?
Người chưa từng thí xả đại tài, làm sao có thể hiểu được
có đại nghĩa.
Người chưa từng bị khảo nghiệm về danh dự, làm sao có
thể hiểu được có đại nhân.
Người chưa từng bị tình ái tôi luyện, làm sao có thể hiểu
được có đại từ.
Người chưa từ trải qua khảo nghiệm về sinh mệnh, làm
sao có thể hiểu được có đại dũng.
Người chưa từng bì thử công quả, làm sao hiểu được có
đại trí.
15 Điều Phật Quy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH
19
Cái gì gọi là “Tề Trang Trung Chánh”? Có phải là các
trò đến Phật đường, y phục mặt rất chỉnh tề, đầu tóc
gọn gàng, dáng mạo đoan trang thì gọi là “Tề Trang
Trung Chánh” hay sao?
Nếu như tâm của trò không được thanh, lòng còn đầy
dục vọng, mắt ham nhìn sắc đẹp, mũi thích ngửi mùi
thơm, miệng thèm ăn vật ngon, tai thích nghe lời diệu,
thân muốn ngủ giường tốt, mặc áo đẹp, ý thì nghĩ đông
nghĩ tây, dẫy đầy vọng tưởng, như vậy còn cho là “Tề
Trang Trung Chánh” hay không?
Cho nên, chỉ là tu bề ngoài mà không tu nội đức, để cho
mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý nhiễm đầy bụi trần. Trong
lúc đó, quần áo của trò dù có sạch sẽ, bề ngoài thật
đoan trang, cũng đều không thể cho là thật sự “Tề
Trang Trung Chánh” đâu.
Cho nên cái “Tề Trang Trung Chánh”, không chỉ là
đầu tóc gọn gàng, y phục chỉnh tề, bề ngoài trang
nghiêm, mà là muốn nội tâm của trò phải trang
3. TỀ TRANG TRUNG CHÁNH
(Nam Bình Đạo Tế Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH
20
trọng, mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý cũng đều phải
trang trọng. Nói một cách khác, có thể làm cho nội
tâm toàn vô tạp tư tạp niệm, tự giữ được sự trang
trọng, đó mới chính là “Tề Trang Trung Chánh”.
Như vậy các trò phải làm thế nào mới được Tề
Trang Trung Chánh đây? Trước tiên, có phải là
chánh kỷ (bản thân mình chân chánh trước), rồi
sau mới có thể chánh nhân (rồi sau mới có thể
giúp người cũng được chân chánh giống như
mình)? Nếu muốn chánh kỷ, có phải là hồi phục lại
bản tánh quang minh của mình trước, rồi mới có
thể cảm hóa và ảnh hưởng được tới người khác?
Nếu như bản tánh quang minh của trò được hồi phục và
sau đó được biểu lộ ra, thì trò còn phải giữ chặt cái lễ
này, lời nói hợp với Đạo, hành vi có phép tắc. Như vậy
mới thật sự ảnh hưởng được Đạo thân, dẫn dắt được
Đạo thân, bằng thái độ Tề Trang Trung Chánh.
Các trò phải biết rằng, thời kỳ mạt hậu này, Đạo nếu chỉ
giảng thôi thì vô dụng.
Đạo vốn không phải để giảng mà là phải thực
hành. Vậy làm sao hành đây? Đó là dùng cái bản
tánh quang minh, biểu hiện ra ở hành vi đoan
trang, để cho lời nói và cử chỉ của mình hợp với Lễ.
15 Điều Phật Quy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH
21
Trong tâm trong sạch vô nhiễm, ý niệm không
thiên không tà, thất tình lục dục không còn khởi
dậy, thì mới thật sự là “Tề Trang Trung Chánh”
đấy!
Di Lặc Cổ Phật Giáng:
Di ư lục hợp đạo chân linh
Lặc mãn tam thiên độ chúng sanh
Cổ lí vô biên thường bất dị
Phật quang phổ chiếu vũ hoàn minh.
Lại đề thơ:
Tề giới tu trì tính tự minh
Trang nghiêm đạo đức diệu huyền đình
15 Điều Phật Quy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH
22
Trung hòa nhất quán bất thiên ỷ
Chánh kỉ hóa nhân bão nhất hành
Giảng giải về “Tề Trang Trung Chánh”
Nói đến việc tu đạo là vì thiếu mất đạo nên
mới nói đến việc tu đạo. Đạo vốn tự nhiên viên
mãn quang minh, vì sao lại nói rằng thiếu mất đạo,
cũng bởi vì con người rơi vào phàm trần, mê hoặc
bởi cảnh trần, nên hành vi không khớp với thiên lí,
không thể tự biểu lộ ra thiên tánh quang minh
viên mãn nên mới nói là khuyết mất đạo.
Do đó mà mất đi thiên nhiên bổn tánh trang nghiêm, vì
vậy cần phải trai giới, trang nghiêm trung chánh không
thiên lệch, khế hợp với thiên tâm vốn có. Vì vậy “Tề
Trang Trung Chánh” được xếp vào bước thứ 3 trong quá
trình tu đạo.
15 Điều Phật Quy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH
23
Muốn thành Phật không khó, không thể cho rằng Phật là
Phật, người phàm khó thành tựu được như Phật. Đại địa
chúng sanh đều có Phật tánh, bỏ đi những vọng tưởng
phàm tục thì cùng với Phật không khác, phàm cảnh vọng
tưởng đã trừ tận, lí tánh từ đây mà phát quang minh,
không phải là Phật sao?
Vì vậy bước thứ ba trong quá trình tu đạo là “Tề
Trang Trung Chánh”, tuyệt đối không thể thiếu, trì
trai giới sát giúp dứt trừ phàm căn. Thử nghĩ nếu
như không giữ trai giới, hành vi phóng đãng, làm
sao có thể thành Phật, trai giới không giữ, giết hại
sinh linh để ăn, tạo thành nhân quả, nghiệp sát
chất cao như núi tu di, làm sao có thể thành Phật.
Phật vốn không phải tu mà thành, con người bổn lai
cùng một thể với Phật. Vì con người có giết chóc, dâm
loạn, có tham dục, có lòng oán hận, có khí phàm. Vì vậy
mà đem Phật tánh vốn có này bị chôn vùi không hiển lộ
ra được. Do đó mà có sự khác biệt giữa Phật và chúng
sanh.
Do đó người tu đạo cần phải trong tâmtrai giới sạch sẽ,
không loạn, hành vi bên ngoài trang nghiêm trung chánh,
giống như thành ư trung hình ư ngoại, như vậy mới gọi
là “Tề Trang Trung Chánh”.
15 Điều Phật Quy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH
24
Con người không giữ trai giới thì sẽ không được thanh,
không nghiêm túc đoan trang thì hành vi sẽ trang
nghiêm, không tuân theo trung đạo thì hành vi sẽ bị lệch
lạc, con người không ngay thẳng làm việc sẽ bị điên đảo.
Vì vậy việc “Tề Trang Trung Chánh” không chỉ có người
tu đạo phải tuân theo, mà là từ thiên tử cho đến thứ dân
đều là căn bổn của việc tu thân.
Người tu đạo tâm không ngay thẳng tắc hành vi không
nghiêm túc. Tâm không “trung” thì hành vi bất chánh.
Tâm đã không “Tề Trang Trung Chánh” thì nói gì đến tu
đạo, nói gì tới lập đức. Dĩ nhiên đạo cũng không thể nói,
đức không thể luận, thì làm người thật là đáng xấu hổ,
xấu hổ với Ơn Trên, xấu hổ với mọi người xung quanh.
Vì vậy mọi hành vi cử chỉ và tâm đều không rời khỏi “Tề
Trang Trung Chánh”, mới có thể bước nhập vào thánh
đạo, cơ sở vững chắc thì việc tu đạo mới có phương
hướng.
Gió Mưa Sanh Tín Tâm
Nhà nghèo xuất hiện người con hiếu thảo, đất nước
loạn lạc ắt sẽ có trung thần, thiên hạ loạn sẽ có thánh
nhân ra đời. Vì vậy người không chịu khảo nghiệm, làm
sao biết được có tín tâm hay không, vì vậy mới nói gió
mưa sanh tín tâm.
15 Điều Phật Quy TUÂN QUY ĐẠO CỦ
25
Cái gì gọi là “Tuân Quy”? Cái gì gọi là “Đạo Củ”? Thế
nào là tuân theo quy, và thế nào là hành theo củ?
Cái gọi là “Tuân Quy”, đó là tuân theo Phật quy
cần phải giữ mà đi làm. Cái gọi là “Đạo Củ”, đó là
mỗi con người có thể giữ đúng cương vị mà hành,
có thể đứng trên cương vị của mình vững chắc mà
đi, đó mới gọi là “Tuân Quy Đạo Củ”.
Như vậy tại sao phải định ra Phật quy? Tại vì các trò đến
cầu Đạo, rồi sau khi cầu Đạo còn phải làm việc gì? Có
phải là muốn thành Tiên thành Phật thành Thánh, việc
làm đó phải không? Nhưng nếu không chiếu theo quy
tắc mà đi làm thì có thể thành Tiên thành Phật thành
Thánh được không? Cho nên mỗi con người giữ lấy
cương vị, tuân theo quy tắc mà hành là điều kiện cơ bản
nhất.
Phật quy được quy định tốt như vậy, mà các trò lại
không chiếu theo đi làm, thử hỏi đồ đệ ơi, các trò có thể
thành Tiên thành Phật được không? Ví dụ bảng giới luật
không phát tiếng nói kia treo trên tường, là do Điểm
4. TUÂN QUY ĐẠO CỦ
(Linh Ẩn Tửu Cuồng Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy TUÂN QUY ĐẠO CỦ
26
Truyền Sư hoặc người lo liệu quy định, các trò lại xem
như không nhìn thấy, ngoảnh mặt làm ngơ, vẫn cứ lén
lút nói chuyện, như vậy là có tuân theo quy tắc không?
Mà Điểm Truyền Sư cũng giống như cha mẹ, hằng ngày
Điểm Truyền Sư quy định những điều hợp lý, các trò
không nghe theo, chỉ nghe lời Tiên Phật mượn khiếu.
Như vậy có phải là các trò chấp hình chấp tướng và lại
còn có tâm phân biệt hay không? Cho nên, dù thế nào đi
nữa, những điều Điểm Truyền Sư quy định, chỉ cần hợp
với Lý, thì tất cả nên chiếu theo mà làm, như vậy mới là
“Tuân Quy Đạo Củ”.
Nhưng tuân theo phép tắc không phải chỉ có tuân theo
Phật quy bên ngoài thôi đâu.
Các trò còn phải luôn luôn tự hỏi mình: có tuân
theo quy tắc Phật đường trong lòng mà đi làm việc
không? Cái gì gọi là quy tắc Phật đường trong
lòng vậy? Đó là “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”.
Người người ai cũng vốn có cái lương tâm, trò
phải tự hỏi mình, làm người, cái việc làm có theo
lương tâm không? Có chiếu theo Phật quy lương
tâm mà đi làm không? Đối với người có chân
thành không? Có từ bi không? Lương tâm của trò
chính là Phật quy!
15 Điều Phật Quy TUÂN QUY ĐẠO CỦ
27
Tu Đạo hành Đạo đừng có nhìn ở bề ngoài, mà phải nhìn
vào bên trong. Phật quy bên ngoài tất nhiên phải tuân
thủ, nhưng Phật quy bên trong lại càng phải lưu ý
hơn.Đèn Phật trong lòng cần phải thường xuyên lau chùi,
để mình không hủy bối đi cái Thiên lý lương tâm, đó mới
thật sự là “Tuân Quy Đạo Củ”.
Thuần Dương Đại Đế Giáng:
Thuần thanh bất trược Phật Tiên đồng
Dương chiếu tam thiên dương chánh tông
Đại đạo chí tôn vũ trụ chủ
Đế ân hạo đãng khải mê mông
Lại đề thơ:
Tuân trung thủ lí mạc xà hành
Quy luật vô biên học tính kinh
15 Điều Phật Quy TUÂN QUY ĐẠO CỦ
28
Đạo hỏa phó dương nhất trực tác,
Củ độ hữu chánh tự thành minh
Giảng về “Tuân Quy Đạo Củ”
Không có cái quy (compa) cái củ (thước vẽ hình
vuông) thì không thể thành được hình vuông hình
tròn.Cái quy để vẽ hình tròn là dùng để chỉ mối quan hệ
đãi người tiếp vật được viên mãn. Cái củ để vẽ hình
vuông là chỉ góc độ, tư cách làm người. Đời người xử sự
không được viên mãn, vô nhân cách, thì không phải là
người nữa rồi. Vì vậy “Tuân Quy Đạo Củ” là bước thứ tư
trong quá trình tu đạo cần phải trải qua.
Thiên có luật của trời, một quốc gia thì có pháp luật, gia
đình thì có quy củ của gia đình. Con người cần phải có
15 Điều Phật Quy TUÂN QUY ĐẠO CỦ
29
quy củ, đây là lý vốn không thay đổi. Trời có luật trời,
bốn mùa tám tiết, âm dương tiêu trưởng, nóng lạnh luân
phiên thay đổi đều không vượt khỏi luật trời. Vì vậy mới
có thể thiên trường địa cửu.
Đất nước có pháp luật, như lấy hiến pháp mà trị, thưởng
thiện phạt ác. Như vậy mới có thể an trị, quốc thái dân
an.
Gia đình có quy của của gia đình, cha mẹ có trách nhiệm
nuôi dưỡng giáo dục con cái, làm gương cho con cái, con
cái cũng có nghĩa vụ hiếu kính cha mẹ. Như vậy mới có
thể một gia đình hòa thuận, cha từ ái con hiếu thảo, đến
như cá nhân tất cần phải tuân theo xử sự viên tròn,
chiếu theo sự ngay thẳng mà làm người, cũng là đạo làm
người.
Người tu đạo muốn giữ vững nguyên tắc làm người,
trước tiên không thể rời xa phản bội lại quy củ. Rồi sau
đó hành đạo, mới có thể bồi đắp công đức của tự tánh.
Người tu đạo không “Tuân Quy Đạo Củ”, cho dù có bố
thí như hằng hà sa số, mà mỗi một hạt cát ví như tam
thiên đại thiên thế giới, nhiều như toàn bộ thất bảo bố
thí, thì cũng không có công đức.
15 Điều Phật Quy TUÂN QUY ĐẠO CỦ
30
Vì vậy tuân theo quy củ, phép tắc, chớ đừng xử xự phản
bội, trái nghịch với chân lí, phát sinh thêm vấn đề thì làm
sao có thể tu được viên mãn Bạch Dương Phật.
Tiên Phật Bạch Dương, “Bạch” nghĩa là thanh thanh bạch
bạch, nhất trần bất nhiễm. “Dương” có nghĩa là chiếu
sáng tất cả quần chúng trong thiên hạ, đều có thể chiếu
tới, một chút cũng không sai lệch.
Tiên Phật là giác, giác tất cả vạn pháp, ở trong như như.
Tâm phát ra không rời tự tánh, tất hành vi “Tuân Quy”.
Tâm ban đầu phát ra không rời như lai, tất hành vi có
“Đạo Củ”. Tất cả hành động, tuân quy đạo củ, tất gần
với con đường của Thánh Nhân đi. Đã gần với con
đường của Thánh Nhân, tất của thánh nhân.Hành vi, đạo
đức thì giống như thánh nhân, thì nào có khác gì so với
Thánh Hiền, đã không có sai biệt, không phải thánh cũng
không phải hiền. Mong các tu đạo sĩ có thể soi xét được
đại đạo, ở trong 15 điều phật quy, từng điều từng điều
một đều không thể bỏ sót, mới có thể thành đạo viên
mãn.
Thiện ác hiền ngu
Giao thiệp với người ác như thuyền đi trong sóng gió,
những thứ nguy hiểm đều phát sinh.
15 Điều Phật Quy TUÂN QUY ĐẠO CỦ
31
Giao thiệp với người thiện, như giữ vật quý trong người,
một đời thọ dụng không hết.
Đi cùng với người ngu, như thuyền đi mất phương
hướng, như biển không có bờ.
Đi cùng với người hiền, như thuyền đi được dẫn lối, cuối
cùng sẽ tới được bờ bên kia.
Chú thích
Tứ thời bát tiết: Tứ thời (4 mùa: xuân, hạ, thu, đông) -
Bát tiết (lập xuân, xuân phân, lập hạ, hạ chí, lập thu, thu
phân, lập đông, đông chí).
15 Điều Phật Quy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI
32
Cái gì gọi là “Trách nhiệm”? Đó là chức trách, nhiệm
vụ, đó cũng là mỗi một con người cần phải hết lòng làm
tròn bổn phận của mình.
Này đồ đệ, các trò nói xem, mỗi một đệ tử của
Thiên Đạo có trách nhiệm gì đây? Và có sứ mệnh
gì đây? Có phải là có sứ mệnh Tiên Thiên, và cũng
có nhiệm vụ Hậu Thiên? Cái gọi là sứ mệnh Tiên
Thiên, đó là độ tận chín sáu ức Nguyên Phật tử, để
cho chín sáu ức Nguyên Phật tử đều được đạt bổn
hoàn nguyên, trở về Vô Cực Lý Thiên. Cái gọi là
nhiệm vụ Hậu Thiên, đó là hóa độ lòng người
trong sạch, xúc tiến vào đại đồng, để mọi người
phẩm chất đoan chánh, gia đình viên mãn, xã hội
hòa ái.
Các con thử nói trách nhiệm này có nặng hay không? Có
tôn quý không? Giả sử các con ai cũng tận tâm tận lực
thay Trời tuyên hóa, noi theo Thánh Hiền, Chánh kỷ
thành Nhân, đem sự tôn quý của Đạo hiện lộ trên bản
thân các vị, và ứng dụng trong sinh hoạt hàng ngày, để
5. TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI
(Tử Y Chân Nhân Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI
33
lương tâm của mình được thanh thản, không hổ thẹn, để
người trong gia đình hoan hỷ, biết cảm ân, để xã hội
được bình yên thái hòa, để nhân loại được hạnh phúc vui
sướng, để cho chín sáu ức Nguyên Phật tử tự tánh đều
được hồi phục, đó mới là làm tròn trách nhiệm.
Lúc này là thời kỳ mạt hậu, cũng là lúc gấp rút nhất, các
vị phải ghi lòng tạc dạ, giữ cho tâm niệm của mình được
tốt, hành vi được đoan chánh. Cẩn thận tất cả những
ảnh hưởng không tốt, càng không nên khi ở Phật đường
thì cung cung kính kính, nhưng về đến nhà thì khinh suất,
phóng đãng. Các vị không thể đem Đạo mà thực tiễn ra,
như vậy là đối với Đạo không làm tròn trách nhiệm đấy!
Văn Thù Bồ Tát giáng thơ:
Văn tàng đạo ý hóa quần sanh
Thù lí thông thiên đạt chí thành
Bồ ý từ bi chửng cửu nhị
Tát ý trắc ẩn độ nguyên linh
Lại đề thơ:
Trách kỉ vấn tâm sát tự thân
Nhiệm nhân hàm mẫn tu cầu chân
15 Điều Phật Quy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI
34
Phụ hà đạo vụ bất tri khổ
Khởi chỉ như như nhật nhật tân
Giảng giải về “Trách Nhiệm Phụ Khởi”
Trách nhiệm vốn là yếu tố quan trọng xử sự có
thành côn hay không. Con người làm việc mà vô trách
nhiệm tức là đã thất tín, mà thất tín thì sẽ không thể
đứng vững, mà đã không thể đứng vững thì vạn sự bất
thành, tu đạo cũng như vậy.
Có trách nhiệm thì mới có thể đạt được lí, viên mãn thiên
tâm của tự tánh, vì vậy “Trách Nhiệm Phụ Khởi” là bước
thứ 5 trong quá trình tu đạo.
15 Điều Phật Quy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI
35
“Trách Nhiệm Phụ Khởi”, tức là các chức trách, nhiệm vụ
khi đã đảm đương, gánh vác, tuyệt đối không thể thất
tín. Trọng tâm là thực hiện thế giới đại đồng, Phật quốc
sa bà, phạm vi này vô cùng lớn, đã gánh trọng trách này
thì tuyệt đối không thể lơ là.
Làm cha mẹ của người, “Trách Nhiệm Phụ Khởi” là
dưỡng dục con cái, làm tấm gương cho con cái, đây là từ,
là phép tắc giữa cha và con.
Làm người chồng quan tâm chăm lo người vợ, giữ phép
tắc trật tự với vợ. Làm người vợ chăm lo cho gia đình.
Làm người con hiếu thuận với cha mẹ. Làm người anh
quan tâm đếm em, làm người em thì tôn kính huynh
trưởng, đây chính là “Trách Nhiệm Phụ Khởi” trên
phương diện gia đình.
Đại sự của một đất nước, dùng đức để cai trị, vì phúc lợi
của dân chúng, trung với đất nước, yêu thương nhân
dân, đây là trách nhiệm của bậc cai trị. Làm tướng soái
thống lĩnh tam quân, ngăn chặn giặc ngoại lai xâm phạm,
bảo vệ quốc gia nhân dân, đây là trách nhiệm của quân
đội.
Trách nhiệm trong xã hội, làm người thầy dạy dỗ học
sinh, thay đổi phong tục tập quán, khuyên bảo dạy dỗ là
trách nhiệm của người thầy. Làm người trước tiên cần
15 Điều Phật Quy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI
36
phải chỉ dạy hướng dẫn cho hậu bối, đây cũng là trách
nhiệm làm người. Người thầy giỏi dạy học trò kỹ nghệ
giúp cho học trò có tay nghề là trách nhiệm của người
thầy.
Vì dân mà nhập ngũ đi nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ của
người dân. Trung với quốc gia, sinh sản báo quốc, yêu
quốc gia, yêu dân tộc, đây là trách nhiệm của người dân.
Người tu đạo, ngoài việc cần phải tận chức trách, đối với
bản thân là người tu đạo cần phải tận chức trách gì? Cần
phải gắng sức làm đến cùng, mới có thể gọi thật sự là
người tu đạo.
Như làm người thầy dạy dỗ học trò, làm người đi trước
khởi phát hậu học. Như mở cửa hàng cần phải phụ khởi
những chức trách trong cửa hàng.Quản lí dẫn dắt việc
bán hàng, tuân theo quỹ đạo của việc kinh doanh, như
vậy thì việc kinh doanh của cửa hàng này sẽ càng ngày
càng phát đạt. Làm nhân viên bán hàng ngoại giao bên
ngoài, cần phải có trách nhiệm quảng bá hàng hóa ra
bên ngoài, cũng đều là trách nhiệm của con người.
Làm người tu đạo cần phải nhận rõ mục tiêu, tâm chí
vững vàng, thể hành thiên tâm, nói lí độ chúng, dẫn dắt
từ mê sang ngộ, giúp đỡ chúng sanh lên bờ, thay đổi
phong tục tập quán, thừa cứu sa bà, hoàn thành trách
15 Điều Phật Quy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI
37
nhiệm lớn lao. Trách nhiệm của tu đạo, tất cần phải làm
được, khó làm có thể làm, khó xả có thể xả. Tinh thần
dù gặp có trăm ngàn trắc trở gian nan cũng không khuất
phục, tất có thể tận trách nhiệm tu hành.Tuy có trách
nhiệm mà cũng cần phối hợp với tự thân, lấy thân làm
chuẩn, chánh kỷ hóa nhân, có thể trong diệu huyền mà
thành chân đạo.
Làm sự nghiệp không có trách nhiệm không thể thành
công, việc tu đạo mà có thể thành đạo, thật không có. Vì
vậy trách nhiệm, từ vua cho đến dân thường, tất cả đều
lấy trách nhiệm làm gốc.
Chúng ta giáng thế xuống nhân gian, cần phải biết trách
nhiệm của mỗi người, người không có trách nhiệm thì
không thể làm người. Do đó làm việc tất cần phải làm
viên mãn không có khiếm khuyết, thì mới là “trách nhiệm
phụ khởi”. Bạch Dương tam kì, Tiên Phật đều hạ phàm
làm người, mục đích là phổ độ chúng sanh. Nhưng sinh
ở cõi phàm bị hình hình sắc sắc ở trần gian làm thay đổi,
mà quên mất trách nhiệm xuống trần gian này
Thế Nào Là Hành Đạo
Có thể tha thứ cho người khác, có thể quan tâm người
khác, có thể thương xót người khác, có thể giúp đỡ
người khác, có thể cảm hóa người khác, có thể dẫn đạo
15 Điều Phật Quy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI
38
đường khác, có thể tạo phúc cho người khác, có thể giúp
viên mãn giữa người với người, giũa chúng sanh với
nhau.
15 Điều Phật Quy TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM
39
Hễ làm việc, bất luận là làm việc Phật hay việc Thánh,
hoặc làm tất cả mọi việc đều lấy đại chúng làm đầu,
chúng sinh làm trọng, đó mới là trọng Thánh.Ngược lại,
nếu như lấy việc cá nhân làm đầu, cho mình là trọng,
như vậy là trọng phàm. Cho nên tất cả những việc có lợi
ích cho chúng sanh đều là Thánh sự. Có thể xem trọng
việc này, đó là trọng Thánh, đồng thời cũng là khinh
phàm.
Cho nên người thật sự “Trọng Thánh Khinh
Phàm”, người đó không bao giờ chỉ lo cho riêng
bản thân mình, mà cũng không màng tới người
khác có tôn kính mình, thương yêu mình, nuôi
dưỡng mình hay không. Trong lòng người đó chỉ
có cái lợi cho chúng sanh làm đầu, làm việc gì
cũng suy nghĩ lấy đại thể làm trọng, người như
vậy mới đích thực làm được “Trọng Thánh Khinh
Phàm”.
Mà cái gì mới thật sự cho là việc Thánh đây? Lại việc gì
mới thật sự đem lại lợi ích cho chúng sinh? Các vị nói
6. TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM
(Thiên Nhiên Cổ Phật Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM
40
xem, trong vũ trụ này, trong Trời đất này, ngoại trừ Đạo
là thật, cái Linh Tánh là thật, thì còn có cái gì vĩnh hằng
bất biến không? Cho nên các vị giúp đỡ chúng sinh,
thành tựu được chúng sinh, để tâm tánh được giải thoát,
đi vào con đường siêu phàm nhập Thánh, mới thật sự là
“Trọng Thánh Khinh Phàm”.
Các vị có thể tu dưỡng mình, thành tựu mình, bỏ đi cái
nhân tâm, Thiên Lý lương tâm được lộ hiện, đó cũng là
“Trọng Thánh Khinh Phàm”. Nếu như nhân tâm không
trừ, dục niệm trôi nổi, Thiên Lý lương tâm bị mê mờ, lúc
nào vô minh cũng khởi, thì làm sao nói là “Trọng Thánh
Khinh Phàm” đây?
Lại như thế nào mới được siêu phàm nhập Thánh?
Những vấn đề này, các trò cần phải suy nghĩ tìm tòi cho
kỹ càng hơn. Bởi vì tu Đạo bàn Đạo, chỉ có một mục đích
cuối cùng, đó là bỏ đi tất cả cái cố chấp bản ngã, hồi
phục Thiên tâm bổn lai cho được thuần khiết.
Các đồ đệ ơi, trong khi tu Đạo tu tâm, trong quá trình đó
nếu như các trò không có lòng chí thành, không có lòng
bất biến, không có lòng vô oán vô hối, thì không lộ hiện
ra được Thiên tâm Phật tánh, thì làm sao nói là “Trọng
Thánh Khinh Phàm” được đây?
15 Điều Phật Quy TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM
41
Tây Phương Thích Ca Mâu Ni Cổ Phật Giáng
Thích khai nhân thế giác chân thuyên,
Ca điệp ma ha nhất đại truyền
Mâu lợi thủ đa như bào ảnh,
Ni hà mộc dục ngộ huyền quan.
Lại đề thơ:
Trọng tân sám hối chú thiên bàn,
Thánh lí trì hành vô vi nan
Khinh cử vọng vi viễn đạo kỉ,
Phàm phu bất tỉnh nhập linh tàn.
15 Điều Phật Quy TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM
42
Giảng giải về “Trọng Thánh Khinh Phàm”
“Trọng Thánh Khinh Phàm”, tức là coi trọng
“Lý”xem nhẹ“Tình”. Lí là thiên lí, ở nhân gian thì là công
nghĩa lưu hành, cũng là đại đạo trung dung của nhà nho,
không thiên không lệch.Nói trọng thánh, khinh tình tức là
xả tư dục phàm tình, là khắc kỷ phục lễ của nhà Nho,
đây gọi là khinh phàm. “Ứng như thị trụ” của nhà Phật,
ứng như thị giáng phục kỳ tâm, cũng là mang cái ý nghĩa
này, vì vậy “Trọng Thánh Khinh Phàm” là bước thứ sáu
trong quá trình tu đạo.
Người tu đạo ngày nay thường nói 4 phần phàm nghiệp,
sáu phần thánh sự, làm như vậy gọi là “Trọng Thánh
Khinh Phàm”, thật không phải như vậy. Phàm sự hay
Thánh sự đều ở tại một cái tâm này này mà phân, cho
dù cảnh ở nơi nào. Nhất tâmlà lí tức “Trọng Thánh Khinh
Phàm”. Nhất tâm vì lợi, tức “Trọng Thánh Khinh Phàm”.
Nhân sinh tại thế gian, cái gọi là tu đạo, là giữa người
với người có đạo, sĩ nông công thương đều có đạo, xã
hội quốc gia đều có đạo, giữa các thành viên trong gia
đình cha con huynh đệ, giữa chú bác đều có đạo, giữa
vợ chồng cũng đều có đạo, đây gọi là “Trọng Thánh
Khinh Phàm”.
15 Điều Phật Quy TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM
43
Bên ngoài tuy làm việc thánh mà tâm không chánh,
trọng công đức, không bỏ vọng tưởng dục vọng. Tuy
bên ngoài là thánh mà không phải là thánh. Từng hành
vi cử chỉ tuy không làm việc đạo, mà thực lợi ích cho
chúng sanh. Nhất tâm là lý, hiện ra bên ngoài là đức, tuy
thấy bình dị, mà thực là thiên lí lưu hành, không phải
trọng thánh thì là gì .
Nếu lấy sắc thấy ta, lấy âm thanh cầu ta, là
người đó đã hành tà đạo, không thể thấy
được Như Lai.
Không lấy sắc để nhìn ta, là sự lưu hành của lý. Không
lấy âm thanh cầu ta, là sự lưu hành của lý. Không lấy sắc,
không lấy âm thanh, thiên lý tự tâm, tức là như như.
Như như là tự nhiên, không phải thánh thì là gì, đây gọi
là thiên lí. Gọi là như như phi tự nhiên của tự nhiên, gọi
là “Trọng Thánh Khinh Phàm”.
15 Điều Phật Quy KHIÊM CUNG HÒA ÁI
44
Khiêm Tốn Cung Kính Hòa Ái, chẳng phải chỉ là đối
với Tiền Hiền, Điểm Truyền Sư, Giảng Sư, mới khiêm tốn
cung kính thôi đâu. Mà các con đối với mọi người đều có
hết lòng cung kính không? Các con tự suy nghĩ xem, là
một người tu Đạo, có phải cần đối xử với mọi người
“Khiêm Cung Hòa Ái” hay không?
Người nào có nghiên cứu về Kinh Dịch thì sẽ rõ, trong 64
quẻ, là có 63 quẻ đều là trong hung có kiết. Trong kiết
có hung, hung là không tốt. Duy nhất chỉ có một quẻ, đó
là quẻ khiêm, chỉ có kiết mà không có hung, chỉ có
phước mà không có họa, vì sao vậy? Trong Kinh Dịch nói:
“Khiêm, hanh, quân tử hữu chung”. Đó là dùng thái độ
khiêm tốn hòa ái để làm việc, ắt sự việc sẽ dễ làm hơn,
thông đạt hơn.
Thái độ khiêm tốn hòa ái là do trong tâm tu dưỡng mới
có được, không phải miễn cưỡng làm ra được. Cũng chỉ
có người quân tử mới có thể từ đầu chí cuối khiêm tốn
hòa ái, mà không ngạo mạn với người. Trong Kinh Dịch
lại có câu: “Nhân đạo ác doanh nhi hảo khiêm”.
7. KHIÊM CUNG HÒA ÁI
(Nhĩ Sư Nam Bình Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy KHIÊM CUNG HÒA ÁI
45
Ai ai cũng đều ghét người kiêu ngạo khinh mạn,
mà thích người khiêm tốn có Đạo.
Cho nên người biết khiêm tốn, người đó có thể bộc
lộ một nhân cách tôn quý, cùng hiện ra được cái
tự tánh sáng lạng, tưởng chừng ở chỗ thấp hèn,
nhưng thật sự người đó nhân cách rất cao thượng,
khó vượt qua đấy! Đó cũng là một người quân tử
có Đạo, bên trong người đó tích giữ những cái tốt
đẹp nhất mà được biểu hiện ra, tại vì người đó đã
buông xuống hết cái bản ngã, mà cung kính tất cả
chúng sinh.
Cho nên sự khiêm tốn cung kính hòa ái, lúc đó
cũng là tự tánh Phật của trò được lộ hiện. Bởi vì
khi trò khiêm tốn nhã nhặn, đề tâm hạ khí, không
phân biệt người và ta, là lúc trò không có ý niệm
thị phi, cũng là lúc ấy cái chơn ngã Phật tánh của
trò mới được lộ hiện.
Cho nên người “Khiêm Cung Hòa Ái”, nhất định sẽ được
thành Đạo. Ngược lại kẻ kiêu ngạo, khinh khi người khác,
tuyệt đối không thể thành Đạo. Tại vì trong lúc kiêu
ngạo, cũng là lúc chưa bỏ đi cái nhân ngã, lòng cố chấp
vẫn còn tồn tại. Mà cuối cùng cửu phẩm liên đài cũng
thuộc về người “Khiêm Cung Hòa Ái”. Cho nên, các vị
15 Điều Phật Quy KHIÊM CUNG HÒA ÁI
46
muốn thành Tiên thành Phật, lại há nào không “Khiêm
Cung Hòa Ái” hay sao?
Phục Thánh Phu Tử Nhan Giáng:
Phục cổ chân thuyên nho đạo hưng,
Thánh thần khải hóa bạch dương kinh
Phù nam lập chí độ ngu bối
Tử vãn đồi phong thượng lí đình.
Lại đề thơ:
Khiêm nhượng từ bi hợp Phật dương
Cung duy thánh lí đức vô lượng
Hòa bình tâm địa can qua tức
Nhu nhu bất tranh bả đạo dương.
15 Điều Phật Quy KHIÊM CUNG HÒA ÁI
47
Giảng giải về “Khiêm Cung Hòa Ái”
Đạo vốn dĩ ngưỡng lên xem thì lấp đầy sung mãn
khắp nơi, trông lên phía trước thoắt nhiên ngựa đã ở
phía sau. Phu tử nghe theo người dẫn dắt thiện lành,
trau dồi sự uyên bác của bản thân bằng văn học. Dùng
lễ để ước thúc bản thân, muốn bỏ mà không được, đã
dùng hết tài năng, như cái gì sừng sững trước mặt, tuy
muốn theo, mạt do giã dĩ.
Đạo vừa cao vừa rộng, chiếu sáng khắp đại địa, vận
hành nhật nguyệt tinh thần, chủ tể vạn vật, không gì có
thể so sánh. Hiển lộ ở nhân gian có thấp có ít, vì vậy đạo
có cao có rộng. Nhân gian có nhỏ có u tối, vì vậy Đạo có
lớn có sáng, đây cũng là đối đãi.
Đạo vốn tự nhiên, nhưng ở nhân gian có sai biệt, nên
Đạo mới có đặc thù. Vì vậy con đường tu đạo cần giữ
giới 15 điều phật quy, làm quy giới cho việc tu đạo. Do
đó “Khiêm Cung Hòa Ái” là bước thứ 7 trong khóa trình
tu hành, tuyệt không thể xem thường.
“Khiêm” là chỉ bản thân phải biết khiêm tốn, cung
kính người khác, hòa ái với quần chúng, yêu
thương như người thân mà không tranh giành.
“Khiêm tốn” có thể được người dạy dỗ. “Cung kính”
có thể được người kính. Hòa mục có thể được
15 Điều Phật Quy KHIÊM CUNG HÒA ÁI
48
người gần gũi. Hòa ái có thể được người phục, đây
là căn bổn của lập thân xử thế.
Người tu đạo ở khắp nơi khoa trương, bị mọi
người ghen ghét, chỉ muốn thỏa mãn tính tự cao
tự đại, vạn thế tu đạo tuyệt không thể, vì vậy
không thể xem thường điều mục này.
Tử viết: như có tài năngxuất chúng của Châu Công mà
kiêu ngạo, hẹp hòi thì những tài đức gì cũng không xét
nữa.
Tử viết: Thánh thì ta không dám nhận, nhưng học mà
không chán, dạy mà không mỏi mệt.
Tử Cống viết: học không mà không chán thì là bậc trí,
dạy mà không mỏi mệt là nhân, có nhân và trí thì thầy
đã là thánh rồi.
Do đó, khiêm tốn mới có thể đắc được Đạo, nhu hòa
cũng có thể đắc được Đạo. Khiêm cung có thể được bề
trên dạy dỗ, cũng có thể được bề dưới tôn kính. Hòa ái
có thể được bề trên xem trọng, cũng có thể được bề
dưới kính ngưỡng. Vì vậy “Khiêm Cung Hòa Ái”, người
người đều hành theo điều này thì thế giới đã không có
dối lừa. Thế giới không có dối lừa thì đã dần tiến tới thế
giới đại đồng.
15 Điều Phật Quy KHIÊM CUNG HÒA ÁI
49
Thế giới đại đồng, sa bà phật quốc, không xem trọng cái
này thì không thể được. Vì vậy người tu đạo là căn bản
của thế giới đại đồng, lấy “khiêm cung hòa ái” làm gốc.
Gốc loạn mà ngọn có thể trị được điều này không thể có.
Do đó người tu đạo tuyệt đối không được xem thường
điều này, mới có thể đạt được bổn nguyện.
Tín Tâm
Gió lốc không thể thổi được một triều đại
Cơn mưa lớn không thể làm mất một ngày, mưa tạnh
trời lại quang
Ma khảo là đối với người không có niềm tin, người có
niềm tin thì không sợ bất kì ma khảo.
15 Điều Phật Quy VẬT KHÍ THÁNH HUẤN
50
Huấn thư là lời chỉ dạy của Thánh Nhân, cũng có thể
là tất cả Thánh lý được ghi lại bằng văn tự. Nói cách
khác, đó là lời nói của Thánh Hiền Tiên Phật. Thánh Hiền
Tiên Phật tóm lại nói những gì? Thiên ngôn vạn ngữ, đều
là nói lời Chân lý, nói chúng sanh phải tu như thế nào
mới được trở về Trời, cũng là nói những lời dẫn dắt
chúng sinh phải như thế nào để cải tà quy Chánh, từ mê
chuyển ngộ.
Tại vì Thánh Hiền Tiên Phật là do người đã tu thành Đạo.
Cho nên những lời nói đó có thể đại biểu cho Đạo, đại
biểu Chân lý. Mà mỗi chữ trong Thánh huấn, mỗi một
câu đều là từ trong tự tánh Tiên Phật thổ lộ ra, tùy các
loại nhân duyên chúng sanh mà thuyết giải, cho nên lời
nói đó là Chân Kinh. Đó thật sự cũng là Phật tánh được
thổ lộ, là con thuyền dẫn dắt về Thiên Đàng. Vì thế các
đồ đệ ơi, những lời huấn của Tiên Phật tôn quý như vậy
đó, sao các đồ đệ không biết quý trọng hơn và nhận
thức Chân nghĩa trong đó mà cố gắng đi thực hiện!
Cái gọi là “Vật Khí”, đó là cái không thể bỏ đi,
không thể xem thường, không thể không chiếu
8. VẬT KHÍ THÁNH HUẤN
(Linh Ẩn Thiền Sư Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy VẬT KHÍ THÁNH HUẤN
51
theo mà làm. Tại vì mỗi một trang huấn văn hoặc Kinh
sách, đều là tâm huyết của Tiên Phật. Những từ ngữ đó
tự nhiên đều được Tiên Phật hộ trì, nếu các đồ đệ mang
nó theo bên mình, chỉ cần có cái tâm chánh, tâm thành
thì trong vô hình nó có thể phù hộ cho các đồ đệ, cũng
có thể tránh xa nạn tà. Như vậy làm sao lại có thể lại
xem thường vứt bỏ nó, mà không coi trọng nó hơn?
“Thánh Huấn” cũng là chỉ dẫn chúng sinh thế nào
để đi lên con đường thành Thánh Hiền. Đồ đệ ơi,
vậy mà các trò không chiếu theo đi làm, thì làm sao tu
Đạo được thành tựu, mà thật sự thành Tiên thành Phật
đấy. Huống hồ Tiên Phật đều Đại từ Đại bi, đều vì việc
sanh tử đại sự của các con mà nỗ lực phí tận tâm huyết,
các con làm sao lại nhẫn tâm khinh thường, phụ lòng mà
không chiếu theo đi làm.
Cho nên “Vật Khí Thánh Huấn”, thật sự cái hàm ý
là nhận thức được lòng từ bi của Tiên Phật, hiểu
rõ chân ý của thư huấn. Sau cùng là phải y theo lời
huấn mà thực hành, mới có thể thành Thánh
thành Phật được!
15 Điều Phật Quy VẬT KHÍ THÁNH HUẤN
52
Nam Hải Cổ Phật Giáng:
Nam bình tính lí bố nhân gian
Hải khoát thiên không độ thiện duyên
Cổ đạo linh thông mạt vận thánh
Phật tiên đồng hạ tam kỳ niên.
Lại đề thơ:
Vật ngụy vật hư tặc đạo quy
Khí trừ tà ác chân tâm trì
Thánh ngôn tinh lí tu đạo thủ
Huấn giới Bạch Dương chu tử si.
15 Điều Phật Quy VẬT KHÍ THÁNH HUẤN
53
Giảng giải về “Vật Khí Thánh Huấn”
Nói về “Vật Khí Thánh Huấn” là không được
vứt bỏ những lời huấn giới của Tiên Phật. Người
tu hành tuân thủ theo những cáo giới trong thánh
huấn của Tiên Phật, mới có thể khiến cho tánh địa
huyền quan phản chiếu quang minh.
“Vật Khí Thánh Huấn” là bước thứ 8 trong 15 điều phật
quy. Tiên Phật Bạch Dương chưa thể giữ được 15 điều
Phật quy mà thành phật đạo thực không thể. Tu trì Phật
Đạo phải nghiêm khắc tuân thủ quy huấn. Cần phải cố
gắng thực tiễn, thực hành nhất quán không lệch khỏi
chánh lí.
Lấy sách thánh hiền mà tham ngộ sự huyền diệu thật sự
trong đó. Chân kinh chánh pháp tuy không ở trong văn
tự, nhưng không có văn tự lưu truyền ở thế gian, chỉ
dùng miệng để truyền thì đại đạo không thể phổ truyền.
Do đó muốn thế giới đại đồng, sa bà phật quốc, cần phải
nhờ vào văn tự làm cầu nối, nghe hiểu rồi thực hành,
sau đó thì miệng truyền đại pháp tâm ấn chứng mà đạt
đạo.
Ơn trên định quy giới “Vật Khí Thánh Huấn”, để tôn
trọng lưu truyền những lời nói của thánh nhân. Đạo có
hai, một là gốc, hai là ngọn, gốc ngọn cùng hành, có thể
15 Điều Phật Quy VẬT KHÍ THÁNH HUẤN
54
thành Tiên Phật thời Bạch dương kì, lấy văn tự xúc tiến.
Nói về gốc và ngọn, đương nhiên là gốc quan trọng hơn
ngọn, nhưng không có ngọn thì không thể thể hiện được
gốc, vì vậy gốc ngọn cùng quan trọng như nhau.
Ngọn là chỉ biết trân trọng bảo hộ sách thánh huấn như
châu báu, một chút cũng không dám làm dơ bẩn ô uế,
không dám tùy tiện đặt. Người này tuy chưa gọi là “Vật
Khí Thánh Huấn”, kỳ thực đối với con đường tu đạo thật
có ích.
Gốc là ngoài việc bảo hộ trân tiếc sách thánh huấn, quan
trọng nhất là di huấn từ xưa tới nay của Thánh Hiền,
không một chút tùy ý phóng túng mà không noi theo.
Đối với huấn thị của Thánh Hiền Tiên Phật, phát dương
thánh lí cổ đạo, hành dĩ thiên hạ chi đại bổn, thành đến
thiên đạo, thành cả nhân đạo, không gượng mà vẫn đạt
trung dung, không suy tư mà vẫn đắc,cũng là nương
theo đạo.
15 Điều Phật Quy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG
55
“Mạc Trước Hình Tướng” là không chấp vào hình
bên ngoài, mà bị nó che lấp đi. Tại vì tất cả các thứ có
hình có tướng, rốt cuộc đều không phải là thật, cuối
cùng đều tiêu tan trong mộng ảo vô thường. Kinh Kim
Cang có nói: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng,
nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như
Lai”.
Cho nên, nếu như không thể phá bỏ hình tướng, người
nào còn mê muội vào hình tướng, tâm người đó còn tại
trong Tượng Thiên và Khí Thiên, đều không thể tiến vào
Vô Cực Lý Thiên. Mà chúng sinh nào còn mê muội điên
đảo, thì không thể thật sự được giải thoát, đều còn bị
hình tướng bên ngoài ràng buộc, tâm còn bị hình tướng
sai khiến, tự tánh không thể làm chủ được, vĩnh viễn
trong vòng luân hồi, lưu lãng trong vòng sanh tử.
Cho nên đừng chấp vào hình tướng, cũng không chấp
vào Tiên Phật mượn khiếu hiển hóa, mà phải ngộ được
sự khai thị Chân lý của Tiên Phật, lấy chân nghĩa vi diệu
ấy làm trọng. Tiến thêm một bước nữa, là muốn các trò
9. MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG
(Tây Hồ Phong Tăng Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG
56
bất cứ trong tình cảnh nào, tâm cũng không đều bị dao
động, tự tánh vẫn làm chủ, đó mới thật sự là không chấp
vào hình tướng.
Này đồ đệ, các trò thường nói: “Bất thiên chi vị trung,
bất ỷ chi vị dung”.
Vậy trung Đạo rốt cuộc là gì? - Đó chính là trong
những lúc tự tánh Phật được lộ hiện ra.
Như vậy là nói như thế nào đây? - Là trong lúc tâm
các vị được thanh tĩnh vô vi, không thiên bên nào, và
không chấp vào một vật gì, cũng là trong lúc đó các vị
không chấp vào hình tướng, tâm không bị cảnh vật bên
ngoài làm chi phối lung lay, lúc này tâm các vị đã đạt
đến thanh tĩnh vô vi không chút vọng cầu, đó chính là
“Trung Đạo”, cũng chính là tự tánh Phật được bộc phát
ra.
Cho nên, không chấp vào hình tướng, cũng là lộ ra
cái chân ngã của mình! Nếu như các vị chấp vào
hình tướng thì sẽ vĩnh viễn lưu lãng trong sanh tử,
tuyệt đối không thể thành đạo được!
15 Điều Phật Quy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG
57
Tử Tư Phu Tử Giáng:
Tử tâm đạt Đạo thông huyền quan
Tư khảo huy hào quyền tục hoàn
Phu đức vô khuy chân lý kiến
Tử thừa khiếu quyết độ linh tàn.
Lại đề thơ:
Mạc chấp nhân gian hữu dữ vô
Trước mê kì lộ âm ti xu
Hình hài khu thể chung quy ước
Tướng dục tảo khai bộ chánh đồ.
Giảng giải về “Mạc Trước Hình Tướng”
Ơn trên vốn dĩ không âm thanh, không mùi vị, đã
không có mùi vị lại không có âm thanh, thì có hình tướng
15 Điều Phật Quy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG
58
gì có thể chấp. Con người từ nhỏ, sống trong thế giới
hình tướng, vì vậy cái nhìn thấy đều là hình tướng. Do
đó cho rằng hình tướng này là thật, không biết được
hình tướng này là giả.Vì vậy chấp trước ở thế giới này,
sinh sinh tử tử, không thể thoát khỏi phàm giới, luân
chuyển không ngừng.Nhận giả làm thật, vì vậy người tu
đạo, đối với nhận thức hữu hình vô hình, cần phải hiểu
triệt để.
Phàm phu chỉ biết vật không biết lí, hiền nhân chỉ biết lí
chưa đạt lí, thánh nhân vừa hiểu lí vừa đạt lí. Vật thì hữu
hình, lí vô hình. Vì vậy “Mạc Trước Hình Tướng” được liệt
vào mục thứ 9 trong quá trình tu Đạo.
Tu thân chớ đừng chấp trước hình tướng, chấp trước
vĩnh viễn không thể thấy Đạo.“Duy thiên hạ chí thánh,
mới có thể thông minh duệ chí, túc dĩ hữu lâm dã”.
Thông minh sáng suốt mới có thể thấy được hư thực, sự
to lớn của Đạo, làm chủ tể muôn loài. Vô mới có thể
thống trị vũ trụ vạn tượng, cũng gọi là thành, thành mà
đạt đến bất tức,tất cùng với trời đất đồng tham.
Chí thành không ngừng nghỉ, không ngừng nghỉ thì dài
lâu trường cửu.
Cửu tắc trưng, trưng tắc du viễn, du viễn tắc dày rộng,
dày rộng tắc cao minh.
15 Điều Phật Quy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG
59
Dày rộng có thể chở vật, cao minh có thể che chở vật,
dài lâu có thể thành vật.
Dày rộng phối đất, cao minh phối trời đất, dài lâu không
ranh giới. Như thế không thấy mà vẫn sáng sủa, bất
động mà vẫn đổi thay, vô vi nhi thành. Đạo của trời đất
dày, rộng, cao, minh, du, cửu.
Những công dụng này đều là trong vô hình, vì vậy chấp
tướng tu đạo vĩnh viễn là phàm phu, không thể thấy Đạo.
Nếu như chấp tướng tu Đạo, tọa thiền đả tọa,
nhận giả làm thật, gõ mõ niệm xướng, thấy vật
tùy duyên, coi trọng thành đạo, nghĩ công đức
nhiều, tâm tự tư lớn, đây đều là “Mạc Trước Hình
Tướng”.
Thánh Hiền đảo trang mê chấp hình tướng, trầm luân
làm phàm phu. Phàm phu gặp cảnh không chấp trước,
không bị cảnh mê, phối đức cùng trời đất, hợp với ánh
sáng của nhật nguyệt, hợp với trình tự 4 mùa, hợp với
cát hung của quý thần, tắc là Thánh Hiền.
Vì vậy hình và tướng, tất mê cảnh của chốn nhân gian,
chấp vào cái này thì là nhân gian, không chấp thì là thiên
đường. Không chấp tướng, không ngoan không, vạn
tượng như như, vô thanh vô xú, cũng là sự nâng đỡ của
ơn trên.
15 Điều Phật Quy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG
60
Hổ Thẹn
Làm người nếu như không biết hổ thẹn. Thế nào là sự
hổ thẹn của con người? Không hiếu, không trung tín,
không lễ nghĩa, không liêm tiết, đều là điều đáng xấu hổ.
Tu đạo không biết trung đạo là sự xấu hổ của Đạo. Cái
gì gọi là sự xấu hổ của Đạo? Đạo có thể hành mà không
hành, đây là điều hổ thẹn. Không thể hành mà hành,
đây cũng là điều hổ thẹn của người tu đạo.
15 Điều Phật Quy THỦ TỤC TẤT THANH
61
Cổ thư nói: “Một văn tiền nhà Phật, lớn như núi
Tu Di, giản dối không thành thật báo cáo, đội lông
mọc sừng mà trả”. Đồ đệ các trò có hiểu không? Tại
sao tiền của nhà Phật, vốn là tiền mồ hôi của chúng sinh,
dù cho là rất ít, cũng là tấm lòng thành của người thí chủ
mà có, nhưng lúc đã thành tiền của nhà Phật rồi, thì nó
lớn tựa núi Tu Di vậy!
Cho nên, nếu có người hành tài thí, tuy là trò chỉ
xài có một đồng đi chăng nữa, chỉ một ý niệm của
lòng tham, không có khai báo thật thà, thủ tục
không được rõ ràng, thì tự nhiên phải chịu sự
nhân quả báo ứng, thậm chí kiếp sau phải làm
thân trâu ngựa để trả.
Cho nên, các đồ đệ ơi, những món đồ vật hoặc tiền
tài do Đạo thân hành công, nhất định phải thật rõ
ràng, không thôi sẽ khởi lên lòng tham, hành sự
sẽ hồ đồ, không giữ được lòng liêm sĩ, thì sau này
sẽ rất khổ sở, điều này Thầy nhắc nhở các trò phải
nên cẩn thận!
10. THỦ TỤC TẤT THANH
(Nhĩ Sư Cuồng Tẩu Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy THỦ TỤC TẤT THANH
62
Vì luật Trời rất nghiêm ngặt, cho đến sợi tơ cũng phải rõ
ràng. Ở trên Trời mỗi người đều có một quyển sổ, cuốn
sổ đó ghi rất rõ ràng từng li từng tí những hành động
của các trò, và tuyệt đối không để sơ sót dù chỉ nhỏ như
sợi tơ. Cho nên, sau này trong Phật đường, có người
hành công bằng đồ vật hoặc tiền tài, các trò nhất định
phải khai báo thật rõ ràng, không được hồ đồ, như vậy
mới là “Thủ Tục Tất Thanh”, và mới có huy vọng thành
Phật được đấy!
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát Giáng:
Đại Đạo vô tư lục hợp công,
Thế gia phú tục chung quy không
Chí tôn chí quý tam kì quyết
Bồ tát hành công hóa đại đồng.
Lại đề thơ:
Thủ bão hài nhi trì đạo hành
Tục tốc bất đoạn chí kiền thành
Tất nhiên thành quả siêu huyền tổ
Thanh chánh liêm minh thượng lí diên.
15 Điều Phật Quy THỦ TỤC TẤT THANH
63
Giảng giải về “Thủ Tục Tất Thanh”
Làm người nếu như thủ tục không được thanh bạch
rõ ràng, thì sẽ là người hồ đồ. Người hồ đồ sẽ làm ra
những việc hồ đồ, tất nhiên sẽ tạo nên sự khiếm khuyết
trong nhân cách của bản thân. Người tu đạo trước tiên
cần phải thanh liêm nhân cách của bản thân, mới có thể
tiến bước trên con đường tu đạo, vì vậy “Thủ Tục Tất
Thanh” được liệt vào mục thứ 10 trong phật quy.
Thế nào là “Thủ Tục Tất Thanh” ? Là chỉ một người đối
với việc công, việc của người khác, thậm chí đối với việc
tự bản thân mình phải gánh vác, làm một cách trong
sạch, thanh bạch, gọi là “Thủ Tục Tất Thanh”.
Người tu đạo cần phải biết vượt khỏi thế nhân bình
thường, mọi việc làm hành động, đều noi theo Thiên
15 Điều Phật Quy THỦ TỤC TẤT THANH
64
tánh, như vậy mới có thể thanh bạch, thanh chánh công
Đạo. Nếu như không noi theo Thiên tâm mà làm, tâm
tồn tham vọng mê muội tình ái tức là phản bội với Đạo,
là thủ tục không thanh, trồng xuống ác quả sau này,
nhân quả từ đây mà ra. Vì vậy viết: Muốn biết nhân
đời trước thì hãy xem kết quả thọ báo của đời này,
muốn biết quả sau này thì hãy xem việc làm đời
hiện tại.
Vì vậy người tu Đạo xử sự cần chí công vô tư, chớ đừng
tham tài bất nghĩa, nên lấy mới lấy, không nên lấy chớ
đừng lấy, thì hợp với “Thủ Tục Tất Thanh”. Người tu đạo
thủ tục không thể thanh bạch, rõ ràng là do hạo nhiên
của người tu đạo không đủ, vì vậy tâm động mà không
thể tuân theo đạo. Vì vậy Mạnh Tử viết: “Phú quý
không dâm, bần tiện không thay đổi, uy vũ không
khuất phục, đây được gọi là bậc đại trượng phu”.
Người tu Đạo không thể làm một bậc đại trượng phu thì
uổng phí sinh vào tam kì.
Mạnh Tử viết: “Có thể lấy, có thể không lấy, lấy làm tổn
hại đến sự thanh liêm. Có thể cho, có thể không cho,
cho làm tổn thương đến sự ân huệ. Có thể chết, có thể
không chết, chết làm tổn hại đến đức dũng”. Vì vậy nhân
sinh đời người, sinh tử là việc lớn, sinh tử là việc nhỏ, vì
chánh nghĩa mà chết là việc vừa lớn vừa nhỏ. Lớn là cái
15 Điều Phật Quy THỦ TỤC TẤT THANH
65
chết có ý nghĩ, nhỏ là hy sinh tiểu ngã hoàn thành đại
ngã, do đó đối với cái chết của bản thân là việc nhỏ.
Tu sĩ thời tam kì, càng làm việc Đạo thì càng phải “Thủ
Tục Tất Thanh” mới có thể hướng đến thế giới đại đồng,
“Đại đạo chi hành giã thiên hạ vi công”.
Nội Ma Thông Ngoại Quỷ
Bên trong có ma thì lời nói và tâm đều là ma, quỷ bên
ngoài gọi là ngoại ma, ngoại ma là tất cả vạn ma.
Ma bên trong thông với quỷ bên ngoài cùng tụ họp, vì
vậy nội tâm vô vật tức ngoại ma không thể dẫn, ma
không thể xâm phạm.
Trong tâm vô dục, thì dục vọng không thể dẫn, thì tà ma
không thể nhập.
Trong tâm không có rượu, thì rượu không thể làm người
say. Trong tâm không có sắc thì sắc không thể làm
người mê. Rượu không làm say người mà người tự say,
sắc không thể mê người mà người tự mê.
Tất cả ma khảo đều là do ma bên trong thông với quỷ
bên ngoài, tâm ma thập xích ngoài ma một trượng, do
đó tu đạo bắt đầu từ tâm mà tu.
15 Điều Phật Quy XUẤT CÁO PHẢN DIỆN
66
“Xuất” là ra, là rời khỏi. “Cáo” là báo cáo, bẩm cáo.
“Phản” là phản hồi, trở lại. “Diện” là trả lời đối diện.
Cái gọi là “Xuất Cáo Phản Diện”, đó là Tiền Hiền
dặn dò những việc gì, bất luận lớn hay nhỏ, lâu rồi
hay mới đây, đều phải ghi nhớ trong lòng, mà
chăm chỉ đi làm, sự việc làm xong, phải bẩm báo
lại rõ ràng, không được sai sót.
Là người Hậu Học, một khi ra ngoài làm việc, nên thỉnh
thị Tiền Nhân, bẩm báo Tiền Nhân, với tấm lòng thành
thỉnh cầu chỉ thị, tiếp thu sự chỉ đạo. Mỗi khi đi đâu trở
về, đều phải mau mau bẩm báo lại mọi sự việc đã làm
như thế nào, để khỏi sự lo lắng bận tâm của Tiền Hiền.
Điều Phật quy này là để nhắc nhở người tu hành
đối với người phải tận trung, đối với sự việc phải
tận trách nhiệm, đồng thời trên dưới có tôn ti trật
tự, ra vào có Lễ. Như vậy, sự việc nào cũng được
“Xuất Cáo Phản Diện”, dặn dò bàn giao tốt đẹp, đó
là cái Đạo nhân luân, mới không thiếu sót.
11. XUẤT CÁO PHẢN DIỆN
(Hồ Ẩn Thiền Sư Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy XUẤT CÁO PHẢN DIỆN
67
Cũng như chín sáu ức Nguyên Phật tử thừa nguyện mà
xuống trần gian, lúc ra đi có báo cáo, khi trở về phải đối
diện bẩm báo. Là lúc ghi tên vào tờ biểu văn, từ lúc đó
vấn vương Mẫu Nương, không quên nơi Vô Cực, cho nên
giờ phút nào cũng nhớ tới Vô Sanh Lão Mẫu, người nào
luôn luôn tận tâm tu Đạo bàn Đạo, mới thật sự hiểu
được ý nghĩa sâu xa của “Xuất Cáo Phản Diện”.
Nguyệt Huệ Bồ Tát Giáng:
Nguyệt bạc tinh quang tứ hải minh
Huệ thông tam giới khả siêu sanh
Bồ đề tự tánh bổn thanh tịnh
Tát đỏa tụ chúng sinh tận mẫu linh.
Lại đề thơ:
Xuất môn bảo thủ đạo chân dương
Cáo thị quần thái bả lí chương
Phản tỉnh phụng hành thiện mạc đại
Diện dung chánh sắc diệu đoan trang.
15 Điều Phật Quy XUẤT CÁO PHẢN DIỆN
68
Giảng Giải “Xuất Cáo Phản Diện”
Trời có luật trời, người có quy củ, không theo quy
củ*, không thể thành hình vuông hình tròn. Xuân đi hạ
đến, hết mùa hạ lại sang mùa thu, thu qua đông tới, hết
đông lại quay về mùa xuân, đây là quy luật nhất định.
Con người không thể một đi không quay trở về, do đó ra
khỏi cửa phải nói cho trưởng bối biết, trở về liền báo với
bề trên, mới là viên mãn, đây là quy luật của con người,
cũng là một phần của lễ.
Do đó “Xuất Cáo Phản Diện” được liệt vào hạng mục thứ
11 trong quá trình tu đạo.
(*Quy là compa dùng để vẽ hình tròn, cái củ là dùng để
vẽ hình vuông.Người xưa mượn hai vật này để nói đến
quy củ, phép tắc.)
15 Điều Phật Quy XUẤT CÁO PHẢN DIỆN
69
“Xuất Cáo Phản Diện” không đơn thuần chỉ là lễ nghĩa
trước sau trong tu đạo, mà trong xử sự của con người
cũng cần giữ lễ tiết.
Tu từ quốc gia cho đến bá tánh, đều lấy điều này mà
hành đại đạo, thì tự có thể hướng về thế giới đại đồng.
Câu văn này tuy đơn giản nhưng kỳ thực là nhân luân
đại đạo tuyệt không thể thiếu một phần.
Lấy chương này đối chiếu với bát đức, thì sẽ hiểu được
tầm quan trọng của chương này.
Ví dụ như chữ “hiếu” - Làm người con ra ngoài
không nói với cha mẹ, trở về không chào hỏi cha
mẹ khiến cho cha mẹ lo lắng thì bất hiếu.
“Đễ” là chỉ bậc dưới, bậc hậu bối, khi ra vào không
báo cáo,tất thất “đễ”.
“Trung” là chỉ người làm bậc bề tôi đi và về không
báo cáo,tất thất “trung”.
Người nhỏ tuổi ra vào không nói với trưởng bối,tất
thất “tín”, thất “lễ”, thất “nghĩa”, thất “liêm”, thất
“sĩ”.
Làm người thất tín thì làm sao có thể nói đến nghĩa,
không có nghĩa thì làm sao có thể nói đến liêm, liêm
không thể nói, tất không biết xấu hổ. Vì vậy tu đạo cần
15 Điều Phật Quy XUẤT CÁO PHẢN DIỆN
70
phải coi trọng lễ nghi giữ quy củ, ra vào tất cần phải báo
cáo thì có thể đạt được sự viên mãn trong giao tiếp.
Trời tạo ra vũ trụ tất có dụng ý, trời sinh ra con người tất
có sứ mệnh. Con người sinh xuống thế gian này, thừa
nguyện mà hạ phàm, làm việc Phật, độ tận cửu lục, trở
về quê hương cũ, đi đã nói thì cũng phải trở về trình
diện, đây là việc “Xuất Cáo Phản Diện” của phật tử.
Khổng Phu tử nói: “Phụ mẫu tại bất viễn du, du tất hữu
phương”. Câu này ứng với việc tu đạo mà nói, con người
biết được Mẹ của linh tánh thì không thể đi xa. Đi xa là
đã rời khỏi Đạo, bởi vì Đạo cùng tồn tại với Mẫu. Không
đi xa tất cùng với Đạo, như đi xa tất có nơi đến, viễn du
tức là hạ phàm, hữu phương là rộng độ chúng sanh.
Lỗi của ai?
Con người trong xã hội, một số người thì không vui vẻ,
một số người thì vui vẻ, là vì sao?
Là do Thiên Đạo còn chưa được lưu hành rộng rãi, Đạo
chưa phổ biến rộng rãi là lỗi của người truyền đạo. Ai là
người truyền Đạo? Là người hiểu Đạo, đều là người có
thể truyền đạo, vì vậy con người có thể mang Đạo phổ
biến rộng khắp, không phải Đạo mang con người phổ
biến rộng khắp.
15 Điều Phật Quy BẤT LOẠN HỆ THỐNG
71
“Bất loạn” là không thể rối loạn. “Hệ” là sợi dây nối
tiếp, cũng là đại biểu một dây Kim Tuyến. “Thống” là
thống lãnh vạn vật, là Đại Đạo chánh tông, cũng là mỗi
người trên mình vốn có tự tánh.
Cho nên, cái gọi là “Bất Loạn Hệ Thống”, thật sự
hàm ý chỉ mỗi một con người tu Đạo, không thể đi
lệch và xa rời chánh Đạo, tất cả mọi việc đều lấy
tự tánh làm chủ, không thể đi lầm vào tả Đạo
bàng môn, đó mới thật sự là không loạn hệ thống.
Nhưng sợi Kim Tuyến có hai dây, một dây thuộc Tiên
Thiên, một dây thuộc Hậu Thiên.
Kim Tuyến của Tiên Thiên là Thiên Mệnh, mọi người tự
nhiên vốn có Thiên tâm tự tánh, có thể lấy tâm ứng tâm,
mà tương thông với Trời, đó là Phật tâm. Cái tâm này,
tại Thánh không tăng, tại phàm không giảm, lúc tâm con
người thanh tịnh vô niệm, vô tư vô ngã, cái tâm lúc đó
sẽ tự nhiên nối liền với Trời, Linh Tánh sẽ thông với Tiên
Thiên, không rời một bước tức thì đạt tới Lý Thiên. Trong
lúc này, sợi Kim Tuyến Tiên Thiên của các vị tự nhiên
12. BẤT LOẠN HỆ THỐNG
(Linh Miệu Thiên Tôn Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy BẤT LOẠN HỆ THỐNG
72
phát quang rực rỡ, những linh quang này chiếu rọi khắp
tam thiên đại thiên thế giới, đến cả Kim Tuyến nhân sự
của Hậu Thiên. Là do các vị nhiều kiếp có Phật duyên với
Dẫn Bảo Sư, Điểm Truyền Sư và Tiền Nhân, mà vào Tam
Kỳ mạt kiếp đại khai phổ độ này, nhân duyên lại được
hội tụ, lại được gặp nhau, mới có cái nhân duyên tốt để
cùng tu Đạo bàn Đạo.
Đồ đệ các trò ơi! Vào thời kỳ mạt hậu lần cuối này, Cung
Trường giả, Tổ Sư giả, nhộn nhịp bay ra khỏi lồng rồi.
Chúng dùng các loại thần thông, hiển hóa để dụ dỗ
người tu Đạo, đồng thời lấy cái giả mà làm rối cái chơn,
lấy cái tà làm rối cái chánh. Thậm chí còn tự xưng là có
Thiên Mệnh, mắt cá lộn với hạt châu, chơn giả lẫn lộn,
để quấy nhiễu Đạo trường.
Này các đồ đệ, vào thế cục loạn động này, về Đạo thì
hỗn loạn, lòng người thì hiểm ác trong những năm này.
Nếu các trò không thể nắm vững theo một đường Kim
Tuyến, bước chân ổn định theo gót Tiền Nhân, đồng thời
bên trong phải tu tâm tánh, an thân lập mạng. Nếu như
có đại khảo nghiệm, đại nạn tới gần, thì các trò làm sao
lòng được kiên định mà để tránh kiếp khỏi nạn đây?
Cho nên nói: Các trò tu tới lúc tâm tánh đoan
chánh, tà ma không thể xâm nhập vào, thì mới
thật sự là “Bất Loạn Hệ Thống” đấy! Còn không,
15 Điều Phật Quy BẤT LOẠN HỆ THỐNG
73
tâm tánh bất chánh, tà ma xâm nhập, sẽ dễ dàng
tin theo tả Đạo bàng môn, thì đối với Tiền Hiền,
Dẫn Bảo Sư càng không được tôn kính. Cho nên
một khi đường Kim Tuyến bị đứt đoạn, thì tánh
mạng cũng khó bảo toàn.
Tây Phương Viên Tính Phật Giáng:
Tây lai nhất điểm chân huyền quan
Phương thốn bảo điển thông vạn đoan
Viên tính linh lung thập tự địa
Phật tâm bất muội tức siêu phàm.
Lại đề thơ:
Bất ỷ bất thiên trung đạo tồn
15 Điều Phật Quy BẤT LOẠN HỆ THỐNG
74
Loạn hành tà kinh tuyệt thiên căn
Hệ hệ kim tuyến nguyên nhân tiếp
Thống soái thiện đồ phản lý viên.
Giảng giải về “Bất Loạn Hệ Thống”
Hệ thống cũng là trật tự của nhân sinh, nhân sinh
sinh tồn có thứ tự thì là con người, sinh tồn không có
thứ tự thì cũng như cầm thú. Do đó, hệ thống nói cách
khác cũng có nghĩa là chỉ quỹ đạo.
Trời không có quỹ đạo thì các vì sao tinh tú sẽ bị loạn,
bốn mùa sẽ không đúng.
Đất không có quỹ đạo thì vạn vật không thể sinh.
Con người không có quỹ đạo thì ngũ luân bỏ phế, không
có đạo đức, như máy bay rời khỏi không khí, xe lửa rời
15 Điều Phật Quy BẤT LOẠN HỆ THỐNG
75
khỏi đường ray, cũng giống như diều bị mất dây vậy, sự
nguy hiểm sẽ xảy ra. Vì vậy “Bất Loạn Hệ Thống” là
bước thứ 12 trong tu hành.
Hệ thống tức là trời, đất là đất, bậc trên là bậc trên, cha
ra cha, con ra con, huynh là huynh, em ra em. Loạn tức
là trên thế gian tất cả đều không còn trật tự, chiến tranh
liền xảy ra, trời đất đại loạn, vua không ra vua, thần
không ra thần, cha không ra cha, con không ra con,
trưởng không ra trưởng, ấu không ra ấu.
Tu đạo cũng như vậy, người đi trước là người đi trước,
người đi sau là người đi sau, trời đất quốc gia đều có
trình tự. Là sự khởi đầu của người tu đạo, tuân theo
trình tự hệ thống này, thì sau này đệ tử bạch dương mới
có thể tu được viên mãn.
Vạn Nhà Thành Phật
Chúng ta không thể đem gia đình của chúng ta thành
một thiên đường, thì khó giúp gia đình của người khác
tạo thành thiên đường. Nếu đem toàn bộ nhân gian kiến
tạo thành thiên đường. Đây gọi là xây dựng Phật quốc
tại cõi sa bà, thiên đường ở tại nhân gian.
15 Điều Phật Quy ÁI TÍCH CÔNG VẬT
76
Công vật là đồ vật của tập thể, ví như đồ vật của
Phật đường hay Phật gia đều là đồ vật của tập thể, trò
có giữ gìn và quý trọng nó không? Đồng thời phải sử
dụng cho tốt, có thể phát huy tác dụng giá trị của nó,
như vậy mới là quý trọng của công.
Hay là các con có thể mang nó về nhà làm đồ riêng tư
của mình được không? Này đồ đệ, trước đã có nói tới
điều Phật quy “Thủ Tục Tất Thanh”, các trò cần phải biết
“Tiểu tham bất phòng, đại quá tất thành*!” Cho nên đồ
vật của công tuyệt đối không thể xem là của riêng hoặc
tùy ý đi phá hoại nó.
Ngoài ra, những vị Điểm Truyền Sư, Giảng Sư trong Phật
đường thay Trời tuyên hóa, cùng các vị Bàn sự nhân viên,
trò có yêu quý và bảo hộ họ không? Có đối với họ bất lễ
phép không? Trong lời nói có ngỗ nghịch với họ không?
Cần phải biết rằng, nếu như đối với họ có tôn kính lễ
phép, là yêu quý bảo vệ của công đó.
Tại vì họ thay Trời tuyên hóa, thuộc về người của Trời,
nếu như các vị không tôn kính, không yêu quý bảo vệ họ,
13. ÁI TÍCH CÔNG VẬT
(Tế Điên Thánh Tăng Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy ÁI TÍCH CÔNG VẬT
77
vậy thì không thể cho là quý trọng của công được.
Huống chi còn ở sau lưng phê bình họ, chửi mắng họ,
nếu như vậy thì càng nghiêm trọng hơn nữa.
Cho nên, yêu quý của công không phải chỉ là yêu
quý đồ vật trong Phật đường, mà còn phải yêu quý
người trong Phật đường, phải thật tốt đối đãi với
mọi người, đồng thời còn phải thương yêu lẫn
nhau, cùng nhau giúp đỡ, cùng nhau khuyên nhủ,
như vậy mới thật sự là yêu quý của công đấy!
Đồ đệ ơi! Đạo lý này các trò tự mình suy nghĩ xem, nếu
như yêu quý đồ vật trong Phật đường, tôn kính người
trong Phật đường, đó là yêu quý đồ vật của Bề Trên, yêu
quý người của Tiên Phật, thì cũng giống như yêu quý
Tiên Phật Bồ Tát Bề Trên một thứ.
Ngoài ra, người có thể ở bên cạnh mình, mình
cũng phải yêu quý họ. Nếu không quý trọng họ, Bề
Trên tự nhiên cũng không xoay chuyển nhân tài
đến với mình, như vậy Đạo vụ làm sao mở rộng được,
và bàn Đạo cho tốt được đây? Cho nên người đi trước
phải yêu quý người bên cạnh mình, phải lo cho họ lúc ăn
thì phải ăn, lúc nghỉ ngơi thì phải nghỉ ngơi, lúc phải điều
dưỡng thì nên điều dưỡng, cần phải biết có cái thể xác
này mới có thể hành công, không có thể xác này thì làm
sao hành công liễu nguyện đây?
15 Điều Phật Quy ÁI TÍCH CÔNG VẬT
78
Cho nên, nếu là Tiền Hiền thì phải yêu quý Hậu
Học, không nên tùy tiện trách phạt họ, tại vì họ là
của công của nhà Phật. Cho nên không yêu quý
người bên cạnh mình, cũng là không yêu quý của
công. Điều Phật quy này, các con hãy đi sâu tỉ mỉ mà
lãnh ngộ hơn!
Diệu Pháp Thiên Tôn giáng:
Diệu ngộ huyền quan thập tự trung,
Pháp luân thường chuyển thấu thương khùng
Thiên tâm bất muội chí thành tại
Tôn thánh hiệu hiền vạn đại đồng
Lại đề thơ:
Thọ hành thiện đạo quán tinh thần
Tiếc khắc ngàn kim tu thử thân
Công chánh vô tư tự tính hiện
Vật tuy hữu sắc quy thiên căn
Giải thích về “Ái Tích Công Vật”
Nói về vật chất nhân gian, là thế giới vật chất.
Thế giới này cho rằng vật chất hiếm, ít thì quý
15 Điều Phật Quy ÁI TÍCH CÔNG VẬT
79
trọng, cái gì nhiều thì cho là rẻ mạt, tiếc của quý,
coi thường của rẻ. Lấy vật đổi vật, thích của quý
bỏ của rẻ, hình thành thế giới xa hoa, các cuộc
đấu tranh đa phần cũng vì vật chất mà nổi dậy.
Lão Tử nói: “không quý của khó được, khiến dân không
trộm cắp, bất kiến khả dục, khiến tâm bất loạn”. Vì có
coi trọng của khó được, thì sẽ khởi tâm coi trọng tự tư cá
nhân mà coi thường của công, đây đều là bội nghịch lại
bổn lai thiên tâm. Vì vậy “Ái Tích Công Vật”, là điều mục
không thể xem thường, do đó được liệt vào hạng mục
thứ 13 trong quá trình tu đạo.
Con người tại thế tuyệt không thể tự tư mà thiếu
tâm công đức, huống gì người tu đạo không giữ
tâm công đức, ái tiếc đối với công vật, coi vật công
như của mình, bảo dưỡng nó mới là “Ái Tích Công
Vật”. Nếu như không có tâm công đức, tùy ý phá
hoại công vật, không thể được hoàn chỉnh, trân
tiếc ái hộ, thì làm sao có thể đạt tới chân thực tu
hành, như vậy là tự tư tự lợi, thì nói gì đến tu đạo.
“Ái Tích Công Vật”, là đức tính đẹp của thiên tánh, đối
với công vật không thể không trân tiếc, bỏ công trọng
của tư là việc đáng hổ thẹn. Từ xưa đến nay, không ai
được xưng là Thánh Hiền Tiên Phật mà không ái tiếc
công vật.
15 Điều Phật Quy ÁI TÍCH CÔNG VẬT
80
Hoành Lượng Bản Thân
Bồ tát có tâm bồ tát, con người có nhân tâm, ma quỷ
có tâm ma quỷ. Trong tâm chỉ có bản thân là tư tâm,
tâm hại người, tâm tàn khốc, tự mình hiện tại chính là
ma quỷ, sau khi chết cũng là ma quỷ. Tâm của mình có
thiện có ác, được thì hoan hỷ, mất thì đau khổ, tuy
không hại người nhưng cũng không lợi người. Tuy có lợi
cho người, cũng chỉ vì danh dự, người như vậy hiện tại là
người sau khi chết là ma quỷ.
Còn nếu như trong tâm là tâm từ bi, thấy người đói cũng
như ta đói, thấy người bị trầm mê cũng như ta bị trầm
mê, người khổ cũng như ta bị khổ, người vui ta cũng vui,
toàn vì lợi ích cho chúng sanh mà làm, thì bản thân hiện
tại chính là Bồ Tát, sau khi chết cũng là Bồ Tát.
15 Điều Phật Quy HOẠT BÁT ỨNG SỰ
81
Phật quy thật sự là Đạo, vì nó sống động,
không có cố định, vốn tùy theo nhân duyên bên
ngoài mà thay đổi nhưng vẫn giữ trung Đạo, sống
mãi không ngừng. Cho nên người tu Đạo phải có
tâm hoạt bát linh động, không được bảo thủ cố
chấp mà không chịu thay đổi.
Thí dụ, có một số việc phải làm, như Tiền Hiền đi vắng,
trước đó không thể bẩm báo và quyết định, mà sự việc
đã đến, đồng thời việc rất hệ trọng, không thể chần chờ
được, phải lập tức giải quyết, lúc đó các trò cũng phải
học biết đối diện và đảm đương sự việc đó, kịp thời xử lý,
nếu không, ắt hại người lỡ việc, cũng là có tội lỗi.
Này đồ đệ, các trò nhất thiết phải ghi nhớ, việc làm và
hành vi của mình, chỉ cần đối trên thì hợp với Thiên tâm,
đối dưới thì có lợi ích cho chúng sanh. Cũng là tất cả sự
việc có ích cho chúng sanh, trò đã làm dù không được
Tiền Hiền tha thứ, thậm chí còn bị quở trách, trò vẫn có
thể cân nhắc mà đi làm.
14. HOẠT BÁT ỨNG SỰ
(Đạo Tế Thiền Sư Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy HOẠT BÁT ỨNG SỰ
82
Tại vì chúng ta làm việc là việc của Bề Trên, là thay thế
Bề Trên làm việc, chứ không phải làm việc cho người
nào, mà là làm việc siêu sanh liễu tử đại sự của chúng
sinh, không phải làm việc nhỏ của nhân gian. Cho nên sự
việc đến không thể chần chờ để lỡ việc, chỉ là mình có
tấm lòng Bề Trên, lòng công bằng, thì dù Tiền Hiền đi
vắng, mình cũng có thể đi đảm đương.
Chỉ cần chúng ta có tấm lòng khí độ, là đối với Bề Trên
không phải đối với người, Bề Trên sẽ tự nhiên tha thứ bỏ
qua. Huống chi pháp là vô định pháp, chúng sinh có tám
vạn bốn ngàn loại tâm, thì các trò cũng phải có tám vạn
bốn ngàn cái pháp, phải học được dù bất cứ chỗ nào lúc
nào.“Vật đến thì ứng, vật đi thì tịnh”, nắm giữ tự
tánh chân ngã, đối diện ứng phó với tất cả nhân duyên.
Đồng thời vào lúc này, các trò phải học được “Ứng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm”, như vậy mới có thể là “Hoạt Bát
Ứng Sự”, mới gọi là có cái trí tuệ tối cao.
Này các đồ đệ, tâm của Phật là vô trụ, không bị nhiễm
vật, còn tâm chúng sinh là vô thường, không thể vĩnh
viễn không thay đổi. Cho nên phải dùng mọi thứ pháp để
độ mọi thứ tâm, để cho mỗi một chúng sinh đều được
trở về Vô Cực Lý Thiên, như vậy là các trò phải có trí tuệ,
để mà suy nghĩ vấn đề này.
15 Điều Phật Quy HOẠT BÁT ỨNG SỰ
83
Thái Ất Chân Quân Giáng:
Thái cực mê hồn lục đạo luân
Ất xưng giáp thứ diệc nhân thần
Chân tâm chân kiến bổn lai tính
Quân đức siêu sinh thoát tục trần.
Lại đề thơ:
Hoạt động thể khu đạo tại trung
Bát bỉ vô lại chung thành không
Ứng tu phẩm đức viên dung đạo
Sự bàn linh lung kiến đại công.
15 Điều Phật Quy HOẠT BÁT ỨNG SỰ
84
Giảng giải về “Hoạt Bát Ứng Sự”
“Hoạt Bát Ứng Sự” là xử sự một cách nhanh nhẹn,
không để lại một chút khuyết điểm. Đây đều là dựa theo
trí tuệ mà làm việc, làm việc Phật đều lấy tài năng viên
mãn mà không khiếm khuyết. Vì vậy tu đạo lấy điều này
làm điều phật quy thứ 14 .
Người tu đạo cần đề túc tinh thần, tinh ích cầu tinh, ứng
phó sự việc một cách nhanh nhẹn. Tuyệt không làm việc
ời hợt, trong quá trình tu đạo, nếu như gặp khảo nghiệm
hoặc, tinh thần ứng phó, gió mưa trở ngại, hoạt bát ứng
phó, tuyệt không động một phần tâm. Cần là lập tức làm,
mỗi người gánh vác mỗi trách nhiệm, làm được tận thiện
tận mỹ, nếu như gặp khốn nạn ý chí tiêu trầm, tinh thần
ủy mị không phấn khởi, không thể “Hoạt Bát Ứng Sự”.
Bạch Dương tu đạo, đối với “Hoạt Bát Ứng Sự” vô cùng
quan trọng, vì người tu đạo ở tại gia đình tu hành, do đó
gặp nhiều phiền não khó khăn.Nếu như không “Hoạt Bát
Ứng Sự”, tự tánh phát trí huệ. Không qua tạo tác mà có
thể hợp với đạo, mới là chân chánh hoạt bát ứng sự.
Cảnh Giới
Người tu đạo gặp cảnh mà có thể chuyển cảnh thì là ngộ,
người tu đạo gặp cảnh mà bị cảnh chuyển thì là mê.
15 Điều Phật Quy HOẠT BÁT ỨNG SỰ
85
Gặp cảnh chuyển cảnh như người cưỡi ngựa, gặp cảnh bị
cảnh chuyển thì như người bị ngựa cưỡi.
15 Điều Phật Quy CẨN NGÔN THẬN HÀNH
86
Cổ nhân nói: “Ngôn giả tăng chi âm, hành giả
tâm chi ảnh”, là lời nói có thể biểu đạt ra nội tâm
từ đáy lòng của một con người, mà hành vi có thể
phản ánh tâm tư của con người đó. Cho nên, trong
lòng các trò nếu có tâm tư gì, thì bên ngoài sẽ có
những lời nói và hành động như thế. Ngược lại,
nếu như trong lòng không có tâm tư, thì tự nhiên
cũng sẽ không có lời nói và hành động biểu lộ.
Vì thế, những lời nói và hành vi có thể phản ánh tự nhiên
cái tâm tánh. Cho nên mỗi lời nói, mỗi hành vi của trò,
cũng là đại biểu hiện tại con người thật sự của trò đấy!
Mà Đạo không thể rời thân dù trong giây lát, hơn nữa
Trời không ngôn, đất không ngữ, sự tôn quý của Đạo là
phải ở trên người các vị được biểu hiện ra.
Như vậy, các vị làm sao có thể không cẩn thận về lời nói
và hành vi của mình, lại có thể không tôn kính Tiên Phật
trong bản thân mình sao? Huống chi Thiên có Thiên luật,
Quốc có Quốc pháp, Phật đường cũng có Phật quy cần
giữ. Nếu như không cẩn thận về lời nói và việc làm, mà
15. CẨN NGÔN THẬN HÀNH
(Tế Công Hoạt Phật Từ Huấn)
15 Điều Phật Quy CẨN NGÔN THẬN HÀNH
87
tùy ý tạo ra khẩu nghiệp, tạo ra tội lỗi, chẳng những làm
tổn hại người khác mà rốt cuộc người bị hại lại chính là
mình.
Tại vì Bề Trên đối với mỗi một chúng sinh đều rất công
bằng, đều là đại công vô tư, đều là “Công đức nhỏ
không che giấu, sai lầm nhỏ tất phải tra kĩ”. Như vậy,
trong cái thiết luật nhân quả báo ứng đó, đồ đệ các trò
chẳng lẽ phạm vào tội lỗi mà không bị sự trừng phạt của
Thiên luật hay sao? Cho nên, lời nói không được làm tổn
thương người, hay làm bại đức, càng không thể dùng lời
nói mà làm hư việc!
Trò nên dùng lời nói ích lợi cho người, lời nói để
thêm đức, và dùng lời nói để sự việc được thành!
Nhất là người tu Đạo, khi nói ra càng nên nói
những lời Chân lý, chỉ nói việc Thánh không nói thị
phi, bất tạo khẩu nghiệp, khẩu vô tạp ngôn, bỏ đi
những cái cười vô ích. Như vậy mới thật sự là cẩn
ngôn, mà thận hành thì cũng một thứ.
Trò không phải chỉ có ngôn hành hợp nhất, mà thân còn
phải là một gương mẫu. Trò còn phải lấy cái thân này
để biểu lộ ra cái Đạo, thay trời tuyên hóa, nơi nào
cũng lấy Thiên tâm làm tâm. Việc nào cũng lấy
chúng sinh làm đầu, thời thời phải rụt rè thận
trọng (chiến chiến cạnh cạnh), tự mình giữ gìn
15 Điều Phật Quy CẨN NGÔN THẬN HÀNH
88
cẩn thận, tâm giữ cho nghiêm cẩn, thân ít phạm
lỗi. Như vậy có nói đến đầy trời cũng không tạo khẩu
nghiệp, đi khắp thiên hạ cũng không có người oán ghét,
mới đúng là một người thay trời tuyên hóa, lập thân
hành Đạo đấy!
Bổn Đường Chánh Tuần Sát
Hoàn Hậu Đại Đế Giáng:
Thập ngũ điều quy lí chánh chân
Đắc thư huyền quyết ích tâm thân
Quán châu chí lực trợ thiên đạo
Chỉ dẫn mê ngộ hóa tục tân.
Lại đề thơ:
Cẩn tu chánh đẳng lại nam bình
Ngôn thủ thanh quy chí lí trăn
Thận đức kiến công vô thác quá
Hành đoan phẩm chánh thoát phàm nhân.
Giảng giải về “Cẩn Ngôn Thận Hành”
“Cẩn ngôn” tức là cẩn thận lời nói, lời nói
không gây ra lỗi. “Thận hành” là chú ý đến phẩm
đức, hành động không gây thù oán.
15 Điều Phật Quy CẨN NGÔN THẬN HÀNH
89
Người tu đạo, lời nói không cẩn thận, hành vi không
ngay thẳng thì thành tu đạo gì. Vì vậy “Cẩn Ngôn Thận
Hành”, là điều phật quy thứ 15 trong tu đạo.
Tu đạo đều biết, họa từ miệng ra, nói nhiều tất tạo
lỗi, vì vậy dưỡng khẩu thì tâm thanh tịnh.
Lời nói vô lí không được tùy tiện phát ra.
Lời nói không tốt tuyệt không tùy tiện nói ra.
Lời nói chiêu tai họa tới cũng không được khinh
xuất.
Lời nói vụng về ác khẩu cũng chớ phát ra.
Lời nói không hợp phép tắc cũng chớ nói ra.
Lời nói ô uế cũng chớ nên nói.
Không đúng người tuyệt không nói, thiên cơ
không tiết lộ, quốc gia cơ mật không nói.
Xuất khẩu thành chương, ngôn xuất là lí, thì là
cẩn ngôn.
Người thận hành tu đạo, thời thời khắc khắc chú ý
phẩm đức, không làm việc phi lí, không đến nơi
không nên đến, thủ phép tắc mà hành.
“Tử Trương vấn hành, tử viết: lời nói trung tín, hành vi
cung kính, dù ở xứ man rợ cũng thuận lợi. Người không
15 Điều Phật Quy CẨN NGÔN THẬN HÀNH
90
trung tín, hành vi không đốc kính, dù ở làng xã hay
thành thị cũng không được thuận lợi. Khi đứng, cũng
thấy sự trung tín trong lời nói và sự đốc kính trong việc
làm hiện ra trước mặt. Khi ngồi xe cũng thấy có đức
hạnh ở bên tay xe. Giữ được như vậy thì được thông
hành. Tử Trương bèn ghi chép lời thầy mà đeo vào dây
lưng”.
Vì vậy người tu đạo hành vi tất cần đốc kính, người có
thể giữ chữ tín, tắc lập đạo hỹ. Vì vậy lời nói chú ý
hành vi, hành vi chú ý lời nói, tuyệt không thể coi
thường
Người tu đạo cần ghi nhớ hiểu được tầm quan trọng của
cẩn thận trong hành vi, tuyệt không thể báng đạo. Phẩm
hành không cẩn thận, mà làm ảnh hưởng đến danh tiếng
của Đạo, đại đế pháp luật không dung.
Việc tu Đạo, lời nói thiện lành giúp ích cho người,
hợp khẩu đức. Lời nói không thiện lành còn gây
tổn thương hại người, thì khẩu đức không có.
Hành đạo lợi nhân hợp với thân đức, không hành
thiện hại người tất thất đức.
Do đó các đệ tử Bạch Dương cần phải cẩn thận lời nói,
chớ đừng lơ là.Khi xưa “Nhan Tử phải quyền quyền phục
ưng mà không phạm lỗi”, “ Tăng Tử 1 ngày 3 lần phản
15 Điều Phật Quy CẨN NGÔN THẬN HÀNH
91
tỉnh bản thân”, mới không phạm lỗi “Cẩn Ngôn Thận
Hành”.
------------------***------------------
Trên đây thầy đã đem ý nghĩa thật sự của 15 điều phật
quy lần lượt nói rõ qua. Hy vọng các đồ đệ có thể cố
gắng tu, cố gắng bàn, đồng thời tuân theo đó mà đi làm,
thầy đây đảm bảo chắc chắn rằng các con thừa sức để
thành Đạo! Chỉ cần các con nhất thiết nhớ lấy, những
điều phật quy này, là Ơn Trên đã định sẵn. Các con
tuyệt đối không được tự mình định lập Phật quy, đặc biệt
là ở thời kì mạt hậu này. Nếu như các con muốn bàn việc
của Ơn trên, thì phải dựa theo hệ thống này - làm theo
hệ thống 15 điều phật quy, thì có thể đem tất cả mọi
việc, làm được thập toàn thập mỹ, làm được hợp với ý
trời thôi.
Còn đối với một số lễ tiết của cuộc sống hàng ngày, lễ
nghĩa ra vào trong phật đường, tự các con có thể xem
xét cân nhắc đắn đo sự việc mà làm. Nhưng 15 điều
phật quy này vốn là lễ tiết để thành Phật, các con chỉ
cần tỉ mỉ để mà tham ngộ, thành thật mà làm, thì sẽ
hiểu được nó chính là chuẩn mực của tu Đạo, đường lối
trật tự của bàn Đạo.
15 Điều Phật Quy CẨN NGÔN THẬN HÀNH
92
Các đồ đệ ơi! Các con nói 15 điều này quan trọng như
thế, vậy các con làm sao không thể khẩn thiết ghi tạc
trong lòng, nhận lấy chân lý thành thật mà tu chứ!
Cuối cùng các con con phải ghi nhớ rõ trong quyển Thái
Thượng Cảm Ứng có câu nói: "Họa phước không cửa, tự
mình chuốc lấy, thiện ác báo ứng, như hình với bóng".
Các đồ đệ ơi, tất cả những sự việc hành động của các
con rốt cuộc là phước hay là họa, đều toàn ở chính bản
thân con, và Ơn trên thì không có chút gì mà không soi
xét, không có tí gì mà không ghi chép lại.
Cũng giống như khi, ngay tại lúc này các con tồn giữ một
ý niệm thiện. Trời sẽ xoay chuyển điều lành cho con, con
tồn giữ một ý niệm tà ác, tự nhiên trời cũng sẽ trừng
phạt con. Tuy là con mắt thường không nhìn thấy được,
báo ứng cũng không nhất thiết lập tức sẽ đến, nhưng
luật trời thì rất vô tư, thiện ác tất sẽ có báo.
Trong thời kỳ màn cuối này Thiên thời khẩn cấp, lòng
trời khảo nghiệm lòng người, là thời khắc thiện ác sẽ
được phân ra rõ ràng. Các đồ đệ ơi, các con có thể phàm
là việc gì đều không cẩn thận, không tỉ mỉ, kiềm giữ
được chính mình, tu đến giây phút cuối cùng mà vẫn
một lòng như vậy không thay đổi không?
15 Điều Phật Quy CẨN NGÔN THẬN HÀNH
93
Trong giây phút sắp phải chia tay, Thầy đây không có gì
có thể để tặng cho các đồ đệ yêu của thầy. Thầy đây chỉ
có thể âm thầm mà chúc phúc các con, mỗi một người
đều có thể "ôm giữ tấm lòng lúc ban đầu, đế báo ân và
liễu nguyện" mà quay trở về Vô cực Lão Mẫu nha! Có
được không? Tạm biệt nhé! Các đồ đệ!
10 Điều Đại Nguyện GIỚI THIỆU
94
“Mười điều đại nguyện” chính là mười điều
nguyện mà đệ tử Bạch Dương trong lúc cầu Đạo ngày
hôm cầu Đạo đã lập ra, lập nguyện thì phải liễu
nguyện. Hành nguyện, mới có thể dẫn dắt mọi người đi
tu thật sự, liễu nguyện, mới có thể thành Đạo thật sự.
Mười điều nguyện lớn của lúc cầu Đạo là gốc rễ căn bản
của việc tu Đạo thành Đạo. Những chân lí trong đó quả
thật là vô cùng quý báu. Nếu mọi người đều có thể dựa
theo những trọng điểm đã phê thị, thật tốt mà tinh tiến
thực hành.
Và đem hồng thề đại nguyện lượng sức tận tâm
mà đi làm, thật sự đem mười điều nguyện lớn
trong nhị lục thời (24 tiếng trong ngày) liễu liễu
phân minh, dung nhập vào trong những luân
thường hằng ngày dùng đến và trong việc tu bàn
đạo thì tất nhiên có thể thành tựu ngay trong kiếp
này. Khôi phục lại tự tánh phật ngây thơ gốc ban đầu
mà chuyển trở về ngôi nhà Tiên Thiên.
10 ĐIỀU ĐẠI NGUYỆN
10 Điều Đại Nguyện THÀNH TÂM BẢO THỦ
95
Sau khi cầu đạo thời thời kiên trì giữ vững bổn
tâm thanh tịnh, niệm niệm đều hồi quang phản
chiếu, thời thời bảo giữ phật tánh thanh tịnh Minh
Sư nhất chỉ điểm. Cho dù là phú quý vinh hoa hoặc
là lúc hoạn nạn, đều phải tùy thời mà an, không vì
hoàn cảnh mà mê mất bổn tính, phát huy bổn tính
nhân lễ nghĩa trí, từ bi hỉ xả, tùy duyên ứng hóa.
TIÊN QUAN TỪ BI
Tu đạo, phải thành tâm, người thuộc “Thượng Sĩ”
nghe thấy Đạo, là quyền quyền phục ưng, không
rời khỏi trong giây phút, đó chính là ý tóm lược về
thành tâm bảo thủ.
1. THÀNH TÂM BẢO THỦ
10 Điều Đại Nguyện THÀNH TÂM BẢO THỦ
96
 Người thuộc “Thượng Căn” gặp được chơn Đạo, là
dựa vào cái tâm vô chấp, hành cái Đạo vô vi,
tinh tấn không trì trệ, trước sau như một. Khi
thuận cảnh là không chìm, khi nghịch cảnh là
không biến.
 Người thuộc “Trung Căn” là luôn với tâm hư
không, mà thành tâm triển khai. Hễ việc thiện
là làm, hễ việc ác là không làm, chân đạp đất thật
sự (thật sự đi làm).
 Người thuộc “Hạ Căn”, là không giả danh ở bề
ngoài. Không làm đại để ứng phó, không làm
qua loa để lừa dối, thành thành khẩn khẩn như
thế, chỉ sợ tự dối mình mà lừa dối người ta, thì
khớp với cái nguyện “Thành Tâm Bảo Thủ” rồi.
10 Điều Đại Nguyện THÀNH TÂM BẢO THỦ
97
TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN
Bôn tẩu khắp nơi trông giữ đạo trường, khổ khẩu bà
tâm kể tiếng lòng. Chẳng sợ gian nan đi bôn tẩu khắp
nơi chính là vì để canh giữ Đạo Trường, mục tiêu là phải
hoằng dương Đại Đạo, dùng tấm lòng nhân từ, thiện
ngôn khẩn thiết khuyên giải dẫn Đạo, mục tiêu là để nói
tiếng lòng độ chúng sanh đấy !
THAN TU ĐẠO CHẲNG THÀNH TÂM, HỒ HỒ
ĐỒ ĐỒ QUA THÁNG NGÀY
Điều thứ nhất cảm than là đã có duyên đắc được
đại đạo bảo quý, nhưng lại chẳng biết thành tâm
bảo thủ thật tốt mà tu đạo, vẫn là qua những tháng
ngày say mộng sanh tử, lãng phí thời gian của đời người
trôi qua một cách mơ mơ hồ hồ. Hồng thệ đại nguyện
tùy miệng lập, thử hỏi có ai theo nguyện hành ?
Lúc bấy giờ khi cầu Đạo, đều thành tâm cung kính
quỳ dưới tòa sen của Minh Minh Thượng Đế, đã
biểu bạch lời thề nguyện lớn tu Đạo. Thế nhưng thử
hỏi lại có mấy ai có thể sau khi cầu Đạo thì thật sự
thành khẩn chân thành, thành tâm thành ý phục
tùng, ghi nhớ kĩ trong tâm, dựa theo lời thề nguyện
đã lập mà chơn tu thật hành đây?
10 Điều Đại Nguyện THÀNH TÂM BẢO THỦ
98
Miệng suông lập nguyện chẳng đi liễu, gạt người dối trời
gạt quỷ thần. Nếu như chỉ là phát nguyện trên đầu
môi chót lưỡi, chớ chẳng nghiêm túc theo mười
điều nguyện lớn đi thực hành, vậy lẽ nào chẳng
phải là đã dối lừa Tiền Hiền Đại Chúng, sự dẫn độ
khổ khẩu bà tâm và sự khai ân thành toàn của ơn
trên và các quỷ thần hộ đạo ?
Mong rằng các đệ tự hỏi lòng, lẽ nào chẳng sợ tội gánh
thân. Kì vọng các hiền đệ muội hãy bình tĩnh hỏi lương
tâm mình, lẽ nào các vị không sợ trong vô hình trung đã
gánh lên tội lỗi đầy mình đó sao ?
Chớ có bảo rằng hiện giờ vẫn chưa gặp quả báo,
lúc ứng kiếp rồi hãy tự xem xét phân biệt, tuyệt
đối chớ tưởng rằng trước mắt cũng vẫn chưa gặp
phải quả khổ gì. Liệu có biết rằng một khi đại kiếp lâm
đầu, tự nhiên sẽ tùy theo tất cả những hành vi cử
chỉ việc làm của mỗi người mà họa phước phân rõ
ràng.
Không tin thì hãy khảo tra lại những chuyện ngày xưa
xem, lưới trời lồng lộng nào có tha cho một ai. Nếu
chẳng tin thì mọi người có thể nghiên cứu những sự tích
rõ ràng mạch lạc có thể tìm thấy từ trước đến nay xem,
luật trời nghiêm ngặt chưa từng buông tha qua cho bất
cứ người nào mai một lương tâm đâu !
10 Điều Đại Nguyện THẬT TÂM SÁM HỐI
99
+ Thực Tâm Sám Hối: Càn Đạo dễ phạm lỗi lớn, vì
vậy phải tùy lúc phát hiện lỗi sai của thân tâm, thừa
nhận lỗi sai, tiếp nhận chỉ giáo, lập chí sửa đổi,
tuyệt đối không tái phạm, làm một con người mới,
tiêu giải đi tội lỗi trong quá khứ.
+ Thực Tâm Tu Luyện:Thói hư tật xấu của nữ
nhiều, vì vậy phải dũng cảm tiếp nhận sự ma luyện
2. (NAM) THẬT TÂM SÁM HỐI
(NỮ) THẬT TÂM TU LUYỆN
10 Điều Đại Nguyện THẬT TÂM SÁM HỐI
100
của nghịch cảnh, không trốn tránh, không oán
trách, để tu sửa đi tập khí của lũy thế, khôi phục
bổn chất nhu hòa lương thiện của Khôn Đạo.
Tiên Quan Từ Bi:
Thường giữ cái ý niệm giác ngộ, soi thấu triệt “vô
minh”, hễ có đám mây là tan ngay, không che lấp
bổn tánh, biết lỗi là mạnh dạn sửa, hiểu được là
điều không đúng, dám bỏ hẳn, thế này là ý sơ lược
về thật tâm sám hối.
 Người thuộc “Thượng Căn” là vô tâm vô niệm,
không dấy lên tâm phân biệt, không dấy lên tà
kiến, không vọng tâm, không khởi động ác
niệm, làThật Tâm Sám Hối.
 Người thuộc “Trung Căn” là không che giấu lỗi
lầm của mình, luôn luôn tự suy xét lại, sửa lỗi
tự chỉnh lại từ đầu, là Thật Tâm Sám Hối.
 Người thuộc “Hạ Căn” là cứ không biết thì không
lỗi.Hễ có người chỉ điểm là điều không đúng,
thì thật tâm chỉnh lại cho thiện. Không với bộ
mặt giả vờ lấy làm điều vinh hạnh, mà mạnh
dạn nhận lỗi, sửa lỗi.
10 Điều Đại Nguyện THẬT TÂM SÁM HỐI
101
TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN
THAN TU ĐẠO CHẲNG SÁM HỐI, TRANG
SỨC CHE GIẤU TỰ TƯỚNG DỐI
Thứ hai cảm than người tu Đạo chẳng chịu sám trừ
những tội lỗi trước kia của mình, ăn năn hối lỗi
cho những lỗi lầm của mình, lại cứ làm ra vẻ như
chẳng có việc ấy để che giấu bản thân đi ngược lại
với lương tâm !
Tự mình có lỗi chẳng chịu sửa, mở miệng toàn bàn
chuyện thị phi đúng sai của người. Những thói hư tật
xấu, tánh khí nóng nảy của bản thân, sự không thỏa
đáng của lời nói hành vi cử chỉ chưa từng muốn thật tốt
mà cải tiến. Vẫn cứ là mở miệng chỉ biết phê bình chỉ
trích những thị thị phi phi của người khác. Người ta vẫn
thường hay nói rằng người đến nói thị phi, người ấy chắc
chắn thích thị phi. Tục thoại nói rất hay: Người ưa
thích bới móc thị thị phi phi, bản thân người này
chính là người đã sẵn thị phi.
Mong rằng các đệ tử phải trách chính mình, có lỗi sai
chớ sợ sửa ngay đúng. Mong rằng các hiền đệ phải dũng
cảm phản tỉnh lại bản thân. Các bậc Thánh Hiền từ xưa
10 Điều Đại Nguyện THẬT TÂM SÁM HỐI
102
vẫn là không sợ việc sửa đổi bất kì những lỗi lầm của
bản thân, chính là điều mà chúng ta nên noi theo đấy.
Buông hạ đồ đao thành thể Phật, thất phu (người dân
thường) lập chí gia nhập với Đất Trời. Những niệm đầu
xấu và hành vi không tốt thì cũng giống như con
dao đồ tể sẽ làm tổn thương người vậy, chỉ cần
buông xuống chẳng chút do dự hoài nghi mà đến
tu Đạo, nhất định có thể thành tựu quả Phật.
Chúng sanh bình thường nếu lập xuống đại chí nguyện
thành thật tu Đạo cứu thế độ người thì chắc chắn có thể
phản chiếu với tinh thần của Đất Trời mà trường tồn bất
hủ. Thiện ác cuối cùng vẫn có báo, thiên lí hiển
nhiên có tha ai ? Luật nhân quả là công bằng
chẳng lỗi nhất, hành thiện hay tạo ác, đến cuối
cùng vẫn có báo ứng.
Chân lí của ông trời hiển hiện một cách rõ ràng ở thế
gian này. Hành thiện được phước, tạo ác gặp ương, từ
xưa đến này có ai có thể được khoan thứ qua đâu ?
10 Điều Đại Nguyện HƯ TÂM GIẢ Ý
103
Chớ đừng có tâm không thật, tâm không chân, giả
tạo mượn danh nghĩa đạo trường, để cầu lợi ích cá
nhân, hoặc ứng phó nhân tình, làm biểu hiện bên
ngoài, háo danh háo lợi, nói thị phi, xảo ngôn, …
Ví dụ như: Rao bán sản phẩm, bảo hiểm, tuyên truyền
lôi kéo bầu cử, tìm người bạn đời.
Tiên Quan Từ Bi:
 Mọi thứ mê hoặc ngu si, không thấy Phật tánh
bản lai của mình, không biết về bổn tâm, không
3. HƯ TÂM GIẢ Ý
10 Điều Đại Nguyện HƯ TÂM GIẢ Ý
104
thể thường sanh trí tuệ, đều là Hư Tâm Giả Ý.
Cho nên người thuộc “Thượng Căn” thường trụ
trong “Pháp luân trí tuệ” mà giáng phục tà tâm.
 Người thuộc “Trung Căn” là chặt đứt chuyện “lời
nói không khớp với hành vi”, “miệng nói đúng
nhưng trong tâm không đúng vậy”.
 Người thuộc “Hạ Căn” là dứt hẳn việc mượn Đạo
qua ngày, ngụy trang bề ngoài, có như thế là
làm được điều nguyện này.
10 Điều Đại Nguyện HƯ TÂM GIẢ Ý
105
TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN
THAN TU ĐẠO KHÔNG THỰC HÀNH, HƯ TÂM
GIẢ Ý DỐI ƠN TRÊN
Thứ ba cảm than người đắc Đạo, tuy đều biết
rằng tu Đạo rất tốt, nhưng lại chẳng chịu đi chân
thật mà làm một cách vững chắc thiết thực. Lúc
đốt nhang khấu đầu vẫn cứ niệm niệm “Kiền tâm
quỳ tại Minh Minh Thượng Đế liên hạ”, thật ra đều
chỉ là có miệng chẳng có tâm, đọc niệm theo bài
bản để dối lừa ông trời mà thôi.
Dương phụng âm vi dùng mặt giả, chỉ là tâm phi làm xảo
ngôn. Vẻ bề mặt thì lời lời tiếng tiếng rằng tu Đạo
học Đạo, trong âm thầm riêng tư thì hành vi lời
nói cử chỉ lại Phản Đạo Bại Đức, điều này chẳng
khác gì người đeo mặt nạ giả vậy !
10 Điều Đại Nguyện HƯ TÂM GIẢ Ý
106
Điều mà miệng nói, điều mà tâm nghĩ là hai
chuyện khác, hoàn toàn chỉ là khua môi múa mép, cửa
miệng làm mê hoặc người khác mà thôi !Cố ý tạo tác
dùng thủ đoạn mưu giành danh tiếng và những lời
khen ngợi để toan tính thể diện.Chơn công thật
thiện thì chẳng bàn, tham cầu danh tiếng, ưa
thích người khác ca ngợi, chỉ chú trọng sự phong
quang gây ấn tượng vẻ ngoài.
Còn đối với công đức của chơn tâm bộc lộ và những
thiện hành chẳng muốn người khác biết đến thì không có
chút hứng thú !
Mong các đệ tử chớ can dự những chuyện làm càn, quân
tử thận độc để làm chi? Các vị Hiền đệ muội, cớ sao
không tham ngộ kĩ càng, rốt cuộc “Quân tử thận độc”
mà cửa Nho đã nhấn mạnh là đạo lí gì?
Phòng tối làm chuyện trái lương tâm, mắt thần
sáng như chớp điện, những lời riêng tư của nhân
gian vang rền như tiếng sấm.Bởi vì một người khi ở
một mình thì dễ khởi tâm động niệm nhất, do đó nhất
định cần phải đặc biệt cẩn thận.
Chớ có tưởng rằng đóng cửa lại thì những việc hổ thẹn
trái với lương tâm bèn chẳng có người biết đến, thật ra
thì ngẩng đầu ba thước có thần minh. Họ đều đã
10 Điều Đại Nguyện HƯ TÂM GIẢ Ý
107
nhìn thấy rõ ràng, những lời thì thầm che giấu
chẳng muốn người biết của chốn nhân gian thì
ông trời nghe thấy vang rền như sấm trút vào tai,
huống hồ thần đạo phật tiên soi giám. Lẽ nào chẳng sợ
sự khiển trách trừng phạt vô tư của luật trời ?
10 Điều Đại Nguyện THỐI RÚT BẤT TIỀN
108
• Không vì sợ nguy nan mà trốn chạy, bài xích.
• Không vì được mất mà không có niềm tin.
• Không vì không có tín tâm mà đa nghi.
• Không vì sợ hãi thất bại mà không dám tiến
lên phía trước.
• Nhưng dựa vào tấm lòng chân thật, có thể
bài trừ hàng vạn khó khăn, mà tiến lên phía
trước.
4. THỐI RÚT BẤT TIỀN
10 Điều Đại Nguyện THỐI RÚT BẤT TIỀN
109
Tiên Quan Từ Bi:
 Người thuộc “Thượng Căn” là hễ “không thể
siêng năng tiến hành tinh tấn”, “không thể
nhẫn nhục”, “không thể trì giới”, “không thể bố
thí”, “không có trí tuệ” là Thối Rút Bất Tiền.
 Người thuộc “Trung Căn” là người không chịu
được các thứ khảo nghiệm, các thứ trau chuốt,
mà không thể thật sự hành nguyện liễu nguyện,
là Thối Rút Bất Tiền.
 Người thuộc “Hạ Căn” là hễ ban đầu siêng năng
mà về sau trì trệ. Khi tiến khi lui, đạo chí khi có
khi không, gọi là Thối Rút Bất Tiền.
TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN
THAN TU ĐẠO CHÍ CHẲNG BỀN, ĐẦU SIÊNG
CUỐI LƯỜI NHẤT ĐỊNH CHẲNG THÀNH.
Thứ tư cảm than mang danh là tu Đạo nhưng lại chẳng
có sức ý chí kiên định. Lúc mới bắt đầu vô cùng nỗ
10 Điều Đại Nguyện THỐI RÚT BẤT TIỀN
110
lực dụng công, giống như Tiên Phật đang ở trước
mắt vậy, đến lúc cuối thì khởi lên cái tâm biếng
nhác, chẳng chịu tinh tiến, phương pháp tu hành đầu
cuối khác nhau, tất nhiên sẽ không thành tựu được.
Gặp nghịch thì lui gặp thuận thì tiến, lúc làm lúc
ngưng há là bậc hiền anh? Hễ gặp phải nghịch
cảnh thì khởi tâm lùi thoái, mọi thứ đều như ý rồi
mới chịu hơi hơi học tiến lên, đi đi ngừng ngừng
như vậy sao là người tu Đạo rõ lí ?
Việc học cũng như thân thuyền ngược dòng tiến, chẳng
tiến thì lùi lí khó đổi, từ học vấn thế gian cho đến việc
học đạo tu đạo đều là giống như con thuyền lội
ngược dòng, như chèo hướng về nguồn nước vậy,
không nỗ lực tiến hướng về trước, tất nhiên sẽ bị
cuốn lùi theo hướng xuôi dòng, đấy là đạo lí thiên cổ
bất biến đấy !
Mong các đệ chí lập bền, trăm bẻ chẳng cong là anh
hùng. Mong rằng các vị hiền đệ muội không được thoái
rút chẳng tiến về trước, nhất định phải khiến đại chí
xung thiên, tu Đạo kiên định chẳng rời.Mặc cho trăm
nghìn vạn khốn khó và sự dày vò của nó cũng đều
không thoái chí, vậy mới là chơn anh hùng trí nhân
dũng đấy!
10 Điều Đại Nguyện THỐI RÚT BẤT TIỀN
111
Đường lớn Tây Thiên tuy rằng xa, đi được một chặng
gần một chặng. Con đường thành tựu quả Phật Tây
Thiên này tuy có xa xôi như 10 vạn 8 nghìn dặm, thế
nhưng chỉ cần chịu nỗ lực, đi được một bước thì
tiếp cận một bước, đi càng siêng thì càng đến
gần. Đầu cuối như một chí lập định, nửa đường
mà bỏ đánh tàn linh.
Bất luận là khốn khó như thế nào, vĩnh viễn chẳng thay
đổi cái tâm ban đầu. Lập xuống tâm nguyện nhất
định phải đi đến điểm cuối,nếu tu học được một nửa
thì chẳng tiếp tục tinh tiến nữa, há chẳng phải là uổng
phí tất cả những nỗ lực trước đây, những công lao đã
vất vả gầy dựng trước đây toàn bộ thảy đều phế
bỏ.Tương lai sau này khi mạt kiếp thanh toán, chỉ đáng
thương thay bị đánh rơi vào tàn linh rồi.
10 Điều Đại Nguyện KHI SƯ DIỆT TỔ
112
Không coi thường, khinh khi, phản nghịch thiên
mệnh của Tổ Sư, khiến cho không thể truyền Đạo,
thọ nghiệp, giải hoặc. Không tôn trọng tổ tiên, mà
mất đi sự che chở bảo hộ của tổ tiên đối với chúng
ta.
TIÊN QUAN TỪ BI:
 Người thuộc “Thượng Căn” là hễ không thể khớp
với tâm của Tổ Sư, không thể lãnh ngộ thật
nghĩa của Đại Đạo, không thể thay trời truyền
ra chân lý, thì gọi là Khi Sư Diệt Tổ.
5. KHI SƯ DIỆT TỔ
10 Điều Đại Nguyện KHI SƯ DIỆT TỔ
113
 Người thuộc “Trung Căn” là hễ rời khỏi pháp
thuyền “Đường kim tuyến” của Minh Sư mà tìm
về môn phái khác, gọi là Khi Sư Diệt Tổ.
 Người thuộc “Hạ Căn” là hễ không tôn trọng
“Điểm Truyền Sư”, “Giảng Sư”, “Dẫn Bảo Sư”,
hoặc là trái nghịch với Thiên Mệnh, gọi là Khi Sư
Diệt Tổ.
TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN
THAN TU ĐẠO CHẲNG HỌC KHIÊM NHƯỢNG,
KHI SƯ DIỆT TỔ GAN TÀY TRỜI
Thứ năm cảm than những người tu đạo chẳng
nguyện chịu học tập đức hạnh đẹp của sự khiêm
tốn hạ mình, trái lại còn đi ngược lại ý của Tổ Sư,
làm bại hoại cửa Đạo, thật là ác gan tày trời.
10 Điều Đại Nguyện KHI SƯ DIỆT TỔ
114
Xưa nay Minh Sư nào há dễ tìm gặp, nghìn dặm tìm cầu
vào núi sâu. Từ xưa đến nay Thiên Mệnh Minh Sư làm gì
mà có, Đạp rách giày sắt tìm chẳng thấy, khổ chết chẳng
thành thật đáng thương, phế tận nghìn đắng cay vạn
khổ, vẫn chẳng tìm được dễ dàng chỗ của Minh Sư. Đều
là phải trèo non lội suối, đi khắp chân trời góc biển,
thành tâm thành ý mà đi tìm cầu, lặn lội nghìn dặm tiến
vào núi sâu hiếm có dấu chân người càng là chuyện
thường có.
Cả đời người hao phí trong việc tìm kiếm Minh Sư mà
đến lúc kết thúc cuộc đời, đáng thương chẳng đắc được
chơn truyền mà chẳng cách nào thành tựu đấy !Mong
các hiện đệ thiện lương, Tôn Sư Trọng Đạo là thuận
thiên.
Mong rằng các vị hiền đệ muội có thể đem thiên lí lương
tâm hiển hiện ra ngoài, có thể thấy rằng Tôn Sư
Trọng Đạo là đức tánh tốt đẹp hợp với trời, thuận
với lí ! Nhất chỉ chi sư chung bắc diện, nhất thế sư sanh
vạn vạn niên.
Vị Minh Sư chỉ điểm cho các con siêu sanh liễu tử, mọi
người đến hết cả cuộc đời đều phải gìn giữ ái lễ cung
kính “dĩ hạ kính thượng”. Có thể kết mối duyên thầy trò
10 Điều Đại Nguyện KHI SƯ DIỆT TỔ
115
kiếp này, cái tình đạo nghĩa này, cái tình thầy trò giao
hảo này là trường tồn mãi mãi đấy.
Mặc cho con công lao cao vô biên lượng, quên
thầy tánh mệnh khó bảo tồn. Mặc cho tài năng của
con có xuất chúng đi chăng nữa, công đức nhiều
đếm không xuể, trong tâm và mắt nếu chẳng có
cái ân của Minh Sư truyền đạo và tìm cách báo
đáp, tu đạo như thế này thì tánh mệnh vẫn là khó
bảo tồn.
10 Điều Đại Nguyện MIỄU THỊ TIỀN NHÂN
116
Vì kiêu ngạo mà coi thường, khinh thị, ngỗ nghịch
Tiền Nhân hoặc xem thường tiền hiền cầu Đạo
sớm hơn mình, mà dẫn tới làm bại hoại luân lí Đạo
Trường, đoạn đi ngọn đuốc chân lí truyền thừa.
Không thể tiếp tục truyền thừa ngọn đuốc chân lí.
Không thể hoàn thành lời giao phó hoằng pháp thí
đức của Tiền Nhân.
Cống cao ngã mạn, nhận công lao về mình. Trong
mắt không có trưởng bối, hoặc lấy học vấn năng
lực làm trọng đều là Miễu Thị Tiền Nhân.
TIÊN QUAN TỪ BI:
 Người thuộc “Thượng Căn” là hễ không thể kế
vãng khai lai, thừa tiếp cây đuốc chơn lý, gánh
dùm cho Thánh Hiền trước kia, gọi là Miễu Thị
Tiền Nhân.
 Người thuộc “Trung Căn” là hễ không thể triển
khai chí hướng hoài bão của Tiền Nhân, không
thể hoàn thành những huấn thị hoằng pháp bố
đức do Tiền Nhân giao phó, gọi là Miễu Thị Tiền
Nhân.
6. MIỄU THỊ TIỀN NHÂN
10 Điều Đại Nguyện MIỄU THỊ TIỀN NHÂN
117
 Người thuộc “Hạ Căn” là hễ tự cao tự đại, trong
mắt không có trưởng bối, không cung kính Tiền
Nhân, không thuận theo Tiền Nhân, gọi là Miễu
Thị Tiền Nhân.
TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN
THAN TU ĐẠO MÀ LÍ CHƯA TINH, XEM
THƯỜNG TIỀN NHÂN TỘI CHẲNG NHẸ
Thứ sáu - Cảm than người tu Đạo chưa đem nguyên lí
của Thiên Đạo và Nhân Đạo tham ngộ thấu triệt. Đối với
Tiền Hiền Trưởng Bối thì thường đã phạm vào lỗi nghiêm
trọng là xem thường và ngạo mạn. Biết ân chẳng báo
chẳng phải là quân tử, uống nước nhớ nguồn là chân
tình. Đối với ân đức dẫn dắt thành toàn của Tiền Hiền,
10 Điều Đại Nguyện MIỄU THỊ TIỀN NHÂN
118
chẳng biết tận tâm hồi báo, quả thật là chẳng thể xem là
một người quân tử học đạo lí Thánh Hiền. Người xưa
thường nói : “ Nhận ơn một giọt nước của người thì nên
dùng suối tuôn trào để báo đáp ”. Nếu có thể biết tri ân
báo ân nhớ nguồn thì mới là người tu đạo có bẩm tánh
và khí chất tu đạo thật sự đấy !
Cỏ cây chẳng rễ sao có thể lớn lên? Người chẳng có sự
dẫn tiến thì đường khó đi, hoa cỏ cây cối nếu như chẳng
có gốc rễ, làm sao bảo nó sinh trưởng đây? Cùng lẽ đó,
chúng sanh nếu chẳng có sự dạy bảo chỉ đạo một cách
kiên nhẫn có hệ thống tiến dần tuần tự của người dẫn
tiến thì đường tu đạo chắc chắn là rất khó đi đấy ! Mong
các đệ phải nên biết rõ, hợp tâm cùng gánh bàn chặng
cuối cùng.
Mong rằng các vị Hiền đệ muội phải đem cái đạo lí này
phân biện rõ ràng, mọi người trên dưới một lòng, cùng
nỗ lực để lo bàn mạt hậu đại sự của Tam Tào Phổ Độ
này. Nên nhớ Tiền Nhân dẫn tiến con, hồng thệ đại
nguyện lập đàn đình, phải nên hồi tưởng lúc bấy giờ khi
Dẫn Bảo Sư độ các con đến cầu đạo là họ trước tiên quỳ
ở trong phật đường, thành tâm tôn kính hướng về Lão
Mẫu lập xuống đại nguyện dẫn dắt, bảo đảm thì ơn trên
từ bi mới cho các con cầu đạo đấy.
10 Điều Đại Nguyện MIỄU THỊ TIỀN NHÂN
119
Dế trũi trong hang còn báo nghĩa, huống hồ người là
vạn vật chi linh ? Xin hãy xem con dế trong hang ấy, nó
còn có thể nghĩa lí phân minh, biết ân tìm cách đền đáp,
càng huống hồ là con người vốn là loài có linh tánh nhất,
thông minh nhất trong vạn vật ? Do vậy người tu hành
thì càng nên noi theo đạo mà hành !
10 Điều Đại Nguyện BẤT TUÂN PHẬT QUY
120
Tiên Quan Từ Bi:
 Người thuộc “thượng căn” là hễ khởi tâm động
niệm, đi đứng nằm ngồi không khớp với trung hòa,
gọi là bất tuân Phật quy.
 Người thuộc “trung căn” là hễ không thủ “ngũ
thường” “ngũ giới”, không hành “thập thiện” “bát
đức”, gọi là bất tuân Phật quy.
 Người thuộc “hạ căn” là hễ ồn ào cãi nhau, áo mão
không chỉnh tề, hoặc là không biết lễ nghi tại Phật
Đường, gọi là bất tuân Phật quy.
(Chú giải:
+ Ngũ thường: nhân, lễ , nghĩa, trí, tín
+ Ngũ giới: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu
+ Thập thiện: không: tham, sân, si, ác khẩu, lưỡng thiện, ỷ ngữ,
sát, đạo, dâm, uống rượu
+ Bát đức: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín)
7. BẤT TUÂN PHẬT QUY
10 Điều Đại Nguyện BẤT TUÂN PHẬT QUY
121
TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN
Than tu đạo đánh mất chính quy, phật quy
chẳng giữ mặc làm bừa
Thứ bảy cảm than người tu đạo giữa luân thường, thánh
và phàm mỗi ngày đều cẩu thả bất cẩn đánh mất đi
những chuẩn tắc hành vi đúng đắn, phật quy lễ tiết
chẳng có tuân thủ, còn tùy ý làm bừa làm bậy. Tu đạo
chẳng đem phật quy giữ, dựa vào sự tu dưỡng gì
để lên thang trời ? Người tu đạo nếu chẳng đem phật
quy tuân thủ nghiêm khắc, vậy thì rốt cuộc phải dựa vào
sự tu dưỡng đạo đức gì để dần dần nâng cao đức hạnh
của bản thân, để hướng đến con đường về trời đây?
Phật quy là giới luật của trời, chẳng tuân theo sao
có thể về nhà xưa?
Phải biết rằng “ phật quy ” là giới luật do ơn trên từ bi
duy chỉ sợ chúng sanh thân tâm phóng dật mà chế định
xuống; nếu như không chân thật tuân thủ, làm sao có
thể trở về lại ngôi nhà xưa ở Tiên Thiên đây ? Mong các
đệ tham ngộ kĩ càng, cẩn thận tuân thủ phật quy nếu
không tiền đồ truy; mong rằng các vị hiền đệ muội hãy
thật tốt mà tham ngộ rõ ràng, nhị lục thời trung ( trong
24 tiếng mỗi ngày ) đều phải nghiêm cẩn tuân thủ “ phật
10 Điều Đại Nguyện BẤT TUÂN PHẬT QUY
122
quy ”, một cách thận trọng tiến hướng về sự quang minh
của việc tu đạo.
Xe chẳng có quỹ tất gặp hiểm, thuyền không mái chèo
chạy tất nguy; xe lửa tốc độ nhanh nếu như chẳng có
quỹ đạo tiêu chuẩn thì chắc chắn sẽ phát sanh tai nạn
bất ngờ. Tàu lái trên biển nếu chẳng có mái chèo để
chèo, nhất định sẽ phát sanh nguy hiểm đấy. Tu đạo nếu
chẳng giữ giới luật, khó mà thoát sanh tử luân hồi, cũng
như người tu đạo, nếu chẳng đem “ phật quy ” tuân thủ
chân thật, nhất định khó mà siêu thoát biển khổ sanh tử
và sự trói buộc của sáu nẻo luân hồi đấy !
10 Điều Đại Nguyện TIẾT LỘ THIÊN CƠ
123
Tiên Quan Từ Bi:
 Người thuộc “thượng căn” là hễ không nên nói mà
đi nói, không đúng người mà đi nói, cơ chưa đúng
khớp, duyên chưa chín mùi mà đi khai thị huyền diệu,
gọi là tiết lộ Thiên Cơ.
 Người thuộc “trung căn” là hễ tùy tiện công khai
Tam Bảo tâm pháp, gọi là tiết lộ Thiên Cơ.
 Người thuộc “hạ căn” là hễ chưa thắp sáng ba ngọn
đèn Phật đăng mà dùng văn tự hoặc lời nói tiết lộ
danh tướng Tam Bảo, gọi là tiết lộ Thiên Cơ.
TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN
Than tu đạo chẳng thận ngôn, thiên cơ mật
bảo tùy tiện bàn
Thứ tám cảm than người tu đạo chẳng biết cẩn
thận lời nói, đem tam bảo siêu sanh liễu tử mà ơn
trên đại khai ân điển đã mật truyền tùy ý tiết lộ.
Từ xưa Minh Sư vốn khó gặp, vô tự chân kinh ai dám
nói ? Từ xưa đến nay Thiên Mệnh Minh Sư là trăm nghìn
8. TIẾT LỘ THIÊN CƠ
10 Điều Đại Nguyện TIẾT LỘ THIÊN CƠ
124
vạn kiếp cũng khó mà gặp được đấy, còn vô tự chân
kinh lấy tâm ấn tâm nếu chẳng phải là Thiên Mệnh Minh
Sư truyền thụ, có ai dám to gan vọng ngôn đây? Thánh
Nhân của tam giáo còn nghiêm giữ, huống hồ những tục
tử phàm phu? Tam giáo Thánh Nhân Nho, Thích, Đạo
còn nghiêm cẩn trì giữ, chưa từng tùy tiện tiết lộ, huống
hồ là những kẻ phàm phu sanh tử thất phu thất phụ ?
Mong các đệ chớ dối trời, tiết lộ thiên cơ tội khó gánh.
Mong rằng các vị Hiền đệ muội tuyết đối không thể đi
ngược lại với thiên lí, cô phụ ý chỉ ám độ hiền lương của
ơn trên. Nếu như tùy ý tiết lộ thiên cơ, do vậy mà làm
hủy diệt mất huệ mệnh của chúng sanh mạt pháp,
những tội nghiệp như thế quả thật là gánh vác chẳng nổi
đấy ! Nếu chẳng phải là gặp thời điểm tốt đẹp này, bảo
này lẽ nào có thể tùy tiện giáng phàm ? Nếu như chẳng
phải là gặp thẳng kì ba, ơn trên đại khai phổ độ, thời
điểm cơ hội tốt đẹp như vậy, thì bí bảo siêu sanh liễu tử
từ xưa vốn dĩ đơn truyền độc thụ này sao có thể tùy tiện
dễ dàng như vậy phổ truyền nhân gian đây?
Cẩn ngôn thận hành thẳng trước bàn, nguyện liễu tự
nhiên về Lí Thiên, do đó mọi người phải cẩn thận lời nói
hành vi của mình, chân thành thẳng thắn hướng về
trước mà nỗ lực tu bàn, đem hồng thề đại nguyện mình
đã lập lúc đắc đạo quỳ dưới đài sen của Minh Minh
10 Điều Đại Nguyện TIẾT LỘ THIÊN CƠ
125
Thượng Đế làm được một cách lượng sức tận tâm rồi, thì
tự nhiên có thể trở về Lí Thiên tiêu dao, miễn chịu nỗi
đau khổ của luân hồi.
10 Điều Đại Nguyện NẶC ĐẠO BẤT HIỆN
126
Tiên Quan Từ Bi:
 Người thuộc “thượng căn” là hễ không thể tùy
duyên bất biến, bất biến ứng duyên, đồng thể đại bi,
vô duyên đại từ, gọi là nặc Đạo bất hiện.
 Người thuộc “hạ căn” là hễ không thể độ người,
khuyên người hướng thiện, là nặc Đạo bất hiện.
TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN
Than tu đạo chẳng có tâm từ, giấu đạo chẳng
hiện bỏ lỡ các Nguyên Nhơn
Thứ chín cảm than người tu đạo đều chẳng có noi
theo Di Lặc Tổ Sư, bộc lộ tấm lòng từ ái của chúng
sanh và ta cùng một thể. Tự bản thân mình tuy
rằng đã đắc đạo rồi, cũng biết rằng đạo tốt, đạo
bảo quý, nhưng lại chỉ ẩn giấu ở trong tâm mình
chớ không tuyên dương cho những người xung
quanh biết. Như vậy lẽ nào chẳng phải là đã làm trì trệ
96 ức Hoàng Thai Nguyên Linh Phật Tử khắp thiên hạ đó
sao ! Trời vốn không lời cậy người khuyên, người nếu
chẳng khuyên đạo làm sao mà nghe thấy? Sự tạo hóa
9. NẶC ĐẠO BẤT HIỆN
10 Điều Đại Nguyện NẶC ĐẠO BẤT HIỆN
127
vận hành của ông trời là chẳng có âm thanh mùi vị đấy,
do đó duy chỉ có cậy dựa vào những người hiểu rõ đạo lí
để khuyến hóa thì mới được biểu bạch thuyết minh kĩ
càng; những người rõ lí nếu như chẳng chịu đi khuyên
hóa người đời, vậy thì những chúng sanh bình thường lại
làm thế nào có thể nghe hiểu được sự bảo quý của chân
lí thiên đạo đây ?
Hồi tưởng lại ngày mình cầu đạo, há chẳng phải Tiền
Nhân độ kẻ mê sao ? Hãy ngẫm nghĩ xem bản thân các
con lúc bấy giờ quả thật là tam sanh hữu hạnh (có
phước phận do 3 kiếp trước tu mà có ) , có thể đến Tiên
Thiên Phật Đường đi cầu đắc đại đạo siêu sanh liễu tử.
Cái nhân duyên này lẽ nào chẳng phải là do sự khuyến
hóa một lần lại một lần của Tiền Hiền Đại Chúng và Dẫn
Bảo Sư mới có thể dẫn độ các con tỉnh ngộ từ trong mê
mộng biển khổ của danh lợi ân ái đó sao ? Mong các đệ
cần tam tỉnh, “ thiện dự nhân đồng ” thánh hiền rằng,
mong các vị hiền đệ muội phải nên một lần lại một lần
thể hội, tự khích lệ, Cổ Thánh Tiên Hiền chẳng phải là có
bảo với chúng ta rằng phải “ thiện dự nhân đồng ” (cái
tốt thì cùng chia sẻ với người ) đó sao ?
Ý nghĩa cũng như là đắc được chân lí đại đạo bảo quý
như thế rồi, tiến thêm một bước nữa nên đem cái phúc
âm tốt này truyền bố cho tất cả mọi người khắp thiên hạ
10 Điều Đại Nguyện NẶC ĐẠO BẤT HIỆN
128
cùng đến chia sẻ cùng hưởng. Xưa nay thành phật do độ
đời, kỉ lập lập nhân đạo cùng nghe; từ xưa đến nay nhân
do then chốt thành tựu phật bồ tát chính là gần gũi với
chúng sanh, giáo hóa chỉ đạo cho chúng sanh, lấy việc
cứu thế độ người là chức trách; sinh mệnh của bản thân
nếu có thể đứng thẳng trang nghiêm rồi, thì càng phải
dẫn lãnh tất cả mọi người cũng có thể đứng thẳng trang
nghiêm, khiến cho mọi người và mình đều có thể cùng
triêm đại đạo, với đạo gom thành một mối; huống hồ
thời nay khai phổ độ, cửu nhị Nguyên Nhơn cùng quy
căn. Càng huống hồ là hiện nay ơn trên từ bi, Tam Tào
Phổ Độ, mở lớn cánh cửa phương tiện, 92 ức Nguyên
Linh Phật Tử chưa thành tựu đều có thể cùng triêm ân
điển của Lão Mẫu, quay trở về lại chốn quê xưa.
10 Điều Đại Nguyện BẤT LƯỢNG LỰC NHI VI
129
Tiên Quan Từ Bi:
 Người thuộc “thượng căn” là hễ không thể bỏ đi
thói hư, tật xấu và những việc làm tội ác, không
thể chặt đứt phiền não vô minh, không thể đột phá 2
thứ chấp là “ngã” và “pháp”, không thể chứng đắc
thật tướng, là bất lượng lực nhi vi.
 Người thuộc “trung căn” là hễ “nhìn không xuyên
thấu cái còng khóa tình yêu, xem danh lợi như
mạng sống mà như là ngồi trên đống hàng quý
hiếm, làm cho thời cơ tốt bị tuôn chảy theo dòng
nước, ở đó chỉ muốn được yên thân mà trì trệ làm lỡ
mất thời cơ”, gọi là bất lượng lực nhi vi.
 Người thuộc “hạ căn” là hễ với đủ thứ lý do diện cớ
mà nói khó nói bận, cứ nói không thời gian
nghe đạo, tu đạo, làm việc đạo, không chịu
thường tiếp cận đạo tràng, đạo thân, ít tới
khấu đầu thắp nhang, thì gọi là bất lượng lực nhi
vi!
10. (NAM) BẤT LƯỢNG LỰC NHI VI
(NỮ) BẤT THÀNH TÂM TU LUYỆN GIẢ
10 Điều Đại Nguyện BẤT LƯỢNG LỰC NHI VI
130
TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN
Than tu đạo tâm nhiều thiếu sót, ai chịu tiến
trước lượng sức làm ?
Thứ mười cảm than người tu đạo vẫn cứ là không
thể toàn bộ vứt bỏ một mảng tâm, đem cái tự
tánh minh khiết ấy làm cho ô nhiễm mất rồi, có ai
chịu thật sự đứng trên cương vị của bản thân mình tận
hết tất cả tâm sức của mình, nỗ lực mà hành công liễu
nguyện, thật tốt mà tu bàn đạo đây ?
Gông tình cùm ái nhìn chẳng thấu, coi tiền như
mạng, của quý lạ, vẫn cứ là ở trong sự vây trói và lôi
kéo của tình dục và ân ái, chớ nhìn không thấu, cắt
chẳng đứt cơn mê mộng của đời người này, lầm đem
việc truy cầu theo đuổi tiền tài và vật chất đối đãi xem
như là bảo bối còn quan trọng hơn cả sinh mạng vậy !
Cảnh đẹp thời tốt trôi như nước, cẩu thả biếng lười chùn
bước lỡ thời cơ; đem thời khắc tốt nhất của tu đạo “thân
người khó được", "thanh xuân khó trở lại ” mặc cho nó
vội vàng biến mất như nước trôi, chỉ vì tham sự hưởng
lạc thoải mái, do đó bèn biếng nhác trong việc tiến tu
Thiên Đạo, kết quả tất nhiên sẽ làm lỡ qua mất thời cơ
tu đạo thiên cổ nan phùng.
10 Điều Đại Nguyện BẤT LƯỢNG LỰC NHI VI
131
Mong các đệ hãy thôi tự dối, thời tốt lỡ qua khó gặp
lại !Mong rằng các vị Hiền đệ muội tuyệt đối không được
hồ đồ, tự mình đem việc sanh tử đại sự của mình làm trì
trệ mất rồi. Nếu như lỡ qua mất thời điểm vô cùng tốt
của việc tu đạo này, đánh mất đi thân người quý báu rồi,
muốn lại gặp được cơ duyên ơn trên đại khai phổ độ nữa
vậy thì là khó càng thêm khó ! Thừa thời tốt này vẫn
chưa tận, xả tài xả pháp xả vô úy; hãy thừa lúc hiện nay
nhân duyên thời vận tu bàn đạo, là lúc thiên thời khẩn
cấp, gấp rút như lửa đốt đến lông mày, trước khi vẫn
còn chưa kết thúc, hãy thật nhanh chóng hết mức đem
“tam thí” tận tâm mà thực hành; tam thí này chính là:
1. Tài thí : bố thí tài vật, khai hoang trợ đạo, rộng in
sách thiện.
2. Pháp thí : tuyên dương đạo lí, khuyến tỉnh mê tân, độ
người cầu đạo, thành toàn bạn bè.
3. Vô Úy Thí : giúp làm Phật Sự, ra sức, phục vụ đạo
trường, thăm hỏi đạo thân, phục vụ đại chúng.
---------------->HẾT---------------
15 Điều Phật Quy

15 Điều Phật Quy

  • 2.
    15 Điều PhậtQuy MỤC LỤC 1 MỤC LỤC 15 ĐIỀU PHẬT QUY  LỜI GIỚI THIỆU ........................................................03  TÔN KÍNH TIÊN PHẬT................................................05  TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU....................................................13  TỀ TRANG TRUNG CHÍNH ..........................................19  TUÂN QUY ĐẠO CỦ ....................................................25  TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI..........................................32  TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM....................................39  KHIÊM CUNG HÒA ÁI.................................................44  VẬT KHÍ THÁNH HUẤN ..............................................50  MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG ........................................55  THỦ TỤC TẤT THANH .................................................62  XUẤT CÁO PHẢN DIỆN...............................................67  BẤT LOẠN HỆ THỐNG ................................................72  ÁI TÍCH CÔNG VẬT ....................................................77  HOẠT BÁT ỨNG SỰ.....................................................82  CẨN NGÔN THẬN HÀNH.............................................87
  • 3.
    10 Điều ĐạiNguyện MỤC LỤC 2 10 ĐIỀU ĐẠI NGUYỆN  THANH TÂM BẢO THỦ................................................96  (NAM) THỰC TÂM SÁM HỐI.......................................100  (NỮ) THỰC TÂM TU LUYỆN........................................100  HƯ TÂM GIẢ Ý............................................................104  THỐI RÚT BẤT TIỀN...................................................109  KHI SƯ DIỆT TỔ.........................................................113  MIỄU THỊ TIỀN NHÂN................................................117  BẤT TUÂN PHẬT QUY.................................................121  TIẾT LỘ THIÊN CƠ .....................................................124  NẶC ĐẠO BẤT HIỆN ...................................................127  (NAM) BẤT LƯỢNG LỰC NHI VI.................................132  (NỮ) BẤT THÀNH TÂM TU LUYỆN GIẢ.......................132
  • 4.
    15 Điều PhậtQuy LỜI GIỚI THIỆU 3 LỜI GIỚI THIỆU Ơn của Trời Đất không nơi nào không được ban bố. Từ bi của Tiên Phật thực sự có thể cảm nhận được, khó mà báo đáp được. Cảm tạ HOÀNG THIÊN từ bi, cảm tạ lòng ái từ của Tiên Phật. Vì sợ chúng sanh thời mạt hậu này căn cơ thấp kém, khó tu được trở về trời. Cho nên nhiều lần lâm đàn, vẫn đem chân ý của 15 điều Phật Quy trình bày lại. Lần thứ nhất là ở Thái Lan, Liên Hoa Phật đường, vào ngày 12 tháng 7 năm 1997, lúc tiết ôn tập lại 3 ngày pháp hội, Hán Chung Ly Đại Tiên từ bi lâm đàn tường thuật. Lần thứ 2 vào ngày 5 tháng 12 cùng năm tại Malaysia, Chánh Nghĩa Phật đường, lúc mở lớp Phật quy, Hoạt Phật Ân Sư lâm đàn thuật lại lần nữa. Vào ngày 28 tháng 2 năm 1998 (Âm lịch mùng 2 tháng 2), ngày Thánh đản của Tế Công Hoạt Phật, tại Đài Bắc, Nhân Đức Phật đường, Hoạt Phật Ân Sư lại một lần nữa lâm 15 ĐIỀU PHẬT QUY
  • 5.
    15 Điều PhậtQuy LỜI GIỚI THIỆU 4 đàn độ hóa, cũng đem hàm ý của 15 điều Phật quy bổ sung thêm và giảng rõ hơn, càng được hoàn thiện. Hán Chung Ly Đại Tiên có nói: “Đừng xem thường 15 điều Phật quy, đây là bậc thang tốt nhất nếu như chiếu theo mà hành thì thành Phật có dư.” Nay tập hợp lại ý nghĩa trọng yếu của ba thiên huấn văn trên, hy vọng mỗi một vị Tiền Hiền có tâm tu Đạo bàn Đạo, đều có thể thâm hiểu chân nghĩa 15 điều Phật Quy này, đồng thời vĩnh viễn cảm ơn Thiên Ân và báo đáp Thiên Ân !
  • 6.
    15 Điều PhậtQuy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT 5 Các con tôn kính Tiên Phật, không những chỉ là tôn kính Tiên Phật nhìn thấy bên ngoài, mà còn phải tôn kính vị Tiên Phật ở trong lòng mình nữa. Các trò đều rất tôn kính Tiên Phật trong Phật đường, nhưng còn vị tự tánh Phật trong lòng thì sao? Trò có tôn kính không? Có thật sự kính trọng không? Các trò nếu có chút chuyện thì luôn luôn nghĩ đến cầu xin Tiên Phật, có bao giờ nghĩ đến cầu cứu ở bản thân mình, vị tự tánh Phật đó không? Phật nói: “Tức tâm tức Phật” “Tâm tức thị Phật”, vậy thật sự Phật tại đâu đây? Thật ra Phật tại trong tâm các con! Chỉ là các con làm tất cả mọi việc đều không rời tự tánh, ngoài không trái với Phật hành, mọi việc đều hợp với thiên lý tất cả không trái với lương tâm, như thế mới thật sự là tôn kính Tiên Phật! Cũng như Phục Thánh Nhan Hồi đắc được nhất chỉ điểm thì “quyền quyền phục ưng”, quyền quyền phục ưng thành tâm bảo thủ đó mới chính là tôn kính Tiên Phật ở bản thân mình. Vì sao Nhan Hồi phải “quyền quyền phục ưng” như vậy? Tại vì ông ta biết được cuộc sống của con người rất ngắn ngủi, việc đời thật vô thường, cho nên 1. TÔN KÍNH TIÊN PHẬT (Đạo Tế Thiên Tôn Từ Huấn)
  • 7.
    15 Điều PhậtQuy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT 6 ông ta muốn nắm lấy cơ hội đi hành thiện, đi tích đức, tranh thủ cơ hội đi hành công đi lập đức. Nhan Phu Tử rất thông minh, ông biết con người khó sống tới trăm tuổi, cho nên không hướng ngoài tu, không hướng nhìn bên ngoài, chỉ hết lòng hướng về nội tâm để tu tự tánh Phật của mình, chuyên tâm chuyên ý sửa đi thói hư tật xấu, cho nên mới có thể tu đến cảnh giới “bất thiên nộ, bất nhị quá”, 32 tuổi đã trở thành Thánh nhân kiệt xuất, nếu như không phải hướng vào nội tâm tu, tôn kính tự tánh Phật thì có thể thành tựu như thế không? Tăng Phu tử cũng tu hành như nhau, đã từng nói qua: “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân: Vi nhân mưu nhi bất trung hồ? Dĩ bằng hữu giao nhi bất tín hồ? Truyền nhi bất tập hồ?”, tức là mỗi ngày phản tỉnh: Tôi làm việc cho người ta đã tận tâm tận lực không? Giao tiếp với bạn bè có chân thật hoặc thất tín không? Những gì Thầy dạy mình có nỗ lực chăm chỉ học tập và ôn lại không? Hai người đều để việc tu đi đầu, ngưng trên phương diện một người hướng bên trong, một người hướng ra bên ngoài, chỉ có một sai biệt nho nhỏ mà sau này thành tựu tự nhiên có cao có thấp khác biệt hẳn. Nếu như các vị hướng nội tu, lấy cái tự tánh Phật làm chủ, thì thứ bậc tự nhiên sẽ cao. Nếu như hướng ngoại tu, chú trọng về
  • 8.
    15 Điều PhậtQuy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT 7 ngoại tướng, thì tầng thứ tự nhiên sẽ thấp. Tuy là thấy sự sai biệt chỉ rất nhỏ, nhưng phải ghi nhớ điều sai biệt rất nhỏ này, cho nên mới nói “sai chi hào li, mậu dĩ Thiên Lý”. Các đồ đệ hãy xem Nhan Phu tử, ngày ngày đêm đêm nghiêm túc chăm chỉ sửa đi thói hư tật xấu, tu tâm tánh, vun bồi nội đức. Vả lại nắm lấy thời cơ hành thiện, hành Đạo, giờ phút nào cũng phải cẩn thận và rất sợ hãi về giới luật như gần vực thẳm, như đi trên băng mỏng, rất sợ mình mất phải sai lầm dù nhỏ như tơ, giờ phút nào cũng hồi quang phản chiếu, dùng cái giác đế làm Thầy, cho nên cái sinh mạng ngắn ngủi đó đã được thành tựu một vị Thánh nhân. Mà Tăng Phu tử cũng tu tâm như vậy, nhưng chú trọng về đãi người và xử thế, là những cái có hình tướng. Cho nên thành tựu Thánh nhân có cao thấp, rốt cuộc là chỉ khác nhau có một chút. Vì vậy các vị phải biết nắm bắt lấy cơ hội tốt nhất, ở Tam Kỳ mạt kiếp này, phải thật tốt tôn kính vị Tiên Phật trong bản thân mình.“Nhị lục thời trung, doãn chấp quyết trung”, cho nên luôn luôn giữ lấy trung Đạo, đồng thời phải nhận lý thật tu.“Đúng với chân lý thì mau chóng đi làm, không đúng thì thối lui”.
  • 9.
    15 Điều PhậtQuy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT 8 Nếu như tôn kính vị tự tánh Phật của mình đến cực điểm, là lúc tâm của trò quên đi cái bản ngã, cũng tức là lòng trò chỉ có Đạo mà không có tự ngã. Khi đó trò đã đạt tới cảnh giới “không có cái tôi, không có đúng sai”. Vả lại lúc “ thanh tâm quả dục” “hồn nhiên quên đi cái tôi” “chỉ tồn Thiên Tâm” “không tôi không anh” lúc đó cũng là tự tánh Phật của các trò được lộ hiện, đó mới thật sự là Tôn Kính Tiên Phật ! Nhiên Đăng Cổ Phật giáng: Nhiên khởi thánh quang độ chúng sanh Đăng quang chiếu diệu khí doanh doanh Cổ lai tiên cảnh tòng phàm tạo Phật đạo tuân tuân thượng lí đình.
  • 10.
    15 Điều PhậtQuy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT 9 Tạm dịch Đốt lên ánh sáng thần thánh cứu độ chúng sanh Ánh đèn chiếu sáng rực rỡ tràn ngập khí thanh khiết Từ xưa đến nay cảnh Tiên đều từ phàm tục mà tạo nên Tuân theo Phật Đạo lên lí đình. Lại đề thơ: Tôn hiệu thiên tâm đạo đức hồng Kính thần học thánh dương nho tông Tiên chân cổ lễ phụng hành thủ Phật pháp khởi khai hội tế công. Tạm dịch Tuân theo thiên lí lương tâm coi trọng đạo đức Giữ tấm lòng tôn kính học tập theo tấm gương của thánh hiền Tiên Phật, phát dương nho đạo Tuân thủ và phụng hành theo cổ lễ Phật pháp khởi khai hội tế công.
  • 11.
    15 Điều PhậtQuy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT 10 Giảng giải về “Tôn Kính Tiên Phật” Con người ở tại thế gian, quan hệ giữa người với người được viên mãn, không có khiếm khuyết là nhờ có Đạo. Cha từ ái với con, con thì hiếu kính với cha mẹ, vợ chồng kính trọng lẫn nhau, anh em thương yêu nhau, giữa bạn bè thì giữ nghĩa khí,… Đều là nhờ sự kính trọng mà sinh ra đạo đức, huống chi đối với Tiên Phật không thể không tôn kính. Vì vậy “Tôn Kính Tiên Phật” được xếp vào bước đầu tiên trong quá trình tu đạo, là lực lượng, tư tưởng tín ngưỡng trọng tâm của người tu đạo, có tín ngưỡng thì trong tâm sẽ tràn đầy sự sùng kính, cung kính. Kính bái Tiên Phật cần từ nội tâm chân thành, sau đó thì noi theo bước đi
  • 12.
    15 Điều PhậtQuy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT 11 của Tiên Phật. Bên ngoài bái lạy Tiên Phật, nhưng bên trong tâm giả tạo hư ngụy, chỉ cầu Tiên Phật bảo hộ, thì không có tác dụng, đây được coi là thiếu tôn kính Tiên Phật. “Tôn kính Tiên Phật” danh từ tuy một, mà được phân làm hai ý như sau: Một là từ bên trong mà nói, sự tôn kính là được phát ra từ nội tâm, noi theo theo dấu chân của Tiên Phật đã đi lúc còn tại thế mà hành, nghe theo chân lý do Tiên Phật khải thị mà đi làm, không phản bội Thiên lý, đây đều là Tôn Kính Tiên Phật. Người tu đạo nếu như không tồn lương tâm cung cung kính kính đi học đạo, tu thân, nếu như có tâm hư ngụy, thoát lykhỏi trọng tâm tu đạo, cũng không thể gọi là “Tôn Kính Tiên Phật”. Hai là tự tánh đồng với tánh của Tiên Phật, Phật Thích Ca nói đại địa chúng sanh đều có Phật tánh. Tánh của con người và của Tiên Phật đều giống như nhau, tôn trọng tự tánh của chính mình, cũng gọi là tôn kính Tiên Phật, trong lúc nằm ngồi đi đứng, đãi người tiếp vật, đều không rời tác dụng của tự tánh, thì được gọi là “Tôn Kính Tiên Phật”. Trong không rời tự tánh, ngoài không rời Phật hành, mới thật sự là “Tôn Kính Tiên Phật”.
  • 13.
    15 Điều PhậtQuy TÔN KÍNH TIÊN PHẬT 12 “Tôn kính Tiên Phật” thật sự, Tiên Phật bên trong chính là lương tính của bản thân mỗi người, làm bất cứ sự việc không thiên không lệch. Tiên Phật ngoài thân, là các vị cổ thánh Tiên Phật đã thành tựu, vì vậy ý nghĩa của “Tôn Kính Tiên Phật” thực sự là chỉ nội thánh ngoại vương. Con Đường Nhân Sinh Để Đạt Đến Cảnh Giới Niết Bàn Con đường của người đi trước đã đi qua là tấm gương tốt nhất để chúng ta soi xét. Người khác có ưu điểm, chúng ta cần noi theo, người khác có khuyết điểm, chúng ta cần sửa đổi. Bỏ đi cái tôi cá nhân hư ngụy, niết bàn lập tức hiện ra. Niết bàn chỉ là danh từ để độ, đã không có chỗ để độ, thì cùng với Phật không khác, không khác tức đồng, đồng tức đạt, người đạt thì gọi là Phật. Chú thích: - Quyền quyền phục ưng: Luôn luôn nắm giữ, giây phút nào cũng không dám để mất đi. - Bất thiên nộ, bất nhị quá: Không giận hờn, không lỗi lần thứ hai.
  • 14.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU 13 Cái gì gọi là “Tuân Tiền”? Cái gì gọi là “Đề Hậu”? Tiền là chỉ Tiền Hiền, hậu là chỉ Hậu Học. Người như thế nào mới đủ tư cách gọi là Tiền Hiền? Và người như thế nào mới thật sự là Hậu Học? Các đồ đệ, các trò đều nói, người cầu Đạo sớm gọi là Tiền Hiền, hoặc lãnh Thiên Mệnh sớm thì gọi là Tiền Hiền. Và người Dẫn Sư, Bảo Sư, Điểm Truyền Sư của mình đều gọi là Tiền Hiền, có phải không? Các trò chỉ nhận định vẻn vẹn những Tiền Hiền trên Đạo trường có hình tướng bề ngoài đó thôi sao? Các trò có biết rằng người có đức hạnh đủ, có trí tuệ cao, lời nói và việc làm nhất trí với nhau, làm cho mọi người mến phục, đủ để làm gương cho mọi người, đủ tài năng dẫn dắt mọi người thì mới đủ tư cách gọi là Tiền Hiền. Cũng chỉ có như vậy, những Tiền Hiền đó mới đủ tư cách để mọi người tôn kính, mới để cho chúng sinh tự trong đáy lòng thật sự tuân theo! 2. TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU (Đạo Tế Thiên Tôn Từ Huấn)
  • 15.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU 14 Nếu như trò đức hạnh không đủ, trí tuệ không đủ, đã mù còn một mực hướng dẫn chúng sinh cùng mù thì khác chi dắt nhau vào hố lửa, lại làm sao thật sự hướng dẫn chúng sinh trở về Lý Thiên? Trò không thể lãnh đạo chúng sinh trở về Lý thiên, trò có tư cách nào gọi là Tiền Hiền? Đồng thời ai mới thật sự là Hậu Học đây? Có phải là người cầu Đạo sau, hay là lãnh Thiên Mệnh? Hoặc là người được Dẫn Bảo Sư dẫn? Đồ đệ ơi, Thiên thời đã đến lúc mạt hậu rồi, nếu như các trò còn không thể phá bỏ tất cả những hình tướng, trở về thật sự cái tự tánh, cứ chấp vào hình tướng thì chỉ uổng phí mà thôi, nếu như vậy, trò làm sao thật sự được giải thoát? Mà phải thật sự nhận thức được Tự Tánh Lão Mẫu nữa? Đồ đệ ơi, những ai còn đang học Đạo, tu Đạo, bàn Đạo, và những chúng sinh chưa được giải thoát sanh tử luân hồi, tất cả đều là Hậu Học đó thôi! Tất cả còn phải cần đến chân lý của Tiên Phật Bồ Tát chỉ dẫn, thì chúng sinh mới có thể từ mê chuyển ngộ! Này đồ đệ các trò nói, người nào mới thật sự là Tiền Hiền, và người nàomới là Hậu Học đây? Vì thế, cái thật sự là “Tuân Tiền Đề Hậu”, là muốn trò noi theo Thánh Hiền, tôn kính học tập theo những người có Đạo. Đồng thời phải đề tâm hạ khí, giúp đỡ chúng sinh, để mỗi một người có duyên
  • 16.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU 15 với mình đều được sự dìu dắt giúp đỡ, thật sự được siêu phàm nhập Thánh, thoát khỏi luân hồi! Thậm chí cả trong Phật đường, cầu Đạo sớm hơn mình, lãnh Mệnh sớm hơn mình, cả những vị Tiền Hiền có tư cách hơn mình, nếu như trò hiểu được Đạo lý “Gặp Đạo có trước có sau, nhân duyên có nhanh có chậm”, đồng thời người đó thật tâm tu Đạo, cung kính mọi người, thì làm sao đối với họ lại không tôn không kính, không nghe theo lệnh mà đi làm ư? Còn những vị cầu Đạo sau mình, cần sự dìu dắt giúp đỡ của mình, nếu như mình có lòng từ bi noi theo Tiên Phật thì làm sao trong lòng lại không thương yêu dìu dắt hơn nữa. Cho nên, cái thật sự “Tuân Tiền Đề Hậu”, là muốn chúng ta học tập bỏ đi cái chấp vào bản ngã, và tôn kính Tiền Hiền, dìu dắt Hậu Học, đồng thời còn phải từ bi với tất cả những người có duyên với mình. Nam Bình Đạo Tế giáng Nam phong hốt diện hạ thiên đường Bình khứ tư tâm dương chánh tông Đạo đức tịnh hành vô bội lí
  • 17.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU 16 Tế nhân lợi chúng hóa nguyên đồng Lại đề thơ: Tuân thủ giới quy tu đạo cẩn Tiền nhân hậu quả tác nhân thân Đề huy loan bút khuyến chu tử Hậu vọng hiền đồ bộ chí chân Giảng giải về “Tuân Tiền Đề Hậu” “Tuân Tiền Đề Hậu” là tuân thủ theo sự dẫn dắt của Tiền Hiền, và đề bạt tiến cử thế hệ sau. Tu đạo nếu như không “tuân tiền đề hậu” thì sẽ có hiện tượng “sư sinh đạo tuyệt”, đạo không thể được kế tục. Vì vậy “Tuân Tiền Đề Hậu” được xếp làm bước thứ hai trong tiến trình
  • 18.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU 17 tu đạo, điều kiện thành Tiên thành Phật. Điều này không thực hiện được thì vạn kiếp tu luyện cũng khó thành. Trong quá trình tu đạo, Tuân Tiền có nghĩa là: “Tiền” ở đây là chỉ tiền bối có tu đạo, chỉ người tu đạo trước mình, trưởng làng, người trụ cột trong gia đình, người nhiều tuổi hơn, người có kinh nghiệm, huynh trưởng, người có đạo đức, người giác trước cũng đều được coi là “tiền”. Tóm lại “Tuân Tiền” là noi theo ưu điểm của trưởng bối, “Đề Hậu” là đề bạt hậu bối. Người biết trước giác trước được ví như ngọn đèn, soi sáng dẫn dắt hậu bối, tuân theo thiên lý mà hành, trên dưới nhất quán có thể viên dung thiên tánh mà thành Phật Những sự việc trên thế gian, giữa người và người, có rất nhiều chỗ không được viên mãn, viên dung. Chúng ta tự tác tự chuyên, tức là tự ý tùy tiện làm, thì sẽ đi vào cảnh mê. Dưới không nghe trên, trên không đề bạt dưới, làm sao có thể bước vào cảnh tượng đại đồng. Vì vậy người đang tu đạo, muốn tu được viên mãn, nhất định cần phải tuân theo Tiền Hiền, hành theo đúng theo quy tắc. Người giác trước thì dẫn dắt hậu học phía sau giác ngộ theo, thể hành thiên đạo, mọi người cùng nhau đề huề, cùng nhau đồng tâm, mới có thể tu được thân Phật Bạch Dương không hư hoại.
  • 19.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN TIỀN ĐỀ HẬU 18 Làm Sao Có Thể Hiểu? Người chưa từng thí xả đại tài, làm sao có thể hiểu được có đại nghĩa. Người chưa từng bị khảo nghiệm về danh dự, làm sao có thể hiểu được có đại nhân. Người chưa từng bị tình ái tôi luyện, làm sao có thể hiểu được có đại từ. Người chưa từ trải qua khảo nghiệm về sinh mệnh, làm sao có thể hiểu được có đại dũng. Người chưa từng bì thử công quả, làm sao hiểu được có đại trí.
  • 20.
    15 Điều PhậtQuy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH 19 Cái gì gọi là “Tề Trang Trung Chánh”? Có phải là các trò đến Phật đường, y phục mặt rất chỉnh tề, đầu tóc gọn gàng, dáng mạo đoan trang thì gọi là “Tề Trang Trung Chánh” hay sao? Nếu như tâm của trò không được thanh, lòng còn đầy dục vọng, mắt ham nhìn sắc đẹp, mũi thích ngửi mùi thơm, miệng thèm ăn vật ngon, tai thích nghe lời diệu, thân muốn ngủ giường tốt, mặc áo đẹp, ý thì nghĩ đông nghĩ tây, dẫy đầy vọng tưởng, như vậy còn cho là “Tề Trang Trung Chánh” hay không? Cho nên, chỉ là tu bề ngoài mà không tu nội đức, để cho mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý nhiễm đầy bụi trần. Trong lúc đó, quần áo của trò dù có sạch sẽ, bề ngoài thật đoan trang, cũng đều không thể cho là thật sự “Tề Trang Trung Chánh” đâu. Cho nên cái “Tề Trang Trung Chánh”, không chỉ là đầu tóc gọn gàng, y phục chỉnh tề, bề ngoài trang nghiêm, mà là muốn nội tâm của trò phải trang 3. TỀ TRANG TRUNG CHÁNH (Nam Bình Đạo Tế Từ Huấn)
  • 21.
    15 Điều PhậtQuy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH 20 trọng, mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý cũng đều phải trang trọng. Nói một cách khác, có thể làm cho nội tâm toàn vô tạp tư tạp niệm, tự giữ được sự trang trọng, đó mới chính là “Tề Trang Trung Chánh”. Như vậy các trò phải làm thế nào mới được Tề Trang Trung Chánh đây? Trước tiên, có phải là chánh kỷ (bản thân mình chân chánh trước), rồi sau mới có thể chánh nhân (rồi sau mới có thể giúp người cũng được chân chánh giống như mình)? Nếu muốn chánh kỷ, có phải là hồi phục lại bản tánh quang minh của mình trước, rồi mới có thể cảm hóa và ảnh hưởng được tới người khác? Nếu như bản tánh quang minh của trò được hồi phục và sau đó được biểu lộ ra, thì trò còn phải giữ chặt cái lễ này, lời nói hợp với Đạo, hành vi có phép tắc. Như vậy mới thật sự ảnh hưởng được Đạo thân, dẫn dắt được Đạo thân, bằng thái độ Tề Trang Trung Chánh. Các trò phải biết rằng, thời kỳ mạt hậu này, Đạo nếu chỉ giảng thôi thì vô dụng. Đạo vốn không phải để giảng mà là phải thực hành. Vậy làm sao hành đây? Đó là dùng cái bản tánh quang minh, biểu hiện ra ở hành vi đoan trang, để cho lời nói và cử chỉ của mình hợp với Lễ.
  • 22.
    15 Điều PhậtQuy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH 21 Trong tâm trong sạch vô nhiễm, ý niệm không thiên không tà, thất tình lục dục không còn khởi dậy, thì mới thật sự là “Tề Trang Trung Chánh” đấy! Di Lặc Cổ Phật Giáng: Di ư lục hợp đạo chân linh Lặc mãn tam thiên độ chúng sanh Cổ lí vô biên thường bất dị Phật quang phổ chiếu vũ hoàn minh. Lại đề thơ: Tề giới tu trì tính tự minh Trang nghiêm đạo đức diệu huyền đình
  • 23.
    15 Điều PhậtQuy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH 22 Trung hòa nhất quán bất thiên ỷ Chánh kỉ hóa nhân bão nhất hành Giảng giải về “Tề Trang Trung Chánh” Nói đến việc tu đạo là vì thiếu mất đạo nên mới nói đến việc tu đạo. Đạo vốn tự nhiên viên mãn quang minh, vì sao lại nói rằng thiếu mất đạo, cũng bởi vì con người rơi vào phàm trần, mê hoặc bởi cảnh trần, nên hành vi không khớp với thiên lí, không thể tự biểu lộ ra thiên tánh quang minh viên mãn nên mới nói là khuyết mất đạo. Do đó mà mất đi thiên nhiên bổn tánh trang nghiêm, vì vậy cần phải trai giới, trang nghiêm trung chánh không thiên lệch, khế hợp với thiên tâm vốn có. Vì vậy “Tề Trang Trung Chánh” được xếp vào bước thứ 3 trong quá trình tu đạo.
  • 24.
    15 Điều PhậtQuy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH 23 Muốn thành Phật không khó, không thể cho rằng Phật là Phật, người phàm khó thành tựu được như Phật. Đại địa chúng sanh đều có Phật tánh, bỏ đi những vọng tưởng phàm tục thì cùng với Phật không khác, phàm cảnh vọng tưởng đã trừ tận, lí tánh từ đây mà phát quang minh, không phải là Phật sao? Vì vậy bước thứ ba trong quá trình tu đạo là “Tề Trang Trung Chánh”, tuyệt đối không thể thiếu, trì trai giới sát giúp dứt trừ phàm căn. Thử nghĩ nếu như không giữ trai giới, hành vi phóng đãng, làm sao có thể thành Phật, trai giới không giữ, giết hại sinh linh để ăn, tạo thành nhân quả, nghiệp sát chất cao như núi tu di, làm sao có thể thành Phật. Phật vốn không phải tu mà thành, con người bổn lai cùng một thể với Phật. Vì con người có giết chóc, dâm loạn, có tham dục, có lòng oán hận, có khí phàm. Vì vậy mà đem Phật tánh vốn có này bị chôn vùi không hiển lộ ra được. Do đó mà có sự khác biệt giữa Phật và chúng sanh. Do đó người tu đạo cần phải trong tâmtrai giới sạch sẽ, không loạn, hành vi bên ngoài trang nghiêm trung chánh, giống như thành ư trung hình ư ngoại, như vậy mới gọi là “Tề Trang Trung Chánh”.
  • 25.
    15 Điều PhậtQuy TỀ TRANG TRUNG CHÁNH 24 Con người không giữ trai giới thì sẽ không được thanh, không nghiêm túc đoan trang thì hành vi sẽ trang nghiêm, không tuân theo trung đạo thì hành vi sẽ bị lệch lạc, con người không ngay thẳng làm việc sẽ bị điên đảo. Vì vậy việc “Tề Trang Trung Chánh” không chỉ có người tu đạo phải tuân theo, mà là từ thiên tử cho đến thứ dân đều là căn bổn của việc tu thân. Người tu đạo tâm không ngay thẳng tắc hành vi không nghiêm túc. Tâm không “trung” thì hành vi bất chánh. Tâm đã không “Tề Trang Trung Chánh” thì nói gì đến tu đạo, nói gì tới lập đức. Dĩ nhiên đạo cũng không thể nói, đức không thể luận, thì làm người thật là đáng xấu hổ, xấu hổ với Ơn Trên, xấu hổ với mọi người xung quanh. Vì vậy mọi hành vi cử chỉ và tâm đều không rời khỏi “Tề Trang Trung Chánh”, mới có thể bước nhập vào thánh đạo, cơ sở vững chắc thì việc tu đạo mới có phương hướng. Gió Mưa Sanh Tín Tâm Nhà nghèo xuất hiện người con hiếu thảo, đất nước loạn lạc ắt sẽ có trung thần, thiên hạ loạn sẽ có thánh nhân ra đời. Vì vậy người không chịu khảo nghiệm, làm sao biết được có tín tâm hay không, vì vậy mới nói gió mưa sanh tín tâm.
  • 26.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN QUY ĐẠO CỦ 25 Cái gì gọi là “Tuân Quy”? Cái gì gọi là “Đạo Củ”? Thế nào là tuân theo quy, và thế nào là hành theo củ? Cái gọi là “Tuân Quy”, đó là tuân theo Phật quy cần phải giữ mà đi làm. Cái gọi là “Đạo Củ”, đó là mỗi con người có thể giữ đúng cương vị mà hành, có thể đứng trên cương vị của mình vững chắc mà đi, đó mới gọi là “Tuân Quy Đạo Củ”. Như vậy tại sao phải định ra Phật quy? Tại vì các trò đến cầu Đạo, rồi sau khi cầu Đạo còn phải làm việc gì? Có phải là muốn thành Tiên thành Phật thành Thánh, việc làm đó phải không? Nhưng nếu không chiếu theo quy tắc mà đi làm thì có thể thành Tiên thành Phật thành Thánh được không? Cho nên mỗi con người giữ lấy cương vị, tuân theo quy tắc mà hành là điều kiện cơ bản nhất. Phật quy được quy định tốt như vậy, mà các trò lại không chiếu theo đi làm, thử hỏi đồ đệ ơi, các trò có thể thành Tiên thành Phật được không? Ví dụ bảng giới luật không phát tiếng nói kia treo trên tường, là do Điểm 4. TUÂN QUY ĐẠO CỦ (Linh Ẩn Tửu Cuồng Từ Huấn)
  • 27.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN QUY ĐẠO CỦ 26 Truyền Sư hoặc người lo liệu quy định, các trò lại xem như không nhìn thấy, ngoảnh mặt làm ngơ, vẫn cứ lén lút nói chuyện, như vậy là có tuân theo quy tắc không? Mà Điểm Truyền Sư cũng giống như cha mẹ, hằng ngày Điểm Truyền Sư quy định những điều hợp lý, các trò không nghe theo, chỉ nghe lời Tiên Phật mượn khiếu. Như vậy có phải là các trò chấp hình chấp tướng và lại còn có tâm phân biệt hay không? Cho nên, dù thế nào đi nữa, những điều Điểm Truyền Sư quy định, chỉ cần hợp với Lý, thì tất cả nên chiếu theo mà làm, như vậy mới là “Tuân Quy Đạo Củ”. Nhưng tuân theo phép tắc không phải chỉ có tuân theo Phật quy bên ngoài thôi đâu. Các trò còn phải luôn luôn tự hỏi mình: có tuân theo quy tắc Phật đường trong lòng mà đi làm việc không? Cái gì gọi là quy tắc Phật đường trong lòng vậy? Đó là “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”. Người người ai cũng vốn có cái lương tâm, trò phải tự hỏi mình, làm người, cái việc làm có theo lương tâm không? Có chiếu theo Phật quy lương tâm mà đi làm không? Đối với người có chân thành không? Có từ bi không? Lương tâm của trò chính là Phật quy!
  • 28.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN QUY ĐẠO CỦ 27 Tu Đạo hành Đạo đừng có nhìn ở bề ngoài, mà phải nhìn vào bên trong. Phật quy bên ngoài tất nhiên phải tuân thủ, nhưng Phật quy bên trong lại càng phải lưu ý hơn.Đèn Phật trong lòng cần phải thường xuyên lau chùi, để mình không hủy bối đi cái Thiên lý lương tâm, đó mới thật sự là “Tuân Quy Đạo Củ”. Thuần Dương Đại Đế Giáng: Thuần thanh bất trược Phật Tiên đồng Dương chiếu tam thiên dương chánh tông Đại đạo chí tôn vũ trụ chủ Đế ân hạo đãng khải mê mông Lại đề thơ: Tuân trung thủ lí mạc xà hành Quy luật vô biên học tính kinh
  • 29.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN QUY ĐẠO CỦ 28 Đạo hỏa phó dương nhất trực tác, Củ độ hữu chánh tự thành minh Giảng về “Tuân Quy Đạo Củ” Không có cái quy (compa) cái củ (thước vẽ hình vuông) thì không thể thành được hình vuông hình tròn.Cái quy để vẽ hình tròn là dùng để chỉ mối quan hệ đãi người tiếp vật được viên mãn. Cái củ để vẽ hình vuông là chỉ góc độ, tư cách làm người. Đời người xử sự không được viên mãn, vô nhân cách, thì không phải là người nữa rồi. Vì vậy “Tuân Quy Đạo Củ” là bước thứ tư trong quá trình tu đạo cần phải trải qua. Thiên có luật của trời, một quốc gia thì có pháp luật, gia đình thì có quy củ của gia đình. Con người cần phải có
  • 30.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN QUY ĐẠO CỦ 29 quy củ, đây là lý vốn không thay đổi. Trời có luật trời, bốn mùa tám tiết, âm dương tiêu trưởng, nóng lạnh luân phiên thay đổi đều không vượt khỏi luật trời. Vì vậy mới có thể thiên trường địa cửu. Đất nước có pháp luật, như lấy hiến pháp mà trị, thưởng thiện phạt ác. Như vậy mới có thể an trị, quốc thái dân an. Gia đình có quy của của gia đình, cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng giáo dục con cái, làm gương cho con cái, con cái cũng có nghĩa vụ hiếu kính cha mẹ. Như vậy mới có thể một gia đình hòa thuận, cha từ ái con hiếu thảo, đến như cá nhân tất cần phải tuân theo xử sự viên tròn, chiếu theo sự ngay thẳng mà làm người, cũng là đạo làm người. Người tu đạo muốn giữ vững nguyên tắc làm người, trước tiên không thể rời xa phản bội lại quy củ. Rồi sau đó hành đạo, mới có thể bồi đắp công đức của tự tánh. Người tu đạo không “Tuân Quy Đạo Củ”, cho dù có bố thí như hằng hà sa số, mà mỗi một hạt cát ví như tam thiên đại thiên thế giới, nhiều như toàn bộ thất bảo bố thí, thì cũng không có công đức.
  • 31.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN QUY ĐẠO CỦ 30 Vì vậy tuân theo quy củ, phép tắc, chớ đừng xử xự phản bội, trái nghịch với chân lí, phát sinh thêm vấn đề thì làm sao có thể tu được viên mãn Bạch Dương Phật. Tiên Phật Bạch Dương, “Bạch” nghĩa là thanh thanh bạch bạch, nhất trần bất nhiễm. “Dương” có nghĩa là chiếu sáng tất cả quần chúng trong thiên hạ, đều có thể chiếu tới, một chút cũng không sai lệch. Tiên Phật là giác, giác tất cả vạn pháp, ở trong như như. Tâm phát ra không rời tự tánh, tất hành vi “Tuân Quy”. Tâm ban đầu phát ra không rời như lai, tất hành vi có “Đạo Củ”. Tất cả hành động, tuân quy đạo củ, tất gần với con đường của Thánh Nhân đi. Đã gần với con đường của Thánh Nhân, tất của thánh nhân.Hành vi, đạo đức thì giống như thánh nhân, thì nào có khác gì so với Thánh Hiền, đã không có sai biệt, không phải thánh cũng không phải hiền. Mong các tu đạo sĩ có thể soi xét được đại đạo, ở trong 15 điều phật quy, từng điều từng điều một đều không thể bỏ sót, mới có thể thành đạo viên mãn. Thiện ác hiền ngu Giao thiệp với người ác như thuyền đi trong sóng gió, những thứ nguy hiểm đều phát sinh.
  • 32.
    15 Điều PhậtQuy TUÂN QUY ĐẠO CỦ 31 Giao thiệp với người thiện, như giữ vật quý trong người, một đời thọ dụng không hết. Đi cùng với người ngu, như thuyền đi mất phương hướng, như biển không có bờ. Đi cùng với người hiền, như thuyền đi được dẫn lối, cuối cùng sẽ tới được bờ bên kia. Chú thích Tứ thời bát tiết: Tứ thời (4 mùa: xuân, hạ, thu, đông) - Bát tiết (lập xuân, xuân phân, lập hạ, hạ chí, lập thu, thu phân, lập đông, đông chí).
  • 33.
    15 Điều PhậtQuy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI 32 Cái gì gọi là “Trách nhiệm”? Đó là chức trách, nhiệm vụ, đó cũng là mỗi một con người cần phải hết lòng làm tròn bổn phận của mình. Này đồ đệ, các trò nói xem, mỗi một đệ tử của Thiên Đạo có trách nhiệm gì đây? Và có sứ mệnh gì đây? Có phải là có sứ mệnh Tiên Thiên, và cũng có nhiệm vụ Hậu Thiên? Cái gọi là sứ mệnh Tiên Thiên, đó là độ tận chín sáu ức Nguyên Phật tử, để cho chín sáu ức Nguyên Phật tử đều được đạt bổn hoàn nguyên, trở về Vô Cực Lý Thiên. Cái gọi là nhiệm vụ Hậu Thiên, đó là hóa độ lòng người trong sạch, xúc tiến vào đại đồng, để mọi người phẩm chất đoan chánh, gia đình viên mãn, xã hội hòa ái. Các con thử nói trách nhiệm này có nặng hay không? Có tôn quý không? Giả sử các con ai cũng tận tâm tận lực thay Trời tuyên hóa, noi theo Thánh Hiền, Chánh kỷ thành Nhân, đem sự tôn quý của Đạo hiện lộ trên bản thân các vị, và ứng dụng trong sinh hoạt hàng ngày, để 5. TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI (Tử Y Chân Nhân Từ Huấn)
  • 34.
    15 Điều PhậtQuy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI 33 lương tâm của mình được thanh thản, không hổ thẹn, để người trong gia đình hoan hỷ, biết cảm ân, để xã hội được bình yên thái hòa, để nhân loại được hạnh phúc vui sướng, để cho chín sáu ức Nguyên Phật tử tự tánh đều được hồi phục, đó mới là làm tròn trách nhiệm. Lúc này là thời kỳ mạt hậu, cũng là lúc gấp rút nhất, các vị phải ghi lòng tạc dạ, giữ cho tâm niệm của mình được tốt, hành vi được đoan chánh. Cẩn thận tất cả những ảnh hưởng không tốt, càng không nên khi ở Phật đường thì cung cung kính kính, nhưng về đến nhà thì khinh suất, phóng đãng. Các vị không thể đem Đạo mà thực tiễn ra, như vậy là đối với Đạo không làm tròn trách nhiệm đấy! Văn Thù Bồ Tát giáng thơ: Văn tàng đạo ý hóa quần sanh Thù lí thông thiên đạt chí thành Bồ ý từ bi chửng cửu nhị Tát ý trắc ẩn độ nguyên linh Lại đề thơ: Trách kỉ vấn tâm sát tự thân Nhiệm nhân hàm mẫn tu cầu chân
  • 35.
    15 Điều PhậtQuy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI 34 Phụ hà đạo vụ bất tri khổ Khởi chỉ như như nhật nhật tân Giảng giải về “Trách Nhiệm Phụ Khởi” Trách nhiệm vốn là yếu tố quan trọng xử sự có thành côn hay không. Con người làm việc mà vô trách nhiệm tức là đã thất tín, mà thất tín thì sẽ không thể đứng vững, mà đã không thể đứng vững thì vạn sự bất thành, tu đạo cũng như vậy. Có trách nhiệm thì mới có thể đạt được lí, viên mãn thiên tâm của tự tánh, vì vậy “Trách Nhiệm Phụ Khởi” là bước thứ 5 trong quá trình tu đạo.
  • 36.
    15 Điều PhậtQuy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI 35 “Trách Nhiệm Phụ Khởi”, tức là các chức trách, nhiệm vụ khi đã đảm đương, gánh vác, tuyệt đối không thể thất tín. Trọng tâm là thực hiện thế giới đại đồng, Phật quốc sa bà, phạm vi này vô cùng lớn, đã gánh trọng trách này thì tuyệt đối không thể lơ là. Làm cha mẹ của người, “Trách Nhiệm Phụ Khởi” là dưỡng dục con cái, làm tấm gương cho con cái, đây là từ, là phép tắc giữa cha và con. Làm người chồng quan tâm chăm lo người vợ, giữ phép tắc trật tự với vợ. Làm người vợ chăm lo cho gia đình. Làm người con hiếu thuận với cha mẹ. Làm người anh quan tâm đếm em, làm người em thì tôn kính huynh trưởng, đây chính là “Trách Nhiệm Phụ Khởi” trên phương diện gia đình. Đại sự của một đất nước, dùng đức để cai trị, vì phúc lợi của dân chúng, trung với đất nước, yêu thương nhân dân, đây là trách nhiệm của bậc cai trị. Làm tướng soái thống lĩnh tam quân, ngăn chặn giặc ngoại lai xâm phạm, bảo vệ quốc gia nhân dân, đây là trách nhiệm của quân đội. Trách nhiệm trong xã hội, làm người thầy dạy dỗ học sinh, thay đổi phong tục tập quán, khuyên bảo dạy dỗ là trách nhiệm của người thầy. Làm người trước tiên cần
  • 37.
    15 Điều PhậtQuy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI 36 phải chỉ dạy hướng dẫn cho hậu bối, đây cũng là trách nhiệm làm người. Người thầy giỏi dạy học trò kỹ nghệ giúp cho học trò có tay nghề là trách nhiệm của người thầy. Vì dân mà nhập ngũ đi nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ của người dân. Trung với quốc gia, sinh sản báo quốc, yêu quốc gia, yêu dân tộc, đây là trách nhiệm của người dân. Người tu đạo, ngoài việc cần phải tận chức trách, đối với bản thân là người tu đạo cần phải tận chức trách gì? Cần phải gắng sức làm đến cùng, mới có thể gọi thật sự là người tu đạo. Như làm người thầy dạy dỗ học trò, làm người đi trước khởi phát hậu học. Như mở cửa hàng cần phải phụ khởi những chức trách trong cửa hàng.Quản lí dẫn dắt việc bán hàng, tuân theo quỹ đạo của việc kinh doanh, như vậy thì việc kinh doanh của cửa hàng này sẽ càng ngày càng phát đạt. Làm nhân viên bán hàng ngoại giao bên ngoài, cần phải có trách nhiệm quảng bá hàng hóa ra bên ngoài, cũng đều là trách nhiệm của con người. Làm người tu đạo cần phải nhận rõ mục tiêu, tâm chí vững vàng, thể hành thiên tâm, nói lí độ chúng, dẫn dắt từ mê sang ngộ, giúp đỡ chúng sanh lên bờ, thay đổi phong tục tập quán, thừa cứu sa bà, hoàn thành trách
  • 38.
    15 Điều PhậtQuy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI 37 nhiệm lớn lao. Trách nhiệm của tu đạo, tất cần phải làm được, khó làm có thể làm, khó xả có thể xả. Tinh thần dù gặp có trăm ngàn trắc trở gian nan cũng không khuất phục, tất có thể tận trách nhiệm tu hành.Tuy có trách nhiệm mà cũng cần phối hợp với tự thân, lấy thân làm chuẩn, chánh kỷ hóa nhân, có thể trong diệu huyền mà thành chân đạo. Làm sự nghiệp không có trách nhiệm không thể thành công, việc tu đạo mà có thể thành đạo, thật không có. Vì vậy trách nhiệm, từ vua cho đến dân thường, tất cả đều lấy trách nhiệm làm gốc. Chúng ta giáng thế xuống nhân gian, cần phải biết trách nhiệm của mỗi người, người không có trách nhiệm thì không thể làm người. Do đó làm việc tất cần phải làm viên mãn không có khiếm khuyết, thì mới là “trách nhiệm phụ khởi”. Bạch Dương tam kì, Tiên Phật đều hạ phàm làm người, mục đích là phổ độ chúng sanh. Nhưng sinh ở cõi phàm bị hình hình sắc sắc ở trần gian làm thay đổi, mà quên mất trách nhiệm xuống trần gian này Thế Nào Là Hành Đạo Có thể tha thứ cho người khác, có thể quan tâm người khác, có thể thương xót người khác, có thể giúp đỡ người khác, có thể cảm hóa người khác, có thể dẫn đạo
  • 39.
    15 Điều PhậtQuy TRÁCH NHIỆM PHỤ KHỞI 38 đường khác, có thể tạo phúc cho người khác, có thể giúp viên mãn giữa người với người, giũa chúng sanh với nhau.
  • 40.
    15 Điều PhậtQuy TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM 39 Hễ làm việc, bất luận là làm việc Phật hay việc Thánh, hoặc làm tất cả mọi việc đều lấy đại chúng làm đầu, chúng sinh làm trọng, đó mới là trọng Thánh.Ngược lại, nếu như lấy việc cá nhân làm đầu, cho mình là trọng, như vậy là trọng phàm. Cho nên tất cả những việc có lợi ích cho chúng sanh đều là Thánh sự. Có thể xem trọng việc này, đó là trọng Thánh, đồng thời cũng là khinh phàm. Cho nên người thật sự “Trọng Thánh Khinh Phàm”, người đó không bao giờ chỉ lo cho riêng bản thân mình, mà cũng không màng tới người khác có tôn kính mình, thương yêu mình, nuôi dưỡng mình hay không. Trong lòng người đó chỉ có cái lợi cho chúng sanh làm đầu, làm việc gì cũng suy nghĩ lấy đại thể làm trọng, người như vậy mới đích thực làm được “Trọng Thánh Khinh Phàm”. Mà cái gì mới thật sự cho là việc Thánh đây? Lại việc gì mới thật sự đem lại lợi ích cho chúng sinh? Các vị nói 6. TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM (Thiên Nhiên Cổ Phật Từ Huấn)
  • 41.
    15 Điều PhậtQuy TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM 40 xem, trong vũ trụ này, trong Trời đất này, ngoại trừ Đạo là thật, cái Linh Tánh là thật, thì còn có cái gì vĩnh hằng bất biến không? Cho nên các vị giúp đỡ chúng sinh, thành tựu được chúng sinh, để tâm tánh được giải thoát, đi vào con đường siêu phàm nhập Thánh, mới thật sự là “Trọng Thánh Khinh Phàm”. Các vị có thể tu dưỡng mình, thành tựu mình, bỏ đi cái nhân tâm, Thiên Lý lương tâm được lộ hiện, đó cũng là “Trọng Thánh Khinh Phàm”. Nếu như nhân tâm không trừ, dục niệm trôi nổi, Thiên Lý lương tâm bị mê mờ, lúc nào vô minh cũng khởi, thì làm sao nói là “Trọng Thánh Khinh Phàm” đây? Lại như thế nào mới được siêu phàm nhập Thánh? Những vấn đề này, các trò cần phải suy nghĩ tìm tòi cho kỹ càng hơn. Bởi vì tu Đạo bàn Đạo, chỉ có một mục đích cuối cùng, đó là bỏ đi tất cả cái cố chấp bản ngã, hồi phục Thiên tâm bổn lai cho được thuần khiết. Các đồ đệ ơi, trong khi tu Đạo tu tâm, trong quá trình đó nếu như các trò không có lòng chí thành, không có lòng bất biến, không có lòng vô oán vô hối, thì không lộ hiện ra được Thiên tâm Phật tánh, thì làm sao nói là “Trọng Thánh Khinh Phàm” được đây?
  • 42.
    15 Điều PhậtQuy TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM 41 Tây Phương Thích Ca Mâu Ni Cổ Phật Giáng Thích khai nhân thế giác chân thuyên, Ca điệp ma ha nhất đại truyền Mâu lợi thủ đa như bào ảnh, Ni hà mộc dục ngộ huyền quan. Lại đề thơ: Trọng tân sám hối chú thiên bàn, Thánh lí trì hành vô vi nan Khinh cử vọng vi viễn đạo kỉ, Phàm phu bất tỉnh nhập linh tàn.
  • 43.
    15 Điều PhậtQuy TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM 42 Giảng giải về “Trọng Thánh Khinh Phàm” “Trọng Thánh Khinh Phàm”, tức là coi trọng “Lý”xem nhẹ“Tình”. Lí là thiên lí, ở nhân gian thì là công nghĩa lưu hành, cũng là đại đạo trung dung của nhà nho, không thiên không lệch.Nói trọng thánh, khinh tình tức là xả tư dục phàm tình, là khắc kỷ phục lễ của nhà Nho, đây gọi là khinh phàm. “Ứng như thị trụ” của nhà Phật, ứng như thị giáng phục kỳ tâm, cũng là mang cái ý nghĩa này, vì vậy “Trọng Thánh Khinh Phàm” là bước thứ sáu trong quá trình tu đạo. Người tu đạo ngày nay thường nói 4 phần phàm nghiệp, sáu phần thánh sự, làm như vậy gọi là “Trọng Thánh Khinh Phàm”, thật không phải như vậy. Phàm sự hay Thánh sự đều ở tại một cái tâm này này mà phân, cho dù cảnh ở nơi nào. Nhất tâmlà lí tức “Trọng Thánh Khinh Phàm”. Nhất tâm vì lợi, tức “Trọng Thánh Khinh Phàm”. Nhân sinh tại thế gian, cái gọi là tu đạo, là giữa người với người có đạo, sĩ nông công thương đều có đạo, xã hội quốc gia đều có đạo, giữa các thành viên trong gia đình cha con huynh đệ, giữa chú bác đều có đạo, giữa vợ chồng cũng đều có đạo, đây gọi là “Trọng Thánh Khinh Phàm”.
  • 44.
    15 Điều PhậtQuy TRỌNG THÁNH KHINH PHÀM 43 Bên ngoài tuy làm việc thánh mà tâm không chánh, trọng công đức, không bỏ vọng tưởng dục vọng. Tuy bên ngoài là thánh mà không phải là thánh. Từng hành vi cử chỉ tuy không làm việc đạo, mà thực lợi ích cho chúng sanh. Nhất tâm là lý, hiện ra bên ngoài là đức, tuy thấy bình dị, mà thực là thiên lí lưu hành, không phải trọng thánh thì là gì . Nếu lấy sắc thấy ta, lấy âm thanh cầu ta, là người đó đã hành tà đạo, không thể thấy được Như Lai. Không lấy sắc để nhìn ta, là sự lưu hành của lý. Không lấy âm thanh cầu ta, là sự lưu hành của lý. Không lấy sắc, không lấy âm thanh, thiên lý tự tâm, tức là như như. Như như là tự nhiên, không phải thánh thì là gì, đây gọi là thiên lí. Gọi là như như phi tự nhiên của tự nhiên, gọi là “Trọng Thánh Khinh Phàm”.
  • 45.
    15 Điều PhậtQuy KHIÊM CUNG HÒA ÁI 44 Khiêm Tốn Cung Kính Hòa Ái, chẳng phải chỉ là đối với Tiền Hiền, Điểm Truyền Sư, Giảng Sư, mới khiêm tốn cung kính thôi đâu. Mà các con đối với mọi người đều có hết lòng cung kính không? Các con tự suy nghĩ xem, là một người tu Đạo, có phải cần đối xử với mọi người “Khiêm Cung Hòa Ái” hay không? Người nào có nghiên cứu về Kinh Dịch thì sẽ rõ, trong 64 quẻ, là có 63 quẻ đều là trong hung có kiết. Trong kiết có hung, hung là không tốt. Duy nhất chỉ có một quẻ, đó là quẻ khiêm, chỉ có kiết mà không có hung, chỉ có phước mà không có họa, vì sao vậy? Trong Kinh Dịch nói: “Khiêm, hanh, quân tử hữu chung”. Đó là dùng thái độ khiêm tốn hòa ái để làm việc, ắt sự việc sẽ dễ làm hơn, thông đạt hơn. Thái độ khiêm tốn hòa ái là do trong tâm tu dưỡng mới có được, không phải miễn cưỡng làm ra được. Cũng chỉ có người quân tử mới có thể từ đầu chí cuối khiêm tốn hòa ái, mà không ngạo mạn với người. Trong Kinh Dịch lại có câu: “Nhân đạo ác doanh nhi hảo khiêm”. 7. KHIÊM CUNG HÒA ÁI (Nhĩ Sư Nam Bình Từ Huấn)
  • 46.
    15 Điều PhậtQuy KHIÊM CUNG HÒA ÁI 45 Ai ai cũng đều ghét người kiêu ngạo khinh mạn, mà thích người khiêm tốn có Đạo. Cho nên người biết khiêm tốn, người đó có thể bộc lộ một nhân cách tôn quý, cùng hiện ra được cái tự tánh sáng lạng, tưởng chừng ở chỗ thấp hèn, nhưng thật sự người đó nhân cách rất cao thượng, khó vượt qua đấy! Đó cũng là một người quân tử có Đạo, bên trong người đó tích giữ những cái tốt đẹp nhất mà được biểu hiện ra, tại vì người đó đã buông xuống hết cái bản ngã, mà cung kính tất cả chúng sinh. Cho nên sự khiêm tốn cung kính hòa ái, lúc đó cũng là tự tánh Phật của trò được lộ hiện. Bởi vì khi trò khiêm tốn nhã nhặn, đề tâm hạ khí, không phân biệt người và ta, là lúc trò không có ý niệm thị phi, cũng là lúc ấy cái chơn ngã Phật tánh của trò mới được lộ hiện. Cho nên người “Khiêm Cung Hòa Ái”, nhất định sẽ được thành Đạo. Ngược lại kẻ kiêu ngạo, khinh khi người khác, tuyệt đối không thể thành Đạo. Tại vì trong lúc kiêu ngạo, cũng là lúc chưa bỏ đi cái nhân ngã, lòng cố chấp vẫn còn tồn tại. Mà cuối cùng cửu phẩm liên đài cũng thuộc về người “Khiêm Cung Hòa Ái”. Cho nên, các vị
  • 47.
    15 Điều PhậtQuy KHIÊM CUNG HÒA ÁI 46 muốn thành Tiên thành Phật, lại há nào không “Khiêm Cung Hòa Ái” hay sao? Phục Thánh Phu Tử Nhan Giáng: Phục cổ chân thuyên nho đạo hưng, Thánh thần khải hóa bạch dương kinh Phù nam lập chí độ ngu bối Tử vãn đồi phong thượng lí đình. Lại đề thơ: Khiêm nhượng từ bi hợp Phật dương Cung duy thánh lí đức vô lượng Hòa bình tâm địa can qua tức Nhu nhu bất tranh bả đạo dương.
  • 48.
    15 Điều PhậtQuy KHIÊM CUNG HÒA ÁI 47 Giảng giải về “Khiêm Cung Hòa Ái” Đạo vốn dĩ ngưỡng lên xem thì lấp đầy sung mãn khắp nơi, trông lên phía trước thoắt nhiên ngựa đã ở phía sau. Phu tử nghe theo người dẫn dắt thiện lành, trau dồi sự uyên bác của bản thân bằng văn học. Dùng lễ để ước thúc bản thân, muốn bỏ mà không được, đã dùng hết tài năng, như cái gì sừng sững trước mặt, tuy muốn theo, mạt do giã dĩ. Đạo vừa cao vừa rộng, chiếu sáng khắp đại địa, vận hành nhật nguyệt tinh thần, chủ tể vạn vật, không gì có thể so sánh. Hiển lộ ở nhân gian có thấp có ít, vì vậy đạo có cao có rộng. Nhân gian có nhỏ có u tối, vì vậy Đạo có lớn có sáng, đây cũng là đối đãi. Đạo vốn tự nhiên, nhưng ở nhân gian có sai biệt, nên Đạo mới có đặc thù. Vì vậy con đường tu đạo cần giữ giới 15 điều phật quy, làm quy giới cho việc tu đạo. Do đó “Khiêm Cung Hòa Ái” là bước thứ 7 trong khóa trình tu hành, tuyệt không thể xem thường. “Khiêm” là chỉ bản thân phải biết khiêm tốn, cung kính người khác, hòa ái với quần chúng, yêu thương như người thân mà không tranh giành. “Khiêm tốn” có thể được người dạy dỗ. “Cung kính” có thể được người kính. Hòa mục có thể được
  • 49.
    15 Điều PhậtQuy KHIÊM CUNG HÒA ÁI 48 người gần gũi. Hòa ái có thể được người phục, đây là căn bổn của lập thân xử thế. Người tu đạo ở khắp nơi khoa trương, bị mọi người ghen ghét, chỉ muốn thỏa mãn tính tự cao tự đại, vạn thế tu đạo tuyệt không thể, vì vậy không thể xem thường điều mục này. Tử viết: như có tài năngxuất chúng của Châu Công mà kiêu ngạo, hẹp hòi thì những tài đức gì cũng không xét nữa. Tử viết: Thánh thì ta không dám nhận, nhưng học mà không chán, dạy mà không mỏi mệt. Tử Cống viết: học không mà không chán thì là bậc trí, dạy mà không mỏi mệt là nhân, có nhân và trí thì thầy đã là thánh rồi. Do đó, khiêm tốn mới có thể đắc được Đạo, nhu hòa cũng có thể đắc được Đạo. Khiêm cung có thể được bề trên dạy dỗ, cũng có thể được bề dưới tôn kính. Hòa ái có thể được bề trên xem trọng, cũng có thể được bề dưới kính ngưỡng. Vì vậy “Khiêm Cung Hòa Ái”, người người đều hành theo điều này thì thế giới đã không có dối lừa. Thế giới không có dối lừa thì đã dần tiến tới thế giới đại đồng.
  • 50.
    15 Điều PhậtQuy KHIÊM CUNG HÒA ÁI 49 Thế giới đại đồng, sa bà phật quốc, không xem trọng cái này thì không thể được. Vì vậy người tu đạo là căn bản của thế giới đại đồng, lấy “khiêm cung hòa ái” làm gốc. Gốc loạn mà ngọn có thể trị được điều này không thể có. Do đó người tu đạo tuyệt đối không được xem thường điều này, mới có thể đạt được bổn nguyện. Tín Tâm Gió lốc không thể thổi được một triều đại Cơn mưa lớn không thể làm mất một ngày, mưa tạnh trời lại quang Ma khảo là đối với người không có niềm tin, người có niềm tin thì không sợ bất kì ma khảo.
  • 51.
    15 Điều PhậtQuy VẬT KHÍ THÁNH HUẤN 50 Huấn thư là lời chỉ dạy của Thánh Nhân, cũng có thể là tất cả Thánh lý được ghi lại bằng văn tự. Nói cách khác, đó là lời nói của Thánh Hiền Tiên Phật. Thánh Hiền Tiên Phật tóm lại nói những gì? Thiên ngôn vạn ngữ, đều là nói lời Chân lý, nói chúng sanh phải tu như thế nào mới được trở về Trời, cũng là nói những lời dẫn dắt chúng sinh phải như thế nào để cải tà quy Chánh, từ mê chuyển ngộ. Tại vì Thánh Hiền Tiên Phật là do người đã tu thành Đạo. Cho nên những lời nói đó có thể đại biểu cho Đạo, đại biểu Chân lý. Mà mỗi chữ trong Thánh huấn, mỗi một câu đều là từ trong tự tánh Tiên Phật thổ lộ ra, tùy các loại nhân duyên chúng sanh mà thuyết giải, cho nên lời nói đó là Chân Kinh. Đó thật sự cũng là Phật tánh được thổ lộ, là con thuyền dẫn dắt về Thiên Đàng. Vì thế các đồ đệ ơi, những lời huấn của Tiên Phật tôn quý như vậy đó, sao các đồ đệ không biết quý trọng hơn và nhận thức Chân nghĩa trong đó mà cố gắng đi thực hiện! Cái gọi là “Vật Khí”, đó là cái không thể bỏ đi, không thể xem thường, không thể không chiếu 8. VẬT KHÍ THÁNH HUẤN (Linh Ẩn Thiền Sư Từ Huấn)
  • 52.
    15 Điều PhậtQuy VẬT KHÍ THÁNH HUẤN 51 theo mà làm. Tại vì mỗi một trang huấn văn hoặc Kinh sách, đều là tâm huyết của Tiên Phật. Những từ ngữ đó tự nhiên đều được Tiên Phật hộ trì, nếu các đồ đệ mang nó theo bên mình, chỉ cần có cái tâm chánh, tâm thành thì trong vô hình nó có thể phù hộ cho các đồ đệ, cũng có thể tránh xa nạn tà. Như vậy làm sao lại có thể lại xem thường vứt bỏ nó, mà không coi trọng nó hơn? “Thánh Huấn” cũng là chỉ dẫn chúng sinh thế nào để đi lên con đường thành Thánh Hiền. Đồ đệ ơi, vậy mà các trò không chiếu theo đi làm, thì làm sao tu Đạo được thành tựu, mà thật sự thành Tiên thành Phật đấy. Huống hồ Tiên Phật đều Đại từ Đại bi, đều vì việc sanh tử đại sự của các con mà nỗ lực phí tận tâm huyết, các con làm sao lại nhẫn tâm khinh thường, phụ lòng mà không chiếu theo đi làm. Cho nên “Vật Khí Thánh Huấn”, thật sự cái hàm ý là nhận thức được lòng từ bi của Tiên Phật, hiểu rõ chân ý của thư huấn. Sau cùng là phải y theo lời huấn mà thực hành, mới có thể thành Thánh thành Phật được!
  • 53.
    15 Điều PhậtQuy VẬT KHÍ THÁNH HUẤN 52 Nam Hải Cổ Phật Giáng: Nam bình tính lí bố nhân gian Hải khoát thiên không độ thiện duyên Cổ đạo linh thông mạt vận thánh Phật tiên đồng hạ tam kỳ niên. Lại đề thơ: Vật ngụy vật hư tặc đạo quy Khí trừ tà ác chân tâm trì Thánh ngôn tinh lí tu đạo thủ Huấn giới Bạch Dương chu tử si.
  • 54.
    15 Điều PhậtQuy VẬT KHÍ THÁNH HUẤN 53 Giảng giải về “Vật Khí Thánh Huấn” Nói về “Vật Khí Thánh Huấn” là không được vứt bỏ những lời huấn giới của Tiên Phật. Người tu hành tuân thủ theo những cáo giới trong thánh huấn của Tiên Phật, mới có thể khiến cho tánh địa huyền quan phản chiếu quang minh. “Vật Khí Thánh Huấn” là bước thứ 8 trong 15 điều phật quy. Tiên Phật Bạch Dương chưa thể giữ được 15 điều Phật quy mà thành phật đạo thực không thể. Tu trì Phật Đạo phải nghiêm khắc tuân thủ quy huấn. Cần phải cố gắng thực tiễn, thực hành nhất quán không lệch khỏi chánh lí. Lấy sách thánh hiền mà tham ngộ sự huyền diệu thật sự trong đó. Chân kinh chánh pháp tuy không ở trong văn tự, nhưng không có văn tự lưu truyền ở thế gian, chỉ dùng miệng để truyền thì đại đạo không thể phổ truyền. Do đó muốn thế giới đại đồng, sa bà phật quốc, cần phải nhờ vào văn tự làm cầu nối, nghe hiểu rồi thực hành, sau đó thì miệng truyền đại pháp tâm ấn chứng mà đạt đạo. Ơn trên định quy giới “Vật Khí Thánh Huấn”, để tôn trọng lưu truyền những lời nói của thánh nhân. Đạo có hai, một là gốc, hai là ngọn, gốc ngọn cùng hành, có thể
  • 55.
    15 Điều PhậtQuy VẬT KHÍ THÁNH HUẤN 54 thành Tiên Phật thời Bạch dương kì, lấy văn tự xúc tiến. Nói về gốc và ngọn, đương nhiên là gốc quan trọng hơn ngọn, nhưng không có ngọn thì không thể thể hiện được gốc, vì vậy gốc ngọn cùng quan trọng như nhau. Ngọn là chỉ biết trân trọng bảo hộ sách thánh huấn như châu báu, một chút cũng không dám làm dơ bẩn ô uế, không dám tùy tiện đặt. Người này tuy chưa gọi là “Vật Khí Thánh Huấn”, kỳ thực đối với con đường tu đạo thật có ích. Gốc là ngoài việc bảo hộ trân tiếc sách thánh huấn, quan trọng nhất là di huấn từ xưa tới nay của Thánh Hiền, không một chút tùy ý phóng túng mà không noi theo. Đối với huấn thị của Thánh Hiền Tiên Phật, phát dương thánh lí cổ đạo, hành dĩ thiên hạ chi đại bổn, thành đến thiên đạo, thành cả nhân đạo, không gượng mà vẫn đạt trung dung, không suy tư mà vẫn đắc,cũng là nương theo đạo.
  • 56.
    15 Điều PhậtQuy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG 55 “Mạc Trước Hình Tướng” là không chấp vào hình bên ngoài, mà bị nó che lấp đi. Tại vì tất cả các thứ có hình có tướng, rốt cuộc đều không phải là thật, cuối cùng đều tiêu tan trong mộng ảo vô thường. Kinh Kim Cang có nói: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai”. Cho nên, nếu như không thể phá bỏ hình tướng, người nào còn mê muội vào hình tướng, tâm người đó còn tại trong Tượng Thiên và Khí Thiên, đều không thể tiến vào Vô Cực Lý Thiên. Mà chúng sinh nào còn mê muội điên đảo, thì không thể thật sự được giải thoát, đều còn bị hình tướng bên ngoài ràng buộc, tâm còn bị hình tướng sai khiến, tự tánh không thể làm chủ được, vĩnh viễn trong vòng luân hồi, lưu lãng trong vòng sanh tử. Cho nên đừng chấp vào hình tướng, cũng không chấp vào Tiên Phật mượn khiếu hiển hóa, mà phải ngộ được sự khai thị Chân lý của Tiên Phật, lấy chân nghĩa vi diệu ấy làm trọng. Tiến thêm một bước nữa, là muốn các trò 9. MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG (Tây Hồ Phong Tăng Từ Huấn)
  • 57.
    15 Điều PhậtQuy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG 56 bất cứ trong tình cảnh nào, tâm cũng không đều bị dao động, tự tánh vẫn làm chủ, đó mới thật sự là không chấp vào hình tướng. Này đồ đệ, các trò thường nói: “Bất thiên chi vị trung, bất ỷ chi vị dung”. Vậy trung Đạo rốt cuộc là gì? - Đó chính là trong những lúc tự tánh Phật được lộ hiện ra. Như vậy là nói như thế nào đây? - Là trong lúc tâm các vị được thanh tĩnh vô vi, không thiên bên nào, và không chấp vào một vật gì, cũng là trong lúc đó các vị không chấp vào hình tướng, tâm không bị cảnh vật bên ngoài làm chi phối lung lay, lúc này tâm các vị đã đạt đến thanh tĩnh vô vi không chút vọng cầu, đó chính là “Trung Đạo”, cũng chính là tự tánh Phật được bộc phát ra. Cho nên, không chấp vào hình tướng, cũng là lộ ra cái chân ngã của mình! Nếu như các vị chấp vào hình tướng thì sẽ vĩnh viễn lưu lãng trong sanh tử, tuyệt đối không thể thành đạo được!
  • 58.
    15 Điều PhậtQuy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG 57 Tử Tư Phu Tử Giáng: Tử tâm đạt Đạo thông huyền quan Tư khảo huy hào quyền tục hoàn Phu đức vô khuy chân lý kiến Tử thừa khiếu quyết độ linh tàn. Lại đề thơ: Mạc chấp nhân gian hữu dữ vô Trước mê kì lộ âm ti xu Hình hài khu thể chung quy ước Tướng dục tảo khai bộ chánh đồ. Giảng giải về “Mạc Trước Hình Tướng” Ơn trên vốn dĩ không âm thanh, không mùi vị, đã không có mùi vị lại không có âm thanh, thì có hình tướng
  • 59.
    15 Điều PhậtQuy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG 58 gì có thể chấp. Con người từ nhỏ, sống trong thế giới hình tướng, vì vậy cái nhìn thấy đều là hình tướng. Do đó cho rằng hình tướng này là thật, không biết được hình tướng này là giả.Vì vậy chấp trước ở thế giới này, sinh sinh tử tử, không thể thoát khỏi phàm giới, luân chuyển không ngừng.Nhận giả làm thật, vì vậy người tu đạo, đối với nhận thức hữu hình vô hình, cần phải hiểu triệt để. Phàm phu chỉ biết vật không biết lí, hiền nhân chỉ biết lí chưa đạt lí, thánh nhân vừa hiểu lí vừa đạt lí. Vật thì hữu hình, lí vô hình. Vì vậy “Mạc Trước Hình Tướng” được liệt vào mục thứ 9 trong quá trình tu Đạo. Tu thân chớ đừng chấp trước hình tướng, chấp trước vĩnh viễn không thể thấy Đạo.“Duy thiên hạ chí thánh, mới có thể thông minh duệ chí, túc dĩ hữu lâm dã”. Thông minh sáng suốt mới có thể thấy được hư thực, sự to lớn của Đạo, làm chủ tể muôn loài. Vô mới có thể thống trị vũ trụ vạn tượng, cũng gọi là thành, thành mà đạt đến bất tức,tất cùng với trời đất đồng tham. Chí thành không ngừng nghỉ, không ngừng nghỉ thì dài lâu trường cửu. Cửu tắc trưng, trưng tắc du viễn, du viễn tắc dày rộng, dày rộng tắc cao minh.
  • 60.
    15 Điều PhậtQuy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG 59 Dày rộng có thể chở vật, cao minh có thể che chở vật, dài lâu có thể thành vật. Dày rộng phối đất, cao minh phối trời đất, dài lâu không ranh giới. Như thế không thấy mà vẫn sáng sủa, bất động mà vẫn đổi thay, vô vi nhi thành. Đạo của trời đất dày, rộng, cao, minh, du, cửu. Những công dụng này đều là trong vô hình, vì vậy chấp tướng tu đạo vĩnh viễn là phàm phu, không thể thấy Đạo. Nếu như chấp tướng tu Đạo, tọa thiền đả tọa, nhận giả làm thật, gõ mõ niệm xướng, thấy vật tùy duyên, coi trọng thành đạo, nghĩ công đức nhiều, tâm tự tư lớn, đây đều là “Mạc Trước Hình Tướng”. Thánh Hiền đảo trang mê chấp hình tướng, trầm luân làm phàm phu. Phàm phu gặp cảnh không chấp trước, không bị cảnh mê, phối đức cùng trời đất, hợp với ánh sáng của nhật nguyệt, hợp với trình tự 4 mùa, hợp với cát hung của quý thần, tắc là Thánh Hiền. Vì vậy hình và tướng, tất mê cảnh của chốn nhân gian, chấp vào cái này thì là nhân gian, không chấp thì là thiên đường. Không chấp tướng, không ngoan không, vạn tượng như như, vô thanh vô xú, cũng là sự nâng đỡ của ơn trên.
  • 61.
    15 Điều PhậtQuy MẠC TRƯỚC HÌNH TƯỚNG 60 Hổ Thẹn Làm người nếu như không biết hổ thẹn. Thế nào là sự hổ thẹn của con người? Không hiếu, không trung tín, không lễ nghĩa, không liêm tiết, đều là điều đáng xấu hổ. Tu đạo không biết trung đạo là sự xấu hổ của Đạo. Cái gì gọi là sự xấu hổ của Đạo? Đạo có thể hành mà không hành, đây là điều hổ thẹn. Không thể hành mà hành, đây cũng là điều hổ thẹn của người tu đạo.
  • 62.
    15 Điều PhậtQuy THỦ TỤC TẤT THANH 61 Cổ thư nói: “Một văn tiền nhà Phật, lớn như núi Tu Di, giản dối không thành thật báo cáo, đội lông mọc sừng mà trả”. Đồ đệ các trò có hiểu không? Tại sao tiền của nhà Phật, vốn là tiền mồ hôi của chúng sinh, dù cho là rất ít, cũng là tấm lòng thành của người thí chủ mà có, nhưng lúc đã thành tiền của nhà Phật rồi, thì nó lớn tựa núi Tu Di vậy! Cho nên, nếu có người hành tài thí, tuy là trò chỉ xài có một đồng đi chăng nữa, chỉ một ý niệm của lòng tham, không có khai báo thật thà, thủ tục không được rõ ràng, thì tự nhiên phải chịu sự nhân quả báo ứng, thậm chí kiếp sau phải làm thân trâu ngựa để trả. Cho nên, các đồ đệ ơi, những món đồ vật hoặc tiền tài do Đạo thân hành công, nhất định phải thật rõ ràng, không thôi sẽ khởi lên lòng tham, hành sự sẽ hồ đồ, không giữ được lòng liêm sĩ, thì sau này sẽ rất khổ sở, điều này Thầy nhắc nhở các trò phải nên cẩn thận! 10. THỦ TỤC TẤT THANH (Nhĩ Sư Cuồng Tẩu Từ Huấn)
  • 63.
    15 Điều PhậtQuy THỦ TỤC TẤT THANH 62 Vì luật Trời rất nghiêm ngặt, cho đến sợi tơ cũng phải rõ ràng. Ở trên Trời mỗi người đều có một quyển sổ, cuốn sổ đó ghi rất rõ ràng từng li từng tí những hành động của các trò, và tuyệt đối không để sơ sót dù chỉ nhỏ như sợi tơ. Cho nên, sau này trong Phật đường, có người hành công bằng đồ vật hoặc tiền tài, các trò nhất định phải khai báo thật rõ ràng, không được hồ đồ, như vậy mới là “Thủ Tục Tất Thanh”, và mới có huy vọng thành Phật được đấy! Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát Giáng: Đại Đạo vô tư lục hợp công, Thế gia phú tục chung quy không Chí tôn chí quý tam kì quyết Bồ tát hành công hóa đại đồng. Lại đề thơ: Thủ bão hài nhi trì đạo hành Tục tốc bất đoạn chí kiền thành Tất nhiên thành quả siêu huyền tổ Thanh chánh liêm minh thượng lí diên.
  • 64.
    15 Điều PhậtQuy THỦ TỤC TẤT THANH 63 Giảng giải về “Thủ Tục Tất Thanh” Làm người nếu như thủ tục không được thanh bạch rõ ràng, thì sẽ là người hồ đồ. Người hồ đồ sẽ làm ra những việc hồ đồ, tất nhiên sẽ tạo nên sự khiếm khuyết trong nhân cách của bản thân. Người tu đạo trước tiên cần phải thanh liêm nhân cách của bản thân, mới có thể tiến bước trên con đường tu đạo, vì vậy “Thủ Tục Tất Thanh” được liệt vào mục thứ 10 trong phật quy. Thế nào là “Thủ Tục Tất Thanh” ? Là chỉ một người đối với việc công, việc của người khác, thậm chí đối với việc tự bản thân mình phải gánh vác, làm một cách trong sạch, thanh bạch, gọi là “Thủ Tục Tất Thanh”. Người tu đạo cần phải biết vượt khỏi thế nhân bình thường, mọi việc làm hành động, đều noi theo Thiên
  • 65.
    15 Điều PhậtQuy THỦ TỤC TẤT THANH 64 tánh, như vậy mới có thể thanh bạch, thanh chánh công Đạo. Nếu như không noi theo Thiên tâm mà làm, tâm tồn tham vọng mê muội tình ái tức là phản bội với Đạo, là thủ tục không thanh, trồng xuống ác quả sau này, nhân quả từ đây mà ra. Vì vậy viết: Muốn biết nhân đời trước thì hãy xem kết quả thọ báo của đời này, muốn biết quả sau này thì hãy xem việc làm đời hiện tại. Vì vậy người tu Đạo xử sự cần chí công vô tư, chớ đừng tham tài bất nghĩa, nên lấy mới lấy, không nên lấy chớ đừng lấy, thì hợp với “Thủ Tục Tất Thanh”. Người tu đạo thủ tục không thể thanh bạch, rõ ràng là do hạo nhiên của người tu đạo không đủ, vì vậy tâm động mà không thể tuân theo đạo. Vì vậy Mạnh Tử viết: “Phú quý không dâm, bần tiện không thay đổi, uy vũ không khuất phục, đây được gọi là bậc đại trượng phu”. Người tu Đạo không thể làm một bậc đại trượng phu thì uổng phí sinh vào tam kì. Mạnh Tử viết: “Có thể lấy, có thể không lấy, lấy làm tổn hại đến sự thanh liêm. Có thể cho, có thể không cho, cho làm tổn thương đến sự ân huệ. Có thể chết, có thể không chết, chết làm tổn hại đến đức dũng”. Vì vậy nhân sinh đời người, sinh tử là việc lớn, sinh tử là việc nhỏ, vì chánh nghĩa mà chết là việc vừa lớn vừa nhỏ. Lớn là cái
  • 66.
    15 Điều PhậtQuy THỦ TỤC TẤT THANH 65 chết có ý nghĩ, nhỏ là hy sinh tiểu ngã hoàn thành đại ngã, do đó đối với cái chết của bản thân là việc nhỏ. Tu sĩ thời tam kì, càng làm việc Đạo thì càng phải “Thủ Tục Tất Thanh” mới có thể hướng đến thế giới đại đồng, “Đại đạo chi hành giã thiên hạ vi công”. Nội Ma Thông Ngoại Quỷ Bên trong có ma thì lời nói và tâm đều là ma, quỷ bên ngoài gọi là ngoại ma, ngoại ma là tất cả vạn ma. Ma bên trong thông với quỷ bên ngoài cùng tụ họp, vì vậy nội tâm vô vật tức ngoại ma không thể dẫn, ma không thể xâm phạm. Trong tâm vô dục, thì dục vọng không thể dẫn, thì tà ma không thể nhập. Trong tâm không có rượu, thì rượu không thể làm người say. Trong tâm không có sắc thì sắc không thể làm người mê. Rượu không làm say người mà người tự say, sắc không thể mê người mà người tự mê. Tất cả ma khảo đều là do ma bên trong thông với quỷ bên ngoài, tâm ma thập xích ngoài ma một trượng, do đó tu đạo bắt đầu từ tâm mà tu.
  • 67.
    15 Điều PhậtQuy XUẤT CÁO PHẢN DIỆN 66 “Xuất” là ra, là rời khỏi. “Cáo” là báo cáo, bẩm cáo. “Phản” là phản hồi, trở lại. “Diện” là trả lời đối diện. Cái gọi là “Xuất Cáo Phản Diện”, đó là Tiền Hiền dặn dò những việc gì, bất luận lớn hay nhỏ, lâu rồi hay mới đây, đều phải ghi nhớ trong lòng, mà chăm chỉ đi làm, sự việc làm xong, phải bẩm báo lại rõ ràng, không được sai sót. Là người Hậu Học, một khi ra ngoài làm việc, nên thỉnh thị Tiền Nhân, bẩm báo Tiền Nhân, với tấm lòng thành thỉnh cầu chỉ thị, tiếp thu sự chỉ đạo. Mỗi khi đi đâu trở về, đều phải mau mau bẩm báo lại mọi sự việc đã làm như thế nào, để khỏi sự lo lắng bận tâm của Tiền Hiền. Điều Phật quy này là để nhắc nhở người tu hành đối với người phải tận trung, đối với sự việc phải tận trách nhiệm, đồng thời trên dưới có tôn ti trật tự, ra vào có Lễ. Như vậy, sự việc nào cũng được “Xuất Cáo Phản Diện”, dặn dò bàn giao tốt đẹp, đó là cái Đạo nhân luân, mới không thiếu sót. 11. XUẤT CÁO PHẢN DIỆN (Hồ Ẩn Thiền Sư Từ Huấn)
  • 68.
    15 Điều PhậtQuy XUẤT CÁO PHẢN DIỆN 67 Cũng như chín sáu ức Nguyên Phật tử thừa nguyện mà xuống trần gian, lúc ra đi có báo cáo, khi trở về phải đối diện bẩm báo. Là lúc ghi tên vào tờ biểu văn, từ lúc đó vấn vương Mẫu Nương, không quên nơi Vô Cực, cho nên giờ phút nào cũng nhớ tới Vô Sanh Lão Mẫu, người nào luôn luôn tận tâm tu Đạo bàn Đạo, mới thật sự hiểu được ý nghĩa sâu xa của “Xuất Cáo Phản Diện”. Nguyệt Huệ Bồ Tát Giáng: Nguyệt bạc tinh quang tứ hải minh Huệ thông tam giới khả siêu sanh Bồ đề tự tánh bổn thanh tịnh Tát đỏa tụ chúng sinh tận mẫu linh. Lại đề thơ: Xuất môn bảo thủ đạo chân dương Cáo thị quần thái bả lí chương Phản tỉnh phụng hành thiện mạc đại Diện dung chánh sắc diệu đoan trang.
  • 69.
    15 Điều PhậtQuy XUẤT CÁO PHẢN DIỆN 68 Giảng Giải “Xuất Cáo Phản Diện” Trời có luật trời, người có quy củ, không theo quy củ*, không thể thành hình vuông hình tròn. Xuân đi hạ đến, hết mùa hạ lại sang mùa thu, thu qua đông tới, hết đông lại quay về mùa xuân, đây là quy luật nhất định. Con người không thể một đi không quay trở về, do đó ra khỏi cửa phải nói cho trưởng bối biết, trở về liền báo với bề trên, mới là viên mãn, đây là quy luật của con người, cũng là một phần của lễ. Do đó “Xuất Cáo Phản Diện” được liệt vào hạng mục thứ 11 trong quá trình tu đạo. (*Quy là compa dùng để vẽ hình tròn, cái củ là dùng để vẽ hình vuông.Người xưa mượn hai vật này để nói đến quy củ, phép tắc.)
  • 70.
    15 Điều PhậtQuy XUẤT CÁO PHẢN DIỆN 69 “Xuất Cáo Phản Diện” không đơn thuần chỉ là lễ nghĩa trước sau trong tu đạo, mà trong xử sự của con người cũng cần giữ lễ tiết. Tu từ quốc gia cho đến bá tánh, đều lấy điều này mà hành đại đạo, thì tự có thể hướng về thế giới đại đồng. Câu văn này tuy đơn giản nhưng kỳ thực là nhân luân đại đạo tuyệt không thể thiếu một phần. Lấy chương này đối chiếu với bát đức, thì sẽ hiểu được tầm quan trọng của chương này. Ví dụ như chữ “hiếu” - Làm người con ra ngoài không nói với cha mẹ, trở về không chào hỏi cha mẹ khiến cho cha mẹ lo lắng thì bất hiếu. “Đễ” là chỉ bậc dưới, bậc hậu bối, khi ra vào không báo cáo,tất thất “đễ”. “Trung” là chỉ người làm bậc bề tôi đi và về không báo cáo,tất thất “trung”. Người nhỏ tuổi ra vào không nói với trưởng bối,tất thất “tín”, thất “lễ”, thất “nghĩa”, thất “liêm”, thất “sĩ”. Làm người thất tín thì làm sao có thể nói đến nghĩa, không có nghĩa thì làm sao có thể nói đến liêm, liêm không thể nói, tất không biết xấu hổ. Vì vậy tu đạo cần
  • 71.
    15 Điều PhậtQuy XUẤT CÁO PHẢN DIỆN 70 phải coi trọng lễ nghi giữ quy củ, ra vào tất cần phải báo cáo thì có thể đạt được sự viên mãn trong giao tiếp. Trời tạo ra vũ trụ tất có dụng ý, trời sinh ra con người tất có sứ mệnh. Con người sinh xuống thế gian này, thừa nguyện mà hạ phàm, làm việc Phật, độ tận cửu lục, trở về quê hương cũ, đi đã nói thì cũng phải trở về trình diện, đây là việc “Xuất Cáo Phản Diện” của phật tử. Khổng Phu tử nói: “Phụ mẫu tại bất viễn du, du tất hữu phương”. Câu này ứng với việc tu đạo mà nói, con người biết được Mẹ của linh tánh thì không thể đi xa. Đi xa là đã rời khỏi Đạo, bởi vì Đạo cùng tồn tại với Mẫu. Không đi xa tất cùng với Đạo, như đi xa tất có nơi đến, viễn du tức là hạ phàm, hữu phương là rộng độ chúng sanh. Lỗi của ai? Con người trong xã hội, một số người thì không vui vẻ, một số người thì vui vẻ, là vì sao? Là do Thiên Đạo còn chưa được lưu hành rộng rãi, Đạo chưa phổ biến rộng rãi là lỗi của người truyền đạo. Ai là người truyền Đạo? Là người hiểu Đạo, đều là người có thể truyền đạo, vì vậy con người có thể mang Đạo phổ biến rộng khắp, không phải Đạo mang con người phổ biến rộng khắp.
  • 72.
    15 Điều PhậtQuy BẤT LOẠN HỆ THỐNG 71 “Bất loạn” là không thể rối loạn. “Hệ” là sợi dây nối tiếp, cũng là đại biểu một dây Kim Tuyến. “Thống” là thống lãnh vạn vật, là Đại Đạo chánh tông, cũng là mỗi người trên mình vốn có tự tánh. Cho nên, cái gọi là “Bất Loạn Hệ Thống”, thật sự hàm ý chỉ mỗi một con người tu Đạo, không thể đi lệch và xa rời chánh Đạo, tất cả mọi việc đều lấy tự tánh làm chủ, không thể đi lầm vào tả Đạo bàng môn, đó mới thật sự là không loạn hệ thống. Nhưng sợi Kim Tuyến có hai dây, một dây thuộc Tiên Thiên, một dây thuộc Hậu Thiên. Kim Tuyến của Tiên Thiên là Thiên Mệnh, mọi người tự nhiên vốn có Thiên tâm tự tánh, có thể lấy tâm ứng tâm, mà tương thông với Trời, đó là Phật tâm. Cái tâm này, tại Thánh không tăng, tại phàm không giảm, lúc tâm con người thanh tịnh vô niệm, vô tư vô ngã, cái tâm lúc đó sẽ tự nhiên nối liền với Trời, Linh Tánh sẽ thông với Tiên Thiên, không rời một bước tức thì đạt tới Lý Thiên. Trong lúc này, sợi Kim Tuyến Tiên Thiên của các vị tự nhiên 12. BẤT LOẠN HỆ THỐNG (Linh Miệu Thiên Tôn Từ Huấn)
  • 73.
    15 Điều PhậtQuy BẤT LOẠN HỆ THỐNG 72 phát quang rực rỡ, những linh quang này chiếu rọi khắp tam thiên đại thiên thế giới, đến cả Kim Tuyến nhân sự của Hậu Thiên. Là do các vị nhiều kiếp có Phật duyên với Dẫn Bảo Sư, Điểm Truyền Sư và Tiền Nhân, mà vào Tam Kỳ mạt kiếp đại khai phổ độ này, nhân duyên lại được hội tụ, lại được gặp nhau, mới có cái nhân duyên tốt để cùng tu Đạo bàn Đạo. Đồ đệ các trò ơi! Vào thời kỳ mạt hậu lần cuối này, Cung Trường giả, Tổ Sư giả, nhộn nhịp bay ra khỏi lồng rồi. Chúng dùng các loại thần thông, hiển hóa để dụ dỗ người tu Đạo, đồng thời lấy cái giả mà làm rối cái chơn, lấy cái tà làm rối cái chánh. Thậm chí còn tự xưng là có Thiên Mệnh, mắt cá lộn với hạt châu, chơn giả lẫn lộn, để quấy nhiễu Đạo trường. Này các đồ đệ, vào thế cục loạn động này, về Đạo thì hỗn loạn, lòng người thì hiểm ác trong những năm này. Nếu các trò không thể nắm vững theo một đường Kim Tuyến, bước chân ổn định theo gót Tiền Nhân, đồng thời bên trong phải tu tâm tánh, an thân lập mạng. Nếu như có đại khảo nghiệm, đại nạn tới gần, thì các trò làm sao lòng được kiên định mà để tránh kiếp khỏi nạn đây? Cho nên nói: Các trò tu tới lúc tâm tánh đoan chánh, tà ma không thể xâm nhập vào, thì mới thật sự là “Bất Loạn Hệ Thống” đấy! Còn không,
  • 74.
    15 Điều PhậtQuy BẤT LOẠN HỆ THỐNG 73 tâm tánh bất chánh, tà ma xâm nhập, sẽ dễ dàng tin theo tả Đạo bàng môn, thì đối với Tiền Hiền, Dẫn Bảo Sư càng không được tôn kính. Cho nên một khi đường Kim Tuyến bị đứt đoạn, thì tánh mạng cũng khó bảo toàn. Tây Phương Viên Tính Phật Giáng: Tây lai nhất điểm chân huyền quan Phương thốn bảo điển thông vạn đoan Viên tính linh lung thập tự địa Phật tâm bất muội tức siêu phàm. Lại đề thơ: Bất ỷ bất thiên trung đạo tồn
  • 75.
    15 Điều PhậtQuy BẤT LOẠN HỆ THỐNG 74 Loạn hành tà kinh tuyệt thiên căn Hệ hệ kim tuyến nguyên nhân tiếp Thống soái thiện đồ phản lý viên. Giảng giải về “Bất Loạn Hệ Thống” Hệ thống cũng là trật tự của nhân sinh, nhân sinh sinh tồn có thứ tự thì là con người, sinh tồn không có thứ tự thì cũng như cầm thú. Do đó, hệ thống nói cách khác cũng có nghĩa là chỉ quỹ đạo. Trời không có quỹ đạo thì các vì sao tinh tú sẽ bị loạn, bốn mùa sẽ không đúng. Đất không có quỹ đạo thì vạn vật không thể sinh. Con người không có quỹ đạo thì ngũ luân bỏ phế, không có đạo đức, như máy bay rời khỏi không khí, xe lửa rời
  • 76.
    15 Điều PhậtQuy BẤT LOẠN HỆ THỐNG 75 khỏi đường ray, cũng giống như diều bị mất dây vậy, sự nguy hiểm sẽ xảy ra. Vì vậy “Bất Loạn Hệ Thống” là bước thứ 12 trong tu hành. Hệ thống tức là trời, đất là đất, bậc trên là bậc trên, cha ra cha, con ra con, huynh là huynh, em ra em. Loạn tức là trên thế gian tất cả đều không còn trật tự, chiến tranh liền xảy ra, trời đất đại loạn, vua không ra vua, thần không ra thần, cha không ra cha, con không ra con, trưởng không ra trưởng, ấu không ra ấu. Tu đạo cũng như vậy, người đi trước là người đi trước, người đi sau là người đi sau, trời đất quốc gia đều có trình tự. Là sự khởi đầu của người tu đạo, tuân theo trình tự hệ thống này, thì sau này đệ tử bạch dương mới có thể tu được viên mãn. Vạn Nhà Thành Phật Chúng ta không thể đem gia đình của chúng ta thành một thiên đường, thì khó giúp gia đình của người khác tạo thành thiên đường. Nếu đem toàn bộ nhân gian kiến tạo thành thiên đường. Đây gọi là xây dựng Phật quốc tại cõi sa bà, thiên đường ở tại nhân gian.
  • 77.
    15 Điều PhậtQuy ÁI TÍCH CÔNG VẬT 76 Công vật là đồ vật của tập thể, ví như đồ vật của Phật đường hay Phật gia đều là đồ vật của tập thể, trò có giữ gìn và quý trọng nó không? Đồng thời phải sử dụng cho tốt, có thể phát huy tác dụng giá trị của nó, như vậy mới là quý trọng của công. Hay là các con có thể mang nó về nhà làm đồ riêng tư của mình được không? Này đồ đệ, trước đã có nói tới điều Phật quy “Thủ Tục Tất Thanh”, các trò cần phải biết “Tiểu tham bất phòng, đại quá tất thành*!” Cho nên đồ vật của công tuyệt đối không thể xem là của riêng hoặc tùy ý đi phá hoại nó. Ngoài ra, những vị Điểm Truyền Sư, Giảng Sư trong Phật đường thay Trời tuyên hóa, cùng các vị Bàn sự nhân viên, trò có yêu quý và bảo hộ họ không? Có đối với họ bất lễ phép không? Trong lời nói có ngỗ nghịch với họ không? Cần phải biết rằng, nếu như đối với họ có tôn kính lễ phép, là yêu quý bảo vệ của công đó. Tại vì họ thay Trời tuyên hóa, thuộc về người của Trời, nếu như các vị không tôn kính, không yêu quý bảo vệ họ, 13. ÁI TÍCH CÔNG VẬT (Tế Điên Thánh Tăng Từ Huấn)
  • 78.
    15 Điều PhậtQuy ÁI TÍCH CÔNG VẬT 77 vậy thì không thể cho là quý trọng của công được. Huống chi còn ở sau lưng phê bình họ, chửi mắng họ, nếu như vậy thì càng nghiêm trọng hơn nữa. Cho nên, yêu quý của công không phải chỉ là yêu quý đồ vật trong Phật đường, mà còn phải yêu quý người trong Phật đường, phải thật tốt đối đãi với mọi người, đồng thời còn phải thương yêu lẫn nhau, cùng nhau giúp đỡ, cùng nhau khuyên nhủ, như vậy mới thật sự là yêu quý của công đấy! Đồ đệ ơi! Đạo lý này các trò tự mình suy nghĩ xem, nếu như yêu quý đồ vật trong Phật đường, tôn kính người trong Phật đường, đó là yêu quý đồ vật của Bề Trên, yêu quý người của Tiên Phật, thì cũng giống như yêu quý Tiên Phật Bồ Tát Bề Trên một thứ. Ngoài ra, người có thể ở bên cạnh mình, mình cũng phải yêu quý họ. Nếu không quý trọng họ, Bề Trên tự nhiên cũng không xoay chuyển nhân tài đến với mình, như vậy Đạo vụ làm sao mở rộng được, và bàn Đạo cho tốt được đây? Cho nên người đi trước phải yêu quý người bên cạnh mình, phải lo cho họ lúc ăn thì phải ăn, lúc nghỉ ngơi thì phải nghỉ ngơi, lúc phải điều dưỡng thì nên điều dưỡng, cần phải biết có cái thể xác này mới có thể hành công, không có thể xác này thì làm sao hành công liễu nguyện đây?
  • 79.
    15 Điều PhậtQuy ÁI TÍCH CÔNG VẬT 78 Cho nên, nếu là Tiền Hiền thì phải yêu quý Hậu Học, không nên tùy tiện trách phạt họ, tại vì họ là của công của nhà Phật. Cho nên không yêu quý người bên cạnh mình, cũng là không yêu quý của công. Điều Phật quy này, các con hãy đi sâu tỉ mỉ mà lãnh ngộ hơn! Diệu Pháp Thiên Tôn giáng: Diệu ngộ huyền quan thập tự trung, Pháp luân thường chuyển thấu thương khùng Thiên tâm bất muội chí thành tại Tôn thánh hiệu hiền vạn đại đồng Lại đề thơ: Thọ hành thiện đạo quán tinh thần Tiếc khắc ngàn kim tu thử thân Công chánh vô tư tự tính hiện Vật tuy hữu sắc quy thiên căn Giải thích về “Ái Tích Công Vật” Nói về vật chất nhân gian, là thế giới vật chất. Thế giới này cho rằng vật chất hiếm, ít thì quý
  • 80.
    15 Điều PhậtQuy ÁI TÍCH CÔNG VẬT 79 trọng, cái gì nhiều thì cho là rẻ mạt, tiếc của quý, coi thường của rẻ. Lấy vật đổi vật, thích của quý bỏ của rẻ, hình thành thế giới xa hoa, các cuộc đấu tranh đa phần cũng vì vật chất mà nổi dậy. Lão Tử nói: “không quý của khó được, khiến dân không trộm cắp, bất kiến khả dục, khiến tâm bất loạn”. Vì có coi trọng của khó được, thì sẽ khởi tâm coi trọng tự tư cá nhân mà coi thường của công, đây đều là bội nghịch lại bổn lai thiên tâm. Vì vậy “Ái Tích Công Vật”, là điều mục không thể xem thường, do đó được liệt vào hạng mục thứ 13 trong quá trình tu đạo. Con người tại thế tuyệt không thể tự tư mà thiếu tâm công đức, huống gì người tu đạo không giữ tâm công đức, ái tiếc đối với công vật, coi vật công như của mình, bảo dưỡng nó mới là “Ái Tích Công Vật”. Nếu như không có tâm công đức, tùy ý phá hoại công vật, không thể được hoàn chỉnh, trân tiếc ái hộ, thì làm sao có thể đạt tới chân thực tu hành, như vậy là tự tư tự lợi, thì nói gì đến tu đạo. “Ái Tích Công Vật”, là đức tính đẹp của thiên tánh, đối với công vật không thể không trân tiếc, bỏ công trọng của tư là việc đáng hổ thẹn. Từ xưa đến nay, không ai được xưng là Thánh Hiền Tiên Phật mà không ái tiếc công vật.
  • 81.
    15 Điều PhậtQuy ÁI TÍCH CÔNG VẬT 80 Hoành Lượng Bản Thân Bồ tát có tâm bồ tát, con người có nhân tâm, ma quỷ có tâm ma quỷ. Trong tâm chỉ có bản thân là tư tâm, tâm hại người, tâm tàn khốc, tự mình hiện tại chính là ma quỷ, sau khi chết cũng là ma quỷ. Tâm của mình có thiện có ác, được thì hoan hỷ, mất thì đau khổ, tuy không hại người nhưng cũng không lợi người. Tuy có lợi cho người, cũng chỉ vì danh dự, người như vậy hiện tại là người sau khi chết là ma quỷ. Còn nếu như trong tâm là tâm từ bi, thấy người đói cũng như ta đói, thấy người bị trầm mê cũng như ta bị trầm mê, người khổ cũng như ta bị khổ, người vui ta cũng vui, toàn vì lợi ích cho chúng sanh mà làm, thì bản thân hiện tại chính là Bồ Tát, sau khi chết cũng là Bồ Tát.
  • 82.
    15 Điều PhậtQuy HOẠT BÁT ỨNG SỰ 81 Phật quy thật sự là Đạo, vì nó sống động, không có cố định, vốn tùy theo nhân duyên bên ngoài mà thay đổi nhưng vẫn giữ trung Đạo, sống mãi không ngừng. Cho nên người tu Đạo phải có tâm hoạt bát linh động, không được bảo thủ cố chấp mà không chịu thay đổi. Thí dụ, có một số việc phải làm, như Tiền Hiền đi vắng, trước đó không thể bẩm báo và quyết định, mà sự việc đã đến, đồng thời việc rất hệ trọng, không thể chần chờ được, phải lập tức giải quyết, lúc đó các trò cũng phải học biết đối diện và đảm đương sự việc đó, kịp thời xử lý, nếu không, ắt hại người lỡ việc, cũng là có tội lỗi. Này đồ đệ, các trò nhất thiết phải ghi nhớ, việc làm và hành vi của mình, chỉ cần đối trên thì hợp với Thiên tâm, đối dưới thì có lợi ích cho chúng sanh. Cũng là tất cả sự việc có ích cho chúng sanh, trò đã làm dù không được Tiền Hiền tha thứ, thậm chí còn bị quở trách, trò vẫn có thể cân nhắc mà đi làm. 14. HOẠT BÁT ỨNG SỰ (Đạo Tế Thiền Sư Từ Huấn)
  • 83.
    15 Điều PhậtQuy HOẠT BÁT ỨNG SỰ 82 Tại vì chúng ta làm việc là việc của Bề Trên, là thay thế Bề Trên làm việc, chứ không phải làm việc cho người nào, mà là làm việc siêu sanh liễu tử đại sự của chúng sinh, không phải làm việc nhỏ của nhân gian. Cho nên sự việc đến không thể chần chờ để lỡ việc, chỉ là mình có tấm lòng Bề Trên, lòng công bằng, thì dù Tiền Hiền đi vắng, mình cũng có thể đi đảm đương. Chỉ cần chúng ta có tấm lòng khí độ, là đối với Bề Trên không phải đối với người, Bề Trên sẽ tự nhiên tha thứ bỏ qua. Huống chi pháp là vô định pháp, chúng sinh có tám vạn bốn ngàn loại tâm, thì các trò cũng phải có tám vạn bốn ngàn cái pháp, phải học được dù bất cứ chỗ nào lúc nào.“Vật đến thì ứng, vật đi thì tịnh”, nắm giữ tự tánh chân ngã, đối diện ứng phó với tất cả nhân duyên. Đồng thời vào lúc này, các trò phải học được “Ứng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, như vậy mới có thể là “Hoạt Bát Ứng Sự”, mới gọi là có cái trí tuệ tối cao. Này các đồ đệ, tâm của Phật là vô trụ, không bị nhiễm vật, còn tâm chúng sinh là vô thường, không thể vĩnh viễn không thay đổi. Cho nên phải dùng mọi thứ pháp để độ mọi thứ tâm, để cho mỗi một chúng sinh đều được trở về Vô Cực Lý Thiên, như vậy là các trò phải có trí tuệ, để mà suy nghĩ vấn đề này.
  • 84.
    15 Điều PhậtQuy HOẠT BÁT ỨNG SỰ 83 Thái Ất Chân Quân Giáng: Thái cực mê hồn lục đạo luân Ất xưng giáp thứ diệc nhân thần Chân tâm chân kiến bổn lai tính Quân đức siêu sinh thoát tục trần. Lại đề thơ: Hoạt động thể khu đạo tại trung Bát bỉ vô lại chung thành không Ứng tu phẩm đức viên dung đạo Sự bàn linh lung kiến đại công.
  • 85.
    15 Điều PhậtQuy HOẠT BÁT ỨNG SỰ 84 Giảng giải về “Hoạt Bát Ứng Sự” “Hoạt Bát Ứng Sự” là xử sự một cách nhanh nhẹn, không để lại một chút khuyết điểm. Đây đều là dựa theo trí tuệ mà làm việc, làm việc Phật đều lấy tài năng viên mãn mà không khiếm khuyết. Vì vậy tu đạo lấy điều này làm điều phật quy thứ 14 . Người tu đạo cần đề túc tinh thần, tinh ích cầu tinh, ứng phó sự việc một cách nhanh nhẹn. Tuyệt không làm việc ời hợt, trong quá trình tu đạo, nếu như gặp khảo nghiệm hoặc, tinh thần ứng phó, gió mưa trở ngại, hoạt bát ứng phó, tuyệt không động một phần tâm. Cần là lập tức làm, mỗi người gánh vác mỗi trách nhiệm, làm được tận thiện tận mỹ, nếu như gặp khốn nạn ý chí tiêu trầm, tinh thần ủy mị không phấn khởi, không thể “Hoạt Bát Ứng Sự”. Bạch Dương tu đạo, đối với “Hoạt Bát Ứng Sự” vô cùng quan trọng, vì người tu đạo ở tại gia đình tu hành, do đó gặp nhiều phiền não khó khăn.Nếu như không “Hoạt Bát Ứng Sự”, tự tánh phát trí huệ. Không qua tạo tác mà có thể hợp với đạo, mới là chân chánh hoạt bát ứng sự. Cảnh Giới Người tu đạo gặp cảnh mà có thể chuyển cảnh thì là ngộ, người tu đạo gặp cảnh mà bị cảnh chuyển thì là mê.
  • 86.
    15 Điều PhậtQuy HOẠT BÁT ỨNG SỰ 85 Gặp cảnh chuyển cảnh như người cưỡi ngựa, gặp cảnh bị cảnh chuyển thì như người bị ngựa cưỡi.
  • 87.
    15 Điều PhậtQuy CẨN NGÔN THẬN HÀNH 86 Cổ nhân nói: “Ngôn giả tăng chi âm, hành giả tâm chi ảnh”, là lời nói có thể biểu đạt ra nội tâm từ đáy lòng của một con người, mà hành vi có thể phản ánh tâm tư của con người đó. Cho nên, trong lòng các trò nếu có tâm tư gì, thì bên ngoài sẽ có những lời nói và hành động như thế. Ngược lại, nếu như trong lòng không có tâm tư, thì tự nhiên cũng sẽ không có lời nói và hành động biểu lộ. Vì thế, những lời nói và hành vi có thể phản ánh tự nhiên cái tâm tánh. Cho nên mỗi lời nói, mỗi hành vi của trò, cũng là đại biểu hiện tại con người thật sự của trò đấy! Mà Đạo không thể rời thân dù trong giây lát, hơn nữa Trời không ngôn, đất không ngữ, sự tôn quý của Đạo là phải ở trên người các vị được biểu hiện ra. Như vậy, các vị làm sao có thể không cẩn thận về lời nói và hành vi của mình, lại có thể không tôn kính Tiên Phật trong bản thân mình sao? Huống chi Thiên có Thiên luật, Quốc có Quốc pháp, Phật đường cũng có Phật quy cần giữ. Nếu như không cẩn thận về lời nói và việc làm, mà 15. CẨN NGÔN THẬN HÀNH (Tế Công Hoạt Phật Từ Huấn)
  • 88.
    15 Điều PhậtQuy CẨN NGÔN THẬN HÀNH 87 tùy ý tạo ra khẩu nghiệp, tạo ra tội lỗi, chẳng những làm tổn hại người khác mà rốt cuộc người bị hại lại chính là mình. Tại vì Bề Trên đối với mỗi một chúng sinh đều rất công bằng, đều là đại công vô tư, đều là “Công đức nhỏ không che giấu, sai lầm nhỏ tất phải tra kĩ”. Như vậy, trong cái thiết luật nhân quả báo ứng đó, đồ đệ các trò chẳng lẽ phạm vào tội lỗi mà không bị sự trừng phạt của Thiên luật hay sao? Cho nên, lời nói không được làm tổn thương người, hay làm bại đức, càng không thể dùng lời nói mà làm hư việc! Trò nên dùng lời nói ích lợi cho người, lời nói để thêm đức, và dùng lời nói để sự việc được thành! Nhất là người tu Đạo, khi nói ra càng nên nói những lời Chân lý, chỉ nói việc Thánh không nói thị phi, bất tạo khẩu nghiệp, khẩu vô tạp ngôn, bỏ đi những cái cười vô ích. Như vậy mới thật sự là cẩn ngôn, mà thận hành thì cũng một thứ. Trò không phải chỉ có ngôn hành hợp nhất, mà thân còn phải là một gương mẫu. Trò còn phải lấy cái thân này để biểu lộ ra cái Đạo, thay trời tuyên hóa, nơi nào cũng lấy Thiên tâm làm tâm. Việc nào cũng lấy chúng sinh làm đầu, thời thời phải rụt rè thận trọng (chiến chiến cạnh cạnh), tự mình giữ gìn
  • 89.
    15 Điều PhậtQuy CẨN NGÔN THẬN HÀNH 88 cẩn thận, tâm giữ cho nghiêm cẩn, thân ít phạm lỗi. Như vậy có nói đến đầy trời cũng không tạo khẩu nghiệp, đi khắp thiên hạ cũng không có người oán ghét, mới đúng là một người thay trời tuyên hóa, lập thân hành Đạo đấy! Bổn Đường Chánh Tuần Sát Hoàn Hậu Đại Đế Giáng: Thập ngũ điều quy lí chánh chân Đắc thư huyền quyết ích tâm thân Quán châu chí lực trợ thiên đạo Chỉ dẫn mê ngộ hóa tục tân. Lại đề thơ: Cẩn tu chánh đẳng lại nam bình Ngôn thủ thanh quy chí lí trăn Thận đức kiến công vô thác quá Hành đoan phẩm chánh thoát phàm nhân. Giảng giải về “Cẩn Ngôn Thận Hành” “Cẩn ngôn” tức là cẩn thận lời nói, lời nói không gây ra lỗi. “Thận hành” là chú ý đến phẩm đức, hành động không gây thù oán.
  • 90.
    15 Điều PhậtQuy CẨN NGÔN THẬN HÀNH 89 Người tu đạo, lời nói không cẩn thận, hành vi không ngay thẳng thì thành tu đạo gì. Vì vậy “Cẩn Ngôn Thận Hành”, là điều phật quy thứ 15 trong tu đạo. Tu đạo đều biết, họa từ miệng ra, nói nhiều tất tạo lỗi, vì vậy dưỡng khẩu thì tâm thanh tịnh. Lời nói vô lí không được tùy tiện phát ra. Lời nói không tốt tuyệt không tùy tiện nói ra. Lời nói chiêu tai họa tới cũng không được khinh xuất. Lời nói vụng về ác khẩu cũng chớ phát ra. Lời nói không hợp phép tắc cũng chớ nói ra. Lời nói ô uế cũng chớ nên nói. Không đúng người tuyệt không nói, thiên cơ không tiết lộ, quốc gia cơ mật không nói. Xuất khẩu thành chương, ngôn xuất là lí, thì là cẩn ngôn. Người thận hành tu đạo, thời thời khắc khắc chú ý phẩm đức, không làm việc phi lí, không đến nơi không nên đến, thủ phép tắc mà hành. “Tử Trương vấn hành, tử viết: lời nói trung tín, hành vi cung kính, dù ở xứ man rợ cũng thuận lợi. Người không
  • 91.
    15 Điều PhậtQuy CẨN NGÔN THẬN HÀNH 90 trung tín, hành vi không đốc kính, dù ở làng xã hay thành thị cũng không được thuận lợi. Khi đứng, cũng thấy sự trung tín trong lời nói và sự đốc kính trong việc làm hiện ra trước mặt. Khi ngồi xe cũng thấy có đức hạnh ở bên tay xe. Giữ được như vậy thì được thông hành. Tử Trương bèn ghi chép lời thầy mà đeo vào dây lưng”. Vì vậy người tu đạo hành vi tất cần đốc kính, người có thể giữ chữ tín, tắc lập đạo hỹ. Vì vậy lời nói chú ý hành vi, hành vi chú ý lời nói, tuyệt không thể coi thường Người tu đạo cần ghi nhớ hiểu được tầm quan trọng của cẩn thận trong hành vi, tuyệt không thể báng đạo. Phẩm hành không cẩn thận, mà làm ảnh hưởng đến danh tiếng của Đạo, đại đế pháp luật không dung. Việc tu Đạo, lời nói thiện lành giúp ích cho người, hợp khẩu đức. Lời nói không thiện lành còn gây tổn thương hại người, thì khẩu đức không có. Hành đạo lợi nhân hợp với thân đức, không hành thiện hại người tất thất đức. Do đó các đệ tử Bạch Dương cần phải cẩn thận lời nói, chớ đừng lơ là.Khi xưa “Nhan Tử phải quyền quyền phục ưng mà không phạm lỗi”, “ Tăng Tử 1 ngày 3 lần phản
  • 92.
    15 Điều PhậtQuy CẨN NGÔN THẬN HÀNH 91 tỉnh bản thân”, mới không phạm lỗi “Cẩn Ngôn Thận Hành”. ------------------***------------------ Trên đây thầy đã đem ý nghĩa thật sự của 15 điều phật quy lần lượt nói rõ qua. Hy vọng các đồ đệ có thể cố gắng tu, cố gắng bàn, đồng thời tuân theo đó mà đi làm, thầy đây đảm bảo chắc chắn rằng các con thừa sức để thành Đạo! Chỉ cần các con nhất thiết nhớ lấy, những điều phật quy này, là Ơn Trên đã định sẵn. Các con tuyệt đối không được tự mình định lập Phật quy, đặc biệt là ở thời kì mạt hậu này. Nếu như các con muốn bàn việc của Ơn trên, thì phải dựa theo hệ thống này - làm theo hệ thống 15 điều phật quy, thì có thể đem tất cả mọi việc, làm được thập toàn thập mỹ, làm được hợp với ý trời thôi. Còn đối với một số lễ tiết của cuộc sống hàng ngày, lễ nghĩa ra vào trong phật đường, tự các con có thể xem xét cân nhắc đắn đo sự việc mà làm. Nhưng 15 điều phật quy này vốn là lễ tiết để thành Phật, các con chỉ cần tỉ mỉ để mà tham ngộ, thành thật mà làm, thì sẽ hiểu được nó chính là chuẩn mực của tu Đạo, đường lối trật tự của bàn Đạo.
  • 93.
    15 Điều PhậtQuy CẨN NGÔN THẬN HÀNH 92 Các đồ đệ ơi! Các con nói 15 điều này quan trọng như thế, vậy các con làm sao không thể khẩn thiết ghi tạc trong lòng, nhận lấy chân lý thành thật mà tu chứ! Cuối cùng các con con phải ghi nhớ rõ trong quyển Thái Thượng Cảm Ứng có câu nói: "Họa phước không cửa, tự mình chuốc lấy, thiện ác báo ứng, như hình với bóng". Các đồ đệ ơi, tất cả những sự việc hành động của các con rốt cuộc là phước hay là họa, đều toàn ở chính bản thân con, và Ơn trên thì không có chút gì mà không soi xét, không có tí gì mà không ghi chép lại. Cũng giống như khi, ngay tại lúc này các con tồn giữ một ý niệm thiện. Trời sẽ xoay chuyển điều lành cho con, con tồn giữ một ý niệm tà ác, tự nhiên trời cũng sẽ trừng phạt con. Tuy là con mắt thường không nhìn thấy được, báo ứng cũng không nhất thiết lập tức sẽ đến, nhưng luật trời thì rất vô tư, thiện ác tất sẽ có báo. Trong thời kỳ màn cuối này Thiên thời khẩn cấp, lòng trời khảo nghiệm lòng người, là thời khắc thiện ác sẽ được phân ra rõ ràng. Các đồ đệ ơi, các con có thể phàm là việc gì đều không cẩn thận, không tỉ mỉ, kiềm giữ được chính mình, tu đến giây phút cuối cùng mà vẫn một lòng như vậy không thay đổi không?
  • 94.
    15 Điều PhậtQuy CẨN NGÔN THẬN HÀNH 93 Trong giây phút sắp phải chia tay, Thầy đây không có gì có thể để tặng cho các đồ đệ yêu của thầy. Thầy đây chỉ có thể âm thầm mà chúc phúc các con, mỗi một người đều có thể "ôm giữ tấm lòng lúc ban đầu, đế báo ân và liễu nguyện" mà quay trở về Vô cực Lão Mẫu nha! Có được không? Tạm biệt nhé! Các đồ đệ!
  • 95.
    10 Điều ĐạiNguyện GIỚI THIỆU 94 “Mười điều đại nguyện” chính là mười điều nguyện mà đệ tử Bạch Dương trong lúc cầu Đạo ngày hôm cầu Đạo đã lập ra, lập nguyện thì phải liễu nguyện. Hành nguyện, mới có thể dẫn dắt mọi người đi tu thật sự, liễu nguyện, mới có thể thành Đạo thật sự. Mười điều nguyện lớn của lúc cầu Đạo là gốc rễ căn bản của việc tu Đạo thành Đạo. Những chân lí trong đó quả thật là vô cùng quý báu. Nếu mọi người đều có thể dựa theo những trọng điểm đã phê thị, thật tốt mà tinh tiến thực hành. Và đem hồng thề đại nguyện lượng sức tận tâm mà đi làm, thật sự đem mười điều nguyện lớn trong nhị lục thời (24 tiếng trong ngày) liễu liễu phân minh, dung nhập vào trong những luân thường hằng ngày dùng đến và trong việc tu bàn đạo thì tất nhiên có thể thành tựu ngay trong kiếp này. Khôi phục lại tự tánh phật ngây thơ gốc ban đầu mà chuyển trở về ngôi nhà Tiên Thiên. 10 ĐIỀU ĐẠI NGUYỆN
  • 96.
    10 Điều ĐạiNguyện THÀNH TÂM BẢO THỦ 95 Sau khi cầu đạo thời thời kiên trì giữ vững bổn tâm thanh tịnh, niệm niệm đều hồi quang phản chiếu, thời thời bảo giữ phật tánh thanh tịnh Minh Sư nhất chỉ điểm. Cho dù là phú quý vinh hoa hoặc là lúc hoạn nạn, đều phải tùy thời mà an, không vì hoàn cảnh mà mê mất bổn tính, phát huy bổn tính nhân lễ nghĩa trí, từ bi hỉ xả, tùy duyên ứng hóa. TIÊN QUAN TỪ BI Tu đạo, phải thành tâm, người thuộc “Thượng Sĩ” nghe thấy Đạo, là quyền quyền phục ưng, không rời khỏi trong giây phút, đó chính là ý tóm lược về thành tâm bảo thủ. 1. THÀNH TÂM BẢO THỦ
  • 97.
    10 Điều ĐạiNguyện THÀNH TÂM BẢO THỦ 96  Người thuộc “Thượng Căn” gặp được chơn Đạo, là dựa vào cái tâm vô chấp, hành cái Đạo vô vi, tinh tấn không trì trệ, trước sau như một. Khi thuận cảnh là không chìm, khi nghịch cảnh là không biến.  Người thuộc “Trung Căn” là luôn với tâm hư không, mà thành tâm triển khai. Hễ việc thiện là làm, hễ việc ác là không làm, chân đạp đất thật sự (thật sự đi làm).  Người thuộc “Hạ Căn”, là không giả danh ở bề ngoài. Không làm đại để ứng phó, không làm qua loa để lừa dối, thành thành khẩn khẩn như thế, chỉ sợ tự dối mình mà lừa dối người ta, thì khớp với cái nguyện “Thành Tâm Bảo Thủ” rồi.
  • 98.
    10 Điều ĐạiNguyện THÀNH TÂM BẢO THỦ 97 TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN Bôn tẩu khắp nơi trông giữ đạo trường, khổ khẩu bà tâm kể tiếng lòng. Chẳng sợ gian nan đi bôn tẩu khắp nơi chính là vì để canh giữ Đạo Trường, mục tiêu là phải hoằng dương Đại Đạo, dùng tấm lòng nhân từ, thiện ngôn khẩn thiết khuyên giải dẫn Đạo, mục tiêu là để nói tiếng lòng độ chúng sanh đấy ! THAN TU ĐẠO CHẲNG THÀNH TÂM, HỒ HỒ ĐỒ ĐỒ QUA THÁNG NGÀY Điều thứ nhất cảm than là đã có duyên đắc được đại đạo bảo quý, nhưng lại chẳng biết thành tâm bảo thủ thật tốt mà tu đạo, vẫn là qua những tháng ngày say mộng sanh tử, lãng phí thời gian của đời người trôi qua một cách mơ mơ hồ hồ. Hồng thệ đại nguyện tùy miệng lập, thử hỏi có ai theo nguyện hành ? Lúc bấy giờ khi cầu Đạo, đều thành tâm cung kính quỳ dưới tòa sen của Minh Minh Thượng Đế, đã biểu bạch lời thề nguyện lớn tu Đạo. Thế nhưng thử hỏi lại có mấy ai có thể sau khi cầu Đạo thì thật sự thành khẩn chân thành, thành tâm thành ý phục tùng, ghi nhớ kĩ trong tâm, dựa theo lời thề nguyện đã lập mà chơn tu thật hành đây?
  • 99.
    10 Điều ĐạiNguyện THÀNH TÂM BẢO THỦ 98 Miệng suông lập nguyện chẳng đi liễu, gạt người dối trời gạt quỷ thần. Nếu như chỉ là phát nguyện trên đầu môi chót lưỡi, chớ chẳng nghiêm túc theo mười điều nguyện lớn đi thực hành, vậy lẽ nào chẳng phải là đã dối lừa Tiền Hiền Đại Chúng, sự dẫn độ khổ khẩu bà tâm và sự khai ân thành toàn của ơn trên và các quỷ thần hộ đạo ? Mong rằng các đệ tự hỏi lòng, lẽ nào chẳng sợ tội gánh thân. Kì vọng các hiền đệ muội hãy bình tĩnh hỏi lương tâm mình, lẽ nào các vị không sợ trong vô hình trung đã gánh lên tội lỗi đầy mình đó sao ? Chớ có bảo rằng hiện giờ vẫn chưa gặp quả báo, lúc ứng kiếp rồi hãy tự xem xét phân biệt, tuyệt đối chớ tưởng rằng trước mắt cũng vẫn chưa gặp phải quả khổ gì. Liệu có biết rằng một khi đại kiếp lâm đầu, tự nhiên sẽ tùy theo tất cả những hành vi cử chỉ việc làm của mỗi người mà họa phước phân rõ ràng. Không tin thì hãy khảo tra lại những chuyện ngày xưa xem, lưới trời lồng lộng nào có tha cho một ai. Nếu chẳng tin thì mọi người có thể nghiên cứu những sự tích rõ ràng mạch lạc có thể tìm thấy từ trước đến nay xem, luật trời nghiêm ngặt chưa từng buông tha qua cho bất cứ người nào mai một lương tâm đâu !
  • 100.
    10 Điều ĐạiNguyện THẬT TÂM SÁM HỐI 99 + Thực Tâm Sám Hối: Càn Đạo dễ phạm lỗi lớn, vì vậy phải tùy lúc phát hiện lỗi sai của thân tâm, thừa nhận lỗi sai, tiếp nhận chỉ giáo, lập chí sửa đổi, tuyệt đối không tái phạm, làm một con người mới, tiêu giải đi tội lỗi trong quá khứ. + Thực Tâm Tu Luyện:Thói hư tật xấu của nữ nhiều, vì vậy phải dũng cảm tiếp nhận sự ma luyện 2. (NAM) THẬT TÂM SÁM HỐI (NỮ) THẬT TÂM TU LUYỆN
  • 101.
    10 Điều ĐạiNguyện THẬT TÂM SÁM HỐI 100 của nghịch cảnh, không trốn tránh, không oán trách, để tu sửa đi tập khí của lũy thế, khôi phục bổn chất nhu hòa lương thiện của Khôn Đạo. Tiên Quan Từ Bi: Thường giữ cái ý niệm giác ngộ, soi thấu triệt “vô minh”, hễ có đám mây là tan ngay, không che lấp bổn tánh, biết lỗi là mạnh dạn sửa, hiểu được là điều không đúng, dám bỏ hẳn, thế này là ý sơ lược về thật tâm sám hối.  Người thuộc “Thượng Căn” là vô tâm vô niệm, không dấy lên tâm phân biệt, không dấy lên tà kiến, không vọng tâm, không khởi động ác niệm, làThật Tâm Sám Hối.  Người thuộc “Trung Căn” là không che giấu lỗi lầm của mình, luôn luôn tự suy xét lại, sửa lỗi tự chỉnh lại từ đầu, là Thật Tâm Sám Hối.  Người thuộc “Hạ Căn” là cứ không biết thì không lỗi.Hễ có người chỉ điểm là điều không đúng, thì thật tâm chỉnh lại cho thiện. Không với bộ mặt giả vờ lấy làm điều vinh hạnh, mà mạnh dạn nhận lỗi, sửa lỗi.
  • 102.
    10 Điều ĐạiNguyện THẬT TÂM SÁM HỐI 101 TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN THAN TU ĐẠO CHẲNG SÁM HỐI, TRANG SỨC CHE GIẤU TỰ TƯỚNG DỐI Thứ hai cảm than người tu Đạo chẳng chịu sám trừ những tội lỗi trước kia của mình, ăn năn hối lỗi cho những lỗi lầm của mình, lại cứ làm ra vẻ như chẳng có việc ấy để che giấu bản thân đi ngược lại với lương tâm ! Tự mình có lỗi chẳng chịu sửa, mở miệng toàn bàn chuyện thị phi đúng sai của người. Những thói hư tật xấu, tánh khí nóng nảy của bản thân, sự không thỏa đáng của lời nói hành vi cử chỉ chưa từng muốn thật tốt mà cải tiến. Vẫn cứ là mở miệng chỉ biết phê bình chỉ trích những thị thị phi phi của người khác. Người ta vẫn thường hay nói rằng người đến nói thị phi, người ấy chắc chắn thích thị phi. Tục thoại nói rất hay: Người ưa thích bới móc thị thị phi phi, bản thân người này chính là người đã sẵn thị phi. Mong rằng các đệ tử phải trách chính mình, có lỗi sai chớ sợ sửa ngay đúng. Mong rằng các hiền đệ phải dũng cảm phản tỉnh lại bản thân. Các bậc Thánh Hiền từ xưa
  • 103.
    10 Điều ĐạiNguyện THẬT TÂM SÁM HỐI 102 vẫn là không sợ việc sửa đổi bất kì những lỗi lầm của bản thân, chính là điều mà chúng ta nên noi theo đấy. Buông hạ đồ đao thành thể Phật, thất phu (người dân thường) lập chí gia nhập với Đất Trời. Những niệm đầu xấu và hành vi không tốt thì cũng giống như con dao đồ tể sẽ làm tổn thương người vậy, chỉ cần buông xuống chẳng chút do dự hoài nghi mà đến tu Đạo, nhất định có thể thành tựu quả Phật. Chúng sanh bình thường nếu lập xuống đại chí nguyện thành thật tu Đạo cứu thế độ người thì chắc chắn có thể phản chiếu với tinh thần của Đất Trời mà trường tồn bất hủ. Thiện ác cuối cùng vẫn có báo, thiên lí hiển nhiên có tha ai ? Luật nhân quả là công bằng chẳng lỗi nhất, hành thiện hay tạo ác, đến cuối cùng vẫn có báo ứng. Chân lí của ông trời hiển hiện một cách rõ ràng ở thế gian này. Hành thiện được phước, tạo ác gặp ương, từ xưa đến này có ai có thể được khoan thứ qua đâu ?
  • 104.
    10 Điều ĐạiNguyện HƯ TÂM GIẢ Ý 103 Chớ đừng có tâm không thật, tâm không chân, giả tạo mượn danh nghĩa đạo trường, để cầu lợi ích cá nhân, hoặc ứng phó nhân tình, làm biểu hiện bên ngoài, háo danh háo lợi, nói thị phi, xảo ngôn, … Ví dụ như: Rao bán sản phẩm, bảo hiểm, tuyên truyền lôi kéo bầu cử, tìm người bạn đời. Tiên Quan Từ Bi:  Mọi thứ mê hoặc ngu si, không thấy Phật tánh bản lai của mình, không biết về bổn tâm, không 3. HƯ TÂM GIẢ Ý
  • 105.
    10 Điều ĐạiNguyện HƯ TÂM GIẢ Ý 104 thể thường sanh trí tuệ, đều là Hư Tâm Giả Ý. Cho nên người thuộc “Thượng Căn” thường trụ trong “Pháp luân trí tuệ” mà giáng phục tà tâm.  Người thuộc “Trung Căn” là chặt đứt chuyện “lời nói không khớp với hành vi”, “miệng nói đúng nhưng trong tâm không đúng vậy”.  Người thuộc “Hạ Căn” là dứt hẳn việc mượn Đạo qua ngày, ngụy trang bề ngoài, có như thế là làm được điều nguyện này.
  • 106.
    10 Điều ĐạiNguyện HƯ TÂM GIẢ Ý 105 TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN THAN TU ĐẠO KHÔNG THỰC HÀNH, HƯ TÂM GIẢ Ý DỐI ƠN TRÊN Thứ ba cảm than người đắc Đạo, tuy đều biết rằng tu Đạo rất tốt, nhưng lại chẳng chịu đi chân thật mà làm một cách vững chắc thiết thực. Lúc đốt nhang khấu đầu vẫn cứ niệm niệm “Kiền tâm quỳ tại Minh Minh Thượng Đế liên hạ”, thật ra đều chỉ là có miệng chẳng có tâm, đọc niệm theo bài bản để dối lừa ông trời mà thôi. Dương phụng âm vi dùng mặt giả, chỉ là tâm phi làm xảo ngôn. Vẻ bề mặt thì lời lời tiếng tiếng rằng tu Đạo học Đạo, trong âm thầm riêng tư thì hành vi lời nói cử chỉ lại Phản Đạo Bại Đức, điều này chẳng khác gì người đeo mặt nạ giả vậy !
  • 107.
    10 Điều ĐạiNguyện HƯ TÂM GIẢ Ý 106 Điều mà miệng nói, điều mà tâm nghĩ là hai chuyện khác, hoàn toàn chỉ là khua môi múa mép, cửa miệng làm mê hoặc người khác mà thôi !Cố ý tạo tác dùng thủ đoạn mưu giành danh tiếng và những lời khen ngợi để toan tính thể diện.Chơn công thật thiện thì chẳng bàn, tham cầu danh tiếng, ưa thích người khác ca ngợi, chỉ chú trọng sự phong quang gây ấn tượng vẻ ngoài. Còn đối với công đức của chơn tâm bộc lộ và những thiện hành chẳng muốn người khác biết đến thì không có chút hứng thú ! Mong các đệ tử chớ can dự những chuyện làm càn, quân tử thận độc để làm chi? Các vị Hiền đệ muội, cớ sao không tham ngộ kĩ càng, rốt cuộc “Quân tử thận độc” mà cửa Nho đã nhấn mạnh là đạo lí gì? Phòng tối làm chuyện trái lương tâm, mắt thần sáng như chớp điện, những lời riêng tư của nhân gian vang rền như tiếng sấm.Bởi vì một người khi ở một mình thì dễ khởi tâm động niệm nhất, do đó nhất định cần phải đặc biệt cẩn thận. Chớ có tưởng rằng đóng cửa lại thì những việc hổ thẹn trái với lương tâm bèn chẳng có người biết đến, thật ra thì ngẩng đầu ba thước có thần minh. Họ đều đã
  • 108.
    10 Điều ĐạiNguyện HƯ TÂM GIẢ Ý 107 nhìn thấy rõ ràng, những lời thì thầm che giấu chẳng muốn người biết của chốn nhân gian thì ông trời nghe thấy vang rền như sấm trút vào tai, huống hồ thần đạo phật tiên soi giám. Lẽ nào chẳng sợ sự khiển trách trừng phạt vô tư của luật trời ?
  • 109.
    10 Điều ĐạiNguyện THỐI RÚT BẤT TIỀN 108 • Không vì sợ nguy nan mà trốn chạy, bài xích. • Không vì được mất mà không có niềm tin. • Không vì không có tín tâm mà đa nghi. • Không vì sợ hãi thất bại mà không dám tiến lên phía trước. • Nhưng dựa vào tấm lòng chân thật, có thể bài trừ hàng vạn khó khăn, mà tiến lên phía trước. 4. THỐI RÚT BẤT TIỀN
  • 110.
    10 Điều ĐạiNguyện THỐI RÚT BẤT TIỀN 109 Tiên Quan Từ Bi:  Người thuộc “Thượng Căn” là hễ “không thể siêng năng tiến hành tinh tấn”, “không thể nhẫn nhục”, “không thể trì giới”, “không thể bố thí”, “không có trí tuệ” là Thối Rút Bất Tiền.  Người thuộc “Trung Căn” là người không chịu được các thứ khảo nghiệm, các thứ trau chuốt, mà không thể thật sự hành nguyện liễu nguyện, là Thối Rút Bất Tiền.  Người thuộc “Hạ Căn” là hễ ban đầu siêng năng mà về sau trì trệ. Khi tiến khi lui, đạo chí khi có khi không, gọi là Thối Rút Bất Tiền. TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN THAN TU ĐẠO CHÍ CHẲNG BỀN, ĐẦU SIÊNG CUỐI LƯỜI NHẤT ĐỊNH CHẲNG THÀNH. Thứ tư cảm than mang danh là tu Đạo nhưng lại chẳng có sức ý chí kiên định. Lúc mới bắt đầu vô cùng nỗ
  • 111.
    10 Điều ĐạiNguyện THỐI RÚT BẤT TIỀN 110 lực dụng công, giống như Tiên Phật đang ở trước mắt vậy, đến lúc cuối thì khởi lên cái tâm biếng nhác, chẳng chịu tinh tiến, phương pháp tu hành đầu cuối khác nhau, tất nhiên sẽ không thành tựu được. Gặp nghịch thì lui gặp thuận thì tiến, lúc làm lúc ngưng há là bậc hiền anh? Hễ gặp phải nghịch cảnh thì khởi tâm lùi thoái, mọi thứ đều như ý rồi mới chịu hơi hơi học tiến lên, đi đi ngừng ngừng như vậy sao là người tu Đạo rõ lí ? Việc học cũng như thân thuyền ngược dòng tiến, chẳng tiến thì lùi lí khó đổi, từ học vấn thế gian cho đến việc học đạo tu đạo đều là giống như con thuyền lội ngược dòng, như chèo hướng về nguồn nước vậy, không nỗ lực tiến hướng về trước, tất nhiên sẽ bị cuốn lùi theo hướng xuôi dòng, đấy là đạo lí thiên cổ bất biến đấy ! Mong các đệ chí lập bền, trăm bẻ chẳng cong là anh hùng. Mong rằng các vị hiền đệ muội không được thoái rút chẳng tiến về trước, nhất định phải khiến đại chí xung thiên, tu Đạo kiên định chẳng rời.Mặc cho trăm nghìn vạn khốn khó và sự dày vò của nó cũng đều không thoái chí, vậy mới là chơn anh hùng trí nhân dũng đấy!
  • 112.
    10 Điều ĐạiNguyện THỐI RÚT BẤT TIỀN 111 Đường lớn Tây Thiên tuy rằng xa, đi được một chặng gần một chặng. Con đường thành tựu quả Phật Tây Thiên này tuy có xa xôi như 10 vạn 8 nghìn dặm, thế nhưng chỉ cần chịu nỗ lực, đi được một bước thì tiếp cận một bước, đi càng siêng thì càng đến gần. Đầu cuối như một chí lập định, nửa đường mà bỏ đánh tàn linh. Bất luận là khốn khó như thế nào, vĩnh viễn chẳng thay đổi cái tâm ban đầu. Lập xuống tâm nguyện nhất định phải đi đến điểm cuối,nếu tu học được một nửa thì chẳng tiếp tục tinh tiến nữa, há chẳng phải là uổng phí tất cả những nỗ lực trước đây, những công lao đã vất vả gầy dựng trước đây toàn bộ thảy đều phế bỏ.Tương lai sau này khi mạt kiếp thanh toán, chỉ đáng thương thay bị đánh rơi vào tàn linh rồi.
  • 113.
    10 Điều ĐạiNguyện KHI SƯ DIỆT TỔ 112 Không coi thường, khinh khi, phản nghịch thiên mệnh của Tổ Sư, khiến cho không thể truyền Đạo, thọ nghiệp, giải hoặc. Không tôn trọng tổ tiên, mà mất đi sự che chở bảo hộ của tổ tiên đối với chúng ta. TIÊN QUAN TỪ BI:  Người thuộc “Thượng Căn” là hễ không thể khớp với tâm của Tổ Sư, không thể lãnh ngộ thật nghĩa của Đại Đạo, không thể thay trời truyền ra chân lý, thì gọi là Khi Sư Diệt Tổ. 5. KHI SƯ DIỆT TỔ
  • 114.
    10 Điều ĐạiNguyện KHI SƯ DIỆT TỔ 113  Người thuộc “Trung Căn” là hễ rời khỏi pháp thuyền “Đường kim tuyến” của Minh Sư mà tìm về môn phái khác, gọi là Khi Sư Diệt Tổ.  Người thuộc “Hạ Căn” là hễ không tôn trọng “Điểm Truyền Sư”, “Giảng Sư”, “Dẫn Bảo Sư”, hoặc là trái nghịch với Thiên Mệnh, gọi là Khi Sư Diệt Tổ. TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN THAN TU ĐẠO CHẲNG HỌC KHIÊM NHƯỢNG, KHI SƯ DIỆT TỔ GAN TÀY TRỜI Thứ năm cảm than những người tu đạo chẳng nguyện chịu học tập đức hạnh đẹp của sự khiêm tốn hạ mình, trái lại còn đi ngược lại ý của Tổ Sư, làm bại hoại cửa Đạo, thật là ác gan tày trời.
  • 115.
    10 Điều ĐạiNguyện KHI SƯ DIỆT TỔ 114 Xưa nay Minh Sư nào há dễ tìm gặp, nghìn dặm tìm cầu vào núi sâu. Từ xưa đến nay Thiên Mệnh Minh Sư làm gì mà có, Đạp rách giày sắt tìm chẳng thấy, khổ chết chẳng thành thật đáng thương, phế tận nghìn đắng cay vạn khổ, vẫn chẳng tìm được dễ dàng chỗ của Minh Sư. Đều là phải trèo non lội suối, đi khắp chân trời góc biển, thành tâm thành ý mà đi tìm cầu, lặn lội nghìn dặm tiến vào núi sâu hiếm có dấu chân người càng là chuyện thường có. Cả đời người hao phí trong việc tìm kiếm Minh Sư mà đến lúc kết thúc cuộc đời, đáng thương chẳng đắc được chơn truyền mà chẳng cách nào thành tựu đấy !Mong các hiện đệ thiện lương, Tôn Sư Trọng Đạo là thuận thiên. Mong rằng các vị hiền đệ muội có thể đem thiên lí lương tâm hiển hiện ra ngoài, có thể thấy rằng Tôn Sư Trọng Đạo là đức tánh tốt đẹp hợp với trời, thuận với lí ! Nhất chỉ chi sư chung bắc diện, nhất thế sư sanh vạn vạn niên. Vị Minh Sư chỉ điểm cho các con siêu sanh liễu tử, mọi người đến hết cả cuộc đời đều phải gìn giữ ái lễ cung kính “dĩ hạ kính thượng”. Có thể kết mối duyên thầy trò
  • 116.
    10 Điều ĐạiNguyện KHI SƯ DIỆT TỔ 115 kiếp này, cái tình đạo nghĩa này, cái tình thầy trò giao hảo này là trường tồn mãi mãi đấy. Mặc cho con công lao cao vô biên lượng, quên thầy tánh mệnh khó bảo tồn. Mặc cho tài năng của con có xuất chúng đi chăng nữa, công đức nhiều đếm không xuể, trong tâm và mắt nếu chẳng có cái ân của Minh Sư truyền đạo và tìm cách báo đáp, tu đạo như thế này thì tánh mệnh vẫn là khó bảo tồn.
  • 117.
    10 Điều ĐạiNguyện MIỄU THỊ TIỀN NHÂN 116 Vì kiêu ngạo mà coi thường, khinh thị, ngỗ nghịch Tiền Nhân hoặc xem thường tiền hiền cầu Đạo sớm hơn mình, mà dẫn tới làm bại hoại luân lí Đạo Trường, đoạn đi ngọn đuốc chân lí truyền thừa. Không thể tiếp tục truyền thừa ngọn đuốc chân lí. Không thể hoàn thành lời giao phó hoằng pháp thí đức của Tiền Nhân. Cống cao ngã mạn, nhận công lao về mình. Trong mắt không có trưởng bối, hoặc lấy học vấn năng lực làm trọng đều là Miễu Thị Tiền Nhân. TIÊN QUAN TỪ BI:  Người thuộc “Thượng Căn” là hễ không thể kế vãng khai lai, thừa tiếp cây đuốc chơn lý, gánh dùm cho Thánh Hiền trước kia, gọi là Miễu Thị Tiền Nhân.  Người thuộc “Trung Căn” là hễ không thể triển khai chí hướng hoài bão của Tiền Nhân, không thể hoàn thành những huấn thị hoằng pháp bố đức do Tiền Nhân giao phó, gọi là Miễu Thị Tiền Nhân. 6. MIỄU THỊ TIỀN NHÂN
  • 118.
    10 Điều ĐạiNguyện MIỄU THỊ TIỀN NHÂN 117  Người thuộc “Hạ Căn” là hễ tự cao tự đại, trong mắt không có trưởng bối, không cung kính Tiền Nhân, không thuận theo Tiền Nhân, gọi là Miễu Thị Tiền Nhân. TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN THAN TU ĐẠO MÀ LÍ CHƯA TINH, XEM THƯỜNG TIỀN NHÂN TỘI CHẲNG NHẸ Thứ sáu - Cảm than người tu Đạo chưa đem nguyên lí của Thiên Đạo và Nhân Đạo tham ngộ thấu triệt. Đối với Tiền Hiền Trưởng Bối thì thường đã phạm vào lỗi nghiêm trọng là xem thường và ngạo mạn. Biết ân chẳng báo chẳng phải là quân tử, uống nước nhớ nguồn là chân tình. Đối với ân đức dẫn dắt thành toàn của Tiền Hiền,
  • 119.
    10 Điều ĐạiNguyện MIỄU THỊ TIỀN NHÂN 118 chẳng biết tận tâm hồi báo, quả thật là chẳng thể xem là một người quân tử học đạo lí Thánh Hiền. Người xưa thường nói : “ Nhận ơn một giọt nước của người thì nên dùng suối tuôn trào để báo đáp ”. Nếu có thể biết tri ân báo ân nhớ nguồn thì mới là người tu đạo có bẩm tánh và khí chất tu đạo thật sự đấy ! Cỏ cây chẳng rễ sao có thể lớn lên? Người chẳng có sự dẫn tiến thì đường khó đi, hoa cỏ cây cối nếu như chẳng có gốc rễ, làm sao bảo nó sinh trưởng đây? Cùng lẽ đó, chúng sanh nếu chẳng có sự dạy bảo chỉ đạo một cách kiên nhẫn có hệ thống tiến dần tuần tự của người dẫn tiến thì đường tu đạo chắc chắn là rất khó đi đấy ! Mong các đệ phải nên biết rõ, hợp tâm cùng gánh bàn chặng cuối cùng. Mong rằng các vị Hiền đệ muội phải đem cái đạo lí này phân biện rõ ràng, mọi người trên dưới một lòng, cùng nỗ lực để lo bàn mạt hậu đại sự của Tam Tào Phổ Độ này. Nên nhớ Tiền Nhân dẫn tiến con, hồng thệ đại nguyện lập đàn đình, phải nên hồi tưởng lúc bấy giờ khi Dẫn Bảo Sư độ các con đến cầu đạo là họ trước tiên quỳ ở trong phật đường, thành tâm tôn kính hướng về Lão Mẫu lập xuống đại nguyện dẫn dắt, bảo đảm thì ơn trên từ bi mới cho các con cầu đạo đấy.
  • 120.
    10 Điều ĐạiNguyện MIỄU THỊ TIỀN NHÂN 119 Dế trũi trong hang còn báo nghĩa, huống hồ người là vạn vật chi linh ? Xin hãy xem con dế trong hang ấy, nó còn có thể nghĩa lí phân minh, biết ân tìm cách đền đáp, càng huống hồ là con người vốn là loài có linh tánh nhất, thông minh nhất trong vạn vật ? Do vậy người tu hành thì càng nên noi theo đạo mà hành !
  • 121.
    10 Điều ĐạiNguyện BẤT TUÂN PHẬT QUY 120 Tiên Quan Từ Bi:  Người thuộc “thượng căn” là hễ khởi tâm động niệm, đi đứng nằm ngồi không khớp với trung hòa, gọi là bất tuân Phật quy.  Người thuộc “trung căn” là hễ không thủ “ngũ thường” “ngũ giới”, không hành “thập thiện” “bát đức”, gọi là bất tuân Phật quy.  Người thuộc “hạ căn” là hễ ồn ào cãi nhau, áo mão không chỉnh tề, hoặc là không biết lễ nghi tại Phật Đường, gọi là bất tuân Phật quy. (Chú giải: + Ngũ thường: nhân, lễ , nghĩa, trí, tín + Ngũ giới: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu + Thập thiện: không: tham, sân, si, ác khẩu, lưỡng thiện, ỷ ngữ, sát, đạo, dâm, uống rượu + Bát đức: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) 7. BẤT TUÂN PHẬT QUY
  • 122.
    10 Điều ĐạiNguyện BẤT TUÂN PHẬT QUY 121 TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN Than tu đạo đánh mất chính quy, phật quy chẳng giữ mặc làm bừa Thứ bảy cảm than người tu đạo giữa luân thường, thánh và phàm mỗi ngày đều cẩu thả bất cẩn đánh mất đi những chuẩn tắc hành vi đúng đắn, phật quy lễ tiết chẳng có tuân thủ, còn tùy ý làm bừa làm bậy. Tu đạo chẳng đem phật quy giữ, dựa vào sự tu dưỡng gì để lên thang trời ? Người tu đạo nếu chẳng đem phật quy tuân thủ nghiêm khắc, vậy thì rốt cuộc phải dựa vào sự tu dưỡng đạo đức gì để dần dần nâng cao đức hạnh của bản thân, để hướng đến con đường về trời đây? Phật quy là giới luật của trời, chẳng tuân theo sao có thể về nhà xưa? Phải biết rằng “ phật quy ” là giới luật do ơn trên từ bi duy chỉ sợ chúng sanh thân tâm phóng dật mà chế định xuống; nếu như không chân thật tuân thủ, làm sao có thể trở về lại ngôi nhà xưa ở Tiên Thiên đây ? Mong các đệ tham ngộ kĩ càng, cẩn thận tuân thủ phật quy nếu không tiền đồ truy; mong rằng các vị hiền đệ muội hãy thật tốt mà tham ngộ rõ ràng, nhị lục thời trung ( trong 24 tiếng mỗi ngày ) đều phải nghiêm cẩn tuân thủ “ phật
  • 123.
    10 Điều ĐạiNguyện BẤT TUÂN PHẬT QUY 122 quy ”, một cách thận trọng tiến hướng về sự quang minh của việc tu đạo. Xe chẳng có quỹ tất gặp hiểm, thuyền không mái chèo chạy tất nguy; xe lửa tốc độ nhanh nếu như chẳng có quỹ đạo tiêu chuẩn thì chắc chắn sẽ phát sanh tai nạn bất ngờ. Tàu lái trên biển nếu chẳng có mái chèo để chèo, nhất định sẽ phát sanh nguy hiểm đấy. Tu đạo nếu chẳng giữ giới luật, khó mà thoát sanh tử luân hồi, cũng như người tu đạo, nếu chẳng đem “ phật quy ” tuân thủ chân thật, nhất định khó mà siêu thoát biển khổ sanh tử và sự trói buộc của sáu nẻo luân hồi đấy !
  • 124.
    10 Điều ĐạiNguyện TIẾT LỘ THIÊN CƠ 123 Tiên Quan Từ Bi:  Người thuộc “thượng căn” là hễ không nên nói mà đi nói, không đúng người mà đi nói, cơ chưa đúng khớp, duyên chưa chín mùi mà đi khai thị huyền diệu, gọi là tiết lộ Thiên Cơ.  Người thuộc “trung căn” là hễ tùy tiện công khai Tam Bảo tâm pháp, gọi là tiết lộ Thiên Cơ.  Người thuộc “hạ căn” là hễ chưa thắp sáng ba ngọn đèn Phật đăng mà dùng văn tự hoặc lời nói tiết lộ danh tướng Tam Bảo, gọi là tiết lộ Thiên Cơ. TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN Than tu đạo chẳng thận ngôn, thiên cơ mật bảo tùy tiện bàn Thứ tám cảm than người tu đạo chẳng biết cẩn thận lời nói, đem tam bảo siêu sanh liễu tử mà ơn trên đại khai ân điển đã mật truyền tùy ý tiết lộ. Từ xưa Minh Sư vốn khó gặp, vô tự chân kinh ai dám nói ? Từ xưa đến nay Thiên Mệnh Minh Sư là trăm nghìn 8. TIẾT LỘ THIÊN CƠ
  • 125.
    10 Điều ĐạiNguyện TIẾT LỘ THIÊN CƠ 124 vạn kiếp cũng khó mà gặp được đấy, còn vô tự chân kinh lấy tâm ấn tâm nếu chẳng phải là Thiên Mệnh Minh Sư truyền thụ, có ai dám to gan vọng ngôn đây? Thánh Nhân của tam giáo còn nghiêm giữ, huống hồ những tục tử phàm phu? Tam giáo Thánh Nhân Nho, Thích, Đạo còn nghiêm cẩn trì giữ, chưa từng tùy tiện tiết lộ, huống hồ là những kẻ phàm phu sanh tử thất phu thất phụ ? Mong các đệ chớ dối trời, tiết lộ thiên cơ tội khó gánh. Mong rằng các vị Hiền đệ muội tuyết đối không thể đi ngược lại với thiên lí, cô phụ ý chỉ ám độ hiền lương của ơn trên. Nếu như tùy ý tiết lộ thiên cơ, do vậy mà làm hủy diệt mất huệ mệnh của chúng sanh mạt pháp, những tội nghiệp như thế quả thật là gánh vác chẳng nổi đấy ! Nếu chẳng phải là gặp thời điểm tốt đẹp này, bảo này lẽ nào có thể tùy tiện giáng phàm ? Nếu như chẳng phải là gặp thẳng kì ba, ơn trên đại khai phổ độ, thời điểm cơ hội tốt đẹp như vậy, thì bí bảo siêu sanh liễu tử từ xưa vốn dĩ đơn truyền độc thụ này sao có thể tùy tiện dễ dàng như vậy phổ truyền nhân gian đây? Cẩn ngôn thận hành thẳng trước bàn, nguyện liễu tự nhiên về Lí Thiên, do đó mọi người phải cẩn thận lời nói hành vi của mình, chân thành thẳng thắn hướng về trước mà nỗ lực tu bàn, đem hồng thề đại nguyện mình đã lập lúc đắc đạo quỳ dưới đài sen của Minh Minh
  • 126.
    10 Điều ĐạiNguyện TIẾT LỘ THIÊN CƠ 125 Thượng Đế làm được một cách lượng sức tận tâm rồi, thì tự nhiên có thể trở về Lí Thiên tiêu dao, miễn chịu nỗi đau khổ của luân hồi.
  • 127.
    10 Điều ĐạiNguyện NẶC ĐẠO BẤT HIỆN 126 Tiên Quan Từ Bi:  Người thuộc “thượng căn” là hễ không thể tùy duyên bất biến, bất biến ứng duyên, đồng thể đại bi, vô duyên đại từ, gọi là nặc Đạo bất hiện.  Người thuộc “hạ căn” là hễ không thể độ người, khuyên người hướng thiện, là nặc Đạo bất hiện. TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN Than tu đạo chẳng có tâm từ, giấu đạo chẳng hiện bỏ lỡ các Nguyên Nhơn Thứ chín cảm than người tu đạo đều chẳng có noi theo Di Lặc Tổ Sư, bộc lộ tấm lòng từ ái của chúng sanh và ta cùng một thể. Tự bản thân mình tuy rằng đã đắc đạo rồi, cũng biết rằng đạo tốt, đạo bảo quý, nhưng lại chỉ ẩn giấu ở trong tâm mình chớ không tuyên dương cho những người xung quanh biết. Như vậy lẽ nào chẳng phải là đã làm trì trệ 96 ức Hoàng Thai Nguyên Linh Phật Tử khắp thiên hạ đó sao ! Trời vốn không lời cậy người khuyên, người nếu chẳng khuyên đạo làm sao mà nghe thấy? Sự tạo hóa 9. NẶC ĐẠO BẤT HIỆN
  • 128.
    10 Điều ĐạiNguyện NẶC ĐẠO BẤT HIỆN 127 vận hành của ông trời là chẳng có âm thanh mùi vị đấy, do đó duy chỉ có cậy dựa vào những người hiểu rõ đạo lí để khuyến hóa thì mới được biểu bạch thuyết minh kĩ càng; những người rõ lí nếu như chẳng chịu đi khuyên hóa người đời, vậy thì những chúng sanh bình thường lại làm thế nào có thể nghe hiểu được sự bảo quý của chân lí thiên đạo đây ? Hồi tưởng lại ngày mình cầu đạo, há chẳng phải Tiền Nhân độ kẻ mê sao ? Hãy ngẫm nghĩ xem bản thân các con lúc bấy giờ quả thật là tam sanh hữu hạnh (có phước phận do 3 kiếp trước tu mà có ) , có thể đến Tiên Thiên Phật Đường đi cầu đắc đại đạo siêu sanh liễu tử. Cái nhân duyên này lẽ nào chẳng phải là do sự khuyến hóa một lần lại một lần của Tiền Hiền Đại Chúng và Dẫn Bảo Sư mới có thể dẫn độ các con tỉnh ngộ từ trong mê mộng biển khổ của danh lợi ân ái đó sao ? Mong các đệ cần tam tỉnh, “ thiện dự nhân đồng ” thánh hiền rằng, mong các vị hiền đệ muội phải nên một lần lại một lần thể hội, tự khích lệ, Cổ Thánh Tiên Hiền chẳng phải là có bảo với chúng ta rằng phải “ thiện dự nhân đồng ” (cái tốt thì cùng chia sẻ với người ) đó sao ? Ý nghĩa cũng như là đắc được chân lí đại đạo bảo quý như thế rồi, tiến thêm một bước nữa nên đem cái phúc âm tốt này truyền bố cho tất cả mọi người khắp thiên hạ
  • 129.
    10 Điều ĐạiNguyện NẶC ĐẠO BẤT HIỆN 128 cùng đến chia sẻ cùng hưởng. Xưa nay thành phật do độ đời, kỉ lập lập nhân đạo cùng nghe; từ xưa đến nay nhân do then chốt thành tựu phật bồ tát chính là gần gũi với chúng sanh, giáo hóa chỉ đạo cho chúng sanh, lấy việc cứu thế độ người là chức trách; sinh mệnh của bản thân nếu có thể đứng thẳng trang nghiêm rồi, thì càng phải dẫn lãnh tất cả mọi người cũng có thể đứng thẳng trang nghiêm, khiến cho mọi người và mình đều có thể cùng triêm đại đạo, với đạo gom thành một mối; huống hồ thời nay khai phổ độ, cửu nhị Nguyên Nhơn cùng quy căn. Càng huống hồ là hiện nay ơn trên từ bi, Tam Tào Phổ Độ, mở lớn cánh cửa phương tiện, 92 ức Nguyên Linh Phật Tử chưa thành tựu đều có thể cùng triêm ân điển của Lão Mẫu, quay trở về lại chốn quê xưa.
  • 130.
    10 Điều ĐạiNguyện BẤT LƯỢNG LỰC NHI VI 129 Tiên Quan Từ Bi:  Người thuộc “thượng căn” là hễ không thể bỏ đi thói hư, tật xấu và những việc làm tội ác, không thể chặt đứt phiền não vô minh, không thể đột phá 2 thứ chấp là “ngã” và “pháp”, không thể chứng đắc thật tướng, là bất lượng lực nhi vi.  Người thuộc “trung căn” là hễ “nhìn không xuyên thấu cái còng khóa tình yêu, xem danh lợi như mạng sống mà như là ngồi trên đống hàng quý hiếm, làm cho thời cơ tốt bị tuôn chảy theo dòng nước, ở đó chỉ muốn được yên thân mà trì trệ làm lỡ mất thời cơ”, gọi là bất lượng lực nhi vi.  Người thuộc “hạ căn” là hễ với đủ thứ lý do diện cớ mà nói khó nói bận, cứ nói không thời gian nghe đạo, tu đạo, làm việc đạo, không chịu thường tiếp cận đạo tràng, đạo thân, ít tới khấu đầu thắp nhang, thì gọi là bất lượng lực nhi vi! 10. (NAM) BẤT LƯỢNG LỰC NHI VI (NỮ) BẤT THÀNH TÂM TU LUYỆN GIẢ
  • 131.
    10 Điều ĐạiNguyện BẤT LƯỢNG LỰC NHI VI 130 TAM THIÊN CHỦ KHẢO TỪ HUẤN Than tu đạo tâm nhiều thiếu sót, ai chịu tiến trước lượng sức làm ? Thứ mười cảm than người tu đạo vẫn cứ là không thể toàn bộ vứt bỏ một mảng tâm, đem cái tự tánh minh khiết ấy làm cho ô nhiễm mất rồi, có ai chịu thật sự đứng trên cương vị của bản thân mình tận hết tất cả tâm sức của mình, nỗ lực mà hành công liễu nguyện, thật tốt mà tu bàn đạo đây ? Gông tình cùm ái nhìn chẳng thấu, coi tiền như mạng, của quý lạ, vẫn cứ là ở trong sự vây trói và lôi kéo của tình dục và ân ái, chớ nhìn không thấu, cắt chẳng đứt cơn mê mộng của đời người này, lầm đem việc truy cầu theo đuổi tiền tài và vật chất đối đãi xem như là bảo bối còn quan trọng hơn cả sinh mạng vậy ! Cảnh đẹp thời tốt trôi như nước, cẩu thả biếng lười chùn bước lỡ thời cơ; đem thời khắc tốt nhất của tu đạo “thân người khó được", "thanh xuân khó trở lại ” mặc cho nó vội vàng biến mất như nước trôi, chỉ vì tham sự hưởng lạc thoải mái, do đó bèn biếng nhác trong việc tiến tu Thiên Đạo, kết quả tất nhiên sẽ làm lỡ qua mất thời cơ tu đạo thiên cổ nan phùng.
  • 132.
    10 Điều ĐạiNguyện BẤT LƯỢNG LỰC NHI VI 131 Mong các đệ hãy thôi tự dối, thời tốt lỡ qua khó gặp lại !Mong rằng các vị Hiền đệ muội tuyệt đối không được hồ đồ, tự mình đem việc sanh tử đại sự của mình làm trì trệ mất rồi. Nếu như lỡ qua mất thời điểm vô cùng tốt của việc tu đạo này, đánh mất đi thân người quý báu rồi, muốn lại gặp được cơ duyên ơn trên đại khai phổ độ nữa vậy thì là khó càng thêm khó ! Thừa thời tốt này vẫn chưa tận, xả tài xả pháp xả vô úy; hãy thừa lúc hiện nay nhân duyên thời vận tu bàn đạo, là lúc thiên thời khẩn cấp, gấp rút như lửa đốt đến lông mày, trước khi vẫn còn chưa kết thúc, hãy thật nhanh chóng hết mức đem “tam thí” tận tâm mà thực hành; tam thí này chính là: 1. Tài thí : bố thí tài vật, khai hoang trợ đạo, rộng in sách thiện. 2. Pháp thí : tuyên dương đạo lí, khuyến tỉnh mê tân, độ người cầu đạo, thành toàn bạn bè. 3. Vô Úy Thí : giúp làm Phật Sự, ra sức, phục vụ đạo trường, thăm hỏi đạo thân, phục vụ đại chúng. ---------------->HẾT---------------