ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
THÀNH PH H CHÍ MINHỐ Ồ

I. V TRÍ Đ A LÝỊ Ị
Thành phố Hồ Chí Minh thuộc khu vực Đông Nam Bộ, là trung tâm du lịch của phía Nam
nói riêng và cả nước nói chung, cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế
giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực
Đông Nam Á. Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay. Đây là đầu mối
giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với
hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc
giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng
Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
Diện tích: 2.098,7 km2
Dân số (2007): 6.347.000 người
Hành chính: 19 quận nội thành : Q.1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,
Tân Bình, Bình Thạnh, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân và Tân Phú.
5 huyện ngoại thành: Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh.
II. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử
Năm 1618, vua Chân Lạp là Chey Chettha II lên ngôi. Để giữ mối hữu hảo bang
giao giữa hai nước, chúa Nguyễn Phước Nguyên đã gả Ngọc Vạn công chúa cho vua Chân Lạp.
Cuộc hôn nhân diễn ra vào năm 1620, công chúa Ngọc Vạn, lúc bấy giờ là Hoàng hậu lấy tước
hiệu là Somdach - preia Peaccac - Vodey - Prea - Roriac - Khsattrey, đã cho đem nhiều người
đồng hương tới Campuchia, có người được làm quan lớn trong triều, có người làm các nghề thủ
công và có người buôn bán hay vận chuyển hàng hóa. Dân hai nước được tự do qua lại sinh sống
cả hai bên lãnh thổ của nhau. Vậy là nơi rừng hoang dã Thủy Chân Lạp với tên Preinokor có thêm
nhiều hơn vết chân người Việt. Các danh từ được phiên âm từ Preinokor ra Sài Gòn - Kaskrobey
ra Bến Nghé và Nông Nại ra Đồng Nai đã được xuất hiện từ nhóm người Việt này đến lưu cư đầu
tiên.
Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu
thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Vua Chân Lạp đã mau mắn gửi quốc thư
hồi âm chấp thuận việc chúa Nguyễn muốn đặt trạm thu thuế tại 2 nơi đó. Sự việc này đã là một
thực thể chính đáng cho chúa Nguyễn nhà Đại Việt với công trình khai hoang xứ Đàng Thổ.
Chẳng bao lâu, hai đồn thu thuế trở thành thị tứ trên bến dưới quyền, công nghiệp và thương
nghiệp sầm uất.
Năm 1658, "Nặc Ông Chân phạm biên cảnh", Hiền Vương liền sai "phó tướng Tôn Thất
Yên đem ngàn binh đi 2 tuần đến thành Mô Xoài (Bà Rịa), đánh phá kinh thành và bắt được vua
nước ấy". Sau được tha tội và được phong làm Cao Miên quốc vương "giữ đạo phiên thần, lo bề
cống hiến, không xâm nhiễu dân sự ở ngoài biên cương. Khi ấy địa đầu Gia Định là Mô Xoài và
Đồng Nai đã có lưu dân của nước ta đên ở chung lộn với người Cao Miên khai khẩn ruộng đất".
Như vậy là từ trước 1658, Mô Xoài và Đồng Nai đã thuộc "biên cảnh" của Việt Nam.
Năm 1674 (tức là 51 năm sau khi lập đồn thu thuế và 16 năm sau sự kiện Mô Xoài) xảy ra
một biến cố chính trị và quân sự quan trọng: Vua Chân Lạp là Nặc ông Nộn bị người hoàng tộc
Nặc Ông Đài nổi lên đánh đuổi. Ông Nộn sang cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn sai Nguyễn
Dương Lâm đem quân vào giúp, thâu phục luôn 3 lũy Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang (trong sử
ta, địa danh Sài Gòn xuất hiện từ 1674 vậy). Đài thua chạy rồi tử trận. Chúa Nguyễn phong cho
1
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Nặc Ông Thu làm Cao Miên quốc vương đóng đô ở U Đông, cho Nặc Ông Nộn làm phó vương ở
Sài Gòn. Ông Nộn lập dinh cơ có lẽ ở vùng đất cao ráo từ đồi sau này gọi là đồi Cây Mai đến vùng
Phú Thọ hiện giờ. Ông Nộn 15 năm ở Sài Gòn cũng hoạt động quân sự nhiều cuộc đối đầu với vua
Chân Lạp mà không thành.
Năm 1679 (tức 56 năm sau khi lập đồn thu thuế và 5 năm sau khi Ông Nộn đóng ở Sài
Gòn). Đồn dinh Tân Mỹ không phải là một cái đồn có nhiệm vụ kinh tế, mà mang tính chất quân
sự, chính trị, cai quản; có giám quân, cai bộ và ký lục với dinh thự của bộ sậu ấy, có trại lính để sai
phái và để bảo vệ phó vương Chân Lạp, bảo vệ việt kiều. Đồn dinh cũng có nhiệm vụ lập làng chia
xóm, tổ chức phố chợ. Thực tế đó là một chánh quyền bán chánh thức của chúa Nguyễn.
Cuối năm 1679 chúa Nguyễn cho phép các đoàn người Minh của Trần Thượng Xuyên vào
Biên Hòa và của Dương Ngạn Địch vào Mỹ Tho-là những đất chúa Nguyễn thực tế xem như là do
mình quản trị, cũng là những vùng đã có lưu dân Việt Nam khai hoang lập ấp từ đầu thế kỷ 17.
Hai viên Tổng binh người Minh không chịu hàng phục nhà Thanh, kéo hai đạo quân và gia
quyến, thân thuộc xuống phía nam, xin chúa Nguyễn đùm bọc; chúa Nguyễn cho đoàn Trần
Thượng Xuyên vào vùng Biên Hòa, cho đoàn Dương Ngạn Địch vào Mỹ. Cả hai đoàn, mỗi đoàn
nhiều ngàn người, họ lập phố xá buôn bán, cũng có phần làm nghề nông nhưng ít hơn nghề
thương. Nông Nại đại phố (ở Biên Hòa) sớm trở thành một trung tâm thương mãi có nhiều tàu
ngoại quốc tới lui. Vùng "Nông Nại đại phố" này cũng đã sẵn có người Việt Nam ở làm ăn khá
đông, việc thương mãi của Nông Nại đại phố một phần lớn dựa vào nghề nông của người Việt và
đồng bào bản địa. Nông Nại đại phố thịnh mà không hút được Sài Gòn, trái lại nó bị Sài Gòn hút
vào vì Sài Gòn ở một thế trung tâm hơn. ý kiến nói rằng ở miền Nam, ở vùng Sài Gòn, người
Minh có công khai hoang trước rồi người Việt mới tới sau lập phủ huyện, là một ý kiến hoàn toàn
sai. Người Việt đã tới đây khai hoang lập ấp 70, 80 năm trước rồi, sau người Minh mới đến. Tuy
vậy vai trò kinh tế của người Minh ta không xem nhẹ, càng không phủ nhận. Người Minh mau
chóng bị Việt hóa.
Năm 1688, phó tướng của Dương Ngạn Địch là Hoàng Tấn làm phản, giết Dương Ngạn
Địch, và mưu đồ bá chiếm, cát cứ. Chúa Nguyễn phái Mai Vạn Long đem quân vào diệt Hoàng
Tấn, rồi Mai Vạn Long cùng Trần Thượng Xuyên đánh lên kinh đô Chân Lạp. Nặc Ông Nộn có
mặt trong cuộc hành quân đó. Mai Vạn Long và Trần Thượng Xuyên đưa vua Chân Lạp Nặc Ông
Thu về Sài Gòn thương thuyết với chúa Nguyễn. Nặc Ông Thu trở lại kinh thành Oudong làm vua
Chân Lạp và đồng ư hợp sức với chúa Nguyễn chống Xiêm. Xiêm bị chận đứng lại.
Năm 1697, con của Nặc Ông Nộn là Nặc Ông Yêm từ Sài Gòn về Oudong được Nặc Ông
Thu gả con gái để sau này Yêm nối ngôi Thu làm vua Chân Lạp. Từ nay ở Sài Gòn không còn có
phó vương.
Bốn mươi năm sau (tức 1698), chúa Nguyễn mới sai Nguyễn Hữu Cảnh vào "kinh lý" miền
Nam. Đó là cuộc kinh lý miền biên cảnh - khi ấy đất đai đã mở rộng khắp miền đông Nam Bộ
ngày nay.
Ông cho đặt đại bản doanh tại Cù Lao Phố bằng sự nhận xét thần tốc về mọi mặt: đất đai
hoang phế mênh mông nhưng toàn là sình lầy cùng rừng rậm; nhân lực thì yếu kém, đời sống sinh
hoạt của các sắc dân quá thô thiển thật là thiên nan vạn nan! Nhưng với ý chí quả cảm, bất kể nguy
khó hiểm nghèo Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vạch ra kế sách cấp tốc: Khai hoang mở cõi và
dàn xếp biên cương.
Song song với việc khẩn hoang Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh thi hành
ngay việc chia ranh định vùng mong sớm đưa chúng dân vào nề nếp an cư.
Về hành chính: Trên cơ sở lưu dân Việt Nam tự phát tới "khẩn hoang lập ấp", ông chia đất Đông
Phố lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh trấn biên (Biên Hòa ngày nay). Lấy xứ
Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn (tức Sài Gòn). Mỗi trấn có lưu thủ quản trị,
2
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
dưới có cai bạ coi về ngân khố và ký lục coi về hình án. Trấn Biên bao gồm từ Bình Thuận đến
Nhà Bè. Phiên Trấn bao gồm từ Tân Bình đến Cần Giuộc (Long An).
Phủ Gia Định ngày đó là gồm từ Bình Thuận, Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè đến Long An.
Khi đó địa bàn Đồng Nai Gia Định được nới rộng thêm ra hàng ngàn dặm vuông, các chủng dân
được quy tụ dựng thành chòm xóm. Dân số có đến 40.000 hộ. Liền đó, Thống suất Lễ Thành Hầu
Nguyễn Hữu Cảnh vạch ra quy hoạch:
Thiết lập làng xã, khóm ấp.
Lập sổ đinh, sổ điền.
Định mức tượng trưng về thuế tô, thuế dung. Riêng người Hoa tập trung làm hai xã để việc thương
mại có cơ hội bành trướng đều khắp.
Xã Thanh Hà ở huyện Phước Long (Đồng Nai Biên Hòa).
Xã Minh Hương ở huyện Tân Bình (Sài Gòn Bến Nghé).
Tất cả dân số người Hoa cũng đều nhập sổ bộ Đại Việt.
Về thương mại: ông cho lập đường thủy ven các nhánh sông, lấy khu chợ nổi Nhà Bè cổ
nơi ngã ba sông Bình Dương làm trung tâm giao dịch, thương lưu với các ngã: Cù Lao Phố, Bến
Nghé, Cần Giờ, Rạch Cát, Vũng Cù (Cần Giuộc) và Gò Vấp. Đặc biệt bến tàu Châu Đại Phố của
nhóm Hoa thương nhem nhúm còn quá luộm thuộm, giờ đây cũng được khuyến khích cho có qui
cũ. Vị trí này sau đã nhanh chóng thành tên Cảng Đại Phố. Đây chính là bến cảng non trẻ nhất của
miền này ở cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18.
Về quân sự: Đã có sẵn một lực lượng binh chủng gồm: thủy binh, bộ binh, tinh binh và
thuộc binh. Thống suất cho cắt đặt các cơ đội canh phòng yên ổn thôn trang và quân lính cả hai
dinh lo bảo vệ chủ quyền tại suốt vùng đất mới thành lập.
Thời ấy, vua Cao Miên (tức Chân Lạp) là Nặc Ông Thu. Mặc dầu bên trong hoàng tộc của
họ vẫn thường xảy ra nổi loạn tranh chấp nhưng bên ngoài đối với sự định vùng biên giới của nhà
Đại Việt cũng là ổn định cho cả đôi bên Việt Miên. Sự thần phục tiến cống được họ nối lại như
trước.
Sau hết đến vấn đề di dân và khuyến nông đã được triều đình chúa Nguyễn chấp thuận.
Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh cấp tốc phái thuộc binh đi hô hào chiêu mộ dân
chúng từ miền Ngũ Quảng vào Gia Định lập nghiệp.
Mãi đến năm 1976, sau kì họp Quốc hội khóa VI, Sài Gòn được đổi tên là thành phố Hồ
Chí Minh.
III. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ
1. Địa hình
Thành phố Hồ Chí Minh có địa hình đồng bằng, đất phù sa cổ do con sông Mê Kông trong
quá khứ bồi đắp, là vùng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Địa thế
thuận lợi cho việc phát triển đô thị sầm uất.
2. Khí hậu
Khí hậu hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm 1.979
mm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Điều này là điều kiện thuận lợi cho phép thành
phố Hồ Chí Minh có thể đón khách du lịch quanh năm.
3. Thủy văn
Sông Sài Gòn
Nhà Bè nước chảy chia hai
3
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về
Là con đường thủy huyết mạch cả về chính trị lẫn kinh tế, nên sông Sài Gòn có vai trò, vị
trí quan trọng và đã để lại dấu ấn văn hóa cho Sài Gòn-Gia Định xưa và Thành phố Hồ Chí Minh
ngày nay.
Sông Sài Gòn khởi nguồn từ vùng Hớn Quản (tỉnh Bình Phước) rồi chảy vào Hồ Dầu
Tiếng (tỉnh Tây Ninh) và qua tỉnh Bình Dương vào Thành phố Hồ Chí Minh. Đến mũi Đèn Đỏ
thuộc huyện Nhà Bè thì nhập với sông Đồng Nai thành sông Nhà Bè. Ra tới mũi Nhà Bè lại tách
làm hai nhánh là sông Lòng Tàu và Soài Rạp rồi đổ ra biển Đông qua cửa Cần Giờ, Soài Rạp.
Sông dài 256 km, diện tích lưu vực trên 5.000m, lưu lượng trung bình vào khoảng 54m3/s, cung
cấp nước cho trên 10 triệu dân ở hai tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh. Sông
này khi chảy qua địa phận Thành phố Hồ Chí Minh dài 80 km, bề rộng thay đổi từ 225 đến 370m,
sâu 20m. Xưa kia, sông còn có tên gọi khác là sông Bến Nghé (Ngưu Chử Giang), trước đó có tên
khác là sông Tân Bình (Tân Bình Giang) (1). Trịnh Hoài Đức, trong sách Gia Định Thành Thông
Chí, ghi chép rõ: “Ở phủ Tân Bình, trước thành Gia Định, tục gọi là sông Bến Nghé, rộng 142 tầm,
sâu 10 tầm, khi nước lên sâu 13 thước ta…”
Sông Sài Gòn đã đi vào văn học, thơ ca, gắn bó với cuộc sống của con người Sài Gòn, họ
mượn hình ảnh sông Sài Gòn để bày tỏ những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình.
“ Sông Sài Gòn, sông bao nhiêu nước
Chợ cũ Sài Gòn, kẻ tục người thanh
Mấy ai mà đặng như anh
Dù cho xao xuyến cũng chơn thành với em”
Hay:
“ Này em Tám ơi! Chợ Sài Gòn cất mới
Ghe tàu lui tới tứ diện rất xinh
Thấy em đẹp dáng tốt hình
Chẳng hay em có chung tình đâu chưa?”
*
“ Chợ Sài Gòn cẩn đá
Chợ Rạch Giá cẩn xi mon
Giã em ở lại vuông tròn
Anh về Gia Định không còn tới lui”
IV. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN
1. Con người
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hoá trong quá trình lịch sử hình
thành và phát triển, có nền văn hoá mang dấu ấn của người Việt Nam, Hoa, Chăm, Khơ me, Ấn…
Sau 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, thành phố trở thành một trong những trung tâm của cả
nước đón nhận những ảnh hưởng của văn hoá Pháp, Mỹ qua các giai đoạn thăng trầm của đất
nước. Hệ thống các ngôi chùa cổ như: chùa Giác Lâm, chùa bà Thiên hậu, Tổ Đình Giác Viên…;
các nhà thờ cổ như: Nhà thờ Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức…; là sự đa dạng về tôn
giáo, tín ngưỡng với hàng chục lễ hội văn hoá trong năm đã tạo nên tính thống nhất trong đa dạng
văn hóa của mảnh đất phương Nam này.Trên từng con đường, góc phố, địa danh của thành phố
đều gắn liền với những danh nhân văn hoá - lịch sử, những chiến công của một thành phố anh
hùng.
4
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Do quy luật tất yếu trong của lịch sử, người Việt còn chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa
pháp như phụ nữ thì dồi phấn, thoa son, đi guốc cao gót, uốn tóc ngắn, xem điện ảnh, đọc báo, mặc
áo sơ mi, thắt cà vạt, ăn bánh mì, uống sam - banh, cà phê…..
Ngoài tính hiếu khách, tính bộc trực, mạnh mẽ , hào phóng và đôn hậu, người Sài Gòn còn
biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân hậu, bao
dung, tư chất thông minh và giàu nghị lực.
Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà
Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn,
không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến
chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói
chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà
chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người
Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới
cùng được ví von thế…Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …
mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa,
không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn
cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của
người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường
như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định - Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và
phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh”
của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không
bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.
Hiện TPHCM có 2,4 triệu tín đồ các tôn giáo, chiếm đến 1/3 dân số toàn TPHCM. Trong
số 2,4 triệu tín đồ các tôn giáo, Phật giáo chiếm số đông với 1,6 triệu người; tiếp theo là đồng bào
theo đạo Công giáo với hơn 645 ngàn người; Tin Lành: trên 65 ngàn người; Cao Đài: 48 ngàn
người; Hồi giáo: 5 ngàn người. Có thể thấy rõ nhất hình ảnh đồng bào theo Phật giáo sống hòa hợp
cùng những người không theo tôn giáo tại các khu xóm người Hoa ở Chợ Lớn. Cũng có thể lấy
minh chứng về chuyện đồng bào ở khu xóm Khmer (Q10) hay đồng bào Chăm theo đạo Hồi (Phú
Nhuận) nô nức đi bầu trong ngày bầu cử Quốc hội khóa XII vừa qua để thấy rằng tín đồ các tôn
giáo ở TPHCM có sinh hoạt và cuộc sống với tinh thần công dân như mọi người khác. Theo thống
kê của Ban Tôn giáo - Dân tộc, hiện toàn TPHCM có 8.147 chức sắc các tôn giáo và 1.544 cơ sở
thờ tự…
2. Lễ hội
2.1 Lễ hội Nguyên Tiêu của người Hoa
Hội nguyên tiêu là một trong những hoạt động thường niên của người Hoa với ý nghĩa cầu
cho mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no hạnh phúc, bắt đầu một năm mới làm ăn phát đạt và may
mắn.
Chương trình mừng lễ được khởi hành vào lúc 4h30 phút, các xe hoa bắt đầu diễu hành qua
các tuyến đường: Châu Văn Liêm, Hải thượng Lãn Ông, Phùng Hưng, Nguyễn Trãi, Sau đó, tập
kết lại trên đường Trần Xuân Hòa hướng vào Trung tâm Văn hóa bắt đầu biểu diễn các tiết mục
theo nhiều chủ đề đặc sắc.
Hấp dẫn nhất, tại sân khấu chính với sự tham gia biểu diễn của các đoàn ca múa kịch, trình
bày các ca khúc bằng tiếng Việt lẫn tiếng Hoa.
Trong khuôn khổ lễ hội còn tổ chức biểu diễn thư pháp, vẽ tranh tập thể, trò chơi đố đèn hoa, vớt
cá vàng... thu hút rất đông người dân tham gia.
2.2 Lễ hội vía Bà Thiên Hậu của cộng đồng người Hoa ở Thành Phố Hồ Chí Minh.
5
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Bà Thiên Hậu là một nữ thần, theo phong tục phong kiến của người Trung Quốc thì gọi bà
là “Thiên Hậu Thánh Mẫu”. Bà Thiên Hậu là hình ảnh mà người Hoa dùng để giáo dục con cháu
đời sau: Một con người nhân nghĩa, hiếu thuận với cha mẹ, xả thân vì cộng đồng. Cộng đồng này
đã lấy ngày 23 tháng 3 âm lịch làm ngày vía Bà (theo truyền thuyết đây là ngày Bà sinh ra đời).
Vào dịp này Ban Trị Sự của các miếu thờ Thiên Hậu sẽ tổ chức lễ cúng ca ngợi công đức, thể hiện
sự tin tưởng và tình cảm của cộng đồng đối với người thánh có vị trí quan trọng trong tâm thức của
bao thế hệ người Hoa. Dịp này còn là cơ hội qui tụ và tương trợ lẫn nhau của bà con người Việt
gốc Hoa.
Miếu Thiên Hậu đông vui và huyên náo vào những ngày lễ tết và ngày vía Bà. Ngày 23/3
Âm Lịch được xem là ngày lễ quan trọng nhất. Lễ hội là thời điểm người ta thể hiện tấm lòng của
mình đối với Thiên Hậu Thánh Mẫu nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa tâm linh, ý thức hòa nhập
cộng đồng, ôn lại những giá trị văn hóa truyền thống bao đời. Mặc khác, đây còn là cơ hội để giáo
dục thế hệ trẻ hiểu biết sâu hơn về tín ngưỡng văn hóa dân gian, những loại hình văn hóa nghệ
thuật mang đậm bản sắc dân tộc.
Lễ hội còn là dịp để bà con người Hoa cũng như người Việt đóng góp nguồn ngân sách cho
những hoạt động chung như: Trùng tu miếu, những hoạt động từ thiện xã hội, giúp đỡ bà con
nghèo, bảo trợ cho trường học, bệnh viện, cấp học bổng cho những sinh viên học sinh có hoàn
cảnh khó khăn.
Di tích và lễ hội là hai loại hình gắn liền nhau. Ta không thể tách lễ hội ra khỏi không gian
di tích vì lễ hội chính là cái hồn của di tích. Vì thế, lễ hội vía Bà được diễn ra ngay tại miếu Bà
Thiên Hậu. Vào ngày lễ, miếu được dọn dẹp sạch sẽ và trang trí những chiếc đèn lồng đỏ thắm.
Mặc dù, ngày nay phần lễ và phần hội đã được giảm tải nhiều, không còn được như thời quá khứ,
nhưng lễ vía bà vẫn được tổ chức trang nghiêm và long trọng thể hiện sự thành kính của cộng
đồng dành cho Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Trong quá khứ, lễ hội được tổ chức khá quy mô trong hai đến ba ngày. Từ ngày 22/3 người
ta tiến hành lễ tắm tượng, phủi đi lớp bụi thời gian, thay xiêm y mới được chọn trong những tấm
áo mà cộng đồng dâng cúng bà trong năm. Sáng hôm sau, đúng ngày 23/3, mọi người tổ chức lễ
rước bà, đặt tượng bà vào kiệu và cung nghinh kiệu đi quanh phố phường, theo kiệu là nam nữ nô
nức đi hội hòa vào đoàn múa lân, múa rồng làm huyên náo, sôi động cả một khu vực. Ngày vía bà
là dịp để cộng đồng người Hoa thưởng thức hát Quảng, buổi tối sân khấu được dựng ngay tại sân
miếu thu hút bà con đến xem trình diễn nghệ thuật, múa lân sư rồng và làm những hoạt động từ
thiện như: đấu thầu lồng đèn. Mỗi năm ban trị sự sẽ đưa ra mục tiêu là năm nay cần nguồn ngân
quỹ cho xây trường học, xây dựng khoa phụ sản của bệnh viện hoặc sửa sang miếu… Nhưng sau
giải phóng, các công trình công cộng như trường học, bệnh viện… được nhà nước tiếp quản. Vì
vậy, việc đấu thầu lồng đèn mất mục tiêu. Hiện nay, tại Tuệ Thành Hội Quán không còn loại hình
đấu thầu này nữa.
Sau khi ban trị sự làm lễ, bà con người Hoa muốn cúng lễ thì vào thắp nhang. Trong khi
cúng lễ, khách có thể mua ngay tại chỗ những vòng nhang cầu an có đường kính trung bình từ 50
đến 60cm, có loại đường kính đến một mét. Hội quán sẽ ghi tên, địa chỉ người cần cầu xin, ghi rõ
ước nguyện, cầu mong sức khỏe dồi dào, gia đạo bình an… trên một miếng giấy đỏ rồi đính kèm
vòng nhang. Sau đó, mang vòng nhang treo lên trần đốt. Mỗi vòng nhang cầu an như thế cứ cháy
suốt ngày đêm trong vòng một tháng, đây là một nét đặc trưng ở miếu Hoa.
2.3 Lễ hội trong ngày giỗ Vua Hùng
- Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10/3 âm lịch, các cơ sở tín ngưỡng dân gian ở thành phố
Hồ Chí Minh có thờ phụng vua Hùng đều tiến hành tổ chức lễ giỗ tổ theo nghi thức cổ
truyền. Đông đảo nhân dân đã đến lễ bái tưởng nhớ đến người đã khai sinh ra nước Văn
Lang. Khung cảnh lễ hội vừa trang nghiêm vừa đầm ấm.
- Tại đền thờ các Vua Hùng trong khuôn viên Thảo Cầm Viên (số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm,
phường Bến Nghé, quận 1), sở Văn hoá Thông tin thành phố tổ chức lễ giỗ tổ kết hợp giữa
6
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
lễ hội cổ truyền với các hoạt động văn hoá hiện đại. Các đại diện chính quyền, đại diện giới
thành niên Thành phố đọc bài nhớ ơn các vua Hùng và tâm nguyện giữ nước của thế hệ
thanh niên. Nghi thức cử nhạc khí cổ truyền (trống đồng, đàn đá, chiêng trống…) trong bầu
không khí trang nghiêm. Sau đó là phần lễ bái, tế lễ cổ truyền của mọi tầng lớp nhân dân
trong đền. Phần hội ngoài sân đền là chương trình biểu diễn cờ người, võ thuật, múa lân, sư
tử, múa rồng… rất hấp dẫn, thu hút đông đảo người xem.
2.4 Ngày giỗ Trần Hưng Đạo
- Ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều cơ sở tín ngưỡng dân gian thờ Trần Hưng Đạo. Hàng
năm vào ngày 20 tháng 8 âm lịch (ngày mất của ông), các cơ sở này đều tổ chức lễ giỗ với
nghi thức trang nghiêm để tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc làm chói ngời lịch sử nước nhà.
- Đền thờ Trần Hưng Đạo ở số 36 đường Võ Thị Sáu, quận 1, là một trong những ngôi đền
tổ chức lễ anh hùng Trần Hưng Đạo có quy mô nhất thành phố. Lễ giỗ diễn ra trong ba
ngày 19, 20, 21 tháng 8 âm lịch, với các nghi thức lễ tế cổ truyền Bắc Bộ, bao gồm nam tế
và nữ tế, nghi thức hát chầu văn ca ngợi công đức của vị anh hùng. Ngoài ra còn tổ chức
chơi cờ người…
- Trong những ngày này, các tầng lớp nhân dân tề tựu về lễ bái rất đông.
2.5 Lễ giỗ Lê Văn Duyệt
- Lễ giỗ Lê Văn Duyệt và phu nhân, một khai quốc công thần nhà Nguyễn đã từng giữ
chức Tổng trấn Gia Định. Trong lễ giỗ Lê Văn Duyệt ngoài phần lễ bái theo nghi thức cổ
truyền Nam Bộ, còn tổ chức hát bội. Nơi trình diễn là sân khấu được xây dựng trong gian
tiền điện, diễn xướng với nhiều nhân vật, nhiều tích trò… Đây là lễ hội lớn ở đất Gia Định
xưa và Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.
- Người đến chiêm bái còn có tục cầu an, cầu lộc, cầu tự, cầu phúc, cầu duyên… và hoá
giải những rủi ro, vận hạn của bản thân và gia đình.
- Ngày 1,2 tháng giêng âm lịch hàng năm có hội xuân diễn ra ở đây. Hội xuân có lễ dâng
hương cầu chúc năm mới. Cộng đồng người Việt, người Hoa tham dự lễ hội này rất đông.
2.6 Lễ giỗ Phan Công Hớn
- Phan Công Hớn là người lãnh đạo nhân dân 18 thôn vườn trầu khởi nghĩa tấn công dinh
tri huyện Trần Tử Ca - một tên tri huyện có nhiều nợ máu với nhân dân - mùa xuân năm
1885 tại Hóc Môn. Sau đó, để cho nhân dân khỏi bị đàn áp, bắt bớ, ông đã tự nộp mình và
bị Pháp hành quyết. Nhân dân đã lập đền thờ bên cạnh mộ phần của ông để ngày nay
hương khói tại ấp Tây Bắc Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn.
- Hàng năm, đến ngày 25 tháng 2 âm lịch, thân tộc của ông cùng bà con nhân dân Bà Điểm
tổ chức lễ giỗ ông tại đền thờ theo nghi thức cúng thần, gồm tế lễ cổ truyền với ban quý tế,
lễ dinh cùng ban nhạc lễ…Nhân dân đến dự lễ rất đông để tưởng nhớ đến một vị anh hùng
đã làm rạng danh truyền thống 18 thôn vườn trầu. Đến dự lễ giỗ còn có thầy trò của trường
tiểu học mang tên Phan Công Hớn.
2.7 Lễ Kỳ Yên đình Phú Nhuận
- Hàng năm, lễ hội Kỳ Yên làng Phú Nhuận xưa (nay là quận Phú Nhuận) diễn ra trong 3
ngày 16, 17, 18 tháng giêng âm lịch, tại làng Phú Nhuận, số 18 đường Mai Văn Ngọc, quận
Phú Nhuận.
Ngày đầu tiên, lễ hội bắt đầu bằng nghi thức tụng kinh, cầu an của Phật giáo, sau đó là
phần múa lân, biểu diễn võ thuật truyền thống và các nghi thức tế thần, tế Tiền hiền, Hậu
hiền cùng các anh hùng liệt sĩ theo truyền thống Nam Bộ. Buổi tối có hát bội. Ngày thứ hai
và thứ ba đều có nghi thức tế Thần theo truyền thống Bắc bộ. Đêm cuối chấm dứt lễ hội
với nghi thức tôn vương và hồi chầu theo truyền thống các đình Nam Bộ.
7
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
- Lễ hội Phú Nhuận thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân cùng các hội đình bạn tham
gia.
3. Ẩm thực
Là trung tâm của vùng đất phương Nam trù phú, sản vật dồi dào, nên món ăn Sài Gòn rất
đa dạng. Lại thêm là nơi hội tụ của cư dân từ mọi miền đất nước và cửa ngỏ tiếp xúc với thế giới
bên ngoài, nên thành phố đã tiếp nhận thêm các dòng ẩm thực của cả nýớc và thế giới, chọn lọc
tinh hoa thành một nền ẩm thực phong phú và hấp dẫn.
Ngày nay, người ta dễ dàng tìm thấy ở Sài Gòn vô số đặc sản Bắc, Trung, Nam hay quốc
tế, theo đúng nguyên bản cũng có, nhưng phổ biến hơn vẫn là những món đã được "Sài Gòn hóa"
để hương vị thêm phong phú, đậm đà. Chất Sài Gòn thường thể hiện ở vị ngọt, nhiều rau xanh và
nhiều thủy hải sản tươi sống. Chẳng hạn như món canh chua Sài Gòn đã kết hợp cả cái chua- mặn
của miền Bắc, cái cay nồng ớt tươi của miền Trung và cái ngọt xởi lởi của miền Nam. Món bún bò
Huế được "cải biên" để bớt cay, thêm ngọt, thêm béo và thêm rau. Món bò bít tết của phương Tây
thì mỏng hơn, chín hơn, nhiều gia vị hơn và kèm rau sống, đồ chua nhiều hơn…
Các món ăn cũng làm nên thương hiệu của chính nó. Du khách muốn thưởng thức món ăn
ngon phải đến đúng nơi như bột chiên đường Võ Văn Tần, gỏi bò khô Đinh Tiên Hoàng, thạch chè
Nguyễn Đình Chiểu, chè 3 màu - xôi mặn Bùi Thị Xuân, hột vịt lộn - nghêu sò Pasteur, bò bía Bà
Huyện Thanh Quan, cocktail sữa Nguyễn Tri Phương, bánh canh cua Ngã Sáu…
Bên cạnh đó, các món ăn của người Hoa rất đặc sắc như vịt quay Bắc Kinh, cơm chiên
Dương Châu, mì Hoành Thánh,…
Theo sách “Người Sài Gòn” của nhà Nam Bộ học Sơn Nam, NXB. Trẻ, 1990 có viết rằng:
“Nói chung, khẩu vị của người Sài Gòn là thích ngọt (món kho, món xào, thậm chí mắm sống)
dùng nhiều đường, không ăn mặn, uống đậm như người vùng biển phía Tây Nam. Những đặc sản
của Quảng Nam (mì Quảng), Huế (tré, chè, bánh bèo) của đồng bằng sông Hồng (chả lụa, bánh
cuốn, bánh lá gai, bung, vịt xáo măng) thường bày bán ở điểm riêng, dành cho giới sành điệu.
Mạch nha, đường phổi Quảng Ngãi có mặt ở Chợ Lớn, đủ món ăn Quảng Đông, Triều Châu, Tứ
Xuyên, thậm chí món Bắc Kinh”.
I/ HÀN QUỐC
1/ NHÀ HÀNG APGUJEONG
15C4 Thi sách, phường bến Nghé Quận 1, TP Hồ Chí Minh
08.38239400
2/ NHÀ HÀNG CHÚ TÙNG
E002 KP Mỹ Phước, Phú Mỹ Hưng, đường Nguyễn Văn linh, phường Tân Phong, quận 7,
TP Hồ Chí Minh
08.54120478
3/ NHÀ HÀNG HẢI SẢN HÀN QUỐC
3 Hậu Giang, Phường 4, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh
08.39480073
4/ NHÀ HÀNG HÀN QUỐC
37 Ngô Đức Kế, phường Bế Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh
08.38294297
5/ NHÀ HÀNG HÀN QUỐC ĐẠI PHÚ GIA
19 Thái Văn Lung, phường Bến Nghé, Quận 1, TP Hồ Chí Minh
8
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
08.38231156
6/ NHÀ HÀNG HÀN QUỐC GARDEN
449 Bình Quới phường 28, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh
08.35563829
II/ NHẬT BẢN
1/ CTY TNHH PHÚC THỊNH CHÂU
17/8-9 LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38222182
2/ CTY TNHH TMDV NGÂN ĐẠT
98N LÊ LAI, P.BT, Q.1, TP. HCM
08.38334798
3/ CTY TNHH TMDV AN KHÁNH
71-73 PASTEUR, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38244896
4/ CTY TNHH TMDV LỘC AN
SA1-1 KP MỸ KHÁNH 4 NGUYỄN ĐỨC CẢNH, P.TÂN PHONG, Q.7, TP. HCM
08.54121071
5/ DNTN NHÀ HÀNG LÝ BA
32A THI SÁCH, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38258954
6/ CTY TNHH TMDV VI BIỂN
3 LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38224552
7/ DNTN NHÀ HÀNG HẢI NGƯ
15E LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38272803
8/ DNTN NHÀ HÀNG HOA ANH ĐÀO
75 PASTEUR, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38292627
9/ CTY TNHH LÁ PHONG
9 TRẦN CAO VÂN, P.ĐK, Q.1, TP. HCM
08.38247882
10/ CTY TNHH NHÀ HÀNG CHUỒN CHUỒN ĐỎ (AKATONBO)
17/4 LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38244928
11/ CTY TNHH NHÀ HÀNG HOA SEN
9
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
32 HAI BÀ TRƯNG, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38224965
12/ AKATAIYO - NHÀ HÀNG
74B HAI BÀ TRƯNG, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38244295
III/ ẤN ĐỘ
1/ CTY TNHH TM NHÀ HÀNG A & T
17/10 LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38231372
2/ NHÀ HÀNG ẤN ĐỘ NEW-DELHI
111A BÙI VIỆN, P.PNL, Q.1, TP. HCM
08.38379636
3/ NHÀ HÀNG ẤN ĐỘ TANDOOR
74/6 HAI BÀ TRƯNG, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.39304839
4/ NHÀ HÀNG GANESH
15B4 LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38223017
5/ NHÀ HÀNG INDIAN CURRY-RICE
66 ĐÔNG DU, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38232159
6/ NHÀ HÀNG MUMTAZ
226 BÙI VIỆN, P.PNL, Q.1, TP. HCM
08.38371767
7/ QUÁN NẮNG SÀI GÒN
181 VÀNH ĐAI TRONG, P.BÌNH TRỊ ĐÔNG, Q.BTÂN, TP. HCM
08.62602066
8/ SAIGON INDIAN RESTAURANT
73 LẦU 1 MẠC THỊ BƯỞI, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38245671
IV/ BRAXIN
1/ CTY TNHH PHÚC LỘC THỊNH
56 BÙI THỊ XUÂN, P.BT, Q.1, TP. HCM
08.39255258
2/ AU LAC DO BRAZIL STEAK RESTAURANT
238 PASTEUR, P.6, Q.3, TP. HCM
10
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
08.38207157
V/ ĐÀI LOAN
1/ NHÀ HÀNG CHEN
294 NGUYỄN THIỆN THUẬT, P.3, Q.3, TP. HCM
08.38307112
2/ NHÀ HÀNG RITZ TAIWANESE
333 TRẦN HƯNG ĐẠO, P.CK, Q.1, TP. HCM
08.39201325
3/ QUÁN ĂN VA THÀNH
24 NGUYỄN TRÃI, P.3, Q.5, TP. HCM
08.39235819
VI/ĐỨC
1/ NHÀ HÀNG ONE MORE
SA9-1 KP MỸ KHÁNH 3, PHÚ MỸ HƯNG, P.TÂN PHONG, Q.7, TP. HCM
08.54121002
2/ NHÀ HÀNG BAR ĐỨC BẢO
34 ĐỒNG KHỞI, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38276296
3/ NHÀ HÀNG BAVARIA
4B NGÔ VĂN NĂM, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.38292080
VII/ MALAYSIA
NHÀ HÀNG SATAY HOUSE
35 MẠC ĐĨNH CHI, P.ĐK, Q.1, TP. HCM
08.38221727
VIII/ MỸ
NHÀ HÀNG NƯỚNG AMIGO
55-57 NGUYỄN HUỆ, P.BN, Q.1, TP. HCM
08. 38290437
IX/ NGA
CTY TNHH SX TMDV XNK CON NGỰA VẰN
4 LẦU 1 LÊ LỢI, P.BN, Q.1, TP. HCM
08.22405824
X/ PHÁP
QUÁN GÀ NƯỚNG PHÁP 1
180 HAI BÀ TRƯNG, P.ĐK, Q.1, TP. HCM
11
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
08.38297939
4. Công trình kiến trúc và danh thắng
Để chuyến du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh hoặc là chuyến city tour được trọn vẹn, có những
điểm tham quan tiêu biểu mà bạn không thể bỏ qua.
+ Với hệ thống 11 bảo tàng, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có số bảo tàng nhiều nhất so
với các tỉnh, thành trong cả nước. Nội dung trưng bày của các bảo tàng khá phong phú, và không
chỉ về lịch sử và văn hóa địa phương, mà của cả Nam bộ, quốc gia và khu vực Đông Nam Á,
cung cấp nhiều kiến thức lý thú.
+ Trên 1.000 ngôi chùa, đình, đền và miếu được xây dựng qua nhiều thời kỳ cũng là
những tài sản quý về văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật. Bạn sẽ tìm thấy những chùa Phật giáo
Nam bộ tiêu biểu, những ngôi đình xưa gắn liền với lịch sử khẩn hoang mở đất. Bên cạnh đó là
những chùa "cách tân" lớn nhất và đẹp nhất trong cả nước, kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong
cách hiện đại với kiến trúc chùa cổ truyền. Thành phố có đến nửa triệu người Hoa sống tập trung
nên số chùa Hoa cũng nhiều nhất so trong nước, kiến trúc đa dạng và phong phú, nhiều chùa đã
được công nhận di tích lịch sử - văn hóa của thành phố và quốc gia.
+ Người Pháp đã để lại nhiều công trình kiến trúc đẹp và đa dạng. Có thể nói hiếm có đô
thị nào ở Đông Nam Á lại có nhiều dạng kiến trúc, nhiều trường phái, phong cách nghệ thuật
phương Tây như Thành phố Hồ Chí Minh. Điển hình như trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố
được xây dựng theo bản thiết kế của kiến trúc sư Gardès với lối kiến trúc thời Phục Hưng, Ngân
hàng Nhà nước chịu ảnh hưởng trào lưu Tân Nghệ thuật, Nhà Thiếu nhi với phong cách Tân Cổ
điển, Nhà Rồng phong cách Đông Dương, Bưu điện trung tâm với trường phái Chiết Trung là sự
kết hợp hài hòa giữa hai phong cách kiến trúc Đông - Tây, Nhà thờ Đức Bà với nghệ thuật
Rôman, nhà thờ Huyện Sĩ theo Tân Gôtic…
+ Mảng kiến trúc đương đại, đang bùng nổ, trăm màu trăm vẻ, tạo cho thành phố một diện
mạo vui mắt, trong đó có một số tòa nhà đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao.
+ Nhưng điểm du lịch độc đáo nhất của thành phố vẫn là Địa đạo Củ Chi, một công trình
độc đáo trong lịch sử quân sự thế giới, biểu tượng của ý chí sắt đá và thông minh mưu trí của quân
dân thành phố trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Lẫy lừng không kém là rừng ngập
mặn Cần Giờ với những trận chiến phá tàu giặc trên cửa sông Sài Gòn, nay là một điểm du lịch
sinh thái tuyệt vời với những cánh rừng đước xanh vô tận.
Kiến trúc công quyền,
công cộng
Dinh Độc Lập · Trụ sở Ủy ban Nhân dân · Nhà hát lớn · Bưu
điện Trung tâm · Chợ Bến Thành · Nhà hát Hòa Bình
Kiến trúc tôn giáo,
tâm linh
Nhà thờ Đức Bà · Nhà thờ Huyện Sỹ · Nhà thờ Cha Tam · Nhà
thờ Thánh Jeanne d'Arc · Chùa Vĩnh Nghiêm · Việt Nam Quốc
Tự · Chùa Xá Lợi · Chùa Giác Lâm · Chùa Nghệ Sĩ · Lăng
Ông · Miếu Nổi
Công viên, khu sinh thái
Thảo Cầm Viên · Suối Tiên · Công viên Gia Định · Đầm Sen ·
Công viên 23 tháng 9 · Công viên Tao Đàn · Công viên Lê Văn
Tám · Địa đạo Củ Chi · Rừng ngập mặn Cần Giờ · Vườn cò Thủ
Đức
Bảo tàng
Bảo tàng thành phố · Bảo tàng Lịch sử Việt Nam · Bảo tàng Mỹ
thuật Thành phố Hồ Chí Minh · Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ · Bảo
tàng Chứng tích chiến tranh · Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh
Kiến trúc hiện đại Saigon Trade Centre · Saigon Centre · Diamond Plaza · Tháp Tài
12
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Chính · Khu đô thị Phú Mỹ Hưng
Địa danh văn hóa
và giao thông
Cảng Sài Gòn · Ga Sài Gòn · Cầu Sài Gòn · Cầu Bình Triệu · Cầu
Ông Lãnh · Bến Nhà Rồng · Xa lộ Hà Nội · Xa lộ Đại Hàn · Hồ
Con Rùa · Đường hoa Nguyễn Huệ · Chợ Lớn - Phố người Hoa ·
Phố Tây ba lô · Thanh Đa · Thủ Thiêm · Sân bay quốc tế Tân
Sơn Nhất
4.1 Vương cung Thánh đường Chánh tòa Đức Bà Sài Gòn.
Vương cung Thánh đường Chánh tòa Đức Bà Sài Gòn (người dân quen gọi là Nhà thờ Đức
Bà) tọa lạc giữa trung tâm thành phố (số 1 Công trường Công xã Paris, Quận 1). Đây là một trong
những công trình đặc sắc thu hút nhiều khách tham quan nhất tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi
giáo đường tráng lệ và cổ kính này không chỉ là một công trình tôn giáo mà còn là một kiến trúc
mang nhiều giá trị văn hóa, lịch sử.
Ngay sau khi chiếm Sài Gòn, Pháp đã cho lập nhà thờ để làm nơi hành lễ cho tín đồ Thiên
Chúa giáo trong đoàn quân viễn chinh. Ngôi nhà thờ đầu tiên được lập ở đường số 5 (nay là đường
Ngô Đức Kế). Đây là một ngôi chùa của người Việt bị bỏ hoang do chiến cuộc, cố đạo Lefebvre
đã biến ngôi chùa này thành nhà thờ.
Nhà thờ đầu tiên đó quá nhỏ nên vào năm 1863, Đô đốc Bonard đã quyết định cho khởi
công xây dựng một thánh đường bằng gỗ bên bờ “Kinh Lớn” (còn gọi là kinh Charner, thời Việt
Nam Cộng hòa là trụ sở Tòa Tạp tụng). Cố đạo Lefebvre đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ
vào ngày 28 tháng 3 năm 1863. Nhà thờ xây cất bằng gỗ, hoàn thành năm 1865, ban đầu gọi là
Nhà thờ Saigon. Về sau, do nhà thờ gỗ này bị hư hại nhiều vì mối mọt, các buổi lễ được tổ chức
trong phòng khánh tiết của “dinh Thống Đốc” cũ, về sau cải thành chủng viện Taberd, cho đến khi
nhà thờ lớn xây xong
Ban đầu, địa điểm xây cất được đề nghị ở 3 nơi:
- Trên nền Trường thi cũ (nay là góc đường Lê Duẩn và Hai Bà Trưng, tức vị trí tòa Lãnh sự
Pháp).
- Ở khu Kinh Lớn (tại vị trí nhà thờ cũ, nay thuộc đường Nguyễn Huệ).
- Vị trí hiện nay..
Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên trước mặt
Phó soái Nam Kỳ và đông đủ nhân vật tai mắt thời ấy. Thánh đường được xây dựng trong 3 năm.
Lễ Phục sinh, ngày 11 tháng 4 năm 1880, lễ cung hiến và khánh thành được cố đạo Colombert tổ
chức trọng thể với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers. Hiện nay, trên bệ phía
trên, bên trong cửa ra vào nhà thờ, có chiếc bảng cẩm thạch gắn trong hành lang (transept) ghi
ngày khởi công, ngày khánh thành và tên vị công trình sư.
Tất cả mọi chi phí xây dựng, trang trí nội thất đều do Soái phủ Nam Kỳ đài thọ, với số tiền
2.500.000 franc Pháp theo tỷ giá thời bấy giờ. Ban đầu, thánh đường có tên gọi là Nhà thờ Nhà
nước vì thánh đường do nhà nước Pháp bỏ tiền xây dựng và quản lý.
Ngày 05/12/1959, Tòa thánh Vatican đã cho phép làm lễ “xức dầu”, tôn phong Nhà thờ
Chánh tòa Sài Gòn lên hàng Vương cung Thánh đường (basilique). Từ đó, tên gọi chính thức của
thánh đường là Vương cung Thánh đường Chánh tòa Đức Bà Sài Gòn.
Năm 1960, Tòa thánh Vatican thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam với ba tòa Tổng Giám
mục (tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn), Nên Nhà thờ mang tên Nhà thờ Chánh tòa Sài Gòn. Năm 1962,
Tòa thánh Vatican tôn phong Nhà thờ Chánh tòa Sài Gòn lên hàng Vương cung Thánh đường. Do
đó tên gọi đầy đủ là Vương cung Thánh đường Chánh tòa Đức Bà Sài Gòn. Đây là nhà thờ Thiên
chúa giáo lớn nhất và xưa nhất ở Việt Nam.
13
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Nhà thờ đức Bà được thực hiện theo đồ án của kiến trúc sư J. Bourad. Nhà thờ được khởi
công xây dựng từ năm 1877 và hoàn thành vào năm 1880. Trong đó, toàn bộ nhà thờ có chiều dài
là 93m, rộng 35,5m và cao 57 m (tính từ mặt đất tới đỉnh tháp chuông) Sau khi đề án thiết kế được
chọn, Đô đốc Duperré cho đấu thầu việc xây dựng thánh đường và cũng chính kiến trúc sư J.
Bourad là người trúng thầu và trực tiếp giám sát công trình này. Mọi vật liệu từ xi măng, sắt thép
đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. Đặc biệt mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm
tại Marseille (Pháp) để trần, không tô trát, (đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi), không bám bụi
rêu.
Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6 m và hai tháp có 6
chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. Trên đỉnh tháp có đính một cây thánh giá cao 3,50 m, ngang 2 m,
nặng 600 kg. Tổng thể chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60,50 m.
Trên vườn hoa trước nhà thờ, năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de
Béhaine (còn gọi là Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh
(con vua Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp “bảo hộ”, “khai hóa” cho Việt Nam.
Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc
hình đức cha Adran với phẩm phục giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh.
Năm 1945, tượng này bị phá bỏ, nhưng cái bệ đài bằng đá hoa cương đỏ thì vẫn còn tồn tại
ở đó mà không có bất cứ một bức tượng nào ở trên.
Năm 1959, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên (sau làm Giám mục giáo phận Phú Cường,
nay đã qua đời), cai quản Giáo xứ Sài Gòn bấy giờ, đi dự đại hội Thánh Mẫu ở Vatican, đã đặt tạc
một tượng Đức Mẹ Hòa Bình bằng loại đá cẩm thạch quý hiếm. Khi tượng từ Roma gửi sang Sài
Gòn bằng đường thủy, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên đã làm lễ dựng tượng trên cái bệ đài vẫn
còn để trống kể từ năm 1945 vào ngày 16 tháng 2 năm 1959 và dâng tước hiệu Nữ Vương Hòa
Bình. Tự tay linh mục viết câu kinh cầu nguyện “Xin Đức Mẹ cho Việt Nam được hòa bình” rồi
đọc trước đông đảo quan khách có mặt hôm ấy. Ngày hôm sau, Hồng y Aganianian từ Roma qua
Sài Gòn để chủ toạ lễ bế mạc Đại hội Thánh Mẫu, đã làm phép bức tượng này vào buổi chiều ngày
17 tháng 2 năm 1959. Do bức tượng này mà từ đó Nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Đức Bà.
Mặt trước thánh đường là một công viên với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh
giá. Trung tâm của công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa bình (hay Nữ vương Hòa bình). Tượng do
nhà điêu khắc G. Ciocchetti thực hiện năm 1959. Tên của tác giả được ở trên tà áo dưới chân, phía
bên trái của bức tượng. Bức tượng cao 4,6 m, nặng 5,8 tấn, bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được
tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt
vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu,
trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời như đang cầu nguyện
cho Việt Nam và cho thế giới được hoà bình. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn (mà hiện nay, đầu con
rắn đã bị bể mất cái hàm trên). Trên bệ đá, phía trước bức tượng, người ta có gắn một tấm bảng
đồng với hàng chữ Latinh: “REGINA PACIS - OPRA PRONOBIS - XVII. II. MCMLIX” - “NỮ
VƯƠNG HÒA BÌNH - CẦU CHO CHÚNG TÔI - 17.02.1959″
Phía dưới bệ đá, người ta đã khoét một cái hốc chỗ giáp với chân tượng Đức Mẹ, trong đó
có một chiếc hộp bằng bạc, chứa những lời kinh cầu nguyện cho hoà bình của Việt Nam và thế
giới. Những lời cầu nguyện đó được viết lên trên những lá mỏng bằng những chất liệu khác nhau
như bằng vàng, bạc, thiếc, nhôm, giấy, da và đồng, được gởi tới từ nhiều miền của Việt Nam, kể
cả từ một số vùng ngoài miền Bắc.
Toàn bộ mặt ngoài nhà thờ được xây bằng loại gạch đặt tại Marseille (Pháp), không tô vữa
và tới nay vẫn hồng tươi, làm toàn bộ công trình nổi bật trên nền cây xanh mát. Những kiếng màu
trong nội thất với hoa văn độc đáo là do hãng Lorin của tỉnh Chartres (Pháp) sản xuất. Các ô cửa
cuốn tròn kiểu Rôman cùng cung vòm gãy kiểu Gôtic gợi nhớ dạng thánh đường lớn ở Pari,
Chartres, Reim. Riêng phần móng của nhà thờ được thiết kế chịu tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến
trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên.
14
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Điều đặc biệt là nhà thờ này không có vòng rào hoặc tường bao quanh như các nhà thờ khu
vực Sài Gòn - Gia Ðịnh lúc ấy và bây giờ. Bên trong nhà thờ được thiết kế thành một lòng chính,
hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch
nguyên khối với sáu thiên thần (khắc thẳng vào khối đá) đỡ mặt bàn thờ. Bên cạnh đó, là bệ chia
làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích. Mỗi nhà nguyện, mỗi ô cửa sổ hay
mỗi khoang trên vòm mái đều là một tác phẩm nghệ thuật. Tất cả chan hòa trong ánh sáng êm dịu,
tạo cảm giác an lành và thánh thiện.
Theo các chuyên viên văn hóa, tuy ngôi thánh đường không lớn, nhưng sức hấp dẫn được
toát ra từ vẻ đẹp mẫu mực của kiến trúc Roman pha trộn nét Gôtich. Tất cả các đường nét, gờ chỉ,
hoa văn trong nội thất cũng đều theo thức Roman và Gôtich làm đậm nét tôn nghiêm và trang nhã
nơi thánh đường.
Ngoài ra, còn phải kể đến những cổ vật độc đáo, quý hiếm bên trong, đó là bộ 06 chuông
nặng tổng cộng 25.850kg (lớn nhất Viễn Ðông thời đó), âm thanh phát ra là Sol, La, Si, Do, Ré,
Mi. Vì nhà thờ có kiến trúc theo kiểu mẫu Notre Dame de Paris, nên hai gác chuông cũng cao
ngang tầm nóc nhà thờ.
Trong đó, lầu chuông bên Nam (từ công viên nhìn vào là lầu chuông bên tay phải), được
treo bốn quả chuông sol, đô, rê, mi. Lầu chuông bên Nữ (bên trái nhìn từ công viên) treo hai quả
chuông la và si. Trên mặt mỗi quả chuông đều có các họa tiết rất tinh xảo. Trong đó chuông sol là
một trong những quả chuông lớn nhất thế giới (nặng 8.785kg), đường kính miệng chuông 2,25m,
cao 3,5m.
Đây là chuông mang âm trầm, với cường độ cực lớn, như giọng bass trong dàn hợp xướng,
nó chỉ ngân lên mỗi năm một lần vào đêm Giáng sinh. Muốn đổ chuông sol cần ba đến bốn người
khởi động cho chuông lắc gần tới độ cao ngang với giá treo rồi mới bật công tắc điện cho động cơ
đánh tiếp.
Ngày lễ và chủ nhật, nhà thờ thường cho đổ ba chuông, ngày thường chỉ đổ một chuông mi
hoặc rê vào lúc 5 giờ và 17g30. Dù thiếu chuông fa nhưng khi cả năm chuông cùng đổ sẽ tạo nên
bản hòa tấu đủ cung bậc trầm bổng. Tiếng chuông ngân xa tới 10km theo đường chim bay.
Một cổ vật quí giá nữa là đồng hồ trước vòm mái, có chiều ngang 2m, cao 1m với bộ máy nặng
trên 1.000 kg, đặt nằm trên bệ gạch giữa hai tháp chuông. Mặt kim đồng hồ hướng ra đường
Catina (nay là đường đồng Khởi). Máy đồng hồ trông đơn giản, thô sơ nhưng chạy bền và đúng
giờ, đổ chuông báo giờ rất chính xác. Riêng hệ thống chuông đồng hồ không còn hoạt động do dây
cót quá cũ. Ðồng hồ này chào đời từ 1877, đến nay đã được 132 tuổi.
Nhà thờ Đức Bà hoàn toàn không có chỗ cho nến (đèn cầy). Toàn bộ đèn - có mặt ngay từ khi xây
dựng xong - đều dùng điện.
Ngày nay, Nhà thờ Đức Bà không chỉ là nơi hành lễ của những người công giáo, mà còn trở thành
một hình ảnh thân quen của người dân Sài Gòn, là một điểm tham quan yêu thích của mỗi du
khách đến với thành phố phương Nam quanh năm ngập tràn ánh nắng.
4.2 Bến Nhà Rồng
Bến Nhà Rồng khởi nguồn là một thương cảng lớn của Sài Gòn - Tp Hồ Chí Minh, tòa nhà
ba tầng này tọa lạc trên ngã ba sông Sài Gòn, đầu đường Nguyễn Tất Thành,quận 4 được người
dân Sài Gòn gọi bởi cái tên quen thuộc “Bến Nhà Rồng” không chỉ nổi tiếng bởi lối kiến trúc dị
biệt “ thượng ta hạ tây” mà còn bởi một sự kiện lịch sử quan trọng đối với đất nước và dân tộc
Việt Nam.
Bến Nhà Rồng nguyên là trụ sở của đại diện hãng chuyên chở hàng hải Pháp (thuộc Công
ty vận tải đường biển Pháp Messageries Pharitimes) xây dựng năm 1862 ngay sau khi Pháp vừa
chiếm xong Sài Gòn và ba tỉnh miền Đông nam bộ, để làm nơi ở cho viên tổng quản lý và là nơi
15
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
bán vé tàu. Đây là một trong số hàng trăm công trình kiến trúc thời Pháp còn để lại, di tích lịch sử
này nổi bật bởi lối kiến trúc độc đáo kết hợp Đông-Tây.
Mang vẻ đẹp kiến trúc Pháp nhưng trên nóc nhà gắn hai con rồng bằng đất nung tráng men
xanh châu đầu vào mặt trăng theo mô típ "Lưỡng long chầu nguyệt".Nhìn mái nhà ấy ta dễ liên
tưởng đến mái đình của một ngôi chùa Việt Nam. Tuy nhiên, nhà thiết kế đã khéo léo thay đổi ở
giữa thay vì trái châu thì là chiếc phù hiệu mang hình “Đầu ngựa và chiếc mỏ neo” để phù hợp với
biểu tượng của hãng tàu Pháp. “Đầu ngựa” hàm chỉ thời trước, công ty này chuyên chở hang
bằng đường bộ với ngựa kéo xe, còn “Mỏ neo” tượng trưng cho tàu thuyền.Với kiểu kiến trúc độc
đáo đó nên nơi này còn được gọi là Nhà Rồng. Năm 1955, sau khi thực dân Pháp thất bại ở Việt
Nam, thương cảng này được chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý. Họ đã
cho tu bổ lại mái ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng khác với tư thế quay đầu
ra.
Bên cạnh vẻ đẹp độc đáo, bến Nhà Rồng được nhắc đến trên sách sử Việt Nam như một di
tích lịch sử đáng nhớ.Chính tại nơi này, vào ngày 5 tháng 6 năm 1911, người thanh niên trẻ
Nguyễn Tất Thành (lúc bấy giờ lấy tên là Nguyễn Văn Ba,sau đổi là Hồ Chí Minh) đã xuống con
tàu Amiral Latouche Tréville làm phụ bếp để có điều kiện sang châu Âu tìm đường cứu nước.
Ngày 3 tháng 9 năm 1979, Uỷ ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh quyết định lấy Nhà rồng là "Khu
lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh" (tức Bảo tàng Hồ Chí Minh). Bên trong khu nhà lưu niệm có
trưng bày nhiều hình ảnh và hiện vật về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch.
Từ đó đến nay, Bảo tàng Hồ Chí Minh - Bến Nhà Rồng đã đón tiếp hàng chục triệu lượt
khách trong và ngoài nước vào tham quan. Ngoài ra, tại đây thường tổ chức những cuộc biểu diễn
nghệ thuật, nghe kể chuyện truyền thống, tổ chức lễ kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn viên... Ngoài
những hoạt động chính, Bảo tàng còn tiến hành những hoạt động tuyên truyền giáo dục rộng rãi
nhằm làm cho tư tưởng và đạo đức của Hồ Chủ tịch đi sâu vào quần chúng nhân dân, đặc biệt là
thế hệ trẻ như: tổ chức các Hội nghị khoa học, các cuộc tọa đàm giữa các thế hệ, nói chuyện
chuyên đề về Bác, chiếu phim, thực hiện sưu tập những tư liệu hồi ký về Bác, các ấn phẩm về Bảo
tàng .
4.3 Bảo tàng Chứng tích chiến tranh
Ngày 31/8/1858 thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược đặt
ách thống trị thuộc địa lên đất nước Việt Nam. Trong gần 100 năm nhân dân Việt Nam đã anh
dũng tiến hành cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Ngày
2/9/1945, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc
lập, chấm dứt ách đô hộ của thực dân Pháp, khẳng định quyền độc lập tự do của nhân dân Việt
Nam. Nhưng thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ tiếp tục tiến hành chiến tranh xâm lược, âm
mưu khôi phục ách thống trị và thiết lập chế độ thực dân kiểu mới ở Việt Nam. Trong suốt 30
năm, nhân dân Việt Nam lại phải kiên cường chiến đấu với biết bao hy sinh gian khổ để bảo vệ
nền độc lập tự do của mình.
Ngày 30/4/1975, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn: hòa
bình, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được khôi phục.
Để lưu lại những chứng tích anh hùng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống
các thế lực xâm lược, đồng thời để tố cáo những tội ác và nêu bật những hậu quả tàn khốc của
cuộc chiến tranh xâm lược, ngày 4/9/1975 Nhà Trưng bày tội ác Mỹ - Ngụy được mở cửa phục vụ
công chúng. Sau đó, Nhà Trưng bày tội ác Mỹ - Ngụy được đổi tên thành Nhà Trưng bày Tội ác
Chiến tranh xâm lược (ngày 10/11/1990) trước khi trở thành Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh
(ngày 4/7/1995).
Với hơn 15.000 hiện vật, hình ảnh cùng hàng nghìn thước phim tư liệu về thời kỳ kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, bảo tàng là một trong những địa chỉ du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh
luôn có lượng khách đến tham quan đông nhất. Đây cũng là nơi được bầu chọn “10 điểm tham
quan tiêu biểu” trong chương trình “Thành phố Hồ Chí Minh-100 điều thú vị."
16
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Ngay từ cổng vào là khu trưng bày ngoài trời “Các loại vũ khí, phương tiện Mỹ sử dụng
trong chiến tranh Việt Nam." Những chiếc máy bay phản lực chiến đấu hiện đại nhất thời đó như
Air Force, máy bay trinh sát chiến đấu tự động chụp ảnh, máy bay lên thẳng đổ bộ quân có khả
năng đậu trên mặt nước, pháo tự hành M107-175mm từng được mệnh danh là “Vua chiến trường”
có tầm bắn tới 32,7km, tàn phá mục tiêu trong bán kính 520m, sức công phá ở độ sâu 35m, rộng
95m.…
Du khách không khỏi rùng mình với các loại bom mìn giết người, trong đó có xác một quả
bom địa chấn (phát quang BLU-82B) cao 3,35m, đường kính 1,37m, chứa đến 5,7 tấn thuốc nổ,
sức công phá trong phạm vi 100m và gây chấn động mạnh trong khu vực có đường kính 3,2km.
Tại khu vực trưng bày tội ác chiến tranh, những bức ảnh đen trắng đã ngả màu do các
phóng viên chiến trường hai bên chiến tuyến chụp đã làm nhiều du khách ngậm ngùi. Một em nhỏ
độ một tuổi ngồi ngơ ngác đơn côi trên vùng đất trống sau lưng toán lính Mỹ; cảnh lính Mỹ tra tấn
dã man tù binh “Việt Cộng;" cảnh bà mẹ đau khổ dìu 4 đứa con bơi qua sông chạy càn...
Du khách đã thực sự xúc động khi bước vào phòng trưng bày có tên “Hồi niệm." Nơi đây
lưu giữ những bức ảnh của 134 phóng viên chiến trường thuộc 11 quốc tịch đã chụp trong chiến
tranh Việt Nam và tất cả đều đã hy sinh tại chiến trường Việt Nam và Đông Dương. Những bức
ảnh đã phơi bày sự thật về mức độ tàn bạo nhất của cuộc chiến. Đây là quà tặng của nhân dân bang
Kentucky, Mỹ gửi đến nhân dân Việt Nam.
Khu vực tái hiện “Chuồng cọp Côn Đảo” cũng làm du khách rùng mình về cách mà những
chiến sĩ cách mạng kiên trung nhất phải chịu đựng trong chế độ lao tù của giặc. Việc sưu tầm hiện
vật cho bảo tàng cũng một công việc không kém phần quan trọng của các cán bộ bảo tàng.
Nếu không được thuyết minh, du khách dễ dàng bỏ qua hiện vật là một cái ống cống to
nặng trưng bày ở góc sân. Nhưng đó chính là ống cống mà ba em nhỏ trong một gia đình đã trốn
vào đó trong vụ lính Mỹ thảm sát 21 người dân vô tội ở Thạnh Phong, tỉnh Bến Tre năm 1969. Ba
em nhỏ đã bị lính Mỹ lôi ra giết dã man. Trên thành ống cống vẫn còn vết máu do bàn tay nhỏ xíu
của một em nhỏ bám vào. Chỉ huy vụ đó là Bob Kerry, sau này là Thượng nghị sĩ Mỹ, bị báo chí
Mỹ lên án rất nhiều.
Bà Phạm Thị Lãnh (con ông Bùi Văn Vát, gia đình có năm người bị giết trong vụ đó) đã
lưu giữ ống cống này. Cán bộ bảo tàng nhiều lần đến gặp để thương lượng mang ống cống về,
nhưng bà Lãnh đều không chấp nhận. Mãi đến năm 2009, nhân ngày giỗ 40 năm sau vụ thảm sát,
cán bộ bảo tàng về Bến Tre thắp hương, bà Lãnh mới mềm lòng chấp nhận cho mang ống cống về,
chỉ nhận lại một bàn thờ. Nghe câu chuyện xúc động đó, rất nhiều du khách đã khóc.
Tại bảo tàng có một phòng tranh thiếu nhi mang tên “Chiến tranh và hòa bình." Hàng năm,
bảo tàng tổ chức cho các em thiếu nhi vẽ tranh với nhiều chủ đề tình yêu quê hương, đất nước, ông
bà, cha mẹ... Những bức tranh đẹp nhất được lưu giữ nơi đây. Ước mơ của các em rất đơn giản đó
là được sống trong đất nước hòa bình, được đi học và làm những điều mình yêu thích.
Bước ra từ bảo tàng này không một du khách nào không nghẹn ngào mong ước về một nền
hòa bình vĩnh cửu trên khắp thế giới.
4.4 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Bảo tàng lịch sử Việt Nam - thành phố Hồ Chí Minh được thành lập tháng 8 năm 1979.
Tiền thân của bảo tàng này là “ Bảo tàng Blanchard de la Brosse” (từ 1929-1956) và “ Viện bảo
tàng quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn” (từ 1956-1975) với nội dung trưng bày chủ yếu về mỹ thuật
cổ của một số nước châu Á.
Sau ngày Miền Nam giải phóng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP.HCM được thành lập
theo quyết định 235/QĐ-UB 28.08.1979 của ủy Ban Nhân Dân TP.HCM. Hơn một phần tư thế kỷ
hoạt động, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP.HCM đã sưu tầm được hơn 25.000 hiện vật. Xây dựng
10 kho bảo quản hiện vật, với diện tích 996 m2
.
17
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Hiện nay bảo tàng đươc mở rộng thêm và thay đổi cơ bản về nội dung hoạt động thành
một bảo tàng vừa mang tính lịch sử của dân tộc vừa thể hiện các đặc trưng văn hoá của các dân tộc
phía Nam và văn hóa một số nước trong khu vực để phục vụ các đối tượng công chúng và phục vụ
công tác nghiên cứu khoa học.
Ngày 18 tháng 2 năm 1927, nhà sưu tầm cổ vật Holbé qua đời, để lại nhiều cổ vật trị giá
45.000 đồng bạc Đông Dương (là một số tiền lớn lúc bấy giờ).
Để mua lại số cổ vật này, ngày 17 tháng 6 năm ấy, Hội Nghiên cứu Đông Dương đã tổ
chức một cuộc họp bất thường, và cuối vào đi đến quyết định là: xin 5 hội viên hảo tâm cho mượn
trước số tiền trên, đồng thời xin phép chính quyền cho mở cuộc lạc quyên số tiền ấy trong dân
chúng (để trả lại), với cam kết là sẽ tặng lại nhà nước số cổ vật sau khi mua xong.
Sau khi hoàn tất công việc trên, để có chỗ gìn giữ và trưng bày số vật của Holbé vừa mua
được, cùng với nhiều cổ vật khác mà Hội đã có (nhờ thu mua hay được tặng), Hội đã đề nghị với
chính quyền xây dựng Bảo tàng, và xin dành cho Hội một phòng làm trụ sở và thư viện của Hội
(chứa trên 5.000 tác phẩm chuyên khảo về Đông Dương và Viễn Đông bằng các thứ tiếng).
Thuận theo đề nghị, ngày 28 tháng 11 năm 1927, Thống đốc Nam Kỳ là Blanchard de la
Brosse đã ký nghị định thành lập Bảo tàng Blanchard de la Brosse (kể từ đây có khi gọi là Bảo
tàng) ở Sài Gòn, đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của chính quyền Nam Kỳ, và thuộc quyền
kiểm soát khoa học của Viện Viễn Đông Bác cổ.
Ngày 8 tháng 6 năm 1928, viên Bảo thủ văn thư của Hội là Jean Bouchot được cử làm
Giám thủ đầu tiên của Bảo tàng . Và ngày 1 tháng 1 năm 1929, chính quyền Nam Kỳ đã long trọng
khánh thành Bảo tàng Blanchard de la Brosse.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Việt Nam chính thức phục hồi nền độc lập sau gần 100 năm
Pháp thuộc. Ngày 20 tháng 10 năm ấy, Bộ Quốc gia Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra nghị định đổi tên các Học viện, Thư viện và Bảo tàng. Theo đó, Bảo tàng Blanchard de la
Brosse được đổi tên là Gia Định Bảo tàng viện. Tuy nhiên, đó chỉ là lý thuyết vì ngày 23 tháng
9 năm 1945, quân Pháp đã tái chiếm Sài Gòn.
Đến ngày 14 tháng 6 năm 1954, Bảo tàng được Bộ Quốc gia Giáo dục của Chính phủ Việt
Nam Cộng hòa tiếp thu trọn vẹn, sau khi 3 chuyên gia người Pháp rút về nước.
Ngày 16 tháng 5 năm 1956, theo nghị định 321-GD/NĐ, đổi tên Bảo tàng là Viện bảo tàng
Quốc gia Việt Nam thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Bảo tàng được được Chính quyền Cách mạng tiếp thu
nguyên vẹn. Sau đó, vào ngày 26 tháng 8 năm 1979, ngành chức năng đã cho đổi tên là Bảo tàng
Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đổi lại là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí
Minh cho đến nay.
Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đặt tại một công thự nằm trong một khu vườn rộng
lớn (trở thành Thảo Cầm Viên Sài Gòn năm 1864) ở phía đông thành Phiên An, gần dinh Tân Xá
(do chúaNguyễn Ánh sai dựng để Giám mục Bá Đa Lộc làm nơi dạy dỗ Hoàng tử Cảnh).
Công thự được xây theo lối kiến trúc “Đông Dương cách tân”, do kiến trúc sư người Pháp
Delaval thiết kế, và do hãng thầu Etablissements Lamorte Saigon thực hiện trong ba năm:1926-
1927-1928. Khi khởi xây (1926), công thự này định làm Viện Triễn lãm Mễ cốc, sau định làm
Viện Triễn Lãm Kinh Tế, nhưng cuối cùng lại quyết định làm Bảo tàng Blanchard de la Brosse.
Phần giữa công thự có một khối bát giác (gợi nhớ quan niệm về bát quái của Kinh Dịch) có
2 nóc mái lợp ngó ống, có gắn vật trang trí hình phụng, hình rồng cách điệu. Trên cùng, là 4 quả
cầu nhỏ dần và đặt chồng lên nhau. Vì vậy, có người cho rằng phần nóc mái này, mang nhiều yếu
tố của kiến trúc cổ Trung Quốc.
18
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Năm 1970, Bảo tàng được xây dựng thêm phần phía sau một dãy nhà do kiến trúc
sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế. Dãy nhà có hình chữ U, ở giữa là hồ cây cảnh lộ thiên, hai dãy nhà
nối hai bên, sau cùng là dãy nhà ba tầng với hai lớp mái, có gắn đầu rồng kiểu gặm trang trí ở các
góc mái. Nhờ các cửa đều hướng ra hồ cây cảnh, nên phòng trưng bày khá thoáng mát và sáng sủa.
Trước 1975, hai bên cửa chính Bảo tàng có đắp nổi đôi câu đôi chữ Hán, nhưng sau đó đã
bị đập bỏ. Đôi câu đối ấy như sau:
Á Đông cổ động mỹ huật kê thực học,
Việt Nam nhân chủng bác kỳ quan.
Tạm dịch là:
Á Đông cổ khí mỹ thuật kê cứu thực học,
Việt Nam nhân chủng bác vật được nhiều kỳ quan.
Bảo tàng mở cửa tiếp đón công chúng lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 1 năm 1929. Buổi đầu,
Bảo tàng chỉ có 2.893 cổ vật, đến những năm cuối thế kỷ 20, bảo tàng đã có hơn 16.000 hiện vật
rất có giá trị… Ngoài ra, bảo tàng còn có trên 25.000 sách báo và tài liệu, cũng rất có giá trị cho
công việc nghiên cứu các ngành khảo cổ học, dân tộc học, sử học, bảo tàng học...
4.5 Địa đạo Củ Chi
Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng đất ở huyện Củ Chi, cách Thành phố
Hồ Chí Minh 70 km về hướng tây-bắc. Hệ thống này đượcMặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam đào trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam. Hệ thống địa đạo
bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới
lòng đất. Hệ thống địa đạo dài khoảng 200 km và có các hệ thống thông hơi vào các vị trí các bụi
cây. Địa đạo Củ Chi được xây dựng trên vùng đất được mệnh danh là "đất thép", nằm ở điểm
cuối Đường mòn Hồ Chí Minh. Trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam đã sử dụng hệ thống địa đạo này để tấn công Sài Gòn.
Địa đạo Củ Chi là cách gọi chung của các hệ thống địa đạo khác nhau, được hình thành từ
khoảng thời gian 1946-1948, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Thời gian này, quân
dân hai xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An đã đào những đoạn hầm ngắn, cấu trúc đơn giản
dùng để ẩn nấp, cất giấu tài liệu, vũ khí. Cũng có ý kiến cho rằng việc đào địa đạo khởi đầu do dân
cư khu vực này tự phát thực hiện vào năm 1948.
Cư dân khu vực đã đào các hầm, địa đạo riêng lẻ để tránh các cuộc bố ráp càn quét của
quân đội Pháp và để cung cấp nơi trú ẩn cho quân Việt Minh. Mỗi làng xây một địa đạo riêng, sau
đó do nhu cầu đi lại giữa địa đạo các làng xã, hệ thống địa đạo đã được nối liền nhau tạo thành một
hệ thống địa đạo liên hoàn, phức tạp, về sau phát triển rộng ra nhiều nơi, nhất là 6 xã phía Bắc Củ
Chi và cấu trúc các đoạn hầm, địa đạo được cải tiến trở thành nơi che giấu lực lượng, khi chiến
đấu có thể liên lạc, hỗ trợ nhau.
Trong thời gian 1961-1965, các xã phía Bắc Củ Chi đã hoàn thành tuyến địa đạo trục gọi là
"xương sống", sau đó các đoàn thể, cơ quan, đơn vị phát triển địa đạo nhánh ăn thông với tuyến
trục hình thành những địa đạo liên hoàn giữa các ấp, các xã và các vùng. Bên trên mặt đất, quân
dân Củ Chi còn đào cả một vành đai giao thông hào chằng chịt nối kết với địa đạo, lúc này địa đạo
chiến đấu cũng được đào chia thành nhiều tầng, nhiều ngõ ngách. Ngoài ra, bên trên địa đạo còn
có rất nhiều ụ chiến đấu, bãi mìn, hố đinh, hầm chông... được bố trí thành các cụm liên hoàn tạo ra
trận địa vững chắc trong thế trận chiến tranh du kích, gọi là xã chiến đấu.
Đến năm 1965, có khoảng 200 km địa đạo đã được đào. Về quy mô, hệ thống địa đạo có
tổng chiều dài toàn tuyến là trên 200 km, với 3 tầng sâu khác nhau, tầng trên cách mặt đất khoảng
3 m, tầng giữa cách mặt đất khoảng 6 m, tầng dưới cùng sâu hơn 12 m. Lúc này, địa đạo không chỉ
còn là nơi trú ẩn mà đã trở thành nơi sinh sống, cứu thương, hội họp, kho chứa vũ khí...
19
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Địa đạo được đào trên một khu vực đất sét pha đá ong nên có độ bền cao, ít bị sụt lở. Hệ
thống địa đạo nằm sâu dưới lòng đất, có thể chịu được sức công phá của các loại bom tấn lớn nhất
của quân đội Mỹ. Không khí được lấy vào địa đạo thông qua các lỗ thông hơi. Các khu vực khác
nhau của địa đạo có thể được cô lập khi cần.
Ðường hầm sâu dưới đất từ 3 - 8m, chiều cao chỉ đủ cho một người đi lom khom. Căn hầm
đầu tiên ở ngay bìa rừng có giếng ngầm cung cấp nguồn nước uống và sinh hoạt cho toàn khu vực
địa đạo. Hệ thống địa đạo gồm 3 tầng, từ đường "xương sống" toả ra vô số nhánh dài, nhánh ngắn
ăn thông nhau, có nhánh trổ ra tận sông Sài Gòn. Tầng một cách mặt đất 3m, chống được đạn pháo
và sức nặng của xe tăng, xe bọc thép.
Tầng 2 cách mặt đất 5m, có thể chống được bom cỡ nhỏ. Còn tầng cuối cùng cách mặt đất
8-10m. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ
trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo
có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng
Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu... Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo
léo để xem phim, văn nghệ.
Cuộc sống dưới địa đạo thiếu ánh sáng, ẩm ướt và nóng bức và điều kiện vệ sinh kém nên
hầu như đa số những người sống ở địa đạo đều bị ký sinh trùng, bạc da và các bệnh về xương.
Ngoài ra, việc thiếu thốn lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm cũng là vấn đề lớn nhất của cư
dân địa đạo.
Ngày nay, địa đạo Củ Chi còn khoảng 120 km được bảo vệ và đã trở thành một điểm du
lịch hấp dẫn cho du khách đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh. Du khách, đặc biệt là cựu chiến
binh, thường chọn điểm thăm quan này khi đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh. Du khách được trải
nghiệm cuộc sống dưới địa đạo như những cư dân thực thụ trước đây (được thăm quan, ăn uống
những món ăn của cư dân địa đạo trước đây).
Khu địa đạo Bến Dược (thuộc ấp Phú hiệp, xã Phú Mỹ Hưng - huyện Củ Chi) đã được Bộ
Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Hệ thống địa đạo Bến Đình (thuộc
xã Nhuận Đức - căn cứ của Huyện ủy Củ Chi trong thời kỳ kháng chiến) cũng được xếp hạng di
tích lịch sử quốc.
4.6 Chùa Vĩnh Nghiêm
Chùa Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùa lớn tọa lạc trong một khuôn viên khá rộng (6.000 m²)
tại số 339, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 7, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là ngôi chùa có
kiến trúc cổ truyền nhưng được xây dựng bằng chất liệu hiện đại. Công trình cao nhất trong chùa
là ngọn tháp 7 tầng, cao 40 m, nổi bật từ xa.
Chùa có một cửa tam quan lớn dẫn vào sân, từ đây có thể thấy ngôi chùa có một tầng lầu
và một tầng trệt. Tầng trệt có hai phần: phần ngoài, dưới sân thượng, cao 3,20 m; phần trong, dưới
phật điện cao 4,20 m. Tầng trệt được chia là nhà thờ tổ, giảng đường, văn phòng, thư viện, lớp
học, phòng học, phòng tăng...
Từ dưới sân có ba cầu thang rộng, gồm 23 bậc, dẫn lên tầng trên. Ở đây có một sân thượng
rộng khoảng 10 mét. Phía tay phải có một gác chuông. Từ sân thượng lên tiếp mấy bậc thềm nữa
là tới Bái điện, một tòa dài 35 m, rộng 22 m và cao 15 m.
Chùa Vĩnh Nghiêm chỉ thờ ba bức tượng: Phật Thích ca mâu ni và hai vị Bồ Tát Văn-thù-
sư-lợi, Đại Hạnh Phổ Hiền[1]
. Bàn thờ được thiết lập ở bửu điện: chính giữa là Phật Thích Ca, bên
trái có Văn Thù Bồ Tát và bên phải là Phổ Hiền Bồ Tát. Những bức tượng này tương đối cao lớn,
đường bệ, tương hợp thống nhất trong không gian chùa cao rộng. Ở hàng hiên lối vào chính điện,
mỗi bên có một pho tượng Kim Cương Hộ Pháp khá lớn.
Hằng năm, vào ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, ngày đức Phật thành đạo, chùa Vĩnh
Nghiêm đều tổ chức trọng thể lễ húy nhật Hòa Thượng Thích Thanh Hanh (1838-1936), cố Thiền
20
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
gia pháp chủ Phật giáo Bắc Việt, được tôn xưng là tổ Vĩnh Nghiêm, có công rất lớn trong công
cuộc chấn hưng Phật giáo vào những năm đầu thế kỷ 20.
Năm 1964, hai hoà thượng Thích Tâm Giác và Thích Thanh Kiểm từ Bắc vào Nam truyền
bá Phật giáo và đã cho xây chùa Vĩnh Nghiêm. Họ lấy nguyên mẫu thiết kế từ một ngôi chùa gỗ
cùng tên ở xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Tạng Giang, tỉnh Bắc Giang, kiến lập từ đời vua Lý Thái
Tổ, vốn là trung tâm truyền bá Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm.
Người vẽ kiểu cho công trình là kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng, người đầu tiên sử dụng vật
liệu hiện đại nhưng giữ nguyên những giá trị kiến trúc chùa Việt Nam truyền thống, có sự cộng tác
của các ông Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu. Kỹ sư Bùi Văn Tố thiết kế kỹ thuật và ban kiến thiết
miền Vĩnh Nghiêm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất điều hành thực hiện xây dựng
công trình.
Chùa được khởi công năm 1964 tại khu sình lầy bên cạnh rạch sông Thị Nghè cũ. Trong
quá trình thi công, phải đổ thêm 40.000 m³ đất lấp sình lầy. Công trình được hoàn thành về cơ bản
vào năm 1971, gồm Phật điện, Bảo tháp và cơ sở văn hóa xã hội.
Tiền xây dựng được lấy từ đóng góp công đức của chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng tọa,
Đại đức Tăng, Ni và Phật tử, chủ yếu có nguyên quán Bắc Việt sống tại miền Nam.
Năm 1982, chùa xây thêm Bảo tháp Xá Lợi Cộng Đồng, hoàn thành năm 1984. Tháp cũng
được xây theo một kiểu khá độc đáo. Có các cầu thang từ sân dẫn lên tháp. Đây là nơi để lọ đựng
tro thi hài người chết mà thân nhân của họ giữ ở chùa.
Tháp Đá gồm 7 tầng cao 14 m của chùa được hoàn thành vào ngày 27 tháng 12 năm 2003,
được coi là tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam
Chùa Vĩnh Nghiêm giữ nét kiến trúc xưa với hàng mái ngói đao thẳng cong hai tầng
ngay cổng tam quan; mái chùa với những lối đi nối qua khoảng sân đến toà nhà chính và màu sắc
theo đúng đặc điểm của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Những công trình chạm khắc gỗ ở đây
có bao lam tứ linh, bao lam cửu long và đặc biệt là có các phù điêu trên các hương án chạm các
ngôi chùa danh tiếng tại Việt Nam và một số nước châu Á. Toàn thể Phật điện gồm ba lớp: Bái
Điện, Bản Điện và Địa Tạng Đường kiến trúc theo kiểu chữ công. Các góc mái chùa đều uốn cong
theo kiểu chùa miền Bắc: mái trước chồng diêm. Chính giữa đỉnh nóc có Bánh xe pháp luân và các
góc có hình đầu phượng.
Tính đột phá trong kiến trúc ở chùa Vĩnh Nghiêm là việc sử dụng vật liệu bê tông,
cốt thép trong một kết cấu hoàn toàn mới so với việc xây dựng chùa trước đó. Kết cấu này mang
lại vẻ bề thế vững chãi, mọi chi tiết đều tôn nên sự uy nghi, rộng lớn.
Kiến trúc sư Khương Văn Mười đã đánh giá "Đi tìm một bản sắc không phải là đơn giản,
đây là sự cố gắng rất lớn của Nguyễn Bá Lăng..." Có người còn nhận xét phong cách kiến trúc và
việc sử dụng chất liệu mới của Nguyễn Bá Lăng trong chùa Vĩnh Nghiêm đã đặt nền móng cho
một quan niệm mới: giá trị truyền thống không nằm trong sự lặp lại mà trong sự cách tân sáng tạo.
4.7 Cần Giờ
Cần Giờ được mệnh danh là “một vùng đất của biển, của rừng”.Với lịch sử hào hùng trong
hơn 300 năm hình thành và phát triển cùng những kỳ tích oanh liệt trong hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ, con người cần giờ bên bỉ như cây đước cây bần cắm sâu bộ rễ chắc
khỏe vào lòng đất mặn để chắt chiu từng giọt khoáng chất nuôi sống màu xanh quê hương ngày
càng tươi đẹp hơn.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới xích đạo, với hướng gió chính là gió Tây nam, mùa mưa
bắt đầu muộn và kết thúc sớm hơn so với các vùng khác trong thành phố Hồ Chí Minh. Đây là yếu
tố rất thuận lợi cho du khách đến thăm quan và du lịch Cần Giờ quanh năm.
21
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Địa danh vùng Tam thôn Hiệp, Thạnh An, vịnh Gành Rái, Giồng an…đều gắn liền với
những câu chuyện về cuộc chạy trốn trước cuộc khởi nghĩa Tây Sơn của Nguyễn Ánh, hay những
chiến công của người dân Cần Giờ trong kháng chiến cứu nước.
Ghi nhớ công ơn của các bậc tiền nhân khai hoang mở đất, tạo lập thổ cư, đồng ruộng trên
vùng đất ven biển phát triển đến ngày nay.
Căn cứ Rừng Sác.
Căn cứ Rừng Sác đã được công nhận là Di sản cấp quốc gia vào ngày 15/12/2004.
Đặc điểm: Biển bùn: biển Cần Giờ dài hơn 20 km, có màu nước đục do phù sa bồi đất sét
bùn, nhưng rất sạch. Vì thế Cần Giờ là một trong những vùng biển bùn tiêu biểu của Việt Nam.
Khu dụ trữ sinh quyển Cần Giờ.
Được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển của thế giới vào ngày 21/1/2000.
Đặc điểm: vùng ngập mặn Cần Giờ có diện tích lớn hơn 38000 ha, chiếm hơn ½ diện tích
Cần Giờ. Nơi đây được coi là lá phổi xanh của thành phố, là vùng kinh tế trọng điểm phía nam đất
nước về du lịch sinh thái, môi trường quan trọng trong việc điều hòa khí hậu hạn chế xói mòn làm
màu mỡ đất, hạn chế ô nhiễm môi trường nước và không khí.
Các loại cây phổ biến ở đây là: cây đước, cây bần, chà là, cây mắm, cây dà…
Khu dụ trữ sinh quyển Cần Giờ là một trong 368 khu dự trữ sinh quyển trên thế giới, trải
dài trên 91 quốc gia.
Khu du lịch đảo Thạnh An.
Là hòn đảo nhỏ nằm giữa sông và biển. Nơi đây có núi đá Giồng Chùa là núi duy nhất ở
thành phố Hồ Chí Minh có thắng cảnh đẹp, nhìn từ xa nó như hòn non bộ ở biển khơi không bị
ngập nước và ảnh hưởng của thủy triều.
Thổ nhưỡng: đất nâu vàng. Đất nơi đây là điều kiện tốt nhất để phát triển rừng cây lá rộng.
Đặc sản Cần Giờ
Xoài cát Cần Giờ, xoài cát trắng là hai loại trái cây ngon phổ biến ở cần giờ chiếm hơn
80% sản lượng. ngoài ra còn có xoài thơm , xòai cát chu. Xoài ở đây tập trung tại xã Long Hòa, thị
trấn Cần Thạnh. Ngoài ra còn có mãng cầu cần giờ được thu hoạch vào tháng 7 âm lịch. Mãng cầu
có vị ngọt, vỏ xanh đậm đà, mang hương vị đặc trưng của vùng đất cát ven biển.
Thủy sản
Địa sâm, vòm xanh, cá khoai, cá dứa, cá nâu, cua, ghẹ, tôm sú, sò huyết, nghêu, hàu, cá
ngát, cá chìa vôi. Thủy sản được nuôi tại những nơi thuộc địa phận xã Long Hòa, Thạnh An, Lý
Nhơn, Bình Khánh, An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp thị trấn Cần Thạnh.
Món ngon Cần Giờ
- Sò huyết giò Cần Giờ.
- Sò tái thái tại nhà hàng duyên hải Cần Giờ.
- Tôm chiên xù
- Vòm xanh cần giờ hấp.
- Cá ngát, cá khoai Cần Giờ chiên xù.
- Cá mao ếch nướng.
- Cơm niêu Cần Giờ.
- Ốc mỡ Cần Giờ hấp
22
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
- Cơm nắm cá khô Cần Giờ.
Một số địa chỉ ẩm thực tại Cần Giờ
- Nhà hàng Hàng Dương: Khu nghỉ mát 30/4
- Nhà hàng Phi Lao: Khu nghỉ mát 30/4
- Nhà hàng Hồng Phát: Khu nghỉ mát 30/4
- Nhà hàng Nam Kỳ quán: Đường Phan Đức.
- Nhà hàng Sao Biển: Đường Duyên Hải.
- Quán Rừng: 1/76 Ấp Long Thạnh,Long Hòa
- Quán Ngọc Thoa I: Ấp Đồng Tranh
- Quán Ngọc Thoa II: Ấp Long Thạnh
4.8 Chợ Bến Thành
Chợ Bến Thành là một trong những địa điểm tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh. Trong
nhiều trường hợp, hình ảnh khu cửa nam ngôi chợ này được xem là biểu tượng của thành phố.
Nguyên thủy, chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp xâm chiếm Gia Định. Ban
đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Định (bấy giờ là
thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái). Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân
vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành, và khu chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành.
Chợ Bến Thành thời kỳ đầu được xây bằng gạch, sườn gỗ, lợp tranh, được mô tả như là
"phố chợ nhà cửa trù mật ở dọc theo bến sông. Chỗ đầu bến này có lệ đến đầu mùa xuân gặp ngày
tế mạ, có thao diễn thủy binh, nơi bến có đò ngang chở khách buôn ngoài biển lên. Đầu phố phía
Bắc là ngòi Sa ngư, có gác cầu ván ngang qua, hai bên nách cầu có dãy phố ngói, tụ tập trăm thứ
hàng hóa, dọc bến sông ghe buôn lớn nhỏ đến đậu nối liền"[1]
. Tuy nhiên, saucuộc nổi loạn của Lê
Văn Khôi (1833-1835), thành Quy bị triệt hạ, phố chợ Bến Thành cũng không còn sầm uất như
trước.
Trước khi Pháp đánh chiếm Gia Định, khu vực xung quanh thành Gia Định (bấy giờ
là thành Phụng) mới chỉ có 100 ngàn dân và chợ Bến Thành là nơi đông đúc nhất. Cạnh khu chợ,
dọc theo bờ sông Bến Nghé, các ghe thương thuyền thường đậu chen chúc nhau, tạo thành một
thành phố nổi trên mặt nước. Tuy nhiên, khi ấy khu họp chợ trên bến mới chỉ là một dãy nhà trống
lợp ngói. Tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định và hai ngày sau, các binh lính người Việt
đã tổ chức hỏa công thiêu rụi cả thành phố, tất nhiên chợ Bến Thành cũng bị thiêu hủy. Sau khi đã
vững chân trên mảnh đất Nam Kỳ, năm 1860, người Pháp đã cho cho xây cất lại chợ Bến Thành ở
địa điểm cũ (thời Việt Nam Cộng hòa là địa điểm Tổng Ngân khố, nay là Trường đào tạo cán bộ
ngân hàng trên đường Nguyễn Huệ). Ngôi chợ được xây cất bằng cột gạch, sườn gỗ, và lợp lá. Đến
tháng 7 năm 1870, chợ bị cháy mất một gian, phải xây cất lại bằng cột gạch, sườn sắt, lợp bằng
ngói, tất cả có năm gian: gian thực phẩm, gian hàng cá, gian hàng thịt, gian hàng ăn uống và gian
hàng tạp hóa. Trong năm gian hàng này, chỉ có gian hàng thịt được lợp bằng tôn, nền lót đá xanh.
Thời đó, khu chợ được xây dựng bên bờ phía nam một con kênh, được gọi là Kinh Lớn.
Phía trước chợ, dọc bờ kênh là một con đường được người Pháp đặt tên là đường Charner, hay một
tên gọi khác là đường Quảng Đông (Rue de Canton), bởi đa số người Hoa làm nghề buôn bán ở
đây đều là người Quảng Đông. Phía đối diện bờ kênh là đường Rigault de Genouilly. Do vị trí nằm
giao điểm của khu đô thị và hợp lưu của hai tuyến đường thủy là kênh Lớn và rạch Cầu Sấu (nay
là đường Hàm Nghi), ghe thuyền có thể cập bến và đổ người lên chợ bất cứ ở phía bên này hay
bên kia. Còn người bên đất liền muốn qua chợ thì có thể đi qua những chiếc cầu gỗ xinh xắn, do
đó chợ Bến Thành luôn luôn nhộn nhịp.
23
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Vào năm 1887, người Pháp cho lấp con kênh và sát nhập hai con đường lại làm một thành
đại lộ Charner. Dân bản xứ gọi nôm là đường Kinh Lấp (nay là Đại lộ Nguyễn Huệ). Khu chợ
càng trở nên đông đúc với các cửa hiệu phần nhiều là của người Hoa, người Ấn Độ và người Pháp.
Tuy nhiên, khoảng giữa năm 1911, ngôi chợ trở nên cũ kỹ và lâm vào tình trạng có thể bị sụp đổ.
Để tránh tai họa, người ta phải phá chợ, chỉ còn gian hàng thịt, vì mái tôn nhẹ, nên chưa bị phá.
Đồng thời, người Pháp cũng lựa chọn một địa điểm để xây cất một khu chợ mới lớn hơn để phục
vụ nhu cầu buôn bán sầm uất ngày càng phát triển. Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa Mỹ
Tho (nay là Bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay.
Khu vực xây chợ, vốn là một cái ao sình lầy cũ, gọi là ao Bồ Rệt (Marais Boresse), được
người Pháp cho lấp đi. Khuôn viên chợ quy hoạch bốn mặt bởi bốn con đường. Mặt tiền là Place
Cuniac, tên đặt theo viên Xã Tây (Ủy viên Hội đồng) Cuniac, người đã đề ra công việc lấp ao.
Người Việt thì quen gọi đó là Bùng binh Chợ Bến Thành cho dù tên chính thức đã từng đổi là
"Công trường Cộng Hòa", "Công trường Diên Hồng", rồi "Quảng trường Quách Thị Trang". Mặt
bắc chợ là Rue d'Espagne, phía đông là rue Viénot, và phía tây là rue Schroeder. Năm 1955
thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, bốn con đường này đổi tên thành đường Lê Thánh Tôn, đường
Phan Bội Châu và đường Phan Châu Trinh.
Ngôi chợ mới do hãng thầu Brossard et Maupin[2]
khởi công xây dựng từ năm 1912 đến
cuối tháng 3 năm 1914 thì hoàn tất. Lễ ăn mừng chợ khánh thành được báo chí thời đó gọi là "Tân
Vương Hội", do được diễn ra trong ba ngày 28, 29 và 30 tháng 3 năm 1914, với pháo bông, xe hoa
và hơn 100.000 người tham dự, kể cả từ các tỉnh đổ về.
Khu chợ mới này vẫn mang tên gọi Bến Thành; tuy nhiên cho đến trước năm 1975 tên gọi
chợ Bến Thành này thường chỉ hiện diện trong sách vở, còn người dân thì thường gọi là chợ Sài
Gòn hay chợ Mới, để phân biệt chợ Cũ tại điểm cũ, vốn chỉ còn lại gian hàng thịt. Phần còn lại bị
phá đi và được người Pháp xây dựng thành cơ quan Ngân khố. Hai con đường bên hông chợ mãi
đến năm 1940 còn là bến xe đò miền Đông và miền Tây. Về sau, bến xe này mới được dời đi chỗ
khác.
4.9 Khu du lịch Bình Quới
Làng Du lịch Bình Quới nằm trên bán đảo Thanh Đa bên bờ sông Sài Gòn, cách trung tâm
thành phố Hồ Chí Minh 8km. Bình Quới có tổng diện tích 34.635 m2
, tiếp giáp với sông Sài Gòn
về phía Tây Bắc nên có khí hậu thoáng mát trong lành với cảnh quan sông nước độc đáo, đây là
khu du lịch tổng hợp lớn nhất tại thành phố Hồ Chí Minh.
Khu du lich Bình Quới 1 Mặt bằng rộng, thoáng mát bên bờ sông Sài Gòn, Khu Du Lịch
Bình Quới 1 được nhiều người biết đến như một khu thư giãn và ăn uống theo phong cách Nam
Bộ dân dã, mộc mạc. Với khoảng không gian xanh tươi, tĩnh lặng của những thảm cỏ non mượt
mà, cùng bóng mát của những hàng dừa nước nghiêng mình bên dòng kênh Sở Nhật bao đời . . . đã
tạo nên một nét riêng cho Bình Quới. Tại đây có 55 phòng ngủ trang thiết bị hiện đại, ẩn mình
dưới những tán cây rợp mát ven sông. Nhà hàng ở đây là địa chỉ tin cậy cho những cuộc liên hoan,
chiêu đãi và rất nổi tiếng với những món nướng hay đặc sản Việt Nam. Hàng đêm tại khu du lịch
có chương trình văn nghệ dân tộc độc đáo: "lễ hội Kỳ Yên", "ca nhạc tài tử Nam bộ trên Ghe Hầư',
"đám cưới truyền thống Việt Nam", ca nhạc dân tộc... Các chương trình văn nghệ này đã cuốn hút
đông đảo du khách trong và ngoài nước tới xem. Tại đây, du khách cũng có thể tham dự lướt ván,
câu cá, quần vợt, bơi lội, và nhiều môn thể thao khác. Nơi đây thường được các cộng đồng kiều
dân nước ngoài chọn để tổ chức lễ kỷ niệm quốc khánh; cũng như nhiều công ty chọn làm nơi tổ
chức tỗng kết, chiêu đãi và hội nghị. Từ Bình Quới, du khách có thể du thuyền theo tuyến sông Sài
Gòn đến thăm địa đạo Bến Dược, vườn trái Lái Thiêu hoặc về bến cảng Nhà Rồng...
Khu du lịch Bình Quới 2 Từ Khu Du lịch Bình Quới 1 vào khoảng 400m, Khu Du Lịch
Bình Quới 2 có diện tích 25.380m2 , với mặt tiếp giáp sông Sài Gòn dài khoảng 300 mét, được
đưa vào kinh doanh từ năm 1984 với mô hình ban đầu là nhà hàng được xây dựng dọc theo bờ
sông. Đến năm 1989 được Saigontourist đầu tư nâng cấp mở rộng thêm nhiều dịch vụ. Sau gần 20
24
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
năm hoạt động, từng bước đầu tư xây dựng cơ sở hạ từng, đến nay Khu Du Lịch Bình Quới 2 đã
trở thành điểm du lịch lý tưởng của nhiều khách đến ăn uống, nghỉ ngơi, thư giãn.
4.10 Dinh Thống Nhất
Năm 1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm chiếm Việt
Nam. Năm 1867, Pháp chiếm xong lục tỉnh Nam kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh
Long, An Giang, Hà Tiên). Ngày 23 tháng 2 năm 1868, ông Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière đã
làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn thay cho
dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863. Dinh mới được xây dựng theo theo đồ án do kiến trúc
sư Hermite phác thảo. Viên đá lịch sử này là khối đá lấy ở Biên Hòa, hình vuông rộng mỗi cạnh 50
cm, có lỗ bên trong chứa những đồng tiền hiện hành thuở ấy bằng vàng, bạc, đồng có chạm hình
Napoleon đệ tam.
Công trình này được xây cất trên một diện tích rộng 12 ha, bao gồm một dinh thự lớn
với mặt tiền rộng 80 m, bên trong có phòng khách chứa 800 người, và một khuôn viên rộng với
nhiều cây xanh và thảm cỏ. Phấn lớn vật tư xây dựng dinh được chở từ Pháp sang. Do chiến tranh
Pháp-Phổ1870 nên công trình này kéo dài đến 1873 mới xong. Sau khi xây dựng xong, dinh được
đặt tên là dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng được gọi là đại lộ Norodom, lấy theo tên
của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ là Norodom (1834-1904). Từ 1871 đến 1887, dinh được
dành cho Thống đốc Nam kỳ nên gọi là dinh Thống đốc. Từ 1887 đến 1945, các Toàn quyền Đông
Dương đã sử dụng dinh thự này làm nơi ở và làm việc nên dinh gọi là dinh Toàn quyền. Nơi ở và
làm việc của các Thống đốc chuyển sang một dinh thự gần đó.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của
chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm1945, Nhật thất bại trong Thế chiến II,
Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của Pháp ở Việt Nam.
Sau năm 1954, người Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam bị chia cắt thành 2 quốc gia, miền
Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn miền Nam là nước Quốc Gia Việt Nam (sau
thành Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7 tháng 9năm 1954 Dinh Norodom được bàn giao giữa đại diện
Pháp, tướng 5 sao Paul Ely, và đại diện Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đình Diệm.
Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc
trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống. Ông quyết định đổi tên dinh này thành Dinh Độc Lập. Từ
đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi
chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng Thống.
Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ
đầu rồng.
Ngày 27 tháng 2 năm 1962, hai viên phi công thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn
Văn Cử và Phạm Phú Quốc, lái 2 máy bay AD-6 ném bom làm sập toàn bộ phần chính cánh trái
của dinh. Do không thể khôi phục lại, ông Ngô Đình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự
mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu
tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã.
Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962. Trong thời gian
xây dựng, gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long (nay
là Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh). Công trình đang xây dựng dở dang thì ông Ngô Đình Diệm
bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 11 năm 1963. Do vậy, ngày khánh thành dinh, 31 tháng
10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là ông Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc
gia. Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây trở thành trụ sở của Việt Nam Cộng hòa. Tổng thống
Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từtháng 10 năm 1967 đến ngày 21 tháng
4 năm 1975.
Ngày 8 tháng 4 năm 1975,chiếc máy bay F-5E do Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát
từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh, gây hư hại không đáng kể.
25
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Lúc 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng T54 mang số hiệu 843 của Quân
giải phóng miền Nam đã húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc Lập, tiếp đó xe tăng mang số hiệu
390 đã húc tung cổng chính tiến thẳng vào dinh. Lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân
Giải phóng Bùi Quang Thận, đại đội trưởng, chỉ huy xe 843, đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng Hòa trên
nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên, kết thúc 30 năm
cuộc chiến tranh Việt Nam.
Sau hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc thành một đất nước Việt
Nam thống nhất diễn ra tại dinh Độc Lập vào tháng 11 năm 1975, để kỷ niệm, chính phủ lâm thời
nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định đổi tên Dinh Độc Lập thành Hội trường Thống
Nhất. Nơi này được đặc cách xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 77A/VHQĐ
ngày 25/6/1976 của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) của chính quyền Việt
Nam hiện nay.
Dinh được xây dựng trên diện tích 4.500 m², diện tích sử dụng 20.000 m², gồm 3 tầng
chính, 1 sân thượng, 2 gác lửng, tầng nền, 2 tầng hầm và một sân thượng cho máy bay trực thăng
đáp xuống. Hơn 100 căn phòng của Dinh được trang trí theo phong cách khác nhau tùy theo mục
đích sử dụng bao gồm các phòng khánh tiết, phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc của
Tổng Thống và của Phó Tổng Thống, phòng trình ủy nhiệm thư, phòng đại yến, v.v... chưa kể các
phần khác như hồ sen bán nguyệt hai bên thềm đi vào chánh điện, bao lơn, hành lang...
Dinh cao 26m, tọa lạc trong khuôn viên rộng 12 ha rợp bóng cây. Bên ngoài hàng rào phía
trước và phía sau Dinh là 2 công viên cây xanh. Giữa những năm 1960, đây là công trình có quy
mô lớn nhất miền Nam và có chi phí xây dựng cao nhất (150.000 lượng vàng). Các hệ thống phụ
trợ bên trong Dinh hiện đại: điều hòa không khí, phòng chống cháy, thông tin liên lạc, nhà kho.
Tầng hầm chịu được oanh kích của bom lớn và pháo. Mặt tiền của Dinh được trang trí cách điệu
các đốt mành trúc phỏng theo phong cách các bức mành tại các ngôi nhà Việt và họa tiết các ngôi
chùa cổ tại Việt Nam. Các phòng của Dinh được trang trí nhiều tác phẩm non sông cẩm tú, tranh
sơn mài, tranh sơn dầu.
Cơ quan hiện quản lý di tích văn hoá Dinh Thống Nhất có tên là Hội trường Thống
Nhất thuộc Cục Hành chính Quản trị II - Văn phòng Chính Phủ. Đây là di tích lịch sử văn hoá nổi
tiếng được đông đảo du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan.
4.11 Bưu điện trung tâm thành phố
Ngay sau khi đánh thành Gia Định, chiếm được vùng đất Sài Gòn, Pháp đã thiết lập
hệ thống thông tin liên lạc. Ngày 11.11.1860, "Sở dây thép" Sài Gòn (tức Bưu điện Sài Gòn)
được thành lập. Ông Phạm Văn Trung là người Việt Nam đầu tiên làm giám đốc Bưu điện
An Nam tại Sài Gòn. Ngày 13.1.1863, Sở dây thép Sài Gòn được chính thức khánh thành và
phát hành “con cò" (người Sài Gòn xưa hay gọi con tem là con cò) đẩu tiên. Năm 1864, dân
chúng Sài Gòn bắt đầu gởi thơ qua nhà "dây thép" (hệ thống bưu điện).
Năm 1886, Bưu điện Sài Gòn được xây cất lại với qui mô hiện đại thay thế cho trụ sở và
khu nhà ở cũ, tòa nhà bưu điện thành phố được xây dựng lại theo đề án của kiến trúc sư người
Pháp là Vilơdic.. Đến năm 1891, trụ sở mới của Bưu điện Sài Gòn được chính thức khánh thành.
Trước đó, đường dây thép Sài Gòn - Qui Nhơn - Đà Nẵng - Huế - Vinh - Hà Nội dài 2000 km đã
được chính thức hoàn thành (vào ngày 22.3.1888). Năm 1889 mở thêm đường liên lạc điện báo Sài
Gòn - Bangkok để phục vụ cho giới kinh doanh thương mại. Từ ngày 1.7.1894 Sài Gòn bắt đầu sử
dụng hệ thốngđiện thoại.
Ngày nay hệ thống bưu chính viễn thông trở nên quen thuộc với mọi người dân nhưng từ
nửa đầu thế kỷ 20 trở về trước hệ thống bưu điện vẫn còn xa lạ đối với nhiều người dân Sài Gòn.
Toà nhà Bưu điện Sài Gòn là một trong những công trình kiến trúc nổi tiếng của thành phố,
có nhiều đặc trưng của phong cách kiến trúc châu Âu và châu Á quyện vào nhau. Tòa nhà tọa lạc
bên hông Vương cung Thánh đường (Nhà thờ Ðức Bà) ở quảng trường Công Xã Paris. Nhà Bưu
26
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
điện được xây dựng xong, trở thành một loại hình dịch vụ lạ và gây ấn tượng rất mạnh với dân
chúng.
Vẻ đẹp độc đáo của toà nhà bưu điện thành phố càng được tôn lên vì trước mặt nó có một
công trình lộng lẫy là Nhà thờ Đức Bà với tháp chuông cao vút. Từ đó đến nay, tòa nhà này luôn là
trung tâm bưu điện của thành phố. Tòa nhà nổi bật với sự bố cục cân đối của các hạng mục công
trình mang tính thẩm mỹ cao. Các chi tiết cân đối, chia đều ra hai bên, đối xứng nhau qua một
"trục" trung tâm. Mặt tiền có kết cấu hình khối, với vòm cung phía trên các cửa. Hệ thống cột, trụ
chính, phụ, mái hiên đều có kết cấu hình khối vuông. Trên mỗi đầu trụ, cột được chạm khắc hoa
văn, phù điều công phu, tỉ mỉ. Ở mặt tiền tòa nhà có hệ thống đường viền, đường chỉ là những
chuỗi hoa văn chạy ngang, tạo nên vẻ đẹp, sự cân đối và làm cho tòa nhà có vẻ như không cao
lắm.
Bên trong tòa nhà là hệ thống vòm cung sát cửa chính và vòm cung dài bên trong. Vòm
cung lớn được chống đỡ bởi bốn trụ sắt nằm bốn góc, mỗi cột chống đỡ bốn kèo sắt tỏa ra bốn
phía. Vòm cung dài được chịu lực bởi hai hàng trụ sắt hai bên. Các điểm tiếp nối giữa trụ và kèo
sắt được thiết kế công phu, chạm khắc thành những chi tiết có hoa văn đẹp.
Với hệ thống vòm cung này, tòa nhà trở nên cao, rộng rãi và thoáng mát, thích hợp với một
nơi thường có nhiều người ra vào. Với thiết kế độc đáo từ trong đến ngoài như vậy, tòa nhà Bưu
điện Sài Gòn có thể xem là một công trình xây dựng có phong cách độc đáo về kiến trúc, màu sắc
của Sài Gòn lúc bấy giờ.
Trên vòm mái trong tiền sảnh của toà nhà có hai bản đồ lịch sử: “Saigon et ses environs
1892” và “Lignes télegraphiques du Sud Vietnam et du Cambodge 1936”. Ngày nay, xung quanh
tòa nhà chính còn có thêm một số công trình kiến trúc làm kho tàng, lắp đặt những máy móc, thiết
bị bưu điện truyền tin hiện đại…
4.11 Mười tám thôn vườn Trầu
Theo các nhà nghiên cứu, Mười tám thôn vườn trầu hình thành do quá trình di dân đầu thế
kỷ 17. Trong quá trình sinh cơ lập nghiệp, từ năm 1698 đến 1731, nông dân nơi đây đã lập ra 6
thôn đầu tiên, từ đó đến năm 1802, phát triển thêm 12 thôn.
Trịnh Hoài Đức đã chép trong Gia Định thành thông chí như sau:
“Ở về phía tây cách trấn 52 dặm rưỡi. Địa thế xung yếu, nằm ngay trên đường bộ thông
suốt vào Cao Miên, đặt đạo Quang Oai ở đấy để canh giữ. Khi trước có 18 thôn phụ giữ nơi ấy,
dân cư ở đây rất đông đúc, tạo thành một chợ lớn ở miền núi. Dân nơi đây đều có sản nghiệp, phần
nhiều là vườn trầu, họ thường gánh trầu đi bộ từng nhóm 3, 4 mươi người xuống bán ở hai chợ Sài
Gòn và Bến Nghé. Nơi đây còn nhiều rừng rậm, cọp dữ thường hay bắt người ăn thịt nên có câu:
Hung dữ như cọp Vườn Trầu. Vào năm 1782, quân Tây Sơn đã có trận giao tranh ác liệt với
quân chúa Nguyễn tại vùng Vườn Trầu. Tiền quân Tây Sơn bị phục kích, Hộ giá Phạm Ngạn - một
sủng thần của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc bị tướng Trần Công Chương của cánh quân Hòa
Nghĩa - đa phần là người Hoa, giết chết. Vua Thái Đức tức giận, bèn ra lệnh thảm sát người Hoa
tại Gia Định. Đây là một hành động thất nhân tâm của quân Tây Sơn tại miền Nam. Tuy lần lượt
thuộc quyền quản hạt của tổng Bình Dương, huyện Tân Bình, trấn Phiên An (1698-1808); rồi tổng
Dương Hòa, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An (1808-1832) rồi tỉnh Phiên An
(1832-1836); rồi tổng Dương Hòa Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (từ
1836), thậm chí từng là nơi đặt trị sở của Nha môn huyện Bình Dương một thời gian; nhưng trên
thực tế, Mười tám thôn vườn trầu đều tự quản và nằm ngoài vùng kiểm soát của chính quyền nhà
Nguyễn.”
Do đặc điểm thổ nhưỡng tốt, phù hợp với cây trầu, cộng với kinh nghiệm của các di dân,
Mười tám thôn vườn trầu trở thành nơi chuyên canh và cung cấp trầu cho khắp Nam Kỳ lục tỉnh.
Thuở ban đầu, Mười tám thôn vườn trầu còn hoang sơn, cỏ cây rậm rạp và nhiều thú dữ, đặc biệt
là hổ. Tương truyền thời đấy, hổ (người dân kiêng kỵ, nên gọi là "ông ba mươi") vẫn thường đi
27
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
trên đường làng giữa ban ngày, còn ban đêm thì thả sức tung hoành quấy phá, vì vậy mới có câu
"dữ như cọp Mười tám thôn vườn trầu". Mỗi lúc đi bán trầu, các nhà vườn thường phải nhập toán
lên đến ba, bốn mươi người gồng gánh đem trầu về bán tận Sài Gòn, Bến Nghé. Tuy vậy, đến đầu
thế kỷ 19, Mười tám thôn vườn trầu đã trở thành một vùng dân cư trù mật với những phiên chợ
trầu sầm uất. Các vườn trầu nối liên tiếp xanh bất tận. Nghề nuôi ngựa, nuôi gà chọi ở đây khá nổi
tiếng.
Đến năm 1841, Mười tám thôn vườn trầu thuộc về quyền quản hạt của huyện Bình Long,
phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Tuy vậy, địa thế Mười tám thôn vườn trầu thời này vẫn khá hiểm
hóc: phía sau là bưng Tầm Lạc mênh mông, cỏ lấp đầu người, nước ngập ngang lưng và rừng liên
tiếp lên tận Cao Miên, Lào. Đây là vùng cư ngụ lý tưởng của những người dân lưu tán từ các tỉnh
miền Trung, miền Bắc vào, sống ngoài vùng kiểm soát của chính quyền. Đa phần, họ đều giỏi võ
nghệ, sống gắn bó, đoàn kết với nhau chống áp bức cũng như thú dữ...
Sau khi Pháp chiếm thành Gia Định, rồi mở rộng chiếm 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ. Năm
1862, Pháp đã chia lại địa giới hành chính. Huyện Bình Long thuộc phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định.
Cùng trong thời gian đó, nghĩa quân Trương Định - Trương Quyền (1859-1867) từng đặt 1 căn cứ
liên lạc chống Pháp tại vùng có tên là Bà Điểm (nay là xã Bà Điểm). Nguyễn Ảnh Thủ cũng lấy
đây là căn cứ phát động khởi nghĩa chống Pháp vào năm 1871.
Ngay khi chiếm được 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ, Đại úy Lucien de Grammont [3]
được cử
làm Giám đốc bản xứ sự vụ huyện Bình Long (tiếng Pháp: directeur des Affaires indigènes, bình
dân gọi nôm na là Chủ quận) và Trần Phủ Ca được cử làm phụ tá. Do de Grammont thường không
có mặt tại nhiệm sở, nên về mặt thực tế Trần Phủ Ca nắm quyền cai trị trực tiếp vùng này và đóng
tại dinh quận ở Tân Sơn Nhì. Do lập công đắc lực, Pháp nhanh chóng thăng hàm cho Trần Tử Ca
thành Tri huyện (1871) rồi Đốc phủ sứ (1879). Lợi dụng chức quyền nên Đốc phủ Ca lạm quyền
tàn ác, vơ vét người dân nơi đây thậm tệ. Vợ và 2 con cũng bức áp dân đen tàn khốc.
Năm 1879, Phan Văn Hớn, một nông dân giỏi võ, mưu trí, tính cách hào phóng, ngay
thẳng, được dân trong vùng cử làm Hương quản, trông coi việc an ninh trong làng, nên dân trong
vùng còn gọi ông là Quản Hớn. Do ông thường đứng ra bênh vực cho dân chống lại cường hào ác
bá, Đốc phủ Ca vu cho ông tội loạn nên bắt ông giao Pháp đày ra Côn Đảo chịu án 5 năm tù. Sau
khi ra tù, ông cùng Nguyễn Văn Quá (hay Hóa), người Đức Hòa, âm thầm chuẩn bị gươm, dao,
mác và bí mật chiêu tập một số nghĩa quân chờ cơ hội khởi nghĩa chống lại áp bức. Dân chúng quá
bất mãn vì bị bóc lột tàn nhẫn nên theo Quản Hớn rất nhiều. Vào đêm 30 rạng mùng một tết năm
Ất Dậu (tức ngày 8 rạng ngày 9 tháng 2 năm 1885), Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Quá cùng hơn
ngàn nghĩa quân chia làm ba mũi, tấn công vào dinh huyện Bình Long, giết chết Đốc phủ Trần Tử
Ca, bêu đầu trên cột đèn trước chợ Hóc Môn. Sau cuộc khởi nghĩa 1885, Pháp đổi tên huyện Bình
Long thành quận Hóc Môn, chia thành 4 tổng: Long Tuy Thượng, Long Tuy Hạ, Long Tuy Trung
và Bình Thạnh Trung.
Năm 1930 khi Đảng Cộng sản Ðông Dương ra đời thì Mười tám Thôn vườn trầu được
chọn làm hậu cứ, nơi nuôi dưỡng các cán bộ lãnh đạo của Ðảng, nơi cất dấu tài liệu bí mật của
Đảng. Trong khoảng thời gian năm 1930 đến 1940, bà con Mười tám Thôn vườn trầu đã bảo vệ,
che dấu, nuôi nấng nhiều chiến sĩ cộng sản, nhiều người con ưu tú của giai cấp công nhân, của dân
tộc Việt Nam:Nguyễn Văn Cừ, Phan Ðăng Lưu, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh
Khai, Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn...Tin vào dân, dựa vào dân, Trung ương Ðảng đã tổ chức ở đây
ba cuộc họp quan trọng. Tháng 3 năm 1937 Trung ương Ðảng họp hội nghị mở rộng kiểm điểm
tình hình, bàn chủ trương biện pháp cụ thể, nhất là công tác mặt trận và công tác đấu tranh hợp
pháp để đẩy mạnh phong trào cách mạng tại ấp Tiến Lâm. Cũng tại ấp này, tháng 3 năm 1938,
Trung ương Ðảng họp hội nghị toàn thể kiểm điểm ưu khuyết điểm về các mặt công tác: xây dựng
Ðảng, tổ chức quần chúng, xây dựng mặt trận. Và đề ra những chủ trương cụ thể nhằm phát huy
thắng lợi đã giành được, đưa phong trào đấu tranh dân chủ lên một bước nữa. Từ ngày 6 đến
ngày 8 tháng 11 năm 1939, hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ 6 khai mạc tại ấp Tây Bắc Lân -
Mười tám Thôn vườn trầu với sự tham gia của các đồng chí Nguyễn Văn Cừ (Tổng bí thư), Lê
28
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Duẩn, Phan Ðăng Lưu, Võ Văn Tần... Hội nghị đã bàn toàn diện các chủ trương của Ðảng trong
tình hình mới. Ðêm 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa kỳ bùng nổ. Cả một vùng rộng lớn nông
thôn Nam Bộ rung chuyển trước sức nổi dậy, tiến công của quần chúng cách mạng. Ngày đó, bà
con Mười tám Thôn vườn trầu tự vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác đánh vào các cơ quan hành
chính của thực dân Pháp. Do điều kiện chưa chín muồi, cuộc khởi nghĩa này đã thất bại. Thực dân
Pháp dựng trường bắn ngay tại thị trấn Hóc Môn - chỗ ngã ba Giồng. Tại đây, những người con ưu
tú của dân tộc, những cán bộ xuất sắc của Ðảng: Nguyễn văn Cừ, Võ Văn Tần, Phan Ðăng Lưu,
Nguyễn Thị Minh Khai... đã ngã xuống.
Ngày nay Hóc Môn vẫn còn những di tích lịch sử ghi dấu những giai đoạn lịch sử anh hùng
của nhân dân Hóc Môn cùng nhân dân Nam Bộ đấu tranh anh dũng kiên cường với thực dân
Pháp, đế quốc Mỹ dành độc lập. Như: "Bia căm thù" ở Cầu Xáng, khu di tích.
18 thôn vườn trầu là.
1. Mỹ Toàn
2. Tân Phú
3. Tân Thới Bình
4. Tân Thới Đông
5. Tân Thới Tây
6. Tân Thới Trung
7. Tân Thới Nhứt
8. Tân Thới Nhứt Tây
9. Tân Thới Nhì
10. Tân Thới Nhì Tây
11. Tân Thới Tam
12. Tân Thới Tứ
13. Thuận An
14. Thuận Kiều
15. Trung Hòa
16. Tứ Chánh Giáo Đức
17. Xuân Thới
18. Xuân Thới Tây
4.12 Chùa Bà Thiên Hậu
Chùa Bà Thiên Hậu (theo cách gọi của người Việt) còn được gọi là chùa Bà Chợ Lớn,
tên chữ Hán là Thiên Hậu miếu, người Hoa gọi là Phò Miếu (tức miếu Đức Bà). Do bên cạnh chùa
có Tuệ Thành Hội quán là nơi quy tụ của nhóm người Hoa Quảng Đông, nên chùa còn được
gọi Tuệ Thành Hội quán.
Đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất của người Hoa đã gây dựng trên đất Đề
Ngạn xưa. Chùa hiện tọa lạc tại số 710 đường Nguyễn Trãi, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Bà Thiên Hậu được nhóm người Hoa gốc huyện Tuệ Thành (Quảng Đông) di dân
sang Việt Nam góp vốn và góp công xây dựng vào khoảng năm 1760 và được trùng tu nhiều lần.
Chùa nằm trong khu trung tâm của những người Hoa đầu tiên đến tạo lập nên Chợ Lớn sau này.
29
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Sách Đại Nam nhất thống chí ghi: Cách huyện Bình Dương 12 dặm, ở phía tả và phía hữu
đường quan lộ. Nơi chợ có đường thông ra tứ phía đi liên lạc như hình chữ "điền", nhà cửa phố xá
liên tiếp thềm mái cùng nhau, người Hán, người Thổ ở chung lộn dài độ 3 dặm, đủ cả hàng hóa
trăm thức,...đầu phía bắc đường lớn có đền Quan Công, quán Tam Hội, xây cất đối nhau phía tả và
phía hữu. Phía tây đường lớn có chùa Thiên Hậu, gần phía tây có Ôn Lăng Hội Quán.
Chùa thờ bà Thiên Hậu là chính. Bà được người Quảng Đông gọi là “A Phò” (Đức Bà).
Người Phúc Kiến và Hải Nam thích gọi bà là "Đạo Mẫu".
Thiên Hậu Thánh Mẫu tên thật là Lâm Mặc Nương, người làng Mi Châu, huyện Bồ
Điền, tỉnh phúc Kiến, con ông Lâm Tức Khánh. Theo lời kể của người Phúc Kiến rằng, cha và anh
trai làm nghề đi biển. Một hôm gặp sóng to gió lớn, thuyền chao đảo muốn chìm. Bà vội vã chèo
thuyền ra biển cứu cha và anh, nhưng chỉ cứu được cha mà thôi. Ít lâu sau bà qua đời và trở nên
linh thiêng. Từ đó người dân trong làng đều đến gặp bà cầu xin bình an trước khi đi biển.
Chùa xây theo hình ấn, là kiểu kiến trúc đặc trưng cùa người Hoa, đây là tổ hợp 4 ngôi nhà
liên kết nhau tạo thành mặt bằng giống hình chữ "khẩu" hoặc chữ "quốc". Ba dãy nhà ở giữa tạo
thành tiền điện, trung điện và hậu điện. Giữa các dãy nhà này có một khoảng trống gọi là thiên tỉnh
(giếng trời), giúp không gian chùa thoáng đãng, đủ ánh sáng cho hậu cung và có chỗ thoát khói
hương.
Trang trí ở các điện là hình hoa lá, chim thú và hoành phi, câu đối, biển tự thường là màu
đỏ, vàng tạo sự ấm áp, tin tưởng. Chùa còn có các bức tranh đắp nổi liên hoàn, các con vật thuộc
"tứ linh".
Chùa có gắn các tượng tròn, phù điêu bằng gốm dày đặc từ trên nóc chùa, mái, hiên chùa
cho đến các bàn thờ, vách tường... do 2 lò gốm Bửu Nguyên và Đồng Hòa sản xuất vào năm 1908.
Tiền điện là hai trang thờ hai bên: Phúc Đức Chánh thần (phải) và Môn Quan Vương Tả
(trái). Tại đây có bia đá ghi truyền thuyết về Thiên Hậu Thánh Mẫu và các bức tranh lớn vẽ cảnh
bà đang hiển linh trên sóng nước.
Trung điện đặt bộ lư có năm món (ngũ sự) đúc năm Quang Tự thứ 12 (1886).
Chánh điện, được gọi là Thiên hậu Cung, gian giữa thờ Bà Thiên Hậu, hai bên thờ bà Kim
Hoa Nương Nương (phía phải) và Long Mẫu Nương Nương (phía trái).
Được biết pho tượng Bà Thiên Hậu tạc từ một khối gỗ nguyên cao 1m, có từ khá lâu, trước
khi xây chùa, vốn được thờ ở Biên Hòa và đến năm 1836 mới di chuyển về đây. Hai pho tượng
còn lại bằng cốt giấy sơn màu. Các pho tượng đều được khoác áo thêu lộng lẫy. Gian phụ nằm hai
bên chính điện thờ Quan Thánh, Địa Tạng, Thần Tài.
Chùa Bà Chợ Lớn hàng ngày vẫn đón tiếp những người đến cúng lễ khá đông. Nhưng đông
hơn là vào các ngày mùng một và rằm hàng tháng, các ngày lễ Tết trong năm của người Hoa
như Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, Tết Đoan ngọ... Đặc biệt, ngày 28 Tết, chùa tiến hành lễ
cúng Bà và Lễ khai ấn, cầu mong Bà phò trợ cho “Hộ quốc an dân” và “Hợp cảnh bình an”. Riêng
ngày vía Bà (23 tháng 3 [âm lịch]) được xem là ngày hội chính của chùa.
Vào ngày này, bà con người Hoa, người Việt đến cúng lễ rất đông. Ngay từ đêm hôm trước
tại chùa đã cử hành Lễ tắm Bà. Sáng ngày 23, mọi người lại tổ chức Lễ rước Bà: Tượng Bà được
đặt vào kiệu do các thanh niên nam nữ ăn mặc đẹp đẽ diễu qua các đường phố quanh chùa. Theo
sau kiệu có thuyền rồng, các tấm bảng đỏ ghi tên các vị thần được thờ phụng trong chùa, các đội
múa gồm: múa lân, múa sư tử, múa rồng, các đội nhạc dân tộc vừa biểu diễn vừa múa hát, tạo nên
một quang cảnh náo nhiệt trong các khu phố đông đảo người Hoa..
Chánh điện chùa còn 2 đại đồng chung niên hiệu Càn Long năm thứ 60 (1796) và Đạo
Quang năm thứ 10 (1830). Trung điện có bộ lư phát lam lớn niên hiệu Quang Tự thứ 12 (1886).
Trong tủ kính lớn ở chính điện là tượng Bát Tiên và tướng lịnh của D'Ariès vào năm 1860 cấm các
30
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
binh sĩ Pháp và Y-Pha-Nho phá phách. Hai bên bộ lư là kiệu sơn son thiếp vàng, bằng gỗ tốt, dành
rước Bà vào ngày vía Bà với chiếc thuyền rồng chạm hình nhân, rước theo cùng với kiệu Bà.
Ngoài ra, chùa còn khoảng 400 đồ cổ, trong đó có 7 pho tượng thần, 6 tượng đá, 9 bia đá, 2
chuông nhỏ, 4 lư hương đồng, 1 lư hương đá, 10 bức hoành phi, 23 câu đối và 41 tranh nổi... Tất
cả những cổ vật này đều được chế tác rất công phu, tỉ mỉ với những đường nét tinh tế
Chùa Bà Thiên Hậu là một trong những ngôi chùa miếu, có lịch sử lâu đời nhất của người
Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh giá trị về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hiện vật cổ,
nơi đây còn có một giá trị khác, đó không chỉ là nơi đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà còn là nơi qui
tụ và tương trợ lẫn nhau của bà con người Việt gốc Hoa (Quảng Đông).
Sự tích Bà Thiên Hậu, qua người kể đôi khi có ít nhiều dị biệt nhưng chủ yếu vẫn là đề cao
một người phụ nữ Hoa có lòng hiếu thảo, đức hạnh, dám xả thân vì mọi người...Sự đề cao này
nhằm mục đích giáo dục.
Mặt khác trên bước đường nguy nan, nhiều sóng gió khi sang vùng đất mới để mưu sinh,
người Hoa tin tưởng sự hiển linh của bà sẽ giúp họ vượt qua được mọi trở ngại và được an cư lạc
nghiệp. Để tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với sự phù trợ của Bà, Chùa Bà Thiên Hậu có vị trí quan
trọng đối với người Hoa và cả người Việt.
Chùa Bà được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia ngày 07 tháng 01
năm 1993.
5. Sản phẩm lưu niệm
Một trong những thú vui khi đến thành phố Hồ Chí Minh là đi dạo phố và mua sắm. Hàng
hóa thật phong phú, đủ màu sắc, đủ chủng loại, từ những vật dụng thông thường hàng ngày cho
đến những đặc sản nổi tiếng của mọi miền đất nước, từ hàng sản xuất trong nước đến những nhãn
hiệu quốc tế có uy tín trên thế giới. Cửa hàng thường trang trí rất đẹp, nhất là các cửa hàng thủ
công mỹ nghệ và thời trang, mỗi cửa hàng như một tác phẩm nghệ thuật nho nhỏ.
1. Vòng tay đá: Cổng nhà thờ Đức Bà, chùa Vĩnh Nghiêm.
2. Vòng tay da: Chợ Bến Thành
3. Búp bê sứ, vải: Bưu điện thành phố
4. Tem: Bưu điện thành phố
5. Trái tim bằng gỗ, inox: Địa đạo củ chi.
6. Vòng đeo cổ: chùa Vĩnh Nghiêm, nhà thờ đức bà
7. Áo phông in hình Việt Nam: Chợ Bến Thành, Thương xá Tax.
8. Mũ: Chợ Bến Thành
9. Dép: Địa đạo củ chi.
10. Túi xách: Đường Lê Lợi, chợ Bến Thành
11. Tranh: Đường Nguyễn Văn Trỗi
12. Áo dài: Chợ Bến Thành.
13. Khăn rằn:địa đạo Củ Chi
14. Hàng làm bằng da cá sấu: địa đạo Củ Chi
15. Đá chạm khắc hình thù: Địa đạo củ chi, bưu điện thành phố.
6. Loại hình nghệ thuật truyền thống
6.1 Ca Kịch Quảng Đông
31
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Người Hoa có mặt ở Nam bộ rất sớm, cùng với cộng đồng người Việt mở cõi phương Nam
từ giữa thế kỷ thứ XVII và dân số phát triển khá nhanh. Song sân khấu ca kịch của họ ở Nam bộ
lại rất hiếm. Hiện nay ở phía Nam, chỉ có 2 đoàn nghệ thuật ca kịch chuyên nghiệp của người Hoa
biểu diễn ở TP.HCM.
Ban đầu họ ca - múa với hình thức dân gian, rồi hình thành từng nhóm ở khu vực định cư.
Họ biểu diễn ở sân khấu đất. Thường biểu diễn trong sinh hoạt hội hè, đình đám, giỗ chạp, cưới
sinh… mà người Hoa gọi là “Nhạc xã” - tức nghệ thuật biểu diễn không chuyên. Đây là yếu tố
nghệ thuật dân gian, được phát triển dần và là cơ sở để hình thành nghệ thuật sân khấu ca kịch
chuyên nghiệp sau này.
Đoàn Ca kịch Quảng Đông theo phong cách tự sự, trữ tình, điệu bộ mềm dẻo, uyển chuyển,
nhưng hóa trang theo sắc thái kinh kịch. Còn Đoàn Ca kịch Triều Châu thì theo phong cách kịch
nói hiện đại, điệu bộ tả thực và hóa trang theo sắc thái hơi giống cải lương Nam bộ. Nhân sự của
mỗi đoàn có hơn 40 người, được tuyển chọn từ phong trào Nhạc xã, đa số là ở quận 5. Họ không
có trường lớp đào tạo chính quy mà chỉ truyền nghề theo kiểu truyền thống “cầm tay chỉ việc”.
Cộng với sự tiếp thu nghệ thuật sân khấu từ người Việt, qua những lần dựng vở, do các đạo diễn
của TP.HCM thị phạm. Như sự dàn dựng, hướng dẫn của các đạo diễn: NSND Phùng Há, NSND
Huỳnh Nga, NSƯT Đoàn Bá, Minh Trị, Minh Quân, v.v…
6.2 Nghệ thuật biễu diễn lân sư rồng
Múa Lân Sư Rồng là môn nghệ thuật múa dân gian đường phố, có nguồn gốc từ lâu đời và
là một nét văn hóa không thể thiếu của người Việt. Các linh vật Lân - Sư - Rồng tượng trưng cho
sự thịnh vượng, phát đạt, hạnh phúc, hanh thông của con người. Do đó, vào mỗi dịp lễ, tết, khai
trương, khánh thành, đám cưới, mừng thọ… các đoàn biểu diễn Lân Sư Rồng lại rộn rã những bài
múa để cầu chúc một năm mới an khang thịnh vượng, gia chủ phát tài, sung túc
Biểu diễn Lân sư rồng là cả một nghệ thuật, do đó để có được những bài múa đẹp mắt, các
thành viên phải có một thời gian khổ luyện để có sức mạnh và sự dẻo dai rồi mới tính đến các kỹ
thuật độc đáo. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa những người biểu diễn là điều kiện tiên quyết để có
được những bài biểu diễn ưng ý.
Tùy theo mỗi đoàn lân, khi biểu diễn có những chủ đề, kỹ thuật thể hiện sự độc đáo và bản
sắc riêng. Trong kỹ thuật biểu diễn có những động thái và tịnh thái, thông qua các bộ pháp mà
Rồng thể hiện được sinh khí, thần thái riêng của mình. Động thái là múa nhảy qua thân rồng, múa
xuyên qua bụng, múa nhào lộn… Sau những tính động đó thì tịnh thái là lúc lân hoặc rồng trong
trạng thái tĩnh, có khi phải giữ thân mình trên cột cao hơn 10m chỉ với 2 mũi bàn chân. Do đó,
người biểu diễn phải học qua võ công để đạt được một trình độ nhất định, có sự dẻo dai, biết “thế”
để thoát khỏi những nguy hiểm chực chờ.
Thành viên của các đoàn Lân sư rồng mặc dù mỗi người một hoàn cảnh khác nhau (học
sinh, sinh viên, bán vé số, công nhân…) nhưng đều đến với nghề múa Lân sư rồng bằng một niềm
đam mê mãnh liệt. Sau những giờ lao động, học tập vất vả, tối đến, họ tập trung lại để cùng luyện
võ, tập múa Lân sư rồng và phải trải qua nhiều bước, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao như: lân leo
cột; lân - sư nhảy mai hoa thung…
Các đoàn Lân sư rồng: Hằng Anh Đường, Nhơn Nghĩa Đường, Liên Nghĩa Đường, Tâm
Hoa Đường… hiện là các đoàn lân có nhiều năm kinh nghiệm, có đoàn đã ra đời cách đây hơn nửa
thế kỷ, để lại tiếng tăm và sự yêu thích trong lòng người dân thành phố.
32
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
BÌNH D NGƯƠ

V. V TRÍ Đ A LÝỊ Ị
Với tọa độ địa lý 10o
51' 46" - 11o
30' Vĩ độ Bắc, 106o
20'- 106o
58' kinh độ Đông (nguồn Sở
KHCN), Bình Dương tiếp giáp với các tỉnh, thành sau: Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước. Phía Nam
giáp thành phố Hồ Chí Minh. Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai. Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và
thành phố Hồ Chí Minh.
Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong , Long An và tỉnh Tiền Giang), là một
trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước.
Bình Dương là cửa ngõ giao thương với TP. Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế - văn hóa của
cả nước; có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14,
đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á …; cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ
từ 10 - 15 Km… thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội toàn diện.
VI. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử
Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Kỉnh (cử tên đọc là Cảnh) được cử vào Nam kinh lý,
lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long (kể từ tả ngạn sông Sài Gòn ra bờ biển Đông) và
Tân Bình (kể từ hữu ngạn sông Sài Gòn tới sông Vàm Cỏ Đông).
Năm 1808, Phước Long được đổi thành phủ gồm bốn huyện: Bình An, Phước Chánh, Long
Thành, Phước An; Tân Bình cũng thành phủ gồm bốn huyện: Bình Dương, Tân Long, Thuận An,
Phước Lộc. Phủ Phước Lộc là địa bàn của dinh Trấn Biên sau đổi ra tỉnh Biên Hòa. Phủ Tân Bình
là địa bàn của dinh Phiên Trấn sau đổi ra tỉnh Gia Định. Ở buổi đầu khi mới khai hoang lập ấp, qui
chế hành chính còn lỏng lẻo “người 2 huyện” được phép sinh sống làm ăn xen kẽ nhau. Như người
huyện Phước Long có thể sang lập nghiệp trong huyện Tân Bình, vì thế trong huyện Tân Bình có
tổng Phước Lộc. Và người huyện Tân Bình sang lập nghiệp bên huyện Phước Long, vì thế trong
huyện Phước Long có tổng Bình An. Sau này, Phước Lộc và Bình An thành huyện.
Huyện Bình An và huyện Bình Dương tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, nhưng cùng ở hai bên
bờ sông Sài Gòn (xưa gọi là sông Tân Bình) nên có nhiều mối quan hệ thân thiết họ hàng. Chỉ cần
qua một khúc đò ngang là trao đổi hàng hóa và giao lưu văn hóa được ngay. Hai bên còn gần nhau
hơn nữa: về phía Bắc huyện Bình An, xứ Dầu Tiếng ở ngay tả ngạn sông Sài Gòn kể từ rạch Thị
Tính tới biên giới Campuchia, đương thời thuộc địa phận huyện Bình Dương. Đó là địa phận tổng
Dương Hòa Hạ, một trong sáu tổng của huyện Bình Dương (Dương Hòa Hạ, Dương Hòa Thượng,
Dương Hòa Trung, Bình Trị Hạ, Bình Trị Thượng, Bình Trị Trung).
Năm 1832, toàn miền Nam chia thành sáu tỉnh. Năm 1834, gọi Nam Kỳ là lục tỉnh: Biên
Hòa, Phiên An (từ 1836 cải thành Gia Định), Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.
Năm 1837, huyện Bình An chia ra hai huyện Bình An (Thủ Dầu Một) và Ngãi An (Thủ
Đức). Năm 1841, huyện Bình Dương chia ra hai huyện: Bình Dương (Sài Gòn) và Bình Long
(Hóc Môn, Củ Chi) .
Năm 1859, Pháp đánh chiếm Gia Định. Sau khi kháng chiến thất bại, Huế phải kí hiệp ước
1862 nhượng cho Pháp ba tỉnh: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường. Năm 1867, Pháp cưỡng chiếm
nốt ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên; rồi chia lục tỉnh cũ ra hai mươi tỉnh mới. Pháp chia cắt
lại địa phận và đặt tên cho các tỉnh mới lập (lúc đầu gọi là địa hạt, anondissement). Pháp bỏ các
mỹ danh hành chính cũ và dùng các tục danh nghe vừa thô, lại vừa lạ tai, như các tỉnh Chợ Lớn,
Gò Công, Bà Rịa, Bến Tre, Sa Đéc, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá…lâu lắm rồi mới quen tai
được! Dưới thời Pháp thống trị, đại khái hai bên bờ sông Sài Gòn là hai tỉnh Gia Định và Thủ Dầu
33
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Một. Tỉnh Gia Định nằm trên hữu ngạn, gồm thêm quận Thủ Đức nằm bên tả ngạn (nguyên là
huyện An Ngãi thuộc tỉnh Biên Hoà). Tỉnh Thủ Dầu Một tựu trung nằm trên tả ngạn và trên địa
phận huyện Bình An cộng với địa bàn tổng Dương Hòa Hạ (tức xứ Dầu Tiếng, nguyên thuộc Bình
Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định).
Không kể hai huyện Bình Long (1841) và Ngãi An (1837) sinh sau đẻ muộn, chỉ tồn tại
một thời gian ngắn thì hai huyện Bình Dương (Gia Định) và Bình An (Biên Hoà) đã có những lúc
thiết lập địa phận trao đổi nhau. Tình hình đó kéo dài đến cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 và
suốt thời kháng chiến chống Pháp chín năm với hiệp định Geneve 1954.
Chính quyền Sài Gòn không chịu hiệp thương thống nhất, rồi ngày 22/10/1956 ra sắc lệnh
số 143NV để “thay đổi địa giới và tên đô thành Sài Gòn - chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt
Nam”. Địa giới và địa danh các tỉnh thay đổi rất nhiều, hầu hết địa danh nôm na hoặc phiên âm
khó hiểu đều được bãi bỏ. Địa danh Hán Việt cũ được lấy lại hoặc dùng những chữ tốt đẹp để đặt
tên mới.
Tỉnh Bình Dương được thiết lập từ đó, tỉnh lỵ được đặt tại Thủ Dầu Một nhưng đổi tên là
Phú Cường. Tỉnh Bình Dương nằm giữa các tỉnh Gia Định, Long An, Tây Ninh, Bình Long,
Phước long, Long Khánh và Biên Hoà.
Tỉnh Bình Dương: năm 1956 - 1963, gồm hai quận Trị Tâm - Củ Chi, nguyên xưa nhất là
đất thuộc huyện Bình Dương.
Tỉnh Sông Bé: năm 1975 - 1996, trả phần đất Phú Hoà để làm thành huyện Củ Chi như cũ
và thuộc về thành phố Hồ Chí Minh; gồm 3 tỉnh cũ: Bình Dương, Bình Long, Phước Long.
Tỉnh Bình Dương năm 1996, vẫn giữ lại “quận Trị Tâm” cũ thuộc huyện Bến Cát.
Tỉnh Bình Phước năm 1996, gồm hai tỉnh Bình Long - Phước Long có trước năm 1975.
Tỉnh Bình Dương có diện tích 2.237,8 km2
chia ra sáu quận: Châu Thành (171,4 km2
), Bến
Cát (616km2
), Phú Giáo (562,4km2
), Lái Thiêu (68,1km2
), Củ Chi (443,8km2
), Trị Tâm
(376,1km2
). Bốn quận trên thuộc địa phận huyện Bình An (Biên Hoà), hai quận sau (Củ chi, Trị
Tâm) thuộc địa phận tỉnh Bình Dương (Gia Định). Hai quận nguyên thuộc Bình Dương rộng tới
819,9km2. Cho nên, lấy địa danh huyện Bình Dương để đặt tên cho tỉnh mới này kể cũng là hợp
lý.
Tỉnh Bình Long mang tên này cũng có lý do tương tự: như đã nói trên, huyện Bình Dương
mới lập hồi năm 1841, trên một phần đất của huyện Bình Dương. Huyện Bình Long khi ấy chia ra
sáu tổng: Long Tuy Thượng, Long Tuy Hạ, Long Tuy Trung, Bình Thạnh Thượng, Bình Thạnh
Hạ, Bình Thạnh Trung. Năm tổng đặt ở Củ Chi - Hóc Môn, riêng tổng Bình Thạnh Thượng nằm ở
tả ngạn sông Sài Gòn từ ngả ba rạch Thị Tính đổ lên (thay cho địa phận tỉnh Bình Dương Hoà Hạ
cũ, trước 1841). Giới hạn tổng này lên tới biên thùy Campuchia, tức cũng là một phần của tỉnh
mới lập nằm ở phía Bắc Thủ Dầu Một thời Pháp. Có lẽ vì thế người ta đặt tên cho tỉnh mới đó
(nằm ở Bắc Bình Dương) là Bình Long.
Tỉnh Phước Long nằm ở phía Đông Bắc hai tỉnh Bình Dương và Bình Long, chỉ là một
phần đất nhỏ của huyện Phước Long xưa (lập từ 1698). Lấy lại tên này để khỏi mai một địa danh
có lịch sử lâu đời vậy.
Trở lại với Bình Dương. Từ năm 1965, tỉnh Phước Thành thành lập rồi giải thể. Tỉnh này
nằm ở biên giới phía Đông tỉnh Bình Dương, không liên quan gì tới phía Tây bên sông Sài Gòn và
Gia Định (xin lướt qua). Ngày 15/10/1963, tỉnh mới lấy tên Hậu Nghĩa được thành lập. Tỉnh này
nằm giữa các tỉnh: Gia Định, Long An, Tây Ninh và Bình Dương. Bình Dương phải chia một phần
đất cho Hậu Nghĩa: quận Củ Chi chia ra hai quận là quận Củ Chi (206,8km2
) cho thuộc về Hậu
Nghĩa và quận Phú Hoà (237km2) cho thuộc về Bình Dương. Phần đất xưa kia thuộc huyện Bình
Dương bị teo lại vậy.
34
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Sau ngày thống nhất 1975, việc phân thiết lại và đặt tên mới cho các tỉnh rất sôi nổi. Một
số tỉnh bị giải thể, một số tỉnh được bành trướng. Tỉnh Hậu Nghĩa bị xoá sổ, trả lại địa phận cho
các tỉnh Long An, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh mới lập (phần quận Củ Chi). Ba tỉnh Bình
Dương, Bình Long, Bình Phước nhập một gọi là tỉnh Sông Bé. Tỉnh Bình Dương trả lại quận Phú
Hoà cho thành phố Hồ Chí Minh. Quận Củ Chi (Hậu Nghĩa) và quận Phú Hoà (Bình Dương) nhập
lại thành huyện Củ Chi của ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 6/11/1996, Quốc hội đã ra nghị quyết tách tám tỉnh. Riêng với Sông Bé, văn kiện ghi
Tỉnh Sông Bé được sáp nhập từ hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước, của địa bàn rộng, địa
hình phức tạp, vừa có miền núi, biên giới, vừa có đồng bằng và trung du, có diện tích
9.532,72km2, dân số 1.177.874 người, nay được chia thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước.
Tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên 2.718,50km2, dân số 646.317 người; gồm bốn đơn
vị hành chánh cấp huyện: thị xã Thủ Dầu Một, các huyện Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát. Tỉnh lỵ
dặt tại thị xã Thủ Dầu Một.
Tỉnh Bình Phước có diện tích tự nhiên 6.814,22km2 dân số 531.557 người; gồm năm đơn
vị hành chánh cấp huyện: Đồng Phú, Lộc Ninh, Phước Long, Bù Đăng, Bình Long. Tỉnh lỵ đặt tại
thị trấn Đồng Xoài (thuộc huyện Đồng Phú).
VII. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ
4. Địa lý tự nhiên
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên 2.695,22km2 (chiếm
khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ). Dân số 1.482.636
người (1/4/2009), mật độ dân số khoảng 550 người/km2.
5. Địa hình
Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn,
nối nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn
sóng yếu từ cao xuống thấp dần từ 10m đến 15m so với mặt biển. Vị trí trung tâm của tỉnh ở vào
tọa độ địa dư từ 10o
-50’-27’’ đến 11o
-24’-32’’ vĩ độ bắc và từ 106o
-20’ đến 106o
25’ kinh độ đông.
Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam. Nhìn tổng quát,
Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau: vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có
địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi ... Có một số núi thấp, như núi Châu Thới (huyện Dĩ
An), núi Cậu (còn gọi là núi Lấp Vò) ở huyện Dầu Tiếng… và một số đồi thấp.
Các quy luật tự nhiên tác động lên vùng đất này tạo nên nhiều dạng địa mạo khác nhau: có
vùng bị bào mòn, có vùng tích tụ (do có sự lắng đọng của các vật liệu xâm thực theo dòng chảy),
có vùng vừa bị bào mòn, vừa tích tụ và lắng đọng. Nguyên nhân chủ yếu là do nước mưa và dòng
chảy tác động trên mặt đất, cộng với sự tác động của sức gió, nhiệt độ, khí hậu, sự sạt lở và sụp
trượt vì trọng lực của nền địa chất. Các sự tác động này diễn ra lâu dài hàng triệu năm.
6. Đất đai
Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại:
- Đất xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000 ha phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, Bến
Cát, Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một. Loại đất này phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là
cây công nghiệp, cây ăn trái.
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng 35.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống,
thuộc các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, khu vực thị xã Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít
chạy dọc quốc lộ 13. Đất này có thể trồng rau màu, các loại cây ăn trái chịu được hạn như
mít, điều.
35
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
- Đất phù sa Glây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở phía bắc huyện
Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, Dĩ An; đất thấp mùn Glây có khoảng
7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối. Đất này có chua phèn, tính
axít vì chất sunphát sắt và alumin của chúng. Loại đất này sau khi được cải tạo có thể trồng
lúa, rau và cây ăn trái, v.v...
7. Khí hậu
Khí hậu ở Bình Dương cũng như chế độ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ: nắng
nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm phân chia
thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối
tháng 10 dương lịch.
Vào những tháng đầu mùa mưa, thường xuất hiện những cơn mưa rào lớn, rồi sau đó dứt
hẳn. Những tháng 7,8,9, thường là những tháng mưa dầm. Có những trận mưa dầm kéo dài 1-2
ngày đêm liên tục. Đặc biệt ở Bình Dương hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hương những cơn
bão gần.
Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dương từ 26oC
-27oC
. Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới
39,3oC
và thấp nhất từ 16oC
-17oC
(ban đêm) và 18oC
vào sáng sớm. Vào mùa nắng, độ ẩm trung bình
hàng năm từ 76%-80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2). Lượng
nước mưa trung bình hàng năm từ 1.800-2.000mm. Tại ngã tư Sở Sao của Bình Dương đo được
bình quân trong năm lên đến 2.113,3mm.
8. Thủy văn
Chế độ thủy văn của các con sông chảy qua tỉnh và trong tỉnh Bình Dương thay đổi theo
mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11 (dương lịch) và mùa khô (mùa kiệt) từ tháng 11
đến tháng 5 năm sau, tương ứng với 2 mùa mưa nắng. Bình Dương có 3 con sông lớn, nhiều rạch ở
các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác.
Sông Đồng Nai là con sông lớn nhất ở miền Đông Nam Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm
Viên (Lâm Đồng) dài 635 km nhưng chỉ chảy qua địa phận Bình Dương ở Tân Uyên. Sông Đồng
Nai có giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho nền nông nghiệp, giao thông vận tải đường thủy và
cung cấp thủy sản cho nhân dân.
Sông Sài Gòn dài 256 km, bắt nguồn từ vùng đồi cao huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước).
Sông Sài Gòn có nhiều chi lưu, phụ lưu, rạch, ngòi và suối. Sông Sài Gòn chảy qua Bình Dương
về phía Tây, đoạn từ Lái Thiêu lên tới Dầu Tiếng dài 143 km, độ dốc nhỏ nên thuận lợi về giao
thông vận tải, về sản xuất nông nghiệp, cung cấp thủy sản. Ở thượng lưu, sông hẹp (20m) uốn
khúc quanh co, từ Dầu Tiếng được mở rộng dần đến thị xã Thủ Dầu Một (200m).
Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn tự đồi Cam xe huyện Bình Long
(tỉnh Bình Phước) chảy qua Bến Cát, rồi lại đổ vào sông Sài Gòn ở đập Ông Cộ. Sông Sài Gòn,
sông Thị Tính mang phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ở Bến Cát, thị xã, Thuận An, cùng với
những cánh đồng dọc sông Đồng Nai, tạo nên vùng lúa năng suất cao và những vườn cây ăn trái
xanh tốt.
Sông Bé dài 360 km, bắt nguồn từ các sông Đắc RơLáp, Đắc Giun, Đắc Huýt thuộc vùng
núi tỉnh Đắc Lắc hợp thành từ độ cao 1000 mét. Ở phần hạ lưu, đoạn chảy vào đất Bình Dương dài
80 km. Sông Bé không thuận tiện cho việc giao thông đường thủy do có bờ dốc đứng, lòng sông
nhiều đoạn có đá ngầm, lại có nhiều thác ghềnh, tàu thuyền không thể đi lại.
9. Tài nguyên rừng
Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ, nên rừng ở Bình Dương xưa rất đa
dạng và phong phú về nhiều chủng loài. Có những khu rừng liền khoảnh, bạt ngàn. Rừng trong
tỉnh có nhiều loại gỗ quý như: căm xe, sao, trắc, gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương ... Rừng Bình Dương
36
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và nhiều loài động vật,
trong đó có những loài động vật quý hiếm.
Hiện nay, rừng Bình Dương đã bị thu hẹp khá nhiều do bị bom đạn, chất độc hóa học của
giặc Mỹ tàn phá trong chiến tranh. Trong những năm tháng chiến tranh diễn ra ác liệt, Mỹ-ngụy đã
ủi phá rừng, bứng hết cây cối nhằm tạo thành những “vùng trắng”, đẩy lực lượng cách mạng ra xa
căn cứ càng làm cho rừng thêm cạn kiệt. Mặt khác, sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc
khai thác rừng bừa bãi cũng làm cho rừng bị thu hẹp.
10. Tài nguyên khoáng sản
Cùng với những giá trị quý giá về tài nguyên rừng, Bình Dương còn là một vùng đất được
thiên nhiên ưu đãi chứa đựng nhiều loại khoáng sản phong phú tiềm ẩn dưới lòng đất. Đó chính là
cái nôi để các ngành nghề truyền thống ở Bình Dương sớm hình thành như gốm sứ, điêu khắc,
mộc, sơn mài ...
Bình Dương có nhiều đất cao lanh, đất sét trắng, đất sét màu, sạn trắng, đá xanh, đá ong
nằm rải rác ở nhiều nơi, nhưng tập trung nhất là ở các huyện: Tân Uyên, Thuận An, Dĩ An, thị xã
Thủ Dầu Một.
Các nhà chuyên môn đã phát hiện ở vùng Đất Cuốc (huyện Tân Uyên) có một mỏ cao lanh
lớn phân bố trên một phạm vi hơn 1km2
, với trữ lượng lớn. Đất cao lanh ở đây được đánh giá là
loại đất tốt, có thể sử dụng trong nghề gốm và làm các chất phụ gia cho việc sản xuất một số sản
phẩm công nghiệp...
11. Giao thông
Bình Dương là một tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy rất quan trọng nối
liền giữa các vùng trong và ngoài tỉnh. Trong hệ thống đường bộ, nổi lên đường quốc lộ 13 - con
đường chiến lược cực kỳ quan trọng xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của
tỉnh từ phía nam lên phía bắc, qua tỉnh Bình Phước và nối Vương quốc Campuchia đến biên giới
Thái Lan. Đây là con đường có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự và kinh tế.
Đường quốc lộ 14, từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng đi Chơn Thành, Đồng Xoài, Bù Đăng (tỉnh
Bình Phước) xuyên suốt vùng Tây Nguyên bao la, là con đường chiến lược quan trọng cả trong
chiến tranh cũng như trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước. Ngoài ra còn có liên tỉnh lộ 1A từ
Thủ Dầu Một đi Phước Long (Bình Phước); Liên tỉnh lộ 13 từ Chơn Thành đi Đồng Phú, Dầu
Tiếng; liên tỉnh lộ 16 từ Tân Uyên đi Phước Vĩnh; lộ 14 từ Bến Cát đi Dầu Tiếng ... và hệ thống
đường nối thị xã với các thị trấn và điểm dân cư trong tỉnh.
Về hệ thống giao thông đường thủy, Bình Dương nằm giữa 3 con sông lớn, nhất là sông
Sài Gòn. Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long.
VIII. IV. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN
7. Con người
Trên địa bàn tỉnh có 15 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh chiếm 97% dân số; các dân tộc
thiểu số như dân tộc Hoa 2,07%; dân tộc Khơ-me có 1.490 người; dân tộc Tày có 514 người; dân
tộc Chăm có 322 người; dân tộc Mường có 315 người; dân tộc Nùng 453 người; dân tộc Stiêng có
60 người;...
Thuở ban đầu thời mở đất Phương Nam, Bình Dương là tên một tổng thuộc huyện Tân
Bình, phủ Gia Định. Đến năm 1808, khi huyện Tân Bình được đổi thành phủ thì Bình Dương được
nâng lên là một trong bốn huyện của phủ này. Đất Bình Dương thuở đó nay chủ yếu thuộc địa bàn
thành phố hồ Chí Minh, chỉ có một phần vùng Dầu Tiếng, lúc đó là tổng Dương Hòa Hạ thuộc tỉnh
Bình Dương ngày nay. Năm 1956, tỉnh Bình Dương được thiết lập nhưng không phải trùng với địa
bàn của huyện Bình Dương xưa kia. Và đến năm 1997, tỉnh bình Dương được tái lập, nhưng cũng
37
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
không phải hoàn toàn là địa phận của tỉnh bình Dương trước năm 1975. Như vậy, trong lịch sử
Bình Dương là tên của gọi những đơn vị hành chánh - lãnh thổ theo những cấp độ khác nhau
(tổng, huyện, tỉnh) với những địa bàn lãnh thổ khác nhau. Do vậy, nói đến cư dân Bình Dương qua
các thời kỳ lịch sử chỉ có tính chất tương đối, không thể phân định rạch ròi theo kiểu thống kê hộ
tịch của một đơn vị hành chính lãnh thổ cụ thể như hiện hành.
Bình Dương vốn gắn liền với Gia Định - Đồng Nai xưa, tức là miền Đông Nam Bộ ngày
nay, cư dân Bình Dương là một bộ phận cư dân Đông Nam Bộ. Nhưng đồng thời với trung tâm là
thị xã thủ Dầu Một với một vùng phụ cận bên bờ sông Sài Gòn có những điều kiện môi trường
sinh thái đặt biệt, cư dân Bình Dương cũng có nhũng đặc điểm riêng từ lịch sử hình thành đến kỹ
năng nghề nghiệp và lối hành xử trong cuộc sống của mình.
Những trang sử được lật lên từ lòng đất Bình Dương qua các di tích khảo cổ học như
Vườn Dzũ, Cù lao Rùa - Gò Đá, Dốc Chùa đã cho thấy cách đây hàng ngàn năm, con người
nguyên thủy đã sinh sống và phát triển trên địa bàn Bình Dương. “Người Vườn Dzũ” (Tân Uyên)
là lớp cư dân đầu tiên khai phá vùng đất Đông Nam Bộ nói chung, Bình Dương nói riêng, cách
ngày nay đã chục ngàn năm.
Vào thời kỳ phát triển của xã hội nguyên thủy, trên đất Bình Dương có di tích khảo cổ Cù
Lao Rùa - Gò Đá (Tân Uyên). Đó là những khu cư trú của con người tiền sử vào thời kỳ “hậu kỳ
đá mới - đầu đồng thau” vào loại lớn nhất của Đông Nam Á. Chủ nhân của nó là những cư dân
nông nghiệp dùng rìu, cuốc để rẫy, là một bộ phận quan trọng của cư dân xứ Đồng Nai - Đông
Nam Bộ thời tiền sử cách nay 3-4000 năm.
Cũng trên đất Bình Dương vào thời đoạn cường thịnh của người tiền sử - thời đại kim khí
cách ngày nay khoảng 3000 - 2500 năm, các nhà khảo cổ học đã phát hiện di tích Dốc Chùa (Tân
Uyên) là một di tích của khu cư trú lâu dài, một xưởng thủ công đúc đồng có tầm cỡ, một khu mộ
táng lớn có sưu tập di vật đồ đồng khuôn đúc nhiều nhất trong toàn vùng Đông Nam Bộ. “Người
Dốc Chùa” qua nhiều thế hệ đã có sự giao lưu rộng rãi, đã hoạt động “xuất nhập khẩu” (nhập
nguyên liệu, xuất sản phẩm) để phục vụ cho nghề thủ công đúc đồng nổi tiếng nhất vào thời bấy
giờ.
Tóm lại, cư dân tiền sử Bình Dương với những mốc phát triển trên đây là một bộ phận chủ
nhân của một trong ba nền văn hoá kim khí nổi tiếng ở nước ta là văn hoá Đồng Nai (vùng Đông
Sơn, Sa Huỳnh). Đó là lớp cư dân đầu tiên của Bình Dương nói riêng và của vùng đất Nam Bộ nói
chung, cách ngày nay khoảng 4000 - 2500 năm. Rồi vào khoảng trước và sau Công Nguyên, họ đã
mở rộng quan hệ với nhiều cộng đồng khác nhau trong khu vực lân cận, mở rộng cuộc khai phá
đến vùng châu thổ sông Cửu Long, tạo lập nên nền văn hóa Óc Eo nổi tiếng ở Nam Bộ.
Sau 5 - 6 thế kỷ tồn tại và phát triển, những khu cư dân phồn vinh của văn hoá Óc Eo bị
chôn vùi trong bùn lầy châu thổ và ven biển Nam Bộ, thì vùng Đông Nam Bộ lại nhanh chóng
phát triển với nhiều lớp cư dân hỗn hợp. Trong đó, vùng trung lưu và cả thượng lưu Đồng Nai.
Truyền thống văn hoá tiền sử muộn bắt đầu hồi phục trở lại và phát triển trong sự hiện diện của
một số cư dân bản địa mà hậu duệ của họ vẫn còn sinh sống ở vùng đất Đông Nam Bộ - Nam Tây
Nguyên cho đến tận hiện nay. Đó là người Stiêng, Mạ, Châu Ro…
Ngày nay trên địa bàn Bình Dương mới được tách ra từ năm 1997. Hầu như rất ít người
Stiêng, Mạ, Châu Ro sinh sống. Phần lớn họ cư trú ở tỉnh Bình Phước - người anh em sinh đôi của
Bình Dương và một số cư trú ở các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Lâm Đồng, Bà Rịa. Tuy vậy, trong
lịch sử vùng đất Bình Dương ngày nay đã từng là nơi sinh sống một thời của các dân tộc vừa nêu
trên. Qua những truyện kể dân gian mang tính chất hồi tưởng lịch sử về quê hương tổ tiên của
mình, các dân tộc bản địa hiện đang sinh sống ở miền Đông Nam Bộ thường cho biết địa bàn sinh
sống xưa kia của tổ tiên họ là đất gần biển, là những vùng ít núi non. Nhóm người Ta - mun ở sóc
5 xã Minh Hoà và nhóm người Stiêng Budeh còn nói rằng cách đây không lâu, ông cha họ còn ở
vùng Thuận An. Rất có thể họ là thành phần cư dân của “Vương quốc Mạ” trong lịch sử từng tồn
tại theo hai bên bờ sông Đồng Nai ở trung lưu và hạ lưu. Và lúc ấy, địa bàn Bình Dương là một
38
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
trong những vùng lãnh thổ của họ. Sau này, do áp lực của nhiều luồng di dân và do nhiều điều kiện
lịch sử xã hội của thời kỳ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, các dân tộc bản địa vùng này đã lùi dần về
vùng núi thượng lưu thuộc các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên hiện nay .
Vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung xiêu
tán về vùng Đông Nam Bộ, trong đó có địa bàn Bình Dương, tìm vùng đất mới để lập nghiệp. Họ
bao gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau và lìa bỏ quê hương với nhiều nguyên nhân khác
nhau. Họ là những nông dân nghèo khổ không chịu đựng nỗi cơ cực lầm than chốn quê nhà, là
những người chạy trốn sự truy đuổi của chính quyền phong kiến. những người trốn lính, trốn thuế
v.v…nhìn chung là vì bức xúc của cuộc sống mà bất chấp nguy hiểm đi tìm nơi nương thân, mưu
lập cuộc sống mới. Có lẽ ngay từ những năm tháng đầu tiên, Bình Dương là một trong những nơi
dừng chân của đoàn quân di cư người Việt cùng với những địa bàn khác nhau như Mô Xoài, Cù
lao Phố, Bến Nghé. Bởi ngày ấy dân di cư thường theo những cửa biển con sông để tìm những
vùng đất. Và Bình Dương, đặc biệt là những vùng xung quanh thị xã Thủ Dầu Một, vốn là vùng
giáp sông Đồng Nai, sông Sài Gòn là những nơi định cư lý tưởng thuở đầu khai phá.
Sau khi thiết lập hệ thống hành chính, và sau đó là triều Nguyễn đã có nhiều chính sách
khuyến khích, thu hút lưu dân đến khai hoang lập làng vùng Gia Định - Đồng Nai. Trong bối cảnh
đó Bình Dương cũng nhanh chóng được khai phá. Theo nhà nghiên cứu địa bạ Nguyễn Đình Đầu
thì vùng Bình An (đất Bình Dương trước đây) là nơi có nhiều ruộng đất nhất của tỉnh (Biên Hòa),
điều đó cho phép đoán định đây là vùng có đông dân cư nông nghiệp nhất. Và xung quanh Thủ
Dầu Một sau này như Phú Cường, Lái Thiêu, Phú Lợi hay vùng Tân Khánh, Tân Uyên, Cù Lao
Rùa là những xóm làng đông đúc của Bình Dương từ thuở đầu mở nước thời nhà Nguyễn.
Sau thế kỷ XIX, cư dân Bình Dương đã phát triển nhanh hơn. Đặc biệt trong thời kỳ này,
cộng đồng người Hoa di dân đến Bình Dương ngày một đông. Họ đến đây từ Cù Lao Phố - Biên
Hoà và từ Bến Nghé - Gia Định. Những làng gốm của người Hoa xuất hiện ở vùng Lái Thiêu, Phú
Cường, Tân Uyên với những sản phẩm được tạo ra đã có sự chuyển hóa khá rõ nét (lò của người
Hoa Quảng Đông chuyên về tượng trang trí, lò gốm người Hoa Triều Châu chuyên sản xuất đồ gia
dụng, còn lò gốm người Hoa Phúc Kiến chuyên sản xuất vật dụng to lớn như lu, khạp v.v…). Cho
đến nay, người Hoa ở Bình Dương vẫn tập trung ở một số vùng “định cư truyền thống” của họ như
thị xã Thủ Dầu Một, Lái Thiêu - Thuận An, Tân Uyên. Ngoài nghề buôn bán, họ còn chung thủy
với một số nghề truyền thống, mà trước hết là nghề gốm từ thuở ban đầu, tạo nên một nét sinh hoạt
văn hoá đặc sắc cho người Bình Dương qua các thời kỳ.
Từ khi tỉnh Thủ Dầu Một được thiết lập thì dân cư ở vùng này đã phát triển nhanh chóng.
Nhiều ấp, làng mới được hình thành theo sự tăng trưởng của dân cư. Đặc biệt nhiều làng nghề trên
đất Thủ Dầu Một được ra đời, trong đó đáng chú ý nhất là những làng mộc, và những cơ sở sản
xuất sơn mài. Cư dân người Việt ở miền Bắc, miền Trung vốn có tay nghề kỹ thuật khảm xà cừ
trên tủ thờ, ghế dựa tràng kỷ, hương án … đã lần lượt đến Bình Dương khai thác thế mạnh ở đây là
giàu gỗ quí (gõ, cẩm lai, giáng hương…) tạo nên một nghề độc đáo và nổi tiếng cho Bình Dương.
Miếu mộc tổ ở Lái Thiêu, các làng nghề mộc ở Phú Thọ, Chánh Nghĩa là các cụm dân cư độc đáo
của Bình Dương. Sau này Pháp mở trường Bá Nghệ ở Thủ Dầu Một, nghề mộc Bình Dương càng
có điều kiện phát truển trên cơ sở tiếp thu những kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống
vốn có đã tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những trong nước mà còn cả quốc tế.
Nghề sơn mài là một thế mạnh của cư dân Bình Dương vốn được những người lưu
dân Việt từ Bắc và Trung mang theo khi đến định cư ở vùng đất này. Tương Bình Hiệp ở huyện
Bình An xưa vốn là một huyện làm tranh cổ đã tiếp nhận những lưu dân có nghề từ Bắc và Trung
vào đây lập nghiệp, dần dần đã trở thành “trung tâm sơn mài” của bình Dương qua các thời kỳ.
Một đặc điểm quan trọng khác trong sự biến đổi thành phần dân cư của Bình Dương vào
thời kỳ này là sự xuất hiện một đội ngũ công nhân cao su ngày càng nhiều theo chiều mở rộng của
các đồn điền cao su của thực dân Pháp trên địa bàn Thủ Dầu Một - Đông Nam Bộ. Từ đầu thế kỷ
XX, Thủ Dầu Một đã trở thành tỉnh dẫn đầu về trồng cao su ở Nam Bộ. Theo đó các làng cao su
39
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
lần lượt mọc lên trên đất Thủ Dầu Một ngày càng nhiều, nhất là xung quanh các đồn điền cao su
nổi tiếng như Dầu Tiếng, Lôc Ninh, Đa Kia, Quản Lợi, Phú Riềng, Xa Cam, Xa Cát… Dân cao su
Thủ Dầu Một đa số là những người nông dân ở miền Bắc, miền Trung (đông nhất là miền Bắc)
vốn bị khánh kiệt ruộng đất, thất cơ lỡ vận buộc phải bỏ xứ đi làm “phu công tra” cho các chủ Tây.
Chính ở Bình Dương xưa kia là nơi xuất phát đầu tiên phong trào đấu tranh cách mạng của công
nhân cao su với sự kiện “Phú Riềng Đỏ” nổi tiếng.
Trong thời kỳ cận hiện đại, dân cư và mật độ dân số Bình Dương không ngừng thay đổi,
luôn luôn được bổ sung từ nhiều nguồn, nhiều nơi. Đáng chý ý nhất là đợt “bổ sung dân số” vào
năm 1954 từ nguồn di cư của người Việt từ các tỉnh phía Bắc vào và sau này có một số từ miền
Trung đến với các chính sách “đinh điền” của chế độ Sài Gòn trước năm 1975. Trong thời kỳ
chiến tranh trước năm 1975, sự phân bố cư trú của cư dân Bình Dương cũng có nhiều thay đổi do
Bình Dương là một trong những chiến trường ác liệt. Nhưng sau ngày giải phóng 1975, nhân dân
xiêu tán khắp nơi đã nhanh chóng hồi hương, lấp dần các khoảng trống ở các vùng Bến Cát, Tân
Uyên, Dầu Tiếng…
Thêm vào đó, một bộ phận dân cư đi kinh tế mới, khai hoang phục hóa cũng đã đến địa bàn
Bình Dương. Trong vòng hơn hai mươi năm sau ngày giải phóng, dân số Bình Dương đã tăng gấp
đôi, từ gần 350 ngàn người tăng lên 668 ngàn người (lúc chia tỉnh). Nhưng sự biến động về thành
phần dân cư và mật độ dân số ở Bình Dương vẫn tiếp tục diển ra với mức độ đáng kể. Tân Uyên
và Bến Cát, nơi mật độ dân cư còn thấp nhưng đang hình thành các xí nghiệp công nghiệp, phát
triển các vùng lâm trường (cao su, mía, điều, lâm nghiệp…) sẽ thu hút lao động và cư dân đến.
8. Tín ngưỡng và tôn giáo
2.1 Tín ngưỡng phối thờ các vị thần trong hệ thống đình làng Bình Dương
Vào những năm cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, cùng với quá trình khai hoang lập ấp
và hình thành làng xã, việc xây dựng đình làng cũng được người dân Bình Dương đặc biệt chú
trọng. Đình (亭) là một thiết chế văn hóa tín ngưỡng truyền thống của một làng/xã, thông thường
mỗi làng hay mỗi xã dù dân số ít hay nhiều cũng đều phải có một ngôi đình để tổ chức hội hè, lễ
bái. Đình thần Bình Dương đa số được xây dựng vào thời kỳ đầu thiết lập làng, xã. Ban đầu đình
chỉ là gian nhà nhỏ, mái tranh vách đất, dần dần được trùng tu, nâng cấp cao, rộng hơn. Tuy nhiên,
do sự tàn phá của chiến tranh nên còn rất ít ngôi đình giữ được nguyên vẹn kiến trúc cũ, hầu hết
được xây dựng mới đặt trên nền đất cũ sau ngày giải phóng.
Theo số liệu thống kê của Bảo tàng Bình Dương vào năm 2007, trên toàn tỉnh có 121 đình
thần trên tổng số 89 đơn vị hành chánh xã/phường/thị trấn. Trước đây, mỗi xã chỉ có một ngôi
đình làng thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, nhưng sau này do quá trình tách - nhập đơn vị hành chính
trong suốt chiều dài lịch sử nên có một số xã không có đình thần, nhưng cũng có xã lại có đến 2, 3
đình, thậm chí có đến 5, 6 đình như xã Thường Tân huyện Tân Uyên (5 đình), xã Bạch Đằng
huyện Tân Uyên (6 đình)…
Khác với miễu là chỉ thờ một vị thần hoặc những vị thần đặc thù duy nhất, đình thần Bình
Dương nói riêng và hệ thống đình thần trong cả nước nói chung phối thờ nhiều vị thần khác nhau.
Tuy nhiên, trong không gian thiêng của đình làng Bắc Bộ chỉ có vị thần Thành Hoàng và Thổ
Công được phụng thờ thì đối với hệ thống đình làng Nam Bộ lại lại khá phồn tạp, với nhiều loại
thần khác nhau do có sự tiếp biến văn hóa trong quá trình cộng cư với người Hoa, Khmer, Chăm
và các cư dân bản địa khác
Cũng như hệ thống đình làng Nam Bộ, ngoài đối tượng thờ chính là Thành Hoàng Bổn
Cảnh, tại đình thần Bình Dương còn phối thờ nhiều vị thần khác trong khuôn viên đình. Đó là các
Nam thần như Thần Nông, Thổ Địa, Thổ Công; các nữ thần như bà Chúa Xứ, bà Ngũ hành; các
thần tự nhiên như thần Hổ, thần Sông và các vị thần tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ, tiên sư
tổ sư, tả ban hữu ban... Có thể nói, đình làng Bình Dương là nơi tập hợp thần linh từ nhiều nguồn
gốc khác nhau, có nhiều chức năng phù trợ khác nhau và trong đó chỉ có Thành Hoàng Bổn Cảnh
40
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
là được các triều đại phong kiến cấp sắc phong thờ tự, còn lại do người dân tự đưa vào phối tự.
Nhìn chung, dù có sắc phong hay không thì dân làng địa phương cũng đều trân trọng thờ tự như
nhau, tuyệt đối không có sự kỳ thị hay phân biệt nào giữa các vị thần cả về nghi thức tế lễ và lễ vật
dân cúng.
Có thể nói, đình thần Bình Dương là nơi trú sở của nhiều vị thần linh. Hàng năm, ngoài 2
lễ cúng chính là lễ Kỳ Yên, Cầu Bông ra thì ở đình thần Bình Dương còn tổ chức nhiều lễ cúng
khác nữa như: ngày lễ tiết tứ thời (ngày đưa Thần 25/12, ngày rước Thần 30/12, tết nguyên đán
1/1, khai sơn 7/1, tết Đoan ngọ 5/5…), ngày lễ của các tôn giáo xâm nhập vào đình (Thượng
nguyên, Trung nguyên, Hạ nguyên), các ngày lễ mang tính dân gian như lễ cúng miễu, cầu an tống
gió). Có thể nói, tín ngưỡng phối thờ các vị thần tại các đình thần Bình Dương phản ánh đầy đủ
qua các lễ cúng đình hàng năm.
Như vậy, hệ thống văn hóa tín ngưỡng ở Bình Dương khá phức hợp, đa dạng. Nhu cầu về
tâm linh của người dân cao, để đạt được ước vọng đó bà con đã đưa nhiều vị thần vào cùng phối tự
trong đình của thần mình, họ hi vọng mỗi vị thần phù hộ cho người dân những lĩnh vực mà mình
cầu khẩn. Việc phối tự rất nhiều vị thần trong khuôn viên của đình thần đã tạo nên nét đặc trưng
riêng của hệ thống đình làng Nam bộ.
2.2 Tín ngưỡng và tôn giáo
Về tín ngưỡng, cũng như một số tỉnh ở miền Đông Nam Bộ, tín ngưỡng của cộng đồng cư
dân người Việt ở Bình Dương phần đông được hình thành trên cơ sở các tập tục truyền thống của
làng xã miền Trung và miền Bắc Việt Nam, mà trực tiếp là mô hình thôn làng Thuận - Quảng được
các nhóm lưu dân người Việt mang theo vào vùng đất mới.
Cơ cấu tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội của cư dân ở Bình Dương là một tập hợp rất phong
phú và nhiều vẻ về dạng thức được biểu hiện cụ thể như: lễ hội đình, lễ hội miếu, lễ hội võ, lễ hội
tổ nghề, lễ hội chùa Phật, lễ hội thờ mẫu… của đồng bào miền Bắc, lễ hội của người Hoa ...
Cũng như phần đông các tỉnh Nam Bộ, ở Bình Dương có nhiều tôn giáo và tín ngưỡng
khác nhau. Đạo Phật được truyền vào Bình Dương khoảng cuối thế kỷ XVI, khi những lớp cư dân
đầu tiên từ phía Bắc đến định cư ở vùng đất này. Từ đó, đạo Phật phát triển rộng ra toàn tỉnh. Hầu
hết những người theo đạo Phật đều có lòng yêu nước, tham gia kháng chiến, ủng hộ cách mạng.
Đạo Thiên chúa vào Bình Dương khoảng đầu thế kỷ XVII, khi các nhà truyền giáo phương
Tây theo thương nhân ngoại quốc đến vùng đất này. Khi thực dân Pháp hoàn tất việc tổ chức bộ
máy cai trị trong cả nước, thì đạo Thiên Chúa phát triển tương đối nhanh. Từ năm 1954, hàng chục
nghìn giáo dân từ các tỉnh miền Bắc bị địch dụ dỗ đưa vào định cư ở những vùng xung yếu ở Bình
Dương với những âm mưu thâm độc. Tuyệt đại bộ phận đồng bào theo đạo Thiên Chúa, Tin Lành
tại chỗ và từ miền Bắc di cư vào đều là những người lao động, mang truyền thống bất khuất của
dân tộc Việt Nam, một lòng kính chúa, yêu nước, sống phúc âm trong lòng dân tộc, không sa vào
mưu đồ, cạm bẩy của kẻ thù để chống lại Tổ Quốc.
Đạo Cao Đài ra đời ở Nam Bộ từ năm 1926, được truyền vào Bình Dương với hai hệ phái
là Tòa Thánh Tây Ninh và Chơn Ly Mỹ Tho.
Nét độc đáo về dân cư ở Bình Dương là sự quy tụ cư dân từ bốn phương trong cả nước
cùng với các dân tộc bản địa. Trong quá trình xây dựng cuộc sống, biết bao thế hệ đã cùng nhau
vun đắp, bảo vệ mảnh đất này. Có thể nói, đây là hình ảnh thu nhỏ những tính chất, sắc thái của
đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
9. Lễ hội
3.1 Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu
Miếu bà Thiên Hậu “Thiên Hậu Cung” mà người dân quen gọi là Chùa Bà. Một cơ sở tín
ngưỡng dân gian quan trọng của đồng bào người Hoa trên đất Thủ Dầu Một, Bình Dương. Miếu
41
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Bà hiện nay tọa lạc tại số 4 đường Nguyễn Du, thị xã Thủ Dầu Một, cạnh bùng binh ngã Sáu. Miếu
do các ban người Hoa tạo lập để thờ vị nữ thần hiệu là Thiên Hậu Thánh Mẫu.
Thiên Hậu Thánh Mẫu tên thật là Lâm Mặc Nương, người làng Mi Châu, huyện Bồ Điền,
tỉnh phúc Kiến, con ông Lâm Tức Khánh. Theo lời kể của người Phúc Kiến rằng, cha và anh trai
làm nghề đi biển. Một hôm gặp sóng to gió lớn, thuyền chao đảo muốn chìm. Bà vội vã chèo
thuyền ra biển cứu cha và anh, nhưng chỉ cứu được cha mà thôi. Ít lâu sau bà qua đời và trở nên
linh thiêng. Từ đó người dân trong làng đều đến gặp bà cầu xin bình an trước khi đi biển.
Lễ hội ở miếu Bà:
Ngày lễ thuần túy diễn ra ngày 25 tháng 3, là ngày vía bà. Ngày ấy chỉ có cúng lễ tế, lễ bái
mà không có cuộc rước lễ, diễu hành, đặc biệt là ở các cuộc lễ của người Hoa ở miếu bà không có
đọc sớ hoặc văn tế thần như các cuộc cúng đình của người việt. Các vật dâng cúng thần cũng
không có qui định cụ thể mà hoàn toàn tùy thuộc ở tấm lòng và điều kiện của người cúng lễ.
Thông thường là bánh, trái, hoa, hương, cau, thịt… còn loại nào, số lượng bao nhiêu không quy
định chắc chẽ.
Hội vừa mang tính chất tín ngưỡng, vừa là dịp dân chúng tụ họp để chiêm ngưỡng thần,
hoặc xem những đợt cúng lễ, múa hát, rước xách, diễu hành, nghĩa là dịp vừa tín ngưỡng vừa vui
chơi, giải trí. Phải chăng điều đó thể hiện bản chất thích hợp quần chúng của các cuộc lễ hội?
Ngày lễ hội miếu Bà ở Thủ Dầu Một - Bình Dương, được diễn ra ngày Rằm tháng Giêng
Âm lịch hàng năm và được chuẩn bị chu đáo của ban tổ chức, lại được sự bảo vệ của các cơ quan
chức năng. Ngày lễ hội được tiến hành theo trình tự sau:
Sáng 14 tháng Giêng (AL) lễ bắt đầu, lễ diễn ra đơn giản trong vòng 15 hay 20 phút, sau
đó là bá tánh vào lễ. Trong dịp lễ này thường có tục “Thỉnh Lộc Bà”. Lộc là những cây nhang lớn
và những cái đèn lồng phất giấy. Việc thỉnh lộc bằng đèn, nhang có ý nghĩa là mang ánh sáng vào
hương thơm, tượng trưng cho sự hanh thông, sáng sủa và danh giá cùng những may mắn cho gia
đình.
Trong miếu thường có những lồng đèn phất giấy hình khối tròn như quả dưa hoặc như quả
bí do bá tánh cúng. Sau lễ những đèn ấy được đem hỏa thiêu, còn những đèn nhang để bá tánh
thỉnh lộc. Phần đèn có khoảng trên dưới 150 cái để người thỉnh lộc, phần nhang thì tùy hoàn cảnh,
ít nhiều không hạn định. Ngoài ra, theo lễ hàng năm miếu Bà có sản xuất độ 15 cái đèn lớn để
cúng Bà và số đèn này được đưa ra đấu giá, số tiến có được sẽ sung vào công quỹ của miếu.
Cuộc rước kiệu Bà:
Đây là cuộc hội đồng đông đảo và vui nhộn nhất diễn ra hằng năm ở thị xã Thủ Dầu Một.
Đi đầu là tấm biển đề 4 chữ Thiên Hậu xuất du. Kế tiếp là đoàn múa Hẩu của người Hoa
thuộc bang Phúc Kiến. Hẩu là con Kim Mao sư (sư tử rồng vàng), là con thú chúa của loài thú.
Hẩu dẫn đầu đoàn rước với ngụ ý là muốn xua đuổi hoặc răn đe những cái xấu, cái ác, đi trước
người biểu diễn là người điều khiển hướng dẫn, cách thức, điệu múa Hẩu mạnh bạo, dứt khoát như
người diễn võ, dùng nhiều sức nên mệt, do vậy một lúc có diễn viên khác vào thay. Múa Hẩu
không có ông địa đi theo như múa Lân, Hẩu không leo trèo như Lân. Sau Hẩu là các xe hoa, rồi đồ
binh khí, bát bửu, những tấm bài đề Túc Tĩnh, Hồi Tị.
Sau phần nghi thức cố định này, tùy theo sáng kiến từng năm của ban tổ chức mà có thể có
đoàn Bát tiên (gồm 6 tiên ông và 2 tiên bà ), các tiên nữ đoàn múa rồng, múa lân.
Sau đoàn múa lân rồi đến cộ bà, cộ bà có tám người khiêng, khiêng cộ bà là điều có nhiều
phước lộc nên được phân đều cho cả bốn Bang, mỗi bang phụ trách một góc cộ. Kế sau cộ bà là
đoàn lân của người Quảng Đông như để hộ vệ bà cùng với bốn người đại diện của bốn bang người
Hoa.
42
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Ý nghĩa cuộc rước cộ là để bà thăm viếng dân tình và để bá tánh chiếm bái, cầu phúc. Thật
ra những cuộc rước thần thánh nói chung ở các đình, chùa, miếu mạo… là cách đưa sự linh thiêng
vào cuộc sống, tạo sự nối kết giữa thánh thần với đời thường, là dịp để mọi người vui chơi, giải trí
trong cái không khí tín ngưỡng dân gian như mọi hội hè đình đám của truyền thống văn hóa dân
tộc.
3.2 Lễ hội “chùa Ông Bổn” của người Hoa.
Nếu như phổ biến và rõ nét nhất trong dòng chảy lễ hội truyền thống người Việt ở Bình
Dương là lễ hội cúng đình kỳ yên (cầu an), Thì lễ hội truyền thống của cộng đồng người Hoa sống
trên đất Bình Dương lại đặc trưng với 2 dòng chính: Đó là lễ hội Chùa Bà Thiên Hậu cung của 4
bang người Hoa và lễ Ông Bổn của dòng Phước Kiến.
Cùng với người Việt, người S’tiêng... cộng đồng người Hoa ở Bình Dương có một vị trí rất
quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội. Người Hoa sống trên đất Bình Dương
chủ yếu gồm có 4 bang: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ. Nhằm mục đích đoàn kết hữu
nghị, phát triển kinh tế và văn hóa, tất cả ngưởi Hoa đều thống nhất có một tổ chức là “Hội người
Hoa”.
Là những lưu dân đi tìm đất sống, do đó tín ngưỡng của họ đã sớm trở thành một nhu cầu
quan trọng trong đời sống của người Hoa. Đó chính là một trong những chỗ dựa lớn lao về tinh
thần, giúp họ trụ vững và phát triển. Cũng chính vì lẽ đó mà tín ngưỡng của người Hoa rất đa dạng
và phong phú về nhiều mặt. Nhưng có lẽ, tín ngưỡng nổi bật nhất của cộng đồng người Hoa trên
đất Bình Dương chính là tín ngưỡng thờ cúng trong cộng đồng với 2 lễ hội đặc trưng là lễ hội
Thiên Hậu Cung (chùa Bà) và miếu Ông Bổn (chùa Ông Bổn). Mặc dù không mang tính chất rộng
rãi như lễ hội Chùa BàThiên Hậu, nhưng lễ hội chùa Ông Bổn cũng thể hiện nét tín ngưỡngtiêu
biểu, gắn liền với những ngành nghề chính của người Hoa. Đây cũng được coi là một trong những
lễ hội quan trọng trong năm của người Hoa.
Hiện tại ở Bình Dương có 5 ngôi miếu Ông Bổn (mà dân quen gọi là chùa). Đó là chùa
Ông Bổn Chánh Nghĩa (Phước An miếu), miếu Ông Bổn Bà Lụa, miếu Ông Bổn chợ Búng, Miếu
Ông Bổn Lái Thiêu và miếu Ông Bổn Tân Phước Khánh (Tân Phước Khánh Nghĩa đường) của họ
Lý, họ Vương dòng Phước Kiến.
Lễ hội miếu Ông Bổn được luân phiên diễn ra với phạm vi hẹp hơn miếu Bà Thiên Hậu.
Tuy nhiên, lễ hội miếu Ông gắn liền với những người làm nghề lò chén, họ coi trọng nơi nhập cư,
họ lập chùa lấy tên vị thần đất (Ông Bổn) nói chung và thờ các vị thánh nhân phù hộ nghề nghiệp
cho họ.
Đối với người Hoa, Ông Bổn có nghĩa là “Ông tổ”, “Bổn” có nghĩa là gốc. Ông Bổn chỉ là
một biểu tượng, không phải là một nhân vật cụ thể. Đa số người Hoa đều quan niệm rằng “Ông
Bổn” là “Phước Đức Chánh Thần”. Tuy nhiên mỗi bang người Hoa đều có những quan niệm và tín
ngưỡng riêng về Ông Bổn. Người Hoa (gốc Phúc Kiến) ở Chợ Lớn đã cụ thể hóa là Châu Đạt
Quan - Một vị quan đời Nguyên. Người Hoa gốc Triều Châu, Hải Nam ở miền Tây Nam bộ lại cụ
thể hóa là Tam Bảo Thái Giám Trịnh Hòa - Người đời Minh. Người Triều Châu (ở Hội An) cụ thể
hóa là Phục Ba Tướng quân Mã Viện. Người Quảng Đông ở Chợ Lớn cho Ông Bổn của họ là
Thần Thổ Địa… nhưng những người Hoa họ Vương gốc Phúc Kiến ở Bình Dương cho rằng Ông
Bổn của họ là Huyền Thiên Thượng Đế và họ Lý (gốc Triều Châu) cho Ông Bổn của họ chính là
Ông tổ họ Lý.
Huyền Thiên Thượng Đế là một vị thần do Thượng Đế phân thân còn gọi là Chơn Võ
(Chân Vũ). Trấn Vũ là vị thần ở núi Võ Đang. Bên cạnh Huyền Thiên Thượng Đế, họ Vương còn
thờ: Quan Âm Bồ Tát (người Phúc Kiến tôn thờ nhiều thần), Na Tra Thái Tử, Nam Triều Đại Đế.
Họ Vương thì tôn thờ các vị thần trên, trong khi đó họ Lý ở Bình Dương lại thờ Ông Bổn
là thủy tổ các họ: Lực, Chu, Quách, Tiêu , Triệu, Lý và Châu. Đây cũng chính là biểu tượng. Họ
cũng thờ Phước Đức Chánh thần mà họ gọi đó là Ông Địa, tức là thần đất đai ở địa phương. Có thể
43
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
kể đến các cung điện thờ Ông Bổn của họ Vương ở Bình Dương như: Phước Võ điện- phường
Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một (xây dựng năm1885); Ngọc Hư Cung- thị trấn Lái Thiêu (xây dựng
khoảng 1971); Phước Thọ Đường - xã Hưng Định, Thuận An; Phước Nghĩa Đường - Tân Phước
Khánh, Tân Uyên.
Họ Lý có một ngôi miếu thờ Ông Bổn là Phước An Miếu ở Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một
( xây dựng năm 1980). Miếu này do họ Lý xây dựng, ngoài thờ Ông tổ của bảy họ như trên, còn là
từ đường họ Lý, nên còn gọi là Lý Thị Gia Miễu.
Cũng giống như các đền Miếu của người Việt, các miếu thờ Ông Bổn đều tích hợp đa thần
như Trương Thiên Sư (Trương Đạo Lăng - đời Hán), Bao Công (đời Tống), Cảnh Chủ Tôn
Vương, Linh Từ Tôn Vương, Cửu Thiên Huyền Nữ….
Lễ hội các đền miếu thờ Ông Bổn ở Bình Dương mang nội dung cúng tổ nghề gốm, tập
trung chủ yếu người Hoa ở địa phương và các nơi khác. Lễ hội này của người Hoa ở Bình Dương
còn mang tính chất tín ngưỡng phúc thần, bảo hộ cuộc sống và việc làm ăn của cộng đồng người
Hoa trên đất Bình Dương.
Theo tục lệ tín ngưỡng của người Hoa, các vị thần Huyền Thiên Thượng Đế, Quan Âm Bồ
Tát, Na Tra Thái Tử và Nam Triều Đại Đế vốn không được thờ cố định ở một địa phương mà
được luân phiên ở các miếu thờ ở Thủ Dầu Một, Búng, Lái Thiêu, Tân Phước Khánh rước về thờ
trong một năm và lễ hội được tổ chức vào ngày 25-2. Và như vậy, theo tục lệ phải cách bốn năm
mới có lễ hội một lần. Chương trình lễ hội bao gồm có các nghi thức cúng tế theo Đạo giáo do các
thầy pháp chuyên nghiệp đảm trách. Kế đó là lễ rước kiệu các vị thần, kéo dài suốt đêm với hàng
chục cây số bao quanh khu vực dân cư, không khí hết sức tưng bừng, náo nhiệt và hoành tráng.
Trong lễ hội còn có hát Hồ Quảng, múa cù, múa lân sư rồng, đặc biệt là múa hẩu thu hút đông đảo
người xem.
Có thể nói lễ hội miếu Ông Bổn ở Bình Dương tuy là Lễ hội mang đặc trưng của một dòng
họ, một nghề nghiệp, một bang khác nhau, song nó đã thu hút được một cộng đồng cư dân người
Hoa và cả người Việt cùng tham gia hưởng ứng và trở thành những ngày lễ hội quan trọng trong
năm, trong đời sống tâm linh của người Hoa ở Bình Dương nói chung và người Việt nói riêng.
Lễ hội miếu Ông Bổn cùng với lễ hội miếu Bà Thiên Hậu của người Hoa và một số lễ hội
cúng tế của người Việt đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng mang đậm bản sắc dân gian,
trở thành những hoạt động chính trong các hoạt động văn hóa lễ hội diễn ra trong năm của cư dân
Bình Dương nói chung và của cả khu vực Nam bộ nói riêng, góp phần đặc sắc vào nền văn hóa
đầy màu sắc của Việt Nam.
3.3 Các lễ tết trong năm của người Hoa Bình Dương.
Ở Bình Dương cộng đồng người Hoa là cộng đồng cư dân có số lượng rất đông chỉ sau
người Kinh (Việt). Họ cư trú tập trung nhiều nhất ở TX.TDM và các thị trấn như An Thạnh, Lái
Thiêu (Thuận An), Tân Phước Khánh (Tân Uyên), Mỹ Phước (Bến Cát), Dầu Tiếng... Họ đóng vai
trò đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Về mặt văn hóa, người Hoa ở Bình
Dương có một nền văn hóa truyền thống nhiều màu sắc. Nói đến người Hoa là nói đến Lễ hội chùa
Bà, chùa Ông, đến múa lốt lân - sư - rồng, đến câu đối (liễn), đến sự yêu chuộng màu đỏ và đèn
lồng... Những màu sắc văn hóa kể trên được thể hiện trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và đặc
biệt là trong các ngày lễ, tết hàng năm. Đó là các lễ, tết như sau:
1.Tết Nguyên đán
Tết Nguyên đán là ngày tết long trọng nhất trong các ngày lễ truyền thống của người Hoa.
Ngày tết được tính từ những ngày đầu năm mới, nhưng không khí náo nhiệt mừng đón năm mới
bắt đầu từ những ngày cuối năm, cụ thể từ ngày 23 tháng chạp (23-12 AL). Đó là ngày đưa Táo
quân về chầu Ngọc hoàng. Vào ngày này, các gia đình người Hoa ở Bình Dương đều làm lễ cúng
đưa tiễn Táo quân. Các thực phẩm cúng Táo quân thường là đồ ngọt như bánh, mứt, kẹo, chè...
với ý nghĩa là Táo quân ăn ngọt để miệng lưỡi ngọt ngào tâu với Ngọc hoàng toàn những điều tốt
44
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
đẹp về gia chủ, khi trở về mang nhiều điều may mắn cho gia chủ. Sau khi cúng tế ông Táo, mọi
nhà đều vội vàng chuẩn bị đón tết.
Trong những công việc chuẩn bị đón năm mới của người Hoa ở Bình Dương, việc đầu tiên
là dọn dẹp nhà cửa, còn gọi là “ tảo trần”, là thu dọn vệ sinh cuối năm để “quét sạch bụi bặm”
trong gia đình, đón một năm mới thật sạch sẽ, kỳ vọng vào sự tốt lành, may mắn, bình an. Sau khi
đã dọn dẹp vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, họ bắt đầu trang trí nhà cửa từ bàn thờ cho đến nhà bếp. Người
Hoa ở Bình Dương không chưng mâm ngũ quả và cây mai như người Việt mà chưng hoa huệ, hoa
cúc và các loại trái cây theo ý thích. Trái cây được họ ưa chuộng là quít, táo, lê... Đăc biệt người
Hoa ở Bình Dương rất thích quít. Đó là loại trái cây được người Hoa cho là may mắn.
Một trong những công việc chủ yếu của việc chưng dọn nhà cửa của người Hoa ở Bình
Dương là thay mới các câu đối (liễn) từ các trang thờ cho đến liễn tết dán cửa ra vào. Câu đối, theo
âm Hán Việt là “liên”, tiếng Việt gọi là “ liễn”, là hai câu đối nhau từng từ, từng chữ nhưng ý lại
liên quan đến nhau, âm vần hài hòa. Câu đối được viết trên giấy, trên kiếng hoặc được khắc trên
gỗ. Ngày nay, câu đối còn được khắc trên chất liệu gần như nhựa cứng có độ bền rất cao. Tuy
nhiên đa số người Hoa ở Bình Dương vẫn thích sử dụng câu đối viết trên giấy, loại giấy màu đỏ
viết chữ bằng nhũ vàng hoặc mực đen. Câu đối được viết theo hàng dọc, gồm có câu xuất (câu thứ
nhất), câu đối (câu thứ hai) và hoành phi. Hoành phi được dán phía trên giữa hai câu. Hoành phi
thường có ít chữ nhưng có tính khái quát cao, thường thấy nhiều câu đối dùng chung một hoành
phi.
Tìm hiểu trong “Cội nguồn văn hóa Trung Hoa” thì câu đối bắt nguồn từ tục dán đào phù
(lá bùa dán trên cửa) trong đêm giao thừa. Đào phù được làm từ hai miếng gỗ đào, trên đó vẽ hai
anh em Thần trà và Úc lũy có tài bắt yêu ma, quỷ quái. Sau khi có sự hình thành văn từ đối trượng
thời Ngũ Đại, từ hình thức đào phù dần xuất hiện câu đối. Câu đối được cho là sớm nhất ở Trung
Quốc là câu đối:
Tân niên nạp dư khánh
Giai tiết triệu trường xuân
(Năm mới lại thêm vui
Tiết đẹp gọi xuân dài)
Được Hậu Thục Chúa Mạnh Sưởng viết năm 984 thời Ngũ Đại. Sau đó, câu đối được tầng
lớp thống trị của các triều đại phong kiến yêu thích và đề xướng, cùng với sự phát triển của giới
văn nhân, mặc khách, câu đối cuối cùng trở thành một hình thức văn học rất đặc sắc của Trung
Quốc và được sử dụng lưu truyền rộng rãi trong dân chúng. Nó trở thành một tập tục truyền thống
của người Trung Quốc và được các lưu dân người Hoa mang theo trên đường ly hương tìm đất
sống. Người Hoa dù đi bất cứ nơi đâu, tập tục dán liễn vẫn được gìn giữ và lưu truyền như máu
chảy trong huyết quản họ. Và, người Hoa ở Bình Dương không nằm ngoài dòng chảy này.
Họ làm lễ cúng ông bà tổ tiên rất sớm, có người cúng vào ngày 28 AL, có người cúng vào
ngày 29 AL, ít có người cúng vào ngày 30 AL như người Việt. Các món ăn cúng ông bà của họ có
nhiều món hay ít món còn tùy vào điều kiện của từng gia đình. Nhưng thường thì có các món như
gà luộc, thịt heo luộc, mì xào, bún xào, canh nấm... Theo phong tục của người Hoa Phước Kiến ở
Thủ Dầu Một thì thức ăn cúng ông bà như thịt heo, thịt gà... thì phải chặt ra từng miếng nhỏ không
để nguyên con hoặc nguyên một mảng thịt to. Ngược lại, nếu cúng thần linh thì để nguyên con
hoặc nguyên mảng thịt to không được chặt nhỏ. Người Hoa ở Bình Dương chỉ cúng ông bà vào
ngày cuối năm chứ không rước ông bà rồi cúng cơm trong cả 3 ngày tết như người Việt.
Lễ cúng giao thừa được người Hoa ở Bình Dương rất coi trọng. Đó là thời khắc giao nhau
giữa năm cũ và năm mới, gọi là giao thời (có lẽ sau bị biến âm thành giao thừa). Đến giờ giao
thừa (00 giờ đêm cuối năm), nhà nào cũng bày hương đèn, trà nước, bánh mứt, hoa quả ra phía
trước cửa chính để cúng, họ gọi là cúng ông Trời. Đối với người Phước Kiến ở Thủ Dầu Một theo
tục lệ xưa thì cúng giao thừa phải có 12 đĩa bánh mứt tượng trưng cho 12 tháng trong năm, năm
45
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
nào nhuần thì bày 13 đĩa. Họ cúng bái rất thành khẩn, cầu đấng siêu nhiên cao nhất ban cho sự
bình an, ấm no, hạnh phúc cho gia đình trong năm mới. Dần dần tục cúng giao thừa cũng được phổ
biến rộng rãi trong cả cộng đồng người Việt và lễ vật cũng đơn giản hơn, có khi chỉ cần một quả
dừa tươi và một bình hoa là có thể cúng được. Sau khi cúng giao thừa xong, người Hoa ở Bình
Dương thường rủ nhau đi đến các chùa, miếu, các cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng mà phổ biến
nhất là chùa Bà Thiên Hậu và các cơ sở tín ngưỡng ngoài cộng đồng như núi Bà Đen ở Tây Ninh,
núi Sam ở Châu Đốc... Các cơ sở tín ngưỡng dù ở trong hoặc ngoài cộng đồng đều được họ đến lễ
bái, miễn là nơi đó họ có thể liên lạc với thần linh để cầu cho năm mới bình an, công việc làm ăn
thuận lợi...
Ngoài các món ăn, thức uống truyền thống như bánh tổ của người Hoa Phước Kiến họ
Vương, trà mè của người Sùng Chính, việc ăn uống trong các ngày tết của người Hoa ở Bình
Dương cũng có các loại dưa cải, dưa hành, củ cải muối, họ cũng kho thịt heo và hầu như họ cũng
ăn bánh tráng, củ kiệu như người Việt. Khách tới nhà họ cũng đãi bánh mứt, uống nước trà.
Ở Bình Dương, người Hoa cũng có quan niệm trong những ngày tết phải mặc đẹp. Bà con,
bạn bè tới nhà chúc tết cho nhau, trẻ em được nhận những bao lì xì đỏ thắm. Người Hoa cũng xem
trọng việc xông nhà vào sáng mùng một tết. Họ quan niệm: người đến nhà đầu tiên vào ngày đầu
năm nếu hợp tuổi với gia đình thì họ sẽ gặp nhiều may mắn trong năm mới. Đối với một số người
Hẹ theo truyền thống xưa thì vào ngày mùng một tết cả nhà đều ăn chay. Việc ăn chay không
ngoài mục đích cầu mong cho năm mới được “mưa thuận gió hòa”, bình an và hạnh phúc.
Ngoài việc dán câu đối ngày xuân, một đặc trưng văn hóa khác của người Hoa ở Bình
Dương là nghệ thuật múa lốt như múa lân, múa rồng. Ở nơi nào có đông người Hoa sinh sống khi
tết đến rất dễ nhận ra bởi không khí sôi động, náo nhiệt của tiếng trống, tiếng chiêng múa lân, múa
rồng vang vọng khắp nơi. Từng đội lân, rồng thay nhau biểu diễn trên khắp các nẻo đường, nếu
được gia đình nào mời, các chú lân, rồng sẽ vào nhà chúc tết gia chủ để được nhận lì xì. Sinh hoạt
văn hóa tết của người Hoa ở Bình Dương rất nhộn nhịp, không khí nhộn nhịp ngày tết của cộng
đồng người Hoa ở Bình Dương kéo dài cho đến rằm tháng giêng.
2.Tết Nguyên tiêu (ngày 15-1 AL còn gọi là rằm tháng Giêng)
Tết Nguyên tiêu có ở Trung Quốc từ rất lâu đời. Nguyên tiêu là ngày trăng tròn đầu năm,
mọi nhà đều ăn tết tượng trưng cho sự đoàn kết, hòa thuận, hạnh phúc trong nhà. Trong ngày này,
mọi công việc đều tạm ngưng để gia đình đoàn tựu vui chơi. Trong cộng đồng người Hoa ở Bình
Dương, ngày Tết Nguyên tiêu là ngày lễ hội Bà Thiên hậu du xuân, hầu hết người Hoa đều tập
trung vui hội. Họ đi lễ chùa, miếu. Họ tập trung ra đường để xem đám rước kiệu Bà. Các gia đình
người Hoa ở hai bên đường có kiệu Bà đi qua thì bày hương án ra trước nhà để cúng bái cầu Bà
phù hộ cho gia đình năm mới được bình an, nhiều may mắn, tốt lành...
3.Tết Thanh minh
Tết Thanh minh ở vào khoảng giữa tháng 3 âm lịch. Như hai câu thơ trong Truyện Kiều
của Nguyễn Du viết về Tết Thanh minh:
“Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là Đạp thanh”
Tết Thanh minh đã có ở Trung Quốc từ rất lâu đời. Ở Bình Dương, vào ngày này, người
Hoa thường tụ tập gia đình cùng nhau đi tảo mộ người thân. Cả gia đình ra nghĩa trang để dọn dẹp,
sửa sang lại mộ của người thân. Sau đó bày hoa quả, hương đèn cùng các món như tam sên (thịt
heo, trứng vịt, tôm hoặc mực), heo quay, gà luộc... bên cạnh mộ người thân để cúng bái. Các món
ăn được bày cúng thì tùy điều kiện của từng gia đình. Riêng người Sùng Chính còn có món bánh
đậu đen dùng để cúng trong Tết Thanh minh. Cúng bái xong họ quây quần lại cùng nhau ăn uống,
trò chuyện. Đôi khi ngày thanh minh còn là ngày hẹn hò của những đôi tình nhân tại nghĩa trang.
Đặc biệt, người Hoa Phước Kiến ở Thủ Dầu Một không đi tảo mộ vào ngày thanh minh, chỉ tảo
46
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
mộ lần đầu vào ngày này, sau đó họ sẽ tảo mộ vào ngày đông chí. Đối với người Phước Kiến, ngày
đông chí mới là ngày tảo mộ.
4.Tết Đoan ngọ (ngày mùng 5-5 âm lịch)
Theo người Hoa, Tết Đoan ngọ là ngày kỷ niệm Khuất Nguyên. Người Hoa ở Bình Dương,
nhất là cộng đồng người Phước Kiến ở Thủ Dầu Một có phong tục gói bánh ú lá tre. Để chuẩn bị
cho ngày này, người Hoa đi tìm hái lá tre, loại tre tàu có lá to để gói bánh. Trước kia công việc này
được các thanh thiếu niên rất thích vì đây là dịp để đi dã ngoại với bạn bè. Nhưng hiện nay thì tất
cả đều mua, kể cả lá tre đều có người bán sẵn. Bánh ú được làm từ nếp, có người thích trộn với
đậu đen hoặc đậu đỏ, nhân bánh gồm thịt kho, măng kho, hột vịt muối, nấm đông cô, tôm khô, mỗi
thứ một miếng nhỏ gói vào trong. Trong cộng đồng người Hoa ở Bình Dương, nhất là người Hoa
Phước Kiến ở Chánh Nghĩa (TX.TDM) không khí Tết Đoan ngọ rất nhộn nhịp với việc gói bánh.
Nhà nào cũng gói, nếu không thì thuê người gói. Có gia đình gói bánh không chỉ để cúng mà còn
để tặng bạn bè, tặng những gia đình đang có tang trong bà con, xóm giềng. Đối với người Phước
Kiến, các gia đình đang có tang thì không gói bánh ú. Điều này không giải thích được vì họ chỉ
biết đó là phong tục phải làm theo. Ngoài bánh ú là món chính, còn có các món nhý mì xào hoặc
bún xào, thịt heo luộc hoặc heo quay, thịt gà, hoa quả.. (tùy theo từng gia đình) là những món để
cúng trong ngày Tết Đoan ngọ. Được biết, phong tục cúng bánh ú trong ngày Tết Đoan ngọ xuất
phát từ lòng cảm phục Khuất Nguyên. Khuất Nguyên là người nước Sở, sống dưới triều Sở Hoài
Vương thời chiến quốc ở Trung Quốc. Ông là người trung hậu, học rộng tài cao, hết lòng cống
hiến tài năng cho triều đình nhưng lại bị kẻ xấu hãm hại bị đày đến Giang Nam. Do quá thất vọng,
uất ức đối với nhân tình thế sự, ông đeo đá gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn đúng vào ngày
mùng 5-5 âm lịch. Cảm phục tài năng và đạo đức của Khuất Nguyên, nhân dân bèn gói rất nhiều
bánh nếp thả xuống sông để cá ăn bánh đừng xâm phạm thi thể của ông. Phong tục gói bánh nếp
trong ngày Tết Đoan ngọ trở thành phong tục truyền thống được người Hoa ở Bình Dương gìn giữ
và lưu truyền cho đến ngày nay.
5.Tết Trung thu (ngày 15-8 âm lịch còn gọi là rằm tháng 8)
Trong năm, trăng rằm tháng 8 là trăng tròn nhất, sáng nhất. Đối với người Hoa, trăng tròn
dễ liên tưởng đến sự đầy đặn, dễ liên hệ đến sự đoàn viên. Vì vậy mà có tục ăn Tết Trung thu, còn
gọi là Tết Trông trăng. Ở Trung Quốc còn có nhiều sự tích về Tết Trung thu, có một sự tích kể
rằng: vào một đêm trăng tròn rằm tháng tám, vua Đường Minh Hoàng nằm mộng thấy mình được
dạo chơi cung Quảng Hàm ở mặt trăng (cung trăng). Những nàng tiên lộng lẫy trong vũ điệu Nghê
thường làm nhà vua say đắm. Vua đột ngột tỉnh giấc, mơ màng tiếc nuối cảnh thần tiên bèn định ra
lệ trông trăng vào ngày rằm tháng tám hàng năm, dần dần trở thành Tết Trung thu. Vào ngày này
mọi người tổ chức hội hè vui chơi, gia đình tề tựu vui vẻ cùng nhau uống trà, ăn bánh, ngắm trăng.
Bên ngoài, cộng đồng tổ chức cho trẻ em rước đèn lồng, múa lân, múa rồng rất vui nhộn. Tuy
nhiên, những năm gần đây, trong cộng đồng người Hoa ở Bình Dương hầu như không tổ chức cho
trẻ em rước đèn và múa lân, múa rồng như trước kia. Có lẽ do cuộc sống ngày càng bận rộn họ ít
quan tâm tới việc vui chơi. Ngoài ra có một số người cho rằng vì không còn các trường học của
người Hoa như trước nên không có người tổ chức, trẻ em người Hoa vui chơi cùng với trẻ em
người Việt dưới sự tổ chức của trường học hoặc của phường, xã. Hiện tại ở Bình Dương, không
khí Tết Trung thu được thể hiện nhộn nhịp nhất là các quầy hàng bánh trung thu mọc lên trên khắp
các đường phố. Tết Trung thu là dịp để mọi người tặng bánh cho nhau. Tục lệ ăn bánh hình mặt
trăng vào ngày rằm tháng tám có từ thời Bắc Tống ở Trung Quốc. Bánh nướng hoặc bánh dẻo đều
có hình tròn, tức là hình của mặt trăng. Ăn bánh ngọt, ngắm trăng tròn, đó cũng là một kỳ vọng
vào sự ngọt ngào viên mãn của cuộc sống.
6.Tết Đông Chí
Ngày đông chí ở vào khoảng giữa tháng 12 âm lịch. Vào ngày này người Hoa ở Bình
Dương có tục ăn chè trôi nước (chè bột nếp vò viên tròn). Hầu hết các gia đình người Hoa đều làm
lễ cúng chè trôi nước, hoa quả... Ăn chè trôi nước trong ngày này với ý nghĩa là mỗi người được
47
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
lớn thêm một tuổi. Chè trôi nước đối với người Hoa còn có ý nghĩa là sự viên mãn, ngọt ngào, sự
đoàn viên, hạnh phúc, nó gắn liền với những điều mong ước tốt lành cho bản thân con người. Đối
với người Phước Kiến, ngày đông chí còn là ngày đi tảo mộ. Chỉ những ngôi mộ mới táng thì
người thân mới tảo mộ vào Tết Thanh minh trong lần đầu, sau đó sẽ tảo mộ vào ngày đông chí.
Ngoài các lễ, tết truyền thống kể trên, người Hoa Phước Kiến ở Thủ Dầu Một còn có thói
quen ăn thịt dê nấu với thuốc Bắc vào ngày Lập đông. Trong ngày này hầu hết các gia đình người
Hoa Phước Kiến đều nấu món này cho cả gia đình mỗi người ăn một ít. Món ăn này thích hợp
trong thời tiết lạnh giá của mùa đông, đây có lẽ là một thói quen được người Hoa mang theo từ cố
hương Trung Hoa. Tuy nhiên, thời tiết ở Bình Dương không thể hiện rõ 4 mùa như ở Trung Quốc,
hầu như ở đây không có quan niệm về mùa đông, nhưng người Hoa ở Bình Dương vẫn giữ thói
quen này gần như là một phong tục.
10. Loại hình nghệ thuật truyền thống
4.1 Nghệ thuật múa bóng rỗi Nam Bộ ở Bình Dương
Nguồn gốc, tên gọi và các trường phái biểu diễn.
Hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm đối lập nhau về nguồn gốc hình thành nghệ thuật Múa
bóng rỗi ở Nam bộ, song nhìn chung có 3 luồng ý kiến cơ bản như sau:
Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng: nghệ thuật Múa bóng rỗi ở Nam bộ bắt nguồn từ nghi thức
lên đồng của đạo mẫu Tam phủ, Tứ phủ của miền Bắc (xuất hiện muộn nhất vào thời hậu Lê thế
kỷ XV), tuy có một vài điểm khác biệt song nhìn chung về cách thức không có nhiều thay đổi, đặc
biệt là yếu tố nhập đồng - nhập cốt thể hiện một nét chung khó có thể lẫn lộn với một hình thức
nghi lễ nào.
Luồng ý kiến thứ hai cho rằng: nghệ thuật Múa bóng rỗi ở Nam bộ là một môn nghệ thuật
hoàn toàn mới, nó khác lên đồng ở Bắc bộ từ bản chất lẫn hình thức thể hiện. Nhóm này cho rằng,
múa bóng rỗi đã thoát khỏi những yếu tố thần linh (như nhập đồng, phán truyền…) nó chỉ đơn
thuần là nghi thức dâng lễ vật trong việc thờ cúng Mẫu thần và các trò tạp kỹ nhằm mục đích phục
vụ mua vui.
Luồng ý kiến thứ ba cho rằng: Múa bóng rỗi là một nghi thức quan trọng trong nghi lễ thờ
Nữ thần, Mẫu thần của đạo Mẫu xuất phát từ Bắc bộ song đã có quá trình giao lưu và tiếp biến văn
hóa với phức hệ văn hóa phía Nam gồm cả văn hóa Chăm (miền Trung), văn hóa người Hoa và
văn hóa người Khmer (Nam bộ). Đây là luồng ý kiến nhận được nhiều sự đồng tình trong giới
nghiên cứu và có sự ảnh hưởng nhất định về nhận thức của nghệ thuật Múa bóng rỗi nói chung.
Tóm lại, có thể nhận thấy cả 3 luồng ý kiến trên đều có một điểm chung nổi bật là: Múa
bóng rỗi xuất phát từ nghi thức thờ cúng Mẫu thần, một tín ngưỡng xuất hiện rộng khắp cả vùng
Đông Nam Á (bao gồm cả phần Nam Trung Hoa) nói chung và những vùng miền Việt Nam nói
riêng. Với những tộc người khác nhau, việc thờ cùng Nữ thần, Mẫu thần cũng có những điểm khác
nhau tương ứng. Sự khác biệt đó thể hiện từ đối tượng được thờ cúng (các bà chúa, bà mụ, nữ
thần…) đến các hình thức thực hành nghi lễ mà trong đó Múa bóng rỗi là một nghi thức tiêu biểu
của người dân Nam bộ.
Về tên gọi “Múa bóng rỗi” hay còn có một số tên khác như hát bóng rỗi, múa bóng rôi
(Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh), đây là cách gọi ghép, kết hợp giữa hai hình thức biểu diễn là hát
rỗi và múa bóng:
- Hát rỗi: thường diễn ra trước, có ý nghĩa mời chầu, mời các Nữ thần, Mẫu thần về ngự và
dự nghi lễ cúng miễu. Chính vì ý nghĩa đó mà nó còn được gọi là hát thỉnh, hát mời chầu. Tùy vào
các cô bóng, cậu bóng mà có cách “rỗi” khác nhau: có thể là rỗi theo tuồng tích hoặc chỉ là những
điệu thức riêng biệt.
- Múa bóng: Thuật ngữ này có nhiều cách hiểu khác nhau trong dân gian. Cách hiểu phổ
quát nhất là múa dâng bông, có thể “múa bóng” là tiếng đọc trại từ múa bông, múa dâng bông.
48
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Đây là một điệu thức múa đặc trưng nhất có mặt hầu khắp các nghi thức của Đạo Mẫu nói chung
như lên đồng (Bắc bộ), Múa bóng rỗi (Nam bộ), nghi thức cúng thần Pô Inư Nưgar của người
Chăm, nghi thức thờ bà chúa Xứ của người Khmer. Múa tạp kỹ chỉ mới xuất hiện sau này và
thường chỉ nhằm phục vụ người xem là chính.
Về các trường phái biểu diễn múa bóng rỗi, trong bài viết “Về hai hình thức hầu đồng
trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam bộ” của 2 tác giả PGS TS Nguyễn Chí Bền và Ths Hồ Văn
Tường đã đưa ra nhận định: “Phần nghi lễ liên quan nhiều hơn cả đến việc hầu đồng chính là hát
bóng rỗi…”điều đó có nghĩa là hát bóng rỗi (hay múa bóng rỗi) là phần quan trọng nhất của nghi
thức hầu đồng. Các tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Trần Tịnh Của cũng đồng quan điểm như vậy. Và,
từ hai nghi thức hầu đồng riêng tạo nên 2 trường phái múa bóng rỗi tồn tại khác nhau tại Nam bộ:
- Trường phái thứ nhất: được truyền vào Nam bộ do những di dân miền Bắc và miền
Trung vào miền Namdưới thời Chúa Nguyễn và Triều Nguyễn. Những người Việt thường trú chân
ở miền Trung một thời gian khá dài trước khi tiếp tục tiến vào Nam chính vì vậy tín ngưỡng thờ
mẫu có sự giao lưu, tiếp biến với nhiều hệ thống tín ngưỡng của các tộc người khác. Và, nó đã có
nhiều sự biến đổi.
- Trường phái thứ hai: được đem nguyên vẹn từ Bắc vào Nam dười thời Pháp thuộc và
những cuộc di dân lớn sau đó (1954, 1975). Đặc điểm của trường phái này là tính “phục nguyên”
một loại hình tín ngưỡng cũ nơi một mảnh đất mới. Giữa hai trường phái này có những điểm khác
biệt từ trang phục, dấu hiệu nhập đồng, cách truyền phán, các điệu múa và cách phân phát lộc…
Tại Bình Dương đã từng tồn tại cả hai trường phái nói trên, song hiện nay chỉ có trường
phái thứ nhất là còn thường xuyên hoạt động. Các di tích gắn liền với Múa bóng rỗi ở Bình Dương
gồm có: 57 miễu thờ Ngũ hành nương ngương (tập trung ở huyện Tân Uyên: 34 miễu, huyện
Thuận An: 20 miễu), (Theo số liệu điều tra không chính thức của Phòng Di sản văn hóa - Bảo tàng
Bình Dương hiện nay lên tới 136 miễu), Chúa Xứ Thánh Mẫu (với hai tên gọi khác nữa: Ngung
Man nương, chúa Tiên nương nương) có 47 miếu thờ (huyện Tân Uyên có 22 ngôi miễu thờ,
huyện Bến Cát 8 ngôi, huyện Thuận An 8 ngôi, thị xã Thủ Dầu Một 8 ngôi miếu thờ).
Toàn tỉnh Bình Dương, có 7 cơ sở tín ngưỡng gắn bó với tín ngưỡng thờ Mẫu. Đó là đền
Đức Thánh Trần Hưng Đạo (áp 2A, xã Phước Hoà, huyện Tân Uyên), phủ Minh Sơn (xã Minh
Hoà, huyện Bến Cát) thờ Đức Thánh Trần, Sơn Lâm Thánh Mẫu, Liễu Hạnh Thánh Mẫu và phối
tự thờ thành hoàng, Hoa Nghiêm Tự (ở khu 4, thị trấn Dầu Tiếng), thờ Đức Thánh Trần, chùa Sơn
Lâm, Thánh Mẫu công chúa và phối tự thờ Adiđà; Đông Quân linh tự (khu 2 thị trấn Dầu Tiếng)
thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, nhị vị vương quan, Tam Toà Thánh Mẫu, Cô, Cậu, cùng với thờ
Adiđà; Phủ Ứng Linh (khu 3, thị trấn Dầu Tiếng) thờ Đức Thánh Trần hưng Đạo và Liễu Hạnh
công chúa; Đền Thánh Mẫu (ấp Lai Khê, xã Lai Hưng, huyện Bến Cát) thờ Liễu Hạnh công chúa,
Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Sơn Lâm Thánh Mẫu, thờ Ngũ Hành nương nương, Ngũ Hổ, trong
khuôn viên còn có am Cô Bơ và Cậu Bé.
Nghệ thuật Múa bóng rỗi ở Bình Dương trong không gian văn hóa Nam bộ.
Có lẽ không chỉ ở Bình Dương mà ở khắp Nam bộ, Múa bóng rỗi đã và đang chịu nhiều sự
phán xét, nhiều cách nhìn, nhiều cách suy nghĩ khác nhau từ cả những người làm quản lý văn hóa
đến một bộ phận dân chúng. Người ta vẫn cho rằng: múa bóng rỗi là mê tín dị đoan, là lợi dụng tín
ngưỡng để thu lợi…nhiều năm trước loại hình nghệ thuật dân gian này đã bị cấm thực hiện. Mấy
năm gần đây, xu thế bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc đang lên cao vì vậy múa bóng rỗi
mới có đủ điều kiện để hoạt động trở lại.
Trong bài viết này người viết xin không bàn luận gì thêm về cách quản lý và bảo tồn văn
hóa của chúng ta. Song, yếu tố “…là mê tín dị đoan, là lợi dụng tín ngưỡng để thu lợi…” thì chúng
ta cần phải làm rõ chủ thể của từng hành động.
Trước hết, chúng ta cần phải phân định rạch ròi 2 đối tượng: di sản văn hóa và người thực
hiện di sản (là cá nhân hoặc cộng đồng). Trong trường hợp này múa bóng rỗi là di sản văn hóa
49
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
chúng ta đang nói đến, còn đối tượng thực hiện di sản chính là ông đồng, bà bóng. Và, chính ông
đồng, bà bóng mới là người quyết định đem múa bóng rỗi ra để thực hiện mục đích gì? Trong đó ít
nhiều có hiện tượng bói toán, bán bông, ban lộc, bán ngọc bà…vv
Rõ ràng múa bóng rỗi với tư cách là một di sản văn hóa không mang bất kỳ một yếu tố mê
tín hay vụ lợi nào. Nó đơn thuần là một hành vi tín ngưỡng trong sáng, có tính nhân văn (đề cao và
biết ơn người phụ nữ, người có công với nhân dân), có tính giáo dục (khuyên nhủ mọi người
hướng về cội nguồn, làm nhiều việc thiện), chỉ có sự vụ lợi cá nhân mới làm vẩn đục đi lớp nghĩa
trong sáng đó. Nhiệm vụ của các nhà quản lý văn hóa là phải uốn nắn hành vi không đúng của
người thực hiện văn hóa chứ không phải cấm đoán di sản văn hóa đó không được phép hoạt động.
Phải có mặt tại một lễ cúng miễu mới thấy bà con háo hức chờ đợi đến tiết mục múa bóng
rỗi như thế nào. Đó có thể là tâm trạng háo hức chờ đợi chút lộc bà ban, cũng có thể là giây phút
giải bày những lo toan bấy lâu dồn nén, hay chỉ đơn thuần là ngóng chờ những tiết mục múa tạp
kỹ công phu - điêu luyện mà họ chưa có cơ hội vào rạp xiếc…
Trở lại vấn đề “Múa bóng rỗi trong không gian văn hóa Nam bộ”, có thể thấy khi nói đến
văn hóa Nam bộ người ta vẫn thường nhắc nhiều hơn đến Đờn ca tài tử, cải lương, các điệu lý -
điệu hò, cũng không quá khó hiểu vì những loài hình nghệ thuật dân gian này thể hiện rất rõ nét
đặc trưng của văn hóa Nam bộ đó là sự phóng khóang, bao dung, tính bình dị - dân dã. Song khi
phải đối mặt với những thử thách to lớn, những giới hạn mà bản thân không thể vượt qua thì
những lời ca tiếng hát đó khó có thể đem lại niềm tin và động lực thực sự, chỉ có tôn giáo, tín
ngưỡng mới là những giá đỡ tin thần, những động lực giúp con người ta vượt qua những thử thách
trong cơn tuyệt vọng. Và, đạo Mẫu là một trong những nền tảng tâm linh mà người dân vẫn
thường gửi gắm. Đặc biệt, trong những đợt cúng miễu, dưới sự “hiện diện” của bà, và qua sự “kết
nối” của ông địa, cô bóng, người dân có dịp cầu mong sự an lành, cầu mong cho tai qua - nạn khỏi,
cuộc sống gặp nhiều may mắn, làm ăn thuận lợi trong năm…
11. Danh thắng và các công trình kiến trúc
5.1 Chùa Hội Khánh
Chùa Hội Khánh tọa lạc ở số 35 Yersin, ấp Bông Dầu, xã Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một,
Bình Dương. Chùa cách TP. HCM 25km về phía Nam.
Chùa được thiền sư Đại Ngạn (dòng Lâm Tế) khai sơn năm 1741, đời Lê Hiển Tông, ở trên
một ngọn đồi cao. Năm 1868, đời Tự Đức, do chùa bị hư hỏng nặng, Hòa thượng Chánh Đắc cho
xây dựng chùa mới dưới chân đồi, chùa tọa lạc ở đấy cho đến ngày nay.
Chùa đã được tôn tạo nhiều lần, nhưng vẫn giữ nét kiến trúc cổ. Giảng đường và Đông lang
được sửa chữa năm 1917, Tây lang được xây lại năm 1984. Và gần đây nhất, từ năm 1990 đến
năm 1992, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa.
Ở chánh điện, hầu hết tượng các vị Phật, Bồ tát... đều được tạc bằng gỗ, sơn son thiếp
vàng. Đặc biệt, bộ tượng Thập Bát La Hán, mỗi tượng cao khoảng 0,86m, được nhóm thợ nổi
tiếng ở địa phương tạc vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Ba tấm bao lam chạm
khắc tứ linh, tứ quý, cửu long và Thập Bát La Hán có giá trị nghệ thuật cao.
Hơn 250 năm nay, chùa được tiếp nối qua các đời trụ trì: Đại Ngạn - Từ Tấn, đời 37 dòng
Liễu Quán (1741 - 1812) Chúc Thánh (1839 - 1869)
Là một công trình kiến trúc Phật giáo tiêu biểu của miền Đông Nam Bộ. Chùa được xây
dựng năm 1741 (đời vua Lê Hiển Tông) trên một gò cao ở trung tâm thị xã Thủ Dầu Một. Đến
năm 1868 chùa được dựng lại lui xuống dưới triền đồi trong một khuôn viên khá rộng có nhiều cây
cổ thụ.
Đây là một công trình kiến trúc nhà gỗ lớn nhất tỉnh với hơn 1.200m2
nhà. Cụm kiến trúc
chùa Hội Khánh được bố trí mặt bằng với nhiều căng nhà lớn nhỏ khác nhau theo kiểu nội công -
50
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
ngoại quốc gồm: Chánh điện có 2 căn mỗi căn có 3 gian 2 chái. Tiền đường là căn nhà ngoài, lòng
căn hẹp, hai bên đặt tượng thờ Ông Thiện, Ông Ác...
Căn nhà gỗ thứ hai lớn hơn. Gian giữa nửa ngoài là Thiên Hương - nơi dùng để đốt hương,
gõ mõ tụng kinh của các sư khi làm lễ; còn nửa phía trong là Thượng Điện. Ở đây có nhiều tượng
Phật được đặt trên tòa Tam Bảo. Tượng lớn nhất là Phật Tổ ở chính giữa điện, gian bên trái của
chính điện thờ 18 vị La Hán, còn bên phải thờ 8 vị Phật “Ngũ hiền”.
Đằng sau chính điện là căn nhà gỗ lớn 5 gian 2 chái được nối bằng mái “Thữa Hữu”
(Trùng thiềm điệp ốc). Nhà này vừa là giảng đường vừa là nơi để các thiện nam tín nữ tụ tập dâng
hương thờ Phật. Bàn thờ cụ Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh) và bài vị của
các vị sư chủ trì chùa đã quá cố được đặt tại các vị trí trang trọng trong căn nhà.
Ngoài trung tâm nói trên chùa còn được dựng hành lang 2 bên (đông lang, tây lang) để làm
nơi tạm trú cho khách thập phương đến vãn cảnh chùa hay làm nơi chuẩn bị cỗ chay cho những
ngày lễ hội. Chùa còn 1 dãy nhà tăng (nhà tổ) là nơi sinh hoạt của các nhà sư trụ trì.
Như vậy, tổ chức không gian bên trong và bên ngoài của chùa có sự mở rộng và phát triển
tương xứng. Sân, cổng chùa, hành lang Tả Vu, Hữu Vu rất hài hòa. Hiện tại chùa đang xây thêm
một tháp chuông 7 tầng, cao hơn 20 mét. Đây cũng có thể coi như một tổng thể kiến trúc phối hợp
với cảnh thiên nhiên khiến những người hành hương cảm thấy Phật giáo đã dẫn dắt thế nhân thoát
nơi trần tục để lên cõi Niết bàn.
Nghệ thuật kiến trúc cũng như điêu khắc trang trí ở chùa Hội Khánh mang đậm dấu ấn của
kiến trúc nhà gỗ cổ ở miền Đông Nam Bộ. Những nghệ nhân xây dựng chùa đã tạo được kỹ thuật
đẽo trến, kèo, xiên và tạo ra các kiểu mộng khóa, mộng thắt, mộng kìm để các kết cấu dễ tháo lắp
tạo dáng khỏe, vững chắc. Về phần liễn đối, thơ văn còn lưu giữ phong phú, giá trị khó có ngôi
chùa nào sánh kịp. Nơi chánh điện có những câu liễn đối tiêu biểu cho đạo vị thiền học được nhiều
người nhắc đến:
“Nhược thực nhược hư trúc ảnh tảo giai trần bất động
thị không thị sắc nguyệt xuyên hải để thuỷ vô ngân”
(Như thực như hư, bóng trúc quét thềm, bụi trần chẳng động.
Là không là sắc, ánh trăng xoáy biển, nước biển không nhồi)
Ngoài ra, nhiều người cũng nhắc đến câu đối của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc còn lưu ở
chùa Hội Khánh, với ý nghĩa ngôn từ hàm súc của thiền học: “Đại đạo quảng khai thố giác khuê
đàm để nguyệt. Thiền môn giáo dưỡng, qui mao thằn thụ đầu phong” (Tạm dịch: mở rộng đạo lớn
như sừng thỏ như mò trăng đáy nước. Nuôi dưỡng mái chùa như lông rùa như cột gió đầu cây).
Về phần nghệ thuật trang trí nội thất, tranh tượng tự khí thờ phượng được điêu khắc, chạm
trổ rất công phu, sắc sảo… đặc biệt phải kể đến bộ bao lam “thập bát La Hán” (tạo tác 1921), bức
phù điêu “tứ thời” ốp vào hai cột trước chánh điện; các bàn thờ chạm trổ tinh vi hoàn thành vào
năm Ất Sửu (1925). Nhà chùa còn giữ được bộ mộc bản in kinh cách đây trên 120 năm
Đại hồng chung của chùa được đúc vào năm Quí Mùi (1883) do Bổn đạo Dương Văn Lúa
hiến cúng. Điều đó cho thấy đạo phật đã phát triển khá sớm và khá vững mạnh tại địa phương này.
Những nghệ nhân xây dựng chùa cũng đã khéo léo trang trí chùa đơn giản song tinh xảo
làm cho các phiến gỗ nặng nề bỗng trở nên nhẹ nhàng, bay bổng có giá trị nghệ thuật cao. Bức
chạm nào cũng vậy, đều được bố trí các hình khối cân đối, đầy đặn. Bố cục của các phân đoạn
chạm trổ trên các bức lam, diềm mạch lạc. Chủ đề chính về tôn giáo nhà Phật nổi bật trong bố cục
tổng thể. Những họa tiết hoa văn như long, lân, qui, phụng hoặc những mây, nước, hoa, lá... làm
cho những người chiêm ngưỡng một cảm giác khôn cùng, rất đa dạng mang đậm đặc trưng của
phong cách điêu khắc Nam Bộ. Ngoài giá trị kiến trúc, điêu khắc, những nghệ nhân tạc tượng gỗ
của chùa cũng để lại những dấu ấn đặc sắc. Bằng những bàn tay khéo léo, với những đôi mắt tinh
51
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
tế của những nghệ nhân, tượng 18 vị La Hán của chùa là những tác phẩm nghệ thuật tuyệt hảo.
Những nghệ nhân tạc tượng 18 vị La Hán ở chùa Hội Khánh đã không bị những công thức giáo
điều của nghệ thuật tôn giáo ràng buộc khi khắc họa hình ảnh của các vị thần linh, ngoài việc thể
hiện những hình ảnh của họ trong kinh sách đã nói mà đã tạo ra những hình tượng theo cảm xúc
của mình mang đậm tâm linh thuần Việt. Đây có lẽ cũng là những pho tượng La Hán quý và đẹp
nhất còn lại nguyên vẹn ở chùa Hội Khánh.
5.2 Chùa Núi Châu Thới
Chùa tọa lạc tại xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trên một ngọn núi cao 82m.
Chùa do Thiền sư Khánh Long tạo dựng vào thế kỷ XVII. Sách Sơ thảo Phật giáo Bình
Dương (NXB. Mũi Cà Mau, 2000) cho biết chùa có thể được lập vào năm Tân Dậu (1681). Nhà tổ
và giảng đường được trùng tu năm 1930, tam quan xây dựng năm 1970, 220 bậc thang lên xuống
núi được xây đắp xi măng năm 1971. Ngôi chánh điện được Hòa thượng Viện chủ Thích Huệ
Thông và Thượng tọa trụ trì Thích Minh Thiện tổ chức đại trùng tu từ năm 1993 đến năm 1995.
Kiến trúc chùa gồm một quần thể bao gồm: ngôi chánh điện, nhà Tổ, điện Thiên Thủ Thiên
Nhãn, miếu thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, điện thờ Diêu Trì Kim Mẫu và Ngũ Hành Nương Nương
(thuộc tín ngưỡng dân gian). Cấu trúc mái trên chánh điện theo kiểu tứ tượng. Chùa sử dụng
những mảnh gốm sứ đắp lên các con rồng ở cuối các đầu đao của mái chùa. Trên đỉnh mái, có chín
con rồng nhìn ra nhiều hướng. Mặt tiền được đắp gốm sứ tạo các loại hình như tứ linh, thủ quyển,
đức Phật đản sanh...
Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Tầng trên thờ tượng Di Đà Tam Tôn: Đức Phật A Di
Đà, Bồ tát Quan Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí. Các tầng kế thờ Đức Phật Thích ca (cao 3m), Đức
Di Lặc, tượng Phật Đản sanh. Các pho tượng trên đều được đúc bằng đồng tại chùa do nhóm thợ
Huế thực hiện. Hai bên vách chánh điện thờ bộ tượng Thập Bát La Hán và Thập Điện Minh
Vương bằng đất nung.
Năm 1988, chùa đúc một đại hồng chung (đúc tại Huế, theo mẫu đại hồng chung chùa
Thiên Mụ). Năm 1996, chùa xây dựng một bảo tháp 4 tầng, cao 24m: Tầng 1 tôn trí tượng Quan
Đế bằng đồng nặng 5 tấn, tầng 2 tôn trí tượng Bồ tát Địa Tạng bằng đồng nặng 3 tấn, tầng 3 tôn trí
tượng Bồ tát Quan Thế Âm bằng đồng nặng 1 tấn, đại hồng chung nặng trên 1,5 tấn và tầng 4 tôn
thờ Xá lợi Phật.
Chùa còn bảo tồn nhiều pho tượng cổ và tượng quý như bộ tượng Thập Bát La Hán, Thập
Điện Minh Vương bằng đất nung: tượng Bồ tát Quan Thế Âm bằng gỗ mít và một số tượng Phật,
tượng Bà Chúa Xứ bằng đá xanh. Đặc biệt, chùa còn lưu giữ 3 pho tượng Phật bằng đá có niên đại
vào cuối thế kỷ XVIII.
Các đời trụ trì của chùa: Hồng Kiềm - Chơn Quả, đời 40 dòng Lâm Tế Chánh Tông (? -
1922), Nhật Tâm - Đồng Minh (1922 - 1936), Nhật Liên - Thiện Hóa (1936 - 1950), Lệ Huệ -
Thiện Chí (1950 - 1953), Lệ Thiện (1953 - 1958), Huệ Thông (từ năm 1958 đến nay).
Chùa là một danh lam thắng cảnh của tỉnh Bình Dương. Hàng năm, chùa đón tiếp hàng vạn
du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái. Chùa đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công
nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia năm 1989.
5.3 Nhà tù Phú Lợi
Nhà tù Phú Lợi là một trong những nhà tù lớn của Mỹ - Diệm ở miền Nam được dựng lên
năm 1957 để giam cầm và tra tấn các chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước lúc bấy giờ, và
tồn tại suốt tám năm (1957-1964). Nhưng với tinh thần kiên cường bất khuất, các tù nhân Phú Lợi
đã đoàn kết anh dũng đấu tranh thắng lợi.
Với mưu đồ xâm lược miền Nam, bằng thủ đoạn mị dân, khủng bố đến chiến dịch “tố
cộng”, “diệt cộng” chỉ trong vòng 2, 3 năm sau Hiệp định Giơ - neo -vơ, Mỹ Diệm gây không biết
52
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
bao tội ác trên cả miền Nam. Bằng khẩu hiện “thà bắt nhầm hơn bỏ sót”, chúng đã xây dựng thêm
nhiều nhà tù.
Từ giữa năm 1957, trại giam Phú Lợi được xây dựng bố trí ngay bên khu căn cứ quân sự
với tổng diện tích khoảng 12 ha. Số tù nhân chúng đưa về Phú Lợi đầu tiên có 4 nữ và khoảng 100
nam, đến cuối 1957 tăng lên 3.000 tù nhân. Chúng chia trại giam thành nhiều khu vực: khu hành
chánh, khu gia đình binh sĩ, khu An Trí Viện - gọi là khu “An Trí Viện” nhưng thực chất là trại
giam. Khu trại giam gồm có 3 trại: Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa. Cả 3 trại có 9 phòng giam
đánh dấu A,B,C,D,… mỗi trại ngăn cách nhau bằng bức tường kẽm gai dày đặc. Bao quanh 3 trại
là 2 bức tường cao, có mấy lớp kẽm gai, hệ thống đèn điện chiếu sáng vào ban đêm, hoàn toàn
cách biệt với bên ngoài. Ở giữa trại giam có nhà vòm cao để quan sát toàn khu trại. Xung quanh có
4 cổng ra vào và 4 lô cốt canh phòng nghiêm ngặt. Có hai cổng chính: cổng thứ nhất mang bảng
“Trung tâm cải huấn Phú Lợi”, cổng thứ hai mang bảng “An trí viện”.
Đến cuối năm 1958, số tù nhân lên đến gần 6.000 người, trong đó có 1.000 tù nhân là nữ.
Anh chị em tù nhân quê quán ở khắp mọi miền đất nước chẳng may rơi vào tay giặc và bị chúng
tập trung về đây.
Đừng hỏi tên ai còn ai mất
Sáu nghìn người chỉ một tên chung
Chỉ một tên: hòa bình thống nhất
Tên những người bất khuất trung kiên
(Hoàng Trung Thông)
Chế độ khắc nghiệt của nhà tù Phú Lợi cũng không khác ở nhiều nhà tù khác lúc bấy giờ,
ăn gạo mục cá ươn, muối hạt, nước mắm có dòi… Sống bẩn thiểu, thiếu nước, nằm xà lim, chuồng
cọp, lao động khổ sai bệnh tật không thuốc chữa trị… và những đòn điều tra đánh đập dã man…
và chúng đặt ra “24 điều cấm” rất khắc nghiệt để lấy cớ đánh đập tù nhân. Và những tên “chúa
ngục” nổi tiếng gian ác như: Nguyễn Văn Bông, Trần Vĩnh Đắc, Hồ Văn Tần,…
Một sự kiện đã diễn ra vào những ngày cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1958. Vụ thảm sát
Phú Lợi: thường lệ mỗi năm Mỹ Diệm tổ chức 4 đợt đày tù nhân “loại A” ở các nhà tù trong đất
liền ra Côn Đảo vào những tháng 3,6,9,12 dương lịch. Trại giam Phú Lợi, sau khi phân loại có 450
tù nhân loại A - là đối tượng bị đày ra Côn Đảo vào cuối tháng 11/1958, với ý đồ bí mật thủ tiêu tù
nhân chuyến đi này.
Theo kế hoạch mỗi tù nhân bị đày sẽ được nhận khẩu phần bánh mì (có trộn thuốc độc) và
thức ăn kèm theo. Mọi việc đã chuẩn bị hoàn tất vào 28/11/1958, nhưng liên tiếp những ngày này
biển động mạnh tàu không ra được vùng biển Vũng Tàu - Côn Đảo. Không từ bỏ giả tâm, Mỹ
Diện thực hiện âm mưu hãm hại tù nhân Phú Lợi trong bối cảnh khác. Đó là ngày 30/11/1958, là
ngày chủ nhật, trại giam vẫn thực hiện “ăn tươi” của tù nhân gồm bánh mì và các thức ăn khác. Để
đủ khẩu phần ăn ngoài số bánh mì cũ (có thuốc độc) chúng trộn lẫn bánh mì mới vào nhau và cấp
phát cho tù nhân. Số tù nhân bị ngộ độc tăng nhanh đau bụng, nôn mửa, co quắp, … Đến ngày
01.12.1958, số tù nhân bị ngộ độc tăng lên hàng trăm người, nhiều người chết, số nằm hôn mê bất
tỉnh,… số anh chị em tù nhân bịnh nặng bị địch khiêng khỏi trại, đến ngày 02/12 và 03/12 số bệnh
nhân nặng và chết càng đông, số người bị vùi tại chỗ, số nặng chuyển đi, nhưng số tù nhân ấy
không thấy được chuyển lại Phú Lợi nữa.
Với tinh thần kiên cường bất khuất, Đảng ủy trại giam quyết định đấu tranh công khai trực
tiếp, các tù nhân Phú Lợi đã đoàn kết anh dũng đấu tranh như: tung nóc nhà giam, phát loa phóng
thanh kêu cứu trong ngày bi thảm 01.12.1958. Nhanh như chớp, tin địch đầu độc tù nhân đã được
lan truyền khắp nơi. Đầu tiên nhân dân xã Phú Hòa, Bình Chuẩn, Hiệp Thành, Phú Văn,.. nổi dậy
phối hợp với tù nhân ở Phú Lợi đấu tranh tố cáo tội ác của Mỹ Diệm.
53
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Để chạy tội Mỹ - Diệm tìm cách phi tang nhân chứng, gây nên làn sóng căm phẩn trong và
ngoài nước. Chỉ sau 1 tháng vụ đầu độc ta nhận được liên tiếp nhiều bức điện của các tổ chức quốc
tế: Liên hiệp công đoàn thế giới, Hội liên hiệp học sinh thế giới, Hội luật gia thế giới,… Biến đau
thương thành hành động, khắp nơi trong cả nước dấy lên phong trào hướng về Phú Lợi, từ tiếng
gọi căm thù, tiếng gọi đau thương...“Tuần lễ thi đua” vì Phú Lợi và miền Nam ruột thịt! của Ủy
ban đấu tranh Trung ương chống vụ đầu độc ra đời; làm bừng lên một phong trào thi đua trên công
xưởng, nông trường, hợp tác xã, thao trường, thông tin đại chúng và sáng tác văn nghệ... Sự căm
phẫn đó đã được nhà thơ Tố Hữu thể hiện sâu sắc trong bài thơ “Thù muôn đời muôn kiếp không
tan”, năm 1959:
“…Trong một ngày - mồng một tháng mười hai
Nào ai ngờ không có nửa ngày mai!
Chúng tôi chết, trong đêm dài tàn khốc
Đứt ruột đứt gan, nắm cơm thuốc độc
Tím xương do nanh nọc lũ đê hèn
Trái tim hồng chết uất máu bầm đen…”
Trong điều kiện mới của chiến tranh diễn ra, đến năm 1964, nhà tù Phú Lợi không còn nữa.
Từ đó hệ thống trại giam chuyển thành tiểu khu quân sự Mỹ-Ngụy cho đến ngày miền Nam hoàn
toàn giải phóng 30/04/1975.
Tại đây, trong nơi giam cầm khắc nghiệt của nhà tù, chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam được
thành lập lãnh đạo tù nhân, từng bước đấu tranh với kẻ thù. Nhà tù Phú Lợi trở thành một bằng
chứng về tội ác của Mỹ - Ngụy tại miền Nam Việt Nam; nơi đây là biểu tượng cho lòng dũng cảm
của cán bộ đảng viên, các đồng chí cách mạng và đồng bào yêu nước đã ngã xuống trong nhà tù vì
độc lập, tự do, hoà bình, hạnh phúc cho quê hương đất nước.
Với giá trị lịch sử to lớn và ý nghĩa chính trị quan trọng của khu di tích nhà tù Phú Lợi.
Năm 1995, di tích đã được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh chủ trương đầu tư công trình biên soạn
lược sử và trùng tu, tôn tạo khu di tích vào đúng dịp kỷ niệm 37 năm ngày đoàn kết, bất khuất đấu
tranh chống vụ đầu độc tù nhân Phú Lợi. Một bức tượng bằng đồng cao 3,5m của cố tác giả điêu
khắc Diệp Minh Châu, thể hiện sự đau thương trong ngày xảy ra vụ đầu độc, tái diễn lại lịch sử
nêu cao tinh thần đấu tranh bất khuất của tù nhân Phú Lợi năm xưa.
Hàng năm, di tích đã tiếp đón nhiều lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm
hiểu về lịch sử đấu tranh cách mạng của con người Việt Nam. Khu di tích Phú Lợi trở thành nơi
giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau. Các tổ chức phong trào đoàn
TNCS Hồ Chí Minh giao lưu, kết nạp đoàn viên mới, hướng đạo sinh... tham quan, cắm trại ôn lại
truyền thống cách mạng hào hùng của cha anh.
5.4 Chiến khu Đ
Danh từ “Chiến Khu Đ” chỉ vùng căn ra đời vào cuối tháng 2/1946. Khi thực dân Pháp
chiếm đóng được quận lỵ Tân Uyên, thành lập chi khu. Tổng hành dinh Khu 7 và lực lượng vũ
trang Biên Hòa, Thủ Dầu Một rút sâu vào rừng. Công tác xây dựng căn cứ được đặt ra một cách
cấp thiết tại Hội nghị bất thường của khu bộ khu 7 ở Lạc An. Được hội nghị chấp thuận, việc xây
dựng căn cứ được triển khai có hệ thống, các cơ quan, đơn vị, công xưởng… phân chia đóng từng
khu vực. Mỗi khu vực đều có nhiều phương án di chuyển địa điểm tránh sự đột kích của quân
Pháp và mang mật danh A, B, C, D (A là căn cứ giao thông liên lạc đóng ở Giáp Lạc, B là căn cứ
hậu cần đóng ở Thường Lang, C là khu bộ đội thường trực đóng ở Ông Đội, D là khu Tổng hành
dinh khu 7 đóng ở hố Ngãi Hoang).
Từ đấy, chiến khu Đ trở thành căn cứ địa của chiến khu 7 - một tổ chức hành chính - quân
sự của các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa và thành phố Sài
54
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Gòn, do Trung tướng Nguyễn Bình được chỉ định làm Khu trưởng và Trần Xuân Độ làm chính trị
ủy viên khu. Ban đầu, Đ là mật danh chỉ tổng hành dinh của khu 7 nằm trong hệ thống các vị trí
căn cứ của khu. Dần dần về sau, mật danh Đ được dùng để chỉ luôn cả vùng chiến khu rộng lớn
ngày càng phát triển ở miền Đông Nam Bộ.
Tuy nhiên có nhiều người cho rằng chữ Đ ở đây mang ý nghĩa là “đỏ”, hàm ý là vùng chiến
khu cách mạng kiên cường, tập trung những cơ quan đầu não kháng chiến quan trọng, một “địa chỉ
đỏ” của cả nước. Hoặc chữ Đ là viết tắt địa danh Đất Cuốc, nơi bộ đội Huỳnh Văn Nghệ khởi cứ
đầu tiên, tập hợp lực lượng. Hoặc chữ Đ là viết tắt chiến khu Đồng Nai, chiến khu miền Đông,
chiến khu Đầu tiên…
Thời kỳ chín năm chống Pháp, Chiến Khu Đ được hình thành khởi đầu vào tháng 2/1946, chủ yếu
từ hạt nhân 5 xã: Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An thuộc quận Tân Uyên tỉnh
Biên Hòa - Nay thuộc tỉnh Bình Dương. Từ năm 1948, trở đi, Chiến Khu Đ được mở rộng ra, phát
triển mãi lên phía Bắc và Đông Bắc. Dù vậy, phạm vi chủ yếu của nó nằm trên vùng đất: Tây giáp
đường 16 đoạn từ thị trấn Tân Uyên lên Cổng xanh; bắc giáp Sông Bé đoạn từ cầu Phước Hòa lên
Chánh Hưng, đông vẫn giáp Sông Bé đoạn từ Chánh Hưng đến ngã ba Hiếu Liêm và nam giáp
sông Đồng Nai đoạn từ ngã ba Hiếu Liêm về thị trấn Tân Uyên..
Sang thời kỳ chống Mỹ, do đặc điểm về quy mô của cuộc chiến tranh, từ phạm vi chiến
khu cũ (chủ yếu nằm trên địa bàn Tân Uyên), trung tâm căn cứ chuyển dần lên phía đông bắc. Đến
đầu năm 1975, căn cứ được xây dựng hoàn chỉnh, phạm vi phát triển đến mức cao nhất. Toàn bộ
căn cứ địa nằm ở phía bắc sông Đồng Nai, phía tây giáp địa giới hai tỉnh Bình Long và Phước
Long cũ, phía bắc giáp biên giới Việt Nam - Campuchia và phía đông giáp địa giới ba tỉnh Bình
Dương, Bình Phước, Đắc Lắc hiện nay kéo về rừng Cát Tiên phía thượng nguồn sông Đồng Nai
bên hữu ngạn.
Nằm trong hệ thống rừng núi phía bắc miền Đông Nam Bộ, địa hình hiểm trở, Chiến Khu Đ là một
khu vực lý tưởng cho việc xây dựng căn cứ, nơi cất giấu lực lượng, cất giữ kho tàng và phát triển
mọi mặt của một căn cứ địa kháng chiến. Lưng dựa vào Trường Sơn và vùng rừng núi miền nam
Đông Dương, dính với một phần đoạn cuối đường Hồ Chí Minh, phía trước lấn sát vùng đồng
bằng đông dân cư và các khu đô thị lớn, chiến Khu Đ còn là một vị trí án ngữ chiến lược, nối
nhiều chiến trường với nhau, là một trong những địa điểm liên lạc, tiếp nối, trung chuyển quan
trọng từ hậu phương miền Bắc vào miền Nam. Hơn nữa, với ưu thế tiếp cận các đường giao thông
chiến lược, các đô thị lớn và trung tâm sào huyệt địch - thành phố Sài Gòn, Chiến khu Đ có ưu thế
là một bàn đạp quân sự tiến công vào mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế của địch ở Sài Gòn và
các tỉnh miền Đông Nam Bộ.
Chiến khu Đ được coi là trung tâm kháng chiến, là nơi ra đời và phát triển của các lực
lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ như tiểu đoàn 800, trung đoàn 762, sư đoàn 9, sư đoàn 5…
Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, là nơi tập kết của lực lượng quân đoàn 1, quân
đoàn 4 trước khi tiến về giải phóng Sài Gòn. Tên Chiến khu Đ gắn liền với những chiến thắng
vang dội trong lịch sử chống ngoại xâm của quân và dân Miền Đông Nam Bộ (thắng Lạc An, Tân
Uyên, chiến thắng Phước Thành, Đất Cuốc, Đồng Xoài, Phước Long…). Sự tồn tại và phát triển
của nó đã góp phần vào thắng lợi chung của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ xâm lược.
Về phương diện chính trị, tinh thần, Chiến khu Đ tồn tại như một biểu tượng của cuộc
kháng chiến, tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh tinh thần của toàn dân, là nguồn hy vọng, là niềm tin
của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn miền Đông Nam Bộ.
Giờ đây, Chiến khu Đ xưa là một vùng đất sôi động của những cánh đồng lúa ven sông,
những nông trường cao su trải rộng, những lâm trường bạt ngàn, những nhà máy và công trình
thủy điện. Hàng vạn đồng bào từ khắp mọi miền của đất nước đã về đây xây dựng những trung
tâm kinh tế mới. Dấu tích của một căn cứ kháng chiến tồn tại trong gần một phần ba thế kỷ đang
55
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
dần mờ nhạt trước những chuyển đổi lớn lao của cuộc sống mới. Tuy nhiên, chiến khu Đ với nội
dung lịch sử và những bài học kinh nghiệm của nó thì không hề mất đi mà còn lại mãi mãi.
Khu tưởng niệm chiến khu Đ với diện tích hơn 30ha sẽ được xây dựng trên mảnh đất Tân
Uyên anh hùng, sẽ ghi lại những chiến công vang dội của Chiến khu Đ oai hùng năm xưa.
5.5 Nhà cổ Trần Công Vàng
Ngôi nhà tọa lạc tại số 21, đường Ngô Tùng Châu, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu
Một, trên một khu đất rộng 1.333m2
, riêng phần chính (nhà trên) là 323m2
, nhà phụ (nhà dưới)
chiếm 119m2
, được xây cất và hoàn thành vào khoảng năm 1889 - 1892. Ngôi nhà được công nhận
di tích cấp Quốc ngày 07/01/1993.
Nhà quay mặt về hướng Nam, lưng dựa vào ngọn đồi (nơi có trụ sở Ủy ban nhân dân Tỉnh
bây giờ), đây cũng là cái thế đắc địa, nói theo các nhà phong thủy xưa. Xét về mặt vị trí địa lý của
ngôi nhà cụ Vàng cũng như hai ngôi nhà cổ nữa của cánh họ Trần ở phường Phú Cường đều nằm
gần con sông Sài Gòn, rất thuận tiện cho việc chuyên chở cây gỗ từ rừng về. Được biết, nội tổ của
cụ Vàng đã từng làm nghề rừng, có trại cưa, xẻ gỗ.
Công trình xây dựng theo kiến trúc kiểu chữ đinh nghịch, tức là phần nhà ngang nằm bên
trái nhà trên, thay vì nằm bên phải. Đây là nhà chữ đinh có cải tiến, có bộ phận sân con ngăn cách
nhà trên và dưới, liên lạc giữa hai bộ phận bằng một nhà cầu nhỏ cắt đôi sân con làm hai phần cửa
của nhà dưới trổ ra nơi đầu sân con ấy mà không trổ ra ở đầu hồi, cái cửa này cũng được kiến trúc
một cách đặc biệt, mới nhìn giống như một số cổng đền người Hoa, nhưng chủ nhân lại bảo phóng
theo kiểu đền của Ấn Độ.
Cũng như nhiều nhà khác, nhà cụ Vàng có bộ khung sườn làm theo kiểu nhà xuyên trính,
nhưng có đến 8 đấm, 8 quyết ở hai chái nhà. Bộ trính, trổng, cối đều được đẻo gọt khéo léo, trính
uốn xong có tạo gờ, các đoạn kèo được chạm tỉ mỉ, công phu, hàng lá dung thẳng tắp ở hàng cột
thứ ba. Toàn phần nhà trên đếm được 48 cây cột tròn, tất cả đều đứng xa vách.
Phần trang trí bên trong ngôi nhà là phần làm cho du khách thích thú nhất, đó là sự chạm
khắc công phu, từ chân cột đến mái nhà, bàn ghế tủ ghế, trang thờ các khung cửa các ô lồng…
hoành phi, liễn, đối, những bức tranh tứ bình, những tấm thủ quyển… tất cả đều chạm trổ, sơn
thếp cẩn xà cừ công phu khéo léo, làm cho ngôi nhà tráng lệ mà trang nghiêm. Nhìn chung, những
mô típ chạm khắc ở đây thường mang tính ước lệ, tượng trưng, trong đó thể hiện ước muốn một
cuộc sống bình yên, hạnh phúc, và một nết sống nhân nghĩa, đạo đức… Những đường nét chú
trọng sự uyển chuyển, mềm mại.
Các hình ảnh chạm khắc gồm cây cỏ, hoa lá, chim thú, vật dụng, những đường hình học.
Riêng tấm thủ quyển treo ở bàn thờ bên phải từ trong nhìn ra chạm hình Tùng Lộc, Mã Dương có
kèm theo hai câu thơ chữ Hán tạo được cái vẻ thanh thoát, nhã đạm, tiêu sái.
Phân bố mặt bằng của ngôi nhà,Trước hết là nhà trên, nhà có 5 gian hai chái, phần thờ
phụng, tiếp khách, các buồng để ở và chứa đồ đạc của cải được ngăn chia rạch ròi. Phần thờ phụng
chiếm ba gian dựa theo nguyên tắc gian bên trái thờ cha mẹ của chủ nhà, bên phải thờ ông bà, bàn
thờ giữa thờ ông bà cao hơn gọi chung là gia tiên. Mỗi bàn thờ gồm tủ thờ cẩn xà cừ, bên trên là
đồ ngũ sự, bên trong là bài vị hoặc chân dung người quá cố, sát vách lụa là bức thờ, trên có bài
châm, câu đối, đầu bức thờ có phần Mi chạm “Lưỡng long tranh châu” và tấm thủ quyển. Hai gian
hai bên là phòng ngủ của vợ chồng chủ nhân, phía sau vách thờ là dãy buồng chứa đựng đồ đạc...
Trên các bàn thờ là những trang thờ có đặt các bài vị, đề quan thánh đế quân, thổ công, đông trù,
tư mệnh, phước đức thánh thần, tài thần.
Phần dành để tiếp khách gồm hai lòng căn (tức từ hàng cột thứ hai đến hàng cột thứ tư),
nơi đây có đặt bàn ghế để tiếp khách, bao gồm ở gian giữa làm một bàn tròn lớn, mặt bàn lót đá
cẩm thạch, trên bàn đặt giá Bát bửu (tám món binh khí cổ), chung quanh bàn có đặt ghế với chạm
trổ tinh vi và giàu ý nghĩa tượng trưng. Hai bên bàn tròn ấy là những bàn hình chữ nhật đóng theo
kiểu ghế chân nghi. Ở gian đầu là hai bàn hình hộp xoài, chung quanh đặt ghế kiểu hiện đại, tất cả
56
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
các bàn ghế đều bằng gỗ. Dọc theo vách ngăn giữa phần tiếp khách và phần thờ có đặt những bàn
nhỏ hình vuông bên trên có những đĩa trái cây bằng sứ, cũng nơi đây chủ nhân cho đặt một tấm
Phả đồ nêu khái quát thế thứ của những người trong họ. Ở hai đầu chái nhà cũng có đặt bàn, bên
trái trên bàn thờ để ảnh chủ nhân, có cặp đôi hai bên, bộ tranh tứ bình cở nhỏ, cặp câu đối và tranh
tứ bình. Đặc biệt, trước của buồng ngủ đặt một cái tủ kiếng, bên trong chứa nhiều món quý như
tiền cổ, nón quai thao, đồ cho cô dâu khi về nhà chồng, theo kiểu xưa…
Đặc điểm ngôi nhà là có một hành lang nội chạy quanh phần thờ tự, giữa hai vách ngăn,
hành lang này giúp việc liên thông giữa nhà khách và các buồng ngủ, không phải đi ngang qua
phần thờ phụng.
Nhà dưới là một căn nhà ngang, cất theo lối xuyên trính nhưng đơn giản hơn nhà trên. Nhà
ngang dùng để tiếp khách bình thường, là nơi sinh hoạt gia đình, nhà ăn, nhà bếp,… phía trước nhà
ngang là nhà xe hướng cửa ra cổng. Sân trước trồng nhiều chậu hoa kiểng, cây kiểng… tôn thêm
nét đẹp cổ kính của ngôi nhà.
Phần văn hoá chữ Hán trong ngôi nhà đóng vai trang trí và đồng thời nói lên quan niệm
sống của người xưa, đó là các cặp liễn đối chữ Hán. Nhà cụ Vàng có đến trên 13 cặp đối và các bài
vãn, tiêu biểu:
Vào đến cổng chúng ta đọc cặp đối mà nội dung như xin khách cứ tự nhiên:
Chánh tâm vi tiên, xuất như thị nhập như thị
Trung lập bất ỷ, ngôn ư tư hành ư tư.
Tạm dịch:
Trước hết nên chánh tâm, vào như vậy, ra cũng như vậy.
Luôn giữ ở mức trung, không cậy dựa, nói như thế làm như thế.
Cặp đối ở đầu hồi bên trái nói lên cách sống luôn xét nghĩ đến mình:
Xử thế vật kiêu nhân
Tu thân nghi thiết kỷ.
Tạm dịch:
Trong giao tiếp chớ ngạo nghễ với người.
Trong tu thân phải nghiêm túc với mình.
Ở đầu hồi bên phải với cặp đối đề cao chữ hiếu và sự học:
Hiếu để truyền gia viễn
Thi thư kế thế trường.
Tạm dịch:
Hiếu để truyền mãi trong nhà.
Thi thư đời đời nối nghiệp.
Ơ hàng cột thứ nhì với hàng chữ viết thảo nhằm khuyên nên kế thừa lời dạy và quy tắc
sống tốt đẹp của người xưa:
Độc tiên nhân thư lưu ngôn thiên kinh địa vĩ
57
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Vi hậu đại pháp di an tổ đức tông công.
Tạm dịch:
Đọc sách người đời xưa, đó đạo lý môn đời truyền lại.
Vì đời sau mà làm khuôn phép, đó là ân đức của tổ tiên.
Ơ nhà cụ Vàng có chép ở bàn thờ hai bài vãn hay hai bài châm, có một bài:
Hữu kỳ phụ mẫu hữu thử thân danh phi ngôn hữu.
Thiên địa uỷ hình, ấu thừa nghiêm giáo, trưởng đắc thân vinh.
Cù lao chí đức, cúc dục chi tình, hải sơn tư báo, túc dạ bất ninh.
Mộc dục tĩnh hề, nhi phong bất đình.
Tử dục dưỡng hề, nhi thân bất sinh.
Chường thường trở đậu quí hồ kì tinh.
Thần vô thường hưởng, hưởng vu khắc thành.
Tuế tại Nhâm Thìn lan kiết kiến tạo.
Tạm dịch:
Có cha mẹ nên có thân ta, danh thân của ta không phải tự có.
Trời đất phú hình hài, lúc nhỏ được dạy dỗ, lớn lên được hiển vinh dức cù lao, tình cúc dục, lo báo
đáp công ơn trời biển, đêm ngủ chẳng yên.
Cây muốn lặng mà gió không ngừng, con muốn đáp đền mà cha mẹ không còn sống.
Lễ vật hiến dâng quí ở sự tinh khiết.
Thần không thọ hưởng theo lối bình thường, hiến cúng chủ yếu là ở tấm lòng thành.
Nhà cụ Vàng vừa mang tính nghệ thuật - nhân văn đậm nét văn hóa truyền thống Việt
Nam; đồng thời, khẳng định kỹ thuật điêu khắc, chạm trổ đã có truyền thống lâu đời ở Bình
Dương. Các hiện vật trang trí và đồ dùng trong nhà còn nhiều và hầu hết là cổ vật. Toàn bộ kiến
trúc ngôi nhà và hiện vật bên trong, cho ta thấy được nét sinh hoạt của gia đình thuộc tầng lớp giàu
có ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thể hiện sự phát triển về đời sống của cư dân người Việt trên
đất Bình Dương.
5.6 Nhà ông Trần Văn Hổ (Tự Đẩu)
Ngôi nhà tọa lạc số 18 đường Bạch Đằng, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, Bình
Dương. Ông Trần Văn Hổ (Tự Đẩu) - nguyên là Đốc Phủ Sứ thời thuộc Pháp. Công trình được
thân sinh ông Đẩu là cụ Trần Văn Lân (tương truyền cụ Lân giỏi chữ nho và tinh thông khoa địa
lý) xây dựng năm Canh Dần (1890), tháng Trọng Xuân (tháng hai), nhằm niên hiệu Thành Thái
thứ 02 cách ngày nay (2007) là 115 năm, được công nhận di tích Quốc gia ngày 29/4/1993, tổng
diện tích còn lại là 1.296m2
.
Mặt chính diện ngôi nhà quay về hướng Tây Nam, hướng sông Sài Gòn. Ngôi nhà nguyên
là một khu nhà lớn gồm: nhà chính, nhà phụ, khu chuồng ngựa… Nhưng từ sau ngày giải phóng,
do không có chủ bảo quản được nhà nước tiếp quản thu giữ. Hiện chỉ còn lại một ngôi nhà chính,
đây là ngôi nhà lớn của gia đình được dùng chủ yếu là để thờ cúng ở gian giữa.
Kiến trúc truyền thống và sự bày trí mang phong cách vương quyền. Trước sân nhà được
che phủ bởi cảnh thiên nhiên thu nhỏ của vườn hoa, cây cảnh, hòn non bộ được trang trí đầy đủ
58
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
cảnh sinh hoạt “Ngư - Tiều - Canh - Mục”. Ngôi nhà có dáng dấp nhìn từ ngoài vào hơi thấp, với
mái ngói rêu phong, tạo cảnh sắc thiên nhiên của sự cổ kính, thanh tịnh, tách hẳn với ồn ào náo
nhiệt của cảnh phố chợ bên ngoài.
Bước vào bên trong là cảnh phô trương, thể hiện sự sung túc vật liệu toàn là gỗ quý như
Cẩm Lai, Giáng Hương, Gõ, Sến, mật… được sử dụng bày trí lớp lớp, từ mái nhà xuống cửa võng
và cả bậc ngạch. Từ những song gỗ, đường nét ô vuông đến các mảng phù điêu tấc cả đều được bố
trí đối xứng đến từng chi tiết, tạo nên bề thế trang nghiêm, thể hiện sự tôn ti, nề nếp và phong cách
vương quyền.
Lối kiến trúc của ngôi nhà theo dạng chữ “Đinh”, tổng diện tích xây dựng là 200m2
. Ngôi
nhà xây dựng theo kiểu 3 gian, 02 chái gồm 36 cột tròn, 6 hàng cột tròn từ trước ra sau, mỗi hàng
là 6 cột được kê toàn bộ trên đá tảng, nền lát gạch tàu. Ngoài ra, phía bên trái ngôi nhà có 3 cửa
dạng một cánh được thông ra ngoài, trừ mặt tiền của ngôi nhà, còn lại 3 mặt bên được xây tường
gạch. Mái ngói âm dương dài thoai thoải … Từ hệ thống mái vững chắc, có phần hơi thấp, bên
trong nội tự được ngăn đôi bức tường giả hình chữ U tạo chiều sâu. Mảng giữa tường và khánh thờ
là các bức Hoàng phi được sơn son thép vàng, các bức liễng bằng những câu đối cẩn xà cừ đính
trên cột.
Gian giữa phía trên là khám thờ với tấm Thủ quyển chạm nổi hình Tứ linh hoàng tráng,
giữa bức thủ quyển ấy là ba hàng chữ đề danh hiệu các vị thần được thờ. Phía trái là thờ thần Táo
với danh hiệu “Đông Trù Tư Mạng”, giữa là thờ trời với danh hiệu “Hiệp Thiên Đại Đế”, bên phải
thờ phúc thần với danh hiệu “Phúc Đức Chánh Thần”, phía dưới thờ gia tiên nhiều đời, hai bên nơi
thờ chính là hai câu đối:
Canh độc lưỡng đồ, độc khả vinh thân, canh khả phú
Cần kiệm nhị, cần năng sáng nghiệp, kiệm năng doanh.
Dịch nghĩa là: Cày ruộng và đọc sách là hai con đường: đọc sách có thể hiển vinh. Còn cày
ruộng chắc là giàu có. Hai chữ cần và kiệm thì cần (siêng năng) ta có thể dựng nên sự nghiệp, còn
tiết kiệm cũng có thể đủ đầy.
Ở hai bên phải và trái, có hai bức thờ cẩn xà cừ rất công phu và độc đáo. Bức bên phải đề
hai chữ “Hạc Toán” (sống lâu như tuổi Hạc), bức bên đề “Qui Linh” (tuổi thọ như rùa thiêng). Bốn
chữ ấy đều cẩn ốc xà cừ với lối viết cách điệu, mỗi nét chữ là hình ảnh của chim muông hoa lá tạo
thành. Hai bên mỗi bức thờ là đôi câu đối viết kiễu chữ “Chân lư” - một loại chữ mà cho đến nay
chưa đọc được.
Nghệ thuật chạm trỗ rất tinh xảo. Lớp cửa thứ hai, tất cả đều chạm nổi, khắc chìm, khắc
lộng… thể hiện toàn bộ trên các khung cửa, cách cửa. Khung cửa chính dựng theo lối Tam quan, ở
đây là một bức tranh khá hoàng tráng với cảnh có hình bán nguyệt được trổ lộng, thể hiện cảnh lầu
son gác tía ở cung đình. Bề mặt của khung cửa chạm trỗ Tứ thời, bên trên là đề tài “Mai, Lan, Cúc,
Trúc” bên dưới đề câu đối, tạo nếp hài hoà sinh động. Phần thể hiện các đề tài trên cửa được chia
ra các ô vuông, ô chữ Nhật thể hiện Tứ Linh: Long với sóng nước vân mây, Lân với cuộc giấy,
Qui với chân đèn, Hạt với cây Tùng, các hoa văn tứ hữu “Mai Lan Cúc Trúc” với những đường
diềm chi tiết khéo léo được phân bố hợp lý nét chạm kỹ, tinh tế.
Các tấm lá gió đường diềm ở giữa cột được gia công, chạm lộng, hình chữ thọ, các chắn
song song đều nhau, ngăn cách một cách chuẩn mực. Ở dây công trình chạm lộng nhiều chủ đề
khác nhau nhưng vẫn tập trung của 02 đồ án trang trí chính: Đồ án trang trí theo các đề tài tôn giáo
Phong kiến như: Tứ Linh; Đồ án trang trí dân gian: lấy thảo mộc, hoa quả làm chủ đề chính. Mỗi
chủ đề là sự thể hiện một mảng tâm hồn, một phần đời sống, một cảnh thiên nhiên với nhiều ý
nghĩa khác nhau.
Với lối kiến trúc qui mô khép kín của ngôi nhà truyền thống Việt Nam vào thế kỷ 19, ngôi
nhà đã để lại cho Bình Dương một công trình kiến trúc cổ, góp một phần giá trị lịch sử - nghệ
thuật truyền thống dân tộc thật quý, minh chứng cho sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của vùng đất
59
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
và con người Bình Dương, cả trong quá khứ cũng như hiện tại. Thật đáng được trân trọng và gìn
giữ.
Ở hai bên gian thờ giữa là hai buồng (phòng) chủ nhà; buồng ông và buồng bà.Trên hai cửa
buồng có hai bức hoành đề: Ngự dược, Diên phi (cá nhảy, diều bay: Có ý mong thi dậu hoặc thăng
quan lên chức). Nơi đây còn có các bao lam đều trang trí đẹp, công phu. Đối xứng hai bên hông
buồng ngủ là hai tủ đứng cẩn xà cừ đẹp…
5.7 Núi Châu Thới
Núi chùa Châu Thới ở xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương, cách thành phố Biên
Hoà 4km, thị xã Thủ Dầu Một 20km, thành phố Hồ Chí Minh 24km, và đã được xếp hạng là di
tích danh lam thắng cảnh Quốc gia ngày 21/04/1989.
Di tích danh thắng núi Châu Thới cao 82m (so với mặt nước biển), chiếm diện tích 25ha
nằm ở vùng đồng bằng gần khu dân cư của các tỉnh thành: Bình Dương, Đồng Nai và thành phố
Hồ Chí Minh. Vị trí danh thắng này rất thuận tiện cho việc tham quan, du lịch, vì gần các thắng
cảnh, khu vui chơi nghỉ mát khác như chùa Tam Bảo, suối Lồ Ồ, núi Bửu Long (Biên Hoà).
Sách “Gia Định Thành Thông Chí " đã viết: “Núi Chiêu Thới (Châu Thới) từng núi cao
xanh, cây cối lâu đời rậm tốt, làm tấm bình phong triều về Trấn thành. Ở hang núi có hang hố và
khe nước, dân núi ở quanh theo, trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu
hành, ngó xuống đại giang, du khách leo lên thưởng ngoạn có cảm tưởng tiêu dao ra ngoài cửa
tục”.
Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” cũng miêu tả khá rõ núi và chùa Châu Thới gần giống
như trên: “Núi Chiêu Thới tục gọi là núi Châu Thới, ở phía Nam huyện Phước Chính 21 dặm, từng
núi cao tít làm bình phong cho tỉnh thành. Khoảng giữa núi Chiêu Thới có am Vân Tĩnh là nơi ni
cô Lượng tĩnh tu, di chỉ nay vẫn còn. Đột khởi một gò cao bằng phẳng rộng rãi, ở bên có hang hố
và nước khe chảy quanh, nhà của nhân dân ở quanh theo. Trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư
Khánh Long trác tích tu hành. Năm Bính Thân, đạo Hoà Nghĩa là Lý Tài chiếm cứ Châu Thới tức
là chỗ này. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) đem núi này liệt vào tự điển”.
5.8 Địa đạo Tam giác sắt Tây Nam Bến Cát
Địa đạo Tam giác sắt Tây Nam Bến Cát nằm trên vùng đất 3 xã: An Điền, An Tây, Phú An
thuộc khu vực phía Tây Nam huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, cách trung tâm thị xã Thủ Dầu
Một 15 km về phía nam. Với vị trí và tầm vóc trong hai cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược,
địa đạo ba xã Tây Nam Bến Cát được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử - Văn
hóa cấp Quốc gia ngày 18/3/1996, có tổng diện tích 230.000m2
.
Khu Địa đạo tiếp giáp với các nơi: Phía Đông giáp các thị trấn Mỹ Phước, Thới Hòa, Tân
Định; phía Tây giáp sông Sài Gòn; phía Nam giáp xã Tân An (Thủ Dầu Một); phía Bắc giáp xã An
Lập, Long Nguyên (Bến Cát), và đây cũng chính là cái nôi của vùng “Tam giác sắt”.
Tên “Tam giác sắt” đã trở nên quen thuộc với nhiều người trong trong thời kỳ kháng chiến
chống đế quốc Mỹ xâm lược trước đây. Nhưng cũng không ít người chưa có dịp dù chỉ một lần
đến nơi này. Ngày nay, nhiều người hiểu “Tam giác sắt” rất khác nhau. Có người cho rằng “Tam
giác sắt” là vùng Tây Nam Bến Cát, cũng có người cho rằng nó bao gồm phần đất Tây Nam Bến
Cát - Dầu Tiếng - Long Nguyên. Rộng hơn nữa, có người cho rằng nó kéo dài từ Long Nguyên
(Bến Cát) - Trảng Bàng (Tây Ninh) và Củ Chi (thành phố Hồ Chí Minh). Tất cả đều đúng, vì địa
danh “Tam giác sắt” cùng phát triển theo bước phát triển của cuộc chiến tranh. Duy chỉ có một
điều ít ai nghĩ tới là nguồn gốc ban đầu của “Tam giác sắt” lại chính là địa bàn của 3 xã: An Điền,
An Tây, Phú An (3 xã Tây Nam của huyện Bến Cát , tỉnh Bình Dương).
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trước đây, vùng đất 3 xã Tây Nam
Bến Cát sớm được nổi danh với chiến khu An Thành. Thuở đó, An Thành đã từng là nơi dừng
chân của các cơ quan đầu não kháng chiến Khu Bộ Miền Đông, Xứ ủy Nam Bộ, Đặc khu ủy Sài
60
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Gòn - Gia Định,v.v… nhờ đó mà người dân địa phương sớm được giác ngộ cách mạng và đã từng
đương đầu với biết bao thử thách ác liệt nhất trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy
gian khổ và hy sinh của nhân dân ta.
Điều đặc biệt và lý thú là vào năm 1948, hệ thống địa đạo đầu tiên xuất hiện từ vùng đất này.
Sau đó năm 1960, du kích Củ Chi đến học tập kinh nghiệm và xây dựng hệ thống địa đạo ở địa
phương mình.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, kẻ thù đã nhiều lần càn đi xát lại, nhưng chúng không
khuất phục nổi lòng dân ở đây. Đến khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp chiến
đấu ở Miền Nam, năm 1967 bằng đủ loại binh hùng tướng mạnh và những phương tiện giết người
hiện đại nhất, chúng mở cuộc càn Ce - da - phôn (2/1-21/1967) với quy mô lớn gồm 30.000 quân,
400 xe tăng, 80 tàu chiến, 100 đại bác và nhiều loại máy bay ném bom, kể cả máy bay B.52 hòng
hủy diệt mục tiêu quan trọng này. Nhưng dựa vào hệ thống địa đạo quanh co, chằng chịt, quân và
dân ta lúc ẩn, lúc hiện bí mật bất ngờ mở đợt chống càn quyết liệt. Cuối cùng giặc Mỹ phải rút lui.
Với sự thất bại thảm hại, 3.200 tên Mỹ ngụy bị diệt, 149 xe tăng và xe bọc thép bị phá hủy, 28
máy bay bị bắn rơi hoặc bị thương, 2 tàu chiến bị bắn chìm, bắn cháy… Trong trận này nổi lên anh
hùng bắn tỉa: Nguyễn Văn Đực, chỉ 10 viên đạn tiêu diệt 9 tên xâm lược, hoặc Võ Thị Huynh, anh
hùng lực lượng vũ trang từng lăn mình dưới làm bom đạn để chăm sóc, bảo vệ thương binh.
Sau những thất bại liên tiếp, kẻ thù đành bất lực, chúng phải gọi vùng này là vùng “Tam giác
sắt” (Địa đạo Tây Nam Bến Cát).
Địa đạo Tây Nam không đơn thuần mang ý nghĩa địa danh, mà nó là biểu tượng cho cách
mạng, cho kháng chiến. Với phương tiện thô sơ là lưỡi cuốc và chiếc ky xúc đất bằng tre, quân và
dân 3 xã Tây Nam đã tạo nên công trình đồ sộ với hàng trăm con đường hầm ngang dọc trong lòng
đất, nối liền các xã với nhau như một ”Làng ngầm” kỳ diệu. Đây là một công trình độc đáo, chỉ
riêng việc chuyển tải hàng vạn mét khối đất đem đi phi tang ở nơi khác để giữ bí mật địa đạo đã là
chuyện vô cùng gian khổ, công phu, là biểu hiện sự đồng tâm hiệp lực của quân dân. Các gia đình
ở khu vực vành đai, nhà nào cũng đào hầm, hào nối liền vào địa đạo, tạo thế liên hoàn để vừa bám
trụ sản xuất vừa đánh giặc giữ làng.
Đường xương sống - đường chính của địa đạo cách mặt đất 4 mét. Trong đường hầm này có
chiều cao 1,2m, rộng 0,8 mét. Có những đoạn được cấu trúc từ 2 đến 3 tầng, chỗ lên xuống có nắp
đậy bí mật. Trong địa đạo có những nút chặt ở những điểm cần thiết, dọc theo đường hầm có lổ
thông hơi ra ngoài được ngụy trang kín đáo. Chung quanh cửa hầm bí mật lên xuống được bố trí
nhiều hầm chông, hố đinh, mìn trái, có cả mìn lớn chống tăng và mâm phóng lựu chống máy bay
trực thăng đổ chụp nhằm ngăn chặn địch tới gần.
Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi sau chiến đấu; có nơi dự trữ vũ khí,
lương thực thực phẩm, nước uống, có giếng nước, hầm nấu ăn, hầm làm việc, chỉ huy, hầm nuôi
dưỡng thương binh, v.v…
Đường xương sườn (các nhánh phụ), được đào từ đường chính về các ấp. Đi liền với các
nhánh phụ là các ô ụ chiến đấu. Mỗi nhánh phụ dài 1km với 3 ụ chiến đấu. Xung quanh ô ụ chiến
đấu có bố trí các hầm chông, mìn được ngụy trang cẩn thận.
Với hệ thống địa đạo dài gần 100 km , khoảng 50 ô ụ chiến đấu và nhiều hầm để trú ẩn, cứu
chữa thương binh, dự trữ vũ khí, lương thực, thực phẩm… địa đạo Tây Nam là căn cứ địa của
nhiều cơ quan và tổ chức kháng chiến, đây còn là chiến trường tiêu diệt địch tại chỗ. Từ căn cứ
này, nhiều lực lượng vũ trang chủ lực làm bàn đạp xuất phát tiến công vào sào huyệt kẻ thù trong
những trận đánh lớn, chiến dịch lớn. Đó là chiến dịch Lê Hồng Phong (1950); Những trận phục
kích đánh giao thông trên đường 14; Đánh các cuộc càn “Phong hỏa”, “Át-tăng-bơ-rơ”, “Xê-đa-
phôn”…
Công tác xây dựng và củng cố địa đạo ba xã Tây Nam được tiến hành nột cách toàn diện về
cả chính trị, quân sự, kinh tế. Các tổ chức Đảng, Chính quyền, mặt trận đều chăm lo mọi mặt cho
61
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
cuộc sống của nhân dân nơi đây. Nhờ đó, mối quan hệ quân dân luôn đoàn kết thành một khối
thống nhất.
Địa đạo ba xã Tây Nam với các hoạt động của nó, đã giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hai
cuộc kháng chiến, nhất là trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Trong suốt 20 năm chiến tranh chống
đế quốc Mỹ xâm lược, địa đạo ba xã Tây Nam đã phát huy tác dụng của một địa đạo chiến. Dựa
vào hệ thống địa đạo, quân dân ba xã Tây Nam đã chiến đấu chôn vùi hàng ngàn tên giặc; bắn
cháy và phá hủy hàng trăm xe tăng và xe bọc thép… Đặc biệt trong chiến dịch Mậu Thân 1968, và
mùa xuân năm 1975, địa đạo Tây Nam là nơi nhiều cánh quân lớn tập kết từ đây tiến đánh vào Sài
Gòn, góp phần vào sự nghiệp kháng chiến thắng lợi của quân dân cả nước năm 1975.
5.9 Chợ Thủ Dầu Một
Hiện chợ Thủ Dầu Một tọa lạc trên một vị trí tương đối bằng phẳng, nằm sát sông Gài Gòn
và các con đường bao quanh chợ; phía Bắc giáp với đường Nguyễn Thái Học, phía Nam giáp
đường Bạch Đằng, phía Tây giáp đường Đoàn Trần Nghiệp, Đông giáp đường Trần Hưng Đạo.
Chợ là trung tâm có vị trí khá thuận lợi cho việc trao đổi và buôn bán.
Chợ Thủ Dầu Một, lúc khởi nguồn được gọi là chợ Phú Cường. Theo lịch sử địa phương,
vùng đất Phú Cường đến đầu thế kỷ XVII vẫn còn là đất hoang, cảnh quan nơi đây chính là những
khu rừng rậm. Trong đó, hình ảnh nổi bật là những rừng Dầu cổ thụ ở khu vực Chánh Nghĩa hiện
nay, nhất là vùng ven sông lúc đó chỉ là những bãi lầy, ngập nước hình thành dần do phù sa sông
Sài Gòn bù đắp. Về phía Nam của Phú Cường với những mái nhà ngói chìm trong những tán lá
cây xanh. Con rạch nhỏ được phủ kín những thuyền buồm, ngôi chợ được đặt ở khúc rạch đầu tiên.
Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Gia Định năm 1698. Khu vực Phú Cường ngày nay, cư
dân hội tụ có phần muộn hơn so với Lái Thiêu, Thị Tính nhưng lại tập trung đông và nhanh hơn do
vị trí hình thành lỵ sở của tổng Bình Điền, huyện Bình An thuộc tỉnh Biên Hòa lúc đó.
Địa danh Phú Cường xuất hiện vào khoảng năm 1838 (Đời Vua Minh Mệnh thứ XVIII)
cùng với sự thay đổi nhiều tên tổng và thôn của huyện Bình An. Vì vậy, tên gọi chợ Phú Cường
cũng có thể được phôi thai trong khoảng thời gian này. Chợ Phú Cường, trong lịch sử hình thành
muộn hơn so với một số chợ của huyện Bình An như chợ Tân Hoa, chợ Thị Tính, chợ Bình Nhâm
Thượng.
Phần “Thị Điểm” (Chợ Quán) của sách Đại Nam Nhất Thống Chí - bộ sách địa lý được
biên soạn trong khoảng thời gian từ 1864 -1875, đã nói đến tên chợ Phú Cường: “Chợ Phú Cường
ở thôn Phú Cường, huyện Bình An tục danh gọi là chợ Thủ Dầu Miệt (hay Dầu Một) ở bên lỵ sở
huyện, xe cọ ghe thuyền tấp nập đông đảo”. Đến năn 1889, trên địa bàn huyện Bình An, tỉnh Thủ
Dầu Một được thành lập, chợ Phú Cường trở thành chợ tỉnh Thủ Dầu Một. Từ đó, tên chợ Thủ
hoặc Thủ Dầu Một lại được nhắc nhiều đến trong dân gian và cả trong thơ ca sách báo.
“Chiều chiều mượn ngựa ông Đô
Mượn ba chú lính đưa cô tôi về
Đưa về chợ Thủ bán hủ bán ve,
Bán bộ đồ chè bán cối đâm tiêu…”
Trước khi người Pháp xâm chiếm đồn binh Thủ Dầu Một năm 1861, thì chợ Phú Cường đã
là nơi buôn bán sầm uất, nhiều xe cộ, ghe thuyền quy tụ về trao đổi buôn bán hàng hóa.
Sau khi người Pháp chiếm Nam Kỳ lục tỉnh. Trong đó, có tỉnh Biên Hòa (huyện Bình An
thuộc tỉnh Biên Hòa), người Pháp đã tiến hành phục hồi và biến đổi hoàn toàn chợ Phú Cường với
cổng lát đá và đắp đường cao bên trong. Theo “địa phương chí Bình Dương” viết vào năm 1888,
nhà cầm quyền Pháp cho lấp con rạch Phú Cường ăn thông với sông Sài Gòn và đã hoàn thành
công việc này vào năm 1890.
62
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Đến năm 1935, người Pháp nhận thấy việc đầu tư vào chợ có lợi lớn, họ đã tiến hành phục
hồi và biến đổi hoàn toàn chợ Phú Cường mô phỏng theo kiểu các ngôi chợ xưa ở Pháp có cấu trúc
gần giống chợ Nam Vang (Campuchia) và chợ Bến Thành (Sài Gòn). Điểm đặc biệt của mô hình
trên là họ vẫn tôn trọng, giữ nguyên vị trí cũ. Năm 1938, chợ Thủ được khánh thành với mô hình
mới, kiến trúc phóng khoáng, trang nhã, vào thời đó và có lợi thế hơn nhiều nơi khác.
Chợ được phân thành bảy khu lớn nhỏ và được xây dựng theo kiểu hình chữ nhật gồm ba
căn nhà tách biệt nhau. Từ đường Trần Hưng Đạo đi vào, ta bắt gặp căn nhà dài một lầu, một trệt
nhà còn gọi là (khu Thương Xá) xây dựng và bố trí phân theo từng phân khu nhỏ dân gian vẫn
thường gọi là “sạp chợ” để bày bán các mặt hàng hóa. Sau khu Thương Xá là căn nhà ngang (khu
ăn uống), xây dựng giữa khu Thương Xá và khu Đồng hồ, được bài trí thành ba gian chính để phục
vụ việc ăn uống. Phía sau là căn nhà dài - nhà dãy chợ (hay khu chợ Đồng Hồ) cũng được xây
xựng và bài trí theo từng phân khu nhỏ kể cả ngay dưới chân Tháp Đồng Hồ chợ.
Nhà dãy chợ là căn đầu tiên thực dân Pháp xây dựng vào năm 1935, với lối kiến trúc tạo
dáng hình con tàu mà đỉnh tháp là chiếc đồng hồ nặng về mô típ Châu Âu, do ông Bonnemain kiến
trúc sư người Pháp thiết kế và khánh thành năm 1938. Dãy nhà xây dựng theo kiến trúc nhà dài, có
diện tích 2.590m2
, có hai mái chia thành hai tầng, chiều cao từ nền đến đỉnh là 10.3m. Nhà có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển của chợ Thủ.
Tháp Đồng hồ chợ được xây dựng theo kiểu hình lục giác gắn liền với nhà dãy chợ, có
chiều cao 23.72m, gồm bốn lầu. Lầu trệt từ nền tới trần có chiều cao 6,5m được đổ bằng bê tông,
cốt thép, có bậc thang lên xuống làm bằng sắt và được gắn ở phía trong của tháp. Ngoài lát đá và
ghép gạch bông ở mặt phía Đông và Tây của tháp. Từ lầu hai trở lên tháp được đắp đường cao bên
trong thành tám cột trụ ở các cạnh hình lục giác. Tháp được xây dựng theo kiểu tam cấp càng lên
cao càng thu hẹp. Lên đến lầu ba tháp được đổ tấm đan bê tông và xây cao chừng một mét để làm
nền cho mặt đồng hồ cũng là nơi để gắn Đồng hồ. Trên nền của mặt đồng hồ được làm bằng nền
màu trắng, con số màu xanh và kim chỉ đồng hồ được sơn màu đen. Trên đồng hồ được đổ bốn
tấm đan bê tông gắn phía trên đồng hồ để che nắng mưa. Trên đỉnh tháp được gắn 4 chiếc đồng hồ.
Chính từ những chiếc đồng hồ được bố trí theo Đông - Tây - Nam - Bắc, đã tạo nên một dấu ấn
đặc sắc, hình thành tình cảm quên thuộc, sâu sắc của người dân Bình Dương.
Hình ảnh tháp chợ Đồng hồ là nhịp sống trái tim và là biểu tượng đã trải bao lần thịnh suy
trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất này.
Chợ Thủ Dầu Một luôn giữ vị trí là một trung tâm thương mại tiêu biểu của Bình Dương,
đồng thời cũng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại trong công cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc. Cũng chính vì thế, chợ Bình Dương không chỉ là nơi mua bán mà còn là một biểu
trưng văn hóa gắn liền với lịch sử phát triển của Bình Dương và Nam Bộ.
5.10 Núi Cậu - Lòng hồ Dầu Tiếng
Núi Cậu - Lòng Hồ Dầu Tiếng thuộc ấp Tha La, xã Định Thành, huyện Dầu Tiếng, tỉnh
Bình Dương. Cách trung tâm thị trấn Dầu Tiếng 7km, Núi Cậu - Lòng Hồ Dầu Tiếng là di tích
danh thắng đẹp hàng đầu của tỉnh Bình Dương, đã được công nhận di tích danh thắng cấp tỉnh,
ngày 17/8/ 2007, một điểm đến hấp dẫn trong hành trình du ngoạn về nguồn, về với thiên nhiên.
Quần thể Núi Cậu với tổng diện tích hơn 1600 ha, gồm 21 ngọn (7 ngọn lớn và 14 ngọn
nhỏ), ngọn núi có dạng hình chữ U. Ngọn núi cao nhất là Núi Cửa Ông cao 295m, Núi Ông cao
285m, Núi Tha La cao 198m và núi thấp nhất cao 63m là Núi Chúa. Bốn ngọn núi này gắn liền với
nhau tạo thành một dãy núi nhấp nhô kéo dài nằm chếch về hướng Bắc - Đông Bắc và Nam - Tây
Nam.
Đặc biệt, dãy núi Cậu có hình dáng như 2 yên ngựa nên người dân địa phương còn gọi là
Yên ngựa 1 (Núi Cửa Ông và Núi Ông), Yên ngựa 2 là ( Núi Tha La). Vùng Núi Cậu có trữ lượng
cao nên thảo mộc thiên nhiên trù phú và ở đây còn có các loại gỗ quý như: gõ, căm xe, giáng
63
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
hương, bằng lăng và nhiều loại thảo mộc khác… nơi sinh sống của nhiều loài động vật như: Nai,
mễn, heo rừng,….
Về hướng Nam - Tây Nam dưới chân núi, ta bắt gặp một thác nước đang ào ào tuông chảy
chen qua các tản đá rồi đổ xuống một trũng nước hình tròn có độ sâu khoảng 3m, có đường kính
độ mươi mét. Trũng nước lắng đọng làm chựng sức mạnh tuôn trào của dòng suối và không ngừng
những âm thanh xao động rì rào… mang tên là Hồ Than Thở.
Trên đỉnh núi cũng có một ngôi miếu thờ “Cậu Bảy” và nhiều tảng đá tạo thành những hình
tượng vô cùng hấp dẫn. Dưới chân núi có ngôi chùa Thái Sơn do hoà thượng Thích Đạt Phẩm (thế
danh: Đinh Văn Trên) (Thầy sáu) xây dựng vào năm 1988, tổng diện tích trên 5 hecta gồm các
hạng mục như: cổng Tam Quan, ngôi Đại Tháp cao 36m có 9 tầng, tượng quan Thế âm cao 12m,
chánh điện, điện ngọc cũng được xây đựng theo lối kiến trúc cổ lầu, bên trong chánh điện thầy trụ
trì và chư tăng phật tử thường xuyên gõ mõ tụng kinh nên khu vực này tăng thêm phần linh thiêng
tín ngưỡng của du khách thập phương…
Trong kháng chiến vùng núi hiền hòa nầy đã che chở cho hòa thượng Đạt Phẩm và các đồng chí
hoạt động cánh mạng. Có lẽ đây là một phần trong nhiều nguyên nhân khác về mặt tâm linh, đã
làm cho Hoà Thượng quyết tâm xây đựng chùa Thái Sơn trên mảnh đất năm xưa núi cậu.
Lòng hồ là một công trình thủy lợi với diện tích rộng trên 27000 hecta và 1,5 tỷ m3
nước
phục vụ nông nghiệp. Những nhà quản lí công trình, những kỹ sư và công nhân ngành thủy lợi đã
đầu tư trí tuệ, sức lực và lòng quyết tâm đạt được mục tiêu hồ có khả năng tưới tiêu cho hơn hàng
trăm ngàn hecta đất ruộng và hoa màu của một vùng rộng lớn từ Tây Ninh đến Bình Dương qua
Long An về thành phố Hồ Chí Minh.
Núi Cậu - Lòng Hồ Dầu Tiếng là một danh thắng được kết hợp Sông - Nước - Núi - Đồi
quả thật là phong cảnh đẹp, một địa thế tiền thủy, hậu sơn đã tạo nên nét hiền hòa, êm ả của dòng
nước lòng hồ trong mát, bên cạnh một bức bình phong hùng vĩ của rừng núi thiên nhiên như một
vị thần che chở bảo hộ sự bình an cho mọi người.
Đặc biệt, vùng rừng Núi này còn là rừng phòng hộ - Nước lòng hồ này còn là nước tưới
tiêu xả lũ cho các vùng ven sông. Núi Cậu - Lòng Hồ Dầu Tiếng là một thắng cảnh - du lịch ngoạn
mục là địa điểm nổi tiếng mà nhiều khách thập phương trong và ngoài nước đã đến đây với tấm
lòng ngưỡng mộ và thích thú.
Trèo lên Núi ở độ cao khoảng 284.6m, ta thấy cảnh trời đất xung quanh hiện ra trước mắt,
xa xa là thị trấn Dầu Tiếng sầm uất, đang hối hả nhộn nhịp. Đặc biệt, từ khi tách Dầu Tiếng được
tái lập, huyện đã nhanh chóng ổn định đi vào chỉnh trang đô thị cho xứng đáng tầm vóc của một
huyện có bề dày lịch sử chống kẻ thù mà Hồ Chủ Tịch đã khen tặng trong thư chúc tết năm 1966
của Người :
“… Mừng miền Nam rực rỡ chiến công
Nhiều Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Plây Me, Đà Nẵng…”
Giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Núi Cậu đã trở thành căn cứ hoạt động cách mạng. Nơi
đây được gọi là Định Thành căn cứ để phân biệt Định Thành tạm chiếm lúc bấy giờ. Tháng 5 năm
1951, thực hiện chủ trương của Quân khu ủy, Phân liên khu Miền Đông, vùng cao su gồm 22 làng
nhập vào huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh. Huyện Ủy Dương Minh Châu chỉ định cấp ủy,
chi bộ thị trấn Dầu Tiếng gồm 5 đồng chí, đồng chí Trần Văn Lắc phụ trách khu vực ấp 4 Bàu
Sình lên đóng quân trên Núi Cậu.
Đến năm 1961, lúc bấy giờ du kích hoạt động gần như không có vũ khí gì trong tay chỉ có
Làng 22 đầu tiên có 1 tiểu đội là có dao, mã tấu làm các công việc an ninh trật tự và cũng là làng
đầu tiên được nhận 3 cây mút mát. Từ đó, đội võ trang được gọi là đội du kích, Ban cán sự, thành
lập 8 đội công tác địa điểm hoạt động tại Núi Cậu, mật danh là các “C” (về sau đổi thành các B):
B21, B26, B28. B đầu tiên có 1 súng là B26 đồng chí Sáu Bi mang về.
64
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Đến năm 1967, cuộc hành quân Junction City của Mỹ kết thúc, Núi Cậu biến thành thế
mạnh của chúng, chúng đã chiếm và đặt thành một chốt giao cho tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 173
đóng giữ từ mùa xuân qua tới đầu mùa hè.
Qua trận Mậu Thân 1968, bằng mọi cách nối lại liên lạc tạo dựng lại cơ sở căn cứ. Huyện
ủy, huyện đội, công an hình thành một cụm căn cứ nhưng hoạt động phân tán để tránh thiệt hại cả
cụm. Căn cứ ít nhất phải ba vòng trái chuyển đi dời lại từ Núi Cậu đến khu vực đầu lô 69. Rồi lại
trở về Núi Cậu. Núi Cậu là địa hình, địa thế rất thuận lợi nên Cách mạng quyết tâm trấn giữ làm
căn cứ tiếp sức cho phát triển phong trào, nhằm góp phần vào chiến thắng chung.
Bảo tồn danh thắng núi và lòng hồ là bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, gìn giữ một cảnh
quan thiên nhiên, môi trường sinh thái lý tưởng. Hiện nay, Núi Cậu là khu rừng phòng hộ nên chi
cục kiểm lâm - Hạt kiểm Lâm Dầu Tiếng đang bảo vệ rất nghiêm ngặt. Khu vực chùa Thái Sơn có
trụ trì Đạt Phẩm, cùng một số phật tử sớm tối kinh mõ cầu an cho mọi người. Riêng phong cảnh
của Lòng Hồ cũng được Phòng quản lý nước của Công ty khai thác thủy lợi quản lý theo dõi nước
lên, nước xuống mà có biện pháp khắc phục nhằm ổn định cho sự hiệu quả và an toàn của Hồ
nước.
5.11 Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh
Di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh nằm ở địa điểm thuộc ấp 1 xã
Minh Tân (trước là xã Minh Thạnh) huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương (vị trí cũng đã được Đại
tướng Văn Tiến Dũng xác định năm 1987). Di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp
hạng di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 11/5/2010.
Di tích Sở Chỉ huy Tiền phương Chiến dịch Hồ Chí Minh là di tích tiêu biểu, phản ánh sự
lãnh đạo, chỉ huy đúng đắn, trực tiếp và sáng tạo của Trung ương Cục, Quân ủy Miền và Bộ Tư
lệnh chiến dịch. Di tích mặc dầu là một cơ quan tạm thời (trong khoảng thời gian từ 26/4-
30/4/1975), nhưng đã thể hiện được vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt trong chiến lược chiến
tranh của thời đại mới, mà trực tiếp là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Sở dĩ gọi là di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Mình là vì Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ
Chí Minh được thành lập ở căn cứ quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại ấp Tà Thiết Krom -
Lộc Thành - Lộc Ninh, Sông Bé. Sau cuộc họp ngày 25/3/1975 của Bộ chính trị và Quân ủy Trung
ương, theo sự phân công của Bộ chính trị, cùng ngày, đồng chí Lê Đức Thọ vào Lộc Ninh để cùng
các đồng chí Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ chính trị trực tiếp chỉ đạo chiến dịch giải
phóng Sài Gòn.
Khi chiến dịch sắp mở màn, để trực tiếp chỉ huy chiến dịch ngay từ đầu sát với tình hình
tác chiến cơ quan, Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh đã được Bộ Chính trị mà trực tiếp là đồng
chí Lê Đức Thọ, đồng chí Văn Tiến Dũng quyết định chuyển tới căn cứ tiền phương sát với chiến
trường hơn và chọn Căm Xe làm Sở chỉ huy Căm Xe, hay còn gọi là sở chỉ huy tiền phương chiến
dịch Hồ Chí Minh.
Với vị trí đã được xác định chuyển dời này, di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ
Chí Minh là một trong những địa điểm quan trọng quyết định sự chỉ đạo đúng đắn và sáng suốt,
trực tiếp, nhanh nhẹn nhằm tạo thuận lợi cho thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Hồ Chí
Minh lịch sử. Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
lịch sử của Bộ chính trị giao cho giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng Miền Nam trước mùa
mưa, kết thúc thắng lợi 30 năm đấu tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang của nhân dân ta một
cách trọn vẹn với thời gian nhanh nhất.
Di tích nằm trong khu vực rừng cây, có rất nhiều suối nhỏ và ngắn đổ vào con suối lớn
Căm Xe như suối Các Liễu, suối Ong Lô, suối Biên Lộc, suối Bà Già, suối Bà Thành….(Căm Xe
theo lịch sử địa phương là một vùng đất lâu đời, có một khu rừng nguyên sinh với nhiều loại cây
gỗ quý, bên cạnh có dòng suối. Chính dòng suối này, với những đặc điểm lợi hại mang tính chất
65
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
“thượng võ” của nó đã tạo nhiều thuận lợi để quân và dân ta đánh đuổi kẻ thù trong hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ).
Với tổng diện tích là 6182.96m2
ở vị trí tọa độ 110
23’32” độ vĩ Bắc, 1060
30’40” độ kinh
đông. Đây là khu rừng tái sinh, rừng cây cũ đã bị chặt phá, rừng tái sinh cũng bị đốt nhiều lần. Vì
di tích là một cơ quan tạm thời nên các lán trại, hầm hào tại đây chủ yếu được làm bằng vật liệu là
gỗ có sẵn, sau thời gian dài mưa nắng phá hủy chỉ còn lại những vết tích khá mờ nhạt, chỉ có hố
bom nơi đồng chí Văn Tiến Dũng lấy nước để sinh hoạt là còn khá nguyên vẹn. Theo người dân
sinh sống nơi đây thì cứ đến tháng 3 thì đốt để trồng sắn. Hiện nay thì cảnh quan khu vực này đã
thay đổi rất nhiều so với trước, rừng cao su bạt ngàn bao quanh khu vực di tích. Những dấu vết
còn lại như: hố bom lấy nước sinh họat, dấu vết các hầm hào cũng đã mờ, cỏ cây mọc khá nhiều,
phải rất khó khăn mới tìm được những dấu vết cũ do cỏ cây che khuất.
Năm 1987 đại tướng Văn Tiến Dũng cùng một số đồng chí cán bộ miền về thăm và xác
định vị trí trên cơ sở những dấu tích còn lại. Sau đó huyện đội Bình Long và nhân dân xã Minh
Thạnh đã xây dựng bia làm mốc đánh dấu tại nơi đây. Bia được làm bằng chất liệu bê tông cốt
thét, có độ cao 3m, rộng 2,5m, trên bia có gắn ngôi sao, dưới ngôi sao có ghi dòng chữ Sở chỉ huy
chiến dịch Hồ Chí Minh, 30 tháng 04 năm 1975, xã Minh Thạnh. Đến ngày 20/8/1990, Bảo Tàng
Quân Khu 7 xây dựng bia khác cách tấm bia cũ khoảng 3m, có chiều cao 15m, chiều ngang 1,5m,
bia cũng được làm bằng chất liệu bê tông cốt thép. Đến năm 2005 được trùng tu lại bằng đá hoa
cương cho đến nay.
5.12 Làng gốm Bình Dương
Trên đất Bình Dương hiện nay có ba làng nghề sản xuất gốm sứ khá tập trung là: Tân
Phước Khánh (Tân Uyên), Lái Thiêu (Thuận An) và Chánh Nghĩa (Thị xã Thủ Dầu Một) với hàng
trăm cơ sở sản xuất, đa số chủ nhân các lò sản xuất gốm sứ là người Việt gốc Hoa.
Cũng như các làng nghề điêu khắc, sơn mài, làng nghề gốm sứ Bình Dương không chỉ làm
ra của cải, đóng góp vào giá trị sự tăng trưởng kinh tế, mà còn là sự thể hiện nét văn hóa, lịch sử
truyền thống của Bình Dương.
Thời gian xuất hiện các lò gốm đầu tiên dẫn đến hình thành các làng nghề gốm, chưa có tài
liệu nào khẳng định chính xác là tháng năm nào, nhưng chắc chắn các làng nghề gốm đã xuất hiện
và tồn tại phát triển vào cuối thế kỷ 19. Tài liệu chứng minh cho việc này đã thể hiện rõ trong niên
giám, địa chí Thủ Dầu Một do thực dân Pháp để lại có ghi lại rằng: “Cuối thế 19, đầu thế kỷ 20 ở
Thủ Dầu Một còn có mỏ cao lanh, 10 lò gốm và nhiều mỏ đá” (Thủ Dầu Một đất lành chim đậu -
Sở Văn hóa - Thông tin Bình Dương - NXB Văn Nghệ, 1999). Một vài sự kiện có thể đã diễn ra vào
thời gian ấy gắn liền với sự hình thành các làng nghề gốm, có thể nêu ra như sau:
IX. Làng ngh g m Tân Ph c Khánhề ố ướ (x a th ng g i Tân Khánh): có v trí g nư ườ ọ ị ầ
vùng m đ t sét, r ng r m nhi u c i thu n l i cho vi c làm lò g m. Vào nămỏ ấ ừ ậ ề ủ ậ ợ ệ ố
1867, mi u Bà Thiên H u Thánh M u (th ng g i là Chùa Bà) đ c xây d ng,ế ậ ẫ ườ ọ ượ ự
trong s đ cúng nhân ngày khánh thành “Chùa Bà” có cái l h ng và bìnhố ồ ư ươ
c m hoa b ng g m. Trên chi c bình c m hoa ngoài v hình bát tiên, còn có ghiắ ằ ố ế ắ ẽ
ch Hán t Tân Khánh Thôn. Đi u này ch ng t r ng lò g m Tân Khánh đãữ ự ề ứ ỏ ằ ố ở
xu t hi n tr c khi ngôi Chùa Bà đ c xây d ng.ấ ệ ướ ượ ự
X. Làng ngh g m Lái Thiêuề ố : Theo nhà văn, nhà nghiên c u S n Nam và qua ýứ ơ
ki n c a m t s ngh nhân g m s thì ngh g m du nh p vào Lái Thiêu doế ủ ộ ố ệ ố ứ ề ố ậ
nh ng ng i Hoa theo chân các đoàn thuy n buôn vào, ho c đi qua b ngữ ườ ề ặ ằ
đ ng b t Móng Cái sang vùng Gia Đ nh l p nghi p. Trong s l u dânườ ộ ừ ị ậ ệ ố ư
ng i Hoa đó có ng i v n là th lò g m, th y vùng Lái Thiêu thu n l i choườ ườ ố ợ ố ấ ậ ợ
vi c s n xu t g m nên h đ nh c và m lò s n xu t g m (ệ ả ấ ố ọ ị ư ở ả ấ ố Nguy n Phanễ
Quang - l ch s Bình D ng qua niêm giám và đ a chí Th D u M t c a th cị ử ươ ị ủ ầ ộ ủ ự
dân Pháp - Th D u M t đ t l nh chim đ u)ủ ầ ộ ấ ả ậ . Trong m t s hi u lò n i ti ng tộ ố ệ ổ ế ừ
66
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
x a t i ngày nay có ch lò Ki n Xuân ông V ng Th Hùng cho bi t r ng lòư ớ ủ ế ươ ế ế ằ
g m c a ông ta đ c truy n n i t đ i ông c n i tên V ng T t Ph cố ủ ượ ề ố ừ ờ ố ộ ươ ổ ừ ướ
Ki n sang đây l p nghi p đ n nay đã tr i qua trên 140 năm.ế ậ ệ ế ả
XI. Làng ngh g m Chánh Nghĩaề ố : (x a th ng g i là làng g m Bà L a). Làng g mư ườ ọ ố ụ ố
Bà L a thu c Phú C ng, huy n Tân Bình (d i tri u Nguy n). D i th iụ ộ ườ ệ ướ ề ễ ướ ờ
Pháp thu c làng g m này thu c làng Phú C ng, t nh Th D u M t. Chínhộ ố ộ ườ ỉ ủ ầ ộ ở
giai đo n này đã xu t hi n câu ca dao mà nhi u ng i Bình D ng đ u bi t:ạ ấ ệ ề ườ ươ ề ế
“Chiều chiều mướn ngựa ông đô
Mượn ba chú lính đưa cô tôi về
Đưa về chợ thủ bán hủ bán ve
Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu.”
Căn cứ vào các chứng tích cụ thể còn lại ở làng gốm Chánh Nghĩa: thì vào khoảng những
năm 1840 - 1850, có ba lò gốm xuất hiện đầu tiên ở đất này, sau đó nghề gốm dần định hình và
phát triển thành làng nghề đông đúc cho đến ngày nay.
Một trong ba lò gốm đầu tiên xuất hiện đó là: lò Vương Lương mà dân gian thường gọi là
lò “Ông Tía”. Lò được xây trên ngọn đồi thấp bên cạnh một con rạch rất thuận tiện cho việc vận
chuyển sản phẩm ra sông Sài Gòn. Ông Vương Lăng (Út Lăng - 92 tuổi ông mất năm 1998), khi
còn sống ông có cho biết rằng ông nội của ông tên gọi Vương Lương từ Phước Kiến sang, đã xây
dựng nên dãy lò gốm này từ những năm 1845, hiện nay dãy lò gốm này đã có những người khác
đang sản xuất kinh doanh. Đặc biệt, con rạch cạnh lò gốm đến nay vẫn còn. Tên con rạch ấy chính
là tên gọi khác của lò gốm đầu tiên xuất hiện ở xứ này, đó là “Rạch Vàm ông Tía”.
Ba làng nghề gốm ở Bình Dương có một nét chung là cùng xuất hiện vào khoảng giữa thế
19, chủ nhân cùng là những lưu dân người Hoa từ miền duyên hải Trung Hoa sang Việt Nam định
cư, sinh sống (hiện nay cũng có khoảng vài chục lò gốm có chủ là người Việt, nhưng đa số chủ lò
gốm vẫn là người Việt gốc Hoa).
Xuất phát từ nguồn gốc của các chủ nhân lò gốm đến Bình Dương từ các địa phương khác
nhau, từ các tộc người khác nhau nên từ khi hình thành các làng nghề gốm người ta thường phân
ra có ba trường phái gốm sứ như sau:
- Trường phái Quảng (đa số chủ lò gốc ở Quảng Đông): nét nổi bật của trường phái này là việc
sử dụng men có nhiều màu sắc, hoa văn trang trí trên sản phẩm đẹp, cách điệu và trang nhã.
Sản phẩm làm ra gồm có các loại tượng trang trí, các loại chậu hoa, đôn voi…
- Trường phái Triều Châu (chủ lò gốc Triều Châu đa số là người Hẹ): trường phái này thường
sử dụng men màu xanh trắng, có nét vẽ đa dạng phong phú, hoa văn bình dị, các cảnh sơn thủy
hữu tình, hình ảnh các con vật như: rồng, gà, cá hoặc cây tre, tùng, bách có tính nghệ thuật gợi
cảm. Sản phẩm làm ra đa số là đồ gia dụng phục vụ cho nhu cầu trong đời sống con người
hàng ngày như: chén, dĩa, tô, tộ, các loại bình cắm hoa..
- Trường phái Phúc Kiến (chủ nhân có gốc Phước Kiến): sản phẩm đa số sử dụng men màu nâu
đen, da, lượn, hoa văn trang trí đơn giản, cách tạo hình sản phẩm đa dạng, dáng đẹp, sinh động.
Các sản phẩm tiêu biểu cho trường phái này như: Ché đựng rượu, lu, vại chứa nước, các đồ
dùng nhỏ như hủ, vịm, chậu.v.v…
Ngày nay các trường phái gốm sứ hầu như không còn có sự phân định rõ ràng như trước
kia, bởi lý do có sự phát triển về công nghệ, thị trường yêu cầu, nên các trường phái đã có sự pha
trộn, xâm nhập lẫn nhau. Các chủ cơ sở sản xuất nếu muốn tồn tại và phát triển, họ phải liên tục
cải tiến mẫu mã đổi mới công nghệ, sản phẩm cạnh tranh, gắng với những mặt hàng nổi tiếng của
Nhật Bản, Châu Âu là thương hiệu gốm sứ Minh Long, Cường Phát, Nam Việt. v.v…
67
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Trong làng nghề sản xuất gốm, người ta có rất nhiều việc phải làm từ đầu cho đến khi hoàn
thành sản phẩm. Nhưng có thể gom lại ở bốn khâu công việc chính yếu của nghề làng gốm là:
“nhất liệu, nhì nung, tam hình, tứ trí”. Như vậy, khâu quan trọng nhất trong sản xuất gốm sứ là vấn
đề chuẩn bị nguyên liệu, phối liệu đất sét cao lanh; khâu quan trọng thứ hai là nung sản phẩm;
khâu quan trọng thứ ba là tạo hình, tạo dáng cho sản phẩm và thứ tư là trang trí, men màu, vẽ hoa
văn trên sản phẩm. Ở đây chủ yếu nêu lên bản chất, thứ tự sự quan trọng, quyết định sự thành bại
của sản phẩm, chứ không phải trình tự các công đoạn của quá trình làm ra sản phẩm gốm sứ.
5.13 Làng nghề chạm khắc gỗ
Nghề chạm khắc gỗ (điêu khắc gỗ) là một ngành nghề có truyền thống lâu đời, đóng vai trò quan
trọng trong đời sống của người dân Việt Nam, những giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội làm phong phú thêm
bản sắc văn hóa dân tộc.
Bình Dương, nghề điêu khắc gỗ đã có hơn hai trăm năm tồn tại. Theo dòng chảy lịch sử hình
thành vùng đất (1698- 2006), nghề có lúc thịnh, lúc suy, nhưng vẫn được các thế hệ nghệ nhân tiếp
tục truyền nghề cho con cháu đến ngày nay.
Nam Bộ là vùng đất mới song có nhịp độ phát triển kinh tế khá nhanh. Cùng với Sài Gòn,
Biên Hoà, đất Thủ - Bình Dương cũng sớm trở thành một đô thị từ đó dẫn đến việc sớm ra đời các
ngành nghề thủ công nghiệp. Tuy sản xuất nông nghiệp phát triển, nhưng nhu cầu đời sống đã giải
phóng một bộ phận lao động nông nghiệp và biến họ thành những thợ thủ công. Các thợ này đã
chuyển thành thợ chuyên nghiệp, không còn kiểu làm thợ trong những lúc nông nhàn như trước
kia nữa.
Tại Thủ Dầu Một lúc bấy giờ đã hình thành rải rác các làng nghề, các nhóm thợ chuyên làm
nghề mộc, đóng thuyền, đẽo cột, dựng nhà. Làng Phú Cường là trung tâm cưa xẻ gỗ, đóng thuyền
lớn nhất nhì ở Nam kỳ. Làng này còn có tên là An Nhất Thuyền (nơi đóng thuyền lớn nhất xứ
Bình An tức Bình Dương ngày nay) chạy dọc theo triền sông Sài Gòn đến thôn Chánh Hiệp.
Hay khi nói đến vùng đất Phú Thọ, người ta sẽ nghĩ ngay đến làng chạm khắc gỗ hoặc làng
guốc Phú Văn thuộc thôn Bà Lụa. Theo địa chí Thủ Dầu Một năm 1901 thống kê, tại làng guốc
Phú Văn có gần 80 hộ gia đình sống bằng nghề làm guốc cổ truyền.
Thủ Dầu Một xưa được xem là thủ đô của Nam Bộ về nhà cửa, chùa chiền cổ mang giá trị
mỹ thuật cao. Lớp thợ của đất Thủ đầu tiên ra đời tiếp thu vốn liếng cổ truyền của cha ông đã tạo
nên những giá trị mỹ thuật trong các đình chùa mang nét văn hóa đặc trưng của vùng Đông Nam
Bộ lúc bấy giờ. Thơ ca xưa còn ghi :
“Trại ghe trại ván sẵn cùng
Sông sâu nước chảy điệp trùng bán buôn
Nhà khéo cất tốn bạc muôn
Tiếng đồn chợ Thủ ráp khuôn kỹ càng”
Chính quyền nhà Nguyễn cho phép thợ thủ công hội nhau thành phường nghề, xếp thợ thủ
công vào hạng “miễn sai”, “khuyến khích các thợ để đủ đồ dùng”… Đến thời Pháp thuộc, thực dân
Pháp cho tiến hành điều tra nghiên cứu tài nguyên và khả năng sản xuất, nhu cầu của sản xuất thủ
công ở Việt Nam (những năm 70 - 80 của thế kỷ XIX).
Từ năm 1896, thực dân Pháp thành lập trường kỹ nghệ thực hành và mỹ nghệ thực hành, đưa
hàng thủ công ra dự các hội chợ nước ngoài: Hội chợ Lyon 1893 và hội chợ Paris 1907 có giới
thiệu đồ khảm; Năm 1900, toàn quyền Đông Dương quyết định đặt ra danh dự bội tinh làm giải
thưởng cho “các nghệ nhân và thợ thủ công có trau dồi nghề nghiệp, hoặc tạo ra một nghệ thuật
mới… Người được cấp danh dự bội tinh hạng nhất được xếp ngang hàng với chức Tổng đốc, hạng
nhì ngang hàng với Tri phủ, hạng ba ngang hàng với Tri huyện”.
68
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Trong thời gian này, tại Thủ Dầu Một, trường kỹ nghệ cũng được thành lập. Trường này gồm
bốn bộ môn là điêu khắc trên gỗ, đúc mỹ thuật kim khí, thêu thùa, khảm xà cừ và vẽ. Việc chiêu
sinh rất dễ dàng, mặc dù thành kiến trong những gia đình khá giả coi thường các nghề thủ công.
Các sản phẩm do trường mỹ nghệ thực hiện đã thu nhận được cảm tình và sự khen ngợi của công
chúng. Nhân cuộc đấu xảo liên xứ tại Biên Hòa năm 1909, trường Kỹ nghệ Bình Dương đã nhận
được bằng khen danh dự.
Năm 1935, Chính quyền Pháp cho tiến hành cuộc chấn hưng công nghệ vì phát triển thủ
công nghiệp chỉ phải bỏ ít vốn hoặc không cần bỏ vốn mà lợi nhuận cao vì tận dụng được nguồn
nhân công rẻ mạt và tài khéo léo của người thợ có truyền thống lâu đời.
Đất Thủ Dầu Một từng được coi là cái nôi của nghề mộc gia dụng Nam Bộ với vùng đất có
nhiều rừng, gỗ quí. Nơi đây cũng là miền đất sản sinh ra những nghệ nhân, thợ chạm khắc gỗ tài
ba. Nhưng công lao để đào tạo nên những lớp thợ, nghệ nhân đầu tiên đó không ai khác chính là
những người thợ Bắc, Trung, trong quá trình bôn ba lưu lạc làm ăn khắp nơi đã dừng chân tại đất
Thủ và truyền nghề lại cho học trò tại địa phương. Nổi tiếng nhất trong làng điêu khắc gỗ Phú Thọ
là nghệ nhân Châu Văn Trí (1914 - 1999), cụ Châu Văn Trí đã say sưa sáng tạo và đào tạo nhiều
thợ giỏi trong nghề điêu khắc gỗ cho tỉnh nhà.
Nghệ nhân Châu Văn Trí thi đỗ vào trường Bá Nghệ Bình Dương năm 1923, khoa điêu khắc.
Năm 1927 cụ tốt nghiệp đạt loại xuất sắc và trở thành một nghệ nhân có tay nghề bậc thầy từ đó
cho đến nay, ngày nay con cháu cụ vẫn tiếp tục theo nghề của cụ.
5.14 Làng nghề sơn mài truyền thống Tương Bình Hiệp
Các nghề thủ công truyền thống sơn mài, chạm khắc, đồ mộc đã có từ rất sớm và phát triển
mạnh ở đất Thủ - Bình Dương, vùng được định hình và phát triển nghề chủ yếu ở thị xã Thủ Dầu
Một (Chánh Nghĩa, Phú Cường, Tương Bình Hiệp, Tân An, Định Hòa). Chiếc nôi nghề sơn mài
Bình Dương là làng Tương Bình Hiệp.
Theo tư liệu lịch sử - “Gia Định Thành Thống Chí” của Trịnh Hoài Đức, thì nghề sơn mài
ở Bình Dương có từ thế kỷ XVII, do di dân từ miền Trung, miền Bắc mang theo vào vùng đất mới.
Sau thời gian khai khẩn đất đai, đồng áng, sinh cơ lập nghiệp, họ đã thực hiện những bức tranh sơn
mài đầu tiên - chủ yếu quét sơn vẽ tranh cảnh. Những bức vẽ cây đa, bến nước, mái đình, tre làng,
… được tái hiện trên tranh giúp họ vơi đi nổi nhớ quê nhà…
Làng Sơn mài được biết đến nhiều và tiêu biểu nhất ở Bình Dương, là làng sơn mài Tương
Bình Hiệp ra đời vào thế kỷ XVIII. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi: “… ở làng Thủ Dầu
Một, dân chúng có nghề làm sơn theo kiểu cổ khá thịnh vượng…”. Người Bình Dương thời ấy đã
sớm nhận ra lợi thế của vùng đất này đã dần hình thành nên làng thủ công đặc sắc. Với nguồn
nguyên liệu gỗ các loại, kết hợp với sơn dầu Phú Thọ - một loại nhựa có màu sắc đẹp, lạ, bóng,
bền đã tạo nên lớp men đen bóng cho những tác phẩm đơn giản ban đầu mà nghệ nhân đã không
ngừng hoàn thiện kỹ thuật đã đào tạo lớp kế thừa nghề cổ truyền và phát triển lâu dài trong xã hội.
Dưới thời thuộc Pháp năm 1901, thực dân Pháp cho mở trường dạy nghề Mỹ nghệ gọi là
Trường Bá nghệ thực hành Thủ Dầu Một, để phục vụ công tác khai phá thuộc địa. Từ đó, nghề thủ
công mỹ nghệ có thêm đội ngũ thợ lành nghề được đào tạo chính quy, đánh dấu một giai đoạn mới
trong lịch sử phát triển của các nghề thủ công cổ truyền ở Bình Dương.
Đầu Thế kỷ XX các nhóm thợ “Thủ” tập trung tại làng Tương Bình Hiệp - Phú Cường chủ
yếu là sản xuất các mặt hàng sơn mài và điêu khắc gỗ. Tên tuổi các thợ Xù Nhồng, Phèn, Dựa
được vang danh khắp nơi, cùng lớp nghệ nhân trẻ có học vấn, tốt nghiệp ở các trường mỹ thuật
như Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương, mỹ thuật Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một.
Theo số liệu thống kê năm 1945, ở Bình Dương có 10 cơ sở sản xuất sơn mài. Riêng làng
Tương Bình Hiệp có hơn 300 hộ gia đình làm nghề. Đặc biệt, xưởng sơn mài Thành Lễ thành lập
1943 là cơ sở sản xuất lớn nhất thời bấy giờ tạo tiếng tăm trong và ngoài nước.
69
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Với bề dày truyền thống và lịch sử phát triển vùng đất hơn 300 năm, nghề sơn mài trên đất
Bình Dương vẫn giữ vững đậm đà bản sắc dân tộc. Ngày nay, sự phát triển về khoa học công nghệ,
nghề sơn mài với sự kế thừa truyền thống kết hợp với hiện đại đã góp phần tạo nên tính đa dạng
mẫu mã, phong phú về chất liệu… Sơn mài đã và đang là nguồn cảm hứng thẫm mỹ của các thế hệ
nghệ nhân tài hoa, là tiếng nói nghệ thuật mang tính nhân bản cho bạn bè trong nước và thế giới
hiểu thêm về bản sắc độc đáo của văn hóa dân gian Việt Nam.
5.15 Vườn trái cây Lái Thiêu
Từ TP Hồ Chí Minh đi về phía đông chừng 20 km, du khách sẽ gặp một vùng sinh thái
tuyệt diệu, đó là miệt vườn Lái Thiêu. Nơi rợp mát hoa trái này trở nên nổi tiếng và luôn thu hút
khách du lịch.
Thành phố ồn ào, nóng nực, luôn luôn ngột ngạt, con người muốn trở về với thiên nhiên.
Về với miệt vườn Lái Thiêu, ta sẽ được hít căng lồng ngực hơi thở của đồng quê. Chân ta sẽ được
bước trong những miệt vườn mà lối đi chỉ vừa một người. Cái thú vị đặc biệt của miệt vườn Lái
Thiêu là hương thơm hòa quyện của hàng chục loại cây trái. Mùi thơm của sầu riêng, măng cụt,
mít tố nữ, sa-pô-chê, mãng cầu đua nhau tỏa hương, quyến rũ, níu bước chân du khách.
Miệt vườn Lái Thiêu được hình thành từ xưa cùng với làng quê êm ả của Nam Bộ. Người
đến khai khẩn dừng bước tại đây bởi đất màu mỡ, phong cảnh hữu tình. Miệt vườn Lái Thiêu được
tạo thành bởi một dòng sông chảy từ TP Hồ Chí Minh về tới huyện Thuận An của tỉnh Bình
Dương, tới đây sông rẽ thành hai nhánh, tạo thành một cù lao. Đất đai và cây trái quanh năm được
bồi đắp và tưới mát bởi hai nhánh sông không bao giờ vơi này.
Đến với Lái Thiêu, bạn có thể đi bằng xe du lịch hoặc tắc-xi, bình dân hơn thì đi xe lôi,
chưa đầy một giờ sau bạn có thể đặt chân lên vùng đất hứa này. Để vào miệt vườn du lịch, bạn đi
qua một cây cầu khá đẹp, soi bóng mình và để lắng lại phía sau những bụi bặm phố phường. Từ
đây, bạn rảo bộ vào các lối nhỏ dẫn vào vườn. Nếu bạn muốn du ngoạn trên thuyền để cảm nhận
cái chơi vơi sông nước, thì đã có sẵn những chiếc ghe dưới bến trong miệt vườn. Bạn sẽ gặp những
vựa trái cây thơm lừng và những chàng trai, cô gái Lái Thiêu vẫn còn mang dáng dấp chân quê,
mời bạn mua hàng. Bạn có thể mua một vài loại trái cây gì đó và trò chuyện vui vẻ. Họ sẽ thành
hướng dẫn viên du lịch cho bạn. Đi trong vườn đầy bóng cây, bạn có cảm giác như đang sống
trong môi trường của một chiếc máy điều hòa nhiệt độ khổng lồ với ánh nắng của ban mai và ngọn
gió lành phương xa thổi qua các cánh đồng phì nhiêu và dòng sông mát lành của đồng bằng Nam
Bộ. Bạn có thể khoan khoái thả hồn trong khung cảnh thơ mộng: tiếng lá thở lao xao và tiếng tí
tách của nước sông xâm xấp mép vườn.
Đi dọc theo các vườn cây, thỉnh thoảng ta bắt gặp các rãnh dẫn nước từ sông vào. Các nhà
dân ở xen lẫn trong vườn. Cây cối xanh tốt vươn vào thềm và phủ bóng trên mái nhà. Miệt vườn ở
khu du lịch có hàng trăm ha. Mỗi gia đình có khoảng vài ba vườn cây là yên tâm với cuộc sống
của mình. Nếu bạn muốn ở lại thưởng thức hương vị đặc biệt của trái cây vùng này, thì xin cứ việc
ngả lưng trên những chiếc ghế để sẵn dưới gốc cây. Nếu trời bất chợt mưa, thì đã có nhà rông
trong vườn. Bây giờ bạn có thể ngắm nhìn những trái mít tố nữ vàng ươm, thơm ngọt đến nao
lòng, những trái sầu riêng gai góc nặng hàng cân chứa trong lòng ngọt bùi thơm mát. Ngoài ra dừa
Xiêm, măng cụt, chôm chôm và các loại hoa quả khác của miệt vườn này cũng có hương vị rất lạ.
Ai đã từng nếm một lần, chắc khó mà quên.
Hằng năm, miệt vườn Lái Thiêu có hàng nghìn du khách đến thăm. Những người yêu thiên
nhiên và thích du lịch tìm hiểu miệt vườn Nam Bộ chắc không thể không một lần ghé về vùng quê
đáng yêu này. Lễ hội Chùa Bà vào Rằm tháng Giêng và những mùa hoa trái hầu như quanh năm,
đang chờ đón bạn.
5.16 Làng tre Phú An
70
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Tọa lạc tại huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, với
tổng diện tích 10ha, làng tre Phú An như một thiên đường xanh tuyệt vời. Làng tre vừa là nơi để
sinh viên học tập nghiên cứu vừa là điểm du lịch sinh thái lý thú của tỉnh Bình Dương.
Để đến làng tre, khách có thể đi bằng xe máy, theo quốc lộ 13 đến Thủ Dầu Một, sau đó
quẹo trái tại ngã tư Sở Sao. Hỏi đường để đến làng tre không khó vì địa điểm du lịch này đã trở
nên quen thuộc với người dân địa phương. Thêm vào đó, nằm ngay mặt tiền đường với màu xanh
ngắt mênh mông, chẳng khó để bạn không nhận ra làng tre .
Bước vào làng tre, du khách sẽ bị thu hút đến ngôi nhà trung tâm - nhìn xa như một ốc đảo
giữa thiên đường xanh. Phía trước ngôi nhà là thảm thực vật họ đậu phủ đất (Arachis Pintoi, có
khả năng cải thiện đất) chen lẫn nhưng bụi tre đuôi gà trông rất lạ mắt. Màu vàng rơm bắt mắt từ
hoa của giống thực vật họ đậu pha lẫn màu xanh tre tạo nên một bức tranh màu sắc hài hòa đến kỳ
lạ.
Ngôi nhà bao gồm khu bảo tàng mẫu vật tre và khu vực quản lý dành cho những người
nghiên cứu, bảo vệ, chăm sóc tre làm việc. Ngôi nhà được thiết kế mở với không gian nội thất hòa
với thiên nhiên xung quanh, bàn, ghế, đèn, tủ… trong nhà cũng đều làm bằng tre. Bước vào khu
bảo tàng, người quản lý sẽ hướng dẫn tỉ mỉ từ những giống tre khắp nơi trên cả nước cho đến các
sản phẩm làm từ tre. Đặc biệt, nơi đây có một bộ sách lớn có kích thước cao và to hơn người là
một tài liệu hết sức đầy đủ về các giống tre.
Bước ra phía sau bảo tàng, khách sẽ có cảm giác được chìm vào một không gian xanh bao
la - khu bảo tồn tre. Dạo bước nơi đây sẽ gặp được rất nhiều những giống tre khác nhau. Có loại
thẳng đuột, lá to nhưng cũng có loại xòe ra thành bụi và lá nhỏ. Trên mỗi cây đều chú thích rõ tên
gọi cũng như khu vực trồng. Du khách có thể dễ dàng biết được thế nào là tre vuông, vàng sọc,
mai, mạy muồi, luồng, vầu, trúc Cao Bằng, tre mét, hóp… Cả một vùng chỉ toàn tre, nhưng lại
không nhàm chán mắt nhìn bởi sự phong phú về chủng loại và cách bài trí đẹp mắt… Và sẽ thật
may mắn nếu bạn phát hiện ra hoa tre - một loại hoa mấy mươi năm mới trổ một lần.
Bên cạnh khung cảnh thơ mộng bởi màu xanh bạt ngàn, làng tre còn có cả một mê cung tre
quanh co, khúc khuỷu. Sâu bên trong làng tre là mô hình “Khu đồng bằng sông Cửu Long” với cầu
tre lắt lẻo, con đò nhỏ, thửa ruộng xanh, chiếc vó… những hình ảnh thân thuộc và gần gũi, gợi nhớ
những vùng quê yên ả…
5.17 Khu du lịch Hồ Bình An
Cho dù xung quanh có nhiều khu du lịch khá nổi tiếng như Suối Tiên, Suối Lồ Ô, Bửu
Long… thì Hồ Bình An vẫn là nơi dừng chân nghỉ ngơi, vãn cảnh thích hợp hơn đối với du khách.
Nằm sát bên xa lộ Hà Nội tấp nập xe cộ qua lại, khu du lịch Hồ Bình An là một thế giới
riêng biệt đúng như tên gọi của nó. Sự bình an, yên tỉnh nơi đây tương phản với cuộc sống sôi
động, ồn ào, căng thẳng của đô thị bên ngoài. Sau những ngày làm việc mệt mỏi, du khách đến đây
để tận hưởng những giây phút thư thái dành riêng cho chính bản thân họ.
Khu du lịch Hồ Bình An đã từng là nơi đá gà của giới thượng lưu dưới thời Mỹ - Ngụy,
ngày nay trở thành nơi vãn cảnh, nghỉ ngơi được nhiều người ưa thích. Ngành du lịch Bình Dương
đã không lầm khi chọn nơi này để đầu tư tôn tạo thành một khu du lịch. Công cuộc phát triển đô
thị và công nghiệp đang làm cho các vùng lân cận Hồ Bình An phải gánh chịu hậu quả nặng nề của
sự ô nhiễm môi trường sống. Hồ Bình An lại càng quí giá hơn khi được giữ gìn và tôn tạo thành
một vùng sinh thái trong sạch tươi đẹp.
Đến khu du lịch Hồ Bình An, ta có thể cảm nhận được sự quyến rũ, bởi đây là một vùng
thoáng đạt dưới bầu trời đầy nắng và gió. Những dải cây xanh biếc tỏa bóng râm mát theo các lối
đi qua hồ. Bên cácđường đi vào những khoảng trống bên hồ, đâu đâu cũng thấy cỏ cây hoa lá tươi
tốt. Dưới các vòm cây cao, thỉnh thoảng lại bắt gặp những gốc cây lớn bị cưa ngang để làm bàn
ghế cho du khách. Chủ nhân muốn làm cho nơi này mang đậm tính thiên nhiên nên cả những giàn
hoa, những cây cầu bằng xi măng cũng được tạo dáng như những cây gỗ chưa bị đẽo gọt, mà chỉ
71
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
đốn chặt qua loa. Đảo nhỏ có những mái nhà cong thấp thoáng trong rừng cây um tùm, những cây
cầu mộc mạc nối với bờ, soi bóng lung linh mặt nước có cổ kính, thơ mộng.
Trước trung tâm của khu du lịch, những ngôi nhà nghỉ, những nhà hàng đặt trên mặt nước,
nhìn từ xa những ngôi nhà của người đi bè, bồng bềnh, neo đậu bên bờ của một xứ sở sầm uất.
Trên bờ còn có những ngôi nhà mái nhọn như nhà của người Tây Nguyên, nhưng nhỏ và
đẹp. Đó là nhà dành cho du khách nghỉ tạm qua trưa hoặc một vài ngày. Một số nhà theo kiểu biệt
thự dành cho gia đình hoặc những người cần tiện nghi cao cấp và đầy đủ hơn.
Du khách đến hồ Bình An thường theo từng nhóm hoặc đôi ba người. Họ cùng vui chơi,
đàn hát, cùng ăn những bữa theo kiểu picnic thân thiện và chan hòa. Họ cũng thường nghỉ trưa tại
các ngôi nhà xinh xắn có những ô cửa sổ trông ra hồ tràn đầy gió mát.
Quanh hồ có những chỗ vừa đẹp vừa thuận tiện cho những người vừa có thú vui câu cá để
chờ đợi những khoảnh khắc vui sướng khi họ chinh phục được lũ cá dưới hồ. Có nhiều người hoan
hỉ với những lần cá cắn câu, có những con câu được nặng đến năm bảy ký. Nhưng cũng không ít
kẻ tưng hửng vì một ngày kém may mắn. Dẫu sao thì mỗi lần đến, họ đều là người có nhiều hy
vọng, ít ra thì cũng được một ngày nghỉ ngơi bổ ích và ăn uống ngon miệng.
Ở khu du lịch Hồ Bình An có kiểu phục vụ ăn uống cũng rất du lịch. Du khách có thể đang
ngồi câu cá hoặc lên đênh trên ghe "thiên nga" hay ngồi hóng mát ở chỗ nào đó quanh hồ, chỉ cần
yêu cầu là được phục vụ ăn uống ngay tại chỗ. Điều này vừa tiện lợi vừa làm cho du khách tự
nhiên, thoải mái hơn.
Hồ Bình An tối tối lại khoác lên mình bộ đồ đen của màn đêm mỏng manh với những viên
ngọc sáng do hàng trăm bóng đèn màu kết lại ở khu trung tâm, nhìn từ bờ bên kia như giải hoa
đăng rực rỡ in bóng long lanh dưới hồ. Ở đây có nhiều chổ đề ăn uống, có chỗ nhỏ dành riêng cho
một nhóm hoặc một gia đình, có chỗ lớn có thể phục vụ cho hàng trăm người. Khách đến ăn
thường là những người thích thú với khung cảnh thanh lịch, tươi mát bên hồ.
Không ít người đến đây vì quá vui đã uống nhiều đến mức phải nghỉ lại. Những bữa tiệc
vui thâu đêm là điều thường thấy ở đây. Nhưng tất cả đều thấy an tâm vì sự an toàn chung của khu
du lịch.
Trong cuộc sống đô thị đông đúc, ồn ào và bụi bặm, sau những ngày làm việc căng thẳng
và mệt mỏi, đến nơi này ta bổng cảm nhận được sự thoải mái dễ chịu.
5.18 Khu du lịch (KDL)Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến
Tổng diện tích 9 hecta với cổng chính hướng về Quảng Truờng Đại Nam đuợc bao bọc bởi
2 con rồng xanh với chiều dài mỗi con là 270m.
Nét nổi bật của KDL Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến đó chính là khu thờ tự với diện tích 9
hecta là điểm nhấn mang ý nghĩa về văn hóa lịch sử và vọng nguỡng những tinh hoa của dân tộc
Viêt Nam qua 4000 năm văn hiến. Đây là khu vực mang đậm nét tâm linh bao gồm dãy Ngũ Hành
Sơn - Dãy núi nhân tạo dài nhất Việt Nam với chiều dài 252 m, được trung tâm sách kỷ lục Việt
Nam xác lập ngày 10/9/2006. Ẩn hiện trong dãy Ngũ Hành Sơn là ngôi tháp 9 tầng uy nghi còn
gọi là Bảo Tháp. Dòng Bảo Giang 720m chạy dưới chân dãy Ngũ Hành Sơn, uốn lượn quanh ngôi
đền cũng được xem là dòng sông nhân tạo dài nhất Việt Nam hiện nay.
Đền thờ Đại Nam được khởi công xây dựng vào ngày 10/03 năm Quý Mùi (11/04/2003) và
khánh thành vào ngày 02/9/2005 với diện tích 5000 m2 . Đền Đại Nam còn gọi là Kim Điện với
điểm nhấn nổi bật là các pho tượng thờ, phù điêu và các vật dụng thờ cúng được dát vàng. Đền
cũng được sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận là Ngôi đền thờ lớn nhất Việt Nam vào ngày
15/08/2007. Chính điện của Đền thờ có 03 pho tượng thờ là : Đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni, Vua
Hùng Vương và Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Bên tả điện là trang thờ : Đức Thánh
Trần Hưng Đạo, Mẹ Âu Cơ, Bách Gia Trăm Họ với 1068 dòng họ bao gồm 54 dân tộc Việt Nam.
72
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Bên hữu Điện là trang thờ : Bác Hồ, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và bàn thờ 4 vị : Thần Tài -
Thổ Địa - Thành Hoàng - Tổ Đức.
Các pho tượng bên trong điện thờ đều được làm bằng một chất liệu nhẹ và bền, đó là
Composite và sợi thủy tinh. Một số Tượng chính trên Trang thờ ngay giữa Chánh điện còn được
dát vàng 24K bên ngoài.
Kim Điện được xây dựng theo mô típ vuông tròn. Mái vòm hình tròn biểu trưng cho Trời
có vẽ 108 con chim hạc với ý nghĩa : 54 con hạc tượng trưng cho 54 dân tộc VN ở cõi trần, 54 con
hạc tượng trưng cho 54 dân tộc ở cõi âm (bởi theo quan niệm dân gian, Hạc là con vật tượng trưng
cho sự vĩnh cửu, lại có âm dương kết hợp hài hòa sẽ tạo nên sự phát triển trường tồn bền vững).
Chính giữa của mái vòm là điểm vọng âm.
Đứng tại điểm vọng âm, âm thanh sẽ được khuyếch đại và truyền đi khắp Kim Điện. Hình
vuông được thể hiện qua 4 vách của đền thờ, bao gồm 28 bộ cánh cửa với mỗi cánh cửa chính
nặng 500 kg. Trên nền 28 bộ khung bao cửa được chạm trổ 28 bộ tranh lịch sử tiêu biểu, đánh dấu
các mốc son lịch sử của VN bắt đầu từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 - 43, Cuộc khởi
nghĩa của Bà Triệu năm 248, Cuộc khởi nghĩa của Lý Bí năm 542, ... cho đến thời kỳ hiện đại như
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và cách mạng thành công với việc Bác Hồ đọc Bản Tuyên Ngôn
Độc Lập tại Quảng Trường Ba Đình ngày 02/09/1945. Sau đó là tiếp tục những thành công khác
như Trận Điện Biên Phủ năm 1954, Trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972 và kết thúc bằng
thắng lợi rực rỡ của mùa xuân lịch sử 30/04/1975. Các cuộc khởi nghĩa thể hiện sự anh dũng của
một dân tộc luôn đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ dân tộc.
Trong đền có đặt hai cây nến với tên gọi Đại Hoàng Đăng, mỗi cây có chiều cao 2.7 m với
đường kính 90 cm, dự đoán có thể cháy trong suốt 1000 năm, với ý nghĩa luôn soi sáng con đường
phát triển cho dân tộc Việt Nam.Với lối kiến trúc dân gian kết hợp thể hiện vẻ đẹp quy tụ của tứ
linh : Long -Lân - Quy - Phung; Tứ Quý : Mai - Lan - Cúc - Trúc, và đặc biệt là sự tôn vinh vẻ đẹp
của hoa Sen, loài hoa tượng trưng cho sự thanh cao thuần khiết.
Ngày 01/07/2010 (nhằm ngày 20/05/ Canh Dần), Ông Huỳnh Uy Dũng đã vinh dự thỉnh về
được 02 viên Xá Lợi Phật ( Xá Lợi Phật có nguồn gốc từ Ấn Độ). Đến ngày 13/07/10 (nhằm ngày
02/06/Canh Dần), Khu DL đã đưa 02 viên Xá Lợi Phật vào thờ tại Tháp Lưu Ly ngay trong Điện
thờ.
Bên cạnh nét nổi bật của Kim Điện, Khu thờ tự còn thu hút du khách bởi khung cảnh manh
đậm nét thiên nhiên với sự kết hợp độc đáo của núi, non, sông, hồ, cây cảnh. Dãy Ngũ hành sơn
bao gồm 5 ngọn : Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ, ngọn trung tâm cao 65,8 m. Trước khi vào bên
trong dãy Bảo Sơn, du khách sẽ được ngắm nhìn một quần thể thắng cảnh hùng vĩ bao quanh Dãy
núi Ngũ Hành. Trấn giữ ở phía tây của dãy Ngũ Hành Sơn là thần Bạch Hổ, phía Đông là Thần
Núi và Thần Nông.
Vươn lên từ ngọn núi trung tâm Bảo Sơn là ngôi Bảo Tháp 9 tầng. Đây là nơi thờ phượng
tâm linh và truyền thống bất khuất của dân tộc VN, thể hiện lòng biết ơn và sự tôn vinh của thế hệ
sau đối với tổ tiên và tiền nhân. Mỗi tầng của tháp là nơi thờ phượng với những ý nghĩa khác nhau.
Đứng từ tầng thứ 9 của Bảo Tháp, du khách có thể nhìn bao quát toàn cảnh Khu Du Lịch
Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến. Hướng Đông và Tây của đền Đại Nam được trấn giữ bởi hai bậc
thiên tài quân sự trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam là Thái Úy Việt quốc
công Lý Thường Kiệt trấn ở hướng Đông và vua Quang Trung Nguyễn Huệ trấn ở hướng tây.
Nhìn về Hướng Nam - Hướng Cổng chính của Khu Kim Điện là một Hồ Ngọc Bích với diện tích
2,7ha có dòng nước trong xanh như màu ngọc kết hợp với những ốc đảo thật nên thơ hữu tình.
Xa xa nữa, là Quảng Trường Đại Nam đã từng đón tiếp hàng ngàn du khách đến tham dự
các chương trình lễ hội với sân khấu nhạc nước hoành tráng bậc nhất - nơi đã từng diễn ra những
Chương trình ca nhạc, Lễ hội tầm cỡ quốc gia, tiêu biểu như Lễ Chào mừng Đại Lễ Phật Đản Liên
Hiệp Quốc - VESAK diễn ra vào ngày 05/05/2008 đã đón tiếp hơn 60.000 Tăng, Ni, Phật tử từ
73
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
khắp nơi trên cả nước hoặc những đêm hội chính tại Đại Nam, ...Không những thế, tại đây cũng đã
từng diễn ra 02 màn trình diễn pháo hoa đặc sắc vào ngày Lễ 01/05/2010 và ngày Quốc Khánh
02/09/2010.
5.19 Miếu Bà Thiên Hậu
Khi xưa tọa lạc tại con rạch Hương Chủ Hiếu (nay đã xây dựng lại ngôi miếu trên vị trí ban
đầu của xưa kia). Người xưa đã chịu ảnh hưởng của quan niệm dân gian là địa thế xây cất miếu Bà
thường tuân theo nguyên tắc kiến trúc điện mẫu, tức là luôn mang yếu tính nữ trong xây cất, một
trong yếu tố nữ là điện thờ nên chọn nơi gần sông, suối, ao, hồ… nghĩa là gần nơi có nước, vì
nước mang yếu tố âm, mang tính nữ.
Đến năm 1923, bốn Bang người Hoa (Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ) chung
sức tái tạo ngôi chùa ở vị trí như ngày nay.
Vài nét về kiến trúc, thờ tự, trang trí nội thất như sau:
Ở hai cánh cửa chính đề bốn chữ đại tự: Phong Điều Vũ Thuận (gió mưa điều hòa). Vào
sân chùa, trước cửa điện có đặt một cái đỉnh lớn, nơi những người đến cúng cắm nhang.
Toàn bộ ngôi chùa kiến trúc thành ba dãy nhà ở giữa là chánh điện đề ba chữ Thiên Hậu
Cung, trên hai cánh cửa chính đề bốn chữ Quốc Thái Dân An, hai bên là hai cặp câu đối ca ngợi
công đức của bà:
Thánh đức phối thiên hải đức từ hành phổ tế
Mẫu nghi xưng hậu tang du trở đậu trùng quang.
Tạm dịch:
Công đức của bậc thánh có thể sánh với trời, đức mênh mông như biển thuyền từ cứu vớt khắp
cùng.
Cập thứ hai:
Thiên thượng từ hành nhân gian thánh mẫu
Hậu nghị cộng ngưỡng khôn đức trường tồn.
Tạm dịch:
Tại thượng giới hiệu là từ hàng, tại nhân gian tồn là thánh mẫu. Bậc hậu oai nghi ai cũng tôn kính,
đức dày mãi mãi với thời gian.
Mái trước của chánh điện lợp ngói âm dương với những đường chỉ đắp nổi, trang trí Lưỡng
Long Tranh Châu, Cá Chép Hóa Rồng. Hai bên đường viền của mái nhà là tượng “Bà Mặt Trăng”,
những tượng Quan Văn, Quan Võ… tiêu biểu nhất lí âm dương và cũng là đặc trưng của lối kiến
trúc người Hoa.
Hai dãy nhà hai bên chánh điện có đề ở cửa cái chữ thất phủ, công sở đó chỉ lài hai nơi làm
việc như hội họp và những kho chứa đồ đạc, gọi chung là thất phủ công sở. Do vậy, mà bên trong
ghi những chữ như: Hữu Thông (đi suốt qua bên mặc), sự chi, công lý (mọi việc theo lẽ công)
( bên phải). Bên trái ghi: Dĩ Lễ, Thủ Chánh (hãy theo l64, giữ gìn cái chính), Quảng Nội (rộng rãi
bên trong), những chữ vắn tắt ấy như những khẩu hiệu nhắc nhở mọi người.
Trong điện có cặp đối, nội dung các cặp đối là ngợi ca công đức và sự linh diệu của Bà
trong việc cứu nhân độ thế, hơn nữa bà là vị nữ thần phò hộ cho người dân đi biển nên hầu hết các
cặp đối đều có nhắc đến những hình ảnh có liên quan đến biển khơi và sự mong ước được sống
yên, bể lặng, tất nhiên những hình ảnh ấy cũng được hiểu rộng ra với nghĩa tượng trưng.
Tại chánh cung, thờ vị chánh thần là Thiên Hậu Thánh Mẫu, tượng có áo mão nghiêm
trang và thường được thay mới hàng năm, hoặc hai, ba năm một lần. Bên trái bà là khám thờ Ngũ
Hành Nương Nương. Bên phải thờ Bổn, gọi là bổn đầu công công.
74
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Hai bên tường có giá cắm tấm biển đề Túc Tĩnh - Hồi Tị, để kêu gọi mọi người nghiêm
trang hoặc tránh ra mỗi khi có rước kiệu Bà đi trên đường. Cặp biển thứ hai đề Thiên Hậu Nguyên
Quân ( Vị thần chủ việc tiền tài). Các cặp biển sắp theo thứ tự trong thờ tự cũng như trong diễu
hành lễ rước bà.
Hai bên chánh điện được xem như Đông lang, Tây lang, là nơi hội họp, được gọi là thất thủ
công sở. Trong điện có trưng bày giá cắm bát biểu là tám món bửu bối của tám vị tiên theo truyền
thuyết của người Trung Hoa.
Nhìn chung ngoài những lối kiến trúc, thờ phượng, những chùa miếu người Hoa còn có
những nét đặc trưng nữa là những cây nhang vòng, những lồng đèn có viết chữ Hán và những màu
sơn vàng đỏ sặc sở được trưng bày trong miếu..
12. Đặc sản và ẩm thực
6.1 Măng cụt - trái cây đặc sản của Bình Dương và vườn cây xanh Lái Thiêu
Với mùi vị khác lạ, múi sầu riêng thường được xem là loại trái cây đặc trưng của Nam bộ,
thì trái măng cụt ở miệt vườn Lái Thiêu có thể là trái cây đặc sản tiêu biểu cho xứ sở “cây lành trái
ngọt” - đất Thủ Dầu Một, Bình Dương. Nhiều người, trong đó có học giả Vương Hồng Sển (1902-
1996) gốc miền Tây Nam bộ (Sóc Trăng) cho rằng Lái Thiêu, Thủ Dầu Một là quê hương đầu tiên
của giống trái cây măng cụt được di thực từ các nước Đông Nam Á (như Mã Lai, lndonesia):
“Măng cụt là một loại trái cây xứ Thủ Dầu Một, xứ lái Thiêu do các cha đạo Gia Tô đem giống về,
có thuyết nói là từ Bá Đa Lộc hoặc linh mục Taberd”.
Nhà văn Sơn Nam, người khá am tường văn hóa ẩm thực Nam bộ, đã dẫn thêm cứ liệu
cũng tán đồng ý kiến trên: “Theo Melleret, cây măng cụt đầu tiên từ Mã Lai đưa đến Nam bộ trồng
ở Lái Thiêu và tại nhà thờ họ đạo Lái Thiêu”. Nhà văn cũng cho biết thêm nhà thờ này “đầu tiên
lập tại chợ Cây Me có bàn thờ Chúa do Bá Đa Lộc xây dựng đơn sơ, từ 1771”.
Theo nhà thực vật học GS - TS. Đỗ Tất Lợi cũng đã cho biết: “Cây măng cụt nguồn gốc ở
Malạysia, lndonesia, từ Malaccaqua Moluku, ngày nay bắt gặp khắp Đông Nam Á, ẤN Độ,
Myamar cũng như Sri-Lanka, Philippines được các nhà truyền giáo đạo Gia Tô di thực vào miền
Nam nước ta. Vvà như trên đã nói, các nhà truyền giáo phương Tây đã trồng thử nghiệm trên đất
Lái Thiêu, kết quả thật bất ngờ: Cây phát triển nhanh, chóng ra trái, sản lượng khá cao, mùi vị
thơm ngon đặc biệt hơn các nơi khác. Do vậy nông dân trồng nhiều loại cây quý này, biến Lái
Thiêu thành vùng đất chuyên canh nổi tiếng trong cả nước. Tuy không thể quả quyết “đây là vùng
có diện tích trồng cây măng cụt lớn nhất Đông Nam Á” như một tác giả Bình Dương đã khẳng
định, nhưng có thể nói chắc rằng: Vườn măng cụt Lái Thiêu là vùng chuyên canh hàng đầu và sớm
nhất ở ViệtNam. Đặc biệt về chất lượng, mùi vị thơm ngon của trái măng cụt ở đây ít có nơi nào
sánh kịp. Chẳng thế, viên tướng Pháp Sa lan, người đã sống việt Nam gần 30 năm (1924-1953) và
rất sành món ăn của Việt Nam - Đông Dương, đã hết lời tán thưởng trái măng cụt của Việt Nam
(Lái Thiêu): “Trái măng cụt nổi tiếng ngon phần múi cơm màu trắng bên trong, với người sành ăn,
đó là loại trái cây tuyệt diệu nhất ớ Viễn Đông” (nguyên văn tiếng Pháp: “Mangustans si
renommés, à la pulpe blanche ét savoureuse, le meilleur fruit de l'Extrême Orient pour les
connaisseurs”).
Cây măng cụt là loại cây lâu năm ở miền nhiệt đới, thuộc họ bứa (Guttiferae). Theo Tự
điển Bách khoa Việt Nam, cây măng cụt có 50 chi gồm hơn 300 loài phân bố ở vùng nhiệt đới ẩm.
Hiện Việt Nam có 5 chi, hơn 40 loài hầu hết được trồng ở phía nam, đặc biệt trồng thành vùng
chuyên canh ở Lái Thiêu, Bình Dương. Có lẽ do thích hợp với thổ nhưỡng, khí hậu nên trái măng
ở vùng này có hương vị đặc biệt thơm ngon hơn các vùng khác. Có người cho rằng tên măng cụt
có lẽ là do âm Việt đọc từ các từ Pháp là mangoustan, (tiếng Anh là mangosteen: trái măng cụt) và
mangoustanier (Pháp: cây măng cụt) mà ra. Tên khoa học gốc Latinh: Garcinia Mangostanal.
Người Hoa gọi măng cụt là trái sơn trúc tử hay mã cật. Còn sách “Đại Nam nhất thống chí” của ta
gọi là trái thổ lý và vua Minh Mạng lại gọi bằng cái tên đẹp “giáng châu tử” như đã nói ở trên.
Người Huế cũng gọi trái măng cụt là trái “giáng châu”.
75
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Cây măng cụt hiện nay không chỉ được trồng nhiều nơi ở Nam bộ, mà đã từ lâu trái măng
cụt đậm đà hương vị chân chất vườn quê Lái Thiêu Nam bộ, đã trở thành trái giáng châu đài các
trong các khu nhà vườn ở cố đô Huế. Có lẽ trái giáng châu ở Huế quý vì là loại trái ngon và hiếm
có nguồn gốc từ quê hương của những bà hoàng hậu phương Nam như bà Từ Du (Phạm Thị Hằng
ở Gò Công, mẹ vua Tự Đức); bà Tá Thiên (Hồ Thị Hoa ở Bình An, Thủ Dầu Một, mẹ vua Thiệu
Trị)... Nhưng ở Bình Dương cây măng cụt được trồng đại trà trên diện tích lớn có thể chiếm đến
hơn một phần ba diện tích vườn cây Lái Thiêu. Cùng với các loại cây ăn trái nhiệt đới khác, cây
măng cụt đã tạo nên khung cảnh miệt vườn Lái Thiêu xinh đẹp thơ mộng bạt ngàn màu xanh chạy
dài suốt mười ba cây số dọc theo bờ trái sông Sài Gòn. Trước đây, Lái Thiêu, Thủ Dầu Một là
công viên, miệt vườn của đô thị Sài Gòn - Gia Định và đã đi vào ca dao “Ghe anh nhỏ mũi trán
lườn. Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em”. Cái màu xanh miệt vườn yên ả đó có thời đã đi vào
thơ ca:
“Anh về đất rộng Bình Dương
Trái cây... và lá con đường cỏ xanh...”
(Bùi Giáng, “Anh về Bình Dương”, 1959)
Câu thơ bình dị êm nhẹ và khoáng đãng kia của nhà thơ lãng du Bùi Giáng, trong một lần
ghé đến Bình Dương, đã mở ra một khoảng không thăm thẳm miên man màu xanh miệt vườn...
Vườn cây với nụ xanh, trái chín, mương rạch giao nối sông ngòi, những sinh hoạt lâu đời thường
nhật của nhà vườn: ươm trồng chăm bón, rồi thu hái, người mua kẻ bán, khách thăm vườn, người
thưởng thức trái ngon vị ngọt... đã tạo nên một không gian riêng; không gian “văn hóa miệt vườn”
nhất là vào những ngày mùa trái chín, ngây ngất mùi sầu riêng, nồng nàn mùa măng chín. Nhìn
màu tím sẫm của trái măng chín đầy nắng ấm của trời phương Nam -Bình Dương bất giác nghĩ
đến cái kỳ diệu của tự nhiên, nghĩ đến cũng là màu tím sẫm ấy của trái giáng châu ở mùa đông xứ
Huế.
Trở lại vườn trái cây Lái Thiêu, Bình Dương, vườn cây trái gắn liền với làng quê của nhiều
thế hệ gia đình, nên người sinh trưởng ở đây khi phải xa làng vẫn thường nhớ về cái không xanh
dịu ngọt ngào mùi vị vườn quê. Trong truyện ngắn “Làng tôi” nhà văn Lý Lan, quê Lái Thiêu, đã
nói thay những cảm xúc khi nhớ về cái không gian vườn quê ấy: “Tôi nhớ mãi khi làng có giỗ,
khách nơi khác đến dự tiệc đều xuýt xoa khen bánh trái vùng này ngon. Các bà, các dì chỉ nói nhờ
nước ở vùng này tốt, đất cũng lành. Tôi nhớ chưa từng có bão giông, hạn hán hay lụt lội gì ở làng
tôi. Trong vườn măng cụt lúc nào cũng râm mát, nên con gái vườn da trắng nõn, mắt biếc, môi
son. Ở Sài Gòn người ta hát ca dao rằng.
“Tháng giêng mười sáu trăng treo
Anh sắm giường lèo cưới vợ Lái Thiêu”
*
“Mẹ mong gã thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh”
6.2 Bún tôm Bình Dương
Đây là loại bún vừa rẻ vừa ngon lại rất dân dã. Nét đặc trưng riêng của bún tôm Bình
Dương trước hết là ở cách thức làm bún. Bún tôm không phải là loại bún làm sẵn bán ở chợ hay
bún được mua ở các lò làm bún nổi tiếng. Người bán bún tôm làm bún ngay tại chỗ tức là khi có
khách vào, chủ quán mới bắt đầu ép bột gạo đã làm sẵn và hấp trong nồi nước sôi đó vậy sợi bún ở
đây trong nhỏ, mềm và trong vắt, tôm dùng để làm bún tôm là những con tôm tươi, còn sống được
bắt từ ao, đầm. Con tôm ở đây trông bụ bẫm và thịt săn, rất ngọt.
Người ta giã nhuyễn tôm sống đã lột vỏ, sau đó nhúng sơ vào nồi nước đang ở độ sôi cho
bún vào tô, chế nước dùng để xào bún vào ngay sau đó, rắc một ít tiêu bột, một ít bột ngọt, một ít
76
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
hành hương. Thế là đã có ngay một tô bún tôm nóng hổi. Bún tôm được ăn kèm với bánh tráng
gạo nướng.
6.3 Trái cây Lái Thiêu
Từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm là mùa trái cây chín rộ, du khách đi chơi vườn Lái Thiêu
sẽ được tận hưởng không khí trong lành của vườn cây trải dài tít tắp và được thưởng thức các loại
trái cây ngon như măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, mít tố nữ, vú sữa... Du khách có thể xuống
thuyền dạo chơi trên sông Sài Gòn mà ngắm cảnh vườn cây... Lợi điểm của Lái Thiêu là ở sát cạnh
Thành phố Sài Gòn, hai điểm trung tâm chỉ cách nhau chừng 20km. Trái cây ngọt của Lái Thiêu
đã hấp dẫn các bạn trẻ đến nỗi nếu đi xe đạp, thì cũng chỉ mất không quá một tiếng đồng hồ. Đến
đây, Du khách có thể vào vườn mua trái cây bằng cách hái tại chỗ ăn hoặc đem về, hay mua ở các
hàng quán chuyên bán trái cây ở khắp Lái Thiêu.
6.4 Canh chua lá dang thịt gà
Thành phần chính của món này là thịt gà và lá dang.
Lá dang là một loại dây leo hoang dã ở rừng, có khi mọc trên các sườn đồi. Lá có vị chua
rất thanh, cái chất chua người Nam bộ gọi là "đằm thắm" chứ không gay gắt như khế, như chanh
hay một số trái cho vị chua khác. Lá dang già thì vị chua cũng giảm đi và bắt đầu có vị chát, nấu
ăn sẽ kém ngon. Bởi thế, lá dang non chính là thứ lá mà các bà nội trợ cần tìm để có được món
canh chua lá dang hấp dẫn.
Khi chọn gà để chế biến thì nên chọn giống gà quê, nuôi thả rong. Giống gà này sẽ cho thịt
săn chắc, ngọt hơn hẳn các giống gà công nghiệp. Sau khi làm gà xong, ta chặt thành miếng to,
ướp ớt, muối, rồi bỏ vào chảo xào qua cho săn lại, ngấm muối mỡ rồi bỏ vào nồi nấu trước. Lượng
nước nhiều hay ít tùy vào số lượng người ăn nhưng chú ý không cho quá nhiều nước vì canh sẽ
không được ngọt thịt.
Rửa kỹ lá dang, nếu có ít lá dang thì nên dùng tay vò nhẹ để chất chua trong lá tiết ra được
nhiều hơn chứ không nên thái nhỏ vì sẽ làm mất vẻ đẹp của món ăn. Chờ nước sôi được một lúc
lâu, thịt gà chín mềm mới bỏ lá dang vào, chao kỹ và nhắc xuống, nêm bằng nước mắm ngon, nêm
nếm cho vừa ăn. Vị cay the của vài lát ớt quyện với vị chua của lá dang sẽ làm cho nồi canh thêm
hấp dẫn. Để cho thơm canh, trước khi nhắc xuống, có thể cho thêm hành, húng quế hoặc ngò om;
trong số đó, húng quế và ngò om được nhiều người cho là ngon và thích hợp nhất.
Món canh chua lá dang này mà được dùng chung với cơm nấu từ gạo nàng hương thì thật
khó gì sánh bằng. Cơm dẻo thơm cộng với vị chua ngọt của canh, vị the của ớt, mùi hương của rau
ngò om sẽ quyện lại tạo nên một món ăn thật hấp dẫn. Ngoài ra, món canh chua này cũng được
dùng chung với bún tươi với canh chua được đựng trong lẩu để vẫn giữ cho canh được luôn nóng
khi dọn lên bàn ăn.
6.5 Mắm chua - đậu rồng - bắp chuối
Để làm mắm, sử dụng cá lòng tong, cá rễ tre, cá đỏ đuôi, nói chung là cá con đem đi chà
nhớt bằng muối, xả cho sạch, trộn với thính xong xuôi đem gài vào hũ, bịt kín miệng hũ lại, đem
phơi nắng khoảng 10 ngày đợi cho mắm chín. Khi mắm chín tới, đem pha thêm giấm, đường, tỏi
giã nhỏ, tiêu già sống còn trên chuỗi. Đậu rồng non, giòn, thơm, béo, có khả năng "bắt" mắm chua
và "trang hoàng" vị giác nếu phải ăn theo cách "gắp mắm để lên lưng rồng" rồi mới ăn.
Bắp chuối phải là thứ chuối hột, ít chát, ít đắng, lấy tay lột nhẹ các bẹ ngoài để lộ màu
trắng ra rồi cũng dùng tay bóp mạnh cho bể bắp chuối xong cũng ăn kèm với mắm chua nghe
"giòn rụm" khoái cả lỗ tai.
Món này cũng để ăn với cơm. Còn như để cuốn bánh tráng thì phải có thịt ba chỉ luộc, có
thêm bún. Mắm đi chung với thịt luộc - bắp chuối tức là mặn đi với béo - chát, ba vị này hòa
quyện với nhau để tạo nên một món ăn rất ngon và đậm đà.
77
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
6.6 Đậu khèo
Đây là món ăn chơi, có từ thời kháng chiến và trở thành đặc sản của miền Đông Nam Bộ.
Đậu phộng hạt phơi khô, bỏ vào chảo với ít mỡ rồi cho lửa cháy liu riu. Chảo nóng dần, mỡ nóng
theo, dầu trong hạt đậu phộng cũng nóng lên và nổ lách tách rồi dứt. Chờ vài phút, đậu sẽ bốc mùi
thơm, hạt đậu đã đủ vàng thì rắc muối hạt hay một muỗng nhỏ nước mắm ngon cho có vị mặn, rồi
nhắc xuống đổ đậu khèo ra đĩa, đợi nguội, hạt đậu hóa giòn tan béo đậm.
Sở dĩ món này được gọi là đậu khèo là do tiếng reo của chảo mỡ đậu khi đổ nước mắm
vào, là cách gần như đổ đậu hột vào chảo để nướng đậu. Món đậu khèo này nhậu với bia thì thật
tuyệt.
6.7 Bò xào lá dang
Thịt bò tươi thái mỏng ướp gia vị. Lá dang non xắt thành sợi nhuyễn. Sau khi xào thịt bò
cho săn lại thì bắt đầu bỏ lá dang vào. Xào thêm chút nữa và chú ý không nên để quá lâu nhằm
tránh cho lá dang bị nhừ. Nêm nếm cho vừa ăn. Rắc thêm một ít tiêu xay nhuyễn. Vị chua của lá
dang kết hợp với vị thơm ngọt của thịt bò và cay nồng của tiêu sẽ tạo nên một vị thơm rất đặc
trưng.
6.8 Bánh tét
Bánh tét, tương truyền chính là bánh "Tết" vì được làm và ăn vào những ngày Tết. Trong
miền Nam, ngày Tết không thể không có bánh tét, như ngoài Bắc không thể thiếu bánh chưng vậy.
Về cơ bản, bánh tét ở các vùng đều giống nhau, đều được làm từ nếp và gói bằng lá chuối rồi đem
đi nấu chín. Nhưng mỗi vùng đều có những đặc điểm riêng do sản vật, hoa trái ở mỗi vùng khác
nhau.
Ngày nay, bánh tét phong phú, muôn hình muôn vẻ. Cũng nếp cái, cũng thịt mỡ, đậu xanh
nhưng mỗi nơi bánh tét đều ít nhiều mang những hương vị riêng của từng vùng đất. Tại Bình
Dương, nhân hạt điều được trộn thêm vào nếp nên khi thưởng thức, ngoài cái dẻo thơm của nếp,
người ăn còn cảm nhận được vị bùi của nhân hạt điều. Ngoài ra, một số mẹ, một số chị em còn
khéo léo trộn một lượng tôm khô vừa đủ vào nếp để khi ăn vào, chúng ta còn thưởng thức được vị
mằn mặn, đậm đà của con tôm khô.
Để bánh tét được ngon thì nếp phải được vo thật sạch, để cho ráo hết nước, đậu xanh phải
cà vỡ đôi, đãi sạch hết vỏ. Thịt mỡ cắt miếng dài, vuông góc ướp với muối, đường, hành một đêm
trước khi gói để gia vị có đủ thời gian thấm vào mỡ, giữ cho mỡ được cứng. Khi gói phải vỗ đều
tay cho nếp chặt lại để cho đòn bánh được thẳng đẹp; nhưng chú ý cũng không được gói quá chặt
vì làm bánh khó chín. Bánh được gói bằng lá chuối; tại một số nơi trong tỉnh, người ta còn gói
thêm bên ngoài bằng một lớp lá dứa (loại dứa gai có lá to mọc nhiều theo bờ suối) làm cho các
đường nét của đòn bánh trở nên vuông vức, đẹp mắt và trông thật trang trọng trong những ngày
Tết.
Ngoài nhân mặn, bánh tét còn có thể chế biến với nhân ngọt bằng đậu xanh trộn với đường,
dừa nạo hoặc chuối sứ. Loại này thường dùng cho người ăn chay.
Khi ăn, phải cắt bánh tét bằng chính sợi dây chuối hoặc dây lạt buộc nó thành từng khoanh
thì ăn mới ngon và đúng điệu. Ngày Tết, tét bánh tét thành từng khoanh bày ra đĩa, dọn lên bàn với
thịt kho, trứng vịt, hành, kiệu để đãi khách thì thật là quý.
6.9 Bánh bò bông
Để làm bánh bò bông, người ta lấy gạo vo sạch, rắc một chút muối trộn đều, "gút" sạch,
ngâm mước một đêm cho mềm hạt gạo. Sáng hôm sau dùng đường cát trắng để tạo cho ổ bánh
trắng như bông và dùng men cơm rượu bóp nát trộn vào gạo đã ngâm rồi đem xay nhyễn. Bột gạo
phải được xay ba lần mới đạt tiêu chuẩn mịn và bánh mới được ngon.
78
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Bột xay xong, lấy vải mỏng lọc thật kỹ rồi đậy kín ủ đúng một buổi đợi khi thấy có bọt khí
nổi đều thì bỏ vào nồi hấp. Bánh thành phẩm đạt yêu cầu chất lượng là thứ bánh trên nở trắng như
bông, trong thân bánh có "rễ tre", khi ăn vào thì cảm nhận được vị ngọt và hương thơm của bánh.
Ngày nay, thay vì đùng men rượu để tạo độ nở, người làm bánh đã có bột nở calument hay
veceno là hai chất làm cho bánh xốp nở đều và mau hơn.
Thế nhưng, những người ngại dùng các chất hoá học thì vẫn cứ thích bánh bò đổ bằng men
rượu hơn vì bánh bò dùng men cơm rượu ủ dậy tự nhiên có mùi dễ chịu hơn bánh bò dùng bột nở
mặc dù trông nó phổng phao xốp nhẹ và có vẻ to trắng đẹp hơn.
6.10 Cải mả - thủ lợn, đặc sản Bình Dương
Thủ lợn sau khi đã luộc chín còn nóng hôi hổi, được phạt làm đôi, đặt lên đĩa và chờ khách
gọi. Khách đến quán gần như ai cũng hô câu: "Cho cải mả đi bà chủ". Thế là nhanh thoăn thoắt
những cái bán thủ heo kia được bưng ra bốc hơi nghi ngút. Nhìn cái đầu lợn nằm ngoan ngoãn
trong đĩa, mồm ngoạc ra vẫn còn nguyên răng lợi, có con thì con ngươi còn mở trừng trừng, có con
mắt lại ti hí.
Càng ăn, thịt càng cạn, xương chơ ra, thế là người ta phải đưa dĩa vào sâu hơn trong não để
ngoáy, để ghè, để moi những miếng óc cuối cùng. Lúc đó thật sự như là những bác bốc mộ thuê
với cuốc, thuổng, xẻng trong tay. Có lẽ cái tên của món ăn ra đời từ đấy. Ăn kèm chỉ có bát nước
chấm pha chế từ nước mắm với nước trắng cho nhạt bớt và cút rượu để đưa mồi.
6.11 Bánh bèo bì chợ Búng
Bánh bèo chợ Búng ở Bình Dương ngon đặc biệt nhờ có bì heo ram với nước dừa. Bánh
màu trắng, ăn kèm với đồ chua và rau sống rất ngon miệng. Khác với các loại bánh bèo khác, bánh
bèo bì chợ Búng được làm từ loại gạo đỏ đặc sản. Muốn đổ bánh bèo thật ngon phải quấy cho
nhuyễn tới khi các hạt gạo tan thành bột đặc quánh trong nồi. Quấy được nồi bột với nước cốt dừa
ưng ý xong mới đổ vào khuôn bánh bèo rồi đem hấp chín. Công đoạn tiếp theo là đãi đỗ xanh ninh
làm nhân phết trên mặt bánh.
Bánh bèo ngon phụ thuộc vào bì và nước chấm. Bì là hỗn hợp thịt heo xắt mỏng, thêm gia
vị là tỏi và bột canh. Thịt heo phải lựa thịt đùi ngon bọc da chung quanh, ram gần vàng. Nước dừa
cho vào nồi để lửa riu riu cho nước dừa ngấm vào thịt mới thơm. Kế tiếp là nước mắm, gia vị tưới
lên bánh bèo, bún bì hoặc là nước chấm cho món bì cuốn. Khi ăn, sắp bánh bèo vào đĩa kèm thêm
dưa chua hoặc kiệu muối, rau thơm, giá, rắc đậu phộng giã nhuyễn rồi chan nước mắm vô.
Ngày nay, bánh bèo gắn liền với địa danh chợ Búng bởi nơi đây đã làm nên thương hiệu
cho bánh bèo bì đất Bình Dương. Từ bánh bèo, dưới bàn tay pha chế và óc sáng tạo, các nghệ nhân
nấu ăn đã sáng tạo thêm hai món mới từ bì, góp phần làm cho bữa tiệc bánh bèo thêm phong phú:
bì cuốn và bún bì.
Đến Bình Dương bạn có thể ghé vào hai quán Mỹ Liên nằm sát quốc lộ 13, gần ngã ba Cầu
Cống, hay quán Ngọc Hương trước cửa chợ Búng. Có thể nói, khi nhìn hàng nghìn chiếc bánh
trắng phau phau nằm trên đĩa và hàng rổ bì thái đều tăm tắp, sợi nào cũng giống sợi nào, khiến ai
từng nhìn thấy cũng muốn được thưởng thức hương vị của nó.
6.12 Gà quay xôi phồng
Gà quay thường ăn chung với bánh bao, xôi đậu xanh, nhưng ở nhà hàng nổi Bình Dương,
món gà quay được ăn kèm với xôi phồng. Xôi có nhiều loại: xôi đậu đen, đậu xanh, đậu phộng, xôi
gấc, xôi cúc. Vật liệu chính để tạo xôi là gạo nếp và tuỳ loại xôi chỉ cần gạo nếp. Một đĩa xôi
phồng tròn to chiên vàng đều đặn đặt bên cạnh một đĩa gà quay chín thơm, béo, ai trông thấy cũng
muốn ăn. Giá một đĩa xôi phồng chỉ từ 15 đến 20 ngàn đồng, ai qua Bình Dương đều không bỏ
qua món ăn đặc sản này.
79
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Vật liệu làm xôi được tán nhuyễn chung với dầu ăn, thêm một chút đường và đặc biệt
không có bột nổi. Tuỳ theo đĩa lớn, đĩa nhỏ, đầu bếp ngắt một miếng xôi này với lượng vừa đủ rồi
bỏ vào chảo dầu sôi, nấu bằng lò khè, miếng xôi bỏ vào chảo dầu được đảo tròn đều và ép sát
xuống đáy chảo bằng hai cây giá bếp.
Khoảng 5 phút sau, miếng sôi bắt đầu phồng lên, lúc này hai tay đầu bếp phải thật khéo
léo, nếu không phồng xôi sẽ bị méo, bể, hoặc xôi không ly tâm ra ngoài vỏ đều được, bị dồn cục
giữa phồng xôi. Xôi chín vàng không đều hoặc bị cháy là không đạt chất lượng. Thời gian chiên
phồng từ 10 đến 15 phút.
6.13 Món bún riêu lưỡi
Du khách đến Bình Dương thường phải mềm lòng trước những vườn trái cây trĩu quả của
vùng đất Lái Thiêu hay món bánh bèo bì chợ Búng trứ danh, đó là chưa kể đến món cháo gỏi vịt
Cu Chì từng khiến nhiều cư dân Sài Gòn lặn lội quãng đường gần trăm cây số đến để thưởng thức.
Song, đặc sản Bình Dương vẫn còn những góc khác, bình dân và lạ lẫm, cũng đáng để thử đôi lần
khi đặt chân đến nơi này…
Quán bún không tên ấy nằm trên đường Lò Chén, phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu
Một, chỉ bán về buổi chiều. Vậy mà bất kỳ dân sành ăn nào ở Bình Dương cũng có thể mách
đường cho bạn tìm đến tận nơi. Thực khách ngồi chật trên bậc thềm cao, trên những bộ bàn ghế
nhựa thấp.
Người phục vụ mang đến một khay nhựa có chén ớt đầy, tô mắm tôm đặc lềnh cùng đĩa
chanh tươi xanh. Trong khi chờ đợi tô bún được mang đến (khoảng mười phút), khách chậm rãi
lấy cái chén múc mắm tôm, thêm muỗng ớt rồi vắt chanh, dùng thìa nhỏ đánh đều. Chén mắm tôm
có thêm vị chanh chua liền nổi bọt và dậy mùi thơm, đầy kích thích vị giác.
Trên quầy hàng, những cái lưỡi heo cuộn tròn được chế biến theo kiểu thịt xíu sắp đầy trên
một cái mâm. Lưỡi heo chỉ được cắt trước khi sắp vào tô thành từng miếng dày, nhìn đúng kiểu
“chén to kho mặn”, cắn ngập răng! Khách có thể kêu tô bún riêu riêng và một đĩa lưỡi riêng, hay
cũng có thể cho hết mọi thứ vào một tô tùy thích.
Khởi động bằng cách gắp miếng lưỡi, chấm mắm tôm chanh. Miếng lưỡi mềm, dẻo lẫn
chút dai dai. Nhai để tận hưởng vị ngọt của lưỡi heo cộng thêm vị mặn, cay, chua đặc trưng của
mắm tôm! Sau khi “lấy đà” thì đến phần khám phá tô bún tuy vẫn mang hương vị riêu bình
thường, nhưng như là bản hòa ca của vị ngọt từ hỗn hợp thịt, xương, lưỡi, đậu hũ và cả cách nêm
nếm như một bí quyết riêng của nhà hàng.
6.14 Đặc sản dê núi Anh Đức
Y học cổ truyền Việt Nam đã công nhận lợi ích và tác dụng của thịt dê đối với sức
khỏe con người, vì vậy quán ăn Đặc sản Dê Núi Anh Đức ra đời nhằm phục vụ cho nhu cầu ẩm
thực và sức khỏe cho người dân tại địa phương.
Yếu tố quan trọng tạo nên uy tín của quán trong nhiều năm nay chính là đặc sản Dê Núi
chính hiệu, tươi ngon, đảm bảo không pha trộn với các loại thịt khác.
“Thức ăn ngon - Vị thuốc quý” là câu nói mà người dân thường dùng khi nhắc đến thịt Dê
bởi lẻ hầu hết các bộ phận cuả Dê như : thịt, xương, nội tạng.. đều có thể làm thuốc chữa bệnh:
- Thịt Dê (dương nhục) : Vị ngọt. tính ấm có công dụng bổ huyết, ích khí, ôn
tung, noãn thận. Dùng chữa các chứng thiếu máu, gầy yếu, suy nhược cơ thể,
chán ăn, đau bụng do hư hàn hoặc suy giãm khả năng tình dục.
- Xương Dê (dương cốt): Vị ngọt, tính ấm có công dụng bổ thận, cường gân cốt,
chữa phong thấp, gầy yếu do lao lực, đầu chông, mắt hoa, đau lưng mãn tính.
80
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
- Tinh hoàn Dê (dương thạch tửu): Vị ngọt, mặn. có tính bình, công dụng bổ thận,
tráng dương, ích tích chữa đau lưng do thận hư, di tinh, liệt dương, khí hư, sa đì,
tiểu đường..
- Thận Dê (dương thận): Vị ngọt, tính bình có công dụng bổ thận khí, chữa liệt
dương, xuất tinh sớm,gầy ốm, suy nhược, gầy yếu, hậu sản..
- Gan Dê (dương gan): Vị ngọt, tính bình có công dụng bổ huyết, ích gan, làm sáng
mắt, chữa đau đầu, chóng mặt, mắt đỏ..
- Tiết Dê (dương huyết): Vị mặn. tính bình, công dụng chữa thổ huyết, xuấ huyết,
chảy máu cam, cầm máu vết thương.
Với thực đơn phong phú, đa dạng sẽ cho khách có nhiều lựa chọn như: Ngọc Dương tiềm,
Ngọc Dương nấu cháo, Ngọc Dương hấp tiết canh Dê, cari Dê, Dê nướng mọi, Dê nướng mẻ,
sườn Dê nướng, Dê né bơ….thưởng thức món ăn từ thịt Dê và nhấm nháp vài ly rượu thuốc cổ
truyền do quán tự pha chế, thực khách sẽ cảm nhận được những nét tinh túy nhất của ẩm thực Viêt
Nam.
Quán đặc sản dê núi Anh Đức còn là địa chỉ thư giãn lý tưởng của thực khách. Với không
gian rộng, gồm ba khoảng riêng biệt. Không gian sân vườn với nhiều cây xanh, các bàn ăn được
bày trí dưới bóng cây xanh mát, hòa mình giữa thiên nhiên với gió mát, nắng vàng, có bãi để xe
hơi rộng rãi là nơi thích hợp cho những buổi họp mặt thân mật hay gặp gỡ bạn bè.
Kết hợp với đội ngũ đầu bếp có tay nghề cao, nhiều năm kinh nghiệm, đội ngũ nhân viên
phục vụ lịch sự, nhiệt tình, chu đáo… đặc sản dê núi Anh Đức là điểm đến lý tưởng cho những
thực khách sành ăn
6.15 Hạt điều
Hạt điều lâu nay vốn được xem là một trong những món ngon ngày tết không chỉ bởi vị
béo, thơm ngon, giòn rụm mà còn bởi những dưỡng chất cần thiết cho cơ thể có chứa trong
hạt. Hạt điều được sử dụng nhiều nhất là để rang, tẩm muối hay trộn với đường mạch nha, kẹp
giữa 2 lớp bánh tráng giòn xốp, dùng để ăn khi nhâm nhi chén trà nóng.
Được lấy từ hột của quả điều, đem phơi nắng nhạt rồi tiếp tục hong khô trước khi đưa vào
chế biến, hạt điều Bà Tám Bình Dương có hương thơm đặc trưng, vị ngọt, bùi… sẽ là món ăn chơi
thú vị mà người lớn, trẻ con đều ưa thích.
Thương hiệu Bà Tám Bình Dương nổi tiếng trên thị trường hơn 20 năm nay, với giá cả rất
kinh tế , chất lượng, mẫu mã vượt trội so với các chủng loại hạt điều hiện nay trên thị trường - Sử
dụng nhân điều nguyên hạt cấp hạng cao (W320), tỷ lệ hạt nguyên 90%, được vệ sinh tuyệt đối
(không có bụi bặm).
Điểm nổi bật của hạt điều Bà Tám Bình Dương là 100% được chọn lựa kỹ. Hạt to, tròn
đều, chắc, không bị vỡ, không xốp. Hạt điều được rang thủ công nhằm giữ lại những vị ngon nhất
với quy trình sản xuất và chất lượng được kiểm soát chặt chẽ. Khi rang lên, hạt điều có hương vị
thơm ngon, ngọt, bùi, rất quyến rũ.
Thành phần dinh dưỡng: Hạt điều có 35-46% dầu; 5,25% protein; nhiều Vitamin B1, B2,
B3, vitamin C, kali…
Sản phẩm được sản xuất bằng máy móc thiết bị hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu và
an toàn vệ sinh thực phẩm, mang lại sức khoẻ cho người sử dụng.
Sản phẩm sản xuất bằng công nghệ hấp hơi nước giúp sản phẩm giữ được chất lượng và
hương vị tự nhiên, không bị nhiễm dầu, sạch sẽ tuyệt đối, đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm
GMP/HACCP.
6.16 Nem Lái Thiêu
81
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Nem Lái Thiêu có vị thơm ngon, dẻo dai, vị chua nhẹ, khô mềm của thịt quyết nhuyễn
khiến nem Lái Thiêu trở nên đặc biệt hơn so với các loại nem khác.
6.17 Bánh tráng Phú An
Bánh tráng Phú An là đặc sản nổi tiếng của người dân An Tây, Phú An, bánh có màu trắng
mền, dẻo dai tạo nên thương hiệu của vùng đất này.
6.18 Gỏi măng cụt
Gỏi măng cụt: là món ăn đặc biệt, những múi măng trắng ngần ngòn ngọt, chua thanh nhẹ,
dòn trộn với thịt ba chỉ, tép luộc, rau thơm, nước mắm chua ngọt,...tạo thành hương vị gỏi vừa thân
quen, vừa lạ miệng.
6.19 Một số điểm ăn uống tại Bình Dương
- Nhà hàng Như Ý
333 Đại lộ Bình Dương, Phú Thọ, Tx. Thủ Dầu Một
- Nhà hàng Thanh Cảnh
Ấp Đông, Vĩnh Phú, huyện Thuận An
- Nhà hàng Ngọc Sương Biển Nhớ
Đại lộ Bình Dương, Phú Hòa, Tx. Thủ Dầu Một
- Nhà hàng nổi Bình Dương
50 Bạch Đằng, thị xã Thủ Dầu Một
Tel: (84-650) 382 2749
- Nhà hàng Bông Sen
15 Trừ Văn Thố, Tx. Thủ Dầu Một
Điện thoại:(0650)822137
- Nhà hàng Kiến Hoành
168 QL 13, Ấp Trung, Xã Vĩnh Phú, huyện Thuận An
- Nhà hàng Vu Gia
A54-K1 Đại lộ Bình Dương, Thị xã Thủ Dầu Một
- Quán ăn gia đình Hai Thành
7 Nguyễn Chí Thanh, Hiệp An, Thị xã Thủ Dầu Một
- Làng Ẩm Thực Bình Dương
9/14L Đại lộ Bình Dương, Thị Xã Thủ Dầu Một
- Nhà hàng Phương Nam
15/12 Ấp Trung, Xã Vĩnh Phú, huyện Thuận An
- Nhà hàng Đại Hòa Viên
11A Đại lộ Bình Dương, Thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An
Tel:(0650)718789
- Nhà hàng Đại Trung Nam
4/162 ấp Hòa Lân, xã Thuận Giao, huyện Thuận An
Tel:(0650)717105
82
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
- Nhà hàng 90 Cầu Ngang
90 Hưng Lộc, xã Hưng Định, huyện Thuận An
Tel: (84-650) 374 6347
- Nhà hàng Hoàn Hảo
Đông Hiệp, huyện Dĩ An
Tel: (84-650) 375 1520 / 375 1046
- Nhà hàng Huy Hoàng
Ấp 1B, Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát
Tel: (84-650) 356 2676
- Nhà hàng Ngọc Sương Biển Nhớ
Đại lộ Bình Dương, Phú Hòa, Tx. Thủ Dầu Một
Tel: (84-650) 382 0859
- Nhà hàng Thịnh Phát
Ấp 3, Phú An, huyện Bến Cát
Tel: (84-650) 356 2256
- Cà phê May
13 Ngô Quyền, Tx. Thủ Dầu Một
Tel: (0650) 382 0134
- Ngân Đình Quán
Đường S1, Khu công nghiệp Mỹ Phước 2, huyện Bến Cát
Tel: (0650) 3553777
- Quán ăn TÂN SAKÊ
Cầu Bà Cô, Xã Tương Bình Hiệp, Tx. Thủ Dầu Một
Tel: (0650) 3713827
- Cà phê Roma
Ngã 4 Hòa Lân, Đại lộ Bình Dương, Xã Thuận Giao, Huyện Thuận An
Tel: (0650) 3716281
- 1131 Cafe
39/3 Hùng Vương, Thị Xã Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương.
Tel: (0650) 3827719
- Cà phê Thùy Linh
126/3 Ngô Quyền, thị trấn Lái Thiêu, Bình Dương.
Tel: (0650) 3743319/ 3759786
- Quán ăn gia đình Hai Thành
07 Nguyễn Chí Thanh, Hiệp An, Tx. Thủ Dầu Một
Tel: (0650) 3887640
83
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
13. Sản phẩm lưu niệm
7.1 Gốm sứ Minh Long I
Công ty TNHH MINH LONG I
Văn phòng đại diện: Minh Long Tower
17, Bà Huyện Thanh Quan, P.6, Q.3, TPHCM
Tel: 08.39302634 - 39302635
Fax: 08.39302625
Web: www.minhlong.com
Email: sales@minhlong.com
Nhà máy:
333 Quốc lộ 13 - ấp Hưng Lộc - xã Hưng Định - Thuận An - Bình Dương
Tel: 84 650 3722929 - 3724172
Fax:84 650 3724173
Showroom:
Minh Sáng Plaza, 888 - Quốc lộ 13 - H.Thuận An - Bình Dương
Tel: 84 650 3784576 - 3784577
Fax: 84 650 3784579
Công ty TNHH Minh Long I được nhiều biết đến không chỉ ở phạm vi khu vực châu Á mà
còn lan sang cả châu Âu. Các sản phẩm gốm sứ của Minh Long sẽ tiến xa hơn nữa và chinh phục
thị trường châu Mỹ trong tương lai. Minh Long được sáng lập vào năm 1970, bởi ông Lý Ngọc
Minh - một nghệ nhân có niềm đam mê cháy bỏng với các sản phẩm gốm sứ. Ông Lý là thế hệ thứ
3 trong một gia đình có truyền thống làm đồ gốm sứ mỹ nghệ. Học hỏi kinh nghiệm và kỹ thuật
sản xuất đồ gốm sứ từ những người đi trước cùng với việc không ngừng tìm tòi, học hỏi những kỹ
thuật tiên tiến nhất, ông cho ra đời những sản phẩm với chất lượng cao nhất. Chính những nỗ lực
đó đã làm nên tên tuổi của Minh Long ngày nay.
Các thiết kế luôn tập trung vào những điều thiết yếu như việc gần gũi với thiên nhiên.
Chính điều này đã mang lại sự cân bằng trong cuộc sống, đồng thời cũng là mong muốn đưa sản
phẩm Minh Long đến gần hơn với mọi người, mọi nhà. Minh Long cho rằng, một thiết kế đẹp phải
là một thiết kế mang lại một ấn tượng mạnh cho người đối diện và quan trọng hơn là cả chính bản
thân nó phải toát lên được điều đó. Việc tạo ra những mẫu mã vừa thuận lợi trong việc sử dụng
hàng ngày, vừa mang lại niềm vui, sự thích thú cho người dùng chính là mục đích lớn nhất của
Minh Long. Không chỉ đem đến cho người tiêu dùng những sản phẩm mang tính mỹ thuật mà
Minh Long I còn là những sản phẩm an toàn cho sức khoẻ người sử dụng. “Sản phẩm sứ chất
lượng cao không chỉ: trắng, tròn, trong và mỏng, mà còn phải thoả mãn độ bền cơ học và đặc biệt
là phải tuyệt đối an toàn”. Nói về những giá trị cốt lõi của Minh Long 1, cũng là tâm huyết tạo nên
những sản phẩm gốm sứ vừa có kỹ thuật cao, vừa mang tính nghệ thuật, đủ sức cạnh tranh với
những nền gốm sứ nổi tiếng thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp, Anh, Đức.... Ngoài kỹ
thuật cao ra, các sản phẩm gốm sứ còn phải mang được chất tinh tú và phải toát lên được “hồn”
Việt.
Đặc tính đầu tiên mà khách hàng có thể cảm nhận ngay bằng trực quan là vẻ đẹp đẽ và
sang trọng bởi sự sáng, bóng và trong trẻo trên sản phẩm sứ của Minh Long I mang lại. Sự khắt
khe trong việc chọn lọc nguồn nguyên liệu thô đầu vào; sự đầu tư “mạnh mẽ” vào trang thiết bị,
máy móc hiện đại và ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất để sản xuất đã cho kết quả tương xứng.
Đây là đặc tính không dễ dàng tìm thấy được trên những sản phẩm cùng loại. Điều này không chỉ
84
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
tạo sự hài lòng cho người sử dụng mà còn tăng niềm hãnh diện của người chủ sở hữu. Nếu nét
bóng bẩy bên ngoài thu hút mọi người thì đặc tính bền, khó bể mẻ, trầy xướt của sản phẩm lại
chinh phục được cả những khách hàng khó tính, nhất là khách hàng có kinh doanh nhà hàng. Tần
suất sử dụng cao, thường xuyên va chạm nhưng không muốn sản phẩm bị mẻ hay trầy, có thể sử
dụng lâu dài - mối quan tâm rất lớn của nhóm khách hàng này - đã được đáp ứng thỏa đáng khi sử
dụng những sản phẩm của Minh Long I (được nung ở nhiệt độ cao 1.380o
C và sử dụng những
nguyên liệu tốt nhất nên rất bền, chắc).
Trong những năm gần đây, Minh Long I đã ứng dụng thành công công nghệ Nano1
trong
sản xuất sản phẩm, làm cho bề mặt sản phẩm trở nên láng, mịn, dễ rửa, không bám dầu mỡ. Đây
có thể xem là bước đột phá lớn trong công nghệ sản xuất của Minh Long I và tin vui cho các khách
hàng vì không cần sử dụng nhiều đến chất tẩy rửa, góp phần tiết kiệm chi phí.
Sản phẩm của gốm sứ Minh Long I rất đa dạng về thể loại, từ cao cấp đến bình dân với
những thiết kế tinh tế đến từng chi tiết. Đó là những bộ sưu tập mang phong cách châu Á quý phái,
châu Âu cổ điển với một vẻ đẹp vô thời gian. Những thiết kế mang nét hoa văn và kiểu dáng đậm
chất hoàng cung hay những bộ gốm sứ theo chủ đề các loài hoa (hoa sen và hoa loa kèn). Những
bộ sưu tập ca từ trơn đến có hoa văn nhẹ nhàng, phong phú, mô tả cuộc sống sinh hoạt của các tộc
người thiểu số, cuộc sống ở làng quê Việt Nam và những nét vẽ 12 con giáp dễ thương. Ngoài ra
còn có những sản phẩm lưu niệm nho nhỏ dễ trao tặng nhau như bộ tượng các tộc người Việt Nam,
bộ tượng Phúc Lộc Thọ, Tây Du Ký...
1
Công nghệ Nano: là công nghệ siêu vi hình hóa, có kích thước và dung sai trong dải từ 0,1 nm tới 100 nm, đang
được nghiên cứu ở các nước phát triển và sẽ tạo ra bước nhảy vọt mới về công nghệ trong tương lai. Những sản phẩm
chế tạo bằng công nghệ Nano có các đặc tính siêu việt như nhỏ hơn, nhanh hơn, bền hơn hoặc thêm nhiều đặc tính
hoàn toàn mới so với các thiết bị được chế tạo trên nền tảng công nghệ hiện nay
85
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
BÌNH PH CƯỚ

XII. V TRÍỊ
Bình Phước là một tỉnh miền núi ở phía Tây của vùng Đông Nam Bộ, phía Đông giáp tỉnh
Lâm Đồng và Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Bình
Dương và phía Bắc tỉnh Đắk Lắk và Campuchia. Ngày 20/02/2003, Chính phủ ban hành Nghị định
số 17/2003/NĐ - CP về việc thành lập các huyện Chơn Thành, Bu Đông, thuộc tỉnh Bình Phước.
Như vậy, hiện nay tỉnh Bình Phước có 8 huyện, thị xã.
Diện tích: 6.874,62 km2
(2007)
Dân số: 874.961 người (2009)
XIII. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử
Dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, Bình Phước thuộc trấn Biên Hoà. Đến giữa thế kỉ XIX,
sau khi đặt ách đô hộ tại lục tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp đã chia Nam Kỳ thành bốn khu vực: Sài
Gòn, Mỹ Tho,Vĩnh Long, Bắt Xắc.
Bình Phước thuộc khu vực Sài Gòn, trong đó vùng đất phía Đông thuộc tiểu khu Biên Hoà,
vùng đất phía Tây Nam và phía Nam thuộc tiểu khu Thủ Dầu Một. Năm 1889, thực dân Pháp đổi
các tiểu khu thành các tỉnh, Bình Phước thuộc địa phận tỉnh Biên Hoà và Thủ Dầu Một, tồn tại cho
đến sau Hiệp định Geneve 1954 mà không có sự thay đổi nào đáng kể.
Từ năm 1956, chính quyền Sài Gòn thiết lập một số tỉnh mới ở miền Nam. Trong đó, có
hai tỉnh Bình Long và Phước Long là tiền thân của tỉnh Bình Phước ngày nay.
Ngày 30-01-1971, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập Phân khu Bình Phước.
Cuối 1972, Phân khu Bình Phước giải thể, tỉnh Bình Phước chính thức được thành lập.
XIV. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ
12. Địa hình
Địa hình vùng lãnh thổ Bình Phước là cao nguyên ở phía Bắc và Đông Bắc, dạng địa hình
đồi núi, thấp dần về phía Tây và Tây Nam.
Bình Phước là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Nam Bộ. Ở vào vị trí tiếp giáp giữa đồng
bằng và cao nguyên, phía Bắc và Tây Bắc giáp Cam-pu-chia, phía Đông giáp các tỉnh Đắk Nông
và Lâm Đồng, phía Nam giáp các tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, phía Tây giáp Tây Ninh. Đây là
tỉnh có nhiều rừng. Ở Đông Bắc có ngọn núi Bà Rá cao 733m và dãy núi thấp quanh Lộc Ninh,
còn lại là rừng bạt ngàn. Rừng rậm nhưng đất khá bằng phẳng. Phần lớn là đất đỏ nên trồng cây
công nghiệp rất tốt. Bình Phước là nơi có nhiều rừng cao su lớn, vườn cây cà phê, điều, tiêu...
Tỉnh có hai con sông chảy từ bắc xuống nam: phía Tây là sông Sài Gòn, phân giới giữa
tỉnh Bình Phước và Tây Ninh; giữa tỉnh là Sông Bé, có các nguồn từ phía bắc, đoạn dưới đi vào
đất Biên Hoà, đổ vào sông Đồng Nai.
13. Khí hậu
Tỉnh Bình Phước nằm trong vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa,
có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.
- Sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng không lớn, song chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và
đêm thì khá lớn, khoảng 7 đến 9o
C nhất là vào các tháng mùa khô. Nhiệt độ cao nhất
vào các tháng 3,4,5 (từ 37 - 37,2o
C) và thấp nhất vào tháng 12 là 19o
C.
86
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
- Nằm trong vùng dồi dào nắng. Tổng số giờ nắng trong năm từ 2400 - 2500 giờ. Số giờ
nắng bình quân trong ngày từ 6,2 - 6,6 giờ. Thời gian nắng nhiều nhất vào tháng 1,2,3,4
và thời gian ít nắng nhất vào tháng 7,8,9.
- Lượng mưa bình quân hàng năm biến động từ 2045 - 2325 mm. Mùa mưa diễn ra từ
tháng 5 - 11, chiếm 85 - 90% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa lớn nhất
376mm (tháng 7). Mùa khô từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 5 năm sau, lượng mưa chỉ
chiếm 10 - 15% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 2,3.
- Lượng bốc hơi hàng năm khá cao từ 1113 - 1447mm. Thời gian kéo dài quá trình bốc
hơi lớn nhất vào tháng 2,3,4.
- Do chế độ mưa theo mùa nên biên độ giao động về độ ẩm không khí giữa mùa mưa và
mùa khô khá lớn. Độ ẩm trung bình hàng năm từ 80,8 - 81,4%. Bình quân năm thấp
nhất là 45,6 - 53,2%, tháng có độ ẩm cao nhất là 88,2%, tháng có độ ẩm thấp nhất là
16%.
Do biên độ mưa theo mùa và Bình Phước có hai mùa rõ rệt nên thời gian đi du lịch thích
hợp nhất trong năm vào khoảng tháng 6 - 11 vì lúc này thời tiết tương đối mát mẻ không rơi vào
tháng nóng nhất hay tháng có nhiệt độ thấp nhất thích hợp đi du lịch cũng như nằm trong tháng vui
chơi nghỉ ngơi của hầu hết du khách. Tuy nhiên lại thường có những trận mưa nhưng lượng mưa
không lớn lắm nên không ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động du lịch.
14. Thủy văn
Tỉnh có hai con sông chảy từ bắc xuống nam: phía Tây là sông Sài Gòn, phân giới giữa
tỉnh Bình Phước và Tây Ninh; giữa tỉnh là Sông Bé, có các nguồn từ phía bắc, đoạn dưới đi vào
đất Biên Hoà, đổ vào sông Đồng Nai.
- Nguồn nước mặt: có hệ thống sông suối tương đối nhiều với mật độ 0,7 - 0,8 km/km2, bao
gồm sông Sài Gòn, Sông Bé, sông Đồng Nai, sông Măng và nhiều suối lớn. Ngoài ra còn
có một số hồ, đập như hồ Suối Lam, hồ Suối Cam, đập nước thuỷ điện Thác Mơ (dung tích
1,47 tỷ m3), đập thuỷ điện Cần Đơn, đập thuỷ điện Sork phú miêng,….
- Nguồn nước ngầm: các vùng thấp dọc theo các con sông và suối, nhất là phía Tây Nam
tỉnh, nguồn nước khá phong phú có thể khai thác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
15. Động thực vật
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh chiếm 51,32% trong tổng diện tích tự nhiên toàn
tỉnh. Trong đó đất có rừng chiếm 48,37% so diện tích đất lâm nghiệp và bằng 24,82% diện tích tự
nhiên của tỉnh. Ngoài ra còn có các loại cây công nghiệp có giá trị cao như cao su, điều, cà phê,
tiêu và một số cây trồng hàng năm như bắp, mì, đậu đỗ,….
Hệ động vật tỉnh Bình Phước cũng đa dạng phong phú với nhiều loại hươu, nai,… và các
loại động vật được ghi trong sách đỏ Việt Nam như gấu chó, báo gấm, sói lửa, bò tót, bò rừng, gấu
ngựa, voi, chà và chân đen,… ở vườn quốc gia Bù Gia Mập.
16. Cây điều
Điều là cây có khả năng chịu đựng khá cao với các điều kiện bất lợi: Nóng, gió, khô hạn.
Với bộ rễ khỏe, lá dày, điều có thể sống trên các vùng đất xấu như: Đất đá ong, đất xám bạc màu,
đất phèn mặn, khô hạn, cồn cát và bãi cát ven biển… Tuy nhiên, để trồng điều trên những chân đất
này mà cho hiệu quả cao cần có những biện pháp kỹ thuật thích hợp.
1. Chọn đất: Đất cát ven biển được chọn để trồng điều phải là vùng đất cát ổn định, thoát
nước tốt, nước ngầm dưới 1m.
2. Trồng đai rừng chắn gió: Đai rừng chắn gió được trồng trước khi trồng điều 3 năm. Trồng
về phía hướng gió bấc thổi vào, bằng cây phi lao có túi bầu, trồng dày khoảng cách 2m x 1m.
87
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
3. Tạo giống cây con: Cây điều ghép được gieo trong túi bầu có kích cỡ 40cm x 25cm, đảm
bảo rễ sinh trưởng phát triển bình thường trong thời kỳ ở vườn ươm và khi trồng rễ không bị tổn
thương.
4. Cuốc hố, bón phân và đất lót:
- Kích thước đào hố là 60cm x 60cm x 60cm, đào hố trước khi trồng 15 ngày
- Mỗi hố cần bón 0,2 - 0,25m3 đất thịt để tăng cường khả năng giữ ẩm, giữ phân cho đất.
- Bón từ 25-30kg phân chuồng hoai mục, 0,4 - 0,5kg Super lân, 0,1kg Kcl. Phân và đất thịt
trộn đều với đất cát lấp đầy hố trước khi trồng 15 ngày.
5. Thời vụ, mật độ và khoảng cách trồng:
- Tập trung trồng vào mùa mưa.
- Mật độ 208 cây/ha (6m x 8m) hoặc 200 cây (10m x 5m)
6. Kỹ thuật trồng:
Kỹ thuật trồng điều trên vùng đất cát ven biển cũng giống như trên các vùng đất khác
những có điều cần lưu ý là khi trồng xong phải dùng que tre hoặc gỗ cắm cách gốc 25cm và dùng
dây mềm buộc chung với phần thân của cây điều để khỏi đổ ngã và bị lay gốc.
7. Chăm sóc và bón phân:
Trong thời gian từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau thường có gió bấc thổi mạnh nên cần che
chắn để hạn chế đổ ngã chết cây.
Kết hợp với 2 lần bón phân vào đầu và cuối mùa mưa, xới quanh gốc với bán kính 1,5-2m;
vun nhẹ từ 10-15cm, đến năm thứ 3 về sau vun ổn định 30cm.
Dùng cỏ khô, cành lá, rơm rạ tủ gốc cho cây nhằm giúp đất tơi xốp, hạn chế rửa trôi và cỏ
dại.
Trong 3 năm đầu sau trồng, vào mùa khô cần định kỳ từ 5-7 ngày tưới nước cho cây.
Bón phân:
- Phân vô cơ:
Năm thứ 1 : 150g Urê + 200g Super lân + 50g Kali.
Năm thứ 2 : 300g Urê + 250g Super lân + 80g Kali.
Năm thứ 3 : 500g Urê + 300g Super lân + 120g Kali.
Năm thứ 4 : 650g Urê + 600g Super lân + 160g Kali.
Năm thứ 5 trở đi : 1500g Urê + 1200g Super lân + 500g Kali.
- Phân hữu cơ:
Từ năm thứ nhất đến năm thứ 3 sau trồng bón lượng phân chuồng từ 25-30kg/cây, năm thứ
4 trở đi bón từ 35-40kg/cây.
Trong những năm đầu khi điều chưa giao tán, trồng thêm các loại cây nông nghiệp ngắn
ngày: mì, lang, hành… lấy ngắn nuôi dài, đồng thời cải tạo đất giúp cây điều sinh trưởng và phát
triển tốt hơn.
Thường xuyên kiểm tra, phát hiện sâu bệnh và phòng chống kịp thời.
* HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI
- Chưa đầy 2 năm mỗi ha cho thu hoạch 300kg. Dự kiến năm thứ 5 sau trồng trở đi cho năng
suất từ 2,5-3,5 tấn/ha.
88
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
- Khi rừng khép tán sẽ phát huy tác dụng phòng hộ cố định cát, chống cát bay, giữ nước, bảo
vệ sản xuất nông - ngư nghiệp và đời sống nhân dân.
- Rừng phát triển sẽ góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, đa dạng về
mặt sinh học, tạo môi trường xanh - sạch - đẹp
17. Giao thông
Đường bộ chính là đường 13, từ thành phố Hồ Chí Minh đi Lái Thiêu - Thủ Dầu Một - Bến
Cát (Bình Dương) rồi Chơn Thành - An Lộc - Lộc Ninh và rẽ phía tây 15km đến cửa khẩu biên
giới Hoa Lư. Đường 14 từ ngã tư Chơn Thành đi thị xã Đồng Xoài, rồi lên tiếp Đắk Nông - Đắk
Lắk - Gia Lai - Kon Tum - Đà Nẵng. Thị xã Đồng Xoài cách thành phố Hồ Chí Minh 128km.
XV. IV. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN
Dân c toàn t nh có t ng s là 835,3 nghìn ng i, trong đó dân s nông thôn chi m đa sư ỉ ổ ố ườ ố ế ố
83,9%, dân s thành th ch chi m 16,1%, m t đ dân s trung bình: 122 ng i/kmố ị ỉ ế ậ ộ ố ườ 2
. Dân c t pư ậ
trung cao nh t th xã Đ ng Xoài, huy n Bình Long v i m t đ l n l t là 363 ng i/kmấ ở ị ồ ệ ớ ậ ộ ầ ượ ườ 2
, 185
ng i/kmườ 2
, dân c huy n Bù Đăng th a th t nh t 73 ng i/kmư ệ ư ớ ấ ườ 2
.
Bình Ph c có 41 dân t c đang sinh s ng, ch y u là ng i Vi t, Stiêng, Khmer, Nùng,ướ ộ ố ủ ế ườ ệ
Tày.
Trên đ a bàn t nh có 06 tôn giáo l n ho t đ ng g m: Ph t giáo, Công giáo, Tin lành, Caoị ỉ ớ ạ ộ ồ ậ
đài, H i giáo và Ph t giáo Hoà h o v i t ng s 189.605 tín đ , chi m t l h n 23% dân s .ồ ậ ả ớ ổ ố ồ ế ỷ ệ ơ ố
14. Lễ hội
L h i Bà Rá:ễ ộ
Mi u Bà Rá đ c d ng năm 1943, và đ n năm 1958 đ c d i đ n n i to l c hi n nayế ượ ự ế ượ ờ ế ơ ở ạ ạ ệ
và đ c g i là “Mi u Bà”, thu c xã S n Giang, huy n Ph c Long.ượ ọ ế ộ ơ ệ ướ
Theo l i c a nhân dân đ a ph ng, mi u đ c xây d ng đ t ng nh các tù chính tr bờ ủ ị ươ ế ượ ự ể ưở ớ ị ị
chôn s ng g c cây c y hi n nay, mi u do nh ng tù nhân chính tr nhà tù Bà Rá bí m t xâyố ở ố ầ ệ ế ữ ị ở ậ
d ng và làm bài v th t ng tr ng có ghi 4 ch Hán Chúa x n ng n ng” nh m che m t b nự ị ờ ượ ư ữ ứ ươ ươ ằ ắ ọ
tay sai nên đ t tên là mi u Bà đ cho b n th c dân công nh n ngôi mi u này.ặ ế ể ọ ự ậ ế
Năm 1956 - 1957 t nh Ph c Long đ c thành l p, m t s ng i dân đã ti n hành d iỉ ướ ượ ậ ộ ố ườ ế ờ
mi u lên sát đ ng l (cách n i cũ 500m) đ bà con ti n đi l i th cúng và cũng t lúc này Mi uế ườ ộ ơ ể ệ ạ ờ ừ ế
Bà m i có 3 b c t ng th . Mi u Bà Rá là m t công trình ki n trúc tín ng ng dân gian, n mớ ứ ượ ờ ế ộ ế ưỡ ằ
trong qu n th di tích l ch s Bà Rá đã đ c B Văn hoá - Th thao và Du l ch công nh n mang ýầ ể ị ử ượ ộ ể ị ậ
nghĩa l ch s quan tr ng, nó không ch là n i th cúng tín ng ng c a nhân dân mà còn là m tị ử ọ ỉ ơ ờ ưỡ ủ ộ
trong nh ng ch ng tích v s xâm l c c a th c dân Pháp trên vùng đ t Ph c Long… Hàngữ ứ ề ự ượ ủ ự ấ ướ
năm vào ngày mùng 1,2,3,4 tháng 3 âm l ch, đông đ o khách th p ph ng trong và ngoài t nhị ả ậ ươ ỉ
hành h ng v đây đ “Vía Bà”.ươ ề ể
L c u m a c a ng i Stiêng Bù L :ễ ầ ư ủ ườ ơ
Hàng năm vào c mùa khô, đ u mùa m a ng i S'Tiêng Bù L t ch c làm l c u m aứ ầ ư ườ ơ ổ ứ ễ ầ ư
theo t ng bon (Wăng). L c u m a là l h i r t quan tr ng, do đó công vi c chu n b ph i chuừ ễ ầ ư ễ ộ ấ ọ ệ ẩ ị ả
đáo. Các v Già làng và ch làng n đ nh th i gian hành l , sau đó h p c bon đ phân công côngị ủ ấ ị ờ ễ ọ ả ể
vi c c th .ệ ụ ể
Đ n gi làm l , c làng t p trung đ y đ , trâu bu c ch t vào cây nêu, m i ng i đúngế ờ ễ ả ậ ầ ủ ộ ặ ọ ườ
thành vòng tròn ch ng ki n nghi l . Sau khi đông đ c làng, Già làng (Bu Kuông) tuyên b lý doứ ế ễ ủ ả ố
bu i l , 1 đ n 3 ng i đàn ông đ tu i trung niên c m lao ho c chà g c đ gi t trâu, Già làngổ ễ ế ườ ở ộ ổ ầ ặ ạ ể ế
l y máu bôi lên c t cây nêu, dùng g o tr ng và mu i r i lên mình trâu. Sau đó ng i bên ché r uấ ộ ạ ắ ố ả ồ ượ
89
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
c n đ cúng các v th n lúa, th n m a, th n r ng, c u cho m a thu n gió hoà đ dân làng cóầ ể ị ầ ầ ư ầ ừ ầ ư ậ ể
m t mùa v năm m i b i thu, c u cho v n v t sinh sôi n y n .ộ ụ ớ ộ ầ ạ ậ ả ở
Xong nghi l , m i ng i x trâu l y th t n ng, u ng r u c n và t n m c s th nh ngễ ọ ườ ẻ ấ ị ướ ố ượ ầ ậ ụ ở ị ữ
màn bi u di n c ng chiêng, nh ng đi u múa cùng các ngh nhân và nam n mi n s n c c,ể ễ ồ ữ ệ ệ ữ ề ơ ướ
cu c vui ti p t c cho đ n khi màn đêm buông xu ng, m i ng i s đ c già làng giáo hu n vộ ế ụ ế ố ọ ườ ẽ ượ ấ ề
lu t t c và x ng s thi cho đ n sáng hôm sau.ậ ụ ướ ử ế
L h i đâm trâu c a đ ng bào dân t c S’tiêngễ ộ ủ ồ ộ :
L đâm trâu th hi n s huy n bí, tinh th n th ng võ, khát v ng v s c m nh và sễ ể ệ ự ề ầ ượ ọ ề ứ ạ ự
th nh v ng đã đ c bi u hi n rõ nét trong t ng ph n c a l h i. Đ c bi t h n n a đ i v iị ượ ượ ể ệ ừ ầ ủ ễ ộ ặ ệ ơ ữ ố ớ
ng i dân t c S’tiêng (Bình Ph c), con trâu là bi u t ng cho s th nh v ng và s c m nhườ ộ ướ ể ượ ự ị ượ ứ ạ
trong c ng đ ng. Vì th trâu th ng đ c ng i đ ng bào dân t c s d ng làm v t t th n linh.ộ ồ ế ườ ượ ườ ồ ộ ử ụ ậ ế ầ
Ph n H i đ c di n ra trong 2 ngày 8 - 9/3 đã quy t 10 dân t c thi u s trong t nh tham gia H iầ ộ ượ ễ ụ ộ ể ố ỉ ộ
thi văn hóa th thao dân t c thi u s v i các môn thi Kéo co, b n n … Còn ph n L di n ra t ngể ộ ể ố ớ ắ ỏ ầ ễ ễ ư
b ng vào đêm 9/3 v i l h i m th c, văn ngh chào m ng, tuyên d ng đoàn viên h i viênừ ớ ễ ộ ẩ ự ệ ừ ươ ộ
xu t s c, đâm trâu cúng mùa lúa m i, đ t l a tr i, giao l u văn ngh gi a các tr i và các dânấ ắ ớ ố ử ạ ư ệ ữ ạ
t c….ộ
T t m ng lúa m i c a ng i M'nông:ế ừ ớ ủ ườ
Vào đ u v thu ho ch cu i tháng 7 đ u tháng 8 âm l ch là T t l n nh t năm c a ng iầ ụ ạ ố ầ ị ế ớ ấ ủ ườ
Mnông. Ng i Mnông th ng chu n b cho t t ngay t ngày đ u tra h t r i ch lúa chín. Lúa thuườ ườ ẩ ị ế ừ ầ ạ ồ ờ
ho ch đ c chia làm ba: m t ph n đ ăn, m t ph n đ s m đ đ c, m t ph n dành cho trâu bòạ ượ ộ ầ ể ộ ầ ể ắ ồ ạ ộ ầ
cùng nh ng con v t góp công cùng con ng i làm ra h t lúa. T t t ch c ngay t i r y, th t, r u,ữ ậ ườ ạ ế ổ ứ ạ ẫ ị ượ
c m đ c bày ra đ cúng Giàng, r i m i ng i ra v tu t m t n m lúa b vào trong b g i làơ ượ ể ồ ỗ ườ ề ố ộ ắ ỏ ồ ọ
"R c lúa v nhà". Khi đó h quay ra chúc ch nhà nh ng câu t t lành (nh nh ng l i chúc T tướ ề ọ ủ ữ ố ư ữ ờ ế
c a ng i Vi t). Ch nhà rót r u đ m i, cám n t ng ng i, r i t t c quay qu n quanh đ ngủ ườ ệ ủ ượ ể ờ ơ ừ ườ ồ ấ ả ầ ố
l a gi a sân u ng r u c n và ăn th t n ng.ử ữ ố ượ ầ ị ướ
L B m :ễ ỏ ả
Bình Ph c hi n có kho ng 18% dân s là ng i dân t c thi u s nh : S’tiêng, M’nông,ướ ệ ả ố ườ ộ ể ố ư
Kh’mer, Hoa, Tày, Nùng… s ng r i rác t i các huy n trên đ a bàn t nh. Tuy t nh Bình Ph c thu cố ả ạ ệ ị ỉ ỉ ướ ộ
khu v c Đông Nam B nh ng các dân t c thi u s sinh s ng t i Bình Ph c l i mang đ m nétự ộ ư ộ ể ố ố ạ ướ ạ ậ
văn hóa c a vùng Tây Nguyên, ng i M’nông, S’tiêng… không th cúng t tiên mà th cúng theoủ ườ ờ ổ ờ
tín ng ng dân gian, v n v t đ u có linh h n. H th th n m a, th n gió, th n m t tr i, th nưỡ ạ ậ ề ồ ọ ờ ầ ư ầ ầ ặ ờ ầ
lúa….Đ i v i m t s dân t c, khi trong nhà có ng i qua đ i, ng i nhà đánh tr ng cái báo tinố ớ ộ ố ộ ườ ờ ườ ố
cho làng, ng i trong làng đ n đ giúp tang ma. Tang l kéo dài vài ngày. Ng i ta cho r ngườ ế ể ễ ườ ằ
ng i ch t s s ng m t th gi i khác, ng i s ng ph i chia gia tài cho h đ h s d ng thườ ế ẽ ố ở ộ ế ớ ườ ố ả ọ ể ọ ử ụ ở ế
gi i m i. khi chôn đ u huy t m có c m m t ng tre, hàng ngày ng i nhà đem c m t i đớ ớ ở ầ ệ ộ ắ ộ ố ườ ơ ớ ổ
vào ng tre ti p t cho ng i ch t. C a c i chia cho ng i ch t đ c đ r i rác xung quanh mố ế ế ườ ế ủ ả ườ ế ượ ể ả ộ
nh ché, b u, chén, n i…. sau khi ng i thân qua đ i, đây là l n cu i cùng đ ti n đ a ng iư ầ ồ ườ ờ ầ ố ể ễ ư ườ
ch t v th gi i bên kia và cũng là ph n quan tr ng nh t trong tang l , ng i nhà làm l b mế ề ế ớ ầ ọ ấ ễ ườ ễ ỏ ả
vào mùa thu ho ch. Làm l b m ph i m trâu, bò, l n, gà…. Nhà giàu thì làm l b m s m cònạ ễ ỏ ả ả ổ ợ ễ ỏ ả ớ
nhà nghèo thì ph i ch cho có đ trâu bò, gà r u… m i làm l . Ng i ch t lúc này coi nh đã điả ờ ủ ượ ớ ễ ườ ế ư
đ u thai, ng i nhà khóc l n cu i. L kéo dài t 2 đ n 5 ngày, ng i dân trong làng già, tr đ uầ ườ ầ ố ễ ừ ế ườ ẻ ề
ăn u ng, ca hát vui v thâu đêm quanh khu v c m m . Sau l này m c a ng i ch t đ c bố ẻ ở ự ồ ả ễ ộ ủ ườ ế ượ ỏ
h n không ai trông coi n a, ng i v (ch ng) c a ng i ch t đ c quy n đi l y ch ng (v ) khác.ẳ ữ ườ ợ ồ ủ ườ ế ượ ề ấ ồ ợ
H không có ngày gi cho ng i ch t.ọ ỗ ườ ế
15. Nghệ thuật truyền thống
90
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Một trong những nét đặc trưng của văn hóa tỉnh Bình Phước là văn hóa dân tộc Stiêng, một
trong những dân tộc sinh sống lâu đời trên địa bàn tỉnh với dân số chiếm 47,4% dân số. Nền văn
hóa của người Stiêng Bình Phước có những nét tương đồng với những dân tộc Mnông, Mạ... anh
em và cả những đặc trưng văn hóa mang đậm nét riêng biệt với kho tàng làn điệu dân ca, sử thi đồ
sộ. Người S’tiêng cũng như bao dân tộc sống ở vùng cao, cuộc sống của họ sớm gắn bó
với rừng, khai thác rừng và đất rừng để duy trì cuộc sống và sự phát triển của mình. Do ảnh hưởng
của tập quán du canh du cư, hoạt động sản xuất của người S’tiêngchủ yếu dựa vào tự nhiên là
chính và mang đậm tính cộng đồng dưới sự điều hành của một người có uy tín gọi là già làng,
cùng nhau khai thác một vùng đất rừng, cùng tiến hành gieo trồng vào các thời gian như nhau,
cùng giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, săn bắn, hái lượm... (khi săn bắt được thú rừng thì chia đều
cho tất cả các thành viên trong cộng đồng…). Họ tự sản xuất ra các công cụ, dụng cụ phục vụ sản
xuất nông nghiệp chủ yếu (như: rìu, cuốc, sà gác, lưỡi hái…), những vật dụng sinh hoạt thường
nhật (như: gùi, xá, dệt vải thổ cẩm...).
Hiện nay, trong cộng đồng người S’tiêng còn lưu giữ, kể cho nhau nghe rất nhiều truyện cổ
tích, đặc biệt là loại truyện kể có liên quan đến địa danh và rất nhiều câu truyện kể, thơ, ca khúc,
điệu múa, sử thi dân gian được lưu truyền cho các thế hệ theo hình thức truyền miệng. Các thể loại
văn học như truyện kể, thơ ca, sử thi… mang tính nhân văn, triết lý xã hội, giáo dục con người
sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương ông cha đi trước và nhất là giáo dục ý thức tự tôn
dân tộc, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc mình. Cồng chiêng, Kèn, Sáo
của người S’tiêng chuyền tải nhiều cảm xúc tâm trạng khác nhau đến người nghe và nó được xem
là yếu tố không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Stiêng, đặc biệt là đánh cồng chiêng
với ngôn ngữ và sắc thái âm nhạc đặc trưng. Những món ăn đậm nét văn hóa ẩm thực truyền thống
của những con người gắn bó với núi rừng như: Canh thụt, Canh bồi, Cơm ống, Rượu cần…
Theo tài liệu khảo cổ học, từ những di tích, chỉ tìm được ở Đốc Chùa (Tân Uyên), thành Cổ
Tròn (Bình Long) thì khả năng xuất hiện của người S'tiêng ước lượng từ 2.000 đến 5.500 năm.
Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp chiếm đất của người S'tiêng để lập đồn điền
cao su, đẩy người S'tiêng ngày càng lùi sâu vào vùng rừng núi phía Bắc.
Về đặc điểm tộc người ngôn ngữ của người S'tiêng thuộc ngữ hệ Môn-Khmer Đông Nam
Aá. Trong các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khmer ở Tây Nguyên thì người S'tiêng là nhóm cư dân
có dân số đông thứ ba sau Ba Na và H'Rê.
Là một dân tộc thuộc cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên, là chủ nhân lâu đời của miền đất
Nam Trường Sơn, dân tộc S'tiêng có một nền văn hóa mang nhiều sắc thái chung với những người
anh em Tây Nguyên nhưng cũng không thiếu những nét độc đáo, phong phú mang tính chất đặc
thù bản sắc của dân tộc mình. Cư ngụ ở Nam Tây Nguyên, S'tiêng như một cánh cửa đón nhận sự
giao lưu, hội nhập của văn hóa người Việt, người Khmer, người Mnông. Vì lẽ đó, những gì thuộc
bản sắc Văn hóa S'tiêng rõ ràng phải có một sức sống mãnh liệt mới có thể tồn tại và phát triển
được.
Đứng đầu một bon (buôn, sóc) người S'tiêng là một già làng (bu kuông), sau đó là tập thể
những lão làng có kinh nghiệm, có uy tín làm cố vấn, những người này bầu ra già làng. Quan hệ
gia đình người S'tiêng là quan hệ phụ hệ. Luật hôn nhân S'tiêng cấm không được kết hôn trong nội
tộc, do đó một cặp trai gái muốn đi tới hôn nhân thường phải nhờ già làng và hội đồng bộ lão xem
xét lại gia phả, dòng họ để tránh phạm luật. Tín ngưỡng của người S'tiêng là "vạn vật hữu linh", họ
quan niệm vật gì cũng có hồn, do đó họ thờ đa Thần, Thần Mặt Trời, Thần Mặt Trăng, Thần Gió,
Thần Mưa, Thần Núi, Thần Sông, Thần Thác Nước.... nhưng quan trọng đối với người S'tiêng là vị
thần Yang Liêng, người đã khai sáng ra vùng đất của người S'tiêng hiện nay. Bên cạnh đó là các vị
thần được tôn thờ như Thần Núi Yang Yumbra (cư ngụ trên đỉnh núi Bà Rá). Thần Thác Liêng
Hur, người chiến thắng các Thần Thác Nước khác trong vùng.
91
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Cũng như nhiều dân tộc ít người khác, người S'tiêng cũng có nhiều lễ hội lễ đâm trâu với
tục hiến sinh để tạ ơn và cầu xin thần linh... Đặc biệt, lễ đâm trâu của người S'tiêng có thủ tục quay
đầu trâu là một hình thức vay trả, ơn nghĩa trong cộng đồng.
Người S'tiêng có khá nhiều truyền thuyết, truyện kể, thơ ca dân gian nói về nguồn gốc tộc
người, về sự tích lai lịch các vị Thần, về lịch sử đấu tranh và xây dựng của cộng đồng, về những
sinh hoạt thường ngày, về tình yêu nam nữ... Những già làng, lão làng ở Đắck Ơ, Đắk Nhau là
những người thuộc nhiều, nhớ nhiều vốn văn học này. Đáng chú ý ở cộng đồng người S'tiêng có
lối hát nói, hát kể (Tâm - pơt) do một hoặc hai người cùng thể hiện, là một hình thức chuyển tải
những truyền thuyết huyền thoại, sự tích hoặc tâm tư nguyện vọng của người S'tiêng đối với đồng
bào mình. Người càng cao tuổi càng biết nhiều bài Tâm - pơt và hát càng hay hơn.
Người S'tiêng nhánh Bù Lơ ở miền cao sinh sống trong những ngôi nhà dài nền đất, mái
tranh, vách bằng tre nứa. Nhà dài của người S'tiêng thường dài khoảng 25 - 30m, mái thấp gần
chạm đất và có hai cửa ra vào ở hai đầu nhà. Một số nhà dài ở vùng Đắk Ơ có đặc điểm 4 góc nhà
lượn tròn chứ không vuông như nhà bình thường. Trong một nhà (Yau) thường có nhiều bếp (Nak)
cho từng gia đình nhỏ. Một bon S'tiêng thường có khoảng 5 - 7 nhà dài, có bon có khoảng 2 - 3
nhà.
Người S'tiêng nhánh Bù Dek thường ở nhà sàn. Nhà sàn S'tiêng Bù Dek có hai dạng: loại
nhà sàn dài và nhà sàn ngắn, bé cho từng hộ gia đình. Ơở Bình Long còn một số nhà sàn cổ theo
truyền thống S'tiêng: cột lớn, vách nhà nghiên loe ra ở phía trên.
Hiện nay nhánh Bù Lơ, nhà nền đất, (nhà trệt) ngắn, nhỏ cho từng hộ gia đình đã xuất hiện
nhiều xen lẫn với nhà dài. Ơở nhánh Bù Dek, nhà nền đất cũng được xây dựng xen lẫn với nhà
sàn.
Người S'tiêng cũng có những tượng nhà mồ và một chạm khắc trên cây nêu, trên các hình
tượng trên bàn thờ hoặc các vật dụng trang trí trong nhà, các công cụ lao động sản xuất.
Trước đây người S'tiêng nổi tiếng với nghề thợ rèn đạt trình độ khá cao, nhiều công cụ, vật
dụng tinh xảo đã được các nghệ nhân S'tiêng chế tác. Bên cạnh đó, nghề dệt và nhuộm vải bằng vỏ
cây rừng cũng là một nghề phát triển trong cộng đồng người S'tiêng. Chính qua những hoa văn,
màu sắc, kiểu dáng trên khố váy, khăn, người S'tiêng chứng tỏ khả năng tạo hình của mình. Ngoài
ra còn có những hoa văn trang trí trên những chiếc gùi, trên những vật dụng đan lát, những hình vẽ
trang trí trên cồng chiêng, trên cây nêu...
(Mới đây trong Liên hoan văn hóa các dân tộc toàn quốc tổ chức tại Hà Nội, 1996, một già
làng S'tiêng - ông Điểu Đố - đã được tặng Huy chương vàng cho người có trang phục dân tộc đẹp
nhất).
Người S'tiêng bản tính đôn hậu trầm lắng và rất yêu ca hát. Trong vốn âm nhạc cổ truyền
của đồng bào S'tiêng, nghệ thuật cồng chiêng nổi lên như một viên ngọc sáng. Cũng như c khác
trên dọc dãy Trường Sơn, cồng chiêng đã gắn bó với cộng đồng người S'tiêng như máu thịt, nó đã
trở thành biểu tượng cho sức mạnh vật chất, sức mạnh tinh thần của đồng bào. Nghệ thuật cồng
chiêng S'tiêng mang nhiều nét chung của cồng chiêng Tây Nguyên và cũng có rất nhiều yếu tố độc
đáo mang tính đặc thù của dân tộc mình. Nó đã tự khẳng định được một chỗ đứng vững chắc, một
giá trị đáng tự hào trong đại gia đình cồng chiêng Việt Nam.
Bên cạnh cồng chiêng, âm nhạc cổ truyền S'tiêng còn có một khối lượng dân ca phong phú
và đa dạng. Người S'tiêng có lối hát kể (Tâm - pơt), có thể loại tình ca (Nao - lan), trường ca (O-
Kroong), có hát ru, có đồng dao và nhiều bài sinh hoạt khác.
Nói đến âm nhạc của người S'tiêng, không thể không nhắc đến các nhạc cụ dân gian và các
bài bản dân nhạc. Người S'tiêng biết chế tác và sử dụng nhiều thức nhạc cụ như kèn M'buốt, Sáo
Tơ lết, Sáo U-Kooc-le, Sáo Pia, Sáo N'hôm, kèn Nung biên, đàn Đình - put và một số loại trống.
Những nhạc cụ trên có khi được biểu diễn đệm cho hát, có khi diễn tấu những bản nhạc ngắn. Dân
92
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
nhạc S'tiêng là những bài bản ngắn, gọn, đơn giản, thường thể hiện mô phỏng tiếng suối, tiếng gió,
tiếng con chim, con sóc, những hiện tượng tự nhiên gần gũi với cuộc sống của đồng bào.
Về nghệ thuật múa, người S'tiêng có điệu múa trong lễ hiến sinh. Trong cúng con Bà Bóng
(Mê Prak), những động tác, đội hình mang tính chất múa như khi biểu diễn cồng chiêng đi diễn
vòng... Ngoài ra, ở một số nơi sống gần gũi hoặc đan xen với người Khmer, lớp trẻ tiếp nhận ở
người Khmer điệu múa Lâm thôn....
16. Danh thắng và các công trình kiến trúc
Bình Phước có nhiều di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ lâu đời và rất nhiều các danh lam thắng
cảnh nổi tiếng. Đặc biệt, con người nơi đây rất hiếu khách và nhân hậu. Tất cả những nét đó tạo
nên một Bình Phước vừa thơ mộng vừa cổ kính lại đa dạng về bản sắc văn hóa. Bình phước mong
muốn được đón chào các nhà đầu tư và du khách đến tìm hiểu và khám phá tiềm năng kinh tế du
lịch.
Từ lâu Bình Phước đã được nhiều người biết đến là một vùng đất có nền văn hóa tiền sử
lâu đời. Nhiều di chỉ khảo cổ đã được phát hiện và nghiên cứu có niên đại cách đây 2.000 năm
như: đàn đá, thành đất cổ, các công cụ bằng đá, gốm thuộc nền văn minh thời kì tiền sử. Bên cạnh
đó, tỉnh còn có nhiều di tích lịch sử của trung ương gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc như: Phú Riềng với phong trào đấu tranh của công nhân cao su Phú Riềng trong kháng
chiến chống Pháp; Nhà tù Bà Rá vùng rừng thiêng nước độc mà thực dân Pháp giam cầm những
chiến sỹ cách mạng yêu nước Việt Nam; Khu căn cứ quân ủy bộ tư lệnh của các lực lượng vũ
trang của Miền Nam Việt Nam; Sóc Bom Bo với hình ảnh đồng bào dân tộc S'tiêng ngày đêm giã
gạo nuôi quân đánh giặc... và biết bao địa danh đã che chở cho cán bộ chiến sỹ ta trong hai cuộc
chiến chống ngoại xâm. Ngoài những di tích in đậm dấu ấn lịch sử đó, Bình Phước còn là nơi có
nhiều cảnh quan tự nhiên đang dấu mình trong các khu rừng bạt ngàn như thác Mơ, Hồ Sóc Xiêm,
Núi Bà Rá, khu di tích suối Lam, rừng nguyên sinh Bù Gia Mập, vườn quốc gia Cát Tiên...
1. Núi Bà Rá
Vị trí: Núi Bà Rá thuộc thị trấn Thác Mơ, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước, cách Tp.
Hồ Chí Minh 180km.
Đặc điểm: Núi Bà Rá cao 723m, là một địa danh gắn liền với cuộc kháng chiến anh dũng
của đồng bào Phước Long. Nơi đây đã xây dựng một nhà bia rất trang trọng để tưởng niệm các
chiến sĩ đã hy sinh trong khu vực Bà Rá.
Giữa một vùng đồi thấp nhô lên một ngọn núi cao, cây cối xanh tươi, rậm rạp, tạo cho núi
Bà Rá một vẻ hùng vĩ (như núi Bà Ðen của Tây Ninh).
Ðứng trên lưng chừng núi có thể nhìn thấy cả một khu vực rộng lớn, bao gồm thị trấn Thác
Mơ xinh đẹp (trước đây là tỉnh lỵ của tỉnh Phước Long), hồ Thác Mơ mà trong mùa mưa rộng tới
12.000ha, cung cấp nước cho nhà máy thuỷ điện Thác Mơ.
Dưới chân núi, bên cạnh thị trấn Thác Mơ là di tích của nhà tù Bà Rá, nơi giam cầm nhiều
chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Xung quanh khu vực Bà Rá còn có nhiều điểm tham quan lý thú
khác.
2. Khu du l ch h Su i Lamị ồ ố
Vị trí: Khu du lịch Suối Lam thuộc địa phận xã Thuận Lợi, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình
Phước, cách thị xã Ðồng Xoài khoảng 13km.
Đặc điểm: Nơi đây có một hồ nước quanh năm trong xanh, in bóng những rừng cây cao su
tươi tốt xung quanh.
Từ thành phố Hồ Chí Minh đến thị xã Đồng Xoài, rẽ trái theo tỉnh lộ 741 khoảng 10km đến
ngã ba đường đất đỏ thì rẽ trái, chạy qua đường rừng cao su khoảng 3km, du khách sẽ thấy một hồ
nước rộng mênh mông, xanh thẳm hiện ra trước mặt. Đó là hồ Suối Lam.
93
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Người dân ở đây cho biết, vào buổi sáng sớm, sương bay bảng lảng trên mặt hồ được nước
hồ phản chiếu tạo nên màu lam huyền ảo, vì vậy người ta gọi tên hồ là Suối Lam. Được bao bọc
bởi những cánh rừng cao su thẳng tắp ngút ngàn tầm mắt và những vạt rừng trồng lâu năm, thoạt
nhìn Hồ Suối Lam hao hao giống Hồ Xuân Hương ở Đà Lạt. Mặt hồ rộng hơn 100ha luôn phẳng
lặng như gương và trong xanh quanh năm. Quanh hồ có rất nhiều loài hoa dại nở, tôn vinh thêm
nét đẹp nguyên sơ của hồ.
Hồ sâu khoảng 4m, có nhiều loại cá nước ngọt như: chép, trắm, lóc, mè… Nếu thích làm
ngư dân, du khách hãy chuẩn bị cần câu, chắc chắn sẽ câu được nhiều chú cá to. Ven hồ có những
tảng đá to, rất thích hợp để ngồi buông câu. Ngoài ra du khách có thể cắm trại trong những rừng
cây ven hồ, bơi hoặc chèo thuyền lênh đênh trên mặt hồ để cảm nhận vẻ đẹp, sự trong lành của
thiên nhiên với những âm thanh kỳ ảo vốn có của núi rừng, đặc biệt vào lúc ráng chiều, khung
cảnh hồ thật yên tĩnh, đẹp như tranh vẽ.
Bên hồ là các công trình phục vụ du khách, đáng chú ý nhất là nhà hàng nổi với nhiều món
ăn đặc sản của núi rừng Bình Phước. Khu du lịch hồ Suối Lam là địa điểm tuyệt vời để du khách
đến du lịch sinh thái, dã ngoại, kết hợp nghỉ dưỡng.
3. Tr ng c Bàu L chả ỏ ạ
Vị trí: Thôn Bàu Lạch, xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, cách Tp. Hồ Chí
Minh khoảng 160km về phía đông bắc.
Đặc điểm: Trảng cỏ Bàu Lạch là sản phẩm tuyệt mỹ của tạo hóa nằm giữa chốn thâm sơn
cùng cốc bao gồm 20 trảng cỏ lớn nhỏ kết dính với nhau như một bức tranh khảm ngọc.
Bạn đã bao giờ nằm nghỉ trên một đồng cỏ rộng mênh mông, đắm mình vào dòng nước mát
lạnh từ trên thác ào ào đổ xuống để rồi lại tĩnh lặng ngồi chờ đợi cá cắn câu trước khi thưởng thức
món cá nướng thơm lừng chưa? Hãy đến với trảng cỏ Bàu Lạch để được tận hưởng cảm giác du
mục giữa núi rừng sau những ngày làm việc mệt mỏi. Từ thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước theo
quốc lộ 14 đến thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng thì đi tiếp 3km nữa rồi rẽ phải vào con đường
đèo dốc nhỏ đã được trải nhựa khoảng 12km là du khách sẽ đến với Bàu Lạch, nơi có hàng chục
trảng cỏ độc nhất vô nhị ở Việt Nam.
Các già làng ở đây giải thích rằng chữ “Lạch” tiếng M’nông có nghĩa là trảng, trong trảng
lại có cái bàu nước nên cái tên trảng cỏ Bàu Lạch ra đời từ đó. Thời chiến tranh, các phi công Mỹ
lái máy bay trực thăng đi tuần, thấy những trảng cỏ này từ trên cao đã ví đó là những “sân golf của
trời”. Còn những già làng ở đây thì bảo đó là những tấm thảm xanh của trời trải xuống cho các tiên
nữ xuống đùa vui vào những đêm trăng thanh.
Không hiểu vì sao giữa bạt ngàn núi rừng lại xen lẫn những trảng cỏ rộng mênh mông. Có
trảng rộng chỉ 5 - 10ha, nhưng trảng rộng nhất, đẹp nhất lại lên đến gần 100ha gọi là trảng Lớn.
Nét độc đáo ở đây là chỉ có độc một loại cỏ kim đan xen cỏ chỉ mọc là là mặt đất xanh tốt quanh
năm khiến cho du khách chẳng khỏi ngỡ ngàng trước sự kì diệu của thiên nhiên. Những du khách
mới tới đây lần đầu khi trông thấy thảm cỏ trải dài tít tầm mắt như thế đều cảm thấy sung sướng
như vừa khám phá ra một tuyệt tác của thiên nhiên. Từ xa, trông trảng giống như được lắp ghép
bởi hàng chục sân golf bởi chỗ thì uốn lượn, mấp mô cao thấp, chỗ lại phẳng lì không chút “gợn
sóng”. Trên bề mặt trảng lác đác những khóm hoa dại khoe sắc tím sặc sỡ xen lẫn với cỏ non xanh
mượt
Điều tuyệt vời hơn cả là trảng cỏ lại nằm lọt thỏm giữa những cánh rừng bạt ngàn và ôm
trọn trong lòng nó một bàu nước trong xanh rộng hàng chục ha. Hồ nước này quanh năm không
cạn và là nơi sinh sống của nhiều loài cá nước ngọt như lóc, chép, trắm, lươn... Ra đến bìa rừng
du khách sẽ có thú vui hái trái sim, trái bứa ăn đến tím lè lưỡi. Trong rừng, trên những thân cây cổ
thụ cao vút mọc đầy các loại hoa lan. Đi sâu vào rừng khoảng 3km, du khách sẽ được khám phá
thác N’Rót dựng đứng cao khoảng gần 20m, ầm ầm đổ nước, tung bọt trắng xóa cả một góc rừng.
Đi bộ theo các lối mòn len lỏi giữa rừng, cứ băng qua khoảng 100m rừng là du khách sẽ lại đến
94
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
với những trảng cỏ xanh mướt và phải mất cả ngày mới khám phá hết được 20 trảng cỏ ở đây.
Chung quanh các trảng cỏ là các làng của đồng bào M’Nông, Xtiêng và Mạ.
Sự nguyên vẹn và hoang sơ của thiên nhiên đã biến trảng cỏ Bàu Lạch trở thành một địa
điểm du lịch sinh thái thú vị. Tại đây, du khách có thể chèo thuyền hoặc tản bộ ngắm cảnh, câu cá,
tắm thác, cắm trại, chơi đá banh trên nền cỏ của trảng
Buổi tối ở Bàu Lạch khí hậu như cao nguyên. Hình như gió khắp rừng đều trút vào trảng.
Nếu du khách muốn cắm trại ngủ qua đêm nhớ mang theo áo ấm. Cá có sẵn dưới bàu, củi có rừng
bên cạnh, vào rẫy mua thêm ít ngô khoai là du khách sẽ có một đêm đầy ấn tượng để trải nghiệm
cuộc sống du mục vốn chỉ có thể cảm nhận qua sách vở.
4. V n qu c gia Bù Gia M pườ ố ậ
Vị trí: Xã Bù Gia Mập, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước, cách Tp. Hồ Chí Minh
khoảng 200km về phía bắc.
Đặc điểm: Vườn quốc gia Bù Gia Mập được coi là nơi bảo tồn các nguồn gien quý hiếm
của hệ động, thực vật phong phú ở miền Đông Nam Bộ.
Nằm ở vị trí độc đáo là nơi giao lưu với 4 khu hệ có nguồn gốc địa lý khác nhau: hệ
Mianmar - Ấn Độ, hệ Malaysia - Indonesia, hệ Trung Hoa - Hymalaya và hệ thực vật bản địa Bắc
Việt Nam - Nam Trung Hoa, vườn quốc gia Bù Gia Mập bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn cho các
hồ chứa nước của các công trình thủy điện Thác Mơ và Cần Ðôn, phục vụ nghiên cứu khoa học,
giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái. Phía bắc và phía tây vườn quốc gia giáp suối
Đăk Huýt, phía đông giáp tỉnh Đăk Nông, phía nam giáp với lâm trường Bù Gia Mập.
Với diện tích 26.032ha, đây là nơi có diện tích rừng lớn nhất tỉnh Bình Phước với đỉnh núi
cao nhất là 700m so với mực nước biển. Hệ thống sông suối gồm các dòng suối Đăk Huýt chảy
dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, Đăk Sa, Đăk Ka và Đăk K'me. Hệ thực vật ở vườn
quốc gia rất đa dạng và phong phú, quy tụ nhiều loài trong vùng Ðông - Nam Á với 808 loài, 396
chi, 118 họ, 59 bộ của 5 ngành thực vật có mạch. Ðặc biệt rừng nơi đây còn mang đậm nét của
rừng nguyên sinh giàu trữ lượng với ưu thế của những cây họ dầu và nhiều cây họ đậu quý hiếm
như cẩm lai, gõ đỏ, mun, lát hoa, gỗ mật, thạch tùng, giáng hương, trắc và 278 giống cây dùng làm
thuốc.
Ðây còn là nơi cư trú của các loài động vật hoang dã với 73 loài thú, trong đó có 59 loài
được ghi trong sách đỏ Việt Nam như gấu chó, báo gấm, sói lửa, bò tót, bò rừng, gấu ngựa, voi,
chà và chân đen..., 168 loài chim, trong đó 10 loài đang bị đe dọa tuyệt chủng như gà lôi, hồng
hoàng, hồng tía, dù dì phương Ðông, cu xanh, niệc mỏ vằn, chim công, gà tiền mặt đỏ, chim yến
hồng xám..., 30 loài bò sát. Do đặc trưng của rừng ẩm thường xanh, có rừng dầu rụng lá theo mùa,
rừng lồ ô xen cây gỗ, nên vườn quốc gia cũng là nơi cư trú của nhiều loại động vật thuộc bộ linh
trưởng như khỉ đuôi lợn, khỉ mặt đỏ, khỉ vàng, voọc ngũ sắc, voọc xám...
Không chỉ có vậy, Bù Gia Mập còn là khu di tích lịch sử quan trọng trong thời kỳ kháng
chiến chống Mỹ, gắn liền với các trận đánh ác liệt ở miền Ðông Nam Bộ.
Hệ động thực vật phong phú cùng hệ thống hang động Dak Nghen, Đờ Mi, Gióng Min
nguyên sinh của vùng đất ba-dan nâu đỏ nơi đây đã thể hiện bao cảnh quan sinh thái đặc hữu của
Bù Gia Mập. Những dòng suối lấp lánh nắng vàng luôn reo vang cùng với bản hòa tấu của chim
muông, hoa lá, những dòng thác Đạt Mai, Sông Bé trên, Sông Bé dưới, Dak Tôn lớn, Dak Tôn
nhỏ, Tà Lin quanh năm tung bọt trắng xóa che kín hang động bên trong được tạo thành bởi những
khối đá nhiều vân sắc… Tất cả đã tạo nên một điểm du lịch sinh thái lý tưởng đối với những du
khách ưa thích thể thao mạo hiểm và thiên nhiên hoang dã.
5. Du l ch sinh thái M Lị ỹ ệ
95
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Bấy lâu nay, khi nhắc đến Bình Phước ít ai có thể nghĩ đây sẽ là một điểm du lịch. Nhưng
hiện nay, trong chiến lược phát triển của tỉnh, du lịch đang là một ngành đang được đầu tư và đẩy
mạnh phát triển.
Chính nét hoang sơ của Bình Phước lại là điểm thu hút mạnh mẽ du khách thập phương.
Thế mạnh du lịch của tỉnh vẫn còn đang ẩn mình dưới dạng tiềm năng nhưng nếu có một lúc nào
đó, bạn bỗng thèm có được những phút giây thư giãn thật sự cùng đắm chìm với thiên nhiên cũng
như muốn có chút mùi vị của sự khám phá thì có lẽ không đâu bằng Bình Phước.
Từ thị xã Đồng Xoài, băng qua những cánh rừng cao su bát ngát và những rừng điều trải
dài dọc hai ven đường, khách du lịch sẽ sẽ đón nhận cái cảm giác chếnh choáng như người say vì
độ cao ngày càng tăng khi càng tiến gần đến Phước Long.
Nằm ngay dưới chân núi Bà Rá, lòng hồ thủy điện Thác Mơ có diện tích khoảng 110 hecta
trải dài trên địa bàn hai huyện Phước Long và Bù Đăng.
Hằng năm, hồ thủy điện Thác Mơ cung cấp gần 8 tỷ KW điện, là nguồn điện năng quan
trọng của các tỉnh miền Đông Nam Bộ và góp phần tích cực vào việc cải tạo môi trường sinh thái
của tỉnh Bình Phước.
Hiện nay, ngoài chức năng sản xuất và cung cấp điện năng, lòng hồ Thác Mơ còn là một
trong những điểm du lịch của tỉnh. Không khí trong lành và gió hồ mơn man, cảnh non nước hữu
tình dần hiện ra trước mắt du khách. Núi Bà Rá sừng sững như một điểm tựa vững chắc không
những của thủy điện Thác Mơ mà còn là của cả tỉnh Bình Phước. Đây còn là ngọn núi linh thiêng
mang giá trị tâm linh rất lớn của tỉnh.
Là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong việc khai thác và phát triển kinh tế mũi
nhọn của tỉnh Bình Phước, Mỹ Lệ đã sớm nhận ra những tiềm năng triển vọng của ngành du lịch
tại Bình Phước.
Khu du lịch sinh thái rộng hơn 60 hecta với hệ thống giao thông thuận lợi, tạo thành một
quần thể kiến trúc và thiên nhiên hùng vĩ với núi non, sông nước đang dần dần hình thành.
Mỹ Lệ luôn muốn giới thiệu đến tất cả du khách khi đặt chân đến Bình Phước sẽ cảm nhận
một Bình Phước rất khác và một địa điểm du lịch hấp dẫn mang tên Mỹ Lệ của tương lai.
Đến với Khu du lịch sinh thái Mỹ Lệ, du khách sẽ có cảm giác như lạc vào một thung lũng
cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Một màu xanh mướt trải đều trên các luống trà mang lại cho
du khách một cảm giác thư thái êm dịu khó tả.
Những lối đi hơi dốc, gập ghềnh dưới bánh xe ngựa giúp du khách gợi nhớ đến những con
đường thơ mộng của Đà Lạt.
Những nỗ lực để tái tạo cảnh quan thiên nhiên một cách thuần nhất đã làm Mỹ Lệ không
giống với bất cứ khu du lịch sinh thái nào.
Du khách có thể thong dong một mình trên lưng những chú ngựa.
Hoặc lãng mạn trên những chiếc xe đạp đôi.
Hoặc đơn giản hơn là ngồi trên những chiếc xe điện để được chở đi tham quan toàn bộ
cảnh quan trong Khu du lịch sinh thái.
Du khách còn có thể thư giãn bằng những thú vui dân dã như câu cá, tự tay hái những quả
chín trên cành và sẽ thú vị hơn nữa nếu tham gia một buổi tổ chức cám trại dã chiến ngoài trời.
Khu du lịch sinh thái Mỹ Lệ chỉ vừa mới khánh thành giai đoạn 1 và chưa đi vào hoạt động
đồng bộ. Tuy nhiên, trong tương lai, Mỹ Lệ chắc chắn sẽ trở thành một tâm điểm thu hút khách du
lịch với đầy đủ cơ sở hạ tầng, các hạng mục vui chơi giải trí và khu resort nghỉ dưỡng mang những
nét đặc trưng riêng có của Mỹ Lệ.
96
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Và lẽ dĩ nhiên, du khách sẽ luôn có cơ hội thưởng thức những hương vị rất đặc trưng của
vùng đất được mệnh danh là Cao nguyên Nam Bộ ngay tại Khu du lịch sinh thái Mỹ Lệ.
6. Sóc Bom Bo
Từ thị xã Đồng Xoài, theo Quốc lộ 14 đi về hướng huyện Bù Đăng khoảng 50 km, đến ngã
ba Minh Hưng rẽ phải đi thêm 6km nữa ta sẽ đến sóc 1 thuộc xã Bom Bo. Đây là sóc được hình
thành từ những năm chống Mỹ (có 3 sóc 1,2,3) hiện sóc 1 (thôn 1 của xã Bom Bo) là nơi tập trung
phần lớn đồng bào S'ti êng; là thôn một trong ba thôn của đồng bào dân tộc Stiêng, dân tộc đông
nhất trong các dân tộc ở tỉnh Bình Phước. Chính nơi đây hiện tập trung phần lớn đồng bào Stiêng
từng giã gạo nuôi quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trước đây.
Sóc Bom Bo nổi tiếng thời chống Mỹ. Đời sống của đồng bào Stiêng ngày càng được cải
thiện, nhưng những dấu tích lịch sử hào hùng đẹp chỉ còn lưu lại trong một nhà văn hóa nhỏ.
Ngành du lịch Bình Phước đã tổ chức những đêm lửa trại cồng chiêng sóc Bom Bo, có đốt lửa,
uống rượu cần, ăn thịt nướng và nghe các già làng kể chuyện, xem các thôn nữ biểu diễn vũ điệu
của người Stiêng... Đó là những nét văn hóa cần truyền đời lưu giữ và tạo ra sự hấp dẫn khách đến
với "sóc Bom Bo".
Nơi đây còn được biết đến với bài hát nổi tiếng "Tiếng chày trên sóc Bom Bo" của cố nhạc
sĩ Xuân Hồng. Ngày nay, đến nơi này du khách sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ
S'tiêng quây quần trước cửa nhà giã gạo và tiếng cười trên các khuôn mặt rạng rỡ của những người
dân nơi đây. Hiện nay tỉnh đã triển khai xây dựng làng văn hóa du lịch Sóc Bom Bo
7. Thác Dakmai
Thuộc huyện Phước long, là một trong những thác nước đẹp nằm trên dòng chảy của Sông
Bé. Để đến được ngọn thác này du khách phải vượt qua những đoạn đường đồi dốc cao, nhưng khi
ai đã đặt chân đến đây sẽ không quên được sức cuốn hút của vẽ đẹp thiên nhiên hùng vĩ nơi này.
Đến với thác Dakmai, du khách sẽ được thưởng ngoạn sự kỳ bí của thiên nhiên, một màn
nước trắng nhấp nhô trên đá và đột ngột đổ xuống từ độ chênh lệch đến 15m, phía dưới chân thác.
Nhìn về thượng nguồn khách du lịch sẽ thấy một dải lụa nước trắng - trãi rộng đến 25m. lấp lóa
trong dải lụa nước này - nếu thiết kế một cầu treo du khách sẽ qua bên kia thăm hố Tử thần. Tại hố
này đoàn thám hiểm hang động của Tây Ban Nha đã dùng thang dây - thả trôi theo dòng xoáy
nước để tìm cảm giác mạnh. Thật là một ngọn thác tuyệt vời cần được khám phá và đầu tư để trở
thành một điểm đến cho du khách gần xa.
8. R ng nguyên sinh tây Cát Tiênừ
Nằm trên địa bàn huyện Bù Đăng và Đồng Phú. Tây Cát Tiên là địa danh nằm trong qui
hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Phước năm 2010 thuộc quần thể khu dự trữ sinh quyển Vườn
quốc gia Cát Tiên được công nhận năm 1998. Đây là nơi bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới lớn
nhất Việt Nam. Vườn quốc gia có cảnh quan đẹp, phong phú về các hệ động thực vật, nơi nổi tiếng
về đa dạng các loài chim, trong rừng có nhiều loại thú quý hiếm như: tê giác, bò rừng, bò Bonten,
ngan cánh ngắn, gà so cổ hung...
17. Đặc sản và ẩm thực
Món Ve s u s aầ ữ
Ve sầu, sau mùa hè, chúng sẽ lột xác hàng loạt trên cây điều, cao su...
Vào đầu giờ tối , khoảng 17-18h chúng lột xác đồng loạt và rất nhanh, ta có thể thu hoạch
chúng và chế biến
Lưu ý: Do ve lột xác sau 5 phút sẽ chuyển màu và cứng cánh, ăn không ngon, nên bắt con
ve sữa cho nhanh vào bình nhựa hoặc thủy tinh rồi bịt kín...
97
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Món ăn này quý hiếm bởi để có nguyên liệu chế biến phải mất nhiều công sức. Ve sầu là
côn trùng sống nhiều trên các cây điều, cao su hoặc cây rừng tại Bình Phước. Sau mùa hè, cứ vào
khoảng 17 - 18 giờ tối là chúng sẽ lột xác hàng loạt. Và những con ve lột xác này gọi là ve sầu sữa.
Để có ve sầu sữa, người “săn” ve phải nhanh tay bắt chúng khi ve vừa lột xác. Bởi sau khi lột xác
khoảng 5 phút là con ve sẽ trở nên cứng, không thể ăn.
Sau khi bắt ve, người ta bỏ ve vào túi ni - lông rồi bịt kín lại và mang đi chiên (rán) giòn.
Bắc một chảo dầu lên bếp, đợi dầu sôi lên, nhanh tay bỏ ve vào. Khi ve vàng và tỏa mùi thơm là ve
đã chín. Món ve sầu chiên giòn thường ăn kèm với ra sống và nước mắm tỏi ớt. Những con ve
vàng óng, béo ngậy và giòn tan cùng với hương thơm rất cuốn hút và hấp dẫn.
Bánh h t đi u Bình Ph cạ ề ướ :
Bánh hạt điều Bình Phước Hạt điều có một hương vị rất riêng và được dùng làm gia vị cho
các món ăn hay trang trí cho những món bánh. Bình Phước là một trong những tỉnh có diện tích
trồng điều lớn nhất Việt Nam. Bởi thế, người dân nơi đây đã tận dụng nó để làm ra những món
bánh thơm ngon nhất là món bánh hạt điều.
Bánh hạt điều được làm từ những nguyên liệu chính gồm: bột nổi, trứng gà, một ít dầu ăn,
đường, bột mì, bột quế, đường và hạt điều (do đây là bánh hạt điều nên hạt điều là một trong
những nguyên liệu rât quan trọng để tạo nên mùi vị của bánh).
Để làm được những chiếc bánh hạt điều, người ta rửa hạt điều thật sạch, ngâm trong nước
khoảng 10 phút cho hạt điều mềm, sau đó vớt hạt điểu ra và thấm khô hạt điều.
Trộn các nguyên liệu như bột mì, bột quế, bột nổi cho hòa đều với nhau. Sau đó bơ và
đường được cho vào máy đánh tơi thành kem và cho trứng với dầu ăn mới đánh xong vào đánh
chung. Cuối cùng cho tất cả bột vào máy đánh đều, khi nào thấy bột trong máy không văng ra hai
bên thành là bột đã tới, tắt máy ( chú ý là không nên đánh bột lau quá, vì bánh chín sẽ bị cứng).
Sau khi tất cả đã xong thì cho hạt điều vào trộn thật đều.
Bánh sau khi đã được chuẩn bị xong phần nguyên liệu thì đưa vào lò nướng, nhiệt độ
nướng thích hợp là khoảng 180o
C.
Bánh hạt điều sau khi nướng xong sẽ có màu vàng của bánh hòa với mùi thơm của hạt
điều, rất hấp dẫn. Bánh khi ăn bạn sẽ cảm nhận được độ giòn tan, hạt điều sần sật trong miệng sẽ
làm cho người ăn thích thú khi cắn nát những hạt điều li ti ấy. Bánh có thời gian bảo quản khá lâu,
nếu làm đúng kỹ thuật thì bạn có thể bảo quản bánh đến 1 tháng mà không sợ bị hư.
Món ăn t h t đi uừ ạ ề
Bình Phước được biết đến là vương quốc của điều. Hạt Điều có vị ngọt, bùi, tính ấm, tác
dụng bổ dưỡng. Rất tốt cho người suy nhược cơ thể, đau họng, ho do phong hàn, nhiều đàm. Đây
là loại hạt có nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe và cũng là một món ăn thường được dùng để
làm quà, tiếp khách trong các ngày lễ tết và chế biến một số loại bánh kẹo như hạt điều rang muối,
bánh hạt điều và hạt điều kết hợp làm ra nhiều món ăn bổ dưỡng .
HOA VIÊN QUÁN
Khu phố Thanh Bình - P. Tân Bình - TX. Đồng Xoài - Bình Phước
ĐT: 0926 919 989 - 0937 959 709
Email: hoavienquan@yahoo.com
Đến với Hoa Viên Quán quý khách sẽ tận hưởng cảm giác ấm áp thân thiện nhất, chúng tôi
sẽ đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quý khách. Ăn những món ăn đặc sản Bình Phước và các món ẩm
thực Việt Nam, có đầy đủ các loại nước giải khát, rượu đặc sản của mọi vùng miền.
98
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Ở tại một khu vưc sầm uất nhưng vị trí của nhà hàng lại khá yên tĩnh, thoáng mát và rộng
rãi với những cửa sổ lớn bên ngoài là cây cổ thụ che bóng mát, bàn ghế và sàn nhà ốp gỗ đem lại
cho khách hàng một cảm giác thư thái khi thưởng thức món ăn. Nhà hàng Hoa Viên Quán thực sự
là địa điểm lý tưởng cho các bữa ăn gia đình hay họp mặt bạn bè thân mật, ấm cúng.
Những món ăn của nhà hàng đều được dựa trên những công thức chế biến cũng như
nguyên vật liệu và gia vị truyền thống. Công thêm sự tìm tòi công phu, kết hợp với những cách
thức học tập từ những nước có nền ẩm thức nổi tiếng khác như Trung Quốc, Thái Lan các món Âu
- Á để tạo nên những món ăn vừa hấp dẫn, vừa độc đáo đem đến cho khách hàng.
Không gian nhà hàng thoáng đãng, thoải mái, nhưng vẫn rất gần gũi và ấm cúng cùng với
đội ngũ nhân viên của Hoa Viên Quán trẻ trung, năng động luôn đáp ứng kịp thời những yêu cầu
từ khách hàng một cách nhanh chóng để bữa bữa ăn luôn được phục vụ chu đáo và tốt nhất.
TÊN NHÀ HÀNG ĐỊA CHỈ
ĐIỆN
THOẠI
NH TÂY NGUYÊN 515 Phú Riềng Đỏ, P Tân Xuân,TX Đồng Xoài 0651870459
NH THUỶ TIÊN Đường Phú Riềng Đỏ, P Tân Bình, TX Đồng Xoài 0651879802
NH THẾ KỶ QL 14 KP Tân Đồng 1, P Tân Xuân , TX Đồng Xoài 0651879585
NH SÔNG TIỀN Tổ 1, KP Tân trà, P Tân Bình, TX Đồng Xoài 0651881903
NH THẢO NGUYÊN Phường Tân Phú , TX Đồng Xoài 0651881143
NH SÁU BĂNG KP Tân trà, P Tân Bình, TX Đồng Xoài 0651881604
18. Sản phẩm lưu niệm
- S n ph m hoa c , m t hang th công m ngh do đ ng bào S’tiêng ch tác.ả ẩ ỏ ạ ủ ỹ ệ ồ ế
- K o h t đi u M Lẹ ạ ề ỹ ệ
- Ch ph m th c u ng t trái đi u.ế ẩ ứ ố ừ ề
- Chè khô
- S n ph m ch tác t cây r ngả ẩ ế ừ ừ
- R u c n ông già Đi u C cượ ầ ể ướ
- Hang th công m ngh b ng r cây: giáng h ng, gõ, c m hàng làm b ng mây tre (Bùủ ỹ ệ ằ ễ ươ ẩ ằ
Đăng), lá nhíp, đ t mây r ng,…ọ ừ
99
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Đ NG NAIỒ

XVI. V TRÍ Đ A LÝỊ Ị
Đồng Nai là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ của Việt Nam, phía Đông giáp tỉnh Bình
Thuận, phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình
Phước, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh
Với diện tích 5.903,94 km², chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và 25,5% diện tích tự
nhiên vùng Đông Nam Bộ. Tỉnh Đồng Nai là địa bàn có thành phần dân tộc cộng cư khá đông đảo.
Theo số liệu thống kê, có trên 30 dân tộc sinh sống ở đây qua nhiều thời kỳ lịch sử. Trước năm
1698, người Việt và người Hoa đã đến vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai sinh sống nhưng không
nhiều. Các cư dân được xem là bản địa là Chơro, Mạ, Kơho, Stiêng.
XVII. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử
Vùng đất Đồng Nai khi xưa từng là Tổng Kho quân sự Long Bình của Mỹ Nguỵ. Là căn cứ
hậu cần tổng hợp lớn nhất của quân đội Mĩ - là trạm tiếp nhận và thay quân của quân đội Mĩ ở
Miền Nam Việt Nam. Do khoảng 2 nghìn quân Mĩ bảo vệ và quản lí, được phòng thủ đặc biệt kiên
cố.Vị trí ở đông bắc Sài Gòn 30 km, cạnh xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà. Được xây dựng trong thời kì
1965 - 1970 với tổng diện tích khoảng 24 km2
. Bao gồm: hệ thống nhà kho lớn chứa bom, đạn,
xăng, dầu, chất nổ và nhiều phương tiện, vật tư quân sự khác. Kho bị tiến công nhiều lần bằng đặc
công, pháo kích, tập kích,... Từ tháng 1 năm 1972, Mĩ giao lại cho quân đội Sài Gòn quản lý. Đến
29.4.1975 thì kho bị đánh chiếm.
XVIII. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ
18. Địa lý tự nhiên
Đồng Nai là một tỉnh vùng miền Đông Nam Bộ nước Việt Nam, phía đông giáp tỉnh Bình
Thuận, đông bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, tây bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước, nam giáp
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, tây giáp thành phố Hồ Chí Minh
Đồng Nai có diện tích 5.903,94 km², chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và 25,5%
diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ.
Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 thành phố 1 thị xã và 9 huyện:
 Thành phố Biên Hoà
 Thị xã Long Khánh
 Huyện Định Quán
 Huyện Long Thành
 Huyện Nhơn Trạch
 Huyện Tân Phú
 Huyện Thống Nhất
 Huyện Vĩnh Cửu
 Huyện Xuân Lộc
 Huyện Cẩm Mỹ
 Huyện Trảng Bom
100
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
19. Địa hình
Địa hình Đồng Nai gồm một số thung lũng, đồng bằng, gò, đồi thấp, tuy nhiên phần đất
tiếp giáp với cao nguyên Lâm Viên và Di Linh thì tương đối cao. Phần lớn đất ở Đồng Nai là đất
bazan, đất xám và đất phù sa cũ rất tốt cho việc trồng trọt. Bởi vì vậy Đồng Nai trồng nhiều cây
công nghiệp (cây cao su, cà phê .. ), cây ăn trái và cây công nghiệp ngắn ngày.
20. Khí hậu
Khí hậu có hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4
năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 25,4 - 27,2 o
C. Là tỉnh có sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Lá
Buông chảy qua, có nhà máy thủy điện Trị An.
21. Tài nguyên
Đồng Nai có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú gồm tài nguyên khoáng sản có
vàng, thiếc, kẽm; nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đất sét, cát sông; tài nguyên rừng và nguồn
nước... Ngoài ra, Đồng Nai còn phát triển thuỷ sản dựa vào hệ thống hồ đập và sông ngòi. Trong
đó, hồ Trị An diện tích 323 km² và trên 60 sông, kênh rạch, rất thuận lợi cho việc phát triển một số
thủy sản như: cá nuôi bè, tôm nuôi....
 Tài nguyên nước:
Tỉnh Đồng Nai có mật độ sông suối khoảng 0,5 km/km², song phân phối không đều. Phần
lớn sông suối tập trung ở phía bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng tây nam. Tổng lượng nuớc
dồi dào 16,82 x 109 m³/năm, trong đó mùa mưa chiếm 80%, mùa khô 20%. Các con sông chính
chảy qua tỉnh Đồng Nai như: Sông Đồng Nai, và các phụ lưu lớn của nó như sông La Ngà và Sông
Bé đổ vào dòng chính gần hồ Trị An. Ngoài ra còn có sông lớn khác nh7 sông Lá Buông, sông
Ray, sông Xoài và sông Thị Vải.
Tổng trữ lượng nước dưới đất của tỉnh Đồng Nai là khoảng 5.505.226 m³ /ngày. Bao gồm,
trữ lượng nước tĩnh vào khoảng 793.379 m³/ngày, trong đó, trữ lượng dung tích (trữ lượng tĩnh
trọng lực) là 789.689 m³/ngày và trữ lượng đàn hồi là 3691 m³/ngày. Trữ lượng động khoảng
4.714.847 m³/ngày là toàn bộ dòng mặt vào mùa khô và là giới hạn dưới của trữ lượng nước dưới
đất. Tuy có trữ lượng nước dưới đất phong phú, nhưng phân bố không đều, và nhu cầu khai thác
tăng cao vào các tháng mùa khô nên việc khai thác nước dưới đất cần phải theo qui hoạch khai
thác hợp lý.
 Tài nguyên khoáng sản:
Các loại tài nguyên khoáng sản ở Đồng Nai gồm có: khoáng sản kim loại, không kim loại,
đá quý, và nước khoáng.
Các khoáng sản kim loại chủ yếu phân bố ở Đồng Nai gồm vàng, bô xít, thiếc, chì, kẽm...
Các mỏ vàng nhỏ ở Hiếu Liêm và Vĩnh An và các điểm quặng chưa được đánh giá đầy đủ ở: Suối
Ty, Suối Nho, Tam Bung, Suối Sa Mách, lâm trường Vĩnh An, lâm trường La Ngà, lâm trường
Hiếu Liêm. Quặng bauxit phát hiện 2 mỏ ở DaTapok (lâm trường Mã Đà) và lâm trường La Ngà
với trữ lượng ước đạt khoảng 450 triệu m³. Thiếc chỉ gặp dưới dạng vành phân tán khoáng vật,
hàm lượng thấp, tập trung ở núi Chứa Chan, Suối Rét, Suối Sao, và sông Gia Ray. Chì kẽm đa kim
được phát hiện ở núi Chứa Chan.
Các khoáng sản không kim loại như: Kaolin, đá xây dựng và ốp lát, cát xây dựng, sét gạch
ngói, Puzolan, và keramzit phân bố ở Đại An và Trị An với trữ lượng ước tính khoảng 8 triệu tấn.
Đá quý chỉ được phát hiện có quy mô nhỏ, không có triển vọng khai thác công nghiệp
như: Ziricon (Gia Kiệm, Núi Lá, Tân Phong), Xa phia (Cầu La Ngà, phía nam Tân Phong, Gia
Kiệm), Pyrop-ziricon,Opan- canxedon (núi Chứa Chan), tecfic (bắc Tài Lài).
101
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Tài nguyên nước khoáng bao gồm các loại; nước khoáng - nước nóng ở Phú Lộc và Kay;
nước khoáng Magie - bicarbonat ở suối Nho; nước khoáng siêu nhạt ở Tam Phước và Nhơn Trạch;
nước khoáng sắt ở phía Nam Thành Tuy Hạ; nước mặn loại Clorua - Natri ở Nam Tuy Hạ;
 Tài nguyên rừng:
Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong
phú đa dạng, tiêu biểu là vườn Quốc gia Nam Cát Tiên. Năm 1976, tỷ lệ che phủ của rừng còn
47,8% diện tích tự nhiên, năm 1981 còn 21,5%. Năm 2006, độ che phủ rừng là 26,05% tổng diện
tích tự nhiên, có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia Nam Cát Tiên, với nhiều loài động, thực
vật quý hiếm. Với việc triển khai thực hiện chương trình trồng rừng và quy hoạch này, có thể dự
báo tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) sẽ tăng lên đạt 45-50% trong thời kỳ đến
năm 2010.
22. Cây cao su
a). Nguồn gốc và quá trình phát triển:
Được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vườn thực vật Sài Gòn năm 1878
nhưng không sống.
Năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia được nhập vào Việt Nam. Trong 1600 cây sống,
1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ
Yersin trồng thử ở Suối Dầu (cách Nha Trang 20 km).
Năm 1897 đã đánh dấu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên
được thành lập là Suzannah (dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn
điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ : SIPH,
SPTR, CEXO, Michelin … Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập.
Được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 - 1962,
trên những vùng đất cao 400 - 600 m, sau đó ngưng vì chiến tranh.
Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ. Từ 1977, Tây
Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới cao su, thoạt tiên do các nông trường quân đội, sau
1985 đo các nông trường quốc doanh, từ 1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng cao su. Ở miền
Trung sau 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng trị, Quảng Bình trong các công ty quốc
doanh.
Cao su (danh pháp khoa học: Hevea brasiliensis), là một loài cây thân gỗ thuộc về họ Đại
kích (Euphorbiaceae) và là thành viên có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea. Nó có
tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất lỏng chiết ra tựa như nhựa cây của nó (gọi là nhựa mủ-
latex) có thể được thu thập lại như là nguồn chủ lực trong sản xuất cao su tự nhiên.
Cây cao su có thể cao tới trên 30m. Nhựa mủ màu trắng hay vàng có trong các mạch nhựa
mủ ở vỏ cây, chủ yếu là bên ngoài libe. Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo hướng
tay phải, tạo thành một góc khoảng 30 độ với mặt phẳng.
Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ: các vết rạch vuông
góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây
tổn hại cho sự phát triển của cây, và nhựa mủ được thu thập trong các thùng nhỏ. Quá trình này
gọi là cạo mủ cao su. Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhưng chúng sẽ ngừng sản xuất
nhựa mủ khi đạt độ tuổi 26-30 năm.
Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon. Nhựa mủ dùng để sản xuất
cao su tự nhiên là chủ yếu, bên cạnh việc sản xuất latex dạng nước.
Gỗ từ cây cao su, gọi là gỗ cao su, được sử dụng trong sản xuất đồ gỗ. Nó được đánh giá
cao vì có thớ gỗ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn và có thể chấp nhận các kiểu hoàn thiện khác nhau.
102
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Nó cũng được đánh giá như là loại gỗ "thân thiện môi trường", do người ta chỉ khai thác gỗ sau
khi cây cao su đã kết thúc chu trình sản sinh nhựa mủ.
23. Giao thông
Đồng Nai là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch
quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài
Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng
cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây
Nguyên.
XIX. IV. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN
1. Tín ngưỡng và tôn giáo
Đồng Nai là tỉnh có nhiều tôn giáo, bao gồm 24 tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách
pháp nhân và 5 tổ chức tôn giáo được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, có số lượng tín đồ
đông nhất nước với hơn 1.339.426 tín đồ các tôn giáo, chiếm gần 60% số dân toàn tỉnh.
Ngoài tín ngưỡng dân gian, Đồng Nai còn có một số tôn giáo lớn: Ðạo Phật, đạo Thiên
Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Ðài và đạo Hoà Hảo. Trong đó, thờ cúng Ông Bà, đạo Phật
và đạo Thiên Chúa có nhiều ảnh hưởng trong đời sống xã hội và sinh hoạt của nhân dân, đồng thời
cũng để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hóa và kiến trúc.
2. Lễ hội
1. Tết Nguyên đán:
Nhằm ngày mùng 1 tháng 1 âm lịch, là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt
Nam. Tết Nguyên đán Việt Nam từ buổi “khai thiên lập địa” đã tiềm tàng nhiều giá trị nhân văn
thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ.Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam
tưởng nhớ, tri ân tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý (ăn quả nhờ kẻ trồng
cây) và tình nghĩa xóm làng...
Ngày Tết, mọi người trang hoàng nhà cửa, treo tranh, trưng bày hoa quả, rước tổ tiên về
cùng ăn Tết. Hoa Mai ở Đồng Nai là loại hoa không thể thiếu trong mọi nhà ngày đầu năm.
Tết, trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình, ngoài các thứ bánh trái cũng không thể thiếu
mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả ở Đồng Nai cũng như nhiều tỉnh thành Nam Bộ gồm dừa xiêm, mãng
cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung hoặc một loại trái cây khác. Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng
cho ý niệm khát khao của con người vì sự đầy đủ, sung túc. Ngày Tết, người Đồng Nai cũng còn
duy trì các mỹ tục cổ truyền như khai bút, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ...
2. Rằm tháng Bảy:
Theo tín ngưỡng là ngày xá tội vong nhân, nghĩa là bao nhiêu tội nhân ở âm phủ ngày này
đều được tha tội. Bởi vậy trên dương thế mọi gia đình đều làm cỗ bàn, đốt vàng mã cúng gia tiên
và đồng thời cúng những linh hồn bơ vơ không được ai chăm sóc. Người ta cũng thả chim lên trời,
thả cá xuống sông, để làm điều phúc đức.
3. Tết Trung thu:
Như tên gọi đến với mọi nhà vào đúng giữa mùa thu tức là vào rằm tháng Tám âm lịch. Tết
Trung Thu là tết của trẻ em.
Một loại bánh đặc biệt thơm ngon chỉ được sản xuất và bày bán trong dịp này gọi là bánh
trung thu. Trẻ em đón tết Trung Thu có đèn xếp, đèn lồng, đèn ông sao... sặc sỡ thắp sáng kéo
nhau đi thành từng đoàn ca hát vui vẻ ngoài đường, ngoài ngõ, cùng với những đám múa lân, múa
Ông Địa với tiếng trống, tiếng thanh la náo nhiệt. Trong dịp này, để thưởng trăng có rất nhiều cuộc
vui được bày ra. Người lớn có cuộc vui của người lớn, trẻ em có cuộc vui của trẻ em.
4. Ngày Tết của các dân tộc ở Đồng Nai:
103
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Người dân tộc bản địa ở Đồng Nai chủ yếu là người Cơ Ho, Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ.
Ngày nay, khi điều kiện kinh tế - xã hội chuyển biến theo chiều hướng phát triển đi lên, theo đó là
sự biến thái của một số phong tục, tập quán, tín ngưỡng và lễ hội.
Từ quá trình xen cư và cộng hưởng văn hóa, đời sống với đồng bào Kinh trong nhiều năm
qua, nên hầu hết các dân tộc anh em gốc bản địa đã biết đón Tết Nguyên đán và tổ chức vui Tết.
Quá trình cộng cư và cảm nhận ấy giúp đồng bào hiểu rằng, cái Tết của người Kinh là một sinh
hoạt văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, là dịp để mọi người xích lại gần nhau hơn, hiểu biết, sẻ
chia và yêu thương nhau nhiều hơn.
Tuy nhiên, cách đón Tết Nguyên đán của đồng bào dân tộc thiểu số không hoàn toàn giống
với tinh thần của người Kinh, các dân tộc hầu hết đều tiếp nhận yếu tố “hội” trong cái Tết Nguyên
đán chứ không tiếp nhận yếu tố “lễ”. Ngày Tết, họ cũng qua thăm nhà và chúc tụng lẫn nhau, trẻ
con được cho quà bánh, được mặc áo mới, được đến các điểm vui chơi cộng đồng. Tuy nhiên,
không xuất hiện cảnh cúng rước, không kiêng cữ, không có tục hái lộc đón Xuân... như đối với
người Kinh. Ngược lại, ngày Tết của các dân tộc bản địa chính là những lễ nghi nông nghiệp và
những ngày lễ hội cổ truyền mang sắc mầu văn hóa tộc mình. Họ gọi đó là Nhô Lir Bông, Tết
mừng lúa mới, Nhô Rhe, Yangpa…
5. Người Cơ Ho:
Trong xã hội truyền thống của người Cơ Ho đã tồn tại hai hình thức gia đình theo chế độ
mẫu hệ: gia đình lớn và gia đình nhỏ. Người phụ nữ đúng vai trò chủ động trong hôn nhân, sau
hôn lễ, người đàn ông về nhà vợ ở (nếu gặp trường hợp gia đình hiếm muộn thì người phụ nữ vẫn
có thể ở nhà chồng), con cái tính dòng họ theo mẹ, con gái là người thừa kế. Hôn nhân của người
Cơ Ho dựa trên cơ sở sự ưng thuận giữa hai bên trai gái, cha mẹ không quyết định. Độ tuổi kết hôn
của người Cơ Ho thường là 16 - 17 tuổi đối với nữ và 18 - 20 tuổi đối với nam.
Hàng năm, người Cơ Ho tổ chức ăn Tết khi mùa màng đã thu hoạch xong (theo thời vụ
hiện nay thường vào tháng 12 dương lịch). Tết này có ý nghĩa đón lúa về nhà (Nhô Lir Bông hay
Nhô Lirvong ). Theo tập quán, các gia đình thay phiên nhau mỗi năm hiến một con trâu để
cả bontổ chức lễ đâm trâu (nho sa rơ pu) trong dịp này. Lễ tổ chức ngoài trời trước nhà chủ có vật
hiến tế, nhà già làng hay trên mảnh đất rộng, bằng phẳng, cao ráo trong làng, với cây nêu trang trí
sặc sỡ. Mọi người nhảy múa theo tiếng cồng chiêng. Thịt trâu được chia cho từng gia đình, còn
máu trâu bôi vào trán những người dự lễ như một sự cầu phúc. Lễ tết kéo dài 7 - 10 ngày, trong
các ngày Tết, dân làng đến chung vui với từng gia đình. Trong từng gia đình, người ta cũng tổ
chức hiến tế gà, bôi máu lên vựa thóc, sàn kho, cửa ra vào, cửa sổ. Sau Tết, người ta mới được ăn
lúa mới và thực hiện các công việc lớn như làm nhà, chuyển làng...
6. Người S’tiêng:
Dân tộc này gồm hai nhóm gồm có Bù Đéc ở vùng thấp, biết làm ruộng nước và
dùng trâu, bò kéo cày từ khá lâu và nhóm Bù Lơ ở vùng cao, làm rẫy là chủ yếu. Trước đây người
Xtiêng thường ăn bốc nhưng gần đây đã ăn bằng bát đĩa. Họ hay dùng rượu cần trong dịp hội hè.
Ngày nay người Xtiêng ở nhiều nơi đã định canh định cư, từng gia đình làm nhà ở riêng. Họ Điểu
là họ phổ biến khắp vùng Xtiêng. Làng Xtiêng có truyền thống tự quản, đứng đầu là một ông già
am hiểu tập tục, có uy tín lớn, tháo vát và thường là người giàu có ở làng. Mức giàu được tính
bằng tài sản như: trâu, bò, chiêng, cồng, ché, vòng, trang sức...
Ngày Tết Mừng lúa mới, nhà nào cũng sắm váy mới, áo mới cho thanh niên, phụ nữ ai
cũng đeo bằng hết các trang sức mà mình có để khoe với mọi người trong buôn. Các gia đình đều
có hàng chục ché rượu cần và cũng mổ trâu, bò, heo để thiết đãi bà con buôn làng. Trong Tết
mừng lúa mới, buôn làng tổ chức lễ đâm trâu, cồng chiêng hò reo sôi động. Người Stiêng có tục lệ
ngày Tết mừng lúa mới là lấy dây mây song đập nát trộn với đất, rồi đắp lên cơ thể mỗi người để
nhắc nhở con cháu rằng thời tiền sử loài người sinh ra chỉ có thịt mà không có xương. Tết mừng
lúa mới của người S/tiêng kéo dài hai, ba ngày.
104
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
7. Người Châu Mạ
Người Châu Mạ (còn gọi là người Mạ) làm nương rẫy trồng lúa và cây khác như ngô, bầu,
bí, thuốc lá, bông... Công cụ sản xuất thô sơ, có các loại xà-gạt, xà-bách, dao, rìu, gậy chọc lỗ. Ở
vùng Cát Tiên ( huyện Tân Phú) có kỹ thuật làm ruộng nước bằng cách lùa cả đàn trâu xuống
ruộng để trâu giẫm đất đến khi sục bùn thì gieo lúa giống (xạ lúa). Người Mạ nuôi trâu, bò, gà, vịt,
ngan... theo cách thả trâu, bò vào rừng sống thành đàn, chỉ khi cần giết thịt hoặc giẫm ruộng mới
tìm bắt về. Phụ nữ Mạ nổi tiếng về nghề dệt vải truyền thống với những hoa văn tinh vi hình hoa
lá, chim thú với nhiều màu sắc. Nghề rèn sắt nổi tiếng ở nhiều làng. Họ tự luyện quặng lấy sắt để
rèn các công cụ sản xuất và vũ khí như xà gạt lưỡi cong, lao... Ở vùng ven sông Đồng Nai, người
Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông.
Đồng bào Châu Mạ gọi nghi lễ kết thúc những ngày đồng áng là Nhô Rhe, tức là “mừng
lúa mới”, họ tổ chức sa rơpu (ăn trâu) và diễn ra trong bảy ngày, bảy đêm. Ngoài ra, những lễ hội
cúng Giàng, cúng mùa, cầu an, cầu mưa của họ cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn bản sắc văn
hóa riêng của dân tộc mình.
8. Người Chơ Ro
Trước kia người Chơ Ro sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy, cuộc sống nghèo và không ổn
định. Về sau đồng bào đã biến rẫy thành đất định canh, đồng thời nhiều nơi phát triển làm ruộng
nước, nhờ vậy cuộc sống có phần khá hơn. Chăn nuôi, hái lượm, săn bắn, đánh cá đều góp phần
quan trọng trong đời sống của người Chơ Ro. Ngoài ra họ đan lát, làm các đồ dùng bằng tre, gỗ.
Hai tết lớn của đồng bào Chơ Ro là lễ cúng thần rừng và lễ cúng thần lúa vào khoảng tháng
ba âm lịch, gọi là Tết Yang Pa. Ngày cúng thần lúa cũng là lúc các cô gái trình cho buôn làng các
loại bánh ngon như bánh tét, bánh ống, bánh dầy... Sau lễ cúng thần lúa tại nhà là bữa ăn tập thể do
gia chủ đứng ra khoản đãi tại nơi hành lễ. Thường thường nơi cúng lễ là gốc cây cổ thụ trong buôn
làng. Họ quan niệm thần lúa thường đến nghỉ ngơi ở đó.
3. Loại hình nghệ thuật truyền thống
Do mới hình thành từ sự hội nhập nhiều lớp cư dân cách đây hơn ba thập kỷ, ở Biên Hòa -
Đồng Nai không thấy có làn điệu dân ca nào đặc thù nhưng lại có gần như đủ giọng dân ca của xứ
Trung, xứ Bắc. Quan họ, ca Huế, ví dặm... hiện vẫn có đất sống ở các cụm dân cư còn da diết với
cố hương. Tiếng hát ru của các bà má Biên Hòa - Đồng Nai đủ giọng ba miền Nam - Trung - Bắc.
Các điệu hò, lý ở đồng ruộng, trên dòng sông hay ở bãi mía, sân đình thường lộ rõ âm điệu của xứ
Thuận, xứ Quảng. Có thể nói, hội nhập, tổng hợp, dung hòa là đặc điểm của diễn xướng nghệ
thuật truyền thống ở xứ Biên Hòa - Đồng Nai. Có hai dạng diễn xướng nghệ thuật truyền thống
khó phân đinh rạch ròi: diễn xướng nghệ thuật trong sinh hoạt thông thường và diễn xướng thực
hiện nghi lễ.
3.l Trong sinh hoạt thông thường, người Biên Hòa - Đồng Nai xưa có sinh hoạt nghệ
thuật: Hò hát, lý, kể vè, nói thơ, nói tuồng, đờn ca tài tử... nhằm giải trí, giao lưu văn hóa, thư giãn
tinh thần và tăng hứng thú lao động.
Sách Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có ghi ở Cù Lao Phố xưa, ngày tết
có hát sắc bùa: “Đêm 28 tháng chạp, na nhân (tục danh nậu sắc bùa) đánh trống, gõ phách, một
bọn 15 người đi dọn đường, trông nhà hào phú nào mở cửa ngõ thì vào dán lá bùa nơi cửa, niệm
thần chú, rồi nổi trống phách lên, ca xướng những lời chúc mừng, người chủ nhà dựng cỗ bàn chè
rượu khoản đãi và gói tiền thưởng tạ xong nhà này lại qua nhà khác, cũng làm như vậy cho đến
chiều buổi trừ tịch mới thôi, ấy là có ý đuổi tà tống ma, trừ cũ rước mới vậy.
Đó là hình thức diễn xướng tổng hợp với chức năng chúc xuân, bắt đầu từ 28 tháng chạp
đến rằm tháng riêng hàng năm, có nguồn gốc liên quan đến tục hát xiếc bùa của người Mường theo
đoàn người di dân vào Đồng Nai, phổ biến đến đầu thế kỷ XX, hiện đã thất truyền ở Biên Hòa -
Đồng Nai, còn thấy bảo lưu ở một số xă thuộc Tỉnh Bến Tre.
105
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
- Hò là hình thức hát đối đáp trong lao động, có người cất giọng diễn lời (xướng), tập thể nối
theo phụ họa (xô). Phổ biến ở Biên Hòa - Đồng Nai là loại hò cấy, tức điệu hò của vạn cấy. Xưa,
dân cấy thường đi cấy tập thể do đầu công tập hợp và điều hành. Đêm khuya, tiếng tù và của đầu
công thổi từng hồi, báo hiệu các công cấy thức giấc, nấu cơm tập trung ở điểm hẹn cùng đi ra
đồng. Đến đồng ruộng, nếu thiếu công cấy, lại thổi tù và “còn thiếu...” để mời gọi thêm công hoặc
nhờ điều phối công từ vạn cấy khác. Không khí cấy tập thể đông vui, nảy sinh nhu cầu hò hát.
Giọng hò cấy tự do, âm điệu na ná hò mái ố của miền Tây nhưng có nét riêng của đồng ruộng
Đông Nam bộ. Lời hò là lục bát, song thất lục bát hoặc lục bát biến thể được mở đầu bằng giọng
hò dài “Hò... hơ... hớ... ơ… ơ''; giữa câu ngắt đoạn bằng đoạn hò ngắn ''hò.. ơ... hò “, kết thúc
bằng giọng xuống hơi kéo dài, giọng xô tập thể nối theo ''hò khoan... hò”. Dứt giọng xô của câu
đối, giọng hò đắp cất lên. Lời hò sau phải tiếp vần câu hò trước. Nếu bí vần là bi đứt, coi như thua
cuộc. Lời đáp câu đối nối nhau, bên nam bên nữ, tốp này tốp kia cùng vào cuộc chơi, có người hò
cái, có người nhắc câu, tập thể hò phụ họa. Cứ thế cuộc hò kéo dài, có khi liên tục mấy ngày liền.
Nhiều người mê hò mà đến mê nhau. Các vùng Cù Lao phố (Biên Hòa), Cù lao Thạnh Hội (Tân
Uyên), Bình Lục (Vĩnh Cửu), Phước Hòa (Long Thành), Hiệp Phước (Nhơn Trạch)… đều có
những giọng hò nổi tiếng, thường giao lưu đối đáp với nhau, hiện nhiều nghệ nhân ở lứa tuổi 50,
60 trở lên còn ấp ủ nhiều kỷ niệm đẹp về một thời hò cấy.
Cùng với hò cấy còn có hò chèo xuống (còn gọi hò chèo ghe), hò giã gạo. Theo các nghệ
nhân cao tuổi, thực chất, hò chèo xuồng, hò giã gạo là biến thể của hò cấy trong môi trường lao
động chèo xuồng hoặc giã gạo; có khác hò cấy chút ít ở giọng hò ngân dài hơn, ít giọng xô và một
số lời hát theo văn cảnh.
Cũng theo hình thức lao động mà ngoài hò chèo ghe còn có hò đò dọc của giới thương hồ
buôn bán đường dài và hò rỗi của nậu ghe chuyên trở cá. Còn có bao nhiều điệu hò nữa ở Biên
Hòa -Đồng Nai xưa ? Hiện chưa có đủ điều kiện để trả lời câu hỏi ấy.
- Lý là hình thức diễn xướng những câu hát ngắn, ngẫu hứng thành làn điệu, một loại hình diễn
xướng phổ biến của Nam bộ “Nam lý, Huế hò, Bắc thơ”. Theo ký ức của người cao tuổi, ngoài các
bài lý phổ biến ở Nam bộ, xứ Biên Hòa - Đồng Nai từng có nhiều người hát lý rất hay, nhưng
không hiểu do đâu đã mất hẳn, hiện chưa tìm ra dấu vết. Bài Lý Đồng Nai âm điệu thế nào không
rõ, chỉ còn lại phần lời không đầy đủ:
Gạo đàng Ngoài: Bảy tiền một bát
Gạo Đàng Trong: Bảy bát một tiền
Anh không tin thì anh vô Đồng Nai mà coi
Có quân tập trận có chòi bắn bia
Có con ngựa hồng mao tiền mao hậu
Quan võ thầy đầu đội mão đai.
- Kể vè, nói thơ, nói tuồng là hình thức diễn xướng tự sự bằng lối “ nói vãn” có gõ nhịp hoặc
không gõ nhịp, nhằm thể hiện các bài vè, truyện thơ, tích tuồng thuộc nằm lòng. Ở Biên Hòa -
Đồng Nai xưa lưu truyền nhiều bài vè. Phổ biến là các bài vè quen thuộc (nguyên bản hoặc dị bản)
lưu truyền cả nước như: Vè Chàng Lía, vè Thông Chánh, vè Con cút, vè Bài tới, vè Con gái lấy thợ
câu cua, vè Nói ngược, vè Nói dóc, vè Trăm thứ bành… còn có những bài vè ứng tác tại địa
phương kể về các sự việc đáng chú ý trong đời thường, có thể nêu: Vè Xã Những mất vợ (Ông Võ
Văn Đạc ở xã Long Phước, huyện Long Thành kể), vè Hương thân Cẫn (bà Sáu Nhâm ở xã Phú
Hội huyện Nhơn Trạch kể), vè Rượu (ông Chín Lát ở xã Long Tân, huyện Nhơn Trạch kể)…
- Thơ được kể ở Biên Hòa xưa thường là truyện thơ Nôm: Lục Vân Tiên, Lâm Sanh Xuân Nương,
Phạm Công Cúc Hoa, Chàng Nhái Kiểng Tiên, Trần Minh khố chuối… hoặc các truyện cổ tích
Tàu diễn ca, như: Tống tửu Đơn Hùng Tín, Tiết Cương phục nghiệp… Đầu thể kỷ XX, có thêm
truyện thơ lịch sử các hội thâm nhập từ miền Tây: Thơ Sáu Trọng Hai Đẩu, Thơ thầy Thông
106
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Chánh, Năm Tỵ, Sáu Nhỏ… Nói tuồng thường là độc diễn các trích đoạn tuồng tích Tàu hoặc
tuồng tích dân gian, như: Văn Doan Chàng Lía, ông Trượng - Tiên Bửu…. Hình thức kể vè, nói
thơ, nói tuồng thường diễn ra dưới trăng, trong đêm vắng, lúc thư thả hay những buổi hội, giỗ…
Đó là món ăn tinh thần của người cao tuổi đồng thời là thế giới kỳ ảo trong trí tưởng tượng của
tuổi thơ.
- Đồng Dao là một dạng hát - kể vè gắn với trò chơi tập thể của trẻ em. Nhiều bài hát đã mất
nghĩa ngôn từ nhưng còn ý nghĩa văn hóa trong cách chơi, cách diễn đạt thể hiện tính hồn nhiên
của tuổi thơ. Qua khảo sát thực tế, nhận thấy nhiều bài (hoặc dị bản) đồng dao quen thuộc ở Trung
bộ, Bắc bộ có mặt tự lâu đời ở Biên Hòa - Đồng Nai, phổ biến là các bài: Tập tầm vông, chơi với
quấc, vè Nói ngược, Cu cu chằn chằn, Con cò Xanh, Xích đu tiên, Bắt con kỳ nhông… Đồng dao
tập cho trẻ em hòa mình vào tập thể, quen với luật chơi bình đẳng, tự giác.
- Đờn ca tài tử là dạng sinh hoạt của các nhóm theo nghiệp đờn ca bài bản tài tử có nguồn gốc từ
nhạc sư Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại) phổ biến ở Nam bộ từ đầu thế kỷ XX. Ở Biên Hòa, Nhơn
Trạch, Vĩnh Cửu xưa có người theo học các thấy đờn ca tài tử tại Sài Gòn, Cần Đước… về lập
nhóm, sắm nhạc, họp thành ban nhạc, đờn ca các bài bản cổ điển như là sinh hoạt âm nhạc thính
phòng của dân gian. Từ đờn ca tài tử đến ca ra bộ, sau này phát triển thành ca cổ, cải lương.
- Hát tuồng (còn gọi là hát bội) là hình thức diễn xướng nghệ thuật tuồng truyền thống vốn phát
triển đặc sắc ở Trung bộ; có lẽ nó đã phổ biến ở Trấn Biên khá sớm, và có điều gì đó đặc sắc khiến
vào khoảng năm 1761 Chúa Nguyễn sai người vào Trấn Biên tìm bắt ca nhi đem về phụng sự phủ
Chúa. Tuồng hát ở Nam bộ thường dựa theo tích Tàu, sau có soạn thêm một số tuồng Việt lấy tích
trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc; xoay quanh các chủ đề ca ngợi trung, hiếu, tiết, nghĩa.
Đoàn hát do dân tự lập, lưu diễn ở các thôn làng, có diễn trích đoạn ở đám tang theo yêu cầu của
gia chủ. Như gánh hát bội của Bầu Làm ở xã An Hòa (huyện Long Thành) chẳng hạn. Họ hàng,
bạn bè trong làng hợp lại mua sắm, tự soạn kịch bản, tự diễn tập, mùa hát đi diễn khắp miền Đông,
mùa ruộng phân tán làm ăn, diễn được hơn 20 vở tuồng tự soạn cả tích Tàu tích Việt, biết thực
hiện nghi xây chầu, đại bội theo tục cổ truyền, đã trụ vững nhiều chục năm qua. Từ khi kịch nghệ
cải lương phát triển, hát bội dần dần vắng bóng ở sinh hoạt giải trí thông thường, chỉ còn phổ biến
trong các lễ cúng Kỳ Yên gắn với nghi lễ xây chầu, đại bội.
Ngoài ra, tại Đồng Nai, Đàn đá Bình Đa được biết đến như một di chỉ khảo cổ học, cho thấy
việc chế tác đàn đá đã xuất hiện từ trên dưới 3.000 năm trước. Đó là loại nhạc khí tự thân vang,
thuộc loại xylophone, metallophone. Mỗi bộ đàn gồm nhiều thanh đá hợp thành. Mỗi thanh đá có
kích thước và hình dáng khác nhau, được chế tác bằng phương pháp ghè đẽo thô sơ. Vật liệu để
làm đàn là những loại đá sẵn có ở vùng núi Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. (Bộ đàn đá đầu tiên
tìm được tại Việt Nam vào năm 1949 hiện được bảo quản tại viện bảo tàng "Con người" ở Paris)
4. Danh thắng và các công trình kiến trúc
Đồng Nai Thập Cảnh
Nếu như Hà Tiên có Hà Tiên thập cảnh, thế giới có 7 kỳ quan... còn Đồng Nai cũng là nơi
thiên nhiên tươi đẹp, sao không ai bình chọn 10 cảnh đẹp của Đồng Nai để vinh danh những thắng
cảnh này?
Trên ý nghĩ đó, nhân dịp kỷ niệm 310 năm Biên Hòa - Đồng Nai, ban Tuyên giáo tỉnh ủy
Đồng Nai đã phát động cuộc bình chọn 10 thắng cảnh đẹp nhất tỉnh Đồng Nai. Kết quả bình chọn
công bố ngày 17/12/2008, lễ tôn vinh ngày 20/12/2008. Nói chung là tổ chức khá quy mô và trọng
thể.Đáng tiếc là không giống như Hà Tiên thập cảnh, hàng trăm năm sau người ta vẫn nhớ, kết quả
bình chọn Đồng Nai thập cảnh này rơi vào quên lãng ngay sau đó. Có thể vì cảnh đẹp Đồng Nai
chưa xứng là cảnh đẹp, vì việc tuyên truyền chưa được rộng rãi, hay vì kết quả bình chọn không đi
vào lòng dân?
Đá Ba Chồng:
107
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Đá Ba Chồng nằm giữa khu vực dân cư sầm uất của huyện Định Quán, cạnh Quốc lộ 20.
Sau hàng triệu năm dãi dầu mưa nắng, ba lần ngâm mình dưới biển khi biển tràn vào, chứng kiến
hàng trăm ngọn núi lửa hoạt động dữ dội, Đá Ba Chồng như ba tảng đá xếp chồng lên nhau khá
chênh vênh vẫn đứng đó, tạo ra một cảnh quan hùng vĩ. Cạnh đá Ba Chồng là hai quả núi Bạch
Tượng hình dáng giống như đôi voi phục. Trên đỉnh núi là tượng Phật Thích Ca cao hơn 20m ngự
trên đài sen. Dưới chân núi Bạch Tượng còn có hang sâu và chùa Thiện Chơn, đối diện là Hòn
Dĩa, xa hơn một chút là hòn Sư Tử.
Đá Ba Chồng thuộc nền văn hóa óc- Eo - Phù Nam ở thềm cao nguyên Đông Nam Bộ, đã
được Bộ Văn Hóa Thông Tin xếp hạng năm 1988.
Điểm du lịch thác Giang Điền:
Thuộc xã Giang Điền, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, cách TP.HCM khoảng 45km,
nằm trên bờ sông Buông với cảnh quan thác Giang Điền hùng vĩ, thác Đôi thơ mộng giữa rừng hoa
lá. Tại đây du khách được cung ứng các dịch vụ tham quan, cắm trại, giải trí, hội nghị… nhằm hòa
nhịp với thiên nhiên, phong cảnh hữu tình.
Điểm du lịch sinh thái vườn - Làng bưởi Tân Triều
Điểm du lịch sinh thái vườn làng bưởi Tân Triều thuộc ấp Vĩnh Hiệp (Cù lao Tân Triều),
xã Tân Bình (Vĩnh Cửu - Đồng Nai) với diện tích khoảng 2ha trải dọc theo bờ sông, bao bọc xung
quanh bởi các cây bưởi giống ngon nổi tiếng như bưởi đường lá cam, bưởi đường múm, bưởi
thanh… ngoài ra tại đây còn có các món đặc sản từ bưởi như gỏi bưởi, nước ép bưởi, nem bưởi…
và đặc biệt là rượu bưởi Tân Triều với hương vị đậm đà, đặc trưng, mang lại cảm giác thanh tao…
mà chủ nhân Năm Huệ đã dày công nghiên cứu và chiết xuất thành công (Rượu bưởi Năm Huệ đã
được tặng thưởng nhiều cúp vàng, huy chương vàng về chất lượng sản phẩm. Nếu đến vườn bưởi
vào ngày cuối tuần, du khách còn được thưởng thức đờn ca tài tử do các nghệ sĩ miệt vườn trình
diễn.
Đến với làng bưởi, du khách còn có dịp viếng thăm các di tích lịch sử, các công trình kiến
trúc tôn giáo, tín ngưỡng dân gian nổi tiếng đã có từ lâu đời như nhà thờ Tân Triều, chùa Vĩnh
Hưng, đình Cẩm Dinh, đình Long Hòa
Núi Chứa Chan - Chùa Gia Lào
Từ TP.Biên Hòa theo quốc lộ 1, cách TP.HCM khoảng 80km, du khách sẽ đến với núi
Chứa Chan ở Thị Trấn Gia Ray - Huyện Xuân Lộc, Đồng Nai.
Núi Chứa Chan cao 837m với Chùa Bửu Quang (thường gọi là chùa Gia Lào) trên đỉnh núi
là điểm du lịch thu hút nhiều du khách hành hương. Chùa Bửu Quang được xây dựng từ đầu thế kỷ
XX, với chánh điện mái vòm, toạ lạc trên một hang đá có dáng hàm Rồng. Toàn bộ quần thể kiến
trúc chùa đều dựa theo những hang động thiên nhiên, tạo nên nét độc đáo giữa chốn thâm nghiêm
kỳ vĩ của núi rừng. Suối Tiên trong vắt, nước chảy róc rách quanh năm và cây đa ba gốc thần bí ở
lưng chừng núi như minh chứng thêm cho các huyền tích được truyền từ bao đời của vùng sơn
cước này. Từ độ cao hơn 600 mét, phóng tầm nhìn ra xa du khách có thể chiêm ngưỡng cảnh quan
thiên nhiên hữu tình, và lòng người sẽ cảm thấy thư thái sau chặng đường dốc lắm gian nan vất vả.
Núi Chứa Chan ngày nay còn lưu lại nhiều dấu tích hoạt động cách mạng qua hai cuộc
kháng chiến của người Đồng Nai, vì đây là căn cứ kháng chiến của nhân dân huyện Xuân Lộc và
chùa Bửu Hưng từng là căn cứ hậu cần, nơi trú đóng của nhiều cán bộ chiến sĩ cách mạng trong
cuộc chiến tranh giải phóng đất nước.
Rừng Sác Nhơn Trạch
Rừng Sác Nhơn Trạch thuộc địa phận các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, cùng một dải
với rừng Sác Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh). Rừng Sác là một vùng rừng ngập mặn hàng ngàn
km vuông nằm ở phía Đông Nam tỉnh Đồng Nai,
108
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Vùng rừng nay có thảm thực vật nước mặn rất phong phú với nhiều loại cây đước, da, sú,
có, mắm, bần…đan níu nhau thành nhiều tầng lớp và rất lắm cá tôm.Đây là vùng địa hình sình lầy,
mênh mông sông nước với hằng trăm sông lạch đan nhau chằng chịt.
Vùng Rừng Sác trở thành căn cứ địa cách mạng ngay từ những năm đầu tiên kháng Pháp.
Nơi đây cũng từng là chứng tích cho các cuộc rải thảm bom B52, chất độc hóa học, các cuộc càn
quét qui mô lớn với sự tham gia của nhiều binh chủng, tàu chiến và vũ khí hiện đại trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ. Nhưng cũng chính nơi đây đã khẳng định chân lý, niềm tin và ý chí con
người là vượt lên tất cả. Từng dòng sông, con lạch, giồng đất nơi đây đều lấp lánh chiến công: Tàu
quân sự của Pháp bị chìm, tàu Victory hàng vạn tấn của Mỹ cùng chung số phận, kho bom thành
Tuy Hạ, Kho xăng Nhà bè bốc cháy….625 liệt sĩ Đoàn 10 và 1.400 liệt sĩ của 12 xã huyện Nhơn
Trạch đã ngã xuống tại chiến trường sôi động ác liệt này. Để tưởng nhớ công ơn và chiến tích anh
hùng của cha anh, Đền thờ Liệt sĩ Nhơn Trạch được xây dựng tại xã Long Thọ, huyện Nhơn
Trạch, nơi cửa ngõ bước vào chiến khu Rừng sác năm xưa.
Sân Golf Đồng Nai
Thuộc thị trấn Trảng Bom, H.Trảng Bom, Đồng Nai, cách TP.HCM khoảng 45km, có 27
lỗ và là 1 trong 10 sân gôn có cảnh quan đẹp ở VN và độ thử thách nhiều nhất trong quá trình chơi
của các sân golf khu vực Đông Nam Á. Diện tích khoảng 260 hecta, sân golf với mô hình của
những đường bóng, lỗ gôn nhấp nhô, gợn sóng gắn với những ao, hồ nước thiên nhiên, nhân tạo
tạo nên bức tranh đẹp khó tả. Ngoài ra, còn có các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu và mong muốn của
khách hàng như khách sạn, nhà hàng, sàn tập, phòng xông hơi, massage, karaoke... Sân golf Đồng
Nai là một trong những khu du lịch thể thao, giải trí hấp dẫn vào những ngày nghỉ, lễ, dịp cuối
tuần .
Sông Đồng Nai (đoạn đi qua cù lao Phố)
Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên đổ ra cửa biển Soài Rạp, dài 610 km,
đoạn chảy qua địa bàn Đồng Nai dài 220 km, hệ phụ lưu gồm 253 sông suối, dài trên 10km, có ý
nghĩa quan trọng đối với sự sống ở lưu vực 42.600km2. Hai bên sông Đồng Nai có nhiều làng
nghề truyền thống, nhiều di tích lịch sử - văn hóa quan trọng của đất Đồng Nai và Nam Bộ.Từ thác
Trị An chảy ra biển Đông, dòng sông Đồng Nai để lại nhiều cù lao lớn nhỏ trong đó tại địa phận
Biên Hòa dòng chảy chia thành hai nhánh ôm trọn một dải đất. Đó chính là Cù Lao Phố hay còn
gọi là Nông nại Đại Phố- nay là xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa.
Theo sử sách đã chép, vào năm 1679 Tổng binh Trần Thượng Xuyên dẫn theo một đoàn
người xin cư trú tại việt Nam và được Chúa Nguyễn chấp thuận cho vào đất Đông Phố (nay là Cù
Lao Phố) khẩn hoang. Khi đến Cù Lao Phố, Ông đã cùng người dân địa phương xây dựng nơi đây
thành thương cảng lớn. Đường xá được mở rộng, phố xá được xây dựng, chợ búa được thành lập,
hàng hóa dồi dào, thường xuyên có nhiều tàu ngoại quốc lui tới buôn bán.Thế nhưng cuộc chiến
năm 1776 giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh đã tàn phá đi kiến trúc phong quang của Cù Lao phố, nay
không còn dấu vết. Thời kỳ hoàng kim của Cù Lao Phố đi vào dĩ vãng, hoàn thành sứ mạng của đô
thị cổ, một thương cảng sầm uất nhất phương Nam.
Cù Lao Phố hiện còn 5 ngôi chùa, 3 tịnh xá, 11 ngôi đình, 3 ngôi miếu. Có thể nói Cù Lao
Phố còn tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, đan xen hòa trộn lẫn nhau.
Hồ nước nóng Thác Mai
Bắt nguồn từ cao nguyên Lang Biang, sông La Ngà uốn lượn qua nhiều vùng đồi núi chập
chùng, vượt bao ghềnh bãi, để rồi hòa vào dòng nước con sông lớn Đồng Nai. Thác Mai là một
trong những thắng cảnh cuả sông La Ngà trên con đường hợp dòng gian nan ấy.
Muốn đến thác Mai, từ km 112 trên quốc lộ 20, du khách hãy rẽ phải theo con đường
quanh co giữa vùng rừng Tân Phú khoảng 20 cây số. Thác Mai trải dài trên đoạn sông hơn 4 cây
số, như con rồng uốn mình đùa giỡn với biển nước. Một quần thể đá được tạo dáng với bao hình
thù kỳ thú nối dài hai bên bờ và kết nối giữa dòng nước. Hai bên bờ sông có nhiều hang động với
109
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
những hòn đá chông chênh tạo cho khung cảnh thêm hoang sơ, huyền bí. Vào mùa trái chín, du
khách còn có thể nhấm vị của hoa quả rừng như xoài, ổi, trường... hoặc du khách có thể bám vào
rễ dây cây cổ thụ để đu đưa thỏa thích. Đặc biệt đúng vào độ nở hoa, hai bên sông tím màu hoa
bằng lăng và màu vàng của hoa mai.
Trong địa phận Lâm trường Tân Phú, trên đường vào thác Mai còn có suối Đá Bàn, nơi lưu
dấu vết bàn tay người khổng lồ gắn liền với chuyện tình kể về dũng sĩ Knhút nghĩa hiệp của dân
tộc Mạ. Bàu nước nóng thiên nhiên gần đó, với nhiệt độ từ 50o
c đến 60o
C, trữ lượng lớn, rất có lợi
cho sức khỏe con người.
Thác Mai là một điểm du lịch hấp dẫn về sinh thái, hài hòa giữa thiên nhiên và tâm hồn
phóng khoáng của con người.
Trung tâm Văn hóa du lịch Bửu Long:
Cách trung tâm thành phố Biên Hoà 6 km, Khu du lịch Bửu Long và hồ Long Ẩn như một
bức tranh thu nhỏ của vịnh Hạ Long: các vách đá soi bóng trên mặt nước hồ trong xanh tạo ra một
quang cảnh hấp dẫn của thiên nhiên mỹ lệ: núi cao, hồ rộng, hài hoà với các công trình kiến trúc
nghệ thuật mang dấu ấn tôn giáo của nhiều thời đại.
Ðến Bửu Long, du khách sẽ được du ngoạn trên mặt hồ bằng tàu thủy, hoặc pédallo thiên
nga, tham gia cuộc chơi leo núi thể thao, cắm trại trong vườn cây râm mát và thưởng thức nhiều
món ăn đặc sản. Cạnh hồ là hai ngọn núi thấp, trên núi Bửu Long có chùa cổ Bửu Phong nổi tiếng
nằm thấp thoáng sau cây bồ đề lớn; có Thiên Hậu Miếu cổ kính; có hang đá Long Sơn Thạch
Ðộng hình dạng giống hàm ếch với nhiều nhũ đá rủ xuống đầy vẻ huyền bí. Sau khi tham quan hồ,
leo núi vãn cảnh chùa, vui thú với các trò chơi trên mặt nước, du khách còn có thể kết hợp về thăm
làng bưởi Tân Triều nổi tiếng, tham quan làng nghề đục đá truyền thống Bửu Long mang dấu ấn
nghệ thuật điêu khắc cuối thế kỷ 17 ở ngay chân núi.
Khu Du Lịch Bửu Long và chùa cổ Bửu Phong là hai di tích đã dược xếp hạng cấp quốc
gia.
Vườn quốc gia Nam Cát Tiên
Vườn Quốc gia Cát Tiên, với diện tích 74.320ha, thuộc xã Đak lua, huyện Tân Phú, Đồng
Nai, cách TP.HCM khoảng 150km, là một trong những vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam, được
UNESCO công nhận là khu sinh quyển của thế giới. Cát Tiên cũng là đô thị tôn giáo của Vương
quốc cổ Phù Nam (thế kỷ thứ hai sau Công nguyên) với nền văn hóa óc Eo nổi tiếng.
Nơi đây là một bảo tàng tự nhiên có ý nghĩa quốc tế về khoa học và văn hóa, là nơi còn lưu
giữ hệ động thực vật của rừng nhiệt đới cực kỳ quí giá. Thực vật có 636 loài thuộc 411 chi của 192
họ, trong đó có nhiều loại quý hiếm. Về động vật, có 208 loài chim, 57 loài thú, 10 loại bò sát, 121
loài côn trùng và rất nhiều loài quý hiếm đang được quan tâm bảo vệ như báo gấm, báo hoa mai,
sói đỏ, sóc bay, vộc ngũ sắc, tê giác một sừng, bò tót, gấu chó, hạc cổ trắng, công xanh.
Đa dạng về sinh cảnh và chủng loại động thực vật, Vườn Quốc Gia Cát Tiên là khu du lịch
sinh thái độc đáo với cảnh quan thiên nhiên kỳ thú : Bàu Chim, Bàu Sấu, Suối Tiên, Thác Trời,
rừng phong lan, cây cổ thụ ngàn tuổi,.. Các nhà khoa học, các tổ chức bảo tồn thiên nhiên, sinh
viên học sinh và du khách bốn phương đã tìm thấy ở đây nhiều kiến thức, bài học lý thú và những
cảm giác hiếm có, khó quên.
Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh (Còn gọi là Đình Bình Kính): thuộc địa phận xã Hiệp Hòa (Cù lao
Phố).
Là Di tích lịch sử đã được Nhà nước xếp hạng ngày 25/3/1990. Nơi đây, nhân dân Biên
Hòa thờ vị khai quốc công thần Nguyễn Hữu Cảnh - một danh nhân có nhiều công lao với đất
nước trong việc mở mang, chấn chỉnh bờ cõi phía Nam Tổ quốc. Ngôi đình được xây dựng vào
khoảng cuối thế kỳ XVIII, tức khoảng sau thời gian Nguyễn Hữu Cảnh mất (1700). Trước đây, di
tích là một “miếu võ trang nghiêm” và được các triều vua Nguyễn quan tâm. Khi Gia Long lên
110
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
ngôi đã cho trùng tu, cắt cử 10 phu trông coi, hằng năm đều xuất quỹ công tế lễ vào ngày giỗ. Đến
năm 1851, triều Tự Đức cấp 100 quan tiền để di dời, sửa chữa và vào năm 1923, 1960 đều được tái
thiết. Kiến trúc nội thất của di tích còn được bảo lưu với những hàng cột lớn và nhiều hoành phi
đại tự. Đặc biệt, các bàn hương án, nghệ thuật chạm khắc với bao đề tài dân gian sinh động. Tại
dinh còn lưu giữ bộ áo mão, tương truyền của đức ông thuở sinh thời.
Mặt đền nhìn ra sông Đồng Nai theo hướng tây nam, sân đền rộng. Mặt trước đền có gắn
đôi rồng chầu pháp làm bằng gốm men xanh, hai bên là cặp lân. Hàng cột mặt tiền đắp rồng cuốn
mây có đôi liễn chữ nho khắc chìm vào tuờng.
Năm 1998, Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai đã xây dựng nhà bia ghi lại lịch sử 300 năm
của vùng đất Biên Hòa Đồng Nai trong khuôn viên của đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Ngày 16/05 và
ngày 11/01 âm lịch hằng năm, nhân dân địa phương tổ chức tế lễ, cầu cho quốc thái dân an và
tưởng nhớ đế công đức to lớn của bậc tiền nhân có công khẩn hoang, xác lập nền hành chính tại
vùng đất phương nam.
Văn miếu Trấn Biên: phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Là công trình văn hóa lớn có vị trí khá quan trọng trong nền văn hóa, giáo dục miền Đông
Nam bộ. Văn miếu được xây dựng vào thời chúa Nguyễn Phúc Chu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân tài cho vùng đất mới khai phá.
Năm 1998, chính quyền tỉnh Đồng Nai khởi công khôi phục công trình trên nền văn miếu
cũ trong phạm vi khoảng 2 ha, với số tiền đầu tư khoảng 2 tỷ đồng. Đến năm 2002 thì công trình
hoàn thành, được chính thức khánh thành vào ngày 14/2. Từ khi được chính thức mở cửa phục vụ
du khách, văn miếu Trấn Biên đã trở thành địa chỉ tham quan quen thuộc và hấp dẫn.
Văn miếu Trấn Biên là sự tiếp nối truyền thống của văn miếu Thăng Long (Hà Nội), được
người dân gọi là văn thánh miếu. Từ cửa văn miếu, đi qua Khuê Văn các là đến đền Khải thánh
(nơi thờ Lã Vọng Khổng Tử, danh nhân tiêu biểu của nền nho học). Sau là đến gian nhà thờ chính
gồm ba gian hai chái với lối kiến trúc cổ trang nghiêm, sơn son thếp vàng rực rỡ, trên các cột nhà
treo đôi liễn đối ví dụ như: “Nguyễn Hữu Cảnh định nghiệp Trấn Biên; Lớp lớp anh tài giang lục
tỉnh”, “Võ Trường Toản mở trường Gia Định; Đời đời sĩ khí nối tam gia”. Bên trái nhà là nơi thờ
các danh nhân văn hóa Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chu Văn An... bên phải
thờ danh nhân đất Nam bộ như Gia Định Tam gia, Võ Trường Toản, Nguyễn Đình Chiểu... tất cả
đều chỉnh chu. Nằm trang trọng chính giữa gian thờ, bàn thờ vị danh nhân văn hóa vĩ đại của dân
tộc - Chủ tịch Hồ Chí Minh được trang hoàng khéo léo, trang nghiêm như thể hiện tấm lòng tôn
kính của lớp hậu bối đối với vị cha già dân tộc. Bên cạnh đó, gian nhà thờ còn chứa nhiều công
trình mang ý nghĩa văn hóa như bia truyền thống, tủ chạm khắc tinh vi chứa 18kg đất, 18 lít nước
mang về từ đền Hùng, trống hội Thăng Long...
Văn miếu Trấn Biên là niềm tự hào của miền Đông Nam Bộ, nó mang nhiều giá trị văn
hóa, tinh thần lớn. Nhiều hoạt động như lễ báo công, lễ khen thưởng thành tích... được tổ chức
trang trọng tại nơi đây như một truyền thống đẹp của miền đất Trấn Biên - Đồng Nai
Giáo xứ Lộc Lâm: 7/37 khu phố 5, phường Hố Nai, TP. Biên Hòa
Kiến trúc của Giáo xứ Lộc Lâm được kết hợp bởi kiểu kiến trúc hiện đại Tây phương và
nghệ thuật vườn cảnh Đông phương. Giáo xứ được xây dựng trên một khu đất có địa thế đẹp, gần
gũi thiên nhiên, tọa lạc trên một quả đồi có tầm nhìn toàn cảnh xuống thung lũng, được thiết kế với
hệ kết cấu bê tông cốt thép, mái có độ dốc cao hòa hợp với địa hình, có ba lối để lên nhà thờ, nhà
thờ có hai mái bộ xếp lên nhau khoảng cách bằng những ô cửa với tỷ lệ hài hòa, mái trên tượng
trưng cho Trời, mái dưới tượng trưng cho Con Người, mặt bằng nhà thờ hình vuông tượng trưng
cho Ðất.
Cảnh đẹp thiên nhiên ở đây hài hoà với công trình kiến trúc, từ cổng vào chạy theo trục lộ
tiếp nối với thánh đường, tạo cho người xem cảm giác dễ chịu. Từ hướng vào theo lối chính đến
tiền sảnh nhà thờ, con đường lớn rộng năm mét, dài 50 mét, nằm dốc giữa khoảng sân tiếp nối
111
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
đường kiệu hình tam giác, có những lối đi nhỏ dẫn đến tượng đài Ðức Mẹ và Tháp chuông, tiểu
cảnh....Mặt tiền Nhà thờ có kết hợp với những hình Thánh giá nhỏ cùng đà ngang như hai cánh tay
giang ra để đón những hình người đau khổ chịu đóng đinh. Bàn thờ là một phiến đá to với hình thể
mang nét riên bắng đá tự nhiên, Bàn thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong cung Thánh. Thánh
đường có sức chứa hơn 1000 người.
Trên đây là những nét chính về kiến trúc nhà thờ Giáo xứ Lộc Lâm như một đặc trưng của
kiến trúc Tây phương rất ấn tượng và khác biệt so với các kiến trúc của quần thể nhà thờ trong khu
vực.
Tượng đài chiến thắng Long Khánh: ngã 3 giao lộ Hùng Vương - QL 1A, thị xã long Khánh.
góp phần quan trọng phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ- Nguỵ.
Tượng đài chiến thắng Long Khánh ghi dấu chiến công vang dội trong kháng chiến chống
Mỹ trên vùng đất miền Đông nam bộ là nơi được xem như một biểu tượng rất đáng tự hào của
quân và dân Long Khánh trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Đại chủng viện Xuân Lộc
Ở Việt Nam có 6 đại chủng viện (nơi đào tạo linh mục, như trường đại học ở ngoài đời):
1. Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội (ở Hà Nội)
2. Đại chủng viện Huế (ở Thừa Thiên - Huế)
3. Đại chủng viện Thánh Giuse TP. Hồ Chí Minh (ở TP. Hồ Chí Minh)
4. Đại chủng viện Sao Biển Nha Trang (ở Khánh Hòa)
5. Đại chủng viện Vinh Thanh (ở Nghệ An)
6. Đại chủng viện Thánh Quý (ở Cần Thơ)
Tại Long Khánh, Đồng Nai, từ năm 1966 bắt đầu xây dựng Tiểu chủng viện Thánh Phaolô,
khánh thành năm 1970.
Ngày 14/12/2005, Chính phủ chấp thuận cho thành lập Đại chủng viện Thánh Giuse cơ sở
II tại Xuân Lộc để đào tạo Linh mục cho bốn giáo phận: Bà Rịa, Đà Lạt, Phan Thiết và Xuân Lộc.
Ngày 26/8/2006: Đức Cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh đặt viên đá đầu tiên khởi công xây
dựng Đại chủng viện cùng với tòa Giám mục và trung tâm mục vụ của Giáo Phận.
Ngày 26/9/2008: Thánh lễ Cảm tạ Hồng ân công trình xây dựng Tòa Giám Mục và Đại
chủng viện cơ bản đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng.
(Ghi chú: Vể tổ chức các giáo phận, giáo xứ trong công giáo không giống tổ chức hành
chính của nhà nước, cả về phạm vi địa lý lẫn tên gọi. Giáo phận Xuân Lộc cai quản toàn bộ tỉnh
Đồng Nai, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và 1 phần tỉnh Bình Dương. Nhà thờ chánh tòa Xuân Lộc nằm ở
thị xã Long Khánh. Đại chủng viện Thánh Giuse II cũng thế, nói là tại Xuân Lộc, tức là giáo phận
Xuân Lộc, còn vị trí địa lý thì là ở thị xã Long Khánh, chứ không phải ở huyện Xuân Lộc).
Tên gọi chính thức của Đại chủng viện là Đại chủng viện Thánh Giuse, nhưng thường được
gọi là Đại chủng viện Xuân Lộc. Kiến trúc Đại chủng viện rất đẹp, phảng phất nét kiến trúc nhà
thờ ở châu Âu. Dù bạn có là tín đồ công giáo hay không thì khi có dịp đến thị xã Long Khánh cũng
nên vào đây để chiêm ngưỡng.
Mộ cổ Hàng Gòn
112
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Chủ nhân của ngôi mộ được xem là những người Việt cổ. Các nhà nhân chủng học đã khảo
sát trong vùng và còn xác nhận nhân chủng Polynesien có mặt trên khắp vùng Nam Á, là tổ tiên
trực tiếp của người Mạ, Châu Ro, Stiêng… ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên ngày nay.
Sai lầm của J.Bouchot đã phá hủy hầu hết những dữ kiện cần thiết về ngôi mộ. Trong báo cáo
của ông có nói đến: “Những bình nhỏ bằng đất nung” và “Lớp đất lẫn tro than màu xám” đựng
trong đó. Nhiều mảnh vòng đã, mảnh gốm cũng thất lạc. Dù sao, những thông tin hạn chế ấy cũng
xác minh kiến trúc này là ngôi mộ chung cho một cộng đồng dân cư một bộ lạc. Những bình đất
và lớp tro xám đựng bên trong là tro hỏa thiêu thi hài người chết, tập quán này vẫn còn tồn tại đến
ngày nay của một số bộ lạc thiểu số vùng Daklak. Về niên đại, vì không còn các mẫu vật nên
không thể xác minh bằng phương pháp C14. Nhưng dù sao, người ta cũng có thể suy luận trên cơ
sở đối chiếu với các ngôi mộ dolmen cùng loại trên thế giới. Để gia công trên đá hoa cương thì
phải có kim loại và muốn vận chuyển những tảng đá nặng hàng chục tấn bằng phương tiện thô sơ,
vượt qua khoảng cách hàng trăm cây số trong điều kiện chưa có đường giao thông như hiện nay thì
cần rất nhiều nhân lực. Cũng cần nói thêm, xét đến chủng loại đá ở hầm mộ, các nhà địa chất xác
định rằng chúng chỉ có thể ở Đà Lạt hoặc Phan Rang. Như vậy, phải bằng sức mạnh phi thường
mới có thể vận chuyển chúng đi xa như vậy, xin lưu ý rằng cả hai nơi này cũng không có đường
thủy đến vị trí ngôi mộ. Như vậy, chúng ta tạm vừa lòng với niên đại khoảng 2.000 năm, khi cong
người đã nắm được kỹ thuật luyện sắt, thì các bộ lạc lẻ tẻ liên minh lại và các quốc gia sơ khai
hình thành trên cơ sở nền nông nghiệp phát triển và các công trường thủ công đã có quy mô nhất
định.
Chủ nhân của ngôi mộ được xem là những người Việt cổ. Các nhà nhân chủng học đã khảo sát
trong vùng và còn xác nhận nhân chủng Polynesien có mặt trên khắp vùng Nam Á, là tổ tiên trực
tiếp của người Mạ, Châu Ro, Stiêng… ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên ngày nay.
Cũng cần nói thêm, những phát hiện khảo cổ trong thời gian qua mà nhất là những năm gần
đây đưa đến giải pháp có thể gọi là sáng tỏ phần nào những uẩn khúc mà ta chưa biết về mộ cổ
Hàng Gòn. Mộ Cự thạch Hàng Gòn là một di tích cổ xưa không nằm đơn độc nơi hoang vắng mà
nó gắn bó chặt chẽ với hàng loạt những di chỉ khác được phát hiện trên 2.000 héc ta thuộc vùng
Hàng Gòn.
Mặc dù không tìm thấy gì trong lòng mộ ngoài những tấm hoa cương nhuốm màu sương gió,
nhưng chính nó đã minh chứng hùng hồn về sức mạnh đoàn kết, tài năng sáng tạo của con người
,vượt qua trở ngại của thiên nhiên: những tấm đá hoa cương hàng chục tấn được chuyển về bằng
sức người, được nâng hạ bằng phương pháp vật lý, hệ thống ròng rọc gồm trụ đá, cây và dây. So
với lịch sử kiến trúc thời Mégalithique ở Đông Nam Á, mộ Cự thạch Hàng Gòn là một thành tựu
kỳ diệu, một nét độc đáo về nghệ thuật cũng như kỹ thuật của các bộ tộc người vùng Nam Á.
Hơn nửa thế kỷ qua kể từ ngày phát hiện, biết bao tài liệu trên thế giới đã giới thiệu, nghiên
cứu về mộ Cự Thạch Hàng Gòn. Sự có mặt tức thì, ngày từ đầu của hầu hết nhà khoa học, sử học,
dân tộc học, địa chất học, nhân chủng học… đã khẳng định tầm cỡ giá trị văn hóa của ngôi mộ cổ
loại hình dolmen này. Cái lớn ở đây không chỉ phụ thuộc vào kích thước của công trình, mà chính
nó đã chứng minh tài năng và óc sáng tạo của những người cổ xưa trên vùng đất Đồng Nai. Mộ Cự
Thạch Hàng Gòn là di vật góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề về nền văn minh được mệnh
danh là “Văn minh lưu vực Sông Đồng Nai”.
5. Đặc sản và ẩm thực
1. Miền đất của cây trái quanh năm:
Quả thật thiên nhiên đã ưu đãi, nơi đây một khí hậu thuận hòa cho cây cối đơm hoa kết trái
mà không phải âu lo bị lũ lụt, bão tố tàn phá như ở miền Trung, miền Bắc hoặc như ở mấy tỉnh
đồng bằng sông nước miền Tây.
Đến Long Khánh bất cứ giờ nào, nơi chợ lớn, chợ nhỏ, nơi ngã ba đông người, bến xe, bến
tàu... người ta dễ bắt gặp một không khí rộn ràng của cảnh mua bán, rao mời đủ các loại trái cây,
113
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
khách mua tha hồ lựa chọn, người không mua cũng ngắm nhìn thỏa thuê con mắt. Bên cạnh những
trái cây “du nhập” từ xa về, Long Khánh còn có thể thỏa mãn nhu cầu cho người tiêu dùng ở địa
phương, bao tiêu đóng kiện chở đi đến bất cứ nơi đâu nhiều loại trái cây có giá trị trông ở địa
phương.
Từ ngày có tên Long Khánh ra đời đến nay đã 170 năm. Long Khánh thực sự là nơi đất
lành chim đậu. Thổ nhưỡng bazan màu mở không chỉ có thuận lợi cho cây cao su, cà phê mà còn
các loại cây ăn quả. Dù vậy trước năm 1945, dân cư còn thưa, đất rộng chưa khai phá hết, cây ăn
quả còn rất ít, chủ yếu mới trống các loại cây phổ biến như nhiều nơi trong nước. Vài ba thập niên
gần đây Long Khánh đã mở rộng diện tích và chủng loại cây có giá trị khác. Đó là: chôm chôm,
sầu riêng, mít tố nữ, thanh long, nhãn.. Tất nhiên còn nhiều loại cây ăn quả khác nữa mà từ lâu đời
nhiều nơi trong cả nước đều có trồng vẫn thường xuyên có mặt trên thị trường như ổi, mãng cầu,
sa-pô-chê, hồng, măng cụt... Song đối với Long Khánh, ngày nay nói tới đặc sản cây ăn quả là nói
tới sầu riêng, mít tố nữ chôm chôm, mãng cầu, xoài...Trong dân gian từ lâu đã truyền tụng câu ca
dao:
Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm
Xoài ngon, mít ngọt, chuối thơm nghìn trùng.
Trước đây, hầu hết ở xã ấp nào của Long Khánh cũng đều có những khu vườn, hoặc rộng
hoặc hẹp trồng cây tạp xen canh đủ thứ mỗi loại vài ba cây. Nhưng thời gian gần đây, vườn cây ăn
quả sầu riêng, chôm chôm, mít tố nữ...ngày càng đi vào chuyên canh, thay đổi giống mới vừa ngon
vừa cho năng suất cao.
1.1 Sầu Riêng
Cây sầu riêng thân cao, trồng từ 10 năm trở lên mới cho trái nhiều. Sầu riêng được liệt vào
loại “siêu trái”. Trái có hình thù gai nhọn, không hề lẫn với bất cứ trái cây nào khác kể cả màu da,
múi và hương vị. Nói đến cây sầu riêng, có lẽ phải kể đến những điều thú vị của trái sầu
riêng.Theo giáo sư Vũ Công Hậu thì sầu riêng là một loại trái cây nhiệt đới nổi tiếng. Tiếng tốt vì
ai đã quen với hương vị của nó thì chất lượng “cực kì”. Tiếng xấu vì người ăn lần đầu - nhất là với
người phương tây chê là khó ngửi. Ngay cả người Việt chúng ta, đến nay vẫn có người không
“cảm” dược mùi vị đặc trưng của loại “siêu trái” này. Ngoài hình dáng gai góc và hưong vị đặc
biệt ấy, trái sầu riêng còn một “nét” rất riêng của nó là chỉ thu hoạch khi nó chín từ trên cây và
rụng xuống vào ban đêm. Với các loại trái cây khác nếu chín quá mà rụng xuống là coi như bỏ đi,
nhưng với sầu riêng thì chính lúc (rụng) này chất lượng và hương vị của nó mới thật sự quyến rủ,
đạt yêu cầu người thưởng thức. Có thi nhân đã so sánh hình ảnh này với... cuộc tình dang dở: “Sầu
riêng rơi rụng giữa trời - Tình em đeo đẳng một đời trong ta.” Theo trào lưu và phát triển kinh tế,
từ đầu thiên niên kỷ mới, Long Khánh đã thay đổi nhiều giống mới, trong đó có sầu riêng hạt lép,
cơm vàng kèm theo hương vị sữa rất ngon. Người sánh ăn sầu riêng biết trái nào ngon, trái nào
“sượng”.
1.2 Bưởi (Làng bưởi Tân Triều)
Làng bưởi Tân Triều thuộc xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, cách thành phố
Biên Hòa chừng 3 km. Làng bưởi ngày nay vẫn giữ được nét thanh bình của làng quê yên ả với
những vườn bưởi xanh xum xuê quả, vườn tiếp vườn, tới đầu làng đã nghe hương bưởi thơm
thoang thoảng
Cây bưởi Tân Triều sau bao năm thăng trầm đã lấy lại “tiếng thơm” của mình khi người
dân Tân Triều mạnh dạn xóa vườn tạp để phục hồi lại cây bưởi vào những năm 1985 trở đi. Bưởi
Tân Triều có nhiều loại, bưởi Thanh nước nhiều, trái rất sai, mỗi mùa một cây có thể cho từ bốn
đến năm trăm trái. Bưởi Xiêm, bưởi Long có vị ngọt nhưng trái nhỏ, ngon nhất là bưởi Đường lá
cam và bưởi Đường núm. Bưởi ổi trái nhỏ nhưng có đặc tính lạ, có thể để dành hơn nửa năm, da
quắt lại như trái dâu khô nhưng bóc ăn ngọt lịm. Ngoài ra còn hơn hai mươi loại khác nhau như
bưởi Xiêm, bưởi Chua, bưởi bà Vân, bưởi Hè, bưởi Long... Tân Triều là ngôi làng cổ xưa nhất ở
114
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Đồng Nai, nằm ven sông được bao bọc bởi kênh rạch tạo thành cù lao biệt lập, chỉ có một con
đường duy nhất vào làng. Muốn đến làng bưởi, từ Biên Hòa du khách có thể đi bằng đường sông
hoặc theo quốc lộ 24 là tới nơi, dân địa phương sẽ hướng dẫn cho bạn đi tham quan khắp làng,
thưởng thức những quả bưởi chín mọng và món gỏi bưởi, rượu bưởi rất riêng chỉ có ở Tân Triều.
Ở Tân Triều, nhiều người biết về ông Năm Huệ, chủ nhân Khu du lịch sinh thái Làng Bưởi, ông là
người đầu tiên mở loại hình du lịch sinh thái nơi làng quê yên tĩnh ven sông Đồng Nai, cùng với
những món đặc sản từ bưởi và những món ăn miệt vườn dậy hương đồng nội. Xứ bưởi Tân Triều
có nhiều loại bưởi, mà loại nào cũng thơm ngon nhờ đất phù sa ven sông. Ông Năm chọn bưởi
đường da xanh để làm gỏi. Bưởi phải là giống bưởi đường trong vườn vừa chín tới trên cành, mụn
the ngoài vỏ bưởi nở hết mới hái xuống. Ai đã từng nếm qua món gỏi bưởi sẽ dễ dàng nhận ra món
gỏi bưởi ở Tân Triều có công thức và mùi vị rất riêng. Gỏi bưởi ở những nơi khác trộn với khô
mực xé sợi nhỏ. Còn ở Tân Triều thì trộn tép bưởi với tôm sông. Một chút chua, một chút the, một
chút ngọt thanh. Tất cả quyện với cái dòn ngọt lịm của tôm bắt ở sông, dậy thơm cùng với ớt, hành
tây, ngò, đậu phộng. Muốn dậy mùi vị gỏi hơn nữa thì xúc bằng một miếng bánh tráng rắc tôm đỏ
giòn rụm. Và rồi khi ra về, không ít người thành phố không quên mang theo về một ít nước bưởi
ép nguyên chất ngọt lịm, ít trái bưởi đường da xanh làm món quà quê cho người ở nhà. Một điều
riêng có của bưởi đường da xanh Tân Triều mà chưa nhiều người biết là để dành được lâu cả
tháng, để càng lâu vị bưởi càng ngọt đậm như đường. Thăm làng bưởi Tân Triều không chỉ gợi
cho người ta một chút hoài niệm về vùng đất Đồng Nai xưa, nơi có nhiều di tích, danh lam thắng
cảnh, thưởng thức những món ăn dân dã miệt vườn mà còn cảm phục người nông dân bám trụ với
đất, với nghề tạo nên thương hiệu bưởi Tân Triều hôm nay không chỉ vang bóng trong nước mà
còn “xuất ngoại” sang tận Hà Lan, Đức...
1.3 Chôm Chôm
Cây chôm chôm thân thấp, tán rộng, trái có gai mềm, to chừng quả trứng vịt, trồng chừng
vài ba năm đạ cho trái chiếng, khoảng từ bảy đến mười năm trở lên mới cho sản lượng cao. Mùa
chôm chôm chín rộ vào tháng 5-6 dương lịch. Nhưng những nhà vườn trông chôm chôm có tay
nghề cao họ có thể chăm bón để “thúc” cây cho ra trái sớm, bán được giá cao gấp 5-7 lần so với
chính vụ. “Mưa nhiều rậm lá, nắng quá khô bông” - đó là kinh nghiệm của nhà vườn. Hương sắc
của trái chôm chôm cũng khá đặc biệt. Mùa đơm bông kết trái có dịp thăm vườn chôm chôm
chúng ta sẽ thấy một màu xanh ngăn ngắt, điểm chuyết lấm tấm màu trắng của hoa và những nụ
xanh đang chuyển dần sang màu xanh sáng, màu vàng non rồi đỏ dần khi chín mọng, và những trái
chín cuối mùa thường có màu đỏ sậm xen lẫn trong màu lá lục thẩm trông rất đẹp mắt. Một nhà
thơ nữ ở Long Khánh đã say với vẻ đẹp ấy qua mấy câu thơ:
“...Đỏ môi tươi hay màu trái chín
Chôm chôm vườn người ngơ ngẩn hồn ai.”
Ăn chôm chôm không gì thú bằng đi trong vườn chôm chôm để ngắm vẻ đẹp của những
hàng cây song song tỏa bóng mát, trên cây là hàng trăm, hàng ngàn chùm với hàng vạn trái xanh,
vàng, đỏ chen nhau, khỏa lấp hết cả sắc lá cành, và tự tay mình vin cành bẻ những trái chín tới,
bóc vỏ rồi cho vào miệng, thong thả nhai để nghe hương vị ngọt ngào tan dần trong lưỡi mát rượi
tới tâm can! Thế rồi vừa ăn vừa ngắm cảnh vườn, ríu rít chim ca, chuyện trò về cây trái miệt vườn.
Không như mua bán ở chợ, chủ nhân vườn chôm chôm rất mến khách - sẵn sàng mời bạn đi khắp
vườn tự nhiên hái ăn thoải mái, thỏa thích, có khi còn bẻ tặng thêm đôi ba ký mang về.
1.4 Mít Tố Nữ
Nói tới mít thì Long Khánh vốn là đất của mít, xoài, đu đủ rất lâu đời. Ba loại trái này thì
khắp nơi đều có không nhiều thì ít. Nhưng “Mít tố nữ” thì gần như độc chiếm ở đất Long Khánh.
Mít Tố nữ, trái nhỏ hơn rất nhiều so với mít thường, có trái nặng chỉ vài lạng, to thì một, hai ký là
nhiều. Do trái nhỏ, nên nhiều người mới vào miền Nam thoạt nhìn tưởng đó là mít non. Múi và
hương vị của mít Tố nữ cũng khác rất nhiều so với mít thường: xẻ một đường đọc để bổ đôi trái
mít, lật cuống lên sẽ thấy múi tròn , nổi gân, kết như một chùm dâu chín vàng, thơm lựng, thơm
115
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
ngạt ngào, thơm rất lâu, vỏ và cùi mít có khi ba ngày còn phảng phất ; khách ăn mít tố nữ vừa
xong khó mà “che dấu” được người chung quanh bởi cái mùi rất đặc biệt này. Mấy chị em đi chợ
nói rằng:”Ghiền món gì đi chợ “ăn vụng” đố ai biết, nhưng ăn sầu riêng, tố nữ thì không “giấu”
vào đâu được bởi về tới nhà hãy còn nghe mùi thơm bất hủ của nó.” Không sai chút nào!
1.5 Mãng cầu Xiêm
Da mãng cầu Xiêm có màu xanh lục thẩm, có gai mềm, trái to cỡ như đu đủ vậy, nhưng
khác với đu đủ là phần trên cuống thì nhỏ, dưới to; còn mãng cầu xiêm thì phần trên cuống to,
dưới nhỏ. Đu đủ chín thì da vàng, còn mãng cầu xiêm chín thì đổi da láng và mềm. Trước đây
mãng cầu na, mãng cầu dai trái nhỏ bằng nắm tay người ta trồng nhiều, nhưng mươi năm gần đây
mãng cầu xiêm trồng nhiều hơn và rất được giá có lúc một trái vài chục ngàn đồng.. Nhiều chủ
vườn còn chăm bón cho ra trái vụ, bán giá cao. Một thời gian người tiêu thụ “chê” trái to vì sợ
người ta sử dụng thuốc kích thích cho trái mau lớn, kể cả trái đu đủ cũng vậy. Trái mãng cầu xiêm
còn được người ta dùng nhiều nhờ có vị thuốc trị cao huyết áp. Mùa chín rộ giá hạ đây là lúc
người ta thu mua để chế biến mứt bán tết. Ngày Tết, trong đĩa mứt mời khách thường không thể
thiếu loại mứt trái cây được bọc trong giấy kiếng đẹp, ăn rất ngon bởi vị chua-ngọt-thơm hòa
quyện của nó. Đó là mứt mảng cầu xiêm. Đây chính là lợi điểm mà ít loại trái cây nào có được.
1.6 Đu Đủ, Xoài
Đối với cây đu đủ, cây xoài ngày nay diện tích có thu hẹp, nhưng không phải là hiếm. Tuổi
thọ cây đu đủ không cao, nhưng năng suất thì không kém gì các cây khác. Cây xoài thuộc dạng
cây lâu năm từng là chủ lực song song với cây chôm chôm ở Long Khánh. Bây giờ, có lẽ do nhiều
cây trái mới du nhập vào Việt Nam nên cây đu đủ, xoài có phần lép vế. Ngược thời gian vài mươi
năm trước, nếu ai đến Long Khánh vào những buổi sáng đều bắt gặp hàng loạt xe máy cày, máy
xới chở đầy xoài, đu đủ điểm hồng ra chợ bàn hay đóng kiện gửi đi giao thương các tỉnh, thành
phố khác. Nhiều gia đình nông dân vẫn coi cây đu đủ là cây “lấy ngắn nuôi dài”, không quá kén
đất, tuổi thọ một hai mùa là các cây chủ lực khác lớn lên rồi...cây đu đủ “hy sinh” để cho những
cây khác vươn lên.
Đu đủ, xoài là một trong những món không thể thiếu được trong ly Koctai, mát lạnh, ngọt
lịm thỏa cơn khát trong buổi trưa hè nóng bức.
...TRÁI CHÍN QUANH NĂM
Ngoài những cây trái “chủ lực” trên, Long Khánh còn có những trái cây đặc sản khác như:
thanh long, bơ, sa-pô-chê, táo, quít... Riêng nho thì đất Long Khánh dường như không hợp với cây
trái từng nổi tiếng sản sinh ra rượu vang này. Cây thanh long, có lúc người trồng cây gọi thanh
long là “rồng xanh bay lên” bởi giá bán cao 15.000 đồng/ký. Khi Thanh Long Bình Thuận phát
triển thì giá giảm xuống, Thanh Long Long Khánh cũng trầm lắng theo. Cây bơ cũng vậy, đây là
loại cây bước đầu ít ai thích dù nó được xếp vào hàng thứ năm của các chuyên gia về lương thực
thế giới (FAO). Nhưng lâu dần, cây bơ trở thành phổ biến và được người tiêu dùng ưa chuộng,
nhất là mùa nắng đánh một trái bơ nhuyễn ra với sữa đặc có đường...là có ngay món giải khát tuyệt
vời. Trái bơ có loại da xanh, loại da tím; mùa đậu trái là khi mùa mưa lạnh chấm dứt, cây cho năng
suất cũng khá cao. Ngoài ra phải kể đến táo, mận, cam, quit cũng được nông dân trồng. Xã Bảo
Vinh có nông dân trồng quít rất thành công.Vào vườn quả không có lối đi bởi chi chít là cành, là
trái trông thật đã mắt.
Thế đó! Mùa nào thức nấy: chuối, mít, đu đủ, cam, quít quanh năm; đông-xuân có xoài,
mùa hạ có bơ, chôm chôm, sầu riêng; thu-đông có mãng cầu, nhãn... Đất Long Khánh bao đời nay
vẫn tiếp tục là “đất lành chim đậu” và có lẽ xin được thêm cụm từ “cây xanh trái ngọt”:
Chim quyên ăn trái xoài xanh
Ăn no tắm mát, lên cành líu lo
116
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
*
Xăm xăm bước tới vườn đào
Hỏi thăm lê lựu, mãng cầu chín chưa?
Cho dù câu ca dao này có dụng ý dùng nghĩa bóng để chỉ một “người đẹp” nào đó, thì bạn
ơi, hãy nghĩ tới cái bình dị của người Long Khánh vốn rất mến khách - đặc biệt là dân miệt vườn
cây trái. Ở đây, mời bạn cứ thong thả dạo chơi, thỏa thích ngắm nhìn vườn cây trĩu quả và giang
tay đón nhận từ bàn tay ai đó trao một quả chín tươi hồng mà tin chắc dù chưa ăn bạn cũng đã cảm
thấy ngọt lim đầu môi bởi...nụ cừoi và đôi mắt ai lóng lánh, trữ tình...
2. Đến những món ăn đặc sản:
2.1 Gỏi cá Biên Hòa
Đóng đô ven cù lao Phố với các quán san sát bờ sông Đồng Nai, gỏi cá Biên Hòa từ lâu đã
trở thành món đặc sản của vùng đất này. Chỉ đơn giản là đĩa thịt cá, nồi nước lèo kèm mớ rau đủ
loại, cộng với không gian đặc trưng của vùng đất cù lao đã trở thành điểm hẹn của những ai thích
đi tìm những món ngon dân dã.
ỏi.
Các quán gỏi thường nằm ngay mé sông, khung cảnh mát mẻ, hữu tình, nhưng đường vào
không mấy suôn sẻ, chỉ có xe máy đi được và chắc chắn phải có thổ địa dắt đường nếu không
muốn đi lòng vòng trong mê cung. Đấy là quán gỏi cá Biên Hòa thuộc phường Tân Mai. Các quán
ở đây kinh doanh theo mô hình gia đình, nhà ở ven sông, mở quán phục vụ khách nên rất gần gũi,
dân dã. Đường vào quán, nếu tính từ vòng xoay Tam Hiệp, đi về trung tâm Biên Hòa, mất 2 km
đến trụ sở phường Tân Mai, bên hông có con hẻm nhỏ, cứ thẳng đó đi mãi qua cây cầu, qua bãi tha
ma, sẽ đến gỏi cá Biên Hòa nằm um tùm trong vườn cây lá. Với những quán gỏi cá ở cù lao Phố,
đường đi rộng rãi, dễ tìm hơn, nếu không biết hướng chỉ cần hỏi ở đâu có gỏi cá Biên Hòa, những
cư dân địa phương nhiệt tình chỉ điểm đến nơi đến chốn.
Món gỏi cá ngon ở điểm nguồn nguyên liệu dễ tìm, luôn trong trạng thái tươi sống. Con cá
còn bơi quẫy tung tăng trong hồ được vớt ra, với thao tác nhanh gọn, chính xác, đầu bếp cầm con
dao bén ngót lát một đường dọc theo xương sống từ đuôi đến mang, lộn ngược má thịt ra ngoài,
dùng một dụng cụ nạo từng thớ thịt cá mỏng dài chừng hai đốt ngón tay. Miếng thịt cá trắng tươi,
nổi rõ từng lằn gân máu đỏ, ngay lập tức được trộn với hỗn hợp những gia vị quen thuộc như
riềng, hành, tỏi, sả, thính, bao phủ một lớp mỏng bọc ngoài miếng thịt cá. Vừa giữ cho miếng cá
không đổi mùi tanh, và có độ khô cần thiết tạo cảm giác an tâm khi có một lớp đủ thứ gia vị màu
vàng ươm bao bọc, nhìn thôi đã đủ thèm ứa nước miếng.
Nhìn đĩa cá sống trộn gỏi, cái thèm mới đi được một nửa, thứ nâng món gỏi cá lên hàng
thương hiệu đặc sản này lại nằm ở nồi nước xốt. Một bếp ga, một cái xoong nhỏ, trong đó là lưng
lửng nước sốt sền sệt, nổi váng mỡ vàng ươm điểm rải rác hạt mè, được chế biến từ thịt cá, gan cá,
mỡ cá, riềng, sả, hành tím để trên bếp sôi sủi bọt sùng sục, nhả khói thơm nức mũi. Với tay bẻ
miếng bánh đa, quẹt một đường vào nồi nước xốt để nhấm nháp vị mặn mà, béo ngậy của gia vị,
của thịt cá.
Nhưng vị ngon của món gỏi vẫn chưa kết thúc ở nồi nước sốt, bởi còn đi kèm với đĩa rau
kiểu nhà quê mộc mạc gồm những vị chát, hăng, ngọt, bùi từ đinh lăng, lá lốt, lá mơ, lá sung đến
húng quế, ngò gai, đài bì, tía tô, dấp cá. Để thưởng thức một miếng gỏi cá trọn vẹn, tất cả các loại
rau xếp gọn gàng vào lòng chén, nhón đũa gắp miếng cá, chần sơ vào nồi nước sốt nóng hổi, bỏ
vào mớ rau cuộn chắc lại, kèm thêm củ hành tím, miếng ớt hiểm. Đem chấm cuốn cá vào nước sốt,
chầm chậm nhai để cảm nhận vị ngọt của cá, mùi thơm phảng phất của thính và gia vị, đến các vị
cay của hành, ớt, sả, chát, đắng, nồng của rau. Trước mặt là dòng sông phong cảnh hữu tình, gió
thổi mát rười rượi. Đến đây mới thực sự lột tả hết cái ngon của món gỏi cá Biên Hòa.
117
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Ở không xa trung tâm thành phố Biên Hòa, nhưng khung cảnh các quán gỏi cứ như đâu đó
tận miệt quê, món ăn cũng không lấy gì làm cầu kỳ, phức tạp, chỉ có gió, có sông, có cá tươi, rau
vườn tổng hoà lại để làm nên thương hiệu của gỏi cá Biên Hòa, món ăn ngon mà lạ.
2.2 Canh chua lá dang
Long Khánh Miền đông đất đỏ Bazan lá dang mọc rất nhiều, nó thuộc họ dây leo, thường
mọc trong rừng cao su. Mẹ tôi cứ mỗi chiều đi cạo mủ về y như rằng thế nào trong giỏ cạo cũng có
một vài bó lá dang để dành nấu canh; món canh lá dang là món khoái khẩu của anh em tụi tôi. Lá
dang được lặt kỹ, rữa sạch, trước khi để ráo nhớ vò mạnh tay một tí cho lá hơi bị dập ra vị chua
mới đáo để và hấp dẫn. Trên bếp đã chuẩn bị sẵn con gà luộc, nước luộc gà dùng để nấu canh lá
dang thì trên cả tuyệt vời; chỉ cần sử dụng một ít thịt đầu, cổ cánh, chân và cả phao câu nững cho
nồi canh thêm ngọt. Sau khi nêm nếm vừa miệng ăn, nhớ bỏ thêm chút đường cát cho nó đậm đà,
chua chua mà ngọt ngọt mới bắt mồi (món này dân nhậu khoái chí lấm đấy). Lá dang để ráo, nồi
nước vừa sôi sùng sục bỏ lá dang vào, khuấy đều để cho lá ngã màu vàng, nêm lại một tí là được.
Lúc này bộ lòng gà được phi hành mỡ xào lên, nêm nếm cho vừa; nhắc nồi canh xuống đổ chão
lòng gà vào nồi canh nghe một tiếng xèo, béo ngậy, toả mùi thơm hấp dẫn giữa thịt gà lá dang,
hành ngò, rau quế. Cả nhà quây quần bên mâm cơm có tô canh chua gà lá dang, mãi mê ăn quên cả
no.
2.3 Dơi xào lăn
Long Khánh là vùng có nhiều cây trái, hoa quả ngọt, quanh năm nên có rất nhiều loài dơi
trú ngụ. Có nhiều loại dơi: dơi quạ, dơi sen, dơi chó, dơi hương…ta có thể giăng lưới bắt gơi ban
đêm trong các vườn cây ăn trái trong mùa trái chính, hoặc ban ngày tìm đơi trong các hang động,
cây da, hoặc trong trần nhà tối; bọn trẻ còn bắt dơi trong cát đọt chuối.
Bắt dơi cũng phái khéo léo, kẻo dơi cắn tay chảy máu chứ chẳng chơi. Trước khi làm thịt,
dơi được cắt tiết; huyết dơi có tính hàn, uống rất mát, thường dùng pha với rượu uống, nghe nói
rượu huyết dơi còn trị được bệnh hen suyễn, và hiếm muộn con.
Thịt dơi rất ngọt và thơm, dơi càng hôi thì xào lăn ăn càng có vị đậm đà; thịt dơi còn có thể
băm nhuyễn nấu cháo lại càng hấp dẫn. Trong bữa bữa cơm của người miền đông nam bộ có thêm
mót thịt dơi xào lăn thì thật là tuyệt.
2.4 Nấm mối xào tỏi
Nấm mối chỉ mọc một lần trong năm, vào đầu mùa mưa khoảng dịp tết Đoan Ngọ (mùng 5
tháng 5 âm lịch). Nấm mối mọc trong vườn rẫy, nhiều nhất là trong rừng lô cao su; những người
sành nấm mối, chỉ nghe mưa là đoán ngay sẽ có nấm mối, gáng hôm sau đi tìm, y như rằng tha hồ
mà nhổ. Nấm mối không nên rửa trước mà phải để khô, gọt cho sạch chân nấm cho hết đất, gọt
xung quanh đỉnh nấm vì sợ ngộ độc. Sau khi gọt sach nấm được ngâm nước muối rồi rữa sạch, để
cho ráo nước là có thể đem xào nấu được, khi xào nên chọn mỡ heo để xào mới ngon. Nấm mối
chỉ cần xào tỏi là tuyệt lắm rồi; nấm búp là nấm mới nhú khỏi mặt đất xào ăn còn hấp dẫn hơn
nhiều. Nấm mối còn được dùng để nấu cháo, đổ bánh xèo đều ngon hết chỗ nói. Nấm mối ngon
ngọt hơn cả thịt gà có hương vị lạ và quyến rũ.
Nấm mối còn được bọn trè gói bằng lá nghệ, lá chuối, lá lốp đem nướng chấm muối tiêu
chanh thì tuyệt cú mèo. Mùi thơm của nấm mối có sức quyến rũ lạ thường người nào may mắn ăn
được một lần sẽ nhớ mãi. Hành tình đi tìm nấm mối là kỷ niệm khó quên của thời niên thiếu ở
Long Khánh miền đông.
2.5 Cơm gà cá mặn
Ở các quán ăn vừa sang trọng vừa bình dân như quán Bạn Tôi (Thích Quảng Đức nối dài),
Hương Việt (Cách mạng tháng Tám-phường Xuân An), Thanh Mập (Nguyễn Văn Bé-phường
Xuân Thanh), quán Tài Lộc (Thích Quảng Đức-phường Xuân An), xuất hiện món cơm gà cá mặn
và đã trở thành món ăn phổ biến hấp dẫn như đặc trưng riêng của vùng đất Long Khánh.
118
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Cơm được nấu trong nồi đất, được trộn lẫn các gia vị như thịt gà, chà bông, cá mắm, nêm
nếm sao cho vừa ăn.Khi ăn, niêu cơm vẫn còn để trên bếp, lúc xới cơm hơi khói bay nghi ngút tỏa
mùi thơm quyến rũ; cơm nấu càng cháy ăn càng ngon và đậm đà. Đãi khách bằng món cơm gà cá
mặn vừa tiện, hấp dẫn lại ngon, thắt chặt thêm tình cảm thắm thiết giữ khách và chủ đặc biệt là sẽ
nhớ Long Khánh vớimón cơm gà cá mặn.
2.6 Dế cơm chiên nước mắm
Dế cơm tuy là loại côn trùng, sống tự nhiên dưới hang nhưng là món ăn dân dã xuất hiện từ
rất lâu ở Long Khánh. Thường vào mùa mưa, bọn trẻ thường đi đào dế cơm về cung cấp cho thực
khách, dế cơm cũng có thể câu bằng cách thả kiến nhọt xuống hang, lấp miệng hang lại khoảng vài
phút dế cơm bị kiến nhọt cắn, nhảy thót lên miệng hang tha hồ mà bắt.
Dế cơm chỉ cần lặt sạch cánh, lặt 2 chân sau(để đùi lại, 2 đùi dế rất béo), móc ruột bỏ hết,
xong nhét hột đậu phộng vào ruột, rồi ướp nước mắm, nêm cho vừa ăn. Mắc chão dầu cho xôi, để
dế vào chiên cho vàng là được.
Dế cơm chiên nước mắm ăn vừa dòn, vừa đậm đà hương vị nước mắm, vừa béo ngậy của
dầu, béo thơm của đậu phộng mang đặc trưng món ăn dân dã miền Đông Nam bộ. Ngoài ra dế
cơm còn được những bà nội trợ lăn bột chiên bơ để thêm một món đãi khách thì hết chỗ nói.
2.7 Lẩu cá khổ qua rừng
Khá phổ biến ở Long Khánh, đây là loại lá khổ qua rừng rất đắng nhưng có hậu ngọt ngào,
đậm đà dân dã. Là loại lá rừng, chỉ mọc trong mùa mưa nhưng để đáp ứng nhu cầu ẩm thực của
thực khách nhiều hộ dân đã nhân được giống khổ qua rừng để trồng ở vườn nhà, đến nay thì lá khổ
qua rừng có quan năm khi nào thực khách cần cũng đều có thể đáp ứng được.
Lẩu lá khổ qua rừng nếu được nấu bằng cá trào cững (giống cá lóc con) thì hợp khẩu vị
hơn; nếu không thì nấu với sườn non, tôm khô cũng được. Lá khổ qua được lặt, rữa sạch để ráo
trên dĩa, lẫu nước đang sôi chỉ cần nhúng một nắm lá vào lẩu vớt với ra ngay dùng liền, thì mới
cảm được vị ngon đặc trưng của nó.
2.8 Trái Ươi rừng
Từ nhiều năm nay rừng Đồng Nai đã đóng cửa. Người "làng rừng" vùng chiến khu Đ
không còn mấy ai được vào lượm trái ươi rụng đầy dưới gốc cây khi ve sầu bắt đầu cất tiếng hát.
Nhưng không phải năm nào cũng có, "mùa ươi" có khi hai, ba năm mới trúng một lần. Do vậy, trái
ươi ngày càng đắt đỏ. Người viết đã một lần được theo chân các cán bộ kiểm lâm của Lâm trường
Vĩnh An cho vào rừng để săn ươi.Nói là săn bởi vì trái ươi đã hiếm lắm rồi. Để hái trái còn tươi
nguyên, các thợ săn phải leo lên cây mé nhánh.
Ươi là loại thân cây to, cao cả chục mét. Do vậy, để mé được nhánh, thợ săn leo trèo giỏi.
Mỗi cây có thể cho từ 30- 50kg trái tươi. Trái ươi tươi đem về phơi vài nắng, khô lại còn bằng đầu
ngón tay giữa của người lớn thì có thể cất vào nơi khô ráo hàng tháng có khi vài năm vẫn không bị
hư.
Nhiều cán bộ, chiến sĩ từng sinh sống, hoạt động ở Chiến khu Đ còn nhớ, có một thời kỳ
chiến tranh ác liệt, điều kiện sống rất thiếu thốn, khó khăn nên trái ươi trở thành thứ đặc sản mà
chỉ khi có khách quý mới mang ra đãi. Trái ươi có đặc điểm đụng vào nước, nhất là nước ấm thì
mau nở ra. Sau khi bốc bỏ phần vỏ và hạt, thì trái ươi gần giống như mủ gòn. Nhiều người thường
trộn ươi với hạt é, bỏ thêm ít đường vào làm nước giải khát. Già làng Năm Nổi cho biết, bà con
đồng bào dân tộc Chơ-Ro ở Lý Lịch cũng như cán bộ, chiến sĩ ở Chiến khu Đ trước đây nhiều
người biết, hạt ươi đem rang lên, xay ra hòa với nước uống trị nấc cụt và "tào tháo rượt" dứt cơn
nhanh chóng.
Trái ươi có khá nhiều ở rừng miền Đông mà tập trung nhất là ở rừng Cát Tiên và Khu dự
trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu ngày nay. Có một thời kỳ, khi Nhà nước chưa đóng cửa rừng, người dân
sống ven rừng ở miệt Tân Uyên (tỉnh Bình Dương), Phú Lý, (huyện Vĩnh Cửu) vào rừng săn trái
119
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
ươi kiếm bán được khá nhiều tiền. Mỗi người, một ngày có thể nhặt được từ 5 - 10kg. Giá mỗi ký
tại chợ Lý Lịch bình quân từ 10-15 ngàn đồng. Mỗi người có thu nhập từ ươi không dưới 50 ngàn
đồng/ngày. Nhưng khi ra đến thị xã, thành phố, giá ươi lên đến 50-70 đồng/kg. Hiện nay, tại một
số quán giải khát và các xe hàng đẩy rong trong TP. Biên Hòa , TP. Hồ Chí Minh thì hạt ươi trở
thành món đắt hàng vì giá cả bình dân và là món khoái khẩu của nhiều người. Chẳng những thế,
hạt ươi còn được một số nhà buôn ở Chợ Lớn xuất khẩu sang Hồng Kông, Đài Loan.
6. Một số địa chỉ ẩm thực
 Nhà hàng Đồng Nai
113 Cách Mạng Tháng 8, TP Biên Hòa, 061.822407
 Nhà hàng Long Biên
02 Phan Đình Phùng, TP Biên Hòa, 061.822688
 Nhà hàng Bửu Long
Tỉnh lộ 24, Bửu Long, TP Biên Hòa, 061.951274
 Nhà hàng Du Long
Tỉnh lộ 24, Bửu Long, TP Biên Hòa, 061.951955
 Quán Bà Đốc
99/3 xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa, 061.850332
 Nhà hàng Hải Vân
48 Huỳnh Văn Lũy, Phường Thanh Bình, TP.Biên Hòa, 061.822719
 Nhà hàng Bến Thành
111 QL1 Phường Quyết Thắng, TP.Biên Hòa, 061.822370
 Nhà hàng Hóa An
QL1K Hóa An, TP.Biên Hòa, 061.954257
 Nhà hàng Đồng Tháp 10
Tỉnh lộ 16, Phường Tân Vạn, TP.Biên Hòa, 061.850791
 Nhà hàng Tường Vân
7/3A Cách mạng tháng 8, Phường Hòa Bình, TP.Biên Hòa, 061.827412
 Quán An Phát
K3/120A Tân Mỹ, Phường Bửu Hòa, TP.Biên Hòa, 061.859016
 Quán Cây Sứ
260 KP2, QL15, Phường Thống Nhất, TP.Biên Hòa, 061.819560
 Long Quới Thôn Trang
284/3 Ấp Tam Hòa, Xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa, 061.855381
 Quán 185+4
185 Hưng Đạo Vương, Phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa, 824416
 Quán Bá Nam
8/2B Nguyễn Văn Trỗi, TP.Biên Hòa, 061.819127
 Quán Tre Xanh
120
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
25/4 Nguyễn Văn Trỗi, TP.Biên Hòa, 061.827726
 Quán Cây Dừa
23/1A Cách mạng tháng 8, Phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa, 061.822786
 Quán Cánh Buồm
158/10/5 Phường Hòa Bình, TP.Biên Hòa,
 Quán Toàn
2A Nguyễn Văn Trỗi, Phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa, 061.826409
 Quán 0234
387/A2 Ấp Nhị Hòa, Xã Hiệp Họ, TP.Biên Hòa, 061.850671
 Quán 1111
67C KP2, Phường Quyết Thắng, TP.Biên Hòa,
 Quán Việt Ấn
6/6 Tổ 10 KP7, Phường Tam Hiệp, TP.Biên Hòa,
 Quán Đông Tây
205C QL 15 Phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, 0903.693267
 Nhà hàng Quyết Thắng
102/34 QL 1, TP Biên Hòa, 061.819419
 Quán Năm Ri
20/3B KP5, Phường Hòa Bình, TP.Biên Hòa, 061.825107
 Nhà hàng Ngọc Vân
B12/KP5 QL15, Phường Tam Hiệp, TP.Biên Hòa, 061.813953
 Nhà hàng Nam Bình
1/3A KP5, Phường HÒa Bình, TP.Biên Hòa, 061.824264
 Nhà hàng Quyết & Chiến
94/475 KP8, QL15, Phường Tam Hiệp, TP.Biên Hòa, 061.814338
 Nhà hàng Thanh Trà
7C KP1 Đồng Khởi, Phường Trảng Dài, TP.Biên Hòa, 061.890836
 Nhà hàng Song Hỷ
161/31 KP2, Phường Tam Hòa, TP.Biên Hòa, 061.812523
 Quán Lá
250/24 KP2 Phường Thống Nhất, TP.Biên Hòa, 061.916036
 Quán Thanh Mai
400/A2 Ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa, 061.850789
7. Quà lưu niệm
1. Tranh đá quý ở Biên Hòa
121
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Để có một bức tranh đá quý ưng ý dành tặng cho người thân, bạn bè hoặc để làm đẹp thêm
cho ngôi nhà của mình, bạn có thể tìm mua tại cửa hàng tranh đá quý Trường Sinh số 98E, Võ Thị
Sáu, TP. Biên Hòa. Tranh ở đây được làm hoàn toàn bằng thủ công.
Vì nguyên liệu chính là đá quý thiên nhiên nên tranh có sắc màu vĩnh cửu, không bị tác
động bởi nhiệt độ, môi trường. Sau một thời gian treo tranh nếu bị bám bụi, bạn có thể tháo xuống
dùng nước xà bông và bàn chải mềm cọ rửa. Sau đó để khô nước treo lại, sau khi cọ rửa tranh sẽ
không bị hư hỏng về màu sắc cũng như độ bền.
Để đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng, cửa hàng còn nhận đặt và chế tác theo mẫu
mã, ý tưởng của khách, có Catalogue với nhiều bức hình mẫu cho bạn lựa chọn. Tùy theo kích cỡ,
kiểu dáng mà tranh đá quý có khung giá khác nhau, từ 500 ngàn đến vài triệu đồng. Nếu chọn
tranh để làm đẹp thêm phòng ngủ hoặc những góc tường nhỏ gần cửa ra vào bạn nên chọn những
bức tranh có hình các loại hoa như: hoa lan, cúc, hồng... (giá khoảng 500 - 600 ngàn đồng); bức
tường dọc theo cầu thang phù hợp để treo tranh tứ hình (4 bức tranh có chủ đề tượng trưng cho 4
mùa trong năm là xuân, hạ, thu, đông) có giá từ 1,5 - 2,5 triệu đồng. Riêng phòng khách, bạn nên
đặt hoặc treo những bức tranh đá quý có phong cảnh đồng quê với tùng hạt, tứ mã, cọp... Loại
tranh này đang được khách hàng ưa chuộng, mua dành tặng vào những dịp lễ tân gia, sinh nhật,
khai trương..., giá từ 900 ngàn đồng đến vài triệu đồng. Đặc biệt, cửa hàng còn nhận chế tác hình
cưới bằng đá quý cho khách hàng có nhu cầu. Một bức hình 8/14 được chế tác bằng các loại đá
quý như Ruby, Sapphire, Zircon vàng, Flo xanh, Thạch anh trắng... có giá là 7.500.000đ.
2. Tranh thêu Huế tại Biên Hòa:
Để có một tấm tranh thêu ưng ý dành tặng cho người thân, bạn bè hoặc để làm đẹp thêm
cho ngôi nhà của mình, bạn có thể tìm mua tranh thêu tại cửa hàng tranh thêu Thanh Hải, số 236
QL15, khu phố 3, TP. Biên Hòa.
Ở đây có bán nhiều bức tranh thêu bằng tay có xuất xứ từ tỉnh Thừa Thiên - Huế. Thế
mạnh của tranh thêu Huế là những bức tranh thêu hoa và phong cảnh đồng quê. Để đáp ứng nhu
cầu phong phú của khách hàng, cửa hàng còn nhận thêu theo yêu cầu của khách và có catalogue
với nhiều bức hình mẫu cho bạn lựa chọn. So với tranh thêu của XQ thì giá tranh thêu Huế có vẽ
mềm hơn nhiều. Tùy theo kích cỡ và thời gian thêu tranh mà tranh được bán với mức giá khác
nhau, khoảng từ 100 ngàn đến vài triệu đồng. Mỗi bức tranh đều hàm chứa một ý nghĩa khác nhau
vì vậy tùy theo bối cảnh, không gian, nội thất của gia đình mà bạn chọn những bức tranh thêu cho
phù hợp. Nếu chọn tranh để làm đẹp thêm phòng ngủ hoặc những góc tường nhỏ gần cửa ra vào
bạn nên chọn những bức tranh có thêu hình các loại hoa như: lan, cúc, hồng... (giá khoảng 500-600
ngàn đồng); còn bức tường dọc theo cầu thang phù hợp để treo tranh tứ bình (4 bức tranh có chủ
đề tượng trưng cho 4 mùa trong năm là xuân, hạ, thu, đông) có giá từ 1,5 -2,5 triệu đồng. Riêng
phòng khách, bạn nên đặt hoặc treo những bức tranh phong cảnh đồng quê, tranh thêu tùng hạt, tứ
mã, cọp... Loại tranh này cũng được khách hàng ưa chuộng mua dành tặng vào những dịp lễ, tân
gia, sinh nhật, khai trương, với giá từ 900 ngàn đồng đến vài triệu đồng.
3. Gốm Biên Hòa
Có truyền thống từ thế kỷ XVII với đồ đất nung và sành nâu ... nhưng phải đến cuối thế kỷ
19 và thế kỷ 20, gốm Biên Hoà với các sản phẩm đồ gốm sành xốp mới trở nên nổi tiếng và đặc
biệt đã giành được huy chương vàng tại các cuộc triển lãm gốm mỹ thuật quốc tế tại Paris năm
1990 và 1993. Đặc trưng của loại gốm này là sự kết hợp phong cách gốm Việt Nam, gốm Trung
Quốc và gốm Limoge của Pháp.
Theo xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa, tới lưu vực sông Đồng Nai, ta bắt gặp những làng mạc trù
phú với vô số lò gốm đang ngày đêm toả khói, đó là các làng gốm Biên Hòa của Tỉnh Đồng Nai,
nổi tiếng hơn cả là Cù Lao Phố, các làng Bình Dương và Xuân An.
Điểm nổi bật của các sản phẩm gốm Biên Hòa là vừa có giá trị nghệ thuật lại vừa có giá trị
sử dụng cao. Chủ yếu là các loại đôn voi, đôn tròn, các loại chậu hoa, tượng, thú... với nét trang trí
122
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
canh tân hiện đại, tinh tế, sử dụng men nhẹ lửa, màu men thanh thoát trắng sữa hay trắng ngà. Các
đề tài trang trí trên gốm sứ thường mang phong cách Trung Quốc như hình ảnh Tứ quý, Tứ linh,
những bài thơ vịnh bằng chữ Hán thường thấy trên các sản phẩm tráng men của Biên Hòa.
Bên cạnh đó, dòng gốm mỹ thuật của Biên Hòa cũng rất nổi tiếng. Cách đây hơn 20 năm,
các nghệ nhân gốm Biên Hòa đã rất thành công trong việc vẽ, khắc tranh dân gian trên gốm, hình
thành một dòng tranh gốm rất phát triển cho đến ngày nay.
Các sản phẩm gốm mỹ thuật ở Đồng Nai rất phong phú: từ trường phái khai thác văn hóa
Chăm như hình ảnh tượng thần Vixnu, thần Xiva đang nhảy múa đến các loại tượng dân gian Việt
Nam như Mục đồng, Tố Nữ... Ngoài ra, Biên Hòa còn nổi tiếng bởi các sản phẩm gốm đất nung
(gốm đỏ) không phủ men mang vẻ đẹp tự nhiên rất được thị trường ưa chuộng.
Hai yếu tố quan trọng tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của gốm Biên Hòa là nguồn nguyên liệu
cao lanh và đất sét màu chất lượng cao cộng với trình độ của đội ngũ thợ gốm có tay nghề. Có thể
nói, tài nghệ của thợ gốm Biên Hòa chính là ở chỗ họ đã tiếp thu, hòa nhập được những nét tinh
hoa của các nền văn hóa trong các sản phẩm của mình.
Qui trình sản xuất một sản phẩm gốm trước hết qua khâu tạo dáng trên bàn xoay hoặc trong
khuôn, được trang trí vẽ chìm, đắp nổi hoặc trổ thủng sau đó phủ men màu lên những phần đã
trang trí trước khi đưa vào lò nung.
Các khu vực sản xuất gốm Đồng Nai hiện nay tập trung chủ yếu ở phía Nam thành phố
Biên Hòa, tại các xã Hóa An, Vũ Hòa, Tân Vạn, Tân Hạnh và Long Thành. Trên địa bàn tỉnh có
tới hàng trăm doanh nghiệp, các công ty TNHH và cơ sở sản xuất gốm sứ. Hầu hết các cơ sở sản
xuất lớn ở đây như Hợp tác xã Gốm Thái Dương, Công ty TNHH Minh Đức, Công ty TNHH Việt
Thành, Công ty THNH Đồng Thành ... đã đầu tư trang bị lò nung bằng ga, nhằm đảm bảo chất
lượng sản phẩm đồng đều và hạ giá thành sản xuất.
Tham gia nhiều hội chợ quốc tế và các cuộc triển lãm lớn trên thế giới, các sản phẩm gốm
Biên Hòa ngày càng được nhiều bạn hàng trên thế giới biết đến. Gốm Biên Hòa đã và đang được
xuất khẩu đi hầu hết các nước ở Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ, đem lại kim ngạch xuất khẩu năm
sau cao hơn năm trước. Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu gốm thủ công mỹ nghệ trên địa bàn tỉnh
đạt 6,683 triệu USD nhưng năm 2002 đã đạt tới 9,6 triệu USD.
Trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay, Đồng Nai là một trong những tỉnh rất có thế
mạnh về đầu tư nước ngoài, trong đó các ngành nghề thủ công truyền thống, đặc biệt là nghề gốm
sứ đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.
Với lợi thế là một thành phố nằm ở cửa ngõ của thành phố Hồ Chí Minh, thuận lợi về vận
tải và kinh doanh xuất nhập khẩu, ngành gốm Đồng Nai với truyền thống và phong cách riêng rất
độc đáo hoàn toàn có đủ điều kiện để giới thiệu và mở rộng thị trường của mình ra nhiều nước trên
thế giới.
Ngoài ra Đồng Nai còn có các sản phẩm lưu niệm được làm từ mây, tre, nứa dựa vào
nguồn nguyên liệu chính có sẵn từ rừng quốc gia nam Cát Tiên.
123
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
BÀ R A - VŨNG TÀUỊ

XX. V TRÍ Đ A LÝỊ Ị
Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh miền Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía
Đông Bắc giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh, mặt còn lại giáp biển
Đông với hơn 200 km bờ biển trong đó có 40 km là bãi tắm.
Bà Rịa - Vũng Tàu có 7 đơn vị hành chính: Thành phố Vũng Tàu; thị xã Bà Rịa; 4 huyện
trên đất liền : Châu Đức, Tân Thành, Xuyên Mộc và Long Đất; và Huyện Côn Đảo có 66 km bờ
biển. Thềm lục địa rộng trên 100.000 km2
.
 Thành phố Vũng Tàu: Thị xã Bà Rịa:
Diện tích: 175,62 km2
. Diện tích: 89,09 km2
.
Dân số: 167.529 người. Dân số: 76.820 người.
Huyện Châu Đức: Huyện Tân Thành:
Diện tích: 436,65 km2
. Diện tích: 304,86 km2
.
Dân số: 143.301 người. Dân số: 80.846 người.
Huyện Xuyên Mộc: Huyện Long Đất:
Diện tích: 631,54 km2
. Diện tích : 292,95 km2
Dân số: 116.327 người. Dân số : 132.384 người
Huyện Côn Đảo:
Diện tích: 76,00 km2
.
Dân số: 1.796 người.
XXI. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử
Vũng Tàu từng có tên là Tam Thắng để ghi lại sự kiện thành lập ba làng đầu tiên ở đây:
Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam. Chữ Tam Thắng là biến âm của Tam Thoàn (tức Tam
Thuyền). Đây là ba chiếc thuyền do ba viên đội chỉ huy bảo vệ bà con đường thủy vào Gia Định
chống lại bọn cướp biển. Vào năm 1822 vua Minh mạng ban thưởng phẩm hàm và cấp đất cho họ
khai khẩn lập làng làm ăn sinh sống. Đội thuyền thứ nhất do ông Phạm Đăng Dinh chỉ huy lập nên
làng Thắng Nhất, đội thuyền thứ hai do ông Lê Văn Lộc chỉ huy lập nên làng Thắng Nhị, đội
thuyền thứ ba do ông Ngô văn Huyền chỉ huy lập nên làng Thắng Tam.
Để nhớ ơn ông Phạm Văn Dinh là người đã lập ra khu đất này, người ta đã lấy tên ông đặt
cho con sông duy nhất ở Vũng Tàu: sông Dinh và tên một dãy núi: núi Dinh (Ngoài ra còn có một
giải thích khác về tên của dãy núi Dinh: núi Dinh là núi Kho, thế kỷ XVIII các tướng lĩnh của chúa
Nguyễn ánh xây dựng doanh trại trên núi này và Dinh còn có nghĩa là doanh trại.
Đầu thế kỷ XVI trên bản đồ thế giới, Vũng Tàu có tên là :Cinco Chagas Veirdareiras (Năm
vết thương của chúa cứu thế ), sở dĩ họ gọi như vậy vì nơi đây có năm ngọn núi, người đi biển dễ
nhận thấy từ ngoài xa, biểu tượng của niềm vui, của sự cứu giúp đối với họ. Các bản đồ hàng hải
của người Bồ Đào Nha đều ghi Vũng Tàu là Cinco Chagas Veirdareiras. Nhưng khi cuốn hải trình
nổi tiếng “Biển Phương Đông” (La Neptune Oriental) của một nhà hàng hải Pháp ra đời thì nó lại
có tên là Cap Saint Jacques, có người giải thích đó là do cách đọc của các thuỷ thủ Châu Âu
nên Cinco Chagas trở thành Silkei Chagas và cuối cùng là Saint Jacques. Trong thời Pháp thuộc
124
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Vũng Tàu có một cái tên khác là Ô Cấp hoặc Cấp. Ô Cấp là phiên âm của tiếng Pháp Au Cap trong
câu Aller au Cap (đi ra mũi đất). Ô Cấp lúc đầu dùng để chỉ cả vùng đất Vũng Tàu. Khi nói đến
Vũng Tàu hay Ô Cấp, nếu để ý đến ngữ nghĩa của các từ sẽ thấy Vũng Tàu không giống như Ô
Cấp, bởi Vũng Tàu là vùng nước sâu để cho thuyền đậu, còn Ô Cấp là mũi đất chạy nhô ra biển.
Nhưng chúng đều được dùng chung để chỉ một vùng đất vùng biển. Ở đây khác nhau chỉ là cách
đặt tên theo mũi đất chỗ lồi (hướng ra biển), người phương Đông đặt tên theo vùng chỗ lõm
(hướng vào đất liền), thể hiện một tâm lý nào đó về cách nhìn ra thế giới bên ngoài.
Vùng đất Bà Rịa được người Việt Nam khai phá từ thế kỷ XVII, lúc đầu Bà Rịa thuộc dinh
Trấn Biên, tỉnh Gia Định. Năm 1808 vua Gia Long đổi Trấn Biên thành Biên Hoà. Tên Bà Rịa có
hai cách giải thích: Theo các cuốn “Gia Định thành thống chí”, “Đại Nam nhất thống chí” và một
số bộ sử khác thì Bà Rịa vốn là đất của tiểu vương Bà Lỵ (bị Chân Lạp thôn tính). Năm 1622 theo
thỏa ước của chúa Nguyễn Phúc Nguyên với vua Chân Lạp Chey Chetta II, những nhóm cư dân
Việt đầu tiên được phép khai phá xứ Mô Xoài xứ bà Lỵ. Tên Bà Lỵ được người Việt phát âm
chệch thành Bà Rịa. Một cách giải thích khác: Vào khoảng năm 1789 có một người đàn bà tục gọi
là Bà Rịa người Bình Định đưa dân nghèo vào khai hoang ở Tam Phước (tên gọi ngày nay). Nhờ
uy tín và tài năng tổ chức, bà động viên được mọi người ra sức khẩn hoang, xây dựng cuộc sống
trên vùng đất mới. Về già, Bà Rịa đem hết tài sản của mình làm việc công ích, lập quỹ cứu tế để
trợ giúp người nghèo, rước thầy về dạy học cho trẻ... Bà chết năm 1803 được dân lập đền thờ như
một vị phúc thần. Tên của bà đã trở thành tên của tỉnh.
XXII. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ
24. Địa hình
Địa hình của tỉnh bao gồm núi, đồi, đồng bằng nhỏ và các đồi cát, dải cát chạy vòng theo
bờ biển. Hai huyện Long Đất, Xuyên Mộc là vùng đồng bằng và đồi núi ven biển.
25. Khí hậu
Đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc xuống Nam, có đèo Hải Vân cao vút chắn ngang ở miền
trung khiến cho khí hậu hai miền khác nhau. Nếu như ở Hà Nội thời tiết còn rất lạnh, mọi người
còn phải mặc áo ấm thì ở Vũng Tàu khí hậu vẫn nóng bức, biển Vũng Tàu được gọi là biển nóng,
tắm được quanh năm. Bán đảo Vũng Tàu có nhiệt độ trung bình thấp hơn so với các tỉnh phía nam
bởi ba mặt giáp biển Đông, quanh năm lộng gió, nhiệt độ trung bình khoảng 28 độ C, lượng mưa
trung bình 1.500mm/năm.
Vũng Tàu có hai mùa rõ rệt tuỳ thuộc vào gió, gió thổi theo hai chiều gần như ngược nhau,
trừ những ngày chuyển tiếp. Gió mùa Tây Nam thổi vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), gió
mùa Đông Bắc thổi vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4). Gió thổi mạnh, tốc độ khoảng
35km/giờ. Tháng 4 và tháng 10 là những tháng chuyển mùa, gió thổi nhẹ, ngoài khơi sóng nhỏ.
Biển Vũng Tàu ít bão tố hoặc ảnh hưởng của bão không đáng kể vì thế trở thành nơi trú ngụ tốt
cho thuyền bè.
Thuỷ triều thuộc loại bán nhật triều, mỗi ngày đều có hai lần thuỷ triều lên xuống. Biên độ
triều lớn nhất là 4 - 5m.
Nhiệt độ nước biển ít thay đổi, quanh năm nhiệt độ tầng mặt nước khoảng 24 - 29 độ C,
nhiệt độ tầng đáy khoảng 26,5 - 27 độ C.
26. Giao thông
Bà Rịa - Vũng Tàu có quốc lộ 56 đi Đồng Nai, quốc lộ 55 đi Bình Thuận, quốc lộ 51 đi
huyện Cần Giờ (Tp. Hồ Chí Minh). Vũng Tàu cách Tp. Hồ Chí Minh 129km, cách Biên Hòa
(Đồng Nai) 95km, cách Nha Trang (Khánh Hòa) 513km. Từ Tp.Hồ Chí Minh đến Vũng Tàu có 6
tuyến xe chất lượng cao xuất phát trước chợ Bến Thành, 30 phút có một tuyến, thời gian chạy từ 2
đến 3 giờ. Xe khách đi từ bến xe Miền Đông, thời gian từ 3 đến 4 giờ. Ngoài ra còn có tàu cánh
ngầm Tp.Hồ Chí Minh - cảng Cầu Đá (Vũng Tàu), 30 phút một chuyến, chạy mất 1h15 phút.
125
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
XXIII. IV. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN
8. Dân tộc
- Dân tộc kinh chiếm đa số khoảng 97,25%
- Dân tộc Hoa chiếm khoảng 1,73%
- Dân tộc Tày chiếm khoảng 0,07%
- Dân tộc Khơ Me chiếm khoảng 0,15%
- Dân tộc Châu Ro chiếm khoảng 0,06%
Còn lại các dân tộc khác chiếm tỷ lệ không đáng kể.
9. Tín ngưỡng và tôn giáo
Cũng như các địa phương khác trong cả nước, Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn mang đậm màu sắc
dân gian với các nền “văn hoá sinh tồn” (nghề nông, nghề cá, thủ công…), “văn hoá ứng xử” (sự
giao tiếp, tổ chức phường nghề, nghi lễ, hội hè…), “Văn hoá đạo đức” (các mối quan hệ ông bà,
cha mẹ, xóm giềng…), “văn hoá tín ngưỡng” (tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng nguyên thuỷ…)
“Văn hoá nghệ thuật” (ngôn ngữ, nghệ thuật dân gian, ca dao, cổ tích hội hoạ, kiến trúc…). Đặc
biệt, nền “Văn hoá tín ngưỡng” được thể hiện đậm nét với các lễ hội “Nghinh ông” của cư dân
vùng ven biển như xã Phước Hải, Phước Tỉnh, Long Hải (huyện Long Ðất), Ðình Thắng Nhất,
Thắng Nhì, Thắng Tam (TP.Vũng Tàu)... Trong đó tiêu biểu nhất là lễ hội Nghinh Ông - đình
Thắng Tam được tổ chức vào ngày 16, 17, 18 tháng 8 âm lịch hàng năm tôn thờ linh vật đã phù hộ
giúp đỡ ngư dân trong những tháng ngày lênh đênh trên biển.
Bà Rịa - Vũng Tàu là nơi hội tụ nhiều tôn giáo lớn trên thế giới với số lượng tín đồ chiếm
trên 50% dân số toàn tỉnh. Trong đó Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Tin Lành được nhà nước cho
phép hoạt động hợp pháp với tư cách là tổ chức xã hội cùng với một số tôn giáo và hệ phái khác
như Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Độ Việt Nam, Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tin Lành Baptic, Cơ Đốc
Phục lâm, Cơ Đốc Truyền Giáo.
Phật giáo
Theo tài liệu nghiên cứu được, Phật Giáo được truyền vào Bà Rịa - Vũng Tàu sớm nhất
cùng với lớp cư dân người Việt miền Bắc, miền Trung từ đầu thế kỷ 17. Khi đến họ mang theo tôn
giáo gốc của mình và xây dựng chùa chiền.
Phật Giáo Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn mang đậm màu sắc nguyên thuỷ với các trung tâm phật
giáo lớn như chùa Đại Tùng Lâm (thị trấn Phú Mỹ - huyện Tân Thành), Khu vực chùa ven núi Thị
Vải (xã Hội Bài - huyện Tân Thành), Niết Bàn Tịnh Xá, Thiền Viện Chơn không, Thích ca Phật
Đài (Tp.Vũng Tàu), Các khu vực chùa núi Thiên Thai (xã Tam An - huyện Long Đất), Chùa Hòn
Một (xã Phước Hải - huyện Long Đất)… Một số cơ sở là di tích lịch sừ - danh thắng: Thích Ca
Phật Đài, Niết Bàn Tịnh Xá, Linh Sơn Cổ Tự.
Công giáo
Là tôn giáo lớn thứ 2 của tỉnh, được truyền vào Bà Rịa - Vũng Tàu từ giữa thế kỷ 18 (theo
sách Dư địa chí - 1947), nhưng chỉ thực sự phát triển nhanh và nhiều từ năm 1950 đến 1960.
Hiện nay có 14 nhà thờ lớn tập trung nhiều nhất ven quốc lộ 51 từ Tân Thành đến Vũng
Tàu. Ngoài ra còn các khu vực khác như: Khu vực Phước Tỉnh (huyện Long Đất, khu vực Bình
Giã (huyện Châu Đức). Một số nhà thờ xây dựng khá sớm trên 100 năm ở các khu vực Đất Đỏ
(huyện Long Đất), thị xã Bà Rịa, Tp.Vũng Tàu. Các nơi danh thắng: Nhà thờ Đức Mẹ, giáo họ Bãi
dâu, tượng cúa Kitô.
Cao Đài
126
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Có 3 hệ phái: Cao Đài tây Ninh, Cao Đài Ban chỉnh đạo Bến tre, Cao đài truyền giáo miền
Trung.
Cao Đài Tây Ninh được truyền vào Bà Rịa - Vũng Tàu năm 1940, chủ yếu tập trung ở Đất
Đỏ, Suối Nghệ, Vũng Tàu, Bà Rịa.
Tin lành
Được truyền vào Việt Nam từ 1911, đến những năm 1930 - 1940 được truyền vào Vũng
Tàu, phát triển mạnh vào những năm 1950 - 1960, chủ yếu là hệ phái Tin lành Việt Nam. Hiện nay
khoảng 4.000 tín đồ.
Tín ngưỡng - tôn giáo Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn luôn song hành với sự phát triển đa dạng của
tỉnh, hành đạo trong khuôn khổ của pháp luật và tuân thủ sự quản lý của nhà nước. Đến với Bà Rịa
- Vũng Tàu du khách không những chiêm ngưỡng những vẽ đẹp thơ mộng của thiên nhiên sơn
thuỷ hữu tình mà còn được dịp tiềm hiểu thêm một vùng đất có nền văn hoá tâm linh lâu đời với
quần thể kiến trúc đa dạng đặc trưng của sự thanh bình.
10. Lễ hội
3.1 Lễ hội Dinh Cô
Là ngôi miếu nhỏ thờ một trinh nữ chết nước, nằm trên mỏm đồi lộng gió ở bãi tắm Long
Hải. Dinh Cô được dựng lên bằng lòng tin, sự tín ngưỡng vốn có lâu đời trong nhân dân. Tương
truyền, 186 năm trước, xác một người con gái khoảng 16 tuổi dạt vào bãi, tên cô là Lê Thị Hồng
Thuỷ, quê ở Phan Rang, theo cha Lê Văn Khương dong ghe bầu xuôi ngược Trung - Nam để đánh
bắt cá và trao đổi hàng đan lát bằng tre. Mỗi lần ghe bầu qua vùng biển Long Hải, Cô nhìn cảnh
sơn thủy hữu tình, thường ao ước được ở lại đây chung sống. Một đêm bão tố, trời chiều lòng Cô,
đưa Cô theo sóng biển dạt vào, nằm lại trên bãi cát trắng xoá, nơi mà Cô từng mong ước. Cát đùn
lên che chở, sóng vỗ muôn nghìn lời ru cho Cô yên giấc. Dân làng xem Cô là nữ thần thiêng liêng
nên lập mộ trên đồi, dựng miếu thờ bên cạnh. Đầu tiên chỉ là một nấm mộ đất, miếu tre lá. Miếu và
mộ thay đổi dần theo sự linh ứng ngày càng lan rộng. Một lần (vào khoảng năm 1966), miếu phát
hoả, được trùng tu thành ngôi đền khang trang hơn. Đầu năm 1990, Dinh Cô lại được trùng tu
bằng kinh phí quyên góp của khách thập phương, trở thành một dinh thự kiên cố như hiện nay.
Từ khi có Dinh Cô để hương khói, ngư dân Long Hải có thêm sức mạnh tinh thần trong
lồng ngực để đương đầu với vất vả, gian nan. Thành tích của mình, dân làng thường gán cho Cô,
dệt thành nhiều huyền thoại thi vị, chủ yếu là chuyện Cô ứng linh giúp người hiền vượt khó khăn.
Sự tôn kính dành cho Cô đã trở thành tập quán của người Long Hải, trong đó ẩn chứa khát vọng và
niềm tin về cuộc sống thanh bình, thịnh vượng.
Hàng năm, lễ hội thường mở trong 3 ngày (10 - 11 - 12 tháng 2 âm lịch), suốt cả ngày cả
đêm. Hàng chục vạn khách thập phương từ miền Tây, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Bình
Thuận... lũ lượt kéo về Long Hải dự “Giỗ Cô”, chen chúc nhau trong rừng dương, trên bãi cát, ở
những hành lang, khoảng trống để nghỉ qua đêm, dự trọn 3 ngày hội. Có người phải đến trước mấy
ngày mới mong kiếm được chỗ trọ. Có gia đình mang theo cả con cái cả đồ dùng nội trợ để ăn
nghỉ tại chỗ. Đêm buông màn, rừng dương lao xao, sóng biển rì rào, lấp loáng trăng, lồng lộng
gió... cảnh hữu tình khiến người ta quên vất vả mà vui với cuộc hành hương mang tính chất dã
ngoại.
Từ rạng sáng ngày 10 tháng 02 âm lịch, người ta đã bắt đầu viếng Cô. Mỗi người thường
cầm trong tay một nhành huệ trắng tượng trưng cho sự thanh khiết. Giới trẻ ham vui, các cụ già
sùng tín đều chen nhau vượt 187 bậc đờ để dâng hương xin lộc nơi chính điện. Đêm 10 và 11 là
đêm hội hoa đăng. ánh đèn sáng rực hoà cùng ánh trăng. Hàng vạn ghe thuyền quay mũi về Dinh
chầu Cô, tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng thâu đêm.
Lễ chính được tổ chức từ rạng sáng ngày 12. Từ chính điện, đoàn người chỉnh tề cờ quạt ra
bãi, lên thuyền, ra khơi làm lễ “Nghinh Cô”. Lễ “Nghinh Cô” được cử hành long trọng. Vị Chánh
127
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
bái dẫn đầu, đoàn học trò lễ tiếp bước, có cờ xí, lọng che, hoa đăng rực rỡ. Một chiếc ghe to đặt
bày hướng án được xem là ghe dành “Nghinh Cô”. Ghe được hộ tống bởi vài chục chiếc ghe khác.
Đoàn ghe nối nhau ra khơi trong tiếng chiêng trống vang trời. Đến Mũi Nhỏ, nơi có ngôi mộ Cô,
đoàn người xuống ghe lên viếng mộ, nghênh đón Cô về Dinh. Đặc biệt, trong lễ “Nghinh Cô”, còn
duy trì được hình thức diễn xướng “Hát bả trạo”. Theo TS Tôn Thất Bình, “Hát bả trạo” có nghĩa
là hát có nắm mái chèo, một thể loại dân ca nghi lễ phổ biến của cư dân vùng biển từ Bình Trị
Thiên (cũ) đến Bình Thuận. Ngư dân thường tổ chức hát bả trạo trong nghi lễ đưa ma Cá Ông. Ở
Long Hải, hát bả trạo lại gắn với lễ “Nghinh Cô”. Hình thức diễn xướng không khác hát bả trạo
của cư dân vùng biển Nam Trung Bộ, cũng có tổng khoang (hoặc tổng thương), tổng mũi, tổng lái
và đám bạn chèo từ 12 đến 16 người. Các bạn chèo và các tổng đề trong trang phục cổ truyền, vừa
hát vừa diễn (xướng - xô) mô phỏng thao tác của người đi biển vượt ngàn trùng sóng gió. Chỉ khác
ở nội dung bài hát ngưỡng vọng Cô (thay vì ca ngợi, thương tiếc Cá Ông) và lời nguyện cầu cho
trời lên biển lặng, tôm cá đầy khoang. Làn điệu và bài hát cho thấy hát bả trạo Nghinh Cô ở Long
Hải phóng khoáng và trữ tình hơn lối hát “nặng nỗi âu lo” của vùng biển Nam Trung Bộ.
Thú vị nhất của khách hữu tình không phải ở nội điện, mà là toàn cảnh bãi Long Hải trong những
ngày hội rộn ràng, đứng ở hành lang của chính điện, có cảm giác như đang ở vùng giao thoa giữa
biển và trời, giữa đời thực và hư, giữa sóng biển dập dềnh như đang dệt lụa và Dinh Cô trong thế
“phục long” đang muốn bay lên. Bởi vậy, đến Dinh Cô trong ngày hội không chỉ có người sùng tín
mà còn có những văn sĩ, thi nhân và các đôi trai gái đi tìm rung cảm cho con tim.
3.2 Lễ hội Nam Hải
Lễ hội “Nam Hải Đại tướng Quân”, danh hiệu Cá Ông do vua Thiệu Trị ban tặng được tổ
chức trùng với ngày Vía (ngày mất) của cá. Lễ hội kéo dài trong 3 ngày, từ 16 đến 18 tháng 8 âm
lịch hàng năm. Lễ hội gồm có lễ cúng Ông, lễ nghinh Ông (đón cá). Nhiều ghe thuyền trang trí
lộng lẫy, thắp đèn sáng trưng chạy vòng biểu diễn ngoài biển. Những hình thức tế lễ cá Ông mang
đậm màu sắc riêng của cư dân miền biển, nhưng trong lễ hội người ta cũng dành một buổi cúng
Tiền Hiền, một buổi tế Thần Linh như việc tổ chức cúng lễ trong đình làng.
3.3. Lễ hội Nghinh Ông:
Lễ hội Nghinh Ông Vũng Tàu là một trong những lễ hội được Bộ văn hoá Thông tin và
Tổng cục Du lịch chọn trong 15 lễ hội lớn của cả nước năm 2000.
Lễ hội Nghinh Ông và tục thờ cá Ông (cá voi) bắt nguồn từ dạng tín ngưỡng vật tổ cư dân
vùng ven biển nước ta, phổ biến rộng rãi từ vùng biển Thanh Hoá đến tận Kiên Giang.
Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, bà con cư dân ở các làng cá đều tổ chức Lễ
hội Nghinh Ông: Xã Bình Châu (huyện Xuyên Mộc), xã Phước Hải, Phước Tỉnh, Long Hải (huyện
Long Ðất), Ðình Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam (TP.Vũng Tàu)... trong đó tiêu biểu nhất là
Lễ hội Lăng Ông - Đình Thắng Tam.
Theo truyền thuyết, tục thờ cá Ông được xuất phát từ tín ngưỡng của dân tộc Chăm: “Vị
thần tên là Cha-aih-va, vì quá nôn nóng trở về xứ sở sau thời gian khổ luyện phép thuật, đã cãi lại
thầy của mình và tự ý biến thành cá Voi. Từ đó, mỗi khi có thuyền lâm nạn vị thần đều nâng đỡ và
đưa người lâm nạn vào bờ”. Truyền thuyết dân gian của dân tộc Kinh thì cho rằng: “Cá Voi do
Phật Quan Âm Bồ Tát xé chiếc áo cà sa thành muôn mảnh thả trên mặt biển để cứu vớt chúng sinh
đi biển bị lâm nạn”.
Trong lịch sử triều Nguyễn có ghi lại: Khi Chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu ngoài đảo Phú Quốc
(Kiên Giang) bị bão lớn, thuyền sắp đắm, ông đã cầu nguyện và được cứu thoát nạn. Sau khi phục
quốc lên ngôi, vua Gia Long (tức Chúa Nguyễn Ánh) phong cho cá Voi là “Nam Hải Cự Tộc Ngọc
Lân Thượng Ðẳng Thần”.
Những người dân vùng ven biển tôn vinh cá Ông (cá Voi) thành một vị thần rất đỗi thiêng
liêng, là chỗ dựa tinh thần mỗi khi gặp sóng to gió lớn, thuyền bị đắm, con người bị hiểm nguy đe
doạ.
128
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam được tổ chức vào ngày 16, 17, 18 tháng 8 âm lịch
hàng năm. Trong Lăng Ông còn lưu giữ nhiều bộ xương cá Ông, bộ xương sớm nhất được đưa vào
năm 1868, khi cá Ông dạt tới bãi biển Thùy Vân, thành phố Vũng Tàu. Bộ xương này nặng
khoảng 4 tấn và có chiều dài khoảng 30 mét. Hiện nay, Lăng Ông còn giữ được hai sắc thần được
phong vào năm 1846 và 1850 dưới triều Tự Ðức.
Lễ hội Nghinh Ông được tổ chức với sự tham dự của nhân dân trong vùng. Lễ hội bắt đầu
từ sáng sớm với một đoàn người gồm các vị kỳ lão, kỳ hương... lên một chiếc ghe lớn (có trang trí
hoa, cờ, bàn thờ và bài vị thuỷ tướng, có đoàn nhạc ngũ âm, chiêng, trống và đội múa lân rộn ràng)
đi đến địa điểm đã định rồi dâng hương, rượu.
Sau đó, đoàn thuyền về bến rước Ông đến lăng, tiếp đến là các lễ cúng Tiền Hiền, Hậu
Hiền, đọc văn tế, sắc phong, học trò dâng trà, hoa, rượu...
Ðến với lễ hội, du khách còn được thưởng thức các tiết mục: Võ thuật, múa lân, hát Bội...
cùng với nhịp điệu hoà âm của chiêng, trống trong khói hương nghi ngút.
Lễ hội Nghinh Ông là dịp cho ngư dân cầu mong bình yên khi đi biển, đánh bắt được nhiều
tôm cá, cuộc sống được no ấm thịnh vượng, hạnh phúc trường tồn. Lễ hội Nghinh Ông còn là nơi
cho mọi người tưởng nhớ đến việc báo nghĩa, đền ơn, uống nước nhớ nguồn.
3.4 Lễ hội Đình thần Thắng Tam:
Hàng năm lễ hội Ðình Thần Thắng Tam được tổ chức trong 4 ngày từ 17 đến 20 tháng 2
âm lịch. Ðây là lễ hội cầu an, là thời điểm kết thúc và mở đầu cho một mùa thu hoạch tôm cá.
Phần lễ diễn ra rất cầu kỳ: cúng tế, lễ vật tế thần, dâng hương quỳ lạy, chiêng trống, kèn nhạc và
có rất nhiều điều kiêng kỵ như heo dùng để tế lễ phải có bộ lông cùng màu, người có tang không
được tham gia vào việc nghi thức tế lễ. Phần hội có nhiều trò vui chơi giải trí như múa lân, hát bội.
Lễ hội Ðình Thắng Tam là một hoạt động văn hoá đặc sắc của ngư dân miền biển Vũng Tàu. Lễ
hội mang đậm nét văn hoá dân giang và bản sắc dân tộc.
3.5 Lễ hội Trùng Cửu:
Tổ chức 1 ngày, từ đêm 8 đến ngày 9 tháng 9 âm lịch.
Lễ hội Trùng Cửu 9/9 âm lịch hàng năm, diễn ra tại Nhà Lớn Long Sơn đây là lễ cầu an, là
lễ hội cầu cho vạn dân bá tánh được mạnh khoẻ an lành, lễ hội diễn ra vào đêm mồng 8 và ngày
9/9 âm lịch. Đêm 8/9 gọi là lễ Tiên Thường kỉnh mặn (cúng mặn) chủ yếu là các sản vật do các bá
tánh mang vào kỉnh (cúng), và ngày 9/9 gọi là Chánh Giỗ kỉnh chay (cúng chay), lễ hội không tổ
chức linh đình như nhiều lễ hội khác chủ yếu là đi dâng hương, nguyện cầu khấn vái, và tưởng nhớ
đến công đức của ông Trần.
Tuy nhiên vào những ngày này hàng vạn du khách thập phương hội tụ về đây, đặc biệt là
người ở các tỉnh Miền Đông và Miền Tây Nam Bộ, tự xem mình là tín đồ của đạo Ông Trần. Du
khách đến đây có thể tìm thấy những điều mới lạ mà người dân nơi đây đã tạo ra theo ý muốn và
ước vọng của họ, bổ sung cho kho tàng hiểu biết của mình.
Ông Trần có tên là Lê văn Mưu, từng tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp do quản cơ
Trần văn Thành làm thủ lĩnh và ông là một tín đồ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (vốn xuất phát từ Ba
Chúc, An Giang). Sau khi khởi nghĩa thất bại, ông đưa gia quyến về lánh nạn tại núi Nứa, lập ấp
Bà Trao, nay là xã Long Sơn. Tôn giáo của ông Trần rất lạ, tín đồ không cần "ly gia cắt ái", tín đồ
mặc quần áo bà ba, búi tóc hoặc để xõa tự nhiên và tu đâu cũng được...Ít quan tâm đến giáo lý mà
chú tâm nhiều đến việc thờ cúng, bố thí và lấy việc "tu nhân" làm nền tảng cho sự hành đạo. đạo
Ông Trần không có chùa, không có kinh kệ, không ăn chay, không kiêng kỵ như nhiều tôn giáo
khác. Tín đồ chỉ truyền khẩu những lời dạy của ông Trần. Sau một thời gian ngắn, nhờ siêng năng,
cần mẫn, ông Trần và các đệ tử đã biến một vùng rừng của Núi Nứa thành đất trồng trọt. Nhiều
người ở nơi khác tìm đến xin cùng định cư và trở thành đệ tử ông Trần. Khi ông Trần qua đời.
129
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Tại sao gọi là đạo ông Trần? Vì sinh thời, ông Lê Văn Mưu thường cởi trần, tóc búi tó, đi
chân đất lao động suốt ngày nên người dân thường gọi là ông Trần (cởi trần), sau này khi thành
đạo, gọi luôn là đạo ông Trần.
3.6 Festival diều Quốc tế Vũng Tàu
Festival Diều Quốc tế Vũng Tàu là sự kiện lễ hội diễn ra hàng năm tại thành phố Vũng
Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam từ năm 2009. Đây là lễ hội thả diều có quy mô lớn nhất
Việt Nam, quy tụ sự tham gia của nhiều câu lạc bộ và hiệp hội chơi diều từ các nước trên thế giới.
Lễ hội tập hợp những con diều độc đáo và đa dạng về màu sắc lẫn kích cỡ và phong cách. Ngoài
tính chất là môn thể thao đậm chất văn hóa, đây còn là chương trình nhằm thu hút khách du lịch
trong và ngoài nước của địa phương. Tại lễ hội đầy màu sắc, các quốc gia tham dự đưa ra những
cánh diều mang phong cách truyền thống riêng. Trong đó, Việt Nam đem đến những cánh
diều Huế mang sắc thái cung đình như rồng, phượng; diều sáo của miền Bắc, các loại diều hiện đại
theo nguyên lý khí động học hay những con diều độc đáo có hình sinh vật đặc trưng của biển.
3.7 Liên hoan diều quốc tế Vũng Tàu-Việt Nam lần IV năm 2012
“Vũ điệu hòa bình” chủ đề Liên hoan diều quốc tế Vũng Tàu-Việt Nam lần IV năm
2012 được tổ chức từ ngày 30/3 đến 02/4/2012 tại sân golf paradise và dọc bãi tắm Thùy
Vân (Vungtau Intourco resort, KDL Biển Đông, chợ du lịch).
Liên hoan diều quốc tế lần IV là 1 trong 9 sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch quan trọng của
tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trong năm 2012. Qui tụ 60 nghệ nhân diều quốc tế của 25 quốc gia và vùng
lãnh thổ của 5 châu lục cùng 80 nghệ nhân diều trong nước gồm 5 đoàn ở 3 miền Bắc, Trung,
Nam: diều Phượng Hoàng (TP.HCM); diều nghệ thuật Sài Gòn, diều Hà Nội, diều Huế, diều Bà
Rịa- Vũng Tàu với hơn 300 con diều với nhiều chủng loại, kích cỡ, hình dáng mang đậm bản sắc
văn hóa của từng quốc gia, dân tộc; nét đặc trưng tiêu biểu, tính độc đáo về sáng tạo kỹ thuật, biểu
diễn có tính nghệ thuật của các nghệ nhân chơi diều và chế tạo diều.
11. Danh thắng và các công trình kiến trúc
5.1 Đình thần Thắng Tam:
Trên khắp đất nước Việt Nam, ở các làng xã ngày xưa đều có Đình thần. Đình thần là nơi
thờ phụng Thành Hoàng - người có công khai phá dựng làng, dựng nước tại địa bàn sở tại, tiền
hiền và hậu hiền - những người tiếp nối đến mở đất dựng làng, dựng nước.
Đình làng còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, văn hoá và tinh thần của cư dân trong một cộng
đồng được xác định bởi một đơn vị hành chính cơ sở. Trải qua thời gian tồn tại lâu dài, do những
biến động của lịch sử, một số làng, xã đã không còn đình làng. Tại ba ngôi làng tiền thân của Vũng
Tàu còn ba ngôi đình. Đây là một quần thể kiến trúc gồm ba di tích gắn bó với nhau đó là Đình
Thần Thắng Tam, Miếu Bà Ngũ Hành và Lăng Ông Nam Hải (Cá Ông). Có thể nói đình làng
Thắng Tam là biểu hiện đặc sắc của đặc trưng văn hoá độc đáo của ngư dân miền biển - Vừa có
những đặc điểm chung của đình làng Việt Nam, vừa có những nét riêng trong thờ cúng và sinh
hoạt văn hoá - tín ngưỡng.
Theo truyền ngôn, Đình Thần Thắng Tam được xây dựng từ đời vua Minh Mạng (1820 -
1840). Hiện nay, đình thần còn lưu giữ 2 đạo sắc của nhà Nguyễn phong cho các vị thần được thờ
tại đình là Thiên Y A Na, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Thượng Đẳng Thần, Cá Ông, Thuỷ Long
Thần Nữ… Theo truyền thuyết Đình Thần Thắng Tam thờ chung cả ba người đã có công xây dựng
nên ba làng thắng ở Vũng Tàu, đó là Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền. Chuyện kể
rằng: thuở ấy hải tặc Mã Lai và Tàu Ô thường hay đột nhập cửa sông Bến Nghé đón đường cướp
bóc tiền bạc, hàng hoá, bắt cóc người trên các thuyền buôn. Để bảo vệ thương thuyền của người
Việt, vua Gia Long liền phái ba đội quân đi trên ba chiếc thuyền. Mỗi đội quân do một viên xuất
đội thống lĩnh. Đổ bộ lên bán đảo Vũng Tàu, họ đã lập trại và đặt tên cho doanh trại, đồn binh của
130
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
mình là Phước Thắng. Ba đội quân vừa làm việc nước - bảo vệ sự thanh bình của bờ biển cửa ngõ,
vừa khai hoang lập làng, làm ăn sinh sống. Trong vòng mấy năm, phần lớn hải tặc Mã Lai và Tàu
Ô bị diệt trừ. Số ít còn lại chẳng dám sách nhiễu thương thuyền nữa. Năm 1822, Minh Mạng ban
chiếu khen thưởng chức tước, phẩm hàm cho đội quân cho giải ngũ và ban thưởng phần đất mà họ
có công khai phá. Từ ba vị trí của ba đội quân dần dần hình thành nên ba làng thắng. Làng thứ nhất
gọi là làng Thắng Nhất do Ông cai đội Phạm Văn Dinh chỉ huy. Làng Thắng Nhì do Ông cai đội
Lê Văn Lộc chỉ huy. Làng Thắng Tam do Ông cai đội Ngô Văn Huyền chỉ huy. Dân các làng
Thắng vừa làm ăn sinh sống vừa bảo vệ an ninh bờ biển. Sau khi ba đội Ông chết, Triều đình ban
sắc phong cho ba ông.
Đình thần Thắng Tam lúc đầu xây dựng chỉ là nhà tranh vách lá. Năm 1835 mái được lợp
ngói, năm 1965 được trùng tu mới như hiện nay. Kiến trúc Đình Thần Thắng Tam có Cổng Tam
Quan, Nhà Tiền Hiền, Hội Trường, Ngôi Đình Trung, sân khấu võ ca. Trong đình bài trí nhiều đồ
lễ, chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Đình thần thắng tam kiến trúc theo lối nối tiếp.
Đó là một nhà gồm bốn ngôi nhà nối liền nhau bằng một lối đi bên hông: Tiền Hiền - Hội Trường -
Đình Trung - sân khấu võ ca. Ngôi tiền hiền được lợp bằng ngói âm dương, trên mái có hình
“Lưỡng long chầu nguyệt” đắp nổi. Đầu các đòn tay, xà gồ, cột đều chạm khắc hình rồng. Nội thất
nhà Tiền Hiền bày bốn bàn thờ: bàn thờ thổ công, Tiền Hiền và Hậu Hiền, Tiền Vãng và Hậu
Vãng ( tức thờ thổ công, tiền hiền và hậu hiền, dân làng đến trước đến sau).
Hội trường là nơi sinh hoạt của Hội viên thuộc hội đình (hội đình thắng tam hiện nay có
hơn 500 hội viên, có ban hương chức thôn hội chia làm 10 bậc từ thấp đến cao).
Tiếp sau phần hội trường là ngôi đình trung có cấu trúc tương tự ngôi tiền hiền. Ngôi đình
trung bài trí 10 bàn thờ theo lối 3-4-3: thờ Thần Nông, Thiên Y A Na, Ngũ Đức, Thánh Phi, Hậu
Hiền - Thần, Hội Đồng, Phụ Án Và Tiền Án - Cao Các, Thiên Sư, Ngũ Thơ, Ngũ Tự và Tiền Hiền
(bốn bàn thờ phía giữa nằm vượt lên phía trước). Khác với nhiều nơi, thần nông được thờ ngoài
trời, ở Đình thần Thắng Tam, thần nông được thờ bên trong.
Sân khấu võ ca là nơi diễn tuồng, hát bội khi đình thần có lễ.
5.2 Miếu Bà
Miếu Bà nằm bên trái khu Đình Thần Thắng Tam, còn có tên Miếu Ngũ Hành. Tên gọi ấy
phản ánh các đối tượng được thờ cúng trong miếu.
Tương truyền miếu bà được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX. Lúc đầu nó chỉ là ngôi nhà
tranh vách do ngư dân Thắng Tam xây dựng để thờ Ngũ Hành, tức năm yếu tố vật chất: Kim, Mộc,
Thủy, Hỏa, Thổ (theo tư tưởng triết học Trung Quốc mà Việt Nam ảnh hưởng). Ngoài Ngũ Hành,
Miếu Bà còn thờ hai vị hộ quốc được vua phong Thượng Đẳng Thần là bà Thiên Y-A-Na và Thuỷ
Long Thần Nữ. Điều này chứng tỏ tính riêng của ngôi miếu khi chủ nhân của nó là những người
sống bằng nghệ chài lưới trên biển.
Miếu Bà được kiến trúc theo lối một gian hai chái. Trên mái có hình Lưỡng Long chầu
Nguyệt. Bên trong có 8 bàn thờ. Bàn giữa chính điện thờ 5 bà Ngũ Hành và hai vị Thượng Đẳng
Thần. Trên có bày tượng 5 Bà và bộ ngũ sự, hai bên có thờ 5 Cô, 5 Cậu, hai vị Thượng Đẳng thần
không có tượng. Tiếp theo bên trái là bàn thờ Quan Công, Quan Bình và Châu Xương là những
bậc trung nghĩa và sẵn sàng cứu hộ những người đi biển khi họ gặp chuyện không may. Bên phải
là bàn thờ Ông Địa - Thổ Công. Phía sau là bàn thờ Tiền Hiền và bàn thờ những người giàu lòng
nhân ái, độ lượng trong làng.
Hàng năm, Miếu Bà lễ hội vào ba ngày từ 16 đến 18 tháng 10 âm lịch. Quản lý miếu và tổ
chức điều hành lễ hội là những người trong ban điều hành. Hội viên của Miếu bà chỉ giành cho nữ
giới. Ban điều hành cũng chỉ do các bà phụ trách (ba bà cố vấn, sáu bà trong ban điều hành với
160 hội viên).
5.3 Lăng Cá Ông
131
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Nằm trong khu Đình Thần Thắng Tam phía bên phải. Lăng Cá Ông được xây dựng cùng
thờ kỳ với Miếu Bà, nghĩa là khoảng cuối thế kỷ XIX. Hiện nay trong lăng còn bảo tồn xương Cá
Ông khổng lồ do ngư dân Vũng Tàu vớt được từ hơn 100 năm trước đây.
Truyền thuyết về Cá Ông hiện còn lưu truyền ở Vũng Tàu và từ rất sớm đã được chép
trong thư tịch cổ, rằng: Cách đây hơn 100 năm (giữa thế kỷ 19) có một đầu cá to lớn trôi dạt vào
bãi Tầm Dương. Đầu cá lớn đến nỗi ngư dân không thể đưa vào bờ được. Họ phải xóc cờ rào lại
chờ cho thịt rữa sạch rồi tháo từng khúc xương đưa vào miếu thờ.
Lăng Cá ông Thắng Tam có tới ba sắc phong do vua ban tặng. Vua Thiệu Trị ban hai đạo
sắc vào năm thứ năm (1846), Vua Tự Đức ban cho đạo sắc vào năm thứ ba (1850). Hiện nay vào
ngày 16/8 âm lịch, cứ ba năm một lần những người quản lý Lăng được gọi là hội “Lương hữu Vạn
Lạch” lấy một xương trong Lăng đem thờ trong ba tủ kính. Vào ngày Vía Cá ông, ngư dân và
khách thập phương tụ hội vê đông vui nhộn nhịp. Ngời ta đến đây cầu mong sự bình yên may mắn
trong chuyến đi biển, xin xăm báo trước điều tốt lành, rủi ro và xem hát, vui chơi giải trí...
Lăng Cá ông có kiến trúc theo lối cổ xưa. Bên trong bày ba tủ kính lớn đựng xương tương
xứng với nó là ba bàn thờ. Hai bên tả, hữu có thêm hai bàn thờ của Bà Sáu (Thần Rùa) và tổ nhạc.
Ngư dân Vũng Tàu quan niệm rằng mỗi khi có Cá ông chết tấp vào bờ, người nào trông thấy đầu
tiên thì được xem như con trưởng của Cá ông. Khi làm lễ an táng, người đó phải chịu tang và thực
hiện các nghi lễ tang ma như là đám cho cha đẻ mình vậy.
Khu di tích Đình Thần Thắng Tam, bao gồm cả Miếu Bà và Lăng Cá ông ẩn chứa những
giá trị văn hóa quý báu của cư dân miền biển Vũng Tàu. Những nét đẹp về phong tục tập quán
dường như được “hóa thân” trong từng chi tiết kiến trúc của di tích, của phong cách sinh hoạt tổ
chức lễ hội. Khu di tích Đình Thần Thắng Tam và những lễ hội liên quan của nó đã bảo lưu được
những di sản qúy giá. Hiện nay, không kể các ngày lễ hội là những ngày có rất đông du khách
hành hương mà những ngày thường khu Đình Thần Thắng Tam cũng chào đón rất nhiêu khách du
lịch trong và ngoài nước đến thăm viếng.
5.4 Bạch Dinh
Dọc theo bãi trước về phía Núi Lớn, chúng ta luôn trông thấy hình ảnh một dinh thự màu
trắng, mái ngói đỏ sừng sững trên sườn núi nổi bật trên nền xanh tươi của cây cỏ. Đấy chính là
Bạch Dinh.
Bạch Dinh tọa lạc tại số 10 đường Trần Phú, thành phố Vũng Tàu. Bạch Dinh được người
Pháp xây dựng từ năm 1898 đến năm 1916 dùng làm nơi nghỉ mát cho Toàn Quyền Pháp Paul
Doumer và được gọi là Villa Blanche theo tên cô con gái yêu của ông ta. Nghĩa tiếng việt của từ
“Villa Blanche” lại trùng với dáng sắc bên ngoài của nó nên dân địa phương quen gọi là “Bạch
Dinh” tức là biệt thự trắng.
Bạch Dinh nằm ở độ cao 27,7m mặt hướng ra biển, lưng tựa vào núi, dưới chân là biển.
Khách du lịch có thể tắm ở Bãi Trước, Bãi Dâu, thả bộ trên đường Trần Phú vừa ngắm Bạch Dinh.
Sau lưng là Núi Lớn, bao quanh một màu xanh của rừng sứ và rừng gia tỵ giữa thiên nhiên tươi
đẹp.
Bạch Dinh mang phong cách kiến trúc Châu Âu cuối thế kỷ 19. Mặt ngoài được trang trí
những đường hoa văn cổ xưa vùng với những hình vẽ và những bức tượng thể hiện chân dung của
các thánh thời Cổ Hi Lạp. Toà cao 19m, dài 25m, rộng 8m, gồm 3 tầng (tầng hầm, tầng trệt, tầng
lầu). Toàn bộ ngôi nhà được quét vôi trắng, phía trên lợp ngói đỏ tươi, phía dưới là mảng viền
trang trí tinh tế và mỹ thuật. Sứ men màu là nguyên liệu chính để trang trí, tạo hình ảnh. Đôi chim
công với màu xanh ngọc, điểm xuyết những chấm bạc lấp lánh đang xoè cánh múa làm cho ngôi
nhà mang một dáng dấp thanh thoát. Những gương mặt phụ nữ Châu âu xinh đẹp, như các vị thần
trong thần thoại Hy Lạp. Đôi cá chép uốn lượn như muốn hoá rồng. Hoa cúc, hoa hướng dương
viền từng mảng quanh ngôi nhà, lấp lánh dưới ánh ban mai, vàng lên rực rỡ trong nắng chiếu càng
làm cho Bạch Dinh thêm lộng lẫy. Gây ấn tượng đặc biệt là 8 bức tượng bán thân mang phong
132
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
cách nghệ thuật Hy Lạp cổ đại bao quanh 3 mặt tường chính của ngôi nhà. Các bức tượng đều làm
bằng sứ men màu, nét mặt thể hiện tinh tế, sinh động. Có lẽ đây là những bức tượng chân dung về
một số vị danh nhân trong lịch sử Châu Âu, hơn 100 năm thử thách không bị khuất phục bởi thời
gian, kiến trúc Bạch Dinh vẫn giữ nguyên tính sang trọng, hài hoà và uy nghiêm.
Rừng giá tỵ bao quanh có một thế quan trọng trong việc tôn vinh vẻ đẹp của Bạch Dinh. Chính
rừng cây đã tạo nên vẻ đẹp cho khu di tích này. Khuôn viên Bạch Dinh rộng chừng 6 ha, một nửa
là rừng giá tỵ (còn gọi là cây báng súng). Thân cây cao, thẳng lá to như nửa tán dù. Nửa kia trồng
bông sứ. Một loại cây ưa khí hậu nóng khô hạn và rất nhiều hoa. Rừng Bạch Dinh là một góc
thanh bình và nên thơ của một thành phố du lịch ồn ào, xao động.
Cứ mỗi lần đặt chân đến đây, trong ta lại thấy trào lên những cảm xúc mới lạ. Mùa mưa
rừng Bạch Dinh xanh thẳm. Những cành lá giá tỵ như ô dù che kín cả cây rừng. Mùa lá rụng Bạch
Dinh tràn ngập hoa sứ. Hoa trải trên lối đi, hoa từng chùm trắng trên cây, trắng cả khu rừng. Hoa
thơm ngát làm dịu lòng người. Rừng sứ Bạch Dinh là rừng có chủng loại sứ phong phú. Có thứ
màu đỏ (hoa sứ Thái Lan), có loại màu hồng, màu trắng, vàng nhạt (giống như hoa Cham pa), có
loại trắng pha vàng ở giữa, sứ ngũ sắc... Đi giữa mùa lá rụng, ta thấy lòng lâng lâng bay bổng mọi
ưu phiền trong cuộc sống đời thường như tan biến. Bạch Dinh còn hấp dẫn bởi lịch sử của nó.
Trước khi có Bạch Dinh, nơi đây làm pháo đài thành Phước Thắng (năm Minh Mạng thứ
20 nhà Nguyễn). Pháo đài này là nơi đã nổ phát súng đầu tiên (10.2.1859) vào hạm đội Pháp khi
chúng tấn công Sài Gòn - Gia Định (bằng đường biển) và đã cản trở được bước tiến của quân Pháp
trong 1 ngày đêm. Đó là một chiến tích oanh liệt của quân và dân Vũng Tàu trong buổi đầu kháng
chiến chống Pháp. Sau khi bình định xong xứ Nam Kỳ, viên toàn quyền Đông Dương người Pháp
Paul Doumer đã lệnh san bằng pháo đài thành Phước Thắng (1898) để xây biệt thự cho mình và
đặt tên là Villa Blanche (nghĩa chữ Hán Việt của từ này là Bạch Dinh). Để xây dựng Bạch Dinh,
800 người tù lao động khổ sai trong suốt gần 10 năm trời. Từng tấc đất, viên đá, ngọn cây ở đây
đều thấm bao mồ hôi, nước mắt và máu của những người tù. Sau này Bạch Dinh thuộc sự cai quản
của Công sứ Nam Kỳ người Pháp. Đặc biệt từ ngày 12.9.1907 tới năm 1916, Bạch Dinh là nơi
người Pháp dùng để giam lỏng vua Thành Thái, một vị vua yêu nước có tư tưởng chống Pháp. Từ
năm 1926 Bạch Dinh là nơi vua Bảo Đại thường ghé nghỉ mát cùng với gia quyến của mình. Thời
trước 1975 Bạch Dinh là nơi nghỉ mát của tổng thống của chế độ cũ.
Phía trước Bạch Dinh là một bãi lớn hướng ra biển. Từ đây có thể nhìn bao quát cảnh bãi
trước lượn vòng từ núi nhỏ đến núi lớn. Nếu nhìn thẳng xuống sẽ thấy Hòn Hải Ngưu. Đó là một
mũi đá nhô ra biển có hình dáng như một con trâu đang đắm mình dưới nước là nơi câu cá của các
chủ nhân Bạch Dinh trước kia và khách du lịch ngày nay.
Ngày nay đến tham quan Bạch Dinh, bạn không chỉ được thưởng thức vẻ đẹp của thiên
nhiên, của kiến trúc “Roma cận đại”, biết thêm về lịch sử Bạch Dinh, lịch sử dân tộc mà bạn còn
có cơ hội ngắm nhìn bộ sưu tập gốm sứ thời nhà Thanh được vớt lên từ Hòn Cau rất có giá trị và
nổi tiếng đang được bảo tàng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trưng bày và giới thiệu tại đây.
Bạch Dinh là một di tích lịch sử, một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của thành phố Vũng
Tàu. Khách du lịch trong và ngoài nước đều rất thích đến đây để tham quan và hít thở bầu không
khí trong lành của biển và chiêm ngưỡng nơi lịch sử đã đi qua…
5.5 Tượng Chúa Kitô
Tượng chúa Kitô nằm trên đỉnh núi Nhỏ, thành phố Vũng Tàu. Tượng được dựng vào năm
1972, cao 32m, đứng giang hai tay, mặt hướng ra biển.
Nét đẹp thiên nhiên ở Nghinh Phong - Vọng Nguyệt dường như được nhân lên nhờ bàn tay
con người - cải tạo mạn cực nam Núi Nhỏ và xây dựng nơi đây một công trình kiến trúc điêu khắc
đồ sộ. Tượng chúa kitô cao 32m là một sự nổi bật hài hòa trong không gian khoáng đạt của vùng
núi non và biển cả nơi đây.
133
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Bức tượng được xây dựng 1974 sau một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng về ý đồ thiết kế và
chọn mẫu. Tất cả các công việc đều do hội Thiên Chúa Giáo Vũng Tàu chủ trì và thực hiện.Các
họa sĩ điêu khắc như Cao Uy, Văn Nhân và các vị có chức sắc trong giáo hội, được giao nhiệm vụ
tham khảo hàng nghìn bức ảnh Chúa Kitô và thiết kế mẫu phác thảo, sau đó phác thảo được gửi tới
cuộc triển lãm văn hóa - nghệ thuật tôn giáo để tranh thủ thêm nhiều ý kiến đóng góp của các nhà
nghệ thuật.
Việc thi công bức tượng được giao cho nhóm kỹ sư tài hoa Nguyễn Văn Đức, và những
người thợ tài giỏi như ông Tám Luận, Nan, Quý, Hòa, Hoàng … Hằng ngày có 50 người lao động
để thực hiện công trình này. Do điều kiện xây dựng khó khăn (núi cao, nền đá, hệ thống dàn giáo
khó thực hiện)…công trình kéo dài. Đầu năm 1975 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân
dân Việt Nam đi vào giai đoạn kết. Vì vậy công trình tượng chúa kitô phải dừng lại trong dở dang
từ 30/4/1975. Mãi đến 1993 một số công trình phụ khác như hệ thống tam cấp đường lên, những
mảng chưa được tô láng ciment trước đây mới được giáo hội thiên chúa thực hiện tiếp. Và trong
tương lai công trình sẽ được hoàn thiện như phác thảo ban đầu.
Kiến trúc - điêu khắc tượng chúa kitô là một tác phẩm nghệ thuật lớn, là sản phẩm của sự
kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với kiến trúc nghệ thuật Việt Nam hiện đại
mang đậm tính dân tộc và tôn giáo. Về kích thước với chiều cao 32m, sải tay dài 18,4m đặt trên
đỉnh Tao Phùng cao hơn mặt nước biển 170m, được giới chuyên môn xem đây là bức tượng Kitô
cao thứ nhì thế giới, sau bức tượng Kitô ở Brasil vốn do hai quốc gia Argentina và Brasil xây dựng
(cao 38m) đặt trên ngọn núi cao 760m .
Tượng chúa Kitô núi nhỏ quay mặt về hướng nam nhìn ra biển Đông, nét mặt nhân từ bao
dung, đôi tay dang rộng như đang che chở, bao bọc chúng sinh. Dẫu là một bức tượng được xây
bằng bê tông cốt thép, bên ngoài tô đá rửa nhưng những chi tiết thuộc về nghệ thuật và thẩm mỹ
như tư thế bức tượng, nét mặt, trang phục … đều được thễ hiện hết sức mềm mại, sinh động giàu
sức sáng tạo.
Bên trong tượng có cầu thang xoắn ốc đi từ chân tượng lên tới đỉnh tượng. Ánh sáng bên
ngoài chiếu rõ trong lòng tượng nhờ hệ thống “cửa sổ” hình chữ “Thọ” trang trí trên áo. Lên hết
133 bậc tam cấp trong lòng tượng du khách du khách có thể đi ra 2 bên vai và tay áo tượng - như
hai chiếc ban công an toàn, chắc chắn để ngắm bờ biển Vũng Tàu và đón gió biển thổi vù vù, mát
rượi. Hai bàn tay tượng chúa kitô dài tới 2,2m, ngón giữa dài 1,1m có 9 tia hào quang làm bằng
kim loại vừa trang trí vừa có tác dụng thu lôi.
Tượng chúa Kitô đặt trên một bệ bê tông có bốn góc tạo hìng cánh cung cao 10m, phía
trước bệ được trang trí bức phù điêu phỏng theo tác phẩm nổi tiếng của danh họa Ý Leona de
Vinci “bữa tiệc biệt ly”. Mặt sau là một bức tranh lớn “ Đức chúa trao chìa khóa cho Phêrô”.
Ở vào vị trí phía nam của núi nhỏ, tọa lạc ở một không gian dễ thu hút vào tầm mắt của du
khách đến tắm biển vũng tàu, và là một tác phẩm lớn về nghệ thuật kiến trúc tôn giáo mang dấu ấn
bản sắc dân tộc, tượng Chúa Kitô núi nhỏ là điểm thu hút khách tham quan du lịch trong và ngoài
nước.
5.6 Di tích kiến trúc nghệ thuật Nhà Lớn
Xuôi quốc lộ 51, ngay địa phận Phước Hoà nhìn về tay phải ta sẽ thấy một dãy núi thấp
nằm xoải dài trên sông nước, cỏ cây xanh rờn... Đó là Núi Nứa hay còn gọi là đảo Long Sơn.
Long Sơn ngày nay là một xã (xã đảo) thuộc TP vũng tàu. Đây là vùng đất đã có lịch sử lâu
đời với những di tích, thắng cảnh, truyền thuyết tôn giáo rất lạ. Tên gọi là Núi Nứa do trước kia
(hiện nay vẫn còn số ít) trên khắp đảo có nhiều cây nứa (một họ với tre) mọc thành rừng. Hòn đảo
lại không lớn lắm (dài 6km, ngay chỗ rộng nhất không lớn hơn 2km) nên các rừng nứa nói trên đã
phủ đầy mặt đảo, trở thành cây đặc trưng của đảo.
Còn tại sao gọi là núi Long Sơn? chính do hình dáng của đảo, mới thoạt trông từ xa giống
như một con rồng xanh khổng lồ đang giỡn mình trên sóng biến. Núi rồng (Long Sơn) là thế...
134
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Nhưng núi Nứa hay Long Sơn sẽ không được nhiều người nhắc tới nếu nó không gắn liền với
những truyền thuyết về Đạo ông Trần. ông Trần là tên dân gian để gọi một người tên là Lê Văn
Hưu gốc Hà Tiên (Kiên Giang), từng tu hành theo phái Tứ ân Hiếu Nghĩa ở Núi Thất Sơn (An
Giang). Năm 1900, ông dẫn 20 đệ tử tìm đến đảo Long Sơn và định cư hẳn ở đây khai hoang và
truyền đạo. Tôn giáo của ông Trần rất lạ: không có chùa, không có kinh kệ, không ăn chay, không
kiêng kỵ như nhiều tôn giáo khác. Tín đồ chỉ truyền khẩu những lời dạy của ông Trần. Sau một
thời gian ngắn, nhờ siêng năng, cần mẫn, ông Trần và các đệ tử đã biến một vùng rừng của Núi
Nứa thành đất trồng trọt. Nhiều người ở nơi khác tìm đến xin cùng định cư và trở thành đệ tử ông
Trần. Khi ông Trần qua đời, ngoài "Đạo ông Trần" truyền lại, ông còn lưu dấu trên đảo một số
công trình kiến trúc đợm tính dân gian nhưng khá độc đáo: các ngôi nhà ở bằng tre nứa nhưng kiến
trúc theo cách riêng thề hiện tính quần cư, đoàn kết giữa người dân trên đảo. Các ngôi nhà xây
dựng tập trung gần nhau để khi hữu sự để cứu giúp nhau, một phần nữa có lẽ để dễ đối phó với
cướp bóc, thú dữ. Đặc biệt là sau khi ông Trần mất, các tín đồ đã có một ngôi nhà lớn, hay còn gọi
Đền ông Trần. Ngôi nhà này rất bề thế, ngày xưa xây bằng gỗ ván, tre nứa nhưng qua thời gian,
các đệ tử đã trùng tu lại bằng mái ngói, cột vách bằng gỗ quí.
“Nhà lớn” được dựng ngay trung tâm khu quần cư, tổng diện tích toàn khu trên 2ha, gồm
ba phần riêng biệt: Khu đền thờ (nhà lớn), nhà chợ, nhà mát, nhà nghe sấm, khu trường học, khu
nhà Long Sơn Hội (hội trường), các dãy phố quanh chợ và ngôi mộ ông Trần.
Ngày nay du khách đến viếng Đạo ông Trần vẫn còn nhìn thấy nguyên vẹn những kiến trúc
cổ xưa. Ngoài ra khi vào tận nơi tham quan, chúng ta còn được chiêm ngưỡng một số cổ vật quý
hiếm bằng gỗ, như bộ tủ thờ trạm trổ của các nghệ nhân Hà Đông (Bắc Bộ) gồm 33 món cực kỳ
tinh xảo; bộ bàn ghế Bát Tiên tương truyền là của Vua Thành Thái triều Nguyễn; chiếc long sàng
và các ghế theo kiểu dành cho vua, chạm khắc tinh vi, đẹp mắt.
Tóm lại, những gì còn lưu dấu lại ở đảo Long Sơn, cho thấy một khía cạnh trong bức tranh
đa dạng về tín ngưỡng tôn giáo, về nghệ thuật dân gian rất phong phú của dân tộc ta. Đảo Long
Sơn càng ngày thu hút cao du khách thập phương.
5.7 Thích Ca Phật Đài:
Danh thắng Thích Ca Phật Đài nằm trên đường Trần Phú, con đường vòng quanh ôm Núi
Lớn, lên Bến Đá và Bến Đình. Danh thắng Thích Ca Phật Đài gắn liền với vẻ đẹp của Bến Đá và
cảnh quan thiên nhiên hướng Đông Bắc Núi Lớn. Nếu Bến Đá là cảng cá sầm uất, nhộn nhịp thì
Thích Ca Phật Đài, là nơi tịch liêu, đượm vẻ huyền diệu của chốn thiên thai.
Thích Ca Phật Đài là thắng tích nổi tiếng nhất trong những thắng tích nổi tiếng của thắng
cảnh Vũng Tàu. Hàng năm, Thích Ca Phật Đài đón chào hàng vạn người từ khắp nơi hành hương
vãn cảnh.
Vùng núi Thích Ca Phật Đài trước đây cây cối tươi tốt không có người sinh sống. Khoảng
năm 1957, Ông Lê Quang Vinh, một công chức thời Pháp thuộc, bất đắc chí lên đây dựng chùa để
tu hành, gọi là Thiền Lâm Tự. Năm 1962 Giáo hội Phật giáo nhận thấy Thiền Lâm Tự toạ lạc ở
một vị trí có khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, là vùng đắc địa tụ kết khí thiêng, lại thuận tiện giao
thông đi lại cho chư tăng, phật tử thập phương hành hương nên đã lập đồ án xây dựng quy mô
Thiền Lâm Tự thành Thích Ca Phật Đài. Sau hơn 19 tháng xây dựng, ngày 15 tháng 02 năm Quý
Mão (1963), Thích Ca phật Đài được khánh thành với nhữmg công trình kiến trúc như ngày nay.
Thích Ca phật Đài là một quần thể kiến trúc điêu khắc tạo dựng theo sự tích cuộc đời của
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni gắn với cảnh quan thiên nhiên hài hòa, sống động thành khu danh
thắng đẹp mang nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử tôn giáo, là một trong những danh thắng thu hút
nhiều khách du lịch nhất của Vũng Tàu.
Vào Thích Ca Phật Đài, đi qua Tam quan, trên có bánh xe luân chuyển đạo lý nhà Phật gọi
là Pháp luân với tám căm biểu tựợng Trung đạo. Vòng ngoài có bốn núm biếu tựợng cho tứ Diệu
Đế. Trên bốn cột của tam quan là bốn búp sen biểu tựợng cho sự trong sạch, tinh khiết, thanh cao
135
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
của Nhà Phật. Toàn bộ khuôn viên Thích Ca Phật Đài được thể hiện trên triền núi như nửa vầng
trăng, được chia thành ba cấp theo một hình tháp cao dần từ dưới lên.
Bảo Tháp bắt gặp đầu tiên, sau khi bước lên hết cấp thứ nhất, là nơi ghi nhớ và tưởng niệm
người đã có công dựng Thiền Lâm Tự: Nhà sư Giác Pháp tức quan phủ Lê Quang Vinh. Lối lên
bậc thứ hai theo đường vòng cung nhỏ nhắn, bên trái là vách đá kỳ vĩ Bên phải dõi tầm mắt đến
tận Núi Nứa - Long Sơn và xa xa là cảng Dầu khí với những cần cẩu vươn cao nối liên với phố xá,
nhà cửa và làng cá Bến Đình, Bến Đá ngay dưới chân núi. Thích Ca Phật Đài được bao phủ bởi
màu xanh của nhiều loài cây cao vút. Gió biển thổi rì rào.
Đi hết đường vòng cung, tới độ cao 25m, không gian trải rộng ra trước mặt. Đây là khu vực
của những công trình điêu khắc được xây dựng dựa theo những sự tích cuộc đời Đức Phật Thích
Ca, từ khi Người ra đời đến khi nhập cõi Niết Bàn.
Hình ảnh của Đức Phật khi tu luyện và đắc đạo được diễn tả qua bức tượng Phật Thích Ca
hay Kim Thân Phật Tổ ngồi tham thiền trên tòa sen. Đức Phật ngự trên Đài hành lễ cao 4,5m. Đài
được đúc bằng ciment hình bát giác. Phía trên là bông sen cao 2m. Phật Thích Ca ngự trên tòa sen
cao 5,lm. Tượng Kim Thân được thi công tại chỗ, riêng phần đầu được đặt đúc tại Sài Gòn. Ngày
20-07-1962 khi đem gắn đầu vào tượng, tương truyền lúc ấy nền trời xanh ửng lên một vầng hào
quang quanh mặt Phật. Được biết trong pho tượng Kim Thân có tôn trí ba viên ngọc Xá Lợi của
Đức Phật thành Phật Thích Ca, Ngài đã truyền bá đạo Phật cho nhân loại. Ngài đến vườn Lộc Giã
(lsipatanr) và giảng đạo Phật cho các vi đạo sĩ và đệ tử. Để ghi nhận quá trình này người ta đã
dựng ở Thích Ca Phật Đài nhà Bát giác, tượng trưng cho Đức Phật chuyển Pháp luân. Nhà Bát
giác có các nhóm tượng: Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen cao l,2m; năm tượng đạo sĩ ngồi vây
quanh nghe thuyết pháp, mỗi tượng cao 0,6m. Những mặt khác của tòa Bát Giác viết những lời răn
của Đức Phật. Tượng Phật nhập Niết Bàn ở Thích Ca Phật Đài là một tràng lớn. Đức Phật nằm
quay mặt về hướng tây trên một bệ ciment cao 4,2m (Phật thân cao 2,4m kề từ vai xuống), dài
12,2m. Trước tượng Đức Phật nhập Niết Bàn là bốn tượng Tỳ kheo chấp tay cung kính. Phía sau là
năm tượng Tỳ kheo ngồi chắp tay hướng về Đức Phật.
Bảo tháp Thích Ca Mâu Ni ở đây có tôn trí 13 viên Xá Lợi Đức Phật, được đựng trong một
hộp bằng vàng. Đây là niềm đại hạnh cho các phật tử Việt Nam nói chung và phật tử Vũng Tàu nói
riêng. Bảo tháp ngọc Xá Lợi ở Thích Ca Phật Đài cao 17m vươn lên giữa sân hành lễ rộng khoảng
300m2, trên có búp sen. Lối lên Bảo tháp có đắp hình rồng, hai bên có đôi sư tử chầu tượng trưng
cho Đại Hùng - Đại Lực. Dưới chân tháp có một thích án để thờ, trên khắc chữ “Nam mô Bồn sư
Thích Ca Mâu Ni Phật” (Hết lòng tôn kính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni). Dưới bốn cạnh chân Bảo
tháp bát giác đặt bốn cái đỉnh lớn trong đặt bốn nắm đất thiêng được thỉnh từ Lumbini (nơi Ngài
Đản sanh), Buddha Caya Uruvfla (nơi Ngài thành đạo), Isipatana (nơi Ngài truyền đạo) và
Kusinara (nơi Ngài nhập Niết Bàn) về đây.
Sau khi chiêm bái và vãn cảnh ở vườn Lộc Giả, Bảo tháp, từ độ cao gần 29m có thể quan
sát miền sông biển, đầm lầy rộng lớn phía bắc Vũng Tàu, từ Núi Nứa, Long Sơn đến cảng Dầu
khí, du khách theo lối nhỏ bên phải xuống Tinh thất Giác Pháp, nơi ông phủ Vinh ở, tu hành trước
đây. Trong Tịnh thất bây giờ có bức tượng, bình tro hài cốt của nhà sư Giác Pháp.
Thích Ca Phật Đài là một quần thề kiến trúc, điêu khắc với ý đồ diễn tả lại sự kiện chính
trong cuộc đời Đức Phật. Chỉ riêng điều này thôi, Thích Ca Phật Đài đã là một công trình Phật
giáo đặc trưng của Vũng Tàu nói riêng và Việt Nam nói chung.
5.7 Tổ đình Thiên Thai và thắng cảnh Dinh Cố
Tổ đình Thiên Thai tọa lạc dưới châu núi Dinh Cố (ngọn núi mà ngày nay chúng ta có thể
suy đoán là núi Bà Rịa trong sách của các sử gia nhà Nguyễn), thuộc xã Tam An - huyện Long
Điền. Sở dĩ chùa Thiên Thai được gọi là Tổ đình vì đây là nơi ra đời của Thiên Thai Thiền Giáo
Tông (1935) với tờ ngôn luận Bác Nhã âm tuyên truyền chấn hưng Phật giáo.
136
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Chùa Thiên Thai do sư tổ Huệ Đăng tạo dựng từ năm 1922. Toàn bộ khuôn viên chùa rộng
6ha, gồm tam quan, chánh điện, giảng đường, nhà hậu, bát quái đài, thạch động và vườn tháp. Tổ
đình Thiên Thai nổi tiếng không chỉ bởi cảnh quan, kiến trúc mà còn từ những câu chuyện gắn với
người lập chùa.
Sư tổ Huệ Đăng tên thật là Lê Quang Hóa, sinh năm 1873 trong một gia đình nhà Nho ở
huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. ông tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19.
Sau cuộc khởi nghĩa ở Sông Cầu, Phú Yên bị thất bại, Võ Trứ lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa bị
chém, nhiều người bị bắt bớ, tù đày, Lê Quang Hóa tìm đường vào Nam. Ông đến Gò Công trú
ngụ và dạy học. Sau đó ông xuất gia, quy y với hòa thượng Hải Lộ ở chùa Long Hòa, Bà Rịa, được
pháp tự là Thiện Thức, pháp danh Huệ Đăng, sau đó được cử trụ trì chùa Kiên Linh và Phước Linh
Bà Rịa.
Sau khi hòa thượng Hải Lộ viên tịch, năm 1918, ông về khai phá Thạch Động, ẩn tu dưới
chân núi Dinh Cố...
Năm 1934, để đáp lại tấm lòng của sư tổ, các môn đệ trong vùng quyết tâm xây dựng tòa
thiên bảo tháp cho Huệ Đăng. Tâm niệm của ông là duy trì Phật pháp không chỉ dừng lại ở chỗ tạo
Phật, đúc chuông, kiến trúc tam bảo mà chính là mở rộng việc hoằng hoá lợi sinh, giáo dục thiên
tính, gieo trồng duyên lành cội phước.
Rời Tổ Đình Thiên Thai, du khách rẽ trái theo con đường tam cấp uốn quanh núi Dinh Cố
lên cao 82m để chiêm ngưỡng toàn cảnh đồng bằng trù phú Long Đất, Tân Thành và xa xa phía
Xuyên Mộc mờ ảo... Đỉnh núi Dinh Cố tọa lạc một ngôi miếu được xây dựng công phu trên những
khối đá lớn, chơi vơi. Tương truyền đó là miếu thờ một hiền nữ, còn gọi Dinh Cố. Không biết
trước khi có danh sơn trên, núi Dinh Cố có tên gọi nào khác? Một số người say mê tìm hiểu lịch sử
địa phương cho rằng núi Dinh Cố xưa được gọi là núi Bà Rịa.
Núi Dinh Cố không cao lớn, hình dáng như một chiếc nón khổng lồ úp giữa cánh đông
Tam An. Thay cho sự tươi xanh của cây cối đã bị đạn bom hủy diệt 20 năm trước là khối đá hoa
cương đủ mọi hình thù chơi vơi trên sườn dốc. Du khách vẫn thích tìm cảm giác từ những kiểu ảnh
được chụp bên những vách đã cheo leo.
Lên Dinh Cố, du khách không quên vào miếu hiền nữ dâng hương. Theo nhân dân Tam
An, từ khi Bà Cố qua đời ngọn núi này trở nên linh thiêng. Người ta truyền rằng: đến đây dâng
hương cầu mong cuộc sống gặp nhiều may mắn, hạnh phúc sẽ được toại nguyện. Những huyền
thoại thần bí về Bà Cố có thể đã được nhân dân thêu dệt rất nhiều. Đó cũng là ước mơ về những
con người tư đức, công hạnh hiện thực ngày càng nhiều để nhân dân tôn kính, ngưỡng mộ.
5.8 Nghĩa trang Hàng Dương
Nghĩa trang Hàng Dương rộng 190.000m2
, gồm 3 khu : khu A, khua B và khu C. Theo số
liệu ước định có khoảng: 20.000 tù nhân đã chết ở Côn Đảo. Tuy nhiên không phải tất cả đều nằm
ở Hàng Dương. Nghĩa địa tù được lập ở khu vực Chuồng Bò, sau dời lên Hàng Keo. Từ năm 1944,
chế độ khủng bố trắng sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã giết hại hàng ngàn tù nhân.
Nghĩa địa Hàng Keo hầu như hết chỗ, thực dân Pháp mở nghĩa địa Hàng Dương để chôn
tù. Tính đến ngày Côn Đảo hoàn toàn giải phóng (1975), nghĩa trang lịch sử này tròn 35 tuổi.
Trong vòng 35 năm ấy, ước tính khoảng 6.000 tù nhân bị giết hại.
Khu A nghĩa trang, nơi có phần mộ cụ Nguyễn An Ninh và đồng chí Lê Hồng Phong là nơi
chôn những ngôi mộ đầu tiên. Mỗi người tù xấu số được liệm bằng 2 chiếc bao bàng (đan bằng
loại cỏ ống), cột 7 nút lại, rồi đưa ra vùi qua loa xuống cát. Có thời gian, mỗi ngày từ 15 đến 20
người tù chết, tất cả được chất lên xe bò chở ra hàng Dương vùi chung một hố.
Năm 1944, khu A đã chôn chật mộ, nhà tù đã mở rộng nghĩa trang về phía nam, tức khu B
hiện nay. Hài cốt lớp tù nhân kháng chiến chống Pháp (1945-1954) được chôn kế tiếp từ đồi cát
chạy dài xuống phía đông nam, nơi có phần mộ người thiếu nữ anh hùng Võ Thị Sáu.
137
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Hài cốt lớp tù nhân chống Mỹ được chôn tiếp vào phần còn lại của khu B và chôn tiếp qua
khu C. Gần 500 tù chính trị câu lưu chống ly khai Đảng cộng sản trong những năm 1957-1963
được chôn trong khu B.
Mỗi ngôi mộ ở nghĩa trang này không chỉ là một số phận bi hùng, một chứng tích tội ác
của thực dân đế quốc mà còn âm vang những trang sử hào hùng của cuộc đấu trang trong tù, tỏa
sáng chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Sân hành lễ nằm ở trung tâm nghĩa trang với một tượng đài mang một hình tượng Trao
Aùo. Tượng đài cao 9m, nặng 25 tấn được khởi dựng ngày 16/7/1980. Dưới chân bức tượng có ghi
hàng chữ “Vĩnh biệt các đồng chí”. Tượng đài được tái tạo từ câu chuyện “ Chết còn cởi áo cho
nhau”. Người trao áo là ông Vũ Văn Hiếu, nguyên là bí thư đầu tiên của đặc khu mỏ Hòn Gai
(tháng 10/1930). Người nhận áo nguyên là cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.
Nghĩa trang Hàng Dương được bảo tồn như một di tích lịch sử đặc biệt. Nghĩa trang hàng
Dương với hàng ngàn nấm mộ có tên và không tên là bằng chứng hùng hồn về tội ác của đế quốc,
thực dân đối với dân tộc ta. Đó là nơi yên nghỉ của hàng ngàn người con ưu tú của dân tộc ta, đã
đối mặt với kẻ thù giữa lao tù, xiềng xích, trong cuộc đấu trang vì độc lập, tự do và chủ nghãi xã
hội.
5.9 Thắng cảnh Bàu Sen:
Khu rừng Bàu Sen thuộc ấp Xà Bang, xã Ngãi Giao, huyện Châu Đức. Từ thị xã Bà Rịa
theo tỉnh lộ 2 đi khoảng 30km về phía Bắc, tới Xà Bang quẹo phải theo con đường nhỏ trải nhựa là
đến khu nghỉ mát Bàu Sen, cũng là đã tới phía nam khu rừng. Rừng Bàu Sen mọc trên vùng sình
lầy quanh năm ngập nước, với diện tích 120ha độ sâu trung bình 3.5m.
Trong rừng có nhiều loại gỗ quý chịu nước: bời lời, dâu nước, sao và bụi rậm dây leo: mây,
song, tre… Bao quanh khu rừng là mảnh đất sình lầy rộng khoảng 10ha. Suối Tần Bó bắt nguồn từ
Cẩm Mỹ chảy ngang qua khu rừng cung cấp nước ngọt và các loại thuỷ sản: cá cua, ốc, lươn…
sinh sôi nảy nở tạo nên kho thực phẩm thiên nhiên dồi dào.
Cùng với giá trị lịch sử, cảnh quan và môi trường thiên nhiên tươi đẹp, trong lành đã làm
cho khu rừng Bàu Sen trở thành một thắng cảnh thơ mộng và kì vĩ. Rừng cây gỗ quí xanh tươi
vươn cao cách mặt đất 20m, nền rừng là sình lầy thích hợp với kiểu du lịch bằng ghe thuyền thật
thú vị kết hợp với săn bắn thú rừng và thủy sản. Từ cuối năm 1981 khu vực phía nam rừng Bàu
Sen được khai phá, xây dựng thành khu nghỉ mát với những vườn hoa cây cảnh, nhà thủy tạ, hồ
sen… nằm giữa vùng rừng thiên nhiên và các vạt rừng cao su xanh ngát đang hàng ngày không
ngừng tuôn chảy dòng nhựa trắng, là mặt hàng chiến lược quí của đất nước.
Hiện nay rừng Bàu Sen còn lại 70ha và khu đầm lầy bao quanh rộng 42ha, song vẫn thể
hiện dáng dấp của một khu căn cứ thới kháng chiến với những nét độc đáo hấp dẫn sự quan tâm
của khách tham quan du lịch.
5.10 Núi Lớn - Núi Nhỏ
Núi Lớn ở phía Bắc, núi Nhỏ ở phía Nam trung tâm thành phố Vũng Tàu. Núi Lớn, núi
Nhỏ như hai anh em làm bình phong che chắn cho thành phố Vũng Tàu, cùng với biển cả bao
quanh đã tạo nên nét đẹp độc đáo cho thành phố Vũng Tàu.
NÚI LỚN
Núi Lớn: Có diện tích khoảng 400ha; có 3 đỉnh lớn đó là Vũng Mây cao 220m, Núi Lớn
cao 170m, Hòn Sụp cao 215m.
Sách Gia Định thành thông chí (viết đầu thế kỷ 19) gọi núi Lớn là Thác Cơ Sơn, dáng như
rồng xanh tắm biển, đứng nghiễm nhiên dựng làm ngọn nêu để chỉ rõ bờ bến cho tàu thuyền Nam
Bắc qua lại, chặn đè sóng gió. Đầu ghềnh Thác Cơ Sơn thường có những con rái cá nên dân gian
138
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
thường gọi là núi Ghềnh Rái. Sách Đại Nam nhất thống chí (viết giữa thế kỷ 19) nhấn mạnh sự
quan yếu của núi làm bình phong ngoài cửa Cần Giờ.
Về tên gọi “Tương Kỳ” chuyện kể rằng: Khi xưa nơi đây còn hoang dã, chưa mấy ai đặt
chân đến, núi còn hổ dữ sinh sống. Trên núi này có hai ông cháu cụ giáo Hiếu (Thầy dạy văn và võ
cho ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Chính cụ là người khuyến khích ba anh
em Tây Sơn khởi nghĩa) sinh sống. Một hôm cô Mai, cháu nội cụ giáo Hiếu vào rừng hái nấm,
không may gặp hổ dữ. Hổ nhảy vào định ăn thịt Mai. Đang lúc lâm nguy bỗng đâu xuất hiện tráng
sĩ. Tráng sĩ đã dùng thanh kiếm và bằng võ nghệ điêu luyện đã hạ sát hổ dữ cứu nguy cho thiếu nữ
thoát nạn. Cảm kích trước tấm lòng hào hiệp của tráng sĩ, thiếu nữ đã đưa tráng sĩ về ra mắt ông
nội.
Tại đây cụ Giáo Hiếu đã nhận ra tráng sĩ đó chính là Lê Tuấn một võ tướng của Nguyễn
Huệ. Để đền ơn cho tráng sĩ đã cứu sống cháu mình cụ giáo Hiếu đã gả Mai cho Lê Tuấn. Cụ Giáo
đã trỏ tay vào ngọn núi và nói: “Nơi đây đã chứng kiến mối lương duyên của tráng sĩ và cháu gái
lão, lão xin đặt tên núi là Tương Kỳ”. Và từ đó Núi Lớn có tên gọi “Tương Kỳ”.
Theo đường Núi Lớn (đường Trần Phú) quanh sườn núi từ Bến Đình sẽ đến chùa Thích Ca
Phật Đài, Bãi Dâu, đến Bãi Trước dài 10km, đường dốc quanh co, trên núi, dưới biển phong cảnh
thật hữu tình. Có nhiều thắng cảnh dọc đường đi như Tượng Đức Mẹ, Tượng Phật Bà Quan âm,
Bạch Dinh... Du khách có thể lên đỉnh núi Lớn tận hưởng không khí trong lành, mát lạnh và thu
vào tầm mắt toàn cảnh thành phố Vũng Tàu theo con đường uốn lượn vòng quanh triền núi phía
Nam, từ ngã ba đường Lê Lợi và đường Vi Ba.
NÚI NHỎ
Nếu như núi Lớn tựa dáng con rồng xanh tắm biển thì Núi Nhỏ chính là “cái đuôi” của con
rồng xanh ấy. Núi Nhỏ, còn gọi là Tao Phùng, diện tích khoảng 120ha, cao 170m. Có hai đường
lên một đường ở phía Bắc, nối với đường Hạ Long, gần cầu Đá; một đường ở phía Nam, theo 793
bậc tam cấp dẫn lên Tượng Chúa Kitô và trận địa pháo cổ cuối thế kỷ 19.
Năm 1862, tức 3 năm sau khi đánh chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp đã cho xây dựng ngọn
hải đăng đầu tiên ở Việt Nam trên núi Nhỏ (tại độ cao 149m). Cuối Núi Nhỏ về phía Nam là mũi
Nghinh Phong. Trước đây, dân Vũng Tàu gọi mũi Nghinh Phong là Ô Quắn. Như cánh tay dài
vươn ra biển, ôm bãi Vọng Nguyệt phía Đông và Hương Phong (bãi Dứa) phía Tây, quanh năm
Nghinh Phong đón gió. Cách mũi Nghinh Phong không xa về phía Đông là Hòn Bà - tên gọi gắn
với điện thờ trên đảo. Cũng như nhiều địa danh khác ở Vũng Tàu dù trước đó đã có tên Việt, Hòn
Bà đã từng được người Pháp đặt cho cái tên Ile d' Archinard, vốn là tên một viên tướng trong quân
đội viễn chinh. Mũi Nghinh Phong, Hòn Bà tạo cho cảnh quan núi Nhỏ thêm kỳ thú. Núi Lớn, núi
Nhỏ còn bảo tồn nhiều di tích lịch sử văn hóa như phòng tuyến trận địa pháo của Pháp, Hải đăng
Vũng Tàu, Hầm thủy lôi của quân đội Nhật trong chiến tranh thế giới thứ 2, đài ăngten parabol của
quân đội Mỹ, Tượng chúa Kitô, một trong những công trình điêu khắc về Đức chúa trời cao nhất
thế giới và rất nhiều đền, chùa…
Về truyền thuyết Núi Nhỏ mang tên gọi là Tao Phùng có câu chuyện: Vào thời xa xưa,
công chúa con vua Thuỷ Tề hoá thành con cá vàng đi chơi không may sa vào lưới của người trai
làng chài. Thấy cá đẹp, người con trai mang cá lên núi, khoét đá thành một vũng nước cho cá vào
nuôi. Một hôm ở biển về, anh không thấy cá mà chỉ thấy núi đầy hoa trái, chim cá, đang còn bỡ
ngỡ, bỗng từ trong núi thiếu nữ đi ra nói rõ sự tình. Từ đó họ thành vợ chồng. Cuộc sống đang
đầm ấm yên vui thì một ngày kia đang tiết thu, trời trong mây nhẹ, hai vợ chồng đang ngồi ăn cơm
thì thấy có người đi ở ngoài vào tay cầm hộp ngọc sáng chói. Thấy vậy người vợ bỗng hoảng hốt
chưa kịp đứng dậy thì người khách đã đưa hộp ngọc ra, sấm chớp nổi lên và lập tức người vợ bị
thu vào trong hộp ngọc. Người chồng đau đớn van xin cho vợ được tha, nhưng không được. Trong
hộp người vợ đã biến thành con cá vàng hai mắt đẩm lệ nhìn ra.
Từ đó, cứ năm năm một lần cá vàng được ra gặp chồng. Núi Nhỏ là nơi gặp gỡ của cặp vợ
chồng nên người đời gọi là núi Tao Phùng.
139
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Theo đường vòng Núi Nhỏ (đường Hạ Long) chạy từ Bãi Trước qua Bãi Ô Quắn, Bãi Dứa,
đến Mũi Nghinh Phong và ra Bãi Sau dài 6km. Đường mới, rộng, đẹp. Hai bên đường có nhiều
điểm du lịch hấp dẫn như Bãi Trước, chùa Niết Bàn Tịnh Xá, Tượng Chúa Kitô, Hòn Bà.
5.11 Hòn Bà
Theo đường Hạ Long vòng Núi Nhỏ, từ Bãi Trước, qua Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong
nhìn ra biển du khách thấy một hòn đảo nhỏ, dưới chân đảo sóng biển đánh tung bọt trắng xóa rất
thơ mộng, đó là Hòn Bà.
Hòn Bà nằm cách chân Núi Nhỏ khoảng gần 200m. Năm 1881 một người gốc Miền Trung
tên là Hồ Quang Minh bỏ kinh phí xây một ngôi miếu nhỏ trên đảo gọi là miếu Bà. Năm 1939 một
sỹ quan người Pháp tên Archi-nard cho bắn bể miếu nhưng chỉ có một phát trúng vào góc miếu.
Viên sĩ quan này đã bỏ mạng tại đây do một lần bất cẩn khi dùng súng. Vì vậy thực dân Pháp đặt
tên cho hòn đảo là Archi-nard, nhưng đối người dân Vũng Tàu thì vẫn gọi tên hòn đảo nhỏ này là
Hòn Bà.
Sau này một người ở Trà Vinh tên là Thanh Phong đến Vũng Tàu lập nghiệp đã đứng ra
quyên góp tiền của để sửa chữa ngôi miếu vào năm 1971. Ngôi miếu hiện nay có chiều cao nổi
trên mặt đất là 4m, trong là điện thờ các vị thần linh. Bên dưới có một tầng hầm dài 6m rộng 3m;
trước kia từng là nơi hội họp bí mật của đồng bào yêu nước.
Lúc thuỷ triếu xuống thấp, du khách có thể men theo một lối đá gập ghềnh để đi bộ ra đảo.
Vào các ngày mùng một hay ngày rằm bà con thường ra đảo để thắp hương cầu may tại ngôi miếu
nhỏ này. Hòn Bà là một thắng cảnh đẹp ở Vũng Tàu.
5.12 Hòn Bà Côn Đảo
Từ trung tâm huyện đi theo hướng về vịnh Bến Đầm khoảng 15 km, dọc đường du khách
sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên kỳ bí của Côn Đảo với các hòn Tài Lớn, Tài Nhỏ…thoắt
ẩn, thoắt hiện trong chặng đường quanh co của biển.
Trong nhiều hòn đảo lớn, nhỏ đó du khách sẽ dễ dàng nhận ra một hòn đảo có dáng khá
dẹp, trông xa giống như một chú chim biền khổng đang đắm mình dưới nước. Với đỉnh núi nhỏ,
trông giống mỏ chim, chân núi rộng lớn, chìm sâu dưới biển mà thành đảo, đó chính là Hòn Bà.
Hòn Bà với Hòn Lớn tạo thành một vịnh lớn gọi là Bến Đầm và hiện nay cảng Bến Đầm đã
hoàn thiện đón tàu ra vào Côn Đảo thuận tiện. Trên đỉnh Hòn Bà có một tảng đá lớn, trông giống
như hòn “Vọng phu”, người dân Côn Đảo nói đó là Hòn Bà. Bà chính là thứ phi của Nguyễn Ánh.
Bà có tên là Nguyễn Thị Răm, một phụ nữ Việt Nam có lòng yêu nước, khi được biết Nguyễn Ánh
muốn sang cầu cứu quân xâm lược Pháp, và nhất là ý muốn gửi Hoàng tử Cải sang làm con tin cho
việc cầu viện bên Pháp, bà Phi Yến đã lựa lời khuyên can nhưng chẳng những Nguyễn Ánh không
nghe mà còn ghép cho bà tội thông đồng với quân Tây Sơn nên đã đem giam bà vào một hang đá
trên hòn đảo này. Khi quân Tây Sơn tới, Nguyễn Ánh cùng đám cận thần hò nhau lên thuyền bỏ
chạy. Hoàng Tử Cải không thấy mẹ đã khóc thảm thiết. Sợ lộ, Nguyễn Ánh đã ném Hoàng tử
xuống biển. Hoàng tử chết, xác trôi dạt vào Cỏ Ống được dân vớt đem an táng và lập miếu thờ.
Dân làng Cỏ Ống cho người sang đảo đón Bà Phi Yến về phụng dưỡng. Trong dân gian có câu hát:
Gió đưa cây Cải về trời
Rau Răm ở lại chịu đời đắng cay
Đó chính là những lời ai oán, khóc cho số phận của bà Nguyễn Thị Răm, tức bà Phi Yến,
một con người đẹp người, đẹp nết mà số phận thật hẩm hiu.
Đến thăm Hòn Bà, một thắng cảnh thiên nhiên thật đẹp của Côn Đảo lại cũng là dịp biết
thêm một câu chuyện tình lịch sử bi ai.
5.13 Bãi biển Hồ Cốc
140
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Nằm trên địa bàn xã Bưng Biền, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách thành
phố Hồ Chí Minh 175km, khoảng 3 giờ đồng hồ theo đường bộ. Trước khi vào bãi biển, du khách
có dịp băng qua một khu rừng nguyên sinh, có điều kiện chiêm ngưỡng cảnh đẹp núi rừng tự nhiên
với quần thể cây xanh, đá xanh đủ loại.
Biển Hồ Cốc khá đẹp, là một vùng hoang sơ mới được khai thác, nước biển trong xanh,
khu bãi tắm rộng, độ dốc thoai thoải và đặc biệt đẹp thơ mộng nhờ các tảng đá nằm ngay trong bãi
tắm tạo nên những đợt sóng biển tung bọt trắng xoá. Với vẻ nên thơ của một vùng biển hoang
vắng nên du khách ví bãi biển Hồ Cốc đẹp như một thiếu nữ trinh nguyên.
Tắm biển ở đây thật thú vị, như lạc lõng giữa thiên nhiên, thả mình trong làn nước xanh
thẳm để thưởng thức những gì còn hoang sơ của núi rừng và biển cả.
Riêng về tên gọi “Hồ Cốc”, cho đến nay vẫn còn nhiều người thắc mắc. Người ta đặt câu
hỏi : “Vì sao biển lại… mang “họ” Hồ, mà không “Hồ… gì, lại là Hồ Cốc?!” Thực tế, có nhiều
cách giải thích khác nhau. Người ưa chuyện hoang đường thì bảo rằng, sở dĩ có tên Hồ Cốc là vì từ
ngày xửa ngày xưa, khi Đất - Trời còn giao hoà, Trời làm hạn hán khiến cuộc sống trần gian muôn
vàn khổ cực, loài Cóc đã thay mặt tất cả làm cuộc hành trình đến cổng Trời giống trống xin được
yết kiến Thượng Đế. Quá trình đi đòi mưa vô cùng khổ ải và trên đường đi vạn dặm đó, Cóc chúa
đã “ngã xuống” hoá thành đá mà nay người ta gọi tảng đá lớn đó là “Hòn Cóc”. Cái tên Hồ
Cốc được giải thích là bắt nguồn từ việc Cóc chúa hoá đá do đọc trại mà thành “cốc”. Một giải
thích khác thì cho rằng, có lẽ vì nơi đây ngày xưa có những tán rừng bao bọc mà cây cối tồn tại
chủ yếu là cây cóc rừng nên mới có tên gọi là Hồ Cốc ( chữ “cốc” ở đây cũng bị cho là do đọc trại
từ “cóc” mà ra). Tuy nhiên, qua quan sát thực tế cho thấy, rất có thể do địa hình của biển cong
cong “hình vòng cung” dễ khiến cho người ta liên tưởng đến hồ và “cốc” rất có thể là “am cốc”
hoặc “chiếc cốc đựng nước” khổng lồ do đá hình thành nằm lấp sấp dưới biển khiến cho người ta
liên tưởng.
Ở Hồ Cốc, ngoài việc chọn cho mình một nơi chốn lý tưởng để “an toạ” ngắm cảnh hoặc
lai rai thưởng thức chút hải sản địa phương như cá, mực, nghêu, ghẹ… xào hoặc nướng thì du
khách cũng nên chuẩn bị cho mình những “bước chân sẵn sàng” để đi dọc biển. Biển Hồ Cốc đẹp,
nhưng sẽ thú vị hơn nếu du khách chịu khó lang thang khám phá vẻ đẹp thiên nhiên của nó bằng
cách bước dài theo bãi cát, bởi rất có thể ở một phía xa nào đó du khách sẽ bắt gặp những đồi cát
uyển chuyển, gợi hình, tuyệt mỹ như nàng thiếu nữ…do nước biển xâm thực “vô tình” để lại.
Đá ở Hồ Cốc có nhiều hình thù mặc sức cho những tâm hồn tưởng tượng bay bổng. Đá
nằm lưng chừng trên bãi cát. Đá nhoài mình xuống biển hoặc nằm hững hờ “đầy khiêu gợi”... Đá
muôn đời không lên tiếng dù rằng đại dương kia vẫn đôi lúc xô đẩy, thét gào làm “đau lòng” phận
đá.
Đêm ở Hồ Cốc thật yên tĩnh. Mọi sinh hoạt và những thanh âm ồn ào của cuộc sống dường
như bị ngưng bặt. Chỉ có tiếng những hàng dương reo xào xạc, tiếng biển rì rầm và xa xa, trên
biển, thấp thoáng những đoàn thuyền đánh bắt le lói chút đèn vàng. Một câu chuyện vui, một mẩu
chuyện cười được kể trong đêm lửa trại cũng đủ làm xôn xao cả bãi cát.
5.14 Vườn Quốc gia Côn Đảo
Vườn quốc gia Côn Đảo được công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên từ năm 1984 và được
công nhận là vườn quốc gia từ năm 1993; có môi trường, tài nguyên rừng, biển còn tương đối
nguyên vẹn, tiềm năng đa dạng sinh học cao, cảnh quan thiên nhiên ít bị tác động. Tổng diện tích
được bảo vệ của vườn là 20.000ha, trong đó 14.000ha là biển và 6.000ha là rừng trên 14 hòn đảo.
Rừng Côn Đảo xanh tốt um tùm với nhiều loại cây gỗ quý như bời lời, lát hoa, sao đen, cẩm thi,
thiên niên kiện, săng đào, dầu lá bóng...
Động vật ở Vườn quốc gia cũng có nhiều loài như chồn, sóc, kỳ đà, khỉ, hươu, nai, gà
rừng..., đặc biệt có sóc mun toàn thân đen tuyền không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta. Ở đây
có các loài chim quý hiếm như: chim điêu mặt xanh, én biển... Thêm vào đó còn có một vùng đệm
141
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
biển rộng 20.500ha, bao gồm cả các hệ sinh thái biển và ven bờ như rừng ngập mặn, các rạn san
hô và thảm cỏ biển. Trên 1.300 loài sinh vật biển đã được xác định ở đây. Vùng biển Côn Đảo có
nhiều loài hải sản quý, có giá trị cao như tôm hùm, cá hàng, cá gióng, cá mập, cá heo, cá nhám, hải
sâm, đồi mồi, vích… Côn Đảo còn là một trong số rất ít những nơi còn lại ở VN có những loài
động thực vật quí hiếm nhất sinh sống, như dugong (còn gọi là bò biển).
Đặc biệt ở Côn Đảo có quần thể rùa biển rất lớn, hàng năm vào mùa sinh sản, có hàng ngàn
lượt rùa biển lên các bãi cát để đẻ trứng. Từ năm 1995 đến nay, hơn 300.000 rùa con đã được thả
về biển và gần 1.000 con rùa trưởng thành đã được gắn thẻ. Với tính đa dạng sinh học biển cao,
vườn quốc gia Côn Đảo đã được liệt kê vào danh sách “Những khu vực được ưu tiên cao nhất”
trong hệ thống khu bảo tồn biển toàn cầu. Ngoài ra, Côn Đào còn có những rạn san hô lớn và đa
dạng, có thể sánh với những khu du lịch sinh thái nổi tiếng nhất trong khu vực.
5.15 Bãi Trước
Là mặt tiền của Vũng Tàu, nằm về hướng tây-nam, còn gọi là bãi “Tầm Dương” - Tìm ánh
mặt trời. Vào buổi bình minh và hoàng hôn, mặt trời đỏ rực như tan vào nước biển mênh mông.
Bãi Trước như một nửa vành trăng tựa lưng vào đất liền, hai đầu là hai ngọn núi Tương Kỳ và Tao
Phùng. Thiên nhiên sơn thuỷ hửu tình đã tạo cho Bãi Trước cảnh thơ mộng là bến đậu của những
con tàu trở về sau những chuyến hải trình.
Dọc Bãi Trước trồng nhiều dừa vì vậy trước đây còn có tên là vịnh Hàng Dừa. Giờ đây vẫn
rợp bóng dừa và được điểm tô thêm màu xanh của những cây bàng, cây sứ. Bên dưới những bóng
cây xanh rợp mát là một khu công viên đầy hoa dành cho khách bộ hành hóng mát... bên tiếng
sóng biển du dương.
Trung tâm thành phố Vũng Tàu tọa lạc ở khu vực Bãi Trước với nhiều toà nhà, khách sạn
mới, hiện đại được mọc lên càng tô điểm cho Bãi Trước một nét đẹp vừa xa xưa vừa hiện đại.
Đêm về, dọc đại lộ Trần Phú, Quang Trung rực sáng với hệ thống đèn cao áp, trên các tòa nhà cao
lộng gió, những quán cà phê rực rỡ muôn ánh đèn đủ sắc màu tỏa sáng lung linh cùng xa xa những
chiếc tàu neo đậu với những vầng ánh sáng xanh đỏ tỏa lan trên mặt biển tạo cho bãi trước một vẻ
đẹp thật quyến rũ về đêm.
5.16 Bãi sau
Nằm ở phía đông nam và còn có tên gọi “Bãi Thùy Vân”. Bãi Sau dài 8 km, là bãi biển dài
và thơ mộng nhất của Vũng Tàu. Nếu như biển ở Bãi Trước có nét đẹp lộng lẫy và rực rỡ thì Bãi
Sau có nét đẹp dịu dàng của một vùng biển quanh năm đầy nắng ấm. Đại lộ Thùy Vân con đường
đầy hoa chạy dọc theo Bãi Sau, một bên là những dãy phố sầm uất, nhà cao tầng, khách sạn dáng
vóc hiện đại, đầy đủ tiện nghi, một bên là bãi cát vàng và nhiều khu du lịch đủ các loại hình dịch
vụ giải trí vui chơi trên biển… dành cho mọi lứa tuổi. Đặc biệt có một sân golf rộng hơn 100ha đạt
tiêu chuẩn quốc tế.
Bãi Sau còn có khu rừng dương - một cánh rừng rộng với những cây phi lao cổ thụ xanh
rợp trên nền cát trắng. Dưới rừng dương thấp thoáng những căn nhà nghỉ bằng gỗ, thiết kế theo
kiểu nhà rông vừa tao nhã, vừa thanh lịch, đậm nét văn hóa của núi rừng Tây Nguyên, nhà được
trang bị đủ tiện nghi, vừa hiện đại, vừa dân dã là chỗ dừng chân lý tưởng cho mọi du khách.
Bãi sau là nơi thu hút nhiều du khách lui tới vui chơi tắm biển nghỉ mát ở Bà Rịa - Vũng
Tàu. Vào những các ngày tết, lễ, đón mừng năm mới… Bãi Sau tràn ngập người ghé đến, trên bờ
cũng như dưới nước như không còn chỗ trống tạo nên một sức sống của một trung tâm du lịch nổi
tiếng khắp nơi.
5.17 Bãi Dứa
Từ Bãi Trước, dọc theo đường Hạ Long là một trong những con đường đẹp nhất Việt Nam
uốn lượn trên một đoạn triền núi lấn ra bờ biển sẽ đưa ta tới Bãi Dứa. Người xưa kể lại rằng sở dĩ
có tên bãi Dứa, vì trước đây triền núi nhô ra biển rất nhiều những cây dứa dại (một loại cây có
142
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
hương thơm như gạo nếp hoặc nàng hương) tỏa thơm ngát một vùng nên bãi này còn có tên gọi là
Bãi Lãng Du là một bãi biển đẹp của Vũng Tàu.
Cái đẹp ở đây không ồn ào tấp nập mà là một vẽ đẹp mộng mơ, tĩnh lặng. Biển len lỏi
trong các hẽm núi, ghềnh đá, tạo nên các vũng nhỏ ôm ấp những mạch nước ngầm trong suốt đang
rí rách. Khung cảnh này rất hợp với những đôi tình nhân hay tuần trăng mật của những lứa đôi còn
đang nồng nàn hương hoa ngày cưới. Phía trên triền núi dọc theo đại lộ Hạ Long là các nhà nghỉ,
khách sạn theo kiểu biệt thự đầy đủ tiện nghi. Xen kẽ những ngôi chùa miếu khá nổi tiếng ở Vũng
Tàu như Niết Bàn Tịnh Xá, miếu Ông Nam Hải... là những nơi dành cho khách mộ điệu hành
hương về dâng hoa cầu phước, cầu lộc…
Ai đó đã đến Vũng Tàu cách đây dăm bảy năm bây giờ mới có dịp trở lại Bãi Dứa sẽ
không khỏi ngạc nhiên trước sự đổi thay kỳ diệu. Đó là thành quả lao động sáng tạo, hòa quyện
cùng thiên nhiên để tạo ra những cảnh quan tuyệt vời của Bãi Dứa.
5.18 Bãi Dâu
Nằm ở phía tây Núi Lớn, dọc theo đường Trần Phú, từ Bạch Dinh (Bãi Trước) đến Bãi Dâu
xa chừng 3km. Bãi này trước đây gọi là bãi Vũng Mây, vì trên triền hòn Núi Lớn đoạn này có
nhiều cây mây mọc. Vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX, một thương nhân người Pháp đến đây
lập cơ sở nuôi tằm và trồng rất nhiều dâu trên triền núi và dọc theo bờ biển nên dần theo thời gian
tên Vũng Mây được thay thế bằng Bãi Dâu.
Ngày nay Bãi Dâu được mở rộng hơn, bao gồm những vịnh nhỏ khoảng giữa Núi Lớn. Do
nằm bên triền núi ăn sát ra biển, Bãi Dâu được kiến tạo bởi nhiều vịnh nhỏ xinh xắn, những gộp đá
nhỏ xen giữa triền cát vàng cát trắng mịn màng. Các bãi tắm ở đây kín gió, nhiều đoạn biển sát
chân núi với những vách đá dựng đứng hoặc thoai thoải đón từng đợt sóng biển vỗ về bọt tung
trắng xóa, tạo nên cảnh sắc sơn hải hữu tình. Đường Trần Phú uốn lượn cheo leo trên vách núi,
một bên là biển cả mênh mông, một bên là núi rừng, cỏ cây xanh thẳm. Giữa khung cảnh núi rừng
xanh ngắt nổi bật lên tượng Đức Mẹ Maria, Phật Bà Quan Âm hoà quyện bên tiếng sóng biển dạt
dào, tiếng gió ngàn vi vút tạo nên một âm thanh vừa huyên náo, vừa tịch liêu làm thư thái tâm hồn
du khách thập phương dù lần đầu ghé đến.
Dọc đường Trần Phú với cảnh sơn thuỷ hữu tình, bãi tắm nên thơ, những quán ăn với món
ngon miền biển… thu hút được nhiều người tới du lịch thưởng ngoạn.
5.19 Nghinh Phong
Từ Niết Bàn Tịnh Xá, theo đại lộ Hạ Long qua hết Bãi Dứa là tới Nghinh Phong có nghĩa
là “đón gió” thổi suốt bốn mùa. Như một cánh tay vươn dài ra biển, Nghinh Phong tạo thành hai
bãi biển ở hướng tây và hướng đông. Đó là bãi Vọng Nguyệt (hay Ô Quắn) và bãi Hương Phong,
xa xa là Hòn Bà - Bồng đảo nơi du khách có thể ghé đến vào những khi thuỷ triều hạ thấp.
Những đêm vào mùa trăng mọc, hay lúc hoàng hôn, biển ở đây sáng rực như được dát một
lớp bạc óng ánh. Bên tiếng sóng rì rào, trước mặt biển sáng bạc mênh mông bao la của trời mây
sóng nước làm người ta dễ lâng lâng bay bổng tâm hồn.
Ba mặt tiếp giáp với biển của Nghinh Phong là vách núi dựng đứng khá cao, đứng trên
đường nhìn xuống ta cảm thấy biển ở đây như xanh hơn nơi khác, lộng gió và mát mẻ lạ thường.
Bãi tắm ở đây trong và sâu là nơi dành cho người hiếu động, thích cảm giác mạnh từ những ngọn
sóng dập dồn và rất thích hợp cho những người ưa thích bộ môn câu cá.
5.20 Nhà tù Côn Đảo
Hệ thống nhà tù Côn Đảo thời Pháp: gom các trại giam Bagne (Banh) 1, 2, 3, Biệt Lập
Chuồng Bò, Chuồng Cọp và Bagne 3 phụ.
143
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Bagne 1: Được xây dựng từ năm 1862, còn có tên gọi là Lao 1 (thời Mỹ - ngụy đổi tên là
trại Cộng Hòa, trại 1 hay trại Phú Hải). Đây là trại giam lớn nhất và cổ nhất ở Côn Đảo mang đậm
dấu tích tù đày khổ sai tàn ác của thực dân Pháp đối với các tù nhân chính trị.
Bagne 2: Được xây dựng từ năm 1916, nằm cạnh Bagne 1, còn có tên gọi là Lao 2, (thời
Mỹ - ngụy đổi tên là trại Nhân Vị, trại 2, hay trại Phú Sơn).
Bagne 3: Được xây dựng năm 1928, còn có tên gọi là Lao 3 (thời Mỹ - ngụy đổi tên là trại
Bác Ái, trại 3, trại Phú Thọ hay "Biệt Lập Chuồng Gà").
Biệt Lập Chuồng Bò: Được xây dựng từ năm 1930, còn có tên gọi là an ninh Chuồng Bò.
Chuồng Cọp: Được xây dựng năm 1940, là khu biệt giam nổi tiếng của Pháp.
Bagne 3 phụ: Được xây dựng từ năm 1941, còn có tên gọi là Lao 3 phụ (thời Mỹ - ngụy đổi
tên gọi là trại phụ Bác Ái, trại 3, hay trại Phú Cường).
Hệ thống nhà tù Côn Đảo thời Mỹ - ngụy: Được xây dựng thêm các trại trại 5 (còn gọi là
trại Phú Phong), trại 6 (còn gọi là trại Phú An), trại 7 (còn gọi là trại Phú Bình hay Chuồng Cọp
Kiểu Mỹ), trại 8 (còn gọi là trại Phú Hưng).
Hệ thống nhà tù Côn Đảo đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử cách
mạng cấp Quốc gia ngày 29/04/1979.
12. Đặc sản và ẩm thực
 Hàu đút lò:
Món hàu đút lò đã nhanh chóng thu phục được đông đảo thực khách . So với các món khác
thì món hàu đút lò cầu kỳ hơn , phải "tay làm hàm hàm nhai" mới ngon , mới cảm nhận được hết
cái thú của nền "văn minh ẩm thực sông nước" . Những con hàu trông bề ngoài sần sùi như cục đá
nhưng bên trong lại chứa đựng lớp thịt trắng hồng , mềm mại. Lớp thịt này đươc bóc ra , ướp lạnh,
sau đó đưa lên vỉ nướng có rưới dầu , hành , không nên nướng quá chín vì nó sẽ dai và mất vị
ngọt .Món hàu đút lò chấm với muối tiêu chanh , ăn kèm rau thơm các loại và thêm một xị rượu
chuối hột thì sẽ nhớ mãi không quên khi đến Long Sơn.
Bánh canh Long Hương:
Đối với những du khách đã từng đi du lịch tại Vũng Tàu thì có lẽ cái tên bánh canh Long
Hương đã trở thành một địa chỉ ẩm thực quá quen thuộc trên đường từ Vũng Tàu về Sài Gòn.
Bánh canh ăn ngon mà nấu đơn giản, chỉ cần ninh chân giò và xương ống cho ngọt nước
lèo rồi nêm nếm gia vị cho vừa miệng. Nước lèo trong veo nhưng có vị ngọt đậm đà của xương và
thịt. Sợi bánh được làm bằng bột gạo pha bột lọc để có độ dài và bột màu trắng trong. Bánh canh
ăn kèm với giá sống, rau cần và các loại rau thơm khác. Giá đậu xanh chọn loại lùn, thân mập vừa
giòn, lại có vị ngọt mát. Bánh canh có 3 món cho thực khách lựa chọn: giò, nạc và que (que là
xương ống có nhiều nạc).
 Mứt hạt bàng:
Bàng ở Côn Đảo là loại cây rừng, lá và quả thật to. Người dân Côn Đảo “thu hoạch” quả
bàng đem phơi cho dốt vỏ, rồi trong những lúc rỗi việc nhà, đem ra chẻ lấy hạt dùng làm mứt...
Đến Côn Đảo, du khách thường được mời thưởng thức món đặc sản mứt hạt bàng. Có hai
loại mứt hạt bàng: ngọt và mặn. Gọi là mứt nhưng thật sự đó là hạt bàng rang với muối hoặc với
đường như đậu phộng rang muối, đường ở đất liền. Cho một vài hạt vào miệng, vị ngọt của đường
hay vị mặn của muối hòa lẫn vị bùi và béo của hạt bàng ở đầu lưỡi, du khách đều công nhận: lạ và
ngon.
Nhiều người thích loại hạt bàng rang với muối hơn. Nói là rang với muối nhưng loại này
không hề mặn, chỉ đậm đà hơn hạt bàng tươi một chút và gần như giữ được vị bùi bùi nguyên gốc
144
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
của hạt bàng tươi. Còn loại rang với đường thì rất ngọt và không còn giữ được vị gốc của hạt bàng.
Hạt bàng rang muối nhìn mập mạp, vỏ hơi thâm nâu; khi cắn một miếng, sẽ thấy được các lớp màu
trắng ngà của hạt bàng xếp cuộn khít vào nhau, rất đều đặn.
Bàng ở Côn Đảo là loại cây rừng, lá và quả thật to. Người dân Côn Đảo “thu hoạch” quả
bàng đem phơi cho dốt vỏ, rồi trong những lúc rỗi việc nhà, đem ra chẻ lấy hạt. Hạt bàng mới tách
ra có màu nâu giống như màu gỗ được đánh vẹc-ni. Ngồi mất vài tiếng đồng hồ, có khi vừa chẻ
vừa tách chỉ được chừng vài trăm gram hạt. Sau đó đem rang muối hoặc rang đường tùy ý.
Khi chín quả bàng được đập lấy làm mứt. Mứt hạt bàng là một thứ quà đặc sản mang đậm
dấu ấn Côn Đảo. Đặt chân lên Côn Đảo, rời cảng Bến Đầm chỉ vài trăm mét là đã bắt đầu thấy
ngay cây bàng. Bàng mọc trên con đường ven biển, bàng có mặt trên mọi ngóc ngách đường phố.
Những cây bàng gốc xù xì vươn dài ra đường, thân to đến 2-3 người ôm không hết. Những cây
bàng nơi đây còn được gắn biển đề tên một cách trang trọng.
Vào những mùa đông rét mướt, hay mùa hè nóng bức, lá bàng rụng được tù nhân lượm,
giấu mang về trại giam, lót trên nền bê tông, nền đá để chống chọi với cái lạnh, cái nóng khắc
nghiệt. Quả bàng, lá bàng non có khi còn là bữa ăn qua ngày; lá bàng còn thay giấy để viết thơ ca,
để truyền tin giữa những người tù. Nhiều người bị giam dài ngày cứ nhìn cây bàng thay lá mà đếm
mùa, đếm năm.
Quả bàng chín nhiều nhất là vào mùa hè, tầm tháng 7, tháng 8. Gió thổi, dơi ăn, quả bàng
rụng đầy trên đường. Có hôm sắp bão, gió lớn, quả bàng rụng la liệt, người dân trên đảo mạnh ai
nấy đổ xô đi lượm. Sau đó, phơi khô, dùng dao chẻ từng quả một lấy nhân ra, rồi rang sao cho
khéo léo để có những sản phẩm thơm ngon bán cho người dân địa phương và du khách.
Làm mứt hạt bàng cũng lắm công phu chứ không đơn giản như cái cách trẻ con ăn bàng,
quả bàng chặt đôi, lấy tăm khều lấy hạt ra, rồi bỏ vào miệng nhai bùi bùi. Bởi thế, giá mứt hạt
bàng không phải rẻ: 200.000 đồng/kg loại rang đường, 280.000 đồng/kg loại rang muối. Nếu vào
mùa ngập, mứt hạt bàng lên đến 500.000 đồng/kg mà không đủ bán cho khách du lịch.
 Mắm hàu Côn Đảo:
Với người dân Côn Đảo, mắm hàu là thứ nước chấm bình dân không thể thiếu trong bữa ăn
hàng ngày, đôi khi trở thành món ăn chính trong những ngày biển động. Còn với du khách, khi ra
thăm đảo, lúc về đất liền thường mang theo những chai mắm hàu để làm quà cho người
thân...thưởng thức.
Những món ăn chế biến từ con hàu biển như hàu mù tạt, cháo hàu, hàu đúc trứng v.v... đã
quá quen thuộc với nhiều người nhưng mắm hàu thì có lẽ còn ít ai biết tới. Bởi lẽ, mắm hàu mới
được làm ra ở Côn Đảo trong một vài năm nay, chưa có thương hiệu và cũng chưa có điều kiện để
chu du đó đây... Tuy nhiên, nhìn từ góc độ ẩm thực, mắm hàu đã có một chỗ đứng nhất định trong
cuộc sống thường ngày của người dân Côn Đảo, được nhiều du khách chấp nhận qua những món
ăn chấm với mắm hàu đậm đà hương vị biển.
Cũng như những loại mắm thông thường khác, nguyên liệu để chế biến mắm hàu chính là
con hàu có sẵn trong thiên nhiên. Loại này sống rất nhiều ở bãi đá chung quanh các hòn của quần
đảo Côn Lôn. Hàng ngày, chờ cho thủy triều xuống, những người làm mắm hàu chạy ghe ra các
hòn để gõ hàu lấy ruột. Đồ nghề mang theo là một chiếc búa mỏ nhọn, một chiếc nhíp gắp và một
chiếc ca nhựa. Người ta dùng chiếc búa mỏ nhọn này gõ vào miệng con hàu sữa nhỏ bằng ngón tay
cái, sau đó lật nhẹ lớp vỏ bên trên rồi lấy nhíp gắp miếng thịt trắng bên trong cho vào ca nhựa. Có
ba thao tác đơn giản như vậy, nhưng người mới vào nghề chưa quen tay thường gõ trật, còn người
thâm niên hơn thì một ngày có thể gõ được 5 kg ruột hàu. Mang về nhà, ruột hàu được đãi rửa sạch
sẽ và để cho ráo nước. Sau đó đảo đều với muối, ớt bột, rượu v.v... theo tỉ lệ phần trăm rồi đóng
chai. Khoảng hai mươi ngày sau, chai mắm hàu đổi màu, lúc phần thịt nổi lên trên còn phần nước
lắng phía dưới có màu đỏ tươi là ăn được. Tuy nhiên thời gian ủ càng lâu thì mắm càng ngấu, dậy
mùi thơm nồng và ăn càng ngon. Tương tự như mắm cá linh, khi ăn phải nêm vào một ít tỏi - ớt -
145
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
chanh - đường để mắm có thêm phần chua - cay - ngọt - mặn. Món ăn hợp với mắm hàu nhất là
bánh tráng cuốn với thịt ba rọi - bún - rau sống... Với nhiều người dân Côn Đảo, mắm hàu còn là
thứ nước chấm bình dân không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày, đôi khi còn là món ăn chính
trong những ngày biển động. Còn với du khách, khi ra thăm đảo, lúc về đất liền thường mang theo
những chai mắm hàu để làm quà cho người thân... thưởng thức.
 Tiết canh tôm:
Món tiết canh tôm tại nhà hàng Hải Phương (693-695/ đường 30/4-f10) được mệnh danh là
danh bất hư truyền. Có tất 7 lọai tôm hùm, nhưng làm món này là lọai tôm hùm rồng , đầu tôm lấp
lánh bảy sắc cầu vồng …Dùng dao nhọn đâm vào gáy tôm lúc còn sống để lấy tiết, tôm làm tiết
canh phải là lọai tôm từ 700gr trở lên. Tiết canh tôm ăn là lạ, thịt tôm mềm lẫn với tiết tôm sừng
sựt như rau câu, mằn mặn , ngòn ngọt, thực khách được xem đầu bếp biểu diễn màn đánh tiết canh
tôm ngay tại bàn.
 Bánh hỏi An Nhất:
Nếu có dịp đi qua vùng An Nhất- Huyện Đất Đỏ -Thị Xã Bà Rịa, xin hãy dùng thử món
bánh hỏi nổi tiếng của quán An Nhứt , đây là tiệm bánh gia truyền của chị Trần Thị Anh Đào mở
ra đã gần 50 năm, thường ngày tiệm bán trung bình 100kg, những ngày lễ thì trên 200kg. Bánh hỏi
được làm bằng một thứ gạo thơm và bí quyết là cách pha chế bột sao cho bánh dẻo, dai. Miếng
bánh hỏi trắng thơm mùi gạo mới càng nhai càng thấy ngọt hậu, bánh hỏi cuốn với rau sống , thịt
xào , chấm với nước mắm kèm ngó sen chua ngọt, cuốn hết cuốn này thêm cuốn khác tới no mà
vẫn thấy thèm, hoặc ăn với thịt bò xiên bằng que nướng trên bếp than hồng , chấm mắm nêm cũng
rất ngon.
 Rượu áp xanh:
Không ai biết Rượu Áp Xanh Bà Đập có tên gọi tự bao giờ, có người kể rằng do ông bà ta
học được bài thuốc có vị bổ từ Trung Quốc. Ngay cả những người làm nghề nấu rượu Áp Xanh lâu
năm và khá nổi tiếng ở xã Phước Hội, huyện Long Đất , bây giờ cũng chẳng ai biết gốc gác của
thứ thức uống cay nồng , sóng sánh màu xanh ngọc bích… Tại ấp Hội Mỹ, xã Phước Hội- Long
Đất có đến 99% hộ dân sinh sống bằng nghề nấu rượu , với khỏang 50 lò, nhưng đa số không ai
biết được bí quyết của thang thuốc dùng nấu rượu Áp Xanh , họ chỉ biết là mang máng có bảy vị
thuốc vì việc bổ thuốc là một nghề riêng biệt, hiện ở làng Phước Hội chỉ còn hai người chuyên bổ
thuốc nấu rượu Áp Xanh.
 Mắm Trí Hải:
Khi đến thành phố biển Vũng Tàu xinh đẹp, ngoài việc vui chơi giải trí, du khách không
thể quên mua cho mình và người thân những món quà đặc sản của xứ biển. Ở đây chúng tôi xin
giới thiệu một số loại đặc sản mắm Vũng Tàu của cơ sở mắm Trí Hải.Với nguồn hải sản phong
phú như: tôm, cá, mắm… nhiều sản phẩm mắm ngon đã ra đời. Trong số đó món mắm đặc sản
nhất của cơ sở mắm Trí Hải là mắm ruốc. Đây là loại mắm được làm từ nguyên liệu chính là con
ruốc có mùi thơm dịu thích hợp với nhiều món ăn, nhất là món ăn đồng quê.
 Trứng mực chiên giòn
Trứng ngon phải được lấy từ con mực thật tươi. Mực mới câu từ biển đưa lên bờ, chưa qua
đêm hay chưa được bảo quản bằng bất cứ loại vật liệu nào, kể cả nước đá, thì mới tuyệt hảo!
Mực tươi mổ ra, bỏ túi mực, bỏ mai và phần gan có màu vàng đất. Được mực lá là ngon
nhất. Phần thân mực và râu mực chế biến như bình thường: luộc, xào hay nhúng giấm, chiên
giòn... Lấy bọng trứng trong suốt với hai nang sữa cuối bụng mực cho vào cối. Một cân mực có
thể lấy được nửa tô trứng. Quết trứng ấy bằng chày gỗ. Chỉ vài ba chày lá trứng dẻo quánh bám
vào đầu chày. Giã thêm một chút nữa cho trứng thật dai rồi cho gia vị vào: Một ít muối, tiêu, bột
ngọt, hành lá xắt xuyễn. Thúc thêm vài lượt chày nữa cho trứng thấm đều gia vị. Lúc này, trứng đã
146
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
dao, dẻo đến độ bám hết vào đầu chày. Mỗi lần kéo chày lên là kéo cả khối trứng màu sữa thơm
phức mùi hành, tiêu.
Trứng ấy mà đem chiên mỡ thì dai, giòn không thua gì chả cá thát lát miền nam. Độ ngọt,
thơm lại hơn cả giò sống miền bắc. Trứng mực chiên trong chảo mỡ cứ phồng dần, vàng rộm như
miếng chả quế.
 Canh chua tương me
Cá nấu canh chua là một món ăn quen thuộc,nhưng có một món canh chua còn lạ lẫm với
nhiều người, đó là canh chua tương me
Đây là món đặc sản của vùng Phước Hải - Bà Rịa Vũng Tàu,người dân đia phương còn gọi
là “ Nấu Súng “. Cá được dùng để nấu canh chua tương me : cá Đủ, cá Lò, cá Ngao và đặc biệt là
đầu cá Thiều. Me được dầm vắt lọc lấy nước, đâm sơ tương hột, sả đập dập cho vào nồi nấu chín.
Khi nước sôi cho cá được làm sạch để ráo nước vào nồi, đậy nắp đun sôi khoảng 5 phút cho cá
chín,xong nêm đường , muốI , bột ngọt va rau thơm , ớt là được nồi canh ngon lành.Món canh
chua tương me có mùi vị rất riêng,vớI mùi tương, sả thơm ngon quyện vào nhau rất độc đáo. Món
này ăn với bún và nhắm rượu đế Hoà Long là tuyệt cú mèo, quán Phương Trang (Bảy Diện) Lộc
An - Đất Đỏ.
 Địa chỉ ẩm thực
Nhà hàng Vườn Bàng
• Số 37/4 Nguyễn Thái Học (07 Yersin), P. 7, TP. Vũng Tàu
• Điện thoại: 064. 3570607
Nhà hàng Gành Hào
• Số 03 Trần Phú, P. 5, TP. Vũng Tàu
• Điện thoại: 064. 3550909
Nhà hàng Phương Trang
• Số 1Ô11/13 Ấp An Hòa, xã Lộc An, huyện Đất Đỏ
• Điện thoại: 064. 3886251
Nhà hàng Hải Phương
• Số 693 Đường 30/4, TP. Vũng Tàu
• Điện thoại: 064. 3848494
Tê Giác quán
• Số 150 Lê Hồng Phong, TP. Vũng Tàu
• Điện thoại: 064. 3853938
Quán Bảy Giai
• Số 36 Hoàng Hoa Thám, P. 2, TP. Vũng Tàu
• Điện thoại: 064. 3857891
Quán ăn 95
• Số 36 Trần Hưng Đạo, TP. Vũng Tàu
• Điện thoại: 064. 3595595
Quán ăn Phương Hạnh
147
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
• Số 38 Nguyễn Huệ, huyện Côn Đảo
Quán ăn Sơn Phước Lộc
• Khu 06 thị trấn Côn Đảo, huyện Côn Đảo
Quán Kiệt
• Hải Sơn, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền
• Điện thoại: 064. 3868663
Nhà hàng Lan Rừng 1
• Số 02 Trần Hưng Đạo, P. 3, TP. Vũng Tàu
• Điện thoại: 064. 3530713
Nhà hàng Lan Rừng 2
• Số 03 Hạ Long, P. 1, TP. Vũng Tàu
• Điện thoại: 064. 3526008
Bánh khọt 41
• Địa chỉ: 24A Trần Đồng, Tp. Vũng Tàu
• Điện thoại: 3530 218
Bánh khọt Gốc Vú Sữa
• Địa chỉ: 14 Nguyễn Trường Tộ, Tp. Vũng Tàu
• Điện thoại: 3523 465
Tại TP. Vũng Tàu
- Gỏi cá Mai: Tại quán Vườn Xoài số 345 Hoàng Hoa Thám
- Bánh khọt Gốc Vú Sữa tại số 14 Nguyễn Trường Tộ
- Cháo Hàu quán Nghĩa gần cầu Cỏ May
- Bánh Bèo Tuyết Mai: 9 Phan Chu Trinh
- Bún bò Sơn 27H1 Tôn Thất Tùng - F7 - TP.Vũng Tàu, ĐT: 064.855011/ 851629
- Bún Thái "phá cách": bún Thái Ngọc Lan (số 10-Mạc Đĩnh Chi, TP. Vũng Tàu)
- Hàu đút lò xã đảo Long Sơn (TP.Vũng Tàu)
- Thịt nướng kiểu Nga: quán Việt Nga,Vườn Bàng ở 37/4 Nguyễn Thái Học.
- Lẩu cá đuối: 40 Trương Công Định, TP.Vũng Tàu
- Hủ tíu mì sường Tùng Hưng 144 Lý Tự Trọng - P3 - Tp Vũng Tàu
- Ẩm thực ở làng chài: Làng Chài Bến Đá - Sao Mai (TP.Vũng Tàu)
- Kem Sài Gòn 22 Lý Thường Kiệt - P1 - Tp Vũng Tàu
Tại Côn Đảo
1. QUÁN THU BA
Địa chỉ: đường Phạm Văn Đồng
ĐT: 3830225
2. QUÁN GIA ĐÌNH
148
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Địa chỉ: Khu N7, đường Trần Phú
ĐT: 3830986
3. QUÁN N7
Địa chỉ: Khu N7, đường Trần Phú
ĐT: 3830815
4. QUÁN TRI KỶ
Địa chỉ: đường Nguyễn Đức Thuận
ĐT: 3830294
5. QUÁN SƠN PHƯỚC LỘC
Địa chỉ: đường Võ Thị Sáu
ĐT: 3830601
6. QUÁN THANH HUYỀN
Địa chỉ: đường Hoàng Phy Yến
ĐT: 3630411
7. ĐIỀN SƠN QUÁN
Địa chỉ: đường Võ Thị Sáu
ĐT: 3630679
8. NHÀ HÀNG PHƯƠNG HẠNH
Địa chỉ: 38 đường Nguyễn Huệ
ĐT: 3830180
Tại TX. Bà Rịa
Bánh Canh Long Hương
Quán Thuý ở ngã ba Long Hương
Ở cổng chào Bà Rịa
Hai Phụng (Cơm Việt Nam)
Địa chỉ: 16/65 Phường Phước Hiệp, Thị xã Bà Rịa
Điện thoại: (064) 825759
Vườn Tao Ngộ (Nhà hàng cà phê và trà Việt)
Địa chỉ: 501-503 cách mạng tháng 8 - P.Phước Nguyên - Tx.Bà Rịa
Điện thoại: 064.720000 - 824357
13. Quà lưu niệm
Đến Bà Rịa - Vũng Tàu, sau những ngày tham quan, vui chơi, tắm biển... tận hưởng không
khí trong lành, du khách có thể dạo qua những siêu thị, các quầy hàng thủ công mỹ nghệ để mua
một vài kỷ vật vùng biển về làm quà cho người thân, gia đình.
Du khách dạo qua khu du lịch bãi trước (đường Quang Trung), đường Lê Lợi (gần chợ cũ)
và một số điểm du lịch, khu vui chơi giải trí. Nơi đây tập trung các mặt hàng được làm từ vỏ sò, ốc
(tạo hình, cẩn ghép tranh, phù điều, đồ gia dụng...), sơn mài, thêu đan, làm hoa, điêu khắc gỗ, đá;
đắp tượng, hội họa do Hội nghệ nhân tỉnh sáng tạo, gia công đặc trưng của nền văn hoá biển.
149
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Mỹ nghệ Thùy Dương
Địa Chỉ : Ngã ba Lê Lợi- Trưng Trắc Trưng Nhị
Điện Thoại : 064.3859104
Đến TP. Vũng Tàu, sau những ngày tham quan, vui chơi, tắm biển… tận hưởng không khí
trong lành, trước khi rời thành phố biển Vũng Tàu, du khách có thể mang chút hơi thở của biển về
làm quà cho người thân, gia đình, bạn bè.
Để có thể mua được những món quà, vài món kỷ vật, đặc sản mang đậm chất biển, du
khách có thể dạo qua các quầy thủ công mỹ nghệ tại khu vực ngã ba Lê Lợi - Trưng Trắc - Trưng
Nhị. Ở đây, chúng tôi xin nói đến một trong những cửa hàng mỹ nghệ dọc khu vực này, đó là cửa
hàng thủ công mỹ nghệ Thuỳ Dương, hoặc liên lạc theo số điện thoại 064. 859104. Tại đây, du
khách có thể tìm thấy các mặt hàng được làm từ vỏ sò, ốc (tạo hình, cẩn ghép tranh, phù điêu, đồ
gia dụng…), hàng sơn mài, đá non nước… Trong mỗi món hàng đều mang hơi thở riêng của biển.
Để lắng nghe tiếng sóng biển rì rào, du khách nên chọn cho mình những vỏ ốc, với giá từ 5.000
đồng đến 50.000 đồng/con tuỳ loại, hay chọn cho mình một vật trang trí, du khách có thể chọn
những chuỗi cườm được làm thủ công từ những vỏ ốc biển nhỏ xíu giá 2.000 đồng/dây. Hoặc chọn
những vật trang trí, du khách có thể chọn những bình hoa, những bức tranh cẩn ghép từ vỏ ốc.
150
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
TÂY NINH

I. V TRÍ Đ A LÝỊ Ị
Tỉnh Tây Ninh thuộc miền Đông Nam bộ. Phía Tây và Tây Bắc giáp vương quốc
Campuchia, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí
Minh và tỉnh Long An, là tỉnh chuyển tiếp giữa vùng núi và cao nguyên Trung bộ xuống đồng
bằng sông Cửu Long. Tây Ninh nằm ở vị trí cầu nối giữa thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnôm
Pênh, Vương quốc Campuchia và là một trong những tỉnh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía
Nam.
Diện tích: 4.035,45 km2
Dân số TB: 1.058.526 người (năm 2008)
Các dân tộc chính: Kinh (98%), còn lại là dân tộc thiểu số (chủ yếu là Khơme, Hoa, Chăm)
Đơn vị hành chính: 1 thị xã (thị xã Tây Ninh), 8 huyện (Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng,
Bến Cầu, Tân Châu, Tân Biên, Dương Minh Châu, Châu Thành)
XXIV. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử
Vào giữa thế kỷ XVII, Tây Ninh khi ấy còn là đất hoang vu, nhiều rừng rậm, đầm lầy và
thú dữ. Dân bản địa gồm một số người Khmer, gọi Tây Ninh là Romdum Ray ( Tức là Chuồng
Voi).Chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài gần nửa thế kỷ ( 1627- 1672), nhân dân lầm than, cực
khổ. Các tỉnh Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Thuận liên tục bị đói kém mất mùa, dân chúng bỏ
làng di cư vào Nam, đến cửa Cần Giờ khai hoang lập ấp thành Phiên Trấn Dinh, tức gia Định, và
từ đó lần lên hướng Bắc khai thác mở đất từ Trảng Bàng lên Gò Dầu Hạ, đến chân núi Bà Đen,
thành đạo Quang Phong của Phủ Gia Định từ năm 1698, năm 1838 trở thành Phủ Tây Ninh của
tỉnh Gia Định.
Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì “Phủ Tây Ninh cách tỉnh thành 147 dặm. Đông Tây
cách nhau 103 dặm.Nam, Bắc cách nhau 95 dặm. Phía đông đến địa giới huyện Bình Long, Phủ
Tân Bình 66 dặm, phía Nam giáp 2 huyện Bình Dương và Cửu An 77 dặm; phía Bắc vượt núi
Chiêng ( Bà Đen) giáp đất Miên 18 dặm…”
Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược đất nước ta. Tây Ninh bị chiếm (1861)
và được sát nhập về Sài gòn, mãi cho đến Cách Mạng tháng 8/ 1945 Tây Ninh cùng miền Nam
mới trở về tay nhân dân. Nhưng sau đó lại thuộc chính quyền Sài Gòn cho đến ngày 30/4/1975,
giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Tây Ninh luôn là một mảnh đất lửa, nóng
bỏng.Người dân kiên trinh, trung dũng kiên cường. Tây Ninh là “Đất Thánh” của một vùng đạo
Cao Đài, hiền hòa thơ mộng với con sông Vàm Cỏ êm đềm và ngọn núi Bà Đen cao nhất miền
Đông Nam bộ đầy huyền thoại. Tây Ninh còn là “Thánh địa” của Cách mạng với nhiều vùng căn
cứ nổi tiếng, đặc biệt là khu căn cứ TW. Cục, là chiến khu “đầu não” của Cách mạng miền Nam.
XXV. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ
1. Địa lý tự nhiên
Tây Ninh nối cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long, vừa mang đặc
điểm của một cao nguyên, vừa có dáng dấp, sắc thái của vùng đồng bằng.Trên địa bàn vùng cao
phía Bắc nổi lên núi Bà Đen cao nhất Nam Bộ (986 m). Nhìn chung, địa hình Tây Ninh tương đối
bằng phẳng, rất thuận lợi cho phát triển toàn diện nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng.
151
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
2. Khí hậu
Khí hậu Tây Ninh tương đối ôn hoà, chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô.Lượng
ánh sáng quanh năm dồi dào, mỗi ngày trung bình có đến 6 giờ nắng.
Tây Ninh chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chủ yếu là gió Tây - Tây Nam vào mùa mưa và gió
Bắc - Đông Bắc vào mùa khô.
3. Tài nguyên
a. Tài nguyên đất
Tây Ninh có 05 loại đất chính với tổng diện tích 402.817 ha; trong đó:
- Nhóm đất xám
- Nhóm đất phèn
- Nhóm đất đỏ vàng
- Nhóm đất phù sa
- Nhóm đất than bùn chôn vùi
Cùng với điều kiện khí hậu ôn hòa, đất đai ở Tây Ninh có nhiều thuận lợi phát triển nông,
lâm nghiệp kết hợp, có thể phù hợp cho việc canh tác nhiều loại cây trồng khác nhau, cây công
nghiệp ngắn và dài ngày như mía, mì, đậu phọng, cao su …. các loại cây ăn quả và rau màu khác.
b. Tài nguyên rừng
Rừng Tây Ninh phần lớn là rừng thứ sinh do bị tàn phá trong chiến tranh trước đây, đại bộ
phận rừng thuộc dạng rừng thưa khô, rừng hỗn giao tre nứa và cây gỗ. Diện tích rừng còn khoảng
40.025 ha (kiểm kê rừng năm 1990).Theo qui hoạch tổng quan lâm nghiệp, rừng và đất để trồng
rừng khoảng 70.000 ha/diện tích tự nhiên của toàn tỉnh.
c. Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản của Tây Ninh chủ yếu thuộc khoáng sản phi kim loại như: đá vôi, than bùn,
cuội sỏi, cát, sét .
Tây Ninh có một số mỏ nước khoáng thiên nhiên, trong đó, mỏ nước khoáng ở xã Ninh Điền,
huyện Châu Thành đã được thăm dò chi tiết, được Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản Nhà
nước cấp giấy phép khai thác. Hiện nay nhà máy nước khoáng Ninh Điền có công suất 11.000
lít/ngày đang được triển khai xây dựng .
d. Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt ở Tây Ninh chủ yếu dựa vào hệ thống kênh rạch trên địa bàn toàn tỉnh,
với chiều dài của toàn bộ hệ thống 617 km, trung bình 0,11 km/km2 và chủ yếu dựa vào 2 sông
lớn là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông.
Tây Ninh có hồ Dầu Tiếng với dung tích 1,45 tỷ m3 và 1.053 tuyến kênh có tổng chiều dài
1.000 km đã phát huy hiệu quả trong cân bằng sinh thái, phục vụ tưới tiêu trong nông nghiệp, cung
cấp nước cho nuôi trồng thuỷ sản, sinh hoạt tiêu dùng và cho sản xuất công nghiệp. Ngoài ra Tây
Ninh còn có nhiều suối, kênh rạch; tạo ra một mạng lưới thuỷ văn phân bố tương đối đồng đều trên
địa bàn.Tây Ninh có nguồn nước ngầm khá phong phú, phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh.
4. Giao thông
Tỉnh Tây Ninh là đầu mối và cửa ngõ giao thông về đường bộ quan trọng phía Tây Nam
của tổ quốc; có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng của quốc gia; là đầu mối giao thương,
trung chuyển hàng hóa và dịch vụ thương mại du lịch của các nước tiểu vùng sông Mêkông.
Di chuyển dễ dàng đến các khu vực như: TP. HCM, các tỉnh Đông Nam Bộ, các tỉnh Miền
Tây…thông qua tuyến đường bộ và đường thủy nội địa
152
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Kết nối với các nước trong khối Asean: Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar… theo trục
đường xuyên Á
+ 02 cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và Xa Mát
+ 04 cửa khẩu chính: Katum, Chàng Riệc, Phước Tân, Tống Lê Chân
+ 10 cửa khẩu phụ
Kết nối bằng đường thủy đến các cảng trong khu vực qua tuyến đường thủy sông Vàm Cỏ
Đông và sông Sài Gòn
Mạng lưới đường giao thông ở Tây Ninh tương đối tốt, xe ô tô có thể qua hệ thống đường
dọc, ngang để đi đến mọi nơi trong tỉnh. Trong tương lai gần, tỉnh Tây Ninh sẽ có các tuyến đường
Hồ Chí Minh nối dài và đường cao tốc Tp.Hồ Chí Minh - Mộc Bài. Không có hệ thống sông ngòi
chằng chịt như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhưng Tây Ninh cũng có 02 con sông chính là
sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn chảy qua. Xà lan 2.000 tấn có thể đi đến trung tâm của tỉnh.
Tỉnh Tây Ninh có Quốc lộ 22 là con đường nối liền Thành phố Hồ Chí Minh đến cửa khẩu
Mộc Bài dài 59 km. Đây là con đường nằm trong dự án đường xuyên Á giữa Thành phố Hồ Chí
Minh và Phnom Penh. Quốc lộ 22 bắt đầu tại ngã tư An Sương và kết thúc tại cửa khẩu Mộc Bài.
Tại thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu, quốc lộ 22B tách ra từ quốc lộ 22 để đi lên cửa khẩu Xa Mát
(biên giới Campuchia). Ngoài ra, tỉnh đã có quy hoạch xây dựng tuyến đường sắt Sóng Thần -
Mộc Bài, đường cao tốc nối cửa khẩu Mộc bài với Đường vành đai N3 - ra cụm cảng Thị vải - Cái
mép và sân bay Long Thành.
Trong tương lai, tỉnh chú trọng phát triển và mở rộng mạng lưới giao thông tạo điều kiện
thuận lợi di chuyển và giao thương giữa các vùng như:
+ Tuyến đường bộ: đường cao tốc nối Thị Xã Tây ninh với Gò Dầu
+ Tuyến đường sắt: xây dựng tuyến Gò Dầu - Xa Mát.
+ Tuyến đường sông: xây dựng 02 tuyến đường sông và cảng sông là Sông vàm cỏ - Cảng
Hiệp Phước và Sông Sài Gòn - Cụm Cảng Cái Mép - Thị vải.
XXVI. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN
14. Dân cư
Tây Ninh có diện tích tự nhiên 4.035,45 km2
, dân số trung bình: 1.058.526 người (năm
2008), mật độ dân số: 262,31 người/km2, mật độ dân số tập trung ở Thị xã Tây Ninh và các huyện
phía Nam của tỉnh như: các huyện Hoà Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng. Tây Ninh có 26 dân tộc anh
em sinh sống. nhưng tiêu biểu là Kinh, Hoa, Chăm, Khơmer, mỗi dân tộc tuy có những phong tục,
tập quán sinh hoạt khác nhau nhưng đều có truyền thống chung là sống đoàn kết với cộng đồng,
lao động cần cù, chiến đấu chống địch họa, thiên tai dũng cảm, tất cả đã tạo nên cho Tây Ninh một
nền văn hoá đa dạng, phong phú và đầy bản sắc.
Từ giữa thế kỷ XVII, người Hoa đã có mặt ở các vùng cù lao Phố (Biên Hoà, Đồng Nai),
Sài Gòn và từ đó toả đi những nơi khác, trong đó có Tây Ninh. Cho đến đầu thế kỷ XX, cuộc sống
của người Hoa ở Tây Ninh đã cơ bản ổn định. Trong quá trình hoà nhập với các cộng đồng dân cư
ở nước ta nói chung và ở Tây Ninh nói riêng một số tục lệ của người Hoa lại ăn sâu vào đời sống
văn hoá của người Việt, trong đó có tục thờ Quan Thánh và bà Thiên Hậu. Người Việt thờ bà
Thiên Hậu cùng với các nữ thần khác chung trong tập quán thờ Mẫu của dân tộc mình. Miếu thờ
dân gian thường gọi là chùa Bà khác với chùa Ông là nơi thờ Quan Thánh.
Về tôn giáo, ở Tây Ninh có đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Công giáo, đạo Tin Lành, đạo Hồi
và một số tôn giáo khác...
15. Tín ngưỡng và tôn giáo
153
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ)
Đạo Cao Đài còn mang danh xưng là Đại Đạo Tam kỳ Phổ độ, một tôn giáo phát xuất từ
tâm linh, sự sáng lập Đạo Cao Đài có nguồn gốc ở Thần linh học. Giáo lý và sự thờ phượng
Thượng Đế đã được các bậc tiền khai Đại đạo đón nhận và truyền đạt lại cho tín đồ bằng cơ bút,
qua dụng cụ thông công với các đấng tối cao là cây Ngọc cơ. Những bài cơ bút này được lưu ghi
trong bộ "Thánh ngôn hiệp tuyển" (quyển số 1 và 2) gồm những thánh giáo chỉ dạy đến từ Đấng
Thượng Đế tối cao, cũng chính là Đấng Cao Đài, hoặc từ các Đấng chơn linh thượng đẳng như
Đức Lý Thái Bạch, thi hào của nước Trung hoa thời nhà Đường, trở thành Giáo Tông thiêng liêng
hiện nay của Đạo Cao Đài. Những chơn linh của các vĩ nhân ở Âu châu, trong đó có Victor Hugo
tức là Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn thường giáng cơ viết bằng thi văn các giáo huấn về tôn giáo.
Đạo Cao Đài là một hỗn hợp, một tổng hợp của các tôn giáo hiện hữu : Khổng giáo, Lão
giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, v.v... Đạo Cao Đài không hủy bỏ sự thờ cúng linh hồn người
chết, sự Thánh hóa các vị anh hùng thời cổ đại của Trung Hoa và Việt Nam.
“ Cao Đài là danh từ tượng trưng Đấng Chí Tôn
mà trong kỳ ba nầy, Đấng ấy sẽ hiển thị ở phương Đông.”
Để đặt cơ sở ban đầu cho nền Đạo, các vị tiền bối đã mượn chùa Từ Lâm tự tại Gò kén Tây
Ninh, là một ngôi chùa Phật thuộc giáo phái Thiền tông, mới xây cất còn dở dang. Khi mượn chùa
nầy, Hội Thánh Cao Đài phải kiến tạo thêm cho hoàn chỉnh. Nên vào ngày 15 tháng 10 nhằm ngày
rằm Hạ nguơn năm Bính dần (18-11-1926), Lễ Khai đạo đã được tổ chức tại chùa Từ Lâm tự, tuy
trước đó đã có 5 năm chuẩn bị, nhưng mãi đến năm Bính dần, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mới chính
thức khai sáng tại nước Việt nam, và cũng chính thức ra mắt với nhân loại trên toàn thế giới.
Khi đặt cơ sở đầu tiên tại chùa Từ Lâm tự một thời gian ngắn, thì Ơn Trên đã giáng cơ chỉ
dẫn Hội Thánh đến mua một khu rừng 96 mẫu của một Pháp kiều tại làng Long Thành, để làm cơ
sở ban đầu cho nền Đạo, đến nay nơi nầy đã trở thành Thánh địa trung ương của Cao Đài Giáo.
Theo giáo lý Cao Đài thì từ thời tạo thiên lập địa tới nay có 3 lần Thượng đế phân thân
giáng trần hay giáng linh để lập Đạo:
- Thời kỳ thứ nhứt : Nhứt kỳ Phổ Độ: Thời kỳ này nhân loại còn thuần phát thiên lương, nhưng
nếp sống còn lạc hậu, các Đấng Giáo chủ giáng trần cốt khai hóa dân trí:
• Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ tương ứng thời vua Hiên Viên Huỳnh Đế
bên Tàu.
• Đức Thái Thượng Đạo Tổ mở Tiên giáo ở Trung Hoa.
• Vua Phục Hy khởi đầu Nho giáo ở Trung Hoa.
• Thánh Moise mở Do Thái giáo ở nước Do Thái.
- Thời kỳ thứ hai : Nhị kỳ Phổ Độ : Thời kỳ nầy nhân loại tuy đã được khai hóa, nhưng vẫn sinh
hoạt nội tư phương của mình, nhưng để sinh tồn và tiến hóa nhân loại phải đấu tranh, càng đấu
tranh lại càng thù nghịch lẫn nhau, xa rời những lời giáo huấn của các Vị Giáo chủ, nên tôn giáo
thất chơn truyền, đạo đức suy đồi. Vì thế nhân loại đã gây ra cảnh mạnh được yếu thua, khôn còn
dại mất... Nên Thượng Đế cho các Vị Giáo chủ giáng trần để chấn hưng Tam giáo cứu độ chúng
sanh lần thứ hai, lần nầy có:
• Đức Phật Thích Ca giáng sinh ở Ấn Độ, chấn hưng Phật giáo thời Nhứt Kỳ Phổ Độ,
thời kỳ này đã mở ra Thích giáo với một giáo lý rất phong phú, thiết thực để giải khổ nhân
sinh.
• Đức Thái Thượng Đạo Tổ giáng sinh ở Trung Hoa là Lão Tử, mở ra Lão giáo hay Đạo giáo
để chấn hưng Tiên giáo.
• Đức Khổng Tử giáng sinh ở Trung Hoa, mở ra Khổng giáo để chấn hưng Nho giáo
154
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
• Đức Chúa Jesus Christ giáng sinh ở nước Do Thái, mở ra Thiên Chúa giáo để chấn hưng
Thánh Giáo và Đức Mohammet giáng sinh ở Trung Đông mở ra Đạo Hồi Giáo.
- Thời kỳ thứ ba : Tam Kỳ Phổ Độ: Thời kỳ này nhân loại đã đạt được sự văn minh tiến bộ về
phương diện vật chất, nhưng về tinh thần đạo đức lại suy đồi, lại nữa loài người trên thế giới đã
tiếp cận với nhau như trong một làng mạc nhỏ bé... Các nền tôn giáo cũng truyền bá đồng hành
khắp mọi nơi, nhưng vì những khác biệt trong giáo lý, giáo luật và nghi lễ, mà nhân loại đã nghịch
lẫn nhau, tạo ra những cuộc chiến tranh đẩm máu về tôn giáo. Nên thời kỳ này Đức Chí Tôn không
giao chánh giáo cho tay phàm nữa, mà chính mình Thượng Đế giáng linh lập đạo, bằng huyền cơ
diệu bút.
Theo lời giải thích của Đức Hộ Pháp thì ngày nay trong Tam kỳ Phổ độ Đức Chí Tôn còn
chọn ba vị Phật, Thánh, Tiên cầm quyền Tam trấn thay mặt cho Tam Giáo giáng cơ lập đạo đó là:
• Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (thay mặt Thích giáo).
• Đức Lý Thái Bạch (thay mặt Đạo giáo, đồng thời kiêm phẩm Giáo Tông vô hình).
• Đức Quan Thánh Đế Quân (thay mặt Nho giáo).
Vì ba vị này lúc sinh tiền có đức hạnh vẹn toàn, đủ tư cách độ đời, đáng làm gương cho
hậu thế. Ngày nay ba vị thọ mạng Chí Tôn chấp chưởng cơ quan mầu nhiệm, trấn nhậm Quyền
hành, lập Luật pháp, Đạo Nghị định cho hiệp với Thiên thơ tiền định. Vì vậy nên bổn đạo phải để
tâm thành kỉnh phụng thờ Tam Trấn Oai nghiêm.
Căn bản của giáo lý Cao Đài là thực hành điều thiện và đức hạnh. Làm thế nào biết được
bằng cách khác trong một tôn giáo hỗn hợp ba hệ thống lớn của Đông phương : Khổng giáo, Phật
giáo, Lão giáo, để chỉ giữ lại những giáo huấn cao siêu nhứt và loại bỏ những giáo huấn lạc hậu
xem như là những yếu tố mê tín và dốt nát ?
• Đức Phật từ bi giảng dạy lòng tín ngưỡng và từ thiện.
• Giáo lý của Đức Lão Tử qui định sự tôn thờ chơn lý và khuôn khổ đức tánh.
• Đức Thánh Khổng Tử vạch ra con đường Trung Dung.
Giáo lý của Đạo Cao Đài không chỉ nhằm mục đích hoà hợp các tín ngưỡng tôn giáo, mà
còn thích nghi với tất cả mức độ tiến hóa của tâm linh.
1. Về phương diện đạo đức : Giáo lý Đạo Cao Đài nhắc nhở con người có bổn phận đối với
chính mình, đối với gia đình, đối với xã hội, ấy là một gia đình mở rộng, kế đó đối với
nhơn loại, gia đình thế giới;
2. Về phương diện Triết học : Giáo lý Đạo Cao Đài truyền dạy sự khinh thường danh vọng,
sự giàu có, sự xa hoa, tắt một lời là sự giải thoát khỏi những nô lệ vật chất, để tìm tòi trong
tâm linh sự yên tĩnh của tâm hồn;
3. Về phương diện văn hóa : Giáo lý Đạo Cao Đài khuyên nhủ sùng bái Thượng Đế, Đại
Từ Phụ của tất cả chúng ta, tôn thờ các Đấng chơn linh thượng đẳng vốn tạo nên hệ thống
trật tự oai nghiêm trong thế giới huyền bí. Chấp nhận sự thờ cúng tổ tiên theo truyền thống
dân tộc, bài trừ việc cúng bằng các thứ thịt thú vật, cũng như tục đốt giấy giấy vàng mã.
4. Về phương diện tâm linh : Giáo lý Đạo Cao Đài xác nhận và đồng ý với các tôn giáo
khác về các hệ thống triết học tâm linh và tâm lý, sự hiện hữu của linh hồn và sự tồn sinh
của nó nơi thể xác. Sự tiến hóa của linh hồn bởi sự luân hồi chuyển kiếp liên tiếp, và các
hành vi của con người lúc sanh tiền sẽ được định bởi luật Nhân quả sau khi chết;
5. Về phương diện truyền giáo : Đạo Cao Đài truyền đạo cho các tín đồ xứng đáng những
giáo huấn mặc khải mà nó cho phép các tín đồ, bởi quá trình tiến hóa tâm linh, đạt
đến sự hưởng thụ toàn phúc.
155
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Về tổ chức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có 3 đài: Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng
Đài. Bát Quái Đài là nơi Đức Chí Tôn ngự trị chưởng quản càn khôn vũ trụ, Thiên triều của Ngài
gồm có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật là các Đấng trọn lành phụ sự. Bát Quái Đài là linh hồn của
Đạo, mọi giáo pháp của Đại Đạo do nơi Bát Quái Đài xuất phát. Hiệp Thiên Đài là Đài bán hữu
hình, do Hộ Pháp chưởng quản. Hiệp Thiên Đài có 2 sở dụng: sở dụng Thiêng liêng nơi làm trung
gian hội hiệp giữa con người (hữu hình) với Đức Chí Tôn hay Thần, Thánh, Tiên, Phật (vô hình)
qua cơ bút, và sở dụng Phàm trần là giữ nhiệm vụ lập pháp và tư pháp trong tôn giáo. Cửu Trùng
Đài là phần hữu hình tức là phần xác của Đạo, nhân sự do tín đồ công cử hoặc Đức Chí Tôn ban
thưởng. Về phần hữu hình, Cửu Trùng Đài có 2 nhiệm vụ là hành pháp, và lo về hành chánh quản
trị của Đạo.
NGŨ GIỚI CẤM ĐỐI VỚI NGƯỜI TÍN ĐỒ CAO ĐÀI :
1. Không giết hại các sinh vật (vì chúng đều có Sanh hồn do Thượng Đế ban cho);
2. Không gian tham (để tránh khỏi sa đọa vào vật chất vì nhu cầu sở hữu và thống trị). Chính
sự tiến bộ của xã hội hiện nay mà tất cả dường như khêu gợi lòng kiêu ngạo và thèm khát
giàu có;
3. Không dùng cao lương mỹ vị :
o Không ăn thịt thú vật (phải ăn chay).
o Không uống rượu (vì nó làm hại thể xác và chơn thần).
4. Không tà dâm (việc nầy đưa chúng ta vào nghiệp ác).
5. Không phạm tội bằng lời nói
Thiên Chúa giáo
Công giáo mà cơ bản là Thiên Chúa giáo và Tin lành là hai hệ phái phát triển mạnh ở Tây
Ninh. Ở đây có các nhà thờ nổi tiếng như Nhà thờ Tha la ở Trảng Bàng, nhà thờ Phong Cốc ở
Châu Thành
Phật giáo:
Vốn có từ lâu đời ở Tây Ninh với đầy đủ các hệ phái. Cơ bản là Nam tông và Bắc Tông.
Các Chùa nổi tiếng như: Chùa Phước Thành, Chùa Núi Cậu, Chùa Bà (Núi Bà), Chùa Cẩm Phong,
Chùa Bửu Sơn.. Hệ Ni giới cũng phát triển khá mạnh ở Tây Ninh với các thiền viện. Nổi tiếng
nhất trong cả nước là Chùa Am, một hệ phái tu tập do người Tây Ninh sáng lập.
16. Lễ hội
2.1 Hội Yến Diêu Trì Cung 會宴瑤池宮
Hội: Nhiều người tụ họp lại.
Yến: tiệc rượu.
Diêu Trì Cung: Cung của Đức Phật Mẫu nơi từng Trời Tạo Hóa Thiên.
Hội Yến Diêu Trì Cung là một cái tiệc long trọng của các tín đồ Cao Đài đãi Đức Phật
Mẫu và Cửu vị Tiên Nương.
Hằng năm, vào đêm rằm Trung Thu (15 tháng 8 âm lịch), tại Báo Ân Từ, Đền Thờ Đức
Phật Mẫu trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh, Hội Thánh có tổ chức một buổi lễ long trọng gọi là
Hội Yến Diêu Trì Cung, trong đó có một cái tiệc dâng Tam Bửu: Hoa Quả, Rượu, Trà lên Đức
Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương.
Gốc tích Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung.
156
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Cuộc Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung được tổ chức theo sự tích có từ năm Ất Sửu (1925), khi
chưa Khai Đạo. Đức Chí Tôn lúc đó còn ẩn danh, chỉ xưng là Đấng A Ă Â, dạy 3 ông: Cao Quỳnh
Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, làm một cái tiệc chay đãi 10 Đấng vô hình ở Diêu Trì Cung
là: Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương. Sau khi đãi tiệc Hội Yến Diêu Trì xong, Đức Phật Mẫu
và Cửu vị Tiên Nương giáng cơ cám ơn ba ông: Tắc (Đức Hộ Pháp), Cư (Đức thượng Phẩm),
Sang (Đức Thượng Sanh), và sau đó mỗi vị giáng cho một bài thi 4 câu để làm kỷ niệm buổi Hội
Yến đầu tiên nầy.
CỬU THIÊN NƯƠNG NƯƠNG
Cửu kiếp Hiên Viên thọ sắc Thiên,
Thiên Thiên Cửu phẩm đắc cao huyền.
Huyền hư tác thế Thần Tiên Nữ,
Nữ hảo thiện căn đoạt Cửu Thiên.
NHỨT NƯƠNG: HOA thu ủ như màu thẹn nguyệt,
Giữa thu ba e tuyết đông về.
Non sông trải cánh Tiên lòe,
Mượn câu thi hứng vui đề chào nhau.
NHỊ NƯƠNG: CẨM tú văn chương hà khách đạo?
Thi Thần tửu Thánh vấn thùy nhân?
Tuy mang lấy tiếng hồng quần,
Cảnh Tiên còn mến, cõi trần anh thư.
TAM NƯƠNG: TUYẾN đức năng thành đạo,
Quảng trí đắc cao huyền.
Biển mê lắt lẻo con thuyền,
Chở che khách tục, cửu tuyền ngăn sông.
TỨ NƯƠNG: GẤM lót ngõ chưa vừa gót ngọc,
Vàng treo nhà ít học không ưa.
Đợi trông nho sĩ tài vừa,
Đằng giao khởi phụng khó ngừa Tiên thi.
NGŨ NƯƠNG: LIỄU yểu điệu còn ghen nét đẹp,
Tuyết trong ngần khó phép so thân.
Hiu hiu nhẹ gót phong trần,
Đài sen mấy lượt gió thần đưa hương.
LỤC NƯƠNG: HUỆ ngào ngạt đưa hơi vò dịu,
157
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Đứng tài ba chẳng thiếu tư phong.
Nương mây như thả cánh hồng,
Tiêu Diêu phất phướn, cõi tòng đưa Tiên.
THẤT NƯƠNG: LỄ bái thường hành tâm đạo khởi,
Nhân từ tái thế tử vô ưu.
Ngày xuân gọi thế hảo cừu,
Trăm duyên phước tục khó bù buồn Tiên.
BÁT NƯƠNG: HỒ HỚN HOA SEN TRẮNG nở ngày,
Càng gần hơi đẹp lại càng say.
Trêu trăng hằng thói dấu mày,
Cợt mây tranh chức Phật đài thêm hoa.
CỬU NƯƠNG: KHIẾT sạch duyên trần vẹn giữ,
Bạc Liêu ngôi cũ còn lời.
Chính chuyên buồn chẳng trọn đời,
Thương người noi Đạo, Phật Trời cũng thương
2.2 Lễ hội núi Bà Đen
Hàng năm vào dịp xuân về, từ chiều 30 tết nguyên Ðán đến suốt tháng Giêng, tháng Hai
âm lịch - nhất là ngày rằm tháng Giêng, du khách trong tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh
khác ở Nam Bộ đổ về hành hương, lễ bái và tham quan du lịch rất đông đúc.
Từ chân núi, khách trẩy Hội phải đi bộ và leo núi. Ðến lưng chừng núi khách vào lễ đền
Linh Sơn Thánh Mẫu rồi nghỉ ngơi. Ai khoẻ chân lại tiếp tục đường mòn leo núi để lễ chùa. Nơi
đây, nhà chùa có cơm chay đãi khách, khách cứ việc dùng rồi cúng tiền vào chùa, có hoặc không,
nhiều hoặc ít tuỳ tâm. Thậm chí nếu khách muốn lưu lại chùa một, hai ngày vẫn được nhà chùa
thết đãi nồng hậu - vì rằng ở chốn tu hành, đồng tiền không có nghĩa và người mộ đạo ai cũng như
ai. Lên cao chút nữa, gần đỉnh núi là Miếu Sơn Thần. Dừng tại đây, du khách có cảm giác nhiều
đám mây còn bay dưới chân mình và từ đấy có thể ngắm toàn ảnh hồ nước Dầu Tiếng - Một công
trình thuỷ lợi đẹp và lớn ở nước ta hiện nay. Những năm gần đây mỗi mùa Xuân tới, dân chúng
Nam Bộ kéo tới lễ Ðiện Bà đông như nước chảy. Mọi người tin rằng lễ Ðiện Bà để cầu phù hộ,
giải toả nhu cầu tâm linh, cũng nhân dịp du lịch ngắm phong cảnh hùng vĩ của Núi Bà.
17. Nghệ thuật truyền thống
“Vùng đất Tây Ninh giáp với Miên,
Dân ta khai khẩn dựng đồn điền
Lập thành một phủ trong Gia Định
Sử liệu Nam triều đã lược biên. . .”
*
“Quê tôi đấy Tây Ninh miền biên giới
Nẻo thông thương Bến Sỏi nối Tầm Long
158
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Êm êm nước chảy xuôi dòng
Trầm buồn bằng một con sông lặng lờ. . .
Quê tôi đấy danh lam thắng cảnh
Núi Điện Bà dưới ánh tà huy
Là đây hùng vĩ uy nghi
Quê tôi đấy “kỳ quan tòa thánh”
Cảnh địa phương đâu sánh cho bằng. . .
Quê tôi đấy chiều nay gió lộng
Gởi chút lòng tha thiết với quê hương.”
Ngoài những câu ca dao, dân ca của đồng bào người Kinh, còn có những bài của đồng bào
các dân tộc ít người Tây Ninh. Do thông qua con đường truyền khẩu, chỉ được lưu giữ bằng ký ức
nên nhiều bài dân ca không tránh khỏi hiện tượng “tam sao, thất bản”. Có nghệ nhân ngày xưa
thuộc đến vài chục bài nhưng hiện nay chỉ còn có thể nhớ được một vài bài. Theo lời kể, ở ấp
Chăm, xã Suối Dây, huyện Tân Châu xưa còn lưu giữ những bài trường ca cổ của người Chăm
trên sách bằng lá thốt nốt, tiếc thay bây giờ đã bị thất lạc cả. Những nghệ nhân trẻ tuổi hiện nay
không thể nhớ được tên của các bậc cao niên đã truyền lại các bài dân ca cho mình. Cũng có
trường hợp nghệ nhân là người Kinh, như ông Tạ Ngọc Lắm ở xã Hoà Hiệp, huyện Tân Biên lại
nhớ được nhiều bài dân ca Khmer hơn cả chính những người Khmer sống cùng địa phương.
Về thể loại, dân ca người Chăm, người Tà Mun thường là những bài tự sự như câu chuyện
kể trong khi đa số dân ca của người Khmer là các bài giao duyên nam, nữ. Nếu nói dân ca là một
loại hình nguyên hợp (hát kết hợp với múa và nhạc đệm) thì trường hợp này chỉ đúng với dân ca
Khmer mà không đúng với dân ca Chăm và Tà Mun. Dân ca Chăm thường ở thể tự sự, hát đơn độc
một mình, do đó dễ bị mất đi. Dân ca Tà Mun với làn điệu và ca từ còn mơ hồ chưa rõ nét, có nghệ
nhân thuộc và hát nhưng không hiểu hết ngữ nghĩa của bài hát và mỗi lần hát là một lần thay đổi
nhỏ về làn điệu. Vì vậy, sự lưu giữ các bài dân ca này cũng không bền vững vì không định hình rõ
nét trong ký ức của nghệ nhân. Dân ca Khmer, hầu hết là các bài Rom Vuông (Lâm Thôn- múa đôi
hoặc múa vòng tròn) và một ít bài là Rom Saravan (múa lối Saravan). Vì thế, các bài dân ca
Khmer dễ lưu giữ trong trí nhớ hơn vì khi diễn xướng có nhiều người cùng tham gia (nhiều người
cùng nhớ).
Giống như dân ca người Kinh, tình yêu đôi lứa hay sự giao lưu của nam, nữ thường được
đề cập trong các bài dân ca dân tộc thiểu số. Điều này thấy rõ trong các bài dân ca Khmer như:
chàng trai cảm thấy mình quá nghèo nên không thể đến được với người mình yêu (Snai ư snai đot
chưnmik - Tình yêu tựa chân trời), hay cô gái chỉ chọn người yêu là người độc thân chứ không
phải nhất thiết là người giàu có (Smắk bòn đairư on srây - Em có thích anh không?). Ngay cả trong
dân ca Chăm cũng có bài “Kà ta gâu” (Chim cúc cu) nói về tiếng gọi tình yêu của chàng trai như
tiếng nỉ non của con chim cu trống gọi chim cu mái đến với mình. Dân ca Tà Mun thì có bài
“Hành mu mi” (Đi rẫy) là những lời tỏ tình của đôi trai gái trong lúc lao động ở rẫy vườn.
Về lời và làn điệu trong một số bài dân ca Khmer, Chăm và Tà Mun cũng đã có sự giao
thoa với các dân tộc cận cư. Thấy rõ nhất trong bài trường ca dân tộc Chăm “Nài ktớk” (Cô gái
lùn) có làn điệu rất giống với dân ca người Chăm Bà La Môn ở Ninh Thuận (người Chăm ở Tây
Ninh theo Hồi giáo Bà Ni - Hồi giáo bản địa). Các bài dân ca Khmer như: Okhec SiemRiep (Ở tận
Siêm Riệp), Srây sroc đrâm đrây(Khen cô gái đẹp), Ao kầmpi pui (Hoa bông súng)… có gốc gác
tại Campuchia vì người hát đã được học từ nghệ nhân ở Campuchia. Hay bài dân ca Tà Mun “Cà
pâu sa pía” (Chẳng dám đuổi trâu) có thang âm trong làn điệu rất giống dân ca của người Khmer.
18. Danh thắng và các công trình kiến trúc
159
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
1. Núi Bà Đen
Đây là ngọn núi cao nhất Nam bộ, 986 m, có mây phủ ngọn quanh năm nên núi có tên chữ
là Vân Sơn. Bên cạnh tên núi Một, người ta còn gọi là núi Điện Bà, theo huyền thoại: Xưa kia cô
Lý Thị Thiên Hương ở Trảng Bàng đẹp lộng lẫy, do tình duyên trắc trở, bỏ lên núi và bị bọn cướp
giết chết, xác khô đen. Một tương truyền khác, vào khoảng nửa cuối thế kỷ 18, thời Trịnh Nguyễn
phân tranh, dân chúng lầm than.
Lúc ấy có thanh niên Lê Sĩ Triệt, quê ở Quang Hóa, nay là Trảng Bàng (Tây Ninh) tài cao,
chí lớn, vì nước nhà nên chia tay người yêu là Lý Thị Thiên Hương lên đường phò Nguyễn Huệ
giữ nước. Lý Thị Thiên Hương là cô gái xinh đẹp với làn da bánh mật và có đức hạnh. Người yêu
lên đường vì nghĩa lớn, cô ở nhà sống trong vòng vây của cường hào ác bá nhưng vẫn một lòng
chung thủy với người yêu. Một hôm, cô bị cưỡng bức, vì giữ tiết hạnh nên cô gieo mình xuống núi
quyên sinh. Ít lâu sau, Thiên Hương về báo mộng cho sư trụ trì chùa núi biết nơi thân thể cô đang
bị gió sương bào mòn. Thi thể khô đen của cô được đem về mai táng, phụng thờ. Vì sự linh thiêng
của cô, người ta gọi cô là Bà Đen, cùng tụ họp trên núi chiêm bái và cầu nguyện xin cô phù hộ độ
trì. Từ đó, nhà chùa cho lập đền thờ để nhân dân tiện cúng bái. Việc hành hương về chùa vào mùa
xuân - lễ Thượng ngươn, còn gọi là Hội xuân núi Bà - đã trở thành tập tục tâm linh quen thuộc từ
đây.
Núi Bà Đen nằm cách thị xã Tây Ninh khoảng 8 km. Quần thể di tích núi Bà trải rộng 24
km... Đây là nơi cây cối xanh tươi, đường lên núi quanh co, uốn khúc với gập ghềnh đá núi thiên
nhiên, lắm nơi với bậc cấp được tráng xi măng thẳng thớm. Vừa leo núi, vừa ngắm nhìn phong
cảnh xung quanh tưởng không gì thú vị bằng, bao nhiêu nhọc mệt đường dốc cao hình như tiêu
tan. Lên cao, nhìn về hướng Đông Nam, sẽ thấy ngọn núi Phụng, nhìn về Tây Bắc ngọn núi Heo
và núi Phụng xanh biếc rừng cây. Lên đến chùa Vân Sơn, bạn sẽ thấy một hồ nước trong veo, lặng
im soi bóng cây rừng.
Điểm đến quan trọng nhất tại núi Bà là Điện Bà. Hệ thống Điện Bà gồm có chùa Hạ, chùa
Trung, chùa Thượng, chùa Hang và một số hang động được các tăng ni, phật tử sửa chữa làm nơi
thờ tự như động Thanh Long, động Ông Hổ, động Ba Cô, động Ba Tuần, động Thiên Thai, động
Ông Tà...
Để lên Điện Bà, có nhiều cách. Đến Khu di tích lịch sử văn hóa núi Bà Đen, đi xe lửa
(bánh cao su) hoặc xe điện đến chân núi rồi đi cáp treo hoặc máng trượt. Hệ thống máng trượt có
hai tuyến: tuyến lên (tuyến kéo) dài khoảng 1.190 m và tuyến xuống (tuyến trượt) dài khoảng
1.700 m. Máng trượt có bánh cao su, có thắng tay, an toàn. Nhưng có rất nhiều người đi bộ, chỉ
mất khoảng 1 tiếng đồng hồ, lên tới Điện Bà, dù phải vượt qua bao tảng đá gập ghềnh, bao bậc cấp
tráng xi măng phẳng phiu, đầy nhọc mệt. Có như vậy mới thấy thú vị của việc dùng đôi chân mình
lên núi, dù phải nghỉ dọc đường nhiều lần tại những quán hàng hoặc nhà nghỉ chân với chai nước
ướp lạnh và cây quạt giấy là cơ thể khỏe khoắn ngay.
Đến Điện Bà (Linh Sơn Thánh mẫu) và chùa Bà Đen (Linh Sơn Tiên Thạch tự) không khí
thoáng đãng, dù rất đông khách hành hương. Khói nhang phủ trùm cả bên trong, bên ngoài điện và
chùa trong ánh đèn điện và đèn cầy lập lòe, huyền ảo. Cúng viếng Phật và Bà xong, nếu muốn, có
thể dùng bữa cơm chay với ba món: canh, xào, mặn khá ngon miệng. Sau đó, tùy lòng hảo tâm,
cúng hoặc không cúng vào thùng phúc đức cũng được. Nếu ở lại vào buổi chiều, nhất là nghỉ đêm
trên núi, sẽ được chứng kiến cảnh quang hoang sơ và tĩnh lặng không đâu có tại quần thể có tên
Ma Thiên Lãnh. Hiện, quần thể này đang được địa phương đầu tư xây dựng thành khu du lịch có
bản sắc riêng, hấp dẫn.
Chuyến lên mệt mỏi vì “trèo non”, chuyến xuống có thể dùng cáp treo hoặc máng trượt.
Chỉ mất khoảng 20 phút là đã xuống tới chân núi, sau khi nhàn nhã ngồi trong xe hoặc thùng cáp
treo ngắm nhìn quang cảnh núi Bà Đen hùng vĩ với màu xanh ngút mắt, điểm xuyết những khóm
hoa kiểng nên thơ giữa núi rừng xanh biếc, là chuyến hành hương nhiều xúc cảm. Tuy nhiên, kinh
nghiệm cho biết, chuyến lên nên đi cáp treo hoặc máng trượt, chuyến xuống đi bộ. Như vậy đỡ
160
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
mệt. Vì khi lên, càng cao, không khí càng loãng, cộng với việc vượt dốc sẽ khiến đã mệt càng
thêm mệt. Xuống núi, tìm một hàng quán ăn uống lấy lại sức. Hàng quán bán đủ thứ: cơm, canh,
xào, hủ tiếu, mì, phở. Đặc sản Tây Ninh có bánh canh Trảng Bàng và bánh tráng phơi sương Trảng
Bàng - hai thức ăn làm nên danh phận của Tây Ninh với khách phương xa.
2. Toà Thánh Cao Đài Tây Ninh
Hàng năm, cứ vào ngày mùng tám tháng giêng và rằm tháng tám âm lịch Toà Thánh Tây
Ninh lại đón hàng vạn khách hành hương về dự lễ vía Đức Chí Tôn và Hội Yến Diêu Trì Cung.
Đây là một nét văn hoá đặc sắc của bà con tín đồ Cao Đài.
Tòa Thánh Tây Ninh, còn được gọi là Đền Thánh, là Tổ Đình, là Tòa Thánh Trung Ương
của Đạo Cao Đài, hiện nay tọa lạc tại xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách
Thị Xã Tây Ninh khoảng 5 Km về hướng Đông Nam, thuộc Miền Nam nước Việt Nam.
Đây là một ngôi Đền đồ sộ, nguy nga, đặc sắc, để thờ phượng Đấng Chí Tôn Ngọc Hoàng
Thượng Đế, các vị Giáo chủ Tam Giáo và Ngũ Chi Đại Đạo, cùng các Đấng Thần, Thánh, Tiên,
Phật.
Gọi Tòa Thánh Tây Ninh là Tổ Đình, vì đây là nơi phát xuất của Đạo Cao Đài, là nơi đặt
các cơ quan trung ương của Hội Thánh Cao Đài, tức Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, để điều
hành toàn bộ các hoạt động truyền giáo và cứu độ nhơn sanh.
Tòa Thánh được khởi công xây dựng từ năm 1931 (Tân Mùi), hoàn thành vào năm 1947
(Đinh Hợi), và được khánh thành vào dịp Đại Lễ Vía Đức Chí Tôn ngày mùng 9 tháng Giêng năm
Ất Mùi (DL 01 - 02 - 1955).
Đứng trước Tòa Thánh, chỗ khoảng sân rộng có cột phướn, nhìn thẳng vào Tòa Thánh,
chúng ta thấy nổi bật 2 tháp vuông lớn, cao vút, song song nhau. Đó là Bạch Ngọc Chung Đài và
Lôi Âm Cổ Đài, thường gọi là Lầu Chuông và Lầu Trống. Mỗi tháp đều có 6 từng không đều
nhau, có mái ngắn bao quanh phân chia các từng.
Từng dưới cùng (từng trệt) của 2 tháp nầy có 2 khuôn bông lớn hình chữ nhựt, ở giữa có 2
chữ Nho lớn trong hình bầu dục, bên Lầu Trống là chữ CAO và bên Lầu Chuông là chữ ĐÀI
Bên trên khuôn bông này là 4 ô hình tròn có gắn 4 chữ Nho : Bên Lầu Trống 4 chữ LÔI
ÂM CỔ ĐÀI và bên Lầu Chuông 4 chữ BẠCH NGỌC CHUNG ĐÀI.
Từng kế bên trên, ở bên Lầu chuông có đắp tượng Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung
mặc Đạo phục đứng trên quả địa cầu, tay mặt cầm quyển Thiên thơ; và ở bên Lầu Trống thì có đắp
tượng Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh, mặc Đạo phục đứng trên quả địa cầu, tay mặt cầm một
nhánh bông, tay trái xách giỏ Hoa lam. Từng thứ ba kế bên trên, ngắn hơn 2 từng dưới, mỗi bên có
gắn 2 bông gió để thông hơi.
Lên từng thứ tư, bề cao dài nhứt, giữa hình chữ T rất lớn màu trắng có đắp hình một bó hoa
lớn, màu sắc sặc sỡ, như đang rơi xuống biển, dưới ánh bình minh, còn 3 phía hông còn lại thì gắn
những khung lá sách sơn màu xanh. Bên trong từng thứ tư nầy, bên Lầu trống có đặt 1 cái trống
lớn, gọi là Lôi Âm Cổ, và bên Lầu chuông đặt một cái chuông lớn gọi là Bạch Ngọc Chung. Khi
đánh chuông hay đánh trống, âm thanh vang rền truyền đi rất xa để thức tỉnh những người đang
còn chìm đắm trong giấc mộng trần.
Từng thứ năm và thứ sáu có 4 cạnh dần dần nhỏ lại, và 4 bên đều có gắn các khuôn bông
thông gió, trang trí với nhiều màu sắc rất đẹp. Nơi từng thứ sáu là từng chót, cao nhứt, có làm lan
can bao quanh, để du khách có thể lên đứng trên đó nhìn thấy khung cảnh toàn vùng Thánh địa.
Trên nóc Lầu chuông và Lầu trống, mỗi bên đều có đắp hình 3 Bửu pháp : Bên dưới là Giỏ
Hoa lam, bên trên là cái Bầu Hồ lô và một cây Gậy. Hồ lô và cây Gậy là bửu pháp của Đại Tiên
Lý thiết Quả, đứng đầu Bát Tiên, mà trong thời ĐĐTKPĐ nầy, Ngài vâng lịnh Đức Chí Tôn giáng
161
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
trần là Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung; còn Giỏ Hoa lam là bửu pháp của vị Long Nữ, đệ tử
của Đức Quan Âm Bồ Tát, vâng lịnh Chí Tôn giáng trần là Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh.
Giữa Lầu chuông và Lầu trống là một kiến trúc 3 từng (một trệt, 2 lầu) gọi chung là Hiệp
Thiên Đài, mà phía trước có một bao lơn hình bán nguyệt rất lớn, gọi là Vinh Dự Công Lao Chi
đài, gọi tắt là Đài Danh dự. Trên bao lơn có dựng một cây cột cờ, hơi xiên ra ngoài để treo lá cờ
Đạo vào những ngày lễ trong Đạo.
Chống đỡ bao lơn nầy có 4 cây cột, chia ra mỗi bên 2 cây đặt kế nhau : Một cây có đắp
hình con rồng đỏ quấn xung quanh cột, một cây đắùp hình các hoa sen, lá sen và cọng sen quấn
chung quanh cột, để 2 cây cột rồng và sen đó ghép lại tượng trưng 2 chữ LONG HOA. (Long là
rồng, Hoa là bông). Trên vành bao lơn có đắp 8 khuôn hình ghi lại 8 Điển tích tượng trưng 8
ngành nghề trong dân chúng : Sĩ, Nông, Công, Thương, Ngư, Tiều, Canh, Mục. Hai bên cửa chánh
của từng trệt Hiệp Thiên Đài (HTĐ), sát vách Lầu chuông và Lầu trống, có đắp pho tượng 2 vị
Thiên Thần : Ác và Thiện, thường gọi là Ông Ác và Ông Thiện
Tòa nhà HTĐ 3 từng ấy có từng trệt được gọi là Tịnh Tâm Điện, lầu kế bên trên Tịnh Tâm
Điện được gọi là Lầu Hiệp Thiên Đài, vì có lập Bàn thờ 15 vị Chức sắc cao cấp nhứt của HTĐ, và
từng nầy thông ra bao lơn hình bán nguyệt như đã nói ở trên. Phía trước Lầu HTĐ, ở 2 bên bìa có
bông 2 chữ Nho đại tự là NHƠN và NGHĨA .
Phía dưới 2 chữ NHƠN NGHĨA nầy là đôi liễn Hiệp Thiên Đài, khởi đầu bằng 2 chữ HIỆP
và THIÊN :
Hiệp nhập Cao Đài, bá tánh thập phương qui chánh quả,
Thiên khai Huỳnh đạo, Ngũ chi Tam giáo hội Long Hoa.
Nghĩa là :
- Hiệp vào Đạo Cao Đài, nhơn sanh khắp nơi được trở về ngôi Chánh quả,
- Trời mở Đạo Cao Đài, các Đấng trong Ngũ Chi Đại Đạo và trong Tam giáo tham dự Đại
Hội Long Hoa.
Từng lầu bên trên hết được gọi là Phi Tưởng Đài, cũng gọi là Thông Thiên Đài, xưa gọi là
Tiêu Diêu Điện, nơi mặt tiền phía trước có đắp hình Thiên Nhãn rất lớn, chỗ lan can trước Thiên
Nhãn có đắp hình Cổ pháp Tam giáo : bình Bát vu (tượng trưng Phật giáo), cây Phất chủ (tượng
trưng Tiên giáo), sách Xuân Thu (tượng trưng Nho giáo).
Trên nóc của Phi Tưởng Đài có đắp tượng của Đức Phật Di-Lạc (Di-Lạc Vương Phật) ngự
trên tòa sen đặt trên lưng một con cọp vàng. Con cọp ấy tượng trưng năm Bính Dần (1926) là năm
Khai Đạo Cao Đài.
Bước qua bên cạnh, nhìn vào phía hông Tòa Thánh, chúng ta thấy bên trên có 3 từng mái
đỏ cong cong, đúc bằng bê-tông, nhưng trang trí như lợp ngói móc, bên trên nóc nhô lên 2 cái tháp
cao : một cái có hình vuông bên dưới hình tròn bên trên gọi là Nghinh Phong Đài, và một cái hình
tám cạnh gọi là Bát Quái Đài. Nghinh Phong Đài nằm ở chính giữa Cửu Trùng Đài, và phần Cửu
Trùng Đài gồm có 9 lồng căn có mái ngói đều sơn màu đỏ, còn phần Bát Quái Đài, mái ngói đều
sơn màu vàng.
Như vậy, Tòa Thánh gồm có 3 phần :
- Phần trước là Hiệp Thiên Đài (HTĐ), 2 bên có 2 tháp vuông rất cao là Lầu chuông và Lầu
trống.
- Phần giữa là Cửu Trùng Đài (CTĐ) có tháp tròn là Nghinh Phong Đài.
- Phần cuối là Bát Quái Đài (BQĐ), có tháp cao hình 8 cạnh Bát quái.
Nóc của Nghinh Phong Đài là một bán cầu úp xuống, trên đó có vẽ họa đồ Ngũ Châu và
Ngũ Đại dương, để tượng trưng Địa cầu của nhơn loại chúng ta đang sống, và trên bán cầu nầy có
162
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
đắp hình một con Long mã phụ Hà đồ, đang bỏ vó chạy về hướng Tây, nhưng ngoái đầu lại nhìn
về hướng Đông.
Ngay phía dưới Nghinh Phong Đài là hai cửa hông ở hai bên đi vào Chánh điện Tòa
Thánh.
Còn trên nóc của Bát Quái Đài, đắp một tòa sen lớn, trên đó có 3 vị Cổ Phật là: Brahma
Phật, Civa Phật, và Christna Phật.
Bên dưới Bát Quái Đài, mỗi bên có xây một cầu thang đi lên, hai bên mỗi cầu thang đều có
đắp hình 2 con Kim Mao Hẩu màu vàng, trông rất oai vệ.
Nơi 2 cửa hông Tòa Thánh bên dưới Nghinh Phong Đài, cũng có làm 2 cầu thang đi lên ,
và mỗi cầu thang đều có đắp hình 2 con Kim Mao Hẩu như nơi Bát Quái Đài.
Hai bên hông Tòa Thánh là một dãy hành lang rộng, đi từ trước bọc ra sau, thông hai bên.
Hành lang có nhiều bực giống như bên trong Tòa Thánh, từ thấp ở phía trước, dần lên cao ở phía
sau.
Chống đỡ mái hiên hành lang là một hàng cột tròn bao quanh Tòa Thánh , đếm được tất cả
là 112 cây cột.
Dưới mái hiên, trên đường viền giữa các cây cột, có trang trí hình dây nho, lá và trái nho;
bên trên có một khuôn tròn vẽ hình 2 con hạc bay lúc mặt Trời mới mọc.
Phía trong hành lang là vách Tòa Thánh, giữa mỗi căn có một khuôn bông sen rất lớn gồm những
bông sen, lá sen và cọng sen, đỡ một khung có hình Thiên Nhãn ở chính giữa một tam giác đều, có
làm những tia hào quang phát ra.
Chung quanh Tòa Thánh có tất cả 23 khuông bông sen có hình Thiên Nhãn, hiệp với Thiên
Nhãn trên Phi Tưởng Đài phía trước Tòa Thánh, tổng cộng là 24 Thiên Nhãn.
Chúng ta trở lại phía trước để chuẩn bị đi vào Tòa Thánh theo lối cửa chánh, quan sát bên
trong Tòa Thánh.
Chúng ta bước lên bực thềm 5 cấp bằng đá mài màu nâu. Năm cấp thềm nầy tượng trưng 5
cấp tiến hóa của người tu phải trải qua khi đạt đến Phật vị. Đó là : Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh
đạo, Tiên đạo và Phật đạo.
Lên đến thềm, có 4 cây cột lớn, mỗi bên 2 cây đứng kế nhau, một cây có hình rồng màu đỏ
quấn quanh, một cây có hình cọng sen và bông sen quấn quanh. Hai cây cột có quấn rồng và bông
sen nầy nầy tượng trưng 2 chữ LONG HOA (Long là rồng, Hoa là bông).
Chúng ta đứng ngước nhìn lên phía trên, thấy một bức họa, trên đó vẽ một bàn tay từ trong
mây đưa ra cầm cây Cân đặt trên quả địa cầu của nhơn loại. Đó là bàn tay của Đấng Thượng Đế
cầm cây Cân Công Bình thiêng liêng để cân TỘI và PHƯỚC của mỗi người sau khi qui liễu, để có
sự thưởng phạt công bình cho mỗi linh hồn.
Hai bên cửa chánh, chúng ta lại thấy 2 pho tượng lớn :
- Phía sát vách Lầu chuông là tượng của vị Thiện Thần, mà người đạo quen gọi là Ông
Thiện, có gương mặt hiền từ, tay cầm cây siêu cán dài, đứng trên tòa sen (Liên đài).
- Phía sát vách Lầu trống là pho tượng của vị Ác Thần, mà người đạo quen gọi là Ông Ác,
có gương mặt dữ tợn, tay mặt cầm một cái búa lớn, tay trái cầm cục Ngọc tỷ, đứng trên tòa
lửa (Hỏa đài).
Phía sau 4 cây cột tròn sơn sọc xanh là tới cửa chánh làm bằng gỗ quí, gồm một cửa lớn ở
giữa và hai cửa nhỏ ở hai bên, được đánh vẹc ni màu sậm bóng láng. Hai cây cột hai bên cửa lớn
có hình vuông, trên đó có cẩn đôi liễn Hiệp Thiên Đài bằng chữ Nho, khởi đầu bởi 2 chữ Hiệp
Thiên :
163
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
- HIỆP nhập Cao Đài bá tánh thập phương qui chánh quả,
- THIÊN khai Huỳnh Đạo, Ngũ Chi Tam Giáo hội Long Hoa.
Bên trong cửa chánh là một khoảng rộng, gọi là Tịnh Tâm Điện, là nơi để cho các tín đồ
giữ lòng trong sạch, loại bỏ các tư tưởng không tốt, trước khi vào Chánh điện bái lễ Đức Chí Tôn.
Một bức vách chắn ngang ngăn cách Tịnh Tâm Điện và phần Chánh điện bên trong, trên đó
có một bức họa thật lớn, gọi là bức họa TAM THÁNH KÝ HÒA ƯỚC.
Trên bức họa nầy có họa hình 3 vị :
- Đức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Thánh hiệu là Thanh Sơn Đạo Sĩ (hay Thanh Sơn
Chơn Nhơn), mặc triều phục Việt Nam, cầm bút lông, đang viết câu chữ Nho :
Thiên thượng Thiên hạ - Bác Ái Công Bình
- Đức Victor Hugo, đại văn hào của nước Pháp, Thánh hiệu là Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, mặc
triều phục nước Pháp, cầm bút lông ngỗng, đang viết câu chữ Pháp :
DIEU et HUMANITÉ - AMOUR et JUSTICE
Đức Tôn Dật Tiên, tức là Tôn Văn, nhà Đại Cách Mạng của nước Trung Hoa, Thánh hiệu là Trung
Sơn Chơn Nhơn, cầm nghiên mực đỏ, để cho 2 vị kia chấm bút lông vào đó mà viết chữ trên tấm
bia đá chiếu hào quang. Đó là bảng Đệ Tam Thiên Nhơn Hòa Ước, tức là bảng giao kết giữa Trời
và Người.. Cả 3 vị Thánh đều đứng trên mây, nghiên mực và bia đá đều tỏa hào quang.
3. Hồ Dầu Tiếng
Với 27.000 ha mặt nước trong đó có 4.560 ha đất bán ngập, dung tích 1,5 tỷ m3, với mực
nước dao động từ 17 - 24 m; Hồ có tọa độ địa lý từ 11036’25” đến 11036’15” vĩ độ Bắc và
106010’49” đến 106029’07” kinh độ Đông trên địa bàn huyện Dương Minh Châu, cách thị xã Tây
Ninh hơn 25 km về phía Đông Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Bắc.
Hồ có hình chữ V cao dần về phía Bắc. Hai bên nhánh của hồ về hướng Tây Bắc là núi Bà
Đen, phía Đông Bắc là dãy Núi Cậu cao 350 - 500 m.
Tây Ninh hiện đang qui hoạch tổng thể du lịch sinh thái Hồ nước Dầu Tiếng và kêu gọi đầu
tư khu du lịch hồ Dầu Tiếng để biến nơi đây thành khu nghỉ dưỡng, giải trí, thể thao, công viên,
sân golf, công viên rừng, khu săn bắn, câu cá, bãi tắm, du thuyền, khách sạn, các môn thể thao trên
4. Tháp Chót Mạt
Khu đền tháp được xây dựng trên gò đất đắp cao giữa cánh đồng, ngày nay thuộc ấp Xóm
Mới, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ngôi tháp mang tên Chót Mạt được xây dựng
khoảng thế kỷ 8 đã được Bộ VHTT công nhận di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 937/QĐ-
BT ngày 23/7/1993.
Tháp Chót Mạt, được xây dựng bằng hai loại vật liệu chính là gạch khổ lớn cao 7 x 18 x
25cm và đá phiếm. Hình dáng của tháp gần giống như tháp của người Chăm ở các tỉnh miền
Trung. Chân tháp rộng, các bức tường thẳng và dày, đỉnh tháp nhọn, các vỉa gạch được xếp chồng
khít lên nhau hầu như không có khe hở.
Bình diện tháp hình vuông, mỗi cạnh 5m, tháp cao trên 10m, các mặt vách, tháp quay ra
đúng hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Mặt chính hướng Đông, trước mặt là bàu nước "hình vuông"
cửa tháp đã sụp đổ nguyên phần vách chỉ còn lại những tấm mi cửa, gạch vụn nằm ngổn ngang ở
mặt Đông. Do bị sụp đổ nên đã mất phần chiều cao của tháp.
Ba mặt (Tây, Nam, Bắc) của tháp đều có cửa “giả” được xây nhô ra phía ngoài tường, trên
bề mặt đều chạm nổi hình người, hoa lá cách điệu và những họa tiết trang trí tinh xảo, do bàn tay
khéo léo của các nghệ nhân tạo nên.
164
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Tháp Chót Mạt là một trong ba đền tháp còn lại ở Nam Bộ (cùng với tháp Bình Thạnh -
Trảng Bàng còn tương đối nguyên vẹn và tháp Vĩnh Hưng - Vĩnh Lợi - Bạc Liêu). Ngoài ra các
đền tháp cổ còn lại ở Tây Ninh đã trở thành phế tích trải dài dọc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, là
đối tượng để nghiên cứu và giới thiệu của một nền văn minh từng phát triển trong qúa khứ . Đó là
nền văn minh ÓC EO
5. Tháp Cổ Bình Thạnh
Tháp cổ Bình Thạnh nằm phía hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, tọa lạc tại ấp Bình Phú, xã
Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh,là một trong những kiến trúc tháp cổ quý hiếm, tồn
tại gần như nguyên vẹn, tiêu biểu cho kiến trúc thuộc hậu nền văn hóa ÓC EO, có niên đại xây
dựng khoảng thế kỷ 8.
Nền tháp hình vuông, tháp cao 10m, mỗi cạnh 5m, các cạnh được xây dựng đúng bốn
hướng. Cửa chính mở về hướng Đông, trước mặt là một bàu "hình vuông", ba mặt Tây - Nam -
Bắc đều có cửa “giả” được đắp nổi các hoa văn, trang trí tinh xảo.
Cửa chính Đông được xây nhô hẳn ra ngoài "khung" cửa là bốn phiến đá nguyên được đục,
đẽo, mài nhẳn các cạnh, một tấm đặt ngang phía dưới, hai bên khoét hai lỗ tròn để gắn con "quay"
cánh cửa, tấm thứ tư đặt ngang phía trên tạo thành một khung cửa đá vững chắc, rộng 1m, cao 2m.
Mặt ngoài tháp trên cửa chính phía Đông gắn trên "mi cửa" là một phiến đá lớn, hình chữ nhật cao
0.80 x 2 m chạm nổi hình hoa cúc cách điệu, hai vách bên cửa chính cũng chạm nổi hai mảng phù
điêu. Do cửa chính và ba cửa "giả" đều được xây nhô ra ngoài, cùng với các mỏ típ trang trí được
xây lặp lại ở các phần thu nhỏ dần dần lên đỉnh tháp, tạo cho toàn bộ ngôi tháp có nhiều góc, cạnh,
cộng thêm vào các bức phù điêu được đắp nổi quanh ngôi tháp nên đã tôn tạo cho toàn bộ công
trình tháp là một kiến trúc vững chắc và công phu.
Về giá trị lịch sử: Đây là ngôi tháp duy nhất còn tường đá nguyên vẹn (kể từ khi phát hiện
năm 1886). Do vậy kiến trúc đền tháp Bình Thạnh đã trở thành cực kỳ hiếm hoi và quý giá trong
di sản kiến trúc dân tộc.
Đền Tháp cổ Bình Thạnh được xây dựng bằng gạch với kỹ thuật tương tự như ở các đền
Tháp Chăm nổi tiếng ở miền Trung nước ta. Kỹ thuật xây dựng này đã bị thất truyền từ lâu và vẫn
là một thách đố đối với khoa học. Các viên gạch được liên kết với nhau không bởi một chất kết
dính nào hiện biết. Chúng liền khít với nhau đến mức cho đến nay vẫn có người nghĩ rằng người
xưa đã xếp gạch mọc rồi nung cả khối Tháp. Tất nhiên là do quan niệm sai lầm, ngộ nhận, nhưng
rõ ràng phương pháp - kỹ thuật xây dựng ấy thật độc đáo, vô tiền khoáng hậu, đã khiến cả thế giới
khâm phục.
Về điêu khắc trang trí đền Tháp Bình Thạnh là những tác phẩm tuyệt mỹ. Các họa tiết phù
điêu không chỉ đẹp về tạo hình, tỉ mỉ đến trau chuốt trong tạo tác mà còn mang tính biểu tượng
cao.
Từ đền Tháp cổ Bình Thạnh và các phế tích đền tháp đương đại, chúng ta có thể tìm hiểu
về tôn giáo tín ngưỡng và tâm linh người xưa cũng như phong tục tập quán và đời sống văn hóa.
Do vậy kiến trúc đền Tháp cổ Bình Thạnh mang giá trị lịch sử - văn hóa - kiến trúc - nghệ
thuật có sức cuốn hút mang giá trị về mặt tham quan du lịch nghiên cứu khoa học rất lớn đối với
khách trong tỉnh, trong nước và khách quốc tế.
Đây là ngôi tháp duy nhất còn nguyên vẹn ở Nam Bộ. Do vậy kiến trúc đền tháp Bình
Thạnh đã trở thành hiếm hoi và quý giá, trong di sản kiến trúc của dân tộc.
Di tích kiến trúc tháp Bình Thạnh được Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hóa tại
Quyết định số 937/QĐ-BT ngày 23/7/1993.
165
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
6. Căn Cứ Ban An Ninh Trung Ương Cục Miền Nam
Theo quốc lộ 22B đến cửa khẩu Xa Mát, rẽ phải theo tỉnh lộ 792 vào khoảng 2,5km là Căn
cứ Ban an ninh Trung ương cục.
Đây là khu di tích - một địa điểm du lịch khá hấp dẫn, bởi cảnh quan rừng chiến khu được
bảo tồn, các di tích hầm hào, đường đi, nhà ở, ... được phục nguyên. Khu tôn tạo với nhiều hạng
mục công trình đẹp đã hòa quyện vào khu di tích với những điều kiện phương tiện phục vụ du lịch,
hội trại, thể thao và các hoạt động văn hóa khác.
Với hồ nước rộng lớn và các hàng cây nuôi trồng, cổng và bia di tích, nhà trưng bày với
hàng ngàn tư liệu, hình ảnh, hiện vật giới thiệu quá trình 15 năm chiến đấu trưởng thành của Ban
an ninh Trung ương cục miền Nam (1960-1975). Trong khu còn có 32 nhà bia của lực lượng an
ninh các tỉnh miền Nam, từ Quảng Trị đến Cà Mau. Mỗi địa phương một phong cách, một biểu
tượng riêng, khắc họa hình tượng truyền thống đặc thù của mỗi vùng đất, nhưng đều tập trung và
nêu bật bản anh hùng ca từ “Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng” đến Tây Nguyên bất khuất,
đến Quảng Đà trung dũng kiên cường. Từ Vũng Rô nổi sóng đến quê hương đồng khởi Bến Tre, từ
Ấp Bắc anh hùng đến Hòn Đất kiên trung, từ rừng Sác Nhà Bè đến Bình Long, Phước Long xây
chiến thắng. Từ U Minh Đồng Tháp đến Củ Chi đất thép thành đồng đều tụ hội về căn cứ đất Tây
Ninh, nơi căn cứ Bảy Bàu anh dũng, kiên trung một thời kháng chiến.
7. Căn Cứ Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam
Từ thị xã Tây Ninh qúy khách theo quốc lộ 22B đi hướng Tân Biên qua Ủy ban nhân dân
xã Tân Lập, rẽ trái 5km là tới di tích căn cứ Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam
Việt Nam (CPCMLTCHMNVN).
Khu di tích lưu giữ trong lòng rừng, lòng suối, cây cỏ của vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát
những chứng tích vẻ vang và qúy giá của một thời Nhà nước sinh ra từ nhân dân, cùng nhân dân
đánh giặc. Chính phủ cách mạng lậm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam mà lúc mới sinh thành
ngụy quyền Sài Gòn thường rêu rao là “Chính phủ Ma” thì chỉ 6 năm sau đã cùng những đoàn
quân giải phóng tiến về giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. một trang vàng
rực rỡ của lịch sử đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc Việt Nam vẫn còn sáng mãi trên vùng
đất căn cứ cách mạng miền Nam.
Trở lại khu di tích căn cứ của CPCMLTCHMNVN qúy khách sẽ được ôn lại truyền thống
đấu tranh chống Mỹ cứu nước và cuộc sống giản dị của nhân dân miền Nam bằng khu đón tiếp,
trưng bày của Ban quản lý, hội trường, bệnh viện, nhà khách, nhà ăn, văn phòng làm việc của các
cơ quan Chính phủ, Đài phát thanh giải phóng, còn có nhà bia kỷ niệm và nhà ở của các vị lãnh
đạo như: Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát, Phó chủ tịch - Luật sư Trịnh Đình Thảo, ông Nguyễn Văn
Kiệt, các vị Bộ trưởng Ung Ngọc Ky, Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Thị Bình, Bùi Thị Mè, ... Nhà có
loại nửa nổi, nửa chìm như Hội trường lớn, có loại có tầng hầm như Đài phát thanh giải phóng. Đa
số các nhà có hầm chữ A bên dưới, thông với hệ thống giao thông hào trong căn cứ ... Mái nhà lợp
lá trung quân như vẫn đang còn xanh ngắt giữa vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát, là một khu có hệ
sinh thái rừng nhiệt đới tuyệt vời, trường tồn vĩnh cửu với thời gian.
8. Căn Cứ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam
Từ trung tâm thị xã Tây Ninh theo quốc lộ 22B, quí khách theo hướng Tân Biên đến đồn
Biên phòng cửa khẩu Xa Mát, rẽ phải theo tỉnh lộ 792 đến cầu 15 bắc qua Suối Chò, rẽ trái theo
đường mòn khoảng 2km thì đến khu di tích. Căn cứ nằm trong rừng già nguyên sinh, cách trung
tâm thị xã 54km đường bộ, cách di tích căn cứ Trung ương cục miền Nam 10km. Các phương tiện
ô tô, mô tô đến di tích dễ dàng, thuận tiện.
Theo đường mòn vào trung tâm di tích qua khu nhà trưng bày, đón tiếp và quản lý. Tại đây,
qúi khách sẽ được nhìn tận mắt nơi ở và làm việc của Ủy ban Trung ương Mặt trận, những nhà văn
phòng, hội trường, nhà văn hóa và bếp Hoàng Cầm. Theo những đường mòn len lỏi qua những bụi
tre rừng, những tàn lá trung quân, cây rừng lúp xúp là những ngôi nhà của: Luật sư, Chủ tịch
166
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Nguyễn Hữu Thọ, Bác sĩ Phùng Văn Cung, Đồng chí Võ Chí Công, Hoà thượng Thích Thiện Hào,
Ông Ybihalêô, Đồng chí Nguyễn Thị Định, Đồng chí Ung Ngọc Ky, ... Nơi đây, Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tập hợp mọi lực lượng yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng miền Nam toàn thắng 30/4/1975.
9. Địa Điểm Chiến Thắng Tua Hai
Di tích thuộc ấp Tua Hai, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nằm về hưóng
Bắc cách thị xã Tây Ninh 7 km. Tại đây, đêm 25 rạng 26/01/1960, thực hiện Nghị quyết 15 TW
theo sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, lực lượng vũ trang cách mạng cùng với nhân dân Tây Ninh đã
tiến hành trận tập kích tiêu diệt căn cứ Trung đoàn 32, Sư đoàn 21 ngụy tại Tua Hai - Trận đánh
mở màn phong trào đồng khởi vũ trang toàn miền Nam đã đi vào lịch sử và trở thành một di tích
lịch sử cách mạng.
Chiến thắng Tua Hai, mở màn phong trào đồng khởi vũ trang đi vào lịch sử và trở thành cái
mốc đánh dấu sự chuyển giai đoạn cách mạng miền Nam, mở ra phương thức đấu tranh chính trị
kết hợp vũ trang, tạo nên thế chiến lược "hai chân, ba mũi, ba vùng".
Sau chiến thắng Tua Hai, phong trào đồng khởi đã lan rộng các tỉnh miền Nam, chứng
minh rằng nghị quyết 15 TW Đảng được phát ra đúng thời điểm và thời cơ.
Trận đánh Tua Hai là kết quả của sự chuẩn bị lâu dài, sự tích tụ căm thù của bao hy sinh
mất mát bởi quốc sách "Tố cộng diệt cộng" và luật phát xít 10/59 của Mỹ - Diệm đã gây cho đồng
bao ta. Trận đánh Tua Hai đã làm rệu rã tinh thần của binh lính địch, chúng cho rằng những binh
lính tiến công Tua Hai là "Bộ đội chủ lực Bắc Việt”, đánh được Tua Hai thì Việt cộng có khó khăn
gì mà không lấy được Thị xã và toàn tỉnh.
Sau trận đồng khởi Tua Hai, phong trào nổi dậy của quần chúng, các lực lượng vũ trang
nhân dân cách mạng ra đời với những trận đánh có hiệu xuất cao, tiêu diệt được nhiều địch. Trận
đánh Tua Hai đêm 25 rạng 26/01/1960 ỏ Tây Ninh trận đánh lớn diệt trên 500 tên địch, thu 1.500
súng các loại, phát huy chiến thắng Tua Hai, nhân dân Tây Ninh đã nổi dậy đồng loạt giải phóng
hai phần ba số xã trong tỉnh.
Với giá trị lịch sử đó, địa điểm chiến thắng Tua Hai được Bộ VHTT công nhận là di tích
lịch sử văn hóa tại Quyết định số 937/QĐ-BT ngày 23/7/1993.
10. Đền Thờ Quan Lớn Trà Vong
Năm 1749 (Kỷ Tỵ), Triều Đình Huế cử ba anh em nhà họ Huỳnh: Huỳnh Công Giản,
Huỳnh Công Thắng, và Huỳnh Công Nghệ là các quan đại thần vào trấn nhậm vùng đất Tây Ninh.
Ba ông cùng với đội binh mã của triều đình thực hiện việc di dân khai hoang lập ấp và giữ gìn an
ninh ở vùng đất biên cương.
Tưởng nhớ công ơn của 3 anh em nhà họ Huỳnh và các nghĩa binh, nhân dân địa phương
lập đền, miếu để thờ ở nhiều nơi và được gọi chung là đền thờ Quan lớn Trà Vong.
Ngôi mộ ông Huỳnh Công Giản (tức Quan lớn Trà Vong) được nhân dân chôn cất tại ấp
Trà Hiệp xã Trà Vong, Tân Biên. Đền thờ ông được nhân dân xây dựng ở nhiều nơi như: Tân
Phong, Trà Vong (Tân Biên), Cầy Xiêng, Đồng Khởi (Châu Thành), Thái Vĩnh Đông, Phường I
(Thị xã), Thạnh Tân (Hoà Thành).
Đền thờ Quan lớn Trà Vong tại Thái Vĩnh Đông, phường I, Thị xã Tây Ninh:
Đền xây dựng trên gò đất cao, phía trước có nhiều cây dầu cổ thụ. Đền có 3 gian, hình chữ
nhị (2 lớp), chiều dài 14 mét, chiều ngang 10m, tường xây gạch, mái lợp ngói âm dương.
Chánh đền có sắc phong chữ thấn cùng bài trí các đồ thờ như lư hương, chưng đèn, lễ bộ.
Trên nóc là hoành phi và bức đại tự sơn son thếp vàng "Đáp tạ thần ân" hai bên có 2 câu đối.
167
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
"Nhật tảo xuất anh tài vị quốc vong thân
Trứ trứ phương danh thuỳ trúc bạch
Tà dương trữ man tặc, ưu quân trí mạng
Nguy nguy chính khí quán sơn hà"
Đền Quan lớn Trà Vong ở xã Mõ Công (Tân Biên)
Ngôi đền nằm cặp quốc lộ 22B gần trung tâm xã Mõ Công. Ngôi đền được nhân dân
thường gọi là "Dinh ông lớn Trà Vong"
Cổng vào được xây theo hình chữ nhị 5m x 9m, gồm phần tiền đền và chính đền, mái ngói
mũi, phần chính đền có hoành phi đề: “Quan lớn Trà Vong", ở giữa bên trái đề:"Long phi niên
Đinh dậu", bên phải"Quan đại thần chuyển binh"bằng hán tự.
Ngôi đền ở xã Thái Bình
Đền toạ lạc tại ấp Cầy Xiêng xã Thái Bình (Châu Thành) cặp quốc lộ 22B, cách thị xã Tây
Ninh chừng 5km về hướng Tây Bắc. Đây là ngôi đền còn giữ được phần hậu đền xây dựng cách
nay trên 100 năm. Đền kiến trúc theo hình chữ tam, tường gạch, mái lợp ngói. Phần tiền đền 6m x
6m, hậu đền 3m x 3m.
Chánh đền thờ bài vị và tượng quan lớn cao 1m đứng đeo gươm trận uy nghiệm lẫm liệt.
Đền quan lớn Trà Vong ở Suối Vàng
Đây là khu lòng chảo nằm sát chân núi Bà Đen, tương truyền đây là nơi tập luyện tập binh
mã ngày xưa của quan lớn Trà Vong.
Đền xây dựng khá lâu, đến năm 1995 do mở rộng lộ giới tỉnh lộ 4, nhân dân địa phương đã
xây dựng ngôi đền mới khang trang tường gạch, cột bê tông, mái lợp ngói, kiến trúc theo chữ hình
tam. Đây là ngôi đền ông lớn Trà Vong lớn nhất hiện nay so với các đền hiện hữu thờ ông lớn Trà
Vong trên đất Tây Ninh.
Ngoài ra còn có các đền thờ ông Huỳnh Công Nghệ và ông Huỳnh Công Thắng ở những
nơi khác.
Tại Vàm Bảo, Bến Thứ rạch Vịnh xã Hảo Đước, Châu Thành có mộ và đền thờ ông Huỳnh
Công Nghệ nằm cạnh khu dân cư thưa thớt hiện đang xuống cấp nặng. Tại thành Bảo Quang Hoá,
xã Cẩm Giang, Gò Dầu có ngôi đền thờ ông Huỳnh Công Thắng. Ngôi đền kiến trúc hai lớp hình
chữ nhị, tường gạch, mái lợp ngói có diện tích 8m x 16m. Trong đền thờ bài vị và tượng Huỳnh
Công Thắng.
Trên vùng đất phía Tây Bắc Tây Ninh nhân dân xây dựng nhiều đền thờ quan lớn Trà
Vong. Tuy nhiên, do chiến tranh ác liệt kéo dài nên nhiều ngôi đền bị tàn phá mà nhân dân chưa có
điều kiện xây dựng lại.
Hàng năm vào các ngày 16 và 17 tháng 3 âm lịch tại các đền nhân dân địa phương tổ chức
cúng lễ tưởng nhớ đến ông lớn Trà Vong rất trang trọng. Nhiều nơi tổ chức cả hát bội và các hình
thức sinh hoạt văn hoá dân gian phong phú mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc.
19. Đặc sản và ẩm thực
- Muối tôm Tây Ninh:
Mặc dù Tây Ninh là một vùng đồng bằng, không hề có biển để làm ra muối và không có cả
tôm… Tuy không có nguồn cung cấp tại địa phương 2 nguyên liệu chủ yếu làm nên đặc sản muối
tôm ấy, nhưng sau khi được nhập về từ các vùng biển, qua bàn tay chế biến khéo léo và nghệ thuật
của người dân nơi đây, muối tôm Tây Ninh đã được rất nhiều người ưa chuộng và được đánh giá
là loại muối tôm ngon nhất Việt Nam.
168
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Để có được những hạt muối tôm thơm ngon, phải trải qua rất nhiều công đoạn chế biến
công phu. Đầu tiên người ta chọn những quả ớt tươi nhất, đỏ nhất và ngon nhất trong vườn cây của
họ, đem phơi cho ớt khô đi một chút rồi xay, giã nhuyễn ra cùng với tỏi, củ cải đỏ, hạt nêm…rồi
đem trộn đều với muối, đây là công đoạn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, để có được những hạt muối tôm
ngon nhất thì lượng gia vị được trộn chung phải thật hợp lý. Muối tôm Tây Ninh thường được
dùng làm món chấm cho các loại trái cây, nhất là những loại có vị chua như: cóc, ổi, xoài… Ngoài
ra, muối tôm nơi đây còn dùng để trộn chung với bánh tráng được xắt nhỏ và các loại rau khác tạo
thành món bánh tráng trộn được rất nhiều bạn trẻ ưa thích.
Cách làm muối tôm
• 200 gram tôm tươi, lột vỏ, lấy nạc tôm, tuỳ thích cho vào khoảng 1/3 muỗng cà phê tiêu
hoặc ớt tươi (không lấy hột) băm nếu muốn cay, 30 gram muối bột loại xay mịn (hoặc tùy
ý thêm trong khoảng 10 - 15 gram nữa), quết thật nhuyễn, thử lại bằng cách để một chút
vào giữa đầu hai ngón trỏ cái bóp lại rồi mở ra thấy dính bết lại là được.
• Nặn hỗn hợp tôm muối thành nhiều miếng nhỏ, mỏng dẹp chừng 4 -5 ly với mục đích cho
dễ khô ráo.
• Cho vào lò nướng điện ở nhiệt độ chừng 100o
C hoặc hong, sấy trên bếp than cho những
miếng tôm muối trở khô thật giòn. Mang ra để nguội, tán hay giã thành hột nhỏ cỡ hột mè
là được. Bảo quản trong hũ lọ đậy kín.
- Bánh tráng phơi sương Trảng Bàng:
Bánh tráng gần như là món dùng để cuốn món ăn rất riêng của người Việt trong cái thú ẩm
thực, là loại thực phẩm khá độc đáo có thể ăn chơi, ăn no và chế biến thành nhiều món ăn khác.
Theo ghi chép sử sách thì chiếc bánh tráng xuất hiện đầu tiên vào cuối thế kỷ 18, được vua Quang
Trung dùng làm lương khô cho binh sĩ. Từ đó, khắp dọc chiều dài đất nước, mỗi miền đất đều tạo
cho mình một loại bánh tráng riêng tùy nguyên liệu sẵn có. Nhưng có một loại bánh tráng đang
được Sở Khoa học - công nghệ tỉnh Tây Ninh làm thủ tục để đăng ký thương hiệu, được nhiều
người tìm tới ăn thử với tên gọi: bánh tráng phơi sương Trảng Bàng. Để làm ra chiếc bánh
tráng phơi sương, chất liệu hàng đầu phải là loại gạo ngon và không được pha trộn. Nếu bánh
tráng ở nơi khác hay thêm đường cho mềm bánh thì bánh tráng phơi sương lại thêm tí muối, vì thế
khi cầm chiếc bánh ăn không (ăn vã) bạn sẽ cảm thấy mặn. Sau khi làm bột, bánh được tráng hai
lớp (vì thế chiếc bánh dày), sau đó đem phơi nắng cho khô. Nhưng các công đoạn sau mới là phần
quan trọng. Đó là nhà làm bánh phải thiết kế chiếc lò nướng đặc biệt với chất liệu đốt lò là vỏ đậu
phộng. Bánh tráng phơi khô xong đem nướng trên lửa, chỉ nướng qua thôi chứ không để chín
phồng. Sau đó bánh được xếp riêng, đợi đến sáng sớm khi sương bắt đầu rơi nhiều (kiểm tra bằng
cách nhìn cây cỏ) mới đem ra phơi sương. Người phơi bánh phải “thức” cùng bánh, đợi bánh vừa
thấm sương đủ mềm là xếp lại ngay bỏ vào trong bao, lót lá chuối. Khi bán mới xếp ra ràng, luôn
bọc trong bao nhựa để giữ bánh luôn mềm.
- Bánh canh Trảng Bàng:
Bánh canh Trảng Bàng trở nên nổi tiếng nhờ tên gọi dễ nhớ bởi nó gắn liền với đia danh
lâu đời của một quận lỵ trong địa phận tỉnh Tây Ninh. Chính nhờ sự cạnh tranh hơn thua giữa các
lò bánh ở địa phương nên những huyền thoại về bánh canh Trảng Bàng không những không bị mai
một mà ngày càng ngon hơn về phẩm và hấp dẫn hơn, quen thuộc hơn. Mỗi lò đều cố gắng thu hút
khách hàng bằng bí quyết riêng của mình trong cái ngon của từng lọn bánh, từng loại gia vị cần
thiết và cách pha chế gia truyền của mỗi lò. Để có bánh canh Trảng Bàng phải trải qua giai đoạn
biến chế bánh canh rất công phu. Đầu tiên bánh canh phải được làm bằng một loại gạo quý, đắt
tiền như Nàng Thơm, hay Chợ Đào. Gạo phải được ngâm thật kỹ qua một đêm để hạt gạo đạt đủ
độ mềm cần thiết. Sau khi ngâm qua đêm, gạo được đem xay nhuyễn để lấy tinh bột. Giai đoạn
cuối cùng là tinh bột được đem hấp chín trước khi ép thành những mẫu bánh canh trắng tinh. Điều
đặc biệt dễ nhận thấy ở đất Trảng Bàng này là các lò sản xuất bánh hoạt động rất nhịp nhàng, ăn
khớp với các tiệm ăn. Bột bánh canh được giao tới tiệm ăn rất đúng giờ, đúng buổi không quá sớm
169
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
và cũng không quá trễ, tránh trường hợp con bánh bị chua, bị thiu làm mất đi hương vị độc đáo
của bánh canh.
- Thằn lằn núi
Thằn lằn núi Bà Đen rất lạ, nó có hình dạng to hơn thằn lằn thông thường, và thức ăn chính
của nó là những trái sung chín có sẵn trên núi, sống trong những khe núi. Vì mang tính dược liệu
và thịt thơm ngon chính vì vậy ngày nay còn rất ít, một số nhà nông đã nghiên cứu nuôi tại nhà
nhưng không mang lại thành công lớn, chủ yếu vẫn dựa vào nguồn cung cấp từ thiên nhiên.
Các món ăn được chế biến từ thịt thằn lăn như:Thằn lằn núi chiên giòn, chấm với nước
mắm me, ón chả đùm làm từ thịt thằn lằn núi
- Ốc núi
Thằn lằn, ốc núi núi Bà
Ai chưa động đũa kể là chưa đi
Đây là loài ốc cực hiếm vì chúng chỉ sinh sống trong các hang hốc đá, rất khó phát hiện.
Vào mùa mưa, ốc mới bò ra kiếm ăn và sinh sản. Khi những cơn mưa trút hạt cũng là mùa săn ốc
núi bắt đầu nhộn nhịp.
Buổi sáng, ốc núi mò ra khỏi hang đi ăn lá rừng, nên đây là thời điểm thích hợp nhất để
bắt. Thức ăn của loài ốc này là lá những loại thảo dược mọc hoang trên núi như cây mã tiền, lá
vong núi, đặc biệt là loại thuốc quý tên gọi dân gian gọi là lá Nàng Hai.
Cây Nàng Hai là một loại cây thuốc nam, từ lâu được dân gian sử dụng để chữa các chứng
nhức mỏi, đau khớp, thống phong, còn cây vong núi giúp an thần. Ốc ăn lá cây thuốc nên trong
người chúng mang đầy vị thuốc, mùi vị rất ngon và bổ dưỡng. Vì thế nên ốc núi Bà Đen còn được
gọi là ốc Nàng Hai.
Ốc núi Bà Đen có hình dạng giống như ốc bươu nhưng mình dẹp và nhỏ xoăn thành nhiều
vòng. Ốc bắt về chỉ rửa sạch đất cát, không cần ngâm xả chất thải như các loại khác và đem nấu ăn
ngay để còn giữ lại các vị thuốc có giá trị dinh dưỡng. Ốc núi có thể chế biến thành nhiều món ăn
như nướng, hấp sả, xào me, xào tỏi
Kỳ công hơn, ốc núi bắt về cho ăn cơm dừa khô nạo nhuyễn, để đến khi đem luộc chấm
muối tiêu chanh, thịt ốc núi này sẽ béo giòn, rất lạ miệng. Vị ốc ngọt thanh, có chút hương thuốc
quý, ăn vào cảm giác khó quên.
Nhà hàng
Nhà hàng Anh Đào
Địa chỉ: Đường 30 Tháng 4, Tx Tây Ninh,
Tây Ninh
Điện thoại: 382 7306
Nhà hàng Diễm Thúy
Địa chỉ: Đường 30 Tháng 4, Tx Tây Ninh,
Tây Ninh
Điện thoại: 382 7318
Nhà hàng Hòa Bình
Địa chỉ: 210 Ba Mươi Tháng Tư, Tx Tây
Ninh, Tây Ninh
Điện thoại: 382 2638
Nhà hàng Hoàng Minh I
Địa chỉ: 38 Quốc lộ 22B, H. Trảng Bàng, Tây
Ninh
Điện thoại: 388 0351
170
ĐÔNG NAM B :Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị
Nhà hàng Ngọc Mai
Địa chỉ: 42 Nguyễn Thái Học, P. 3, Tx. Tây
Ninh, Tây Ninh
Điện thoại: 382 2380
Nhà hàng Phong Lan
Địa chỉ: Đường 30 Tháng 4, khu 2, Tây Ninh
Điện thoại: 382 2638
Nhà hàng Thiên Khang
Địa chỉ: 457 Cách Mạng Tháng Tám, P. 3, Tx
Tây Ninh, Tây Ninh
Điện thoại: 382 1992
20. Sản phẩm lưu niệm
Về với vùng đất Tây Ninh, du khách có thể mua sắm các đặc sản địa phương như các sản
phẩm làm từ muối: muối tôm, muốt ớt, muối chay...; bánh tráng phơi sương Trảng Bàng... để làm
quà tặng cho gia đình và bạn bè.
XXVII. Tiêm năng phát tri n du l ch Tây Ninhể ị
Tây Ninh với những cảnh quan thiên nhiên đa dạng, phong phú; di tích văn hóa, lịch sử độc
đáo có tiềm năng to lớn phát triển du lịch.
Núi Bà Đen đang trở thành khu du lịch hấp dẫn du khách với cảnh quan thiên nhiên sinh
động gắn với những chùa chiền, lễ hội… là điểm đến của những chuyến du lịch ; có hệ thống cáp
treo, máng trượt tạo sự tiện lợi và cảm giác mới lạ cho du khách.
Nơi đây kêu gọi những dự án đầu tư xây dựng các khu di tích, tôn tạo , trùng tu các điện
thờ, hang động chùa chiền cùng với việc xây nhà nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí, . . .
Hồ Dầu Tiếng chỉ cách TP. Hồ Chí Minh khoảng 70km , là một quần thể du lịch đầy tiềm
năng với hồ, rừng phòng hộ, kết hợp với các đảo lớn nhỏ; Ở đây có thể xây dựng khu du lịch sinh
thái - thể thao - giải trí như: xây dựng sân golf, công viên nước, khu nghỉ dưỡng, khu săn bắn - câu
cá, bãi tắm, khai thác các môn thể thao trên nước như thuyền, lướt sóng, lướt ván…
Tiềm năng du lịch sinh thái của Tây Ninh đa dạng, phong phú với những địa điểm nổi tiếng
như khu Căn cứ Trung ương cục Miền Nam , khu căn cứ Bời Lời, địa đạo An Thới chứa đựng
các chiến tích cách mạng oanh hùng của dân tộc hay Vườn Quốc gia Lò Gò Xa Mát, khu rừng lịch
sử Văn hóa Chàng Riệc với đa dạng sinh học được các tổ chức quốc tế thừa nhận hoặc các địa
danh nổi tiếng như: các Chùa cổ Bình Thạnh, An Thạnh tiêu biểu cho nền văn hóa Óc Eo…
Tòa Thánh Tây Ninh thuộc huyện Hòa Thành có diện tích 1 km2
được khánh thành năm
1955, cách trung tâm thị xã 4 km về phía Đông với kiến trúc độc đáo mang màu sắc riêng của đạo
Cao Đài, một di tích quốc gia đã được xếp hạng với những lễ hội truyền thống hàng năm thu hút
nhiều khách du lịch đến tham quan.
Việc thiết lập những tour du lịch đi qua các khu du lịch trọng điểm nói trên là hoàn toàn
khả thi và hấp dẫn đối với du khách.
171

THUYẾT MINH ĐÔNG NAM BỘ: TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH DƯƠNG - BÌNH PHƯỚC - ĐỒNG NAI - BÀ RỊA - VŨNG TÀU

  • 1.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị THÀNH PH H CHÍ MINHỐ Ồ  I. V TRÍ Đ A LÝỊ Ị Thành phố Hồ Chí Minh thuộc khu vực Đông Nam Bộ, là trung tâm du lịch của phía Nam nói riêng và cả nước nói chung, cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á. Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay. Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Diện tích: 2.098,7 km2 Dân số (2007): 6.347.000 người Hành chính: 19 quận nội thành : Q.1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12, Tân Bình, Bình Thạnh, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Tân và Tân Phú. 5 huyện ngoại thành: Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh. II. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử Năm 1618, vua Chân Lạp là Chey Chettha II lên ngôi. Để giữ mối hữu hảo bang giao giữa hai nước, chúa Nguyễn Phước Nguyên đã gả Ngọc Vạn công chúa cho vua Chân Lạp. Cuộc hôn nhân diễn ra vào năm 1620, công chúa Ngọc Vạn, lúc bấy giờ là Hoàng hậu lấy tước hiệu là Somdach - preia Peaccac - Vodey - Prea - Roriac - Khsattrey, đã cho đem nhiều người đồng hương tới Campuchia, có người được làm quan lớn trong triều, có người làm các nghề thủ công và có người buôn bán hay vận chuyển hàng hóa. Dân hai nước được tự do qua lại sinh sống cả hai bên lãnh thổ của nhau. Vậy là nơi rừng hoang dã Thủy Chân Lạp với tên Preinokor có thêm nhiều hơn vết chân người Việt. Các danh từ được phiên âm từ Preinokor ra Sài Gòn - Kaskrobey ra Bến Nghé và Nông Nại ra Đồng Nai đã được xuất hiện từ nhóm người Việt này đến lưu cư đầu tiên. Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Vua Chân Lạp đã mau mắn gửi quốc thư hồi âm chấp thuận việc chúa Nguyễn muốn đặt trạm thu thuế tại 2 nơi đó. Sự việc này đã là một thực thể chính đáng cho chúa Nguyễn nhà Đại Việt với công trình khai hoang xứ Đàng Thổ. Chẳng bao lâu, hai đồn thu thuế trở thành thị tứ trên bến dưới quyền, công nghiệp và thương nghiệp sầm uất. Năm 1658, "Nặc Ông Chân phạm biên cảnh", Hiền Vương liền sai "phó tướng Tôn Thất Yên đem ngàn binh đi 2 tuần đến thành Mô Xoài (Bà Rịa), đánh phá kinh thành và bắt được vua nước ấy". Sau được tha tội và được phong làm Cao Miên quốc vương "giữ đạo phiên thần, lo bề cống hiến, không xâm nhiễu dân sự ở ngoài biên cương. Khi ấy địa đầu Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai đã có lưu dân của nước ta đên ở chung lộn với người Cao Miên khai khẩn ruộng đất". Như vậy là từ trước 1658, Mô Xoài và Đồng Nai đã thuộc "biên cảnh" của Việt Nam. Năm 1674 (tức là 51 năm sau khi lập đồn thu thuế và 16 năm sau sự kiện Mô Xoài) xảy ra một biến cố chính trị và quân sự quan trọng: Vua Chân Lạp là Nặc ông Nộn bị người hoàng tộc Nặc Ông Đài nổi lên đánh đuổi. Ông Nộn sang cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn sai Nguyễn Dương Lâm đem quân vào giúp, thâu phục luôn 3 lũy Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang (trong sử ta, địa danh Sài Gòn xuất hiện từ 1674 vậy). Đài thua chạy rồi tử trận. Chúa Nguyễn phong cho 1
  • 2.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Nặc Ông Thu làm Cao Miên quốc vương đóng đô ở U Đông, cho Nặc Ông Nộn làm phó vương ở Sài Gòn. Ông Nộn lập dinh cơ có lẽ ở vùng đất cao ráo từ đồi sau này gọi là đồi Cây Mai đến vùng Phú Thọ hiện giờ. Ông Nộn 15 năm ở Sài Gòn cũng hoạt động quân sự nhiều cuộc đối đầu với vua Chân Lạp mà không thành. Năm 1679 (tức 56 năm sau khi lập đồn thu thuế và 5 năm sau khi Ông Nộn đóng ở Sài Gòn). Đồn dinh Tân Mỹ không phải là một cái đồn có nhiệm vụ kinh tế, mà mang tính chất quân sự, chính trị, cai quản; có giám quân, cai bộ và ký lục với dinh thự của bộ sậu ấy, có trại lính để sai phái và để bảo vệ phó vương Chân Lạp, bảo vệ việt kiều. Đồn dinh cũng có nhiệm vụ lập làng chia xóm, tổ chức phố chợ. Thực tế đó là một chánh quyền bán chánh thức của chúa Nguyễn. Cuối năm 1679 chúa Nguyễn cho phép các đoàn người Minh của Trần Thượng Xuyên vào Biên Hòa và của Dương Ngạn Địch vào Mỹ Tho-là những đất chúa Nguyễn thực tế xem như là do mình quản trị, cũng là những vùng đã có lưu dân Việt Nam khai hoang lập ấp từ đầu thế kỷ 17. Hai viên Tổng binh người Minh không chịu hàng phục nhà Thanh, kéo hai đạo quân và gia quyến, thân thuộc xuống phía nam, xin chúa Nguyễn đùm bọc; chúa Nguyễn cho đoàn Trần Thượng Xuyên vào vùng Biên Hòa, cho đoàn Dương Ngạn Địch vào Mỹ. Cả hai đoàn, mỗi đoàn nhiều ngàn người, họ lập phố xá buôn bán, cũng có phần làm nghề nông nhưng ít hơn nghề thương. Nông Nại đại phố (ở Biên Hòa) sớm trở thành một trung tâm thương mãi có nhiều tàu ngoại quốc tới lui. Vùng "Nông Nại đại phố" này cũng đã sẵn có người Việt Nam ở làm ăn khá đông, việc thương mãi của Nông Nại đại phố một phần lớn dựa vào nghề nông của người Việt và đồng bào bản địa. Nông Nại đại phố thịnh mà không hút được Sài Gòn, trái lại nó bị Sài Gòn hút vào vì Sài Gòn ở một thế trung tâm hơn. ý kiến nói rằng ở miền Nam, ở vùng Sài Gòn, người Minh có công khai hoang trước rồi người Việt mới tới sau lập phủ huyện, là một ý kiến hoàn toàn sai. Người Việt đã tới đây khai hoang lập ấp 70, 80 năm trước rồi, sau người Minh mới đến. Tuy vậy vai trò kinh tế của người Minh ta không xem nhẹ, càng không phủ nhận. Người Minh mau chóng bị Việt hóa. Năm 1688, phó tướng của Dương Ngạn Địch là Hoàng Tấn làm phản, giết Dương Ngạn Địch, và mưu đồ bá chiếm, cát cứ. Chúa Nguyễn phái Mai Vạn Long đem quân vào diệt Hoàng Tấn, rồi Mai Vạn Long cùng Trần Thượng Xuyên đánh lên kinh đô Chân Lạp. Nặc Ông Nộn có mặt trong cuộc hành quân đó. Mai Vạn Long và Trần Thượng Xuyên đưa vua Chân Lạp Nặc Ông Thu về Sài Gòn thương thuyết với chúa Nguyễn. Nặc Ông Thu trở lại kinh thành Oudong làm vua Chân Lạp và đồng ư hợp sức với chúa Nguyễn chống Xiêm. Xiêm bị chận đứng lại. Năm 1697, con của Nặc Ông Nộn là Nặc Ông Yêm từ Sài Gòn về Oudong được Nặc Ông Thu gả con gái để sau này Yêm nối ngôi Thu làm vua Chân Lạp. Từ nay ở Sài Gòn không còn có phó vương. Bốn mươi năm sau (tức 1698), chúa Nguyễn mới sai Nguyễn Hữu Cảnh vào "kinh lý" miền Nam. Đó là cuộc kinh lý miền biên cảnh - khi ấy đất đai đã mở rộng khắp miền đông Nam Bộ ngày nay. Ông cho đặt đại bản doanh tại Cù Lao Phố bằng sự nhận xét thần tốc về mọi mặt: đất đai hoang phế mênh mông nhưng toàn là sình lầy cùng rừng rậm; nhân lực thì yếu kém, đời sống sinh hoạt của các sắc dân quá thô thiển thật là thiên nan vạn nan! Nhưng với ý chí quả cảm, bất kể nguy khó hiểm nghèo Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vạch ra kế sách cấp tốc: Khai hoang mở cõi và dàn xếp biên cương. Song song với việc khẩn hoang Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh thi hành ngay việc chia ranh định vùng mong sớm đưa chúng dân vào nề nếp an cư. Về hành chính: Trên cơ sở lưu dân Việt Nam tự phát tới "khẩn hoang lập ấp", ông chia đất Đông Phố lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh trấn biên (Biên Hòa ngày nay). Lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn (tức Sài Gòn). Mỗi trấn có lưu thủ quản trị, 2
  • 3.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị dưới có cai bạ coi về ngân khố và ký lục coi về hình án. Trấn Biên bao gồm từ Bình Thuận đến Nhà Bè. Phiên Trấn bao gồm từ Tân Bình đến Cần Giuộc (Long An). Phủ Gia Định ngày đó là gồm từ Bình Thuận, Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè đến Long An. Khi đó địa bàn Đồng Nai Gia Định được nới rộng thêm ra hàng ngàn dặm vuông, các chủng dân được quy tụ dựng thành chòm xóm. Dân số có đến 40.000 hộ. Liền đó, Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vạch ra quy hoạch: Thiết lập làng xã, khóm ấp. Lập sổ đinh, sổ điền. Định mức tượng trưng về thuế tô, thuế dung. Riêng người Hoa tập trung làm hai xã để việc thương mại có cơ hội bành trướng đều khắp. Xã Thanh Hà ở huyện Phước Long (Đồng Nai Biên Hòa). Xã Minh Hương ở huyện Tân Bình (Sài Gòn Bến Nghé). Tất cả dân số người Hoa cũng đều nhập sổ bộ Đại Việt. Về thương mại: ông cho lập đường thủy ven các nhánh sông, lấy khu chợ nổi Nhà Bè cổ nơi ngã ba sông Bình Dương làm trung tâm giao dịch, thương lưu với các ngã: Cù Lao Phố, Bến Nghé, Cần Giờ, Rạch Cát, Vũng Cù (Cần Giuộc) và Gò Vấp. Đặc biệt bến tàu Châu Đại Phố của nhóm Hoa thương nhem nhúm còn quá luộm thuộm, giờ đây cũng được khuyến khích cho có qui cũ. Vị trí này sau đã nhanh chóng thành tên Cảng Đại Phố. Đây chính là bến cảng non trẻ nhất của miền này ở cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. Về quân sự: Đã có sẵn một lực lượng binh chủng gồm: thủy binh, bộ binh, tinh binh và thuộc binh. Thống suất cho cắt đặt các cơ đội canh phòng yên ổn thôn trang và quân lính cả hai dinh lo bảo vệ chủ quyền tại suốt vùng đất mới thành lập. Thời ấy, vua Cao Miên (tức Chân Lạp) là Nặc Ông Thu. Mặc dầu bên trong hoàng tộc của họ vẫn thường xảy ra nổi loạn tranh chấp nhưng bên ngoài đối với sự định vùng biên giới của nhà Đại Việt cũng là ổn định cho cả đôi bên Việt Miên. Sự thần phục tiến cống được họ nối lại như trước. Sau hết đến vấn đề di dân và khuyến nông đã được triều đình chúa Nguyễn chấp thuận. Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh cấp tốc phái thuộc binh đi hô hào chiêu mộ dân chúng từ miền Ngũ Quảng vào Gia Định lập nghiệp. Mãi đến năm 1976, sau kì họp Quốc hội khóa VI, Sài Gòn được đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh. III. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ 1. Địa hình Thành phố Hồ Chí Minh có địa hình đồng bằng, đất phù sa cổ do con sông Mê Kông trong quá khứ bồi đắp, là vùng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Địa thế thuận lợi cho việc phát triển đô thị sầm uất. 2. Khí hậu Khí hậu hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm 1.979 mm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Điều này là điều kiện thuận lợi cho phép thành phố Hồ Chí Minh có thể đón khách du lịch quanh năm. 3. Thủy văn Sông Sài Gòn Nhà Bè nước chảy chia hai 3
  • 4.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về Là con đường thủy huyết mạch cả về chính trị lẫn kinh tế, nên sông Sài Gòn có vai trò, vị trí quan trọng và đã để lại dấu ấn văn hóa cho Sài Gòn-Gia Định xưa và Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Sông Sài Gòn khởi nguồn từ vùng Hớn Quản (tỉnh Bình Phước) rồi chảy vào Hồ Dầu Tiếng (tỉnh Tây Ninh) và qua tỉnh Bình Dương vào Thành phố Hồ Chí Minh. Đến mũi Đèn Đỏ thuộc huyện Nhà Bè thì nhập với sông Đồng Nai thành sông Nhà Bè. Ra tới mũi Nhà Bè lại tách làm hai nhánh là sông Lòng Tàu và Soài Rạp rồi đổ ra biển Đông qua cửa Cần Giờ, Soài Rạp. Sông dài 256 km, diện tích lưu vực trên 5.000m, lưu lượng trung bình vào khoảng 54m3/s, cung cấp nước cho trên 10 triệu dân ở hai tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh. Sông này khi chảy qua địa phận Thành phố Hồ Chí Minh dài 80 km, bề rộng thay đổi từ 225 đến 370m, sâu 20m. Xưa kia, sông còn có tên gọi khác là sông Bến Nghé (Ngưu Chử Giang), trước đó có tên khác là sông Tân Bình (Tân Bình Giang) (1). Trịnh Hoài Đức, trong sách Gia Định Thành Thông Chí, ghi chép rõ: “Ở phủ Tân Bình, trước thành Gia Định, tục gọi là sông Bến Nghé, rộng 142 tầm, sâu 10 tầm, khi nước lên sâu 13 thước ta…” Sông Sài Gòn đã đi vào văn học, thơ ca, gắn bó với cuộc sống của con người Sài Gòn, họ mượn hình ảnh sông Sài Gòn để bày tỏ những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình. “ Sông Sài Gòn, sông bao nhiêu nước Chợ cũ Sài Gòn, kẻ tục người thanh Mấy ai mà đặng như anh Dù cho xao xuyến cũng chơn thành với em” Hay: “ Này em Tám ơi! Chợ Sài Gòn cất mới Ghe tàu lui tới tứ diện rất xinh Thấy em đẹp dáng tốt hình Chẳng hay em có chung tình đâu chưa?” * “ Chợ Sài Gòn cẩn đá Chợ Rạch Giá cẩn xi mon Giã em ở lại vuông tròn Anh về Gia Định không còn tới lui” IV. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN 1. Con người Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hoá trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển, có nền văn hoá mang dấu ấn của người Việt Nam, Hoa, Chăm, Khơ me, Ấn… Sau 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, thành phố trở thành một trong những trung tâm của cả nước đón nhận những ảnh hưởng của văn hoá Pháp, Mỹ qua các giai đoạn thăng trầm của đất nước. Hệ thống các ngôi chùa cổ như: chùa Giác Lâm, chùa bà Thiên hậu, Tổ Đình Giác Viên…; các nhà thờ cổ như: Nhà thờ Đức Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ Đức…; là sự đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng với hàng chục lễ hội văn hoá trong năm đã tạo nên tính thống nhất trong đa dạng văn hóa của mảnh đất phương Nam này.Trên từng con đường, góc phố, địa danh của thành phố đều gắn liền với những danh nhân văn hoá - lịch sử, những chiến công của một thành phố anh hùng. 4
  • 5.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Do quy luật tất yếu trong của lịch sử, người Việt còn chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa pháp như phụ nữ thì dồi phấn, thoa son, đi guốc cao gót, uốn tóc ngắn, xem điện ảnh, đọc báo, mặc áo sơ mi, thắt cà vạt, ăn bánh mì, uống sam - banh, cà phê….. Ngoài tính hiếu khách, tính bộc trực, mạnh mẽ , hào phóng và đôn hậu, người Sài Gòn còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân hậu, bao dung, tư chất thông minh và giàu nghị lực. Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào … mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định - Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ. Hiện TPHCM có 2,4 triệu tín đồ các tôn giáo, chiếm đến 1/3 dân số toàn TPHCM. Trong số 2,4 triệu tín đồ các tôn giáo, Phật giáo chiếm số đông với 1,6 triệu người; tiếp theo là đồng bào theo đạo Công giáo với hơn 645 ngàn người; Tin Lành: trên 65 ngàn người; Cao Đài: 48 ngàn người; Hồi giáo: 5 ngàn người. Có thể thấy rõ nhất hình ảnh đồng bào theo Phật giáo sống hòa hợp cùng những người không theo tôn giáo tại các khu xóm người Hoa ở Chợ Lớn. Cũng có thể lấy minh chứng về chuyện đồng bào ở khu xóm Khmer (Q10) hay đồng bào Chăm theo đạo Hồi (Phú Nhuận) nô nức đi bầu trong ngày bầu cử Quốc hội khóa XII vừa qua để thấy rằng tín đồ các tôn giáo ở TPHCM có sinh hoạt và cuộc sống với tinh thần công dân như mọi người khác. Theo thống kê của Ban Tôn giáo - Dân tộc, hiện toàn TPHCM có 8.147 chức sắc các tôn giáo và 1.544 cơ sở thờ tự… 2. Lễ hội 2.1 Lễ hội Nguyên Tiêu của người Hoa Hội nguyên tiêu là một trong những hoạt động thường niên của người Hoa với ý nghĩa cầu cho mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no hạnh phúc, bắt đầu một năm mới làm ăn phát đạt và may mắn. Chương trình mừng lễ được khởi hành vào lúc 4h30 phút, các xe hoa bắt đầu diễu hành qua các tuyến đường: Châu Văn Liêm, Hải thượng Lãn Ông, Phùng Hưng, Nguyễn Trãi, Sau đó, tập kết lại trên đường Trần Xuân Hòa hướng vào Trung tâm Văn hóa bắt đầu biểu diễn các tiết mục theo nhiều chủ đề đặc sắc. Hấp dẫn nhất, tại sân khấu chính với sự tham gia biểu diễn của các đoàn ca múa kịch, trình bày các ca khúc bằng tiếng Việt lẫn tiếng Hoa. Trong khuôn khổ lễ hội còn tổ chức biểu diễn thư pháp, vẽ tranh tập thể, trò chơi đố đèn hoa, vớt cá vàng... thu hút rất đông người dân tham gia. 2.2 Lễ hội vía Bà Thiên Hậu của cộng đồng người Hoa ở Thành Phố Hồ Chí Minh. 5
  • 6.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Bà Thiên Hậu là một nữ thần, theo phong tục phong kiến của người Trung Quốc thì gọi bà là “Thiên Hậu Thánh Mẫu”. Bà Thiên Hậu là hình ảnh mà người Hoa dùng để giáo dục con cháu đời sau: Một con người nhân nghĩa, hiếu thuận với cha mẹ, xả thân vì cộng đồng. Cộng đồng này đã lấy ngày 23 tháng 3 âm lịch làm ngày vía Bà (theo truyền thuyết đây là ngày Bà sinh ra đời). Vào dịp này Ban Trị Sự của các miếu thờ Thiên Hậu sẽ tổ chức lễ cúng ca ngợi công đức, thể hiện sự tin tưởng và tình cảm của cộng đồng đối với người thánh có vị trí quan trọng trong tâm thức của bao thế hệ người Hoa. Dịp này còn là cơ hội qui tụ và tương trợ lẫn nhau của bà con người Việt gốc Hoa. Miếu Thiên Hậu đông vui và huyên náo vào những ngày lễ tết và ngày vía Bà. Ngày 23/3 Âm Lịch được xem là ngày lễ quan trọng nhất. Lễ hội là thời điểm người ta thể hiện tấm lòng của mình đối với Thiên Hậu Thánh Mẫu nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa tâm linh, ý thức hòa nhập cộng đồng, ôn lại những giá trị văn hóa truyền thống bao đời. Mặc khác, đây còn là cơ hội để giáo dục thế hệ trẻ hiểu biết sâu hơn về tín ngưỡng văn hóa dân gian, những loại hình văn hóa nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc. Lễ hội còn là dịp để bà con người Hoa cũng như người Việt đóng góp nguồn ngân sách cho những hoạt động chung như: Trùng tu miếu, những hoạt động từ thiện xã hội, giúp đỡ bà con nghèo, bảo trợ cho trường học, bệnh viện, cấp học bổng cho những sinh viên học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Di tích và lễ hội là hai loại hình gắn liền nhau. Ta không thể tách lễ hội ra khỏi không gian di tích vì lễ hội chính là cái hồn của di tích. Vì thế, lễ hội vía Bà được diễn ra ngay tại miếu Bà Thiên Hậu. Vào ngày lễ, miếu được dọn dẹp sạch sẽ và trang trí những chiếc đèn lồng đỏ thắm. Mặc dù, ngày nay phần lễ và phần hội đã được giảm tải nhiều, không còn được như thời quá khứ, nhưng lễ vía bà vẫn được tổ chức trang nghiêm và long trọng thể hiện sự thành kính của cộng đồng dành cho Thiên Hậu Thánh Mẫu. Trong quá khứ, lễ hội được tổ chức khá quy mô trong hai đến ba ngày. Từ ngày 22/3 người ta tiến hành lễ tắm tượng, phủi đi lớp bụi thời gian, thay xiêm y mới được chọn trong những tấm áo mà cộng đồng dâng cúng bà trong năm. Sáng hôm sau, đúng ngày 23/3, mọi người tổ chức lễ rước bà, đặt tượng bà vào kiệu và cung nghinh kiệu đi quanh phố phường, theo kiệu là nam nữ nô nức đi hội hòa vào đoàn múa lân, múa rồng làm huyên náo, sôi động cả một khu vực. Ngày vía bà là dịp để cộng đồng người Hoa thưởng thức hát Quảng, buổi tối sân khấu được dựng ngay tại sân miếu thu hút bà con đến xem trình diễn nghệ thuật, múa lân sư rồng và làm những hoạt động từ thiện như: đấu thầu lồng đèn. Mỗi năm ban trị sự sẽ đưa ra mục tiêu là năm nay cần nguồn ngân quỹ cho xây trường học, xây dựng khoa phụ sản của bệnh viện hoặc sửa sang miếu… Nhưng sau giải phóng, các công trình công cộng như trường học, bệnh viện… được nhà nước tiếp quản. Vì vậy, việc đấu thầu lồng đèn mất mục tiêu. Hiện nay, tại Tuệ Thành Hội Quán không còn loại hình đấu thầu này nữa. Sau khi ban trị sự làm lễ, bà con người Hoa muốn cúng lễ thì vào thắp nhang. Trong khi cúng lễ, khách có thể mua ngay tại chỗ những vòng nhang cầu an có đường kính trung bình từ 50 đến 60cm, có loại đường kính đến một mét. Hội quán sẽ ghi tên, địa chỉ người cần cầu xin, ghi rõ ước nguyện, cầu mong sức khỏe dồi dào, gia đạo bình an… trên một miếng giấy đỏ rồi đính kèm vòng nhang. Sau đó, mang vòng nhang treo lên trần đốt. Mỗi vòng nhang cầu an như thế cứ cháy suốt ngày đêm trong vòng một tháng, đây là một nét đặc trưng ở miếu Hoa. 2.3 Lễ hội trong ngày giỗ Vua Hùng - Hàng năm, cứ đến ngày mồng 10/3 âm lịch, các cơ sở tín ngưỡng dân gian ở thành phố Hồ Chí Minh có thờ phụng vua Hùng đều tiến hành tổ chức lễ giỗ tổ theo nghi thức cổ truyền. Đông đảo nhân dân đã đến lễ bái tưởng nhớ đến người đã khai sinh ra nước Văn Lang. Khung cảnh lễ hội vừa trang nghiêm vừa đầm ấm. - Tại đền thờ các Vua Hùng trong khuôn viên Thảo Cầm Viên (số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1), sở Văn hoá Thông tin thành phố tổ chức lễ giỗ tổ kết hợp giữa 6
  • 7.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị lễ hội cổ truyền với các hoạt động văn hoá hiện đại. Các đại diện chính quyền, đại diện giới thành niên Thành phố đọc bài nhớ ơn các vua Hùng và tâm nguyện giữ nước của thế hệ thanh niên. Nghi thức cử nhạc khí cổ truyền (trống đồng, đàn đá, chiêng trống…) trong bầu không khí trang nghiêm. Sau đó là phần lễ bái, tế lễ cổ truyền của mọi tầng lớp nhân dân trong đền. Phần hội ngoài sân đền là chương trình biểu diễn cờ người, võ thuật, múa lân, sư tử, múa rồng… rất hấp dẫn, thu hút đông đảo người xem. 2.4 Ngày giỗ Trần Hưng Đạo - Ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều cơ sở tín ngưỡng dân gian thờ Trần Hưng Đạo. Hàng năm vào ngày 20 tháng 8 âm lịch (ngày mất của ông), các cơ sở này đều tổ chức lễ giỗ với nghi thức trang nghiêm để tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc làm chói ngời lịch sử nước nhà. - Đền thờ Trần Hưng Đạo ở số 36 đường Võ Thị Sáu, quận 1, là một trong những ngôi đền tổ chức lễ anh hùng Trần Hưng Đạo có quy mô nhất thành phố. Lễ giỗ diễn ra trong ba ngày 19, 20, 21 tháng 8 âm lịch, với các nghi thức lễ tế cổ truyền Bắc Bộ, bao gồm nam tế và nữ tế, nghi thức hát chầu văn ca ngợi công đức của vị anh hùng. Ngoài ra còn tổ chức chơi cờ người… - Trong những ngày này, các tầng lớp nhân dân tề tựu về lễ bái rất đông. 2.5 Lễ giỗ Lê Văn Duyệt - Lễ giỗ Lê Văn Duyệt và phu nhân, một khai quốc công thần nhà Nguyễn đã từng giữ chức Tổng trấn Gia Định. Trong lễ giỗ Lê Văn Duyệt ngoài phần lễ bái theo nghi thức cổ truyền Nam Bộ, còn tổ chức hát bội. Nơi trình diễn là sân khấu được xây dựng trong gian tiền điện, diễn xướng với nhiều nhân vật, nhiều tích trò… Đây là lễ hội lớn ở đất Gia Định xưa và Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. - Người đến chiêm bái còn có tục cầu an, cầu lộc, cầu tự, cầu phúc, cầu duyên… và hoá giải những rủi ro, vận hạn của bản thân và gia đình. - Ngày 1,2 tháng giêng âm lịch hàng năm có hội xuân diễn ra ở đây. Hội xuân có lễ dâng hương cầu chúc năm mới. Cộng đồng người Việt, người Hoa tham dự lễ hội này rất đông. 2.6 Lễ giỗ Phan Công Hớn - Phan Công Hớn là người lãnh đạo nhân dân 18 thôn vườn trầu khởi nghĩa tấn công dinh tri huyện Trần Tử Ca - một tên tri huyện có nhiều nợ máu với nhân dân - mùa xuân năm 1885 tại Hóc Môn. Sau đó, để cho nhân dân khỏi bị đàn áp, bắt bớ, ông đã tự nộp mình và bị Pháp hành quyết. Nhân dân đã lập đền thờ bên cạnh mộ phần của ông để ngày nay hương khói tại ấp Tây Bắc Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. - Hàng năm, đến ngày 25 tháng 2 âm lịch, thân tộc của ông cùng bà con nhân dân Bà Điểm tổ chức lễ giỗ ông tại đền thờ theo nghi thức cúng thần, gồm tế lễ cổ truyền với ban quý tế, lễ dinh cùng ban nhạc lễ…Nhân dân đến dự lễ rất đông để tưởng nhớ đến một vị anh hùng đã làm rạng danh truyền thống 18 thôn vườn trầu. Đến dự lễ giỗ còn có thầy trò của trường tiểu học mang tên Phan Công Hớn. 2.7 Lễ Kỳ Yên đình Phú Nhuận - Hàng năm, lễ hội Kỳ Yên làng Phú Nhuận xưa (nay là quận Phú Nhuận) diễn ra trong 3 ngày 16, 17, 18 tháng giêng âm lịch, tại làng Phú Nhuận, số 18 đường Mai Văn Ngọc, quận Phú Nhuận. Ngày đầu tiên, lễ hội bắt đầu bằng nghi thức tụng kinh, cầu an của Phật giáo, sau đó là phần múa lân, biểu diễn võ thuật truyền thống và các nghi thức tế thần, tế Tiền hiền, Hậu hiền cùng các anh hùng liệt sĩ theo truyền thống Nam Bộ. Buổi tối có hát bội. Ngày thứ hai và thứ ba đều có nghi thức tế Thần theo truyền thống Bắc bộ. Đêm cuối chấm dứt lễ hội với nghi thức tôn vương và hồi chầu theo truyền thống các đình Nam Bộ. 7
  • 8.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị - Lễ hội Phú Nhuận thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân cùng các hội đình bạn tham gia. 3. Ẩm thực Là trung tâm của vùng đất phương Nam trù phú, sản vật dồi dào, nên món ăn Sài Gòn rất đa dạng. Lại thêm là nơi hội tụ của cư dân từ mọi miền đất nước và cửa ngỏ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nên thành phố đã tiếp nhận thêm các dòng ẩm thực của cả nýớc và thế giới, chọn lọc tinh hoa thành một nền ẩm thực phong phú và hấp dẫn. Ngày nay, người ta dễ dàng tìm thấy ở Sài Gòn vô số đặc sản Bắc, Trung, Nam hay quốc tế, theo đúng nguyên bản cũng có, nhưng phổ biến hơn vẫn là những món đã được "Sài Gòn hóa" để hương vị thêm phong phú, đậm đà. Chất Sài Gòn thường thể hiện ở vị ngọt, nhiều rau xanh và nhiều thủy hải sản tươi sống. Chẳng hạn như món canh chua Sài Gòn đã kết hợp cả cái chua- mặn của miền Bắc, cái cay nồng ớt tươi của miền Trung và cái ngọt xởi lởi của miền Nam. Món bún bò Huế được "cải biên" để bớt cay, thêm ngọt, thêm béo và thêm rau. Món bò bít tết của phương Tây thì mỏng hơn, chín hơn, nhiều gia vị hơn và kèm rau sống, đồ chua nhiều hơn… Các món ăn cũng làm nên thương hiệu của chính nó. Du khách muốn thưởng thức món ăn ngon phải đến đúng nơi như bột chiên đường Võ Văn Tần, gỏi bò khô Đinh Tiên Hoàng, thạch chè Nguyễn Đình Chiểu, chè 3 màu - xôi mặn Bùi Thị Xuân, hột vịt lộn - nghêu sò Pasteur, bò bía Bà Huyện Thanh Quan, cocktail sữa Nguyễn Tri Phương, bánh canh cua Ngã Sáu… Bên cạnh đó, các món ăn của người Hoa rất đặc sắc như vịt quay Bắc Kinh, cơm chiên Dương Châu, mì Hoành Thánh,… Theo sách “Người Sài Gòn” của nhà Nam Bộ học Sơn Nam, NXB. Trẻ, 1990 có viết rằng: “Nói chung, khẩu vị của người Sài Gòn là thích ngọt (món kho, món xào, thậm chí mắm sống) dùng nhiều đường, không ăn mặn, uống đậm như người vùng biển phía Tây Nam. Những đặc sản của Quảng Nam (mì Quảng), Huế (tré, chè, bánh bèo) của đồng bằng sông Hồng (chả lụa, bánh cuốn, bánh lá gai, bung, vịt xáo măng) thường bày bán ở điểm riêng, dành cho giới sành điệu. Mạch nha, đường phổi Quảng Ngãi có mặt ở Chợ Lớn, đủ món ăn Quảng Đông, Triều Châu, Tứ Xuyên, thậm chí món Bắc Kinh”. I/ HÀN QUỐC 1/ NHÀ HÀNG APGUJEONG 15C4 Thi sách, phường bến Nghé Quận 1, TP Hồ Chí Minh 08.38239400 2/ NHÀ HÀNG CHÚ TÙNG E002 KP Mỹ Phước, Phú Mỹ Hưng, đường Nguyễn Văn linh, phường Tân Phong, quận 7, TP Hồ Chí Minh 08.54120478 3/ NHÀ HÀNG HẢI SẢN HÀN QUỐC 3 Hậu Giang, Phường 4, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh 08.39480073 4/ NHÀ HÀNG HÀN QUỐC 37 Ngô Đức Kế, phường Bế Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh 08.38294297 5/ NHÀ HÀNG HÀN QUỐC ĐẠI PHÚ GIA 19 Thái Văn Lung, phường Bến Nghé, Quận 1, TP Hồ Chí Minh 8
  • 9.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 08.38231156 6/ NHÀ HÀNG HÀN QUỐC GARDEN 449 Bình Quới phường 28, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh 08.35563829 II/ NHẬT BẢN 1/ CTY TNHH PHÚC THỊNH CHÂU 17/8-9 LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38222182 2/ CTY TNHH TMDV NGÂN ĐẠT 98N LÊ LAI, P.BT, Q.1, TP. HCM 08.38334798 3/ CTY TNHH TMDV AN KHÁNH 71-73 PASTEUR, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38244896 4/ CTY TNHH TMDV LỘC AN SA1-1 KP MỸ KHÁNH 4 NGUYỄN ĐỨC CẢNH, P.TÂN PHONG, Q.7, TP. HCM 08.54121071 5/ DNTN NHÀ HÀNG LÝ BA 32A THI SÁCH, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38258954 6/ CTY TNHH TMDV VI BIỂN 3 LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38224552 7/ DNTN NHÀ HÀNG HẢI NGƯ 15E LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38272803 8/ DNTN NHÀ HÀNG HOA ANH ĐÀO 75 PASTEUR, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38292627 9/ CTY TNHH LÁ PHONG 9 TRẦN CAO VÂN, P.ĐK, Q.1, TP. HCM 08.38247882 10/ CTY TNHH NHÀ HÀNG CHUỒN CHUỒN ĐỎ (AKATONBO) 17/4 LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38244928 11/ CTY TNHH NHÀ HÀNG HOA SEN 9
  • 10.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 32 HAI BÀ TRƯNG, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38224965 12/ AKATAIYO - NHÀ HÀNG 74B HAI BÀ TRƯNG, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38244295 III/ ẤN ĐỘ 1/ CTY TNHH TM NHÀ HÀNG A & T 17/10 LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38231372 2/ NHÀ HÀNG ẤN ĐỘ NEW-DELHI 111A BÙI VIỆN, P.PNL, Q.1, TP. HCM 08.38379636 3/ NHÀ HÀNG ẤN ĐỘ TANDOOR 74/6 HAI BÀ TRƯNG, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.39304839 4/ NHÀ HÀNG GANESH 15B4 LÊ THÁNH TÔN, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38223017 5/ NHÀ HÀNG INDIAN CURRY-RICE 66 ĐÔNG DU, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38232159 6/ NHÀ HÀNG MUMTAZ 226 BÙI VIỆN, P.PNL, Q.1, TP. HCM 08.38371767 7/ QUÁN NẮNG SÀI GÒN 181 VÀNH ĐAI TRONG, P.BÌNH TRỊ ĐÔNG, Q.BTÂN, TP. HCM 08.62602066 8/ SAIGON INDIAN RESTAURANT 73 LẦU 1 MẠC THỊ BƯỞI, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38245671 IV/ BRAXIN 1/ CTY TNHH PHÚC LỘC THỊNH 56 BÙI THỊ XUÂN, P.BT, Q.1, TP. HCM 08.39255258 2/ AU LAC DO BRAZIL STEAK RESTAURANT 238 PASTEUR, P.6, Q.3, TP. HCM 10
  • 11.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 08.38207157 V/ ĐÀI LOAN 1/ NHÀ HÀNG CHEN 294 NGUYỄN THIỆN THUẬT, P.3, Q.3, TP. HCM 08.38307112 2/ NHÀ HÀNG RITZ TAIWANESE 333 TRẦN HƯNG ĐẠO, P.CK, Q.1, TP. HCM 08.39201325 3/ QUÁN ĂN VA THÀNH 24 NGUYỄN TRÃI, P.3, Q.5, TP. HCM 08.39235819 VI/ĐỨC 1/ NHÀ HÀNG ONE MORE SA9-1 KP MỸ KHÁNH 3, PHÚ MỸ HƯNG, P.TÂN PHONG, Q.7, TP. HCM 08.54121002 2/ NHÀ HÀNG BAR ĐỨC BẢO 34 ĐỒNG KHỞI, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38276296 3/ NHÀ HÀNG BAVARIA 4B NGÔ VĂN NĂM, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.38292080 VII/ MALAYSIA NHÀ HÀNG SATAY HOUSE 35 MẠC ĐĨNH CHI, P.ĐK, Q.1, TP. HCM 08.38221727 VIII/ MỸ NHÀ HÀNG NƯỚNG AMIGO 55-57 NGUYỄN HUỆ, P.BN, Q.1, TP. HCM 08. 38290437 IX/ NGA CTY TNHH SX TMDV XNK CON NGỰA VẰN 4 LẦU 1 LÊ LỢI, P.BN, Q.1, TP. HCM 08.22405824 X/ PHÁP QUÁN GÀ NƯỚNG PHÁP 1 180 HAI BÀ TRƯNG, P.ĐK, Q.1, TP. HCM 11
  • 12.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 08.38297939 4. Công trình kiến trúc và danh thắng Để chuyến du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh hoặc là chuyến city tour được trọn vẹn, có những điểm tham quan tiêu biểu mà bạn không thể bỏ qua. + Với hệ thống 11 bảo tàng, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có số bảo tàng nhiều nhất so với các tỉnh, thành trong cả nước. Nội dung trưng bày của các bảo tàng khá phong phú, và không chỉ về lịch sử và văn hóa địa phương, mà của cả Nam bộ, quốc gia và khu vực Đông Nam Á, cung cấp nhiều kiến thức lý thú. + Trên 1.000 ngôi chùa, đình, đền và miếu được xây dựng qua nhiều thời kỳ cũng là những tài sản quý về văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật. Bạn sẽ tìm thấy những chùa Phật giáo Nam bộ tiêu biểu, những ngôi đình xưa gắn liền với lịch sử khẩn hoang mở đất. Bên cạnh đó là những chùa "cách tân" lớn nhất và đẹp nhất trong cả nước, kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong cách hiện đại với kiến trúc chùa cổ truyền. Thành phố có đến nửa triệu người Hoa sống tập trung nên số chùa Hoa cũng nhiều nhất so trong nước, kiến trúc đa dạng và phong phú, nhiều chùa đã được công nhận di tích lịch sử - văn hóa của thành phố và quốc gia. + Người Pháp đã để lại nhiều công trình kiến trúc đẹp và đa dạng. Có thể nói hiếm có đô thị nào ở Đông Nam Á lại có nhiều dạng kiến trúc, nhiều trường phái, phong cách nghệ thuật phương Tây như Thành phố Hồ Chí Minh. Điển hình như trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố được xây dựng theo bản thiết kế của kiến trúc sư Gardès với lối kiến trúc thời Phục Hưng, Ngân hàng Nhà nước chịu ảnh hưởng trào lưu Tân Nghệ thuật, Nhà Thiếu nhi với phong cách Tân Cổ điển, Nhà Rồng phong cách Đông Dương, Bưu điện trung tâm với trường phái Chiết Trung là sự kết hợp hài hòa giữa hai phong cách kiến trúc Đông - Tây, Nhà thờ Đức Bà với nghệ thuật Rôman, nhà thờ Huyện Sĩ theo Tân Gôtic… + Mảng kiến trúc đương đại, đang bùng nổ, trăm màu trăm vẻ, tạo cho thành phố một diện mạo vui mắt, trong đó có một số tòa nhà đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao. + Nhưng điểm du lịch độc đáo nhất của thành phố vẫn là Địa đạo Củ Chi, một công trình độc đáo trong lịch sử quân sự thế giới, biểu tượng của ý chí sắt đá và thông minh mưu trí của quân dân thành phố trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Lẫy lừng không kém là rừng ngập mặn Cần Giờ với những trận chiến phá tàu giặc trên cửa sông Sài Gòn, nay là một điểm du lịch sinh thái tuyệt vời với những cánh rừng đước xanh vô tận. Kiến trúc công quyền, công cộng Dinh Độc Lập · Trụ sở Ủy ban Nhân dân · Nhà hát lớn · Bưu điện Trung tâm · Chợ Bến Thành · Nhà hát Hòa Bình Kiến trúc tôn giáo, tâm linh Nhà thờ Đức Bà · Nhà thờ Huyện Sỹ · Nhà thờ Cha Tam · Nhà thờ Thánh Jeanne d'Arc · Chùa Vĩnh Nghiêm · Việt Nam Quốc Tự · Chùa Xá Lợi · Chùa Giác Lâm · Chùa Nghệ Sĩ · Lăng Ông · Miếu Nổi Công viên, khu sinh thái Thảo Cầm Viên · Suối Tiên · Công viên Gia Định · Đầm Sen · Công viên 23 tháng 9 · Công viên Tao Đàn · Công viên Lê Văn Tám · Địa đạo Củ Chi · Rừng ngập mặn Cần Giờ · Vườn cò Thủ Đức Bảo tàng Bảo tàng thành phố · Bảo tàng Lịch sử Việt Nam · Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh · Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ · Bảo tàng Chứng tích chiến tranh · Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh Kiến trúc hiện đại Saigon Trade Centre · Saigon Centre · Diamond Plaza · Tháp Tài 12
  • 13.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Chính · Khu đô thị Phú Mỹ Hưng Địa danh văn hóa và giao thông Cảng Sài Gòn · Ga Sài Gòn · Cầu Sài Gòn · Cầu Bình Triệu · Cầu Ông Lãnh · Bến Nhà Rồng · Xa lộ Hà Nội · Xa lộ Đại Hàn · Hồ Con Rùa · Đường hoa Nguyễn Huệ · Chợ Lớn - Phố người Hoa · Phố Tây ba lô · Thanh Đa · Thủ Thiêm · Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất 4.1 Vương cung Thánh đường Chánh tòa Đức Bà Sài Gòn. Vương cung Thánh đường Chánh tòa Đức Bà Sài Gòn (người dân quen gọi là Nhà thờ Đức Bà) tọa lạc giữa trung tâm thành phố (số 1 Công trường Công xã Paris, Quận 1). Đây là một trong những công trình đặc sắc thu hút nhiều khách tham quan nhất tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi giáo đường tráng lệ và cổ kính này không chỉ là một công trình tôn giáo mà còn là một kiến trúc mang nhiều giá trị văn hóa, lịch sử. Ngay sau khi chiếm Sài Gòn, Pháp đã cho lập nhà thờ để làm nơi hành lễ cho tín đồ Thiên Chúa giáo trong đoàn quân viễn chinh. Ngôi nhà thờ đầu tiên được lập ở đường số 5 (nay là đường Ngô Đức Kế). Đây là một ngôi chùa của người Việt bị bỏ hoang do chiến cuộc, cố đạo Lefebvre đã biến ngôi chùa này thành nhà thờ. Nhà thờ đầu tiên đó quá nhỏ nên vào năm 1863, Đô đốc Bonard đã quyết định cho khởi công xây dựng một thánh đường bằng gỗ bên bờ “Kinh Lớn” (còn gọi là kinh Charner, thời Việt Nam Cộng hòa là trụ sở Tòa Tạp tụng). Cố đạo Lefebvre đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ vào ngày 28 tháng 3 năm 1863. Nhà thờ xây cất bằng gỗ, hoàn thành năm 1865, ban đầu gọi là Nhà thờ Saigon. Về sau, do nhà thờ gỗ này bị hư hại nhiều vì mối mọt, các buổi lễ được tổ chức trong phòng khánh tiết của “dinh Thống Đốc” cũ, về sau cải thành chủng viện Taberd, cho đến khi nhà thờ lớn xây xong Ban đầu, địa điểm xây cất được đề nghị ở 3 nơi: - Trên nền Trường thi cũ (nay là góc đường Lê Duẩn và Hai Bà Trưng, tức vị trí tòa Lãnh sự Pháp). - Ở khu Kinh Lớn (tại vị trí nhà thờ cũ, nay thuộc đường Nguyễn Huệ). - Vị trí hiện nay.. Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên trước mặt Phó soái Nam Kỳ và đông đủ nhân vật tai mắt thời ấy. Thánh đường được xây dựng trong 3 năm. Lễ Phục sinh, ngày 11 tháng 4 năm 1880, lễ cung hiến và khánh thành được cố đạo Colombert tổ chức trọng thể với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers. Hiện nay, trên bệ phía trên, bên trong cửa ra vào nhà thờ, có chiếc bảng cẩm thạch gắn trong hành lang (transept) ghi ngày khởi công, ngày khánh thành và tên vị công trình sư. Tất cả mọi chi phí xây dựng, trang trí nội thất đều do Soái phủ Nam Kỳ đài thọ, với số tiền 2.500.000 franc Pháp theo tỷ giá thời bấy giờ. Ban đầu, thánh đường có tên gọi là Nhà thờ Nhà nước vì thánh đường do nhà nước Pháp bỏ tiền xây dựng và quản lý. Ngày 05/12/1959, Tòa thánh Vatican đã cho phép làm lễ “xức dầu”, tôn phong Nhà thờ Chánh tòa Sài Gòn lên hàng Vương cung Thánh đường (basilique). Từ đó, tên gọi chính thức của thánh đường là Vương cung Thánh đường Chánh tòa Đức Bà Sài Gòn. Năm 1960, Tòa thánh Vatican thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam với ba tòa Tổng Giám mục (tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn), Nên Nhà thờ mang tên Nhà thờ Chánh tòa Sài Gòn. Năm 1962, Tòa thánh Vatican tôn phong Nhà thờ Chánh tòa Sài Gòn lên hàng Vương cung Thánh đường. Do đó tên gọi đầy đủ là Vương cung Thánh đường Chánh tòa Đức Bà Sài Gòn. Đây là nhà thờ Thiên chúa giáo lớn nhất và xưa nhất ở Việt Nam. 13
  • 14.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Nhà thờ đức Bà được thực hiện theo đồ án của kiến trúc sư J. Bourad. Nhà thờ được khởi công xây dựng từ năm 1877 và hoàn thành vào năm 1880. Trong đó, toàn bộ nhà thờ có chiều dài là 93m, rộng 35,5m và cao 57 m (tính từ mặt đất tới đỉnh tháp chuông) Sau khi đề án thiết kế được chọn, Đô đốc Duperré cho đấu thầu việc xây dựng thánh đường và cũng chính kiến trúc sư J. Bourad là người trúng thầu và trực tiếp giám sát công trình này. Mọi vật liệu từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. Đặc biệt mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Marseille (Pháp) để trần, không tô trát, (đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi), không bám bụi rêu. Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6 m và hai tháp có 6 chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. Trên đỉnh tháp có đính một cây thánh giá cao 3,50 m, ngang 2 m, nặng 600 kg. Tổng thể chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60,50 m. Trên vườn hoa trước nhà thờ, năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp “bảo hộ”, “khai hóa” cho Việt Nam. Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình đức cha Adran với phẩm phục giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh. Năm 1945, tượng này bị phá bỏ, nhưng cái bệ đài bằng đá hoa cương đỏ thì vẫn còn tồn tại ở đó mà không có bất cứ một bức tượng nào ở trên. Năm 1959, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên (sau làm Giám mục giáo phận Phú Cường, nay đã qua đời), cai quản Giáo xứ Sài Gòn bấy giờ, đi dự đại hội Thánh Mẫu ở Vatican, đã đặt tạc một tượng Đức Mẹ Hòa Bình bằng loại đá cẩm thạch quý hiếm. Khi tượng từ Roma gửi sang Sài Gòn bằng đường thủy, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên đã làm lễ dựng tượng trên cái bệ đài vẫn còn để trống kể từ năm 1945 vào ngày 16 tháng 2 năm 1959 và dâng tước hiệu Nữ Vương Hòa Bình. Tự tay linh mục viết câu kinh cầu nguyện “Xin Đức Mẹ cho Việt Nam được hòa bình” rồi đọc trước đông đảo quan khách có mặt hôm ấy. Ngày hôm sau, Hồng y Aganianian từ Roma qua Sài Gòn để chủ toạ lễ bế mạc Đại hội Thánh Mẫu, đã làm phép bức tượng này vào buổi chiều ngày 17 tháng 2 năm 1959. Do bức tượng này mà từ đó Nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Đức Bà. Mặt trước thánh đường là một công viên với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá. Trung tâm của công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa bình (hay Nữ vương Hòa bình). Tượng do nhà điêu khắc G. Ciocchetti thực hiện năm 1959. Tên của tác giả được ở trên tà áo dưới chân, phía bên trái của bức tượng. Bức tượng cao 4,6 m, nặng 5,8 tấn, bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời như đang cầu nguyện cho Việt Nam và cho thế giới được hoà bình. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn (mà hiện nay, đầu con rắn đã bị bể mất cái hàm trên). Trên bệ đá, phía trước bức tượng, người ta có gắn một tấm bảng đồng với hàng chữ Latinh: “REGINA PACIS - OPRA PRONOBIS - XVII. II. MCMLIX” - “NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH - CẦU CHO CHÚNG TÔI - 17.02.1959″ Phía dưới bệ đá, người ta đã khoét một cái hốc chỗ giáp với chân tượng Đức Mẹ, trong đó có một chiếc hộp bằng bạc, chứa những lời kinh cầu nguyện cho hoà bình của Việt Nam và thế giới. Những lời cầu nguyện đó được viết lên trên những lá mỏng bằng những chất liệu khác nhau như bằng vàng, bạc, thiếc, nhôm, giấy, da và đồng, được gởi tới từ nhiều miền của Việt Nam, kể cả từ một số vùng ngoài miền Bắc. Toàn bộ mặt ngoài nhà thờ được xây bằng loại gạch đặt tại Marseille (Pháp), không tô vữa và tới nay vẫn hồng tươi, làm toàn bộ công trình nổi bật trên nền cây xanh mát. Những kiếng màu trong nội thất với hoa văn độc đáo là do hãng Lorin của tỉnh Chartres (Pháp) sản xuất. Các ô cửa cuốn tròn kiểu Rôman cùng cung vòm gãy kiểu Gôtic gợi nhớ dạng thánh đường lớn ở Pari, Chartres, Reim. Riêng phần móng của nhà thờ được thiết kế chịu tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. 14
  • 15.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Điều đặc biệt là nhà thờ này không có vòng rào hoặc tường bao quanh như các nhà thờ khu vực Sài Gòn - Gia Ðịnh lúc ấy và bây giờ. Bên trong nhà thờ được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối với sáu thiên thần (khắc thẳng vào khối đá) đỡ mặt bàn thờ. Bên cạnh đó, là bệ chia làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích. Mỗi nhà nguyện, mỗi ô cửa sổ hay mỗi khoang trên vòm mái đều là một tác phẩm nghệ thuật. Tất cả chan hòa trong ánh sáng êm dịu, tạo cảm giác an lành và thánh thiện. Theo các chuyên viên văn hóa, tuy ngôi thánh đường không lớn, nhưng sức hấp dẫn được toát ra từ vẻ đẹp mẫu mực của kiến trúc Roman pha trộn nét Gôtich. Tất cả các đường nét, gờ chỉ, hoa văn trong nội thất cũng đều theo thức Roman và Gôtich làm đậm nét tôn nghiêm và trang nhã nơi thánh đường. Ngoài ra, còn phải kể đến những cổ vật độc đáo, quý hiếm bên trong, đó là bộ 06 chuông nặng tổng cộng 25.850kg (lớn nhất Viễn Ðông thời đó), âm thanh phát ra là Sol, La, Si, Do, Ré, Mi. Vì nhà thờ có kiến trúc theo kiểu mẫu Notre Dame de Paris, nên hai gác chuông cũng cao ngang tầm nóc nhà thờ. Trong đó, lầu chuông bên Nam (từ công viên nhìn vào là lầu chuông bên tay phải), được treo bốn quả chuông sol, đô, rê, mi. Lầu chuông bên Nữ (bên trái nhìn từ công viên) treo hai quả chuông la và si. Trên mặt mỗi quả chuông đều có các họa tiết rất tinh xảo. Trong đó chuông sol là một trong những quả chuông lớn nhất thế giới (nặng 8.785kg), đường kính miệng chuông 2,25m, cao 3,5m. Đây là chuông mang âm trầm, với cường độ cực lớn, như giọng bass trong dàn hợp xướng, nó chỉ ngân lên mỗi năm một lần vào đêm Giáng sinh. Muốn đổ chuông sol cần ba đến bốn người khởi động cho chuông lắc gần tới độ cao ngang với giá treo rồi mới bật công tắc điện cho động cơ đánh tiếp. Ngày lễ và chủ nhật, nhà thờ thường cho đổ ba chuông, ngày thường chỉ đổ một chuông mi hoặc rê vào lúc 5 giờ và 17g30. Dù thiếu chuông fa nhưng khi cả năm chuông cùng đổ sẽ tạo nên bản hòa tấu đủ cung bậc trầm bổng. Tiếng chuông ngân xa tới 10km theo đường chim bay. Một cổ vật quí giá nữa là đồng hồ trước vòm mái, có chiều ngang 2m, cao 1m với bộ máy nặng trên 1.000 kg, đặt nằm trên bệ gạch giữa hai tháp chuông. Mặt kim đồng hồ hướng ra đường Catina (nay là đường đồng Khởi). Máy đồng hồ trông đơn giản, thô sơ nhưng chạy bền và đúng giờ, đổ chuông báo giờ rất chính xác. Riêng hệ thống chuông đồng hồ không còn hoạt động do dây cót quá cũ. Ðồng hồ này chào đời từ 1877, đến nay đã được 132 tuổi. Nhà thờ Đức Bà hoàn toàn không có chỗ cho nến (đèn cầy). Toàn bộ đèn - có mặt ngay từ khi xây dựng xong - đều dùng điện. Ngày nay, Nhà thờ Đức Bà không chỉ là nơi hành lễ của những người công giáo, mà còn trở thành một hình ảnh thân quen của người dân Sài Gòn, là một điểm tham quan yêu thích của mỗi du khách đến với thành phố phương Nam quanh năm ngập tràn ánh nắng. 4.2 Bến Nhà Rồng Bến Nhà Rồng khởi nguồn là một thương cảng lớn của Sài Gòn - Tp Hồ Chí Minh, tòa nhà ba tầng này tọa lạc trên ngã ba sông Sài Gòn, đầu đường Nguyễn Tất Thành,quận 4 được người dân Sài Gòn gọi bởi cái tên quen thuộc “Bến Nhà Rồng” không chỉ nổi tiếng bởi lối kiến trúc dị biệt “ thượng ta hạ tây” mà còn bởi một sự kiện lịch sử quan trọng đối với đất nước và dân tộc Việt Nam. Bến Nhà Rồng nguyên là trụ sở của đại diện hãng chuyên chở hàng hải Pháp (thuộc Công ty vận tải đường biển Pháp Messageries Pharitimes) xây dựng năm 1862 ngay sau khi Pháp vừa chiếm xong Sài Gòn và ba tỉnh miền Đông nam bộ, để làm nơi ở cho viên tổng quản lý và là nơi 15
  • 16.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị bán vé tàu. Đây là một trong số hàng trăm công trình kiến trúc thời Pháp còn để lại, di tích lịch sử này nổi bật bởi lối kiến trúc độc đáo kết hợp Đông-Tây. Mang vẻ đẹp kiến trúc Pháp nhưng trên nóc nhà gắn hai con rồng bằng đất nung tráng men xanh châu đầu vào mặt trăng theo mô típ "Lưỡng long chầu nguyệt".Nhìn mái nhà ấy ta dễ liên tưởng đến mái đình của một ngôi chùa Việt Nam. Tuy nhiên, nhà thiết kế đã khéo léo thay đổi ở giữa thay vì trái châu thì là chiếc phù hiệu mang hình “Đầu ngựa và chiếc mỏ neo” để phù hợp với biểu tượng của hãng tàu Pháp. “Đầu ngựa” hàm chỉ thời trước, công ty này chuyên chở hang bằng đường bộ với ngựa kéo xe, còn “Mỏ neo” tượng trưng cho tàu thuyền.Với kiểu kiến trúc độc đáo đó nên nơi này còn được gọi là Nhà Rồng. Năm 1955, sau khi thực dân Pháp thất bại ở Việt Nam, thương cảng này được chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý. Họ đã cho tu bổ lại mái ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng khác với tư thế quay đầu ra. Bên cạnh vẻ đẹp độc đáo, bến Nhà Rồng được nhắc đến trên sách sử Việt Nam như một di tích lịch sử đáng nhớ.Chính tại nơi này, vào ngày 5 tháng 6 năm 1911, người thanh niên trẻ Nguyễn Tất Thành (lúc bấy giờ lấy tên là Nguyễn Văn Ba,sau đổi là Hồ Chí Minh) đã xuống con tàu Amiral Latouche Tréville làm phụ bếp để có điều kiện sang châu Âu tìm đường cứu nước. Ngày 3 tháng 9 năm 1979, Uỷ ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh quyết định lấy Nhà rồng là "Khu lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh" (tức Bảo tàng Hồ Chí Minh). Bên trong khu nhà lưu niệm có trưng bày nhiều hình ảnh và hiện vật về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch. Từ đó đến nay, Bảo tàng Hồ Chí Minh - Bến Nhà Rồng đã đón tiếp hàng chục triệu lượt khách trong và ngoài nước vào tham quan. Ngoài ra, tại đây thường tổ chức những cuộc biểu diễn nghệ thuật, nghe kể chuyện truyền thống, tổ chức lễ kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn viên... Ngoài những hoạt động chính, Bảo tàng còn tiến hành những hoạt động tuyên truyền giáo dục rộng rãi nhằm làm cho tư tưởng và đạo đức của Hồ Chủ tịch đi sâu vào quần chúng nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ như: tổ chức các Hội nghị khoa học, các cuộc tọa đàm giữa các thế hệ, nói chuyện chuyên đề về Bác, chiếu phim, thực hiện sưu tập những tư liệu hồi ký về Bác, các ấn phẩm về Bảo tàng . 4.3 Bảo tàng Chứng tích chiến tranh Ngày 31/8/1858 thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược đặt ách thống trị thuộc địa lên đất nước Việt Nam. Trong gần 100 năm nhân dân Việt Nam đã anh dũng tiến hành cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Ngày 2/9/1945, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, chấm dứt ách đô hộ của thực dân Pháp, khẳng định quyền độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Nhưng thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ tiếp tục tiến hành chiến tranh xâm lược, âm mưu khôi phục ách thống trị và thiết lập chế độ thực dân kiểu mới ở Việt Nam. Trong suốt 30 năm, nhân dân Việt Nam lại phải kiên cường chiến đấu với biết bao hy sinh gian khổ để bảo vệ nền độc lập tự do của mình. Ngày 30/4/1975, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn: hòa bình, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được khôi phục. Để lưu lại những chứng tích anh hùng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống các thế lực xâm lược, đồng thời để tố cáo những tội ác và nêu bật những hậu quả tàn khốc của cuộc chiến tranh xâm lược, ngày 4/9/1975 Nhà Trưng bày tội ác Mỹ - Ngụy được mở cửa phục vụ công chúng. Sau đó, Nhà Trưng bày tội ác Mỹ - Ngụy được đổi tên thành Nhà Trưng bày Tội ác Chiến tranh xâm lược (ngày 10/11/1990) trước khi trở thành Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh (ngày 4/7/1995). Với hơn 15.000 hiện vật, hình ảnh cùng hàng nghìn thước phim tư liệu về thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bảo tàng là một trong những địa chỉ du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh luôn có lượng khách đến tham quan đông nhất. Đây cũng là nơi được bầu chọn “10 điểm tham quan tiêu biểu” trong chương trình “Thành phố Hồ Chí Minh-100 điều thú vị." 16
  • 17.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Ngay từ cổng vào là khu trưng bày ngoài trời “Các loại vũ khí, phương tiện Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam." Những chiếc máy bay phản lực chiến đấu hiện đại nhất thời đó như Air Force, máy bay trinh sát chiến đấu tự động chụp ảnh, máy bay lên thẳng đổ bộ quân có khả năng đậu trên mặt nước, pháo tự hành M107-175mm từng được mệnh danh là “Vua chiến trường” có tầm bắn tới 32,7km, tàn phá mục tiêu trong bán kính 520m, sức công phá ở độ sâu 35m, rộng 95m.… Du khách không khỏi rùng mình với các loại bom mìn giết người, trong đó có xác một quả bom địa chấn (phát quang BLU-82B) cao 3,35m, đường kính 1,37m, chứa đến 5,7 tấn thuốc nổ, sức công phá trong phạm vi 100m và gây chấn động mạnh trong khu vực có đường kính 3,2km. Tại khu vực trưng bày tội ác chiến tranh, những bức ảnh đen trắng đã ngả màu do các phóng viên chiến trường hai bên chiến tuyến chụp đã làm nhiều du khách ngậm ngùi. Một em nhỏ độ một tuổi ngồi ngơ ngác đơn côi trên vùng đất trống sau lưng toán lính Mỹ; cảnh lính Mỹ tra tấn dã man tù binh “Việt Cộng;" cảnh bà mẹ đau khổ dìu 4 đứa con bơi qua sông chạy càn... Du khách đã thực sự xúc động khi bước vào phòng trưng bày có tên “Hồi niệm." Nơi đây lưu giữ những bức ảnh của 134 phóng viên chiến trường thuộc 11 quốc tịch đã chụp trong chiến tranh Việt Nam và tất cả đều đã hy sinh tại chiến trường Việt Nam và Đông Dương. Những bức ảnh đã phơi bày sự thật về mức độ tàn bạo nhất của cuộc chiến. Đây là quà tặng của nhân dân bang Kentucky, Mỹ gửi đến nhân dân Việt Nam. Khu vực tái hiện “Chuồng cọp Côn Đảo” cũng làm du khách rùng mình về cách mà những chiến sĩ cách mạng kiên trung nhất phải chịu đựng trong chế độ lao tù của giặc. Việc sưu tầm hiện vật cho bảo tàng cũng một công việc không kém phần quan trọng của các cán bộ bảo tàng. Nếu không được thuyết minh, du khách dễ dàng bỏ qua hiện vật là một cái ống cống to nặng trưng bày ở góc sân. Nhưng đó chính là ống cống mà ba em nhỏ trong một gia đình đã trốn vào đó trong vụ lính Mỹ thảm sát 21 người dân vô tội ở Thạnh Phong, tỉnh Bến Tre năm 1969. Ba em nhỏ đã bị lính Mỹ lôi ra giết dã man. Trên thành ống cống vẫn còn vết máu do bàn tay nhỏ xíu của một em nhỏ bám vào. Chỉ huy vụ đó là Bob Kerry, sau này là Thượng nghị sĩ Mỹ, bị báo chí Mỹ lên án rất nhiều. Bà Phạm Thị Lãnh (con ông Bùi Văn Vát, gia đình có năm người bị giết trong vụ đó) đã lưu giữ ống cống này. Cán bộ bảo tàng nhiều lần đến gặp để thương lượng mang ống cống về, nhưng bà Lãnh đều không chấp nhận. Mãi đến năm 2009, nhân ngày giỗ 40 năm sau vụ thảm sát, cán bộ bảo tàng về Bến Tre thắp hương, bà Lãnh mới mềm lòng chấp nhận cho mang ống cống về, chỉ nhận lại một bàn thờ. Nghe câu chuyện xúc động đó, rất nhiều du khách đã khóc. Tại bảo tàng có một phòng tranh thiếu nhi mang tên “Chiến tranh và hòa bình." Hàng năm, bảo tàng tổ chức cho các em thiếu nhi vẽ tranh với nhiều chủ đề tình yêu quê hương, đất nước, ông bà, cha mẹ... Những bức tranh đẹp nhất được lưu giữ nơi đây. Ước mơ của các em rất đơn giản đó là được sống trong đất nước hòa bình, được đi học và làm những điều mình yêu thích. Bước ra từ bảo tàng này không một du khách nào không nghẹn ngào mong ước về một nền hòa bình vĩnh cửu trên khắp thế giới. 4.4 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Bảo tàng lịch sử Việt Nam - thành phố Hồ Chí Minh được thành lập tháng 8 năm 1979. Tiền thân của bảo tàng này là “ Bảo tàng Blanchard de la Brosse” (từ 1929-1956) và “ Viện bảo tàng quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn” (từ 1956-1975) với nội dung trưng bày chủ yếu về mỹ thuật cổ của một số nước châu Á. Sau ngày Miền Nam giải phóng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP.HCM được thành lập theo quyết định 235/QĐ-UB 28.08.1979 của ủy Ban Nhân Dân TP.HCM. Hơn một phần tư thế kỷ hoạt động, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP.HCM đã sưu tầm được hơn 25.000 hiện vật. Xây dựng 10 kho bảo quản hiện vật, với diện tích 996 m2 . 17
  • 18.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Hiện nay bảo tàng đươc mở rộng thêm và thay đổi cơ bản về nội dung hoạt động thành một bảo tàng vừa mang tính lịch sử của dân tộc vừa thể hiện các đặc trưng văn hoá của các dân tộc phía Nam và văn hóa một số nước trong khu vực để phục vụ các đối tượng công chúng và phục vụ công tác nghiên cứu khoa học. Ngày 18 tháng 2 năm 1927, nhà sưu tầm cổ vật Holbé qua đời, để lại nhiều cổ vật trị giá 45.000 đồng bạc Đông Dương (là một số tiền lớn lúc bấy giờ). Để mua lại số cổ vật này, ngày 17 tháng 6 năm ấy, Hội Nghiên cứu Đông Dương đã tổ chức một cuộc họp bất thường, và cuối vào đi đến quyết định là: xin 5 hội viên hảo tâm cho mượn trước số tiền trên, đồng thời xin phép chính quyền cho mở cuộc lạc quyên số tiền ấy trong dân chúng (để trả lại), với cam kết là sẽ tặng lại nhà nước số cổ vật sau khi mua xong. Sau khi hoàn tất công việc trên, để có chỗ gìn giữ và trưng bày số vật của Holbé vừa mua được, cùng với nhiều cổ vật khác mà Hội đã có (nhờ thu mua hay được tặng), Hội đã đề nghị với chính quyền xây dựng Bảo tàng, và xin dành cho Hội một phòng làm trụ sở và thư viện của Hội (chứa trên 5.000 tác phẩm chuyên khảo về Đông Dương và Viễn Đông bằng các thứ tiếng). Thuận theo đề nghị, ngày 28 tháng 11 năm 1927, Thống đốc Nam Kỳ là Blanchard de la Brosse đã ký nghị định thành lập Bảo tàng Blanchard de la Brosse (kể từ đây có khi gọi là Bảo tàng) ở Sài Gòn, đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của chính quyền Nam Kỳ, và thuộc quyền kiểm soát khoa học của Viện Viễn Đông Bác cổ. Ngày 8 tháng 6 năm 1928, viên Bảo thủ văn thư của Hội là Jean Bouchot được cử làm Giám thủ đầu tiên của Bảo tàng . Và ngày 1 tháng 1 năm 1929, chính quyền Nam Kỳ đã long trọng khánh thành Bảo tàng Blanchard de la Brosse. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Việt Nam chính thức phục hồi nền độc lập sau gần 100 năm Pháp thuộc. Ngày 20 tháng 10 năm ấy, Bộ Quốc gia Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nghị định đổi tên các Học viện, Thư viện và Bảo tàng. Theo đó, Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đổi tên là Gia Định Bảo tàng viện. Tuy nhiên, đó chỉ là lý thuyết vì ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp đã tái chiếm Sài Gòn. Đến ngày 14 tháng 6 năm 1954, Bảo tàng được Bộ Quốc gia Giáo dục của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiếp thu trọn vẹn, sau khi 3 chuyên gia người Pháp rút về nước. Ngày 16 tháng 5 năm 1956, theo nghị định 321-GD/NĐ, đổi tên Bảo tàng là Viện bảo tàng Quốc gia Việt Nam thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Bảo tàng được được Chính quyền Cách mạng tiếp thu nguyên vẹn. Sau đó, vào ngày 26 tháng 8 năm 1979, ngành chức năng đã cho đổi tên là Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đổi lại là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay. Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đặt tại một công thự nằm trong một khu vườn rộng lớn (trở thành Thảo Cầm Viên Sài Gòn năm 1864) ở phía đông thành Phiên An, gần dinh Tân Xá (do chúaNguyễn Ánh sai dựng để Giám mục Bá Đa Lộc làm nơi dạy dỗ Hoàng tử Cảnh). Công thự được xây theo lối kiến trúc “Đông Dương cách tân”, do kiến trúc sư người Pháp Delaval thiết kế, và do hãng thầu Etablissements Lamorte Saigon thực hiện trong ba năm:1926- 1927-1928. Khi khởi xây (1926), công thự này định làm Viện Triễn lãm Mễ cốc, sau định làm Viện Triễn Lãm Kinh Tế, nhưng cuối cùng lại quyết định làm Bảo tàng Blanchard de la Brosse. Phần giữa công thự có một khối bát giác (gợi nhớ quan niệm về bát quái của Kinh Dịch) có 2 nóc mái lợp ngó ống, có gắn vật trang trí hình phụng, hình rồng cách điệu. Trên cùng, là 4 quả cầu nhỏ dần và đặt chồng lên nhau. Vì vậy, có người cho rằng phần nóc mái này, mang nhiều yếu tố của kiến trúc cổ Trung Quốc. 18
  • 19.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Năm 1970, Bảo tàng được xây dựng thêm phần phía sau một dãy nhà do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế. Dãy nhà có hình chữ U, ở giữa là hồ cây cảnh lộ thiên, hai dãy nhà nối hai bên, sau cùng là dãy nhà ba tầng với hai lớp mái, có gắn đầu rồng kiểu gặm trang trí ở các góc mái. Nhờ các cửa đều hướng ra hồ cây cảnh, nên phòng trưng bày khá thoáng mát và sáng sủa. Trước 1975, hai bên cửa chính Bảo tàng có đắp nổi đôi câu đôi chữ Hán, nhưng sau đó đã bị đập bỏ. Đôi câu đối ấy như sau: Á Đông cổ động mỹ huật kê thực học, Việt Nam nhân chủng bác kỳ quan. Tạm dịch là: Á Đông cổ khí mỹ thuật kê cứu thực học, Việt Nam nhân chủng bác vật được nhiều kỳ quan. Bảo tàng mở cửa tiếp đón công chúng lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 1 năm 1929. Buổi đầu, Bảo tàng chỉ có 2.893 cổ vật, đến những năm cuối thế kỷ 20, bảo tàng đã có hơn 16.000 hiện vật rất có giá trị… Ngoài ra, bảo tàng còn có trên 25.000 sách báo và tài liệu, cũng rất có giá trị cho công việc nghiên cứu các ngành khảo cổ học, dân tộc học, sử học, bảo tàng học... 4.5 Địa đạo Củ Chi Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng đất ở huyện Củ Chi, cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng tây-bắc. Hệ thống này đượcMặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đào trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam. Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất. Hệ thống địa đạo dài khoảng 200 km và có các hệ thống thông hơi vào các vị trí các bụi cây. Địa đạo Củ Chi được xây dựng trên vùng đất được mệnh danh là "đất thép", nằm ở điểm cuối Đường mòn Hồ Chí Minh. Trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã sử dụng hệ thống địa đạo này để tấn công Sài Gòn. Địa đạo Củ Chi là cách gọi chung của các hệ thống địa đạo khác nhau, được hình thành từ khoảng thời gian 1946-1948, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Thời gian này, quân dân hai xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An đã đào những đoạn hầm ngắn, cấu trúc đơn giản dùng để ẩn nấp, cất giấu tài liệu, vũ khí. Cũng có ý kiến cho rằng việc đào địa đạo khởi đầu do dân cư khu vực này tự phát thực hiện vào năm 1948. Cư dân khu vực đã đào các hầm, địa đạo riêng lẻ để tránh các cuộc bố ráp càn quét của quân đội Pháp và để cung cấp nơi trú ẩn cho quân Việt Minh. Mỗi làng xây một địa đạo riêng, sau đó do nhu cầu đi lại giữa địa đạo các làng xã, hệ thống địa đạo đã được nối liền nhau tạo thành một hệ thống địa đạo liên hoàn, phức tạp, về sau phát triển rộng ra nhiều nơi, nhất là 6 xã phía Bắc Củ Chi và cấu trúc các đoạn hầm, địa đạo được cải tiến trở thành nơi che giấu lực lượng, khi chiến đấu có thể liên lạc, hỗ trợ nhau. Trong thời gian 1961-1965, các xã phía Bắc Củ Chi đã hoàn thành tuyến địa đạo trục gọi là "xương sống", sau đó các đoàn thể, cơ quan, đơn vị phát triển địa đạo nhánh ăn thông với tuyến trục hình thành những địa đạo liên hoàn giữa các ấp, các xã và các vùng. Bên trên mặt đất, quân dân Củ Chi còn đào cả một vành đai giao thông hào chằng chịt nối kết với địa đạo, lúc này địa đạo chiến đấu cũng được đào chia thành nhiều tầng, nhiều ngõ ngách. Ngoài ra, bên trên địa đạo còn có rất nhiều ụ chiến đấu, bãi mìn, hố đinh, hầm chông... được bố trí thành các cụm liên hoàn tạo ra trận địa vững chắc trong thế trận chiến tranh du kích, gọi là xã chiến đấu. Đến năm 1965, có khoảng 200 km địa đạo đã được đào. Về quy mô, hệ thống địa đạo có tổng chiều dài toàn tuyến là trên 200 km, với 3 tầng sâu khác nhau, tầng trên cách mặt đất khoảng 3 m, tầng giữa cách mặt đất khoảng 6 m, tầng dưới cùng sâu hơn 12 m. Lúc này, địa đạo không chỉ còn là nơi trú ẩn mà đã trở thành nơi sinh sống, cứu thương, hội họp, kho chứa vũ khí... 19
  • 20.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Địa đạo được đào trên một khu vực đất sét pha đá ong nên có độ bền cao, ít bị sụt lở. Hệ thống địa đạo nằm sâu dưới lòng đất, có thể chịu được sức công phá của các loại bom tấn lớn nhất của quân đội Mỹ. Không khí được lấy vào địa đạo thông qua các lỗ thông hơi. Các khu vực khác nhau của địa đạo có thể được cô lập khi cần. Ðường hầm sâu dưới đất từ 3 - 8m, chiều cao chỉ đủ cho một người đi lom khom. Căn hầm đầu tiên ở ngay bìa rừng có giếng ngầm cung cấp nguồn nước uống và sinh hoạt cho toàn khu vực địa đạo. Hệ thống địa đạo gồm 3 tầng, từ đường "xương sống" toả ra vô số nhánh dài, nhánh ngắn ăn thông nhau, có nhánh trổ ra tận sông Sài Gòn. Tầng một cách mặt đất 3m, chống được đạn pháo và sức nặng của xe tăng, xe bọc thép. Tầng 2 cách mặt đất 5m, có thể chống được bom cỡ nhỏ. Còn tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu... Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ. Cuộc sống dưới địa đạo thiếu ánh sáng, ẩm ướt và nóng bức và điều kiện vệ sinh kém nên hầu như đa số những người sống ở địa đạo đều bị ký sinh trùng, bạc da và các bệnh về xương. Ngoài ra, việc thiếu thốn lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm cũng là vấn đề lớn nhất của cư dân địa đạo. Ngày nay, địa đạo Củ Chi còn khoảng 120 km được bảo vệ và đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn cho du khách đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh. Du khách, đặc biệt là cựu chiến binh, thường chọn điểm thăm quan này khi đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh. Du khách được trải nghiệm cuộc sống dưới địa đạo như những cư dân thực thụ trước đây (được thăm quan, ăn uống những món ăn của cư dân địa đạo trước đây). Khu địa đạo Bến Dược (thuộc ấp Phú hiệp, xã Phú Mỹ Hưng - huyện Củ Chi) đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Hệ thống địa đạo Bến Đình (thuộc xã Nhuận Đức - căn cứ của Huyện ủy Củ Chi trong thời kỳ kháng chiến) cũng được xếp hạng di tích lịch sử quốc. 4.6 Chùa Vĩnh Nghiêm Chùa Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùa lớn tọa lạc trong một khuôn viên khá rộng (6.000 m²) tại số 339, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 7, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là ngôi chùa có kiến trúc cổ truyền nhưng được xây dựng bằng chất liệu hiện đại. Công trình cao nhất trong chùa là ngọn tháp 7 tầng, cao 40 m, nổi bật từ xa. Chùa có một cửa tam quan lớn dẫn vào sân, từ đây có thể thấy ngôi chùa có một tầng lầu và một tầng trệt. Tầng trệt có hai phần: phần ngoài, dưới sân thượng, cao 3,20 m; phần trong, dưới phật điện cao 4,20 m. Tầng trệt được chia là nhà thờ tổ, giảng đường, văn phòng, thư viện, lớp học, phòng học, phòng tăng... Từ dưới sân có ba cầu thang rộng, gồm 23 bậc, dẫn lên tầng trên. Ở đây có một sân thượng rộng khoảng 10 mét. Phía tay phải có một gác chuông. Từ sân thượng lên tiếp mấy bậc thềm nữa là tới Bái điện, một tòa dài 35 m, rộng 22 m và cao 15 m. Chùa Vĩnh Nghiêm chỉ thờ ba bức tượng: Phật Thích ca mâu ni và hai vị Bồ Tát Văn-thù- sư-lợi, Đại Hạnh Phổ Hiền[1] . Bàn thờ được thiết lập ở bửu điện: chính giữa là Phật Thích Ca, bên trái có Văn Thù Bồ Tát và bên phải là Phổ Hiền Bồ Tát. Những bức tượng này tương đối cao lớn, đường bệ, tương hợp thống nhất trong không gian chùa cao rộng. Ở hàng hiên lối vào chính điện, mỗi bên có một pho tượng Kim Cương Hộ Pháp khá lớn. Hằng năm, vào ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, ngày đức Phật thành đạo, chùa Vĩnh Nghiêm đều tổ chức trọng thể lễ húy nhật Hòa Thượng Thích Thanh Hanh (1838-1936), cố Thiền 20
  • 21.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị gia pháp chủ Phật giáo Bắc Việt, được tôn xưng là tổ Vĩnh Nghiêm, có công rất lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo vào những năm đầu thế kỷ 20. Năm 1964, hai hoà thượng Thích Tâm Giác và Thích Thanh Kiểm từ Bắc vào Nam truyền bá Phật giáo và đã cho xây chùa Vĩnh Nghiêm. Họ lấy nguyên mẫu thiết kế từ một ngôi chùa gỗ cùng tên ở xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Tạng Giang, tỉnh Bắc Giang, kiến lập từ đời vua Lý Thái Tổ, vốn là trung tâm truyền bá Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm. Người vẽ kiểu cho công trình là kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng, người đầu tiên sử dụng vật liệu hiện đại nhưng giữ nguyên những giá trị kiến trúc chùa Việt Nam truyền thống, có sự cộng tác của các ông Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu. Kỹ sư Bùi Văn Tố thiết kế kỹ thuật và ban kiến thiết miền Vĩnh Nghiêm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất điều hành thực hiện xây dựng công trình. Chùa được khởi công năm 1964 tại khu sình lầy bên cạnh rạch sông Thị Nghè cũ. Trong quá trình thi công, phải đổ thêm 40.000 m³ đất lấp sình lầy. Công trình được hoàn thành về cơ bản vào năm 1971, gồm Phật điện, Bảo tháp và cơ sở văn hóa xã hội. Tiền xây dựng được lấy từ đóng góp công đức của chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng tọa, Đại đức Tăng, Ni và Phật tử, chủ yếu có nguyên quán Bắc Việt sống tại miền Nam. Năm 1982, chùa xây thêm Bảo tháp Xá Lợi Cộng Đồng, hoàn thành năm 1984. Tháp cũng được xây theo một kiểu khá độc đáo. Có các cầu thang từ sân dẫn lên tháp. Đây là nơi để lọ đựng tro thi hài người chết mà thân nhân của họ giữ ở chùa. Tháp Đá gồm 7 tầng cao 14 m của chùa được hoàn thành vào ngày 27 tháng 12 năm 2003, được coi là tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam Chùa Vĩnh Nghiêm giữ nét kiến trúc xưa với hàng mái ngói đao thẳng cong hai tầng ngay cổng tam quan; mái chùa với những lối đi nối qua khoảng sân đến toà nhà chính và màu sắc theo đúng đặc điểm của kiến trúc truyền thống Việt Nam. Những công trình chạm khắc gỗ ở đây có bao lam tứ linh, bao lam cửu long và đặc biệt là có các phù điêu trên các hương án chạm các ngôi chùa danh tiếng tại Việt Nam và một số nước châu Á. Toàn thể Phật điện gồm ba lớp: Bái Điện, Bản Điện và Địa Tạng Đường kiến trúc theo kiểu chữ công. Các góc mái chùa đều uốn cong theo kiểu chùa miền Bắc: mái trước chồng diêm. Chính giữa đỉnh nóc có Bánh xe pháp luân và các góc có hình đầu phượng. Tính đột phá trong kiến trúc ở chùa Vĩnh Nghiêm là việc sử dụng vật liệu bê tông, cốt thép trong một kết cấu hoàn toàn mới so với việc xây dựng chùa trước đó. Kết cấu này mang lại vẻ bề thế vững chãi, mọi chi tiết đều tôn nên sự uy nghi, rộng lớn. Kiến trúc sư Khương Văn Mười đã đánh giá "Đi tìm một bản sắc không phải là đơn giản, đây là sự cố gắng rất lớn của Nguyễn Bá Lăng..." Có người còn nhận xét phong cách kiến trúc và việc sử dụng chất liệu mới của Nguyễn Bá Lăng trong chùa Vĩnh Nghiêm đã đặt nền móng cho một quan niệm mới: giá trị truyền thống không nằm trong sự lặp lại mà trong sự cách tân sáng tạo. 4.7 Cần Giờ Cần Giờ được mệnh danh là “một vùng đất của biển, của rừng”.Với lịch sử hào hùng trong hơn 300 năm hình thành và phát triển cùng những kỳ tích oanh liệt trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, con người cần giờ bên bỉ như cây đước cây bần cắm sâu bộ rễ chắc khỏe vào lòng đất mặn để chắt chiu từng giọt khoáng chất nuôi sống màu xanh quê hương ngày càng tươi đẹp hơn. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới xích đạo, với hướng gió chính là gió Tây nam, mùa mưa bắt đầu muộn và kết thúc sớm hơn so với các vùng khác trong thành phố Hồ Chí Minh. Đây là yếu tố rất thuận lợi cho du khách đến thăm quan và du lịch Cần Giờ quanh năm. 21
  • 22.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Địa danh vùng Tam thôn Hiệp, Thạnh An, vịnh Gành Rái, Giồng an…đều gắn liền với những câu chuyện về cuộc chạy trốn trước cuộc khởi nghĩa Tây Sơn của Nguyễn Ánh, hay những chiến công của người dân Cần Giờ trong kháng chiến cứu nước. Ghi nhớ công ơn của các bậc tiền nhân khai hoang mở đất, tạo lập thổ cư, đồng ruộng trên vùng đất ven biển phát triển đến ngày nay. Căn cứ Rừng Sác. Căn cứ Rừng Sác đã được công nhận là Di sản cấp quốc gia vào ngày 15/12/2004. Đặc điểm: Biển bùn: biển Cần Giờ dài hơn 20 km, có màu nước đục do phù sa bồi đất sét bùn, nhưng rất sạch. Vì thế Cần Giờ là một trong những vùng biển bùn tiêu biểu của Việt Nam. Khu dụ trữ sinh quyển Cần Giờ. Được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển của thế giới vào ngày 21/1/2000. Đặc điểm: vùng ngập mặn Cần Giờ có diện tích lớn hơn 38000 ha, chiếm hơn ½ diện tích Cần Giờ. Nơi đây được coi là lá phổi xanh của thành phố, là vùng kinh tế trọng điểm phía nam đất nước về du lịch sinh thái, môi trường quan trọng trong việc điều hòa khí hậu hạn chế xói mòn làm màu mỡ đất, hạn chế ô nhiễm môi trường nước và không khí. Các loại cây phổ biến ở đây là: cây đước, cây bần, chà là, cây mắm, cây dà… Khu dụ trữ sinh quyển Cần Giờ là một trong 368 khu dự trữ sinh quyển trên thế giới, trải dài trên 91 quốc gia. Khu du lịch đảo Thạnh An. Là hòn đảo nhỏ nằm giữa sông và biển. Nơi đây có núi đá Giồng Chùa là núi duy nhất ở thành phố Hồ Chí Minh có thắng cảnh đẹp, nhìn từ xa nó như hòn non bộ ở biển khơi không bị ngập nước và ảnh hưởng của thủy triều. Thổ nhưỡng: đất nâu vàng. Đất nơi đây là điều kiện tốt nhất để phát triển rừng cây lá rộng. Đặc sản Cần Giờ Xoài cát Cần Giờ, xoài cát trắng là hai loại trái cây ngon phổ biến ở cần giờ chiếm hơn 80% sản lượng. ngoài ra còn có xoài thơm , xòai cát chu. Xoài ở đây tập trung tại xã Long Hòa, thị trấn Cần Thạnh. Ngoài ra còn có mãng cầu cần giờ được thu hoạch vào tháng 7 âm lịch. Mãng cầu có vị ngọt, vỏ xanh đậm đà, mang hương vị đặc trưng của vùng đất cát ven biển. Thủy sản Địa sâm, vòm xanh, cá khoai, cá dứa, cá nâu, cua, ghẹ, tôm sú, sò huyết, nghêu, hàu, cá ngát, cá chìa vôi. Thủy sản được nuôi tại những nơi thuộc địa phận xã Long Hòa, Thạnh An, Lý Nhơn, Bình Khánh, An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp thị trấn Cần Thạnh. Món ngon Cần Giờ - Sò huyết giò Cần Giờ. - Sò tái thái tại nhà hàng duyên hải Cần Giờ. - Tôm chiên xù - Vòm xanh cần giờ hấp. - Cá ngát, cá khoai Cần Giờ chiên xù. - Cá mao ếch nướng. - Cơm niêu Cần Giờ. - Ốc mỡ Cần Giờ hấp 22
  • 23.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị - Cơm nắm cá khô Cần Giờ. Một số địa chỉ ẩm thực tại Cần Giờ - Nhà hàng Hàng Dương: Khu nghỉ mát 30/4 - Nhà hàng Phi Lao: Khu nghỉ mát 30/4 - Nhà hàng Hồng Phát: Khu nghỉ mát 30/4 - Nhà hàng Nam Kỳ quán: Đường Phan Đức. - Nhà hàng Sao Biển: Đường Duyên Hải. - Quán Rừng: 1/76 Ấp Long Thạnh,Long Hòa - Quán Ngọc Thoa I: Ấp Đồng Tranh - Quán Ngọc Thoa II: Ấp Long Thạnh 4.8 Chợ Bến Thành Chợ Bến Thành là một trong những địa điểm tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh. Trong nhiều trường hợp, hình ảnh khu cửa nam ngôi chợ này được xem là biểu tượng của thành phố. Nguyên thủy, chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp xâm chiếm Gia Định. Ban đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Định (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái). Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành, và khu chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành. Chợ Bến Thành thời kỳ đầu được xây bằng gạch, sườn gỗ, lợp tranh, được mô tả như là "phố chợ nhà cửa trù mật ở dọc theo bến sông. Chỗ đầu bến này có lệ đến đầu mùa xuân gặp ngày tế mạ, có thao diễn thủy binh, nơi bến có đò ngang chở khách buôn ngoài biển lên. Đầu phố phía Bắc là ngòi Sa ngư, có gác cầu ván ngang qua, hai bên nách cầu có dãy phố ngói, tụ tập trăm thứ hàng hóa, dọc bến sông ghe buôn lớn nhỏ đến đậu nối liền"[1] . Tuy nhiên, saucuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), thành Quy bị triệt hạ, phố chợ Bến Thành cũng không còn sầm uất như trước. Trước khi Pháp đánh chiếm Gia Định, khu vực xung quanh thành Gia Định (bấy giờ là thành Phụng) mới chỉ có 100 ngàn dân và chợ Bến Thành là nơi đông đúc nhất. Cạnh khu chợ, dọc theo bờ sông Bến Nghé, các ghe thương thuyền thường đậu chen chúc nhau, tạo thành một thành phố nổi trên mặt nước. Tuy nhiên, khi ấy khu họp chợ trên bến mới chỉ là một dãy nhà trống lợp ngói. Tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định và hai ngày sau, các binh lính người Việt đã tổ chức hỏa công thiêu rụi cả thành phố, tất nhiên chợ Bến Thành cũng bị thiêu hủy. Sau khi đã vững chân trên mảnh đất Nam Kỳ, năm 1860, người Pháp đã cho cho xây cất lại chợ Bến Thành ở địa điểm cũ (thời Việt Nam Cộng hòa là địa điểm Tổng Ngân khố, nay là Trường đào tạo cán bộ ngân hàng trên đường Nguyễn Huệ). Ngôi chợ được xây cất bằng cột gạch, sườn gỗ, và lợp lá. Đến tháng 7 năm 1870, chợ bị cháy mất một gian, phải xây cất lại bằng cột gạch, sườn sắt, lợp bằng ngói, tất cả có năm gian: gian thực phẩm, gian hàng cá, gian hàng thịt, gian hàng ăn uống và gian hàng tạp hóa. Trong năm gian hàng này, chỉ có gian hàng thịt được lợp bằng tôn, nền lót đá xanh. Thời đó, khu chợ được xây dựng bên bờ phía nam một con kênh, được gọi là Kinh Lớn. Phía trước chợ, dọc bờ kênh là một con đường được người Pháp đặt tên là đường Charner, hay một tên gọi khác là đường Quảng Đông (Rue de Canton), bởi đa số người Hoa làm nghề buôn bán ở đây đều là người Quảng Đông. Phía đối diện bờ kênh là đường Rigault de Genouilly. Do vị trí nằm giao điểm của khu đô thị và hợp lưu của hai tuyến đường thủy là kênh Lớn và rạch Cầu Sấu (nay là đường Hàm Nghi), ghe thuyền có thể cập bến và đổ người lên chợ bất cứ ở phía bên này hay bên kia. Còn người bên đất liền muốn qua chợ thì có thể đi qua những chiếc cầu gỗ xinh xắn, do đó chợ Bến Thành luôn luôn nhộn nhịp. 23
  • 24.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Vào năm 1887, người Pháp cho lấp con kênh và sát nhập hai con đường lại làm một thành đại lộ Charner. Dân bản xứ gọi nôm là đường Kinh Lấp (nay là Đại lộ Nguyễn Huệ). Khu chợ càng trở nên đông đúc với các cửa hiệu phần nhiều là của người Hoa, người Ấn Độ và người Pháp. Tuy nhiên, khoảng giữa năm 1911, ngôi chợ trở nên cũ kỹ và lâm vào tình trạng có thể bị sụp đổ. Để tránh tai họa, người ta phải phá chợ, chỉ còn gian hàng thịt, vì mái tôn nhẹ, nên chưa bị phá. Đồng thời, người Pháp cũng lựa chọn một địa điểm để xây cất một khu chợ mới lớn hơn để phục vụ nhu cầu buôn bán sầm uất ngày càng phát triển. Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (nay là Bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay. Khu vực xây chợ, vốn là một cái ao sình lầy cũ, gọi là ao Bồ Rệt (Marais Boresse), được người Pháp cho lấp đi. Khuôn viên chợ quy hoạch bốn mặt bởi bốn con đường. Mặt tiền là Place Cuniac, tên đặt theo viên Xã Tây (Ủy viên Hội đồng) Cuniac, người đã đề ra công việc lấp ao. Người Việt thì quen gọi đó là Bùng binh Chợ Bến Thành cho dù tên chính thức đã từng đổi là "Công trường Cộng Hòa", "Công trường Diên Hồng", rồi "Quảng trường Quách Thị Trang". Mặt bắc chợ là Rue d'Espagne, phía đông là rue Viénot, và phía tây là rue Schroeder. Năm 1955 thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, bốn con đường này đổi tên thành đường Lê Thánh Tôn, đường Phan Bội Châu và đường Phan Châu Trinh. Ngôi chợ mới do hãng thầu Brossard et Maupin[2] khởi công xây dựng từ năm 1912 đến cuối tháng 3 năm 1914 thì hoàn tất. Lễ ăn mừng chợ khánh thành được báo chí thời đó gọi là "Tân Vương Hội", do được diễn ra trong ba ngày 28, 29 và 30 tháng 3 năm 1914, với pháo bông, xe hoa và hơn 100.000 người tham dự, kể cả từ các tỉnh đổ về. Khu chợ mới này vẫn mang tên gọi Bến Thành; tuy nhiên cho đến trước năm 1975 tên gọi chợ Bến Thành này thường chỉ hiện diện trong sách vở, còn người dân thì thường gọi là chợ Sài Gòn hay chợ Mới, để phân biệt chợ Cũ tại điểm cũ, vốn chỉ còn lại gian hàng thịt. Phần còn lại bị phá đi và được người Pháp xây dựng thành cơ quan Ngân khố. Hai con đường bên hông chợ mãi đến năm 1940 còn là bến xe đò miền Đông và miền Tây. Về sau, bến xe này mới được dời đi chỗ khác. 4.9 Khu du lịch Bình Quới Làng Du lịch Bình Quới nằm trên bán đảo Thanh Đa bên bờ sông Sài Gòn, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 8km. Bình Quới có tổng diện tích 34.635 m2 , tiếp giáp với sông Sài Gòn về phía Tây Bắc nên có khí hậu thoáng mát trong lành với cảnh quan sông nước độc đáo, đây là khu du lịch tổng hợp lớn nhất tại thành phố Hồ Chí Minh. Khu du lich Bình Quới 1 Mặt bằng rộng, thoáng mát bên bờ sông Sài Gòn, Khu Du Lịch Bình Quới 1 được nhiều người biết đến như một khu thư giãn và ăn uống theo phong cách Nam Bộ dân dã, mộc mạc. Với khoảng không gian xanh tươi, tĩnh lặng của những thảm cỏ non mượt mà, cùng bóng mát của những hàng dừa nước nghiêng mình bên dòng kênh Sở Nhật bao đời . . . đã tạo nên một nét riêng cho Bình Quới. Tại đây có 55 phòng ngủ trang thiết bị hiện đại, ẩn mình dưới những tán cây rợp mát ven sông. Nhà hàng ở đây là địa chỉ tin cậy cho những cuộc liên hoan, chiêu đãi và rất nổi tiếng với những món nướng hay đặc sản Việt Nam. Hàng đêm tại khu du lịch có chương trình văn nghệ dân tộc độc đáo: "lễ hội Kỳ Yên", "ca nhạc tài tử Nam bộ trên Ghe Hầư', "đám cưới truyền thống Việt Nam", ca nhạc dân tộc... Các chương trình văn nghệ này đã cuốn hút đông đảo du khách trong và ngoài nước tới xem. Tại đây, du khách cũng có thể tham dự lướt ván, câu cá, quần vợt, bơi lội, và nhiều môn thể thao khác. Nơi đây thường được các cộng đồng kiều dân nước ngoài chọn để tổ chức lễ kỷ niệm quốc khánh; cũng như nhiều công ty chọn làm nơi tổ chức tỗng kết, chiêu đãi và hội nghị. Từ Bình Quới, du khách có thể du thuyền theo tuyến sông Sài Gòn đến thăm địa đạo Bến Dược, vườn trái Lái Thiêu hoặc về bến cảng Nhà Rồng... Khu du lịch Bình Quới 2 Từ Khu Du lịch Bình Quới 1 vào khoảng 400m, Khu Du Lịch Bình Quới 2 có diện tích 25.380m2 , với mặt tiếp giáp sông Sài Gòn dài khoảng 300 mét, được đưa vào kinh doanh từ năm 1984 với mô hình ban đầu là nhà hàng được xây dựng dọc theo bờ sông. Đến năm 1989 được Saigontourist đầu tư nâng cấp mở rộng thêm nhiều dịch vụ. Sau gần 20 24
  • 25.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị năm hoạt động, từng bước đầu tư xây dựng cơ sở hạ từng, đến nay Khu Du Lịch Bình Quới 2 đã trở thành điểm du lịch lý tưởng của nhiều khách đến ăn uống, nghỉ ngơi, thư giãn. 4.10 Dinh Thống Nhất Năm 1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm chiếm Việt Nam. Năm 1867, Pháp chiếm xong lục tỉnh Nam kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Ngày 23 tháng 2 năm 1868, ông Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière đã làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn thay cho dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863. Dinh mới được xây dựng theo theo đồ án do kiến trúc sư Hermite phác thảo. Viên đá lịch sử này là khối đá lấy ở Biên Hòa, hình vuông rộng mỗi cạnh 50 cm, có lỗ bên trong chứa những đồng tiền hiện hành thuở ấy bằng vàng, bạc, đồng có chạm hình Napoleon đệ tam. Công trình này được xây cất trên một diện tích rộng 12 ha, bao gồm một dinh thự lớn với mặt tiền rộng 80 m, bên trong có phòng khách chứa 800 người, và một khuôn viên rộng với nhiều cây xanh và thảm cỏ. Phấn lớn vật tư xây dựng dinh được chở từ Pháp sang. Do chiến tranh Pháp-Phổ1870 nên công trình này kéo dài đến 1873 mới xong. Sau khi xây dựng xong, dinh được đặt tên là dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng được gọi là đại lộ Norodom, lấy theo tên của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ là Norodom (1834-1904). Từ 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ nên gọi là dinh Thống đốc. Từ 1887 đến 1945, các Toàn quyền Đông Dương đã sử dụng dinh thự này làm nơi ở và làm việc nên dinh gọi là dinh Toàn quyền. Nơi ở và làm việc của các Thống đốc chuyển sang một dinh thự gần đó. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm1945, Nhật thất bại trong Thế chiến II, Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của Pháp ở Việt Nam. Sau năm 1954, người Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam bị chia cắt thành 2 quốc gia, miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn miền Nam là nước Quốc Gia Việt Nam (sau thành Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7 tháng 9năm 1954 Dinh Norodom được bàn giao giữa đại diện Pháp, tướng 5 sao Paul Ely, và đại diện Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống. Ông quyết định đổi tên dinh này thành Dinh Độc Lập. Từ đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng Thống. Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ đầu rồng. Ngày 27 tháng 2 năm 1962, hai viên phi công thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc, lái 2 máy bay AD-6 ném bom làm sập toàn bộ phần chính cánh trái của dinh. Do không thể khôi phục lại, ông Ngô Đình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã. Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962. Trong thời gian xây dựng, gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long (nay là Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh). Công trình đang xây dựng dở dang thì ông Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 11 năm 1963. Do vậy, ngày khánh thành dinh, 31 tháng 10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là ông Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây trở thành trụ sở của Việt Nam Cộng hòa. Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từtháng 10 năm 1967 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975. Ngày 8 tháng 4 năm 1975,chiếc máy bay F-5E do Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh, gây hư hại không đáng kể. 25
  • 26.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Lúc 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng T54 mang số hiệu 843 của Quân giải phóng miền Nam đã húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc Lập, tiếp đó xe tăng mang số hiệu 390 đã húc tung cổng chính tiến thẳng vào dinh. Lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân Giải phóng Bùi Quang Thận, đại đội trưởng, chỉ huy xe 843, đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng Hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên, kết thúc 30 năm cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất hai miền Nam Bắc thành một đất nước Việt Nam thống nhất diễn ra tại dinh Độc Lập vào tháng 11 năm 1975, để kỷ niệm, chính phủ lâm thời nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quyết định đổi tên Dinh Độc Lập thành Hội trường Thống Nhất. Nơi này được đặc cách xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 77A/VHQĐ ngày 25/6/1976 của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) của chính quyền Việt Nam hiện nay. Dinh được xây dựng trên diện tích 4.500 m², diện tích sử dụng 20.000 m², gồm 3 tầng chính, 1 sân thượng, 2 gác lửng, tầng nền, 2 tầng hầm và một sân thượng cho máy bay trực thăng đáp xuống. Hơn 100 căn phòng của Dinh được trang trí theo phong cách khác nhau tùy theo mục đích sử dụng bao gồm các phòng khánh tiết, phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc của Tổng Thống và của Phó Tổng Thống, phòng trình ủy nhiệm thư, phòng đại yến, v.v... chưa kể các phần khác như hồ sen bán nguyệt hai bên thềm đi vào chánh điện, bao lơn, hành lang... Dinh cao 26m, tọa lạc trong khuôn viên rộng 12 ha rợp bóng cây. Bên ngoài hàng rào phía trước và phía sau Dinh là 2 công viên cây xanh. Giữa những năm 1960, đây là công trình có quy mô lớn nhất miền Nam và có chi phí xây dựng cao nhất (150.000 lượng vàng). Các hệ thống phụ trợ bên trong Dinh hiện đại: điều hòa không khí, phòng chống cháy, thông tin liên lạc, nhà kho. Tầng hầm chịu được oanh kích của bom lớn và pháo. Mặt tiền của Dinh được trang trí cách điệu các đốt mành trúc phỏng theo phong cách các bức mành tại các ngôi nhà Việt và họa tiết các ngôi chùa cổ tại Việt Nam. Các phòng của Dinh được trang trí nhiều tác phẩm non sông cẩm tú, tranh sơn mài, tranh sơn dầu. Cơ quan hiện quản lý di tích văn hoá Dinh Thống Nhất có tên là Hội trường Thống Nhất thuộc Cục Hành chính Quản trị II - Văn phòng Chính Phủ. Đây là di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng được đông đảo du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan. 4.11 Bưu điện trung tâm thành phố Ngay sau khi đánh thành Gia Định, chiếm được vùng đất Sài Gòn, Pháp đã thiết lập hệ thống thông tin liên lạc. Ngày 11.11.1860, "Sở dây thép" Sài Gòn (tức Bưu điện Sài Gòn) được thành lập. Ông Phạm Văn Trung là người Việt Nam đầu tiên làm giám đốc Bưu điện An Nam tại Sài Gòn. Ngày 13.1.1863, Sở dây thép Sài Gòn được chính thức khánh thành và phát hành “con cò" (người Sài Gòn xưa hay gọi con tem là con cò) đẩu tiên. Năm 1864, dân chúng Sài Gòn bắt đầu gởi thơ qua nhà "dây thép" (hệ thống bưu điện). Năm 1886, Bưu điện Sài Gòn được xây cất lại với qui mô hiện đại thay thế cho trụ sở và khu nhà ở cũ, tòa nhà bưu điện thành phố được xây dựng lại theo đề án của kiến trúc sư người Pháp là Vilơdic.. Đến năm 1891, trụ sở mới của Bưu điện Sài Gòn được chính thức khánh thành. Trước đó, đường dây thép Sài Gòn - Qui Nhơn - Đà Nẵng - Huế - Vinh - Hà Nội dài 2000 km đã được chính thức hoàn thành (vào ngày 22.3.1888). Năm 1889 mở thêm đường liên lạc điện báo Sài Gòn - Bangkok để phục vụ cho giới kinh doanh thương mại. Từ ngày 1.7.1894 Sài Gòn bắt đầu sử dụng hệ thốngđiện thoại. Ngày nay hệ thống bưu chính viễn thông trở nên quen thuộc với mọi người dân nhưng từ nửa đầu thế kỷ 20 trở về trước hệ thống bưu điện vẫn còn xa lạ đối với nhiều người dân Sài Gòn. Toà nhà Bưu điện Sài Gòn là một trong những công trình kiến trúc nổi tiếng của thành phố, có nhiều đặc trưng của phong cách kiến trúc châu Âu và châu Á quyện vào nhau. Tòa nhà tọa lạc bên hông Vương cung Thánh đường (Nhà thờ Ðức Bà) ở quảng trường Công Xã Paris. Nhà Bưu 26
  • 27.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị điện được xây dựng xong, trở thành một loại hình dịch vụ lạ và gây ấn tượng rất mạnh với dân chúng. Vẻ đẹp độc đáo của toà nhà bưu điện thành phố càng được tôn lên vì trước mặt nó có một công trình lộng lẫy là Nhà thờ Đức Bà với tháp chuông cao vút. Từ đó đến nay, tòa nhà này luôn là trung tâm bưu điện của thành phố. Tòa nhà nổi bật với sự bố cục cân đối của các hạng mục công trình mang tính thẩm mỹ cao. Các chi tiết cân đối, chia đều ra hai bên, đối xứng nhau qua một "trục" trung tâm. Mặt tiền có kết cấu hình khối, với vòm cung phía trên các cửa. Hệ thống cột, trụ chính, phụ, mái hiên đều có kết cấu hình khối vuông. Trên mỗi đầu trụ, cột được chạm khắc hoa văn, phù điều công phu, tỉ mỉ. Ở mặt tiền tòa nhà có hệ thống đường viền, đường chỉ là những chuỗi hoa văn chạy ngang, tạo nên vẻ đẹp, sự cân đối và làm cho tòa nhà có vẻ như không cao lắm. Bên trong tòa nhà là hệ thống vòm cung sát cửa chính và vòm cung dài bên trong. Vòm cung lớn được chống đỡ bởi bốn trụ sắt nằm bốn góc, mỗi cột chống đỡ bốn kèo sắt tỏa ra bốn phía. Vòm cung dài được chịu lực bởi hai hàng trụ sắt hai bên. Các điểm tiếp nối giữa trụ và kèo sắt được thiết kế công phu, chạm khắc thành những chi tiết có hoa văn đẹp. Với hệ thống vòm cung này, tòa nhà trở nên cao, rộng rãi và thoáng mát, thích hợp với một nơi thường có nhiều người ra vào. Với thiết kế độc đáo từ trong đến ngoài như vậy, tòa nhà Bưu điện Sài Gòn có thể xem là một công trình xây dựng có phong cách độc đáo về kiến trúc, màu sắc của Sài Gòn lúc bấy giờ. Trên vòm mái trong tiền sảnh của toà nhà có hai bản đồ lịch sử: “Saigon et ses environs 1892” và “Lignes télegraphiques du Sud Vietnam et du Cambodge 1936”. Ngày nay, xung quanh tòa nhà chính còn có thêm một số công trình kiến trúc làm kho tàng, lắp đặt những máy móc, thiết bị bưu điện truyền tin hiện đại… 4.11 Mười tám thôn vườn Trầu Theo các nhà nghiên cứu, Mười tám thôn vườn trầu hình thành do quá trình di dân đầu thế kỷ 17. Trong quá trình sinh cơ lập nghiệp, từ năm 1698 đến 1731, nông dân nơi đây đã lập ra 6 thôn đầu tiên, từ đó đến năm 1802, phát triển thêm 12 thôn. Trịnh Hoài Đức đã chép trong Gia Định thành thông chí như sau: “Ở về phía tây cách trấn 52 dặm rưỡi. Địa thế xung yếu, nằm ngay trên đường bộ thông suốt vào Cao Miên, đặt đạo Quang Oai ở đấy để canh giữ. Khi trước có 18 thôn phụ giữ nơi ấy, dân cư ở đây rất đông đúc, tạo thành một chợ lớn ở miền núi. Dân nơi đây đều có sản nghiệp, phần nhiều là vườn trầu, họ thường gánh trầu đi bộ từng nhóm 3, 4 mươi người xuống bán ở hai chợ Sài Gòn và Bến Nghé. Nơi đây còn nhiều rừng rậm, cọp dữ thường hay bắt người ăn thịt nên có câu: Hung dữ như cọp Vườn Trầu. Vào năm 1782, quân Tây Sơn đã có trận giao tranh ác liệt với quân chúa Nguyễn tại vùng Vườn Trầu. Tiền quân Tây Sơn bị phục kích, Hộ giá Phạm Ngạn - một sủng thần của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc bị tướng Trần Công Chương của cánh quân Hòa Nghĩa - đa phần là người Hoa, giết chết. Vua Thái Đức tức giận, bèn ra lệnh thảm sát người Hoa tại Gia Định. Đây là một hành động thất nhân tâm của quân Tây Sơn tại miền Nam. Tuy lần lượt thuộc quyền quản hạt của tổng Bình Dương, huyện Tân Bình, trấn Phiên An (1698-1808); rồi tổng Dương Hòa, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An (1808-1832) rồi tỉnh Phiên An (1832-1836); rồi tổng Dương Hòa Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (từ 1836), thậm chí từng là nơi đặt trị sở của Nha môn huyện Bình Dương một thời gian; nhưng trên thực tế, Mười tám thôn vườn trầu đều tự quản và nằm ngoài vùng kiểm soát của chính quyền nhà Nguyễn.” Do đặc điểm thổ nhưỡng tốt, phù hợp với cây trầu, cộng với kinh nghiệm của các di dân, Mười tám thôn vườn trầu trở thành nơi chuyên canh và cung cấp trầu cho khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Thuở ban đầu, Mười tám thôn vườn trầu còn hoang sơn, cỏ cây rậm rạp và nhiều thú dữ, đặc biệt là hổ. Tương truyền thời đấy, hổ (người dân kiêng kỵ, nên gọi là "ông ba mươi") vẫn thường đi 27
  • 28.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị trên đường làng giữa ban ngày, còn ban đêm thì thả sức tung hoành quấy phá, vì vậy mới có câu "dữ như cọp Mười tám thôn vườn trầu". Mỗi lúc đi bán trầu, các nhà vườn thường phải nhập toán lên đến ba, bốn mươi người gồng gánh đem trầu về bán tận Sài Gòn, Bến Nghé. Tuy vậy, đến đầu thế kỷ 19, Mười tám thôn vườn trầu đã trở thành một vùng dân cư trù mật với những phiên chợ trầu sầm uất. Các vườn trầu nối liên tiếp xanh bất tận. Nghề nuôi ngựa, nuôi gà chọi ở đây khá nổi tiếng. Đến năm 1841, Mười tám thôn vườn trầu thuộc về quyền quản hạt của huyện Bình Long, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Tuy vậy, địa thế Mười tám thôn vườn trầu thời này vẫn khá hiểm hóc: phía sau là bưng Tầm Lạc mênh mông, cỏ lấp đầu người, nước ngập ngang lưng và rừng liên tiếp lên tận Cao Miên, Lào. Đây là vùng cư ngụ lý tưởng của những người dân lưu tán từ các tỉnh miền Trung, miền Bắc vào, sống ngoài vùng kiểm soát của chính quyền. Đa phần, họ đều giỏi võ nghệ, sống gắn bó, đoàn kết với nhau chống áp bức cũng như thú dữ... Sau khi Pháp chiếm thành Gia Định, rồi mở rộng chiếm 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ. Năm 1862, Pháp đã chia lại địa giới hành chính. Huyện Bình Long thuộc phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định. Cùng trong thời gian đó, nghĩa quân Trương Định - Trương Quyền (1859-1867) từng đặt 1 căn cứ liên lạc chống Pháp tại vùng có tên là Bà Điểm (nay là xã Bà Điểm). Nguyễn Ảnh Thủ cũng lấy đây là căn cứ phát động khởi nghĩa chống Pháp vào năm 1871. Ngay khi chiếm được 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ, Đại úy Lucien de Grammont [3] được cử làm Giám đốc bản xứ sự vụ huyện Bình Long (tiếng Pháp: directeur des Affaires indigènes, bình dân gọi nôm na là Chủ quận) và Trần Phủ Ca được cử làm phụ tá. Do de Grammont thường không có mặt tại nhiệm sở, nên về mặt thực tế Trần Phủ Ca nắm quyền cai trị trực tiếp vùng này và đóng tại dinh quận ở Tân Sơn Nhì. Do lập công đắc lực, Pháp nhanh chóng thăng hàm cho Trần Tử Ca thành Tri huyện (1871) rồi Đốc phủ sứ (1879). Lợi dụng chức quyền nên Đốc phủ Ca lạm quyền tàn ác, vơ vét người dân nơi đây thậm tệ. Vợ và 2 con cũng bức áp dân đen tàn khốc. Năm 1879, Phan Văn Hớn, một nông dân giỏi võ, mưu trí, tính cách hào phóng, ngay thẳng, được dân trong vùng cử làm Hương quản, trông coi việc an ninh trong làng, nên dân trong vùng còn gọi ông là Quản Hớn. Do ông thường đứng ra bênh vực cho dân chống lại cường hào ác bá, Đốc phủ Ca vu cho ông tội loạn nên bắt ông giao Pháp đày ra Côn Đảo chịu án 5 năm tù. Sau khi ra tù, ông cùng Nguyễn Văn Quá (hay Hóa), người Đức Hòa, âm thầm chuẩn bị gươm, dao, mác và bí mật chiêu tập một số nghĩa quân chờ cơ hội khởi nghĩa chống lại áp bức. Dân chúng quá bất mãn vì bị bóc lột tàn nhẫn nên theo Quản Hớn rất nhiều. Vào đêm 30 rạng mùng một tết năm Ất Dậu (tức ngày 8 rạng ngày 9 tháng 2 năm 1885), Phan Văn Hớn, Nguyễn Văn Quá cùng hơn ngàn nghĩa quân chia làm ba mũi, tấn công vào dinh huyện Bình Long, giết chết Đốc phủ Trần Tử Ca, bêu đầu trên cột đèn trước chợ Hóc Môn. Sau cuộc khởi nghĩa 1885, Pháp đổi tên huyện Bình Long thành quận Hóc Môn, chia thành 4 tổng: Long Tuy Thượng, Long Tuy Hạ, Long Tuy Trung và Bình Thạnh Trung. Năm 1930 khi Đảng Cộng sản Ðông Dương ra đời thì Mười tám Thôn vườn trầu được chọn làm hậu cứ, nơi nuôi dưỡng các cán bộ lãnh đạo của Ðảng, nơi cất dấu tài liệu bí mật của Đảng. Trong khoảng thời gian năm 1930 đến 1940, bà con Mười tám Thôn vườn trầu đã bảo vệ, che dấu, nuôi nấng nhiều chiến sĩ cộng sản, nhiều người con ưu tú của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam:Nguyễn Văn Cừ, Phan Ðăng Lưu, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn...Tin vào dân, dựa vào dân, Trung ương Ðảng đã tổ chức ở đây ba cuộc họp quan trọng. Tháng 3 năm 1937 Trung ương Ðảng họp hội nghị mở rộng kiểm điểm tình hình, bàn chủ trương biện pháp cụ thể, nhất là công tác mặt trận và công tác đấu tranh hợp pháp để đẩy mạnh phong trào cách mạng tại ấp Tiến Lâm. Cũng tại ấp này, tháng 3 năm 1938, Trung ương Ðảng họp hội nghị toàn thể kiểm điểm ưu khuyết điểm về các mặt công tác: xây dựng Ðảng, tổ chức quần chúng, xây dựng mặt trận. Và đề ra những chủ trương cụ thể nhằm phát huy thắng lợi đã giành được, đưa phong trào đấu tranh dân chủ lên một bước nữa. Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 11 năm 1939, hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ 6 khai mạc tại ấp Tây Bắc Lân - Mười tám Thôn vườn trầu với sự tham gia của các đồng chí Nguyễn Văn Cừ (Tổng bí thư), Lê 28
  • 29.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Duẩn, Phan Ðăng Lưu, Võ Văn Tần... Hội nghị đã bàn toàn diện các chủ trương của Ðảng trong tình hình mới. Ðêm 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa kỳ bùng nổ. Cả một vùng rộng lớn nông thôn Nam Bộ rung chuyển trước sức nổi dậy, tiến công của quần chúng cách mạng. Ngày đó, bà con Mười tám Thôn vườn trầu tự vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác đánh vào các cơ quan hành chính của thực dân Pháp. Do điều kiện chưa chín muồi, cuộc khởi nghĩa này đã thất bại. Thực dân Pháp dựng trường bắn ngay tại thị trấn Hóc Môn - chỗ ngã ba Giồng. Tại đây, những người con ưu tú của dân tộc, những cán bộ xuất sắc của Ðảng: Nguyễn văn Cừ, Võ Văn Tần, Phan Ðăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai... đã ngã xuống. Ngày nay Hóc Môn vẫn còn những di tích lịch sử ghi dấu những giai đoạn lịch sử anh hùng của nhân dân Hóc Môn cùng nhân dân Nam Bộ đấu tranh anh dũng kiên cường với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ dành độc lập. Như: "Bia căm thù" ở Cầu Xáng, khu di tích. 18 thôn vườn trầu là. 1. Mỹ Toàn 2. Tân Phú 3. Tân Thới Bình 4. Tân Thới Đông 5. Tân Thới Tây 6. Tân Thới Trung 7. Tân Thới Nhứt 8. Tân Thới Nhứt Tây 9. Tân Thới Nhì 10. Tân Thới Nhì Tây 11. Tân Thới Tam 12. Tân Thới Tứ 13. Thuận An 14. Thuận Kiều 15. Trung Hòa 16. Tứ Chánh Giáo Đức 17. Xuân Thới 18. Xuân Thới Tây 4.12 Chùa Bà Thiên Hậu Chùa Bà Thiên Hậu (theo cách gọi của người Việt) còn được gọi là chùa Bà Chợ Lớn, tên chữ Hán là Thiên Hậu miếu, người Hoa gọi là Phò Miếu (tức miếu Đức Bà). Do bên cạnh chùa có Tuệ Thành Hội quán là nơi quy tụ của nhóm người Hoa Quảng Đông, nên chùa còn được gọi Tuệ Thành Hội quán. Đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất của người Hoa đã gây dựng trên đất Đề Ngạn xưa. Chùa hiện tọa lạc tại số 710 đường Nguyễn Trãi, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Chùa Bà Thiên Hậu được nhóm người Hoa gốc huyện Tuệ Thành (Quảng Đông) di dân sang Việt Nam góp vốn và góp công xây dựng vào khoảng năm 1760 và được trùng tu nhiều lần. Chùa nằm trong khu trung tâm của những người Hoa đầu tiên đến tạo lập nên Chợ Lớn sau này. 29
  • 30.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Sách Đại Nam nhất thống chí ghi: Cách huyện Bình Dương 12 dặm, ở phía tả và phía hữu đường quan lộ. Nơi chợ có đường thông ra tứ phía đi liên lạc như hình chữ "điền", nhà cửa phố xá liên tiếp thềm mái cùng nhau, người Hán, người Thổ ở chung lộn dài độ 3 dặm, đủ cả hàng hóa trăm thức,...đầu phía bắc đường lớn có đền Quan Công, quán Tam Hội, xây cất đối nhau phía tả và phía hữu. Phía tây đường lớn có chùa Thiên Hậu, gần phía tây có Ôn Lăng Hội Quán. Chùa thờ bà Thiên Hậu là chính. Bà được người Quảng Đông gọi là “A Phò” (Đức Bà). Người Phúc Kiến và Hải Nam thích gọi bà là "Đạo Mẫu". Thiên Hậu Thánh Mẫu tên thật là Lâm Mặc Nương, người làng Mi Châu, huyện Bồ Điền, tỉnh phúc Kiến, con ông Lâm Tức Khánh. Theo lời kể của người Phúc Kiến rằng, cha và anh trai làm nghề đi biển. Một hôm gặp sóng to gió lớn, thuyền chao đảo muốn chìm. Bà vội vã chèo thuyền ra biển cứu cha và anh, nhưng chỉ cứu được cha mà thôi. Ít lâu sau bà qua đời và trở nên linh thiêng. Từ đó người dân trong làng đều đến gặp bà cầu xin bình an trước khi đi biển. Chùa xây theo hình ấn, là kiểu kiến trúc đặc trưng cùa người Hoa, đây là tổ hợp 4 ngôi nhà liên kết nhau tạo thành mặt bằng giống hình chữ "khẩu" hoặc chữ "quốc". Ba dãy nhà ở giữa tạo thành tiền điện, trung điện và hậu điện. Giữa các dãy nhà này có một khoảng trống gọi là thiên tỉnh (giếng trời), giúp không gian chùa thoáng đãng, đủ ánh sáng cho hậu cung và có chỗ thoát khói hương. Trang trí ở các điện là hình hoa lá, chim thú và hoành phi, câu đối, biển tự thường là màu đỏ, vàng tạo sự ấm áp, tin tưởng. Chùa còn có các bức tranh đắp nổi liên hoàn, các con vật thuộc "tứ linh". Chùa có gắn các tượng tròn, phù điêu bằng gốm dày đặc từ trên nóc chùa, mái, hiên chùa cho đến các bàn thờ, vách tường... do 2 lò gốm Bửu Nguyên và Đồng Hòa sản xuất vào năm 1908. Tiền điện là hai trang thờ hai bên: Phúc Đức Chánh thần (phải) và Môn Quan Vương Tả (trái). Tại đây có bia đá ghi truyền thuyết về Thiên Hậu Thánh Mẫu và các bức tranh lớn vẽ cảnh bà đang hiển linh trên sóng nước. Trung điện đặt bộ lư có năm món (ngũ sự) đúc năm Quang Tự thứ 12 (1886). Chánh điện, được gọi là Thiên hậu Cung, gian giữa thờ Bà Thiên Hậu, hai bên thờ bà Kim Hoa Nương Nương (phía phải) và Long Mẫu Nương Nương (phía trái). Được biết pho tượng Bà Thiên Hậu tạc từ một khối gỗ nguyên cao 1m, có từ khá lâu, trước khi xây chùa, vốn được thờ ở Biên Hòa và đến năm 1836 mới di chuyển về đây. Hai pho tượng còn lại bằng cốt giấy sơn màu. Các pho tượng đều được khoác áo thêu lộng lẫy. Gian phụ nằm hai bên chính điện thờ Quan Thánh, Địa Tạng, Thần Tài. Chùa Bà Chợ Lớn hàng ngày vẫn đón tiếp những người đến cúng lễ khá đông. Nhưng đông hơn là vào các ngày mùng một và rằm hàng tháng, các ngày lễ Tết trong năm của người Hoa như Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, Tết Đoan ngọ... Đặc biệt, ngày 28 Tết, chùa tiến hành lễ cúng Bà và Lễ khai ấn, cầu mong Bà phò trợ cho “Hộ quốc an dân” và “Hợp cảnh bình an”. Riêng ngày vía Bà (23 tháng 3 [âm lịch]) được xem là ngày hội chính của chùa. Vào ngày này, bà con người Hoa, người Việt đến cúng lễ rất đông. Ngay từ đêm hôm trước tại chùa đã cử hành Lễ tắm Bà. Sáng ngày 23, mọi người lại tổ chức Lễ rước Bà: Tượng Bà được đặt vào kiệu do các thanh niên nam nữ ăn mặc đẹp đẽ diễu qua các đường phố quanh chùa. Theo sau kiệu có thuyền rồng, các tấm bảng đỏ ghi tên các vị thần được thờ phụng trong chùa, các đội múa gồm: múa lân, múa sư tử, múa rồng, các đội nhạc dân tộc vừa biểu diễn vừa múa hát, tạo nên một quang cảnh náo nhiệt trong các khu phố đông đảo người Hoa.. Chánh điện chùa còn 2 đại đồng chung niên hiệu Càn Long năm thứ 60 (1796) và Đạo Quang năm thứ 10 (1830). Trung điện có bộ lư phát lam lớn niên hiệu Quang Tự thứ 12 (1886). Trong tủ kính lớn ở chính điện là tượng Bát Tiên và tướng lịnh của D'Ariès vào năm 1860 cấm các 30
  • 31.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị binh sĩ Pháp và Y-Pha-Nho phá phách. Hai bên bộ lư là kiệu sơn son thiếp vàng, bằng gỗ tốt, dành rước Bà vào ngày vía Bà với chiếc thuyền rồng chạm hình nhân, rước theo cùng với kiệu Bà. Ngoài ra, chùa còn khoảng 400 đồ cổ, trong đó có 7 pho tượng thần, 6 tượng đá, 9 bia đá, 2 chuông nhỏ, 4 lư hương đồng, 1 lư hương đá, 10 bức hoành phi, 23 câu đối và 41 tranh nổi... Tất cả những cổ vật này đều được chế tác rất công phu, tỉ mỉ với những đường nét tinh tế Chùa Bà Thiên Hậu là một trong những ngôi chùa miếu, có lịch sử lâu đời nhất của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh giá trị về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hiện vật cổ, nơi đây còn có một giá trị khác, đó không chỉ là nơi đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà còn là nơi qui tụ và tương trợ lẫn nhau của bà con người Việt gốc Hoa (Quảng Đông). Sự tích Bà Thiên Hậu, qua người kể đôi khi có ít nhiều dị biệt nhưng chủ yếu vẫn là đề cao một người phụ nữ Hoa có lòng hiếu thảo, đức hạnh, dám xả thân vì mọi người...Sự đề cao này nhằm mục đích giáo dục. Mặt khác trên bước đường nguy nan, nhiều sóng gió khi sang vùng đất mới để mưu sinh, người Hoa tin tưởng sự hiển linh của bà sẽ giúp họ vượt qua được mọi trở ngại và được an cư lạc nghiệp. Để tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với sự phù trợ của Bà, Chùa Bà Thiên Hậu có vị trí quan trọng đối với người Hoa và cả người Việt. Chùa Bà được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia ngày 07 tháng 01 năm 1993. 5. Sản phẩm lưu niệm Một trong những thú vui khi đến thành phố Hồ Chí Minh là đi dạo phố và mua sắm. Hàng hóa thật phong phú, đủ màu sắc, đủ chủng loại, từ những vật dụng thông thường hàng ngày cho đến những đặc sản nổi tiếng của mọi miền đất nước, từ hàng sản xuất trong nước đến những nhãn hiệu quốc tế có uy tín trên thế giới. Cửa hàng thường trang trí rất đẹp, nhất là các cửa hàng thủ công mỹ nghệ và thời trang, mỗi cửa hàng như một tác phẩm nghệ thuật nho nhỏ. 1. Vòng tay đá: Cổng nhà thờ Đức Bà, chùa Vĩnh Nghiêm. 2. Vòng tay da: Chợ Bến Thành 3. Búp bê sứ, vải: Bưu điện thành phố 4. Tem: Bưu điện thành phố 5. Trái tim bằng gỗ, inox: Địa đạo củ chi. 6. Vòng đeo cổ: chùa Vĩnh Nghiêm, nhà thờ đức bà 7. Áo phông in hình Việt Nam: Chợ Bến Thành, Thương xá Tax. 8. Mũ: Chợ Bến Thành 9. Dép: Địa đạo củ chi. 10. Túi xách: Đường Lê Lợi, chợ Bến Thành 11. Tranh: Đường Nguyễn Văn Trỗi 12. Áo dài: Chợ Bến Thành. 13. Khăn rằn:địa đạo Củ Chi 14. Hàng làm bằng da cá sấu: địa đạo Củ Chi 15. Đá chạm khắc hình thù: Địa đạo củ chi, bưu điện thành phố. 6. Loại hình nghệ thuật truyền thống 6.1 Ca Kịch Quảng Đông 31
  • 32.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Người Hoa có mặt ở Nam bộ rất sớm, cùng với cộng đồng người Việt mở cõi phương Nam từ giữa thế kỷ thứ XVII và dân số phát triển khá nhanh. Song sân khấu ca kịch của họ ở Nam bộ lại rất hiếm. Hiện nay ở phía Nam, chỉ có 2 đoàn nghệ thuật ca kịch chuyên nghiệp của người Hoa biểu diễn ở TP.HCM. Ban đầu họ ca - múa với hình thức dân gian, rồi hình thành từng nhóm ở khu vực định cư. Họ biểu diễn ở sân khấu đất. Thường biểu diễn trong sinh hoạt hội hè, đình đám, giỗ chạp, cưới sinh… mà người Hoa gọi là “Nhạc xã” - tức nghệ thuật biểu diễn không chuyên. Đây là yếu tố nghệ thuật dân gian, được phát triển dần và là cơ sở để hình thành nghệ thuật sân khấu ca kịch chuyên nghiệp sau này. Đoàn Ca kịch Quảng Đông theo phong cách tự sự, trữ tình, điệu bộ mềm dẻo, uyển chuyển, nhưng hóa trang theo sắc thái kinh kịch. Còn Đoàn Ca kịch Triều Châu thì theo phong cách kịch nói hiện đại, điệu bộ tả thực và hóa trang theo sắc thái hơi giống cải lương Nam bộ. Nhân sự của mỗi đoàn có hơn 40 người, được tuyển chọn từ phong trào Nhạc xã, đa số là ở quận 5. Họ không có trường lớp đào tạo chính quy mà chỉ truyền nghề theo kiểu truyền thống “cầm tay chỉ việc”. Cộng với sự tiếp thu nghệ thuật sân khấu từ người Việt, qua những lần dựng vở, do các đạo diễn của TP.HCM thị phạm. Như sự dàn dựng, hướng dẫn của các đạo diễn: NSND Phùng Há, NSND Huỳnh Nga, NSƯT Đoàn Bá, Minh Trị, Minh Quân, v.v… 6.2 Nghệ thuật biễu diễn lân sư rồng Múa Lân Sư Rồng là môn nghệ thuật múa dân gian đường phố, có nguồn gốc từ lâu đời và là một nét văn hóa không thể thiếu của người Việt. Các linh vật Lân - Sư - Rồng tượng trưng cho sự thịnh vượng, phát đạt, hạnh phúc, hanh thông của con người. Do đó, vào mỗi dịp lễ, tết, khai trương, khánh thành, đám cưới, mừng thọ… các đoàn biểu diễn Lân Sư Rồng lại rộn rã những bài múa để cầu chúc một năm mới an khang thịnh vượng, gia chủ phát tài, sung túc Biểu diễn Lân sư rồng là cả một nghệ thuật, do đó để có được những bài múa đẹp mắt, các thành viên phải có một thời gian khổ luyện để có sức mạnh và sự dẻo dai rồi mới tính đến các kỹ thuật độc đáo. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa những người biểu diễn là điều kiện tiên quyết để có được những bài biểu diễn ưng ý. Tùy theo mỗi đoàn lân, khi biểu diễn có những chủ đề, kỹ thuật thể hiện sự độc đáo và bản sắc riêng. Trong kỹ thuật biểu diễn có những động thái và tịnh thái, thông qua các bộ pháp mà Rồng thể hiện được sinh khí, thần thái riêng của mình. Động thái là múa nhảy qua thân rồng, múa xuyên qua bụng, múa nhào lộn… Sau những tính động đó thì tịnh thái là lúc lân hoặc rồng trong trạng thái tĩnh, có khi phải giữ thân mình trên cột cao hơn 10m chỉ với 2 mũi bàn chân. Do đó, người biểu diễn phải học qua võ công để đạt được một trình độ nhất định, có sự dẻo dai, biết “thế” để thoát khỏi những nguy hiểm chực chờ. Thành viên của các đoàn Lân sư rồng mặc dù mỗi người một hoàn cảnh khác nhau (học sinh, sinh viên, bán vé số, công nhân…) nhưng đều đến với nghề múa Lân sư rồng bằng một niềm đam mê mãnh liệt. Sau những giờ lao động, học tập vất vả, tối đến, họ tập trung lại để cùng luyện võ, tập múa Lân sư rồng và phải trải qua nhiều bước, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao như: lân leo cột; lân - sư nhảy mai hoa thung… Các đoàn Lân sư rồng: Hằng Anh Đường, Nhơn Nghĩa Đường, Liên Nghĩa Đường, Tâm Hoa Đường… hiện là các đoàn lân có nhiều năm kinh nghiệm, có đoàn đã ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ, để lại tiếng tăm và sự yêu thích trong lòng người dân thành phố. 32
  • 33.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị BÌNH D NGƯƠ  V. V TRÍ Đ A LÝỊ Ị Với tọa độ địa lý 10o 51' 46" - 11o 30' Vĩ độ Bắc, 106o 20'- 106o 58' kinh độ Đông (nguồn Sở KHCN), Bình Dương tiếp giáp với các tỉnh, thành sau: Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước. Phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh. Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai. Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong , Long An và tỉnh Tiền Giang), là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước. Bình Dương là cửa ngõ giao thương với TP. Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế - văn hóa của cả nước; có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á …; cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ 10 - 15 Km… thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội toàn diện. VI. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Kỉnh (cử tên đọc là Cảnh) được cử vào Nam kinh lý, lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long (kể từ tả ngạn sông Sài Gòn ra bờ biển Đông) và Tân Bình (kể từ hữu ngạn sông Sài Gòn tới sông Vàm Cỏ Đông). Năm 1808, Phước Long được đổi thành phủ gồm bốn huyện: Bình An, Phước Chánh, Long Thành, Phước An; Tân Bình cũng thành phủ gồm bốn huyện: Bình Dương, Tân Long, Thuận An, Phước Lộc. Phủ Phước Lộc là địa bàn của dinh Trấn Biên sau đổi ra tỉnh Biên Hòa. Phủ Tân Bình là địa bàn của dinh Phiên Trấn sau đổi ra tỉnh Gia Định. Ở buổi đầu khi mới khai hoang lập ấp, qui chế hành chính còn lỏng lẻo “người 2 huyện” được phép sinh sống làm ăn xen kẽ nhau. Như người huyện Phước Long có thể sang lập nghiệp trong huyện Tân Bình, vì thế trong huyện Tân Bình có tổng Phước Lộc. Và người huyện Tân Bình sang lập nghiệp bên huyện Phước Long, vì thế trong huyện Phước Long có tổng Bình An. Sau này, Phước Lộc và Bình An thành huyện. Huyện Bình An và huyện Bình Dương tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, nhưng cùng ở hai bên bờ sông Sài Gòn (xưa gọi là sông Tân Bình) nên có nhiều mối quan hệ thân thiết họ hàng. Chỉ cần qua một khúc đò ngang là trao đổi hàng hóa và giao lưu văn hóa được ngay. Hai bên còn gần nhau hơn nữa: về phía Bắc huyện Bình An, xứ Dầu Tiếng ở ngay tả ngạn sông Sài Gòn kể từ rạch Thị Tính tới biên giới Campuchia, đương thời thuộc địa phận huyện Bình Dương. Đó là địa phận tổng Dương Hòa Hạ, một trong sáu tổng của huyện Bình Dương (Dương Hòa Hạ, Dương Hòa Thượng, Dương Hòa Trung, Bình Trị Hạ, Bình Trị Thượng, Bình Trị Trung). Năm 1832, toàn miền Nam chia thành sáu tỉnh. Năm 1834, gọi Nam Kỳ là lục tỉnh: Biên Hòa, Phiên An (từ 1836 cải thành Gia Định), Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Năm 1837, huyện Bình An chia ra hai huyện Bình An (Thủ Dầu Một) và Ngãi An (Thủ Đức). Năm 1841, huyện Bình Dương chia ra hai huyện: Bình Dương (Sài Gòn) và Bình Long (Hóc Môn, Củ Chi) . Năm 1859, Pháp đánh chiếm Gia Định. Sau khi kháng chiến thất bại, Huế phải kí hiệp ước 1862 nhượng cho Pháp ba tỉnh: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường. Năm 1867, Pháp cưỡng chiếm nốt ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên; rồi chia lục tỉnh cũ ra hai mươi tỉnh mới. Pháp chia cắt lại địa phận và đặt tên cho các tỉnh mới lập (lúc đầu gọi là địa hạt, anondissement). Pháp bỏ các mỹ danh hành chính cũ và dùng các tục danh nghe vừa thô, lại vừa lạ tai, như các tỉnh Chợ Lớn, Gò Công, Bà Rịa, Bến Tre, Sa Đéc, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá…lâu lắm rồi mới quen tai được! Dưới thời Pháp thống trị, đại khái hai bên bờ sông Sài Gòn là hai tỉnh Gia Định và Thủ Dầu 33
  • 34.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Một. Tỉnh Gia Định nằm trên hữu ngạn, gồm thêm quận Thủ Đức nằm bên tả ngạn (nguyên là huyện An Ngãi thuộc tỉnh Biên Hoà). Tỉnh Thủ Dầu Một tựu trung nằm trên tả ngạn và trên địa phận huyện Bình An cộng với địa bàn tổng Dương Hòa Hạ (tức xứ Dầu Tiếng, nguyên thuộc Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định). Không kể hai huyện Bình Long (1841) và Ngãi An (1837) sinh sau đẻ muộn, chỉ tồn tại một thời gian ngắn thì hai huyện Bình Dương (Gia Định) và Bình An (Biên Hoà) đã có những lúc thiết lập địa phận trao đổi nhau. Tình hình đó kéo dài đến cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 và suốt thời kháng chiến chống Pháp chín năm với hiệp định Geneve 1954. Chính quyền Sài Gòn không chịu hiệp thương thống nhất, rồi ngày 22/10/1956 ra sắc lệnh số 143NV để “thay đổi địa giới và tên đô thành Sài Gòn - chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam”. Địa giới và địa danh các tỉnh thay đổi rất nhiều, hầu hết địa danh nôm na hoặc phiên âm khó hiểu đều được bãi bỏ. Địa danh Hán Việt cũ được lấy lại hoặc dùng những chữ tốt đẹp để đặt tên mới. Tỉnh Bình Dương được thiết lập từ đó, tỉnh lỵ được đặt tại Thủ Dầu Một nhưng đổi tên là Phú Cường. Tỉnh Bình Dương nằm giữa các tỉnh Gia Định, Long An, Tây Ninh, Bình Long, Phước long, Long Khánh và Biên Hoà. Tỉnh Bình Dương: năm 1956 - 1963, gồm hai quận Trị Tâm - Củ Chi, nguyên xưa nhất là đất thuộc huyện Bình Dương. Tỉnh Sông Bé: năm 1975 - 1996, trả phần đất Phú Hoà để làm thành huyện Củ Chi như cũ và thuộc về thành phố Hồ Chí Minh; gồm 3 tỉnh cũ: Bình Dương, Bình Long, Phước Long. Tỉnh Bình Dương năm 1996, vẫn giữ lại “quận Trị Tâm” cũ thuộc huyện Bến Cát. Tỉnh Bình Phước năm 1996, gồm hai tỉnh Bình Long - Phước Long có trước năm 1975. Tỉnh Bình Dương có diện tích 2.237,8 km2 chia ra sáu quận: Châu Thành (171,4 km2 ), Bến Cát (616km2 ), Phú Giáo (562,4km2 ), Lái Thiêu (68,1km2 ), Củ Chi (443,8km2 ), Trị Tâm (376,1km2 ). Bốn quận trên thuộc địa phận huyện Bình An (Biên Hoà), hai quận sau (Củ chi, Trị Tâm) thuộc địa phận tỉnh Bình Dương (Gia Định). Hai quận nguyên thuộc Bình Dương rộng tới 819,9km2. Cho nên, lấy địa danh huyện Bình Dương để đặt tên cho tỉnh mới này kể cũng là hợp lý. Tỉnh Bình Long mang tên này cũng có lý do tương tự: như đã nói trên, huyện Bình Dương mới lập hồi năm 1841, trên một phần đất của huyện Bình Dương. Huyện Bình Long khi ấy chia ra sáu tổng: Long Tuy Thượng, Long Tuy Hạ, Long Tuy Trung, Bình Thạnh Thượng, Bình Thạnh Hạ, Bình Thạnh Trung. Năm tổng đặt ở Củ Chi - Hóc Môn, riêng tổng Bình Thạnh Thượng nằm ở tả ngạn sông Sài Gòn từ ngả ba rạch Thị Tính đổ lên (thay cho địa phận tỉnh Bình Dương Hoà Hạ cũ, trước 1841). Giới hạn tổng này lên tới biên thùy Campuchia, tức cũng là một phần của tỉnh mới lập nằm ở phía Bắc Thủ Dầu Một thời Pháp. Có lẽ vì thế người ta đặt tên cho tỉnh mới đó (nằm ở Bắc Bình Dương) là Bình Long. Tỉnh Phước Long nằm ở phía Đông Bắc hai tỉnh Bình Dương và Bình Long, chỉ là một phần đất nhỏ của huyện Phước Long xưa (lập từ 1698). Lấy lại tên này để khỏi mai một địa danh có lịch sử lâu đời vậy. Trở lại với Bình Dương. Từ năm 1965, tỉnh Phước Thành thành lập rồi giải thể. Tỉnh này nằm ở biên giới phía Đông tỉnh Bình Dương, không liên quan gì tới phía Tây bên sông Sài Gòn và Gia Định (xin lướt qua). Ngày 15/10/1963, tỉnh mới lấy tên Hậu Nghĩa được thành lập. Tỉnh này nằm giữa các tỉnh: Gia Định, Long An, Tây Ninh và Bình Dương. Bình Dương phải chia một phần đất cho Hậu Nghĩa: quận Củ Chi chia ra hai quận là quận Củ Chi (206,8km2 ) cho thuộc về Hậu Nghĩa và quận Phú Hoà (237km2) cho thuộc về Bình Dương. Phần đất xưa kia thuộc huyện Bình Dương bị teo lại vậy. 34
  • 35.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Sau ngày thống nhất 1975, việc phân thiết lại và đặt tên mới cho các tỉnh rất sôi nổi. Một số tỉnh bị giải thể, một số tỉnh được bành trướng. Tỉnh Hậu Nghĩa bị xoá sổ, trả lại địa phận cho các tỉnh Long An, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh mới lập (phần quận Củ Chi). Ba tỉnh Bình Dương, Bình Long, Bình Phước nhập một gọi là tỉnh Sông Bé. Tỉnh Bình Dương trả lại quận Phú Hoà cho thành phố Hồ Chí Minh. Quận Củ Chi (Hậu Nghĩa) và quận Phú Hoà (Bình Dương) nhập lại thành huyện Củ Chi của ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 6/11/1996, Quốc hội đã ra nghị quyết tách tám tỉnh. Riêng với Sông Bé, văn kiện ghi Tỉnh Sông Bé được sáp nhập từ hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước, của địa bàn rộng, địa hình phức tạp, vừa có miền núi, biên giới, vừa có đồng bằng và trung du, có diện tích 9.532,72km2, dân số 1.177.874 người, nay được chia thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước. Tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên 2.718,50km2, dân số 646.317 người; gồm bốn đơn vị hành chánh cấp huyện: thị xã Thủ Dầu Một, các huyện Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát. Tỉnh lỵ dặt tại thị xã Thủ Dầu Một. Tỉnh Bình Phước có diện tích tự nhiên 6.814,22km2 dân số 531.557 người; gồm năm đơn vị hành chánh cấp huyện: Đồng Phú, Lộc Ninh, Phước Long, Bù Đăng, Bình Long. Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Đồng Xoài (thuộc huyện Đồng Phú). VII. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ 4. Địa lý tự nhiên Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên 2.695,22km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ). Dân số 1.482.636 người (1/4/2009), mật độ dân số khoảng 550 người/km2. 5. Địa hình Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn, nối nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu từ cao xuống thấp dần từ 10m đến 15m so với mặt biển. Vị trí trung tâm của tỉnh ở vào tọa độ địa dư từ 10o -50’-27’’ đến 11o -24’-32’’ vĩ độ bắc và từ 106o -20’ đến 106o 25’ kinh độ đông. Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam. Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau: vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi ... Có một số núi thấp, như núi Châu Thới (huyện Dĩ An), núi Cậu (còn gọi là núi Lấp Vò) ở huyện Dầu Tiếng… và một số đồi thấp. Các quy luật tự nhiên tác động lên vùng đất này tạo nên nhiều dạng địa mạo khác nhau: có vùng bị bào mòn, có vùng tích tụ (do có sự lắng đọng của các vật liệu xâm thực theo dòng chảy), có vùng vừa bị bào mòn, vừa tích tụ và lắng đọng. Nguyên nhân chủ yếu là do nước mưa và dòng chảy tác động trên mặt đất, cộng với sự tác động của sức gió, nhiệt độ, khí hậu, sự sạt lở và sụp trượt vì trọng lực của nền địa chất. Các sự tác động này diễn ra lâu dài hàng triệu năm. 6. Đất đai Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại: - Đất xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000 ha phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, Bến Cát, Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một. Loại đất này phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn trái. - Đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng 35.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, khu vực thị xã Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc quốc lộ 13. Đất này có thể trồng rau màu, các loại cây ăn trái chịu được hạn như mít, điều. 35
  • 36.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị - Đất phù sa Glây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở phía bắc huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, Dĩ An; đất thấp mùn Glây có khoảng 7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối. Đất này có chua phèn, tính axít vì chất sunphát sắt và alumin của chúng. Loại đất này sau khi được cải tạo có thể trồng lúa, rau và cây ăn trái, v.v... 7. Khí hậu Khí hậu ở Bình Dương cũng như chế độ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ: nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 10 dương lịch. Vào những tháng đầu mùa mưa, thường xuất hiện những cơn mưa rào lớn, rồi sau đó dứt hẳn. Những tháng 7,8,9, thường là những tháng mưa dầm. Có những trận mưa dầm kéo dài 1-2 ngày đêm liên tục. Đặc biệt ở Bình Dương hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hương những cơn bão gần. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dương từ 26oC -27oC . Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 39,3oC và thấp nhất từ 16oC -17oC (ban đêm) và 18oC vào sáng sớm. Vào mùa nắng, độ ẩm trung bình hàng năm từ 76%-80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2). Lượng nước mưa trung bình hàng năm từ 1.800-2.000mm. Tại ngã tư Sở Sao của Bình Dương đo được bình quân trong năm lên đến 2.113,3mm. 8. Thủy văn Chế độ thủy văn của các con sông chảy qua tỉnh và trong tỉnh Bình Dương thay đổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11 (dương lịch) và mùa khô (mùa kiệt) từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tương ứng với 2 mùa mưa nắng. Bình Dương có 3 con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác. Sông Đồng Nai là con sông lớn nhất ở miền Đông Nam Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) dài 635 km nhưng chỉ chảy qua địa phận Bình Dương ở Tân Uyên. Sông Đồng Nai có giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho nền nông nghiệp, giao thông vận tải đường thủy và cung cấp thủy sản cho nhân dân. Sông Sài Gòn dài 256 km, bắt nguồn từ vùng đồi cao huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước). Sông Sài Gòn có nhiều chi lưu, phụ lưu, rạch, ngòi và suối. Sông Sài Gòn chảy qua Bình Dương về phía Tây, đoạn từ Lái Thiêu lên tới Dầu Tiếng dài 143 km, độ dốc nhỏ nên thuận lợi về giao thông vận tải, về sản xuất nông nghiệp, cung cấp thủy sản. Ở thượng lưu, sông hẹp (20m) uốn khúc quanh co, từ Dầu Tiếng được mở rộng dần đến thị xã Thủ Dầu Một (200m). Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn tự đồi Cam xe huyện Bình Long (tỉnh Bình Phước) chảy qua Bến Cát, rồi lại đổ vào sông Sài Gòn ở đập Ông Cộ. Sông Sài Gòn, sông Thị Tính mang phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ở Bến Cát, thị xã, Thuận An, cùng với những cánh đồng dọc sông Đồng Nai, tạo nên vùng lúa năng suất cao và những vườn cây ăn trái xanh tốt. Sông Bé dài 360 km, bắt nguồn từ các sông Đắc RơLáp, Đắc Giun, Đắc Huýt thuộc vùng núi tỉnh Đắc Lắc hợp thành từ độ cao 1000 mét. Ở phần hạ lưu, đoạn chảy vào đất Bình Dương dài 80 km. Sông Bé không thuận tiện cho việc giao thông đường thủy do có bờ dốc đứng, lòng sông nhiều đoạn có đá ngầm, lại có nhiều thác ghềnh, tàu thuyền không thể đi lại. 9. Tài nguyên rừng Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ, nên rừng ở Bình Dương xưa rất đa dạng và phong phú về nhiều chủng loài. Có những khu rừng liền khoảnh, bạt ngàn. Rừng trong tỉnh có nhiều loại gỗ quý như: căm xe, sao, trắc, gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương ... Rừng Bình Dương 36
  • 37.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và nhiều loài động vật, trong đó có những loài động vật quý hiếm. Hiện nay, rừng Bình Dương đã bị thu hẹp khá nhiều do bị bom đạn, chất độc hóa học của giặc Mỹ tàn phá trong chiến tranh. Trong những năm tháng chiến tranh diễn ra ác liệt, Mỹ-ngụy đã ủi phá rừng, bứng hết cây cối nhằm tạo thành những “vùng trắng”, đẩy lực lượng cách mạng ra xa căn cứ càng làm cho rừng thêm cạn kiệt. Mặt khác, sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc khai thác rừng bừa bãi cũng làm cho rừng bị thu hẹp. 10. Tài nguyên khoáng sản Cùng với những giá trị quý giá về tài nguyên rừng, Bình Dương còn là một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi chứa đựng nhiều loại khoáng sản phong phú tiềm ẩn dưới lòng đất. Đó chính là cái nôi để các ngành nghề truyền thống ở Bình Dương sớm hình thành như gốm sứ, điêu khắc, mộc, sơn mài ... Bình Dương có nhiều đất cao lanh, đất sét trắng, đất sét màu, sạn trắng, đá xanh, đá ong nằm rải rác ở nhiều nơi, nhưng tập trung nhất là ở các huyện: Tân Uyên, Thuận An, Dĩ An, thị xã Thủ Dầu Một. Các nhà chuyên môn đã phát hiện ở vùng Đất Cuốc (huyện Tân Uyên) có một mỏ cao lanh lớn phân bố trên một phạm vi hơn 1km2 , với trữ lượng lớn. Đất cao lanh ở đây được đánh giá là loại đất tốt, có thể sử dụng trong nghề gốm và làm các chất phụ gia cho việc sản xuất một số sản phẩm công nghiệp... 11. Giao thông Bình Dương là một tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy rất quan trọng nối liền giữa các vùng trong và ngoài tỉnh. Trong hệ thống đường bộ, nổi lên đường quốc lộ 13 - con đường chiến lược cực kỳ quan trọng xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của tỉnh từ phía nam lên phía bắc, qua tỉnh Bình Phước và nối Vương quốc Campuchia đến biên giới Thái Lan. Đây là con đường có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự và kinh tế. Đường quốc lộ 14, từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng đi Chơn Thành, Đồng Xoài, Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) xuyên suốt vùng Tây Nguyên bao la, là con đường chiến lược quan trọng cả trong chiến tranh cũng như trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước. Ngoài ra còn có liên tỉnh lộ 1A từ Thủ Dầu Một đi Phước Long (Bình Phước); Liên tỉnh lộ 13 từ Chơn Thành đi Đồng Phú, Dầu Tiếng; liên tỉnh lộ 16 từ Tân Uyên đi Phước Vĩnh; lộ 14 từ Bến Cát đi Dầu Tiếng ... và hệ thống đường nối thị xã với các thị trấn và điểm dân cư trong tỉnh. Về hệ thống giao thông đường thủy, Bình Dương nằm giữa 3 con sông lớn, nhất là sông Sài Gòn. Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. VIII. IV. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN 7. Con người Trên địa bàn tỉnh có 15 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh chiếm 97% dân số; các dân tộc thiểu số như dân tộc Hoa 2,07%; dân tộc Khơ-me có 1.490 người; dân tộc Tày có 514 người; dân tộc Chăm có 322 người; dân tộc Mường có 315 người; dân tộc Nùng 453 người; dân tộc Stiêng có 60 người;... Thuở ban đầu thời mở đất Phương Nam, Bình Dương là tên một tổng thuộc huyện Tân Bình, phủ Gia Định. Đến năm 1808, khi huyện Tân Bình được đổi thành phủ thì Bình Dương được nâng lên là một trong bốn huyện của phủ này. Đất Bình Dương thuở đó nay chủ yếu thuộc địa bàn thành phố hồ Chí Minh, chỉ có một phần vùng Dầu Tiếng, lúc đó là tổng Dương Hòa Hạ thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay. Năm 1956, tỉnh Bình Dương được thiết lập nhưng không phải trùng với địa bàn của huyện Bình Dương xưa kia. Và đến năm 1997, tỉnh bình Dương được tái lập, nhưng cũng 37
  • 38.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị không phải hoàn toàn là địa phận của tỉnh bình Dương trước năm 1975. Như vậy, trong lịch sử Bình Dương là tên của gọi những đơn vị hành chánh - lãnh thổ theo những cấp độ khác nhau (tổng, huyện, tỉnh) với những địa bàn lãnh thổ khác nhau. Do vậy, nói đến cư dân Bình Dương qua các thời kỳ lịch sử chỉ có tính chất tương đối, không thể phân định rạch ròi theo kiểu thống kê hộ tịch của một đơn vị hành chính lãnh thổ cụ thể như hiện hành. Bình Dương vốn gắn liền với Gia Định - Đồng Nai xưa, tức là miền Đông Nam Bộ ngày nay, cư dân Bình Dương là một bộ phận cư dân Đông Nam Bộ. Nhưng đồng thời với trung tâm là thị xã thủ Dầu Một với một vùng phụ cận bên bờ sông Sài Gòn có những điều kiện môi trường sinh thái đặt biệt, cư dân Bình Dương cũng có nhũng đặc điểm riêng từ lịch sử hình thành đến kỹ năng nghề nghiệp và lối hành xử trong cuộc sống của mình. Những trang sử được lật lên từ lòng đất Bình Dương qua các di tích khảo cổ học như Vườn Dzũ, Cù lao Rùa - Gò Đá, Dốc Chùa đã cho thấy cách đây hàng ngàn năm, con người nguyên thủy đã sinh sống và phát triển trên địa bàn Bình Dương. “Người Vườn Dzũ” (Tân Uyên) là lớp cư dân đầu tiên khai phá vùng đất Đông Nam Bộ nói chung, Bình Dương nói riêng, cách ngày nay đã chục ngàn năm. Vào thời kỳ phát triển của xã hội nguyên thủy, trên đất Bình Dương có di tích khảo cổ Cù Lao Rùa - Gò Đá (Tân Uyên). Đó là những khu cư trú của con người tiền sử vào thời kỳ “hậu kỳ đá mới - đầu đồng thau” vào loại lớn nhất của Đông Nam Á. Chủ nhân của nó là những cư dân nông nghiệp dùng rìu, cuốc để rẫy, là một bộ phận quan trọng của cư dân xứ Đồng Nai - Đông Nam Bộ thời tiền sử cách nay 3-4000 năm. Cũng trên đất Bình Dương vào thời đoạn cường thịnh của người tiền sử - thời đại kim khí cách ngày nay khoảng 3000 - 2500 năm, các nhà khảo cổ học đã phát hiện di tích Dốc Chùa (Tân Uyên) là một di tích của khu cư trú lâu dài, một xưởng thủ công đúc đồng có tầm cỡ, một khu mộ táng lớn có sưu tập di vật đồ đồng khuôn đúc nhiều nhất trong toàn vùng Đông Nam Bộ. “Người Dốc Chùa” qua nhiều thế hệ đã có sự giao lưu rộng rãi, đã hoạt động “xuất nhập khẩu” (nhập nguyên liệu, xuất sản phẩm) để phục vụ cho nghề thủ công đúc đồng nổi tiếng nhất vào thời bấy giờ. Tóm lại, cư dân tiền sử Bình Dương với những mốc phát triển trên đây là một bộ phận chủ nhân của một trong ba nền văn hoá kim khí nổi tiếng ở nước ta là văn hoá Đồng Nai (vùng Đông Sơn, Sa Huỳnh). Đó là lớp cư dân đầu tiên của Bình Dương nói riêng và của vùng đất Nam Bộ nói chung, cách ngày nay khoảng 4000 - 2500 năm. Rồi vào khoảng trước và sau Công Nguyên, họ đã mở rộng quan hệ với nhiều cộng đồng khác nhau trong khu vực lân cận, mở rộng cuộc khai phá đến vùng châu thổ sông Cửu Long, tạo lập nên nền văn hóa Óc Eo nổi tiếng ở Nam Bộ. Sau 5 - 6 thế kỷ tồn tại và phát triển, những khu cư dân phồn vinh của văn hoá Óc Eo bị chôn vùi trong bùn lầy châu thổ và ven biển Nam Bộ, thì vùng Đông Nam Bộ lại nhanh chóng phát triển với nhiều lớp cư dân hỗn hợp. Trong đó, vùng trung lưu và cả thượng lưu Đồng Nai. Truyền thống văn hoá tiền sử muộn bắt đầu hồi phục trở lại và phát triển trong sự hiện diện của một số cư dân bản địa mà hậu duệ của họ vẫn còn sinh sống ở vùng đất Đông Nam Bộ - Nam Tây Nguyên cho đến tận hiện nay. Đó là người Stiêng, Mạ, Châu Ro… Ngày nay trên địa bàn Bình Dương mới được tách ra từ năm 1997. Hầu như rất ít người Stiêng, Mạ, Châu Ro sinh sống. Phần lớn họ cư trú ở tỉnh Bình Phước - người anh em sinh đôi của Bình Dương và một số cư trú ở các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Lâm Đồng, Bà Rịa. Tuy vậy, trong lịch sử vùng đất Bình Dương ngày nay đã từng là nơi sinh sống một thời của các dân tộc vừa nêu trên. Qua những truyện kể dân gian mang tính chất hồi tưởng lịch sử về quê hương tổ tiên của mình, các dân tộc bản địa hiện đang sinh sống ở miền Đông Nam Bộ thường cho biết địa bàn sinh sống xưa kia của tổ tiên họ là đất gần biển, là những vùng ít núi non. Nhóm người Ta - mun ở sóc 5 xã Minh Hoà và nhóm người Stiêng Budeh còn nói rằng cách đây không lâu, ông cha họ còn ở vùng Thuận An. Rất có thể họ là thành phần cư dân của “Vương quốc Mạ” trong lịch sử từng tồn tại theo hai bên bờ sông Đồng Nai ở trung lưu và hạ lưu. Và lúc ấy, địa bàn Bình Dương là một 38
  • 39.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị trong những vùng lãnh thổ của họ. Sau này, do áp lực của nhiều luồng di dân và do nhiều điều kiện lịch sử xã hội của thời kỳ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, các dân tộc bản địa vùng này đã lùi dần về vùng núi thượng lưu thuộc các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên hiện nay . Vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung xiêu tán về vùng Đông Nam Bộ, trong đó có địa bàn Bình Dương, tìm vùng đất mới để lập nghiệp. Họ bao gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau và lìa bỏ quê hương với nhiều nguyên nhân khác nhau. Họ là những nông dân nghèo khổ không chịu đựng nỗi cơ cực lầm than chốn quê nhà, là những người chạy trốn sự truy đuổi của chính quyền phong kiến. những người trốn lính, trốn thuế v.v…nhìn chung là vì bức xúc của cuộc sống mà bất chấp nguy hiểm đi tìm nơi nương thân, mưu lập cuộc sống mới. Có lẽ ngay từ những năm tháng đầu tiên, Bình Dương là một trong những nơi dừng chân của đoàn quân di cư người Việt cùng với những địa bàn khác nhau như Mô Xoài, Cù lao Phố, Bến Nghé. Bởi ngày ấy dân di cư thường theo những cửa biển con sông để tìm những vùng đất. Và Bình Dương, đặc biệt là những vùng xung quanh thị xã Thủ Dầu Một, vốn là vùng giáp sông Đồng Nai, sông Sài Gòn là những nơi định cư lý tưởng thuở đầu khai phá. Sau khi thiết lập hệ thống hành chính, và sau đó là triều Nguyễn đã có nhiều chính sách khuyến khích, thu hút lưu dân đến khai hoang lập làng vùng Gia Định - Đồng Nai. Trong bối cảnh đó Bình Dương cũng nhanh chóng được khai phá. Theo nhà nghiên cứu địa bạ Nguyễn Đình Đầu thì vùng Bình An (đất Bình Dương trước đây) là nơi có nhiều ruộng đất nhất của tỉnh (Biên Hòa), điều đó cho phép đoán định đây là vùng có đông dân cư nông nghiệp nhất. Và xung quanh Thủ Dầu Một sau này như Phú Cường, Lái Thiêu, Phú Lợi hay vùng Tân Khánh, Tân Uyên, Cù Lao Rùa là những xóm làng đông đúc của Bình Dương từ thuở đầu mở nước thời nhà Nguyễn. Sau thế kỷ XIX, cư dân Bình Dương đã phát triển nhanh hơn. Đặc biệt trong thời kỳ này, cộng đồng người Hoa di dân đến Bình Dương ngày một đông. Họ đến đây từ Cù Lao Phố - Biên Hoà và từ Bến Nghé - Gia Định. Những làng gốm của người Hoa xuất hiện ở vùng Lái Thiêu, Phú Cường, Tân Uyên với những sản phẩm được tạo ra đã có sự chuyển hóa khá rõ nét (lò của người Hoa Quảng Đông chuyên về tượng trang trí, lò gốm người Hoa Triều Châu chuyên sản xuất đồ gia dụng, còn lò gốm người Hoa Phúc Kiến chuyên sản xuất vật dụng to lớn như lu, khạp v.v…). Cho đến nay, người Hoa ở Bình Dương vẫn tập trung ở một số vùng “định cư truyền thống” của họ như thị xã Thủ Dầu Một, Lái Thiêu - Thuận An, Tân Uyên. Ngoài nghề buôn bán, họ còn chung thủy với một số nghề truyền thống, mà trước hết là nghề gốm từ thuở ban đầu, tạo nên một nét sinh hoạt văn hoá đặc sắc cho người Bình Dương qua các thời kỳ. Từ khi tỉnh Thủ Dầu Một được thiết lập thì dân cư ở vùng này đã phát triển nhanh chóng. Nhiều ấp, làng mới được hình thành theo sự tăng trưởng của dân cư. Đặc biệt nhiều làng nghề trên đất Thủ Dầu Một được ra đời, trong đó đáng chú ý nhất là những làng mộc, và những cơ sở sản xuất sơn mài. Cư dân người Việt ở miền Bắc, miền Trung vốn có tay nghề kỹ thuật khảm xà cừ trên tủ thờ, ghế dựa tràng kỷ, hương án … đã lần lượt đến Bình Dương khai thác thế mạnh ở đây là giàu gỗ quí (gõ, cẩm lai, giáng hương…) tạo nên một nghề độc đáo và nổi tiếng cho Bình Dương. Miếu mộc tổ ở Lái Thiêu, các làng nghề mộc ở Phú Thọ, Chánh Nghĩa là các cụm dân cư độc đáo của Bình Dương. Sau này Pháp mở trường Bá Nghệ ở Thủ Dầu Một, nghề mộc Bình Dương càng có điều kiện phát truển trên cơ sở tiếp thu những kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống vốn có đã tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những trong nước mà còn cả quốc tế. Nghề sơn mài là một thế mạnh của cư dân Bình Dương vốn được những người lưu dân Việt từ Bắc và Trung mang theo khi đến định cư ở vùng đất này. Tương Bình Hiệp ở huyện Bình An xưa vốn là một huyện làm tranh cổ đã tiếp nhận những lưu dân có nghề từ Bắc và Trung vào đây lập nghiệp, dần dần đã trở thành “trung tâm sơn mài” của bình Dương qua các thời kỳ. Một đặc điểm quan trọng khác trong sự biến đổi thành phần dân cư của Bình Dương vào thời kỳ này là sự xuất hiện một đội ngũ công nhân cao su ngày càng nhiều theo chiều mở rộng của các đồn điền cao su của thực dân Pháp trên địa bàn Thủ Dầu Một - Đông Nam Bộ. Từ đầu thế kỷ XX, Thủ Dầu Một đã trở thành tỉnh dẫn đầu về trồng cao su ở Nam Bộ. Theo đó các làng cao su 39
  • 40.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị lần lượt mọc lên trên đất Thủ Dầu Một ngày càng nhiều, nhất là xung quanh các đồn điền cao su nổi tiếng như Dầu Tiếng, Lôc Ninh, Đa Kia, Quản Lợi, Phú Riềng, Xa Cam, Xa Cát… Dân cao su Thủ Dầu Một đa số là những người nông dân ở miền Bắc, miền Trung (đông nhất là miền Bắc) vốn bị khánh kiệt ruộng đất, thất cơ lỡ vận buộc phải bỏ xứ đi làm “phu công tra” cho các chủ Tây. Chính ở Bình Dương xưa kia là nơi xuất phát đầu tiên phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân cao su với sự kiện “Phú Riềng Đỏ” nổi tiếng. Trong thời kỳ cận hiện đại, dân cư và mật độ dân số Bình Dương không ngừng thay đổi, luôn luôn được bổ sung từ nhiều nguồn, nhiều nơi. Đáng chý ý nhất là đợt “bổ sung dân số” vào năm 1954 từ nguồn di cư của người Việt từ các tỉnh phía Bắc vào và sau này có một số từ miền Trung đến với các chính sách “đinh điền” của chế độ Sài Gòn trước năm 1975. Trong thời kỳ chiến tranh trước năm 1975, sự phân bố cư trú của cư dân Bình Dương cũng có nhiều thay đổi do Bình Dương là một trong những chiến trường ác liệt. Nhưng sau ngày giải phóng 1975, nhân dân xiêu tán khắp nơi đã nhanh chóng hồi hương, lấp dần các khoảng trống ở các vùng Bến Cát, Tân Uyên, Dầu Tiếng… Thêm vào đó, một bộ phận dân cư đi kinh tế mới, khai hoang phục hóa cũng đã đến địa bàn Bình Dương. Trong vòng hơn hai mươi năm sau ngày giải phóng, dân số Bình Dương đã tăng gấp đôi, từ gần 350 ngàn người tăng lên 668 ngàn người (lúc chia tỉnh). Nhưng sự biến động về thành phần dân cư và mật độ dân số ở Bình Dương vẫn tiếp tục diển ra với mức độ đáng kể. Tân Uyên và Bến Cát, nơi mật độ dân cư còn thấp nhưng đang hình thành các xí nghiệp công nghiệp, phát triển các vùng lâm trường (cao su, mía, điều, lâm nghiệp…) sẽ thu hút lao động và cư dân đến. 8. Tín ngưỡng và tôn giáo 2.1 Tín ngưỡng phối thờ các vị thần trong hệ thống đình làng Bình Dương Vào những năm cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, cùng với quá trình khai hoang lập ấp và hình thành làng xã, việc xây dựng đình làng cũng được người dân Bình Dương đặc biệt chú trọng. Đình (亭) là một thiết chế văn hóa tín ngưỡng truyền thống của một làng/xã, thông thường mỗi làng hay mỗi xã dù dân số ít hay nhiều cũng đều phải có một ngôi đình để tổ chức hội hè, lễ bái. Đình thần Bình Dương đa số được xây dựng vào thời kỳ đầu thiết lập làng, xã. Ban đầu đình chỉ là gian nhà nhỏ, mái tranh vách đất, dần dần được trùng tu, nâng cấp cao, rộng hơn. Tuy nhiên, do sự tàn phá của chiến tranh nên còn rất ít ngôi đình giữ được nguyên vẹn kiến trúc cũ, hầu hết được xây dựng mới đặt trên nền đất cũ sau ngày giải phóng. Theo số liệu thống kê của Bảo tàng Bình Dương vào năm 2007, trên toàn tỉnh có 121 đình thần trên tổng số 89 đơn vị hành chánh xã/phường/thị trấn. Trước đây, mỗi xã chỉ có một ngôi đình làng thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, nhưng sau này do quá trình tách - nhập đơn vị hành chính trong suốt chiều dài lịch sử nên có một số xã không có đình thần, nhưng cũng có xã lại có đến 2, 3 đình, thậm chí có đến 5, 6 đình như xã Thường Tân huyện Tân Uyên (5 đình), xã Bạch Đằng huyện Tân Uyên (6 đình)… Khác với miễu là chỉ thờ một vị thần hoặc những vị thần đặc thù duy nhất, đình thần Bình Dương nói riêng và hệ thống đình thần trong cả nước nói chung phối thờ nhiều vị thần khác nhau. Tuy nhiên, trong không gian thiêng của đình làng Bắc Bộ chỉ có vị thần Thành Hoàng và Thổ Công được phụng thờ thì đối với hệ thống đình làng Nam Bộ lại lại khá phồn tạp, với nhiều loại thần khác nhau do có sự tiếp biến văn hóa trong quá trình cộng cư với người Hoa, Khmer, Chăm và các cư dân bản địa khác Cũng như hệ thống đình làng Nam Bộ, ngoài đối tượng thờ chính là Thành Hoàng Bổn Cảnh, tại đình thần Bình Dương còn phối thờ nhiều vị thần khác trong khuôn viên đình. Đó là các Nam thần như Thần Nông, Thổ Địa, Thổ Công; các nữ thần như bà Chúa Xứ, bà Ngũ hành; các thần tự nhiên như thần Hổ, thần Sông và các vị thần tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ, tiên sư tổ sư, tả ban hữu ban... Có thể nói, đình làng Bình Dương là nơi tập hợp thần linh từ nhiều nguồn gốc khác nhau, có nhiều chức năng phù trợ khác nhau và trong đó chỉ có Thành Hoàng Bổn Cảnh 40
  • 41.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị là được các triều đại phong kiến cấp sắc phong thờ tự, còn lại do người dân tự đưa vào phối tự. Nhìn chung, dù có sắc phong hay không thì dân làng địa phương cũng đều trân trọng thờ tự như nhau, tuyệt đối không có sự kỳ thị hay phân biệt nào giữa các vị thần cả về nghi thức tế lễ và lễ vật dân cúng. Có thể nói, đình thần Bình Dương là nơi trú sở của nhiều vị thần linh. Hàng năm, ngoài 2 lễ cúng chính là lễ Kỳ Yên, Cầu Bông ra thì ở đình thần Bình Dương còn tổ chức nhiều lễ cúng khác nữa như: ngày lễ tiết tứ thời (ngày đưa Thần 25/12, ngày rước Thần 30/12, tết nguyên đán 1/1, khai sơn 7/1, tết Đoan ngọ 5/5…), ngày lễ của các tôn giáo xâm nhập vào đình (Thượng nguyên, Trung nguyên, Hạ nguyên), các ngày lễ mang tính dân gian như lễ cúng miễu, cầu an tống gió). Có thể nói, tín ngưỡng phối thờ các vị thần tại các đình thần Bình Dương phản ánh đầy đủ qua các lễ cúng đình hàng năm. Như vậy, hệ thống văn hóa tín ngưỡng ở Bình Dương khá phức hợp, đa dạng. Nhu cầu về tâm linh của người dân cao, để đạt được ước vọng đó bà con đã đưa nhiều vị thần vào cùng phối tự trong đình của thần mình, họ hi vọng mỗi vị thần phù hộ cho người dân những lĩnh vực mà mình cầu khẩn. Việc phối tự rất nhiều vị thần trong khuôn viên của đình thần đã tạo nên nét đặc trưng riêng của hệ thống đình làng Nam bộ. 2.2 Tín ngưỡng và tôn giáo Về tín ngưỡng, cũng như một số tỉnh ở miền Đông Nam Bộ, tín ngưỡng của cộng đồng cư dân người Việt ở Bình Dương phần đông được hình thành trên cơ sở các tập tục truyền thống của làng xã miền Trung và miền Bắc Việt Nam, mà trực tiếp là mô hình thôn làng Thuận - Quảng được các nhóm lưu dân người Việt mang theo vào vùng đất mới. Cơ cấu tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội của cư dân ở Bình Dương là một tập hợp rất phong phú và nhiều vẻ về dạng thức được biểu hiện cụ thể như: lễ hội đình, lễ hội miếu, lễ hội võ, lễ hội tổ nghề, lễ hội chùa Phật, lễ hội thờ mẫu… của đồng bào miền Bắc, lễ hội của người Hoa ... Cũng như phần đông các tỉnh Nam Bộ, ở Bình Dương có nhiều tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau. Đạo Phật được truyền vào Bình Dương khoảng cuối thế kỷ XVI, khi những lớp cư dân đầu tiên từ phía Bắc đến định cư ở vùng đất này. Từ đó, đạo Phật phát triển rộng ra toàn tỉnh. Hầu hết những người theo đạo Phật đều có lòng yêu nước, tham gia kháng chiến, ủng hộ cách mạng. Đạo Thiên chúa vào Bình Dương khoảng đầu thế kỷ XVII, khi các nhà truyền giáo phương Tây theo thương nhân ngoại quốc đến vùng đất này. Khi thực dân Pháp hoàn tất việc tổ chức bộ máy cai trị trong cả nước, thì đạo Thiên Chúa phát triển tương đối nhanh. Từ năm 1954, hàng chục nghìn giáo dân từ các tỉnh miền Bắc bị địch dụ dỗ đưa vào định cư ở những vùng xung yếu ở Bình Dương với những âm mưu thâm độc. Tuyệt đại bộ phận đồng bào theo đạo Thiên Chúa, Tin Lành tại chỗ và từ miền Bắc di cư vào đều là những người lao động, mang truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam, một lòng kính chúa, yêu nước, sống phúc âm trong lòng dân tộc, không sa vào mưu đồ, cạm bẩy của kẻ thù để chống lại Tổ Quốc. Đạo Cao Đài ra đời ở Nam Bộ từ năm 1926, được truyền vào Bình Dương với hai hệ phái là Tòa Thánh Tây Ninh và Chơn Ly Mỹ Tho. Nét độc đáo về dân cư ở Bình Dương là sự quy tụ cư dân từ bốn phương trong cả nước cùng với các dân tộc bản địa. Trong quá trình xây dựng cuộc sống, biết bao thế hệ đã cùng nhau vun đắp, bảo vệ mảnh đất này. Có thể nói, đây là hình ảnh thu nhỏ những tính chất, sắc thái của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. 9. Lễ hội 3.1 Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu Miếu bà Thiên Hậu “Thiên Hậu Cung” mà người dân quen gọi là Chùa Bà. Một cơ sở tín ngưỡng dân gian quan trọng của đồng bào người Hoa trên đất Thủ Dầu Một, Bình Dương. Miếu 41
  • 42.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Bà hiện nay tọa lạc tại số 4 đường Nguyễn Du, thị xã Thủ Dầu Một, cạnh bùng binh ngã Sáu. Miếu do các ban người Hoa tạo lập để thờ vị nữ thần hiệu là Thiên Hậu Thánh Mẫu. Thiên Hậu Thánh Mẫu tên thật là Lâm Mặc Nương, người làng Mi Châu, huyện Bồ Điền, tỉnh phúc Kiến, con ông Lâm Tức Khánh. Theo lời kể của người Phúc Kiến rằng, cha và anh trai làm nghề đi biển. Một hôm gặp sóng to gió lớn, thuyền chao đảo muốn chìm. Bà vội vã chèo thuyền ra biển cứu cha và anh, nhưng chỉ cứu được cha mà thôi. Ít lâu sau bà qua đời và trở nên linh thiêng. Từ đó người dân trong làng đều đến gặp bà cầu xin bình an trước khi đi biển. Lễ hội ở miếu Bà: Ngày lễ thuần túy diễn ra ngày 25 tháng 3, là ngày vía bà. Ngày ấy chỉ có cúng lễ tế, lễ bái mà không có cuộc rước lễ, diễu hành, đặc biệt là ở các cuộc lễ của người Hoa ở miếu bà không có đọc sớ hoặc văn tế thần như các cuộc cúng đình của người việt. Các vật dâng cúng thần cũng không có qui định cụ thể mà hoàn toàn tùy thuộc ở tấm lòng và điều kiện của người cúng lễ. Thông thường là bánh, trái, hoa, hương, cau, thịt… còn loại nào, số lượng bao nhiêu không quy định chắc chẽ. Hội vừa mang tính chất tín ngưỡng, vừa là dịp dân chúng tụ họp để chiêm ngưỡng thần, hoặc xem những đợt cúng lễ, múa hát, rước xách, diễu hành, nghĩa là dịp vừa tín ngưỡng vừa vui chơi, giải trí. Phải chăng điều đó thể hiện bản chất thích hợp quần chúng của các cuộc lễ hội? Ngày lễ hội miếu Bà ở Thủ Dầu Một - Bình Dương, được diễn ra ngày Rằm tháng Giêng Âm lịch hàng năm và được chuẩn bị chu đáo của ban tổ chức, lại được sự bảo vệ của các cơ quan chức năng. Ngày lễ hội được tiến hành theo trình tự sau: Sáng 14 tháng Giêng (AL) lễ bắt đầu, lễ diễn ra đơn giản trong vòng 15 hay 20 phút, sau đó là bá tánh vào lễ. Trong dịp lễ này thường có tục “Thỉnh Lộc Bà”. Lộc là những cây nhang lớn và những cái đèn lồng phất giấy. Việc thỉnh lộc bằng đèn, nhang có ý nghĩa là mang ánh sáng vào hương thơm, tượng trưng cho sự hanh thông, sáng sủa và danh giá cùng những may mắn cho gia đình. Trong miếu thường có những lồng đèn phất giấy hình khối tròn như quả dưa hoặc như quả bí do bá tánh cúng. Sau lễ những đèn ấy được đem hỏa thiêu, còn những đèn nhang để bá tánh thỉnh lộc. Phần đèn có khoảng trên dưới 150 cái để người thỉnh lộc, phần nhang thì tùy hoàn cảnh, ít nhiều không hạn định. Ngoài ra, theo lễ hàng năm miếu Bà có sản xuất độ 15 cái đèn lớn để cúng Bà và số đèn này được đưa ra đấu giá, số tiến có được sẽ sung vào công quỹ của miếu. Cuộc rước kiệu Bà: Đây là cuộc hội đồng đông đảo và vui nhộn nhất diễn ra hằng năm ở thị xã Thủ Dầu Một. Đi đầu là tấm biển đề 4 chữ Thiên Hậu xuất du. Kế tiếp là đoàn múa Hẩu của người Hoa thuộc bang Phúc Kiến. Hẩu là con Kim Mao sư (sư tử rồng vàng), là con thú chúa của loài thú. Hẩu dẫn đầu đoàn rước với ngụ ý là muốn xua đuổi hoặc răn đe những cái xấu, cái ác, đi trước người biểu diễn là người điều khiển hướng dẫn, cách thức, điệu múa Hẩu mạnh bạo, dứt khoát như người diễn võ, dùng nhiều sức nên mệt, do vậy một lúc có diễn viên khác vào thay. Múa Hẩu không có ông địa đi theo như múa Lân, Hẩu không leo trèo như Lân. Sau Hẩu là các xe hoa, rồi đồ binh khí, bát bửu, những tấm bài đề Túc Tĩnh, Hồi Tị. Sau phần nghi thức cố định này, tùy theo sáng kiến từng năm của ban tổ chức mà có thể có đoàn Bát tiên (gồm 6 tiên ông và 2 tiên bà ), các tiên nữ đoàn múa rồng, múa lân. Sau đoàn múa lân rồi đến cộ bà, cộ bà có tám người khiêng, khiêng cộ bà là điều có nhiều phước lộc nên được phân đều cho cả bốn Bang, mỗi bang phụ trách một góc cộ. Kế sau cộ bà là đoàn lân của người Quảng Đông như để hộ vệ bà cùng với bốn người đại diện của bốn bang người Hoa. 42
  • 43.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Ý nghĩa cuộc rước cộ là để bà thăm viếng dân tình và để bá tánh chiếm bái, cầu phúc. Thật ra những cuộc rước thần thánh nói chung ở các đình, chùa, miếu mạo… là cách đưa sự linh thiêng vào cuộc sống, tạo sự nối kết giữa thánh thần với đời thường, là dịp để mọi người vui chơi, giải trí trong cái không khí tín ngưỡng dân gian như mọi hội hè đình đám của truyền thống văn hóa dân tộc. 3.2 Lễ hội “chùa Ông Bổn” của người Hoa. Nếu như phổ biến và rõ nét nhất trong dòng chảy lễ hội truyền thống người Việt ở Bình Dương là lễ hội cúng đình kỳ yên (cầu an), Thì lễ hội truyền thống của cộng đồng người Hoa sống trên đất Bình Dương lại đặc trưng với 2 dòng chính: Đó là lễ hội Chùa Bà Thiên Hậu cung của 4 bang người Hoa và lễ Ông Bổn của dòng Phước Kiến. Cùng với người Việt, người S’tiêng... cộng đồng người Hoa ở Bình Dương có một vị trí rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội. Người Hoa sống trên đất Bình Dương chủ yếu gồm có 4 bang: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ. Nhằm mục đích đoàn kết hữu nghị, phát triển kinh tế và văn hóa, tất cả ngưởi Hoa đều thống nhất có một tổ chức là “Hội người Hoa”. Là những lưu dân đi tìm đất sống, do đó tín ngưỡng của họ đã sớm trở thành một nhu cầu quan trọng trong đời sống của người Hoa. Đó chính là một trong những chỗ dựa lớn lao về tinh thần, giúp họ trụ vững và phát triển. Cũng chính vì lẽ đó mà tín ngưỡng của người Hoa rất đa dạng và phong phú về nhiều mặt. Nhưng có lẽ, tín ngưỡng nổi bật nhất của cộng đồng người Hoa trên đất Bình Dương chính là tín ngưỡng thờ cúng trong cộng đồng với 2 lễ hội đặc trưng là lễ hội Thiên Hậu Cung (chùa Bà) và miếu Ông Bổn (chùa Ông Bổn). Mặc dù không mang tính chất rộng rãi như lễ hội Chùa BàThiên Hậu, nhưng lễ hội chùa Ông Bổn cũng thể hiện nét tín ngưỡngtiêu biểu, gắn liền với những ngành nghề chính của người Hoa. Đây cũng được coi là một trong những lễ hội quan trọng trong năm của người Hoa. Hiện tại ở Bình Dương có 5 ngôi miếu Ông Bổn (mà dân quen gọi là chùa). Đó là chùa Ông Bổn Chánh Nghĩa (Phước An miếu), miếu Ông Bổn Bà Lụa, miếu Ông Bổn chợ Búng, Miếu Ông Bổn Lái Thiêu và miếu Ông Bổn Tân Phước Khánh (Tân Phước Khánh Nghĩa đường) của họ Lý, họ Vương dòng Phước Kiến. Lễ hội miếu Ông Bổn được luân phiên diễn ra với phạm vi hẹp hơn miếu Bà Thiên Hậu. Tuy nhiên, lễ hội miếu Ông gắn liền với những người làm nghề lò chén, họ coi trọng nơi nhập cư, họ lập chùa lấy tên vị thần đất (Ông Bổn) nói chung và thờ các vị thánh nhân phù hộ nghề nghiệp cho họ. Đối với người Hoa, Ông Bổn có nghĩa là “Ông tổ”, “Bổn” có nghĩa là gốc. Ông Bổn chỉ là một biểu tượng, không phải là một nhân vật cụ thể. Đa số người Hoa đều quan niệm rằng “Ông Bổn” là “Phước Đức Chánh Thần”. Tuy nhiên mỗi bang người Hoa đều có những quan niệm và tín ngưỡng riêng về Ông Bổn. Người Hoa (gốc Phúc Kiến) ở Chợ Lớn đã cụ thể hóa là Châu Đạt Quan - Một vị quan đời Nguyên. Người Hoa gốc Triều Châu, Hải Nam ở miền Tây Nam bộ lại cụ thể hóa là Tam Bảo Thái Giám Trịnh Hòa - Người đời Minh. Người Triều Châu (ở Hội An) cụ thể hóa là Phục Ba Tướng quân Mã Viện. Người Quảng Đông ở Chợ Lớn cho Ông Bổn của họ là Thần Thổ Địa… nhưng những người Hoa họ Vương gốc Phúc Kiến ở Bình Dương cho rằng Ông Bổn của họ là Huyền Thiên Thượng Đế và họ Lý (gốc Triều Châu) cho Ông Bổn của họ chính là Ông tổ họ Lý. Huyền Thiên Thượng Đế là một vị thần do Thượng Đế phân thân còn gọi là Chơn Võ (Chân Vũ). Trấn Vũ là vị thần ở núi Võ Đang. Bên cạnh Huyền Thiên Thượng Đế, họ Vương còn thờ: Quan Âm Bồ Tát (người Phúc Kiến tôn thờ nhiều thần), Na Tra Thái Tử, Nam Triều Đại Đế. Họ Vương thì tôn thờ các vị thần trên, trong khi đó họ Lý ở Bình Dương lại thờ Ông Bổn là thủy tổ các họ: Lực, Chu, Quách, Tiêu , Triệu, Lý và Châu. Đây cũng chính là biểu tượng. Họ cũng thờ Phước Đức Chánh thần mà họ gọi đó là Ông Địa, tức là thần đất đai ở địa phương. Có thể 43
  • 44.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị kể đến các cung điện thờ Ông Bổn của họ Vương ở Bình Dương như: Phước Võ điện- phường Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một (xây dựng năm1885); Ngọc Hư Cung- thị trấn Lái Thiêu (xây dựng khoảng 1971); Phước Thọ Đường - xã Hưng Định, Thuận An; Phước Nghĩa Đường - Tân Phước Khánh, Tân Uyên. Họ Lý có một ngôi miếu thờ Ông Bổn là Phước An Miếu ở Chánh Nghĩa, Thủ Dầu Một ( xây dựng năm 1980). Miếu này do họ Lý xây dựng, ngoài thờ Ông tổ của bảy họ như trên, còn là từ đường họ Lý, nên còn gọi là Lý Thị Gia Miễu. Cũng giống như các đền Miếu của người Việt, các miếu thờ Ông Bổn đều tích hợp đa thần như Trương Thiên Sư (Trương Đạo Lăng - đời Hán), Bao Công (đời Tống), Cảnh Chủ Tôn Vương, Linh Từ Tôn Vương, Cửu Thiên Huyền Nữ…. Lễ hội các đền miếu thờ Ông Bổn ở Bình Dương mang nội dung cúng tổ nghề gốm, tập trung chủ yếu người Hoa ở địa phương và các nơi khác. Lễ hội này của người Hoa ở Bình Dương còn mang tính chất tín ngưỡng phúc thần, bảo hộ cuộc sống và việc làm ăn của cộng đồng người Hoa trên đất Bình Dương. Theo tục lệ tín ngưỡng của người Hoa, các vị thần Huyền Thiên Thượng Đế, Quan Âm Bồ Tát, Na Tra Thái Tử và Nam Triều Đại Đế vốn không được thờ cố định ở một địa phương mà được luân phiên ở các miếu thờ ở Thủ Dầu Một, Búng, Lái Thiêu, Tân Phước Khánh rước về thờ trong một năm và lễ hội được tổ chức vào ngày 25-2. Và như vậy, theo tục lệ phải cách bốn năm mới có lễ hội một lần. Chương trình lễ hội bao gồm có các nghi thức cúng tế theo Đạo giáo do các thầy pháp chuyên nghiệp đảm trách. Kế đó là lễ rước kiệu các vị thần, kéo dài suốt đêm với hàng chục cây số bao quanh khu vực dân cư, không khí hết sức tưng bừng, náo nhiệt và hoành tráng. Trong lễ hội còn có hát Hồ Quảng, múa cù, múa lân sư rồng, đặc biệt là múa hẩu thu hút đông đảo người xem. Có thể nói lễ hội miếu Ông Bổn ở Bình Dương tuy là Lễ hội mang đặc trưng của một dòng họ, một nghề nghiệp, một bang khác nhau, song nó đã thu hút được một cộng đồng cư dân người Hoa và cả người Việt cùng tham gia hưởng ứng và trở thành những ngày lễ hội quan trọng trong năm, trong đời sống tâm linh của người Hoa ở Bình Dương nói chung và người Việt nói riêng. Lễ hội miếu Ông Bổn cùng với lễ hội miếu Bà Thiên Hậu của người Hoa và một số lễ hội cúng tế của người Việt đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng mang đậm bản sắc dân gian, trở thành những hoạt động chính trong các hoạt động văn hóa lễ hội diễn ra trong năm của cư dân Bình Dương nói chung và của cả khu vực Nam bộ nói riêng, góp phần đặc sắc vào nền văn hóa đầy màu sắc của Việt Nam. 3.3 Các lễ tết trong năm của người Hoa Bình Dương. Ở Bình Dương cộng đồng người Hoa là cộng đồng cư dân có số lượng rất đông chỉ sau người Kinh (Việt). Họ cư trú tập trung nhiều nhất ở TX.TDM và các thị trấn như An Thạnh, Lái Thiêu (Thuận An), Tân Phước Khánh (Tân Uyên), Mỹ Phước (Bến Cát), Dầu Tiếng... Họ đóng vai trò đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Về mặt văn hóa, người Hoa ở Bình Dương có một nền văn hóa truyền thống nhiều màu sắc. Nói đến người Hoa là nói đến Lễ hội chùa Bà, chùa Ông, đến múa lốt lân - sư - rồng, đến câu đối (liễn), đến sự yêu chuộng màu đỏ và đèn lồng... Những màu sắc văn hóa kể trên được thể hiện trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và đặc biệt là trong các ngày lễ, tết hàng năm. Đó là các lễ, tết như sau: 1.Tết Nguyên đán Tết Nguyên đán là ngày tết long trọng nhất trong các ngày lễ truyền thống của người Hoa. Ngày tết được tính từ những ngày đầu năm mới, nhưng không khí náo nhiệt mừng đón năm mới bắt đầu từ những ngày cuối năm, cụ thể từ ngày 23 tháng chạp (23-12 AL). Đó là ngày đưa Táo quân về chầu Ngọc hoàng. Vào ngày này, các gia đình người Hoa ở Bình Dương đều làm lễ cúng đưa tiễn Táo quân. Các thực phẩm cúng Táo quân thường là đồ ngọt như bánh, mứt, kẹo, chè... với ý nghĩa là Táo quân ăn ngọt để miệng lưỡi ngọt ngào tâu với Ngọc hoàng toàn những điều tốt 44
  • 45.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị đẹp về gia chủ, khi trở về mang nhiều điều may mắn cho gia chủ. Sau khi cúng tế ông Táo, mọi nhà đều vội vàng chuẩn bị đón tết. Trong những công việc chuẩn bị đón năm mới của người Hoa ở Bình Dương, việc đầu tiên là dọn dẹp nhà cửa, còn gọi là “ tảo trần”, là thu dọn vệ sinh cuối năm để “quét sạch bụi bặm” trong gia đình, đón một năm mới thật sạch sẽ, kỳ vọng vào sự tốt lành, may mắn, bình an. Sau khi đã dọn dẹp vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, họ bắt đầu trang trí nhà cửa từ bàn thờ cho đến nhà bếp. Người Hoa ở Bình Dương không chưng mâm ngũ quả và cây mai như người Việt mà chưng hoa huệ, hoa cúc và các loại trái cây theo ý thích. Trái cây được họ ưa chuộng là quít, táo, lê... Đăc biệt người Hoa ở Bình Dương rất thích quít. Đó là loại trái cây được người Hoa cho là may mắn. Một trong những công việc chủ yếu của việc chưng dọn nhà cửa của người Hoa ở Bình Dương là thay mới các câu đối (liễn) từ các trang thờ cho đến liễn tết dán cửa ra vào. Câu đối, theo âm Hán Việt là “liên”, tiếng Việt gọi là “ liễn”, là hai câu đối nhau từng từ, từng chữ nhưng ý lại liên quan đến nhau, âm vần hài hòa. Câu đối được viết trên giấy, trên kiếng hoặc được khắc trên gỗ. Ngày nay, câu đối còn được khắc trên chất liệu gần như nhựa cứng có độ bền rất cao. Tuy nhiên đa số người Hoa ở Bình Dương vẫn thích sử dụng câu đối viết trên giấy, loại giấy màu đỏ viết chữ bằng nhũ vàng hoặc mực đen. Câu đối được viết theo hàng dọc, gồm có câu xuất (câu thứ nhất), câu đối (câu thứ hai) và hoành phi. Hoành phi được dán phía trên giữa hai câu. Hoành phi thường có ít chữ nhưng có tính khái quát cao, thường thấy nhiều câu đối dùng chung một hoành phi. Tìm hiểu trong “Cội nguồn văn hóa Trung Hoa” thì câu đối bắt nguồn từ tục dán đào phù (lá bùa dán trên cửa) trong đêm giao thừa. Đào phù được làm từ hai miếng gỗ đào, trên đó vẽ hai anh em Thần trà và Úc lũy có tài bắt yêu ma, quỷ quái. Sau khi có sự hình thành văn từ đối trượng thời Ngũ Đại, từ hình thức đào phù dần xuất hiện câu đối. Câu đối được cho là sớm nhất ở Trung Quốc là câu đối: Tân niên nạp dư khánh Giai tiết triệu trường xuân (Năm mới lại thêm vui Tiết đẹp gọi xuân dài) Được Hậu Thục Chúa Mạnh Sưởng viết năm 984 thời Ngũ Đại. Sau đó, câu đối được tầng lớp thống trị của các triều đại phong kiến yêu thích và đề xướng, cùng với sự phát triển của giới văn nhân, mặc khách, câu đối cuối cùng trở thành một hình thức văn học rất đặc sắc của Trung Quốc và được sử dụng lưu truyền rộng rãi trong dân chúng. Nó trở thành một tập tục truyền thống của người Trung Quốc và được các lưu dân người Hoa mang theo trên đường ly hương tìm đất sống. Người Hoa dù đi bất cứ nơi đâu, tập tục dán liễn vẫn được gìn giữ và lưu truyền như máu chảy trong huyết quản họ. Và, người Hoa ở Bình Dương không nằm ngoài dòng chảy này. Họ làm lễ cúng ông bà tổ tiên rất sớm, có người cúng vào ngày 28 AL, có người cúng vào ngày 29 AL, ít có người cúng vào ngày 30 AL như người Việt. Các món ăn cúng ông bà của họ có nhiều món hay ít món còn tùy vào điều kiện của từng gia đình. Nhưng thường thì có các món như gà luộc, thịt heo luộc, mì xào, bún xào, canh nấm... Theo phong tục của người Hoa Phước Kiến ở Thủ Dầu Một thì thức ăn cúng ông bà như thịt heo, thịt gà... thì phải chặt ra từng miếng nhỏ không để nguyên con hoặc nguyên một mảng thịt to. Ngược lại, nếu cúng thần linh thì để nguyên con hoặc nguyên mảng thịt to không được chặt nhỏ. Người Hoa ở Bình Dương chỉ cúng ông bà vào ngày cuối năm chứ không rước ông bà rồi cúng cơm trong cả 3 ngày tết như người Việt. Lễ cúng giao thừa được người Hoa ở Bình Dương rất coi trọng. Đó là thời khắc giao nhau giữa năm cũ và năm mới, gọi là giao thời (có lẽ sau bị biến âm thành giao thừa). Đến giờ giao thừa (00 giờ đêm cuối năm), nhà nào cũng bày hương đèn, trà nước, bánh mứt, hoa quả ra phía trước cửa chính để cúng, họ gọi là cúng ông Trời. Đối với người Phước Kiến ở Thủ Dầu Một theo tục lệ xưa thì cúng giao thừa phải có 12 đĩa bánh mứt tượng trưng cho 12 tháng trong năm, năm 45
  • 46.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị nào nhuần thì bày 13 đĩa. Họ cúng bái rất thành khẩn, cầu đấng siêu nhiên cao nhất ban cho sự bình an, ấm no, hạnh phúc cho gia đình trong năm mới. Dần dần tục cúng giao thừa cũng được phổ biến rộng rãi trong cả cộng đồng người Việt và lễ vật cũng đơn giản hơn, có khi chỉ cần một quả dừa tươi và một bình hoa là có thể cúng được. Sau khi cúng giao thừa xong, người Hoa ở Bình Dương thường rủ nhau đi đến các chùa, miếu, các cơ sở tín ngưỡng của cộng đồng mà phổ biến nhất là chùa Bà Thiên Hậu và các cơ sở tín ngưỡng ngoài cộng đồng như núi Bà Đen ở Tây Ninh, núi Sam ở Châu Đốc... Các cơ sở tín ngưỡng dù ở trong hoặc ngoài cộng đồng đều được họ đến lễ bái, miễn là nơi đó họ có thể liên lạc với thần linh để cầu cho năm mới bình an, công việc làm ăn thuận lợi... Ngoài các món ăn, thức uống truyền thống như bánh tổ của người Hoa Phước Kiến họ Vương, trà mè của người Sùng Chính, việc ăn uống trong các ngày tết của người Hoa ở Bình Dương cũng có các loại dưa cải, dưa hành, củ cải muối, họ cũng kho thịt heo và hầu như họ cũng ăn bánh tráng, củ kiệu như người Việt. Khách tới nhà họ cũng đãi bánh mứt, uống nước trà. Ở Bình Dương, người Hoa cũng có quan niệm trong những ngày tết phải mặc đẹp. Bà con, bạn bè tới nhà chúc tết cho nhau, trẻ em được nhận những bao lì xì đỏ thắm. Người Hoa cũng xem trọng việc xông nhà vào sáng mùng một tết. Họ quan niệm: người đến nhà đầu tiên vào ngày đầu năm nếu hợp tuổi với gia đình thì họ sẽ gặp nhiều may mắn trong năm mới. Đối với một số người Hẹ theo truyền thống xưa thì vào ngày mùng một tết cả nhà đều ăn chay. Việc ăn chay không ngoài mục đích cầu mong cho năm mới được “mưa thuận gió hòa”, bình an và hạnh phúc. Ngoài việc dán câu đối ngày xuân, một đặc trưng văn hóa khác của người Hoa ở Bình Dương là nghệ thuật múa lốt như múa lân, múa rồng. Ở nơi nào có đông người Hoa sinh sống khi tết đến rất dễ nhận ra bởi không khí sôi động, náo nhiệt của tiếng trống, tiếng chiêng múa lân, múa rồng vang vọng khắp nơi. Từng đội lân, rồng thay nhau biểu diễn trên khắp các nẻo đường, nếu được gia đình nào mời, các chú lân, rồng sẽ vào nhà chúc tết gia chủ để được nhận lì xì. Sinh hoạt văn hóa tết của người Hoa ở Bình Dương rất nhộn nhịp, không khí nhộn nhịp ngày tết của cộng đồng người Hoa ở Bình Dương kéo dài cho đến rằm tháng giêng. 2.Tết Nguyên tiêu (ngày 15-1 AL còn gọi là rằm tháng Giêng) Tết Nguyên tiêu có ở Trung Quốc từ rất lâu đời. Nguyên tiêu là ngày trăng tròn đầu năm, mọi nhà đều ăn tết tượng trưng cho sự đoàn kết, hòa thuận, hạnh phúc trong nhà. Trong ngày này, mọi công việc đều tạm ngưng để gia đình đoàn tựu vui chơi. Trong cộng đồng người Hoa ở Bình Dương, ngày Tết Nguyên tiêu là ngày lễ hội Bà Thiên hậu du xuân, hầu hết người Hoa đều tập trung vui hội. Họ đi lễ chùa, miếu. Họ tập trung ra đường để xem đám rước kiệu Bà. Các gia đình người Hoa ở hai bên đường có kiệu Bà đi qua thì bày hương án ra trước nhà để cúng bái cầu Bà phù hộ cho gia đình năm mới được bình an, nhiều may mắn, tốt lành... 3.Tết Thanh minh Tết Thanh minh ở vào khoảng giữa tháng 3 âm lịch. Như hai câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du viết về Tết Thanh minh: “Thanh minh trong tiết tháng ba Lễ là tảo mộ, hội là Đạp thanh” Tết Thanh minh đã có ở Trung Quốc từ rất lâu đời. Ở Bình Dương, vào ngày này, người Hoa thường tụ tập gia đình cùng nhau đi tảo mộ người thân. Cả gia đình ra nghĩa trang để dọn dẹp, sửa sang lại mộ của người thân. Sau đó bày hoa quả, hương đèn cùng các món như tam sên (thịt heo, trứng vịt, tôm hoặc mực), heo quay, gà luộc... bên cạnh mộ người thân để cúng bái. Các món ăn được bày cúng thì tùy điều kiện của từng gia đình. Riêng người Sùng Chính còn có món bánh đậu đen dùng để cúng trong Tết Thanh minh. Cúng bái xong họ quây quần lại cùng nhau ăn uống, trò chuyện. Đôi khi ngày thanh minh còn là ngày hẹn hò của những đôi tình nhân tại nghĩa trang. Đặc biệt, người Hoa Phước Kiến ở Thủ Dầu Một không đi tảo mộ vào ngày thanh minh, chỉ tảo 46
  • 47.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị mộ lần đầu vào ngày này, sau đó họ sẽ tảo mộ vào ngày đông chí. Đối với người Phước Kiến, ngày đông chí mới là ngày tảo mộ. 4.Tết Đoan ngọ (ngày mùng 5-5 âm lịch) Theo người Hoa, Tết Đoan ngọ là ngày kỷ niệm Khuất Nguyên. Người Hoa ở Bình Dương, nhất là cộng đồng người Phước Kiến ở Thủ Dầu Một có phong tục gói bánh ú lá tre. Để chuẩn bị cho ngày này, người Hoa đi tìm hái lá tre, loại tre tàu có lá to để gói bánh. Trước kia công việc này được các thanh thiếu niên rất thích vì đây là dịp để đi dã ngoại với bạn bè. Nhưng hiện nay thì tất cả đều mua, kể cả lá tre đều có người bán sẵn. Bánh ú được làm từ nếp, có người thích trộn với đậu đen hoặc đậu đỏ, nhân bánh gồm thịt kho, măng kho, hột vịt muối, nấm đông cô, tôm khô, mỗi thứ một miếng nhỏ gói vào trong. Trong cộng đồng người Hoa ở Bình Dương, nhất là người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa (TX.TDM) không khí Tết Đoan ngọ rất nhộn nhịp với việc gói bánh. Nhà nào cũng gói, nếu không thì thuê người gói. Có gia đình gói bánh không chỉ để cúng mà còn để tặng bạn bè, tặng những gia đình đang có tang trong bà con, xóm giềng. Đối với người Phước Kiến, các gia đình đang có tang thì không gói bánh ú. Điều này không giải thích được vì họ chỉ biết đó là phong tục phải làm theo. Ngoài bánh ú là món chính, còn có các món nhý mì xào hoặc bún xào, thịt heo luộc hoặc heo quay, thịt gà, hoa quả.. (tùy theo từng gia đình) là những món để cúng trong ngày Tết Đoan ngọ. Được biết, phong tục cúng bánh ú trong ngày Tết Đoan ngọ xuất phát từ lòng cảm phục Khuất Nguyên. Khuất Nguyên là người nước Sở, sống dưới triều Sở Hoài Vương thời chiến quốc ở Trung Quốc. Ông là người trung hậu, học rộng tài cao, hết lòng cống hiến tài năng cho triều đình nhưng lại bị kẻ xấu hãm hại bị đày đến Giang Nam. Do quá thất vọng, uất ức đối với nhân tình thế sự, ông đeo đá gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn đúng vào ngày mùng 5-5 âm lịch. Cảm phục tài năng và đạo đức của Khuất Nguyên, nhân dân bèn gói rất nhiều bánh nếp thả xuống sông để cá ăn bánh đừng xâm phạm thi thể của ông. Phong tục gói bánh nếp trong ngày Tết Đoan ngọ trở thành phong tục truyền thống được người Hoa ở Bình Dương gìn giữ và lưu truyền cho đến ngày nay. 5.Tết Trung thu (ngày 15-8 âm lịch còn gọi là rằm tháng 8) Trong năm, trăng rằm tháng 8 là trăng tròn nhất, sáng nhất. Đối với người Hoa, trăng tròn dễ liên tưởng đến sự đầy đặn, dễ liên hệ đến sự đoàn viên. Vì vậy mà có tục ăn Tết Trung thu, còn gọi là Tết Trông trăng. Ở Trung Quốc còn có nhiều sự tích về Tết Trung thu, có một sự tích kể rằng: vào một đêm trăng tròn rằm tháng tám, vua Đường Minh Hoàng nằm mộng thấy mình được dạo chơi cung Quảng Hàm ở mặt trăng (cung trăng). Những nàng tiên lộng lẫy trong vũ điệu Nghê thường làm nhà vua say đắm. Vua đột ngột tỉnh giấc, mơ màng tiếc nuối cảnh thần tiên bèn định ra lệ trông trăng vào ngày rằm tháng tám hàng năm, dần dần trở thành Tết Trung thu. Vào ngày này mọi người tổ chức hội hè vui chơi, gia đình tề tựu vui vẻ cùng nhau uống trà, ăn bánh, ngắm trăng. Bên ngoài, cộng đồng tổ chức cho trẻ em rước đèn lồng, múa lân, múa rồng rất vui nhộn. Tuy nhiên, những năm gần đây, trong cộng đồng người Hoa ở Bình Dương hầu như không tổ chức cho trẻ em rước đèn và múa lân, múa rồng như trước kia. Có lẽ do cuộc sống ngày càng bận rộn họ ít quan tâm tới việc vui chơi. Ngoài ra có một số người cho rằng vì không còn các trường học của người Hoa như trước nên không có người tổ chức, trẻ em người Hoa vui chơi cùng với trẻ em người Việt dưới sự tổ chức của trường học hoặc của phường, xã. Hiện tại ở Bình Dương, không khí Tết Trung thu được thể hiện nhộn nhịp nhất là các quầy hàng bánh trung thu mọc lên trên khắp các đường phố. Tết Trung thu là dịp để mọi người tặng bánh cho nhau. Tục lệ ăn bánh hình mặt trăng vào ngày rằm tháng tám có từ thời Bắc Tống ở Trung Quốc. Bánh nướng hoặc bánh dẻo đều có hình tròn, tức là hình của mặt trăng. Ăn bánh ngọt, ngắm trăng tròn, đó cũng là một kỳ vọng vào sự ngọt ngào viên mãn của cuộc sống. 6.Tết Đông Chí Ngày đông chí ở vào khoảng giữa tháng 12 âm lịch. Vào ngày này người Hoa ở Bình Dương có tục ăn chè trôi nước (chè bột nếp vò viên tròn). Hầu hết các gia đình người Hoa đều làm lễ cúng chè trôi nước, hoa quả... Ăn chè trôi nước trong ngày này với ý nghĩa là mỗi người được 47
  • 48.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị lớn thêm một tuổi. Chè trôi nước đối với người Hoa còn có ý nghĩa là sự viên mãn, ngọt ngào, sự đoàn viên, hạnh phúc, nó gắn liền với những điều mong ước tốt lành cho bản thân con người. Đối với người Phước Kiến, ngày đông chí còn là ngày đi tảo mộ. Chỉ những ngôi mộ mới táng thì người thân mới tảo mộ vào Tết Thanh minh trong lần đầu, sau đó sẽ tảo mộ vào ngày đông chí. Ngoài các lễ, tết truyền thống kể trên, người Hoa Phước Kiến ở Thủ Dầu Một còn có thói quen ăn thịt dê nấu với thuốc Bắc vào ngày Lập đông. Trong ngày này hầu hết các gia đình người Hoa Phước Kiến đều nấu món này cho cả gia đình mỗi người ăn một ít. Món ăn này thích hợp trong thời tiết lạnh giá của mùa đông, đây có lẽ là một thói quen được người Hoa mang theo từ cố hương Trung Hoa. Tuy nhiên, thời tiết ở Bình Dương không thể hiện rõ 4 mùa như ở Trung Quốc, hầu như ở đây không có quan niệm về mùa đông, nhưng người Hoa ở Bình Dương vẫn giữ thói quen này gần như là một phong tục. 10. Loại hình nghệ thuật truyền thống 4.1 Nghệ thuật múa bóng rỗi Nam Bộ ở Bình Dương Nguồn gốc, tên gọi và các trường phái biểu diễn. Hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm đối lập nhau về nguồn gốc hình thành nghệ thuật Múa bóng rỗi ở Nam bộ, song nhìn chung có 3 luồng ý kiến cơ bản như sau: Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng: nghệ thuật Múa bóng rỗi ở Nam bộ bắt nguồn từ nghi thức lên đồng của đạo mẫu Tam phủ, Tứ phủ của miền Bắc (xuất hiện muộn nhất vào thời hậu Lê thế kỷ XV), tuy có một vài điểm khác biệt song nhìn chung về cách thức không có nhiều thay đổi, đặc biệt là yếu tố nhập đồng - nhập cốt thể hiện một nét chung khó có thể lẫn lộn với một hình thức nghi lễ nào. Luồng ý kiến thứ hai cho rằng: nghệ thuật Múa bóng rỗi ở Nam bộ là một môn nghệ thuật hoàn toàn mới, nó khác lên đồng ở Bắc bộ từ bản chất lẫn hình thức thể hiện. Nhóm này cho rằng, múa bóng rỗi đã thoát khỏi những yếu tố thần linh (như nhập đồng, phán truyền…) nó chỉ đơn thuần là nghi thức dâng lễ vật trong việc thờ cúng Mẫu thần và các trò tạp kỹ nhằm mục đích phục vụ mua vui. Luồng ý kiến thứ ba cho rằng: Múa bóng rỗi là một nghi thức quan trọng trong nghi lễ thờ Nữ thần, Mẫu thần của đạo Mẫu xuất phát từ Bắc bộ song đã có quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với phức hệ văn hóa phía Nam gồm cả văn hóa Chăm (miền Trung), văn hóa người Hoa và văn hóa người Khmer (Nam bộ). Đây là luồng ý kiến nhận được nhiều sự đồng tình trong giới nghiên cứu và có sự ảnh hưởng nhất định về nhận thức của nghệ thuật Múa bóng rỗi nói chung. Tóm lại, có thể nhận thấy cả 3 luồng ý kiến trên đều có một điểm chung nổi bật là: Múa bóng rỗi xuất phát từ nghi thức thờ cúng Mẫu thần, một tín ngưỡng xuất hiện rộng khắp cả vùng Đông Nam Á (bao gồm cả phần Nam Trung Hoa) nói chung và những vùng miền Việt Nam nói riêng. Với những tộc người khác nhau, việc thờ cùng Nữ thần, Mẫu thần cũng có những điểm khác nhau tương ứng. Sự khác biệt đó thể hiện từ đối tượng được thờ cúng (các bà chúa, bà mụ, nữ thần…) đến các hình thức thực hành nghi lễ mà trong đó Múa bóng rỗi là một nghi thức tiêu biểu của người dân Nam bộ. Về tên gọi “Múa bóng rỗi” hay còn có một số tên khác như hát bóng rỗi, múa bóng rôi (Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh), đây là cách gọi ghép, kết hợp giữa hai hình thức biểu diễn là hát rỗi và múa bóng: - Hát rỗi: thường diễn ra trước, có ý nghĩa mời chầu, mời các Nữ thần, Mẫu thần về ngự và dự nghi lễ cúng miễu. Chính vì ý nghĩa đó mà nó còn được gọi là hát thỉnh, hát mời chầu. Tùy vào các cô bóng, cậu bóng mà có cách “rỗi” khác nhau: có thể là rỗi theo tuồng tích hoặc chỉ là những điệu thức riêng biệt. - Múa bóng: Thuật ngữ này có nhiều cách hiểu khác nhau trong dân gian. Cách hiểu phổ quát nhất là múa dâng bông, có thể “múa bóng” là tiếng đọc trại từ múa bông, múa dâng bông. 48
  • 49.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Đây là một điệu thức múa đặc trưng nhất có mặt hầu khắp các nghi thức của Đạo Mẫu nói chung như lên đồng (Bắc bộ), Múa bóng rỗi (Nam bộ), nghi thức cúng thần Pô Inư Nưgar của người Chăm, nghi thức thờ bà chúa Xứ của người Khmer. Múa tạp kỹ chỉ mới xuất hiện sau này và thường chỉ nhằm phục vụ người xem là chính. Về các trường phái biểu diễn múa bóng rỗi, trong bài viết “Về hai hình thức hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam bộ” của 2 tác giả PGS TS Nguyễn Chí Bền và Ths Hồ Văn Tường đã đưa ra nhận định: “Phần nghi lễ liên quan nhiều hơn cả đến việc hầu đồng chính là hát bóng rỗi…”điều đó có nghĩa là hát bóng rỗi (hay múa bóng rỗi) là phần quan trọng nhất của nghi thức hầu đồng. Các tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Trần Tịnh Của cũng đồng quan điểm như vậy. Và, từ hai nghi thức hầu đồng riêng tạo nên 2 trường phái múa bóng rỗi tồn tại khác nhau tại Nam bộ: - Trường phái thứ nhất: được truyền vào Nam bộ do những di dân miền Bắc và miền Trung vào miền Namdưới thời Chúa Nguyễn và Triều Nguyễn. Những người Việt thường trú chân ở miền Trung một thời gian khá dài trước khi tiếp tục tiến vào Nam chính vì vậy tín ngưỡng thờ mẫu có sự giao lưu, tiếp biến với nhiều hệ thống tín ngưỡng của các tộc người khác. Và, nó đã có nhiều sự biến đổi. - Trường phái thứ hai: được đem nguyên vẹn từ Bắc vào Nam dười thời Pháp thuộc và những cuộc di dân lớn sau đó (1954, 1975). Đặc điểm của trường phái này là tính “phục nguyên” một loại hình tín ngưỡng cũ nơi một mảnh đất mới. Giữa hai trường phái này có những điểm khác biệt từ trang phục, dấu hiệu nhập đồng, cách truyền phán, các điệu múa và cách phân phát lộc… Tại Bình Dương đã từng tồn tại cả hai trường phái nói trên, song hiện nay chỉ có trường phái thứ nhất là còn thường xuyên hoạt động. Các di tích gắn liền với Múa bóng rỗi ở Bình Dương gồm có: 57 miễu thờ Ngũ hành nương ngương (tập trung ở huyện Tân Uyên: 34 miễu, huyện Thuận An: 20 miễu), (Theo số liệu điều tra không chính thức của Phòng Di sản văn hóa - Bảo tàng Bình Dương hiện nay lên tới 136 miễu), Chúa Xứ Thánh Mẫu (với hai tên gọi khác nữa: Ngung Man nương, chúa Tiên nương nương) có 47 miếu thờ (huyện Tân Uyên có 22 ngôi miễu thờ, huyện Bến Cát 8 ngôi, huyện Thuận An 8 ngôi, thị xã Thủ Dầu Một 8 ngôi miếu thờ). Toàn tỉnh Bình Dương, có 7 cơ sở tín ngưỡng gắn bó với tín ngưỡng thờ Mẫu. Đó là đền Đức Thánh Trần Hưng Đạo (áp 2A, xã Phước Hoà, huyện Tân Uyên), phủ Minh Sơn (xã Minh Hoà, huyện Bến Cát) thờ Đức Thánh Trần, Sơn Lâm Thánh Mẫu, Liễu Hạnh Thánh Mẫu và phối tự thờ thành hoàng, Hoa Nghiêm Tự (ở khu 4, thị trấn Dầu Tiếng), thờ Đức Thánh Trần, chùa Sơn Lâm, Thánh Mẫu công chúa và phối tự thờ Adiđà; Đông Quân linh tự (khu 2 thị trấn Dầu Tiếng) thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, nhị vị vương quan, Tam Toà Thánh Mẫu, Cô, Cậu, cùng với thờ Adiđà; Phủ Ứng Linh (khu 3, thị trấn Dầu Tiếng) thờ Đức Thánh Trần hưng Đạo và Liễu Hạnh công chúa; Đền Thánh Mẫu (ấp Lai Khê, xã Lai Hưng, huyện Bến Cát) thờ Liễu Hạnh công chúa, Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Sơn Lâm Thánh Mẫu, thờ Ngũ Hành nương nương, Ngũ Hổ, trong khuôn viên còn có am Cô Bơ và Cậu Bé. Nghệ thuật Múa bóng rỗi ở Bình Dương trong không gian văn hóa Nam bộ. Có lẽ không chỉ ở Bình Dương mà ở khắp Nam bộ, Múa bóng rỗi đã và đang chịu nhiều sự phán xét, nhiều cách nhìn, nhiều cách suy nghĩ khác nhau từ cả những người làm quản lý văn hóa đến một bộ phận dân chúng. Người ta vẫn cho rằng: múa bóng rỗi là mê tín dị đoan, là lợi dụng tín ngưỡng để thu lợi…nhiều năm trước loại hình nghệ thuật dân gian này đã bị cấm thực hiện. Mấy năm gần đây, xu thế bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc đang lên cao vì vậy múa bóng rỗi mới có đủ điều kiện để hoạt động trở lại. Trong bài viết này người viết xin không bàn luận gì thêm về cách quản lý và bảo tồn văn hóa của chúng ta. Song, yếu tố “…là mê tín dị đoan, là lợi dụng tín ngưỡng để thu lợi…” thì chúng ta cần phải làm rõ chủ thể của từng hành động. Trước hết, chúng ta cần phải phân định rạch ròi 2 đối tượng: di sản văn hóa và người thực hiện di sản (là cá nhân hoặc cộng đồng). Trong trường hợp này múa bóng rỗi là di sản văn hóa 49
  • 50.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị chúng ta đang nói đến, còn đối tượng thực hiện di sản chính là ông đồng, bà bóng. Và, chính ông đồng, bà bóng mới là người quyết định đem múa bóng rỗi ra để thực hiện mục đích gì? Trong đó ít nhiều có hiện tượng bói toán, bán bông, ban lộc, bán ngọc bà…vv Rõ ràng múa bóng rỗi với tư cách là một di sản văn hóa không mang bất kỳ một yếu tố mê tín hay vụ lợi nào. Nó đơn thuần là một hành vi tín ngưỡng trong sáng, có tính nhân văn (đề cao và biết ơn người phụ nữ, người có công với nhân dân), có tính giáo dục (khuyên nhủ mọi người hướng về cội nguồn, làm nhiều việc thiện), chỉ có sự vụ lợi cá nhân mới làm vẩn đục đi lớp nghĩa trong sáng đó. Nhiệm vụ của các nhà quản lý văn hóa là phải uốn nắn hành vi không đúng của người thực hiện văn hóa chứ không phải cấm đoán di sản văn hóa đó không được phép hoạt động. Phải có mặt tại một lễ cúng miễu mới thấy bà con háo hức chờ đợi đến tiết mục múa bóng rỗi như thế nào. Đó có thể là tâm trạng háo hức chờ đợi chút lộc bà ban, cũng có thể là giây phút giải bày những lo toan bấy lâu dồn nén, hay chỉ đơn thuần là ngóng chờ những tiết mục múa tạp kỹ công phu - điêu luyện mà họ chưa có cơ hội vào rạp xiếc… Trở lại vấn đề “Múa bóng rỗi trong không gian văn hóa Nam bộ”, có thể thấy khi nói đến văn hóa Nam bộ người ta vẫn thường nhắc nhiều hơn đến Đờn ca tài tử, cải lương, các điệu lý - điệu hò, cũng không quá khó hiểu vì những loài hình nghệ thuật dân gian này thể hiện rất rõ nét đặc trưng của văn hóa Nam bộ đó là sự phóng khóang, bao dung, tính bình dị - dân dã. Song khi phải đối mặt với những thử thách to lớn, những giới hạn mà bản thân không thể vượt qua thì những lời ca tiếng hát đó khó có thể đem lại niềm tin và động lực thực sự, chỉ có tôn giáo, tín ngưỡng mới là những giá đỡ tin thần, những động lực giúp con người ta vượt qua những thử thách trong cơn tuyệt vọng. Và, đạo Mẫu là một trong những nền tảng tâm linh mà người dân vẫn thường gửi gắm. Đặc biệt, trong những đợt cúng miễu, dưới sự “hiện diện” của bà, và qua sự “kết nối” của ông địa, cô bóng, người dân có dịp cầu mong sự an lành, cầu mong cho tai qua - nạn khỏi, cuộc sống gặp nhiều may mắn, làm ăn thuận lợi trong năm… 11. Danh thắng và các công trình kiến trúc 5.1 Chùa Hội Khánh Chùa Hội Khánh tọa lạc ở số 35 Yersin, ấp Bông Dầu, xã Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương. Chùa cách TP. HCM 25km về phía Nam. Chùa được thiền sư Đại Ngạn (dòng Lâm Tế) khai sơn năm 1741, đời Lê Hiển Tông, ở trên một ngọn đồi cao. Năm 1868, đời Tự Đức, do chùa bị hư hỏng nặng, Hòa thượng Chánh Đắc cho xây dựng chùa mới dưới chân đồi, chùa tọa lạc ở đấy cho đến ngày nay. Chùa đã được tôn tạo nhiều lần, nhưng vẫn giữ nét kiến trúc cổ. Giảng đường và Đông lang được sửa chữa năm 1917, Tây lang được xây lại năm 1984. Và gần đây nhất, từ năm 1990 đến năm 1992, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Ở chánh điện, hầu hết tượng các vị Phật, Bồ tát... đều được tạc bằng gỗ, sơn son thiếp vàng. Đặc biệt, bộ tượng Thập Bát La Hán, mỗi tượng cao khoảng 0,86m, được nhóm thợ nổi tiếng ở địa phương tạc vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Ba tấm bao lam chạm khắc tứ linh, tứ quý, cửu long và Thập Bát La Hán có giá trị nghệ thuật cao. Hơn 250 năm nay, chùa được tiếp nối qua các đời trụ trì: Đại Ngạn - Từ Tấn, đời 37 dòng Liễu Quán (1741 - 1812) Chúc Thánh (1839 - 1869) Là một công trình kiến trúc Phật giáo tiêu biểu của miền Đông Nam Bộ. Chùa được xây dựng năm 1741 (đời vua Lê Hiển Tông) trên một gò cao ở trung tâm thị xã Thủ Dầu Một. Đến năm 1868 chùa được dựng lại lui xuống dưới triền đồi trong một khuôn viên khá rộng có nhiều cây cổ thụ. Đây là một công trình kiến trúc nhà gỗ lớn nhất tỉnh với hơn 1.200m2 nhà. Cụm kiến trúc chùa Hội Khánh được bố trí mặt bằng với nhiều căng nhà lớn nhỏ khác nhau theo kiểu nội công - 50
  • 51.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị ngoại quốc gồm: Chánh điện có 2 căn mỗi căn có 3 gian 2 chái. Tiền đường là căn nhà ngoài, lòng căn hẹp, hai bên đặt tượng thờ Ông Thiện, Ông Ác... Căn nhà gỗ thứ hai lớn hơn. Gian giữa nửa ngoài là Thiên Hương - nơi dùng để đốt hương, gõ mõ tụng kinh của các sư khi làm lễ; còn nửa phía trong là Thượng Điện. Ở đây có nhiều tượng Phật được đặt trên tòa Tam Bảo. Tượng lớn nhất là Phật Tổ ở chính giữa điện, gian bên trái của chính điện thờ 18 vị La Hán, còn bên phải thờ 8 vị Phật “Ngũ hiền”. Đằng sau chính điện là căn nhà gỗ lớn 5 gian 2 chái được nối bằng mái “Thữa Hữu” (Trùng thiềm điệp ốc). Nhà này vừa là giảng đường vừa là nơi để các thiện nam tín nữ tụ tập dâng hương thờ Phật. Bàn thờ cụ Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh) và bài vị của các vị sư chủ trì chùa đã quá cố được đặt tại các vị trí trang trọng trong căn nhà. Ngoài trung tâm nói trên chùa còn được dựng hành lang 2 bên (đông lang, tây lang) để làm nơi tạm trú cho khách thập phương đến vãn cảnh chùa hay làm nơi chuẩn bị cỗ chay cho những ngày lễ hội. Chùa còn 1 dãy nhà tăng (nhà tổ) là nơi sinh hoạt của các nhà sư trụ trì. Như vậy, tổ chức không gian bên trong và bên ngoài của chùa có sự mở rộng và phát triển tương xứng. Sân, cổng chùa, hành lang Tả Vu, Hữu Vu rất hài hòa. Hiện tại chùa đang xây thêm một tháp chuông 7 tầng, cao hơn 20 mét. Đây cũng có thể coi như một tổng thể kiến trúc phối hợp với cảnh thiên nhiên khiến những người hành hương cảm thấy Phật giáo đã dẫn dắt thế nhân thoát nơi trần tục để lên cõi Niết bàn. Nghệ thuật kiến trúc cũng như điêu khắc trang trí ở chùa Hội Khánh mang đậm dấu ấn của kiến trúc nhà gỗ cổ ở miền Đông Nam Bộ. Những nghệ nhân xây dựng chùa đã tạo được kỹ thuật đẽo trến, kèo, xiên và tạo ra các kiểu mộng khóa, mộng thắt, mộng kìm để các kết cấu dễ tháo lắp tạo dáng khỏe, vững chắc. Về phần liễn đối, thơ văn còn lưu giữ phong phú, giá trị khó có ngôi chùa nào sánh kịp. Nơi chánh điện có những câu liễn đối tiêu biểu cho đạo vị thiền học được nhiều người nhắc đến: “Nhược thực nhược hư trúc ảnh tảo giai trần bất động thị không thị sắc nguyệt xuyên hải để thuỷ vô ngân” (Như thực như hư, bóng trúc quét thềm, bụi trần chẳng động. Là không là sắc, ánh trăng xoáy biển, nước biển không nhồi) Ngoài ra, nhiều người cũng nhắc đến câu đối của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc còn lưu ở chùa Hội Khánh, với ý nghĩa ngôn từ hàm súc của thiền học: “Đại đạo quảng khai thố giác khuê đàm để nguyệt. Thiền môn giáo dưỡng, qui mao thằn thụ đầu phong” (Tạm dịch: mở rộng đạo lớn như sừng thỏ như mò trăng đáy nước. Nuôi dưỡng mái chùa như lông rùa như cột gió đầu cây). Về phần nghệ thuật trang trí nội thất, tranh tượng tự khí thờ phượng được điêu khắc, chạm trổ rất công phu, sắc sảo… đặc biệt phải kể đến bộ bao lam “thập bát La Hán” (tạo tác 1921), bức phù điêu “tứ thời” ốp vào hai cột trước chánh điện; các bàn thờ chạm trổ tinh vi hoàn thành vào năm Ất Sửu (1925). Nhà chùa còn giữ được bộ mộc bản in kinh cách đây trên 120 năm Đại hồng chung của chùa được đúc vào năm Quí Mùi (1883) do Bổn đạo Dương Văn Lúa hiến cúng. Điều đó cho thấy đạo phật đã phát triển khá sớm và khá vững mạnh tại địa phương này. Những nghệ nhân xây dựng chùa cũng đã khéo léo trang trí chùa đơn giản song tinh xảo làm cho các phiến gỗ nặng nề bỗng trở nên nhẹ nhàng, bay bổng có giá trị nghệ thuật cao. Bức chạm nào cũng vậy, đều được bố trí các hình khối cân đối, đầy đặn. Bố cục của các phân đoạn chạm trổ trên các bức lam, diềm mạch lạc. Chủ đề chính về tôn giáo nhà Phật nổi bật trong bố cục tổng thể. Những họa tiết hoa văn như long, lân, qui, phụng hoặc những mây, nước, hoa, lá... làm cho những người chiêm ngưỡng một cảm giác khôn cùng, rất đa dạng mang đậm đặc trưng của phong cách điêu khắc Nam Bộ. Ngoài giá trị kiến trúc, điêu khắc, những nghệ nhân tạc tượng gỗ của chùa cũng để lại những dấu ấn đặc sắc. Bằng những bàn tay khéo léo, với những đôi mắt tinh 51
  • 52.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị tế của những nghệ nhân, tượng 18 vị La Hán của chùa là những tác phẩm nghệ thuật tuyệt hảo. Những nghệ nhân tạc tượng 18 vị La Hán ở chùa Hội Khánh đã không bị những công thức giáo điều của nghệ thuật tôn giáo ràng buộc khi khắc họa hình ảnh của các vị thần linh, ngoài việc thể hiện những hình ảnh của họ trong kinh sách đã nói mà đã tạo ra những hình tượng theo cảm xúc của mình mang đậm tâm linh thuần Việt. Đây có lẽ cũng là những pho tượng La Hán quý và đẹp nhất còn lại nguyên vẹn ở chùa Hội Khánh. 5.2 Chùa Núi Châu Thới Chùa tọa lạc tại xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trên một ngọn núi cao 82m. Chùa do Thiền sư Khánh Long tạo dựng vào thế kỷ XVII. Sách Sơ thảo Phật giáo Bình Dương (NXB. Mũi Cà Mau, 2000) cho biết chùa có thể được lập vào năm Tân Dậu (1681). Nhà tổ và giảng đường được trùng tu năm 1930, tam quan xây dựng năm 1970, 220 bậc thang lên xuống núi được xây đắp xi măng năm 1971. Ngôi chánh điện được Hòa thượng Viện chủ Thích Huệ Thông và Thượng tọa trụ trì Thích Minh Thiện tổ chức đại trùng tu từ năm 1993 đến năm 1995. Kiến trúc chùa gồm một quần thể bao gồm: ngôi chánh điện, nhà Tổ, điện Thiên Thủ Thiên Nhãn, miếu thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, điện thờ Diêu Trì Kim Mẫu và Ngũ Hành Nương Nương (thuộc tín ngưỡng dân gian). Cấu trúc mái trên chánh điện theo kiểu tứ tượng. Chùa sử dụng những mảnh gốm sứ đắp lên các con rồng ở cuối các đầu đao của mái chùa. Trên đỉnh mái, có chín con rồng nhìn ra nhiều hướng. Mặt tiền được đắp gốm sứ tạo các loại hình như tứ linh, thủ quyển, đức Phật đản sanh... Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Tầng trên thờ tượng Di Đà Tam Tôn: Đức Phật A Di Đà, Bồ tát Quan Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí. Các tầng kế thờ Đức Phật Thích ca (cao 3m), Đức Di Lặc, tượng Phật Đản sanh. Các pho tượng trên đều được đúc bằng đồng tại chùa do nhóm thợ Huế thực hiện. Hai bên vách chánh điện thờ bộ tượng Thập Bát La Hán và Thập Điện Minh Vương bằng đất nung. Năm 1988, chùa đúc một đại hồng chung (đúc tại Huế, theo mẫu đại hồng chung chùa Thiên Mụ). Năm 1996, chùa xây dựng một bảo tháp 4 tầng, cao 24m: Tầng 1 tôn trí tượng Quan Đế bằng đồng nặng 5 tấn, tầng 2 tôn trí tượng Bồ tát Địa Tạng bằng đồng nặng 3 tấn, tầng 3 tôn trí tượng Bồ tát Quan Thế Âm bằng đồng nặng 1 tấn, đại hồng chung nặng trên 1,5 tấn và tầng 4 tôn thờ Xá lợi Phật. Chùa còn bảo tồn nhiều pho tượng cổ và tượng quý như bộ tượng Thập Bát La Hán, Thập Điện Minh Vương bằng đất nung: tượng Bồ tát Quan Thế Âm bằng gỗ mít và một số tượng Phật, tượng Bà Chúa Xứ bằng đá xanh. Đặc biệt, chùa còn lưu giữ 3 pho tượng Phật bằng đá có niên đại vào cuối thế kỷ XVIII. Các đời trụ trì của chùa: Hồng Kiềm - Chơn Quả, đời 40 dòng Lâm Tế Chánh Tông (? - 1922), Nhật Tâm - Đồng Minh (1922 - 1936), Nhật Liên - Thiện Hóa (1936 - 1950), Lệ Huệ - Thiện Chí (1950 - 1953), Lệ Thiện (1953 - 1958), Huệ Thông (từ năm 1958 đến nay). Chùa là một danh lam thắng cảnh của tỉnh Bình Dương. Hàng năm, chùa đón tiếp hàng vạn du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái. Chùa đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia năm 1989. 5.3 Nhà tù Phú Lợi Nhà tù Phú Lợi là một trong những nhà tù lớn của Mỹ - Diệm ở miền Nam được dựng lên năm 1957 để giam cầm và tra tấn các chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước lúc bấy giờ, và tồn tại suốt tám năm (1957-1964). Nhưng với tinh thần kiên cường bất khuất, các tù nhân Phú Lợi đã đoàn kết anh dũng đấu tranh thắng lợi. Với mưu đồ xâm lược miền Nam, bằng thủ đoạn mị dân, khủng bố đến chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” chỉ trong vòng 2, 3 năm sau Hiệp định Giơ - neo -vơ, Mỹ Diệm gây không biết 52
  • 53.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị bao tội ác trên cả miền Nam. Bằng khẩu hiện “thà bắt nhầm hơn bỏ sót”, chúng đã xây dựng thêm nhiều nhà tù. Từ giữa năm 1957, trại giam Phú Lợi được xây dựng bố trí ngay bên khu căn cứ quân sự với tổng diện tích khoảng 12 ha. Số tù nhân chúng đưa về Phú Lợi đầu tiên có 4 nữ và khoảng 100 nam, đến cuối 1957 tăng lên 3.000 tù nhân. Chúng chia trại giam thành nhiều khu vực: khu hành chánh, khu gia đình binh sĩ, khu An Trí Viện - gọi là khu “An Trí Viện” nhưng thực chất là trại giam. Khu trại giam gồm có 3 trại: Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa. Cả 3 trại có 9 phòng giam đánh dấu A,B,C,D,… mỗi trại ngăn cách nhau bằng bức tường kẽm gai dày đặc. Bao quanh 3 trại là 2 bức tường cao, có mấy lớp kẽm gai, hệ thống đèn điện chiếu sáng vào ban đêm, hoàn toàn cách biệt với bên ngoài. Ở giữa trại giam có nhà vòm cao để quan sát toàn khu trại. Xung quanh có 4 cổng ra vào và 4 lô cốt canh phòng nghiêm ngặt. Có hai cổng chính: cổng thứ nhất mang bảng “Trung tâm cải huấn Phú Lợi”, cổng thứ hai mang bảng “An trí viện”. Đến cuối năm 1958, số tù nhân lên đến gần 6.000 người, trong đó có 1.000 tù nhân là nữ. Anh chị em tù nhân quê quán ở khắp mọi miền đất nước chẳng may rơi vào tay giặc và bị chúng tập trung về đây. Đừng hỏi tên ai còn ai mất Sáu nghìn người chỉ một tên chung Chỉ một tên: hòa bình thống nhất Tên những người bất khuất trung kiên (Hoàng Trung Thông) Chế độ khắc nghiệt của nhà tù Phú Lợi cũng không khác ở nhiều nhà tù khác lúc bấy giờ, ăn gạo mục cá ươn, muối hạt, nước mắm có dòi… Sống bẩn thiểu, thiếu nước, nằm xà lim, chuồng cọp, lao động khổ sai bệnh tật không thuốc chữa trị… và những đòn điều tra đánh đập dã man… và chúng đặt ra “24 điều cấm” rất khắc nghiệt để lấy cớ đánh đập tù nhân. Và những tên “chúa ngục” nổi tiếng gian ác như: Nguyễn Văn Bông, Trần Vĩnh Đắc, Hồ Văn Tần,… Một sự kiện đã diễn ra vào những ngày cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1958. Vụ thảm sát Phú Lợi: thường lệ mỗi năm Mỹ Diệm tổ chức 4 đợt đày tù nhân “loại A” ở các nhà tù trong đất liền ra Côn Đảo vào những tháng 3,6,9,12 dương lịch. Trại giam Phú Lợi, sau khi phân loại có 450 tù nhân loại A - là đối tượng bị đày ra Côn Đảo vào cuối tháng 11/1958, với ý đồ bí mật thủ tiêu tù nhân chuyến đi này. Theo kế hoạch mỗi tù nhân bị đày sẽ được nhận khẩu phần bánh mì (có trộn thuốc độc) và thức ăn kèm theo. Mọi việc đã chuẩn bị hoàn tất vào 28/11/1958, nhưng liên tiếp những ngày này biển động mạnh tàu không ra được vùng biển Vũng Tàu - Côn Đảo. Không từ bỏ giả tâm, Mỹ Diện thực hiện âm mưu hãm hại tù nhân Phú Lợi trong bối cảnh khác. Đó là ngày 30/11/1958, là ngày chủ nhật, trại giam vẫn thực hiện “ăn tươi” của tù nhân gồm bánh mì và các thức ăn khác. Để đủ khẩu phần ăn ngoài số bánh mì cũ (có thuốc độc) chúng trộn lẫn bánh mì mới vào nhau và cấp phát cho tù nhân. Số tù nhân bị ngộ độc tăng nhanh đau bụng, nôn mửa, co quắp, … Đến ngày 01.12.1958, số tù nhân bị ngộ độc tăng lên hàng trăm người, nhiều người chết, số nằm hôn mê bất tỉnh,… số anh chị em tù nhân bịnh nặng bị địch khiêng khỏi trại, đến ngày 02/12 và 03/12 số bệnh nhân nặng và chết càng đông, số người bị vùi tại chỗ, số nặng chuyển đi, nhưng số tù nhân ấy không thấy được chuyển lại Phú Lợi nữa. Với tinh thần kiên cường bất khuất, Đảng ủy trại giam quyết định đấu tranh công khai trực tiếp, các tù nhân Phú Lợi đã đoàn kết anh dũng đấu tranh như: tung nóc nhà giam, phát loa phóng thanh kêu cứu trong ngày bi thảm 01.12.1958. Nhanh như chớp, tin địch đầu độc tù nhân đã được lan truyền khắp nơi. Đầu tiên nhân dân xã Phú Hòa, Bình Chuẩn, Hiệp Thành, Phú Văn,.. nổi dậy phối hợp với tù nhân ở Phú Lợi đấu tranh tố cáo tội ác của Mỹ Diệm. 53
  • 54.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Để chạy tội Mỹ - Diệm tìm cách phi tang nhân chứng, gây nên làn sóng căm phẩn trong và ngoài nước. Chỉ sau 1 tháng vụ đầu độc ta nhận được liên tiếp nhiều bức điện của các tổ chức quốc tế: Liên hiệp công đoàn thế giới, Hội liên hiệp học sinh thế giới, Hội luật gia thế giới,… Biến đau thương thành hành động, khắp nơi trong cả nước dấy lên phong trào hướng về Phú Lợi, từ tiếng gọi căm thù, tiếng gọi đau thương...“Tuần lễ thi đua” vì Phú Lợi và miền Nam ruột thịt! của Ủy ban đấu tranh Trung ương chống vụ đầu độc ra đời; làm bừng lên một phong trào thi đua trên công xưởng, nông trường, hợp tác xã, thao trường, thông tin đại chúng và sáng tác văn nghệ... Sự căm phẫn đó đã được nhà thơ Tố Hữu thể hiện sâu sắc trong bài thơ “Thù muôn đời muôn kiếp không tan”, năm 1959: “…Trong một ngày - mồng một tháng mười hai Nào ai ngờ không có nửa ngày mai! Chúng tôi chết, trong đêm dài tàn khốc Đứt ruột đứt gan, nắm cơm thuốc độc Tím xương do nanh nọc lũ đê hèn Trái tim hồng chết uất máu bầm đen…” Trong điều kiện mới của chiến tranh diễn ra, đến năm 1964, nhà tù Phú Lợi không còn nữa. Từ đó hệ thống trại giam chuyển thành tiểu khu quân sự Mỹ-Ngụy cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/04/1975. Tại đây, trong nơi giam cầm khắc nghiệt của nhà tù, chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập lãnh đạo tù nhân, từng bước đấu tranh với kẻ thù. Nhà tù Phú Lợi trở thành một bằng chứng về tội ác của Mỹ - Ngụy tại miền Nam Việt Nam; nơi đây là biểu tượng cho lòng dũng cảm của cán bộ đảng viên, các đồng chí cách mạng và đồng bào yêu nước đã ngã xuống trong nhà tù vì độc lập, tự do, hoà bình, hạnh phúc cho quê hương đất nước. Với giá trị lịch sử to lớn và ý nghĩa chính trị quan trọng của khu di tích nhà tù Phú Lợi. Năm 1995, di tích đã được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh chủ trương đầu tư công trình biên soạn lược sử và trùng tu, tôn tạo khu di tích vào đúng dịp kỷ niệm 37 năm ngày đoàn kết, bất khuất đấu tranh chống vụ đầu độc tù nhân Phú Lợi. Một bức tượng bằng đồng cao 3,5m của cố tác giả điêu khắc Diệp Minh Châu, thể hiện sự đau thương trong ngày xảy ra vụ đầu độc, tái diễn lại lịch sử nêu cao tinh thần đấu tranh bất khuất của tù nhân Phú Lợi năm xưa. Hàng năm, di tích đã tiếp đón nhiều lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu về lịch sử đấu tranh cách mạng của con người Việt Nam. Khu di tích Phú Lợi trở thành nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau. Các tổ chức phong trào đoàn TNCS Hồ Chí Minh giao lưu, kết nạp đoàn viên mới, hướng đạo sinh... tham quan, cắm trại ôn lại truyền thống cách mạng hào hùng của cha anh. 5.4 Chiến khu Đ Danh từ “Chiến Khu Đ” chỉ vùng căn ra đời vào cuối tháng 2/1946. Khi thực dân Pháp chiếm đóng được quận lỵ Tân Uyên, thành lập chi khu. Tổng hành dinh Khu 7 và lực lượng vũ trang Biên Hòa, Thủ Dầu Một rút sâu vào rừng. Công tác xây dựng căn cứ được đặt ra một cách cấp thiết tại Hội nghị bất thường của khu bộ khu 7 ở Lạc An. Được hội nghị chấp thuận, việc xây dựng căn cứ được triển khai có hệ thống, các cơ quan, đơn vị, công xưởng… phân chia đóng từng khu vực. Mỗi khu vực đều có nhiều phương án di chuyển địa điểm tránh sự đột kích của quân Pháp và mang mật danh A, B, C, D (A là căn cứ giao thông liên lạc đóng ở Giáp Lạc, B là căn cứ hậu cần đóng ở Thường Lang, C là khu bộ đội thường trực đóng ở Ông Đội, D là khu Tổng hành dinh khu 7 đóng ở hố Ngãi Hoang). Từ đấy, chiến khu Đ trở thành căn cứ địa của chiến khu 7 - một tổ chức hành chính - quân sự của các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa và thành phố Sài 54
  • 55.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Gòn, do Trung tướng Nguyễn Bình được chỉ định làm Khu trưởng và Trần Xuân Độ làm chính trị ủy viên khu. Ban đầu, Đ là mật danh chỉ tổng hành dinh của khu 7 nằm trong hệ thống các vị trí căn cứ của khu. Dần dần về sau, mật danh Đ được dùng để chỉ luôn cả vùng chiến khu rộng lớn ngày càng phát triển ở miền Đông Nam Bộ. Tuy nhiên có nhiều người cho rằng chữ Đ ở đây mang ý nghĩa là “đỏ”, hàm ý là vùng chiến khu cách mạng kiên cường, tập trung những cơ quan đầu não kháng chiến quan trọng, một “địa chỉ đỏ” của cả nước. Hoặc chữ Đ là viết tắt địa danh Đất Cuốc, nơi bộ đội Huỳnh Văn Nghệ khởi cứ đầu tiên, tập hợp lực lượng. Hoặc chữ Đ là viết tắt chiến khu Đồng Nai, chiến khu miền Đông, chiến khu Đầu tiên… Thời kỳ chín năm chống Pháp, Chiến Khu Đ được hình thành khởi đầu vào tháng 2/1946, chủ yếu từ hạt nhân 5 xã: Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An thuộc quận Tân Uyên tỉnh Biên Hòa - Nay thuộc tỉnh Bình Dương. Từ năm 1948, trở đi, Chiến Khu Đ được mở rộng ra, phát triển mãi lên phía Bắc và Đông Bắc. Dù vậy, phạm vi chủ yếu của nó nằm trên vùng đất: Tây giáp đường 16 đoạn từ thị trấn Tân Uyên lên Cổng xanh; bắc giáp Sông Bé đoạn từ cầu Phước Hòa lên Chánh Hưng, đông vẫn giáp Sông Bé đoạn từ Chánh Hưng đến ngã ba Hiếu Liêm và nam giáp sông Đồng Nai đoạn từ ngã ba Hiếu Liêm về thị trấn Tân Uyên.. Sang thời kỳ chống Mỹ, do đặc điểm về quy mô của cuộc chiến tranh, từ phạm vi chiến khu cũ (chủ yếu nằm trên địa bàn Tân Uyên), trung tâm căn cứ chuyển dần lên phía đông bắc. Đến đầu năm 1975, căn cứ được xây dựng hoàn chỉnh, phạm vi phát triển đến mức cao nhất. Toàn bộ căn cứ địa nằm ở phía bắc sông Đồng Nai, phía tây giáp địa giới hai tỉnh Bình Long và Phước Long cũ, phía bắc giáp biên giới Việt Nam - Campuchia và phía đông giáp địa giới ba tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Đắc Lắc hiện nay kéo về rừng Cát Tiên phía thượng nguồn sông Đồng Nai bên hữu ngạn. Nằm trong hệ thống rừng núi phía bắc miền Đông Nam Bộ, địa hình hiểm trở, Chiến Khu Đ là một khu vực lý tưởng cho việc xây dựng căn cứ, nơi cất giấu lực lượng, cất giữ kho tàng và phát triển mọi mặt của một căn cứ địa kháng chiến. Lưng dựa vào Trường Sơn và vùng rừng núi miền nam Đông Dương, dính với một phần đoạn cuối đường Hồ Chí Minh, phía trước lấn sát vùng đồng bằng đông dân cư và các khu đô thị lớn, chiến Khu Đ còn là một vị trí án ngữ chiến lược, nối nhiều chiến trường với nhau, là một trong những địa điểm liên lạc, tiếp nối, trung chuyển quan trọng từ hậu phương miền Bắc vào miền Nam. Hơn nữa, với ưu thế tiếp cận các đường giao thông chiến lược, các đô thị lớn và trung tâm sào huyệt địch - thành phố Sài Gòn, Chiến khu Đ có ưu thế là một bàn đạp quân sự tiến công vào mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế của địch ở Sài Gòn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Chiến khu Đ được coi là trung tâm kháng chiến, là nơi ra đời và phát triển của các lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ như tiểu đoàn 800, trung đoàn 762, sư đoàn 9, sư đoàn 5… Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, là nơi tập kết của lực lượng quân đoàn 1, quân đoàn 4 trước khi tiến về giải phóng Sài Gòn. Tên Chiến khu Đ gắn liền với những chiến thắng vang dội trong lịch sử chống ngoại xâm của quân và dân Miền Đông Nam Bộ (thắng Lạc An, Tân Uyên, chiến thắng Phước Thành, Đất Cuốc, Đồng Xoài, Phước Long…). Sự tồn tại và phát triển của nó đã góp phần vào thắng lợi chung của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Về phương diện chính trị, tinh thần, Chiến khu Đ tồn tại như một biểu tượng của cuộc kháng chiến, tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh tinh thần của toàn dân, là nguồn hy vọng, là niềm tin của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn miền Đông Nam Bộ. Giờ đây, Chiến khu Đ xưa là một vùng đất sôi động của những cánh đồng lúa ven sông, những nông trường cao su trải rộng, những lâm trường bạt ngàn, những nhà máy và công trình thủy điện. Hàng vạn đồng bào từ khắp mọi miền của đất nước đã về đây xây dựng những trung tâm kinh tế mới. Dấu tích của một căn cứ kháng chiến tồn tại trong gần một phần ba thế kỷ đang 55
  • 56.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị dần mờ nhạt trước những chuyển đổi lớn lao của cuộc sống mới. Tuy nhiên, chiến khu Đ với nội dung lịch sử và những bài học kinh nghiệm của nó thì không hề mất đi mà còn lại mãi mãi. Khu tưởng niệm chiến khu Đ với diện tích hơn 30ha sẽ được xây dựng trên mảnh đất Tân Uyên anh hùng, sẽ ghi lại những chiến công vang dội của Chiến khu Đ oai hùng năm xưa. 5.5 Nhà cổ Trần Công Vàng Ngôi nhà tọa lạc tại số 21, đường Ngô Tùng Châu, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, trên một khu đất rộng 1.333m2 , riêng phần chính (nhà trên) là 323m2 , nhà phụ (nhà dưới) chiếm 119m2 , được xây cất và hoàn thành vào khoảng năm 1889 - 1892. Ngôi nhà được công nhận di tích cấp Quốc ngày 07/01/1993. Nhà quay mặt về hướng Nam, lưng dựa vào ngọn đồi (nơi có trụ sở Ủy ban nhân dân Tỉnh bây giờ), đây cũng là cái thế đắc địa, nói theo các nhà phong thủy xưa. Xét về mặt vị trí địa lý của ngôi nhà cụ Vàng cũng như hai ngôi nhà cổ nữa của cánh họ Trần ở phường Phú Cường đều nằm gần con sông Sài Gòn, rất thuận tiện cho việc chuyên chở cây gỗ từ rừng về. Được biết, nội tổ của cụ Vàng đã từng làm nghề rừng, có trại cưa, xẻ gỗ. Công trình xây dựng theo kiến trúc kiểu chữ đinh nghịch, tức là phần nhà ngang nằm bên trái nhà trên, thay vì nằm bên phải. Đây là nhà chữ đinh có cải tiến, có bộ phận sân con ngăn cách nhà trên và dưới, liên lạc giữa hai bộ phận bằng một nhà cầu nhỏ cắt đôi sân con làm hai phần cửa của nhà dưới trổ ra nơi đầu sân con ấy mà không trổ ra ở đầu hồi, cái cửa này cũng được kiến trúc một cách đặc biệt, mới nhìn giống như một số cổng đền người Hoa, nhưng chủ nhân lại bảo phóng theo kiểu đền của Ấn Độ. Cũng như nhiều nhà khác, nhà cụ Vàng có bộ khung sườn làm theo kiểu nhà xuyên trính, nhưng có đến 8 đấm, 8 quyết ở hai chái nhà. Bộ trính, trổng, cối đều được đẻo gọt khéo léo, trính uốn xong có tạo gờ, các đoạn kèo được chạm tỉ mỉ, công phu, hàng lá dung thẳng tắp ở hàng cột thứ ba. Toàn phần nhà trên đếm được 48 cây cột tròn, tất cả đều đứng xa vách. Phần trang trí bên trong ngôi nhà là phần làm cho du khách thích thú nhất, đó là sự chạm khắc công phu, từ chân cột đến mái nhà, bàn ghế tủ ghế, trang thờ các khung cửa các ô lồng… hoành phi, liễn, đối, những bức tranh tứ bình, những tấm thủ quyển… tất cả đều chạm trổ, sơn thếp cẩn xà cừ công phu khéo léo, làm cho ngôi nhà tráng lệ mà trang nghiêm. Nhìn chung, những mô típ chạm khắc ở đây thường mang tính ước lệ, tượng trưng, trong đó thể hiện ước muốn một cuộc sống bình yên, hạnh phúc, và một nết sống nhân nghĩa, đạo đức… Những đường nét chú trọng sự uyển chuyển, mềm mại. Các hình ảnh chạm khắc gồm cây cỏ, hoa lá, chim thú, vật dụng, những đường hình học. Riêng tấm thủ quyển treo ở bàn thờ bên phải từ trong nhìn ra chạm hình Tùng Lộc, Mã Dương có kèm theo hai câu thơ chữ Hán tạo được cái vẻ thanh thoát, nhã đạm, tiêu sái. Phân bố mặt bằng của ngôi nhà,Trước hết là nhà trên, nhà có 5 gian hai chái, phần thờ phụng, tiếp khách, các buồng để ở và chứa đồ đạc của cải được ngăn chia rạch ròi. Phần thờ phụng chiếm ba gian dựa theo nguyên tắc gian bên trái thờ cha mẹ của chủ nhà, bên phải thờ ông bà, bàn thờ giữa thờ ông bà cao hơn gọi chung là gia tiên. Mỗi bàn thờ gồm tủ thờ cẩn xà cừ, bên trên là đồ ngũ sự, bên trong là bài vị hoặc chân dung người quá cố, sát vách lụa là bức thờ, trên có bài châm, câu đối, đầu bức thờ có phần Mi chạm “Lưỡng long tranh châu” và tấm thủ quyển. Hai gian hai bên là phòng ngủ của vợ chồng chủ nhân, phía sau vách thờ là dãy buồng chứa đựng đồ đạc... Trên các bàn thờ là những trang thờ có đặt các bài vị, đề quan thánh đế quân, thổ công, đông trù, tư mệnh, phước đức thánh thần, tài thần. Phần dành để tiếp khách gồm hai lòng căn (tức từ hàng cột thứ hai đến hàng cột thứ tư), nơi đây có đặt bàn ghế để tiếp khách, bao gồm ở gian giữa làm một bàn tròn lớn, mặt bàn lót đá cẩm thạch, trên bàn đặt giá Bát bửu (tám món binh khí cổ), chung quanh bàn có đặt ghế với chạm trổ tinh vi và giàu ý nghĩa tượng trưng. Hai bên bàn tròn ấy là những bàn hình chữ nhật đóng theo kiểu ghế chân nghi. Ở gian đầu là hai bàn hình hộp xoài, chung quanh đặt ghế kiểu hiện đại, tất cả 56
  • 57.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị các bàn ghế đều bằng gỗ. Dọc theo vách ngăn giữa phần tiếp khách và phần thờ có đặt những bàn nhỏ hình vuông bên trên có những đĩa trái cây bằng sứ, cũng nơi đây chủ nhân cho đặt một tấm Phả đồ nêu khái quát thế thứ của những người trong họ. Ở hai đầu chái nhà cũng có đặt bàn, bên trái trên bàn thờ để ảnh chủ nhân, có cặp đôi hai bên, bộ tranh tứ bình cở nhỏ, cặp câu đối và tranh tứ bình. Đặc biệt, trước của buồng ngủ đặt một cái tủ kiếng, bên trong chứa nhiều món quý như tiền cổ, nón quai thao, đồ cho cô dâu khi về nhà chồng, theo kiểu xưa… Đặc điểm ngôi nhà là có một hành lang nội chạy quanh phần thờ tự, giữa hai vách ngăn, hành lang này giúp việc liên thông giữa nhà khách và các buồng ngủ, không phải đi ngang qua phần thờ phụng. Nhà dưới là một căn nhà ngang, cất theo lối xuyên trính nhưng đơn giản hơn nhà trên. Nhà ngang dùng để tiếp khách bình thường, là nơi sinh hoạt gia đình, nhà ăn, nhà bếp,… phía trước nhà ngang là nhà xe hướng cửa ra cổng. Sân trước trồng nhiều chậu hoa kiểng, cây kiểng… tôn thêm nét đẹp cổ kính của ngôi nhà. Phần văn hoá chữ Hán trong ngôi nhà đóng vai trang trí và đồng thời nói lên quan niệm sống của người xưa, đó là các cặp liễn đối chữ Hán. Nhà cụ Vàng có đến trên 13 cặp đối và các bài vãn, tiêu biểu: Vào đến cổng chúng ta đọc cặp đối mà nội dung như xin khách cứ tự nhiên: Chánh tâm vi tiên, xuất như thị nhập như thị Trung lập bất ỷ, ngôn ư tư hành ư tư. Tạm dịch: Trước hết nên chánh tâm, vào như vậy, ra cũng như vậy. Luôn giữ ở mức trung, không cậy dựa, nói như thế làm như thế. Cặp đối ở đầu hồi bên trái nói lên cách sống luôn xét nghĩ đến mình: Xử thế vật kiêu nhân Tu thân nghi thiết kỷ. Tạm dịch: Trong giao tiếp chớ ngạo nghễ với người. Trong tu thân phải nghiêm túc với mình. Ở đầu hồi bên phải với cặp đối đề cao chữ hiếu và sự học: Hiếu để truyền gia viễn Thi thư kế thế trường. Tạm dịch: Hiếu để truyền mãi trong nhà. Thi thư đời đời nối nghiệp. Ơ hàng cột thứ nhì với hàng chữ viết thảo nhằm khuyên nên kế thừa lời dạy và quy tắc sống tốt đẹp của người xưa: Độc tiên nhân thư lưu ngôn thiên kinh địa vĩ 57
  • 58.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Vi hậu đại pháp di an tổ đức tông công. Tạm dịch: Đọc sách người đời xưa, đó đạo lý môn đời truyền lại. Vì đời sau mà làm khuôn phép, đó là ân đức của tổ tiên. Ơ nhà cụ Vàng có chép ở bàn thờ hai bài vãn hay hai bài châm, có một bài: Hữu kỳ phụ mẫu hữu thử thân danh phi ngôn hữu. Thiên địa uỷ hình, ấu thừa nghiêm giáo, trưởng đắc thân vinh. Cù lao chí đức, cúc dục chi tình, hải sơn tư báo, túc dạ bất ninh. Mộc dục tĩnh hề, nhi phong bất đình. Tử dục dưỡng hề, nhi thân bất sinh. Chường thường trở đậu quí hồ kì tinh. Thần vô thường hưởng, hưởng vu khắc thành. Tuế tại Nhâm Thìn lan kiết kiến tạo. Tạm dịch: Có cha mẹ nên có thân ta, danh thân của ta không phải tự có. Trời đất phú hình hài, lúc nhỏ được dạy dỗ, lớn lên được hiển vinh dức cù lao, tình cúc dục, lo báo đáp công ơn trời biển, đêm ngủ chẳng yên. Cây muốn lặng mà gió không ngừng, con muốn đáp đền mà cha mẹ không còn sống. Lễ vật hiến dâng quí ở sự tinh khiết. Thần không thọ hưởng theo lối bình thường, hiến cúng chủ yếu là ở tấm lòng thành. Nhà cụ Vàng vừa mang tính nghệ thuật - nhân văn đậm nét văn hóa truyền thống Việt Nam; đồng thời, khẳng định kỹ thuật điêu khắc, chạm trổ đã có truyền thống lâu đời ở Bình Dương. Các hiện vật trang trí và đồ dùng trong nhà còn nhiều và hầu hết là cổ vật. Toàn bộ kiến trúc ngôi nhà và hiện vật bên trong, cho ta thấy được nét sinh hoạt của gia đình thuộc tầng lớp giàu có ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thể hiện sự phát triển về đời sống của cư dân người Việt trên đất Bình Dương. 5.6 Nhà ông Trần Văn Hổ (Tự Đẩu) Ngôi nhà tọa lạc số 18 đường Bạch Đằng, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương. Ông Trần Văn Hổ (Tự Đẩu) - nguyên là Đốc Phủ Sứ thời thuộc Pháp. Công trình được thân sinh ông Đẩu là cụ Trần Văn Lân (tương truyền cụ Lân giỏi chữ nho và tinh thông khoa địa lý) xây dựng năm Canh Dần (1890), tháng Trọng Xuân (tháng hai), nhằm niên hiệu Thành Thái thứ 02 cách ngày nay (2007) là 115 năm, được công nhận di tích Quốc gia ngày 29/4/1993, tổng diện tích còn lại là 1.296m2 . Mặt chính diện ngôi nhà quay về hướng Tây Nam, hướng sông Sài Gòn. Ngôi nhà nguyên là một khu nhà lớn gồm: nhà chính, nhà phụ, khu chuồng ngựa… Nhưng từ sau ngày giải phóng, do không có chủ bảo quản được nhà nước tiếp quản thu giữ. Hiện chỉ còn lại một ngôi nhà chính, đây là ngôi nhà lớn của gia đình được dùng chủ yếu là để thờ cúng ở gian giữa. Kiến trúc truyền thống và sự bày trí mang phong cách vương quyền. Trước sân nhà được che phủ bởi cảnh thiên nhiên thu nhỏ của vườn hoa, cây cảnh, hòn non bộ được trang trí đầy đủ 58
  • 59.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị cảnh sinh hoạt “Ngư - Tiều - Canh - Mục”. Ngôi nhà có dáng dấp nhìn từ ngoài vào hơi thấp, với mái ngói rêu phong, tạo cảnh sắc thiên nhiên của sự cổ kính, thanh tịnh, tách hẳn với ồn ào náo nhiệt của cảnh phố chợ bên ngoài. Bước vào bên trong là cảnh phô trương, thể hiện sự sung túc vật liệu toàn là gỗ quý như Cẩm Lai, Giáng Hương, Gõ, Sến, mật… được sử dụng bày trí lớp lớp, từ mái nhà xuống cửa võng và cả bậc ngạch. Từ những song gỗ, đường nét ô vuông đến các mảng phù điêu tấc cả đều được bố trí đối xứng đến từng chi tiết, tạo nên bề thế trang nghiêm, thể hiện sự tôn ti, nề nếp và phong cách vương quyền. Lối kiến trúc của ngôi nhà theo dạng chữ “Đinh”, tổng diện tích xây dựng là 200m2 . Ngôi nhà xây dựng theo kiểu 3 gian, 02 chái gồm 36 cột tròn, 6 hàng cột tròn từ trước ra sau, mỗi hàng là 6 cột được kê toàn bộ trên đá tảng, nền lát gạch tàu. Ngoài ra, phía bên trái ngôi nhà có 3 cửa dạng một cánh được thông ra ngoài, trừ mặt tiền của ngôi nhà, còn lại 3 mặt bên được xây tường gạch. Mái ngói âm dương dài thoai thoải … Từ hệ thống mái vững chắc, có phần hơi thấp, bên trong nội tự được ngăn đôi bức tường giả hình chữ U tạo chiều sâu. Mảng giữa tường và khánh thờ là các bức Hoàng phi được sơn son thép vàng, các bức liễng bằng những câu đối cẩn xà cừ đính trên cột. Gian giữa phía trên là khám thờ với tấm Thủ quyển chạm nổi hình Tứ linh hoàng tráng, giữa bức thủ quyển ấy là ba hàng chữ đề danh hiệu các vị thần được thờ. Phía trái là thờ thần Táo với danh hiệu “Đông Trù Tư Mạng”, giữa là thờ trời với danh hiệu “Hiệp Thiên Đại Đế”, bên phải thờ phúc thần với danh hiệu “Phúc Đức Chánh Thần”, phía dưới thờ gia tiên nhiều đời, hai bên nơi thờ chính là hai câu đối: Canh độc lưỡng đồ, độc khả vinh thân, canh khả phú Cần kiệm nhị, cần năng sáng nghiệp, kiệm năng doanh. Dịch nghĩa là: Cày ruộng và đọc sách là hai con đường: đọc sách có thể hiển vinh. Còn cày ruộng chắc là giàu có. Hai chữ cần và kiệm thì cần (siêng năng) ta có thể dựng nên sự nghiệp, còn tiết kiệm cũng có thể đủ đầy. Ở hai bên phải và trái, có hai bức thờ cẩn xà cừ rất công phu và độc đáo. Bức bên phải đề hai chữ “Hạc Toán” (sống lâu như tuổi Hạc), bức bên đề “Qui Linh” (tuổi thọ như rùa thiêng). Bốn chữ ấy đều cẩn ốc xà cừ với lối viết cách điệu, mỗi nét chữ là hình ảnh của chim muông hoa lá tạo thành. Hai bên mỗi bức thờ là đôi câu đối viết kiễu chữ “Chân lư” - một loại chữ mà cho đến nay chưa đọc được. Nghệ thuật chạm trỗ rất tinh xảo. Lớp cửa thứ hai, tất cả đều chạm nổi, khắc chìm, khắc lộng… thể hiện toàn bộ trên các khung cửa, cách cửa. Khung cửa chính dựng theo lối Tam quan, ở đây là một bức tranh khá hoàng tráng với cảnh có hình bán nguyệt được trổ lộng, thể hiện cảnh lầu son gác tía ở cung đình. Bề mặt của khung cửa chạm trỗ Tứ thời, bên trên là đề tài “Mai, Lan, Cúc, Trúc” bên dưới đề câu đối, tạo nếp hài hoà sinh động. Phần thể hiện các đề tài trên cửa được chia ra các ô vuông, ô chữ Nhật thể hiện Tứ Linh: Long với sóng nước vân mây, Lân với cuộc giấy, Qui với chân đèn, Hạt với cây Tùng, các hoa văn tứ hữu “Mai Lan Cúc Trúc” với những đường diềm chi tiết khéo léo được phân bố hợp lý nét chạm kỹ, tinh tế. Các tấm lá gió đường diềm ở giữa cột được gia công, chạm lộng, hình chữ thọ, các chắn song song đều nhau, ngăn cách một cách chuẩn mực. Ở dây công trình chạm lộng nhiều chủ đề khác nhau nhưng vẫn tập trung của 02 đồ án trang trí chính: Đồ án trang trí theo các đề tài tôn giáo Phong kiến như: Tứ Linh; Đồ án trang trí dân gian: lấy thảo mộc, hoa quả làm chủ đề chính. Mỗi chủ đề là sự thể hiện một mảng tâm hồn, một phần đời sống, một cảnh thiên nhiên với nhiều ý nghĩa khác nhau. Với lối kiến trúc qui mô khép kín của ngôi nhà truyền thống Việt Nam vào thế kỷ 19, ngôi nhà đã để lại cho Bình Dương một công trình kiến trúc cổ, góp một phần giá trị lịch sử - nghệ thuật truyền thống dân tộc thật quý, minh chứng cho sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của vùng đất 59
  • 60.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị và con người Bình Dương, cả trong quá khứ cũng như hiện tại. Thật đáng được trân trọng và gìn giữ. Ở hai bên gian thờ giữa là hai buồng (phòng) chủ nhà; buồng ông và buồng bà.Trên hai cửa buồng có hai bức hoành đề: Ngự dược, Diên phi (cá nhảy, diều bay: Có ý mong thi dậu hoặc thăng quan lên chức). Nơi đây còn có các bao lam đều trang trí đẹp, công phu. Đối xứng hai bên hông buồng ngủ là hai tủ đứng cẩn xà cừ đẹp… 5.7 Núi Châu Thới Núi chùa Châu Thới ở xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương, cách thành phố Biên Hoà 4km, thị xã Thủ Dầu Một 20km, thành phố Hồ Chí Minh 24km, và đã được xếp hạng là di tích danh lam thắng cảnh Quốc gia ngày 21/04/1989. Di tích danh thắng núi Châu Thới cao 82m (so với mặt nước biển), chiếm diện tích 25ha nằm ở vùng đồng bằng gần khu dân cư của các tỉnh thành: Bình Dương, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí danh thắng này rất thuận tiện cho việc tham quan, du lịch, vì gần các thắng cảnh, khu vui chơi nghỉ mát khác như chùa Tam Bảo, suối Lồ Ồ, núi Bửu Long (Biên Hoà). Sách “Gia Định Thành Thông Chí " đã viết: “Núi Chiêu Thới (Châu Thới) từng núi cao xanh, cây cối lâu đời rậm tốt, làm tấm bình phong triều về Trấn thành. Ở hang núi có hang hố và khe nước, dân núi ở quanh theo, trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành, ngó xuống đại giang, du khách leo lên thưởng ngoạn có cảm tưởng tiêu dao ra ngoài cửa tục”. Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” cũng miêu tả khá rõ núi và chùa Châu Thới gần giống như trên: “Núi Chiêu Thới tục gọi là núi Châu Thới, ở phía Nam huyện Phước Chính 21 dặm, từng núi cao tít làm bình phong cho tỉnh thành. Khoảng giữa núi Chiêu Thới có am Vân Tĩnh là nơi ni cô Lượng tĩnh tu, di chỉ nay vẫn còn. Đột khởi một gò cao bằng phẳng rộng rãi, ở bên có hang hố và nước khe chảy quanh, nhà của nhân dân ở quanh theo. Trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long trác tích tu hành. Năm Bính Thân, đạo Hoà Nghĩa là Lý Tài chiếm cứ Châu Thới tức là chỗ này. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) đem núi này liệt vào tự điển”. 5.8 Địa đạo Tam giác sắt Tây Nam Bến Cát Địa đạo Tam giác sắt Tây Nam Bến Cát nằm trên vùng đất 3 xã: An Điền, An Tây, Phú An thuộc khu vực phía Tây Nam huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, cách trung tâm thị xã Thủ Dầu Một 15 km về phía nam. Với vị trí và tầm vóc trong hai cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, địa đạo ba xã Tây Nam Bến Cát được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia ngày 18/3/1996, có tổng diện tích 230.000m2 . Khu Địa đạo tiếp giáp với các nơi: Phía Đông giáp các thị trấn Mỹ Phước, Thới Hòa, Tân Định; phía Tây giáp sông Sài Gòn; phía Nam giáp xã Tân An (Thủ Dầu Một); phía Bắc giáp xã An Lập, Long Nguyên (Bến Cát), và đây cũng chính là cái nôi của vùng “Tam giác sắt”. Tên “Tam giác sắt” đã trở nên quen thuộc với nhiều người trong trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược trước đây. Nhưng cũng không ít người chưa có dịp dù chỉ một lần đến nơi này. Ngày nay, nhiều người hiểu “Tam giác sắt” rất khác nhau. Có người cho rằng “Tam giác sắt” là vùng Tây Nam Bến Cát, cũng có người cho rằng nó bao gồm phần đất Tây Nam Bến Cát - Dầu Tiếng - Long Nguyên. Rộng hơn nữa, có người cho rằng nó kéo dài từ Long Nguyên (Bến Cát) - Trảng Bàng (Tây Ninh) và Củ Chi (thành phố Hồ Chí Minh). Tất cả đều đúng, vì địa danh “Tam giác sắt” cùng phát triển theo bước phát triển của cuộc chiến tranh. Duy chỉ có một điều ít ai nghĩ tới là nguồn gốc ban đầu của “Tam giác sắt” lại chính là địa bàn của 3 xã: An Điền, An Tây, Phú An (3 xã Tây Nam của huyện Bến Cát , tỉnh Bình Dương). Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trước đây, vùng đất 3 xã Tây Nam Bến Cát sớm được nổi danh với chiến khu An Thành. Thuở đó, An Thành đã từng là nơi dừng chân của các cơ quan đầu não kháng chiến Khu Bộ Miền Đông, Xứ ủy Nam Bộ, Đặc khu ủy Sài 60
  • 61.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Gòn - Gia Định,v.v… nhờ đó mà người dân địa phương sớm được giác ngộ cách mạng và đã từng đương đầu với biết bao thử thách ác liệt nhất trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ và hy sinh của nhân dân ta. Điều đặc biệt và lý thú là vào năm 1948, hệ thống địa đạo đầu tiên xuất hiện từ vùng đất này. Sau đó năm 1960, du kích Củ Chi đến học tập kinh nghiệm và xây dựng hệ thống địa đạo ở địa phương mình. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, kẻ thù đã nhiều lần càn đi xát lại, nhưng chúng không khuất phục nổi lòng dân ở đây. Đến khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp chiến đấu ở Miền Nam, năm 1967 bằng đủ loại binh hùng tướng mạnh và những phương tiện giết người hiện đại nhất, chúng mở cuộc càn Ce - da - phôn (2/1-21/1967) với quy mô lớn gồm 30.000 quân, 400 xe tăng, 80 tàu chiến, 100 đại bác và nhiều loại máy bay ném bom, kể cả máy bay B.52 hòng hủy diệt mục tiêu quan trọng này. Nhưng dựa vào hệ thống địa đạo quanh co, chằng chịt, quân và dân ta lúc ẩn, lúc hiện bí mật bất ngờ mở đợt chống càn quyết liệt. Cuối cùng giặc Mỹ phải rút lui. Với sự thất bại thảm hại, 3.200 tên Mỹ ngụy bị diệt, 149 xe tăng và xe bọc thép bị phá hủy, 28 máy bay bị bắn rơi hoặc bị thương, 2 tàu chiến bị bắn chìm, bắn cháy… Trong trận này nổi lên anh hùng bắn tỉa: Nguyễn Văn Đực, chỉ 10 viên đạn tiêu diệt 9 tên xâm lược, hoặc Võ Thị Huynh, anh hùng lực lượng vũ trang từng lăn mình dưới làm bom đạn để chăm sóc, bảo vệ thương binh. Sau những thất bại liên tiếp, kẻ thù đành bất lực, chúng phải gọi vùng này là vùng “Tam giác sắt” (Địa đạo Tây Nam Bến Cát). Địa đạo Tây Nam không đơn thuần mang ý nghĩa địa danh, mà nó là biểu tượng cho cách mạng, cho kháng chiến. Với phương tiện thô sơ là lưỡi cuốc và chiếc ky xúc đất bằng tre, quân và dân 3 xã Tây Nam đã tạo nên công trình đồ sộ với hàng trăm con đường hầm ngang dọc trong lòng đất, nối liền các xã với nhau như một ”Làng ngầm” kỳ diệu. Đây là một công trình độc đáo, chỉ riêng việc chuyển tải hàng vạn mét khối đất đem đi phi tang ở nơi khác để giữ bí mật địa đạo đã là chuyện vô cùng gian khổ, công phu, là biểu hiện sự đồng tâm hiệp lực của quân dân. Các gia đình ở khu vực vành đai, nhà nào cũng đào hầm, hào nối liền vào địa đạo, tạo thế liên hoàn để vừa bám trụ sản xuất vừa đánh giặc giữ làng. Đường xương sống - đường chính của địa đạo cách mặt đất 4 mét. Trong đường hầm này có chiều cao 1,2m, rộng 0,8 mét. Có những đoạn được cấu trúc từ 2 đến 3 tầng, chỗ lên xuống có nắp đậy bí mật. Trong địa đạo có những nút chặt ở những điểm cần thiết, dọc theo đường hầm có lổ thông hơi ra ngoài được ngụy trang kín đáo. Chung quanh cửa hầm bí mật lên xuống được bố trí nhiều hầm chông, hố đinh, mìn trái, có cả mìn lớn chống tăng và mâm phóng lựu chống máy bay trực thăng đổ chụp nhằm ngăn chặn địch tới gần. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi sau chiến đấu; có nơi dự trữ vũ khí, lương thực thực phẩm, nước uống, có giếng nước, hầm nấu ăn, hầm làm việc, chỉ huy, hầm nuôi dưỡng thương binh, v.v… Đường xương sườn (các nhánh phụ), được đào từ đường chính về các ấp. Đi liền với các nhánh phụ là các ô ụ chiến đấu. Mỗi nhánh phụ dài 1km với 3 ụ chiến đấu. Xung quanh ô ụ chiến đấu có bố trí các hầm chông, mìn được ngụy trang cẩn thận. Với hệ thống địa đạo dài gần 100 km , khoảng 50 ô ụ chiến đấu và nhiều hầm để trú ẩn, cứu chữa thương binh, dự trữ vũ khí, lương thực, thực phẩm… địa đạo Tây Nam là căn cứ địa của nhiều cơ quan và tổ chức kháng chiến, đây còn là chiến trường tiêu diệt địch tại chỗ. Từ căn cứ này, nhiều lực lượng vũ trang chủ lực làm bàn đạp xuất phát tiến công vào sào huyệt kẻ thù trong những trận đánh lớn, chiến dịch lớn. Đó là chiến dịch Lê Hồng Phong (1950); Những trận phục kích đánh giao thông trên đường 14; Đánh các cuộc càn “Phong hỏa”, “Át-tăng-bơ-rơ”, “Xê-đa- phôn”… Công tác xây dựng và củng cố địa đạo ba xã Tây Nam được tiến hành nột cách toàn diện về cả chính trị, quân sự, kinh tế. Các tổ chức Đảng, Chính quyền, mặt trận đều chăm lo mọi mặt cho 61
  • 62.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị cuộc sống của nhân dân nơi đây. Nhờ đó, mối quan hệ quân dân luôn đoàn kết thành một khối thống nhất. Địa đạo ba xã Tây Nam với các hoạt động của nó, đã giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hai cuộc kháng chiến, nhất là trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Trong suốt 20 năm chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, địa đạo ba xã Tây Nam đã phát huy tác dụng của một địa đạo chiến. Dựa vào hệ thống địa đạo, quân dân ba xã Tây Nam đã chiến đấu chôn vùi hàng ngàn tên giặc; bắn cháy và phá hủy hàng trăm xe tăng và xe bọc thép… Đặc biệt trong chiến dịch Mậu Thân 1968, và mùa xuân năm 1975, địa đạo Tây Nam là nơi nhiều cánh quân lớn tập kết từ đây tiến đánh vào Sài Gòn, góp phần vào sự nghiệp kháng chiến thắng lợi của quân dân cả nước năm 1975. 5.9 Chợ Thủ Dầu Một Hiện chợ Thủ Dầu Một tọa lạc trên một vị trí tương đối bằng phẳng, nằm sát sông Gài Gòn và các con đường bao quanh chợ; phía Bắc giáp với đường Nguyễn Thái Học, phía Nam giáp đường Bạch Đằng, phía Tây giáp đường Đoàn Trần Nghiệp, Đông giáp đường Trần Hưng Đạo. Chợ là trung tâm có vị trí khá thuận lợi cho việc trao đổi và buôn bán. Chợ Thủ Dầu Một, lúc khởi nguồn được gọi là chợ Phú Cường. Theo lịch sử địa phương, vùng đất Phú Cường đến đầu thế kỷ XVII vẫn còn là đất hoang, cảnh quan nơi đây chính là những khu rừng rậm. Trong đó, hình ảnh nổi bật là những rừng Dầu cổ thụ ở khu vực Chánh Nghĩa hiện nay, nhất là vùng ven sông lúc đó chỉ là những bãi lầy, ngập nước hình thành dần do phù sa sông Sài Gòn bù đắp. Về phía Nam của Phú Cường với những mái nhà ngói chìm trong những tán lá cây xanh. Con rạch nhỏ được phủ kín những thuyền buồm, ngôi chợ được đặt ở khúc rạch đầu tiên. Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Gia Định năm 1698. Khu vực Phú Cường ngày nay, cư dân hội tụ có phần muộn hơn so với Lái Thiêu, Thị Tính nhưng lại tập trung đông và nhanh hơn do vị trí hình thành lỵ sở của tổng Bình Điền, huyện Bình An thuộc tỉnh Biên Hòa lúc đó. Địa danh Phú Cường xuất hiện vào khoảng năm 1838 (Đời Vua Minh Mệnh thứ XVIII) cùng với sự thay đổi nhiều tên tổng và thôn của huyện Bình An. Vì vậy, tên gọi chợ Phú Cường cũng có thể được phôi thai trong khoảng thời gian này. Chợ Phú Cường, trong lịch sử hình thành muộn hơn so với một số chợ của huyện Bình An như chợ Tân Hoa, chợ Thị Tính, chợ Bình Nhâm Thượng. Phần “Thị Điểm” (Chợ Quán) của sách Đại Nam Nhất Thống Chí - bộ sách địa lý được biên soạn trong khoảng thời gian từ 1864 -1875, đã nói đến tên chợ Phú Cường: “Chợ Phú Cường ở thôn Phú Cường, huyện Bình An tục danh gọi là chợ Thủ Dầu Miệt (hay Dầu Một) ở bên lỵ sở huyện, xe cọ ghe thuyền tấp nập đông đảo”. Đến năn 1889, trên địa bàn huyện Bình An, tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập, chợ Phú Cường trở thành chợ tỉnh Thủ Dầu Một. Từ đó, tên chợ Thủ hoặc Thủ Dầu Một lại được nhắc nhiều đến trong dân gian và cả trong thơ ca sách báo. “Chiều chiều mượn ngựa ông Đô Mượn ba chú lính đưa cô tôi về Đưa về chợ Thủ bán hủ bán ve, Bán bộ đồ chè bán cối đâm tiêu…” Trước khi người Pháp xâm chiếm đồn binh Thủ Dầu Một năm 1861, thì chợ Phú Cường đã là nơi buôn bán sầm uất, nhiều xe cộ, ghe thuyền quy tụ về trao đổi buôn bán hàng hóa. Sau khi người Pháp chiếm Nam Kỳ lục tỉnh. Trong đó, có tỉnh Biên Hòa (huyện Bình An thuộc tỉnh Biên Hòa), người Pháp đã tiến hành phục hồi và biến đổi hoàn toàn chợ Phú Cường với cổng lát đá và đắp đường cao bên trong. Theo “địa phương chí Bình Dương” viết vào năm 1888, nhà cầm quyền Pháp cho lấp con rạch Phú Cường ăn thông với sông Sài Gòn và đã hoàn thành công việc này vào năm 1890. 62
  • 63.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Đến năm 1935, người Pháp nhận thấy việc đầu tư vào chợ có lợi lớn, họ đã tiến hành phục hồi và biến đổi hoàn toàn chợ Phú Cường mô phỏng theo kiểu các ngôi chợ xưa ở Pháp có cấu trúc gần giống chợ Nam Vang (Campuchia) và chợ Bến Thành (Sài Gòn). Điểm đặc biệt của mô hình trên là họ vẫn tôn trọng, giữ nguyên vị trí cũ. Năm 1938, chợ Thủ được khánh thành với mô hình mới, kiến trúc phóng khoáng, trang nhã, vào thời đó và có lợi thế hơn nhiều nơi khác. Chợ được phân thành bảy khu lớn nhỏ và được xây dựng theo kiểu hình chữ nhật gồm ba căn nhà tách biệt nhau. Từ đường Trần Hưng Đạo đi vào, ta bắt gặp căn nhà dài một lầu, một trệt nhà còn gọi là (khu Thương Xá) xây dựng và bố trí phân theo từng phân khu nhỏ dân gian vẫn thường gọi là “sạp chợ” để bày bán các mặt hàng hóa. Sau khu Thương Xá là căn nhà ngang (khu ăn uống), xây dựng giữa khu Thương Xá và khu Đồng hồ, được bài trí thành ba gian chính để phục vụ việc ăn uống. Phía sau là căn nhà dài - nhà dãy chợ (hay khu chợ Đồng Hồ) cũng được xây xựng và bài trí theo từng phân khu nhỏ kể cả ngay dưới chân Tháp Đồng Hồ chợ. Nhà dãy chợ là căn đầu tiên thực dân Pháp xây dựng vào năm 1935, với lối kiến trúc tạo dáng hình con tàu mà đỉnh tháp là chiếc đồng hồ nặng về mô típ Châu Âu, do ông Bonnemain kiến trúc sư người Pháp thiết kế và khánh thành năm 1938. Dãy nhà xây dựng theo kiến trúc nhà dài, có diện tích 2.590m2 , có hai mái chia thành hai tầng, chiều cao từ nền đến đỉnh là 10.3m. Nhà có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển của chợ Thủ. Tháp Đồng hồ chợ được xây dựng theo kiểu hình lục giác gắn liền với nhà dãy chợ, có chiều cao 23.72m, gồm bốn lầu. Lầu trệt từ nền tới trần có chiều cao 6,5m được đổ bằng bê tông, cốt thép, có bậc thang lên xuống làm bằng sắt và được gắn ở phía trong của tháp. Ngoài lát đá và ghép gạch bông ở mặt phía Đông và Tây của tháp. Từ lầu hai trở lên tháp được đắp đường cao bên trong thành tám cột trụ ở các cạnh hình lục giác. Tháp được xây dựng theo kiểu tam cấp càng lên cao càng thu hẹp. Lên đến lầu ba tháp được đổ tấm đan bê tông và xây cao chừng một mét để làm nền cho mặt đồng hồ cũng là nơi để gắn Đồng hồ. Trên nền của mặt đồng hồ được làm bằng nền màu trắng, con số màu xanh và kim chỉ đồng hồ được sơn màu đen. Trên đồng hồ được đổ bốn tấm đan bê tông gắn phía trên đồng hồ để che nắng mưa. Trên đỉnh tháp được gắn 4 chiếc đồng hồ. Chính từ những chiếc đồng hồ được bố trí theo Đông - Tây - Nam - Bắc, đã tạo nên một dấu ấn đặc sắc, hình thành tình cảm quên thuộc, sâu sắc của người dân Bình Dương. Hình ảnh tháp chợ Đồng hồ là nhịp sống trái tim và là biểu tượng đã trải bao lần thịnh suy trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất này. Chợ Thủ Dầu Một luôn giữ vị trí là một trung tâm thương mại tiêu biểu của Bình Dương, đồng thời cũng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Cũng chính vì thế, chợ Bình Dương không chỉ là nơi mua bán mà còn là một biểu trưng văn hóa gắn liền với lịch sử phát triển của Bình Dương và Nam Bộ. 5.10 Núi Cậu - Lòng hồ Dầu Tiếng Núi Cậu - Lòng Hồ Dầu Tiếng thuộc ấp Tha La, xã Định Thành, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Cách trung tâm thị trấn Dầu Tiếng 7km, Núi Cậu - Lòng Hồ Dầu Tiếng là di tích danh thắng đẹp hàng đầu của tỉnh Bình Dương, đã được công nhận di tích danh thắng cấp tỉnh, ngày 17/8/ 2007, một điểm đến hấp dẫn trong hành trình du ngoạn về nguồn, về với thiên nhiên. Quần thể Núi Cậu với tổng diện tích hơn 1600 ha, gồm 21 ngọn (7 ngọn lớn và 14 ngọn nhỏ), ngọn núi có dạng hình chữ U. Ngọn núi cao nhất là Núi Cửa Ông cao 295m, Núi Ông cao 285m, Núi Tha La cao 198m và núi thấp nhất cao 63m là Núi Chúa. Bốn ngọn núi này gắn liền với nhau tạo thành một dãy núi nhấp nhô kéo dài nằm chếch về hướng Bắc - Đông Bắc và Nam - Tây Nam. Đặc biệt, dãy núi Cậu có hình dáng như 2 yên ngựa nên người dân địa phương còn gọi là Yên ngựa 1 (Núi Cửa Ông và Núi Ông), Yên ngựa 2 là ( Núi Tha La). Vùng Núi Cậu có trữ lượng cao nên thảo mộc thiên nhiên trù phú và ở đây còn có các loại gỗ quý như: gõ, căm xe, giáng 63
  • 64.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị hương, bằng lăng và nhiều loại thảo mộc khác… nơi sinh sống của nhiều loài động vật như: Nai, mễn, heo rừng,…. Về hướng Nam - Tây Nam dưới chân núi, ta bắt gặp một thác nước đang ào ào tuông chảy chen qua các tản đá rồi đổ xuống một trũng nước hình tròn có độ sâu khoảng 3m, có đường kính độ mươi mét. Trũng nước lắng đọng làm chựng sức mạnh tuôn trào của dòng suối và không ngừng những âm thanh xao động rì rào… mang tên là Hồ Than Thở. Trên đỉnh núi cũng có một ngôi miếu thờ “Cậu Bảy” và nhiều tảng đá tạo thành những hình tượng vô cùng hấp dẫn. Dưới chân núi có ngôi chùa Thái Sơn do hoà thượng Thích Đạt Phẩm (thế danh: Đinh Văn Trên) (Thầy sáu) xây dựng vào năm 1988, tổng diện tích trên 5 hecta gồm các hạng mục như: cổng Tam Quan, ngôi Đại Tháp cao 36m có 9 tầng, tượng quan Thế âm cao 12m, chánh điện, điện ngọc cũng được xây đựng theo lối kiến trúc cổ lầu, bên trong chánh điện thầy trụ trì và chư tăng phật tử thường xuyên gõ mõ tụng kinh nên khu vực này tăng thêm phần linh thiêng tín ngưỡng của du khách thập phương… Trong kháng chiến vùng núi hiền hòa nầy đã che chở cho hòa thượng Đạt Phẩm và các đồng chí hoạt động cánh mạng. Có lẽ đây là một phần trong nhiều nguyên nhân khác về mặt tâm linh, đã làm cho Hoà Thượng quyết tâm xây đựng chùa Thái Sơn trên mảnh đất năm xưa núi cậu. Lòng hồ là một công trình thủy lợi với diện tích rộng trên 27000 hecta và 1,5 tỷ m3 nước phục vụ nông nghiệp. Những nhà quản lí công trình, những kỹ sư và công nhân ngành thủy lợi đã đầu tư trí tuệ, sức lực và lòng quyết tâm đạt được mục tiêu hồ có khả năng tưới tiêu cho hơn hàng trăm ngàn hecta đất ruộng và hoa màu của một vùng rộng lớn từ Tây Ninh đến Bình Dương qua Long An về thành phố Hồ Chí Minh. Núi Cậu - Lòng Hồ Dầu Tiếng là một danh thắng được kết hợp Sông - Nước - Núi - Đồi quả thật là phong cảnh đẹp, một địa thế tiền thủy, hậu sơn đã tạo nên nét hiền hòa, êm ả của dòng nước lòng hồ trong mát, bên cạnh một bức bình phong hùng vĩ của rừng núi thiên nhiên như một vị thần che chở bảo hộ sự bình an cho mọi người. Đặc biệt, vùng rừng Núi này còn là rừng phòng hộ - Nước lòng hồ này còn là nước tưới tiêu xả lũ cho các vùng ven sông. Núi Cậu - Lòng Hồ Dầu Tiếng là một thắng cảnh - du lịch ngoạn mục là địa điểm nổi tiếng mà nhiều khách thập phương trong và ngoài nước đã đến đây với tấm lòng ngưỡng mộ và thích thú. Trèo lên Núi ở độ cao khoảng 284.6m, ta thấy cảnh trời đất xung quanh hiện ra trước mắt, xa xa là thị trấn Dầu Tiếng sầm uất, đang hối hả nhộn nhịp. Đặc biệt, từ khi tách Dầu Tiếng được tái lập, huyện đã nhanh chóng ổn định đi vào chỉnh trang đô thị cho xứng đáng tầm vóc của một huyện có bề dày lịch sử chống kẻ thù mà Hồ Chủ Tịch đã khen tặng trong thư chúc tết năm 1966 của Người : “… Mừng miền Nam rực rỡ chiến công Nhiều Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Plây Me, Đà Nẵng…” Giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Núi Cậu đã trở thành căn cứ hoạt động cách mạng. Nơi đây được gọi là Định Thành căn cứ để phân biệt Định Thành tạm chiếm lúc bấy giờ. Tháng 5 năm 1951, thực hiện chủ trương của Quân khu ủy, Phân liên khu Miền Đông, vùng cao su gồm 22 làng nhập vào huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh. Huyện Ủy Dương Minh Châu chỉ định cấp ủy, chi bộ thị trấn Dầu Tiếng gồm 5 đồng chí, đồng chí Trần Văn Lắc phụ trách khu vực ấp 4 Bàu Sình lên đóng quân trên Núi Cậu. Đến năm 1961, lúc bấy giờ du kích hoạt động gần như không có vũ khí gì trong tay chỉ có Làng 22 đầu tiên có 1 tiểu đội là có dao, mã tấu làm các công việc an ninh trật tự và cũng là làng đầu tiên được nhận 3 cây mút mát. Từ đó, đội võ trang được gọi là đội du kích, Ban cán sự, thành lập 8 đội công tác địa điểm hoạt động tại Núi Cậu, mật danh là các “C” (về sau đổi thành các B): B21, B26, B28. B đầu tiên có 1 súng là B26 đồng chí Sáu Bi mang về. 64
  • 65.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Đến năm 1967, cuộc hành quân Junction City của Mỹ kết thúc, Núi Cậu biến thành thế mạnh của chúng, chúng đã chiếm và đặt thành một chốt giao cho tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 173 đóng giữ từ mùa xuân qua tới đầu mùa hè. Qua trận Mậu Thân 1968, bằng mọi cách nối lại liên lạc tạo dựng lại cơ sở căn cứ. Huyện ủy, huyện đội, công an hình thành một cụm căn cứ nhưng hoạt động phân tán để tránh thiệt hại cả cụm. Căn cứ ít nhất phải ba vòng trái chuyển đi dời lại từ Núi Cậu đến khu vực đầu lô 69. Rồi lại trở về Núi Cậu. Núi Cậu là địa hình, địa thế rất thuận lợi nên Cách mạng quyết tâm trấn giữ làm căn cứ tiếp sức cho phát triển phong trào, nhằm góp phần vào chiến thắng chung. Bảo tồn danh thắng núi và lòng hồ là bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, gìn giữ một cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái lý tưởng. Hiện nay, Núi Cậu là khu rừng phòng hộ nên chi cục kiểm lâm - Hạt kiểm Lâm Dầu Tiếng đang bảo vệ rất nghiêm ngặt. Khu vực chùa Thái Sơn có trụ trì Đạt Phẩm, cùng một số phật tử sớm tối kinh mõ cầu an cho mọi người. Riêng phong cảnh của Lòng Hồ cũng được Phòng quản lý nước của Công ty khai thác thủy lợi quản lý theo dõi nước lên, nước xuống mà có biện pháp khắc phục nhằm ổn định cho sự hiệu quả và an toàn của Hồ nước. 5.11 Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh Di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh nằm ở địa điểm thuộc ấp 1 xã Minh Tân (trước là xã Minh Thạnh) huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương (vị trí cũng đã được Đại tướng Văn Tiến Dũng xác định năm 1987). Di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 11/5/2010. Di tích Sở Chỉ huy Tiền phương Chiến dịch Hồ Chí Minh là di tích tiêu biểu, phản ánh sự lãnh đạo, chỉ huy đúng đắn, trực tiếp và sáng tạo của Trung ương Cục, Quân ủy Miền và Bộ Tư lệnh chiến dịch. Di tích mặc dầu là một cơ quan tạm thời (trong khoảng thời gian từ 26/4- 30/4/1975), nhưng đã thể hiện được vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt trong chiến lược chiến tranh của thời đại mới, mà trực tiếp là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sở dĩ gọi là di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Mình là vì Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh được thành lập ở căn cứ quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại ấp Tà Thiết Krom - Lộc Thành - Lộc Ninh, Sông Bé. Sau cuộc họp ngày 25/3/1975 của Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương, theo sự phân công của Bộ chính trị, cùng ngày, đồng chí Lê Đức Thọ vào Lộc Ninh để cùng các đồng chí Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ chính trị trực tiếp chỉ đạo chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Khi chiến dịch sắp mở màn, để trực tiếp chỉ huy chiến dịch ngay từ đầu sát với tình hình tác chiến cơ quan, Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh đã được Bộ Chính trị mà trực tiếp là đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Văn Tiến Dũng quyết định chuyển tới căn cứ tiền phương sát với chiến trường hơn và chọn Căm Xe làm Sở chỉ huy Căm Xe, hay còn gọi là sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh. Với vị trí đã được xác định chuyển dời này, di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong những địa điểm quan trọng quyết định sự chỉ đạo đúng đắn và sáng suốt, trực tiếp, nhanh nhẹn nhằm tạo thuận lợi cho thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử của Bộ chính trị giao cho giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giải phóng Miền Nam trước mùa mưa, kết thúc thắng lợi 30 năm đấu tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang của nhân dân ta một cách trọn vẹn với thời gian nhanh nhất. Di tích nằm trong khu vực rừng cây, có rất nhiều suối nhỏ và ngắn đổ vào con suối lớn Căm Xe như suối Các Liễu, suối Ong Lô, suối Biên Lộc, suối Bà Già, suối Bà Thành….(Căm Xe theo lịch sử địa phương là một vùng đất lâu đời, có một khu rừng nguyên sinh với nhiều loại cây gỗ quý, bên cạnh có dòng suối. Chính dòng suối này, với những đặc điểm lợi hại mang tính chất 65
  • 66.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị “thượng võ” của nó đã tạo nhiều thuận lợi để quân và dân ta đánh đuổi kẻ thù trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ). Với tổng diện tích là 6182.96m2 ở vị trí tọa độ 110 23’32” độ vĩ Bắc, 1060 30’40” độ kinh đông. Đây là khu rừng tái sinh, rừng cây cũ đã bị chặt phá, rừng tái sinh cũng bị đốt nhiều lần. Vì di tích là một cơ quan tạm thời nên các lán trại, hầm hào tại đây chủ yếu được làm bằng vật liệu là gỗ có sẵn, sau thời gian dài mưa nắng phá hủy chỉ còn lại những vết tích khá mờ nhạt, chỉ có hố bom nơi đồng chí Văn Tiến Dũng lấy nước để sinh hoạt là còn khá nguyên vẹn. Theo người dân sinh sống nơi đây thì cứ đến tháng 3 thì đốt để trồng sắn. Hiện nay thì cảnh quan khu vực này đã thay đổi rất nhiều so với trước, rừng cao su bạt ngàn bao quanh khu vực di tích. Những dấu vết còn lại như: hố bom lấy nước sinh họat, dấu vết các hầm hào cũng đã mờ, cỏ cây mọc khá nhiều, phải rất khó khăn mới tìm được những dấu vết cũ do cỏ cây che khuất. Năm 1987 đại tướng Văn Tiến Dũng cùng một số đồng chí cán bộ miền về thăm và xác định vị trí trên cơ sở những dấu tích còn lại. Sau đó huyện đội Bình Long và nhân dân xã Minh Thạnh đã xây dựng bia làm mốc đánh dấu tại nơi đây. Bia được làm bằng chất liệu bê tông cốt thét, có độ cao 3m, rộng 2,5m, trên bia có gắn ngôi sao, dưới ngôi sao có ghi dòng chữ Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, 30 tháng 04 năm 1975, xã Minh Thạnh. Đến ngày 20/8/1990, Bảo Tàng Quân Khu 7 xây dựng bia khác cách tấm bia cũ khoảng 3m, có chiều cao 15m, chiều ngang 1,5m, bia cũng được làm bằng chất liệu bê tông cốt thép. Đến năm 2005 được trùng tu lại bằng đá hoa cương cho đến nay. 5.12 Làng gốm Bình Dương Trên đất Bình Dương hiện nay có ba làng nghề sản xuất gốm sứ khá tập trung là: Tân Phước Khánh (Tân Uyên), Lái Thiêu (Thuận An) và Chánh Nghĩa (Thị xã Thủ Dầu Một) với hàng trăm cơ sở sản xuất, đa số chủ nhân các lò sản xuất gốm sứ là người Việt gốc Hoa. Cũng như các làng nghề điêu khắc, sơn mài, làng nghề gốm sứ Bình Dương không chỉ làm ra của cải, đóng góp vào giá trị sự tăng trưởng kinh tế, mà còn là sự thể hiện nét văn hóa, lịch sử truyền thống của Bình Dương. Thời gian xuất hiện các lò gốm đầu tiên dẫn đến hình thành các làng nghề gốm, chưa có tài liệu nào khẳng định chính xác là tháng năm nào, nhưng chắc chắn các làng nghề gốm đã xuất hiện và tồn tại phát triển vào cuối thế kỷ 19. Tài liệu chứng minh cho việc này đã thể hiện rõ trong niên giám, địa chí Thủ Dầu Một do thực dân Pháp để lại có ghi lại rằng: “Cuối thế 19, đầu thế kỷ 20 ở Thủ Dầu Một còn có mỏ cao lanh, 10 lò gốm và nhiều mỏ đá” (Thủ Dầu Một đất lành chim đậu - Sở Văn hóa - Thông tin Bình Dương - NXB Văn Nghệ, 1999). Một vài sự kiện có thể đã diễn ra vào thời gian ấy gắn liền với sự hình thành các làng nghề gốm, có thể nêu ra như sau: IX. Làng ngh g m Tân Ph c Khánhề ố ướ (x a th ng g i Tân Khánh): có v trí g nư ườ ọ ị ầ vùng m đ t sét, r ng r m nhi u c i thu n l i cho vi c làm lò g m. Vào nămỏ ấ ừ ậ ề ủ ậ ợ ệ ố 1867, mi u Bà Thiên H u Thánh M u (th ng g i là Chùa Bà) đ c xây d ng,ế ậ ẫ ườ ọ ượ ự trong s đ cúng nhân ngày khánh thành “Chùa Bà” có cái l h ng và bìnhố ồ ư ươ c m hoa b ng g m. Trên chi c bình c m hoa ngoài v hình bát tiên, còn có ghiắ ằ ố ế ắ ẽ ch Hán t Tân Khánh Thôn. Đi u này ch ng t r ng lò g m Tân Khánh đãữ ự ề ứ ỏ ằ ố ở xu t hi n tr c khi ngôi Chùa Bà đ c xây d ng.ấ ệ ướ ượ ự X. Làng ngh g m Lái Thiêuề ố : Theo nhà văn, nhà nghiên c u S n Nam và qua ýứ ơ ki n c a m t s ngh nhân g m s thì ngh g m du nh p vào Lái Thiêu doế ủ ộ ố ệ ố ứ ề ố ậ nh ng ng i Hoa theo chân các đoàn thuy n buôn vào, ho c đi qua b ngữ ườ ề ặ ằ đ ng b t Móng Cái sang vùng Gia Đ nh l p nghi p. Trong s l u dânườ ộ ừ ị ậ ệ ố ư ng i Hoa đó có ng i v n là th lò g m, th y vùng Lái Thiêu thu n l i choườ ườ ố ợ ố ấ ậ ợ vi c s n xu t g m nên h đ nh c và m lò s n xu t g m (ệ ả ấ ố ọ ị ư ở ả ấ ố Nguy n Phanễ Quang - l ch s Bình D ng qua niêm giám và đ a chí Th D u M t c a th cị ử ươ ị ủ ầ ộ ủ ự dân Pháp - Th D u M t đ t l nh chim đ u)ủ ầ ộ ấ ả ậ . Trong m t s hi u lò n i ti ng tộ ố ệ ổ ế ừ 66
  • 67.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị x a t i ngày nay có ch lò Ki n Xuân ông V ng Th Hùng cho bi t r ng lòư ớ ủ ế ươ ế ế ằ g m c a ông ta đ c truy n n i t đ i ông c n i tên V ng T t Ph cố ủ ượ ề ố ừ ờ ố ộ ươ ổ ừ ướ Ki n sang đây l p nghi p đ n nay đã tr i qua trên 140 năm.ế ậ ệ ế ả XI. Làng ngh g m Chánh Nghĩaề ố : (x a th ng g i là làng g m Bà L a). Làng g mư ườ ọ ố ụ ố Bà L a thu c Phú C ng, huy n Tân Bình (d i tri u Nguy n). D i th iụ ộ ườ ệ ướ ề ễ ướ ờ Pháp thu c làng g m này thu c làng Phú C ng, t nh Th D u M t. Chínhộ ố ộ ườ ỉ ủ ầ ộ ở giai đo n này đã xu t hi n câu ca dao mà nhi u ng i Bình D ng đ u bi t:ạ ấ ệ ề ườ ươ ề ế “Chiều chiều mướn ngựa ông đô Mượn ba chú lính đưa cô tôi về Đưa về chợ thủ bán hủ bán ve Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu.” Căn cứ vào các chứng tích cụ thể còn lại ở làng gốm Chánh Nghĩa: thì vào khoảng những năm 1840 - 1850, có ba lò gốm xuất hiện đầu tiên ở đất này, sau đó nghề gốm dần định hình và phát triển thành làng nghề đông đúc cho đến ngày nay. Một trong ba lò gốm đầu tiên xuất hiện đó là: lò Vương Lương mà dân gian thường gọi là lò “Ông Tía”. Lò được xây trên ngọn đồi thấp bên cạnh một con rạch rất thuận tiện cho việc vận chuyển sản phẩm ra sông Sài Gòn. Ông Vương Lăng (Út Lăng - 92 tuổi ông mất năm 1998), khi còn sống ông có cho biết rằng ông nội của ông tên gọi Vương Lương từ Phước Kiến sang, đã xây dựng nên dãy lò gốm này từ những năm 1845, hiện nay dãy lò gốm này đã có những người khác đang sản xuất kinh doanh. Đặc biệt, con rạch cạnh lò gốm đến nay vẫn còn. Tên con rạch ấy chính là tên gọi khác của lò gốm đầu tiên xuất hiện ở xứ này, đó là “Rạch Vàm ông Tía”. Ba làng nghề gốm ở Bình Dương có một nét chung là cùng xuất hiện vào khoảng giữa thế 19, chủ nhân cùng là những lưu dân người Hoa từ miền duyên hải Trung Hoa sang Việt Nam định cư, sinh sống (hiện nay cũng có khoảng vài chục lò gốm có chủ là người Việt, nhưng đa số chủ lò gốm vẫn là người Việt gốc Hoa). Xuất phát từ nguồn gốc của các chủ nhân lò gốm đến Bình Dương từ các địa phương khác nhau, từ các tộc người khác nhau nên từ khi hình thành các làng nghề gốm người ta thường phân ra có ba trường phái gốm sứ như sau: - Trường phái Quảng (đa số chủ lò gốc ở Quảng Đông): nét nổi bật của trường phái này là việc sử dụng men có nhiều màu sắc, hoa văn trang trí trên sản phẩm đẹp, cách điệu và trang nhã. Sản phẩm làm ra gồm có các loại tượng trang trí, các loại chậu hoa, đôn voi… - Trường phái Triều Châu (chủ lò gốc Triều Châu đa số là người Hẹ): trường phái này thường sử dụng men màu xanh trắng, có nét vẽ đa dạng phong phú, hoa văn bình dị, các cảnh sơn thủy hữu tình, hình ảnh các con vật như: rồng, gà, cá hoặc cây tre, tùng, bách có tính nghệ thuật gợi cảm. Sản phẩm làm ra đa số là đồ gia dụng phục vụ cho nhu cầu trong đời sống con người hàng ngày như: chén, dĩa, tô, tộ, các loại bình cắm hoa.. - Trường phái Phúc Kiến (chủ nhân có gốc Phước Kiến): sản phẩm đa số sử dụng men màu nâu đen, da, lượn, hoa văn trang trí đơn giản, cách tạo hình sản phẩm đa dạng, dáng đẹp, sinh động. Các sản phẩm tiêu biểu cho trường phái này như: Ché đựng rượu, lu, vại chứa nước, các đồ dùng nhỏ như hủ, vịm, chậu.v.v… Ngày nay các trường phái gốm sứ hầu như không còn có sự phân định rõ ràng như trước kia, bởi lý do có sự phát triển về công nghệ, thị trường yêu cầu, nên các trường phái đã có sự pha trộn, xâm nhập lẫn nhau. Các chủ cơ sở sản xuất nếu muốn tồn tại và phát triển, họ phải liên tục cải tiến mẫu mã đổi mới công nghệ, sản phẩm cạnh tranh, gắng với những mặt hàng nổi tiếng của Nhật Bản, Châu Âu là thương hiệu gốm sứ Minh Long, Cường Phát, Nam Việt. v.v… 67
  • 68.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Trong làng nghề sản xuất gốm, người ta có rất nhiều việc phải làm từ đầu cho đến khi hoàn thành sản phẩm. Nhưng có thể gom lại ở bốn khâu công việc chính yếu của nghề làng gốm là: “nhất liệu, nhì nung, tam hình, tứ trí”. Như vậy, khâu quan trọng nhất trong sản xuất gốm sứ là vấn đề chuẩn bị nguyên liệu, phối liệu đất sét cao lanh; khâu quan trọng thứ hai là nung sản phẩm; khâu quan trọng thứ ba là tạo hình, tạo dáng cho sản phẩm và thứ tư là trang trí, men màu, vẽ hoa văn trên sản phẩm. Ở đây chủ yếu nêu lên bản chất, thứ tự sự quan trọng, quyết định sự thành bại của sản phẩm, chứ không phải trình tự các công đoạn của quá trình làm ra sản phẩm gốm sứ. 5.13 Làng nghề chạm khắc gỗ Nghề chạm khắc gỗ (điêu khắc gỗ) là một ngành nghề có truyền thống lâu đời, đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam, những giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc. Bình Dương, nghề điêu khắc gỗ đã có hơn hai trăm năm tồn tại. Theo dòng chảy lịch sử hình thành vùng đất (1698- 2006), nghề có lúc thịnh, lúc suy, nhưng vẫn được các thế hệ nghệ nhân tiếp tục truyền nghề cho con cháu đến ngày nay. Nam Bộ là vùng đất mới song có nhịp độ phát triển kinh tế khá nhanh. Cùng với Sài Gòn, Biên Hoà, đất Thủ - Bình Dương cũng sớm trở thành một đô thị từ đó dẫn đến việc sớm ra đời các ngành nghề thủ công nghiệp. Tuy sản xuất nông nghiệp phát triển, nhưng nhu cầu đời sống đã giải phóng một bộ phận lao động nông nghiệp và biến họ thành những thợ thủ công. Các thợ này đã chuyển thành thợ chuyên nghiệp, không còn kiểu làm thợ trong những lúc nông nhàn như trước kia nữa. Tại Thủ Dầu Một lúc bấy giờ đã hình thành rải rác các làng nghề, các nhóm thợ chuyên làm nghề mộc, đóng thuyền, đẽo cột, dựng nhà. Làng Phú Cường là trung tâm cưa xẻ gỗ, đóng thuyền lớn nhất nhì ở Nam kỳ. Làng này còn có tên là An Nhất Thuyền (nơi đóng thuyền lớn nhất xứ Bình An tức Bình Dương ngày nay) chạy dọc theo triền sông Sài Gòn đến thôn Chánh Hiệp. Hay khi nói đến vùng đất Phú Thọ, người ta sẽ nghĩ ngay đến làng chạm khắc gỗ hoặc làng guốc Phú Văn thuộc thôn Bà Lụa. Theo địa chí Thủ Dầu Một năm 1901 thống kê, tại làng guốc Phú Văn có gần 80 hộ gia đình sống bằng nghề làm guốc cổ truyền. Thủ Dầu Một xưa được xem là thủ đô của Nam Bộ về nhà cửa, chùa chiền cổ mang giá trị mỹ thuật cao. Lớp thợ của đất Thủ đầu tiên ra đời tiếp thu vốn liếng cổ truyền của cha ông đã tạo nên những giá trị mỹ thuật trong các đình chùa mang nét văn hóa đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ lúc bấy giờ. Thơ ca xưa còn ghi : “Trại ghe trại ván sẵn cùng Sông sâu nước chảy điệp trùng bán buôn Nhà khéo cất tốn bạc muôn Tiếng đồn chợ Thủ ráp khuôn kỹ càng” Chính quyền nhà Nguyễn cho phép thợ thủ công hội nhau thành phường nghề, xếp thợ thủ công vào hạng “miễn sai”, “khuyến khích các thợ để đủ đồ dùng”… Đến thời Pháp thuộc, thực dân Pháp cho tiến hành điều tra nghiên cứu tài nguyên và khả năng sản xuất, nhu cầu của sản xuất thủ công ở Việt Nam (những năm 70 - 80 của thế kỷ XIX). Từ năm 1896, thực dân Pháp thành lập trường kỹ nghệ thực hành và mỹ nghệ thực hành, đưa hàng thủ công ra dự các hội chợ nước ngoài: Hội chợ Lyon 1893 và hội chợ Paris 1907 có giới thiệu đồ khảm; Năm 1900, toàn quyền Đông Dương quyết định đặt ra danh dự bội tinh làm giải thưởng cho “các nghệ nhân và thợ thủ công có trau dồi nghề nghiệp, hoặc tạo ra một nghệ thuật mới… Người được cấp danh dự bội tinh hạng nhất được xếp ngang hàng với chức Tổng đốc, hạng nhì ngang hàng với Tri phủ, hạng ba ngang hàng với Tri huyện”. 68
  • 69.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Trong thời gian này, tại Thủ Dầu Một, trường kỹ nghệ cũng được thành lập. Trường này gồm bốn bộ môn là điêu khắc trên gỗ, đúc mỹ thuật kim khí, thêu thùa, khảm xà cừ và vẽ. Việc chiêu sinh rất dễ dàng, mặc dù thành kiến trong những gia đình khá giả coi thường các nghề thủ công. Các sản phẩm do trường mỹ nghệ thực hiện đã thu nhận được cảm tình và sự khen ngợi của công chúng. Nhân cuộc đấu xảo liên xứ tại Biên Hòa năm 1909, trường Kỹ nghệ Bình Dương đã nhận được bằng khen danh dự. Năm 1935, Chính quyền Pháp cho tiến hành cuộc chấn hưng công nghệ vì phát triển thủ công nghiệp chỉ phải bỏ ít vốn hoặc không cần bỏ vốn mà lợi nhuận cao vì tận dụng được nguồn nhân công rẻ mạt và tài khéo léo của người thợ có truyền thống lâu đời. Đất Thủ Dầu Một từng được coi là cái nôi của nghề mộc gia dụng Nam Bộ với vùng đất có nhiều rừng, gỗ quí. Nơi đây cũng là miền đất sản sinh ra những nghệ nhân, thợ chạm khắc gỗ tài ba. Nhưng công lao để đào tạo nên những lớp thợ, nghệ nhân đầu tiên đó không ai khác chính là những người thợ Bắc, Trung, trong quá trình bôn ba lưu lạc làm ăn khắp nơi đã dừng chân tại đất Thủ và truyền nghề lại cho học trò tại địa phương. Nổi tiếng nhất trong làng điêu khắc gỗ Phú Thọ là nghệ nhân Châu Văn Trí (1914 - 1999), cụ Châu Văn Trí đã say sưa sáng tạo và đào tạo nhiều thợ giỏi trong nghề điêu khắc gỗ cho tỉnh nhà. Nghệ nhân Châu Văn Trí thi đỗ vào trường Bá Nghệ Bình Dương năm 1923, khoa điêu khắc. Năm 1927 cụ tốt nghiệp đạt loại xuất sắc và trở thành một nghệ nhân có tay nghề bậc thầy từ đó cho đến nay, ngày nay con cháu cụ vẫn tiếp tục theo nghề của cụ. 5.14 Làng nghề sơn mài truyền thống Tương Bình Hiệp Các nghề thủ công truyền thống sơn mài, chạm khắc, đồ mộc đã có từ rất sớm và phát triển mạnh ở đất Thủ - Bình Dương, vùng được định hình và phát triển nghề chủ yếu ở thị xã Thủ Dầu Một (Chánh Nghĩa, Phú Cường, Tương Bình Hiệp, Tân An, Định Hòa). Chiếc nôi nghề sơn mài Bình Dương là làng Tương Bình Hiệp. Theo tư liệu lịch sử - “Gia Định Thành Thống Chí” của Trịnh Hoài Đức, thì nghề sơn mài ở Bình Dương có từ thế kỷ XVII, do di dân từ miền Trung, miền Bắc mang theo vào vùng đất mới. Sau thời gian khai khẩn đất đai, đồng áng, sinh cơ lập nghiệp, họ đã thực hiện những bức tranh sơn mài đầu tiên - chủ yếu quét sơn vẽ tranh cảnh. Những bức vẽ cây đa, bến nước, mái đình, tre làng, … được tái hiện trên tranh giúp họ vơi đi nổi nhớ quê nhà… Làng Sơn mài được biết đến nhiều và tiêu biểu nhất ở Bình Dương, là làng sơn mài Tương Bình Hiệp ra đời vào thế kỷ XVIII. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi: “… ở làng Thủ Dầu Một, dân chúng có nghề làm sơn theo kiểu cổ khá thịnh vượng…”. Người Bình Dương thời ấy đã sớm nhận ra lợi thế của vùng đất này đã dần hình thành nên làng thủ công đặc sắc. Với nguồn nguyên liệu gỗ các loại, kết hợp với sơn dầu Phú Thọ - một loại nhựa có màu sắc đẹp, lạ, bóng, bền đã tạo nên lớp men đen bóng cho những tác phẩm đơn giản ban đầu mà nghệ nhân đã không ngừng hoàn thiện kỹ thuật đã đào tạo lớp kế thừa nghề cổ truyền và phát triển lâu dài trong xã hội. Dưới thời thuộc Pháp năm 1901, thực dân Pháp cho mở trường dạy nghề Mỹ nghệ gọi là Trường Bá nghệ thực hành Thủ Dầu Một, để phục vụ công tác khai phá thuộc địa. Từ đó, nghề thủ công mỹ nghệ có thêm đội ngũ thợ lành nghề được đào tạo chính quy, đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển của các nghề thủ công cổ truyền ở Bình Dương. Đầu Thế kỷ XX các nhóm thợ “Thủ” tập trung tại làng Tương Bình Hiệp - Phú Cường chủ yếu là sản xuất các mặt hàng sơn mài và điêu khắc gỗ. Tên tuổi các thợ Xù Nhồng, Phèn, Dựa được vang danh khắp nơi, cùng lớp nghệ nhân trẻ có học vấn, tốt nghiệp ở các trường mỹ thuật như Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương, mỹ thuật Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một. Theo số liệu thống kê năm 1945, ở Bình Dương có 10 cơ sở sản xuất sơn mài. Riêng làng Tương Bình Hiệp có hơn 300 hộ gia đình làm nghề. Đặc biệt, xưởng sơn mài Thành Lễ thành lập 1943 là cơ sở sản xuất lớn nhất thời bấy giờ tạo tiếng tăm trong và ngoài nước. 69
  • 70.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Với bề dày truyền thống và lịch sử phát triển vùng đất hơn 300 năm, nghề sơn mài trên đất Bình Dương vẫn giữ vững đậm đà bản sắc dân tộc. Ngày nay, sự phát triển về khoa học công nghệ, nghề sơn mài với sự kế thừa truyền thống kết hợp với hiện đại đã góp phần tạo nên tính đa dạng mẫu mã, phong phú về chất liệu… Sơn mài đã và đang là nguồn cảm hứng thẫm mỹ của các thế hệ nghệ nhân tài hoa, là tiếng nói nghệ thuật mang tính nhân bản cho bạn bè trong nước và thế giới hiểu thêm về bản sắc độc đáo của văn hóa dân gian Việt Nam. 5.15 Vườn trái cây Lái Thiêu Từ TP Hồ Chí Minh đi về phía đông chừng 20 km, du khách sẽ gặp một vùng sinh thái tuyệt diệu, đó là miệt vườn Lái Thiêu. Nơi rợp mát hoa trái này trở nên nổi tiếng và luôn thu hút khách du lịch. Thành phố ồn ào, nóng nực, luôn luôn ngột ngạt, con người muốn trở về với thiên nhiên. Về với miệt vườn Lái Thiêu, ta sẽ được hít căng lồng ngực hơi thở của đồng quê. Chân ta sẽ được bước trong những miệt vườn mà lối đi chỉ vừa một người. Cái thú vị đặc biệt của miệt vườn Lái Thiêu là hương thơm hòa quyện của hàng chục loại cây trái. Mùi thơm của sầu riêng, măng cụt, mít tố nữ, sa-pô-chê, mãng cầu đua nhau tỏa hương, quyến rũ, níu bước chân du khách. Miệt vườn Lái Thiêu được hình thành từ xưa cùng với làng quê êm ả của Nam Bộ. Người đến khai khẩn dừng bước tại đây bởi đất màu mỡ, phong cảnh hữu tình. Miệt vườn Lái Thiêu được tạo thành bởi một dòng sông chảy từ TP Hồ Chí Minh về tới huyện Thuận An của tỉnh Bình Dương, tới đây sông rẽ thành hai nhánh, tạo thành một cù lao. Đất đai và cây trái quanh năm được bồi đắp và tưới mát bởi hai nhánh sông không bao giờ vơi này. Đến với Lái Thiêu, bạn có thể đi bằng xe du lịch hoặc tắc-xi, bình dân hơn thì đi xe lôi, chưa đầy một giờ sau bạn có thể đặt chân lên vùng đất hứa này. Để vào miệt vườn du lịch, bạn đi qua một cây cầu khá đẹp, soi bóng mình và để lắng lại phía sau những bụi bặm phố phường. Từ đây, bạn rảo bộ vào các lối nhỏ dẫn vào vườn. Nếu bạn muốn du ngoạn trên thuyền để cảm nhận cái chơi vơi sông nước, thì đã có sẵn những chiếc ghe dưới bến trong miệt vườn. Bạn sẽ gặp những vựa trái cây thơm lừng và những chàng trai, cô gái Lái Thiêu vẫn còn mang dáng dấp chân quê, mời bạn mua hàng. Bạn có thể mua một vài loại trái cây gì đó và trò chuyện vui vẻ. Họ sẽ thành hướng dẫn viên du lịch cho bạn. Đi trong vườn đầy bóng cây, bạn có cảm giác như đang sống trong môi trường của một chiếc máy điều hòa nhiệt độ khổng lồ với ánh nắng của ban mai và ngọn gió lành phương xa thổi qua các cánh đồng phì nhiêu và dòng sông mát lành của đồng bằng Nam Bộ. Bạn có thể khoan khoái thả hồn trong khung cảnh thơ mộng: tiếng lá thở lao xao và tiếng tí tách của nước sông xâm xấp mép vườn. Đi dọc theo các vườn cây, thỉnh thoảng ta bắt gặp các rãnh dẫn nước từ sông vào. Các nhà dân ở xen lẫn trong vườn. Cây cối xanh tốt vươn vào thềm và phủ bóng trên mái nhà. Miệt vườn ở khu du lịch có hàng trăm ha. Mỗi gia đình có khoảng vài ba vườn cây là yên tâm với cuộc sống của mình. Nếu bạn muốn ở lại thưởng thức hương vị đặc biệt của trái cây vùng này, thì xin cứ việc ngả lưng trên những chiếc ghế để sẵn dưới gốc cây. Nếu trời bất chợt mưa, thì đã có nhà rông trong vườn. Bây giờ bạn có thể ngắm nhìn những trái mít tố nữ vàng ươm, thơm ngọt đến nao lòng, những trái sầu riêng gai góc nặng hàng cân chứa trong lòng ngọt bùi thơm mát. Ngoài ra dừa Xiêm, măng cụt, chôm chôm và các loại hoa quả khác của miệt vườn này cũng có hương vị rất lạ. Ai đã từng nếm một lần, chắc khó mà quên. Hằng năm, miệt vườn Lái Thiêu có hàng nghìn du khách đến thăm. Những người yêu thiên nhiên và thích du lịch tìm hiểu miệt vườn Nam Bộ chắc không thể không một lần ghé về vùng quê đáng yêu này. Lễ hội Chùa Bà vào Rằm tháng Giêng và những mùa hoa trái hầu như quanh năm, đang chờ đón bạn. 5.16 Làng tre Phú An 70
  • 71.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Tọa lạc tại huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, với tổng diện tích 10ha, làng tre Phú An như một thiên đường xanh tuyệt vời. Làng tre vừa là nơi để sinh viên học tập nghiên cứu vừa là điểm du lịch sinh thái lý thú của tỉnh Bình Dương. Để đến làng tre, khách có thể đi bằng xe máy, theo quốc lộ 13 đến Thủ Dầu Một, sau đó quẹo trái tại ngã tư Sở Sao. Hỏi đường để đến làng tre không khó vì địa điểm du lịch này đã trở nên quen thuộc với người dân địa phương. Thêm vào đó, nằm ngay mặt tiền đường với màu xanh ngắt mênh mông, chẳng khó để bạn không nhận ra làng tre . Bước vào làng tre, du khách sẽ bị thu hút đến ngôi nhà trung tâm - nhìn xa như một ốc đảo giữa thiên đường xanh. Phía trước ngôi nhà là thảm thực vật họ đậu phủ đất (Arachis Pintoi, có khả năng cải thiện đất) chen lẫn nhưng bụi tre đuôi gà trông rất lạ mắt. Màu vàng rơm bắt mắt từ hoa của giống thực vật họ đậu pha lẫn màu xanh tre tạo nên một bức tranh màu sắc hài hòa đến kỳ lạ. Ngôi nhà bao gồm khu bảo tàng mẫu vật tre và khu vực quản lý dành cho những người nghiên cứu, bảo vệ, chăm sóc tre làm việc. Ngôi nhà được thiết kế mở với không gian nội thất hòa với thiên nhiên xung quanh, bàn, ghế, đèn, tủ… trong nhà cũng đều làm bằng tre. Bước vào khu bảo tàng, người quản lý sẽ hướng dẫn tỉ mỉ từ những giống tre khắp nơi trên cả nước cho đến các sản phẩm làm từ tre. Đặc biệt, nơi đây có một bộ sách lớn có kích thước cao và to hơn người là một tài liệu hết sức đầy đủ về các giống tre. Bước ra phía sau bảo tàng, khách sẽ có cảm giác được chìm vào một không gian xanh bao la - khu bảo tồn tre. Dạo bước nơi đây sẽ gặp được rất nhiều những giống tre khác nhau. Có loại thẳng đuột, lá to nhưng cũng có loại xòe ra thành bụi và lá nhỏ. Trên mỗi cây đều chú thích rõ tên gọi cũng như khu vực trồng. Du khách có thể dễ dàng biết được thế nào là tre vuông, vàng sọc, mai, mạy muồi, luồng, vầu, trúc Cao Bằng, tre mét, hóp… Cả một vùng chỉ toàn tre, nhưng lại không nhàm chán mắt nhìn bởi sự phong phú về chủng loại và cách bài trí đẹp mắt… Và sẽ thật may mắn nếu bạn phát hiện ra hoa tre - một loại hoa mấy mươi năm mới trổ một lần. Bên cạnh khung cảnh thơ mộng bởi màu xanh bạt ngàn, làng tre còn có cả một mê cung tre quanh co, khúc khuỷu. Sâu bên trong làng tre là mô hình “Khu đồng bằng sông Cửu Long” với cầu tre lắt lẻo, con đò nhỏ, thửa ruộng xanh, chiếc vó… những hình ảnh thân thuộc và gần gũi, gợi nhớ những vùng quê yên ả… 5.17 Khu du lịch Hồ Bình An Cho dù xung quanh có nhiều khu du lịch khá nổi tiếng như Suối Tiên, Suối Lồ Ô, Bửu Long… thì Hồ Bình An vẫn là nơi dừng chân nghỉ ngơi, vãn cảnh thích hợp hơn đối với du khách. Nằm sát bên xa lộ Hà Nội tấp nập xe cộ qua lại, khu du lịch Hồ Bình An là một thế giới riêng biệt đúng như tên gọi của nó. Sự bình an, yên tỉnh nơi đây tương phản với cuộc sống sôi động, ồn ào, căng thẳng của đô thị bên ngoài. Sau những ngày làm việc mệt mỏi, du khách đến đây để tận hưởng những giây phút thư thái dành riêng cho chính bản thân họ. Khu du lịch Hồ Bình An đã từng là nơi đá gà của giới thượng lưu dưới thời Mỹ - Ngụy, ngày nay trở thành nơi vãn cảnh, nghỉ ngơi được nhiều người ưa thích. Ngành du lịch Bình Dương đã không lầm khi chọn nơi này để đầu tư tôn tạo thành một khu du lịch. Công cuộc phát triển đô thị và công nghiệp đang làm cho các vùng lân cận Hồ Bình An phải gánh chịu hậu quả nặng nề của sự ô nhiễm môi trường sống. Hồ Bình An lại càng quí giá hơn khi được giữ gìn và tôn tạo thành một vùng sinh thái trong sạch tươi đẹp. Đến khu du lịch Hồ Bình An, ta có thể cảm nhận được sự quyến rũ, bởi đây là một vùng thoáng đạt dưới bầu trời đầy nắng và gió. Những dải cây xanh biếc tỏa bóng râm mát theo các lối đi qua hồ. Bên cácđường đi vào những khoảng trống bên hồ, đâu đâu cũng thấy cỏ cây hoa lá tươi tốt. Dưới các vòm cây cao, thỉnh thoảng lại bắt gặp những gốc cây lớn bị cưa ngang để làm bàn ghế cho du khách. Chủ nhân muốn làm cho nơi này mang đậm tính thiên nhiên nên cả những giàn hoa, những cây cầu bằng xi măng cũng được tạo dáng như những cây gỗ chưa bị đẽo gọt, mà chỉ 71
  • 72.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị đốn chặt qua loa. Đảo nhỏ có những mái nhà cong thấp thoáng trong rừng cây um tùm, những cây cầu mộc mạc nối với bờ, soi bóng lung linh mặt nước có cổ kính, thơ mộng. Trước trung tâm của khu du lịch, những ngôi nhà nghỉ, những nhà hàng đặt trên mặt nước, nhìn từ xa những ngôi nhà của người đi bè, bồng bềnh, neo đậu bên bờ của một xứ sở sầm uất. Trên bờ còn có những ngôi nhà mái nhọn như nhà của người Tây Nguyên, nhưng nhỏ và đẹp. Đó là nhà dành cho du khách nghỉ tạm qua trưa hoặc một vài ngày. Một số nhà theo kiểu biệt thự dành cho gia đình hoặc những người cần tiện nghi cao cấp và đầy đủ hơn. Du khách đến hồ Bình An thường theo từng nhóm hoặc đôi ba người. Họ cùng vui chơi, đàn hát, cùng ăn những bữa theo kiểu picnic thân thiện và chan hòa. Họ cũng thường nghỉ trưa tại các ngôi nhà xinh xắn có những ô cửa sổ trông ra hồ tràn đầy gió mát. Quanh hồ có những chỗ vừa đẹp vừa thuận tiện cho những người vừa có thú vui câu cá để chờ đợi những khoảnh khắc vui sướng khi họ chinh phục được lũ cá dưới hồ. Có nhiều người hoan hỉ với những lần cá cắn câu, có những con câu được nặng đến năm bảy ký. Nhưng cũng không ít kẻ tưng hửng vì một ngày kém may mắn. Dẫu sao thì mỗi lần đến, họ đều là người có nhiều hy vọng, ít ra thì cũng được một ngày nghỉ ngơi bổ ích và ăn uống ngon miệng. Ở khu du lịch Hồ Bình An có kiểu phục vụ ăn uống cũng rất du lịch. Du khách có thể đang ngồi câu cá hoặc lên đênh trên ghe "thiên nga" hay ngồi hóng mát ở chỗ nào đó quanh hồ, chỉ cần yêu cầu là được phục vụ ăn uống ngay tại chỗ. Điều này vừa tiện lợi vừa làm cho du khách tự nhiên, thoải mái hơn. Hồ Bình An tối tối lại khoác lên mình bộ đồ đen của màn đêm mỏng manh với những viên ngọc sáng do hàng trăm bóng đèn màu kết lại ở khu trung tâm, nhìn từ bờ bên kia như giải hoa đăng rực rỡ in bóng long lanh dưới hồ. Ở đây có nhiều chổ đề ăn uống, có chỗ nhỏ dành riêng cho một nhóm hoặc một gia đình, có chỗ lớn có thể phục vụ cho hàng trăm người. Khách đến ăn thường là những người thích thú với khung cảnh thanh lịch, tươi mát bên hồ. Không ít người đến đây vì quá vui đã uống nhiều đến mức phải nghỉ lại. Những bữa tiệc vui thâu đêm là điều thường thấy ở đây. Nhưng tất cả đều thấy an tâm vì sự an toàn chung của khu du lịch. Trong cuộc sống đô thị đông đúc, ồn ào và bụi bặm, sau những ngày làm việc căng thẳng và mệt mỏi, đến nơi này ta bổng cảm nhận được sự thoải mái dễ chịu. 5.18 Khu du lịch (KDL)Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến Tổng diện tích 9 hecta với cổng chính hướng về Quảng Truờng Đại Nam đuợc bao bọc bởi 2 con rồng xanh với chiều dài mỗi con là 270m. Nét nổi bật của KDL Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến đó chính là khu thờ tự với diện tích 9 hecta là điểm nhấn mang ý nghĩa về văn hóa lịch sử và vọng nguỡng những tinh hoa của dân tộc Viêt Nam qua 4000 năm văn hiến. Đây là khu vực mang đậm nét tâm linh bao gồm dãy Ngũ Hành Sơn - Dãy núi nhân tạo dài nhất Việt Nam với chiều dài 252 m, được trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập ngày 10/9/2006. Ẩn hiện trong dãy Ngũ Hành Sơn là ngôi tháp 9 tầng uy nghi còn gọi là Bảo Tháp. Dòng Bảo Giang 720m chạy dưới chân dãy Ngũ Hành Sơn, uốn lượn quanh ngôi đền cũng được xem là dòng sông nhân tạo dài nhất Việt Nam hiện nay. Đền thờ Đại Nam được khởi công xây dựng vào ngày 10/03 năm Quý Mùi (11/04/2003) và khánh thành vào ngày 02/9/2005 với diện tích 5000 m2 . Đền Đại Nam còn gọi là Kim Điện với điểm nhấn nổi bật là các pho tượng thờ, phù điêu và các vật dụng thờ cúng được dát vàng. Đền cũng được sách kỷ lục Việt Nam ghi nhận là Ngôi đền thờ lớn nhất Việt Nam vào ngày 15/08/2007. Chính điện của Đền thờ có 03 pho tượng thờ là : Đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni, Vua Hùng Vương và Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Bên tả điện là trang thờ : Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Mẹ Âu Cơ, Bách Gia Trăm Họ với 1068 dòng họ bao gồm 54 dân tộc Việt Nam. 72
  • 73.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Bên hữu Điện là trang thờ : Bác Hồ, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và bàn thờ 4 vị : Thần Tài - Thổ Địa - Thành Hoàng - Tổ Đức. Các pho tượng bên trong điện thờ đều được làm bằng một chất liệu nhẹ và bền, đó là Composite và sợi thủy tinh. Một số Tượng chính trên Trang thờ ngay giữa Chánh điện còn được dát vàng 24K bên ngoài. Kim Điện được xây dựng theo mô típ vuông tròn. Mái vòm hình tròn biểu trưng cho Trời có vẽ 108 con chim hạc với ý nghĩa : 54 con hạc tượng trưng cho 54 dân tộc VN ở cõi trần, 54 con hạc tượng trưng cho 54 dân tộc ở cõi âm (bởi theo quan niệm dân gian, Hạc là con vật tượng trưng cho sự vĩnh cửu, lại có âm dương kết hợp hài hòa sẽ tạo nên sự phát triển trường tồn bền vững). Chính giữa của mái vòm là điểm vọng âm. Đứng tại điểm vọng âm, âm thanh sẽ được khuyếch đại và truyền đi khắp Kim Điện. Hình vuông được thể hiện qua 4 vách của đền thờ, bao gồm 28 bộ cánh cửa với mỗi cánh cửa chính nặng 500 kg. Trên nền 28 bộ khung bao cửa được chạm trổ 28 bộ tranh lịch sử tiêu biểu, đánh dấu các mốc son lịch sử của VN bắt đầu từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 - 43, Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu năm 248, Cuộc khởi nghĩa của Lý Bí năm 542, ... cho đến thời kỳ hiện đại như Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và cách mạng thành công với việc Bác Hồ đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập tại Quảng Trường Ba Đình ngày 02/09/1945. Sau đó là tiếp tục những thành công khác như Trận Điện Biên Phủ năm 1954, Trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972 và kết thúc bằng thắng lợi rực rỡ của mùa xuân lịch sử 30/04/1975. Các cuộc khởi nghĩa thể hiện sự anh dũng của một dân tộc luôn đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ dân tộc. Trong đền có đặt hai cây nến với tên gọi Đại Hoàng Đăng, mỗi cây có chiều cao 2.7 m với đường kính 90 cm, dự đoán có thể cháy trong suốt 1000 năm, với ý nghĩa luôn soi sáng con đường phát triển cho dân tộc Việt Nam.Với lối kiến trúc dân gian kết hợp thể hiện vẻ đẹp quy tụ của tứ linh : Long -Lân - Quy - Phung; Tứ Quý : Mai - Lan - Cúc - Trúc, và đặc biệt là sự tôn vinh vẻ đẹp của hoa Sen, loài hoa tượng trưng cho sự thanh cao thuần khiết. Ngày 01/07/2010 (nhằm ngày 20/05/ Canh Dần), Ông Huỳnh Uy Dũng đã vinh dự thỉnh về được 02 viên Xá Lợi Phật ( Xá Lợi Phật có nguồn gốc từ Ấn Độ). Đến ngày 13/07/10 (nhằm ngày 02/06/Canh Dần), Khu DL đã đưa 02 viên Xá Lợi Phật vào thờ tại Tháp Lưu Ly ngay trong Điện thờ. Bên cạnh nét nổi bật của Kim Điện, Khu thờ tự còn thu hút du khách bởi khung cảnh manh đậm nét thiên nhiên với sự kết hợp độc đáo của núi, non, sông, hồ, cây cảnh. Dãy Ngũ hành sơn bao gồm 5 ngọn : Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ, ngọn trung tâm cao 65,8 m. Trước khi vào bên trong dãy Bảo Sơn, du khách sẽ được ngắm nhìn một quần thể thắng cảnh hùng vĩ bao quanh Dãy núi Ngũ Hành. Trấn giữ ở phía tây của dãy Ngũ Hành Sơn là thần Bạch Hổ, phía Đông là Thần Núi và Thần Nông. Vươn lên từ ngọn núi trung tâm Bảo Sơn là ngôi Bảo Tháp 9 tầng. Đây là nơi thờ phượng tâm linh và truyền thống bất khuất của dân tộc VN, thể hiện lòng biết ơn và sự tôn vinh của thế hệ sau đối với tổ tiên và tiền nhân. Mỗi tầng của tháp là nơi thờ phượng với những ý nghĩa khác nhau. Đứng từ tầng thứ 9 của Bảo Tháp, du khách có thể nhìn bao quát toàn cảnh Khu Du Lịch Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến. Hướng Đông và Tây của đền Đại Nam được trấn giữ bởi hai bậc thiên tài quân sự trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam là Thái Úy Việt quốc công Lý Thường Kiệt trấn ở hướng Đông và vua Quang Trung Nguyễn Huệ trấn ở hướng tây. Nhìn về Hướng Nam - Hướng Cổng chính của Khu Kim Điện là một Hồ Ngọc Bích với diện tích 2,7ha có dòng nước trong xanh như màu ngọc kết hợp với những ốc đảo thật nên thơ hữu tình. Xa xa nữa, là Quảng Trường Đại Nam đã từng đón tiếp hàng ngàn du khách đến tham dự các chương trình lễ hội với sân khấu nhạc nước hoành tráng bậc nhất - nơi đã từng diễn ra những Chương trình ca nhạc, Lễ hội tầm cỡ quốc gia, tiêu biểu như Lễ Chào mừng Đại Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc - VESAK diễn ra vào ngày 05/05/2008 đã đón tiếp hơn 60.000 Tăng, Ni, Phật tử từ 73
  • 74.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị khắp nơi trên cả nước hoặc những đêm hội chính tại Đại Nam, ...Không những thế, tại đây cũng đã từng diễn ra 02 màn trình diễn pháo hoa đặc sắc vào ngày Lễ 01/05/2010 và ngày Quốc Khánh 02/09/2010. 5.19 Miếu Bà Thiên Hậu Khi xưa tọa lạc tại con rạch Hương Chủ Hiếu (nay đã xây dựng lại ngôi miếu trên vị trí ban đầu của xưa kia). Người xưa đã chịu ảnh hưởng của quan niệm dân gian là địa thế xây cất miếu Bà thường tuân theo nguyên tắc kiến trúc điện mẫu, tức là luôn mang yếu tính nữ trong xây cất, một trong yếu tố nữ là điện thờ nên chọn nơi gần sông, suối, ao, hồ… nghĩa là gần nơi có nước, vì nước mang yếu tố âm, mang tính nữ. Đến năm 1923, bốn Bang người Hoa (Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ) chung sức tái tạo ngôi chùa ở vị trí như ngày nay. Vài nét về kiến trúc, thờ tự, trang trí nội thất như sau: Ở hai cánh cửa chính đề bốn chữ đại tự: Phong Điều Vũ Thuận (gió mưa điều hòa). Vào sân chùa, trước cửa điện có đặt một cái đỉnh lớn, nơi những người đến cúng cắm nhang. Toàn bộ ngôi chùa kiến trúc thành ba dãy nhà ở giữa là chánh điện đề ba chữ Thiên Hậu Cung, trên hai cánh cửa chính đề bốn chữ Quốc Thái Dân An, hai bên là hai cặp câu đối ca ngợi công đức của bà: Thánh đức phối thiên hải đức từ hành phổ tế Mẫu nghi xưng hậu tang du trở đậu trùng quang. Tạm dịch: Công đức của bậc thánh có thể sánh với trời, đức mênh mông như biển thuyền từ cứu vớt khắp cùng. Cập thứ hai: Thiên thượng từ hành nhân gian thánh mẫu Hậu nghị cộng ngưỡng khôn đức trường tồn. Tạm dịch: Tại thượng giới hiệu là từ hàng, tại nhân gian tồn là thánh mẫu. Bậc hậu oai nghi ai cũng tôn kính, đức dày mãi mãi với thời gian. Mái trước của chánh điện lợp ngói âm dương với những đường chỉ đắp nổi, trang trí Lưỡng Long Tranh Châu, Cá Chép Hóa Rồng. Hai bên đường viền của mái nhà là tượng “Bà Mặt Trăng”, những tượng Quan Văn, Quan Võ… tiêu biểu nhất lí âm dương và cũng là đặc trưng của lối kiến trúc người Hoa. Hai dãy nhà hai bên chánh điện có đề ở cửa cái chữ thất phủ, công sở đó chỉ lài hai nơi làm việc như hội họp và những kho chứa đồ đạc, gọi chung là thất phủ công sở. Do vậy, mà bên trong ghi những chữ như: Hữu Thông (đi suốt qua bên mặc), sự chi, công lý (mọi việc theo lẽ công) ( bên phải). Bên trái ghi: Dĩ Lễ, Thủ Chánh (hãy theo l64, giữ gìn cái chính), Quảng Nội (rộng rãi bên trong), những chữ vắn tắt ấy như những khẩu hiệu nhắc nhở mọi người. Trong điện có cặp đối, nội dung các cặp đối là ngợi ca công đức và sự linh diệu của Bà trong việc cứu nhân độ thế, hơn nữa bà là vị nữ thần phò hộ cho người dân đi biển nên hầu hết các cặp đối đều có nhắc đến những hình ảnh có liên quan đến biển khơi và sự mong ước được sống yên, bể lặng, tất nhiên những hình ảnh ấy cũng được hiểu rộng ra với nghĩa tượng trưng. Tại chánh cung, thờ vị chánh thần là Thiên Hậu Thánh Mẫu, tượng có áo mão nghiêm trang và thường được thay mới hàng năm, hoặc hai, ba năm một lần. Bên trái bà là khám thờ Ngũ Hành Nương Nương. Bên phải thờ Bổn, gọi là bổn đầu công công. 74
  • 75.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Hai bên tường có giá cắm tấm biển đề Túc Tĩnh - Hồi Tị, để kêu gọi mọi người nghiêm trang hoặc tránh ra mỗi khi có rước kiệu Bà đi trên đường. Cặp biển thứ hai đề Thiên Hậu Nguyên Quân ( Vị thần chủ việc tiền tài). Các cặp biển sắp theo thứ tự trong thờ tự cũng như trong diễu hành lễ rước bà. Hai bên chánh điện được xem như Đông lang, Tây lang, là nơi hội họp, được gọi là thất thủ công sở. Trong điện có trưng bày giá cắm bát biểu là tám món bửu bối của tám vị tiên theo truyền thuyết của người Trung Hoa. Nhìn chung ngoài những lối kiến trúc, thờ phượng, những chùa miếu người Hoa còn có những nét đặc trưng nữa là những cây nhang vòng, những lồng đèn có viết chữ Hán và những màu sơn vàng đỏ sặc sở được trưng bày trong miếu.. 12. Đặc sản và ẩm thực 6.1 Măng cụt - trái cây đặc sản của Bình Dương và vườn cây xanh Lái Thiêu Với mùi vị khác lạ, múi sầu riêng thường được xem là loại trái cây đặc trưng của Nam bộ, thì trái măng cụt ở miệt vườn Lái Thiêu có thể là trái cây đặc sản tiêu biểu cho xứ sở “cây lành trái ngọt” - đất Thủ Dầu Một, Bình Dương. Nhiều người, trong đó có học giả Vương Hồng Sển (1902- 1996) gốc miền Tây Nam bộ (Sóc Trăng) cho rằng Lái Thiêu, Thủ Dầu Một là quê hương đầu tiên của giống trái cây măng cụt được di thực từ các nước Đông Nam Á (như Mã Lai, lndonesia): “Măng cụt là một loại trái cây xứ Thủ Dầu Một, xứ lái Thiêu do các cha đạo Gia Tô đem giống về, có thuyết nói là từ Bá Đa Lộc hoặc linh mục Taberd”. Nhà văn Sơn Nam, người khá am tường văn hóa ẩm thực Nam bộ, đã dẫn thêm cứ liệu cũng tán đồng ý kiến trên: “Theo Melleret, cây măng cụt đầu tiên từ Mã Lai đưa đến Nam bộ trồng ở Lái Thiêu và tại nhà thờ họ đạo Lái Thiêu”. Nhà văn cũng cho biết thêm nhà thờ này “đầu tiên lập tại chợ Cây Me có bàn thờ Chúa do Bá Đa Lộc xây dựng đơn sơ, từ 1771”. Theo nhà thực vật học GS - TS. Đỗ Tất Lợi cũng đã cho biết: “Cây măng cụt nguồn gốc ở Malạysia, lndonesia, từ Malaccaqua Moluku, ngày nay bắt gặp khắp Đông Nam Á, ẤN Độ, Myamar cũng như Sri-Lanka, Philippines được các nhà truyền giáo đạo Gia Tô di thực vào miền Nam nước ta. Vvà như trên đã nói, các nhà truyền giáo phương Tây đã trồng thử nghiệm trên đất Lái Thiêu, kết quả thật bất ngờ: Cây phát triển nhanh, chóng ra trái, sản lượng khá cao, mùi vị thơm ngon đặc biệt hơn các nơi khác. Do vậy nông dân trồng nhiều loại cây quý này, biến Lái Thiêu thành vùng đất chuyên canh nổi tiếng trong cả nước. Tuy không thể quả quyết “đây là vùng có diện tích trồng cây măng cụt lớn nhất Đông Nam Á” như một tác giả Bình Dương đã khẳng định, nhưng có thể nói chắc rằng: Vườn măng cụt Lái Thiêu là vùng chuyên canh hàng đầu và sớm nhất ở ViệtNam. Đặc biệt về chất lượng, mùi vị thơm ngon của trái măng cụt ở đây ít có nơi nào sánh kịp. Chẳng thế, viên tướng Pháp Sa lan, người đã sống việt Nam gần 30 năm (1924-1953) và rất sành món ăn của Việt Nam - Đông Dương, đã hết lời tán thưởng trái măng cụt của Việt Nam (Lái Thiêu): “Trái măng cụt nổi tiếng ngon phần múi cơm màu trắng bên trong, với người sành ăn, đó là loại trái cây tuyệt diệu nhất ớ Viễn Đông” (nguyên văn tiếng Pháp: “Mangustans si renommés, à la pulpe blanche ét savoureuse, le meilleur fruit de l'Extrême Orient pour les connaisseurs”). Cây măng cụt là loại cây lâu năm ở miền nhiệt đới, thuộc họ bứa (Guttiferae). Theo Tự điển Bách khoa Việt Nam, cây măng cụt có 50 chi gồm hơn 300 loài phân bố ở vùng nhiệt đới ẩm. Hiện Việt Nam có 5 chi, hơn 40 loài hầu hết được trồng ở phía nam, đặc biệt trồng thành vùng chuyên canh ở Lái Thiêu, Bình Dương. Có lẽ do thích hợp với thổ nhưỡng, khí hậu nên trái măng ở vùng này có hương vị đặc biệt thơm ngon hơn các vùng khác. Có người cho rằng tên măng cụt có lẽ là do âm Việt đọc từ các từ Pháp là mangoustan, (tiếng Anh là mangosteen: trái măng cụt) và mangoustanier (Pháp: cây măng cụt) mà ra. Tên khoa học gốc Latinh: Garcinia Mangostanal. Người Hoa gọi măng cụt là trái sơn trúc tử hay mã cật. Còn sách “Đại Nam nhất thống chí” của ta gọi là trái thổ lý và vua Minh Mạng lại gọi bằng cái tên đẹp “giáng châu tử” như đã nói ở trên. Người Huế cũng gọi trái măng cụt là trái “giáng châu”. 75
  • 76.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Cây măng cụt hiện nay không chỉ được trồng nhiều nơi ở Nam bộ, mà đã từ lâu trái măng cụt đậm đà hương vị chân chất vườn quê Lái Thiêu Nam bộ, đã trở thành trái giáng châu đài các trong các khu nhà vườn ở cố đô Huế. Có lẽ trái giáng châu ở Huế quý vì là loại trái ngon và hiếm có nguồn gốc từ quê hương của những bà hoàng hậu phương Nam như bà Từ Du (Phạm Thị Hằng ở Gò Công, mẹ vua Tự Đức); bà Tá Thiên (Hồ Thị Hoa ở Bình An, Thủ Dầu Một, mẹ vua Thiệu Trị)... Nhưng ở Bình Dương cây măng cụt được trồng đại trà trên diện tích lớn có thể chiếm đến hơn một phần ba diện tích vườn cây Lái Thiêu. Cùng với các loại cây ăn trái nhiệt đới khác, cây măng cụt đã tạo nên khung cảnh miệt vườn Lái Thiêu xinh đẹp thơ mộng bạt ngàn màu xanh chạy dài suốt mười ba cây số dọc theo bờ trái sông Sài Gòn. Trước đây, Lái Thiêu, Thủ Dầu Một là công viên, miệt vườn của đô thị Sài Gòn - Gia Định và đã đi vào ca dao “Ghe anh nhỏ mũi trán lườn. Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em”. Cái màu xanh miệt vườn yên ả đó có thời đã đi vào thơ ca: “Anh về đất rộng Bình Dương Trái cây... và lá con đường cỏ xanh...” (Bùi Giáng, “Anh về Bình Dương”, 1959) Câu thơ bình dị êm nhẹ và khoáng đãng kia của nhà thơ lãng du Bùi Giáng, trong một lần ghé đến Bình Dương, đã mở ra một khoảng không thăm thẳm miên man màu xanh miệt vườn... Vườn cây với nụ xanh, trái chín, mương rạch giao nối sông ngòi, những sinh hoạt lâu đời thường nhật của nhà vườn: ươm trồng chăm bón, rồi thu hái, người mua kẻ bán, khách thăm vườn, người thưởng thức trái ngon vị ngọt... đã tạo nên một không gian riêng; không gian “văn hóa miệt vườn” nhất là vào những ngày mùa trái chín, ngây ngất mùi sầu riêng, nồng nàn mùa măng chín. Nhìn màu tím sẫm của trái măng chín đầy nắng ấm của trời phương Nam -Bình Dương bất giác nghĩ đến cái kỳ diệu của tự nhiên, nghĩ đến cũng là màu tím sẫm ấy của trái giáng châu ở mùa đông xứ Huế. Trở lại vườn trái cây Lái Thiêu, Bình Dương, vườn cây trái gắn liền với làng quê của nhiều thế hệ gia đình, nên người sinh trưởng ở đây khi phải xa làng vẫn thường nhớ về cái không xanh dịu ngọt ngào mùi vị vườn quê. Trong truyện ngắn “Làng tôi” nhà văn Lý Lan, quê Lái Thiêu, đã nói thay những cảm xúc khi nhớ về cái không gian vườn quê ấy: “Tôi nhớ mãi khi làng có giỗ, khách nơi khác đến dự tiệc đều xuýt xoa khen bánh trái vùng này ngon. Các bà, các dì chỉ nói nhờ nước ở vùng này tốt, đất cũng lành. Tôi nhớ chưa từng có bão giông, hạn hán hay lụt lội gì ở làng tôi. Trong vườn măng cụt lúc nào cũng râm mát, nên con gái vườn da trắng nõn, mắt biếc, môi son. Ở Sài Gòn người ta hát ca dao rằng. “Tháng giêng mười sáu trăng treo Anh sắm giường lèo cưới vợ Lái Thiêu” * “Mẹ mong gã thiếp về vườn Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh” 6.2 Bún tôm Bình Dương Đây là loại bún vừa rẻ vừa ngon lại rất dân dã. Nét đặc trưng riêng của bún tôm Bình Dương trước hết là ở cách thức làm bún. Bún tôm không phải là loại bún làm sẵn bán ở chợ hay bún được mua ở các lò làm bún nổi tiếng. Người bán bún tôm làm bún ngay tại chỗ tức là khi có khách vào, chủ quán mới bắt đầu ép bột gạo đã làm sẵn và hấp trong nồi nước sôi đó vậy sợi bún ở đây trong nhỏ, mềm và trong vắt, tôm dùng để làm bún tôm là những con tôm tươi, còn sống được bắt từ ao, đầm. Con tôm ở đây trông bụ bẫm và thịt săn, rất ngọt. Người ta giã nhuyễn tôm sống đã lột vỏ, sau đó nhúng sơ vào nồi nước đang ở độ sôi cho bún vào tô, chế nước dùng để xào bún vào ngay sau đó, rắc một ít tiêu bột, một ít bột ngọt, một ít 76
  • 77.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị hành hương. Thế là đã có ngay một tô bún tôm nóng hổi. Bún tôm được ăn kèm với bánh tráng gạo nướng. 6.3 Trái cây Lái Thiêu Từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm là mùa trái cây chín rộ, du khách đi chơi vườn Lái Thiêu sẽ được tận hưởng không khí trong lành của vườn cây trải dài tít tắp và được thưởng thức các loại trái cây ngon như măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, mít tố nữ, vú sữa... Du khách có thể xuống thuyền dạo chơi trên sông Sài Gòn mà ngắm cảnh vườn cây... Lợi điểm của Lái Thiêu là ở sát cạnh Thành phố Sài Gòn, hai điểm trung tâm chỉ cách nhau chừng 20km. Trái cây ngọt của Lái Thiêu đã hấp dẫn các bạn trẻ đến nỗi nếu đi xe đạp, thì cũng chỉ mất không quá một tiếng đồng hồ. Đến đây, Du khách có thể vào vườn mua trái cây bằng cách hái tại chỗ ăn hoặc đem về, hay mua ở các hàng quán chuyên bán trái cây ở khắp Lái Thiêu. 6.4 Canh chua lá dang thịt gà Thành phần chính của món này là thịt gà và lá dang. Lá dang là một loại dây leo hoang dã ở rừng, có khi mọc trên các sườn đồi. Lá có vị chua rất thanh, cái chất chua người Nam bộ gọi là "đằm thắm" chứ không gay gắt như khế, như chanh hay một số trái cho vị chua khác. Lá dang già thì vị chua cũng giảm đi và bắt đầu có vị chát, nấu ăn sẽ kém ngon. Bởi thế, lá dang non chính là thứ lá mà các bà nội trợ cần tìm để có được món canh chua lá dang hấp dẫn. Khi chọn gà để chế biến thì nên chọn giống gà quê, nuôi thả rong. Giống gà này sẽ cho thịt săn chắc, ngọt hơn hẳn các giống gà công nghiệp. Sau khi làm gà xong, ta chặt thành miếng to, ướp ớt, muối, rồi bỏ vào chảo xào qua cho săn lại, ngấm muối mỡ rồi bỏ vào nồi nấu trước. Lượng nước nhiều hay ít tùy vào số lượng người ăn nhưng chú ý không cho quá nhiều nước vì canh sẽ không được ngọt thịt. Rửa kỹ lá dang, nếu có ít lá dang thì nên dùng tay vò nhẹ để chất chua trong lá tiết ra được nhiều hơn chứ không nên thái nhỏ vì sẽ làm mất vẻ đẹp của món ăn. Chờ nước sôi được một lúc lâu, thịt gà chín mềm mới bỏ lá dang vào, chao kỹ và nhắc xuống, nêm bằng nước mắm ngon, nêm nếm cho vừa ăn. Vị cay the của vài lát ớt quyện với vị chua của lá dang sẽ làm cho nồi canh thêm hấp dẫn. Để cho thơm canh, trước khi nhắc xuống, có thể cho thêm hành, húng quế hoặc ngò om; trong số đó, húng quế và ngò om được nhiều người cho là ngon và thích hợp nhất. Món canh chua lá dang này mà được dùng chung với cơm nấu từ gạo nàng hương thì thật khó gì sánh bằng. Cơm dẻo thơm cộng với vị chua ngọt của canh, vị the của ớt, mùi hương của rau ngò om sẽ quyện lại tạo nên một món ăn thật hấp dẫn. Ngoài ra, món canh chua này cũng được dùng chung với bún tươi với canh chua được đựng trong lẩu để vẫn giữ cho canh được luôn nóng khi dọn lên bàn ăn. 6.5 Mắm chua - đậu rồng - bắp chuối Để làm mắm, sử dụng cá lòng tong, cá rễ tre, cá đỏ đuôi, nói chung là cá con đem đi chà nhớt bằng muối, xả cho sạch, trộn với thính xong xuôi đem gài vào hũ, bịt kín miệng hũ lại, đem phơi nắng khoảng 10 ngày đợi cho mắm chín. Khi mắm chín tới, đem pha thêm giấm, đường, tỏi giã nhỏ, tiêu già sống còn trên chuỗi. Đậu rồng non, giòn, thơm, béo, có khả năng "bắt" mắm chua và "trang hoàng" vị giác nếu phải ăn theo cách "gắp mắm để lên lưng rồng" rồi mới ăn. Bắp chuối phải là thứ chuối hột, ít chát, ít đắng, lấy tay lột nhẹ các bẹ ngoài để lộ màu trắng ra rồi cũng dùng tay bóp mạnh cho bể bắp chuối xong cũng ăn kèm với mắm chua nghe "giòn rụm" khoái cả lỗ tai. Món này cũng để ăn với cơm. Còn như để cuốn bánh tráng thì phải có thịt ba chỉ luộc, có thêm bún. Mắm đi chung với thịt luộc - bắp chuối tức là mặn đi với béo - chát, ba vị này hòa quyện với nhau để tạo nên một món ăn rất ngon và đậm đà. 77
  • 78.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 6.6 Đậu khèo Đây là món ăn chơi, có từ thời kháng chiến và trở thành đặc sản của miền Đông Nam Bộ. Đậu phộng hạt phơi khô, bỏ vào chảo với ít mỡ rồi cho lửa cháy liu riu. Chảo nóng dần, mỡ nóng theo, dầu trong hạt đậu phộng cũng nóng lên và nổ lách tách rồi dứt. Chờ vài phút, đậu sẽ bốc mùi thơm, hạt đậu đã đủ vàng thì rắc muối hạt hay một muỗng nhỏ nước mắm ngon cho có vị mặn, rồi nhắc xuống đổ đậu khèo ra đĩa, đợi nguội, hạt đậu hóa giòn tan béo đậm. Sở dĩ món này được gọi là đậu khèo là do tiếng reo của chảo mỡ đậu khi đổ nước mắm vào, là cách gần như đổ đậu hột vào chảo để nướng đậu. Món đậu khèo này nhậu với bia thì thật tuyệt. 6.7 Bò xào lá dang Thịt bò tươi thái mỏng ướp gia vị. Lá dang non xắt thành sợi nhuyễn. Sau khi xào thịt bò cho săn lại thì bắt đầu bỏ lá dang vào. Xào thêm chút nữa và chú ý không nên để quá lâu nhằm tránh cho lá dang bị nhừ. Nêm nếm cho vừa ăn. Rắc thêm một ít tiêu xay nhuyễn. Vị chua của lá dang kết hợp với vị thơm ngọt của thịt bò và cay nồng của tiêu sẽ tạo nên một vị thơm rất đặc trưng. 6.8 Bánh tét Bánh tét, tương truyền chính là bánh "Tết" vì được làm và ăn vào những ngày Tết. Trong miền Nam, ngày Tết không thể không có bánh tét, như ngoài Bắc không thể thiếu bánh chưng vậy. Về cơ bản, bánh tét ở các vùng đều giống nhau, đều được làm từ nếp và gói bằng lá chuối rồi đem đi nấu chín. Nhưng mỗi vùng đều có những đặc điểm riêng do sản vật, hoa trái ở mỗi vùng khác nhau. Ngày nay, bánh tét phong phú, muôn hình muôn vẻ. Cũng nếp cái, cũng thịt mỡ, đậu xanh nhưng mỗi nơi bánh tét đều ít nhiều mang những hương vị riêng của từng vùng đất. Tại Bình Dương, nhân hạt điều được trộn thêm vào nếp nên khi thưởng thức, ngoài cái dẻo thơm của nếp, người ăn còn cảm nhận được vị bùi của nhân hạt điều. Ngoài ra, một số mẹ, một số chị em còn khéo léo trộn một lượng tôm khô vừa đủ vào nếp để khi ăn vào, chúng ta còn thưởng thức được vị mằn mặn, đậm đà của con tôm khô. Để bánh tét được ngon thì nếp phải được vo thật sạch, để cho ráo hết nước, đậu xanh phải cà vỡ đôi, đãi sạch hết vỏ. Thịt mỡ cắt miếng dài, vuông góc ướp với muối, đường, hành một đêm trước khi gói để gia vị có đủ thời gian thấm vào mỡ, giữ cho mỡ được cứng. Khi gói phải vỗ đều tay cho nếp chặt lại để cho đòn bánh được thẳng đẹp; nhưng chú ý cũng không được gói quá chặt vì làm bánh khó chín. Bánh được gói bằng lá chuối; tại một số nơi trong tỉnh, người ta còn gói thêm bên ngoài bằng một lớp lá dứa (loại dứa gai có lá to mọc nhiều theo bờ suối) làm cho các đường nét của đòn bánh trở nên vuông vức, đẹp mắt và trông thật trang trọng trong những ngày Tết. Ngoài nhân mặn, bánh tét còn có thể chế biến với nhân ngọt bằng đậu xanh trộn với đường, dừa nạo hoặc chuối sứ. Loại này thường dùng cho người ăn chay. Khi ăn, phải cắt bánh tét bằng chính sợi dây chuối hoặc dây lạt buộc nó thành từng khoanh thì ăn mới ngon và đúng điệu. Ngày Tết, tét bánh tét thành từng khoanh bày ra đĩa, dọn lên bàn với thịt kho, trứng vịt, hành, kiệu để đãi khách thì thật là quý. 6.9 Bánh bò bông Để làm bánh bò bông, người ta lấy gạo vo sạch, rắc một chút muối trộn đều, "gút" sạch, ngâm mước một đêm cho mềm hạt gạo. Sáng hôm sau dùng đường cát trắng để tạo cho ổ bánh trắng như bông và dùng men cơm rượu bóp nát trộn vào gạo đã ngâm rồi đem xay nhyễn. Bột gạo phải được xay ba lần mới đạt tiêu chuẩn mịn và bánh mới được ngon. 78
  • 79.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Bột xay xong, lấy vải mỏng lọc thật kỹ rồi đậy kín ủ đúng một buổi đợi khi thấy có bọt khí nổi đều thì bỏ vào nồi hấp. Bánh thành phẩm đạt yêu cầu chất lượng là thứ bánh trên nở trắng như bông, trong thân bánh có "rễ tre", khi ăn vào thì cảm nhận được vị ngọt và hương thơm của bánh. Ngày nay, thay vì đùng men rượu để tạo độ nở, người làm bánh đã có bột nở calument hay veceno là hai chất làm cho bánh xốp nở đều và mau hơn. Thế nhưng, những người ngại dùng các chất hoá học thì vẫn cứ thích bánh bò đổ bằng men rượu hơn vì bánh bò dùng men cơm rượu ủ dậy tự nhiên có mùi dễ chịu hơn bánh bò dùng bột nở mặc dù trông nó phổng phao xốp nhẹ và có vẻ to trắng đẹp hơn. 6.10 Cải mả - thủ lợn, đặc sản Bình Dương Thủ lợn sau khi đã luộc chín còn nóng hôi hổi, được phạt làm đôi, đặt lên đĩa và chờ khách gọi. Khách đến quán gần như ai cũng hô câu: "Cho cải mả đi bà chủ". Thế là nhanh thoăn thoắt những cái bán thủ heo kia được bưng ra bốc hơi nghi ngút. Nhìn cái đầu lợn nằm ngoan ngoãn trong đĩa, mồm ngoạc ra vẫn còn nguyên răng lợi, có con thì con ngươi còn mở trừng trừng, có con mắt lại ti hí. Càng ăn, thịt càng cạn, xương chơ ra, thế là người ta phải đưa dĩa vào sâu hơn trong não để ngoáy, để ghè, để moi những miếng óc cuối cùng. Lúc đó thật sự như là những bác bốc mộ thuê với cuốc, thuổng, xẻng trong tay. Có lẽ cái tên của món ăn ra đời từ đấy. Ăn kèm chỉ có bát nước chấm pha chế từ nước mắm với nước trắng cho nhạt bớt và cút rượu để đưa mồi. 6.11 Bánh bèo bì chợ Búng Bánh bèo chợ Búng ở Bình Dương ngon đặc biệt nhờ có bì heo ram với nước dừa. Bánh màu trắng, ăn kèm với đồ chua và rau sống rất ngon miệng. Khác với các loại bánh bèo khác, bánh bèo bì chợ Búng được làm từ loại gạo đỏ đặc sản. Muốn đổ bánh bèo thật ngon phải quấy cho nhuyễn tới khi các hạt gạo tan thành bột đặc quánh trong nồi. Quấy được nồi bột với nước cốt dừa ưng ý xong mới đổ vào khuôn bánh bèo rồi đem hấp chín. Công đoạn tiếp theo là đãi đỗ xanh ninh làm nhân phết trên mặt bánh. Bánh bèo ngon phụ thuộc vào bì và nước chấm. Bì là hỗn hợp thịt heo xắt mỏng, thêm gia vị là tỏi và bột canh. Thịt heo phải lựa thịt đùi ngon bọc da chung quanh, ram gần vàng. Nước dừa cho vào nồi để lửa riu riu cho nước dừa ngấm vào thịt mới thơm. Kế tiếp là nước mắm, gia vị tưới lên bánh bèo, bún bì hoặc là nước chấm cho món bì cuốn. Khi ăn, sắp bánh bèo vào đĩa kèm thêm dưa chua hoặc kiệu muối, rau thơm, giá, rắc đậu phộng giã nhuyễn rồi chan nước mắm vô. Ngày nay, bánh bèo gắn liền với địa danh chợ Búng bởi nơi đây đã làm nên thương hiệu cho bánh bèo bì đất Bình Dương. Từ bánh bèo, dưới bàn tay pha chế và óc sáng tạo, các nghệ nhân nấu ăn đã sáng tạo thêm hai món mới từ bì, góp phần làm cho bữa tiệc bánh bèo thêm phong phú: bì cuốn và bún bì. Đến Bình Dương bạn có thể ghé vào hai quán Mỹ Liên nằm sát quốc lộ 13, gần ngã ba Cầu Cống, hay quán Ngọc Hương trước cửa chợ Búng. Có thể nói, khi nhìn hàng nghìn chiếc bánh trắng phau phau nằm trên đĩa và hàng rổ bì thái đều tăm tắp, sợi nào cũng giống sợi nào, khiến ai từng nhìn thấy cũng muốn được thưởng thức hương vị của nó. 6.12 Gà quay xôi phồng Gà quay thường ăn chung với bánh bao, xôi đậu xanh, nhưng ở nhà hàng nổi Bình Dương, món gà quay được ăn kèm với xôi phồng. Xôi có nhiều loại: xôi đậu đen, đậu xanh, đậu phộng, xôi gấc, xôi cúc. Vật liệu chính để tạo xôi là gạo nếp và tuỳ loại xôi chỉ cần gạo nếp. Một đĩa xôi phồng tròn to chiên vàng đều đặn đặt bên cạnh một đĩa gà quay chín thơm, béo, ai trông thấy cũng muốn ăn. Giá một đĩa xôi phồng chỉ từ 15 đến 20 ngàn đồng, ai qua Bình Dương đều không bỏ qua món ăn đặc sản này. 79
  • 80.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Vật liệu làm xôi được tán nhuyễn chung với dầu ăn, thêm một chút đường và đặc biệt không có bột nổi. Tuỳ theo đĩa lớn, đĩa nhỏ, đầu bếp ngắt một miếng xôi này với lượng vừa đủ rồi bỏ vào chảo dầu sôi, nấu bằng lò khè, miếng xôi bỏ vào chảo dầu được đảo tròn đều và ép sát xuống đáy chảo bằng hai cây giá bếp. Khoảng 5 phút sau, miếng sôi bắt đầu phồng lên, lúc này hai tay đầu bếp phải thật khéo léo, nếu không phồng xôi sẽ bị méo, bể, hoặc xôi không ly tâm ra ngoài vỏ đều được, bị dồn cục giữa phồng xôi. Xôi chín vàng không đều hoặc bị cháy là không đạt chất lượng. Thời gian chiên phồng từ 10 đến 15 phút. 6.13 Món bún riêu lưỡi Du khách đến Bình Dương thường phải mềm lòng trước những vườn trái cây trĩu quả của vùng đất Lái Thiêu hay món bánh bèo bì chợ Búng trứ danh, đó là chưa kể đến món cháo gỏi vịt Cu Chì từng khiến nhiều cư dân Sài Gòn lặn lội quãng đường gần trăm cây số đến để thưởng thức. Song, đặc sản Bình Dương vẫn còn những góc khác, bình dân và lạ lẫm, cũng đáng để thử đôi lần khi đặt chân đến nơi này… Quán bún không tên ấy nằm trên đường Lò Chén, phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một, chỉ bán về buổi chiều. Vậy mà bất kỳ dân sành ăn nào ở Bình Dương cũng có thể mách đường cho bạn tìm đến tận nơi. Thực khách ngồi chật trên bậc thềm cao, trên những bộ bàn ghế nhựa thấp. Người phục vụ mang đến một khay nhựa có chén ớt đầy, tô mắm tôm đặc lềnh cùng đĩa chanh tươi xanh. Trong khi chờ đợi tô bún được mang đến (khoảng mười phút), khách chậm rãi lấy cái chén múc mắm tôm, thêm muỗng ớt rồi vắt chanh, dùng thìa nhỏ đánh đều. Chén mắm tôm có thêm vị chanh chua liền nổi bọt và dậy mùi thơm, đầy kích thích vị giác. Trên quầy hàng, những cái lưỡi heo cuộn tròn được chế biến theo kiểu thịt xíu sắp đầy trên một cái mâm. Lưỡi heo chỉ được cắt trước khi sắp vào tô thành từng miếng dày, nhìn đúng kiểu “chén to kho mặn”, cắn ngập răng! Khách có thể kêu tô bún riêu riêng và một đĩa lưỡi riêng, hay cũng có thể cho hết mọi thứ vào một tô tùy thích. Khởi động bằng cách gắp miếng lưỡi, chấm mắm tôm chanh. Miếng lưỡi mềm, dẻo lẫn chút dai dai. Nhai để tận hưởng vị ngọt của lưỡi heo cộng thêm vị mặn, cay, chua đặc trưng của mắm tôm! Sau khi “lấy đà” thì đến phần khám phá tô bún tuy vẫn mang hương vị riêu bình thường, nhưng như là bản hòa ca của vị ngọt từ hỗn hợp thịt, xương, lưỡi, đậu hũ và cả cách nêm nếm như một bí quyết riêng của nhà hàng. 6.14 Đặc sản dê núi Anh Đức Y học cổ truyền Việt Nam đã công nhận lợi ích và tác dụng của thịt dê đối với sức khỏe con người, vì vậy quán ăn Đặc sản Dê Núi Anh Đức ra đời nhằm phục vụ cho nhu cầu ẩm thực và sức khỏe cho người dân tại địa phương. Yếu tố quan trọng tạo nên uy tín của quán trong nhiều năm nay chính là đặc sản Dê Núi chính hiệu, tươi ngon, đảm bảo không pha trộn với các loại thịt khác. “Thức ăn ngon - Vị thuốc quý” là câu nói mà người dân thường dùng khi nhắc đến thịt Dê bởi lẻ hầu hết các bộ phận cuả Dê như : thịt, xương, nội tạng.. đều có thể làm thuốc chữa bệnh: - Thịt Dê (dương nhục) : Vị ngọt. tính ấm có công dụng bổ huyết, ích khí, ôn tung, noãn thận. Dùng chữa các chứng thiếu máu, gầy yếu, suy nhược cơ thể, chán ăn, đau bụng do hư hàn hoặc suy giãm khả năng tình dục. - Xương Dê (dương cốt): Vị ngọt, tính ấm có công dụng bổ thận, cường gân cốt, chữa phong thấp, gầy yếu do lao lực, đầu chông, mắt hoa, đau lưng mãn tính. 80
  • 81.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị - Tinh hoàn Dê (dương thạch tửu): Vị ngọt, mặn. có tính bình, công dụng bổ thận, tráng dương, ích tích chữa đau lưng do thận hư, di tinh, liệt dương, khí hư, sa đì, tiểu đường.. - Thận Dê (dương thận): Vị ngọt, tính bình có công dụng bổ thận khí, chữa liệt dương, xuất tinh sớm,gầy ốm, suy nhược, gầy yếu, hậu sản.. - Gan Dê (dương gan): Vị ngọt, tính bình có công dụng bổ huyết, ích gan, làm sáng mắt, chữa đau đầu, chóng mặt, mắt đỏ.. - Tiết Dê (dương huyết): Vị mặn. tính bình, công dụng chữa thổ huyết, xuấ huyết, chảy máu cam, cầm máu vết thương. Với thực đơn phong phú, đa dạng sẽ cho khách có nhiều lựa chọn như: Ngọc Dương tiềm, Ngọc Dương nấu cháo, Ngọc Dương hấp tiết canh Dê, cari Dê, Dê nướng mọi, Dê nướng mẻ, sườn Dê nướng, Dê né bơ….thưởng thức món ăn từ thịt Dê và nhấm nháp vài ly rượu thuốc cổ truyền do quán tự pha chế, thực khách sẽ cảm nhận được những nét tinh túy nhất của ẩm thực Viêt Nam. Quán đặc sản dê núi Anh Đức còn là địa chỉ thư giãn lý tưởng của thực khách. Với không gian rộng, gồm ba khoảng riêng biệt. Không gian sân vườn với nhiều cây xanh, các bàn ăn được bày trí dưới bóng cây xanh mát, hòa mình giữa thiên nhiên với gió mát, nắng vàng, có bãi để xe hơi rộng rãi là nơi thích hợp cho những buổi họp mặt thân mật hay gặp gỡ bạn bè. Kết hợp với đội ngũ đầu bếp có tay nghề cao, nhiều năm kinh nghiệm, đội ngũ nhân viên phục vụ lịch sự, nhiệt tình, chu đáo… đặc sản dê núi Anh Đức là điểm đến lý tưởng cho những thực khách sành ăn 6.15 Hạt điều Hạt điều lâu nay vốn được xem là một trong những món ngon ngày tết không chỉ bởi vị béo, thơm ngon, giòn rụm mà còn bởi những dưỡng chất cần thiết cho cơ thể có chứa trong hạt. Hạt điều được sử dụng nhiều nhất là để rang, tẩm muối hay trộn với đường mạch nha, kẹp giữa 2 lớp bánh tráng giòn xốp, dùng để ăn khi nhâm nhi chén trà nóng. Được lấy từ hột của quả điều, đem phơi nắng nhạt rồi tiếp tục hong khô trước khi đưa vào chế biến, hạt điều Bà Tám Bình Dương có hương thơm đặc trưng, vị ngọt, bùi… sẽ là món ăn chơi thú vị mà người lớn, trẻ con đều ưa thích. Thương hiệu Bà Tám Bình Dương nổi tiếng trên thị trường hơn 20 năm nay, với giá cả rất kinh tế , chất lượng, mẫu mã vượt trội so với các chủng loại hạt điều hiện nay trên thị trường - Sử dụng nhân điều nguyên hạt cấp hạng cao (W320), tỷ lệ hạt nguyên 90%, được vệ sinh tuyệt đối (không có bụi bặm). Điểm nổi bật của hạt điều Bà Tám Bình Dương là 100% được chọn lựa kỹ. Hạt to, tròn đều, chắc, không bị vỡ, không xốp. Hạt điều được rang thủ công nhằm giữ lại những vị ngon nhất với quy trình sản xuất và chất lượng được kiểm soát chặt chẽ. Khi rang lên, hạt điều có hương vị thơm ngon, ngọt, bùi, rất quyến rũ. Thành phần dinh dưỡng: Hạt điều có 35-46% dầu; 5,25% protein; nhiều Vitamin B1, B2, B3, vitamin C, kali… Sản phẩm được sản xuất bằng máy móc thiết bị hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu và an toàn vệ sinh thực phẩm, mang lại sức khoẻ cho người sử dụng. Sản phẩm sản xuất bằng công nghệ hấp hơi nước giúp sản phẩm giữ được chất lượng và hương vị tự nhiên, không bị nhiễm dầu, sạch sẽ tuyệt đối, đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm GMP/HACCP. 6.16 Nem Lái Thiêu 81
  • 82.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Nem Lái Thiêu có vị thơm ngon, dẻo dai, vị chua nhẹ, khô mềm của thịt quyết nhuyễn khiến nem Lái Thiêu trở nên đặc biệt hơn so với các loại nem khác. 6.17 Bánh tráng Phú An Bánh tráng Phú An là đặc sản nổi tiếng của người dân An Tây, Phú An, bánh có màu trắng mền, dẻo dai tạo nên thương hiệu của vùng đất này. 6.18 Gỏi măng cụt Gỏi măng cụt: là món ăn đặc biệt, những múi măng trắng ngần ngòn ngọt, chua thanh nhẹ, dòn trộn với thịt ba chỉ, tép luộc, rau thơm, nước mắm chua ngọt,...tạo thành hương vị gỏi vừa thân quen, vừa lạ miệng. 6.19 Một số điểm ăn uống tại Bình Dương - Nhà hàng Như Ý 333 Đại lộ Bình Dương, Phú Thọ, Tx. Thủ Dầu Một - Nhà hàng Thanh Cảnh Ấp Đông, Vĩnh Phú, huyện Thuận An - Nhà hàng Ngọc Sương Biển Nhớ Đại lộ Bình Dương, Phú Hòa, Tx. Thủ Dầu Một - Nhà hàng nổi Bình Dương 50 Bạch Đằng, thị xã Thủ Dầu Một Tel: (84-650) 382 2749 - Nhà hàng Bông Sen 15 Trừ Văn Thố, Tx. Thủ Dầu Một Điện thoại:(0650)822137 - Nhà hàng Kiến Hoành 168 QL 13, Ấp Trung, Xã Vĩnh Phú, huyện Thuận An - Nhà hàng Vu Gia A54-K1 Đại lộ Bình Dương, Thị xã Thủ Dầu Một - Quán ăn gia đình Hai Thành 7 Nguyễn Chí Thanh, Hiệp An, Thị xã Thủ Dầu Một - Làng Ẩm Thực Bình Dương 9/14L Đại lộ Bình Dương, Thị Xã Thủ Dầu Một - Nhà hàng Phương Nam 15/12 Ấp Trung, Xã Vĩnh Phú, huyện Thuận An - Nhà hàng Đại Hòa Viên 11A Đại lộ Bình Dương, Thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An Tel:(0650)718789 - Nhà hàng Đại Trung Nam 4/162 ấp Hòa Lân, xã Thuận Giao, huyện Thuận An Tel:(0650)717105 82
  • 83.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị - Nhà hàng 90 Cầu Ngang 90 Hưng Lộc, xã Hưng Định, huyện Thuận An Tel: (84-650) 374 6347 - Nhà hàng Hoàn Hảo Đông Hiệp, huyện Dĩ An Tel: (84-650) 375 1520 / 375 1046 - Nhà hàng Huy Hoàng Ấp 1B, Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát Tel: (84-650) 356 2676 - Nhà hàng Ngọc Sương Biển Nhớ Đại lộ Bình Dương, Phú Hòa, Tx. Thủ Dầu Một Tel: (84-650) 382 0859 - Nhà hàng Thịnh Phát Ấp 3, Phú An, huyện Bến Cát Tel: (84-650) 356 2256 - Cà phê May 13 Ngô Quyền, Tx. Thủ Dầu Một Tel: (0650) 382 0134 - Ngân Đình Quán Đường S1, Khu công nghiệp Mỹ Phước 2, huyện Bến Cát Tel: (0650) 3553777 - Quán ăn TÂN SAKÊ Cầu Bà Cô, Xã Tương Bình Hiệp, Tx. Thủ Dầu Một Tel: (0650) 3713827 - Cà phê Roma Ngã 4 Hòa Lân, Đại lộ Bình Dương, Xã Thuận Giao, Huyện Thuận An Tel: (0650) 3716281 - 1131 Cafe 39/3 Hùng Vương, Thị Xã Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương. Tel: (0650) 3827719 - Cà phê Thùy Linh 126/3 Ngô Quyền, thị trấn Lái Thiêu, Bình Dương. Tel: (0650) 3743319/ 3759786 - Quán ăn gia đình Hai Thành 07 Nguyễn Chí Thanh, Hiệp An, Tx. Thủ Dầu Một Tel: (0650) 3887640 83
  • 84.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 13. Sản phẩm lưu niệm 7.1 Gốm sứ Minh Long I Công ty TNHH MINH LONG I Văn phòng đại diện: Minh Long Tower 17, Bà Huyện Thanh Quan, P.6, Q.3, TPHCM Tel: 08.39302634 - 39302635 Fax: 08.39302625 Web: www.minhlong.com Email: sales@minhlong.com Nhà máy: 333 Quốc lộ 13 - ấp Hưng Lộc - xã Hưng Định - Thuận An - Bình Dương Tel: 84 650 3722929 - 3724172 Fax:84 650 3724173 Showroom: Minh Sáng Plaza, 888 - Quốc lộ 13 - H.Thuận An - Bình Dương Tel: 84 650 3784576 - 3784577 Fax: 84 650 3784579 Công ty TNHH Minh Long I được nhiều biết đến không chỉ ở phạm vi khu vực châu Á mà còn lan sang cả châu Âu. Các sản phẩm gốm sứ của Minh Long sẽ tiến xa hơn nữa và chinh phục thị trường châu Mỹ trong tương lai. Minh Long được sáng lập vào năm 1970, bởi ông Lý Ngọc Minh - một nghệ nhân có niềm đam mê cháy bỏng với các sản phẩm gốm sứ. Ông Lý là thế hệ thứ 3 trong một gia đình có truyền thống làm đồ gốm sứ mỹ nghệ. Học hỏi kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất đồ gốm sứ từ những người đi trước cùng với việc không ngừng tìm tòi, học hỏi những kỹ thuật tiên tiến nhất, ông cho ra đời những sản phẩm với chất lượng cao nhất. Chính những nỗ lực đó đã làm nên tên tuổi của Minh Long ngày nay. Các thiết kế luôn tập trung vào những điều thiết yếu như việc gần gũi với thiên nhiên. Chính điều này đã mang lại sự cân bằng trong cuộc sống, đồng thời cũng là mong muốn đưa sản phẩm Minh Long đến gần hơn với mọi người, mọi nhà. Minh Long cho rằng, một thiết kế đẹp phải là một thiết kế mang lại một ấn tượng mạnh cho người đối diện và quan trọng hơn là cả chính bản thân nó phải toát lên được điều đó. Việc tạo ra những mẫu mã vừa thuận lợi trong việc sử dụng hàng ngày, vừa mang lại niềm vui, sự thích thú cho người dùng chính là mục đích lớn nhất của Minh Long. Không chỉ đem đến cho người tiêu dùng những sản phẩm mang tính mỹ thuật mà Minh Long I còn là những sản phẩm an toàn cho sức khoẻ người sử dụng. “Sản phẩm sứ chất lượng cao không chỉ: trắng, tròn, trong và mỏng, mà còn phải thoả mãn độ bền cơ học và đặc biệt là phải tuyệt đối an toàn”. Nói về những giá trị cốt lõi của Minh Long 1, cũng là tâm huyết tạo nên những sản phẩm gốm sứ vừa có kỹ thuật cao, vừa mang tính nghệ thuật, đủ sức cạnh tranh với những nền gốm sứ nổi tiếng thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp, Anh, Đức.... Ngoài kỹ thuật cao ra, các sản phẩm gốm sứ còn phải mang được chất tinh tú và phải toát lên được “hồn” Việt. Đặc tính đầu tiên mà khách hàng có thể cảm nhận ngay bằng trực quan là vẻ đẹp đẽ và sang trọng bởi sự sáng, bóng và trong trẻo trên sản phẩm sứ của Minh Long I mang lại. Sự khắt khe trong việc chọn lọc nguồn nguyên liệu thô đầu vào; sự đầu tư “mạnh mẽ” vào trang thiết bị, máy móc hiện đại và ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất để sản xuất đã cho kết quả tương xứng. Đây là đặc tính không dễ dàng tìm thấy được trên những sản phẩm cùng loại. Điều này không chỉ 84
  • 85.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị tạo sự hài lòng cho người sử dụng mà còn tăng niềm hãnh diện của người chủ sở hữu. Nếu nét bóng bẩy bên ngoài thu hút mọi người thì đặc tính bền, khó bể mẻ, trầy xướt của sản phẩm lại chinh phục được cả những khách hàng khó tính, nhất là khách hàng có kinh doanh nhà hàng. Tần suất sử dụng cao, thường xuyên va chạm nhưng không muốn sản phẩm bị mẻ hay trầy, có thể sử dụng lâu dài - mối quan tâm rất lớn của nhóm khách hàng này - đã được đáp ứng thỏa đáng khi sử dụng những sản phẩm của Minh Long I (được nung ở nhiệt độ cao 1.380o C và sử dụng những nguyên liệu tốt nhất nên rất bền, chắc). Trong những năm gần đây, Minh Long I đã ứng dụng thành công công nghệ Nano1 trong sản xuất sản phẩm, làm cho bề mặt sản phẩm trở nên láng, mịn, dễ rửa, không bám dầu mỡ. Đây có thể xem là bước đột phá lớn trong công nghệ sản xuất của Minh Long I và tin vui cho các khách hàng vì không cần sử dụng nhiều đến chất tẩy rửa, góp phần tiết kiệm chi phí. Sản phẩm của gốm sứ Minh Long I rất đa dạng về thể loại, từ cao cấp đến bình dân với những thiết kế tinh tế đến từng chi tiết. Đó là những bộ sưu tập mang phong cách châu Á quý phái, châu Âu cổ điển với một vẻ đẹp vô thời gian. Những thiết kế mang nét hoa văn và kiểu dáng đậm chất hoàng cung hay những bộ gốm sứ theo chủ đề các loài hoa (hoa sen và hoa loa kèn). Những bộ sưu tập ca từ trơn đến có hoa văn nhẹ nhàng, phong phú, mô tả cuộc sống sinh hoạt của các tộc người thiểu số, cuộc sống ở làng quê Việt Nam và những nét vẽ 12 con giáp dễ thương. Ngoài ra còn có những sản phẩm lưu niệm nho nhỏ dễ trao tặng nhau như bộ tượng các tộc người Việt Nam, bộ tượng Phúc Lộc Thọ, Tây Du Ký... 1 Công nghệ Nano: là công nghệ siêu vi hình hóa, có kích thước và dung sai trong dải từ 0,1 nm tới 100 nm, đang được nghiên cứu ở các nước phát triển và sẽ tạo ra bước nhảy vọt mới về công nghệ trong tương lai. Những sản phẩm chế tạo bằng công nghệ Nano có các đặc tính siêu việt như nhỏ hơn, nhanh hơn, bền hơn hoặc thêm nhiều đặc tính hoàn toàn mới so với các thiết bị được chế tạo trên nền tảng công nghệ hiện nay 85
  • 86.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị BÌNH PH CƯỚ  XII. V TRÍỊ Bình Phước là một tỉnh miền núi ở phía Tây của vùng Đông Nam Bộ, phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Bình Dương và phía Bắc tỉnh Đắk Lắk và Campuchia. Ngày 20/02/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 17/2003/NĐ - CP về việc thành lập các huyện Chơn Thành, Bu Đông, thuộc tỉnh Bình Phước. Như vậy, hiện nay tỉnh Bình Phước có 8 huyện, thị xã. Diện tích: 6.874,62 km2 (2007) Dân số: 874.961 người (2009) XIII. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử Dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, Bình Phước thuộc trấn Biên Hoà. Đến giữa thế kỉ XIX, sau khi đặt ách đô hộ tại lục tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp đã chia Nam Kỳ thành bốn khu vực: Sài Gòn, Mỹ Tho,Vĩnh Long, Bắt Xắc. Bình Phước thuộc khu vực Sài Gòn, trong đó vùng đất phía Đông thuộc tiểu khu Biên Hoà, vùng đất phía Tây Nam và phía Nam thuộc tiểu khu Thủ Dầu Một. Năm 1889, thực dân Pháp đổi các tiểu khu thành các tỉnh, Bình Phước thuộc địa phận tỉnh Biên Hoà và Thủ Dầu Một, tồn tại cho đến sau Hiệp định Geneve 1954 mà không có sự thay đổi nào đáng kể. Từ năm 1956, chính quyền Sài Gòn thiết lập một số tỉnh mới ở miền Nam. Trong đó, có hai tỉnh Bình Long và Phước Long là tiền thân của tỉnh Bình Phước ngày nay. Ngày 30-01-1971, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập Phân khu Bình Phước. Cuối 1972, Phân khu Bình Phước giải thể, tỉnh Bình Phước chính thức được thành lập. XIV. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ 12. Địa hình Địa hình vùng lãnh thổ Bình Phước là cao nguyên ở phía Bắc và Đông Bắc, dạng địa hình đồi núi, thấp dần về phía Tây và Tây Nam. Bình Phước là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Nam Bộ. Ở vào vị trí tiếp giáp giữa đồng bằng và cao nguyên, phía Bắc và Tây Bắc giáp Cam-pu-chia, phía Đông giáp các tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng, phía Nam giáp các tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, phía Tây giáp Tây Ninh. Đây là tỉnh có nhiều rừng. Ở Đông Bắc có ngọn núi Bà Rá cao 733m và dãy núi thấp quanh Lộc Ninh, còn lại là rừng bạt ngàn. Rừng rậm nhưng đất khá bằng phẳng. Phần lớn là đất đỏ nên trồng cây công nghiệp rất tốt. Bình Phước là nơi có nhiều rừng cao su lớn, vườn cây cà phê, điều, tiêu... Tỉnh có hai con sông chảy từ bắc xuống nam: phía Tây là sông Sài Gòn, phân giới giữa tỉnh Bình Phước và Tây Ninh; giữa tỉnh là Sông Bé, có các nguồn từ phía bắc, đoạn dưới đi vào đất Biên Hoà, đổ vào sông Đồng Nai. 13. Khí hậu Tỉnh Bình Phước nằm trong vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. - Sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng không lớn, song chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm thì khá lớn, khoảng 7 đến 9o C nhất là vào các tháng mùa khô. Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 3,4,5 (từ 37 - 37,2o C) và thấp nhất vào tháng 12 là 19o C. 86
  • 87.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị - Nằm trong vùng dồi dào nắng. Tổng số giờ nắng trong năm từ 2400 - 2500 giờ. Số giờ nắng bình quân trong ngày từ 6,2 - 6,6 giờ. Thời gian nắng nhiều nhất vào tháng 1,2,3,4 và thời gian ít nắng nhất vào tháng 7,8,9. - Lượng mưa bình quân hàng năm biến động từ 2045 - 2325 mm. Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 - 11, chiếm 85 - 90% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa lớn nhất 376mm (tháng 7). Mùa khô từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 5 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10 - 15% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 2,3. - Lượng bốc hơi hàng năm khá cao từ 1113 - 1447mm. Thời gian kéo dài quá trình bốc hơi lớn nhất vào tháng 2,3,4. - Do chế độ mưa theo mùa nên biên độ giao động về độ ẩm không khí giữa mùa mưa và mùa khô khá lớn. Độ ẩm trung bình hàng năm từ 80,8 - 81,4%. Bình quân năm thấp nhất là 45,6 - 53,2%, tháng có độ ẩm cao nhất là 88,2%, tháng có độ ẩm thấp nhất là 16%. Do biên độ mưa theo mùa và Bình Phước có hai mùa rõ rệt nên thời gian đi du lịch thích hợp nhất trong năm vào khoảng tháng 6 - 11 vì lúc này thời tiết tương đối mát mẻ không rơi vào tháng nóng nhất hay tháng có nhiệt độ thấp nhất thích hợp đi du lịch cũng như nằm trong tháng vui chơi nghỉ ngơi của hầu hết du khách. Tuy nhiên lại thường có những trận mưa nhưng lượng mưa không lớn lắm nên không ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động du lịch. 14. Thủy văn Tỉnh có hai con sông chảy từ bắc xuống nam: phía Tây là sông Sài Gòn, phân giới giữa tỉnh Bình Phước và Tây Ninh; giữa tỉnh là Sông Bé, có các nguồn từ phía bắc, đoạn dưới đi vào đất Biên Hoà, đổ vào sông Đồng Nai. - Nguồn nước mặt: có hệ thống sông suối tương đối nhiều với mật độ 0,7 - 0,8 km/km2, bao gồm sông Sài Gòn, Sông Bé, sông Đồng Nai, sông Măng và nhiều suối lớn. Ngoài ra còn có một số hồ, đập như hồ Suối Lam, hồ Suối Cam, đập nước thuỷ điện Thác Mơ (dung tích 1,47 tỷ m3), đập thuỷ điện Cần Đơn, đập thuỷ điện Sork phú miêng,…. - Nguồn nước ngầm: các vùng thấp dọc theo các con sông và suối, nhất là phía Tây Nam tỉnh, nguồn nước khá phong phú có thể khai thác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. 15. Động thực vật Tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh chiếm 51,32% trong tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Trong đó đất có rừng chiếm 48,37% so diện tích đất lâm nghiệp và bằng 24,82% diện tích tự nhiên của tỉnh. Ngoài ra còn có các loại cây công nghiệp có giá trị cao như cao su, điều, cà phê, tiêu và một số cây trồng hàng năm như bắp, mì, đậu đỗ,…. Hệ động vật tỉnh Bình Phước cũng đa dạng phong phú với nhiều loại hươu, nai,… và các loại động vật được ghi trong sách đỏ Việt Nam như gấu chó, báo gấm, sói lửa, bò tót, bò rừng, gấu ngựa, voi, chà và chân đen,… ở vườn quốc gia Bù Gia Mập. 16. Cây điều Điều là cây có khả năng chịu đựng khá cao với các điều kiện bất lợi: Nóng, gió, khô hạn. Với bộ rễ khỏe, lá dày, điều có thể sống trên các vùng đất xấu như: Đất đá ong, đất xám bạc màu, đất phèn mặn, khô hạn, cồn cát và bãi cát ven biển… Tuy nhiên, để trồng điều trên những chân đất này mà cho hiệu quả cao cần có những biện pháp kỹ thuật thích hợp. 1. Chọn đất: Đất cát ven biển được chọn để trồng điều phải là vùng đất cát ổn định, thoát nước tốt, nước ngầm dưới 1m. 2. Trồng đai rừng chắn gió: Đai rừng chắn gió được trồng trước khi trồng điều 3 năm. Trồng về phía hướng gió bấc thổi vào, bằng cây phi lao có túi bầu, trồng dày khoảng cách 2m x 1m. 87
  • 88.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 3. Tạo giống cây con: Cây điều ghép được gieo trong túi bầu có kích cỡ 40cm x 25cm, đảm bảo rễ sinh trưởng phát triển bình thường trong thời kỳ ở vườn ươm và khi trồng rễ không bị tổn thương. 4. Cuốc hố, bón phân và đất lót: - Kích thước đào hố là 60cm x 60cm x 60cm, đào hố trước khi trồng 15 ngày - Mỗi hố cần bón 0,2 - 0,25m3 đất thịt để tăng cường khả năng giữ ẩm, giữ phân cho đất. - Bón từ 25-30kg phân chuồng hoai mục, 0,4 - 0,5kg Super lân, 0,1kg Kcl. Phân và đất thịt trộn đều với đất cát lấp đầy hố trước khi trồng 15 ngày. 5. Thời vụ, mật độ và khoảng cách trồng: - Tập trung trồng vào mùa mưa. - Mật độ 208 cây/ha (6m x 8m) hoặc 200 cây (10m x 5m) 6. Kỹ thuật trồng: Kỹ thuật trồng điều trên vùng đất cát ven biển cũng giống như trên các vùng đất khác những có điều cần lưu ý là khi trồng xong phải dùng que tre hoặc gỗ cắm cách gốc 25cm và dùng dây mềm buộc chung với phần thân của cây điều để khỏi đổ ngã và bị lay gốc. 7. Chăm sóc và bón phân: Trong thời gian từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau thường có gió bấc thổi mạnh nên cần che chắn để hạn chế đổ ngã chết cây. Kết hợp với 2 lần bón phân vào đầu và cuối mùa mưa, xới quanh gốc với bán kính 1,5-2m; vun nhẹ từ 10-15cm, đến năm thứ 3 về sau vun ổn định 30cm. Dùng cỏ khô, cành lá, rơm rạ tủ gốc cho cây nhằm giúp đất tơi xốp, hạn chế rửa trôi và cỏ dại. Trong 3 năm đầu sau trồng, vào mùa khô cần định kỳ từ 5-7 ngày tưới nước cho cây. Bón phân: - Phân vô cơ: Năm thứ 1 : 150g Urê + 200g Super lân + 50g Kali. Năm thứ 2 : 300g Urê + 250g Super lân + 80g Kali. Năm thứ 3 : 500g Urê + 300g Super lân + 120g Kali. Năm thứ 4 : 650g Urê + 600g Super lân + 160g Kali. Năm thứ 5 trở đi : 1500g Urê + 1200g Super lân + 500g Kali. - Phân hữu cơ: Từ năm thứ nhất đến năm thứ 3 sau trồng bón lượng phân chuồng từ 25-30kg/cây, năm thứ 4 trở đi bón từ 35-40kg/cây. Trong những năm đầu khi điều chưa giao tán, trồng thêm các loại cây nông nghiệp ngắn ngày: mì, lang, hành… lấy ngắn nuôi dài, đồng thời cải tạo đất giúp cây điều sinh trưởng và phát triển tốt hơn. Thường xuyên kiểm tra, phát hiện sâu bệnh và phòng chống kịp thời. * HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI - Chưa đầy 2 năm mỗi ha cho thu hoạch 300kg. Dự kiến năm thứ 5 sau trồng trở đi cho năng suất từ 2,5-3,5 tấn/ha. 88
  • 89.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị - Khi rừng khép tán sẽ phát huy tác dụng phòng hộ cố định cát, chống cát bay, giữ nước, bảo vệ sản xuất nông - ngư nghiệp và đời sống nhân dân. - Rừng phát triển sẽ góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, đa dạng về mặt sinh học, tạo môi trường xanh - sạch - đẹp 17. Giao thông Đường bộ chính là đường 13, từ thành phố Hồ Chí Minh đi Lái Thiêu - Thủ Dầu Một - Bến Cát (Bình Dương) rồi Chơn Thành - An Lộc - Lộc Ninh và rẽ phía tây 15km đến cửa khẩu biên giới Hoa Lư. Đường 14 từ ngã tư Chơn Thành đi thị xã Đồng Xoài, rồi lên tiếp Đắk Nông - Đắk Lắk - Gia Lai - Kon Tum - Đà Nẵng. Thị xã Đồng Xoài cách thành phố Hồ Chí Minh 128km. XV. IV. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN Dân c toàn t nh có t ng s là 835,3 nghìn ng i, trong đó dân s nông thôn chi m đa sư ỉ ổ ố ườ ố ế ố 83,9%, dân s thành th ch chi m 16,1%, m t đ dân s trung bình: 122 ng i/kmố ị ỉ ế ậ ộ ố ườ 2 . Dân c t pư ậ trung cao nh t th xã Đ ng Xoài, huy n Bình Long v i m t đ l n l t là 363 ng i/kmấ ở ị ồ ệ ớ ậ ộ ầ ượ ườ 2 , 185 ng i/kmườ 2 , dân c huy n Bù Đăng th a th t nh t 73 ng i/kmư ệ ư ớ ấ ườ 2 . Bình Ph c có 41 dân t c đang sinh s ng, ch y u là ng i Vi t, Stiêng, Khmer, Nùng,ướ ộ ố ủ ế ườ ệ Tày. Trên đ a bàn t nh có 06 tôn giáo l n ho t đ ng g m: Ph t giáo, Công giáo, Tin lành, Caoị ỉ ớ ạ ộ ồ ậ đài, H i giáo và Ph t giáo Hoà h o v i t ng s 189.605 tín đ , chi m t l h n 23% dân s .ồ ậ ả ớ ổ ố ồ ế ỷ ệ ơ ố 14. Lễ hội L h i Bà Rá:ễ ộ Mi u Bà Rá đ c d ng năm 1943, và đ n năm 1958 đ c d i đ n n i to l c hi n nayế ượ ự ế ượ ờ ế ơ ở ạ ạ ệ và đ c g i là “Mi u Bà”, thu c xã S n Giang, huy n Ph c Long.ượ ọ ế ộ ơ ệ ướ Theo l i c a nhân dân đ a ph ng, mi u đ c xây d ng đ t ng nh các tù chính tr bờ ủ ị ươ ế ượ ự ể ưở ớ ị ị chôn s ng g c cây c y hi n nay, mi u do nh ng tù nhân chính tr nhà tù Bà Rá bí m t xâyố ở ố ầ ệ ế ữ ị ở ậ d ng và làm bài v th t ng tr ng có ghi 4 ch Hán Chúa x n ng n ng” nh m che m t b nự ị ờ ượ ư ữ ứ ươ ươ ằ ắ ọ tay sai nên đ t tên là mi u Bà đ cho b n th c dân công nh n ngôi mi u này.ặ ế ể ọ ự ậ ế Năm 1956 - 1957 t nh Ph c Long đ c thành l p, m t s ng i dân đã ti n hành d iỉ ướ ượ ậ ộ ố ườ ế ờ mi u lên sát đ ng l (cách n i cũ 500m) đ bà con ti n đi l i th cúng và cũng t lúc này Mi uế ườ ộ ơ ể ệ ạ ờ ừ ế Bà m i có 3 b c t ng th . Mi u Bà Rá là m t công trình ki n trúc tín ng ng dân gian, n mớ ứ ượ ờ ế ộ ế ưỡ ằ trong qu n th di tích l ch s Bà Rá đã đ c B Văn hoá - Th thao và Du l ch công nh n mang ýầ ể ị ử ượ ộ ể ị ậ nghĩa l ch s quan tr ng, nó không ch là n i th cúng tín ng ng c a nhân dân mà còn là m tị ử ọ ỉ ơ ờ ưỡ ủ ộ trong nh ng ch ng tích v s xâm l c c a th c dân Pháp trên vùng đ t Ph c Long… Hàngữ ứ ề ự ượ ủ ự ấ ướ năm vào ngày mùng 1,2,3,4 tháng 3 âm l ch, đông đ o khách th p ph ng trong và ngoài t nhị ả ậ ươ ỉ hành h ng v đây đ “Vía Bà”.ươ ề ể L c u m a c a ng i Stiêng Bù L :ễ ầ ư ủ ườ ơ Hàng năm vào c mùa khô, đ u mùa m a ng i S'Tiêng Bù L t ch c làm l c u m aứ ầ ư ườ ơ ổ ứ ễ ầ ư theo t ng bon (Wăng). L c u m a là l h i r t quan tr ng, do đó công vi c chu n b ph i chuừ ễ ầ ư ễ ộ ấ ọ ệ ẩ ị ả đáo. Các v Già làng và ch làng n đ nh th i gian hành l , sau đó h p c bon đ phân công côngị ủ ấ ị ờ ễ ọ ả ể vi c c th .ệ ụ ể Đ n gi làm l , c làng t p trung đ y đ , trâu bu c ch t vào cây nêu, m i ng i đúngế ờ ễ ả ậ ầ ủ ộ ặ ọ ườ thành vòng tròn ch ng ki n nghi l . Sau khi đông đ c làng, Già làng (Bu Kuông) tuyên b lý doứ ế ễ ủ ả ố bu i l , 1 đ n 3 ng i đàn ông đ tu i trung niên c m lao ho c chà g c đ gi t trâu, Già làngổ ễ ế ườ ở ộ ổ ầ ặ ạ ể ế l y máu bôi lên c t cây nêu, dùng g o tr ng và mu i r i lên mình trâu. Sau đó ng i bên ché r uấ ộ ạ ắ ố ả ồ ượ 89
  • 90.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị c n đ cúng các v th n lúa, th n m a, th n r ng, c u cho m a thu n gió hoà đ dân làng cóầ ể ị ầ ầ ư ầ ừ ầ ư ậ ể m t mùa v năm m i b i thu, c u cho v n v t sinh sôi n y n .ộ ụ ớ ộ ầ ạ ậ ả ở Xong nghi l , m i ng i x trâu l y th t n ng, u ng r u c n và t n m c s th nh ngễ ọ ườ ẻ ấ ị ướ ố ượ ầ ậ ụ ở ị ữ màn bi u di n c ng chiêng, nh ng đi u múa cùng các ngh nhân và nam n mi n s n c c,ể ễ ồ ữ ệ ệ ữ ề ơ ướ cu c vui ti p t c cho đ n khi màn đêm buông xu ng, m i ng i s đ c già làng giáo hu n vộ ế ụ ế ố ọ ườ ẽ ượ ấ ề lu t t c và x ng s thi cho đ n sáng hôm sau.ậ ụ ướ ử ế L h i đâm trâu c a đ ng bào dân t c S’tiêngễ ộ ủ ồ ộ : L đâm trâu th hi n s huy n bí, tinh th n th ng võ, khát v ng v s c m nh và sễ ể ệ ự ề ầ ượ ọ ề ứ ạ ự th nh v ng đã đ c bi u hi n rõ nét trong t ng ph n c a l h i. Đ c bi t h n n a đ i v iị ượ ượ ể ệ ừ ầ ủ ễ ộ ặ ệ ơ ữ ố ớ ng i dân t c S’tiêng (Bình Ph c), con trâu là bi u t ng cho s th nh v ng và s c m nhườ ộ ướ ể ượ ự ị ượ ứ ạ trong c ng đ ng. Vì th trâu th ng đ c ng i đ ng bào dân t c s d ng làm v t t th n linh.ộ ồ ế ườ ượ ườ ồ ộ ử ụ ậ ế ầ Ph n H i đ c di n ra trong 2 ngày 8 - 9/3 đã quy t 10 dân t c thi u s trong t nh tham gia H iầ ộ ượ ễ ụ ộ ể ố ỉ ộ thi văn hóa th thao dân t c thi u s v i các môn thi Kéo co, b n n … Còn ph n L di n ra t ngể ộ ể ố ớ ắ ỏ ầ ễ ễ ư b ng vào đêm 9/3 v i l h i m th c, văn ngh chào m ng, tuyên d ng đoàn viên h i viênừ ớ ễ ộ ẩ ự ệ ừ ươ ộ xu t s c, đâm trâu cúng mùa lúa m i, đ t l a tr i, giao l u văn ngh gi a các tr i và các dânấ ắ ớ ố ử ạ ư ệ ữ ạ t c….ộ T t m ng lúa m i c a ng i M'nông:ế ừ ớ ủ ườ Vào đ u v thu ho ch cu i tháng 7 đ u tháng 8 âm l ch là T t l n nh t năm c a ng iầ ụ ạ ố ầ ị ế ớ ấ ủ ườ Mnông. Ng i Mnông th ng chu n b cho t t ngay t ngày đ u tra h t r i ch lúa chín. Lúa thuườ ườ ẩ ị ế ừ ầ ạ ồ ờ ho ch đ c chia làm ba: m t ph n đ ăn, m t ph n đ s m đ đ c, m t ph n dành cho trâu bòạ ượ ộ ầ ể ộ ầ ể ắ ồ ạ ộ ầ cùng nh ng con v t góp công cùng con ng i làm ra h t lúa. T t t ch c ngay t i r y, th t, r u,ữ ậ ườ ạ ế ổ ứ ạ ẫ ị ượ c m đ c bày ra đ cúng Giàng, r i m i ng i ra v tu t m t n m lúa b vào trong b g i làơ ượ ể ồ ỗ ườ ề ố ộ ắ ỏ ồ ọ "R c lúa v nhà". Khi đó h quay ra chúc ch nhà nh ng câu t t lành (nh nh ng l i chúc T tướ ề ọ ủ ữ ố ư ữ ờ ế c a ng i Vi t). Ch nhà rót r u đ m i, cám n t ng ng i, r i t t c quay qu n quanh đ ngủ ườ ệ ủ ượ ể ờ ơ ừ ườ ồ ấ ả ầ ố l a gi a sân u ng r u c n và ăn th t n ng.ử ữ ố ượ ầ ị ướ L B m :ễ ỏ ả Bình Ph c hi n có kho ng 18% dân s là ng i dân t c thi u s nh : S’tiêng, M’nông,ướ ệ ả ố ườ ộ ể ố ư Kh’mer, Hoa, Tày, Nùng… s ng r i rác t i các huy n trên đ a bàn t nh. Tuy t nh Bình Ph c thu cố ả ạ ệ ị ỉ ỉ ướ ộ khu v c Đông Nam B nh ng các dân t c thi u s sinh s ng t i Bình Ph c l i mang đ m nétự ộ ư ộ ể ố ố ạ ướ ạ ậ văn hóa c a vùng Tây Nguyên, ng i M’nông, S’tiêng… không th cúng t tiên mà th cúng theoủ ườ ờ ổ ờ tín ng ng dân gian, v n v t đ u có linh h n. H th th n m a, th n gió, th n m t tr i, th nưỡ ạ ậ ề ồ ọ ờ ầ ư ầ ầ ặ ờ ầ lúa….Đ i v i m t s dân t c, khi trong nhà có ng i qua đ i, ng i nhà đánh tr ng cái báo tinố ớ ộ ố ộ ườ ờ ườ ố cho làng, ng i trong làng đ n đ giúp tang ma. Tang l kéo dài vài ngày. Ng i ta cho r ngườ ế ể ễ ườ ằ ng i ch t s s ng m t th gi i khác, ng i s ng ph i chia gia tài cho h đ h s d ng thườ ế ẽ ố ở ộ ế ớ ườ ố ả ọ ể ọ ử ụ ở ế gi i m i. khi chôn đ u huy t m có c m m t ng tre, hàng ngày ng i nhà đem c m t i đớ ớ ở ầ ệ ộ ắ ộ ố ườ ơ ớ ổ vào ng tre ti p t cho ng i ch t. C a c i chia cho ng i ch t đ c đ r i rác xung quanh mố ế ế ườ ế ủ ả ườ ế ượ ể ả ộ nh ché, b u, chén, n i…. sau khi ng i thân qua đ i, đây là l n cu i cùng đ ti n đ a ng iư ầ ồ ườ ờ ầ ố ể ễ ư ườ ch t v th gi i bên kia và cũng là ph n quan tr ng nh t trong tang l , ng i nhà làm l b mế ề ế ớ ầ ọ ấ ễ ườ ễ ỏ ả vào mùa thu ho ch. Làm l b m ph i m trâu, bò, l n, gà…. Nhà giàu thì làm l b m s m cònạ ễ ỏ ả ả ổ ợ ễ ỏ ả ớ nhà nghèo thì ph i ch cho có đ trâu bò, gà r u… m i làm l . Ng i ch t lúc này coi nh đã điả ờ ủ ượ ớ ễ ườ ế ư đ u thai, ng i nhà khóc l n cu i. L kéo dài t 2 đ n 5 ngày, ng i dân trong làng già, tr đ uầ ườ ầ ố ễ ừ ế ườ ẻ ề ăn u ng, ca hát vui v thâu đêm quanh khu v c m m . Sau l này m c a ng i ch t đ c bố ẻ ở ự ồ ả ễ ộ ủ ườ ế ượ ỏ h n không ai trông coi n a, ng i v (ch ng) c a ng i ch t đ c quy n đi l y ch ng (v ) khác.ẳ ữ ườ ợ ồ ủ ườ ế ượ ề ấ ồ ợ H không có ngày gi cho ng i ch t.ọ ỗ ườ ế 15. Nghệ thuật truyền thống 90
  • 91.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Một trong những nét đặc trưng của văn hóa tỉnh Bình Phước là văn hóa dân tộc Stiêng, một trong những dân tộc sinh sống lâu đời trên địa bàn tỉnh với dân số chiếm 47,4% dân số. Nền văn hóa của người Stiêng Bình Phước có những nét tương đồng với những dân tộc Mnông, Mạ... anh em và cả những đặc trưng văn hóa mang đậm nét riêng biệt với kho tàng làn điệu dân ca, sử thi đồ sộ. Người S’tiêng cũng như bao dân tộc sống ở vùng cao, cuộc sống của họ sớm gắn bó với rừng, khai thác rừng và đất rừng để duy trì cuộc sống và sự phát triển của mình. Do ảnh hưởng của tập quán du canh du cư, hoạt động sản xuất của người S’tiêngchủ yếu dựa vào tự nhiên là chính và mang đậm tính cộng đồng dưới sự điều hành của một người có uy tín gọi là già làng, cùng nhau khai thác một vùng đất rừng, cùng tiến hành gieo trồng vào các thời gian như nhau, cùng giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, săn bắn, hái lượm... (khi săn bắt được thú rừng thì chia đều cho tất cả các thành viên trong cộng đồng…). Họ tự sản xuất ra các công cụ, dụng cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp chủ yếu (như: rìu, cuốc, sà gác, lưỡi hái…), những vật dụng sinh hoạt thường nhật (như: gùi, xá, dệt vải thổ cẩm...). Hiện nay, trong cộng đồng người S’tiêng còn lưu giữ, kể cho nhau nghe rất nhiều truyện cổ tích, đặc biệt là loại truyện kể có liên quan đến địa danh và rất nhiều câu truyện kể, thơ, ca khúc, điệu múa, sử thi dân gian được lưu truyền cho các thế hệ theo hình thức truyền miệng. Các thể loại văn học như truyện kể, thơ ca, sử thi… mang tính nhân văn, triết lý xã hội, giáo dục con người sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương ông cha đi trước và nhất là giáo dục ý thức tự tôn dân tộc, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc mình. Cồng chiêng, Kèn, Sáo của người S’tiêng chuyền tải nhiều cảm xúc tâm trạng khác nhau đến người nghe và nó được xem là yếu tố không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Stiêng, đặc biệt là đánh cồng chiêng với ngôn ngữ và sắc thái âm nhạc đặc trưng. Những món ăn đậm nét văn hóa ẩm thực truyền thống của những con người gắn bó với núi rừng như: Canh thụt, Canh bồi, Cơm ống, Rượu cần… Theo tài liệu khảo cổ học, từ những di tích, chỉ tìm được ở Đốc Chùa (Tân Uyên), thành Cổ Tròn (Bình Long) thì khả năng xuất hiện của người S'tiêng ước lượng từ 2.000 đến 5.500 năm. Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp chiếm đất của người S'tiêng để lập đồn điền cao su, đẩy người S'tiêng ngày càng lùi sâu vào vùng rừng núi phía Bắc. Về đặc điểm tộc người ngôn ngữ của người S'tiêng thuộc ngữ hệ Môn-Khmer Đông Nam Aá. Trong các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khmer ở Tây Nguyên thì người S'tiêng là nhóm cư dân có dân số đông thứ ba sau Ba Na và H'Rê. Là một dân tộc thuộc cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên, là chủ nhân lâu đời của miền đất Nam Trường Sơn, dân tộc S'tiêng có một nền văn hóa mang nhiều sắc thái chung với những người anh em Tây Nguyên nhưng cũng không thiếu những nét độc đáo, phong phú mang tính chất đặc thù bản sắc của dân tộc mình. Cư ngụ ở Nam Tây Nguyên, S'tiêng như một cánh cửa đón nhận sự giao lưu, hội nhập của văn hóa người Việt, người Khmer, người Mnông. Vì lẽ đó, những gì thuộc bản sắc Văn hóa S'tiêng rõ ràng phải có một sức sống mãnh liệt mới có thể tồn tại và phát triển được. Đứng đầu một bon (buôn, sóc) người S'tiêng là một già làng (bu kuông), sau đó là tập thể những lão làng có kinh nghiệm, có uy tín làm cố vấn, những người này bầu ra già làng. Quan hệ gia đình người S'tiêng là quan hệ phụ hệ. Luật hôn nhân S'tiêng cấm không được kết hôn trong nội tộc, do đó một cặp trai gái muốn đi tới hôn nhân thường phải nhờ già làng và hội đồng bộ lão xem xét lại gia phả, dòng họ để tránh phạm luật. Tín ngưỡng của người S'tiêng là "vạn vật hữu linh", họ quan niệm vật gì cũng có hồn, do đó họ thờ đa Thần, Thần Mặt Trời, Thần Mặt Trăng, Thần Gió, Thần Mưa, Thần Núi, Thần Sông, Thần Thác Nước.... nhưng quan trọng đối với người S'tiêng là vị thần Yang Liêng, người đã khai sáng ra vùng đất của người S'tiêng hiện nay. Bên cạnh đó là các vị thần được tôn thờ như Thần Núi Yang Yumbra (cư ngụ trên đỉnh núi Bà Rá). Thần Thác Liêng Hur, người chiến thắng các Thần Thác Nước khác trong vùng. 91
  • 92.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Cũng như nhiều dân tộc ít người khác, người S'tiêng cũng có nhiều lễ hội lễ đâm trâu với tục hiến sinh để tạ ơn và cầu xin thần linh... Đặc biệt, lễ đâm trâu của người S'tiêng có thủ tục quay đầu trâu là một hình thức vay trả, ơn nghĩa trong cộng đồng. Người S'tiêng có khá nhiều truyền thuyết, truyện kể, thơ ca dân gian nói về nguồn gốc tộc người, về sự tích lai lịch các vị Thần, về lịch sử đấu tranh và xây dựng của cộng đồng, về những sinh hoạt thường ngày, về tình yêu nam nữ... Những già làng, lão làng ở Đắck Ơ, Đắk Nhau là những người thuộc nhiều, nhớ nhiều vốn văn học này. Đáng chú ý ở cộng đồng người S'tiêng có lối hát nói, hát kể (Tâm - pơt) do một hoặc hai người cùng thể hiện, là một hình thức chuyển tải những truyền thuyết huyền thoại, sự tích hoặc tâm tư nguyện vọng của người S'tiêng đối với đồng bào mình. Người càng cao tuổi càng biết nhiều bài Tâm - pơt và hát càng hay hơn. Người S'tiêng nhánh Bù Lơ ở miền cao sinh sống trong những ngôi nhà dài nền đất, mái tranh, vách bằng tre nứa. Nhà dài của người S'tiêng thường dài khoảng 25 - 30m, mái thấp gần chạm đất và có hai cửa ra vào ở hai đầu nhà. Một số nhà dài ở vùng Đắk Ơ có đặc điểm 4 góc nhà lượn tròn chứ không vuông như nhà bình thường. Trong một nhà (Yau) thường có nhiều bếp (Nak) cho từng gia đình nhỏ. Một bon S'tiêng thường có khoảng 5 - 7 nhà dài, có bon có khoảng 2 - 3 nhà. Người S'tiêng nhánh Bù Dek thường ở nhà sàn. Nhà sàn S'tiêng Bù Dek có hai dạng: loại nhà sàn dài và nhà sàn ngắn, bé cho từng hộ gia đình. Ơở Bình Long còn một số nhà sàn cổ theo truyền thống S'tiêng: cột lớn, vách nhà nghiên loe ra ở phía trên. Hiện nay nhánh Bù Lơ, nhà nền đất, (nhà trệt) ngắn, nhỏ cho từng hộ gia đình đã xuất hiện nhiều xen lẫn với nhà dài. Ơở nhánh Bù Dek, nhà nền đất cũng được xây dựng xen lẫn với nhà sàn. Người S'tiêng cũng có những tượng nhà mồ và một chạm khắc trên cây nêu, trên các hình tượng trên bàn thờ hoặc các vật dụng trang trí trong nhà, các công cụ lao động sản xuất. Trước đây người S'tiêng nổi tiếng với nghề thợ rèn đạt trình độ khá cao, nhiều công cụ, vật dụng tinh xảo đã được các nghệ nhân S'tiêng chế tác. Bên cạnh đó, nghề dệt và nhuộm vải bằng vỏ cây rừng cũng là một nghề phát triển trong cộng đồng người S'tiêng. Chính qua những hoa văn, màu sắc, kiểu dáng trên khố váy, khăn, người S'tiêng chứng tỏ khả năng tạo hình của mình. Ngoài ra còn có những hoa văn trang trí trên những chiếc gùi, trên những vật dụng đan lát, những hình vẽ trang trí trên cồng chiêng, trên cây nêu... (Mới đây trong Liên hoan văn hóa các dân tộc toàn quốc tổ chức tại Hà Nội, 1996, một già làng S'tiêng - ông Điểu Đố - đã được tặng Huy chương vàng cho người có trang phục dân tộc đẹp nhất). Người S'tiêng bản tính đôn hậu trầm lắng và rất yêu ca hát. Trong vốn âm nhạc cổ truyền của đồng bào S'tiêng, nghệ thuật cồng chiêng nổi lên như một viên ngọc sáng. Cũng như c khác trên dọc dãy Trường Sơn, cồng chiêng đã gắn bó với cộng đồng người S'tiêng như máu thịt, nó đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh vật chất, sức mạnh tinh thần của đồng bào. Nghệ thuật cồng chiêng S'tiêng mang nhiều nét chung của cồng chiêng Tây Nguyên và cũng có rất nhiều yếu tố độc đáo mang tính đặc thù của dân tộc mình. Nó đã tự khẳng định được một chỗ đứng vững chắc, một giá trị đáng tự hào trong đại gia đình cồng chiêng Việt Nam. Bên cạnh cồng chiêng, âm nhạc cổ truyền S'tiêng còn có một khối lượng dân ca phong phú và đa dạng. Người S'tiêng có lối hát kể (Tâm - pơt), có thể loại tình ca (Nao - lan), trường ca (O- Kroong), có hát ru, có đồng dao và nhiều bài sinh hoạt khác. Nói đến âm nhạc của người S'tiêng, không thể không nhắc đến các nhạc cụ dân gian và các bài bản dân nhạc. Người S'tiêng biết chế tác và sử dụng nhiều thức nhạc cụ như kèn M'buốt, Sáo Tơ lết, Sáo U-Kooc-le, Sáo Pia, Sáo N'hôm, kèn Nung biên, đàn Đình - put và một số loại trống. Những nhạc cụ trên có khi được biểu diễn đệm cho hát, có khi diễn tấu những bản nhạc ngắn. Dân 92
  • 93.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị nhạc S'tiêng là những bài bản ngắn, gọn, đơn giản, thường thể hiện mô phỏng tiếng suối, tiếng gió, tiếng con chim, con sóc, những hiện tượng tự nhiên gần gũi với cuộc sống của đồng bào. Về nghệ thuật múa, người S'tiêng có điệu múa trong lễ hiến sinh. Trong cúng con Bà Bóng (Mê Prak), những động tác, đội hình mang tính chất múa như khi biểu diễn cồng chiêng đi diễn vòng... Ngoài ra, ở một số nơi sống gần gũi hoặc đan xen với người Khmer, lớp trẻ tiếp nhận ở người Khmer điệu múa Lâm thôn.... 16. Danh thắng và các công trình kiến trúc Bình Phước có nhiều di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ lâu đời và rất nhiều các danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Đặc biệt, con người nơi đây rất hiếu khách và nhân hậu. Tất cả những nét đó tạo nên một Bình Phước vừa thơ mộng vừa cổ kính lại đa dạng về bản sắc văn hóa. Bình phước mong muốn được đón chào các nhà đầu tư và du khách đến tìm hiểu và khám phá tiềm năng kinh tế du lịch. Từ lâu Bình Phước đã được nhiều người biết đến là một vùng đất có nền văn hóa tiền sử lâu đời. Nhiều di chỉ khảo cổ đã được phát hiện và nghiên cứu có niên đại cách đây 2.000 năm như: đàn đá, thành đất cổ, các công cụ bằng đá, gốm thuộc nền văn minh thời kì tiền sử. Bên cạnh đó, tỉnh còn có nhiều di tích lịch sử của trung ương gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc như: Phú Riềng với phong trào đấu tranh của công nhân cao su Phú Riềng trong kháng chiến chống Pháp; Nhà tù Bà Rá vùng rừng thiêng nước độc mà thực dân Pháp giam cầm những chiến sỹ cách mạng yêu nước Việt Nam; Khu căn cứ quân ủy bộ tư lệnh của các lực lượng vũ trang của Miền Nam Việt Nam; Sóc Bom Bo với hình ảnh đồng bào dân tộc S'tiêng ngày đêm giã gạo nuôi quân đánh giặc... và biết bao địa danh đã che chở cho cán bộ chiến sỹ ta trong hai cuộc chiến chống ngoại xâm. Ngoài những di tích in đậm dấu ấn lịch sử đó, Bình Phước còn là nơi có nhiều cảnh quan tự nhiên đang dấu mình trong các khu rừng bạt ngàn như thác Mơ, Hồ Sóc Xiêm, Núi Bà Rá, khu di tích suối Lam, rừng nguyên sinh Bù Gia Mập, vườn quốc gia Cát Tiên... 1. Núi Bà Rá Vị trí: Núi Bà Rá thuộc thị trấn Thác Mơ, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước, cách Tp. Hồ Chí Minh 180km. Đặc điểm: Núi Bà Rá cao 723m, là một địa danh gắn liền với cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào Phước Long. Nơi đây đã xây dựng một nhà bia rất trang trọng để tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong khu vực Bà Rá. Giữa một vùng đồi thấp nhô lên một ngọn núi cao, cây cối xanh tươi, rậm rạp, tạo cho núi Bà Rá một vẻ hùng vĩ (như núi Bà Ðen của Tây Ninh). Ðứng trên lưng chừng núi có thể nhìn thấy cả một khu vực rộng lớn, bao gồm thị trấn Thác Mơ xinh đẹp (trước đây là tỉnh lỵ của tỉnh Phước Long), hồ Thác Mơ mà trong mùa mưa rộng tới 12.000ha, cung cấp nước cho nhà máy thuỷ điện Thác Mơ. Dưới chân núi, bên cạnh thị trấn Thác Mơ là di tích của nhà tù Bà Rá, nơi giam cầm nhiều chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Xung quanh khu vực Bà Rá còn có nhiều điểm tham quan lý thú khác. 2. Khu du l ch h Su i Lamị ồ ố Vị trí: Khu du lịch Suối Lam thuộc địa phận xã Thuận Lợi, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, cách thị xã Ðồng Xoài khoảng 13km. Đặc điểm: Nơi đây có một hồ nước quanh năm trong xanh, in bóng những rừng cây cao su tươi tốt xung quanh. Từ thành phố Hồ Chí Minh đến thị xã Đồng Xoài, rẽ trái theo tỉnh lộ 741 khoảng 10km đến ngã ba đường đất đỏ thì rẽ trái, chạy qua đường rừng cao su khoảng 3km, du khách sẽ thấy một hồ nước rộng mênh mông, xanh thẳm hiện ra trước mặt. Đó là hồ Suối Lam. 93
  • 94.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Người dân ở đây cho biết, vào buổi sáng sớm, sương bay bảng lảng trên mặt hồ được nước hồ phản chiếu tạo nên màu lam huyền ảo, vì vậy người ta gọi tên hồ là Suối Lam. Được bao bọc bởi những cánh rừng cao su thẳng tắp ngút ngàn tầm mắt và những vạt rừng trồng lâu năm, thoạt nhìn Hồ Suối Lam hao hao giống Hồ Xuân Hương ở Đà Lạt. Mặt hồ rộng hơn 100ha luôn phẳng lặng như gương và trong xanh quanh năm. Quanh hồ có rất nhiều loài hoa dại nở, tôn vinh thêm nét đẹp nguyên sơ của hồ. Hồ sâu khoảng 4m, có nhiều loại cá nước ngọt như: chép, trắm, lóc, mè… Nếu thích làm ngư dân, du khách hãy chuẩn bị cần câu, chắc chắn sẽ câu được nhiều chú cá to. Ven hồ có những tảng đá to, rất thích hợp để ngồi buông câu. Ngoài ra du khách có thể cắm trại trong những rừng cây ven hồ, bơi hoặc chèo thuyền lênh đênh trên mặt hồ để cảm nhận vẻ đẹp, sự trong lành của thiên nhiên với những âm thanh kỳ ảo vốn có của núi rừng, đặc biệt vào lúc ráng chiều, khung cảnh hồ thật yên tĩnh, đẹp như tranh vẽ. Bên hồ là các công trình phục vụ du khách, đáng chú ý nhất là nhà hàng nổi với nhiều món ăn đặc sản của núi rừng Bình Phước. Khu du lịch hồ Suối Lam là địa điểm tuyệt vời để du khách đến du lịch sinh thái, dã ngoại, kết hợp nghỉ dưỡng. 3. Tr ng c Bàu L chả ỏ ạ Vị trí: Thôn Bàu Lạch, xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, cách Tp. Hồ Chí Minh khoảng 160km về phía đông bắc. Đặc điểm: Trảng cỏ Bàu Lạch là sản phẩm tuyệt mỹ của tạo hóa nằm giữa chốn thâm sơn cùng cốc bao gồm 20 trảng cỏ lớn nhỏ kết dính với nhau như một bức tranh khảm ngọc. Bạn đã bao giờ nằm nghỉ trên một đồng cỏ rộng mênh mông, đắm mình vào dòng nước mát lạnh từ trên thác ào ào đổ xuống để rồi lại tĩnh lặng ngồi chờ đợi cá cắn câu trước khi thưởng thức món cá nướng thơm lừng chưa? Hãy đến với trảng cỏ Bàu Lạch để được tận hưởng cảm giác du mục giữa núi rừng sau những ngày làm việc mệt mỏi. Từ thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước theo quốc lộ 14 đến thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng thì đi tiếp 3km nữa rồi rẽ phải vào con đường đèo dốc nhỏ đã được trải nhựa khoảng 12km là du khách sẽ đến với Bàu Lạch, nơi có hàng chục trảng cỏ độc nhất vô nhị ở Việt Nam. Các già làng ở đây giải thích rằng chữ “Lạch” tiếng M’nông có nghĩa là trảng, trong trảng lại có cái bàu nước nên cái tên trảng cỏ Bàu Lạch ra đời từ đó. Thời chiến tranh, các phi công Mỹ lái máy bay trực thăng đi tuần, thấy những trảng cỏ này từ trên cao đã ví đó là những “sân golf của trời”. Còn những già làng ở đây thì bảo đó là những tấm thảm xanh của trời trải xuống cho các tiên nữ xuống đùa vui vào những đêm trăng thanh. Không hiểu vì sao giữa bạt ngàn núi rừng lại xen lẫn những trảng cỏ rộng mênh mông. Có trảng rộng chỉ 5 - 10ha, nhưng trảng rộng nhất, đẹp nhất lại lên đến gần 100ha gọi là trảng Lớn. Nét độc đáo ở đây là chỉ có độc một loại cỏ kim đan xen cỏ chỉ mọc là là mặt đất xanh tốt quanh năm khiến cho du khách chẳng khỏi ngỡ ngàng trước sự kì diệu của thiên nhiên. Những du khách mới tới đây lần đầu khi trông thấy thảm cỏ trải dài tít tầm mắt như thế đều cảm thấy sung sướng như vừa khám phá ra một tuyệt tác của thiên nhiên. Từ xa, trông trảng giống như được lắp ghép bởi hàng chục sân golf bởi chỗ thì uốn lượn, mấp mô cao thấp, chỗ lại phẳng lì không chút “gợn sóng”. Trên bề mặt trảng lác đác những khóm hoa dại khoe sắc tím sặc sỡ xen lẫn với cỏ non xanh mượt Điều tuyệt vời hơn cả là trảng cỏ lại nằm lọt thỏm giữa những cánh rừng bạt ngàn và ôm trọn trong lòng nó một bàu nước trong xanh rộng hàng chục ha. Hồ nước này quanh năm không cạn và là nơi sinh sống của nhiều loài cá nước ngọt như lóc, chép, trắm, lươn... Ra đến bìa rừng du khách sẽ có thú vui hái trái sim, trái bứa ăn đến tím lè lưỡi. Trong rừng, trên những thân cây cổ thụ cao vút mọc đầy các loại hoa lan. Đi sâu vào rừng khoảng 3km, du khách sẽ được khám phá thác N’Rót dựng đứng cao khoảng gần 20m, ầm ầm đổ nước, tung bọt trắng xóa cả một góc rừng. Đi bộ theo các lối mòn len lỏi giữa rừng, cứ băng qua khoảng 100m rừng là du khách sẽ lại đến 94
  • 95.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị với những trảng cỏ xanh mướt và phải mất cả ngày mới khám phá hết được 20 trảng cỏ ở đây. Chung quanh các trảng cỏ là các làng của đồng bào M’Nông, Xtiêng và Mạ. Sự nguyên vẹn và hoang sơ của thiên nhiên đã biến trảng cỏ Bàu Lạch trở thành một địa điểm du lịch sinh thái thú vị. Tại đây, du khách có thể chèo thuyền hoặc tản bộ ngắm cảnh, câu cá, tắm thác, cắm trại, chơi đá banh trên nền cỏ của trảng Buổi tối ở Bàu Lạch khí hậu như cao nguyên. Hình như gió khắp rừng đều trút vào trảng. Nếu du khách muốn cắm trại ngủ qua đêm nhớ mang theo áo ấm. Cá có sẵn dưới bàu, củi có rừng bên cạnh, vào rẫy mua thêm ít ngô khoai là du khách sẽ có một đêm đầy ấn tượng để trải nghiệm cuộc sống du mục vốn chỉ có thể cảm nhận qua sách vở. 4. V n qu c gia Bù Gia M pườ ố ậ Vị trí: Xã Bù Gia Mập, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước, cách Tp. Hồ Chí Minh khoảng 200km về phía bắc. Đặc điểm: Vườn quốc gia Bù Gia Mập được coi là nơi bảo tồn các nguồn gien quý hiếm của hệ động, thực vật phong phú ở miền Đông Nam Bộ. Nằm ở vị trí độc đáo là nơi giao lưu với 4 khu hệ có nguồn gốc địa lý khác nhau: hệ Mianmar - Ấn Độ, hệ Malaysia - Indonesia, hệ Trung Hoa - Hymalaya và hệ thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa, vườn quốc gia Bù Gia Mập bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn cho các hồ chứa nước của các công trình thủy điện Thác Mơ và Cần Ðôn, phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái. Phía bắc và phía tây vườn quốc gia giáp suối Đăk Huýt, phía đông giáp tỉnh Đăk Nông, phía nam giáp với lâm trường Bù Gia Mập. Với diện tích 26.032ha, đây là nơi có diện tích rừng lớn nhất tỉnh Bình Phước với đỉnh núi cao nhất là 700m so với mực nước biển. Hệ thống sông suối gồm các dòng suối Đăk Huýt chảy dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, Đăk Sa, Đăk Ka và Đăk K'me. Hệ thực vật ở vườn quốc gia rất đa dạng và phong phú, quy tụ nhiều loài trong vùng Ðông - Nam Á với 808 loài, 396 chi, 118 họ, 59 bộ của 5 ngành thực vật có mạch. Ðặc biệt rừng nơi đây còn mang đậm nét của rừng nguyên sinh giàu trữ lượng với ưu thế của những cây họ dầu và nhiều cây họ đậu quý hiếm như cẩm lai, gõ đỏ, mun, lát hoa, gỗ mật, thạch tùng, giáng hương, trắc và 278 giống cây dùng làm thuốc. Ðây còn là nơi cư trú của các loài động vật hoang dã với 73 loài thú, trong đó có 59 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam như gấu chó, báo gấm, sói lửa, bò tót, bò rừng, gấu ngựa, voi, chà và chân đen..., 168 loài chim, trong đó 10 loài đang bị đe dọa tuyệt chủng như gà lôi, hồng hoàng, hồng tía, dù dì phương Ðông, cu xanh, niệc mỏ vằn, chim công, gà tiền mặt đỏ, chim yến hồng xám..., 30 loài bò sát. Do đặc trưng của rừng ẩm thường xanh, có rừng dầu rụng lá theo mùa, rừng lồ ô xen cây gỗ, nên vườn quốc gia cũng là nơi cư trú của nhiều loại động vật thuộc bộ linh trưởng như khỉ đuôi lợn, khỉ mặt đỏ, khỉ vàng, voọc ngũ sắc, voọc xám... Không chỉ có vậy, Bù Gia Mập còn là khu di tích lịch sử quan trọng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, gắn liền với các trận đánh ác liệt ở miền Ðông Nam Bộ. Hệ động thực vật phong phú cùng hệ thống hang động Dak Nghen, Đờ Mi, Gióng Min nguyên sinh của vùng đất ba-dan nâu đỏ nơi đây đã thể hiện bao cảnh quan sinh thái đặc hữu của Bù Gia Mập. Những dòng suối lấp lánh nắng vàng luôn reo vang cùng với bản hòa tấu của chim muông, hoa lá, những dòng thác Đạt Mai, Sông Bé trên, Sông Bé dưới, Dak Tôn lớn, Dak Tôn nhỏ, Tà Lin quanh năm tung bọt trắng xóa che kín hang động bên trong được tạo thành bởi những khối đá nhiều vân sắc… Tất cả đã tạo nên một điểm du lịch sinh thái lý tưởng đối với những du khách ưa thích thể thao mạo hiểm và thiên nhiên hoang dã. 5. Du l ch sinh thái M Lị ỹ ệ 95
  • 96.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Bấy lâu nay, khi nhắc đến Bình Phước ít ai có thể nghĩ đây sẽ là một điểm du lịch. Nhưng hiện nay, trong chiến lược phát triển của tỉnh, du lịch đang là một ngành đang được đầu tư và đẩy mạnh phát triển. Chính nét hoang sơ của Bình Phước lại là điểm thu hút mạnh mẽ du khách thập phương. Thế mạnh du lịch của tỉnh vẫn còn đang ẩn mình dưới dạng tiềm năng nhưng nếu có một lúc nào đó, bạn bỗng thèm có được những phút giây thư giãn thật sự cùng đắm chìm với thiên nhiên cũng như muốn có chút mùi vị của sự khám phá thì có lẽ không đâu bằng Bình Phước. Từ thị xã Đồng Xoài, băng qua những cánh rừng cao su bát ngát và những rừng điều trải dài dọc hai ven đường, khách du lịch sẽ sẽ đón nhận cái cảm giác chếnh choáng như người say vì độ cao ngày càng tăng khi càng tiến gần đến Phước Long. Nằm ngay dưới chân núi Bà Rá, lòng hồ thủy điện Thác Mơ có diện tích khoảng 110 hecta trải dài trên địa bàn hai huyện Phước Long và Bù Đăng. Hằng năm, hồ thủy điện Thác Mơ cung cấp gần 8 tỷ KW điện, là nguồn điện năng quan trọng của các tỉnh miền Đông Nam Bộ và góp phần tích cực vào việc cải tạo môi trường sinh thái của tỉnh Bình Phước. Hiện nay, ngoài chức năng sản xuất và cung cấp điện năng, lòng hồ Thác Mơ còn là một trong những điểm du lịch của tỉnh. Không khí trong lành và gió hồ mơn man, cảnh non nước hữu tình dần hiện ra trước mắt du khách. Núi Bà Rá sừng sững như một điểm tựa vững chắc không những của thủy điện Thác Mơ mà còn là của cả tỉnh Bình Phước. Đây còn là ngọn núi linh thiêng mang giá trị tâm linh rất lớn của tỉnh. Là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong việc khai thác và phát triển kinh tế mũi nhọn của tỉnh Bình Phước, Mỹ Lệ đã sớm nhận ra những tiềm năng triển vọng của ngành du lịch tại Bình Phước. Khu du lịch sinh thái rộng hơn 60 hecta với hệ thống giao thông thuận lợi, tạo thành một quần thể kiến trúc và thiên nhiên hùng vĩ với núi non, sông nước đang dần dần hình thành. Mỹ Lệ luôn muốn giới thiệu đến tất cả du khách khi đặt chân đến Bình Phước sẽ cảm nhận một Bình Phước rất khác và một địa điểm du lịch hấp dẫn mang tên Mỹ Lệ của tương lai. Đến với Khu du lịch sinh thái Mỹ Lệ, du khách sẽ có cảm giác như lạc vào một thung lũng cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Một màu xanh mướt trải đều trên các luống trà mang lại cho du khách một cảm giác thư thái êm dịu khó tả. Những lối đi hơi dốc, gập ghềnh dưới bánh xe ngựa giúp du khách gợi nhớ đến những con đường thơ mộng của Đà Lạt. Những nỗ lực để tái tạo cảnh quan thiên nhiên một cách thuần nhất đã làm Mỹ Lệ không giống với bất cứ khu du lịch sinh thái nào. Du khách có thể thong dong một mình trên lưng những chú ngựa. Hoặc lãng mạn trên những chiếc xe đạp đôi. Hoặc đơn giản hơn là ngồi trên những chiếc xe điện để được chở đi tham quan toàn bộ cảnh quan trong Khu du lịch sinh thái. Du khách còn có thể thư giãn bằng những thú vui dân dã như câu cá, tự tay hái những quả chín trên cành và sẽ thú vị hơn nữa nếu tham gia một buổi tổ chức cám trại dã chiến ngoài trời. Khu du lịch sinh thái Mỹ Lệ chỉ vừa mới khánh thành giai đoạn 1 và chưa đi vào hoạt động đồng bộ. Tuy nhiên, trong tương lai, Mỹ Lệ chắc chắn sẽ trở thành một tâm điểm thu hút khách du lịch với đầy đủ cơ sở hạ tầng, các hạng mục vui chơi giải trí và khu resort nghỉ dưỡng mang những nét đặc trưng riêng có của Mỹ Lệ. 96
  • 97.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Và lẽ dĩ nhiên, du khách sẽ luôn có cơ hội thưởng thức những hương vị rất đặc trưng của vùng đất được mệnh danh là Cao nguyên Nam Bộ ngay tại Khu du lịch sinh thái Mỹ Lệ. 6. Sóc Bom Bo Từ thị xã Đồng Xoài, theo Quốc lộ 14 đi về hướng huyện Bù Đăng khoảng 50 km, đến ngã ba Minh Hưng rẽ phải đi thêm 6km nữa ta sẽ đến sóc 1 thuộc xã Bom Bo. Đây là sóc được hình thành từ những năm chống Mỹ (có 3 sóc 1,2,3) hiện sóc 1 (thôn 1 của xã Bom Bo) là nơi tập trung phần lớn đồng bào S'ti êng; là thôn một trong ba thôn của đồng bào dân tộc Stiêng, dân tộc đông nhất trong các dân tộc ở tỉnh Bình Phước. Chính nơi đây hiện tập trung phần lớn đồng bào Stiêng từng giã gạo nuôi quân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trước đây. Sóc Bom Bo nổi tiếng thời chống Mỹ. Đời sống của đồng bào Stiêng ngày càng được cải thiện, nhưng những dấu tích lịch sử hào hùng đẹp chỉ còn lưu lại trong một nhà văn hóa nhỏ. Ngành du lịch Bình Phước đã tổ chức những đêm lửa trại cồng chiêng sóc Bom Bo, có đốt lửa, uống rượu cần, ăn thịt nướng và nghe các già làng kể chuyện, xem các thôn nữ biểu diễn vũ điệu của người Stiêng... Đó là những nét văn hóa cần truyền đời lưu giữ và tạo ra sự hấp dẫn khách đến với "sóc Bom Bo". Nơi đây còn được biết đến với bài hát nổi tiếng "Tiếng chày trên sóc Bom Bo" của cố nhạc sĩ Xuân Hồng. Ngày nay, đến nơi này du khách sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ S'tiêng quây quần trước cửa nhà giã gạo và tiếng cười trên các khuôn mặt rạng rỡ của những người dân nơi đây. Hiện nay tỉnh đã triển khai xây dựng làng văn hóa du lịch Sóc Bom Bo 7. Thác Dakmai Thuộc huyện Phước long, là một trong những thác nước đẹp nằm trên dòng chảy của Sông Bé. Để đến được ngọn thác này du khách phải vượt qua những đoạn đường đồi dốc cao, nhưng khi ai đã đặt chân đến đây sẽ không quên được sức cuốn hút của vẽ đẹp thiên nhiên hùng vĩ nơi này. Đến với thác Dakmai, du khách sẽ được thưởng ngoạn sự kỳ bí của thiên nhiên, một màn nước trắng nhấp nhô trên đá và đột ngột đổ xuống từ độ chênh lệch đến 15m, phía dưới chân thác. Nhìn về thượng nguồn khách du lịch sẽ thấy một dải lụa nước trắng - trãi rộng đến 25m. lấp lóa trong dải lụa nước này - nếu thiết kế một cầu treo du khách sẽ qua bên kia thăm hố Tử thần. Tại hố này đoàn thám hiểm hang động của Tây Ban Nha đã dùng thang dây - thả trôi theo dòng xoáy nước để tìm cảm giác mạnh. Thật là một ngọn thác tuyệt vời cần được khám phá và đầu tư để trở thành một điểm đến cho du khách gần xa. 8. R ng nguyên sinh tây Cát Tiênừ Nằm trên địa bàn huyện Bù Đăng và Đồng Phú. Tây Cát Tiên là địa danh nằm trong qui hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Phước năm 2010 thuộc quần thể khu dự trữ sinh quyển Vườn quốc gia Cát Tiên được công nhận năm 1998. Đây là nơi bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới lớn nhất Việt Nam. Vườn quốc gia có cảnh quan đẹp, phong phú về các hệ động thực vật, nơi nổi tiếng về đa dạng các loài chim, trong rừng có nhiều loại thú quý hiếm như: tê giác, bò rừng, bò Bonten, ngan cánh ngắn, gà so cổ hung... 17. Đặc sản và ẩm thực Món Ve s u s aầ ữ Ve sầu, sau mùa hè, chúng sẽ lột xác hàng loạt trên cây điều, cao su... Vào đầu giờ tối , khoảng 17-18h chúng lột xác đồng loạt và rất nhanh, ta có thể thu hoạch chúng và chế biến Lưu ý: Do ve lột xác sau 5 phút sẽ chuyển màu và cứng cánh, ăn không ngon, nên bắt con ve sữa cho nhanh vào bình nhựa hoặc thủy tinh rồi bịt kín... 97
  • 98.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Món ăn này quý hiếm bởi để có nguyên liệu chế biến phải mất nhiều công sức. Ve sầu là côn trùng sống nhiều trên các cây điều, cao su hoặc cây rừng tại Bình Phước. Sau mùa hè, cứ vào khoảng 17 - 18 giờ tối là chúng sẽ lột xác hàng loạt. Và những con ve lột xác này gọi là ve sầu sữa. Để có ve sầu sữa, người “săn” ve phải nhanh tay bắt chúng khi ve vừa lột xác. Bởi sau khi lột xác khoảng 5 phút là con ve sẽ trở nên cứng, không thể ăn. Sau khi bắt ve, người ta bỏ ve vào túi ni - lông rồi bịt kín lại và mang đi chiên (rán) giòn. Bắc một chảo dầu lên bếp, đợi dầu sôi lên, nhanh tay bỏ ve vào. Khi ve vàng và tỏa mùi thơm là ve đã chín. Món ve sầu chiên giòn thường ăn kèm với ra sống và nước mắm tỏi ớt. Những con ve vàng óng, béo ngậy và giòn tan cùng với hương thơm rất cuốn hút và hấp dẫn. Bánh h t đi u Bình Ph cạ ề ướ : Bánh hạt điều Bình Phước Hạt điều có một hương vị rất riêng và được dùng làm gia vị cho các món ăn hay trang trí cho những món bánh. Bình Phước là một trong những tỉnh có diện tích trồng điều lớn nhất Việt Nam. Bởi thế, người dân nơi đây đã tận dụng nó để làm ra những món bánh thơm ngon nhất là món bánh hạt điều. Bánh hạt điều được làm từ những nguyên liệu chính gồm: bột nổi, trứng gà, một ít dầu ăn, đường, bột mì, bột quế, đường và hạt điều (do đây là bánh hạt điều nên hạt điều là một trong những nguyên liệu rât quan trọng để tạo nên mùi vị của bánh). Để làm được những chiếc bánh hạt điều, người ta rửa hạt điều thật sạch, ngâm trong nước khoảng 10 phút cho hạt điều mềm, sau đó vớt hạt điểu ra và thấm khô hạt điều. Trộn các nguyên liệu như bột mì, bột quế, bột nổi cho hòa đều với nhau. Sau đó bơ và đường được cho vào máy đánh tơi thành kem và cho trứng với dầu ăn mới đánh xong vào đánh chung. Cuối cùng cho tất cả bột vào máy đánh đều, khi nào thấy bột trong máy không văng ra hai bên thành là bột đã tới, tắt máy ( chú ý là không nên đánh bột lau quá, vì bánh chín sẽ bị cứng). Sau khi tất cả đã xong thì cho hạt điều vào trộn thật đều. Bánh sau khi đã được chuẩn bị xong phần nguyên liệu thì đưa vào lò nướng, nhiệt độ nướng thích hợp là khoảng 180o C. Bánh hạt điều sau khi nướng xong sẽ có màu vàng của bánh hòa với mùi thơm của hạt điều, rất hấp dẫn. Bánh khi ăn bạn sẽ cảm nhận được độ giòn tan, hạt điều sần sật trong miệng sẽ làm cho người ăn thích thú khi cắn nát những hạt điều li ti ấy. Bánh có thời gian bảo quản khá lâu, nếu làm đúng kỹ thuật thì bạn có thể bảo quản bánh đến 1 tháng mà không sợ bị hư. Món ăn t h t đi uừ ạ ề Bình Phước được biết đến là vương quốc của điều. Hạt Điều có vị ngọt, bùi, tính ấm, tác dụng bổ dưỡng. Rất tốt cho người suy nhược cơ thể, đau họng, ho do phong hàn, nhiều đàm. Đây là loại hạt có nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe và cũng là một món ăn thường được dùng để làm quà, tiếp khách trong các ngày lễ tết và chế biến một số loại bánh kẹo như hạt điều rang muối, bánh hạt điều và hạt điều kết hợp làm ra nhiều món ăn bổ dưỡng . HOA VIÊN QUÁN Khu phố Thanh Bình - P. Tân Bình - TX. Đồng Xoài - Bình Phước ĐT: 0926 919 989 - 0937 959 709 Email: hoavienquan@yahoo.com Đến với Hoa Viên Quán quý khách sẽ tận hưởng cảm giác ấm áp thân thiện nhất, chúng tôi sẽ đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quý khách. Ăn những món ăn đặc sản Bình Phước và các món ẩm thực Việt Nam, có đầy đủ các loại nước giải khát, rượu đặc sản của mọi vùng miền. 98
  • 99.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Ở tại một khu vưc sầm uất nhưng vị trí của nhà hàng lại khá yên tĩnh, thoáng mát và rộng rãi với những cửa sổ lớn bên ngoài là cây cổ thụ che bóng mát, bàn ghế và sàn nhà ốp gỗ đem lại cho khách hàng một cảm giác thư thái khi thưởng thức món ăn. Nhà hàng Hoa Viên Quán thực sự là địa điểm lý tưởng cho các bữa ăn gia đình hay họp mặt bạn bè thân mật, ấm cúng. Những món ăn của nhà hàng đều được dựa trên những công thức chế biến cũng như nguyên vật liệu và gia vị truyền thống. Công thêm sự tìm tòi công phu, kết hợp với những cách thức học tập từ những nước có nền ẩm thức nổi tiếng khác như Trung Quốc, Thái Lan các món Âu - Á để tạo nên những món ăn vừa hấp dẫn, vừa độc đáo đem đến cho khách hàng. Không gian nhà hàng thoáng đãng, thoải mái, nhưng vẫn rất gần gũi và ấm cúng cùng với đội ngũ nhân viên của Hoa Viên Quán trẻ trung, năng động luôn đáp ứng kịp thời những yêu cầu từ khách hàng một cách nhanh chóng để bữa bữa ăn luôn được phục vụ chu đáo và tốt nhất. TÊN NHÀ HÀNG ĐỊA CHỈ ĐIỆN THOẠI NH TÂY NGUYÊN 515 Phú Riềng Đỏ, P Tân Xuân,TX Đồng Xoài 0651870459 NH THUỶ TIÊN Đường Phú Riềng Đỏ, P Tân Bình, TX Đồng Xoài 0651879802 NH THẾ KỶ QL 14 KP Tân Đồng 1, P Tân Xuân , TX Đồng Xoài 0651879585 NH SÔNG TIỀN Tổ 1, KP Tân trà, P Tân Bình, TX Đồng Xoài 0651881903 NH THẢO NGUYÊN Phường Tân Phú , TX Đồng Xoài 0651881143 NH SÁU BĂNG KP Tân trà, P Tân Bình, TX Đồng Xoài 0651881604 18. Sản phẩm lưu niệm - S n ph m hoa c , m t hang th công m ngh do đ ng bào S’tiêng ch tác.ả ẩ ỏ ạ ủ ỹ ệ ồ ế - K o h t đi u M Lẹ ạ ề ỹ ệ - Ch ph m th c u ng t trái đi u.ế ẩ ứ ố ừ ề - Chè khô - S n ph m ch tác t cây r ngả ẩ ế ừ ừ - R u c n ông già Đi u C cượ ầ ể ướ - Hang th công m ngh b ng r cây: giáng h ng, gõ, c m hàng làm b ng mây tre (Bùủ ỹ ệ ằ ễ ươ ẩ ằ Đăng), lá nhíp, đ t mây r ng,…ọ ừ 99
  • 100.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Đ NG NAIỒ  XVI. V TRÍ Đ A LÝỊ Ị Đồng Nai là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ của Việt Nam, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh Với diện tích 5.903,94 km², chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và 25,5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ. Tỉnh Đồng Nai là địa bàn có thành phần dân tộc cộng cư khá đông đảo. Theo số liệu thống kê, có trên 30 dân tộc sinh sống ở đây qua nhiều thời kỳ lịch sử. Trước năm 1698, người Việt và người Hoa đã đến vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai sinh sống nhưng không nhiều. Các cư dân được xem là bản địa là Chơro, Mạ, Kơho, Stiêng. XVII. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử Vùng đất Đồng Nai khi xưa từng là Tổng Kho quân sự Long Bình của Mỹ Nguỵ. Là căn cứ hậu cần tổng hợp lớn nhất của quân đội Mĩ - là trạm tiếp nhận và thay quân của quân đội Mĩ ở Miền Nam Việt Nam. Do khoảng 2 nghìn quân Mĩ bảo vệ và quản lí, được phòng thủ đặc biệt kiên cố.Vị trí ở đông bắc Sài Gòn 30 km, cạnh xa lộ Sài Gòn - Biên Hoà. Được xây dựng trong thời kì 1965 - 1970 với tổng diện tích khoảng 24 km2 . Bao gồm: hệ thống nhà kho lớn chứa bom, đạn, xăng, dầu, chất nổ và nhiều phương tiện, vật tư quân sự khác. Kho bị tiến công nhiều lần bằng đặc công, pháo kích, tập kích,... Từ tháng 1 năm 1972, Mĩ giao lại cho quân đội Sài Gòn quản lý. Đến 29.4.1975 thì kho bị đánh chiếm. XVIII. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ 18. Địa lý tự nhiên Đồng Nai là một tỉnh vùng miền Đông Nam Bộ nước Việt Nam, phía đông giáp tỉnh Bình Thuận, đông bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, tây bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước, nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, tây giáp thành phố Hồ Chí Minh Đồng Nai có diện tích 5.903,94 km², chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và 25,5% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ. Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 thành phố 1 thị xã và 9 huyện:  Thành phố Biên Hoà  Thị xã Long Khánh  Huyện Định Quán  Huyện Long Thành  Huyện Nhơn Trạch  Huyện Tân Phú  Huyện Thống Nhất  Huyện Vĩnh Cửu  Huyện Xuân Lộc  Huyện Cẩm Mỹ  Huyện Trảng Bom 100
  • 101.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 19. Địa hình Địa hình Đồng Nai gồm một số thung lũng, đồng bằng, gò, đồi thấp, tuy nhiên phần đất tiếp giáp với cao nguyên Lâm Viên và Di Linh thì tương đối cao. Phần lớn đất ở Đồng Nai là đất bazan, đất xám và đất phù sa cũ rất tốt cho việc trồng trọt. Bởi vì vậy Đồng Nai trồng nhiều cây công nghiệp (cây cao su, cà phê .. ), cây ăn trái và cây công nghiệp ngắn ngày. 20. Khí hậu Khí hậu có hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 25,4 - 27,2 o C. Là tỉnh có sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Lá Buông chảy qua, có nhà máy thủy điện Trị An. 21. Tài nguyên Đồng Nai có nhiều nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú gồm tài nguyên khoáng sản có vàng, thiếc, kẽm; nhiều mỏ đá, cao lanh, than bùn, đất sét, cát sông; tài nguyên rừng và nguồn nước... Ngoài ra, Đồng Nai còn phát triển thuỷ sản dựa vào hệ thống hồ đập và sông ngòi. Trong đó, hồ Trị An diện tích 323 km² và trên 60 sông, kênh rạch, rất thuận lợi cho việc phát triển một số thủy sản như: cá nuôi bè, tôm nuôi....  Tài nguyên nước: Tỉnh Đồng Nai có mật độ sông suối khoảng 0,5 km/km², song phân phối không đều. Phần lớn sông suối tập trung ở phía bắc và dọc theo sông Đồng Nai về hướng tây nam. Tổng lượng nuớc dồi dào 16,82 x 109 m³/năm, trong đó mùa mưa chiếm 80%, mùa khô 20%. Các con sông chính chảy qua tỉnh Đồng Nai như: Sông Đồng Nai, và các phụ lưu lớn của nó như sông La Ngà và Sông Bé đổ vào dòng chính gần hồ Trị An. Ngoài ra còn có sông lớn khác nh7 sông Lá Buông, sông Ray, sông Xoài và sông Thị Vải. Tổng trữ lượng nước dưới đất của tỉnh Đồng Nai là khoảng 5.505.226 m³ /ngày. Bao gồm, trữ lượng nước tĩnh vào khoảng 793.379 m³/ngày, trong đó, trữ lượng dung tích (trữ lượng tĩnh trọng lực) là 789.689 m³/ngày và trữ lượng đàn hồi là 3691 m³/ngày. Trữ lượng động khoảng 4.714.847 m³/ngày là toàn bộ dòng mặt vào mùa khô và là giới hạn dưới của trữ lượng nước dưới đất. Tuy có trữ lượng nước dưới đất phong phú, nhưng phân bố không đều, và nhu cầu khai thác tăng cao vào các tháng mùa khô nên việc khai thác nước dưới đất cần phải theo qui hoạch khai thác hợp lý.  Tài nguyên khoáng sản: Các loại tài nguyên khoáng sản ở Đồng Nai gồm có: khoáng sản kim loại, không kim loại, đá quý, và nước khoáng. Các khoáng sản kim loại chủ yếu phân bố ở Đồng Nai gồm vàng, bô xít, thiếc, chì, kẽm... Các mỏ vàng nhỏ ở Hiếu Liêm và Vĩnh An và các điểm quặng chưa được đánh giá đầy đủ ở: Suối Ty, Suối Nho, Tam Bung, Suối Sa Mách, lâm trường Vĩnh An, lâm trường La Ngà, lâm trường Hiếu Liêm. Quặng bauxit phát hiện 2 mỏ ở DaTapok (lâm trường Mã Đà) và lâm trường La Ngà với trữ lượng ước đạt khoảng 450 triệu m³. Thiếc chỉ gặp dưới dạng vành phân tán khoáng vật, hàm lượng thấp, tập trung ở núi Chứa Chan, Suối Rét, Suối Sao, và sông Gia Ray. Chì kẽm đa kim được phát hiện ở núi Chứa Chan. Các khoáng sản không kim loại như: Kaolin, đá xây dựng và ốp lát, cát xây dựng, sét gạch ngói, Puzolan, và keramzit phân bố ở Đại An và Trị An với trữ lượng ước tính khoảng 8 triệu tấn. Đá quý chỉ được phát hiện có quy mô nhỏ, không có triển vọng khai thác công nghiệp như: Ziricon (Gia Kiệm, Núi Lá, Tân Phong), Xa phia (Cầu La Ngà, phía nam Tân Phong, Gia Kiệm), Pyrop-ziricon,Opan- canxedon (núi Chứa Chan), tecfic (bắc Tài Lài). 101
  • 102.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Tài nguyên nước khoáng bao gồm các loại; nước khoáng - nước nóng ở Phú Lộc và Kay; nước khoáng Magie - bicarbonat ở suối Nho; nước khoáng siêu nhạt ở Tam Phước và Nhơn Trạch; nước khoáng sắt ở phía Nam Thành Tuy Hạ; nước mặn loại Clorua - Natri ở Nam Tuy Hạ;  Tài nguyên rừng: Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn Quốc gia Nam Cát Tiên. Năm 1976, tỷ lệ che phủ của rừng còn 47,8% diện tích tự nhiên, năm 1981 còn 21,5%. Năm 2006, độ che phủ rừng là 26,05% tổng diện tích tự nhiên, có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia Nam Cát Tiên, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Với việc triển khai thực hiện chương trình trồng rừng và quy hoạch này, có thể dự báo tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) sẽ tăng lên đạt 45-50% trong thời kỳ đến năm 2010. 22. Cây cao su a). Nguồn gốc và quá trình phát triển: Được người Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên tại vườn thực vật Sài Gòn năm 1878 nhưng không sống. Năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia được nhập vào Việt Nam. Trong 1600 cây sống, 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dương), 200 cây giao cho bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dầu (cách Nha Trang 20 km). Năm 1897 đã đánh dấu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (dầu Giây, Long Khánh, Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ : SIPH, SPTR, CEXO, Michelin … Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập. Được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 - 1962, trên những vùng đất cao 400 - 600 m, sau đó ngưng vì chiến tranh. Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ. Từ 1977, Tây Nguyên bắt đầu lại chương trình trồng mới cao su, thoạt tiên do các nông trường quân đội, sau 1985 đo các nông trường quốc doanh, từ 1992 đến nay tư nhân đã tham gia trồng cao su. Ở miền Trung sau 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh. Cao su (danh pháp khoa học: Hevea brasiliensis), là một loài cây thân gỗ thuộc về họ Đại kích (Euphorbiaceae) và là thành viên có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong chi Hevea. Nó có tầm quan trọng kinh tế lớn là do chất lỏng chiết ra tựa như nhựa cây của nó (gọi là nhựa mủ- latex) có thể được thu thập lại như là nguồn chủ lực trong sản xuất cao su tự nhiên. Cây cao su có thể cao tới trên 30m. Nhựa mủ màu trắng hay vàng có trong các mạch nhựa mủ ở vỏ cây, chủ yếu là bên ngoài libe. Các mạch này tạo thành xoắn ốc theo thân cây theo hướng tay phải, tạo thành một góc khoảng 30 độ với mặt phẳng. Khi cây đạt độ tuổi 5-6 năm thì người ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ: các vết rạch vuông góc với mạch nhựa mủ, với độ sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây tổn hại cho sự phát triển của cây, và nhựa mủ được thu thập trong các thùng nhỏ. Quá trình này gọi là cạo mủ cao su. Các cây già hơn cho nhiều nhựa mủ hơn, nhưng chúng sẽ ngừng sản xuất nhựa mủ khi đạt độ tuổi 26-30 năm. Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon. Nhựa mủ dùng để sản xuất cao su tự nhiên là chủ yếu, bên cạnh việc sản xuất latex dạng nước. Gỗ từ cây cao su, gọi là gỗ cao su, được sử dụng trong sản xuất đồ gỗ. Nó được đánh giá cao vì có thớ gỗ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn và có thể chấp nhận các kiểu hoàn thiện khác nhau. 102
  • 103.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Nó cũng được đánh giá như là loại gỗ "thân thiện môi trường", do người ta chỉ khai thác gỗ sau khi cây cao su đã kết thúc chu trình sản sinh nhựa mủ. 23. Giao thông Đồng Nai là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên. XIX. IV. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN 1. Tín ngưỡng và tôn giáo Đồng Nai là tỉnh có nhiều tôn giáo, bao gồm 24 tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân và 5 tổ chức tôn giáo được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, có số lượng tín đồ đông nhất nước với hơn 1.339.426 tín đồ các tôn giáo, chiếm gần 60% số dân toàn tỉnh. Ngoài tín ngưỡng dân gian, Đồng Nai còn có một số tôn giáo lớn: Ðạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Ðài và đạo Hoà Hảo. Trong đó, thờ cúng Ông Bà, đạo Phật và đạo Thiên Chúa có nhiều ảnh hưởng trong đời sống xã hội và sinh hoạt của nhân dân, đồng thời cũng để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hóa và kiến trúc. 2. Lễ hội 1. Tết Nguyên đán: Nhằm ngày mùng 1 tháng 1 âm lịch, là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam. Tết Nguyên đán Việt Nam từ buổi “khai thiên lập địa” đã tiềm tàng nhiều giá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ.Tết còn là dịp để mọi người Việt Nam tưởng nhớ, tri ân tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý (ăn quả nhờ kẻ trồng cây) và tình nghĩa xóm làng... Ngày Tết, mọi người trang hoàng nhà cửa, treo tranh, trưng bày hoa quả, rước tổ tiên về cùng ăn Tết. Hoa Mai ở Đồng Nai là loại hoa không thể thiếu trong mọi nhà ngày đầu năm. Tết, trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình, ngoài các thứ bánh trái cũng không thể thiếu mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả ở Đồng Nai cũng như nhiều tỉnh thành Nam Bộ gồm dừa xiêm, mãng cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung hoặc một loại trái cây khác. Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ý niệm khát khao của con người vì sự đầy đủ, sung túc. Ngày Tết, người Đồng Nai cũng còn duy trì các mỹ tục cổ truyền như khai bút, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ... 2. Rằm tháng Bảy: Theo tín ngưỡng là ngày xá tội vong nhân, nghĩa là bao nhiêu tội nhân ở âm phủ ngày này đều được tha tội. Bởi vậy trên dương thế mọi gia đình đều làm cỗ bàn, đốt vàng mã cúng gia tiên và đồng thời cúng những linh hồn bơ vơ không được ai chăm sóc. Người ta cũng thả chim lên trời, thả cá xuống sông, để làm điều phúc đức. 3. Tết Trung thu: Như tên gọi đến với mọi nhà vào đúng giữa mùa thu tức là vào rằm tháng Tám âm lịch. Tết Trung Thu là tết của trẻ em. Một loại bánh đặc biệt thơm ngon chỉ được sản xuất và bày bán trong dịp này gọi là bánh trung thu. Trẻ em đón tết Trung Thu có đèn xếp, đèn lồng, đèn ông sao... sặc sỡ thắp sáng kéo nhau đi thành từng đoàn ca hát vui vẻ ngoài đường, ngoài ngõ, cùng với những đám múa lân, múa Ông Địa với tiếng trống, tiếng thanh la náo nhiệt. Trong dịp này, để thưởng trăng có rất nhiều cuộc vui được bày ra. Người lớn có cuộc vui của người lớn, trẻ em có cuộc vui của trẻ em. 4. Ngày Tết của các dân tộc ở Đồng Nai: 103
  • 104.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Người dân tộc bản địa ở Đồng Nai chủ yếu là người Cơ Ho, Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ. Ngày nay, khi điều kiện kinh tế - xã hội chuyển biến theo chiều hướng phát triển đi lên, theo đó là sự biến thái của một số phong tục, tập quán, tín ngưỡng và lễ hội. Từ quá trình xen cư và cộng hưởng văn hóa, đời sống với đồng bào Kinh trong nhiều năm qua, nên hầu hết các dân tộc anh em gốc bản địa đã biết đón Tết Nguyên đán và tổ chức vui Tết. Quá trình cộng cư và cảm nhận ấy giúp đồng bào hiểu rằng, cái Tết của người Kinh là một sinh hoạt văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, là dịp để mọi người xích lại gần nhau hơn, hiểu biết, sẻ chia và yêu thương nhau nhiều hơn. Tuy nhiên, cách đón Tết Nguyên đán của đồng bào dân tộc thiểu số không hoàn toàn giống với tinh thần của người Kinh, các dân tộc hầu hết đều tiếp nhận yếu tố “hội” trong cái Tết Nguyên đán chứ không tiếp nhận yếu tố “lễ”. Ngày Tết, họ cũng qua thăm nhà và chúc tụng lẫn nhau, trẻ con được cho quà bánh, được mặc áo mới, được đến các điểm vui chơi cộng đồng. Tuy nhiên, không xuất hiện cảnh cúng rước, không kiêng cữ, không có tục hái lộc đón Xuân... như đối với người Kinh. Ngược lại, ngày Tết của các dân tộc bản địa chính là những lễ nghi nông nghiệp và những ngày lễ hội cổ truyền mang sắc mầu văn hóa tộc mình. Họ gọi đó là Nhô Lir Bông, Tết mừng lúa mới, Nhô Rhe, Yangpa… 5. Người Cơ Ho: Trong xã hội truyền thống của người Cơ Ho đã tồn tại hai hình thức gia đình theo chế độ mẫu hệ: gia đình lớn và gia đình nhỏ. Người phụ nữ đúng vai trò chủ động trong hôn nhân, sau hôn lễ, người đàn ông về nhà vợ ở (nếu gặp trường hợp gia đình hiếm muộn thì người phụ nữ vẫn có thể ở nhà chồng), con cái tính dòng họ theo mẹ, con gái là người thừa kế. Hôn nhân của người Cơ Ho dựa trên cơ sở sự ưng thuận giữa hai bên trai gái, cha mẹ không quyết định. Độ tuổi kết hôn của người Cơ Ho thường là 16 - 17 tuổi đối với nữ và 18 - 20 tuổi đối với nam. Hàng năm, người Cơ Ho tổ chức ăn Tết khi mùa màng đã thu hoạch xong (theo thời vụ hiện nay thường vào tháng 12 dương lịch). Tết này có ý nghĩa đón lúa về nhà (Nhô Lir Bông hay Nhô Lirvong ). Theo tập quán, các gia đình thay phiên nhau mỗi năm hiến một con trâu để cả bontổ chức lễ đâm trâu (nho sa rơ pu) trong dịp này. Lễ tổ chức ngoài trời trước nhà chủ có vật hiến tế, nhà già làng hay trên mảnh đất rộng, bằng phẳng, cao ráo trong làng, với cây nêu trang trí sặc sỡ. Mọi người nhảy múa theo tiếng cồng chiêng. Thịt trâu được chia cho từng gia đình, còn máu trâu bôi vào trán những người dự lễ như một sự cầu phúc. Lễ tết kéo dài 7 - 10 ngày, trong các ngày Tết, dân làng đến chung vui với từng gia đình. Trong từng gia đình, người ta cũng tổ chức hiến tế gà, bôi máu lên vựa thóc, sàn kho, cửa ra vào, cửa sổ. Sau Tết, người ta mới được ăn lúa mới và thực hiện các công việc lớn như làm nhà, chuyển làng... 6. Người S’tiêng: Dân tộc này gồm hai nhóm gồm có Bù Đéc ở vùng thấp, biết làm ruộng nước và dùng trâu, bò kéo cày từ khá lâu và nhóm Bù Lơ ở vùng cao, làm rẫy là chủ yếu. Trước đây người Xtiêng thường ăn bốc nhưng gần đây đã ăn bằng bát đĩa. Họ hay dùng rượu cần trong dịp hội hè. Ngày nay người Xtiêng ở nhiều nơi đã định canh định cư, từng gia đình làm nhà ở riêng. Họ Điểu là họ phổ biến khắp vùng Xtiêng. Làng Xtiêng có truyền thống tự quản, đứng đầu là một ông già am hiểu tập tục, có uy tín lớn, tháo vát và thường là người giàu có ở làng. Mức giàu được tính bằng tài sản như: trâu, bò, chiêng, cồng, ché, vòng, trang sức... Ngày Tết Mừng lúa mới, nhà nào cũng sắm váy mới, áo mới cho thanh niên, phụ nữ ai cũng đeo bằng hết các trang sức mà mình có để khoe với mọi người trong buôn. Các gia đình đều có hàng chục ché rượu cần và cũng mổ trâu, bò, heo để thiết đãi bà con buôn làng. Trong Tết mừng lúa mới, buôn làng tổ chức lễ đâm trâu, cồng chiêng hò reo sôi động. Người Stiêng có tục lệ ngày Tết mừng lúa mới là lấy dây mây song đập nát trộn với đất, rồi đắp lên cơ thể mỗi người để nhắc nhở con cháu rằng thời tiền sử loài người sinh ra chỉ có thịt mà không có xương. Tết mừng lúa mới của người S/tiêng kéo dài hai, ba ngày. 104
  • 105.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 7. Người Châu Mạ Người Châu Mạ (còn gọi là người Mạ) làm nương rẫy trồng lúa và cây khác như ngô, bầu, bí, thuốc lá, bông... Công cụ sản xuất thô sơ, có các loại xà-gạt, xà-bách, dao, rìu, gậy chọc lỗ. Ở vùng Cát Tiên ( huyện Tân Phú) có kỹ thuật làm ruộng nước bằng cách lùa cả đàn trâu xuống ruộng để trâu giẫm đất đến khi sục bùn thì gieo lúa giống (xạ lúa). Người Mạ nuôi trâu, bò, gà, vịt, ngan... theo cách thả trâu, bò vào rừng sống thành đàn, chỉ khi cần giết thịt hoặc giẫm ruộng mới tìm bắt về. Phụ nữ Mạ nổi tiếng về nghề dệt vải truyền thống với những hoa văn tinh vi hình hoa lá, chim thú với nhiều màu sắc. Nghề rèn sắt nổi tiếng ở nhiều làng. Họ tự luyện quặng lấy sắt để rèn các công cụ sản xuất và vũ khí như xà gạt lưỡi cong, lao... Ở vùng ven sông Đồng Nai, người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông. Đồng bào Châu Mạ gọi nghi lễ kết thúc những ngày đồng áng là Nhô Rhe, tức là “mừng lúa mới”, họ tổ chức sa rơpu (ăn trâu) và diễn ra trong bảy ngày, bảy đêm. Ngoài ra, những lễ hội cúng Giàng, cúng mùa, cầu an, cầu mưa của họ cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình. 8. Người Chơ Ro Trước kia người Chơ Ro sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy, cuộc sống nghèo và không ổn định. Về sau đồng bào đã biến rẫy thành đất định canh, đồng thời nhiều nơi phát triển làm ruộng nước, nhờ vậy cuộc sống có phần khá hơn. Chăn nuôi, hái lượm, săn bắn, đánh cá đều góp phần quan trọng trong đời sống của người Chơ Ro. Ngoài ra họ đan lát, làm các đồ dùng bằng tre, gỗ. Hai tết lớn của đồng bào Chơ Ro là lễ cúng thần rừng và lễ cúng thần lúa vào khoảng tháng ba âm lịch, gọi là Tết Yang Pa. Ngày cúng thần lúa cũng là lúc các cô gái trình cho buôn làng các loại bánh ngon như bánh tét, bánh ống, bánh dầy... Sau lễ cúng thần lúa tại nhà là bữa ăn tập thể do gia chủ đứng ra khoản đãi tại nơi hành lễ. Thường thường nơi cúng lễ là gốc cây cổ thụ trong buôn làng. Họ quan niệm thần lúa thường đến nghỉ ngơi ở đó. 3. Loại hình nghệ thuật truyền thống Do mới hình thành từ sự hội nhập nhiều lớp cư dân cách đây hơn ba thập kỷ, ở Biên Hòa - Đồng Nai không thấy có làn điệu dân ca nào đặc thù nhưng lại có gần như đủ giọng dân ca của xứ Trung, xứ Bắc. Quan họ, ca Huế, ví dặm... hiện vẫn có đất sống ở các cụm dân cư còn da diết với cố hương. Tiếng hát ru của các bà má Biên Hòa - Đồng Nai đủ giọng ba miền Nam - Trung - Bắc. Các điệu hò, lý ở đồng ruộng, trên dòng sông hay ở bãi mía, sân đình thường lộ rõ âm điệu của xứ Thuận, xứ Quảng. Có thể nói, hội nhập, tổng hợp, dung hòa là đặc điểm của diễn xướng nghệ thuật truyền thống ở xứ Biên Hòa - Đồng Nai. Có hai dạng diễn xướng nghệ thuật truyền thống khó phân đinh rạch ròi: diễn xướng nghệ thuật trong sinh hoạt thông thường và diễn xướng thực hiện nghi lễ. 3.l Trong sinh hoạt thông thường, người Biên Hòa - Đồng Nai xưa có sinh hoạt nghệ thuật: Hò hát, lý, kể vè, nói thơ, nói tuồng, đờn ca tài tử... nhằm giải trí, giao lưu văn hóa, thư giãn tinh thần và tăng hứng thú lao động. Sách Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có ghi ở Cù Lao Phố xưa, ngày tết có hát sắc bùa: “Đêm 28 tháng chạp, na nhân (tục danh nậu sắc bùa) đánh trống, gõ phách, một bọn 15 người đi dọn đường, trông nhà hào phú nào mở cửa ngõ thì vào dán lá bùa nơi cửa, niệm thần chú, rồi nổi trống phách lên, ca xướng những lời chúc mừng, người chủ nhà dựng cỗ bàn chè rượu khoản đãi và gói tiền thưởng tạ xong nhà này lại qua nhà khác, cũng làm như vậy cho đến chiều buổi trừ tịch mới thôi, ấy là có ý đuổi tà tống ma, trừ cũ rước mới vậy. Đó là hình thức diễn xướng tổng hợp với chức năng chúc xuân, bắt đầu từ 28 tháng chạp đến rằm tháng riêng hàng năm, có nguồn gốc liên quan đến tục hát xiếc bùa của người Mường theo đoàn người di dân vào Đồng Nai, phổ biến đến đầu thế kỷ XX, hiện đã thất truyền ở Biên Hòa - Đồng Nai, còn thấy bảo lưu ở một số xă thuộc Tỉnh Bến Tre. 105
  • 106.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị - Hò là hình thức hát đối đáp trong lao động, có người cất giọng diễn lời (xướng), tập thể nối theo phụ họa (xô). Phổ biến ở Biên Hòa - Đồng Nai là loại hò cấy, tức điệu hò của vạn cấy. Xưa, dân cấy thường đi cấy tập thể do đầu công tập hợp và điều hành. Đêm khuya, tiếng tù và của đầu công thổi từng hồi, báo hiệu các công cấy thức giấc, nấu cơm tập trung ở điểm hẹn cùng đi ra đồng. Đến đồng ruộng, nếu thiếu công cấy, lại thổi tù và “còn thiếu...” để mời gọi thêm công hoặc nhờ điều phối công từ vạn cấy khác. Không khí cấy tập thể đông vui, nảy sinh nhu cầu hò hát. Giọng hò cấy tự do, âm điệu na ná hò mái ố của miền Tây nhưng có nét riêng của đồng ruộng Đông Nam bộ. Lời hò là lục bát, song thất lục bát hoặc lục bát biến thể được mở đầu bằng giọng hò dài “Hò... hơ... hớ... ơ… ơ''; giữa câu ngắt đoạn bằng đoạn hò ngắn ''hò.. ơ... hò “, kết thúc bằng giọng xuống hơi kéo dài, giọng xô tập thể nối theo ''hò khoan... hò”. Dứt giọng xô của câu đối, giọng hò đắp cất lên. Lời hò sau phải tiếp vần câu hò trước. Nếu bí vần là bi đứt, coi như thua cuộc. Lời đáp câu đối nối nhau, bên nam bên nữ, tốp này tốp kia cùng vào cuộc chơi, có người hò cái, có người nhắc câu, tập thể hò phụ họa. Cứ thế cuộc hò kéo dài, có khi liên tục mấy ngày liền. Nhiều người mê hò mà đến mê nhau. Các vùng Cù Lao phố (Biên Hòa), Cù lao Thạnh Hội (Tân Uyên), Bình Lục (Vĩnh Cửu), Phước Hòa (Long Thành), Hiệp Phước (Nhơn Trạch)… đều có những giọng hò nổi tiếng, thường giao lưu đối đáp với nhau, hiện nhiều nghệ nhân ở lứa tuổi 50, 60 trở lên còn ấp ủ nhiều kỷ niệm đẹp về một thời hò cấy. Cùng với hò cấy còn có hò chèo xuống (còn gọi hò chèo ghe), hò giã gạo. Theo các nghệ nhân cao tuổi, thực chất, hò chèo xuồng, hò giã gạo là biến thể của hò cấy trong môi trường lao động chèo xuồng hoặc giã gạo; có khác hò cấy chút ít ở giọng hò ngân dài hơn, ít giọng xô và một số lời hát theo văn cảnh. Cũng theo hình thức lao động mà ngoài hò chèo ghe còn có hò đò dọc của giới thương hồ buôn bán đường dài và hò rỗi của nậu ghe chuyên trở cá. Còn có bao nhiều điệu hò nữa ở Biên Hòa -Đồng Nai xưa ? Hiện chưa có đủ điều kiện để trả lời câu hỏi ấy. - Lý là hình thức diễn xướng những câu hát ngắn, ngẫu hứng thành làn điệu, một loại hình diễn xướng phổ biến của Nam bộ “Nam lý, Huế hò, Bắc thơ”. Theo ký ức của người cao tuổi, ngoài các bài lý phổ biến ở Nam bộ, xứ Biên Hòa - Đồng Nai từng có nhiều người hát lý rất hay, nhưng không hiểu do đâu đã mất hẳn, hiện chưa tìm ra dấu vết. Bài Lý Đồng Nai âm điệu thế nào không rõ, chỉ còn lại phần lời không đầy đủ: Gạo đàng Ngoài: Bảy tiền một bát Gạo Đàng Trong: Bảy bát một tiền Anh không tin thì anh vô Đồng Nai mà coi Có quân tập trận có chòi bắn bia Có con ngựa hồng mao tiền mao hậu Quan võ thầy đầu đội mão đai. - Kể vè, nói thơ, nói tuồng là hình thức diễn xướng tự sự bằng lối “ nói vãn” có gõ nhịp hoặc không gõ nhịp, nhằm thể hiện các bài vè, truyện thơ, tích tuồng thuộc nằm lòng. Ở Biên Hòa - Đồng Nai xưa lưu truyền nhiều bài vè. Phổ biến là các bài vè quen thuộc (nguyên bản hoặc dị bản) lưu truyền cả nước như: Vè Chàng Lía, vè Thông Chánh, vè Con cút, vè Bài tới, vè Con gái lấy thợ câu cua, vè Nói ngược, vè Nói dóc, vè Trăm thứ bành… còn có những bài vè ứng tác tại địa phương kể về các sự việc đáng chú ý trong đời thường, có thể nêu: Vè Xã Những mất vợ (Ông Võ Văn Đạc ở xã Long Phước, huyện Long Thành kể), vè Hương thân Cẫn (bà Sáu Nhâm ở xã Phú Hội huyện Nhơn Trạch kể), vè Rượu (ông Chín Lát ở xã Long Tân, huyện Nhơn Trạch kể)… - Thơ được kể ở Biên Hòa xưa thường là truyện thơ Nôm: Lục Vân Tiên, Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Chàng Nhái Kiểng Tiên, Trần Minh khố chuối… hoặc các truyện cổ tích Tàu diễn ca, như: Tống tửu Đơn Hùng Tín, Tiết Cương phục nghiệp… Đầu thể kỷ XX, có thêm truyện thơ lịch sử các hội thâm nhập từ miền Tây: Thơ Sáu Trọng Hai Đẩu, Thơ thầy Thông 106
  • 107.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Chánh, Năm Tỵ, Sáu Nhỏ… Nói tuồng thường là độc diễn các trích đoạn tuồng tích Tàu hoặc tuồng tích dân gian, như: Văn Doan Chàng Lía, ông Trượng - Tiên Bửu…. Hình thức kể vè, nói thơ, nói tuồng thường diễn ra dưới trăng, trong đêm vắng, lúc thư thả hay những buổi hội, giỗ… Đó là món ăn tinh thần của người cao tuổi đồng thời là thế giới kỳ ảo trong trí tưởng tượng của tuổi thơ. - Đồng Dao là một dạng hát - kể vè gắn với trò chơi tập thể của trẻ em. Nhiều bài hát đã mất nghĩa ngôn từ nhưng còn ý nghĩa văn hóa trong cách chơi, cách diễn đạt thể hiện tính hồn nhiên của tuổi thơ. Qua khảo sát thực tế, nhận thấy nhiều bài (hoặc dị bản) đồng dao quen thuộc ở Trung bộ, Bắc bộ có mặt tự lâu đời ở Biên Hòa - Đồng Nai, phổ biến là các bài: Tập tầm vông, chơi với quấc, vè Nói ngược, Cu cu chằn chằn, Con cò Xanh, Xích đu tiên, Bắt con kỳ nhông… Đồng dao tập cho trẻ em hòa mình vào tập thể, quen với luật chơi bình đẳng, tự giác. - Đờn ca tài tử là dạng sinh hoạt của các nhóm theo nghiệp đờn ca bài bản tài tử có nguồn gốc từ nhạc sư Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại) phổ biến ở Nam bộ từ đầu thế kỷ XX. Ở Biên Hòa, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu xưa có người theo học các thấy đờn ca tài tử tại Sài Gòn, Cần Đước… về lập nhóm, sắm nhạc, họp thành ban nhạc, đờn ca các bài bản cổ điển như là sinh hoạt âm nhạc thính phòng của dân gian. Từ đờn ca tài tử đến ca ra bộ, sau này phát triển thành ca cổ, cải lương. - Hát tuồng (còn gọi là hát bội) là hình thức diễn xướng nghệ thuật tuồng truyền thống vốn phát triển đặc sắc ở Trung bộ; có lẽ nó đã phổ biến ở Trấn Biên khá sớm, và có điều gì đó đặc sắc khiến vào khoảng năm 1761 Chúa Nguyễn sai người vào Trấn Biên tìm bắt ca nhi đem về phụng sự phủ Chúa. Tuồng hát ở Nam bộ thường dựa theo tích Tàu, sau có soạn thêm một số tuồng Việt lấy tích trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc; xoay quanh các chủ đề ca ngợi trung, hiếu, tiết, nghĩa. Đoàn hát do dân tự lập, lưu diễn ở các thôn làng, có diễn trích đoạn ở đám tang theo yêu cầu của gia chủ. Như gánh hát bội của Bầu Làm ở xã An Hòa (huyện Long Thành) chẳng hạn. Họ hàng, bạn bè trong làng hợp lại mua sắm, tự soạn kịch bản, tự diễn tập, mùa hát đi diễn khắp miền Đông, mùa ruộng phân tán làm ăn, diễn được hơn 20 vở tuồng tự soạn cả tích Tàu tích Việt, biết thực hiện nghi xây chầu, đại bội theo tục cổ truyền, đã trụ vững nhiều chục năm qua. Từ khi kịch nghệ cải lương phát triển, hát bội dần dần vắng bóng ở sinh hoạt giải trí thông thường, chỉ còn phổ biến trong các lễ cúng Kỳ Yên gắn với nghi lễ xây chầu, đại bội. Ngoài ra, tại Đồng Nai, Đàn đá Bình Đa được biết đến như một di chỉ khảo cổ học, cho thấy việc chế tác đàn đá đã xuất hiện từ trên dưới 3.000 năm trước. Đó là loại nhạc khí tự thân vang, thuộc loại xylophone, metallophone. Mỗi bộ đàn gồm nhiều thanh đá hợp thành. Mỗi thanh đá có kích thước và hình dáng khác nhau, được chế tác bằng phương pháp ghè đẽo thô sơ. Vật liệu để làm đàn là những loại đá sẵn có ở vùng núi Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. (Bộ đàn đá đầu tiên tìm được tại Việt Nam vào năm 1949 hiện được bảo quản tại viện bảo tàng "Con người" ở Paris) 4. Danh thắng và các công trình kiến trúc Đồng Nai Thập Cảnh Nếu như Hà Tiên có Hà Tiên thập cảnh, thế giới có 7 kỳ quan... còn Đồng Nai cũng là nơi thiên nhiên tươi đẹp, sao không ai bình chọn 10 cảnh đẹp của Đồng Nai để vinh danh những thắng cảnh này? Trên ý nghĩ đó, nhân dịp kỷ niệm 310 năm Biên Hòa - Đồng Nai, ban Tuyên giáo tỉnh ủy Đồng Nai đã phát động cuộc bình chọn 10 thắng cảnh đẹp nhất tỉnh Đồng Nai. Kết quả bình chọn công bố ngày 17/12/2008, lễ tôn vinh ngày 20/12/2008. Nói chung là tổ chức khá quy mô và trọng thể.Đáng tiếc là không giống như Hà Tiên thập cảnh, hàng trăm năm sau người ta vẫn nhớ, kết quả bình chọn Đồng Nai thập cảnh này rơi vào quên lãng ngay sau đó. Có thể vì cảnh đẹp Đồng Nai chưa xứng là cảnh đẹp, vì việc tuyên truyền chưa được rộng rãi, hay vì kết quả bình chọn không đi vào lòng dân? Đá Ba Chồng: 107
  • 108.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Đá Ba Chồng nằm giữa khu vực dân cư sầm uất của huyện Định Quán, cạnh Quốc lộ 20. Sau hàng triệu năm dãi dầu mưa nắng, ba lần ngâm mình dưới biển khi biển tràn vào, chứng kiến hàng trăm ngọn núi lửa hoạt động dữ dội, Đá Ba Chồng như ba tảng đá xếp chồng lên nhau khá chênh vênh vẫn đứng đó, tạo ra một cảnh quan hùng vĩ. Cạnh đá Ba Chồng là hai quả núi Bạch Tượng hình dáng giống như đôi voi phục. Trên đỉnh núi là tượng Phật Thích Ca cao hơn 20m ngự trên đài sen. Dưới chân núi Bạch Tượng còn có hang sâu và chùa Thiện Chơn, đối diện là Hòn Dĩa, xa hơn một chút là hòn Sư Tử. Đá Ba Chồng thuộc nền văn hóa óc- Eo - Phù Nam ở thềm cao nguyên Đông Nam Bộ, đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin xếp hạng năm 1988. Điểm du lịch thác Giang Điền: Thuộc xã Giang Điền, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, cách TP.HCM khoảng 45km, nằm trên bờ sông Buông với cảnh quan thác Giang Điền hùng vĩ, thác Đôi thơ mộng giữa rừng hoa lá. Tại đây du khách được cung ứng các dịch vụ tham quan, cắm trại, giải trí, hội nghị… nhằm hòa nhịp với thiên nhiên, phong cảnh hữu tình. Điểm du lịch sinh thái vườn - Làng bưởi Tân Triều Điểm du lịch sinh thái vườn làng bưởi Tân Triều thuộc ấp Vĩnh Hiệp (Cù lao Tân Triều), xã Tân Bình (Vĩnh Cửu - Đồng Nai) với diện tích khoảng 2ha trải dọc theo bờ sông, bao bọc xung quanh bởi các cây bưởi giống ngon nổi tiếng như bưởi đường lá cam, bưởi đường múm, bưởi thanh… ngoài ra tại đây còn có các món đặc sản từ bưởi như gỏi bưởi, nước ép bưởi, nem bưởi… và đặc biệt là rượu bưởi Tân Triều với hương vị đậm đà, đặc trưng, mang lại cảm giác thanh tao… mà chủ nhân Năm Huệ đã dày công nghiên cứu và chiết xuất thành công (Rượu bưởi Năm Huệ đã được tặng thưởng nhiều cúp vàng, huy chương vàng về chất lượng sản phẩm. Nếu đến vườn bưởi vào ngày cuối tuần, du khách còn được thưởng thức đờn ca tài tử do các nghệ sĩ miệt vườn trình diễn. Đến với làng bưởi, du khách còn có dịp viếng thăm các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng dân gian nổi tiếng đã có từ lâu đời như nhà thờ Tân Triều, chùa Vĩnh Hưng, đình Cẩm Dinh, đình Long Hòa Núi Chứa Chan - Chùa Gia Lào Từ TP.Biên Hòa theo quốc lộ 1, cách TP.HCM khoảng 80km, du khách sẽ đến với núi Chứa Chan ở Thị Trấn Gia Ray - Huyện Xuân Lộc, Đồng Nai. Núi Chứa Chan cao 837m với Chùa Bửu Quang (thường gọi là chùa Gia Lào) trên đỉnh núi là điểm du lịch thu hút nhiều du khách hành hương. Chùa Bửu Quang được xây dựng từ đầu thế kỷ XX, với chánh điện mái vòm, toạ lạc trên một hang đá có dáng hàm Rồng. Toàn bộ quần thể kiến trúc chùa đều dựa theo những hang động thiên nhiên, tạo nên nét độc đáo giữa chốn thâm nghiêm kỳ vĩ của núi rừng. Suối Tiên trong vắt, nước chảy róc rách quanh năm và cây đa ba gốc thần bí ở lưng chừng núi như minh chứng thêm cho các huyền tích được truyền từ bao đời của vùng sơn cước này. Từ độ cao hơn 600 mét, phóng tầm nhìn ra xa du khách có thể chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hữu tình, và lòng người sẽ cảm thấy thư thái sau chặng đường dốc lắm gian nan vất vả. Núi Chứa Chan ngày nay còn lưu lại nhiều dấu tích hoạt động cách mạng qua hai cuộc kháng chiến của người Đồng Nai, vì đây là căn cứ kháng chiến của nhân dân huyện Xuân Lộc và chùa Bửu Hưng từng là căn cứ hậu cần, nơi trú đóng của nhiều cán bộ chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước. Rừng Sác Nhơn Trạch Rừng Sác Nhơn Trạch thuộc địa phận các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, cùng một dải với rừng Sác Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh). Rừng Sác là một vùng rừng ngập mặn hàng ngàn km vuông nằm ở phía Đông Nam tỉnh Đồng Nai, 108
  • 109.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Vùng rừng nay có thảm thực vật nước mặn rất phong phú với nhiều loại cây đước, da, sú, có, mắm, bần…đan níu nhau thành nhiều tầng lớp và rất lắm cá tôm.Đây là vùng địa hình sình lầy, mênh mông sông nước với hằng trăm sông lạch đan nhau chằng chịt. Vùng Rừng Sác trở thành căn cứ địa cách mạng ngay từ những năm đầu tiên kháng Pháp. Nơi đây cũng từng là chứng tích cho các cuộc rải thảm bom B52, chất độc hóa học, các cuộc càn quét qui mô lớn với sự tham gia của nhiều binh chủng, tàu chiến và vũ khí hiện đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhưng cũng chính nơi đây đã khẳng định chân lý, niềm tin và ý chí con người là vượt lên tất cả. Từng dòng sông, con lạch, giồng đất nơi đây đều lấp lánh chiến công: Tàu quân sự của Pháp bị chìm, tàu Victory hàng vạn tấn của Mỹ cùng chung số phận, kho bom thành Tuy Hạ, Kho xăng Nhà bè bốc cháy….625 liệt sĩ Đoàn 10 và 1.400 liệt sĩ của 12 xã huyện Nhơn Trạch đã ngã xuống tại chiến trường sôi động ác liệt này. Để tưởng nhớ công ơn và chiến tích anh hùng của cha anh, Đền thờ Liệt sĩ Nhơn Trạch được xây dựng tại xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, nơi cửa ngõ bước vào chiến khu Rừng sác năm xưa. Sân Golf Đồng Nai Thuộc thị trấn Trảng Bom, H.Trảng Bom, Đồng Nai, cách TP.HCM khoảng 45km, có 27 lỗ và là 1 trong 10 sân gôn có cảnh quan đẹp ở VN và độ thử thách nhiều nhất trong quá trình chơi của các sân golf khu vực Đông Nam Á. Diện tích khoảng 260 hecta, sân golf với mô hình của những đường bóng, lỗ gôn nhấp nhô, gợn sóng gắn với những ao, hồ nước thiên nhiên, nhân tạo tạo nên bức tranh đẹp khó tả. Ngoài ra, còn có các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng như khách sạn, nhà hàng, sàn tập, phòng xông hơi, massage, karaoke... Sân golf Đồng Nai là một trong những khu du lịch thể thao, giải trí hấp dẫn vào những ngày nghỉ, lễ, dịp cuối tuần . Sông Đồng Nai (đoạn đi qua cù lao Phố) Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên đổ ra cửa biển Soài Rạp, dài 610 km, đoạn chảy qua địa bàn Đồng Nai dài 220 km, hệ phụ lưu gồm 253 sông suối, dài trên 10km, có ý nghĩa quan trọng đối với sự sống ở lưu vực 42.600km2. Hai bên sông Đồng Nai có nhiều làng nghề truyền thống, nhiều di tích lịch sử - văn hóa quan trọng của đất Đồng Nai và Nam Bộ.Từ thác Trị An chảy ra biển Đông, dòng sông Đồng Nai để lại nhiều cù lao lớn nhỏ trong đó tại địa phận Biên Hòa dòng chảy chia thành hai nhánh ôm trọn một dải đất. Đó chính là Cù Lao Phố hay còn gọi là Nông nại Đại Phố- nay là xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa. Theo sử sách đã chép, vào năm 1679 Tổng binh Trần Thượng Xuyên dẫn theo một đoàn người xin cư trú tại việt Nam và được Chúa Nguyễn chấp thuận cho vào đất Đông Phố (nay là Cù Lao Phố) khẩn hoang. Khi đến Cù Lao Phố, Ông đã cùng người dân địa phương xây dựng nơi đây thành thương cảng lớn. Đường xá được mở rộng, phố xá được xây dựng, chợ búa được thành lập, hàng hóa dồi dào, thường xuyên có nhiều tàu ngoại quốc lui tới buôn bán.Thế nhưng cuộc chiến năm 1776 giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh đã tàn phá đi kiến trúc phong quang của Cù Lao phố, nay không còn dấu vết. Thời kỳ hoàng kim của Cù Lao Phố đi vào dĩ vãng, hoàn thành sứ mạng của đô thị cổ, một thương cảng sầm uất nhất phương Nam. Cù Lao Phố hiện còn 5 ngôi chùa, 3 tịnh xá, 11 ngôi đình, 3 ngôi miếu. Có thể nói Cù Lao Phố còn tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, đan xen hòa trộn lẫn nhau. Hồ nước nóng Thác Mai Bắt nguồn từ cao nguyên Lang Biang, sông La Ngà uốn lượn qua nhiều vùng đồi núi chập chùng, vượt bao ghềnh bãi, để rồi hòa vào dòng nước con sông lớn Đồng Nai. Thác Mai là một trong những thắng cảnh cuả sông La Ngà trên con đường hợp dòng gian nan ấy. Muốn đến thác Mai, từ km 112 trên quốc lộ 20, du khách hãy rẽ phải theo con đường quanh co giữa vùng rừng Tân Phú khoảng 20 cây số. Thác Mai trải dài trên đoạn sông hơn 4 cây số, như con rồng uốn mình đùa giỡn với biển nước. Một quần thể đá được tạo dáng với bao hình thù kỳ thú nối dài hai bên bờ và kết nối giữa dòng nước. Hai bên bờ sông có nhiều hang động với 109
  • 110.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị những hòn đá chông chênh tạo cho khung cảnh thêm hoang sơ, huyền bí. Vào mùa trái chín, du khách còn có thể nhấm vị của hoa quả rừng như xoài, ổi, trường... hoặc du khách có thể bám vào rễ dây cây cổ thụ để đu đưa thỏa thích. Đặc biệt đúng vào độ nở hoa, hai bên sông tím màu hoa bằng lăng và màu vàng của hoa mai. Trong địa phận Lâm trường Tân Phú, trên đường vào thác Mai còn có suối Đá Bàn, nơi lưu dấu vết bàn tay người khổng lồ gắn liền với chuyện tình kể về dũng sĩ Knhút nghĩa hiệp của dân tộc Mạ. Bàu nước nóng thiên nhiên gần đó, với nhiệt độ từ 50o c đến 60o C, trữ lượng lớn, rất có lợi cho sức khỏe con người. Thác Mai là một điểm du lịch hấp dẫn về sinh thái, hài hòa giữa thiên nhiên và tâm hồn phóng khoáng của con người. Trung tâm Văn hóa du lịch Bửu Long: Cách trung tâm thành phố Biên Hoà 6 km, Khu du lịch Bửu Long và hồ Long Ẩn như một bức tranh thu nhỏ của vịnh Hạ Long: các vách đá soi bóng trên mặt nước hồ trong xanh tạo ra một quang cảnh hấp dẫn của thiên nhiên mỹ lệ: núi cao, hồ rộng, hài hoà với các công trình kiến trúc nghệ thuật mang dấu ấn tôn giáo của nhiều thời đại. Ðến Bửu Long, du khách sẽ được du ngoạn trên mặt hồ bằng tàu thủy, hoặc pédallo thiên nga, tham gia cuộc chơi leo núi thể thao, cắm trại trong vườn cây râm mát và thưởng thức nhiều món ăn đặc sản. Cạnh hồ là hai ngọn núi thấp, trên núi Bửu Long có chùa cổ Bửu Phong nổi tiếng nằm thấp thoáng sau cây bồ đề lớn; có Thiên Hậu Miếu cổ kính; có hang đá Long Sơn Thạch Ðộng hình dạng giống hàm ếch với nhiều nhũ đá rủ xuống đầy vẻ huyền bí. Sau khi tham quan hồ, leo núi vãn cảnh chùa, vui thú với các trò chơi trên mặt nước, du khách còn có thể kết hợp về thăm làng bưởi Tân Triều nổi tiếng, tham quan làng nghề đục đá truyền thống Bửu Long mang dấu ấn nghệ thuật điêu khắc cuối thế kỷ 17 ở ngay chân núi. Khu Du Lịch Bửu Long và chùa cổ Bửu Phong là hai di tích đã dược xếp hạng cấp quốc gia. Vườn quốc gia Nam Cát Tiên Vườn Quốc gia Cát Tiên, với diện tích 74.320ha, thuộc xã Đak lua, huyện Tân Phú, Đồng Nai, cách TP.HCM khoảng 150km, là một trong những vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam, được UNESCO công nhận là khu sinh quyển của thế giới. Cát Tiên cũng là đô thị tôn giáo của Vương quốc cổ Phù Nam (thế kỷ thứ hai sau Công nguyên) với nền văn hóa óc Eo nổi tiếng. Nơi đây là một bảo tàng tự nhiên có ý nghĩa quốc tế về khoa học và văn hóa, là nơi còn lưu giữ hệ động thực vật của rừng nhiệt đới cực kỳ quí giá. Thực vật có 636 loài thuộc 411 chi của 192 họ, trong đó có nhiều loại quý hiếm. Về động vật, có 208 loài chim, 57 loài thú, 10 loại bò sát, 121 loài côn trùng và rất nhiều loài quý hiếm đang được quan tâm bảo vệ như báo gấm, báo hoa mai, sói đỏ, sóc bay, vộc ngũ sắc, tê giác một sừng, bò tót, gấu chó, hạc cổ trắng, công xanh. Đa dạng về sinh cảnh và chủng loại động thực vật, Vườn Quốc Gia Cát Tiên là khu du lịch sinh thái độc đáo với cảnh quan thiên nhiên kỳ thú : Bàu Chim, Bàu Sấu, Suối Tiên, Thác Trời, rừng phong lan, cây cổ thụ ngàn tuổi,.. Các nhà khoa học, các tổ chức bảo tồn thiên nhiên, sinh viên học sinh và du khách bốn phương đã tìm thấy ở đây nhiều kiến thức, bài học lý thú và những cảm giác hiếm có, khó quên. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh (Còn gọi là Đình Bình Kính): thuộc địa phận xã Hiệp Hòa (Cù lao Phố). Là Di tích lịch sử đã được Nhà nước xếp hạng ngày 25/3/1990. Nơi đây, nhân dân Biên Hòa thờ vị khai quốc công thần Nguyễn Hữu Cảnh - một danh nhân có nhiều công lao với đất nước trong việc mở mang, chấn chỉnh bờ cõi phía Nam Tổ quốc. Ngôi đình được xây dựng vào khoảng cuối thế kỳ XVIII, tức khoảng sau thời gian Nguyễn Hữu Cảnh mất (1700). Trước đây, di tích là một “miếu võ trang nghiêm” và được các triều vua Nguyễn quan tâm. Khi Gia Long lên 110
  • 111.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị ngôi đã cho trùng tu, cắt cử 10 phu trông coi, hằng năm đều xuất quỹ công tế lễ vào ngày giỗ. Đến năm 1851, triều Tự Đức cấp 100 quan tiền để di dời, sửa chữa và vào năm 1923, 1960 đều được tái thiết. Kiến trúc nội thất của di tích còn được bảo lưu với những hàng cột lớn và nhiều hoành phi đại tự. Đặc biệt, các bàn hương án, nghệ thuật chạm khắc với bao đề tài dân gian sinh động. Tại dinh còn lưu giữ bộ áo mão, tương truyền của đức ông thuở sinh thời. Mặt đền nhìn ra sông Đồng Nai theo hướng tây nam, sân đền rộng. Mặt trước đền có gắn đôi rồng chầu pháp làm bằng gốm men xanh, hai bên là cặp lân. Hàng cột mặt tiền đắp rồng cuốn mây có đôi liễn chữ nho khắc chìm vào tuờng. Năm 1998, Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai đã xây dựng nhà bia ghi lại lịch sử 300 năm của vùng đất Biên Hòa Đồng Nai trong khuôn viên của đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Ngày 16/05 và ngày 11/01 âm lịch hằng năm, nhân dân địa phương tổ chức tế lễ, cầu cho quốc thái dân an và tưởng nhớ đế công đức to lớn của bậc tiền nhân có công khẩn hoang, xác lập nền hành chính tại vùng đất phương nam. Văn miếu Trấn Biên: phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Là công trình văn hóa lớn có vị trí khá quan trọng trong nền văn hóa, giáo dục miền Đông Nam bộ. Văn miếu được xây dựng vào thời chúa Nguyễn Phúc Chu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho vùng đất mới khai phá. Năm 1998, chính quyền tỉnh Đồng Nai khởi công khôi phục công trình trên nền văn miếu cũ trong phạm vi khoảng 2 ha, với số tiền đầu tư khoảng 2 tỷ đồng. Đến năm 2002 thì công trình hoàn thành, được chính thức khánh thành vào ngày 14/2. Từ khi được chính thức mở cửa phục vụ du khách, văn miếu Trấn Biên đã trở thành địa chỉ tham quan quen thuộc và hấp dẫn. Văn miếu Trấn Biên là sự tiếp nối truyền thống của văn miếu Thăng Long (Hà Nội), được người dân gọi là văn thánh miếu. Từ cửa văn miếu, đi qua Khuê Văn các là đến đền Khải thánh (nơi thờ Lã Vọng Khổng Tử, danh nhân tiêu biểu của nền nho học). Sau là đến gian nhà thờ chính gồm ba gian hai chái với lối kiến trúc cổ trang nghiêm, sơn son thếp vàng rực rỡ, trên các cột nhà treo đôi liễn đối ví dụ như: “Nguyễn Hữu Cảnh định nghiệp Trấn Biên; Lớp lớp anh tài giang lục tỉnh”, “Võ Trường Toản mở trường Gia Định; Đời đời sĩ khí nối tam gia”. Bên trái nhà là nơi thờ các danh nhân văn hóa Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chu Văn An... bên phải thờ danh nhân đất Nam bộ như Gia Định Tam gia, Võ Trường Toản, Nguyễn Đình Chiểu... tất cả đều chỉnh chu. Nằm trang trọng chính giữa gian thờ, bàn thờ vị danh nhân văn hóa vĩ đại của dân tộc - Chủ tịch Hồ Chí Minh được trang hoàng khéo léo, trang nghiêm như thể hiện tấm lòng tôn kính của lớp hậu bối đối với vị cha già dân tộc. Bên cạnh đó, gian nhà thờ còn chứa nhiều công trình mang ý nghĩa văn hóa như bia truyền thống, tủ chạm khắc tinh vi chứa 18kg đất, 18 lít nước mang về từ đền Hùng, trống hội Thăng Long... Văn miếu Trấn Biên là niềm tự hào của miền Đông Nam Bộ, nó mang nhiều giá trị văn hóa, tinh thần lớn. Nhiều hoạt động như lễ báo công, lễ khen thưởng thành tích... được tổ chức trang trọng tại nơi đây như một truyền thống đẹp của miền đất Trấn Biên - Đồng Nai Giáo xứ Lộc Lâm: 7/37 khu phố 5, phường Hố Nai, TP. Biên Hòa Kiến trúc của Giáo xứ Lộc Lâm được kết hợp bởi kiểu kiến trúc hiện đại Tây phương và nghệ thuật vườn cảnh Đông phương. Giáo xứ được xây dựng trên một khu đất có địa thế đẹp, gần gũi thiên nhiên, tọa lạc trên một quả đồi có tầm nhìn toàn cảnh xuống thung lũng, được thiết kế với hệ kết cấu bê tông cốt thép, mái có độ dốc cao hòa hợp với địa hình, có ba lối để lên nhà thờ, nhà thờ có hai mái bộ xếp lên nhau khoảng cách bằng những ô cửa với tỷ lệ hài hòa, mái trên tượng trưng cho Trời, mái dưới tượng trưng cho Con Người, mặt bằng nhà thờ hình vuông tượng trưng cho Ðất. Cảnh đẹp thiên nhiên ở đây hài hoà với công trình kiến trúc, từ cổng vào chạy theo trục lộ tiếp nối với thánh đường, tạo cho người xem cảm giác dễ chịu. Từ hướng vào theo lối chính đến tiền sảnh nhà thờ, con đường lớn rộng năm mét, dài 50 mét, nằm dốc giữa khoảng sân tiếp nối 111
  • 112.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị đường kiệu hình tam giác, có những lối đi nhỏ dẫn đến tượng đài Ðức Mẹ và Tháp chuông, tiểu cảnh....Mặt tiền Nhà thờ có kết hợp với những hình Thánh giá nhỏ cùng đà ngang như hai cánh tay giang ra để đón những hình người đau khổ chịu đóng đinh. Bàn thờ là một phiến đá to với hình thể mang nét riên bắng đá tự nhiên, Bàn thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong cung Thánh. Thánh đường có sức chứa hơn 1000 người. Trên đây là những nét chính về kiến trúc nhà thờ Giáo xứ Lộc Lâm như một đặc trưng của kiến trúc Tây phương rất ấn tượng và khác biệt so với các kiến trúc của quần thể nhà thờ trong khu vực. Tượng đài chiến thắng Long Khánh: ngã 3 giao lộ Hùng Vương - QL 1A, thị xã long Khánh. góp phần quan trọng phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ- Nguỵ. Tượng đài chiến thắng Long Khánh ghi dấu chiến công vang dội trong kháng chiến chống Mỹ trên vùng đất miền Đông nam bộ là nơi được xem như một biểu tượng rất đáng tự hào của quân và dân Long Khánh trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Đại chủng viện Xuân Lộc Ở Việt Nam có 6 đại chủng viện (nơi đào tạo linh mục, như trường đại học ở ngoài đời): 1. Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội (ở Hà Nội) 2. Đại chủng viện Huế (ở Thừa Thiên - Huế) 3. Đại chủng viện Thánh Giuse TP. Hồ Chí Minh (ở TP. Hồ Chí Minh) 4. Đại chủng viện Sao Biển Nha Trang (ở Khánh Hòa) 5. Đại chủng viện Vinh Thanh (ở Nghệ An) 6. Đại chủng viện Thánh Quý (ở Cần Thơ) Tại Long Khánh, Đồng Nai, từ năm 1966 bắt đầu xây dựng Tiểu chủng viện Thánh Phaolô, khánh thành năm 1970. Ngày 14/12/2005, Chính phủ chấp thuận cho thành lập Đại chủng viện Thánh Giuse cơ sở II tại Xuân Lộc để đào tạo Linh mục cho bốn giáo phận: Bà Rịa, Đà Lạt, Phan Thiết và Xuân Lộc. Ngày 26/8/2006: Đức Cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Đại chủng viện cùng với tòa Giám mục và trung tâm mục vụ của Giáo Phận. Ngày 26/9/2008: Thánh lễ Cảm tạ Hồng ân công trình xây dựng Tòa Giám Mục và Đại chủng viện cơ bản đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng. (Ghi chú: Vể tổ chức các giáo phận, giáo xứ trong công giáo không giống tổ chức hành chính của nhà nước, cả về phạm vi địa lý lẫn tên gọi. Giáo phận Xuân Lộc cai quản toàn bộ tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và 1 phần tỉnh Bình Dương. Nhà thờ chánh tòa Xuân Lộc nằm ở thị xã Long Khánh. Đại chủng viện Thánh Giuse II cũng thế, nói là tại Xuân Lộc, tức là giáo phận Xuân Lộc, còn vị trí địa lý thì là ở thị xã Long Khánh, chứ không phải ở huyện Xuân Lộc). Tên gọi chính thức của Đại chủng viện là Đại chủng viện Thánh Giuse, nhưng thường được gọi là Đại chủng viện Xuân Lộc. Kiến trúc Đại chủng viện rất đẹp, phảng phất nét kiến trúc nhà thờ ở châu Âu. Dù bạn có là tín đồ công giáo hay không thì khi có dịp đến thị xã Long Khánh cũng nên vào đây để chiêm ngưỡng. Mộ cổ Hàng Gòn 112
  • 113.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Chủ nhân của ngôi mộ được xem là những người Việt cổ. Các nhà nhân chủng học đã khảo sát trong vùng và còn xác nhận nhân chủng Polynesien có mặt trên khắp vùng Nam Á, là tổ tiên trực tiếp của người Mạ, Châu Ro, Stiêng… ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên ngày nay. Sai lầm của J.Bouchot đã phá hủy hầu hết những dữ kiện cần thiết về ngôi mộ. Trong báo cáo của ông có nói đến: “Những bình nhỏ bằng đất nung” và “Lớp đất lẫn tro than màu xám” đựng trong đó. Nhiều mảnh vòng đã, mảnh gốm cũng thất lạc. Dù sao, những thông tin hạn chế ấy cũng xác minh kiến trúc này là ngôi mộ chung cho một cộng đồng dân cư một bộ lạc. Những bình đất và lớp tro xám đựng bên trong là tro hỏa thiêu thi hài người chết, tập quán này vẫn còn tồn tại đến ngày nay của một số bộ lạc thiểu số vùng Daklak. Về niên đại, vì không còn các mẫu vật nên không thể xác minh bằng phương pháp C14. Nhưng dù sao, người ta cũng có thể suy luận trên cơ sở đối chiếu với các ngôi mộ dolmen cùng loại trên thế giới. Để gia công trên đá hoa cương thì phải có kim loại và muốn vận chuyển những tảng đá nặng hàng chục tấn bằng phương tiện thô sơ, vượt qua khoảng cách hàng trăm cây số trong điều kiện chưa có đường giao thông như hiện nay thì cần rất nhiều nhân lực. Cũng cần nói thêm, xét đến chủng loại đá ở hầm mộ, các nhà địa chất xác định rằng chúng chỉ có thể ở Đà Lạt hoặc Phan Rang. Như vậy, phải bằng sức mạnh phi thường mới có thể vận chuyển chúng đi xa như vậy, xin lưu ý rằng cả hai nơi này cũng không có đường thủy đến vị trí ngôi mộ. Như vậy, chúng ta tạm vừa lòng với niên đại khoảng 2.000 năm, khi cong người đã nắm được kỹ thuật luyện sắt, thì các bộ lạc lẻ tẻ liên minh lại và các quốc gia sơ khai hình thành trên cơ sở nền nông nghiệp phát triển và các công trường thủ công đã có quy mô nhất định. Chủ nhân của ngôi mộ được xem là những người Việt cổ. Các nhà nhân chủng học đã khảo sát trong vùng và còn xác nhận nhân chủng Polynesien có mặt trên khắp vùng Nam Á, là tổ tiên trực tiếp của người Mạ, Châu Ro, Stiêng… ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên ngày nay. Cũng cần nói thêm, những phát hiện khảo cổ trong thời gian qua mà nhất là những năm gần đây đưa đến giải pháp có thể gọi là sáng tỏ phần nào những uẩn khúc mà ta chưa biết về mộ cổ Hàng Gòn. Mộ Cự thạch Hàng Gòn là một di tích cổ xưa không nằm đơn độc nơi hoang vắng mà nó gắn bó chặt chẽ với hàng loạt những di chỉ khác được phát hiện trên 2.000 héc ta thuộc vùng Hàng Gòn. Mặc dù không tìm thấy gì trong lòng mộ ngoài những tấm hoa cương nhuốm màu sương gió, nhưng chính nó đã minh chứng hùng hồn về sức mạnh đoàn kết, tài năng sáng tạo của con người ,vượt qua trở ngại của thiên nhiên: những tấm đá hoa cương hàng chục tấn được chuyển về bằng sức người, được nâng hạ bằng phương pháp vật lý, hệ thống ròng rọc gồm trụ đá, cây và dây. So với lịch sử kiến trúc thời Mégalithique ở Đông Nam Á, mộ Cự thạch Hàng Gòn là một thành tựu kỳ diệu, một nét độc đáo về nghệ thuật cũng như kỹ thuật của các bộ tộc người vùng Nam Á. Hơn nửa thế kỷ qua kể từ ngày phát hiện, biết bao tài liệu trên thế giới đã giới thiệu, nghiên cứu về mộ Cự Thạch Hàng Gòn. Sự có mặt tức thì, ngày từ đầu của hầu hết nhà khoa học, sử học, dân tộc học, địa chất học, nhân chủng học… đã khẳng định tầm cỡ giá trị văn hóa của ngôi mộ cổ loại hình dolmen này. Cái lớn ở đây không chỉ phụ thuộc vào kích thước của công trình, mà chính nó đã chứng minh tài năng và óc sáng tạo của những người cổ xưa trên vùng đất Đồng Nai. Mộ Cự Thạch Hàng Gòn là di vật góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề về nền văn minh được mệnh danh là “Văn minh lưu vực Sông Đồng Nai”. 5. Đặc sản và ẩm thực 1. Miền đất của cây trái quanh năm: Quả thật thiên nhiên đã ưu đãi, nơi đây một khí hậu thuận hòa cho cây cối đơm hoa kết trái mà không phải âu lo bị lũ lụt, bão tố tàn phá như ở miền Trung, miền Bắc hoặc như ở mấy tỉnh đồng bằng sông nước miền Tây. Đến Long Khánh bất cứ giờ nào, nơi chợ lớn, chợ nhỏ, nơi ngã ba đông người, bến xe, bến tàu... người ta dễ bắt gặp một không khí rộn ràng của cảnh mua bán, rao mời đủ các loại trái cây, 113
  • 114.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị khách mua tha hồ lựa chọn, người không mua cũng ngắm nhìn thỏa thuê con mắt. Bên cạnh những trái cây “du nhập” từ xa về, Long Khánh còn có thể thỏa mãn nhu cầu cho người tiêu dùng ở địa phương, bao tiêu đóng kiện chở đi đến bất cứ nơi đâu nhiều loại trái cây có giá trị trông ở địa phương. Từ ngày có tên Long Khánh ra đời đến nay đã 170 năm. Long Khánh thực sự là nơi đất lành chim đậu. Thổ nhưỡng bazan màu mở không chỉ có thuận lợi cho cây cao su, cà phê mà còn các loại cây ăn quả. Dù vậy trước năm 1945, dân cư còn thưa, đất rộng chưa khai phá hết, cây ăn quả còn rất ít, chủ yếu mới trống các loại cây phổ biến như nhiều nơi trong nước. Vài ba thập niên gần đây Long Khánh đã mở rộng diện tích và chủng loại cây có giá trị khác. Đó là: chôm chôm, sầu riêng, mít tố nữ, thanh long, nhãn.. Tất nhiên còn nhiều loại cây ăn quả khác nữa mà từ lâu đời nhiều nơi trong cả nước đều có trồng vẫn thường xuyên có mặt trên thị trường như ổi, mãng cầu, sa-pô-chê, hồng, măng cụt... Song đối với Long Khánh, ngày nay nói tới đặc sản cây ăn quả là nói tới sầu riêng, mít tố nữ chôm chôm, mãng cầu, xoài...Trong dân gian từ lâu đã truyền tụng câu ca dao: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm Xoài ngon, mít ngọt, chuối thơm nghìn trùng. Trước đây, hầu hết ở xã ấp nào của Long Khánh cũng đều có những khu vườn, hoặc rộng hoặc hẹp trồng cây tạp xen canh đủ thứ mỗi loại vài ba cây. Nhưng thời gian gần đây, vườn cây ăn quả sầu riêng, chôm chôm, mít tố nữ...ngày càng đi vào chuyên canh, thay đổi giống mới vừa ngon vừa cho năng suất cao. 1.1 Sầu Riêng Cây sầu riêng thân cao, trồng từ 10 năm trở lên mới cho trái nhiều. Sầu riêng được liệt vào loại “siêu trái”. Trái có hình thù gai nhọn, không hề lẫn với bất cứ trái cây nào khác kể cả màu da, múi và hương vị. Nói đến cây sầu riêng, có lẽ phải kể đến những điều thú vị của trái sầu riêng.Theo giáo sư Vũ Công Hậu thì sầu riêng là một loại trái cây nhiệt đới nổi tiếng. Tiếng tốt vì ai đã quen với hương vị của nó thì chất lượng “cực kì”. Tiếng xấu vì người ăn lần đầu - nhất là với người phương tây chê là khó ngửi. Ngay cả người Việt chúng ta, đến nay vẫn có người không “cảm” dược mùi vị đặc trưng của loại “siêu trái” này. Ngoài hình dáng gai góc và hưong vị đặc biệt ấy, trái sầu riêng còn một “nét” rất riêng của nó là chỉ thu hoạch khi nó chín từ trên cây và rụng xuống vào ban đêm. Với các loại trái cây khác nếu chín quá mà rụng xuống là coi như bỏ đi, nhưng với sầu riêng thì chính lúc (rụng) này chất lượng và hương vị của nó mới thật sự quyến rủ, đạt yêu cầu người thưởng thức. Có thi nhân đã so sánh hình ảnh này với... cuộc tình dang dở: “Sầu riêng rơi rụng giữa trời - Tình em đeo đẳng một đời trong ta.” Theo trào lưu và phát triển kinh tế, từ đầu thiên niên kỷ mới, Long Khánh đã thay đổi nhiều giống mới, trong đó có sầu riêng hạt lép, cơm vàng kèm theo hương vị sữa rất ngon. Người sánh ăn sầu riêng biết trái nào ngon, trái nào “sượng”. 1.2 Bưởi (Làng bưởi Tân Triều) Làng bưởi Tân Triều thuộc xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, cách thành phố Biên Hòa chừng 3 km. Làng bưởi ngày nay vẫn giữ được nét thanh bình của làng quê yên ả với những vườn bưởi xanh xum xuê quả, vườn tiếp vườn, tới đầu làng đã nghe hương bưởi thơm thoang thoảng Cây bưởi Tân Triều sau bao năm thăng trầm đã lấy lại “tiếng thơm” của mình khi người dân Tân Triều mạnh dạn xóa vườn tạp để phục hồi lại cây bưởi vào những năm 1985 trở đi. Bưởi Tân Triều có nhiều loại, bưởi Thanh nước nhiều, trái rất sai, mỗi mùa một cây có thể cho từ bốn đến năm trăm trái. Bưởi Xiêm, bưởi Long có vị ngọt nhưng trái nhỏ, ngon nhất là bưởi Đường lá cam và bưởi Đường núm. Bưởi ổi trái nhỏ nhưng có đặc tính lạ, có thể để dành hơn nửa năm, da quắt lại như trái dâu khô nhưng bóc ăn ngọt lịm. Ngoài ra còn hơn hai mươi loại khác nhau như bưởi Xiêm, bưởi Chua, bưởi bà Vân, bưởi Hè, bưởi Long... Tân Triều là ngôi làng cổ xưa nhất ở 114
  • 115.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Đồng Nai, nằm ven sông được bao bọc bởi kênh rạch tạo thành cù lao biệt lập, chỉ có một con đường duy nhất vào làng. Muốn đến làng bưởi, từ Biên Hòa du khách có thể đi bằng đường sông hoặc theo quốc lộ 24 là tới nơi, dân địa phương sẽ hướng dẫn cho bạn đi tham quan khắp làng, thưởng thức những quả bưởi chín mọng và món gỏi bưởi, rượu bưởi rất riêng chỉ có ở Tân Triều. Ở Tân Triều, nhiều người biết về ông Năm Huệ, chủ nhân Khu du lịch sinh thái Làng Bưởi, ông là người đầu tiên mở loại hình du lịch sinh thái nơi làng quê yên tĩnh ven sông Đồng Nai, cùng với những món đặc sản từ bưởi và những món ăn miệt vườn dậy hương đồng nội. Xứ bưởi Tân Triều có nhiều loại bưởi, mà loại nào cũng thơm ngon nhờ đất phù sa ven sông. Ông Năm chọn bưởi đường da xanh để làm gỏi. Bưởi phải là giống bưởi đường trong vườn vừa chín tới trên cành, mụn the ngoài vỏ bưởi nở hết mới hái xuống. Ai đã từng nếm qua món gỏi bưởi sẽ dễ dàng nhận ra món gỏi bưởi ở Tân Triều có công thức và mùi vị rất riêng. Gỏi bưởi ở những nơi khác trộn với khô mực xé sợi nhỏ. Còn ở Tân Triều thì trộn tép bưởi với tôm sông. Một chút chua, một chút the, một chút ngọt thanh. Tất cả quyện với cái dòn ngọt lịm của tôm bắt ở sông, dậy thơm cùng với ớt, hành tây, ngò, đậu phộng. Muốn dậy mùi vị gỏi hơn nữa thì xúc bằng một miếng bánh tráng rắc tôm đỏ giòn rụm. Và rồi khi ra về, không ít người thành phố không quên mang theo về một ít nước bưởi ép nguyên chất ngọt lịm, ít trái bưởi đường da xanh làm món quà quê cho người ở nhà. Một điều riêng có của bưởi đường da xanh Tân Triều mà chưa nhiều người biết là để dành được lâu cả tháng, để càng lâu vị bưởi càng ngọt đậm như đường. Thăm làng bưởi Tân Triều không chỉ gợi cho người ta một chút hoài niệm về vùng đất Đồng Nai xưa, nơi có nhiều di tích, danh lam thắng cảnh, thưởng thức những món ăn dân dã miệt vườn mà còn cảm phục người nông dân bám trụ với đất, với nghề tạo nên thương hiệu bưởi Tân Triều hôm nay không chỉ vang bóng trong nước mà còn “xuất ngoại” sang tận Hà Lan, Đức... 1.3 Chôm Chôm Cây chôm chôm thân thấp, tán rộng, trái có gai mềm, to chừng quả trứng vịt, trồng chừng vài ba năm đạ cho trái chiếng, khoảng từ bảy đến mười năm trở lên mới cho sản lượng cao. Mùa chôm chôm chín rộ vào tháng 5-6 dương lịch. Nhưng những nhà vườn trông chôm chôm có tay nghề cao họ có thể chăm bón để “thúc” cây cho ra trái sớm, bán được giá cao gấp 5-7 lần so với chính vụ. “Mưa nhiều rậm lá, nắng quá khô bông” - đó là kinh nghiệm của nhà vườn. Hương sắc của trái chôm chôm cũng khá đặc biệt. Mùa đơm bông kết trái có dịp thăm vườn chôm chôm chúng ta sẽ thấy một màu xanh ngăn ngắt, điểm chuyết lấm tấm màu trắng của hoa và những nụ xanh đang chuyển dần sang màu xanh sáng, màu vàng non rồi đỏ dần khi chín mọng, và những trái chín cuối mùa thường có màu đỏ sậm xen lẫn trong màu lá lục thẩm trông rất đẹp mắt. Một nhà thơ nữ ở Long Khánh đã say với vẻ đẹp ấy qua mấy câu thơ: “...Đỏ môi tươi hay màu trái chín Chôm chôm vườn người ngơ ngẩn hồn ai.” Ăn chôm chôm không gì thú bằng đi trong vườn chôm chôm để ngắm vẻ đẹp của những hàng cây song song tỏa bóng mát, trên cây là hàng trăm, hàng ngàn chùm với hàng vạn trái xanh, vàng, đỏ chen nhau, khỏa lấp hết cả sắc lá cành, và tự tay mình vin cành bẻ những trái chín tới, bóc vỏ rồi cho vào miệng, thong thả nhai để nghe hương vị ngọt ngào tan dần trong lưỡi mát rượi tới tâm can! Thế rồi vừa ăn vừa ngắm cảnh vườn, ríu rít chim ca, chuyện trò về cây trái miệt vườn. Không như mua bán ở chợ, chủ nhân vườn chôm chôm rất mến khách - sẵn sàng mời bạn đi khắp vườn tự nhiên hái ăn thoải mái, thỏa thích, có khi còn bẻ tặng thêm đôi ba ký mang về. 1.4 Mít Tố Nữ Nói tới mít thì Long Khánh vốn là đất của mít, xoài, đu đủ rất lâu đời. Ba loại trái này thì khắp nơi đều có không nhiều thì ít. Nhưng “Mít tố nữ” thì gần như độc chiếm ở đất Long Khánh. Mít Tố nữ, trái nhỏ hơn rất nhiều so với mít thường, có trái nặng chỉ vài lạng, to thì một, hai ký là nhiều. Do trái nhỏ, nên nhiều người mới vào miền Nam thoạt nhìn tưởng đó là mít non. Múi và hương vị của mít Tố nữ cũng khác rất nhiều so với mít thường: xẻ một đường đọc để bổ đôi trái mít, lật cuống lên sẽ thấy múi tròn , nổi gân, kết như một chùm dâu chín vàng, thơm lựng, thơm 115
  • 116.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị ngạt ngào, thơm rất lâu, vỏ và cùi mít có khi ba ngày còn phảng phất ; khách ăn mít tố nữ vừa xong khó mà “che dấu” được người chung quanh bởi cái mùi rất đặc biệt này. Mấy chị em đi chợ nói rằng:”Ghiền món gì đi chợ “ăn vụng” đố ai biết, nhưng ăn sầu riêng, tố nữ thì không “giấu” vào đâu được bởi về tới nhà hãy còn nghe mùi thơm bất hủ của nó.” Không sai chút nào! 1.5 Mãng cầu Xiêm Da mãng cầu Xiêm có màu xanh lục thẩm, có gai mềm, trái to cỡ như đu đủ vậy, nhưng khác với đu đủ là phần trên cuống thì nhỏ, dưới to; còn mãng cầu xiêm thì phần trên cuống to, dưới nhỏ. Đu đủ chín thì da vàng, còn mãng cầu xiêm chín thì đổi da láng và mềm. Trước đây mãng cầu na, mãng cầu dai trái nhỏ bằng nắm tay người ta trồng nhiều, nhưng mươi năm gần đây mãng cầu xiêm trồng nhiều hơn và rất được giá có lúc một trái vài chục ngàn đồng.. Nhiều chủ vườn còn chăm bón cho ra trái vụ, bán giá cao. Một thời gian người tiêu thụ “chê” trái to vì sợ người ta sử dụng thuốc kích thích cho trái mau lớn, kể cả trái đu đủ cũng vậy. Trái mãng cầu xiêm còn được người ta dùng nhiều nhờ có vị thuốc trị cao huyết áp. Mùa chín rộ giá hạ đây là lúc người ta thu mua để chế biến mứt bán tết. Ngày Tết, trong đĩa mứt mời khách thường không thể thiếu loại mứt trái cây được bọc trong giấy kiếng đẹp, ăn rất ngon bởi vị chua-ngọt-thơm hòa quyện của nó. Đó là mứt mảng cầu xiêm. Đây chính là lợi điểm mà ít loại trái cây nào có được. 1.6 Đu Đủ, Xoài Đối với cây đu đủ, cây xoài ngày nay diện tích có thu hẹp, nhưng không phải là hiếm. Tuổi thọ cây đu đủ không cao, nhưng năng suất thì không kém gì các cây khác. Cây xoài thuộc dạng cây lâu năm từng là chủ lực song song với cây chôm chôm ở Long Khánh. Bây giờ, có lẽ do nhiều cây trái mới du nhập vào Việt Nam nên cây đu đủ, xoài có phần lép vế. Ngược thời gian vài mươi năm trước, nếu ai đến Long Khánh vào những buổi sáng đều bắt gặp hàng loạt xe máy cày, máy xới chở đầy xoài, đu đủ điểm hồng ra chợ bàn hay đóng kiện gửi đi giao thương các tỉnh, thành phố khác. Nhiều gia đình nông dân vẫn coi cây đu đủ là cây “lấy ngắn nuôi dài”, không quá kén đất, tuổi thọ một hai mùa là các cây chủ lực khác lớn lên rồi...cây đu đủ “hy sinh” để cho những cây khác vươn lên. Đu đủ, xoài là một trong những món không thể thiếu được trong ly Koctai, mát lạnh, ngọt lịm thỏa cơn khát trong buổi trưa hè nóng bức. ...TRÁI CHÍN QUANH NĂM Ngoài những cây trái “chủ lực” trên, Long Khánh còn có những trái cây đặc sản khác như: thanh long, bơ, sa-pô-chê, táo, quít... Riêng nho thì đất Long Khánh dường như không hợp với cây trái từng nổi tiếng sản sinh ra rượu vang này. Cây thanh long, có lúc người trồng cây gọi thanh long là “rồng xanh bay lên” bởi giá bán cao 15.000 đồng/ký. Khi Thanh Long Bình Thuận phát triển thì giá giảm xuống, Thanh Long Long Khánh cũng trầm lắng theo. Cây bơ cũng vậy, đây là loại cây bước đầu ít ai thích dù nó được xếp vào hàng thứ năm của các chuyên gia về lương thực thế giới (FAO). Nhưng lâu dần, cây bơ trở thành phổ biến và được người tiêu dùng ưa chuộng, nhất là mùa nắng đánh một trái bơ nhuyễn ra với sữa đặc có đường...là có ngay món giải khát tuyệt vời. Trái bơ có loại da xanh, loại da tím; mùa đậu trái là khi mùa mưa lạnh chấm dứt, cây cho năng suất cũng khá cao. Ngoài ra phải kể đến táo, mận, cam, quit cũng được nông dân trồng. Xã Bảo Vinh có nông dân trồng quít rất thành công.Vào vườn quả không có lối đi bởi chi chít là cành, là trái trông thật đã mắt. Thế đó! Mùa nào thức nấy: chuối, mít, đu đủ, cam, quít quanh năm; đông-xuân có xoài, mùa hạ có bơ, chôm chôm, sầu riêng; thu-đông có mãng cầu, nhãn... Đất Long Khánh bao đời nay vẫn tiếp tục là “đất lành chim đậu” và có lẽ xin được thêm cụm từ “cây xanh trái ngọt”: Chim quyên ăn trái xoài xanh Ăn no tắm mát, lên cành líu lo 116
  • 117.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị * Xăm xăm bước tới vườn đào Hỏi thăm lê lựu, mãng cầu chín chưa? Cho dù câu ca dao này có dụng ý dùng nghĩa bóng để chỉ một “người đẹp” nào đó, thì bạn ơi, hãy nghĩ tới cái bình dị của người Long Khánh vốn rất mến khách - đặc biệt là dân miệt vườn cây trái. Ở đây, mời bạn cứ thong thả dạo chơi, thỏa thích ngắm nhìn vườn cây trĩu quả và giang tay đón nhận từ bàn tay ai đó trao một quả chín tươi hồng mà tin chắc dù chưa ăn bạn cũng đã cảm thấy ngọt lim đầu môi bởi...nụ cừoi và đôi mắt ai lóng lánh, trữ tình... 2. Đến những món ăn đặc sản: 2.1 Gỏi cá Biên Hòa Đóng đô ven cù lao Phố với các quán san sát bờ sông Đồng Nai, gỏi cá Biên Hòa từ lâu đã trở thành món đặc sản của vùng đất này. Chỉ đơn giản là đĩa thịt cá, nồi nước lèo kèm mớ rau đủ loại, cộng với không gian đặc trưng của vùng đất cù lao đã trở thành điểm hẹn của những ai thích đi tìm những món ngon dân dã. ỏi. Các quán gỏi thường nằm ngay mé sông, khung cảnh mát mẻ, hữu tình, nhưng đường vào không mấy suôn sẻ, chỉ có xe máy đi được và chắc chắn phải có thổ địa dắt đường nếu không muốn đi lòng vòng trong mê cung. Đấy là quán gỏi cá Biên Hòa thuộc phường Tân Mai. Các quán ở đây kinh doanh theo mô hình gia đình, nhà ở ven sông, mở quán phục vụ khách nên rất gần gũi, dân dã. Đường vào quán, nếu tính từ vòng xoay Tam Hiệp, đi về trung tâm Biên Hòa, mất 2 km đến trụ sở phường Tân Mai, bên hông có con hẻm nhỏ, cứ thẳng đó đi mãi qua cây cầu, qua bãi tha ma, sẽ đến gỏi cá Biên Hòa nằm um tùm trong vườn cây lá. Với những quán gỏi cá ở cù lao Phố, đường đi rộng rãi, dễ tìm hơn, nếu không biết hướng chỉ cần hỏi ở đâu có gỏi cá Biên Hòa, những cư dân địa phương nhiệt tình chỉ điểm đến nơi đến chốn. Món gỏi cá ngon ở điểm nguồn nguyên liệu dễ tìm, luôn trong trạng thái tươi sống. Con cá còn bơi quẫy tung tăng trong hồ được vớt ra, với thao tác nhanh gọn, chính xác, đầu bếp cầm con dao bén ngót lát một đường dọc theo xương sống từ đuôi đến mang, lộn ngược má thịt ra ngoài, dùng một dụng cụ nạo từng thớ thịt cá mỏng dài chừng hai đốt ngón tay. Miếng thịt cá trắng tươi, nổi rõ từng lằn gân máu đỏ, ngay lập tức được trộn với hỗn hợp những gia vị quen thuộc như riềng, hành, tỏi, sả, thính, bao phủ một lớp mỏng bọc ngoài miếng thịt cá. Vừa giữ cho miếng cá không đổi mùi tanh, và có độ khô cần thiết tạo cảm giác an tâm khi có một lớp đủ thứ gia vị màu vàng ươm bao bọc, nhìn thôi đã đủ thèm ứa nước miếng. Nhìn đĩa cá sống trộn gỏi, cái thèm mới đi được một nửa, thứ nâng món gỏi cá lên hàng thương hiệu đặc sản này lại nằm ở nồi nước xốt. Một bếp ga, một cái xoong nhỏ, trong đó là lưng lửng nước sốt sền sệt, nổi váng mỡ vàng ươm điểm rải rác hạt mè, được chế biến từ thịt cá, gan cá, mỡ cá, riềng, sả, hành tím để trên bếp sôi sủi bọt sùng sục, nhả khói thơm nức mũi. Với tay bẻ miếng bánh đa, quẹt một đường vào nồi nước xốt để nhấm nháp vị mặn mà, béo ngậy của gia vị, của thịt cá. Nhưng vị ngon của món gỏi vẫn chưa kết thúc ở nồi nước sốt, bởi còn đi kèm với đĩa rau kiểu nhà quê mộc mạc gồm những vị chát, hăng, ngọt, bùi từ đinh lăng, lá lốt, lá mơ, lá sung đến húng quế, ngò gai, đài bì, tía tô, dấp cá. Để thưởng thức một miếng gỏi cá trọn vẹn, tất cả các loại rau xếp gọn gàng vào lòng chén, nhón đũa gắp miếng cá, chần sơ vào nồi nước sốt nóng hổi, bỏ vào mớ rau cuộn chắc lại, kèm thêm củ hành tím, miếng ớt hiểm. Đem chấm cuốn cá vào nước sốt, chầm chậm nhai để cảm nhận vị ngọt của cá, mùi thơm phảng phất của thính và gia vị, đến các vị cay của hành, ớt, sả, chát, đắng, nồng của rau. Trước mặt là dòng sông phong cảnh hữu tình, gió thổi mát rười rượi. Đến đây mới thực sự lột tả hết cái ngon của món gỏi cá Biên Hòa. 117
  • 118.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Ở không xa trung tâm thành phố Biên Hòa, nhưng khung cảnh các quán gỏi cứ như đâu đó tận miệt quê, món ăn cũng không lấy gì làm cầu kỳ, phức tạp, chỉ có gió, có sông, có cá tươi, rau vườn tổng hoà lại để làm nên thương hiệu của gỏi cá Biên Hòa, món ăn ngon mà lạ. 2.2 Canh chua lá dang Long Khánh Miền đông đất đỏ Bazan lá dang mọc rất nhiều, nó thuộc họ dây leo, thường mọc trong rừng cao su. Mẹ tôi cứ mỗi chiều đi cạo mủ về y như rằng thế nào trong giỏ cạo cũng có một vài bó lá dang để dành nấu canh; món canh lá dang là món khoái khẩu của anh em tụi tôi. Lá dang được lặt kỹ, rữa sạch, trước khi để ráo nhớ vò mạnh tay một tí cho lá hơi bị dập ra vị chua mới đáo để và hấp dẫn. Trên bếp đã chuẩn bị sẵn con gà luộc, nước luộc gà dùng để nấu canh lá dang thì trên cả tuyệt vời; chỉ cần sử dụng một ít thịt đầu, cổ cánh, chân và cả phao câu nững cho nồi canh thêm ngọt. Sau khi nêm nếm vừa miệng ăn, nhớ bỏ thêm chút đường cát cho nó đậm đà, chua chua mà ngọt ngọt mới bắt mồi (món này dân nhậu khoái chí lấm đấy). Lá dang để ráo, nồi nước vừa sôi sùng sục bỏ lá dang vào, khuấy đều để cho lá ngã màu vàng, nêm lại một tí là được. Lúc này bộ lòng gà được phi hành mỡ xào lên, nêm nếm cho vừa; nhắc nồi canh xuống đổ chão lòng gà vào nồi canh nghe một tiếng xèo, béo ngậy, toả mùi thơm hấp dẫn giữa thịt gà lá dang, hành ngò, rau quế. Cả nhà quây quần bên mâm cơm có tô canh chua gà lá dang, mãi mê ăn quên cả no. 2.3 Dơi xào lăn Long Khánh là vùng có nhiều cây trái, hoa quả ngọt, quanh năm nên có rất nhiều loài dơi trú ngụ. Có nhiều loại dơi: dơi quạ, dơi sen, dơi chó, dơi hương…ta có thể giăng lưới bắt gơi ban đêm trong các vườn cây ăn trái trong mùa trái chính, hoặc ban ngày tìm đơi trong các hang động, cây da, hoặc trong trần nhà tối; bọn trẻ còn bắt dơi trong cát đọt chuối. Bắt dơi cũng phái khéo léo, kẻo dơi cắn tay chảy máu chứ chẳng chơi. Trước khi làm thịt, dơi được cắt tiết; huyết dơi có tính hàn, uống rất mát, thường dùng pha với rượu uống, nghe nói rượu huyết dơi còn trị được bệnh hen suyễn, và hiếm muộn con. Thịt dơi rất ngọt và thơm, dơi càng hôi thì xào lăn ăn càng có vị đậm đà; thịt dơi còn có thể băm nhuyễn nấu cháo lại càng hấp dẫn. Trong bữa bữa cơm của người miền đông nam bộ có thêm mót thịt dơi xào lăn thì thật là tuyệt. 2.4 Nấm mối xào tỏi Nấm mối chỉ mọc một lần trong năm, vào đầu mùa mưa khoảng dịp tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch). Nấm mối mọc trong vườn rẫy, nhiều nhất là trong rừng lô cao su; những người sành nấm mối, chỉ nghe mưa là đoán ngay sẽ có nấm mối, gáng hôm sau đi tìm, y như rằng tha hồ mà nhổ. Nấm mối không nên rửa trước mà phải để khô, gọt cho sạch chân nấm cho hết đất, gọt xung quanh đỉnh nấm vì sợ ngộ độc. Sau khi gọt sach nấm được ngâm nước muối rồi rữa sạch, để cho ráo nước là có thể đem xào nấu được, khi xào nên chọn mỡ heo để xào mới ngon. Nấm mối chỉ cần xào tỏi là tuyệt lắm rồi; nấm búp là nấm mới nhú khỏi mặt đất xào ăn còn hấp dẫn hơn nhiều. Nấm mối còn được dùng để nấu cháo, đổ bánh xèo đều ngon hết chỗ nói. Nấm mối ngon ngọt hơn cả thịt gà có hương vị lạ và quyến rũ. Nấm mối còn được bọn trè gói bằng lá nghệ, lá chuối, lá lốp đem nướng chấm muối tiêu chanh thì tuyệt cú mèo. Mùi thơm của nấm mối có sức quyến rũ lạ thường người nào may mắn ăn được một lần sẽ nhớ mãi. Hành tình đi tìm nấm mối là kỷ niệm khó quên của thời niên thiếu ở Long Khánh miền đông. 2.5 Cơm gà cá mặn Ở các quán ăn vừa sang trọng vừa bình dân như quán Bạn Tôi (Thích Quảng Đức nối dài), Hương Việt (Cách mạng tháng Tám-phường Xuân An), Thanh Mập (Nguyễn Văn Bé-phường Xuân Thanh), quán Tài Lộc (Thích Quảng Đức-phường Xuân An), xuất hiện món cơm gà cá mặn và đã trở thành món ăn phổ biến hấp dẫn như đặc trưng riêng của vùng đất Long Khánh. 118
  • 119.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Cơm được nấu trong nồi đất, được trộn lẫn các gia vị như thịt gà, chà bông, cá mắm, nêm nếm sao cho vừa ăn.Khi ăn, niêu cơm vẫn còn để trên bếp, lúc xới cơm hơi khói bay nghi ngút tỏa mùi thơm quyến rũ; cơm nấu càng cháy ăn càng ngon và đậm đà. Đãi khách bằng món cơm gà cá mặn vừa tiện, hấp dẫn lại ngon, thắt chặt thêm tình cảm thắm thiết giữ khách và chủ đặc biệt là sẽ nhớ Long Khánh vớimón cơm gà cá mặn. 2.6 Dế cơm chiên nước mắm Dế cơm tuy là loại côn trùng, sống tự nhiên dưới hang nhưng là món ăn dân dã xuất hiện từ rất lâu ở Long Khánh. Thường vào mùa mưa, bọn trẻ thường đi đào dế cơm về cung cấp cho thực khách, dế cơm cũng có thể câu bằng cách thả kiến nhọt xuống hang, lấp miệng hang lại khoảng vài phút dế cơm bị kiến nhọt cắn, nhảy thót lên miệng hang tha hồ mà bắt. Dế cơm chỉ cần lặt sạch cánh, lặt 2 chân sau(để đùi lại, 2 đùi dế rất béo), móc ruột bỏ hết, xong nhét hột đậu phộng vào ruột, rồi ướp nước mắm, nêm cho vừa ăn. Mắc chão dầu cho xôi, để dế vào chiên cho vàng là được. Dế cơm chiên nước mắm ăn vừa dòn, vừa đậm đà hương vị nước mắm, vừa béo ngậy của dầu, béo thơm của đậu phộng mang đặc trưng món ăn dân dã miền Đông Nam bộ. Ngoài ra dế cơm còn được những bà nội trợ lăn bột chiên bơ để thêm một món đãi khách thì hết chỗ nói. 2.7 Lẩu cá khổ qua rừng Khá phổ biến ở Long Khánh, đây là loại lá khổ qua rừng rất đắng nhưng có hậu ngọt ngào, đậm đà dân dã. Là loại lá rừng, chỉ mọc trong mùa mưa nhưng để đáp ứng nhu cầu ẩm thực của thực khách nhiều hộ dân đã nhân được giống khổ qua rừng để trồng ở vườn nhà, đến nay thì lá khổ qua rừng có quan năm khi nào thực khách cần cũng đều có thể đáp ứng được. Lẩu lá khổ qua rừng nếu được nấu bằng cá trào cững (giống cá lóc con) thì hợp khẩu vị hơn; nếu không thì nấu với sườn non, tôm khô cũng được. Lá khổ qua được lặt, rữa sạch để ráo trên dĩa, lẫu nước đang sôi chỉ cần nhúng một nắm lá vào lẩu vớt với ra ngay dùng liền, thì mới cảm được vị ngon đặc trưng của nó. 2.8 Trái Ươi rừng Từ nhiều năm nay rừng Đồng Nai đã đóng cửa. Người "làng rừng" vùng chiến khu Đ không còn mấy ai được vào lượm trái ươi rụng đầy dưới gốc cây khi ve sầu bắt đầu cất tiếng hát. Nhưng không phải năm nào cũng có, "mùa ươi" có khi hai, ba năm mới trúng một lần. Do vậy, trái ươi ngày càng đắt đỏ. Người viết đã một lần được theo chân các cán bộ kiểm lâm của Lâm trường Vĩnh An cho vào rừng để săn ươi.Nói là săn bởi vì trái ươi đã hiếm lắm rồi. Để hái trái còn tươi nguyên, các thợ săn phải leo lên cây mé nhánh. Ươi là loại thân cây to, cao cả chục mét. Do vậy, để mé được nhánh, thợ săn leo trèo giỏi. Mỗi cây có thể cho từ 30- 50kg trái tươi. Trái ươi tươi đem về phơi vài nắng, khô lại còn bằng đầu ngón tay giữa của người lớn thì có thể cất vào nơi khô ráo hàng tháng có khi vài năm vẫn không bị hư. Nhiều cán bộ, chiến sĩ từng sinh sống, hoạt động ở Chiến khu Đ còn nhớ, có một thời kỳ chiến tranh ác liệt, điều kiện sống rất thiếu thốn, khó khăn nên trái ươi trở thành thứ đặc sản mà chỉ khi có khách quý mới mang ra đãi. Trái ươi có đặc điểm đụng vào nước, nhất là nước ấm thì mau nở ra. Sau khi bốc bỏ phần vỏ và hạt, thì trái ươi gần giống như mủ gòn. Nhiều người thường trộn ươi với hạt é, bỏ thêm ít đường vào làm nước giải khát. Già làng Năm Nổi cho biết, bà con đồng bào dân tộc Chơ-Ro ở Lý Lịch cũng như cán bộ, chiến sĩ ở Chiến khu Đ trước đây nhiều người biết, hạt ươi đem rang lên, xay ra hòa với nước uống trị nấc cụt và "tào tháo rượt" dứt cơn nhanh chóng. Trái ươi có khá nhiều ở rừng miền Đông mà tập trung nhất là ở rừng Cát Tiên và Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu ngày nay. Có một thời kỳ, khi Nhà nước chưa đóng cửa rừng, người dân sống ven rừng ở miệt Tân Uyên (tỉnh Bình Dương), Phú Lý, (huyện Vĩnh Cửu) vào rừng săn trái 119
  • 120.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị ươi kiếm bán được khá nhiều tiền. Mỗi người, một ngày có thể nhặt được từ 5 - 10kg. Giá mỗi ký tại chợ Lý Lịch bình quân từ 10-15 ngàn đồng. Mỗi người có thu nhập từ ươi không dưới 50 ngàn đồng/ngày. Nhưng khi ra đến thị xã, thành phố, giá ươi lên đến 50-70 đồng/kg. Hiện nay, tại một số quán giải khát và các xe hàng đẩy rong trong TP. Biên Hòa , TP. Hồ Chí Minh thì hạt ươi trở thành món đắt hàng vì giá cả bình dân và là món khoái khẩu của nhiều người. Chẳng những thế, hạt ươi còn được một số nhà buôn ở Chợ Lớn xuất khẩu sang Hồng Kông, Đài Loan. 6. Một số địa chỉ ẩm thực  Nhà hàng Đồng Nai 113 Cách Mạng Tháng 8, TP Biên Hòa, 061.822407  Nhà hàng Long Biên 02 Phan Đình Phùng, TP Biên Hòa, 061.822688  Nhà hàng Bửu Long Tỉnh lộ 24, Bửu Long, TP Biên Hòa, 061.951274  Nhà hàng Du Long Tỉnh lộ 24, Bửu Long, TP Biên Hòa, 061.951955  Quán Bà Đốc 99/3 xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa, 061.850332  Nhà hàng Hải Vân 48 Huỳnh Văn Lũy, Phường Thanh Bình, TP.Biên Hòa, 061.822719  Nhà hàng Bến Thành 111 QL1 Phường Quyết Thắng, TP.Biên Hòa, 061.822370  Nhà hàng Hóa An QL1K Hóa An, TP.Biên Hòa, 061.954257  Nhà hàng Đồng Tháp 10 Tỉnh lộ 16, Phường Tân Vạn, TP.Biên Hòa, 061.850791  Nhà hàng Tường Vân 7/3A Cách mạng tháng 8, Phường Hòa Bình, TP.Biên Hòa, 061.827412  Quán An Phát K3/120A Tân Mỹ, Phường Bửu Hòa, TP.Biên Hòa, 061.859016  Quán Cây Sứ 260 KP2, QL15, Phường Thống Nhất, TP.Biên Hòa, 061.819560  Long Quới Thôn Trang 284/3 Ấp Tam Hòa, Xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa, 061.855381  Quán 185+4 185 Hưng Đạo Vương, Phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa, 824416  Quán Bá Nam 8/2B Nguyễn Văn Trỗi, TP.Biên Hòa, 061.819127  Quán Tre Xanh 120
  • 121.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 25/4 Nguyễn Văn Trỗi, TP.Biên Hòa, 061.827726  Quán Cây Dừa 23/1A Cách mạng tháng 8, Phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa, 061.822786  Quán Cánh Buồm 158/10/5 Phường Hòa Bình, TP.Biên Hòa,  Quán Toàn 2A Nguyễn Văn Trỗi, Phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa, 061.826409  Quán 0234 387/A2 Ấp Nhị Hòa, Xã Hiệp Họ, TP.Biên Hòa, 061.850671  Quán 1111 67C KP2, Phường Quyết Thắng, TP.Biên Hòa,  Quán Việt Ấn 6/6 Tổ 10 KP7, Phường Tam Hiệp, TP.Biên Hòa,  Quán Đông Tây 205C QL 15 Phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, 0903.693267  Nhà hàng Quyết Thắng 102/34 QL 1, TP Biên Hòa, 061.819419  Quán Năm Ri 20/3B KP5, Phường Hòa Bình, TP.Biên Hòa, 061.825107  Nhà hàng Ngọc Vân B12/KP5 QL15, Phường Tam Hiệp, TP.Biên Hòa, 061.813953  Nhà hàng Nam Bình 1/3A KP5, Phường HÒa Bình, TP.Biên Hòa, 061.824264  Nhà hàng Quyết & Chiến 94/475 KP8, QL15, Phường Tam Hiệp, TP.Biên Hòa, 061.814338  Nhà hàng Thanh Trà 7C KP1 Đồng Khởi, Phường Trảng Dài, TP.Biên Hòa, 061.890836  Nhà hàng Song Hỷ 161/31 KP2, Phường Tam Hòa, TP.Biên Hòa, 061.812523  Quán Lá 250/24 KP2 Phường Thống Nhất, TP.Biên Hòa, 061.916036  Quán Thanh Mai 400/A2 Ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, TP.Biên Hòa, 061.850789 7. Quà lưu niệm 1. Tranh đá quý ở Biên Hòa 121
  • 122.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Để có một bức tranh đá quý ưng ý dành tặng cho người thân, bạn bè hoặc để làm đẹp thêm cho ngôi nhà của mình, bạn có thể tìm mua tại cửa hàng tranh đá quý Trường Sinh số 98E, Võ Thị Sáu, TP. Biên Hòa. Tranh ở đây được làm hoàn toàn bằng thủ công. Vì nguyên liệu chính là đá quý thiên nhiên nên tranh có sắc màu vĩnh cửu, không bị tác động bởi nhiệt độ, môi trường. Sau một thời gian treo tranh nếu bị bám bụi, bạn có thể tháo xuống dùng nước xà bông và bàn chải mềm cọ rửa. Sau đó để khô nước treo lại, sau khi cọ rửa tranh sẽ không bị hư hỏng về màu sắc cũng như độ bền. Để đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng, cửa hàng còn nhận đặt và chế tác theo mẫu mã, ý tưởng của khách, có Catalogue với nhiều bức hình mẫu cho bạn lựa chọn. Tùy theo kích cỡ, kiểu dáng mà tranh đá quý có khung giá khác nhau, từ 500 ngàn đến vài triệu đồng. Nếu chọn tranh để làm đẹp thêm phòng ngủ hoặc những góc tường nhỏ gần cửa ra vào bạn nên chọn những bức tranh có hình các loại hoa như: hoa lan, cúc, hồng... (giá khoảng 500 - 600 ngàn đồng); bức tường dọc theo cầu thang phù hợp để treo tranh tứ hình (4 bức tranh có chủ đề tượng trưng cho 4 mùa trong năm là xuân, hạ, thu, đông) có giá từ 1,5 - 2,5 triệu đồng. Riêng phòng khách, bạn nên đặt hoặc treo những bức tranh đá quý có phong cảnh đồng quê với tùng hạt, tứ mã, cọp... Loại tranh này đang được khách hàng ưa chuộng, mua dành tặng vào những dịp lễ tân gia, sinh nhật, khai trương..., giá từ 900 ngàn đồng đến vài triệu đồng. Đặc biệt, cửa hàng còn nhận chế tác hình cưới bằng đá quý cho khách hàng có nhu cầu. Một bức hình 8/14 được chế tác bằng các loại đá quý như Ruby, Sapphire, Zircon vàng, Flo xanh, Thạch anh trắng... có giá là 7.500.000đ. 2. Tranh thêu Huế tại Biên Hòa: Để có một tấm tranh thêu ưng ý dành tặng cho người thân, bạn bè hoặc để làm đẹp thêm cho ngôi nhà của mình, bạn có thể tìm mua tranh thêu tại cửa hàng tranh thêu Thanh Hải, số 236 QL15, khu phố 3, TP. Biên Hòa. Ở đây có bán nhiều bức tranh thêu bằng tay có xuất xứ từ tỉnh Thừa Thiên - Huế. Thế mạnh của tranh thêu Huế là những bức tranh thêu hoa và phong cảnh đồng quê. Để đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng, cửa hàng còn nhận thêu theo yêu cầu của khách và có catalogue với nhiều bức hình mẫu cho bạn lựa chọn. So với tranh thêu của XQ thì giá tranh thêu Huế có vẽ mềm hơn nhiều. Tùy theo kích cỡ và thời gian thêu tranh mà tranh được bán với mức giá khác nhau, khoảng từ 100 ngàn đến vài triệu đồng. Mỗi bức tranh đều hàm chứa một ý nghĩa khác nhau vì vậy tùy theo bối cảnh, không gian, nội thất của gia đình mà bạn chọn những bức tranh thêu cho phù hợp. Nếu chọn tranh để làm đẹp thêm phòng ngủ hoặc những góc tường nhỏ gần cửa ra vào bạn nên chọn những bức tranh có thêu hình các loại hoa như: lan, cúc, hồng... (giá khoảng 500-600 ngàn đồng); còn bức tường dọc theo cầu thang phù hợp để treo tranh tứ bình (4 bức tranh có chủ đề tượng trưng cho 4 mùa trong năm là xuân, hạ, thu, đông) có giá từ 1,5 -2,5 triệu đồng. Riêng phòng khách, bạn nên đặt hoặc treo những bức tranh phong cảnh đồng quê, tranh thêu tùng hạt, tứ mã, cọp... Loại tranh này cũng được khách hàng ưa chuộng mua dành tặng vào những dịp lễ, tân gia, sinh nhật, khai trương, với giá từ 900 ngàn đồng đến vài triệu đồng. 3. Gốm Biên Hòa Có truyền thống từ thế kỷ XVII với đồ đất nung và sành nâu ... nhưng phải đến cuối thế kỷ 19 và thế kỷ 20, gốm Biên Hoà với các sản phẩm đồ gốm sành xốp mới trở nên nổi tiếng và đặc biệt đã giành được huy chương vàng tại các cuộc triển lãm gốm mỹ thuật quốc tế tại Paris năm 1990 và 1993. Đặc trưng của loại gốm này là sự kết hợp phong cách gốm Việt Nam, gốm Trung Quốc và gốm Limoge của Pháp. Theo xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa, tới lưu vực sông Đồng Nai, ta bắt gặp những làng mạc trù phú với vô số lò gốm đang ngày đêm toả khói, đó là các làng gốm Biên Hòa của Tỉnh Đồng Nai, nổi tiếng hơn cả là Cù Lao Phố, các làng Bình Dương và Xuân An. Điểm nổi bật của các sản phẩm gốm Biên Hòa là vừa có giá trị nghệ thuật lại vừa có giá trị sử dụng cao. Chủ yếu là các loại đôn voi, đôn tròn, các loại chậu hoa, tượng, thú... với nét trang trí 122
  • 123.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị canh tân hiện đại, tinh tế, sử dụng men nhẹ lửa, màu men thanh thoát trắng sữa hay trắng ngà. Các đề tài trang trí trên gốm sứ thường mang phong cách Trung Quốc như hình ảnh Tứ quý, Tứ linh, những bài thơ vịnh bằng chữ Hán thường thấy trên các sản phẩm tráng men của Biên Hòa. Bên cạnh đó, dòng gốm mỹ thuật của Biên Hòa cũng rất nổi tiếng. Cách đây hơn 20 năm, các nghệ nhân gốm Biên Hòa đã rất thành công trong việc vẽ, khắc tranh dân gian trên gốm, hình thành một dòng tranh gốm rất phát triển cho đến ngày nay. Các sản phẩm gốm mỹ thuật ở Đồng Nai rất phong phú: từ trường phái khai thác văn hóa Chăm như hình ảnh tượng thần Vixnu, thần Xiva đang nhảy múa đến các loại tượng dân gian Việt Nam như Mục đồng, Tố Nữ... Ngoài ra, Biên Hòa còn nổi tiếng bởi các sản phẩm gốm đất nung (gốm đỏ) không phủ men mang vẻ đẹp tự nhiên rất được thị trường ưa chuộng. Hai yếu tố quan trọng tạo nên vẻ đẹp đặc trưng của gốm Biên Hòa là nguồn nguyên liệu cao lanh và đất sét màu chất lượng cao cộng với trình độ của đội ngũ thợ gốm có tay nghề. Có thể nói, tài nghệ của thợ gốm Biên Hòa chính là ở chỗ họ đã tiếp thu, hòa nhập được những nét tinh hoa của các nền văn hóa trong các sản phẩm của mình. Qui trình sản xuất một sản phẩm gốm trước hết qua khâu tạo dáng trên bàn xoay hoặc trong khuôn, được trang trí vẽ chìm, đắp nổi hoặc trổ thủng sau đó phủ men màu lên những phần đã trang trí trước khi đưa vào lò nung. Các khu vực sản xuất gốm Đồng Nai hiện nay tập trung chủ yếu ở phía Nam thành phố Biên Hòa, tại các xã Hóa An, Vũ Hòa, Tân Vạn, Tân Hạnh và Long Thành. Trên địa bàn tỉnh có tới hàng trăm doanh nghiệp, các công ty TNHH và cơ sở sản xuất gốm sứ. Hầu hết các cơ sở sản xuất lớn ở đây như Hợp tác xã Gốm Thái Dương, Công ty TNHH Minh Đức, Công ty TNHH Việt Thành, Công ty THNH Đồng Thành ... đã đầu tư trang bị lò nung bằng ga, nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm đồng đều và hạ giá thành sản xuất. Tham gia nhiều hội chợ quốc tế và các cuộc triển lãm lớn trên thế giới, các sản phẩm gốm Biên Hòa ngày càng được nhiều bạn hàng trên thế giới biết đến. Gốm Biên Hòa đã và đang được xuất khẩu đi hầu hết các nước ở Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ, đem lại kim ngạch xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước. Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu gốm thủ công mỹ nghệ trên địa bàn tỉnh đạt 6,683 triệu USD nhưng năm 2002 đã đạt tới 9,6 triệu USD. Trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay, Đồng Nai là một trong những tỉnh rất có thế mạnh về đầu tư nước ngoài, trong đó các ngành nghề thủ công truyền thống, đặc biệt là nghề gốm sứ đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh. Với lợi thế là một thành phố nằm ở cửa ngõ của thành phố Hồ Chí Minh, thuận lợi về vận tải và kinh doanh xuất nhập khẩu, ngành gốm Đồng Nai với truyền thống và phong cách riêng rất độc đáo hoàn toàn có đủ điều kiện để giới thiệu và mở rộng thị trường của mình ra nhiều nước trên thế giới. Ngoài ra Đồng Nai còn có các sản phẩm lưu niệm được làm từ mây, tre, nứa dựa vào nguồn nguyên liệu chính có sẵn từ rừng quốc gia nam Cát Tiên. 123
  • 124.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị BÀ R A - VŨNG TÀUỊ  XX. V TRÍ Đ A LÝỊ Ị Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh miền Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh, mặt còn lại giáp biển Đông với hơn 200 km bờ biển trong đó có 40 km là bãi tắm. Bà Rịa - Vũng Tàu có 7 đơn vị hành chính: Thành phố Vũng Tàu; thị xã Bà Rịa; 4 huyện trên đất liền : Châu Đức, Tân Thành, Xuyên Mộc và Long Đất; và Huyện Côn Đảo có 66 km bờ biển. Thềm lục địa rộng trên 100.000 km2 .  Thành phố Vũng Tàu: Thị xã Bà Rịa: Diện tích: 175,62 km2 . Diện tích: 89,09 km2 . Dân số: 167.529 người. Dân số: 76.820 người. Huyện Châu Đức: Huyện Tân Thành: Diện tích: 436,65 km2 . Diện tích: 304,86 km2 . Dân số: 143.301 người. Dân số: 80.846 người. Huyện Xuyên Mộc: Huyện Long Đất: Diện tích: 631,54 km2 . Diện tích : 292,95 km2 Dân số: 116.327 người. Dân số : 132.384 người Huyện Côn Đảo: Diện tích: 76,00 km2 . Dân số: 1.796 người. XXI. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử Vũng Tàu từng có tên là Tam Thắng để ghi lại sự kiện thành lập ba làng đầu tiên ở đây: Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam. Chữ Tam Thắng là biến âm của Tam Thoàn (tức Tam Thuyền). Đây là ba chiếc thuyền do ba viên đội chỉ huy bảo vệ bà con đường thủy vào Gia Định chống lại bọn cướp biển. Vào năm 1822 vua Minh mạng ban thưởng phẩm hàm và cấp đất cho họ khai khẩn lập làng làm ăn sinh sống. Đội thuyền thứ nhất do ông Phạm Đăng Dinh chỉ huy lập nên làng Thắng Nhất, đội thuyền thứ hai do ông Lê Văn Lộc chỉ huy lập nên làng Thắng Nhị, đội thuyền thứ ba do ông Ngô văn Huyền chỉ huy lập nên làng Thắng Tam. Để nhớ ơn ông Phạm Văn Dinh là người đã lập ra khu đất này, người ta đã lấy tên ông đặt cho con sông duy nhất ở Vũng Tàu: sông Dinh và tên một dãy núi: núi Dinh (Ngoài ra còn có một giải thích khác về tên của dãy núi Dinh: núi Dinh là núi Kho, thế kỷ XVIII các tướng lĩnh của chúa Nguyễn ánh xây dựng doanh trại trên núi này và Dinh còn có nghĩa là doanh trại. Đầu thế kỷ XVI trên bản đồ thế giới, Vũng Tàu có tên là :Cinco Chagas Veirdareiras (Năm vết thương của chúa cứu thế ), sở dĩ họ gọi như vậy vì nơi đây có năm ngọn núi, người đi biển dễ nhận thấy từ ngoài xa, biểu tượng của niềm vui, của sự cứu giúp đối với họ. Các bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha đều ghi Vũng Tàu là Cinco Chagas Veirdareiras. Nhưng khi cuốn hải trình nổi tiếng “Biển Phương Đông” (La Neptune Oriental) của một nhà hàng hải Pháp ra đời thì nó lại có tên là Cap Saint Jacques, có người giải thích đó là do cách đọc của các thuỷ thủ Châu Âu nên Cinco Chagas trở thành Silkei Chagas và cuối cùng là Saint Jacques. Trong thời Pháp thuộc 124
  • 125.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Vũng Tàu có một cái tên khác là Ô Cấp hoặc Cấp. Ô Cấp là phiên âm của tiếng Pháp Au Cap trong câu Aller au Cap (đi ra mũi đất). Ô Cấp lúc đầu dùng để chỉ cả vùng đất Vũng Tàu. Khi nói đến Vũng Tàu hay Ô Cấp, nếu để ý đến ngữ nghĩa của các từ sẽ thấy Vũng Tàu không giống như Ô Cấp, bởi Vũng Tàu là vùng nước sâu để cho thuyền đậu, còn Ô Cấp là mũi đất chạy nhô ra biển. Nhưng chúng đều được dùng chung để chỉ một vùng đất vùng biển. Ở đây khác nhau chỉ là cách đặt tên theo mũi đất chỗ lồi (hướng ra biển), người phương Đông đặt tên theo vùng chỗ lõm (hướng vào đất liền), thể hiện một tâm lý nào đó về cách nhìn ra thế giới bên ngoài. Vùng đất Bà Rịa được người Việt Nam khai phá từ thế kỷ XVII, lúc đầu Bà Rịa thuộc dinh Trấn Biên, tỉnh Gia Định. Năm 1808 vua Gia Long đổi Trấn Biên thành Biên Hoà. Tên Bà Rịa có hai cách giải thích: Theo các cuốn “Gia Định thành thống chí”, “Đại Nam nhất thống chí” và một số bộ sử khác thì Bà Rịa vốn là đất của tiểu vương Bà Lỵ (bị Chân Lạp thôn tính). Năm 1622 theo thỏa ước của chúa Nguyễn Phúc Nguyên với vua Chân Lạp Chey Chetta II, những nhóm cư dân Việt đầu tiên được phép khai phá xứ Mô Xoài xứ bà Lỵ. Tên Bà Lỵ được người Việt phát âm chệch thành Bà Rịa. Một cách giải thích khác: Vào khoảng năm 1789 có một người đàn bà tục gọi là Bà Rịa người Bình Định đưa dân nghèo vào khai hoang ở Tam Phước (tên gọi ngày nay). Nhờ uy tín và tài năng tổ chức, bà động viên được mọi người ra sức khẩn hoang, xây dựng cuộc sống trên vùng đất mới. Về già, Bà Rịa đem hết tài sản của mình làm việc công ích, lập quỹ cứu tế để trợ giúp người nghèo, rước thầy về dạy học cho trẻ... Bà chết năm 1803 được dân lập đền thờ như một vị phúc thần. Tên của bà đã trở thành tên của tỉnh. XXII. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ 24. Địa hình Địa hình của tỉnh bao gồm núi, đồi, đồng bằng nhỏ và các đồi cát, dải cát chạy vòng theo bờ biển. Hai huyện Long Đất, Xuyên Mộc là vùng đồng bằng và đồi núi ven biển. 25. Khí hậu Đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc xuống Nam, có đèo Hải Vân cao vút chắn ngang ở miền trung khiến cho khí hậu hai miền khác nhau. Nếu như ở Hà Nội thời tiết còn rất lạnh, mọi người còn phải mặc áo ấm thì ở Vũng Tàu khí hậu vẫn nóng bức, biển Vũng Tàu được gọi là biển nóng, tắm được quanh năm. Bán đảo Vũng Tàu có nhiệt độ trung bình thấp hơn so với các tỉnh phía nam bởi ba mặt giáp biển Đông, quanh năm lộng gió, nhiệt độ trung bình khoảng 28 độ C, lượng mưa trung bình 1.500mm/năm. Vũng Tàu có hai mùa rõ rệt tuỳ thuộc vào gió, gió thổi theo hai chiều gần như ngược nhau, trừ những ngày chuyển tiếp. Gió mùa Tây Nam thổi vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4). Gió thổi mạnh, tốc độ khoảng 35km/giờ. Tháng 4 và tháng 10 là những tháng chuyển mùa, gió thổi nhẹ, ngoài khơi sóng nhỏ. Biển Vũng Tàu ít bão tố hoặc ảnh hưởng của bão không đáng kể vì thế trở thành nơi trú ngụ tốt cho thuyền bè. Thuỷ triều thuộc loại bán nhật triều, mỗi ngày đều có hai lần thuỷ triều lên xuống. Biên độ triều lớn nhất là 4 - 5m. Nhiệt độ nước biển ít thay đổi, quanh năm nhiệt độ tầng mặt nước khoảng 24 - 29 độ C, nhiệt độ tầng đáy khoảng 26,5 - 27 độ C. 26. Giao thông Bà Rịa - Vũng Tàu có quốc lộ 56 đi Đồng Nai, quốc lộ 55 đi Bình Thuận, quốc lộ 51 đi huyện Cần Giờ (Tp. Hồ Chí Minh). Vũng Tàu cách Tp. Hồ Chí Minh 129km, cách Biên Hòa (Đồng Nai) 95km, cách Nha Trang (Khánh Hòa) 513km. Từ Tp.Hồ Chí Minh đến Vũng Tàu có 6 tuyến xe chất lượng cao xuất phát trước chợ Bến Thành, 30 phút có một tuyến, thời gian chạy từ 2 đến 3 giờ. Xe khách đi từ bến xe Miền Đông, thời gian từ 3 đến 4 giờ. Ngoài ra còn có tàu cánh ngầm Tp.Hồ Chí Minh - cảng Cầu Đá (Vũng Tàu), 30 phút một chuyến, chạy mất 1h15 phút. 125
  • 126.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị XXIII. IV. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN 8. Dân tộc - Dân tộc kinh chiếm đa số khoảng 97,25% - Dân tộc Hoa chiếm khoảng 1,73% - Dân tộc Tày chiếm khoảng 0,07% - Dân tộc Khơ Me chiếm khoảng 0,15% - Dân tộc Châu Ro chiếm khoảng 0,06% Còn lại các dân tộc khác chiếm tỷ lệ không đáng kể. 9. Tín ngưỡng và tôn giáo Cũng như các địa phương khác trong cả nước, Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn mang đậm màu sắc dân gian với các nền “văn hoá sinh tồn” (nghề nông, nghề cá, thủ công…), “văn hoá ứng xử” (sự giao tiếp, tổ chức phường nghề, nghi lễ, hội hè…), “Văn hoá đạo đức” (các mối quan hệ ông bà, cha mẹ, xóm giềng…), “văn hoá tín ngưỡng” (tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng nguyên thuỷ…) “Văn hoá nghệ thuật” (ngôn ngữ, nghệ thuật dân gian, ca dao, cổ tích hội hoạ, kiến trúc…). Đặc biệt, nền “Văn hoá tín ngưỡng” được thể hiện đậm nét với các lễ hội “Nghinh ông” của cư dân vùng ven biển như xã Phước Hải, Phước Tỉnh, Long Hải (huyện Long Ðất), Ðình Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam (TP.Vũng Tàu)... Trong đó tiêu biểu nhất là lễ hội Nghinh Ông - đình Thắng Tam được tổ chức vào ngày 16, 17, 18 tháng 8 âm lịch hàng năm tôn thờ linh vật đã phù hộ giúp đỡ ngư dân trong những tháng ngày lênh đênh trên biển. Bà Rịa - Vũng Tàu là nơi hội tụ nhiều tôn giáo lớn trên thế giới với số lượng tín đồ chiếm trên 50% dân số toàn tỉnh. Trong đó Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Tin Lành được nhà nước cho phép hoạt động hợp pháp với tư cách là tổ chức xã hội cùng với một số tôn giáo và hệ phái khác như Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Độ Việt Nam, Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tin Lành Baptic, Cơ Đốc Phục lâm, Cơ Đốc Truyền Giáo. Phật giáo Theo tài liệu nghiên cứu được, Phật Giáo được truyền vào Bà Rịa - Vũng Tàu sớm nhất cùng với lớp cư dân người Việt miền Bắc, miền Trung từ đầu thế kỷ 17. Khi đến họ mang theo tôn giáo gốc của mình và xây dựng chùa chiền. Phật Giáo Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn mang đậm màu sắc nguyên thuỷ với các trung tâm phật giáo lớn như chùa Đại Tùng Lâm (thị trấn Phú Mỹ - huyện Tân Thành), Khu vực chùa ven núi Thị Vải (xã Hội Bài - huyện Tân Thành), Niết Bàn Tịnh Xá, Thiền Viện Chơn không, Thích ca Phật Đài (Tp.Vũng Tàu), Các khu vực chùa núi Thiên Thai (xã Tam An - huyện Long Đất), Chùa Hòn Một (xã Phước Hải - huyện Long Đất)… Một số cơ sở là di tích lịch sừ - danh thắng: Thích Ca Phật Đài, Niết Bàn Tịnh Xá, Linh Sơn Cổ Tự. Công giáo Là tôn giáo lớn thứ 2 của tỉnh, được truyền vào Bà Rịa - Vũng Tàu từ giữa thế kỷ 18 (theo sách Dư địa chí - 1947), nhưng chỉ thực sự phát triển nhanh và nhiều từ năm 1950 đến 1960. Hiện nay có 14 nhà thờ lớn tập trung nhiều nhất ven quốc lộ 51 từ Tân Thành đến Vũng Tàu. Ngoài ra còn các khu vực khác như: Khu vực Phước Tỉnh (huyện Long Đất, khu vực Bình Giã (huyện Châu Đức). Một số nhà thờ xây dựng khá sớm trên 100 năm ở các khu vực Đất Đỏ (huyện Long Đất), thị xã Bà Rịa, Tp.Vũng Tàu. Các nơi danh thắng: Nhà thờ Đức Mẹ, giáo họ Bãi dâu, tượng cúa Kitô. Cao Đài 126
  • 127.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Có 3 hệ phái: Cao Đài tây Ninh, Cao Đài Ban chỉnh đạo Bến tre, Cao đài truyền giáo miền Trung. Cao Đài Tây Ninh được truyền vào Bà Rịa - Vũng Tàu năm 1940, chủ yếu tập trung ở Đất Đỏ, Suối Nghệ, Vũng Tàu, Bà Rịa. Tin lành Được truyền vào Việt Nam từ 1911, đến những năm 1930 - 1940 được truyền vào Vũng Tàu, phát triển mạnh vào những năm 1950 - 1960, chủ yếu là hệ phái Tin lành Việt Nam. Hiện nay khoảng 4.000 tín đồ. Tín ngưỡng - tôn giáo Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn luôn song hành với sự phát triển đa dạng của tỉnh, hành đạo trong khuôn khổ của pháp luật và tuân thủ sự quản lý của nhà nước. Đến với Bà Rịa - Vũng Tàu du khách không những chiêm ngưỡng những vẽ đẹp thơ mộng của thiên nhiên sơn thuỷ hữu tình mà còn được dịp tiềm hiểu thêm một vùng đất có nền văn hoá tâm linh lâu đời với quần thể kiến trúc đa dạng đặc trưng của sự thanh bình. 10. Lễ hội 3.1 Lễ hội Dinh Cô Là ngôi miếu nhỏ thờ một trinh nữ chết nước, nằm trên mỏm đồi lộng gió ở bãi tắm Long Hải. Dinh Cô được dựng lên bằng lòng tin, sự tín ngưỡng vốn có lâu đời trong nhân dân. Tương truyền, 186 năm trước, xác một người con gái khoảng 16 tuổi dạt vào bãi, tên cô là Lê Thị Hồng Thuỷ, quê ở Phan Rang, theo cha Lê Văn Khương dong ghe bầu xuôi ngược Trung - Nam để đánh bắt cá và trao đổi hàng đan lát bằng tre. Mỗi lần ghe bầu qua vùng biển Long Hải, Cô nhìn cảnh sơn thủy hữu tình, thường ao ước được ở lại đây chung sống. Một đêm bão tố, trời chiều lòng Cô, đưa Cô theo sóng biển dạt vào, nằm lại trên bãi cát trắng xoá, nơi mà Cô từng mong ước. Cát đùn lên che chở, sóng vỗ muôn nghìn lời ru cho Cô yên giấc. Dân làng xem Cô là nữ thần thiêng liêng nên lập mộ trên đồi, dựng miếu thờ bên cạnh. Đầu tiên chỉ là một nấm mộ đất, miếu tre lá. Miếu và mộ thay đổi dần theo sự linh ứng ngày càng lan rộng. Một lần (vào khoảng năm 1966), miếu phát hoả, được trùng tu thành ngôi đền khang trang hơn. Đầu năm 1990, Dinh Cô lại được trùng tu bằng kinh phí quyên góp của khách thập phương, trở thành một dinh thự kiên cố như hiện nay. Từ khi có Dinh Cô để hương khói, ngư dân Long Hải có thêm sức mạnh tinh thần trong lồng ngực để đương đầu với vất vả, gian nan. Thành tích của mình, dân làng thường gán cho Cô, dệt thành nhiều huyền thoại thi vị, chủ yếu là chuyện Cô ứng linh giúp người hiền vượt khó khăn. Sự tôn kính dành cho Cô đã trở thành tập quán của người Long Hải, trong đó ẩn chứa khát vọng và niềm tin về cuộc sống thanh bình, thịnh vượng. Hàng năm, lễ hội thường mở trong 3 ngày (10 - 11 - 12 tháng 2 âm lịch), suốt cả ngày cả đêm. Hàng chục vạn khách thập phương từ miền Tây, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Bình Thuận... lũ lượt kéo về Long Hải dự “Giỗ Cô”, chen chúc nhau trong rừng dương, trên bãi cát, ở những hành lang, khoảng trống để nghỉ qua đêm, dự trọn 3 ngày hội. Có người phải đến trước mấy ngày mới mong kiếm được chỗ trọ. Có gia đình mang theo cả con cái cả đồ dùng nội trợ để ăn nghỉ tại chỗ. Đêm buông màn, rừng dương lao xao, sóng biển rì rào, lấp loáng trăng, lồng lộng gió... cảnh hữu tình khiến người ta quên vất vả mà vui với cuộc hành hương mang tính chất dã ngoại. Từ rạng sáng ngày 10 tháng 02 âm lịch, người ta đã bắt đầu viếng Cô. Mỗi người thường cầm trong tay một nhành huệ trắng tượng trưng cho sự thanh khiết. Giới trẻ ham vui, các cụ già sùng tín đều chen nhau vượt 187 bậc đờ để dâng hương xin lộc nơi chính điện. Đêm 10 và 11 là đêm hội hoa đăng. ánh đèn sáng rực hoà cùng ánh trăng. Hàng vạn ghe thuyền quay mũi về Dinh chầu Cô, tiếng chiêng, tiếng trống rộn ràng thâu đêm. Lễ chính được tổ chức từ rạng sáng ngày 12. Từ chính điện, đoàn người chỉnh tề cờ quạt ra bãi, lên thuyền, ra khơi làm lễ “Nghinh Cô”. Lễ “Nghinh Cô” được cử hành long trọng. Vị Chánh 127
  • 128.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị bái dẫn đầu, đoàn học trò lễ tiếp bước, có cờ xí, lọng che, hoa đăng rực rỡ. Một chiếc ghe to đặt bày hướng án được xem là ghe dành “Nghinh Cô”. Ghe được hộ tống bởi vài chục chiếc ghe khác. Đoàn ghe nối nhau ra khơi trong tiếng chiêng trống vang trời. Đến Mũi Nhỏ, nơi có ngôi mộ Cô, đoàn người xuống ghe lên viếng mộ, nghênh đón Cô về Dinh. Đặc biệt, trong lễ “Nghinh Cô”, còn duy trì được hình thức diễn xướng “Hát bả trạo”. Theo TS Tôn Thất Bình, “Hát bả trạo” có nghĩa là hát có nắm mái chèo, một thể loại dân ca nghi lễ phổ biến của cư dân vùng biển từ Bình Trị Thiên (cũ) đến Bình Thuận. Ngư dân thường tổ chức hát bả trạo trong nghi lễ đưa ma Cá Ông. Ở Long Hải, hát bả trạo lại gắn với lễ “Nghinh Cô”. Hình thức diễn xướng không khác hát bả trạo của cư dân vùng biển Nam Trung Bộ, cũng có tổng khoang (hoặc tổng thương), tổng mũi, tổng lái và đám bạn chèo từ 12 đến 16 người. Các bạn chèo và các tổng đề trong trang phục cổ truyền, vừa hát vừa diễn (xướng - xô) mô phỏng thao tác của người đi biển vượt ngàn trùng sóng gió. Chỉ khác ở nội dung bài hát ngưỡng vọng Cô (thay vì ca ngợi, thương tiếc Cá Ông) và lời nguyện cầu cho trời lên biển lặng, tôm cá đầy khoang. Làn điệu và bài hát cho thấy hát bả trạo Nghinh Cô ở Long Hải phóng khoáng và trữ tình hơn lối hát “nặng nỗi âu lo” của vùng biển Nam Trung Bộ. Thú vị nhất của khách hữu tình không phải ở nội điện, mà là toàn cảnh bãi Long Hải trong những ngày hội rộn ràng, đứng ở hành lang của chính điện, có cảm giác như đang ở vùng giao thoa giữa biển và trời, giữa đời thực và hư, giữa sóng biển dập dềnh như đang dệt lụa và Dinh Cô trong thế “phục long” đang muốn bay lên. Bởi vậy, đến Dinh Cô trong ngày hội không chỉ có người sùng tín mà còn có những văn sĩ, thi nhân và các đôi trai gái đi tìm rung cảm cho con tim. 3.2 Lễ hội Nam Hải Lễ hội “Nam Hải Đại tướng Quân”, danh hiệu Cá Ông do vua Thiệu Trị ban tặng được tổ chức trùng với ngày Vía (ngày mất) của cá. Lễ hội kéo dài trong 3 ngày, từ 16 đến 18 tháng 8 âm lịch hàng năm. Lễ hội gồm có lễ cúng Ông, lễ nghinh Ông (đón cá). Nhiều ghe thuyền trang trí lộng lẫy, thắp đèn sáng trưng chạy vòng biểu diễn ngoài biển. Những hình thức tế lễ cá Ông mang đậm màu sắc riêng của cư dân miền biển, nhưng trong lễ hội người ta cũng dành một buổi cúng Tiền Hiền, một buổi tế Thần Linh như việc tổ chức cúng lễ trong đình làng. 3.3. Lễ hội Nghinh Ông: Lễ hội Nghinh Ông Vũng Tàu là một trong những lễ hội được Bộ văn hoá Thông tin và Tổng cục Du lịch chọn trong 15 lễ hội lớn của cả nước năm 2000. Lễ hội Nghinh Ông và tục thờ cá Ông (cá voi) bắt nguồn từ dạng tín ngưỡng vật tổ cư dân vùng ven biển nước ta, phổ biến rộng rãi từ vùng biển Thanh Hoá đến tận Kiên Giang. Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, bà con cư dân ở các làng cá đều tổ chức Lễ hội Nghinh Ông: Xã Bình Châu (huyện Xuyên Mộc), xã Phước Hải, Phước Tỉnh, Long Hải (huyện Long Ðất), Ðình Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam (TP.Vũng Tàu)... trong đó tiêu biểu nhất là Lễ hội Lăng Ông - Đình Thắng Tam. Theo truyền thuyết, tục thờ cá Ông được xuất phát từ tín ngưỡng của dân tộc Chăm: “Vị thần tên là Cha-aih-va, vì quá nôn nóng trở về xứ sở sau thời gian khổ luyện phép thuật, đã cãi lại thầy của mình và tự ý biến thành cá Voi. Từ đó, mỗi khi có thuyền lâm nạn vị thần đều nâng đỡ và đưa người lâm nạn vào bờ”. Truyền thuyết dân gian của dân tộc Kinh thì cho rằng: “Cá Voi do Phật Quan Âm Bồ Tát xé chiếc áo cà sa thành muôn mảnh thả trên mặt biển để cứu vớt chúng sinh đi biển bị lâm nạn”. Trong lịch sử triều Nguyễn có ghi lại: Khi Chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu ngoài đảo Phú Quốc (Kiên Giang) bị bão lớn, thuyền sắp đắm, ông đã cầu nguyện và được cứu thoát nạn. Sau khi phục quốc lên ngôi, vua Gia Long (tức Chúa Nguyễn Ánh) phong cho cá Voi là “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Ðẳng Thần”. Những người dân vùng ven biển tôn vinh cá Ông (cá Voi) thành một vị thần rất đỗi thiêng liêng, là chỗ dựa tinh thần mỗi khi gặp sóng to gió lớn, thuyền bị đắm, con người bị hiểm nguy đe doạ. 128
  • 129.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Lễ hội Nghinh Ông đình Thắng Tam được tổ chức vào ngày 16, 17, 18 tháng 8 âm lịch hàng năm. Trong Lăng Ông còn lưu giữ nhiều bộ xương cá Ông, bộ xương sớm nhất được đưa vào năm 1868, khi cá Ông dạt tới bãi biển Thùy Vân, thành phố Vũng Tàu. Bộ xương này nặng khoảng 4 tấn và có chiều dài khoảng 30 mét. Hiện nay, Lăng Ông còn giữ được hai sắc thần được phong vào năm 1846 và 1850 dưới triều Tự Ðức. Lễ hội Nghinh Ông được tổ chức với sự tham dự của nhân dân trong vùng. Lễ hội bắt đầu từ sáng sớm với một đoàn người gồm các vị kỳ lão, kỳ hương... lên một chiếc ghe lớn (có trang trí hoa, cờ, bàn thờ và bài vị thuỷ tướng, có đoàn nhạc ngũ âm, chiêng, trống và đội múa lân rộn ràng) đi đến địa điểm đã định rồi dâng hương, rượu. Sau đó, đoàn thuyền về bến rước Ông đến lăng, tiếp đến là các lễ cúng Tiền Hiền, Hậu Hiền, đọc văn tế, sắc phong, học trò dâng trà, hoa, rượu... Ðến với lễ hội, du khách còn được thưởng thức các tiết mục: Võ thuật, múa lân, hát Bội... cùng với nhịp điệu hoà âm của chiêng, trống trong khói hương nghi ngút. Lễ hội Nghinh Ông là dịp cho ngư dân cầu mong bình yên khi đi biển, đánh bắt được nhiều tôm cá, cuộc sống được no ấm thịnh vượng, hạnh phúc trường tồn. Lễ hội Nghinh Ông còn là nơi cho mọi người tưởng nhớ đến việc báo nghĩa, đền ơn, uống nước nhớ nguồn. 3.4 Lễ hội Đình thần Thắng Tam: Hàng năm lễ hội Ðình Thần Thắng Tam được tổ chức trong 4 ngày từ 17 đến 20 tháng 2 âm lịch. Ðây là lễ hội cầu an, là thời điểm kết thúc và mở đầu cho một mùa thu hoạch tôm cá. Phần lễ diễn ra rất cầu kỳ: cúng tế, lễ vật tế thần, dâng hương quỳ lạy, chiêng trống, kèn nhạc và có rất nhiều điều kiêng kỵ như heo dùng để tế lễ phải có bộ lông cùng màu, người có tang không được tham gia vào việc nghi thức tế lễ. Phần hội có nhiều trò vui chơi giải trí như múa lân, hát bội. Lễ hội Ðình Thắng Tam là một hoạt động văn hoá đặc sắc của ngư dân miền biển Vũng Tàu. Lễ hội mang đậm nét văn hoá dân giang và bản sắc dân tộc. 3.5 Lễ hội Trùng Cửu: Tổ chức 1 ngày, từ đêm 8 đến ngày 9 tháng 9 âm lịch. Lễ hội Trùng Cửu 9/9 âm lịch hàng năm, diễn ra tại Nhà Lớn Long Sơn đây là lễ cầu an, là lễ hội cầu cho vạn dân bá tánh được mạnh khoẻ an lành, lễ hội diễn ra vào đêm mồng 8 và ngày 9/9 âm lịch. Đêm 8/9 gọi là lễ Tiên Thường kỉnh mặn (cúng mặn) chủ yếu là các sản vật do các bá tánh mang vào kỉnh (cúng), và ngày 9/9 gọi là Chánh Giỗ kỉnh chay (cúng chay), lễ hội không tổ chức linh đình như nhiều lễ hội khác chủ yếu là đi dâng hương, nguyện cầu khấn vái, và tưởng nhớ đến công đức của ông Trần. Tuy nhiên vào những ngày này hàng vạn du khách thập phương hội tụ về đây, đặc biệt là người ở các tỉnh Miền Đông và Miền Tây Nam Bộ, tự xem mình là tín đồ của đạo Ông Trần. Du khách đến đây có thể tìm thấy những điều mới lạ mà người dân nơi đây đã tạo ra theo ý muốn và ước vọng của họ, bổ sung cho kho tàng hiểu biết của mình. Ông Trần có tên là Lê văn Mưu, từng tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp do quản cơ Trần văn Thành làm thủ lĩnh và ông là một tín đồ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (vốn xuất phát từ Ba Chúc, An Giang). Sau khi khởi nghĩa thất bại, ông đưa gia quyến về lánh nạn tại núi Nứa, lập ấp Bà Trao, nay là xã Long Sơn. Tôn giáo của ông Trần rất lạ, tín đồ không cần "ly gia cắt ái", tín đồ mặc quần áo bà ba, búi tóc hoặc để xõa tự nhiên và tu đâu cũng được...Ít quan tâm đến giáo lý mà chú tâm nhiều đến việc thờ cúng, bố thí và lấy việc "tu nhân" làm nền tảng cho sự hành đạo. đạo Ông Trần không có chùa, không có kinh kệ, không ăn chay, không kiêng kỵ như nhiều tôn giáo khác. Tín đồ chỉ truyền khẩu những lời dạy của ông Trần. Sau một thời gian ngắn, nhờ siêng năng, cần mẫn, ông Trần và các đệ tử đã biến một vùng rừng của Núi Nứa thành đất trồng trọt. Nhiều người ở nơi khác tìm đến xin cùng định cư và trở thành đệ tử ông Trần. Khi ông Trần qua đời. 129
  • 130.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Tại sao gọi là đạo ông Trần? Vì sinh thời, ông Lê Văn Mưu thường cởi trần, tóc búi tó, đi chân đất lao động suốt ngày nên người dân thường gọi là ông Trần (cởi trần), sau này khi thành đạo, gọi luôn là đạo ông Trần. 3.6 Festival diều Quốc tế Vũng Tàu Festival Diều Quốc tế Vũng Tàu là sự kiện lễ hội diễn ra hàng năm tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam từ năm 2009. Đây là lễ hội thả diều có quy mô lớn nhất Việt Nam, quy tụ sự tham gia của nhiều câu lạc bộ và hiệp hội chơi diều từ các nước trên thế giới. Lễ hội tập hợp những con diều độc đáo và đa dạng về màu sắc lẫn kích cỡ và phong cách. Ngoài tính chất là môn thể thao đậm chất văn hóa, đây còn là chương trình nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước của địa phương. Tại lễ hội đầy màu sắc, các quốc gia tham dự đưa ra những cánh diều mang phong cách truyền thống riêng. Trong đó, Việt Nam đem đến những cánh diều Huế mang sắc thái cung đình như rồng, phượng; diều sáo của miền Bắc, các loại diều hiện đại theo nguyên lý khí động học hay những con diều độc đáo có hình sinh vật đặc trưng của biển. 3.7 Liên hoan diều quốc tế Vũng Tàu-Việt Nam lần IV năm 2012 “Vũ điệu hòa bình” chủ đề Liên hoan diều quốc tế Vũng Tàu-Việt Nam lần IV năm 2012 được tổ chức từ ngày 30/3 đến 02/4/2012 tại sân golf paradise và dọc bãi tắm Thùy Vân (Vungtau Intourco resort, KDL Biển Đông, chợ du lịch). Liên hoan diều quốc tế lần IV là 1 trong 9 sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch quan trọng của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trong năm 2012. Qui tụ 60 nghệ nhân diều quốc tế của 25 quốc gia và vùng lãnh thổ của 5 châu lục cùng 80 nghệ nhân diều trong nước gồm 5 đoàn ở 3 miền Bắc, Trung, Nam: diều Phượng Hoàng (TP.HCM); diều nghệ thuật Sài Gòn, diều Hà Nội, diều Huế, diều Bà Rịa- Vũng Tàu với hơn 300 con diều với nhiều chủng loại, kích cỡ, hình dáng mang đậm bản sắc văn hóa của từng quốc gia, dân tộc; nét đặc trưng tiêu biểu, tính độc đáo về sáng tạo kỹ thuật, biểu diễn có tính nghệ thuật của các nghệ nhân chơi diều và chế tạo diều. 11. Danh thắng và các công trình kiến trúc 5.1 Đình thần Thắng Tam: Trên khắp đất nước Việt Nam, ở các làng xã ngày xưa đều có Đình thần. Đình thần là nơi thờ phụng Thành Hoàng - người có công khai phá dựng làng, dựng nước tại địa bàn sở tại, tiền hiền và hậu hiền - những người tiếp nối đến mở đất dựng làng, dựng nước. Đình làng còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, văn hoá và tinh thần của cư dân trong một cộng đồng được xác định bởi một đơn vị hành chính cơ sở. Trải qua thời gian tồn tại lâu dài, do những biến động của lịch sử, một số làng, xã đã không còn đình làng. Tại ba ngôi làng tiền thân của Vũng Tàu còn ba ngôi đình. Đây là một quần thể kiến trúc gồm ba di tích gắn bó với nhau đó là Đình Thần Thắng Tam, Miếu Bà Ngũ Hành và Lăng Ông Nam Hải (Cá Ông). Có thể nói đình làng Thắng Tam là biểu hiện đặc sắc của đặc trưng văn hoá độc đáo của ngư dân miền biển - Vừa có những đặc điểm chung của đình làng Việt Nam, vừa có những nét riêng trong thờ cúng và sinh hoạt văn hoá - tín ngưỡng. Theo truyền ngôn, Đình Thần Thắng Tam được xây dựng từ đời vua Minh Mạng (1820 - 1840). Hiện nay, đình thần còn lưu giữ 2 đạo sắc của nhà Nguyễn phong cho các vị thần được thờ tại đình là Thiên Y A Na, Đại Càn Quốc Gia Nam Hải, Thượng Đẳng Thần, Cá Ông, Thuỷ Long Thần Nữ… Theo truyền thuyết Đình Thần Thắng Tam thờ chung cả ba người đã có công xây dựng nên ba làng thắng ở Vũng Tàu, đó là Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền. Chuyện kể rằng: thuở ấy hải tặc Mã Lai và Tàu Ô thường hay đột nhập cửa sông Bến Nghé đón đường cướp bóc tiền bạc, hàng hoá, bắt cóc người trên các thuyền buôn. Để bảo vệ thương thuyền của người Việt, vua Gia Long liền phái ba đội quân đi trên ba chiếc thuyền. Mỗi đội quân do một viên xuất đội thống lĩnh. Đổ bộ lên bán đảo Vũng Tàu, họ đã lập trại và đặt tên cho doanh trại, đồn binh của 130
  • 131.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị mình là Phước Thắng. Ba đội quân vừa làm việc nước - bảo vệ sự thanh bình của bờ biển cửa ngõ, vừa khai hoang lập làng, làm ăn sinh sống. Trong vòng mấy năm, phần lớn hải tặc Mã Lai và Tàu Ô bị diệt trừ. Số ít còn lại chẳng dám sách nhiễu thương thuyền nữa. Năm 1822, Minh Mạng ban chiếu khen thưởng chức tước, phẩm hàm cho đội quân cho giải ngũ và ban thưởng phần đất mà họ có công khai phá. Từ ba vị trí của ba đội quân dần dần hình thành nên ba làng thắng. Làng thứ nhất gọi là làng Thắng Nhất do Ông cai đội Phạm Văn Dinh chỉ huy. Làng Thắng Nhì do Ông cai đội Lê Văn Lộc chỉ huy. Làng Thắng Tam do Ông cai đội Ngô Văn Huyền chỉ huy. Dân các làng Thắng vừa làm ăn sinh sống vừa bảo vệ an ninh bờ biển. Sau khi ba đội Ông chết, Triều đình ban sắc phong cho ba ông. Đình thần Thắng Tam lúc đầu xây dựng chỉ là nhà tranh vách lá. Năm 1835 mái được lợp ngói, năm 1965 được trùng tu mới như hiện nay. Kiến trúc Đình Thần Thắng Tam có Cổng Tam Quan, Nhà Tiền Hiền, Hội Trường, Ngôi Đình Trung, sân khấu võ ca. Trong đình bài trí nhiều đồ lễ, chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Đình thần thắng tam kiến trúc theo lối nối tiếp. Đó là một nhà gồm bốn ngôi nhà nối liền nhau bằng một lối đi bên hông: Tiền Hiền - Hội Trường - Đình Trung - sân khấu võ ca. Ngôi tiền hiền được lợp bằng ngói âm dương, trên mái có hình “Lưỡng long chầu nguyệt” đắp nổi. Đầu các đòn tay, xà gồ, cột đều chạm khắc hình rồng. Nội thất nhà Tiền Hiền bày bốn bàn thờ: bàn thờ thổ công, Tiền Hiền và Hậu Hiền, Tiền Vãng và Hậu Vãng ( tức thờ thổ công, tiền hiền và hậu hiền, dân làng đến trước đến sau). Hội trường là nơi sinh hoạt của Hội viên thuộc hội đình (hội đình thắng tam hiện nay có hơn 500 hội viên, có ban hương chức thôn hội chia làm 10 bậc từ thấp đến cao). Tiếp sau phần hội trường là ngôi đình trung có cấu trúc tương tự ngôi tiền hiền. Ngôi đình trung bài trí 10 bàn thờ theo lối 3-4-3: thờ Thần Nông, Thiên Y A Na, Ngũ Đức, Thánh Phi, Hậu Hiền - Thần, Hội Đồng, Phụ Án Và Tiền Án - Cao Các, Thiên Sư, Ngũ Thơ, Ngũ Tự và Tiền Hiền (bốn bàn thờ phía giữa nằm vượt lên phía trước). Khác với nhiều nơi, thần nông được thờ ngoài trời, ở Đình thần Thắng Tam, thần nông được thờ bên trong. Sân khấu võ ca là nơi diễn tuồng, hát bội khi đình thần có lễ. 5.2 Miếu Bà Miếu Bà nằm bên trái khu Đình Thần Thắng Tam, còn có tên Miếu Ngũ Hành. Tên gọi ấy phản ánh các đối tượng được thờ cúng trong miếu. Tương truyền miếu bà được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX. Lúc đầu nó chỉ là ngôi nhà tranh vách do ngư dân Thắng Tam xây dựng để thờ Ngũ Hành, tức năm yếu tố vật chất: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ (theo tư tưởng triết học Trung Quốc mà Việt Nam ảnh hưởng). Ngoài Ngũ Hành, Miếu Bà còn thờ hai vị hộ quốc được vua phong Thượng Đẳng Thần là bà Thiên Y-A-Na và Thuỷ Long Thần Nữ. Điều này chứng tỏ tính riêng của ngôi miếu khi chủ nhân của nó là những người sống bằng nghệ chài lưới trên biển. Miếu Bà được kiến trúc theo lối một gian hai chái. Trên mái có hình Lưỡng Long chầu Nguyệt. Bên trong có 8 bàn thờ. Bàn giữa chính điện thờ 5 bà Ngũ Hành và hai vị Thượng Đẳng Thần. Trên có bày tượng 5 Bà và bộ ngũ sự, hai bên có thờ 5 Cô, 5 Cậu, hai vị Thượng Đẳng thần không có tượng. Tiếp theo bên trái là bàn thờ Quan Công, Quan Bình và Châu Xương là những bậc trung nghĩa và sẵn sàng cứu hộ những người đi biển khi họ gặp chuyện không may. Bên phải là bàn thờ Ông Địa - Thổ Công. Phía sau là bàn thờ Tiền Hiền và bàn thờ những người giàu lòng nhân ái, độ lượng trong làng. Hàng năm, Miếu Bà lễ hội vào ba ngày từ 16 đến 18 tháng 10 âm lịch. Quản lý miếu và tổ chức điều hành lễ hội là những người trong ban điều hành. Hội viên của Miếu bà chỉ giành cho nữ giới. Ban điều hành cũng chỉ do các bà phụ trách (ba bà cố vấn, sáu bà trong ban điều hành với 160 hội viên). 5.3 Lăng Cá Ông 131
  • 132.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Nằm trong khu Đình Thần Thắng Tam phía bên phải. Lăng Cá Ông được xây dựng cùng thờ kỳ với Miếu Bà, nghĩa là khoảng cuối thế kỷ XIX. Hiện nay trong lăng còn bảo tồn xương Cá Ông khổng lồ do ngư dân Vũng Tàu vớt được từ hơn 100 năm trước đây. Truyền thuyết về Cá Ông hiện còn lưu truyền ở Vũng Tàu và từ rất sớm đã được chép trong thư tịch cổ, rằng: Cách đây hơn 100 năm (giữa thế kỷ 19) có một đầu cá to lớn trôi dạt vào bãi Tầm Dương. Đầu cá lớn đến nỗi ngư dân không thể đưa vào bờ được. Họ phải xóc cờ rào lại chờ cho thịt rữa sạch rồi tháo từng khúc xương đưa vào miếu thờ. Lăng Cá ông Thắng Tam có tới ba sắc phong do vua ban tặng. Vua Thiệu Trị ban hai đạo sắc vào năm thứ năm (1846), Vua Tự Đức ban cho đạo sắc vào năm thứ ba (1850). Hiện nay vào ngày 16/8 âm lịch, cứ ba năm một lần những người quản lý Lăng được gọi là hội “Lương hữu Vạn Lạch” lấy một xương trong Lăng đem thờ trong ba tủ kính. Vào ngày Vía Cá ông, ngư dân và khách thập phương tụ hội vê đông vui nhộn nhịp. Ngời ta đến đây cầu mong sự bình yên may mắn trong chuyến đi biển, xin xăm báo trước điều tốt lành, rủi ro và xem hát, vui chơi giải trí... Lăng Cá ông có kiến trúc theo lối cổ xưa. Bên trong bày ba tủ kính lớn đựng xương tương xứng với nó là ba bàn thờ. Hai bên tả, hữu có thêm hai bàn thờ của Bà Sáu (Thần Rùa) và tổ nhạc. Ngư dân Vũng Tàu quan niệm rằng mỗi khi có Cá ông chết tấp vào bờ, người nào trông thấy đầu tiên thì được xem như con trưởng của Cá ông. Khi làm lễ an táng, người đó phải chịu tang và thực hiện các nghi lễ tang ma như là đám cho cha đẻ mình vậy. Khu di tích Đình Thần Thắng Tam, bao gồm cả Miếu Bà và Lăng Cá ông ẩn chứa những giá trị văn hóa quý báu của cư dân miền biển Vũng Tàu. Những nét đẹp về phong tục tập quán dường như được “hóa thân” trong từng chi tiết kiến trúc của di tích, của phong cách sinh hoạt tổ chức lễ hội. Khu di tích Đình Thần Thắng Tam và những lễ hội liên quan của nó đã bảo lưu được những di sản qúy giá. Hiện nay, không kể các ngày lễ hội là những ngày có rất đông du khách hành hương mà những ngày thường khu Đình Thần Thắng Tam cũng chào đón rất nhiêu khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm viếng. 5.4 Bạch Dinh Dọc theo bãi trước về phía Núi Lớn, chúng ta luôn trông thấy hình ảnh một dinh thự màu trắng, mái ngói đỏ sừng sững trên sườn núi nổi bật trên nền xanh tươi của cây cỏ. Đấy chính là Bạch Dinh. Bạch Dinh tọa lạc tại số 10 đường Trần Phú, thành phố Vũng Tàu. Bạch Dinh được người Pháp xây dựng từ năm 1898 đến năm 1916 dùng làm nơi nghỉ mát cho Toàn Quyền Pháp Paul Doumer và được gọi là Villa Blanche theo tên cô con gái yêu của ông ta. Nghĩa tiếng việt của từ “Villa Blanche” lại trùng với dáng sắc bên ngoài của nó nên dân địa phương quen gọi là “Bạch Dinh” tức là biệt thự trắng. Bạch Dinh nằm ở độ cao 27,7m mặt hướng ra biển, lưng tựa vào núi, dưới chân là biển. Khách du lịch có thể tắm ở Bãi Trước, Bãi Dâu, thả bộ trên đường Trần Phú vừa ngắm Bạch Dinh. Sau lưng là Núi Lớn, bao quanh một màu xanh của rừng sứ và rừng gia tỵ giữa thiên nhiên tươi đẹp. Bạch Dinh mang phong cách kiến trúc Châu Âu cuối thế kỷ 19. Mặt ngoài được trang trí những đường hoa văn cổ xưa vùng với những hình vẽ và những bức tượng thể hiện chân dung của các thánh thời Cổ Hi Lạp. Toà cao 19m, dài 25m, rộng 8m, gồm 3 tầng (tầng hầm, tầng trệt, tầng lầu). Toàn bộ ngôi nhà được quét vôi trắng, phía trên lợp ngói đỏ tươi, phía dưới là mảng viền trang trí tinh tế và mỹ thuật. Sứ men màu là nguyên liệu chính để trang trí, tạo hình ảnh. Đôi chim công với màu xanh ngọc, điểm xuyết những chấm bạc lấp lánh đang xoè cánh múa làm cho ngôi nhà mang một dáng dấp thanh thoát. Những gương mặt phụ nữ Châu âu xinh đẹp, như các vị thần trong thần thoại Hy Lạp. Đôi cá chép uốn lượn như muốn hoá rồng. Hoa cúc, hoa hướng dương viền từng mảng quanh ngôi nhà, lấp lánh dưới ánh ban mai, vàng lên rực rỡ trong nắng chiếu càng làm cho Bạch Dinh thêm lộng lẫy. Gây ấn tượng đặc biệt là 8 bức tượng bán thân mang phong 132
  • 133.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị cách nghệ thuật Hy Lạp cổ đại bao quanh 3 mặt tường chính của ngôi nhà. Các bức tượng đều làm bằng sứ men màu, nét mặt thể hiện tinh tế, sinh động. Có lẽ đây là những bức tượng chân dung về một số vị danh nhân trong lịch sử Châu Âu, hơn 100 năm thử thách không bị khuất phục bởi thời gian, kiến trúc Bạch Dinh vẫn giữ nguyên tính sang trọng, hài hoà và uy nghiêm. Rừng giá tỵ bao quanh có một thế quan trọng trong việc tôn vinh vẻ đẹp của Bạch Dinh. Chính rừng cây đã tạo nên vẻ đẹp cho khu di tích này. Khuôn viên Bạch Dinh rộng chừng 6 ha, một nửa là rừng giá tỵ (còn gọi là cây báng súng). Thân cây cao, thẳng lá to như nửa tán dù. Nửa kia trồng bông sứ. Một loại cây ưa khí hậu nóng khô hạn và rất nhiều hoa. Rừng Bạch Dinh là một góc thanh bình và nên thơ của một thành phố du lịch ồn ào, xao động. Cứ mỗi lần đặt chân đến đây, trong ta lại thấy trào lên những cảm xúc mới lạ. Mùa mưa rừng Bạch Dinh xanh thẳm. Những cành lá giá tỵ như ô dù che kín cả cây rừng. Mùa lá rụng Bạch Dinh tràn ngập hoa sứ. Hoa trải trên lối đi, hoa từng chùm trắng trên cây, trắng cả khu rừng. Hoa thơm ngát làm dịu lòng người. Rừng sứ Bạch Dinh là rừng có chủng loại sứ phong phú. Có thứ màu đỏ (hoa sứ Thái Lan), có loại màu hồng, màu trắng, vàng nhạt (giống như hoa Cham pa), có loại trắng pha vàng ở giữa, sứ ngũ sắc... Đi giữa mùa lá rụng, ta thấy lòng lâng lâng bay bổng mọi ưu phiền trong cuộc sống đời thường như tan biến. Bạch Dinh còn hấp dẫn bởi lịch sử của nó. Trước khi có Bạch Dinh, nơi đây làm pháo đài thành Phước Thắng (năm Minh Mạng thứ 20 nhà Nguyễn). Pháo đài này là nơi đã nổ phát súng đầu tiên (10.2.1859) vào hạm đội Pháp khi chúng tấn công Sài Gòn - Gia Định (bằng đường biển) và đã cản trở được bước tiến của quân Pháp trong 1 ngày đêm. Đó là một chiến tích oanh liệt của quân và dân Vũng Tàu trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp. Sau khi bình định xong xứ Nam Kỳ, viên toàn quyền Đông Dương người Pháp Paul Doumer đã lệnh san bằng pháo đài thành Phước Thắng (1898) để xây biệt thự cho mình và đặt tên là Villa Blanche (nghĩa chữ Hán Việt của từ này là Bạch Dinh). Để xây dựng Bạch Dinh, 800 người tù lao động khổ sai trong suốt gần 10 năm trời. Từng tấc đất, viên đá, ngọn cây ở đây đều thấm bao mồ hôi, nước mắt và máu của những người tù. Sau này Bạch Dinh thuộc sự cai quản của Công sứ Nam Kỳ người Pháp. Đặc biệt từ ngày 12.9.1907 tới năm 1916, Bạch Dinh là nơi người Pháp dùng để giam lỏng vua Thành Thái, một vị vua yêu nước có tư tưởng chống Pháp. Từ năm 1926 Bạch Dinh là nơi vua Bảo Đại thường ghé nghỉ mát cùng với gia quyến của mình. Thời trước 1975 Bạch Dinh là nơi nghỉ mát của tổng thống của chế độ cũ. Phía trước Bạch Dinh là một bãi lớn hướng ra biển. Từ đây có thể nhìn bao quát cảnh bãi trước lượn vòng từ núi nhỏ đến núi lớn. Nếu nhìn thẳng xuống sẽ thấy Hòn Hải Ngưu. Đó là một mũi đá nhô ra biển có hình dáng như một con trâu đang đắm mình dưới nước là nơi câu cá của các chủ nhân Bạch Dinh trước kia và khách du lịch ngày nay. Ngày nay đến tham quan Bạch Dinh, bạn không chỉ được thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên, của kiến trúc “Roma cận đại”, biết thêm về lịch sử Bạch Dinh, lịch sử dân tộc mà bạn còn có cơ hội ngắm nhìn bộ sưu tập gốm sứ thời nhà Thanh được vớt lên từ Hòn Cau rất có giá trị và nổi tiếng đang được bảo tàng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trưng bày và giới thiệu tại đây. Bạch Dinh là một di tích lịch sử, một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của thành phố Vũng Tàu. Khách du lịch trong và ngoài nước đều rất thích đến đây để tham quan và hít thở bầu không khí trong lành của biển và chiêm ngưỡng nơi lịch sử đã đi qua… 5.5 Tượng Chúa Kitô Tượng chúa Kitô nằm trên đỉnh núi Nhỏ, thành phố Vũng Tàu. Tượng được dựng vào năm 1972, cao 32m, đứng giang hai tay, mặt hướng ra biển. Nét đẹp thiên nhiên ở Nghinh Phong - Vọng Nguyệt dường như được nhân lên nhờ bàn tay con người - cải tạo mạn cực nam Núi Nhỏ và xây dựng nơi đây một công trình kiến trúc điêu khắc đồ sộ. Tượng chúa kitô cao 32m là một sự nổi bật hài hòa trong không gian khoáng đạt của vùng núi non và biển cả nơi đây. 133
  • 134.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Bức tượng được xây dựng 1974 sau một quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng về ý đồ thiết kế và chọn mẫu. Tất cả các công việc đều do hội Thiên Chúa Giáo Vũng Tàu chủ trì và thực hiện.Các họa sĩ điêu khắc như Cao Uy, Văn Nhân và các vị có chức sắc trong giáo hội, được giao nhiệm vụ tham khảo hàng nghìn bức ảnh Chúa Kitô và thiết kế mẫu phác thảo, sau đó phác thảo được gửi tới cuộc triển lãm văn hóa - nghệ thuật tôn giáo để tranh thủ thêm nhiều ý kiến đóng góp của các nhà nghệ thuật. Việc thi công bức tượng được giao cho nhóm kỹ sư tài hoa Nguyễn Văn Đức, và những người thợ tài giỏi như ông Tám Luận, Nan, Quý, Hòa, Hoàng … Hằng ngày có 50 người lao động để thực hiện công trình này. Do điều kiện xây dựng khó khăn (núi cao, nền đá, hệ thống dàn giáo khó thực hiện)…công trình kéo dài. Đầu năm 1975 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đi vào giai đoạn kết. Vì vậy công trình tượng chúa kitô phải dừng lại trong dở dang từ 30/4/1975. Mãi đến 1993 một số công trình phụ khác như hệ thống tam cấp đường lên, những mảng chưa được tô láng ciment trước đây mới được giáo hội thiên chúa thực hiện tiếp. Và trong tương lai công trình sẽ được hoàn thiện như phác thảo ban đầu. Kiến trúc - điêu khắc tượng chúa kitô là một tác phẩm nghệ thuật lớn, là sản phẩm của sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với kiến trúc nghệ thuật Việt Nam hiện đại mang đậm tính dân tộc và tôn giáo. Về kích thước với chiều cao 32m, sải tay dài 18,4m đặt trên đỉnh Tao Phùng cao hơn mặt nước biển 170m, được giới chuyên môn xem đây là bức tượng Kitô cao thứ nhì thế giới, sau bức tượng Kitô ở Brasil vốn do hai quốc gia Argentina và Brasil xây dựng (cao 38m) đặt trên ngọn núi cao 760m . Tượng chúa Kitô núi nhỏ quay mặt về hướng nam nhìn ra biển Đông, nét mặt nhân từ bao dung, đôi tay dang rộng như đang che chở, bao bọc chúng sinh. Dẫu là một bức tượng được xây bằng bê tông cốt thép, bên ngoài tô đá rửa nhưng những chi tiết thuộc về nghệ thuật và thẩm mỹ như tư thế bức tượng, nét mặt, trang phục … đều được thễ hiện hết sức mềm mại, sinh động giàu sức sáng tạo. Bên trong tượng có cầu thang xoắn ốc đi từ chân tượng lên tới đỉnh tượng. Ánh sáng bên ngoài chiếu rõ trong lòng tượng nhờ hệ thống “cửa sổ” hình chữ “Thọ” trang trí trên áo. Lên hết 133 bậc tam cấp trong lòng tượng du khách du khách có thể đi ra 2 bên vai và tay áo tượng - như hai chiếc ban công an toàn, chắc chắn để ngắm bờ biển Vũng Tàu và đón gió biển thổi vù vù, mát rượi. Hai bàn tay tượng chúa kitô dài tới 2,2m, ngón giữa dài 1,1m có 9 tia hào quang làm bằng kim loại vừa trang trí vừa có tác dụng thu lôi. Tượng chúa Kitô đặt trên một bệ bê tông có bốn góc tạo hìng cánh cung cao 10m, phía trước bệ được trang trí bức phù điêu phỏng theo tác phẩm nổi tiếng của danh họa Ý Leona de Vinci “bữa tiệc biệt ly”. Mặt sau là một bức tranh lớn “ Đức chúa trao chìa khóa cho Phêrô”. Ở vào vị trí phía nam của núi nhỏ, tọa lạc ở một không gian dễ thu hút vào tầm mắt của du khách đến tắm biển vũng tàu, và là một tác phẩm lớn về nghệ thuật kiến trúc tôn giáo mang dấu ấn bản sắc dân tộc, tượng Chúa Kitô núi nhỏ là điểm thu hút khách tham quan du lịch trong và ngoài nước. 5.6 Di tích kiến trúc nghệ thuật Nhà Lớn Xuôi quốc lộ 51, ngay địa phận Phước Hoà nhìn về tay phải ta sẽ thấy một dãy núi thấp nằm xoải dài trên sông nước, cỏ cây xanh rờn... Đó là Núi Nứa hay còn gọi là đảo Long Sơn. Long Sơn ngày nay là một xã (xã đảo) thuộc TP vũng tàu. Đây là vùng đất đã có lịch sử lâu đời với những di tích, thắng cảnh, truyền thuyết tôn giáo rất lạ. Tên gọi là Núi Nứa do trước kia (hiện nay vẫn còn số ít) trên khắp đảo có nhiều cây nứa (một họ với tre) mọc thành rừng. Hòn đảo lại không lớn lắm (dài 6km, ngay chỗ rộng nhất không lớn hơn 2km) nên các rừng nứa nói trên đã phủ đầy mặt đảo, trở thành cây đặc trưng của đảo. Còn tại sao gọi là núi Long Sơn? chính do hình dáng của đảo, mới thoạt trông từ xa giống như một con rồng xanh khổng lồ đang giỡn mình trên sóng biến. Núi rồng (Long Sơn) là thế... 134
  • 135.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Nhưng núi Nứa hay Long Sơn sẽ không được nhiều người nhắc tới nếu nó không gắn liền với những truyền thuyết về Đạo ông Trần. ông Trần là tên dân gian để gọi một người tên là Lê Văn Hưu gốc Hà Tiên (Kiên Giang), từng tu hành theo phái Tứ ân Hiếu Nghĩa ở Núi Thất Sơn (An Giang). Năm 1900, ông dẫn 20 đệ tử tìm đến đảo Long Sơn và định cư hẳn ở đây khai hoang và truyền đạo. Tôn giáo của ông Trần rất lạ: không có chùa, không có kinh kệ, không ăn chay, không kiêng kỵ như nhiều tôn giáo khác. Tín đồ chỉ truyền khẩu những lời dạy của ông Trần. Sau một thời gian ngắn, nhờ siêng năng, cần mẫn, ông Trần và các đệ tử đã biến một vùng rừng của Núi Nứa thành đất trồng trọt. Nhiều người ở nơi khác tìm đến xin cùng định cư và trở thành đệ tử ông Trần. Khi ông Trần qua đời, ngoài "Đạo ông Trần" truyền lại, ông còn lưu dấu trên đảo một số công trình kiến trúc đợm tính dân gian nhưng khá độc đáo: các ngôi nhà ở bằng tre nứa nhưng kiến trúc theo cách riêng thề hiện tính quần cư, đoàn kết giữa người dân trên đảo. Các ngôi nhà xây dựng tập trung gần nhau để khi hữu sự để cứu giúp nhau, một phần nữa có lẽ để dễ đối phó với cướp bóc, thú dữ. Đặc biệt là sau khi ông Trần mất, các tín đồ đã có một ngôi nhà lớn, hay còn gọi Đền ông Trần. Ngôi nhà này rất bề thế, ngày xưa xây bằng gỗ ván, tre nứa nhưng qua thời gian, các đệ tử đã trùng tu lại bằng mái ngói, cột vách bằng gỗ quí. “Nhà lớn” được dựng ngay trung tâm khu quần cư, tổng diện tích toàn khu trên 2ha, gồm ba phần riêng biệt: Khu đền thờ (nhà lớn), nhà chợ, nhà mát, nhà nghe sấm, khu trường học, khu nhà Long Sơn Hội (hội trường), các dãy phố quanh chợ và ngôi mộ ông Trần. Ngày nay du khách đến viếng Đạo ông Trần vẫn còn nhìn thấy nguyên vẹn những kiến trúc cổ xưa. Ngoài ra khi vào tận nơi tham quan, chúng ta còn được chiêm ngưỡng một số cổ vật quý hiếm bằng gỗ, như bộ tủ thờ trạm trổ của các nghệ nhân Hà Đông (Bắc Bộ) gồm 33 món cực kỳ tinh xảo; bộ bàn ghế Bát Tiên tương truyền là của Vua Thành Thái triều Nguyễn; chiếc long sàng và các ghế theo kiểu dành cho vua, chạm khắc tinh vi, đẹp mắt. Tóm lại, những gì còn lưu dấu lại ở đảo Long Sơn, cho thấy một khía cạnh trong bức tranh đa dạng về tín ngưỡng tôn giáo, về nghệ thuật dân gian rất phong phú của dân tộc ta. Đảo Long Sơn càng ngày thu hút cao du khách thập phương. 5.7 Thích Ca Phật Đài: Danh thắng Thích Ca Phật Đài nằm trên đường Trần Phú, con đường vòng quanh ôm Núi Lớn, lên Bến Đá và Bến Đình. Danh thắng Thích Ca Phật Đài gắn liền với vẻ đẹp của Bến Đá và cảnh quan thiên nhiên hướng Đông Bắc Núi Lớn. Nếu Bến Đá là cảng cá sầm uất, nhộn nhịp thì Thích Ca Phật Đài, là nơi tịch liêu, đượm vẻ huyền diệu của chốn thiên thai. Thích Ca Phật Đài là thắng tích nổi tiếng nhất trong những thắng tích nổi tiếng của thắng cảnh Vũng Tàu. Hàng năm, Thích Ca Phật Đài đón chào hàng vạn người từ khắp nơi hành hương vãn cảnh. Vùng núi Thích Ca Phật Đài trước đây cây cối tươi tốt không có người sinh sống. Khoảng năm 1957, Ông Lê Quang Vinh, một công chức thời Pháp thuộc, bất đắc chí lên đây dựng chùa để tu hành, gọi là Thiền Lâm Tự. Năm 1962 Giáo hội Phật giáo nhận thấy Thiền Lâm Tự toạ lạc ở một vị trí có khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, là vùng đắc địa tụ kết khí thiêng, lại thuận tiện giao thông đi lại cho chư tăng, phật tử thập phương hành hương nên đã lập đồ án xây dựng quy mô Thiền Lâm Tự thành Thích Ca Phật Đài. Sau hơn 19 tháng xây dựng, ngày 15 tháng 02 năm Quý Mão (1963), Thích Ca phật Đài được khánh thành với nhữmg công trình kiến trúc như ngày nay. Thích Ca phật Đài là một quần thể kiến trúc điêu khắc tạo dựng theo sự tích cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni gắn với cảnh quan thiên nhiên hài hòa, sống động thành khu danh thắng đẹp mang nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử tôn giáo, là một trong những danh thắng thu hút nhiều khách du lịch nhất của Vũng Tàu. Vào Thích Ca Phật Đài, đi qua Tam quan, trên có bánh xe luân chuyển đạo lý nhà Phật gọi là Pháp luân với tám căm biểu tựợng Trung đạo. Vòng ngoài có bốn núm biếu tựợng cho tứ Diệu Đế. Trên bốn cột của tam quan là bốn búp sen biểu tựợng cho sự trong sạch, tinh khiết, thanh cao 135
  • 136.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị của Nhà Phật. Toàn bộ khuôn viên Thích Ca Phật Đài được thể hiện trên triền núi như nửa vầng trăng, được chia thành ba cấp theo một hình tháp cao dần từ dưới lên. Bảo Tháp bắt gặp đầu tiên, sau khi bước lên hết cấp thứ nhất, là nơi ghi nhớ và tưởng niệm người đã có công dựng Thiền Lâm Tự: Nhà sư Giác Pháp tức quan phủ Lê Quang Vinh. Lối lên bậc thứ hai theo đường vòng cung nhỏ nhắn, bên trái là vách đá kỳ vĩ Bên phải dõi tầm mắt đến tận Núi Nứa - Long Sơn và xa xa là cảng Dầu khí với những cần cẩu vươn cao nối liên với phố xá, nhà cửa và làng cá Bến Đình, Bến Đá ngay dưới chân núi. Thích Ca Phật Đài được bao phủ bởi màu xanh của nhiều loài cây cao vút. Gió biển thổi rì rào. Đi hết đường vòng cung, tới độ cao 25m, không gian trải rộng ra trước mặt. Đây là khu vực của những công trình điêu khắc được xây dựng dựa theo những sự tích cuộc đời Đức Phật Thích Ca, từ khi Người ra đời đến khi nhập cõi Niết Bàn. Hình ảnh của Đức Phật khi tu luyện và đắc đạo được diễn tả qua bức tượng Phật Thích Ca hay Kim Thân Phật Tổ ngồi tham thiền trên tòa sen. Đức Phật ngự trên Đài hành lễ cao 4,5m. Đài được đúc bằng ciment hình bát giác. Phía trên là bông sen cao 2m. Phật Thích Ca ngự trên tòa sen cao 5,lm. Tượng Kim Thân được thi công tại chỗ, riêng phần đầu được đặt đúc tại Sài Gòn. Ngày 20-07-1962 khi đem gắn đầu vào tượng, tương truyền lúc ấy nền trời xanh ửng lên một vầng hào quang quanh mặt Phật. Được biết trong pho tượng Kim Thân có tôn trí ba viên ngọc Xá Lợi của Đức Phật thành Phật Thích Ca, Ngài đã truyền bá đạo Phật cho nhân loại. Ngài đến vườn Lộc Giã (lsipatanr) và giảng đạo Phật cho các vi đạo sĩ và đệ tử. Để ghi nhận quá trình này người ta đã dựng ở Thích Ca Phật Đài nhà Bát giác, tượng trưng cho Đức Phật chuyển Pháp luân. Nhà Bát giác có các nhóm tượng: Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen cao l,2m; năm tượng đạo sĩ ngồi vây quanh nghe thuyết pháp, mỗi tượng cao 0,6m. Những mặt khác của tòa Bát Giác viết những lời răn của Đức Phật. Tượng Phật nhập Niết Bàn ở Thích Ca Phật Đài là một tràng lớn. Đức Phật nằm quay mặt về hướng tây trên một bệ ciment cao 4,2m (Phật thân cao 2,4m kề từ vai xuống), dài 12,2m. Trước tượng Đức Phật nhập Niết Bàn là bốn tượng Tỳ kheo chấp tay cung kính. Phía sau là năm tượng Tỳ kheo ngồi chắp tay hướng về Đức Phật. Bảo tháp Thích Ca Mâu Ni ở đây có tôn trí 13 viên Xá Lợi Đức Phật, được đựng trong một hộp bằng vàng. Đây là niềm đại hạnh cho các phật tử Việt Nam nói chung và phật tử Vũng Tàu nói riêng. Bảo tháp ngọc Xá Lợi ở Thích Ca Phật Đài cao 17m vươn lên giữa sân hành lễ rộng khoảng 300m2, trên có búp sen. Lối lên Bảo tháp có đắp hình rồng, hai bên có đôi sư tử chầu tượng trưng cho Đại Hùng - Đại Lực. Dưới chân tháp có một thích án để thờ, trên khắc chữ “Nam mô Bồn sư Thích Ca Mâu Ni Phật” (Hết lòng tôn kính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni). Dưới bốn cạnh chân Bảo tháp bát giác đặt bốn cái đỉnh lớn trong đặt bốn nắm đất thiêng được thỉnh từ Lumbini (nơi Ngài Đản sanh), Buddha Caya Uruvfla (nơi Ngài thành đạo), Isipatana (nơi Ngài truyền đạo) và Kusinara (nơi Ngài nhập Niết Bàn) về đây. Sau khi chiêm bái và vãn cảnh ở vườn Lộc Giả, Bảo tháp, từ độ cao gần 29m có thể quan sát miền sông biển, đầm lầy rộng lớn phía bắc Vũng Tàu, từ Núi Nứa, Long Sơn đến cảng Dầu khí, du khách theo lối nhỏ bên phải xuống Tinh thất Giác Pháp, nơi ông phủ Vinh ở, tu hành trước đây. Trong Tịnh thất bây giờ có bức tượng, bình tro hài cốt của nhà sư Giác Pháp. Thích Ca Phật Đài là một quần thề kiến trúc, điêu khắc với ý đồ diễn tả lại sự kiện chính trong cuộc đời Đức Phật. Chỉ riêng điều này thôi, Thích Ca Phật Đài đã là một công trình Phật giáo đặc trưng của Vũng Tàu nói riêng và Việt Nam nói chung. 5.7 Tổ đình Thiên Thai và thắng cảnh Dinh Cố Tổ đình Thiên Thai tọa lạc dưới châu núi Dinh Cố (ngọn núi mà ngày nay chúng ta có thể suy đoán là núi Bà Rịa trong sách của các sử gia nhà Nguyễn), thuộc xã Tam An - huyện Long Điền. Sở dĩ chùa Thiên Thai được gọi là Tổ đình vì đây là nơi ra đời của Thiên Thai Thiền Giáo Tông (1935) với tờ ngôn luận Bác Nhã âm tuyên truyền chấn hưng Phật giáo. 136
  • 137.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Chùa Thiên Thai do sư tổ Huệ Đăng tạo dựng từ năm 1922. Toàn bộ khuôn viên chùa rộng 6ha, gồm tam quan, chánh điện, giảng đường, nhà hậu, bát quái đài, thạch động và vườn tháp. Tổ đình Thiên Thai nổi tiếng không chỉ bởi cảnh quan, kiến trúc mà còn từ những câu chuyện gắn với người lập chùa. Sư tổ Huệ Đăng tên thật là Lê Quang Hóa, sinh năm 1873 trong một gia đình nhà Nho ở huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. ông tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ 19. Sau cuộc khởi nghĩa ở Sông Cầu, Phú Yên bị thất bại, Võ Trứ lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa bị chém, nhiều người bị bắt bớ, tù đày, Lê Quang Hóa tìm đường vào Nam. Ông đến Gò Công trú ngụ và dạy học. Sau đó ông xuất gia, quy y với hòa thượng Hải Lộ ở chùa Long Hòa, Bà Rịa, được pháp tự là Thiện Thức, pháp danh Huệ Đăng, sau đó được cử trụ trì chùa Kiên Linh và Phước Linh Bà Rịa. Sau khi hòa thượng Hải Lộ viên tịch, năm 1918, ông về khai phá Thạch Động, ẩn tu dưới chân núi Dinh Cố... Năm 1934, để đáp lại tấm lòng của sư tổ, các môn đệ trong vùng quyết tâm xây dựng tòa thiên bảo tháp cho Huệ Đăng. Tâm niệm của ông là duy trì Phật pháp không chỉ dừng lại ở chỗ tạo Phật, đúc chuông, kiến trúc tam bảo mà chính là mở rộng việc hoằng hoá lợi sinh, giáo dục thiên tính, gieo trồng duyên lành cội phước. Rời Tổ Đình Thiên Thai, du khách rẽ trái theo con đường tam cấp uốn quanh núi Dinh Cố lên cao 82m để chiêm ngưỡng toàn cảnh đồng bằng trù phú Long Đất, Tân Thành và xa xa phía Xuyên Mộc mờ ảo... Đỉnh núi Dinh Cố tọa lạc một ngôi miếu được xây dựng công phu trên những khối đá lớn, chơi vơi. Tương truyền đó là miếu thờ một hiền nữ, còn gọi Dinh Cố. Không biết trước khi có danh sơn trên, núi Dinh Cố có tên gọi nào khác? Một số người say mê tìm hiểu lịch sử địa phương cho rằng núi Dinh Cố xưa được gọi là núi Bà Rịa. Núi Dinh Cố không cao lớn, hình dáng như một chiếc nón khổng lồ úp giữa cánh đông Tam An. Thay cho sự tươi xanh của cây cối đã bị đạn bom hủy diệt 20 năm trước là khối đá hoa cương đủ mọi hình thù chơi vơi trên sườn dốc. Du khách vẫn thích tìm cảm giác từ những kiểu ảnh được chụp bên những vách đã cheo leo. Lên Dinh Cố, du khách không quên vào miếu hiền nữ dâng hương. Theo nhân dân Tam An, từ khi Bà Cố qua đời ngọn núi này trở nên linh thiêng. Người ta truyền rằng: đến đây dâng hương cầu mong cuộc sống gặp nhiều may mắn, hạnh phúc sẽ được toại nguyện. Những huyền thoại thần bí về Bà Cố có thể đã được nhân dân thêu dệt rất nhiều. Đó cũng là ước mơ về những con người tư đức, công hạnh hiện thực ngày càng nhiều để nhân dân tôn kính, ngưỡng mộ. 5.8 Nghĩa trang Hàng Dương Nghĩa trang Hàng Dương rộng 190.000m2 , gồm 3 khu : khu A, khua B và khu C. Theo số liệu ước định có khoảng: 20.000 tù nhân đã chết ở Côn Đảo. Tuy nhiên không phải tất cả đều nằm ở Hàng Dương. Nghĩa địa tù được lập ở khu vực Chuồng Bò, sau dời lên Hàng Keo. Từ năm 1944, chế độ khủng bố trắng sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã giết hại hàng ngàn tù nhân. Nghĩa địa Hàng Keo hầu như hết chỗ, thực dân Pháp mở nghĩa địa Hàng Dương để chôn tù. Tính đến ngày Côn Đảo hoàn toàn giải phóng (1975), nghĩa trang lịch sử này tròn 35 tuổi. Trong vòng 35 năm ấy, ước tính khoảng 6.000 tù nhân bị giết hại. Khu A nghĩa trang, nơi có phần mộ cụ Nguyễn An Ninh và đồng chí Lê Hồng Phong là nơi chôn những ngôi mộ đầu tiên. Mỗi người tù xấu số được liệm bằng 2 chiếc bao bàng (đan bằng loại cỏ ống), cột 7 nút lại, rồi đưa ra vùi qua loa xuống cát. Có thời gian, mỗi ngày từ 15 đến 20 người tù chết, tất cả được chất lên xe bò chở ra hàng Dương vùi chung một hố. Năm 1944, khu A đã chôn chật mộ, nhà tù đã mở rộng nghĩa trang về phía nam, tức khu B hiện nay. Hài cốt lớp tù nhân kháng chiến chống Pháp (1945-1954) được chôn kế tiếp từ đồi cát chạy dài xuống phía đông nam, nơi có phần mộ người thiếu nữ anh hùng Võ Thị Sáu. 137
  • 138.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Hài cốt lớp tù nhân chống Mỹ được chôn tiếp vào phần còn lại của khu B và chôn tiếp qua khu C. Gần 500 tù chính trị câu lưu chống ly khai Đảng cộng sản trong những năm 1957-1963 được chôn trong khu B. Mỗi ngôi mộ ở nghĩa trang này không chỉ là một số phận bi hùng, một chứng tích tội ác của thực dân đế quốc mà còn âm vang những trang sử hào hùng của cuộc đấu trang trong tù, tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Sân hành lễ nằm ở trung tâm nghĩa trang với một tượng đài mang một hình tượng Trao Aùo. Tượng đài cao 9m, nặng 25 tấn được khởi dựng ngày 16/7/1980. Dưới chân bức tượng có ghi hàng chữ “Vĩnh biệt các đồng chí”. Tượng đài được tái tạo từ câu chuyện “ Chết còn cởi áo cho nhau”. Người trao áo là ông Vũ Văn Hiếu, nguyên là bí thư đầu tiên của đặc khu mỏ Hòn Gai (tháng 10/1930). Người nhận áo nguyên là cố Tổng Bí thư Lê Duẩn. Nghĩa trang Hàng Dương được bảo tồn như một di tích lịch sử đặc biệt. Nghĩa trang hàng Dương với hàng ngàn nấm mộ có tên và không tên là bằng chứng hùng hồn về tội ác của đế quốc, thực dân đối với dân tộc ta. Đó là nơi yên nghỉ của hàng ngàn người con ưu tú của dân tộc ta, đã đối mặt với kẻ thù giữa lao tù, xiềng xích, trong cuộc đấu trang vì độc lập, tự do và chủ nghãi xã hội. 5.9 Thắng cảnh Bàu Sen: Khu rừng Bàu Sen thuộc ấp Xà Bang, xã Ngãi Giao, huyện Châu Đức. Từ thị xã Bà Rịa theo tỉnh lộ 2 đi khoảng 30km về phía Bắc, tới Xà Bang quẹo phải theo con đường nhỏ trải nhựa là đến khu nghỉ mát Bàu Sen, cũng là đã tới phía nam khu rừng. Rừng Bàu Sen mọc trên vùng sình lầy quanh năm ngập nước, với diện tích 120ha độ sâu trung bình 3.5m. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý chịu nước: bời lời, dâu nước, sao và bụi rậm dây leo: mây, song, tre… Bao quanh khu rừng là mảnh đất sình lầy rộng khoảng 10ha. Suối Tần Bó bắt nguồn từ Cẩm Mỹ chảy ngang qua khu rừng cung cấp nước ngọt và các loại thuỷ sản: cá cua, ốc, lươn… sinh sôi nảy nở tạo nên kho thực phẩm thiên nhiên dồi dào. Cùng với giá trị lịch sử, cảnh quan và môi trường thiên nhiên tươi đẹp, trong lành đã làm cho khu rừng Bàu Sen trở thành một thắng cảnh thơ mộng và kì vĩ. Rừng cây gỗ quí xanh tươi vươn cao cách mặt đất 20m, nền rừng là sình lầy thích hợp với kiểu du lịch bằng ghe thuyền thật thú vị kết hợp với săn bắn thú rừng và thủy sản. Từ cuối năm 1981 khu vực phía nam rừng Bàu Sen được khai phá, xây dựng thành khu nghỉ mát với những vườn hoa cây cảnh, nhà thủy tạ, hồ sen… nằm giữa vùng rừng thiên nhiên và các vạt rừng cao su xanh ngát đang hàng ngày không ngừng tuôn chảy dòng nhựa trắng, là mặt hàng chiến lược quí của đất nước. Hiện nay rừng Bàu Sen còn lại 70ha và khu đầm lầy bao quanh rộng 42ha, song vẫn thể hiện dáng dấp của một khu căn cứ thới kháng chiến với những nét độc đáo hấp dẫn sự quan tâm của khách tham quan du lịch. 5.10 Núi Lớn - Núi Nhỏ Núi Lớn ở phía Bắc, núi Nhỏ ở phía Nam trung tâm thành phố Vũng Tàu. Núi Lớn, núi Nhỏ như hai anh em làm bình phong che chắn cho thành phố Vũng Tàu, cùng với biển cả bao quanh đã tạo nên nét đẹp độc đáo cho thành phố Vũng Tàu. NÚI LỚN Núi Lớn: Có diện tích khoảng 400ha; có 3 đỉnh lớn đó là Vũng Mây cao 220m, Núi Lớn cao 170m, Hòn Sụp cao 215m. Sách Gia Định thành thông chí (viết đầu thế kỷ 19) gọi núi Lớn là Thác Cơ Sơn, dáng như rồng xanh tắm biển, đứng nghiễm nhiên dựng làm ngọn nêu để chỉ rõ bờ bến cho tàu thuyền Nam Bắc qua lại, chặn đè sóng gió. Đầu ghềnh Thác Cơ Sơn thường có những con rái cá nên dân gian 138
  • 139.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị thường gọi là núi Ghềnh Rái. Sách Đại Nam nhất thống chí (viết giữa thế kỷ 19) nhấn mạnh sự quan yếu của núi làm bình phong ngoài cửa Cần Giờ. Về tên gọi “Tương Kỳ” chuyện kể rằng: Khi xưa nơi đây còn hoang dã, chưa mấy ai đặt chân đến, núi còn hổ dữ sinh sống. Trên núi này có hai ông cháu cụ giáo Hiếu (Thầy dạy văn và võ cho ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Chính cụ là người khuyến khích ba anh em Tây Sơn khởi nghĩa) sinh sống. Một hôm cô Mai, cháu nội cụ giáo Hiếu vào rừng hái nấm, không may gặp hổ dữ. Hổ nhảy vào định ăn thịt Mai. Đang lúc lâm nguy bỗng đâu xuất hiện tráng sĩ. Tráng sĩ đã dùng thanh kiếm và bằng võ nghệ điêu luyện đã hạ sát hổ dữ cứu nguy cho thiếu nữ thoát nạn. Cảm kích trước tấm lòng hào hiệp của tráng sĩ, thiếu nữ đã đưa tráng sĩ về ra mắt ông nội. Tại đây cụ Giáo Hiếu đã nhận ra tráng sĩ đó chính là Lê Tuấn một võ tướng của Nguyễn Huệ. Để đền ơn cho tráng sĩ đã cứu sống cháu mình cụ giáo Hiếu đã gả Mai cho Lê Tuấn. Cụ Giáo đã trỏ tay vào ngọn núi và nói: “Nơi đây đã chứng kiến mối lương duyên của tráng sĩ và cháu gái lão, lão xin đặt tên núi là Tương Kỳ”. Và từ đó Núi Lớn có tên gọi “Tương Kỳ”. Theo đường Núi Lớn (đường Trần Phú) quanh sườn núi từ Bến Đình sẽ đến chùa Thích Ca Phật Đài, Bãi Dâu, đến Bãi Trước dài 10km, đường dốc quanh co, trên núi, dưới biển phong cảnh thật hữu tình. Có nhiều thắng cảnh dọc đường đi như Tượng Đức Mẹ, Tượng Phật Bà Quan âm, Bạch Dinh... Du khách có thể lên đỉnh núi Lớn tận hưởng không khí trong lành, mát lạnh và thu vào tầm mắt toàn cảnh thành phố Vũng Tàu theo con đường uốn lượn vòng quanh triền núi phía Nam, từ ngã ba đường Lê Lợi và đường Vi Ba. NÚI NHỎ Nếu như núi Lớn tựa dáng con rồng xanh tắm biển thì Núi Nhỏ chính là “cái đuôi” của con rồng xanh ấy. Núi Nhỏ, còn gọi là Tao Phùng, diện tích khoảng 120ha, cao 170m. Có hai đường lên một đường ở phía Bắc, nối với đường Hạ Long, gần cầu Đá; một đường ở phía Nam, theo 793 bậc tam cấp dẫn lên Tượng Chúa Kitô và trận địa pháo cổ cuối thế kỷ 19. Năm 1862, tức 3 năm sau khi đánh chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp đã cho xây dựng ngọn hải đăng đầu tiên ở Việt Nam trên núi Nhỏ (tại độ cao 149m). Cuối Núi Nhỏ về phía Nam là mũi Nghinh Phong. Trước đây, dân Vũng Tàu gọi mũi Nghinh Phong là Ô Quắn. Như cánh tay dài vươn ra biển, ôm bãi Vọng Nguyệt phía Đông và Hương Phong (bãi Dứa) phía Tây, quanh năm Nghinh Phong đón gió. Cách mũi Nghinh Phong không xa về phía Đông là Hòn Bà - tên gọi gắn với điện thờ trên đảo. Cũng như nhiều địa danh khác ở Vũng Tàu dù trước đó đã có tên Việt, Hòn Bà đã từng được người Pháp đặt cho cái tên Ile d' Archinard, vốn là tên một viên tướng trong quân đội viễn chinh. Mũi Nghinh Phong, Hòn Bà tạo cho cảnh quan núi Nhỏ thêm kỳ thú. Núi Lớn, núi Nhỏ còn bảo tồn nhiều di tích lịch sử văn hóa như phòng tuyến trận địa pháo của Pháp, Hải đăng Vũng Tàu, Hầm thủy lôi của quân đội Nhật trong chiến tranh thế giới thứ 2, đài ăngten parabol của quân đội Mỹ, Tượng chúa Kitô, một trong những công trình điêu khắc về Đức chúa trời cao nhất thế giới và rất nhiều đền, chùa… Về truyền thuyết Núi Nhỏ mang tên gọi là Tao Phùng có câu chuyện: Vào thời xa xưa, công chúa con vua Thuỷ Tề hoá thành con cá vàng đi chơi không may sa vào lưới của người trai làng chài. Thấy cá đẹp, người con trai mang cá lên núi, khoét đá thành một vũng nước cho cá vào nuôi. Một hôm ở biển về, anh không thấy cá mà chỉ thấy núi đầy hoa trái, chim cá, đang còn bỡ ngỡ, bỗng từ trong núi thiếu nữ đi ra nói rõ sự tình. Từ đó họ thành vợ chồng. Cuộc sống đang đầm ấm yên vui thì một ngày kia đang tiết thu, trời trong mây nhẹ, hai vợ chồng đang ngồi ăn cơm thì thấy có người đi ở ngoài vào tay cầm hộp ngọc sáng chói. Thấy vậy người vợ bỗng hoảng hốt chưa kịp đứng dậy thì người khách đã đưa hộp ngọc ra, sấm chớp nổi lên và lập tức người vợ bị thu vào trong hộp ngọc. Người chồng đau đớn van xin cho vợ được tha, nhưng không được. Trong hộp người vợ đã biến thành con cá vàng hai mắt đẩm lệ nhìn ra. Từ đó, cứ năm năm một lần cá vàng được ra gặp chồng. Núi Nhỏ là nơi gặp gỡ của cặp vợ chồng nên người đời gọi là núi Tao Phùng. 139
  • 140.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Theo đường vòng Núi Nhỏ (đường Hạ Long) chạy từ Bãi Trước qua Bãi Ô Quắn, Bãi Dứa, đến Mũi Nghinh Phong và ra Bãi Sau dài 6km. Đường mới, rộng, đẹp. Hai bên đường có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như Bãi Trước, chùa Niết Bàn Tịnh Xá, Tượng Chúa Kitô, Hòn Bà. 5.11 Hòn Bà Theo đường Hạ Long vòng Núi Nhỏ, từ Bãi Trước, qua Bãi Dứa đến mũi Nghinh Phong nhìn ra biển du khách thấy một hòn đảo nhỏ, dưới chân đảo sóng biển đánh tung bọt trắng xóa rất thơ mộng, đó là Hòn Bà. Hòn Bà nằm cách chân Núi Nhỏ khoảng gần 200m. Năm 1881 một người gốc Miền Trung tên là Hồ Quang Minh bỏ kinh phí xây một ngôi miếu nhỏ trên đảo gọi là miếu Bà. Năm 1939 một sỹ quan người Pháp tên Archi-nard cho bắn bể miếu nhưng chỉ có một phát trúng vào góc miếu. Viên sĩ quan này đã bỏ mạng tại đây do một lần bất cẩn khi dùng súng. Vì vậy thực dân Pháp đặt tên cho hòn đảo là Archi-nard, nhưng đối người dân Vũng Tàu thì vẫn gọi tên hòn đảo nhỏ này là Hòn Bà. Sau này một người ở Trà Vinh tên là Thanh Phong đến Vũng Tàu lập nghiệp đã đứng ra quyên góp tiền của để sửa chữa ngôi miếu vào năm 1971. Ngôi miếu hiện nay có chiều cao nổi trên mặt đất là 4m, trong là điện thờ các vị thần linh. Bên dưới có một tầng hầm dài 6m rộng 3m; trước kia từng là nơi hội họp bí mật của đồng bào yêu nước. Lúc thuỷ triếu xuống thấp, du khách có thể men theo một lối đá gập ghềnh để đi bộ ra đảo. Vào các ngày mùng một hay ngày rằm bà con thường ra đảo để thắp hương cầu may tại ngôi miếu nhỏ này. Hòn Bà là một thắng cảnh đẹp ở Vũng Tàu. 5.12 Hòn Bà Côn Đảo Từ trung tâm huyện đi theo hướng về vịnh Bến Đầm khoảng 15 km, dọc đường du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên kỳ bí của Côn Đảo với các hòn Tài Lớn, Tài Nhỏ…thoắt ẩn, thoắt hiện trong chặng đường quanh co của biển. Trong nhiều hòn đảo lớn, nhỏ đó du khách sẽ dễ dàng nhận ra một hòn đảo có dáng khá dẹp, trông xa giống như một chú chim biền khổng đang đắm mình dưới nước. Với đỉnh núi nhỏ, trông giống mỏ chim, chân núi rộng lớn, chìm sâu dưới biển mà thành đảo, đó chính là Hòn Bà. Hòn Bà với Hòn Lớn tạo thành một vịnh lớn gọi là Bến Đầm và hiện nay cảng Bến Đầm đã hoàn thiện đón tàu ra vào Côn Đảo thuận tiện. Trên đỉnh Hòn Bà có một tảng đá lớn, trông giống như hòn “Vọng phu”, người dân Côn Đảo nói đó là Hòn Bà. Bà chính là thứ phi của Nguyễn Ánh. Bà có tên là Nguyễn Thị Răm, một phụ nữ Việt Nam có lòng yêu nước, khi được biết Nguyễn Ánh muốn sang cầu cứu quân xâm lược Pháp, và nhất là ý muốn gửi Hoàng tử Cải sang làm con tin cho việc cầu viện bên Pháp, bà Phi Yến đã lựa lời khuyên can nhưng chẳng những Nguyễn Ánh không nghe mà còn ghép cho bà tội thông đồng với quân Tây Sơn nên đã đem giam bà vào một hang đá trên hòn đảo này. Khi quân Tây Sơn tới, Nguyễn Ánh cùng đám cận thần hò nhau lên thuyền bỏ chạy. Hoàng Tử Cải không thấy mẹ đã khóc thảm thiết. Sợ lộ, Nguyễn Ánh đã ném Hoàng tử xuống biển. Hoàng tử chết, xác trôi dạt vào Cỏ Ống được dân vớt đem an táng và lập miếu thờ. Dân làng Cỏ Ống cho người sang đảo đón Bà Phi Yến về phụng dưỡng. Trong dân gian có câu hát: Gió đưa cây Cải về trời Rau Răm ở lại chịu đời đắng cay Đó chính là những lời ai oán, khóc cho số phận của bà Nguyễn Thị Răm, tức bà Phi Yến, một con người đẹp người, đẹp nết mà số phận thật hẩm hiu. Đến thăm Hòn Bà, một thắng cảnh thiên nhiên thật đẹp của Côn Đảo lại cũng là dịp biết thêm một câu chuyện tình lịch sử bi ai. 5.13 Bãi biển Hồ Cốc 140
  • 141.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Nằm trên địa bàn xã Bưng Biền, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách thành phố Hồ Chí Minh 175km, khoảng 3 giờ đồng hồ theo đường bộ. Trước khi vào bãi biển, du khách có dịp băng qua một khu rừng nguyên sinh, có điều kiện chiêm ngưỡng cảnh đẹp núi rừng tự nhiên với quần thể cây xanh, đá xanh đủ loại. Biển Hồ Cốc khá đẹp, là một vùng hoang sơ mới được khai thác, nước biển trong xanh, khu bãi tắm rộng, độ dốc thoai thoải và đặc biệt đẹp thơ mộng nhờ các tảng đá nằm ngay trong bãi tắm tạo nên những đợt sóng biển tung bọt trắng xoá. Với vẻ nên thơ của một vùng biển hoang vắng nên du khách ví bãi biển Hồ Cốc đẹp như một thiếu nữ trinh nguyên. Tắm biển ở đây thật thú vị, như lạc lõng giữa thiên nhiên, thả mình trong làn nước xanh thẳm để thưởng thức những gì còn hoang sơ của núi rừng và biển cả. Riêng về tên gọi “Hồ Cốc”, cho đến nay vẫn còn nhiều người thắc mắc. Người ta đặt câu hỏi : “Vì sao biển lại… mang “họ” Hồ, mà không “Hồ… gì, lại là Hồ Cốc?!” Thực tế, có nhiều cách giải thích khác nhau. Người ưa chuyện hoang đường thì bảo rằng, sở dĩ có tên Hồ Cốc là vì từ ngày xửa ngày xưa, khi Đất - Trời còn giao hoà, Trời làm hạn hán khiến cuộc sống trần gian muôn vàn khổ cực, loài Cóc đã thay mặt tất cả làm cuộc hành trình đến cổng Trời giống trống xin được yết kiến Thượng Đế. Quá trình đi đòi mưa vô cùng khổ ải và trên đường đi vạn dặm đó, Cóc chúa đã “ngã xuống” hoá thành đá mà nay người ta gọi tảng đá lớn đó là “Hòn Cóc”. Cái tên Hồ Cốc được giải thích là bắt nguồn từ việc Cóc chúa hoá đá do đọc trại mà thành “cốc”. Một giải thích khác thì cho rằng, có lẽ vì nơi đây ngày xưa có những tán rừng bao bọc mà cây cối tồn tại chủ yếu là cây cóc rừng nên mới có tên gọi là Hồ Cốc ( chữ “cốc” ở đây cũng bị cho là do đọc trại từ “cóc” mà ra). Tuy nhiên, qua quan sát thực tế cho thấy, rất có thể do địa hình của biển cong cong “hình vòng cung” dễ khiến cho người ta liên tưởng đến hồ và “cốc” rất có thể là “am cốc” hoặc “chiếc cốc đựng nước” khổng lồ do đá hình thành nằm lấp sấp dưới biển khiến cho người ta liên tưởng. Ở Hồ Cốc, ngoài việc chọn cho mình một nơi chốn lý tưởng để “an toạ” ngắm cảnh hoặc lai rai thưởng thức chút hải sản địa phương như cá, mực, nghêu, ghẹ… xào hoặc nướng thì du khách cũng nên chuẩn bị cho mình những “bước chân sẵn sàng” để đi dọc biển. Biển Hồ Cốc đẹp, nhưng sẽ thú vị hơn nếu du khách chịu khó lang thang khám phá vẻ đẹp thiên nhiên của nó bằng cách bước dài theo bãi cát, bởi rất có thể ở một phía xa nào đó du khách sẽ bắt gặp những đồi cát uyển chuyển, gợi hình, tuyệt mỹ như nàng thiếu nữ…do nước biển xâm thực “vô tình” để lại. Đá ở Hồ Cốc có nhiều hình thù mặc sức cho những tâm hồn tưởng tượng bay bổng. Đá nằm lưng chừng trên bãi cát. Đá nhoài mình xuống biển hoặc nằm hững hờ “đầy khiêu gợi”... Đá muôn đời không lên tiếng dù rằng đại dương kia vẫn đôi lúc xô đẩy, thét gào làm “đau lòng” phận đá. Đêm ở Hồ Cốc thật yên tĩnh. Mọi sinh hoạt và những thanh âm ồn ào của cuộc sống dường như bị ngưng bặt. Chỉ có tiếng những hàng dương reo xào xạc, tiếng biển rì rầm và xa xa, trên biển, thấp thoáng những đoàn thuyền đánh bắt le lói chút đèn vàng. Một câu chuyện vui, một mẩu chuyện cười được kể trong đêm lửa trại cũng đủ làm xôn xao cả bãi cát. 5.14 Vườn Quốc gia Côn Đảo Vườn quốc gia Côn Đảo được công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên từ năm 1984 và được công nhận là vườn quốc gia từ năm 1993; có môi trường, tài nguyên rừng, biển còn tương đối nguyên vẹn, tiềm năng đa dạng sinh học cao, cảnh quan thiên nhiên ít bị tác động. Tổng diện tích được bảo vệ của vườn là 20.000ha, trong đó 14.000ha là biển và 6.000ha là rừng trên 14 hòn đảo. Rừng Côn Đảo xanh tốt um tùm với nhiều loại cây gỗ quý như bời lời, lát hoa, sao đen, cẩm thi, thiên niên kiện, săng đào, dầu lá bóng... Động vật ở Vườn quốc gia cũng có nhiều loài như chồn, sóc, kỳ đà, khỉ, hươu, nai, gà rừng..., đặc biệt có sóc mun toàn thân đen tuyền không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta. Ở đây có các loài chim quý hiếm như: chim điêu mặt xanh, én biển... Thêm vào đó còn có một vùng đệm 141
  • 142.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị biển rộng 20.500ha, bao gồm cả các hệ sinh thái biển và ven bờ như rừng ngập mặn, các rạn san hô và thảm cỏ biển. Trên 1.300 loài sinh vật biển đã được xác định ở đây. Vùng biển Côn Đảo có nhiều loài hải sản quý, có giá trị cao như tôm hùm, cá hàng, cá gióng, cá mập, cá heo, cá nhám, hải sâm, đồi mồi, vích… Côn Đảo còn là một trong số rất ít những nơi còn lại ở VN có những loài động thực vật quí hiếm nhất sinh sống, như dugong (còn gọi là bò biển). Đặc biệt ở Côn Đảo có quần thể rùa biển rất lớn, hàng năm vào mùa sinh sản, có hàng ngàn lượt rùa biển lên các bãi cát để đẻ trứng. Từ năm 1995 đến nay, hơn 300.000 rùa con đã được thả về biển và gần 1.000 con rùa trưởng thành đã được gắn thẻ. Với tính đa dạng sinh học biển cao, vườn quốc gia Côn Đảo đã được liệt kê vào danh sách “Những khu vực được ưu tiên cao nhất” trong hệ thống khu bảo tồn biển toàn cầu. Ngoài ra, Côn Đào còn có những rạn san hô lớn và đa dạng, có thể sánh với những khu du lịch sinh thái nổi tiếng nhất trong khu vực. 5.15 Bãi Trước Là mặt tiền của Vũng Tàu, nằm về hướng tây-nam, còn gọi là bãi “Tầm Dương” - Tìm ánh mặt trời. Vào buổi bình minh và hoàng hôn, mặt trời đỏ rực như tan vào nước biển mênh mông. Bãi Trước như một nửa vành trăng tựa lưng vào đất liền, hai đầu là hai ngọn núi Tương Kỳ và Tao Phùng. Thiên nhiên sơn thuỷ hửu tình đã tạo cho Bãi Trước cảnh thơ mộng là bến đậu của những con tàu trở về sau những chuyến hải trình. Dọc Bãi Trước trồng nhiều dừa vì vậy trước đây còn có tên là vịnh Hàng Dừa. Giờ đây vẫn rợp bóng dừa và được điểm tô thêm màu xanh của những cây bàng, cây sứ. Bên dưới những bóng cây xanh rợp mát là một khu công viên đầy hoa dành cho khách bộ hành hóng mát... bên tiếng sóng biển du dương. Trung tâm thành phố Vũng Tàu tọa lạc ở khu vực Bãi Trước với nhiều toà nhà, khách sạn mới, hiện đại được mọc lên càng tô điểm cho Bãi Trước một nét đẹp vừa xa xưa vừa hiện đại. Đêm về, dọc đại lộ Trần Phú, Quang Trung rực sáng với hệ thống đèn cao áp, trên các tòa nhà cao lộng gió, những quán cà phê rực rỡ muôn ánh đèn đủ sắc màu tỏa sáng lung linh cùng xa xa những chiếc tàu neo đậu với những vầng ánh sáng xanh đỏ tỏa lan trên mặt biển tạo cho bãi trước một vẻ đẹp thật quyến rũ về đêm. 5.16 Bãi sau Nằm ở phía đông nam và còn có tên gọi “Bãi Thùy Vân”. Bãi Sau dài 8 km, là bãi biển dài và thơ mộng nhất của Vũng Tàu. Nếu như biển ở Bãi Trước có nét đẹp lộng lẫy và rực rỡ thì Bãi Sau có nét đẹp dịu dàng của một vùng biển quanh năm đầy nắng ấm. Đại lộ Thùy Vân con đường đầy hoa chạy dọc theo Bãi Sau, một bên là những dãy phố sầm uất, nhà cao tầng, khách sạn dáng vóc hiện đại, đầy đủ tiện nghi, một bên là bãi cát vàng và nhiều khu du lịch đủ các loại hình dịch vụ giải trí vui chơi trên biển… dành cho mọi lứa tuổi. Đặc biệt có một sân golf rộng hơn 100ha đạt tiêu chuẩn quốc tế. Bãi Sau còn có khu rừng dương - một cánh rừng rộng với những cây phi lao cổ thụ xanh rợp trên nền cát trắng. Dưới rừng dương thấp thoáng những căn nhà nghỉ bằng gỗ, thiết kế theo kiểu nhà rông vừa tao nhã, vừa thanh lịch, đậm nét văn hóa của núi rừng Tây Nguyên, nhà được trang bị đủ tiện nghi, vừa hiện đại, vừa dân dã là chỗ dừng chân lý tưởng cho mọi du khách. Bãi sau là nơi thu hút nhiều du khách lui tới vui chơi tắm biển nghỉ mát ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Vào những các ngày tết, lễ, đón mừng năm mới… Bãi Sau tràn ngập người ghé đến, trên bờ cũng như dưới nước như không còn chỗ trống tạo nên một sức sống của một trung tâm du lịch nổi tiếng khắp nơi. 5.17 Bãi Dứa Từ Bãi Trước, dọc theo đường Hạ Long là một trong những con đường đẹp nhất Việt Nam uốn lượn trên một đoạn triền núi lấn ra bờ biển sẽ đưa ta tới Bãi Dứa. Người xưa kể lại rằng sở dĩ có tên bãi Dứa, vì trước đây triền núi nhô ra biển rất nhiều những cây dứa dại (một loại cây có 142
  • 143.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị hương thơm như gạo nếp hoặc nàng hương) tỏa thơm ngát một vùng nên bãi này còn có tên gọi là Bãi Lãng Du là một bãi biển đẹp của Vũng Tàu. Cái đẹp ở đây không ồn ào tấp nập mà là một vẽ đẹp mộng mơ, tĩnh lặng. Biển len lỏi trong các hẽm núi, ghềnh đá, tạo nên các vũng nhỏ ôm ấp những mạch nước ngầm trong suốt đang rí rách. Khung cảnh này rất hợp với những đôi tình nhân hay tuần trăng mật của những lứa đôi còn đang nồng nàn hương hoa ngày cưới. Phía trên triền núi dọc theo đại lộ Hạ Long là các nhà nghỉ, khách sạn theo kiểu biệt thự đầy đủ tiện nghi. Xen kẽ những ngôi chùa miếu khá nổi tiếng ở Vũng Tàu như Niết Bàn Tịnh Xá, miếu Ông Nam Hải... là những nơi dành cho khách mộ điệu hành hương về dâng hoa cầu phước, cầu lộc… Ai đó đã đến Vũng Tàu cách đây dăm bảy năm bây giờ mới có dịp trở lại Bãi Dứa sẽ không khỏi ngạc nhiên trước sự đổi thay kỳ diệu. Đó là thành quả lao động sáng tạo, hòa quyện cùng thiên nhiên để tạo ra những cảnh quan tuyệt vời của Bãi Dứa. 5.18 Bãi Dâu Nằm ở phía tây Núi Lớn, dọc theo đường Trần Phú, từ Bạch Dinh (Bãi Trước) đến Bãi Dâu xa chừng 3km. Bãi này trước đây gọi là bãi Vũng Mây, vì trên triền hòn Núi Lớn đoạn này có nhiều cây mây mọc. Vào khoảng những năm đầu thế kỷ XX, một thương nhân người Pháp đến đây lập cơ sở nuôi tằm và trồng rất nhiều dâu trên triền núi và dọc theo bờ biển nên dần theo thời gian tên Vũng Mây được thay thế bằng Bãi Dâu. Ngày nay Bãi Dâu được mở rộng hơn, bao gồm những vịnh nhỏ khoảng giữa Núi Lớn. Do nằm bên triền núi ăn sát ra biển, Bãi Dâu được kiến tạo bởi nhiều vịnh nhỏ xinh xắn, những gộp đá nhỏ xen giữa triền cát vàng cát trắng mịn màng. Các bãi tắm ở đây kín gió, nhiều đoạn biển sát chân núi với những vách đá dựng đứng hoặc thoai thoải đón từng đợt sóng biển vỗ về bọt tung trắng xóa, tạo nên cảnh sắc sơn hải hữu tình. Đường Trần Phú uốn lượn cheo leo trên vách núi, một bên là biển cả mênh mông, một bên là núi rừng, cỏ cây xanh thẳm. Giữa khung cảnh núi rừng xanh ngắt nổi bật lên tượng Đức Mẹ Maria, Phật Bà Quan Âm hoà quyện bên tiếng sóng biển dạt dào, tiếng gió ngàn vi vút tạo nên một âm thanh vừa huyên náo, vừa tịch liêu làm thư thái tâm hồn du khách thập phương dù lần đầu ghé đến. Dọc đường Trần Phú với cảnh sơn thuỷ hữu tình, bãi tắm nên thơ, những quán ăn với món ngon miền biển… thu hút được nhiều người tới du lịch thưởng ngoạn. 5.19 Nghinh Phong Từ Niết Bàn Tịnh Xá, theo đại lộ Hạ Long qua hết Bãi Dứa là tới Nghinh Phong có nghĩa là “đón gió” thổi suốt bốn mùa. Như một cánh tay vươn dài ra biển, Nghinh Phong tạo thành hai bãi biển ở hướng tây và hướng đông. Đó là bãi Vọng Nguyệt (hay Ô Quắn) và bãi Hương Phong, xa xa là Hòn Bà - Bồng đảo nơi du khách có thể ghé đến vào những khi thuỷ triều hạ thấp. Những đêm vào mùa trăng mọc, hay lúc hoàng hôn, biển ở đây sáng rực như được dát một lớp bạc óng ánh. Bên tiếng sóng rì rào, trước mặt biển sáng bạc mênh mông bao la của trời mây sóng nước làm người ta dễ lâng lâng bay bổng tâm hồn. Ba mặt tiếp giáp với biển của Nghinh Phong là vách núi dựng đứng khá cao, đứng trên đường nhìn xuống ta cảm thấy biển ở đây như xanh hơn nơi khác, lộng gió và mát mẻ lạ thường. Bãi tắm ở đây trong và sâu là nơi dành cho người hiếu động, thích cảm giác mạnh từ những ngọn sóng dập dồn và rất thích hợp cho những người ưa thích bộ môn câu cá. 5.20 Nhà tù Côn Đảo Hệ thống nhà tù Côn Đảo thời Pháp: gom các trại giam Bagne (Banh) 1, 2, 3, Biệt Lập Chuồng Bò, Chuồng Cọp và Bagne 3 phụ. 143
  • 144.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Bagne 1: Được xây dựng từ năm 1862, còn có tên gọi là Lao 1 (thời Mỹ - ngụy đổi tên là trại Cộng Hòa, trại 1 hay trại Phú Hải). Đây là trại giam lớn nhất và cổ nhất ở Côn Đảo mang đậm dấu tích tù đày khổ sai tàn ác của thực dân Pháp đối với các tù nhân chính trị. Bagne 2: Được xây dựng từ năm 1916, nằm cạnh Bagne 1, còn có tên gọi là Lao 2, (thời Mỹ - ngụy đổi tên là trại Nhân Vị, trại 2, hay trại Phú Sơn). Bagne 3: Được xây dựng năm 1928, còn có tên gọi là Lao 3 (thời Mỹ - ngụy đổi tên là trại Bác Ái, trại 3, trại Phú Thọ hay "Biệt Lập Chuồng Gà"). Biệt Lập Chuồng Bò: Được xây dựng từ năm 1930, còn có tên gọi là an ninh Chuồng Bò. Chuồng Cọp: Được xây dựng năm 1940, là khu biệt giam nổi tiếng của Pháp. Bagne 3 phụ: Được xây dựng từ năm 1941, còn có tên gọi là Lao 3 phụ (thời Mỹ - ngụy đổi tên gọi là trại phụ Bác Ái, trại 3, hay trại Phú Cường). Hệ thống nhà tù Côn Đảo thời Mỹ - ngụy: Được xây dựng thêm các trại trại 5 (còn gọi là trại Phú Phong), trại 6 (còn gọi là trại Phú An), trại 7 (còn gọi là trại Phú Bình hay Chuồng Cọp Kiểu Mỹ), trại 8 (còn gọi là trại Phú Hưng). Hệ thống nhà tù Côn Đảo đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp Quốc gia ngày 29/04/1979. 12. Đặc sản và ẩm thực  Hàu đút lò: Món hàu đút lò đã nhanh chóng thu phục được đông đảo thực khách . So với các món khác thì món hàu đút lò cầu kỳ hơn , phải "tay làm hàm hàm nhai" mới ngon , mới cảm nhận được hết cái thú của nền "văn minh ẩm thực sông nước" . Những con hàu trông bề ngoài sần sùi như cục đá nhưng bên trong lại chứa đựng lớp thịt trắng hồng , mềm mại. Lớp thịt này đươc bóc ra , ướp lạnh, sau đó đưa lên vỉ nướng có rưới dầu , hành , không nên nướng quá chín vì nó sẽ dai và mất vị ngọt .Món hàu đút lò chấm với muối tiêu chanh , ăn kèm rau thơm các loại và thêm một xị rượu chuối hột thì sẽ nhớ mãi không quên khi đến Long Sơn. Bánh canh Long Hương: Đối với những du khách đã từng đi du lịch tại Vũng Tàu thì có lẽ cái tên bánh canh Long Hương đã trở thành một địa chỉ ẩm thực quá quen thuộc trên đường từ Vũng Tàu về Sài Gòn. Bánh canh ăn ngon mà nấu đơn giản, chỉ cần ninh chân giò và xương ống cho ngọt nước lèo rồi nêm nếm gia vị cho vừa miệng. Nước lèo trong veo nhưng có vị ngọt đậm đà của xương và thịt. Sợi bánh được làm bằng bột gạo pha bột lọc để có độ dài và bột màu trắng trong. Bánh canh ăn kèm với giá sống, rau cần và các loại rau thơm khác. Giá đậu xanh chọn loại lùn, thân mập vừa giòn, lại có vị ngọt mát. Bánh canh có 3 món cho thực khách lựa chọn: giò, nạc và que (que là xương ống có nhiều nạc).  Mứt hạt bàng: Bàng ở Côn Đảo là loại cây rừng, lá và quả thật to. Người dân Côn Đảo “thu hoạch” quả bàng đem phơi cho dốt vỏ, rồi trong những lúc rỗi việc nhà, đem ra chẻ lấy hạt dùng làm mứt... Đến Côn Đảo, du khách thường được mời thưởng thức món đặc sản mứt hạt bàng. Có hai loại mứt hạt bàng: ngọt và mặn. Gọi là mứt nhưng thật sự đó là hạt bàng rang với muối hoặc với đường như đậu phộng rang muối, đường ở đất liền. Cho một vài hạt vào miệng, vị ngọt của đường hay vị mặn của muối hòa lẫn vị bùi và béo của hạt bàng ở đầu lưỡi, du khách đều công nhận: lạ và ngon. Nhiều người thích loại hạt bàng rang với muối hơn. Nói là rang với muối nhưng loại này không hề mặn, chỉ đậm đà hơn hạt bàng tươi một chút và gần như giữ được vị bùi bùi nguyên gốc 144
  • 145.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị của hạt bàng tươi. Còn loại rang với đường thì rất ngọt và không còn giữ được vị gốc của hạt bàng. Hạt bàng rang muối nhìn mập mạp, vỏ hơi thâm nâu; khi cắn một miếng, sẽ thấy được các lớp màu trắng ngà của hạt bàng xếp cuộn khít vào nhau, rất đều đặn. Bàng ở Côn Đảo là loại cây rừng, lá và quả thật to. Người dân Côn Đảo “thu hoạch” quả bàng đem phơi cho dốt vỏ, rồi trong những lúc rỗi việc nhà, đem ra chẻ lấy hạt. Hạt bàng mới tách ra có màu nâu giống như màu gỗ được đánh vẹc-ni. Ngồi mất vài tiếng đồng hồ, có khi vừa chẻ vừa tách chỉ được chừng vài trăm gram hạt. Sau đó đem rang muối hoặc rang đường tùy ý. Khi chín quả bàng được đập lấy làm mứt. Mứt hạt bàng là một thứ quà đặc sản mang đậm dấu ấn Côn Đảo. Đặt chân lên Côn Đảo, rời cảng Bến Đầm chỉ vài trăm mét là đã bắt đầu thấy ngay cây bàng. Bàng mọc trên con đường ven biển, bàng có mặt trên mọi ngóc ngách đường phố. Những cây bàng gốc xù xì vươn dài ra đường, thân to đến 2-3 người ôm không hết. Những cây bàng nơi đây còn được gắn biển đề tên một cách trang trọng. Vào những mùa đông rét mướt, hay mùa hè nóng bức, lá bàng rụng được tù nhân lượm, giấu mang về trại giam, lót trên nền bê tông, nền đá để chống chọi với cái lạnh, cái nóng khắc nghiệt. Quả bàng, lá bàng non có khi còn là bữa ăn qua ngày; lá bàng còn thay giấy để viết thơ ca, để truyền tin giữa những người tù. Nhiều người bị giam dài ngày cứ nhìn cây bàng thay lá mà đếm mùa, đếm năm. Quả bàng chín nhiều nhất là vào mùa hè, tầm tháng 7, tháng 8. Gió thổi, dơi ăn, quả bàng rụng đầy trên đường. Có hôm sắp bão, gió lớn, quả bàng rụng la liệt, người dân trên đảo mạnh ai nấy đổ xô đi lượm. Sau đó, phơi khô, dùng dao chẻ từng quả một lấy nhân ra, rồi rang sao cho khéo léo để có những sản phẩm thơm ngon bán cho người dân địa phương và du khách. Làm mứt hạt bàng cũng lắm công phu chứ không đơn giản như cái cách trẻ con ăn bàng, quả bàng chặt đôi, lấy tăm khều lấy hạt ra, rồi bỏ vào miệng nhai bùi bùi. Bởi thế, giá mứt hạt bàng không phải rẻ: 200.000 đồng/kg loại rang đường, 280.000 đồng/kg loại rang muối. Nếu vào mùa ngập, mứt hạt bàng lên đến 500.000 đồng/kg mà không đủ bán cho khách du lịch.  Mắm hàu Côn Đảo: Với người dân Côn Đảo, mắm hàu là thứ nước chấm bình dân không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày, đôi khi trở thành món ăn chính trong những ngày biển động. Còn với du khách, khi ra thăm đảo, lúc về đất liền thường mang theo những chai mắm hàu để làm quà cho người thân...thưởng thức. Những món ăn chế biến từ con hàu biển như hàu mù tạt, cháo hàu, hàu đúc trứng v.v... đã quá quen thuộc với nhiều người nhưng mắm hàu thì có lẽ còn ít ai biết tới. Bởi lẽ, mắm hàu mới được làm ra ở Côn Đảo trong một vài năm nay, chưa có thương hiệu và cũng chưa có điều kiện để chu du đó đây... Tuy nhiên, nhìn từ góc độ ẩm thực, mắm hàu đã có một chỗ đứng nhất định trong cuộc sống thường ngày của người dân Côn Đảo, được nhiều du khách chấp nhận qua những món ăn chấm với mắm hàu đậm đà hương vị biển. Cũng như những loại mắm thông thường khác, nguyên liệu để chế biến mắm hàu chính là con hàu có sẵn trong thiên nhiên. Loại này sống rất nhiều ở bãi đá chung quanh các hòn của quần đảo Côn Lôn. Hàng ngày, chờ cho thủy triều xuống, những người làm mắm hàu chạy ghe ra các hòn để gõ hàu lấy ruột. Đồ nghề mang theo là một chiếc búa mỏ nhọn, một chiếc nhíp gắp và một chiếc ca nhựa. Người ta dùng chiếc búa mỏ nhọn này gõ vào miệng con hàu sữa nhỏ bằng ngón tay cái, sau đó lật nhẹ lớp vỏ bên trên rồi lấy nhíp gắp miếng thịt trắng bên trong cho vào ca nhựa. Có ba thao tác đơn giản như vậy, nhưng người mới vào nghề chưa quen tay thường gõ trật, còn người thâm niên hơn thì một ngày có thể gõ được 5 kg ruột hàu. Mang về nhà, ruột hàu được đãi rửa sạch sẽ và để cho ráo nước. Sau đó đảo đều với muối, ớt bột, rượu v.v... theo tỉ lệ phần trăm rồi đóng chai. Khoảng hai mươi ngày sau, chai mắm hàu đổi màu, lúc phần thịt nổi lên trên còn phần nước lắng phía dưới có màu đỏ tươi là ăn được. Tuy nhiên thời gian ủ càng lâu thì mắm càng ngấu, dậy mùi thơm nồng và ăn càng ngon. Tương tự như mắm cá linh, khi ăn phải nêm vào một ít tỏi - ớt - 145
  • 146.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị chanh - đường để mắm có thêm phần chua - cay - ngọt - mặn. Món ăn hợp với mắm hàu nhất là bánh tráng cuốn với thịt ba rọi - bún - rau sống... Với nhiều người dân Côn Đảo, mắm hàu còn là thứ nước chấm bình dân không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày, đôi khi còn là món ăn chính trong những ngày biển động. Còn với du khách, khi ra thăm đảo, lúc về đất liền thường mang theo những chai mắm hàu để làm quà cho người thân... thưởng thức.  Tiết canh tôm: Món tiết canh tôm tại nhà hàng Hải Phương (693-695/ đường 30/4-f10) được mệnh danh là danh bất hư truyền. Có tất 7 lọai tôm hùm, nhưng làm món này là lọai tôm hùm rồng , đầu tôm lấp lánh bảy sắc cầu vồng …Dùng dao nhọn đâm vào gáy tôm lúc còn sống để lấy tiết, tôm làm tiết canh phải là lọai tôm từ 700gr trở lên. Tiết canh tôm ăn là lạ, thịt tôm mềm lẫn với tiết tôm sừng sựt như rau câu, mằn mặn , ngòn ngọt, thực khách được xem đầu bếp biểu diễn màn đánh tiết canh tôm ngay tại bàn.  Bánh hỏi An Nhất: Nếu có dịp đi qua vùng An Nhất- Huyện Đất Đỏ -Thị Xã Bà Rịa, xin hãy dùng thử món bánh hỏi nổi tiếng của quán An Nhứt , đây là tiệm bánh gia truyền của chị Trần Thị Anh Đào mở ra đã gần 50 năm, thường ngày tiệm bán trung bình 100kg, những ngày lễ thì trên 200kg. Bánh hỏi được làm bằng một thứ gạo thơm và bí quyết là cách pha chế bột sao cho bánh dẻo, dai. Miếng bánh hỏi trắng thơm mùi gạo mới càng nhai càng thấy ngọt hậu, bánh hỏi cuốn với rau sống , thịt xào , chấm với nước mắm kèm ngó sen chua ngọt, cuốn hết cuốn này thêm cuốn khác tới no mà vẫn thấy thèm, hoặc ăn với thịt bò xiên bằng que nướng trên bếp than hồng , chấm mắm nêm cũng rất ngon.  Rượu áp xanh: Không ai biết Rượu Áp Xanh Bà Đập có tên gọi tự bao giờ, có người kể rằng do ông bà ta học được bài thuốc có vị bổ từ Trung Quốc. Ngay cả những người làm nghề nấu rượu Áp Xanh lâu năm và khá nổi tiếng ở xã Phước Hội, huyện Long Đất , bây giờ cũng chẳng ai biết gốc gác của thứ thức uống cay nồng , sóng sánh màu xanh ngọc bích… Tại ấp Hội Mỹ, xã Phước Hội- Long Đất có đến 99% hộ dân sinh sống bằng nghề nấu rượu , với khỏang 50 lò, nhưng đa số không ai biết được bí quyết của thang thuốc dùng nấu rượu Áp Xanh , họ chỉ biết là mang máng có bảy vị thuốc vì việc bổ thuốc là một nghề riêng biệt, hiện ở làng Phước Hội chỉ còn hai người chuyên bổ thuốc nấu rượu Áp Xanh.  Mắm Trí Hải: Khi đến thành phố biển Vũng Tàu xinh đẹp, ngoài việc vui chơi giải trí, du khách không thể quên mua cho mình và người thân những món quà đặc sản của xứ biển. Ở đây chúng tôi xin giới thiệu một số loại đặc sản mắm Vũng Tàu của cơ sở mắm Trí Hải.Với nguồn hải sản phong phú như: tôm, cá, mắm… nhiều sản phẩm mắm ngon đã ra đời. Trong số đó món mắm đặc sản nhất của cơ sở mắm Trí Hải là mắm ruốc. Đây là loại mắm được làm từ nguyên liệu chính là con ruốc có mùi thơm dịu thích hợp với nhiều món ăn, nhất là món ăn đồng quê.  Trứng mực chiên giòn Trứng ngon phải được lấy từ con mực thật tươi. Mực mới câu từ biển đưa lên bờ, chưa qua đêm hay chưa được bảo quản bằng bất cứ loại vật liệu nào, kể cả nước đá, thì mới tuyệt hảo! Mực tươi mổ ra, bỏ túi mực, bỏ mai và phần gan có màu vàng đất. Được mực lá là ngon nhất. Phần thân mực và râu mực chế biến như bình thường: luộc, xào hay nhúng giấm, chiên giòn... Lấy bọng trứng trong suốt với hai nang sữa cuối bụng mực cho vào cối. Một cân mực có thể lấy được nửa tô trứng. Quết trứng ấy bằng chày gỗ. Chỉ vài ba chày lá trứng dẻo quánh bám vào đầu chày. Giã thêm một chút nữa cho trứng thật dai rồi cho gia vị vào: Một ít muối, tiêu, bột ngọt, hành lá xắt xuyễn. Thúc thêm vài lượt chày nữa cho trứng thấm đều gia vị. Lúc này, trứng đã 146
  • 147.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị dao, dẻo đến độ bám hết vào đầu chày. Mỗi lần kéo chày lên là kéo cả khối trứng màu sữa thơm phức mùi hành, tiêu. Trứng ấy mà đem chiên mỡ thì dai, giòn không thua gì chả cá thát lát miền nam. Độ ngọt, thơm lại hơn cả giò sống miền bắc. Trứng mực chiên trong chảo mỡ cứ phồng dần, vàng rộm như miếng chả quế.  Canh chua tương me Cá nấu canh chua là một món ăn quen thuộc,nhưng có một món canh chua còn lạ lẫm với nhiều người, đó là canh chua tương me Đây là món đặc sản của vùng Phước Hải - Bà Rịa Vũng Tàu,người dân đia phương còn gọi là “ Nấu Súng “. Cá được dùng để nấu canh chua tương me : cá Đủ, cá Lò, cá Ngao và đặc biệt là đầu cá Thiều. Me được dầm vắt lọc lấy nước, đâm sơ tương hột, sả đập dập cho vào nồi nấu chín. Khi nước sôi cho cá được làm sạch để ráo nước vào nồi, đậy nắp đun sôi khoảng 5 phút cho cá chín,xong nêm đường , muốI , bột ngọt va rau thơm , ớt là được nồi canh ngon lành.Món canh chua tương me có mùi vị rất riêng,vớI mùi tương, sả thơm ngon quyện vào nhau rất độc đáo. Món này ăn với bún và nhắm rượu đế Hoà Long là tuyệt cú mèo, quán Phương Trang (Bảy Diện) Lộc An - Đất Đỏ.  Địa chỉ ẩm thực Nhà hàng Vườn Bàng • Số 37/4 Nguyễn Thái Học (07 Yersin), P. 7, TP. Vũng Tàu • Điện thoại: 064. 3570607 Nhà hàng Gành Hào • Số 03 Trần Phú, P. 5, TP. Vũng Tàu • Điện thoại: 064. 3550909 Nhà hàng Phương Trang • Số 1Ô11/13 Ấp An Hòa, xã Lộc An, huyện Đất Đỏ • Điện thoại: 064. 3886251 Nhà hàng Hải Phương • Số 693 Đường 30/4, TP. Vũng Tàu • Điện thoại: 064. 3848494 Tê Giác quán • Số 150 Lê Hồng Phong, TP. Vũng Tàu • Điện thoại: 064. 3853938 Quán Bảy Giai • Số 36 Hoàng Hoa Thám, P. 2, TP. Vũng Tàu • Điện thoại: 064. 3857891 Quán ăn 95 • Số 36 Trần Hưng Đạo, TP. Vũng Tàu • Điện thoại: 064. 3595595 Quán ăn Phương Hạnh 147
  • 148.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị • Số 38 Nguyễn Huệ, huyện Côn Đảo Quán ăn Sơn Phước Lộc • Khu 06 thị trấn Côn Đảo, huyện Côn Đảo Quán Kiệt • Hải Sơn, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền • Điện thoại: 064. 3868663 Nhà hàng Lan Rừng 1 • Số 02 Trần Hưng Đạo, P. 3, TP. Vũng Tàu • Điện thoại: 064. 3530713 Nhà hàng Lan Rừng 2 • Số 03 Hạ Long, P. 1, TP. Vũng Tàu • Điện thoại: 064. 3526008 Bánh khọt 41 • Địa chỉ: 24A Trần Đồng, Tp. Vũng Tàu • Điện thoại: 3530 218 Bánh khọt Gốc Vú Sữa • Địa chỉ: 14 Nguyễn Trường Tộ, Tp. Vũng Tàu • Điện thoại: 3523 465 Tại TP. Vũng Tàu - Gỏi cá Mai: Tại quán Vườn Xoài số 345 Hoàng Hoa Thám - Bánh khọt Gốc Vú Sữa tại số 14 Nguyễn Trường Tộ - Cháo Hàu quán Nghĩa gần cầu Cỏ May - Bánh Bèo Tuyết Mai: 9 Phan Chu Trinh - Bún bò Sơn 27H1 Tôn Thất Tùng - F7 - TP.Vũng Tàu, ĐT: 064.855011/ 851629 - Bún Thái "phá cách": bún Thái Ngọc Lan (số 10-Mạc Đĩnh Chi, TP. Vũng Tàu) - Hàu đút lò xã đảo Long Sơn (TP.Vũng Tàu) - Thịt nướng kiểu Nga: quán Việt Nga,Vườn Bàng ở 37/4 Nguyễn Thái Học. - Lẩu cá đuối: 40 Trương Công Định, TP.Vũng Tàu - Hủ tíu mì sường Tùng Hưng 144 Lý Tự Trọng - P3 - Tp Vũng Tàu - Ẩm thực ở làng chài: Làng Chài Bến Đá - Sao Mai (TP.Vũng Tàu) - Kem Sài Gòn 22 Lý Thường Kiệt - P1 - Tp Vũng Tàu Tại Côn Đảo 1. QUÁN THU BA Địa chỉ: đường Phạm Văn Đồng ĐT: 3830225 2. QUÁN GIA ĐÌNH 148
  • 149.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Địa chỉ: Khu N7, đường Trần Phú ĐT: 3830986 3. QUÁN N7 Địa chỉ: Khu N7, đường Trần Phú ĐT: 3830815 4. QUÁN TRI KỶ Địa chỉ: đường Nguyễn Đức Thuận ĐT: 3830294 5. QUÁN SƠN PHƯỚC LỘC Địa chỉ: đường Võ Thị Sáu ĐT: 3830601 6. QUÁN THANH HUYỀN Địa chỉ: đường Hoàng Phy Yến ĐT: 3630411 7. ĐIỀN SƠN QUÁN Địa chỉ: đường Võ Thị Sáu ĐT: 3630679 8. NHÀ HÀNG PHƯƠNG HẠNH Địa chỉ: 38 đường Nguyễn Huệ ĐT: 3830180 Tại TX. Bà Rịa Bánh Canh Long Hương Quán Thuý ở ngã ba Long Hương Ở cổng chào Bà Rịa Hai Phụng (Cơm Việt Nam) Địa chỉ: 16/65 Phường Phước Hiệp, Thị xã Bà Rịa Điện thoại: (064) 825759 Vườn Tao Ngộ (Nhà hàng cà phê và trà Việt) Địa chỉ: 501-503 cách mạng tháng 8 - P.Phước Nguyên - Tx.Bà Rịa Điện thoại: 064.720000 - 824357 13. Quà lưu niệm Đến Bà Rịa - Vũng Tàu, sau những ngày tham quan, vui chơi, tắm biển... tận hưởng không khí trong lành, du khách có thể dạo qua những siêu thị, các quầy hàng thủ công mỹ nghệ để mua một vài kỷ vật vùng biển về làm quà cho người thân, gia đình. Du khách dạo qua khu du lịch bãi trước (đường Quang Trung), đường Lê Lợi (gần chợ cũ) và một số điểm du lịch, khu vui chơi giải trí. Nơi đây tập trung các mặt hàng được làm từ vỏ sò, ốc (tạo hình, cẩn ghép tranh, phù điều, đồ gia dụng...), sơn mài, thêu đan, làm hoa, điêu khắc gỗ, đá; đắp tượng, hội họa do Hội nghệ nhân tỉnh sáng tạo, gia công đặc trưng của nền văn hoá biển. 149
  • 150.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Mỹ nghệ Thùy Dương Địa Chỉ : Ngã ba Lê Lợi- Trưng Trắc Trưng Nhị Điện Thoại : 064.3859104 Đến TP. Vũng Tàu, sau những ngày tham quan, vui chơi, tắm biển… tận hưởng không khí trong lành, trước khi rời thành phố biển Vũng Tàu, du khách có thể mang chút hơi thở của biển về làm quà cho người thân, gia đình, bạn bè. Để có thể mua được những món quà, vài món kỷ vật, đặc sản mang đậm chất biển, du khách có thể dạo qua các quầy thủ công mỹ nghệ tại khu vực ngã ba Lê Lợi - Trưng Trắc - Trưng Nhị. Ở đây, chúng tôi xin nói đến một trong những cửa hàng mỹ nghệ dọc khu vực này, đó là cửa hàng thủ công mỹ nghệ Thuỳ Dương, hoặc liên lạc theo số điện thoại 064. 859104. Tại đây, du khách có thể tìm thấy các mặt hàng được làm từ vỏ sò, ốc (tạo hình, cẩn ghép tranh, phù điêu, đồ gia dụng…), hàng sơn mài, đá non nước… Trong mỗi món hàng đều mang hơi thở riêng của biển. Để lắng nghe tiếng sóng biển rì rào, du khách nên chọn cho mình những vỏ ốc, với giá từ 5.000 đồng đến 50.000 đồng/con tuỳ loại, hay chọn cho mình một vật trang trí, du khách có thể chọn những chuỗi cườm được làm thủ công từ những vỏ ốc biển nhỏ xíu giá 2.000 đồng/dây. Hoặc chọn những vật trang trí, du khách có thể chọn những bình hoa, những bức tranh cẩn ghép từ vỏ ốc. 150
  • 151.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị TÂY NINH  I. V TRÍ Đ A LÝỊ Ị Tỉnh Tây Ninh thuộc miền Đông Nam bộ. Phía Tây và Tây Bắc giáp vương quốc Campuchia, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, là tỉnh chuyển tiếp giữa vùng núi và cao nguyên Trung bộ xuống đồng bằng sông Cửu Long. Tây Ninh nằm ở vị trí cầu nối giữa thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnôm Pênh, Vương quốc Campuchia và là một trong những tỉnh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam. Diện tích: 4.035,45 km2 Dân số TB: 1.058.526 người (năm 2008) Các dân tộc chính: Kinh (98%), còn lại là dân tộc thiểu số (chủ yếu là Khơme, Hoa, Chăm) Đơn vị hành chính: 1 thị xã (thị xã Tây Ninh), 8 huyện (Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng, Bến Cầu, Tân Châu, Tân Biên, Dương Minh Châu, Châu Thành) XXIV. L CH S HÌNH THÀNHỊ Ử Vào giữa thế kỷ XVII, Tây Ninh khi ấy còn là đất hoang vu, nhiều rừng rậm, đầm lầy và thú dữ. Dân bản địa gồm một số người Khmer, gọi Tây Ninh là Romdum Ray ( Tức là Chuồng Voi).Chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài gần nửa thế kỷ ( 1627- 1672), nhân dân lầm than, cực khổ. Các tỉnh Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Thuận liên tục bị đói kém mất mùa, dân chúng bỏ làng di cư vào Nam, đến cửa Cần Giờ khai hoang lập ấp thành Phiên Trấn Dinh, tức gia Định, và từ đó lần lên hướng Bắc khai thác mở đất từ Trảng Bàng lên Gò Dầu Hạ, đến chân núi Bà Đen, thành đạo Quang Phong của Phủ Gia Định từ năm 1698, năm 1838 trở thành Phủ Tây Ninh của tỉnh Gia Định. Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì “Phủ Tây Ninh cách tỉnh thành 147 dặm. Đông Tây cách nhau 103 dặm.Nam, Bắc cách nhau 95 dặm. Phía đông đến địa giới huyện Bình Long, Phủ Tân Bình 66 dặm, phía Nam giáp 2 huyện Bình Dương và Cửu An 77 dặm; phía Bắc vượt núi Chiêng ( Bà Đen) giáp đất Miên 18 dặm…” Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược đất nước ta. Tây Ninh bị chiếm (1861) và được sát nhập về Sài gòn, mãi cho đến Cách Mạng tháng 8/ 1945 Tây Ninh cùng miền Nam mới trở về tay nhân dân. Nhưng sau đó lại thuộc chính quyền Sài Gòn cho đến ngày 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Tây Ninh luôn là một mảnh đất lửa, nóng bỏng.Người dân kiên trinh, trung dũng kiên cường. Tây Ninh là “Đất Thánh” của một vùng đạo Cao Đài, hiền hòa thơ mộng với con sông Vàm Cỏ êm đềm và ngọn núi Bà Đen cao nhất miền Đông Nam bộ đầy huyền thoại. Tây Ninh còn là “Thánh địa” của Cách mạng với nhiều vùng căn cứ nổi tiếng, đặc biệt là khu căn cứ TW. Cục, là chiến khu “đầu não” của Cách mạng miền Nam. XXV. TÀI NGUYÊN T NHIÊNỰ 1. Địa lý tự nhiên Tây Ninh nối cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long, vừa mang đặc điểm của một cao nguyên, vừa có dáng dấp, sắc thái của vùng đồng bằng.Trên địa bàn vùng cao phía Bắc nổi lên núi Bà Đen cao nhất Nam Bộ (986 m). Nhìn chung, địa hình Tây Ninh tương đối bằng phẳng, rất thuận lợi cho phát triển toàn diện nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng. 151
  • 152.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 2. Khí hậu Khí hậu Tây Ninh tương đối ôn hoà, chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô.Lượng ánh sáng quanh năm dồi dào, mỗi ngày trung bình có đến 6 giờ nắng. Tây Ninh chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chủ yếu là gió Tây - Tây Nam vào mùa mưa và gió Bắc - Đông Bắc vào mùa khô. 3. Tài nguyên a. Tài nguyên đất Tây Ninh có 05 loại đất chính với tổng diện tích 402.817 ha; trong đó: - Nhóm đất xám - Nhóm đất phèn - Nhóm đất đỏ vàng - Nhóm đất phù sa - Nhóm đất than bùn chôn vùi Cùng với điều kiện khí hậu ôn hòa, đất đai ở Tây Ninh có nhiều thuận lợi phát triển nông, lâm nghiệp kết hợp, có thể phù hợp cho việc canh tác nhiều loại cây trồng khác nhau, cây công nghiệp ngắn và dài ngày như mía, mì, đậu phọng, cao su …. các loại cây ăn quả và rau màu khác. b. Tài nguyên rừng Rừng Tây Ninh phần lớn là rừng thứ sinh do bị tàn phá trong chiến tranh trước đây, đại bộ phận rừng thuộc dạng rừng thưa khô, rừng hỗn giao tre nứa và cây gỗ. Diện tích rừng còn khoảng 40.025 ha (kiểm kê rừng năm 1990).Theo qui hoạch tổng quan lâm nghiệp, rừng và đất để trồng rừng khoảng 70.000 ha/diện tích tự nhiên của toàn tỉnh. c. Tài nguyên khoáng sản Khoáng sản của Tây Ninh chủ yếu thuộc khoáng sản phi kim loại như: đá vôi, than bùn, cuội sỏi, cát, sét . Tây Ninh có một số mỏ nước khoáng thiên nhiên, trong đó, mỏ nước khoáng ở xã Ninh Điền, huyện Châu Thành đã được thăm dò chi tiết, được Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản Nhà nước cấp giấy phép khai thác. Hiện nay nhà máy nước khoáng Ninh Điền có công suất 11.000 lít/ngày đang được triển khai xây dựng . d. Tài nguyên nước Nguồn nước mặt ở Tây Ninh chủ yếu dựa vào hệ thống kênh rạch trên địa bàn toàn tỉnh, với chiều dài của toàn bộ hệ thống 617 km, trung bình 0,11 km/km2 và chủ yếu dựa vào 2 sông lớn là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông. Tây Ninh có hồ Dầu Tiếng với dung tích 1,45 tỷ m3 và 1.053 tuyến kênh có tổng chiều dài 1.000 km đã phát huy hiệu quả trong cân bằng sinh thái, phục vụ tưới tiêu trong nông nghiệp, cung cấp nước cho nuôi trồng thuỷ sản, sinh hoạt tiêu dùng và cho sản xuất công nghiệp. Ngoài ra Tây Ninh còn có nhiều suối, kênh rạch; tạo ra một mạng lưới thuỷ văn phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn.Tây Ninh có nguồn nước ngầm khá phong phú, phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh. 4. Giao thông Tỉnh Tây Ninh là đầu mối và cửa ngõ giao thông về đường bộ quan trọng phía Tây Nam của tổ quốc; có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng của quốc gia; là đầu mối giao thương, trung chuyển hàng hóa và dịch vụ thương mại du lịch của các nước tiểu vùng sông Mêkông. Di chuyển dễ dàng đến các khu vực như: TP. HCM, các tỉnh Đông Nam Bộ, các tỉnh Miền Tây…thông qua tuyến đường bộ và đường thủy nội địa 152
  • 153.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Kết nối với các nước trong khối Asean: Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar… theo trục đường xuyên Á + 02 cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và Xa Mát + 04 cửa khẩu chính: Katum, Chàng Riệc, Phước Tân, Tống Lê Chân + 10 cửa khẩu phụ Kết nối bằng đường thủy đến các cảng trong khu vực qua tuyến đường thủy sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn Mạng lưới đường giao thông ở Tây Ninh tương đối tốt, xe ô tô có thể qua hệ thống đường dọc, ngang để đi đến mọi nơi trong tỉnh. Trong tương lai gần, tỉnh Tây Ninh sẽ có các tuyến đường Hồ Chí Minh nối dài và đường cao tốc Tp.Hồ Chí Minh - Mộc Bài. Không có hệ thống sông ngòi chằng chịt như các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhưng Tây Ninh cũng có 02 con sông chính là sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn chảy qua. Xà lan 2.000 tấn có thể đi đến trung tâm của tỉnh. Tỉnh Tây Ninh có Quốc lộ 22 là con đường nối liền Thành phố Hồ Chí Minh đến cửa khẩu Mộc Bài dài 59 km. Đây là con đường nằm trong dự án đường xuyên Á giữa Thành phố Hồ Chí Minh và Phnom Penh. Quốc lộ 22 bắt đầu tại ngã tư An Sương và kết thúc tại cửa khẩu Mộc Bài. Tại thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu, quốc lộ 22B tách ra từ quốc lộ 22 để đi lên cửa khẩu Xa Mát (biên giới Campuchia). Ngoài ra, tỉnh đã có quy hoạch xây dựng tuyến đường sắt Sóng Thần - Mộc Bài, đường cao tốc nối cửa khẩu Mộc bài với Đường vành đai N3 - ra cụm cảng Thị vải - Cái mép và sân bay Long Thành. Trong tương lai, tỉnh chú trọng phát triển và mở rộng mạng lưới giao thông tạo điều kiện thuận lợi di chuyển và giao thương giữa các vùng như: + Tuyến đường bộ: đường cao tốc nối Thị Xã Tây ninh với Gò Dầu + Tuyến đường sắt: xây dựng tuyến Gò Dầu - Xa Mát. + Tuyến đường sông: xây dựng 02 tuyến đường sông và cảng sông là Sông vàm cỏ - Cảng Hiệp Phước và Sông Sài Gòn - Cụm Cảng Cái Mép - Thị vải. XXVI. TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN 14. Dân cư Tây Ninh có diện tích tự nhiên 4.035,45 km2 , dân số trung bình: 1.058.526 người (năm 2008), mật độ dân số: 262,31 người/km2, mật độ dân số tập trung ở Thị xã Tây Ninh và các huyện phía Nam của tỉnh như: các huyện Hoà Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng. Tây Ninh có 26 dân tộc anh em sinh sống. nhưng tiêu biểu là Kinh, Hoa, Chăm, Khơmer, mỗi dân tộc tuy có những phong tục, tập quán sinh hoạt khác nhau nhưng đều có truyền thống chung là sống đoàn kết với cộng đồng, lao động cần cù, chiến đấu chống địch họa, thiên tai dũng cảm, tất cả đã tạo nên cho Tây Ninh một nền văn hoá đa dạng, phong phú và đầy bản sắc. Từ giữa thế kỷ XVII, người Hoa đã có mặt ở các vùng cù lao Phố (Biên Hoà, Đồng Nai), Sài Gòn và từ đó toả đi những nơi khác, trong đó có Tây Ninh. Cho đến đầu thế kỷ XX, cuộc sống của người Hoa ở Tây Ninh đã cơ bản ổn định. Trong quá trình hoà nhập với các cộng đồng dân cư ở nước ta nói chung và ở Tây Ninh nói riêng một số tục lệ của người Hoa lại ăn sâu vào đời sống văn hoá của người Việt, trong đó có tục thờ Quan Thánh và bà Thiên Hậu. Người Việt thờ bà Thiên Hậu cùng với các nữ thần khác chung trong tập quán thờ Mẫu của dân tộc mình. Miếu thờ dân gian thường gọi là chùa Bà khác với chùa Ông là nơi thờ Quan Thánh. Về tôn giáo, ở Tây Ninh có đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Công giáo, đạo Tin Lành, đạo Hồi và một số tôn giáo khác... 15. Tín ngưỡng và tôn giáo 153
  • 154.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ) Đạo Cao Đài còn mang danh xưng là Đại Đạo Tam kỳ Phổ độ, một tôn giáo phát xuất từ tâm linh, sự sáng lập Đạo Cao Đài có nguồn gốc ở Thần linh học. Giáo lý và sự thờ phượng Thượng Đế đã được các bậc tiền khai Đại đạo đón nhận và truyền đạt lại cho tín đồ bằng cơ bút, qua dụng cụ thông công với các đấng tối cao là cây Ngọc cơ. Những bài cơ bút này được lưu ghi trong bộ "Thánh ngôn hiệp tuyển" (quyển số 1 và 2) gồm những thánh giáo chỉ dạy đến từ Đấng Thượng Đế tối cao, cũng chính là Đấng Cao Đài, hoặc từ các Đấng chơn linh thượng đẳng như Đức Lý Thái Bạch, thi hào của nước Trung hoa thời nhà Đường, trở thành Giáo Tông thiêng liêng hiện nay của Đạo Cao Đài. Những chơn linh của các vĩ nhân ở Âu châu, trong đó có Victor Hugo tức là Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn thường giáng cơ viết bằng thi văn các giáo huấn về tôn giáo. Đạo Cao Đài là một hỗn hợp, một tổng hợp của các tôn giáo hiện hữu : Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, v.v... Đạo Cao Đài không hủy bỏ sự thờ cúng linh hồn người chết, sự Thánh hóa các vị anh hùng thời cổ đại của Trung Hoa và Việt Nam. “ Cao Đài là danh từ tượng trưng Đấng Chí Tôn mà trong kỳ ba nầy, Đấng ấy sẽ hiển thị ở phương Đông.” Để đặt cơ sở ban đầu cho nền Đạo, các vị tiền bối đã mượn chùa Từ Lâm tự tại Gò kén Tây Ninh, là một ngôi chùa Phật thuộc giáo phái Thiền tông, mới xây cất còn dở dang. Khi mượn chùa nầy, Hội Thánh Cao Đài phải kiến tạo thêm cho hoàn chỉnh. Nên vào ngày 15 tháng 10 nhằm ngày rằm Hạ nguơn năm Bính dần (18-11-1926), Lễ Khai đạo đã được tổ chức tại chùa Từ Lâm tự, tuy trước đó đã có 5 năm chuẩn bị, nhưng mãi đến năm Bính dần, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mới chính thức khai sáng tại nước Việt nam, và cũng chính thức ra mắt với nhân loại trên toàn thế giới. Khi đặt cơ sở đầu tiên tại chùa Từ Lâm tự một thời gian ngắn, thì Ơn Trên đã giáng cơ chỉ dẫn Hội Thánh đến mua một khu rừng 96 mẫu của một Pháp kiều tại làng Long Thành, để làm cơ sở ban đầu cho nền Đạo, đến nay nơi nầy đã trở thành Thánh địa trung ương của Cao Đài Giáo. Theo giáo lý Cao Đài thì từ thời tạo thiên lập địa tới nay có 3 lần Thượng đế phân thân giáng trần hay giáng linh để lập Đạo: - Thời kỳ thứ nhứt : Nhứt kỳ Phổ Độ: Thời kỳ này nhân loại còn thuần phát thiên lương, nhưng nếp sống còn lạc hậu, các Đấng Giáo chủ giáng trần cốt khai hóa dân trí: • Đức Nhiên Đăng Cổ Phật mở Phật giáo ở Ấn Độ tương ứng thời vua Hiên Viên Huỳnh Đế bên Tàu. • Đức Thái Thượng Đạo Tổ mở Tiên giáo ở Trung Hoa. • Vua Phục Hy khởi đầu Nho giáo ở Trung Hoa. • Thánh Moise mở Do Thái giáo ở nước Do Thái. - Thời kỳ thứ hai : Nhị kỳ Phổ Độ : Thời kỳ nầy nhân loại tuy đã được khai hóa, nhưng vẫn sinh hoạt nội tư phương của mình, nhưng để sinh tồn và tiến hóa nhân loại phải đấu tranh, càng đấu tranh lại càng thù nghịch lẫn nhau, xa rời những lời giáo huấn của các Vị Giáo chủ, nên tôn giáo thất chơn truyền, đạo đức suy đồi. Vì thế nhân loại đã gây ra cảnh mạnh được yếu thua, khôn còn dại mất... Nên Thượng Đế cho các Vị Giáo chủ giáng trần để chấn hưng Tam giáo cứu độ chúng sanh lần thứ hai, lần nầy có: • Đức Phật Thích Ca giáng sinh ở Ấn Độ, chấn hưng Phật giáo thời Nhứt Kỳ Phổ Độ, thời kỳ này đã mở ra Thích giáo với một giáo lý rất phong phú, thiết thực để giải khổ nhân sinh. • Đức Thái Thượng Đạo Tổ giáng sinh ở Trung Hoa là Lão Tử, mở ra Lão giáo hay Đạo giáo để chấn hưng Tiên giáo. • Đức Khổng Tử giáng sinh ở Trung Hoa, mở ra Khổng giáo để chấn hưng Nho giáo 154
  • 155.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị • Đức Chúa Jesus Christ giáng sinh ở nước Do Thái, mở ra Thiên Chúa giáo để chấn hưng Thánh Giáo và Đức Mohammet giáng sinh ở Trung Đông mở ra Đạo Hồi Giáo. - Thời kỳ thứ ba : Tam Kỳ Phổ Độ: Thời kỳ này nhân loại đã đạt được sự văn minh tiến bộ về phương diện vật chất, nhưng về tinh thần đạo đức lại suy đồi, lại nữa loài người trên thế giới đã tiếp cận với nhau như trong một làng mạc nhỏ bé... Các nền tôn giáo cũng truyền bá đồng hành khắp mọi nơi, nhưng vì những khác biệt trong giáo lý, giáo luật và nghi lễ, mà nhân loại đã nghịch lẫn nhau, tạo ra những cuộc chiến tranh đẩm máu về tôn giáo. Nên thời kỳ này Đức Chí Tôn không giao chánh giáo cho tay phàm nữa, mà chính mình Thượng Đế giáng linh lập đạo, bằng huyền cơ diệu bút. Theo lời giải thích của Đức Hộ Pháp thì ngày nay trong Tam kỳ Phổ độ Đức Chí Tôn còn chọn ba vị Phật, Thánh, Tiên cầm quyền Tam trấn thay mặt cho Tam Giáo giáng cơ lập đạo đó là: • Đức Quan Thế Âm Bồ Tát (thay mặt Thích giáo). • Đức Lý Thái Bạch (thay mặt Đạo giáo, đồng thời kiêm phẩm Giáo Tông vô hình). • Đức Quan Thánh Đế Quân (thay mặt Nho giáo). Vì ba vị này lúc sinh tiền có đức hạnh vẹn toàn, đủ tư cách độ đời, đáng làm gương cho hậu thế. Ngày nay ba vị thọ mạng Chí Tôn chấp chưởng cơ quan mầu nhiệm, trấn nhậm Quyền hành, lập Luật pháp, Đạo Nghị định cho hiệp với Thiên thơ tiền định. Vì vậy nên bổn đạo phải để tâm thành kỉnh phụng thờ Tam Trấn Oai nghiêm. Căn bản của giáo lý Cao Đài là thực hành điều thiện và đức hạnh. Làm thế nào biết được bằng cách khác trong một tôn giáo hỗn hợp ba hệ thống lớn của Đông phương : Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo, để chỉ giữ lại những giáo huấn cao siêu nhứt và loại bỏ những giáo huấn lạc hậu xem như là những yếu tố mê tín và dốt nát ? • Đức Phật từ bi giảng dạy lòng tín ngưỡng và từ thiện. • Giáo lý của Đức Lão Tử qui định sự tôn thờ chơn lý và khuôn khổ đức tánh. • Đức Thánh Khổng Tử vạch ra con đường Trung Dung. Giáo lý của Đạo Cao Đài không chỉ nhằm mục đích hoà hợp các tín ngưỡng tôn giáo, mà còn thích nghi với tất cả mức độ tiến hóa của tâm linh. 1. Về phương diện đạo đức : Giáo lý Đạo Cao Đài nhắc nhở con người có bổn phận đối với chính mình, đối với gia đình, đối với xã hội, ấy là một gia đình mở rộng, kế đó đối với nhơn loại, gia đình thế giới; 2. Về phương diện Triết học : Giáo lý Đạo Cao Đài truyền dạy sự khinh thường danh vọng, sự giàu có, sự xa hoa, tắt một lời là sự giải thoát khỏi những nô lệ vật chất, để tìm tòi trong tâm linh sự yên tĩnh của tâm hồn; 3. Về phương diện văn hóa : Giáo lý Đạo Cao Đài khuyên nhủ sùng bái Thượng Đế, Đại Từ Phụ của tất cả chúng ta, tôn thờ các Đấng chơn linh thượng đẳng vốn tạo nên hệ thống trật tự oai nghiêm trong thế giới huyền bí. Chấp nhận sự thờ cúng tổ tiên theo truyền thống dân tộc, bài trừ việc cúng bằng các thứ thịt thú vật, cũng như tục đốt giấy giấy vàng mã. 4. Về phương diện tâm linh : Giáo lý Đạo Cao Đài xác nhận và đồng ý với các tôn giáo khác về các hệ thống triết học tâm linh và tâm lý, sự hiện hữu của linh hồn và sự tồn sinh của nó nơi thể xác. Sự tiến hóa của linh hồn bởi sự luân hồi chuyển kiếp liên tiếp, và các hành vi của con người lúc sanh tiền sẽ được định bởi luật Nhân quả sau khi chết; 5. Về phương diện truyền giáo : Đạo Cao Đài truyền đạo cho các tín đồ xứng đáng những giáo huấn mặc khải mà nó cho phép các tín đồ, bởi quá trình tiến hóa tâm linh, đạt đến sự hưởng thụ toàn phúc. 155
  • 156.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Về tổ chức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có 3 đài: Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài. Bát Quái Đài là nơi Đức Chí Tôn ngự trị chưởng quản càn khôn vũ trụ, Thiên triều của Ngài gồm có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật là các Đấng trọn lành phụ sự. Bát Quái Đài là linh hồn của Đạo, mọi giáo pháp của Đại Đạo do nơi Bát Quái Đài xuất phát. Hiệp Thiên Đài là Đài bán hữu hình, do Hộ Pháp chưởng quản. Hiệp Thiên Đài có 2 sở dụng: sở dụng Thiêng liêng nơi làm trung gian hội hiệp giữa con người (hữu hình) với Đức Chí Tôn hay Thần, Thánh, Tiên, Phật (vô hình) qua cơ bút, và sở dụng Phàm trần là giữ nhiệm vụ lập pháp và tư pháp trong tôn giáo. Cửu Trùng Đài là phần hữu hình tức là phần xác của Đạo, nhân sự do tín đồ công cử hoặc Đức Chí Tôn ban thưởng. Về phần hữu hình, Cửu Trùng Đài có 2 nhiệm vụ là hành pháp, và lo về hành chánh quản trị của Đạo. NGŨ GIỚI CẤM ĐỐI VỚI NGƯỜI TÍN ĐỒ CAO ĐÀI : 1. Không giết hại các sinh vật (vì chúng đều có Sanh hồn do Thượng Đế ban cho); 2. Không gian tham (để tránh khỏi sa đọa vào vật chất vì nhu cầu sở hữu và thống trị). Chính sự tiến bộ của xã hội hiện nay mà tất cả dường như khêu gợi lòng kiêu ngạo và thèm khát giàu có; 3. Không dùng cao lương mỹ vị : o Không ăn thịt thú vật (phải ăn chay). o Không uống rượu (vì nó làm hại thể xác và chơn thần). 4. Không tà dâm (việc nầy đưa chúng ta vào nghiệp ác). 5. Không phạm tội bằng lời nói Thiên Chúa giáo Công giáo mà cơ bản là Thiên Chúa giáo và Tin lành là hai hệ phái phát triển mạnh ở Tây Ninh. Ở đây có các nhà thờ nổi tiếng như Nhà thờ Tha la ở Trảng Bàng, nhà thờ Phong Cốc ở Châu Thành Phật giáo: Vốn có từ lâu đời ở Tây Ninh với đầy đủ các hệ phái. Cơ bản là Nam tông và Bắc Tông. Các Chùa nổi tiếng như: Chùa Phước Thành, Chùa Núi Cậu, Chùa Bà (Núi Bà), Chùa Cẩm Phong, Chùa Bửu Sơn.. Hệ Ni giới cũng phát triển khá mạnh ở Tây Ninh với các thiền viện. Nổi tiếng nhất trong cả nước là Chùa Am, một hệ phái tu tập do người Tây Ninh sáng lập. 16. Lễ hội 2.1 Hội Yến Diêu Trì Cung 會宴瑤池宮 Hội: Nhiều người tụ họp lại. Yến: tiệc rượu. Diêu Trì Cung: Cung của Đức Phật Mẫu nơi từng Trời Tạo Hóa Thiên. Hội Yến Diêu Trì Cung là một cái tiệc long trọng của các tín đồ Cao Đài đãi Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương. Hằng năm, vào đêm rằm Trung Thu (15 tháng 8 âm lịch), tại Báo Ân Từ, Đền Thờ Đức Phật Mẫu trong Nội Ô Tòa Thánh Tây Ninh, Hội Thánh có tổ chức một buổi lễ long trọng gọi là Hội Yến Diêu Trì Cung, trong đó có một cái tiệc dâng Tam Bửu: Hoa Quả, Rượu, Trà lên Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương. Gốc tích Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung. 156
  • 157.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Cuộc Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung được tổ chức theo sự tích có từ năm Ất Sửu (1925), khi chưa Khai Đạo. Đức Chí Tôn lúc đó còn ẩn danh, chỉ xưng là Đấng A Ă Â, dạy 3 ông: Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, làm một cái tiệc chay đãi 10 Đấng vô hình ở Diêu Trì Cung là: Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương. Sau khi đãi tiệc Hội Yến Diêu Trì xong, Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương giáng cơ cám ơn ba ông: Tắc (Đức Hộ Pháp), Cư (Đức thượng Phẩm), Sang (Đức Thượng Sanh), và sau đó mỗi vị giáng cho một bài thi 4 câu để làm kỷ niệm buổi Hội Yến đầu tiên nầy. CỬU THIÊN NƯƠNG NƯƠNG Cửu kiếp Hiên Viên thọ sắc Thiên, Thiên Thiên Cửu phẩm đắc cao huyền. Huyền hư tác thế Thần Tiên Nữ, Nữ hảo thiện căn đoạt Cửu Thiên. NHỨT NƯƠNG: HOA thu ủ như màu thẹn nguyệt, Giữa thu ba e tuyết đông về. Non sông trải cánh Tiên lòe, Mượn câu thi hứng vui đề chào nhau. NHỊ NƯƠNG: CẨM tú văn chương hà khách đạo? Thi Thần tửu Thánh vấn thùy nhân? Tuy mang lấy tiếng hồng quần, Cảnh Tiên còn mến, cõi trần anh thư. TAM NƯƠNG: TUYẾN đức năng thành đạo, Quảng trí đắc cao huyền. Biển mê lắt lẻo con thuyền, Chở che khách tục, cửu tuyền ngăn sông. TỨ NƯƠNG: GẤM lót ngõ chưa vừa gót ngọc, Vàng treo nhà ít học không ưa. Đợi trông nho sĩ tài vừa, Đằng giao khởi phụng khó ngừa Tiên thi. NGŨ NƯƠNG: LIỄU yểu điệu còn ghen nét đẹp, Tuyết trong ngần khó phép so thân. Hiu hiu nhẹ gót phong trần, Đài sen mấy lượt gió thần đưa hương. LỤC NƯƠNG: HUỆ ngào ngạt đưa hơi vò dịu, 157
  • 158.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Đứng tài ba chẳng thiếu tư phong. Nương mây như thả cánh hồng, Tiêu Diêu phất phướn, cõi tòng đưa Tiên. THẤT NƯƠNG: LỄ bái thường hành tâm đạo khởi, Nhân từ tái thế tử vô ưu. Ngày xuân gọi thế hảo cừu, Trăm duyên phước tục khó bù buồn Tiên. BÁT NƯƠNG: HỒ HỚN HOA SEN TRẮNG nở ngày, Càng gần hơi đẹp lại càng say. Trêu trăng hằng thói dấu mày, Cợt mây tranh chức Phật đài thêm hoa. CỬU NƯƠNG: KHIẾT sạch duyên trần vẹn giữ, Bạc Liêu ngôi cũ còn lời. Chính chuyên buồn chẳng trọn đời, Thương người noi Đạo, Phật Trời cũng thương 2.2 Lễ hội núi Bà Đen Hàng năm vào dịp xuân về, từ chiều 30 tết nguyên Ðán đến suốt tháng Giêng, tháng Hai âm lịch - nhất là ngày rằm tháng Giêng, du khách trong tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác ở Nam Bộ đổ về hành hương, lễ bái và tham quan du lịch rất đông đúc. Từ chân núi, khách trẩy Hội phải đi bộ và leo núi. Ðến lưng chừng núi khách vào lễ đền Linh Sơn Thánh Mẫu rồi nghỉ ngơi. Ai khoẻ chân lại tiếp tục đường mòn leo núi để lễ chùa. Nơi đây, nhà chùa có cơm chay đãi khách, khách cứ việc dùng rồi cúng tiền vào chùa, có hoặc không, nhiều hoặc ít tuỳ tâm. Thậm chí nếu khách muốn lưu lại chùa một, hai ngày vẫn được nhà chùa thết đãi nồng hậu - vì rằng ở chốn tu hành, đồng tiền không có nghĩa và người mộ đạo ai cũng như ai. Lên cao chút nữa, gần đỉnh núi là Miếu Sơn Thần. Dừng tại đây, du khách có cảm giác nhiều đám mây còn bay dưới chân mình và từ đấy có thể ngắm toàn ảnh hồ nước Dầu Tiếng - Một công trình thuỷ lợi đẹp và lớn ở nước ta hiện nay. Những năm gần đây mỗi mùa Xuân tới, dân chúng Nam Bộ kéo tới lễ Ðiện Bà đông như nước chảy. Mọi người tin rằng lễ Ðiện Bà để cầu phù hộ, giải toả nhu cầu tâm linh, cũng nhân dịp du lịch ngắm phong cảnh hùng vĩ của Núi Bà. 17. Nghệ thuật truyền thống “Vùng đất Tây Ninh giáp với Miên, Dân ta khai khẩn dựng đồn điền Lập thành một phủ trong Gia Định Sử liệu Nam triều đã lược biên. . .” * “Quê tôi đấy Tây Ninh miền biên giới Nẻo thông thương Bến Sỏi nối Tầm Long 158
  • 159.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Êm êm nước chảy xuôi dòng Trầm buồn bằng một con sông lặng lờ. . . Quê tôi đấy danh lam thắng cảnh Núi Điện Bà dưới ánh tà huy Là đây hùng vĩ uy nghi Quê tôi đấy “kỳ quan tòa thánh” Cảnh địa phương đâu sánh cho bằng. . . Quê tôi đấy chiều nay gió lộng Gởi chút lòng tha thiết với quê hương.” Ngoài những câu ca dao, dân ca của đồng bào người Kinh, còn có những bài của đồng bào các dân tộc ít người Tây Ninh. Do thông qua con đường truyền khẩu, chỉ được lưu giữ bằng ký ức nên nhiều bài dân ca không tránh khỏi hiện tượng “tam sao, thất bản”. Có nghệ nhân ngày xưa thuộc đến vài chục bài nhưng hiện nay chỉ còn có thể nhớ được một vài bài. Theo lời kể, ở ấp Chăm, xã Suối Dây, huyện Tân Châu xưa còn lưu giữ những bài trường ca cổ của người Chăm trên sách bằng lá thốt nốt, tiếc thay bây giờ đã bị thất lạc cả. Những nghệ nhân trẻ tuổi hiện nay không thể nhớ được tên của các bậc cao niên đã truyền lại các bài dân ca cho mình. Cũng có trường hợp nghệ nhân là người Kinh, như ông Tạ Ngọc Lắm ở xã Hoà Hiệp, huyện Tân Biên lại nhớ được nhiều bài dân ca Khmer hơn cả chính những người Khmer sống cùng địa phương. Về thể loại, dân ca người Chăm, người Tà Mun thường là những bài tự sự như câu chuyện kể trong khi đa số dân ca của người Khmer là các bài giao duyên nam, nữ. Nếu nói dân ca là một loại hình nguyên hợp (hát kết hợp với múa và nhạc đệm) thì trường hợp này chỉ đúng với dân ca Khmer mà không đúng với dân ca Chăm và Tà Mun. Dân ca Chăm thường ở thể tự sự, hát đơn độc một mình, do đó dễ bị mất đi. Dân ca Tà Mun với làn điệu và ca từ còn mơ hồ chưa rõ nét, có nghệ nhân thuộc và hát nhưng không hiểu hết ngữ nghĩa của bài hát và mỗi lần hát là một lần thay đổi nhỏ về làn điệu. Vì vậy, sự lưu giữ các bài dân ca này cũng không bền vững vì không định hình rõ nét trong ký ức của nghệ nhân. Dân ca Khmer, hầu hết là các bài Rom Vuông (Lâm Thôn- múa đôi hoặc múa vòng tròn) và một ít bài là Rom Saravan (múa lối Saravan). Vì thế, các bài dân ca Khmer dễ lưu giữ trong trí nhớ hơn vì khi diễn xướng có nhiều người cùng tham gia (nhiều người cùng nhớ). Giống như dân ca người Kinh, tình yêu đôi lứa hay sự giao lưu của nam, nữ thường được đề cập trong các bài dân ca dân tộc thiểu số. Điều này thấy rõ trong các bài dân ca Khmer như: chàng trai cảm thấy mình quá nghèo nên không thể đến được với người mình yêu (Snai ư snai đot chưnmik - Tình yêu tựa chân trời), hay cô gái chỉ chọn người yêu là người độc thân chứ không phải nhất thiết là người giàu có (Smắk bòn đairư on srây - Em có thích anh không?). Ngay cả trong dân ca Chăm cũng có bài “Kà ta gâu” (Chim cúc cu) nói về tiếng gọi tình yêu của chàng trai như tiếng nỉ non của con chim cu trống gọi chim cu mái đến với mình. Dân ca Tà Mun thì có bài “Hành mu mi” (Đi rẫy) là những lời tỏ tình của đôi trai gái trong lúc lao động ở rẫy vườn. Về lời và làn điệu trong một số bài dân ca Khmer, Chăm và Tà Mun cũng đã có sự giao thoa với các dân tộc cận cư. Thấy rõ nhất trong bài trường ca dân tộc Chăm “Nài ktớk” (Cô gái lùn) có làn điệu rất giống với dân ca người Chăm Bà La Môn ở Ninh Thuận (người Chăm ở Tây Ninh theo Hồi giáo Bà Ni - Hồi giáo bản địa). Các bài dân ca Khmer như: Okhec SiemRiep (Ở tận Siêm Riệp), Srây sroc đrâm đrây(Khen cô gái đẹp), Ao kầmpi pui (Hoa bông súng)… có gốc gác tại Campuchia vì người hát đã được học từ nghệ nhân ở Campuchia. Hay bài dân ca Tà Mun “Cà pâu sa pía” (Chẳng dám đuổi trâu) có thang âm trong làn điệu rất giống dân ca của người Khmer. 18. Danh thắng và các công trình kiến trúc 159
  • 160.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 1. Núi Bà Đen Đây là ngọn núi cao nhất Nam bộ, 986 m, có mây phủ ngọn quanh năm nên núi có tên chữ là Vân Sơn. Bên cạnh tên núi Một, người ta còn gọi là núi Điện Bà, theo huyền thoại: Xưa kia cô Lý Thị Thiên Hương ở Trảng Bàng đẹp lộng lẫy, do tình duyên trắc trở, bỏ lên núi và bị bọn cướp giết chết, xác khô đen. Một tương truyền khác, vào khoảng nửa cuối thế kỷ 18, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, dân chúng lầm than. Lúc ấy có thanh niên Lê Sĩ Triệt, quê ở Quang Hóa, nay là Trảng Bàng (Tây Ninh) tài cao, chí lớn, vì nước nhà nên chia tay người yêu là Lý Thị Thiên Hương lên đường phò Nguyễn Huệ giữ nước. Lý Thị Thiên Hương là cô gái xinh đẹp với làn da bánh mật và có đức hạnh. Người yêu lên đường vì nghĩa lớn, cô ở nhà sống trong vòng vây của cường hào ác bá nhưng vẫn một lòng chung thủy với người yêu. Một hôm, cô bị cưỡng bức, vì giữ tiết hạnh nên cô gieo mình xuống núi quyên sinh. Ít lâu sau, Thiên Hương về báo mộng cho sư trụ trì chùa núi biết nơi thân thể cô đang bị gió sương bào mòn. Thi thể khô đen của cô được đem về mai táng, phụng thờ. Vì sự linh thiêng của cô, người ta gọi cô là Bà Đen, cùng tụ họp trên núi chiêm bái và cầu nguyện xin cô phù hộ độ trì. Từ đó, nhà chùa cho lập đền thờ để nhân dân tiện cúng bái. Việc hành hương về chùa vào mùa xuân - lễ Thượng ngươn, còn gọi là Hội xuân núi Bà - đã trở thành tập tục tâm linh quen thuộc từ đây. Núi Bà Đen nằm cách thị xã Tây Ninh khoảng 8 km. Quần thể di tích núi Bà trải rộng 24 km... Đây là nơi cây cối xanh tươi, đường lên núi quanh co, uốn khúc với gập ghềnh đá núi thiên nhiên, lắm nơi với bậc cấp được tráng xi măng thẳng thớm. Vừa leo núi, vừa ngắm nhìn phong cảnh xung quanh tưởng không gì thú vị bằng, bao nhiêu nhọc mệt đường dốc cao hình như tiêu tan. Lên cao, nhìn về hướng Đông Nam, sẽ thấy ngọn núi Phụng, nhìn về Tây Bắc ngọn núi Heo và núi Phụng xanh biếc rừng cây. Lên đến chùa Vân Sơn, bạn sẽ thấy một hồ nước trong veo, lặng im soi bóng cây rừng. Điểm đến quan trọng nhất tại núi Bà là Điện Bà. Hệ thống Điện Bà gồm có chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, chùa Hang và một số hang động được các tăng ni, phật tử sửa chữa làm nơi thờ tự như động Thanh Long, động Ông Hổ, động Ba Cô, động Ba Tuần, động Thiên Thai, động Ông Tà... Để lên Điện Bà, có nhiều cách. Đến Khu di tích lịch sử văn hóa núi Bà Đen, đi xe lửa (bánh cao su) hoặc xe điện đến chân núi rồi đi cáp treo hoặc máng trượt. Hệ thống máng trượt có hai tuyến: tuyến lên (tuyến kéo) dài khoảng 1.190 m và tuyến xuống (tuyến trượt) dài khoảng 1.700 m. Máng trượt có bánh cao su, có thắng tay, an toàn. Nhưng có rất nhiều người đi bộ, chỉ mất khoảng 1 tiếng đồng hồ, lên tới Điện Bà, dù phải vượt qua bao tảng đá gập ghềnh, bao bậc cấp tráng xi măng phẳng phiu, đầy nhọc mệt. Có như vậy mới thấy thú vị của việc dùng đôi chân mình lên núi, dù phải nghỉ dọc đường nhiều lần tại những quán hàng hoặc nhà nghỉ chân với chai nước ướp lạnh và cây quạt giấy là cơ thể khỏe khoắn ngay. Đến Điện Bà (Linh Sơn Thánh mẫu) và chùa Bà Đen (Linh Sơn Tiên Thạch tự) không khí thoáng đãng, dù rất đông khách hành hương. Khói nhang phủ trùm cả bên trong, bên ngoài điện và chùa trong ánh đèn điện và đèn cầy lập lòe, huyền ảo. Cúng viếng Phật và Bà xong, nếu muốn, có thể dùng bữa cơm chay với ba món: canh, xào, mặn khá ngon miệng. Sau đó, tùy lòng hảo tâm, cúng hoặc không cúng vào thùng phúc đức cũng được. Nếu ở lại vào buổi chiều, nhất là nghỉ đêm trên núi, sẽ được chứng kiến cảnh quang hoang sơ và tĩnh lặng không đâu có tại quần thể có tên Ma Thiên Lãnh. Hiện, quần thể này đang được địa phương đầu tư xây dựng thành khu du lịch có bản sắc riêng, hấp dẫn. Chuyến lên mệt mỏi vì “trèo non”, chuyến xuống có thể dùng cáp treo hoặc máng trượt. Chỉ mất khoảng 20 phút là đã xuống tới chân núi, sau khi nhàn nhã ngồi trong xe hoặc thùng cáp treo ngắm nhìn quang cảnh núi Bà Đen hùng vĩ với màu xanh ngút mắt, điểm xuyết những khóm hoa kiểng nên thơ giữa núi rừng xanh biếc, là chuyến hành hương nhiều xúc cảm. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho biết, chuyến lên nên đi cáp treo hoặc máng trượt, chuyến xuống đi bộ. Như vậy đỡ 160
  • 161.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị mệt. Vì khi lên, càng cao, không khí càng loãng, cộng với việc vượt dốc sẽ khiến đã mệt càng thêm mệt. Xuống núi, tìm một hàng quán ăn uống lấy lại sức. Hàng quán bán đủ thứ: cơm, canh, xào, hủ tiếu, mì, phở. Đặc sản Tây Ninh có bánh canh Trảng Bàng và bánh tráng phơi sương Trảng Bàng - hai thức ăn làm nên danh phận của Tây Ninh với khách phương xa. 2. Toà Thánh Cao Đài Tây Ninh Hàng năm, cứ vào ngày mùng tám tháng giêng và rằm tháng tám âm lịch Toà Thánh Tây Ninh lại đón hàng vạn khách hành hương về dự lễ vía Đức Chí Tôn và Hội Yến Diêu Trì Cung. Đây là một nét văn hoá đặc sắc của bà con tín đồ Cao Đài. Tòa Thánh Tây Ninh, còn được gọi là Đền Thánh, là Tổ Đình, là Tòa Thánh Trung Ương của Đạo Cao Đài, hiện nay tọa lạc tại xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách Thị Xã Tây Ninh khoảng 5 Km về hướng Đông Nam, thuộc Miền Nam nước Việt Nam. Đây là một ngôi Đền đồ sộ, nguy nga, đặc sắc, để thờ phượng Đấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, các vị Giáo chủ Tam Giáo và Ngũ Chi Đại Đạo, cùng các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật. Gọi Tòa Thánh Tây Ninh là Tổ Đình, vì đây là nơi phát xuất của Đạo Cao Đài, là nơi đặt các cơ quan trung ương của Hội Thánh Cao Đài, tức Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, để điều hành toàn bộ các hoạt động truyền giáo và cứu độ nhơn sanh. Tòa Thánh được khởi công xây dựng từ năm 1931 (Tân Mùi), hoàn thành vào năm 1947 (Đinh Hợi), và được khánh thành vào dịp Đại Lễ Vía Đức Chí Tôn ngày mùng 9 tháng Giêng năm Ất Mùi (DL 01 - 02 - 1955). Đứng trước Tòa Thánh, chỗ khoảng sân rộng có cột phướn, nhìn thẳng vào Tòa Thánh, chúng ta thấy nổi bật 2 tháp vuông lớn, cao vút, song song nhau. Đó là Bạch Ngọc Chung Đài và Lôi Âm Cổ Đài, thường gọi là Lầu Chuông và Lầu Trống. Mỗi tháp đều có 6 từng không đều nhau, có mái ngắn bao quanh phân chia các từng. Từng dưới cùng (từng trệt) của 2 tháp nầy có 2 khuôn bông lớn hình chữ nhựt, ở giữa có 2 chữ Nho lớn trong hình bầu dục, bên Lầu Trống là chữ CAO và bên Lầu Chuông là chữ ĐÀI Bên trên khuôn bông này là 4 ô hình tròn có gắn 4 chữ Nho : Bên Lầu Trống 4 chữ LÔI ÂM CỔ ĐÀI và bên Lầu Chuông 4 chữ BẠCH NGỌC CHUNG ĐÀI. Từng kế bên trên, ở bên Lầu chuông có đắp tượng Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung mặc Đạo phục đứng trên quả địa cầu, tay mặt cầm quyển Thiên thơ; và ở bên Lầu Trống thì có đắp tượng Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh, mặc Đạo phục đứng trên quả địa cầu, tay mặt cầm một nhánh bông, tay trái xách giỏ Hoa lam. Từng thứ ba kế bên trên, ngắn hơn 2 từng dưới, mỗi bên có gắn 2 bông gió để thông hơi. Lên từng thứ tư, bề cao dài nhứt, giữa hình chữ T rất lớn màu trắng có đắp hình một bó hoa lớn, màu sắc sặc sỡ, như đang rơi xuống biển, dưới ánh bình minh, còn 3 phía hông còn lại thì gắn những khung lá sách sơn màu xanh. Bên trong từng thứ tư nầy, bên Lầu trống có đặt 1 cái trống lớn, gọi là Lôi Âm Cổ, và bên Lầu chuông đặt một cái chuông lớn gọi là Bạch Ngọc Chung. Khi đánh chuông hay đánh trống, âm thanh vang rền truyền đi rất xa để thức tỉnh những người đang còn chìm đắm trong giấc mộng trần. Từng thứ năm và thứ sáu có 4 cạnh dần dần nhỏ lại, và 4 bên đều có gắn các khuôn bông thông gió, trang trí với nhiều màu sắc rất đẹp. Nơi từng thứ sáu là từng chót, cao nhứt, có làm lan can bao quanh, để du khách có thể lên đứng trên đó nhìn thấy khung cảnh toàn vùng Thánh địa. Trên nóc Lầu chuông và Lầu trống, mỗi bên đều có đắp hình 3 Bửu pháp : Bên dưới là Giỏ Hoa lam, bên trên là cái Bầu Hồ lô và một cây Gậy. Hồ lô và cây Gậy là bửu pháp của Đại Tiên Lý thiết Quả, đứng đầu Bát Tiên, mà trong thời ĐĐTKPĐ nầy, Ngài vâng lịnh Đức Chí Tôn giáng 161
  • 162.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị trần là Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung; còn Giỏ Hoa lam là bửu pháp của vị Long Nữ, đệ tử của Đức Quan Âm Bồ Tát, vâng lịnh Chí Tôn giáng trần là Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh. Giữa Lầu chuông và Lầu trống là một kiến trúc 3 từng (một trệt, 2 lầu) gọi chung là Hiệp Thiên Đài, mà phía trước có một bao lơn hình bán nguyệt rất lớn, gọi là Vinh Dự Công Lao Chi đài, gọi tắt là Đài Danh dự. Trên bao lơn có dựng một cây cột cờ, hơi xiên ra ngoài để treo lá cờ Đạo vào những ngày lễ trong Đạo. Chống đỡ bao lơn nầy có 4 cây cột, chia ra mỗi bên 2 cây đặt kế nhau : Một cây có đắp hình con rồng đỏ quấn xung quanh cột, một cây đắùp hình các hoa sen, lá sen và cọng sen quấn chung quanh cột, để 2 cây cột rồng và sen đó ghép lại tượng trưng 2 chữ LONG HOA. (Long là rồng, Hoa là bông). Trên vành bao lơn có đắp 8 khuôn hình ghi lại 8 Điển tích tượng trưng 8 ngành nghề trong dân chúng : Sĩ, Nông, Công, Thương, Ngư, Tiều, Canh, Mục. Hai bên cửa chánh của từng trệt Hiệp Thiên Đài (HTĐ), sát vách Lầu chuông và Lầu trống, có đắp pho tượng 2 vị Thiên Thần : Ác và Thiện, thường gọi là Ông Ác và Ông Thiện Tòa nhà HTĐ 3 từng ấy có từng trệt được gọi là Tịnh Tâm Điện, lầu kế bên trên Tịnh Tâm Điện được gọi là Lầu Hiệp Thiên Đài, vì có lập Bàn thờ 15 vị Chức sắc cao cấp nhứt của HTĐ, và từng nầy thông ra bao lơn hình bán nguyệt như đã nói ở trên. Phía trước Lầu HTĐ, ở 2 bên bìa có bông 2 chữ Nho đại tự là NHƠN và NGHĨA . Phía dưới 2 chữ NHƠN NGHĨA nầy là đôi liễn Hiệp Thiên Đài, khởi đầu bằng 2 chữ HIỆP và THIÊN : Hiệp nhập Cao Đài, bá tánh thập phương qui chánh quả, Thiên khai Huỳnh đạo, Ngũ chi Tam giáo hội Long Hoa. Nghĩa là : - Hiệp vào Đạo Cao Đài, nhơn sanh khắp nơi được trở về ngôi Chánh quả, - Trời mở Đạo Cao Đài, các Đấng trong Ngũ Chi Đại Đạo và trong Tam giáo tham dự Đại Hội Long Hoa. Từng lầu bên trên hết được gọi là Phi Tưởng Đài, cũng gọi là Thông Thiên Đài, xưa gọi là Tiêu Diêu Điện, nơi mặt tiền phía trước có đắp hình Thiên Nhãn rất lớn, chỗ lan can trước Thiên Nhãn có đắp hình Cổ pháp Tam giáo : bình Bát vu (tượng trưng Phật giáo), cây Phất chủ (tượng trưng Tiên giáo), sách Xuân Thu (tượng trưng Nho giáo). Trên nóc của Phi Tưởng Đài có đắp tượng của Đức Phật Di-Lạc (Di-Lạc Vương Phật) ngự trên tòa sen đặt trên lưng một con cọp vàng. Con cọp ấy tượng trưng năm Bính Dần (1926) là năm Khai Đạo Cao Đài. Bước qua bên cạnh, nhìn vào phía hông Tòa Thánh, chúng ta thấy bên trên có 3 từng mái đỏ cong cong, đúc bằng bê-tông, nhưng trang trí như lợp ngói móc, bên trên nóc nhô lên 2 cái tháp cao : một cái có hình vuông bên dưới hình tròn bên trên gọi là Nghinh Phong Đài, và một cái hình tám cạnh gọi là Bát Quái Đài. Nghinh Phong Đài nằm ở chính giữa Cửu Trùng Đài, và phần Cửu Trùng Đài gồm có 9 lồng căn có mái ngói đều sơn màu đỏ, còn phần Bát Quái Đài, mái ngói đều sơn màu vàng. Như vậy, Tòa Thánh gồm có 3 phần : - Phần trước là Hiệp Thiên Đài (HTĐ), 2 bên có 2 tháp vuông rất cao là Lầu chuông và Lầu trống. - Phần giữa là Cửu Trùng Đài (CTĐ) có tháp tròn là Nghinh Phong Đài. - Phần cuối là Bát Quái Đài (BQĐ), có tháp cao hình 8 cạnh Bát quái. Nóc của Nghinh Phong Đài là một bán cầu úp xuống, trên đó có vẽ họa đồ Ngũ Châu và Ngũ Đại dương, để tượng trưng Địa cầu của nhơn loại chúng ta đang sống, và trên bán cầu nầy có 162
  • 163.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị đắp hình một con Long mã phụ Hà đồ, đang bỏ vó chạy về hướng Tây, nhưng ngoái đầu lại nhìn về hướng Đông. Ngay phía dưới Nghinh Phong Đài là hai cửa hông ở hai bên đi vào Chánh điện Tòa Thánh. Còn trên nóc của Bát Quái Đài, đắp một tòa sen lớn, trên đó có 3 vị Cổ Phật là: Brahma Phật, Civa Phật, và Christna Phật. Bên dưới Bát Quái Đài, mỗi bên có xây một cầu thang đi lên, hai bên mỗi cầu thang đều có đắp hình 2 con Kim Mao Hẩu màu vàng, trông rất oai vệ. Nơi 2 cửa hông Tòa Thánh bên dưới Nghinh Phong Đài, cũng có làm 2 cầu thang đi lên , và mỗi cầu thang đều có đắp hình 2 con Kim Mao Hẩu như nơi Bát Quái Đài. Hai bên hông Tòa Thánh là một dãy hành lang rộng, đi từ trước bọc ra sau, thông hai bên. Hành lang có nhiều bực giống như bên trong Tòa Thánh, từ thấp ở phía trước, dần lên cao ở phía sau. Chống đỡ mái hiên hành lang là một hàng cột tròn bao quanh Tòa Thánh , đếm được tất cả là 112 cây cột. Dưới mái hiên, trên đường viền giữa các cây cột, có trang trí hình dây nho, lá và trái nho; bên trên có một khuôn tròn vẽ hình 2 con hạc bay lúc mặt Trời mới mọc. Phía trong hành lang là vách Tòa Thánh, giữa mỗi căn có một khuôn bông sen rất lớn gồm những bông sen, lá sen và cọng sen, đỡ một khung có hình Thiên Nhãn ở chính giữa một tam giác đều, có làm những tia hào quang phát ra. Chung quanh Tòa Thánh có tất cả 23 khuông bông sen có hình Thiên Nhãn, hiệp với Thiên Nhãn trên Phi Tưởng Đài phía trước Tòa Thánh, tổng cộng là 24 Thiên Nhãn. Chúng ta trở lại phía trước để chuẩn bị đi vào Tòa Thánh theo lối cửa chánh, quan sát bên trong Tòa Thánh. Chúng ta bước lên bực thềm 5 cấp bằng đá mài màu nâu. Năm cấp thềm nầy tượng trưng 5 cấp tiến hóa của người tu phải trải qua khi đạt đến Phật vị. Đó là : Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo. Lên đến thềm, có 4 cây cột lớn, mỗi bên 2 cây đứng kế nhau, một cây có hình rồng màu đỏ quấn quanh, một cây có hình cọng sen và bông sen quấn quanh. Hai cây cột có quấn rồng và bông sen nầy nầy tượng trưng 2 chữ LONG HOA (Long là rồng, Hoa là bông). Chúng ta đứng ngước nhìn lên phía trên, thấy một bức họa, trên đó vẽ một bàn tay từ trong mây đưa ra cầm cây Cân đặt trên quả địa cầu của nhơn loại. Đó là bàn tay của Đấng Thượng Đế cầm cây Cân Công Bình thiêng liêng để cân TỘI và PHƯỚC của mỗi người sau khi qui liễu, để có sự thưởng phạt công bình cho mỗi linh hồn. Hai bên cửa chánh, chúng ta lại thấy 2 pho tượng lớn : - Phía sát vách Lầu chuông là tượng của vị Thiện Thần, mà người đạo quen gọi là Ông Thiện, có gương mặt hiền từ, tay cầm cây siêu cán dài, đứng trên tòa sen (Liên đài). - Phía sát vách Lầu trống là pho tượng của vị Ác Thần, mà người đạo quen gọi là Ông Ác, có gương mặt dữ tợn, tay mặt cầm một cái búa lớn, tay trái cầm cục Ngọc tỷ, đứng trên tòa lửa (Hỏa đài). Phía sau 4 cây cột tròn sơn sọc xanh là tới cửa chánh làm bằng gỗ quí, gồm một cửa lớn ở giữa và hai cửa nhỏ ở hai bên, được đánh vẹc ni màu sậm bóng láng. Hai cây cột hai bên cửa lớn có hình vuông, trên đó có cẩn đôi liễn Hiệp Thiên Đài bằng chữ Nho, khởi đầu bởi 2 chữ Hiệp Thiên : 163
  • 164.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị - HIỆP nhập Cao Đài bá tánh thập phương qui chánh quả, - THIÊN khai Huỳnh Đạo, Ngũ Chi Tam Giáo hội Long Hoa. Bên trong cửa chánh là một khoảng rộng, gọi là Tịnh Tâm Điện, là nơi để cho các tín đồ giữ lòng trong sạch, loại bỏ các tư tưởng không tốt, trước khi vào Chánh điện bái lễ Đức Chí Tôn. Một bức vách chắn ngang ngăn cách Tịnh Tâm Điện và phần Chánh điện bên trong, trên đó có một bức họa thật lớn, gọi là bức họa TAM THÁNH KÝ HÒA ƯỚC. Trên bức họa nầy có họa hình 3 vị : - Đức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Thánh hiệu là Thanh Sơn Đạo Sĩ (hay Thanh Sơn Chơn Nhơn), mặc triều phục Việt Nam, cầm bút lông, đang viết câu chữ Nho : Thiên thượng Thiên hạ - Bác Ái Công Bình - Đức Victor Hugo, đại văn hào của nước Pháp, Thánh hiệu là Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, mặc triều phục nước Pháp, cầm bút lông ngỗng, đang viết câu chữ Pháp : DIEU et HUMANITÉ - AMOUR et JUSTICE Đức Tôn Dật Tiên, tức là Tôn Văn, nhà Đại Cách Mạng của nước Trung Hoa, Thánh hiệu là Trung Sơn Chơn Nhơn, cầm nghiên mực đỏ, để cho 2 vị kia chấm bút lông vào đó mà viết chữ trên tấm bia đá chiếu hào quang. Đó là bảng Đệ Tam Thiên Nhơn Hòa Ước, tức là bảng giao kết giữa Trời và Người.. Cả 3 vị Thánh đều đứng trên mây, nghiên mực và bia đá đều tỏa hào quang. 3. Hồ Dầu Tiếng Với 27.000 ha mặt nước trong đó có 4.560 ha đất bán ngập, dung tích 1,5 tỷ m3, với mực nước dao động từ 17 - 24 m; Hồ có tọa độ địa lý từ 11036’25” đến 11036’15” vĩ độ Bắc và 106010’49” đến 106029’07” kinh độ Đông trên địa bàn huyện Dương Minh Châu, cách thị xã Tây Ninh hơn 25 km về phía Đông Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Bắc. Hồ có hình chữ V cao dần về phía Bắc. Hai bên nhánh của hồ về hướng Tây Bắc là núi Bà Đen, phía Đông Bắc là dãy Núi Cậu cao 350 - 500 m. Tây Ninh hiện đang qui hoạch tổng thể du lịch sinh thái Hồ nước Dầu Tiếng và kêu gọi đầu tư khu du lịch hồ Dầu Tiếng để biến nơi đây thành khu nghỉ dưỡng, giải trí, thể thao, công viên, sân golf, công viên rừng, khu săn bắn, câu cá, bãi tắm, du thuyền, khách sạn, các môn thể thao trên 4. Tháp Chót Mạt Khu đền tháp được xây dựng trên gò đất đắp cao giữa cánh đồng, ngày nay thuộc ấp Xóm Mới, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ngôi tháp mang tên Chót Mạt được xây dựng khoảng thế kỷ 8 đã được Bộ VHTT công nhận di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 937/QĐ- BT ngày 23/7/1993. Tháp Chót Mạt, được xây dựng bằng hai loại vật liệu chính là gạch khổ lớn cao 7 x 18 x 25cm và đá phiếm. Hình dáng của tháp gần giống như tháp của người Chăm ở các tỉnh miền Trung. Chân tháp rộng, các bức tường thẳng và dày, đỉnh tháp nhọn, các vỉa gạch được xếp chồng khít lên nhau hầu như không có khe hở. Bình diện tháp hình vuông, mỗi cạnh 5m, tháp cao trên 10m, các mặt vách, tháp quay ra đúng hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Mặt chính hướng Đông, trước mặt là bàu nước "hình vuông" cửa tháp đã sụp đổ nguyên phần vách chỉ còn lại những tấm mi cửa, gạch vụn nằm ngổn ngang ở mặt Đông. Do bị sụp đổ nên đã mất phần chiều cao của tháp. Ba mặt (Tây, Nam, Bắc) của tháp đều có cửa “giả” được xây nhô ra phía ngoài tường, trên bề mặt đều chạm nổi hình người, hoa lá cách điệu và những họa tiết trang trí tinh xảo, do bàn tay khéo léo của các nghệ nhân tạo nên. 164
  • 165.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Tháp Chót Mạt là một trong ba đền tháp còn lại ở Nam Bộ (cùng với tháp Bình Thạnh - Trảng Bàng còn tương đối nguyên vẹn và tháp Vĩnh Hưng - Vĩnh Lợi - Bạc Liêu). Ngoài ra các đền tháp cổ còn lại ở Tây Ninh đã trở thành phế tích trải dài dọc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, là đối tượng để nghiên cứu và giới thiệu của một nền văn minh từng phát triển trong qúa khứ . Đó là nền văn minh ÓC EO 5. Tháp Cổ Bình Thạnh Tháp cổ Bình Thạnh nằm phía hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, tọa lạc tại ấp Bình Phú, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh,là một trong những kiến trúc tháp cổ quý hiếm, tồn tại gần như nguyên vẹn, tiêu biểu cho kiến trúc thuộc hậu nền văn hóa ÓC EO, có niên đại xây dựng khoảng thế kỷ 8. Nền tháp hình vuông, tháp cao 10m, mỗi cạnh 5m, các cạnh được xây dựng đúng bốn hướng. Cửa chính mở về hướng Đông, trước mặt là một bàu "hình vuông", ba mặt Tây - Nam - Bắc đều có cửa “giả” được đắp nổi các hoa văn, trang trí tinh xảo. Cửa chính Đông được xây nhô hẳn ra ngoài "khung" cửa là bốn phiến đá nguyên được đục, đẽo, mài nhẳn các cạnh, một tấm đặt ngang phía dưới, hai bên khoét hai lỗ tròn để gắn con "quay" cánh cửa, tấm thứ tư đặt ngang phía trên tạo thành một khung cửa đá vững chắc, rộng 1m, cao 2m. Mặt ngoài tháp trên cửa chính phía Đông gắn trên "mi cửa" là một phiến đá lớn, hình chữ nhật cao 0.80 x 2 m chạm nổi hình hoa cúc cách điệu, hai vách bên cửa chính cũng chạm nổi hai mảng phù điêu. Do cửa chính và ba cửa "giả" đều được xây nhô ra ngoài, cùng với các mỏ típ trang trí được xây lặp lại ở các phần thu nhỏ dần dần lên đỉnh tháp, tạo cho toàn bộ ngôi tháp có nhiều góc, cạnh, cộng thêm vào các bức phù điêu được đắp nổi quanh ngôi tháp nên đã tôn tạo cho toàn bộ công trình tháp là một kiến trúc vững chắc và công phu. Về giá trị lịch sử: Đây là ngôi tháp duy nhất còn tường đá nguyên vẹn (kể từ khi phát hiện năm 1886). Do vậy kiến trúc đền tháp Bình Thạnh đã trở thành cực kỳ hiếm hoi và quý giá trong di sản kiến trúc dân tộc. Đền Tháp cổ Bình Thạnh được xây dựng bằng gạch với kỹ thuật tương tự như ở các đền Tháp Chăm nổi tiếng ở miền Trung nước ta. Kỹ thuật xây dựng này đã bị thất truyền từ lâu và vẫn là một thách đố đối với khoa học. Các viên gạch được liên kết với nhau không bởi một chất kết dính nào hiện biết. Chúng liền khít với nhau đến mức cho đến nay vẫn có người nghĩ rằng người xưa đã xếp gạch mọc rồi nung cả khối Tháp. Tất nhiên là do quan niệm sai lầm, ngộ nhận, nhưng rõ ràng phương pháp - kỹ thuật xây dựng ấy thật độc đáo, vô tiền khoáng hậu, đã khiến cả thế giới khâm phục. Về điêu khắc trang trí đền Tháp Bình Thạnh là những tác phẩm tuyệt mỹ. Các họa tiết phù điêu không chỉ đẹp về tạo hình, tỉ mỉ đến trau chuốt trong tạo tác mà còn mang tính biểu tượng cao. Từ đền Tháp cổ Bình Thạnh và các phế tích đền tháp đương đại, chúng ta có thể tìm hiểu về tôn giáo tín ngưỡng và tâm linh người xưa cũng như phong tục tập quán và đời sống văn hóa. Do vậy kiến trúc đền Tháp cổ Bình Thạnh mang giá trị lịch sử - văn hóa - kiến trúc - nghệ thuật có sức cuốn hút mang giá trị về mặt tham quan du lịch nghiên cứu khoa học rất lớn đối với khách trong tỉnh, trong nước và khách quốc tế. Đây là ngôi tháp duy nhất còn nguyên vẹn ở Nam Bộ. Do vậy kiến trúc đền tháp Bình Thạnh đã trở thành hiếm hoi và quý giá, trong di sản kiến trúc của dân tộc. Di tích kiến trúc tháp Bình Thạnh được Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 937/QĐ-BT ngày 23/7/1993. 165
  • 166.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị 6. Căn Cứ Ban An Ninh Trung Ương Cục Miền Nam Theo quốc lộ 22B đến cửa khẩu Xa Mát, rẽ phải theo tỉnh lộ 792 vào khoảng 2,5km là Căn cứ Ban an ninh Trung ương cục. Đây là khu di tích - một địa điểm du lịch khá hấp dẫn, bởi cảnh quan rừng chiến khu được bảo tồn, các di tích hầm hào, đường đi, nhà ở, ... được phục nguyên. Khu tôn tạo với nhiều hạng mục công trình đẹp đã hòa quyện vào khu di tích với những điều kiện phương tiện phục vụ du lịch, hội trại, thể thao và các hoạt động văn hóa khác. Với hồ nước rộng lớn và các hàng cây nuôi trồng, cổng và bia di tích, nhà trưng bày với hàng ngàn tư liệu, hình ảnh, hiện vật giới thiệu quá trình 15 năm chiến đấu trưởng thành của Ban an ninh Trung ương cục miền Nam (1960-1975). Trong khu còn có 32 nhà bia của lực lượng an ninh các tỉnh miền Nam, từ Quảng Trị đến Cà Mau. Mỗi địa phương một phong cách, một biểu tượng riêng, khắc họa hình tượng truyền thống đặc thù của mỗi vùng đất, nhưng đều tập trung và nêu bật bản anh hùng ca từ “Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng” đến Tây Nguyên bất khuất, đến Quảng Đà trung dũng kiên cường. Từ Vũng Rô nổi sóng đến quê hương đồng khởi Bến Tre, từ Ấp Bắc anh hùng đến Hòn Đất kiên trung, từ rừng Sác Nhà Bè đến Bình Long, Phước Long xây chiến thắng. Từ U Minh Đồng Tháp đến Củ Chi đất thép thành đồng đều tụ hội về căn cứ đất Tây Ninh, nơi căn cứ Bảy Bàu anh dũng, kiên trung một thời kháng chiến. 7. Căn Cứ Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam Từ thị xã Tây Ninh qúy khách theo quốc lộ 22B đi hướng Tân Biên qua Ủy ban nhân dân xã Tân Lập, rẽ trái 5km là tới di tích căn cứ Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN). Khu di tích lưu giữ trong lòng rừng, lòng suối, cây cỏ của vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát những chứng tích vẻ vang và qúy giá của một thời Nhà nước sinh ra từ nhân dân, cùng nhân dân đánh giặc. Chính phủ cách mạng lậm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam mà lúc mới sinh thành ngụy quyền Sài Gòn thường rêu rao là “Chính phủ Ma” thì chỉ 6 năm sau đã cùng những đoàn quân giải phóng tiến về giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. một trang vàng rực rỡ của lịch sử đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc Việt Nam vẫn còn sáng mãi trên vùng đất căn cứ cách mạng miền Nam. Trở lại khu di tích căn cứ của CPCMLTCHMNVN qúy khách sẽ được ôn lại truyền thống đấu tranh chống Mỹ cứu nước và cuộc sống giản dị của nhân dân miền Nam bằng khu đón tiếp, trưng bày của Ban quản lý, hội trường, bệnh viện, nhà khách, nhà ăn, văn phòng làm việc của các cơ quan Chính phủ, Đài phát thanh giải phóng, còn có nhà bia kỷ niệm và nhà ở của các vị lãnh đạo như: Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát, Phó chủ tịch - Luật sư Trịnh Đình Thảo, ông Nguyễn Văn Kiệt, các vị Bộ trưởng Ung Ngọc Ky, Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Thị Bình, Bùi Thị Mè, ... Nhà có loại nửa nổi, nửa chìm như Hội trường lớn, có loại có tầng hầm như Đài phát thanh giải phóng. Đa số các nhà có hầm chữ A bên dưới, thông với hệ thống giao thông hào trong căn cứ ... Mái nhà lợp lá trung quân như vẫn đang còn xanh ngắt giữa vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát, là một khu có hệ sinh thái rừng nhiệt đới tuyệt vời, trường tồn vĩnh cửu với thời gian. 8. Căn Cứ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Từ trung tâm thị xã Tây Ninh theo quốc lộ 22B, quí khách theo hướng Tân Biên đến đồn Biên phòng cửa khẩu Xa Mát, rẽ phải theo tỉnh lộ 792 đến cầu 15 bắc qua Suối Chò, rẽ trái theo đường mòn khoảng 2km thì đến khu di tích. Căn cứ nằm trong rừng già nguyên sinh, cách trung tâm thị xã 54km đường bộ, cách di tích căn cứ Trung ương cục miền Nam 10km. Các phương tiện ô tô, mô tô đến di tích dễ dàng, thuận tiện. Theo đường mòn vào trung tâm di tích qua khu nhà trưng bày, đón tiếp và quản lý. Tại đây, qúi khách sẽ được nhìn tận mắt nơi ở và làm việc của Ủy ban Trung ương Mặt trận, những nhà văn phòng, hội trường, nhà văn hóa và bếp Hoàng Cầm. Theo những đường mòn len lỏi qua những bụi tre rừng, những tàn lá trung quân, cây rừng lúp xúp là những ngôi nhà của: Luật sư, Chủ tịch 166
  • 167.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Nguyễn Hữu Thọ, Bác sĩ Phùng Văn Cung, Đồng chí Võ Chí Công, Hoà thượng Thích Thiện Hào, Ông Ybihalêô, Đồng chí Nguyễn Thị Định, Đồng chí Ung Ngọc Ky, ... Nơi đây, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tập hợp mọi lực lượng yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng miền Nam toàn thắng 30/4/1975. 9. Địa Điểm Chiến Thắng Tua Hai Di tích thuộc ấp Tua Hai, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nằm về hưóng Bắc cách thị xã Tây Ninh 7 km. Tại đây, đêm 25 rạng 26/01/1960, thực hiện Nghị quyết 15 TW theo sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, lực lượng vũ trang cách mạng cùng với nhân dân Tây Ninh đã tiến hành trận tập kích tiêu diệt căn cứ Trung đoàn 32, Sư đoàn 21 ngụy tại Tua Hai - Trận đánh mở màn phong trào đồng khởi vũ trang toàn miền Nam đã đi vào lịch sử và trở thành một di tích lịch sử cách mạng. Chiến thắng Tua Hai, mở màn phong trào đồng khởi vũ trang đi vào lịch sử và trở thành cái mốc đánh dấu sự chuyển giai đoạn cách mạng miền Nam, mở ra phương thức đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang, tạo nên thế chiến lược "hai chân, ba mũi, ba vùng". Sau chiến thắng Tua Hai, phong trào đồng khởi đã lan rộng các tỉnh miền Nam, chứng minh rằng nghị quyết 15 TW Đảng được phát ra đúng thời điểm và thời cơ. Trận đánh Tua Hai là kết quả của sự chuẩn bị lâu dài, sự tích tụ căm thù của bao hy sinh mất mát bởi quốc sách "Tố cộng diệt cộng" và luật phát xít 10/59 của Mỹ - Diệm đã gây cho đồng bao ta. Trận đánh Tua Hai đã làm rệu rã tinh thần của binh lính địch, chúng cho rằng những binh lính tiến công Tua Hai là "Bộ đội chủ lực Bắc Việt”, đánh được Tua Hai thì Việt cộng có khó khăn gì mà không lấy được Thị xã và toàn tỉnh. Sau trận đồng khởi Tua Hai, phong trào nổi dậy của quần chúng, các lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng ra đời với những trận đánh có hiệu xuất cao, tiêu diệt được nhiều địch. Trận đánh Tua Hai đêm 25 rạng 26/01/1960 ỏ Tây Ninh trận đánh lớn diệt trên 500 tên địch, thu 1.500 súng các loại, phát huy chiến thắng Tua Hai, nhân dân Tây Ninh đã nổi dậy đồng loạt giải phóng hai phần ba số xã trong tỉnh. Với giá trị lịch sử đó, địa điểm chiến thắng Tua Hai được Bộ VHTT công nhận là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 937/QĐ-BT ngày 23/7/1993. 10. Đền Thờ Quan Lớn Trà Vong Năm 1749 (Kỷ Tỵ), Triều Đình Huế cử ba anh em nhà họ Huỳnh: Huỳnh Công Giản, Huỳnh Công Thắng, và Huỳnh Công Nghệ là các quan đại thần vào trấn nhậm vùng đất Tây Ninh. Ba ông cùng với đội binh mã của triều đình thực hiện việc di dân khai hoang lập ấp và giữ gìn an ninh ở vùng đất biên cương. Tưởng nhớ công ơn của 3 anh em nhà họ Huỳnh và các nghĩa binh, nhân dân địa phương lập đền, miếu để thờ ở nhiều nơi và được gọi chung là đền thờ Quan lớn Trà Vong. Ngôi mộ ông Huỳnh Công Giản (tức Quan lớn Trà Vong) được nhân dân chôn cất tại ấp Trà Hiệp xã Trà Vong, Tân Biên. Đền thờ ông được nhân dân xây dựng ở nhiều nơi như: Tân Phong, Trà Vong (Tân Biên), Cầy Xiêng, Đồng Khởi (Châu Thành), Thái Vĩnh Đông, Phường I (Thị xã), Thạnh Tân (Hoà Thành). Đền thờ Quan lớn Trà Vong tại Thái Vĩnh Đông, phường I, Thị xã Tây Ninh: Đền xây dựng trên gò đất cao, phía trước có nhiều cây dầu cổ thụ. Đền có 3 gian, hình chữ nhị (2 lớp), chiều dài 14 mét, chiều ngang 10m, tường xây gạch, mái lợp ngói âm dương. Chánh đền có sắc phong chữ thấn cùng bài trí các đồ thờ như lư hương, chưng đèn, lễ bộ. Trên nóc là hoành phi và bức đại tự sơn son thếp vàng "Đáp tạ thần ân" hai bên có 2 câu đối. 167
  • 168.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị "Nhật tảo xuất anh tài vị quốc vong thân Trứ trứ phương danh thuỳ trúc bạch Tà dương trữ man tặc, ưu quân trí mạng Nguy nguy chính khí quán sơn hà" Đền Quan lớn Trà Vong ở xã Mõ Công (Tân Biên) Ngôi đền nằm cặp quốc lộ 22B gần trung tâm xã Mõ Công. Ngôi đền được nhân dân thường gọi là "Dinh ông lớn Trà Vong" Cổng vào được xây theo hình chữ nhị 5m x 9m, gồm phần tiền đền và chính đền, mái ngói mũi, phần chính đền có hoành phi đề: “Quan lớn Trà Vong", ở giữa bên trái đề:"Long phi niên Đinh dậu", bên phải"Quan đại thần chuyển binh"bằng hán tự. Ngôi đền ở xã Thái Bình Đền toạ lạc tại ấp Cầy Xiêng xã Thái Bình (Châu Thành) cặp quốc lộ 22B, cách thị xã Tây Ninh chừng 5km về hướng Tây Bắc. Đây là ngôi đền còn giữ được phần hậu đền xây dựng cách nay trên 100 năm. Đền kiến trúc theo hình chữ tam, tường gạch, mái lợp ngói. Phần tiền đền 6m x 6m, hậu đền 3m x 3m. Chánh đền thờ bài vị và tượng quan lớn cao 1m đứng đeo gươm trận uy nghiệm lẫm liệt. Đền quan lớn Trà Vong ở Suối Vàng Đây là khu lòng chảo nằm sát chân núi Bà Đen, tương truyền đây là nơi tập luyện tập binh mã ngày xưa của quan lớn Trà Vong. Đền xây dựng khá lâu, đến năm 1995 do mở rộng lộ giới tỉnh lộ 4, nhân dân địa phương đã xây dựng ngôi đền mới khang trang tường gạch, cột bê tông, mái lợp ngói, kiến trúc theo chữ hình tam. Đây là ngôi đền ông lớn Trà Vong lớn nhất hiện nay so với các đền hiện hữu thờ ông lớn Trà Vong trên đất Tây Ninh. Ngoài ra còn có các đền thờ ông Huỳnh Công Nghệ và ông Huỳnh Công Thắng ở những nơi khác. Tại Vàm Bảo, Bến Thứ rạch Vịnh xã Hảo Đước, Châu Thành có mộ và đền thờ ông Huỳnh Công Nghệ nằm cạnh khu dân cư thưa thớt hiện đang xuống cấp nặng. Tại thành Bảo Quang Hoá, xã Cẩm Giang, Gò Dầu có ngôi đền thờ ông Huỳnh Công Thắng. Ngôi đền kiến trúc hai lớp hình chữ nhị, tường gạch, mái lợp ngói có diện tích 8m x 16m. Trong đền thờ bài vị và tượng Huỳnh Công Thắng. Trên vùng đất phía Tây Bắc Tây Ninh nhân dân xây dựng nhiều đền thờ quan lớn Trà Vong. Tuy nhiên, do chiến tranh ác liệt kéo dài nên nhiều ngôi đền bị tàn phá mà nhân dân chưa có điều kiện xây dựng lại. Hàng năm vào các ngày 16 và 17 tháng 3 âm lịch tại các đền nhân dân địa phương tổ chức cúng lễ tưởng nhớ đến ông lớn Trà Vong rất trang trọng. Nhiều nơi tổ chức cả hát bội và các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian phong phú mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc. 19. Đặc sản và ẩm thực - Muối tôm Tây Ninh: Mặc dù Tây Ninh là một vùng đồng bằng, không hề có biển để làm ra muối và không có cả tôm… Tuy không có nguồn cung cấp tại địa phương 2 nguyên liệu chủ yếu làm nên đặc sản muối tôm ấy, nhưng sau khi được nhập về từ các vùng biển, qua bàn tay chế biến khéo léo và nghệ thuật của người dân nơi đây, muối tôm Tây Ninh đã được rất nhiều người ưa chuộng và được đánh giá là loại muối tôm ngon nhất Việt Nam. 168
  • 169.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Để có được những hạt muối tôm thơm ngon, phải trải qua rất nhiều công đoạn chế biến công phu. Đầu tiên người ta chọn những quả ớt tươi nhất, đỏ nhất và ngon nhất trong vườn cây của họ, đem phơi cho ớt khô đi một chút rồi xay, giã nhuyễn ra cùng với tỏi, củ cải đỏ, hạt nêm…rồi đem trộn đều với muối, đây là công đoạn đòi hỏi phải rất tỉ mỉ, để có được những hạt muối tôm ngon nhất thì lượng gia vị được trộn chung phải thật hợp lý. Muối tôm Tây Ninh thường được dùng làm món chấm cho các loại trái cây, nhất là những loại có vị chua như: cóc, ổi, xoài… Ngoài ra, muối tôm nơi đây còn dùng để trộn chung với bánh tráng được xắt nhỏ và các loại rau khác tạo thành món bánh tráng trộn được rất nhiều bạn trẻ ưa thích. Cách làm muối tôm • 200 gram tôm tươi, lột vỏ, lấy nạc tôm, tuỳ thích cho vào khoảng 1/3 muỗng cà phê tiêu hoặc ớt tươi (không lấy hột) băm nếu muốn cay, 30 gram muối bột loại xay mịn (hoặc tùy ý thêm trong khoảng 10 - 15 gram nữa), quết thật nhuyễn, thử lại bằng cách để một chút vào giữa đầu hai ngón trỏ cái bóp lại rồi mở ra thấy dính bết lại là được. • Nặn hỗn hợp tôm muối thành nhiều miếng nhỏ, mỏng dẹp chừng 4 -5 ly với mục đích cho dễ khô ráo. • Cho vào lò nướng điện ở nhiệt độ chừng 100o C hoặc hong, sấy trên bếp than cho những miếng tôm muối trở khô thật giòn. Mang ra để nguội, tán hay giã thành hột nhỏ cỡ hột mè là được. Bảo quản trong hũ lọ đậy kín. - Bánh tráng phơi sương Trảng Bàng: Bánh tráng gần như là món dùng để cuốn món ăn rất riêng của người Việt trong cái thú ẩm thực, là loại thực phẩm khá độc đáo có thể ăn chơi, ăn no và chế biến thành nhiều món ăn khác. Theo ghi chép sử sách thì chiếc bánh tráng xuất hiện đầu tiên vào cuối thế kỷ 18, được vua Quang Trung dùng làm lương khô cho binh sĩ. Từ đó, khắp dọc chiều dài đất nước, mỗi miền đất đều tạo cho mình một loại bánh tráng riêng tùy nguyên liệu sẵn có. Nhưng có một loại bánh tráng đang được Sở Khoa học - công nghệ tỉnh Tây Ninh làm thủ tục để đăng ký thương hiệu, được nhiều người tìm tới ăn thử với tên gọi: bánh tráng phơi sương Trảng Bàng. Để làm ra chiếc bánh tráng phơi sương, chất liệu hàng đầu phải là loại gạo ngon và không được pha trộn. Nếu bánh tráng ở nơi khác hay thêm đường cho mềm bánh thì bánh tráng phơi sương lại thêm tí muối, vì thế khi cầm chiếc bánh ăn không (ăn vã) bạn sẽ cảm thấy mặn. Sau khi làm bột, bánh được tráng hai lớp (vì thế chiếc bánh dày), sau đó đem phơi nắng cho khô. Nhưng các công đoạn sau mới là phần quan trọng. Đó là nhà làm bánh phải thiết kế chiếc lò nướng đặc biệt với chất liệu đốt lò là vỏ đậu phộng. Bánh tráng phơi khô xong đem nướng trên lửa, chỉ nướng qua thôi chứ không để chín phồng. Sau đó bánh được xếp riêng, đợi đến sáng sớm khi sương bắt đầu rơi nhiều (kiểm tra bằng cách nhìn cây cỏ) mới đem ra phơi sương. Người phơi bánh phải “thức” cùng bánh, đợi bánh vừa thấm sương đủ mềm là xếp lại ngay bỏ vào trong bao, lót lá chuối. Khi bán mới xếp ra ràng, luôn bọc trong bao nhựa để giữ bánh luôn mềm. - Bánh canh Trảng Bàng: Bánh canh Trảng Bàng trở nên nổi tiếng nhờ tên gọi dễ nhớ bởi nó gắn liền với đia danh lâu đời của một quận lỵ trong địa phận tỉnh Tây Ninh. Chính nhờ sự cạnh tranh hơn thua giữa các lò bánh ở địa phương nên những huyền thoại về bánh canh Trảng Bàng không những không bị mai một mà ngày càng ngon hơn về phẩm và hấp dẫn hơn, quen thuộc hơn. Mỗi lò đều cố gắng thu hút khách hàng bằng bí quyết riêng của mình trong cái ngon của từng lọn bánh, từng loại gia vị cần thiết và cách pha chế gia truyền của mỗi lò. Để có bánh canh Trảng Bàng phải trải qua giai đoạn biến chế bánh canh rất công phu. Đầu tiên bánh canh phải được làm bằng một loại gạo quý, đắt tiền như Nàng Thơm, hay Chợ Đào. Gạo phải được ngâm thật kỹ qua một đêm để hạt gạo đạt đủ độ mềm cần thiết. Sau khi ngâm qua đêm, gạo được đem xay nhuyễn để lấy tinh bột. Giai đoạn cuối cùng là tinh bột được đem hấp chín trước khi ép thành những mẫu bánh canh trắng tinh. Điều đặc biệt dễ nhận thấy ở đất Trảng Bàng này là các lò sản xuất bánh hoạt động rất nhịp nhàng, ăn khớp với các tiệm ăn. Bột bánh canh được giao tới tiệm ăn rất đúng giờ, đúng buổi không quá sớm 169
  • 170.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị và cũng không quá trễ, tránh trường hợp con bánh bị chua, bị thiu làm mất đi hương vị độc đáo của bánh canh. - Thằn lằn núi Thằn lằn núi Bà Đen rất lạ, nó có hình dạng to hơn thằn lằn thông thường, và thức ăn chính của nó là những trái sung chín có sẵn trên núi, sống trong những khe núi. Vì mang tính dược liệu và thịt thơm ngon chính vì vậy ngày nay còn rất ít, một số nhà nông đã nghiên cứu nuôi tại nhà nhưng không mang lại thành công lớn, chủ yếu vẫn dựa vào nguồn cung cấp từ thiên nhiên. Các món ăn được chế biến từ thịt thằn lăn như:Thằn lằn núi chiên giòn, chấm với nước mắm me, ón chả đùm làm từ thịt thằn lằn núi - Ốc núi Thằn lằn, ốc núi núi Bà Ai chưa động đũa kể là chưa đi Đây là loài ốc cực hiếm vì chúng chỉ sinh sống trong các hang hốc đá, rất khó phát hiện. Vào mùa mưa, ốc mới bò ra kiếm ăn và sinh sản. Khi những cơn mưa trút hạt cũng là mùa săn ốc núi bắt đầu nhộn nhịp. Buổi sáng, ốc núi mò ra khỏi hang đi ăn lá rừng, nên đây là thời điểm thích hợp nhất để bắt. Thức ăn của loài ốc này là lá những loại thảo dược mọc hoang trên núi như cây mã tiền, lá vong núi, đặc biệt là loại thuốc quý tên gọi dân gian gọi là lá Nàng Hai. Cây Nàng Hai là một loại cây thuốc nam, từ lâu được dân gian sử dụng để chữa các chứng nhức mỏi, đau khớp, thống phong, còn cây vong núi giúp an thần. Ốc ăn lá cây thuốc nên trong người chúng mang đầy vị thuốc, mùi vị rất ngon và bổ dưỡng. Vì thế nên ốc núi Bà Đen còn được gọi là ốc Nàng Hai. Ốc núi Bà Đen có hình dạng giống như ốc bươu nhưng mình dẹp và nhỏ xoăn thành nhiều vòng. Ốc bắt về chỉ rửa sạch đất cát, không cần ngâm xả chất thải như các loại khác và đem nấu ăn ngay để còn giữ lại các vị thuốc có giá trị dinh dưỡng. Ốc núi có thể chế biến thành nhiều món ăn như nướng, hấp sả, xào me, xào tỏi Kỳ công hơn, ốc núi bắt về cho ăn cơm dừa khô nạo nhuyễn, để đến khi đem luộc chấm muối tiêu chanh, thịt ốc núi này sẽ béo giòn, rất lạ miệng. Vị ốc ngọt thanh, có chút hương thuốc quý, ăn vào cảm giác khó quên. Nhà hàng Nhà hàng Anh Đào Địa chỉ: Đường 30 Tháng 4, Tx Tây Ninh, Tây Ninh Điện thoại: 382 7306 Nhà hàng Diễm Thúy Địa chỉ: Đường 30 Tháng 4, Tx Tây Ninh, Tây Ninh Điện thoại: 382 7318 Nhà hàng Hòa Bình Địa chỉ: 210 Ba Mươi Tháng Tư, Tx Tây Ninh, Tây Ninh Điện thoại: 382 2638 Nhà hàng Hoàng Minh I Địa chỉ: 38 Quốc lộ 22B, H. Trảng Bàng, Tây Ninh Điện thoại: 388 0351 170
  • 171.
    ĐÔNG NAM B:Ộ TP.HCM - TÂY NINH - BÌNH D NG - BÌNH PH C - Đ NG NAI - BÀ R A - VŨNG TÀUƯƠ ƯỚ Ồ Ị Nhà hàng Ngọc Mai Địa chỉ: 42 Nguyễn Thái Học, P. 3, Tx. Tây Ninh, Tây Ninh Điện thoại: 382 2380 Nhà hàng Phong Lan Địa chỉ: Đường 30 Tháng 4, khu 2, Tây Ninh Điện thoại: 382 2638 Nhà hàng Thiên Khang Địa chỉ: 457 Cách Mạng Tháng Tám, P. 3, Tx Tây Ninh, Tây Ninh Điện thoại: 382 1992 20. Sản phẩm lưu niệm Về với vùng đất Tây Ninh, du khách có thể mua sắm các đặc sản địa phương như các sản phẩm làm từ muối: muối tôm, muốt ớt, muối chay...; bánh tráng phơi sương Trảng Bàng... để làm quà tặng cho gia đình và bạn bè. XXVII. Tiêm năng phát tri n du l ch Tây Ninhể ị Tây Ninh với những cảnh quan thiên nhiên đa dạng, phong phú; di tích văn hóa, lịch sử độc đáo có tiềm năng to lớn phát triển du lịch. Núi Bà Đen đang trở thành khu du lịch hấp dẫn du khách với cảnh quan thiên nhiên sinh động gắn với những chùa chiền, lễ hội… là điểm đến của những chuyến du lịch ; có hệ thống cáp treo, máng trượt tạo sự tiện lợi và cảm giác mới lạ cho du khách. Nơi đây kêu gọi những dự án đầu tư xây dựng các khu di tích, tôn tạo , trùng tu các điện thờ, hang động chùa chiền cùng với việc xây nhà nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí, . . . Hồ Dầu Tiếng chỉ cách TP. Hồ Chí Minh khoảng 70km , là một quần thể du lịch đầy tiềm năng với hồ, rừng phòng hộ, kết hợp với các đảo lớn nhỏ; Ở đây có thể xây dựng khu du lịch sinh thái - thể thao - giải trí như: xây dựng sân golf, công viên nước, khu nghỉ dưỡng, khu săn bắn - câu cá, bãi tắm, khai thác các môn thể thao trên nước như thuyền, lướt sóng, lướt ván… Tiềm năng du lịch sinh thái của Tây Ninh đa dạng, phong phú với những địa điểm nổi tiếng như khu Căn cứ Trung ương cục Miền Nam , khu căn cứ Bời Lời, địa đạo An Thới chứa đựng các chiến tích cách mạng oanh hùng của dân tộc hay Vườn Quốc gia Lò Gò Xa Mát, khu rừng lịch sử Văn hóa Chàng Riệc với đa dạng sinh học được các tổ chức quốc tế thừa nhận hoặc các địa danh nổi tiếng như: các Chùa cổ Bình Thạnh, An Thạnh tiêu biểu cho nền văn hóa Óc Eo… Tòa Thánh Tây Ninh thuộc huyện Hòa Thành có diện tích 1 km2 được khánh thành năm 1955, cách trung tâm thị xã 4 km về phía Đông với kiến trúc độc đáo mang màu sắc riêng của đạo Cao Đài, một di tích quốc gia đã được xếp hạng với những lễ hội truyền thống hàng năm thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan. Việc thiết lập những tour du lịch đi qua các khu du lịch trọng điểm nói trên là hoàn toàn khả thi và hấp dẫn đối với du khách. 171