THẾ-HỆ-PHỔ
CỦA ĐỨC QUANG-THÁNH-ĐẠI ĐẾ
2
THẾ-HỆ-PHỔ
CỦA ĐỨC QUANG-THÁNH-ĐẠI ĐẾ
Đức Quang Thánh Đại Đế Họ Quang, húy là võ, tự là Vân Trường.
Ông Thỉ Tổ của Ngài là ông Quang-Long-Phùng, làm chức Đại Phu đời nhà
Ha, triều vua kiệt (1818 trước chúa Gi-Giu Giáng sanh).
Ông Nội của Ngài , húy là Thẩm, tự là Vấn-Chi, hiệu là Thạch- Bàng, sanh
năm Canh Dần, nhằm năm thứ hai niên hiệu Vĩnh- Nguơn, triều vua Hiếu-
Hòa Đế, đời Đông-Hán (89 năm sau Giáng sanh. Ông ở tỉnh Sơn- Tây, Thành
Giải-Lương, làng Trường-Bình, xóm Bửu-Trì.Ông nổi danh là bực hiền hòa,
đạo đức. Ông dùng kinh Xuân Thu và kinh Dịch mà dạy con. Năm Đinh Dậu
nhằm năm thứ 3, triều vua Hiếu-Huờn-Đế, niên hiệu Vĩnh-Thọ, ông từ trần,
ông hưởng thọ 68 tuổi.
Ông thân của Ngài, húy là Nghị, tự là Đạo Viễn, tánh chí hiếu. Lúc cư tang
cha, thì che chòi ở phụng sự báo hiếu một bên mả cha trọn ba năm trời. Triều
vua Hiếu Huờn Đế niên hiệu Diên Hy, năm thứ 3, nhằm năm Canh Tý, ngày
24 tháng 6, ông sanh Đức Thánh Đế (157 năm sau Giáng sanh).
3
Khi Đức Thánh Đế ra đời có Hào quang chói sáng cả xóm Bửu Trì. Thiên hạ
đều khen ngợi nhà Họ Quang và trằm trồ nói rằng : « Người con của ông
Quang Nghị thiệt là một vị Thiên Thần Giáng sanh, chớ chẳng phải là bực
tầm thường đâu ». Đức Thánh Đế, lúc thiếu niên, thọ giáo với cha. Ngài bát
lãm sách Luận Ngữ, sách Mạnh Tử và kinh Xuân Thu. Trạng mạo của Ngài
tươi tốt và lẫm liệt phi thường. Hình dung cao lớn, mặt đỏ, mày tằm, mắt
phụng, râu rồng, trán cọp, và tiếng rang rãng như tiếng chuông đồng. Nghề
văn, nghiệp vỏ của Ngài lấy làm siêu quần, bạt tụy . Tâm tánh của Ngài lấy
làm công bình, chánh trực. Thao lược, cơ mưu, của Ngài càng ngày càng tấn
phát. Đến 17 tuổi Ngài cưới bà Hồ Thị . Đến sau, Ngài sanh ba người con trai
là : Quang Bình, Quang Hưng và Quang Sách.
Người đầu lòng là ông Bình, tự là Đát Chi, sanh ngày 13 tháng 5 năm Mậu
Ngũ, nhằm năm thứ 2 triều vua Hiếu Linh Đế, niên hiệu Quang Hòa (176 năm
sau Giáng Sanh). Ông Quang Bình lúc thiếu niên theo cha học rành nghề văn,
nghiệp vỏ, rồi khi lớn lên, thì cũng theo giúp cha trong việc chinh chiên. Mấy
trăm trận xông lên, đột pháo, chẳng giây phút rời cha. Lúc sống chẳng rời
cha, lúc thác cũng chẳng rời cha. Ngày mồng 7 tháng chạp, năm Kỷ Hợi, ông
đặng toàn trung, toàn hiếu, ông hưởng thọ đặng 42 tuổi.
Người thứ nhì là ông Hưng tự là An Quốc, lúc thiếu niên theo đức Võ Hầu
học tập nghề văn, nghiệp vỏ. Khi lớn lên thì lãnh chức Thị Trung Trung Giám
Quân ông có cử hình phạt Ngô nhiều phen đặng báo thù cho cha. Nước Ngô
kiên sợ có một mình ông mà thôi. Ông có hai người con trai là : Quang Thống
và Quang Duy. Đến năm 24 tuổi, ông thọ bịnh từ trần.
4
Người thứ ba là ông Sách, tự Là Duy Chi, nghề văn, nghiệp vỏ siêu quần bạt
tụy. Ông lãnh chức Tiên phong đánh giặc Mãnh Hoạch nhiều lần ông có đại
công với nhà Thục.
Nói về hai người con của ông Quang Hưng.
1. Ông Quang Thống tập tước Thượng Công Chủ Quan, Hổ Bôn Trung
Lang Tướng, Đông Ngô và Bắc Ngụy đều biết danh của ông. Ông không có
con.
2. Ông Quang Duy đặng lập phong tước Hớn Thọ Đình Hầu, khi ông lành
chức Tiền Tướng Quân đem binh phạt Ngụy, ông bị tử trận. Ông có một
người con tên là Quang Tệ. Ông Quang Tệ làm chức Giáng ngôi đại phu.
Khi nhà Thục mất nước thì ông vào đất Tin Đô ở ẩn. Ông có một người
con tên là Quang Lảng. Ông Quang Lảng bát lãm kinh Dịch và kinh Xuân
Thu. Vua nước Ngụy sai sứ mời ông ra làm Quan đã nhiều phen mà ông
cứ từ chối luôn luôn. Từ đây sắp xuống, con cháu nhà Họ Quang còn lưu
truyền nhiều đời kể ra không xiết.
Đức Thánh Đế lúc sanh tiền. Ngài lãnh chức Hớn Thọ Đình Hầu của
nhà Đại Hớn. Từ ngày Ngài hiển Thánh cho đến ngày nay. Ngài cứu Quốc
hộ dân nhiều lắm, cho nên từ đời nhà Hớn cho tới đời nhà Thanh, triều
nào cũng có tặng phong cho Ngài.
Đức Thánh Đế và ông Quang Bình hiển Thánh tại đất Lâm Thơ ngày
mồng 7 tháng chạp, năm Kỷ Hợi, nhằm năm thứ 21 triều vua Hiếu Hiến
Đế, niên hiệu Diên Khương (217 năm sau Giáng sanh). Lúc ấy Ngài hưởng
thọ 60 tuổi, ông Quang Bình hưởng thọ 42 tuổi.
5
LỊNH TRIỀU TẶNG PHONG CHO
ĐỨC QUANG THÁNH ĐẠI ĐẾ
-oOo-
NHÀ ĐÔNG HỚN
Vua Hiếu Hiến Đế, niên hiệu Kiến An, năm thứ 9, phong cho Ngài trước
Hớn Hớn Thọ Đình Hầu.
Cũng triều vua Hiếu Hiến Đế, niên hiệu Kiến An, năm thứ 24, ông Hớn
Trung Vương tâu vua phong cho Ngài tước Tiền Tướng Quân, Hớn Hớn
Thọ Đình Hầu.
NHÀ THỤC
Vua Hận Chúa, niên hiệu Cảnh Diệu, năm thứ 3, phong cho Ngài tước
Tráng Mục Hầu.
NHÀ TÙY
Vua Văn Đế, niên hiệu Khai Hoàng năm thứ 2, phong cho Ngài tước
Trung Huệ Công.
NHÀ ĐƯỜNG
Triều vua Cao Tông, niên hiệu Nghi Phụng, năm đầu, đức Lục Tổ Thiền
Sư lập bàn thờ thờ Ngài trong chùa Ngọc Truyền Sơn và đề bài vị : Già
Lam Chánh Thần.
NHÀ TỐNG
Vua Triết Tông, niên hiệu Thiệu Thánh, năm thứ 3, gia phong cho :
Ông Quang Bình tước Trung Kiệt Vương và ban tấm biển vàng treo
trước cửa miếu.
6
Ông Quang Hưng tước Hiển Trung Vương .
Ông Quang Sách tước Thuận Trung Vương.
Vua Hy Tông, niên hiệu Sùng Ninh, năm đầu, sang sứ đệ sắc ra tỉnh Sơn
Tây, thành Giải Lương, làng Trường Bình, xóm Bửu Trì, phong cho :
Đức Thánh Đế tước Sùng Ninh Chơn Quân.
Ông Quang Bình tước Võ Linh Hầu.
Ông Châu Thương tước oai linh Tướng Quân.
Cũng triều vua Hy Tông, niên hiệu Đại Quân, năm thứ 2, gia phong cho
đức Thánh Đế tước Võ An Vương. Sùng Ninh Chơn Quân :
Cũng triều vua Hy Tông, niên hiệu Tuyên Hòa năm thứ 5, gia phong cho
đức Thánh Đế thêm hai chữ Nghĩa Dõng và gia phong cho :
Ông Quang Bình thêm hai chữ Oai Hiển.
NHÀ NAM TỐNG
Triều vua Cao Tông, niên hiệu Viêm Hưng, năm thứ 2, phong cho đức
Thánh Đế tước Tráng Mục Nghĩa Dõng Vương.
Triều vua Hiếu Tông, niên hiệu Thuần Huy, năm thứ 14, giaphong cho
đức Thánh Đế thêm hai chữ Anh Tế.
NHÀ NGUƠN
Triều vua Võ Tông, niên hiệu Thiên Lịch, năm thứ 8, gia phong cho
đứcThánh Đế, tước hiển linh Nghĩa Dõng, Võ Anh Tế Vương.
Triều vua Thuận Tông, niên hiệu Chí Chánh, năm thú 16, phong cho :
Ông Tham Quân Vương Phủ tước Phụ Chánh Lợi Tế, Chiêu Trung
Hầu.
Ông Giám Quân Triệu Lụy tước Trợ Thuận Khu Ma, Tuyên Nghĩa Hầu.
7
Ông Châu Thương tước Oai Linh Tướng Quân, Oai Tuyên Trung Dõng
Công.
Ông Quang Bình tước Kiên Công Hầu, Liêu Hóa Củ Soát, Tốc Bảo, Oai
Linh Công.
NHÀ MINH
Triều vua Thần Tông, niên hiệu Vạn Lịch, năm thứ 42, sắc phong cho
đức Thánh Đế tước Phục Ma Đại Đế, Thần Oai Viễn Trấn Thiên Tôn
Quang Thánh Đế Quân.
Triều vua Hoài Tông, niên hiệu Sùng Trinh, năm thú ba, gia phong cho
đức Thánh Đế tước Chơn Nguơn Hiển Ứng , Chiêu Minh Dựt Hớn Thiên
Tôn.
NHÀ THANH
Triều vua Thế Tổ, Chương Hoàng Đế, niên hiệu Thuận Trị, năm đầu sắc
dụ tế lễ đức Thánh Đế và phong cho Ngài tước Trung Nghĩa Thần Võ
Quan Thánh Đại Đế.
Triều vua Thế Tông Hiếu Hoàng Đế, niên hiệu Ung Chánh, năm thứ 3,
truy phong tước công cho ba đời trước của đức Thánh Đế và chỉ dụ khắc
Thần chủ thờ trong đền thờ của Ngài, mỗi năm Xuân Thu quý tế hai kỳ.
Vua truy phong cho ông Cố của Ngài tước Quang Chiêu Công.
Ông Nội của Ngài tước Dũ Xương Công
Ông Thân của Ngài tước Thành Trung Công.
Triều vua Cao Tông Thuần Hoàng Đế, niên hiệu Càng Long, tôn đức
Thánh Đế là Sơn Tây Quang Phu Tử, lại gia phong thêm hai chữ Linh
Hựu.
Triều vua Nhơn Tông Duệ Hoàng Đế, niên hiệu Gia Khánh, năm thứ 18,
gia phong thêm cho Ngài hai chữ Nhơn Dõng.
8
Triều vua Tuyên Tông Thành Hoàng Đế, niên hiệu Đạo Quang năm thứ 8,
phong cho Ngài tước Trung Nghĩa Thần Vỏ, Linh Hựu Nhơn Dõng Oai
Hiển, Quang Thánh Đại Đế, vua Lai Tôn:
Đức Khổng Thánh tước Văn Đế.
Đức Quang Thánh tước Vỏ Đê.
Triều vua Quang Chữ, năm thứ ba, phong cho đức Thánh Đế tước Trung
Nghĩa Thần Vỏ, Linh Hựu, Nhơn Dõng, Oai Hiển, Hộ Quốc, Bảo Dân Tỉnh
Thành Tuy Tịnh, DựcToán, Quang Thánh Đại Đế.
***************************************
Các sự tích đã kể trên đây lưu đại Gia Phổ Để tại nhà Thờ lập từ xưa tới
nay nơi tỉnh Sơn Tây, thành Giải Lương, làng Trường Bình, xóm Bửu Trì.
9
CHỈ CÁC NGÀY VÍA CỦA NĂM ÔNG.
-oOo-
ĐỨC- QUANG-THÁNH- ĐẠI- ĐẾ
1. Ngày 21 tháng 6 ngày Giáng Sanh
2. Ngày mồng 9 tháng 9 Vía về Trời, thọ phong chức;
3. Ngày mồng 8 tháng 12 Kỵ.
4. Tam Thiên Môn, Đại Nguơn Soái thống quản 3 cứa Trời là: cửa Đông,
cửa Tây và cửa Nam.
ĐỨC QUANG THÁNH THÁI TỬ
Ngày 13 tháng 5 ngày Sanh
Ngày mồng 8 tháng 12 ngày Kỵ
ĐỨC CHÂU ĐẠI TƯỚNG QUÂN
Ngày 30 tháng 10 ngày Sanh
ĐỨC TRƯƠNG TIÊN ĐẠI ĐẾ
Ngày 23 tháng 11 ngày Phong Thần
ĐỨC VƯƠNG THIÊN QUÂN
Ngày 24 tháng 6 ngày phong Thần.
*******************************************
LỜI DẶN:
Tới ngày Vía phải trai, giái, mộc, dục. Trong lòng phải chí thành, chí kỉnh. Trên bàn thờ phải
sửa dọn cho chí tinh, chí khiết, rồi vọng : Hương, đăng, hoa, quả. Các việc an bài rồi, thì ngày
ấy phải tụng cho đặng 2 cuốn Minh Thánh Kinh.
10
ĐỨC HÀNG VĂN CÔNG GIÁNG CƠ ĐẶT BÀI
TỰA MINH THÁNH KINH NHƯ SAU NẦY:
-oOo-
Nếu muốn vì ngàn xưa mà dạy dỗ thiên hạ cuộc can thường luân lý,
nếu muốn vì trăm đời mà nhắc nhỡ thiên hạ giữ mình cho trọn danh,
rạng tiết, thì ngoại sách Luận Ngữ và sách Mạnh Tử, chẳng có kinh
điển nào rành rẽ và công đức lớn cho bằng Minh Thánh Kinh. Xét cho
chí lý, thì sách Luận Ngữ và sách Mạnh Tử cũng dạy việc Trung, Hiếu,
Liêm, Tiết, là mỗi của đạo Nhân Luân mà thôi.
Đức Quang Thánh Đại Đế, lúc thiếu niên do học thuật theo sách Luận
Ngữ và sách Mạnh Tử, cho nên tấm lòng của Ngài sóng sánh cũng kịp
tấm lòng của đức Khổng Thánh và cái chí của Ngài, so tài cũng bằng
cái chí của đức Mạnh Tử. Ngài cũng lấy bốn điều lớn là: Trau mình, sửa
nhà, trị nước và vỗ an thiên hạ mà đặt kinh điển lưu truyền dạy đời.
Ngài đặt Minh Thánh Kinh rồi, Ngài còn giao cho Vì Thiên Quân phê
chú và làm tựa. Thiệt là Ngài khổ tâm về việc muốn cứu đời cho khỏi
tội lỗi biết là dường nào. Nói thiệt kinh nầy chẳng lo chi là truyền tống
chẳng đặng xa xuôi, chỉ lo in ra chẳng đặng cho nhiều mà thôi. Thử xem
trong các Tỉnh, các Châu, các Huyện, sớm tối thiên hạ đều vâng tụng
kinh nầy, và gần xa thiên hạ đều biên chép kinh nầy. Như vậy thì, kinh
nầy lấy làm bổ ích cho cuộc phong hóa biết là dường nào. Nay kẻ Ngô
Sanh chẳng nài đường sá xa xôi ngàn dặm, đến tại đàng nầy cầu ta
giáng cơ đặt dùm một bài tựa. Ta phải đặt tựa cách nào? Ta có một ý, là
khuyên chúng sanh hai điều sau nầy mà thôi.
11
Điều thứ nhứt: - Những kẻ kỉnh tống kinh nầy, trước hết, phải rèn
lòng, trau nết, cho vẹn 8 chữ là: Hiếu, Để, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm,
Tiết, rồi ra công hoằng hóa thiên hạ cho đặng Nhơn
Nghĩa như mình. Làm đặng như vậy, thì Trời sẽ ban ơn vô biên, vô
lượng.
Điều thứ nhì:- Những kẻ xem kinh nầy, trì tụng kinh nầy, phải gắn
sức sửa mình cho ngay thẳng, phải vâng thi hành kinh những lời của
kinh nầy giáo huấn. Làm đặng như vậy, thì Trời sẽ ban phước vô cùng,
vô tận.
Hễ vâng lời thi hành theo kinh nầy, thì trong lòng chẳng rời điều
Trung, điều Hiếu, điều Liêm và điều Tiết. Bởi vậy cho nên ta mới nói
rằng:
Nếu muốn vì ngàn xưa mà dạy dỗ thiên hạ cuộc can thường, luân lý;
nếu muốn vì trăm đời mà nhắc nhỡ thiên hạ giữ mình cho trọn danh,
rạng tiết, thì, ngoại sách Luận Ngữ và sách Mạnh Tử, chẳng có kinh
điển nào rành rẽ và công đức lớn cho bằng Minh Thánh Kinh.
NẦY LÀ LỜI TỰA:
Đời nhà Thanh, triều vua Đạo Quang, tháng chạp, năm Tân Sửu,
nhằm năm 1841, mùa Thu, tháng 7, đêm mồng 5 giáng cơ tại Định Ấp,
xóm Thạch Trấn, núi Đại Long Sơn.
***************************************
12
ĐỨC PHÙ HỰU ĐẾ QUÂN GIÁNG CƠ ĐẶT BÀI
TỰA MINH THÁNH KINH NHƯ SAU NẦY:
Ta thầm nghĩ rằng: Cái gốc của cuộc sửa mình thì chẳng có điều chi
trọng hơn là việc làm lành; mà cái Đạo làm lành thì chẳng có điều chi
lớn hơn là việc khuyên dạy người ta; mà cái phép khuyên dạy người ta
thì chẳng có điều chi hay hơn là việc in kinh, in thiện thơ mà kỉnh tống.
Bởi vậy cho nên, đức Văn Đế “Là đức Khổng Thánh” mới đặt bài Âm
Chất Văn, đức Võ Đế “Là đức Quang Đế” mới đặt cuốn Giải Thế Kinh,
đức Thái Thái Thượng mới đặt cuốn Cảm Ứng Thiên, đáu đáu khuyên
đời chừa bỏ thói xấu; khăng khăng dạy dân cái dữ, cái lành. Nhưng mà
ít có ai chịu nghe theo những lời của Thánh Thần Giáo Hớn, cho nên
thói đời càng ngày càng đen bạc, lòng người càng ngày càng độc ác. Ai
cũng thấy liền năm trời làm cho nước lụt, làm cho nắng hạn, xuôi khiến
cho giặc giã lẫy lừng nhơn dân bị khổ, bị hại, biết là dường nào; ấy là tại
người gây nghiệp chướng mà Trời xuống tai ương đó vậy. Than ôi!
Phàm làm loài người ta thì phải có trí khôn hơn muôn loài thú vật, mà
sao chẳng biết suy nghĩ việc tội, việc phước, lại nỡ đành sanh các mối
họa không ngần? Đức Phu Tử của ta thấy vậy, thì chạnh dạ từ bi. Ngài
chẳng nỡ điểm nhiên tọa thị, để cho sanh linh sẫy hang, sa hố. Ngài bèn
đặt Minh Thánh Kinh mà ban hành khắp trong bốn biển, đặng dạy dân
cải tà, quy chánh, cải ác, tùng lương. Kinh nầy trên thì hiệp theo lòng
Trời, dưới thì nhằm theo thế sự. Từ ngày Minh Thánh kinh ban hành
cho đến nay, thì phong tục đất Quế Lâm đã đổi dời ra tốt, và Đạo Nhân
Luân của đất Đông Việt đã đặng rõ ràng đẹp đẽ. Như vậy thì chẳng
13
phải là nhờ sự linh nghiệm của kinh nầy hóa cuộc Tồi Phong bại tục ra
cuộc thuần phong mỹ tục hay sao? .
Từ ngày chư đệ tử ở cửa hàng Kiệm Thiện Đường tại ấp Việt Nam
quyên tiền, mướn khắc bảng in Minh Thánh Kinh mà kỉnh tống cho
dân sau thì nhân dân đất Việt Hải ùng ùng tu thân hành
Đạo theo kinh nầy rồi các tỉnh Mân Việt và Triết Giang cũng tu hành
theo nữa.
Bây giờ bảng cũ đã mòn in không rõ chữ, các nhà buôn đất Việt Nam
và đất Việt Hải quyên tiền mướn khắc bảng lại mà thỉnh ta giáng cơ đặt
tựa.
Ta đặt tựa, thì ta nói như vầy: Thiện thơ mà văn chương cao kỳ nghĩa
lý thâm trầm, xác tận thế tình như Minh Thánh Kinh nầy, thì dẫu in ra
nhiều thế mấy, dẫu kỉnh tống nhiều thế mấy thì cũng chẳng lo rằng kỉnh
tống không hết, là vì nhà nào cũng thỉnh về mà tụng đọc. Đọc hiểu rồi,
thì cải tà quy chánh, cải ác tùng thiện, tục đời càng ngày càng vượng,
dân vật càng ngày ngày càng thạnh; sanh linh may mắn biết là dường
nào! Các đệ tử kỉnh tống kinh nầy đặng phước biết là dường nào.
NẦY LÀ LỜI TỰA.
Đời nhà Thanh, triều vua Quang Chữ năm thứ hai, nhằm năm Bính
Tý “1876”. Mùa Thu trung tuần tháng 7, giáng cơ tại tỉnh Việt Tây, gò
Đơn Trước, trong một cảnh vườn nhỏ.
14
ĐỨC QUANG-THÁNH-ĐẠI ĐẾ GIÁNG BÚT
PHÊ THỊ CUỐN MINH THÁNH KINH
CỦA TRẦN- QUANG -THUẬN PHỤNG DIỄN RA TIẾNG QUỐC ÂM
-oOo-
Lời Tựa: Trời Đất thật là rộng lớn, mặt nhựt, mặt nguyệt thiệt là soi sáng,
nhưng mà, xét ra thì đạo lý của Thánh Nhân cũng là rộng lớn như Trời, như
Đất vậy, cũng là soi sáng như mặt nhựt, mặt nguyệt vậy Ta thấy thói đời càng
ngày càng đen bạc, xấu xa, tánh người càng ngày càng phách phỡ, gian trá,
cho nên ta phải giáng bút đặt Đạo Viên Kinh đặng khuyên lơn và răn he đời.
Như trong kinh ta nói câu: “Người đức, thiện, thêm bề quan tước”, ấy là lời
của ta khuyên lơn đời. Ta nói câu: “Kẻ độc, gian, hại ngược về sau”,(là hại
con, hại cháu, hoặc là bị tuyệt tự), ấy là lời của ta răn he đời. Ta nói câu: “Kìa
Tần Cối bất trung quá nổi; hóa loài muông đền tội nhân gian”. ấy là lời của ta
răn he đời.Ta nói câu: “Nhạc Vương Võ Mục trung can; Dự trong bốn Soái
Thiên Đàng sắc phong”. Ấy là lời của ta khuyên lơn đời .Ta có nói câu “Tào
Mang độc hiểm quá chừng ; Âm Min đương chịu khổ hình biết bao”. Ấy là lời
của ta răn he đời. Ta nói câu “Đức Gia Cát Võ Hầu trung nghĩa; khắp U
Minh đảnh lễ nơi nơi”. ấy là lời của ta khuyên lơn đời. Trong mấy đoạn ta
trưng việc Trung, việc Hiếu, việc Liêm, việc Tiết, là ta chủ ý khuyên lơn
người đời cư xử theo đó. Trong mấy chỗ ta chỉ việc Gian, việc Tham, việc
Sàm, việc Nịnh là ta chủ ý răn he, chẳng cho người đời bắt chước theo đó. Đây
là ta kể sơ lược ít đoạn trong kinh của ta mà thôi.
15
Nay đệ tử: Trần Quang Thuận đã gia tâm tìm kiếm nghĩa lý và điển tích, mà
điển tích cuốn Minh Thánh kinh của ta ra tiếng Quấc âm rành rẽ: lời nói êm
ái, thanh lịch, gọn gàng và thuần hậu, chẳng có chỗ nào là giọng đỏn đưa, pha
lững, cho nên ta lấy làm khen ngợi lắm. Đệ tử hãy mướn xuất bản, in cho
nhiều mà kỉnh tống khắp nơi, đặng cho thiên hạ tụng niệm, biết rõ những điều
của ta khuyên lơn mà làm theo, biết rõ những điều của ta răn he mà chừa cải.
Làm đặng như vậy thì thỏa lòng ước vọng của ta biết là dường nào!
Những lời Thánh Ngôn trong cuốn kinh của ta rút lại có hai chữ là Khuyến
Trừng mà thôi; (Khuyến là khuyên lơn việc làm lành, Trừng là răn he việc
làm dữ) bởi vậy cho nên ta chẳng cần chi mà phải đặt lời tựa cho dài lắm.
Nầy là lời Tựa.
16
VÕ ĐẾ MINH-THÁNH-CHƠN-KINH
-oOo-
MỖI KHI CHÚNG TA MUỐN TỤNG KINH, THÌ:
1. Phải: trai, giái, mộc, dục trước, và mặc quần áo mới
2. Trên bàn thờ phải sửa dọn cho tinh khiết và vọng: hương, đăng,
hoa, quả và trà.
3. Phải giữ trạng mạo cho nghiêm trang, cung kính, rón rén. Trong
nhà phải giữ việc lẳng lặng, không nên xao động. Phải định tâm,
định chí cho bình tịnh, chẳng nên xao lãng, chẳng nên lo ra.
Trong lòng phải chí thành, chí tín và trong trí phải tưởng tượng
“Có Đức QUANG- THÁNH-ĐẠI-ĐẾ hiện tại nơi trước mặt
chúng ta”.
4. Phải xông trầm hương cho lên khói
5. Thắp ba cây hương. Đứng ngay trước bàn thờ, xá bốn lần. Rồi
quỳ xuống, dưng hương lên ngay giữa trán. Khẩn cầu lầm thầm
trong miệng. Khẩn cầu xong rồi, thì đứng dậy cặm hương vào
chính giữa lư cho ngay ngắn. Cặm hương rồi, thì lạy bốn lạy, xá
bốn xá, lạy rồi, thì quỳ xuống đọc kinh. Đọc kinh, thì đọc cho rõ
ràng từng chữ, đọc cho xuôi câu, xuôi vận.
***********************************
LỜI DẶN: Kinh đã diễn Quấc âm, đọc cho liền câu, liền vần, nghe hay lắm. Kinh nầy
trích sao từ trang bên trái từ THẾ HỆ PHỔ CỦA ĐỨC QUANG-THÁNH-ĐẾ-QUÂN)
17
QUANG-THÁNH-ĐẾ-QUÂN KHAI TÂM
-oOo-
THÔNG MINH THẦN CHÚ:
(Phàm tụng kinh trước tiên tụng thần chú 3 lần, 3 bái)
Thiên chi huyền tinh, Địa chi huyền tinh
Thần chi huyền tinh, Quỷ chi huyền tinh
Trợ ngã nhứt thân vạn khiếu thông linh
Trù năng thức phá hổn độn lý
Thường giữ Thiên Địa đồng chơn thể
Trù năng thức phá hổn độn khiếu
Thương giữ Thiên Địa đồng chơn diệu
Nam Đẩu lục tinh, Bắc Đẩu thất tinh
Thất Khúc khôi tinh, Cửu diệu hương linh
Tốc trợ ngã than, Nhã phụng chí Thánh, chí Thần luật lịnh.
***********************************
18
BÀI SỚ CẦU ĐỨC QUANG-THÁNH ĐẠI-ĐẾ
(PHẢI ĐỌC LÚC KHAI KINH)
-oOo-
(Lạy bốn lạy, rồi quỳ xuống đọc câu sau nầy:
Kính lạy Đức Quang-Thánh Đại-Đế:
Lạy bốn lạy, rồi đọc luôn).
Khí cả lẫy lừng mây bạc;
Lòng son sáng suốt vầng hồng.
Giúp mối chánh rạng ngời tín nghĩa, oai dậy chín Châu;
Trọn tiết lành vẹn vẻ trung trinh, linh soi ngàn thuở
Trừ tà, dẹp (1) Giặc, đời đời tạc để công cao;
Cứu (2) thế, dạy dân, chốn chốn, kính vâng lời báu.
Vận sánh chín trùng vững đặc;
Đức nhuần trăm họ bình an.
Nay đệ tử kính thành cầu nguyện;
Xin Cao Minh chứng chiếu tất lòng.
Ngày nay là ngày.........tháng.........năm...........
19
Tôi tên là............................niên canh.............tuổi.........................
Xin cầu............................................................................................
Khấn hứa giữ trọn đời;
Quy y theo Đạo Thánh
Nhập đạo hằng ngày trì tụng, lời Thánh linh thuộc lấy làm lòng.
Minh kinh giốc dạ doãn cầu, nẻo huyền diệu ghi vào trong trí.
Lần bước vào đường chơn chánh;
Tấm lòng cầu đặng sáng soi.
Ngữa trông lượng Thánh từ bi, chở che đức cả;
Bao xiết phận hèn ngu mụi, nhuần gội ơn sâu.
Cẩn cáo.
(Lạy bốn lạy. Đứng dậy xá bốn xá, rồi đọc bài phía sau nầy).
***********************************
(Bài sớ nầy đọc miệng lúc khai kinh. Hoặc là viết bằng giấy vàng, vái
rồi đốt khi khai kinh cũng đặng)
CHÚ GIẢI:
(1) Đời Tam Quấc ba anh em Trương Giác. Trương Bửu và Trương Lương luyện phép tà thuật,
quy tụ binh ma, rồi làm giặc: Trên thì phản nghịch với Triều đình, dưới thì phá hại nhân dân; sanh
linh đồ khổ, chết oan vô số. Giặc nầy xưng hiệu là giặc Huỳnh Cân. Triều đình và mười tám nước
20
chư hầu không làm chi nổi. Triều đình sai đức Quang Thánh đến...Huỳnh Cân, iêu quỉ thấy Ngài
xuất trận, chánh khí chói lòa, thì chúng nó khủng khiếp, biến hóa mất hết. Ngài trừ an giặc Huỳnh
Cân mà cứu hộ nhân dân. Lúc ấy các nước chư hầu tôn Ngài là Phục Ma Tướng Quân.
(2) Thuở nay Đức Quang-Thánh Đại- Đế cứu hộ nhân dân nhiều lắm. Ngài có đặt kinh Giát thế và
Minh Thánh kinh mà dạy đời tu nhân theo việc: Hiếu, Để, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Tiết.
BÀI THỈNH ĐỨC CHÂU-ĐẠI-TƯỚNG-QUÂN
-oOo-
(Lạy bốn lạy, rồi quỳ xuống đọc câu sau nầy
Lời sắc tặng đức Châu-Đại-Tướng-Quân,
Dốc lòng làm lễ Thánh Linh
Lạy bốn lạy, rồi đọc luôn).
Danh Dõng Tướng cửa Trời lừng lẩy;
Oai Mãnh Thần mặt đất dọc ngang.
Đường đường tướng mạo phi thường, mặt đen môi đỏ;
Lẩm lẩm hình dung cổ quái, râu sắt, răng ngần (1)
Người thảy kiên vì kỉnh tiết;
Lòng thường vẹn giữ tinh trung
Việc dữ lành hết sức khảo tra;
21
Cõi trần thế ra công giám soát.
Ngời ngời oai hiển hích;
Chốn chốn bước du tuần.
Trừ loài gian, sẵn dạ thương dân;
Tru đảng ác, dày công cứu thế
Ai trung thần ; ai nghĩa sĩ, phò trì cho thẳng bước hiển vinh ;
Bọn nghịch tử (2), bọn quai nhi (3), giận chém quách làm gương
trừng trị.
Nối bền giềng Thế Giáo (4)
Sửa chánh đạo Nhân Luân (5)
Hộ pháp quyền (6), giết sạch loài iêu ;
Dìu dân chúng, lần theo đạo cả (7)
Rất linh bấy một vì chơn Tể ;
Rất hiển thay một bực Thần Quân.
Thẳng ngay ủng hộ Quấc triều ;
Sắc phong Trung Dõng Đại Thần Thiên Tôn.
(Lạy bốn lạy. Đứng dậy, xá bốn xá, rồi đọc bài phía sau nầy).
****************************************
22
CHÚ GIẢI:
1. Răng ngần: Là răng trăng ngần như màu bạc.
2. Nghịch tử : Là con ngổ nghịch với cha mẹ, phá hại cha mẹ, đánh giết cha mẹ
3. Quai nhi : Là con hổn hào, nói hông lống với cha mẹ, mắn, chưỡi cha mẹ.
4. Thế Giáo : Là cuộc dạy đời về việc nhơn nghĩa.
5. Nhân Luân: Là quân thần, phụ nữ, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu, và nhơn nghĩa, lễ, trí, tin.
6. Pháp quyền: Là kinh, sám, luật, lệ, của đạo dạy thờ Trời Phật.
7. Đạo cả : Là đạo Chánh, Trời Phật truyền ra mà dạy chúng sanh cải tà, quy chánh, cải
ác, tùng thiện, đừng tin dị đoan, tà thuật.
BÀI THỈNH ĐỨC TRƯƠNG TIÊN ĐẠI ĐẾ
-oOo-
(Lạy bốn lạy, rồi quỳ xuống đọc câu sau đây:
Lời sắc tặng Đức Trương Tiên Đại Đế.
Dốc lòng làm lễ Thánh Linh
Lạy bốn lạy rồi đọc luôn).
Trong Quế Điện, cầm quyền chủ hạt (1 lạy);
Sao Văn Xương, bên tả hành cung (2).
Bảy mươi hai biến hóa pháp thân (3)
Trăm ngàn vạn kiếp căn vận số (4)
Giúp thiên hạ dài dòng con cháu;
23
Dạy nhơn gian biết lẽ chính tà.
Đeo bên mình: kim đạn, trúc cung;
Trừ mối hại: Cô Thần (5) Quả Tú (6).
Thương con nít tuổi còn thơ ấu, vệ thông quang (7) đổi đốt (8) tật nguyền;
Giúp đàn bà trong lúc sanh thai, hộ sản nạn, khỏi bề trắc trở;
Trí thông minh (9) càng lớn, càng thêm;
Bịnh ban trái (10) càng ngày càng giảm.
Con nuôi (11) khó, vái vang thì chẳng khó.
Bịnh lâu lành, cầu khẩn đặng mau lành.
Tiếng roi truyền: Đại Nguyện, Đại Bi;
Đời xưng tụng: Đại Từ, Đại Thánh.
Ngọc Hoàng hạ lịnh;
Kim sắc gia phong.
Cửu Thiên Phụ Ngươn khai hóa.
Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế,
Thất Khúc Dục Thánh Thiên Tôn.
(Lạy bốn lạy. Đứng dậy xá bốn xá rồi đọc bài phía sau nầy)
*****************************************
24
CHÚ GIẢI:
(Từ 1 - 4 không thấy chú giải)
5. Ngài khử trừ sao Cô Thần, là vì sao làm cho người ta phải chịu mồ côi.
6. Ngài khử trừ sao Quả Tú, là vì sao làm cho người ta phải bị vá bua
7. Ngài cứu con nít khỏi bị Quan Sát, tục kêu là Con Sát bắt.
8. Ngài cứu con nít khỏi đốt, đặng ăn chơi,hết èo uột
9. Ngài cho con nít càng ngày càng thêm trí khôn, đặng thông minh, trí huệ.
10.Ai bị bịnh ban, bịnh trái, hể cầu khẩn Ngài, thì Ngài cho lành mạnh.
11. Ai không có con, hễ cầu khẩn Ngài, thì Ngài cho có con. Con ai khó muôi, hể cầu khẩn Ngài,
thi Ngài cho dễ nuôi.
BÀI THỈNH ĐỨC VƯƠNG THIÊN QUÂN
-oOo-
(Lạy bốn lạy, rồi quỳ xuống đọc câu sau nầy.
Lời sắc răn đức Vương Thiên Quân
Dốc lòng làm lễ Thánh Linh
Lạy bốn lạy rồi đọc luôn)
Tước Trời chịu: Tiên Thiên Chúa Tường;
Sắc lịnh phong: Nhứt Khí Thần Quân
Quan Đại Linh tra xét khắp Trời;
Tướng Mãnh Liệt phân minh ba cõi.
25
Mắt vàng, tóc đỏ, quản trăm xe Thiên Hỏa, lôi công (1)
Miệng phụng, răng ngần, thống muôn đạo Âm Binh , Thần Tướng.
Cởi gió, lướt mây, ra oai sấm sét;
Xuống mưa, làm nắng, trị bệnh, trừ tà.
Vâng lịnh Ngọc Đế, mười hai niên (2) xét việc lỗi lầm;
Thề giúp Tổ Sư (3), trăm ngàn vạn, nên công đồ sộ.
Đời khen tài: chí dõng, chí cang ;
Người gội đức: cứu sanh cứu tử.
Nơi nơi đều mở dạy (4);
Chốn chốn thảy khai đàng (5).
Lòng son thương tạc chữ trung lương;
Hộ pháp cứ trừ loài yêu quái.
Sắc Trời phong chức:
Vương Thiên Quân Thái Ất,
Lôi Thinh Ứng Hóa Thiên Tôn.
(Lạy bốn lạy. Đứng dậy xá bốn xá, rồi đọc bài phía sau nầy).
*****************************************************
CHÚ GIẢI:
1. Ông Vương Thiên Quân cai quản Thiên Lôi, làm mưa, làm nắng, làm gió, làm dông, làm sấm,
làm sét. Ngài đánh đuổi tà ma, trị bịnh, cứu kẻ sống, vớt các linh hồn.
26
2. Mười hai niên là 12 niên tuế, chi tuế. Loài người ta đều thống về 12 chi tuế là: Tý, Sửu, Dần,
Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Đức Ngọc Hoàng sai Ngài tra xét những việc
lỗi lầm của loài người ta trong cả thế gian.
3. Đức Ngọc Hoàng sai Ngài theo hầu Đức Quang Thánh Đại Đế, đặng giúp Đức Quang Thánh
Đại Đế. Về việc trừ tà ma, trục quỷ mị, trị tật bịnh cho chúng sanh và phò hộ thiện nam, tín
nữ, trong cơn tai truân, kiểng mạng. Ngài đã cứu độ chúng sanh vô số.
4. Ngài lo giáo hóa chúng sanh, việc can thường, luân lý. Ngài khuyên lơn chúng sanh tránh xa
đạo Dị Đoan, khoa Tà Thuật.
5. Ngài thường khai đàng dạy Đạo. Ngài thường giáng cơ bảo việc tiến trình cho các thiện nam,
tín nữ, và chỉ phương trị bịnh cho các thiện nam, tín nữ.
BÀI THỈNH ĐỨC QUANG THÁNH ĐẠI ĐẾ
-oOo-
(Lạy bốn lạy, rồi quỳ xuống đọc câu sau nầy:
Lời sắc tặng Đức Quang Thánh Đại Đế
Dốc lòng làm lễ Thánh Linh
Lạy bốn lạy rồi đọc luôn).
Oai Thần tốt bực, văn, võ, gồm hai;
Tiết cả lẫy lừng, trung, trinh, vẹn một.
Cơ nghiệp sánh ngôi Trời đồ sộ;
Ân đức nhuần đạo Cả rộng truyền.
27
Đạo nho, đạo Phật, đạo Tiên, đạo Giáo thuộc một tay thống chưởng (1);
Cõi Trời, cõi Người, cõi Đất, Tam Tài gồm muôn mối quyền hành(2)
Trên xem xét Trời ba mươi sáu cõi, lớn, nhỏ, các sao (3)
Dưới gìn giữ Đất bảy mươi hai Châu, U Min, khắp chốn (4)
Cầm sổ sanh quyền thưởng phân minh: Người công đức điểm Sơn thêm tuổi
thọ;
Giữ bộ Tử oai hình nghiêm trọng: kẻ độc gian nét Mực giảm ngày xuân.
Khảo soát khắp: nào Thần, nào Phật (7);
Giảm chế cùng; các Thánh, các Tiên (8)
Chứng minh người thiện quả, phước duyên (9);
Phổ độ kẻ tu chơn, dưỡng tánh (10)
Ngàn thuở tiếng: chí Linh, chí Thánh:
Muôn nước truyền: chí thượng, chí tôn.
Phục Ma Đại Đế, Quang Thánh Đế Quân,
Đại Bi Đại Nguyện, Đại Thánh Đại Từ,
Chơn Nguơn Hiển Ứng Chiêu Minh Dực Hớn Thiên Tôn.
( Lạy bốn lạy. Đứng dậy xá bốn xá rồi khởi sự đọc kinh sau nầy).
********************************************
28
CHÚ GIẢI:
1. Đức Quang Thánh Đại Đế thay mặt cho vì Thượng Đế mà cai quản đạo Nho, đạo Phật và đạo
Tiên.
2. Ngài cai quản trên Trời, dưới Thế Gian và dưới Âm Phủ.
3. Ngài Cai quản 36 cõi Trời và hết thảy Tinh Tú lớn nhỏ.
4. Ngài cai quản 72 Châu dưới mặt Đất và các cõi U, cõi Min.
5. Ngài cầm Sổ Sanh và định việc ĐầuThai. Người nào tu thân theo việc Hiếu, Để, Trung, Tín,
Lễ, Nghĩa, Liêm, Tiết, thì Ngài đem tên người ấy vào Sổ Son, rồi Ngài ban thưởng cho người
ấy hoặc là việc sống lâu, hoặc là việc sang, hoặc là việc giàu và Ngài cho con thảo, cháu hiền.
6. Ngài giữ bộ Tử. Người nào tới số thì Ngài sai quỷ sứ đến bắt hồn dẫn đến Phong Đô Đài. Ngài
xét ra, như người ấy phước nhiều, tội ít, thì Ngài lưu người ấy lại tại xứ Phong Đô, rồi cho đi
đầu thai làm bực phú quý, hay là bực tầm thường. Người nào không có tội, mà có phước
nhiều, thì Ngài bổ đi làm Thần, làm Tiên. Người nào có tội, thì Ngài giao cho vua Thập Điện
tùy tội hành phạt. Người nào ăn ở, bất hiếu, bất nghĩa, bất trung, độc ác, gian giảo, xảo trá,
tham tàn, bất nhơn, thất đức, thì Ngài ghi tên vào Bộ Mực. Như tội lớn, thì Ngài giết ngan,
khỏi đợi tới số. Như tội nhỏ, thì Ngài bắt phải chịu tật bịnh liên miêng, bị tai nạn, khốn khổ.
Ngài có quyền cho kẻ chết sống lại. (Xin đọc trương thứ 9,công việc của Trương Đại Mỹ, phía
sau hình Năm Ông).
7. Ngài xét công quả của những người tu hành, rồi Ngài xin chức Phật, hoặc là chức Thần cho
những người có công quả lớn.
8. Ngài phong chức Tiên, chức Thánh cho những người có công đức lớn.
9. Ngài chứng minh đủ hết những việc phước duyên, thiện quả của người ta.
10. Ngài phổ độ hết những kẻ tu chơn, dưỡng tánh.
29
MINH - THÁNH - KINH
PHÂN RA LÀM BA CUỐN:
* CUỐN THỨ NHỨT LÀ: GIÁNG BÚT CHƠN KINH
* CUỐN THỨ NHÌ LÀ: ỨNG NGHIỆM ĐÀO VIÊN MINH THÁNH KINH
* CUỐN THỨ BA LÀ: ĐẨU KHẨU VƯƠNG THIỆN, KHÂM PHỤNG HỚN
THẤT, HỚN THỌ ĐÌNH HẦU, QUANG THÁNH ĐẠI ĐẾ SẮC MẠNG
30
CUỐN THỨ NHỨT LÀ:
QUANG – THÁNH – ĐẾ – QUÂN
GIÁNG BÚT CHƠN KINH
-oOo-
( Là Kinh của Đức Quang-Thánh-Đế-Quân giáng cơ viết ra)
*****************
(Lạy bốn lạy rồi quỳ xuống đọc câu nầy:
Vâng lời Giáng Bút chơn kinh(1); kính đem quốc ngữ điển thành một
chương.
Lạy ba lạy rồi đọc luôn).
Triều Đại Hớn, tước Quang Thánh Đế; sắc dụ cho trần thế rõ, hay.
Trên đời lắm việc rủi, (2) may; May, nhờ một điểm lòng hay chơn (3),
thành.
Chơn, thành, có Thần Minh ủng hộ; gian, hung, Trời đoản thọ đừng
than.
Đế (4) ra phò tá Hớn bang; Chí đồng kết nghĩa Lưu (5), Trương (6); ba
người.
Vườn Đào nguyện, ngàn đời còn tạc (7); Hội Đơn Đao (8), Bỉnh Chút (9)
lưu danh.
31
Ngụ Tào (10), đi ở, phân minh; Nuốt Ngô (11), vì Hớn, bỏ mình quản
chi.
Ngọc Hoàng cảm Đế (12), vì trung cảnh; Sắc phong Ngài tuyên(13) lịnh
đòi nơi.
Thần thông dạo khắp dưới Trời; Nào trung nào nịnh, xét soi rõ ràng.
Kìa, những kẻ tham, tàn, gian, xảo; Hản ngày sau quả báo rành rành.
Trước răn trong bọn học hành: Sau răn: quan(14) hoạn(15) dân, binh,
một lần.
Thứ nhứt: Chớ phụ ân cha mẹ; ra ngoài đừng hiếp kẻ xóm làng.
Cựu giao (16), chớ luận hèn, sang; Cũng trong năm đấng Đạo hằng dám
sai.
Nền phước thiện, hằng ngày vun quén; Trời chẳng cho tật bịnh, tai
truân.
Tào Mạng độc, hiểm, quá chừng; Âm min đương chịu khổ hình biết bao
(17)
Đức Gia Cát Vỏ Hầu trung nghĩa; khắp U, Minh, đảnh lễ nơi nơi.
Lòng ngay đặng hưởng phước Trời; càng gian xảo lắm, càng tai họa
thường.
Tội lỗi, sáng dường gương Nhựt (18), Nguyệt ; chẳng vị ai, Trời, Đất,
công bình.
Dẩu là nhi, nữ, chớ khinh (19). Đến đâu Quỷ sợ, Thần kiên nể mình.
***************************************
CHÚ GIẢI:
1. Đức Quang Thánh Đế Quân giáng bút đặt kinh nầy. Người ta thỉnh cơ. Ngài nhập vô cơ
viết ra.
2. Người nào gian dảo, tham lam, độc hiểm, hung ác, thì gặp việc rủi ro, việc nhục nhuốc luôn
luôn.
3. Người nào ngay thẳng, hiền lành, công bình, hay sợ tội, hay làm việc phước luôn luôn.
32
4. Là Đức Quang Đế
5. Là Ông Lưu Bị
6. Là Ông Trương Phi
7. Khi Ông Lưu, Ông Quang và Ông Trương vào Vườn Đào tế cáo Thiên Địa, kết làm anh em
với nhau đặng cứu khổn, phò nguy, thượng báo quấc gia, hạ an lê thứ, thì làm lời nguyện như
vầy: “Bất cầu đồng niên, đồng ngoạt, đồng nhựt sanh, chỉ nguyện đồng niên, đồng ngoạt,
đồng nhựt tử’’. Ông Thánh Tháng phê rằng: “Thiên cổ minh thơ đệ nhứt kỳ ngữ”.
8. Ngô Tôn Quờn đòi Kinh Châu Đức Quang Đế không chịu trả. Tôn Quờn biểu Lổ Túc thi kế
hại Đức Quang Đế. Lổ Túc mời Đức Quang Đế qua Đông Ngô phó hội.
Ngài chịu đi. Quang Bình và Mã Lương cản. Ngài trả lời rằng: “Chỗ một ngàn mũi giáo đâm
vô, một muôn lưởi gươm chém tới, tên áp bắn như trời mưa, tướng xông đánh như sấm dậy, ta
một người, một ngựa xốc vào, lui tới tung hoành, thi như là chỗ không có người ta vậy. Nay ta
há sợ bầy chuột bên Đông Ngô hay sao? Quả nhiên Ngài đơn đao phó hội, bên Đông Ngô
điều kinh tâm, tán đởm; không ai dám làm chi Ngài hết. Ngài rạng danh về việc đơn đao phó
hội nầy lắm.
9.Khi Ngài thất thủ Hạ Bì, Ngài phò Nhị Tẩu qua Tào, Tào Tháo gian hiểm để cho Ngài và
Nhị Tẩu ở chung một nhà nhỏ hẹp, nó lập kế ấy trông cho chị em loạn luân với nhau. Nếu
Ngài trúng nhằm kế của nó thì Ngài không dám trở về với ông Lưu, phải ở lại làm tướng cho
nó. Mỗi đêm nó và Trương Liêu cũng đều rình coi cho tới sáng. Thì đêm nào cũng như đêm
ấy, Ngài cũng ra trước hàng ba, nó đều thấy Ngài đứng trước cửa, đốt đuốt đọc kinh Xuân
Thu sáng đêm, nó thấy như vậy luôn luôn trót cả năm trời, thì chúng nó thất kinh, nói Ngài là
Thần. Đoạn nó
dọn nhà cho Ngài ở riêng cho đến khi Ngài đi qua Hà Bắc. Công việc của ba ông kiết thệ tại
Đào Viên, việc Ngài đơn đao phó hội và việc Ngài bỉnh chút đạt đáng đã gần 1800 năm nay
rồi, mà thiên hạ còn nhắc nhỡ khen ngợi.
10.Khi Ngài nghe tin Ông Lưu ở Hà Bắc, thì Ngài lo ơn đền, nghĩa trả xong xuôi rồi hết, Ngài
phó Nhị Tẩu thẳng qua Hà Bắc.
11. Đến sau, Ngài muốn nuốt hết nước Ngô, đặng thâu giang sang đêm về nhà Hớn, rồi Ngài
bị tiểu kế của Lữ Mông mà quy Thần.
33
12. Là Đức Quang Đế
13. Kiểm soát cả trên Trời, dưới thế gian và chốn Âm phủ.
14. Quan Văn, Quan Võ.
15. Quan lo việc xử đoán
16. Anh em kết nghĩa với nhau trong lúc hàng vi, bây giờ mình giàu sang, người ta thì nghèo
hèn, mình phải giữ thỉ chung như nhứt, không nên phụ bạt.
17. Tào Tháo thuở trước gian hung, xảo, trá, độc, hiểm, hung, ác, tàn nhẩn, sáng ngôi vua khi
chư hầu giết oan sanh linh vô số. Nó chết đã gần 1800 năm rồi, mà đến nay nó còn bị hành
hình dưới âm phủ, chưa đặng đi đầu thai. Người đời cũng nên noi gương đó mà giữ mình.
18. Những việc tội lỗi của chúng ta phạm tại dưới thê gian nầy, nó chiếu sáng lên trên Trời
cũng như là mặt nhựt, mặt nguyệt vậy. Thánh, Thần đều thấy rõ hết.
19. Ở đời đừng nên xảo trá, chẳng nên gian tham của ai một mảy chi hết, chẳng nên phỉnh
phờ, gạt gẫm ai hết. Thậm chí cho tới mấy đứa con gái khờ dại, mình cũng chẳng nên phớm
phỉnh, gạt gẫm, dổ dành chúng nó. Mình ở đặng như vậy, mình đi tới đâu, thì Quỷ cũng sợ
mình, Thần cũng phục mình.
Lập mưu kế dỗ dành gái sắc; vợ con mình người ắt dâm ô (1)
Gian, tham, lường gạt, giựt đồ; bạc, bài, đĩ, điếm, có mô đặng giàu (2)
Khoe hay, giỏi, tranh nhau mãi mãi; gặp nghèo, hèn, hủy hoại thường thường.
Mau mau xét, nghĩ, kỹ can ; Đừng đừng dông ruỗi xuống hang sâu hoài.
Ba kiếp phải luân hồi hèn hạ (3); ngàn năm người nhục mạ khóc than.
Làm quan ngòi viết độc, gian; Lưỡi như gươm bén giết oan cả nhà.
Giận bảy đứa đờn bà lan (4), độc (5); thói điêu ngoa (6) mạ nhục họ hàng (7)
34
Hiếp chồng xỉ mạ gia (8), nương; Đế (9) vừa ngó thấy giận càng xiết bao!
Xảy, tượng đất huơi đao nghiêm xử; Mẹ con vươn một lưỡi đứt hai (10)
Mừng cho thảo (11) thuận mấy người; gạo mang, củi gánh, hôm mai phụng
thừa (12)
Hóa ngựa đất gió đưa Tống Chúa (13); muôn dặm đường cứu hộ cùng quân
(14)
Muốn cầu trường thọ, nuôi con; phải mau giái sát, lại còn phóng sanh.
Loài trâu, chó, bao đành sát hại; Thịt không ăn, thì khỏi ngục tù (15)
Vâng theo lời Đế (16) dặn dò: Gặp cơn hoạn nạn Đế(17) phò hộ ngay
Đế (18) ngự đến dẹp bầy iêu quỷ; Dấu đao quang, sấm dậy, máu (19) trôi.
Trăm chiều giúp nước chẳng dời; công dày, tước cả, ơn Trời vẻ vang.
Trải đời đặng: giàu, sang, thạnh, vượng; sống lâu mà khỏi vướn tai nàng.
Ai mà: xuôi, ngược, trá gian; Lòn cân, tráo đấu, gạt đoàn dân ngu.
Trên Dương Thế chẳng cho tái (20) phục; Dưới A Tỳ hình lụt siết van (21)
Lúc chừ hết kịp ăn năng; Khá mau vâng chịu khuyên răn mọi điều.
Hồi tâm lại, chớ theo việc ác; Gắn sức ra, làm các sự lành.
Mấy lời Đế (22) dạy đành rành; Khuyên lơn trăm họ phụng hành, chớ khinh.
(Đọc tới đây thì đứng dậy lạy bốn lạy, rồi đọc kinh phía sau nầy).
******************************************
35
CHÚ GIẢI:
1. Hể mình lấy vợ, lấy con gái của người ta, thì Trời trả báo cho mình, khiến kẻ khác lấy vợ của
mình, lấy con gái của mình, chẳng khỏi đặng đâu.
2. Mấy người gian giảo, tham lam, kiếm thế lường gạt của người ta, giựt của người ta, Trời, Đất,
Thánh, Thần, chẳng hề khi nào dung tha. Bợm bài gian, bạc lậu và mấy người đờn bà lường gạt
của đờn ông, mấy chú đờn ông lường gạt của đờn bà, bọn nầy làm sao mà ăn đời cho đặng, làm
giàu cho đặng! Bất tảo tắc vãng phải tàn mạc hết, lại con cháu phải trả nợ!
3. Ác thú (hèn hạ). Là đầu thai làm đuôi, cuồi, câm, ăn mày, điên, du côn, ăn trộm, ăn cướp. Hoặc là
đầu thai làm chó, heo, trâu, ngựa vân.Vân…
4. Lan là lan tâm, cẩu hạnh (lòng lan, dạ chó), là đàn bà đụng ai lấy nấy, gìa chẳng bỏ, nhỏ chẳng
tha, không biết nhục nhuốt, thúi tha. Thành như loài thú.
5. Là độc hiểm, hung ác, hết biết việc tội phước, việc gì cũng dám làm hết.
6. Điêu ngoa là cái miệng chành chạch, nói rỗng rãng bể nhà, bể xóm, nói hồ đồ, hổn độn. Nói thêm
thừa: dộng đầu xuống đất, trở cẳng lên trời. Ngược xuôi tráo chát; việc có nói không, việc không
nói có.
7. Họ hàng là trong vòng bà con gần xa, trong cánh họ.
8. Cha, mẹ chồng.
9. Đức Quang Đế.
10. Đời nhà Tống có một người đờn bà tên là Nguơn Thị xằn xịu lắm, hổn hào lắm, ai thấy nó cũng
ghê. Nó ăn ở độc hiểm, hung ác, ai thấy nó cũng sợ. Bửa nọ, trong nhà có
khách đầy nhà, mà nó mắn chưỡi mẹ chồng nó, không chừa một chỗ. Mẹ chồng nó thấy có khách,
xấu hổ, gắn gượng nói lại một hai tiếng cho bớt nhục. Nó nói sao bả dám trả lời lại, một tay nó
bồng con, một tay nó xách cây đánh bả. Ai cản cũng không đặng. Bả vụt chạy ra đường. Nó tuốc
rượt theo . Bả chạy trước và la và khóc. Nó chạy sau, miệng thì chưỡi, tay thì cầm cây đánh tới.
Hai người chạy ngan tới trước Chùa Đức Quang Đế. Thình lình, Thần Tượng của Ngài bằng đất
xách siêu chạy ra chém mẹ con. Thị Nguơn đứt ra làm hai khúc.
11. Ngài thấy ai hiếu thảo với cha mẹ, thuận hòa với anh em, chị em, Ngài thương và vui mừng.
12. Ngài thấy ai dưỡng nuôi cha mẹ, siêng năng, lo làm ăn, cần kiệm, thiệt thà, thì Ngài thương,
Ngài thấy ai hủy bạt cha mẹ, làm biếng ở không, chơi bời, lường gạt thiên hạ, thì Ngài ghét.
13. Đời nhà Tống, Kim Phiên qua xâm lăng Trung Quấc luôn luôn. Vua Huy Tông truyền ngôi
cho Thái Tử. Tân quân xưng hiệu là Khâm Tông. Kim Phiên qua bắt Huy Tông, Khâm Tông và
Triệu Khấu (là em của Khâm Tông) đem về Bắc. Nó cầm tù Huy Tông và Khâm Tông tại Ngũ
Quấc Thành. Nó giao Triệu Cấu cho Ngột Truật làm con. Triệu Cấu lén trốn về Tống. Ngột Truật
36
dẫn binh theo bắt lại. Triệu Cấu thầy Ngột Truật đi gần tới, thì hoảng hốt, liền nhảy xuống sông
Huỳnh Hà mà tự vận. Bổng chút Đức Quang Đế làm phép lạ hoá ra một con ngựa bằng đất
choTriệu Cấu cởi, rồi làm gió bay người và ngựa về tới Trung Quấc,Triệu Cấu về tới nước, thì
Đình Thần tôn lên làm Vua, xưng hiệu là Cao Tông. Vua Cao Tông cải Quấc hiệu là Nam Tông,
rồi dời đô qua đất Trương An.
14. Cũng trong lúc cứu Triệu Cấu, Đức Quang Đế hóa ra một trận dông đưa hết quân binh gia
của Triệu Cấu về đất Tống.
15. Ai muốn cầu việc trường thọ, ai muốn cầu việc nuôi con, thì phải cử việc sát sanh, hại vật; lại
phải phóng sanh loài thượng cầm, loài hạ thú và loại thủy tộc. Ai không ăn thịt trâu, thịt chó, thì
tránh khỏi việc ngục tù trên Dương Thế và dưới Âm Phủ.
16. Là Đức Quang Đế
17. Là Đức Quang Đế
18. Là Đức Quang Đế
19. Chúng ta thờ Ngài cho thành kỉnh, khi chúng ta bị tà ma quỷ mị, phá hai, hể vái Ngài, thì Ngài
sẽ đến khử trừ tà ma, quỷ mị. Ngài làm sấm nổi, chớp dăn, Ngài giết chúng nó máu trôi như mưa.
20. Chẳng cho đầu thai làm loài người ta trên Dương Thế.
21. Bắt hành hình tại ngục A Tỳ luôn luôn, làm cho đau đớn van xiết.
37
CUỐN THỨ NHÌ LÀ:
QUANG –THÁNH – ĐẾ – QUÂN
Ứng-nghiệm Đào-Viên Minh-Thánh-Kinh
-oOo-
Đức Quang Thánh Đế Quân cho ông Thiền Tăng tại chùa Ngọc Tuyền Sơn
nằm chiêm bao học thuộc kinh nầy. Khi ông Tăng tĩnh giấc, thì lật đật lấy bút
chỉ chép lại y nguyên, không sai, không sót chữ nào hết.
Kinh Ứng-nghiệm Đào-Viên Minh-Thánh phân ra làm 15 đoạn, đặng cho
các Thiện Nam và các Tín Nữ dễ hiểu các sự tích. Đoạn nào thì nói theo công
việc của đoạn nấy, phân biệt và rành rẽ lắm.
Xin đọc cho kỹ càn. Mục đích của đoạn ấy in toàn chữ nằm mà đậm.
***********************
ĐOẠN THỨ NHỨT.- Chỉ các điều ích lợi về việc Sao lục, việc Ấn tống và
việc Trì Tụng Đào-Viên-Minh-Thánh-Kinh.
(Lạy bốn lạy rồi quỳ xuống đọc sau nầy:
Quang-Thánh-Đế-Quân Ứng nghiệm Đào-Viên-Minh-Thánh(1).
Lạy ba lạy rồi đọc luôn)
.
38
Tước Hớn Thọ Đình Hầu, nhà Hớn (2); kinh Đào Viên đặt nhón dõi
truyền.
Chơn Thần giáng hạ Ngọc Tuyền (3); đêm thanh ứng mộng cửa Thiền
đại tăng (4)
Rằng: “Kinh, điển, muôn, ngàn, có thảy; Minh-Thánh-Kinh chưa thấy
ban hành.
Đặng Tăng phải nhớ rành rành,: chép truyền Trần Thế, chớ khinh làm
thường.
Vọng bàn, vái, thắp hương, tụng niệm; phước lành kia ứng hiện tới liền
(5)
Ai mà sao, tống, ấn, truyền; ắc là bịnh hoạn, tật nguyền cũng qua (6)
Kinh nầy phụng trong nhà, kính lễ; iêu quỷ kia hóa bụi xa bay (7)
Tàu, thuyền, thờ, tụng, kinh nầy; gặp cơn sóng gió hãng rày bình an (8)
Người hành khách thường mang kinh ấy; trải dặm trường mạnh giỏi
không lo (9)
Xem kinh, mấy kẻ học trò; thang mây nhẹ bước, sớm cho gặp thời (10)
Đờn bà biết phụng thờ kinh ấy; sanh năm trai, hai gái thành thân (11)
Nếu vì kẻ Thát niệm thường; vong hồn lên chốn Thiên Đường (12)
Làm con biết gìn câu hiếu, kỉnh; phụng kinh nầy, thành tín trước sau.
Vì cha, vi mẹ, khẩn cầu; Thung Huyên, ắc đặng sống lâu, phước dày
(13)
Năm, ba biến, thường ngày trì tụng; hoặc trăm, ngàn, tiếng, cũng thêm
(14) hay.
***************************************
39
CHÚ GIẢI:
1.Nhơn sao mà cuốn kinh nầy đặt hiệu là ứng nghiệm Đào Viên Minh Thánh Kinh? Ứng nghiệm là
cảm ứng linh nghiệm vô cùng. Ai vưng thi hành theo những lời trong kinh nầy dạy, thì khẩn cầu việc
gì đều đặng việc nấy, chẳng sai. Đào Viên là chỗ ba ông kết trọng nghĩa với nhau. Chữ Minh nghĩa là
tỏ rạng như mặt nhựt., mặt nguyệt vậy. Phải giữ tấm lòng cho trong sạch, phải sáng láng như mặt
nhựt, mặt nguyệt. Chữ thánh nghĩa là thông suốt mọi việc. Giữ cho vẹn toàn chữ Trung, chữ Hiếu ,
thì cũng đặng thành Thần, thành Thánh. Chữ Kỉnh nghĩa là kính lòng, răn lòng, đừng tham, đừng
dâm. Giữ cho trọn tám chữ: Hiếu, Để,Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Tiết.
2. Đức Quang Đế lãnh tước Hầu ăn lộc đất Hớn Thọ Đình của nhà Đại Hớn.
3.Chùa Ngọc Tuyền lập trên núi Ngọc Tuyền Sơn, là chỗ Đức Quang Đế, khi hiển Thánh, về kêu Hòa
Thượng Phổ Tịnh, biểu ráp đầu lại cho Ngài
4. Đại Tăng, là Đức Huệ Năng. Trong Thiền Môn tôn Ngài làm Đệ Lục Tổ Sư.
5. Bất câu là ban ngày hay ban đêm, tắm rửa sạch sẽ, thắp hương tụng kinh nầy. Mà cầu việc chi, thì
có Kiết Tinh cũng chiếu tức thì . Cầu việc gì, đặng việc nấy.
6. Tên Thế Mỹ bị tật hai con mắt, nghe lời đọc kinh nầy và in kinh nầy kỉnh tống, cách vài tháng hai
con mắt đặng sáng. Tên Minh Tân Huấn bịnh nặng gần chết, vợ con Va trì tụng kinh nầy mà cầu
nguyện. Lòng chí thành thấu tới Đức Quang Đế. Ngài cho Minh Tân Huấn lành bịnh và sống thêm
một kỷ.
7. Tại xứ Giang Tây có nhà của Quan Ngự Sử Diễn Diên Vỉnh bi Hồ Ly Tinh phá tán. Gia quyến
Quan Ngự Sử phải bỏ nhà đi ở chỗ khác. Quan Ngự Sử mắt ở kinh. Gia quyến Quan Ngự Sử nghe
đồn kinh nầy kinh nầy linh nghiệm, bèn trai, giái, mộc, dục, trì tụng kinh nầy mới đặng hai ngày, hai
đêm, thì nghe có tiếng nói ran rãng trên lầu như vầy: “Đại Đế ngự đến kia kìa, chúng ta phải mau
mau bỏ chỗ nầy, nếu diên trì, thì không toàn thân mạng . Từ đó về sau trong nhà bình an vô sự.
8.Ông Trương Kiến Chương bị bão giữa biển. Nước vô gần đầy thuyền. Ai nấy kể chắc phải chết.
Trương Kiến Chương lấy kinh ra trước mũi thuyền và đọc và kêu Đức Thánh Đế. Chưa đặng vài phút
đồng hồ, thì thấy Đức Quang Đế đến chỉ một cái thì dông tan, biển lặng ; nội thuyền đều đặng bình
an.
9.Đi đường đem kinh nầy theo, thì khỏi sợ trộm, cướp, tật bịnh, cùng là ai làm thiệt hại chi hết.
40
10. Có mấy người học trò tên là Trương Xuân. Hoác Vị Nhai và Kim Hòa rủ nhau vào chùa Đức
Quang Đế cầu nguyện. Đêm ngày trì tụng Minh Thánh Kinh. Đức Quang Đế ứng mộng dạy ba người
làm bài. Trường Hương, Trường Hội và Trường Đình, ba người đều đậu cao. Đến sau ba người đều
đặng lên tới bực thượng thơ.
11. Đờn bà có thai trì tụng kinh nầy, thì tới ngày lâm bồn, đặng mẹ tròn, con vuông. Ai không có con,
tụng kinh nầy mà cầu con cũng đặng. Người phú hộ tên là Thiên Bảo, ở tại đất Quý Châu, đã trộng
tuổi mà không có con . Va buồn rầu than vãng luôn luôn. Nghe người ta điềm chỉ, thì Va và ba người
vợ trì tụng Minh Thánh Kinh. Cách chẳng bao lâu, ba người vợ thọ thai, đẻ năm một. Mỗi người sanh
đặng hai gái, năm trai, đến sau đặng thành thân cả thảy.
12. Uông Tinh Hư, ở Vũ Châu, trì tụng cảm Ứng Kinh và Minh Thánh Kinh mà cầu cho vong hồn
cha mẹ. Cách một năm, cha mẹ về ứng mộng cho Va biết rằng nhờ Va cầu nguyện mà ông bà đã đặng
về chốn Thiên Đàng.
13. Đức Quang Đế quý trọng những người hiếu thảo. Tên Đảnh Thần, của Va tới 50 tuổi mới sanh Va
ra. Khi Va có trí khôn thì Va trì tụng Minh Thánh Kinh mà cầu Thọ cho cha Va. Đức Quang Đế cảm
lòng hiếu, Ngài cho cha mẹ Va sống tới 90 tuổi và cho Va thi đổ Trạng Nguyện mười một năm, trước
khi cha Va mãn phần.
14. Mỗi ngày đọc hoặc là ba cuốn, hoặc là năm cuốn Minh Thánh kinh, hoặc là đọc mấy trăm, mầy
ngàn tiếng cũng đặng. Đọc nhiều chừng nào thì thêm phước chừng nấy.
Chư Thần nghe, đẹp, vui, thay; lại trong nhà cửa từ rày quang(1) minh.
Việc dữ, hóa việc lành, cũng chóng; phước, lộc thêm, thọ cũng thêm (2).
ĐOẠN THỨ NHÌ: - Đức Ngọc HoàngThượng Đế sắc mạng cho
Chư Thánh, chư Thần ban hành Đào Viên Minh Thánh Kinh khắp.
Trên vì Thái Thượng Lão Quân; cùng trong tam giái Chư Thần rất
linh.
41
Thần Ngũ Nhạc, Lôi Đình hiển hiện, Thần Ngũ Hồ, Bối Biển linh thông.
Đôi vầng Nhựt, Nguyệt Tây, Đông; Bắc, Nam, Đẩu, Tú, soi cùng nơi nơi.
Thành Hoàng khắp dưới Trời vâng lịnh; Thổ Địa trong muôn cảnh
nghe truyền.
Tướng Trị Ngoạt (3), tướng Trị Niên (4); Thần chuyên Trị Nhựt (5)
Thần Chuyên Trị Thời (6).
Hắc sắc Soái (7), đêm sai săn sóc; Hạo Khiết Binh (8), ngày trót xem coi.
Qua qua, lại lại, xét soi ; mỗi điều tin tế, chẳng sai phân hào.
Thần Gia Trạch hội vào chứng kiến; đức Táo Quân (9), cứ chuyện trực
trần.
Ai mà tụng niệm ân cần; hoặc trai, hoặc gái, tấu văn hay liền.
Hoặc ban những phước duyên, thọ, khảo; hoặc cho thêm con thảo, cháu
lành.
Muôn thần tấu đối Thiên Đình (10); dưới Trời đâu đó ba hành rất mau.
ĐOẠN THỨ BA:- Thuật nhón các công việc sanh bình của đức
Quang Thánh Đại Đế lâm phàm trong đời Hớn Tam Quốc.
Đế (11) vốn học Xuân Thu, Luận, Mạnh; sớm lảu thông Kinh Thánh,
truyện hiền.
Trước là Hiếu, Để, vẹn truyền; giữ mình, trị nước, bổn nguyên suy lần.
Xảy gặp lúc Huỳnh Cân (12) rối loạn; họa binh qua tứ hướng hại dân.
Mười năm siêu, giáp, liền than; chẳng an đêm ngủ, chưa tần bữa no.
Đánh dẹp lũ tặc đồ giông ruỗi; non sông vừa một buổi chia ba(13).
Râu, mày, điểm điểm tuyết pha (14); đao mòn, ngựa mỏi, sức đà kém
suy.
******************************************
42
CHÚ GIẢI:
1. Thánh, Thần nghe nhà nào đọc Minh Thánh Kinh thì vui mừng lắm; biết rằng nhà ấy có
người lo làm lành, lo tu hành; bèn đến phò hộ. Các Ngài đến thì có hào quang doanh phủ
chói sáng. Tại xứ Giang Tây có Ông Thạch Trung Phát đêm ngày đều ở trên lầu trì tụng
Minh Thánh Kinh. Ban đêm, trong xóm của ông , ai ai cũng đều thấy trên lầu của ổng hào
quang chói sắc đỏ lòm bốn phía, thì nghĩ rằng cái lầu ấy có iêu quái chi đó . Ai nấy đều
đến rình coi. Ban đầu thì còn sợ. Một chặp thì bớt sợ. Đến khi biết rõ rằng ấy là hào quang
của Thánh, Thần, đến chứng minh việc tụng kinh, thì ai nấy đều hết nghi là việc iêu quái.
Từ đó về sau, thiên hạ lấy làm trân trọng việc tụng niệm Minh Thánh Kinh lắm.
2. Nhà nào có xảy ra việc dữ gì, nếu tụng Minh Thánh Kinh mà cầu khẩn, thi, tức tốc, việc
dữ ấy hóa ra việc lành. Nhà nào trì tụng kinh nầy thì đặng việc Phước, việc Lộc và việc
Thọ.
3. Ông Thần cai quản Tháng.
4. Ông Thần cai quản Năm.
5. Ông Thần cai quản Ngày.
6. Ông Thần cai quan Giờ.
7. Đạo binh Hắc Sắc Soái tuần du ban đêm.
8. Đạo binh Hạo Khiết Binh tuần du ban ngày
9. Ở trong nhà thì có Thân Gia Trạch là Đức Táo Quân soi xét mỗi việc lành, mỗi việc dữ,
rồi biên chép đủ hết, không sai, không sót một mãy.
10. Khi đờn ông, đờn bà, hoặc con trai, hoặc con gai, cúng tụng kinh nầy, thì Du Thần phải
mau lên chốn Thiên Đình tâu cho đức Quang Đế hay. Ngài sẽ ban hoặc là phước, hoặc là
thọ. Hoặc là Ngài cho con thảo ,cháu lành. Khi muôn Thần tấu đối cho Ngài rõ việc thiện,
việc ác, thì Ngài sắc mạng cho muôn Thần ban hành gấp gấp việc thưởng và việc phạt
cùng trong thế giái.
11. Ông nội Ngài truyền Kinh Xuân Thu cho ông thân Ngài. Ông thân Ngài truyền lại cho
Ngài, cho nên Ngài rành kinh nầy lắm. Ngài cứ theo đó mà xử thế . Lúc còn thiếu niên thì
Ngài đà thông suốt nghĩa lý Sách Luận Ngữ và sách Mạnh
Tử hơn người ta. Ngài cứ theo Luận Ngữ. Mạnh Tử và Xuân Thu mà tu thân, tề gia và trị
Quấc.
12. Nhà Đông Hớn, từ vua Hườn Đế và vua Linh Đế sắp về sau, vận nước càng ngày càng
suy vì, dị đoan càng ngày càng nổi lên, loạn tặc càng ngày càng mạng thế. Bọn Trương
Giác, Trương Bửu và Trương Lương, nổi lên xưng là Thiên Công, Địa Công và Nhân
Công tướng quân và xưng hiệu là Huỳnh Cân.
43
Chúng nó cử binh đánh với triều đình, làm cho nhân dân khổ đổ, chết oan vô số, dẹp tan
bọn Tả Tử, bọn Vu Kiết nổi lên dùng việc tà thuật, việc iêu quái phá hại nhân dân. Kế bên
Đông thì Tôn Quờn, bên Hà Bắc thì Viên Thiện nổi lên. Trong Triều thì Đổng Trát lộng
quyền, áp chế chư hầu. Tại Trường An thì Tào Tháo nổi lên. Lúc ấy binh qua thương tàn
dân mạng vô số, lấy làm thương tâm thảm khốc.
13. Đến sau nhà Đông Hớn chia làm Tam Quấc là Thục, Ngụy, Ngô. Tây Thục
thì về ông Lưu, Bắc Ngụy thì về Tào Tháo, Đông Ngô thì về Tôn Quân
14. Bị lao tâm và lao lực về việc nước, cho nên mới hơn bốn mươi tuổi mà tóc râu đều điểm
bạc.
Trãi gan ruột ra vì việc nước; Nguyện sắc, son, sau, trước, một lòng.
Huôn lao, kim ấn, hầu phong; Làu làu tiết, nghĩa, gan trung, giữa trần.
ĐOẠN THỨ TƯ:- Nói rằng đời nay có nhiều người làm tôi mà
mong lòng phản vua, có nhiều người làm con bội ân, ngổ nghịch với cha
mẹ; có nhiều người gian, tham, sàm, nịnh độc, hiểm, hung ác, tàn nhẩn,
bạo ngược, mà chẳng sợ Trời đất báo ứng. Khuyên ai nấy hãy nhớ rằng
mỗi việc lành, mỗi việc dữ, sớm muộn đều có thưởng phạt luôn luôn,
chẳng sai, chẳng sót một mảy.
Nay những lủ loạn thần, tặc rữ; lòng ngược, xuôi, độc, dữ, xiết chi.
Gian, tham, sảm, nịnh, nhiều bề; lập ra Đảng nọ, Đảng kia, tranh
cường.
Nào nghĩ đến cang thường, luân lý; nào kể chi Hiếu, Để , ngay, tin.
Nghinh ngang, mỗi việc hoành hành; nhiều điều tự đắc, nhiều lần cầu
may (1).
Ngôi vua tiếm (2) tói ngay bị hại; của cải tham, sắc gái càng mê.
Đem lòng độc, dữ, gớm ghê; biết bao tánh mạng chịu bề oan khiêng (3).
44
Chỉn tham việc nhản tiền khoái lạc; nào kiên chi tội ác về sau.
Thánh, hiền, xưa lắm công lao (4); chớ đem lòng trá gượng cầu hiển
vinh(5).
Kìa, mây (6) gấm, thủy tinh (7), rực rỡ; nọ, trăng trong (8), hoa nở (9),
tốt, tươi.
Mây tan, ngọc nát (10) rã rời; hoa tàn, nguyệt khuyết, vậy thời như
không.
Nếu chẳng biết dằng lòng giữ máy; như gươm linh bị gãy có khi (11).
Làm ngan, ở ngược , ra chi; gây nên oan nghiệt, bởi vì dể ngươi (12).
Vay, cũng chẳng mấy hồi phải trả; lâu, mau, thì thiên hạ đều hay (13).
Lẽ thường báo ứng đâu sai; đố ai ráp cánh mà bay khỏi Trời.
ĐOẠN THỨ NĂM:- Nói rằng ai làm lành thiệt tình và cho dày Công
phu, thì mới là đặng hưởng phước Trời. Thí dụ như quan văn, trước hết
phải dày công phu học hành, thì sau mới là đặng quyền cao tước cả. Thí
dụ như quan võ, trước hết phải có công chinh chiến, dư trăm trận nguy
hiểm, thì sau mới là đặng thăng tới tước công, tước hầu. Việc làm ruộng,
việc làm vườn, nếu không dày công cày bừa, vung quén, thì làm sao cho
có lúa, làm sao cho có trái cây? Cuộc kỵ nghệ, nếu làm dối dá, thì làm sao
cho có đồ vật dụng khéo léo, sắc sảo? Khuyên người đời phải thủ phận an
mạng, thuận thời, thính Thiên. Chẳng nên bôn chôn mà làm việc tội lỗi,
trái lòng Trời. Cứ làm việc lành luôn luôn , thì Trời sẽ thưởng phước.
Lúc vị ngộ, chờ thời mới phải; vui nghiệp thường, chớ trái mạng Trời
(14).
*******************************************
CHÚ GIẢI:
45
1. Đời nay thiên hạ hết biết tới can thường luân lý; hết biết tới Hiếu, Để, Trung, Tin, Lễ,
Nghĩa, Liêm, Tiết. Kiêu ngạo, phách phở, lập phe, lập Đảng. Muốn làm chi thì làm. Chẳng
kể ai ra chi hết. Hễ có thế thần làm việc gì đặng thì làm. Chẳng kể việc phước, việc tội,
chẳng sợ Trời Đất báo ứng.
2. Bọn Đổng Trát, Tào Tháo, Lữ Bỗ, tím ngôi vua, tham của cải, mê sắc gái.
3. Bị bọn nầy làm cho thiên hạ khốn khổ, chết oan nhiều lắm.
4. Các bực Thánh hiền đời xưa, ông nào cũng là bị chà xát tấm thân đáo đễ, rồi sau mới là
đặng hiển vinh trọn đời, lại danh tiếng còn bia trong thanh sử cho thiên hạ khen ngợi,
kính phục đời kia sau qua đời nọ. Như ông Thuấn bị cha thì hung dữ; mẹ ghẻ thì độc
hiểm, em một cha khác mẹ thì kiêu ngộ, ăn hiếp Ngài phải đi làm ruộng tại núi Lịch Sơn,
làm lò gốm tại xứ Hà Tân, đánh lưới tại cham Lôi Trạch đặng nuôi cha,nuôi mẹ ghẻ và
nuôi em. Đến sau vua Nghiêu nghe danh Ngài là người đại hiếu, bèn rước Ngài về mà gã
hai bà công chúa là Nga Hoàng và Nữ Anh cho Ngài, rồi nhường ngôi Thiên Tử cho
Ngài, Ông Y Doản phải làm ruộng tại đất Hữu Sang vua Thành Thang rước về làm quân
sư. Ông Lư Vọng đi câu cá tại Sòng Vị, vua Võ Vương, nhà Châu, rước về làm quân sư.
Đức Khổng Tử đi giảng Đạo và trước và sau 20 năm trời, khi thì bị vây nơi nước Khuôn,
khi thì bị thầy trò bị đói nơi nước Trần, khi thì bị đuổi nơi
nước Thái, rồi sau mới là đặng làm vạn đại đế sư. Ông Châu Hồng Vỏ phải đi chăn trâu
mướn rồi sau làm vua nhà Minh, phong là Minh Thái Tổ vân. vân…
5. Đã dày công lao khổ và lòng dạ hiền lương, thành thiệt, thì mới là đặng hưởng, cuộc vinh
hiển lâu dài. Nếu dùng mưu kế xảo trá, gian hùng, độc ác, mà cầu cuộc vinh hiển, thì mau
tàn mạc, lại con cháu bị hư hết.
6. Cũng như là đám mây ngũ sắc coi xinh tốt lắm.
7. Cũng như là thủy tinh chiếu ra đủ màu, coi đẹp con mắt vô cùng.
8. Cũng như là trăng trong mát mẽ, sáng láng vui vẻ.
9. Cũng như là hoa nở tốt tươi, coi xinh lịch lắm.
10. Rồi chẳng đặng bao lâu , đám mây gấm ấy tan mất, cục thủy tinh ấy bể mất, mặt trăng ấy
lặn mất, cái hoa ấy tàn rã hết.
11. Nếu chẳng biết dằng lòng, chẳng chìu theo mạng Trời, đụng đâu làm đó, không suy nghĩ,
không toán lợi hại, thì cũng như cây gươm cứng kia, ỷ nó chắc, rồi đụng đâu chặt đó, thì
có khi nó phải mẻ, phải gãy.
12. Ở đời, hễ làm phách, ỷ thị, gây ra việc thù oán thì bất tảo tắc vẫn phải bị tai bị hại.
13. Làm lành thì đặng phước, làm dữ thì bị họa. Có vay thì có trả luôn luôn; chẳng kiếp, thì
chầy đó mà thôi, sao sao cũng có.
46
14. Cuộc giàu nghèo, cuộc sang hèn, đâu đó đều có số Trời thảy thảy, chẳng phải là ai giỏi mà
đặng đâu. Nếu chưa gặp thời, thì phải an tâm mà chờ đợi, chẳng nên bôn chăn làm bậy
mà bị Trời phạt.
Thử xem trăm việc trong đời; làm mà dối dá, vật thời khó tinh(7)
Cây chẳng dưỡng, lá nhành không tốt; lúa dối trồng, bông hột nào
mong.
Văn thần trải mấy thơ công (2); võ Thần trăm trận; mới hòng hiển
vinh.
Đế vốn đấng trung tinh Nhựt, Nguyệt; trải muôn đời đại tiết Càn
Khôn(3)
Trời chẳng mòn, Đất chẳng mòn; còn Trời, còn Đất, hãy còn tánh linh
(4)
CÓ LỜI KỆ RẰNG:
Vì sao số Sáu hiệp ngôi Trời (5); Đế xuống phàm trần hộ khắp nơi.
Tuy khuất hình dung, Thần hiển ứng; oai phong lẫm liệt trải muôn đời.
ĐOẠN THỨ SÁU:- Chúng sanh phải biết rằng đức Quang Thánh Đại Đế
nguyên là Thần Châu Y ở trong cung Tử Vi. Ngài cai quản vì sao Văn
Xương và vì sao Võ Khúc. Ông Trương Tiên tu hành từ đời Huỳnh Đế
cho tới bây giờ, mà Trời chưa bổ đi làm chủ hạt chỗ nào, nay Đức Ngọc
Hoàng sai làm tùng thần cho Đức Quang Thánh Đại Đế. Ông Trương
Tiên lo phần việc phò hộ những con nít nhỏ; lo giúp mấy người tuyệt tự
cho có con, có cháu; lo phò hộ những đờn bà bi sản nạn, lo cứu những kẻ
47
bị quỷ phá, bị bịnh bang, bịnh trái. Ai có việc chi, hễ khẫn cầu Ông
Trương Tiên thì đặng bình an, dõng mạnh.
Kinh Minh Thánh tỏ lời răn dạy; khuyên chúng sanh cả thảy lóng nghe.
Cung Tử Vi, Thần Châu Y; Đế gồm Văn, Võ, hai vì đại (6) tỉnh
Trương Tiên chữa an dinh chủ hạt; sắc theo Ngài kiểm soát trần gian.
Hộ phò thiếu Nữ thiếu Nam; bọn hư khí huyết bặt điềm quế lang (7)
Tống sanh với sản nàng cấp cứu; mị yêu cùng chẩn, đậu, thương tàn.
Thắp hương, tụng niệm, cầu an; họa xây ra phước rõ ràng hiển linh.
Ai thờ Đế (8), lên hình, vẽ tượng; họa Trương Tiên, cung, đạn, hầu gần
(9).
ĐOẠN THỨ BẢY:- Dẫn sự tích đời Chiến Quấc thuở trước. Lúc ấy bảy
nước lớn là: Tần, Sở, Triệu, Ngụy, Yên, Hàng, Tề xưng là Thất Hùng,
tranh cường với nhau, làm cho lê dân đồ khổ. Nước Tần lấn lước, muốn
thâu phục chư hầu. Chư hầu không chịu phục, hóa ra giặc lớn, nhơn dân
bị chết oan vô số. Thấy vậy thì Trời sai Tử Vi Cung, lý Châu, Y Thần (đến
Tam Quấc là Quang Đế) lâm phàm cứu dân. Trời cho Ngài đầu thai vào
nhà họ Ngũ và đặt tên cho Ngài là Viên, tự là Tử Tư. Khi lớn lên, Ngài
học văn võ toàn tài rồi, thì Ngài đến tại ải Đồng Quang phá vỡ binh nước
Tần mà cứu các nước chư hầu khỏi nạn. Các nước chư hầu cảm ân đức
Ngài lắm, tôn Ngài là Minh Phủ Tướng Quân . Khi Ngài mãn kiếp nầy,
thì đức Ngọc Hoàng Thượng Đế phong cho Ngài chức Thần cai quản đất
Tiền Đường.
****************************************
CHÚ GIẢI:
1. Tinh là ròng, là khéo léo, chắc chắn, sắc sảo.
48
2. Thơ công là công thập niên đăng hỏa.
3. Tinh trung xung nhật nguyệt, nghĩa khí quán càn khôn
4. Còn Trời, còn Đất, thì đức Quang Thánh Đế Quân còn linh hiển, hết Trời, hết Đất, thì
Ngài mới hết linh hiển.
5. Trên cõi Thiên Đàng có tám vì sao lớn, làm chủ cai quản trên Trời, dưới Đất, dưới Âm
Phủ. Trong tám vì sao ấy đức Quang Thánh Đế Quân đứng vào số Sáu Tám vì sao ấy là:
Vì sao thứ nhứt : - Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Khung Cao Thượng Đế là Đức
Thượng Đế.
Vì sao thứ nhì : - Tầm Thinh Phó Cảm Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, Phật Quan Thế Am
Bồ Tát.
Ví sao thứ ba : - Cửu Thiên Ứng Nguơn Lôi Thinh Phổ Quá Thiên Tôn, là đức Thái
Thượng Lão Quân.
Vì sao thư tư : - Huyền Thiên Thượng Đế Kim Khuyết Hóa Thân Đản Ma Thiên Tôn, là
đức Bắc Đế.
Vì sao thư năm: - Cửu Thiên Khai Hóa Thất Khúc Văn Xương Tử Đồng Đế Quân, là đức
Khổng Tử. Bây giờ dưới thế gian tôn làm Văn Đế.
Vì sao thứ sáu : - Tam Giái Phục Ma Đại Đế Thần Oai Viễn Trấn Quang Thánh Đế Quân,
là đức Quang Đế. Bây giờ dưới thế gian tôn làm Võ Đế.
Vì sao thứ bảy : - Ngọc Hư Sư Tướng Kim Khuyết Tuyển Tiên Phủ Hựu Đế Quân Diệu
Đao Thiên Tôn, là đức Lữ Tổ (Lữ Đồng Tân).
Vì sao thư tám: - Tam Nguơn Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế Tam Cung Cửu Phủ Cảm
Ứng Thiên Tôn, là ông làm đầu mười tám nước Âm Phủ.
6. Đức Quang Đế quản vì sao Văn Xương Tinh và vì sao Võ Khúc Tinh
7. Quế Tử, lan tôn.
8. Đức Quang Đế.
9. Ai lên cốt, hay là vẽ hình đức Quang Đế mà thờ, thì phải lên cốt, hoặc là vẽ hình ông
Trương Tiên đứng hầu phía tay tả của Ngài.Tay trái của Trương Tiên cầm một viên đạn
bằng vàng; tay mặt cầm một cây cung bằng tre.
Trong đời Chiến Quấc phân vân; Trời sai Đế xuống cứu dân khỏi
nàn.
Ngọc Hoàng đặt tên sang Ngũ Tử (1); trải năm đời lịch sử Trung
Lương.
49
Ải đồng một hội tranh cường ; Đế tài Minh Phủ phi thường, ai đang
(2)?.
Cứu chư hầu khỏi mang nạn cả; ép Gian Tần rời rả lòng tham (3).
Sở Bình Vương tửu, hoang dâm; trung thần luốn bị miệng sàm oan
thay (4)
Quá quan khỏi nạn nầy một lúc; Đại cừu kia báo phục vừa xong (5).
Mấy phen Ngô, Việt, tranh hùng; đao binh rối loạn, chẳng không
ngày nào (6).
Lòng Thánh Đế Trời cao soi thấy; gương hiếu trung trải bấy nhiêu
đời.
Ngọc Hoàng hạ sắc sai Ngài; Tiền Đường cai quản, đêm ngày hộ dân
(7).
ĐOẠN THỨ TÁM:- Tới đời nhà Hớn, triều vua Huờn Đế và triều
vua Linh Đế, bọn gian tặc là Đổng Trát, Trương Giát, Tào Tháo, Tôn
Quờn, Viên Thiệu, nổi lên làm loạn với triều đình. Bọn tà thuật cũng
nổi lên phá hại nhân dân. Vì sao Tử Vi Cung, lý Châu Y Thần lâm
phàm một lần nữa đặng giúp nhà Hớn trong cơn tam phân đảnh túc.
Kiếp nầy Ngài đầu thai vào nhà họ Quang, là nhà đạo đức đã lâu đời.
Tới đời Hớn gian thần phe, đảng; đổi họ, tên, hạ giáng trần trung (8).
Ngựa Xích Thổ ấy Hỏa Long (9); đao Thanh Long cũng là rồng (10)
nước sanh.
Mày tằm vẽ phân minh Bát (11) Tự; mắt phụng thêm rực rỡ Song
Tình (12).
Râu Rồng năm khóm rành rành; trán Hùm chói rạng, Thiên Đình
oai nghiêm (13).
50
Thao lược đã sánh gồm Tôn Tẩn (14); cơ mưu càng so lấn Phạm tăng
(15).
Xuân Thu chí cả ai bằng ; giải lương quê quán vẫn tằng danh vang
(16)
Nhà đạo đức họ Quang dòng ; giống Sanh gặp đời Hớn thống phân
mang (17).
*************************************
CHÚ GIẢI:
1. Đời Chiến Quấc.Trời sai Ngài lâm phàm vào nhà họ Ngũ và đặt tên cho Ngài là Ngũ Viên,
tự là Tử Tư. Thuở trước Ngài đã luân hồi năm kiếp trung lương.
2. Ông Tử Tư văn võ toàn tài.Ngài đến tại ải Đồng Quang giãi cứu chư hầu khỏi nạn. Chư
hầu tôn Ngài là Minh Phủ Tướng Quân.
3. Ngài làm cho nước Tần lui binh.
4. Cha Ngài tên là Ngũ Xa làm tướng Quấc tại nước Sở. Anh Ngài là NgũThượng cũng làm
quan tại nước Sở.Vua Sở Bình Vương mê đắm tửu sắc cho đến nổi giựt vợ của Thái Tử
Mễ Kiến, là dâu của Vua. Ông Ngũ Xa can giáng hết sức mà Vua không thèm nghe. Vua
nghe lời của tên Phi Vô Cực sàm tấu, Vua bèn giết ông Ngũ Xa và ông Ngũ Thượng.
5. Ngài trốn qua nước Ngô. Lúc ấy Vua Sở Bình Vương đã chết rồi. Vua nước Ngô biết Ngài
khi trước tại Ải Đồng nên phong cho Ngài chức Nguơn Soái. Ngài cầm binh đánh nước
Sở đặng báo cứu cha và cho anh. Ngài quật thây Vua Sở Bình Vương lên, rồi Ngài đập
tan nát hết.
6. Kế nước Ngô và nước Việt giao chiến với nhau. Nước Việt thua. Ngài bắt đặng
Việt Vương Câu Tiễn. Vua Ngô Phù Ta không cho giết Câu Tiễn. Kế Ngài lâm bịnh. Ngô
Phù Ta dặn thăm Ngài. Ngài nói rằng : « Thắng Câu Tiễn hình như khô mộc, làm bộ bơ
đỡ, chưa nói đã cười, việc gì cũng nhiêm nhiểm, không giận, không buồn ; tướng đó là
tướng gian trá, độc hiểm lắm. Nếu bệ hạ không giết nó, thì ngày sau nó phẩn bội bệ hạ,
chẳng sai ».Ngô Phù Ta trả lời rằng : « Câu Tiễn tử tế với trẩm lắm,giết nó tội nghiệp ».
Ngài tâu rằng : Bịnh tôi nặng lắm, nay mai tôi phải chết. Khi tôi chết rồi, xin bệ hạ rộng
lòng cho phép con tôi gắn cặp tròng con mắt của tôi trên cửa Đông Môn . Cách ít ngày cặp
tròng mắt khô mất Kế Ngô Phù Ta tha Câu Tiễn về nước Việt. Câu Tiễn đem dưng mỹ nữ
tuyệt sắc là nàng Tây Thi và lễ vật quý báu vô số, Ngô Phù Ta lấy làm khoái lạc, bèn nói
rằng : « Lời của Tử Tư nói sai lầm lắm ». Cách vài năm Câu Tiễn cử bình phạt Ngô, Nó
51
bắt Ngô Phù Ta. Ngô Phù Ta năng nỉ, kể ơn nghĩa xin tha ».Câu Tiễn nói rằng : « Khi
trước tao giết cha mầy. Mầy bắt đặng tao. Mầy dại mầy không giết tao. Bây giờ tao bắt
đặng mầy, tao phải giết mầy ». Khi Câu Tiễn kéo binh tới Đông Môn, thì cặp tròng của Tử
Tư thình lình hiện ra và trừng qua, trừng lại. Câu Tiễn thấy vậy, thì tay xá lia lịa, miệng
cười và nói rằng : « Anh tiên tri thật giỏi lắm. Phải chi Ngô Phù Ta nghe theo lời anh, thì
tôi đã tiêu xương rồi ». Bởi cớ đó cho nên đời nay có lời Tục Diêu như
vầy : « Tác cao không sánh tuổi Bành ; cặp tròng xin gởi trước thành Ngô Vương ».
7. Khi mãn kiếp Ngũ Tứ Tư, thì Đức Ngọc Hoàng sắc mạng cho Ngài làm Thần tại đất
Tiền Đường đặng phò hộ nhân dân và sửa nước lớn, nước ròng cho đúng giờ, đúng
khắc.
8. Qua tới đời Hớn, vận nước si vi,gian thần nổi lên đông lắm, Đức Ngọc Hoàng sai vì
sao Tử Vi Cung lý Châu Y Thần lâm phàm một lần nữa, đặng giúp nhà Hớn trong cơn
tam phân đảnh túc. Ngài đầu thai vào nhà họ Quang. Kiếp nầy Trót cho Ngài diện
mạo đẹp đẽ lắm, lại sai con Hỏa Long xuống đầu thai con ngựa Xích Thố cho Ngài và
sai con Thủy Long xuống đầu thai Cây Thanh Long Đao (là cây siêu) cho Ngài.
9. Trời chọn Hỏa Long xuống làm con ngựa Xích Thố.
10. Con Thủy Long xuống làm cây Thanh Long Đao.
11. Trời lại vẽ trạng mạo cho Ngài như vầy; cặp chơn mày tằm như chữ Bát vẽ ngược.
12. Cặp mắt dài và kéo lên, như con mắt phụng.
13. Râu năm chòm như đuôi Rồng, trán tròn mà có lẵng như trán cọp.
14. Thao lược giỏi như Tôn Tẩn, đời chiến Quấc. Tôn Tẩn là học trò của ông Quỷ Cốc
Tiên Sanh. Ông gồm đủ lục thao, tam lược. Ông làm Soái cho nước Tề, Ổng cứu nước
Hàng; giải vây cho nước Triệu. Ổng giết Bàng Quyên tại đất Mã Lăng. Coi trong
truyện Phong kiến Xuân Thu, thì thấy ổng có tài nhiều lắm.
15. Phạm Tăng sinh đời Tần, cơ mưu giỏi lắm. Ổng giúp Hạng Vỏ đặng tranh thiên hạ
với Hớn Bái Công.
16. Đức Quang Đế lập chi theo Kinh Xuân Thu; Ngài quyết tịu binh gian đảng, hưng
phục Hớn thất. Ngài quê quán tại huyện Giải Lương, phủ Bồ Châu, tỉnh Sơn Tây. Cả
tỉnh ai cũng là biết Ngài văn võ toàn tài và gồm đủ: Hiếu. Để. Trung, Tín, Lễ, Nghĩa,
Liêm Tiết.
17. Ngài sanh nhằm đời nhà Đại Hớn bị suy vi.
ĐOẠN THỨ CHÍN:- Khi ngài còn nhỏ thì Ngài đã học văn võ đặng toàn tài.
Khi Ngài đặng 28 tuổi Ngài đi tìm vây cánh đặng giúp nước trong cơn bi loạn.
52
Đi tới Trát Quận vào Vườn Đào Ngài kết bạn với ông Lưu Bị và ông Trương Phi
rồi ba anh em lo việc khuôn phò Hớn thất.
Nhỏ du (1) lịch, lớn làm quan; anh hùng bốn biển giang sang .
Lo chi thiếu: trảo nha, huynh đệ; vào Vườn Đào bỗng thấy hai người.
Hình dung kỳ dị khác vời; non sông đâu (2) tá, là nơi anh hùng?
Oai mãnh liệt, lạ lùng Trương Tướng ; đường đường thay, khí tượng Lưu
Hoàng.
Nay mừng gặp chúa phi thường; nước Thiên Hà (3) rữa đảng gian có ngày.
Rồng, cọp, hội gió mây đã hãng; giết trâu đen, ngựa trắng, lễ (4)phô.
Nguyện cùng cao (5), thẳm (6), biết cho; anh em kết nghĩa khuôn phò Hớn
bang.
ĐOẠN THỨ MƯỜI:- Ông Lưu, Ông Quang và Ông Trương, đương lo dẹp
loạn, công danh chưa thành tựu, mà ba anh em đã bị tản lạc tại đất Tứ Châu.
Đức Quang Đế phò Nhị Tẩu qua ở đậu cùng TàoTháo. Khi Ngài nghe chắc tin
ông Lưu ở Hà Bắc, thì Ngài ơn trả, nghĩa đền, minh minh, bạch bạch, rồi Ngài
tạ từ Tào Tháo phò Nhị Tẩu, lướt qua năm ải, thiên nguy, vạn hiểm, mà đi qua
Hà Bắc tìm Anh.
Huỳnh Cân (7) phá, Đổng (8) tan, Bố (9) giết; Không Dinh (10) lầm chước
quyệt Tào Mang.
Từ Châu gặp lúc chia tan (11); cánh hồng man mác, xe loan dắt dìu.
Ngọn đuốc thiêu mưa sâu Văn Viễn; dòm vách coi: nghĩa vẹn Vườn Đào.
*******************************************
53
CHÚ GIẢI:
1.Khi Ngài lớn lên Ngài học văn chương xuất chúng, võ nghệ siêu quần. Ngài cưới bà Hồ Thị.
Khi Ngài có hai người con trai rồi ( là Quang Bình và Quang Hưng) thì Ngài thưa cùng cha
mẹ rằng: “Ngày nay gian thần nổi lên, trên thì áp chế vua, dưới thì làm cho nhân dân đổ thán.
Lại tứ phương phong khởi, thương tàn dân mạng vô số. Con đã có người kế tự đặng phụng sự
ông, bà, cha, mẹ. Nay con xin phép ra đầu quân, đặng khuôn phò nhà Hớn”. Ngài đi dọc
đường gặp một ông thầy coi tướng đứng nhìn sửng Ngài mà nói rằng: “Tướng quân hấp
chánh khí của Trời Đất nó đã châu lưu cùng cả thân thể, cho nên đến sau tướng quân đặng
cho thiên hạ tế lễ muôn thu. Hà Tất là Tướng quân phải lo lập công danh, sự nghiệp mà làm
gì”.Ngài đi ngan qua một xóm kia. Ngài nghe nhân dân van khóc van răn. Ngài đứng dừng lại
hỏi thì tên Hoàng Thủ Nghĩa và khóc và lạy Ngài, mà nói rằng: “Tại Tào Quận có tên Lữ
Hùng kết phe đảng với bảy cánh hạ, rồi ỷ thế mạnh mẻ, cướp phá thiên hạ, hãm hiếp vợ con
người ta, giết chết người ta đã nhiều, mà không ai dám nói tới. Xin ông kiếm thế cứu chúng
dân, kẻo tội nghiệp”. Ngài nghe nói chưa dứt lời, thì Ngài nổi giận. Ngài biểu tên Hoàng Thủ
Nghĩa dắt Ngài tới đó. Ngài hỏi rõ ràng tự sự, quả quyết là đám hung tàn, bạo ngược, thì Ngài
ra oai giết hết đặng hại dân ấy. Quan quận Thú hay việc nầy, mời Ngài lại mà nói rằng: “
Đảng cường bạo ấy đông lắm, Tướng quân trừ đặng, là Tướng quân làm việc đại nghĩa. Tôi
thì không nói chi. E quan Thượng Ty hay đặng, thì Tướng quân phải bị ám sát nhân. Thôi,
Tướng quân trốn đi cho khỏi nạn”. Ngài lưu lạc gian hồ đến sáu năm; đến sau Ngài mới là
gặp ông Lưu và ông Trương.
2. Đâu tá là tiếng Bắc Kỳ, chỉ nghĩa là đâu, ở xứ nào.
3. Nước Thiên Hà là nước sông Huỳnh Hà. Có câu Huỳnh Hà chi thủy thiên thượng lai.
4. Lễ phô, là lễ vật. Sát bạch mã tế Thiên, tru bắt ngưu tế địa.
5. Cao là Thiên.
6. Thẳm là Địa.
7. Phá tan nát giặc Huỳnh Cân.
8. Lưu Hoàng Thúc mưu với Vương Doãn đặng giết Đổng Trát.
9. Lữ Bố chiếm đất Tiểu Phái, rồi giựt luôn đất Từ Châu. Lúc ấy ông Lưu làm Dụ Châu Mục.
Tào Tháo biểu ông Lưu đem binh qua Hạ Bì đặng hiệp lực nó mà công Lữ Bố bị bắt. Tào
54
Tháo muốn dụng nó làm Tướng. Ông Lưu nhắc việc Đinh Nguyên và việc Đổng Trát khi
trước cho Tào Tháo nghe thì Tào Tháo giựt mình bèn biểu dẫn Lữ Bố ra Bạch Môn Lầu
chém quách.
10. Ông Lưu chiếm Từ Châu, đức Quang Đế chiếm Hạ Bì. Tào Tháo trở lại đánh với hai ông.
Ông Lưu kéo binh qua cướp trại của Tào Tháo, té ra nó đã lén rút đi mất, bỏ trại không, rồi
lỏn hậu qua lấy Từ Châu.
11. Ông Lưu chạy ra Hà Bắc, ông Trương chạy lên núi Đảng Sơn. Đức Quang Đế phò gia
quyến của ông Lưu lên đồn thành trên một hòn Thổ Sơn. Lúc ấy ba anh em tản lạc, cũng như
là chim nhạn lạc bầy sợ đạn tránh tên vậy.
12. Đức Quang Đế phò Nhị Tẩu về Hứa Xương, Tào Tháo để cho Ngài và Nhị Tẩu ở chung
một nhà. Nó lập kế ấy trông cho chị em loạn luân với nhau, rồi đem vào đó và Trương Liêu
cũng điều lén dòm coi. Ngài muốn tỏ lòng tiết nghĩa của Ngài cho nó biết, thì đêm nào Ngài
cũng ra trước hàng ba đốt đuốt dọc Xuân Thu cho nó sáng. Ai hỏi thì Ngài nói rằng. Ngài nhớ
lời thề tại Đào Viên thuở trước cho nên Ngài ngủ không đặng. Nó thấy như vậy luôn luôn, thì
nó nói Ngài là Thần Nhân. Ngọn đuốt của Ngài thấu tới Trời. Vua Tự Đức có làm bài thơ
Bỉnh chút đại đàng như vầy : « Chước quỷ Tào Mang đục phá trong ; năm canh ngọn đuốt
chứng soi lòng.
Lửa ngời tiết nghĩa trong u ám ; đèn tỏ can thường lúc láng vong. Rực rỡ gan trung lòa mấy
tấm ; chứa chan mắt nịnh sập đôi tròng. Vườn dưa, cội lý, nào ai rõ; Khuấy rối diền nầy phải
gỡ xong ». Vua Tự Đức cũng có làm bài thơ Quang Công Cư Tào như vầy : « Tôi chúa đôi
phương cảnh quạnh hiu; vì tình nghĩa trọng phải thâu liều. Ơn Tào dẫu sánh ngàn cân nặng,
nợ Hớn còn mang một gánh triều. Đuốt ngọc canh khuya Trời một góc; vườn Đào nguyệt cũ
ruột trăm chìu. Hỏi ai muốn rõ nguồn cơn ấy; xin hỏi chàng Trương nỗi khúc khuyu ».
Thề hàng Hớn, chẳng hàng Tào ; tôi trung thờ chúa, lòng nào đổi hai (1).
Ấn Hớn thọ, quyết nài chữ Hớn (2). tiệc hoa diên thêm chén tình gian (2).
Lấy đầu hai Tướng Văn (4), Nhan(5) ; ở, đền ơn mới, về, toàn nghĩa xưa (6).
Kế về Bắc (7), bây giờ mới quyết ; tin Lưu Hoàng đã biết rõ nơi.
55
Vàng niêm rồi, ấn treo rồi (8) ; ba phen từ Tháo (9), mấy hồi nhớ Lưu.
Hộ xe chị, qua cầu, vượt ải ; tìm dấu anh, xuống bải, lên đèo.
Dặm ngàn vó ngựa buông theo ; lòng trung khí, nghĩa, rạng nêu mặt Trời
(10).
Năm ải dẹp, đòi nơi khói bụi ; sáu tướng vương một mũi đao rồng.
Bắc, Nam, ly hiệp anh hùng ; cổ thành (11) ai ngỡ trùng phùng anh em.
Trí quyết thắng, vẫn hềm mình thiếu ; tài kinh luân, phải triệu người ra (12).
ĐOẠN THỨ MƯỜI MỘT :- Khi ông Lưu, ông Quang và ông Trương sum hiệp
cùng nhau rồi, thì ba ông lên chốn Mao Lư cầu thỉnh ông Khổng Minh về làm
Quân Sư. Ông Khổng Minh muốn thử lòng ông Lưu coi ra thế nào, cho nên khi
thì Ngài ẩn mặt ; khi thì Ngài đi nhạo sơn, nhạo thủy ; khi thì Ngài làm bộ ngũ.
Ba ông hành thân cực khổ, đi đi, về về, lặn suối , trèo non, dầm mưa, dang
nắng, lên cầu cho tới ba phen. Thấy ba ông thiệt tình lắm, cho nên lần thứ ba
Ngài mới ra mặt. Ba ông bái quỵ, cầu lụy hết sức, cho nên Ngài mới là chịu ra
làm Quân Sư cho ông Lưu. Chớ Ngài đã biết trước rằng dẫu làm cách gì, thì
quy nhứt cũng chưa đặng, phải, tam phân đảnh túc mà thôi.
Mao Lư ba đội dãy xa ; rồng (13) nằm chưa dậy bóng đà gần trưa.
« Điềm trị, loạn, ai chưa sớm đoán (14) ; bình sanh ta trù toán không (15)
sai ».
« Giấc xuân, lều cỏ, vừa phai (16) ; trì trì bóng nhựt hiên ngoài lân la (17).
56
Đức Gia Cát chưa ra một bước (18) Số tam phân định trước đành rành.
Võ Hầu nguyên Quãng Huệ Tinh (19) ; Hớn tiền Nghiêm Tử, (20) Tống đình
Văn Công (21).
********************************************
CHÚ GIẢI :
1. Khi Ngài thất thủ Hạ Bì, bi vây trên Thổ Sơn,Trương Liêu ra dụ Ngài đầu Tào. Ngài không
chịu đầu. Có bài Ca Trù khen Ngài như vầy : « đức Thánh Quang Hạ Bì thưởng thấy Trương
Liêu ra dụ hàng Tào. Đức Thánh Quang rằng : Có lời giao, Tào có khứng để cho ta nghĩ :
Một là đừng lân la nơi đôi chị. Hai là hàng Hớn, chẳng hàng Tào. Ba là nghe ông Huyền Đức
ở nơi nao, dẫu ngàn dặm cũng tìm cho biết. Lời gắn vó, đinh ninh chí quyết, chẳng nghe ta, ta
cũng đục xông. So trong Tam Quấc anh hùng ». Tào Tháo chịu ba lời giao nầy, bèn rước Ngài
về Hứa Xương.
2. Khi đức Quang Đế về Hứa Xương Ngài ra mắt Thiên Tử. Tào Tháo tâu vua phong cho Ngài
tước Hầu và ban ấn vàng cho Ngài, đề bốn chữ Hớn Thọ Đình Hầu. Ngài không chịu lãnh ấn
và nói rằng : « đất Hớn Thọ Đình thuộc về của Thừa Tướng. Nếu tôi lãnh ấn thì chỉ nghĩa
rằng tôi làm tước hầu của Thừa Tướng, tôi làm tước hầu của nhà Hớn, cho nên tôi xin thêm
một chữ Hớn. Xin đúc ấn lại ». Tào Tháo bèn truyền đúc ấn, đề năm chữ như vầy : « Hớn
Hớn Thọ Đinh Hầu ».
3. Tào Tháo chưa biết Ngài là anh hùng khí cốt, kiên ư thiết thạch, cho nên nó dụng việc tước
lộc, việc tiền tài và việc tửu sắc mà dụ dỗ Ngài. Ba bữa thì nó đãi Ngài một việc nhỏ, năm ngày
nó đãi Ngài một việc lớn. Ít ngày nó cấp vàng, bạc, gấm nhiều cho Ngài một kỳ. Nó chọn mỹ
nữ ở hầu Ngài. Mỹ nữ thì Ngài sai vô hầu Nhị Tẩu. Vàng, bạc, gấm, nhiểu, Ngài không xài
tới.
4. và 5 . Nhan Lương và Văn Xũ là hai tên Tướng đại tài bên Hà Bắc.
6 .Hai tên Tướng nầy đến đánh Hứa Xương. Tướng của Tào đánh không lại chúng nó. Ngài phải
ra sức chém chúng nó đặng đền cho xong ơn trọng hậu của Tào Tháo. Ơn mới Ngài đền xong rồi,
thì Ngài đi tìm Ông Lưu và ông Trương cho toàn nghĩa xưa kết tại Vườn Viên.
7.Ngài nghe tin chắc ông Lưu ở Hà Bắc.
57
8.Ngài gói niêm kỹ càn những vàng, bạc, gấm, nhiễu, của Tào Tháo cấp cho Ngài thuở nay, Ngài
treo ấn lên giữa nhà, rồi Ngài vô tạ từ Tào Tháo mà về.
9. Tào Tháo cứ ẩn mặt hoài, Ngài vào ba phen mà không gặp nó, cho nên Ngài phải phò Nhị Tẩu,
lướt xông năm ải, thẳng qua Hà Bắc tìm ông Lưu.
10. Lòng nghĩa khí của Ngài chói rạng như mặt trời vậy.
11. Ngài đi tới Cổ Thành gặp ông Trương. Ngài để Nhị Tẩu ở lại đó. Ngài đi thẳng qua Hà Bắc
tim ông Lưu. Cách ít ngày ba anh em sum hiệp tại Cổ Thành.
12. Ngài cơ mưu, thao lược tuy là giỏi mặt đầu, nhưng mà vận trù, quyết sách, chưa đặng toàn
vẹn, cho nên phải đi tìm người thượng sĩ về làm Quân Sư.
13. Rồng nằm chữ là Ngọa Long. Ngọa Long, là đạo hiệu của ông Khổng Minh
14, 15, 16 và 17. Bốn câu nầy là bốn câu thi của Đức Gia Cát Vỏ Hầu thường ngâm giải khuây
trong chốn Long Trung.
18. Đức Vỏ Hầu chưa ra khỏi chốn Long Trung, là chỗ Ngài tạm lẻn tránh đạm bạc mà Ngài đã
đoán trước rằng : « thiên hạ phải chia ba mà thôi, chớ quy nhứt thống chưa đặng.
19. Đức Vỏ Hầu nguyên là vì sao Quảng Huệ Tinh ở trên Trời.
20. Đời Đông Hớn Ngài là Nghiêm Tử Lăng, Ngài chỉ cơ mưu cho vua Quang Võ dựng thành cơ
nghiệp, rồi Ngài mai danh, ẩn tích tại núi Phú Xuân Sơn. Đời Hớn Tam Quấc Ngài đầu thai
Khổng Minh Gia Cát Lượng.
21. Qua triều Nam Tống, đời vua Ninh Tông, Ngài đầu thai là Châu Hy. Ngài làm Quan ít năm,
Ngài hồi hưu về dạy học. Lúc Ngài ở Nga Hồ Ngài diễn chư Tứ Thơ. Đến sau Ngài về ở Lộc
Động Ngài giải nghĩa Ngũ Kinh. Đến sau Ngài đặng phong tước Châu Văn Công.
Luân hồi đã ba vòng Sư Tướng ; hết xuống Trần phối hưởng miếu giao (1)
Vạc(2), Lưu, chia bởi Ngô(3), Tào (4) ; giang sang dời đổi biết bao anh
hùng.
Lưu Hoàng ngự trong cung Thạch Phủ (5) ; Thánh Đế nay trấn thủ Thiên
Môn.
58
Tứ Xuyên Thảo Cốc (7) nhuần ân ; Hoàng Hầu trung nghĩa, làm Thần đến
nay (8)
Sau, đời Tống đầu thai Võ Mục (9) ; trước, đời Đường hiệu thục Thơ
Dương (10)
Ba triều trung, liệt, tiếng vang ; ngôi Thần Hộ Quấc Ngọc Hoàng sắc phong
(11).
Binh qua nhỏ vẫn không sai tướng ; nguy nàng to sẽ xuống cứu Trần (12).
ĐOẠN THỨ MƯỜI HAI :- Dạy thiên hạ giữ cho trọn chữ Trung, chữ Hiếu
và tu nhơn, tích đức. Đặng như vậy thì cũng là thành Phật, thành Thần,
thành Thánh, thành Tiên. Chẳng phải là tu trì, trường trai mà đặng thành
Phật . Vậy chớ các vị Cổ Phật lại mấy Trường.
Cho Hay chánh, trực, làm Thần ; Thành Hoàng(13) Tướng Tướng xây vần
xưa nay.
Cảm Trời, Đất, bởi dày Trung, Hiếu ; hiển Phật linh, há biểu trì trai (14)
Cần chi ăn, mặc, phí, xài ; tùy gia phong kiệm, chớ nài, chớ chê (15)
Cầm, thú, cũng thuộc về sanh mạng ; không việc chi nào đáng sát sanh
(16).
Cũng đều mạng sống như mình ; Trương Cung, bũa lưới, tầm quanh sao
đành.
Cây, cỏ, chớ phá nhành, bông trái ; trải Đông tàn, Xuân lại phát vinh (17)
Muôn loài Trời Đất hóa sanh ; theo thời sanh trưởng cũng in như người
(18).
59
Ai mà biết thương loài sanh vật ; phước nhóm về, họa ắt lánh xa (19)
Chớ rằng lành nhỏ bỏ qua ; chớ rằng dữ nhỏ, làm mà hại chi (20).
Việc ngay, vạy, lưới Trời khôn tránh ; định dinh, hư, Thần, Thánh đã (21)
lường.
Làm người gốc tại cang thường ; Hiếu, Để, Trung, Tín, Lễ, nhường sĩ,
Liêm.
Vâng lời Đế cứ làm việc phải ; cố mây lành che, đỡ, cho Mình (22)
***************************************
CHÚ GIẢI :
1. Tại phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, là quê hương của Ngài, triều đình có lập Miếu vỏ thờ
Ngài.Trước Miếu có chạm một đôi liễn trong cột đá như vầy : « Nga Hồ điển chú thừa Tiên
Thánh. Lộc Động truyền kinh khải Hậu Hiền ».
2. Giang sang của ông Lưu Bang, là Hớn Cao Tổ, gầy dựng thuở trước.
3. Bây giờ bị Ngô Tôn Quờn và bị Tào Tháo phân chia ra làm Tam Quấc.(chú giải câu 3 và câu
4).
4.
5. Nay Đức Chiêu Liệt Đế làm Thiên Thần, ở tại Thanh Hư Phủ, trên Trời.
6. Đức Quang Đế làm Nguơn Soái cai quản ba cửa Trời là cửa Đông, cửa Tây và cửa Nam.
7. Ông Trương Phi làm chức Thổ Cốc Thần tại xứ Tứ Xuyên.
8. Hoàng Hầu là tước của ông Trương Phi.
9. Đời nhà Tống Ngài đầu thai là Nhạc Phi, đặng phong tước Võ Mục Đế.
10. Đời trước, là đời nhà Đường, Ngài đầu thai là Trương Tuần, tự là Thơ Dương làm Nguơn
Soái.
11. Nay Ngọc Hoàng phong cho Ngài chức Hộ Quấc Thần.
12. Chừng nào dưới thế gian có giặc lớn lắm thì Ngọc Hoàng mới là sai Ngài xuống Trần nữa.
13. Các vị Tướng trung liệt, đến khi chết, đặng làm bực Thành Hoàng bổn cảnh.
14. Các vị Cổ Phật lại mấy ăn chay ròng.
60
15. Ở đời chẳng nên phách phở , xài phá, lòe loẹt, chưng dọn hực hở, khoe khoan, nói dổng, là vì
Trời, Đất, Thánh, Thần ghét lắm. Ở đời cứ khiêm cung, chẫm rải, thủ thường thì hay hơn ;
đặng bền bỉ hơn.
16. Như chẳng phải về việc tế tự, về việc đám tiệc chi lớn, thì chẳng nên sát sanh thú vật. Không
nên săn, bắn, chài lưới.
17. Vô sự thì chẳng nên phá hại cây cỏ.
18. Loài cầm thú, loài thảo mộc, cũng biết sợ chết, cũng biết muốn sống như người ta vậy ; vô sự
mà giết nó chết thì lấy làm tội nghiệp lắm.
19. Ai có lòng nhơn đức, biết thương loài cầm thú, loài thảo mộc, thì Trời cho gần việc phước, xa
việc họa.
20. Gặp việc lành nhỏ chẳng nên bỏ qua, là vì dẫu là việc nhỏ mọn thì cũng là việc lành. Hễ làm
thì Trời Đất ghi công cho mình. Gặp việc tội lỗi nhỏ nhen thế mấy thì cũng chẳng nên làm, là
vì dẫu nhỏ mọn cũng là một việc tội lỗi. Hoặc là đã ngộ, hoặc là nói chơi mà có điều xúc
phạm, thì cũng là việc tội lỗi. Hễ mình làm , thì Trời, Đất ghi tội cho mình. Mỗi việc đều có
biên chép, không sót một mảy.
21. Lưới Trời tuy u u, minh minh, thưa thớt, mặt dầu chớ chẳng có mãy lòng nào lọt qua khỏi
đặng. Mỗi việc lành, mỗi việc dữ, mỗi việc ngay, mỗi việc gian, Thánh, Thần đều biên chép
hết, không sót một mảy. Có Ngài hiện tại luôn luôn đặng thưởng việc lành và phạt việc dữ.
22. Đóa tường vân nhóm lại bên mình, là ban cuộc Phước, Lộc, Thọ
ĐOẠN THỨ MƯỜI BA :- Khi Đức Quang Thánh Đại Đế hiển Thánh trong
đời Tam Quấc rồi, thì Trời phong cho Ngài làm Nguơn Soái quản ba cửa
Trời , là cửa Đông, cửa Tây và cửa Nam. Cửa Bắc về phần Đức Ngọc Hoàng
cai quản. Khi chư Phật, chư Thần,chư Thánh, chư Tiên, muốn tâu đối việc
chi với Đức Ngọc Hoàng, thì phải do nơi Ngài trước hết. Bởi vậy cho nên,
Ngài biết rõ ràng những công việc dưới thế gian. Ai làm lành thì Ngài
thưởng phước, ai làm dữ thì Ngài gia họa. Vậy thì chúng sanh chẳng nên dể
ngươi, phải răn lòng, răn nết cho lắm mới đặng.
Cửa Trời Đế lãnh quyền hành, muôn Thần tấu đối Thiên Đình trước hay
(1)
61
Người đức, thiện, thêm bề quan tước ; kẻ độc,gian, hại ngược về sau (2).
Cho hay thiện ác đáo đầu ; làm lành gặp phước, mau, lâu, tùy thời (3)
Chớ tưởng Trời, không tai, không mắt ; việc tối tăm, nhỏ nhặt, đều hay.
Thờ Thần, kính trọng hằng ngày ; chẳng nên thất lễ, cợt lời, dễ khinh (4).
Khắp bốn biển kiền thành đảnh lễ ; tặng Đế là Trung, Nghĩa, độc tôn (5).
Tượng, hình, rạng giữa Kiền Khôn ; anh hùng như Đế, dễ còn mấy ai (6).
ĐOẠN THỨ MƯỜI BỐN :- Vì Thượng Đế ngự sắc phú thác cho đức
Quang Thánh Đại Đế kiểm soát cả thảy những việc thiện, những việc
ác,trong chốn phàm trần nầy.
Vâng Thượng Đế đặt sai ngự sắc : xét phàm gian thiện, ác,mỗi người.
Tinh trung Nhựt Nguyệt sáng soi : Đất, Trời nghĩa khí, trong ngoài tiếng
vang (7).
Lòng son thắm, mặt càng đỏ cháy ; khí nghĩa xung, râu lại thêm dài (8).
Anh hùng chánh khí tốt vời ; đuốc tàn , phá vách, cho ngời tiết cao (9).
Kìa tước lộc của Tào chẳng sá ; vàng niêm phong ấn đã treo rồi (10).
Đao rồng trăng dọi càng tươi ; hỡi anh em cũ, bao giờ gặp nhau !
Mày tằm chạnh, bấy lâu châu ủ ; non sông buồn lắm nỗi đổi dời !
Công danh trùm cả muôn đời ; tước quyền Nguyên Soái cửa Trời gia
phong (11).
62
Cúi đầu trước sân rồng phụng chỉ ; thể lòng trên Ngọc Đế ban hành (12).
ĐOẠN THỨ MƯỜI LĂM :- Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế sắc lệnh các bộ
Tướng Soái rãi truyền minh Thánh Kinh khắp cùng dưới thế gian cho chúng
sanh sao, lục, trì tụng, đặng học những việc Hiếu, Để, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa,
Liêm, Tiết và việc Nhơn Từ, Đức, Hạnh. Mỗi khi chúng ta tụng kinh nầy, thì
chúng ta phải thành tâm, tin tưởng như là có đức Quang Thánh Đại Đê ở
một bên chúng ta vậy. Ai vâng lịnh thi hành theo những lời trong Minh
Thánh Kinh truyền dạy, thì đặng vinh hiển, rực rỡ cũng như là trong mình
có đeo ngọc, phủ vàng vậy. Đức Ngọc Hoàng lại hạ sắc cho Thần cai quản
Sấm, Thần cai quản Lửa, Thần cai quản Gió và Thần cai quản Mưa bảo hộ
Minh Thánh Kinh cho vẹn toàn.
*****************************************
CHÚ GIẢI :
1. Đức Quang Thánh Đại Đế trấn tại ba cửa Trời. Mỗi khi Thánh, Thần, về Trời tâu đối việc gì,
thì Thánh Thần, phải do nơi Ngài trước. Cũng như là dưới thế gian, mỗi khi các quan lĩnh về
trào tấu đối việc gì thì phải do nơi Thừa Tướng trước đây.
2. Kẻ gian ác thì phải bị Trời hành : hoặc là Ngài gia tật bệnh miên triền ; hoặc là Ngài làm cho
tàn mạt, làm cho tuyệt tự ; hoặc là Ngài phạt tới đời con, đời cháu.
3. Mỗi việc lành, mỗi việc dữ, đều có thưởng phạt, nhưng mà mau, hay là chậm mà thôi. Lành
thì sẽ đặng thưởng, dữ thì sẽ bị phạt. Trời chẳng bỏ qua việc gì hết. Khuyên ai nấy đừng tưởng
rằng làm lành mà không gặp lành : Làm lành Trời ban phước luôn luôn, nhưng mà Ngài
chẳng ban cách nầy, thì Ngài ban cách khác.
4. Hễ vọng bàn mà thờ Thánh , Thần, thì trong lòng phải tin tưởng, cung kỉnh, cũng như là có
Thánh, Thần ở tại đó vậy, trước bàn thờ không nên ăn trầu, hút thuốc, ngồi dựa ngữa, ngồi
tréo mãy, hoặc là mặc y phục dơ dáy, hoặc cười giỡn, nói lớn tiếng, nói việc tục tĩu.
5. Khắp trong toàn cầu, đâu đó đều tôn kính đức Quang Đế về lòng trung, can, nghĩa , khí, của
Ngài.
63
6. Trong Trời đất chẳng có tượng hình nào đẹp đẽ xinh tốt, oai nghiêm, chánh sắc, lẫm liệc, như
là tượng và hình của đức Quang Thánh Đại Đế vậy. Bực anh hùng như Ngài mấy ai sánh kịp.
7. Việc trung, can, nghĩa, khí của Ngài đâu cũng đều đồn vang.
8. Bởi trong lòng đức Quang Đế chứa đủ Hiếu, Để, Trung, Tin, Lễ, Nghĩa, Liêm, Tiết, cho nên
cái mặt của Ngài đỏ chói, hàm râu của Ngài dài đuột.
9. Khi thất thủ Hạ Bì Ngài phò Nhị Tẩu qua Tào. Tào Tháo đem lòng độc hiểm, nó để cho chị em
ở chung với nhau một nhà, đặng cho lửa bắn rơm. Nếu Ngài trúng kế của nó, thì Ngài không
dám về với ông Lưu, Ngài phải ở lại làm Tướng cho nó. Mỗi đêm nó và Trương Liêu mỗi rình
coi. Đêm nào như đêm nấy, nó thấy Ngài đốt đuốc đọc Kinh Xuân Thu sáng đêm. Đêm nào rũi
hết đuốt, thì Ngài phá vách cho trống trải, để cho nó ngó thấy cho rõ ràng sự tiết cao của Ngài.
10. Khi Ngài nghe chắc chắn rằng ông Lưu ở Hà bắc, thì Ngài Niêm hết vàng, bạc, gấm, nhiễu
mà trả lại cho Tào ; Ngài treo ấn giữa nhà mà trả lại cho Tào. Rồi Ngài từ tạ Tào minh bạch,
phò Nhị Tẩu đi tim ông Lưu.
11. Bởi công danh và trung nghĩa của Ngài muôn đời không ai sánh đặng, cho nên vì Thượng Đế
phong cho Ngài làm Nguơn Soái coi ba cửa Trời.
12. Ngài cúi lạy vâng chịu sắc chỉ của Đức Ngọc Hoàng, đặng thống vạn thần chi xuất nhập,
chưởng nhân gian chi việc ác.
Hỏa Lôi Phong, võ, chư linh ; giúp người, sao, tụng, thiệt tình kính tin (1).
Vâng lịnh dạy tu nhơn, tích đức ; trải ngàn năm đeo ngọc, phủ vàng (2).
Vẹn toàn việc tốt dường gương ; nguy nga một cửa,vẻ vang ba đời (3).
Tuân Pháp Chỉ (4) mấy lời phán rõ ; nhóm Thần Tiên các bộ thi hành.
Hội đồng Cứu Khổ Đại Tiên (5) ; hiệp ngôi Thái Thượng (6) cùng điền Kim
Tinh (7).
Kiểm dượt tất, phân minh chú giãi ; chẳng (8) ai nên nghịch cãi, luận bàn.
Kinh nầy bốn biển rộng ban (9) ; giúp nên nước thạnh, dân an, lâu dài.
Tôi trung lương, ra tài giúp nước ; con thảo hiền giữ trước, như sau (10).
64
Thanh liêm vàng chẳng tham cầu ; tiết ngay vẹn vẻ, sợ đâu nguy nàng (11).
Lời Minh Thánh ngọc vàng thâm thiết ; chẳng nên khi là việc tầm thường.
Trung, Hiếu, Liêm, Tiết, bốn chương ; có lời Tam (12) Thánh tỏ tường giải
phân.
TRUNG CHƯƠNG
Trên Minh Quân ân cần lễ hậu ; dưới bầy tôi thờ chúa hết lòng.
Cơm vua, lộc nước, ngày dùng ; phải lo bổn phận lập công đền bồi.
Tôi trọn Đạo khuôn phò xả tắc ; Tướng công bình dìu dắt ba quân.
Chớ che việc lỗi văn Thần ; chớ đem công trạng Võ Thần lấp đi.
Điện Văn Hoa (13) chép ghi rành rõi ; cung Kiến Chương (14) tấu đối rõ
ràng.
Lòng son vầng Nhựt in ngang ; ngôi cao hảng đặng lên hàng Tam Công.
Kìa Tần Cối bất trung quá nổi ; hóa loài Muôn đền tội nhângian(15).
Nhạc Vương Võ mục trung cang; dự trong bốn Soái Thiên Đàng sắc phong
(16).
HIẾU CHƯƠNG
Làm con, trước thảo cùng cha mẹ ; thảo, thuận, là hai lẽ liền nhau
Khiến vui, chớ để buồn rầu ; no cơm, ấm áo, nỏ hầu đơn sai (17).
Lúc đau ốm, thuốc, thầy, kiểm điểm ; minh sắc rồi, miệng nếm, tay dưng.
65
Hôm mai, chầu chực, bân khuân; quên ăn, quên mặc, đỡ, nâng, đêm,
ngày(18).
Mầy hiếu, thuận, con mầy sẽ hiếu ; xem giọt mưa tiếp nhiểu trước hiên
(19).
*******************************************
CHÚ GIẢI :
1. Vì Thượng Đế phú cho các thần Lôi, Hỏa, Phong, Võ rãi Minh Thánh Kinh khắp cùng trong
thế gian, và phò hộ những kẻ sao, tụng và kính trọng, tin tưởng kinh nầy.
2. Ai cứ thi hành theo kinh nầy, thì đặng vinh hiên, rực rỡ như trong mình có đeo ngọc, phủ
vàng vậy.
3. Ai trau dồi tấm lòng cho trong sáng như gương, thì đặng giàu sang ít nữa là ba đời.
4. Là Chiếu Chỉ của đức Ngọc Hoàng Thựơng Đế.
5. Cứu khổ Đại Tiên là Phật Quan Thế Âm Bồ tát.
6. Thái Thượng Chơn Quân, là đức Lão Quân Tổ Sư Đạo Tiên.
7. Thái Bạch Kim Tinh là Đại Tiên Các Trường Canh
8. Kinh nầy đã có ba vị Đại Tiên nầy kiếm được, chú giải phân minh rồi, cho nên ai nấy không
nên nghịch cãi bàn luận chi hết.
9. Kinh nầy nếu ban hành khắp trong thiên hạ, thì nước đặng thạnh trị, dân đặng an cư, lạc
nghiệp.
10. Tôi thì hết lòng trung phò vua giúp nước con thì thảo thuận phụng sự cha mẹ.
11. Không ai tham lam, gian giảo của ai. Người mà giữ cho toàn vẹn tiết nghĩa, dẫu gặp cơn nguy
biến, cũng không nao, không núng; cũng trí tử mà giúp nước, cứu dân.
12. Tam Thánh là ba vi Đại Tiên đã kể trước đó.
13. Điện Văn Hoa là chỗ để lý lịch của các quan.
14. Cung Kiến Chương là chỗ để định việc thưởng công, phạt tội các quan.
15. Tần Cối độc ác, hảm hại trung lương, mại quấc, cầu vinh, phải bị đầu thai làm chó luôn luôn.
16. Ông Nhạc Phi bây giờ đặng dự vào chức Tứ Soái trên Thiên Đàng.
17. Làm con không nên ngỗ nghịch với cha mẹ,phải làm cho cha mẹ vui vẻ luôn luôn ; không nên
làm việc chi cho cha mẹ buồn rầu.
66
18. Đời nhà Hớn, vua Văn Đế thực là bực chí hiếu. Ngài phụng dưỡng mẹ Ngài là bà Bạt Thái
Hậu một cách cần mẫn, không ai sánh kịp: Tuy là làm bực Đế Vương mặc dầu, mà mỗi ngày
Ngài mỗi bổn thân săn sóc ba buổi ăn cho mẹ và mỗi đêm Ngài mỗi bổn thân quét giường, đập
chiếu, gối, dủ mùng, mền, cho mẹ. Mẹ Ngài đau trọn ba năm. Đêm, ngày, Ngài cứ chầu chực
luôn luôn: ăn không ngon bữa, ngủ không ngon giấc, áo không hở mình, chẳng nói lớn tiếng,
chẳng nhíp miệng cười. Mỗi thang thuốc, Ngài bổn thân sắc. Ngài nếm trước, rồi Ngài đỡ mẹ
dậy uống’
19. Khi trời mưa, hể giọt trước nhiễu chỗ nào, thì mấy giọt sau cũng cứ nhiễu theo chỗ ấy.
Đại Thuấn (1) hiếu, ngôi Vua truyền; hai mươi bốn thảo, đầu diền hiếu (2)
chương.
Cha mẹ sống, chẳng thương, chẳng dưỡng; để chết rồi, tế hưởng linh tiền.
Quân bất hiếu bị tai (3) khiên; hùm tha, rắn mổ, tật nguyền gớm thay.
Phép nước, bị: tù, đày, giam, vạ; lưới Trời thêm: thủy, hỏa, lôi hoanh (4).
Chết treo, chết chém, hủy (5), thân; những đồ bất hiếu Thánh Thần phải
răn.
Hãy gấp gấp, ăn, năng, chừa cải; nếu dần dà, theo mãi càng thâm (6).
Người đời ai khỏi lỗi lầm, lỗi mà biết cải, mới làm người khôn (7).
Người khôn giữ thần (8) hôn trọn đạo; mấy ngàn năm gương thảo vẫn còn.
Xử sao cho xứng phận con; rồi ra trăm nết vun tròn từ đây (9).
LIÊM CHƯƠNG
67
Liêm, khiết, khiến thường ngày kính, sợ; xét, xem tường, tránh sự hiểm
nguy(10).
Thánh, Hiền, an mạng là chi? Thung dung học lễ, học thì, mới mau (11)
Chi, Tề, ẩn, lúa Châu, chẳng sá ; Thú Dương còn mãnh đá lưu danh(12).
Giá cao sánh với ngọc lành ; chí dường sắt, đá, kiên trinh mọi bề (13).
************************************
CHÚ GIẢI :
1. Đời Ngũ Đế, ông Thuấn, là con của ông Cô Tẩu, bổn tánh rất thảo thuận, hiền từ, Ngài bị một
người cha hung dữ, một người mẹ ghẻ độc hiểm và một thằng em một cha khác mẹ tên là
ngươi Tượng, kiêu ngạo, hổn hào, mà Ngài cũng không than trách chi hêt. Ngài cứ giữ một
lòng thờ cha mẹ hiếu thảo và ở với em thuận hòa mà thôi. Lòng thảo của người trên thì thấu
tớiTrời, dưới thì thấu tới Đất, giữa thì thấu tới Người. Bởi vậy cho nên, khi Ngài làm ruộng tại
non Lịch Sơn, voi kéo tới cả trăm giúp công việc cày đất cho Ngài. Ngài làm ruộng chẳng bao
nhiêu, mà Ngài đặng lúa nếp vô số. Khi Ngài làm lò gốm tại đất Hà Tân, làm món nào cũng
nguyên món nấy ; không méo, không nứt, không bễ món nào hết. Khi Ngài làm lưới tại chằm
Lôi Trạch. Trời đất cho gió lặn, sóng êm, Ngài bắt đặng cá tôm nhiều lắm, Ngài làm đặng tiền
bạc bao nhiêu Ngài dưng cho cha mẹ ghẻ hết bấy nhiêu. Mệt mỏi thế mấy Ngài cũng không
than thở chi hết. Ngài có một điều là kêu vang xin Trời Đất xuôi khiến cho cha mẹ và em
thương Ngài mà thôi. Vua Nghiêu nghe đồn , bèn vời Ngài đến mà giao việc trị nước cho
Ngài, cấp chín Hoàng Tử cho Ngài đặng học việc hiếu nghĩa và gã hai bà Công Chúa là Nga
Hoàng và Nữ Anh cho Ngài làm vợ.Tuy là Ngài làm phò mã và làm chức phu chánh đại thần
mặc dầu, mà cha mẹ cũng còn hành tấm thân Ngài đáo đễ. Ngày kia cha Ngài sai Ngài lên sắp
nóc lẩm lúa rồi phóng hỏa, Ngài lập thế khỏi chết. Lúc nọ cha Ngài sai Ngài xuống vét giếng,
rồi vác đất lấp giếng, Ngài cùng lập thế khỏi chết. Chuyện nầy ngươi Tượng chắc rằng Ngài
phải chết. Nó bèn lơn tơn đi qua nhà Ngài đặng đoạt gia tài của Ngài và bắt hai người vợ của
Ngài mà làm vợ. Té ra nó qua tới nhà, thì nó thấy Ngài đương ngồi thảy đờn. Nó bắt sượng
sừng, nó kiếm lời mà nói rằng : « Lâu ngày tôi nhớ anh, tôi qua thăm anh ». Ngài đã thấu rõ
cơ quang, mà Ngài chẳng giận hờn chi hết. Ngài phụ chánh 28 năm, rồi vua Nghiêu truyền
ngôi cho Ngài làm vua đặng 61 năm và sống 110 tuổi.
68
2. Trong bức Nhị thập tứ hiếu thiên hạ để cho Ngài đứng đầu.
3. Bịnh hoạn, tai hại, khốn khổ.
4. Trời đánh.
5. Tự vận.
6. Tội càng nặng thêm.
7. Biết ăn năng, biết chừa, cải, thì cũng trở nên bực Quân tử, bực Hiền, bực Thánh.
8. Là sớm viếng tối thăm, nuôi dưỡng chi hiếu.
9. Việc Hiếu đặng đứng đầu trăm nết tốt.
10. Muốn giữ việc thanh liêm, việc trong sạch, thì mình phải răn mình, giữ minh, cho kỹ can,
đừng để hở việc chi cho người ta nghi nang mình đặng, cũng như là Đức Quang Đế bĩnh chúc
đạt đáng đặng tránh sự nghi nan vậy.
11. Các bực Thánh Hiền đều thủ phận, an mạng, thuận thời, thính thiên, cứ giữ mình theo kinh
lễ và kinh thi.
12. Ông Bá Gi và ông Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc. Khi vua băng thì triều đình cứ theo lời di
chúc mà tôn Thúc Tề lên ngôi.Thúc Tề nói rằng Thiên Luận chi trung bèn nhượng lại cho
anh. Bá Gi nói rằng Phu mạng vi tôn, không chịu làm Vua. Triều đình phải tôn người con
giữa vua Cô Trúc lên ngôi. Hai ông bèn dắt nhau qua nhà Châu làm tôi vua Văn Vương, là
người nhơn đức.Vua Văn Vương băng. Con Ngài là vua Võ Vương cử binh phạt vua Trụ vô
Đạo. Hai ông đón trước đầu ngựa mà cang rằng : « Cha chết chưa chôn, mà khởi động cang
qua sao gọi là con thảo ?». Tả hữu đòi chém. Ông Khương Thượng cản rồi biểu dắt ra cho
khỏi cổng binh. Hai ông hỗ thẹn, không chịu ăn lúa nhà Châu, lên núi Thú Dương ẩn dật. Hễ
đói thì hái rau khuyết vi mà ăn đỡ dạ. Có người nói rằng : « hai ông không chịu ăn lúa của
nhà Châu, mà rau khuyết vi cũng là mọc trong đất của nhà Châu, vậy. Hai ông nghe nói như
vậy thì nhịn đói mà chết. Thánh nhơn khen Bá Gi và Thúc Tề là Thánh chi thanh. Có bài thơ
khen hai ông như vầy : « danh chẳng tham, mà lợi chẳng mê ; kìa gang, hay sắt, hỡi Gi, Tề ?
Gặp xe vua võ, tay dừng lại .Thấy lão nhà Châu mặt ngoãnh đi. Cô Trúc hồn về sương mịt mịt.
Thú Dương danh lạc đã tri tri. Cầu nhơn chẳng đặng nhơn mà chớ ; Cũng chẳng hờn ai,
chẳng hoán chi.
13. Người mà giữ cho đặng thanh liêm, trong sạch, thì phẩm giá quý trọng cũng như ngọc tốt vậy.
Lấy quyền tước mà phỉnh dỗ họ cũng không đặng lấy, vàng bạc mà cám dỗ họ cũng không
đặng, lấy sắc tốt cám dỗ mà họ cũng không đặng, họ khắng khắng về việc nhơn, việc nghĩa mà
thôi.
Giữ lộc mình, chớ hề tham quấy ; xâm của người miêu duệ mang tai (1)
69
Người liêm chê của Ta lai (2) ; chí cao chẳng uống nước khe Đạo Tuyền.
(3).
Từ bỗng, tiếng Nguyên Hiền (4) liêm cẩn ; sợ vàng, khen Dương Chấn (5)
thanh cao.
Truyền Cầm sắc gái không xiu (6) ; lỗ liêng trọng nghĩa, vàng trao chẳng
màng (7).
Thịt Ngỗng (8) quý đâu hơn trái lý ; cãi (9), rau ngon, dưa tế nào bằng.
Lễ nghi nhờ của Lộc Ban ; cả nhà chi phí kiệm cần cũng xong (10).
Của Thất Tiết (11) chất chồng trăm lớp ; tiền Mụi Tâm (12) giựt sắp đầy
rương.
Oan hình ngó xuống thảm thương ; ngước lên còn có Thiên Thương trên
nầy(13).
*******************************************
CHÚ GIẢI :
1. Trời cho mình đặng bao nhiêu thì mình cứ xài phí bấy nhiêu thì thôi, chẳng nê tham lam,
lường gạt, sang đoạt của ai. Kẻ làm quan cũng vậy, cứ xài phí đồng tiền lương mà thôi, không
nên ăn hối lộ, hoặc là tìm mưu kế rúng ép, sách bức cho lòi tiền mà ăn. Nếu người ngoài dùng
việc xão quyệt mà làm ra tiền, kẻ làm quan ăn của hối lộ, thì ngày sau con cháu phải chịu oan
nghiệt.
2. Là của bố thí ; cho người ta ăn mà nói hơi thị người. Nước Tề thất mùa, dân đói. Ông Cầm
Ngao lập quán dựa lộ mà thí cơm cháo. Có một người đi ngang qua đó, thấy vậy, lấy tay áo
che mặt và chạy mau mau. Cầm Ngao tay bưng cơm, tay bưng nước, miệng chắt lưỡi mà nói
rằng : « tội nghiệp,quá ! Lại đây mà ăn, kẻo đói chết đi ». Người ấy trợn mắt nói rằng : « ta
chẳng thèm ăn của mời vô lễ, cho nên ta mới là đói ra thế nầy. Thà chịu chết đói , chớ chẳng
chịu chúng cho ăn mà khi bạc ». Ấy cũng là một việc thanh liêm, trong sạch.
70
3. Là cái suối của tên Đạo Chích, Đạo Chích là một tên ăn cướp dữ lắm. Hai con mắt nó đỏ
như con mắt tôm luộc. Nó hay bắt người ta. Mỗ bụng lấy gan mà ăn. Nó hổ cứ núi Lệ Sơn, ai
nghe tới tên nó thì cũng kinh tâm, tán đởm. Những suối ở gần đó đều đặt tên là Đạo Tuyền.
Có một người thượng khách đi ngang qua núi Lệ Sơn vùng khát nước. Va thấy một cái suối
nước trong tốt lắm, Va lấy làm mừng lội xuống múc nước uống. Đi gần tới mé nước, gặp một
người, Va hỏi rằng : « suối của ai mà nước tốt dữ há ?». Người ấy trả lời rằng suối của tên
Đạo Chích. Nghe nói vậy, thì Va quày quả trở lên lập tức Va nói rằng : « Thà chết khát, chớ
chẳng thèm uống nước dưới suối của thằng ăn cướp ». Ấy cũng là một việc thanh liêm, trong
sạch.
4 .Nguyên Hiến, tự là Nguyên Tư. Khi Đức Khổng Tử làm chức Tư Khấu nước Lỗ, Ngài cho
Nguyên Tư làm quan tể ấp Bi. Ngài thấy Nguyên Tư nghèo lắm. Ngài xuất của kho cấp cho
Nguyên Tư 900 hộc lúa. Nguyên Tư từ chối , không chịu lãnh và nói rằng : « Bổng lộc của tôi
tuy là ít ỏi, nhưng mà tôi cần kiệm thì cũng là đủ dùng. Nay tôi đem lúa ấy về, chẳng biết dùng
về việc gì ». Đức Khổng Tử nói : « Nếu mi không xài, thì mi phân phát cho trong lân, lý,
hương, đảng, đặng cho rạng ân đức của Vua. Nguyên Tư cũng cứ từ chối. Ấy là việc của
thanh liêm, trong sạch, để răn bọn tham chức , tham lộc.
5 . Đời nhà Hớn, ông Dương Chấn dạy học tại đất Hòe Thị,Tỉnh Quảng Tây, có danh tiếng
lớn, đến sau Ngài làm Thứ Sử đi thanh tra, có quan huyện Xương Ấp, tên là Vương Mật đem
dâng cho Ngài 10 cân vàng. Ngài không chịu thâu mà nói rằng « Ta biết quan huyện, mà sao
quan huyện không biết ý ta ? ».Quan huyện thưa rằng : « Ban đêm vắng vẻ không có ai biết,
xin quan lớn chớ ngại ». Ngài trả lời rằng : « trước mặt có bốn người biết là : Trời biết, Đất
biết, Người biết, Ta biết, sao gọi là không ai biết ? ». Ngài nhứt định không chịu thâu. Ấy là
đức thanh liêm nó làm cho răn lòng, sợ lòng tới dường ấy.
6 . Thanh liêm chẳng phải là nói về việc tiền bạc, của cải và tước lộc thôi dân. Chữ thanh liêm
lại gồm việc sắc gái nữa. Liểu hạ Huệ, tự là Truyền Cẫm, thiệt là người thanh liêm, trong
sạch. Ngày kia ổng đi đường, tới một chỗ đồng không, mông quạnh, bị Trời xáng xuống một
đám mưa mịt mù, đi không đặng, ổng phải ngỗi xuống che dù đụt mưa. Ổng thấy một nàng
con gái mắt mưa, không có dù mà che , không có chỗ mà đụt. Ổng bèn kêu nàng ấy lại ngồi
chung mà đụt mưa. Nàng ấy túng thế bất đắc dĩ, phải lại ngồi đụt đỡ. Ban đầu còn ngồi dang
ra, trời gió lạnh thét, chị ta lần lần xít vô ngồi trọn trong lòng ổng. Tuy vậy mà ổng không có ý
chi hết, ngồi trơ trơ như cục đất vậy mà thôi. Ấy là chánh sắc, thanh liêm, trong sạch, xưa nay
ít có.Thánh nhân khen ổng là Thánh chi hòa.
7 . Đời Chiến Quấc có Ông Lỗ Trọng Liêng, quê quán ở nước Yên, là bậc cao sĩ, thanh liêm,
trong sạch.Vua Tần Tương Vương đem binh vây nước Triệu. Tướng của nước Ngụy tên là
71
Tân Viên Diễng bàn nghị với Bình Nguyên Quân là vua Nước Triều, biểu đầu nước Tần và
tính với các chư hầu tôn Tần Tương Vương lên bực Đế, lúc ấy có ông Lỗ Trọng Liêng ở trong
vòng bị vây nơi Kiềm Đơn, đến bàn việc lợi hại và nói răng : « thà nhào xuống biển Đông mà
chết, chớ đầu Tần uổng lắm ». Nghe ổng bàn nhằm lý, thì vua nước Triệu không chịu đầu.
Đợi lâu ngày mà không thấy nước Triệu đầu thì vua Tần Tương Dương biết trong thành có
người cao sĩ, hết dám kiêu ngạo nữa, bèn rút binh trở về Vua nước Triệu muốn dùng ổng làm
quan, ổng từ chối. Vua lại sai người đem vàng và hàng lụa mà đền ơn cho ổng, ổng cũng
không chịu lấy. Ổng nói rằng ổng giúp về việc nghĩa mà thôi, chớ chẳng có ơn chi hết. Vua sai
đem vàng và hàng lụa qua nữa, ổng đóng cửa, ẩn mặt. Thiệt ổng là người thanh liêm, trong
sạch.
8 . Đời chiến quấc có tên Trần Trọng Tử giữ việc thanh liêm, trong sạch, quá lẽ. Ngày kia Va
đến thăm anh, Va tên là Trấn Đái, làm quan Tể ấp Cái. Va thấy dân đem một cặp ngỗng mà đi
lễ cho anh Va, thì Va châu mày mà nói rằng : « Anh ăn của hối lộ mà làm chi ». Cách ít ngày,
Trần Đái biểu làm thịt ngỗng ấy cho Va ăn. Va không biết, cho nên Va nít cành hông. Khi rồi
bữa cơm, trà nước xong rồi, anh Va giã bộ và hỏi rằng : « hồi nảy em ăn thịt gì đó, em biết hay
không ? ». Va nói không biết. Anh Va và cười và nói rằng : « ấy là thịt ngỗng của họ đem hối
lộ cho anh hôm trước đó ». Va nghe nói bấy nhiêu lời, thì Va chọc cổ mữa hết và nói
rằng : « ai thèm ăn của hối lộ. Đoạn, Va quay quả ra về. Đi dọc đường đói gần chết. Đi tới một
suối Va mệt luỗi.Va lại nằm nghỉ mát dưới một bóng cây. Va thấy trái lý sâu ăn rớt xuống, Va
lại lượm mà ăn đỡ dạ mà nói rằng : « trái ly nầy là vật tự nhiên, tuy là chẳng ngon bằng thịt
ngỗng mặt dầu, mà ăn nó thì chẳng có tội lỗi chi hết. Chớ ăn thịt ngỗng hối lộ, thì phải bị liên
can ». Nhờ ăn trái lý nầy mà đỡ đói đi về tới nhà. Ông Mạnh Tử chê việc thanh liêm, việc tinh
khiết nầy.
9 . Thuở xưa thiên hạ cho rằng dưa hấu là một vật quý : cho nên mỗi năm, tới mùa Đông, có
dưa hấu, thì thiên hạ đều dùng mà tế lễ Tiên nhân, rồi làm một món vật thực hay sao ? Thôi,
ngày thường dùng cãi, dùng rau, mà thế cho dưa hấu cũng là đặng vậy. Thánh Nhân đã dạy
thanh liêm về việc của cải, về việc danh tiếng, về việc tước lộc, về việc nữ sắc, bây giờ Ngài dạy
thanh liêm cho tới việc ẩm thực. Miễn là cho có vật thực tầm thường mà ăn cho no bụng thì
thôi, hà tất ta phải đợi cho có đồ cao lương mỹ vị.
10 . Kẻ làm quan, hễ bổng lộc của mình bao nhiêu, thì mình cần kiệm, cứ ăn xài bấy nhiêu đó
mà thôi, chớ chẳng bày ra mưu nầy, kế kia, mà ăn của thiên hạ.
11 . Là trái phép.
72
12 . Là u ám tấm lòng, không biết sợ tội. Nghĩa là ỷ quyền, ỷ thế, thâu đoạt đồ quý báu của
thiên hạ mà chưng dọn cho hực hỡ trong nhà ; ăn tiền bạc của thiên hạ mà chất cho đầy
rương, đầy tủ.
13 . Ai không lo lót thì bắt người ta mà đánh đòn, kẹp, đóng, trăng, đặng mang bỏ tù, đày, lưu,
hoặc làm cho người ta chết oan, làm việc tàn bạo,bất nhơn, thất đức, như vậy, mà sao không
sợ Trời ở trên đầu cao xanh kia kìa.
Dung tôi tớ như bầy Lan, Hổ ; mưu lấn giành điền, thổ, quân, dân (1).
Đến khi vận đốn, thời truân ; nhà tan, mả nát, khôn phân lẽ nào(2).
Của Kim Cốc lúc vào đã trái ; đám Phù vân thoảng lại như không (3).
Gái dâm, trai đạo, đến cùng ; trả sao cho xứng mấy đồng tiền oan (4).
TIẾT CHƯƠNG
Tiết người ta sánh ngan Trời ; Đất ; so loài Tre, vầng Nguyệt cũng bằng
(5).
Sáng soi, cao thẳm, khôn ngằn ; mười phân tròn trịa, mười phần sạch
trong (6).
Mình, ngay thẳng, nào cong, nào khuất ; trãi tuyết, sương, thường tốt,
thường tươi (7).
Một màu xanh biếc Đất, Trời ; Trăng thanh gió mát, thảnh thơi mọi bề
(8).
Châu mấy giọt, dầm dề rừng Trúc ; Tiết ngàn thu gởi khúc Tương Linh
(9).
Khiến người qua bến Động Đình, càng thương, càng mến, Nga (10), Anh
(11) bồi hồi.
Gậy Tô Võ mười hai lóng chẵn ; Sứ Hung Nô mười chín năm tròn (12).
73
Lý Lăng tiếng xấu khôn mòn (13) ; Tô Công (14) tiết liệt, tiếng còn đến
nay.
Bang Trọng Thăng (15) cõi Tây phụng sứ ; băm sáu phương còn nhớ ân
quang.
Mấy người tiết nghĩa vẹn toàn ; Thánh Thần soi đến hỷ hoan dường
nào !
************************************
CHÚ GIẢI :
1. Nuôi gia Tướng như bầy chó sói, bầy cọp, để cho chúng nó ra ngoài ỷ thế, húng hiếp thiên hạ ; rồi
mưu sự xuối chúng nó Giựt ruộng, giựt vườn, giựt nhà, của quân của dân mình cho mình. Lại
bang mồ mả của người ta mà cất dinh, cất phố, cất nhà và lập vườn.
2. Đến khi vận xấu, thời suy, thì bị thiên hạ đoạt sự nghiệp lại và khi chết rồi, thì bị thiên hạ đào mồ,
cuốc mả lại. Ấy là lẽ Trời báo ứng xây vần.
3. Thuở trước Vương Khải và Thạch Sùng giàu so kiệp nước, của chất bằng non, lấy vàng khối mà
xây hòn non bộ và lót vườn kiển, kêu là Kim Cốc, mà đến nay lại còn gì hay không ?. Làm việc bất
nhơn, thất đức, mà đặng giàu có dường ấy, thì có khác chi là đám mây kia vậy : Mới thấy vần, vũ,
u ám đó, rồi tan mất đó.
4. Làm bất nhơn, thất đức, mà đặng giàu, đặng sang thì Trời khiến cho con cháu phá tiêu đìu hết ;
con trai thì thua cờ bạc, nuôi đĩ; con gái cũng thua cờ bạc và nuôi trai. Đến khi cùng thế, thì con
trai phải đi ăn trộm, ăn cướp, bị tù, bị đày, con gái phải đi làm đĩ, rồi bị bịnh độc mà chết. Tuy vậy
mà đền cũng chưa xứng đáng cái tội bất nhơn, thất đức là : Đánh đòn, khảo kẹp, đóng gông, đóng
trăng, bỏ tù đày, lưu người ta, làm cho người ta chết oan, giựt điền thổ, nhà phố của người ta và
bang mồ mả của người ta, vân vân.
5. Cái tiết của người ta lớn như Trời, như Đất vậy. Sánh ra thì như loài Tre, như mặt Trăng vậy.
6. Như mặt Trăng, thì tròn trịa, trong trẻo, sáng rạng.
7. Như loài Tre, thì ngay thẳng suông đuột, chịu sương tuyết chừng nào thì càng tốt tươi chừng nấy.
8. Cây xanh, lá xanh, tiệp theo màu trời. Lại hưởng trăng thanh, gió mát, thảnh thơi vô cùng.
9. Trương Linh là cây đờn cầm của vua Thuấn chắt để lại.
10. Bà Nga Hoàng.
11. Bà Nữ Anh. Hai bà nầy là Công Chúa của vua Nghiêu gã cho vua Thuấn làm vợ. Vua Thuấn
thăng hà chôn tại xứ Thương Ngô, thuộc về đất Động Đình. Hai bà thương nhớ chồng vô cùng,
74
bèn lên núi Cửu Nghi khảy cây đờn Trương Linh mà kêu khóc chồng, rồi xuống chằm Thất Trạch
mà điếu hồn chồng. Hai bà kêu khóc thảm thiết, cho đến đỗi tuông nước mắt máu ra văng vô rừng
tre ; tre vấy máu ấy rồi có đốm đỏ, cho nên bây giờ có tre bông, tre đỏ, là do nơi sự tích ấy. Hai bà
kêu khóc hết sức, rồi tậu tiết nơi mộ phần vua Thuần. Thuở ấy những người hành khách qua lại
sông Động Đình nghe tiếng đờn khảy như hoán, như mộ, như khốc, như thán, làm cho mây sầu,
gió thảm, chẳng xiết buồn rầu. Người có tiết dường ấy chẳng những là làm cho loài người ta dời
thói xấu, đem lại tục tốt mà thôi, mà lại làm cho loài tre , là loài vô tri, vô năng, phải cảm việc tiết,
nghĩa, mà vẽ hình, đổi sắc nữa.
12. Cây cờ sứ của ông Tô Võ làm bằng tre, có 12 mắt, kêu là cờ Tiết Mao. Khi ông Tô Võ ở tại Hung
Nô, ổng dùng cây tre ấy mà làm gậy. Ông Tô Võ , tự là Tử Khanh, làm tôi nhà Hớn, chịu chức
Lang Trung. Vua sai Ngài đưa sứ Hung Nô về nước. Hung Nô không cho Ngài trở về Trung
Quấc, nó biểu Ngài đầu nó ; Ngài không chịu đầu. Nó bắt Ngài nó bỏ dưới hầm, không cho ăn,
không cho uống. Hễ khát nước thì Ngài hứng tuyết mà sống, Hễ đói thì Ngài rứt lông trong áo cầu
mà ăn đỡ dạ. Cách ít ngày Hung Nô sai quân đến thám, thấy Ngài không chết, thì nó nói Ngài là
Thần, nó không cầm tù Ngài nữa. Nó bắt Ngài lên ở Bắc Hải chăn Chiên, và nó nói rằng chừng
nào Chiên đực có con, thì nó tha Ngài trở về Trung Quấc. Vua thương lòng tiết liệt của Ngài, vua
phong cho Ngài chức Điện Thuộc Quấc. Có bài thơ khen ông Tô Võ như vầy : « mười chín năm
dư cách đế thành ; tiết bền có một gã Tô Khanh. Xông sương, mượn nhạn đem thơ lá ; Uống
tuyết, chăn dê, xủ áo mành. Bợ ngợ trời Hồ lòng một tấm ; mơ hồ đất Hớn nguyệt năm canh. Râu,
mày, tuy bạc,lòng nao bại ; tượng vẽ Đài Mây cũng rạng danh ».
13. Lý Lăng làm chức Kỵ Đô Húy nhà Hớn. Vua sai Va cầm binh đánh nước Hung Nô. Ban đầu Va
thắng, đến sau Va bị thua, Va hàng đầu Hung Nô. Vua hay Va đầu Hung Nô, thì vua bắt gia
quyến của Va tru luộc hết. Bởi Va chẳng đặng bền chí như Tô Võ cho nên Va phải bị bia tiếng
xấu trong thanh sử.
14. Tô Vỏ bị Hung Nô hảm hại và cầm tù 19 năm, mà bền chí, không chịu đầu Hung Nô. Bởi Ngài
giữ đặng lòng tiết liệt, như sắt, như đá, cho nên Ngài mới đặng bia tiếng tốt trong thanh sử.
15. Ông Trọng Thăng, tự là Bang Siêu, làm chức Tư Mã triều vua Hớn Minh Đế. Ngài phụng chỉ đi
sừ bên cõi Tây Vức. Ngài lấy ân oai mà vỗ về nhân dân, cho nên cả cõi Tây Vức là ba mươi sáu
nước đều tùng phục nhà Hớn. Ngài có đại công, cho nên vua phong cho Ngài tước Định Viễn
Hầu, hưởng thọ đặng 71 tuổi. Đến sau con của Ngài là Bang Dõng làm chức Trưởng Tử triều vua
Hớn An Đế và cũng đặng tiếng khen ngợi như Ngài vậy.
75
Hoặc dự chức Thiên tào quyền chưởng ; hoặc bổ làm các đấng Thành
Hoàng (1).
Công Hầu nối nghiệp vẻ vang ; Ngàn năm hưởng phước giàu, sang, lâu dài.
Kìa :Loan (2), Tặc (3), nào ai chẳng ghét ; hại Trung Lương, thảm thiết
quá chừng !
Thấy nhau, mặt giã vui mừng ; mà lòng với miệng vẫn từng khác nhau.
Lòng sụt sụt, tám mâu chỏi ngược ; ý hằm hằm, ba thước đao châm (4).
Lưỡi như gươm bén phải làm ; giết người chẳng thấy hơi tăm chút nào.
Hễ sàm nịnh, hùng hào, gian xảo ; thì thân, gia, điêu háo, tuyệt dòng (5).
Đế xưa cũng chẳng chay ròng ; dị đoan, tà thuyết, Đế cùng chẳng tin.
Địa Ngục vẫn chư Thần quản hạt ; tam bửu là : Nhựt, Nguyệt, Tinh, Thần
(6).
Đỡ che cấp nạn nhân dân ; gây oan tháo, gỡ, lần lần sạch trơn.
TỔNG KIẾT CHƯƠNG
Bốn chương ấy tỏ tường thâm thiết ; Trung, Hiếu và Liêm, Tiết, rành rành.
Còn hai mươi bốn vị tinh ; sau nầy thứ lớp phân minh kế liền.
(Hễ đọc tên mỗi vị Thần sau nầy thì lạy một lạy).
1. Thần Mãnh Dõng dinh thiên pháp luật ; chống bầu trời dỡ đất mạnh
thay.
76
2. Xây vần Nhựt, Nguyệt, Đông, Tây ; ấy Thần Phổ Chiếu đêm ngày sáng
soi.
3. Thần Minh Lãng an bài tinh tú; trong đêm thanh chiếu tỏ đều Trời.
4. Hằng ngày cưỡi ngút nương mây ; kìa sao Phi Độ vãng lai du tuần.
5. Thần oai liệt lẫy lừng khôn xiết : chớp bũa dăng sấm sét tưng bừng.
6. Kêu mưa, hú gió nửa lừng ; nhiễu nhương oai dậy đùng đùng bốn
phương.
7. Sao biến thông rưới sương sa tuyết ; làm đượm nhuần : Thảo, Mộc,
Sơn, Hà.
8. Thưởng lành, phạt dữ, gần xa ; có Thần chánh trực xét tra công bình.
9. Thần trung nghĩa hành hình đảng ác ; phò hộ người tánh đức tu nhân.
10.Dạy kẻ ngu, dỗ kẻ ngoan. Có Thần cảm ứng liệu toan trong đời.
11.Thần Từ Tường cho người trường thọ, đuổi Ôn Hoàng, Dịch Lệ, cứu
dân.
12.Cát bay đá rần rần ; ấy Thần Triệt Lộ đón ngăn tứ bề.
13.Thần Ngũ Hồ chưởng về phong kiển ; vâng lịnh Trời, đổi biển dời sông.
14.Đạp, xô, lỡ núi, sập non ; sức Thần Thiết Giáp ai còn dám đang.
15.Sao Kiết Hóa làm tan tuyết, giá ; hoặc làm đông, đặc, cả rạch ngòi.
16.Làm cho trỗ lá nãy chồi ; vì sao Phát Dục dưỡng loài cỏ cây.
17.Sao Kiều Mỵ đơm đầy bông, trái ; cây vẻ vang, người lại hưởng nhờ.
18. Lúa tươi, nếp tốt, sởn sơ ; nhờ sao Ích Huệ, giúp người đủ no.
77
19. Sao Bộ Tróc hộ phò các loại ; là : Cầm bay, thú chạy, trong trời.
20. Cá, tôm, cua, trạch, đua bơi ; nhờ sao Dõng Dước hóa đầy biển
sông.
21. Sao Triền Nhiểu rãi cùng thế giái ; loài côn trùng, bay, nhảy tơi bời.
22. Văn chương, chữ nghĩa, vẻ vời ; sao Văn Xương ấy dạy người thông
minh.
23. Sao Võ Khúc bày binh, bố trận ; muôn nước dùng chống vững cõi
bờ.
24. Chư công, bá nghệ, đều nhờ ; vì Thần Xảo Tác dạy đời đua chen.
Chúng tinh nghe lịnh truyền khắp cả ; về bổn dinh, biến hóa, phát
sanh.
Cúi đầu lạy trước Thánh Minh ; công dày, đức cả, cao xanh mấy từng.
(Đọc tới đây thì đứng dậy, lạy bốn lạy. Rồi đọc kinh phía sau nầy).
*********************************************
CHÚ GIẢI :
1. Thành Hoàng là Bổn cảnh Thành Hoàng chúa xứ.
2. Là loạn Thần. Là tôi phản Vua.
3. Là tặc tử. Là con ngỗ nghịch với cha mẹ.
4. Bọn gian thần, tặc tử thấy kẻ trung lương, kẻ hiếu thuận, thì chúng nó ghét lắm.
Chúng nó gặp người trung lương, hiếu thuận, thì chúng nó làm bộ vui, cười, mà trong lòng
chúng nó tích trữ gươm dao, hằm hằm muốn giết. Nhiều khi chúng nó hại thầm làm cho kẻ
trung lương bọ chết mà không hay không biết.
5. Hễ chúng nó hảm hại kẻ trung lương, thì Trời cũng hại chúng nó tàn, mạt. Trời cùng khiến
cho chúng nó tự vận và Trời sẽ làm cho chúng nó tuyệt dòng, tuyệt giống.
6. Chủ các Địa Ngục, tức thị là các Bổn Cảnh Thành Hoàng chúa xứ. Tam Bửu là Mặt Trời,
Mặt Trăng và các Vì Sao lớn nhỏ.
78
CUỐN THỨ BA LÀ :
ĐẨU-KHẨU-VƯƠNG-THIỆN
KHÂM PHỤNG HỚN-THẤT,
HỚN-THỌ-ĐÌNH-HẦU,
QUANG THÁNH ĐẠI ĐẾ SẮC MẠNG.
-oOo-
Ngày hai mươi bốn tháng Giêng, năm Tân Vì (Nhằm năm 1811), lúc ấy
là Triều Nhà Thanh, đời vua Gia Khánh năm thứ mười lăm, vì Thiên-
Thần Đẩu- Khẩu-Vương-Thiện (Là ông Vương-Thiên-Quân) vâng lịnh
Đức Quang-Thánh- Đại -Đế giáng cơ rao truyền những lời của Đức
Quang-Thánh-Đại- Đế cắt nghĩa các điều trong Minh-Thánh-Kinh cho
chúng sanh hiểu. Có nhiều người ngu muội, không hiểu điển tích chi hết,
mà dám kiêu ngạo, chê bơi, đức Quang-Thánh-Đại-Đế phán răn : « ai
còn kiêu ngạo, hũy báng kinh nầy, như nhẹ, thì sẽ bị Ôn-Hỏa đeo đuổi
theo mình, như nặng, thì bị ông Châu-Thương chém đầu, chừng đó đừng
kêu vang.
*************************************************
(Lạy bốn lạy rồi quỳ xuống đọc câu nầy):
Đẩu Khẩu Vương Thiện khâm phụng Hớn Thất, Hớn Thọ Đình
Hầu,Quang Thánh Đại Đế sắc mạng.
(Lạy ba lạy rồi đọc luôn).
79
Đức Thánh Đế sắc rồng phán thị ; Vương Thiên Quân vâng chỉ của Trời.
Đế thường gắn vó mấy (1) lời ; trên trời mặt Nhựt, trong người trái Tim.
Mặt trời chiếu đâu xem cũng sáng ; lòng người tua tỏ rạng như vầy.
Trong đời muôn việc rũi may ; cội nguồn cũng ở lòng nầy mà ra (2).
Năm thường ấy, Nho Gia làm chủ ; Tam Bửu kia, Thích, Đạo làm đầu.
Quản bao giải lẽ cao sâu ; Đạo nào cũng phải suy cầu Tâm nguyên (3).
Nhơn chẳng chi lớn hơn Trung ; Hiếu, Nghĩa thì không đặng thiếu Tiết,
Liêm.
Năm Thường thử kể ra xem ; trước là Nhơn, Nghĩa, đã kiêm cả rồi.
Đức Thánh Nhân sánh trời giúp hóa ; thành Phật, Tiên, cũng tại nhờ
đây(4).
Mở Trời, dựng Đất, đến nay ; nhóm về một lẽ, rõ bày chơn nguyên.
Trãi : Đế, Vương, Thánh, Hiền, Tiên, Phật, Kinh điển còn ghi tạc muôn
đông.
Đạo dẫu cách, tâm vẫn đồng ; nói trong lẽ ấy làm trong việc nầy (5).
Đế (6) vốn trong Tử Vi cung tọa, bẩm tinh anh, sao Hỏa giáng sanh.
Tánh oai liệt, Tượng Ly Minh ; Văn Xương, Võ Khúc, quyền hành hai
cung.
Văn chủ Nhơn, Hiếu, Trung, là gốc ; Võ chủ Nghĩa, Liêm, Tiết, là đầu.
80
Nghĩa, Nhơn, nếu chẳng suy cầu ; Thánh, Hiền, Tiên, Phật khó hầu sánh
vai (7).
Không Đêm, ví Ngày hoài đâu có ; có Dương, không Âm nọ, được sao ?(8).
Siêu phàm, nhập thánh, huân lao (9) ; Nghĩa, Nhơn, trọn, đủ, mới hầu
thành công.
Trải Chiến Quấc, mấy vòng mưa, gió ; đến lúc sau, Hớn tộ suy vi (10).
Đế ra hết sức xanh trì ; cứu dân, giúp nước, trăm bề gian truân.
***************************************
CHÚ GIẢI :
1. Đây là lời của đức Quang Thánh Đại Đế phán ra.
2. Ở đời giữ đặng tầm lòng cho tốt, thì muôn việc đều đặng xong xuôi may mắn. luôn luôn. Hễ ở
lòng dạ xấu xa, thì gặp việc rũi ro, hoạn nạn và tật bịnh luôn luôn, lại con cháu bị hoan, bị hư
hết. Trong kinh Phật có câu : « nhứt thiết do tâm tạo ». Nghĩa là việc Hưng, Suy, Họa, Phước,
đều do nơi tấm lòng mà sanh ra cả thảy.
3. Đạo nào cũng là trọng chữ Tâm cả thảy. Đạo Nho thì có Tồn Tâm dưỡng tánh. Đạo Phật thì
nói Minh Tâm kiến tánh. Đạo Tiên thì nói Tu Tâm luyện tánh. Đạo Nho thì trọng hai chữ
Trung Dung. Đạo Phật thì trọng hai chữ Từ Bi. Đạo Tiên thì trọng hai chữ Cảm Ứng. Sáu
chữ nầy đều có chữ Tâm ở dưới cả thảy.
4. Người ta nhờ tu thân trọn Nhơn, trọn nghĩa, mà đặng thành Thánh, thành Hiền, thành Tiên,
thành Phật.
5. Mỗi đạo dạy một cách riêng, nhưng mà tóm lại, thì đạo nào cũng là dạy làm lành, lánh dữ mà
thôi.
6. Đức Quang Đế nguyên là một vị Đại Thiên Thần ở trong tòa Tử Vị. Sao Tử Vi là sao Hỏa, tỏ
rạng hơn hết cả các sao trên trời. Bởi Ngài là vì sao Hỏa cho nên Ngài có tánh Trung, Cang,
Nghĩa, Khí lắm. Ngài gồm luôn vì sao Văn Vương và ví sao Vỏ Khúc cho nên Ngài toàn tài về
nghề văn và nghiệp võ.
81
7. Ngài muốn cho chúng sanh giữ cho đủ trọn chữ Nhơn và chữ Nghĩa. Chữ Nhơn thì chủ việc
Trung, Hiếu, .Chữ Nghĩa thì chủ việc Liêm, Tiết. Giữ cho trọn đủ hai chữ, thì đặng thành bực
Thánh, Hiền, Tiên, Phật. Nếu thiếu một chữ thì chẳng đặng thành.
8. Cũng như có Ngày thì phải có Đêm, có khí Dương thì phải có khí Âm vậy.
9. Muốn cho đặng Siêu Phàm, Nhập Thánh, thì phải cho dày công tu luyện theo điều Nhơn và
điều Nghĩa. Tu luyện cho hết sức rành rẽ và cho trọn đủ, thì mới là thành công.
10. Thuở trước Ngài đã xuống trần nhiều kiếp rồi. Đời Chiến Quấc Ngài lâm phàm là Ngũ Tứ
Tư, làm một vì danh tướng toàn nhơn, toàn nghĩa. Qua đời Tam Quấc Ngài lâm phàm là
Quang Võ, tự Vân Trường, chịu thiên lao, vạn khổ mà tế Quấc, an dân. Kiếp nầy Ngài đặng
toàn bốn chữ Trung, Cang, Nghĩa, Khí. Khi mãn kiếp nầy rồi, thi vi Thượng Đế phong cho
Ngài tước : Tam Giái Phục Ma Đại Đế Thần Oai Viễn Trấn Thiên Tôn Quang Thánh Đế
Quân.
Lại đem sách Mạnh mà suy ; mặt tươi trăng rạng, nghĩa thì khác đâu (1).
Nói đến câu : Thai đầu, Kiếp chuyển ; nhà nho rằng là chuyện cao xa (2).
Việc nầy Thích, Đạo, hai nhà ; luận bàn chí lý, há là không tuân.
Thử xem chuyện xây vần thuở trước ;những thay hồn, đổi xác, biết bao.
Trải qua mưa, gió, mây Trào ; sanh sanh, hóa hóa, biết bao anh hùng (3).
Tại Chiến Quấc,tại trong đời Hán ; tại Tống Đường, chỉ phán mấy câu.
Thiệt là chẳng phải dối đâu ; sử xanh còn đó, suy cầu thủ coi.
Chương Trung (4) nói đạo Tôi rành rỏi ; Văn, Võ, Quan đều phải tuân
theo.
Chánh là những bực Anh Hào ; ba đời về trước Y (5), Cao (6), Long (7),
Quỳ (8).
Chương Hiếu(9) phải xét suy cho kỹ ; câu nào thì chuyện nấy không sai.
82
Chẳng rồi áo tối, cơm mai ; thăm lom, cơm, thuốc, ai lày Văn Vương(10)
Xem giọt mưa, chảy thường theo giọt, con thảo hiền nối gót theo mình.
Kìa vua Đại Thuấn(11) hiếu thành ; danh thơm tạc để Sử đình (12) muôn
thu.
Hăm bốn hiếu, người đâu, truyện đó ; trải xưa nay Rạng (13), Tỏ (14) đôi
vầng.
Trời, Đất chứng, Quỷ, Thần mừng (15) ; rõ ràng bằng cớ biết chừng nào
hay !
Chữ Liêm (16) vẫn Tỏ bày, Châu, Lễ ; này thử xem lục kế thanh tra.
Bởi trong chữ nghĩa(17) sanh ra ; của gì phi Lễ lấy mà làm chi.
Đế vì kẻ Ngu, Si, răn dỗ. Một hai lời thí dụ đã tường (18)
Suối Liêm (19) nước Đạo (20), đôi đường ; tiếng đòi tốt, xấu, rõ ràng chẳng
nhơ ?.
Tiết ví Tre, vì Tre có Lóng ; tiết ví Trăng, vì Bóng soi thường.
Xưa nay Tiết lớn dình dàng ; Trăng trong, Tre tốt, nghĩa càng vẹn phân.
Đế sắc mạng chư Thần tra, kiểm ; phò hộ người tu niệm theo Kinh (21).
Đế đà trải hết lòng thành ; từ bi độ chúng, đinh ninh mấy đều (22).
*****************************************
CHÚ GIẢI :
1. Cái mặt tươi tốt như là ảnh rạng của mặt trăng vậy.
83
2. Việc đầu thai chuyển kiếp,việc mượn hồn thay xác, Đạo Phật và Đạo Tiên có luận bàn chí lý,
mà Đạo Nho cho là việc cao xa, không có bằng cớ, cho nên không dám nói tới, chớ thiệt là
việc có quả quyết.
3. Từ đời Chiến Quấc, đời Hớn, đời Đường và đời Tống các bực anh hùng đầu thai đi đi, lại lại
biết là bao nhiêu lần.
4. Chương Trung nói về quan Văn, quan Võ, hễ ra làm là thọ bổng lộc triều đình thì trên phải
Phò vua, cho hết lòng trung ; phải tri tả mà gìn giữ sang hà, xã tắc, dưới phải thương dân, lo
cho nhân dân an cư lạc nghiêp.
5. Ông Y Doãn là hiền thần của vua Thành Thang đời nhà Thương.
6. Ông Cao Giao là hiền thần của vua Thuấn đời Ngũ Đế.
7. Ông Long Phùng là hiền thần của vua Kiệt,đời nhà Hạ.
8. Ông Hữu Quỳ là hiền thần của vua Thuấn,đời Ngũ Đế.
9. Xin đọc hai mươi bốn gương thảo trong Nhị thập tứ hiếu trong sách …hạnh chương trình của
tôi.
10. Là vua Văn Đế. Xin đọc lời chú giải của Hiếu Chương trương số 62
11. Là vua Thuấn. Xin đọc lời chú giải của Hiếu Chương trương số 62
12. Trong sử ký của triều đình ghi chép để lại thuở nay.
13. Mặt trời.
14. Mặt trăng.
15. Ai ở hiếu thảo với cha mẹ, thuận hòa với anh chị em út,Trời, Đất, Quỷ, Thần dòm thấy, thì
mừng lắm, thương lắm.
16. Chữ Liêm ở trong sách Châu Lễ, bài lục kế có bàn luận rõ ràng.
17. Trong chữ Nghĩa có chữ Liêm và chữ Khiết. Việc nghĩa có sanh ra thanh liêm trong sach.
18. Đức Quang Đế thấy có nhiều người dốt nát, ngu si, mà làm phách, kiêu ngạo, chê bai kinh
nầy, cho nên Ngài phải chịu khó giáng thần mà cắt nghĩa, dạy dỗ ít điều, khuyên ai nấy hãy bỏ
thói phách phở, phải kính trọng kinh nầy, phải giữ việc cư xử theo kinh nầy.
19. Sự tích Suối Liêm là làm vầy : Trước khi vua Nghiêu biết Ông Thuấn là người đại hiếu và đại
hiền, thì vua Nghiêu đòi Hứa Do là người hiểu đời ấy, mà nói rằng : « Trẩm nghe người có tài
đức lớn, trẩm muốn truyền ngôi cho ngươi. Ngươi phải nối ngôi cho trẩm mà làm vua thiên
hạ”.Hứa Do từ chối, lạy tạ ra về, rồi vội vàng xuống suối mà rửa lại. . Cũng lúc ấy Sào Phủ
dắt trâu xuống suối đó mà cho uống nước. Sào Phủ thấy Hứa Do đương lum khum rửa tai
,bèn hỏi rằng: “anh làm gì mà rửa tai như vậy?”. Hứa Do và lắc đầu và nói rằng: “vua
Nghiêu đòi tôi đến truyền ngôi Vua cho tôi, tôi không chịu lưu điều ấy trong lỗ tai, cho nên tôi
phải rửa tai cho sạch”. Sào Phủ nghe nói, liền dắt trâu lên trên dòng nước mà cho uống. Hứa
84
Do hỏi: “Sao anh lại đem trâu lên trên ấy mà cho uống?”. Sào Phủ trả lời rằng: “anh rửa tai
anh xuống đó tôi sợ trâu tôi uống nhầm. Ai biểu anh đi đâu đó cho vua Nghiêu biết anh, mà
muốn nhường ngôi cho anh? Ấy là tại bụng anh còn vọng cầu danh lợi. Nghe làm chi mà mất
công rửa tai, chi cho bằng giữ vẹn, đừng nghe thì hay hơn”.
20. Nước Đạo là suối của người Đạo Chích, xin đọc Liêm chương trương số 64
21. Đức Quang Đế sắc mạng cho Du Thần, Du Thánh, kiểm soát trong nhân gian nếu ai tu niệm
theo kinh nầy thì phải phò hộ người ta bình an dõng mạnh.
22. Ngài thương chúng sanh lắm cho nên Ngài lấy lòng… chúng sanh cải tà, quy chánh…Ngài
dạy dổ…
Ai chê Đế rằng Kiêu, rằng Siển; Đếvui lòng,chẳng biến,chẳng dời (1).
Muốn cho thấy thảy mọi người; theo Kiêu, Siển ấy, ở đời cũng hay (2).
Tánh tình cứ hằng ngày tu luyện; ắc từ nhiên quả Thiện vẹn toàn (3).
Đặng về hưởng phước Thiên Đàng; sánh vai Thần, Thánh, Đế càng hỷ
hoang (4).
Đế hạ sắc Linh Quan truyền thị; cho thập phương ai nấy châu tri (5).
Hết lòng phát nguyện quy y; tâm tâm, niệm niệm, tụng trì, kính tin (6).
Tấm lòng phải giữ gìn thường sáng; sánh mặt Trời tỏ rạng trên không
(7).
Tín, Thành, hai chữ rằng lòng; đêm ngày tụng niệm chớ hòng đơn sai.
Tới đây đức Ứng Nghiệm Đào Viên MinhThánh Kinh.
(Lạy bốn lạy, xá bốn xá. Rồi đọc bài Châu Kinh…như vầy):
Cái Thiên Cổ Phật Chiêu Minh Dực Hớn Đại Thiên Tôn
(Đọc 3 lần, mỗi lần một lạy)
Từ bi cứu thế Trung nghĩa khuôn quân.
Diễn giáo, thuyết pháp, độ quần sanh.
85
Chánh khí mãn Càn Khôn.
Vô lượng độ nhân.
Thọ trì lợi ích hạnh.
Đại Thánh Phục Ma Đảng Khấu,
Cứu khổ, cứu nạn Đại Thiên Tôn.
( Đọc 3 lần, mỗi lần 1 lạy)
Đọan, lui đèn, bước lui ra.
HẾT
CHÚ GIẢI :
1. Ai làm phách chê Ngài là Kiêu thì Ngài cũng… là bực tầm thường, thì Ngài cũng chẳng từ
chối.
2. Ngài ước cho ai nấy bắt chước theo việc Kiêu,Siển…của Ngài là Trung, Cang, Nghĩa, Khí.
Chúng sanh…vậy thì Ngài mừng lắm, vui lắm.
3. Quả thiện vẹn toàn, nghĩa là trái lành đã lớn, đã già, đã chín…rồi cứ tưởng việc lành, nói lời
lành, làm việc lành luôn luôn..Đại Đế luôn luôn và cứ trì tụng Ứng Nghiệm Đào Viên…lâu
ngày, đức Quang Thánh Đại Đế sẽ cho mình biết…
4. Khi mình mãn phần, đức Quang Thánh Đại Đế…liệu vàng, tán bạc, đến rước linh hồn của
mình về cõi…sánh vai thay, thì mừng…nếu mình xuống thế gian nữa, thì đặng làm chức
Bổn cảnh Thành Hoàng Chúa xứ, hoặc đầu thai làm bực Đế, Vương,Công, Hầu, sang giàu
tột bực.
5. Đức Quang Thánh Đại Đế sắc mạng cho ông Linh Quan (là ông Vương Thiên Quân) để in
lời nầy mà truyền cho thập phương rõ biết.
6. Ai nấy phải kính trọng kinh nầy, phải hết lòng kính tín theo kinh nầy, phải trì tụng kinh nầy,
phải tu niệm theo kinh nầy.
7. Đức Quang Thánh Đại Đế ân cần khuyên lơn ai nấy, phải trau dồi tấm lòng cho trong sạch,
sáng láng, tỏ rạng như mặt trời vậy. Nếu để tấm lòng lờ mờ, u ám, thì phải bị vỡ lẽ, khi bẩm
sở câu, rồi trái cang thường luân lý, phạm điều tội lỗi. Nếu trau dồi tấm lòng cho trong sạch,
cho sáng láng, thì rõ biết việc phước mà thu rõ biết việc tội mà tránh. Làm đặng bực Phật,
86
bực Thần, bực Tiên, bực Thánh, là cũng phải trau, dồi, tấm lòng trong sạch, sáng láng, tỏ
rạng.
(Những dấu ba chấm(…) là không biết rõ lời chú giải)
THẾ HỆ PHỔ CỦA ĐỨC QUANG THÁNH ĐẾ QUÂN
-oOo-

THẾ-HỆ-PHỔ CỦA ĐỨC QUANG-THÁNH-ĐẠI ĐẾ

  • 1.
  • 2.
    2 THẾ-HỆ-PHỔ CỦA ĐỨC QUANG-THÁNH-ĐẠIĐẾ Đức Quang Thánh Đại Đế Họ Quang, húy là võ, tự là Vân Trường. Ông Thỉ Tổ của Ngài là ông Quang-Long-Phùng, làm chức Đại Phu đời nhà Ha, triều vua kiệt (1818 trước chúa Gi-Giu Giáng sanh). Ông Nội của Ngài , húy là Thẩm, tự là Vấn-Chi, hiệu là Thạch- Bàng, sanh năm Canh Dần, nhằm năm thứ hai niên hiệu Vĩnh- Nguơn, triều vua Hiếu- Hòa Đế, đời Đông-Hán (89 năm sau Giáng sanh. Ông ở tỉnh Sơn- Tây, Thành Giải-Lương, làng Trường-Bình, xóm Bửu-Trì.Ông nổi danh là bực hiền hòa, đạo đức. Ông dùng kinh Xuân Thu và kinh Dịch mà dạy con. Năm Đinh Dậu nhằm năm thứ 3, triều vua Hiếu-Huờn-Đế, niên hiệu Vĩnh-Thọ, ông từ trần, ông hưởng thọ 68 tuổi. Ông thân của Ngài, húy là Nghị, tự là Đạo Viễn, tánh chí hiếu. Lúc cư tang cha, thì che chòi ở phụng sự báo hiếu một bên mả cha trọn ba năm trời. Triều vua Hiếu Huờn Đế niên hiệu Diên Hy, năm thứ 3, nhằm năm Canh Tý, ngày 24 tháng 6, ông sanh Đức Thánh Đế (157 năm sau Giáng sanh).
  • 3.
    3 Khi Đức ThánhĐế ra đời có Hào quang chói sáng cả xóm Bửu Trì. Thiên hạ đều khen ngợi nhà Họ Quang và trằm trồ nói rằng : « Người con của ông Quang Nghị thiệt là một vị Thiên Thần Giáng sanh, chớ chẳng phải là bực tầm thường đâu ». Đức Thánh Đế, lúc thiếu niên, thọ giáo với cha. Ngài bát lãm sách Luận Ngữ, sách Mạnh Tử và kinh Xuân Thu. Trạng mạo của Ngài tươi tốt và lẫm liệt phi thường. Hình dung cao lớn, mặt đỏ, mày tằm, mắt phụng, râu rồng, trán cọp, và tiếng rang rãng như tiếng chuông đồng. Nghề văn, nghiệp vỏ của Ngài lấy làm siêu quần, bạt tụy . Tâm tánh của Ngài lấy làm công bình, chánh trực. Thao lược, cơ mưu, của Ngài càng ngày càng tấn phát. Đến 17 tuổi Ngài cưới bà Hồ Thị . Đến sau, Ngài sanh ba người con trai là : Quang Bình, Quang Hưng và Quang Sách. Người đầu lòng là ông Bình, tự là Đát Chi, sanh ngày 13 tháng 5 năm Mậu Ngũ, nhằm năm thứ 2 triều vua Hiếu Linh Đế, niên hiệu Quang Hòa (176 năm sau Giáng Sanh). Ông Quang Bình lúc thiếu niên theo cha học rành nghề văn, nghiệp vỏ, rồi khi lớn lên, thì cũng theo giúp cha trong việc chinh chiên. Mấy trăm trận xông lên, đột pháo, chẳng giây phút rời cha. Lúc sống chẳng rời cha, lúc thác cũng chẳng rời cha. Ngày mồng 7 tháng chạp, năm Kỷ Hợi, ông đặng toàn trung, toàn hiếu, ông hưởng thọ đặng 42 tuổi. Người thứ nhì là ông Hưng tự là An Quốc, lúc thiếu niên theo đức Võ Hầu học tập nghề văn, nghiệp vỏ. Khi lớn lên thì lãnh chức Thị Trung Trung Giám Quân ông có cử hình phạt Ngô nhiều phen đặng báo thù cho cha. Nước Ngô kiên sợ có một mình ông mà thôi. Ông có hai người con trai là : Quang Thống và Quang Duy. Đến năm 24 tuổi, ông thọ bịnh từ trần.
  • 4.
    4 Người thứ balà ông Sách, tự Là Duy Chi, nghề văn, nghiệp vỏ siêu quần bạt tụy. Ông lãnh chức Tiên phong đánh giặc Mãnh Hoạch nhiều lần ông có đại công với nhà Thục. Nói về hai người con của ông Quang Hưng. 1. Ông Quang Thống tập tước Thượng Công Chủ Quan, Hổ Bôn Trung Lang Tướng, Đông Ngô và Bắc Ngụy đều biết danh của ông. Ông không có con. 2. Ông Quang Duy đặng lập phong tước Hớn Thọ Đình Hầu, khi ông lành chức Tiền Tướng Quân đem binh phạt Ngụy, ông bị tử trận. Ông có một người con tên là Quang Tệ. Ông Quang Tệ làm chức Giáng ngôi đại phu. Khi nhà Thục mất nước thì ông vào đất Tin Đô ở ẩn. Ông có một người con tên là Quang Lảng. Ông Quang Lảng bát lãm kinh Dịch và kinh Xuân Thu. Vua nước Ngụy sai sứ mời ông ra làm Quan đã nhiều phen mà ông cứ từ chối luôn luôn. Từ đây sắp xuống, con cháu nhà Họ Quang còn lưu truyền nhiều đời kể ra không xiết. Đức Thánh Đế lúc sanh tiền. Ngài lãnh chức Hớn Thọ Đình Hầu của nhà Đại Hớn. Từ ngày Ngài hiển Thánh cho đến ngày nay. Ngài cứu Quốc hộ dân nhiều lắm, cho nên từ đời nhà Hớn cho tới đời nhà Thanh, triều nào cũng có tặng phong cho Ngài. Đức Thánh Đế và ông Quang Bình hiển Thánh tại đất Lâm Thơ ngày mồng 7 tháng chạp, năm Kỷ Hợi, nhằm năm thứ 21 triều vua Hiếu Hiến Đế, niên hiệu Diên Khương (217 năm sau Giáng sanh). Lúc ấy Ngài hưởng thọ 60 tuổi, ông Quang Bình hưởng thọ 42 tuổi.
  • 5.
    5 LỊNH TRIỀU TẶNGPHONG CHO ĐỨC QUANG THÁNH ĐẠI ĐẾ -oOo- NHÀ ĐÔNG HỚN Vua Hiếu Hiến Đế, niên hiệu Kiến An, năm thứ 9, phong cho Ngài trước Hớn Hớn Thọ Đình Hầu. Cũng triều vua Hiếu Hiến Đế, niên hiệu Kiến An, năm thứ 24, ông Hớn Trung Vương tâu vua phong cho Ngài tước Tiền Tướng Quân, Hớn Hớn Thọ Đình Hầu. NHÀ THỤC Vua Hận Chúa, niên hiệu Cảnh Diệu, năm thứ 3, phong cho Ngài tước Tráng Mục Hầu. NHÀ TÙY Vua Văn Đế, niên hiệu Khai Hoàng năm thứ 2, phong cho Ngài tước Trung Huệ Công. NHÀ ĐƯỜNG Triều vua Cao Tông, niên hiệu Nghi Phụng, năm đầu, đức Lục Tổ Thiền Sư lập bàn thờ thờ Ngài trong chùa Ngọc Truyền Sơn và đề bài vị : Già Lam Chánh Thần. NHÀ TỐNG Vua Triết Tông, niên hiệu Thiệu Thánh, năm thứ 3, gia phong cho : Ông Quang Bình tước Trung Kiệt Vương và ban tấm biển vàng treo trước cửa miếu.
  • 6.
    6 Ông Quang Hưngtước Hiển Trung Vương . Ông Quang Sách tước Thuận Trung Vương. Vua Hy Tông, niên hiệu Sùng Ninh, năm đầu, sang sứ đệ sắc ra tỉnh Sơn Tây, thành Giải Lương, làng Trường Bình, xóm Bửu Trì, phong cho : Đức Thánh Đế tước Sùng Ninh Chơn Quân. Ông Quang Bình tước Võ Linh Hầu. Ông Châu Thương tước oai linh Tướng Quân. Cũng triều vua Hy Tông, niên hiệu Đại Quân, năm thứ 2, gia phong cho đức Thánh Đế tước Võ An Vương. Sùng Ninh Chơn Quân : Cũng triều vua Hy Tông, niên hiệu Tuyên Hòa năm thứ 5, gia phong cho đức Thánh Đế thêm hai chữ Nghĩa Dõng và gia phong cho : Ông Quang Bình thêm hai chữ Oai Hiển. NHÀ NAM TỐNG Triều vua Cao Tông, niên hiệu Viêm Hưng, năm thứ 2, phong cho đức Thánh Đế tước Tráng Mục Nghĩa Dõng Vương. Triều vua Hiếu Tông, niên hiệu Thuần Huy, năm thứ 14, giaphong cho đức Thánh Đế thêm hai chữ Anh Tế. NHÀ NGUƠN Triều vua Võ Tông, niên hiệu Thiên Lịch, năm thứ 8, gia phong cho đứcThánh Đế, tước hiển linh Nghĩa Dõng, Võ Anh Tế Vương. Triều vua Thuận Tông, niên hiệu Chí Chánh, năm thú 16, phong cho : Ông Tham Quân Vương Phủ tước Phụ Chánh Lợi Tế, Chiêu Trung Hầu. Ông Giám Quân Triệu Lụy tước Trợ Thuận Khu Ma, Tuyên Nghĩa Hầu.
  • 7.
    7 Ông Châu Thươngtước Oai Linh Tướng Quân, Oai Tuyên Trung Dõng Công. Ông Quang Bình tước Kiên Công Hầu, Liêu Hóa Củ Soát, Tốc Bảo, Oai Linh Công. NHÀ MINH Triều vua Thần Tông, niên hiệu Vạn Lịch, năm thứ 42, sắc phong cho đức Thánh Đế tước Phục Ma Đại Đế, Thần Oai Viễn Trấn Thiên Tôn Quang Thánh Đế Quân. Triều vua Hoài Tông, niên hiệu Sùng Trinh, năm thú ba, gia phong cho đức Thánh Đế tước Chơn Nguơn Hiển Ứng , Chiêu Minh Dựt Hớn Thiên Tôn. NHÀ THANH Triều vua Thế Tổ, Chương Hoàng Đế, niên hiệu Thuận Trị, năm đầu sắc dụ tế lễ đức Thánh Đế và phong cho Ngài tước Trung Nghĩa Thần Võ Quan Thánh Đại Đế. Triều vua Thế Tông Hiếu Hoàng Đế, niên hiệu Ung Chánh, năm thứ 3, truy phong tước công cho ba đời trước của đức Thánh Đế và chỉ dụ khắc Thần chủ thờ trong đền thờ của Ngài, mỗi năm Xuân Thu quý tế hai kỳ. Vua truy phong cho ông Cố của Ngài tước Quang Chiêu Công. Ông Nội của Ngài tước Dũ Xương Công Ông Thân của Ngài tước Thành Trung Công. Triều vua Cao Tông Thuần Hoàng Đế, niên hiệu Càng Long, tôn đức Thánh Đế là Sơn Tây Quang Phu Tử, lại gia phong thêm hai chữ Linh Hựu. Triều vua Nhơn Tông Duệ Hoàng Đế, niên hiệu Gia Khánh, năm thứ 18, gia phong thêm cho Ngài hai chữ Nhơn Dõng.
  • 8.
    8 Triều vua TuyênTông Thành Hoàng Đế, niên hiệu Đạo Quang năm thứ 8, phong cho Ngài tước Trung Nghĩa Thần Vỏ, Linh Hựu Nhơn Dõng Oai Hiển, Quang Thánh Đại Đế, vua Lai Tôn: Đức Khổng Thánh tước Văn Đế. Đức Quang Thánh tước Vỏ Đê. Triều vua Quang Chữ, năm thứ ba, phong cho đức Thánh Đế tước Trung Nghĩa Thần Vỏ, Linh Hựu, Nhơn Dõng, Oai Hiển, Hộ Quốc, Bảo Dân Tỉnh Thành Tuy Tịnh, DựcToán, Quang Thánh Đại Đế. *************************************** Các sự tích đã kể trên đây lưu đại Gia Phổ Để tại nhà Thờ lập từ xưa tới nay nơi tỉnh Sơn Tây, thành Giải Lương, làng Trường Bình, xóm Bửu Trì.
  • 9.
    9 CHỈ CÁC NGÀYVÍA CỦA NĂM ÔNG. -oOo- ĐỨC- QUANG-THÁNH- ĐẠI- ĐẾ 1. Ngày 21 tháng 6 ngày Giáng Sanh 2. Ngày mồng 9 tháng 9 Vía về Trời, thọ phong chức; 3. Ngày mồng 8 tháng 12 Kỵ. 4. Tam Thiên Môn, Đại Nguơn Soái thống quản 3 cứa Trời là: cửa Đông, cửa Tây và cửa Nam. ĐỨC QUANG THÁNH THÁI TỬ Ngày 13 tháng 5 ngày Sanh Ngày mồng 8 tháng 12 ngày Kỵ ĐỨC CHÂU ĐẠI TƯỚNG QUÂN Ngày 30 tháng 10 ngày Sanh ĐỨC TRƯƠNG TIÊN ĐẠI ĐẾ Ngày 23 tháng 11 ngày Phong Thần ĐỨC VƯƠNG THIÊN QUÂN Ngày 24 tháng 6 ngày phong Thần. ******************************************* LỜI DẶN: Tới ngày Vía phải trai, giái, mộc, dục. Trong lòng phải chí thành, chí kỉnh. Trên bàn thờ phải sửa dọn cho chí tinh, chí khiết, rồi vọng : Hương, đăng, hoa, quả. Các việc an bài rồi, thì ngày ấy phải tụng cho đặng 2 cuốn Minh Thánh Kinh.
  • 10.
    10 ĐỨC HÀNG VĂNCÔNG GIÁNG CƠ ĐẶT BÀI TỰA MINH THÁNH KINH NHƯ SAU NẦY: -oOo- Nếu muốn vì ngàn xưa mà dạy dỗ thiên hạ cuộc can thường luân lý, nếu muốn vì trăm đời mà nhắc nhỡ thiên hạ giữ mình cho trọn danh, rạng tiết, thì ngoại sách Luận Ngữ và sách Mạnh Tử, chẳng có kinh điển nào rành rẽ và công đức lớn cho bằng Minh Thánh Kinh. Xét cho chí lý, thì sách Luận Ngữ và sách Mạnh Tử cũng dạy việc Trung, Hiếu, Liêm, Tiết, là mỗi của đạo Nhân Luân mà thôi. Đức Quang Thánh Đại Đế, lúc thiếu niên do học thuật theo sách Luận Ngữ và sách Mạnh Tử, cho nên tấm lòng của Ngài sóng sánh cũng kịp tấm lòng của đức Khổng Thánh và cái chí của Ngài, so tài cũng bằng cái chí của đức Mạnh Tử. Ngài cũng lấy bốn điều lớn là: Trau mình, sửa nhà, trị nước và vỗ an thiên hạ mà đặt kinh điển lưu truyền dạy đời. Ngài đặt Minh Thánh Kinh rồi, Ngài còn giao cho Vì Thiên Quân phê chú và làm tựa. Thiệt là Ngài khổ tâm về việc muốn cứu đời cho khỏi tội lỗi biết là dường nào. Nói thiệt kinh nầy chẳng lo chi là truyền tống chẳng đặng xa xuôi, chỉ lo in ra chẳng đặng cho nhiều mà thôi. Thử xem trong các Tỉnh, các Châu, các Huyện, sớm tối thiên hạ đều vâng tụng kinh nầy, và gần xa thiên hạ đều biên chép kinh nầy. Như vậy thì, kinh nầy lấy làm bổ ích cho cuộc phong hóa biết là dường nào. Nay kẻ Ngô Sanh chẳng nài đường sá xa xôi ngàn dặm, đến tại đàng nầy cầu ta giáng cơ đặt dùm một bài tựa. Ta phải đặt tựa cách nào? Ta có một ý, là khuyên chúng sanh hai điều sau nầy mà thôi.
  • 11.
    11 Điều thứ nhứt:- Những kẻ kỉnh tống kinh nầy, trước hết, phải rèn lòng, trau nết, cho vẹn 8 chữ là: Hiếu, Để, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Tiết, rồi ra công hoằng hóa thiên hạ cho đặng Nhơn Nghĩa như mình. Làm đặng như vậy, thì Trời sẽ ban ơn vô biên, vô lượng. Điều thứ nhì:- Những kẻ xem kinh nầy, trì tụng kinh nầy, phải gắn sức sửa mình cho ngay thẳng, phải vâng thi hành kinh những lời của kinh nầy giáo huấn. Làm đặng như vậy, thì Trời sẽ ban phước vô cùng, vô tận. Hễ vâng lời thi hành theo kinh nầy, thì trong lòng chẳng rời điều Trung, điều Hiếu, điều Liêm và điều Tiết. Bởi vậy cho nên ta mới nói rằng: Nếu muốn vì ngàn xưa mà dạy dỗ thiên hạ cuộc can thường, luân lý; nếu muốn vì trăm đời mà nhắc nhỡ thiên hạ giữ mình cho trọn danh, rạng tiết, thì, ngoại sách Luận Ngữ và sách Mạnh Tử, chẳng có kinh điển nào rành rẽ và công đức lớn cho bằng Minh Thánh Kinh. NẦY LÀ LỜI TỰA: Đời nhà Thanh, triều vua Đạo Quang, tháng chạp, năm Tân Sửu, nhằm năm 1841, mùa Thu, tháng 7, đêm mồng 5 giáng cơ tại Định Ấp, xóm Thạch Trấn, núi Đại Long Sơn. ***************************************
  • 12.
    12 ĐỨC PHÙ HỰUĐẾ QUÂN GIÁNG CƠ ĐẶT BÀI TỰA MINH THÁNH KINH NHƯ SAU NẦY: Ta thầm nghĩ rằng: Cái gốc của cuộc sửa mình thì chẳng có điều chi trọng hơn là việc làm lành; mà cái Đạo làm lành thì chẳng có điều chi lớn hơn là việc khuyên dạy người ta; mà cái phép khuyên dạy người ta thì chẳng có điều chi hay hơn là việc in kinh, in thiện thơ mà kỉnh tống. Bởi vậy cho nên, đức Văn Đế “Là đức Khổng Thánh” mới đặt bài Âm Chất Văn, đức Võ Đế “Là đức Quang Đế” mới đặt cuốn Giải Thế Kinh, đức Thái Thái Thượng mới đặt cuốn Cảm Ứng Thiên, đáu đáu khuyên đời chừa bỏ thói xấu; khăng khăng dạy dân cái dữ, cái lành. Nhưng mà ít có ai chịu nghe theo những lời của Thánh Thần Giáo Hớn, cho nên thói đời càng ngày càng đen bạc, lòng người càng ngày càng độc ác. Ai cũng thấy liền năm trời làm cho nước lụt, làm cho nắng hạn, xuôi khiến cho giặc giã lẫy lừng nhơn dân bị khổ, bị hại, biết là dường nào; ấy là tại người gây nghiệp chướng mà Trời xuống tai ương đó vậy. Than ôi! Phàm làm loài người ta thì phải có trí khôn hơn muôn loài thú vật, mà sao chẳng biết suy nghĩ việc tội, việc phước, lại nỡ đành sanh các mối họa không ngần? Đức Phu Tử của ta thấy vậy, thì chạnh dạ từ bi. Ngài chẳng nỡ điểm nhiên tọa thị, để cho sanh linh sẫy hang, sa hố. Ngài bèn đặt Minh Thánh Kinh mà ban hành khắp trong bốn biển, đặng dạy dân cải tà, quy chánh, cải ác, tùng lương. Kinh nầy trên thì hiệp theo lòng Trời, dưới thì nhằm theo thế sự. Từ ngày Minh Thánh kinh ban hành cho đến nay, thì phong tục đất Quế Lâm đã đổi dời ra tốt, và Đạo Nhân Luân của đất Đông Việt đã đặng rõ ràng đẹp đẽ. Như vậy thì chẳng
  • 13.
    13 phải là nhờsự linh nghiệm của kinh nầy hóa cuộc Tồi Phong bại tục ra cuộc thuần phong mỹ tục hay sao? . Từ ngày chư đệ tử ở cửa hàng Kiệm Thiện Đường tại ấp Việt Nam quyên tiền, mướn khắc bảng in Minh Thánh Kinh mà kỉnh tống cho dân sau thì nhân dân đất Việt Hải ùng ùng tu thân hành Đạo theo kinh nầy rồi các tỉnh Mân Việt và Triết Giang cũng tu hành theo nữa. Bây giờ bảng cũ đã mòn in không rõ chữ, các nhà buôn đất Việt Nam và đất Việt Hải quyên tiền mướn khắc bảng lại mà thỉnh ta giáng cơ đặt tựa. Ta đặt tựa, thì ta nói như vầy: Thiện thơ mà văn chương cao kỳ nghĩa lý thâm trầm, xác tận thế tình như Minh Thánh Kinh nầy, thì dẫu in ra nhiều thế mấy, dẫu kỉnh tống nhiều thế mấy thì cũng chẳng lo rằng kỉnh tống không hết, là vì nhà nào cũng thỉnh về mà tụng đọc. Đọc hiểu rồi, thì cải tà quy chánh, cải ác tùng thiện, tục đời càng ngày càng vượng, dân vật càng ngày ngày càng thạnh; sanh linh may mắn biết là dường nào! Các đệ tử kỉnh tống kinh nầy đặng phước biết là dường nào. NẦY LÀ LỜI TỰA. Đời nhà Thanh, triều vua Quang Chữ năm thứ hai, nhằm năm Bính Tý “1876”. Mùa Thu trung tuần tháng 7, giáng cơ tại tỉnh Việt Tây, gò Đơn Trước, trong một cảnh vườn nhỏ.
  • 14.
    14 ĐỨC QUANG-THÁNH-ĐẠI ĐẾGIÁNG BÚT PHÊ THỊ CUỐN MINH THÁNH KINH CỦA TRẦN- QUANG -THUẬN PHỤNG DIỄN RA TIẾNG QUỐC ÂM -oOo- Lời Tựa: Trời Đất thật là rộng lớn, mặt nhựt, mặt nguyệt thiệt là soi sáng, nhưng mà, xét ra thì đạo lý của Thánh Nhân cũng là rộng lớn như Trời, như Đất vậy, cũng là soi sáng như mặt nhựt, mặt nguyệt vậy Ta thấy thói đời càng ngày càng đen bạc, xấu xa, tánh người càng ngày càng phách phỡ, gian trá, cho nên ta phải giáng bút đặt Đạo Viên Kinh đặng khuyên lơn và răn he đời. Như trong kinh ta nói câu: “Người đức, thiện, thêm bề quan tước”, ấy là lời của ta khuyên lơn đời. Ta nói câu: “Kẻ độc, gian, hại ngược về sau”,(là hại con, hại cháu, hoặc là bị tuyệt tự), ấy là lời của ta răn he đời. Ta nói câu: “Kìa Tần Cối bất trung quá nổi; hóa loài muông đền tội nhân gian”. ấy là lời của ta răn he đời.Ta nói câu: “Nhạc Vương Võ Mục trung can; Dự trong bốn Soái Thiên Đàng sắc phong”. Ấy là lời của ta khuyên lơn đời .Ta có nói câu “Tào Mang độc hiểm quá chừng ; Âm Min đương chịu khổ hình biết bao”. Ấy là lời của ta răn he đời. Ta nói câu “Đức Gia Cát Võ Hầu trung nghĩa; khắp U Minh đảnh lễ nơi nơi”. ấy là lời của ta khuyên lơn đời. Trong mấy đoạn ta trưng việc Trung, việc Hiếu, việc Liêm, việc Tiết, là ta chủ ý khuyên lơn người đời cư xử theo đó. Trong mấy chỗ ta chỉ việc Gian, việc Tham, việc Sàm, việc Nịnh là ta chủ ý răn he, chẳng cho người đời bắt chước theo đó. Đây là ta kể sơ lược ít đoạn trong kinh của ta mà thôi.
  • 15.
    15 Nay đệ tử:Trần Quang Thuận đã gia tâm tìm kiếm nghĩa lý và điển tích, mà điển tích cuốn Minh Thánh kinh của ta ra tiếng Quấc âm rành rẽ: lời nói êm ái, thanh lịch, gọn gàng và thuần hậu, chẳng có chỗ nào là giọng đỏn đưa, pha lững, cho nên ta lấy làm khen ngợi lắm. Đệ tử hãy mướn xuất bản, in cho nhiều mà kỉnh tống khắp nơi, đặng cho thiên hạ tụng niệm, biết rõ những điều của ta khuyên lơn mà làm theo, biết rõ những điều của ta răn he mà chừa cải. Làm đặng như vậy thì thỏa lòng ước vọng của ta biết là dường nào! Những lời Thánh Ngôn trong cuốn kinh của ta rút lại có hai chữ là Khuyến Trừng mà thôi; (Khuyến là khuyên lơn việc làm lành, Trừng là răn he việc làm dữ) bởi vậy cho nên ta chẳng cần chi mà phải đặt lời tựa cho dài lắm. Nầy là lời Tựa.
  • 16.
    16 VÕ ĐẾ MINH-THÁNH-CHƠN-KINH -oOo- MỖIKHI CHÚNG TA MUỐN TỤNG KINH, THÌ: 1. Phải: trai, giái, mộc, dục trước, và mặc quần áo mới 2. Trên bàn thờ phải sửa dọn cho tinh khiết và vọng: hương, đăng, hoa, quả và trà. 3. Phải giữ trạng mạo cho nghiêm trang, cung kính, rón rén. Trong nhà phải giữ việc lẳng lặng, không nên xao động. Phải định tâm, định chí cho bình tịnh, chẳng nên xao lãng, chẳng nên lo ra. Trong lòng phải chí thành, chí tín và trong trí phải tưởng tượng “Có Đức QUANG- THÁNH-ĐẠI-ĐẾ hiện tại nơi trước mặt chúng ta”. 4. Phải xông trầm hương cho lên khói 5. Thắp ba cây hương. Đứng ngay trước bàn thờ, xá bốn lần. Rồi quỳ xuống, dưng hương lên ngay giữa trán. Khẩn cầu lầm thầm trong miệng. Khẩn cầu xong rồi, thì đứng dậy cặm hương vào chính giữa lư cho ngay ngắn. Cặm hương rồi, thì lạy bốn lạy, xá bốn xá, lạy rồi, thì quỳ xuống đọc kinh. Đọc kinh, thì đọc cho rõ ràng từng chữ, đọc cho xuôi câu, xuôi vận. *********************************** LỜI DẶN: Kinh đã diễn Quấc âm, đọc cho liền câu, liền vần, nghe hay lắm. Kinh nầy trích sao từ trang bên trái từ THẾ HỆ PHỔ CỦA ĐỨC QUANG-THÁNH-ĐẾ-QUÂN)
  • 17.
    17 QUANG-THÁNH-ĐẾ-QUÂN KHAI TÂM -oOo- THÔNGMINH THẦN CHÚ: (Phàm tụng kinh trước tiên tụng thần chú 3 lần, 3 bái) Thiên chi huyền tinh, Địa chi huyền tinh Thần chi huyền tinh, Quỷ chi huyền tinh Trợ ngã nhứt thân vạn khiếu thông linh Trù năng thức phá hổn độn lý Thường giữ Thiên Địa đồng chơn thể Trù năng thức phá hổn độn khiếu Thương giữ Thiên Địa đồng chơn diệu Nam Đẩu lục tinh, Bắc Đẩu thất tinh Thất Khúc khôi tinh, Cửu diệu hương linh Tốc trợ ngã than, Nhã phụng chí Thánh, chí Thần luật lịnh. ***********************************
  • 18.
    18 BÀI SỚ CẦUĐỨC QUANG-THÁNH ĐẠI-ĐẾ (PHẢI ĐỌC LÚC KHAI KINH) -oOo- (Lạy bốn lạy, rồi quỳ xuống đọc câu sau nầy: Kính lạy Đức Quang-Thánh Đại-Đế: Lạy bốn lạy, rồi đọc luôn). Khí cả lẫy lừng mây bạc; Lòng son sáng suốt vầng hồng. Giúp mối chánh rạng ngời tín nghĩa, oai dậy chín Châu; Trọn tiết lành vẹn vẻ trung trinh, linh soi ngàn thuở Trừ tà, dẹp (1) Giặc, đời đời tạc để công cao; Cứu (2) thế, dạy dân, chốn chốn, kính vâng lời báu. Vận sánh chín trùng vững đặc; Đức nhuần trăm họ bình an. Nay đệ tử kính thành cầu nguyện; Xin Cao Minh chứng chiếu tất lòng. Ngày nay là ngày.........tháng.........năm...........
  • 19.
    19 Tôi tên là............................niêncanh.............tuổi......................... Xin cầu............................................................................................ Khấn hứa giữ trọn đời; Quy y theo Đạo Thánh Nhập đạo hằng ngày trì tụng, lời Thánh linh thuộc lấy làm lòng. Minh kinh giốc dạ doãn cầu, nẻo huyền diệu ghi vào trong trí. Lần bước vào đường chơn chánh; Tấm lòng cầu đặng sáng soi. Ngữa trông lượng Thánh từ bi, chở che đức cả; Bao xiết phận hèn ngu mụi, nhuần gội ơn sâu. Cẩn cáo. (Lạy bốn lạy. Đứng dậy xá bốn xá, rồi đọc bài phía sau nầy). *********************************** (Bài sớ nầy đọc miệng lúc khai kinh. Hoặc là viết bằng giấy vàng, vái rồi đốt khi khai kinh cũng đặng) CHÚ GIẢI: (1) Đời Tam Quấc ba anh em Trương Giác. Trương Bửu và Trương Lương luyện phép tà thuật, quy tụ binh ma, rồi làm giặc: Trên thì phản nghịch với Triều đình, dưới thì phá hại nhân dân; sanh linh đồ khổ, chết oan vô số. Giặc nầy xưng hiệu là giặc Huỳnh Cân. Triều đình và mười tám nước
  • 20.
    20 chư hầu khônglàm chi nổi. Triều đình sai đức Quang Thánh đến...Huỳnh Cân, iêu quỉ thấy Ngài xuất trận, chánh khí chói lòa, thì chúng nó khủng khiếp, biến hóa mất hết. Ngài trừ an giặc Huỳnh Cân mà cứu hộ nhân dân. Lúc ấy các nước chư hầu tôn Ngài là Phục Ma Tướng Quân. (2) Thuở nay Đức Quang-Thánh Đại- Đế cứu hộ nhân dân nhiều lắm. Ngài có đặt kinh Giát thế và Minh Thánh kinh mà dạy đời tu nhân theo việc: Hiếu, Để, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Tiết. BÀI THỈNH ĐỨC CHÂU-ĐẠI-TƯỚNG-QUÂN -oOo- (Lạy bốn lạy, rồi quỳ xuống đọc câu sau nầy Lời sắc tặng đức Châu-Đại-Tướng-Quân, Dốc lòng làm lễ Thánh Linh Lạy bốn lạy, rồi đọc luôn). Danh Dõng Tướng cửa Trời lừng lẩy; Oai Mãnh Thần mặt đất dọc ngang. Đường đường tướng mạo phi thường, mặt đen môi đỏ; Lẩm lẩm hình dung cổ quái, râu sắt, răng ngần (1) Người thảy kiên vì kỉnh tiết; Lòng thường vẹn giữ tinh trung Việc dữ lành hết sức khảo tra;
  • 21.
    21 Cõi trần thếra công giám soát. Ngời ngời oai hiển hích; Chốn chốn bước du tuần. Trừ loài gian, sẵn dạ thương dân; Tru đảng ác, dày công cứu thế Ai trung thần ; ai nghĩa sĩ, phò trì cho thẳng bước hiển vinh ; Bọn nghịch tử (2), bọn quai nhi (3), giận chém quách làm gương trừng trị. Nối bền giềng Thế Giáo (4) Sửa chánh đạo Nhân Luân (5) Hộ pháp quyền (6), giết sạch loài iêu ; Dìu dân chúng, lần theo đạo cả (7) Rất linh bấy một vì chơn Tể ; Rất hiển thay một bực Thần Quân. Thẳng ngay ủng hộ Quấc triều ; Sắc phong Trung Dõng Đại Thần Thiên Tôn. (Lạy bốn lạy. Đứng dậy, xá bốn xá, rồi đọc bài phía sau nầy). ****************************************
  • 22.
    22 CHÚ GIẢI: 1. Răngngần: Là răng trăng ngần như màu bạc. 2. Nghịch tử : Là con ngổ nghịch với cha mẹ, phá hại cha mẹ, đánh giết cha mẹ 3. Quai nhi : Là con hổn hào, nói hông lống với cha mẹ, mắn, chưỡi cha mẹ. 4. Thế Giáo : Là cuộc dạy đời về việc nhơn nghĩa. 5. Nhân Luân: Là quân thần, phụ nữ, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu, và nhơn nghĩa, lễ, trí, tin. 6. Pháp quyền: Là kinh, sám, luật, lệ, của đạo dạy thờ Trời Phật. 7. Đạo cả : Là đạo Chánh, Trời Phật truyền ra mà dạy chúng sanh cải tà, quy chánh, cải ác, tùng thiện, đừng tin dị đoan, tà thuật. BÀI THỈNH ĐỨC TRƯƠNG TIÊN ĐẠI ĐẾ -oOo- (Lạy bốn lạy, rồi quỳ xuống đọc câu sau đây: Lời sắc tặng Đức Trương Tiên Đại Đế. Dốc lòng làm lễ Thánh Linh Lạy bốn lạy rồi đọc luôn). Trong Quế Điện, cầm quyền chủ hạt (1 lạy); Sao Văn Xương, bên tả hành cung (2). Bảy mươi hai biến hóa pháp thân (3) Trăm ngàn vạn kiếp căn vận số (4) Giúp thiên hạ dài dòng con cháu;
  • 23.
    23 Dạy nhơn gianbiết lẽ chính tà. Đeo bên mình: kim đạn, trúc cung; Trừ mối hại: Cô Thần (5) Quả Tú (6). Thương con nít tuổi còn thơ ấu, vệ thông quang (7) đổi đốt (8) tật nguyền; Giúp đàn bà trong lúc sanh thai, hộ sản nạn, khỏi bề trắc trở; Trí thông minh (9) càng lớn, càng thêm; Bịnh ban trái (10) càng ngày càng giảm. Con nuôi (11) khó, vái vang thì chẳng khó. Bịnh lâu lành, cầu khẩn đặng mau lành. Tiếng roi truyền: Đại Nguyện, Đại Bi; Đời xưng tụng: Đại Từ, Đại Thánh. Ngọc Hoàng hạ lịnh; Kim sắc gia phong. Cửu Thiên Phụ Ngươn khai hóa. Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế, Thất Khúc Dục Thánh Thiên Tôn. (Lạy bốn lạy. Đứng dậy xá bốn xá rồi đọc bài phía sau nầy) *****************************************
  • 24.
    24 CHÚ GIẢI: (Từ 1- 4 không thấy chú giải) 5. Ngài khử trừ sao Cô Thần, là vì sao làm cho người ta phải chịu mồ côi. 6. Ngài khử trừ sao Quả Tú, là vì sao làm cho người ta phải bị vá bua 7. Ngài cứu con nít khỏi bị Quan Sát, tục kêu là Con Sát bắt. 8. Ngài cứu con nít khỏi đốt, đặng ăn chơi,hết èo uột 9. Ngài cho con nít càng ngày càng thêm trí khôn, đặng thông minh, trí huệ. 10.Ai bị bịnh ban, bịnh trái, hể cầu khẩn Ngài, thì Ngài cho lành mạnh. 11. Ai không có con, hễ cầu khẩn Ngài, thì Ngài cho có con. Con ai khó muôi, hể cầu khẩn Ngài, thi Ngài cho dễ nuôi. BÀI THỈNH ĐỨC VƯƠNG THIÊN QUÂN -oOo- (Lạy bốn lạy, rồi quỳ xuống đọc câu sau nầy. Lời sắc răn đức Vương Thiên Quân Dốc lòng làm lễ Thánh Linh Lạy bốn lạy rồi đọc luôn) Tước Trời chịu: Tiên Thiên Chúa Tường; Sắc lịnh phong: Nhứt Khí Thần Quân Quan Đại Linh tra xét khắp Trời; Tướng Mãnh Liệt phân minh ba cõi.
  • 25.
    25 Mắt vàng, tócđỏ, quản trăm xe Thiên Hỏa, lôi công (1) Miệng phụng, răng ngần, thống muôn đạo Âm Binh , Thần Tướng. Cởi gió, lướt mây, ra oai sấm sét; Xuống mưa, làm nắng, trị bệnh, trừ tà. Vâng lịnh Ngọc Đế, mười hai niên (2) xét việc lỗi lầm; Thề giúp Tổ Sư (3), trăm ngàn vạn, nên công đồ sộ. Đời khen tài: chí dõng, chí cang ; Người gội đức: cứu sanh cứu tử. Nơi nơi đều mở dạy (4); Chốn chốn thảy khai đàng (5). Lòng son thương tạc chữ trung lương; Hộ pháp cứ trừ loài yêu quái. Sắc Trời phong chức: Vương Thiên Quân Thái Ất, Lôi Thinh Ứng Hóa Thiên Tôn. (Lạy bốn lạy. Đứng dậy xá bốn xá, rồi đọc bài phía sau nầy). ***************************************************** CHÚ GIẢI: 1. Ông Vương Thiên Quân cai quản Thiên Lôi, làm mưa, làm nắng, làm gió, làm dông, làm sấm, làm sét. Ngài đánh đuổi tà ma, trị bịnh, cứu kẻ sống, vớt các linh hồn.
  • 26.
    26 2. Mười hainiên là 12 niên tuế, chi tuế. Loài người ta đều thống về 12 chi tuế là: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Đức Ngọc Hoàng sai Ngài tra xét những việc lỗi lầm của loài người ta trong cả thế gian. 3. Đức Ngọc Hoàng sai Ngài theo hầu Đức Quang Thánh Đại Đế, đặng giúp Đức Quang Thánh Đại Đế. Về việc trừ tà ma, trục quỷ mị, trị tật bịnh cho chúng sanh và phò hộ thiện nam, tín nữ, trong cơn tai truân, kiểng mạng. Ngài đã cứu độ chúng sanh vô số. 4. Ngài lo giáo hóa chúng sanh, việc can thường, luân lý. Ngài khuyên lơn chúng sanh tránh xa đạo Dị Đoan, khoa Tà Thuật. 5. Ngài thường khai đàng dạy Đạo. Ngài thường giáng cơ bảo việc tiến trình cho các thiện nam, tín nữ, và chỉ phương trị bịnh cho các thiện nam, tín nữ. BÀI THỈNH ĐỨC QUANG THÁNH ĐẠI ĐẾ -oOo- (Lạy bốn lạy, rồi quỳ xuống đọc câu sau nầy: Lời sắc tặng Đức Quang Thánh Đại Đế Dốc lòng làm lễ Thánh Linh Lạy bốn lạy rồi đọc luôn). Oai Thần tốt bực, văn, võ, gồm hai; Tiết cả lẫy lừng, trung, trinh, vẹn một. Cơ nghiệp sánh ngôi Trời đồ sộ; Ân đức nhuần đạo Cả rộng truyền.
  • 27.
    27 Đạo nho, đạoPhật, đạo Tiên, đạo Giáo thuộc một tay thống chưởng (1); Cõi Trời, cõi Người, cõi Đất, Tam Tài gồm muôn mối quyền hành(2) Trên xem xét Trời ba mươi sáu cõi, lớn, nhỏ, các sao (3) Dưới gìn giữ Đất bảy mươi hai Châu, U Min, khắp chốn (4) Cầm sổ sanh quyền thưởng phân minh: Người công đức điểm Sơn thêm tuổi thọ; Giữ bộ Tử oai hình nghiêm trọng: kẻ độc gian nét Mực giảm ngày xuân. Khảo soát khắp: nào Thần, nào Phật (7); Giảm chế cùng; các Thánh, các Tiên (8) Chứng minh người thiện quả, phước duyên (9); Phổ độ kẻ tu chơn, dưỡng tánh (10) Ngàn thuở tiếng: chí Linh, chí Thánh: Muôn nước truyền: chí thượng, chí tôn. Phục Ma Đại Đế, Quang Thánh Đế Quân, Đại Bi Đại Nguyện, Đại Thánh Đại Từ, Chơn Nguơn Hiển Ứng Chiêu Minh Dực Hớn Thiên Tôn. ( Lạy bốn lạy. Đứng dậy xá bốn xá rồi khởi sự đọc kinh sau nầy). ********************************************
  • 28.
    28 CHÚ GIẢI: 1. ĐứcQuang Thánh Đại Đế thay mặt cho vì Thượng Đế mà cai quản đạo Nho, đạo Phật và đạo Tiên. 2. Ngài cai quản trên Trời, dưới Thế Gian và dưới Âm Phủ. 3. Ngài Cai quản 36 cõi Trời và hết thảy Tinh Tú lớn nhỏ. 4. Ngài cai quản 72 Châu dưới mặt Đất và các cõi U, cõi Min. 5. Ngài cầm Sổ Sanh và định việc ĐầuThai. Người nào tu thân theo việc Hiếu, Để, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Tiết, thì Ngài đem tên người ấy vào Sổ Son, rồi Ngài ban thưởng cho người ấy hoặc là việc sống lâu, hoặc là việc sang, hoặc là việc giàu và Ngài cho con thảo, cháu hiền. 6. Ngài giữ bộ Tử. Người nào tới số thì Ngài sai quỷ sứ đến bắt hồn dẫn đến Phong Đô Đài. Ngài xét ra, như người ấy phước nhiều, tội ít, thì Ngài lưu người ấy lại tại xứ Phong Đô, rồi cho đi đầu thai làm bực phú quý, hay là bực tầm thường. Người nào không có tội, mà có phước nhiều, thì Ngài bổ đi làm Thần, làm Tiên. Người nào có tội, thì Ngài giao cho vua Thập Điện tùy tội hành phạt. Người nào ăn ở, bất hiếu, bất nghĩa, bất trung, độc ác, gian giảo, xảo trá, tham tàn, bất nhơn, thất đức, thì Ngài ghi tên vào Bộ Mực. Như tội lớn, thì Ngài giết ngan, khỏi đợi tới số. Như tội nhỏ, thì Ngài bắt phải chịu tật bịnh liên miêng, bị tai nạn, khốn khổ. Ngài có quyền cho kẻ chết sống lại. (Xin đọc trương thứ 9,công việc của Trương Đại Mỹ, phía sau hình Năm Ông). 7. Ngài xét công quả của những người tu hành, rồi Ngài xin chức Phật, hoặc là chức Thần cho những người có công quả lớn. 8. Ngài phong chức Tiên, chức Thánh cho những người có công đức lớn. 9. Ngài chứng minh đủ hết những việc phước duyên, thiện quả của người ta. 10. Ngài phổ độ hết những kẻ tu chơn, dưỡng tánh.
  • 29.
    29 MINH - THÁNH- KINH PHÂN RA LÀM BA CUỐN: * CUỐN THỨ NHỨT LÀ: GIÁNG BÚT CHƠN KINH * CUỐN THỨ NHÌ LÀ: ỨNG NGHIỆM ĐÀO VIÊN MINH THÁNH KINH * CUỐN THỨ BA LÀ: ĐẨU KHẨU VƯƠNG THIỆN, KHÂM PHỤNG HỚN THẤT, HỚN THỌ ĐÌNH HẦU, QUANG THÁNH ĐẠI ĐẾ SẮC MẠNG
  • 30.
    30 CUỐN THỨ NHỨTLÀ: QUANG – THÁNH – ĐẾ – QUÂN GIÁNG BÚT CHƠN KINH -oOo- ( Là Kinh của Đức Quang-Thánh-Đế-Quân giáng cơ viết ra) ***************** (Lạy bốn lạy rồi quỳ xuống đọc câu nầy: Vâng lời Giáng Bút chơn kinh(1); kính đem quốc ngữ điển thành một chương. Lạy ba lạy rồi đọc luôn). Triều Đại Hớn, tước Quang Thánh Đế; sắc dụ cho trần thế rõ, hay. Trên đời lắm việc rủi, (2) may; May, nhờ một điểm lòng hay chơn (3), thành. Chơn, thành, có Thần Minh ủng hộ; gian, hung, Trời đoản thọ đừng than. Đế (4) ra phò tá Hớn bang; Chí đồng kết nghĩa Lưu (5), Trương (6); ba người. Vườn Đào nguyện, ngàn đời còn tạc (7); Hội Đơn Đao (8), Bỉnh Chút (9) lưu danh.
  • 31.
    31 Ngụ Tào (10),đi ở, phân minh; Nuốt Ngô (11), vì Hớn, bỏ mình quản chi. Ngọc Hoàng cảm Đế (12), vì trung cảnh; Sắc phong Ngài tuyên(13) lịnh đòi nơi. Thần thông dạo khắp dưới Trời; Nào trung nào nịnh, xét soi rõ ràng. Kìa, những kẻ tham, tàn, gian, xảo; Hản ngày sau quả báo rành rành. Trước răn trong bọn học hành: Sau răn: quan(14) hoạn(15) dân, binh, một lần. Thứ nhứt: Chớ phụ ân cha mẹ; ra ngoài đừng hiếp kẻ xóm làng. Cựu giao (16), chớ luận hèn, sang; Cũng trong năm đấng Đạo hằng dám sai. Nền phước thiện, hằng ngày vun quén; Trời chẳng cho tật bịnh, tai truân. Tào Mạng độc, hiểm, quá chừng; Âm min đương chịu khổ hình biết bao (17) Đức Gia Cát Vỏ Hầu trung nghĩa; khắp U, Minh, đảnh lễ nơi nơi. Lòng ngay đặng hưởng phước Trời; càng gian xảo lắm, càng tai họa thường. Tội lỗi, sáng dường gương Nhựt (18), Nguyệt ; chẳng vị ai, Trời, Đất, công bình. Dẩu là nhi, nữ, chớ khinh (19). Đến đâu Quỷ sợ, Thần kiên nể mình. *************************************** CHÚ GIẢI: 1. Đức Quang Thánh Đế Quân giáng bút đặt kinh nầy. Người ta thỉnh cơ. Ngài nhập vô cơ viết ra. 2. Người nào gian dảo, tham lam, độc hiểm, hung ác, thì gặp việc rủi ro, việc nhục nhuốc luôn luôn. 3. Người nào ngay thẳng, hiền lành, công bình, hay sợ tội, hay làm việc phước luôn luôn.
  • 32.
    32 4. Là ĐứcQuang Đế 5. Là Ông Lưu Bị 6. Là Ông Trương Phi 7. Khi Ông Lưu, Ông Quang và Ông Trương vào Vườn Đào tế cáo Thiên Địa, kết làm anh em với nhau đặng cứu khổn, phò nguy, thượng báo quấc gia, hạ an lê thứ, thì làm lời nguyện như vầy: “Bất cầu đồng niên, đồng ngoạt, đồng nhựt sanh, chỉ nguyện đồng niên, đồng ngoạt, đồng nhựt tử’’. Ông Thánh Tháng phê rằng: “Thiên cổ minh thơ đệ nhứt kỳ ngữ”. 8. Ngô Tôn Quờn đòi Kinh Châu Đức Quang Đế không chịu trả. Tôn Quờn biểu Lổ Túc thi kế hại Đức Quang Đế. Lổ Túc mời Đức Quang Đế qua Đông Ngô phó hội. Ngài chịu đi. Quang Bình và Mã Lương cản. Ngài trả lời rằng: “Chỗ một ngàn mũi giáo đâm vô, một muôn lưởi gươm chém tới, tên áp bắn như trời mưa, tướng xông đánh như sấm dậy, ta một người, một ngựa xốc vào, lui tới tung hoành, thi như là chỗ không có người ta vậy. Nay ta há sợ bầy chuột bên Đông Ngô hay sao? Quả nhiên Ngài đơn đao phó hội, bên Đông Ngô điều kinh tâm, tán đởm; không ai dám làm chi Ngài hết. Ngài rạng danh về việc đơn đao phó hội nầy lắm. 9.Khi Ngài thất thủ Hạ Bì, Ngài phò Nhị Tẩu qua Tào, Tào Tháo gian hiểm để cho Ngài và Nhị Tẩu ở chung một nhà nhỏ hẹp, nó lập kế ấy trông cho chị em loạn luân với nhau. Nếu Ngài trúng nhằm kế của nó thì Ngài không dám trở về với ông Lưu, phải ở lại làm tướng cho nó. Mỗi đêm nó và Trương Liêu cũng đều rình coi cho tới sáng. Thì đêm nào cũng như đêm ấy, Ngài cũng ra trước hàng ba, nó đều thấy Ngài đứng trước cửa, đốt đuốt đọc kinh Xuân Thu sáng đêm, nó thấy như vậy luôn luôn trót cả năm trời, thì chúng nó thất kinh, nói Ngài là Thần. Đoạn nó dọn nhà cho Ngài ở riêng cho đến khi Ngài đi qua Hà Bắc. Công việc của ba ông kiết thệ tại Đào Viên, việc Ngài đơn đao phó hội và việc Ngài bỉnh chút đạt đáng đã gần 1800 năm nay rồi, mà thiên hạ còn nhắc nhỡ khen ngợi. 10.Khi Ngài nghe tin Ông Lưu ở Hà Bắc, thì Ngài lo ơn đền, nghĩa trả xong xuôi rồi hết, Ngài phó Nhị Tẩu thẳng qua Hà Bắc. 11. Đến sau, Ngài muốn nuốt hết nước Ngô, đặng thâu giang sang đêm về nhà Hớn, rồi Ngài bị tiểu kế của Lữ Mông mà quy Thần.
  • 33.
    33 12. Là ĐứcQuang Đế 13. Kiểm soát cả trên Trời, dưới thế gian và chốn Âm phủ. 14. Quan Văn, Quan Võ. 15. Quan lo việc xử đoán 16. Anh em kết nghĩa với nhau trong lúc hàng vi, bây giờ mình giàu sang, người ta thì nghèo hèn, mình phải giữ thỉ chung như nhứt, không nên phụ bạt. 17. Tào Tháo thuở trước gian hung, xảo, trá, độc, hiểm, hung, ác, tàn nhẩn, sáng ngôi vua khi chư hầu giết oan sanh linh vô số. Nó chết đã gần 1800 năm rồi, mà đến nay nó còn bị hành hình dưới âm phủ, chưa đặng đi đầu thai. Người đời cũng nên noi gương đó mà giữ mình. 18. Những việc tội lỗi của chúng ta phạm tại dưới thê gian nầy, nó chiếu sáng lên trên Trời cũng như là mặt nhựt, mặt nguyệt vậy. Thánh, Thần đều thấy rõ hết. 19. Ở đời đừng nên xảo trá, chẳng nên gian tham của ai một mảy chi hết, chẳng nên phỉnh phờ, gạt gẫm ai hết. Thậm chí cho tới mấy đứa con gái khờ dại, mình cũng chẳng nên phớm phỉnh, gạt gẫm, dổ dành chúng nó. Mình ở đặng như vậy, mình đi tới đâu, thì Quỷ cũng sợ mình, Thần cũng phục mình. Lập mưu kế dỗ dành gái sắc; vợ con mình người ắt dâm ô (1) Gian, tham, lường gạt, giựt đồ; bạc, bài, đĩ, điếm, có mô đặng giàu (2) Khoe hay, giỏi, tranh nhau mãi mãi; gặp nghèo, hèn, hủy hoại thường thường. Mau mau xét, nghĩ, kỹ can ; Đừng đừng dông ruỗi xuống hang sâu hoài. Ba kiếp phải luân hồi hèn hạ (3); ngàn năm người nhục mạ khóc than. Làm quan ngòi viết độc, gian; Lưỡi như gươm bén giết oan cả nhà. Giận bảy đứa đờn bà lan (4), độc (5); thói điêu ngoa (6) mạ nhục họ hàng (7)
  • 34.
    34 Hiếp chồng xỉmạ gia (8), nương; Đế (9) vừa ngó thấy giận càng xiết bao! Xảy, tượng đất huơi đao nghiêm xử; Mẹ con vươn một lưỡi đứt hai (10) Mừng cho thảo (11) thuận mấy người; gạo mang, củi gánh, hôm mai phụng thừa (12) Hóa ngựa đất gió đưa Tống Chúa (13); muôn dặm đường cứu hộ cùng quân (14) Muốn cầu trường thọ, nuôi con; phải mau giái sát, lại còn phóng sanh. Loài trâu, chó, bao đành sát hại; Thịt không ăn, thì khỏi ngục tù (15) Vâng theo lời Đế (16) dặn dò: Gặp cơn hoạn nạn Đế(17) phò hộ ngay Đế (18) ngự đến dẹp bầy iêu quỷ; Dấu đao quang, sấm dậy, máu (19) trôi. Trăm chiều giúp nước chẳng dời; công dày, tước cả, ơn Trời vẻ vang. Trải đời đặng: giàu, sang, thạnh, vượng; sống lâu mà khỏi vướn tai nàng. Ai mà: xuôi, ngược, trá gian; Lòn cân, tráo đấu, gạt đoàn dân ngu. Trên Dương Thế chẳng cho tái (20) phục; Dưới A Tỳ hình lụt siết van (21) Lúc chừ hết kịp ăn năng; Khá mau vâng chịu khuyên răn mọi điều. Hồi tâm lại, chớ theo việc ác; Gắn sức ra, làm các sự lành. Mấy lời Đế (22) dạy đành rành; Khuyên lơn trăm họ phụng hành, chớ khinh. (Đọc tới đây thì đứng dậy lạy bốn lạy, rồi đọc kinh phía sau nầy). ******************************************
  • 35.
    35 CHÚ GIẢI: 1. Hểmình lấy vợ, lấy con gái của người ta, thì Trời trả báo cho mình, khiến kẻ khác lấy vợ của mình, lấy con gái của mình, chẳng khỏi đặng đâu. 2. Mấy người gian giảo, tham lam, kiếm thế lường gạt của người ta, giựt của người ta, Trời, Đất, Thánh, Thần, chẳng hề khi nào dung tha. Bợm bài gian, bạc lậu và mấy người đờn bà lường gạt của đờn ông, mấy chú đờn ông lường gạt của đờn bà, bọn nầy làm sao mà ăn đời cho đặng, làm giàu cho đặng! Bất tảo tắc vãng phải tàn mạc hết, lại con cháu phải trả nợ! 3. Ác thú (hèn hạ). Là đầu thai làm đuôi, cuồi, câm, ăn mày, điên, du côn, ăn trộm, ăn cướp. Hoặc là đầu thai làm chó, heo, trâu, ngựa vân.Vân… 4. Lan là lan tâm, cẩu hạnh (lòng lan, dạ chó), là đàn bà đụng ai lấy nấy, gìa chẳng bỏ, nhỏ chẳng tha, không biết nhục nhuốt, thúi tha. Thành như loài thú. 5. Là độc hiểm, hung ác, hết biết việc tội phước, việc gì cũng dám làm hết. 6. Điêu ngoa là cái miệng chành chạch, nói rỗng rãng bể nhà, bể xóm, nói hồ đồ, hổn độn. Nói thêm thừa: dộng đầu xuống đất, trở cẳng lên trời. Ngược xuôi tráo chát; việc có nói không, việc không nói có. 7. Họ hàng là trong vòng bà con gần xa, trong cánh họ. 8. Cha, mẹ chồng. 9. Đức Quang Đế. 10. Đời nhà Tống có một người đờn bà tên là Nguơn Thị xằn xịu lắm, hổn hào lắm, ai thấy nó cũng ghê. Nó ăn ở độc hiểm, hung ác, ai thấy nó cũng sợ. Bửa nọ, trong nhà có khách đầy nhà, mà nó mắn chưỡi mẹ chồng nó, không chừa một chỗ. Mẹ chồng nó thấy có khách, xấu hổ, gắn gượng nói lại một hai tiếng cho bớt nhục. Nó nói sao bả dám trả lời lại, một tay nó bồng con, một tay nó xách cây đánh bả. Ai cản cũng không đặng. Bả vụt chạy ra đường. Nó tuốc rượt theo . Bả chạy trước và la và khóc. Nó chạy sau, miệng thì chưỡi, tay thì cầm cây đánh tới. Hai người chạy ngan tới trước Chùa Đức Quang Đế. Thình lình, Thần Tượng của Ngài bằng đất xách siêu chạy ra chém mẹ con. Thị Nguơn đứt ra làm hai khúc. 11. Ngài thấy ai hiếu thảo với cha mẹ, thuận hòa với anh em, chị em, Ngài thương và vui mừng. 12. Ngài thấy ai dưỡng nuôi cha mẹ, siêng năng, lo làm ăn, cần kiệm, thiệt thà, thì Ngài thương, Ngài thấy ai hủy bạt cha mẹ, làm biếng ở không, chơi bời, lường gạt thiên hạ, thì Ngài ghét. 13. Đời nhà Tống, Kim Phiên qua xâm lăng Trung Quấc luôn luôn. Vua Huy Tông truyền ngôi cho Thái Tử. Tân quân xưng hiệu là Khâm Tông. Kim Phiên qua bắt Huy Tông, Khâm Tông và Triệu Khấu (là em của Khâm Tông) đem về Bắc. Nó cầm tù Huy Tông và Khâm Tông tại Ngũ Quấc Thành. Nó giao Triệu Cấu cho Ngột Truật làm con. Triệu Cấu lén trốn về Tống. Ngột Truật
  • 36.
    36 dẫn binh theobắt lại. Triệu Cấu thầy Ngột Truật đi gần tới, thì hoảng hốt, liền nhảy xuống sông Huỳnh Hà mà tự vận. Bổng chút Đức Quang Đế làm phép lạ hoá ra một con ngựa bằng đất choTriệu Cấu cởi, rồi làm gió bay người và ngựa về tới Trung Quấc,Triệu Cấu về tới nước, thì Đình Thần tôn lên làm Vua, xưng hiệu là Cao Tông. Vua Cao Tông cải Quấc hiệu là Nam Tông, rồi dời đô qua đất Trương An. 14. Cũng trong lúc cứu Triệu Cấu, Đức Quang Đế hóa ra một trận dông đưa hết quân binh gia của Triệu Cấu về đất Tống. 15. Ai muốn cầu việc trường thọ, ai muốn cầu việc nuôi con, thì phải cử việc sát sanh, hại vật; lại phải phóng sanh loài thượng cầm, loài hạ thú và loại thủy tộc. Ai không ăn thịt trâu, thịt chó, thì tránh khỏi việc ngục tù trên Dương Thế và dưới Âm Phủ. 16. Là Đức Quang Đế 17. Là Đức Quang Đế 18. Là Đức Quang Đế 19. Chúng ta thờ Ngài cho thành kỉnh, khi chúng ta bị tà ma quỷ mị, phá hai, hể vái Ngài, thì Ngài sẽ đến khử trừ tà ma, quỷ mị. Ngài làm sấm nổi, chớp dăn, Ngài giết chúng nó máu trôi như mưa. 20. Chẳng cho đầu thai làm loài người ta trên Dương Thế. 21. Bắt hành hình tại ngục A Tỳ luôn luôn, làm cho đau đớn van xiết.
  • 37.
    37 CUỐN THỨ NHÌLÀ: QUANG –THÁNH – ĐẾ – QUÂN Ứng-nghiệm Đào-Viên Minh-Thánh-Kinh -oOo- Đức Quang Thánh Đế Quân cho ông Thiền Tăng tại chùa Ngọc Tuyền Sơn nằm chiêm bao học thuộc kinh nầy. Khi ông Tăng tĩnh giấc, thì lật đật lấy bút chỉ chép lại y nguyên, không sai, không sót chữ nào hết. Kinh Ứng-nghiệm Đào-Viên Minh-Thánh phân ra làm 15 đoạn, đặng cho các Thiện Nam và các Tín Nữ dễ hiểu các sự tích. Đoạn nào thì nói theo công việc của đoạn nấy, phân biệt và rành rẽ lắm. Xin đọc cho kỹ càn. Mục đích của đoạn ấy in toàn chữ nằm mà đậm. *********************** ĐOẠN THỨ NHỨT.- Chỉ các điều ích lợi về việc Sao lục, việc Ấn tống và việc Trì Tụng Đào-Viên-Minh-Thánh-Kinh. (Lạy bốn lạy rồi quỳ xuống đọc sau nầy: Quang-Thánh-Đế-Quân Ứng nghiệm Đào-Viên-Minh-Thánh(1). Lạy ba lạy rồi đọc luôn) .
  • 38.
    38 Tước Hớn ThọĐình Hầu, nhà Hớn (2); kinh Đào Viên đặt nhón dõi truyền. Chơn Thần giáng hạ Ngọc Tuyền (3); đêm thanh ứng mộng cửa Thiền đại tăng (4) Rằng: “Kinh, điển, muôn, ngàn, có thảy; Minh-Thánh-Kinh chưa thấy ban hành. Đặng Tăng phải nhớ rành rành,: chép truyền Trần Thế, chớ khinh làm thường. Vọng bàn, vái, thắp hương, tụng niệm; phước lành kia ứng hiện tới liền (5) Ai mà sao, tống, ấn, truyền; ắc là bịnh hoạn, tật nguyền cũng qua (6) Kinh nầy phụng trong nhà, kính lễ; iêu quỷ kia hóa bụi xa bay (7) Tàu, thuyền, thờ, tụng, kinh nầy; gặp cơn sóng gió hãng rày bình an (8) Người hành khách thường mang kinh ấy; trải dặm trường mạnh giỏi không lo (9) Xem kinh, mấy kẻ học trò; thang mây nhẹ bước, sớm cho gặp thời (10) Đờn bà biết phụng thờ kinh ấy; sanh năm trai, hai gái thành thân (11) Nếu vì kẻ Thát niệm thường; vong hồn lên chốn Thiên Đường (12) Làm con biết gìn câu hiếu, kỉnh; phụng kinh nầy, thành tín trước sau. Vì cha, vi mẹ, khẩn cầu; Thung Huyên, ắc đặng sống lâu, phước dày (13) Năm, ba biến, thường ngày trì tụng; hoặc trăm, ngàn, tiếng, cũng thêm (14) hay. ***************************************
  • 39.
    39 CHÚ GIẢI: 1.Nhơn saomà cuốn kinh nầy đặt hiệu là ứng nghiệm Đào Viên Minh Thánh Kinh? Ứng nghiệm là cảm ứng linh nghiệm vô cùng. Ai vưng thi hành theo những lời trong kinh nầy dạy, thì khẩn cầu việc gì đều đặng việc nấy, chẳng sai. Đào Viên là chỗ ba ông kết trọng nghĩa với nhau. Chữ Minh nghĩa là tỏ rạng như mặt nhựt., mặt nguyệt vậy. Phải giữ tấm lòng cho trong sạch, phải sáng láng như mặt nhựt, mặt nguyệt. Chữ thánh nghĩa là thông suốt mọi việc. Giữ cho vẹn toàn chữ Trung, chữ Hiếu , thì cũng đặng thành Thần, thành Thánh. Chữ Kỉnh nghĩa là kính lòng, răn lòng, đừng tham, đừng dâm. Giữ cho trọn tám chữ: Hiếu, Để,Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Tiết. 2. Đức Quang Đế lãnh tước Hầu ăn lộc đất Hớn Thọ Đình của nhà Đại Hớn. 3.Chùa Ngọc Tuyền lập trên núi Ngọc Tuyền Sơn, là chỗ Đức Quang Đế, khi hiển Thánh, về kêu Hòa Thượng Phổ Tịnh, biểu ráp đầu lại cho Ngài 4. Đại Tăng, là Đức Huệ Năng. Trong Thiền Môn tôn Ngài làm Đệ Lục Tổ Sư. 5. Bất câu là ban ngày hay ban đêm, tắm rửa sạch sẽ, thắp hương tụng kinh nầy. Mà cầu việc chi, thì có Kiết Tinh cũng chiếu tức thì . Cầu việc gì, đặng việc nấy. 6. Tên Thế Mỹ bị tật hai con mắt, nghe lời đọc kinh nầy và in kinh nầy kỉnh tống, cách vài tháng hai con mắt đặng sáng. Tên Minh Tân Huấn bịnh nặng gần chết, vợ con Va trì tụng kinh nầy mà cầu nguyện. Lòng chí thành thấu tới Đức Quang Đế. Ngài cho Minh Tân Huấn lành bịnh và sống thêm một kỷ. 7. Tại xứ Giang Tây có nhà của Quan Ngự Sử Diễn Diên Vỉnh bi Hồ Ly Tinh phá tán. Gia quyến Quan Ngự Sử phải bỏ nhà đi ở chỗ khác. Quan Ngự Sử mắt ở kinh. Gia quyến Quan Ngự Sử nghe đồn kinh nầy kinh nầy linh nghiệm, bèn trai, giái, mộc, dục, trì tụng kinh nầy mới đặng hai ngày, hai đêm, thì nghe có tiếng nói ran rãng trên lầu như vầy: “Đại Đế ngự đến kia kìa, chúng ta phải mau mau bỏ chỗ nầy, nếu diên trì, thì không toàn thân mạng . Từ đó về sau trong nhà bình an vô sự. 8.Ông Trương Kiến Chương bị bão giữa biển. Nước vô gần đầy thuyền. Ai nấy kể chắc phải chết. Trương Kiến Chương lấy kinh ra trước mũi thuyền và đọc và kêu Đức Thánh Đế. Chưa đặng vài phút đồng hồ, thì thấy Đức Quang Đế đến chỉ một cái thì dông tan, biển lặng ; nội thuyền đều đặng bình an. 9.Đi đường đem kinh nầy theo, thì khỏi sợ trộm, cướp, tật bịnh, cùng là ai làm thiệt hại chi hết.
  • 40.
    40 10. Có mấyngười học trò tên là Trương Xuân. Hoác Vị Nhai và Kim Hòa rủ nhau vào chùa Đức Quang Đế cầu nguyện. Đêm ngày trì tụng Minh Thánh Kinh. Đức Quang Đế ứng mộng dạy ba người làm bài. Trường Hương, Trường Hội và Trường Đình, ba người đều đậu cao. Đến sau ba người đều đặng lên tới bực thượng thơ. 11. Đờn bà có thai trì tụng kinh nầy, thì tới ngày lâm bồn, đặng mẹ tròn, con vuông. Ai không có con, tụng kinh nầy mà cầu con cũng đặng. Người phú hộ tên là Thiên Bảo, ở tại đất Quý Châu, đã trộng tuổi mà không có con . Va buồn rầu than vãng luôn luôn. Nghe người ta điềm chỉ, thì Va và ba người vợ trì tụng Minh Thánh Kinh. Cách chẳng bao lâu, ba người vợ thọ thai, đẻ năm một. Mỗi người sanh đặng hai gái, năm trai, đến sau đặng thành thân cả thảy. 12. Uông Tinh Hư, ở Vũ Châu, trì tụng cảm Ứng Kinh và Minh Thánh Kinh mà cầu cho vong hồn cha mẹ. Cách một năm, cha mẹ về ứng mộng cho Va biết rằng nhờ Va cầu nguyện mà ông bà đã đặng về chốn Thiên Đàng. 13. Đức Quang Đế quý trọng những người hiếu thảo. Tên Đảnh Thần, của Va tới 50 tuổi mới sanh Va ra. Khi Va có trí khôn thì Va trì tụng Minh Thánh Kinh mà cầu Thọ cho cha Va. Đức Quang Đế cảm lòng hiếu, Ngài cho cha mẹ Va sống tới 90 tuổi và cho Va thi đổ Trạng Nguyện mười một năm, trước khi cha Va mãn phần. 14. Mỗi ngày đọc hoặc là ba cuốn, hoặc là năm cuốn Minh Thánh kinh, hoặc là đọc mấy trăm, mầy ngàn tiếng cũng đặng. Đọc nhiều chừng nào thì thêm phước chừng nấy. Chư Thần nghe, đẹp, vui, thay; lại trong nhà cửa từ rày quang(1) minh. Việc dữ, hóa việc lành, cũng chóng; phước, lộc thêm, thọ cũng thêm (2). ĐOẠN THỨ NHÌ: - Đức Ngọc HoàngThượng Đế sắc mạng cho Chư Thánh, chư Thần ban hành Đào Viên Minh Thánh Kinh khắp. Trên vì Thái Thượng Lão Quân; cùng trong tam giái Chư Thần rất linh.
  • 41.
    41 Thần Ngũ Nhạc,Lôi Đình hiển hiện, Thần Ngũ Hồ, Bối Biển linh thông. Đôi vầng Nhựt, Nguyệt Tây, Đông; Bắc, Nam, Đẩu, Tú, soi cùng nơi nơi. Thành Hoàng khắp dưới Trời vâng lịnh; Thổ Địa trong muôn cảnh nghe truyền. Tướng Trị Ngoạt (3), tướng Trị Niên (4); Thần chuyên Trị Nhựt (5) Thần Chuyên Trị Thời (6). Hắc sắc Soái (7), đêm sai săn sóc; Hạo Khiết Binh (8), ngày trót xem coi. Qua qua, lại lại, xét soi ; mỗi điều tin tế, chẳng sai phân hào. Thần Gia Trạch hội vào chứng kiến; đức Táo Quân (9), cứ chuyện trực trần. Ai mà tụng niệm ân cần; hoặc trai, hoặc gái, tấu văn hay liền. Hoặc ban những phước duyên, thọ, khảo; hoặc cho thêm con thảo, cháu lành. Muôn thần tấu đối Thiên Đình (10); dưới Trời đâu đó ba hành rất mau. ĐOẠN THỨ BA:- Thuật nhón các công việc sanh bình của đức Quang Thánh Đại Đế lâm phàm trong đời Hớn Tam Quốc. Đế (11) vốn học Xuân Thu, Luận, Mạnh; sớm lảu thông Kinh Thánh, truyện hiền. Trước là Hiếu, Để, vẹn truyền; giữ mình, trị nước, bổn nguyên suy lần. Xảy gặp lúc Huỳnh Cân (12) rối loạn; họa binh qua tứ hướng hại dân. Mười năm siêu, giáp, liền than; chẳng an đêm ngủ, chưa tần bữa no. Đánh dẹp lũ tặc đồ giông ruỗi; non sông vừa một buổi chia ba(13). Râu, mày, điểm điểm tuyết pha (14); đao mòn, ngựa mỏi, sức đà kém suy. ******************************************
  • 42.
    42 CHÚ GIẢI: 1. Thánh,Thần nghe nhà nào đọc Minh Thánh Kinh thì vui mừng lắm; biết rằng nhà ấy có người lo làm lành, lo tu hành; bèn đến phò hộ. Các Ngài đến thì có hào quang doanh phủ chói sáng. Tại xứ Giang Tây có Ông Thạch Trung Phát đêm ngày đều ở trên lầu trì tụng Minh Thánh Kinh. Ban đêm, trong xóm của ông , ai ai cũng đều thấy trên lầu của ổng hào quang chói sắc đỏ lòm bốn phía, thì nghĩ rằng cái lầu ấy có iêu quái chi đó . Ai nấy đều đến rình coi. Ban đầu thì còn sợ. Một chặp thì bớt sợ. Đến khi biết rõ rằng ấy là hào quang của Thánh, Thần, đến chứng minh việc tụng kinh, thì ai nấy đều hết nghi là việc iêu quái. Từ đó về sau, thiên hạ lấy làm trân trọng việc tụng niệm Minh Thánh Kinh lắm. 2. Nhà nào có xảy ra việc dữ gì, nếu tụng Minh Thánh Kinh mà cầu khẩn, thi, tức tốc, việc dữ ấy hóa ra việc lành. Nhà nào trì tụng kinh nầy thì đặng việc Phước, việc Lộc và việc Thọ. 3. Ông Thần cai quản Tháng. 4. Ông Thần cai quản Năm. 5. Ông Thần cai quản Ngày. 6. Ông Thần cai quan Giờ. 7. Đạo binh Hắc Sắc Soái tuần du ban đêm. 8. Đạo binh Hạo Khiết Binh tuần du ban ngày 9. Ở trong nhà thì có Thân Gia Trạch là Đức Táo Quân soi xét mỗi việc lành, mỗi việc dữ, rồi biên chép đủ hết, không sai, không sót một mãy. 10. Khi đờn ông, đờn bà, hoặc con trai, hoặc con gai, cúng tụng kinh nầy, thì Du Thần phải mau lên chốn Thiên Đình tâu cho đức Quang Đế hay. Ngài sẽ ban hoặc là phước, hoặc là thọ. Hoặc là Ngài cho con thảo ,cháu lành. Khi muôn Thần tấu đối cho Ngài rõ việc thiện, việc ác, thì Ngài sắc mạng cho muôn Thần ban hành gấp gấp việc thưởng và việc phạt cùng trong thế giái. 11. Ông nội Ngài truyền Kinh Xuân Thu cho ông thân Ngài. Ông thân Ngài truyền lại cho Ngài, cho nên Ngài rành kinh nầy lắm. Ngài cứ theo đó mà xử thế . Lúc còn thiếu niên thì Ngài đà thông suốt nghĩa lý Sách Luận Ngữ và sách Mạnh Tử hơn người ta. Ngài cứ theo Luận Ngữ. Mạnh Tử và Xuân Thu mà tu thân, tề gia và trị Quấc. 12. Nhà Đông Hớn, từ vua Hườn Đế và vua Linh Đế sắp về sau, vận nước càng ngày càng suy vì, dị đoan càng ngày càng nổi lên, loạn tặc càng ngày càng mạng thế. Bọn Trương Giác, Trương Bửu và Trương Lương, nổi lên xưng là Thiên Công, Địa Công và Nhân Công tướng quân và xưng hiệu là Huỳnh Cân.
  • 43.
    43 Chúng nó cửbinh đánh với triều đình, làm cho nhân dân khổ đổ, chết oan vô số, dẹp tan bọn Tả Tử, bọn Vu Kiết nổi lên dùng việc tà thuật, việc iêu quái phá hại nhân dân. Kế bên Đông thì Tôn Quờn, bên Hà Bắc thì Viên Thiện nổi lên. Trong Triều thì Đổng Trát lộng quyền, áp chế chư hầu. Tại Trường An thì Tào Tháo nổi lên. Lúc ấy binh qua thương tàn dân mạng vô số, lấy làm thương tâm thảm khốc. 13. Đến sau nhà Đông Hớn chia làm Tam Quấc là Thục, Ngụy, Ngô. Tây Thục thì về ông Lưu, Bắc Ngụy thì về Tào Tháo, Đông Ngô thì về Tôn Quân 14. Bị lao tâm và lao lực về việc nước, cho nên mới hơn bốn mươi tuổi mà tóc râu đều điểm bạc. Trãi gan ruột ra vì việc nước; Nguyện sắc, son, sau, trước, một lòng. Huôn lao, kim ấn, hầu phong; Làu làu tiết, nghĩa, gan trung, giữa trần. ĐOẠN THỨ TƯ:- Nói rằng đời nay có nhiều người làm tôi mà mong lòng phản vua, có nhiều người làm con bội ân, ngổ nghịch với cha mẹ; có nhiều người gian, tham, sàm, nịnh độc, hiểm, hung ác, tàn nhẩn, bạo ngược, mà chẳng sợ Trời đất báo ứng. Khuyên ai nấy hãy nhớ rằng mỗi việc lành, mỗi việc dữ, sớm muộn đều có thưởng phạt luôn luôn, chẳng sai, chẳng sót một mảy. Nay những lủ loạn thần, tặc rữ; lòng ngược, xuôi, độc, dữ, xiết chi. Gian, tham, sảm, nịnh, nhiều bề; lập ra Đảng nọ, Đảng kia, tranh cường. Nào nghĩ đến cang thường, luân lý; nào kể chi Hiếu, Để , ngay, tin. Nghinh ngang, mỗi việc hoành hành; nhiều điều tự đắc, nhiều lần cầu may (1). Ngôi vua tiếm (2) tói ngay bị hại; của cải tham, sắc gái càng mê. Đem lòng độc, dữ, gớm ghê; biết bao tánh mạng chịu bề oan khiêng (3).
  • 44.
    44 Chỉn tham việcnhản tiền khoái lạc; nào kiên chi tội ác về sau. Thánh, hiền, xưa lắm công lao (4); chớ đem lòng trá gượng cầu hiển vinh(5). Kìa, mây (6) gấm, thủy tinh (7), rực rỡ; nọ, trăng trong (8), hoa nở (9), tốt, tươi. Mây tan, ngọc nát (10) rã rời; hoa tàn, nguyệt khuyết, vậy thời như không. Nếu chẳng biết dằng lòng giữ máy; như gươm linh bị gãy có khi (11). Làm ngan, ở ngược , ra chi; gây nên oan nghiệt, bởi vì dể ngươi (12). Vay, cũng chẳng mấy hồi phải trả; lâu, mau, thì thiên hạ đều hay (13). Lẽ thường báo ứng đâu sai; đố ai ráp cánh mà bay khỏi Trời. ĐOẠN THỨ NĂM:- Nói rằng ai làm lành thiệt tình và cho dày Công phu, thì mới là đặng hưởng phước Trời. Thí dụ như quan văn, trước hết phải dày công phu học hành, thì sau mới là đặng quyền cao tước cả. Thí dụ như quan võ, trước hết phải có công chinh chiến, dư trăm trận nguy hiểm, thì sau mới là đặng thăng tới tước công, tước hầu. Việc làm ruộng, việc làm vườn, nếu không dày công cày bừa, vung quén, thì làm sao cho có lúa, làm sao cho có trái cây? Cuộc kỵ nghệ, nếu làm dối dá, thì làm sao cho có đồ vật dụng khéo léo, sắc sảo? Khuyên người đời phải thủ phận an mạng, thuận thời, thính Thiên. Chẳng nên bôn chôn mà làm việc tội lỗi, trái lòng Trời. Cứ làm việc lành luôn luôn , thì Trời sẽ thưởng phước. Lúc vị ngộ, chờ thời mới phải; vui nghiệp thường, chớ trái mạng Trời (14). ******************************************* CHÚ GIẢI:
  • 45.
    45 1. Đời naythiên hạ hết biết tới can thường luân lý; hết biết tới Hiếu, Để, Trung, Tin, Lễ, Nghĩa, Liêm, Tiết. Kiêu ngạo, phách phở, lập phe, lập Đảng. Muốn làm chi thì làm. Chẳng kể ai ra chi hết. Hễ có thế thần làm việc gì đặng thì làm. Chẳng kể việc phước, việc tội, chẳng sợ Trời Đất báo ứng. 2. Bọn Đổng Trát, Tào Tháo, Lữ Bỗ, tím ngôi vua, tham của cải, mê sắc gái. 3. Bị bọn nầy làm cho thiên hạ khốn khổ, chết oan nhiều lắm. 4. Các bực Thánh hiền đời xưa, ông nào cũng là bị chà xát tấm thân đáo đễ, rồi sau mới là đặng hiển vinh trọn đời, lại danh tiếng còn bia trong thanh sử cho thiên hạ khen ngợi, kính phục đời kia sau qua đời nọ. Như ông Thuấn bị cha thì hung dữ; mẹ ghẻ thì độc hiểm, em một cha khác mẹ thì kiêu ngộ, ăn hiếp Ngài phải đi làm ruộng tại núi Lịch Sơn, làm lò gốm tại xứ Hà Tân, đánh lưới tại cham Lôi Trạch đặng nuôi cha,nuôi mẹ ghẻ và nuôi em. Đến sau vua Nghiêu nghe danh Ngài là người đại hiếu, bèn rước Ngài về mà gã hai bà công chúa là Nga Hoàng và Nữ Anh cho Ngài, rồi nhường ngôi Thiên Tử cho Ngài, Ông Y Doản phải làm ruộng tại đất Hữu Sang vua Thành Thang rước về làm quân sư. Ông Lư Vọng đi câu cá tại Sòng Vị, vua Võ Vương, nhà Châu, rước về làm quân sư. Đức Khổng Tử đi giảng Đạo và trước và sau 20 năm trời, khi thì bị vây nơi nước Khuôn, khi thì bị thầy trò bị đói nơi nước Trần, khi thì bị đuổi nơi nước Thái, rồi sau mới là đặng làm vạn đại đế sư. Ông Châu Hồng Vỏ phải đi chăn trâu mướn rồi sau làm vua nhà Minh, phong là Minh Thái Tổ vân. vân… 5. Đã dày công lao khổ và lòng dạ hiền lương, thành thiệt, thì mới là đặng hưởng, cuộc vinh hiển lâu dài. Nếu dùng mưu kế xảo trá, gian hùng, độc ác, mà cầu cuộc vinh hiển, thì mau tàn mạc, lại con cháu bị hư hết. 6. Cũng như là đám mây ngũ sắc coi xinh tốt lắm. 7. Cũng như là thủy tinh chiếu ra đủ màu, coi đẹp con mắt vô cùng. 8. Cũng như là trăng trong mát mẽ, sáng láng vui vẻ. 9. Cũng như là hoa nở tốt tươi, coi xinh lịch lắm. 10. Rồi chẳng đặng bao lâu , đám mây gấm ấy tan mất, cục thủy tinh ấy bể mất, mặt trăng ấy lặn mất, cái hoa ấy tàn rã hết. 11. Nếu chẳng biết dằng lòng, chẳng chìu theo mạng Trời, đụng đâu làm đó, không suy nghĩ, không toán lợi hại, thì cũng như cây gươm cứng kia, ỷ nó chắc, rồi đụng đâu chặt đó, thì có khi nó phải mẻ, phải gãy. 12. Ở đời, hễ làm phách, ỷ thị, gây ra việc thù oán thì bất tảo tắc vẫn phải bị tai bị hại. 13. Làm lành thì đặng phước, làm dữ thì bị họa. Có vay thì có trả luôn luôn; chẳng kiếp, thì chầy đó mà thôi, sao sao cũng có.
  • 46.
    46 14. Cuộc giàunghèo, cuộc sang hèn, đâu đó đều có số Trời thảy thảy, chẳng phải là ai giỏi mà đặng đâu. Nếu chưa gặp thời, thì phải an tâm mà chờ đợi, chẳng nên bôn chăn làm bậy mà bị Trời phạt. Thử xem trăm việc trong đời; làm mà dối dá, vật thời khó tinh(7) Cây chẳng dưỡng, lá nhành không tốt; lúa dối trồng, bông hột nào mong. Văn thần trải mấy thơ công (2); võ Thần trăm trận; mới hòng hiển vinh. Đế vốn đấng trung tinh Nhựt, Nguyệt; trải muôn đời đại tiết Càn Khôn(3) Trời chẳng mòn, Đất chẳng mòn; còn Trời, còn Đất, hãy còn tánh linh (4) CÓ LỜI KỆ RẰNG: Vì sao số Sáu hiệp ngôi Trời (5); Đế xuống phàm trần hộ khắp nơi. Tuy khuất hình dung, Thần hiển ứng; oai phong lẫm liệt trải muôn đời. ĐOẠN THỨ SÁU:- Chúng sanh phải biết rằng đức Quang Thánh Đại Đế nguyên là Thần Châu Y ở trong cung Tử Vi. Ngài cai quản vì sao Văn Xương và vì sao Võ Khúc. Ông Trương Tiên tu hành từ đời Huỳnh Đế cho tới bây giờ, mà Trời chưa bổ đi làm chủ hạt chỗ nào, nay Đức Ngọc Hoàng sai làm tùng thần cho Đức Quang Thánh Đại Đế. Ông Trương Tiên lo phần việc phò hộ những con nít nhỏ; lo giúp mấy người tuyệt tự cho có con, có cháu; lo phò hộ những đờn bà bi sản nạn, lo cứu những kẻ
  • 47.
    47 bị quỷ phá,bị bịnh bang, bịnh trái. Ai có việc chi, hễ khẫn cầu Ông Trương Tiên thì đặng bình an, dõng mạnh. Kinh Minh Thánh tỏ lời răn dạy; khuyên chúng sanh cả thảy lóng nghe. Cung Tử Vi, Thần Châu Y; Đế gồm Văn, Võ, hai vì đại (6) tỉnh Trương Tiên chữa an dinh chủ hạt; sắc theo Ngài kiểm soát trần gian. Hộ phò thiếu Nữ thiếu Nam; bọn hư khí huyết bặt điềm quế lang (7) Tống sanh với sản nàng cấp cứu; mị yêu cùng chẩn, đậu, thương tàn. Thắp hương, tụng niệm, cầu an; họa xây ra phước rõ ràng hiển linh. Ai thờ Đế (8), lên hình, vẽ tượng; họa Trương Tiên, cung, đạn, hầu gần (9). ĐOẠN THỨ BẢY:- Dẫn sự tích đời Chiến Quấc thuở trước. Lúc ấy bảy nước lớn là: Tần, Sở, Triệu, Ngụy, Yên, Hàng, Tề xưng là Thất Hùng, tranh cường với nhau, làm cho lê dân đồ khổ. Nước Tần lấn lước, muốn thâu phục chư hầu. Chư hầu không chịu phục, hóa ra giặc lớn, nhơn dân bị chết oan vô số. Thấy vậy thì Trời sai Tử Vi Cung, lý Châu, Y Thần (đến Tam Quấc là Quang Đế) lâm phàm cứu dân. Trời cho Ngài đầu thai vào nhà họ Ngũ và đặt tên cho Ngài là Viên, tự là Tử Tư. Khi lớn lên, Ngài học văn võ toàn tài rồi, thì Ngài đến tại ải Đồng Quang phá vỡ binh nước Tần mà cứu các nước chư hầu khỏi nạn. Các nước chư hầu cảm ân đức Ngài lắm, tôn Ngài là Minh Phủ Tướng Quân . Khi Ngài mãn kiếp nầy, thì đức Ngọc Hoàng Thượng Đế phong cho Ngài chức Thần cai quản đất Tiền Đường. **************************************** CHÚ GIẢI: 1. Tinh là ròng, là khéo léo, chắc chắn, sắc sảo.
  • 48.
    48 2. Thơ cônglà công thập niên đăng hỏa. 3. Tinh trung xung nhật nguyệt, nghĩa khí quán càn khôn 4. Còn Trời, còn Đất, thì đức Quang Thánh Đế Quân còn linh hiển, hết Trời, hết Đất, thì Ngài mới hết linh hiển. 5. Trên cõi Thiên Đàng có tám vì sao lớn, làm chủ cai quản trên Trời, dưới Đất, dưới Âm Phủ. Trong tám vì sao ấy đức Quang Thánh Đế Quân đứng vào số Sáu Tám vì sao ấy là: Vì sao thứ nhứt : - Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Khung Cao Thượng Đế là Đức Thượng Đế. Vì sao thứ nhì : - Tầm Thinh Phó Cảm Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, Phật Quan Thế Am Bồ Tát. Ví sao thứ ba : - Cửu Thiên Ứng Nguơn Lôi Thinh Phổ Quá Thiên Tôn, là đức Thái Thượng Lão Quân. Vì sao thư tư : - Huyền Thiên Thượng Đế Kim Khuyết Hóa Thân Đản Ma Thiên Tôn, là đức Bắc Đế. Vì sao thư năm: - Cửu Thiên Khai Hóa Thất Khúc Văn Xương Tử Đồng Đế Quân, là đức Khổng Tử. Bây giờ dưới thế gian tôn làm Văn Đế. Vì sao thứ sáu : - Tam Giái Phục Ma Đại Đế Thần Oai Viễn Trấn Quang Thánh Đế Quân, là đức Quang Đế. Bây giờ dưới thế gian tôn làm Võ Đế. Vì sao thứ bảy : - Ngọc Hư Sư Tướng Kim Khuyết Tuyển Tiên Phủ Hựu Đế Quân Diệu Đao Thiên Tôn, là đức Lữ Tổ (Lữ Đồng Tân). Vì sao thư tám: - Tam Nguơn Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế Tam Cung Cửu Phủ Cảm Ứng Thiên Tôn, là ông làm đầu mười tám nước Âm Phủ. 6. Đức Quang Đế quản vì sao Văn Xương Tinh và vì sao Võ Khúc Tinh 7. Quế Tử, lan tôn. 8. Đức Quang Đế. 9. Ai lên cốt, hay là vẽ hình đức Quang Đế mà thờ, thì phải lên cốt, hoặc là vẽ hình ông Trương Tiên đứng hầu phía tay tả của Ngài.Tay trái của Trương Tiên cầm một viên đạn bằng vàng; tay mặt cầm một cây cung bằng tre. Trong đời Chiến Quấc phân vân; Trời sai Đế xuống cứu dân khỏi nàn. Ngọc Hoàng đặt tên sang Ngũ Tử (1); trải năm đời lịch sử Trung Lương.
  • 49.
    49 Ải đồng mộthội tranh cường ; Đế tài Minh Phủ phi thường, ai đang (2)?. Cứu chư hầu khỏi mang nạn cả; ép Gian Tần rời rả lòng tham (3). Sở Bình Vương tửu, hoang dâm; trung thần luốn bị miệng sàm oan thay (4) Quá quan khỏi nạn nầy một lúc; Đại cừu kia báo phục vừa xong (5). Mấy phen Ngô, Việt, tranh hùng; đao binh rối loạn, chẳng không ngày nào (6). Lòng Thánh Đế Trời cao soi thấy; gương hiếu trung trải bấy nhiêu đời. Ngọc Hoàng hạ sắc sai Ngài; Tiền Đường cai quản, đêm ngày hộ dân (7). ĐOẠN THỨ TÁM:- Tới đời nhà Hớn, triều vua Huờn Đế và triều vua Linh Đế, bọn gian tặc là Đổng Trát, Trương Giát, Tào Tháo, Tôn Quờn, Viên Thiệu, nổi lên làm loạn với triều đình. Bọn tà thuật cũng nổi lên phá hại nhân dân. Vì sao Tử Vi Cung, lý Châu Y Thần lâm phàm một lần nữa đặng giúp nhà Hớn trong cơn tam phân đảnh túc. Kiếp nầy Ngài đầu thai vào nhà họ Quang, là nhà đạo đức đã lâu đời. Tới đời Hớn gian thần phe, đảng; đổi họ, tên, hạ giáng trần trung (8). Ngựa Xích Thổ ấy Hỏa Long (9); đao Thanh Long cũng là rồng (10) nước sanh. Mày tằm vẽ phân minh Bát (11) Tự; mắt phụng thêm rực rỡ Song Tình (12). Râu Rồng năm khóm rành rành; trán Hùm chói rạng, Thiên Đình oai nghiêm (13).
  • 50.
    50 Thao lược đãsánh gồm Tôn Tẩn (14); cơ mưu càng so lấn Phạm tăng (15). Xuân Thu chí cả ai bằng ; giải lương quê quán vẫn tằng danh vang (16) Nhà đạo đức họ Quang dòng ; giống Sanh gặp đời Hớn thống phân mang (17). ************************************* CHÚ GIẢI: 1. Đời Chiến Quấc.Trời sai Ngài lâm phàm vào nhà họ Ngũ và đặt tên cho Ngài là Ngũ Viên, tự là Tử Tư. Thuở trước Ngài đã luân hồi năm kiếp trung lương. 2. Ông Tử Tư văn võ toàn tài.Ngài đến tại ải Đồng Quang giãi cứu chư hầu khỏi nạn. Chư hầu tôn Ngài là Minh Phủ Tướng Quân. 3. Ngài làm cho nước Tần lui binh. 4. Cha Ngài tên là Ngũ Xa làm tướng Quấc tại nước Sở. Anh Ngài là NgũThượng cũng làm quan tại nước Sở.Vua Sở Bình Vương mê đắm tửu sắc cho đến nổi giựt vợ của Thái Tử Mễ Kiến, là dâu của Vua. Ông Ngũ Xa can giáng hết sức mà Vua không thèm nghe. Vua nghe lời của tên Phi Vô Cực sàm tấu, Vua bèn giết ông Ngũ Xa và ông Ngũ Thượng. 5. Ngài trốn qua nước Ngô. Lúc ấy Vua Sở Bình Vương đã chết rồi. Vua nước Ngô biết Ngài khi trước tại Ải Đồng nên phong cho Ngài chức Nguơn Soái. Ngài cầm binh đánh nước Sở đặng báo cứu cha và cho anh. Ngài quật thây Vua Sở Bình Vương lên, rồi Ngài đập tan nát hết. 6. Kế nước Ngô và nước Việt giao chiến với nhau. Nước Việt thua. Ngài bắt đặng Việt Vương Câu Tiễn. Vua Ngô Phù Ta không cho giết Câu Tiễn. Kế Ngài lâm bịnh. Ngô Phù Ta dặn thăm Ngài. Ngài nói rằng : « Thắng Câu Tiễn hình như khô mộc, làm bộ bơ đỡ, chưa nói đã cười, việc gì cũng nhiêm nhiểm, không giận, không buồn ; tướng đó là tướng gian trá, độc hiểm lắm. Nếu bệ hạ không giết nó, thì ngày sau nó phẩn bội bệ hạ, chẳng sai ».Ngô Phù Ta trả lời rằng : « Câu Tiễn tử tế với trẩm lắm,giết nó tội nghiệp ». Ngài tâu rằng : Bịnh tôi nặng lắm, nay mai tôi phải chết. Khi tôi chết rồi, xin bệ hạ rộng lòng cho phép con tôi gắn cặp tròng con mắt của tôi trên cửa Đông Môn . Cách ít ngày cặp tròng mắt khô mất Kế Ngô Phù Ta tha Câu Tiễn về nước Việt. Câu Tiễn đem dưng mỹ nữ tuyệt sắc là nàng Tây Thi và lễ vật quý báu vô số, Ngô Phù Ta lấy làm khoái lạc, bèn nói rằng : « Lời của Tử Tư nói sai lầm lắm ». Cách vài năm Câu Tiễn cử bình phạt Ngô, Nó
  • 51.
    51 bắt Ngô PhùTa. Ngô Phù Ta năng nỉ, kể ơn nghĩa xin tha ».Câu Tiễn nói rằng : « Khi trước tao giết cha mầy. Mầy bắt đặng tao. Mầy dại mầy không giết tao. Bây giờ tao bắt đặng mầy, tao phải giết mầy ». Khi Câu Tiễn kéo binh tới Đông Môn, thì cặp tròng của Tử Tư thình lình hiện ra và trừng qua, trừng lại. Câu Tiễn thấy vậy, thì tay xá lia lịa, miệng cười và nói rằng : « Anh tiên tri thật giỏi lắm. Phải chi Ngô Phù Ta nghe theo lời anh, thì tôi đã tiêu xương rồi ». Bởi cớ đó cho nên đời nay có lời Tục Diêu như vầy : « Tác cao không sánh tuổi Bành ; cặp tròng xin gởi trước thành Ngô Vương ». 7. Khi mãn kiếp Ngũ Tứ Tư, thì Đức Ngọc Hoàng sắc mạng cho Ngài làm Thần tại đất Tiền Đường đặng phò hộ nhân dân và sửa nước lớn, nước ròng cho đúng giờ, đúng khắc. 8. Qua tới đời Hớn, vận nước si vi,gian thần nổi lên đông lắm, Đức Ngọc Hoàng sai vì sao Tử Vi Cung lý Châu Y Thần lâm phàm một lần nữa, đặng giúp nhà Hớn trong cơn tam phân đảnh túc. Ngài đầu thai vào nhà họ Quang. Kiếp nầy Trót cho Ngài diện mạo đẹp đẽ lắm, lại sai con Hỏa Long xuống đầu thai con ngựa Xích Thố cho Ngài và sai con Thủy Long xuống đầu thai Cây Thanh Long Đao (là cây siêu) cho Ngài. 9. Trời chọn Hỏa Long xuống làm con ngựa Xích Thố. 10. Con Thủy Long xuống làm cây Thanh Long Đao. 11. Trời lại vẽ trạng mạo cho Ngài như vầy; cặp chơn mày tằm như chữ Bát vẽ ngược. 12. Cặp mắt dài và kéo lên, như con mắt phụng. 13. Râu năm chòm như đuôi Rồng, trán tròn mà có lẵng như trán cọp. 14. Thao lược giỏi như Tôn Tẩn, đời chiến Quấc. Tôn Tẩn là học trò của ông Quỷ Cốc Tiên Sanh. Ông gồm đủ lục thao, tam lược. Ông làm Soái cho nước Tề, Ổng cứu nước Hàng; giải vây cho nước Triệu. Ổng giết Bàng Quyên tại đất Mã Lăng. Coi trong truyện Phong kiến Xuân Thu, thì thấy ổng có tài nhiều lắm. 15. Phạm Tăng sinh đời Tần, cơ mưu giỏi lắm. Ổng giúp Hạng Vỏ đặng tranh thiên hạ với Hớn Bái Công. 16. Đức Quang Đế lập chi theo Kinh Xuân Thu; Ngài quyết tịu binh gian đảng, hưng phục Hớn thất. Ngài quê quán tại huyện Giải Lương, phủ Bồ Châu, tỉnh Sơn Tây. Cả tỉnh ai cũng là biết Ngài văn võ toàn tài và gồm đủ: Hiếu. Để. Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm Tiết. 17. Ngài sanh nhằm đời nhà Đại Hớn bị suy vi. ĐOẠN THỨ CHÍN:- Khi ngài còn nhỏ thì Ngài đã học văn võ đặng toàn tài. Khi Ngài đặng 28 tuổi Ngài đi tìm vây cánh đặng giúp nước trong cơn bi loạn.
  • 52.
    52 Đi tới TrátQuận vào Vườn Đào Ngài kết bạn với ông Lưu Bị và ông Trương Phi rồi ba anh em lo việc khuôn phò Hớn thất. Nhỏ du (1) lịch, lớn làm quan; anh hùng bốn biển giang sang . Lo chi thiếu: trảo nha, huynh đệ; vào Vườn Đào bỗng thấy hai người. Hình dung kỳ dị khác vời; non sông đâu (2) tá, là nơi anh hùng? Oai mãnh liệt, lạ lùng Trương Tướng ; đường đường thay, khí tượng Lưu Hoàng. Nay mừng gặp chúa phi thường; nước Thiên Hà (3) rữa đảng gian có ngày. Rồng, cọp, hội gió mây đã hãng; giết trâu đen, ngựa trắng, lễ (4)phô. Nguyện cùng cao (5), thẳm (6), biết cho; anh em kết nghĩa khuôn phò Hớn bang. ĐOẠN THỨ MƯỜI:- Ông Lưu, Ông Quang và Ông Trương, đương lo dẹp loạn, công danh chưa thành tựu, mà ba anh em đã bị tản lạc tại đất Tứ Châu. Đức Quang Đế phò Nhị Tẩu qua ở đậu cùng TàoTháo. Khi Ngài nghe chắc tin ông Lưu ở Hà Bắc, thì Ngài ơn trả, nghĩa đền, minh minh, bạch bạch, rồi Ngài tạ từ Tào Tháo phò Nhị Tẩu, lướt qua năm ải, thiên nguy, vạn hiểm, mà đi qua Hà Bắc tìm Anh. Huỳnh Cân (7) phá, Đổng (8) tan, Bố (9) giết; Không Dinh (10) lầm chước quyệt Tào Mang. Từ Châu gặp lúc chia tan (11); cánh hồng man mác, xe loan dắt dìu. Ngọn đuốc thiêu mưa sâu Văn Viễn; dòm vách coi: nghĩa vẹn Vườn Đào. *******************************************
  • 53.
    53 CHÚ GIẢI: 1.Khi Ngàilớn lên Ngài học văn chương xuất chúng, võ nghệ siêu quần. Ngài cưới bà Hồ Thị. Khi Ngài có hai người con trai rồi ( là Quang Bình và Quang Hưng) thì Ngài thưa cùng cha mẹ rằng: “Ngày nay gian thần nổi lên, trên thì áp chế vua, dưới thì làm cho nhân dân đổ thán. Lại tứ phương phong khởi, thương tàn dân mạng vô số. Con đã có người kế tự đặng phụng sự ông, bà, cha, mẹ. Nay con xin phép ra đầu quân, đặng khuôn phò nhà Hớn”. Ngài đi dọc đường gặp một ông thầy coi tướng đứng nhìn sửng Ngài mà nói rằng: “Tướng quân hấp chánh khí của Trời Đất nó đã châu lưu cùng cả thân thể, cho nên đến sau tướng quân đặng cho thiên hạ tế lễ muôn thu. Hà Tất là Tướng quân phải lo lập công danh, sự nghiệp mà làm gì”.Ngài đi ngan qua một xóm kia. Ngài nghe nhân dân van khóc van răn. Ngài đứng dừng lại hỏi thì tên Hoàng Thủ Nghĩa và khóc và lạy Ngài, mà nói rằng: “Tại Tào Quận có tên Lữ Hùng kết phe đảng với bảy cánh hạ, rồi ỷ thế mạnh mẻ, cướp phá thiên hạ, hãm hiếp vợ con người ta, giết chết người ta đã nhiều, mà không ai dám nói tới. Xin ông kiếm thế cứu chúng dân, kẻo tội nghiệp”. Ngài nghe nói chưa dứt lời, thì Ngài nổi giận. Ngài biểu tên Hoàng Thủ Nghĩa dắt Ngài tới đó. Ngài hỏi rõ ràng tự sự, quả quyết là đám hung tàn, bạo ngược, thì Ngài ra oai giết hết đặng hại dân ấy. Quan quận Thú hay việc nầy, mời Ngài lại mà nói rằng: “ Đảng cường bạo ấy đông lắm, Tướng quân trừ đặng, là Tướng quân làm việc đại nghĩa. Tôi thì không nói chi. E quan Thượng Ty hay đặng, thì Tướng quân phải bị ám sát nhân. Thôi, Tướng quân trốn đi cho khỏi nạn”. Ngài lưu lạc gian hồ đến sáu năm; đến sau Ngài mới là gặp ông Lưu và ông Trương. 2. Đâu tá là tiếng Bắc Kỳ, chỉ nghĩa là đâu, ở xứ nào. 3. Nước Thiên Hà là nước sông Huỳnh Hà. Có câu Huỳnh Hà chi thủy thiên thượng lai. 4. Lễ phô, là lễ vật. Sát bạch mã tế Thiên, tru bắt ngưu tế địa. 5. Cao là Thiên. 6. Thẳm là Địa. 7. Phá tan nát giặc Huỳnh Cân. 8. Lưu Hoàng Thúc mưu với Vương Doãn đặng giết Đổng Trát. 9. Lữ Bố chiếm đất Tiểu Phái, rồi giựt luôn đất Từ Châu. Lúc ấy ông Lưu làm Dụ Châu Mục. Tào Tháo biểu ông Lưu đem binh qua Hạ Bì đặng hiệp lực nó mà công Lữ Bố bị bắt. Tào
  • 54.
    54 Tháo muốn dụngnó làm Tướng. Ông Lưu nhắc việc Đinh Nguyên và việc Đổng Trát khi trước cho Tào Tháo nghe thì Tào Tháo giựt mình bèn biểu dẫn Lữ Bố ra Bạch Môn Lầu chém quách. 10. Ông Lưu chiếm Từ Châu, đức Quang Đế chiếm Hạ Bì. Tào Tháo trở lại đánh với hai ông. Ông Lưu kéo binh qua cướp trại của Tào Tháo, té ra nó đã lén rút đi mất, bỏ trại không, rồi lỏn hậu qua lấy Từ Châu. 11. Ông Lưu chạy ra Hà Bắc, ông Trương chạy lên núi Đảng Sơn. Đức Quang Đế phò gia quyến của ông Lưu lên đồn thành trên một hòn Thổ Sơn. Lúc ấy ba anh em tản lạc, cũng như là chim nhạn lạc bầy sợ đạn tránh tên vậy. 12. Đức Quang Đế phò Nhị Tẩu về Hứa Xương, Tào Tháo để cho Ngài và Nhị Tẩu ở chung một nhà. Nó lập kế ấy trông cho chị em loạn luân với nhau, rồi đem vào đó và Trương Liêu cũng điều lén dòm coi. Ngài muốn tỏ lòng tiết nghĩa của Ngài cho nó biết, thì đêm nào Ngài cũng ra trước hàng ba đốt đuốt dọc Xuân Thu cho nó sáng. Ai hỏi thì Ngài nói rằng. Ngài nhớ lời thề tại Đào Viên thuở trước cho nên Ngài ngủ không đặng. Nó thấy như vậy luôn luôn, thì nó nói Ngài là Thần Nhân. Ngọn đuốt của Ngài thấu tới Trời. Vua Tự Đức có làm bài thơ Bỉnh chút đại đàng như vầy : « Chước quỷ Tào Mang đục phá trong ; năm canh ngọn đuốt chứng soi lòng. Lửa ngời tiết nghĩa trong u ám ; đèn tỏ can thường lúc láng vong. Rực rỡ gan trung lòa mấy tấm ; chứa chan mắt nịnh sập đôi tròng. Vườn dưa, cội lý, nào ai rõ; Khuấy rối diền nầy phải gỡ xong ». Vua Tự Đức cũng có làm bài thơ Quang Công Cư Tào như vầy : « Tôi chúa đôi phương cảnh quạnh hiu; vì tình nghĩa trọng phải thâu liều. Ơn Tào dẫu sánh ngàn cân nặng, nợ Hớn còn mang một gánh triều. Đuốt ngọc canh khuya Trời một góc; vườn Đào nguyệt cũ ruột trăm chìu. Hỏi ai muốn rõ nguồn cơn ấy; xin hỏi chàng Trương nỗi khúc khuyu ». Thề hàng Hớn, chẳng hàng Tào ; tôi trung thờ chúa, lòng nào đổi hai (1). Ấn Hớn thọ, quyết nài chữ Hớn (2). tiệc hoa diên thêm chén tình gian (2). Lấy đầu hai Tướng Văn (4), Nhan(5) ; ở, đền ơn mới, về, toàn nghĩa xưa (6). Kế về Bắc (7), bây giờ mới quyết ; tin Lưu Hoàng đã biết rõ nơi.
  • 55.
    55 Vàng niêm rồi,ấn treo rồi (8) ; ba phen từ Tháo (9), mấy hồi nhớ Lưu. Hộ xe chị, qua cầu, vượt ải ; tìm dấu anh, xuống bải, lên đèo. Dặm ngàn vó ngựa buông theo ; lòng trung khí, nghĩa, rạng nêu mặt Trời (10). Năm ải dẹp, đòi nơi khói bụi ; sáu tướng vương một mũi đao rồng. Bắc, Nam, ly hiệp anh hùng ; cổ thành (11) ai ngỡ trùng phùng anh em. Trí quyết thắng, vẫn hềm mình thiếu ; tài kinh luân, phải triệu người ra (12). ĐOẠN THỨ MƯỜI MỘT :- Khi ông Lưu, ông Quang và ông Trương sum hiệp cùng nhau rồi, thì ba ông lên chốn Mao Lư cầu thỉnh ông Khổng Minh về làm Quân Sư. Ông Khổng Minh muốn thử lòng ông Lưu coi ra thế nào, cho nên khi thì Ngài ẩn mặt ; khi thì Ngài đi nhạo sơn, nhạo thủy ; khi thì Ngài làm bộ ngũ. Ba ông hành thân cực khổ, đi đi, về về, lặn suối , trèo non, dầm mưa, dang nắng, lên cầu cho tới ba phen. Thấy ba ông thiệt tình lắm, cho nên lần thứ ba Ngài mới ra mặt. Ba ông bái quỵ, cầu lụy hết sức, cho nên Ngài mới là chịu ra làm Quân Sư cho ông Lưu. Chớ Ngài đã biết trước rằng dẫu làm cách gì, thì quy nhứt cũng chưa đặng, phải, tam phân đảnh túc mà thôi. Mao Lư ba đội dãy xa ; rồng (13) nằm chưa dậy bóng đà gần trưa. « Điềm trị, loạn, ai chưa sớm đoán (14) ; bình sanh ta trù toán không (15) sai ». « Giấc xuân, lều cỏ, vừa phai (16) ; trì trì bóng nhựt hiên ngoài lân la (17).
  • 56.
    56 Đức Gia Cátchưa ra một bước (18) Số tam phân định trước đành rành. Võ Hầu nguyên Quãng Huệ Tinh (19) ; Hớn tiền Nghiêm Tử, (20) Tống đình Văn Công (21). ******************************************** CHÚ GIẢI : 1. Khi Ngài thất thủ Hạ Bì, bi vây trên Thổ Sơn,Trương Liêu ra dụ Ngài đầu Tào. Ngài không chịu đầu. Có bài Ca Trù khen Ngài như vầy : « đức Thánh Quang Hạ Bì thưởng thấy Trương Liêu ra dụ hàng Tào. Đức Thánh Quang rằng : Có lời giao, Tào có khứng để cho ta nghĩ : Một là đừng lân la nơi đôi chị. Hai là hàng Hớn, chẳng hàng Tào. Ba là nghe ông Huyền Đức ở nơi nao, dẫu ngàn dặm cũng tìm cho biết. Lời gắn vó, đinh ninh chí quyết, chẳng nghe ta, ta cũng đục xông. So trong Tam Quấc anh hùng ». Tào Tháo chịu ba lời giao nầy, bèn rước Ngài về Hứa Xương. 2. Khi đức Quang Đế về Hứa Xương Ngài ra mắt Thiên Tử. Tào Tháo tâu vua phong cho Ngài tước Hầu và ban ấn vàng cho Ngài, đề bốn chữ Hớn Thọ Đình Hầu. Ngài không chịu lãnh ấn và nói rằng : « đất Hớn Thọ Đình thuộc về của Thừa Tướng. Nếu tôi lãnh ấn thì chỉ nghĩa rằng tôi làm tước hầu của Thừa Tướng, tôi làm tước hầu của nhà Hớn, cho nên tôi xin thêm một chữ Hớn. Xin đúc ấn lại ». Tào Tháo bèn truyền đúc ấn, đề năm chữ như vầy : « Hớn Hớn Thọ Đinh Hầu ». 3. Tào Tháo chưa biết Ngài là anh hùng khí cốt, kiên ư thiết thạch, cho nên nó dụng việc tước lộc, việc tiền tài và việc tửu sắc mà dụ dỗ Ngài. Ba bữa thì nó đãi Ngài một việc nhỏ, năm ngày nó đãi Ngài một việc lớn. Ít ngày nó cấp vàng, bạc, gấm nhiều cho Ngài một kỳ. Nó chọn mỹ nữ ở hầu Ngài. Mỹ nữ thì Ngài sai vô hầu Nhị Tẩu. Vàng, bạc, gấm, nhiểu, Ngài không xài tới. 4. và 5 . Nhan Lương và Văn Xũ là hai tên Tướng đại tài bên Hà Bắc. 6 .Hai tên Tướng nầy đến đánh Hứa Xương. Tướng của Tào đánh không lại chúng nó. Ngài phải ra sức chém chúng nó đặng đền cho xong ơn trọng hậu của Tào Tháo. Ơn mới Ngài đền xong rồi, thì Ngài đi tìm Ông Lưu và ông Trương cho toàn nghĩa xưa kết tại Vườn Viên. 7.Ngài nghe tin chắc ông Lưu ở Hà Bắc.
  • 57.
    57 8.Ngài gói niêmkỹ càn những vàng, bạc, gấm, nhiễu, của Tào Tháo cấp cho Ngài thuở nay, Ngài treo ấn lên giữa nhà, rồi Ngài vô tạ từ Tào Tháo mà về. 9. Tào Tháo cứ ẩn mặt hoài, Ngài vào ba phen mà không gặp nó, cho nên Ngài phải phò Nhị Tẩu, lướt xông năm ải, thẳng qua Hà Bắc tìm ông Lưu. 10. Lòng nghĩa khí của Ngài chói rạng như mặt trời vậy. 11. Ngài đi tới Cổ Thành gặp ông Trương. Ngài để Nhị Tẩu ở lại đó. Ngài đi thẳng qua Hà Bắc tim ông Lưu. Cách ít ngày ba anh em sum hiệp tại Cổ Thành. 12. Ngài cơ mưu, thao lược tuy là giỏi mặt đầu, nhưng mà vận trù, quyết sách, chưa đặng toàn vẹn, cho nên phải đi tìm người thượng sĩ về làm Quân Sư. 13. Rồng nằm chữ là Ngọa Long. Ngọa Long, là đạo hiệu của ông Khổng Minh 14, 15, 16 và 17. Bốn câu nầy là bốn câu thi của Đức Gia Cát Vỏ Hầu thường ngâm giải khuây trong chốn Long Trung. 18. Đức Vỏ Hầu chưa ra khỏi chốn Long Trung, là chỗ Ngài tạm lẻn tránh đạm bạc mà Ngài đã đoán trước rằng : « thiên hạ phải chia ba mà thôi, chớ quy nhứt thống chưa đặng. 19. Đức Vỏ Hầu nguyên là vì sao Quảng Huệ Tinh ở trên Trời. 20. Đời Đông Hớn Ngài là Nghiêm Tử Lăng, Ngài chỉ cơ mưu cho vua Quang Võ dựng thành cơ nghiệp, rồi Ngài mai danh, ẩn tích tại núi Phú Xuân Sơn. Đời Hớn Tam Quấc Ngài đầu thai Khổng Minh Gia Cát Lượng. 21. Qua triều Nam Tống, đời vua Ninh Tông, Ngài đầu thai là Châu Hy. Ngài làm Quan ít năm, Ngài hồi hưu về dạy học. Lúc Ngài ở Nga Hồ Ngài diễn chư Tứ Thơ. Đến sau Ngài về ở Lộc Động Ngài giải nghĩa Ngũ Kinh. Đến sau Ngài đặng phong tước Châu Văn Công. Luân hồi đã ba vòng Sư Tướng ; hết xuống Trần phối hưởng miếu giao (1) Vạc(2), Lưu, chia bởi Ngô(3), Tào (4) ; giang sang dời đổi biết bao anh hùng. Lưu Hoàng ngự trong cung Thạch Phủ (5) ; Thánh Đế nay trấn thủ Thiên Môn.
  • 58.
    58 Tứ Xuyên ThảoCốc (7) nhuần ân ; Hoàng Hầu trung nghĩa, làm Thần đến nay (8) Sau, đời Tống đầu thai Võ Mục (9) ; trước, đời Đường hiệu thục Thơ Dương (10) Ba triều trung, liệt, tiếng vang ; ngôi Thần Hộ Quấc Ngọc Hoàng sắc phong (11). Binh qua nhỏ vẫn không sai tướng ; nguy nàng to sẽ xuống cứu Trần (12). ĐOẠN THỨ MƯỜI HAI :- Dạy thiên hạ giữ cho trọn chữ Trung, chữ Hiếu và tu nhơn, tích đức. Đặng như vậy thì cũng là thành Phật, thành Thần, thành Thánh, thành Tiên. Chẳng phải là tu trì, trường trai mà đặng thành Phật . Vậy chớ các vị Cổ Phật lại mấy Trường. Cho Hay chánh, trực, làm Thần ; Thành Hoàng(13) Tướng Tướng xây vần xưa nay. Cảm Trời, Đất, bởi dày Trung, Hiếu ; hiển Phật linh, há biểu trì trai (14) Cần chi ăn, mặc, phí, xài ; tùy gia phong kiệm, chớ nài, chớ chê (15) Cầm, thú, cũng thuộc về sanh mạng ; không việc chi nào đáng sát sanh (16). Cũng đều mạng sống như mình ; Trương Cung, bũa lưới, tầm quanh sao đành. Cây, cỏ, chớ phá nhành, bông trái ; trải Đông tàn, Xuân lại phát vinh (17) Muôn loài Trời Đất hóa sanh ; theo thời sanh trưởng cũng in như người (18).
  • 59.
    59 Ai mà biếtthương loài sanh vật ; phước nhóm về, họa ắt lánh xa (19) Chớ rằng lành nhỏ bỏ qua ; chớ rằng dữ nhỏ, làm mà hại chi (20). Việc ngay, vạy, lưới Trời khôn tránh ; định dinh, hư, Thần, Thánh đã (21) lường. Làm người gốc tại cang thường ; Hiếu, Để, Trung, Tín, Lễ, nhường sĩ, Liêm. Vâng lời Đế cứ làm việc phải ; cố mây lành che, đỡ, cho Mình (22) *************************************** CHÚ GIẢI : 1. Tại phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, là quê hương của Ngài, triều đình có lập Miếu vỏ thờ Ngài.Trước Miếu có chạm một đôi liễn trong cột đá như vầy : « Nga Hồ điển chú thừa Tiên Thánh. Lộc Động truyền kinh khải Hậu Hiền ». 2. Giang sang của ông Lưu Bang, là Hớn Cao Tổ, gầy dựng thuở trước. 3. Bây giờ bị Ngô Tôn Quờn và bị Tào Tháo phân chia ra làm Tam Quấc.(chú giải câu 3 và câu 4). 4. 5. Nay Đức Chiêu Liệt Đế làm Thiên Thần, ở tại Thanh Hư Phủ, trên Trời. 6. Đức Quang Đế làm Nguơn Soái cai quản ba cửa Trời là cửa Đông, cửa Tây và cửa Nam. 7. Ông Trương Phi làm chức Thổ Cốc Thần tại xứ Tứ Xuyên. 8. Hoàng Hầu là tước của ông Trương Phi. 9. Đời nhà Tống Ngài đầu thai là Nhạc Phi, đặng phong tước Võ Mục Đế. 10. Đời trước, là đời nhà Đường, Ngài đầu thai là Trương Tuần, tự là Thơ Dương làm Nguơn Soái. 11. Nay Ngọc Hoàng phong cho Ngài chức Hộ Quấc Thần. 12. Chừng nào dưới thế gian có giặc lớn lắm thì Ngọc Hoàng mới là sai Ngài xuống Trần nữa. 13. Các vị Tướng trung liệt, đến khi chết, đặng làm bực Thành Hoàng bổn cảnh. 14. Các vị Cổ Phật lại mấy ăn chay ròng.
  • 60.
    60 15. Ở đờichẳng nên phách phở , xài phá, lòe loẹt, chưng dọn hực hở, khoe khoan, nói dổng, là vì Trời, Đất, Thánh, Thần ghét lắm. Ở đời cứ khiêm cung, chẫm rải, thủ thường thì hay hơn ; đặng bền bỉ hơn. 16. Như chẳng phải về việc tế tự, về việc đám tiệc chi lớn, thì chẳng nên sát sanh thú vật. Không nên săn, bắn, chài lưới. 17. Vô sự thì chẳng nên phá hại cây cỏ. 18. Loài cầm thú, loài thảo mộc, cũng biết sợ chết, cũng biết muốn sống như người ta vậy ; vô sự mà giết nó chết thì lấy làm tội nghiệp lắm. 19. Ai có lòng nhơn đức, biết thương loài cầm thú, loài thảo mộc, thì Trời cho gần việc phước, xa việc họa. 20. Gặp việc lành nhỏ chẳng nên bỏ qua, là vì dẫu là việc nhỏ mọn thì cũng là việc lành. Hễ làm thì Trời Đất ghi công cho mình. Gặp việc tội lỗi nhỏ nhen thế mấy thì cũng chẳng nên làm, là vì dẫu nhỏ mọn cũng là một việc tội lỗi. Hoặc là đã ngộ, hoặc là nói chơi mà có điều xúc phạm, thì cũng là việc tội lỗi. Hễ mình làm , thì Trời, Đất ghi tội cho mình. Mỗi việc đều có biên chép, không sót một mảy. 21. Lưới Trời tuy u u, minh minh, thưa thớt, mặt dầu chớ chẳng có mãy lòng nào lọt qua khỏi đặng. Mỗi việc lành, mỗi việc dữ, mỗi việc ngay, mỗi việc gian, Thánh, Thần đều biên chép hết, không sót một mảy. Có Ngài hiện tại luôn luôn đặng thưởng việc lành và phạt việc dữ. 22. Đóa tường vân nhóm lại bên mình, là ban cuộc Phước, Lộc, Thọ ĐOẠN THỨ MƯỜI BA :- Khi Đức Quang Thánh Đại Đế hiển Thánh trong đời Tam Quấc rồi, thì Trời phong cho Ngài làm Nguơn Soái quản ba cửa Trời , là cửa Đông, cửa Tây và cửa Nam. Cửa Bắc về phần Đức Ngọc Hoàng cai quản. Khi chư Phật, chư Thần,chư Thánh, chư Tiên, muốn tâu đối việc chi với Đức Ngọc Hoàng, thì phải do nơi Ngài trước hết. Bởi vậy cho nên, Ngài biết rõ ràng những công việc dưới thế gian. Ai làm lành thì Ngài thưởng phước, ai làm dữ thì Ngài gia họa. Vậy thì chúng sanh chẳng nên dể ngươi, phải răn lòng, răn nết cho lắm mới đặng. Cửa Trời Đế lãnh quyền hành, muôn Thần tấu đối Thiên Đình trước hay (1)
  • 61.
    61 Người đức, thiện,thêm bề quan tước ; kẻ độc,gian, hại ngược về sau (2). Cho hay thiện ác đáo đầu ; làm lành gặp phước, mau, lâu, tùy thời (3) Chớ tưởng Trời, không tai, không mắt ; việc tối tăm, nhỏ nhặt, đều hay. Thờ Thần, kính trọng hằng ngày ; chẳng nên thất lễ, cợt lời, dễ khinh (4). Khắp bốn biển kiền thành đảnh lễ ; tặng Đế là Trung, Nghĩa, độc tôn (5). Tượng, hình, rạng giữa Kiền Khôn ; anh hùng như Đế, dễ còn mấy ai (6). ĐOẠN THỨ MƯỜI BỐN :- Vì Thượng Đế ngự sắc phú thác cho đức Quang Thánh Đại Đế kiểm soát cả thảy những việc thiện, những việc ác,trong chốn phàm trần nầy. Vâng Thượng Đế đặt sai ngự sắc : xét phàm gian thiện, ác,mỗi người. Tinh trung Nhựt Nguyệt sáng soi : Đất, Trời nghĩa khí, trong ngoài tiếng vang (7). Lòng son thắm, mặt càng đỏ cháy ; khí nghĩa xung, râu lại thêm dài (8). Anh hùng chánh khí tốt vời ; đuốc tàn , phá vách, cho ngời tiết cao (9). Kìa tước lộc của Tào chẳng sá ; vàng niêm phong ấn đã treo rồi (10). Đao rồng trăng dọi càng tươi ; hỡi anh em cũ, bao giờ gặp nhau ! Mày tằm chạnh, bấy lâu châu ủ ; non sông buồn lắm nỗi đổi dời ! Công danh trùm cả muôn đời ; tước quyền Nguyên Soái cửa Trời gia phong (11).
  • 62.
    62 Cúi đầu trướcsân rồng phụng chỉ ; thể lòng trên Ngọc Đế ban hành (12). ĐOẠN THỨ MƯỜI LĂM :- Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế sắc lệnh các bộ Tướng Soái rãi truyền minh Thánh Kinh khắp cùng dưới thế gian cho chúng sanh sao, lục, trì tụng, đặng học những việc Hiếu, Để, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Tiết và việc Nhơn Từ, Đức, Hạnh. Mỗi khi chúng ta tụng kinh nầy, thì chúng ta phải thành tâm, tin tưởng như là có đức Quang Thánh Đại Đê ở một bên chúng ta vậy. Ai vâng lịnh thi hành theo những lời trong Minh Thánh Kinh truyền dạy, thì đặng vinh hiển, rực rỡ cũng như là trong mình có đeo ngọc, phủ vàng vậy. Đức Ngọc Hoàng lại hạ sắc cho Thần cai quản Sấm, Thần cai quản Lửa, Thần cai quản Gió và Thần cai quản Mưa bảo hộ Minh Thánh Kinh cho vẹn toàn. ***************************************** CHÚ GIẢI : 1. Đức Quang Thánh Đại Đế trấn tại ba cửa Trời. Mỗi khi Thánh, Thần, về Trời tâu đối việc gì, thì Thánh Thần, phải do nơi Ngài trước. Cũng như là dưới thế gian, mỗi khi các quan lĩnh về trào tấu đối việc gì thì phải do nơi Thừa Tướng trước đây. 2. Kẻ gian ác thì phải bị Trời hành : hoặc là Ngài gia tật bệnh miên triền ; hoặc là Ngài làm cho tàn mạt, làm cho tuyệt tự ; hoặc là Ngài phạt tới đời con, đời cháu. 3. Mỗi việc lành, mỗi việc dữ, đều có thưởng phạt, nhưng mà mau, hay là chậm mà thôi. Lành thì sẽ đặng thưởng, dữ thì sẽ bị phạt. Trời chẳng bỏ qua việc gì hết. Khuyên ai nấy đừng tưởng rằng làm lành mà không gặp lành : Làm lành Trời ban phước luôn luôn, nhưng mà Ngài chẳng ban cách nầy, thì Ngài ban cách khác. 4. Hễ vọng bàn mà thờ Thánh , Thần, thì trong lòng phải tin tưởng, cung kỉnh, cũng như là có Thánh, Thần ở tại đó vậy, trước bàn thờ không nên ăn trầu, hút thuốc, ngồi dựa ngữa, ngồi tréo mãy, hoặc là mặc y phục dơ dáy, hoặc cười giỡn, nói lớn tiếng, nói việc tục tĩu. 5. Khắp trong toàn cầu, đâu đó đều tôn kính đức Quang Đế về lòng trung, can, nghĩa , khí, của Ngài.
  • 63.
    63 6. Trong Trờiđất chẳng có tượng hình nào đẹp đẽ xinh tốt, oai nghiêm, chánh sắc, lẫm liệc, như là tượng và hình của đức Quang Thánh Đại Đế vậy. Bực anh hùng như Ngài mấy ai sánh kịp. 7. Việc trung, can, nghĩa, khí của Ngài đâu cũng đều đồn vang. 8. Bởi trong lòng đức Quang Đế chứa đủ Hiếu, Để, Trung, Tin, Lễ, Nghĩa, Liêm, Tiết, cho nên cái mặt của Ngài đỏ chói, hàm râu của Ngài dài đuột. 9. Khi thất thủ Hạ Bì Ngài phò Nhị Tẩu qua Tào. Tào Tháo đem lòng độc hiểm, nó để cho chị em ở chung với nhau một nhà, đặng cho lửa bắn rơm. Nếu Ngài trúng kế của nó, thì Ngài không dám về với ông Lưu, Ngài phải ở lại làm Tướng cho nó. Mỗi đêm nó và Trương Liêu mỗi rình coi. Đêm nào như đêm nấy, nó thấy Ngài đốt đuốc đọc Kinh Xuân Thu sáng đêm. Đêm nào rũi hết đuốt, thì Ngài phá vách cho trống trải, để cho nó ngó thấy cho rõ ràng sự tiết cao của Ngài. 10. Khi Ngài nghe chắc chắn rằng ông Lưu ở Hà bắc, thì Ngài Niêm hết vàng, bạc, gấm, nhiễu mà trả lại cho Tào ; Ngài treo ấn giữa nhà mà trả lại cho Tào. Rồi Ngài từ tạ Tào minh bạch, phò Nhị Tẩu đi tim ông Lưu. 11. Bởi công danh và trung nghĩa của Ngài muôn đời không ai sánh đặng, cho nên vì Thượng Đế phong cho Ngài làm Nguơn Soái coi ba cửa Trời. 12. Ngài cúi lạy vâng chịu sắc chỉ của Đức Ngọc Hoàng, đặng thống vạn thần chi xuất nhập, chưởng nhân gian chi việc ác. Hỏa Lôi Phong, võ, chư linh ; giúp người, sao, tụng, thiệt tình kính tin (1). Vâng lịnh dạy tu nhơn, tích đức ; trải ngàn năm đeo ngọc, phủ vàng (2). Vẹn toàn việc tốt dường gương ; nguy nga một cửa,vẻ vang ba đời (3). Tuân Pháp Chỉ (4) mấy lời phán rõ ; nhóm Thần Tiên các bộ thi hành. Hội đồng Cứu Khổ Đại Tiên (5) ; hiệp ngôi Thái Thượng (6) cùng điền Kim Tinh (7). Kiểm dượt tất, phân minh chú giãi ; chẳng (8) ai nên nghịch cãi, luận bàn. Kinh nầy bốn biển rộng ban (9) ; giúp nên nước thạnh, dân an, lâu dài. Tôi trung lương, ra tài giúp nước ; con thảo hiền giữ trước, như sau (10).
  • 64.
    64 Thanh liêm vàngchẳng tham cầu ; tiết ngay vẹn vẻ, sợ đâu nguy nàng (11). Lời Minh Thánh ngọc vàng thâm thiết ; chẳng nên khi là việc tầm thường. Trung, Hiếu, Liêm, Tiết, bốn chương ; có lời Tam (12) Thánh tỏ tường giải phân. TRUNG CHƯƠNG Trên Minh Quân ân cần lễ hậu ; dưới bầy tôi thờ chúa hết lòng. Cơm vua, lộc nước, ngày dùng ; phải lo bổn phận lập công đền bồi. Tôi trọn Đạo khuôn phò xả tắc ; Tướng công bình dìu dắt ba quân. Chớ che việc lỗi văn Thần ; chớ đem công trạng Võ Thần lấp đi. Điện Văn Hoa (13) chép ghi rành rõi ; cung Kiến Chương (14) tấu đối rõ ràng. Lòng son vầng Nhựt in ngang ; ngôi cao hảng đặng lên hàng Tam Công. Kìa Tần Cối bất trung quá nổi ; hóa loài Muôn đền tội nhângian(15). Nhạc Vương Võ mục trung cang; dự trong bốn Soái Thiên Đàng sắc phong (16). HIẾU CHƯƠNG Làm con, trước thảo cùng cha mẹ ; thảo, thuận, là hai lẽ liền nhau Khiến vui, chớ để buồn rầu ; no cơm, ấm áo, nỏ hầu đơn sai (17). Lúc đau ốm, thuốc, thầy, kiểm điểm ; minh sắc rồi, miệng nếm, tay dưng.
  • 65.
    65 Hôm mai, chầuchực, bân khuân; quên ăn, quên mặc, đỡ, nâng, đêm, ngày(18). Mầy hiếu, thuận, con mầy sẽ hiếu ; xem giọt mưa tiếp nhiểu trước hiên (19). ******************************************* CHÚ GIẢI : 1. Vì Thượng Đế phú cho các thần Lôi, Hỏa, Phong, Võ rãi Minh Thánh Kinh khắp cùng trong thế gian, và phò hộ những kẻ sao, tụng và kính trọng, tin tưởng kinh nầy. 2. Ai cứ thi hành theo kinh nầy, thì đặng vinh hiên, rực rỡ như trong mình có đeo ngọc, phủ vàng vậy. 3. Ai trau dồi tấm lòng cho trong sáng như gương, thì đặng giàu sang ít nữa là ba đời. 4. Là Chiếu Chỉ của đức Ngọc Hoàng Thựơng Đế. 5. Cứu khổ Đại Tiên là Phật Quan Thế Âm Bồ tát. 6. Thái Thượng Chơn Quân, là đức Lão Quân Tổ Sư Đạo Tiên. 7. Thái Bạch Kim Tinh là Đại Tiên Các Trường Canh 8. Kinh nầy đã có ba vị Đại Tiên nầy kiếm được, chú giải phân minh rồi, cho nên ai nấy không nên nghịch cãi bàn luận chi hết. 9. Kinh nầy nếu ban hành khắp trong thiên hạ, thì nước đặng thạnh trị, dân đặng an cư, lạc nghiệp. 10. Tôi thì hết lòng trung phò vua giúp nước con thì thảo thuận phụng sự cha mẹ. 11. Không ai tham lam, gian giảo của ai. Người mà giữ cho toàn vẹn tiết nghĩa, dẫu gặp cơn nguy biến, cũng không nao, không núng; cũng trí tử mà giúp nước, cứu dân. 12. Tam Thánh là ba vi Đại Tiên đã kể trước đó. 13. Điện Văn Hoa là chỗ để lý lịch của các quan. 14. Cung Kiến Chương là chỗ để định việc thưởng công, phạt tội các quan. 15. Tần Cối độc ác, hảm hại trung lương, mại quấc, cầu vinh, phải bị đầu thai làm chó luôn luôn. 16. Ông Nhạc Phi bây giờ đặng dự vào chức Tứ Soái trên Thiên Đàng. 17. Làm con không nên ngỗ nghịch với cha mẹ,phải làm cho cha mẹ vui vẻ luôn luôn ; không nên làm việc chi cho cha mẹ buồn rầu.
  • 66.
    66 18. Đời nhàHớn, vua Văn Đế thực là bực chí hiếu. Ngài phụng dưỡng mẹ Ngài là bà Bạt Thái Hậu một cách cần mẫn, không ai sánh kịp: Tuy là làm bực Đế Vương mặc dầu, mà mỗi ngày Ngài mỗi bổn thân săn sóc ba buổi ăn cho mẹ và mỗi đêm Ngài mỗi bổn thân quét giường, đập chiếu, gối, dủ mùng, mền, cho mẹ. Mẹ Ngài đau trọn ba năm. Đêm, ngày, Ngài cứ chầu chực luôn luôn: ăn không ngon bữa, ngủ không ngon giấc, áo không hở mình, chẳng nói lớn tiếng, chẳng nhíp miệng cười. Mỗi thang thuốc, Ngài bổn thân sắc. Ngài nếm trước, rồi Ngài đỡ mẹ dậy uống’ 19. Khi trời mưa, hể giọt trước nhiễu chỗ nào, thì mấy giọt sau cũng cứ nhiễu theo chỗ ấy. Đại Thuấn (1) hiếu, ngôi Vua truyền; hai mươi bốn thảo, đầu diền hiếu (2) chương. Cha mẹ sống, chẳng thương, chẳng dưỡng; để chết rồi, tế hưởng linh tiền. Quân bất hiếu bị tai (3) khiên; hùm tha, rắn mổ, tật nguyền gớm thay. Phép nước, bị: tù, đày, giam, vạ; lưới Trời thêm: thủy, hỏa, lôi hoanh (4). Chết treo, chết chém, hủy (5), thân; những đồ bất hiếu Thánh Thần phải răn. Hãy gấp gấp, ăn, năng, chừa cải; nếu dần dà, theo mãi càng thâm (6). Người đời ai khỏi lỗi lầm, lỗi mà biết cải, mới làm người khôn (7). Người khôn giữ thần (8) hôn trọn đạo; mấy ngàn năm gương thảo vẫn còn. Xử sao cho xứng phận con; rồi ra trăm nết vun tròn từ đây (9). LIÊM CHƯƠNG
  • 67.
    67 Liêm, khiết, khiếnthường ngày kính, sợ; xét, xem tường, tránh sự hiểm nguy(10). Thánh, Hiền, an mạng là chi? Thung dung học lễ, học thì, mới mau (11) Chi, Tề, ẩn, lúa Châu, chẳng sá ; Thú Dương còn mãnh đá lưu danh(12). Giá cao sánh với ngọc lành ; chí dường sắt, đá, kiên trinh mọi bề (13). ************************************ CHÚ GIẢI : 1. Đời Ngũ Đế, ông Thuấn, là con của ông Cô Tẩu, bổn tánh rất thảo thuận, hiền từ, Ngài bị một người cha hung dữ, một người mẹ ghẻ độc hiểm và một thằng em một cha khác mẹ tên là ngươi Tượng, kiêu ngạo, hổn hào, mà Ngài cũng không than trách chi hêt. Ngài cứ giữ một lòng thờ cha mẹ hiếu thảo và ở với em thuận hòa mà thôi. Lòng thảo của người trên thì thấu tớiTrời, dưới thì thấu tới Đất, giữa thì thấu tới Người. Bởi vậy cho nên, khi Ngài làm ruộng tại non Lịch Sơn, voi kéo tới cả trăm giúp công việc cày đất cho Ngài. Ngài làm ruộng chẳng bao nhiêu, mà Ngài đặng lúa nếp vô số. Khi Ngài làm lò gốm tại đất Hà Tân, làm món nào cũng nguyên món nấy ; không méo, không nứt, không bễ món nào hết. Khi Ngài làm lưới tại chằm Lôi Trạch. Trời đất cho gió lặn, sóng êm, Ngài bắt đặng cá tôm nhiều lắm, Ngài làm đặng tiền bạc bao nhiêu Ngài dưng cho cha mẹ ghẻ hết bấy nhiêu. Mệt mỏi thế mấy Ngài cũng không than thở chi hết. Ngài có một điều là kêu vang xin Trời Đất xuôi khiến cho cha mẹ và em thương Ngài mà thôi. Vua Nghiêu nghe đồn , bèn vời Ngài đến mà giao việc trị nước cho Ngài, cấp chín Hoàng Tử cho Ngài đặng học việc hiếu nghĩa và gã hai bà Công Chúa là Nga Hoàng và Nữ Anh cho Ngài làm vợ.Tuy là Ngài làm phò mã và làm chức phu chánh đại thần mặc dầu, mà cha mẹ cũng còn hành tấm thân Ngài đáo đễ. Ngày kia cha Ngài sai Ngài lên sắp nóc lẩm lúa rồi phóng hỏa, Ngài lập thế khỏi chết. Lúc nọ cha Ngài sai Ngài xuống vét giếng, rồi vác đất lấp giếng, Ngài cùng lập thế khỏi chết. Chuyện nầy ngươi Tượng chắc rằng Ngài phải chết. Nó bèn lơn tơn đi qua nhà Ngài đặng đoạt gia tài của Ngài và bắt hai người vợ của Ngài mà làm vợ. Té ra nó qua tới nhà, thì nó thấy Ngài đương ngồi thảy đờn. Nó bắt sượng sừng, nó kiếm lời mà nói rằng : « Lâu ngày tôi nhớ anh, tôi qua thăm anh ». Ngài đã thấu rõ cơ quang, mà Ngài chẳng giận hờn chi hết. Ngài phụ chánh 28 năm, rồi vua Nghiêu truyền ngôi cho Ngài làm vua đặng 61 năm và sống 110 tuổi.
  • 68.
    68 2. Trong bứcNhị thập tứ hiếu thiên hạ để cho Ngài đứng đầu. 3. Bịnh hoạn, tai hại, khốn khổ. 4. Trời đánh. 5. Tự vận. 6. Tội càng nặng thêm. 7. Biết ăn năng, biết chừa, cải, thì cũng trở nên bực Quân tử, bực Hiền, bực Thánh. 8. Là sớm viếng tối thăm, nuôi dưỡng chi hiếu. 9. Việc Hiếu đặng đứng đầu trăm nết tốt. 10. Muốn giữ việc thanh liêm, việc trong sạch, thì mình phải răn mình, giữ minh, cho kỹ can, đừng để hở việc chi cho người ta nghi nang mình đặng, cũng như là Đức Quang Đế bĩnh chúc đạt đáng đặng tránh sự nghi nan vậy. 11. Các bực Thánh Hiền đều thủ phận, an mạng, thuận thời, thính thiên, cứ giữ mình theo kinh lễ và kinh thi. 12. Ông Bá Gi và ông Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc. Khi vua băng thì triều đình cứ theo lời di chúc mà tôn Thúc Tề lên ngôi.Thúc Tề nói rằng Thiên Luận chi trung bèn nhượng lại cho anh. Bá Gi nói rằng Phu mạng vi tôn, không chịu làm Vua. Triều đình phải tôn người con giữa vua Cô Trúc lên ngôi. Hai ông bèn dắt nhau qua nhà Châu làm tôi vua Văn Vương, là người nhơn đức.Vua Văn Vương băng. Con Ngài là vua Võ Vương cử binh phạt vua Trụ vô Đạo. Hai ông đón trước đầu ngựa mà cang rằng : « Cha chết chưa chôn, mà khởi động cang qua sao gọi là con thảo ?». Tả hữu đòi chém. Ông Khương Thượng cản rồi biểu dắt ra cho khỏi cổng binh. Hai ông hỗ thẹn, không chịu ăn lúa nhà Châu, lên núi Thú Dương ẩn dật. Hễ đói thì hái rau khuyết vi mà ăn đỡ dạ. Có người nói rằng : « hai ông không chịu ăn lúa của nhà Châu, mà rau khuyết vi cũng là mọc trong đất của nhà Châu, vậy. Hai ông nghe nói như vậy thì nhịn đói mà chết. Thánh nhơn khen Bá Gi và Thúc Tề là Thánh chi thanh. Có bài thơ khen hai ông như vầy : « danh chẳng tham, mà lợi chẳng mê ; kìa gang, hay sắt, hỡi Gi, Tề ? Gặp xe vua võ, tay dừng lại .Thấy lão nhà Châu mặt ngoãnh đi. Cô Trúc hồn về sương mịt mịt. Thú Dương danh lạc đã tri tri. Cầu nhơn chẳng đặng nhơn mà chớ ; Cũng chẳng hờn ai, chẳng hoán chi. 13. Người mà giữ cho đặng thanh liêm, trong sạch, thì phẩm giá quý trọng cũng như ngọc tốt vậy. Lấy quyền tước mà phỉnh dỗ họ cũng không đặng lấy, vàng bạc mà cám dỗ họ cũng không đặng, lấy sắc tốt cám dỗ mà họ cũng không đặng, họ khắng khắng về việc nhơn, việc nghĩa mà thôi. Giữ lộc mình, chớ hề tham quấy ; xâm của người miêu duệ mang tai (1)
  • 69.
    69 Người liêm chêcủa Ta lai (2) ; chí cao chẳng uống nước khe Đạo Tuyền. (3). Từ bỗng, tiếng Nguyên Hiền (4) liêm cẩn ; sợ vàng, khen Dương Chấn (5) thanh cao. Truyền Cầm sắc gái không xiu (6) ; lỗ liêng trọng nghĩa, vàng trao chẳng màng (7). Thịt Ngỗng (8) quý đâu hơn trái lý ; cãi (9), rau ngon, dưa tế nào bằng. Lễ nghi nhờ của Lộc Ban ; cả nhà chi phí kiệm cần cũng xong (10). Của Thất Tiết (11) chất chồng trăm lớp ; tiền Mụi Tâm (12) giựt sắp đầy rương. Oan hình ngó xuống thảm thương ; ngước lên còn có Thiên Thương trên nầy(13). ******************************************* CHÚ GIẢI : 1. Trời cho mình đặng bao nhiêu thì mình cứ xài phí bấy nhiêu thì thôi, chẳng nê tham lam, lường gạt, sang đoạt của ai. Kẻ làm quan cũng vậy, cứ xài phí đồng tiền lương mà thôi, không nên ăn hối lộ, hoặc là tìm mưu kế rúng ép, sách bức cho lòi tiền mà ăn. Nếu người ngoài dùng việc xão quyệt mà làm ra tiền, kẻ làm quan ăn của hối lộ, thì ngày sau con cháu phải chịu oan nghiệt. 2. Là của bố thí ; cho người ta ăn mà nói hơi thị người. Nước Tề thất mùa, dân đói. Ông Cầm Ngao lập quán dựa lộ mà thí cơm cháo. Có một người đi ngang qua đó, thấy vậy, lấy tay áo che mặt và chạy mau mau. Cầm Ngao tay bưng cơm, tay bưng nước, miệng chắt lưỡi mà nói rằng : « tội nghiệp,quá ! Lại đây mà ăn, kẻo đói chết đi ». Người ấy trợn mắt nói rằng : « ta chẳng thèm ăn của mời vô lễ, cho nên ta mới là đói ra thế nầy. Thà chịu chết đói , chớ chẳng chịu chúng cho ăn mà khi bạc ». Ấy cũng là một việc thanh liêm, trong sạch.
  • 70.
    70 3. Là cáisuối của tên Đạo Chích, Đạo Chích là một tên ăn cướp dữ lắm. Hai con mắt nó đỏ như con mắt tôm luộc. Nó hay bắt người ta. Mỗ bụng lấy gan mà ăn. Nó hổ cứ núi Lệ Sơn, ai nghe tới tên nó thì cũng kinh tâm, tán đởm. Những suối ở gần đó đều đặt tên là Đạo Tuyền. Có một người thượng khách đi ngang qua núi Lệ Sơn vùng khát nước. Va thấy một cái suối nước trong tốt lắm, Va lấy làm mừng lội xuống múc nước uống. Đi gần tới mé nước, gặp một người, Va hỏi rằng : « suối của ai mà nước tốt dữ há ?». Người ấy trả lời rằng suối của tên Đạo Chích. Nghe nói vậy, thì Va quày quả trở lên lập tức Va nói rằng : « Thà chết khát, chớ chẳng thèm uống nước dưới suối của thằng ăn cướp ». Ấy cũng là một việc thanh liêm, trong sạch. 4 .Nguyên Hiến, tự là Nguyên Tư. Khi Đức Khổng Tử làm chức Tư Khấu nước Lỗ, Ngài cho Nguyên Tư làm quan tể ấp Bi. Ngài thấy Nguyên Tư nghèo lắm. Ngài xuất của kho cấp cho Nguyên Tư 900 hộc lúa. Nguyên Tư từ chối , không chịu lãnh và nói rằng : « Bổng lộc của tôi tuy là ít ỏi, nhưng mà tôi cần kiệm thì cũng là đủ dùng. Nay tôi đem lúa ấy về, chẳng biết dùng về việc gì ». Đức Khổng Tử nói : « Nếu mi không xài, thì mi phân phát cho trong lân, lý, hương, đảng, đặng cho rạng ân đức của Vua. Nguyên Tư cũng cứ từ chối. Ấy là việc của thanh liêm, trong sạch, để răn bọn tham chức , tham lộc. 5 . Đời nhà Hớn, ông Dương Chấn dạy học tại đất Hòe Thị,Tỉnh Quảng Tây, có danh tiếng lớn, đến sau Ngài làm Thứ Sử đi thanh tra, có quan huyện Xương Ấp, tên là Vương Mật đem dâng cho Ngài 10 cân vàng. Ngài không chịu thâu mà nói rằng « Ta biết quan huyện, mà sao quan huyện không biết ý ta ? ».Quan huyện thưa rằng : « Ban đêm vắng vẻ không có ai biết, xin quan lớn chớ ngại ». Ngài trả lời rằng : « trước mặt có bốn người biết là : Trời biết, Đất biết, Người biết, Ta biết, sao gọi là không ai biết ? ». Ngài nhứt định không chịu thâu. Ấy là đức thanh liêm nó làm cho răn lòng, sợ lòng tới dường ấy. 6 . Thanh liêm chẳng phải là nói về việc tiền bạc, của cải và tước lộc thôi dân. Chữ thanh liêm lại gồm việc sắc gái nữa. Liểu hạ Huệ, tự là Truyền Cẫm, thiệt là người thanh liêm, trong sạch. Ngày kia ổng đi đường, tới một chỗ đồng không, mông quạnh, bị Trời xáng xuống một đám mưa mịt mù, đi không đặng, ổng phải ngỗi xuống che dù đụt mưa. Ổng thấy một nàng con gái mắt mưa, không có dù mà che , không có chỗ mà đụt. Ổng bèn kêu nàng ấy lại ngồi chung mà đụt mưa. Nàng ấy túng thế bất đắc dĩ, phải lại ngồi đụt đỡ. Ban đầu còn ngồi dang ra, trời gió lạnh thét, chị ta lần lần xít vô ngồi trọn trong lòng ổng. Tuy vậy mà ổng không có ý chi hết, ngồi trơ trơ như cục đất vậy mà thôi. Ấy là chánh sắc, thanh liêm, trong sạch, xưa nay ít có.Thánh nhân khen ổng là Thánh chi hòa. 7 . Đời Chiến Quấc có Ông Lỗ Trọng Liêng, quê quán ở nước Yên, là bậc cao sĩ, thanh liêm, trong sạch.Vua Tần Tương Vương đem binh vây nước Triệu. Tướng của nước Ngụy tên là
  • 71.
    71 Tân Viên Diễngbàn nghị với Bình Nguyên Quân là vua Nước Triều, biểu đầu nước Tần và tính với các chư hầu tôn Tần Tương Vương lên bực Đế, lúc ấy có ông Lỗ Trọng Liêng ở trong vòng bị vây nơi Kiềm Đơn, đến bàn việc lợi hại và nói răng : « thà nhào xuống biển Đông mà chết, chớ đầu Tần uổng lắm ». Nghe ổng bàn nhằm lý, thì vua nước Triệu không chịu đầu. Đợi lâu ngày mà không thấy nước Triệu đầu thì vua Tần Tương Dương biết trong thành có người cao sĩ, hết dám kiêu ngạo nữa, bèn rút binh trở về Vua nước Triệu muốn dùng ổng làm quan, ổng từ chối. Vua lại sai người đem vàng và hàng lụa mà đền ơn cho ổng, ổng cũng không chịu lấy. Ổng nói rằng ổng giúp về việc nghĩa mà thôi, chớ chẳng có ơn chi hết. Vua sai đem vàng và hàng lụa qua nữa, ổng đóng cửa, ẩn mặt. Thiệt ổng là người thanh liêm, trong sạch. 8 . Đời chiến quấc có tên Trần Trọng Tử giữ việc thanh liêm, trong sạch, quá lẽ. Ngày kia Va đến thăm anh, Va tên là Trấn Đái, làm quan Tể ấp Cái. Va thấy dân đem một cặp ngỗng mà đi lễ cho anh Va, thì Va châu mày mà nói rằng : « Anh ăn của hối lộ mà làm chi ». Cách ít ngày, Trần Đái biểu làm thịt ngỗng ấy cho Va ăn. Va không biết, cho nên Va nít cành hông. Khi rồi bữa cơm, trà nước xong rồi, anh Va giã bộ và hỏi rằng : « hồi nảy em ăn thịt gì đó, em biết hay không ? ». Va nói không biết. Anh Va và cười và nói rằng : « ấy là thịt ngỗng của họ đem hối lộ cho anh hôm trước đó ». Va nghe nói bấy nhiêu lời, thì Va chọc cổ mữa hết và nói rằng : « ai thèm ăn của hối lộ. Đoạn, Va quay quả ra về. Đi dọc đường đói gần chết. Đi tới một suối Va mệt luỗi.Va lại nằm nghỉ mát dưới một bóng cây. Va thấy trái lý sâu ăn rớt xuống, Va lại lượm mà ăn đỡ dạ mà nói rằng : « trái ly nầy là vật tự nhiên, tuy là chẳng ngon bằng thịt ngỗng mặt dầu, mà ăn nó thì chẳng có tội lỗi chi hết. Chớ ăn thịt ngỗng hối lộ, thì phải bị liên can ». Nhờ ăn trái lý nầy mà đỡ đói đi về tới nhà. Ông Mạnh Tử chê việc thanh liêm, việc tinh khiết nầy. 9 . Thuở xưa thiên hạ cho rằng dưa hấu là một vật quý : cho nên mỗi năm, tới mùa Đông, có dưa hấu, thì thiên hạ đều dùng mà tế lễ Tiên nhân, rồi làm một món vật thực hay sao ? Thôi, ngày thường dùng cãi, dùng rau, mà thế cho dưa hấu cũng là đặng vậy. Thánh Nhân đã dạy thanh liêm về việc của cải, về việc danh tiếng, về việc tước lộc, về việc nữ sắc, bây giờ Ngài dạy thanh liêm cho tới việc ẩm thực. Miễn là cho có vật thực tầm thường mà ăn cho no bụng thì thôi, hà tất ta phải đợi cho có đồ cao lương mỹ vị. 10 . Kẻ làm quan, hễ bổng lộc của mình bao nhiêu, thì mình cần kiệm, cứ ăn xài bấy nhiêu đó mà thôi, chớ chẳng bày ra mưu nầy, kế kia, mà ăn của thiên hạ. 11 . Là trái phép.
  • 72.
    72 12 . Làu ám tấm lòng, không biết sợ tội. Nghĩa là ỷ quyền, ỷ thế, thâu đoạt đồ quý báu của thiên hạ mà chưng dọn cho hực hỡ trong nhà ; ăn tiền bạc của thiên hạ mà chất cho đầy rương, đầy tủ. 13 . Ai không lo lót thì bắt người ta mà đánh đòn, kẹp, đóng, trăng, đặng mang bỏ tù, đày, lưu, hoặc làm cho người ta chết oan, làm việc tàn bạo,bất nhơn, thất đức, như vậy, mà sao không sợ Trời ở trên đầu cao xanh kia kìa. Dung tôi tớ như bầy Lan, Hổ ; mưu lấn giành điền, thổ, quân, dân (1). Đến khi vận đốn, thời truân ; nhà tan, mả nát, khôn phân lẽ nào(2). Của Kim Cốc lúc vào đã trái ; đám Phù vân thoảng lại như không (3). Gái dâm, trai đạo, đến cùng ; trả sao cho xứng mấy đồng tiền oan (4). TIẾT CHƯƠNG Tiết người ta sánh ngan Trời ; Đất ; so loài Tre, vầng Nguyệt cũng bằng (5). Sáng soi, cao thẳm, khôn ngằn ; mười phân tròn trịa, mười phần sạch trong (6). Mình, ngay thẳng, nào cong, nào khuất ; trãi tuyết, sương, thường tốt, thường tươi (7). Một màu xanh biếc Đất, Trời ; Trăng thanh gió mát, thảnh thơi mọi bề (8). Châu mấy giọt, dầm dề rừng Trúc ; Tiết ngàn thu gởi khúc Tương Linh (9). Khiến người qua bến Động Đình, càng thương, càng mến, Nga (10), Anh (11) bồi hồi. Gậy Tô Võ mười hai lóng chẵn ; Sứ Hung Nô mười chín năm tròn (12).
  • 73.
    73 Lý Lăng tiếngxấu khôn mòn (13) ; Tô Công (14) tiết liệt, tiếng còn đến nay. Bang Trọng Thăng (15) cõi Tây phụng sứ ; băm sáu phương còn nhớ ân quang. Mấy người tiết nghĩa vẹn toàn ; Thánh Thần soi đến hỷ hoan dường nào ! ************************************ CHÚ GIẢI : 1. Nuôi gia Tướng như bầy chó sói, bầy cọp, để cho chúng nó ra ngoài ỷ thế, húng hiếp thiên hạ ; rồi mưu sự xuối chúng nó Giựt ruộng, giựt vườn, giựt nhà, của quân của dân mình cho mình. Lại bang mồ mả của người ta mà cất dinh, cất phố, cất nhà và lập vườn. 2. Đến khi vận xấu, thời suy, thì bị thiên hạ đoạt sự nghiệp lại và khi chết rồi, thì bị thiên hạ đào mồ, cuốc mả lại. Ấy là lẽ Trời báo ứng xây vần. 3. Thuở trước Vương Khải và Thạch Sùng giàu so kiệp nước, của chất bằng non, lấy vàng khối mà xây hòn non bộ và lót vườn kiển, kêu là Kim Cốc, mà đến nay lại còn gì hay không ?. Làm việc bất nhơn, thất đức, mà đặng giàu có dường ấy, thì có khác chi là đám mây kia vậy : Mới thấy vần, vũ, u ám đó, rồi tan mất đó. 4. Làm bất nhơn, thất đức, mà đặng giàu, đặng sang thì Trời khiến cho con cháu phá tiêu đìu hết ; con trai thì thua cờ bạc, nuôi đĩ; con gái cũng thua cờ bạc và nuôi trai. Đến khi cùng thế, thì con trai phải đi ăn trộm, ăn cướp, bị tù, bị đày, con gái phải đi làm đĩ, rồi bị bịnh độc mà chết. Tuy vậy mà đền cũng chưa xứng đáng cái tội bất nhơn, thất đức là : Đánh đòn, khảo kẹp, đóng gông, đóng trăng, bỏ tù đày, lưu người ta, làm cho người ta chết oan, giựt điền thổ, nhà phố của người ta và bang mồ mả của người ta, vân vân. 5. Cái tiết của người ta lớn như Trời, như Đất vậy. Sánh ra thì như loài Tre, như mặt Trăng vậy. 6. Như mặt Trăng, thì tròn trịa, trong trẻo, sáng rạng. 7. Như loài Tre, thì ngay thẳng suông đuột, chịu sương tuyết chừng nào thì càng tốt tươi chừng nấy. 8. Cây xanh, lá xanh, tiệp theo màu trời. Lại hưởng trăng thanh, gió mát, thảnh thơi vô cùng. 9. Trương Linh là cây đờn cầm của vua Thuấn chắt để lại. 10. Bà Nga Hoàng. 11. Bà Nữ Anh. Hai bà nầy là Công Chúa của vua Nghiêu gã cho vua Thuấn làm vợ. Vua Thuấn thăng hà chôn tại xứ Thương Ngô, thuộc về đất Động Đình. Hai bà thương nhớ chồng vô cùng,
  • 74.
    74 bèn lên núiCửu Nghi khảy cây đờn Trương Linh mà kêu khóc chồng, rồi xuống chằm Thất Trạch mà điếu hồn chồng. Hai bà kêu khóc thảm thiết, cho đến đỗi tuông nước mắt máu ra văng vô rừng tre ; tre vấy máu ấy rồi có đốm đỏ, cho nên bây giờ có tre bông, tre đỏ, là do nơi sự tích ấy. Hai bà kêu khóc hết sức, rồi tậu tiết nơi mộ phần vua Thuần. Thuở ấy những người hành khách qua lại sông Động Đình nghe tiếng đờn khảy như hoán, như mộ, như khốc, như thán, làm cho mây sầu, gió thảm, chẳng xiết buồn rầu. Người có tiết dường ấy chẳng những là làm cho loài người ta dời thói xấu, đem lại tục tốt mà thôi, mà lại làm cho loài tre , là loài vô tri, vô năng, phải cảm việc tiết, nghĩa, mà vẽ hình, đổi sắc nữa. 12. Cây cờ sứ của ông Tô Võ làm bằng tre, có 12 mắt, kêu là cờ Tiết Mao. Khi ông Tô Võ ở tại Hung Nô, ổng dùng cây tre ấy mà làm gậy. Ông Tô Võ , tự là Tử Khanh, làm tôi nhà Hớn, chịu chức Lang Trung. Vua sai Ngài đưa sứ Hung Nô về nước. Hung Nô không cho Ngài trở về Trung Quấc, nó biểu Ngài đầu nó ; Ngài không chịu đầu. Nó bắt Ngài nó bỏ dưới hầm, không cho ăn, không cho uống. Hễ khát nước thì Ngài hứng tuyết mà sống, Hễ đói thì Ngài rứt lông trong áo cầu mà ăn đỡ dạ. Cách ít ngày Hung Nô sai quân đến thám, thấy Ngài không chết, thì nó nói Ngài là Thần, nó không cầm tù Ngài nữa. Nó bắt Ngài lên ở Bắc Hải chăn Chiên, và nó nói rằng chừng nào Chiên đực có con, thì nó tha Ngài trở về Trung Quấc. Vua thương lòng tiết liệt của Ngài, vua phong cho Ngài chức Điện Thuộc Quấc. Có bài thơ khen ông Tô Võ như vầy : « mười chín năm dư cách đế thành ; tiết bền có một gã Tô Khanh. Xông sương, mượn nhạn đem thơ lá ; Uống tuyết, chăn dê, xủ áo mành. Bợ ngợ trời Hồ lòng một tấm ; mơ hồ đất Hớn nguyệt năm canh. Râu, mày, tuy bạc,lòng nao bại ; tượng vẽ Đài Mây cũng rạng danh ». 13. Lý Lăng làm chức Kỵ Đô Húy nhà Hớn. Vua sai Va cầm binh đánh nước Hung Nô. Ban đầu Va thắng, đến sau Va bị thua, Va hàng đầu Hung Nô. Vua hay Va đầu Hung Nô, thì vua bắt gia quyến của Va tru luộc hết. Bởi Va chẳng đặng bền chí như Tô Võ cho nên Va phải bị bia tiếng xấu trong thanh sử. 14. Tô Vỏ bị Hung Nô hảm hại và cầm tù 19 năm, mà bền chí, không chịu đầu Hung Nô. Bởi Ngài giữ đặng lòng tiết liệt, như sắt, như đá, cho nên Ngài mới đặng bia tiếng tốt trong thanh sử. 15. Ông Trọng Thăng, tự là Bang Siêu, làm chức Tư Mã triều vua Hớn Minh Đế. Ngài phụng chỉ đi sừ bên cõi Tây Vức. Ngài lấy ân oai mà vỗ về nhân dân, cho nên cả cõi Tây Vức là ba mươi sáu nước đều tùng phục nhà Hớn. Ngài có đại công, cho nên vua phong cho Ngài tước Định Viễn Hầu, hưởng thọ đặng 71 tuổi. Đến sau con của Ngài là Bang Dõng làm chức Trưởng Tử triều vua Hớn An Đế và cũng đặng tiếng khen ngợi như Ngài vậy.
  • 75.
    75 Hoặc dự chứcThiên tào quyền chưởng ; hoặc bổ làm các đấng Thành Hoàng (1). Công Hầu nối nghiệp vẻ vang ; Ngàn năm hưởng phước giàu, sang, lâu dài. Kìa :Loan (2), Tặc (3), nào ai chẳng ghét ; hại Trung Lương, thảm thiết quá chừng ! Thấy nhau, mặt giã vui mừng ; mà lòng với miệng vẫn từng khác nhau. Lòng sụt sụt, tám mâu chỏi ngược ; ý hằm hằm, ba thước đao châm (4). Lưỡi như gươm bén phải làm ; giết người chẳng thấy hơi tăm chút nào. Hễ sàm nịnh, hùng hào, gian xảo ; thì thân, gia, điêu háo, tuyệt dòng (5). Đế xưa cũng chẳng chay ròng ; dị đoan, tà thuyết, Đế cùng chẳng tin. Địa Ngục vẫn chư Thần quản hạt ; tam bửu là : Nhựt, Nguyệt, Tinh, Thần (6). Đỡ che cấp nạn nhân dân ; gây oan tháo, gỡ, lần lần sạch trơn. TỔNG KIẾT CHƯƠNG Bốn chương ấy tỏ tường thâm thiết ; Trung, Hiếu và Liêm, Tiết, rành rành. Còn hai mươi bốn vị tinh ; sau nầy thứ lớp phân minh kế liền. (Hễ đọc tên mỗi vị Thần sau nầy thì lạy một lạy). 1. Thần Mãnh Dõng dinh thiên pháp luật ; chống bầu trời dỡ đất mạnh thay.
  • 76.
    76 2. Xây vầnNhựt, Nguyệt, Đông, Tây ; ấy Thần Phổ Chiếu đêm ngày sáng soi. 3. Thần Minh Lãng an bài tinh tú; trong đêm thanh chiếu tỏ đều Trời. 4. Hằng ngày cưỡi ngút nương mây ; kìa sao Phi Độ vãng lai du tuần. 5. Thần oai liệt lẫy lừng khôn xiết : chớp bũa dăng sấm sét tưng bừng. 6. Kêu mưa, hú gió nửa lừng ; nhiễu nhương oai dậy đùng đùng bốn phương. 7. Sao biến thông rưới sương sa tuyết ; làm đượm nhuần : Thảo, Mộc, Sơn, Hà. 8. Thưởng lành, phạt dữ, gần xa ; có Thần chánh trực xét tra công bình. 9. Thần trung nghĩa hành hình đảng ác ; phò hộ người tánh đức tu nhân. 10.Dạy kẻ ngu, dỗ kẻ ngoan. Có Thần cảm ứng liệu toan trong đời. 11.Thần Từ Tường cho người trường thọ, đuổi Ôn Hoàng, Dịch Lệ, cứu dân. 12.Cát bay đá rần rần ; ấy Thần Triệt Lộ đón ngăn tứ bề. 13.Thần Ngũ Hồ chưởng về phong kiển ; vâng lịnh Trời, đổi biển dời sông. 14.Đạp, xô, lỡ núi, sập non ; sức Thần Thiết Giáp ai còn dám đang. 15.Sao Kiết Hóa làm tan tuyết, giá ; hoặc làm đông, đặc, cả rạch ngòi. 16.Làm cho trỗ lá nãy chồi ; vì sao Phát Dục dưỡng loài cỏ cây. 17.Sao Kiều Mỵ đơm đầy bông, trái ; cây vẻ vang, người lại hưởng nhờ. 18. Lúa tươi, nếp tốt, sởn sơ ; nhờ sao Ích Huệ, giúp người đủ no.
  • 77.
    77 19. Sao BộTróc hộ phò các loại ; là : Cầm bay, thú chạy, trong trời. 20. Cá, tôm, cua, trạch, đua bơi ; nhờ sao Dõng Dước hóa đầy biển sông. 21. Sao Triền Nhiểu rãi cùng thế giái ; loài côn trùng, bay, nhảy tơi bời. 22. Văn chương, chữ nghĩa, vẻ vời ; sao Văn Xương ấy dạy người thông minh. 23. Sao Võ Khúc bày binh, bố trận ; muôn nước dùng chống vững cõi bờ. 24. Chư công, bá nghệ, đều nhờ ; vì Thần Xảo Tác dạy đời đua chen. Chúng tinh nghe lịnh truyền khắp cả ; về bổn dinh, biến hóa, phát sanh. Cúi đầu lạy trước Thánh Minh ; công dày, đức cả, cao xanh mấy từng. (Đọc tới đây thì đứng dậy, lạy bốn lạy. Rồi đọc kinh phía sau nầy). ********************************************* CHÚ GIẢI : 1. Thành Hoàng là Bổn cảnh Thành Hoàng chúa xứ. 2. Là loạn Thần. Là tôi phản Vua. 3. Là tặc tử. Là con ngỗ nghịch với cha mẹ. 4. Bọn gian thần, tặc tử thấy kẻ trung lương, kẻ hiếu thuận, thì chúng nó ghét lắm. Chúng nó gặp người trung lương, hiếu thuận, thì chúng nó làm bộ vui, cười, mà trong lòng chúng nó tích trữ gươm dao, hằm hằm muốn giết. Nhiều khi chúng nó hại thầm làm cho kẻ trung lương bọ chết mà không hay không biết. 5. Hễ chúng nó hảm hại kẻ trung lương, thì Trời cũng hại chúng nó tàn, mạt. Trời cùng khiến cho chúng nó tự vận và Trời sẽ làm cho chúng nó tuyệt dòng, tuyệt giống. 6. Chủ các Địa Ngục, tức thị là các Bổn Cảnh Thành Hoàng chúa xứ. Tam Bửu là Mặt Trời, Mặt Trăng và các Vì Sao lớn nhỏ.
  • 78.
    78 CUỐN THỨ BALÀ : ĐẨU-KHẨU-VƯƠNG-THIỆN KHÂM PHỤNG HỚN-THẤT, HỚN-THỌ-ĐÌNH-HẦU, QUANG THÁNH ĐẠI ĐẾ SẮC MẠNG. -oOo- Ngày hai mươi bốn tháng Giêng, năm Tân Vì (Nhằm năm 1811), lúc ấy là Triều Nhà Thanh, đời vua Gia Khánh năm thứ mười lăm, vì Thiên- Thần Đẩu- Khẩu-Vương-Thiện (Là ông Vương-Thiên-Quân) vâng lịnh Đức Quang-Thánh- Đại -Đế giáng cơ rao truyền những lời của Đức Quang-Thánh-Đại- Đế cắt nghĩa các điều trong Minh-Thánh-Kinh cho chúng sanh hiểu. Có nhiều người ngu muội, không hiểu điển tích chi hết, mà dám kiêu ngạo, chê bơi, đức Quang-Thánh-Đại-Đế phán răn : « ai còn kiêu ngạo, hũy báng kinh nầy, như nhẹ, thì sẽ bị Ôn-Hỏa đeo đuổi theo mình, như nặng, thì bị ông Châu-Thương chém đầu, chừng đó đừng kêu vang. ************************************************* (Lạy bốn lạy rồi quỳ xuống đọc câu nầy): Đẩu Khẩu Vương Thiện khâm phụng Hớn Thất, Hớn Thọ Đình Hầu,Quang Thánh Đại Đế sắc mạng. (Lạy ba lạy rồi đọc luôn).
  • 79.
    79 Đức Thánh Đếsắc rồng phán thị ; Vương Thiên Quân vâng chỉ của Trời. Đế thường gắn vó mấy (1) lời ; trên trời mặt Nhựt, trong người trái Tim. Mặt trời chiếu đâu xem cũng sáng ; lòng người tua tỏ rạng như vầy. Trong đời muôn việc rũi may ; cội nguồn cũng ở lòng nầy mà ra (2). Năm thường ấy, Nho Gia làm chủ ; Tam Bửu kia, Thích, Đạo làm đầu. Quản bao giải lẽ cao sâu ; Đạo nào cũng phải suy cầu Tâm nguyên (3). Nhơn chẳng chi lớn hơn Trung ; Hiếu, Nghĩa thì không đặng thiếu Tiết, Liêm. Năm Thường thử kể ra xem ; trước là Nhơn, Nghĩa, đã kiêm cả rồi. Đức Thánh Nhân sánh trời giúp hóa ; thành Phật, Tiên, cũng tại nhờ đây(4). Mở Trời, dựng Đất, đến nay ; nhóm về một lẽ, rõ bày chơn nguyên. Trãi : Đế, Vương, Thánh, Hiền, Tiên, Phật, Kinh điển còn ghi tạc muôn đông. Đạo dẫu cách, tâm vẫn đồng ; nói trong lẽ ấy làm trong việc nầy (5). Đế (6) vốn trong Tử Vi cung tọa, bẩm tinh anh, sao Hỏa giáng sanh. Tánh oai liệt, Tượng Ly Minh ; Văn Xương, Võ Khúc, quyền hành hai cung. Văn chủ Nhơn, Hiếu, Trung, là gốc ; Võ chủ Nghĩa, Liêm, Tiết, là đầu.
  • 80.
    80 Nghĩa, Nhơn, nếuchẳng suy cầu ; Thánh, Hiền, Tiên, Phật khó hầu sánh vai (7). Không Đêm, ví Ngày hoài đâu có ; có Dương, không Âm nọ, được sao ?(8). Siêu phàm, nhập thánh, huân lao (9) ; Nghĩa, Nhơn, trọn, đủ, mới hầu thành công. Trải Chiến Quấc, mấy vòng mưa, gió ; đến lúc sau, Hớn tộ suy vi (10). Đế ra hết sức xanh trì ; cứu dân, giúp nước, trăm bề gian truân. *************************************** CHÚ GIẢI : 1. Đây là lời của đức Quang Thánh Đại Đế phán ra. 2. Ở đời giữ đặng tầm lòng cho tốt, thì muôn việc đều đặng xong xuôi may mắn. luôn luôn. Hễ ở lòng dạ xấu xa, thì gặp việc rũi ro, hoạn nạn và tật bịnh luôn luôn, lại con cháu bị hoan, bị hư hết. Trong kinh Phật có câu : « nhứt thiết do tâm tạo ». Nghĩa là việc Hưng, Suy, Họa, Phước, đều do nơi tấm lòng mà sanh ra cả thảy. 3. Đạo nào cũng là trọng chữ Tâm cả thảy. Đạo Nho thì có Tồn Tâm dưỡng tánh. Đạo Phật thì nói Minh Tâm kiến tánh. Đạo Tiên thì nói Tu Tâm luyện tánh. Đạo Nho thì trọng hai chữ Trung Dung. Đạo Phật thì trọng hai chữ Từ Bi. Đạo Tiên thì trọng hai chữ Cảm Ứng. Sáu chữ nầy đều có chữ Tâm ở dưới cả thảy. 4. Người ta nhờ tu thân trọn Nhơn, trọn nghĩa, mà đặng thành Thánh, thành Hiền, thành Tiên, thành Phật. 5. Mỗi đạo dạy một cách riêng, nhưng mà tóm lại, thì đạo nào cũng là dạy làm lành, lánh dữ mà thôi. 6. Đức Quang Đế nguyên là một vị Đại Thiên Thần ở trong tòa Tử Vị. Sao Tử Vi là sao Hỏa, tỏ rạng hơn hết cả các sao trên trời. Bởi Ngài là vì sao Hỏa cho nên Ngài có tánh Trung, Cang, Nghĩa, Khí lắm. Ngài gồm luôn vì sao Văn Vương và ví sao Vỏ Khúc cho nên Ngài toàn tài về nghề văn và nghiệp võ.
  • 81.
    81 7. Ngài muốncho chúng sanh giữ cho đủ trọn chữ Nhơn và chữ Nghĩa. Chữ Nhơn thì chủ việc Trung, Hiếu, .Chữ Nghĩa thì chủ việc Liêm, Tiết. Giữ cho trọn đủ hai chữ, thì đặng thành bực Thánh, Hiền, Tiên, Phật. Nếu thiếu một chữ thì chẳng đặng thành. 8. Cũng như có Ngày thì phải có Đêm, có khí Dương thì phải có khí Âm vậy. 9. Muốn cho đặng Siêu Phàm, Nhập Thánh, thì phải cho dày công tu luyện theo điều Nhơn và điều Nghĩa. Tu luyện cho hết sức rành rẽ và cho trọn đủ, thì mới là thành công. 10. Thuở trước Ngài đã xuống trần nhiều kiếp rồi. Đời Chiến Quấc Ngài lâm phàm là Ngũ Tứ Tư, làm một vì danh tướng toàn nhơn, toàn nghĩa. Qua đời Tam Quấc Ngài lâm phàm là Quang Võ, tự Vân Trường, chịu thiên lao, vạn khổ mà tế Quấc, an dân. Kiếp nầy Ngài đặng toàn bốn chữ Trung, Cang, Nghĩa, Khí. Khi mãn kiếp nầy rồi, thi vi Thượng Đế phong cho Ngài tước : Tam Giái Phục Ma Đại Đế Thần Oai Viễn Trấn Thiên Tôn Quang Thánh Đế Quân. Lại đem sách Mạnh mà suy ; mặt tươi trăng rạng, nghĩa thì khác đâu (1). Nói đến câu : Thai đầu, Kiếp chuyển ; nhà nho rằng là chuyện cao xa (2). Việc nầy Thích, Đạo, hai nhà ; luận bàn chí lý, há là không tuân. Thử xem chuyện xây vần thuở trước ;những thay hồn, đổi xác, biết bao. Trải qua mưa, gió, mây Trào ; sanh sanh, hóa hóa, biết bao anh hùng (3). Tại Chiến Quấc,tại trong đời Hán ; tại Tống Đường, chỉ phán mấy câu. Thiệt là chẳng phải dối đâu ; sử xanh còn đó, suy cầu thủ coi. Chương Trung (4) nói đạo Tôi rành rỏi ; Văn, Võ, Quan đều phải tuân theo. Chánh là những bực Anh Hào ; ba đời về trước Y (5), Cao (6), Long (7), Quỳ (8). Chương Hiếu(9) phải xét suy cho kỹ ; câu nào thì chuyện nấy không sai.
  • 82.
    82 Chẳng rồi áotối, cơm mai ; thăm lom, cơm, thuốc, ai lày Văn Vương(10) Xem giọt mưa, chảy thường theo giọt, con thảo hiền nối gót theo mình. Kìa vua Đại Thuấn(11) hiếu thành ; danh thơm tạc để Sử đình (12) muôn thu. Hăm bốn hiếu, người đâu, truyện đó ; trải xưa nay Rạng (13), Tỏ (14) đôi vầng. Trời, Đất chứng, Quỷ, Thần mừng (15) ; rõ ràng bằng cớ biết chừng nào hay ! Chữ Liêm (16) vẫn Tỏ bày, Châu, Lễ ; này thử xem lục kế thanh tra. Bởi trong chữ nghĩa(17) sanh ra ; của gì phi Lễ lấy mà làm chi. Đế vì kẻ Ngu, Si, răn dỗ. Một hai lời thí dụ đã tường (18) Suối Liêm (19) nước Đạo (20), đôi đường ; tiếng đòi tốt, xấu, rõ ràng chẳng nhơ ?. Tiết ví Tre, vì Tre có Lóng ; tiết ví Trăng, vì Bóng soi thường. Xưa nay Tiết lớn dình dàng ; Trăng trong, Tre tốt, nghĩa càng vẹn phân. Đế sắc mạng chư Thần tra, kiểm ; phò hộ người tu niệm theo Kinh (21). Đế đà trải hết lòng thành ; từ bi độ chúng, đinh ninh mấy đều (22). ***************************************** CHÚ GIẢI : 1. Cái mặt tươi tốt như là ảnh rạng của mặt trăng vậy.
  • 83.
    83 2. Việc đầuthai chuyển kiếp,việc mượn hồn thay xác, Đạo Phật và Đạo Tiên có luận bàn chí lý, mà Đạo Nho cho là việc cao xa, không có bằng cớ, cho nên không dám nói tới, chớ thiệt là việc có quả quyết. 3. Từ đời Chiến Quấc, đời Hớn, đời Đường và đời Tống các bực anh hùng đầu thai đi đi, lại lại biết là bao nhiêu lần. 4. Chương Trung nói về quan Văn, quan Võ, hễ ra làm là thọ bổng lộc triều đình thì trên phải Phò vua, cho hết lòng trung ; phải tri tả mà gìn giữ sang hà, xã tắc, dưới phải thương dân, lo cho nhân dân an cư lạc nghiêp. 5. Ông Y Doãn là hiền thần của vua Thành Thang đời nhà Thương. 6. Ông Cao Giao là hiền thần của vua Thuấn đời Ngũ Đế. 7. Ông Long Phùng là hiền thần của vua Kiệt,đời nhà Hạ. 8. Ông Hữu Quỳ là hiền thần của vua Thuấn,đời Ngũ Đế. 9. Xin đọc hai mươi bốn gương thảo trong Nhị thập tứ hiếu trong sách …hạnh chương trình của tôi. 10. Là vua Văn Đế. Xin đọc lời chú giải của Hiếu Chương trương số 62 11. Là vua Thuấn. Xin đọc lời chú giải của Hiếu Chương trương số 62 12. Trong sử ký của triều đình ghi chép để lại thuở nay. 13. Mặt trời. 14. Mặt trăng. 15. Ai ở hiếu thảo với cha mẹ, thuận hòa với anh chị em út,Trời, Đất, Quỷ, Thần dòm thấy, thì mừng lắm, thương lắm. 16. Chữ Liêm ở trong sách Châu Lễ, bài lục kế có bàn luận rõ ràng. 17. Trong chữ Nghĩa có chữ Liêm và chữ Khiết. Việc nghĩa có sanh ra thanh liêm trong sach. 18. Đức Quang Đế thấy có nhiều người dốt nát, ngu si, mà làm phách, kiêu ngạo, chê bai kinh nầy, cho nên Ngài phải chịu khó giáng thần mà cắt nghĩa, dạy dỗ ít điều, khuyên ai nấy hãy bỏ thói phách phở, phải kính trọng kinh nầy, phải giữ việc cư xử theo kinh nầy. 19. Sự tích Suối Liêm là làm vầy : Trước khi vua Nghiêu biết Ông Thuấn là người đại hiếu và đại hiền, thì vua Nghiêu đòi Hứa Do là người hiểu đời ấy, mà nói rằng : « Trẩm nghe người có tài đức lớn, trẩm muốn truyền ngôi cho ngươi. Ngươi phải nối ngôi cho trẩm mà làm vua thiên hạ”.Hứa Do từ chối, lạy tạ ra về, rồi vội vàng xuống suối mà rửa lại. . Cũng lúc ấy Sào Phủ dắt trâu xuống suối đó mà cho uống nước. Sào Phủ thấy Hứa Do đương lum khum rửa tai ,bèn hỏi rằng: “anh làm gì mà rửa tai như vậy?”. Hứa Do và lắc đầu và nói rằng: “vua Nghiêu đòi tôi đến truyền ngôi Vua cho tôi, tôi không chịu lưu điều ấy trong lỗ tai, cho nên tôi phải rửa tai cho sạch”. Sào Phủ nghe nói, liền dắt trâu lên trên dòng nước mà cho uống. Hứa
  • 84.
    84 Do hỏi: “Saoanh lại đem trâu lên trên ấy mà cho uống?”. Sào Phủ trả lời rằng: “anh rửa tai anh xuống đó tôi sợ trâu tôi uống nhầm. Ai biểu anh đi đâu đó cho vua Nghiêu biết anh, mà muốn nhường ngôi cho anh? Ấy là tại bụng anh còn vọng cầu danh lợi. Nghe làm chi mà mất công rửa tai, chi cho bằng giữ vẹn, đừng nghe thì hay hơn”. 20. Nước Đạo là suối của người Đạo Chích, xin đọc Liêm chương trương số 64 21. Đức Quang Đế sắc mạng cho Du Thần, Du Thánh, kiểm soát trong nhân gian nếu ai tu niệm theo kinh nầy thì phải phò hộ người ta bình an dõng mạnh. 22. Ngài thương chúng sanh lắm cho nên Ngài lấy lòng… chúng sanh cải tà, quy chánh…Ngài dạy dổ… Ai chê Đế rằng Kiêu, rằng Siển; Đếvui lòng,chẳng biến,chẳng dời (1). Muốn cho thấy thảy mọi người; theo Kiêu, Siển ấy, ở đời cũng hay (2). Tánh tình cứ hằng ngày tu luyện; ắc từ nhiên quả Thiện vẹn toàn (3). Đặng về hưởng phước Thiên Đàng; sánh vai Thần, Thánh, Đế càng hỷ hoang (4). Đế hạ sắc Linh Quan truyền thị; cho thập phương ai nấy châu tri (5). Hết lòng phát nguyện quy y; tâm tâm, niệm niệm, tụng trì, kính tin (6). Tấm lòng phải giữ gìn thường sáng; sánh mặt Trời tỏ rạng trên không (7). Tín, Thành, hai chữ rằng lòng; đêm ngày tụng niệm chớ hòng đơn sai. Tới đây đức Ứng Nghiệm Đào Viên MinhThánh Kinh. (Lạy bốn lạy, xá bốn xá. Rồi đọc bài Châu Kinh…như vầy): Cái Thiên Cổ Phật Chiêu Minh Dực Hớn Đại Thiên Tôn (Đọc 3 lần, mỗi lần một lạy) Từ bi cứu thế Trung nghĩa khuôn quân. Diễn giáo, thuyết pháp, độ quần sanh.
  • 85.
    85 Chánh khí mãnCàn Khôn. Vô lượng độ nhân. Thọ trì lợi ích hạnh. Đại Thánh Phục Ma Đảng Khấu, Cứu khổ, cứu nạn Đại Thiên Tôn. ( Đọc 3 lần, mỗi lần 1 lạy) Đọan, lui đèn, bước lui ra. HẾT CHÚ GIẢI : 1. Ai làm phách chê Ngài là Kiêu thì Ngài cũng… là bực tầm thường, thì Ngài cũng chẳng từ chối. 2. Ngài ước cho ai nấy bắt chước theo việc Kiêu,Siển…của Ngài là Trung, Cang, Nghĩa, Khí. Chúng sanh…vậy thì Ngài mừng lắm, vui lắm. 3. Quả thiện vẹn toàn, nghĩa là trái lành đã lớn, đã già, đã chín…rồi cứ tưởng việc lành, nói lời lành, làm việc lành luôn luôn..Đại Đế luôn luôn và cứ trì tụng Ứng Nghiệm Đào Viên…lâu ngày, đức Quang Thánh Đại Đế sẽ cho mình biết… 4. Khi mình mãn phần, đức Quang Thánh Đại Đế…liệu vàng, tán bạc, đến rước linh hồn của mình về cõi…sánh vai thay, thì mừng…nếu mình xuống thế gian nữa, thì đặng làm chức Bổn cảnh Thành Hoàng Chúa xứ, hoặc đầu thai làm bực Đế, Vương,Công, Hầu, sang giàu tột bực. 5. Đức Quang Thánh Đại Đế sắc mạng cho ông Linh Quan (là ông Vương Thiên Quân) để in lời nầy mà truyền cho thập phương rõ biết. 6. Ai nấy phải kính trọng kinh nầy, phải hết lòng kính tín theo kinh nầy, phải trì tụng kinh nầy, phải tu niệm theo kinh nầy. 7. Đức Quang Thánh Đại Đế ân cần khuyên lơn ai nấy, phải trau dồi tấm lòng cho trong sạch, sáng láng, tỏ rạng như mặt trời vậy. Nếu để tấm lòng lờ mờ, u ám, thì phải bị vỡ lẽ, khi bẩm sở câu, rồi trái cang thường luân lý, phạm điều tội lỗi. Nếu trau dồi tấm lòng cho trong sạch, cho sáng láng, thì rõ biết việc phước mà thu rõ biết việc tội mà tránh. Làm đặng bực Phật,
  • 86.
    86 bực Thần, bựcTiên, bực Thánh, là cũng phải trau, dồi, tấm lòng trong sạch, sáng láng, tỏ rạng. (Những dấu ba chấm(…) là không biết rõ lời chú giải) THẾ HỆ PHỔ CỦA ĐỨC QUANG THÁNH ĐẾ QUÂN -oOo-