 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ


                                        Chươ ng 1

  GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG
THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ
        Một trong bốn xu hướng chính của thế giới ngày nay là xu hướng quốc tế hóa,
toàn cầu hóa. Nó đang có tác động hết sức mạnh mẽ, chi phối đến tất cả các quốc gia,
ở tất cả các lĩnh vực, đặc biết là nền kinh tế của các quốc gia. Nền kinh tế thế giới trở
thành một chính thể thống nhất trong đó giữa các quốc gia có mối quan hệ phụ thuộc
gắn bó chặt chẽ với nhau, bất kỳ sự việc hiện tượng nào xảy ra ở quốc gia này đều có
khả năng ảnh hưởng đến quốc gia khác. Trong bối cảnh đó, chiến lược mở cửa nền
kinh tế ở các quốc gia là điều tất nhiên, từ đó quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội, khoa học kỹ thuật…giữa các nước ngày càng phát triển. Trong quá trình thực hiện
các quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật…sẽ phát
sinh nhu cầu chi trả, thanh toán tiền tệ giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau. Việc
thực hiện nhu cầu chi trả, thanh toán đó gọi là thanh toán quốc tế. Như vậy thanh toán
quốc tế là một cách thức hết sức quan trọng và cần thiết để tạo thuận lợi cho hoạt động
thương mại quốc tế.
II. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ
       1. Khái niệm
       Trong ngoại thương, việc thanh toán giữa các nhà xuất khẩu và các nhà nhập
khẩu thuộc hai quốc gia khác nhau phải được tiến hành thông qua ngân hàng bằng
những phương thức thanh toán nhất định. Phương thức thanh toán quốc tế là cách
thức thực hiện chi trả một hợp đồng xuất nhập khẩu thông qua trung gian ngân hàng
bằng cách trích tiền từ tài khoản của người nhập khẩu chuyển vào tài khoản của
người xuất khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại và chứng từ do hai bên cung cấp
cho ngân hàng.
      Việc lựa chọn phương thức thanh toán quốc tế nào tùy thuộc vào sự thương
lượng giữa hai bên và phù hợp với tập quán cũng như luật lệ trong thanh toán và buôn
bán quốc tế. Ngày nay, người ta thường sử dụng các phương thức thanh toán như
phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu với hai hình thức nhờ thu trơn và nhờ
thu kèm chứng từ, và phương thức tín dụng chứng từ.

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                      Trang 1
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
       2. Vai trò của thanh toán quốc tế
       - Trong thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng kết thúc quá
trình lưu thông hàng hóa. Do vậy quá trình thanh toán quốc tế nếu được thực hiện tốt
sẽ có tác dụng khuyến khích các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu mở rộng quy mô hoạt
động, gia tăng quan hệ giao dịch thương mại giữa các nước với nhau.
        - Thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế tốt vừa góp phần thực hiện tốt chế độ
quản lỳ ngoại hối, chính sách ngoại thương, vừa góp phần nâng cao uy tín của quốc gia
trên trương quốc tế, Từ đó, việc phát triển các mối quan hệ đối ngoại sẽ thuận lợi hơn.
        - Đối với hệ thống ngân hàng, với vai trò là trung gian thanh toán trong các giao
dịch thanh toán quốc tế, các ngân hàng còn có thể tư vấn cho khách hàng để giảm bớt
rủi ro, bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia trong quá trình thanh toán dựa trên cơ sở
sự ủy thác của các chủ thể này. Từ đó, làm phát sinh thu nhập và tạo điều kiện mở
rộng quy mô hoạt động, nâng cao uy tín cho ngân hàng trên thường trường quốc tế.




 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                      Trang 2
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ


                                      Chương 2

            PHƯƠNG THỨC NHỜ THU
VÀ PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN
I. PHƯƠ NG THỨ C CHUYỂ N TIỀ N
         1. Khái niệm phương thức chuyển tiền
             1.1. Khái niệm
        Chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó một khách hàng của ngân hàng
(gọi là người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng chuyển một số tiền nhất định cho người
thụ hưởng ở một địa điểm nhất định.
          1.2. Các bên tham gia
         - Người chuyển tiền – là người mua, người nhập khẩu, hay người mắc nợ.
         - Ngân hàng chuyển tiền – là ngân hàng phục vụ cho người chuyển tiền.
        - Ngân hàng đại lý – là ngân hàng phục vụ cho người thụ hưởng và có quan hệ
đại lý với ngân hàng chuyển tiền.
         - Người thụ hưởng – là người bán, người xuất khẩu hay là chủ nợ.
2. Phương thức chuyển tiền trả sau
              2.1. Khái niệm chuyển tiền trả sau
       Trong thực tế, người ta có thể thực hiện chuyển tiền theo một trong hai hình
thức: chuyển tiền trả sau và chuyển tiền trả trước. Chuyển tiền trả sau là hình thức
chuyển tiền trả cho người xuất khẩu sau khi nhận hàng.
            2.2. Nội dung và quy trình thực hiện

    Ngân hàng chuyển tiền                                      Ngân hàng đại lý
                                           (3)

                            (5)                                         (4)
   (2)


          Người nhập khẩu                  (1)                 Người xuất khẩu

         Giải thích quy trình:
         (1) Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hành hóa cho người nhập khẩu.

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                      Trang 3
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
      (2) Người nhập khẩu lập lệnh chuyển tiền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình
          chuyển tiền cho người thụ hưởng.

      (3) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu chuyển tiền cho người thụ hưởng thông
          qua ngân hàng đại lý.

      (4) Ngân hàng đại lý ghi có và báo có cho người xuất khẩu.

      (5) Ngân hàng chuyển tiền báo nợ cho người nhập khẩu.

      Như vậy mỗi bên chỉ thực hiện một số khâu nhất định trong quy trình thanh
toán. Ví dụ như:

      Người xuất khẩu: thực hiện giao hàng cho người nhập khẩu, tức là đưa hàng từ
kho đến phương tiện vận tải để chuyển đến cảng của người nhập khẩu, trong khi bộ
chứng từ hàng hóa thì chuyển trực tiếp cho người nhập khẩu, sau đó họ chỉ còn chờ
người nhập khẩu chuyển tiền đến cho mình.

      Người nhập khẩu: sau khi nhận hàng chuyển đến sẽ lập lệnh chuyển tiền gởi đến
cho ngân hàng phục vụ mình, để yêu cầu ngân hàng này chuyển tiền cho người xuất
khẩu, căn cứ vào thông tin được chỉ ra trên lệnh chuyển tiền. Nếu người xuất khẩu gặp
khó khăn về tài chính hay thiếu thiện chí trong thanh toán có thể dẫn đến tình trạng
chậm lập lệnh chuyển tiền để chuyển tiền thanh toán cho người xuất khẩu.

      Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu đóng vai trò trung gian thực hiện khâu
chuyển tiền theo đề nghị của người nhập khẩu. Khi nhận được lệnh chuyển tiền của
người nhập khẩu gởi vào, ngân hàng kiểm tra nếu thấy chứng từ hợp lệ và tài khoản
của người nhập khẩu có đủ tiền sẽ tiền hành ghi nợ tài khoản người nhập khẩu và làm
thủ tục chuyển tiền, để ngân hàng bên người xuất khẩu ghi có cho người xuất khẩu,
sau đó ngân hàng chuyển tiền sẽ gởi thông báo nợ cho người nhập khẩu.

      Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu đóng vai trò trung gian và là người kết thúc
quy trình chuyển tiền bằng cách ghi có tài khoản người xuất khẩu, sau khi nhận được
chuyển tiền từ phía ngân hàng chuyển tiền và quy trình chuyển tiền xem như kết thúc.

2.3. Ưu và nhược điểm của phương thức

      Trong quy trình thực hiện chuyển tiền, vì lý do gì đó có thể khiến người nhập
khẩu chậm lập lệnh chuyển tiền gởi cho ngân hàng thì người xuất khẩu sẽ chậm nhận
được tiền thanh toán mặc dù hàng hóa đã được chuyển đi và người nhập khẩu đã có
thể nhận được và sử dụng hàng hóa. Trong trường hợp này, người xuất khẩu bị thiệt



 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 4
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
hại, trong khi ngân hàng không có nhiệm vụ và cách thức gì để đôn đốc người nhập
khẩu nhanh chóng chuyển tiền chi trả nhằm đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu.

3. Phương thức chuyển tiền trả trước
3.1. Khái niệm chuyển tiền trả trước
       Là hình thức chuyển tiền tương tự như chuyển tiền trả sau chỉ khác ở chỗ người
nhập khẩu lập lệnh chuyển tiền và do đó, người xuất khẩu nhận được tiền trước khi
giao hàng.
3.2. Nội dung và quy trình thực hiện

        NH chuyển tiền                                          NH đại lý
                                        (2)




  (1)                    (5)                                                  (3)

                                        (4)
     Người nhập khẩu                                        Người xuất khẩu

         Sơ đồ 12.2: Quy trình thực hiện phương thức chuyển tiền trả trước.


        (1) Người nhập khầu lập lệnh chuyển tiền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình
            chuyển tiền cho người thụ hưởng.
        (2) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu chuyển tiền cho người thụ hưởng thông
            qua ngân hàng đại lý.
        (3) Ngân hàng đại lý ghi có và báo có cho người xuất khẩu.
        (4) Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ cho người nhập khẩu để họ có
            thể nhận hàng.
        (5) Ngân hàng chuyển tiền, sau ghi nợ, báo nợ cho người nhập khẩu.
3.3. Ưu nhược điểm của phương thức
       Với hình thức chuyển tiền này người xuất khẩu đã nhận được tiền trước khi giao
hàng nên không sợ bị thiệt hại do chậm trả hay bị người nhập khẩu chiếm dụng hàng
hóa. Tuy nhiên, hình thức này lại bất lợi cho người nhập khẩu vì người nhập khẩu đã
chuyển tiền đi thanh toán rồi nhưng chưa nhận được hàng và đang trong và đang trong
tình trạng chờ người xuất khẩu giao hàng. Nếu vì lý do gì khiến người xuất khẩu chậm
trễ giao hàng, người nhập khẩu sẽ bị thiệt do nhận hàng trễ.
4. Nhận xét về phương thức chuyển tiền:

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                      Trang 5
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
       - Trong phương thức thanh toán chuyển tiền ngân hàng chỉ đóng vai trò trung
gian thực hiện việc chuyển tiền và nhận hoa hồng chứ không bị ràng buộc gì cả.
       - Việc giao hàng của bên xuất khẩu và trả tiền của bên nhập khẩu hoàn toàn
phụ thuộc vào khả năng và thiện chí của mỗi bên. Vì vậy quyền lợi của người xuất
khẩu khó đảm bảo nếu sử dụng hình thức chuyển tiền trả sau. Trái lại quyền lợi của
nhà nhập khẩu khó đảm bảo nếu sử dụng hình thức chuyển tiền trả trước.
       - Phương thức này có ưu điểm là thủ tục thanh toán đơn giản, thời gian thanh
toán nhanh chóng.
       - Người xuất khẩu và nhập khẩu chỉ nên dùng phương thức này trong trường
hợp hai bên mua bán có quan hệ lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hau khi trị giá hợp đồng
không lớn lắm.
       - Khi phát sinh mâu thuẫn quyền lợi hoặc thiếu tín nhiệm lẫn nhau, trong
thương lượng hai bên nên sử dụng phương thức thanh toán khác thích hợp hơn.
      Phương thức chuyển tiền thường ít được sử dụng trong thanh toán quốc tế.
Người ta thường áp dụng phương thức thanh toán này trong khoản thanh toán tương
đối nhỏ như thanh toán các chi phí liên quan đến xuất nhập khẩu bao gồm chi phí vận
chuyển bao hiểm, bồi thường thiệt hại, hoặc dùng trong thanh toán phi mậu dịch,
chuyển vốn, chuyển lợi nhuận đầu tư về nước… Các phương thức thanh toán khác có
thể bổ sung cho những nhược điểm cảu phương thức chuyển tiền có thể là phương
thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ.
II. PHƯƠNG THỨC NHỜ THU
      1. Khái niệm chung về phương thức nhờ thu
           1.1. Khái niệm chung
       Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn
thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ tiến hành ủy thác cho ngân hàng phục
vụ mình thu hộ tiền từ người nhập khẩu dựa trên cơ sở hối phiếu và chứng từ do người
xuất khẩu lập ra.
           1.2. Các bên tham gia
       - Người ủy nhiệm thu (Principal): là bên ủy quyền xử lý nghiệp vụ nhờ thu cho
ngân hàng, Người ủy nhiệm thu chính là người xuất khẩu.
       - Ngân hàng thu hộ (Collecting bank): là ngân hàng xuất trình chứng từ cho
người trả tiền, thường là ngân hàng đại lý cho ngân hàng thu hộ.
       - Người trả tiền (Drawee): là người được xuất trình chứng từ theo đúng chỉ thị
nhờ thu. Người trả tiền chính là người nhập khẩu
      2. Phương thức nhờ thu hối phiếu trơn

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 6
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
Hai loại hối phiếu có thể sử dụng trong phương thức nhờ thu là hối phiếu trơn và hối
phiếu kèm chứng từ. Vì vậy, có hai phương thức nhờ thu tương ứng với hai loại hối
phiếu đó.
              2.1. Khái niệm phương thức nhờ thu trơn
       Nhờ thu hối phiếu trơn là phương thức nhờ thu trong đó người xuất khẩu ủy
thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra
còn chứng từ hàng hóa thì gởi thẳng cho người nhập khẩu, không gởi cho ngân hàng.
           2.2. Nội dung và quy trình thực hiện


          Người xuất khẩu             (1)             Người nhập khẩu


        (2)             (7)                             (5)            (4)

                                        (6)
         Ngân hàng phục vụ                          Ngân hàng phục vụ
          người xuất khẩu                            người nhập khẩu
                                        (3)
       Quy trình thực hiện:
      (1) Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hàng hóa cho người nhập khẩu.
      (2) Người xuất khẩu lập chỉ thị nhờ thu và hối phiếu nộp vào ngân hàng để ủy
          thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu.
      (3) Ngân hàng nhận ủy thác chuyển chỉ thị nhờ thu và hối phiếu cho ngân hàng
          đại lý để thông báo cho người nhập khẩu biết.
      (4) Ngân hàng đại lỳ chuyển hối phiếu cho người nhập khẩu để yêu cầu chấp
          nhận hay thanh toán. Nếu hợp đồng thỏa thuận điều kiện thanh toán D/A
          (document against acceptance) người nhập khẩu chỉ cần chấp nhận thanh
          toán, nếu là D/P (Document against Payment) người nhập khẩu phải trả tiền
          ngay cho người xuất khẩu.
      (5) Người xuất khẩu thông báo đồng ý trả tiền hay từ chối thanh toán.
      (6) Ngân hàng đại lý trích tiền từ tài khoản của người nhập khẩu chuyển sang
          ngân hàng ủy thác thu để ghi có cho người xuất khẩu trong trường hợp
          người nhập khẩu đồng ý trả tiền hoặc thông báo cho ngân hàng ủy thác thu
          biết trong trường hợp người nhập khẩu từ chối trả tiền.
      (7) Ngân hàng ủy thác thu ghi có và báo có cho người xuất khẩu hoặc thông
          báo cho người xuất khẩu biết việc người nhập khẩu từ chối trả tiền.


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 7
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
           2.3. Ưu nhược điểm của phương thức
       Qua toàn bộ quy trình thực hiện nhờ thu trơn, chúng ta thấy rằng trong phương
thức nhờ thu hối phiếu trơn ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian trong thanh toán bởi
vì bộ chứng từ hàng hóa đã giao cho người nhập khẩu nên ngân hàng đại lý không thể
khống chế người nhập khẩu được. Ngân hàng không có cam kết hay đảm bảo gì đối
với người xuất khẩu và người nhập khẩu mà chỉ đơn thuần là hành xử theo những chỉ
dẫn mà người xuất khẩu thể hiện trên chỉ thị nhờ thu và hối phiếu. Phương thức này
chỉ bổ sung cho phương thức chuyển tiền trả sau là người xuất khẩu có thể chủ động
đòi tiền sau khi giao hàng. Tuy nhiên, có đòi được tiền hay không còn tùy thuộc vào
thiện chí và khả năng của người nhập khẩu. Vì vậy, người xuất khẩu chỉ nên áp dụng
phương thức này trong trường hợp có quan hệ lâu đời và tín nhiệm người nhập khẩu.
      3. Phương thức nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ
           3.1. Khái niệm phương thức nhờ thu kèm chứng từ
      Nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ hay còn gọi là nhờ thu kèm chứng từ ra đời
nhằm bổ sung nhược điểm của phương thức nhờ thu trơn để bảo vệ quyền lợi của
người xuất khẩu.
       Nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ là phương thức nhờ thu trong đó người xuất
khẩu sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ tiến hành ủy thác
cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền ở người nhập khẩu không chỉ căn cứ vào hối
phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa gởi kèm theo với điều kiện nếu người
nhập khẩu thanh toán hoặc chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ cho
người nhập khẩu nhận hàng hóa.
           3.2. Nội dung và quy trình thực hiện

                                         (3)
        Ngân hàng nhận ủy thác
                                                         Ngân hàng đại lý
                 thu
                                         (7)
          (2)            (8)                       (6)     (5)         (4)



            Người xuất khẩu                              Người nhập khẩu
                                          (1)
      Quy trình thực hiện
      (1) Người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu nhưng không giao bộ
          chứng từ hàng hóa.


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                     Trang 8
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
      (2) Người xuất khẩu gởi chỉ thị nhờ thu, hối phiếu và bộ chứng từ hàng hóa đến
          ngân hàng nhận ủy thác để nhờ thu hộ tiền ở người nhập khẩu.
      (3) Ngân hàng nhận ủy thác chuyển chỉ thị nhờ thu, hối phiếu và bộ chứng từ
          hàng hóa sang ngân hàng đại lý để thông báo cho người nhập khẩu.
      (4) Ngân hàng đại lý chuyển hối phiếu đến người nhập khẩu yêu cầu trả tiền
          hoặc chấp nhận trả tiền.
      (5) Người nhập khẩu trả tiền trong trường hợp D/P hay ký chấp nhận trả tiền
          trong trường hợp D/A.
      (6) Ngân hàng đại lý trao bộ chứng từ hàng hóa để người người nhập khẩu nhận
          hàng.
      (7) Ngân hàng đại lý trích tài khoản người nhập khẩu chuyển tiền sang ngân
          hàng nhận ủy thác thu để ghi có cho người xuất khẩu hoặc là thông báo việc
          từ chối trả tiền của người nhập khẩu.
      (8) Ngân hàng nhận ủy thác báo có hoặc là thông báo việc từ chối trả tiền cho
          người xuất khẩu.
        Như vậy, nhờ thu kèm chứng từ khác với nhờ thu trơn ở điểm: thứ nhất, người
xuất khẩu không chuyển bộ chứng từ hàng hóa trực tiếp cho người nhập khẩu mà chỉ
giao hàng cho người nhập khẩu còn bộ chứng từ hàng hóa gởi cho ngân hàng kèm với
hối phiếu và chỉ thị nhờ thu. Ở khâu thứ hai, khi nộp chỉ thị nhờ thu và hối phiếu vào
ngân hàng người xuất khẩu có kèm theo bộ chứng từ hàng hóa. Ở khâu thứ tư, khi xuất
trình hối phiếu đòi tiền người nhập khẩu ngân hàng không trao bộ chứng từ mà giữ vộ
chứng từ để khống chế và yêu cầu người nhập khẩu, hoặc là trả tiền ngay nếu hối
phiếu ghi trả tiền theo điều kiện D/P, hoặc là chấp nhận thanh toán nếu hối phiếu ghi
trả tiền theo điều kiện D/A.
             3.3 Ưu nhược điểm của phương thức
        - Người xuất khẩu ngoài việc ủy thác cho ngân hàng thu tiền còn nhờ ngân
hàng thông qua việc khống chế bộ chứng từ hàng hóa để buộc người nhập khẩu phải
trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nhờ vậy phương thức này đảm bảo khả năng thu tiền
hơn phương thức chuyển tiền trả sau và nhờ thu hối phiếu trơn.
       - Nhưng như vậy mới chỉ khống chế được hàng hóa đối với người nhập khẩu,
chưa chắc khống chế được việc trả tiền đối với người nhập khẩu, chẳng hạn như trong
trường hợp thị trường biến động bất lợi cho người nhập khẩu, họ không thiết tha với
việc nhận hàng nên sẽ kéo dài thời gian thanh toán và gây áp lực đối với người xuất
khẩu. Lúc này, người xuất khẩu rơi vào trạng thái bị động, nếu chậm giải phóng tàu sẽ
chịu phạt với đại lý vận tải, hoặc chịu thêm tiền thuê kho bãi để giữ hàng hóa hoặc nếu
chở hàng về sẽ tốn thêm tiền vận chuyển, hoặc là bị người nhập khẩu ép giá. Để tránh


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                     Trang 9
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
tình huống như vậy, hai bên có thể thương lượng với nhau nên sử dụng phương thức
tín dụng chứng từ.




 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                  Trang 10
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
                                    Chương 3

 PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN
    TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
I. KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
      1. Khái niệm
       Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán mà trong đó ngân hàng phục vụ
nhà nhập khẩu (ngân hàng mở thư tín dụng) dựa theo yêu cầu của người này (người đề
nghị mở thư tín dụng) để nhà nhập khẩu nhập hàng hóa. Thư tín dụng (letter of credit –
L/C) cam kết trả một số tiền nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi) hoặc trả
theo lệnh của người này, hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm
vi số tiền đó với điều kiện người xuất khẩu xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ
thanh toán phù hợp với các điều khoản, điều kiện đã ghi trong L/C.
       Cở sở để mở L/C là hợp đồng ngoại thương, hoặc thư chào hàng còn trong thời
hạn hiệu lực, hoặc thư hỏi hàng còn trong thời hạn hiệu lực đã được bên xuất khẩu xác
nhận. Nhưng một khi L/C được mở thì nó hoàn toàn độc lập với cơ sở để mở nó, và nó
là cơ sở pháp lý cao nhất nếu có tranh chấp xảy ra.
      2. Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ
      - Người xin mở L/C (Applicant): thông thường là người mua hay là tổ chức
nhập khẩu.
      - Người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán hay là người xuất khẩu hàng hóa.
       - Ngân hàng mở hay ngân hàng phát hành thư tín dụng (The issuing bank): là
ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ở bên nước nhập khẩu, cung cấp tín dụng cho
nhà nhập khẩu và là ngân hàng thường được hai bên nhập khẩu và xuất khẩu thỏa
thuận, lựa chọn và được quy định trong hợp đồng thương mại. Nếu chưa có sự quy
định trước người nhập khẩu có quyền lựa chọn.
       - Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The advising bank): là ngân hàng phục vụ
người xuất khẩu, thông báo cho người xuất khẩu biết thư tín dụng đã mở. Ngân hàng
này thường ở nước người xuất khẩu và có thể là ngân hàng chi nhánh hoặc đại lý của
ngân hàng phát hành thư tín dụng.
       Ngoài ra còn có thể có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh
toán này, bao gồm:
      - Ngân hàng xác nhận (The confirming bank): là ngân hàng xác nhận trách
nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng mở thư tín dụng, bảo đảm việc trả tiền cho người

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 11
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán.
Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo thư tín dụng hay là một ngân
hàng khác do người xuất khẩu yêu cầu, thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị
trường tín dụng và tài chính quốc tế.
       - Ngân hàng thanh toán (The paying bank): có thể là ngân hàng mở thư tín dụng
hoặc có thể là ngân hàng khác được ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình
thanh toán trả tiền hay chiết khấu hối phiếu cho người xuất khẩu.
      - Ngân hàng thương lượng (The negotiating bank): là ngân hàng đứng ra thương
lượng bộ chứng từ hàng hóa và thường cũng là Ngân hàng thông báo L/C. Trường hợp
L/C quy định thương lượng tự do thì bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể là ngân hàng
thương lượng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp L/C quy định thương lượng tại một
ngân hàng nhất định.
       - Ngân hàng chuyển nhượng (The transfering bank), ngân hàng chỉ định (The
nominated bank), ngân hàng hoàn trả (The reimbursing bank), ngân hàng đòi tiền (The
claiming bank), ngân hàng chấp nhận (The accepting bank), ngân hàng chuyển chứng
từ (The remitting bank). Tất cả được giao trách nhiệm cụ thể trong thư tín dụng.
      3. Nội dung của phương thức
                                       (3)
                                                       Ngân hàng thông
         Ngân hàng mở L/C              (7)
                                                          báo L/C
                                       (8)
       (2)      (11)    (10)                          (9)    (6)         (4)


                                       (5)
             Người nhập khẩu                           Người xuất khẩu
                                       (1)

      Sơ đồ: Quy trình thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
      (1) Hai bên xuất khẩu và nhập ký kết hợp đồng thương mại.
      (2) Người xuất khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C mở L/C cho người
          xuất khẩu thụ hưởng.
      (3) Ngân hàng mở L/C mở L/C theo yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển L/
          C sang ngân hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết.
      (4) Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở.
      (5) Dựa vào nội dung của L/C, người xuất khẩu giao hàng cho người nhập
          khẩu.



 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 12
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
      (6) Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ hàng hóa thanh toán gởi
          và ngân hàng thông báo để được thanh toán.
      (7) Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang để ngân hàng mở
          L/C xem xét trả tiền.
      (8) Ngân hàng mở L/C sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp thì trích tiền
          chuyển sang ngân hàng thông báo để ghi có cho người thụ hưởng. Nếu
          không phù hợp thì từ chối thanh toán.
      (9) Ngân hàng thông báo ghi có và báo có cho người xuất khẩu.
      (10)Ngân hàng mở L/C trích tài khoản và báo nợ cho người nhập khẩu.
      (11)Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao bộ
          chứng từ để người nhập khẩu có thể nhận hàng.
      3. Ưu nhược điểm của phương thức này
       - Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán sòng
phẳng đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu. Bên xuất khẩu được
ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền còn bên nhập khẩu nhận đầy đủ, kịp thời và chính
xác hàng hóa đặt mua trước khi trả tiền. Trong phương thức này, ngân hàng đóng vai
trò chủ động trong thanh toán chứ không chỉ làm trung gian đơn thuần.
      - Tuy nhiên, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ chỉ có thể sử dụng trong
quan hệ hanh toán mậu dịch còn trong thanh toán phi mậu dịch thì vẫn phải dùng
phương thức chuyển tiền hoặc nhờ thu.
II. KHÁI QUÁT VỀ L/C – PHÂN LOẠI L/C THƯƠNG MẠI
      1. Khái niệm Thư tín dụng
            1.1. Khái niệm
       L/C hay còn gọi là thư tín dụng là một văn bản do Ngân hàng mở L/C lập ra
theo yêu cầu của nhà nhập khẩu (người xin mở thư tín dụng) nhằm cam kết trả tiền cho
nhà xuất khẩu (người hưởng lợi) một số tiền nhất định, trong một thời gian nhất định
với điều kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong
văn bản đó.
            1.2. Nội dung cơ bản của thư tín dụng
      Thư tín dụng chứa đựng những nội dung cơ bản sau đây:
      (1) Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C :
           - Số hiệu của L/C – tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng của nó, để trao
đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện L/C. Số hiệu của L/C còn được
dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan trong bộ chứng từ thanh toán của L/C, đặc
biệt là tham chiếu khi lập hối phiếu đòi tiền.

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                     Trang 13
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
           - Địa điểm mở L/C – là nơi ngân hàng mở lc– là nơi ngân hàng mở L/C
cam kết trả tiền cho người hưởng lợi, có liên quan tới việc tham chiếu luật lệ áp dụng
giải quyết mâu thuẫn hay bất đồng xảy ra nếu có.
          - Ngày mở L/C – là ngày bắt đầu phát sinh và có hiệu lực về sự cam kết của
ngân hàng mở L/C đối với người thụ hưởng. Ngày mở L/C còn có ý nghĩa như là ngày
ngân hàng mở L/C chính thức chấp nhận đơn xin mở L/C của người nhập khẩu, là
ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cũng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm
tra xem người nhập khẩu có thực hiện việc mở L/C đúng thời hạn nhự trong trường
hợp đồng không.
      (2) Loại thư tín dụng:
       Mỗi loại L/C đều có tính chất, nội dung khác nhau, quyền lợi và nghĩa vụ của
những người có liên quan tới thư tín dụng cũng rất khác nhau. Do đó, khi mở thư tín
dụng, người có nhu cầu cần phải xác định cụ thể loại thư tín dụng nào cần mở.
      (3)Tên, địa chỉ của những người liên quan:
      Những người liên quan đến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bao gồm
người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi L/C, ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo
L/C cần được chỉ rõ ràng tên và địa chỉ trong thư tín dụng.
      (4)Số tiền của thư tín dụng:
       Số tiền của thư tín dụng là một nội dung rất quan trọng. Vì vậy, việc quy định
của nó trong L/C cũng rất chặt chẽ, thể hiện qua số tiền trong L/C phải được ghi vừa
bằng sô, vừa bằng chữ và phải thống nhất với nhau. Tên đơn vị tiền tệ phải cụ thể, rõ
ràng, không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt đối, như vậy có thể có khó khăn
trong việc giao hàng và nhận tiền của bên bán, tốt nhất là nên dựa vào cách ghi số
lượng để mà ghi số tiền cho hợp lý, chính xác, có thể cho phép dung sai đến 10%.
      (5) Thời hạn hiệu lực của L/C: thời hạn hiệu lực là thời hạn mà ngân hàng mở
      L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ
      chứng từ thanh toán trong tời hạn đó và phù hợp với những điều đã quy định
      trong L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C đến ngày hết
      hiệu lực của L/C.
       Thời hạn hiệu lực quá dài thì người nhập khẩu bị đọng vốn, người xuất khẩu có
lợi hơn và có thời gian rộng rãi hơn cho việc lập và xuất trình chứng từ thanh toán.
Ngược lại thời gian hiệu lực quá ngắn thì tránh ứ đọng vốn cho người nhập khẩu
nhưng lại gây khó khăn cho người xuất khẩu vì thời gian quá eo hẹp. Vì vậy cần phải
xác định một thời gian hiệu lực của L/C hợp lý để tránh ứ đọng vốn cho người nhập
khẩu vừa không gây khó khăn cho người xuất khẩu. Việc xác định này cần thỏa mãn
những nguyên tắc như sau:


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                     Trang 14
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
       - Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và không được
trùng với ngày hết hạn hiệu lực của L/C.
       - Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, không được
trùng với ngày giao hàng. Thời gian hợp lý này được tính tối thiểu bằng tổng số của số
ngày cần phải có để thông báo mở L/C, số ngày lưu L/C ở ngân hàng thông báo, số
ngày chuẩn bị hàng để giao cho người nhập khẩu. Nếu thời điểm giao hàng vào mùa
ẩm ướt thì số ngày chuẩn bị hàng giao phải nhiều hơn…
       - Ngày hết hạn hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý.
       (6) Thời hạn trả tiền của L/C:
       Thời hạn trả tiền của L/C có liên quan đến việc trả tiền ngay hay trả tiền về sau,
điều này hoàn toàn phụ thuộc vào hợp đồng. Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời
hạn hiệu lực của thư tín dụng nếu trả tiền ngay, hoặc có thể nằm ngoài thời hạn hiệu
lực của thư tín dụng nếu trả tiền có thời hạn.
       (7) Thời hạn giao hàng:
        Thời hạn giao hàng được ghi trong thư tín dụng do hợp đồng thương mại quy
định. Đây là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao hàng cho bên mua kể từ khi
thư tín dụng có hiệu lực. Thời hạn giao hàng có liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu
lực của thư tín dụng. Nếu hai bên thỏa thuận kéo dài thời hạn giao hàng một số ngày
thì đương nhiên ngân hàng mở thư tín dụng cũng phải hiểu rằng thời hạn hiệu lực của
thư tín dụng cũng được kéo dài thêm một số ngày tương ứng.
       (8) Điều khoản về hàng hóa: là điều khoản chỉ ra những quy định có liên quan
đến hàng hóa, bao gồm tên hàng, số lượng và trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất,
bao bì, ký hiệu…
       (9) Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa:
       Điều kiện, cơ sở giao hàng (FOB, CIF, C&F…), nơi gởi hàng, nơi giao hàng,
cách vận chuyển và cách giao hàng…cũng được ghi vào L/C. Thông thường điều kiện
giao hàng tùy thuộc vào khả năng cung ứng hàng của người xuất khẩu, khả năng nhận
hàng của người nhập khẩu, khả năng vận chuyển của phương tiện vận tải, hàng hóa
phải được giao trên boong tàu.
      Nếu nhận thấy những điều kiện giao hàng ghi trong L/C không thể thực hiện
được thì người xuất khẩu có thể điều chỉnh L/C.
       (10) Các chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình.
       Yêu cầu về việc ký phát và xuất trình các loại chứng từ cần phải được nêu rõ
ràng, cụ thể và chặt chẽ trong L/C. Các yêu cầu này xuất phát từ đặc điểm của hàng
hóa, của phương thức vận tải, của công tác thanh toán và tín dụng, của tính chất hợp
đồng và các nguồn pháp lý có liên quan đến việc thực hiện hoạt động đó.

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                        Trang 15
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
      (11) Cam kết trả tiền của ngân hàng mở thư tín dụng:
       Cam kết của ngân hàng mở L/C là nội dung cuối cùng của L/C và nó ràng buộc
trách nhiệm của ngân hàng mở L/C đối với L/C này.
      (12)Những điều kiện đặc biệt khác:
      Các điều kiện khác như phí ngân hàng được tính cho bên nào, điều kiện đặc biệt
hướng dẫn đối với ngân hàng chiết khấu, dẫn chiếu số UCP áp dụng…
      (13)Chữ ký của ngân hàng mở L/C:
      L/C thực chất là một khế ước dân sự, do vậy người mở L/C cũng phải là người
có năng lực hành vi, năng lực pháp lý để than gia và thực hiện một quan hệ dân luật.
Nếu gởi bằng telex, swift thì phải căn cứ vào mã khóa của L/C.
      2. Phân loại thư tín dụng thương mại
          •Thư tín dụng có thể hủy ngang (Revocable L/C )
       Là một L/C mà người mở L/C và tổ chức nhập khẩu có thể sủa đổi, bổ sung
hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C. Loại thư
tín dụng được hủy ngang ít được sử dụng, bởi vì loại L/C này chỉ là lời hứa trả tiền
chứ không phải là sự cam kết.
          •Thư tín dụng không thể hủy ngang (irrevocable letter of credit)
       Là một lại thư tín dụng mà ngân hàng mở L/C phải chịu trách nhiệm thanh toán
tiền cho tổ chức xuất khẩu trong thời gian hiệu lực của L/C, không có quyền đơn
phương tự ý sửa đổi hay hủy bỏ thư tín dụng đó. Loại L/C không thể hủy bỏ này bảo
đảm quyền lợi cho bên xuất khẩu và hiện nay đang được sử dụng rất phổ biến. Nếu L/
C không ghi rõ ràng là hủy hay không được hủy bỏ thì nó là không thể hủy bỏ.
          •Thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận (confirmed irrevocable letter
           of credit):
       Là loại thư tín dụng không hủy ngang và được một Ngân hàng khác uy tín hơn
đứng ra bảo đảm việc trả tiền theo thư tín dụng đó cùng với Ngân hàng mở L/C. Điều
đó có nghĩa là Ngân hàng xác nhận chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho người xuất
khẩu, nếu như Ngân hàng mở thư tín dụng không trả tiền được. Do đó quyền lợi của tổ
chức xuất khẩu được bảo đảm hơn. Trong L/C này trách nhiệm của ngân hàng xác
nhận nặng hơn Ngân hàng mở L/C, cho nên có khi Ngân hàng xác nhận yêu cầu Ngân
hàng mở L/C phải ký quỹ trước và phải trả thủ tục phí cho Ngân hàng xác nhận thương
rất cao. Thông thường, Ngân hàng mở L/C sẽ nhờ Ngân hàng thông báo đóng luôn vai
trò của Ngân hàng xác nhận.
          •Thư tín dụng không thể hủy ngang và không được truy đòi lại tiền
           (Irrevocable without recourse letter of credit).

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 16
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
       Là loại L/C không thể hủy bỏ trong đó quy định Ngân hàng mở L/C sau khi đã
thanh toán cho tổ chức xuất khẩu thì không được quyền truy đòi lại tiền với bất cứ
trường hợp nào. Khi sử dụng lại L/C này tổ chức xuất khẩu khi ký phát hối phiếu phải
ghi câu “không được truy đòi lại tiền người ký phát”.
          •Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving letter of credit).
       Là loại L/C không thể hủy bỏ trong đó quy định rằng khi L/C sử dụng hết kim
ngạch hoặc là sau khi hết hạn hiệu lực của L/C thì nó lại tự động có giá trị như cũ và
cứ như vậy L/C tuần hoàn này được áp dụng trong trường hợp hai bên xuất khẩu và
nhập khẩu có quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán không thay đổi. Khi đó,
tổ chức nhập khẩu có lợi là không bị đọng vốn và giảm được phí tổn do việc mở L/C.

          •Thư tín dụng giáp lưng (Back to back letter of credit)
      Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ, được mở ra căn cứ vào một L/C khác
làm bảo đảm, theo L/C này tổ chức xuất khẩu căn cứ vào thư tín dụng của người nhập
khẩu mở, yêu cầu ngân hàng mở một thư tín dụng khác cho tổ chức xuất khẩu khác
hưởng.
      Thư tín dụng giáp lưng được sử dụng trong những trường hợp:
      -   L/C gốc không cho phép chuyển nhượng.
      -   Khi các chứng từ cần có theo L/C gốc không trùng hợp với các chứng từ của
          L/C thứ hai.
      -   Khi người trung gian muốn bí mật một số thông tin
      Khi áp dụng L/C giáp lưng cần phải thỏa mãn những điều kiện sau:
      -   Hai thư tín dụng giáp lưng phải thông qua một Ngân hàng trực tiếp phục vụ
          tổ chức xuất khẩu.
      -   Số tiền của L/C thứ nhất phải lớn hơn hoặc bằng kim ngach L/C thứ hai (L/
          C giáp lưng). Tổ chức xuất nhập khẩu trung gian hưởng chênh lệch này.
      -   L/C thứ nhất (L/C gốc) phải được mở sớm hơn Ngân hàng thứ hai.

          •Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C )
       Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ trong đó quy định nó chỉ có giá trị hiệu
lực khi L/C khác đối ứng với nó được mở ra. Điều đó có nghĩa là tổ chức xuất khẩu
khi nhận được L/C do tổ chức nhập khẩu mở thì phải mở lại L/C tương ứng thì nó mới
có giá trị.



 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 17
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
       Loại L/C đối ứng được sử dụng khi giữa hai bên xuất nhập khẩu có quan hệ
thanh toán trên cơ sở mua bán hàng đổi hàng hoặc gia công. Nếu trong gia công, thì L/
C để nhập thành phẩm sẽ là L/C trả ngay, L/C nhập nguyên liệu là L/C trả chậm.

          •Thư tín dụng thanh toán chậm (Deferred payment L/C )
        Là loại L/C không hủy bỏ trong đó quy định ngân hàng mở L/C hay Ngân hàng
xác nhận L/C cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán toàn bộ số tiền L/C vào thời
hạn cụ thể ghi trên L/C sau khi nhận được chứng từ và không cần có hối phiếu. Ví
dụm nếu thời hạn thanh toán ghi: “90 days after Bill of Lading date” thì được gọi là
thư tín dụng thanh toán chậm.

          •Thư tín dụng với điều khoản đỏ (Red clause L/C )
       Là loại thư tín dụng có điều khoản đặc biệt, trước đây được ghi bằng mực đỏ ở
điều khoản đặc biệt này, thông thường là quy định người mở L/C cho phép tổ chức
xuất khẩu được quyền tháo khoán trước một số tiền nhất định trước khi giao hàng, vì
thế loại thư tín dụng này còn được gọi là thư tín dụng trước.

          •Thư tín dụng dự phòng (Stand – by L/C )
       Để đảm bảo quyền lợi cho đơn vị nhập khẩu trong trường hợp đơn vị xuất khẩu
không giao hàng đúng hợp đồng, đơn vị nhập khẩu yêu cầu đơn vị xuất khẩu mở một
thư tín dụng dự phòng trong đó quy định rằng nếu đơn vị xuất khẩu không thực hiện
hợp đồng, Ngân hang mở thư tín dụng dự phòng sẽ thanh toán tiền đền bù thiệt hại cho
đơn vị nhập khẩu theo quy định của UCP 600.

          •Thư tín dụng có điều khoản T/TR (Telegraphic transfer reimbursement)
      Là loại thư tín dụng thông thường nhưng trong thư có quy định: cho phép Ngân
hàng phục vụ người hưởng lơi sau khi kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ, phù hợp
với những điều kiện đã quy định trong L/C thì được phép điện đòi tiền Ngân hàng mở
L/C hay một Ngân hàng chỉ định trong thư tín dụng. Nó được áp dụng trong trường
hợp hai Ngân hàng có quan hệ thân tín lẫn nhau.

          •Thư tín dụng có thể chuyển nhượng được (Irrevocable transferable L/C )
       Là loại L/C không thể hủy ngang, trong đó quy định quyền được chuyển
nhượng một phần hay toàn bộ giá trị L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người
hưởng lợi đầu tiên. Tuy nhiên việc chuyển nhượng chỉ được phép tiến hành một lần,
dó đó nó không thể được chuyển nhượng theo yêu cầu của người hưởng lợi thứ hai cho
bất kỳ người hưởng lợi thứ ba hay thứ tư nào khác, nghĩa là chỉ cho phép tái chuyển
nhượng cho người thứ nhất trừ khi trong L/C có quy định không hạn chế chuyển


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 18
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
nhượng. Trong trường hợp người thứ hai không giao hàng hoặc không giao đúng hàng
hay chứng từ không hợp lệ thì người hưởng lợi thứ nhất phải chịu trách nhiệm về phía
bên xuất khẩu theo hợp đồng đã ký. Chi phí chuyển nhượng do người hưởng lợi đầu
tiên thanh toán. L/C này được sử dụng khi mua hàng qua các đại lý, mua hàng qua
trung gian, hàng so các công ty con giao, chi nhánh giao nhưng công ty mẹ là người
hưởng lợi.
Sơ đồ minh họa về một L/C chuyển nhượng:




 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                   Trang 19
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ

                                           (5)



 Nhập khẩu                            Trung gian                    Xuất khẩu
 Việt Nam                             Hàn Quốc                      Indonesia



    (9)       (1)
                                (2)      (3)       (7)              (4)      (6)


                         (8)          Ngân hàng           (6)       Ngân hàng
 VCB HCM                              chuyển nhượng                 thông báo
                         (2)
                                      Hàn Quốc            (4)
                                                                    Indonesia

      (1) Nhập khẩu Việt Nam đề nghị mở L/C có thể chuyển nhượng cho người
          hưởng lợi ở Hàn Quốc.
      (2) VCB – HCMC thông báo L/C chuyển nhượng đã được mở.
      (3) Người trung gian ở Hàn Quốc yêu cầu Ngân hàng chuyển nhượng cho
          người xuất khẩu ở Indonesia.
      (4) Ngân hàng chuyển nhượng L/C cho người xuất khẩu.
      (5) Người xuất khẩu giao hàng cho nhập khẩu Việt Nam.
      (6) Người xuất khẩu lập bộ chứng từ gởi cho Ngân hàng chuyển nhượng.
      (7) Ngân hàng chuyển nhượng thông báo cho người trung gian để thay thế các
          chứng từ như hóa đơn, hối phiếu.
      (8) Ngân hàng chuyển nhượng xuất trình bộ chứng từ cho VCB – HCMC.
      (9) VCB – HCMC thanh toán chứng từ.

III. CHỨNG TỪ TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ
       Nhìn chung có ba loại chứng từ quan trọng khác nhau trong phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ: những chứng từ do người nhập khẩu lập, chứng từ do ngân
hàng mở L/C và chứng từ do người xuất khẩu lập hoặc xuất trình.
      1. Chứng từ do người nhập khẩu lập
       Căn cứ vào hợp đồng thương mại đã ký kết, nhà nhập khẩu sẽ lập giấy đề nghị
mở L/C theo mẫu của ngân hàng. Khi đó, người nhập khẩu cần phải lưu ý xem: thứ
nhất, đơn vị mình có đủ điều kiện để được ngân hàng mở L/C hay không. Nếu không,


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                      Trang 20
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
phải ủy thác cho đơn vị khác có đủ điều kiện mở L/C, và khi ấy, việc lập giấy đề nghị
mở L/C thuộc về nhiệm vụ của đơn vị nhận ủy thác. Thứ hai, những điều khoản của hợp
đồng thương mại có đủ cơ sở để ràng buộc người xuất khẩu nhằm bảo vệ quyền lợi của
mình hay chưa, cần thêm bớt điều gì nữa hay không. Nếu có, nên đưa thêm những nội
dung gì nhưng phải nằm trong phạm vi khả năng chấp nhận của người xuất khẩu.
      Nội dung giấy đề nghị mở L/C: bao gồm phần sẽ cấu thành nội dung của L/C
và phần cam kết của của đơn vị xin mở L/C
      a) Phần sẽ cấu thành nội dung L/C:
      Phần này được trình bày bằng tiếng Anh theo những nội dung do ngân hàng mở
  L/C gợi ý, để tránh những sai sót có thể xảy ra do hiểu lầm trong dịch thuật. Nội
  dung chính của giấy đề nghị mở L/C thường bao gồm những nội dung như sau:
      -    Tên và địa chỉ của đơn vị mở L/C (Applicant)
      -    Tên và địa chỉ của Ngân hàng thông báo L/C (Advising bank)
      -    Ngày mở L/C (Date of this applicant)
      -    Ngày và nơi L/C hết hiệu lực (Expiry date../…/…in…..)
      -    Tên và địa chỉ người thụ hưởng (Beneficiary)
      -    Số tiền bằng số và bằng chữ
      -    Mô tả những tính chất và đặc điểm của L/C sẽ áp dụng:
          + Phát hành bằng thư
          + Kèm bức điện tín thông báo tóm lược
          + Phát hành bằng điện tín
          + Tín dụng thư có thể chuyển nhượng
      - Xác nhận tín dụng thư đối với người thụ hưởng
          + Không yêu cầu (not requested)
          + Có yêu cầu (requested)
      - Giao hàng từng phần (Partial shipment):
          + Cho phép (allowed)
          + Không cho phép (not allowed)
      - Chuyển tải (Transhipment)
          + Cho phép (allowed)
          + Không cho phép (not allowed)


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                      Trang 21
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
       - Tất cả phí ngoài Việt Nam kể cả phí ngân hàng và phí xác nhận có thể thanh
toán bởi:
          + Người thụ hưởng (Beneficiary)
          + Người mở xin L/C (Applicant)
      - Tín dụng thư có thể thanh toán với:
          + Trả ngay (by sight payment)
          + Chấp nhận (by acceptance)
          + Thương lượng (by negotiation)
      -    Những nội dung liên quan đến xếp dỡ hàng hóa:
      Xếp hàng/dỡ hàng ở/từ cảng……………chậm nhất là ……./…../….. đến cảng
      -    Những nội dung về mô tả hàng hóa (Good description)
      -    Điều kiện giao hàng: CIF, FOB hoặc cách khác
      -    Mô tả bao bì, đóng gói hàng hóa (Packing)
      -    Ghi chú (Marking)
      -    Chứng từ phải xuất trình (documents required)
          + Hóa đơn thương mại đã ký (Signed commercial invoice)
          + Trọn bộ vận tải đơn đường biển trơn (Full set of clean ocean Bill of Lading)
          + Một bản chính vận đơn hàng không trơn (One original clean airway bill)
          + Chứng từ vận chuyển khác (Other transport documents)
          + Trọn bộ chứng nhận bảo hiểm (Full set of Insurance Certificate)
          + Chứng nhận xuất sứ (Certificate of origin)
          + Bảng kê bao bì chi tiết (Detailed packing list)
          + Chứng nhận do người thụ hưởng xác nhận (Ben’s certificate certifying)
        + Bản sao bức điện hay fax thông báo cho người nhập khẩu và ngân hàng mở
L/C về những đặc điểm giao hàng (Copy of telex or fax advising applicant and issuing
bank of particulars of shipment)
          + Chứng nhận chất lượng/ số lượng (Certificate of quality/ quantity)
          + Chứng từ khác (other documents)
       b) Phần cam kết của đơn vị mở L/C
       Đây là phần đơn vị xin mở L/C cam kết với ngân hàng. Phần này được viết
bằng tiếng Việt và bao gồm những nội dung chính sau:


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                       Trang 22
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
      – Cam kết về tư cách pháp nhân của đơn vị và thủ tục pháp lý về hàng hóa
        nhập khẩu
      – Cam kết về tiền ký quỹ mở L/C
      – Cam kết về việc thanh toán L/C khi người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ
        hợp lệ
      – Cam kết về những trường hợp miễn trách của ngân hàng trong khuông khổ
        cho phép của UCP
      – Cam kết về việc thanh toán phần chênh lệch giữa trị giá L/C và tiền ký quỹ
        và cách thức giải quyết trong trường hợp người nhập khẩu không có khả
        năng thanh toán phần chênh lệch này
      – Cam kết liên đới trách nhiệm trong trường hợp đơn vị mở L/C ủy thác.
      2. Chứng từ do ngân hàng mở L/C lập
       Căn cứ vào giấy đề nghị mở L/C, nếu đồng ý ngân hàng mở L/C sẽ tiến hành
mở L/C và chuyển đến người thụ hưởng thông qua ngân hàng thông báo. Nội dung
chính của một thư tín dụng đã được trình bày ở phần 1.2. phần II.
      3. Chứng từ do người xuất khẩu lập hoặc xuất trình
      Để được ngân hàng trả tiền hay chấp nhận trả tiền, người xuất khẩu phải lập bộ
chứng từ thanh toán gởi vào ngân hàng trong thời hạn hiệu lực của L/C. Chứng từ do
người xuất khẩu lập bao gồm hai loại: chứng từ tài chính và chứng từ thương mại.
       Chứng từ tài chính chính là hối phiếu do người xuất khẩu lập ra, nội dung hối
phiếu phải nêu rõ ngân hàng mở L/C, số hiệu và ngày tháng của L/C tham chiếu. Nội
dung cụ thể của một hối phiếu như sau:
      •   Tiêu đề của hối phiếu: thường có hai cách trình bày tiêu đề: “Bill of
          Exchange” hoặc “Exchange for”. Nếu dùng chữ Bill of Exchange thì thường
          tiêu đề được đặt ở chính giữa trên cùng văn bản chữ Bill of Exchange thì
          thường tiêu đề được đặt ở chính giữa trên cùng văn bản hối phiếu. Nếu dùng
          chữ Exchange for thì tiêu đề thường đặt ở trên cùng và bên trái của văn bản
          hối phiếu, ngoài ra số tiền bằng số của hối phiếu được đặt tiếp theo chữ For
          của tiêu đề.
      • Số hiệu của hối phiếu: do người ký phát hối phiếu đặt ra, được ghi sau chữ
        No. và đặt trên cùng bên trái của văn bản hối phiếu.
      • Địa điểm ký phát hối phiếu: Khi phát hành hối phiếu, người ký phát cần ghi
        rõ địa điểm phát hành. Đó là nơi hối phiếu được tạo lập, thường là tên thành
        phố, được ghi bên dưới tiêu đề và đặt ở giữa văn bản hối phiếu.



 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 23
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ

     • Ngày ký phát hối phiếu: ngày tháng và năm ký phát là thời điểm hối phiếu
       được lập ra, nó thường được ghi bên cạnh địa điểm ký phát hối phiếu. Nó
       đánh dấu thời điểm tính thời hạn hiệu lực của hối phiếu và còn là căn cứ xác
       định thời điểm trả tiền. Thông thường, ngày ký phát hối phiếu là ngày xuất
       trình chứng từ cho ngân hàng thanh toán. Như vậy, ngày phát hành hối
       phiếu không thể trước ngày giao hàng ghi trên vận tải đơn, hóa đơn cũng
       không thể sau ngày quá hạn giá trị của thư tín dụng.
     • Số tiền bằng số: được ghi sau chữ For và đặt bên trái ngay dưới số hiệu hối
       phiếu hoặc ghi kế tiếp theo tiêu đề Exchange for của hối phiếu, và cần phải
       diễn đạt rõ ràng tên đầy đủ của đơn vị tiền tệ. Ngoài ra, số tiền bằng số phải
       khớp với số tiền bằng chữ được nói trong văn bản hối phiếu và nó cũng
       không được vượt quá số tiền ghi trên hóa đơn và số tiền quy định trong thư
       tín dụng.
     • Thời hạn trả tiền của hối phiếu: được ghi tiếp ngay cạnh chữ At. Nếu trả
       ngay, sau chữ At sẽ để trống hoặc ghi vào đó chữ Sight. Nếu trả chậm, thời
       hạn trả tiền sẽ được ghi cụ thể là bao nhiêu ngày vào sau chữ At. Cụ thể, nếu
       phải trả tiền sau bao nhiêu ngày nhận hối phiếu thì sẽ ghi là “X ngày sau khi
       nhìn thấy…” (At X days after sight…). Nếu phải trả tiền sau bao nhiêu ngày
       giao hàng thì sẽ ghi là “X ngày sau khi ký vận đơn…” (At X days after bill
       of lading date). Nếu phải trả tiền sau bao nhiêu ngày ký phát hối phiếu, thì
       ghi “X ngày kể từ ngày ký phát hối phiếu” (At X days after date…).
     • Thứ tự số bản của hối phiếu: Thông thường hối phiếu được phát hành thành
       hai bản và có đánh thứ tự số bản bằng chữ FIRST hoặc SECOND. Việc này
       nhằm để phân biệt bản này với bản kia và giá trị thanh toán của hai bản là
       như nhau.
     •   Mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện: được thể hiện bằng câu lệnh Pay to hoặc Pay
         to the order of và được đặt ngay sau nơi thể hiện thứ tự số bản của hối phiếu.
         Đây là câu lệnh vô điều kiện nên sau câu lệnh này không được kèm theo bất
         cứ điều kiện gì.
     • Tên người thụ hưởng: nằm ở phía sau câu lệnh, tên người thụ hưởng có thể
       được chỉ định cụ thể, hoặc là người cầm phiếu hoặc suy đoán theo lệnh.
       Người thụ hưởng có thể là ai, công ty nào, ngân hàng tên gì, nước nào, chi
       nhánh ở đâu…, cần phải ghi chi tiết.
     • Số tiền bằng chữ: đặt phía sau tên người thụ hưởng, thể hiện sau chữ “the
       sum of” và khớp đúng với số tiền bằng số, và đồng thời thể hiện rõ ràng và
       đầy đủ đơn vị tiền tệ.

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 24
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ

     • Tham chiếu chứng từ kèm theo: chứng từ hối phiếu sẽ được tham chiếu với
       tín dụng thư bằng cách ghi câu: “Drawn under L/C No…. date …… issued
       by…..”.
     • Tên người nhận ký phát: được đặt dưới cùng bên trái văn bản hối phiếu sau
       chữ To:…. Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, người nhận ký
       phát là ngân hàng phát hành thư tín dụng.
     • Tên và chữ ký người ký phát: được đặt dưới cùng bên phải văn bản hối
       phiếu. Cụ thể, là người đại diện cho doanh nghiệp trong trường hợp hối
       phiếu thương mại và người đại diện cho ngân hàng trong trường hợp hối
       phiếu ngân hàng.
  Ví dụ về một mẫu hối phiếu dùng trong phương thức tín dụng chứng từ:




 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                 Trang 25
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ

 No.12345/200x                         BILL OF EXCHANGE
 For US$32,829.00                 Ho Chi Minh City, August 17, 200x


 At 90 days after sight of this FIRST Bill of exchange (SECOND of the same tenor
 and being unpaid) pay to the order of Asia Commercial Bank the sum of UNITED
 STATES DOLLARS THIRTY TWO THOUSAND EIGHT HUNDRED TWENTY
 NINE ONLY.
 Drawn under Irrevocable L/C No. 12345 dated July 17, 200x issued by Bank of
 Tokyo – Mitsubishi.
 TO: BANK OF TOKYO – MITSUBISHI                  For and on Behalf of
 TOKYO, JAPAN                                         Cholonimex
                                                 (Authorized Signature)


      Chứng từ thương mại người xuất khẩu phải lập là những chứng từ mà ngân
hàng mở L/C chỉ định rõ trong nội dung L/C. Thông thường, bộ chứng từ thương mại
gồm những chứng từ sau đây:
      – Hóa đơn thương mại (Commercial invoice): do người xuất khẩu lập chứng
        minh cho ngân hàng mở L/C biết rằng hàng hóa đã giao theo trị giá phù hợp
        với quy định của L/C.
      – Vận tải đơn (Bill of Lading): do đơn vị vận chuyển hàng hóa phát hành,
        chứng minh rằng hàng đã được chuyển giao và ai nắm giữ vận đơn sẽ có
        quyền định đoạt hàng hóa.
      – Chứng nhận xuất xứ (Certificate of origin): do Văn phòng thương mại phát
         hành để chứng nhận nguồn gốc của hàng hóa,
      – Chứng nhận chất lượng/ số lượng (Certificate of quality/ quantity): do cơ
        quan kiểm định phát hành để chứng nhận về chất lượng và số lượng hàng
        hóa được chuyển giao.
      – Bảng kê bao bì, đóng gói (Packing list): do người xuất khẩu lập để giúp cho
        người nhập khẩu dễ dàng nhận diện và kiểm soát hàng hóa.
      – Chứng nhận bảo hiểm (Certificate of Insurance): do công ty bảo hiểm hàng
        hóa phát hành khi bán bảo hiểm nhằm đảm bảo khả năng hoàn trả tiền L/C
        cho ngân hàng mở L/C trong trường hợp có rủi ro xảy ra.
      Chứng từ tài chính và chứng từ thương mại lập thành bộ chứng từ trong thanh
toán quốc tế mà người xuất khẩu cần phải xuất trình với ngân hàng phát hành.

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                   Trang 26
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
IV. QUY TRÌNH THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ THANH TOÁN BẰNG L/C
      1. Quy trình mở L/C
      Quy trình mở L/C bắt đầu từ lúc đơn vị nhập khẩu lập giấy đề nghị mở L/C gởi
vào ngân hàng và kết thúc khi đơn vị xuất khẩu nhận được L/C do ngân hàng thông
báo chuyển đến. Quy trình mở L/C gồm có ba bước:
      • Lập giấy đề nghị mở L/C
      • Mở L/C
      • Thông báo L/C
Quy trình mở thư tín dụng được biểu diễn như sau:



      NH mở L/C                      (2) L/C        NH thông báo L/C


                                                                  (3) L/C
    (1) Giấy đề nghị mở L/C

      Người xin mở L/C              Hợp đồng        Người hưởng thụ
      (NK)                                           L/C (XK)

      Bước 1: Căn cứ vào hợp đồng mua bán ngoại thương (hoặc đơn đặt hàng), tổ
chức nhập khẩu lập giấy đề nghị mở L/C gởi đến ngân hàng phục vụ mình (nơi đơn vị
nhập khẩu mở tài khoản ngoại tệ) để yêu cầu ngân hàng mở một L/C cho người bán
hay người xuất khẩu hưởng.

      Nội dung của giấy đề nghị mở L/C đã được trình bày ở trên. Ở đây, em chỉ
muốn nói đến những điểm cơ bản mà người nhập khẩu cần phải chú ý khi lập giấy đề
nghị mở L/C:
      •   Viết đúng nội dung theo mẫu giấy đề nghị mở thư tín dụng do Ngân hàng
          mở thư tín dụng ấn hành.

      • Tổ chức nhập khẩu cần phải thận trọng và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa
        những điều kiện ràng buộc bên xuất khẩu vào thư tín dụng, làm thế nào để
        vừa đảm bảo được quyền lợi của mình, vừa để bên xuất khẩu có thể chấp
        nhận được.
      •   Khi lập giấy đề nghị mở thư tín dụng, đơn vị nhập khẩu phải tôn trọng
          những điều kiện ghi trên hợp đồng, tránh tình trạng mâu thuẫn trái ngược


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                   Trang 27
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
          nhau. Tuy nhiên khi cần điều chỉnh hợp đồng cũng có thể thay đổi một số
          nội dung đã ký trên hợp đồng.
      • Giấy đề nghị mở thư tín dụng sẽ được lập tối thiểu là 2 bản. Sau khi ngân
        hàng ký nhận, đóng dấu sẽ gởi trả lại cho đơn vị một bản.
      • Giấy đề nghị mở thư tín dụng là cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề tranh
        chấp giữa người xin mở thư tín dụng với Ngân hàng mở thư tín dụng và là
        cơ sở để Ngân hàng mở thư tín dụng soạn thảo thư tín dụng gởi cho bên xuất
        khẩu.
      Khi lập giấy đề nghị mở thư tín dụng gởi cho Ngân hàng, tổ chức nhập khẩu
còn phải gởi kèm theo các chứng từ quan trọng sau đây:
      • Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp.
      • Giấy phép nhập khẩu lô hàng hoặc quota nhập khẩu.
      • Hợp đồng thương mại.
      • Phương án kinh doanh.
      • Báo cáo tài chính…
       Bước 2: Căn cứ vào yêu cầu xin mở thư tín dụng của tổ chức nhập khẩu và các
chứng từ có liên quan, nếu đồng ý, Ngân hàng trích tài khoản đơn vị mở tài khoản, tín
dụng số tiền ký quỹ bằng 100% trị giá thư tín dụng trong trường hợp L/C trả ngay,
hoặc một tỷ lệ phần trăm trên trị giá thư tín dụng nếu L/C trả chậm. Sau đó Ngân
hàng lập thư tín dụng gởi cho tổ chức xuất khẩu thông qua Ngân hàng thông báo tại
nước người xuất khẩu. Việc chuyển thư tín dụng qua bên đơn vị xuất khẩu có thể thực
hiện bằng đường bưu chính, bằng điện tín hoặc bằng hệ thống SWIFT.
      Như vậy cần chú ý rằng, L/C là văn bản do Ngân hàng mở L/C lập theo yêu cầu
của đơn vị nhập khẩu, chứ không phải văn bản do đơn vị nhập khẩu lập. Nội dung của
một thư tín dụng đã được trình bày ở trên.
       Ngày nay, khi những tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang
ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống thì phương thức chuyển thư tín
dụng bằng hệ thống SWIFT đang ngày càng chiếm ưu thế hơn so với việc chuyển thư
tín dụng bằng đường bưu chính hoặc bằng điện tín. Sau đây là những điểm cơ bản về
hệ thống SWIFT:
       SWIFT là Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và các tổ chức tài chính quốc tế
(Viết tắt của Society for Worldwide Interbank and Finacial Telecommunication). Đây
là một hiệp hội mà thành viên là các ngân hàng và các tổ chức tài chính, mỗi ngân
hàng tham gia là một cổ đông của SWIFT. Phương châm hoạt động của hiệp hội là



 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 28
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
phục vụ các ngân hàng chứ không phải lợi nhuận. Lý do sử dụng SWIFT của các ngân
hàng trên thế giới là dựa vào những ưu điểm của nó như:
   -   Nó là một mạng truyền thông chỉ sử dụng trong hệ thống ngân hàng và các tổ
       chức tài chính nên tính bảo mật cao và an toàn.
   -   Tốc độ truyền thông tin nhanh cho phép có thể xử lý được số lượng lớn giao dịch.
   -   Chi phí cho một điện giao dịch thấp.
   -   Sử dụng SWIFT sẽ tuân theo tiêu chuẩn thống nhất trên toàn thế giới. Đây là
       điểm chung của bất cứ ngân hàng nào tham gia SWIFT có thể hòa đồng với
       cộng đồng ngân hàng trên thế giới.
       Tuy nhiên bên cạnh đó trong thực tế vẫn tồn tại các phương tiện truyền tin
khác, ví dụ như khi muốn gởi bộ chứng từ đi, như vậy phải gởi bằng thư tín, hoặc nếu
ngân hàng nước nhập khẩu hoặc ngân hàng nước nhập khẩu không tham gia vào hệ
thống SWIFT.
      Tham gia SWIFT là tham gia vào một mạng lưới chung (không chỉ TTQT mà
bao gồm cả cho việc giao dịch vàng, chứng khoán, các lại giao dịch có giá trị khác)
      Mỗi ngân hàng hoặc một tổ chức / định chế tài chính tham gia vào SWIFT được cấp
01 mã SWIFT (BIC CODE), đây có thể hiểu là địa chỉ khi gia nhập vào một mạng lưới.
        Tổ chức SWIFT không hẳn là một tổ chức phi lợi nhuận mà thực tế trái ngược
lại, sự phát triển trong kinh doanh của SWIFT là một con số kinh khủng, một bài toán
nhỏ để có thể tính được doanh thu 1 ngày của SWIFT trung bình ít nhất là 200 triệu
USD (60000 định chế tài chính tham gia x trung bình 10 000 usd/tháng), giá một bức
điện SWIFT trung bình là 0.25USD/điện , giá này tùy thuộc vào lượng điện giao dịch
1 ngày và hệ thống phiên bản ứng dụng SWIFT đang sử dụng.
Do tính chất là điều khiển luồng tiền của cả thế giới nên tính bảo mật của SWIFT có
thể nói là bậc nhất trên thế giới, hacker chưa bao giờ tấn công được vào hệ thống này.
       Bước 3: Khi nhận được thư tín dụng của Ngân hàng mở L/C gởi đến, Ngân hàng
thông báo sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh báo điện mở L/C rồi chuyển bản chính L/C
cho nhà xuất khẩu dưới hình thức văn bản “nguyên văn”. Nếu gởi bằng thư thì kiểm
chữ ký, gởi bằng điện thì kiểm mã, lưu ý việc thông báo L/C có thể qua hai ngân hàng.
Ví dụ ba trường hợp thông báo L/C của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB)
       Trường hợp 1: VCB HCM tiếp nhận L/C từ ngân hàng mở L/C và trực tiếp
thông báo cho người thụ hưởng – là khách hàng của VCB. Điều này được thể hiện
trong L/C bằng câu “PLEASE ADVISED BENEFICIARY…”.

   NGÂN HÀNG                             VCB
                         L/C                          Thông báo L/C      NGƯỜI THỤ
   PHÁT HÀNH                             HCM                              HƯỞNG
      L/C
 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                     Trang 29
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
       Trường hợp 2: VCB HCM tiếp nhận L/C từ ngân hàng thông báo thứ nhất
chuyển đến. Do ngân hàng mở L/C không có quan hệ đại lý với VCB HCM, nhưng
khách hàng thì quan hệ giao dịch tại đây, nên việc thông báo L/C phải được thực hiện
qua trung gian nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khâu kiểm tra và thanh toán L/C. Điều
này được thể hiện trong L/C bằng câu: “ADVISING THROUGH VIETCOMBANK
HCM CITY BRANCH”.
   Ngân                   NH
   hàng       L/C        thông    Thông báo L/C              Thông báo L/C Người
   phát                   báo                      VCB                          thụ
   hành                   thứ                                                  hưởng
   L/C                    nhất
       Trường hợp 3: VCB HCM tiếp nhận L/C từ Ngân hàng phát hành và chuyển
đến Ngân hàng thông báo thứ hai để Ngân hàng này thông báo trực tiếp cho người thụ
hưởng. Nếu Ngân hàng thứ hai là Ngân hàng Đông Á thì điều này được thể hiện bằng
câu: “ADVISE TRROUGH DONGA BANK HCM”.

   Ngân       L/C                Thông báo L/C                  Thông báo L/C
                                                     NH
   hàng                                                                        Người
                                                    thông
   phát                  VCB                                                    thụ
                                                     báo
   hành                                                                        hưởng
                                                   thứ hai
   L/C

      2. Quy trình thanh toán L/C
       Quy trình thanh toán L/C bắt đầu từ bước 4 trở đi bao gồm các khâu chính đó là
giao hàng, lập bộ chứng từ của đơn vị xuất khẩu và kiểm tra bộ chứng từ, thanh toán
của ngân hàng mở L/C và thanh toán tại ngân hàng chỉ định .

                                  (7) Thanh toán               NH
              NH
                                                             thương
             mở L/C
                            (6) Telex và bộ chứng từ          lượng

         (9) Thanh                                     (5) Bộ
                                                                   (8) Thanh
        toán & nhận                                    chứng
                                                                      toán
        bộ chứng từ                                      từ


             Nhập Khẩu            (4) Hàng hóa               Xuất Khẩu


          Sơ đồ 13.3: Quy trình thanh toán L/C tại Ngân hàng mở L/C.




 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 30
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ

                                 (7) Thanh toán               NH
               NH
                                                            thương
              mở L/C
                            (6) Telex và bộ chứng từ         lượng

         (9) Thanh                                     (5) Bộ
                                                                     (8) Thanh
        toán & nhận                                    chứng
                                                                        toán
        bộ chứng từ                                      từ



                NK                (4) Hàng hóa                  XK

           Sơ đồ 13.4: Quy trình thanh toán L/C tại Ngân hàng chỉ định trên L/C.
       Bước 4: Tổ chức xuất khẩu nhận được thư tín dụng do ngân hàng thông báo
gởi đến tiến hành kiểm tra và đối chiếu với hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký
trước đây. Sau khi kiểm tra chặt chẽ L/C nếu đồng ý thì tiến hành giao hàng cho bên
nhập khẩu, nếu không đồng ý thì đề nghị bên nhập khẩu điều chỉnh hoạt động bổ sung
thêm cho đến khi hoàn chỉnh mới giao hàng.
       Đây là khâu quan trọng đối với tổ chức xuất khẩu vì L/C có thể giống hợp đồng
và cũng có thể khác hợp đồng, nhưng khi thanh toán thì phải thực hiện đúng theo những
điều khoản của L/C. Những nội dung quan trọng cần kiểm tra khi nhận L/C bao gồm:
       - Thời gian mở L/C – Thông thường L/C được bên nhập khẩu mở trước ngày
giao hàng một thời gian nhất định, để bên xuất khẩu có đủ thời gian cần thiết chuẩn bị
hàng hóa gởi đi. Nhưng nếu mở quá sớm trước ngày giao hàng thì bên nhập khẩu bị
đọng vốn vì khi mở L/C tổ chức nhập khẩu phải ký quỹ một phần hay toàn bộ giá trị
kim ngạch L/C. Do vậy, thường bên nhập khẩu không thích mở L/C quá sớm, nhưng
nếu mở quá trễ thì bên xuất khẩu không có đủ thời gian chuẩn bị cho việc giao hàng.
Vì vậy thời gian mở L/C cần phải hợp lý cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu.
       - Ngân hàng mở L/C – Ngân hàng mở L/C là Ngân hàng cam kết, đảm bảo việc
thanh toán cho tổ chức xuất khẩu. Vì vậy tổ chức xuất khẩu cần xem xét người đảm
bảo (Ngân hàng mở L/C) có uy tín hay không (thái độ chính trị, tiềm lực vốn), trách
nhiệm cam kết thanh toán có rõ ràng cụ thể hay không. Ngân hàng này có quan hệ giao
dịch lần nào chưa… Nếu chưa an tâm thì có thể yêu cầu có Ngân hàng thứ ba đóng vai
trò Ngân hàng xác định để được đảm bảo hơn.
       - Loại thư tín dụng – Thư tín dụng có nhiều loại như thư tín dụng có thể hủy
ngang (Revocable L/C), thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C), thư tín
dụng không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmerd irrevocable L/C), thư tín dụng
chuyển nhượng (Transferable L/C)… Mỗi loại có tính chất sử dụng khác nhau. Hiện
nay thì Ngân hàng thường hay sử dụng L/C không thể hủy ngang và L/C có xác nhận.
Nếu L/C không ghi rõ là L/C “irrevocable” hay “revocable” thì đó là Irrevocable tức là

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 31
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
không được hủy ngang. Tương tự như vậy nếu L/C không ghi rõ L/C “confirmed” thì
đó là L/C “inconfirmed” tức là không có xác nhận.
       - Ngày và địa điểm hết hiệu lực (date and place of expiry) – Tất cả thư tín dụng
đều quy định ngày cuối cùng có hiệu lực cho việc xuất trình chứng từ để thanh toán.
Nếu tổ chức xuất khẩu sau khi giao hàng, xuất trình bộ giá trị thanh toán vượt qua
ngày giá trị cuối cùng của thư tín dụng sẽ không chấp nhận thanh toán. Vì vậy tổ chức
xuất khẩu cần phải nghiên cứu thời hạn hiệu lựa của L/C xem có đủ thời gian để thực
hện các khâu chuẩn bị hàng hóa, giao hàng và xuất trình bộ chứng từ thanh toán.
       - Kim ngạch L/C (Amount) – Mỗi L/C được định mức bằng một số tiền nhất
định. Thông thường kim ngạch L/C bằng giá trị đơn vị hàng hóa (CIF hay FOB…)
nhân với số lượng hay trọng lượng hàng hóa.
       Ngoài ra để tạo điều kiện cho tổ chức xuất khẩu linh hoạt trong việc gởi hàng
hoặc do tính chất của từng loại hàng hóa, kim ngạch L/C được phép quy định xê dịch
cộng trừ một số phần trăm nhất định.
       - Điều kiện giao hàng – Hàng hóa được phép giao từng phần (Partial shipment)
hay không, chuyển tải, cho phép hay không cho phép (Transhipment allwed), hàng hóa
phải được giao trên boong tàu (on deck) hay trên khoang tàu (on board) hay chở trần
(in bulk).
      Lưu ý ngay cả khi L/C không cho phép chuyển tải, ngân hàng sẽ chấp nhận vận
đơn ghi rõ việc chuyển tải sẽ xảy ra trong chừng mực mà hàng hóa liên quan gửi bằng
các container, moóc (Trailer), sà lan (Lash) như đã chứng minh trong vận đơn.
       Thông thường điều kiện giao hàng tùy thuộc khả năng cung ứng hàng của tổ
chức xuất khẩu, khả năng nhận hàng của tổ chức nhập khẩu, khả năng vận chuyển của
phương tiện vận tải. Vì vậy tùy tình hình thực tế của hàng hóa mà xem xét. Ngoài ra
có những trường hợp thư tín dụng quy định hàng hóa gửi đi phải đi phải do tàu
container được ghi đích danh trong L/C
       Nếu những điều kiện giao hàng trên tổ chức xuất khẩu nhận thấy không thực
hiện được thì đề nghị điều chỉnh L/C.
      - Địa điểm gửi nhận hàng – Thông thường hàng hóa được gửi trên tàu từ một cảng
nước xuất khẩu đến một hay nhiều cảng do nhà nhập khẩu quy định trong thư tín dụng.
       - Bộ chứng từ thanh toán – Tổ chức xuất khẩu cần cẩn thận, nghiên cứu xem tổ
chức nhập khẩu yêu cầu xuất trình những giấy tờ loại nào, ai cấp, bao nhiêu bản. Khả
năng tổ chức xuất khẩu có thể đáp ứng được hay không.
      - Điều kiện về hàng hóa – Số lượng, chất lượng, quy cách hàng hóa.



 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                     Trang 32
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
       - Điều kiện đặc biệt khác như phí, xác nhận, cách gửi chứng từ… Lưu ý nếu
trong telex có câu “Full details to follow” hoặc ghi là “The mail confirmation is to be
the operative credit instrument” thì telex chưa có giá trị.
       Tóm lại, tổ chức xuất khẩu khi nhận được thư tín dụng cần hết sức thận trọng
kiểm tra, phân tích từng điều khoản trước khi tiến hành giao hàng và lập bộ chứng từ
thanh toán phù hợp với thư tín dụng. Chỉ cần sai một trong những điều khoản trong L/
C thì sẽ không được thanh toán. Do đó nếu không đồng ý ở điều khoản nào thì đề nghị
sửa đổi bổ sung. Việc đề nghị có thể thực hiện bằng cách : điện trực tiếp cho các tổ
chức nhập khẩu hoặc điện cho Ngân hàng mở L/C thông qua Ngân hàng thông báo.
Sau khi thực hiện việc kiểm tra, sửa đổi, bổ sung thư tín dụng được mở hoàn chỉnh, tổ
chức xuất khẩu tiến hành nghiệp vụ giao hàng. Thông thường chi phí tu chỉnh L/C bên
xuất khẩu chịu.
      Bước 5: Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, tổ chức xuất khẩu lập bộ
chứng từ thanh toán theo đúng điều khoản trong thư tín dụng xuất trình cho ngân
hàng thông báo để yêu cầu thanh toán.
       Hồ sơ chứng từ gửi Ngân hàng thanh toán gồm có phiếu xuất trình chứng từ
thanh toán hàng xuất khẩu và các chứng từ chi tiết phù hợp với những điều khoản ghi
trong thư tín dụng.
       Bước 6: Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu nhận, kiểm tra và xử lý bộ chứng
từ do đơn vị xuất khẩu nhập vào.
       Khi Ngân hàng bên xuất khẩu (ví dụ Vietcombank) nhận được chứng từ cùng
bản gốc L/C do tổ chức xuất khẩu (người hưởng lợi L/C) gửi đến kèm các bản tu chỉnh
(nếu có), Ngân hàng bên xuất khẩu Vietcombank cần thực hiện:
      • Kiểm tra chi tiết từng loại chứng từ, thanh toán viên sẽ xem lại ngày xuất trình
        chứng từ có nằm trong thời hạn hiệu lực và đúng theo quy định của L/C hay
        không?
      • Kiểm tra các loại chứng từ đã được xuất trình đầy đủ chưa?
      • Cuối cùng kiểm tra tổng quát bằng cách đọc lại L/C một lần nữa để xem bộ
        chứng từ có điều gì không thỏa mãn L/C không?
       Sau khi kiểm tra thì tùy vào tình trạng cụ thể của bộ chứng từ mà Ngân hàng
giải quyết như sau:
       Bộ chứng từ không có sai sót thì xem xét tiếp nội dung của L/C quy định trả
        tiền ngay hay là thương lượng để xử lý.




 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                     Trang 33
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
       Nếu L/C quy định thực hiện trả tiền ngay thì việc thanh toán bằng L/C bằng
cách trả tiền ngay thường có hai không trường hợp:
       Trường hợp 1: Trả tiền ngay tại Ngân hàng quy định (thường là Ngân hàng
thông báo L/C). Điều này được thể hiện trong L/C bằng câu: “AVAILABLE BY
PAYMENT AT ADVISING BANK’S COUNTER” hoặc “AVAILABLE BY
PAYMENT AT YOUR COUNTER”. Trong trường hợp này, tại VCB chỉ chiết khấu
cho khách hàng (nếu khách hàng có yêu cầu) mặc dù L/C yêu cầu thanh toán tại Ngân
hàng thông báo của nước người thụ hưởng.
       Trường hợp 2: Trả tiền tại Ngân hàng phát hành. Trường hợp này Ngân hàng
phát hành sẽ tự mình thanh toán toàn bộ chứng từ do Ngân hàng thương lượng gửi đến.
Điều này được quy định trong L/C bằng câu: “AVAILABLE BY PAYMENT AT THE
ISSUING BANK’S COUNTER” hoặc “AVAILABLE WITH… (tên Ngân hàng phát
hành) BY PAYMENT”. Trong trường hợp này, sau kiểm tra bộ chứng từ xong VCB
HCM sẽ gửi bộ chứng từ đến Ngân hàng phát hành để họ quyết định việc thanh toán.
       Nếu L/C quy định bằng thương lượng. Điều này được quy định trong L/C
bằng câu: “AVAILABLE ANY BANK IN BENEFICIARY’S COUNTRY BY
NEGOTIATION” hoặc “AVAILABLE WITH ADVISING BANK BY
NEGOTIATION”. Đối với loại L/C này VCB HCM sẽ gởi bộ chứng từ và đòi tiền
theo phương tiện mà L/C quy định bằng điện (TTR) hoặc bằng thư và có thể chiết
khấu cho khách hàng. Về phía Ngân hàng nước ngoài sau khi nhận được bộ chứng từ
hợp lệ hoặc nhận được bộ thông báo của VCB HCM tại Ngân hàng mà VCB HCM chỉ
định. Cách thức gửi bộ chứng từ và chỉ thị đòi tiền quy định tùy theo một trong hai
trường hợp sau:
      Trường hợp 1: L/C không cho phép đòi tiền bằng điện. Trong trường hợp này
cần xem xét tiếp xem Ngân hàng trả tiền có phải là Ngân hàng phát hành hay không.
       Nếu Ngân hàng trả tiền cũng là Ngân hàng phát hành thì Hối phiếu sẽ được ký
phát cho Ngân hàng phát hành. Lúc này VCB HCM sẽ gửi bộ chứng từ thanh toán bao
gồm Hối phiếu kèm thư Ngân hàng (Covering Schedule) và bộ chứng từ đến cho Ngân
hàng phát hành yêu cầu thanh toán. Trong thư Ngân hàng ghi rõ các nội dung sau:
    -   Chứng nhận các điều khoản của L/C đã được thực hiện đúng.
    -   Số tiền mà Ngân hàng phát hành phải trả.
    -   Chỉ thị việc trả tiền vào tài khoản của VCB HCM tại Ngân hàng đại lý mà
        VCB HCM có tài khoản.
       Nếu Ngân hàng trả tiền khác Ngân hàng phát hành thì xem xét xử lý tùy theo
một trong hai trường hợp:



 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                   Trang 34
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
      - L/C quy định gửi Hối phiếu đến Ngân hàng phát hành. Lúc này trên Hối phiếu
mục TO và mục DRAWN UNDER thể hiện tên Ngân hàng phát hành. Còn thư Ngân
hàng sẽ gửi đến Ngân hàng trả tiền.
       - L/C quy định gửi Hối phiếu đến Ngân hàng trả tiền. Trong trường hợp này Hối
phiếu được ký phát cho Ngân hàng trả tiền do L/C chỉ định. Lúc đó VCB HCM sẽ gửi
Hối phiếu kèm thư đòi tiền và thư Ngân hàng cho Ngân hàng trả tiền mà L/C chỉ định.
Còn bộ chứng từ và thư Ngân hàng sẽ được gửi đến Ngân hàng phát hành.
      Trường hợp 2: L/C cho phép đòi tiền bằng điện. Điều khoản này rất có lợi cho
nhà xuất khẩu vì thời gian mà nhà xuất khẩu nhận được tiền thanh toán rất nhanh (2 –
3 ngày) so với trường hợp đòi tiền bằng thư (5 - 10 ngày).
       Nếu ngân hàng trả tiền khác Ngân hàng phát hành thì VCB HCM sẽ đòi tiền
Ngân hàng trả tiền bằng Telex hoặc Swift, đồng thời gửi bộ chứng từ kèm theo thư
Ngân hàng và bản copy điện đòi tiền đến cho Ngân hàng phát hành. Hối phiếu trong
trường hợp này phải được gửi đến cho Ngân hàng phát hành hay Ngân hàng trả tiền
tùy theo yêu cầu của L/C. Nếu Hối phiếu gửi cho Ngân hàng trả tiền thì thường gửi
sau bức điện đòi tiền, mục đích là giúp cho Ngân hàng trả tiền lưu trữ hồ sơ. Ngoài ra,
trong bức điện đòi tiền Ngân hàng phải ghi rõ số L/C, tên Ngân hàng nào phát hành, có
lời xác nhận chứng từ phù hợp của VCB… và chỉ thị trả tiền.
       Nếu bộ chứng từ có sai sót gì thì tất cả các sai sót hoặc bất hợp lệ của chứng
          từ đều được thanh toán viên ghi vào phiếu kiểm chứng tứ xuất khẩu, sau đó
          chia và xử lý sai sót ra thành hai loại: sai sót có thể sửa chữa được và sai sót
          không thể sửa chữa được.
     Các sai sót có thể sửa chữa được – Các lỗi này liên quan đến việc lập chứng từ.
Thường có các trường hợp sau:
       - Người lập chứng từ đánh nhầm hoặc đánh sai lỗi chính tả cả thông tin trên
chứng từ. Lỗi này rất phổ biến trong thực tế. Tuy có vẻ không quan trọng nhưng nó có
thể là cái cớ để Ngân hàng nước ngoài trì hoãn việc thanh toán thậm chí từ chối việc
thanh toán.
      - Do thiếu kinh nghiệm trong việc lập chứng từ nên người lập đã hiểu sai nội
dung và thể hiện sai nội dung mà L/C quy định.
       - Sự thiếu sót các điều kiện ghi thêm do người lập chứng từ đọc không kỹ L/C.
Ví dụ: L/C yêu cầu ghi số hợp đồng hoặc Shipping Mark trên tất cả các chứng từ thanh
toán nhưng thực tế có một số chứng từ do đơn vị xuất khẩu trình không được thể hiện
những nội dung này.
       Các chứng từ xuất trình không phù hợp như: Xuất trình hai Hối phiếu đều là bản số
1 hoặc là bản số 2, chứng từ xuất trình không phải là bản gốc theo yêu cầu của L/C…


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                     Trang 35
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
      Tuy nhiên các sai sót về việc lập chứng từ đều có thể sữa chữa được. Do đó khi
bộ chứng từ được kiểm tra có những sai sót thuộc loại này, thanh toán viên sẽ căn cứ
vào kết quả kiểm tra để yêu cầu nhà xuất khẩu điều chỉnh lại sai sót.
      Các sai sót không thể sữa chữa được – Các lỗi này thường liên quan đến hàng
hóa như chất lượng, số lượng hay trọng lượng hàng hóa hoặc liên quan các thủ tục của
cơ quan quản lý Nhà nước hay các cơ quan khác nên không sữa chữa được. Các
trường hợp bất hợp lệ không thể sữa chữa được có thể là :
      − Giao hàng thiếu hoặc quá số lượng yêu cầu.
      − Giao hàng trễ.
      − Hàng hóa được giao ngoài quy định của L/C.
      − Xuất trình chứng từ trễ hạn.
      − Sai đơn giá.
      − Cách thức giao hàng và phương tiện vận chuyển không phù hợp với quy
        định của L/C. Ví dụ, L/C yêu cầu giao hàng đến cảng Kobe nhưng người
        bán giao hàng đến cảng Osaka.
      − Hàng hóa có quy cách, phẩm chất thể hiện trên các chứng từ xác minh bản
        chất hàng hóa không phù hợp với yêu cầu của L/C.
      − Trị giá bảo hiểm lô hàng không đúng yêu cầu.
      − Các yêu cầu đặc biệt nhằm đáp ứng các thủ tục nhập khẩu ở nước người
        mua không thỏa mãn.
      − Người xuất khẩu làm sai quy định về gửi chứng từ.
      Rõ ràng với những bất hợp lệ vừa nêu trên, người bán không thể nào sữa chữa
được. Trong trường hợp này thanh toán viên sẽ căn cứ vào mức độ bất hợp lệ và sự tín
nhiệm giữa các bên liên quan để giải quyết. Đối với bộ chứng từ bất hợp lệ thường có
những cách giải quyết sau đây:
       Thứ nhất, yêu cầu nhà xuất khẩu liên hệ với nhà nhập khẩu tu chỉnh lại L/C cho
phù hợp với chứng từ. Tuy nhiên trường hượp này rất ít được sử dụng vì nếu tu chỉnh
thì thời gian tu chỉnh phải còn nằm trong thời hạn xuất trình cứng từ và thời hạn hiệu
lực của L/C.
       Thứ hai, thương lượng chứng từ với điều kiện bảo lưu. Điều này có nghĩa là
người bán đứng ra ký chấp nhận bảo lưu một số bất hợp lệ nhỏ mà Ngân hàng cho là
không đáng kể, có thể xác nhận phù hợp với điều kiện và điều khoản của L/C. Một số
bất hợp lệ có thể thương lượng theo cách này bao gồm:



 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 36
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
       - Người lập chứng từ đánh nhầm hoặc sai lỗi chính tả các thông tin trên chứng
từ (mà họ không sửa). Tuy nhiên việc đánh “nhầm” này không ảnh hưởng nghiêm
trọng đến bản chất hàng hóa, thwoif gian giao hàng hiệu lực của L/C…
       - Ngày ký các chứng từ khác nhau, ngày ký vận đơn. Có nhiều công ty xuất
trình L/C có ngày cấp sau ngày vận đơn. Nhưng theo quan điểm của Ngân hàng để
tránh việc tranh cãi với Ngân hàng nước ngoài ta nên sửa ngày trên chứng từ chứng
nhận xuất xứ cùng ngày với ngày vận đơn. Nếu công ty không sữa thì để bảo vệ quyền
lợi cho công ty Ngân hàng xác nhận phù hợp với lý do UCP không có điều khoản nào
quy định cụ thể về vấn đề này.
       - Thể hiện cảng đi và cảng đến chung chung không cụ thể. Ví dụ: L/C quy định
cảng giao hàng VIETNAMESE port hoặc cảng đến ghi MOMBASA AND/OR DAR
ES SALAM AND/OR BEIRA. Ngân hàng yêu cầu công ty ghi cụ thể giao hàng cảng
nào ở Việt Nam hoặc giao hàng đến cảng nào ở nước ngoài nhưng công ty không đồng
ý sửa. Trong trường hợp này Ngân hàng vẫn xác nhận phù hợp với lý do là chứng từ
được thiết lập theo đúng L/C.
      - Các đơn vị sửa chứng từ chỉ đóng dấu sửa nhưng không ký nháy và Ngân hàng
xác nhận phù hợp với lý do L/C không quy định sửa phải có ký nháy và trong UCP
cũng không có khoản nào đề cập đến vấn đề này.
      - Một số chứng từ thiếu Shipping mark, số L/C nhưng L/C không quy định cụ thể.
       Đối với những trường hợp như trên trước khi gửi chứng từ Ngân hàng yêu cầu
khách hàng ký chấp nhận bảo lưu về những bất hợp lệ đó. Khi gửi chứng từ cho Ngân
hàng nước ngoài, VCB HCM vẫn xác nhận chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều
khoản của thư tín dụng. Cách gửi chứng từ và điều khoản của thư tín dụng cũng giống
như trường hợp chứng từ hoàn toàn phù hợp.
      Tuy nhiên điều cần lưu ý ở đây là nếu có quá nhiều lỗi sai như vậy thì VCB
HCM sẽ không xác nhận phù hợp và cũng không nêu các bất hợp lệ đó. Vì nếu xác
nhận phù hợp thì sẽ gây ảnh hưởng lớn đến uy tín của Ngân hàng. Trong trường hợp
như vậy VCB HCN chỉ gửi chứng từ đi và thương lượng với Ngân hàng phát hành.
       Thứ ba, gửi chứng từ trên cơ sở nhờ thu. Khả năng từ chối thanh toán của Ngân
hàng phát hành L/C khá lớn đối với những bộ chứng từ có bất hợp lệ nặng liên quan đến
hàng hóa hoặc việc nhận hàng của người nhập khẩu. Vì vậy, trong trường hợp VCB
HCM chỉ gửi bộ chứng từ đi nhờ thu (nếu nhà xuất khẩu đồng ý gửi nhờ thu) và mọi rủi
ro đều do nhà xuất khẩu gánh chịu. Khi gởi nhờ thu VCB HCM yêu cầu khách hàng ký
chấp nhận gửi nhờ thu. Các bất hợp lệ sau đây thường áp dụng cách này:
      − Giao hàng trễ.
      − Xuất trình chứng từ khi L/C hết hiệu lực.


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 37
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ

      − Giao hàng vượt ngoài quy định của L/C.
      − Mua bảo hiểm không đúng quy định.
      − Sai đơn giá số tiền vượt quá gí trị L/C cho phép.
      − Các bất hợp lệ liên quan đến số lượng chất lượng hàng hóa…
        Về phía nhà xuất khẩu khi chuyển sang phương thức nhờ thu thì bị chuyển từ tư
thế chủ động sang tư thế bị động phụ thuộc vào nhà nhập khẩu có chịu thanh toán hay
không. Ngoài ra nhà xuất khẩu còn chịu thiệt hại do bị giam vốn, do chi phí rất nhiều
về điện tín để thương lượng giữa hai bên xuất khẩu thông qua Ngân hàng. Do đó nhà
xuất khẩu cần nghiên cứu kỹ những nội dung yêu cầu của thư tín dụng, nếu thấy chỗ
nào bất lợi hoặc không thực hiện được thì phải yêu cầu tu chỉnh ngay để tránh những
tình trạng như trên.
      Trong trường hợp này, sau khi nhà xuất khẩu đồng ý gửi chứng từ trên cở sở
nhờ thu theo L/C thì VCB HCM sẽ không đánh điện cho Ngân hàng phát hành (mặc
dù cho phép đòi tiền bằng điện) mà VCB HCM sẽ giải quyết bằng cách:
      Cách 1: Gửi bộ chứng từ kèm theo thư Ngân hàng đến cho Ngân hàng phát
hành và yêu cầu Ngân hàng phát hành nhờ thu. Tuy nhiên điều này chỉ được thực hiện
khi Ngân hàng phát hành đã thương lượng với nhà nhập khẩu và nhà nhập khẩu chấp
nhận những bất hợp lệ đó. Do đó nếu chấp nhận những bất hợp lệ đó thì Ngân hàng
phát hành sẽ chuyển trả tiền vào tài khoản của VCB HCM chỉ thị. Trong thư Ngân
hàng gửi cho Ngân hàng phát hành, VCB HCM không nêu lên các bất hợp lệ mà chỉ
yêu cầu Ngân hàng phát hành nhờ thu.
       Cách 2: Điện báo bất hợp lệ cho Ngân hàng phát hành (nếu nhà xuất khẩu
không đồng ý gửi nhờ thu). Khi điện thông báo bất hợp lệ cho Ngân hàng phát hành,
VCB HCM yêu cầu khách hàng ký chấp nhận bất hợp lệ. Sau đó VCB HCM điện yêu
cầu Ngân hàng phát hành thương lượng với nhà nhập khẩu về những bất hợp lệ đó.
Nếu đồng ý thì phải điện báo cho VCB HCM biết. Tuy nhiên do hệ thống truyền tin
ngày càng hiện đại nên các Ngân hàng thường nhận được điện rất sớm (khoảng một
ngày). Do đó hiếm khi xảy ra trường hợp hàng đến trước nhưng chứng từ chưa đến.
      Bước 7: Ngân hàng mở L/C nhận được bộ chứng từ thanh toán do bên xuất
khẩu gởi đến tiến hành kiểm tra đối chiếu với những điều khoản trên L/C đã mở trước
đây. Nếu thấy phù hợp ngân hàng mở L/C sẽ thanh toán cho bên xuất khẩu theo lệnh
của ngân hàng thông báo.
       Trường hợp mua hàng trả chậm thì ngân hàng mở L/C nếu đồng ý thanh toán
thì gởi điện chấp nhận về Ngân hàng bên xuất khẩu và sau đó Ngân hàng mở L/C gởi
hối phiếu cho tổ chức nhập khẩu để ký chấp nhận trên hối phiếu có kỳ hạn. Lưu ý, khi



 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 38
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu phát hiện sai một điều kiện thì Ngân hàng mở L/C
sẽ không thanh toán. Nhưng tốt nhất là hỏi đơn vị L/C rồi xử lý.
       Bước 8: Nhận được điện báo có về tài khoản thanh toán bộ chứng từ hàng xuất
khẩu, ngân hàng báo có cho tổ chức xuất khẩu hoặc thông báo hối phiếu có kỳ hạn đã
được chấp nhận thanh toán và cũng có thể nhận được thông báo về sự từ chối của ngân
hàng mở L/C.
      Bước 9: Ngân hàng mở L/C yêu cầu người xin mở L/C thanh toán và chuyển
bộ chứng từ cho người xin mở L/C (Người nhập khẩu).
        Nếu tổ chức nhập khẩu từ chối thanh toán thì tùy trường hợp mà Ngân hàng mở
L/C sẽ giải quyết. Cở sở pháp lý để giải quyết sự tranh chấp này là Giấy đề nghị mở
thư tín dụng đơn vị nhập khẩu gửi cho Ngân hàng khi yêu cầu mở thư tín dụng.

V. HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THANH
TOÁN QUỐC TẾ.
   1. Giới thiệu về UCP – UCP 600:
       UCP là viết tắt của từ “The Uniform Customs and Practice for Documentary
Credit – UCP (Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ). UCP là văn bản do
Phòng thương mại quốc tế (International Chamber of Commerce – ICC) soạn thảo và
ban hành. Nó là văn kiện tập hợp toàn bộ những quy tắc và định nghĩa quốc tế thống
nhất về tín dụng chứng từ, được hơn 165 quốc gia công nhận. UCP được coi là cẩm
nang hoạt động cho các doanh nghiệp hoạt động thanh toán quốc tế và là cơ sở pháp lý
quan trọng cho các giao dịch thương mại trị giá hàng tỷ đô la hàng năm trên thế giới.
      Bản UCP đầu tiên được soạn thảo và thông qua năm 1993 tại Viên (Áo) với
mục đích khắc phục các xung đột về luật điều chỉnh tín dụng chứng từ giữa các quốc
gia. UCP đã qua bảy lần sửa đổi và chỉnh lý. Bản UCP đang được áp dụng hiện nay là
UCP 600 – kết quả của lần sửa đổi thứ bảy.
       Vào tháng 5 năm 2003, Phòng thương mại quốc tế - ICC đã ủy quyền cho ủy
ban Kỹ thuật và nghiệp vụ Ngân hàng bắt đầu xem xét lại UCP 500 để có thể có những
sửa đổi cần thiết đáp ứng với tình hình thực tiễn mới. Mục đích chính của lần sửa đổi
này là để đáp ứng được sự phát triển trong hoạt động ngân hàng, vận tải và bảo hiểm.
Hơn nữa, cần xem xét lại ngôn ngữ và phong cách đã được sử dụng trong UCP để loại
bỏ những cách diễn đạt có thể gây ra sự hiểu lầm và áp dụng không thống nhất.
       Ban soạn thảo gồm 9 thành viên đã ra đời để sửa đổi UCP 500, đồng thời Ủy
ban Kỹ thuật và nghiệp vụ Ngân hàng thành lập Ban cố vấn gồm 41 thành viên là các
chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng và vận tải đến từ 26 quốc gia trên thế giới. Sau 3
năm soạn thảo và chỉnh lý, ngày 25 tháng 10 năm 2006, ICC đã thông qua Bản quy tắc
thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ số 600 (UCP 600) thay cho UCP 500. UCP


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 39
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
600 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2007. Tuy nhiên, các bản UCP ra đời sau
không bác bỏ các UCP ra đời trước đó, cả 7 bản UCP vẫn còn giá trị hiệu lực trong
thanh toán quốc tế. Do vậy, các bên tham gia trong một quá trình thanh toán quốc tế cụ
thể nào đó có thể thỏa thuận với nhau chọn bất kỳ bản nào và nhất thiết phải ghi nhận
trong hợp đồng ngoại thương và L/C.
   2. Nội dung của UCP 600:
       Trong đề án này, em chỉ xin nêu ra tiêu đề của các điều lệ quy định về các quy
   tắc thanh toán tín dụng chứng từ. Cụ thể như sau:
      Điều 1: UCP 600 là các quy tắc áp dụng cho bất kỳ tín dụng chứng từ nào (bao
gồm cả thư tín dụng dự phòng trong chừng mực mà các quy tắc này có thể áp dụng)
nếu nội dung của tín dụng chỉ ra một cách rõ ràng nó phụ thuộc vào các quy tắc này.
       Điều 2: UCP 600 nêu ra các định nghĩa sau: Ngân hàng thông báo, Người yêu
cầu, Ngày làm việc ngân hàng, Người thụ hưởng, Xuất trình phù hợp, Xác nhận, Ngân
hàng xác nhận, Tín dụng, Thanh toán, Thương lượng thanh toán, Ngân hàng chỉ định,
Xuất trình, Người xuất trình.
      Điều 3: UCP 600 giải thích các cụm từ chỉ về thời gian như “vào hoặc vào
khoảng”, “đến”, “cho đến khi”, “từ”, “giữa”…, hoặc các cụm từ như “độc lập”, “chính
thức”… để mô tả về ngân hàng phát hành…
      Điều 4: Tín dụng và hợp đồng: nói rõ mối quan hệ giữa tín dụng và quan hệ
hợp đồng giữa các bên liên quan.
      Điều 5: Nêu quy định các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các chứng từ.
      Điều 6: Các quy định về thanh toán, ngày hết hạn và nơi xuất trình.
       Điều 7: Các quy tắc về việc cam kết của Ngân hàng phát hành, bao gồm điều
kiện, các hình thức thanh toán và cam kết thanh toán của Ngân hàng phát hành.
      Điều 8: Các quy tắc về cam kết của Ngân hàng xác nhận.
      Điều 9: Thông báo tín dụng và các sửa đổi.
      Điều 10: Quy định về sửa đổi tín dụng.
      Điều 11: Tín dụng và sửa đổi được sơ báo và chuyển bằng điện.
      Điều 12: Sự chỉ định.
      Điều 13: Thỏa thuận hoàn trả tiền giữa các ngân hàng.
      Điều 14: Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ.
      Điều 15: Xuất trình phù hợp.
      Điều 16: Chứng từ có sai biệt, bỏ qua và thông báo.


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                     Trang 40
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
      Điều 17: Các chứng từ gốc và các bản sao.
      Điều 18: Hóa đơn thương mại.
      Điều 19: Chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau.
      Điều 20: Vận đơn đường biển.
      Điều 21: Giấy gởi hàng đường biển không chuyển nhượng.
      Điều 22: Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu.
      Điều 23: Chứng từ vận tải hàng không.
      Điều 24: Chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa.
      Điều 25: Biên lai chuyển phát, biên lai bưu điện hoặc giấy chứng nhận bưu phẩm.
      Điều 26: “trên boong” “người gởi hàng xếp và đếm” “người gởi hàng kê khai
gồm có” và chi phí phụ thêm vào cước phí.
      Điều 27: Chứng từ vận tải hoàn hảo.
      Điều 28: Chứng từ bảo hiểm và bảo hiểm.
      Điều 29: Gia hạn ngày hết hiệu lực hoặc ngày cuối cùng phải xuất trình.
      Điều 30: Dung sai về số tiền, số lượng và đơn giá.
      Điều 31: Giao hàng và trả tiền từng phần.
      Điều 32: Giao hàng và trả tiền nhiều lần.
      Điều 33: Giờ xuất trình.
      Điều 34: Miễn trách về tính hợp lệ của Chứng từ.
      Điều 35: Miễn trách về trao đổi thông tin và dịch thuật.
      Điều 36: Bất khả kháng.
      Điều 37: Miễn trách về hành động của một bên ra chỉ thị.
      Điều 38: Tín dụng có thể chuyển nhượng.
      Điều 39: Chuyển nhượng số tiền thu được.
VI. RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC BÊN THAM GIA THANH TOÁN L/C VÀ CÁCH
PHÒNG CHỐNG
      1. Đối với nhà nhập khẩu
      • Việc thanh toán của ngân hàng cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộ
        chứng từ xuất trình, mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hóa. Ngân
        hàng chỉ kiểm tra tính chân thật “bề ngoài” chứng từ, mà không chịu trách
        nhiệm về tính chất “bên trong” của chứng từ, cũng như chất lượng và số

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 41
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
        lượng hàng hóa. Như vậy, sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà nhập khẩu
        rằng hàng hóa sẽ đúng như đơn đặt hàng hay không bị hư hại gì. Và nhà
        nhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã thanh toán cho ngân hàng phát
        hành.
     • Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà nhập khẩu và nhà
       xuất khẩu phải tiến hành làm thủ tục sửa đổi, bổ sung L/C.
     • Ngân hàng xác nhận hay một ngân hàng được chỉ định khác có thể mắc sai
       lầm khi đã thanh toán một bộ chứng từ có sai sót, sau đó ghi nợ ngân hàng
       phát hành L/C. Nếu ngân hàng mắc sai lầm lại do người nhập khẩu chỉ định
       thì ngân hàng mở có quyền truy hoàn số tiền đã bị ghi nợ. Hơn nữa, trong
       một số trường hợp, nhà nhập khẩu phải chấp nhận điều khoản hoàn trả cho
       ngân hàng phát hành ngay cả khi ngân hàng mắc sai lầm do ngân hàng phát
       hành chỉ định.
     • Nhà nhập khẩu chưa nhận được bộ chứng từ cho đến khi hàng cập cảng. Vì
       bộ chứng từ bao gồm vận đơn, đây lại là chứng từ sở hữu hàng hóa, nên
       thiếu vận đơn thì hàng hóa không được giải tỏa. Nếu nhà nhập khẩu cần gấp
       ngay hàng hóa thì phải thu xếp để được ngân hàng phát hành phát hành một
       thư bảo lãnh gởi hãng tàu để nhận hàng. Để được bảo lãnh hàng, nhà nhập
       khẩu phải trả một khoản chi phí cho ngân hàng. Hơn nữa, nếu không nhận
       hàng theo quy định thì tiền bồi thường giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh.
     • Nếu không quy định “bộ vận đơn đầy đủ” thì một người khác cso thể lấy
       được hàng hóa khi chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận đơn, trong khi đó
       người trả tiền hàng hóa lại là nhà nhập khẩu.
     2. Đối với nhà xuất khẩu:
     • Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu và nhà
       nhập khẩu phải tiến hành làm thủ tục sửa đổi, bổ sung L/C.
     • Thư tín dụng có thể hủy ngang có thể được ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ
       sung hay hủy bỏ bất cứ khi nào trước khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng
       từ mà không cần có sự đồng ý của người này.
     • Nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi
       khoản thanh toán hay chấp nhận đều có thể bị từ chối, và nhà xuất khẩu phải
       tự xử lý hàng hóa như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết
       hoặc phải tìm người mua mới, bán đấu giá hay chở hàng quay về nước. Nhà
       xuất khẩu phải chịu các chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho và mua bảo
       hiểm cho hàng hóa…trong khi dó không biết rõ lập trường của nhà nhập
       khẩu là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót.


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                 Trang 42
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ

     • Nếu ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận mất khả năng thanh
       toán, thì dù bộ chứng từ xuất trình là hoàn hảo cũng không được thanh toán.
       Tương tự, nếu ngân hàng chấp nhận hối phiếu kỳ hạn bị phá sản trước khi
       hối phiếu đến hạn thì hối phiếu cũng không được trả tiền. Trừ khi L/C được
       xác nhận bởi một ngân hàng hạng nhất trong nước, còn lại nhà xuất khẩu
       luôn phải chịu những rủi ro về hệ số tín nhiệm của ngân hàng phát hành,
       cũng như rủi ro chính trị hay rủi ro cơ chế chính sách của nước nhập khẩu.
     • Nếu nhà xuất khẩu nhận được một L/C trực tiếp từ ngân hàng phát hành
       (không thông qua ngân hàng thông báo), thì đó có thể là một L/C giả. Nhà
       xuất khẩu phải yêu cầu có một ngân hàng trong nước xác nhận L/C hay phải
       được ngân hang phục vụ mình xác minh L/C là thật.
     3. Đối với ngân hàng phát hành
     • Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo
       quy định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu chủ tâm không
       hoàn trả hoặc không có khả năng hoàn trả. Như vậy, rủi ro tín dụng đối với
       ngân hàng phát hành là rất hiện hữu, dó đó, trước khi chấp nhận phát hành
       L/C, ngân hàng cần áp dụng một quy trình thẩm định chặt chẽ giống như
       việc cấp tín dụng cho khách hàng.
     • Trong số các nhân tố, ngân hàng phát hành cần phải xem xét đó là liệu ngân
       hàng có thu lại được một phần hay toàn bộ số tiền đã thanh toán từ việc bán
       hàng nếu nhà nhập khẩu bị phá sản. Ngân hàng phát hành cần phải trả lời
       các câu hỏi sau: Nhà nhập khẩu sẽ là người chắc chắn sở hữu hàng hóa?,
       Hàng hóa đảm bảo chất lượng và có thể bán được?, Hàng hóa có dễ hỏng và
       giá cả có hay biến động hay không?, Hàng hóa có bị hư hại trong quá trình
       vận chuyển, nếu có thì có bảo hiểm không, và ngân hàng có quyền đòi tiền
       bảo hiểm không?, Có sự thông đồng lừa đảo giữa nhà xuất khẩu và nhập
       khẩu, hậu quả có thể là hàng hóa sẽ không bao giờ được chuyển đi?, Có hạn
       chế nào liên quan đến loại hàng hóa nhập khẩu không, như hạn chế về giấy
       phép kinh doanh, đối tượng mua bán?
     • Khi L/C không có xác nhận, ngân hàng phát hành hay được yêu cầu chấp
       nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ. Trong
       trường hợp này, nếu không có sự chấp nhận trước của người nhập khẩu về
       việc hoàn trả thì ngân hàng phát hành sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có sai
       sót, nên nhà nhập khẩu không chấp nhận, do đó ngân hàng sẽ không truy
       hoàn được tiền từ nhà nhập khẩu. Về mặt nguyên tắc, ngân hàng phát hành
       có quyền truy đòi ngân hàng trả tiền cho bộ chứng từ có sai sót nhưng việc
       này rất mất thời gian và tốn kém.
     • Nếu ngân hàng phát hành trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ
       hạn, mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                 Trang 43
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
          từ đó có lỗi, nhà nhập khẩu không chấp nhận thì không thể đòi tiền nhà nhập
          khẩu. Khi mở L/C là ngân hàng đã thực hiện cam kết tài chính và chấp nhận
          rủi ro. Vì vậy, để hạn chế rủi ro, ngân hàng nên yêu cầu đối với khách hàng
          mới lần đầu mở L/C cung cấp cho ngân hàng tài sản cầm cố thế chấp hoặc
          ký quỹ cho ngân hàng 100% giá trị của L/C. Nếu là khách hàng phát hành
          L/C thường xuyên, ngân hàng có thể cấp một “Hạn mức tín dụng nhập
          khẩu” để cho người nhập khẩu mở L/C với tổng giá trị bằng hạn mức tín
          dụng nhập khẩu. Tỷ lệ % ký quỹ có thể giảm xuống nếu mức độ tin cậy của
          khách hàng tăng lên.
      4. Đối với ngân hàng thông báo
       Ngân hàng thông báo chịu trách nhiệm phải có sự “quan tâm hợp lý” để bảo
đảm rằng thư tín dụng là chân thật, bao gồm cả việc xác minh chữ ký, khóa mã, mẫu
điện trước khi gởi thông báo cho nhà xuất khẩu
      5. Đối với ngân hàng được chỉ định
       Các ngân hàng được chỉ định tuy không có một trách nhiệm nào phải thanh toán
cho người xuất khẩu trước khi nhận được tiền từ ngân hàng phát hành, nhưng trên thực
tế, ngân hàng này thường ứng trước cho nhà xuất khẩu với điều kiện truy đòi để trợ
giúp nhà xuất khẩu, do đó, ngân hàng được chỉ định chịu rủi ro tín dụng đối với ngân
hàng phát hành hoặc nhà xuất khẩu.
      6. Đối với ngân hàng xác nhận
       Nếu bộ chứng từ hoàn hảo, thì ngân hàng xác nhận phải trả tiền cho người xuất
khẩu bất luận là có truy hoàn được tiền từ ngân hàng phát hành hay không. Như vậy,
Ngân hàng xác nhận chịu rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành cũng như rủi ro
chính trị và rủi ro cơ chế của nước ngân hàng phát hành.
      Nếu ngân hàng xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà
không có sự kiểm tra thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, ngân hàng phát
hành không chấp nhận thì không thể đòi tiền từ ngân hàng phát hành.
                                      Chươ ng 4
       THANH TOÁN QUỐC TẾ
      TRONG CÁC NGÂN HÀNG
      THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I. CÁCH THỨC MỞ L/C TẠI VIỆT NAM:
      1. Ðiều kiện mở L/C:
      Ðể được mở L/C, Doanh nghiệp phải nộp tại ngân hàng
      - Giấy đăng ký kinh doanh


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                    Trang 44
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
     - Tài khoản ngoại tệ tại Ngân hàng ( muốn mở tài khoản phải đóng ít nhất 500
USD vào tài khoản chuẩn bị mở cùng với các giấy tờ sau:
            + Quyết định thành lập Công ty
            + Quyết định bổ nhiệm Giám đốc và Kế toán trưởng
      2. Cách thức mở L/C:
           2.1. Các giấy tờ cần nộp khi đến Ngân hàng để mở L/C
      • Ðối với L/C at sight:
     + Giấy phép nhập khẩu (nếu hàng hoá được quản lý bằng giấy phép)
     + Quota ( đối với hàng quản lý bằng hạn ngạch)
     + Hợp đồng nhập khẩu ( bản sao)
      + Ðơn xin mở L/C at sight ( theo mẫu in sẵn của Ngân hàng). Cơ sở viết đơn là
hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết.
      • Ðối với L/C trả chậm
     + Giấy phép nhập khẩu ( nếu có) hoặc quota nhập
     + Phương án bán hàng để thanh toán nhập khẩu
     + Ðơn xin mở L/C trả chậm (theo mẫu in sẵn của Ngân hàng).Cơ sở viết đơn là
hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết.
     + Ðơn xin bảo lãnh và cam kết trả nợ ( theo mẫu của Ngân hàng)
           2.2. Lưu ý khi làm đơn xin mở L/C
      - Cơ sở viết đơn là hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết nhưng nhà nhập
khẩu có thể thêm một số nội dung có lợi cho mình.
     - Trên đơn phải có chữ ký của Giám đốc và Kế toán trưởng đơn vị nhập khẩu.
Nếu thực hiện nhập khẩu uỷ thác thì trên đơn xin mở L/C phải có đầy đủ 4 chữ ký: chữ
ký của Giám đốc và Kế toán trưởng đơn vị nhập khẩu uỷ thác và chữ ký của Giám đốc
và Kế toán trưởng của đơn vị nhận uỷ thác

     - Ðể tránh L/C phải tu chỉnh nhiều lần mất thời gian và tốn kém, nhà nhập khẩu
có thể fax đơn xin mở L/C đến nhà xuất khẩu xem trước và xin ý kiến.

     - Nhà nhập khẩu nên xem L/C bản gốc và đề nghị tu chỉnh nếu cần để bảo vệ
quyền lợi cho mình

      3. Ký quĩ mở L/C:

           3.1. Cơ sở ký quỹ


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                   Trang 45
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
      Hiện nay các ngân hàng quy định tỷ lệ ký qũy ( 100%; dưới 100% hoặc không
cần ký qũy) đối với doanh nghiệp nhập khẩu căn cứ vào:

           • Uy tín thanh toán của doanh nghiệp

           • Mối quan hệ của doanh nghiệp đối với ngân hàng

           • Số dư ngoại tệ trên tài khoản của doanh nghiệp

           • Công nợ của doanh nghiệp nhập khẩu

           • Tính khả thi trong phương án kinh doanh hàng nhập khẩu của đơn vị
              nhập khẩu

           3.2. Cách thức ký quĩ:

     - Nếu số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng lớn hơn số tiền ký quĩ, ngân hành
sẽ trích từ tài khoản tiền gửi chuyển sang tài khoản ký quĩ. Phòng nhập khẩu trực tiếp
làm phiếu chuyển khoản nội dung ký quĩ mở L/C sau đó sẽ chuyển sang Phòng Kế
toán để thực hiện

     - Nếu số dư tài khoản tiền gửi nhỏ hơn số tiền ký quĩ, giải quyết bằng hai cách sau:

     + Mua ngoại tệ để ký quĩ

     + Vay ngoại tệ để ký quĩ.

      4. Thanh toán phí mở L/C:

     Phí mở L/C tùy theo mức nhà nhập khẩu thực hiện ký quỹ:

     Ví dụ: Tại Vietcombank

     Ký qũi                  Phí mở L/C


     100% trị giá L/C        0,075% trị giá L/C mở


     30 - 50% trị giá L/C    0,1% trị giá L/C mở


     Dưới 30% trị giá L/C 0,15% trị giá L/C mở ( min 5 USD và max 200 USD)


     Miễn ký quĩ             0,2% trị giá L/C mở ( min 5 USD và max 300 USD )


 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                     Trang 46
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
       Khi mở L/C trả chậm: phải có sự bảo lãnh của ngân hàng nên nhà nhập khẩu
phải trả thêm 0,2% - 0,5% cho mỗi quý tùy vào từng mặt hàng nhập khẩu.

II. THỰ C TRẠ NG TRONG THANH TOÁN QUỐ C TẾ TẠ I VIỆ T NAM:

       Ngày nay, hầu hết các Ngân hàng thương mại Việt Nam đều đang cố gắng đa
dạng hóa dịch vụ của mình để cung cấp tốt hơn cho khách hàng. Đối với dịch vụ thanh
toán quốc tế nói chung và dịch vụ thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng, các ngân
hàng đều đang cải tiến công nghệ ngân hàng ngày một hiện đại, nhờ đó, tăng nguồn
vốn phi lãi cho ngân hàng. Thực trạng hiện nay ở các ngân hàng thương mại Việt Nam
là nguồn vốn huy động được ở các ngân hàng thương mại chủ yếu là nguồn vốn huy
động được từ tiền gởi của khách hàng, nguồn thu từ việc cung cấp các dịch vụ vẫn còn
rất hạn chế.
       Tuy nhiên, nỗ lực cố gắng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong dịch
vụ thanh toán quốc tế đáng được ghi nhận. Trong vòng bảy năm trở lại đây, Ngân hàng
Citibank đã tổ chức trao giải thưởng cho các ngân hàng Việt Nam đạt chất lượng xuất
sắc trong lĩnh vực thanh toán quốc tế. Năm 2009, ngày 16 tháng 4 vừa qua, Ngân hàng
Citi đã công bố danh sách các ngân hàng đạt giải thưởng này trong năm nay. Số lượng
ngân hàng đạt giải thưởng về chất lượng cao trong thanh toán quốc tế năm nay là 18
ngân hàng, tăng hơn so với các năm trước. Việc số lượng các ngân hàng trong nước
đoạt giải tăng lên rõ rệt hàng năm là minh chứng rõ ràng nhất về sự tiến bộ vượt bậc về
chuyên môn của các ngân hàng thương mại. Cải tiến chất lượng, đa dạng hóa sản
phẩm dịch vụ là mục tiêu mà các ngân hàng đều hướng đến trong tương lai, nhất là khi
Việt Nam gia nhập WTO, đang trên con đường hội nhập sâu thương mại quốc tế.



III. GIẢI PHÁP HỖ TRỢ VIỆC THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC THANH
TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

      -   Chính phủ Việt Nam thực hiện đúng lộ trình như đã cam kết khi gia nhập
          WTO đồng thời tạo môi trường pháp lý để các ngân hàng thương mại cạnh
          trạnh bình đẳng thực sự với nhau
      -   Nhà nước cần sớm ban hành văn bản xác nhận UCP, URC làm cơ sở pháp
          lý giải quyết tranh chấp phát sinh khi thực hiện phương thức tín dụng chứng
          từ
      -   Rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa đối với cơ quan hải quan
      -   Phát triển các dịch vụ đi kèm của phương thức tín dụng chứng từ. Như đối
          với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Hồ Chí Minh, Ngân hàng
          đã thực hiện đa dạng hóa các dịch vụ thanh toán tín dụng chứng từ như sau:
          Dịch vụ thông báo L/C, sửa đổi LC, Dịch vụ xác nhận L/C, Dịch vụ nhận bộ

 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                     Trang 47
 Đề án nhập môn Tài chính tiền tệ
        chứng từ và thanh toán, Dịch vụ chiết khấu truy đòi, Dịch vụ chiết khấu miễn
        truy đòi, Dịch vụ chuyển nhượng L/C…




 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
                                  Trang 48

Phuong thuc thanh toan quoc te

  • 1.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Chươ ng 1 GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ I. SỰ CẦN THIẾT CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ Một trong bốn xu hướng chính của thế giới ngày nay là xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Nó đang có tác động hết sức mạnh mẽ, chi phối đến tất cả các quốc gia, ở tất cả các lĩnh vực, đặc biết là nền kinh tế của các quốc gia. Nền kinh tế thế giới trở thành một chính thể thống nhất trong đó giữa các quốc gia có mối quan hệ phụ thuộc gắn bó chặt chẽ với nhau, bất kỳ sự việc hiện tượng nào xảy ra ở quốc gia này đều có khả năng ảnh hưởng đến quốc gia khác. Trong bối cảnh đó, chiến lược mở cửa nền kinh tế ở các quốc gia là điều tất nhiên, từ đó quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật…giữa các nước ngày càng phát triển. Trong quá trình thực hiện các quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật…sẽ phát sinh nhu cầu chi trả, thanh toán tiền tệ giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau. Việc thực hiện nhu cầu chi trả, thanh toán đó gọi là thanh toán quốc tế. Như vậy thanh toán quốc tế là một cách thức hết sức quan trọng và cần thiết để tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế. II. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ 1. Khái niệm Trong ngoại thương, việc thanh toán giữa các nhà xuất khẩu và các nhà nhập khẩu thuộc hai quốc gia khác nhau phải được tiến hành thông qua ngân hàng bằng những phương thức thanh toán nhất định. Phương thức thanh toán quốc tế là cách thức thực hiện chi trả một hợp đồng xuất nhập khẩu thông qua trung gian ngân hàng bằng cách trích tiền từ tài khoản của người nhập khẩu chuyển vào tài khoản của người xuất khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại và chứng từ do hai bên cung cấp cho ngân hàng. Việc lựa chọn phương thức thanh toán quốc tế nào tùy thuộc vào sự thương lượng giữa hai bên và phù hợp với tập quán cũng như luật lệ trong thanh toán và buôn bán quốc tế. Ngày nay, người ta thường sử dụng các phương thức thanh toán như phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu với hai hình thức nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ, và phương thức tín dụng chứng từ.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 1
  • 2.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ 2. Vai trò của thanh toán quốc tế - Trong thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng kết thúc quá trình lưu thông hàng hóa. Do vậy quá trình thanh toán quốc tế nếu được thực hiện tốt sẽ có tác dụng khuyến khích các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu mở rộng quy mô hoạt động, gia tăng quan hệ giao dịch thương mại giữa các nước với nhau. - Thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế tốt vừa góp phần thực hiện tốt chế độ quản lỳ ngoại hối, chính sách ngoại thương, vừa góp phần nâng cao uy tín của quốc gia trên trương quốc tế, Từ đó, việc phát triển các mối quan hệ đối ngoại sẽ thuận lợi hơn. - Đối với hệ thống ngân hàng, với vai trò là trung gian thanh toán trong các giao dịch thanh toán quốc tế, các ngân hàng còn có thể tư vấn cho khách hàng để giảm bớt rủi ro, bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia trong quá trình thanh toán dựa trên cơ sở sự ủy thác của các chủ thể này. Từ đó, làm phát sinh thu nhập và tạo điều kiện mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao uy tín cho ngân hàng trên thường trường quốc tế.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 2
  • 3.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Chương 2 PHƯƠNG THỨC NHỜ THU VÀ PHƯƠNG THỨC CHUYỂN TIỀN I. PHƯƠ NG THỨ C CHUYỂ N TIỀ N 1. Khái niệm phương thức chuyển tiền 1.1. Khái niệm Chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó một khách hàng của ngân hàng (gọi là người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng ở một địa điểm nhất định. 1.2. Các bên tham gia - Người chuyển tiền – là người mua, người nhập khẩu, hay người mắc nợ. - Ngân hàng chuyển tiền – là ngân hàng phục vụ cho người chuyển tiền. - Ngân hàng đại lý – là ngân hàng phục vụ cho người thụ hưởng và có quan hệ đại lý với ngân hàng chuyển tiền. - Người thụ hưởng – là người bán, người xuất khẩu hay là chủ nợ. 2. Phương thức chuyển tiền trả sau 2.1. Khái niệm chuyển tiền trả sau Trong thực tế, người ta có thể thực hiện chuyển tiền theo một trong hai hình thức: chuyển tiền trả sau và chuyển tiền trả trước. Chuyển tiền trả sau là hình thức chuyển tiền trả cho người xuất khẩu sau khi nhận hàng. 2.2. Nội dung và quy trình thực hiện Ngân hàng chuyển tiền Ngân hàng đại lý (3) (5) (4) (2) Người nhập khẩu (1) Người xuất khẩu Giải thích quy trình: (1) Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hành hóa cho người nhập khẩu.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 3
  • 4.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ (2) Người nhập khẩu lập lệnh chuyển tiền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển tiền cho người thụ hưởng. (3) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu chuyển tiền cho người thụ hưởng thông qua ngân hàng đại lý. (4) Ngân hàng đại lý ghi có và báo có cho người xuất khẩu. (5) Ngân hàng chuyển tiền báo nợ cho người nhập khẩu. Như vậy mỗi bên chỉ thực hiện một số khâu nhất định trong quy trình thanh toán. Ví dụ như: Người xuất khẩu: thực hiện giao hàng cho người nhập khẩu, tức là đưa hàng từ kho đến phương tiện vận tải để chuyển đến cảng của người nhập khẩu, trong khi bộ chứng từ hàng hóa thì chuyển trực tiếp cho người nhập khẩu, sau đó họ chỉ còn chờ người nhập khẩu chuyển tiền đến cho mình. Người nhập khẩu: sau khi nhận hàng chuyển đến sẽ lập lệnh chuyển tiền gởi đến cho ngân hàng phục vụ mình, để yêu cầu ngân hàng này chuyển tiền cho người xuất khẩu, căn cứ vào thông tin được chỉ ra trên lệnh chuyển tiền. Nếu người xuất khẩu gặp khó khăn về tài chính hay thiếu thiện chí trong thanh toán có thể dẫn đến tình trạng chậm lập lệnh chuyển tiền để chuyển tiền thanh toán cho người xuất khẩu. Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu đóng vai trò trung gian thực hiện khâu chuyển tiền theo đề nghị của người nhập khẩu. Khi nhận được lệnh chuyển tiền của người nhập khẩu gởi vào, ngân hàng kiểm tra nếu thấy chứng từ hợp lệ và tài khoản của người nhập khẩu có đủ tiền sẽ tiền hành ghi nợ tài khoản người nhập khẩu và làm thủ tục chuyển tiền, để ngân hàng bên người xuất khẩu ghi có cho người xuất khẩu, sau đó ngân hàng chuyển tiền sẽ gởi thông báo nợ cho người nhập khẩu. Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu đóng vai trò trung gian và là người kết thúc quy trình chuyển tiền bằng cách ghi có tài khoản người xuất khẩu, sau khi nhận được chuyển tiền từ phía ngân hàng chuyển tiền và quy trình chuyển tiền xem như kết thúc. 2.3. Ưu và nhược điểm của phương thức Trong quy trình thực hiện chuyển tiền, vì lý do gì đó có thể khiến người nhập khẩu chậm lập lệnh chuyển tiền gởi cho ngân hàng thì người xuất khẩu sẽ chậm nhận được tiền thanh toán mặc dù hàng hóa đã được chuyển đi và người nhập khẩu đã có thể nhận được và sử dụng hàng hóa. Trong trường hợp này, người xuất khẩu bị thiệt  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 4
  • 5.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ hại, trong khi ngân hàng không có nhiệm vụ và cách thức gì để đôn đốc người nhập khẩu nhanh chóng chuyển tiền chi trả nhằm đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu. 3. Phương thức chuyển tiền trả trước 3.1. Khái niệm chuyển tiền trả trước Là hình thức chuyển tiền tương tự như chuyển tiền trả sau chỉ khác ở chỗ người nhập khẩu lập lệnh chuyển tiền và do đó, người xuất khẩu nhận được tiền trước khi giao hàng. 3.2. Nội dung và quy trình thực hiện NH chuyển tiền NH đại lý (2) (1) (5) (3) (4) Người nhập khẩu Người xuất khẩu Sơ đồ 12.2: Quy trình thực hiện phương thức chuyển tiền trả trước. (1) Người nhập khầu lập lệnh chuyển tiền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển tiền cho người thụ hưởng. (2) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu chuyển tiền cho người thụ hưởng thông qua ngân hàng đại lý. (3) Ngân hàng đại lý ghi có và báo có cho người xuất khẩu. (4) Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ cho người nhập khẩu để họ có thể nhận hàng. (5) Ngân hàng chuyển tiền, sau ghi nợ, báo nợ cho người nhập khẩu. 3.3. Ưu nhược điểm của phương thức Với hình thức chuyển tiền này người xuất khẩu đã nhận được tiền trước khi giao hàng nên không sợ bị thiệt hại do chậm trả hay bị người nhập khẩu chiếm dụng hàng hóa. Tuy nhiên, hình thức này lại bất lợi cho người nhập khẩu vì người nhập khẩu đã chuyển tiền đi thanh toán rồi nhưng chưa nhận được hàng và đang trong và đang trong tình trạng chờ người xuất khẩu giao hàng. Nếu vì lý do gì khiến người xuất khẩu chậm trễ giao hàng, người nhập khẩu sẽ bị thiệt do nhận hàng trễ. 4. Nhận xét về phương thức chuyển tiền:  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 5
  • 6.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ - Trong phương thức thanh toán chuyển tiền ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thực hiện việc chuyển tiền và nhận hoa hồng chứ không bị ràng buộc gì cả. - Việc giao hàng của bên xuất khẩu và trả tiền của bên nhập khẩu hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí của mỗi bên. Vì vậy quyền lợi của người xuất khẩu khó đảm bảo nếu sử dụng hình thức chuyển tiền trả sau. Trái lại quyền lợi của nhà nhập khẩu khó đảm bảo nếu sử dụng hình thức chuyển tiền trả trước. - Phương thức này có ưu điểm là thủ tục thanh toán đơn giản, thời gian thanh toán nhanh chóng. - Người xuất khẩu và nhập khẩu chỉ nên dùng phương thức này trong trường hợp hai bên mua bán có quan hệ lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hau khi trị giá hợp đồng không lớn lắm. - Khi phát sinh mâu thuẫn quyền lợi hoặc thiếu tín nhiệm lẫn nhau, trong thương lượng hai bên nên sử dụng phương thức thanh toán khác thích hợp hơn. Phương thức chuyển tiền thường ít được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Người ta thường áp dụng phương thức thanh toán này trong khoản thanh toán tương đối nhỏ như thanh toán các chi phí liên quan đến xuất nhập khẩu bao gồm chi phí vận chuyển bao hiểm, bồi thường thiệt hại, hoặc dùng trong thanh toán phi mậu dịch, chuyển vốn, chuyển lợi nhuận đầu tư về nước… Các phương thức thanh toán khác có thể bổ sung cho những nhược điểm cảu phương thức chuyển tiền có thể là phương thức nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ. II. PHƯƠNG THỨC NHỜ THU 1. Khái niệm chung về phương thức nhờ thu 1.1. Khái niệm chung Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ tiến hành ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người nhập khẩu dựa trên cơ sở hối phiếu và chứng từ do người xuất khẩu lập ra. 1.2. Các bên tham gia - Người ủy nhiệm thu (Principal): là bên ủy quyền xử lý nghiệp vụ nhờ thu cho ngân hàng, Người ủy nhiệm thu chính là người xuất khẩu. - Ngân hàng thu hộ (Collecting bank): là ngân hàng xuất trình chứng từ cho người trả tiền, thường là ngân hàng đại lý cho ngân hàng thu hộ. - Người trả tiền (Drawee): là người được xuất trình chứng từ theo đúng chỉ thị nhờ thu. Người trả tiền chính là người nhập khẩu 2. Phương thức nhờ thu hối phiếu trơn  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 6
  • 7.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Hai loại hối phiếu có thể sử dụng trong phương thức nhờ thu là hối phiếu trơn và hối phiếu kèm chứng từ. Vì vậy, có hai phương thức nhờ thu tương ứng với hai loại hối phiếu đó. 2.1. Khái niệm phương thức nhờ thu trơn Nhờ thu hối phiếu trơn là phương thức nhờ thu trong đó người xuất khẩu ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra còn chứng từ hàng hóa thì gởi thẳng cho người nhập khẩu, không gởi cho ngân hàng. 2.2. Nội dung và quy trình thực hiện Người xuất khẩu (1) Người nhập khẩu (2) (7) (5) (4) (6) Ngân hàng phục vụ Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu người nhập khẩu (3) Quy trình thực hiện: (1) Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hàng hóa cho người nhập khẩu. (2) Người xuất khẩu lập chỉ thị nhờ thu và hối phiếu nộp vào ngân hàng để ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu. (3) Ngân hàng nhận ủy thác chuyển chỉ thị nhờ thu và hối phiếu cho ngân hàng đại lý để thông báo cho người nhập khẩu biết. (4) Ngân hàng đại lỳ chuyển hối phiếu cho người nhập khẩu để yêu cầu chấp nhận hay thanh toán. Nếu hợp đồng thỏa thuận điều kiện thanh toán D/A (document against acceptance) người nhập khẩu chỉ cần chấp nhận thanh toán, nếu là D/P (Document against Payment) người nhập khẩu phải trả tiền ngay cho người xuất khẩu. (5) Người xuất khẩu thông báo đồng ý trả tiền hay từ chối thanh toán. (6) Ngân hàng đại lý trích tiền từ tài khoản của người nhập khẩu chuyển sang ngân hàng ủy thác thu để ghi có cho người xuất khẩu trong trường hợp người nhập khẩu đồng ý trả tiền hoặc thông báo cho ngân hàng ủy thác thu biết trong trường hợp người nhập khẩu từ chối trả tiền. (7) Ngân hàng ủy thác thu ghi có và báo có cho người xuất khẩu hoặc thông báo cho người xuất khẩu biết việc người nhập khẩu từ chối trả tiền.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 7
  • 8.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ 2.3. Ưu nhược điểm của phương thức Qua toàn bộ quy trình thực hiện nhờ thu trơn, chúng ta thấy rằng trong phương thức nhờ thu hối phiếu trơn ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian trong thanh toán bởi vì bộ chứng từ hàng hóa đã giao cho người nhập khẩu nên ngân hàng đại lý không thể khống chế người nhập khẩu được. Ngân hàng không có cam kết hay đảm bảo gì đối với người xuất khẩu và người nhập khẩu mà chỉ đơn thuần là hành xử theo những chỉ dẫn mà người xuất khẩu thể hiện trên chỉ thị nhờ thu và hối phiếu. Phương thức này chỉ bổ sung cho phương thức chuyển tiền trả sau là người xuất khẩu có thể chủ động đòi tiền sau khi giao hàng. Tuy nhiên, có đòi được tiền hay không còn tùy thuộc vào thiện chí và khả năng của người nhập khẩu. Vì vậy, người xuất khẩu chỉ nên áp dụng phương thức này trong trường hợp có quan hệ lâu đời và tín nhiệm người nhập khẩu. 3. Phương thức nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ 3.1. Khái niệm phương thức nhờ thu kèm chứng từ Nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ hay còn gọi là nhờ thu kèm chứng từ ra đời nhằm bổ sung nhược điểm của phương thức nhờ thu trơn để bảo vệ quyền lợi của người xuất khẩu. Nhờ thu hối phiếu kèm chứng từ là phương thức nhờ thu trong đó người xuất khẩu sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng dịch vụ tiến hành ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền ở người nhập khẩu không chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa gởi kèm theo với điều kiện nếu người nhập khẩu thanh toán hoặc chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ cho người nhập khẩu nhận hàng hóa. 3.2. Nội dung và quy trình thực hiện (3) Ngân hàng nhận ủy thác Ngân hàng đại lý thu (7) (2) (8) (6) (5) (4) Người xuất khẩu Người nhập khẩu (1) Quy trình thực hiện (1) Người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu nhưng không giao bộ chứng từ hàng hóa.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 8
  • 9.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ (2) Người xuất khẩu gởi chỉ thị nhờ thu, hối phiếu và bộ chứng từ hàng hóa đến ngân hàng nhận ủy thác để nhờ thu hộ tiền ở người nhập khẩu. (3) Ngân hàng nhận ủy thác chuyển chỉ thị nhờ thu, hối phiếu và bộ chứng từ hàng hóa sang ngân hàng đại lý để thông báo cho người nhập khẩu. (4) Ngân hàng đại lý chuyển hối phiếu đến người nhập khẩu yêu cầu trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. (5) Người nhập khẩu trả tiền trong trường hợp D/P hay ký chấp nhận trả tiền trong trường hợp D/A. (6) Ngân hàng đại lý trao bộ chứng từ hàng hóa để người người nhập khẩu nhận hàng. (7) Ngân hàng đại lý trích tài khoản người nhập khẩu chuyển tiền sang ngân hàng nhận ủy thác thu để ghi có cho người xuất khẩu hoặc là thông báo việc từ chối trả tiền của người nhập khẩu. (8) Ngân hàng nhận ủy thác báo có hoặc là thông báo việc từ chối trả tiền cho người xuất khẩu. Như vậy, nhờ thu kèm chứng từ khác với nhờ thu trơn ở điểm: thứ nhất, người xuất khẩu không chuyển bộ chứng từ hàng hóa trực tiếp cho người nhập khẩu mà chỉ giao hàng cho người nhập khẩu còn bộ chứng từ hàng hóa gởi cho ngân hàng kèm với hối phiếu và chỉ thị nhờ thu. Ở khâu thứ hai, khi nộp chỉ thị nhờ thu và hối phiếu vào ngân hàng người xuất khẩu có kèm theo bộ chứng từ hàng hóa. Ở khâu thứ tư, khi xuất trình hối phiếu đòi tiền người nhập khẩu ngân hàng không trao bộ chứng từ mà giữ vộ chứng từ để khống chế và yêu cầu người nhập khẩu, hoặc là trả tiền ngay nếu hối phiếu ghi trả tiền theo điều kiện D/P, hoặc là chấp nhận thanh toán nếu hối phiếu ghi trả tiền theo điều kiện D/A. 3.3 Ưu nhược điểm của phương thức - Người xuất khẩu ngoài việc ủy thác cho ngân hàng thu tiền còn nhờ ngân hàng thông qua việc khống chế bộ chứng từ hàng hóa để buộc người nhập khẩu phải trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nhờ vậy phương thức này đảm bảo khả năng thu tiền hơn phương thức chuyển tiền trả sau và nhờ thu hối phiếu trơn. - Nhưng như vậy mới chỉ khống chế được hàng hóa đối với người nhập khẩu, chưa chắc khống chế được việc trả tiền đối với người nhập khẩu, chẳng hạn như trong trường hợp thị trường biến động bất lợi cho người nhập khẩu, họ không thiết tha với việc nhận hàng nên sẽ kéo dài thời gian thanh toán và gây áp lực đối với người xuất khẩu. Lúc này, người xuất khẩu rơi vào trạng thái bị động, nếu chậm giải phóng tàu sẽ chịu phạt với đại lý vận tải, hoặc chịu thêm tiền thuê kho bãi để giữ hàng hóa hoặc nếu chở hàng về sẽ tốn thêm tiền vận chuyển, hoặc là bị người nhập khẩu ép giá. Để tránh  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 9
  • 10.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ tình huống như vậy, hai bên có thể thương lượng với nhau nên sử dụng phương thức tín dụng chứng từ.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 10
  • 11.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Chương 3 PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ I. KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. Khái niệm Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán mà trong đó ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu (ngân hàng mở thư tín dụng) dựa theo yêu cầu của người này (người đề nghị mở thư tín dụng) để nhà nhập khẩu nhập hàng hóa. Thư tín dụng (letter of credit – L/C) cam kết trả một số tiền nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi) hoặc trả theo lệnh của người này, hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó với điều kiện người xuất khẩu xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản, điều kiện đã ghi trong L/C. Cở sở để mở L/C là hợp đồng ngoại thương, hoặc thư chào hàng còn trong thời hạn hiệu lực, hoặc thư hỏi hàng còn trong thời hạn hiệu lực đã được bên xuất khẩu xác nhận. Nhưng một khi L/C được mở thì nó hoàn toàn độc lập với cơ sở để mở nó, và nó là cơ sở pháp lý cao nhất nếu có tranh chấp xảy ra. 2. Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ - Người xin mở L/C (Applicant): thông thường là người mua hay là tổ chức nhập khẩu. - Người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán hay là người xuất khẩu hàng hóa. - Ngân hàng mở hay ngân hàng phát hành thư tín dụng (The issuing bank): là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ở bên nước nhập khẩu, cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và là ngân hàng thường được hai bên nhập khẩu và xuất khẩu thỏa thuận, lựa chọn và được quy định trong hợp đồng thương mại. Nếu chưa có sự quy định trước người nhập khẩu có quyền lựa chọn. - Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The advising bank): là ngân hàng phục vụ người xuất khẩu, thông báo cho người xuất khẩu biết thư tín dụng đã mở. Ngân hàng này thường ở nước người xuất khẩu và có thể là ngân hàng chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng phát hành thư tín dụng. Ngoài ra còn có thể có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh toán này, bao gồm: - Ngân hàng xác nhận (The confirming bank): là ngân hàng xác nhận trách nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng mở thư tín dụng, bảo đảm việc trả tiền cho người  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 11
  • 12.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán. Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo thư tín dụng hay là một ngân hàng khác do người xuất khẩu yêu cầu, thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế. - Ngân hàng thanh toán (The paying bank): có thể là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc có thể là ngân hàng khác được ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình thanh toán trả tiền hay chiết khấu hối phiếu cho người xuất khẩu. - Ngân hàng thương lượng (The negotiating bank): là ngân hàng đứng ra thương lượng bộ chứng từ hàng hóa và thường cũng là Ngân hàng thông báo L/C. Trường hợp L/C quy định thương lượng tự do thì bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể là ngân hàng thương lượng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp L/C quy định thương lượng tại một ngân hàng nhất định. - Ngân hàng chuyển nhượng (The transfering bank), ngân hàng chỉ định (The nominated bank), ngân hàng hoàn trả (The reimbursing bank), ngân hàng đòi tiền (The claiming bank), ngân hàng chấp nhận (The accepting bank), ngân hàng chuyển chứng từ (The remitting bank). Tất cả được giao trách nhiệm cụ thể trong thư tín dụng. 3. Nội dung của phương thức (3) Ngân hàng thông Ngân hàng mở L/C (7) báo L/C (8) (2) (11) (10) (9) (6) (4) (5) Người nhập khẩu Người xuất khẩu (1) Sơ đồ: Quy trình thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (1) Hai bên xuất khẩu và nhập ký kết hợp đồng thương mại. (2) Người xuất khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C mở L/C cho người xuất khẩu thụ hưởng. (3) Ngân hàng mở L/C mở L/C theo yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển L/ C sang ngân hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết. (4) Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở. (5) Dựa vào nội dung của L/C, người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 12
  • 13.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ (6) Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ hàng hóa thanh toán gởi và ngân hàng thông báo để được thanh toán. (7) Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang để ngân hàng mở L/C xem xét trả tiền. (8) Ngân hàng mở L/C sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp thì trích tiền chuyển sang ngân hàng thông báo để ghi có cho người thụ hưởng. Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán. (9) Ngân hàng thông báo ghi có và báo có cho người xuất khẩu. (10)Ngân hàng mở L/C trích tài khoản và báo nợ cho người nhập khẩu. (11)Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao bộ chứng từ để người nhập khẩu có thể nhận hàng. 3. Ưu nhược điểm của phương thức này - Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán sòng phẳng đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu. Bên xuất khẩu được ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền còn bên nhập khẩu nhận đầy đủ, kịp thời và chính xác hàng hóa đặt mua trước khi trả tiền. Trong phương thức này, ngân hàng đóng vai trò chủ động trong thanh toán chứ không chỉ làm trung gian đơn thuần. - Tuy nhiên, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ chỉ có thể sử dụng trong quan hệ hanh toán mậu dịch còn trong thanh toán phi mậu dịch thì vẫn phải dùng phương thức chuyển tiền hoặc nhờ thu. II. KHÁI QUÁT VỀ L/C – PHÂN LOẠI L/C THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Thư tín dụng 1.1. Khái niệm L/C hay còn gọi là thư tín dụng là một văn bản do Ngân hàng mở L/C lập ra theo yêu cầu của nhà nhập khẩu (người xin mở thư tín dụng) nhằm cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu (người hưởng lợi) một số tiền nhất định, trong một thời gian nhất định với điều kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong văn bản đó. 1.2. Nội dung cơ bản của thư tín dụng Thư tín dụng chứa đựng những nội dung cơ bản sau đây: (1) Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C : - Số hiệu của L/C – tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng của nó, để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện L/C. Số hiệu của L/C còn được dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan trong bộ chứng từ thanh toán của L/C, đặc biệt là tham chiếu khi lập hối phiếu đòi tiền.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 13
  • 14.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ - Địa điểm mở L/C – là nơi ngân hàng mở lc– là nơi ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người hưởng lợi, có liên quan tới việc tham chiếu luật lệ áp dụng giải quyết mâu thuẫn hay bất đồng xảy ra nếu có. - Ngày mở L/C – là ngày bắt đầu phát sinh và có hiệu lực về sự cam kết của ngân hàng mở L/C đối với người thụ hưởng. Ngày mở L/C còn có ý nghĩa như là ngày ngân hàng mở L/C chính thức chấp nhận đơn xin mở L/C của người nhập khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cũng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu có thực hiện việc mở L/C đúng thời hạn nhự trong trường hợp đồng không. (2) Loại thư tín dụng: Mỗi loại L/C đều có tính chất, nội dung khác nhau, quyền lợi và nghĩa vụ của những người có liên quan tới thư tín dụng cũng rất khác nhau. Do đó, khi mở thư tín dụng, người có nhu cầu cần phải xác định cụ thể loại thư tín dụng nào cần mở. (3)Tên, địa chỉ của những người liên quan: Những người liên quan đến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bao gồm người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi L/C, ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo L/C cần được chỉ rõ ràng tên và địa chỉ trong thư tín dụng. (4)Số tiền của thư tín dụng: Số tiền của thư tín dụng là một nội dung rất quan trọng. Vì vậy, việc quy định của nó trong L/C cũng rất chặt chẽ, thể hiện qua số tiền trong L/C phải được ghi vừa bằng sô, vừa bằng chữ và phải thống nhất với nhau. Tên đơn vị tiền tệ phải cụ thể, rõ ràng, không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt đối, như vậy có thể có khó khăn trong việc giao hàng và nhận tiền của bên bán, tốt nhất là nên dựa vào cách ghi số lượng để mà ghi số tiền cho hợp lý, chính xác, có thể cho phép dung sai đến 10%. (5) Thời hạn hiệu lực của L/C: thời hạn hiệu lực là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán trong tời hạn đó và phù hợp với những điều đã quy định trong L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C. Thời hạn hiệu lực quá dài thì người nhập khẩu bị đọng vốn, người xuất khẩu có lợi hơn và có thời gian rộng rãi hơn cho việc lập và xuất trình chứng từ thanh toán. Ngược lại thời gian hiệu lực quá ngắn thì tránh ứ đọng vốn cho người nhập khẩu nhưng lại gây khó khăn cho người xuất khẩu vì thời gian quá eo hẹp. Vì vậy cần phải xác định một thời gian hiệu lực của L/C hợp lý để tránh ứ đọng vốn cho người nhập khẩu vừa không gây khó khăn cho người xuất khẩu. Việc xác định này cần thỏa mãn những nguyên tắc như sau:  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 14
  • 15.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ - Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và không được trùng với ngày hết hạn hiệu lực của L/C. - Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, không được trùng với ngày giao hàng. Thời gian hợp lý này được tính tối thiểu bằng tổng số của số ngày cần phải có để thông báo mở L/C, số ngày lưu L/C ở ngân hàng thông báo, số ngày chuẩn bị hàng để giao cho người nhập khẩu. Nếu thời điểm giao hàng vào mùa ẩm ướt thì số ngày chuẩn bị hàng giao phải nhiều hơn… - Ngày hết hạn hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý. (6) Thời hạn trả tiền của L/C: Thời hạn trả tiền của L/C có liên quan đến việc trả tiền ngay hay trả tiền về sau, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào hợp đồng. Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng nếu trả tiền ngay, hoặc có thể nằm ngoài thời hạn hiệu lực của thư tín dụng nếu trả tiền có thời hạn. (7) Thời hạn giao hàng: Thời hạn giao hàng được ghi trong thư tín dụng do hợp đồng thương mại quy định. Đây là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao hàng cho bên mua kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực. Thời hạn giao hàng có liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của thư tín dụng. Nếu hai bên thỏa thuận kéo dài thời hạn giao hàng một số ngày thì đương nhiên ngân hàng mở thư tín dụng cũng phải hiểu rằng thời hạn hiệu lực của thư tín dụng cũng được kéo dài thêm một số ngày tương ứng. (8) Điều khoản về hàng hóa: là điều khoản chỉ ra những quy định có liên quan đến hàng hóa, bao gồm tên hàng, số lượng và trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký hiệu… (9) Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa: Điều kiện, cơ sở giao hàng (FOB, CIF, C&F…), nơi gởi hàng, nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng…cũng được ghi vào L/C. Thông thường điều kiện giao hàng tùy thuộc vào khả năng cung ứng hàng của người xuất khẩu, khả năng nhận hàng của người nhập khẩu, khả năng vận chuyển của phương tiện vận tải, hàng hóa phải được giao trên boong tàu. Nếu nhận thấy những điều kiện giao hàng ghi trong L/C không thể thực hiện được thì người xuất khẩu có thể điều chỉnh L/C. (10) Các chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình. Yêu cầu về việc ký phát và xuất trình các loại chứng từ cần phải được nêu rõ ràng, cụ thể và chặt chẽ trong L/C. Các yêu cầu này xuất phát từ đặc điểm của hàng hóa, của phương thức vận tải, của công tác thanh toán và tín dụng, của tính chất hợp đồng và các nguồn pháp lý có liên quan đến việc thực hiện hoạt động đó.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 15
  • 16.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ (11) Cam kết trả tiền của ngân hàng mở thư tín dụng: Cam kết của ngân hàng mở L/C là nội dung cuối cùng của L/C và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C đối với L/C này. (12)Những điều kiện đặc biệt khác: Các điều kiện khác như phí ngân hàng được tính cho bên nào, điều kiện đặc biệt hướng dẫn đối với ngân hàng chiết khấu, dẫn chiếu số UCP áp dụng… (13)Chữ ký của ngân hàng mở L/C: L/C thực chất là một khế ước dân sự, do vậy người mở L/C cũng phải là người có năng lực hành vi, năng lực pháp lý để than gia và thực hiện một quan hệ dân luật. Nếu gởi bằng telex, swift thì phải căn cứ vào mã khóa của L/C. 2. Phân loại thư tín dụng thương mại •Thư tín dụng có thể hủy ngang (Revocable L/C ) Là một L/C mà người mở L/C và tổ chức nhập khẩu có thể sủa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C. Loại thư tín dụng được hủy ngang ít được sử dụng, bởi vì loại L/C này chỉ là lời hứa trả tiền chứ không phải là sự cam kết. •Thư tín dụng không thể hủy ngang (irrevocable letter of credit) Là một lại thư tín dụng mà ngân hàng mở L/C phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu trong thời gian hiệu lực của L/C, không có quyền đơn phương tự ý sửa đổi hay hủy bỏ thư tín dụng đó. Loại L/C không thể hủy bỏ này bảo đảm quyền lợi cho bên xuất khẩu và hiện nay đang được sử dụng rất phổ biến. Nếu L/ C không ghi rõ ràng là hủy hay không được hủy bỏ thì nó là không thể hủy bỏ. •Thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận (confirmed irrevocable letter of credit): Là loại thư tín dụng không hủy ngang và được một Ngân hàng khác uy tín hơn đứng ra bảo đảm việc trả tiền theo thư tín dụng đó cùng với Ngân hàng mở L/C. Điều đó có nghĩa là Ngân hàng xác nhận chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho người xuất khẩu, nếu như Ngân hàng mở thư tín dụng không trả tiền được. Do đó quyền lợi của tổ chức xuất khẩu được bảo đảm hơn. Trong L/C này trách nhiệm của ngân hàng xác nhận nặng hơn Ngân hàng mở L/C, cho nên có khi Ngân hàng xác nhận yêu cầu Ngân hàng mở L/C phải ký quỹ trước và phải trả thủ tục phí cho Ngân hàng xác nhận thương rất cao. Thông thường, Ngân hàng mở L/C sẽ nhờ Ngân hàng thông báo đóng luôn vai trò của Ngân hàng xác nhận. •Thư tín dụng không thể hủy ngang và không được truy đòi lại tiền (Irrevocable without recourse letter of credit).  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 16
  • 17.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Là loại L/C không thể hủy bỏ trong đó quy định Ngân hàng mở L/C sau khi đã thanh toán cho tổ chức xuất khẩu thì không được quyền truy đòi lại tiền với bất cứ trường hợp nào. Khi sử dụng lại L/C này tổ chức xuất khẩu khi ký phát hối phiếu phải ghi câu “không được truy đòi lại tiền người ký phát”. •Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving letter of credit). Là loại L/C không thể hủy bỏ trong đó quy định rằng khi L/C sử dụng hết kim ngạch hoặc là sau khi hết hạn hiệu lực của L/C thì nó lại tự động có giá trị như cũ và cứ như vậy L/C tuần hoàn này được áp dụng trong trường hợp hai bên xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán không thay đổi. Khi đó, tổ chức nhập khẩu có lợi là không bị đọng vốn và giảm được phí tổn do việc mở L/C. •Thư tín dụng giáp lưng (Back to back letter of credit) Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ, được mở ra căn cứ vào một L/C khác làm bảo đảm, theo L/C này tổ chức xuất khẩu căn cứ vào thư tín dụng của người nhập khẩu mở, yêu cầu ngân hàng mở một thư tín dụng khác cho tổ chức xuất khẩu khác hưởng. Thư tín dụng giáp lưng được sử dụng trong những trường hợp: - L/C gốc không cho phép chuyển nhượng. - Khi các chứng từ cần có theo L/C gốc không trùng hợp với các chứng từ của L/C thứ hai. - Khi người trung gian muốn bí mật một số thông tin Khi áp dụng L/C giáp lưng cần phải thỏa mãn những điều kiện sau: - Hai thư tín dụng giáp lưng phải thông qua một Ngân hàng trực tiếp phục vụ tổ chức xuất khẩu. - Số tiền của L/C thứ nhất phải lớn hơn hoặc bằng kim ngach L/C thứ hai (L/ C giáp lưng). Tổ chức xuất nhập khẩu trung gian hưởng chênh lệch này. - L/C thứ nhất (L/C gốc) phải được mở sớm hơn Ngân hàng thứ hai. •Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C ) Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ trong đó quy định nó chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C khác đối ứng với nó được mở ra. Điều đó có nghĩa là tổ chức xuất khẩu khi nhận được L/C do tổ chức nhập khẩu mở thì phải mở lại L/C tương ứng thì nó mới có giá trị.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 17
  • 18.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Loại L/C đối ứng được sử dụng khi giữa hai bên xuất nhập khẩu có quan hệ thanh toán trên cơ sở mua bán hàng đổi hàng hoặc gia công. Nếu trong gia công, thì L/ C để nhập thành phẩm sẽ là L/C trả ngay, L/C nhập nguyên liệu là L/C trả chậm. •Thư tín dụng thanh toán chậm (Deferred payment L/C ) Là loại L/C không hủy bỏ trong đó quy định ngân hàng mở L/C hay Ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán toàn bộ số tiền L/C vào thời hạn cụ thể ghi trên L/C sau khi nhận được chứng từ và không cần có hối phiếu. Ví dụm nếu thời hạn thanh toán ghi: “90 days after Bill of Lading date” thì được gọi là thư tín dụng thanh toán chậm. •Thư tín dụng với điều khoản đỏ (Red clause L/C ) Là loại thư tín dụng có điều khoản đặc biệt, trước đây được ghi bằng mực đỏ ở điều khoản đặc biệt này, thông thường là quy định người mở L/C cho phép tổ chức xuất khẩu được quyền tháo khoán trước một số tiền nhất định trước khi giao hàng, vì thế loại thư tín dụng này còn được gọi là thư tín dụng trước. •Thư tín dụng dự phòng (Stand – by L/C ) Để đảm bảo quyền lợi cho đơn vị nhập khẩu trong trường hợp đơn vị xuất khẩu không giao hàng đúng hợp đồng, đơn vị nhập khẩu yêu cầu đơn vị xuất khẩu mở một thư tín dụng dự phòng trong đó quy định rằng nếu đơn vị xuất khẩu không thực hiện hợp đồng, Ngân hang mở thư tín dụng dự phòng sẽ thanh toán tiền đền bù thiệt hại cho đơn vị nhập khẩu theo quy định của UCP 600. •Thư tín dụng có điều khoản T/TR (Telegraphic transfer reimbursement) Là loại thư tín dụng thông thường nhưng trong thư có quy định: cho phép Ngân hàng phục vụ người hưởng lơi sau khi kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ, phù hợp với những điều kiện đã quy định trong L/C thì được phép điện đòi tiền Ngân hàng mở L/C hay một Ngân hàng chỉ định trong thư tín dụng. Nó được áp dụng trong trường hợp hai Ngân hàng có quan hệ thân tín lẫn nhau. •Thư tín dụng có thể chuyển nhượng được (Irrevocable transferable L/C ) Là loại L/C không thể hủy ngang, trong đó quy định quyền được chuyển nhượng một phần hay toàn bộ giá trị L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên. Tuy nhiên việc chuyển nhượng chỉ được phép tiến hành một lần, dó đó nó không thể được chuyển nhượng theo yêu cầu của người hưởng lợi thứ hai cho bất kỳ người hưởng lợi thứ ba hay thứ tư nào khác, nghĩa là chỉ cho phép tái chuyển nhượng cho người thứ nhất trừ khi trong L/C có quy định không hạn chế chuyển  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 18
  • 19.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ nhượng. Trong trường hợp người thứ hai không giao hàng hoặc không giao đúng hàng hay chứng từ không hợp lệ thì người hưởng lợi thứ nhất phải chịu trách nhiệm về phía bên xuất khẩu theo hợp đồng đã ký. Chi phí chuyển nhượng do người hưởng lợi đầu tiên thanh toán. L/C này được sử dụng khi mua hàng qua các đại lý, mua hàng qua trung gian, hàng so các công ty con giao, chi nhánh giao nhưng công ty mẹ là người hưởng lợi. Sơ đồ minh họa về một L/C chuyển nhượng:  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 19
  • 20.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ (5) Nhập khẩu Trung gian Xuất khẩu Việt Nam Hàn Quốc Indonesia (9) (1) (2) (3) (7) (4) (6) (8) Ngân hàng (6) Ngân hàng VCB HCM chuyển nhượng thông báo (2) Hàn Quốc (4) Indonesia (1) Nhập khẩu Việt Nam đề nghị mở L/C có thể chuyển nhượng cho người hưởng lợi ở Hàn Quốc. (2) VCB – HCMC thông báo L/C chuyển nhượng đã được mở. (3) Người trung gian ở Hàn Quốc yêu cầu Ngân hàng chuyển nhượng cho người xuất khẩu ở Indonesia. (4) Ngân hàng chuyển nhượng L/C cho người xuất khẩu. (5) Người xuất khẩu giao hàng cho nhập khẩu Việt Nam. (6) Người xuất khẩu lập bộ chứng từ gởi cho Ngân hàng chuyển nhượng. (7) Ngân hàng chuyển nhượng thông báo cho người trung gian để thay thế các chứng từ như hóa đơn, hối phiếu. (8) Ngân hàng chuyển nhượng xuất trình bộ chứng từ cho VCB – HCMC. (9) VCB – HCMC thanh toán chứng từ. III. CHỨNG TỪ TRONG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ Nhìn chung có ba loại chứng từ quan trọng khác nhau trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ: những chứng từ do người nhập khẩu lập, chứng từ do ngân hàng mở L/C và chứng từ do người xuất khẩu lập hoặc xuất trình. 1. Chứng từ do người nhập khẩu lập Căn cứ vào hợp đồng thương mại đã ký kết, nhà nhập khẩu sẽ lập giấy đề nghị mở L/C theo mẫu của ngân hàng. Khi đó, người nhập khẩu cần phải lưu ý xem: thứ nhất, đơn vị mình có đủ điều kiện để được ngân hàng mở L/C hay không. Nếu không,  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 20
  • 21.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ phải ủy thác cho đơn vị khác có đủ điều kiện mở L/C, và khi ấy, việc lập giấy đề nghị mở L/C thuộc về nhiệm vụ của đơn vị nhận ủy thác. Thứ hai, những điều khoản của hợp đồng thương mại có đủ cơ sở để ràng buộc người xuất khẩu nhằm bảo vệ quyền lợi của mình hay chưa, cần thêm bớt điều gì nữa hay không. Nếu có, nên đưa thêm những nội dung gì nhưng phải nằm trong phạm vi khả năng chấp nhận của người xuất khẩu. Nội dung giấy đề nghị mở L/C: bao gồm phần sẽ cấu thành nội dung của L/C và phần cam kết của của đơn vị xin mở L/C a) Phần sẽ cấu thành nội dung L/C: Phần này được trình bày bằng tiếng Anh theo những nội dung do ngân hàng mở L/C gợi ý, để tránh những sai sót có thể xảy ra do hiểu lầm trong dịch thuật. Nội dung chính của giấy đề nghị mở L/C thường bao gồm những nội dung như sau: - Tên và địa chỉ của đơn vị mở L/C (Applicant) - Tên và địa chỉ của Ngân hàng thông báo L/C (Advising bank) - Ngày mở L/C (Date of this applicant) - Ngày và nơi L/C hết hiệu lực (Expiry date../…/…in…..) - Tên và địa chỉ người thụ hưởng (Beneficiary) - Số tiền bằng số và bằng chữ - Mô tả những tính chất và đặc điểm của L/C sẽ áp dụng: + Phát hành bằng thư + Kèm bức điện tín thông báo tóm lược + Phát hành bằng điện tín + Tín dụng thư có thể chuyển nhượng - Xác nhận tín dụng thư đối với người thụ hưởng + Không yêu cầu (not requested) + Có yêu cầu (requested) - Giao hàng từng phần (Partial shipment): + Cho phép (allowed) + Không cho phép (not allowed) - Chuyển tải (Transhipment) + Cho phép (allowed) + Không cho phép (not allowed)  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 21
  • 22.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ - Tất cả phí ngoài Việt Nam kể cả phí ngân hàng và phí xác nhận có thể thanh toán bởi: + Người thụ hưởng (Beneficiary) + Người mở xin L/C (Applicant) - Tín dụng thư có thể thanh toán với: + Trả ngay (by sight payment) + Chấp nhận (by acceptance) + Thương lượng (by negotiation) - Những nội dung liên quan đến xếp dỡ hàng hóa: Xếp hàng/dỡ hàng ở/từ cảng……………chậm nhất là ……./…../….. đến cảng - Những nội dung về mô tả hàng hóa (Good description) - Điều kiện giao hàng: CIF, FOB hoặc cách khác - Mô tả bao bì, đóng gói hàng hóa (Packing) - Ghi chú (Marking) - Chứng từ phải xuất trình (documents required) + Hóa đơn thương mại đã ký (Signed commercial invoice) + Trọn bộ vận tải đơn đường biển trơn (Full set of clean ocean Bill of Lading) + Một bản chính vận đơn hàng không trơn (One original clean airway bill) + Chứng từ vận chuyển khác (Other transport documents) + Trọn bộ chứng nhận bảo hiểm (Full set of Insurance Certificate) + Chứng nhận xuất sứ (Certificate of origin) + Bảng kê bao bì chi tiết (Detailed packing list) + Chứng nhận do người thụ hưởng xác nhận (Ben’s certificate certifying) + Bản sao bức điện hay fax thông báo cho người nhập khẩu và ngân hàng mở L/C về những đặc điểm giao hàng (Copy of telex or fax advising applicant and issuing bank of particulars of shipment) + Chứng nhận chất lượng/ số lượng (Certificate of quality/ quantity) + Chứng từ khác (other documents) b) Phần cam kết của đơn vị mở L/C Đây là phần đơn vị xin mở L/C cam kết với ngân hàng. Phần này được viết bằng tiếng Việt và bao gồm những nội dung chính sau:  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 22
  • 23.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ – Cam kết về tư cách pháp nhân của đơn vị và thủ tục pháp lý về hàng hóa nhập khẩu – Cam kết về tiền ký quỹ mở L/C – Cam kết về việc thanh toán L/C khi người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ hợp lệ – Cam kết về những trường hợp miễn trách của ngân hàng trong khuông khổ cho phép của UCP – Cam kết về việc thanh toán phần chênh lệch giữa trị giá L/C và tiền ký quỹ và cách thức giải quyết trong trường hợp người nhập khẩu không có khả năng thanh toán phần chênh lệch này – Cam kết liên đới trách nhiệm trong trường hợp đơn vị mở L/C ủy thác. 2. Chứng từ do ngân hàng mở L/C lập Căn cứ vào giấy đề nghị mở L/C, nếu đồng ý ngân hàng mở L/C sẽ tiến hành mở L/C và chuyển đến người thụ hưởng thông qua ngân hàng thông báo. Nội dung chính của một thư tín dụng đã được trình bày ở phần 1.2. phần II. 3. Chứng từ do người xuất khẩu lập hoặc xuất trình Để được ngân hàng trả tiền hay chấp nhận trả tiền, người xuất khẩu phải lập bộ chứng từ thanh toán gởi vào ngân hàng trong thời hạn hiệu lực của L/C. Chứng từ do người xuất khẩu lập bao gồm hai loại: chứng từ tài chính và chứng từ thương mại. Chứng từ tài chính chính là hối phiếu do người xuất khẩu lập ra, nội dung hối phiếu phải nêu rõ ngân hàng mở L/C, số hiệu và ngày tháng của L/C tham chiếu. Nội dung cụ thể của một hối phiếu như sau: • Tiêu đề của hối phiếu: thường có hai cách trình bày tiêu đề: “Bill of Exchange” hoặc “Exchange for”. Nếu dùng chữ Bill of Exchange thì thường tiêu đề được đặt ở chính giữa trên cùng văn bản chữ Bill of Exchange thì thường tiêu đề được đặt ở chính giữa trên cùng văn bản hối phiếu. Nếu dùng chữ Exchange for thì tiêu đề thường đặt ở trên cùng và bên trái của văn bản hối phiếu, ngoài ra số tiền bằng số của hối phiếu được đặt tiếp theo chữ For của tiêu đề. • Số hiệu của hối phiếu: do người ký phát hối phiếu đặt ra, được ghi sau chữ No. và đặt trên cùng bên trái của văn bản hối phiếu. • Địa điểm ký phát hối phiếu: Khi phát hành hối phiếu, người ký phát cần ghi rõ địa điểm phát hành. Đó là nơi hối phiếu được tạo lập, thường là tên thành phố, được ghi bên dưới tiêu đề và đặt ở giữa văn bản hối phiếu.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 23
  • 24.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ • Ngày ký phát hối phiếu: ngày tháng và năm ký phát là thời điểm hối phiếu được lập ra, nó thường được ghi bên cạnh địa điểm ký phát hối phiếu. Nó đánh dấu thời điểm tính thời hạn hiệu lực của hối phiếu và còn là căn cứ xác định thời điểm trả tiền. Thông thường, ngày ký phát hối phiếu là ngày xuất trình chứng từ cho ngân hàng thanh toán. Như vậy, ngày phát hành hối phiếu không thể trước ngày giao hàng ghi trên vận tải đơn, hóa đơn cũng không thể sau ngày quá hạn giá trị của thư tín dụng. • Số tiền bằng số: được ghi sau chữ For và đặt bên trái ngay dưới số hiệu hối phiếu hoặc ghi kế tiếp theo tiêu đề Exchange for của hối phiếu, và cần phải diễn đạt rõ ràng tên đầy đủ của đơn vị tiền tệ. Ngoài ra, số tiền bằng số phải khớp với số tiền bằng chữ được nói trong văn bản hối phiếu và nó cũng không được vượt quá số tiền ghi trên hóa đơn và số tiền quy định trong thư tín dụng. • Thời hạn trả tiền của hối phiếu: được ghi tiếp ngay cạnh chữ At. Nếu trả ngay, sau chữ At sẽ để trống hoặc ghi vào đó chữ Sight. Nếu trả chậm, thời hạn trả tiền sẽ được ghi cụ thể là bao nhiêu ngày vào sau chữ At. Cụ thể, nếu phải trả tiền sau bao nhiêu ngày nhận hối phiếu thì sẽ ghi là “X ngày sau khi nhìn thấy…” (At X days after sight…). Nếu phải trả tiền sau bao nhiêu ngày giao hàng thì sẽ ghi là “X ngày sau khi ký vận đơn…” (At X days after bill of lading date). Nếu phải trả tiền sau bao nhiêu ngày ký phát hối phiếu, thì ghi “X ngày kể từ ngày ký phát hối phiếu” (At X days after date…). • Thứ tự số bản của hối phiếu: Thông thường hối phiếu được phát hành thành hai bản và có đánh thứ tự số bản bằng chữ FIRST hoặc SECOND. Việc này nhằm để phân biệt bản này với bản kia và giá trị thanh toán của hai bản là như nhau. • Mệnh lệnh đòi tiền vô điều kiện: được thể hiện bằng câu lệnh Pay to hoặc Pay to the order of và được đặt ngay sau nơi thể hiện thứ tự số bản của hối phiếu. Đây là câu lệnh vô điều kiện nên sau câu lệnh này không được kèm theo bất cứ điều kiện gì. • Tên người thụ hưởng: nằm ở phía sau câu lệnh, tên người thụ hưởng có thể được chỉ định cụ thể, hoặc là người cầm phiếu hoặc suy đoán theo lệnh. Người thụ hưởng có thể là ai, công ty nào, ngân hàng tên gì, nước nào, chi nhánh ở đâu…, cần phải ghi chi tiết. • Số tiền bằng chữ: đặt phía sau tên người thụ hưởng, thể hiện sau chữ “the sum of” và khớp đúng với số tiền bằng số, và đồng thời thể hiện rõ ràng và đầy đủ đơn vị tiền tệ.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 24
  • 25.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ • Tham chiếu chứng từ kèm theo: chứng từ hối phiếu sẽ được tham chiếu với tín dụng thư bằng cách ghi câu: “Drawn under L/C No…. date …… issued by…..”. • Tên người nhận ký phát: được đặt dưới cùng bên trái văn bản hối phiếu sau chữ To:…. Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, người nhận ký phát là ngân hàng phát hành thư tín dụng. • Tên và chữ ký người ký phát: được đặt dưới cùng bên phải văn bản hối phiếu. Cụ thể, là người đại diện cho doanh nghiệp trong trường hợp hối phiếu thương mại và người đại diện cho ngân hàng trong trường hợp hối phiếu ngân hàng. Ví dụ về một mẫu hối phiếu dùng trong phương thức tín dụng chứng từ:  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 25
  • 26.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ No.12345/200x BILL OF EXCHANGE For US$32,829.00 Ho Chi Minh City, August 17, 200x At 90 days after sight of this FIRST Bill of exchange (SECOND of the same tenor and being unpaid) pay to the order of Asia Commercial Bank the sum of UNITED STATES DOLLARS THIRTY TWO THOUSAND EIGHT HUNDRED TWENTY NINE ONLY. Drawn under Irrevocable L/C No. 12345 dated July 17, 200x issued by Bank of Tokyo – Mitsubishi. TO: BANK OF TOKYO – MITSUBISHI For and on Behalf of TOKYO, JAPAN Cholonimex (Authorized Signature) Chứng từ thương mại người xuất khẩu phải lập là những chứng từ mà ngân hàng mở L/C chỉ định rõ trong nội dung L/C. Thông thường, bộ chứng từ thương mại gồm những chứng từ sau đây: – Hóa đơn thương mại (Commercial invoice): do người xuất khẩu lập chứng minh cho ngân hàng mở L/C biết rằng hàng hóa đã giao theo trị giá phù hợp với quy định của L/C. – Vận tải đơn (Bill of Lading): do đơn vị vận chuyển hàng hóa phát hành, chứng minh rằng hàng đã được chuyển giao và ai nắm giữ vận đơn sẽ có quyền định đoạt hàng hóa. – Chứng nhận xuất xứ (Certificate of origin): do Văn phòng thương mại phát hành để chứng nhận nguồn gốc của hàng hóa, – Chứng nhận chất lượng/ số lượng (Certificate of quality/ quantity): do cơ quan kiểm định phát hành để chứng nhận về chất lượng và số lượng hàng hóa được chuyển giao. – Bảng kê bao bì, đóng gói (Packing list): do người xuất khẩu lập để giúp cho người nhập khẩu dễ dàng nhận diện và kiểm soát hàng hóa. – Chứng nhận bảo hiểm (Certificate of Insurance): do công ty bảo hiểm hàng hóa phát hành khi bán bảo hiểm nhằm đảm bảo khả năng hoàn trả tiền L/C cho ngân hàng mở L/C trong trường hợp có rủi ro xảy ra. Chứng từ tài chính và chứng từ thương mại lập thành bộ chứng từ trong thanh toán quốc tế mà người xuất khẩu cần phải xuất trình với ngân hàng phát hành.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 26
  • 27.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ IV. QUY TRÌNH THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ THANH TOÁN BẰNG L/C 1. Quy trình mở L/C Quy trình mở L/C bắt đầu từ lúc đơn vị nhập khẩu lập giấy đề nghị mở L/C gởi vào ngân hàng và kết thúc khi đơn vị xuất khẩu nhận được L/C do ngân hàng thông báo chuyển đến. Quy trình mở L/C gồm có ba bước: • Lập giấy đề nghị mở L/C • Mở L/C • Thông báo L/C Quy trình mở thư tín dụng được biểu diễn như sau: NH mở L/C (2) L/C NH thông báo L/C (3) L/C (1) Giấy đề nghị mở L/C Người xin mở L/C Hợp đồng Người hưởng thụ (NK) L/C (XK) Bước 1: Căn cứ vào hợp đồng mua bán ngoại thương (hoặc đơn đặt hàng), tổ chức nhập khẩu lập giấy đề nghị mở L/C gởi đến ngân hàng phục vụ mình (nơi đơn vị nhập khẩu mở tài khoản ngoại tệ) để yêu cầu ngân hàng mở một L/C cho người bán hay người xuất khẩu hưởng. Nội dung của giấy đề nghị mở L/C đã được trình bày ở trên. Ở đây, em chỉ muốn nói đến những điểm cơ bản mà người nhập khẩu cần phải chú ý khi lập giấy đề nghị mở L/C: • Viết đúng nội dung theo mẫu giấy đề nghị mở thư tín dụng do Ngân hàng mở thư tín dụng ấn hành. • Tổ chức nhập khẩu cần phải thận trọng và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa những điều kiện ràng buộc bên xuất khẩu vào thư tín dụng, làm thế nào để vừa đảm bảo được quyền lợi của mình, vừa để bên xuất khẩu có thể chấp nhận được. • Khi lập giấy đề nghị mở thư tín dụng, đơn vị nhập khẩu phải tôn trọng những điều kiện ghi trên hợp đồng, tránh tình trạng mâu thuẫn trái ngược  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 27
  • 28.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ nhau. Tuy nhiên khi cần điều chỉnh hợp đồng cũng có thể thay đổi một số nội dung đã ký trên hợp đồng. • Giấy đề nghị mở thư tín dụng sẽ được lập tối thiểu là 2 bản. Sau khi ngân hàng ký nhận, đóng dấu sẽ gởi trả lại cho đơn vị một bản. • Giấy đề nghị mở thư tín dụng là cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề tranh chấp giữa người xin mở thư tín dụng với Ngân hàng mở thư tín dụng và là cơ sở để Ngân hàng mở thư tín dụng soạn thảo thư tín dụng gởi cho bên xuất khẩu. Khi lập giấy đề nghị mở thư tín dụng gởi cho Ngân hàng, tổ chức nhập khẩu còn phải gởi kèm theo các chứng từ quan trọng sau đây: • Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp. • Giấy phép nhập khẩu lô hàng hoặc quota nhập khẩu. • Hợp đồng thương mại. • Phương án kinh doanh. • Báo cáo tài chính… Bước 2: Căn cứ vào yêu cầu xin mở thư tín dụng của tổ chức nhập khẩu và các chứng từ có liên quan, nếu đồng ý, Ngân hàng trích tài khoản đơn vị mở tài khoản, tín dụng số tiền ký quỹ bằng 100% trị giá thư tín dụng trong trường hợp L/C trả ngay, hoặc một tỷ lệ phần trăm trên trị giá thư tín dụng nếu L/C trả chậm. Sau đó Ngân hàng lập thư tín dụng gởi cho tổ chức xuất khẩu thông qua Ngân hàng thông báo tại nước người xuất khẩu. Việc chuyển thư tín dụng qua bên đơn vị xuất khẩu có thể thực hiện bằng đường bưu chính, bằng điện tín hoặc bằng hệ thống SWIFT. Như vậy cần chú ý rằng, L/C là văn bản do Ngân hàng mở L/C lập theo yêu cầu của đơn vị nhập khẩu, chứ không phải văn bản do đơn vị nhập khẩu lập. Nội dung của một thư tín dụng đã được trình bày ở trên. Ngày nay, khi những tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống thì phương thức chuyển thư tín dụng bằng hệ thống SWIFT đang ngày càng chiếm ưu thế hơn so với việc chuyển thư tín dụng bằng đường bưu chính hoặc bằng điện tín. Sau đây là những điểm cơ bản về hệ thống SWIFT: SWIFT là Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và các tổ chức tài chính quốc tế (Viết tắt của Society for Worldwide Interbank and Finacial Telecommunication). Đây là một hiệp hội mà thành viên là các ngân hàng và các tổ chức tài chính, mỗi ngân hàng tham gia là một cổ đông của SWIFT. Phương châm hoạt động của hiệp hội là  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 28
  • 29.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ phục vụ các ngân hàng chứ không phải lợi nhuận. Lý do sử dụng SWIFT của các ngân hàng trên thế giới là dựa vào những ưu điểm của nó như: - Nó là một mạng truyền thông chỉ sử dụng trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính nên tính bảo mật cao và an toàn. - Tốc độ truyền thông tin nhanh cho phép có thể xử lý được số lượng lớn giao dịch. - Chi phí cho một điện giao dịch thấp. - Sử dụng SWIFT sẽ tuân theo tiêu chuẩn thống nhất trên toàn thế giới. Đây là điểm chung của bất cứ ngân hàng nào tham gia SWIFT có thể hòa đồng với cộng đồng ngân hàng trên thế giới. Tuy nhiên bên cạnh đó trong thực tế vẫn tồn tại các phương tiện truyền tin khác, ví dụ như khi muốn gởi bộ chứng từ đi, như vậy phải gởi bằng thư tín, hoặc nếu ngân hàng nước nhập khẩu hoặc ngân hàng nước nhập khẩu không tham gia vào hệ thống SWIFT. Tham gia SWIFT là tham gia vào một mạng lưới chung (không chỉ TTQT mà bao gồm cả cho việc giao dịch vàng, chứng khoán, các lại giao dịch có giá trị khác) Mỗi ngân hàng hoặc một tổ chức / định chế tài chính tham gia vào SWIFT được cấp 01 mã SWIFT (BIC CODE), đây có thể hiểu là địa chỉ khi gia nhập vào một mạng lưới. Tổ chức SWIFT không hẳn là một tổ chức phi lợi nhuận mà thực tế trái ngược lại, sự phát triển trong kinh doanh của SWIFT là một con số kinh khủng, một bài toán nhỏ để có thể tính được doanh thu 1 ngày của SWIFT trung bình ít nhất là 200 triệu USD (60000 định chế tài chính tham gia x trung bình 10 000 usd/tháng), giá một bức điện SWIFT trung bình là 0.25USD/điện , giá này tùy thuộc vào lượng điện giao dịch 1 ngày và hệ thống phiên bản ứng dụng SWIFT đang sử dụng. Do tính chất là điều khiển luồng tiền của cả thế giới nên tính bảo mật của SWIFT có thể nói là bậc nhất trên thế giới, hacker chưa bao giờ tấn công được vào hệ thống này. Bước 3: Khi nhận được thư tín dụng của Ngân hàng mở L/C gởi đến, Ngân hàng thông báo sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh báo điện mở L/C rồi chuyển bản chính L/C cho nhà xuất khẩu dưới hình thức văn bản “nguyên văn”. Nếu gởi bằng thư thì kiểm chữ ký, gởi bằng điện thì kiểm mã, lưu ý việc thông báo L/C có thể qua hai ngân hàng. Ví dụ ba trường hợp thông báo L/C của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB) Trường hợp 1: VCB HCM tiếp nhận L/C từ ngân hàng mở L/C và trực tiếp thông báo cho người thụ hưởng – là khách hàng của VCB. Điều này được thể hiện trong L/C bằng câu “PLEASE ADVISED BENEFICIARY…”. NGÂN HÀNG VCB L/C Thông báo L/C NGƯỜI THỤ PHÁT HÀNH HCM HƯỞNG L/C  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 29
  • 30.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Trường hợp 2: VCB HCM tiếp nhận L/C từ ngân hàng thông báo thứ nhất chuyển đến. Do ngân hàng mở L/C không có quan hệ đại lý với VCB HCM, nhưng khách hàng thì quan hệ giao dịch tại đây, nên việc thông báo L/C phải được thực hiện qua trung gian nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khâu kiểm tra và thanh toán L/C. Điều này được thể hiện trong L/C bằng câu: “ADVISING THROUGH VIETCOMBANK HCM CITY BRANCH”. Ngân NH hàng L/C thông Thông báo L/C Thông báo L/C Người phát báo VCB thụ hành thứ hưởng L/C nhất Trường hợp 3: VCB HCM tiếp nhận L/C từ Ngân hàng phát hành và chuyển đến Ngân hàng thông báo thứ hai để Ngân hàng này thông báo trực tiếp cho người thụ hưởng. Nếu Ngân hàng thứ hai là Ngân hàng Đông Á thì điều này được thể hiện bằng câu: “ADVISE TRROUGH DONGA BANK HCM”. Ngân L/C Thông báo L/C Thông báo L/C NH hàng Người thông phát VCB thụ báo hành hưởng thứ hai L/C 2. Quy trình thanh toán L/C Quy trình thanh toán L/C bắt đầu từ bước 4 trở đi bao gồm các khâu chính đó là giao hàng, lập bộ chứng từ của đơn vị xuất khẩu và kiểm tra bộ chứng từ, thanh toán của ngân hàng mở L/C và thanh toán tại ngân hàng chỉ định . (7) Thanh toán NH NH thương mở L/C (6) Telex và bộ chứng từ lượng (9) Thanh (5) Bộ (8) Thanh toán & nhận chứng toán bộ chứng từ từ Nhập Khẩu (4) Hàng hóa Xuất Khẩu Sơ đồ 13.3: Quy trình thanh toán L/C tại Ngân hàng mở L/C.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 30
  • 31.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ (7) Thanh toán NH NH thương mở L/C (6) Telex và bộ chứng từ lượng (9) Thanh (5) Bộ (8) Thanh toán & nhận chứng toán bộ chứng từ từ NK (4) Hàng hóa XK Sơ đồ 13.4: Quy trình thanh toán L/C tại Ngân hàng chỉ định trên L/C. Bước 4: Tổ chức xuất khẩu nhận được thư tín dụng do ngân hàng thông báo gởi đến tiến hành kiểm tra và đối chiếu với hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký trước đây. Sau khi kiểm tra chặt chẽ L/C nếu đồng ý thì tiến hành giao hàng cho bên nhập khẩu, nếu không đồng ý thì đề nghị bên nhập khẩu điều chỉnh hoạt động bổ sung thêm cho đến khi hoàn chỉnh mới giao hàng. Đây là khâu quan trọng đối với tổ chức xuất khẩu vì L/C có thể giống hợp đồng và cũng có thể khác hợp đồng, nhưng khi thanh toán thì phải thực hiện đúng theo những điều khoản của L/C. Những nội dung quan trọng cần kiểm tra khi nhận L/C bao gồm: - Thời gian mở L/C – Thông thường L/C được bên nhập khẩu mở trước ngày giao hàng một thời gian nhất định, để bên xuất khẩu có đủ thời gian cần thiết chuẩn bị hàng hóa gởi đi. Nhưng nếu mở quá sớm trước ngày giao hàng thì bên nhập khẩu bị đọng vốn vì khi mở L/C tổ chức nhập khẩu phải ký quỹ một phần hay toàn bộ giá trị kim ngạch L/C. Do vậy, thường bên nhập khẩu không thích mở L/C quá sớm, nhưng nếu mở quá trễ thì bên xuất khẩu không có đủ thời gian chuẩn bị cho việc giao hàng. Vì vậy thời gian mở L/C cần phải hợp lý cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu. - Ngân hàng mở L/C – Ngân hàng mở L/C là Ngân hàng cam kết, đảm bảo việc thanh toán cho tổ chức xuất khẩu. Vì vậy tổ chức xuất khẩu cần xem xét người đảm bảo (Ngân hàng mở L/C) có uy tín hay không (thái độ chính trị, tiềm lực vốn), trách nhiệm cam kết thanh toán có rõ ràng cụ thể hay không. Ngân hàng này có quan hệ giao dịch lần nào chưa… Nếu chưa an tâm thì có thể yêu cầu có Ngân hàng thứ ba đóng vai trò Ngân hàng xác định để được đảm bảo hơn. - Loại thư tín dụng – Thư tín dụng có nhiều loại như thư tín dụng có thể hủy ngang (Revocable L/C), thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C), thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmerd irrevocable L/C), thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)… Mỗi loại có tính chất sử dụng khác nhau. Hiện nay thì Ngân hàng thường hay sử dụng L/C không thể hủy ngang và L/C có xác nhận. Nếu L/C không ghi rõ là L/C “irrevocable” hay “revocable” thì đó là Irrevocable tức là  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 31
  • 32.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ không được hủy ngang. Tương tự như vậy nếu L/C không ghi rõ L/C “confirmed” thì đó là L/C “inconfirmed” tức là không có xác nhận. - Ngày và địa điểm hết hiệu lực (date and place of expiry) – Tất cả thư tín dụng đều quy định ngày cuối cùng có hiệu lực cho việc xuất trình chứng từ để thanh toán. Nếu tổ chức xuất khẩu sau khi giao hàng, xuất trình bộ giá trị thanh toán vượt qua ngày giá trị cuối cùng của thư tín dụng sẽ không chấp nhận thanh toán. Vì vậy tổ chức xuất khẩu cần phải nghiên cứu thời hạn hiệu lựa của L/C xem có đủ thời gian để thực hện các khâu chuẩn bị hàng hóa, giao hàng và xuất trình bộ chứng từ thanh toán. - Kim ngạch L/C (Amount) – Mỗi L/C được định mức bằng một số tiền nhất định. Thông thường kim ngạch L/C bằng giá trị đơn vị hàng hóa (CIF hay FOB…) nhân với số lượng hay trọng lượng hàng hóa. Ngoài ra để tạo điều kiện cho tổ chức xuất khẩu linh hoạt trong việc gởi hàng hoặc do tính chất của từng loại hàng hóa, kim ngạch L/C được phép quy định xê dịch cộng trừ một số phần trăm nhất định. - Điều kiện giao hàng – Hàng hóa được phép giao từng phần (Partial shipment) hay không, chuyển tải, cho phép hay không cho phép (Transhipment allwed), hàng hóa phải được giao trên boong tàu (on deck) hay trên khoang tàu (on board) hay chở trần (in bulk). Lưu ý ngay cả khi L/C không cho phép chuyển tải, ngân hàng sẽ chấp nhận vận đơn ghi rõ việc chuyển tải sẽ xảy ra trong chừng mực mà hàng hóa liên quan gửi bằng các container, moóc (Trailer), sà lan (Lash) như đã chứng minh trong vận đơn. Thông thường điều kiện giao hàng tùy thuộc khả năng cung ứng hàng của tổ chức xuất khẩu, khả năng nhận hàng của tổ chức nhập khẩu, khả năng vận chuyển của phương tiện vận tải. Vì vậy tùy tình hình thực tế của hàng hóa mà xem xét. Ngoài ra có những trường hợp thư tín dụng quy định hàng hóa gửi đi phải đi phải do tàu container được ghi đích danh trong L/C Nếu những điều kiện giao hàng trên tổ chức xuất khẩu nhận thấy không thực hiện được thì đề nghị điều chỉnh L/C. - Địa điểm gửi nhận hàng – Thông thường hàng hóa được gửi trên tàu từ một cảng nước xuất khẩu đến một hay nhiều cảng do nhà nhập khẩu quy định trong thư tín dụng. - Bộ chứng từ thanh toán – Tổ chức xuất khẩu cần cẩn thận, nghiên cứu xem tổ chức nhập khẩu yêu cầu xuất trình những giấy tờ loại nào, ai cấp, bao nhiêu bản. Khả năng tổ chức xuất khẩu có thể đáp ứng được hay không. - Điều kiện về hàng hóa – Số lượng, chất lượng, quy cách hàng hóa.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 32
  • 33.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ - Điều kiện đặc biệt khác như phí, xác nhận, cách gửi chứng từ… Lưu ý nếu trong telex có câu “Full details to follow” hoặc ghi là “The mail confirmation is to be the operative credit instrument” thì telex chưa có giá trị. Tóm lại, tổ chức xuất khẩu khi nhận được thư tín dụng cần hết sức thận trọng kiểm tra, phân tích từng điều khoản trước khi tiến hành giao hàng và lập bộ chứng từ thanh toán phù hợp với thư tín dụng. Chỉ cần sai một trong những điều khoản trong L/ C thì sẽ không được thanh toán. Do đó nếu không đồng ý ở điều khoản nào thì đề nghị sửa đổi bổ sung. Việc đề nghị có thể thực hiện bằng cách : điện trực tiếp cho các tổ chức nhập khẩu hoặc điện cho Ngân hàng mở L/C thông qua Ngân hàng thông báo. Sau khi thực hiện việc kiểm tra, sửa đổi, bổ sung thư tín dụng được mở hoàn chỉnh, tổ chức xuất khẩu tiến hành nghiệp vụ giao hàng. Thông thường chi phí tu chỉnh L/C bên xuất khẩu chịu. Bước 5: Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, tổ chức xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theo đúng điều khoản trong thư tín dụng xuất trình cho ngân hàng thông báo để yêu cầu thanh toán. Hồ sơ chứng từ gửi Ngân hàng thanh toán gồm có phiếu xuất trình chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu và các chứng từ chi tiết phù hợp với những điều khoản ghi trong thư tín dụng. Bước 6: Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu nhận, kiểm tra và xử lý bộ chứng từ do đơn vị xuất khẩu nhập vào. Khi Ngân hàng bên xuất khẩu (ví dụ Vietcombank) nhận được chứng từ cùng bản gốc L/C do tổ chức xuất khẩu (người hưởng lợi L/C) gửi đến kèm các bản tu chỉnh (nếu có), Ngân hàng bên xuất khẩu Vietcombank cần thực hiện: • Kiểm tra chi tiết từng loại chứng từ, thanh toán viên sẽ xem lại ngày xuất trình chứng từ có nằm trong thời hạn hiệu lực và đúng theo quy định của L/C hay không? • Kiểm tra các loại chứng từ đã được xuất trình đầy đủ chưa? • Cuối cùng kiểm tra tổng quát bằng cách đọc lại L/C một lần nữa để xem bộ chứng từ có điều gì không thỏa mãn L/C không? Sau khi kiểm tra thì tùy vào tình trạng cụ thể của bộ chứng từ mà Ngân hàng giải quyết như sau:  Bộ chứng từ không có sai sót thì xem xét tiếp nội dung của L/C quy định trả tiền ngay hay là thương lượng để xử lý.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 33
  • 34.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Nếu L/C quy định thực hiện trả tiền ngay thì việc thanh toán bằng L/C bằng cách trả tiền ngay thường có hai không trường hợp: Trường hợp 1: Trả tiền ngay tại Ngân hàng quy định (thường là Ngân hàng thông báo L/C). Điều này được thể hiện trong L/C bằng câu: “AVAILABLE BY PAYMENT AT ADVISING BANK’S COUNTER” hoặc “AVAILABLE BY PAYMENT AT YOUR COUNTER”. Trong trường hợp này, tại VCB chỉ chiết khấu cho khách hàng (nếu khách hàng có yêu cầu) mặc dù L/C yêu cầu thanh toán tại Ngân hàng thông báo của nước người thụ hưởng. Trường hợp 2: Trả tiền tại Ngân hàng phát hành. Trường hợp này Ngân hàng phát hành sẽ tự mình thanh toán toàn bộ chứng từ do Ngân hàng thương lượng gửi đến. Điều này được quy định trong L/C bằng câu: “AVAILABLE BY PAYMENT AT THE ISSUING BANK’S COUNTER” hoặc “AVAILABLE WITH… (tên Ngân hàng phát hành) BY PAYMENT”. Trong trường hợp này, sau kiểm tra bộ chứng từ xong VCB HCM sẽ gửi bộ chứng từ đến Ngân hàng phát hành để họ quyết định việc thanh toán. Nếu L/C quy định bằng thương lượng. Điều này được quy định trong L/C bằng câu: “AVAILABLE ANY BANK IN BENEFICIARY’S COUNTRY BY NEGOTIATION” hoặc “AVAILABLE WITH ADVISING BANK BY NEGOTIATION”. Đối với loại L/C này VCB HCM sẽ gởi bộ chứng từ và đòi tiền theo phương tiện mà L/C quy định bằng điện (TTR) hoặc bằng thư và có thể chiết khấu cho khách hàng. Về phía Ngân hàng nước ngoài sau khi nhận được bộ chứng từ hợp lệ hoặc nhận được bộ thông báo của VCB HCM tại Ngân hàng mà VCB HCM chỉ định. Cách thức gửi bộ chứng từ và chỉ thị đòi tiền quy định tùy theo một trong hai trường hợp sau: Trường hợp 1: L/C không cho phép đòi tiền bằng điện. Trong trường hợp này cần xem xét tiếp xem Ngân hàng trả tiền có phải là Ngân hàng phát hành hay không. Nếu Ngân hàng trả tiền cũng là Ngân hàng phát hành thì Hối phiếu sẽ được ký phát cho Ngân hàng phát hành. Lúc này VCB HCM sẽ gửi bộ chứng từ thanh toán bao gồm Hối phiếu kèm thư Ngân hàng (Covering Schedule) và bộ chứng từ đến cho Ngân hàng phát hành yêu cầu thanh toán. Trong thư Ngân hàng ghi rõ các nội dung sau: - Chứng nhận các điều khoản của L/C đã được thực hiện đúng. - Số tiền mà Ngân hàng phát hành phải trả. - Chỉ thị việc trả tiền vào tài khoản của VCB HCM tại Ngân hàng đại lý mà VCB HCM có tài khoản. Nếu Ngân hàng trả tiền khác Ngân hàng phát hành thì xem xét xử lý tùy theo một trong hai trường hợp:  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 34
  • 35.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ - L/C quy định gửi Hối phiếu đến Ngân hàng phát hành. Lúc này trên Hối phiếu mục TO và mục DRAWN UNDER thể hiện tên Ngân hàng phát hành. Còn thư Ngân hàng sẽ gửi đến Ngân hàng trả tiền. - L/C quy định gửi Hối phiếu đến Ngân hàng trả tiền. Trong trường hợp này Hối phiếu được ký phát cho Ngân hàng trả tiền do L/C chỉ định. Lúc đó VCB HCM sẽ gửi Hối phiếu kèm thư đòi tiền và thư Ngân hàng cho Ngân hàng trả tiền mà L/C chỉ định. Còn bộ chứng từ và thư Ngân hàng sẽ được gửi đến Ngân hàng phát hành. Trường hợp 2: L/C cho phép đòi tiền bằng điện. Điều khoản này rất có lợi cho nhà xuất khẩu vì thời gian mà nhà xuất khẩu nhận được tiền thanh toán rất nhanh (2 – 3 ngày) so với trường hợp đòi tiền bằng thư (5 - 10 ngày). Nếu ngân hàng trả tiền khác Ngân hàng phát hành thì VCB HCM sẽ đòi tiền Ngân hàng trả tiền bằng Telex hoặc Swift, đồng thời gửi bộ chứng từ kèm theo thư Ngân hàng và bản copy điện đòi tiền đến cho Ngân hàng phát hành. Hối phiếu trong trường hợp này phải được gửi đến cho Ngân hàng phát hành hay Ngân hàng trả tiền tùy theo yêu cầu của L/C. Nếu Hối phiếu gửi cho Ngân hàng trả tiền thì thường gửi sau bức điện đòi tiền, mục đích là giúp cho Ngân hàng trả tiền lưu trữ hồ sơ. Ngoài ra, trong bức điện đòi tiền Ngân hàng phải ghi rõ số L/C, tên Ngân hàng nào phát hành, có lời xác nhận chứng từ phù hợp của VCB… và chỉ thị trả tiền.  Nếu bộ chứng từ có sai sót gì thì tất cả các sai sót hoặc bất hợp lệ của chứng từ đều được thanh toán viên ghi vào phiếu kiểm chứng tứ xuất khẩu, sau đó chia và xử lý sai sót ra thành hai loại: sai sót có thể sửa chữa được và sai sót không thể sửa chữa được. Các sai sót có thể sửa chữa được – Các lỗi này liên quan đến việc lập chứng từ. Thường có các trường hợp sau: - Người lập chứng từ đánh nhầm hoặc đánh sai lỗi chính tả cả thông tin trên chứng từ. Lỗi này rất phổ biến trong thực tế. Tuy có vẻ không quan trọng nhưng nó có thể là cái cớ để Ngân hàng nước ngoài trì hoãn việc thanh toán thậm chí từ chối việc thanh toán. - Do thiếu kinh nghiệm trong việc lập chứng từ nên người lập đã hiểu sai nội dung và thể hiện sai nội dung mà L/C quy định. - Sự thiếu sót các điều kiện ghi thêm do người lập chứng từ đọc không kỹ L/C. Ví dụ: L/C yêu cầu ghi số hợp đồng hoặc Shipping Mark trên tất cả các chứng từ thanh toán nhưng thực tế có một số chứng từ do đơn vị xuất khẩu trình không được thể hiện những nội dung này. Các chứng từ xuất trình không phù hợp như: Xuất trình hai Hối phiếu đều là bản số 1 hoặc là bản số 2, chứng từ xuất trình không phải là bản gốc theo yêu cầu của L/C…  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 35
  • 36.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Tuy nhiên các sai sót về việc lập chứng từ đều có thể sữa chữa được. Do đó khi bộ chứng từ được kiểm tra có những sai sót thuộc loại này, thanh toán viên sẽ căn cứ vào kết quả kiểm tra để yêu cầu nhà xuất khẩu điều chỉnh lại sai sót. Các sai sót không thể sữa chữa được – Các lỗi này thường liên quan đến hàng hóa như chất lượng, số lượng hay trọng lượng hàng hóa hoặc liên quan các thủ tục của cơ quan quản lý Nhà nước hay các cơ quan khác nên không sữa chữa được. Các trường hợp bất hợp lệ không thể sữa chữa được có thể là : − Giao hàng thiếu hoặc quá số lượng yêu cầu. − Giao hàng trễ. − Hàng hóa được giao ngoài quy định của L/C. − Xuất trình chứng từ trễ hạn. − Sai đơn giá. − Cách thức giao hàng và phương tiện vận chuyển không phù hợp với quy định của L/C. Ví dụ, L/C yêu cầu giao hàng đến cảng Kobe nhưng người bán giao hàng đến cảng Osaka. − Hàng hóa có quy cách, phẩm chất thể hiện trên các chứng từ xác minh bản chất hàng hóa không phù hợp với yêu cầu của L/C. − Trị giá bảo hiểm lô hàng không đúng yêu cầu. − Các yêu cầu đặc biệt nhằm đáp ứng các thủ tục nhập khẩu ở nước người mua không thỏa mãn. − Người xuất khẩu làm sai quy định về gửi chứng từ. Rõ ràng với những bất hợp lệ vừa nêu trên, người bán không thể nào sữa chữa được. Trong trường hợp này thanh toán viên sẽ căn cứ vào mức độ bất hợp lệ và sự tín nhiệm giữa các bên liên quan để giải quyết. Đối với bộ chứng từ bất hợp lệ thường có những cách giải quyết sau đây: Thứ nhất, yêu cầu nhà xuất khẩu liên hệ với nhà nhập khẩu tu chỉnh lại L/C cho phù hợp với chứng từ. Tuy nhiên trường hượp này rất ít được sử dụng vì nếu tu chỉnh thì thời gian tu chỉnh phải còn nằm trong thời hạn xuất trình cứng từ và thời hạn hiệu lực của L/C. Thứ hai, thương lượng chứng từ với điều kiện bảo lưu. Điều này có nghĩa là người bán đứng ra ký chấp nhận bảo lưu một số bất hợp lệ nhỏ mà Ngân hàng cho là không đáng kể, có thể xác nhận phù hợp với điều kiện và điều khoản của L/C. Một số bất hợp lệ có thể thương lượng theo cách này bao gồm:  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 36
  • 37.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ - Người lập chứng từ đánh nhầm hoặc sai lỗi chính tả các thông tin trên chứng từ (mà họ không sửa). Tuy nhiên việc đánh “nhầm” này không ảnh hưởng nghiêm trọng đến bản chất hàng hóa, thwoif gian giao hàng hiệu lực của L/C… - Ngày ký các chứng từ khác nhau, ngày ký vận đơn. Có nhiều công ty xuất trình L/C có ngày cấp sau ngày vận đơn. Nhưng theo quan điểm của Ngân hàng để tránh việc tranh cãi với Ngân hàng nước ngoài ta nên sửa ngày trên chứng từ chứng nhận xuất xứ cùng ngày với ngày vận đơn. Nếu công ty không sữa thì để bảo vệ quyền lợi cho công ty Ngân hàng xác nhận phù hợp với lý do UCP không có điều khoản nào quy định cụ thể về vấn đề này. - Thể hiện cảng đi và cảng đến chung chung không cụ thể. Ví dụ: L/C quy định cảng giao hàng VIETNAMESE port hoặc cảng đến ghi MOMBASA AND/OR DAR ES SALAM AND/OR BEIRA. Ngân hàng yêu cầu công ty ghi cụ thể giao hàng cảng nào ở Việt Nam hoặc giao hàng đến cảng nào ở nước ngoài nhưng công ty không đồng ý sửa. Trong trường hợp này Ngân hàng vẫn xác nhận phù hợp với lý do là chứng từ được thiết lập theo đúng L/C. - Các đơn vị sửa chứng từ chỉ đóng dấu sửa nhưng không ký nháy và Ngân hàng xác nhận phù hợp với lý do L/C không quy định sửa phải có ký nháy và trong UCP cũng không có khoản nào đề cập đến vấn đề này. - Một số chứng từ thiếu Shipping mark, số L/C nhưng L/C không quy định cụ thể. Đối với những trường hợp như trên trước khi gửi chứng từ Ngân hàng yêu cầu khách hàng ký chấp nhận bảo lưu về những bất hợp lệ đó. Khi gửi chứng từ cho Ngân hàng nước ngoài, VCB HCM vẫn xác nhận chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của thư tín dụng. Cách gửi chứng từ và điều khoản của thư tín dụng cũng giống như trường hợp chứng từ hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên điều cần lưu ý ở đây là nếu có quá nhiều lỗi sai như vậy thì VCB HCM sẽ không xác nhận phù hợp và cũng không nêu các bất hợp lệ đó. Vì nếu xác nhận phù hợp thì sẽ gây ảnh hưởng lớn đến uy tín của Ngân hàng. Trong trường hợp như vậy VCB HCN chỉ gửi chứng từ đi và thương lượng với Ngân hàng phát hành. Thứ ba, gửi chứng từ trên cơ sở nhờ thu. Khả năng từ chối thanh toán của Ngân hàng phát hành L/C khá lớn đối với những bộ chứng từ có bất hợp lệ nặng liên quan đến hàng hóa hoặc việc nhận hàng của người nhập khẩu. Vì vậy, trong trường hợp VCB HCM chỉ gửi bộ chứng từ đi nhờ thu (nếu nhà xuất khẩu đồng ý gửi nhờ thu) và mọi rủi ro đều do nhà xuất khẩu gánh chịu. Khi gởi nhờ thu VCB HCM yêu cầu khách hàng ký chấp nhận gửi nhờ thu. Các bất hợp lệ sau đây thường áp dụng cách này: − Giao hàng trễ. − Xuất trình chứng từ khi L/C hết hiệu lực.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 37
  • 38.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ − Giao hàng vượt ngoài quy định của L/C. − Mua bảo hiểm không đúng quy định. − Sai đơn giá số tiền vượt quá gí trị L/C cho phép. − Các bất hợp lệ liên quan đến số lượng chất lượng hàng hóa… Về phía nhà xuất khẩu khi chuyển sang phương thức nhờ thu thì bị chuyển từ tư thế chủ động sang tư thế bị động phụ thuộc vào nhà nhập khẩu có chịu thanh toán hay không. Ngoài ra nhà xuất khẩu còn chịu thiệt hại do bị giam vốn, do chi phí rất nhiều về điện tín để thương lượng giữa hai bên xuất khẩu thông qua Ngân hàng. Do đó nhà xuất khẩu cần nghiên cứu kỹ những nội dung yêu cầu của thư tín dụng, nếu thấy chỗ nào bất lợi hoặc không thực hiện được thì phải yêu cầu tu chỉnh ngay để tránh những tình trạng như trên. Trong trường hợp này, sau khi nhà xuất khẩu đồng ý gửi chứng từ trên cở sở nhờ thu theo L/C thì VCB HCM sẽ không đánh điện cho Ngân hàng phát hành (mặc dù cho phép đòi tiền bằng điện) mà VCB HCM sẽ giải quyết bằng cách: Cách 1: Gửi bộ chứng từ kèm theo thư Ngân hàng đến cho Ngân hàng phát hành và yêu cầu Ngân hàng phát hành nhờ thu. Tuy nhiên điều này chỉ được thực hiện khi Ngân hàng phát hành đã thương lượng với nhà nhập khẩu và nhà nhập khẩu chấp nhận những bất hợp lệ đó. Do đó nếu chấp nhận những bất hợp lệ đó thì Ngân hàng phát hành sẽ chuyển trả tiền vào tài khoản của VCB HCM chỉ thị. Trong thư Ngân hàng gửi cho Ngân hàng phát hành, VCB HCM không nêu lên các bất hợp lệ mà chỉ yêu cầu Ngân hàng phát hành nhờ thu. Cách 2: Điện báo bất hợp lệ cho Ngân hàng phát hành (nếu nhà xuất khẩu không đồng ý gửi nhờ thu). Khi điện thông báo bất hợp lệ cho Ngân hàng phát hành, VCB HCM yêu cầu khách hàng ký chấp nhận bất hợp lệ. Sau đó VCB HCM điện yêu cầu Ngân hàng phát hành thương lượng với nhà nhập khẩu về những bất hợp lệ đó. Nếu đồng ý thì phải điện báo cho VCB HCM biết. Tuy nhiên do hệ thống truyền tin ngày càng hiện đại nên các Ngân hàng thường nhận được điện rất sớm (khoảng một ngày). Do đó hiếm khi xảy ra trường hợp hàng đến trước nhưng chứng từ chưa đến. Bước 7: Ngân hàng mở L/C nhận được bộ chứng từ thanh toán do bên xuất khẩu gởi đến tiến hành kiểm tra đối chiếu với những điều khoản trên L/C đã mở trước đây. Nếu thấy phù hợp ngân hàng mở L/C sẽ thanh toán cho bên xuất khẩu theo lệnh của ngân hàng thông báo. Trường hợp mua hàng trả chậm thì ngân hàng mở L/C nếu đồng ý thanh toán thì gởi điện chấp nhận về Ngân hàng bên xuất khẩu và sau đó Ngân hàng mở L/C gởi hối phiếu cho tổ chức nhập khẩu để ký chấp nhận trên hối phiếu có kỳ hạn. Lưu ý, khi  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 38
  • 39.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu phát hiện sai một điều kiện thì Ngân hàng mở L/C sẽ không thanh toán. Nhưng tốt nhất là hỏi đơn vị L/C rồi xử lý. Bước 8: Nhận được điện báo có về tài khoản thanh toán bộ chứng từ hàng xuất khẩu, ngân hàng báo có cho tổ chức xuất khẩu hoặc thông báo hối phiếu có kỳ hạn đã được chấp nhận thanh toán và cũng có thể nhận được thông báo về sự từ chối của ngân hàng mở L/C. Bước 9: Ngân hàng mở L/C yêu cầu người xin mở L/C thanh toán và chuyển bộ chứng từ cho người xin mở L/C (Người nhập khẩu). Nếu tổ chức nhập khẩu từ chối thanh toán thì tùy trường hợp mà Ngân hàng mở L/C sẽ giải quyết. Cở sở pháp lý để giải quyết sự tranh chấp này là Giấy đề nghị mở thư tín dụng đơn vị nhập khẩu gửi cho Ngân hàng khi yêu cầu mở thư tín dụng. V. HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ. 1. Giới thiệu về UCP – UCP 600: UCP là viết tắt của từ “The Uniform Customs and Practice for Documentary Credit – UCP (Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ). UCP là văn bản do Phòng thương mại quốc tế (International Chamber of Commerce – ICC) soạn thảo và ban hành. Nó là văn kiện tập hợp toàn bộ những quy tắc và định nghĩa quốc tế thống nhất về tín dụng chứng từ, được hơn 165 quốc gia công nhận. UCP được coi là cẩm nang hoạt động cho các doanh nghiệp hoạt động thanh toán quốc tế và là cơ sở pháp lý quan trọng cho các giao dịch thương mại trị giá hàng tỷ đô la hàng năm trên thế giới. Bản UCP đầu tiên được soạn thảo và thông qua năm 1993 tại Viên (Áo) với mục đích khắc phục các xung đột về luật điều chỉnh tín dụng chứng từ giữa các quốc gia. UCP đã qua bảy lần sửa đổi và chỉnh lý. Bản UCP đang được áp dụng hiện nay là UCP 600 – kết quả của lần sửa đổi thứ bảy. Vào tháng 5 năm 2003, Phòng thương mại quốc tế - ICC đã ủy quyền cho ủy ban Kỹ thuật và nghiệp vụ Ngân hàng bắt đầu xem xét lại UCP 500 để có thể có những sửa đổi cần thiết đáp ứng với tình hình thực tiễn mới. Mục đích chính của lần sửa đổi này là để đáp ứng được sự phát triển trong hoạt động ngân hàng, vận tải và bảo hiểm. Hơn nữa, cần xem xét lại ngôn ngữ và phong cách đã được sử dụng trong UCP để loại bỏ những cách diễn đạt có thể gây ra sự hiểu lầm và áp dụng không thống nhất. Ban soạn thảo gồm 9 thành viên đã ra đời để sửa đổi UCP 500, đồng thời Ủy ban Kỹ thuật và nghiệp vụ Ngân hàng thành lập Ban cố vấn gồm 41 thành viên là các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng và vận tải đến từ 26 quốc gia trên thế giới. Sau 3 năm soạn thảo và chỉnh lý, ngày 25 tháng 10 năm 2006, ICC đã thông qua Bản quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ số 600 (UCP 600) thay cho UCP 500. UCP  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 39
  • 40.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ 600 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2007. Tuy nhiên, các bản UCP ra đời sau không bác bỏ các UCP ra đời trước đó, cả 7 bản UCP vẫn còn giá trị hiệu lực trong thanh toán quốc tế. Do vậy, các bên tham gia trong một quá trình thanh toán quốc tế cụ thể nào đó có thể thỏa thuận với nhau chọn bất kỳ bản nào và nhất thiết phải ghi nhận trong hợp đồng ngoại thương và L/C. 2. Nội dung của UCP 600: Trong đề án này, em chỉ xin nêu ra tiêu đề của các điều lệ quy định về các quy tắc thanh toán tín dụng chứng từ. Cụ thể như sau: Điều 1: UCP 600 là các quy tắc áp dụng cho bất kỳ tín dụng chứng từ nào (bao gồm cả thư tín dụng dự phòng trong chừng mực mà các quy tắc này có thể áp dụng) nếu nội dung của tín dụng chỉ ra một cách rõ ràng nó phụ thuộc vào các quy tắc này. Điều 2: UCP 600 nêu ra các định nghĩa sau: Ngân hàng thông báo, Người yêu cầu, Ngày làm việc ngân hàng, Người thụ hưởng, Xuất trình phù hợp, Xác nhận, Ngân hàng xác nhận, Tín dụng, Thanh toán, Thương lượng thanh toán, Ngân hàng chỉ định, Xuất trình, Người xuất trình. Điều 3: UCP 600 giải thích các cụm từ chỉ về thời gian như “vào hoặc vào khoảng”, “đến”, “cho đến khi”, “từ”, “giữa”…, hoặc các cụm từ như “độc lập”, “chính thức”… để mô tả về ngân hàng phát hành… Điều 4: Tín dụng và hợp đồng: nói rõ mối quan hệ giữa tín dụng và quan hệ hợp đồng giữa các bên liên quan. Điều 5: Nêu quy định các ngân hàng giao dịch trên cơ sở các chứng từ. Điều 6: Các quy định về thanh toán, ngày hết hạn và nơi xuất trình. Điều 7: Các quy tắc về việc cam kết của Ngân hàng phát hành, bao gồm điều kiện, các hình thức thanh toán và cam kết thanh toán của Ngân hàng phát hành. Điều 8: Các quy tắc về cam kết của Ngân hàng xác nhận. Điều 9: Thông báo tín dụng và các sửa đổi. Điều 10: Quy định về sửa đổi tín dụng. Điều 11: Tín dụng và sửa đổi được sơ báo và chuyển bằng điện. Điều 12: Sự chỉ định. Điều 13: Thỏa thuận hoàn trả tiền giữa các ngân hàng. Điều 14: Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ. Điều 15: Xuất trình phù hợp. Điều 16: Chứng từ có sai biệt, bỏ qua và thông báo.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 40
  • 41.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Điều 17: Các chứng từ gốc và các bản sao. Điều 18: Hóa đơn thương mại. Điều 19: Chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau. Điều 20: Vận đơn đường biển. Điều 21: Giấy gởi hàng đường biển không chuyển nhượng. Điều 22: Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu. Điều 23: Chứng từ vận tải hàng không. Điều 24: Chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa. Điều 25: Biên lai chuyển phát, biên lai bưu điện hoặc giấy chứng nhận bưu phẩm. Điều 26: “trên boong” “người gởi hàng xếp và đếm” “người gởi hàng kê khai gồm có” và chi phí phụ thêm vào cước phí. Điều 27: Chứng từ vận tải hoàn hảo. Điều 28: Chứng từ bảo hiểm và bảo hiểm. Điều 29: Gia hạn ngày hết hiệu lực hoặc ngày cuối cùng phải xuất trình. Điều 30: Dung sai về số tiền, số lượng và đơn giá. Điều 31: Giao hàng và trả tiền từng phần. Điều 32: Giao hàng và trả tiền nhiều lần. Điều 33: Giờ xuất trình. Điều 34: Miễn trách về tính hợp lệ của Chứng từ. Điều 35: Miễn trách về trao đổi thông tin và dịch thuật. Điều 36: Bất khả kháng. Điều 37: Miễn trách về hành động của một bên ra chỉ thị. Điều 38: Tín dụng có thể chuyển nhượng. Điều 39: Chuyển nhượng số tiền thu được. VI. RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC BÊN THAM GIA THANH TOÁN L/C VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG 1. Đối với nhà nhập khẩu • Việc thanh toán của ngân hàng cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình, mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hóa. Ngân hàng chỉ kiểm tra tính chân thật “bề ngoài” chứng từ, mà không chịu trách nhiệm về tính chất “bên trong” của chứng từ, cũng như chất lượng và số  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 41
  • 42.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ lượng hàng hóa. Như vậy, sẽ không có sự đảm bảo nào cho nhà nhập khẩu rằng hàng hóa sẽ đúng như đơn đặt hàng hay không bị hư hại gì. Và nhà nhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã thanh toán cho ngân hàng phát hành. • Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu phải tiến hành làm thủ tục sửa đổi, bổ sung L/C. • Ngân hàng xác nhận hay một ngân hàng được chỉ định khác có thể mắc sai lầm khi đã thanh toán một bộ chứng từ có sai sót, sau đó ghi nợ ngân hàng phát hành L/C. Nếu ngân hàng mắc sai lầm lại do người nhập khẩu chỉ định thì ngân hàng mở có quyền truy hoàn số tiền đã bị ghi nợ. Hơn nữa, trong một số trường hợp, nhà nhập khẩu phải chấp nhận điều khoản hoàn trả cho ngân hàng phát hành ngay cả khi ngân hàng mắc sai lầm do ngân hàng phát hành chỉ định. • Nhà nhập khẩu chưa nhận được bộ chứng từ cho đến khi hàng cập cảng. Vì bộ chứng từ bao gồm vận đơn, đây lại là chứng từ sở hữu hàng hóa, nên thiếu vận đơn thì hàng hóa không được giải tỏa. Nếu nhà nhập khẩu cần gấp ngay hàng hóa thì phải thu xếp để được ngân hàng phát hành phát hành một thư bảo lãnh gởi hãng tàu để nhận hàng. Để được bảo lãnh hàng, nhà nhập khẩu phải trả một khoản chi phí cho ngân hàng. Hơn nữa, nếu không nhận hàng theo quy định thì tiền bồi thường giữ tàu quá hạn sẽ phát sinh. • Nếu không quy định “bộ vận đơn đầy đủ” thì một người khác cso thể lấy được hàng hóa khi chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận đơn, trong khi đó người trả tiền hàng hóa lại là nhà nhập khẩu. 2. Đối với nhà xuất khẩu: • Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phải tiến hành làm thủ tục sửa đổi, bổ sung L/C. • Thư tín dụng có thể hủy ngang có thể được ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ bất cứ khi nào trước khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ mà không cần có sự đồng ý của người này. • Nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ không phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh toán hay chấp nhận đều có thể bị từ chối, và nhà xuất khẩu phải tự xử lý hàng hóa như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải quyết hoặc phải tìm người mua mới, bán đấu giá hay chở hàng quay về nước. Nhà xuất khẩu phải chịu các chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho và mua bảo hiểm cho hàng hóa…trong khi dó không biết rõ lập trường của nhà nhập khẩu là sẽ đồng ý hay từ chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ có sai sót.  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 42
  • 43.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ • Nếu ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận mất khả năng thanh toán, thì dù bộ chứng từ xuất trình là hoàn hảo cũng không được thanh toán. Tương tự, nếu ngân hàng chấp nhận hối phiếu kỳ hạn bị phá sản trước khi hối phiếu đến hạn thì hối phiếu cũng không được trả tiền. Trừ khi L/C được xác nhận bởi một ngân hàng hạng nhất trong nước, còn lại nhà xuất khẩu luôn phải chịu những rủi ro về hệ số tín nhiệm của ngân hàng phát hành, cũng như rủi ro chính trị hay rủi ro cơ chế chính sách của nước nhập khẩu. • Nếu nhà xuất khẩu nhận được một L/C trực tiếp từ ngân hàng phát hành (không thông qua ngân hàng thông báo), thì đó có thể là một L/C giả. Nhà xuất khẩu phải yêu cầu có một ngân hàng trong nước xác nhận L/C hay phải được ngân hang phục vụ mình xác minh L/C là thật. 3. Đối với ngân hàng phát hành • Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu chủ tâm không hoàn trả hoặc không có khả năng hoàn trả. Như vậy, rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành là rất hiện hữu, dó đó, trước khi chấp nhận phát hành L/C, ngân hàng cần áp dụng một quy trình thẩm định chặt chẽ giống như việc cấp tín dụng cho khách hàng. • Trong số các nhân tố, ngân hàng phát hành cần phải xem xét đó là liệu ngân hàng có thu lại được một phần hay toàn bộ số tiền đã thanh toán từ việc bán hàng nếu nhà nhập khẩu bị phá sản. Ngân hàng phát hành cần phải trả lời các câu hỏi sau: Nhà nhập khẩu sẽ là người chắc chắn sở hữu hàng hóa?, Hàng hóa đảm bảo chất lượng và có thể bán được?, Hàng hóa có dễ hỏng và giá cả có hay biến động hay không?, Hàng hóa có bị hư hại trong quá trình vận chuyển, nếu có thì có bảo hiểm không, và ngân hàng có quyền đòi tiền bảo hiểm không?, Có sự thông đồng lừa đảo giữa nhà xuất khẩu và nhập khẩu, hậu quả có thể là hàng hóa sẽ không bao giờ được chuyển đi?, Có hạn chế nào liên quan đến loại hàng hóa nhập khẩu không, như hạn chế về giấy phép kinh doanh, đối tượng mua bán? • Khi L/C không có xác nhận, ngân hàng phát hành hay được yêu cầu chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ. Trong trường hợp này, nếu không có sự chấp nhận trước của người nhập khẩu về việc hoàn trả thì ngân hàng phát hành sẽ gặp rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, nên nhà nhập khẩu không chấp nhận, do đó ngân hàng sẽ không truy hoàn được tiền từ nhà nhập khẩu. Về mặt nguyên tắc, ngân hàng phát hành có quyền truy đòi ngân hàng trả tiền cho bộ chứng từ có sai sót nhưng việc này rất mất thời gian và tốn kém. • Nếu ngân hàng phát hành trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn, mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 43
  • 44.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ từ đó có lỗi, nhà nhập khẩu không chấp nhận thì không thể đòi tiền nhà nhập khẩu. Khi mở L/C là ngân hàng đã thực hiện cam kết tài chính và chấp nhận rủi ro. Vì vậy, để hạn chế rủi ro, ngân hàng nên yêu cầu đối với khách hàng mới lần đầu mở L/C cung cấp cho ngân hàng tài sản cầm cố thế chấp hoặc ký quỹ cho ngân hàng 100% giá trị của L/C. Nếu là khách hàng phát hành L/C thường xuyên, ngân hàng có thể cấp một “Hạn mức tín dụng nhập khẩu” để cho người nhập khẩu mở L/C với tổng giá trị bằng hạn mức tín dụng nhập khẩu. Tỷ lệ % ký quỹ có thể giảm xuống nếu mức độ tin cậy của khách hàng tăng lên. 4. Đối với ngân hàng thông báo Ngân hàng thông báo chịu trách nhiệm phải có sự “quan tâm hợp lý” để bảo đảm rằng thư tín dụng là chân thật, bao gồm cả việc xác minh chữ ký, khóa mã, mẫu điện trước khi gởi thông báo cho nhà xuất khẩu 5. Đối với ngân hàng được chỉ định Các ngân hàng được chỉ định tuy không có một trách nhiệm nào phải thanh toán cho người xuất khẩu trước khi nhận được tiền từ ngân hàng phát hành, nhưng trên thực tế, ngân hàng này thường ứng trước cho nhà xuất khẩu với điều kiện truy đòi để trợ giúp nhà xuất khẩu, do đó, ngân hàng được chỉ định chịu rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành hoặc nhà xuất khẩu. 6. Đối với ngân hàng xác nhận Nếu bộ chứng từ hoàn hảo, thì ngân hàng xác nhận phải trả tiền cho người xuất khẩu bất luận là có truy hoàn được tiền từ ngân hàng phát hành hay không. Như vậy, Ngân hàng xác nhận chịu rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành cũng như rủi ro chính trị và rủi ro cơ chế của nước ngân hàng phát hành. Nếu ngân hàng xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, ngân hàng phát hành không chấp nhận thì không thể đòi tiền từ ngân hàng phát hành. Chươ ng 4 THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM I. CÁCH THỨC MỞ L/C TẠI VIỆT NAM: 1. Ðiều kiện mở L/C: Ðể được mở L/C, Doanh nghiệp phải nộp tại ngân hàng - Giấy đăng ký kinh doanh  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 44
  • 45.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ - Tài khoản ngoại tệ tại Ngân hàng ( muốn mở tài khoản phải đóng ít nhất 500 USD vào tài khoản chuẩn bị mở cùng với các giấy tờ sau: + Quyết định thành lập Công ty + Quyết định bổ nhiệm Giám đốc và Kế toán trưởng 2. Cách thức mở L/C: 2.1. Các giấy tờ cần nộp khi đến Ngân hàng để mở L/C • Ðối với L/C at sight: + Giấy phép nhập khẩu (nếu hàng hoá được quản lý bằng giấy phép) + Quota ( đối với hàng quản lý bằng hạn ngạch) + Hợp đồng nhập khẩu ( bản sao) + Ðơn xin mở L/C at sight ( theo mẫu in sẵn của Ngân hàng). Cơ sở viết đơn là hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết. • Ðối với L/C trả chậm + Giấy phép nhập khẩu ( nếu có) hoặc quota nhập + Phương án bán hàng để thanh toán nhập khẩu + Ðơn xin mở L/C trả chậm (theo mẫu in sẵn của Ngân hàng).Cơ sở viết đơn là hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết. + Ðơn xin bảo lãnh và cam kết trả nợ ( theo mẫu của Ngân hàng) 2.2. Lưu ý khi làm đơn xin mở L/C - Cơ sở viết đơn là hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết nhưng nhà nhập khẩu có thể thêm một số nội dung có lợi cho mình. - Trên đơn phải có chữ ký của Giám đốc và Kế toán trưởng đơn vị nhập khẩu. Nếu thực hiện nhập khẩu uỷ thác thì trên đơn xin mở L/C phải có đầy đủ 4 chữ ký: chữ ký của Giám đốc và Kế toán trưởng đơn vị nhập khẩu uỷ thác và chữ ký của Giám đốc và Kế toán trưởng của đơn vị nhận uỷ thác - Ðể tránh L/C phải tu chỉnh nhiều lần mất thời gian và tốn kém, nhà nhập khẩu có thể fax đơn xin mở L/C đến nhà xuất khẩu xem trước và xin ý kiến. - Nhà nhập khẩu nên xem L/C bản gốc và đề nghị tu chỉnh nếu cần để bảo vệ quyền lợi cho mình 3. Ký quĩ mở L/C: 3.1. Cơ sở ký quỹ  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 45
  • 46.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Hiện nay các ngân hàng quy định tỷ lệ ký qũy ( 100%; dưới 100% hoặc không cần ký qũy) đối với doanh nghiệp nhập khẩu căn cứ vào: • Uy tín thanh toán của doanh nghiệp • Mối quan hệ của doanh nghiệp đối với ngân hàng • Số dư ngoại tệ trên tài khoản của doanh nghiệp • Công nợ của doanh nghiệp nhập khẩu • Tính khả thi trong phương án kinh doanh hàng nhập khẩu của đơn vị nhập khẩu 3.2. Cách thức ký quĩ: - Nếu số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng lớn hơn số tiền ký quĩ, ngân hành sẽ trích từ tài khoản tiền gửi chuyển sang tài khoản ký quĩ. Phòng nhập khẩu trực tiếp làm phiếu chuyển khoản nội dung ký quĩ mở L/C sau đó sẽ chuyển sang Phòng Kế toán để thực hiện - Nếu số dư tài khoản tiền gửi nhỏ hơn số tiền ký quĩ, giải quyết bằng hai cách sau: + Mua ngoại tệ để ký quĩ + Vay ngoại tệ để ký quĩ. 4. Thanh toán phí mở L/C: Phí mở L/C tùy theo mức nhà nhập khẩu thực hiện ký quỹ: Ví dụ: Tại Vietcombank Ký qũi Phí mở L/C 100% trị giá L/C 0,075% trị giá L/C mở 30 - 50% trị giá L/C 0,1% trị giá L/C mở Dưới 30% trị giá L/C 0,15% trị giá L/C mở ( min 5 USD và max 200 USD) Miễn ký quĩ 0,2% trị giá L/C mở ( min 5 USD và max 300 USD )  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 46
  • 47.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ Khi mở L/C trả chậm: phải có sự bảo lãnh của ngân hàng nên nhà nhập khẩu phải trả thêm 0,2% - 0,5% cho mỗi quý tùy vào từng mặt hàng nhập khẩu. II. THỰ C TRẠ NG TRONG THANH TOÁN QUỐ C TẾ TẠ I VIỆ T NAM: Ngày nay, hầu hết các Ngân hàng thương mại Việt Nam đều đang cố gắng đa dạng hóa dịch vụ của mình để cung cấp tốt hơn cho khách hàng. Đối với dịch vụ thanh toán quốc tế nói chung và dịch vụ thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng, các ngân hàng đều đang cải tiến công nghệ ngân hàng ngày một hiện đại, nhờ đó, tăng nguồn vốn phi lãi cho ngân hàng. Thực trạng hiện nay ở các ngân hàng thương mại Việt Nam là nguồn vốn huy động được ở các ngân hàng thương mại chủ yếu là nguồn vốn huy động được từ tiền gởi của khách hàng, nguồn thu từ việc cung cấp các dịch vụ vẫn còn rất hạn chế. Tuy nhiên, nỗ lực cố gắng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong dịch vụ thanh toán quốc tế đáng được ghi nhận. Trong vòng bảy năm trở lại đây, Ngân hàng Citibank đã tổ chức trao giải thưởng cho các ngân hàng Việt Nam đạt chất lượng xuất sắc trong lĩnh vực thanh toán quốc tế. Năm 2009, ngày 16 tháng 4 vừa qua, Ngân hàng Citi đã công bố danh sách các ngân hàng đạt giải thưởng này trong năm nay. Số lượng ngân hàng đạt giải thưởng về chất lượng cao trong thanh toán quốc tế năm nay là 18 ngân hàng, tăng hơn so với các năm trước. Việc số lượng các ngân hàng trong nước đoạt giải tăng lên rõ rệt hàng năm là minh chứng rõ ràng nhất về sự tiến bộ vượt bậc về chuyên môn của các ngân hàng thương mại. Cải tiến chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ là mục tiêu mà các ngân hàng đều hướng đến trong tương lai, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, đang trên con đường hội nhập sâu thương mại quốc tế. III. GIẢI PHÁP HỖ TRỢ VIỆC THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ - Chính phủ Việt Nam thực hiện đúng lộ trình như đã cam kết khi gia nhập WTO đồng thời tạo môi trường pháp lý để các ngân hàng thương mại cạnh trạnh bình đẳng thực sự với nhau - Nhà nước cần sớm ban hành văn bản xác nhận UCP, URC làm cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp phát sinh khi thực hiện phương thức tín dụng chứng từ - Rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa đối với cơ quan hải quan - Phát triển các dịch vụ đi kèm của phương thức tín dụng chứng từ. Như đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Hồ Chí Minh, Ngân hàng đã thực hiện đa dạng hóa các dịch vụ thanh toán tín dụng chứng từ như sau: Dịch vụ thông báo L/C, sửa đổi LC, Dịch vụ xác nhận L/C, Dịch vụ nhận bộ  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 47
  • 48.
     Đề ánnhập môn Tài chính tiền tệ chứng từ và thanh toán, Dịch vụ chiết khấu truy đòi, Dịch vụ chiết khấu miễn truy đòi, Dịch vụ chuyển nhượng L/C…  Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Trang 48