LĂNG KÍNH CỦA LYRA
Một khám phá về di sản thiên hà của loài người
Lyssa Royal và Keith Priest
Đề tặng
Đến những đứa trẻ của Lyra nằm rải rác khắp thiên hà, cầu cho bạn nhớ lại di sản của mình.
“Tôi là một đứa trẻ của Trái Đất và Thiên Đường đầy sao;
Nhưng chủng tộc của tôi chỉ của mỗi Thiên Đàng.
Cái mà bạn biết bản thân mình... “
—— Được dịch từ đĩa Petelia,
Người khởi đầu Orphic, 200-400 trước Công Nguyên.
MỤC LỤC
Lời Nói Đầu
1. Pha Dẫn Chiều Kích
2. Sáng Tạo Gia Đình Thiên Hà
3. Tử Cung Của Lyra
4. Nhân Tố Sirius
5. Những Cơn Gió Orion
6. Chị Em Họ Pleiades Của Trái Đất
7. Cửa Ngõ Arcturus
8. Khởi Thủy Trái Đất
9. Zeta Reticuli: Chuyển Hóa Và Thức Tỉnh
10. Hợp Nhập: Về Nhà Với Chính Mình
BẢNG THUẬT NGỮ
Tài Liệu Đã Chọn
Lời Cảm Ơn
Về Các Tác Giả
Lời Nói Đầu
“Đó không phải là sự hòa trộn, hỡi chàng trai, máu và
hơi thở tạo nên khởi đầu và thực chất linh hồn bạn, dù
phàm thể và xác trần của bạn bị đóng khung trong
những thứ kia, nhưng linh hồn bạn đã đến từ nơi khác.”
—— Empedocles
Từ những ngày đầu tiên trong lịch sử được ghi lại của Trái Đất, đã có một cảm xúc buồn bã
ngọt ngào trong chúng ta khi nhìn vào không gian của bầu trời đêm. Một số chúng ta mong mỏi
ngày mà chủng tộc nhân loại có thể vượt ra ngoài các ngôi sao. Nó thực sự chỉ là một hy vọng
tương lai chứ không phải một kỷ niệm quá khứ của chúng ta sao?
Ý thức con người có những sự phức tạp mà vẫn chưa được khám phá. Điều gì thôi thúc chúng
ta đẩy sự tiến hóa đến giới hạn của nó? Điều gì thôi thúc chúng ta tạo ra sự bất bình đẳng giữa các
chủng tộc trên hành tinh này? Có thể chúng ta đang diễn một vở kịch vũ trụ mà chỉ tạm thời quên
đi kịch bản. Chúng ta biết một quốc gia hay chủng tộc này trên Trái Đất ảnh hưởng đến một quốc
gia hay chủng tộc khác. Ý tưởng này cũng có thể lan rộng ra ngoài vũ trụ. Có lẽ những gì chúng
ta làm ở đây ảnh hưởng đến vô số những nền văn minh khác trên các hành tinh khác. Liệu chúng
ta có thực sự liên kết với nhau không?
Các thông tin được trình bày trong cuốn sách này là sự tổng hợp của nhiều năm thấu hiểu, lập
luận suy luận và dẫn kênh. Việc khảo sát chéo các kênh khác nhau cũng đã được tiến hành (chủ
yếu sử dụng tác phẩm của đồng tác giả Lyssa Royal), cũng như nghiên cứu về một số tác phẩm
nhân loại học và siêu hình học đáng chú ý. Người đọc có thể nhìn những ý tưởng đó theo cả nghĩa
đen lẫn nghĩa bóng, vì câu chuyện vẫn chỉ là một. Không có tuyên bố rằng đây là chân tướng sau
cùng cho sự xuất hiện của gia đình thiên hà của chúng ta vào thực tại này. Nếu nó phù hợp với
bạn, hãy sử dụng những sự thấu suốt được đưa ra dưới đây như một chất xúc tác cho sự phát triển
của chính mình. Còn nếu không, có lẽ nó có thể dẫn bạn bước một bước gần hơn với chân tướng
cá nhân của chính bạn.
Một trong những ý tưởng quan trọng nhất để thúc đẩy tiềm năng của con người là thừa nhận tất
cả các chân tướng đều là sự biểu hiện của Một Chân Tướng, bất kể nó có thể là gì. Thông qua sự
thừa nhận này xuất hiện sự thống nhất. Nếu không có gì khác, hãy đọc cuốn sách này trong sự vui
vẻ, thú vị, và kích thích trí tưởng tượng của bạn. Niềm tin của bạn chắc chắn không phải là thứ
bắt buộc —— nhưng bạn sẵn sàng trở thành một nhà thám hiểm!
Đây là một cuốn sách giới thiệu. Một bảng tổng hợp thuật ngữ rộng lớn được viết ở phần cuối
tài liệu cho bất kỳ thuật ngữ xa lạ nào có thể đã được sử dụng. Mỗi chương đại diện cho một khía
cạnh khác nhau của một tấm thảm phức tạp và cách tấm thảm ảnh hưởng đến Trái Đất. Thông
qua nhiều cuộc thảo luận, thông tin đã được mài thành một khuôn khổ sẽ giới thiệu cho người đọc
một dàn diễn viên.
Dàn diễn viên chưa hoàn chỉnh. Còn vô số các thành viên và vở kịch khác được diễn trên khắp
vũ trụ chúng ta. Những nhân vật trong sách này nổi lên như những người có vẻ quan trọng nhất
đối với vở kịch của nhân loại ở trên Trái Đất.
Có những giả định nhất định được thực hiện trong toàn bộ tài liệu là nền tảng cho phần còn lại
của thông tin. Một trong số đó là ý tưởng về luân hồi và bản chất vô hạn của ý thức. Không cần
phải nắm lấy khái niệm này để nắm bắt tài liệu, nhưng nó sẽ cho phép người đọc có một cái nhìn
rộng hơn về bức tranh lớn hơn.
Một giả thuyết khác được trình bày là ý tưởng rằng mỗi người đều có nhận thức cao hơn ——
tức là dù một sinh mệnh đã chọn bất kể tầng thứ tồn tại nào cho một kiếp sống nào đó, thì nó vẫn
giữ được một nhận thức (ý thức hoặc tiềm thức) về mối liên hệ với Toàn Thể và tính danh thần
thánh của nó. Khái niệm này kết nối chúng ta với ý tưởng rằng chính chúng ta và chúng ta là
những người kiểm soát số phận của mình. Vì vậy, sự tiến hóa nằm trong tay của chính chúng ta.
Trong suốt cả cuốn sách cũng sẽ giả định rằng “Toàn Thể”, hoặc ý thức khối hợp nhập của gia
đình thiên hà chúng ta vẫn luôn tồn tại. Cần phải có vài thông số thiết lập cho mục đích của các
thông tin trình bày. Những thông số này sẽ ám chỉ đến “khởi đầu” của câu chuyện như là Pha Dẫn
Chiều Kích và “kết thúc” như là Sự Hợp nhập.
Trong nhiều trường hợp nhãn dán đã được sử dụng để chỉ các địa điểm hoặc con người (như
Sirius, Orion). Nói chung, các nhãn này là lưu động, thiên về biểu thị một cõi giới hoặc nhận thức
rung động hơn là một ý tưởng cố định. Ví dụ trong trường hợp như Lyra, khả năng đáng lưu tâm
là những ngôi sao được nói đến đã nhiều lần trở thành lỗ đen và lỗ trắng. Vì vậy, những điều này
có thể được nói đến như là ý tưởng chứ không phải là cột mốc cụ thể trong thời gian và không
gian. Những ý tưởng có mang trọng lượng; điều này hoàn toàn rõ ràng trong các truyền thuyết
của chúng ta mà cho thấy tầm quan trọng của các hệ sao khác. Các truyền thuyết của bộ lạc
Dogon, các văn bản Sumer, và các bài viết của Ai Cập cổ đại đều đòi hỏi phải tiếp xúc với sinh
mệnh từ các hệ sao khác. Những truyền thuyết này phải đến từ đâu đó. Mặc dù ngôn ngữ và
phong cách thể hiện đương thời của chúng khác nhau một chút, nhưng tính nhất quán trong nội
dung của chúng vượt ngoài tranh luận. Thông tin về quá khứ của nhân loại có thể làm cuộc sống
trên Trái Đất của chúng ta thêm phần phong phú. Nếu chúng ta thực sự biến hóa, nó sẽ là thông
qua sự pha dẫn của nhận thức vào trong thế giới chúng ta, không sử dụng nhận thức để đào thoát
khỏi trách nhiệm của chúng ta với tư cách là công dân của Trái Đất và Gia Đình Thiên Hà.
Lưu ý: Đọc chú thích mỗi bài và bảng thuật ngữ!
1. Pha Dẫn Chiều Kích
Với chìa khóa thiên đàng của nó,
Những dây không khí, những phím của lửa
Cây đàn Lyre âm giai tự nhiên vĩ đại của người Samos
Nổi lên xuyên suốt toàn thanh nhịp gấp bảy của nó
Từ Trái Đất hướng đến những ngôi sao bất biến.
—— Longfellow về Lyra từ Sự Che Khuất của Orion
Tất cả ý thức và năng lượng đã từng được hợp nhập thành một toàn thể hoàn chỉnh. Toàn Thể
này đã nhận thức được các khía cạnh của chính nó, nhưng theo một cách khác với ý thức cá nhân.
Trong sự phát triển hiện tại của Trái Đất, cái tôi được công nhận đầu tiên, sau đó là xã hội, và
cuối cùng là Toàn Thể, Toàn Tồn Tại, hoặc Thượng Đế. Sự tách biệt vẫn được tạo ra. Sự tách biệt
khỏi Nguồn này là một ảo giác. Ảo giác này là một công cụ cung cấp cho Toàn Thể toàn bộ
những bài học và thách thức thiết yếu mà nó cần trải nghiệm để tái hợp nhập trở lại Nguồn.
Trước khi có sự phân mảnh từ Nguồn này, Toàn Thể đã tồn tại trong một quãng tám khác của
thực tại chiều kích. Từ cõi giới của sự thống nhất này, các phần của Toàn Tồn Tại tự hỏi sẽ như
thế nào nếu nó chia nhỏ và tạm quên sự tồn tại hợp nhập. Sức mạnh của ý nghĩ này trên một tầng
thứ khối như vậy đã bắt đầu tạo ra một sự phân mảnh. Ảo giác tạo ra từ sự phân mảnh này sẽ là
một sự quên lãng đầy thách thức mà trong đó ý thức cần sáng tạo (từ bản tính thần thánh của
chính nó) sự hồi tưởng để thống nhất một lần nữa.
Cái được gọi là “sự sáng tạo” thực chất là sự phân mảnh này, hoặc có tính mô tả hơn, là Pha
Dẫn Chiều Kích. Sự tò mò ban đầu của Toàn Thể về một sự tồn tại phân mảnh thực chất đã tạo ra
thực tại của nó. Nó đòi hỏi một sự chuyển đổi trong quan điểm, tiêu điểm, hay tần số. Là một
phần của Toàn Thể, các khía cạnh của Gia Đình Thiên Hà đã chịu trách nhiệm phần nào trong
việc đưa ra bản thiết kế để dẫn dắt sự phát triển của họ. Do đó, tuyên bố “chúng ta là Thượng Đế”
thực sự có ý nghĩa khả thi.
Bản thiết kế đã được trình bày chứa nhiều ý tưởng khác nhau. Trước hết, nó cho rằng sự phân
cực và phân mảnh sẽ là chuẩn. Việc mã hóa trong bản thiết kế cung cấp tùy chọn Tự Do Ý Chí
trên phần của mỗi mảnh hoặc linh hồn. Thách thức chính là nhớ rằng mỗi ý thức đều sở hữu nó.
Tự Do Ý Chí càng được sử dụng nhiều bao nhiêu, thì ký ức thần thánh càng được thỉnh nguyện
nhiều bấy nhiêu. Khi đối mặt một thực tại phân cực, Tự Do Ý Chí trở thành người giải phóng.
Khi một linh hồn quên rằng nó có Tự Do Ý Chí, những bài học trở nên nhiều thách thức hơn,
nhưng phần thưởng cũng sẽ cao hơn.
Một ý tưởng khác trong bản thiết kế được lựa chọn này là các mảnh của Toàn Thể sẽ hoàn toàn
chịu trách nhiệm về hành động của chúng trong giai đoạn mất trí nhớ này. Mọi hành động được
thực hiện sẽ tạo ra phản ứng từ vũ trụ bất kể nó có được ghi nhớ hay không. Một số người gọi đó
là nghiệp; tuy nhiên, nó còn là nhiều hơn “mắt đền mắt, mạng đền mạng”. Luôn có khả năng mở
rộng nhận thức của một người thay cho những hình phạt đối với hành vi tiêu cực. Vì vậy, trong
một ý nghĩa nào đó, trí tuệ xóa đi nghiệp lực.
Dù điều này có vẻ giống như các quy tắc cho một số loại trò chơi vũ trụ tàn nhẫn, nhưng kết
quả đã được quyết định. Với điều này trong tâm trí, điểm đến cuối cùng không quan trọng mà
chính là cuộc hành trình xuyên suốt chặng đường. Đó là nghĩa đen của cách mà trò chơi được
chơi.
Một bản thiết kế được chấp nhận khác là một mã tạo ra theo cách ether được xây dựng vào
trong kết cấu của tấm thảm phổ quát. Đoạn mã này sẽ cho phép các hình thể hình người đi bằng
hai chân dựa trên carbon làm phương tiện phát triển tự nhiên bình thường cho việc nhập thể của ý
thức kiểu người vào cấu trúc của hành tinh. Mã này tồn tại trên các tầng thứ siêu nguyên tử mà
khoa học mới bắt đầu học cách đo lường. Biểu tượng của sự phân cực diễn ra trong hình thể cơ
thể con người. Con người Trái Đất là đối xứng, với hai tay, hai chân, hai mắt, hai tai… Thân thể
được một thân và một đầu hợp thành một toàn thể.
Trong suốt quá trình phát triển tiến hóa của các hình thể hình người (trong gia đình thiên hà
của Trái Đất) cũng được quyết định rằng các cực nam và cực nữ sẽ thể hiện trong các loại cơ thể
riêng biệt mà bù trừ. Đây là một lời nhắc nhở rằng để sáng tạo, các cực phải luôn được gia nhập
hoặc hợp nhập. Khái niệm này được nắm bắt rộng rãi bằng việc một cá nhân có khuynh hướng
cảm thấy “là Một” nhất khi họ gia nhập với người khác trong tình yêu.
Quá trình Pha Dẫn Chiều Kích thực chất là gì? Trong kết cấu thời gian/không gian của chòm
sao Lyra có tồn tại một thứ có thể gọi là lỗ trắng (1).
[(1) Một trọng điểm của năng lượng và ánh sáng mạnh mẽ. Trong trường hợp này là một nơi sinh.]
So sánh lỗ trắng này với một lăng kính, khi chiếu một chùm ánh sáng qua lăng kính, sẽ nhận
được một quang phổ ánh sáng phân thành bảy tần số màu sắc có thể nhìn thấy được. Khi một
phần của Toàn Thể đi qua Lăng kính của Lyra (lỗ trắng), ý thức được phân mảnh thành bảy tần số
rung động, tượng trưng cho ý thức khối của gia đình thiên hà của Trái Đất. Mỗi mảnh trở nên ý
thức trên tất cả các tần số hoặc mật độ khác nhau kia. Tần số được trải nghiệm trước đây được
hợp nhập vào Toàn Thể (như ánh sáng trắng). Khi phần này của Toàn Thể đi qua lăng kính, nó
thể hiện như bảy tần số nhận thức. Ý thức cũng phân mảnh, và những mảnh vỡ đã di chuyển “xa
ra” như thuyết “Big Bang” gợi ý. Vậy là, ảo giác vì thế phát sinh, rằng mỗi mảnh đều rất rất đơn
độc.
Toàn Thể hiểu rằng mục đích của trải nghiệm này là học để tái hợp nhập từ một điểm tách biệt.
Nhưng bằng cách nào? Là những linh hồn cá nhân hoặc theo nhóm, các phân mảnh đã tìm ra vũ
trụ vừa được tạo ra. Pha Dẫn Chiều Kích không chỉ tạo ra sự phân mảnh ý thức, mà nó còn tạo ra
các ngôi sao, hành tinh, khí gas và các phân tử tạo nên thực tại vật lý. Tuy nhiên, thực tại vật lý
chỉ đại diện cho một vài tần số năng lượng xuất hiện từ sự phân mảnh.
Như khoa học đã phát hiện, vật chất là năng lượng được đặc hóa rung động ở một mức cụ thể.
Mọi khía cạnh của vũ trụ đều được tạo thành từ năng lượng. Công nghệ Trái Đất vẫn chưa khám
phá ra phương pháp đo lường những phần nhất định của thực tại. Nếu công nghệ có khả năng
này, vô số cổng vào thời gian, không gian và chiều kích sẽ được nhìn thấy. Trong thời gian đó,
bảy tầng thứ tần số mà gia đình thiên hà của Trái Đất phân mảnh thành bằng cách đi qua Lăng
kính của Lyra sẽ được khám phá dưới đây. Từ thời điểm này, thuật ngữ “mật độ” sẽ được sử dụng
để tham chiếu các tầng thứ tần số này. (2)
[(2) Xem Bảng Thuật Ngữ để biết sự khác biệt giữa “mật độ” và “chiều kích”.]
MẬT ĐỘ MỘT: Nhận thức như một điểm; Vật chất vật lý. Tầng thứ tần số này là cơ bản
nhất. Nó cung cấp vật chất và năng lượng cho việc tạo ra các nguyên tử và phân tử. Ví dụ, tất cả
các dạng sống cơ bản của khoáng chất và nước đều hoạt động từ tần số mật độ một. Con người
cũng có tần số này trong bản thân họ. Nó tạo ra các mã di truyền cơ bản.
MẬT ĐỘ HAI: Nhận thức như một đường thẳng; Vật chất sinh học; Phát triển bản sắc nhóm
hoặc loài.
Ý thức thể hiện bởi rung động mật độ hai không có nhận thức bản thân (hay bản ngã). Hầu hết
các loài trong vương quốc động thực vật đều tồn tại ở đây; tuy nhiên, vị trí của chúng trong mật
độ phụ thuộc vào nhiều yếu tố bổ sung, trong đó có sự hiện diện hoặc không hiện diện của bản
ngã.
MẬT ĐỘ BA: Nhận thức thể tích; Bản ngã; Mất bản sắc nhóm, phát triển bản sắc cá nhân;
Khả năng nhớ quá khứ và nhận thức được tương lai trong khi vẫn giữ được nhận thức hiện tại.
Đây là mật độ nơi con người xuất hiện. Nó là một rung động tạo ra ảo giác về sự tách biệt, do
đó là một thách thức đối với sự thức tỉnh. Hiện nay nhân loại đang trải qua giai đoạn chuyển đổi
sang thực tại mật độ bốn, điều này có thể giải thích cho những thay đổi chóng vánh mà nhân loại
đang trải qua. Đây là tần số thể hiện sự tách rời nhất với Toàn Thể. Chính từ đây đã học được rất
nhiều bài học về hợp nhập. Đây là tầng thứ mãnh liệt nhất trong tất cả các tầng thứ về bồi dưỡng
sự tăng trưởng bên trong Cái Tôi của nó.
Động vật biển có vú (cá heo và cá voi) hiện đang tồn tại đồng thời ở mật độ ba và bốn, cũng
đang chuyển khỏi mật độ ba cùng nhân loại. Ý thức của động vật linh trưởng cũng tồn tại ở mật
độ ba. Sự tiến hóa của loài linh trưởng đang ngày càng trở nên rõ ràng, khi chúng ta bắt đầu quan
sát chúng biểu hiện một vài đặc điểm mà trước kia chỉ có ở người (chẳng hạn như việc hấp thụ
ngôn ngữ và hành vi bệnh lý).
MẬT ĐỘ BỐN: Đóng khuôn nhận thức về thể tích; Siêu nhận thức; Tái hợp nhập bản sắc
nhóm mà không làm mất bản sắc bản ngã; Khi rung động tăng lên, nhận thức về quá khứ, hiện tại
và tương lai trở nên lưu động hơn cùng với khả năng giao tiếp với các thực tại đa chiều kích và đa
mật độ; Ý thức định hướng tiêu cực trở nên khó duy trì hơn.
Trên Trái Đất hiện giờ, thực tại mật độ bốn là chồng chập với mật độ ba. Trong trường hợp của
con người, điều này có thể giải thích cho sự mong muốn tăng lên đối với sự hiệp nhất, hòa bình,
và tình yêu vô điều kiện trái ngược với ảo giác về sự tách biệt đặc trưng mật độ ba. Mức rung
động của thực tại của một người được đẩy lên, do đó người ta có thể phải đối mặt với các vấn đề
cá nhân một cách nhanh chóng và dữ dội hơn. Dễ thấy kết quả của việc này là như thế nào với
hàng ngàn cá nhân trên Trái Đất đang trong trị liệu, trong các chương trình lạm dụng thuốc và
tham gia vào các nỗ lực nhân đạo để giúp hành tinh tốt hơn. Đây là tần số của trách nhiệm. Đây là
tần số khi người ta bắt đầu nhớ lại mã hoá của Tự Do Ý Chí. Đây là tần số cuối cùng nơi cơ thể
vật lý là phương tiện để biểu hiện ý thức. Do đó, nhiều nền văn minh lựa chọn dành một thời gian
dài trong mật độ này.
MẬT ĐỘ NĂM: Nhận thức trải nghiệm về “Tôi” như một bản sắc nhóm; Không bị ràng buộc
bởi thời gian tuyến tính.
Trong mật độ này ý thức cảm nhận bắt đầu thức tỉnh về di sản của nó. Đây là mật độ trí tuệ.
Khi người ta đánh thức trí tuệ bên trong, họ thường muốn chia sẻ nó với những người vẫn tập
trung vào mật độ thấp hơn. Nhiều người từ cõi giới này lựa chọn trở thành người hướng dẫn cho
người khác. Một sinh mệnh mật độ năm sáp nhập với gia đình ý thức của nó (“siêu linh hồn”
hoặc “bản thân cao hơn” nếu bạn muốn nói) và bắt đầu nhớ lại. Đây là mật độ đầu tiên mà trong
đó một định hướng phi vật lý được trải nghiệm.
(Lưu ý: Không có sự phân biệt rõ ràng khi chuyển mật độ từ năm đến sáu và sáu đến bảy vì
những mật độ này không định hướng về vật lý, có nhiều sự pha trộn trong những chuyển tiếp
này.)
MẬT ĐỘ SÁU: Nhận thức như chiều kích chính nó. Đây thường được gọi là “Ý thức Christ”,
trong đó nó hiển thị một tầng thứ tần số tương đương với của Chúa hay Phật. Từ tần số này, một
sự hồi tưởng hoàn toàn xảy ra, và người ta bắt đầu chịu trách nhiệm đối với Toàn Thể hơn là Cái
Tôi. Quá trình tiến triển Cái Tôi và tiến triển Toàn Thể trở thành một và giống nhau.
MẬT ĐỘ BẢY: Nhận thức như là trải nghiệm đa chiều; Bản sắc ma trận nhóm (Phức hợp ký
ức xã hội).
Đây là tần số của sự thống nhất toàn Nhất Thể hoặc hợp nhập. Những người rung động đến tần
số này được hợp nhập trong bản sắc và trở thành một toàn thể có ý thức khối. Họ thu hút những
người ở các tần số khác và cung cấp lưu động cho dòng chảy tự nhiên tiến đến hợp nhập. Một khi
các sinh mệnh mật độ bảy đạt được khối lượng tới hạn, họ sẽ tiến triển xuyên qua Lăng kính của
Lyra (từ quan điểm của chúng ta, nó sẽ là điểm ra lỗ đen) và đạt đến quãng tám tiếp theo, nơi mà
một cuộc phiêu lưu khác đang chờ đợi.
* * *
Điều quan trọng cần lưu ý là khi các phần của Toàn Thể được phân mảnh thông qua Lăng kính
của Lyra, mỗi ý thức vẫn giữ được sự nhận thức trên mọi tầng thứ mật độ. Tuy nhiên, một phần
của sự quên lãng vẫn còn ở đó. Từ mật độ đậm đặc cao nhất (như ba và một bộ phận của bốn),
một sự vô nhận thức có thể xảy ra liên quan đến sự cùng tồn tại của các tầng thứ khác.
Khi hợp nhập diễn ra, người ta nhận thức được những khía cạnh khác. Vi mô luôn luôn phản
ánh vĩ mô. Điều này được nhìn thấy trong “sự trùng hợp ngẫu nhiên” về cái cách mà cấu trúc
nguyên tử phản ánh cấu trúc của một hệ mặt trời. Nó cũng giống với sự phân mảnh các phần của
Toàn Thể thành các sinh mệnh cá thể hoặc các nhóm linh hồn. Khi một người nhập thể vào thân
thể vật lý, nó có thể được so sánh với đi qua Lăng kính của Lyra phiên bản thu nhỏ.
Quá trình phân mảnh linh hồn thành hiện thân vật lý phần nào có thể được so sánh với các lý
thuyết xung động bản năng, bản ngã, và siêu ngã của Freud. Như một bào thai, linh hồn thể hiện
ý thức mật độ một. Tại điểm đó, người ta nhận thức được chính nó như một kết nối phức tạp với
môi trường. Về mặt vật lý, một là một khối của những mã DNA với tiềm năng trở thành một sinh
mệnh con người có ý thức. Vì Freud không đưa giả thuyết của mình vào quá trình phát triển trước
khi sinh, nên không có tương quan. Nếu ông ta tạo ra một nhãn dán miêu tả mối quan hệ của bào
thai với môi trường, thì đó sẽ là mô tả mật độ đầu tiên.
Khi đứa trẻ ở trong khoảng thời gian từ sơ sinh đến hai tuổi, nó bắt đầu biểu lộ ý thức mật độ
hai, bắt đầu nhận thức sự tách biệt giữa bản thân và môi trường, và những ham muốn của nó dần
được giải phóng. Vẫn còn một phần của quan điểm vị kỷ tương quan ở cấp độ phát triển này với
xung động bản năng. Cái phân biệt định hướng mật độ hai với mật độ ba của đứa trẻ là thiếu một
khả năng riêng biệt để phân biệt giữa bản thân và môi trường.
Từ khoảng hai tuổi trở đi, ý thức mật độ ba trở thành khung cơ bản được biểu lộ. Đây là sự
phát triển của bản ngã và nhận thức của đứa trẻ như là một cá nhân tách biệt. Đây là những năm
định hình quan trọng; người ta có thể thấy rằng nếu sự phát triển bị gián đoạn (chẳng hạn bởi sự
lạm dụng) thì nhân cách có thể phân mảnh và tạo ra sự rối loạn trong cuộc sống sau này. Nhiều cá
nhân duy trì định hướng ý thức mật độ ba này của bản ngã trong cả cuộc đời của họ.
Sự phát triển của siêu ngã hay nhận thức cao hơn là một đặc tính mật độ bốn điển hình. Con
người có tùy chọn để phát triển khía cạnh này của bản thân họ. Đây là sự tái hợp nhập của sự
phân mảnh nhân cách —— cái đã xảy ra thông qua quá trình sinh ra —— cũng như hợp nhập vào
tầng thứ tinh thần. Khi nhân loại bắt đầu dịch chuyển mạnh mẽ hơn vào trong ý thức mật độ bốn,
người ta ngờ rằng quá trình phân mảnh nhân cách này sẽ trở nên ít rõ ràng và có lẽ trẻ em sẽ bắt
đầu biểu hiện các đặc tính mật độ bốn trong quá trình phát triển của chúng và duy trì trong suốt
cuộc đời.
Trong thời thơ ấu, người ta phải học cách thích ứng và hợp nhập vào một khuôn khổ khả thi.
Nếu không thể làm được điều này (chẳng hạn như trường hợp trẻ em bị lạm dụng) rối loạn tâm lý
sẽ thường được biểu hiện khi đạt đến tuổi trưởng thành. Các bệnh lý như Rối Loạn Đa Nhân Cách
có thể xảy ra do quá trình hợp nhập nhân cách mật độ ba một cách tự nhiên đã không diễn ra
trong thời thơ ấu. Một số nền văn minh ngoài Trái Đất đã học cách phát hiện và biến đổi các hạt
giống rối loạn bệnh lý trong thời thơ ấu và do đó không có tỷ lệ mắc bệnh lý người lớn.
Nếu hiểu rằng các mảnh cá nhân (ở cấp độ linh hồn hoặc nhân cách) dù xa đến đâu cũng không
thành vấn đề và con đường trở về nhà luôn thông qua hợp nhập, thì họ sẽ không bao giờ lạc mất
tầm nhìn mục tiêu. Trong trường hợp này, chúng ta có thể về nhà một lần nữa.
2. Sáng Tạo Gia Đình Thiên Hà
“Ta là Ra, kẻ mà thời gian bắt đầu từ đó.
Ta là trục của một bánh xe,
Một ngôi sao ban ngày lơ lửng trên biển vô tận.
Ta không phải vụ mùa; ta là hạt giống.
Ta không phải đàn Lyre; Ta là bài hát.
Ta sẽ không khuất bóng.”
—— Cuốn sách của Sự chết Ai Cập, dịch bởi Ellis
Khi đi qua Lăng kính của Lyra, sự phân mảnh đầu tiên đã tạo ra một nhóm sinh mệnh có thể
gọi là Đấng Sáng Lập. (1)
[(1): Các thuật ngữ khác như Người Quan Sát, Vĩnh Hằng, Gương Phản Chiếu và Người Gieo Hạt đã được các
cá nhân khác sử dụng và đều thích hợp]
Đấng Sáng Lập thể hiện ý thức nhóm của cái mà cuối cùng đã trở thành nhân loại. Họ có thể
phóng chiếu đến một mật độ bốn rất cao, nhưng trạng thái tự nhiên của họ là phi vật lý. Khi chia
tách khỏi phần của Toàn Thể mà đi qua Lăng kính của Lyra, họ vẫn giữ lại một ký ức, ví như giấc
mộng, về ý tưởng của hợp nhập và mục đích của sự phân mảnh. Chính họ là những người hòa âm
cho sự tiến hóa của nhân loại. Họ đóng vai trò của nguyên mẫu cha mẹ, trong sự cân bằng phân
cực nam và nữ.
Các Đấng Sáng Lập trở nên nhận thức về thiết kế được chọn khi họ phân mảnh khỏi Toàn Thể.
Từ bản thiết kế này họ biết rằng “trẻ con” mang các mã hoá của “cha mẹ”. Vì họ đóng vai trò của
cha mẹ, nên trách nhiệm của họ là ảnh hưởng đến sự phát triển của ý thức mới được tạo ra. Khi
làm điều này, họ trở thành thiết kế, bắt đầu hiểu và sống nó, biết rằng điều này sẽ mã hóa những
phân mảnh tương lai.
Các Đấng Sáng Lập bắt đầu hiểu các khuôn mẫu năng lượng tự nhiên của thực tế phân cực
được tạo ra. Họ biết rõ rằng ý thức nhóm mới được phân mảnh này liên giao diện với các thực tại
cụ thể (nghĩa là mật độ) trong ba điểm chính: [1] Một điểm thuần tích cực; [2] Một điểm thuần
tiêu cực; [3] Điểm hợp nhập của cả hai. Tất cả tương tác xảy ra trong các đường nối liền mỗi
điểm với nhau, và rất ít khía cạnh của ý thức tồn tại bên trong các điểm thuần tính. Nhận thức này
truyền cảm hứng để họ hiểu được một mô thức thực tại phân cực, đó là một điều hứng khởi và
mới mẻ đối với sự hiểu biết của họ. Mô thức, như nó xuất hiện đối với họ, được hiển thị dưới đây
trong một sơ đồ 2D.
Cả hai cực tiêu cực lẫn tích cực đều hướng tới hợp nhập
Khi ngẫm nghĩ về mô thức, họ bắt đầu hiểu được cơ chế làm thế nào ý thức đã phân mảnh sẽ
tái hợp trở về qua Lăng kính của Lyra. Mô hình tuyến tính ở trên có thể được thay đổi để mang
lại mối quan hệ bộ ba của bản mẫu. Đây là minh hoạ:
Bộ ba này đại diện cho những khả năng của quá trình hợp nhập. Các nền văn minh tự nhiên di
chuyển ngẫu nhiên (theo luật của sự hỗn độn) trong bản mẫu bộ ba cho đến khi đạt đến sự cân
bằng năng lượng.
Nếu một nền văn minh hay ý thức lựa chọn hợp nhập (sẵn sàng phát triển từ cả hai cực), chúng
sẽ tự nhiên di chuyển tới điểm hợp nhập, thúc đẩy bởi đà của cả hai cực. Điều này có thể được
xem như một hình thức cho phép của sự hợp nhập. Mặt khác, khi nền văn minh hoặc cá nhân từ
chối hợp nhập, bản mẫu sẽ mở rộng để phù hợp với sự phủ nhận đối cực của chúng. Bản mẫu mở
rộng sẽ không được chỉ ra ở đây vào thời điểm hiện tại.
Khi họ tin rằng họ đã sẵn sàng, các Đấng Sáng Lập bắt đầu sự phân mảnh khác. Cũng giống
như một phần của Toàn Thể đã trở nên tò mò và sáng tạo cõi giới này từ những suy nghĩ của nó,
Đấng Sáng Lập mô phỏng “cha mẹ” họ và dùng năng lượng suy nghĩ tạo ra sự phân mảnh của
chính họ. Sự phân mảnh xảy ra xa và rộng; ý thức cá nhân đã nảy sinh từ nhận thức nhóm của các
Đấng Sáng Lập và bắt đầu khám phá vũ trụ. Bởi sự phân mảnh này, mọi sinh mệnh tồn tại trong
gia đình thiên hà được trình bày ở đây đều là một phần của Đấng Sáng Lập.
Có vô số các mảnh vỡ và các hành trình khám phá. Một số mảnh vỡ này đã phát triển thành
những nền văn minh đóng góp một phần trong sự phát triển của Trái Đất. Một số có điểm tham
chiếu trong thực tại được biết đến của Trái Đất sẽ được khám phá trong các chương tới.
Khi các Đấng Sáng Lập phân mảnh, một số người cho phép năng lượng của họ tập hợp hóa đủ
để nhập vào một thực tại vật lý. Các Đấng Sáng Lập đã chọn những hành tinh có thể hỗ trợ sự
sống hình người. Sau đó, họ nhẹ nhàng hướng dẫn những phân mảnh này thành một sự tồn tại vật
lý mật độ ba hoặc bốn. Sau khi thời gian đã trôi qua, những phân mảnh trở nên quen với sự tồn tại
vật lý, và sự trợ giúp từ Đấng Sáng Lập (những người vẫn tồn tại với số lượng nhỏ) trở nên ít cần
thiết hơn.
Khu vực được định cư đầu tiên sau sự phân mảnh của các Đấng Sáng Lập nằm trong vùng lân
cận chung quanh chòm sao Lyra. Hầu hết gia đình thiên hà có liên kết di truyền với Trái Đất đều
có gốc rễ trong hệ sao Lyra. Chính ở đó đã xảy ra nỗ lực hợp nhập đầu tiên. Các Đấng Sáng Lập
nghĩ rằng nó sẽ dễ dàng và có thể dự đoán được; thế nhưng thay vì như vậy, dạng sống hình
người trải dài theo số mũ cho đến khi một tấm thảm cực kỳ phức tạp được dệt ra. Các sợi chỉ của
tấm thảm bắt đầu rối tung lên cho đến khi căn nguyên của sợi chỉ rốt cuộc chìm mất trong mê
cung đầy màu sắc từ thiết kế của tấm thảm.
Sau đây là các nhân vật chính được hiển thị trong tấm thảm này từ quan điểm của Trái Đất:
 LYRA: Khu vực tổng thể cho “sự chào đời” của chủng tộc hình người. Tất cả các chủng
tộc hình người trong gia đình thiên hà chúng ta đều có gốc rễ di truyền kết nối với Lyra.
Đây là biểu tượng chiếc đàn lyre mà bài hát của nhân loại được chơi trên đó.
 VEGA: Một ngôi sao trong chòm sao Lyra. Các hậu duệ của Lyra —— Vega đã sinh ra
một chủng tộc của những sinh mệnh biểu hiện đối cực với Lyra trong cả niềm tin lẫn hành
động của họ. Giữa các chủng tộc Lyra và Vega thường xuyên có xung đột.
 HÀNH TINH APEX: Một hành tinh trong hệ sao Lyra, là nỗ lực đầu tiên để tạo ra một xã
hội hợp nhập.
 SIRIUS: Một nhóm sao bộ ba, được biết đến trong thần thoại Trái Đất như Dog Star (Sao
Chó). Sirius là một trong những khu vực đầu tiên được sinh mệnh từ nhóm Lyra tới định
cư. Sirius thể hiện năng lượng của khuôn mẫu bộ ba và kéo dài tiến trình hợp nhập. Có
một lượng lớn các loại ý thức khác nhau nhập thế vào hệ sao này.
 ORION: Đây là “chiến trường” chính dành cho thử thách hợp nhập phân cực, được gieo
giống từ Sirius cũng như Lyra và Vega. Có một kết nối trực tiếp với Trái Đất sẽ được
khám phá trong các chương sau.
 PLEIADES: Tách ra bởi nhánh Lyra, nhóm này là kết nối di truyền chính của Trái Đất từ
các nguồn ngoài Trái Đất.
 ARCTURUS: Một nguyên mẫu hoặc lý tưởng bản thân tương lai của Trái Đất, Arcturus
hỗ trợ chữa trị ý thức cá nhân và hành tinh. Rung động của nó chủ yếu là mật độ sáu, được
gán cho vương quốc thiên thần.
 ZETA RETICULI: Nền văn minh này liên quan mật thiết với Trái Đất. Reticuli là nhóm
cơ bản chủ mưu các cuộc bắt cóc (hoặc gọi chính xác hơn là “tạm giam” vì nhóm này luôn
trả lại người bị bắt cóc), các chương sau sẽ nói nhiều hơn về nhóm này.
Mặc dù một số nền văn minh này chồng chập lên nhau và có thể không xuất hiện một cách
tuyến tính, dưới đây là một bản dịch tuyến tính so sánh sự tiến triển của các nền văn hóa khác
nhau.
Một khi người ta hồi phục từ cú sốc ban đầu về ý tưởng rằng người ngoài hành tinh có liên
quan gì đấy đến di sản của Trái Đất, thì đó thực sự có vẻ là một lời giải thích hợp lý. Tại sao
chủng tộc nhân loại tự tin một cách vị kỷ rằng nó một mình chịu trách nhiệm về quá khứ di
truyền của Trái Đất? Trên Trái Đất, các chủng tộc đã “phát hiện” các chủng tộc mới và bắt đầu
hợp nhập với họ. Có lẽ trước khi điều đó xảy ra, chủng tộc này chưa từng biết chủng tộc kia vẫn
đang tồn tại. Mô hình này có thể đúng với vũ trụ cũng như Trái Đất. Cần phải tìm thấy bao nhiêu
bản vẽ tàu tên lửa cổ và phi công của chúng trước khi con người có thể vượt qua những e sợ về
việc khám phá quá khứ của Trái Đất?
Câu hỏi rõ ràng nhất là: Nếu người ngoài hành tinh đang ở ngoài kia, tại sao họ không đưa bản
thân ra ngoài ánh sáng? Một câu trả lời có thể được tìm thấy trong cái cách tiếp cận mà con người
dùng để nghiên cứu nhân chủng học trên Trái Đất. Các nhà khoa học không diễu hành thẳng vào
văn hóa “bộ lạc nguyên thủy” và vẫy máy ảnh cùng thiết bị của họ.
Những kiểu đồng hóa văn hóa đó đôi khi mất nhiều thập kỷ để thực hiện. Trong mắt của chính
mình, nhân loại có vẻ đã đủ “văn minh”. Nhưng đối với một chủng tộc đã đạt tới du hành vũ trụ
thậm chí cả sự thống nhất toàn cầu, nhân loại dường như có vẻ thật sự nguyên thủy. Có lẽ họ
đang chờ đợi, trốn trong bụi rậm, chỉ cho phép một vài con người nhìn thấy mình cho đến khi tín
hiệu họ không phải một mối đe dọa ra đến toàn xã hội.
Điều gì xảy ra nếu tín hiệu họ đang ở đó không bao giờ ra đến xã hội? Nếu thế giới loài người
tiếp tục lờ đi bằng chứng và hy vọng nó sẽ biến mất vĩnh viễn? Đối với nhiều người ngoài hành
tinh, đây có vẻ đang là trường hợp của họ. Tất cả mọi phương pháp không đe dọa dường như đã
không thành công đến tận ngày nay. Kế hoạch trò chơi cơ bản xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây
dường như thâm thúy hơn nhiều trong tiềm năng đánh thức nhân loại. Một số vị khách của Trái
Đất đang sử dụng sự sợ hãi. Đôi khi xã hội công nhận sự tiêu cực nhanh hơn nhiều so với sự tích
cực, khuôn khổ của chính con người giờ đây có lẽ bắt đầu được sử dụng để đồng hóa Trái Đất với
thực tại đã bị từ chối trước đây của nó. Đánh thức bằng sợ hãi —— khá thô bạo ở đấy. Có lẽ điều
đó giải thích sự quan sát càng ngày càng tăng của các vụ bắt cóc ngoài Trái Đất như một phương
pháp đánh thức nhân loại đến một thực tại lớn lao hơn.
Ở mức độ phát triển của loài người, một mô hình cho sự tiến hóa tự nhiên của hành tinh chưa
được hình thành. Có vẻ như rõ ràng một nền văn minh sẽ không thể đạt đến vũ trụ và bước nhảy
không gian/thời gian nếu nó chưa thể giải quyết xung đột của mình ở cấp hành tinh. Việc mở
rộng ý thức cần thiết cho một bước nhảy vọt như vậy có thể phụ thuộc vào toàn thể thống nhất.
Nếu toàn bộ không được hợp nhập và cân bằng, các nỗ lực có thể không có kết quả. Nhân loại có
thể đang gặp phải giới hạn này ngay bây giờ, với rất nhiều nỗ lực phóng tàu vũ trụ không thành
công cũng như hạn chế ngân sách của các chương trình không gian. Trái Đất chỉ là chưa sẵn sàng.
Nhân loại muốn chạm đến các ngôi sao, nhưng lại thường không thể chạm đến tay người hàng
xóm nhà mình.
Kết nối ngoài Trái Đất là quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn là phát triển quan điềm toàn
cầu. Sự mở rộng sẽ xuất phát từ hành động —— đòi hỏi trách nhiệm đối với Trái Đất của chính
bản thân nhân loại. Những người ngoài hành tinh sẽ không can thiệp để dọn dẹp mớ hỗn độn của
loài người. Trái Đất đang bước vào giai đoạn trưởng thành và đã bị đá ra khỏi tổ. Nó sẽ phục vụ
nhân loại để giải phóng tình trạng nạn nhân của nó, tuyên bố quyền kế thừa thần thánh của nó và
tạo ra thiên đường trên Trái Đất. Người ngoài hành tinh chỉ có thể nhắc nhở nhân loại về tiềm
năng không giới hạn của bản thân mình. Sự giao tiếp của họ (và nhận thức của chúng ta về di sản
của Trái Đất) có thể được so sánh với việc treo một củ cà rốt. (2). Nếu chủng tộc nhân loại muốn
củ cà rốt đó, có lẽ họ phải làm những điều cần phải làm để có được nó —— thống nhất và hợp
nhập.
[(2): Nếu bạn treo một củ cà rốt trước ai đó hoặc cho họ một củ cà rốt, bạn cố gắng thuyết phục họ làm cái gì đó
bằng cách tặng họ một phần thưởng.]
3. Tử Cung Của Lyra
“Khi ta đã trở thành,” ông nói, “Sự trở thành đã trở thành.
Ta trở thành sự trở thành.
Ta là một người nhìn thấy bản thân, chia tách.
Ta là hai, bốn và tám.
Ta là vũ trụ trong sự đa dạng.
Ta là sự biến hóa của ta.
Đây là sự hợp lại của ta.
Ở đây bản thân ta trở thành một.”
—— Cuốn sách của Sự chết Ai Cập, dịch bởi Ellis
Từ quan điểm của một thực tại mà sinh mệnh vật lý có thể nhận thức được, hình thể của những
Đấng Sáng Lập có hai tay, hai chân, đầu và thân. Họ có đôi mắt lớn tò mò như một biểu tượng
thể hiện khát khao của họ đối với kiến thức và của ký ức cổ xưa mà họ mang bên trong mình.
Con người vật lý sẽ thấy họ như côn trùng, rất cao và có chân dài thanh nhã. Người mật độ ba có
thể nhận thức được họ nếu họ nhập vào một phiên bản gia tốc của mật độ bốn. Tương tác với họ
thường có thể xảy ra ở trạng thái biến đổi. Từ trạng thái này họ xuất hiện ở trạng thái ether và
như-giấc-mơ.(1)
[(1) Trong biểu tượng giấc mơ, phiên bản của Đấng Sáng Lập có thể là những nhân vật côn trùng to lớn như bọ
ngựa, bọ que và thậm chí là châu chấu.]
Sau khi phân mảnh ý thức của họ xa hơn, các Đấng Sáng Lập bắt đầu đặc hóa năng lượng
thành vật chất. Điều này tạo ra một chủng tộc vật lý hình mẫu mà đa số ý thức hình người sẽ nhập
thể vào. Trên các tầng thứ siêu nguyên tử, các mã tổ chức tồn tại tạo ra một cơ thể hình người phù
hợp trong môi trường dựa trên carbon như là phương tiện nhằm thể hiện vật lý của ý thức. Đấng
Sáng Lập đã sử dụng mã diễn ra tự nhiên này để giúp họ tạo ra các phiên bản của chính họ ở cả
trạng thái vật lý và phi vật lý. Hình thể này phản ánh tượng trưng các khía cạnh của vũ trụ phân
cực mà họ đã tiến nhập. Một lần nữa, nó là đại diện của ý tưởng rằng “cha mẹ” tạo ra “con cái”
theo hình ảnh của chính mình. (2)
[(2) Ý tưởng này được phản ánh trong tác phẩm của Rupert Sheldrake với cộng hưởng hình thái, cho thấy có
những trường đầy năng lượng tổ chức tất cả các hình thể. Những trường này có thể truyền các đặc điểm sang
các khía cạnh “không liên quan” của cùng một loài mà không nhất thiết phải gần nhau về mặt vật lý.]
Đấng Sáng Lập là những người ông người bà tràn đầy năng lượng của chủng tộc nhân loại. Đó
là mong muốn của họ để thể hiện các khía cạnh khác chiều của mình. Điều này sẽ tạo ra những
hình thể gốc của sự sống, cái sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sáng tạo sự đa dạng bên
trong thực tại mới vừa được sinh ra. Họ là vừa là Nguồn vừa là hình mẫu.
Khi họ xuất hiện dưới hình thể ánh sáng này thông qua việc nén năng lượng, họ nhận ra rằng
tất cả sự sống một lần nữa sẽ tiến hóa trở lại thành Đấng Sáng Lập và sau đó vào trong Nguồn. Ý
thức sẽ phân tán và phân mảnh, đôi khi thậm chí không còn nhận ra; nhưng nó sẽ tiến hóa trở lại
Nguồn một cách vật lý, cũng như một cách tinh thần, tình cảm và tâm linh.
Do đó, các Đấng Sáng Lập đã bắt đầu bước tiếp theo của quá trình phân mảnh. Hành động đầu
tiên của họ là bắt đầu thực hiện các kế hoạch cần thiết để lan truyền sự sống trên toàn hệ sao
Lyra. Họ biết rằng theo thời gian, các dạng sống sẽ quy vào các nền văn minh hành tinh một cách
tự nhiên bởi phương pháp luật hấp dẫn.
Các hành tinh trong cụm sao Lyra đã được chọn để chứa các chủng tộc mới này. Khi các hành
tinh này bắt đầu phát triển sự sống linh trưởng tự nhiên, Đấng Sáng Lập đã gieo những loài linh
trưởng đang phát triển bằng năng lượng plasmic (3) lên các tầng thứ siêu nguyên tử trong cấu trúc
DNA của chúng. Điều này xảy ra qua nhiều thế hệ cho đến khi các động vật linh trưởng/hình
người đã sở hữu di truyền cần thiết để duy trì rung động cao hơn của ý thức mật độ ba. Bằng
những biến đổi nhỏ, quá trình nhập thể đã sớm bắt đầu trên một số hành tinh.
[(3) Năng lượng cô đặc cao biểu hiện như ánh sáng.]
Các Đấng Sáng Lập đã phân mảnh bản thân mình hơn nữa để giải phóng ý thức cần thiết nhập
thể trên những hành tinh này. Khi sự phân mảnh này xảy ra, mỗi ý thức đã bị thu hút bởi một
hành tinh cụ thể, nơi có rung động tương thích với mỗi mảnh.
Như đã trình bày ở chương trước, khuôn mẫu cơ bản của ý thức đã phân mảnh qua Lăng kính
của Lyra có thể được coi là một bộ ba. Nó đại diện cho một cực, một đối cực của nó, và điểm hợp
nhập. Các Đấng Sáng Lập đã quan sát dòng năng lượng tự nhiên đang nổi lên ở các chủng loài cơ
sở đang phát triển. Các nhóm hành tinh khác nhau này ban đầu là đồng nhất, chưa thể hiện rõ bất
kỳ khía cạnh đơn nào của khuôn mẫu.
Khi thời gian tiếp diễn và sự tương tác giữa cá nhân và nhóm tăng lên, nhiều nhóm phân cực
thành các định hướng tiêu cực hoặc tích cực. (4)
[(4) Những định hướng tiêu cực/tích cực này không phải là những phán xét. Nó đại diện cho ý tưởng về cực
(âm/dương), bình đẳng nhưng có năng lượng đối lập]
Một số nhóm bắt đầu hiển thị mức độ hợp nhập khác nhau —— Kịch bản này được các Đấng
Sáng Lập mong chờ. Tuy nhiên, quá trình bắt đầu có một sự sống của chính nó. Khi quá trình
tăng trưởng theo cấp số nhân, Đấng Sáng Lập đã bắt đầu nhìn thấy những phản chiếu vô hạn của
Toàn Thể, và đến một mức độ nào đó, nó trở nên choáng ngợp đối với họ.
Khi các nhóm này phát triển và đạt được du hành vũ trụ, họ tiếp xúc với sự phát triển của các
nhóm hành tinh khác trong khu vực. Các nền văn hóa bắt đầu pha trộn và tăng trưởng. Những
triết lý mới đã ra đời. Trong một khoảng thời gian, chủng tộc Lyra nhanh chóng phát triển công
nghệ tiên tiến, mở rộng triết học và phát triển xã hội mạnh mẽ nhờ sự tương tác giữa các nền văn
hóa hành tinh. Sau đó động lực của khuôn mẫu bắt đầu được hiển thị.
Các cực bắt đầu củng cố, tạo ra sự phân cực tiếp tục theo cấp số nhân của chính chúng. Các
cực tiêu cực bắt đầu phân chia và biểu hiện cực tiêu cực/cực tích cực riêng của chúng. Cực tích
cực cũng giống như vậy. Tính nữ thể hiện tính nam của nó, và tính nam thể hiện tính nữ của nó.
Các cực phát triển như virus bên trong nền văn minh nở rộ trước đây.
Thiết lập đơn giản của những tấm gương mà các Đấng Sáng Lập từng tạo ra đã vỡ thành vô
hạn mảnh vỡ. Họ mất liên lạc trực tiếp với nhiều cửa sổ di truyền (sinh mệnh vật lý) mà họ đã tạo
ra. Những sinh mệnh vật lý bây giờ đã có được sự sống của riêng mình, dù các chương trình ban
đầu tiếp tục là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển của họ.
Nhóm đầu tiên phát triển như một chủng loài đặc biệt phi-Lyran chính là nền văn minh Vega.
(5)
[(5) Vega là ngôi sao Alpha (sáng nhất) trong chòm sao Lyra.]
Họ đã hình thành một triết lý và định hướng tâm linh rất đặc biệt rồi bắt đầu cô lập bản thân
khỏi các chủng tộc Lyra. Họ ban đầu là một nền văn minh định hướng-tiêu cực, được coi là cực
tiêu cực (cực âm) của Lyra bởi họ đã chấp nhận một triết lý phục vụ bản thân (thu lại). Bản thân
Lyra có thể được coi là cực tích cực (cực dương) vì tất cả các nền văn minh khác đều được “sinh
ra” từ nó (mở rộng).
Khi thời gian trôi qua, sự cọ xát đã tăng lên giữa người dân chủng tộc Lyra và các nền văn
minh Vega. Cả hai nhóm đều không tiến triển trên con đường hợp nhập. Cả hai đều mang trong
mình xung đột đối cực. Cả hai nhóm đều đúng hoặc sai; họ đều phát triển những ý tưởng giống
nhau —— chỉ là từ những góc độ khác nhau. Họ chẳng qua không hiểu được cái cách cân bằng
năng lượng của mình. Sự phân cực tiếp tục phát triển theo cấp số nhân khi họ vật lộn với mối
quan hệ giữa nền văn minh của mình và đối phương.
Một nền văn minh thứ ba bắt đầu nổi lên từ các chủng tộc Lyra. Bởi vì hành tinh này là đỉnh
(apex) của một tam giác tượng trưng cho sự hợp nhập (biểu hiện cả cực tiêu cực lẫn cực tích cực),
nó có thể được gọi là hành tinh Apex trong giai đoạn phát triển này. Sau đó, nó trở thành một
mảnh phức tạp hơn nhiều của trò ghép hình thiên hà này.
Hành tinh Apex bắt đầu nền văn minh của nó bằng cách hấp thụ các đặc tính từ cả hai cực Lyra
và Vega. Về di truyền, họ là một hỗn hợp. Trong chủng tộc của họ, sự đa dạng thậm chí còn lan
rộng hơn cả trên Trái Đất hiện tại của chúng ta. Có những người da đen và da trắng, những người
hòa bình và những kẻ chinh phục, nghệ sĩ, nhạc sĩ và binh sĩ. Ngay cả khi so sánh với chủng tộc
Trái Đất của chúng ta thì họ cũng không chung sống hòa bình với nhau một chút nào. Sự chia rẽ
bắt đầu xảy ra trong văn hóa cho đến khi toàn bộ hành tinh bị nhấn chìm trong sự xung đột của
phân cực. Không có giải pháp trong tầm mắt, tương lai của hành tinh Apex này dường như vô
vọng —— họ cuối cùng đã cho phép sự ô nhiễm và vũ khí hầu như hủy diệt thế giới của mình.
Khi các cực đối lập bị cưỡng ép chứ không được hợp nhập, chúng tạo ra sự dung hợp. Sự dung
hợp này thể hiện trên thế giới Apex như một cuộc chiến hạt nhân. Một số nhỏ dân cư tự bảo vệ
mình dưới lòng đất, nhưng phần còn lại đã chết vì bản thân hợp nhập bất khả thi. Những gì xảy ra
trên thang chia hành tinh là khá thú vị. Từ một điểm quan sát trong vũ trụ, hành tinh này dường
như đã tự hủy diệt chính nó; nhưng từ quan điểm của những người sống sót dưới lòng đất, họ đã
sống sót rất nhiều. Kết quả của những vụ nổ hạt nhân chính là hành tinh của họ rốt cuộc bị đẩy
vào một chiều kích biến đổi. Sau thảm họa, phóng xạ trên thế giới của họ vẫn còn khá cao, buộc
họ phải ở lại dưới lòng đất. Khi họ hồi phục sau cú sốc cảm xúc của mình, đó đã trở thành thời
gian để nhặt về những mảnh vỡ cuộc sống của họ. Sự phát triển và biến đổi không tưởng của họ
sẽ được khám phá trong các chương tiếp theo, vì họ đóng một vai trò quan trọng không chỉ trong
sự biến đổi của hành tinh Trái Đất, mà cả trong gia đình thiên hà và những Đấng Sáng Lập.
Trong khi đó, chủng tộc Lyra và nền văn minh Vega đang tiếp tục phát triển. Các nhóm của
Lyra muốn tiêu trừ bản thân ra khỏi xung đột với Vega và tìm kiếm nhiều khu vực khác để định
cư. Các nhóm Vega cũng thoát khỏi những xung đột của hành tinh họ và thành lập một số nền
văn minh bao gồm Altair và Centauri (sẽ không được đề cập trong tài liệu này). Những đường rõ
ràng của truy nguyên lịch sử di truyền và triết lý đã trôi qua. Nhân loại đang lan rộng chóng vánh,
mang theo hạt giống của trải nghiệm và sự phân cực. Mục đích luôn được chôn sâu trong linh hồn
của mỗi sinh mệnh và khẽ thúc cùi chỏ họ tiến tới. Mục đích là —— và vẫn là —— hợp nhập.
Rõ ràng khởi đầu của lối vào tiến vào phân cực bởi Đấng Sáng Lập là không dễ dàng. Họ đã
tạo ra một phương trình mà họ mong đợi sẽ kết thúc theo tính toán của mình. Nhưng cũng như
tân khoa học hỗn độn, sự chuyển động của năng lượng giữa ba nền văn minh (Lyra, Vega, và
Apex) trở nên không thể đoán trước được đối với Đấng Sáng Lập. Cả gia đình thiên hà chỉ có thể
chờ đợi và quan sát, biết rằng trong sự hỗn độn đó có một trật tự —— trật tự thần thánh.
Những bài học đầu tiên này đã in sâu vào ký ức ether của loài người như một lời nhắc nhở về
tất cả những gì nó có và có thể trở thành. Nhân loại không bao giờ đơn độc trong cuộc đấu tranh
này. Những Đấng Sáng Lập vẫn đợi chờ trong im lặng. Họ không chỉ tồn tại “ngoài kia” mà còn
bên trong linh hồn nhân loại như nguyên mẫu cơ bản nhất của nó. Chu kỳ của sự sống và tồn tại
chỉ là một vòng tròn; đầu và cuối là một. Khi nhân loại cảm thấy tiếng gọi của tiến hóa, đó là
Đấng Sáng Lập thì thầm xuyên qua khoảng không thời gian và chiều kích. Họ là một phần của
nhân loại đang nói với chính mình. Có lẽ đã đến lúc lắng nghe.
4. Nhân Tố Sirius
“Rực sáng như tinh tú xuất hiện ở thời điểm Vụ mùa, tỏa sáng giữa
quần sao chủ trong bóng tối màn đêm, ngôi sao được người đời gọi là
Sirius. Sáng nhất trong tất cả chính là nó, nhưng cho một điềm dữ vốn
dĩ của mình, mà mang tới thật nhiều lên những kẻ không may…”
—— Trường ca Iliad, “Anh ta đến điểm tô trong vạn sắc dồi dào…”
dịch bởi -M.Martin, 1907.
Cõi giới của Sirius là một trong những nơi đầu tiên mà ý thức tò mò đi qua Lăng kính của Lyra
và phân mảnh từ Đấng Sáng Lập khám phá. Sirius đại diện cho một biểu tượng rất quan trọng đối
với toàn bộ gia đình thiên hà —— bộ ba. Dù chưa được hầu hết các nhà thiên văn chứng minh
một cách khoa học, nhưng Sirius là một nhóm sao ba. (1)
[(1) Một số nhà thiên văn học, như Van Den Bos và Finsen tại Đài thiên văn Union vào những năm 1920, và
gần đây hơn là D. Lauterborn, giả thuyết rằng Sirius thực sự là một nhóm sao ba, nhưng không có dữ liệu khả
thi nào được phát hiện để xác nhận tuyên bố đó.]
Một cách biểu tượng, đây tượng trưng cho khuôn mẫu —— hai cực ở đáy của tam giác và sự
kết hợp của hai cực tại đỉnh. Nó phản ánh nền tảng cơ bản của mong muốn một lần nữa thống
nhất thông qua sự hợp nhập phân cực của gia đình thiên hà.
Sau sự Pha Dẫn, nhiều ý thức lựa chọn duy trì phi vật lý đã thu hút bản thân vào cõi giới của
Sirius. Ở đây, họ bắt đầu đặt nền tảng vật lý cũng như phi vật lý cho vai trò quan trọng mà Sirius
đã đóng trong vở kịch đang phô bày. Họ trở thành một số kỹ sư ether và di truyền sớm nhất đi
theo bước chân của Đấng Sáng Lập.
Dự kiến được những gì sẽ xảy ra, những người Sirius phi vật lý này bắt đầu hình thành nên
một thế giới mật độ ba (thông qua biến đổi năng lượng thành vật chất) để cuối cùng có thể hỗ trợ
sự sống vật lý. Họ cũng tạo ra cõi giới tập trung rung động nhiều hơn cho những ý thức lựa chọn
tồn tại trong trạng thái phi vật lý ở đó. Như vậy, bởi khả năng tạo ra các cõi giới phù hợp với mọi
biểu hiện ý thức, họ được biết đến như là Những Trưởng Lão Của Sirius.
Trong suốt những xung đột giữa Lyra và Vega, các đại diện từ cả hai phân cực đã cư ngụ trong
cõi giới Sirius với mong muốn hợp nhập ở đó. Trưởng Lão của Sirius đã chuẩn bị cho một dòng
chảy của cả năng lượng tích cực lẫn tiêu cực. Họ tương đối nhận thức được cái kịch bản cần phải
xảy ra.
Những người Vega lựa chọn sống trong cõi giới Sirius đã quyết định nhập thể vật lý trong một
thực tại mật độ ba. Về phương diện văn hóa, họ phân cực cao vào nam tính, và triết lý của họ là
một sự cai trị, cái đang trở nên khó khăn hơn trong việc duy trì mật độ bốn. Họ cảm thấy họ phải
làm chủ hoàn cảnh và kiểm soát sự phát triển của họ. Theo họ, điều này sẽ cho phép họ trở thành
một bậc thầy/master của cõi giới họ, và từ điểm đó sự tiến hóa của họ sẽ tiến triển với tốc độ cao.
Từ mong muốn này, người Vega bắt đầu lên kế hoạch cho việc định cư trên một hành tinh
quay quanh một trong những mặt trời của Sirius. Nếu họ duy trì định hướng triết lý của mình về
sự cai trị, sự phân cực tự nhiên vốn có trong triết lý này chỉ có thể được duy trì trong một sự tồn
tại mật độ ba. Họ tập trung chặt chẽ vào vật lý, tạo ra một bức màn ảo giác và quên lãng thậm chí
còn dày đặc hơn cả cái trên Trái Đất hiện nay. Họ đã rất chắc chắn về khả năng của mình (và vì
vậy không ý thức được cạm bẫy của sự chia tách mật độ ba), họ sốt sắn bắt đầu thúc đẩy tiến trình
tiến hóa của các loài giống-như-linh-trưởng đang phát triển trên thế giới mà họ đã chọn. Ngay khi
DNA của các loài bản địa phù hợp với mong muốn của mình, họ bắt đầu nhập thể.
Hầu như ngay lập tức, những người Sirius mới này đã mất đi liên hệ ký ức với Vega. Cái màn
quá dày đặc. Mong muốn tạo ra sự lãng quên của họ quá mức mạnh mẽ đến nỗi họ không nhớ gì
về nguồn gốc của mình. Họ không mơ. Họ không thiền. Họ không theo đuổi hoạt động sáng tạo,
họ chỉ duy trì cơ cấu cai trị của mình. Khi sự sốt sắn của họ chuyển thành thực tại vật lý, nó đã
tạo ra một nền văn hóa được thúc đẩy bởi mong muốn cai trị —— cai trị lẫn nhau và cai trị vũ trụ
xung quanh họ.
Khi hành tinh Sirius tiêu cực này phát triển, một nhóm từ Lyra đã quyết định mạo hiểm tiến
vào hệ sao Sirius. Những sinh mệnh này lựa chọn ở trong các cõi giới phi vật lý. Định hướng của
họ được phân cực theo lý tưởng phục vụ cho người khác. Họ đặc biệt quan tâm đến việc chữa
lành vật lý cho những ai đang đau đớn. Sự kết hợp của những người Sirius tiêu cực (những người
đã từ chối cái tôi tâm linh của mình) và những người Sirius phi vật lý tích cực có nguồn gốc từ
Lyra (những người cảm thấy chữa lành cho tất cả những ai đang đau đớn chính là nhiệm vụ của
mình) đã tạo ra một xung động căng thẳng vang vọng xuyên suốt hệ sao Sirius và hơn thế nữa.
Trường thiên đã bắt đầu. Những người tích cực bắt đầu dội bom những người tiêu cực bằng
tình yêu và năng lượng chữa lành ở các tầng thứ tiềm thức và vô thức, điều này khiến những
người tiêu cực bị đau tâm lý bởi tiêu điểm của họ đã được thiết lập chặt chẽ. Những người tiêu
cực càng kháng cự bao nhiêu, những người tích cực càng gửi đến năng lượng chữa lành bấy
nhiêu. Sự cọ xát xảy ra từ tương tác này rất khó chịu đối với tất cả mọi ý thức trong hệ sao Sirius.
Các Trưởng Lão của Sirius cuối cùng đã can thiệp.
Xung đột được quyết định sẽ một lần nữa chuyển sang địa phương khác. Sự hợp nhập trong
thời gian này sẽ được nỗ lực từ một quan điểm ít phân cực hơn. Trưởng Lão tìm kiếm một ngôi
nhà cho xung đột này. Họ không mất nhiều thời gian để khám phá các tính chất điện từ của một
khu vực được gọi là Orion. Vậy là huyền thoại đã bắt đầu như thế, Sirius – Sao Chó, dẫn đường
cho Thợ Săn – Orion.
Khi các xung đột ban đầu đã được loại khỏi hệ sao Sirius, nền văn minh vật lý vẫn còn tiếp tục
duy trì. Họ tự cắt mình ra khỏi tinh thần ngay cả thời điểm chết —— sự đầu thai lập tức vào hệ
thống đã xảy ra trở lại, cách xa họ khỏi bất kỳ hình thức tồn tại phi vật lý nào. Do đó, hầu hết xã
hội tiêu cực không ý thức được về xung đột, họ cũng không thể nhận thức được nó đã chuyển vào
hệ sao Orion. Xã hội của họ tiếp tục trong màn sương mịt mờ lãng quên của nó. Những người
mong muốn hợp nhập tiêu cực/tích cực từ Lyra/Vega bây giờ đã đi đến Orion thay vì Sirius. Đôi
khi, rất hiếm hoi, một linh hồn sẽ thức tỉnh từ thế giới Sirius tiêu cực và tiến tới đấu trường Orion.
Từ quan điểm tích cực (phi vật lý) của Sirius, giờ đây họ có thể trực tiếp ảnh hưởng đến những
người tiêu cực đau yếu. Nhiều người vui vẻ mạo hiểm tới Orion để thực hiện nhiệm vụ này.
Những người khác lựa chọn ở trong cõi giới Sirius, tập trung các khả năng trị liệu của họ hướng
tới các mục tiêu khác. Những người tích cực khác từ Lyra tham gia vào tranh đấu Orion. Lịch sử
thiên hà đã được chào đời.
Bởi mong muốn tạo điều kiện chữa trị vật lý (họ chọn phụng sự cho vật lý thay vì nhập thế)
của người Sirius tích cực, họ đã liên minh với năng lượng của Arcturus. Arcturus được định
hướng theo ý tưởng chữa trị tình cảm. Họ cùng nhau hình thành Ma Trận Sirius/Arcturus. Ma
trận này tìm thấy đường vào gần như trên mọi hành tinh vật lý trong gia đình thiên hà như một
năng lượng toàn diện đại diện cho việc chữa lành của thân thể, tâm trí, và tinh thần.
Hành tinh Trái Đất đã đến biết Ma Trận Sirius/Arcturus dưới nhiều hình thức. Đó là một năng
lượng nguyên mẫu được sử dụng bởi một cá nhân hay một xã hội cho nhiều mục đích. Nó có tính
dẻo và có thể được định hình thành bất kỳ định nghĩa thích hợp nào. Bất kể ở hình dạng nào, nó
cũng phụng sự tận tình cho vật lý. Ma Trận Sirius/Arcturus nhắc nhở các phân mảnh về kết nối
của họ với Toàn Thể và các khả năng tự nhiên của họ để tự chữa lành.
Dù chỉ là một tỷ lệ phần trăm nho nhỏ, nhưng một nhóm Sirius tích cực cũng quyết định nhập
thể vào vật lý. Tuy thế họ đã từ chối hình thể hình người để lấy một hình thể đại diện cho bản
chất của họ nhiều hơn —— hình thể này là động vật biển có vú. Cá heo và cá voi đại diện cho
phiên bản của năng lượng Sirius trên một thế giới vật lý phân cực. Trong biểu tượng nguyên mẫu,
nước đại diện cho tiềm thức. Động vật biển có vú âm thầm ở đó trong các đại dương của Trái Đất
và trong biển tiềm thức của con người. Họ vẫn như một lời nhắc nhở về tiềm năng hợp nhập của
nhân loại.
Trong tất cả các năng lượng mà là một phần của gia đình thiên hà trực hệ, năng lượng Sirius
được sử dụng rộng rãi nhất trên Trái Đất này. Cái tên Sirius có nghĩa là “Người Tỏa Sáng” hay
“Kẻ Bùng Cháy”, cũng được gọi là “Sao Chó” và “Sao Nile”. Có lẽ vì nó là ngôi sao sáng nhất và
gần thứ hai có thể nhìn thấy từ Trái Đất (cách 8,7 năm ánh sáng), nhiều nền văn hóa cổ đại đã
nhận ra tầm quan trọng của năng lượng Sirius, nhất là người Ai Cập.
Đôi khi, ý thức của Sirius có thể lựa chọn đặc hóa tần số của nó để con người mật độ ba có thể
nhìn thấy. Trong suốt nhiều triều đại Ai Cập, trường hợp người Sirius thăm viếng trong lớp
những vị thần của họ (như Isis, Osiris, và Anubis) khá là phổ biến. Những “phục trang” này khiến
người Ai Cập dễ dàng tôn vinh sự hiện diện của họ hơn, và thường các cuộc viếng thăm này đã
kích hoạt ký ức về những ngày xa xưa khi “các vị thần” bước đi công khai trên Trái Đất. Những
người Sirius này đã cho người Ai Cập (cũng như các nền văn hóa Trái Đất khác) thông tin thiên
văn và y học tiên tiến. Đến tận ngày nay, các học giả vẫn đang đặt câu hỏi về nguồn gốc của
thông tin này.
Cách nửa vòng Trái Đất, nền văn hóa Maya có mối liên hệ độc đáo riêng với Sirius. Họ đã
được truyền cho các thao tác y học tiên tiến và thông tin thiên văn thiên hà mà hiện nay các học
giả hiện đại vẫn chưa khám phá. Những thứ của họ thiên về quan hệ cá nhân với Sirius nhiều hơn.
Theo một nghĩa nào đó, những người Maya này là du khách từ cõi giới Sirius (nhập thế ở đây trên
Trái Đất), những người muốn trải nghiệm vật lý từ một điểm thuận lợi gần hơn. Mối quan hệ giữa
hai bên thân mật đến nỗi các Sirius thực sự chia sẻ với người Maya công nghệ chuyển hóa ——
từ vật lý sang năng lượng/ý thức thuần khiết. Khi các bài học của họ đã được hoàn thành, chủng
tộc người Maya biến mất (chuyển đổi), bỏ lại phía sau một con đường để nhân loại đi theo.
Những người Sirius đã để lại nhiều hộp lưu giữ thời gian (2) và những câu đố ghép hình cho
các thế hệ tương lai khám phá.
[(2): Hộp lưu trữ thời gian có nghĩa là một cái hộp đựng những vật dụng hoặc thông tin do con người cố tình lưu
lại trong thời điểm hiện tại để về sau người đời sau có thể mở ra dùng.]
Một trong những câu đố này là hộp sọ pha lê. Hộp sọ pha lê có thể đại diện cho bản chất vô
hạn của con người và ý thức. Nhìn vào độ sâu của nó, người ta có thể cảm nhận được quá khứ và
tương lai. Nhân loại vẫn chưa học được cách phiên dịch các dữ liệu và cảm xúc đã được kích hoạt
khi người ta chăm chú vào khoảng không của nó. Có lẽ một ngày nào đó thông tin được mã hóa
trong hộp sọ có thể thắp lên tia lửa ký ức bên trong nhân loại, như người Sirius đã có thể dự tính.
Họ là một trong những nhóm chính đã để lại các manh mối về quá khứ của Trái Đất dưới nhiều
hình thức.
Điều quan trọng cần lưu ý chính là —— “người Sirius” không có nghĩa là nói đến một nhóm
người ngoài hành tinh, mà là như một ý thức nhóm thể hiện bản thân nó cả về vật lý lẫn phi vật
lý. Họ đã là một lực lượng hướng dẫn cho nền văn minh phát triển trên Trái Đất. Họ là một trong
những nhân vật chính trong việc tạo ra loài người trên Trái Đất, như sẽ được khám phá ở các
chương sau.
Trở lại với hành tinh Sirius tiêu cực, Trái Đất có một phiên bản tương tự về triết lý của nó.
Thao tác được gọi là “ma thuật đen/tà thuật” hay “nghệ thuật bóng tối” bắt nguồn từ triết lý của
các Sirius tiêu cực. Trong văn hóa Ai Cập, sự thờ phụng có tổ chức của lực lượng tiêu cực đã
diễn ra trong các đền thờ bởi những tư tế của Set. Triết lý này bác bỏ ý tưởng tái gộp vào trong
kết cấu tổng hợp. Những người thực hành triết lý này coi mình là độc nhất, tách biệt, và vị kỷ. Ảo
tưởng mà họ tạo ra là một sự vô trách nhiệm đối với hành động của họ. Thường phải tốn rất nhiều
bài học và đôi khi là nhiều kiếp sống để nhận ra rằng hành động và niềm tin của họ tạo ra thực tại
chính xác mà họ đang cố gắng thoát ra từ đó.
Trong phiên bản này, một biểu hiện khác của ảnh hưởng Sirius trên Trái Đất từ một góc nhìn
hơi tiêu cực chính là Illuminati.(3)
[(3) Illuminati không chỉ bao gồm người Sirius. Các nhóm khác, như Orion, cũng là một phần của cấu trúc
Illuminati.]
Illuminati là một nhóm người ngoài hành tinh vật lý và phi vật lí định hướng tiêu cực (thậm chí
cả một số người định hướng tích cực) đã đến Trái Đất như những sinh mệnh vật lý trong suốt
Khởi Thủy. Những sinh mệnh này cuối cùng cảm thấy họ không nhận được sự công nhận (hoặc
quyền lực) mà họ nghĩ họ xứng đáng có. (4)
[(4) Những sinh mệnh này chỉ đại diện cho một tỷ lệ nhỏ của ý thức Sirius. Kể từ Khởi Thủy Trái Đất, hành tinh
đã phát triển một số mối quan hệ tích cực mạnh mẽ với những sinh mệnh Sirius —— những người đã từng là
những người ủng hộ chính của nhân loại.]
Nhiều trong số những ý thức ngoài hành tinh giao tiếp với nhân loại buổi đầu đã cho phép các
năng lượng hoặc “lịch sử” của họ phát triển và trở thành nguyên mẫu để hỗ trợ Trái Đất. Ý tưởng
kiểm soát là bản sắc của họ. Nếu họ không thể kiểm soát được người khác, họ cảm thấy như thể
họ không tồn tại... và họ sợ hãi về sự không tồn tại. Động lực này đã khiến họ cố can thiệp vào sự
phát triển của Trái Đất ngay từ khởi đầu. Như một con côn trùng phiền nhiễu, họ là phiền phức
nhưng hiếm khi gây ra vấn đề nghiêm trọng. Chỉ những cá nhân không có ý thức về sức mạnh của
mình mới có mặt trong những cấu trúc quyền lực bắt nguồn từ nỗi sợ đối với sự bất lực ở trên
Trái Đất. Họ không thể là một ảnh hưởng nếu người ta không cho phép họ làm như vậy. Tất cả
đều quay trở lại vấn đề tuyên bố sức mạnh của chính một người.
Một ý tưởng cuối cùng về các biểu hiện đương đại của năng lượng Sirius liên quan đến sự xuất
hiện của những người ngoài hành tinh đe dọa như đã thấy trong văn học UFO. Phần lớn những
trải nghiệm UFO tiêu cực, những vụ mổ xẻ gia súc và hiện tượng “Người Áo Đen” đều liên quan
đến nhóm Sirius (và Orion) tiêu cực, những người thực sự gây ra nhiều nỗi sợ hơn là thiệt hại.
Đôi khi người Sirius (và Orion) vật lý có thể vượt qua các tầng bảo vệ trong hệ mặt trời và cố
gắng phá họai. Động cơ của họ là gì?
Khi khám phá các văn bản Sumer cổ liên quan đến lịch sử buổi đầu và bản chất những xung
đột giữa các vị thần, người ta có một ý tưởng rõ ràng rằng Trái Đất (toàn bộ hoặc một phần) đã
tham gia vào các vấn đề tranh chấp lãnh thổ bởi các nhóm khác nhau ở những thời điểm khác
nhau. Câu hỏi thường được đặt ra là tại sao người Sirius có vẻ như can dự vào sự phát triển của
Trái Đất. Nếu thực sự Sirius đúng là một nhóm sao ba (như các truyền thống thiên văn của bộ lạc
Dogon đề xuất), có thể nào Sol (Mặt trời) là hoặc từng là ngôi sao thứ ba? Nếu đúng như vậy,
Trái Đất có thể đã là một phần của tranh chấp lãnh thổ giữa các Sirius ngay từ khi khởi thủy.
Điều này có thể giải thích lý do các Sirius tiêu cực coi nó thuộc chủ quyền của mình rồi tự tung tự
tác trên Trái Đất, và tại sao họ chỉ tay cáo buộc những người ngoài hành tinh khác can thiệp sai
trái vào vấn đề nội bộ Sirius, tạo ra nhiều tranh chấp lịch sử. Người Sirius có thể coi Trái Đất là
một phần lãnh thổ của họ. Hiện tại Sol (Mặt Trời) chỉ cách hệ sao Sirius 8,7 năm ánh sáng mà các
nhà thiên văn học đã xem là một phần gia đình sao địa phương của chúng ta.
Nhiều người Sirius buổi đầu rất giỏi về kỹ thuật di truyền. Trong Khởi Thủy Trái Đất, các
Sirius vật lý đã đặt mã DNA tiềm ẩn trong con người ban sơ. Khi sinh mệnh Trái Đất đạt đến một
tần số rung động nhất định như một chủng tộc, mã này được kích hoạt và sẽ hỗ trợ những người
trên Trái Đất nhớ lại quá khứ thiên hà của nhân loại.
Những Sirius tiêu cực đương đại rất sợ điều này. Họ đã liên tục giữ bản thân tránh chuyển đổi
vào mật độ bốn vì nỗi sợ về không tồn tại. Họ sợ nếu Trái Đất chuyển đổi, họ cũng sẽ chuyển đổi
và ngừng tồn tại. Họ tin nếu giữ xã hội ở trong sự sợ hãi, Trái Đất sẽ không thể chuyển đổi được.
Nói chung, họ không thể quyết định số phận của loài người, bởi con người Trái Đất có nhiều sức
mạnh hơn những người Sirius tiêu cực nhận thấy. Nhưng họ sẽ tiếp tục. Họ biết không còn đường
khác.
Dù là người ngoài hành tinh vật lý hay năng lượng nguyên mẫu, bản sắc Sirius chính là được
gắn kết với nhân loại. Kiến thức cũng như thách thức của nó là vô cùng phong phú. Người ta phải
luôn nhớ Sirius là bộ ba và những gì nó đại diện cho hợp nhập từ cực —— cái là vận mệnh của
Trái Đất.
5. Những Cơn Gió Orion
“Vây quanh với muôn vàn vì sao chói lọi
Đứng trên Đại số vĩ đại khổng lồ
Orion, thợ săn của dã thú!
Thanh gươm anh lấp lánh ở bên hông,
Trên cánh tay anh mảnh da sư tử
Rải ngang không khí nửa đêm,
Mái tóc phát xạ hoàng kim…”
—— Longfellow
“Ngươi có thể ràng buộc ảnh hưởng ngọt ngào của Pleiades,
hay làm mất đi những dải của Orion?”
—— Joob 38:31
Khi hai phân cực gặp nhau, chúng sẽ bị thu hút một cách tự nhiên. Khi chúng cố gắng dung
hợp (chứ không phải hợp nhập), chúng gây nên một năng lượng khổng lồ. Chúng gây ra tia lửa.
Chúng gây ra thay đổi. Đôi khi chúng thậm chí còn gây ra đau đớn.
Đấy là trường hợp mà các nền văn minh Lyra đã cố gắng hợp nhập trong hệ sao Vega và
Sirius. Cuộc xung đột bắt đầu diễn ra ở đó, nhưng đã được mở rộng gộp cả Orion. Khởi đầu của
nó là một cuộc xung đột Lyra. Qua các thế hệ nó đã tiến hóa thành chiến tranh chủng tộc mới, của
Orions. Qua những thế hệ, mỗi bên mất liên hệ với những gì họ chiến đấu cho. Tuy nhiên khổ đau
vẫn cứ tiếp tục.
Các biển báo đã được đánh dấu rõ ràng. Phía “tiêu cực” duy trì ý tưởng phục vụ bản thân.
Trong triết lý của họ, khi một người phục vụ bản thân thì cũng tức là toàn bộ đã được phụng sự.
Cái họ không nhận thấy chính là họ đã phủ nhận toàn thể bằng cách lựa chọn thực hiện triết lý
này. Điều này được phiên dịch là “sự thống trị là điều cần thiết”.
Đây thực sự là thời kỳ đen tối. Sự thống trị kéo theo hành vi mà người Trái Đất chưa từng trải
nghiệm. Thao túng di truyền lên các dòng dõi huyết thống là hành vi phổ thông, trong một nỗ lực
nhằm pha loãng hoặc tập trung sức mạnh. Thứ mà loài người biết đến như ma thuật đen được
thực hành phổ biến. Các sinh mệnh quá bão hòa với nỗi sợ của chính họ rằng họ thua kém tất cả
những người khác. Các truyền thuyết về thanh gươm và ma thuật trên Trái Đất chính là những hồi
ức mơ hồ trong ký ức tế bào ether từ những thời kỳ đen tối của Orion.
Phía “tích cực” thể hiện rõ ý tưởng phục vụ người khác —— Họ tin cách duy nhất để tồn tại
chính là phục tùng, ngay cả khi chính bản thân mình phải trả giá. Vì vậy một động lực thú vị đã
được diễn ra. Có những cá nhân là kẻ thống trị và những người đã quá sẵn lòng để đóng vai trò
nạn nhân. Những người “tích cực” này cảm thấy muốn hỗ trợ toàn thể thì họ phải phục vụ toàn
thể và từ bỏ bản thân. Trong thực tế họ đã phủ nhận bản thân mình chính là một phần có giá trị
của toàn thể đó.
Nền văn minh Orion là một trong số ít những người đã tiến hóa thành trạng thái tiến bộ công
nghệ trong khi vẫn còn ở trong tình trạng xung đột tinh thần căng thẳng. Vô hạn thời gian trôi qua
trong khi vở kịch vẫn tiếp tục diễn ra. Nó bắt đầu với mọi cách thao túng tình cảm cơ bản đến tận
đầu cuối bên kia của quang phổ —— thao túng bằng cách sử dụng các công cụ công nghệ tiên
tiến. Nói kiểu luân hồi, cùng một linh hồn đã nhập thể rất nhiều lần, đổi phía này phía kia, cố tìm
ra cách để mang toàn thể cuộc đấu tranh vào sự cân bằng.
Trong lịch sử của Orion luôn có sự kháng cự ngầm. Xuyên suốt các thời đại, sức mạnh của nó
lên lên xuống xuống như những xung của ngôi sao Betelgeuse đỏ khổng lồ của họ. Thông thường
họ sẽ bị người “tiêu cực” phát hiện, tan rã và bị trừng phạt. Bất cứ khi nào họ gầy dựng được một
số động năng, nó phát xạ quá huyên náo và họ bị tìm thấy.
Khi triết lý phản kháng được kiên cố hóa, rõ ràng là họ cần tiêu giảm sự phát xạ mà ý tưởng
của họ phát ra. Họ quyết định thay vì hấp thụ một cách biểu tượng. Họ cho phép mọi người đến
với họ. Họ trở nên giống như một lỗ đen không thể nhìn thấy được, nhưng sức mạnh và động lực
năng lượng của họ cũng mạnh như một cơn gió vô thanh. Tổ chức của họ do đó được gọi là “Liên
Đoàn Đen.” Biểu tượng cuộc đấu tranh của họ trở thành con rồng đen. Một khía cạnh mới của vở
diễn bắt đầu phơi bày.
Bây giờ đã có ba khía cạnh của cuộc đấu tranh: có những kẻ thống trị, những nạn nhân, và kẻ
phản kháng (được thúc đẩy bởi sự cọ xát của hai cực). Liên Đoàn Đen đã khá thành công trong
việc cản trở các nỗ lực của những kẻ thống trị (được biết đến như Đế Chế Orion); tuy nhiên nó
chỉ đủ để giảm đà tiến đến bế tắc của họ. Một năng lượng bế tắc đã đạt ngưỡng.
Trong tâm hồn của những người bị đàn áp này tồn tại một sự tuyệt vọng khổng lồ. Họ biết mức
độ kiểm soát của Đế Chế Orion. Đế Chế có những cách kiểm soát các thân thể astral; cái chết
không còn tự do nữa. Nhiều cá nhân đã học tập với những người thầy dị giáo để tìm hiểu tri thức
cổ xưa về du hành ý thức chiều kích. Thành công rất ít, nhưng những người thành công đã tìm
thấy một cách ra khỏi hệ thống Orion mãi mãi. Thông qua tập trung tiêu điểm và tháo bỏ các hệ
thống niềm tin ý thức khối Orion, một tỷ lệ nhỏ các cá nhân có thể rời khỏi cơ thể của họ (chết)
và thành công trong việc nhắm mục tiêu hoặc di chuyển vào những sinh mệnh đã trốn thoát hoặc
được đầu thai trên Trái Đất từ Orion. (*)
[(*): Người Orions có khả năng nhắm mục tiêu các cá thể Trái Đất trong quá khứ, hiện tại và tương lai của Trái
Đất.]
Một khi các sinh mệnh này đã được nhắm mục tiêu, thực thể Orion có thể tạo ra một cửa sổ mà
thông qua đó anh ấy/cô ấy có thể du hành. Khi xuyên qua cửa sổ đó và nhập thể trên Trái Đất,
anh ấy/cô ấy trở nên “lạc mất” vào ý thức khối của Trái Đất. Đây là một cơ chế an toàn; nếu họ
không biết nhận dạng của mình, họ sẽ không thể bị Đế Chế Orion bám đuổi.
Những người đào thoát sau đó đã nhập vào chu kỳ đầu thai của Trái Đất và dường như tiếp tục
diễn vở kịch Orion một cách vô thức bên trong khuôn mẫu linh hồn của họ. Đôi khi họ có thể đã
bị đại diện Đế Chế Orion truy đuổi tức khắc qua cửa sổ, nhưng thường thì những đại diện Đế Chế
này cũng bị “bắt lại” vào ý thức khối của Trái Đất và phải bước vào chu kỳ đầu thai; khi nhập thế
họ mang theo mong muốn Orion cũ của mình đối với kiểm soát.
Khi sự tuyệt vọng tăng lên, Liên Đoàn Đen thậm chí còn khó khăn hơn trong việc làm ra quyết
định chiến đấu. Họ có những người hai mang. Các báo cáo lén lút từ những người cung cấp thông
tin đã dẫn đến một nỗ lực phản kháng mạnh mẽ hơn. Họ bắt đầu sử dụng các chiến thuật mượn từ
kẻ thống trị. Tất cả những điều này được thực hiện nhân danh tự do. Họ rốt cuộc đã học được
rằng tự do là thứ không dễ nắm bắt, và cuộc xung đột gia tăng.
Với tất cả mọi nỗ lực của mình, Liên Đoàn Đen không thể hiểu tại sao họ không thành công
trong việc giải phóng cho các nạn nhân. Họ đã trở nên nản lòng. Người ta khao khát một hình
thức của tinh thần, nhưng tất cả những gì hiện diện chỉ là một sự trống rỗng và sợ hãi ăn mòn —
— tất cả đều vô hiệu. Trong vài thế hệ, Liên Đoàn Đen còn đọng lại chỉ là một lý tưởng không
hơn không kém.
Rồi một điều kỳ diệu xảy ra. Qua nhiều thế hệ thai nghén tinh thần, một hạt giống bắt đầu đâm
chồi nảy nở. Một linh hồn nhập thế đã thể hiện tất cả những hy vọng và mơ ước của các chủng
tộc Orion mà không có hận thù hay sợ hãi. Khi chào đời, anh ấy được an toàn trong một môi
trường trung hòa hứng khởi và cảm xúc sâu trong hành tinh, vì thế anh ta sẽ không trở nên phân
cực. Khi trưởng thành, anh ta bắt đầu dạy. Những gì anh ấy dạy bắt đầu tỏa một ánh sáng mới lên
cuộc đấu tranh. Những gì anh ấy đề xuất có thể kết thúc nó một lần cho tất cả.
Anh ta đã dạy luật phổ quát —— sự tích cực không thể đạt được thông qua sự tiêu cực. Liên
Đoàn Đen đã dùng lửa đánh với lửa, sẽ chỉ tạo ra một ngọn lửa thay vì hòa bình. Một người phải
hợp nhập tích cực và tiêu cực đến điểm cân bằng. Người ta phải yêu thương, chứ không phải là sợ
hãi. Lý tưởng về hòa bình và tự do phải được yêu thương đến mức người ta sẵn lòng sống nó
trong linh hồn của mình bất chấp những biểu hiện đang diễn ra phía ngoài. Do đó Liên Đoàn Đen
đã học được rằng ý định của họ là tốt, nhưng hành động của họ chỉ càng gây thêm nhiều những
thứ mà họ đã từng khinh miệt.
Sự nhận thức này xảy ra ở tầng thứ khối. Nó mở ra cánh cửa tâm linh mới cho người dân của
những thế giới bị đàn áp. Họ có một chặng đường dài để đi, nhưng ít nhất bây giờ họ đã biết phải
bắt đầu từ đâu.
Một khi động lực bắt đầu được hiểu từ những tầng thứ cao hơn, người ta quyết định rằng họ sẽ
chuyển đổi năng lượng này bằng cách chuyển khỏi thiên hà và bắt đầu sự tươi mới. Từ những
tầng thứ cao hơn này, họ kêu gọi các Đấng Sáng Lập giúp họ chọn một thế giới. Mối quan tâm cơ
bản chính là đảm bảo rằng tất cả các công cụ được cung cấp trên thế giới mới này cho những sinh
mệnh mạo hiểm bắt đầu sự chuyển đổi của năng lượng Orion. Tự do Ý Chí/Lựa Chọn là công cụ
chính, cũng như một mã DNA tiềm ẩn sẽ kích hoạt mong muốn bảo tồn xã hội nếu họ có khả
năng tự hủy diệt. Thế giới được chọn chính là Trái Đất. Những Đấng Sáng Lập sau đó bắt đầu thu
hút các nhóm vật lý khác nhau vào để thực hiện Khởi Thủy Trái Đất. [Xem chương 9]
Xuyên suốt lịch sử nhân loại, Trái Đất đã thể hiện vở diễn Orion trong một nỗ lực nhằm cân
bằng sự phân cực. Sự sụp đổ của Atlantis, đế chế La Mã, và các cuộc chiến tranh tôn giáo đang
diễn ra đều là những ví dụ về các khuôn mẫu ký ức từ Orion đang nổi lên để được làm sạch.
Trong suốt tất cả các vở diễn này, chủng tộc nhân loại đã sống sót và giữ sự áp bức hoàn toàn ở
một ngưỡng an toàn. Nhân loại tiếp tục phát huy cùng một động lực: nạn nhân, thủ phạm, và kẻ
phản kháng. Tuy nhiên, thời gian này ánh sáng đang bắt đầu lan rộng và thậm chí cả những người
phản kháng cũng đang bắt đầu sớm học về việc không thể dùng lửa đánh lửa.
Nền văn minh Orion đương đại tồn tại trong cùng thời gian liên tục như Trái Đất hiện nay, đã
chữa lành xung đột của nó. Bởi vì Trái Đất vẫn đang diễn xuất quá khứ của Orion trong một nỗ
lực để cân bằng nó cho chính nó, nên sự tiếp xúc chính mà con người nhận được từ Orion bị đánh
giá là tiêu cực. Hiện tượng Người Áo Đen cũng như một số biểu hiện của cấu trúc Illuminati đang
diễn xuất nhu cầu kiểm soát của Orion trong quá khứ.
Người Áo Đen (Men In Black) có vài nguồn gốc. Một số là hóa thân nhân loại từ Orion
và/hoặc năng lượng Sirius định hướng tiêu cực; số khác là người Orion quá khứ xác thực ——
những người đã du hành “tới” trong thời gian Trái Đất ngày nay (vượt thời gian đến tương lai,
bao gồm các đại diện của Đế Chế đã bị bắt lại trong ý thức khối của Trái Đất khi họ truy đuổi
người Orion đào thoát). Họ nhận thấy Trái Đất là mối đe dọa. Từ quan điểm của họ, khi nhân loại
thức tỉnh và tự giải phóng bản thân, các sinh mệnh Orion bị áp bức sẽ được thu hút đến đây tìm
kiếm tự do. Họ muốn giữ những cửa sổ cơ hội này đóng lại đối với các nạn nhân của Orion, giữ
Trái Đất thiếu tự chủ và ở trong sự kiểm soát hoàn toàn. Người Áo Đen chỉ là một biểu hiện của ý
tưởng này; nói chung nó được diễn trên Trái Đất theo một cách tinh tế hơn nhiều. Những cá nhân
mà mang theo các khuôn mẫu áp bức từ Orion đã hành động từ ký ức linh hồn của họ và không
nhất thiết phải ý thức được mong muốn kiểm soát tuyệt đối của mình. Trong nghiên cứu những
cuộc đụng độ Người Áo Đen ở thế kỷ hai mươi, người ta tình cờ trông thấy hành vi trớ trêu của
những sinh mệnh này —— họ làm chức năng ở một cấp độ rất tự quản và dường như chưa từng
yêu cầu sức mạnh mà họ cố gắng chuyên tâm giành lấy từ con người cho bản thân mình. Điều
này có thể cho thấy Người Áo Đen có lẽ chỉ là con tốt trong một cuộc đấu tranh quyền lực thậm
chí kỳ quặc hơn.
Vở kịch Orion không phải một cuộc thí nghiệm được thực hiện với ai đó bởi người nào đó. Tất
cả những ai lựa chọn trở thành một phần của Chuyển Đổi Trái Đất đều làm như vậy thông qua Tự
Do Ý Chí của họ. Sự Chuyển Đổi/Hợp Nhập này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ gia đình thiên hà
được tạo ra thông qua Pha Dẫn Chiều Kích. Điều này sẽ bắt đầu quá trình khởi đầu của Hợp
Nhập trở lại thông qua Lăng kính của Lyra. Các cực được hợp nhập do vậy có thể gọi là “Orion
Sáng”.
Đã có các giai đoạn được xây dựng trong dự án Chuyển Đổi mà từ đó Đấng Sáng Lập sẽ có thể
đánh giá sự phát triển của nó. Giai đoạn đầu tiên là gieo hạt đơn giản và phát triển sự sống mật độ
ba thành một dòng di truyền mạnh mẽ trên Trái Đất. Các giai đoạn tiếp theo liên quan đến sự phát
triển khác nhau của nền văn minh. Giai đoạn quan trọng đang diễn ra hiện nay trên Trái Đất ——
sự tái thức tỉnh khối của hàng triệu linh hồn đối với một mục đích tâm linh lớn hơn.
Sự thức tỉnh này diễn ra tự nhiên và bắt đầu làm gia tăng khoảng cách giữa cực tích cực và cực
tiêu cực (như đang thấy hiện nay trong xã hội). Việc nhấn mạnh khoảng cách này phục vụ phân
cực và làm nổi bật sự lựa chọn mà xã hội có thể bắt lấy —— làm rõ lựa chọn phải làm vào thời
điểm này. Nhân loại không có sự xấu tệ và đau đớn của một quá khứ giày xéo đến mức độ mà
Orion đã có. Khi Trái Đất tái thức tỉnh, tất cả mọi công cụ được hiển thị cho nhân loại thấy để
yêu cầu trách nhiệm cho Bản Thân và Toàn Thể. Những ký ức Orion đau đớn có thể tiếp tục trên
bề mặt, nhưng việc chữa lành của họ sẽ xảy ra thông qua tuyên bố của loài người về tự do và lựa
chọn.
Khi Pha Dẫn Chiều Kích xảy ra, có một số ý thức cá nhân và nhóm đã lựa chọn duy trì ngủ
đông. Họ cho phép bản thân phục vụ như những nguyên mẫu, và có thể được đánh thức mỗi khi
cần thiết. Một số thậm chí cho phép những phân mảnh của chính mình nhập thế. Một ví dụ của
điều này là ý thức được biết đến như Merlin. Trong suốt thời gian của vở diễn Orion, sự cọ xát
giữa hai cực đã đánh thức nhà pháp thuật đang ngủ. “Anh ấy” đã trở thành một lực lượng hướng
dẫn trong việc hướng đến hợp nhập từ cả quan điểm vật lý lẫn phi vật lý. Những phân mảnh của ý
thức anh ta được nhập thế cách quãng để tạo ra một ký ức của quá khứ và tầm nhìn của tương lai.
Anh ta đã đến bằng nhiều cái tên trên nhiều thế giới, nhưng anh ta luôn luôn phản chiếu vẻ đẹp
cũng như sự xấu tệ của chính một người. Năng lượng của anh ta đã có mặt trong liên kết với Trái
Đất ngay từ Khởi Thủy.
Khởi Thủy Trái Đất sẽ được khảo sát nhiều hơn trong các chương tiếp theo. Trong thời gian
này, phải chia sẻ rằng vở kịch này được tạo ra để là một thành công. Hầu hết những người nhập
thể trên Trái Đất đều tham gia vào các vở kịch Orion. Mọi người đều ở đây bởi sự lựa chọn. Ngay
khi một người bắt đầu hoạt động từ một niềm tin rằng nhân loại ở đây là trái với ý muốn của nó,
đó sẽ là thời điểm sức mạnh cá nhân và hành tinh đó đã bị từ bỏ.
6. Chị Em Họ Pleiades Của Trái Đất
“Nhiều đêm từ khung cửa sổ thường xuân bao phủ đằng kia
Trước khi nghỉ ngơi,
Tôi đã nhìn lên Orion vĩ đại,
Thoai thoải đổ về phía tây.
Nhiều đêm tôi đã thấy bộ bảy Pleiad,
Trỗi lên xuyên nét dáng dịu êm
Lấp lánh như bầy đom đóm rối trong dải bện bạc.”
— Tennyson
Trong quá trình phát triển buổi đầu của hệ sao Lyra, sự cọ xát đầu tiên giữa các cực đã bắt đầu
xảy ra. Một số người Lyra thể hiện ý tưởng về phân cực tính nữ —— trực giác và chấp nhận. Họ
tin rằng lộ tuyến tái hợp nhập là thông qua sự phát triển bên trong. Dù vậy những người Lyra
khác đã phân cực cho nam tính. Triết lý của họ ủng hộ quan điểm cho rằng để phát triển, họ phải
thống trị vũ trụ đã biết. Điều này gây ra nhiều bất đồng giữa hai bên.
Khi nền văn minh Lyra phát triển, một nhóm người Lyra quyết định muốn phát triển văn hóa
của mình tránh xa những thứ mà họ cảm nhận là ảnh hưởng tiêu cực. Do đó, họ tìm kiếm thiên hà
để làm ngôi nhà mới. Trong cuộc tìm kiếm này, họ tìm thấy một hành tinh trẻ giàu tài nguyên
thiên nhiên. Hành tinh này chính là Trái Đất.
Trong nhiều thế hệ, nhóm này cư trú trên Trái Đất, chung sống một cách hòa bình với chủng
loài linh trưởng đang phát triển. Tuy nhiên qua một thời gian dài, họ nhận thấy mình không thích
ứng với môi trường vật lý và điện từ của Trái Đất như họ mong muốn. Trong suốt thời gian đó họ
đã kết hợp một lượng nhỏ vật chất di truyền từ các loài linh trưởng để giúp mình đồng hóa với
môi trường của Trái Đất. Qua nhiều thế hệ, DNA của họ thay đổi một chút, cho phép họ thích
nghi với Trái Đất hơn.
Trong khi những người Lyra-Trái Đất này kết hợp di truyền linh trưởng vào bản thân mình,
các nhóm Lyra khác trên hành tinh cũng thực hiện mong muốn của Đấng Sáng Lập cũng như của
riêng họ bằng cách đưa di truyền Lyra vào các loài linh trưởng. Sự xuất hiện của những người
Lyra này đã tiếp nhiên liệu cho xung đột mà người Trái Đất-Lyra đã trốn thoát ban đầu, do đó họ
lựa chọn tìm một hệ hành tinh khác để định cư. Mong muốn xây dựng một nền văn hóa mới nơi
họ có thể được cô lập khỏi các xung đột cũ bắt nguồn từ quá khứ của mình, họ khám phá ra một
khu vực rộng rãi trước khi quyết định chọn một cụm sao xanh trẻ mở được gọi là Pleiades.(1)
[(1) Các nhóm phụ cũng trú trên các hệ sao khác trong khu vực lân cận thiên hà của Trái Đất.]
Khi hệ sao Pleiades bắt đầu được người Trái Đất-Lyra định cư, nó đã được dự định là một
chủng tộc rất cân bằng độc lập. Điều này phản ánh trong việc họ lựa chọn một cụm sao mới ổn
định. Hơn bất cứ cái gì khác, họ muốn tạo ra một nền văn hóa dựa trên hòa hợp, sự thật, và tình
yêu vô điều kiện. Một khi kế hoạch định cư đã được biết đến, những người gốc Lyra mong muốn
một ngôi nhà mới cũng quyết định định cư ở các khu vực khác của cụm sao Pleiades. (2)
[(2) Hiển nhiên, chúng ta chỉ thấy bảy ngôi sao trong hệ sao Pleiades. Từ quan điểm của Pleiades, có hàng trăm
ngôi sao có hành tinh có sự sống (không nhìn thấy từ Trái Đất) tạo nên các địa giới Pleiades.]
Những người Pleiades buổi đầu (người Trái Đất-Lyra trước đây) sở hữu các kỹ năng trực giác
phát triển cao, cũng như khát khao tạo ra một lối sống cộng đồng. Toàn Thể cũng quan trọng như
Bản Thân. Mong muốn này thậm chí đã đưa các thế hệ sinh mệnh trưởng thành và tạo ra bản sắc
của riêng họ tách biệt khỏi gốc rễ Lyra. Trong nhiều thế hệ, họ đã phát triển văn hóa mới có tính
triết học và tiến bộ công nghệ với tốc độ hoàn hảo cho sự phát triển của mình. Mặc dù có nhiều
giai đoạn xung đột, nhưng nền tảng văn hóa mà những người Pleiades mới tạo ra vẫn ổn định
trong hàng ngàn năm.
Qua nhiều thế hệ, người Pleiades theo định hướng cộng đồng bắt đầu ủng hộ hòa bình và yên
bình nhiều đến mức họ học được cách vô hiệu hóa tất cả mọi hình thức tiêu cực. Ở sâu hơn và sâu
hơn, họ nhấn chìm các khuynh hướng hình người tự nhiên của họ, cho đến lúc một sự trống rỗng
khổng lồ xuất hiện bên trong họ. Không có xung đột, giải quyết, hay học tập. Một giọng nói thét
lên từ bên trong. Có một phần của họ muốn được nghe thấy. Từ nỗi tuyệt vọng này, họ liên lạc
với các tổ tiên Lyra. Khi lời kêu gọi được hồi đáp, người Lyra rất ngạc nhiên khi tìm thấy một
nền văn hóa đã tự cắt đứt bản thân khỏi sự sáng tạo. Người Pleiades không có kiến thức về những
gì đang diễn ra trong vũ trụ xung quanh họ. Họ không ý thức được nỗi đau đớn của Orion, mặc
dù cả hai đều là hậu duệ của Lyra.
Khi người Pleiades được cho biết về cuộc chiến Orion, con rồng say ngủ trong họ đã thức tỉnh.
Họ cảm thấy một ngọn lửa đam mê. Một lần nữa họ cảm thấy mình vẫn còn đang sống; một sứ
mệnh sâu sắc đã thắp lên trong linh hồn của họ. Họ mang đến sự phục vụ trong cuộc đấu tranh
Orion. Sau đó họ đã cam kết chống lại sự tiêu cực của Orion.
Thế là nó đã bắt đầu. Họ bước vào cuộc chiến Orion qua nhiều phương tiện. Một số linh hồn
chọn nhập thể trực tiếp vào hệ thống trong cả hai định hướng phân cực (tích cực và tiêu cực) để
hiểu được cuộc đấu tranh. Phần lớn những người Pleiades nhập thế vào cuộc đấu tranh Orion đã
bị kẹt bẫy —— tiến vào chu kỳ đầu thai Orion là rất dễ, nhưng hầu như không có khả năng thoát
ra. Những người khác đã chọn liên minh với Liên Đoàn Đen hoặc tiếp tục nhập thể trong hệ
thống Pleiades và cố gắng ngăn chặn sự bành trướng của Đế Chế Orion. Họ đã chiến đấu tới từng
tế bào của mình để chống lại những tiêu cực nhìn thấy xung quanh họ. Một cách vô thức họ cũng
đang chiến đấu với một sự tiêu cực hơn nữa —— bên trong chính họ.
Cuộc đấu tranh tiếp tục. Người Pleiades đã nhiệt tình chiến đấu chống lại Orion tiêu cực cũng
như họ đã làm với cái tôi bóng tối tiềm ẩn của mình. Thay vì tìm kiếm một chân tướng bên trong,
họ chỉ duy trì sự hận thù về những phiền toái của họ. Chỉ khi Đế Chế Orion hủy diệt một trong
những hành tinh có dân cư của họ, họ mới tự tách mình ra khỏi cuộc chiến Orion. Hành tinh chết
cháy rụi này vẫn còn trong hệ sao của họ như một lời nhắc nhở về hành động của họ trong quá
khứ. Khi hành tinh đó bị xóa sổ, người Pleiades bị tàn phá. Cuối cùng, một bế tắc đã đạt ngưỡng.
Trên những tầng thứ cao nhất của sinh mệnh, mọi ý thức liên quan trong vở diễn Orion đều lùi
một bước. Họ đánh giá tình hình. Rõ ràng giải pháp cần thiết phải xuất hiện từ một góc độ khác.
Họ đồng ý mở rộng xung đột sang một đấu trường khác trong thiên hà. Các Pleiades đã phải đối
mặt với một lựa chọn: họ sẽ phải trả lại năng lượng của họ cho thế giới nhà của họ, hay họ sẽ
đồng ý giải quyết vấn đề của họ (cũng như cuộc đấu tranh Orion) một lần cho tất cả?
Ban đầu, họ đã chọn trở về nhà. Điều này cho phép họ thu thập sức mạnh của mình và lần mò
tận đáy linh hồn để tìm ra một con đường trở thành toàn thể. Họ rất sợ sự tiêu cực —— cái mà họ
đã trở nên bất động. Họ đã đợi. Họ ngẫm nghĩ... và họ do dự.
Trong khi họ đợi, dự án Khởi Thủy bắt đầu có hiệu lực trên Trái Đất. Người Lyra là những
giám đốc vật lý của dự án (dưới Đấng Sáng Lập), chấp nhận sự trợ giúp của các nhóm vật lý khác
như Sirius. Rất nhanh nó đã cho thấy rõ rằng họ cần một cấu trúc di truyền có nguồn gốc Địa Cầu
cũng như ngoài hành tinh cho dự án Khởi Thủy của họ. Họ liên lạc với người Pleiades.
Lúc đầu người Pleiades bày tỏ sự miễn cưỡng khi phải liên can một lần nữa với Trái Đất. Tuy
nhiên, người Lyra với một sự mưu mẹo khéo léo đã chỉ ra lợi ích mà người Pleiades có thể có
được. Biết rằng Pleiades ban đầu đã kết hợp di truyền linh trưởng của Trái Đất vào bản thân
mình, người Lyra thừa nhận rằng họ cần một số khía cạnh nhất định của DNA Pleiades cho các
chủng loài người đang phát triển trên Trái Đất. Bất tri bất giác, họ cũng tạo ra một con đường để
Pleiades đối mặt với sự tiêu cực của mình một lần và mãi mãi.
Người ta đã đề xuất rằng một DNA chuyển từ Pleiades vào các chủng loài người qua một thời
gian dài sẽ tạo ra một chủng loại hình người sẽ là Địa Cầu nhưng cũng có nguồn gốc ngoài hành
tinh. Các tổ tiên gần nhất của những nhân loại Trái Đất này là Pleiades, và thông qua những mối
quan hệ gia đình này, Pleiades sẽ được phép tham gia vào sự phát triển của các chủng loài Trái
Đất. Trong suốt sự tham gia này họ sẽ quan sát chủng tộc phát triển, tương tác cách quãng để giữ
cho họ trên khóa học, và học hỏi về sự tiêu cực của loài người. Điều này sẽ gián tiếp chữa lành
đau đớn của Pleiades trong quá khứ. Sau vài sự miễn cưỡng khi liên kết một lần nữa với Lyra,
một nhóm Pleiades cuối cùng đã đồng ý.
Thỏa thuận này dẫn đến hàng ngàn năm Pleiades tương tác với hầu hết các nền văn hóa nguyên
thủy ở trên Trái Đất. Bản vẽ sinh mệnh không gian cùng tàu vũ trụ trang trí trên nhiều bức tường
hang động, và nhiều tài liệu cổ xưa ghi lại các hoạt động của những vị thần đến từ bầu trời. Họ
xem mình cũng giống như con người ngày nay. Tuy nhiên, theo quan điểm của một người nguyên
thủy, họ chắc chắn phải có vẻ giống-như-các-vị-thần.
Trong các giai đoạn phát triển nhất định của một chủng tộc hình người, từ bỏ sức mạnh cá
nhân đem cho một nhân vật giống-như-thần hay có phép thuật là chuyện thông thường. Điều này
trở nên phổ biến rộng rãi và ngay sau đó, người Pleiades bắt đầu tận hưởng quyền lực mà họ đã
được trao cho. Họ bắt đầu vận dụng nó. Một số người bắt đầu dùng nỗi sợ để thao tác. Thỏa thuận
ở cấp độ linh hồn để họ học hỏi từ Trái Đất đang phát triển đã biến đổi thành một sự thỏa mãn
mong muốn cá nhân. Nhiều thần thoại cổ xưa về những vị thần đố kỵ có liên quan trực tiếp đến
những sinh mệnh ngoài hành tinh từ các hệ sao khác, bao gồm cả Pleiades. (3)
[(3) Ví dụ về những huyền thoại này bao gồm các tường thuật về Set và Osiris của người Ai Cập, cũng như các
cuộc xung đột giữa Enlil và Enki của người Sumer. Đây có vẻ như là những trận đấu nguyên mẫu; nhiều nền
văn hóa có những truyền thuyết về các nhân vật tương tự có thể được coi là bản sao, hoặc có thể là một phiên
bản của cùng một câu chuyện.]
Khi những cuộc chè chén quyền lực diễn ra, những người ngoài hành tinh này cần được nhắc
nhở về mục đích của họ. Một bộ phận người Pleiades rất thường gây nên sự oán giận đối với các
nhóm viếng thăm khác. Trong khoảng thời gian vài nghìn năm, người Pleiades tăng trưởng sức
mạnh, sau đó liên tục nhắc nhở về vị trí của họ. Tình trạng trớ trêu đã sớm đến với họ —— họ đã
muốn tiếp xúc với sự tiêu cực của mình. Mong muốn của họ đã được chấp thuận.
Trong suốt những tương tác này, người Pleiades tham gia vào Trái Đất đều đến từ cùng một
dãy thời gian. Tiếp xúc của họ phù hợp với sự phát triển của họ. Họ chưa nắm được công nghệ
phức tạp về thao tác thời gian/không gian. Chỉ đến tận thế kỷ hai mươi Trái Đất mới bắt đầu kéo
liên lạc Pleiades từ nhiều khung thời gian khác nhau cùng một lúc.
Mặc dù tiếp xúc tiếp tục cách quãng cho đến ngày nay, nó vẫn chậm đi so với thời gian trước
đó. Hầu hết người Pleiades không còn coi nhân loại Trái Đất là trẻ con nữa, và họ cho phép loài
người tự đưa ra những lựa chọn của mình. Một khi Trái Đất bắt đầu kỷ nguyên công nghệ, nó đã
được theo dõi rất chặt chẽ cho khối lượng tới hạn cần thiết để kích hoạt mã DNA bảo tồn của các
loài. Kể từ những năm 1940, cả người ngoài hành tinh vật lý và phi vật lý đều đã giám sát con
người và cố gắng liên lạc, chủ yếu theo những cách tinh tế. Pleiades bắt đầu một chương trình
liên lạc vật lý nhân từ quan trọng với Trái Đất đầu tiên. Dù việc này được tiến hành vào đầu
những năm 1930, nhưng tới những năm 1970 nó mới bắt đầu được chú ý trên quy mô lớn hơn. (4)
[(4) Có những dấu hiệu cho thấy các nhóm tiêu cực (như Sirius) bắt đầu liên lạc trong những năm 1930 và
những hành động tiêu cực của họ luôn bị phản đối bởi các nhóm nhân từ hơn như Pleiades. Hoạt động tiếp xúc
nặng nề này (bởi cả những nhóm có định hướng tích cực lẫn tiêu cực) xuất hiện trong các chu kỳ 20 năm: những
năm 1930, những năm 1950, những năm 1970, và như chúng ta sẽ sớm nhìn thấy, những năm 1990.]
Một người Thụy Sĩ tên là Billy Meier đã ghi lại hàng trăm giờ giao tiếp với nhà du hành vũ trụ
Semjase của Pleiades. Ông cũng sở hữu một lượng lớn các bức ảnh tàu vũ trụ Pleiades —— sử
dụng công nghệ chụp ảnh và chưa bao giờ bị chứng minh là sai. Ông tuyên bố mình được người
Pleiades (và các đồng minh của họ là DAL) đưa về cả quá khứ lẫn tương lai để xem các sự kiện
khác nhau. Tiếp xúc này đã gây ra tranh cãi lớn kể từ khi nó được tiết lộ. Meier đã được cung cấp
bằng chứng (bởi chính người Pleiades) là một mẫu kim loại đã được phân tích lên phim bởi một
nhà khoa học nổi tiếng của IBM. Các phân tích cho thấy một sự kết hợp bất thường của những
vật liệu bao gồm một nguyên tố quý hiếm và đắt tiền gọi là thulium. Ngoài ra, khi phân tích thêm,
mẫu vật dường như thể hiện các tính chất của kim loại lẫn tinh thể. Mẫu kim loại này sau đó đã
biến mất, nhưng phim phân tích vẫn còn.
Trong cộng đồng nghiên cứu UFO, trường hợp này là một ví dụ kinh điển về việc vứt đi cả
vàng lẫn cám. Bởi vì “quá dễ dàng”, nó được xem là lừa lọc. Khi Meier cố gắng xây dựng các mô
hình tàu vũ trụ Pleiades để xem hình ảnh có thể bị làm giả hay không, các mô hình đã bị tìm thấy,
và toàn bộ vụ này được dán nhãn là trò bịp.
Những lời dạy của Semjase và các cộng sự của cô hiện đã bắt đầu được biết đến rộng rãi hơn.
Họ dạy những sự thật về tinh thần cũng như đưa ra một phần lịch sử của chủng tộc Pleiades. Một
số lời dạy cảnh báo về thảm họa tự nhiên và nhân tạo liên kết với một thời đại mới sắp tới. Có vẻ
như những sinh mệnh Pleiades này đã tới từ một định hướng trong lịch sử của họ, nơi mà cảnh
báo loài người về thảm họa sắp đến là một phần của triết lý liên hệ của họ. Mặc dù những lời dạy
này có thể áp dụng khi chúng được đưa ra, nhưng người ta có thể đặt câu hỏi chúng liên quan thế
nào đến ý thức khối ngày nay.
Có những dấu hiệu cho thấy ý thức khối của Trái Đất đã làm một sự chuyển đổi từ một tương
lai thảm họa sang một sự có trách nhiệm hơn trong giai đoạn 1980 – 1982. Vì những giáo lý của
Pleiades được đưa ra trước khi sự chuyển đổi được thực hiện, có lẽ chúng là tượng trưng cho một
ý tưởng cũ. Nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa là chúng vô giá trị, đây có nghĩa là có lẽ sẽ
có một viễn cảnh khác đến với nhân loại thay thế —— một cái phản ánh những lựa chọn và thay
đổi nhân loại đã được thực hiện gần đây trên tầng thứ của ý thức khối.
Tiếp xúc Pleiades đến với chúng ta hiện nay (cả dưới hình thức vật lý lẫn tinh thần) có thể là
tiếng dội từ một giọng nói khác. Một số người tuyên bố là hậu duệ tương lai của người Pleiades
mà Meier nói. Những người Pleiades này nói chuyện cởi mở về quá khứ khó khăn của họ và lý do
họ cảm thấy cần dùng các chiến thuật xác định để ứng phó với Trái Đất. Họ thừa nhận họ có động
cơ riêng khi liên lạc, và cảm ơn hành tinh này vì tất cả những gì họ đã học được. Họ đang giúp đỡ
xã hội làm sáng tỏ những hình thức tiếp xúc khác mà bản thân họ không trực tiếp tham gia (như
những trải nghiệm bắt cóc tiêu cực). Họ đang chân thành giúp đỡ nhân loại bằng mọi cách có thể,
cho phép hành tinh đạt được một quan điểm toàn cầu cũng như thiên hà.
Pleiades có những lý do cụ thể cho sự ngập ngừng trong tương tác hiện tại của họ với Trái Đất.
Trong hàng ngàn năm họ đã bước vào —— hoặc để bảo vệ chúng ta khỏi nguy hiểm, hoặc kiểm
soát chúng ta như những đứa trẻ “để tốt cho chính chúng ta.” Vài nhóm phụ thậm chí đã thao
túng nhân loại cho các mục đích riêng của họ. Đây là nguồn hổ thẹn lớn đối với họ. Bây giờ họ
nhận ra rằng nhân loại phải tự lựa chọn và họ phải tin tưởng vào khả năng làm điều đó của nhân
loại. Họ đã tạo ra nghiệp quả thông qua sự can thiệp của mình. Đối với sự tăng trưởng của chính
họ, chu kỳ này bắt buộc phải được phóng thích. Tư tưởng duy trì khuôn mẫu can thiệp trên Trái
Đất chính là ý tưởng đáng sợ nhất mà một người Pleiades phải đối mặt.
Tiếp xúc Pleiades với Trái Đất liệu có tiếp tục trong tương lai không? Vì họ tương tự với Trái
Đất nhất về phương diện vật lý (ở hình thể mật độ bốn), ý tưởng họ trở thành những người đầu
tiên bước đi trên hành tinh này mà không phải cải trang có vẻ như thích hợp. Tuy nhiên, họ nhấn
mạnh rằng nhiều nhân loại có lẽ muốn gặp người chị em họ của mình ở trên bầu trời hơn, và họ
sẽ không bắt đầu một chương trình tiếp xúc cởi mở cho đến khi nhân loại có thể ôm lấy những
người anh em ruột đang ở trên đường phố của chính mình. Đó là trách nhiệm của hành tinh này.
Nhân loại là những người làm chủ. Liệu cuối cùng chúng ta có sẵn sàng buông bỏ nỗi sợ về việc
nhận ra di sản của mình và chấp nhận những cánh tay dang rộng của họ không?
7. Cửa Ngõ Arcturus
“Quả thật, khi một người rời khỏi thế giới này
anh ta bay theo chiều gió.
Nó mở ra cho anh giống như
cái lỗ của bánh xe ngựa.
Thông qua nó anh ta gắn kết cao hơn.
Anh ấy đi đến mặt trời.
Nó mở ra cho anh ấy như cái lỗ của trống...
Anh ấy đi đến mặt trăng
Anh ấy đi đến thế giới mà không có nỗi buồn ... “
—— Brihad-Aranyaka Upanishad
Khi đi qua Lăng kính của Lyra, đã có một số sinh mệnh quyết định duy trì ở trong hình thể phi
vật lý. Một cách đầy yêu thương, những sinh mệnh này lựa chọn tồn tại phục vụ cho những thực
tại đậm đặc hơn, chẳng hạn như Trái Đất mật độ ba. Họ nhận thấy trên thế giới vật lý đang phát
triển, sự sống tăng trưởng có thể cần sự trợ giúp từ các cõi giới khác. Sự trợ giúp này có thể đến
dưới dạng nguyên mẫu, thiên thần, người hướng dẫn, và nguồn cảm hứng vô hình.
Những sinh mệnh này bị hấp dẫn vào khu vực của một ngôi sao —— Arcturus. Trong quá
trình hấp dẫn ban đầu, trường sao trong vùng Arcturus hơi khác với hiện tại, nhưng năng lượng
của khu vực vẫn không thay đổi. Có một cửa ngõ hoặc giao lộ trong tấm vải của thời gian và
không gian tại khu vực tổng quát của Arcturus. Những sinh mệnh đó sớm nhận ra rằng cửa ngõ
này đã băng qua theo chiều hầu hết các khu vực khác được cư trú từ Pha Dẫn Chiều Kích. Sau đó
họ bắt đầu hiểu được mục đích của mình —— hỗ trợ ý thức từ nhiều tầng thứ của nhận thức.
Mục đích của Arcturus là đa diện. Một ý tưởng là họ phục vụ chủng tộc hình người như là một
lý tưởng. Họ đại diện cho bản thân tương lai của một cá nhân hay xã hội. Năng lượng của họ —
— theo bản chất của nó —— là một nam châm mà hấp thụ tiềm năng tích cực và hợp nhập từ rất
sâu của sinh mệnh. Họ phản chiếu Trái Đất nơi nó đang tiến hóa tới. Một khi con người tiến hóa
thành phi vật lý, mục tiêu lý tưởng là đạt được một ý thức tương tự như ý thức khối của Arcturus.
Họ tự nhận mình là một ma trận nhóm, cam kết với lý tưởng về sự tiến hóa của ý thức.
Rất thường xuyên, sinh mệnh Arcturus sẽ hiển hiện như thiên thần đối với con người. Người ta
biết rằng một trong những mục đích của thiên thần là để phụng sự nhân loại. Trong một ý nghĩa
rất thực tế, người Arcturus có một sự cống hiến cho chủng tộc hình người. Họ lựa chọn để học về
vật lý thông qua các sinh mệnh vật lý.
Họ là ether trong tự nhiên. Năng lượng của họ có thể được cảm nhận như một sự hiện diện, sự
trỗi dậy của sáng tạo hay tình yêu vô điều kiện. Họ sẽ hiển hiện theo hệ thống niềm tin của người
mà họ đang tương tác. Đối với tôn giáo truyền thống hơn, đó sẽ là thiên thần. Đối với một số
người tìm kiếm hiện đại hơn, có thể là người ngoài hành tinh hoặc bản thân tương lai. Dù bằng
cách nào thì kết quả cũng giống như nhau —— một tương tác với một sinh mệnh thực sự yêu
thương dành cho phụng sự vật lý và do đó là Toàn Thể.
Bởi vì họ phụng sự vật lý, họ tương tác không chỉ với sinh mệnh nhân loại trên một hành tinh,
mà còn với các vương quốc vô hình có đường tiến hóa khác với loài người. Mỗi hành tinh có
vương quốc chư thiên riêng của nó —— năng lượng ý thức của các vương quốc thực vật, khoáng
vật và động vật —— và năng lượng Arcturus hoạt động như một khía cạnh cao hơn của vương
quốc chư thiên của một hành tinh. Một lần nữa, họ lặp lại ý tưởng phản chiếu lý tưởng tiến hóa
trong tương lai.
Có một số ít Arcturus chọn trải nghiệm vật lý để phụng sự. Thay vì vào vật lý thông qua quá
trình sinh ra, họ chọn “walk in/bước vào” một cơ thể đã có sẵn trên thế giới vật lý. Họ không có
nhu cầu (hay “nghiệp lực” nếu muốn nói) để tiến vào thông qua quá trình nhập thế. Bằng các thoả
thuận khác nhau giữa những linh hồn, một “giao dịch” được thành lập. Linh hồn của một người
đau khổ về tình cảm sẽ bước vào cõi giới của Arcturus để chữa lành, và người Arcturus tò mò sẽ
tạm thời hóa thân trên một hành tinh. (1)
[(1) Đây không phải là sự xuất hiện thông thường. Nhiều người tuyên bố là “walk-in” đã trải qua một quá trình
phổ biến hơn có thể được gọi là “bện hồn”: Quá trình này là đưa vào một tần số năng lượng cao hơn của chính
linh hồn đó, chứ không phải là một sự hoán đổi của ý thức. Nó có thể bị hiểu nhầm là lối vào của một ý thức
mới, trong khi nó là một bước tiến và hợp nhập của ý thức ban đầu.]
Các dịch vụ chính mà Arcturus cung cấp cho các sinh mệnh vật lý là sự chữa lành tình cảm.
Arcturus thiên về một cõi giới hơn là một nơi thực tế, và trong cõi giới của Arcturus, những linh
hồn Trái Đất có những cái chết (hoặc cuộc sống) chấn thương được chữa lành và phục hưng. Vì
cửa ngõ Arcturus kết nối theo chiều với Trái Đất, tất cả những ai nhập thể trên Trái Đất đều phải
đi qua cõi giới Arcturus trước khi họ đến được hành tinh —— trừ khi họ lựa chọn không qua một
cách có ý thức. Đây cung cấp sự chữa lành cho những người được sinh ra, và tăng cường các lựa
chọn và mong muốn của họ cho cuộc sống vật lý sắp sửa diễn ra.
Cửa ngõ Arcturus chuẩn bị cho ý thức phi vật lý về sự tập trung cao độ của vật lý và do đó là
tính dục. Từ quan điểm Arcturus của nhận thức, vật lý và tính dục là cùng một biểu hiện. Năng
lượng Arcturus đặc biệt giỏi ở các hình thức chữa lành tính dục khác nhau, chẳng hạn như trong
trường hợp lạm dụng tình dục thời thơ ấu hoặc khi trưởng thành. Các nguồn năng lượng chữa trị
của Arcturus đều bình đẳng dưỡng nuôi cho kẻ bị ngược đãi lẫn kẻ ngược đãi, vì cả hai đều đau
đớn rất nhiều. Việc sử dụng ma trận chữa trị Sirius/Arcturus có thể khá mạnh trong những trường
hợp như vậy.
Loài động vật biển có vú (đặc biệt là cá heo) có thể đại diện cho ma trận Sirius/Arcturus đối
với những người đau đớn, vì cá heo khá tính dục và yêu thương vô điều kiện trong sự biểu hiện
của chúng, chúng có thể phục vụ như một biểu hiện vật lý của ma trận chữa trị Sirius/Arcturus.
Ma trận này hoàn toàn không đe dọa, cung cấp khả năng chữa bệnh tinh tế ở mức độ rất sâu.
Khi chết, ý thức con người đi qua cõi giới Arcturus. Ở đó họ được dưỡng nuôi và chăm sóc
cho đến khi họ thức tỉnh với thực tại lớn hơn của họ. Trong trường hợp của một cái chết chấn
thương, một sự dịu dàng và chữa lành tuyệt vời được chia sẻ để linh hồn sẽ làm một quá trình
chuyển đổi thức tỉnh trơn tru.
Trong những trải nghiệm sau-khi-chết, ánh sáng được cảm nhận ở cuối đường hầm thực sự là
một biểu hiện của rung động Arcturus. Rung động này sẽ được phiên dịch qua hệ thống niềm tin
của người nhận thức. Bởi vì Arcturus chủ yếu là mật độ sáu, nó thường được coi là rung động của
Chúa hay Phật. Ánh sáng có thể được đánh đồng với bản thân tương lai hoặc cái tôi cao hơn
(Chúa bên trong) của một cá nhân. Vì vậy trong một phương diện nào đó, trong suốt quá trình
chết, người ta kết hợp với cái tôi cao hơn, điều này xảy ra để chia sẻ một dải tần số gần giống với
cõi giới Arcturus. Có sự chữa lành xảy ra. Trong tất cả các sáng tạo, không gì chữa lành, nuôi
dưỡng, và phục hưng tinh thần con người triệt để như rung động Arcturus.
[(2) Trong nhiều trải nghiệm sau-khi-chết, cá nhân đã nói một cách thương tâm về ánh sáng rực rỡ mà họ gặp
phải. Một tường thuật ghi chép trong Moody's Life After Life tuyên bố: “Một ánh sáng trắng rực rỡ xuất hiện
với tôi. Ánh sáng rực rỡ đến mức tôi không thể nhìn xuyên qua được, nhưng đi vào sự hiện diện của nó là quá
xoa dịu và tuyệt vời. Trên Trái Đất không có trải nghiệm giống như vậy.” Bước vào rung động Arcturus sau khi
chết có thể được đánh đồng với trải nghiệm này.]
Một ý tưởng khác đồng nghĩa với rung động của Arcturus là ý tưởng sáng tạo. Khi một người
đang sáng tạo, họ gắn liền với năng lượng của Tạo Hóa. Vì Arcturus phục vụ như một “sứ giả”
của Tạo Hóa, vậy nên những rung động là tương tự nhau. Theo cách này, Arcturus đã gắn bó mật
thiết với nhân loại ngay từ khởi đầu, vì nhân loại luôn luôn sáng tạo.
Arcturus không chỉ là một ngôi sao. Đó là một tần số mà người ta sở hữu, bên trong. Đó là một
tần số của sự sáng tạo, chữa lành và tiến hóa. Nó đã ở với Trái Đất và các hành tinh phát triển
khác từ khởi thủy của chúng. Nó giống một dòng chảy ngầm hơn là một nhân vật trong câu
chuyện gia đình thiên hà —— cái mà thậm chí hiện diện trong toàn thể ý tưởng Pha Dẫn Chiều
Kích.
Bởi vì năng lượng của Arcturus là một dòng chảy ngầm liên tục tương tác với chúng ta, môi
trường hành tinh Trái Đất thường chuyển năng lượng của Arcturus vào một hình thức nhằm kích
hoạt các cá thể một cách cảm xúc. Một ví dụ của điều này là mây dạng thấu kính, một định dạng
đám mây ngoạn mục mà đúc khuôn chính nó vào một hình đĩa. Nó có thể trông giống như một
chiếc tàu vũ trụ, nhưng hầu hết các thời điểm nó chỉ đơn thuần là môi trường Trái Đất chuyển hóa
năng lượng mà nó nhận thức ở tầng thứ ether. Những “con tàu” ether này một lần nữa nhắc nhở
nhân loại về các liên kết vô hình của nó.
Bên trong thực tại phân cực, Arcturus đã chọn một đối tác để phản ánh các khía cạnh khác của
bản chất đang phát triển của nó. Đối tác của nó là khu vực được gọi là Antares. Trong cửa ngõ
chiều kích hoặc giao lộ có một sự kết nối giữa Antares và Arcturus, nơi đóng vai trò là đầu mối
năng lượng quan trọng trong khu vực này. Hầu hết ý thức những người nhập thể trên Trái Đất chỉ
đi qua rung động Arcturus. Nhưng có những người khác chọn qua Antares trước khi họ đến được
Arcturus. Đây là những cá nhân làm việc trực tiếp với các khuôn mẫu ý thức khối, ma trận, và sự
tiến hóa tế bào.
Antares cũng là điểm kết nối chiều kích giữa góc phần tư Trái Đất của Ngân Hà và thiên hà
Andromeda. Kết nối Antares/Andromeda tiếp năng lượng cho các khái niệm trừu tượng về sự tồn
tại và ý thức cần thiết cho các chủng tộc vật lý để bắt đầu nhớ lại di sản của họ, do đó biến đổi
quá khứ của họ.
Hầu hết các chủng tộc khác đã khám phá trong công việc này có nhiều thỏa thuận cá nhân với
hành tinh Trái Đất. Kết nối của Arcturus rất lưu động, rất dẻo, nhưng không kém phần quan
trọng. Nếu so sánh mọi nhân vật khác của câu chuyện với các thành phần trong món súp vũ trụ,
người ta có thể thấy cái cách chúng đã gia thêm hương vị như thế nào. Tuy nhiên, nếu so sánh
Arcturus với tính nhất quán của nước dùng trong súp, nó rõ ràng cho thấy rung động Arcturus là
một thành phần quan trọng giữ tất cả lại với nhau như thế nào.
Có thể khám phá nhiều dạng biểu hiện năng lượng Arcturus trên Trái Đất. Thứ nhất, người ta
có thể nói rằng Arcturus và Sirius hình thành quan hệ hợp tác. Trong khi Arcturus làm việc với
chữa lành tình cảm thì Sirius tạo điều kiện cho chữa lành vật lý. Người Ai Cập biết đến những
liên hệ này và kêu gọi các nguồn năng lượng của ma trận Arcturus/Sirius hỗ trợ trong nghi lễ của
họ. Một vị thần nổi tiếng của người Ai Cập là Anubis —— là một nguyên mẫu Sirius trực tiếp,
nhưng đã làm việc với năng lượng Arcturus. Anubis hướng dẫn các cá nhân vào thế giới bên kia
(astral), hoặc đi qua quá trình tử vong vật lý. Có cả năng lượng của Sirius lẫn Arcturus đã bắt đầu
quá trình chữa lành với linh hồn. Các đại diện của chó rừng (hoặc “chó”, giống Sao Chó của
Sirius) như Anubis là một tín hiệu trắng trợn rằng người Ai Cập đã nhận thức về kết nối này.
Anubis (như một nguyên mẫu Sirius) đã dẫn dắt linh hồn ra đi đến cõi giới Arcturus, nơi xảy ra
sự chữa lành. Arcturus đại diện cho hợp nhập nhiều như Orion đại diện cho bản chất xung đột
hoặc phân cực của nhân loại. Nguyên mẫu của Merlin thường được coi như là cây cầu. Khi hai
cực cố gắng thống nhất, phải có một nền tảng chung mà cả hai đều đứng trên đó trước khi sáp
nhập xảy ra. Merlin là một cầu nối giữa Orion bùng nổ và Arcturus chữa lành. Anh ta là nền tảng
chung. Dễ thấy năng lượng của anh ta có tầm quan trọng lớn đến thế nào, không chỉ đối với Trái
Đất, mà với tất cả những ai trải nghiệm sự phân cực. Pháp thuật là tia lửa tạo ra từ sự cọ xát giữa
các cực nhóm lên sự chuyển đổi.
Buổi đầu trong sự phát triển của Trái Đất, người Arcturus đã đồng ý cho mật độ bản thân đủ để
được tạm thời nhận thức. Họ tương tác với nền văn hóa xa xưa gọi là Lemuria bằng cách dạy kỹ
năng chữa lành. Ký ức của những tương tác này được thực hiện qua các thế hệ. Khi người
Lemuria di cư đến nhiều vùng trên Trái Đất, những ký ức này được mang theo cùng họ. Các bức
tượng ở đảo Phục Sinh là một trong số ít những ý tưởng vẫn tồn tại trong vật lý về sự tương tác
trực tiếp của họ. Những bức tượng này không có nghĩa là đại diện cho những người Arcturus
đông cứng như vậy để vinh danh họ. Vị trí của các pho tượng nằm ở ngoài trời, nhìn đăm đăm
vào chân trời, chờ đợi sự trở lại của người Arcturus.
Nhân loại không bao giờ phải chờ đợi sự trở lại của họ. Năng lượng đã có mặt ngay từ đầu.
Nếu nhìn vào bên trong thay vì ra bên ngoài, họ có thể được tìm thấy. Họ là loài người đã phát
triển đến tiềm năng cao nhất của mình. Họ nhắc nhở nhân loại và đưa nó thẳng vào một xoắn ốc
tráng lệ của tiến hóa. Nhà là nơi trái tim ở, và trái tim là lộ tuyến của Arcturus.
8. Khởi Thủy Trái Đất
“Sau đó Thượng Đế nói, “Hãy làm con
người theo hình tượng chúng ta, giống như chúng ta…”
—— Sáng Thế ký đoạn 1 câu 26
Con người Trái Đất được tạo ra theo hình tượng của ai? Nhiều kinh sách lâu đời nhất trên Trái
Đất ngụ ý rằng sự phát triển của nhân loại được dẫn dắt bởi các vị thần xuống từ bầu trời. Ngay
cả những nhà nhân chủng học cũng nhận thức được sự phát triển nhanh chóng bất thường của loài
Homo sapiens. Một số nhà nhân chủng học ước tính rằng loài Homo sapiens dường như đốt cháy
giai đoạn tới hàng triệu năm.
Trong khi quá trình tiến hóa từ Vượn người phương nam tiến bộ tới người Neanderthal đã mất
hơn hai triệu năm, người ta đã tìm thấy bằng chứng rằng Homo sapiens (Cro-Magnon) xuất hiện
trên Trái Đất cách đây khoảng 35.000 năm. Điều thú vị hơn chính là trong khi vết tích của loài
người đang tiếp tục được phát hiện, các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu tích từ một Homo sapiens
thậm chí sớm hơn ở các khu vực Tây Á và Bắc Phi. Những dấu tích này là từ 250.000 năm trước
người Cro-Magnon. Cần phải nói ở đây chính là Homo sapiens không có tiền thân tiến hóa.
Không có loài nào phát triển thành Homo sapiens —— chủng loài này chỉ đơn giản là đột nhiên
xuất hiện.
Liệu người ngoài hành tinh có hứng thú nhúng tay vào sự tiến hóa của Trái Đất hay không?
Nếu vậy, họ có thể thu họach được gì từ con người Trái Đất? Có lẽ đó là một cách để họ thúc đẩy
sự tiến hóa của mình.
Dễ thấy có ba nhóm chính hợp tấu Khởi Thủy Trái Đất. Chúng ta xác định họ là: Đấng Sáng
Lập, nhóm Lyra và nhóm Sirius. Các Đấng Sáng Lập đã tạo điều kiện cho Khởi Thủy từ một
điểm phi vật lý và là người giám sát toàn bộ dự án. Không biết về những ảnh hưởng phi vật lý
này, các Lyra hợp tấu Khởi Thủy một cách vật lý và dùng một nhóm Sirius hỗ trợ. Mỗi nhóm đều
có động lực riêng cho sự tham gia của mình. Và dù động cơ khác nhau, nhưng mục đích cũng chỉ
có một —— tạo ra một chủng tộc hình người ở trên Trái Đất.
Như đã đề cập trước đó, Pleiades liên quan đến sự tiến hóa của Trái Đất bởi lợi ích riêng của
họ. Họ cảm thấy nếu giao tiếp với con người, họ không chỉ có thể trở thành một phần trong sự
phát triển của ngôi nhà trước đây của mình, mà còn có thể học hỏi về tiêu cực và hợp nhập mà
không cần phải trực tiếp nhập thế vào một thế giới đang diễn ra những ý tưởng đó. Họ đã được
thuyết phục bởi nhóm Lyra —— những người nhận thức rõ về sự tương thích gen của Pleiades
với tân nhân loại đang được phát triển của Trái Đất.
Nhóm Lyra (một sự kết hợp của các chủng tộc Lyra khác nhau) đã không ngừng thử nghiệm.
Cũng giống như loài người có những động lực bản năng nhất định (chẳng hạn như sinh sản),
những sinh mệnh ngoài hành tinh này mang theo các xu hướng của chính mình: bắt chước “tạo
hóa” của họ —— Đấng Sáng Lập. “Con” của Đấng Sáng Lập theo bản năng tiến hành với việc
gieo hạt giống di truyền. Những Đấng Sáng Lập đã nhận thức rõ rằng lai cận huyết sẽ là nguyên
nhân khiến một chủng tộc diệt vong, do đó họ liên tục tìm kiếm nguyên liệu mới để giữ cho vốn
gien pha trộn.
Có một động lực chính khác cho sự tham gia của Lyra đối với Trái Đất. Sau hằng hà sa số
những xung đột trong các chủng tộc nhánh của Lyra (Vega, Sirius, Orion…), họ mệt mỏi vì đã
tạo ra những nền văn minh bị phân cực và thất bại trong việc tồn tại một cách hòa bình. Họ đã
xác định rằng Trái Đất là một hành tinh được hình thành dựa trên sự hợp nhập chứ không phải là
phân cực. Nhóm Lyra cảm thấy cái họ cần có lẽ là một hành tinh có sự khởi đầu đã được hợp
nhập chứ không phải một hành tinh mang các hạt giống phân cực từ những hệ sao khác. Với ý
nghĩ này, họ bắt đầu xây dựng kế hoạch nghiêm ngặt của mình cho Khởi Thủy Trái Đất.
Tuy nhiên, những Đấng Sáng Lập có kế hoạch khác. Họ biết Trái Đất có thể sẽ là mảnh đất
cuối cùng để chữa lành cho vở kịch Orion, do đó vẫn phải phân cực để giải quyết xung đột. Các
Đấng Sáng Lập biết gia đình thiên hà cuối cùng cũng sẽ học được về hợp nhập thông qua trải
nghiệm giải quyết phân cực trên Trái Đất. Những Đấng Sáng Lập đã cho phép nhóm Lyra thực
hiện kế hoạch của mình vì họ biết nó sẽ ủng hộ kế hoạch vũ trụ.
Đối với nhóm Sirius, động cơ của họ là được gần gũi nhà hơn. Họ cho rằng Trái Đất nằm trong
hệ thống sao ba Sirius, do đó tin mình có quyền thao tác gen di truyền Trái Đất. Các Sirius chỉ
đơn giản là có hứng thú trong việc gây dựng các chủng tộc hình người nguyên thủy trên Trái Đất
—— những người có thể phục vụ như lao động tay chân khi họ mở rộng địa giới của mình để bao
gồm Trái Đất. Bởi vậy, họ ủng hộ dự án Lyra với những mục đích riêng trong tâm trí của mình.
Dự án Khởi Thủy Trái Đất bắt đầu.
Trong hàng nghìn năm xuyên suốt những giai đoạn đầu của dự án Khởi Thủy Trái Đất, người
Lyra (1) đã cẩn trọng theo dõi chủng loại linh trưởng đang phát triển trên Trái Đất.
[(1)] Những người Lyra này cũng như những người khác đã được biết đến bằng thuật ngữ “Nefilim” trong tiếng
Hebrew, bị dịch sai thành “những người khổng lồ”. Nefilim nghĩa đen là “những người đã đi xuống.” Sáng Thế
ký đoạn 6 câu 4 tuyên bố: “Nephilim đã ở trên Trái Đất trong những ngày đó —— cũng như sau đó —— khi
các con trai của Thượng Đế đến với con gái của nhân loại và có con, họ là những anh hùng của những người
già, người của nổi danh.” “Nổi danh” trong bản gốc tiếng Hebrew là “shem”, nghĩa đen là phương tiện phi
hành, có thể là tàu hỏa tiễn. Do đó, “Họ là những anh hùng của người già, người của tàu hỏa tiễn.”
Thỉnh thoảng họ lấy mẫu và thay đổi cấu trúc DNA chút ít. Ở những điểm quan trọng trong
quá trình phát triển, họ bắt đầu đưa vật liệu di truyền từ Pleiades (2) (và các nhóm khác) vào
những loài linh trưởng này. Thời gian dài trôi qua, sự tăng tốc của tiến hóa càng ngày càng hiện
rõ. Khi điều đó trở nên rõ ràng, các thí nghiệm hình mẫu quan trọng đã được bắt đầu.
[(2)] Như đã đề cập trước đây, Pleiades mang gen di truyền Trái Đất đã thành công hợp nhập vào nguyên liệu
Lyra. Vì vậy, họ đã trở thành lựa chọn sau cùng để gieo chủng loại người trên Trái Đất.]
Câu chuyện về Adam và Eva là một trong số ít những di sản còn sót lại mà có thể tinh tế nhắc
nhở nhân loại về khởi đầu của nó. Câu chuyện đó chứa nhiều tham khảo tượng trưng cho trường
thiên xảy ra liên quan đến kiểu chủng loài kế thừa Trái Đất. Như đã nói, nhóm Lyra muốn một
chủng loài được gây dựng trên sự hợp nhập. Vì vậy, họ cảm thấy loài này phải không có kiến
thức về phân cực —— hoặc “tốt” và “xấu”. Họ kiểm soát chặt chẽ môi trường của tân nhân loại
để những người này sẽ tập trung phát triển như những phương tiện hợp nhập hoàn mỹ. Họ không
muốn tân nhân loại trở nên giống mình —— phân cực. Điều mà nhóm Lyra không thừa nhận
chính là họ cũng đang hạn chế sự lựa chọn đối với những tân nhân loại.
Sau nhiều thế hệ làm việc với động vật linh trưởng và di truyền ngoài hành tinh, nhóm Lyra đã
phát triển một hình mẫu nhân loại có nghĩa là “trên Trái Đất” đã được dịch thành cái tên “Adam”.
Hình mẫu Adam đã được đưa vào Trái Đất để kiểm tra tính thích ứng môi trường của nó ở nhiều
khu vực trên hành tinh này (tức là có rất nhiều Adam). Khi hình mẫu này đã được điều chỉnh thỏa
đáng, các Adam đã được thu về.
“Vậy là, Thượng Đế tạo nên một giấc ngủ sâu để nhân loại chìm vào, và anh ta đã ngủ. Sau đó
Ngài lấy một cái xương sườn của anh ta (hay một phần xương hông anh ấy), và đóng da thịt ở đó
lại.” [(3) Sáng Thế ký đoạn 2 câu 21]
Thông qua nhân bản và kỹ thuật di truyền, một hình mẫu nữ tạo ra được dịch là “Eva”. Cả hai
đã trở lại với môi trường và được theo dõi chặt chẽ.
Với mong muốn tạo ra một chủng loài không có kiến thức về phân cực, người Lyra dạy dỗ tất
cả hình mẫu theo xu hướng ngăn cấm kiến thức và thực sự phủ nhận quyền lựa chọn mà tất cả
sinh mệnh thần thánh đều được trao cho. Do đó, người ta có thể thấy được ý nghĩa lời tuyên bố
của Thượng Đế: “Ngươi có thể tự do ăn bất cứ cây nào trong vườn, trừ cây tri thức tốt và xấu
[phân cực], vì từ cái ngày mà ngươi ăn nó, ngươi chắc chắn sẽ chết.” [(4) Sáng Thế ký đoạn 2 câu 16]
Những người Sirius làm việc với nhóm Lyra không đồng ý với triết lý này. Họ cảm thấy mong
muốn cá nhân của Lyra cho việc tạo ra chủng loài này là sai lệch với các quyền của hình thể hình
người. Mặc dù muốn phát triển loài người cho mục đích riêng của mình, nhưng những người
Sirius đã phát hiện họ có một tình cảm chân thành đối với tân nhân loại. Bất chấp hai mặt tương
phản này, họ quyết định can thiệp, do đó vô tình cho con người cơ hội để lựa chọn.
Nhóm người Sirius đã cảnh báo con người rằng: Và con rắn (5) nói với người nữ “Ngươi chắc
chắn sẽ không chết! Vì Thượng Đế biết rằng từ ngày các ngươi ăn nó, mắt các ngươi sẽ mở ra, và
các ngươi sẽ giống như Thượng Đế, biết được cả tốt lẫn xấu.” [(6) Sáng Thế ký đoạn 3 câu 4]
[(5) Rắn là một biểu tượng nguyên mẫu được tìm thấy trong nhiều thần thoại cổ đại. Bản chất của rắn nhất quán
mô tả tính hai mặt —— nó là đáng sợ nhưng vẫn là một đồng minh mạnh mẽ của nhân loại. Trong các văn bản
Sumer, Enki – vị thần (Sirius) bảo vệ nhân loại, cũng được miêu tả như một con rắn. Phán xét rằng rắn là “xấu”
mang tính hiện đại hơn và có thể là một mánh khóe được các vị thần (Lyra) sử dụng để giữ cho nhân loại không
tuân theo các chỉ dẫn của những người Sirius đang cố giúp nhân loại.]
Được trình bày với lựa chọn và sự cần thiết cho một quyết định liên quan đến sự tồn tại của họ,
con người đạt được ý thức mật độ ba. Khi con người nhận ra mình đã bị “Thượng Đế” lừa dối, họ
đã lựa chọn tri thức. Một khi đã lựa chọn nhận lấy kiến thức về phân cực, họ đã bị neo hoàn toàn
trong cơ thể. Họ bây giờ sở hữu bản ngã, hoặc hiểu biết về “Tôi”, và trở nên tự nhận thức bản
thân.
“Thượng Đế phán rằng: Nhìn đi, loài người đã trở nên giống như một trong số chúng ta, biết
được tốt và xấu [phân cực]. Hắn không được phép vươn tay hái lấy cây sự sống mà ăn rồi sống
đời đời.” [(7) Sáng Thế ký đoạn 3 câu 22]
Không cần phải nói, nhóm Lyra tất nhiên không hài lòng. Trong sự phẫn nộ của mình, họ đã
phủ nhận nhân loại khỏi tri thức cây sự sống (Tài Sản Thần Thánh). Do đó, nhân loại đã bị buộc
phải phát triển mà không có sự hiểu biết về mối liên hệ của nó với gia đình thiên hà và Toàn Thể.
Đó thực sự là một thách thức.
Để đảm bảo rằng con người không tìm kiếm kiến thức này, nhóm Lyra đã sử dụng một số biện
pháp phòng ngừa: “... ở phía đông của khu vườn, Ngài đã đóng quân các Trí thiên sứ, và thanh
hỏa kiếm hướng về mọi phía, để bảo vệ con đường đi đến cây sự sống.” [(8) Sáng Thế ký đoạn 3 câu
24]
Họ bỏ lại nhân loại với tài sản của chính nó —— di sản của Orion (được miêu tả biểu tượng là
thanh kiếm), mà không để lại bất kỳ kiến thức gì về giải pháp cho nó.
Có những gợi ý trong văn bản Sumer cổ chỉ ra rằng Trí thiên sứ là thiết bị cơ khí hoặc robot
thực tế, trong trường hợp này là bảo vệ cây sự sống. Bản dịch nghĩa đen của cây sự sống là gì?
Trong tiếng Sumer, cây sự sống được phiên dịch là GISH.TIL. GISH có nghĩa là một thiết bị
nhân tạo; TIL có nghĩa là tên lửa (và vẫn còn nghĩa này trong tiếng Do Thái hiện nay). Thay vì
một cái cây thực sự, đây có thể có nghĩa là “phương tiện để sống” —— hay tàu vũ trụ. Trong các
bản dịch của người Sumer có những miêu tả rõ ràng về tàu hỏa tiễn, cũng như những người chào
đón các tàu hỏa tiễn này. Có thể thấy rõ hành động đóng quân Trí thiên sứ của các vị thần để giữ
con người tránh khỏi cây sự sống thực sự đã phủ nhận con người khỏi tri thức về di sản của họ.
Loài người trên Trái Đất sẽ không được phép cởi mở hòa nhập với các vị thần hoặc rời khỏi hành
tinh cùng họ nữa. Con người đã bị trục xuất khỏi thiên đàng.
Điều gì xảy ra với nhóm Sirius đã can thiệp vào kế hoạch của Lyra? Bằng cách can thiệp, họ
đã trở nên hăng hái gắn bó với sự phát triển của Trái Đất. Họ luôn có nhiều thủ thuật trong tay, và
trong trường hợp này, họ đã thắng chung cuộc. Khi làm việc với nhóm Lyra trong chương trình di
truyền, họ chèn một mã DNA tiềm ẩn bên trong tế bào nhân loại. Mã này được kích hoạt bởi sự
gia tăng rung động xảy ra khi một nền văn minh bắt đầu tiến hóa về mặt tinh thần. Khi Trái Đất
tăng tốc về hướng nhận thức bản thân và mật độ bốn (hiện đang xảy ra), mã này được kích hoạt.
Một khi được kích hoạt, chủng tộc nhân loại sẽ trải tầm nhìn giới hạn của nó ra giống như giải
phóng một cuộn dây cho đến khi sự mở rộng của Toàn Tồn Tại trở nên có thể nhìn thấy. Đó là
cách họ cho phép con người ăn trái cây sự sống sau tất cả. Từ những người gieo hạt giống cho
hành tinh Trái Đất buổi đầu này, nhân loại đã được để lại cho một thách thức. Như đã nêu, “trẻ
con” được gieo hạt thường mang mã di truyền và thái độ ăn sâu trong lòng từ “cha mẹ”. Nếu Trái
Đất thực sự đã được gieo hạt từ một điểm bất bình đẳng và thiếu tự do ý chí, điều này liệu có thể
giải thích lý do nhân loại của nhiều chủng tộc ngày nay vẫn mang niềm tin ẩn giấu về tính ưu việt
của chủng tộc da trắng/Arya (nhóm Lyra) không? Liệu nó có thể là gốc rễ của định kiến chủng
tộc lùi tận về sự gieo hạt của hành tinh này? Các văn bản sớm nhất có sẵn cho người tìm kiếm
chắc chắn gợi ý điều này. Các ghi chép của người Sumer tham chiếu đến “những người đầu đen”
làm việc trong các hầm mỏ châu Phi cho các vị thần. Nếu đây là trường hợp đó —— nhân loại
mang các khuôn mẫu tổ tiên của nó —— thì thách thức này mới chỉ bắt đầu. Việc thoát khỏi bùa
mê thần linh đã được vẽ đường chỉ lối cho con người có thể là chìa khóa cho sự giải phóng chủng
tộc nhân loại trên Trái Đất.
Trong quá khứ của Trái Đất, loài người đã nhận được tín hiệu xung đột từ các vị thần. Đã có
những lần (một số được ghi lại trong các văn bản của người Sumer, chẳng hạn như đại hồng thủy)
khi con người bị bỏ rơi và để mặc cho chết trên hành tinh trong lúc các vị thần mà họ tin cậy rời
đi trong tàu vũ trụ của mình. Trong những thời điểm này cũng có một số vị thần “bất hợp pháp”
giải cứu những người được chọn. Điều này đã tạo ra một mã hóa cảm xúc trong con người xuyên
suốt thời gian khủng hoảng. Mã hóa ghi nhớ cả hai khuôn mẫu này và một cuộc đấu tranh được
kích hoạt giữa nỗi sợ bị bỏ rơi và niềm vui được cứu rỗi. Điều bắt buộc là chủng tộc nhân loại
phải giải quyết được sự lệ thuộc vào các vị thần đồng thời trở nên tự lập.
Trên Trái Đất hiện nay, các nhóm người ngoài hành tinh sở hữu mã hóa bắt nguồn từ quá khứ
vẫn hứa hẹn sự cứu rỗi. Họ đến với con người như những sinh mệnh không gian vật lý hoặc nói
chuyện thần giao cách cảm với những người có thể nghe thấy tần số của họ. Thông thường họ gọi
đối tượng người Trái Đất là “những thống lĩnh” hoặc “những người được chọn”, và tiếp tục cám
dỗ bản ngã của con người để duy trì những cảm giác ưu việt. Mặc dù các nhóm ngoài hành tinh
có ý nghĩa tốt trong hầu hết các trường hợp, nhưng họ tiếp tục duy trì khoảng cách giữa nỗi sợ bị
bỏ rơi và niềm vui được cứu rỗi, do đó khuyến khích niềm tin tách biệt về giới tinh anh. Khi con
người nắm lấy sức mạnh của chính mình và bước vào tuổi trưởng thành hành tinh, những nhóm
tàn dư này cũng sẽ biến đổi. Phần lớn các nhóm ngoài hành tinh khác đã học được từ những hành
động trong quá khứ đồng thời mong muốn giải quyết xung đột này một lần và mãi mãi.
Từ quan điểm của Đấng Sáng Lập, Kế Hoạch đã diễn biến hoàn hảo. Nhóm Lyra cần phải diễn
xuất kịch bản cho sự tăng trưởng của chính họ. Những “vị thần” ngoài hành tinh đã để lại trên
Trái Đất manh mối mà cuối cùng sẽ giúp đánh thức hành tinh này đến với tài sản của nó. Khi
nhân loại thức tỉnh về kiến thức này, nó sẽ bắt đầu phát huy các công cụ cần thiết để giải quyết vở
kịch Orion. Giải pháp đến từ sự dung thứ. Nếu loài người có thể thực sự cho phép sự đa dạng bên
trong sự thống nhất từ một điểm không phán xét, Thiên đường trên Trái Đất sẽ được tạo ra.
9. Zeta Reticuli: Chuyển Hóa Và Thức Tỉnh
“Họ tìm kiếm sâu thẳm trong linh hồn.
Họ tìm kiếm sự hiệp thông.”
—— Whitley Strieber
Sự bắt đầu của nền văn minh Zeta Reticuli có thể ngược dòng đến khởi thủy hành tinh Apex
trong hệ thống Lyra của Đấng Sáng Lập. Đó là sự phát triển độc đáo sâu sắc có ý nghĩa quan
trọng liên quan đến sự tiến hóa của Trái Đất.
Hành tinh Apex cho phép phân cực, thể hiện qua cá tính hóa cực đoan, khiến họ không mấy
vui vẻ. Sự phát triển công nghệ của họ diễn ra nhanh chóng, vượt qua sự phát triển tâm linh khiến
họ không thể chung sống hòa bình trên thế giới của mình. Sự mất cân bằng trong năng lượng gây
ra sự hủy diệt ảo của hành tinh Apex. Từ quan điểm của một người quan sát trong vũ trụ, thế giới
Apex đã bị xóa sổ. Từ quan điểm của cư dân Apex, một câu chuyện khác đã xảy ra.
Hành tinh Apex trở nên cực kỳ độc. Ô nhiễm và bức xạ bậc cao làm cho bề mặt không thể ở
được.
Những người Apex sống sót sau thảm họa đã tách biệt dưới đất (1). Sự hợp nhập bắt buộc phải
xảy ra trong xã hội mới dưới lòng đất này, bằng không chu kỳ hủy diệt sẽ tái lặp chính nó. Nhận
thức được tầm quan trọng của việc này, họ quyết định cưỡng chế hợp nhập (dung nhập) thông
qua việc tái cấu trúc thực tại của mình.
[(1) Sự tách biệt dưới lòng đất này đã tạo ra nhiều phe phái người Apex khác nhau. Những người được khám
phá trong chương này là một chủng tộc lành tính hơn. Những người khác có xu hướng tiêu cực hơn (trợ giúp tạo
ra sự hỗn loạn trên hành tinh Apex) cuối cùng đã rời hành tinh Apex sau hàng ngàn năm và định cư tại các khu
vực của Sirius và Orion, đáng chú ý nhất là Betelgeuse. Những sinh vật tiêu cực tương tác với Trái Đất hiện tại
được dán nhãn là các Sirius và Grey tiêu cực; họ có động cơ riêng cho sự tương tác của mình với Trái Đất.]
Khi hành tinh Apex tiếp cận sự hủy diệt, tâm lý và trí tuệ của nó đã phát triển cao đến mức trở
nên thấy rõ trong hình thể vật lý của người Apex. Hộp sọ đã gia tăng kích thước đáng kể chỉ qua
rất ít thế hệ. Sinh đẻ tự nhiên càng ngày càng ít thành công vì xương sọ không dễ đi qua ống sinh
sản. Nữ giới đơn giản là không thể thích ứng với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng mà xương sọ đã
phát triển. Dự đoán được cái có thể là một cuộc khủng hoảng chủng loài, các kỹ sư di truyền bắt
đầu học kỹ thuật nhân bản mà cuối cùng đã có thể thay thế quá trình sinh sản. Đối với người
Apex, động thái này đã cứu được chủng loài của họ —— vì sau khi bề mặt hành tinh trở nên
không thể ở được, người Apex phát hiện bản thân họ vô sinh.
Một khi đã nhận ra mình vô sinh, người Apex quyết định biến nó thành lợi thế của họ. Họ
không muốn cái kiểu giống như nền văn minh mà họ từng có; họ muốn bắt đầu lại bằng một con
đường khác. Do đó, họ kiên quyết quyết định kiểm soát chặt chẽ di truyền học trong xã hội tương
lai của mình. Các kỹ sư di truyền bắt đầu làm việc để phát triển chủng tộc mới của họ. Chủng tộc
này (họ tin) sẽ là một khía cạnh hợp nhập của quá khứ của họ.
Ưu tiên hàng đầu là biến đổi gen cấu trúc não để ảnh hưởng đến biểu hiện cảm xúc. Họ xa lánh
biểu hiện của đam mê và hỗn loạn trong quá khứ; họ bây giờ muốn có thứ tự. Não của họ đã được
biến đổi để sản xuất ra một phản ứng hóa học phù hợp với kích thích bên ngoài. Họ đạt được sự
tách rời khỏi cấu trúc bản ngã của mình. Qua nhiều thế hệ của các thao tác thần kinh hóa, người
Apex trở thành tâm trí nhóm. Các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân mà họ từng cực kỳ tự hào nay đã
không còn.
Sự kết hợp giữa bức xạ hành tinh và những ảnh hưởng từ quá trình nhân bản của họ bắt đầu tạo
ra một chủng tộc với ít khác biệt về thể chất từ người này đến người kia. Để tận dụng hiệu quả
hơn môi trường dưới đất của hành tinh, tầm vóc cơ thể họ được tạo ra nhỏ hơn. Khi thích ứng với
sự vắng mặt của ánh sáng cực tím và nắng mặt trời tự nhiên, mắt của họ bắt đầu phản ứng với các
tần số khác của quang phổ thị giác. Tròng đen của họ đột biến bao trùm toàn bộ mắt, khuôn mắt
mở rộng cho phép nhiều không gian bề mặt hơn để thu thập ánh sáng.
Để đối phó với việc thiếu thức ăn tươi, cơ thể họ cuối cùng đã thích nghi bằng cách hấp thụ
một số tần số nhất định của ánh sáng làm chất dinh dưỡng. Da của họ đã trở thành quang nhiệt và
quang điện, nhạy cảm với các nguồn sáng trong những hang động bên dưới lòng đất. Các cây
trồng được cứu vớt và các khoáng chất phát sáng dưới lòng đất hỗ trợ nuôi dưỡng họ. Nhiều cơ
quan cơ thể họ, chẳng hạn như các hệ thống tiêu hóa và sinh sản, đã bắt đầu bị teo. Sự chuyển đổi
mà họ trải qua đã chạm tới mọi khía cạnh sinh mệnh của họ. Một nền văn minh mới bắt đầu nổi
lên.
Sức mạnh và rung động từ các vụ nổ nguyên tử trước đó của người Apex cuối cùng đã bẻ gập
không gian xung quanh hành tinh Apex, và họ trồi ra “ở đầu kia” của một lối vào chiều kích.
Trong thời kỳ phong bế dưới đất kéo dài hàng ngàn năm, người Apex không biết hành tinh của họ
đã thay đổi vị trí của nó trong thời gian và không gian. Mãi đến khi những thế hệ sau trồi lên bề
mặt hành tinh sau đó, họ mới nhận thấy trường sao đã chuyển dịch một cách đáng kể. Thế là họ
đã biết mức độ mà những hành động của họ ngày trước gây ra. Hành tinh Apex đã chuyển đổi vị
trí của nó (liên quan đến thời gian và không gian) trong vũ trụ. Bây giờ nó đã tồn tại “lệch một
chút” trong chiều kích so với thế giới mà họ quen thuộc. Để hiểu rõ điều gì đã xảy ra và vận dụng
kiến thức cho lợi ích của mình, họ bắt đầu làm chủ khoa học về bẻ gập thời gian và không gian.
Cái ngày mà cuối cùng họ cũng tái xuất hiện trên bề mặt hành tinh, họ đã trở thành một chủng
loài mới. Như phượng hoàng trỗi dậy từ đống tro tàn, họ đã xoay xở tạo ra chuyển đổi từ sự hủy
diệt. Họ không còn là những người Apex. Bây giờ họ mang một danh tính mới, cái mà của Một
Người Dân Phản Ánh Toàn Thể.
Từ quan điểm của Trái Đất, những người này có thể được gọi là Zeta Reticuli (2). Hành tinh
của họ —— thông qua sự thay đổi trong chiều kích của nó —— đã chèn vào vùng lân cận của
Zeta Reticuli 1 và Zeta Reticuli 2 (3) trong nhóm sao Reticulum Rhomboidalis. (4) Từ cơ sở đó,
họ bắt đầu tái lập kết nối với Đấng Sáng Lập Sự Sống. Cho đến ngày nay, họ vẫn tiếp tục thực
hiện mong muốn của những Đấng Sáng Lập cho sự tiến hóa thiên hà. Điều họ đang bắt đầu nhận
ra chính là họ cũng đang thực hiện sự tiến hóa của chính họ.
[(2) Như đã nêu trong chú thích (1), có rất nhiều phe phái người Apex đã xuống lòng đất. Trong khi ở dưới đất,
vài phe phái đã phát triển thành những chủng tộc Zeta Reticuli lành tính. Những thực thể lành tính này là những
người được đề cập trong Chương 9.
Phe được đề cập trong chú thích (1) có thể được coi là Zeta Reticuli tiêu cực, những người sau khi chuyển sang
hệ sao Reticulum đã rời bỏ hành tinh Apex nguyên bản và chiếm một hành tinh khác trong hệ thống Zeta
Reticuli. Họ gần như giống nhau về ngoại hình và chỉ có thể phân biệt bằng rung động hoặc hành vi vốn có bản
chất tiêu cực trong tự nhiên của họ.
Có lẽ khi các phiên bản đối lập của Zeta Reticuli được nhìn thấy, con người thực sự đang tương tác với Reticuli
từ các điểm tiến hóa khác nhau trong dòng thời gian lịch sử của họ, cho dù tất cả họ đều đến từ tương lai của
Trái Đất. Các biểu hiện tiêu cực hơn có thể là quá khứ của họ, trong khi một số các tương tác vô hại hơn có thể
xảy ra từ một trạng thái tiến hóa xa hơn. Khi họ đến với con người trong hiện tại, giả thiết rằng họ bắt nguồn từ
một điểm duy nhất trong thời gian. Nếu họ thực sự đến Trái Đất từ những điểm khác nhau trong quá trình phát
triển của họ, đó sẽ giải thích một loạt các trải nghiệm bắt cóc được báo cáo là thực hiện bởi cùng một sinh
mệnh.]
[(3) Từ điển Webster định nghĩa “reticular” là “giống như một mạng lưới; phức tạp.” Một số có thể chắc chắn
chứng thực rằng tâm lý của các sinh mệnh Zeta Reticuli thực sự rất phức tạp!]
[(4) Một trong những ca bắt cóc UFO nổi tiếng nhất giúp làm rõ nguồn gốc của những sinh mệnh này là trường
hợp của Betty và Barney Hill. Năm 1961 Betty Hill được cho thấy bản đồ của một cụm sao trong khi bị bắt cóc.
Nhiều năm sau, cô vẽ ra bản đồ này trong lúc đang được thôi miên. Vào thời điểm đó, trên các bản đồ sao đã
biết không có tham chiếu đến nhóm sao này. Từ đó đã phát hiện ra bản vẽ của Betty phù hợp với một nhóm sao
mới được tìm thấy từ bán cầu nam của Trái Đất. Nhóm sao, Reticulum Rhomboidalis (Mạng Rhomboidal) chứa
nhóm sao mà bây giờ có tên là Zeta Reticuli 1 và 2.]
Ngày nay, Zeta Reticuli đòi hỏi một phương pháp tăng cường dòng gen để tạo ra một tương lai
cho chủng tộc của mình. Sau nhiều thế hệ nhân bản sử dụng cùng một vật liệu di truyền, họ đã trở
nên cùng dòng và trì trệ nghiêm trọng trong sự tăng trưởng tiến hóa của họ. Chủng tộc của họ
đang chết dần, nhưng siêu linh hồn của họ mong muốn tiếp tục nhập thế trong vật lý. Họ đang cố
tình giữ mình không chuyển đổi sang mật độ năm để để lại một hạt giống của bản thân mà có thể
tiếp tục sinh sản di truyền. Điều này sẽ hỗ trợ toàn bộ thiên hà trong sự tiến hóa của nó.
Nhận ra tình trạng khó xử của mình, họ kêu gọi các Đấng Sáng Lập. Những Đấng Sáng Lập đã
giới thiệu với Reticuli một hành tinh đa dạng sở hữu nguồn gen từ nhiều chủng tộc nhân-loại từ
tận khởi thủy của chủng loài Lyra về mặt di truyền. Thay vì phải đi từ nền văn minh này đến nền
văn minh khác để thu thập vật liệu di truyền, Reticuli có thể lấy được chúng ở cùng một chỗ ——
Hành tinh này chính là Trái Đất.
Các Reticuli được thu hút tới Trái Đất chủ yếu vào những năm 1940, khi hành tinh bắt đầu sở
hữu công nghệ để tự hủy diệt. Họ hoàn toàn ý thức được rằng quá khứ của họ đại diện cho một
khả năng tương lai của Trái Đất. Nhờ khả năng du hành xuyên thời gian, họ có thể thu thập vật
liệu di truyền từ bất cứ thời đại nào trong quá khứ của Trái Đất. Tuy nhiên, họ cần vật liệu di
truyền từ thời kỳ lịch sử của Trái Đất khi nền văn minh đang trên bờ vực phá hủy và biến đổi.
Đây sẽ giúp họ trong quá trình hợp nhập của chính họ. Trên một phương diện nào đó, đó là cách
họ thay đổi quá khứ của mình. Bằng cách tương tác với Trái Đất hiện tại, họ chữa lành quá khứ
và thay đổi tương lai của họ.
Ngày nay khi họ thực hiện chương trình gen này trên Trái Đất, vì hành tinh Trái Đất chưa hiểu
hoặc không chấp nhận ý tưởng về lựa chọn linh hồn, phần lớn các cá nhân tham gia vào chương
trình gen này coi mình là nạn nhân. Có hàng ngàn câu chuyện về những người kinh hoàng vì bị
bắt cóc, những người này đang gặp chướng ngại bởi sự tái phát những trải nghiệm về các sinh vật
ngoài Trái Đất đã chộp họ ra khỏi cái giường ấm áp của mình.(5)
[(5) Mặc dù hầu hết các vụ bắt cóc được thực hiện bởi Zeta Reticuli, nhưng cũng có những sự cố riêng biệt của
các nhóm khác mà sử dụng kịch bản bắt cóc cho mục đích riêng của họ. Ví dụ, các Sirius, Orion định hướng
tiêu cực, và những người được gọi là “Grey” rất thường sử dụng các phương pháp khủng bố. Điều quan trọng là
con người học cách phân biệt sự tiếp xúc lành tính của Zeta Reticuli với những tương tác ác tính hơn.]
Trải nghiệm khủng khiếp xảy ra là bởi nhân loại vẫn chưa sẵn sàng đối mặt với cái bóng của
chính mình, thứ được phản chiếu trong tấm gương mà Reticuli đại diện.
Các Reticuli chủ yếu tìm kiếm những đặc tính nhân loại cụ thể —— cái mà họ đã loại bỏ khỏi
chủng tộc của mình từ xa xưa trước đây. Một trong những đặc trưng chủ yếu chính là sự biến đổi
phản ứng đối với kích thích bên ngoài. Để học lại điều này, họ phải nghiên cứu các phản ứng thần
kinh của con người với vô số các kích thích.
Phương pháp phổ biến nhất để nghiên cứu những chất tiết thần kinh này là cấy ghép một đầu
dò hữu cơ (implant). Những đầu dò này được đưa vào đầu của người bị bắt cóc qua mũi, mắt,
hoặc lỗ tai. Các đầu dò này hấp thụ và phân loại dữ liệu thần kinh, cũng được loại trừ định kỳ để
nghiên cứu rồi sau đó đưa vào lại. Nếu cá thể chết, đầu dò hữu cơ có thể được cơ thể hấp thụ tự
nhiên. Họ không chỉ tìm kiếm thông tin sinh học từ con người, mà còn tìm kiếm học tập cảm xúc.
Đã hằng thiên niên kỷ trôi qua từ khi họ còn có thể làm cha làm mẹ trẻ con. Khả năng nuôi dưỡng
của con người là một niềm đam mê đối với họ. Khi bắt đầu biến đổi các cấu trúc thần kinh của
mình, họ sẽ một lần nữa có thể làm mẹ cho con cháu của họ. Đây là một trong những lý do chính
cho việc phụ nữ bị bắt cóc và được yêu cầu để lại trẻ lai. Những nữ giới loài người đang giúp tái
thức tỉnh bản năng làm mẹ và sinh sản của Zeta Reticuli.
Không chỉ là nhân loại giúp đỡ họ, mà họ cũng đóng vai trò quan trọng cho Trái Đất. Đấng
Sáng Lập ý thức rõ rằng nhân loại Trái Đất phải tự hợp nhập vào nhiều cấp độ, bằng không tình
huống xung đột vẫn sẽ tiếp diễn. Các Reticuli phản chiếu cho nhân loại một trong những ý tưởng
cơ bản nhất mà đã bị từ chối —— thống nhất. Nhân loại phản chiếu cho Reticuli cá tính riêng của
họ, cái mà họ sợ hãi. Nếu khoảng cách tạo ra bởi nỗi sợ hãi của nhân loại có thể được bắc cầu, thì
sự chuyển đổi sẽ diễn ra một cách sâu sắc nhất.
Các Reticuli hiện đang có được vật liệu di truyền từ các tình nguyện viên —— trên tầng thứ
linh hồn —— đồng ý là một phần sự thức tỉnh của Trái Đất và sự chào đời của một nền văn minh
mới. Ở giai đoạn này của trò chơi, sự sợ hãi vẫn còn cần thiết đối với những người bị bắt cóc.
Trên Trái Đất, nỗi sợ là trở ngại chính cho sự tăng trưởng. Nếu nhân loại có thể vượt qua được sợ
hãi, họ sẽ đạt được nhiều mục tiêu mà hiện nay dường như vượt quá tầm tay. Nó sẽ được thực
hiện thông qua nhận thức, chứ không phải thông qua xác nhận tình trạng nạn nhân. Các Reticuli
cũng cần phải đối mặt với nỗi sợ hãi của họ (cái mà họ vẫn từ chối), và di chuyển qua nó. Nếu
không có nỗi sợ đó, tăng trưởng sẽ chỉ là tối thiểu. Đôi khi các rào cản lớn nhất sẽ tạo ra phần
thưởng lớn nhất.
Một trong những phần thưởng này là việc tạo ra một giống lai mới có những phẩm chất được
kết hợp giữa Zeta Reticuli và con người Trái Đất. Họ sẽ thống nhất và đa dạng. Họ sẽ dồi dào hài
hước và cảm xúc linh động. Quan trọng nhất, họ sẽ là những sứ giả yêu thương vô điều kiện dẫn
dắt chúng ta trở về Nguồn của Tất Cả.
10. Hợp Nhập: Về Nhà Với Chính Mình
“Và trong khi mọi tạo tác khác từ khởi sinh của họ
Với đôi mắt rũ xuống nhìn đăm đăm quả đất thân thích của mình;
Anh lệnh người đi thẳng đứng, và dò quét thiên đàng
Từ nơi linh hồn anh đã trổ ra,
đến cái mà những hy vọng của anh được trao cho.”
—— Vidid
Hợp nhập có nghĩa là dung thứ cho tất cả các tầng thứ của sinh mệnh như những phần hợp lệ
của toàn thể. Nó có nghĩa là buông bỏ sự phủ nhận. Nó có nghĩa là ôm lấy bản thân chúng ta cũng
như lẫn nhau.
Cũng như ý thức thống nhất của chúng ta đã tạo ra cõi giới của phân cực này, chúng ta có thể
biến đổi nó. Khi hợp nhập xảy ra, cõi giới này sẽ được định nghĩa bởi các thông số rất khác nhau.
Chúng ta sẽ trở thành những nguyên mẫu cũng như các Đấng Sáng Lập. Chúng ta sẽ thay đổi
quan điểm và trở nên ý thức về chính mình như là Tạo Hóa. Nó không nhất thiết có nghĩa là bản
sắc của chúng ta sẽ bị hấp thụ. Nó có thể có nghĩa là chúng ta sẽ thức tỉnh đến điểm mà chúng ta
sẽ lựa chọn số phận của mình một cách có ý thức. Có lẽ chúng ta có thể lựa chọn nhập vào các
cõi giới khác và là những người bạn vô hình cho các xã hội hành tinh vẫn đang chơi trò chơi chia
rẽ.
Chúng ta thậm chí có thể là những sinh vật ngoài hành tinh của một hành tinh khác —— cân
nhắc những quyết định tương tự về sự can thiệp mà tổ tiên chúng ta đã phải đối mặt.
Trong tĩnh lặng bản thân và lắng nghe kỹ lưỡng, chúng ta có thể nghe và cảm nhận được
những dòng chảy ngầm của chuyển đổi này. Sự tồn tại và thay đổi là các hằng số duy nhất. Chúng
ta có thể chơi các trò chơi ảo ảnh rằng chúng ta là một sự sáng tạo ngẫu nhiên, nhưng không sớm
thì muộn chúng ta cũng sẽ vỗ vai chính mình và trò chơi kết thúc. Trong thực tại của Trái Đất,
chúng ta đã tạo ra những người Arcturus, Sirius, Lyra, Orion, Reticuli, Pleiades…, để là những
bản thân mà vỗ vai chúng ta. Họ thực sự là một phần của cùng một thứ —— chúng ta.
Vậy làm thế nào chúng ta khuyến khích sự hợp nhập diễn ra trên Trái Đất? Trước hết, chúng ta
phải biết nó sẽ xảy ra với hoặc không với hành động có ý thức của chúng ta. Sự khác biệt chỉ là
hành động có ý thức sẽ cho phép hành trình thú vị hơn nhiều. Chúng ta sẽ cảm thấy được kiểm
soát số phận của mình nhiều hơn.
Hành động có ý thức mà sẽ thúc đẩy quá trình hợp nhập của chúng ta rất là đơn giản ——
dung thứ. Nếu chúng ta cho phép trên tất cả mọi tầng thứ ở trong cái mà hợp nhập diễn ra, chúng
ta sẽ thấy con đường của mình vui vẻ trải ra phía trước.
Hợp nhập sẽ diễn ra trên bốn tầng thứ chính: Tâm lý, Tình cảm, Tinh thần và Vật lý.
TÂM LÝ: Để chúng ta hợp nhập tâm lý của mình có nghĩa là chúng ta cho phép bản thân kết
hợp không chỉ các quá trình não bộ, mà còn cả những trực giác và cảm xúc của mình nữa. Loại
suy nghĩ được công nhận nhất ngày nay hầu như hoàn toàn là lấy-đầu-làm-trung-tâm. Công thức
và tính toán đang xác định thực tại thế kỷ hai mươi của Trái Đất. Nếu chúng ta có thể cho phép
mình hiểu rằng các quá trình trực giác và cảm xúc cũng có giá trị và có thể được sử dụng kết hợp
với tâm lý, thì chúng ta sẽ tốt đẹp trên con đường đi thẳng tới hợp nhập tâm lý của mình.
TÌNH CẢM: Hợp nhập theo cách tình cảm có nghĩa là chúng ta bắt đầu học cách ôm lấy cái
tôi cái bóng của mình. Chúng ta có thể bắt đầu mở tủ đồ bên trong và đào sâu vào tiềm thức đối
với những niềm tin mà níu chân chúng ta ở lại. Rất thường xuyên, những phần bị lãng quên của
chúng ta chỉ muốn được chú ý. Như những người Pleiades và Lyra trước khi họ phát hiện ra, sự
phủ nhận chỉ kéo dài nỗi đau của sự tồn tại. Chúng ta hãy học hỏi từ những bản thân khác trên
những thế giới xa xôi đó. Chúng ta đừng lặp lại những bài học đó nhiều lần.
TINH THẦN: Hợp nhập tinh thần có lẽ là dễ hiểu nhất. Mỗi người sở hữu một linh hồn bên
trong không liên quan đến giáo điều. Nếu chúng ta có thể giải phóng mình khỏi giáo điều và
chạm vào tâm linh bẩm sinh, chúng ta sẽ bắt đầu quá trình hợp nhập. Nó mở rộng ra hành tinh
bằng sự tôn vinh chân tướng của mỗi người như là một biểu hiện của Một Chân Tướng. Điều này
cho phép mỗi người chúng ta cùng tồn tại bên trong triết lý của mình mà không cần phải thay đổi
niềm tin của nhau. Thực tế là Thượng Đế/Toàn Tồn Tại tồn tại không thay đổi bất chấp tranh luận
của chúng ta về màu áo nào “Ngài” mặc. Chúng ta rất sợ phải cô đơn và chia tách, nhưng chúng
ta tạo ra nhiều sự tách biệt hơn thông qua mong muốn có được một giáo lý thống nhất. Nếu chúng
ta có can đảm để bắt đầu chạm vào tâm linh bên trong này, chúng ta sẽ thấy sự thay đổi của mình
nở rộ.
VẬT LÝ: Hợp nhập về vật lý có hơi khác. Nó liên quan đến việc thừa nhận quá khứ và lịch sử
của chúng ta là một phần của một kịch bản vĩ đại hơn trên quy mô vũ trụ. Từ Nguồn và những
Đấng Sáng Lập mà chúng ta phân mảnh. Chúng ta đã kéo dài sự cá nhân hóa của mình đến những
giới hạn bên ngoài. Tập hợp lại với nhau sẽ yêu cầu chúng ta một lần nữa thừa nhận và chấp nhận
mình như một phần trong gia đình thiên hà của chúng ta. Khi vượt qua nỗi sợ chủng tộc đồng thời
ngừng cho phép màu da và khác biệt văn hóa làm thành những rào cản giữa chúng ta, chúng ta
cũng phải vượt qua nỗi sợ của mình bằng cách tán dương sự hiệp thông mà Zeta Reticuli cung
cấp cho mình.
Chúng ta có thể cho phép hợp nhập trên mọi tầng thứ vào trong cuộc sống vật lý của mình ở
đây trên Trái Đất.
Không một ai trong chúng ta là “từ” một nơi khác. Chúng ta đến từ Nguồn, và Nguồn là bao la
quảng đại. Nói rằng chúng ta “từ” Pleiades là phủ nhận tất cả những ý tưởng khác mà đang là
chúng ta. Cái tôi Địa Cầu của chúng ta trở nên hỗn loạn nếu chúng ta liên tục phủ nhận rằng sự
tồn tại của chúng ta là một phần của thân thể hành tinh. Chúng ta là của Toàn Tồn Tại! Nếu
chúng ta cảm thấy có liên hệ với một chủng tộc ngoài hành tinh, chúng ta đang nhận định với
điều mà họ đại diện hoặc với những đời sống khác nhau mà chúng ta đã sống trong hệ thống đó.
Nếu các cá nhân khăng khăng nhấn mạnh rằng họ là “từ” một nơi nào đó, đề nghị được đưa ra là
họ tuyên bố sự đồng minh của mình đối với Trái Đất. Họ đã chọn một cuộc sống ở đây. Trong
một ý nghĩa rất thực tế, người dân Trái Đất có thể được xem như là mẫu hình cho hợp nhập.
Chúng ta là thần thánh và trần gian; của thần linh và nhân loại. Chúng ta là bằng chứng tích cực
rằng sự sống nhân loại có thể thích ứng với những hoàn cảnh dường như không thể vượt qua.
Chúng ta hãy tán dương nhân loại!
Không có những người anh em không gian thực sự sẽ cứu rỗi chúng ta —— họ đang quá bận
rộn để cứu chính mình! Chúng ta không phải là trẻ con. Dù chúng ta vẫn đang chơi trò chơi vô
nhận thức gì đó, nhưng chúng ta được các nền văn minh khác coi là một ẩn số. Chúng ta là nền
văn minh đã từ chối chết! Khả năng phục hồi và đức tin của chúng ta vào khả năng của mình đã
không ngừng chứng minh giá trị của chúng ta. Chúng ta từ chối bị cai trị và vận dụng bởi nhóm
Lyra trong Vườn Địa Đàng Eden. Các loại “bệnh dịch” của những vị thần đã không thành công
xóa sổ chúng ta. Cám ơn Noah và chúa Sirius đã cảnh báo ông ta, chúng ta có một nền văn minh
thịnh vượng ngày hôm nay.
Nhiều người tự hỏi tại sao Trái Đất lại được rất nhiều nhóm ngoài hành tinh quan sát. Có lẽ
chúng ta là một minh chứng dự đoán về sự hợp nhập trong hành động. Nó có thể là đau đớn,
nhưng trong niềm tin ý thức khối của chúng ta, nỗi đau có thể tạo ra kết quả diệu kỳ.
Trái Đất của hiện tại và Trái Đất của tương lai thực sự là phép màu. Chúng ta hãy tán dương
phép màu đó bằng cách hợp nhập bản thân và chịu trách nhiệm về thực tại hành tinh của mình.
Chúng ta là một phần của Hiệp hội các Thế giới và tư cách thành viên của chúng ta sắp được khôi
phục! Lần này, tư cách thành viên đòi hỏi sự thức tỉnh của chúng ta đối với vở kịch vũ trụ mà
chúng ta đã đồng ý làm một phần của nó. Sự thức tỉnh sẽ đưa chúng ta về nhà... với chính mình.
BẢNG THUẬT NGỮ
O
 Adam: Đây là danh hiệu cho mô hình mẫu ổn định đầu tiên của người Homo sapiens.
“Adam” xuất phát từ tiếng Do Thái “Adama”, có nghĩa là “được tạo ra từ bùn của Trái
Đất”, do đó có từ “người Trái Đất”. Trong tiếng Sumer, từ “Adapa”, có nghĩa là “người
hình mẫu”.
 Altair: Altair, nền văn minh đã là địa giới của Vega, nằm cách Trái Đất 15,02 năm ánh
sáng. Độ lớn của Altair là 1,3 và có màu vàng nhạt. Nền văn minh Altair trầm lắng và
thưởng ngoạn, được trao cho định hướng triết học hòa bình. Họ hiện không tham gia thám
hiểm không gian.
 Andromeda (thiên hà Tiên Nữ): Andromeda là một thiên hà xoắn ốc lớn và gần Ngân hà
nhất —— cách 2,2 triệu năm ánh sáng. Bản chất của cõi giới Andromeda là trừu tượng và
lưu động. Một lối vào chiều kích tồn tại trong lân cận gần thiên hà của chúng ta như một
cây cầu nối với năng lượng Andromeda. Cây cầu/lối vào này là ngôi sao Antares.
 Antares: Nằm trong chòm sao Scorpius (Bò Cạp), Antares được coi là một ngôi sao nhị
phân của màu đỏ lửa và xanh ngọc bích. Antares là cây cầu liên chiều kích tới Andromeda
từ thiên hà của chúng ta. Khi nhập thể vật lý, một số linh hồn chọn đi qua cổng Antares để
kích hoạt ký ức linh hồn.
 Anubis: Ở Ai Cập cổ đại, Anubis được coi là người hướng dẫn của thế giới cõi âm. Hình
dạng bình thường được miêu tả là chó sa mạc hoặc chó rừng khổng lồ. Ông được biết đến
như là người dẫn dắt các linh hồn xuyên qua astral (như vùng giấc mơ) cũng như đến
Amenti, hoặc vùng đất của người chết. Điều thú vị là tiền tố “an” trong cả tiếng Sumer lẫn
Ai Cập đều có nghĩa là “của Thiên Đường”. Anubis (Anpu ở Ai Cập) và Anu (Sumer) đều
có biểu tượng của chó sói hay chó, cho thấy một kết nối trực tiếp với Dog Star (Sao Chó)
Sirius.
 Apex: Hành tinh Apex là một trong những xã hội phát triển đầu tiên trong cụm sao Lyra.
Sau thảm họa hành tinh của nó, hành tinh Apex đã được chuyển đổi chiều kích vào một
vùng không gian/thời gian khác. Người Apex cuối cùng đã trở thành chủng tộc của Zeta
Reticuli.
 Arcturus: Arcturus được xem như một ngôi sao vàng hoàng kim, với độ lớn 0,3. Năng
lượng của nó hoạt động với nhân loại như một nhà trị liệu cảm xúc và tinh thần. Nó cũng
là một cổng năng lượng mà thông qua đó con người đi qua trong suốt cái chết và sự ra đời.
Nó có chức năng như là một trạm cho ý thức phi vật lý trở nên quen với vật lý.
 Atlantis: Đây là giai đoạn kết hợp giữa văn hóa ngoài Trái Đất và con người trước khi xảy
ra đại hồng thủy. Đại hồng thủy xảy ra vào khoảng 11.000 năm trước Công Nguyên.
 Bản ngã: Bản ngã là “tôi” hoặc sự phân biệt với bản chất của người khác. Đó là phần tâm
hồn mà ý thức trong thực tại vật lý và đóng vai trò trung gian giữa thế giới bên trong và
bên ngoài.
 Bản thân/cái tôi tương lai: Bởi vì quá khứ, hiện tại và tương lai tồn tại đồng thời, và được
phép liên lạc với chính họ thông qua khoảng không thời gian. Các sinh mệnh ngoài Trái
Đất thường liên hệ với các bản thân/cái tôi quá khứ của họ (chẳng hạn như nhân loại Trái
Đất) để tạo ra một mối liên hệ, và điều này thường chữa lành quá khứ của chính họ. Ý
tưởng về “những bản thân cao hơn” và “những bản thân tương lai” đôi khi có thể hoán đổi
cho nhau trong trường hợp cái tôi tương lai là một phiên bản tiến hóa của cái tôi hiện tại
hoặc quá khứ.
 Bện hồn: Bện hồn là hình thức phổ biến nhất của những người được dán nhãn “walk-in”.
Nó xảy ra khi một cá thể vật lý lấy nhiều năng lượng cao hơn, trong tương lai hoặc song
song của chính họ, và kết hợp nó vào trong cuộc sống nhân cách và sinh lý của họ.
 Các vụ bắt cóc: Từ quan điểm của một người bắt cóc, đây là sự giam giữ không mong
muốn từ các nhóm người ngoài hành tinh với mục đích:
(1) Nghiên cứu;
(2) Lấy mẫu di truyền
(3) Theo dõi lịch sử di truyền gia đình
(4) Duy trì và phát triển các chương trình lai tạo
(5) Quan sát phản ứng làm mẹ của nhân loại
(6) Quan sát phản ứng thần kinh đối với kích thích cảm xúc
(7) Truyền thông; và các mục đích khác bao hàm
(8) Góp thêm nỗi sợ và kinh khiếp, được người ngoài Trái Đất định hướng tiêu cực tin
vào để ngăn chặn sự phát triển hoặc gia tốc của những nạn nhân và ý thức khối.
Liệt kê một số nhóm tham gia vào việc bắt cóc và lý do tương tác chính của họ:
 Zeta Reticuli: # 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7
 Sirius vật lý (tiêu cực): # 1, 2, 3, 8
 Pleiadies: # 1, 3, 6, 7
 Grays: # 8
 Orions vật lý (tiêu cực) : # 8
 Cây Tri thức về Tốt và Xấu: Được đề cập trong Sáng thế ký, đó là cây trong vườn Địa
Đàng Eden, nơi có trái cấm mà Thượng Đế cấm Adam và Eva ăn. Như được sử dụng trong
sách này, cây tri thức về tốt và xấu tượng trưng cho sự hiểu biết về phân cực.
 Cây Sự Sống: Trong Sáng Thế ký, Adam và Eva đã bị trục xuất khỏi vườn Địa Đàng Eden
và cấm ăn quả từ cây sự sống, cái sẽ cho họ sự bất tử. Như được sử dụng trong sách này,
cây sự sống đại diện cho hiểu biết về mối quan hệ thiêng liêng giữa sinh mệnh nhân loại
và Tạo Hóa —— theo đó linh hồn của chúng ta không phụ thuộc vào những ai đã biến đổi
gen chúng ta.
 Chiều kích: Chiều kích đề cập đến vị trí của một người trong không gian/thời gian chứ
không phải là tần số rung động của một người (mật độ). Từ điển bách khoa toàn thư
Webster định nghĩa “chiều kích” như sau: “Quy mô được đo theo một hướng cụ thể, đặc
biệt là chiều dài, chiều rộng, chiều dày hoặc thời gian.” Có vô số chiều kích tồn tại bên
trong cho mật độ hoặc tần số rung động.
 Chư thiên: Trong tiếng Phạn, chư thiên (deva) có nghĩa là thần linh hay thánh thần; một
trong phẩm cấp của các tinh thần tốt. Trong thần bí Tây phương, năng lượng chư thiên là ý
thức tinh thần của khoáng vật, thực vật, động vật và các hình thức khác tinh tế hơn như
thiên tiên (fairy).
 Con người (nhân loại/loài người): Từ điển bách khoa toàn thư Webster định nghĩa “con
người” (human) là “giống như đất mùn (humus), đất; có phẩm chất hay thuộc tính của con
người.” Điều này có thể được mở rộng bằng cách nói rằng thuật ngữ “con người” dùng để
chỉ con người Trái Đất, một bộ phận nhỏ của gia đình hình người rộng lớn hơn của tổ tiên
Lyra.
 Cro-Magnon: Cro-Magnon là một nhóm người tiền sử cao đứng thẳng, sử dụng các công
cụ bằng xương và đá. Ba mươi lăm ngàn năm trước, chủng tộc mới của sinh mệnh này
(được nhận định với loài Homo sapiens mở rộng, hay “người tư duy”) dường như xuất
hiện từ hư không và cùng tồn tại trong một khoảng thời gian với chủng người Neanderthal
đang tuyệt chủng.
 DAL: Được đề cập đến trong tài liệu liên lạc từ Billy Meier, DAL là một chủng tộc hình
người đóng vai trò cố vấn cho người Pleiades.
 Dẫn kênh: Dẫn kênh là quá trình tiếp nhận giao tiếp từ vô số thực tại chiều kích. Sự giao
tiếp này có thể được thể hiện thông qua việc viết, truyền lời, artwork, sáng tác nhạc và bất
kỳ biểu hiện sáng tạo nào.
 DNA: DNA là viết tắt của deoxyribonucleic acid, một hợp chất tìm thấy trong nhiễm sắc
thể bao gồm một phân tử chuỗi dài gồm nhiều kết hợp lặp lại và đa dạng của bốn
nucleotide, một trong số đó là đường deoxyribose; phân chia của phân tử được cho là các
gen. DNA là kho chính của thông tin di truyền.
 Dogon: Người Dogon là một bộ tộc châu Phi sống ở Công hòa Mali (phía tây Châu Phi)
gần Timbuktu, được cho là đã di cư từ Ai Cập. Trong nhiều thế hệ, họ đã có kiến thức
thiên văn tiên tiến liên quan đến hệ thống sao Sirius mà họ tự nhận là đã được sinh mệnh
từ hệ sao đó trao cho.
 Đa chiều (kích): Một ý tưởng đa chiều là một ý tưởng có nhiều khía cạnh. Con người được
gọi là đa chiều bởi vì họ tồn tại ở nhiều tầng thứ chưa được nhìn thấy hoặc không thể đo
được.
 Đảo Phục Sinh: Đảo Phục Sinh nằm ở Thái Bình Dương giữa Chile và Polynesia thuộc
Pháp, được biết đến với những bức tượng bí ẩn của sinh mệnh hình người vẫn còn nằm rải
rác khắp hòn đảo này.
 Đấng Sáng Lập: Đấng Sáng Lập (cũng được dịch là Đấng Sáng Tạo) là linh hồn tập thể
của gia đình hình người. Đối với những sinh mệnh vật lý, họ hiển hiện dưới hình thể con
người —— cao, thanh nhã, phi nam phi nữ —— xuất hiện giống như côn trùng. Nhân loại
là kết quả sự phân mảnh bên trong của Đấng sáng lập.
 Đi hai chân: Bất kỳ sinh mệnh nào sở hữu hai chân đều có thể được coi là đi hai chân.
 Động vật biển có vú: Động vật biển có vú là một động vật có vú dưới biển có cấp bậc
“động vật biển có vú” bao gồm cá voi, cá heo dolphin và cá heo porpoise. Động vật biển
có vú có ý thức cùng loại với con người, được người ngoài hành tinh coi là “người dưới
nước”.
 Enki: Trong tiếng Sumer, Enki có nghĩa là “Chúa tể của Trái Đất”, được coi là người
truyền đạt kiến thức văn minh cho nhân loại. Ông cũng được biết đến như “Oannes” của
người Babylon và “Ptah” của người Ai Cập. Ông là thần trí tuệ và tri thức, xuyên suốt thời
gian biểu tượng của ông là con rắn. Theo văn bản Sumer, Enki là người đã chỉ thị cho
Noah xây dựng một chiếc tàu để nhân loại có thể được cứu. Đây trực tiếp chống lại các
lệnh của Enlil —— những người mong muốn nhân loại bị hủy diệt.
 Enlil: Trong tiếng Sumer, Enki có nghĩa là “Chúa tể của Không khí”, được coi là người
đứng đầu tất cả các vùng đất. Người Sumer coi ông là tối cao. Enki và Enlil là bán huynh
đệ —— những người có cùng một người cha, mỗi người tự xưng là con đầu lòng, cũng là
nguyên nhân khiến mỗi người tin rằng mình là vị thần cai trị. Mâu thuẫn này được cho là
nguồn gốc của nhiều mâu thuẫn sau đó giữa các vị thần.
 Ether: Ether gắn với một môi trường không dựa trên thực tại vật lý nhưng vẫn chứa đựng
hình thể. Nhiều ý tưởng hay hình tư tưởng trong ether có thể hiện lên trong thế giới vật lý.
 Eva: Eva là hình mẫu nữ đầu tiên được tạo ra từ quá trình nhân bản hoặc ghép nối gien của
hình mẫu nam hình người gọi là Adam —— Điều này chỉ đối với giống loài Homo
sapiens.
 Gia Đình Thiên Hà: Gia đình thiên hà là nhóm các sinh mệnh ngoài Trái Đất (vật lý và
phi vật lý) có mối liên hệ mật thiết về năng lượng và/hoặc vật lý với sự phát triển của Trái
Đất. Họ bao gồm: chủng tộc Lyra, Arcturus, Sirius, chủng tộc Pleiades, Zeta Reticuli,
Orion và nhiều người khác không đề cập đến.
 Giống lai: Một giống lai là bất cứ thứ gì có nguồn gốc từ các nguồn không đồng nhất hoặc
bao gồm các yếu tố của các loại khác nhau hoặc không phù hợp. Các giống lai được nói
đến trong văn học UFO chủ yếu là sự giao thoa giữa con người Trái Đất và sinh mệnh Zeta
Reticuli. Quá trình cụ thể được sử dụng để tạo ra các giống lai này vẫn chưa được tiết lộ.
Nó sử dụng không chỉ ghép nối gen và nhân bản, mà còn một dạng kỹ thuật công nghệ
plasma ánh sáng mà con người không quen thuộc.
 Hiệp hội các Thế giới: Hiệp hội là một nhóm các sinh mệnh vật lý và phi vật lý từ nhiều
cõi giới đến với nhau vì một số mục đích. Một số người gọi họ là liên bang thiên hà hoặc
liên đoàn. Trong Hiệp hội không có cấu trúc phân cấp hoặc thẩm quyền vốn có. Mục đích
chính cho những tương tác của họ với Trái Đất là: (1) nhẹ nhàng thúc đẩy nhân loại hướng
tới một nhận thức lớn hơn về bản thân và vị trí của nó trong Hiệp hội và (2) ngăn chặn một
số lượng đáng kể các vụ nổ hạt nhân trên Trái Đất mà có thể gây ra một sự rạn nứt trong
không gian/thời gian, ảnh hưởng đến vùng lân cận của thiên hà. Họ hoàn toàn không có ý
định di tản bất cứ ai từ Trái Đất dưới bất kỳ điều kiện nào. Họ hiểu rõ sự cần thiết tuyệt
đối để loài người tự chịu trách nhiệm cho chính mình.
 Hình mẫu: Hình mẫu là mô hình ban đầu mà một thứ được hình thành trên đó; một
nguyên mẫu; một hình thức dựa trên một nhóm. Trong sách này, thuật ngữ/tên “Adam”
được sử dụng để biểu thị hình mẫu mà Homo sapiens dựa trên đó.
 Hình người: Hình người được sử dụng trong sách này đề cập đến bất kỳ ai là hậu duệ
Lyra.
 Homo: Homo (“con người” trong tiếng Latin) biểu thị một chi của bộ linh trưởng bao gồm
tất cả các chủng tộc của con người hiện đại (Homo sapiens) và các loài khác đã tuyệt
chủng.
 Homo sapiens: Homo sapiens là loài duy nhất còn sót lại trong quá trình tiến hóa của con
người, hoặc con người hiện đại, thuộc chi Homo và họ linh trưởng Hominidae. Tài liệu về
việc tạo ra con người trong Sáng Thế ký là đề cập đến việc tạo ra người Homo sapiens,
không phải các loài đã tuyệt chủng khác như Neanderthal.
 Hộp Sọ Pha Lê: Được tìm thấy ở miền nam Mexico, hộp sọ được điêu khắc từ pha lê theo
hình dạng sọ người. Hộp sọ nổi tiếng nhất hiện nay là tài sản của Anna Mitchell-Hedges.
Nhiều người tuyên bố có trải nghiệm huyền bí hoặc dị thường khi họ ở trong thực tế hiện
hữu của hộp sọ.
 Illuminati: Từ điển bách khoa toàn thư Webster định nghĩa “illuminati” là “những người
sở hữu —— hoặc cáo buộc sở hữu sự giác ngộ cao siêu; một cái tên cho nhiều phái hoặc
các xã hội đòi hỏi phải có sự giác ngộ vượt trội.” Đây có thể đề cập đến con người cũng
như các nhóm ngoài Trái Đất khác nhau (vật lý hoặc phi vật lý) vốn là những người tự lừa
dối hoặc cố ý tìm cách kiểm soát xã hội loài người. Một số nhóm tiêu cực như vậy có thể
bao gồm: Orion, Sirius, Lyra, và Pleiades “phản bội”. Nền tảng lịch sử của Illuminati bắt
nguồn từ quá khứ khi nhiều nhóm người ngoài Trái Đất kiểm soát (hoặc chiến đấu để kiểm
soát) một phần hoặc toàn bộ Trái Đất. Bởi những tương tác cổ xưa này, Illuminati tin rằng
họ có chủ quyền trên Trái Đất —— điều mà họ vẫn bất đồng về nhau. Một số sẽ cố gắng
nhập thế để thực hiện mong muốn của họ trong vật lý. Illuminati cũng có thể được nhìn từ
góc độ phi vật lý như là một năng lượng nguyên mẫu khi đã tương tác vật lý với Trái Đất.
Nhóm này cuối cùng đã dạt vào lề tiến hóa tự nhiên và trở thành một nguyên mẫu đặc biệt
tập trung. Loại nguyên mẫu này buộc chặt với hành tinh bởi nó cần giữ con người khỏi
những quá trình tiến hóa tự nhiên của họ.
 Isis: Ở Ai Cập cổ đại, Isis được biết đến như là vợ/em gái của Osiris, chị em của
Nephthys, và mẹ của Horus. Bà nổi bật trong thần thoại Ai Cập như là một nữ thần quyền
năng huyền diệu bao la và là nhân vật nguyên mẫu của người mẹ. Các nền văn hoá khác đã
biết đến bà như là Ishtar (Trung Đông), Athena (Hy Lạp), Quang Âm (Trung Quốc), và
Inanna (Sumer).
 Khoa học Hỗn Độn (Chaos): Nghiên cứu về chuyển động ngẫu nhiên rõ rệt mà cho thấy
một tầng thứ sâu hơn nhiều dưới sự quan sát bề ngoài được gọi là Khoa học Hỗn Độn.
 Khởi thủy: Thuật ngữ “Khởi Thủy” được sử dụng trong văn bản để biểu thị điểm bắt đầu
của Homo sapiens trên Trái Đất.
 Lăng kính: Lăng kính là một khối trong suốt trên cơ sở lăng trụ tam giác được sử dụng để
phân cực hay phân rã ánh sáng hoặc năng lượng thành quang phổ của nó.
 Lăng kính của Lyra: Đây là ý tưởng nguyên mẫu của lối vào mà ý thức dùng để vào
trong thực tại này. Đối với gia đình thiên hà của Trái Đất, điểm vào nằm trong hệ sao
Lyra. Khi ý thức/năng lượng xuất hiện, nó phân mảnh thành bảy tần số mật độ, nhiều như
một lăng kính phân tách ánh sáng thành bảy màu sắc có thể nhìn thấy.
 Lemuria: Lemuria là một lục địa và một thời kỳ văn hóa đã có trước và chồng chập
Atlantis. Nó nằm ở khu vực Thái Bình Dương của Trái Đất và được coi là nền văn hóa đầu
tiên chịu ảnh hưởng của các nguồn ngoài Trái Đất.
 Liên đoàn Đen: Liên đoàn Đen là một mô hình tổ chức phản kháng được phát triển trong
suốt các cuộc xung đột Orion để chống lại những nỗ lực cố gắng thống trị vật lý và tinh
thần toàn bộ khu vực của đế chế Orion. Liên đoàn Đen biểu hiện không chỉ là tổ chức phản
kháng ngầm bán quân sự mà còn là một định hướng tinh thần và triết học thể hiện dưới
nhiều hình thức. Những khuôn mẫu này đã cố gắng cân bằng trong các hệ thống hành tinh
khác và hiện đang diễn tiến trên Trái Đất thông qua chu kỳ đầu thai của con người.
 Lỗ Đen: Một ngôi sao trở thành lỗ đen khi nó sụp xuống và đạt đến mật độ cao mà trường
trọng lực của nó vượt quá tốc độ thoát ra của các photon ánh sáng. Các nhà thiên văn đưa
ra giải thuyết một sự thay đổi trong không gian/thời gian xảy ra. Đây tạo ra nhiều xác suất,
bao gồm (1) lối vào và lối ra đến các thực tại chiều kích khác; (2) Nơi sinh của các ngôi
sao tương lai; (3) khả năng khai thác sức mạnh của du hành thời gian; và (4) lối vào một
vũ trụ phản vật chất.
 Lỗ trắng: Khi sử dụng trong văn bản, lỗ trắng là một điểm trỗi lên cho ý thức và năng
lượng.
 Lyra (chòm sao Thiên Cầm): Chòm sao Lyra từ lâu đã được thừa nhận trong thần thoại
của Trái Đất. Một số thậm chí đã kết nối nó với Pleiades (ví dụ, Ovid, người đã đề cập
rằng bảy sợi dây của cây đàn Lyra bằng số lượng của Pleiades). Đây có thể được xem là
nơi sinh hay tử cung của chủng tộc hình người trong khu vực Trái Đất của Ngân hà. Tất cả
các phân loài như Sirius, Orion, Trái Đất/Terran, Pleiades, Vega, Zeta Reticuli, Centaurus,
Altairis (và nhiều nhóm ít được biết đến hơn) là hậu duệ của các chủng tộc Lyra.
 Ma trận: (Từ Latin: Mater/Mother) Ma trận là cái bắt nguồn, phát triển, hoặc bất cứ thứ gì
vây quanh; một mạng lưới các ý tưởng hình thành nên một mối quan hệ cộng sinh; một
định mẫu nguyên mẫu.
 Ma trận Arcturus/Sirius: Năng lực kết hợp của Arcturus và Sirius cung cấp sự cân bằng
của trị liệu vật lý, tình cảm và tinh thần. Ma trận này đã được khai thác bởi nhân loại kể từ
khi nó ra đời và được biết đến thông qua nhiều ý tưởng nguyên mẫu.
 Mật độ: Mật độ biểu thị tần số rung động chứ không phải vị trí (cái mà có hàm ý là “chiều
kích”). Cấu trúc mật độ của thực tại này chủ yếu được thể hiện ở bảy tầng thứ, mặc dù mỗi
tầng thứ có các tầng thứ phụ trong nó. Thang chia mật độ là một mô hình được sử dụng để
truyền đạt nhận thức của một người về định hướng liên quan đến các thực tại khác.
 Mây dạng thấu kính: Các đám mây này có dạng một thấu kính lồi đôi hoặc một hạt đậu
lăng. Đôi khi chúng xuất hiện ngoạn mục tương tự như một tàu vũ trụ hình đĩa. Mặc dù
loại mây này thường hình thành tự nhiên, nhưng đôi khi môi trường vật lý sẽ chuyển năng
lượng hoặc ý thức ngoài Trái Đất thành dạng này.
 Meier, (Billy) Eduard: Billy Meier Thụy Sĩ được biết đến như là người có những ghi
chép liên lạc rộng rãi nhất từ tương tác lặp đi lặp lại với các sinh mệnh Pleiades trong số
những người có tương tác giống vậy. Đã có nhiều bức ảnh rõ ràng cho thấy chi tiết các tàu
vũ trụ.
 Năng lượng Plasmic: Như được sử dụng trong sách này, năng lượng plasmic là một dạng
ánh sáng có độ cô đặc cao, gần như chất lỏng.
 Neanderthal: Neanderthal đề cập đến một chủng người hang động thời kỳ đồ đá cổ đại thế
Pleistocene muộn (Homo neanderthalensis), xương của giống người này được tìm thấy ở
các khu vực châu Âu, châu Phi và châu Á. Di hài của người Neanderthal khởi thủy cách
đây khoảng 100.000 năm trước. Họ dường như đã phát triển ra khỏi Homo erectus (Người
đứng thẳng) sau đó tuyệt chủng trong sự xuất hiện của Homo sapiens cách đây 35.000
năm.
 Nghiệp: Nghiệp biểu thị sự cân bằng và là một nguyên tắc được thực hiện trong năng
lượng của linh hồn từ đời này sang đời khác. Cách hiểu cũ là nghiệp được cân bằng thông
qua “mắt đền mắt, mạng đền mạng”. Một quan điểm đa chiều hơn tuyên bố rằng nghiệp
được thay thế bởi việc thực hiện lựa chọn và tự do ý chí cùng với cam kết thực hành
những chân tướng cao nhất của một người. Nghiệp có thể được thực hiện bởi một cá nhân,
một nhóm, một chủng loài hoặc một ý thức khối.
 Nguyên mẫu: Từ điển bách khoa toàn thư Living Webster định nghĩa nguyên mẫu là “mô
hình hoặc mẫu đầu tiên; khuôn khổ gốc mà sau đó một vật được tạo ra hoặc tương ứng với
nó.” Định nghĩa này cho thấy tất cả những ý tưởng nguyên mẫu của chúng ta đều là các
khuôn khổ vốn có (bắt nguồn từ sự ra đời của nhân loại thiên hà) mà tiếp tục phát triển.
Các biểu tượng mới của các nguyên mẫu này đang được tìm kiếm, nhưng các thuộc tính
bẩm sinh đều giống nhau.
 Người Áo Đen: Còn được gọi là “Men in Black”, những sinh mệnh này được biết đến như
một nỗi khiếp sợ cho những người đã tiếp xúc với UFO. Họ được miêu tả là cao và mặc
quần áo màu tối, ngoại hình mang hơi hướm phương Đông và thường đeo kính đen. Mục
đích rõ ràng của Người Áo Đen là dọa sợ những người đã tiếp xúc với UFO để họ im lặng
về trải nghiệm và kiến thức của mình. Ban đầu được cho là người của chính phủ, những ý
tưởng khác đã nổi lên như: hình tư tưởng, robot hình người và người ngoài hành tinh định
hướng tiêu cực (Orion, Sirius, và Grey). Một hoặc tất cả những ý tưởng trên (trong các sự
kết hợp khác nhau) có thể liên quan với danh tính Người Áo Đen.
 Người Sumer: Người Sumer là dân tộc của một trong những nền văn minh lâu đời nhất
Trái Đất đã được biết đến (khoảng 4.000 trước Công Nguyên), nằm ở phía nam
Mesopotamia (Iraq/Iran). Họ là những người phi Trung Đông không rõ nguồn gốc. Họ
tuyên bố nền tảng văn minh của mình được trao cho bởi “DIN.GIR” —— những thuần
khiết của vật thể sáng nhọn, hoặc người của hỏa tiễn —— hay người ngoài hành tinh theo
nghĩa đen của con người.
 Nhân bản: Nhân bản là phương pháp sinh sản vô tính sử dụng hạt giống hoặc di truyền
nguyên bản để tạo bản sao.
 Nhập thể (nhập thế): Hành động nhập thể (như thuật ngữ được sử dụng) là quá trình mà
một linh hồn sẽ thể hiện mình trong một phương tiện vật lý trong một mật độ tách biệt như
3D hoặc 4D. Ảo tưởng được tạo ra là sự mất trí nhớ đối với bản sắc to lớn hơn của một ý
thức cá nhân.
 Nhóm Lyra: Nhóm Lyra được gọi là người gieo nguyên bản của sự sống hình người trên
Trái Đất. Sách này đề cập đến Lyra như là chủng tộc tiên phong của các nhóm khác như
Pleiades và Sirius, cũng như sự phân mảnh vật lý đầu tiên từ Đấng sáng lập của Sự sống.
 Nhóm Sirius: Như được sử dụng trong sách này, nhóm Sirius đề cập đến một nhóm người
ngoài hành tinh (không nhất thiết toàn bộ phải từ Sirius), những người đã góp phần trong
khởi thủy của Trái Đất và sự phát triển của chủng tộc nhân loại.
 Noah: Noah là một sinh mệnh phái Semitic, trong tiếng Sumer có tên là “Utnapishtim” và
trong tiếng Akkad là “Ziusudra”. Các bài viết của những nền văn minh này miêu tả một
nhân vật tương tự Noah được thần Enki cảnh báo về đại hồng thủy. Câu chuyện đại hồng
thủy trong Sáng Thế ký là một sự đúc kết của nhiều tường thuật tiền Kinh Thánh chi tiết
và sớm hơn nhiều trong các tài liệu của Sumer và Akkadian.
 Orion (chòm sao Thợ Săn): Chòm sao Orion là một khuôn mẫu của các ngôi sao vốn đã
hấp dẫn nhân loại từ thời cổ đại. Từ Orion có thể bắt nguồn từ từ tiếng Akkad cổ đại “Uru-
anna”, có nghĩa là “ánh sáng của thiên thượng”. Các nền văn hoá phương Tây thường xác
định chòm sao này là Thợ Săn. Năng lượng cố hữu của Orion có liên quan đến xung đột về
phân cực. Trái Đất hiện đang cố gắng hợp nhập sau cùng các cực này, dẫn đến cảm xúc
mạnh mẽ của sự kết nối mà nhiều người biểu hiện liên quan đến Orion.
 Orion Sáng: Thuật ngữ “Orion Sáng” dùng để chỉ sự tiến hóa của Orion nơi họ đã thành
công trong việc hợp nhập các cực. Nó cũng có thể được coi là ý thức khối Orion —— khía
cạnh phi vật lý của Orion hoạt động từ một sự thống nhất và hợp nhập.
 Osiris: Osiris được coi là một trong những vị thần nguyên thủy của Ai Cập. Ông được gọi
là “Đấng ngự ở Orion với một mùa trên bầu trời và một mùa trên Trái Đất”, trong số
những mô tả khác. Bất kể danh tính của ông là gì, hầu hết các bài viết cổ đại đều chỉ ra
nguồn gốc ngoài Trái Đất của ông.
 Pha Dẫn Chiều Kích: Thượng Đế/Toàn Thể/Toàn Tồn Tại đã trở nên tò mò về ý tưởng
chia tách và sáng tạo một cõi giới trong đó để khám phá nó. Điều này đã đạt được bằng
cách tạo ra ranh giới của chiều kích. Có thể cân bằng Pha Dẫn Chiều Kích với quá trình
sáng tạo chính nó.
 Phân cực: Phân cực đề cập đến sự hiện diện hoặc biểu hiện của hai nguyên tắc hoặc xu
hướng trái ngược (hay đối kháng). Sự phân cực là sự sản sinh trạng thái phân cực, nơi mà
tia sáng hoặc năng lượng mang các đặc tính khác nhau theo các hướng khác nhau.
 Phức hợp ký ức xã hội: Thuật ngữ này đề cập đến một ý thức khối hoặc một bản sắc ma
trận nhóm phi vật lý đã phát triển từ một xã hội vật lý.
 Pleiades (chòm sao Thất Nữ): Nhóm Pleiades là một cụm sao mở trong chòm sao Taurus
(Kim Ngưu), tồn tại khoảng 500 năm ánh sáng từ Trái Đất. Có 250-500 ngôi sao trong
cụm, mặc dù chỉ có chín được đặt tên. Hầu hết các nền văn hoá cổ đại đều nhìn nhận bảy
ngôi sao. Các quốc gia này cũng bao gồm Trung Quốc gọi chúng là “Thất Nữ”, và Hy Lạp
gọi chúng là “Bảy cô con gái của Atlas”. Hơn bất kỳ nhóm sao nào khác, Pleiades đã thu
hút sự chú ý của cả nền văn minh cổ đại lẫn hiện đại.
 Quang nhiệt: Quang nhiệt liên quan đến ánh sáng và nhiệt. Trong các hang động dưới
lòng đất, người Apex/Zeta Reticuli đã biến đổi một số tần số ánh sáng thành nhiệt.
 Quang điện: Quang điện đề cập đến ý tưởng cung cấp một nguồn điện từ bức xạ ánh sáng
hoặc tương tự. Trong các hang động dưới đất, người Apex/Zeta Reticuli đã biến đổi đến
mức họ có thể chuyển đổi một số tần số ánh sáng và bức xạ thành năng lượng điện.
 Quãng tám: Quãng tám là thứ tám trong bảy bước; đó là sự hợp nhập của bảy cấp độ. Khi
được sử dụng trong sách này, nó đề cập đến một cõi giới của sự tồn tại mà ý thức sẽ di
chuyển vào sau khi hợp nhập bảy mật độ.
 Reticuli: Như được sử dụng trong sách này, Reticuli đề cập đến những sinh mệnh từ hệ
sao Zeta Reticuli.
 Reticulum Rhomboidalis: Nhóm sao này nằm ở phía bắc của Hydrus (chòm sao Thủy
Xà) và Greater Cloud, chứa 34 sao độ lớn từ 3,3 đến 7. Hệ sao Zeta Reticuli 1 và Zeta
Reticuli 2 có mặt trong đội hình này và chỉ được nhìn thấy từ bán cầu nam của Trái Đất.
 Semjase: Semjase là tên của nữ du hành gia Pleiades, từng phục vụ như liên hệ chính của
Billy Meier.
 Set: (Cũng được đánh vần là: Seth, Setekh, Setesh, Suty, hoặc Sutekh.) Nói chung, trong
thần thoại Ai Cập, Set được xem là thần của các lực lượng hỗn mang và bạo lực. Đã có
nhiều tranh cãi về vai trò thực tế của ông ở Ai Cập cổ đại. Các đền thờ và tư tế của Set
được đề cập trong sách này liên quan đến sự thờ phụng của các lực lượng tối.
 Siêu nguyên tử: Siêu nguyên tử đề cập đến ý tưởng vượt khỏi hạ nguyên tử. Mẫu định
nghĩa bản chất của hạ nguyên tử tồn tại ở tầng thứ siêu nguyên tử.
 Siêu ngã: Freud đã xác định siêu ngã là một hệ thống bên trong tâm trí, hoạt động một
cách có ý thức hoặc vô thức, mang các chuẩn mực về gia đình, xã hội, hoặc đạo đức cho
các hành động và quyết định của bản ngã. Như được sử dụng trong sách, siêu ngã được
đánh đồng với khía cạnh cao hơn của ý thức mà là mối liên kết cho sự hợp nhập của nhân
cách.
 Sirius (sao Thiên Lang): Sirius, được biết đến với cái tên Sao Chó, là thành viên của
chòm sao Canis Major (Đại Khuyển), nằm cách Trái Đất 8,7 năm ánh sáng và là ngôi sao
sáng nhất (phân biệt với các hành tinh) được quan sát bằng mắt thường.
 Tần số: Vật chất là rung động năng lượng. Mức rung động khác nhau biểu thị các thuộc
tính của vật chất. Tần số là mức mà các phân tử hoặc ý thức rung động.
 Thiên thần/Vương quốc Thiên thần: Tồn tại bên trong các cõi giới của mật độ năm và
sáu, vương quốc thiên thần đã tương tác với Trái Đất qua nhiều cách khác nhau, bao gồm
hiển hiện hướng dẫn tinh thần, viễn ảnh, nguồn cảm hứng, truyền dẫn, và giao tiếp với tâm
trí. Năng lượng xuất hiện như những thiên thần là tần số từ cõi giới Arcturus.
 Thời gian: Thời gian có thể được coi là một sự liên tục cụ thể nơi mà mối quan hệ của
chuyển động và tốc độ được đo bằng các phương tiện tuyến tính.
 Toàn Tồn Tại: Đây là thuật ngữ mà nhiều người sử dụng thay cho “Thượng Đế” hoặc
“Tạo Hóa” bởi vì nó bao gồm cả người quan sát như là một phần của Tạo Hóa.
 Trí thiên sứ (Cherubim): Các tài liệu tham khảo cổ nhất liên quan đến các hình thức trí
thiên sứ (trong bản ghi Akkad và Sumer) mô tả một thiết bị an ninh cơ khí (tức là robot)
được sử dụng để bảo vệ các khu vực nhạy cảm cao của các vị thần mà con người bị từ chối
truy cập. Ý tưởng này sau đó phát triển thành một cái trừu tượng và tinh thần hơn, được
phô bày trong biểu hiện nguyên mẫu của một nhân vật thiên đàng có cánh, những người
bảo vệ những nơi thiêng liêng và là người hầu của Thượng Đế.
 Vega (sao Chức Nữ): Vega là ngôi sao alpha trong chòm sao Lyra (mặc dù nó gần Trái
Đất hơn là các hệ sao khác trong chòm Lyra). Vega là một trong những nền văn minh Lyra
đầu tiên phát triển một bản sắc độc nhất và gắn kết giúp hỗ trợ việc gieo hạt và định cư
trên nhiều hệ sao, bao gồm Altair (sao Ngưu Lang), Centauri (sao Cận Tinh), Sirius và
Orion.
 Vi mô: Vi mô có nghĩa là bất cứ cái gì được xem như là một thế giới thu nhỏ. Một ví dụ
của điều này là cách cấu trúc nguyên tử tương quan với cấu trúc của hệ mặt trời.
 Vĩ mô: Vĩ mô đề cập đến một mô hình thang chia-rộng lớn của một đơn vị nhỏ hơn. Một
ví dụ là hệ mặt trời đại diện cho cấu trúc của các hạt nguyên tử.
 Vượn người phương nam (Australopithecus): Thuật ngữ này biểu thị bất kỳ loài vật nào
thuộc họ Australopithecus đã bị tuyệt chủng trong thế Pleistocene. Vượn người phương
nam tiến bộ là loài đầu tiên được coi là thực sự giống con người, tồn tại khoảng 2 triệu
năm trước.
 Walk-In: Thông thường, một trải nghiệm walk-in sẽ có hai hình thức. Phổ biến nhất có
thể được coi là bện hồn, trong đó nhiều năng lượng của chính một cá nhân (bản thân cao
hơn hoặc khía cạnh tương lai) được đưa vào và hợp nhập với tính cách. Trường hợp thứ
hai hiếm hơn là ví dụ trong đó có một ý thức “riêng biệt” thực sự sống trong cơ thể con
người trong khi linh hồn ban đầu rời khỏi cảnh giới vật lý. Đây là trải nghiệm cá nhân rất
cao, nơi thực thể mới đến không cần phải tuyên bố nguồn gốc hoặc tình trạng của mình.
Khá thường xuyên, trải nghiệm bện hồn bị nhầm lẫn với hoán đổi walk-in bởi vì cấu trúc
nhân cách (được mã hoá sinh học trong não) trải qua nhiều biểu hiện tương tự trong cả hai
trường hợp.
 Xung động bản năng (Id): Freud định nghĩa xung động bản năng là một phần của cấu
trúc nhân cách nguyên thủy, bản năng, trẻ con và tuân theo nguyên tắc khoái cảm. Những
phẩm chất của xung động bản năng có thể được so sánh với con người đi qua thực tại mật
độ hai trong giai đoạn đầu của cuộc đời.
 Ý thức: Ý thức là lực lượng ràng buộc cơ bản của mọi tạo vật. Nó tồn tại trong biểu hiện
vô hạn và có thể thách thức định nghĩa.
 Ý thức Christ: Ý thức Christ là khía cạnh của một ý thức khối mà nhìn nhận mình như
một sinh mệnh đơn. Đây có thể tương đương với rung động mật độ sáu.
 Ý thức khối: Ý thức khối liên quan đến bản sắc cá nhân của một nhóm. Ví dụ, ý thức khối
của Trái Đất được tạo thành từ mỗi ý thức cá nhân được hợp nhập vào một đơn vị đồng
nhất.
 Zeta Reticuli: Được phát hiện vào cuối những năm 1960, hai ngôi sao này nằm trong
chòm Reticulum, được nhìn thấy từ bán cầu nam của Trái Đất. Như được sử dụng trong
sách này, Reticuli là một chủng tộc với nhiều phân nhóm đang thực hiện các thí nghiệm di
truyền cơ bản và bắt cóc con người trên Trái Đất hiện đại. Chiều cao trung bình của họ là
ba và nửa feet. Họ có xương sọ và mắt lớn, không thể phân biệt giới tính của họ. Nói
chung ý định của họ là lành tính, bất chấp chấn thương mà nhiều người trải nghiệm trong
sự có mặt của họ.
Tài Liệu Đã Chọn
Anka, Darryl. The New Metaphysics. Light and Sound Communications, 1986.
Burnham Jr., Robert. Bumham's Celestial Handbook, Vols. 1, 2, and 3. Dover Publications,
1978.
Cott, Jonathan. The Search for Omm Sety. Doubleday, 1987. Dickinson, Terence. The Zeta
Reticuli Incident. AstroMedia Corp., 1976.
Ellis, Normandi. Awakening Osiris: The Egyptian Book of the Dead. Phanes Press, 1988.
Fix, William R. Star Maps. Octopus Books, 1979. Freer, Neil. Breaking the Godspell. Falcon
Press, 1987. Fuller, John G. The Interrupted Journey. The Dial Press, 1966. Grant, Joan. Eyes of
Horus. Ariel Press, 1942. Hart, George. Dictionary of Egyptian Gods and Goddesses. Routledge
& Kegan Paul, 1986.
Jung, Carl. Man and His Symbols. Dell Publishing, 1964. Kinder, Gary. Light Years. Atlantic
Monthly Press, 1987. Krupp, E.C. Echoes of the Ancient Skies: The Astronomy of Lost
Civilizations. New American Library, 1983.
McConnell, James V. Understanding Human Behavior, Second Edition. Holt, Rinehart &
Winston, 1977.
Moody, Raymond. Life After Life. Stackpole Books, 1976. Royal Priest Research/Lyssa
Royal. The Arcturus Connection. (Cassette) 1989.
Royal Priest Research/Lyssa Royal. The Sirius Connection. (Cassette) 1989.
Royal Priest Research/Lyssa Royal. Lyra and the Pleiades. (Cassette) 1990.
Royal Priest Research/Lyssa Royal. Pleiadian Ancestry. (Cassette) 1989. Royal Priest
Research/Lyssa Royal. The Orion Conflict. (Cassette) 1989.
Royal Priest Research/Lyssa Royal. Zeta Reticuli Visitors. (Cassette) 1989.
Royal Priest Research/Lyssa Royal. History of the Zeta Reticuli. (Cassette) 1989.
Royal Priest Research/Lyssa Royal. The Association of Worlds. (Cassette) 1989.
Royal Priest Research/Lyssa Royal. Earth Inception. (Cassette) 1989. Sitchin, Zecharia. The
Stairway to Heaven. Avon Books, 1985. Sitchin, Zecharia. The Twelfth Planet. Avon Books,
1976. Sitchin, Zecharia. The Wars of Gods and Men. Avon Books, 1985. Strieber, Whitley.
Communion. William Morrow, 1987. Temple, Robert K.G. The Sirius Mystery. Destiny Books,
1976. Wolkstein, D. and Kramer, S.N. Inanna: Queen of Heaven and Earth. Harper and Row,
1983.
Wood, David. Genisis: The First Book of Revelations. The Baton Press, 1985.
Zeilik, Michael. Astronomy: The Evolving Universe. Harper & Row, 1979.
New American Standard Bible. Thomas Nelson Publishers, 1960. Holy Bible, New
International Version. Zondervaan Publishers, 1978. The Living Webster Encyclopedic
Dictionary of the English Language. English Language Institute of America, 1977.
Lời Cảm Ơn
Bản thảo này xuất hiện chủ yếu bởi vì đó là loại sách mà chúng tôi đã tìm kiếm. Vì không có,
nên chúng tôi đã viết nó! Chúng tôi cảm ơn tất cả những người cũng đã tìm kiếm và sau đó đã
yêu thương truyền cảm hứng cho chúng tôi để tạo ra nó.
Chúng tôi cảm ơn kênh Darryl Anka (và Bashar) đã cung cấp cảm hứng ban đầu vào năm 1985
để bắt đầu tìm kiếm thông tin phức tạp nhưng hấp dẫn này. Tính toàn vẹn mà ông ấy sở hữu cùng
chất lượng kênh dẫn của ông truyền sự tự tin cho chúng tôi rằng thông tin này có thể đã thu được
một cách đáng tin cậy.
Chúng tôi cảm ơn kênh Robert Shapiro đã cung cấp một số thông tin độc đáo và khó nắm bắt
về Zeta Reticuli và các Sirius tiêu cực. Robert có can đảm để giải quyết các khu vực như là một
kênh mà nhiều cá nhân không sẵn sàng tiếp cận. Chúng tôi cảm ơn tác giả Barbara Hand Clow đã
đưa ra phản hồi có giá trị và động viên trong quá trình sửa đổi bản thảo. Những phản ứng nhiệt
tình từ cô ấy đối với công việc của chúng tôi đã giúp chúng tôi duy trì động lực và tập trung
chúng tôi vào những khoảnh khắc mà chúng tôi đánh giá cao nhất.
Chúng tôi cảm ơn Michael Z. Tyree vì tinh thần trực giác nhạy bén của ông trong việc tạo ra
các tác phẩm nghệ thuật thể hiện biểu tượng sâu sắc của thông tin này.
Chúng tôi gửi tình yêu và cảm ơn Nhóm Tối Thứ Năm đã ngồi trong tám tuần nóng kỷ lục ở
Sedona để nghiên cứu kỹ hơn vấn đề ngoài hành tinh bằng cách sử dụng quá trình dẫn kênh của
Lyssa Royal.
Chúng tôi cảm ơn Jeannine Calaba đã phê bình chi tiết và sâu sắc về bản thảo đầu tiên. Tình
yêu, tình bạn và sự hỗ trợ của cô ấy là vô giá đối với dự án này.
Chúng tôi cảm ơn Beth Pierson đã rà soát tỉ mỉ và phản hồi có giá trị về tài liệu. Cô ấy đã gửi
tất cả những gì chúng tôi đã và không yêu cầu!
Chúng tôi cảm ơn Margaret Pinyan đã biên tập và hiệu chỉnh chuyên nghiệp.
Chúng tôi cảm ơn Stacey Vornbrock đã chỉ ra sự lủng củng và đưa ra đề xuất về phần khó nhất
của cuốn sách... và bánh kem dừa nữa.
Sự đánh giá cao đến với Julie Rapkin khi nói rằng “Thật tuyệt vời!”
Về Các Tác Giả
Lyssa Royal có bằng B.A. trong Tâm lý học, là một kênh dẫn và giảng viên được quốc tế biết
đến ở Scottsdale, Arizona. Vào năm 1979, cô đã chứng kiến rõ ràng về UFO bởi gia đình cô, gây
ra sự quan tâm sâu sắc đến hiện tượng ngoài hành tinh. Được lấy cảm hứng từ kênh Darryl Anka
và Bashar, Lyssa bắt đầu tìm kiếm các câu trả lời liên quan đến kết nối của Trái Đất với các nền
văn minh khác. Cô đã siêng năng luyện kỹ năng dẫn kênh của mình và bắt đầu nhận được thông
tin mà thông qua nghiên cứu đã được xác nhận bởi các nguồn độc lập sau đó. Cô tiếp tục dẫn
kênh và giảng dạy trên khắp thế giới, cũng được nhìn thấy trên truyền hình quốc gia và quốc tế
cũng như trong các ấn phẩm tạp chí quốc gia. Dù làm việc khá thường xuyên với thông tin ngoài
Trái Đất, việc áp dụng thực tế những gì cô ấy dạy và dẫn kênh là ưu tiên hàng đầu của cô ấy.
Keith Priest là nhà điêu khắc và nghiên cứu độc lập sống ở Arizona. Ông học Âm nhạc tại Đại
học Tiểu bang Michigan, chuyên về Công nghệ Piano và Hệ thống Chỉnh âm Lịch sử. Triết lý
sống của Keith là luôn đặt câu hỏi “Tại sao?” Hứng thú của ông đối với vấn đề ngoài hành tinh đã
được kích hoạt vào đầu những năm 1980 thông qua các kênh của Darryl Anka và Bashar. Thông
qua nghiên cứu của mình, ông đã nghiên cứu về Cổ ngữ, Nghiên cứu Kinh thánh, Nhân chủng
học, Khảo cổ học, Lịch sử và Tôn giáo, kết hợp những nghiên cứu với thiên văn học, Thần thoại
và tâm lý học. Mặc dù chưa từng nhìn thấy một UFO (khỏi nói đến người ngoài hành tinh),
nhưng các nghiên cứu của ông đã cho ông thấy rằng vấn đề ET không chỉ vừa vặn một cách đẹp
đẽ vào tất cả các lĩnh vực này, mà trên thực tế còn là một mảnh ghép của câu đố có thể kết nối tất
cả chúng.
Ebook được đăng và chia sẻ trên https://pearlcrystalblog.wordpress.com

LĂNG KÍNH CỦA LYRA

  • 1.
    LĂNG KÍNH CỦALYRA Một khám phá về di sản thiên hà của loài người Lyssa Royal và Keith Priest Đề tặng Đến những đứa trẻ của Lyra nằm rải rác khắp thiên hà, cầu cho bạn nhớ lại di sản của mình.
  • 2.
    “Tôi là mộtđứa trẻ của Trái Đất và Thiên Đường đầy sao; Nhưng chủng tộc của tôi chỉ của mỗi Thiên Đàng. Cái mà bạn biết bản thân mình... “ —— Được dịch từ đĩa Petelia, Người khởi đầu Orphic, 200-400 trước Công Nguyên. MỤC LỤC Lời Nói Đầu 1. Pha Dẫn Chiều Kích 2. Sáng Tạo Gia Đình Thiên Hà 3. Tử Cung Của Lyra 4. Nhân Tố Sirius 5. Những Cơn Gió Orion 6. Chị Em Họ Pleiades Của Trái Đất 7. Cửa Ngõ Arcturus 8. Khởi Thủy Trái Đất 9. Zeta Reticuli: Chuyển Hóa Và Thức Tỉnh 10. Hợp Nhập: Về Nhà Với Chính Mình BẢNG THUẬT NGỮ Tài Liệu Đã Chọn Lời Cảm Ơn Về Các Tác Giả
  • 3.
    Lời Nói Đầu “Đókhông phải là sự hòa trộn, hỡi chàng trai, máu và hơi thở tạo nên khởi đầu và thực chất linh hồn bạn, dù phàm thể và xác trần của bạn bị đóng khung trong những thứ kia, nhưng linh hồn bạn đã đến từ nơi khác.” —— Empedocles Từ những ngày đầu tiên trong lịch sử được ghi lại của Trái Đất, đã có một cảm xúc buồn bã ngọt ngào trong chúng ta khi nhìn vào không gian của bầu trời đêm. Một số chúng ta mong mỏi ngày mà chủng tộc nhân loại có thể vượt ra ngoài các ngôi sao. Nó thực sự chỉ là một hy vọng tương lai chứ không phải một kỷ niệm quá khứ của chúng ta sao? Ý thức con người có những sự phức tạp mà vẫn chưa được khám phá. Điều gì thôi thúc chúng ta đẩy sự tiến hóa đến giới hạn của nó? Điều gì thôi thúc chúng ta tạo ra sự bất bình đẳng giữa các chủng tộc trên hành tinh này? Có thể chúng ta đang diễn một vở kịch vũ trụ mà chỉ tạm thời quên đi kịch bản. Chúng ta biết một quốc gia hay chủng tộc này trên Trái Đất ảnh hưởng đến một quốc gia hay chủng tộc khác. Ý tưởng này cũng có thể lan rộng ra ngoài vũ trụ. Có lẽ những gì chúng ta làm ở đây ảnh hưởng đến vô số những nền văn minh khác trên các hành tinh khác. Liệu chúng ta có thực sự liên kết với nhau không? Các thông tin được trình bày trong cuốn sách này là sự tổng hợp của nhiều năm thấu hiểu, lập luận suy luận và dẫn kênh. Việc khảo sát chéo các kênh khác nhau cũng đã được tiến hành (chủ yếu sử dụng tác phẩm của đồng tác giả Lyssa Royal), cũng như nghiên cứu về một số tác phẩm nhân loại học và siêu hình học đáng chú ý. Người đọc có thể nhìn những ý tưởng đó theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, vì câu chuyện vẫn chỉ là một. Không có tuyên bố rằng đây là chân tướng sau cùng cho sự xuất hiện của gia đình thiên hà của chúng ta vào thực tại này. Nếu nó phù hợp với bạn, hãy sử dụng những sự thấu suốt được đưa ra dưới đây như một chất xúc tác cho sự phát triển của chính mình. Còn nếu không, có lẽ nó có thể dẫn bạn bước một bước gần hơn với chân tướng cá nhân của chính bạn. Một trong những ý tưởng quan trọng nhất để thúc đẩy tiềm năng của con người là thừa nhận tất cả các chân tướng đều là sự biểu hiện của Một Chân Tướng, bất kể nó có thể là gì. Thông qua sự thừa nhận này xuất hiện sự thống nhất. Nếu không có gì khác, hãy đọc cuốn sách này trong sự vui vẻ, thú vị, và kích thích trí tưởng tượng của bạn. Niềm tin của bạn chắc chắn không phải là thứ bắt buộc —— nhưng bạn sẵn sàng trở thành một nhà thám hiểm! Đây là một cuốn sách giới thiệu. Một bảng tổng hợp thuật ngữ rộng lớn được viết ở phần cuối tài liệu cho bất kỳ thuật ngữ xa lạ nào có thể đã được sử dụng. Mỗi chương đại diện cho một khía cạnh khác nhau của một tấm thảm phức tạp và cách tấm thảm ảnh hưởng đến Trái Đất. Thông qua nhiều cuộc thảo luận, thông tin đã được mài thành một khuôn khổ sẽ giới thiệu cho người đọc một dàn diễn viên. Dàn diễn viên chưa hoàn chỉnh. Còn vô số các thành viên và vở kịch khác được diễn trên khắp vũ trụ chúng ta. Những nhân vật trong sách này nổi lên như những người có vẻ quan trọng nhất đối với vở kịch của nhân loại ở trên Trái Đất.
  • 4.
    Có những giảđịnh nhất định được thực hiện trong toàn bộ tài liệu là nền tảng cho phần còn lại của thông tin. Một trong số đó là ý tưởng về luân hồi và bản chất vô hạn của ý thức. Không cần phải nắm lấy khái niệm này để nắm bắt tài liệu, nhưng nó sẽ cho phép người đọc có một cái nhìn rộng hơn về bức tranh lớn hơn. Một giả thuyết khác được trình bày là ý tưởng rằng mỗi người đều có nhận thức cao hơn —— tức là dù một sinh mệnh đã chọn bất kể tầng thứ tồn tại nào cho một kiếp sống nào đó, thì nó vẫn giữ được một nhận thức (ý thức hoặc tiềm thức) về mối liên hệ với Toàn Thể và tính danh thần thánh của nó. Khái niệm này kết nối chúng ta với ý tưởng rằng chính chúng ta và chúng ta là những người kiểm soát số phận của mình. Vì vậy, sự tiến hóa nằm trong tay của chính chúng ta. Trong suốt cả cuốn sách cũng sẽ giả định rằng “Toàn Thể”, hoặc ý thức khối hợp nhập của gia đình thiên hà chúng ta vẫn luôn tồn tại. Cần phải có vài thông số thiết lập cho mục đích của các thông tin trình bày. Những thông số này sẽ ám chỉ đến “khởi đầu” của câu chuyện như là Pha Dẫn Chiều Kích và “kết thúc” như là Sự Hợp nhập. Trong nhiều trường hợp nhãn dán đã được sử dụng để chỉ các địa điểm hoặc con người (như Sirius, Orion). Nói chung, các nhãn này là lưu động, thiên về biểu thị một cõi giới hoặc nhận thức rung động hơn là một ý tưởng cố định. Ví dụ trong trường hợp như Lyra, khả năng đáng lưu tâm là những ngôi sao được nói đến đã nhiều lần trở thành lỗ đen và lỗ trắng. Vì vậy, những điều này có thể được nói đến như là ý tưởng chứ không phải là cột mốc cụ thể trong thời gian và không gian. Những ý tưởng có mang trọng lượng; điều này hoàn toàn rõ ràng trong các truyền thuyết của chúng ta mà cho thấy tầm quan trọng của các hệ sao khác. Các truyền thuyết của bộ lạc Dogon, các văn bản Sumer, và các bài viết của Ai Cập cổ đại đều đòi hỏi phải tiếp xúc với sinh mệnh từ các hệ sao khác. Những truyền thuyết này phải đến từ đâu đó. Mặc dù ngôn ngữ và phong cách thể hiện đương thời của chúng khác nhau một chút, nhưng tính nhất quán trong nội dung của chúng vượt ngoài tranh luận. Thông tin về quá khứ của nhân loại có thể làm cuộc sống trên Trái Đất của chúng ta thêm phần phong phú. Nếu chúng ta thực sự biến hóa, nó sẽ là thông qua sự pha dẫn của nhận thức vào trong thế giới chúng ta, không sử dụng nhận thức để đào thoát khỏi trách nhiệm của chúng ta với tư cách là công dân của Trái Đất và Gia Đình Thiên Hà. Lưu ý: Đọc chú thích mỗi bài và bảng thuật ngữ!
  • 5.
    1. Pha DẫnChiều Kích Với chìa khóa thiên đàng của nó, Những dây không khí, những phím của lửa Cây đàn Lyre âm giai tự nhiên vĩ đại của người Samos Nổi lên xuyên suốt toàn thanh nhịp gấp bảy của nó Từ Trái Đất hướng đến những ngôi sao bất biến. —— Longfellow về Lyra từ Sự Che Khuất của Orion Tất cả ý thức và năng lượng đã từng được hợp nhập thành một toàn thể hoàn chỉnh. Toàn Thể này đã nhận thức được các khía cạnh của chính nó, nhưng theo một cách khác với ý thức cá nhân. Trong sự phát triển hiện tại của Trái Đất, cái tôi được công nhận đầu tiên, sau đó là xã hội, và cuối cùng là Toàn Thể, Toàn Tồn Tại, hoặc Thượng Đế. Sự tách biệt vẫn được tạo ra. Sự tách biệt khỏi Nguồn này là một ảo giác. Ảo giác này là một công cụ cung cấp cho Toàn Thể toàn bộ những bài học và thách thức thiết yếu mà nó cần trải nghiệm để tái hợp nhập trở lại Nguồn. Trước khi có sự phân mảnh từ Nguồn này, Toàn Thể đã tồn tại trong một quãng tám khác của thực tại chiều kích. Từ cõi giới của sự thống nhất này, các phần của Toàn Tồn Tại tự hỏi sẽ như thế nào nếu nó chia nhỏ và tạm quên sự tồn tại hợp nhập. Sức mạnh của ý nghĩ này trên một tầng thứ khối như vậy đã bắt đầu tạo ra một sự phân mảnh. Ảo giác tạo ra từ sự phân mảnh này sẽ là một sự quên lãng đầy thách thức mà trong đó ý thức cần sáng tạo (từ bản tính thần thánh của chính nó) sự hồi tưởng để thống nhất một lần nữa. Cái được gọi là “sự sáng tạo” thực chất là sự phân mảnh này, hoặc có tính mô tả hơn, là Pha Dẫn Chiều Kích. Sự tò mò ban đầu của Toàn Thể về một sự tồn tại phân mảnh thực chất đã tạo ra thực tại của nó. Nó đòi hỏi một sự chuyển đổi trong quan điểm, tiêu điểm, hay tần số. Là một phần của Toàn Thể, các khía cạnh của Gia Đình Thiên Hà đã chịu trách nhiệm phần nào trong việc đưa ra bản thiết kế để dẫn dắt sự phát triển của họ. Do đó, tuyên bố “chúng ta là Thượng Đế” thực sự có ý nghĩa khả thi. Bản thiết kế đã được trình bày chứa nhiều ý tưởng khác nhau. Trước hết, nó cho rằng sự phân cực và phân mảnh sẽ là chuẩn. Việc mã hóa trong bản thiết kế cung cấp tùy chọn Tự Do Ý Chí trên phần của mỗi mảnh hoặc linh hồn. Thách thức chính là nhớ rằng mỗi ý thức đều sở hữu nó. Tự Do Ý Chí càng được sử dụng nhiều bao nhiêu, thì ký ức thần thánh càng được thỉnh nguyện nhiều bấy nhiêu. Khi đối mặt một thực tại phân cực, Tự Do Ý Chí trở thành người giải phóng. Khi một linh hồn quên rằng nó có Tự Do Ý Chí, những bài học trở nên nhiều thách thức hơn, nhưng phần thưởng cũng sẽ cao hơn. Một ý tưởng khác trong bản thiết kế được lựa chọn này là các mảnh của Toàn Thể sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành động của chúng trong giai đoạn mất trí nhớ này. Mọi hành động được thực hiện sẽ tạo ra phản ứng từ vũ trụ bất kể nó có được ghi nhớ hay không. Một số người gọi đó là nghiệp; tuy nhiên, nó còn là nhiều hơn “mắt đền mắt, mạng đền mạng”. Luôn có khả năng mở rộng nhận thức của một người thay cho những hình phạt đối với hành vi tiêu cực. Vì vậy, trong một ý nghĩa nào đó, trí tuệ xóa đi nghiệp lực.
  • 6.
    Dù điều nàycó vẻ giống như các quy tắc cho một số loại trò chơi vũ trụ tàn nhẫn, nhưng kết quả đã được quyết định. Với điều này trong tâm trí, điểm đến cuối cùng không quan trọng mà chính là cuộc hành trình xuyên suốt chặng đường. Đó là nghĩa đen của cách mà trò chơi được chơi. Một bản thiết kế được chấp nhận khác là một mã tạo ra theo cách ether được xây dựng vào trong kết cấu của tấm thảm phổ quát. Đoạn mã này sẽ cho phép các hình thể hình người đi bằng hai chân dựa trên carbon làm phương tiện phát triển tự nhiên bình thường cho việc nhập thể của ý thức kiểu người vào cấu trúc của hành tinh. Mã này tồn tại trên các tầng thứ siêu nguyên tử mà khoa học mới bắt đầu học cách đo lường. Biểu tượng của sự phân cực diễn ra trong hình thể cơ thể con người. Con người Trái Đất là đối xứng, với hai tay, hai chân, hai mắt, hai tai… Thân thể được một thân và một đầu hợp thành một toàn thể. Trong suốt quá trình phát triển tiến hóa của các hình thể hình người (trong gia đình thiên hà của Trái Đất) cũng được quyết định rằng các cực nam và cực nữ sẽ thể hiện trong các loại cơ thể riêng biệt mà bù trừ. Đây là một lời nhắc nhở rằng để sáng tạo, các cực phải luôn được gia nhập hoặc hợp nhập. Khái niệm này được nắm bắt rộng rãi bằng việc một cá nhân có khuynh hướng cảm thấy “là Một” nhất khi họ gia nhập với người khác trong tình yêu. Quá trình Pha Dẫn Chiều Kích thực chất là gì? Trong kết cấu thời gian/không gian của chòm sao Lyra có tồn tại một thứ có thể gọi là lỗ trắng (1). [(1) Một trọng điểm của năng lượng và ánh sáng mạnh mẽ. Trong trường hợp này là một nơi sinh.] So sánh lỗ trắng này với một lăng kính, khi chiếu một chùm ánh sáng qua lăng kính, sẽ nhận được một quang phổ ánh sáng phân thành bảy tần số màu sắc có thể nhìn thấy được. Khi một phần của Toàn Thể đi qua Lăng kính của Lyra (lỗ trắng), ý thức được phân mảnh thành bảy tần số rung động, tượng trưng cho ý thức khối của gia đình thiên hà của Trái Đất. Mỗi mảnh trở nên ý thức trên tất cả các tần số hoặc mật độ khác nhau kia. Tần số được trải nghiệm trước đây được hợp nhập vào Toàn Thể (như ánh sáng trắng). Khi phần này của Toàn Thể đi qua lăng kính, nó thể hiện như bảy tần số nhận thức. Ý thức cũng phân mảnh, và những mảnh vỡ đã di chuyển “xa ra” như thuyết “Big Bang” gợi ý. Vậy là, ảo giác vì thế phát sinh, rằng mỗi mảnh đều rất rất đơn độc. Toàn Thể hiểu rằng mục đích của trải nghiệm này là học để tái hợp nhập từ một điểm tách biệt. Nhưng bằng cách nào? Là những linh hồn cá nhân hoặc theo nhóm, các phân mảnh đã tìm ra vũ trụ vừa được tạo ra. Pha Dẫn Chiều Kích không chỉ tạo ra sự phân mảnh ý thức, mà nó còn tạo ra các ngôi sao, hành tinh, khí gas và các phân tử tạo nên thực tại vật lý. Tuy nhiên, thực tại vật lý chỉ đại diện cho một vài tần số năng lượng xuất hiện từ sự phân mảnh. Như khoa học đã phát hiện, vật chất là năng lượng được đặc hóa rung động ở một mức cụ thể. Mọi khía cạnh của vũ trụ đều được tạo thành từ năng lượng. Công nghệ Trái Đất vẫn chưa khám phá ra phương pháp đo lường những phần nhất định của thực tại. Nếu công nghệ có khả năng này, vô số cổng vào thời gian, không gian và chiều kích sẽ được nhìn thấy. Trong thời gian đó, bảy tầng thứ tần số mà gia đình thiên hà của Trái Đất phân mảnh thành bằng cách đi qua Lăng kính của Lyra sẽ được khám phá dưới đây. Từ thời điểm này, thuật ngữ “mật độ” sẽ được sử dụng để tham chiếu các tầng thứ tần số này. (2) [(2) Xem Bảng Thuật Ngữ để biết sự khác biệt giữa “mật độ” và “chiều kích”.]
  • 7.
    MẬT ĐỘ MỘT:Nhận thức như một điểm; Vật chất vật lý. Tầng thứ tần số này là cơ bản nhất. Nó cung cấp vật chất và năng lượng cho việc tạo ra các nguyên tử và phân tử. Ví dụ, tất cả các dạng sống cơ bản của khoáng chất và nước đều hoạt động từ tần số mật độ một. Con người cũng có tần số này trong bản thân họ. Nó tạo ra các mã di truyền cơ bản. MẬT ĐỘ HAI: Nhận thức như một đường thẳng; Vật chất sinh học; Phát triển bản sắc nhóm hoặc loài. Ý thức thể hiện bởi rung động mật độ hai không có nhận thức bản thân (hay bản ngã). Hầu hết các loài trong vương quốc động thực vật đều tồn tại ở đây; tuy nhiên, vị trí của chúng trong mật độ phụ thuộc vào nhiều yếu tố bổ sung, trong đó có sự hiện diện hoặc không hiện diện của bản ngã. MẬT ĐỘ BA: Nhận thức thể tích; Bản ngã; Mất bản sắc nhóm, phát triển bản sắc cá nhân; Khả năng nhớ quá khứ và nhận thức được tương lai trong khi vẫn giữ được nhận thức hiện tại. Đây là mật độ nơi con người xuất hiện. Nó là một rung động tạo ra ảo giác về sự tách biệt, do đó là một thách thức đối với sự thức tỉnh. Hiện nay nhân loại đang trải qua giai đoạn chuyển đổi sang thực tại mật độ bốn, điều này có thể giải thích cho những thay đổi chóng vánh mà nhân loại đang trải qua. Đây là tần số thể hiện sự tách rời nhất với Toàn Thể. Chính từ đây đã học được rất nhiều bài học về hợp nhập. Đây là tầng thứ mãnh liệt nhất trong tất cả các tầng thứ về bồi dưỡng sự tăng trưởng bên trong Cái Tôi của nó. Động vật biển có vú (cá heo và cá voi) hiện đang tồn tại đồng thời ở mật độ ba và bốn, cũng đang chuyển khỏi mật độ ba cùng nhân loại. Ý thức của động vật linh trưởng cũng tồn tại ở mật độ ba. Sự tiến hóa của loài linh trưởng đang ngày càng trở nên rõ ràng, khi chúng ta bắt đầu quan sát chúng biểu hiện một vài đặc điểm mà trước kia chỉ có ở người (chẳng hạn như việc hấp thụ ngôn ngữ và hành vi bệnh lý). MẬT ĐỘ BỐN: Đóng khuôn nhận thức về thể tích; Siêu nhận thức; Tái hợp nhập bản sắc nhóm mà không làm mất bản sắc bản ngã; Khi rung động tăng lên, nhận thức về quá khứ, hiện tại và tương lai trở nên lưu động hơn cùng với khả năng giao tiếp với các thực tại đa chiều kích và đa mật độ; Ý thức định hướng tiêu cực trở nên khó duy trì hơn. Trên Trái Đất hiện giờ, thực tại mật độ bốn là chồng chập với mật độ ba. Trong trường hợp của con người, điều này có thể giải thích cho sự mong muốn tăng lên đối với sự hiệp nhất, hòa bình, và tình yêu vô điều kiện trái ngược với ảo giác về sự tách biệt đặc trưng mật độ ba. Mức rung động của thực tại của một người được đẩy lên, do đó người ta có thể phải đối mặt với các vấn đề cá nhân một cách nhanh chóng và dữ dội hơn. Dễ thấy kết quả của việc này là như thế nào với hàng ngàn cá nhân trên Trái Đất đang trong trị liệu, trong các chương trình lạm dụng thuốc và tham gia vào các nỗ lực nhân đạo để giúp hành tinh tốt hơn. Đây là tần số của trách nhiệm. Đây là tần số khi người ta bắt đầu nhớ lại mã hoá của Tự Do Ý Chí. Đây là tần số cuối cùng nơi cơ thể vật lý là phương tiện để biểu hiện ý thức. Do đó, nhiều nền văn minh lựa chọn dành một thời gian dài trong mật độ này. MẬT ĐỘ NĂM: Nhận thức trải nghiệm về “Tôi” như một bản sắc nhóm; Không bị ràng buộc bởi thời gian tuyến tính. Trong mật độ này ý thức cảm nhận bắt đầu thức tỉnh về di sản của nó. Đây là mật độ trí tuệ. Khi người ta đánh thức trí tuệ bên trong, họ thường muốn chia sẻ nó với những người vẫn tập trung vào mật độ thấp hơn. Nhiều người từ cõi giới này lựa chọn trở thành người hướng dẫn cho
  • 8.
    người khác. Mộtsinh mệnh mật độ năm sáp nhập với gia đình ý thức của nó (“siêu linh hồn” hoặc “bản thân cao hơn” nếu bạn muốn nói) và bắt đầu nhớ lại. Đây là mật độ đầu tiên mà trong đó một định hướng phi vật lý được trải nghiệm. (Lưu ý: Không có sự phân biệt rõ ràng khi chuyển mật độ từ năm đến sáu và sáu đến bảy vì những mật độ này không định hướng về vật lý, có nhiều sự pha trộn trong những chuyển tiếp này.) MẬT ĐỘ SÁU: Nhận thức như chiều kích chính nó. Đây thường được gọi là “Ý thức Christ”, trong đó nó hiển thị một tầng thứ tần số tương đương với của Chúa hay Phật. Từ tần số này, một sự hồi tưởng hoàn toàn xảy ra, và người ta bắt đầu chịu trách nhiệm đối với Toàn Thể hơn là Cái Tôi. Quá trình tiến triển Cái Tôi và tiến triển Toàn Thể trở thành một và giống nhau. MẬT ĐỘ BẢY: Nhận thức như là trải nghiệm đa chiều; Bản sắc ma trận nhóm (Phức hợp ký ức xã hội). Đây là tần số của sự thống nhất toàn Nhất Thể hoặc hợp nhập. Những người rung động đến tần số này được hợp nhập trong bản sắc và trở thành một toàn thể có ý thức khối. Họ thu hút những người ở các tần số khác và cung cấp lưu động cho dòng chảy tự nhiên tiến đến hợp nhập. Một khi các sinh mệnh mật độ bảy đạt được khối lượng tới hạn, họ sẽ tiến triển xuyên qua Lăng kính của Lyra (từ quan điểm của chúng ta, nó sẽ là điểm ra lỗ đen) và đạt đến quãng tám tiếp theo, nơi mà một cuộc phiêu lưu khác đang chờ đợi. * * * Điều quan trọng cần lưu ý là khi các phần của Toàn Thể được phân mảnh thông qua Lăng kính của Lyra, mỗi ý thức vẫn giữ được sự nhận thức trên mọi tầng thứ mật độ. Tuy nhiên, một phần của sự quên lãng vẫn còn ở đó. Từ mật độ đậm đặc cao nhất (như ba và một bộ phận của bốn), một sự vô nhận thức có thể xảy ra liên quan đến sự cùng tồn tại của các tầng thứ khác. Khi hợp nhập diễn ra, người ta nhận thức được những khía cạnh khác. Vi mô luôn luôn phản ánh vĩ mô. Điều này được nhìn thấy trong “sự trùng hợp ngẫu nhiên” về cái cách mà cấu trúc nguyên tử phản ánh cấu trúc của một hệ mặt trời. Nó cũng giống với sự phân mảnh các phần của Toàn Thể thành các sinh mệnh cá thể hoặc các nhóm linh hồn. Khi một người nhập thể vào thân thể vật lý, nó có thể được so sánh với đi qua Lăng kính của Lyra phiên bản thu nhỏ. Quá trình phân mảnh linh hồn thành hiện thân vật lý phần nào có thể được so sánh với các lý thuyết xung động bản năng, bản ngã, và siêu ngã của Freud. Như một bào thai, linh hồn thể hiện ý thức mật độ một. Tại điểm đó, người ta nhận thức được chính nó như một kết nối phức tạp với môi trường. Về mặt vật lý, một là một khối của những mã DNA với tiềm năng trở thành một sinh mệnh con người có ý thức. Vì Freud không đưa giả thuyết của mình vào quá trình phát triển trước khi sinh, nên không có tương quan. Nếu ông ta tạo ra một nhãn dán miêu tả mối quan hệ của bào thai với môi trường, thì đó sẽ là mô tả mật độ đầu tiên. Khi đứa trẻ ở trong khoảng thời gian từ sơ sinh đến hai tuổi, nó bắt đầu biểu lộ ý thức mật độ hai, bắt đầu nhận thức sự tách biệt giữa bản thân và môi trường, và những ham muốn của nó dần được giải phóng. Vẫn còn một phần của quan điểm vị kỷ tương quan ở cấp độ phát triển này với xung động bản năng. Cái phân biệt định hướng mật độ hai với mật độ ba của đứa trẻ là thiếu một khả năng riêng biệt để phân biệt giữa bản thân và môi trường.
  • 9.
    Từ khoảng haituổi trở đi, ý thức mật độ ba trở thành khung cơ bản được biểu lộ. Đây là sự phát triển của bản ngã và nhận thức của đứa trẻ như là một cá nhân tách biệt. Đây là những năm định hình quan trọng; người ta có thể thấy rằng nếu sự phát triển bị gián đoạn (chẳng hạn bởi sự lạm dụng) thì nhân cách có thể phân mảnh và tạo ra sự rối loạn trong cuộc sống sau này. Nhiều cá nhân duy trì định hướng ý thức mật độ ba này của bản ngã trong cả cuộc đời của họ. Sự phát triển của siêu ngã hay nhận thức cao hơn là một đặc tính mật độ bốn điển hình. Con người có tùy chọn để phát triển khía cạnh này của bản thân họ. Đây là sự tái hợp nhập của sự phân mảnh nhân cách —— cái đã xảy ra thông qua quá trình sinh ra —— cũng như hợp nhập vào tầng thứ tinh thần. Khi nhân loại bắt đầu dịch chuyển mạnh mẽ hơn vào trong ý thức mật độ bốn, người ta ngờ rằng quá trình phân mảnh nhân cách này sẽ trở nên ít rõ ràng và có lẽ trẻ em sẽ bắt đầu biểu hiện các đặc tính mật độ bốn trong quá trình phát triển của chúng và duy trì trong suốt cuộc đời. Trong thời thơ ấu, người ta phải học cách thích ứng và hợp nhập vào một khuôn khổ khả thi. Nếu không thể làm được điều này (chẳng hạn như trường hợp trẻ em bị lạm dụng) rối loạn tâm lý sẽ thường được biểu hiện khi đạt đến tuổi trưởng thành. Các bệnh lý như Rối Loạn Đa Nhân Cách có thể xảy ra do quá trình hợp nhập nhân cách mật độ ba một cách tự nhiên đã không diễn ra trong thời thơ ấu. Một số nền văn minh ngoài Trái Đất đã học cách phát hiện và biến đổi các hạt giống rối loạn bệnh lý trong thời thơ ấu và do đó không có tỷ lệ mắc bệnh lý người lớn. Nếu hiểu rằng các mảnh cá nhân (ở cấp độ linh hồn hoặc nhân cách) dù xa đến đâu cũng không thành vấn đề và con đường trở về nhà luôn thông qua hợp nhập, thì họ sẽ không bao giờ lạc mất tầm nhìn mục tiêu. Trong trường hợp này, chúng ta có thể về nhà một lần nữa.
  • 10.
    2. Sáng TạoGia Đình Thiên Hà “Ta là Ra, kẻ mà thời gian bắt đầu từ đó. Ta là trục của một bánh xe, Một ngôi sao ban ngày lơ lửng trên biển vô tận. Ta không phải vụ mùa; ta là hạt giống. Ta không phải đàn Lyre; Ta là bài hát. Ta sẽ không khuất bóng.” —— Cuốn sách của Sự chết Ai Cập, dịch bởi Ellis Khi đi qua Lăng kính của Lyra, sự phân mảnh đầu tiên đã tạo ra một nhóm sinh mệnh có thể gọi là Đấng Sáng Lập. (1) [(1): Các thuật ngữ khác như Người Quan Sát, Vĩnh Hằng, Gương Phản Chiếu và Người Gieo Hạt đã được các cá nhân khác sử dụng và đều thích hợp] Đấng Sáng Lập thể hiện ý thức nhóm của cái mà cuối cùng đã trở thành nhân loại. Họ có thể phóng chiếu đến một mật độ bốn rất cao, nhưng trạng thái tự nhiên của họ là phi vật lý. Khi chia tách khỏi phần của Toàn Thể mà đi qua Lăng kính của Lyra, họ vẫn giữ lại một ký ức, ví như giấc mộng, về ý tưởng của hợp nhập và mục đích của sự phân mảnh. Chính họ là những người hòa âm cho sự tiến hóa của nhân loại. Họ đóng vai trò của nguyên mẫu cha mẹ, trong sự cân bằng phân cực nam và nữ. Các Đấng Sáng Lập trở nên nhận thức về thiết kế được chọn khi họ phân mảnh khỏi Toàn Thể. Từ bản thiết kế này họ biết rằng “trẻ con” mang các mã hoá của “cha mẹ”. Vì họ đóng vai trò của cha mẹ, nên trách nhiệm của họ là ảnh hưởng đến sự phát triển của ý thức mới được tạo ra. Khi làm điều này, họ trở thành thiết kế, bắt đầu hiểu và sống nó, biết rằng điều này sẽ mã hóa những phân mảnh tương lai. Các Đấng Sáng Lập bắt đầu hiểu các khuôn mẫu năng lượng tự nhiên của thực tế phân cực được tạo ra. Họ biết rõ rằng ý thức nhóm mới được phân mảnh này liên giao diện với các thực tại cụ thể (nghĩa là mật độ) trong ba điểm chính: [1] Một điểm thuần tích cực; [2] Một điểm thuần tiêu cực; [3] Điểm hợp nhập của cả hai. Tất cả tương tác xảy ra trong các đường nối liền mỗi điểm với nhau, và rất ít khía cạnh của ý thức tồn tại bên trong các điểm thuần tính. Nhận thức này truyền cảm hứng để họ hiểu được một mô thức thực tại phân cực, đó là một điều hứng khởi và mới mẻ đối với sự hiểu biết của họ. Mô thức, như nó xuất hiện đối với họ, được hiển thị dưới đây trong một sơ đồ 2D. Cả hai cực tiêu cực lẫn tích cực đều hướng tới hợp nhập
  • 11.
    Khi ngẫm nghĩvề mô thức, họ bắt đầu hiểu được cơ chế làm thế nào ý thức đã phân mảnh sẽ tái hợp trở về qua Lăng kính của Lyra. Mô hình tuyến tính ở trên có thể được thay đổi để mang lại mối quan hệ bộ ba của bản mẫu. Đây là minh hoạ: Bộ ba này đại diện cho những khả năng của quá trình hợp nhập. Các nền văn minh tự nhiên di chuyển ngẫu nhiên (theo luật của sự hỗn độn) trong bản mẫu bộ ba cho đến khi đạt đến sự cân bằng năng lượng. Nếu một nền văn minh hay ý thức lựa chọn hợp nhập (sẵn sàng phát triển từ cả hai cực), chúng sẽ tự nhiên di chuyển tới điểm hợp nhập, thúc đẩy bởi đà của cả hai cực. Điều này có thể được xem như một hình thức cho phép của sự hợp nhập. Mặt khác, khi nền văn minh hoặc cá nhân từ chối hợp nhập, bản mẫu sẽ mở rộng để phù hợp với sự phủ nhận đối cực của chúng. Bản mẫu mở rộng sẽ không được chỉ ra ở đây vào thời điểm hiện tại. Khi họ tin rằng họ đã sẵn sàng, các Đấng Sáng Lập bắt đầu sự phân mảnh khác. Cũng giống như một phần của Toàn Thể đã trở nên tò mò và sáng tạo cõi giới này từ những suy nghĩ của nó, Đấng Sáng Lập mô phỏng “cha mẹ” họ và dùng năng lượng suy nghĩ tạo ra sự phân mảnh của chính họ. Sự phân mảnh xảy ra xa và rộng; ý thức cá nhân đã nảy sinh từ nhận thức nhóm của các Đấng Sáng Lập và bắt đầu khám phá vũ trụ. Bởi sự phân mảnh này, mọi sinh mệnh tồn tại trong gia đình thiên hà được trình bày ở đây đều là một phần của Đấng Sáng Lập. Có vô số các mảnh vỡ và các hành trình khám phá. Một số mảnh vỡ này đã phát triển thành những nền văn minh đóng góp một phần trong sự phát triển của Trái Đất. Một số có điểm tham chiếu trong thực tại được biết đến của Trái Đất sẽ được khám phá trong các chương tới. Khi các Đấng Sáng Lập phân mảnh, một số người cho phép năng lượng của họ tập hợp hóa đủ để nhập vào một thực tại vật lý. Các Đấng Sáng Lập đã chọn những hành tinh có thể hỗ trợ sự sống hình người. Sau đó, họ nhẹ nhàng hướng dẫn những phân mảnh này thành một sự tồn tại vật lý mật độ ba hoặc bốn. Sau khi thời gian đã trôi qua, những phân mảnh trở nên quen với sự tồn tại vật lý, và sự trợ giúp từ Đấng Sáng Lập (những người vẫn tồn tại với số lượng nhỏ) trở nên ít cần thiết hơn. Khu vực được định cư đầu tiên sau sự phân mảnh của các Đấng Sáng Lập nằm trong vùng lân cận chung quanh chòm sao Lyra. Hầu hết gia đình thiên hà có liên kết di truyền với Trái Đất đều có gốc rễ trong hệ sao Lyra. Chính ở đó đã xảy ra nỗ lực hợp nhập đầu tiên. Các Đấng Sáng Lập nghĩ rằng nó sẽ dễ dàng và có thể dự đoán được; thế nhưng thay vì như vậy, dạng sống hình người trải dài theo số mũ cho đến khi một tấm thảm cực kỳ phức tạp được dệt ra. Các sợi chỉ của tấm thảm bắt đầu rối tung lên cho đến khi căn nguyên của sợi chỉ rốt cuộc chìm mất trong mê cung đầy màu sắc từ thiết kế của tấm thảm.
  • 12.
    Sau đây làcác nhân vật chính được hiển thị trong tấm thảm này từ quan điểm của Trái Đất:  LYRA: Khu vực tổng thể cho “sự chào đời” của chủng tộc hình người. Tất cả các chủng tộc hình người trong gia đình thiên hà chúng ta đều có gốc rễ di truyền kết nối với Lyra. Đây là biểu tượng chiếc đàn lyre mà bài hát của nhân loại được chơi trên đó.  VEGA: Một ngôi sao trong chòm sao Lyra. Các hậu duệ của Lyra —— Vega đã sinh ra một chủng tộc của những sinh mệnh biểu hiện đối cực với Lyra trong cả niềm tin lẫn hành động của họ. Giữa các chủng tộc Lyra và Vega thường xuyên có xung đột.  HÀNH TINH APEX: Một hành tinh trong hệ sao Lyra, là nỗ lực đầu tiên để tạo ra một xã hội hợp nhập.  SIRIUS: Một nhóm sao bộ ba, được biết đến trong thần thoại Trái Đất như Dog Star (Sao Chó). Sirius là một trong những khu vực đầu tiên được sinh mệnh từ nhóm Lyra tới định cư. Sirius thể hiện năng lượng của khuôn mẫu bộ ba và kéo dài tiến trình hợp nhập. Có một lượng lớn các loại ý thức khác nhau nhập thế vào hệ sao này.  ORION: Đây là “chiến trường” chính dành cho thử thách hợp nhập phân cực, được gieo giống từ Sirius cũng như Lyra và Vega. Có một kết nối trực tiếp với Trái Đất sẽ được khám phá trong các chương sau.  PLEIADES: Tách ra bởi nhánh Lyra, nhóm này là kết nối di truyền chính của Trái Đất từ các nguồn ngoài Trái Đất.  ARCTURUS: Một nguyên mẫu hoặc lý tưởng bản thân tương lai của Trái Đất, Arcturus hỗ trợ chữa trị ý thức cá nhân và hành tinh. Rung động của nó chủ yếu là mật độ sáu, được gán cho vương quốc thiên thần.  ZETA RETICULI: Nền văn minh này liên quan mật thiết với Trái Đất. Reticuli là nhóm cơ bản chủ mưu các cuộc bắt cóc (hoặc gọi chính xác hơn là “tạm giam” vì nhóm này luôn trả lại người bị bắt cóc), các chương sau sẽ nói nhiều hơn về nhóm này. Mặc dù một số nền văn minh này chồng chập lên nhau và có thể không xuất hiện một cách tuyến tính, dưới đây là một bản dịch tuyến tính so sánh sự tiến triển của các nền văn hóa khác nhau.
  • 13.
    Một khi ngườita hồi phục từ cú sốc ban đầu về ý tưởng rằng người ngoài hành tinh có liên quan gì đấy đến di sản của Trái Đất, thì đó thực sự có vẻ là một lời giải thích hợp lý. Tại sao chủng tộc nhân loại tự tin một cách vị kỷ rằng nó một mình chịu trách nhiệm về quá khứ di truyền của Trái Đất? Trên Trái Đất, các chủng tộc đã “phát hiện” các chủng tộc mới và bắt đầu hợp nhập với họ. Có lẽ trước khi điều đó xảy ra, chủng tộc này chưa từng biết chủng tộc kia vẫn đang tồn tại. Mô hình này có thể đúng với vũ trụ cũng như Trái Đất. Cần phải tìm thấy bao nhiêu bản vẽ tàu tên lửa cổ và phi công của chúng trước khi con người có thể vượt qua những e sợ về việc khám phá quá khứ của Trái Đất? Câu hỏi rõ ràng nhất là: Nếu người ngoài hành tinh đang ở ngoài kia, tại sao họ không đưa bản thân ra ngoài ánh sáng? Một câu trả lời có thể được tìm thấy trong cái cách tiếp cận mà con người dùng để nghiên cứu nhân chủng học trên Trái Đất. Các nhà khoa học không diễu hành thẳng vào văn hóa “bộ lạc nguyên thủy” và vẫy máy ảnh cùng thiết bị của họ. Những kiểu đồng hóa văn hóa đó đôi khi mất nhiều thập kỷ để thực hiện. Trong mắt của chính mình, nhân loại có vẻ đã đủ “văn minh”. Nhưng đối với một chủng tộc đã đạt tới du hành vũ trụ thậm chí cả sự thống nhất toàn cầu, nhân loại dường như có vẻ thật sự nguyên thủy. Có lẽ họ đang chờ đợi, trốn trong bụi rậm, chỉ cho phép một vài con người nhìn thấy mình cho đến khi tín hiệu họ không phải một mối đe dọa ra đến toàn xã hội. Điều gì xảy ra nếu tín hiệu họ đang ở đó không bao giờ ra đến xã hội? Nếu thế giới loài người tiếp tục lờ đi bằng chứng và hy vọng nó sẽ biến mất vĩnh viễn? Đối với nhiều người ngoài hành tinh, đây có vẻ đang là trường hợp của họ. Tất cả mọi phương pháp không đe dọa dường như đã không thành công đến tận ngày nay. Kế hoạch trò chơi cơ bản xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây dường như thâm thúy hơn nhiều trong tiềm năng đánh thức nhân loại. Một số vị khách của Trái Đất đang sử dụng sự sợ hãi. Đôi khi xã hội công nhận sự tiêu cực nhanh hơn nhiều so với sự tích cực, khuôn khổ của chính con người giờ đây có lẽ bắt đầu được sử dụng để đồng hóa Trái Đất với thực tại đã bị từ chối trước đây của nó. Đánh thức bằng sợ hãi —— khá thô bạo ở đấy. Có lẽ điều
  • 14.
    đó giải thíchsự quan sát càng ngày càng tăng của các vụ bắt cóc ngoài Trái Đất như một phương pháp đánh thức nhân loại đến một thực tại lớn lao hơn. Ở mức độ phát triển của loài người, một mô hình cho sự tiến hóa tự nhiên của hành tinh chưa được hình thành. Có vẻ như rõ ràng một nền văn minh sẽ không thể đạt đến vũ trụ và bước nhảy không gian/thời gian nếu nó chưa thể giải quyết xung đột của mình ở cấp hành tinh. Việc mở rộng ý thức cần thiết cho một bước nhảy vọt như vậy có thể phụ thuộc vào toàn thể thống nhất. Nếu toàn bộ không được hợp nhập và cân bằng, các nỗ lực có thể không có kết quả. Nhân loại có thể đang gặp phải giới hạn này ngay bây giờ, với rất nhiều nỗ lực phóng tàu vũ trụ không thành công cũng như hạn chế ngân sách của các chương trình không gian. Trái Đất chỉ là chưa sẵn sàng. Nhân loại muốn chạm đến các ngôi sao, nhưng lại thường không thể chạm đến tay người hàng xóm nhà mình. Kết nối ngoài Trái Đất là quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn là phát triển quan điềm toàn cầu. Sự mở rộng sẽ xuất phát từ hành động —— đòi hỏi trách nhiệm đối với Trái Đất của chính bản thân nhân loại. Những người ngoài hành tinh sẽ không can thiệp để dọn dẹp mớ hỗn độn của loài người. Trái Đất đang bước vào giai đoạn trưởng thành và đã bị đá ra khỏi tổ. Nó sẽ phục vụ nhân loại để giải phóng tình trạng nạn nhân của nó, tuyên bố quyền kế thừa thần thánh của nó và tạo ra thiên đường trên Trái Đất. Người ngoài hành tinh chỉ có thể nhắc nhở nhân loại về tiềm năng không giới hạn của bản thân mình. Sự giao tiếp của họ (và nhận thức của chúng ta về di sản của Trái Đất) có thể được so sánh với việc treo một củ cà rốt. (2). Nếu chủng tộc nhân loại muốn củ cà rốt đó, có lẽ họ phải làm những điều cần phải làm để có được nó —— thống nhất và hợp nhập. [(2): Nếu bạn treo một củ cà rốt trước ai đó hoặc cho họ một củ cà rốt, bạn cố gắng thuyết phục họ làm cái gì đó bằng cách tặng họ một phần thưởng.]
  • 15.
    3. Tử CungCủa Lyra “Khi ta đã trở thành,” ông nói, “Sự trở thành đã trở thành. Ta trở thành sự trở thành. Ta là một người nhìn thấy bản thân, chia tách. Ta là hai, bốn và tám. Ta là vũ trụ trong sự đa dạng. Ta là sự biến hóa của ta. Đây là sự hợp lại của ta. Ở đây bản thân ta trở thành một.” —— Cuốn sách của Sự chết Ai Cập, dịch bởi Ellis Từ quan điểm của một thực tại mà sinh mệnh vật lý có thể nhận thức được, hình thể của những Đấng Sáng Lập có hai tay, hai chân, đầu và thân. Họ có đôi mắt lớn tò mò như một biểu tượng thể hiện khát khao của họ đối với kiến thức và của ký ức cổ xưa mà họ mang bên trong mình. Con người vật lý sẽ thấy họ như côn trùng, rất cao và có chân dài thanh nhã. Người mật độ ba có thể nhận thức được họ nếu họ nhập vào một phiên bản gia tốc của mật độ bốn. Tương tác với họ thường có thể xảy ra ở trạng thái biến đổi. Từ trạng thái này họ xuất hiện ở trạng thái ether và như-giấc-mơ.(1) [(1) Trong biểu tượng giấc mơ, phiên bản của Đấng Sáng Lập có thể là những nhân vật côn trùng to lớn như bọ ngựa, bọ que và thậm chí là châu chấu.] Sau khi phân mảnh ý thức của họ xa hơn, các Đấng Sáng Lập bắt đầu đặc hóa năng lượng thành vật chất. Điều này tạo ra một chủng tộc vật lý hình mẫu mà đa số ý thức hình người sẽ nhập thể vào. Trên các tầng thứ siêu nguyên tử, các mã tổ chức tồn tại tạo ra một cơ thể hình người phù hợp trong môi trường dựa trên carbon như là phương tiện nhằm thể hiện vật lý của ý thức. Đấng Sáng Lập đã sử dụng mã diễn ra tự nhiên này để giúp họ tạo ra các phiên bản của chính họ ở cả trạng thái vật lý và phi vật lý. Hình thể này phản ánh tượng trưng các khía cạnh của vũ trụ phân cực mà họ đã tiến nhập. Một lần nữa, nó là đại diện của ý tưởng rằng “cha mẹ” tạo ra “con cái” theo hình ảnh của chính mình. (2) [(2) Ý tưởng này được phản ánh trong tác phẩm của Rupert Sheldrake với cộng hưởng hình thái, cho thấy có những trường đầy năng lượng tổ chức tất cả các hình thể. Những trường này có thể truyền các đặc điểm sang các khía cạnh “không liên quan” của cùng một loài mà không nhất thiết phải gần nhau về mặt vật lý.] Đấng Sáng Lập là những người ông người bà tràn đầy năng lượng của chủng tộc nhân loại. Đó là mong muốn của họ để thể hiện các khía cạnh khác chiều của mình. Điều này sẽ tạo ra những hình thể gốc của sự sống, cái sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sáng tạo sự đa dạng bên trong thực tại mới vừa được sinh ra. Họ là vừa là Nguồn vừa là hình mẫu. Khi họ xuất hiện dưới hình thể ánh sáng này thông qua việc nén năng lượng, họ nhận ra rằng tất cả sự sống một lần nữa sẽ tiến hóa trở lại thành Đấng Sáng Lập và sau đó vào trong Nguồn. Ý thức sẽ phân tán và phân mảnh, đôi khi thậm chí không còn nhận ra; nhưng nó sẽ tiến hóa trở lại Nguồn một cách vật lý, cũng như một cách tinh thần, tình cảm và tâm linh.
  • 16.
    Do đó, cácĐấng Sáng Lập đã bắt đầu bước tiếp theo của quá trình phân mảnh. Hành động đầu tiên của họ là bắt đầu thực hiện các kế hoạch cần thiết để lan truyền sự sống trên toàn hệ sao Lyra. Họ biết rằng theo thời gian, các dạng sống sẽ quy vào các nền văn minh hành tinh một cách tự nhiên bởi phương pháp luật hấp dẫn. Các hành tinh trong cụm sao Lyra đã được chọn để chứa các chủng tộc mới này. Khi các hành tinh này bắt đầu phát triển sự sống linh trưởng tự nhiên, Đấng Sáng Lập đã gieo những loài linh trưởng đang phát triển bằng năng lượng plasmic (3) lên các tầng thứ siêu nguyên tử trong cấu trúc DNA của chúng. Điều này xảy ra qua nhiều thế hệ cho đến khi các động vật linh trưởng/hình người đã sở hữu di truyền cần thiết để duy trì rung động cao hơn của ý thức mật độ ba. Bằng những biến đổi nhỏ, quá trình nhập thể đã sớm bắt đầu trên một số hành tinh. [(3) Năng lượng cô đặc cao biểu hiện như ánh sáng.] Các Đấng Sáng Lập đã phân mảnh bản thân mình hơn nữa để giải phóng ý thức cần thiết nhập thể trên những hành tinh này. Khi sự phân mảnh này xảy ra, mỗi ý thức đã bị thu hút bởi một hành tinh cụ thể, nơi có rung động tương thích với mỗi mảnh. Như đã trình bày ở chương trước, khuôn mẫu cơ bản của ý thức đã phân mảnh qua Lăng kính của Lyra có thể được coi là một bộ ba. Nó đại diện cho một cực, một đối cực của nó, và điểm hợp nhập. Các Đấng Sáng Lập đã quan sát dòng năng lượng tự nhiên đang nổi lên ở các chủng loài cơ sở đang phát triển. Các nhóm hành tinh khác nhau này ban đầu là đồng nhất, chưa thể hiện rõ bất kỳ khía cạnh đơn nào của khuôn mẫu. Khi thời gian tiếp diễn và sự tương tác giữa cá nhân và nhóm tăng lên, nhiều nhóm phân cực thành các định hướng tiêu cực hoặc tích cực. (4) [(4) Những định hướng tiêu cực/tích cực này không phải là những phán xét. Nó đại diện cho ý tưởng về cực (âm/dương), bình đẳng nhưng có năng lượng đối lập] Một số nhóm bắt đầu hiển thị mức độ hợp nhập khác nhau —— Kịch bản này được các Đấng Sáng Lập mong chờ. Tuy nhiên, quá trình bắt đầu có một sự sống của chính nó. Khi quá trình tăng trưởng theo cấp số nhân, Đấng Sáng Lập đã bắt đầu nhìn thấy những phản chiếu vô hạn của Toàn Thể, và đến một mức độ nào đó, nó trở nên choáng ngợp đối với họ. Khi các nhóm này phát triển và đạt được du hành vũ trụ, họ tiếp xúc với sự phát triển của các nhóm hành tinh khác trong khu vực. Các nền văn hóa bắt đầu pha trộn và tăng trưởng. Những triết lý mới đã ra đời. Trong một khoảng thời gian, chủng tộc Lyra nhanh chóng phát triển công nghệ tiên tiến, mở rộng triết học và phát triển xã hội mạnh mẽ nhờ sự tương tác giữa các nền văn hóa hành tinh. Sau đó động lực của khuôn mẫu bắt đầu được hiển thị. Các cực bắt đầu củng cố, tạo ra sự phân cực tiếp tục theo cấp số nhân của chính chúng. Các cực tiêu cực bắt đầu phân chia và biểu hiện cực tiêu cực/cực tích cực riêng của chúng. Cực tích cực cũng giống như vậy. Tính nữ thể hiện tính nam của nó, và tính nam thể hiện tính nữ của nó. Các cực phát triển như virus bên trong nền văn minh nở rộ trước đây. Thiết lập đơn giản của những tấm gương mà các Đấng Sáng Lập từng tạo ra đã vỡ thành vô hạn mảnh vỡ. Họ mất liên lạc trực tiếp với nhiều cửa sổ di truyền (sinh mệnh vật lý) mà họ đã tạo ra. Những sinh mệnh vật lý bây giờ đã có được sự sống của riêng mình, dù các chương trình ban đầu tiếp tục là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển của họ.
  • 17.
    Nhóm đầu tiênphát triển như một chủng loài đặc biệt phi-Lyran chính là nền văn minh Vega. (5) [(5) Vega là ngôi sao Alpha (sáng nhất) trong chòm sao Lyra.] Họ đã hình thành một triết lý và định hướng tâm linh rất đặc biệt rồi bắt đầu cô lập bản thân khỏi các chủng tộc Lyra. Họ ban đầu là một nền văn minh định hướng-tiêu cực, được coi là cực tiêu cực (cực âm) của Lyra bởi họ đã chấp nhận một triết lý phục vụ bản thân (thu lại). Bản thân Lyra có thể được coi là cực tích cực (cực dương) vì tất cả các nền văn minh khác đều được “sinh ra” từ nó (mở rộng). Khi thời gian trôi qua, sự cọ xát đã tăng lên giữa người dân chủng tộc Lyra và các nền văn minh Vega. Cả hai nhóm đều không tiến triển trên con đường hợp nhập. Cả hai đều mang trong mình xung đột đối cực. Cả hai nhóm đều đúng hoặc sai; họ đều phát triển những ý tưởng giống nhau —— chỉ là từ những góc độ khác nhau. Họ chẳng qua không hiểu được cái cách cân bằng năng lượng của mình. Sự phân cực tiếp tục phát triển theo cấp số nhân khi họ vật lộn với mối quan hệ giữa nền văn minh của mình và đối phương. Một nền văn minh thứ ba bắt đầu nổi lên từ các chủng tộc Lyra. Bởi vì hành tinh này là đỉnh (apex) của một tam giác tượng trưng cho sự hợp nhập (biểu hiện cả cực tiêu cực lẫn cực tích cực), nó có thể được gọi là hành tinh Apex trong giai đoạn phát triển này. Sau đó, nó trở thành một mảnh phức tạp hơn nhiều của trò ghép hình thiên hà này. Hành tinh Apex bắt đầu nền văn minh của nó bằng cách hấp thụ các đặc tính từ cả hai cực Lyra và Vega. Về di truyền, họ là một hỗn hợp. Trong chủng tộc của họ, sự đa dạng thậm chí còn lan rộng hơn cả trên Trái Đất hiện tại của chúng ta. Có những người da đen và da trắng, những người hòa bình và những kẻ chinh phục, nghệ sĩ, nhạc sĩ và binh sĩ. Ngay cả khi so sánh với chủng tộc Trái Đất của chúng ta thì họ cũng không chung sống hòa bình với nhau một chút nào. Sự chia rẽ bắt đầu xảy ra trong văn hóa cho đến khi toàn bộ hành tinh bị nhấn chìm trong sự xung đột của phân cực. Không có giải pháp trong tầm mắt, tương lai của hành tinh Apex này dường như vô vọng —— họ cuối cùng đã cho phép sự ô nhiễm và vũ khí hầu như hủy diệt thế giới của mình. Khi các cực đối lập bị cưỡng ép chứ không được hợp nhập, chúng tạo ra sự dung hợp. Sự dung hợp này thể hiện trên thế giới Apex như một cuộc chiến hạt nhân. Một số nhỏ dân cư tự bảo vệ mình dưới lòng đất, nhưng phần còn lại đã chết vì bản thân hợp nhập bất khả thi. Những gì xảy ra trên thang chia hành tinh là khá thú vị. Từ một điểm quan sát trong vũ trụ, hành tinh này dường như đã tự hủy diệt chính nó; nhưng từ quan điểm của những người sống sót dưới lòng đất, họ đã sống sót rất nhiều. Kết quả của những vụ nổ hạt nhân chính là hành tinh của họ rốt cuộc bị đẩy vào một chiều kích biến đổi. Sau thảm họa, phóng xạ trên thế giới của họ vẫn còn khá cao, buộc họ phải ở lại dưới lòng đất. Khi họ hồi phục sau cú sốc cảm xúc của mình, đó đã trở thành thời gian để nhặt về những mảnh vỡ cuộc sống của họ. Sự phát triển và biến đổi không tưởng của họ sẽ được khám phá trong các chương tiếp theo, vì họ đóng một vai trò quan trọng không chỉ trong sự biến đổi của hành tinh Trái Đất, mà cả trong gia đình thiên hà và những Đấng Sáng Lập. Trong khi đó, chủng tộc Lyra và nền văn minh Vega đang tiếp tục phát triển. Các nhóm của Lyra muốn tiêu trừ bản thân ra khỏi xung đột với Vega và tìm kiếm nhiều khu vực khác để định cư. Các nhóm Vega cũng thoát khỏi những xung đột của hành tinh họ và thành lập một số nền văn minh bao gồm Altair và Centauri (sẽ không được đề cập trong tài liệu này). Những đường rõ ràng của truy nguyên lịch sử di truyền và triết lý đã trôi qua. Nhân loại đang lan rộng chóng vánh,
  • 18.
    mang theo hạtgiống của trải nghiệm và sự phân cực. Mục đích luôn được chôn sâu trong linh hồn của mỗi sinh mệnh và khẽ thúc cùi chỏ họ tiến tới. Mục đích là —— và vẫn là —— hợp nhập. Rõ ràng khởi đầu của lối vào tiến vào phân cực bởi Đấng Sáng Lập là không dễ dàng. Họ đã tạo ra một phương trình mà họ mong đợi sẽ kết thúc theo tính toán của mình. Nhưng cũng như tân khoa học hỗn độn, sự chuyển động của năng lượng giữa ba nền văn minh (Lyra, Vega, và Apex) trở nên không thể đoán trước được đối với Đấng Sáng Lập. Cả gia đình thiên hà chỉ có thể chờ đợi và quan sát, biết rằng trong sự hỗn độn đó có một trật tự —— trật tự thần thánh. Những bài học đầu tiên này đã in sâu vào ký ức ether của loài người như một lời nhắc nhở về tất cả những gì nó có và có thể trở thành. Nhân loại không bao giờ đơn độc trong cuộc đấu tranh này. Những Đấng Sáng Lập vẫn đợi chờ trong im lặng. Họ không chỉ tồn tại “ngoài kia” mà còn bên trong linh hồn nhân loại như nguyên mẫu cơ bản nhất của nó. Chu kỳ của sự sống và tồn tại chỉ là một vòng tròn; đầu và cuối là một. Khi nhân loại cảm thấy tiếng gọi của tiến hóa, đó là Đấng Sáng Lập thì thầm xuyên qua khoảng không thời gian và chiều kích. Họ là một phần của nhân loại đang nói với chính mình. Có lẽ đã đến lúc lắng nghe.
  • 19.
    4. Nhân TốSirius “Rực sáng như tinh tú xuất hiện ở thời điểm Vụ mùa, tỏa sáng giữa quần sao chủ trong bóng tối màn đêm, ngôi sao được người đời gọi là Sirius. Sáng nhất trong tất cả chính là nó, nhưng cho một điềm dữ vốn dĩ của mình, mà mang tới thật nhiều lên những kẻ không may…” —— Trường ca Iliad, “Anh ta đến điểm tô trong vạn sắc dồi dào…” dịch bởi -M.Martin, 1907. Cõi giới của Sirius là một trong những nơi đầu tiên mà ý thức tò mò đi qua Lăng kính của Lyra và phân mảnh từ Đấng Sáng Lập khám phá. Sirius đại diện cho một biểu tượng rất quan trọng đối với toàn bộ gia đình thiên hà —— bộ ba. Dù chưa được hầu hết các nhà thiên văn chứng minh một cách khoa học, nhưng Sirius là một nhóm sao ba. (1) [(1) Một số nhà thiên văn học, như Van Den Bos và Finsen tại Đài thiên văn Union vào những năm 1920, và gần đây hơn là D. Lauterborn, giả thuyết rằng Sirius thực sự là một nhóm sao ba, nhưng không có dữ liệu khả thi nào được phát hiện để xác nhận tuyên bố đó.] Một cách biểu tượng, đây tượng trưng cho khuôn mẫu —— hai cực ở đáy của tam giác và sự kết hợp của hai cực tại đỉnh. Nó phản ánh nền tảng cơ bản của mong muốn một lần nữa thống nhất thông qua sự hợp nhập phân cực của gia đình thiên hà. Sau sự Pha Dẫn, nhiều ý thức lựa chọn duy trì phi vật lý đã thu hút bản thân vào cõi giới của Sirius. Ở đây, họ bắt đầu đặt nền tảng vật lý cũng như phi vật lý cho vai trò quan trọng mà Sirius đã đóng trong vở kịch đang phô bày. Họ trở thành một số kỹ sư ether và di truyền sớm nhất đi theo bước chân của Đấng Sáng Lập. Dự kiến được những gì sẽ xảy ra, những người Sirius phi vật lý này bắt đầu hình thành nên một thế giới mật độ ba (thông qua biến đổi năng lượng thành vật chất) để cuối cùng có thể hỗ trợ sự sống vật lý. Họ cũng tạo ra cõi giới tập trung rung động nhiều hơn cho những ý thức lựa chọn tồn tại trong trạng thái phi vật lý ở đó. Như vậy, bởi khả năng tạo ra các cõi giới phù hợp với mọi biểu hiện ý thức, họ được biết đến như là Những Trưởng Lão Của Sirius. Trong suốt những xung đột giữa Lyra và Vega, các đại diện từ cả hai phân cực đã cư ngụ trong cõi giới Sirius với mong muốn hợp nhập ở đó. Trưởng Lão của Sirius đã chuẩn bị cho một dòng chảy của cả năng lượng tích cực lẫn tiêu cực. Họ tương đối nhận thức được cái kịch bản cần phải xảy ra. Những người Vega lựa chọn sống trong cõi giới Sirius đã quyết định nhập thể vật lý trong một thực tại mật độ ba. Về phương diện văn hóa, họ phân cực cao vào nam tính, và triết lý của họ là một sự cai trị, cái đang trở nên khó khăn hơn trong việc duy trì mật độ bốn. Họ cảm thấy họ phải làm chủ hoàn cảnh và kiểm soát sự phát triển của họ. Theo họ, điều này sẽ cho phép họ trở thành một bậc thầy/master của cõi giới họ, và từ điểm đó sự tiến hóa của họ sẽ tiến triển với tốc độ cao. Từ mong muốn này, người Vega bắt đầu lên kế hoạch cho việc định cư trên một hành tinh quay quanh một trong những mặt trời của Sirius. Nếu họ duy trì định hướng triết lý của mình về sự cai trị, sự phân cực tự nhiên vốn có trong triết lý này chỉ có thể được duy trì trong một sự tồn tại mật độ ba. Họ tập trung chặt chẽ vào vật lý, tạo ra một bức màn ảo giác và quên lãng thậm chí còn dày đặc hơn cả cái trên Trái Đất hiện nay. Họ đã rất chắc chắn về khả năng của mình (và vì vậy không ý thức được cạm bẫy của sự chia tách mật độ ba), họ sốt sắn bắt đầu thúc đẩy tiến trình
  • 20.
    tiến hóa củacác loài giống-như-linh-trưởng đang phát triển trên thế giới mà họ đã chọn. Ngay khi DNA của các loài bản địa phù hợp với mong muốn của mình, họ bắt đầu nhập thể. Hầu như ngay lập tức, những người Sirius mới này đã mất đi liên hệ ký ức với Vega. Cái màn quá dày đặc. Mong muốn tạo ra sự lãng quên của họ quá mức mạnh mẽ đến nỗi họ không nhớ gì về nguồn gốc của mình. Họ không mơ. Họ không thiền. Họ không theo đuổi hoạt động sáng tạo, họ chỉ duy trì cơ cấu cai trị của mình. Khi sự sốt sắn của họ chuyển thành thực tại vật lý, nó đã tạo ra một nền văn hóa được thúc đẩy bởi mong muốn cai trị —— cai trị lẫn nhau và cai trị vũ trụ xung quanh họ. Khi hành tinh Sirius tiêu cực này phát triển, một nhóm từ Lyra đã quyết định mạo hiểm tiến vào hệ sao Sirius. Những sinh mệnh này lựa chọn ở trong các cõi giới phi vật lý. Định hướng của họ được phân cực theo lý tưởng phục vụ cho người khác. Họ đặc biệt quan tâm đến việc chữa lành vật lý cho những ai đang đau đớn. Sự kết hợp của những người Sirius tiêu cực (những người đã từ chối cái tôi tâm linh của mình) và những người Sirius phi vật lý tích cực có nguồn gốc từ Lyra (những người cảm thấy chữa lành cho tất cả những ai đang đau đớn chính là nhiệm vụ của mình) đã tạo ra một xung động căng thẳng vang vọng xuyên suốt hệ sao Sirius và hơn thế nữa. Trường thiên đã bắt đầu. Những người tích cực bắt đầu dội bom những người tiêu cực bằng tình yêu và năng lượng chữa lành ở các tầng thứ tiềm thức và vô thức, điều này khiến những người tiêu cực bị đau tâm lý bởi tiêu điểm của họ đã được thiết lập chặt chẽ. Những người tiêu cực càng kháng cự bao nhiêu, những người tích cực càng gửi đến năng lượng chữa lành bấy nhiêu. Sự cọ xát xảy ra từ tương tác này rất khó chịu đối với tất cả mọi ý thức trong hệ sao Sirius. Các Trưởng Lão của Sirius cuối cùng đã can thiệp. Xung đột được quyết định sẽ một lần nữa chuyển sang địa phương khác. Sự hợp nhập trong thời gian này sẽ được nỗ lực từ một quan điểm ít phân cực hơn. Trưởng Lão tìm kiếm một ngôi nhà cho xung đột này. Họ không mất nhiều thời gian để khám phá các tính chất điện từ của một khu vực được gọi là Orion. Vậy là huyền thoại đã bắt đầu như thế, Sirius – Sao Chó, dẫn đường cho Thợ Săn – Orion. Khi các xung đột ban đầu đã được loại khỏi hệ sao Sirius, nền văn minh vật lý vẫn còn tiếp tục duy trì. Họ tự cắt mình ra khỏi tinh thần ngay cả thời điểm chết —— sự đầu thai lập tức vào hệ thống đã xảy ra trở lại, cách xa họ khỏi bất kỳ hình thức tồn tại phi vật lý nào. Do đó, hầu hết xã hội tiêu cực không ý thức được về xung đột, họ cũng không thể nhận thức được nó đã chuyển vào hệ sao Orion. Xã hội của họ tiếp tục trong màn sương mịt mờ lãng quên của nó. Những người mong muốn hợp nhập tiêu cực/tích cực từ Lyra/Vega bây giờ đã đi đến Orion thay vì Sirius. Đôi khi, rất hiếm hoi, một linh hồn sẽ thức tỉnh từ thế giới Sirius tiêu cực và tiến tới đấu trường Orion. Từ quan điểm tích cực (phi vật lý) của Sirius, giờ đây họ có thể trực tiếp ảnh hưởng đến những người tiêu cực đau yếu. Nhiều người vui vẻ mạo hiểm tới Orion để thực hiện nhiệm vụ này. Những người khác lựa chọn ở trong cõi giới Sirius, tập trung các khả năng trị liệu của họ hướng tới các mục tiêu khác. Những người tích cực khác từ Lyra tham gia vào tranh đấu Orion. Lịch sử thiên hà đã được chào đời. Bởi mong muốn tạo điều kiện chữa trị vật lý (họ chọn phụng sự cho vật lý thay vì nhập thế) của người Sirius tích cực, họ đã liên minh với năng lượng của Arcturus. Arcturus được định hướng theo ý tưởng chữa trị tình cảm. Họ cùng nhau hình thành Ma Trận Sirius/Arcturus. Ma trận này tìm thấy đường vào gần như trên mọi hành tinh vật lý trong gia đình thiên hà như một năng lượng toàn diện đại diện cho việc chữa lành của thân thể, tâm trí, và tinh thần.
  • 21.
    Hành tinh TráiĐất đã đến biết Ma Trận Sirius/Arcturus dưới nhiều hình thức. Đó là một năng lượng nguyên mẫu được sử dụng bởi một cá nhân hay một xã hội cho nhiều mục đích. Nó có tính dẻo và có thể được định hình thành bất kỳ định nghĩa thích hợp nào. Bất kể ở hình dạng nào, nó cũng phụng sự tận tình cho vật lý. Ma Trận Sirius/Arcturus nhắc nhở các phân mảnh về kết nối của họ với Toàn Thể và các khả năng tự nhiên của họ để tự chữa lành. Dù chỉ là một tỷ lệ phần trăm nho nhỏ, nhưng một nhóm Sirius tích cực cũng quyết định nhập thể vào vật lý. Tuy thế họ đã từ chối hình thể hình người để lấy một hình thể đại diện cho bản chất của họ nhiều hơn —— hình thể này là động vật biển có vú. Cá heo và cá voi đại diện cho phiên bản của năng lượng Sirius trên một thế giới vật lý phân cực. Trong biểu tượng nguyên mẫu, nước đại diện cho tiềm thức. Động vật biển có vú âm thầm ở đó trong các đại dương của Trái Đất và trong biển tiềm thức của con người. Họ vẫn như một lời nhắc nhở về tiềm năng hợp nhập của nhân loại. Trong tất cả các năng lượng mà là một phần của gia đình thiên hà trực hệ, năng lượng Sirius được sử dụng rộng rãi nhất trên Trái Đất này. Cái tên Sirius có nghĩa là “Người Tỏa Sáng” hay “Kẻ Bùng Cháy”, cũng được gọi là “Sao Chó” và “Sao Nile”. Có lẽ vì nó là ngôi sao sáng nhất và gần thứ hai có thể nhìn thấy từ Trái Đất (cách 8,7 năm ánh sáng), nhiều nền văn hóa cổ đại đã nhận ra tầm quan trọng của năng lượng Sirius, nhất là người Ai Cập. Đôi khi, ý thức của Sirius có thể lựa chọn đặc hóa tần số của nó để con người mật độ ba có thể nhìn thấy. Trong suốt nhiều triều đại Ai Cập, trường hợp người Sirius thăm viếng trong lớp những vị thần của họ (như Isis, Osiris, và Anubis) khá là phổ biến. Những “phục trang” này khiến người Ai Cập dễ dàng tôn vinh sự hiện diện của họ hơn, và thường các cuộc viếng thăm này đã kích hoạt ký ức về những ngày xa xưa khi “các vị thần” bước đi công khai trên Trái Đất. Những người Sirius này đã cho người Ai Cập (cũng như các nền văn hóa Trái Đất khác) thông tin thiên văn và y học tiên tiến. Đến tận ngày nay, các học giả vẫn đang đặt câu hỏi về nguồn gốc của thông tin này. Cách nửa vòng Trái Đất, nền văn hóa Maya có mối liên hệ độc đáo riêng với Sirius. Họ đã được truyền cho các thao tác y học tiên tiến và thông tin thiên văn thiên hà mà hiện nay các học giả hiện đại vẫn chưa khám phá. Những thứ của họ thiên về quan hệ cá nhân với Sirius nhiều hơn. Theo một nghĩa nào đó, những người Maya này là du khách từ cõi giới Sirius (nhập thế ở đây trên Trái Đất), những người muốn trải nghiệm vật lý từ một điểm thuận lợi gần hơn. Mối quan hệ giữa hai bên thân mật đến nỗi các Sirius thực sự chia sẻ với người Maya công nghệ chuyển hóa —— từ vật lý sang năng lượng/ý thức thuần khiết. Khi các bài học của họ đã được hoàn thành, chủng tộc người Maya biến mất (chuyển đổi), bỏ lại phía sau một con đường để nhân loại đi theo. Những người Sirius đã để lại nhiều hộp lưu giữ thời gian (2) và những câu đố ghép hình cho các thế hệ tương lai khám phá. [(2): Hộp lưu trữ thời gian có nghĩa là một cái hộp đựng những vật dụng hoặc thông tin do con người cố tình lưu lại trong thời điểm hiện tại để về sau người đời sau có thể mở ra dùng.] Một trong những câu đố này là hộp sọ pha lê. Hộp sọ pha lê có thể đại diện cho bản chất vô hạn của con người và ý thức. Nhìn vào độ sâu của nó, người ta có thể cảm nhận được quá khứ và tương lai. Nhân loại vẫn chưa học được cách phiên dịch các dữ liệu và cảm xúc đã được kích hoạt khi người ta chăm chú vào khoảng không của nó. Có lẽ một ngày nào đó thông tin được mã hóa trong hộp sọ có thể thắp lên tia lửa ký ức bên trong nhân loại, như người Sirius đã có thể dự tính.
  • 22.
    Họ là mộttrong những nhóm chính đã để lại các manh mối về quá khứ của Trái Đất dưới nhiều hình thức. Điều quan trọng cần lưu ý chính là —— “người Sirius” không có nghĩa là nói đến một nhóm người ngoài hành tinh, mà là như một ý thức nhóm thể hiện bản thân nó cả về vật lý lẫn phi vật lý. Họ đã là một lực lượng hướng dẫn cho nền văn minh phát triển trên Trái Đất. Họ là một trong những nhân vật chính trong việc tạo ra loài người trên Trái Đất, như sẽ được khám phá ở các chương sau. Trở lại với hành tinh Sirius tiêu cực, Trái Đất có một phiên bản tương tự về triết lý của nó. Thao tác được gọi là “ma thuật đen/tà thuật” hay “nghệ thuật bóng tối” bắt nguồn từ triết lý của các Sirius tiêu cực. Trong văn hóa Ai Cập, sự thờ phụng có tổ chức của lực lượng tiêu cực đã diễn ra trong các đền thờ bởi những tư tế của Set. Triết lý này bác bỏ ý tưởng tái gộp vào trong kết cấu tổng hợp. Những người thực hành triết lý này coi mình là độc nhất, tách biệt, và vị kỷ. Ảo tưởng mà họ tạo ra là một sự vô trách nhiệm đối với hành động của họ. Thường phải tốn rất nhiều bài học và đôi khi là nhiều kiếp sống để nhận ra rằng hành động và niềm tin của họ tạo ra thực tại chính xác mà họ đang cố gắng thoát ra từ đó. Trong phiên bản này, một biểu hiện khác của ảnh hưởng Sirius trên Trái Đất từ một góc nhìn hơi tiêu cực chính là Illuminati.(3) [(3) Illuminati không chỉ bao gồm người Sirius. Các nhóm khác, như Orion, cũng là một phần của cấu trúc Illuminati.] Illuminati là một nhóm người ngoài hành tinh vật lý và phi vật lí định hướng tiêu cực (thậm chí cả một số người định hướng tích cực) đã đến Trái Đất như những sinh mệnh vật lý trong suốt Khởi Thủy. Những sinh mệnh này cuối cùng cảm thấy họ không nhận được sự công nhận (hoặc quyền lực) mà họ nghĩ họ xứng đáng có. (4) [(4) Những sinh mệnh này chỉ đại diện cho một tỷ lệ nhỏ của ý thức Sirius. Kể từ Khởi Thủy Trái Đất, hành tinh đã phát triển một số mối quan hệ tích cực mạnh mẽ với những sinh mệnh Sirius —— những người đã từng là những người ủng hộ chính của nhân loại.] Nhiều trong số những ý thức ngoài hành tinh giao tiếp với nhân loại buổi đầu đã cho phép các năng lượng hoặc “lịch sử” của họ phát triển và trở thành nguyên mẫu để hỗ trợ Trái Đất. Ý tưởng kiểm soát là bản sắc của họ. Nếu họ không thể kiểm soát được người khác, họ cảm thấy như thể họ không tồn tại... và họ sợ hãi về sự không tồn tại. Động lực này đã khiến họ cố can thiệp vào sự phát triển của Trái Đất ngay từ khởi đầu. Như một con côn trùng phiền nhiễu, họ là phiền phức nhưng hiếm khi gây ra vấn đề nghiêm trọng. Chỉ những cá nhân không có ý thức về sức mạnh của mình mới có mặt trong những cấu trúc quyền lực bắt nguồn từ nỗi sợ đối với sự bất lực ở trên Trái Đất. Họ không thể là một ảnh hưởng nếu người ta không cho phép họ làm như vậy. Tất cả đều quay trở lại vấn đề tuyên bố sức mạnh của chính một người. Một ý tưởng cuối cùng về các biểu hiện đương đại của năng lượng Sirius liên quan đến sự xuất hiện của những người ngoài hành tinh đe dọa như đã thấy trong văn học UFO. Phần lớn những trải nghiệm UFO tiêu cực, những vụ mổ xẻ gia súc và hiện tượng “Người Áo Đen” đều liên quan đến nhóm Sirius (và Orion) tiêu cực, những người thực sự gây ra nhiều nỗi sợ hơn là thiệt hại. Đôi khi người Sirius (và Orion) vật lý có thể vượt qua các tầng bảo vệ trong hệ mặt trời và cố gắng phá họai. Động cơ của họ là gì?
  • 23.
    Khi khám phácác văn bản Sumer cổ liên quan đến lịch sử buổi đầu và bản chất những xung đột giữa các vị thần, người ta có một ý tưởng rõ ràng rằng Trái Đất (toàn bộ hoặc một phần) đã tham gia vào các vấn đề tranh chấp lãnh thổ bởi các nhóm khác nhau ở những thời điểm khác nhau. Câu hỏi thường được đặt ra là tại sao người Sirius có vẻ như can dự vào sự phát triển của Trái Đất. Nếu thực sự Sirius đúng là một nhóm sao ba (như các truyền thống thiên văn của bộ lạc Dogon đề xuất), có thể nào Sol (Mặt trời) là hoặc từng là ngôi sao thứ ba? Nếu đúng như vậy, Trái Đất có thể đã là một phần của tranh chấp lãnh thổ giữa các Sirius ngay từ khi khởi thủy. Điều này có thể giải thích lý do các Sirius tiêu cực coi nó thuộc chủ quyền của mình rồi tự tung tự tác trên Trái Đất, và tại sao họ chỉ tay cáo buộc những người ngoài hành tinh khác can thiệp sai trái vào vấn đề nội bộ Sirius, tạo ra nhiều tranh chấp lịch sử. Người Sirius có thể coi Trái Đất là một phần lãnh thổ của họ. Hiện tại Sol (Mặt Trời) chỉ cách hệ sao Sirius 8,7 năm ánh sáng mà các nhà thiên văn học đã xem là một phần gia đình sao địa phương của chúng ta. Nhiều người Sirius buổi đầu rất giỏi về kỹ thuật di truyền. Trong Khởi Thủy Trái Đất, các Sirius vật lý đã đặt mã DNA tiềm ẩn trong con người ban sơ. Khi sinh mệnh Trái Đất đạt đến một tần số rung động nhất định như một chủng tộc, mã này được kích hoạt và sẽ hỗ trợ những người trên Trái Đất nhớ lại quá khứ thiên hà của nhân loại. Những Sirius tiêu cực đương đại rất sợ điều này. Họ đã liên tục giữ bản thân tránh chuyển đổi vào mật độ bốn vì nỗi sợ về không tồn tại. Họ sợ nếu Trái Đất chuyển đổi, họ cũng sẽ chuyển đổi và ngừng tồn tại. Họ tin nếu giữ xã hội ở trong sự sợ hãi, Trái Đất sẽ không thể chuyển đổi được. Nói chung, họ không thể quyết định số phận của loài người, bởi con người Trái Đất có nhiều sức mạnh hơn những người Sirius tiêu cực nhận thấy. Nhưng họ sẽ tiếp tục. Họ biết không còn đường khác. Dù là người ngoài hành tinh vật lý hay năng lượng nguyên mẫu, bản sắc Sirius chính là được gắn kết với nhân loại. Kiến thức cũng như thách thức của nó là vô cùng phong phú. Người ta phải luôn nhớ Sirius là bộ ba và những gì nó đại diện cho hợp nhập từ cực —— cái là vận mệnh của Trái Đất.
  • 24.
    5. Những CơnGió Orion “Vây quanh với muôn vàn vì sao chói lọi Đứng trên Đại số vĩ đại khổng lồ Orion, thợ săn của dã thú! Thanh gươm anh lấp lánh ở bên hông, Trên cánh tay anh mảnh da sư tử Rải ngang không khí nửa đêm, Mái tóc phát xạ hoàng kim…” —— Longfellow “Ngươi có thể ràng buộc ảnh hưởng ngọt ngào của Pleiades, hay làm mất đi những dải của Orion?” —— Joob 38:31 Khi hai phân cực gặp nhau, chúng sẽ bị thu hút một cách tự nhiên. Khi chúng cố gắng dung hợp (chứ không phải hợp nhập), chúng gây nên một năng lượng khổng lồ. Chúng gây ra tia lửa. Chúng gây ra thay đổi. Đôi khi chúng thậm chí còn gây ra đau đớn. Đấy là trường hợp mà các nền văn minh Lyra đã cố gắng hợp nhập trong hệ sao Vega và Sirius. Cuộc xung đột bắt đầu diễn ra ở đó, nhưng đã được mở rộng gộp cả Orion. Khởi đầu của nó là một cuộc xung đột Lyra. Qua các thế hệ nó đã tiến hóa thành chiến tranh chủng tộc mới, của Orions. Qua những thế hệ, mỗi bên mất liên hệ với những gì họ chiến đấu cho. Tuy nhiên khổ đau vẫn cứ tiếp tục. Các biển báo đã được đánh dấu rõ ràng. Phía “tiêu cực” duy trì ý tưởng phục vụ bản thân. Trong triết lý của họ, khi một người phục vụ bản thân thì cũng tức là toàn bộ đã được phụng sự. Cái họ không nhận thấy chính là họ đã phủ nhận toàn thể bằng cách lựa chọn thực hiện triết lý này. Điều này được phiên dịch là “sự thống trị là điều cần thiết”. Đây thực sự là thời kỳ đen tối. Sự thống trị kéo theo hành vi mà người Trái Đất chưa từng trải nghiệm. Thao túng di truyền lên các dòng dõi huyết thống là hành vi phổ thông, trong một nỗ lực nhằm pha loãng hoặc tập trung sức mạnh. Thứ mà loài người biết đến như ma thuật đen được thực hành phổ biến. Các sinh mệnh quá bão hòa với nỗi sợ của chính họ rằng họ thua kém tất cả những người khác. Các truyền thuyết về thanh gươm và ma thuật trên Trái Đất chính là những hồi ức mơ hồ trong ký ức tế bào ether từ những thời kỳ đen tối của Orion. Phía “tích cực” thể hiện rõ ý tưởng phục vụ người khác —— Họ tin cách duy nhất để tồn tại chính là phục tùng, ngay cả khi chính bản thân mình phải trả giá. Vì vậy một động lực thú vị đã được diễn ra. Có những cá nhân là kẻ thống trị và những người đã quá sẵn lòng để đóng vai trò nạn nhân. Những người “tích cực” này cảm thấy muốn hỗ trợ toàn thể thì họ phải phục vụ toàn thể và từ bỏ bản thân. Trong thực tế họ đã phủ nhận bản thân mình chính là một phần có giá trị của toàn thể đó. Nền văn minh Orion là một trong số ít những người đã tiến hóa thành trạng thái tiến bộ công nghệ trong khi vẫn còn ở trong tình trạng xung đột tinh thần căng thẳng. Vô hạn thời gian trôi qua trong khi vở kịch vẫn tiếp tục diễn ra. Nó bắt đầu với mọi cách thao túng tình cảm cơ bản đến tận
  • 25.
    đầu cuối bênkia của quang phổ —— thao túng bằng cách sử dụng các công cụ công nghệ tiên tiến. Nói kiểu luân hồi, cùng một linh hồn đã nhập thể rất nhiều lần, đổi phía này phía kia, cố tìm ra cách để mang toàn thể cuộc đấu tranh vào sự cân bằng. Trong lịch sử của Orion luôn có sự kháng cự ngầm. Xuyên suốt các thời đại, sức mạnh của nó lên lên xuống xuống như những xung của ngôi sao Betelgeuse đỏ khổng lồ của họ. Thông thường họ sẽ bị người “tiêu cực” phát hiện, tan rã và bị trừng phạt. Bất cứ khi nào họ gầy dựng được một số động năng, nó phát xạ quá huyên náo và họ bị tìm thấy. Khi triết lý phản kháng được kiên cố hóa, rõ ràng là họ cần tiêu giảm sự phát xạ mà ý tưởng của họ phát ra. Họ quyết định thay vì hấp thụ một cách biểu tượng. Họ cho phép mọi người đến với họ. Họ trở nên giống như một lỗ đen không thể nhìn thấy được, nhưng sức mạnh và động lực năng lượng của họ cũng mạnh như một cơn gió vô thanh. Tổ chức của họ do đó được gọi là “Liên Đoàn Đen.” Biểu tượng cuộc đấu tranh của họ trở thành con rồng đen. Một khía cạnh mới của vở diễn bắt đầu phơi bày. Bây giờ đã có ba khía cạnh của cuộc đấu tranh: có những kẻ thống trị, những nạn nhân, và kẻ phản kháng (được thúc đẩy bởi sự cọ xát của hai cực). Liên Đoàn Đen đã khá thành công trong việc cản trở các nỗ lực của những kẻ thống trị (được biết đến như Đế Chế Orion); tuy nhiên nó chỉ đủ để giảm đà tiến đến bế tắc của họ. Một năng lượng bế tắc đã đạt ngưỡng. Trong tâm hồn của những người bị đàn áp này tồn tại một sự tuyệt vọng khổng lồ. Họ biết mức độ kiểm soát của Đế Chế Orion. Đế Chế có những cách kiểm soát các thân thể astral; cái chết không còn tự do nữa. Nhiều cá nhân đã học tập với những người thầy dị giáo để tìm hiểu tri thức cổ xưa về du hành ý thức chiều kích. Thành công rất ít, nhưng những người thành công đã tìm thấy một cách ra khỏi hệ thống Orion mãi mãi. Thông qua tập trung tiêu điểm và tháo bỏ các hệ thống niềm tin ý thức khối Orion, một tỷ lệ nhỏ các cá nhân có thể rời khỏi cơ thể của họ (chết) và thành công trong việc nhắm mục tiêu hoặc di chuyển vào những sinh mệnh đã trốn thoát hoặc được đầu thai trên Trái Đất từ Orion. (*) [(*): Người Orions có khả năng nhắm mục tiêu các cá thể Trái Đất trong quá khứ, hiện tại và tương lai của Trái Đất.] Một khi các sinh mệnh này đã được nhắm mục tiêu, thực thể Orion có thể tạo ra một cửa sổ mà thông qua đó anh ấy/cô ấy có thể du hành. Khi xuyên qua cửa sổ đó và nhập thể trên Trái Đất, anh ấy/cô ấy trở nên “lạc mất” vào ý thức khối của Trái Đất. Đây là một cơ chế an toàn; nếu họ không biết nhận dạng của mình, họ sẽ không thể bị Đế Chế Orion bám đuổi. Những người đào thoát sau đó đã nhập vào chu kỳ đầu thai của Trái Đất và dường như tiếp tục diễn vở kịch Orion một cách vô thức bên trong khuôn mẫu linh hồn của họ. Đôi khi họ có thể đã bị đại diện Đế Chế Orion truy đuổi tức khắc qua cửa sổ, nhưng thường thì những đại diện Đế Chế này cũng bị “bắt lại” vào ý thức khối của Trái Đất và phải bước vào chu kỳ đầu thai; khi nhập thế họ mang theo mong muốn Orion cũ của mình đối với kiểm soát. Khi sự tuyệt vọng tăng lên, Liên Đoàn Đen thậm chí còn khó khăn hơn trong việc làm ra quyết định chiến đấu. Họ có những người hai mang. Các báo cáo lén lút từ những người cung cấp thông tin đã dẫn đến một nỗ lực phản kháng mạnh mẽ hơn. Họ bắt đầu sử dụng các chiến thuật mượn từ kẻ thống trị. Tất cả những điều này được thực hiện nhân danh tự do. Họ rốt cuộc đã học được rằng tự do là thứ không dễ nắm bắt, và cuộc xung đột gia tăng.
  • 26.
    Với tất cảmọi nỗ lực của mình, Liên Đoàn Đen không thể hiểu tại sao họ không thành công trong việc giải phóng cho các nạn nhân. Họ đã trở nên nản lòng. Người ta khao khát một hình thức của tinh thần, nhưng tất cả những gì hiện diện chỉ là một sự trống rỗng và sợ hãi ăn mòn — — tất cả đều vô hiệu. Trong vài thế hệ, Liên Đoàn Đen còn đọng lại chỉ là một lý tưởng không hơn không kém. Rồi một điều kỳ diệu xảy ra. Qua nhiều thế hệ thai nghén tinh thần, một hạt giống bắt đầu đâm chồi nảy nở. Một linh hồn nhập thế đã thể hiện tất cả những hy vọng và mơ ước của các chủng tộc Orion mà không có hận thù hay sợ hãi. Khi chào đời, anh ấy được an toàn trong một môi trường trung hòa hứng khởi và cảm xúc sâu trong hành tinh, vì thế anh ta sẽ không trở nên phân cực. Khi trưởng thành, anh ta bắt đầu dạy. Những gì anh ấy dạy bắt đầu tỏa một ánh sáng mới lên cuộc đấu tranh. Những gì anh ấy đề xuất có thể kết thúc nó một lần cho tất cả. Anh ta đã dạy luật phổ quát —— sự tích cực không thể đạt được thông qua sự tiêu cực. Liên Đoàn Đen đã dùng lửa đánh với lửa, sẽ chỉ tạo ra một ngọn lửa thay vì hòa bình. Một người phải hợp nhập tích cực và tiêu cực đến điểm cân bằng. Người ta phải yêu thương, chứ không phải là sợ hãi. Lý tưởng về hòa bình và tự do phải được yêu thương đến mức người ta sẵn lòng sống nó trong linh hồn của mình bất chấp những biểu hiện đang diễn ra phía ngoài. Do đó Liên Đoàn Đen đã học được rằng ý định của họ là tốt, nhưng hành động của họ chỉ càng gây thêm nhiều những thứ mà họ đã từng khinh miệt. Sự nhận thức này xảy ra ở tầng thứ khối. Nó mở ra cánh cửa tâm linh mới cho người dân của những thế giới bị đàn áp. Họ có một chặng đường dài để đi, nhưng ít nhất bây giờ họ đã biết phải bắt đầu từ đâu. Một khi động lực bắt đầu được hiểu từ những tầng thứ cao hơn, người ta quyết định rằng họ sẽ chuyển đổi năng lượng này bằng cách chuyển khỏi thiên hà và bắt đầu sự tươi mới. Từ những tầng thứ cao hơn này, họ kêu gọi các Đấng Sáng Lập giúp họ chọn một thế giới. Mối quan tâm cơ bản chính là đảm bảo rằng tất cả các công cụ được cung cấp trên thế giới mới này cho những sinh mệnh mạo hiểm bắt đầu sự chuyển đổi của năng lượng Orion. Tự do Ý Chí/Lựa Chọn là công cụ chính, cũng như một mã DNA tiềm ẩn sẽ kích hoạt mong muốn bảo tồn xã hội nếu họ có khả năng tự hủy diệt. Thế giới được chọn chính là Trái Đất. Những Đấng Sáng Lập sau đó bắt đầu thu hút các nhóm vật lý khác nhau vào để thực hiện Khởi Thủy Trái Đất. [Xem chương 9] Xuyên suốt lịch sử nhân loại, Trái Đất đã thể hiện vở diễn Orion trong một nỗ lực nhằm cân bằng sự phân cực. Sự sụp đổ của Atlantis, đế chế La Mã, và các cuộc chiến tranh tôn giáo đang diễn ra đều là những ví dụ về các khuôn mẫu ký ức từ Orion đang nổi lên để được làm sạch. Trong suốt tất cả các vở diễn này, chủng tộc nhân loại đã sống sót và giữ sự áp bức hoàn toàn ở một ngưỡng an toàn. Nhân loại tiếp tục phát huy cùng một động lực: nạn nhân, thủ phạm, và kẻ phản kháng. Tuy nhiên, thời gian này ánh sáng đang bắt đầu lan rộng và thậm chí cả những người phản kháng cũng đang bắt đầu sớm học về việc không thể dùng lửa đánh lửa. Nền văn minh Orion đương đại tồn tại trong cùng thời gian liên tục như Trái Đất hiện nay, đã chữa lành xung đột của nó. Bởi vì Trái Đất vẫn đang diễn xuất quá khứ của Orion trong một nỗ lực để cân bằng nó cho chính nó, nên sự tiếp xúc chính mà con người nhận được từ Orion bị đánh giá là tiêu cực. Hiện tượng Người Áo Đen cũng như một số biểu hiện của cấu trúc Illuminati đang diễn xuất nhu cầu kiểm soát của Orion trong quá khứ. Người Áo Đen (Men In Black) có vài nguồn gốc. Một số là hóa thân nhân loại từ Orion và/hoặc năng lượng Sirius định hướng tiêu cực; số khác là người Orion quá khứ xác thực ——
  • 27.
    những người đãdu hành “tới” trong thời gian Trái Đất ngày nay (vượt thời gian đến tương lai, bao gồm các đại diện của Đế Chế đã bị bắt lại trong ý thức khối của Trái Đất khi họ truy đuổi người Orion đào thoát). Họ nhận thấy Trái Đất là mối đe dọa. Từ quan điểm của họ, khi nhân loại thức tỉnh và tự giải phóng bản thân, các sinh mệnh Orion bị áp bức sẽ được thu hút đến đây tìm kiếm tự do. Họ muốn giữ những cửa sổ cơ hội này đóng lại đối với các nạn nhân của Orion, giữ Trái Đất thiếu tự chủ và ở trong sự kiểm soát hoàn toàn. Người Áo Đen chỉ là một biểu hiện của ý tưởng này; nói chung nó được diễn trên Trái Đất theo một cách tinh tế hơn nhiều. Những cá nhân mà mang theo các khuôn mẫu áp bức từ Orion đã hành động từ ký ức linh hồn của họ và không nhất thiết phải ý thức được mong muốn kiểm soát tuyệt đối của mình. Trong nghiên cứu những cuộc đụng độ Người Áo Đen ở thế kỷ hai mươi, người ta tình cờ trông thấy hành vi trớ trêu của những sinh mệnh này —— họ làm chức năng ở một cấp độ rất tự quản và dường như chưa từng yêu cầu sức mạnh mà họ cố gắng chuyên tâm giành lấy từ con người cho bản thân mình. Điều này có thể cho thấy Người Áo Đen có lẽ chỉ là con tốt trong một cuộc đấu tranh quyền lực thậm chí kỳ quặc hơn. Vở kịch Orion không phải một cuộc thí nghiệm được thực hiện với ai đó bởi người nào đó. Tất cả những ai lựa chọn trở thành một phần của Chuyển Đổi Trái Đất đều làm như vậy thông qua Tự Do Ý Chí của họ. Sự Chuyển Đổi/Hợp Nhập này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ gia đình thiên hà được tạo ra thông qua Pha Dẫn Chiều Kích. Điều này sẽ bắt đầu quá trình khởi đầu của Hợp Nhập trở lại thông qua Lăng kính của Lyra. Các cực được hợp nhập do vậy có thể gọi là “Orion Sáng”. Đã có các giai đoạn được xây dựng trong dự án Chuyển Đổi mà từ đó Đấng Sáng Lập sẽ có thể đánh giá sự phát triển của nó. Giai đoạn đầu tiên là gieo hạt đơn giản và phát triển sự sống mật độ ba thành một dòng di truyền mạnh mẽ trên Trái Đất. Các giai đoạn tiếp theo liên quan đến sự phát triển khác nhau của nền văn minh. Giai đoạn quan trọng đang diễn ra hiện nay trên Trái Đất —— sự tái thức tỉnh khối của hàng triệu linh hồn đối với một mục đích tâm linh lớn hơn. Sự thức tỉnh này diễn ra tự nhiên và bắt đầu làm gia tăng khoảng cách giữa cực tích cực và cực tiêu cực (như đang thấy hiện nay trong xã hội). Việc nhấn mạnh khoảng cách này phục vụ phân cực và làm nổi bật sự lựa chọn mà xã hội có thể bắt lấy —— làm rõ lựa chọn phải làm vào thời điểm này. Nhân loại không có sự xấu tệ và đau đớn của một quá khứ giày xéo đến mức độ mà Orion đã có. Khi Trái Đất tái thức tỉnh, tất cả mọi công cụ được hiển thị cho nhân loại thấy để yêu cầu trách nhiệm cho Bản Thân và Toàn Thể. Những ký ức Orion đau đớn có thể tiếp tục trên bề mặt, nhưng việc chữa lành của họ sẽ xảy ra thông qua tuyên bố của loài người về tự do và lựa chọn. Khi Pha Dẫn Chiều Kích xảy ra, có một số ý thức cá nhân và nhóm đã lựa chọn duy trì ngủ đông. Họ cho phép bản thân phục vụ như những nguyên mẫu, và có thể được đánh thức mỗi khi cần thiết. Một số thậm chí cho phép những phân mảnh của chính mình nhập thế. Một ví dụ của điều này là ý thức được biết đến như Merlin. Trong suốt thời gian của vở diễn Orion, sự cọ xát giữa hai cực đã đánh thức nhà pháp thuật đang ngủ. “Anh ấy” đã trở thành một lực lượng hướng dẫn trong việc hướng đến hợp nhập từ cả quan điểm vật lý lẫn phi vật lý. Những phân mảnh của ý thức anh ta được nhập thế cách quãng để tạo ra một ký ức của quá khứ và tầm nhìn của tương lai. Anh ta đã đến bằng nhiều cái tên trên nhiều thế giới, nhưng anh ta luôn luôn phản chiếu vẻ đẹp cũng như sự xấu tệ của chính một người. Năng lượng của anh ta đã có mặt trong liên kết với Trái Đất ngay từ Khởi Thủy.
  • 28.
    Khởi Thủy TráiĐất sẽ được khảo sát nhiều hơn trong các chương tiếp theo. Trong thời gian này, phải chia sẻ rằng vở kịch này được tạo ra để là một thành công. Hầu hết những người nhập thể trên Trái Đất đều tham gia vào các vở kịch Orion. Mọi người đều ở đây bởi sự lựa chọn. Ngay khi một người bắt đầu hoạt động từ một niềm tin rằng nhân loại ở đây là trái với ý muốn của nó, đó sẽ là thời điểm sức mạnh cá nhân và hành tinh đó đã bị từ bỏ.
  • 29.
    6. Chị EmHọ Pleiades Của Trái Đất “Nhiều đêm từ khung cửa sổ thường xuân bao phủ đằng kia Trước khi nghỉ ngơi, Tôi đã nhìn lên Orion vĩ đại, Thoai thoải đổ về phía tây. Nhiều đêm tôi đã thấy bộ bảy Pleiad, Trỗi lên xuyên nét dáng dịu êm Lấp lánh như bầy đom đóm rối trong dải bện bạc.” — Tennyson Trong quá trình phát triển buổi đầu của hệ sao Lyra, sự cọ xát đầu tiên giữa các cực đã bắt đầu xảy ra. Một số người Lyra thể hiện ý tưởng về phân cực tính nữ —— trực giác và chấp nhận. Họ tin rằng lộ tuyến tái hợp nhập là thông qua sự phát triển bên trong. Dù vậy những người Lyra khác đã phân cực cho nam tính. Triết lý của họ ủng hộ quan điểm cho rằng để phát triển, họ phải thống trị vũ trụ đã biết. Điều này gây ra nhiều bất đồng giữa hai bên. Khi nền văn minh Lyra phát triển, một nhóm người Lyra quyết định muốn phát triển văn hóa của mình tránh xa những thứ mà họ cảm nhận là ảnh hưởng tiêu cực. Do đó, họ tìm kiếm thiên hà để làm ngôi nhà mới. Trong cuộc tìm kiếm này, họ tìm thấy một hành tinh trẻ giàu tài nguyên thiên nhiên. Hành tinh này chính là Trái Đất. Trong nhiều thế hệ, nhóm này cư trú trên Trái Đất, chung sống một cách hòa bình với chủng loài linh trưởng đang phát triển. Tuy nhiên qua một thời gian dài, họ nhận thấy mình không thích ứng với môi trường vật lý và điện từ của Trái Đất như họ mong muốn. Trong suốt thời gian đó họ đã kết hợp một lượng nhỏ vật chất di truyền từ các loài linh trưởng để giúp mình đồng hóa với môi trường của Trái Đất. Qua nhiều thế hệ, DNA của họ thay đổi một chút, cho phép họ thích nghi với Trái Đất hơn. Trong khi những người Lyra-Trái Đất này kết hợp di truyền linh trưởng vào bản thân mình, các nhóm Lyra khác trên hành tinh cũng thực hiện mong muốn của Đấng Sáng Lập cũng như của riêng họ bằng cách đưa di truyền Lyra vào các loài linh trưởng. Sự xuất hiện của những người Lyra này đã tiếp nhiên liệu cho xung đột mà người Trái Đất-Lyra đã trốn thoát ban đầu, do đó họ lựa chọn tìm một hệ hành tinh khác để định cư. Mong muốn xây dựng một nền văn hóa mới nơi họ có thể được cô lập khỏi các xung đột cũ bắt nguồn từ quá khứ của mình, họ khám phá ra một khu vực rộng rãi trước khi quyết định chọn một cụm sao xanh trẻ mở được gọi là Pleiades.(1) [(1) Các nhóm phụ cũng trú trên các hệ sao khác trong khu vực lân cận thiên hà của Trái Đất.] Khi hệ sao Pleiades bắt đầu được người Trái Đất-Lyra định cư, nó đã được dự định là một chủng tộc rất cân bằng độc lập. Điều này phản ánh trong việc họ lựa chọn một cụm sao mới ổn định. Hơn bất cứ cái gì khác, họ muốn tạo ra một nền văn hóa dựa trên hòa hợp, sự thật, và tình yêu vô điều kiện. Một khi kế hoạch định cư đã được biết đến, những người gốc Lyra mong muốn một ngôi nhà mới cũng quyết định định cư ở các khu vực khác của cụm sao Pleiades. (2) [(2) Hiển nhiên, chúng ta chỉ thấy bảy ngôi sao trong hệ sao Pleiades. Từ quan điểm của Pleiades, có hàng trăm ngôi sao có hành tinh có sự sống (không nhìn thấy từ Trái Đất) tạo nên các địa giới Pleiades.]
  • 30.
    Những người Pleiadesbuổi đầu (người Trái Đất-Lyra trước đây) sở hữu các kỹ năng trực giác phát triển cao, cũng như khát khao tạo ra một lối sống cộng đồng. Toàn Thể cũng quan trọng như Bản Thân. Mong muốn này thậm chí đã đưa các thế hệ sinh mệnh trưởng thành và tạo ra bản sắc của riêng họ tách biệt khỏi gốc rễ Lyra. Trong nhiều thế hệ, họ đã phát triển văn hóa mới có tính triết học và tiến bộ công nghệ với tốc độ hoàn hảo cho sự phát triển của mình. Mặc dù có nhiều giai đoạn xung đột, nhưng nền tảng văn hóa mà những người Pleiades mới tạo ra vẫn ổn định trong hàng ngàn năm. Qua nhiều thế hệ, người Pleiades theo định hướng cộng đồng bắt đầu ủng hộ hòa bình và yên bình nhiều đến mức họ học được cách vô hiệu hóa tất cả mọi hình thức tiêu cực. Ở sâu hơn và sâu hơn, họ nhấn chìm các khuynh hướng hình người tự nhiên của họ, cho đến lúc một sự trống rỗng khổng lồ xuất hiện bên trong họ. Không có xung đột, giải quyết, hay học tập. Một giọng nói thét lên từ bên trong. Có một phần của họ muốn được nghe thấy. Từ nỗi tuyệt vọng này, họ liên lạc với các tổ tiên Lyra. Khi lời kêu gọi được hồi đáp, người Lyra rất ngạc nhiên khi tìm thấy một nền văn hóa đã tự cắt đứt bản thân khỏi sự sáng tạo. Người Pleiades không có kiến thức về những gì đang diễn ra trong vũ trụ xung quanh họ. Họ không ý thức được nỗi đau đớn của Orion, mặc dù cả hai đều là hậu duệ của Lyra. Khi người Pleiades được cho biết về cuộc chiến Orion, con rồng say ngủ trong họ đã thức tỉnh. Họ cảm thấy một ngọn lửa đam mê. Một lần nữa họ cảm thấy mình vẫn còn đang sống; một sứ mệnh sâu sắc đã thắp lên trong linh hồn của họ. Họ mang đến sự phục vụ trong cuộc đấu tranh Orion. Sau đó họ đã cam kết chống lại sự tiêu cực của Orion. Thế là nó đã bắt đầu. Họ bước vào cuộc chiến Orion qua nhiều phương tiện. Một số linh hồn chọn nhập thể trực tiếp vào hệ thống trong cả hai định hướng phân cực (tích cực và tiêu cực) để hiểu được cuộc đấu tranh. Phần lớn những người Pleiades nhập thế vào cuộc đấu tranh Orion đã bị kẹt bẫy —— tiến vào chu kỳ đầu thai Orion là rất dễ, nhưng hầu như không có khả năng thoát ra. Những người khác đã chọn liên minh với Liên Đoàn Đen hoặc tiếp tục nhập thể trong hệ thống Pleiades và cố gắng ngăn chặn sự bành trướng của Đế Chế Orion. Họ đã chiến đấu tới từng tế bào của mình để chống lại những tiêu cực nhìn thấy xung quanh họ. Một cách vô thức họ cũng đang chiến đấu với một sự tiêu cực hơn nữa —— bên trong chính họ. Cuộc đấu tranh tiếp tục. Người Pleiades đã nhiệt tình chiến đấu chống lại Orion tiêu cực cũng như họ đã làm với cái tôi bóng tối tiềm ẩn của mình. Thay vì tìm kiếm một chân tướng bên trong, họ chỉ duy trì sự hận thù về những phiền toái của họ. Chỉ khi Đế Chế Orion hủy diệt một trong những hành tinh có dân cư của họ, họ mới tự tách mình ra khỏi cuộc chiến Orion. Hành tinh chết cháy rụi này vẫn còn trong hệ sao của họ như một lời nhắc nhở về hành động của họ trong quá khứ. Khi hành tinh đó bị xóa sổ, người Pleiades bị tàn phá. Cuối cùng, một bế tắc đã đạt ngưỡng. Trên những tầng thứ cao nhất của sinh mệnh, mọi ý thức liên quan trong vở diễn Orion đều lùi một bước. Họ đánh giá tình hình. Rõ ràng giải pháp cần thiết phải xuất hiện từ một góc độ khác. Họ đồng ý mở rộng xung đột sang một đấu trường khác trong thiên hà. Các Pleiades đã phải đối mặt với một lựa chọn: họ sẽ phải trả lại năng lượng của họ cho thế giới nhà của họ, hay họ sẽ đồng ý giải quyết vấn đề của họ (cũng như cuộc đấu tranh Orion) một lần cho tất cả? Ban đầu, họ đã chọn trở về nhà. Điều này cho phép họ thu thập sức mạnh của mình và lần mò tận đáy linh hồn để tìm ra một con đường trở thành toàn thể. Họ rất sợ sự tiêu cực —— cái mà họ đã trở nên bất động. Họ đã đợi. Họ ngẫm nghĩ... và họ do dự.
  • 31.
    Trong khi họđợi, dự án Khởi Thủy bắt đầu có hiệu lực trên Trái Đất. Người Lyra là những giám đốc vật lý của dự án (dưới Đấng Sáng Lập), chấp nhận sự trợ giúp của các nhóm vật lý khác như Sirius. Rất nhanh nó đã cho thấy rõ rằng họ cần một cấu trúc di truyền có nguồn gốc Địa Cầu cũng như ngoài hành tinh cho dự án Khởi Thủy của họ. Họ liên lạc với người Pleiades. Lúc đầu người Pleiades bày tỏ sự miễn cưỡng khi phải liên can một lần nữa với Trái Đất. Tuy nhiên, người Lyra với một sự mưu mẹo khéo léo đã chỉ ra lợi ích mà người Pleiades có thể có được. Biết rằng Pleiades ban đầu đã kết hợp di truyền linh trưởng của Trái Đất vào bản thân mình, người Lyra thừa nhận rằng họ cần một số khía cạnh nhất định của DNA Pleiades cho các chủng loài người đang phát triển trên Trái Đất. Bất tri bất giác, họ cũng tạo ra một con đường để Pleiades đối mặt với sự tiêu cực của mình một lần và mãi mãi. Người ta đã đề xuất rằng một DNA chuyển từ Pleiades vào các chủng loài người qua một thời gian dài sẽ tạo ra một chủng loại hình người sẽ là Địa Cầu nhưng cũng có nguồn gốc ngoài hành tinh. Các tổ tiên gần nhất của những nhân loại Trái Đất này là Pleiades, và thông qua những mối quan hệ gia đình này, Pleiades sẽ được phép tham gia vào sự phát triển của các chủng loài Trái Đất. Trong suốt sự tham gia này họ sẽ quan sát chủng tộc phát triển, tương tác cách quãng để giữ cho họ trên khóa học, và học hỏi về sự tiêu cực của loài người. Điều này sẽ gián tiếp chữa lành đau đớn của Pleiades trong quá khứ. Sau vài sự miễn cưỡng khi liên kết một lần nữa với Lyra, một nhóm Pleiades cuối cùng đã đồng ý. Thỏa thuận này dẫn đến hàng ngàn năm Pleiades tương tác với hầu hết các nền văn hóa nguyên thủy ở trên Trái Đất. Bản vẽ sinh mệnh không gian cùng tàu vũ trụ trang trí trên nhiều bức tường hang động, và nhiều tài liệu cổ xưa ghi lại các hoạt động của những vị thần đến từ bầu trời. Họ xem mình cũng giống như con người ngày nay. Tuy nhiên, theo quan điểm của một người nguyên thủy, họ chắc chắn phải có vẻ giống-như-các-vị-thần. Trong các giai đoạn phát triển nhất định của một chủng tộc hình người, từ bỏ sức mạnh cá nhân đem cho một nhân vật giống-như-thần hay có phép thuật là chuyện thông thường. Điều này trở nên phổ biến rộng rãi và ngay sau đó, người Pleiades bắt đầu tận hưởng quyền lực mà họ đã được trao cho. Họ bắt đầu vận dụng nó. Một số người bắt đầu dùng nỗi sợ để thao tác. Thỏa thuận ở cấp độ linh hồn để họ học hỏi từ Trái Đất đang phát triển đã biến đổi thành một sự thỏa mãn mong muốn cá nhân. Nhiều thần thoại cổ xưa về những vị thần đố kỵ có liên quan trực tiếp đến những sinh mệnh ngoài hành tinh từ các hệ sao khác, bao gồm cả Pleiades. (3) [(3) Ví dụ về những huyền thoại này bao gồm các tường thuật về Set và Osiris của người Ai Cập, cũng như các cuộc xung đột giữa Enlil và Enki của người Sumer. Đây có vẻ như là những trận đấu nguyên mẫu; nhiều nền văn hóa có những truyền thuyết về các nhân vật tương tự có thể được coi là bản sao, hoặc có thể là một phiên bản của cùng một câu chuyện.] Khi những cuộc chè chén quyền lực diễn ra, những người ngoài hành tinh này cần được nhắc nhở về mục đích của họ. Một bộ phận người Pleiades rất thường gây nên sự oán giận đối với các nhóm viếng thăm khác. Trong khoảng thời gian vài nghìn năm, người Pleiades tăng trưởng sức mạnh, sau đó liên tục nhắc nhở về vị trí của họ. Tình trạng trớ trêu đã sớm đến với họ —— họ đã muốn tiếp xúc với sự tiêu cực của mình. Mong muốn của họ đã được chấp thuận. Trong suốt những tương tác này, người Pleiades tham gia vào Trái Đất đều đến từ cùng một dãy thời gian. Tiếp xúc của họ phù hợp với sự phát triển của họ. Họ chưa nắm được công nghệ phức tạp về thao tác thời gian/không gian. Chỉ đến tận thế kỷ hai mươi Trái Đất mới bắt đầu kéo liên lạc Pleiades từ nhiều khung thời gian khác nhau cùng một lúc.
  • 32.
    Mặc dù tiếpxúc tiếp tục cách quãng cho đến ngày nay, nó vẫn chậm đi so với thời gian trước đó. Hầu hết người Pleiades không còn coi nhân loại Trái Đất là trẻ con nữa, và họ cho phép loài người tự đưa ra những lựa chọn của mình. Một khi Trái Đất bắt đầu kỷ nguyên công nghệ, nó đã được theo dõi rất chặt chẽ cho khối lượng tới hạn cần thiết để kích hoạt mã DNA bảo tồn của các loài. Kể từ những năm 1940, cả người ngoài hành tinh vật lý và phi vật lý đều đã giám sát con người và cố gắng liên lạc, chủ yếu theo những cách tinh tế. Pleiades bắt đầu một chương trình liên lạc vật lý nhân từ quan trọng với Trái Đất đầu tiên. Dù việc này được tiến hành vào đầu những năm 1930, nhưng tới những năm 1970 nó mới bắt đầu được chú ý trên quy mô lớn hơn. (4) [(4) Có những dấu hiệu cho thấy các nhóm tiêu cực (như Sirius) bắt đầu liên lạc trong những năm 1930 và những hành động tiêu cực của họ luôn bị phản đối bởi các nhóm nhân từ hơn như Pleiades. Hoạt động tiếp xúc nặng nề này (bởi cả những nhóm có định hướng tích cực lẫn tiêu cực) xuất hiện trong các chu kỳ 20 năm: những năm 1930, những năm 1950, những năm 1970, và như chúng ta sẽ sớm nhìn thấy, những năm 1990.] Một người Thụy Sĩ tên là Billy Meier đã ghi lại hàng trăm giờ giao tiếp với nhà du hành vũ trụ Semjase của Pleiades. Ông cũng sở hữu một lượng lớn các bức ảnh tàu vũ trụ Pleiades —— sử dụng công nghệ chụp ảnh và chưa bao giờ bị chứng minh là sai. Ông tuyên bố mình được người Pleiades (và các đồng minh của họ là DAL) đưa về cả quá khứ lẫn tương lai để xem các sự kiện khác nhau. Tiếp xúc này đã gây ra tranh cãi lớn kể từ khi nó được tiết lộ. Meier đã được cung cấp bằng chứng (bởi chính người Pleiades) là một mẫu kim loại đã được phân tích lên phim bởi một nhà khoa học nổi tiếng của IBM. Các phân tích cho thấy một sự kết hợp bất thường của những vật liệu bao gồm một nguyên tố quý hiếm và đắt tiền gọi là thulium. Ngoài ra, khi phân tích thêm, mẫu vật dường như thể hiện các tính chất của kim loại lẫn tinh thể. Mẫu kim loại này sau đó đã biến mất, nhưng phim phân tích vẫn còn. Trong cộng đồng nghiên cứu UFO, trường hợp này là một ví dụ kinh điển về việc vứt đi cả vàng lẫn cám. Bởi vì “quá dễ dàng”, nó được xem là lừa lọc. Khi Meier cố gắng xây dựng các mô hình tàu vũ trụ Pleiades để xem hình ảnh có thể bị làm giả hay không, các mô hình đã bị tìm thấy, và toàn bộ vụ này được dán nhãn là trò bịp. Những lời dạy của Semjase và các cộng sự của cô hiện đã bắt đầu được biết đến rộng rãi hơn. Họ dạy những sự thật về tinh thần cũng như đưa ra một phần lịch sử của chủng tộc Pleiades. Một số lời dạy cảnh báo về thảm họa tự nhiên và nhân tạo liên kết với một thời đại mới sắp tới. Có vẻ như những sinh mệnh Pleiades này đã tới từ một định hướng trong lịch sử của họ, nơi mà cảnh báo loài người về thảm họa sắp đến là một phần của triết lý liên hệ của họ. Mặc dù những lời dạy này có thể áp dụng khi chúng được đưa ra, nhưng người ta có thể đặt câu hỏi chúng liên quan thế nào đến ý thức khối ngày nay. Có những dấu hiệu cho thấy ý thức khối của Trái Đất đã làm một sự chuyển đổi từ một tương lai thảm họa sang một sự có trách nhiệm hơn trong giai đoạn 1980 – 1982. Vì những giáo lý của Pleiades được đưa ra trước khi sự chuyển đổi được thực hiện, có lẽ chúng là tượng trưng cho một ý tưởng cũ. Nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa là chúng vô giá trị, đây có nghĩa là có lẽ sẽ có một viễn cảnh khác đến với nhân loại thay thế —— một cái phản ánh những lựa chọn và thay đổi nhân loại đã được thực hiện gần đây trên tầng thứ của ý thức khối. Tiếp xúc Pleiades đến với chúng ta hiện nay (cả dưới hình thức vật lý lẫn tinh thần) có thể là tiếng dội từ một giọng nói khác. Một số người tuyên bố là hậu duệ tương lai của người Pleiades mà Meier nói. Những người Pleiades này nói chuyện cởi mở về quá khứ khó khăn của họ và lý do họ cảm thấy cần dùng các chiến thuật xác định để ứng phó với Trái Đất. Họ thừa nhận họ có động
  • 33.
    cơ riêng khiliên lạc, và cảm ơn hành tinh này vì tất cả những gì họ đã học được. Họ đang giúp đỡ xã hội làm sáng tỏ những hình thức tiếp xúc khác mà bản thân họ không trực tiếp tham gia (như những trải nghiệm bắt cóc tiêu cực). Họ đang chân thành giúp đỡ nhân loại bằng mọi cách có thể, cho phép hành tinh đạt được một quan điểm toàn cầu cũng như thiên hà. Pleiades có những lý do cụ thể cho sự ngập ngừng trong tương tác hiện tại của họ với Trái Đất. Trong hàng ngàn năm họ đã bước vào —— hoặc để bảo vệ chúng ta khỏi nguy hiểm, hoặc kiểm soát chúng ta như những đứa trẻ “để tốt cho chính chúng ta.” Vài nhóm phụ thậm chí đã thao túng nhân loại cho các mục đích riêng của họ. Đây là nguồn hổ thẹn lớn đối với họ. Bây giờ họ nhận ra rằng nhân loại phải tự lựa chọn và họ phải tin tưởng vào khả năng làm điều đó của nhân loại. Họ đã tạo ra nghiệp quả thông qua sự can thiệp của mình. Đối với sự tăng trưởng của chính họ, chu kỳ này bắt buộc phải được phóng thích. Tư tưởng duy trì khuôn mẫu can thiệp trên Trái Đất chính là ý tưởng đáng sợ nhất mà một người Pleiades phải đối mặt. Tiếp xúc Pleiades với Trái Đất liệu có tiếp tục trong tương lai không? Vì họ tương tự với Trái Đất nhất về phương diện vật lý (ở hình thể mật độ bốn), ý tưởng họ trở thành những người đầu tiên bước đi trên hành tinh này mà không phải cải trang có vẻ như thích hợp. Tuy nhiên, họ nhấn mạnh rằng nhiều nhân loại có lẽ muốn gặp người chị em họ của mình ở trên bầu trời hơn, và họ sẽ không bắt đầu một chương trình tiếp xúc cởi mở cho đến khi nhân loại có thể ôm lấy những người anh em ruột đang ở trên đường phố của chính mình. Đó là trách nhiệm của hành tinh này. Nhân loại là những người làm chủ. Liệu cuối cùng chúng ta có sẵn sàng buông bỏ nỗi sợ về việc nhận ra di sản của mình và chấp nhận những cánh tay dang rộng của họ không?
  • 34.
    7. Cửa NgõArcturus “Quả thật, khi một người rời khỏi thế giới này anh ta bay theo chiều gió. Nó mở ra cho anh giống như cái lỗ của bánh xe ngựa. Thông qua nó anh ta gắn kết cao hơn. Anh ấy đi đến mặt trời. Nó mở ra cho anh ấy như cái lỗ của trống... Anh ấy đi đến mặt trăng Anh ấy đi đến thế giới mà không có nỗi buồn ... “ —— Brihad-Aranyaka Upanishad Khi đi qua Lăng kính của Lyra, đã có một số sinh mệnh quyết định duy trì ở trong hình thể phi vật lý. Một cách đầy yêu thương, những sinh mệnh này lựa chọn tồn tại phục vụ cho những thực tại đậm đặc hơn, chẳng hạn như Trái Đất mật độ ba. Họ nhận thấy trên thế giới vật lý đang phát triển, sự sống tăng trưởng có thể cần sự trợ giúp từ các cõi giới khác. Sự trợ giúp này có thể đến dưới dạng nguyên mẫu, thiên thần, người hướng dẫn, và nguồn cảm hứng vô hình. Những sinh mệnh này bị hấp dẫn vào khu vực của một ngôi sao —— Arcturus. Trong quá trình hấp dẫn ban đầu, trường sao trong vùng Arcturus hơi khác với hiện tại, nhưng năng lượng của khu vực vẫn không thay đổi. Có một cửa ngõ hoặc giao lộ trong tấm vải của thời gian và không gian tại khu vực tổng quát của Arcturus. Những sinh mệnh đó sớm nhận ra rằng cửa ngõ này đã băng qua theo chiều hầu hết các khu vực khác được cư trú từ Pha Dẫn Chiều Kích. Sau đó họ bắt đầu hiểu được mục đích của mình —— hỗ trợ ý thức từ nhiều tầng thứ của nhận thức. Mục đích của Arcturus là đa diện. Một ý tưởng là họ phục vụ chủng tộc hình người như là một lý tưởng. Họ đại diện cho bản thân tương lai của một cá nhân hay xã hội. Năng lượng của họ — — theo bản chất của nó —— là một nam châm mà hấp thụ tiềm năng tích cực và hợp nhập từ rất sâu của sinh mệnh. Họ phản chiếu Trái Đất nơi nó đang tiến hóa tới. Một khi con người tiến hóa thành phi vật lý, mục tiêu lý tưởng là đạt được một ý thức tương tự như ý thức khối của Arcturus. Họ tự nhận mình là một ma trận nhóm, cam kết với lý tưởng về sự tiến hóa của ý thức. Rất thường xuyên, sinh mệnh Arcturus sẽ hiển hiện như thiên thần đối với con người. Người ta biết rằng một trong những mục đích của thiên thần là để phụng sự nhân loại. Trong một ý nghĩa rất thực tế, người Arcturus có một sự cống hiến cho chủng tộc hình người. Họ lựa chọn để học về vật lý thông qua các sinh mệnh vật lý. Họ là ether trong tự nhiên. Năng lượng của họ có thể được cảm nhận như một sự hiện diện, sự trỗi dậy của sáng tạo hay tình yêu vô điều kiện. Họ sẽ hiển hiện theo hệ thống niềm tin của người mà họ đang tương tác. Đối với tôn giáo truyền thống hơn, đó sẽ là thiên thần. Đối với một số người tìm kiếm hiện đại hơn, có thể là người ngoài hành tinh hoặc bản thân tương lai. Dù bằng cách nào thì kết quả cũng giống như nhau —— một tương tác với một sinh mệnh thực sự yêu thương dành cho phụng sự vật lý và do đó là Toàn Thể.
  • 35.
    Bởi vì họphụng sự vật lý, họ tương tác không chỉ với sinh mệnh nhân loại trên một hành tinh, mà còn với các vương quốc vô hình có đường tiến hóa khác với loài người. Mỗi hành tinh có vương quốc chư thiên riêng của nó —— năng lượng ý thức của các vương quốc thực vật, khoáng vật và động vật —— và năng lượng Arcturus hoạt động như một khía cạnh cao hơn của vương quốc chư thiên của một hành tinh. Một lần nữa, họ lặp lại ý tưởng phản chiếu lý tưởng tiến hóa trong tương lai. Có một số ít Arcturus chọn trải nghiệm vật lý để phụng sự. Thay vì vào vật lý thông qua quá trình sinh ra, họ chọn “walk in/bước vào” một cơ thể đã có sẵn trên thế giới vật lý. Họ không có nhu cầu (hay “nghiệp lực” nếu muốn nói) để tiến vào thông qua quá trình nhập thế. Bằng các thoả thuận khác nhau giữa những linh hồn, một “giao dịch” được thành lập. Linh hồn của một người đau khổ về tình cảm sẽ bước vào cõi giới của Arcturus để chữa lành, và người Arcturus tò mò sẽ tạm thời hóa thân trên một hành tinh. (1) [(1) Đây không phải là sự xuất hiện thông thường. Nhiều người tuyên bố là “walk-in” đã trải qua một quá trình phổ biến hơn có thể được gọi là “bện hồn”: Quá trình này là đưa vào một tần số năng lượng cao hơn của chính linh hồn đó, chứ không phải là một sự hoán đổi của ý thức. Nó có thể bị hiểu nhầm là lối vào của một ý thức mới, trong khi nó là một bước tiến và hợp nhập của ý thức ban đầu.] Các dịch vụ chính mà Arcturus cung cấp cho các sinh mệnh vật lý là sự chữa lành tình cảm. Arcturus thiên về một cõi giới hơn là một nơi thực tế, và trong cõi giới của Arcturus, những linh hồn Trái Đất có những cái chết (hoặc cuộc sống) chấn thương được chữa lành và phục hưng. Vì cửa ngõ Arcturus kết nối theo chiều với Trái Đất, tất cả những ai nhập thể trên Trái Đất đều phải đi qua cõi giới Arcturus trước khi họ đến được hành tinh —— trừ khi họ lựa chọn không qua một cách có ý thức. Đây cung cấp sự chữa lành cho những người được sinh ra, và tăng cường các lựa chọn và mong muốn của họ cho cuộc sống vật lý sắp sửa diễn ra. Cửa ngõ Arcturus chuẩn bị cho ý thức phi vật lý về sự tập trung cao độ của vật lý và do đó là tính dục. Từ quan điểm Arcturus của nhận thức, vật lý và tính dục là cùng một biểu hiện. Năng lượng Arcturus đặc biệt giỏi ở các hình thức chữa lành tính dục khác nhau, chẳng hạn như trong trường hợp lạm dụng tình dục thời thơ ấu hoặc khi trưởng thành. Các nguồn năng lượng chữa trị của Arcturus đều bình đẳng dưỡng nuôi cho kẻ bị ngược đãi lẫn kẻ ngược đãi, vì cả hai đều đau đớn rất nhiều. Việc sử dụng ma trận chữa trị Sirius/Arcturus có thể khá mạnh trong những trường hợp như vậy. Loài động vật biển có vú (đặc biệt là cá heo) có thể đại diện cho ma trận Sirius/Arcturus đối với những người đau đớn, vì cá heo khá tính dục và yêu thương vô điều kiện trong sự biểu hiện của chúng, chúng có thể phục vụ như một biểu hiện vật lý của ma trận chữa trị Sirius/Arcturus. Ma trận này hoàn toàn không đe dọa, cung cấp khả năng chữa bệnh tinh tế ở mức độ rất sâu. Khi chết, ý thức con người đi qua cõi giới Arcturus. Ở đó họ được dưỡng nuôi và chăm sóc cho đến khi họ thức tỉnh với thực tại lớn hơn của họ. Trong trường hợp của một cái chết chấn thương, một sự dịu dàng và chữa lành tuyệt vời được chia sẻ để linh hồn sẽ làm một quá trình chuyển đổi thức tỉnh trơn tru. Trong những trải nghiệm sau-khi-chết, ánh sáng được cảm nhận ở cuối đường hầm thực sự là một biểu hiện của rung động Arcturus. Rung động này sẽ được phiên dịch qua hệ thống niềm tin của người nhận thức. Bởi vì Arcturus chủ yếu là mật độ sáu, nó thường được coi là rung động của Chúa hay Phật. Ánh sáng có thể được đánh đồng với bản thân tương lai hoặc cái tôi cao hơn (Chúa bên trong) của một cá nhân. Vì vậy trong một phương diện nào đó, trong suốt quá trình
  • 36.
    chết, người takết hợp với cái tôi cao hơn, điều này xảy ra để chia sẻ một dải tần số gần giống với cõi giới Arcturus. Có sự chữa lành xảy ra. Trong tất cả các sáng tạo, không gì chữa lành, nuôi dưỡng, và phục hưng tinh thần con người triệt để như rung động Arcturus. [(2) Trong nhiều trải nghiệm sau-khi-chết, cá nhân đã nói một cách thương tâm về ánh sáng rực rỡ mà họ gặp phải. Một tường thuật ghi chép trong Moody's Life After Life tuyên bố: “Một ánh sáng trắng rực rỡ xuất hiện với tôi. Ánh sáng rực rỡ đến mức tôi không thể nhìn xuyên qua được, nhưng đi vào sự hiện diện của nó là quá xoa dịu và tuyệt vời. Trên Trái Đất không có trải nghiệm giống như vậy.” Bước vào rung động Arcturus sau khi chết có thể được đánh đồng với trải nghiệm này.] Một ý tưởng khác đồng nghĩa với rung động của Arcturus là ý tưởng sáng tạo. Khi một người đang sáng tạo, họ gắn liền với năng lượng của Tạo Hóa. Vì Arcturus phục vụ như một “sứ giả” của Tạo Hóa, vậy nên những rung động là tương tự nhau. Theo cách này, Arcturus đã gắn bó mật thiết với nhân loại ngay từ khởi đầu, vì nhân loại luôn luôn sáng tạo. Arcturus không chỉ là một ngôi sao. Đó là một tần số mà người ta sở hữu, bên trong. Đó là một tần số của sự sáng tạo, chữa lành và tiến hóa. Nó đã ở với Trái Đất và các hành tinh phát triển khác từ khởi thủy của chúng. Nó giống một dòng chảy ngầm hơn là một nhân vật trong câu chuyện gia đình thiên hà —— cái mà thậm chí hiện diện trong toàn thể ý tưởng Pha Dẫn Chiều Kích. Bởi vì năng lượng của Arcturus là một dòng chảy ngầm liên tục tương tác với chúng ta, môi trường hành tinh Trái Đất thường chuyển năng lượng của Arcturus vào một hình thức nhằm kích hoạt các cá thể một cách cảm xúc. Một ví dụ của điều này là mây dạng thấu kính, một định dạng đám mây ngoạn mục mà đúc khuôn chính nó vào một hình đĩa. Nó có thể trông giống như một chiếc tàu vũ trụ, nhưng hầu hết các thời điểm nó chỉ đơn thuần là môi trường Trái Đất chuyển hóa năng lượng mà nó nhận thức ở tầng thứ ether. Những “con tàu” ether này một lần nữa nhắc nhở nhân loại về các liên kết vô hình của nó. Bên trong thực tại phân cực, Arcturus đã chọn một đối tác để phản ánh các khía cạnh khác của bản chất đang phát triển của nó. Đối tác của nó là khu vực được gọi là Antares. Trong cửa ngõ chiều kích hoặc giao lộ có một sự kết nối giữa Antares và Arcturus, nơi đóng vai trò là đầu mối năng lượng quan trọng trong khu vực này. Hầu hết ý thức những người nhập thể trên Trái Đất chỉ đi qua rung động Arcturus. Nhưng có những người khác chọn qua Antares trước khi họ đến được Arcturus. Đây là những cá nhân làm việc trực tiếp với các khuôn mẫu ý thức khối, ma trận, và sự tiến hóa tế bào. Antares cũng là điểm kết nối chiều kích giữa góc phần tư Trái Đất của Ngân Hà và thiên hà Andromeda. Kết nối Antares/Andromeda tiếp năng lượng cho các khái niệm trừu tượng về sự tồn tại và ý thức cần thiết cho các chủng tộc vật lý để bắt đầu nhớ lại di sản của họ, do đó biến đổi quá khứ của họ. Hầu hết các chủng tộc khác đã khám phá trong công việc này có nhiều thỏa thuận cá nhân với hành tinh Trái Đất. Kết nối của Arcturus rất lưu động, rất dẻo, nhưng không kém phần quan trọng. Nếu so sánh mọi nhân vật khác của câu chuyện với các thành phần trong món súp vũ trụ, người ta có thể thấy cái cách chúng đã gia thêm hương vị như thế nào. Tuy nhiên, nếu so sánh Arcturus với tính nhất quán của nước dùng trong súp, nó rõ ràng cho thấy rung động Arcturus là một thành phần quan trọng giữ tất cả lại với nhau như thế nào. Có thể khám phá nhiều dạng biểu hiện năng lượng Arcturus trên Trái Đất. Thứ nhất, người ta có thể nói rằng Arcturus và Sirius hình thành quan hệ hợp tác. Trong khi Arcturus làm việc với
  • 37.
    chữa lành tìnhcảm thì Sirius tạo điều kiện cho chữa lành vật lý. Người Ai Cập biết đến những liên hệ này và kêu gọi các nguồn năng lượng của ma trận Arcturus/Sirius hỗ trợ trong nghi lễ của họ. Một vị thần nổi tiếng của người Ai Cập là Anubis —— là một nguyên mẫu Sirius trực tiếp, nhưng đã làm việc với năng lượng Arcturus. Anubis hướng dẫn các cá nhân vào thế giới bên kia (astral), hoặc đi qua quá trình tử vong vật lý. Có cả năng lượng của Sirius lẫn Arcturus đã bắt đầu quá trình chữa lành với linh hồn. Các đại diện của chó rừng (hoặc “chó”, giống Sao Chó của Sirius) như Anubis là một tín hiệu trắng trợn rằng người Ai Cập đã nhận thức về kết nối này. Anubis (như một nguyên mẫu Sirius) đã dẫn dắt linh hồn ra đi đến cõi giới Arcturus, nơi xảy ra sự chữa lành. Arcturus đại diện cho hợp nhập nhiều như Orion đại diện cho bản chất xung đột hoặc phân cực của nhân loại. Nguyên mẫu của Merlin thường được coi như là cây cầu. Khi hai cực cố gắng thống nhất, phải có một nền tảng chung mà cả hai đều đứng trên đó trước khi sáp nhập xảy ra. Merlin là một cầu nối giữa Orion bùng nổ và Arcturus chữa lành. Anh ta là nền tảng chung. Dễ thấy năng lượng của anh ta có tầm quan trọng lớn đến thế nào, không chỉ đối với Trái Đất, mà với tất cả những ai trải nghiệm sự phân cực. Pháp thuật là tia lửa tạo ra từ sự cọ xát giữa các cực nhóm lên sự chuyển đổi. Buổi đầu trong sự phát triển của Trái Đất, người Arcturus đã đồng ý cho mật độ bản thân đủ để được tạm thời nhận thức. Họ tương tác với nền văn hóa xa xưa gọi là Lemuria bằng cách dạy kỹ năng chữa lành. Ký ức của những tương tác này được thực hiện qua các thế hệ. Khi người Lemuria di cư đến nhiều vùng trên Trái Đất, những ký ức này được mang theo cùng họ. Các bức tượng ở đảo Phục Sinh là một trong số ít những ý tưởng vẫn tồn tại trong vật lý về sự tương tác trực tiếp của họ. Những bức tượng này không có nghĩa là đại diện cho những người Arcturus đông cứng như vậy để vinh danh họ. Vị trí của các pho tượng nằm ở ngoài trời, nhìn đăm đăm vào chân trời, chờ đợi sự trở lại của người Arcturus. Nhân loại không bao giờ phải chờ đợi sự trở lại của họ. Năng lượng đã có mặt ngay từ đầu. Nếu nhìn vào bên trong thay vì ra bên ngoài, họ có thể được tìm thấy. Họ là loài người đã phát triển đến tiềm năng cao nhất của mình. Họ nhắc nhở nhân loại và đưa nó thẳng vào một xoắn ốc tráng lệ của tiến hóa. Nhà là nơi trái tim ở, và trái tim là lộ tuyến của Arcturus.
  • 38.
    8. Khởi ThủyTrái Đất “Sau đó Thượng Đế nói, “Hãy làm con người theo hình tượng chúng ta, giống như chúng ta…” —— Sáng Thế ký đoạn 1 câu 26 Con người Trái Đất được tạo ra theo hình tượng của ai? Nhiều kinh sách lâu đời nhất trên Trái Đất ngụ ý rằng sự phát triển của nhân loại được dẫn dắt bởi các vị thần xuống từ bầu trời. Ngay cả những nhà nhân chủng học cũng nhận thức được sự phát triển nhanh chóng bất thường của loài Homo sapiens. Một số nhà nhân chủng học ước tính rằng loài Homo sapiens dường như đốt cháy giai đoạn tới hàng triệu năm. Trong khi quá trình tiến hóa từ Vượn người phương nam tiến bộ tới người Neanderthal đã mất hơn hai triệu năm, người ta đã tìm thấy bằng chứng rằng Homo sapiens (Cro-Magnon) xuất hiện trên Trái Đất cách đây khoảng 35.000 năm. Điều thú vị hơn chính là trong khi vết tích của loài người đang tiếp tục được phát hiện, các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu tích từ một Homo sapiens thậm chí sớm hơn ở các khu vực Tây Á và Bắc Phi. Những dấu tích này là từ 250.000 năm trước người Cro-Magnon. Cần phải nói ở đây chính là Homo sapiens không có tiền thân tiến hóa. Không có loài nào phát triển thành Homo sapiens —— chủng loài này chỉ đơn giản là đột nhiên xuất hiện. Liệu người ngoài hành tinh có hứng thú nhúng tay vào sự tiến hóa của Trái Đất hay không? Nếu vậy, họ có thể thu họach được gì từ con người Trái Đất? Có lẽ đó là một cách để họ thúc đẩy sự tiến hóa của mình. Dễ thấy có ba nhóm chính hợp tấu Khởi Thủy Trái Đất. Chúng ta xác định họ là: Đấng Sáng Lập, nhóm Lyra và nhóm Sirius. Các Đấng Sáng Lập đã tạo điều kiện cho Khởi Thủy từ một điểm phi vật lý và là người giám sát toàn bộ dự án. Không biết về những ảnh hưởng phi vật lý này, các Lyra hợp tấu Khởi Thủy một cách vật lý và dùng một nhóm Sirius hỗ trợ. Mỗi nhóm đều có động lực riêng cho sự tham gia của mình. Và dù động cơ khác nhau, nhưng mục đích cũng chỉ có một —— tạo ra một chủng tộc hình người ở trên Trái Đất. Như đã đề cập trước đó, Pleiades liên quan đến sự tiến hóa của Trái Đất bởi lợi ích riêng của họ. Họ cảm thấy nếu giao tiếp với con người, họ không chỉ có thể trở thành một phần trong sự phát triển của ngôi nhà trước đây của mình, mà còn có thể học hỏi về tiêu cực và hợp nhập mà không cần phải trực tiếp nhập thế vào một thế giới đang diễn ra những ý tưởng đó. Họ đã được thuyết phục bởi nhóm Lyra —— những người nhận thức rõ về sự tương thích gen của Pleiades với tân nhân loại đang được phát triển của Trái Đất. Nhóm Lyra (một sự kết hợp của các chủng tộc Lyra khác nhau) đã không ngừng thử nghiệm. Cũng giống như loài người có những động lực bản năng nhất định (chẳng hạn như sinh sản), những sinh mệnh ngoài hành tinh này mang theo các xu hướng của chính mình: bắt chước “tạo hóa” của họ —— Đấng Sáng Lập. “Con” của Đấng Sáng Lập theo bản năng tiến hành với việc gieo hạt giống di truyền. Những Đấng Sáng Lập đã nhận thức rõ rằng lai cận huyết sẽ là nguyên nhân khiến một chủng tộc diệt vong, do đó họ liên tục tìm kiếm nguyên liệu mới để giữ cho vốn gien pha trộn.
  • 39.
    Có một độnglực chính khác cho sự tham gia của Lyra đối với Trái Đất. Sau hằng hà sa số những xung đột trong các chủng tộc nhánh của Lyra (Vega, Sirius, Orion…), họ mệt mỏi vì đã tạo ra những nền văn minh bị phân cực và thất bại trong việc tồn tại một cách hòa bình. Họ đã xác định rằng Trái Đất là một hành tinh được hình thành dựa trên sự hợp nhập chứ không phải là phân cực. Nhóm Lyra cảm thấy cái họ cần có lẽ là một hành tinh có sự khởi đầu đã được hợp nhập chứ không phải một hành tinh mang các hạt giống phân cực từ những hệ sao khác. Với ý nghĩ này, họ bắt đầu xây dựng kế hoạch nghiêm ngặt của mình cho Khởi Thủy Trái Đất. Tuy nhiên, những Đấng Sáng Lập có kế hoạch khác. Họ biết Trái Đất có thể sẽ là mảnh đất cuối cùng để chữa lành cho vở kịch Orion, do đó vẫn phải phân cực để giải quyết xung đột. Các Đấng Sáng Lập biết gia đình thiên hà cuối cùng cũng sẽ học được về hợp nhập thông qua trải nghiệm giải quyết phân cực trên Trái Đất. Những Đấng Sáng Lập đã cho phép nhóm Lyra thực hiện kế hoạch của mình vì họ biết nó sẽ ủng hộ kế hoạch vũ trụ. Đối với nhóm Sirius, động cơ của họ là được gần gũi nhà hơn. Họ cho rằng Trái Đất nằm trong hệ thống sao ba Sirius, do đó tin mình có quyền thao tác gen di truyền Trái Đất. Các Sirius chỉ đơn giản là có hứng thú trong việc gây dựng các chủng tộc hình người nguyên thủy trên Trái Đất —— những người có thể phục vụ như lao động tay chân khi họ mở rộng địa giới của mình để bao gồm Trái Đất. Bởi vậy, họ ủng hộ dự án Lyra với những mục đích riêng trong tâm trí của mình. Dự án Khởi Thủy Trái Đất bắt đầu. Trong hàng nghìn năm xuyên suốt những giai đoạn đầu của dự án Khởi Thủy Trái Đất, người Lyra (1) đã cẩn trọng theo dõi chủng loại linh trưởng đang phát triển trên Trái Đất. [(1)] Những người Lyra này cũng như những người khác đã được biết đến bằng thuật ngữ “Nefilim” trong tiếng Hebrew, bị dịch sai thành “những người khổng lồ”. Nefilim nghĩa đen là “những người đã đi xuống.” Sáng Thế ký đoạn 6 câu 4 tuyên bố: “Nephilim đã ở trên Trái Đất trong những ngày đó —— cũng như sau đó —— khi các con trai của Thượng Đế đến với con gái của nhân loại và có con, họ là những anh hùng của những người già, người của nổi danh.” “Nổi danh” trong bản gốc tiếng Hebrew là “shem”, nghĩa đen là phương tiện phi hành, có thể là tàu hỏa tiễn. Do đó, “Họ là những anh hùng của người già, người của tàu hỏa tiễn.” Thỉnh thoảng họ lấy mẫu và thay đổi cấu trúc DNA chút ít. Ở những điểm quan trọng trong quá trình phát triển, họ bắt đầu đưa vật liệu di truyền từ Pleiades (2) (và các nhóm khác) vào những loài linh trưởng này. Thời gian dài trôi qua, sự tăng tốc của tiến hóa càng ngày càng hiện rõ. Khi điều đó trở nên rõ ràng, các thí nghiệm hình mẫu quan trọng đã được bắt đầu. [(2)] Như đã đề cập trước đây, Pleiades mang gen di truyền Trái Đất đã thành công hợp nhập vào nguyên liệu Lyra. Vì vậy, họ đã trở thành lựa chọn sau cùng để gieo chủng loại người trên Trái Đất.] Câu chuyện về Adam và Eva là một trong số ít những di sản còn sót lại mà có thể tinh tế nhắc nhở nhân loại về khởi đầu của nó. Câu chuyện đó chứa nhiều tham khảo tượng trưng cho trường thiên xảy ra liên quan đến kiểu chủng loài kế thừa Trái Đất. Như đã nói, nhóm Lyra muốn một chủng loài được gây dựng trên sự hợp nhập. Vì vậy, họ cảm thấy loài này phải không có kiến thức về phân cực —— hoặc “tốt” và “xấu”. Họ kiểm soát chặt chẽ môi trường của tân nhân loại để những người này sẽ tập trung phát triển như những phương tiện hợp nhập hoàn mỹ. Họ không muốn tân nhân loại trở nên giống mình —— phân cực. Điều mà nhóm Lyra không thừa nhận chính là họ cũng đang hạn chế sự lựa chọn đối với những tân nhân loại. Sau nhiều thế hệ làm việc với động vật linh trưởng và di truyền ngoài hành tinh, nhóm Lyra đã phát triển một hình mẫu nhân loại có nghĩa là “trên Trái Đất” đã được dịch thành cái tên “Adam”. Hình mẫu Adam đã được đưa vào Trái Đất để kiểm tra tính thích ứng môi trường của nó ở nhiều
  • 40.
    khu vực trênhành tinh này (tức là có rất nhiều Adam). Khi hình mẫu này đã được điều chỉnh thỏa đáng, các Adam đã được thu về. “Vậy là, Thượng Đế tạo nên một giấc ngủ sâu để nhân loại chìm vào, và anh ta đã ngủ. Sau đó Ngài lấy một cái xương sườn của anh ta (hay một phần xương hông anh ấy), và đóng da thịt ở đó lại.” [(3) Sáng Thế ký đoạn 2 câu 21] Thông qua nhân bản và kỹ thuật di truyền, một hình mẫu nữ tạo ra được dịch là “Eva”. Cả hai đã trở lại với môi trường và được theo dõi chặt chẽ. Với mong muốn tạo ra một chủng loài không có kiến thức về phân cực, người Lyra dạy dỗ tất cả hình mẫu theo xu hướng ngăn cấm kiến thức và thực sự phủ nhận quyền lựa chọn mà tất cả sinh mệnh thần thánh đều được trao cho. Do đó, người ta có thể thấy được ý nghĩa lời tuyên bố của Thượng Đế: “Ngươi có thể tự do ăn bất cứ cây nào trong vườn, trừ cây tri thức tốt và xấu [phân cực], vì từ cái ngày mà ngươi ăn nó, ngươi chắc chắn sẽ chết.” [(4) Sáng Thế ký đoạn 2 câu 16] Những người Sirius làm việc với nhóm Lyra không đồng ý với triết lý này. Họ cảm thấy mong muốn cá nhân của Lyra cho việc tạo ra chủng loài này là sai lệch với các quyền của hình thể hình người. Mặc dù muốn phát triển loài người cho mục đích riêng của mình, nhưng những người Sirius đã phát hiện họ có một tình cảm chân thành đối với tân nhân loại. Bất chấp hai mặt tương phản này, họ quyết định can thiệp, do đó vô tình cho con người cơ hội để lựa chọn. Nhóm người Sirius đã cảnh báo con người rằng: Và con rắn (5) nói với người nữ “Ngươi chắc chắn sẽ không chết! Vì Thượng Đế biết rằng từ ngày các ngươi ăn nó, mắt các ngươi sẽ mở ra, và các ngươi sẽ giống như Thượng Đế, biết được cả tốt lẫn xấu.” [(6) Sáng Thế ký đoạn 3 câu 4] [(5) Rắn là một biểu tượng nguyên mẫu được tìm thấy trong nhiều thần thoại cổ đại. Bản chất của rắn nhất quán mô tả tính hai mặt —— nó là đáng sợ nhưng vẫn là một đồng minh mạnh mẽ của nhân loại. Trong các văn bản Sumer, Enki – vị thần (Sirius) bảo vệ nhân loại, cũng được miêu tả như một con rắn. Phán xét rằng rắn là “xấu” mang tính hiện đại hơn và có thể là một mánh khóe được các vị thần (Lyra) sử dụng để giữ cho nhân loại không tuân theo các chỉ dẫn của những người Sirius đang cố giúp nhân loại.] Được trình bày với lựa chọn và sự cần thiết cho một quyết định liên quan đến sự tồn tại của họ, con người đạt được ý thức mật độ ba. Khi con người nhận ra mình đã bị “Thượng Đế” lừa dối, họ đã lựa chọn tri thức. Một khi đã lựa chọn nhận lấy kiến thức về phân cực, họ đã bị neo hoàn toàn trong cơ thể. Họ bây giờ sở hữu bản ngã, hoặc hiểu biết về “Tôi”, và trở nên tự nhận thức bản thân. “Thượng Đế phán rằng: Nhìn đi, loài người đã trở nên giống như một trong số chúng ta, biết được tốt và xấu [phân cực]. Hắn không được phép vươn tay hái lấy cây sự sống mà ăn rồi sống đời đời.” [(7) Sáng Thế ký đoạn 3 câu 22] Không cần phải nói, nhóm Lyra tất nhiên không hài lòng. Trong sự phẫn nộ của mình, họ đã phủ nhận nhân loại khỏi tri thức cây sự sống (Tài Sản Thần Thánh). Do đó, nhân loại đã bị buộc phải phát triển mà không có sự hiểu biết về mối liên hệ của nó với gia đình thiên hà và Toàn Thể. Đó thực sự là một thách thức. Để đảm bảo rằng con người không tìm kiếm kiến thức này, nhóm Lyra đã sử dụng một số biện pháp phòng ngừa: “... ở phía đông của khu vườn, Ngài đã đóng quân các Trí thiên sứ, và thanh hỏa kiếm hướng về mọi phía, để bảo vệ con đường đi đến cây sự sống.” [(8) Sáng Thế ký đoạn 3 câu 24]
  • 41.
    Họ bỏ lạinhân loại với tài sản của chính nó —— di sản của Orion (được miêu tả biểu tượng là thanh kiếm), mà không để lại bất kỳ kiến thức gì về giải pháp cho nó. Có những gợi ý trong văn bản Sumer cổ chỉ ra rằng Trí thiên sứ là thiết bị cơ khí hoặc robot thực tế, trong trường hợp này là bảo vệ cây sự sống. Bản dịch nghĩa đen của cây sự sống là gì? Trong tiếng Sumer, cây sự sống được phiên dịch là GISH.TIL. GISH có nghĩa là một thiết bị nhân tạo; TIL có nghĩa là tên lửa (và vẫn còn nghĩa này trong tiếng Do Thái hiện nay). Thay vì một cái cây thực sự, đây có thể có nghĩa là “phương tiện để sống” —— hay tàu vũ trụ. Trong các bản dịch của người Sumer có những miêu tả rõ ràng về tàu hỏa tiễn, cũng như những người chào đón các tàu hỏa tiễn này. Có thể thấy rõ hành động đóng quân Trí thiên sứ của các vị thần để giữ con người tránh khỏi cây sự sống thực sự đã phủ nhận con người khỏi tri thức về di sản của họ. Loài người trên Trái Đất sẽ không được phép cởi mở hòa nhập với các vị thần hoặc rời khỏi hành tinh cùng họ nữa. Con người đã bị trục xuất khỏi thiên đàng. Điều gì xảy ra với nhóm Sirius đã can thiệp vào kế hoạch của Lyra? Bằng cách can thiệp, họ đã trở nên hăng hái gắn bó với sự phát triển của Trái Đất. Họ luôn có nhiều thủ thuật trong tay, và trong trường hợp này, họ đã thắng chung cuộc. Khi làm việc với nhóm Lyra trong chương trình di truyền, họ chèn một mã DNA tiềm ẩn bên trong tế bào nhân loại. Mã này được kích hoạt bởi sự gia tăng rung động xảy ra khi một nền văn minh bắt đầu tiến hóa về mặt tinh thần. Khi Trái Đất tăng tốc về hướng nhận thức bản thân và mật độ bốn (hiện đang xảy ra), mã này được kích hoạt. Một khi được kích hoạt, chủng tộc nhân loại sẽ trải tầm nhìn giới hạn của nó ra giống như giải phóng một cuộn dây cho đến khi sự mở rộng của Toàn Tồn Tại trở nên có thể nhìn thấy. Đó là cách họ cho phép con người ăn trái cây sự sống sau tất cả. Từ những người gieo hạt giống cho hành tinh Trái Đất buổi đầu này, nhân loại đã được để lại cho một thách thức. Như đã nêu, “trẻ con” được gieo hạt thường mang mã di truyền và thái độ ăn sâu trong lòng từ “cha mẹ”. Nếu Trái Đất thực sự đã được gieo hạt từ một điểm bất bình đẳng và thiếu tự do ý chí, điều này liệu có thể giải thích lý do nhân loại của nhiều chủng tộc ngày nay vẫn mang niềm tin ẩn giấu về tính ưu việt của chủng tộc da trắng/Arya (nhóm Lyra) không? Liệu nó có thể là gốc rễ của định kiến chủng tộc lùi tận về sự gieo hạt của hành tinh này? Các văn bản sớm nhất có sẵn cho người tìm kiếm chắc chắn gợi ý điều này. Các ghi chép của người Sumer tham chiếu đến “những người đầu đen” làm việc trong các hầm mỏ châu Phi cho các vị thần. Nếu đây là trường hợp đó —— nhân loại mang các khuôn mẫu tổ tiên của nó —— thì thách thức này mới chỉ bắt đầu. Việc thoát khỏi bùa mê thần linh đã được vẽ đường chỉ lối cho con người có thể là chìa khóa cho sự giải phóng chủng tộc nhân loại trên Trái Đất. Trong quá khứ của Trái Đất, loài người đã nhận được tín hiệu xung đột từ các vị thần. Đã có những lần (một số được ghi lại trong các văn bản của người Sumer, chẳng hạn như đại hồng thủy) khi con người bị bỏ rơi và để mặc cho chết trên hành tinh trong lúc các vị thần mà họ tin cậy rời đi trong tàu vũ trụ của mình. Trong những thời điểm này cũng có một số vị thần “bất hợp pháp” giải cứu những người được chọn. Điều này đã tạo ra một mã hóa cảm xúc trong con người xuyên suốt thời gian khủng hoảng. Mã hóa ghi nhớ cả hai khuôn mẫu này và một cuộc đấu tranh được kích hoạt giữa nỗi sợ bị bỏ rơi và niềm vui được cứu rỗi. Điều bắt buộc là chủng tộc nhân loại phải giải quyết được sự lệ thuộc vào các vị thần đồng thời trở nên tự lập. Trên Trái Đất hiện nay, các nhóm người ngoài hành tinh sở hữu mã hóa bắt nguồn từ quá khứ vẫn hứa hẹn sự cứu rỗi. Họ đến với con người như những sinh mệnh không gian vật lý hoặc nói chuyện thần giao cách cảm với những người có thể nghe thấy tần số của họ. Thông thường họ gọi đối tượng người Trái Đất là “những thống lĩnh” hoặc “những người được chọn”, và tiếp tục cám
  • 42.
    dỗ bản ngãcủa con người để duy trì những cảm giác ưu việt. Mặc dù các nhóm ngoài hành tinh có ý nghĩa tốt trong hầu hết các trường hợp, nhưng họ tiếp tục duy trì khoảng cách giữa nỗi sợ bị bỏ rơi và niềm vui được cứu rỗi, do đó khuyến khích niềm tin tách biệt về giới tinh anh. Khi con người nắm lấy sức mạnh của chính mình và bước vào tuổi trưởng thành hành tinh, những nhóm tàn dư này cũng sẽ biến đổi. Phần lớn các nhóm ngoài hành tinh khác đã học được từ những hành động trong quá khứ đồng thời mong muốn giải quyết xung đột này một lần và mãi mãi. Từ quan điểm của Đấng Sáng Lập, Kế Hoạch đã diễn biến hoàn hảo. Nhóm Lyra cần phải diễn xuất kịch bản cho sự tăng trưởng của chính họ. Những “vị thần” ngoài hành tinh đã để lại trên Trái Đất manh mối mà cuối cùng sẽ giúp đánh thức hành tinh này đến với tài sản của nó. Khi nhân loại thức tỉnh về kiến thức này, nó sẽ bắt đầu phát huy các công cụ cần thiết để giải quyết vở kịch Orion. Giải pháp đến từ sự dung thứ. Nếu loài người có thể thực sự cho phép sự đa dạng bên trong sự thống nhất từ một điểm không phán xét, Thiên đường trên Trái Đất sẽ được tạo ra.
  • 43.
    9. Zeta Reticuli:Chuyển Hóa Và Thức Tỉnh “Họ tìm kiếm sâu thẳm trong linh hồn. Họ tìm kiếm sự hiệp thông.” —— Whitley Strieber Sự bắt đầu của nền văn minh Zeta Reticuli có thể ngược dòng đến khởi thủy hành tinh Apex trong hệ thống Lyra của Đấng Sáng Lập. Đó là sự phát triển độc đáo sâu sắc có ý nghĩa quan trọng liên quan đến sự tiến hóa của Trái Đất. Hành tinh Apex cho phép phân cực, thể hiện qua cá tính hóa cực đoan, khiến họ không mấy vui vẻ. Sự phát triển công nghệ của họ diễn ra nhanh chóng, vượt qua sự phát triển tâm linh khiến họ không thể chung sống hòa bình trên thế giới của mình. Sự mất cân bằng trong năng lượng gây ra sự hủy diệt ảo của hành tinh Apex. Từ quan điểm của một người quan sát trong vũ trụ, thế giới Apex đã bị xóa sổ. Từ quan điểm của cư dân Apex, một câu chuyện khác đã xảy ra. Hành tinh Apex trở nên cực kỳ độc. Ô nhiễm và bức xạ bậc cao làm cho bề mặt không thể ở được. Những người Apex sống sót sau thảm họa đã tách biệt dưới đất (1). Sự hợp nhập bắt buộc phải xảy ra trong xã hội mới dưới lòng đất này, bằng không chu kỳ hủy diệt sẽ tái lặp chính nó. Nhận thức được tầm quan trọng của việc này, họ quyết định cưỡng chế hợp nhập (dung nhập) thông qua việc tái cấu trúc thực tại của mình. [(1) Sự tách biệt dưới lòng đất này đã tạo ra nhiều phe phái người Apex khác nhau. Những người được khám phá trong chương này là một chủng tộc lành tính hơn. Những người khác có xu hướng tiêu cực hơn (trợ giúp tạo ra sự hỗn loạn trên hành tinh Apex) cuối cùng đã rời hành tinh Apex sau hàng ngàn năm và định cư tại các khu vực của Sirius và Orion, đáng chú ý nhất là Betelgeuse. Những sinh vật tiêu cực tương tác với Trái Đất hiện tại được dán nhãn là các Sirius và Grey tiêu cực; họ có động cơ riêng cho sự tương tác của mình với Trái Đất.] Khi hành tinh Apex tiếp cận sự hủy diệt, tâm lý và trí tuệ của nó đã phát triển cao đến mức trở nên thấy rõ trong hình thể vật lý của người Apex. Hộp sọ đã gia tăng kích thước đáng kể chỉ qua rất ít thế hệ. Sinh đẻ tự nhiên càng ngày càng ít thành công vì xương sọ không dễ đi qua ống sinh sản. Nữ giới đơn giản là không thể thích ứng với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng mà xương sọ đã phát triển. Dự đoán được cái có thể là một cuộc khủng hoảng chủng loài, các kỹ sư di truyền bắt đầu học kỹ thuật nhân bản mà cuối cùng đã có thể thay thế quá trình sinh sản. Đối với người Apex, động thái này đã cứu được chủng loài của họ —— vì sau khi bề mặt hành tinh trở nên không thể ở được, người Apex phát hiện bản thân họ vô sinh. Một khi đã nhận ra mình vô sinh, người Apex quyết định biến nó thành lợi thế của họ. Họ không muốn cái kiểu giống như nền văn minh mà họ từng có; họ muốn bắt đầu lại bằng một con đường khác. Do đó, họ kiên quyết quyết định kiểm soát chặt chẽ di truyền học trong xã hội tương lai của mình. Các kỹ sư di truyền bắt đầu làm việc để phát triển chủng tộc mới của họ. Chủng tộc này (họ tin) sẽ là một khía cạnh hợp nhập của quá khứ của họ. Ưu tiên hàng đầu là biến đổi gen cấu trúc não để ảnh hưởng đến biểu hiện cảm xúc. Họ xa lánh biểu hiện của đam mê và hỗn loạn trong quá khứ; họ bây giờ muốn có thứ tự. Não của họ đã được biến đổi để sản xuất ra một phản ứng hóa học phù hợp với kích thích bên ngoài. Họ đạt được sự tách rời khỏi cấu trúc bản ngã của mình. Qua nhiều thế hệ của các thao tác thần kinh hóa, người
  • 44.
    Apex trở thànhtâm trí nhóm. Các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân mà họ từng cực kỳ tự hào nay đã không còn. Sự kết hợp giữa bức xạ hành tinh và những ảnh hưởng từ quá trình nhân bản của họ bắt đầu tạo ra một chủng tộc với ít khác biệt về thể chất từ người này đến người kia. Để tận dụng hiệu quả hơn môi trường dưới đất của hành tinh, tầm vóc cơ thể họ được tạo ra nhỏ hơn. Khi thích ứng với sự vắng mặt của ánh sáng cực tím và nắng mặt trời tự nhiên, mắt của họ bắt đầu phản ứng với các tần số khác của quang phổ thị giác. Tròng đen của họ đột biến bao trùm toàn bộ mắt, khuôn mắt mở rộng cho phép nhiều không gian bề mặt hơn để thu thập ánh sáng. Để đối phó với việc thiếu thức ăn tươi, cơ thể họ cuối cùng đã thích nghi bằng cách hấp thụ một số tần số nhất định của ánh sáng làm chất dinh dưỡng. Da của họ đã trở thành quang nhiệt và quang điện, nhạy cảm với các nguồn sáng trong những hang động bên dưới lòng đất. Các cây trồng được cứu vớt và các khoáng chất phát sáng dưới lòng đất hỗ trợ nuôi dưỡng họ. Nhiều cơ quan cơ thể họ, chẳng hạn như các hệ thống tiêu hóa và sinh sản, đã bắt đầu bị teo. Sự chuyển đổi mà họ trải qua đã chạm tới mọi khía cạnh sinh mệnh của họ. Một nền văn minh mới bắt đầu nổi lên. Sức mạnh và rung động từ các vụ nổ nguyên tử trước đó của người Apex cuối cùng đã bẻ gập không gian xung quanh hành tinh Apex, và họ trồi ra “ở đầu kia” của một lối vào chiều kích. Trong thời kỳ phong bế dưới đất kéo dài hàng ngàn năm, người Apex không biết hành tinh của họ đã thay đổi vị trí của nó trong thời gian và không gian. Mãi đến khi những thế hệ sau trồi lên bề mặt hành tinh sau đó, họ mới nhận thấy trường sao đã chuyển dịch một cách đáng kể. Thế là họ đã biết mức độ mà những hành động của họ ngày trước gây ra. Hành tinh Apex đã chuyển đổi vị trí của nó (liên quan đến thời gian và không gian) trong vũ trụ. Bây giờ nó đã tồn tại “lệch một chút” trong chiều kích so với thế giới mà họ quen thuộc. Để hiểu rõ điều gì đã xảy ra và vận dụng kiến thức cho lợi ích của mình, họ bắt đầu làm chủ khoa học về bẻ gập thời gian và không gian. Cái ngày mà cuối cùng họ cũng tái xuất hiện trên bề mặt hành tinh, họ đã trở thành một chủng loài mới. Như phượng hoàng trỗi dậy từ đống tro tàn, họ đã xoay xở tạo ra chuyển đổi từ sự hủy diệt. Họ không còn là những người Apex. Bây giờ họ mang một danh tính mới, cái mà của Một Người Dân Phản Ánh Toàn Thể. Từ quan điểm của Trái Đất, những người này có thể được gọi là Zeta Reticuli (2). Hành tinh của họ —— thông qua sự thay đổi trong chiều kích của nó —— đã chèn vào vùng lân cận của Zeta Reticuli 1 và Zeta Reticuli 2 (3) trong nhóm sao Reticulum Rhomboidalis. (4) Từ cơ sở đó, họ bắt đầu tái lập kết nối với Đấng Sáng Lập Sự Sống. Cho đến ngày nay, họ vẫn tiếp tục thực hiện mong muốn của những Đấng Sáng Lập cho sự tiến hóa thiên hà. Điều họ đang bắt đầu nhận ra chính là họ cũng đang thực hiện sự tiến hóa của chính họ. [(2) Như đã nêu trong chú thích (1), có rất nhiều phe phái người Apex đã xuống lòng đất. Trong khi ở dưới đất, vài phe phái đã phát triển thành những chủng tộc Zeta Reticuli lành tính. Những thực thể lành tính này là những người được đề cập trong Chương 9. Phe được đề cập trong chú thích (1) có thể được coi là Zeta Reticuli tiêu cực, những người sau khi chuyển sang hệ sao Reticulum đã rời bỏ hành tinh Apex nguyên bản và chiếm một hành tinh khác trong hệ thống Zeta Reticuli. Họ gần như giống nhau về ngoại hình và chỉ có thể phân biệt bằng rung động hoặc hành vi vốn có bản chất tiêu cực trong tự nhiên của họ. Có lẽ khi các phiên bản đối lập của Zeta Reticuli được nhìn thấy, con người thực sự đang tương tác với Reticuli từ các điểm tiến hóa khác nhau trong dòng thời gian lịch sử của họ, cho dù tất cả họ đều đến từ tương lai của Trái Đất. Các biểu hiện tiêu cực hơn có thể là quá khứ của họ, trong khi một số các tương tác vô hại hơn có thể
  • 45.
    xảy ra từmột trạng thái tiến hóa xa hơn. Khi họ đến với con người trong hiện tại, giả thiết rằng họ bắt nguồn từ một điểm duy nhất trong thời gian. Nếu họ thực sự đến Trái Đất từ những điểm khác nhau trong quá trình phát triển của họ, đó sẽ giải thích một loạt các trải nghiệm bắt cóc được báo cáo là thực hiện bởi cùng một sinh mệnh.] [(3) Từ điển Webster định nghĩa “reticular” là “giống như một mạng lưới; phức tạp.” Một số có thể chắc chắn chứng thực rằng tâm lý của các sinh mệnh Zeta Reticuli thực sự rất phức tạp!] [(4) Một trong những ca bắt cóc UFO nổi tiếng nhất giúp làm rõ nguồn gốc của những sinh mệnh này là trường hợp của Betty và Barney Hill. Năm 1961 Betty Hill được cho thấy bản đồ của một cụm sao trong khi bị bắt cóc. Nhiều năm sau, cô vẽ ra bản đồ này trong lúc đang được thôi miên. Vào thời điểm đó, trên các bản đồ sao đã biết không có tham chiếu đến nhóm sao này. Từ đó đã phát hiện ra bản vẽ của Betty phù hợp với một nhóm sao mới được tìm thấy từ bán cầu nam của Trái Đất. Nhóm sao, Reticulum Rhomboidalis (Mạng Rhomboidal) chứa nhóm sao mà bây giờ có tên là Zeta Reticuli 1 và 2.] Ngày nay, Zeta Reticuli đòi hỏi một phương pháp tăng cường dòng gen để tạo ra một tương lai cho chủng tộc của mình. Sau nhiều thế hệ nhân bản sử dụng cùng một vật liệu di truyền, họ đã trở nên cùng dòng và trì trệ nghiêm trọng trong sự tăng trưởng tiến hóa của họ. Chủng tộc của họ đang chết dần, nhưng siêu linh hồn của họ mong muốn tiếp tục nhập thế trong vật lý. Họ đang cố tình giữ mình không chuyển đổi sang mật độ năm để để lại một hạt giống của bản thân mà có thể tiếp tục sinh sản di truyền. Điều này sẽ hỗ trợ toàn bộ thiên hà trong sự tiến hóa của nó. Nhận ra tình trạng khó xử của mình, họ kêu gọi các Đấng Sáng Lập. Những Đấng Sáng Lập đã giới thiệu với Reticuli một hành tinh đa dạng sở hữu nguồn gen từ nhiều chủng tộc nhân-loại từ tận khởi thủy của chủng loài Lyra về mặt di truyền. Thay vì phải đi từ nền văn minh này đến nền văn minh khác để thu thập vật liệu di truyền, Reticuli có thể lấy được chúng ở cùng một chỗ —— Hành tinh này chính là Trái Đất. Các Reticuli được thu hút tới Trái Đất chủ yếu vào những năm 1940, khi hành tinh bắt đầu sở hữu công nghệ để tự hủy diệt. Họ hoàn toàn ý thức được rằng quá khứ của họ đại diện cho một khả năng tương lai của Trái Đất. Nhờ khả năng du hành xuyên thời gian, họ có thể thu thập vật liệu di truyền từ bất cứ thời đại nào trong quá khứ của Trái Đất. Tuy nhiên, họ cần vật liệu di truyền từ thời kỳ lịch sử của Trái Đất khi nền văn minh đang trên bờ vực phá hủy và biến đổi. Đây sẽ giúp họ trong quá trình hợp nhập của chính họ. Trên một phương diện nào đó, đó là cách họ thay đổi quá khứ của mình. Bằng cách tương tác với Trái Đất hiện tại, họ chữa lành quá khứ và thay đổi tương lai của họ. Ngày nay khi họ thực hiện chương trình gen này trên Trái Đất, vì hành tinh Trái Đất chưa hiểu hoặc không chấp nhận ý tưởng về lựa chọn linh hồn, phần lớn các cá nhân tham gia vào chương trình gen này coi mình là nạn nhân. Có hàng ngàn câu chuyện về những người kinh hoàng vì bị bắt cóc, những người này đang gặp chướng ngại bởi sự tái phát những trải nghiệm về các sinh vật ngoài Trái Đất đã chộp họ ra khỏi cái giường ấm áp của mình.(5) [(5) Mặc dù hầu hết các vụ bắt cóc được thực hiện bởi Zeta Reticuli, nhưng cũng có những sự cố riêng biệt của các nhóm khác mà sử dụng kịch bản bắt cóc cho mục đích riêng của họ. Ví dụ, các Sirius, Orion định hướng tiêu cực, và những người được gọi là “Grey” rất thường sử dụng các phương pháp khủng bố. Điều quan trọng là con người học cách phân biệt sự tiếp xúc lành tính của Zeta Reticuli với những tương tác ác tính hơn.] Trải nghiệm khủng khiếp xảy ra là bởi nhân loại vẫn chưa sẵn sàng đối mặt với cái bóng của chính mình, thứ được phản chiếu trong tấm gương mà Reticuli đại diện. Các Reticuli chủ yếu tìm kiếm những đặc tính nhân loại cụ thể —— cái mà họ đã loại bỏ khỏi chủng tộc của mình từ xa xưa trước đây. Một trong những đặc trưng chủ yếu chính là sự biến đổi
  • 46.
    phản ứng đốivới kích thích bên ngoài. Để học lại điều này, họ phải nghiên cứu các phản ứng thần kinh của con người với vô số các kích thích. Phương pháp phổ biến nhất để nghiên cứu những chất tiết thần kinh này là cấy ghép một đầu dò hữu cơ (implant). Những đầu dò này được đưa vào đầu của người bị bắt cóc qua mũi, mắt, hoặc lỗ tai. Các đầu dò này hấp thụ và phân loại dữ liệu thần kinh, cũng được loại trừ định kỳ để nghiên cứu rồi sau đó đưa vào lại. Nếu cá thể chết, đầu dò hữu cơ có thể được cơ thể hấp thụ tự nhiên. Họ không chỉ tìm kiếm thông tin sinh học từ con người, mà còn tìm kiếm học tập cảm xúc. Đã hằng thiên niên kỷ trôi qua từ khi họ còn có thể làm cha làm mẹ trẻ con. Khả năng nuôi dưỡng của con người là một niềm đam mê đối với họ. Khi bắt đầu biến đổi các cấu trúc thần kinh của mình, họ sẽ một lần nữa có thể làm mẹ cho con cháu của họ. Đây là một trong những lý do chính cho việc phụ nữ bị bắt cóc và được yêu cầu để lại trẻ lai. Những nữ giới loài người đang giúp tái thức tỉnh bản năng làm mẹ và sinh sản của Zeta Reticuli. Không chỉ là nhân loại giúp đỡ họ, mà họ cũng đóng vai trò quan trọng cho Trái Đất. Đấng Sáng Lập ý thức rõ rằng nhân loại Trái Đất phải tự hợp nhập vào nhiều cấp độ, bằng không tình huống xung đột vẫn sẽ tiếp diễn. Các Reticuli phản chiếu cho nhân loại một trong những ý tưởng cơ bản nhất mà đã bị từ chối —— thống nhất. Nhân loại phản chiếu cho Reticuli cá tính riêng của họ, cái mà họ sợ hãi. Nếu khoảng cách tạo ra bởi nỗi sợ hãi của nhân loại có thể được bắc cầu, thì sự chuyển đổi sẽ diễn ra một cách sâu sắc nhất. Các Reticuli hiện đang có được vật liệu di truyền từ các tình nguyện viên —— trên tầng thứ linh hồn —— đồng ý là một phần sự thức tỉnh của Trái Đất và sự chào đời của một nền văn minh mới. Ở giai đoạn này của trò chơi, sự sợ hãi vẫn còn cần thiết đối với những người bị bắt cóc. Trên Trái Đất, nỗi sợ là trở ngại chính cho sự tăng trưởng. Nếu nhân loại có thể vượt qua được sợ hãi, họ sẽ đạt được nhiều mục tiêu mà hiện nay dường như vượt quá tầm tay. Nó sẽ được thực hiện thông qua nhận thức, chứ không phải thông qua xác nhận tình trạng nạn nhân. Các Reticuli cũng cần phải đối mặt với nỗi sợ hãi của họ (cái mà họ vẫn từ chối), và di chuyển qua nó. Nếu không có nỗi sợ đó, tăng trưởng sẽ chỉ là tối thiểu. Đôi khi các rào cản lớn nhất sẽ tạo ra phần thưởng lớn nhất. Một trong những phần thưởng này là việc tạo ra một giống lai mới có những phẩm chất được kết hợp giữa Zeta Reticuli và con người Trái Đất. Họ sẽ thống nhất và đa dạng. Họ sẽ dồi dào hài hước và cảm xúc linh động. Quan trọng nhất, họ sẽ là những sứ giả yêu thương vô điều kiện dẫn dắt chúng ta trở về Nguồn của Tất Cả.
  • 47.
    10. Hợp Nhập:Về Nhà Với Chính Mình “Và trong khi mọi tạo tác khác từ khởi sinh của họ Với đôi mắt rũ xuống nhìn đăm đăm quả đất thân thích của mình; Anh lệnh người đi thẳng đứng, và dò quét thiên đàng Từ nơi linh hồn anh đã trổ ra, đến cái mà những hy vọng của anh được trao cho.” —— Vidid Hợp nhập có nghĩa là dung thứ cho tất cả các tầng thứ của sinh mệnh như những phần hợp lệ của toàn thể. Nó có nghĩa là buông bỏ sự phủ nhận. Nó có nghĩa là ôm lấy bản thân chúng ta cũng như lẫn nhau. Cũng như ý thức thống nhất của chúng ta đã tạo ra cõi giới của phân cực này, chúng ta có thể biến đổi nó. Khi hợp nhập xảy ra, cõi giới này sẽ được định nghĩa bởi các thông số rất khác nhau. Chúng ta sẽ trở thành những nguyên mẫu cũng như các Đấng Sáng Lập. Chúng ta sẽ thay đổi quan điểm và trở nên ý thức về chính mình như là Tạo Hóa. Nó không nhất thiết có nghĩa là bản sắc của chúng ta sẽ bị hấp thụ. Nó có thể có nghĩa là chúng ta sẽ thức tỉnh đến điểm mà chúng ta sẽ lựa chọn số phận của mình một cách có ý thức. Có lẽ chúng ta có thể lựa chọn nhập vào các cõi giới khác và là những người bạn vô hình cho các xã hội hành tinh vẫn đang chơi trò chơi chia rẽ. Chúng ta thậm chí có thể là những sinh vật ngoài hành tinh của một hành tinh khác —— cân nhắc những quyết định tương tự về sự can thiệp mà tổ tiên chúng ta đã phải đối mặt. Trong tĩnh lặng bản thân và lắng nghe kỹ lưỡng, chúng ta có thể nghe và cảm nhận được những dòng chảy ngầm của chuyển đổi này. Sự tồn tại và thay đổi là các hằng số duy nhất. Chúng ta có thể chơi các trò chơi ảo ảnh rằng chúng ta là một sự sáng tạo ngẫu nhiên, nhưng không sớm thì muộn chúng ta cũng sẽ vỗ vai chính mình và trò chơi kết thúc. Trong thực tại của Trái Đất, chúng ta đã tạo ra những người Arcturus, Sirius, Lyra, Orion, Reticuli, Pleiades…, để là những bản thân mà vỗ vai chúng ta. Họ thực sự là một phần của cùng một thứ —— chúng ta. Vậy làm thế nào chúng ta khuyến khích sự hợp nhập diễn ra trên Trái Đất? Trước hết, chúng ta phải biết nó sẽ xảy ra với hoặc không với hành động có ý thức của chúng ta. Sự khác biệt chỉ là hành động có ý thức sẽ cho phép hành trình thú vị hơn nhiều. Chúng ta sẽ cảm thấy được kiểm soát số phận của mình nhiều hơn. Hành động có ý thức mà sẽ thúc đẩy quá trình hợp nhập của chúng ta rất là đơn giản —— dung thứ. Nếu chúng ta cho phép trên tất cả mọi tầng thứ ở trong cái mà hợp nhập diễn ra, chúng ta sẽ thấy con đường của mình vui vẻ trải ra phía trước. Hợp nhập sẽ diễn ra trên bốn tầng thứ chính: Tâm lý, Tình cảm, Tinh thần và Vật lý. TÂM LÝ: Để chúng ta hợp nhập tâm lý của mình có nghĩa là chúng ta cho phép bản thân kết hợp không chỉ các quá trình não bộ, mà còn cả những trực giác và cảm xúc của mình nữa. Loại suy nghĩ được công nhận nhất ngày nay hầu như hoàn toàn là lấy-đầu-làm-trung-tâm. Công thức và tính toán đang xác định thực tại thế kỷ hai mươi của Trái Đất. Nếu chúng ta có thể cho phép
  • 48.
    mình hiểu rằngcác quá trình trực giác và cảm xúc cũng có giá trị và có thể được sử dụng kết hợp với tâm lý, thì chúng ta sẽ tốt đẹp trên con đường đi thẳng tới hợp nhập tâm lý của mình. TÌNH CẢM: Hợp nhập theo cách tình cảm có nghĩa là chúng ta bắt đầu học cách ôm lấy cái tôi cái bóng của mình. Chúng ta có thể bắt đầu mở tủ đồ bên trong và đào sâu vào tiềm thức đối với những niềm tin mà níu chân chúng ta ở lại. Rất thường xuyên, những phần bị lãng quên của chúng ta chỉ muốn được chú ý. Như những người Pleiades và Lyra trước khi họ phát hiện ra, sự phủ nhận chỉ kéo dài nỗi đau của sự tồn tại. Chúng ta hãy học hỏi từ những bản thân khác trên những thế giới xa xôi đó. Chúng ta đừng lặp lại những bài học đó nhiều lần. TINH THẦN: Hợp nhập tinh thần có lẽ là dễ hiểu nhất. Mỗi người sở hữu một linh hồn bên trong không liên quan đến giáo điều. Nếu chúng ta có thể giải phóng mình khỏi giáo điều và chạm vào tâm linh bẩm sinh, chúng ta sẽ bắt đầu quá trình hợp nhập. Nó mở rộng ra hành tinh bằng sự tôn vinh chân tướng của mỗi người như là một biểu hiện của Một Chân Tướng. Điều này cho phép mỗi người chúng ta cùng tồn tại bên trong triết lý của mình mà không cần phải thay đổi niềm tin của nhau. Thực tế là Thượng Đế/Toàn Tồn Tại tồn tại không thay đổi bất chấp tranh luận của chúng ta về màu áo nào “Ngài” mặc. Chúng ta rất sợ phải cô đơn và chia tách, nhưng chúng ta tạo ra nhiều sự tách biệt hơn thông qua mong muốn có được một giáo lý thống nhất. Nếu chúng ta có can đảm để bắt đầu chạm vào tâm linh bên trong này, chúng ta sẽ thấy sự thay đổi của mình nở rộ. VẬT LÝ: Hợp nhập về vật lý có hơi khác. Nó liên quan đến việc thừa nhận quá khứ và lịch sử của chúng ta là một phần của một kịch bản vĩ đại hơn trên quy mô vũ trụ. Từ Nguồn và những Đấng Sáng Lập mà chúng ta phân mảnh. Chúng ta đã kéo dài sự cá nhân hóa của mình đến những giới hạn bên ngoài. Tập hợp lại với nhau sẽ yêu cầu chúng ta một lần nữa thừa nhận và chấp nhận mình như một phần trong gia đình thiên hà của chúng ta. Khi vượt qua nỗi sợ chủng tộc đồng thời ngừng cho phép màu da và khác biệt văn hóa làm thành những rào cản giữa chúng ta, chúng ta cũng phải vượt qua nỗi sợ của mình bằng cách tán dương sự hiệp thông mà Zeta Reticuli cung cấp cho mình. Chúng ta có thể cho phép hợp nhập trên mọi tầng thứ vào trong cuộc sống vật lý của mình ở đây trên Trái Đất. Không một ai trong chúng ta là “từ” một nơi khác. Chúng ta đến từ Nguồn, và Nguồn là bao la quảng đại. Nói rằng chúng ta “từ” Pleiades là phủ nhận tất cả những ý tưởng khác mà đang là chúng ta. Cái tôi Địa Cầu của chúng ta trở nên hỗn loạn nếu chúng ta liên tục phủ nhận rằng sự tồn tại của chúng ta là một phần của thân thể hành tinh. Chúng ta là của Toàn Tồn Tại! Nếu chúng ta cảm thấy có liên hệ với một chủng tộc ngoài hành tinh, chúng ta đang nhận định với điều mà họ đại diện hoặc với những đời sống khác nhau mà chúng ta đã sống trong hệ thống đó. Nếu các cá nhân khăng khăng nhấn mạnh rằng họ là “từ” một nơi nào đó, đề nghị được đưa ra là họ tuyên bố sự đồng minh của mình đối với Trái Đất. Họ đã chọn một cuộc sống ở đây. Trong một ý nghĩa rất thực tế, người dân Trái Đất có thể được xem như là mẫu hình cho hợp nhập. Chúng ta là thần thánh và trần gian; của thần linh và nhân loại. Chúng ta là bằng chứng tích cực rằng sự sống nhân loại có thể thích ứng với những hoàn cảnh dường như không thể vượt qua. Chúng ta hãy tán dương nhân loại! Không có những người anh em không gian thực sự sẽ cứu rỗi chúng ta —— họ đang quá bận rộn để cứu chính mình! Chúng ta không phải là trẻ con. Dù chúng ta vẫn đang chơi trò chơi vô nhận thức gì đó, nhưng chúng ta được các nền văn minh khác coi là một ẩn số. Chúng ta là nền
  • 49.
    văn minh đãtừ chối chết! Khả năng phục hồi và đức tin của chúng ta vào khả năng của mình đã không ngừng chứng minh giá trị của chúng ta. Chúng ta từ chối bị cai trị và vận dụng bởi nhóm Lyra trong Vườn Địa Đàng Eden. Các loại “bệnh dịch” của những vị thần đã không thành công xóa sổ chúng ta. Cám ơn Noah và chúa Sirius đã cảnh báo ông ta, chúng ta có một nền văn minh thịnh vượng ngày hôm nay. Nhiều người tự hỏi tại sao Trái Đất lại được rất nhiều nhóm ngoài hành tinh quan sát. Có lẽ chúng ta là một minh chứng dự đoán về sự hợp nhập trong hành động. Nó có thể là đau đớn, nhưng trong niềm tin ý thức khối của chúng ta, nỗi đau có thể tạo ra kết quả diệu kỳ. Trái Đất của hiện tại và Trái Đất của tương lai thực sự là phép màu. Chúng ta hãy tán dương phép màu đó bằng cách hợp nhập bản thân và chịu trách nhiệm về thực tại hành tinh của mình. Chúng ta là một phần của Hiệp hội các Thế giới và tư cách thành viên của chúng ta sắp được khôi phục! Lần này, tư cách thành viên đòi hỏi sự thức tỉnh của chúng ta đối với vở kịch vũ trụ mà chúng ta đã đồng ý làm một phần của nó. Sự thức tỉnh sẽ đưa chúng ta về nhà... với chính mình.
  • 50.
    BẢNG THUẬT NGỮ O Adam: Đây là danh hiệu cho mô hình mẫu ổn định đầu tiên của người Homo sapiens. “Adam” xuất phát từ tiếng Do Thái “Adama”, có nghĩa là “được tạo ra từ bùn của Trái Đất”, do đó có từ “người Trái Đất”. Trong tiếng Sumer, từ “Adapa”, có nghĩa là “người hình mẫu”.  Altair: Altair, nền văn minh đã là địa giới của Vega, nằm cách Trái Đất 15,02 năm ánh sáng. Độ lớn của Altair là 1,3 và có màu vàng nhạt. Nền văn minh Altair trầm lắng và thưởng ngoạn, được trao cho định hướng triết học hòa bình. Họ hiện không tham gia thám hiểm không gian.  Andromeda (thiên hà Tiên Nữ): Andromeda là một thiên hà xoắn ốc lớn và gần Ngân hà nhất —— cách 2,2 triệu năm ánh sáng. Bản chất của cõi giới Andromeda là trừu tượng và lưu động. Một lối vào chiều kích tồn tại trong lân cận gần thiên hà của chúng ta như một cây cầu nối với năng lượng Andromeda. Cây cầu/lối vào này là ngôi sao Antares.  Antares: Nằm trong chòm sao Scorpius (Bò Cạp), Antares được coi là một ngôi sao nhị phân của màu đỏ lửa và xanh ngọc bích. Antares là cây cầu liên chiều kích tới Andromeda từ thiên hà của chúng ta. Khi nhập thể vật lý, một số linh hồn chọn đi qua cổng Antares để kích hoạt ký ức linh hồn.  Anubis: Ở Ai Cập cổ đại, Anubis được coi là người hướng dẫn của thế giới cõi âm. Hình dạng bình thường được miêu tả là chó sa mạc hoặc chó rừng khổng lồ. Ông được biết đến như là người dẫn dắt các linh hồn xuyên qua astral (như vùng giấc mơ) cũng như đến Amenti, hoặc vùng đất của người chết. Điều thú vị là tiền tố “an” trong cả tiếng Sumer lẫn Ai Cập đều có nghĩa là “của Thiên Đường”. Anubis (Anpu ở Ai Cập) và Anu (Sumer) đều có biểu tượng của chó sói hay chó, cho thấy một kết nối trực tiếp với Dog Star (Sao Chó) Sirius.  Apex: Hành tinh Apex là một trong những xã hội phát triển đầu tiên trong cụm sao Lyra. Sau thảm họa hành tinh của nó, hành tinh Apex đã được chuyển đổi chiều kích vào một vùng không gian/thời gian khác. Người Apex cuối cùng đã trở thành chủng tộc của Zeta Reticuli.  Arcturus: Arcturus được xem như một ngôi sao vàng hoàng kim, với độ lớn 0,3. Năng lượng của nó hoạt động với nhân loại như một nhà trị liệu cảm xúc và tinh thần. Nó cũng là một cổng năng lượng mà thông qua đó con người đi qua trong suốt cái chết và sự ra đời. Nó có chức năng như là một trạm cho ý thức phi vật lý trở nên quen với vật lý.  Atlantis: Đây là giai đoạn kết hợp giữa văn hóa ngoài Trái Đất và con người trước khi xảy ra đại hồng thủy. Đại hồng thủy xảy ra vào khoảng 11.000 năm trước Công Nguyên.
  • 51.
     Bản ngã:Bản ngã là “tôi” hoặc sự phân biệt với bản chất của người khác. Đó là phần tâm hồn mà ý thức trong thực tại vật lý và đóng vai trò trung gian giữa thế giới bên trong và bên ngoài.  Bản thân/cái tôi tương lai: Bởi vì quá khứ, hiện tại và tương lai tồn tại đồng thời, và được phép liên lạc với chính họ thông qua khoảng không thời gian. Các sinh mệnh ngoài Trái Đất thường liên hệ với các bản thân/cái tôi quá khứ của họ (chẳng hạn như nhân loại Trái Đất) để tạo ra một mối liên hệ, và điều này thường chữa lành quá khứ của chính họ. Ý tưởng về “những bản thân cao hơn” và “những bản thân tương lai” đôi khi có thể hoán đổi cho nhau trong trường hợp cái tôi tương lai là một phiên bản tiến hóa của cái tôi hiện tại hoặc quá khứ.  Bện hồn: Bện hồn là hình thức phổ biến nhất của những người được dán nhãn “walk-in”. Nó xảy ra khi một cá thể vật lý lấy nhiều năng lượng cao hơn, trong tương lai hoặc song song của chính họ, và kết hợp nó vào trong cuộc sống nhân cách và sinh lý của họ.  Các vụ bắt cóc: Từ quan điểm của một người bắt cóc, đây là sự giam giữ không mong muốn từ các nhóm người ngoài hành tinh với mục đích: (1) Nghiên cứu; (2) Lấy mẫu di truyền (3) Theo dõi lịch sử di truyền gia đình (4) Duy trì và phát triển các chương trình lai tạo (5) Quan sát phản ứng làm mẹ của nhân loại (6) Quan sát phản ứng thần kinh đối với kích thích cảm xúc (7) Truyền thông; và các mục đích khác bao hàm (8) Góp thêm nỗi sợ và kinh khiếp, được người ngoài Trái Đất định hướng tiêu cực tin vào để ngăn chặn sự phát triển hoặc gia tốc của những nạn nhân và ý thức khối. Liệt kê một số nhóm tham gia vào việc bắt cóc và lý do tương tác chính của họ:  Zeta Reticuli: # 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7  Sirius vật lý (tiêu cực): # 1, 2, 3, 8  Pleiadies: # 1, 3, 6, 7  Grays: # 8  Orions vật lý (tiêu cực) : # 8  Cây Tri thức về Tốt và Xấu: Được đề cập trong Sáng thế ký, đó là cây trong vườn Địa Đàng Eden, nơi có trái cấm mà Thượng Đế cấm Adam và Eva ăn. Như được sử dụng trong sách này, cây tri thức về tốt và xấu tượng trưng cho sự hiểu biết về phân cực.  Cây Sự Sống: Trong Sáng Thế ký, Adam và Eva đã bị trục xuất khỏi vườn Địa Đàng Eden và cấm ăn quả từ cây sự sống, cái sẽ cho họ sự bất tử. Như được sử dụng trong sách này, cây sự sống đại diện cho hiểu biết về mối quan hệ thiêng liêng giữa sinh mệnh nhân loại
  • 52.
    và Tạo Hóa—— theo đó linh hồn của chúng ta không phụ thuộc vào những ai đã biến đổi gen chúng ta.  Chiều kích: Chiều kích đề cập đến vị trí của một người trong không gian/thời gian chứ không phải là tần số rung động của một người (mật độ). Từ điển bách khoa toàn thư Webster định nghĩa “chiều kích” như sau: “Quy mô được đo theo một hướng cụ thể, đặc biệt là chiều dài, chiều rộng, chiều dày hoặc thời gian.” Có vô số chiều kích tồn tại bên trong cho mật độ hoặc tần số rung động.  Chư thiên: Trong tiếng Phạn, chư thiên (deva) có nghĩa là thần linh hay thánh thần; một trong phẩm cấp của các tinh thần tốt. Trong thần bí Tây phương, năng lượng chư thiên là ý thức tinh thần của khoáng vật, thực vật, động vật và các hình thức khác tinh tế hơn như thiên tiên (fairy).  Con người (nhân loại/loài người): Từ điển bách khoa toàn thư Webster định nghĩa “con người” (human) là “giống như đất mùn (humus), đất; có phẩm chất hay thuộc tính của con người.” Điều này có thể được mở rộng bằng cách nói rằng thuật ngữ “con người” dùng để chỉ con người Trái Đất, một bộ phận nhỏ của gia đình hình người rộng lớn hơn của tổ tiên Lyra.  Cro-Magnon: Cro-Magnon là một nhóm người tiền sử cao đứng thẳng, sử dụng các công cụ bằng xương và đá. Ba mươi lăm ngàn năm trước, chủng tộc mới của sinh mệnh này (được nhận định với loài Homo sapiens mở rộng, hay “người tư duy”) dường như xuất hiện từ hư không và cùng tồn tại trong một khoảng thời gian với chủng người Neanderthal đang tuyệt chủng.  DAL: Được đề cập đến trong tài liệu liên lạc từ Billy Meier, DAL là một chủng tộc hình người đóng vai trò cố vấn cho người Pleiades.  Dẫn kênh: Dẫn kênh là quá trình tiếp nhận giao tiếp từ vô số thực tại chiều kích. Sự giao tiếp này có thể được thể hiện thông qua việc viết, truyền lời, artwork, sáng tác nhạc và bất kỳ biểu hiện sáng tạo nào.  DNA: DNA là viết tắt của deoxyribonucleic acid, một hợp chất tìm thấy trong nhiễm sắc thể bao gồm một phân tử chuỗi dài gồm nhiều kết hợp lặp lại và đa dạng của bốn nucleotide, một trong số đó là đường deoxyribose; phân chia của phân tử được cho là các gen. DNA là kho chính của thông tin di truyền.  Dogon: Người Dogon là một bộ tộc châu Phi sống ở Công hòa Mali (phía tây Châu Phi) gần Timbuktu, được cho là đã di cư từ Ai Cập. Trong nhiều thế hệ, họ đã có kiến thức thiên văn tiên tiến liên quan đến hệ thống sao Sirius mà họ tự nhận là đã được sinh mệnh từ hệ sao đó trao cho.  Đa chiều (kích): Một ý tưởng đa chiều là một ý tưởng có nhiều khía cạnh. Con người được gọi là đa chiều bởi vì họ tồn tại ở nhiều tầng thứ chưa được nhìn thấy hoặc không thể đo được.
  • 53.
     Đảo PhụcSinh: Đảo Phục Sinh nằm ở Thái Bình Dương giữa Chile và Polynesia thuộc Pháp, được biết đến với những bức tượng bí ẩn của sinh mệnh hình người vẫn còn nằm rải rác khắp hòn đảo này.  Đấng Sáng Lập: Đấng Sáng Lập (cũng được dịch là Đấng Sáng Tạo) là linh hồn tập thể của gia đình hình người. Đối với những sinh mệnh vật lý, họ hiển hiện dưới hình thể con người —— cao, thanh nhã, phi nam phi nữ —— xuất hiện giống như côn trùng. Nhân loại là kết quả sự phân mảnh bên trong của Đấng sáng lập.  Đi hai chân: Bất kỳ sinh mệnh nào sở hữu hai chân đều có thể được coi là đi hai chân.  Động vật biển có vú: Động vật biển có vú là một động vật có vú dưới biển có cấp bậc “động vật biển có vú” bao gồm cá voi, cá heo dolphin và cá heo porpoise. Động vật biển có vú có ý thức cùng loại với con người, được người ngoài hành tinh coi là “người dưới nước”.  Enki: Trong tiếng Sumer, Enki có nghĩa là “Chúa tể của Trái Đất”, được coi là người truyền đạt kiến thức văn minh cho nhân loại. Ông cũng được biết đến như “Oannes” của người Babylon và “Ptah” của người Ai Cập. Ông là thần trí tuệ và tri thức, xuyên suốt thời gian biểu tượng của ông là con rắn. Theo văn bản Sumer, Enki là người đã chỉ thị cho Noah xây dựng một chiếc tàu để nhân loại có thể được cứu. Đây trực tiếp chống lại các lệnh của Enlil —— những người mong muốn nhân loại bị hủy diệt.  Enlil: Trong tiếng Sumer, Enki có nghĩa là “Chúa tể của Không khí”, được coi là người đứng đầu tất cả các vùng đất. Người Sumer coi ông là tối cao. Enki và Enlil là bán huynh đệ —— những người có cùng một người cha, mỗi người tự xưng là con đầu lòng, cũng là nguyên nhân khiến mỗi người tin rằng mình là vị thần cai trị. Mâu thuẫn này được cho là nguồn gốc của nhiều mâu thuẫn sau đó giữa các vị thần.  Ether: Ether gắn với một môi trường không dựa trên thực tại vật lý nhưng vẫn chứa đựng hình thể. Nhiều ý tưởng hay hình tư tưởng trong ether có thể hiện lên trong thế giới vật lý.
  • 54.
     Eva: Evalà hình mẫu nữ đầu tiên được tạo ra từ quá trình nhân bản hoặc ghép nối gien của hình mẫu nam hình người gọi là Adam —— Điều này chỉ đối với giống loài Homo sapiens.  Gia Đình Thiên Hà: Gia đình thiên hà là nhóm các sinh mệnh ngoài Trái Đất (vật lý và phi vật lý) có mối liên hệ mật thiết về năng lượng và/hoặc vật lý với sự phát triển của Trái Đất. Họ bao gồm: chủng tộc Lyra, Arcturus, Sirius, chủng tộc Pleiades, Zeta Reticuli, Orion và nhiều người khác không đề cập đến.  Giống lai: Một giống lai là bất cứ thứ gì có nguồn gốc từ các nguồn không đồng nhất hoặc bao gồm các yếu tố của các loại khác nhau hoặc không phù hợp. Các giống lai được nói đến trong văn học UFO chủ yếu là sự giao thoa giữa con người Trái Đất và sinh mệnh Zeta Reticuli. Quá trình cụ thể được sử dụng để tạo ra các giống lai này vẫn chưa được tiết lộ. Nó sử dụng không chỉ ghép nối gen và nhân bản, mà còn một dạng kỹ thuật công nghệ plasma ánh sáng mà con người không quen thuộc.  Hiệp hội các Thế giới: Hiệp hội là một nhóm các sinh mệnh vật lý và phi vật lý từ nhiều cõi giới đến với nhau vì một số mục đích. Một số người gọi họ là liên bang thiên hà hoặc liên đoàn. Trong Hiệp hội không có cấu trúc phân cấp hoặc thẩm quyền vốn có. Mục đích chính cho những tương tác của họ với Trái Đất là: (1) nhẹ nhàng thúc đẩy nhân loại hướng tới một nhận thức lớn hơn về bản thân và vị trí của nó trong Hiệp hội và (2) ngăn chặn một số lượng đáng kể các vụ nổ hạt nhân trên Trái Đất mà có thể gây ra một sự rạn nứt trong không gian/thời gian, ảnh hưởng đến vùng lân cận của thiên hà. Họ hoàn toàn không có ý định di tản bất cứ ai từ Trái Đất dưới bất kỳ điều kiện nào. Họ hiểu rõ sự cần thiết tuyệt đối để loài người tự chịu trách nhiệm cho chính mình.  Hình mẫu: Hình mẫu là mô hình ban đầu mà một thứ được hình thành trên đó; một nguyên mẫu; một hình thức dựa trên một nhóm. Trong sách này, thuật ngữ/tên “Adam” được sử dụng để biểu thị hình mẫu mà Homo sapiens dựa trên đó.  Hình người: Hình người được sử dụng trong sách này đề cập đến bất kỳ ai là hậu duệ Lyra.  Homo: Homo (“con người” trong tiếng Latin) biểu thị một chi của bộ linh trưởng bao gồm tất cả các chủng tộc của con người hiện đại (Homo sapiens) và các loài khác đã tuyệt chủng.  Homo sapiens: Homo sapiens là loài duy nhất còn sót lại trong quá trình tiến hóa của con người, hoặc con người hiện đại, thuộc chi Homo và họ linh trưởng Hominidae. Tài liệu về việc tạo ra con người trong Sáng Thế ký là đề cập đến việc tạo ra người Homo sapiens, không phải các loài đã tuyệt chủng khác như Neanderthal.  Hộp Sọ Pha Lê: Được tìm thấy ở miền nam Mexico, hộp sọ được điêu khắc từ pha lê theo hình dạng sọ người. Hộp sọ nổi tiếng nhất hiện nay là tài sản của Anna Mitchell-Hedges. Nhiều người tuyên bố có trải nghiệm huyền bí hoặc dị thường khi họ ở trong thực tế hiện hữu của hộp sọ.
  • 55.
     Illuminati: Từđiển bách khoa toàn thư Webster định nghĩa “illuminati” là “những người sở hữu —— hoặc cáo buộc sở hữu sự giác ngộ cao siêu; một cái tên cho nhiều phái hoặc các xã hội đòi hỏi phải có sự giác ngộ vượt trội.” Đây có thể đề cập đến con người cũng như các nhóm ngoài Trái Đất khác nhau (vật lý hoặc phi vật lý) vốn là những người tự lừa dối hoặc cố ý tìm cách kiểm soát xã hội loài người. Một số nhóm tiêu cực như vậy có thể bao gồm: Orion, Sirius, Lyra, và Pleiades “phản bội”. Nền tảng lịch sử của Illuminati bắt nguồn từ quá khứ khi nhiều nhóm người ngoài Trái Đất kiểm soát (hoặc chiến đấu để kiểm soát) một phần hoặc toàn bộ Trái Đất. Bởi những tương tác cổ xưa này, Illuminati tin rằng họ có chủ quyền trên Trái Đất —— điều mà họ vẫn bất đồng về nhau. Một số sẽ cố gắng nhập thế để thực hiện mong muốn của họ trong vật lý. Illuminati cũng có thể được nhìn từ góc độ phi vật lý như là một năng lượng nguyên mẫu khi đã tương tác vật lý với Trái Đất. Nhóm này cuối cùng đã dạt vào lề tiến hóa tự nhiên và trở thành một nguyên mẫu đặc biệt tập trung. Loại nguyên mẫu này buộc chặt với hành tinh bởi nó cần giữ con người khỏi những quá trình tiến hóa tự nhiên của họ.  Isis: Ở Ai Cập cổ đại, Isis được biết đến như là vợ/em gái của Osiris, chị em của Nephthys, và mẹ của Horus. Bà nổi bật trong thần thoại Ai Cập như là một nữ thần quyền năng huyền diệu bao la và là nhân vật nguyên mẫu của người mẹ. Các nền văn hoá khác đã biết đến bà như là Ishtar (Trung Đông), Athena (Hy Lạp), Quang Âm (Trung Quốc), và Inanna (Sumer).  Khoa học Hỗn Độn (Chaos): Nghiên cứu về chuyển động ngẫu nhiên rõ rệt mà cho thấy một tầng thứ sâu hơn nhiều dưới sự quan sát bề ngoài được gọi là Khoa học Hỗn Độn.  Khởi thủy: Thuật ngữ “Khởi Thủy” được sử dụng trong văn bản để biểu thị điểm bắt đầu của Homo sapiens trên Trái Đất.  Lăng kính: Lăng kính là một khối trong suốt trên cơ sở lăng trụ tam giác được sử dụng để phân cực hay phân rã ánh sáng hoặc năng lượng thành quang phổ của nó.  Lăng kính của Lyra: Đây là ý tưởng nguyên mẫu của lối vào mà ý thức dùng để vào trong thực tại này. Đối với gia đình thiên hà của Trái Đất, điểm vào nằm trong hệ sao Lyra. Khi ý thức/năng lượng xuất hiện, nó phân mảnh thành bảy tần số mật độ, nhiều như một lăng kính phân tách ánh sáng thành bảy màu sắc có thể nhìn thấy.
  • 56.
     Lemuria: Lemurialà một lục địa và một thời kỳ văn hóa đã có trước và chồng chập Atlantis. Nó nằm ở khu vực Thái Bình Dương của Trái Đất và được coi là nền văn hóa đầu tiên chịu ảnh hưởng của các nguồn ngoài Trái Đất.  Liên đoàn Đen: Liên đoàn Đen là một mô hình tổ chức phản kháng được phát triển trong suốt các cuộc xung đột Orion để chống lại những nỗ lực cố gắng thống trị vật lý và tinh thần toàn bộ khu vực của đế chế Orion. Liên đoàn Đen biểu hiện không chỉ là tổ chức phản kháng ngầm bán quân sự mà còn là một định hướng tinh thần và triết học thể hiện dưới nhiều hình thức. Những khuôn mẫu này đã cố gắng cân bằng trong các hệ thống hành tinh khác và hiện đang diễn tiến trên Trái Đất thông qua chu kỳ đầu thai của con người.  Lỗ Đen: Một ngôi sao trở thành lỗ đen khi nó sụp xuống và đạt đến mật độ cao mà trường trọng lực của nó vượt quá tốc độ thoát ra của các photon ánh sáng. Các nhà thiên văn đưa ra giải thuyết một sự thay đổi trong không gian/thời gian xảy ra. Đây tạo ra nhiều xác suất, bao gồm (1) lối vào và lối ra đến các thực tại chiều kích khác; (2) Nơi sinh của các ngôi sao tương lai; (3) khả năng khai thác sức mạnh của du hành thời gian; và (4) lối vào một vũ trụ phản vật chất.  Lỗ trắng: Khi sử dụng trong văn bản, lỗ trắng là một điểm trỗi lên cho ý thức và năng lượng.  Lyra (chòm sao Thiên Cầm): Chòm sao Lyra từ lâu đã được thừa nhận trong thần thoại của Trái Đất. Một số thậm chí đã kết nối nó với Pleiades (ví dụ, Ovid, người đã đề cập rằng bảy sợi dây của cây đàn Lyra bằng số lượng của Pleiades). Đây có thể được xem là nơi sinh hay tử cung của chủng tộc hình người trong khu vực Trái Đất của Ngân hà. Tất cả các phân loài như Sirius, Orion, Trái Đất/Terran, Pleiades, Vega, Zeta Reticuli, Centaurus, Altairis (và nhiều nhóm ít được biết đến hơn) là hậu duệ của các chủng tộc Lyra.  Ma trận: (Từ Latin: Mater/Mother) Ma trận là cái bắt nguồn, phát triển, hoặc bất cứ thứ gì vây quanh; một mạng lưới các ý tưởng hình thành nên một mối quan hệ cộng sinh; một định mẫu nguyên mẫu.  Ma trận Arcturus/Sirius: Năng lực kết hợp của Arcturus và Sirius cung cấp sự cân bằng của trị liệu vật lý, tình cảm và tinh thần. Ma trận này đã được khai thác bởi nhân loại kể từ khi nó ra đời và được biết đến thông qua nhiều ý tưởng nguyên mẫu.  Mật độ: Mật độ biểu thị tần số rung động chứ không phải vị trí (cái mà có hàm ý là “chiều kích”). Cấu trúc mật độ của thực tại này chủ yếu được thể hiện ở bảy tầng thứ, mặc dù mỗi tầng thứ có các tầng thứ phụ trong nó. Thang chia mật độ là một mô hình được sử dụng để truyền đạt nhận thức của một người về định hướng liên quan đến các thực tại khác.  Mây dạng thấu kính: Các đám mây này có dạng một thấu kính lồi đôi hoặc một hạt đậu lăng. Đôi khi chúng xuất hiện ngoạn mục tương tự như một tàu vũ trụ hình đĩa. Mặc dù loại mây này thường hình thành tự nhiên, nhưng đôi khi môi trường vật lý sẽ chuyển năng lượng hoặc ý thức ngoài Trái Đất thành dạng này.
  • 57.
     Meier, (Billy)Eduard: Billy Meier Thụy Sĩ được biết đến như là người có những ghi chép liên lạc rộng rãi nhất từ tương tác lặp đi lặp lại với các sinh mệnh Pleiades trong số những người có tương tác giống vậy. Đã có nhiều bức ảnh rõ ràng cho thấy chi tiết các tàu vũ trụ.  Năng lượng Plasmic: Như được sử dụng trong sách này, năng lượng plasmic là một dạng ánh sáng có độ cô đặc cao, gần như chất lỏng.  Neanderthal: Neanderthal đề cập đến một chủng người hang động thời kỳ đồ đá cổ đại thế Pleistocene muộn (Homo neanderthalensis), xương của giống người này được tìm thấy ở các khu vực châu Âu, châu Phi và châu Á. Di hài của người Neanderthal khởi thủy cách đây khoảng 100.000 năm trước. Họ dường như đã phát triển ra khỏi Homo erectus (Người đứng thẳng) sau đó tuyệt chủng trong sự xuất hiện của Homo sapiens cách đây 35.000 năm.  Nghiệp: Nghiệp biểu thị sự cân bằng và là một nguyên tắc được thực hiện trong năng lượng của linh hồn từ đời này sang đời khác. Cách hiểu cũ là nghiệp được cân bằng thông qua “mắt đền mắt, mạng đền mạng”. Một quan điểm đa chiều hơn tuyên bố rằng nghiệp được thay thế bởi việc thực hiện lựa chọn và tự do ý chí cùng với cam kết thực hành những chân tướng cao nhất của một người. Nghiệp có thể được thực hiện bởi một cá nhân, một nhóm, một chủng loài hoặc một ý thức khối.  Nguyên mẫu: Từ điển bách khoa toàn thư Living Webster định nghĩa nguyên mẫu là “mô hình hoặc mẫu đầu tiên; khuôn khổ gốc mà sau đó một vật được tạo ra hoặc tương ứng với nó.” Định nghĩa này cho thấy tất cả những ý tưởng nguyên mẫu của chúng ta đều là các khuôn khổ vốn có (bắt nguồn từ sự ra đời của nhân loại thiên hà) mà tiếp tục phát triển. Các biểu tượng mới của các nguyên mẫu này đang được tìm kiếm, nhưng các thuộc tính bẩm sinh đều giống nhau.  Người Áo Đen: Còn được gọi là “Men in Black”, những sinh mệnh này được biết đến như một nỗi khiếp sợ cho những người đã tiếp xúc với UFO. Họ được miêu tả là cao và mặc
  • 58.
    quần áo màutối, ngoại hình mang hơi hướm phương Đông và thường đeo kính đen. Mục đích rõ ràng của Người Áo Đen là dọa sợ những người đã tiếp xúc với UFO để họ im lặng về trải nghiệm và kiến thức của mình. Ban đầu được cho là người của chính phủ, những ý tưởng khác đã nổi lên như: hình tư tưởng, robot hình người và người ngoài hành tinh định hướng tiêu cực (Orion, Sirius, và Grey). Một hoặc tất cả những ý tưởng trên (trong các sự kết hợp khác nhau) có thể liên quan với danh tính Người Áo Đen.  Người Sumer: Người Sumer là dân tộc của một trong những nền văn minh lâu đời nhất Trái Đất đã được biết đến (khoảng 4.000 trước Công Nguyên), nằm ở phía nam Mesopotamia (Iraq/Iran). Họ là những người phi Trung Đông không rõ nguồn gốc. Họ tuyên bố nền tảng văn minh của mình được trao cho bởi “DIN.GIR” —— những thuần khiết của vật thể sáng nhọn, hoặc người của hỏa tiễn —— hay người ngoài hành tinh theo nghĩa đen của con người.  Nhân bản: Nhân bản là phương pháp sinh sản vô tính sử dụng hạt giống hoặc di truyền nguyên bản để tạo bản sao.  Nhập thể (nhập thế): Hành động nhập thể (như thuật ngữ được sử dụng) là quá trình mà một linh hồn sẽ thể hiện mình trong một phương tiện vật lý trong một mật độ tách biệt như 3D hoặc 4D. Ảo tưởng được tạo ra là sự mất trí nhớ đối với bản sắc to lớn hơn của một ý thức cá nhân.  Nhóm Lyra: Nhóm Lyra được gọi là người gieo nguyên bản của sự sống hình người trên Trái Đất. Sách này đề cập đến Lyra như là chủng tộc tiên phong của các nhóm khác như Pleiades và Sirius, cũng như sự phân mảnh vật lý đầu tiên từ Đấng sáng lập của Sự sống.  Nhóm Sirius: Như được sử dụng trong sách này, nhóm Sirius đề cập đến một nhóm người ngoài hành tinh (không nhất thiết toàn bộ phải từ Sirius), những người đã góp phần trong khởi thủy của Trái Đất và sự phát triển của chủng tộc nhân loại.  Noah: Noah là một sinh mệnh phái Semitic, trong tiếng Sumer có tên là “Utnapishtim” và trong tiếng Akkad là “Ziusudra”. Các bài viết của những nền văn minh này miêu tả một nhân vật tương tự Noah được thần Enki cảnh báo về đại hồng thủy. Câu chuyện đại hồng thủy trong Sáng Thế ký là một sự đúc kết của nhiều tường thuật tiền Kinh Thánh chi tiết và sớm hơn nhiều trong các tài liệu của Sumer và Akkadian.  Orion (chòm sao Thợ Săn): Chòm sao Orion là một khuôn mẫu của các ngôi sao vốn đã hấp dẫn nhân loại từ thời cổ đại. Từ Orion có thể bắt nguồn từ từ tiếng Akkad cổ đại “Uru- anna”, có nghĩa là “ánh sáng của thiên thượng”. Các nền văn hoá phương Tây thường xác định chòm sao này là Thợ Săn. Năng lượng cố hữu của Orion có liên quan đến xung đột về phân cực. Trái Đất hiện đang cố gắng hợp nhập sau cùng các cực này, dẫn đến cảm xúc mạnh mẽ của sự kết nối mà nhiều người biểu hiện liên quan đến Orion.  Orion Sáng: Thuật ngữ “Orion Sáng” dùng để chỉ sự tiến hóa của Orion nơi họ đã thành công trong việc hợp nhập các cực. Nó cũng có thể được coi là ý thức khối Orion —— khía cạnh phi vật lý của Orion hoạt động từ một sự thống nhất và hợp nhập.
  • 59.
     Osiris: Osirisđược coi là một trong những vị thần nguyên thủy của Ai Cập. Ông được gọi là “Đấng ngự ở Orion với một mùa trên bầu trời và một mùa trên Trái Đất”, trong số những mô tả khác. Bất kể danh tính của ông là gì, hầu hết các bài viết cổ đại đều chỉ ra nguồn gốc ngoài Trái Đất của ông.  Pha Dẫn Chiều Kích: Thượng Đế/Toàn Thể/Toàn Tồn Tại đã trở nên tò mò về ý tưởng chia tách và sáng tạo một cõi giới trong đó để khám phá nó. Điều này đã đạt được bằng cách tạo ra ranh giới của chiều kích. Có thể cân bằng Pha Dẫn Chiều Kích với quá trình sáng tạo chính nó.  Phân cực: Phân cực đề cập đến sự hiện diện hoặc biểu hiện của hai nguyên tắc hoặc xu hướng trái ngược (hay đối kháng). Sự phân cực là sự sản sinh trạng thái phân cực, nơi mà tia sáng hoặc năng lượng mang các đặc tính khác nhau theo các hướng khác nhau.  Phức hợp ký ức xã hội: Thuật ngữ này đề cập đến một ý thức khối hoặc một bản sắc ma trận nhóm phi vật lý đã phát triển từ một xã hội vật lý.  Pleiades (chòm sao Thất Nữ): Nhóm Pleiades là một cụm sao mở trong chòm sao Taurus (Kim Ngưu), tồn tại khoảng 500 năm ánh sáng từ Trái Đất. Có 250-500 ngôi sao trong cụm, mặc dù chỉ có chín được đặt tên. Hầu hết các nền văn hoá cổ đại đều nhìn nhận bảy ngôi sao. Các quốc gia này cũng bao gồm Trung Quốc gọi chúng là “Thất Nữ”, và Hy Lạp gọi chúng là “Bảy cô con gái của Atlas”. Hơn bất kỳ nhóm sao nào khác, Pleiades đã thu hút sự chú ý của cả nền văn minh cổ đại lẫn hiện đại.  Quang nhiệt: Quang nhiệt liên quan đến ánh sáng và nhiệt. Trong các hang động dưới lòng đất, người Apex/Zeta Reticuli đã biến đổi một số tần số ánh sáng thành nhiệt.  Quang điện: Quang điện đề cập đến ý tưởng cung cấp một nguồn điện từ bức xạ ánh sáng hoặc tương tự. Trong các hang động dưới đất, người Apex/Zeta Reticuli đã biến đổi đến mức họ có thể chuyển đổi một số tần số ánh sáng và bức xạ thành năng lượng điện.  Quãng tám: Quãng tám là thứ tám trong bảy bước; đó là sự hợp nhập của bảy cấp độ. Khi được sử dụng trong sách này, nó đề cập đến một cõi giới của sự tồn tại mà ý thức sẽ di chuyển vào sau khi hợp nhập bảy mật độ.  Reticuli: Như được sử dụng trong sách này, Reticuli đề cập đến những sinh mệnh từ hệ sao Zeta Reticuli.  Reticulum Rhomboidalis: Nhóm sao này nằm ở phía bắc của Hydrus (chòm sao Thủy Xà) và Greater Cloud, chứa 34 sao độ lớn từ 3,3 đến 7. Hệ sao Zeta Reticuli 1 và Zeta Reticuli 2 có mặt trong đội hình này và chỉ được nhìn thấy từ bán cầu nam của Trái Đất.  Semjase: Semjase là tên của nữ du hành gia Pleiades, từng phục vụ như liên hệ chính của Billy Meier.
  • 60.
     Set: (Cũngđược đánh vần là: Seth, Setekh, Setesh, Suty, hoặc Sutekh.) Nói chung, trong thần thoại Ai Cập, Set được xem là thần của các lực lượng hỗn mang và bạo lực. Đã có nhiều tranh cãi về vai trò thực tế của ông ở Ai Cập cổ đại. Các đền thờ và tư tế của Set được đề cập trong sách này liên quan đến sự thờ phụng của các lực lượng tối.  Siêu nguyên tử: Siêu nguyên tử đề cập đến ý tưởng vượt khỏi hạ nguyên tử. Mẫu định nghĩa bản chất của hạ nguyên tử tồn tại ở tầng thứ siêu nguyên tử.  Siêu ngã: Freud đã xác định siêu ngã là một hệ thống bên trong tâm trí, hoạt động một cách có ý thức hoặc vô thức, mang các chuẩn mực về gia đình, xã hội, hoặc đạo đức cho các hành động và quyết định của bản ngã. Như được sử dụng trong sách, siêu ngã được đánh đồng với khía cạnh cao hơn của ý thức mà là mối liên kết cho sự hợp nhập của nhân cách.  Sirius (sao Thiên Lang): Sirius, được biết đến với cái tên Sao Chó, là thành viên của chòm sao Canis Major (Đại Khuyển), nằm cách Trái Đất 8,7 năm ánh sáng và là ngôi sao sáng nhất (phân biệt với các hành tinh) được quan sát bằng mắt thường.  Tần số: Vật chất là rung động năng lượng. Mức rung động khác nhau biểu thị các thuộc tính của vật chất. Tần số là mức mà các phân tử hoặc ý thức rung động.  Thiên thần/Vương quốc Thiên thần: Tồn tại bên trong các cõi giới của mật độ năm và sáu, vương quốc thiên thần đã tương tác với Trái Đất qua nhiều cách khác nhau, bao gồm hiển hiện hướng dẫn tinh thần, viễn ảnh, nguồn cảm hứng, truyền dẫn, và giao tiếp với tâm trí. Năng lượng xuất hiện như những thiên thần là tần số từ cõi giới Arcturus.  Thời gian: Thời gian có thể được coi là một sự liên tục cụ thể nơi mà mối quan hệ của chuyển động và tốc độ được đo bằng các phương tiện tuyến tính.  Toàn Tồn Tại: Đây là thuật ngữ mà nhiều người sử dụng thay cho “Thượng Đế” hoặc “Tạo Hóa” bởi vì nó bao gồm cả người quan sát như là một phần của Tạo Hóa.  Trí thiên sứ (Cherubim): Các tài liệu tham khảo cổ nhất liên quan đến các hình thức trí thiên sứ (trong bản ghi Akkad và Sumer) mô tả một thiết bị an ninh cơ khí (tức là robot) được sử dụng để bảo vệ các khu vực nhạy cảm cao của các vị thần mà con người bị từ chối truy cập. Ý tưởng này sau đó phát triển thành một cái trừu tượng và tinh thần hơn, được phô bày trong biểu hiện nguyên mẫu của một nhân vật thiên đàng có cánh, những người bảo vệ những nơi thiêng liêng và là người hầu của Thượng Đế.  Vega (sao Chức Nữ): Vega là ngôi sao alpha trong chòm sao Lyra (mặc dù nó gần Trái Đất hơn là các hệ sao khác trong chòm Lyra). Vega là một trong những nền văn minh Lyra đầu tiên phát triển một bản sắc độc nhất và gắn kết giúp hỗ trợ việc gieo hạt và định cư trên nhiều hệ sao, bao gồm Altair (sao Ngưu Lang), Centauri (sao Cận Tinh), Sirius và Orion.  Vi mô: Vi mô có nghĩa là bất cứ cái gì được xem như là một thế giới thu nhỏ. Một ví dụ của điều này là cách cấu trúc nguyên tử tương quan với cấu trúc của hệ mặt trời.
  • 61.
     Vĩ mô:Vĩ mô đề cập đến một mô hình thang chia-rộng lớn của một đơn vị nhỏ hơn. Một ví dụ là hệ mặt trời đại diện cho cấu trúc của các hạt nguyên tử.  Vượn người phương nam (Australopithecus): Thuật ngữ này biểu thị bất kỳ loài vật nào thuộc họ Australopithecus đã bị tuyệt chủng trong thế Pleistocene. Vượn người phương nam tiến bộ là loài đầu tiên được coi là thực sự giống con người, tồn tại khoảng 2 triệu năm trước.  Walk-In: Thông thường, một trải nghiệm walk-in sẽ có hai hình thức. Phổ biến nhất có thể được coi là bện hồn, trong đó nhiều năng lượng của chính một cá nhân (bản thân cao hơn hoặc khía cạnh tương lai) được đưa vào và hợp nhập với tính cách. Trường hợp thứ hai hiếm hơn là ví dụ trong đó có một ý thức “riêng biệt” thực sự sống trong cơ thể con người trong khi linh hồn ban đầu rời khỏi cảnh giới vật lý. Đây là trải nghiệm cá nhân rất cao, nơi thực thể mới đến không cần phải tuyên bố nguồn gốc hoặc tình trạng của mình. Khá thường xuyên, trải nghiệm bện hồn bị nhầm lẫn với hoán đổi walk-in bởi vì cấu trúc nhân cách (được mã hoá sinh học trong não) trải qua nhiều biểu hiện tương tự trong cả hai trường hợp.  Xung động bản năng (Id): Freud định nghĩa xung động bản năng là một phần của cấu trúc nhân cách nguyên thủy, bản năng, trẻ con và tuân theo nguyên tắc khoái cảm. Những phẩm chất của xung động bản năng có thể được so sánh với con người đi qua thực tại mật độ hai trong giai đoạn đầu của cuộc đời.  Ý thức: Ý thức là lực lượng ràng buộc cơ bản của mọi tạo vật. Nó tồn tại trong biểu hiện vô hạn và có thể thách thức định nghĩa.  Ý thức Christ: Ý thức Christ là khía cạnh của một ý thức khối mà nhìn nhận mình như một sinh mệnh đơn. Đây có thể tương đương với rung động mật độ sáu.  Ý thức khối: Ý thức khối liên quan đến bản sắc cá nhân của một nhóm. Ví dụ, ý thức khối của Trái Đất được tạo thành từ mỗi ý thức cá nhân được hợp nhập vào một đơn vị đồng nhất.  Zeta Reticuli: Được phát hiện vào cuối những năm 1960, hai ngôi sao này nằm trong chòm Reticulum, được nhìn thấy từ bán cầu nam của Trái Đất. Như được sử dụng trong sách này, Reticuli là một chủng tộc với nhiều phân nhóm đang thực hiện các thí nghiệm di truyền cơ bản và bắt cóc con người trên Trái Đất hiện đại. Chiều cao trung bình của họ là ba và nửa feet. Họ có xương sọ và mắt lớn, không thể phân biệt giới tính của họ. Nói chung ý định của họ là lành tính, bất chấp chấn thương mà nhiều người trải nghiệm trong sự có mặt của họ.
  • 62.
    Tài Liệu ĐãChọn Anka, Darryl. The New Metaphysics. Light and Sound Communications, 1986. Burnham Jr., Robert. Bumham's Celestial Handbook, Vols. 1, 2, and 3. Dover Publications, 1978. Cott, Jonathan. The Search for Omm Sety. Doubleday, 1987. Dickinson, Terence. The Zeta Reticuli Incident. AstroMedia Corp., 1976. Ellis, Normandi. Awakening Osiris: The Egyptian Book of the Dead. Phanes Press, 1988. Fix, William R. Star Maps. Octopus Books, 1979. Freer, Neil. Breaking the Godspell. Falcon Press, 1987. Fuller, John G. The Interrupted Journey. The Dial Press, 1966. Grant, Joan. Eyes of Horus. Ariel Press, 1942. Hart, George. Dictionary of Egyptian Gods and Goddesses. Routledge & Kegan Paul, 1986. Jung, Carl. Man and His Symbols. Dell Publishing, 1964. Kinder, Gary. Light Years. Atlantic Monthly Press, 1987. Krupp, E.C. Echoes of the Ancient Skies: The Astronomy of Lost Civilizations. New American Library, 1983. McConnell, James V. Understanding Human Behavior, Second Edition. Holt, Rinehart & Winston, 1977. Moody, Raymond. Life After Life. Stackpole Books, 1976. Royal Priest Research/Lyssa Royal. The Arcturus Connection. (Cassette) 1989. Royal Priest Research/Lyssa Royal. The Sirius Connection. (Cassette) 1989. Royal Priest Research/Lyssa Royal. Lyra and the Pleiades. (Cassette) 1990. Royal Priest Research/Lyssa Royal. Pleiadian Ancestry. (Cassette) 1989. Royal Priest Research/Lyssa Royal. The Orion Conflict. (Cassette) 1989. Royal Priest Research/Lyssa Royal. Zeta Reticuli Visitors. (Cassette) 1989. Royal Priest Research/Lyssa Royal. History of the Zeta Reticuli. (Cassette) 1989. Royal Priest Research/Lyssa Royal. The Association of Worlds. (Cassette) 1989. Royal Priest Research/Lyssa Royal. Earth Inception. (Cassette) 1989. Sitchin, Zecharia. The Stairway to Heaven. Avon Books, 1985. Sitchin, Zecharia. The Twelfth Planet. Avon Books, 1976. Sitchin, Zecharia. The Wars of Gods and Men. Avon Books, 1985. Strieber, Whitley. Communion. William Morrow, 1987. Temple, Robert K.G. The Sirius Mystery. Destiny Books, 1976. Wolkstein, D. and Kramer, S.N. Inanna: Queen of Heaven and Earth. Harper and Row, 1983. Wood, David. Genisis: The First Book of Revelations. The Baton Press, 1985. Zeilik, Michael. Astronomy: The Evolving Universe. Harper & Row, 1979. New American Standard Bible. Thomas Nelson Publishers, 1960. Holy Bible, New International Version. Zondervaan Publishers, 1978. The Living Webster Encyclopedic Dictionary of the English Language. English Language Institute of America, 1977.
  • 63.
    Lời Cảm Ơn Bảnthảo này xuất hiện chủ yếu bởi vì đó là loại sách mà chúng tôi đã tìm kiếm. Vì không có, nên chúng tôi đã viết nó! Chúng tôi cảm ơn tất cả những người cũng đã tìm kiếm và sau đó đã yêu thương truyền cảm hứng cho chúng tôi để tạo ra nó. Chúng tôi cảm ơn kênh Darryl Anka (và Bashar) đã cung cấp cảm hứng ban đầu vào năm 1985 để bắt đầu tìm kiếm thông tin phức tạp nhưng hấp dẫn này. Tính toàn vẹn mà ông ấy sở hữu cùng chất lượng kênh dẫn của ông truyền sự tự tin cho chúng tôi rằng thông tin này có thể đã thu được một cách đáng tin cậy. Chúng tôi cảm ơn kênh Robert Shapiro đã cung cấp một số thông tin độc đáo và khó nắm bắt về Zeta Reticuli và các Sirius tiêu cực. Robert có can đảm để giải quyết các khu vực như là một kênh mà nhiều cá nhân không sẵn sàng tiếp cận. Chúng tôi cảm ơn tác giả Barbara Hand Clow đã đưa ra phản hồi có giá trị và động viên trong quá trình sửa đổi bản thảo. Những phản ứng nhiệt tình từ cô ấy đối với công việc của chúng tôi đã giúp chúng tôi duy trì động lực và tập trung chúng tôi vào những khoảnh khắc mà chúng tôi đánh giá cao nhất. Chúng tôi cảm ơn Michael Z. Tyree vì tinh thần trực giác nhạy bén của ông trong việc tạo ra các tác phẩm nghệ thuật thể hiện biểu tượng sâu sắc của thông tin này. Chúng tôi gửi tình yêu và cảm ơn Nhóm Tối Thứ Năm đã ngồi trong tám tuần nóng kỷ lục ở Sedona để nghiên cứu kỹ hơn vấn đề ngoài hành tinh bằng cách sử dụng quá trình dẫn kênh của Lyssa Royal. Chúng tôi cảm ơn Jeannine Calaba đã phê bình chi tiết và sâu sắc về bản thảo đầu tiên. Tình yêu, tình bạn và sự hỗ trợ của cô ấy là vô giá đối với dự án này. Chúng tôi cảm ơn Beth Pierson đã rà soát tỉ mỉ và phản hồi có giá trị về tài liệu. Cô ấy đã gửi tất cả những gì chúng tôi đã và không yêu cầu! Chúng tôi cảm ơn Margaret Pinyan đã biên tập và hiệu chỉnh chuyên nghiệp. Chúng tôi cảm ơn Stacey Vornbrock đã chỉ ra sự lủng củng và đưa ra đề xuất về phần khó nhất của cuốn sách... và bánh kem dừa nữa. Sự đánh giá cao đến với Julie Rapkin khi nói rằng “Thật tuyệt vời!”
  • 64.
    Về Các TácGiả Lyssa Royal có bằng B.A. trong Tâm lý học, là một kênh dẫn và giảng viên được quốc tế biết đến ở Scottsdale, Arizona. Vào năm 1979, cô đã chứng kiến rõ ràng về UFO bởi gia đình cô, gây ra sự quan tâm sâu sắc đến hiện tượng ngoài hành tinh. Được lấy cảm hứng từ kênh Darryl Anka và Bashar, Lyssa bắt đầu tìm kiếm các câu trả lời liên quan đến kết nối của Trái Đất với các nền văn minh khác. Cô đã siêng năng luyện kỹ năng dẫn kênh của mình và bắt đầu nhận được thông tin mà thông qua nghiên cứu đã được xác nhận bởi các nguồn độc lập sau đó. Cô tiếp tục dẫn kênh và giảng dạy trên khắp thế giới, cũng được nhìn thấy trên truyền hình quốc gia và quốc tế cũng như trong các ấn phẩm tạp chí quốc gia. Dù làm việc khá thường xuyên với thông tin ngoài Trái Đất, việc áp dụng thực tế những gì cô ấy dạy và dẫn kênh là ưu tiên hàng đầu của cô ấy. Keith Priest là nhà điêu khắc và nghiên cứu độc lập sống ở Arizona. Ông học Âm nhạc tại Đại học Tiểu bang Michigan, chuyên về Công nghệ Piano và Hệ thống Chỉnh âm Lịch sử. Triết lý sống của Keith là luôn đặt câu hỏi “Tại sao?” Hứng thú của ông đối với vấn đề ngoài hành tinh đã được kích hoạt vào đầu những năm 1980 thông qua các kênh của Darryl Anka và Bashar. Thông qua nghiên cứu của mình, ông đã nghiên cứu về Cổ ngữ, Nghiên cứu Kinh thánh, Nhân chủng học, Khảo cổ học, Lịch sử và Tôn giáo, kết hợp những nghiên cứu với thiên văn học, Thần thoại và tâm lý học. Mặc dù chưa từng nhìn thấy một UFO (khỏi nói đến người ngoài hành tinh), nhưng các nghiên cứu của ông đã cho ông thấy rằng vấn đề ET không chỉ vừa vặn một cách đẹp đẽ vào tất cả các lĩnh vực này, mà trên thực tế còn là một mảnh ghép của câu đố có thể kết nối tất cả chúng. Ebook được đăng và chia sẻ trên https://pearlcrystalblog.wordpress.com