TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA IN VÀ TRUYỀN THÔNG
  
Cơ sở
kỹ thuật chế bản

Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 1
Chương I:
Tổng quát
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 2
I. Chế bản
1. Khái niệm:
Chế bản là làm ra bản in, nói cách khác nó là cách kết hợp chữ viết, tranh ảnh... thành
một tài liệu sẵn sàng để in ấn. Trước đây, công việc này được làm hoàn toàn thủ công và rất
vất vả. Ngày nay, cùng với cuộc cách mạng máy tính, công việc của nhân viên chế bản điện
tử đã hoàn toàn thay đổi. Họ có sự giúp sức của những phần mềm chế bản ngày càng được
nâng cấp hiện đại hơn, tiện lợi hơn và nhiều tính năng vượt trội hơn như QuarkXPress, In
Design, AI,.. giúp cho công việc chế bản trở nên dễ dàng và nhanh chóng.
2. Công việc :
Đối với một nhân viên chế bản thì họ thường làm những công việc như sau:
 Nhận file do khách hàng chuyển đến và kiểm tra, xử lý một số lỗi trước khi xuất phim
hay kẽm. Do đó cần biết hầu như tất cả các phần mềm mà khách hàng sử dụng (vd Corel,
AI, InDesign,...
 Bình trang điện tử, cái này thì tùy sử dụng hệ thống máy ghi trên lưu đồ làm việc của
từng hãng mà ta có các phần mềm bình khác nhau, vd Heidelberg thì có SignaStation,
Screen thì có FlatWorker,...
 Vận hành máy ghi phim hoặc ghi kẽm, cái này tùy vào từng máy mà có quy trình vận
hành khác nhau.
Không chỉ thế, một nhân viên chế bản được đánh giá và được xem như là người định
hướng đi cho quá trình in ấn. Họ hiểu được sản phẩm in được in và được thành phẩm theo
cách nào từ đó bù trừ thông số hợp lí trên bản in để không làm ảnh hưởng đến những giai
đoạn sau.
Hình : Quá trình chế bản bố trí các con in trên bản in và định vị các đường cấn cho công
đoạn thành phẩm
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 3
II. Quy trình chế bản :
Bài mẫu khách hàng gửi tới đa phần là dưới định dạng là file, lúc này người chế bản chỉ
cần kiểm tra và tiến hành dàn trang, bình trang. Nếu như khách hàng gửi bài mẫu là một sản
phẩm thì người chế bản sẽ scan lại, sau đó phân loại thành các đối tượng: hình ảnh vector,
bitmap, text và tiến hành theo các bước sau:
a. Bước 1: Xử lí hình ảnh đồ hoạ ( hình ảnh vector)
Dùng phần mềm chuyên dụng như AI, Corel,… để vẽ lại.Chú ý không nên dùng các
đường hairline để vẽ các đường mảnh vì chúng sẽ dễ bị mất đi trong quá trình ghi bản, hiện bản
hoặc trong quá trình in.
Nếu vẽ các yếu tố bóng mờ thì phải explants appaerence. Nếu không các yếu tố này sẽ bị
mất đi mặc dù vẫn nhìn thấy chúng trên file gốc.
b. Bước 2 : Xử lí hình ảnh bitmap
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 4
Dùng phần mềm Photoshop để xử lí. Điều quan trọng là phải biết điều chỉnh sao cho hình
ảnh bitmap được in ra có độ phân giải thích hợp.
c. Bước 3 : Xử lí text
Có thể dùng phần mềm word để copy vào trong phần mềm dàn trang. Cần lưu ý là các
đối tượng text nên được xử lí create outline, nếu không máy ghi sẽ không hiểu được nó là gì hoặc
nó sẽ bị dịch chuyển đi trong quá trình chuyển đổi giữa thiết bị và giữa các phần mềm với nhau.
d. Dàn trang
Sử dụng các phần mềm dàn trang như Adobe Indesign, Adobe Illustraitor,…
e. Bình trang
Khi tiến hành bình trang, người chế bản có thể sử dụng nhiều phần mềm ứng dụng khác
nhau để bình trang in như Adobe Illustraitor, Adobe Indesign, Coreldraw, Artios card…
f. RIP
Trong giai đoạn này người chế bản sẽ thiết lập các thông số phù hợp với bài in
‐ Thiết lập tách màu: màu pha và 4 màu CMYK.
‐ Thiết lập góc xoay tram: ví dụ C: 150
, B: 450
, M: 750
và Y: 00
‐ Thiết lập hình dạng tram: chọn tram AM hoặc FM
‐ Thiết lập độ phân giải
‐ Thiết lập máy sẽ ghi những màu nào
‐ Thiết lập trapping
‐ Calibration và dotgain
III. Các định dạng file thường sử dụng trong chế bản:
Có những chương trình ứng dụng xử lý ảnh, vẽ hình ảnh chất lượng cao như Adobe
Photoshop, Fractal, Design, Painter cho phép chúng ta lưu hình ảnh ở dạng riêng và chỉ đọc được
bằng các chương trình đó. Những dạng file này có ưu điểm: kích thước file nhỏ,khả năng lưu file
an toàn (như layers, kênh màu...).Nếu chỉ sử dụng một chương trình ứng dụng thì nên lưu file ở
dạng của chương trình đó. Nếu chúng ta cần chuyển dữ liệu đến các chương trình dàn trang hay
các yêu cầu khác thì nên lưu ở dạng phù hợp với phần mềm ứng dụng để xử lý tiếp theo. Các bộ
phận chế bản hiện nay xử lý hình ảnh qua nhiều khâu và phần mềm khác nhau trước khi xuất
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 5
hình ảnh. Vậy khi lưu hình ảnh nên lưu ở dạng chuẩn để nhiều phần mềm đọc được như TIFF,
EPS hay JPEG.
1. Định dạng file TIFF:
TIFF (có tên đầy đủ là Tag Image File Format) là một định dạng file cổ điển. Nó được
phát triển bởi hãng Aldus (nay đã sát nhập vào hãng Adobe) và hãng Microsoft. Các thông số cơ
bản của hình ảnh được lưu trong các thẻ đoạn (tags) chuẩn. Các thẻ đoạn "riêng" cũng có thể
được định nghĩa. Nội dung của chúng chỉ có thể được đọc bởi các chương trình ứng dụng đặc
biệt. Do các thẻ đoạn được định nghĩa một cách tự do, nên TIFF là một định dạng file mạnh mẽ
và có thể mở rộng.
Định dạng file TIFF dựa trên phương pháp nén "Lempel-Ziv-Welch" là một phương pháp
nén đơn giản và không mất dữ liệu. Dạng file này được phát triển đặc biệt cho các ứng dụng dàn
trang, các chương trình xử lý ảnh và nó có thể đọc được trên nhiều môi trường khác nhau. Hầu
hết trong các phần mềm ứng dụng mới nhất, chúng ta có thể lưu hình ảnh dạng bitmap trắng đen,
màu RGB, màu CMYK và Lab bằng dạng file TIFF.
Các ưu điểm của file TIFF:
- Lưu thông với kênh alpha trong các ứng dụng.
- Lưu file để xử lý trên môi trường đặc biệt của PC và Macintosh.
Hầu hết các ứng dụng dàn trang có thể mở các file TIFF được tạo trên máy PC hay
Macintosh nhưng nếu có cả hai loại PC và Macintosh nên lưu theo nơi mà phần mềm dàn trang
sẽ được sử dụng. Hầu hết các ứng dụng dàn trang đều có khả năng tự động tách màu các hình
ảnh dạng TIFF theo CMYK được nhập vào. Các file màu CMYK dạng TIFF thường có kích
thước nhỏ, thời gian xử lý nhanh hơn dạng file EPS.
2. Định dạng file EPS
Có tên đầy đủ là Encapsulated Postscript, Đây là định dạng chính dùng lưu trữ các file đồ
họa. Các phần mềm đồ họa như CorelDRAW chẳng hạn, bên trong chúng đã có sẵn các cấu trúc
dữ liệu chuẩn giúp chúng có thể chuyển sang định dạng EPS cần thiết cho các quá trình xử lý sau
này. Định dạng file EPS cũng có nguồn gốc từ ngôn ngữ Postscript, vì thế EPS có thể được sử
dụng để chuyển đổi hoặc kết hợp giữa dữ liệu vectơ và bitmap, và điều đó cũng có nghĩa là định
dạng file EPS có chứa những thông tin đã được nhúng không thể thay đổi được.
EPS là một định dạng file đặc biệt của ngôn ngữ mô tả trang độc lập với thiết bị. Bên
trong chúng có cấu trúc giống như định dạng file Postscript, nhưng chúng lại có thể được đặt vào
các phần mềm ứng dụng khác như các định dạng TIFF, BMP. Một hình ảnh "Preview" có
độbphân giải thấp được viết thêm vào trong phần Header của file EPS, và khi được đặt vào một
phần mềm dàn trang, hình ảnh "Preview" sẽ được sử dụng cho việc hiển thị.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 6
3. Định dạng file JPEG:
JPEG (tên đầy đủ là File Interchange Format (JFIF), tên JPEG được viết tắt từ tên công ty
phát minh ra định dạng nén này Joint Photographic Expert Group) là một định dạng file nén,
thường sử dụng đặc biệt cho các dữ liệu lớn, hoặc cho việc tối ưu hóa chu trình làm việc của chế
bản (ví dụ như cho báo chí chẳng hạn) và cho Internet. Định dạng nén này được kết hợp từ nhiều
phương pháp nén khác nhau. Các hình ảnh sẽ được nén dựa trên sự thay đổi của một hàm Cos
riêng biệt, phương pháp này có tỉ lệ nén rất cao (có thể lên đến 1:100) tùy thuộc vào các thông số
đã được chọn. Tuy nhiên tỉ lệ mất mát của phương pháp nén này còn tùy thuộc vào hình ảnh.
Định dạng file JPEG có thể lưu ở không gian màu RGB hoặc CMYK, nhưng không lưu được ở
không gian màu CIELab.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 7
Chương II:
Màu sắc và
Độ phân giải
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 8
Màu sắc được dùng lần đầu tiên trong in ấn vào thế kỷ 15. Việc sử dụng màu này nhìn
chung đã bị giới hạn qua việc dùng các màu tông nguyên cho các mục đích trang trí. Mãi đến đầu
thế kỷ 18, Jacob Christoph Le Blon mới giới thiệu việc in hình có tầng thứ 3 màu. Le Blon -
người chịu ảnh hưởng bởi công trình của Isaac Newton- đã chọn mực màu vàng, Red và Blue
làm màu sơ cấp. Những loại mực này đã mở đường cho các màu vàng, Magrenta và Cyan ngày
nay. Hiệu quả tầng thứ thu được nhờ sử dụng kỹ thuật khắc chạm thủ công trên các bản in bằng
đồng. Qui trình này đã tạo ra các bản in mẫu đầu tiên vào khoảng năm 1704.
Những bản in có phần tử in chìm 3 màu đầu tiên được in trên một máy cuộn ở Seigburg
vào năm 1914. Trong cùng thời gian này, một máy in nhiều đơn vị cũng đã được lắp đặt ở
Chicago. Máy này có cấu trúc tách rời từng đơn vị in đối với mỗi màu. Tuy nhiên, người ta cho
rằng phải mãi cho đến cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930 thì một ấn phẩm in chồng
4 màu thành công đầu tiên trên một máy in nhiều màu mới được tạo ra và máy này có lẽ do công
ty Albert chế tạo.
I. Các nguyên lý tổng hợp màu sắc:
1. Bản chất của màu sắc:
Để hiểu được quá trình tái tạo màu sắc, điều cần thiết đầu tiên là phải có được một sự
đánh giá đúng mức về hiện tượng màu sắc. Để làm sáng tỏ điều này, chúng ta cần phải xem xét
bản chất của ánh sáng, nếu không có nó, màu sắc sẽ không tồn tại.
Ánh sáng là năng lượng phát xạ mà mắt thường của con người có thể thấy được. Theo
mục đích phục chế màu, chúng ta giả sử ánh sáng di chuyển theo chuyển động sóng, với màu sắc
của ánh sánh biến thiên theo độ dài của bước sóng. Bước sóng có thể được đo đạc và sắp xếp với
các dạng khác của năng lượng trên dải quang phổ điện từ.
Dải quang phổ điện từ được sắp xếp từ các sóng cực ngắn của tia gamma được phát ra
bởi các vật liệu phóng xạ cho đến các sóng vô tuyến. Những sóng dài nhất có thể đến hàng dặm.
Ánh sáng khả biến - vùng quang phổ có thể thấy được - có bước sóng từ 400 đến 700 nm (hàng
triệu của mm). Dưới 400 nm là các tia cực tím, trên 700nm là các tia hồng ngoại.
Hình : dãy quang phổ khả kiến
Các vùng quang phổ thấy được xuất hiện trong tự nhiên như một cầu vồng, nó có thể
được tạo ra một cách dễ dàng trong phòng thí nghiệm bằng cách cho một tia sáng hẹp của ánh
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 9
sáng trắng qua một lăng kính thủy tinh.Vùng quang phổ xuất hiện được chia thành 3 mảnh màu -
Blue, Green và Red nhưng thật ra nó được tạo thành từ rất nhiều màu với những sự biến thiên
cực nhỏ từ 400nm đến 700nm. Các màu trong quang phổ về mặt lý tính là các màu thuần khiết.
Sự phân tích ánh sáng trắng thành quang phổ có thể nhìn thấy được và sự tái kết hợp của quang
phổ để tạo thành ánh sang trắng lần đầu tiên được nhà bác học nổi tiếng người Anh Isaac Newton
chứng minh và trình bày vào năm 1704.
Hình : Sự khúc xạ tia sáng qua lăng kính tạo thành quang phổ
Lý do mà một dải quang phổ có thể được hình thành bằng cách đưa ánh sáng trắng qua
một lăng kính có liên quan đến sự khúc xạ ánh sáng khi nó đi từ môi trường này (không khí)
sang môi trường khác (thủy tinh). Lăng kính làm khúc xạ tia sáng có các bước sóng ngắn nhiều
hơn tia sáng có bướcsóng dài vì thế đã làm lan tỏa tia sáng thành quang phổ có thể nhìn thấy
được (như hình minh họa). Các giọt nước mưa cũng đóng vai trò tương tự như một lăng kính, khi
những tia sáng hẹp của ánh nắng mặt trời đi xuyên qua các đám mây để hình thành một cầu vồng
vì những tia sáng bị khúc xạ bởi hơi nước trong không khí.
Khi các bước sóng giữa 400 và 700nm được trộn lại với những tỉ lệ gần như bằng nhau
thì chúng ta có cảm giác về ánh sáng trắng. Nhưng mắt con người rất uyển chuyển ở điểm này:
chúng ta thường chấp nhận ánh sáng từ một ngọn đèn dây tóc như là màu trắng, những lúc khác
chúng ta lại xem ánh sáng từ một bầu trời xanh là màu trắng. Rõ ràng là mắt người rất thích nghi
với nhiều nguồn sáng khác nhau.
2. Nguyên lý tổng hợp màu cộng :
Khi các bước sóng của ánh sáng được kết hợp lại theo những tỉ lệ không bằng nhau, thì
chúng ta cảm nhận được các màu mới. Đây là nền tảng của qui trình tái tạo màu cộng. Các màu
sơ cấp (primary colors) của quá trình này là ánh sáng màu Red, Blue, Green. Ngoài 3 màu này,
các màu thứ cấp cũng có thể được tạo ra bằng cách cộng bất kỳ 2 màu sơ cấp nào đó lại với
nhau: Red kết hợp với Green cho ra vàng, Red kết hợp với Blue cho ra màu Magienta, và Blue
kết hợp với Green cho ra màu Cyan. Sự hiện diện của tất cả 3 màu sẽ cho ra màu trắng và khi
thiếu cả 3 mảu này sẽ tạo ra màu đen.
Red + Green = vàng Red + Blue = Magienta
Green + Blue = Cyan Red + Green + Blue = trắng
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 10
Thay đổi cường độ của bất kỳ hoặc tất cả 3 màu sơ cấp sẽ tạo ra tất cả các màu có trên
giải quang phổ thấy được. Đây là nguyên tắc của truyền hình màu. Ta có thể được quan sát bằng
cách kiểm tra việc ghép màu Red, Green, Blue trên màn hình bằng một kính phóng đại.
Hình : nguyên lí tổng hợp màu cộng
Thay đổi cường độ của bất kỳ hoặc tất cả 3 màu sơ cấp sẽ tạo ra tất cả các màu có trên
giải quang phổ thấy được. Đây là nguyên tắc của truyền hình màu. Ta có thể được quan sát bằng
cách kiểm tra việc ghép màu Red, Green, Blue trên màn hình bằng một kính phóng đại.
Nhược điểm của hệ thống tái tạo màu cộng là nó cần được rọi sáng ở cường độ cao để tạo
ra các tia trắng và các màu ở một độ sáng chấp nhận được. Các hệ thống truyền hình không gặp
phải vấn đề về các giá trị độ sáng thấp bởi vì các nguồn tự phát quang tạo trong ti vi tạo nên từng
phần tử của hình ảnh. Độ phát quang tổng thể của những phần tử này có thể được điều chỉnh
bằng các chức năng điều chỉnh độ tương phản hoặc độ sáng. Cũng vậy khi xem truyền hình
thường trong phòng tối nó tạo ra ảo ảnh của sự phát quang nhiều hơn trong các tông sáng vì có
sự ra tăng độ tương phản.
3. Nguyên lý tổng hợp màu trừ:
Những hạn chế của quá trình tổng hợp cộng có thể được khắc phục bằng quá trình tổng
hợp trừ. Hệ thống tổng hợp cộng bắt đầu bằng màu đen (một màn hình tivi chưa được cắm điện
chẳng hạn và cộng màu Red, Green, Blue để có được màu trắng. Ngược lại hệ thống tổng hợp trừ
bắt đầu với màu trắng (chẳng hạn một tờ giấy trắng được chiếu bằng ánh sáng trắng) và trừ màu
Red, Green và Blue của ánh sáng trắng để có được màu đen. Việc loại bỏ màu Red, Green, Blue
được thực hiện bằng cách sử dụng các màu nghịch của chúng. Nghịch với màu Red là màu Cyan
được tạo thành bởi màu Blue và Green, đối với màu Green là màu Magrenta được tạo thành từ
màu Red và màu Blue. Đối với màu Blue là màu vàng được tạo thành từ màu Green và Red. Các
màu đạt được bằng cách loại bỏ ánh sáng trắng khỏi tờ giấy trắng vốn gồm màu Red, Green và
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 11
Blue). Ví dụ kết hợp màu vàng (trừ Blue) với Cyan (trừ đỏ) sẽ cho ra màu xanh lục. Bảng sau
đây sẽ cho thấy những sự kết hợp:
Hình : nguyên lí tổng hợp màu trừ
Trắng + Yellow + Cyan = Green
Trắng + Magienta + Cyan = Blue
Trắng + Magienta + Yellow =Red
Trăng + Yellow = Yellow
Trắng + Magrenta = Magrenta
Trắng + Cyan = Cyan
Trắng + Yellow + Magrenta + Cyan = Black
Bất kỳ màu nào trong một khoảng màu có thể phục chế được đều có thể được phục chế
bằng cách thay đổi tỷ lệ của bất kỳ hoặc tất cả các màu. Nguyên tắc tổng hợp màu trừ được sử
dụng cho kỹ thuật nhiếp ảnh màu hiện đại nhất và tất cả các quá trình in màu. Cả truyền hình
màu và in màu đều tận dụng một qui tắc chung là tái tạo hình ảnh cơ sở kết hợp các điểm nhỏ để
phục chế.
Đối với truyền hình màu, màn hình chứa các phần tử của màu Red, Green và Blue có
kích thước bằng nhau. Ở một khoảng cách xem cụ thể (2 m) mắt không thể nhận ra các phần tử
riêng lẻ và ti vi phải trộn màu Red, màu Green và Blue để tạo thành một màu sắc tổng hợp.
Trong in màu, quá trình này phức tạp hơn. Đối với hầu hết việc in màu, diện tích được
phủ mực vàng, magrenta và Cyan thay đổi, nhưng độ dày của lớp mực vẫn giữ nguyên. Không
giống như tivi, những màu này chồng chéo lên nhau tạo thành các màu thứ cấp của tổng hợp màu
trừ là Red, Green và Blue. Chỗ nào có 3 màu sơ cấp chồng lên nhau chúng ta có màu đen và chỗ
nào không có mực thì chúng ta được giấy trắng. Vì thế chúng ta có chừng độ 8 yếu tố ảnh tách
biệt nhau: trắng, vàng, magienta, cyan, red, green, blue và đen. Cũng như ở tivi, tại một khoảng
cách xem cụ thể (20 cm), mắt không nhận ra các phần tử riêng lẻ mà nhất thiết phải trộn chúng
lại để hình thành nên một màu tổng hợp.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 12
Mục tiêu trước đây khi phục chế bằng các phương pháp in là tạo ra các Bbản kẽm in màu
vàng, Magrenta và Cyan, các bản kẽm này chính là những ghi nhận nghịch đảo khối lượng màu
Red, Green và Blue gốc. Điều này đạt được bằng cách chụp bài mẫu lần lượt qua các kính lọc
Red, Green và Blue. Những phim này có thể đi qua các giai đoạn sử lý sau đó để đạt được sự
chính xác về màu sắc và tông hoặc để chuyển hình ảnh sao chụp có tông màu liên tiếp
(continuous tone) thành các hình ảnh có tông tram (tầng thứ tram) phù hợp với quy trình in có
sẵn. Mỗi khuôn in được chà loại mực phù hợp với nó và sau đó lần lượt được in lên vật liệu in.
Hình : các điểm tra tram 3 màu chồng lên nhau trong quá trình in
Ngày nay qua quá trình làm phim gần như đang trên đà suy thoái và có lẽ sẽ mất dần
trong tương lai. Các kỹ thuật từ máy tính ra thẳng bản in (computer to plate) và máy tính ra thẳng
máy in (computer to press) sẽ dần dần loại bỏ vai trò của phim ra khỏi quá trình phục chế nhưng
các nguyên tắc cơ bản nhất của việc truyền hình ảnh vẫn không có nhiều thay đổi.,
Trong in ấn ta cũng thường dùng một bản in màu đen. Màu này được tạo ra bằng cách
chụp bài mẫu tuần tự qua các kính lọc Red, Green và Blue rồi qua các qui trình tiếp theo tương
tự đối với những màu khác. Màu đen làm tăng độ tương phản cho việc tái tạo. Vì những giới hạn
về độ dày của các loại mực vàng, magienta và Cyan khi được in lên giấy nên màu đen thường
được sử dụng để đạt được một sự tái tạo hoàn hảo.
II. Không gian màu
Một không gian màu là toàn bộ dãy màu (hoặc trị số màu) của thiết bị thực (real device)
như màn hình, máy in hoặc một thiết bị ảo (virtual device) như một màn hình có tính chất lý
thuyết, đại diện bởi không gian màu RGB có thể ghi hoặc phục chế được. Dãy này được định
nghĩa như là khoảng phục chế (gamut) của thiết bị.
Mỗi một thiết bị có một không gian màu duy nhất, và thậm chí các thiết bị giống nhau (về
thiết kế và kiểu dáng) cũng có những sự khác nhau (dù nhỏ) về không gian màu. Những sự khác
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 13
nhau này càng tăng với sự biến đổi của các thiết lập phần mềm hoặc phần cứng như sự khác
nhau về độ phân giải màn hình, mực in, giấy in của máy in, hoặc thậm chí là sự khác nhau về độ
sáng thiết lập trên màn hình...
1. Các loại không gian màu
a. Không gian màu MUNSEL
Sử dụng 3 yếu tố để xây dụng không gian màu: độ sáng (Value/Lightness), độ bão hòa
màu (Chroma/Saturation) và độ ngả màu (Hue)
Hình : không gian màu MUNSELL
Munsell đã phát triển một hệ thống phân loại màu với khoảng cách về sự khác biệt màu
đều nhau vào năm 1905. Trong hệ thống này các màu được sắp xếp theo tông màu, độ sáng và
độ bão hòa màu. Các tông màu cơ bản là Red, Yellow, Green, Blue và Purple (đỏ tía). Hệ thống
được phát hành vào năm 1915 dưới dạng “Sách màu Munsell” cho 40 tông màu, ánh sáng loại C
và mẫu in trên giấy sáng và bóng mờ.
Năm tông màu cơ bản Red, Yellow, Green, Blue và Purple được chia nhỏ ra thành
TỔNG CỘNG 100 tông, mỗi tông có 16 độ bão hòa màu và 10 mức độ sáng.
b. Không gian màu CMC
Dựa trên lập luận mắt người cảm thụ các thay đổi về độ sáng trong màu sắc nhạy hơn sự
thay đổi của độ bão hòa màu. Color Measurement Committee of the Society of Dryers and
Colornists (hội đồng đo đạc màu của hiệp hội của những nhà sản xuất nhuộm và màu của Anh)
đã thay đổi một vài tính chất của không gian màu CIE L*a*b, đưa ra không gian màu CMC
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 14
Hình : không gian màu CMC
c. Không gian màu chuẩn CIELab
Nếu chúng ta muốn mô phỏng kết quả của bốn màu in trên màn hình chúng ta cần phải có
một hệ thống liên hệ chung (toàn cầu) được dùng để xác định tất cả các màu này (màu mực in và
màu màn hình). Hệ thống liên hệ này sẽ thể hiện một không gian màu. Tập hợp của tất cả các
màu thực trong hệ thống liên hệ này thể hiện một khoảng phục chế màu không phụ thụôc vào
thiết bị.
Để tạo ra một tiêu chuẩn màu toàn cầu chứa các khoảng phục chế màu quan trọng nhất và
cho phép các màu giao tiếp được với nhau là điều cực kỳ quan trọng cho việc phát triển một hệ
thống phục chế màu. Đối với các trường hợp thực tế, một sự thể hiện tất cả các màu trong không
gian hai chiều được ưa thích hơn là một không gian màu ba chiều. Vào năm 1931 một tiêu chuẩn
như thế đã được tạo thành gọi là hệ thống màu tiêu chuẩn CIE từ hội nghị quốc tế Eclairage
(Commission Internationale de l’Eclairage).
Việc đưa ra hệ thống màu CIE trên chuẩn làm cho ta có khả năng chuyển đổi một quyết
định về màu từ tiến trình diễn giải về mặt chất lượng sang tiến trình có thể diễn giải dưới dạng số
lượng và con số cụ thể. Thí dụ ta có khả năng quyết định một cách chắc chắn rằng việc sơn lại
một cái cánh xe hơi có giống với màu gốc ban đầu của nó hay không.
Hình : không gian màu CIELab
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 15
Một hệ thống liên hệ có thể làm được điều này một cách chính xác được phát triển vào
năm 1976 bởi CIE. Nó được gọi là CIE LAB và được xây dựng trên cơ sở CIE XYZ (Hệ màu
được xây dựng từ các màu sơ cấp).Hai thông số, độ màu chroma (gần giống như độ bão hòa
màu) và tông màu được xác định ở đây bởi hai trục tọa độ a* và b* có cả giá trị dương lẫn âm.
Điều này tạo ra là mặt phẳng màu – chrominance plane – Có một trục tọa độ với một giá trị Red
– Green a* và một trục với giá trị vàng – Blue b*.
2. Hệ màu:
Ngày nay có rất nhiều hệ màu khác nhau để mô tả màu sắc của hình ảnh. Hệ màu định
nghĩa cách mô tả màu sắc của một hình ảnh qua các trị số. Các hệ màu chính được sử dụng cho
việc mô tả màu sắc hình ảnh là: RGB, Lab, CMYK và Grayscale.
a. Hệ màu RGB
Tất cả các màu trong hệ màu RGB được tạo từ ba màu cơ bản (còn gọi là ba màu cơ bản
của ánh sáng): Red, Green và Blue. RGB là hệ màu được sử dụng thông dụng nhất trong xử lý
ảnh kỹ thuật số. RGB là hệ màu cộng (additive color model), nghĩa là nếu tổng hợp ba màu Red,
Green, Blue với 100% mức độ, chúng ta sẽ thu nhận được ánh sáng trắng. Trị số (0,0,0) định
nghĩa màu đen, trong khi trị số (255,255,255) được định nghĩa là màu trắng.
Hình : Hệ màu RGB ( trái) và hệ màu Lab ( phải)
b. Hệ màu Lab:
Hệ màu CIE-LAB (có thể viết gọn là Lab, LAB hoặc L*a*b*) phân chia ra màu sắc
(chroma, A+B) và độ sáng (luminance, L) trong hình ảnh. Cũng như hệ màu RGB, Lab sử dụng
ba thành phần cơ bản là: L (cho độ sáng) có dãy trị số từ 0 (màu đen) đến 100 (màu trắng) và hai
trục tọa độ màu: a và b. Trục a từ màu Green đến màu Red và trục b từ màu Blue đến màu
Yellow.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 16
c. Hệ màu CMYK
Hệ màu CMYK sử dụng đến 4 màu cơ bản để định nghĩa màu sắc: Cyan (C), Magenta
(M), Yellow (Y) và Black (K) (ba màu Cyan, Magenta và Yellow còn gọi là ba màu cơ bản của
vật thể). CMYK là hệ màu được sử dụng trong in ấn nơi các màu sắc chủ yếu được tạo thành từ
sự phản xạ ánh sáng của vật thể (như là các pigment mực).
CMYK là hệ màu trừ (subtractive color model) do mỗi màu mực sẽ hấp thụ (trừ bớt) một
phần quang phổ của ánh sáng. Về mặt lý thuyết, khi tổng hợp ba màu C, M, Y chúng ta sẽ nhận
được màu đen (K), nhưng do sự không tinh khiết của mực in nên trong thực tế màu nhận được sẽ
không hoàn toàn đen mà chỉ là một màu nâu tối, do đó người ta thêm vào một màu thứ tư: màu
Black (K), nó còn được gọi là màu khóa (key color).
Mặc dù CMYK là hệ màu rất quan trọng trong in ấn, nhưng nó không được sử dụng
nhiều trong xử lý ảnh kỹ thuật số. Chúng ta ít khi sử dụng hệ màu CMYK trong chu trình làm
việc của mình. Bạn nên sử dụng hệ màu RGB bất cứ khi nào có thể và chỉ chuyển nó sang hệ
màu CMYK ở bước cuối cùng. Làm việc trên hệ màu CMYK sẽ có một số nhược điểm như sau:
 Hình ảnh ở hệ màu CMYK sẽ có kích thước file lớn hơn ở hệ màu RGB.
 Một vài chức năng filter không làm việc với hệ màu CMYK.
 Không gian màu CMYK chứa ít màu hơn không gian màu RGB (CMYK có không gian
màu nhỏ hơn)
d. Hệ màu HSB/HSL:
Hệ HSB sử dụng ba thành phần: Hue (sắc màu), Saturation (độ bão hòa màu) và
Brightness (độ sáng). Trong hệ HSL là ba thành phần: Hue (sắc màu), Saturation (độ bão hòa
màu) và Lightness (độ sáng). Hai hệ màu này không được hỗ trợ bởi Photoshop, nhưng nó được
sử dụng trong nhiều phần mềm ứng dụng khác.
Hình : Hệ màu HSB/ HSL
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 17
3. Chỉnh sửa màu sắc:
a. Sửa màu:
Việc sửa màu thường được khách hàng yêu cầu cho phù hợp với cảm nhận màu sắc của họ
hoặc vì một yêu cầu nào đó. Việc sửa màu có thể là việc xóa bỏ sự ngả màu của bài mẫu hoặc là
việc chỉnh sửa cho màu sắc hình trở nên tươi sáng, đậm đà hơn chẳng hạn như màu cỏ trở nên
tươi hơn hay bầu trời trở nên xanh hơn.
Có các cách sửa màu chính như sau:
 Sửa màu toàn cục (Global color corrections): việc sửa màu này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ
hình ảnh. Đối với hệ màu HSL, việc chỉnh màu này sẽ ảnh hưởng đến tất cả các sắc màu. Có một
điều cần lưu ý là sau việc chỉnh sửa màu toàn cục, các trị số tách màu của các màu có thể khác
trước.
 Sửa màu chọn (Selective color corrections) hay còn gọi là sửa màu cục bộ: Việc sửa màu
chọn chỉ ảnh hưởng đến các sắc màu tương tự với màu đã chọn theo một dung sai đã định sẵn.
Đối với hệ màu HSL, việc chỉnh màu này sẽ chỉ ảnh hưởng đến sắc màu gần với màu chọn nhất.
 Chỉnh sửa tầng thứ (Corrections): đây là chức năng cho phép chúng ta thực hiện việc thay
đổi tông độ cũng như là độ sáng, độ tương phản của toàn bộ hình ảnh. Những vùng tông độ đặc
biệt cũng có thể được hiệu chỉnh cục bộ bằng cách sử dụng bản che. Việc chỉnh sửa tầng thứ còn
cho phép chúng ta có thể chỉnh sửa theo từng kênh màu. Chẳng hạn như khi tăng tầng thứ màu
Cyan, trị số màu Cyan trên toàn bộ hình ảnh sẽ cao hơn. Một vài hình ảnh có thể bị ngã màu do
các yếu tố về thời gian bảo quản, lớp thuốc, nguồn sáng hoặc quá trình xử lý không đúng. Điều
này có nghĩa là khi tách màu sẽ có một màu thành phần có trị số cao hơn trị số yêu cầu. Việc
chỉnh sửa tầng thứ có thể được dùng để loại bỏ hiện tượng ngã màu này.
 Chỉnh sửa độ sáng và độ bão hòa (Luminance and Saturation): Ngoài các cách sửa màu
như: sửa màu cục bộ, sửa màu toàn cục, chỉnh sửa tầng thứ, chúng ta còn có thể hiệu chỉnh trị số
độ sáng và độ bão hòa. Chức năng này sẽ có ảnh hưởng đến các trục tọa độ Lightness và
Saturation của hệ màu HSL. Chúng ta có thể thay đổi độ sáng của tất cả các màu hoặc chỉ trong
một số màu đã chọn. Việc thay đổi độ sáng sẽ không có ảnh hưởng gì đến cân bằng xám của
hình ảnh. Tương tự, chúng ta có thể thay đổi độ bão hòa của tất cả các màu hoặc chỉ trong một số
màu đã chọn.
b. Màu pha:
Trong thực tế của quá trình in ấn, có nhiều trường hợp chúng ta phải sử dụng màu pha
thay thế cho 4 màu in chính ( điều này thường được bắt gặp trong các sản phẩm in trên hộp
thuốc). Nguyên nhân của việc này là do khả năng tái tạo màu sắc mực in CMYK không bằng khả
năng phục chế của hệ màu RGB như đã đề cập ở phía trên.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 18
Hình: Khả năng phục chế của hệ màu RGB( trái ) và CMYK ( phải)
Vậy khi nào màu pha được sử dụng? Đó là khi có một số màu sắc nhất định nằm ngoài
khả năng phục chế hoặc khó phục chế lại một cách chính xác do sự không tin khiết của mực in.
Đặc biệt đối với những màu nằm sát ngoài rìa khả năng phục chế như : màu xanh tím, màu xanh
lá mạ, màu đỏ cờ.
Thực tế cho thấy có rất nhiều nhà sản xuất đã tiến hành pha mực và chọn màu sắc đặc
trưng cho sản phẩm của mình vì khả năng chống giả khá cao. Ví dụ như khi nhắc đến màu xanh
thì hang PS đã pha riêng cho họ màu xanh độc quyền và được các nhà in gọi là màu xanh PS,
tương tự ta cũng bắt gặp màu đỏ OMO,…
Dưới đây là bảng tham khảo về các thành phần màu CMYK cho một số màu đặc biệt.
Chú ý rằng màu sắc có thể hơi khác nhau tùy thuộc vào điều kiện in và loại giấy, mực
Màu % Cyan % Magenta %Yellow % Black
Xanh đậm 100 65-75 10 25
Tím đậm 85 100 10 20
Xanh da trời 60 20-25 0 0
Màu ngọc 60 0 25 0
Xanh lục 100 0 100 0
Vàng chanh 5 15-20 95 0
Màu của vàng 5 15-20 65-75 0
Đỏ cờ 10 100 100 0
Màu cam 5 50 100 0
Đỏ bầm 25 100 80 20
Màu hồng 5 40 5 0
Màu beige 5 5 15 0
Màu da người Châu Á 15 40 55 0
Nâu chocolate 45 65 100 35-40
Màu xám 55 42 42 15
Màu bạc 20 15 14 0
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 19
III. Tram hoá và sự phục chế hình ảnh
Nhờ có ánh sáng mà con mắt chúng ta tiếp nhận được hình dạng và màu sắc của thế giới
tự nhiên. Ánh sáng là các quang tử (photon) lan truyền trong không gian theo dạng sóng, với
những bước sóng khác nhau. Chúng tác động tới các vật thể, được các vật thể hấp thụ hoặc phản
xạ lại, rồi kích thích vào cơ quan thị giác, trở thành nhũng tín hiệu truyền về bộ não, những tín
hiệu ấy được tổng hợp, cho ta cảm giác về màu.
Sự cảm nhận màu sắc trong in ấn là sự đánh lừa thị giác khi các hình ảnh in được biến đổi
thành các điểm tram có kích thước nhất định ( vừa đủ để cho thị giác của chúng ta bị đánh lừa).
Một khái niệm thường được biết đến là độ phân giải.
1. Khái niệm và phân loại:
Là độ sắc nét và rõ ràng của hình ảnh. Thường được dùng để diễn tả hình ảnh đó giống
cảnh thật hay vật đến mức nào. Độ phân giải đúng của 1 tấm ảnh được xác định bằng thiết bị
đầu ra ( web, máy in, các công nghệ in,… ). Mục đích của độ phân giải ảnh là tạo ra hình ảnh
giống ảnh thật cho các thiết bị đầu ra.
Các loại độ phân giải:
 PPI (pixels per inch) Là số điểm pixel thể hiện trong tấm ảnh. Một tấm hình kỹ thuật số
gồm các điểm thể hiện trên màn hình. PPI là độ phân giải của màn hình chứ không phải là độ
phân giải của ảnh
 DPI ( dot per inch ) : là đơn vị dùng đo lường độ phân giải của máy in. Nó là số điểm
mực mà máy in có thể dùng để in văn bản hay hình ảnh. Cơ bản thì máy in có DPI càng lớn thì in
hình càng rõ và sắc nét hơn
 LPI (line per inch) :là 1 đơn vị đo quan trọng liên quan đến cách phục chế hình ảnh. LPI
ảnh hưởng bởi thiết bi xuất và loại giấy in
2. Sự khác biệt giữa DPI là LPI:
DPI là số dot lớn nhất mà một máy in có thể in được trong 1 inch. Với việc sử dụng hệ
nhị phân của máy tính và máy in, các dot này chí có 2 giá trị là in hay không in (hình bên trái).
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 20
LPI là số dot tròn – là tập hợp của nhiều dot vuông trong DPI) trong 1 inch (hình bên
phải) Do khi in máy chỉ có 2 lựa chọn in hay không in nên máy không thể tạo các vùng màu như
màu xám, mà chỉ có thể in màu trắng hay đen. Để có thể giả lập màu, máy in sử dụng các dot
tròn với kích thước khác nhau, để khi xếp gần nhau với độ phân giải cao có thể dánh lừa mắt
chúng ta cảm nhận là màu xám. Để tạo các dot tròn, máy in sử dụng một tập hợp mô hình các dot
vuông (như hình bên trái). Độ phân giải của máy in càng cao thì các dot tạo ra càng tròn hơn.
Đơn vị đo độ phân giải của các dot tròn này được gọi là LPI bơi vì mỗi dot tròn đều có một tâm.
Và tâm này được đặt cách đều nhau cho dù dot tròn này có kích thước khác nhau (kích thước
khác để đạt được mục đích tạo màu xám). Nếu nhìn gần các bức ảnh in trên báo, ta sẽ thấy bức
ảnh là tập hợp của các dot với kích thước khác nhau. Một bức ảnh trên báo thường có độ phân
giải 85 LPI, có nghĩa là nếu dùng kính lúp, bạn có thể đếm được khoảng 85 dot tròn nhỏ với kích
thước khác nhau trên mỗi inch. Và để đạt được độ phân giải sao cho các dot tương đối tròn thì
máy in phải có độ phân giải ít nhất là 600 DPI. Một tạp chí bóng láng thường ở vào 150 tới 200
LPI, có nghĩa máy dùng để in cần có độ phân giải ít nhất là 2400 DPI.
LPI cũng có góc xoay như DPI. Thường thì màu đen được đặt ở góc xoay 45 để có thể
đánh lừa mắt người tốt. Hãy thử xoay một tờ báo 45 độ để các dot nằm thẳng đứng và ban sẽ
thấy rõ hơn các dot tròn. Các máy in có thể kiểm soát được LPI là các máy lớn, sản phẩm có qua
giai đoạn chế bản và có đặc tính thích hợp. Các máy in phun hay in laser không qua giai đoạn
chế bản phù hợp thì dùng các nguyên lý khác để tạo màu. Nói cách khác: các bạn hay nhầm line
và dot, line đây không phải là 1 hàng dot, mà line đây chính là một dot trong LPI nhằm phân biệt
với dot trong DPI.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 21
Bảng tham khảo LPI của các phương pháp in và vật liệu in
CÔNG NGHỆ IN / VẬT LIỆU LPI
In lụa 35-65
In lụa trên vải 50
In lụa – bề mặt nhẵn, trơn 85 - 110
In laser/ photocopy
( giấy copy hay giấy mờ )
50-90
In laser / photocopy
( giấy có tráng phủ )
75-110
quick printer
(uncoated or matte bond paper)
75-110
In flexo
( giấy ko tráng phủ )
Lên đến 133
In flexo
( giấy có tráng phủ hay giấy in nhãn hàng )
133-150
In flexo các sản phẩm dược
( giấy có tráng phủ )
Tới 175
In offset
( giấy in báo )
60-85
In ofsset
( giấy không tráng phủ)
85-133
In offset
( giấy có tráng phủ )
120-150 +
In offset
( giấy có tráng phủ và độ bóng )
150-250
In offset khô
( giấy có tráng phủ và độ bóng )
200-800
In ống đồng - trên các vật liệu 150-200
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 22
Chương III:
Dàn trang – Bình trang
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 23
I. Các khái niệm cần nhớ:
1. Dàn trang là gì ?
Dàn trang còn gọi layout, là bố cục trình bày tài liệu. Nói một cách cho đơn giản là cách
sắp xếp các chi tiết, hình ảnh, để ra được những trang sách, báo hoàn chỉnh ( dùng trong in sách)
hoặc trên một con in (dùng cho các ấn phẩm nhỏ). Quá trình dàn trang còn được hiểu là quá trình
thiết kế file cho một ấn phẩm. Khi dàn trang, có thể sử dụng các phần mềm như Ai, Corel, Id, …
Ví dụ: Khi dàn trang, cần phải sắp xếp các hình ảnh nằm ở bị trí nào? Phần text nằm ở
đâu, chữ to hay chữ nhỏ , màu gì? Trang in có bao nhiêu cột ? Đánh số trang như thế nào, ở bên
trái hay bên phải?.....
Hình : Bố trí dàn trang trên một trang in
2. Bình trang ( Imposition) :
Bình trang là sự sắp xếp các trang in ( các con in) trên một tờ in lớn nhằm giúp cho quá
trình in được diễn ra nhanh hơn, giảm lượng giấy hao phí. Để muốn bình trang cần phải biết một
số thông tin như : khổ thành phẩm, khoảng chừa nhíp, khổ giấy in,…
Để bình trang cho chính xác cần nắm vững các khái niệm sau:
a. In A/B : dùng 2 bộ kẽm cho một tờ in 2 mặt
Sheetwise: In mặt A, mặt B trở tay kê. Người bình bản phải tạo hai bản riêng biệt cho
mỗi tờ in: bản A (mặt trước), bản B (mặt sau). Sau khi in xong mặt trước, người thợ in phải trở
tờ in để in mặt sau theo dạng trở tay kê (cùng cạnh bắt nhíp).
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 24
Hình : in A/B trở tay kê
Perfector: cũng in mặt A, mặt B nhưng theo dạng trở nhíp.
Hình : in A/B trở nhíp
b. In A/A ( in tự trở): dùng một bộ kẽm cho cả hai mặt in
Work – and – turn ; Cả hai mặt A và B đều được bình và in trên một tờ in. Sau khi in
một mặt, tờ in được trở mặt theo kiểu trở tay kê để in mặt kia. Phương pháp này nói chung tiết
kiệm thời gian và nguyên vật liệu. Nhược điểm của nó là sau khi in lần 1 phải chời một khoảng
thời gian để mực đủ khô để in mặt thứ 2.
Hình : in A/A
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 25
Work – and – tumble :Một dạng khác của work – and – turn , một dạng khác là in trở
nhíp. Phương pháp này cũng có ưu nhược điểm như phương pháp trên, tuy nhiên nó lại tốn giấy
nhiều hơn vì phải chừa hai vùng bắt nhíp.
c. Flat – work :
Là một dạng bình trang cho các sản phẩm riêng biệt và không đồng nhất về kích thước.
Hình: bình trang Flat – work
II. Các vấn đề trong dàn trang và bình trang
1. Tay kê và nhíp
Nhíp là một bộ phận gắp giữ & vận chuyển tờ giấy đi qua máy in trong quá trình in.
Thông thường tờ giấy được đưa vào máy theo cạnh dài, nên nhíp sẽ cặp giữ cạnh dài của tờ giấy,
nên cạnh dài trên tờ in còn gọi là cạnh nhíp.
Khi thiết kế và bình trang người ta có khái niệm chừa nhíp, tức là chừa 1 khoảng giấy
dành cho nhíp cặp giữ tờ giấy).
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 26
Tay kê là một bộ phận có chức năng định vị tờ in trước khi chuyển vào máy in, nhằm
đảm bảo cho hình ảnh in ra trên mọi tờ in luôn có vị trí cố định (nhằm đảm bảo cho các khâu
thành phẩm tiếp theo).
Hình : vị trí tay kê trên bàn nẹp giấy.
Một máy in thường có hai tay kê đầu và hai tay kê hông như hình bên dưới, nhưng trong
quá trình in thì ta chỉ sử dụng hai tay kê đầu và một tay kê hông. Giấy sẽ bị kéo về một bên .
Hình : vị trí tay kê trên máy in
2. Bình trở nhíp, trở tay kê:
a. Trở nhíp:
Sau khi in lần thứ nhất, tờ in sẽ được
lật lại theo theo trục đối xứng cạnh ngắn( theo
chiều muỗi tên để in tiếp mặt thứ hai. Các in
này có yêu cầu là phải tính toán chừa nhíp
cho cả hai đầu phải như nhau.
Để dễ hiểu hơn, hãy xem thêm 2 hình
bên dưới.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 27
Hình: in trở nhíp
Khi bình trang cho in trở nhíp
b. Trở tay kê:
Sau khi in lần một, tờ in sẽ được lật mặt lại theo đường trung trực với cạnh dài tờ in (
song song với tay kê).
Hình: in trở tay kê
3. Chừa nhíp và bone chồng màu
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 28
Khi bình trang, phải tiến hành chừa nhíp bản in. Nhíp bản in là khoảng cách nẹp bản in
lên máy, khoảng cách này tuỳ thuộc vào từng máy. Khi khách hàng gửi file sẽ yêu cầu khoảng
chừa nhíp.
Việc phải chú ý gắn vị trí các bon chồng màu cũng khá quan trọng, bone chồng màu giúp
người thợ in thực hiện việc phục chế màu một cách chính xác và dễ dàng. Trên bản in nhiều
màu, thường sẽ được gắn bone chồng màu ở 7 vị trí nhất định như trên hình, tuy nhiên đối với
một bài in một màu hoặc như khi in hoá đơn một màu thì
4. Chừa xén
Chừa xén: là phần sẽ bị xén bỏ khi thành phẩm. Hình minh họa dưới đây cho thấy sản
phẩm trước và sau khi xén, để ý thấy rằng có một phần hình ảnh khi thiết kế đã cố ý để tràn ra
phía ngoài và sau khi xén đã mất đi.
Tai sao phải chừa xén bằng cách thiết kế phần hình ảnh dư ra ngoài như trên? Vì khi
thành phẩm sẽ có sai số khi cắt xén, ta không thể nào cắt đúng y bon như thế này
Như vậy nguyên tắc khi dàn trang, bình trang là:
 Phải nhớ chừa xén
 Chi tiết, hình ảnh nào nằm sát mép giấy thì ta cho nó tràn hẳn ra ngoài vùng chừa
xén luôn. Hình minh họa dưới đây cho thấy cách chừa xén: khung màu đen là
kích thước sau khi xén, hình cây dừa và mảng xanh phía trên đã được tràn ra
ngoài.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 29
Chừa xén bao nhiêu là đủ: khi thiết kế ta nên
chừa từ từ 3-5mm mỗi bên. Nếu bình trực tiếp trên
Corel hay AI thì nên để chính xác ngay từ đầu.
Xén một dao hay 2 dao? Khi bình các sản
phẩm, ví dụ tờ rơi, nếu giữa 2 con là nền giấy trắng
hoặc nền màu như nhau thì lúc này không cần chừa xén
giữa 2 con, khi thành phẩm chỉ cần cắt 1 dao ở giữa.
Ngược lại nếu là chi tiết hình ảnh từa lưa hết thì cần
thiết phải chừa xén giữa 2 con, lúc này khi thành phẩm
phải cắt 2 dao nên gọi là chừa xén 2 dao.
Có thể bình cắt hai nếu bạn thích, tuy nhiên
điều này có nghĩa là bạn phải tốn thời gian nhiều hơn
trong công đoạn cắt và chấp nhận những rủi ro có thể
xảy ra trong quá trình cắt.
 Chừa xén trong Id:
Để bắt đầu một tài liệu với InDesign đúng
cách, khi mở hộp thoại New Document (Ctrl+N), ta
bấm vào nút More Options và điền các khoảng chừa
xén vào phần Bleed. Chú ý rằng nếu tài liệu của ta là
dạng 2 mặt - trang đôi (Facing pages) thì các thông số
chừa xén gồm: top (phía trên), bottom (phía dưới),
inside (chừa phía gáy sách) và outside (chừa phía
bụng sách). Nếu là trang đơn 1 mặt thì 2 thông số kia
sẽ thành left và right.
Sau khi tài liệu được tạo, ta thấy phần chừa
xén sẽ được giới hạn bằng khung viền màu đỏ, và khi
Export ra file PDF để bình trang, ta cũng chú ý đánh dấu vào mục Bleeds.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 30
 Chừa xén trong Corel
Để xuất PDF từ Corel và có chừa tràn nền, ta cần set bleed trước bằng cách vào Layout --
> Page Setup và nhập khoảng tràn nền vào phần bleed. Đánh dấu vào Show bleed area để thấy
phần chừa xén trên file
Khi thiết kế xong, để xuất ra PDF, ta vào File --> Publish to PDF và chọn như sau:
 Chừa xén trong Ai:
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 31
Vào File --> New hoặc nhấn Ctrl+N, chú ý phần hệ màu chọn hệ màu CMYK
Đến đây chúng ta mới đi được 1/2 quãng đường. Phần tiếp theo khi đã thíêt kế xong,
chúng ta lưu file sang định dạng PDF và lúc này khi lưu file nhớ đánh dấu check vào mục Bleed
như hình:
5. Đánh số trang sách
Việc đánh số trang sách là
việc khá phức tạp trong công
việc chế bản. Để có thể bình
trang một cách chính xác, người
thợ bình phải gấp giấy để đánh số
trang như hình bên.
Khi đánh số trang sách
cần chú ý tới việc thành phẩm sẽ
được tiến hành theo hướng nào:
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 32
đóng lồng hay đóng kẹp. Vì mỗi công đoạn thành phẩm này sẽ bắt buộc người thợ bình trang
đánh số trang theo những cách khác nhau.
Perfect Bound: kiểu gấp đóng kẹp, các tay sách được đính chồng lên nhau. Cho nên khi
bình các trang in được sắp sếp một cách liên tục.
Saddle Stiched: kiểu gấp đóng lồng, các tay sách được lồng vào nhau. Cho nên các trang
in được bình theo cách riêng biệt.
Ví dụ: cho sản phẩm 40 trang, phân ra được 2 tay sách 16 trang, và một tay sách 8 trang
bình theo tay sách 16 trang in tự trở.
Hình : bình theo kiểu đóng kẹp (bên trái) và bình tay sách theo kiểu đóng lồng (bên phải)
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 33
Chương IV:
RIP
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 34
I. Ngôn ngữ PostScript:
Postscript là ngôn ngữ mô tả trang. Nó được hãng Adobe giới thiệu vào năm 1985 và
xuất hiện lần đầu tiên trong driver Apple LaserWriter. Postscript được thiết kế một cách đặc biệt
để mô tả thông tin một trang tài liệu từ một hệ thống máy tính đến một thiết bị xuất. Nó cũng là
một ngôn ngữ lập trình, nhưng không như những ngôn ngữ lập trình khác như Pascal, basic...,
Postscript được sử dụng để chỉ thị, hướng dẫn một thiết bị xuất phải đặt các điểm (dot) tạo thành
văn bản và hình ảnh trong một trang như thế nào. Đây là ngôn ngữ mô tả mức độ cao, bởi vì nó
mô tả các trang như là một nhóm các đối tượng đồ họa nhiều hơn là mô tả chi tiết của chúng.
Postscript là một chương trình biên dịch độc lập với thiết bị. Trình biên dịch này sẽ
chuyển các dữ liệu sang mã thiết bị đặc biệt và điều khiển thiết bị xuất để tạo các hình ảnh đồ
họa đã được mô tả trong trang. Trình biên dịch sẽ xử lý từng phần tử một, xử lý xong phần tử
này mới chuyển sang xử lý phần tử kế tiếp.
Một trong những thuận lợi của ngôn ngữ Postscript là không phụ thuộc vào thiết bị. Điều
này có nghĩa là một trang tài liệu Postscript có thể được in trên mọi máy in Postscript hoặc máy
ghi phim, ghi bản mà không hề thay đổi và đạt được chất lượng, độ phân giải tối đa. Postscript
nguyên thủy (Postscript level 1) có một số giới hạn về khả năng phục chế hình ảnh chất lượng
cao và tốc độ của thiết bị rất chậm khi phục chế hình ảnh có màu sắc phức tạp.
Năm 1990, Adobe giới thiệu Postscript level 2 hỗ trợ không gian màu CIE 1931 (XYZ)
không phụ thuộc thiết bị,, có tốc độ làm việc nhanh hơn, thể hiện được tần số tram cao hơn. Và
gần đây nhất, Adobe công bố Postscript level 3 với tính năng in nhanh hơn, dễ hơn và chất lượng
cao hơn nữa, tô chuyển rất trơn (không bị hiện tượng sọc), chấp nhận các file PDF (Portable
Document Format), tăng cường khả năng làm việc với những file phức tạp...
Postscript vừa là ngôn ngữ lập trình, vừa là ngôn ngữ mô tả trang nên nó có những đặc
tính đặc biệt sau:
 Biên dịch
 Độc lập với thiết bị
 Trình đồ họa mạnh mẽ
 Mô tả trang
1. Biên dịch:
Postscript là một ngôn ngữ biên dịch giống như Basic hay APL. Nó điều khiển các thiết
bị xuất (máy in laser, máy sắp chữ (typesetter hay các thiết bị khác). Nó cho phép xác định nhiều
yêu cầu của chương trình như các lệnh thực thi, trạng thái hiện thời của việc xuất và thiết bị xuất.
Nó cũng cho phép xác định lỗi trong quá trình xuất làm cho việc gỡ rối sẽ dễ dàng và chính xác
hơn.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 35
Tuy nhiên, trong thực tế trình biên dịch cũng là một chương trình, vì vậy nó có thể bị ảnh
hưởng bởi phần mềm đang được thực thi. Điều này sẽ làm chậm tốc độ biên dịch.
Ngôn ngữ biên dịch tự bản thân nó không bắt buộc phải có một cấu trúc đặc biệt nào. Do
vậy, Postscript cũng không đặt ra một yêu cầu cấu trúc trong việc mô tả tài liệu. Đây có thể là
một điểm yếu của nó, nếu như người lập trình không tạo ra một cấu trúc mạch lạc.
Postscript có thể phản hồi thông tin cho người lập trình hoặc các ứng dụng Postscript.
Các thông tin phản hồi này là các trị số thông thường xác định trạng thái hiện thời của môi
trường thực thi. Chẳng hạn, các font đặc biệt đang được nạp và có sẵn.
2. Độc lập với thiết bị:
Một trong những đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ Postscript là độc lập với thiết bị. Nói
chung, ngôn ngữ Postscript được thiết kế phù hợp với các thiết bị xuất tạo tram (raster-output
devices). Việc điều chỉnh và chuyển các lệnh của ngôn ngữ Postscript theo yêu cầu của thiết bị là
vấn đề của trình biên dịch, tuy nhiên nó phải bảo đảm cấu trúc của trang hay hình ảnh phải độc
lập với thiết bị, điều này ngôn ngữ Postscript có thể làm rất tốt.
Có hai tiện ích cho người lập trình ngôn ngữ Postscript. Thứ nhất, bạn có thể lưu giữ các
yêu cầu đặc biệt của thiết bị xuất. Thứ hai, một trang được mô tả bằng ngôn ngữ Postscript có thể
in thử trên một thiết bị và xuất ra một thiết bị khác mà không cần phải hiệu chỉnh lại các lệnh.
Đây thực sự là các tiện ích rất cần thiết cho công việc "DesktopPublishing" trong chế bản hiện
đại.
3. Trình đồ hoạ mạnh mẽ:
Postscript được thiết kế một cách đặc biệt cho việc tạo những đối tượng đồ họa trên các
thiết bị xuất tạo tram (raster-output devices). Postscript cung cấp một số tính năng rất mạnh mẽ
như: thu phóng, xoay... Postscript cho phép liên kết các text và hình ảnh một cách rất dễ dàng và
tự nhiên, điều mà các ngôn ngữ khác hay thực hiện bằng cơ khí sẽ rất khó khăn. Thực ra bên
trong ngôn ngữ Postscript các ký tự cũng được xem như là các đối tượng đồ họa, chính vì vậy
chúng có thể được định vị, thu phóng hoặc xoay theo yêu cầu.
4. Mô tả trang:
Cuối cùng Postscript là một ngôn ngữ mô tả trang. Trang là một đơn vị tất yếu của việc
xuất trên một thiết bị xuất tạo tram. Postscript ghi nhận khái niệm trang một cách đơn giản như
là một không gian hai chiều. Hình ảnh được "xây dựng" trên trang bằng cách "tô" ("paint") trên
vùng chọn. Việc tô ở trên trang có thể ở dưới dạng các ký tự, đường kẻ, mẫu tô hay hình ảnh
chuyển tông. Việc tô có thể là màu, đen, trắng hay bất cứ mức độ xám nào. Một thiết bị xuất tạo
tram chuẩn bị một số yếu tố cần thiết cho việc xuất một trang bằng cách thiết lập mỗi một điểm
trên trang bằng một trị số chính xác. Cho việc xuất đen trắng, các điểm này hay còn gọi là các
pixel sẽ có giá trị hoặc là 0 hoặc là 1 đại diện cho điểm đó là điểm trắng hay là điểm đen. Do
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 36
vậy, việc mô tả trang là một biểu đồ đầy đủ về các trị số cho toàn bộ bề mặt - thông thường là
toàn trang - tuy nhiên, đôi khi có thể ít hơn do giới hạn về phần cứng.
II. RIP :
1. RIP là gì ?
Trong chế bản hiện đại, RIP là một quá trình xử lý chuyển đổi thông tin kỹ thuật số,
chẳng hạn như chuyển một file postscript thành một hình ảnh tram có độ phân giải cao. Nghĩa là
RIP lấy các thông tin kỹ thuật số như font và các đối tượng đồ họa, phiên dịch nó thành một hình
ảnh được xây dựng dựa trên các điểm riêng biệt mà các thiết bị ghi có thể xuất được.
Một cách đơn giản có thể hiểu RIP như là một người phiên dịch giữa người sử dụng và
các thiết bị ghi. Người sử dụng gởi đến nó các hướng dẫn trong ngôn ngữ của các chương trình
chế bản và RIP sẽ phiên dịch các hướng dẫn đó sang ngôn ngữ máy. Nếu ngôn ngữ từ các
chương trình chế bản quá phức tạp hoặc RIP không hiểu các hướng dẫn, nó sẽ không thực hiện
việc ripping.
RIP có thể là một chương trình cơ bản (firmware), một phần cứng (hardware) hoặc một
phần mềm (software). Các RIP dạng chương trình cơ bản thường gắn liền với thiết bị, chẳng hạn
như các RIP postscript gắn liền với các máy in để bàn. RIP dạng phần cứng thường là dạng linh
kiện điện tử để xử lý các file kỹ thuật số. Thông thường dạng này làm việc với một dạng thiết bị
xác định như máy ghi phim chẳng hạn. Các RIP dạng phần mềm là các chương trình độc lập có
thể làm việc với nhiều loại thiết bị khác nhau. Các RIP mềm có thể bao gồm một số chức năng
phụ thêm như quản trị màu, trapping, preflight…
2. Các chức năng của RIP:
RIP có các chức năng chính như: chức năng tách màu, tạo tram, trapping, chức năng
kiểm tra file trước khi ripping (preflight), chức năng quản lý màu (color management)... Cùng
với sự tiến triển của các hệ thống CTP và quá trình số hóa trong máy tính, RIP/Server trở nên rất
quan trọng và hơn bao giờ hết, là một trong những nhân tố quyết định của quá trình ghi. Dưới
đây là một số chức năng quan trọng của RIP.
a. Tram hoá ( Screening):
Đây là chức năng quan trọng nhất của RIP. Ngoài 3 chức năng tạo tram nêu dưới đây RIP
còn có thể có các chức năng tùy chọn khi mua RIP để tạo các loại tram đặc biệt khác như: như
tram cho in ống đồng, tram cho in flexo hay tram FM (Frequency Modilated - tram biến tần)...
 Tram RT (Rational Tagent): Tram hữu tỷ
Đây là loại tram PostScript được áp dụng cho thế hệ RIP 1 của Linotype-Hell và sau đó
là các nhà sản xuất RIP khác. Hạt tram được tạo bởi nhiều tia laser nhỏ có mật độ như nhau (kích
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 37
thước của các điểm được tia laser chiếu lên phim là như nhau). Bộ phận xử lý sẽ coi khu vực trên
phim sắp được ghi (imaging area) là một mạng lưới tưởng tượng (Grid) bao gồm rất nhiều ô
vuông đều nhau tạo bởi các đường thẳng đứng và các đường cắt ngang vuông góc với nó. Tại
mỗi giao điểm của hai đường cắt nhau này là một vị trí có địa chỉ rõ ràng được RIP quản lý và nó
sẽ tính toán để các tia laser ghi hay không ghi vào từng địa chỉ trên mạng lưới này để tạo nên các
hạt tram.
Tram RT chỉ tạo được góc lệch tram chính xác ở 00
và 450
mà thôi, trong khi tách màu
góc tram của các màu phải lệch nhau một góc 300
để tránh hiện tượng moiré. Các góc 00
, 150
,
450
và 750
thường hay được sử dụng cho 4 màu tách. Tram RT không thể định nghĩa chính xác
góc 150
và 750
vì tan của hai góc này không phải là một số hữu tỉ. Gần đây, do sự phát triển tột
bậc của công nghệ xử lý trong máy tính, tram hữu tỷ đã lấy được chất lượng cao nhất của nó tuy
thời gian xử lý là một vấn đề rất cần được khắc phục.
 Tram Supercell (HQS):
Tram HQS (High Quality Screening) là loại tram chất lượng cao, tạo được những góc
lệch chính xác hơn tram RT nhất là các góc 150
và 750
, giảm hẳn hiện tượng Moiré khi tách màu.
Kỹ thuật này chấp nhận hạt tram to ra để vấn đề về góc độ được khắc phục tốt nhất, tính toán
chính xác theo quy định của mạng lưới Grid, coi hạt tram như là một “supercell” và chia nhỏ hạt
tram này thành nhiều hạt tram nhỏ hơn và tia laser sẽ tạo nên những hạt tram nhỏ này chứ không
tạo ngay những hạt tram lớn, do đó mật độ tram tương đối mịn, in được ảnh có chất lượng cao.
Một nhược điểm của tram Super cell là yêu cầu tốc độ tính toán phải nhanh hơn tram RT
vì kích thước mạng lưới lớn hơn. Tuy nhiên với khả năng xử lý tốc độ cao của các RIP ngày nay
thì đây không còn là một vấn đề nữa.
 Tram FM
Khác với kỹ thuật tram truyền thống, còn gọi là phương pháp điều chỉnh biên độ
(Amplitude Modulated: AM) mô tả sự chuyển tông bằng các điểm có khoảng cách bằng nhau
nhưng có độ lớn điểm thì thay đổi. Kỹ thuật tram rải theo tần suất (biến thiên bất định), tần số
thay đổi, biên độ không đổi, hạt tram luôn bằng nhau nhưng nằm ở nhiều vị trí khác nhau, tạo
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 38
cho hình ảnh phục chế thật hơn vì mắt người không còn phân biệt được hạt tram nữa do các hạt
tram không có khoảng cách. Đặc biệt, không cần xoay góc các bản tách màu vì khi các hạt tram
được phun rải rác sẽ chồng khít và liên tục với nhau. Hiện nay với tram thế hệ thứ hai khắc phục
một số nhược điểm của thế hệ thứ nhất, chúng đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như in các
ấn phẩm cao cấp và in các loại báo chí.
Hình : Sự khác biệt giữa tram FM và tram AM
 Một số lợi ích của việc sử dụng tram FM:
 Không có khái niệm tần số tram, góc xoay tram hay hình dáng tram.
 Không có hiện tượng moiré.
 Không có sự cân đối giữa mức độ xám và độ phân giải.
 Có sự chuyển tông mịn màng.
 Có thể quét ảnh ở độ phân giải thấp nhưng ghi phim ở độ phân giải cao.
 Giảm thiểu công việc tạo bản che không nét.
 Ít vấn đề với vùng tối hơn.
 Mật độ mực in lớn hơn.
 Những khó khăn khi sử dụng tram FM:
 Việc định chuẩn (calibrate) trên RIP sẽ phức tạp hơn do phải tính toán
hiện tượng dot gain.
 RIP phải có tốc độ tính toán nhanh hơn.
 Bản kẽm (trường hợp cho máy ghi bản) phải có độ phân giải tốt hơn.
 Yêu cầu độ ép cao su (khi in) phải giảm thiểu hiện tượng dot gain (hiện
tượng tăng tầng thứ khi in).
 Tram Hybrid ( Hybrid Screening)
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 39
Kỹ thuật tram Hybrid đã cố gắng liên kết các tiện ích của tram AM và tram FM với ưu
điểm chất lượng cao và năng suất cao của công nghệ CTP.
 Phương pháp thứ nhất:
Phương pháp thứ nhất phân chia hình ảnh thành nhiều phần, sử dụng tram FM trong
những vùng có nhiều chi tiết và tram AM tại những vùng tông tram để tránh hiện tượng hạt. Giải
pháp này có nhược điểm là vùng giao nhau giữa tram AM và tram FM trở nên có thể quan sát
được bằng mắt thường làm cho hình ảnh trở nên giả tạo.
 Phương pháp thứ hai
Ở đây tram AM được sử dụng ở vùng trung gian (midletone), tram FM được sử dụng ở
vùng sáng (highlight) và vùng tối (shadow). Với phương pháp này, tram AM sẽ cung cấp một
nền tông mềm mại và do nó được sử dụng tram với tần số cao nên hình ảnh sẽ được giữ lại nhiều
chi tiết nhất. Tram FM sẽ bảo đảm các điểm sẽ không nhỏ hơn kích thước mà máy ghi bản và
máy in có thể phục chế được. Để ngăn ngừa hiện tượng hạt, số lượng các điểm sẽ được giảm
thiểu. Nhưng ở đây, một lần nữa vùng giao nhau giữa tram AM và tram FM rất dễ phân biệt.
 Phương pháp thứ ba
Phương pháp thứ ba sắp xếp tram AM theo phương pháp tram FM. Điều này giúp thể
hiện chi tiết tốt cho những tần số tram trung bình. Tuy nhiên nó không vượt qua được nhược
điểm cố hữu của tram FM là xuất hiện hiện tượng hạt ở vùng tông trung gian và vùng tông tram
đều tông (flat tint).
 Tram XM ( XM Screening):
Cũng giống như tram Hybrid phương pháp thứ ba, tram XM đã áp dụng kỹ thuật tram
FM ở vùng sáng (highlight) và vùng tối (shadow), nhưng nó sử dụng một kỹ thuật làm mịn vùng
chuyển từ dạng tram FM sang AM (từ vùng sáng sang vùng trung gian) và từ tram AM sang tram
FM (từ vùng trung gian sang vùng tối). Nó tính toán sự thay đổi chính xác vị trí nơi mà tram AM
sẽ không còn ưu điểm nữa, chẳng hạn điểm tram AM trở nên nhỏ hơn ở vùng sáng cho đến khi
kích thước điểm đạt kích thước nhỏ nhất mà máy in có thể phục chế được, từ điểm đó, các điểm
sẽ được rút bớt tùy theo tông yêu cầu
Hình : Sự sắp sếp ngẫu nhiên theo góc xoay tram của tram XM
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 40
Tram ở vùng sáng và vùng tối trông giống như tram FM, tuy nhiên thực sự nó không hẵn
là như vậy. Mặc dù vùng tram FM sử dụng những điểm nhỏ được điều khiển theo dạng FM,
nhưng chúng vẫn được sắp xếp theo góc xoay tram như là một sự tiếp diễn của góc xoay tram
AM ở vùng trung gian. Đó cũng là lý do tại sao chúng được gọi là tram XM hay là tram Cross
Modulated.
 Hiệu quả tram XM:
 Tần số tram cao nhưng chỉ cần đô phân giải thấp.
 Tram XM liên kết những đặc tính tốt nhất của cả hai loại tram AM và FM đã làm tăng
khả năng ổn định của nó trên máy in.
 Những chi tiết tốt nhất và những đối tượng khó nhất cũng dễ dàng thể hiện cùng với tram
XM. Tram XM cũng giúp cho người thợ in duy trì cân bằng xám ổn định dưới sự dao động của
nhiệt độ và tốc độ trong suốt quá trình in với một thời gian dài.
 Không trông rõ lưới tram, hình ảnh trông giống như hình photo.
 Các đường nét trong rõ và sắc nét, thậm chí đó là các đường mảnh.
 Trông không có độ hạt.
 Các tông màu được thể hiện mịn màng với độ chính xác cao.
 Sử dụng đa dạng các loại máy in với tần số tram cao, từ các loại giấy cao cấp đến các loại
giấy cấp thấp như giấy báo chẳng hạn.
 Các nguyên tắc để tránh morie’:
 Cố gắng tách mỗi màu với các góc lệch nhau 300
 Nếu không thể được, chọn góc lệch nhỏ nhất là 150
 Đặt các góc tram cho các màu như sau: C: 150
, Bk: 450
, M: 750
và Y: 00
 Đổi góc tram cho màu Bk là 750
và M là 450
nếu hình ảnh cónhiều màu sinh động (điều
này để tránh xung đột giữa màu M và Y)
 Đổi góc tram cho màu Bk là 150
và C là 450
nếu hình ảnh có tông xanh lục trội hơn (điều
này để tránh xung đột giữa màu C và Y)
 Nếu chỉ in có ba màu hoặc nếu màu đen không nhiều đổi góc tram màu Y là 450
b. Trapping:
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 41
Trap là sự chồng lấn nhỏ (overlap) giữa hai vùng màu nhằm tránh hiện tượng lé trắng gây
mất chất lượng cho một tờ in. Để tạo trapping theo phương pháp truyền thống có thể sử dụng
thời gian chụp, ép phim lâu hơn hoặc một số kỹ thuật mở rộng (enlarge) hay thu nhỏ (reduce)
vùng màu để tạo vùng chồng lấn cần thiết.
Ngày nay, các phần mềm dàn trang (page layout), bình bản (imposition), RIP đều có chức
năng trapping tự động. Thậm chí có một số hãng cung cấp những phần mềm chuyên về giải pháp
trapping chẳng hạn như DK&A.
 Trapping bằng tay:
Người thiết kế có thể tạo trap trên một phần mềm đồ họa như Illustrator hay Freehand
bằng cách xác định thêm đường kẻ (stroke) in đè lên vùng màu kế cận. Mặc dù cách này dễ làm,
nhưng nó có một số nhược điểm sau:
 Trapping bằng tay mất nhiều thời gian. Người thiết kế phải tạo những phần tử đồ họa
riêng biệt với thuộc tính và đường viền khác nhau để thiết lập trap.
 Trapping bằng tay đòi hỏi người thiết kế phải biết được phần trăm thu phóng hình đồ họa
đó. Chẳng hạn một đối tượng trapping với độ lớn là 0.5pt, nếu khi đặt vào chương trình dàn
trang, đối tượng thu nhỏ chỉ còn 50% thì độ lớn trapping chỉ còn 0.25pt, như vậy độ lớn trap có
thể không đạt yêu cầu.
 Người thiết kế phải tạo trap dựa trên tầng số tram, phương pháp in, thiết bị in... sẽ sử
dụng cho công việc. Chẳng hạn một đối tượng trap với độ lớn 0.5pt cho phương pháp in offset ở
tầng số tram 150lpi, thì cũng độ lớn này chúng ta có thể áp dụng khi in bằng phương pháp in
flexo ở mật độ tram 85lpi.
 Trapping bằng các chương trình ứng dụng
Phương pháp này sử dụng việc trapping tự động của các phần mềm dàn trang như
QuarkXpress hay Pagemaker. Phương pháp này tiện lợi nhưng cũng có một số nhược điểm sau:
 Đòi hỏi người sử dụng phải rất am hiểu về phần mềm dàn trang đang sử dụng, đặc biệt là
các lệnh về trap, nếu không việc trap có thể làm cho kết quả trở nên tồi tệ hơn. Chẳng hạn cấu
hình về trap của Quark gồm ba mức độ (Automatic, Color-specific, Object-specific) mà nhiều
người sử dụng không am hiểu lắm.
 Cấu hình về trapping của các chương trình ứng dụng dàn trang chỉ dành cho các đối
tượng tạo trong chương trình dàn trang, không có ảnh hưởng đối với các đối tượng nhập từ các
phần mềm khác.
 Sử dụng các phần mềm trapping:
Chúng ta có thể sử dụng các phần mềm trapping như Luminous TrapWise, DK&A và
Ultimate TrapEze để tạo trap cho các file EPS sau khi chúng được tạo bởi một chương trình ứng
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 42
dụng nào đó và trước khi nó được Rip. Phương pháp này có ưu điểm là nó có thể thực hiện việc
trapping một đối tượng phức hợp. Tuy nhiên, việc sử dụng phần mềm trapping đòi hỏi một công
đoạn riêng biệt trên máy và thậm chí phải sử dụng một máy tính khác.
 Sử dụng ứng dụng trapping trên RIP:
Một số phần mềm như Scitex Full Auto-Frame và RAMPAGE thực hiện việc trapping
ngay trên RIP. Thường chúng là những phần mềm rất mạnh mẽ nhưng khá đắt tiền, tuy nhiên nó
sẽ rất hữu dụng khi chúng ta sử dụng công nghệ Computer to Plate. Giải pháp trapping của
Scitex, Full Auto Frames (FAF), trapping điểm trên các RIP postscript level 2. FAF chuẩn hóa
những sắc màu thích hợp khi trapping giữa những cặp màu với nhau, khác với việc trapping giữa
các đối tượng lân cận. FAF sẽ tự động trapping theo những thiết lập về tram trong file, kỹ thuật
này sẽ làm giảm tốc độ của RIP từ 15-30% nhưng kiểm soát được các thông số trapping đồng
nhất.
Giải pháp RAMPAGE: trapping hướng đối tượng, trapping theo các thông số xác lập
riêng trên từng cặp đối tượng, từng thành phần cần được trapping trong một file. Sau đó sẽ thu
hẹp (chokes) hay mở rộng (spread) những thành phần này trong quá trình tạo tram đồng thời tạo
ra trapping. Kiểu trapping này không ảnh hưởng đến tốc độ của RIP nhưng các thông số trapping
không đồng nhất với nhau rất khó kiểm soát.
III. Phòng tránh các lỗi khi RIP
Có nhiều lý do gây ra lỗi trong quá trình ripping. Kích thước file lớn có thể làm chậm quá
trình xử lý. Bộ nhớ không đủ, font và các phần tử đồ họa bị lỗi, lỗi mã postscript và các dữ liệu
không đúng khác đều có thể là các nguyên nhân gây nên lỗi trong quá trình rip. Một sự xung
khắc của các chương trình ứng dụng và phần cứng hoặc phần mềm RIP cũng có thể gây lỗi.
 Để tránh các lỗi trước khi chúng xảy ra:
 Giữ kích thước file hợp lý. Nên cắt cúp bớt phần hình ảnh không sử dụng ngay trong các
phần mềm đồ họa hay xử lý ảnh hơn là trong các phần mềm dàn trang (bởi vì việc cắt cúp trong
phần mềm dàn trang chỉ có tính chất hiển thị, thực chất file vẫn còn kích thước nguyên vẹn).
 Nên đơn giản hóa tài liệu, tránh các đối tượng quá phức tạp như quá nhiều tram chuyển,
blend với bước chuyển quá lớn, nhiều đối tượng nằm chồng lên nhau...
 Không sử dụng font Type 1 chung với font TrueType.
 Nếu sử dụng font TrueType, hãy chắc chắn rằng các font đó có bản quyền. Một số bộ
font TrueType cũ không thể tram hóa khi ripping.
 Nên sử dụng các công cụ preflight để kiểm tra các lỗi có thể xảy ra trong quá trình
ripping.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 43
 Để gởi file postscript cho việc ripping, nên sử dụng các máy in postscript để nhận được
sự hỗ trợ tốt nhất.
 Để tạo file PDF cho in chất lượng cao, nên sử dụng Distiller hơn là dùng PDF Writer.
 Phải biết chắc chắn rằng RIP sẽ tương thích với ngôn ngữ postscript cấp độ mấy. Nếu file
PDF hoặc file Postscript có cấp độ không tương thích có thể gây lỗi (chẳng hạn như một RIP
postscript cấp độ 2 sẽ không tách màu đúng file EPS duotone).
 Để giải quyết các nguyên nhân gây lỗi khi ripping, nên chú ý một số vấn đề sau:
 Nếu bạn nhận được một lỗi postscript, hãy xem lời nhắn và bấm chọn dòng lệnh Solving
Postscript Errors (nếu có) để xem hướng dẫn cách giải quyết vấn đề. Sửa lỗi theo hướng dẫn và
thử in lại.
 Font thường hay là thủ phạm gây ra các lỗi, do đó trong trường hợp xảy ra lỗi hãy nên
nghĩ đến chúng trước tiên. Để tìm ra font gây lỗi hoặc để xác định chắc chắn rằng font chính là
thủ phạm,
 bạn nên thử thay thế các font lạ bằng các font quen thuộc (mà bạn chắc chắn rằng chúng
không gây lỗi). Sau đó hãy thử in lại, nếu vấn đề được giải quyết, thì cách tốt nhất là bạn nên
thay thế font đó bằng một font khác hoặc nếu muốn giữ hình dạng font đó thì hãy curve chúng
thành dạng vector.
 Khởi động lại máy tính và thử in lại lần nữa.
 Thử in với một máy in postscript khác. Nếu xảy ra lỗi tương tự, file tự bản thân nó có
chứa lỗi chứ không phải RIP hoặc máy in. Nếu lỗi tương tự không xảy ra, vấn đề là file có thể bị
lỗi, nhưng RIP và máy in cũng có thể là thủ phạm.
 Thử in chỉ một hoặc hai trang. Một file in quá lớn cũng có thể gây nên lỗi. Khi bạn gặp
vấn đề chỉ cho một trang, rõ ràng là bạn sẽ dễ dàng dò tìm ra lỗi hơn bằng cách bỏ từng nhóm
đối tượng rồi thử in lại cho đến khi lỗi không còn xảy ra nữa, đối tượng mới vừa bỏ chắc chắn là
đối tượng gây nên lỗi.
 Một vài chương trình đồ họa cho phép tạo ra các hiệu ứng rất phức tạp như tram chuyển,
transparency và blends rất hay gây lỗi khi ripping. Nếu phải cần sử dụng những hiệu ứng này,
nên chuyển chúng thành dạng bitmap trước khi sử dụng.
 Dùng Distiller để chuyển file Postscript thành file PDF xem chúng có báo lỗi tương tự.
 Mở file bằng phiên bản (version) khác, lưu lại và thử in lại.
 Mở file đồ họa trong chương trình gốc, lưu nó lại với một định dạng khác, sau đó đặt vào
bản copy của tài liệu rồi thử in lại.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 44
Chương V:
Công nghệ ghi kẽm nhiệt
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 45
Hệ thống ghi bản đầu tiên là Lasergraph đã giới thiệu vào năm 1974 từ trước khi máy ghi
phim ra đời. Nó sử dụng 2 nguồn laser năng lượng cao để đốt cháy các phần tử không in của bản
plastic & tạo ra bản in typo.
Vào năm 1984 máy ghi bản flatbed đầu tiên được giới thiệu. Bản Polyester đã xuất hiện
vào giữa thập niên 1980. Đến cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 các sản phẩm thương
mại của máy ghi bản được tung ra thị trường sau hơn chục năm nghiên cứu, tuy nhiên loại bản sử
dụng cũng chỉ là bản photopolymer với độ bền bản và chất lượng thấp. Chính vì khó khăn này
mà tuy ra đời trước máy ghi phim nhưng máy ghi bản trong giai đoạn này đã không phát triển
được do không được thị trường chấp nhận rộng rải.
Khoảng giữa thập niên 1990, bản nhiệt (thermal) và các máy ghi bản nhiệt bắt đầu xuất
hiện và đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ghi bản do ưu điểm vượt trội về độ bền bản (từ 200
- 300 ngàn lượt in / bản kẽm, nếu có nung độ bền bản có thể lên đến cả triệu lượt in). Các bản
nhiệt là bản nhạy với ánh sáng hồng ngoại. Ban đầu người ta sử dụng nguồn tia hồng ngoại của
laser khí có bước sóng 1064nm, nhưng do laser khí có độ bền không cao nên sau khi laser ở thể
rắn được phát minh, các nhà sản xuất đã nhanh chóng sử dụng chúng trong công nghệ ghi kẽm
nhiệt với bước sóng 840nm. Độ bền của nguồn laser thể rắn cao hơn laser ở thể khí, đạt được từ
2 đến 4 năm. Năm 1995, basysPrint - một hãng nhỏ của Đức - giới thiệu phát minh của mình -
máy ghi bản trên các loại kẽm PS truyền thống và cũng nhanh chóng đạt được sự hoàn thiện để
cạnh tranh trong thị trường máy ghi bản nhờ ưu thế về giá kẽm rẻ. Vào năm 1997, Purup-Eskofot
cũng là một tên tuổi lớn trong lĩnh vực sản xuất các thiết bị chế bản cũng đã giới thiệu máy ghi
bản trên loại kẽm truyền thống sử dụng nguồn tia laser Ion-Argon có bước sóng 351 nm (tức là ở
vùng ánh sáng tia cực tím), khác với các máy ghi của basysPrint sử dụng ánh sáng tia cực tím từ
sự phát sáng của thủy ngân. Tuy nhiên, do một số khó khăn về kỹ thuật và tốc độ nên đời máy
này đã không được phát triển. Những năm đầu của thập niên 2000, công nghệ ghi bản chứng
kiến sự ra đời của một kỹ thuật mới là công nghệ ghi kẽm Violet, sử dụng ánh sáng tím ở vùng
ánh sáng khả kiến có bước sóng 405nm. Loại bản Violet cũng có ưu điểm như kẽm nhiệt là độ
bền bản cao, nhưng cả hai loại bản này khá đắt tiền cho nên đây cũng là điều cần cân nhắc cho
các xí nghiệp in có tiềm lực kinh tế yếu. Hiện nay cả ba công nghệ này vẫn đang được phát triển
song song với nhau vì mỗi loại đều có ưu nhược điểm riêng của nó, trong đó công nghệ ghi bản
nhiệt chiếm thị phần cao nhất, kế đến là công nghệ ghi bản violet và công nghệ ghi bản truyền
thống (bản PS). Đến nay công nghệ ghi kẽm nhiệt cũng đã xuất hiện loại kẽm không cần xử lý
quá trình hiện, loại kẽm sẽ có ưu điểm là không cần máy hiện, không cần hóa chất để hiện và
như vậy cũng tránh cho việc làm ô nhiễm môi trường.
Không chỉ phong phú về chủng loại, các máy ghi bản ngày nay còn phong phú về khả
năng ghi trên các loại khổ kẽm, các loại bản kẽm khác nhau như các máy ghi khổ 4up, 8up, hoặc
các khổ cực lớn, cũng có các loại máy ghi bản cho in offset, in flexo và in ống đồng.
CTP ngày nay đã mở ra một sự phát triển mới trong công việc chế bản và ngày càng trở
nên thông dụng hơn. Công nghệ ghi bản đã giúp cho một số khó khăn trước đó được giải quyết
như việc hoàn thiện chu trình làm việc kỹ thuật số, in thử màu... Đến nay đã có hơn 25.000 hệ
thống CTP được lắp đặt trên thế giới và đang duy trì tỉ lệ tăng trưởng trung bình khoảng 20%
mỗi năm.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 46
I. Các kiểu máy ghi:
1. Máy ghi dạng trống nội:
Với kỹ thuật ghi dạng trống nội, vật liệu được gắn ở bên trong lòng ống. Vòng ghi tối đa
cho máy ghi phim có thể lên đến 270o (máy magnum của Purup-Eskofot) Trong khi hầu hết các
máy ghi bản vùng ghi tối đa là 180o (Agfa sử dụng 193o cho máy New Galileo).
Gương xoay đa giác (polygon mirror): Một gương phản xạ xoay với tốc độ cao trên đệm
chân không, nguồn phát laser chỉ có một tia duy nhất (single beam). Gương phản xạ di chuyển
dọc theo trục ống với bước tăng bằng chiều rộng một đường quét. Gương luôn luôn phản xạ ánh
sáng laser chiếu đến nó với một góc bằng 900
lên vật liệu nhạy sáng, vật liệu này được cố định và
ép sát vào bề mặt trong của drum nhờ hệ thống hút hơi. Tia laser sẽ được xác định chính xác tiêu
cự lên bề mặt vật liệu và ghi một điểm với kích thước spot theo yêu cầu. Kích thước spot này sẽ
thay đổi tùy theo độ phân giải. Khoảng cách giữa bề mặt vật liệu và gương xoay là một hằng số
điều này sẽ bảo đảm kích thước spot cũng như tiêu cự sẽ là như nhau trên toàn bộ bề mặt bản mà
không cần một hệ thống quang học đặc biệt.
Hình: máy ghi dạng trống nội
Hệ thống đục lỗ định vị (punching): Các máy ghi dạng trống nội đều có hệ thống đục lỗ
lên vật liệu khi vật liệu đã được nạp vào ống và được đục hoặc theo chiều dọc (front edge) hoặc
theo chiều ngang (side) của vật liệu.
Hiệu quả: Đứng về một góc độ nào đó, hiệu suất làm việc của máy ghi dạng trống nội
thấp hơn máy ghi dạng phẳng vì chỉ có một phần tia sáng được chiếu lên bề mặt vật liệu ghi.
Chẳng hạn, nếu vật liệu chỉ chiếm 1/2 lòng ống (180o) thì chỉ có 50% ánh sáng phản xạ từ gương
xoay chiếu lên vật liệu còn 50% thì phản xạ ra ngoài. Trong các máy ghi phim sử dụng góc ghi
lớn hơn, như là 2700
sẽ có ít thời gian chết hơn và do vậy hiệu suất sẽ lớn hơn.
Tốc độ của máy ghi dạng trống nội tùy thuộc vào tốc độ gương xoay và tốc độ RIP. Hiện
nay tốc độ của gương xoay có thể đạt đến 48.000 vòng/phút (đối với máy ghi phim). Tốc độ của
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 47
gương xoay ở máy ghi bản thấp hơn (khoảng 24.000 vòng/phút) do giới hạn về thời gian làm khô
cứng màng cảm quang trên bản.
2. Máy ghi dạng trống ngoại:
Ở dạng trống ngoại, vật liệu được gắn trên bề mặt ngoài của ống. Đầu ghi được di chuyển
song song với trục ống và có thể có một hay nhiều tia laser. Các tia laser được chiếu vuông góc
lên bề mặt vật liệu. Khoảng cách giữa đầu tia đến mặt vật liệu rất ngắn và luôn luôn là hằng số.
Để bảo đảm điều này, các máy dạng trống ngoại thường có hệ thống chống rung ống khi quay.
Hình : máy ghi dạng trống ngoại
Đầu ghi nhiều tia (multiple beams): Để nâng cao tốc độ ghi ảnh, các hãng sản xuất máy
ghi dạng trống ngoại sử dụng đầu ghi nhiều tia để ghi dữ liệu. Do vậy đường quét sẽ trở nên
phức tạp hơn, sau mỗi vòng quay của ống, toàn bộ chùm tia phải được nhích sang vị trí mới kề
ngay chum đường đã quét trên mặt vật liệu. Có hai phương pháp để giải quyết vấn đề này:
 Phương pháp thứ nhất là sau khi quét chùm tia lên bề mặt vật liệu, đầu ghi sẽ nhích sang
bên cạnh, độ dời bằng chiều rộng của chùm tia, để ghi tiếp chùm tia thứ 2, cứ như vậy cho đến
hết chiều ngang ảnh. Phương pháp này rất chính xác, tuy nhiên nó có ảnh hưởng đến tốc độ quét
vì nó phải thực hiện chế độ ngưng sau đó khởi động lại (stopping and starting).
 Phương pháp thứ hai thường được gọi là phương pháp xoắn ốc, bởi vì đầu ghi sẽ ghi
chùm tia theo dạng như xoắn ốc, di chuyển liên tục băng qua hết chiều ngang ảnh. Do trong
phương pháp này đầu ghi ghi và di chuyển liên tục nên sẽ xãy ra hiện tượng hình ảnh ghi sẽ bị
nghiêng một góc nhỏ. Để giải quyết hiện tượng này, toàn bộ hình ảnh sẽ được điều chỉnh
nghiêng với một góc ngược lại bằng một bộ phận xử lý điện tử. Trong một số máy ghi bản hiện
nay, có trang bị bộ phận bù trừ tự động để bảo đảm rằng vị trí bắt đầu của mỗi đường quét trong
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 48
phương pháp xoắn ốc luôn luôn có khoảng cách đều so với lề bản. Nếu không hình ảnh sẽ bị
nghiêng so với lề bản.
Hệ thống đục lỗ: Không giống như máy ghi dạng trống nội, ở máy ghi dạng trống ngoại
vật liệu phải được đục lỗ trước hoặc sau khi nạp vào máy.
3. Máy ghi dạng phẳng:
Khác với hai dạng trên, trong dạng này vật liệu được ghi hình trong tư thế phẳng. Máy
ghi dạng phẳng sử dụng một trong ba phương pháp sau để di chuyển bản in:
Hình : sơ đồ máy ghi phẳng dạng 2 và dạng 3
 Dạng 1: Vật liệu và mặt phẳng mà nó được đặt lên sẽ đứng yên trong khi đó đầu ghi sẽ di
chuyển.
 Dạng 2: Vật liệu và mặt phẳng mà nó được đặt lên sẽ chuyển động cùng lúc trong khi
gương xoay định hướng tia rọi.
 Dạng 3: Sử dụng hệ thống di chuyển bản in theo kiểu Capstan vật liệu sẽ được di chuyển
nhờ các lô kéo.
Các máy ghi dạng phẳng nói chung có cấu trúc đơn giản hơn các máy ghi dạng trống. Nó
có thể nạp hoặc lấy vật liệu dễ dàng cũng như việc đục lỗ dễ dàng hơn. Cấu trúc dạng phẳng
Capstan (dạng 3) trước đây rất thông dụng trong những thế hệ máy ghi phim đầu tiên, nhưng
ngày nay chúng không còn thông dụng so với các thế hệ máy dạng trống có thể ghi được trên các
khổ vật liệu có kích thước lớn hơn nhiều.
Đối với các máy ghi dạng capstan, tiêu cự của tia sáng trong máy dạng phẳng luôn thay
đổi do khoảng cách từ các điểm trên một đường quét đến đầu ghi luôn thay đổi. Để bù lại điều
này, người ta phải chế tạo một hệ thống quang học và điện tử sao cho bảo đảm độ chính xác của
tia rọi nhưng cũng với một giới hạn nhất định. Khi sử dụng vật liệu có khổ lớn thì các hệ thống
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 49
này sẽ làm cho máy ghi trở nên đắt tiền. Trong thực tế, cấu trúc phẳng thích hợp nhất đối với
việc in báo ở độ phân giải thấp cho năng suất khá cao.
Các máy ghi phẳng dạng 2 và 3 sử dụng một hệ thống gương xoay đa giác (polygon
mirror) để phản xạ nguồn tia laser theo một đường thẳng băng ngang qua vật liệu. Vật liệu được
di chuyển vuông góc với chiều quét với tốc độ sao cho đầu ghi vừa kịp ghi hết một đường quét
và độ dịch chuyển bằng chiều rộng của đường quét. Tia laser được lấy tiêu điểm qua một thấu
kính đặc biệt để bảo đảm kích cỡ và hình dáng điểm spot luôn luôn là một hằng số trên toàn bộ
đường quét. Điều này là cần thiết bởi vì khoảng cách giữa thấu kính và bề mặt vật liệu trên bề
ngang đường quét là khác nhau (những điểm nằm càng ra ngoài có khoảng cách đến thấu kính
càng lớn). Chính điều này cũng là giới hạn cho chiều dài của đường quét. Chiều dài tối đa của
đường quét của một máy dạng phẳng khoảng 24inch (60cm). Để ghi hình ảnh với chiều dài lớn
hơn mà vẫn bảo đảm chất lượng phải sử dụng hai đầu ghi.
Các hệ thống ghi bản dạng phẳng việc nạp và xuống bản nhanh hơn hai hệ thống kia. Tuy
nhiên do giới hạn về kích thước ghi nên thông thường nó chỉ thích hợp in báo hoặc các ấn phẩm
thương mại khổ nhỏ.
Để khắc phục nhược điểm về chiều dài ghi, một số hãng đã sản xuất máy ghi dạng phẳng
với hệ thống nhiều đầu ghi hoặc đầu ghi nhiều tia. Chẳng hạn:
 Barco Graphic sử dụng 3 hoặc 5 đầu ghi
 ICG sử dụng đầu ghi nhiều tia gắn trên một đế di chuyển băng ngang qua bề ngang vật
liệu và ghi 512 tia trong mỗi lần ghi.
4. Ưu nhược điểm của các loại máy ghi:
a. Máy ghi dạng trống nội:
 Ưu điểm:
- Chất lượng cao.
- Vật liệu nằm trong trạng thái tĩnh trong suốt quá trình ghi nên có độ chính xác cao.
- Đục lỗ định vị ngay trong máy khi vật liệu đã vào đúng vị trí.
- Đầu ghi chỉ có một tia nên cường độ tia laser ổn định do đó ít gây nên hiện tượng
sọc(stitching).
- Đầu ghi chỉ có một tia nên khoảng rộng điều chỉnh tiêu cự (depth of focus) lớn hơn do đó
chất
- lượng hình ảnh cũng như độ phân giải sẽ cao hơn.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 50
- Dể dàng nạp vật liệu nếu sử dụng khổ nhỏ (ưu điểm này thường thể hiện rõ đối với máy
ghi bản)
 Nhược điểm:
- Đầu ghi chỉ có một tia đơn nên chỉ tác dụng trên từng điểm, từng phần trên vật liệu.
- Đầu ghi nằm xa vật liệu nên đòi hỏi tia laser phải có năng lượng lớn.
- Thời gian ghi lâu hơn máy ghi dạng trống ngoại.
- Đối với máy ghi bản khổ lớn sẽ rất khó khăn khi nạp bản
b. Máy ghi dạng trống ngoại:
 Ưu điểm:
- Chất lượng cao.
- Đầu ghi được đặt gần vật liệu hơn nên bảo đảm độ chính xác hơn cũng như có khả năng
tập trung được năng lượng laser nên rất thích hợp với việc ghi bản nhiệt (bản thermal) ở
các máy ghi bản.
- Thời gian ghi bản nhanh hơn máy ghi dạng trống nội do đầu ghi có nhiều tia.
- Đầu ghi có nhiều tia nên tốc độ của trống giảm do đó có độ cân bằng động cao hơn (Độ
cân bằng động sẽ giảm theo tỉ lệ bình phương với tỉ lệ tốc độ quay. Chẳng hạn trống quay
tốc độ 500 vòng / phút sẽ có độ bằng động thấp hơn trống quay với tốc độ 150 vòng /
phút khoảng 10 lần).
 Nhược điểm:
- Hệ thống hút hơi phức tạp hơn do phải bảo đảm việc giữ trống chắc chắn trên trống.
- Vật liệu gắn trên trống quay nhanh nên sẽ rất nguy hiểm nếu vật liệu bị văng ra khi đang
ghi.
- Hệ thống hút chân không quá mạnh sẽ làm biến dạng những vật liệu mỏng làm giảm độ
chính xác.
- Đầu ghi có nhiều tia nên việc điều chỉnh, sửa chữa phức tạp. Mặt khác với đầu ghi nhiều
tia phải đòi hỏi hệ thống nguồn laser phải ổn định và hệ thống quang học phức tạp để
tránh hiện tượng cường độ các tia laser khác nhau gây hiện tượng sọc trên vật liệu (hiện
tượng stitching).
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 51
c. Máy ghi dạng phẳng:
 Ưu điểm:
- Do cấu trúc phẳng nên dễ dàng cho việc nạp, tháo cũng như di chuyển vật liệu.
- Chất lượng cao (cho máy ghi phẳng dạng 1).
 Nhược điểm:
- Độ chính xác không cao do trong quá trình ghi vật liệu phải di chuyển (cho máy ghi dạng
2 và 3).
- Giới hạn về chiều rộng vật liệu do đó thường không thích hợp cho các loại máy ghi bản
khổ lớn (cho máy ghi dạng 2 và 3).
- Khoảng cách giữa đầu ghi với các điểm trên bề mặt vật liệu không bằng nhau làm cho tia
laser bị biến dạng ở những phần cạnh của vật liệu (cho máy ghi dạng 2 và 3).
- Tốc độ ghi chậm (cho máy ghi dạng 1).
II. Các công nghệ ghi kẽm nhiệt :
Kỹ thuật ghi bản nhiệt với laser hồng ngoại có bước sóng 830nm đã có một quá trình
hình thành và phát triển lâu dài.
Các số liệu thống kê trên thế giới cho thấy thị phần của ghi bản nhiệt chiếm hơn 60%.
Do đặc thù của bản nhiệt cần một mức năng lượng rất lớn để có thể khởi phát quá trình
polymer hóa nên hầu như tất cả các máy ghi bản nhiệt dùng cấu trúc ghi trống ngoại (ngoại trừ
Luescher với cấu trúc lòng ống đặc biệt).
Mặt khác do cần một mức năng lượng rất cao so với phim hay bản Photopolymer (bản
Kodak cần 130 microjoule/cm2) mà tất cả các máy ghi bản nhiệt đều áp dụng kỹ thuật ghi nhiều
tia laser để tăng tốc độ. Chính tại điểm này chúng ta có các kỹ thuật khác nhau
Kỹ thuật ghi nói chung và ghi bản nhiệt nói riêng đều quan tâm đến một vấn đề là làm
cách nào để on-off laser tương ứng với ghi hay không ghi (giá trị nhị phân 0-1) một điểm laser
spot.
Các nguồn sáng laser nhiệt được dùng chủ yếu hiện nay là laser diode hay laser bán dẫn
và hoạt động ở một trong hai chế độ liên tục hay xung, nói một cách dễ hiểu là diode phát sáng
liên tục và ta dùng một thiết bị ngoài để ngắt hoăc cho ánh sáng đi qua hay ta bật tắt trực tiếp
diode để bật tắt laser.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 52
Các nguồn laser công suất lớn cần có thời gian trễ mới đạt mức năng lượng ổn định trong
khi tần số on-off laser là cực lớn khi ghi bản. Vì vậy các nguồn laser công suất lớn đều cần có
thiết bị ngoài để on-off laser.
Một trong những chủ đề tranh luận bất tận giữa ghi bản nhiệt và ghi bản photopolymer
(violet) là tuổi thọ laser. Để dễ hình dung ta có so sánh laser nhiệt có mức công suất 1W/ 1
diode, trong khi đó laser violet chỉ có 60 mW.
1. Ghi bản với đầu ghi dùng diode độc lập
Đây là một trong những cấu trúc đầu ghi có từ những ngày đầu tiên với các đời máy như
Platerite 8000/8600 của Screen hay Lotem của Scitex. với số lượng diode từ 24-64.
Các diode này thông thường có công suất lớn. Để on-off laser cần có bộ phận acousto-
optic modulator AOM, tia laser được dẫn bằng cáp quang tới hệ thống quang học lấy nét focus
rồi ghi lên bản.
Cấu trúc này có một hạn chế là tiêu cự cố định và lấy nét nông. Do đó khi có bất cứ sự
thay đổi nhỏ nào của độ dày bản chúng ta sẽ có vùng ghi out of focus và bản đó phải bỏ. Hiện
tượng này thường gặp khi làm vệ sinh trống không kỹ, có bụi trên bề mặt trống hay bề mặt bản
không tuyệt đổi phẳng.
Hinhfv : diode độc lập
Cấu trúc đầu ghi của PTR 8000/8600 chia làm hai băng diode với mỗi băng 16 hay 32
diode tương ứng. Khi có một diode hư thì hệ thống tự động tắt toàn bộ một băng và hoạt động
với một băng duy nhất còn lại. Nếu diode của băng này lại hư tiếp thì sao? Chính ở đây là điểm
mạnh của cấu trúc này, chúng ta nhớ là vẫn còn 15 hay 31 diode còn tốt và có thể hoán đổi sang
băng này để tiếp tục sản xuất với tốc độ thấp hơn trong khi chờ đợi diode thay thế. Ưu điểm của
cấu trúc này là có thể thay thế diode đơn lẻ và dễ dàng, giá thành một diode lại thấp. Tuy nhiên
theo thống kê số diode trung bình 1 năm phải thay là khá lớn (từ 3-4 diode).
Vậy khi nào máy báo diode hư? Khi bắt đầu quá trình ghi bản, máy ghi sẽ thực hiện việc
kiểm tra năng lượng laser, nó kéo dài khoảng 1-2 phút. Khi đó máy kiểm tra năng lượng laser
phát ra của từng diode nếu thiếu, máy tự động nâng công suất lên mức cần thiết. Trong trường
hợp vượt ngưỡng thì máy báo diode hư và hoạt động chỉ với một băng và một nửa tốc độ. Có
nhiều nguyên nhân làm suy giảm công suất laser.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 53
Hình : cấu trúc đầu ghi dùng diode độc lập
Do số lượng diode là giới hạn (tối đa là 64 diode) và là diode công suất lớn nên muốn có
tốc độ ghi bản cao thì tốc độ quay của trống cũng phải cao. Trên các máy PTR là 900 rmp.
Bản có kích thưóc khác nhau và không phủ hết bề mặt ống nên bắt buộc phải có cơ chế
autobalance. Máy di chuyển các đối trọng đến vị trí thích hợp ở hai đầu ống.
Nhiệt độ hay điều kiện môi trường cho máy hoạt động cũng là một yếu tố đòi hỏi phải
quan tâm. Các máy ghi dạng này, đầu ghi không có bộ phận làm lạnh và bộ phận ổn định nhiệt
cho trống ghi nên điều kiện môi trường cũng đòi hỏi tương đối khắt khe. Đối với máy PTR hay
Heidelberg Topsetter là nhiệt độ phòng phải dưới 27 độ C nếu vượt quá máy báo lỗi.
2. Ghi bản nhiệt với đầu ghi GLV:
GLV là một kỹ thuật do hãng Silicon light machines phát triển từ 1997 phục vụ việc hiển
thị hình ảnh độ phân giải cao ứng dụng trong truyền hình hay quảng cáo. Kỹ thuật này được
Agfa và Screen ứng dụng vào ghi bản laser nhiệt từ năm 2004.
Về bản chất GLV cũng chỉ là một trong nhiều kỹ thuật để on-off laser, CreoKodak thật
ra là người quan tâm kỹ thuật này đầu tiên nhưng quyết định không đi theo hướng này vì nhiều
lý do.
GLV có ưu điểm gì so với các kỹ thuật khác? Đó chính là tốc độ chuyển mạch ( trạng
thái phản xạ hay tán xạ ánh sáng) rất nhanh – đó là một trong những điều kiện tiên quyết cho
việc nâng cao tốc độ ghi bản.
GLV là một linh kiện trên đó có bố trí các dải siêu mảnh (micro-ribbon) song song với
nhau. GLV dùng cho ghi bản nhiệt có 6528 dải chia thành 1088 pixel bao gồm mỗi pixel 3 cặp
active và inactive. Bề mặt của các dải này đóng vai trò như các gương phản chiếu. Ở vị trí song
song nó phản chiếu ánh sáng và ở vị trí lõm xuống nó tán xạ ánh sáng (Diffraction) như vậy tia
sáng laser có thể được on-off tuỳ theo ghi hay không ghi
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 54
Hình : cấu trúc GLV
Kỹ thuật dùng các diode đơn lẻ (độc lập) có các hạn chế về tốc độ nên giải pháp tăng số
lượng tia ghi cùng lúc là giải pháp được lựa chọn ngày hôm nay. Đại diện cho các giải pháp này
là các đầu ghi GLV (Grading Light Valve), đầu ghi của Creo (Kodak) và IDS laser của
Heidelberg.
Ngoại trừ IDS của Heidelberg dựa trên một công nghệ khác thì các đầu ghi GLV và của
Creo có nguyên tắc hoạt động tương tự chỉ khác cơ chế on-off laser. Sử dụng GLV có hai hãng là
Agfa và Screen, sử dụng MOEMS (Micro-Opto-Electro-Mechanical Systems) có Creo-Kodak.
Chúng ta cùng tìm hiểu nguyên lý hoạt động và ưu nhược điểm của từng kỹ thuật và sự khác biệt
khi các hãng sản xuất máy ghi bản áp dụng vào thiết kế của mình.
Các hệ thống ghi bản nhiều tia (multibeams) đều sử dụng một hay hai mảng diode hồng
ngoại năng lượng cao 40W-50W bao gồm nhiều diode gộp lại (19 - 23 diode). Chùm tia laser
được hướng tới bộ phân kênh tách thành nhiều tia, phổ biến hiện nay là 512 tia , các máy của
Creo-Kodak có thể có số tia thấp hơn 240-512 tia. Các tia laser tiếp tục được hướng tới bộ phận
on-off laser, light valve của CreoKodak hay GLV trước khi qua hệ thống thấu kính hội tụ chiếu
lên bản kẽm.
Các cấu trúc như vậy có một ưu điểm là tốc độ ghi bản có thể đạt rất cao trong khi tốc độ
vòng quay của trống thấp dưới 300 rpm (như vậy sẽ không cần có thiết bị cân bằng động).
Một câu hỏi luôn được đặt ra đối với các thiết bị ghi bản nhiệt là nếu 1 diode hỏng thì
chuyện gì xảy ra? Đối với các máy của CreoKodak thì các diode liên kế sẽ tăng công xuất để bù
và máy hoạt động tiếp tục với tốc độ thấp hơn. Nếu diode thứ 3 hư thì phải thay.thế toàn bộ đầu
ghi. Đối với máy của Screen PTR 8800 thì đầu ghi được thiết kế với hai nguồn laser độc lập nếu
một trong hai nguồn có diode hư thì máy tắt nguồn đó và chỉ sử dụng nguồn còn lại. Tốc độ ghi
giảm xuống. Nguồn laser có thể được thay thế độc lập mà không thay thế cả đầu ghi.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 55
Hình : Đầu ghi GLV
3. Kỹ thuật ghi của Heidelberg:
Khác với các hãng khác, Heidelberg sử dụng nhiều đầu ghi, mỗi đầu ghi được gọi là một
module, mỗi module có 64 tia. Tùy theo tốc độ ghi mà sẽ có từ 2 đến 6 module.
Cấu trúc này của Heidelberg có một số ưu điểm như:
 Tốc độ cao và nâng cấp tốc độ dễ dàng.
 Khi một diode (một tia) bị hư máy vẫn tiếp tục hoạt động nhờ các module khác.
Hình : Máy ghi Heidelberg
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 56
4. Autofocus
Ánh sáng của laser nhiệt có bước sóng trong vùng hồng ngoại 830nm, việc lấy nét, chỉnh
độ hội tụ focus của tia sáng có bước sóng dài là một công nghệ phức tạp. Heidelberg, Agfa,
CreoKodak hiện thực được autofocus trên các đầu ghi của mình và điều này đem lại thuận tiên
cho người sử dụng khi mà các bản kẽm có thể có bụi, bề mặt không tuyệt đối phẳng, máy vẫn ghi
và cho chất lượng hình ảnh bảo đảm chất lượng. Khác với các đầu ghi của Screen với focus cố
định nhiều khi các vùng out of focus trên bản kẽm chỉ được phát hiện khi đã đem lên máy in.
Đầu ghi GLV trên các dòng máy PTR 8800 cũng chỉ có focus cố định.
Hình : chế độ autofocus
5. Làm lạnh lazer:
Các đầu ghi của các máy ghi kẽm nhiệt có nguồn sáng laser công suất cao và hoạt động
liên tục ngay khi bật máy ghi dù có ghi bản hay không, lượng nhiệt sinh ra rất lớn và cần phải
được giải nhiệt. Chính vì thế các đầu ghi này cần có một bộ phận làm lạnh giữ cho nhiệt độ của
nguồn laser và đầu ghi ổn định trong một khoảng xác định.
Việc làm lạnh và giải nhiệt cho đầu ghi laser hoàn toàn khác biệt với việc làm lạnh và giữ
ổn định nhiệt độ của trống ghi bản với mục đích khác là tạo môi trường ghi bản đồng nhất nâng
cao độ chính xác chồng màu.
Việc giải nhiệt và giữ ổn định môi trường làm việc của laser là rất quan trọng vì nó ảnh
hưởng tới tuổi thọ của đầu ghi đặc biệt là các đầu ghi GLV.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 57
Chương VI:
Làm việc với PDF
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 58
I. PDF là gì ?:
PDF (Protable Document File) là một định dạng file để biểu diễn một tài liệu với tín chất
độc lập với phần mềm ứng dụng, phần cứng, và hệ điều hành của hệ thống dùng để tạo ra nó.
Một file PDF không chỉ gồm thông tin mô tả trang mà nó còn chứa cả font chữ, hình ảnh và siêu
liên kết kể cả các hình ảnh động. PDF mang đến nhiều thuận lợi hơn các file độc lập với thiết bị
(.eps hay .ps). PDF không những có thể được biên dịch trực tiếp bởi RIP mà nó còn thể hiện tất
cả các đối tượng trên màn hình một cách rõ ràng chứ không phải là các mã lệnh như file .PS. Khi
một file PDF hiển thị trên màn hình thì file đó giống như đã được RIP biên dịch và thật sự là
“What you see is What you get” có nghĩa là bạn nhìn thấy đối tượng trên màn hình như thế nào
thì bạn sẽ nhận được tờ in thể hiện đối tượng như thế đó.
Một ưu điểm nữa của file PDF là nó có kích thước file rất nhỏ. Chẳng hạn, một tran tạp
chí 4 màu khổ 20x28 cm làm từ PageMaker, có kích thước 25 MB bao gồm cả file .P65 và các
file hình ảnh kèm theo (chưa bao gồm font), nhưng nếu được chuyển thành file PDF thì kích
thước file này chỉ còn khoảng 6 MB (đã bao gồm cả hình ản và font).
Hiện nay, file PDF có thể được tạo theo nhiều cách như trực tiếp từ trình ứng dụng hay từ
những file PostScript và kết quả là tạo ra một file PDF độc lập với các trình điều khiển. Cho dù
file đó được tạo ra từ trên Mac hay PC thì nó vẫn được hiển thị và vận hành bằng bất cứ trình
hiển thị (phần mềm) nào mà hệ điều hành đó hỗ trợ. Và nếu như có một file PostScript nào đó
tạo ra từ các trình ứng dụng trên hệ DOS hay UNIX, do những máy này không có các system-
level của điều khiển máy in thì việc diễn dịch và hiển thị file PDF vẫn diễn ra một cách bình
thường. Nhưng, để chuyển những fileđộc lập với thiết bị này sang PDF thì chúng ta phải dùng
đến Acrobat Distiller. Phần mềm này chuyển đổi tất cả những file độc lập với thiết bị và file PDF
mà nó tạo ra mang nhiều đặc tính rất có ích cho công việc chế bản.
II. Đặc tính của PDF
1. Về chế độ hình ảnh:
Cũng giống như ngôn ngữ độc lập với thiết bị, PDF mô tả trang bằng cách vẽ lại trang và
đặt những đối tượng tô màu vào những vùng chọn trên trang. Những đối tượng tô này có thể là
dạng ký tự, hay một sự kết hợp giữa đường thẳng và cong, hay những mẫu hình ảnh dạng số. Đối
tượng sẽ mang bất kỳ màu nào đã được định trong không gian màu mà chương trình hỗ trợ. Đối
tượng có thể bị cắt thành một hình dạng nào đó, mà những phần cần có thì mới xuất hiện trên
trang (dạng clipping). Khi một trang bắt đầu miêu tả, thì trang đó sẽ là một trang trống. Những
toán tử khác nhau sẽ đặt những điểm của tài liệu cần mô tả lên trang. Mỗi điểm mới trên trang có
thể che khuất những điểm có trước do chúng chồng lên nhau
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 59
2. Về khả năng:
Một file PDF là một file nhị phân (Binary), mã 8 bit. Nhưng không may, một số tác nhân
xử lý những file dùng những khả năng in của bộ mã 7 bit ASCII và ký tự khoảng trắng được coi
như “text”. Và do đó khó lòng giữ đúng nội dung của tài liệu. Chẳng hạn, do cần giữ đúng ký tự
7 bit và phải thay đổi phần kết thúc dòng. Nên vấn đề này đôi khi sẽ phá hỏng file PDF. Do đó,
khi tạo file PDF thì mã Binary nên được dùng trong hộp thoại in (phần Setup của lệnh Print).
3. Đối với chế độ nén
Để giảm kích thước file thì PDF hỗ trợ một số dạng nén: JPEG: nén hình ảnh màu và
trắng đen. CCITT nhóm 3, nhóm 4 hay LZW (lempel-Ziv-Welch) và Run Length dùng cho dạng
hình ảnh đơn sắc. LZW và Flate dùng nén text, graphics và dữ liệu chỉ mục hình ảnh (đối với file
PDF 1.2). Dạng JPEG nén hình ảnh thường theo tỉ lệ 1:10 hay hơn thế. Những dạng nén khác tùy
thuộc vào tính chất của hình ảnh mà có thể theo tỉ lệ 2:1 hay 8:1. Dạng LZW và Flate thường
theo tỉ lệ 2:1. Tất cả bộ lọc nén này đều tạo ra dữ liệu dạng Binary, dạng mã có thể chuyển thành
mã ASCII-85, dạng này duy trì tính linh động của file.
4. Khả năng độc lập với font
PDF cung cấp một giải pháp làm cho tài liệu của chúng ta không còn phụ thuộc vào font.
Một file PDF sẽ chứa trình mô tả font cho mỗi font đã được dùng trong tài liệu. Trình mô tả font
này sẽ chứa tên font, lưới điểm của font, ký tự, và kiểu của nó. Những thông tin này sẽ rất cần
thiết, nếu font của hệ thống không thể tìm thấy để đọc tài liệu, mà nó lại chiếm chỉ từ 1-2K cho
mỗi font. Nếu font của tài liệu có mặt trong hệ thống thì nó sẽ được dùng để hiển thị, nếu không
thì một font dạng đa năng sẽ được kích hoạt mô tả chính xác từng yếu tố của font bị thiếu dưới
cơ chế là độ lớn và độ rộng của font gốc. Giải pháp này áp dụng cho cả font Adobe Type 1 và
font True Type 3 được phát triển bởi Apple. Đối với font biểu tượng (Zap Dingbats), trình mô tả
font sẽ không có tác dụng, những hình dáng, nét chạm của ký tự phải được hiển thị đúng và in
đúng. Đối với tất cả dạng font biểu tượng thì một phiên bản nén font của trình Type 1 sẽ được
mang theo file PDF khi tạo file.
5. Truy xuất ngẫu nhiên
Sở dĩ tài liệu PDF có thể truy xuất một cách ngẫu nhiên vì nó chứa một bản tham chiếu chéo
(Cross reference table), định vị và truy xuất trực tiếp trang và những đối tượng khác trong tài
liệu, và nó nằm ở cuối của file bên trong cấu trúc (phần đuôi - Trailer). Dưới hình thức tham
chiếu chéo này thì khả năng truy xuất ngẫu nhiên của tài liệu là độc lập đối với tổng số trang của
tài liệu.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 60
III. Các yêu cầu trước khi tạo file PDF
Một file thiết kế đúng là một trong những nhân tố rất quan trọng trong việc quyết định sự
thành công của chu trình PDF (PDF workflow). Mặc dù hiện nay có nhiều lỗi đã có thể khắc
phục được trực tiếp từ file PDF, tuy nhiên, nếu một file thiết kế không đúng hoặc chứa các đối
tượng không thể in được (như Hairline chẳng hạn), các lỗi này vẫn được chuyển sang file PDF
và gây khó khăn cho quá trình ghi phim hay ghi bản sau này. Do đó, việc tạo một file thiết kế
hoàn chỉnh sẽ giúp cho tiến trình xử lý sau này được dễ dàng và nhanh chóng hơn. Dưới đây là
một số lời khuyên khi thiết kế ấn phẩm để phòng tránh các lỗi khi chuyển nó sang định dạng
PDF:
 Thiết lập các kích thước trang đã đúng chưa? (như khổ thành phẩm, khoảng chừa cắt xén
(bleed), các khoảng chừa lề (margin).
 Nếu được chỉ nên sử dụng font Postscript Type 1 hơn là sử dụng font True Type.
 Không nên sử dụng các thuộc tính font (bold, italic, shadowed..) bằng lệnh mà nên chọn
bộ font có thuộc tính đó.
 Nên quét hình ảnh với độ phân giải đúng và gần với độ thu phóng mong muốn.
 Nên cắt cúp hình ảnh ngay trong phần mềm xử lý hình ảnh, không nên cắt cúp trong các
phần mềm dàn trang hay đồ họa.
 Đừng sử dụng thuộc tính Hairline cho các đối tượng đường.
 Đừng vẽ khung (frame) bằng cách vẽ bốn đường thẳng nối nhau, hãy sử dụng công cụ vẽ
khung.
 Thiết lập sắc độ màu nhạt nhất là 5%, đậm nhất là 95%.
 Xóa những phần tử không cần thiết nằm ngoài nền dàn (pastboard)).
 Xóa các trang trắng.
IV. Hiệu chỉnh kiểm tra file PDF bằng các lệnh trong
ACROBAT READER
1. Hiệu chỉnh file PDF:
a. Các hiệu chỉnh liên quan đến trang tài liệu
Lệnh Insert : cho phép chèn thêm các trang tài liệu từ các file PDF. khác vào tài liệu
đang mở. Các trang tài liệu chèn thêm có thể được chèn thành trang đầu tiên (first), hoặc là trang
cuối cùng (last) hoặc sau (after) hoặc trước (before) một trang nào đó (page).
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 61
Lệnh Extract: cho phép ngắt một hoặc nhiều trang nào đó trong tài liệu thành một file
PDF riêng. Các trang cần ngắt được nhập vào các trường From .... To.
Lệnh Replace: cho phép thay thế một hay nhiều trang tài liệu với các trang khác nhập
vào trang cần thay vào trường Original và nhập trang thay thế vào trường Replacement
Lệnh Delete: cho phép xóa một hay nhiều trang tài liệu.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 62
Lệnh Crop: cho phép cắt cúp trang tài liệu theo một vùng đã được định nghĩa trong
trường Top, Bottom, Left, Right.Các trang cần cắt cúp, có thể là toàn bộ tài liệu hoặc từ (from)
trang nào đến (to) trang nào đó hoặc chỉ các trang lẻ (odd) hoặc chỉ các trang chẵn (even).
Lệnh Rotate: cho phép xoay các trang tài liệu 900
theo ngược chiều kim đồng hồ
(Counterclockwise 90 degrees), 900
theo chiều kim đồng hồ (Clockwise 90 degrees) hoặc
1800
(180 degrees).
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 63
b. Các hiệu chỉnh liên quan đến tài liệu:
Sử dụng công cụ Text tool (xem hình). Sau khi chọn công cụ này, chúng ta có thể hiệu
chỉnh văn bản như công cụ text của các phần mềm ứng dụng.
Cũng có thể nhấn chuột phải trên văn bản đã chọn, chọn lệnh Properties, mở hộp thoại
TouchUp properties để chọn thay đổi font chữ, co chữ hoặc một số thuộc tính khác của văn bản.
c. Các hiệu chỉnh liên quan đến hình ảnh:
Sử dụng công cụ TouchUp Object Tool (xem hình). Sau khi chọn công cụ này, bấm chọn
hình ảnh cần hiệu chỉnh, sau đó bấm chuột phải truy xuất lệnh Edit Image để mở và chỉnh sửa
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 64
hình ảnh dạng bitmap trong phần mềm Photoshop, hoặc lệnh Edit Object để mở và sửa hình ảnh
dạng vector trong phần mềm Illustrator.
2. Hiệu chỉnh, kiểm tra bằng Plugin PitStop
PitStop Professional là một plug-in rất hữu dụng trong việc kiểm tra cũng như hiệu chỉnh
file PDF. Sau khi cài đặt PitStop Professional trên thanh công cụ của phần mềm Acrobat Reader
sẽ xuất hiện một số công cụ mới có màu xanh tím, đó chính là các công cụ của PitStop
Professionnal
a. Các công cụ chọn
Select Objects : dùng chọn đối tượng trước khi sử
dụng một lệnh nào đó của PitStop Professional
Select Similar Objects: dùng chọn các đối tượng có
thuộc tính giống nhau
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 65
b. Các công cụ hiệu chỉnh văn bản
Edit Text Line: hiệu chỉnh văn bản theo từng dòng.
Edit Paragraph: hiệu chỉnh văn bản theo từng paragraph
c. Các công cụ di chuyển thu phóng xoay
Move Selection: dùng để di chuyển một đối
tượng đã được chọn bằng công cụ chọn trước đó.
Để di chuyển đối tượng, chọn công cụ này, bấm giữ
và kéo rê chuột
Scale Selection: thu phóng đối tượng được
chọn. Chọn công cụ này bấm giữ và kéo rê chuột
trên đối tượng được chọn để thu phóng đối tượng.
Rotate Selection: bấm giữ và kéo rê chuột
với công cụ này sẽ cho phép xoay đối tượng được
chọn với một góc bất kỳ.
Shear Selection: bấm giữ và kéo rê chuột
với công cụ này sẽ cho phép là nghiêng đối tượng
được chọn
Create New Rectangle: vẽ một khung chữ
nhật hoặc khung vuông ( nhấn phím Shift).
Create New Elipse: vẽ một khung elip hoặc khung tròn (nhấn phím Shift)
d. Các công cụ đo màu, đo khoảng cách, sao chép thuộc tính:
Copy and Paste Attributes : sao chép và gán các
thuộc tính của một đối tượng nào đó sang một đối tượng khác
(để copy các thuộc tính của một đối tượng, đưa công cụ đến
đối tượng đó, nhấn phím Ctrl và bấm chuột).
EyeDropper: đo giá trị màu tại vị trí của công cụ đó.
Giá trị màu sẽ được hiển thị tùy theo không gian màu của đối
tượng đó ( ví dụ đối tượng có không gian màu là CMYK thì
các trị số hiển thị là các trị số C, M, Y, K.
Guides: dùng tạo các đường gióng ngang (horizontal) và dọc (vertical). Các đường gióng
mới được tạo luôn luôn nằm giữa tài liệu, để di chuyển chúng, đưa con trỏ chuột đến đường
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 66
gióng đến khi xuất hiện biểu tượng di chuyển, bấm giữ và kéo rê chuột để di chuyển đường
gióng
Measure: dùng để đo khoảng cách giữa hai điểm. Bấm chuột tại điểm đầu khoảng cách
cần đo, rê chuột đến điểm kế và bấm chuột. Xem các thông số hiển thị trên hộp thoại Enfocus
PitStop Inspector để biết các giá trị về khoảng cách, góc nghiêng…
e. Chức năng Inspector
Chọn lệnh Show PitStop Inspector trong menu Window để mở hộp thoại Enfocus PitStop
Inspector
Trong hộp thoại này có 7 trường chính: Color, Fill/Stroke, Text, Image, Prepress,
Position và Statistics. Các trường chỉ hiển thị nội dung khi sử dụng công cụ chọn một đối tượng
nào đó. Và đây là một hộp thoại động, nội dung sẽ thay đổi tùy theo đối tượng được chọn.
Trường Color : hiển thị trị số màu ( theo không gian màu của đối tượng) của các đối
tượng đồ họa, hoặc hiển thị không gian màu của các đối tượng bitmap.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 67
Trường Fill / Stroke : cho biết đối tượng đồ họa có được tô màu nền hoặc đường viền
không ( biểu thị bằng check box On / Off).
Trường Text : khi đối tượng được chọn là văn bản, hộp thoại sẽ hiển thị và cho phép thay
đổi một số thuộc tính của chữ như: font chữ, co chữ... Ngoài ra hộp thoại còn cho biết font có
được nhúng theo không
Trường Image : khi đối tượng được chọn là hình ảnh bitmap, hộp thoại sẽ hiển thị các
thông tin về thuộc tính của hình ảnh như: kích thước, độ phân giải, tỉ lệ nén, không gian màu...
(trường Prop- erties ) hoặc cho phép thay đổi độ phân giải của hình ảnh (trường Resample)
Trường Prepress: hiển thị các thông tin về overprint, OPI, trans-parency ..., hộp thoại còn
cho phép chúng ta có thể thay đổi thuộc tính overprint hoặc thay đổi, hủy bỏ chế độ transparency
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 68
Trường Position : hiển thị tọa độ vị trí và kích thước của đối tượng đang được chọn.
Ngoài ra trường này còn cho phép chúng ta thu phóng, xoay, lật đối tượng.
Trường Statistic : hiển thị một số các thông tin về đường path, số ký tự, kích thước hình
ảnh...
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 69
f. Chức năng Global change:
Chọn lệnh Show PitStop Global Change trong menu Window để mở hộp thoại Enfocus
PitStop Global Change
Trong hộp thoại này có hai trường chính: Object và Page. Object có các trường để thay
đổi một số thuộc tính cho các đối tượng, còn Page có các trường dùng thay đổi thuộc tính cho
văn bản.
Trường Color: dùng thay đổi các thuộc tính về màu sắc cho đối tượng đồ họa ( không
thay đổi được cho các đối tượng là hình ảnh).
Trường Font: dùng thay đổi một font chữ này ( From ) sang font chữ khác ( To)
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 70
Trường Prepress: dùng thay đổi các thuộc tính về overprint, độ dày tối thiểu của đường
(Line weight).
Trường Image: dùng thay đổi độ phân giải của hình ảnh
g. Chức năng PDF Profile
Chọn lệnh Show PitStop PDF Profile Panel trong menu Window để mở hộp thoại
Enfocus PitStop PDF Profile Pane.
Chức năng này cho phép chúng ta kiểm tra file PDF (Preflight) để kiểm soát lỗi như: font
chữ có nhúng theo không, độ phân giải hình ảnh có đạt yêu cầu, hình ảnh và màu sắc có ở hệ
màu CMYK không... Chọn một profile cần kiểm tra ( ở đây là profile CMYK để kiểm tra file
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 71
cho việc chế bản in), bấm chọn lệnh Create Report để hiển thị thông báo, dưới đây là một ví dụ
về report.
Chúng ta có thể hiệu chỉnh profile bằng cách chọn trường Manag-ing rồi bấm chọn lệnh
Edit để mở hộp thoại Enfocus PDF Profile Editor thay đổi các chế độ kiểm tra. Tuy nhiên, để
thực hiện công việc này đòi hỏi người thao tác phải có các kiến thức tốt về lĩnh vực chế bản và
kiểm tra file.
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 72
h. Chức năng Action List
Chọn lệnh Show PitStop Action List Panel trong menu Window để mở hộp thoại Enfocus
PitStop Action List Pane
Chức năng này cho phép chúng ta thực hiện một số tác vụ (khi chọn lệnh Execute) để
hiệu chỉnh sửa chữa file PDF như: chuyển hệ màu( Convert Color to...), bỏ ICC Profile (Remove
ICC Profile) hoặc nhúng font chữ ( Embed Fonts)...
Chúng ta cũng có thể tạo một Action List khác bằng cách chọn trường Managing sau đó
bấm chọn lệnh New
Hộp thoại Enfocus PitStop Action List sẽ hiển thị cho phép chúng ta Add thêm các lệnh
mới (sử dụng lệnh Add trong hộp thoại).
Cơ sở kỹ thuật chế bản
Trang | 73
MỤC LỤC
Chương 1 : Tổng quát
I. Chế bản trang 2
II. Quy trình chế bản trang 3
III. Các định dạng file thường sử dụng trong chế bản trang 4
Chương 2 : Màu sắc và độ phân giải
I. Các nguyên lí tổng hợp màu sắc trang 6
II. Không gian màu trang 12
III. Tram hoá và sự phục chế hình ảnh trang 19
Chương 3: Dàn trang, bình trang
I. Các khái niệm cần nhớ trang 23
II. Các vấn đề trong dàn trang và bình trang trang 25
Chương 4: RIP
I. Ngôn ngữ PostScript trang 34
II. RIP là gì? trang 36
III. Cách phòng tránh lỗi khi RIP trang 42
Chương 5: Công nghệ ghi kẽm nhiệt
I. Các kiểu máy ghi trang 46
II. Các công nghệ ghi kẽm nhiệt trang 51
Chương 6: Làm việc với PDF
I. PDF là gì ? trang 58
II. Đặc tính của PDF trang 58
III. Các yêu cầu trước khi tạo file PDF trang 60
IV. Hiệu chỉnh kiểm tra file PDF trang 60
bằng các lệnh trong ACROBAT READER

Giáo trình cơ sở kỹ thuật chế bản.pdf

  • 1.
    TRƯỜNG ĐẠI HỌCSƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA IN VÀ TRUYỀN THÔNG    Cơ sở kỹ thuật chế bản 
  • 2.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 1 Chương I: Tổng quát
  • 3.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 2 I. Chế bản 1. Khái niệm: Chế bản là làm ra bản in, nói cách khác nó là cách kết hợp chữ viết, tranh ảnh... thành một tài liệu sẵn sàng để in ấn. Trước đây, công việc này được làm hoàn toàn thủ công và rất vất vả. Ngày nay, cùng với cuộc cách mạng máy tính, công việc của nhân viên chế bản điện tử đã hoàn toàn thay đổi. Họ có sự giúp sức của những phần mềm chế bản ngày càng được nâng cấp hiện đại hơn, tiện lợi hơn và nhiều tính năng vượt trội hơn như QuarkXPress, In Design, AI,.. giúp cho công việc chế bản trở nên dễ dàng và nhanh chóng. 2. Công việc : Đối với một nhân viên chế bản thì họ thường làm những công việc như sau:  Nhận file do khách hàng chuyển đến và kiểm tra, xử lý một số lỗi trước khi xuất phim hay kẽm. Do đó cần biết hầu như tất cả các phần mềm mà khách hàng sử dụng (vd Corel, AI, InDesign,...  Bình trang điện tử, cái này thì tùy sử dụng hệ thống máy ghi trên lưu đồ làm việc của từng hãng mà ta có các phần mềm bình khác nhau, vd Heidelberg thì có SignaStation, Screen thì có FlatWorker,...  Vận hành máy ghi phim hoặc ghi kẽm, cái này tùy vào từng máy mà có quy trình vận hành khác nhau. Không chỉ thế, một nhân viên chế bản được đánh giá và được xem như là người định hướng đi cho quá trình in ấn. Họ hiểu được sản phẩm in được in và được thành phẩm theo cách nào từ đó bù trừ thông số hợp lí trên bản in để không làm ảnh hưởng đến những giai đoạn sau. Hình : Quá trình chế bản bố trí các con in trên bản in và định vị các đường cấn cho công đoạn thành phẩm
  • 4.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 3 II. Quy trình chế bản : Bài mẫu khách hàng gửi tới đa phần là dưới định dạng là file, lúc này người chế bản chỉ cần kiểm tra và tiến hành dàn trang, bình trang. Nếu như khách hàng gửi bài mẫu là một sản phẩm thì người chế bản sẽ scan lại, sau đó phân loại thành các đối tượng: hình ảnh vector, bitmap, text và tiến hành theo các bước sau: a. Bước 1: Xử lí hình ảnh đồ hoạ ( hình ảnh vector) Dùng phần mềm chuyên dụng như AI, Corel,… để vẽ lại.Chú ý không nên dùng các đường hairline để vẽ các đường mảnh vì chúng sẽ dễ bị mất đi trong quá trình ghi bản, hiện bản hoặc trong quá trình in. Nếu vẽ các yếu tố bóng mờ thì phải explants appaerence. Nếu không các yếu tố này sẽ bị mất đi mặc dù vẫn nhìn thấy chúng trên file gốc. b. Bước 2 : Xử lí hình ảnh bitmap
  • 5.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 4 Dùng phần mềm Photoshop để xử lí. Điều quan trọng là phải biết điều chỉnh sao cho hình ảnh bitmap được in ra có độ phân giải thích hợp. c. Bước 3 : Xử lí text Có thể dùng phần mềm word để copy vào trong phần mềm dàn trang. Cần lưu ý là các đối tượng text nên được xử lí create outline, nếu không máy ghi sẽ không hiểu được nó là gì hoặc nó sẽ bị dịch chuyển đi trong quá trình chuyển đổi giữa thiết bị và giữa các phần mềm với nhau. d. Dàn trang Sử dụng các phần mềm dàn trang như Adobe Indesign, Adobe Illustraitor,… e. Bình trang Khi tiến hành bình trang, người chế bản có thể sử dụng nhiều phần mềm ứng dụng khác nhau để bình trang in như Adobe Illustraitor, Adobe Indesign, Coreldraw, Artios card… f. RIP Trong giai đoạn này người chế bản sẽ thiết lập các thông số phù hợp với bài in ‐ Thiết lập tách màu: màu pha và 4 màu CMYK. ‐ Thiết lập góc xoay tram: ví dụ C: 150 , B: 450 , M: 750 và Y: 00 ‐ Thiết lập hình dạng tram: chọn tram AM hoặc FM ‐ Thiết lập độ phân giải ‐ Thiết lập máy sẽ ghi những màu nào ‐ Thiết lập trapping ‐ Calibration và dotgain III. Các định dạng file thường sử dụng trong chế bản: Có những chương trình ứng dụng xử lý ảnh, vẽ hình ảnh chất lượng cao như Adobe Photoshop, Fractal, Design, Painter cho phép chúng ta lưu hình ảnh ở dạng riêng và chỉ đọc được bằng các chương trình đó. Những dạng file này có ưu điểm: kích thước file nhỏ,khả năng lưu file an toàn (như layers, kênh màu...).Nếu chỉ sử dụng một chương trình ứng dụng thì nên lưu file ở dạng của chương trình đó. Nếu chúng ta cần chuyển dữ liệu đến các chương trình dàn trang hay các yêu cầu khác thì nên lưu ở dạng phù hợp với phần mềm ứng dụng để xử lý tiếp theo. Các bộ phận chế bản hiện nay xử lý hình ảnh qua nhiều khâu và phần mềm khác nhau trước khi xuất
  • 6.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 5 hình ảnh. Vậy khi lưu hình ảnh nên lưu ở dạng chuẩn để nhiều phần mềm đọc được như TIFF, EPS hay JPEG. 1. Định dạng file TIFF: TIFF (có tên đầy đủ là Tag Image File Format) là một định dạng file cổ điển. Nó được phát triển bởi hãng Aldus (nay đã sát nhập vào hãng Adobe) và hãng Microsoft. Các thông số cơ bản của hình ảnh được lưu trong các thẻ đoạn (tags) chuẩn. Các thẻ đoạn "riêng" cũng có thể được định nghĩa. Nội dung của chúng chỉ có thể được đọc bởi các chương trình ứng dụng đặc biệt. Do các thẻ đoạn được định nghĩa một cách tự do, nên TIFF là một định dạng file mạnh mẽ và có thể mở rộng. Định dạng file TIFF dựa trên phương pháp nén "Lempel-Ziv-Welch" là một phương pháp nén đơn giản và không mất dữ liệu. Dạng file này được phát triển đặc biệt cho các ứng dụng dàn trang, các chương trình xử lý ảnh và nó có thể đọc được trên nhiều môi trường khác nhau. Hầu hết trong các phần mềm ứng dụng mới nhất, chúng ta có thể lưu hình ảnh dạng bitmap trắng đen, màu RGB, màu CMYK và Lab bằng dạng file TIFF. Các ưu điểm của file TIFF: - Lưu thông với kênh alpha trong các ứng dụng. - Lưu file để xử lý trên môi trường đặc biệt của PC và Macintosh. Hầu hết các ứng dụng dàn trang có thể mở các file TIFF được tạo trên máy PC hay Macintosh nhưng nếu có cả hai loại PC và Macintosh nên lưu theo nơi mà phần mềm dàn trang sẽ được sử dụng. Hầu hết các ứng dụng dàn trang đều có khả năng tự động tách màu các hình ảnh dạng TIFF theo CMYK được nhập vào. Các file màu CMYK dạng TIFF thường có kích thước nhỏ, thời gian xử lý nhanh hơn dạng file EPS. 2. Định dạng file EPS Có tên đầy đủ là Encapsulated Postscript, Đây là định dạng chính dùng lưu trữ các file đồ họa. Các phần mềm đồ họa như CorelDRAW chẳng hạn, bên trong chúng đã có sẵn các cấu trúc dữ liệu chuẩn giúp chúng có thể chuyển sang định dạng EPS cần thiết cho các quá trình xử lý sau này. Định dạng file EPS cũng có nguồn gốc từ ngôn ngữ Postscript, vì thế EPS có thể được sử dụng để chuyển đổi hoặc kết hợp giữa dữ liệu vectơ và bitmap, và điều đó cũng có nghĩa là định dạng file EPS có chứa những thông tin đã được nhúng không thể thay đổi được. EPS là một định dạng file đặc biệt của ngôn ngữ mô tả trang độc lập với thiết bị. Bên trong chúng có cấu trúc giống như định dạng file Postscript, nhưng chúng lại có thể được đặt vào các phần mềm ứng dụng khác như các định dạng TIFF, BMP. Một hình ảnh "Preview" có độbphân giải thấp được viết thêm vào trong phần Header của file EPS, và khi được đặt vào một phần mềm dàn trang, hình ảnh "Preview" sẽ được sử dụng cho việc hiển thị.
  • 7.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 6 3. Định dạng file JPEG: JPEG (tên đầy đủ là File Interchange Format (JFIF), tên JPEG được viết tắt từ tên công ty phát minh ra định dạng nén này Joint Photographic Expert Group) là một định dạng file nén, thường sử dụng đặc biệt cho các dữ liệu lớn, hoặc cho việc tối ưu hóa chu trình làm việc của chế bản (ví dụ như cho báo chí chẳng hạn) và cho Internet. Định dạng nén này được kết hợp từ nhiều phương pháp nén khác nhau. Các hình ảnh sẽ được nén dựa trên sự thay đổi của một hàm Cos riêng biệt, phương pháp này có tỉ lệ nén rất cao (có thể lên đến 1:100) tùy thuộc vào các thông số đã được chọn. Tuy nhiên tỉ lệ mất mát của phương pháp nén này còn tùy thuộc vào hình ảnh. Định dạng file JPEG có thể lưu ở không gian màu RGB hoặc CMYK, nhưng không lưu được ở không gian màu CIELab.
  • 8.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 7 Chương II: Màu sắc và Độ phân giải
  • 9.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 8 Màu sắc được dùng lần đầu tiên trong in ấn vào thế kỷ 15. Việc sử dụng màu này nhìn chung đã bị giới hạn qua việc dùng các màu tông nguyên cho các mục đích trang trí. Mãi đến đầu thế kỷ 18, Jacob Christoph Le Blon mới giới thiệu việc in hình có tầng thứ 3 màu. Le Blon - người chịu ảnh hưởng bởi công trình của Isaac Newton- đã chọn mực màu vàng, Red và Blue làm màu sơ cấp. Những loại mực này đã mở đường cho các màu vàng, Magrenta và Cyan ngày nay. Hiệu quả tầng thứ thu được nhờ sử dụng kỹ thuật khắc chạm thủ công trên các bản in bằng đồng. Qui trình này đã tạo ra các bản in mẫu đầu tiên vào khoảng năm 1704. Những bản in có phần tử in chìm 3 màu đầu tiên được in trên một máy cuộn ở Seigburg vào năm 1914. Trong cùng thời gian này, một máy in nhiều đơn vị cũng đã được lắp đặt ở Chicago. Máy này có cấu trúc tách rời từng đơn vị in đối với mỗi màu. Tuy nhiên, người ta cho rằng phải mãi cho đến cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930 thì một ấn phẩm in chồng 4 màu thành công đầu tiên trên một máy in nhiều màu mới được tạo ra và máy này có lẽ do công ty Albert chế tạo. I. Các nguyên lý tổng hợp màu sắc: 1. Bản chất của màu sắc: Để hiểu được quá trình tái tạo màu sắc, điều cần thiết đầu tiên là phải có được một sự đánh giá đúng mức về hiện tượng màu sắc. Để làm sáng tỏ điều này, chúng ta cần phải xem xét bản chất của ánh sáng, nếu không có nó, màu sắc sẽ không tồn tại. Ánh sáng là năng lượng phát xạ mà mắt thường của con người có thể thấy được. Theo mục đích phục chế màu, chúng ta giả sử ánh sáng di chuyển theo chuyển động sóng, với màu sắc của ánh sánh biến thiên theo độ dài của bước sóng. Bước sóng có thể được đo đạc và sắp xếp với các dạng khác của năng lượng trên dải quang phổ điện từ. Dải quang phổ điện từ được sắp xếp từ các sóng cực ngắn của tia gamma được phát ra bởi các vật liệu phóng xạ cho đến các sóng vô tuyến. Những sóng dài nhất có thể đến hàng dặm. Ánh sáng khả biến - vùng quang phổ có thể thấy được - có bước sóng từ 400 đến 700 nm (hàng triệu của mm). Dưới 400 nm là các tia cực tím, trên 700nm là các tia hồng ngoại. Hình : dãy quang phổ khả kiến Các vùng quang phổ thấy được xuất hiện trong tự nhiên như một cầu vồng, nó có thể được tạo ra một cách dễ dàng trong phòng thí nghiệm bằng cách cho một tia sáng hẹp của ánh
  • 10.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 9 sáng trắng qua một lăng kính thủy tinh.Vùng quang phổ xuất hiện được chia thành 3 mảnh màu - Blue, Green và Red nhưng thật ra nó được tạo thành từ rất nhiều màu với những sự biến thiên cực nhỏ từ 400nm đến 700nm. Các màu trong quang phổ về mặt lý tính là các màu thuần khiết. Sự phân tích ánh sáng trắng thành quang phổ có thể nhìn thấy được và sự tái kết hợp của quang phổ để tạo thành ánh sang trắng lần đầu tiên được nhà bác học nổi tiếng người Anh Isaac Newton chứng minh và trình bày vào năm 1704. Hình : Sự khúc xạ tia sáng qua lăng kính tạo thành quang phổ Lý do mà một dải quang phổ có thể được hình thành bằng cách đưa ánh sáng trắng qua một lăng kính có liên quan đến sự khúc xạ ánh sáng khi nó đi từ môi trường này (không khí) sang môi trường khác (thủy tinh). Lăng kính làm khúc xạ tia sáng có các bước sóng ngắn nhiều hơn tia sáng có bướcsóng dài vì thế đã làm lan tỏa tia sáng thành quang phổ có thể nhìn thấy được (như hình minh họa). Các giọt nước mưa cũng đóng vai trò tương tự như một lăng kính, khi những tia sáng hẹp của ánh nắng mặt trời đi xuyên qua các đám mây để hình thành một cầu vồng vì những tia sáng bị khúc xạ bởi hơi nước trong không khí. Khi các bước sóng giữa 400 và 700nm được trộn lại với những tỉ lệ gần như bằng nhau thì chúng ta có cảm giác về ánh sáng trắng. Nhưng mắt con người rất uyển chuyển ở điểm này: chúng ta thường chấp nhận ánh sáng từ một ngọn đèn dây tóc như là màu trắng, những lúc khác chúng ta lại xem ánh sáng từ một bầu trời xanh là màu trắng. Rõ ràng là mắt người rất thích nghi với nhiều nguồn sáng khác nhau. 2. Nguyên lý tổng hợp màu cộng : Khi các bước sóng của ánh sáng được kết hợp lại theo những tỉ lệ không bằng nhau, thì chúng ta cảm nhận được các màu mới. Đây là nền tảng của qui trình tái tạo màu cộng. Các màu sơ cấp (primary colors) của quá trình này là ánh sáng màu Red, Blue, Green. Ngoài 3 màu này, các màu thứ cấp cũng có thể được tạo ra bằng cách cộng bất kỳ 2 màu sơ cấp nào đó lại với nhau: Red kết hợp với Green cho ra vàng, Red kết hợp với Blue cho ra màu Magienta, và Blue kết hợp với Green cho ra màu Cyan. Sự hiện diện của tất cả 3 màu sẽ cho ra màu trắng và khi thiếu cả 3 mảu này sẽ tạo ra màu đen. Red + Green = vàng Red + Blue = Magienta Green + Blue = Cyan Red + Green + Blue = trắng
  • 11.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 10 Thay đổi cường độ của bất kỳ hoặc tất cả 3 màu sơ cấp sẽ tạo ra tất cả các màu có trên giải quang phổ thấy được. Đây là nguyên tắc của truyền hình màu. Ta có thể được quan sát bằng cách kiểm tra việc ghép màu Red, Green, Blue trên màn hình bằng một kính phóng đại. Hình : nguyên lí tổng hợp màu cộng Thay đổi cường độ của bất kỳ hoặc tất cả 3 màu sơ cấp sẽ tạo ra tất cả các màu có trên giải quang phổ thấy được. Đây là nguyên tắc của truyền hình màu. Ta có thể được quan sát bằng cách kiểm tra việc ghép màu Red, Green, Blue trên màn hình bằng một kính phóng đại. Nhược điểm của hệ thống tái tạo màu cộng là nó cần được rọi sáng ở cường độ cao để tạo ra các tia trắng và các màu ở một độ sáng chấp nhận được. Các hệ thống truyền hình không gặp phải vấn đề về các giá trị độ sáng thấp bởi vì các nguồn tự phát quang tạo trong ti vi tạo nên từng phần tử của hình ảnh. Độ phát quang tổng thể của những phần tử này có thể được điều chỉnh bằng các chức năng điều chỉnh độ tương phản hoặc độ sáng. Cũng vậy khi xem truyền hình thường trong phòng tối nó tạo ra ảo ảnh của sự phát quang nhiều hơn trong các tông sáng vì có sự ra tăng độ tương phản. 3. Nguyên lý tổng hợp màu trừ: Những hạn chế của quá trình tổng hợp cộng có thể được khắc phục bằng quá trình tổng hợp trừ. Hệ thống tổng hợp cộng bắt đầu bằng màu đen (một màn hình tivi chưa được cắm điện chẳng hạn và cộng màu Red, Green, Blue để có được màu trắng. Ngược lại hệ thống tổng hợp trừ bắt đầu với màu trắng (chẳng hạn một tờ giấy trắng được chiếu bằng ánh sáng trắng) và trừ màu Red, Green và Blue của ánh sáng trắng để có được màu đen. Việc loại bỏ màu Red, Green, Blue được thực hiện bằng cách sử dụng các màu nghịch của chúng. Nghịch với màu Red là màu Cyan được tạo thành bởi màu Blue và Green, đối với màu Green là màu Magrenta được tạo thành từ màu Red và màu Blue. Đối với màu Blue là màu vàng được tạo thành từ màu Green và Red. Các màu đạt được bằng cách loại bỏ ánh sáng trắng khỏi tờ giấy trắng vốn gồm màu Red, Green và
  • 12.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 11 Blue). Ví dụ kết hợp màu vàng (trừ Blue) với Cyan (trừ đỏ) sẽ cho ra màu xanh lục. Bảng sau đây sẽ cho thấy những sự kết hợp: Hình : nguyên lí tổng hợp màu trừ Trắng + Yellow + Cyan = Green Trắng + Magienta + Cyan = Blue Trắng + Magienta + Yellow =Red Trăng + Yellow = Yellow Trắng + Magrenta = Magrenta Trắng + Cyan = Cyan Trắng + Yellow + Magrenta + Cyan = Black Bất kỳ màu nào trong một khoảng màu có thể phục chế được đều có thể được phục chế bằng cách thay đổi tỷ lệ của bất kỳ hoặc tất cả các màu. Nguyên tắc tổng hợp màu trừ được sử dụng cho kỹ thuật nhiếp ảnh màu hiện đại nhất và tất cả các quá trình in màu. Cả truyền hình màu và in màu đều tận dụng một qui tắc chung là tái tạo hình ảnh cơ sở kết hợp các điểm nhỏ để phục chế. Đối với truyền hình màu, màn hình chứa các phần tử của màu Red, Green và Blue có kích thước bằng nhau. Ở một khoảng cách xem cụ thể (2 m) mắt không thể nhận ra các phần tử riêng lẻ và ti vi phải trộn màu Red, màu Green và Blue để tạo thành một màu sắc tổng hợp. Trong in màu, quá trình này phức tạp hơn. Đối với hầu hết việc in màu, diện tích được phủ mực vàng, magrenta và Cyan thay đổi, nhưng độ dày của lớp mực vẫn giữ nguyên. Không giống như tivi, những màu này chồng chéo lên nhau tạo thành các màu thứ cấp của tổng hợp màu trừ là Red, Green và Blue. Chỗ nào có 3 màu sơ cấp chồng lên nhau chúng ta có màu đen và chỗ nào không có mực thì chúng ta được giấy trắng. Vì thế chúng ta có chừng độ 8 yếu tố ảnh tách biệt nhau: trắng, vàng, magienta, cyan, red, green, blue và đen. Cũng như ở tivi, tại một khoảng cách xem cụ thể (20 cm), mắt không nhận ra các phần tử riêng lẻ mà nhất thiết phải trộn chúng lại để hình thành nên một màu tổng hợp.
  • 13.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 12 Mục tiêu trước đây khi phục chế bằng các phương pháp in là tạo ra các Bbản kẽm in màu vàng, Magrenta và Cyan, các bản kẽm này chính là những ghi nhận nghịch đảo khối lượng màu Red, Green và Blue gốc. Điều này đạt được bằng cách chụp bài mẫu lần lượt qua các kính lọc Red, Green và Blue. Những phim này có thể đi qua các giai đoạn sử lý sau đó để đạt được sự chính xác về màu sắc và tông hoặc để chuyển hình ảnh sao chụp có tông màu liên tiếp (continuous tone) thành các hình ảnh có tông tram (tầng thứ tram) phù hợp với quy trình in có sẵn. Mỗi khuôn in được chà loại mực phù hợp với nó và sau đó lần lượt được in lên vật liệu in. Hình : các điểm tra tram 3 màu chồng lên nhau trong quá trình in Ngày nay qua quá trình làm phim gần như đang trên đà suy thoái và có lẽ sẽ mất dần trong tương lai. Các kỹ thuật từ máy tính ra thẳng bản in (computer to plate) và máy tính ra thẳng máy in (computer to press) sẽ dần dần loại bỏ vai trò của phim ra khỏi quá trình phục chế nhưng các nguyên tắc cơ bản nhất của việc truyền hình ảnh vẫn không có nhiều thay đổi., Trong in ấn ta cũng thường dùng một bản in màu đen. Màu này được tạo ra bằng cách chụp bài mẫu tuần tự qua các kính lọc Red, Green và Blue rồi qua các qui trình tiếp theo tương tự đối với những màu khác. Màu đen làm tăng độ tương phản cho việc tái tạo. Vì những giới hạn về độ dày của các loại mực vàng, magienta và Cyan khi được in lên giấy nên màu đen thường được sử dụng để đạt được một sự tái tạo hoàn hảo. II. Không gian màu Một không gian màu là toàn bộ dãy màu (hoặc trị số màu) của thiết bị thực (real device) như màn hình, máy in hoặc một thiết bị ảo (virtual device) như một màn hình có tính chất lý thuyết, đại diện bởi không gian màu RGB có thể ghi hoặc phục chế được. Dãy này được định nghĩa như là khoảng phục chế (gamut) của thiết bị. Mỗi một thiết bị có một không gian màu duy nhất, và thậm chí các thiết bị giống nhau (về thiết kế và kiểu dáng) cũng có những sự khác nhau (dù nhỏ) về không gian màu. Những sự khác
  • 14.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 13 nhau này càng tăng với sự biến đổi của các thiết lập phần mềm hoặc phần cứng như sự khác nhau về độ phân giải màn hình, mực in, giấy in của máy in, hoặc thậm chí là sự khác nhau về độ sáng thiết lập trên màn hình... 1. Các loại không gian màu a. Không gian màu MUNSEL Sử dụng 3 yếu tố để xây dụng không gian màu: độ sáng (Value/Lightness), độ bão hòa màu (Chroma/Saturation) và độ ngả màu (Hue) Hình : không gian màu MUNSELL Munsell đã phát triển một hệ thống phân loại màu với khoảng cách về sự khác biệt màu đều nhau vào năm 1905. Trong hệ thống này các màu được sắp xếp theo tông màu, độ sáng và độ bão hòa màu. Các tông màu cơ bản là Red, Yellow, Green, Blue và Purple (đỏ tía). Hệ thống được phát hành vào năm 1915 dưới dạng “Sách màu Munsell” cho 40 tông màu, ánh sáng loại C và mẫu in trên giấy sáng và bóng mờ. Năm tông màu cơ bản Red, Yellow, Green, Blue và Purple được chia nhỏ ra thành TỔNG CỘNG 100 tông, mỗi tông có 16 độ bão hòa màu và 10 mức độ sáng. b. Không gian màu CMC Dựa trên lập luận mắt người cảm thụ các thay đổi về độ sáng trong màu sắc nhạy hơn sự thay đổi của độ bão hòa màu. Color Measurement Committee of the Society of Dryers and Colornists (hội đồng đo đạc màu của hiệp hội của những nhà sản xuất nhuộm và màu của Anh) đã thay đổi một vài tính chất của không gian màu CIE L*a*b, đưa ra không gian màu CMC
  • 15.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 14 Hình : không gian màu CMC c. Không gian màu chuẩn CIELab Nếu chúng ta muốn mô phỏng kết quả của bốn màu in trên màn hình chúng ta cần phải có một hệ thống liên hệ chung (toàn cầu) được dùng để xác định tất cả các màu này (màu mực in và màu màn hình). Hệ thống liên hệ này sẽ thể hiện một không gian màu. Tập hợp của tất cả các màu thực trong hệ thống liên hệ này thể hiện một khoảng phục chế màu không phụ thụôc vào thiết bị. Để tạo ra một tiêu chuẩn màu toàn cầu chứa các khoảng phục chế màu quan trọng nhất và cho phép các màu giao tiếp được với nhau là điều cực kỳ quan trọng cho việc phát triển một hệ thống phục chế màu. Đối với các trường hợp thực tế, một sự thể hiện tất cả các màu trong không gian hai chiều được ưa thích hơn là một không gian màu ba chiều. Vào năm 1931 một tiêu chuẩn như thế đã được tạo thành gọi là hệ thống màu tiêu chuẩn CIE từ hội nghị quốc tế Eclairage (Commission Internationale de l’Eclairage). Việc đưa ra hệ thống màu CIE trên chuẩn làm cho ta có khả năng chuyển đổi một quyết định về màu từ tiến trình diễn giải về mặt chất lượng sang tiến trình có thể diễn giải dưới dạng số lượng và con số cụ thể. Thí dụ ta có khả năng quyết định một cách chắc chắn rằng việc sơn lại một cái cánh xe hơi có giống với màu gốc ban đầu của nó hay không. Hình : không gian màu CIELab
  • 16.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 15 Một hệ thống liên hệ có thể làm được điều này một cách chính xác được phát triển vào năm 1976 bởi CIE. Nó được gọi là CIE LAB và được xây dựng trên cơ sở CIE XYZ (Hệ màu được xây dựng từ các màu sơ cấp).Hai thông số, độ màu chroma (gần giống như độ bão hòa màu) và tông màu được xác định ở đây bởi hai trục tọa độ a* và b* có cả giá trị dương lẫn âm. Điều này tạo ra là mặt phẳng màu – chrominance plane – Có một trục tọa độ với một giá trị Red – Green a* và một trục với giá trị vàng – Blue b*. 2. Hệ màu: Ngày nay có rất nhiều hệ màu khác nhau để mô tả màu sắc của hình ảnh. Hệ màu định nghĩa cách mô tả màu sắc của một hình ảnh qua các trị số. Các hệ màu chính được sử dụng cho việc mô tả màu sắc hình ảnh là: RGB, Lab, CMYK và Grayscale. a. Hệ màu RGB Tất cả các màu trong hệ màu RGB được tạo từ ba màu cơ bản (còn gọi là ba màu cơ bản của ánh sáng): Red, Green và Blue. RGB là hệ màu được sử dụng thông dụng nhất trong xử lý ảnh kỹ thuật số. RGB là hệ màu cộng (additive color model), nghĩa là nếu tổng hợp ba màu Red, Green, Blue với 100% mức độ, chúng ta sẽ thu nhận được ánh sáng trắng. Trị số (0,0,0) định nghĩa màu đen, trong khi trị số (255,255,255) được định nghĩa là màu trắng. Hình : Hệ màu RGB ( trái) và hệ màu Lab ( phải) b. Hệ màu Lab: Hệ màu CIE-LAB (có thể viết gọn là Lab, LAB hoặc L*a*b*) phân chia ra màu sắc (chroma, A+B) và độ sáng (luminance, L) trong hình ảnh. Cũng như hệ màu RGB, Lab sử dụng ba thành phần cơ bản là: L (cho độ sáng) có dãy trị số từ 0 (màu đen) đến 100 (màu trắng) và hai trục tọa độ màu: a và b. Trục a từ màu Green đến màu Red và trục b từ màu Blue đến màu Yellow.
  • 17.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 16 c. Hệ màu CMYK Hệ màu CMYK sử dụng đến 4 màu cơ bản để định nghĩa màu sắc: Cyan (C), Magenta (M), Yellow (Y) và Black (K) (ba màu Cyan, Magenta và Yellow còn gọi là ba màu cơ bản của vật thể). CMYK là hệ màu được sử dụng trong in ấn nơi các màu sắc chủ yếu được tạo thành từ sự phản xạ ánh sáng của vật thể (như là các pigment mực). CMYK là hệ màu trừ (subtractive color model) do mỗi màu mực sẽ hấp thụ (trừ bớt) một phần quang phổ của ánh sáng. Về mặt lý thuyết, khi tổng hợp ba màu C, M, Y chúng ta sẽ nhận được màu đen (K), nhưng do sự không tinh khiết của mực in nên trong thực tế màu nhận được sẽ không hoàn toàn đen mà chỉ là một màu nâu tối, do đó người ta thêm vào một màu thứ tư: màu Black (K), nó còn được gọi là màu khóa (key color). Mặc dù CMYK là hệ màu rất quan trọng trong in ấn, nhưng nó không được sử dụng nhiều trong xử lý ảnh kỹ thuật số. Chúng ta ít khi sử dụng hệ màu CMYK trong chu trình làm việc của mình. Bạn nên sử dụng hệ màu RGB bất cứ khi nào có thể và chỉ chuyển nó sang hệ màu CMYK ở bước cuối cùng. Làm việc trên hệ màu CMYK sẽ có một số nhược điểm như sau:  Hình ảnh ở hệ màu CMYK sẽ có kích thước file lớn hơn ở hệ màu RGB.  Một vài chức năng filter không làm việc với hệ màu CMYK.  Không gian màu CMYK chứa ít màu hơn không gian màu RGB (CMYK có không gian màu nhỏ hơn) d. Hệ màu HSB/HSL: Hệ HSB sử dụng ba thành phần: Hue (sắc màu), Saturation (độ bão hòa màu) và Brightness (độ sáng). Trong hệ HSL là ba thành phần: Hue (sắc màu), Saturation (độ bão hòa màu) và Lightness (độ sáng). Hai hệ màu này không được hỗ trợ bởi Photoshop, nhưng nó được sử dụng trong nhiều phần mềm ứng dụng khác. Hình : Hệ màu HSB/ HSL
  • 18.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 17 3. Chỉnh sửa màu sắc: a. Sửa màu: Việc sửa màu thường được khách hàng yêu cầu cho phù hợp với cảm nhận màu sắc của họ hoặc vì một yêu cầu nào đó. Việc sửa màu có thể là việc xóa bỏ sự ngả màu của bài mẫu hoặc là việc chỉnh sửa cho màu sắc hình trở nên tươi sáng, đậm đà hơn chẳng hạn như màu cỏ trở nên tươi hơn hay bầu trời trở nên xanh hơn. Có các cách sửa màu chính như sau:  Sửa màu toàn cục (Global color corrections): việc sửa màu này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hình ảnh. Đối với hệ màu HSL, việc chỉnh màu này sẽ ảnh hưởng đến tất cả các sắc màu. Có một điều cần lưu ý là sau việc chỉnh sửa màu toàn cục, các trị số tách màu của các màu có thể khác trước.  Sửa màu chọn (Selective color corrections) hay còn gọi là sửa màu cục bộ: Việc sửa màu chọn chỉ ảnh hưởng đến các sắc màu tương tự với màu đã chọn theo một dung sai đã định sẵn. Đối với hệ màu HSL, việc chỉnh màu này sẽ chỉ ảnh hưởng đến sắc màu gần với màu chọn nhất.  Chỉnh sửa tầng thứ (Corrections): đây là chức năng cho phép chúng ta thực hiện việc thay đổi tông độ cũng như là độ sáng, độ tương phản của toàn bộ hình ảnh. Những vùng tông độ đặc biệt cũng có thể được hiệu chỉnh cục bộ bằng cách sử dụng bản che. Việc chỉnh sửa tầng thứ còn cho phép chúng ta có thể chỉnh sửa theo từng kênh màu. Chẳng hạn như khi tăng tầng thứ màu Cyan, trị số màu Cyan trên toàn bộ hình ảnh sẽ cao hơn. Một vài hình ảnh có thể bị ngã màu do các yếu tố về thời gian bảo quản, lớp thuốc, nguồn sáng hoặc quá trình xử lý không đúng. Điều này có nghĩa là khi tách màu sẽ có một màu thành phần có trị số cao hơn trị số yêu cầu. Việc chỉnh sửa tầng thứ có thể được dùng để loại bỏ hiện tượng ngã màu này.  Chỉnh sửa độ sáng và độ bão hòa (Luminance and Saturation): Ngoài các cách sửa màu như: sửa màu cục bộ, sửa màu toàn cục, chỉnh sửa tầng thứ, chúng ta còn có thể hiệu chỉnh trị số độ sáng và độ bão hòa. Chức năng này sẽ có ảnh hưởng đến các trục tọa độ Lightness và Saturation của hệ màu HSL. Chúng ta có thể thay đổi độ sáng của tất cả các màu hoặc chỉ trong một số màu đã chọn. Việc thay đổi độ sáng sẽ không có ảnh hưởng gì đến cân bằng xám của hình ảnh. Tương tự, chúng ta có thể thay đổi độ bão hòa của tất cả các màu hoặc chỉ trong một số màu đã chọn. b. Màu pha: Trong thực tế của quá trình in ấn, có nhiều trường hợp chúng ta phải sử dụng màu pha thay thế cho 4 màu in chính ( điều này thường được bắt gặp trong các sản phẩm in trên hộp thuốc). Nguyên nhân của việc này là do khả năng tái tạo màu sắc mực in CMYK không bằng khả năng phục chế của hệ màu RGB như đã đề cập ở phía trên.
  • 19.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 18 Hình: Khả năng phục chế của hệ màu RGB( trái ) và CMYK ( phải) Vậy khi nào màu pha được sử dụng? Đó là khi có một số màu sắc nhất định nằm ngoài khả năng phục chế hoặc khó phục chế lại một cách chính xác do sự không tin khiết của mực in. Đặc biệt đối với những màu nằm sát ngoài rìa khả năng phục chế như : màu xanh tím, màu xanh lá mạ, màu đỏ cờ. Thực tế cho thấy có rất nhiều nhà sản xuất đã tiến hành pha mực và chọn màu sắc đặc trưng cho sản phẩm của mình vì khả năng chống giả khá cao. Ví dụ như khi nhắc đến màu xanh thì hang PS đã pha riêng cho họ màu xanh độc quyền và được các nhà in gọi là màu xanh PS, tương tự ta cũng bắt gặp màu đỏ OMO,… Dưới đây là bảng tham khảo về các thành phần màu CMYK cho một số màu đặc biệt. Chú ý rằng màu sắc có thể hơi khác nhau tùy thuộc vào điều kiện in và loại giấy, mực Màu % Cyan % Magenta %Yellow % Black Xanh đậm 100 65-75 10 25 Tím đậm 85 100 10 20 Xanh da trời 60 20-25 0 0 Màu ngọc 60 0 25 0 Xanh lục 100 0 100 0 Vàng chanh 5 15-20 95 0 Màu của vàng 5 15-20 65-75 0 Đỏ cờ 10 100 100 0 Màu cam 5 50 100 0 Đỏ bầm 25 100 80 20 Màu hồng 5 40 5 0 Màu beige 5 5 15 0 Màu da người Châu Á 15 40 55 0 Nâu chocolate 45 65 100 35-40 Màu xám 55 42 42 15 Màu bạc 20 15 14 0
  • 20.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 19 III. Tram hoá và sự phục chế hình ảnh Nhờ có ánh sáng mà con mắt chúng ta tiếp nhận được hình dạng và màu sắc của thế giới tự nhiên. Ánh sáng là các quang tử (photon) lan truyền trong không gian theo dạng sóng, với những bước sóng khác nhau. Chúng tác động tới các vật thể, được các vật thể hấp thụ hoặc phản xạ lại, rồi kích thích vào cơ quan thị giác, trở thành nhũng tín hiệu truyền về bộ não, những tín hiệu ấy được tổng hợp, cho ta cảm giác về màu. Sự cảm nhận màu sắc trong in ấn là sự đánh lừa thị giác khi các hình ảnh in được biến đổi thành các điểm tram có kích thước nhất định ( vừa đủ để cho thị giác của chúng ta bị đánh lừa). Một khái niệm thường được biết đến là độ phân giải. 1. Khái niệm và phân loại: Là độ sắc nét và rõ ràng của hình ảnh. Thường được dùng để diễn tả hình ảnh đó giống cảnh thật hay vật đến mức nào. Độ phân giải đúng của 1 tấm ảnh được xác định bằng thiết bị đầu ra ( web, máy in, các công nghệ in,… ). Mục đích của độ phân giải ảnh là tạo ra hình ảnh giống ảnh thật cho các thiết bị đầu ra. Các loại độ phân giải:  PPI (pixels per inch) Là số điểm pixel thể hiện trong tấm ảnh. Một tấm hình kỹ thuật số gồm các điểm thể hiện trên màn hình. PPI là độ phân giải của màn hình chứ không phải là độ phân giải của ảnh  DPI ( dot per inch ) : là đơn vị dùng đo lường độ phân giải của máy in. Nó là số điểm mực mà máy in có thể dùng để in văn bản hay hình ảnh. Cơ bản thì máy in có DPI càng lớn thì in hình càng rõ và sắc nét hơn  LPI (line per inch) :là 1 đơn vị đo quan trọng liên quan đến cách phục chế hình ảnh. LPI ảnh hưởng bởi thiết bi xuất và loại giấy in 2. Sự khác biệt giữa DPI là LPI: DPI là số dot lớn nhất mà một máy in có thể in được trong 1 inch. Với việc sử dụng hệ nhị phân của máy tính và máy in, các dot này chí có 2 giá trị là in hay không in (hình bên trái).
  • 21.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 20 LPI là số dot tròn – là tập hợp của nhiều dot vuông trong DPI) trong 1 inch (hình bên phải) Do khi in máy chỉ có 2 lựa chọn in hay không in nên máy không thể tạo các vùng màu như màu xám, mà chỉ có thể in màu trắng hay đen. Để có thể giả lập màu, máy in sử dụng các dot tròn với kích thước khác nhau, để khi xếp gần nhau với độ phân giải cao có thể dánh lừa mắt chúng ta cảm nhận là màu xám. Để tạo các dot tròn, máy in sử dụng một tập hợp mô hình các dot vuông (như hình bên trái). Độ phân giải của máy in càng cao thì các dot tạo ra càng tròn hơn. Đơn vị đo độ phân giải của các dot tròn này được gọi là LPI bơi vì mỗi dot tròn đều có một tâm. Và tâm này được đặt cách đều nhau cho dù dot tròn này có kích thước khác nhau (kích thước khác để đạt được mục đích tạo màu xám). Nếu nhìn gần các bức ảnh in trên báo, ta sẽ thấy bức ảnh là tập hợp của các dot với kích thước khác nhau. Một bức ảnh trên báo thường có độ phân giải 85 LPI, có nghĩa là nếu dùng kính lúp, bạn có thể đếm được khoảng 85 dot tròn nhỏ với kích thước khác nhau trên mỗi inch. Và để đạt được độ phân giải sao cho các dot tương đối tròn thì máy in phải có độ phân giải ít nhất là 600 DPI. Một tạp chí bóng láng thường ở vào 150 tới 200 LPI, có nghĩa máy dùng để in cần có độ phân giải ít nhất là 2400 DPI. LPI cũng có góc xoay như DPI. Thường thì màu đen được đặt ở góc xoay 45 để có thể đánh lừa mắt người tốt. Hãy thử xoay một tờ báo 45 độ để các dot nằm thẳng đứng và ban sẽ thấy rõ hơn các dot tròn. Các máy in có thể kiểm soát được LPI là các máy lớn, sản phẩm có qua giai đoạn chế bản và có đặc tính thích hợp. Các máy in phun hay in laser không qua giai đoạn chế bản phù hợp thì dùng các nguyên lý khác để tạo màu. Nói cách khác: các bạn hay nhầm line và dot, line đây không phải là 1 hàng dot, mà line đây chính là một dot trong LPI nhằm phân biệt với dot trong DPI.
  • 22.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 21 Bảng tham khảo LPI của các phương pháp in và vật liệu in CÔNG NGHỆ IN / VẬT LIỆU LPI In lụa 35-65 In lụa trên vải 50 In lụa – bề mặt nhẵn, trơn 85 - 110 In laser/ photocopy ( giấy copy hay giấy mờ ) 50-90 In laser / photocopy ( giấy có tráng phủ ) 75-110 quick printer (uncoated or matte bond paper) 75-110 In flexo ( giấy ko tráng phủ ) Lên đến 133 In flexo ( giấy có tráng phủ hay giấy in nhãn hàng ) 133-150 In flexo các sản phẩm dược ( giấy có tráng phủ ) Tới 175 In offset ( giấy in báo ) 60-85 In ofsset ( giấy không tráng phủ) 85-133 In offset ( giấy có tráng phủ ) 120-150 + In offset ( giấy có tráng phủ và độ bóng ) 150-250 In offset khô ( giấy có tráng phủ và độ bóng ) 200-800 In ống đồng - trên các vật liệu 150-200
  • 23.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 22 Chương III: Dàn trang – Bình trang
  • 24.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 23 I. Các khái niệm cần nhớ: 1. Dàn trang là gì ? Dàn trang còn gọi layout, là bố cục trình bày tài liệu. Nói một cách cho đơn giản là cách sắp xếp các chi tiết, hình ảnh, để ra được những trang sách, báo hoàn chỉnh ( dùng trong in sách) hoặc trên một con in (dùng cho các ấn phẩm nhỏ). Quá trình dàn trang còn được hiểu là quá trình thiết kế file cho một ấn phẩm. Khi dàn trang, có thể sử dụng các phần mềm như Ai, Corel, Id, … Ví dụ: Khi dàn trang, cần phải sắp xếp các hình ảnh nằm ở bị trí nào? Phần text nằm ở đâu, chữ to hay chữ nhỏ , màu gì? Trang in có bao nhiêu cột ? Đánh số trang như thế nào, ở bên trái hay bên phải?..... Hình : Bố trí dàn trang trên một trang in 2. Bình trang ( Imposition) : Bình trang là sự sắp xếp các trang in ( các con in) trên một tờ in lớn nhằm giúp cho quá trình in được diễn ra nhanh hơn, giảm lượng giấy hao phí. Để muốn bình trang cần phải biết một số thông tin như : khổ thành phẩm, khoảng chừa nhíp, khổ giấy in,… Để bình trang cho chính xác cần nắm vững các khái niệm sau: a. In A/B : dùng 2 bộ kẽm cho một tờ in 2 mặt Sheetwise: In mặt A, mặt B trở tay kê. Người bình bản phải tạo hai bản riêng biệt cho mỗi tờ in: bản A (mặt trước), bản B (mặt sau). Sau khi in xong mặt trước, người thợ in phải trở tờ in để in mặt sau theo dạng trở tay kê (cùng cạnh bắt nhíp).
  • 25.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 24 Hình : in A/B trở tay kê Perfector: cũng in mặt A, mặt B nhưng theo dạng trở nhíp. Hình : in A/B trở nhíp b. In A/A ( in tự trở): dùng một bộ kẽm cho cả hai mặt in Work – and – turn ; Cả hai mặt A và B đều được bình và in trên một tờ in. Sau khi in một mặt, tờ in được trở mặt theo kiểu trở tay kê để in mặt kia. Phương pháp này nói chung tiết kiệm thời gian và nguyên vật liệu. Nhược điểm của nó là sau khi in lần 1 phải chời một khoảng thời gian để mực đủ khô để in mặt thứ 2. Hình : in A/A
  • 26.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 25 Work – and – tumble :Một dạng khác của work – and – turn , một dạng khác là in trở nhíp. Phương pháp này cũng có ưu nhược điểm như phương pháp trên, tuy nhiên nó lại tốn giấy nhiều hơn vì phải chừa hai vùng bắt nhíp. c. Flat – work : Là một dạng bình trang cho các sản phẩm riêng biệt và không đồng nhất về kích thước. Hình: bình trang Flat – work II. Các vấn đề trong dàn trang và bình trang 1. Tay kê và nhíp Nhíp là một bộ phận gắp giữ & vận chuyển tờ giấy đi qua máy in trong quá trình in. Thông thường tờ giấy được đưa vào máy theo cạnh dài, nên nhíp sẽ cặp giữ cạnh dài của tờ giấy, nên cạnh dài trên tờ in còn gọi là cạnh nhíp. Khi thiết kế và bình trang người ta có khái niệm chừa nhíp, tức là chừa 1 khoảng giấy dành cho nhíp cặp giữ tờ giấy).
  • 27.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 26 Tay kê là một bộ phận có chức năng định vị tờ in trước khi chuyển vào máy in, nhằm đảm bảo cho hình ảnh in ra trên mọi tờ in luôn có vị trí cố định (nhằm đảm bảo cho các khâu thành phẩm tiếp theo). Hình : vị trí tay kê trên bàn nẹp giấy. Một máy in thường có hai tay kê đầu và hai tay kê hông như hình bên dưới, nhưng trong quá trình in thì ta chỉ sử dụng hai tay kê đầu và một tay kê hông. Giấy sẽ bị kéo về một bên . Hình : vị trí tay kê trên máy in 2. Bình trở nhíp, trở tay kê: a. Trở nhíp: Sau khi in lần thứ nhất, tờ in sẽ được lật lại theo theo trục đối xứng cạnh ngắn( theo chiều muỗi tên để in tiếp mặt thứ hai. Các in này có yêu cầu là phải tính toán chừa nhíp cho cả hai đầu phải như nhau. Để dễ hiểu hơn, hãy xem thêm 2 hình bên dưới.
  • 28.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 27 Hình: in trở nhíp Khi bình trang cho in trở nhíp b. Trở tay kê: Sau khi in lần một, tờ in sẽ được lật mặt lại theo đường trung trực với cạnh dài tờ in ( song song với tay kê). Hình: in trở tay kê 3. Chừa nhíp và bone chồng màu
  • 29.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 28 Khi bình trang, phải tiến hành chừa nhíp bản in. Nhíp bản in là khoảng cách nẹp bản in lên máy, khoảng cách này tuỳ thuộc vào từng máy. Khi khách hàng gửi file sẽ yêu cầu khoảng chừa nhíp. Việc phải chú ý gắn vị trí các bon chồng màu cũng khá quan trọng, bone chồng màu giúp người thợ in thực hiện việc phục chế màu một cách chính xác và dễ dàng. Trên bản in nhiều màu, thường sẽ được gắn bone chồng màu ở 7 vị trí nhất định như trên hình, tuy nhiên đối với một bài in một màu hoặc như khi in hoá đơn một màu thì 4. Chừa xén Chừa xén: là phần sẽ bị xén bỏ khi thành phẩm. Hình minh họa dưới đây cho thấy sản phẩm trước và sau khi xén, để ý thấy rằng có một phần hình ảnh khi thiết kế đã cố ý để tràn ra phía ngoài và sau khi xén đã mất đi. Tai sao phải chừa xén bằng cách thiết kế phần hình ảnh dư ra ngoài như trên? Vì khi thành phẩm sẽ có sai số khi cắt xén, ta không thể nào cắt đúng y bon như thế này Như vậy nguyên tắc khi dàn trang, bình trang là:  Phải nhớ chừa xén  Chi tiết, hình ảnh nào nằm sát mép giấy thì ta cho nó tràn hẳn ra ngoài vùng chừa xén luôn. Hình minh họa dưới đây cho thấy cách chừa xén: khung màu đen là kích thước sau khi xén, hình cây dừa và mảng xanh phía trên đã được tràn ra ngoài.
  • 30.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 29 Chừa xén bao nhiêu là đủ: khi thiết kế ta nên chừa từ từ 3-5mm mỗi bên. Nếu bình trực tiếp trên Corel hay AI thì nên để chính xác ngay từ đầu. Xén một dao hay 2 dao? Khi bình các sản phẩm, ví dụ tờ rơi, nếu giữa 2 con là nền giấy trắng hoặc nền màu như nhau thì lúc này không cần chừa xén giữa 2 con, khi thành phẩm chỉ cần cắt 1 dao ở giữa. Ngược lại nếu là chi tiết hình ảnh từa lưa hết thì cần thiết phải chừa xén giữa 2 con, lúc này khi thành phẩm phải cắt 2 dao nên gọi là chừa xén 2 dao. Có thể bình cắt hai nếu bạn thích, tuy nhiên điều này có nghĩa là bạn phải tốn thời gian nhiều hơn trong công đoạn cắt và chấp nhận những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình cắt.  Chừa xén trong Id: Để bắt đầu một tài liệu với InDesign đúng cách, khi mở hộp thoại New Document (Ctrl+N), ta bấm vào nút More Options và điền các khoảng chừa xén vào phần Bleed. Chú ý rằng nếu tài liệu của ta là dạng 2 mặt - trang đôi (Facing pages) thì các thông số chừa xén gồm: top (phía trên), bottom (phía dưới), inside (chừa phía gáy sách) và outside (chừa phía bụng sách). Nếu là trang đơn 1 mặt thì 2 thông số kia sẽ thành left và right. Sau khi tài liệu được tạo, ta thấy phần chừa xén sẽ được giới hạn bằng khung viền màu đỏ, và khi Export ra file PDF để bình trang, ta cũng chú ý đánh dấu vào mục Bleeds.
  • 31.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 30  Chừa xén trong Corel Để xuất PDF từ Corel và có chừa tràn nền, ta cần set bleed trước bằng cách vào Layout -- > Page Setup và nhập khoảng tràn nền vào phần bleed. Đánh dấu vào Show bleed area để thấy phần chừa xén trên file Khi thiết kế xong, để xuất ra PDF, ta vào File --> Publish to PDF và chọn như sau:  Chừa xén trong Ai:
  • 32.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 31 Vào File --> New hoặc nhấn Ctrl+N, chú ý phần hệ màu chọn hệ màu CMYK Đến đây chúng ta mới đi được 1/2 quãng đường. Phần tiếp theo khi đã thíêt kế xong, chúng ta lưu file sang định dạng PDF và lúc này khi lưu file nhớ đánh dấu check vào mục Bleed như hình: 5. Đánh số trang sách Việc đánh số trang sách là việc khá phức tạp trong công việc chế bản. Để có thể bình trang một cách chính xác, người thợ bình phải gấp giấy để đánh số trang như hình bên. Khi đánh số trang sách cần chú ý tới việc thành phẩm sẽ được tiến hành theo hướng nào:
  • 33.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 32 đóng lồng hay đóng kẹp. Vì mỗi công đoạn thành phẩm này sẽ bắt buộc người thợ bình trang đánh số trang theo những cách khác nhau. Perfect Bound: kiểu gấp đóng kẹp, các tay sách được đính chồng lên nhau. Cho nên khi bình các trang in được sắp sếp một cách liên tục. Saddle Stiched: kiểu gấp đóng lồng, các tay sách được lồng vào nhau. Cho nên các trang in được bình theo cách riêng biệt. Ví dụ: cho sản phẩm 40 trang, phân ra được 2 tay sách 16 trang, và một tay sách 8 trang bình theo tay sách 16 trang in tự trở. Hình : bình theo kiểu đóng kẹp (bên trái) và bình tay sách theo kiểu đóng lồng (bên phải)
  • 34.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 33 Chương IV: RIP
  • 35.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 34 I. Ngôn ngữ PostScript: Postscript là ngôn ngữ mô tả trang. Nó được hãng Adobe giới thiệu vào năm 1985 và xuất hiện lần đầu tiên trong driver Apple LaserWriter. Postscript được thiết kế một cách đặc biệt để mô tả thông tin một trang tài liệu từ một hệ thống máy tính đến một thiết bị xuất. Nó cũng là một ngôn ngữ lập trình, nhưng không như những ngôn ngữ lập trình khác như Pascal, basic..., Postscript được sử dụng để chỉ thị, hướng dẫn một thiết bị xuất phải đặt các điểm (dot) tạo thành văn bản và hình ảnh trong một trang như thế nào. Đây là ngôn ngữ mô tả mức độ cao, bởi vì nó mô tả các trang như là một nhóm các đối tượng đồ họa nhiều hơn là mô tả chi tiết của chúng. Postscript là một chương trình biên dịch độc lập với thiết bị. Trình biên dịch này sẽ chuyển các dữ liệu sang mã thiết bị đặc biệt và điều khiển thiết bị xuất để tạo các hình ảnh đồ họa đã được mô tả trong trang. Trình biên dịch sẽ xử lý từng phần tử một, xử lý xong phần tử này mới chuyển sang xử lý phần tử kế tiếp. Một trong những thuận lợi của ngôn ngữ Postscript là không phụ thuộc vào thiết bị. Điều này có nghĩa là một trang tài liệu Postscript có thể được in trên mọi máy in Postscript hoặc máy ghi phim, ghi bản mà không hề thay đổi và đạt được chất lượng, độ phân giải tối đa. Postscript nguyên thủy (Postscript level 1) có một số giới hạn về khả năng phục chế hình ảnh chất lượng cao và tốc độ của thiết bị rất chậm khi phục chế hình ảnh có màu sắc phức tạp. Năm 1990, Adobe giới thiệu Postscript level 2 hỗ trợ không gian màu CIE 1931 (XYZ) không phụ thuộc thiết bị,, có tốc độ làm việc nhanh hơn, thể hiện được tần số tram cao hơn. Và gần đây nhất, Adobe công bố Postscript level 3 với tính năng in nhanh hơn, dễ hơn và chất lượng cao hơn nữa, tô chuyển rất trơn (không bị hiện tượng sọc), chấp nhận các file PDF (Portable Document Format), tăng cường khả năng làm việc với những file phức tạp... Postscript vừa là ngôn ngữ lập trình, vừa là ngôn ngữ mô tả trang nên nó có những đặc tính đặc biệt sau:  Biên dịch  Độc lập với thiết bị  Trình đồ họa mạnh mẽ  Mô tả trang 1. Biên dịch: Postscript là một ngôn ngữ biên dịch giống như Basic hay APL. Nó điều khiển các thiết bị xuất (máy in laser, máy sắp chữ (typesetter hay các thiết bị khác). Nó cho phép xác định nhiều yêu cầu của chương trình như các lệnh thực thi, trạng thái hiện thời của việc xuất và thiết bị xuất. Nó cũng cho phép xác định lỗi trong quá trình xuất làm cho việc gỡ rối sẽ dễ dàng và chính xác hơn.
  • 36.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 35 Tuy nhiên, trong thực tế trình biên dịch cũng là một chương trình, vì vậy nó có thể bị ảnh hưởng bởi phần mềm đang được thực thi. Điều này sẽ làm chậm tốc độ biên dịch. Ngôn ngữ biên dịch tự bản thân nó không bắt buộc phải có một cấu trúc đặc biệt nào. Do vậy, Postscript cũng không đặt ra một yêu cầu cấu trúc trong việc mô tả tài liệu. Đây có thể là một điểm yếu của nó, nếu như người lập trình không tạo ra một cấu trúc mạch lạc. Postscript có thể phản hồi thông tin cho người lập trình hoặc các ứng dụng Postscript. Các thông tin phản hồi này là các trị số thông thường xác định trạng thái hiện thời của môi trường thực thi. Chẳng hạn, các font đặc biệt đang được nạp và có sẵn. 2. Độc lập với thiết bị: Một trong những đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ Postscript là độc lập với thiết bị. Nói chung, ngôn ngữ Postscript được thiết kế phù hợp với các thiết bị xuất tạo tram (raster-output devices). Việc điều chỉnh và chuyển các lệnh của ngôn ngữ Postscript theo yêu cầu của thiết bị là vấn đề của trình biên dịch, tuy nhiên nó phải bảo đảm cấu trúc của trang hay hình ảnh phải độc lập với thiết bị, điều này ngôn ngữ Postscript có thể làm rất tốt. Có hai tiện ích cho người lập trình ngôn ngữ Postscript. Thứ nhất, bạn có thể lưu giữ các yêu cầu đặc biệt của thiết bị xuất. Thứ hai, một trang được mô tả bằng ngôn ngữ Postscript có thể in thử trên một thiết bị và xuất ra một thiết bị khác mà không cần phải hiệu chỉnh lại các lệnh. Đây thực sự là các tiện ích rất cần thiết cho công việc "DesktopPublishing" trong chế bản hiện đại. 3. Trình đồ hoạ mạnh mẽ: Postscript được thiết kế một cách đặc biệt cho việc tạo những đối tượng đồ họa trên các thiết bị xuất tạo tram (raster-output devices). Postscript cung cấp một số tính năng rất mạnh mẽ như: thu phóng, xoay... Postscript cho phép liên kết các text và hình ảnh một cách rất dễ dàng và tự nhiên, điều mà các ngôn ngữ khác hay thực hiện bằng cơ khí sẽ rất khó khăn. Thực ra bên trong ngôn ngữ Postscript các ký tự cũng được xem như là các đối tượng đồ họa, chính vì vậy chúng có thể được định vị, thu phóng hoặc xoay theo yêu cầu. 4. Mô tả trang: Cuối cùng Postscript là một ngôn ngữ mô tả trang. Trang là một đơn vị tất yếu của việc xuất trên một thiết bị xuất tạo tram. Postscript ghi nhận khái niệm trang một cách đơn giản như là một không gian hai chiều. Hình ảnh được "xây dựng" trên trang bằng cách "tô" ("paint") trên vùng chọn. Việc tô ở trên trang có thể ở dưới dạng các ký tự, đường kẻ, mẫu tô hay hình ảnh chuyển tông. Việc tô có thể là màu, đen, trắng hay bất cứ mức độ xám nào. Một thiết bị xuất tạo tram chuẩn bị một số yếu tố cần thiết cho việc xuất một trang bằng cách thiết lập mỗi một điểm trên trang bằng một trị số chính xác. Cho việc xuất đen trắng, các điểm này hay còn gọi là các pixel sẽ có giá trị hoặc là 0 hoặc là 1 đại diện cho điểm đó là điểm trắng hay là điểm đen. Do
  • 37.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 36 vậy, việc mô tả trang là một biểu đồ đầy đủ về các trị số cho toàn bộ bề mặt - thông thường là toàn trang - tuy nhiên, đôi khi có thể ít hơn do giới hạn về phần cứng. II. RIP : 1. RIP là gì ? Trong chế bản hiện đại, RIP là một quá trình xử lý chuyển đổi thông tin kỹ thuật số, chẳng hạn như chuyển một file postscript thành một hình ảnh tram có độ phân giải cao. Nghĩa là RIP lấy các thông tin kỹ thuật số như font và các đối tượng đồ họa, phiên dịch nó thành một hình ảnh được xây dựng dựa trên các điểm riêng biệt mà các thiết bị ghi có thể xuất được. Một cách đơn giản có thể hiểu RIP như là một người phiên dịch giữa người sử dụng và các thiết bị ghi. Người sử dụng gởi đến nó các hướng dẫn trong ngôn ngữ của các chương trình chế bản và RIP sẽ phiên dịch các hướng dẫn đó sang ngôn ngữ máy. Nếu ngôn ngữ từ các chương trình chế bản quá phức tạp hoặc RIP không hiểu các hướng dẫn, nó sẽ không thực hiện việc ripping. RIP có thể là một chương trình cơ bản (firmware), một phần cứng (hardware) hoặc một phần mềm (software). Các RIP dạng chương trình cơ bản thường gắn liền với thiết bị, chẳng hạn như các RIP postscript gắn liền với các máy in để bàn. RIP dạng phần cứng thường là dạng linh kiện điện tử để xử lý các file kỹ thuật số. Thông thường dạng này làm việc với một dạng thiết bị xác định như máy ghi phim chẳng hạn. Các RIP dạng phần mềm là các chương trình độc lập có thể làm việc với nhiều loại thiết bị khác nhau. Các RIP mềm có thể bao gồm một số chức năng phụ thêm như quản trị màu, trapping, preflight… 2. Các chức năng của RIP: RIP có các chức năng chính như: chức năng tách màu, tạo tram, trapping, chức năng kiểm tra file trước khi ripping (preflight), chức năng quản lý màu (color management)... Cùng với sự tiến triển của các hệ thống CTP và quá trình số hóa trong máy tính, RIP/Server trở nên rất quan trọng và hơn bao giờ hết, là một trong những nhân tố quyết định của quá trình ghi. Dưới đây là một số chức năng quan trọng của RIP. a. Tram hoá ( Screening): Đây là chức năng quan trọng nhất của RIP. Ngoài 3 chức năng tạo tram nêu dưới đây RIP còn có thể có các chức năng tùy chọn khi mua RIP để tạo các loại tram đặc biệt khác như: như tram cho in ống đồng, tram cho in flexo hay tram FM (Frequency Modilated - tram biến tần)...  Tram RT (Rational Tagent): Tram hữu tỷ Đây là loại tram PostScript được áp dụng cho thế hệ RIP 1 của Linotype-Hell và sau đó là các nhà sản xuất RIP khác. Hạt tram được tạo bởi nhiều tia laser nhỏ có mật độ như nhau (kích
  • 38.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 37 thước của các điểm được tia laser chiếu lên phim là như nhau). Bộ phận xử lý sẽ coi khu vực trên phim sắp được ghi (imaging area) là một mạng lưới tưởng tượng (Grid) bao gồm rất nhiều ô vuông đều nhau tạo bởi các đường thẳng đứng và các đường cắt ngang vuông góc với nó. Tại mỗi giao điểm của hai đường cắt nhau này là một vị trí có địa chỉ rõ ràng được RIP quản lý và nó sẽ tính toán để các tia laser ghi hay không ghi vào từng địa chỉ trên mạng lưới này để tạo nên các hạt tram. Tram RT chỉ tạo được góc lệch tram chính xác ở 00 và 450 mà thôi, trong khi tách màu góc tram của các màu phải lệch nhau một góc 300 để tránh hiện tượng moiré. Các góc 00 , 150 , 450 và 750 thường hay được sử dụng cho 4 màu tách. Tram RT không thể định nghĩa chính xác góc 150 và 750 vì tan của hai góc này không phải là một số hữu tỉ. Gần đây, do sự phát triển tột bậc của công nghệ xử lý trong máy tính, tram hữu tỷ đã lấy được chất lượng cao nhất của nó tuy thời gian xử lý là một vấn đề rất cần được khắc phục.  Tram Supercell (HQS): Tram HQS (High Quality Screening) là loại tram chất lượng cao, tạo được những góc lệch chính xác hơn tram RT nhất là các góc 150 và 750 , giảm hẳn hiện tượng Moiré khi tách màu. Kỹ thuật này chấp nhận hạt tram to ra để vấn đề về góc độ được khắc phục tốt nhất, tính toán chính xác theo quy định của mạng lưới Grid, coi hạt tram như là một “supercell” và chia nhỏ hạt tram này thành nhiều hạt tram nhỏ hơn và tia laser sẽ tạo nên những hạt tram nhỏ này chứ không tạo ngay những hạt tram lớn, do đó mật độ tram tương đối mịn, in được ảnh có chất lượng cao. Một nhược điểm của tram Super cell là yêu cầu tốc độ tính toán phải nhanh hơn tram RT vì kích thước mạng lưới lớn hơn. Tuy nhiên với khả năng xử lý tốc độ cao của các RIP ngày nay thì đây không còn là một vấn đề nữa.  Tram FM Khác với kỹ thuật tram truyền thống, còn gọi là phương pháp điều chỉnh biên độ (Amplitude Modulated: AM) mô tả sự chuyển tông bằng các điểm có khoảng cách bằng nhau nhưng có độ lớn điểm thì thay đổi. Kỹ thuật tram rải theo tần suất (biến thiên bất định), tần số thay đổi, biên độ không đổi, hạt tram luôn bằng nhau nhưng nằm ở nhiều vị trí khác nhau, tạo
  • 39.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 38 cho hình ảnh phục chế thật hơn vì mắt người không còn phân biệt được hạt tram nữa do các hạt tram không có khoảng cách. Đặc biệt, không cần xoay góc các bản tách màu vì khi các hạt tram được phun rải rác sẽ chồng khít và liên tục với nhau. Hiện nay với tram thế hệ thứ hai khắc phục một số nhược điểm của thế hệ thứ nhất, chúng đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như in các ấn phẩm cao cấp và in các loại báo chí. Hình : Sự khác biệt giữa tram FM và tram AM  Một số lợi ích của việc sử dụng tram FM:  Không có khái niệm tần số tram, góc xoay tram hay hình dáng tram.  Không có hiện tượng moiré.  Không có sự cân đối giữa mức độ xám và độ phân giải.  Có sự chuyển tông mịn màng.  Có thể quét ảnh ở độ phân giải thấp nhưng ghi phim ở độ phân giải cao.  Giảm thiểu công việc tạo bản che không nét.  Ít vấn đề với vùng tối hơn.  Mật độ mực in lớn hơn.  Những khó khăn khi sử dụng tram FM:  Việc định chuẩn (calibrate) trên RIP sẽ phức tạp hơn do phải tính toán hiện tượng dot gain.  RIP phải có tốc độ tính toán nhanh hơn.  Bản kẽm (trường hợp cho máy ghi bản) phải có độ phân giải tốt hơn.  Yêu cầu độ ép cao su (khi in) phải giảm thiểu hiện tượng dot gain (hiện tượng tăng tầng thứ khi in).  Tram Hybrid ( Hybrid Screening)
  • 40.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 39 Kỹ thuật tram Hybrid đã cố gắng liên kết các tiện ích của tram AM và tram FM với ưu điểm chất lượng cao và năng suất cao của công nghệ CTP.  Phương pháp thứ nhất: Phương pháp thứ nhất phân chia hình ảnh thành nhiều phần, sử dụng tram FM trong những vùng có nhiều chi tiết và tram AM tại những vùng tông tram để tránh hiện tượng hạt. Giải pháp này có nhược điểm là vùng giao nhau giữa tram AM và tram FM trở nên có thể quan sát được bằng mắt thường làm cho hình ảnh trở nên giả tạo.  Phương pháp thứ hai Ở đây tram AM được sử dụng ở vùng trung gian (midletone), tram FM được sử dụng ở vùng sáng (highlight) và vùng tối (shadow). Với phương pháp này, tram AM sẽ cung cấp một nền tông mềm mại và do nó được sử dụng tram với tần số cao nên hình ảnh sẽ được giữ lại nhiều chi tiết nhất. Tram FM sẽ bảo đảm các điểm sẽ không nhỏ hơn kích thước mà máy ghi bản và máy in có thể phục chế được. Để ngăn ngừa hiện tượng hạt, số lượng các điểm sẽ được giảm thiểu. Nhưng ở đây, một lần nữa vùng giao nhau giữa tram AM và tram FM rất dễ phân biệt.  Phương pháp thứ ba Phương pháp thứ ba sắp xếp tram AM theo phương pháp tram FM. Điều này giúp thể hiện chi tiết tốt cho những tần số tram trung bình. Tuy nhiên nó không vượt qua được nhược điểm cố hữu của tram FM là xuất hiện hiện tượng hạt ở vùng tông trung gian và vùng tông tram đều tông (flat tint).  Tram XM ( XM Screening): Cũng giống như tram Hybrid phương pháp thứ ba, tram XM đã áp dụng kỹ thuật tram FM ở vùng sáng (highlight) và vùng tối (shadow), nhưng nó sử dụng một kỹ thuật làm mịn vùng chuyển từ dạng tram FM sang AM (từ vùng sáng sang vùng trung gian) và từ tram AM sang tram FM (từ vùng trung gian sang vùng tối). Nó tính toán sự thay đổi chính xác vị trí nơi mà tram AM sẽ không còn ưu điểm nữa, chẳng hạn điểm tram AM trở nên nhỏ hơn ở vùng sáng cho đến khi kích thước điểm đạt kích thước nhỏ nhất mà máy in có thể phục chế được, từ điểm đó, các điểm sẽ được rút bớt tùy theo tông yêu cầu Hình : Sự sắp sếp ngẫu nhiên theo góc xoay tram của tram XM
  • 41.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 40 Tram ở vùng sáng và vùng tối trông giống như tram FM, tuy nhiên thực sự nó không hẵn là như vậy. Mặc dù vùng tram FM sử dụng những điểm nhỏ được điều khiển theo dạng FM, nhưng chúng vẫn được sắp xếp theo góc xoay tram như là một sự tiếp diễn của góc xoay tram AM ở vùng trung gian. Đó cũng là lý do tại sao chúng được gọi là tram XM hay là tram Cross Modulated.  Hiệu quả tram XM:  Tần số tram cao nhưng chỉ cần đô phân giải thấp.  Tram XM liên kết những đặc tính tốt nhất của cả hai loại tram AM và FM đã làm tăng khả năng ổn định của nó trên máy in.  Những chi tiết tốt nhất và những đối tượng khó nhất cũng dễ dàng thể hiện cùng với tram XM. Tram XM cũng giúp cho người thợ in duy trì cân bằng xám ổn định dưới sự dao động của nhiệt độ và tốc độ trong suốt quá trình in với một thời gian dài.  Không trông rõ lưới tram, hình ảnh trông giống như hình photo.  Các đường nét trong rõ và sắc nét, thậm chí đó là các đường mảnh.  Trông không có độ hạt.  Các tông màu được thể hiện mịn màng với độ chính xác cao.  Sử dụng đa dạng các loại máy in với tần số tram cao, từ các loại giấy cao cấp đến các loại giấy cấp thấp như giấy báo chẳng hạn.  Các nguyên tắc để tránh morie’:  Cố gắng tách mỗi màu với các góc lệch nhau 300  Nếu không thể được, chọn góc lệch nhỏ nhất là 150  Đặt các góc tram cho các màu như sau: C: 150 , Bk: 450 , M: 750 và Y: 00  Đổi góc tram cho màu Bk là 750 và M là 450 nếu hình ảnh cónhiều màu sinh động (điều này để tránh xung đột giữa màu M và Y)  Đổi góc tram cho màu Bk là 150 và C là 450 nếu hình ảnh có tông xanh lục trội hơn (điều này để tránh xung đột giữa màu C và Y)  Nếu chỉ in có ba màu hoặc nếu màu đen không nhiều đổi góc tram màu Y là 450 b. Trapping:
  • 42.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 41 Trap là sự chồng lấn nhỏ (overlap) giữa hai vùng màu nhằm tránh hiện tượng lé trắng gây mất chất lượng cho một tờ in. Để tạo trapping theo phương pháp truyền thống có thể sử dụng thời gian chụp, ép phim lâu hơn hoặc một số kỹ thuật mở rộng (enlarge) hay thu nhỏ (reduce) vùng màu để tạo vùng chồng lấn cần thiết. Ngày nay, các phần mềm dàn trang (page layout), bình bản (imposition), RIP đều có chức năng trapping tự động. Thậm chí có một số hãng cung cấp những phần mềm chuyên về giải pháp trapping chẳng hạn như DK&A.  Trapping bằng tay: Người thiết kế có thể tạo trap trên một phần mềm đồ họa như Illustrator hay Freehand bằng cách xác định thêm đường kẻ (stroke) in đè lên vùng màu kế cận. Mặc dù cách này dễ làm, nhưng nó có một số nhược điểm sau:  Trapping bằng tay mất nhiều thời gian. Người thiết kế phải tạo những phần tử đồ họa riêng biệt với thuộc tính và đường viền khác nhau để thiết lập trap.  Trapping bằng tay đòi hỏi người thiết kế phải biết được phần trăm thu phóng hình đồ họa đó. Chẳng hạn một đối tượng trapping với độ lớn là 0.5pt, nếu khi đặt vào chương trình dàn trang, đối tượng thu nhỏ chỉ còn 50% thì độ lớn trapping chỉ còn 0.25pt, như vậy độ lớn trap có thể không đạt yêu cầu.  Người thiết kế phải tạo trap dựa trên tầng số tram, phương pháp in, thiết bị in... sẽ sử dụng cho công việc. Chẳng hạn một đối tượng trap với độ lớn 0.5pt cho phương pháp in offset ở tầng số tram 150lpi, thì cũng độ lớn này chúng ta có thể áp dụng khi in bằng phương pháp in flexo ở mật độ tram 85lpi.  Trapping bằng các chương trình ứng dụng Phương pháp này sử dụng việc trapping tự động của các phần mềm dàn trang như QuarkXpress hay Pagemaker. Phương pháp này tiện lợi nhưng cũng có một số nhược điểm sau:  Đòi hỏi người sử dụng phải rất am hiểu về phần mềm dàn trang đang sử dụng, đặc biệt là các lệnh về trap, nếu không việc trap có thể làm cho kết quả trở nên tồi tệ hơn. Chẳng hạn cấu hình về trap của Quark gồm ba mức độ (Automatic, Color-specific, Object-specific) mà nhiều người sử dụng không am hiểu lắm.  Cấu hình về trapping của các chương trình ứng dụng dàn trang chỉ dành cho các đối tượng tạo trong chương trình dàn trang, không có ảnh hưởng đối với các đối tượng nhập từ các phần mềm khác.  Sử dụng các phần mềm trapping: Chúng ta có thể sử dụng các phần mềm trapping như Luminous TrapWise, DK&A và Ultimate TrapEze để tạo trap cho các file EPS sau khi chúng được tạo bởi một chương trình ứng
  • 43.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 42 dụng nào đó và trước khi nó được Rip. Phương pháp này có ưu điểm là nó có thể thực hiện việc trapping một đối tượng phức hợp. Tuy nhiên, việc sử dụng phần mềm trapping đòi hỏi một công đoạn riêng biệt trên máy và thậm chí phải sử dụng một máy tính khác.  Sử dụng ứng dụng trapping trên RIP: Một số phần mềm như Scitex Full Auto-Frame và RAMPAGE thực hiện việc trapping ngay trên RIP. Thường chúng là những phần mềm rất mạnh mẽ nhưng khá đắt tiền, tuy nhiên nó sẽ rất hữu dụng khi chúng ta sử dụng công nghệ Computer to Plate. Giải pháp trapping của Scitex, Full Auto Frames (FAF), trapping điểm trên các RIP postscript level 2. FAF chuẩn hóa những sắc màu thích hợp khi trapping giữa những cặp màu với nhau, khác với việc trapping giữa các đối tượng lân cận. FAF sẽ tự động trapping theo những thiết lập về tram trong file, kỹ thuật này sẽ làm giảm tốc độ của RIP từ 15-30% nhưng kiểm soát được các thông số trapping đồng nhất. Giải pháp RAMPAGE: trapping hướng đối tượng, trapping theo các thông số xác lập riêng trên từng cặp đối tượng, từng thành phần cần được trapping trong một file. Sau đó sẽ thu hẹp (chokes) hay mở rộng (spread) những thành phần này trong quá trình tạo tram đồng thời tạo ra trapping. Kiểu trapping này không ảnh hưởng đến tốc độ của RIP nhưng các thông số trapping không đồng nhất với nhau rất khó kiểm soát. III. Phòng tránh các lỗi khi RIP Có nhiều lý do gây ra lỗi trong quá trình ripping. Kích thước file lớn có thể làm chậm quá trình xử lý. Bộ nhớ không đủ, font và các phần tử đồ họa bị lỗi, lỗi mã postscript và các dữ liệu không đúng khác đều có thể là các nguyên nhân gây nên lỗi trong quá trình rip. Một sự xung khắc của các chương trình ứng dụng và phần cứng hoặc phần mềm RIP cũng có thể gây lỗi.  Để tránh các lỗi trước khi chúng xảy ra:  Giữ kích thước file hợp lý. Nên cắt cúp bớt phần hình ảnh không sử dụng ngay trong các phần mềm đồ họa hay xử lý ảnh hơn là trong các phần mềm dàn trang (bởi vì việc cắt cúp trong phần mềm dàn trang chỉ có tính chất hiển thị, thực chất file vẫn còn kích thước nguyên vẹn).  Nên đơn giản hóa tài liệu, tránh các đối tượng quá phức tạp như quá nhiều tram chuyển, blend với bước chuyển quá lớn, nhiều đối tượng nằm chồng lên nhau...  Không sử dụng font Type 1 chung với font TrueType.  Nếu sử dụng font TrueType, hãy chắc chắn rằng các font đó có bản quyền. Một số bộ font TrueType cũ không thể tram hóa khi ripping.  Nên sử dụng các công cụ preflight để kiểm tra các lỗi có thể xảy ra trong quá trình ripping.
  • 44.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 43  Để gởi file postscript cho việc ripping, nên sử dụng các máy in postscript để nhận được sự hỗ trợ tốt nhất.  Để tạo file PDF cho in chất lượng cao, nên sử dụng Distiller hơn là dùng PDF Writer.  Phải biết chắc chắn rằng RIP sẽ tương thích với ngôn ngữ postscript cấp độ mấy. Nếu file PDF hoặc file Postscript có cấp độ không tương thích có thể gây lỗi (chẳng hạn như một RIP postscript cấp độ 2 sẽ không tách màu đúng file EPS duotone).  Để giải quyết các nguyên nhân gây lỗi khi ripping, nên chú ý một số vấn đề sau:  Nếu bạn nhận được một lỗi postscript, hãy xem lời nhắn và bấm chọn dòng lệnh Solving Postscript Errors (nếu có) để xem hướng dẫn cách giải quyết vấn đề. Sửa lỗi theo hướng dẫn và thử in lại.  Font thường hay là thủ phạm gây ra các lỗi, do đó trong trường hợp xảy ra lỗi hãy nên nghĩ đến chúng trước tiên. Để tìm ra font gây lỗi hoặc để xác định chắc chắn rằng font chính là thủ phạm,  bạn nên thử thay thế các font lạ bằng các font quen thuộc (mà bạn chắc chắn rằng chúng không gây lỗi). Sau đó hãy thử in lại, nếu vấn đề được giải quyết, thì cách tốt nhất là bạn nên thay thế font đó bằng một font khác hoặc nếu muốn giữ hình dạng font đó thì hãy curve chúng thành dạng vector.  Khởi động lại máy tính và thử in lại lần nữa.  Thử in với một máy in postscript khác. Nếu xảy ra lỗi tương tự, file tự bản thân nó có chứa lỗi chứ không phải RIP hoặc máy in. Nếu lỗi tương tự không xảy ra, vấn đề là file có thể bị lỗi, nhưng RIP và máy in cũng có thể là thủ phạm.  Thử in chỉ một hoặc hai trang. Một file in quá lớn cũng có thể gây nên lỗi. Khi bạn gặp vấn đề chỉ cho một trang, rõ ràng là bạn sẽ dễ dàng dò tìm ra lỗi hơn bằng cách bỏ từng nhóm đối tượng rồi thử in lại cho đến khi lỗi không còn xảy ra nữa, đối tượng mới vừa bỏ chắc chắn là đối tượng gây nên lỗi.  Một vài chương trình đồ họa cho phép tạo ra các hiệu ứng rất phức tạp như tram chuyển, transparency và blends rất hay gây lỗi khi ripping. Nếu phải cần sử dụng những hiệu ứng này, nên chuyển chúng thành dạng bitmap trước khi sử dụng.  Dùng Distiller để chuyển file Postscript thành file PDF xem chúng có báo lỗi tương tự.  Mở file bằng phiên bản (version) khác, lưu lại và thử in lại.  Mở file đồ họa trong chương trình gốc, lưu nó lại với một định dạng khác, sau đó đặt vào bản copy của tài liệu rồi thử in lại.
  • 45.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 44 Chương V: Công nghệ ghi kẽm nhiệt
  • 46.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 45 Hệ thống ghi bản đầu tiên là Lasergraph đã giới thiệu vào năm 1974 từ trước khi máy ghi phim ra đời. Nó sử dụng 2 nguồn laser năng lượng cao để đốt cháy các phần tử không in của bản plastic & tạo ra bản in typo. Vào năm 1984 máy ghi bản flatbed đầu tiên được giới thiệu. Bản Polyester đã xuất hiện vào giữa thập niên 1980. Đến cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 các sản phẩm thương mại của máy ghi bản được tung ra thị trường sau hơn chục năm nghiên cứu, tuy nhiên loại bản sử dụng cũng chỉ là bản photopolymer với độ bền bản và chất lượng thấp. Chính vì khó khăn này mà tuy ra đời trước máy ghi phim nhưng máy ghi bản trong giai đoạn này đã không phát triển được do không được thị trường chấp nhận rộng rải. Khoảng giữa thập niên 1990, bản nhiệt (thermal) và các máy ghi bản nhiệt bắt đầu xuất hiện và đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ghi bản do ưu điểm vượt trội về độ bền bản (từ 200 - 300 ngàn lượt in / bản kẽm, nếu có nung độ bền bản có thể lên đến cả triệu lượt in). Các bản nhiệt là bản nhạy với ánh sáng hồng ngoại. Ban đầu người ta sử dụng nguồn tia hồng ngoại của laser khí có bước sóng 1064nm, nhưng do laser khí có độ bền không cao nên sau khi laser ở thể rắn được phát minh, các nhà sản xuất đã nhanh chóng sử dụng chúng trong công nghệ ghi kẽm nhiệt với bước sóng 840nm. Độ bền của nguồn laser thể rắn cao hơn laser ở thể khí, đạt được từ 2 đến 4 năm. Năm 1995, basysPrint - một hãng nhỏ của Đức - giới thiệu phát minh của mình - máy ghi bản trên các loại kẽm PS truyền thống và cũng nhanh chóng đạt được sự hoàn thiện để cạnh tranh trong thị trường máy ghi bản nhờ ưu thế về giá kẽm rẻ. Vào năm 1997, Purup-Eskofot cũng là một tên tuổi lớn trong lĩnh vực sản xuất các thiết bị chế bản cũng đã giới thiệu máy ghi bản trên loại kẽm truyền thống sử dụng nguồn tia laser Ion-Argon có bước sóng 351 nm (tức là ở vùng ánh sáng tia cực tím), khác với các máy ghi của basysPrint sử dụng ánh sáng tia cực tím từ sự phát sáng của thủy ngân. Tuy nhiên, do một số khó khăn về kỹ thuật và tốc độ nên đời máy này đã không được phát triển. Những năm đầu của thập niên 2000, công nghệ ghi bản chứng kiến sự ra đời của một kỹ thuật mới là công nghệ ghi kẽm Violet, sử dụng ánh sáng tím ở vùng ánh sáng khả kiến có bước sóng 405nm. Loại bản Violet cũng có ưu điểm như kẽm nhiệt là độ bền bản cao, nhưng cả hai loại bản này khá đắt tiền cho nên đây cũng là điều cần cân nhắc cho các xí nghiệp in có tiềm lực kinh tế yếu. Hiện nay cả ba công nghệ này vẫn đang được phát triển song song với nhau vì mỗi loại đều có ưu nhược điểm riêng của nó, trong đó công nghệ ghi bản nhiệt chiếm thị phần cao nhất, kế đến là công nghệ ghi bản violet và công nghệ ghi bản truyền thống (bản PS). Đến nay công nghệ ghi kẽm nhiệt cũng đã xuất hiện loại kẽm không cần xử lý quá trình hiện, loại kẽm sẽ có ưu điểm là không cần máy hiện, không cần hóa chất để hiện và như vậy cũng tránh cho việc làm ô nhiễm môi trường. Không chỉ phong phú về chủng loại, các máy ghi bản ngày nay còn phong phú về khả năng ghi trên các loại khổ kẽm, các loại bản kẽm khác nhau như các máy ghi khổ 4up, 8up, hoặc các khổ cực lớn, cũng có các loại máy ghi bản cho in offset, in flexo và in ống đồng. CTP ngày nay đã mở ra một sự phát triển mới trong công việc chế bản và ngày càng trở nên thông dụng hơn. Công nghệ ghi bản đã giúp cho một số khó khăn trước đó được giải quyết như việc hoàn thiện chu trình làm việc kỹ thuật số, in thử màu... Đến nay đã có hơn 25.000 hệ thống CTP được lắp đặt trên thế giới và đang duy trì tỉ lệ tăng trưởng trung bình khoảng 20% mỗi năm.
  • 47.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 46 I. Các kiểu máy ghi: 1. Máy ghi dạng trống nội: Với kỹ thuật ghi dạng trống nội, vật liệu được gắn ở bên trong lòng ống. Vòng ghi tối đa cho máy ghi phim có thể lên đến 270o (máy magnum của Purup-Eskofot) Trong khi hầu hết các máy ghi bản vùng ghi tối đa là 180o (Agfa sử dụng 193o cho máy New Galileo). Gương xoay đa giác (polygon mirror): Một gương phản xạ xoay với tốc độ cao trên đệm chân không, nguồn phát laser chỉ có một tia duy nhất (single beam). Gương phản xạ di chuyển dọc theo trục ống với bước tăng bằng chiều rộng một đường quét. Gương luôn luôn phản xạ ánh sáng laser chiếu đến nó với một góc bằng 900 lên vật liệu nhạy sáng, vật liệu này được cố định và ép sát vào bề mặt trong của drum nhờ hệ thống hút hơi. Tia laser sẽ được xác định chính xác tiêu cự lên bề mặt vật liệu và ghi một điểm với kích thước spot theo yêu cầu. Kích thước spot này sẽ thay đổi tùy theo độ phân giải. Khoảng cách giữa bề mặt vật liệu và gương xoay là một hằng số điều này sẽ bảo đảm kích thước spot cũng như tiêu cự sẽ là như nhau trên toàn bộ bề mặt bản mà không cần một hệ thống quang học đặc biệt. Hình: máy ghi dạng trống nội Hệ thống đục lỗ định vị (punching): Các máy ghi dạng trống nội đều có hệ thống đục lỗ lên vật liệu khi vật liệu đã được nạp vào ống và được đục hoặc theo chiều dọc (front edge) hoặc theo chiều ngang (side) của vật liệu. Hiệu quả: Đứng về một góc độ nào đó, hiệu suất làm việc của máy ghi dạng trống nội thấp hơn máy ghi dạng phẳng vì chỉ có một phần tia sáng được chiếu lên bề mặt vật liệu ghi. Chẳng hạn, nếu vật liệu chỉ chiếm 1/2 lòng ống (180o) thì chỉ có 50% ánh sáng phản xạ từ gương xoay chiếu lên vật liệu còn 50% thì phản xạ ra ngoài. Trong các máy ghi phim sử dụng góc ghi lớn hơn, như là 2700 sẽ có ít thời gian chết hơn và do vậy hiệu suất sẽ lớn hơn. Tốc độ của máy ghi dạng trống nội tùy thuộc vào tốc độ gương xoay và tốc độ RIP. Hiện nay tốc độ của gương xoay có thể đạt đến 48.000 vòng/phút (đối với máy ghi phim). Tốc độ của
  • 48.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 47 gương xoay ở máy ghi bản thấp hơn (khoảng 24.000 vòng/phút) do giới hạn về thời gian làm khô cứng màng cảm quang trên bản. 2. Máy ghi dạng trống ngoại: Ở dạng trống ngoại, vật liệu được gắn trên bề mặt ngoài của ống. Đầu ghi được di chuyển song song với trục ống và có thể có một hay nhiều tia laser. Các tia laser được chiếu vuông góc lên bề mặt vật liệu. Khoảng cách giữa đầu tia đến mặt vật liệu rất ngắn và luôn luôn là hằng số. Để bảo đảm điều này, các máy dạng trống ngoại thường có hệ thống chống rung ống khi quay. Hình : máy ghi dạng trống ngoại Đầu ghi nhiều tia (multiple beams): Để nâng cao tốc độ ghi ảnh, các hãng sản xuất máy ghi dạng trống ngoại sử dụng đầu ghi nhiều tia để ghi dữ liệu. Do vậy đường quét sẽ trở nên phức tạp hơn, sau mỗi vòng quay của ống, toàn bộ chùm tia phải được nhích sang vị trí mới kề ngay chum đường đã quét trên mặt vật liệu. Có hai phương pháp để giải quyết vấn đề này:  Phương pháp thứ nhất là sau khi quét chùm tia lên bề mặt vật liệu, đầu ghi sẽ nhích sang bên cạnh, độ dời bằng chiều rộng của chùm tia, để ghi tiếp chùm tia thứ 2, cứ như vậy cho đến hết chiều ngang ảnh. Phương pháp này rất chính xác, tuy nhiên nó có ảnh hưởng đến tốc độ quét vì nó phải thực hiện chế độ ngưng sau đó khởi động lại (stopping and starting).  Phương pháp thứ hai thường được gọi là phương pháp xoắn ốc, bởi vì đầu ghi sẽ ghi chùm tia theo dạng như xoắn ốc, di chuyển liên tục băng qua hết chiều ngang ảnh. Do trong phương pháp này đầu ghi ghi và di chuyển liên tục nên sẽ xãy ra hiện tượng hình ảnh ghi sẽ bị nghiêng một góc nhỏ. Để giải quyết hiện tượng này, toàn bộ hình ảnh sẽ được điều chỉnh nghiêng với một góc ngược lại bằng một bộ phận xử lý điện tử. Trong một số máy ghi bản hiện nay, có trang bị bộ phận bù trừ tự động để bảo đảm rằng vị trí bắt đầu của mỗi đường quét trong
  • 49.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 48 phương pháp xoắn ốc luôn luôn có khoảng cách đều so với lề bản. Nếu không hình ảnh sẽ bị nghiêng so với lề bản. Hệ thống đục lỗ: Không giống như máy ghi dạng trống nội, ở máy ghi dạng trống ngoại vật liệu phải được đục lỗ trước hoặc sau khi nạp vào máy. 3. Máy ghi dạng phẳng: Khác với hai dạng trên, trong dạng này vật liệu được ghi hình trong tư thế phẳng. Máy ghi dạng phẳng sử dụng một trong ba phương pháp sau để di chuyển bản in: Hình : sơ đồ máy ghi phẳng dạng 2 và dạng 3  Dạng 1: Vật liệu và mặt phẳng mà nó được đặt lên sẽ đứng yên trong khi đó đầu ghi sẽ di chuyển.  Dạng 2: Vật liệu và mặt phẳng mà nó được đặt lên sẽ chuyển động cùng lúc trong khi gương xoay định hướng tia rọi.  Dạng 3: Sử dụng hệ thống di chuyển bản in theo kiểu Capstan vật liệu sẽ được di chuyển nhờ các lô kéo. Các máy ghi dạng phẳng nói chung có cấu trúc đơn giản hơn các máy ghi dạng trống. Nó có thể nạp hoặc lấy vật liệu dễ dàng cũng như việc đục lỗ dễ dàng hơn. Cấu trúc dạng phẳng Capstan (dạng 3) trước đây rất thông dụng trong những thế hệ máy ghi phim đầu tiên, nhưng ngày nay chúng không còn thông dụng so với các thế hệ máy dạng trống có thể ghi được trên các khổ vật liệu có kích thước lớn hơn nhiều. Đối với các máy ghi dạng capstan, tiêu cự của tia sáng trong máy dạng phẳng luôn thay đổi do khoảng cách từ các điểm trên một đường quét đến đầu ghi luôn thay đổi. Để bù lại điều này, người ta phải chế tạo một hệ thống quang học và điện tử sao cho bảo đảm độ chính xác của tia rọi nhưng cũng với một giới hạn nhất định. Khi sử dụng vật liệu có khổ lớn thì các hệ thống
  • 50.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 49 này sẽ làm cho máy ghi trở nên đắt tiền. Trong thực tế, cấu trúc phẳng thích hợp nhất đối với việc in báo ở độ phân giải thấp cho năng suất khá cao. Các máy ghi phẳng dạng 2 và 3 sử dụng một hệ thống gương xoay đa giác (polygon mirror) để phản xạ nguồn tia laser theo một đường thẳng băng ngang qua vật liệu. Vật liệu được di chuyển vuông góc với chiều quét với tốc độ sao cho đầu ghi vừa kịp ghi hết một đường quét và độ dịch chuyển bằng chiều rộng của đường quét. Tia laser được lấy tiêu điểm qua một thấu kính đặc biệt để bảo đảm kích cỡ và hình dáng điểm spot luôn luôn là một hằng số trên toàn bộ đường quét. Điều này là cần thiết bởi vì khoảng cách giữa thấu kính và bề mặt vật liệu trên bề ngang đường quét là khác nhau (những điểm nằm càng ra ngoài có khoảng cách đến thấu kính càng lớn). Chính điều này cũng là giới hạn cho chiều dài của đường quét. Chiều dài tối đa của đường quét của một máy dạng phẳng khoảng 24inch (60cm). Để ghi hình ảnh với chiều dài lớn hơn mà vẫn bảo đảm chất lượng phải sử dụng hai đầu ghi. Các hệ thống ghi bản dạng phẳng việc nạp và xuống bản nhanh hơn hai hệ thống kia. Tuy nhiên do giới hạn về kích thước ghi nên thông thường nó chỉ thích hợp in báo hoặc các ấn phẩm thương mại khổ nhỏ. Để khắc phục nhược điểm về chiều dài ghi, một số hãng đã sản xuất máy ghi dạng phẳng với hệ thống nhiều đầu ghi hoặc đầu ghi nhiều tia. Chẳng hạn:  Barco Graphic sử dụng 3 hoặc 5 đầu ghi  ICG sử dụng đầu ghi nhiều tia gắn trên một đế di chuyển băng ngang qua bề ngang vật liệu và ghi 512 tia trong mỗi lần ghi. 4. Ưu nhược điểm của các loại máy ghi: a. Máy ghi dạng trống nội:  Ưu điểm: - Chất lượng cao. - Vật liệu nằm trong trạng thái tĩnh trong suốt quá trình ghi nên có độ chính xác cao. - Đục lỗ định vị ngay trong máy khi vật liệu đã vào đúng vị trí. - Đầu ghi chỉ có một tia nên cường độ tia laser ổn định do đó ít gây nên hiện tượng sọc(stitching). - Đầu ghi chỉ có một tia nên khoảng rộng điều chỉnh tiêu cự (depth of focus) lớn hơn do đó chất - lượng hình ảnh cũng như độ phân giải sẽ cao hơn.
  • 51.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 50 - Dể dàng nạp vật liệu nếu sử dụng khổ nhỏ (ưu điểm này thường thể hiện rõ đối với máy ghi bản)  Nhược điểm: - Đầu ghi chỉ có một tia đơn nên chỉ tác dụng trên từng điểm, từng phần trên vật liệu. - Đầu ghi nằm xa vật liệu nên đòi hỏi tia laser phải có năng lượng lớn. - Thời gian ghi lâu hơn máy ghi dạng trống ngoại. - Đối với máy ghi bản khổ lớn sẽ rất khó khăn khi nạp bản b. Máy ghi dạng trống ngoại:  Ưu điểm: - Chất lượng cao. - Đầu ghi được đặt gần vật liệu hơn nên bảo đảm độ chính xác hơn cũng như có khả năng tập trung được năng lượng laser nên rất thích hợp với việc ghi bản nhiệt (bản thermal) ở các máy ghi bản. - Thời gian ghi bản nhanh hơn máy ghi dạng trống nội do đầu ghi có nhiều tia. - Đầu ghi có nhiều tia nên tốc độ của trống giảm do đó có độ cân bằng động cao hơn (Độ cân bằng động sẽ giảm theo tỉ lệ bình phương với tỉ lệ tốc độ quay. Chẳng hạn trống quay tốc độ 500 vòng / phút sẽ có độ bằng động thấp hơn trống quay với tốc độ 150 vòng / phút khoảng 10 lần).  Nhược điểm: - Hệ thống hút hơi phức tạp hơn do phải bảo đảm việc giữ trống chắc chắn trên trống. - Vật liệu gắn trên trống quay nhanh nên sẽ rất nguy hiểm nếu vật liệu bị văng ra khi đang ghi. - Hệ thống hút chân không quá mạnh sẽ làm biến dạng những vật liệu mỏng làm giảm độ chính xác. - Đầu ghi có nhiều tia nên việc điều chỉnh, sửa chữa phức tạp. Mặt khác với đầu ghi nhiều tia phải đòi hỏi hệ thống nguồn laser phải ổn định và hệ thống quang học phức tạp để tránh hiện tượng cường độ các tia laser khác nhau gây hiện tượng sọc trên vật liệu (hiện tượng stitching).
  • 52.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 51 c. Máy ghi dạng phẳng:  Ưu điểm: - Do cấu trúc phẳng nên dễ dàng cho việc nạp, tháo cũng như di chuyển vật liệu. - Chất lượng cao (cho máy ghi phẳng dạng 1).  Nhược điểm: - Độ chính xác không cao do trong quá trình ghi vật liệu phải di chuyển (cho máy ghi dạng 2 và 3). - Giới hạn về chiều rộng vật liệu do đó thường không thích hợp cho các loại máy ghi bản khổ lớn (cho máy ghi dạng 2 và 3). - Khoảng cách giữa đầu ghi với các điểm trên bề mặt vật liệu không bằng nhau làm cho tia laser bị biến dạng ở những phần cạnh của vật liệu (cho máy ghi dạng 2 và 3). - Tốc độ ghi chậm (cho máy ghi dạng 1). II. Các công nghệ ghi kẽm nhiệt : Kỹ thuật ghi bản nhiệt với laser hồng ngoại có bước sóng 830nm đã có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Các số liệu thống kê trên thế giới cho thấy thị phần của ghi bản nhiệt chiếm hơn 60%. Do đặc thù của bản nhiệt cần một mức năng lượng rất lớn để có thể khởi phát quá trình polymer hóa nên hầu như tất cả các máy ghi bản nhiệt dùng cấu trúc ghi trống ngoại (ngoại trừ Luescher với cấu trúc lòng ống đặc biệt). Mặt khác do cần một mức năng lượng rất cao so với phim hay bản Photopolymer (bản Kodak cần 130 microjoule/cm2) mà tất cả các máy ghi bản nhiệt đều áp dụng kỹ thuật ghi nhiều tia laser để tăng tốc độ. Chính tại điểm này chúng ta có các kỹ thuật khác nhau Kỹ thuật ghi nói chung và ghi bản nhiệt nói riêng đều quan tâm đến một vấn đề là làm cách nào để on-off laser tương ứng với ghi hay không ghi (giá trị nhị phân 0-1) một điểm laser spot. Các nguồn sáng laser nhiệt được dùng chủ yếu hiện nay là laser diode hay laser bán dẫn và hoạt động ở một trong hai chế độ liên tục hay xung, nói một cách dễ hiểu là diode phát sáng liên tục và ta dùng một thiết bị ngoài để ngắt hoăc cho ánh sáng đi qua hay ta bật tắt trực tiếp diode để bật tắt laser.
  • 53.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 52 Các nguồn laser công suất lớn cần có thời gian trễ mới đạt mức năng lượng ổn định trong khi tần số on-off laser là cực lớn khi ghi bản. Vì vậy các nguồn laser công suất lớn đều cần có thiết bị ngoài để on-off laser. Một trong những chủ đề tranh luận bất tận giữa ghi bản nhiệt và ghi bản photopolymer (violet) là tuổi thọ laser. Để dễ hình dung ta có so sánh laser nhiệt có mức công suất 1W/ 1 diode, trong khi đó laser violet chỉ có 60 mW. 1. Ghi bản với đầu ghi dùng diode độc lập Đây là một trong những cấu trúc đầu ghi có từ những ngày đầu tiên với các đời máy như Platerite 8000/8600 của Screen hay Lotem của Scitex. với số lượng diode từ 24-64. Các diode này thông thường có công suất lớn. Để on-off laser cần có bộ phận acousto- optic modulator AOM, tia laser được dẫn bằng cáp quang tới hệ thống quang học lấy nét focus rồi ghi lên bản. Cấu trúc này có một hạn chế là tiêu cự cố định và lấy nét nông. Do đó khi có bất cứ sự thay đổi nhỏ nào của độ dày bản chúng ta sẽ có vùng ghi out of focus và bản đó phải bỏ. Hiện tượng này thường gặp khi làm vệ sinh trống không kỹ, có bụi trên bề mặt trống hay bề mặt bản không tuyệt đổi phẳng. Hinhfv : diode độc lập Cấu trúc đầu ghi của PTR 8000/8600 chia làm hai băng diode với mỗi băng 16 hay 32 diode tương ứng. Khi có một diode hư thì hệ thống tự động tắt toàn bộ một băng và hoạt động với một băng duy nhất còn lại. Nếu diode của băng này lại hư tiếp thì sao? Chính ở đây là điểm mạnh của cấu trúc này, chúng ta nhớ là vẫn còn 15 hay 31 diode còn tốt và có thể hoán đổi sang băng này để tiếp tục sản xuất với tốc độ thấp hơn trong khi chờ đợi diode thay thế. Ưu điểm của cấu trúc này là có thể thay thế diode đơn lẻ và dễ dàng, giá thành một diode lại thấp. Tuy nhiên theo thống kê số diode trung bình 1 năm phải thay là khá lớn (từ 3-4 diode). Vậy khi nào máy báo diode hư? Khi bắt đầu quá trình ghi bản, máy ghi sẽ thực hiện việc kiểm tra năng lượng laser, nó kéo dài khoảng 1-2 phút. Khi đó máy kiểm tra năng lượng laser phát ra của từng diode nếu thiếu, máy tự động nâng công suất lên mức cần thiết. Trong trường hợp vượt ngưỡng thì máy báo diode hư và hoạt động chỉ với một băng và một nửa tốc độ. Có nhiều nguyên nhân làm suy giảm công suất laser.
  • 54.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 53 Hình : cấu trúc đầu ghi dùng diode độc lập Do số lượng diode là giới hạn (tối đa là 64 diode) và là diode công suất lớn nên muốn có tốc độ ghi bản cao thì tốc độ quay của trống cũng phải cao. Trên các máy PTR là 900 rmp. Bản có kích thưóc khác nhau và không phủ hết bề mặt ống nên bắt buộc phải có cơ chế autobalance. Máy di chuyển các đối trọng đến vị trí thích hợp ở hai đầu ống. Nhiệt độ hay điều kiện môi trường cho máy hoạt động cũng là một yếu tố đòi hỏi phải quan tâm. Các máy ghi dạng này, đầu ghi không có bộ phận làm lạnh và bộ phận ổn định nhiệt cho trống ghi nên điều kiện môi trường cũng đòi hỏi tương đối khắt khe. Đối với máy PTR hay Heidelberg Topsetter là nhiệt độ phòng phải dưới 27 độ C nếu vượt quá máy báo lỗi. 2. Ghi bản nhiệt với đầu ghi GLV: GLV là một kỹ thuật do hãng Silicon light machines phát triển từ 1997 phục vụ việc hiển thị hình ảnh độ phân giải cao ứng dụng trong truyền hình hay quảng cáo. Kỹ thuật này được Agfa và Screen ứng dụng vào ghi bản laser nhiệt từ năm 2004. Về bản chất GLV cũng chỉ là một trong nhiều kỹ thuật để on-off laser, CreoKodak thật ra là người quan tâm kỹ thuật này đầu tiên nhưng quyết định không đi theo hướng này vì nhiều lý do. GLV có ưu điểm gì so với các kỹ thuật khác? Đó chính là tốc độ chuyển mạch ( trạng thái phản xạ hay tán xạ ánh sáng) rất nhanh – đó là một trong những điều kiện tiên quyết cho việc nâng cao tốc độ ghi bản. GLV là một linh kiện trên đó có bố trí các dải siêu mảnh (micro-ribbon) song song với nhau. GLV dùng cho ghi bản nhiệt có 6528 dải chia thành 1088 pixel bao gồm mỗi pixel 3 cặp active và inactive. Bề mặt của các dải này đóng vai trò như các gương phản chiếu. Ở vị trí song song nó phản chiếu ánh sáng và ở vị trí lõm xuống nó tán xạ ánh sáng (Diffraction) như vậy tia sáng laser có thể được on-off tuỳ theo ghi hay không ghi
  • 55.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 54 Hình : cấu trúc GLV Kỹ thuật dùng các diode đơn lẻ (độc lập) có các hạn chế về tốc độ nên giải pháp tăng số lượng tia ghi cùng lúc là giải pháp được lựa chọn ngày hôm nay. Đại diện cho các giải pháp này là các đầu ghi GLV (Grading Light Valve), đầu ghi của Creo (Kodak) và IDS laser của Heidelberg. Ngoại trừ IDS của Heidelberg dựa trên một công nghệ khác thì các đầu ghi GLV và của Creo có nguyên tắc hoạt động tương tự chỉ khác cơ chế on-off laser. Sử dụng GLV có hai hãng là Agfa và Screen, sử dụng MOEMS (Micro-Opto-Electro-Mechanical Systems) có Creo-Kodak. Chúng ta cùng tìm hiểu nguyên lý hoạt động và ưu nhược điểm của từng kỹ thuật và sự khác biệt khi các hãng sản xuất máy ghi bản áp dụng vào thiết kế của mình. Các hệ thống ghi bản nhiều tia (multibeams) đều sử dụng một hay hai mảng diode hồng ngoại năng lượng cao 40W-50W bao gồm nhiều diode gộp lại (19 - 23 diode). Chùm tia laser được hướng tới bộ phân kênh tách thành nhiều tia, phổ biến hiện nay là 512 tia , các máy của Creo-Kodak có thể có số tia thấp hơn 240-512 tia. Các tia laser tiếp tục được hướng tới bộ phận on-off laser, light valve của CreoKodak hay GLV trước khi qua hệ thống thấu kính hội tụ chiếu lên bản kẽm. Các cấu trúc như vậy có một ưu điểm là tốc độ ghi bản có thể đạt rất cao trong khi tốc độ vòng quay của trống thấp dưới 300 rpm (như vậy sẽ không cần có thiết bị cân bằng động). Một câu hỏi luôn được đặt ra đối với các thiết bị ghi bản nhiệt là nếu 1 diode hỏng thì chuyện gì xảy ra? Đối với các máy của CreoKodak thì các diode liên kế sẽ tăng công xuất để bù và máy hoạt động tiếp tục với tốc độ thấp hơn. Nếu diode thứ 3 hư thì phải thay.thế toàn bộ đầu ghi. Đối với máy của Screen PTR 8800 thì đầu ghi được thiết kế với hai nguồn laser độc lập nếu một trong hai nguồn có diode hư thì máy tắt nguồn đó và chỉ sử dụng nguồn còn lại. Tốc độ ghi giảm xuống. Nguồn laser có thể được thay thế độc lập mà không thay thế cả đầu ghi.
  • 56.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 55 Hình : Đầu ghi GLV 3. Kỹ thuật ghi của Heidelberg: Khác với các hãng khác, Heidelberg sử dụng nhiều đầu ghi, mỗi đầu ghi được gọi là một module, mỗi module có 64 tia. Tùy theo tốc độ ghi mà sẽ có từ 2 đến 6 module. Cấu trúc này của Heidelberg có một số ưu điểm như:  Tốc độ cao và nâng cấp tốc độ dễ dàng.  Khi một diode (một tia) bị hư máy vẫn tiếp tục hoạt động nhờ các module khác. Hình : Máy ghi Heidelberg
  • 57.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 56 4. Autofocus Ánh sáng của laser nhiệt có bước sóng trong vùng hồng ngoại 830nm, việc lấy nét, chỉnh độ hội tụ focus của tia sáng có bước sóng dài là một công nghệ phức tạp. Heidelberg, Agfa, CreoKodak hiện thực được autofocus trên các đầu ghi của mình và điều này đem lại thuận tiên cho người sử dụng khi mà các bản kẽm có thể có bụi, bề mặt không tuyệt đối phẳng, máy vẫn ghi và cho chất lượng hình ảnh bảo đảm chất lượng. Khác với các đầu ghi của Screen với focus cố định nhiều khi các vùng out of focus trên bản kẽm chỉ được phát hiện khi đã đem lên máy in. Đầu ghi GLV trên các dòng máy PTR 8800 cũng chỉ có focus cố định. Hình : chế độ autofocus 5. Làm lạnh lazer: Các đầu ghi của các máy ghi kẽm nhiệt có nguồn sáng laser công suất cao và hoạt động liên tục ngay khi bật máy ghi dù có ghi bản hay không, lượng nhiệt sinh ra rất lớn và cần phải được giải nhiệt. Chính vì thế các đầu ghi này cần có một bộ phận làm lạnh giữ cho nhiệt độ của nguồn laser và đầu ghi ổn định trong một khoảng xác định. Việc làm lạnh và giải nhiệt cho đầu ghi laser hoàn toàn khác biệt với việc làm lạnh và giữ ổn định nhiệt độ của trống ghi bản với mục đích khác là tạo môi trường ghi bản đồng nhất nâng cao độ chính xác chồng màu. Việc giải nhiệt và giữ ổn định môi trường làm việc của laser là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng tới tuổi thọ của đầu ghi đặc biệt là các đầu ghi GLV.
  • 58.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 57 Chương VI: Làm việc với PDF
  • 59.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 58 I. PDF là gì ?: PDF (Protable Document File) là một định dạng file để biểu diễn một tài liệu với tín chất độc lập với phần mềm ứng dụng, phần cứng, và hệ điều hành của hệ thống dùng để tạo ra nó. Một file PDF không chỉ gồm thông tin mô tả trang mà nó còn chứa cả font chữ, hình ảnh và siêu liên kết kể cả các hình ảnh động. PDF mang đến nhiều thuận lợi hơn các file độc lập với thiết bị (.eps hay .ps). PDF không những có thể được biên dịch trực tiếp bởi RIP mà nó còn thể hiện tất cả các đối tượng trên màn hình một cách rõ ràng chứ không phải là các mã lệnh như file .PS. Khi một file PDF hiển thị trên màn hình thì file đó giống như đã được RIP biên dịch và thật sự là “What you see is What you get” có nghĩa là bạn nhìn thấy đối tượng trên màn hình như thế nào thì bạn sẽ nhận được tờ in thể hiện đối tượng như thế đó. Một ưu điểm nữa của file PDF là nó có kích thước file rất nhỏ. Chẳng hạn, một tran tạp chí 4 màu khổ 20x28 cm làm từ PageMaker, có kích thước 25 MB bao gồm cả file .P65 và các file hình ảnh kèm theo (chưa bao gồm font), nhưng nếu được chuyển thành file PDF thì kích thước file này chỉ còn khoảng 6 MB (đã bao gồm cả hình ản và font). Hiện nay, file PDF có thể được tạo theo nhiều cách như trực tiếp từ trình ứng dụng hay từ những file PostScript và kết quả là tạo ra một file PDF độc lập với các trình điều khiển. Cho dù file đó được tạo ra từ trên Mac hay PC thì nó vẫn được hiển thị và vận hành bằng bất cứ trình hiển thị (phần mềm) nào mà hệ điều hành đó hỗ trợ. Và nếu như có một file PostScript nào đó tạo ra từ các trình ứng dụng trên hệ DOS hay UNIX, do những máy này không có các system- level của điều khiển máy in thì việc diễn dịch và hiển thị file PDF vẫn diễn ra một cách bình thường. Nhưng, để chuyển những fileđộc lập với thiết bị này sang PDF thì chúng ta phải dùng đến Acrobat Distiller. Phần mềm này chuyển đổi tất cả những file độc lập với thiết bị và file PDF mà nó tạo ra mang nhiều đặc tính rất có ích cho công việc chế bản. II. Đặc tính của PDF 1. Về chế độ hình ảnh: Cũng giống như ngôn ngữ độc lập với thiết bị, PDF mô tả trang bằng cách vẽ lại trang và đặt những đối tượng tô màu vào những vùng chọn trên trang. Những đối tượng tô này có thể là dạng ký tự, hay một sự kết hợp giữa đường thẳng và cong, hay những mẫu hình ảnh dạng số. Đối tượng sẽ mang bất kỳ màu nào đã được định trong không gian màu mà chương trình hỗ trợ. Đối tượng có thể bị cắt thành một hình dạng nào đó, mà những phần cần có thì mới xuất hiện trên trang (dạng clipping). Khi một trang bắt đầu miêu tả, thì trang đó sẽ là một trang trống. Những toán tử khác nhau sẽ đặt những điểm của tài liệu cần mô tả lên trang. Mỗi điểm mới trên trang có thể che khuất những điểm có trước do chúng chồng lên nhau
  • 60.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 59 2. Về khả năng: Một file PDF là một file nhị phân (Binary), mã 8 bit. Nhưng không may, một số tác nhân xử lý những file dùng những khả năng in của bộ mã 7 bit ASCII và ký tự khoảng trắng được coi như “text”. Và do đó khó lòng giữ đúng nội dung của tài liệu. Chẳng hạn, do cần giữ đúng ký tự 7 bit và phải thay đổi phần kết thúc dòng. Nên vấn đề này đôi khi sẽ phá hỏng file PDF. Do đó, khi tạo file PDF thì mã Binary nên được dùng trong hộp thoại in (phần Setup của lệnh Print). 3. Đối với chế độ nén Để giảm kích thước file thì PDF hỗ trợ một số dạng nén: JPEG: nén hình ảnh màu và trắng đen. CCITT nhóm 3, nhóm 4 hay LZW (lempel-Ziv-Welch) và Run Length dùng cho dạng hình ảnh đơn sắc. LZW và Flate dùng nén text, graphics và dữ liệu chỉ mục hình ảnh (đối với file PDF 1.2). Dạng JPEG nén hình ảnh thường theo tỉ lệ 1:10 hay hơn thế. Những dạng nén khác tùy thuộc vào tính chất của hình ảnh mà có thể theo tỉ lệ 2:1 hay 8:1. Dạng LZW và Flate thường theo tỉ lệ 2:1. Tất cả bộ lọc nén này đều tạo ra dữ liệu dạng Binary, dạng mã có thể chuyển thành mã ASCII-85, dạng này duy trì tính linh động của file. 4. Khả năng độc lập với font PDF cung cấp một giải pháp làm cho tài liệu của chúng ta không còn phụ thuộc vào font. Một file PDF sẽ chứa trình mô tả font cho mỗi font đã được dùng trong tài liệu. Trình mô tả font này sẽ chứa tên font, lưới điểm của font, ký tự, và kiểu của nó. Những thông tin này sẽ rất cần thiết, nếu font của hệ thống không thể tìm thấy để đọc tài liệu, mà nó lại chiếm chỉ từ 1-2K cho mỗi font. Nếu font của tài liệu có mặt trong hệ thống thì nó sẽ được dùng để hiển thị, nếu không thì một font dạng đa năng sẽ được kích hoạt mô tả chính xác từng yếu tố của font bị thiếu dưới cơ chế là độ lớn và độ rộng của font gốc. Giải pháp này áp dụng cho cả font Adobe Type 1 và font True Type 3 được phát triển bởi Apple. Đối với font biểu tượng (Zap Dingbats), trình mô tả font sẽ không có tác dụng, những hình dáng, nét chạm của ký tự phải được hiển thị đúng và in đúng. Đối với tất cả dạng font biểu tượng thì một phiên bản nén font của trình Type 1 sẽ được mang theo file PDF khi tạo file. 5. Truy xuất ngẫu nhiên Sở dĩ tài liệu PDF có thể truy xuất một cách ngẫu nhiên vì nó chứa một bản tham chiếu chéo (Cross reference table), định vị và truy xuất trực tiếp trang và những đối tượng khác trong tài liệu, và nó nằm ở cuối của file bên trong cấu trúc (phần đuôi - Trailer). Dưới hình thức tham chiếu chéo này thì khả năng truy xuất ngẫu nhiên của tài liệu là độc lập đối với tổng số trang của tài liệu.
  • 61.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 60 III. Các yêu cầu trước khi tạo file PDF Một file thiết kế đúng là một trong những nhân tố rất quan trọng trong việc quyết định sự thành công của chu trình PDF (PDF workflow). Mặc dù hiện nay có nhiều lỗi đã có thể khắc phục được trực tiếp từ file PDF, tuy nhiên, nếu một file thiết kế không đúng hoặc chứa các đối tượng không thể in được (như Hairline chẳng hạn), các lỗi này vẫn được chuyển sang file PDF và gây khó khăn cho quá trình ghi phim hay ghi bản sau này. Do đó, việc tạo một file thiết kế hoàn chỉnh sẽ giúp cho tiến trình xử lý sau này được dễ dàng và nhanh chóng hơn. Dưới đây là một số lời khuyên khi thiết kế ấn phẩm để phòng tránh các lỗi khi chuyển nó sang định dạng PDF:  Thiết lập các kích thước trang đã đúng chưa? (như khổ thành phẩm, khoảng chừa cắt xén (bleed), các khoảng chừa lề (margin).  Nếu được chỉ nên sử dụng font Postscript Type 1 hơn là sử dụng font True Type.  Không nên sử dụng các thuộc tính font (bold, italic, shadowed..) bằng lệnh mà nên chọn bộ font có thuộc tính đó.  Nên quét hình ảnh với độ phân giải đúng và gần với độ thu phóng mong muốn.  Nên cắt cúp hình ảnh ngay trong phần mềm xử lý hình ảnh, không nên cắt cúp trong các phần mềm dàn trang hay đồ họa.  Đừng sử dụng thuộc tính Hairline cho các đối tượng đường.  Đừng vẽ khung (frame) bằng cách vẽ bốn đường thẳng nối nhau, hãy sử dụng công cụ vẽ khung.  Thiết lập sắc độ màu nhạt nhất là 5%, đậm nhất là 95%.  Xóa những phần tử không cần thiết nằm ngoài nền dàn (pastboard)).  Xóa các trang trắng. IV. Hiệu chỉnh kiểm tra file PDF bằng các lệnh trong ACROBAT READER 1. Hiệu chỉnh file PDF: a. Các hiệu chỉnh liên quan đến trang tài liệu Lệnh Insert : cho phép chèn thêm các trang tài liệu từ các file PDF. khác vào tài liệu đang mở. Các trang tài liệu chèn thêm có thể được chèn thành trang đầu tiên (first), hoặc là trang cuối cùng (last) hoặc sau (after) hoặc trước (before) một trang nào đó (page).
  • 62.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 61 Lệnh Extract: cho phép ngắt một hoặc nhiều trang nào đó trong tài liệu thành một file PDF riêng. Các trang cần ngắt được nhập vào các trường From .... To. Lệnh Replace: cho phép thay thế một hay nhiều trang tài liệu với các trang khác nhập vào trang cần thay vào trường Original và nhập trang thay thế vào trường Replacement Lệnh Delete: cho phép xóa một hay nhiều trang tài liệu.
  • 63.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 62 Lệnh Crop: cho phép cắt cúp trang tài liệu theo một vùng đã được định nghĩa trong trường Top, Bottom, Left, Right.Các trang cần cắt cúp, có thể là toàn bộ tài liệu hoặc từ (from) trang nào đến (to) trang nào đó hoặc chỉ các trang lẻ (odd) hoặc chỉ các trang chẵn (even). Lệnh Rotate: cho phép xoay các trang tài liệu 900 theo ngược chiều kim đồng hồ (Counterclockwise 90 degrees), 900 theo chiều kim đồng hồ (Clockwise 90 degrees) hoặc 1800 (180 degrees).
  • 64.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 63 b. Các hiệu chỉnh liên quan đến tài liệu: Sử dụng công cụ Text tool (xem hình). Sau khi chọn công cụ này, chúng ta có thể hiệu chỉnh văn bản như công cụ text của các phần mềm ứng dụng. Cũng có thể nhấn chuột phải trên văn bản đã chọn, chọn lệnh Properties, mở hộp thoại TouchUp properties để chọn thay đổi font chữ, co chữ hoặc một số thuộc tính khác của văn bản. c. Các hiệu chỉnh liên quan đến hình ảnh: Sử dụng công cụ TouchUp Object Tool (xem hình). Sau khi chọn công cụ này, bấm chọn hình ảnh cần hiệu chỉnh, sau đó bấm chuột phải truy xuất lệnh Edit Image để mở và chỉnh sửa
  • 65.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 64 hình ảnh dạng bitmap trong phần mềm Photoshop, hoặc lệnh Edit Object để mở và sửa hình ảnh dạng vector trong phần mềm Illustrator. 2. Hiệu chỉnh, kiểm tra bằng Plugin PitStop PitStop Professional là một plug-in rất hữu dụng trong việc kiểm tra cũng như hiệu chỉnh file PDF. Sau khi cài đặt PitStop Professional trên thanh công cụ của phần mềm Acrobat Reader sẽ xuất hiện một số công cụ mới có màu xanh tím, đó chính là các công cụ của PitStop Professionnal a. Các công cụ chọn Select Objects : dùng chọn đối tượng trước khi sử dụng một lệnh nào đó của PitStop Professional Select Similar Objects: dùng chọn các đối tượng có thuộc tính giống nhau
  • 66.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 65 b. Các công cụ hiệu chỉnh văn bản Edit Text Line: hiệu chỉnh văn bản theo từng dòng. Edit Paragraph: hiệu chỉnh văn bản theo từng paragraph c. Các công cụ di chuyển thu phóng xoay Move Selection: dùng để di chuyển một đối tượng đã được chọn bằng công cụ chọn trước đó. Để di chuyển đối tượng, chọn công cụ này, bấm giữ và kéo rê chuột Scale Selection: thu phóng đối tượng được chọn. Chọn công cụ này bấm giữ và kéo rê chuột trên đối tượng được chọn để thu phóng đối tượng. Rotate Selection: bấm giữ và kéo rê chuột với công cụ này sẽ cho phép xoay đối tượng được chọn với một góc bất kỳ. Shear Selection: bấm giữ và kéo rê chuột với công cụ này sẽ cho phép là nghiêng đối tượng được chọn Create New Rectangle: vẽ một khung chữ nhật hoặc khung vuông ( nhấn phím Shift). Create New Elipse: vẽ một khung elip hoặc khung tròn (nhấn phím Shift) d. Các công cụ đo màu, đo khoảng cách, sao chép thuộc tính: Copy and Paste Attributes : sao chép và gán các thuộc tính của một đối tượng nào đó sang một đối tượng khác (để copy các thuộc tính của một đối tượng, đưa công cụ đến đối tượng đó, nhấn phím Ctrl và bấm chuột). EyeDropper: đo giá trị màu tại vị trí của công cụ đó. Giá trị màu sẽ được hiển thị tùy theo không gian màu của đối tượng đó ( ví dụ đối tượng có không gian màu là CMYK thì các trị số hiển thị là các trị số C, M, Y, K. Guides: dùng tạo các đường gióng ngang (horizontal) và dọc (vertical). Các đường gióng mới được tạo luôn luôn nằm giữa tài liệu, để di chuyển chúng, đưa con trỏ chuột đến đường
  • 67.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 66 gióng đến khi xuất hiện biểu tượng di chuyển, bấm giữ và kéo rê chuột để di chuyển đường gióng Measure: dùng để đo khoảng cách giữa hai điểm. Bấm chuột tại điểm đầu khoảng cách cần đo, rê chuột đến điểm kế và bấm chuột. Xem các thông số hiển thị trên hộp thoại Enfocus PitStop Inspector để biết các giá trị về khoảng cách, góc nghiêng… e. Chức năng Inspector Chọn lệnh Show PitStop Inspector trong menu Window để mở hộp thoại Enfocus PitStop Inspector Trong hộp thoại này có 7 trường chính: Color, Fill/Stroke, Text, Image, Prepress, Position và Statistics. Các trường chỉ hiển thị nội dung khi sử dụng công cụ chọn một đối tượng nào đó. Và đây là một hộp thoại động, nội dung sẽ thay đổi tùy theo đối tượng được chọn. Trường Color : hiển thị trị số màu ( theo không gian màu của đối tượng) của các đối tượng đồ họa, hoặc hiển thị không gian màu của các đối tượng bitmap.
  • 68.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 67 Trường Fill / Stroke : cho biết đối tượng đồ họa có được tô màu nền hoặc đường viền không ( biểu thị bằng check box On / Off). Trường Text : khi đối tượng được chọn là văn bản, hộp thoại sẽ hiển thị và cho phép thay đổi một số thuộc tính của chữ như: font chữ, co chữ... Ngoài ra hộp thoại còn cho biết font có được nhúng theo không Trường Image : khi đối tượng được chọn là hình ảnh bitmap, hộp thoại sẽ hiển thị các thông tin về thuộc tính của hình ảnh như: kích thước, độ phân giải, tỉ lệ nén, không gian màu... (trường Prop- erties ) hoặc cho phép thay đổi độ phân giải của hình ảnh (trường Resample) Trường Prepress: hiển thị các thông tin về overprint, OPI, trans-parency ..., hộp thoại còn cho phép chúng ta có thể thay đổi thuộc tính overprint hoặc thay đổi, hủy bỏ chế độ transparency
  • 69.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 68 Trường Position : hiển thị tọa độ vị trí và kích thước của đối tượng đang được chọn. Ngoài ra trường này còn cho phép chúng ta thu phóng, xoay, lật đối tượng. Trường Statistic : hiển thị một số các thông tin về đường path, số ký tự, kích thước hình ảnh...
  • 70.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 69 f. Chức năng Global change: Chọn lệnh Show PitStop Global Change trong menu Window để mở hộp thoại Enfocus PitStop Global Change Trong hộp thoại này có hai trường chính: Object và Page. Object có các trường để thay đổi một số thuộc tính cho các đối tượng, còn Page có các trường dùng thay đổi thuộc tính cho văn bản. Trường Color: dùng thay đổi các thuộc tính về màu sắc cho đối tượng đồ họa ( không thay đổi được cho các đối tượng là hình ảnh). Trường Font: dùng thay đổi một font chữ này ( From ) sang font chữ khác ( To)
  • 71.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 70 Trường Prepress: dùng thay đổi các thuộc tính về overprint, độ dày tối thiểu của đường (Line weight). Trường Image: dùng thay đổi độ phân giải của hình ảnh g. Chức năng PDF Profile Chọn lệnh Show PitStop PDF Profile Panel trong menu Window để mở hộp thoại Enfocus PitStop PDF Profile Pane. Chức năng này cho phép chúng ta kiểm tra file PDF (Preflight) để kiểm soát lỗi như: font chữ có nhúng theo không, độ phân giải hình ảnh có đạt yêu cầu, hình ảnh và màu sắc có ở hệ màu CMYK không... Chọn một profile cần kiểm tra ( ở đây là profile CMYK để kiểm tra file
  • 72.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 71 cho việc chế bản in), bấm chọn lệnh Create Report để hiển thị thông báo, dưới đây là một ví dụ về report. Chúng ta có thể hiệu chỉnh profile bằng cách chọn trường Manag-ing rồi bấm chọn lệnh Edit để mở hộp thoại Enfocus PDF Profile Editor thay đổi các chế độ kiểm tra. Tuy nhiên, để thực hiện công việc này đòi hỏi người thao tác phải có các kiến thức tốt về lĩnh vực chế bản và kiểm tra file.
  • 73.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 72 h. Chức năng Action List Chọn lệnh Show PitStop Action List Panel trong menu Window để mở hộp thoại Enfocus PitStop Action List Pane Chức năng này cho phép chúng ta thực hiện một số tác vụ (khi chọn lệnh Execute) để hiệu chỉnh sửa chữa file PDF như: chuyển hệ màu( Convert Color to...), bỏ ICC Profile (Remove ICC Profile) hoặc nhúng font chữ ( Embed Fonts)... Chúng ta cũng có thể tạo một Action List khác bằng cách chọn trường Managing sau đó bấm chọn lệnh New Hộp thoại Enfocus PitStop Action List sẽ hiển thị cho phép chúng ta Add thêm các lệnh mới (sử dụng lệnh Add trong hộp thoại).
  • 74.
    Cơ sở kỹthuật chế bản Trang | 73 MỤC LỤC Chương 1 : Tổng quát I. Chế bản trang 2 II. Quy trình chế bản trang 3 III. Các định dạng file thường sử dụng trong chế bản trang 4 Chương 2 : Màu sắc và độ phân giải I. Các nguyên lí tổng hợp màu sắc trang 6 II. Không gian màu trang 12 III. Tram hoá và sự phục chế hình ảnh trang 19 Chương 3: Dàn trang, bình trang I. Các khái niệm cần nhớ trang 23 II. Các vấn đề trong dàn trang và bình trang trang 25 Chương 4: RIP I. Ngôn ngữ PostScript trang 34 II. RIP là gì? trang 36 III. Cách phòng tránh lỗi khi RIP trang 42 Chương 5: Công nghệ ghi kẽm nhiệt I. Các kiểu máy ghi trang 46 II. Các công nghệ ghi kẽm nhiệt trang 51 Chương 6: Làm việc với PDF I. PDF là gì ? trang 58 II. Đặc tính của PDF trang 58 III. Các yêu cầu trước khi tạo file PDF trang 60 IV. Hiệu chỉnh kiểm tra file PDF trang 60 bằng các lệnh trong ACROBAT READER