Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

Tailieu.vncty.com nghien cuu-dong_gop_cua_von_xa_hoi_vao_cac_hoat_dong_cua_doanh_nghiep_bds_viet_nam

365 views

Published on

http://tailieu.vncty.com/index.php

  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và THẠC SỸ (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ. DỊCH VỤ LÀM SLIDE POWERPOINT : 10.000VNĐ/1SLIDE
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Be the first to like this

Tailieu.vncty.com nghien cuu-dong_gop_cua_von_xa_hoi_vao_cac_hoat_dong_cua_doanh_nghiep_bds_viet_nam

  1. 1. 1  CHƯƠNG 1  GIỚI THIỆU  1.1  BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU  1.1.1  Bối cảnh thực tiễn  Trong giai đoạn từ  năm 2000 đến 2008, bất động sản (BĐS) là  một trong  những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao qua hầu hết các chỉ tiêu thể hiện quy  mô cũng như hiệu quả. Theo Tổng cục Thống kê (2010a), trong giai này tốc độ tăng  trưởng  bình  quân  về  số  lượng  doanh  nghiệp  là  41,4%/năm,  vốn  kinh  doanh  là  36%/năm.  Hầu hết  các chỉ tiêu căn bản thể  hiện quy mô và  hiệu quả  của  doanh  nghiệp ngành BĐS đều tăng với tốc độ cao hơn mức trung bình của các ngành kinh  tế khác, chẳng hạn như tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2000­2008 của ngành  BĐS  cao  hơn  mức trung  bình  của  các  ngành kinh  tế  trong  cả  nước  về  số  lượng  doanh nghiệp là 20%, số lao động là 11%, nguồn vốn đầu tư là 15%, tài sản cố định  là 6%, doanh thu thuần là 14%, lợi nhuận trước thuế là 182%, thuế và các khoản  nộp ngân sách là 29% (Tổng cục Thống kê, 2010a). Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả  hoạt động kinh doanh của ngành BĐS có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với mức  trung bình của cả nước, đặc biệt là chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh và  tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao hơn mức chung của cả nước lần lượt là 150%  và 82% (Tổng cục Thống kê, 2010a). Tốc độ tăng trưởng cao là động lực thu hút  đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành lớn nhất cả nước, theo Tổng cục Thống kê  (2010b) ngành BĐS thu hút 33,8% tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt  Nam trong năm 2009.  Cũng giống như các ngành kinh tế khác ở Việt Nam, các giai đoạn phát triển  của ngành BĐS phụ thuộc nhiều vào các giai đoạn cải cách thể chế của quốc gia.  Xem xét các văn bản pháp luật hướng dẫn có liên quan, Đào Anh Kiệt (2010) chia  quá trình phát triển thị trường BĐS Việt Nam làm ba giai đoạn là trước năm 1993,  từ 1993­2003, và từ năm 2003 đến nay. Các đặc điểm và bối cảnh nền kinh tế của  các giai đoạn trong quá trình phát triển thị trường BĐS Việt Nam được tóm tắt ở  Bảng 1.1.
  2. 2. 2  Bảng 1.1: Các giai đoạn phát triển của thị trường bất động sản Việt Nam  Giai đoạn  Bối cảnh và khung pháp lý  Đặc điểm  Trước  năm 1993  Hiến pháp năm 1980; luật đất đai  năm  1987:  Người  sử  dụng  đất  chỉ có quyền sử dụng, không có  quyền  chuyển  nhượng  và  các  quyền khác  ­  Chủ  yếu  là  các  giao  dịch  phi  chính  thức.  ­  Rất ít doanh nghiệp kinh doanh BĐS.  ­  Sản phẩm BĐS rất thô sơ, chủ yếu là  quyền sử dụng đất.  ­  Giao dịch chủ yếu bằng vàng.  Từ năm  1993 đến  2003  Luật đất đai năm 1993: người sử  dụng  đất  có  5  quyền  là  chuyển  nhượng,  thừa  kế,  cho  thuê,  thế  chấp  và  góp  vốn;  Pháp  lệnh  1994: tất cả các tổ chức sử dụng  đất  vào  mục  đích  kinh  doanh  chuyển sang hình thức thuê đất;  Khủng  hoảng  kinh  tế  khu  vực  châu  Á  1997;  thí  điểm  chính  sách  giao  đất  tại  TP.HCM  vào  năm 2000.  ­  Chính  thức  xuất  hiện  ngành  kinh  doanh BĐS tại Việt Nam.  ­  BĐS chủ yếu là các giao dịch thứ cấp.  ­  Ngoài sản phẩm đất thô, còn có thêm  hình  thức  phân  lô  bán  nền  rất  phát  triển.  ­  Khu vực nước ngoài bắt đầu quan tâm  đến thị trường BĐS Việt Nam với các  hình thức BOT, BT và liên doanh với  trong  nước  để  phát  triển  sản  phẩm ở  trình độ  cao  như  cao  ốc  căn  hộ,  văn  phòng  cho  thuê,  hạ  tầng  khu  công  nghiệp, bến bãi.  Giai đoạn  2003 đến  nay  Nhiều  văn  bản  pháp  luật  ra  đời  để  điều  chỉnh  thị  trường:  Luật  đất đai 2003, luật xây dựng, luật  nhà  ở,  luật  kinh  doanh  BĐS;  Việt  Nam  gia  nhập  WTO;  thị  trường chứng khoán phát triển.  Từ  năm  2008  đến  nay,  Chính  phủ  áp  dụng  chính  sách  tiền  tệ  thắt chặt để kiềm chế lạm phát.  ­  Sàn giao dịch BĐS ra đời.  ­  Sản phẩm BĐS đa dạng từ thô sơ đến  cao cấp.  ­  Có  mối  liên  hệ  khắn  khít  với  thị  trường tài chính, chính sách tài chính  ảnh hưởng rất lớn đến thị trường BĐS.  ­  Với  chính  sách  tiền  tệ  thắt  chặt  của  Chính phủ từ  năm  2008 làm hạn  chế  giao dịch trên thị trường BĐS.  Nguồn: Tổng kết từ tham khảo Đào Anh Kiệt (2010).
  3. 3. 3  Trải qua các  giai đoạn  hình thành và phát triển, đến nay  ngành BĐS Việt  Nam hình thành các sản phẩm kinh doanh đa dạng và thị trường đã hình thành nhiều  dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động của ngành như dịch vụ tư vấn pháp lý, quỹ đầu tư,  thẩm định giá trị BĐS. Tuy nhiên, ngành BĐS Việt Nam còn một số tồn tại xuất  phát từ chính sách điều tiết của Chính phủ và hành vi của doanh nghiệp BĐS như  sau:  Đối với chính sách điều tiết thị trường BĐS của Chính phủ:  Bảng 1.1 cho thấy các chính sách điều tiết của Chính phủ có tác động rất lớn  đối với đặc trưng và sự phát triển của thị trường BĐS Việt Nam. Với tốc độ phát  triển nhanh của thị trường BĐS đòi hỏi Chính phủ phải ban hành nhiều chính sách  để điều tiết thị trường. Từ năm 2008 đến 2010, Chính phủ Việt Nam đã ban hành  tổng số 49 văn bản luật và dưới luật để điều tiết thị trường BĐS 1  . Tuy nhiên, các  chính sách ban hành (nói chung cho cả nền kinh tế, trong đó có ngành BĐS) ít dựa  trên cơ sở liên kết giữa các chủ thể tham gia thị trường như doanh nghiệp, người  tiêu dùng, các định chế tài chính và các cơ quan quản lý nhà nước lẫn nhau (Ohno,  2009; Porter & các cộng sự, 2010). Điều này hàm ý Chính phủ chưa nhận thức đầy  đủ tầm quan trọng của các mạng lưới liên kết trong vấn đề hoạch định chính sách.  Hệ quả là nhiều văn bản pháp luật ban hành còn rườm rà và chồng chéo (Porter &  các cộng sự, 2010).  Mặc dù Chính phủ khá nhạy bén trong ban hành các chính sách điều tiết thị  trường BĐS, nhưng vẫn còn thiếu các chính sách tạo ra các công cụ hỗ trợ vốn cho  thị trường, đặc biệt là các kênh huy động vốn dựa trên sự liên kết giữa các chủ thể  trên thị trường. Trong bối cảnh lạm phát, Chính phủ đang ngày càng ban hành nhiều  chính sách thắt chặt các kênh huy động vốn từ khách hàng (Vũ Đình Ánh, 2010).  Trong khi đó, kênh huy động vốn dưới hình thức các hình thức liên kết các chủ thể  tham gia thị trường thì chưa có ở Việt Nam. Chẳng hạn như quỹ tín thác BĐS (Real  Estate Investment Trust – REIT) chỉ bắt đầu nhận thức ở mức độ khái niệm tại Việt  Nam,  chủ  yếu là các quỹ ở nước  ngoài đầu  tư  vào thị trường trong  nước  nhưng  1  Thống kê của tác giả luận án trên website: www.luatvietnam.vn (truy cập ngày 12/03/2011).
  4. 4. 4  không đáng kể (Trần Kim Chung, 2010); chưa có hệ thống tín dụng nhà ở như Thái  Lan (là hệ thống nhận tiền đặt cọc để cung cấp vốn vay xây dựng nhà ở); chưa có hệ  thống tiết kiệm nhà ở bắt buộc như ở Singapore (Bộ Xây dựng, 2010).  Bởi vì các cộng cụ huy động vốn còn hạn chế, nên thị trường BĐS Việt Nam  phụ thuộc rất nhiều vào thị trường tín dụng, khi lạm phát xảy ra (từ năm 2008 đến  nay) Chính phủ áp đặt chính sách tiền tệ thắt chặt làm đe dọa sự tồn tại của nhiều  doanh nghiệp BĐS. Do vậy, vấn đề cấp bách hiện nay đối với Chính phủ là cần phải  đa dạng các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng với các hình thức dựa trên sự liên  kết các chủ thể tham gia thị trường có thể là một lựa chọn thay thế. Muốn làm được  điều này cần phải có một khung lý thuyết về sự liên kết xã hội để làm nền tảng.  Đối với hành vi của doanh nghiệp bất động sản:  Thứ nhất, trong công tác tìm kiếm quỹ đất phát triển dự án ưu thế nghiêng về  các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước (Porter & các cộng sự, 2010). Điều này  được nhiều chuyên gia (danh sách đính kèm phụ lục 2) giải thích một phần là do  yếu tố lịch sử để lại vì nguồn gốc đất đai trong nền kinh tế phần lớn thuộc sở hữu  quốc dân trước đây, hoặc là do các doanh nghiệp nhà nước được sự hỗ trợ từ các cơ  quan quản lý nhà nước. Mặt khác, tính minh bạch của các thông tin trên các loại thị  trường (trong đó có thị trường BĐS) ở Việt Nam hiện nay còn rất kém (Porter &  các cộng sự, 2010), trong khi đó quỹ đất phát triển dự án chủ yếu được thực hiện  theo quyết định giao đất của cơ quan quản lý nhà nước được phân công (Đào Anh  Kiệt, 2010). Do vậy, việc lựa chọn doanh nghiệp để giao đất phát triển dự án phụ  thuộc rất nhiều vào các mối quan hệ cá nhân của chủ doanh nghiệp với cá nhân lãnh  đạo của cơ quan quản lý nhà nước.  Bởi vì lợi ích mang lại từ các mối quan hệ với chính quyền được nhận thấy  rõ ràng, nên phần lớn các doanh nghiệp chủ yếu quan tâm đến việc thiết lập các mối  quan hệ với chính quyền, mà đánh đổi thời gian để quan tâm đến các lợi ích mang  lại từ mạng lưới bên trong và các chủ thể bên ngoài khác. Các doanh nghiệp đầu tư  thời gian, thậm chí tiền bạc vào việc tìm cách móc nối với chính quyền để trục lợi,  điều này làm các mối quan hệ trở thành nguồn lực có tác động tiêu cực đối với nền
  5. 5. 5  kinh tế (theo kết quả phỏng vấn chuyên gia của luận án năm 2010, danh sách có  đính kèm ở phụ lục 2). Với nhận thức như vậy thì doanh nghiệp rất khó có thể khai  thác hết các lợi ích từ các mối quan hệ để phục vụ cho hoạt động kinh doanh.  Thứ hai, Doanh nghiệp BĐS Việt Nam phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ.  Trong thời gần đây, quy mô vốn của doanh nghiệp BĐS có xu hướng tăng, nhưng  tính đến năm 2007 có đến 88% các doanh nghiệp BĐS có quy mô dưới 50 tỷ đồng  (con  số  này tính  chung  cho  các  ngành  kinh  tế  cả  nước  là  95%,  xem  Hình  1.1),  khoảng 72% doanh nghiệp có quy mô lao động dưới 9 người (con số này tính chung  cho các ngành kinh tế cả nước là 55%, xem Hình 1.2). Các doanh nghiệp có quy mô  nhỏ rất khó tham gia tạo sản phẩm vì đặc trưng của ngành BĐS là ngành thâm dụng  vốn, nếu các doanh nghiệp này sử dụng các mối quan hệ cá nhân để dành quyền sử  dụng quỹ đất thì cũng không có khả năng triển khai. Lúc đó tất yếu sẽ dẫn đến hiện  tượng chuyển nhượng dự án trên giấy tờ, làm đẩy giá thành và giá bán BĐS ở thị  trường Việt Nam lên cao tương đối so với một số nước Châu Á (xem Hình 1.3).  Hình 1.1: Số doanh nghiệp BĐS theo quy mô vốn  0%  5%  10%  15%  20%  25%  30%  35%  40%  45%  50%  Dưới  0,5 tỷ  đồng  Từ 0,5  đến  dưới 1  tỷ đồng  Từ 1  đến  dưới 5  tỷ đồng  Từ 5  đến  dưới 10  tỷ đồng  Từ 10  đến  dưới 50  tỷ đồng  Từ 50  đến  dưới  200 tỷ  đồng  Từ 200  đến  dưới  500 tỷ  đồng  Từ 500  tỷ đồng  trở lên  Tỷ trong doanh nghiệp theo quy mô vốn  Cả nước  Bất động sản  Hình 1.2: Số doanh nghiệp BĐS theo quy mô lao động  0%  5%  10%  15%  20%  25%  30%  35%  40%  45%  Dưới  5  người  5­9  người  10­49  người  50­  199  người  200­  299  người  300­  499  người  500­  999  người  1000­  4999  người  5000  người  trở lên  Tỷ lệ số doanh nghiệp theo quy mô lao động  Cả nước  Bất động sản  Nguồn: Tính toán từ dữ liệu điều tra doanh nghiệp năm 2007 của Tổng cục Thống kê (2010a).
  6. 6. 6  Hình 1.3: Giá bán và cho thuê căn hộ hạng sang tại thị trường Châu Á năm 2010  Nguồn: Townsend (2011), trang 8.  Tuy nhiên, các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ có thể phát triển dự án bằng  cách huy động vốn từ bên ngoài. Nhưng trên thị trường BĐS Việt Nam hiện nay các  kênh huy động vốn rất hạn chế, các doanh nghiệp chủ yếu vay vốn từ ngân hàng  thương mại và sử dụng vốn ứng trước của khách hàng để phát triển dự án. Điều này  thể hiện rất rõ trong thời gian từ năm 2007 đến nay, khi Chính phủ kiềm chế lạm  phát bằng chính sách tiền tệ thắt chặt đã tạo áp lực chi phí lãi vay lên các doanh  BĐS. Trước bối cảnh đó, buộc các doanh nghiệp tập trung huy động vốn từ khách  hàng bằng cách hạ giá các sản phẩm bất động sản trên giấy tờ  (xem Hình 1.4 và  Hình 1.5) để có vốn hoàn thiện dự án, nhằm giảm áp lực lãi vay.  Hình 1.4: Giá chào bán căn hộ  Hình 1.5: Giá cho thuê mặt bằng TTTM  Nguồn:  Công ty CBRE (trích trong Townsend, 2011)  Thứ ba, các hoạt động phân phối sản phẩm trên thị trường BĐS Việt Nam  diễn biến phức tạp và nhiều cấp độ. Theo ước tính của Vũ Đình Ánh (2010) thì có
  7. 7. 7  khoảng 80% các giao dịch trên thị trường BĐS là phi chính thức. Trước năm 2007,  thị trường BĐS cùng với chứng khoán là một trong những kênh đầu tư phổ biến của  người dân (Vũ Đình Ánh, 2010), người mua BĐS cũng đồng thời đóng vài trò là  nhà đầu tư BĐS nên đẩy giá BĐS lên cao (xem Hình 1.3).  Mặt khác, theo thống kê của Công ty CBRE (trích trong Townsend, 2011)  trước năm 2007, trung bình mỗi dự án có đến 95% khách hàng của CBRE ở thành  phố Hồ Chí Minh mua nhà ở bằng nguồn vốn vay. Do vậy, từ năm 2007 đến nay,  chính sách tiền tệ thắt chặt được Chính phủ sử dụng để kiềm chế lạm phát, làm cho  cầu BĐS giảm đi đáng kể (Nguyễn Trọng Hoài & Huỳnh Thanh Điền, 2011).  Tóm lại, hai khía cạnh tồn tại trên thị trường BĐS là chính sách điều tiết  của Chính phủ và hành vi của doanh nghiệp có liên quan đến việc nhận thức chưa  đầy đủ  về  lợi ích  và  tác  hại  của  các  mối  quan  hệ  giữa  các  chủ  thể tham  gia  thị  trường, nên chưa hoạch định được chính sách sử dụng các mối quan hệ tối ưu. Đối  với chính sách điều tiết vĩ mô, Chính phủ chưa quan tâm đúng mức đến sự liên kết  giữa các chủ thể trên thị trường nên dẫn đến hiệu ứng của chính sách không cao;  mặc dù các chính sách điều tiết thị trường được ban hành nhiều nhưng chưa tạo ra  sự đa dạng về các công cụ hỗ trợ thị trường, đặc biệt là các công cụ huy động vốn  cho doanh nghiệp BĐS. Đối với doanh nghiệp BĐS thì chịu sự chi phối nhiều bởi  mối quan hệ cá nhân của lãnh đạo doanh nghiệp với các cá nhân cơ quan quản lý  nhà nước trong việc tiếp cận quỹ đất, nên doanh nghiệp nhận thức về vai trò của các  mối quan hệ bị lệch lạc và chưa khai thác tối ưu và chưa sử dụng các mối quan hệ  để phục vụ cho các họat động kinh doanh.  Bởi vì hai khía cạnh tồn tại trên thị trường BĐS Việt Nam có liên quan đến  mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia thị trường, nên rất cần một khung lý thuyết  giúp doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách nhận thức và lượng hóa được  nguồn lực tồn tại trong các mối quan hệ của doanh nghiệp, cũng như chỉ ra đóng  góp của chúng trong các hoạt động của doanh nghiệp. Từ đó, làm căn cứ khoa học  và thực tiễn giúp doanh nghiệp BĐS nhận diện và hoạch định các chương trình phát  triển và sử dụng các mối quan hệ phục vụ hoạt động kinh doanh; đồng thời qua đó
  8. 8. 8  cũng xác định được luận cứ khoa học và thực tiễn về mối liên kết giữa các chủ thể  tham gia thị trường, nhằm giúp Chính phủ hoạch định các chính sách điều tiết thị  trường BĐS.  1.1.2  Bối cảnh lý thuyết  Nguồn lực tồn tại trong các mối quan hệ là một dạng nguồn lực vô hình được  đề cập đến với tên gọi là vốn xã hội. Vốn xã hội được nhiều nhà nghiên cứu như  Coleman (1988, 1990),  Putnam (1995, 2000),  và Nahapiet  & Ghosal  (1998) định  nghĩa là một dạng nguồn lực tồn tại trong các mạng lưới quan hệ có chất lượng (như  sự tín nhiệm, chia sẻ, hỗ trợ) giữa các chủ thể tham gia. Các lý thuyết kinh tế thừa  nhận vốn xã hội là nền tảng ra quyết định của các chủ thể trong nền kinh tế, chúng  chi phối hành vi của doanh nghiệp, người tiêu dùng và các chính sách vĩ mô của  Chính phủ, và các quy luật kinh tế (Wilson, 2000; Wills & các cộng sự, 2004). Do  vậy, vốn xã hội được nghiên cứu dưới nhiều cấp độ khác nhau như quốc gia, cộng  đồng, doanh nghiệp (Woolcock & Narayan, 2000).  Ở cấp độ doanh nghiệp, vốn xã hội của doanh nghiệp được đề cập đến như là  chất lượng các  mối quan  hệ của lãnh đạo doanh  nghiệp; mối quan hệ của  doanh  nghiệp với các chủ thể bên ngoài; chất lượng mối quan hệ giữa các cá nhân, bộ phận  chức năng bên trong doanh nghiệp. Các nghiên cứu vốn xã hội trong doanh nghiệp  đề cập đến từng khía cạnh riêng biệt kể trên, có thể tổng kết một vài nghiên cứu tiêu  biểu như sau:  Đối với vốn xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp: Các nghiên cứu gần đây  như  McCallum  &  O'Connell  (2009),  Truss  &  Gill  (2009),  Paré  &  các  cộng  sự  (2008),  Wharton & Brunetto (2009),  Cialdini & các  cộng sự (2001),  Tushman &  O’Reilly III (1997), Acquaah (2007) có đề cập đến vốn xã hội của lãnh đạo doanh  nghiệp như là chất lượng của các mạng lưới quan hệ của lãnh đạo: tình hữu nghị, hỗ  trợ lẫn nhau, quyền lực, sự công nhận của xã hội và sự  cam kết. Tuy nhiên,  các  nghiên cứu này chưa xây dựng được thang đo chất lượng cho từng mạng lưới quan  hệ của lãnh đạo, nên không tạo ra được các gợi ý xây dựng, phát triển và đánh giá  vốn xã hội.
  9. 9. 9  Đối với vốn xã hội bên ngoài: Các nghiên cứu của Jansen & các cộng sự  (2011), Yang & các cộng sự (2011), Landry & các cộng sự (2000) đề cập đến vốn  xã hội bên ngoài doanh nghiệp là chất lượng các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với  các chủ thể trong mạng lưới chiều ngang (khách hàng, nhà phân phối, nhà cung cấp,  các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn, đơn vị tư vấn, nghiên cứu, các đối thủ cạnh  tranh trong cùng ngành) và mạng lưới chiều dọc (chính quyền các cấp và các công  ty mẹ ­ con trong cùng tập đoàn). Các nghiên cứu này không xây dựng thang đo  chất lượng mối quan hệ cho từng chủ thể trong mạng lưới, mà thay vào đó là đề cập  đến chất lượng của mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể bên ngoài nói  chung.  Với  các  thang đo được  xây  dựng  như  vậy thì rất  khó  có  thể  giúp  doanh  nghiệp phát triển và đánh giá vốn xã hội bên ngoài.  Đối với vốn xã hội bên trong: Có những nghiên cứu đề cập đến vốn xã hội  bên trong của doanh nghiệp thể hiện qua mối quan hệ giữa các cá nhân và bộ phận  chức  năng,  chẳng  hạn  như  nghiên  cứu  của  Schenkel  &  Garrison  (2009),  Nisbet  (2007), Goyal & Akhilesh (2007),  Cheng & các cộng sự (2006). Các nghiên cứu  này tiếp cận vốn xã hội bên trong doanh nghiệp là chất lượng các mối quan hệ giữa  nhân viên và giữa các bộ phận chức năng với nhau. Nhưng các nghiên cứu này chưa  xây dựng thang đo và đánh giá tác động của chúng đến kết quả các hoạt động của  doanh nghiệp, nên chưa gợi ý được cách thức xây dựng và sử dụng vốn xã hội cho  doanh nghiệp.  Các nghiên cứu  kể trên chỉ đề cập đến từng khía cạnh  về  vốn  xã hội của  doanh nghiệp, chứ không đo lường vốn xã hội của doanh nghiệp bao hàm cả ba khía  cạnh mạng lưới lãnh đạo, bên ngoài và bên trong doanh nghiệp. Điều này dẫn đến  kết quả nghiên cứu rất khó có thể xây dựng các chỉ tiêu đo lường và đánh giá vốn xã  hội một cách toàn diện. Do vậy, rất cần thiết phải có một nghiên cứu xây dựng các  thang đo  vốn xã  hội bao  hàm  cả ba khía  cạnh bên  ngoài,  bên trong  và lãnh đạo  doanh nghiệp, để từ đó gợi ý các chỉ tiêu đo lường và đánh giá vốn xã hội của doanh  nghiệp một cách toàn diện. Hơn nữa, các nghiên cứu kể trên được thực hiện không  phải thực hiện đối với ngành BĐS.  Comment [D1]: Hoán đổi thứ tự
  10. 10. 10  Như vậy, với các lý thuyết hiện tại thì chưa giải quyết được vấn đề thực tiễn  đặt ra đối với doanh nghiệp BĐS Việt Nam là cần một khung lý thuyết giúp doanh  nghiệp và các nhà hoạch định chính sách nhận thức và lượng hóa được nguồn lực  tồn tại trong các mối quan hệ (vốn xã hội) của doanh nghiệp, cũng như chỉ ra đóng  góp của vốn xã hội trong các hoạt động của doanh nghiệp để thông qua đó giúp  doanh nghiệp nhận diện và hoạch định các chương trình nhằm phát triển vốn xã hội  phục vụ hoạt động kinh doanh. Do vậy, rất cần phải nghiên cứu về vốn xã hội đóng  góp vào các hoạt động của doanh nghiệp BĐS Việt Nam.  1.2  MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  Như đã giới thiệu,  hai khía cạnh tồn tại trên thị trường BĐS Việt Nam là  chính sách điều tiết của Chính phủ và hành vi của doanh nghiệp liên quan đến việc  chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích và tác hại của các mối quan hệ giữa các chủ thể  tham gia thị trường, hay nói cách khác là liên quan đến vốn xã hội. Trong khi đó,  các lý thuyết về vốn xã hội trong doanh nghiệp chỉ được nghiên cứu riêng lẻ từng  khía cạnh vốn xã hội bên ngoài, bên trong và lãnh đạo, và chúng được thực hiện  không phải đối với ngành BĐS Việt Nam, nên chưa giải quyết được vấn đề thực  tiễn  đặt  ra.  Nghiên  cứu  đóng  góp  của  vốn  xã  hội  vào  các  hoạt  động  của  doanh  nghiệp BĐS Việt Nam được thực hiện nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn,  với các mục tiêu nghiên cứu của luận án như sau:  1.  Khám phá và đo lường cấu trúc của vốn xã hội và các hoạt động trong quá  trình kinh doanh của các doanh nghiệp BĐS ở Việt Nam.  2.  Xây dựng mô hình lý thuyết về đóng góp vốn xã hội vào các hoạt động của  doanh nghiệp BĐS Việt Nam.  3.  Kiểm  định thang  đo và  mô  hình  lý  thuyết  cho  trường  hợp  điển  hình:  các  doanh nghiệp BĐS tại thành phố Hồ Chí Minh.  4.  Đề xuất những gợi ý chính sách giúp doanh nghiệp BĐS thành phố Hồ Chí  Minh nâng cao kết quả các hoạt động thông qua sử dụng vốn xã hội. Đồng
  11. 11. 11  thời gợi ý chính sách giúp các nhà hoạch định chính sách và Chính phủ hỗ  trợ doanh nghiệp BĐS Việt Nam phát triển các hình thức liên kết xã hội tích  cực và hạn chế các hình thức liên kết xã hội tiêu cực.  1.3  CÂU HỎI NGHIÊN CỨU  Các mục tiêu nghiên cứu nêu trên nhằm giúp doanh nghiệp BĐS nhận dạng  cấu trúc vốn xã hội và các hoạt động của doanh nghiệp BĐS, cũng như chỉ ra đóng  góp của chúng  vào  các  hoạt  động  của  doanh  nghiệp.  Qua  đó giúp doanh  nghiệp  nhận thức và hoạch định chiến lược sử dụng vốn xã hội phục vụ cho các hoạt động  kinh doanh, cũng như thông qua đó làm cở sỡ để Chính phủ hoạch định các chính  sách vĩ mô nhằm hạn chế các hình thức liên kết các hội tiêu cực và hỗ trợ doanh  nghiệp BĐS phát triển vốn xã hội. Luận án nghiên cứu đóng góp của vốn xã hội vào  các hoạt động của doanh nghiệp BĐS Việt Nam được thực hiện với các mục tiêu  trên, nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:  1.  Vốn xã hội và các hoạt động trong doanh nghiệp BĐS Việt Nam được nhận  diện và đo lường như thế nào?  2.  Vốn xã hội đóng góp vào các hoạt động trong doanh nghiệp BĐS Việt Nam  như thế nào?  3.  Nếu vốn xã hội có đóng góp vào các hoạt động của doanh nghiệp BĐS, thì  những gợi ý chính sách nào nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho doanh  nghiệp BĐS thông qua sử dụng vốn xã hội; cũng như gợi ý chính sách nào  giúp Chính phủ điều tiết thị trường  BĐS theo  hướng hỗ trợ  doanh  nghiệp  phát triển các hình thức liên kết xã hội tích cực và hạn chế các hình thức liên  kết xã hội tiêu cực?  1.4  PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  Phạm vi nghiên cứu:  Như đã nêu trên, vốn xã hội được nghiên cứu dưới nhiều cấp độ như quốc  gia, cộng đồng dân sự và doanh nghiệp. Trong luận án này chủ yếu nghiên cứu vốn  xã hội dưới cấp độ doanh nghiệp trong một ngành cụ thể là ngành BĐS.  Comment [D2]: Có sự hoán đổi vị trí
  12. 12. 12  Đối tượng nghiên cứu:  Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp BĐS có đồng thời hai chức năng  kinh  doanh: tạo sản phẩm  và phân phối  sản  phẩm BĐS.  Đối tượng để  xây dựng  thang đo  và  các  giả thuyết nghiên  cứu là  các doanh  nghiệp BĐS Việt Nam.  Các  thang đo và mô hình nghiên cứu được kiểm định cho trường hợp điển hình là các  doanh nghiệp BĐS tại thành phố Hồ Chí Minh.  1.5  PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Nghiên cứu của luận án được thực hiện gồm hai giai đoạn là: (1) xây dựng  thang đo và mô hình lý thuyết; và (2) kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cho  trường hợp điển hình, cụ thể như sau:  Giai đọan một: Lược khảo lý thuyết có liên quan để thiết kế dàn bài thảo  luận tay đôi phục vụ cho nghiên cứu định tính lần thứ nhất nhằm khám phá cấu trúc  và phát triển thang đo sơ bộ của  vốn xã  hội và các hoạt động của doanh  nghiệp  BĐS. Đối tượng thảo luận tay đôi là các giám đốc hoặc phó giám đốc doanh nghiệp  BĐS ở Việt Nam bằng phương pháp chọn theo mục tiêu.  Sau đó thực hiện nghiên cứu định lượng sơ bộ trên mẫu gồm 150 quan sát là  các giám đốc doanh nghiệp BĐS thành phố Hồ Chí Minh theo phương pháp chọn  mẫu phân tầng phi xác suất (phân theo loại hình sở hữu doanh nghiệp) để đánh giá  sơ bộ về tính nhất quán và cấu trúc thang đo. Hai công cụ sử dụng trong nghiên cứu  định lượng sơ bộ là (1) hệ số tin cậy (Cronbach’s alpha) và phân tích nhân tố khám  phá (Exploratary Factor Analysis, ký hiệu là EFA). Nghiên cứu sơ bộ sẽ sàng lọc  thang đo và xác định được cấu trúc thang đo dùng cho nghiên cứu chính thức ở giai  đoạn hai.  Sau khi nghiên cứu định lượng sơ bộ giúp định hình được cấu trúc thang đo  để làm cơ sở cho việc định nghĩa rõ ràng về các khái niệm nghiên cứu. Công việc  tiếp theo là thiết kế dàn bài thảo luận tay đôi để nghiên cứu định tính lần thứ hai để  xây dựng mô hình lý thuyết với các giả thuyết về đóng góp của vốn xã hội vào các  hoạt động của doanh nghiệp BĐS Việt Nam.
  13. 13. 13  Giai đoạn hai: Kiểm định thang đo và các giả thuyết trong mô hình nghiên  cứu cho trường hợp các doanh nghiệp BĐS tại thành phố Hồ Chí Minh trên cỡ mẫu  khảo sát  là 216 doanh  nghiệp với  đối tuợng là giám đốc hoặc phó giám đốc  các  doanh nghiệp BĐS. Cỡ mẫu nghiên cứu ở giai đoạn hai trên cơ sở kế thừa cỡ mẫu  của giai đoạn một (do kết quả đánh giá sơ bộ thang đo ở giai đoạn một rất ít biến  quan sát bị loại), và cũng chọn mẫu theo phương pháp phân tầng phi xác suất (phân  theo loại hình sở hữu doanh nghiệp).  Dữ liệu thu thập được sử dụng để đánh giá  thang đo bằng công cụ hệ số tin cậy (Cronbach’s alpha), phân tích nhân tố khám  phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis, ký hiệu  là CFA) để đánh giá độ tương thích với dữ liệu, tính đơn nguyên, giá trị phân biệt,  giá trị hội tụ để điều chỉnh mô hình nghiên cứu. Cuối cùng là kiểm định mô hình lý  thuyết bằng công cụ mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling, ký  hiệu là SEM) để rút ra kết luận về đóng góp của vốn xã hội vào các hoạt động của  doanh nghiệp BĐS. Từ đó làm cơ sở cho thảo luận chính sách nâng cao kết quả hoạt  động của doanh nghiệp thông qua sử dụng vốn xã hội; và gợi ý chính sách vĩ mô  cho Chính phủ điều tiết thị trường BĐS theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp phát triển  các hình thức liên kết vốn xã hội tích cực và hạn chế các hình thức liên kết xã hội  tiêu cực.  1.6  Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU  1.6.1  Ý nghĩa khoa học  Nhiều nhà nghiên cứu đã hoài nghi việc sử dụng khái niệm vốn xã hội trong  các nghiên cứu kinh tế và quản trị bởi tính khó đo lường của nó. Đã có nhiều nghiên  cứu nỗ lực trong việc đo lường vốn xã hội trên từng khía cạnh riêng lẻ như mạng  lưới của lãnh đạo doanh nghiệp hoặc bên ngoài hoặc bên trong doanh nghiệp nên  các thang đo vốn xã hội của doanh nghiệp bị khiếm khuyết. Hơn nữa,  các nghiên  cứu trước đây được thực hiện không phải thuộc ngành BĐS nên vẫn chưa chỉ ra  được đóng góp của vốn xã hội vào các hoạt động doanh nghiệp BĐS. Do vậy, nếu  mục tiêu nghiên cứu của luận án hoàn thành dự kiến sẽ có những đóng góp như sau:
  14. 14. 14  Thứ nhất, các nghiên cứu trước đây chỉ đề cập đến từng khía cạnh riêng lẻ về  vốn xã hội của doanh nghiệp nên việc nhận diện chúng còn khiếm khuyết. Với mục  tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng thang đo vốn xã hội dựa trên nền tảng lý  thuyết, kết hợp với nghiên cứu định tính tại Việt Nam và nghiên cứu điển hình tại  thành phố Hồ Chí Minh, sẽ kỳ vọng đóng góp về mặt khoa học là xây dựng được  thang đo vốn xã hội đầy đủ hơn các nghiên cứu trước đó, đảm bảo giá trị nội dung  và độ tin cậy để có thể kế thừa cho các nghiên cứu tiếp theo có liên quan.  Thứ hai, với mục tiêu nghiên cứu của luận án là khám phá và đo lường các  nhóm hoạt động của doanh nghiệp BĐS dựa trên lý thuyết, kết hợp với nghiên cứu  định tính tại Việt Nam và kiểm định điển hình tại thành phố Hồ Chí Minh, sẽ kỳ  vọng xây dựng được các thang đo hoạt động của doanh nghiệp BĐS đảm bảo giá trị  nội dung và độ tin cậy để khẳng định giá trị kế thừa cho các nghiên cứu có liên quan  tại Việt Nam.  Thứ ba, với mục tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng mô hình lý thuyết  về đóng góp của vốn xã hội vào các doanh nghiệp BĐS Việt Nam và kiểm định cho  trường hợp điển hình tại thành phố Hồ Chí Minh, sẽ kỳ vọng chỉ ra những đóng góp  trực tiếp,  gián tiếp của vốn  xã hội  vào  các nhóm  hoạt động của doanh  nghiệp là  bằng chứng khoa học để khẳng định vốn xã hội là một trong những nguồn lực cần  được bổ sung trong công tác hoạch định và thực hiện chiến lược kinh doanh của  doanh nghiệp BĐS, cũng như trong công tác hoạch định chính sách vĩ mô điều tiết  thị trường BĐS. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần kích thích những  nghiên cứu tiếp theo về mối liên hệ giữa vốn xã hội và các hoạt động trong quá trình  kinh doanh không chỉ ở ngành BĐS mà còn đối với các ngành kinh tế khác.  1.6.2  Ý nghĩa thực tiễn  Nếu đạt được các mục tiêu nghiên cứu và trả lời được câu hỏi nghiên cứu  nên trên, luận án kỳ vọng có những đóng góp về mặt thực tiễn cho các doanh nghiệp  BĐS và các cơ quan quản lý nhà nước đối với ngành BĐS của Việt Nam nói chung,  thành phố Hồ Chí Minh nói riêng như sau:
  15. 15. 15  Thứ nhất,  với  mục  tiêu nghiên cứu của luận  án là xây  dựng và  kiểm định  thang đo vốn xã hội, sẽ dùng làm căn cứ để gợi ý các mục tiêu và tiêu chí đo lường  vốn xã hội với ba khía cạnh là chất lượng mạng lưới bên trong, bên ngoài và của  lãnh đạo doanh nghiệp. Qua đó, giúp doanh nghiệp BĐS nhận dạng được khuôn khổ  tạo  lập,  duy  trì  và  sử  dụng  vốn  xã  hội  trong  doanh  nghiệp  BĐS.  Từ  đó,  doanh  nghiệp có thể hoạch định các chương trình phát triển và sử dụng vốn xã hội để nâng  cao kết quả các hoạt động.  Thứ hai, với mục tiêu nghiên cứu của luận án là xây dựng được các thang đo  cho các nhóm hoạt động của doanh nghiệp BĐS, đồng thời chỉ ra chỉ ra được mối  liên hệ giữa các hoạt động, sẽ là cơ sở để gợi ý các chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt  động đầu vào, sản xuất và đầu ra cho doanh nghiệp BĐS. Đóng góp này sẽ giúp  doanh nghiệp BĐS đánh giá được kết quả của hoạt động trong doanh nghiệp của họ  được hoàn thiện hơn.  Thứ ba, với mục tiêu nghiên cứu của luận án là xác định cấu trúc của vốn xã  hội  và  khẳng  định sự  đóng  góp  của  chúng  vào  các  hoạt  động  của  doanh  nghiệp  BĐS, kỳ vọng chỉ ra được tác động tiêu cực và tích cực của các hình thức liên kết  xã hội của doanh nghiệp ngành BĐS của Việt Nam. Đó là luận cứ khoa học giúp  cho các cơ quan lập pháp, quản lý nhà nước cấp trung ương và địa phương liên quan  đến  thị  trường  BĐS  nhận  diện  sự  vận  động  của  nguồn  lực  vốn  xã  hội  trên  thị  trường. Để từ đó kịp thời có những chính sách phát huy các hình thức liên kết vốn  xã hội tích cực, đồng thời hạn chế các hình thức liên kết vốn xã hội tiêu cực trong  thị trường BĐS quốc gia.  Cuối cùng là kết quả nghiên cứu của luận án sẽ phục vụ cho các hiệp hội  BĐS Việt Nam, hiệp hội BĐS thành phố Hồ Chí Minh nhận diện được sự quan tâm  của các thành viên khi tham gia hiệp hội, để ban chấp hành các hiệp hội tạo ra được  các giá trị từ mạng lưới liên kết phục vụ lợi ích của các thành viên tham gia.
  16. 16. 16  1.7  BỐ CỤC LUẬN ÁN  Kết cấu của luận án được trình bày trong sáu chương. Nội  dung  của từng  chương như sau:  Chương 1, giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm: vấn đề nghiên  cứu (bối cảnh thực tiễn  và lý thuyết) để nhận  dạng  cơ  hội  nghiên cứu,  mục tiêu  nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu,  và dự kiến những đóng góp về  mặt khoa học và thực tiễn của luận án.  Chương 2, trình bày cơ sở lý thuyết và khung phân tích về mối liên hệ giữa  vốn xã hội và các hoạt động của doanh nghiệp BĐS. Trước hết là lược khảo các lý  thuyết để xây dựng định nghĩa vốn xã hội sử dụng cho luận án. Kế đến là lược khảo  các lý thuyết về các hoạt động trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp nhằm  xác định cấu trúc của vốn xã hội và các hoạt động của doanh nghiệp BĐS. Từ đó  chỉ ra khe hổng nghiên cứu và khung phân tích về mối liên hệ giữa vốn xã hội và  các hoạt động của doanh nghiệp BĐS.  Chương  3,  trình  bày  quy  trình  và  phương  pháp  thực  hiện  nghiên  cứu.  Chương này sẽ nêu ra quy trình thực nghiên cứu gồm hai giai đoạn: Giai đoạn một  là xây dựng thang đo và mô hình nghiên cứu; Giai đoạn 2 là kiểm định thang đo và  mô hình  nghiên  cứu cho trường hợp điển  hình tại thành phố Hồ Chí Minh.  Giai  đoạn thứ nhất là từ nghiên cứu định tính lần thứ nhất để xây dựng thang đo sơ bộ,  kế đến là đánh giá sơ bộ thang đo để hình thành thang đo chính thức, nghiên cứu  định tính lần thứ hai để hình thành các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Giai đoạn  thứ hai là trình bày các công cụ sử dụng cho nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định  thang đo như hệ số tin cậy (Cronbach’s alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA),  phân tích nhân tố khẳng định (CFA); kiểm định các giả thuyết nghiên cứu bằng mô  hình  cấu  trúc  tuyến  tính  (SEM).  Bên  cạnh  đó,  chương  này  cũng  trình  bày  các  phương pháp chọn mẫu, tiêu chuẩn xác định cỡ mẫu trong từng giai đoạn nghiên  cứu.  Chương 4, xây dựng thang đo và mô hình nghiên cứu cho trường hợp ngành  BĐS Việt Nam. Trước hết là xây dựng thang đo bằng phương pháp liện hệ lý thuyết
  17. 17. 17  và kết hợp với nghiên cứu định tính lần thứ nhất. Các thang đo được đánh giá sơ bộ  bằng nghiên cứu định lượng với công cụ sử dụng là Cronbach’s alpha và EFA trên  150 quan sát. Sau cùng là nghiên cứu định tính lần thứ hai để hình thành các giả  thuyết và mô hình nghiên cứu.  Chương 5, trình bày kết quả kiểm định thang đo và các giả thuyết nghiên cứu  đã xây dựng ở  chương 4 cho trường hợp điển hình là các doanh nghiệp BĐS tại  thành phố Hồ Chí Minh. Chương này xác định đối tượng và cỡ mẫu dùng để kiểm  định  thang đo.  Kết quả  kiểm định thang đo bằng  các công  cụ Cronbach’s  alpha,  EFA, CFA để đánh mức độ phù hợp của mô hình với dữ liệu, tính đơn nguyên, giá  trị phân biệt, độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích. Sau đó là kiểm định các giả  thuyết  nghiên cứu  và phân tích đóng  góp của vốn  xã hội vào các  hoạt động  của  doanh nghiệp bằng phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Qua đó đánh  giá mức độ phù hợp của mô hình lý thuyết được xây dựng và xác định được các căn  cứ để gợi ý những chính sách ở chương 6.  Chương 6, tóm tắt kết quả nghiên cứu về đóng góp của vốn xã hội vào các  doanh nghiệp BĐS. Qua đó gợi ý một số chính sách nhằm góp phần giúp doanh  nghiệp nâng cao kết quả các hoạt động thông qua sử dụng vốn xã hội của doanh  nghiệp; đồng thời gợi ý các chính sách vĩ mô nhằm hỗ trợ doanh nghiệp BĐS phát  triển các hình thức liên kết xã hội tích cực và hạn chế các hình thức liên kết xã hội  tiêu cực trong thị trường BĐS. Cuối cùng là trình bày những đóng góp về mặt khoa  học và thực tiễn, cũng như những hạn chế của luận án và định hướng nghiên cứu  tiếp theo. Phần cuối cùng của luận án là danh mục các công trình của tác giả có liên  quan đến luận án, danh mục các tài liệu tham khảo và các phụ lục.
  18. 18. 18  CHƯƠNG 2  CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH VỀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA  VỐN XàHỘI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP  BẤT ĐỘNG SẢN  Chương 2 sẽ lược khảo các quan điểm tiêu biểu về vốn xã hội để lựa chọn  các yếu tố cấu thành vốn xã hội sử dụng trong luận án, đồng thời kết hợp với các  chủ thể trong mạng lưới quan hệ của doanh nghiệp để xây dựng cấu trúc vốn xã hội  cho  doanh  nghiệp.  Kế  đến  là  xem  xét  các  lý  thuyết  về  quá  trình  hoạt  động  của  doanh nghiệp BĐS để chỉ ra các nhóm hoạt động của doanh nghiệp BĐS. Sau cùng  là tích hợp hai khía cạnh trên để phát triển khung phân tích về mối liên hệ giữa vốn  xã hội và các hoạt động của doanh nghiệp BĐS.  2.1  TỔNG KẾT LÝ THUYẾT VỀ VỐN XàHỘI  2.1.1  Quá trình hình thành khái niệm vốn xã hội  °  Giai đoạn từ năm 2000 trở về trước:  Woolcock & Narayan (2000, trang 229) cho rằng:  “Cụm từ vốn xã hội được sử dụng lần đầu tiên bởi Hanifan (1916), sau đó  chúng biến mất đi trong vài thập kỷ và tái hiện trở lại vào những năm của thập kỷ  năm mươi bởi các nhà xã hội học Seeley, Sim và Loosely (1956), những năm của  thập kỷ sáu mươi bởi nghiên cứu của Homans (1961), Jacobs (1961), và những năm  của thập kỷ bảy mươi bởi nhà kinh tế Loury (1977). Không ai trong số các tác giả  đó trích dẫn các nghiên cứu trước đó, nhưng tất cả đều đề cập đến đóng góp quan  trọng  của  các  mối  liên  kết,  ràng  buộc  trong  cộng  đồng.  Các  nghiên  cứu  của  Coleman (1988) về giáo dục và Putnam (1993) về sự tham gia của cộng đồng và thể  chế đã cung cấp nguồn cảm hứng cho nghiên cứu xung quanh các lĩnh vực: cộng  đồng; giáo dục; quản trị; y tế và môi trường; và kinh tế phát triển.”  Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu gần đây phát triển khái niệm vốn xã hội dựa  trên các khái niệm được đề xuất chủ yếu bởi các nghiên cứu của Bourdieu (1986),
  19. 19. 19  Coleman  (1988,  1990),  Putnam  (1993,  1995,  2000),  Fukuyama  (1995,  1997),  và  Nahapiet & Ghosal (1998).  Theo quan điểm Bourdieu (1986), vốn xã hội là các nguồn lực tồn tại trong  các mối liên hệ giữa các cá nhân hoặc tổ chức (gọi chung là chủ thể) trong bối cảnh  xã hội, thông qua đó các chủ thể nhận được lợi ích từ mạng lưới quan hệ như dễ  dàng  huy  động  các  nguồn  lực  khác  và  tạo  ra  nguồn  vốn  con  người.  Tuy  nhiên,  Bourdieu chưa phân loại được cấu trúc của mạng lưới quan hệ của các cá nhân và  chưa đề cập đến các yếu tố chất lượng các mối quan hệ đó nên rất khó có thể xây  dựng các tiêu chí đo lường vốn xã hội dựa trên định nghĩa này.  Cũng tương tự như Bourdieu (1986), Coleman (1988, 1990) cho rằng vốn xã  hội được thành hình qua những thay đổi trong liên hệ giữa người với người, cụ thể  là  những  liên  hệ  dễ  dàng  hoá  hành động.  Điểm  tiến  bộ  hơn  so  với  Bourdieu  là  Coleman đã chỉ ra được ba khía cạnh biểu hiện chất lượng của vốn xã hội, bao gồm:  nghĩa vụ, sự kỳ vọng, thông tin lẫn nhau và chuẩn mực tồn tại giữa các quan hệ xã  hội. Ba khía cạnh trên về sau đã được nhiều nghiên cứu kế thừa để phát triển thang  đo  về  chất lượng  của  các  mạng lưới  xã  hội  như  nghiên  cứu  của  Cohen  &  Field  (1998), Chou (2003). Tuy nhiên, hạn chế Coleman (1988, 1990) và Bourdieu (1986)  vẫn chưa chỉ ra được cấu trúc của các mạng lưới quan hệ.  Nahapiet và Ghosal (1998) cũng có quan điểm về vốn xã hội tương tự như  Bourdieu và Coleman khi cho rằng vốn xã hội bao gồm các nguồn lực thực tế và  tiềm ẩn bên trong mạng lưới các mối quan hệ được sở hữu bởi một tổ chức hoặc cá  nhân trong xã hội (gọi chung là chủ thể), thông qua mạng lưới đó các chủ thể trong  xã hội huy động được các nguồn lực khác. Nahapiet & Ghosal (1998) còn chỉ ra ba  khía cạnh của vốn xã hội là (1) khía cạnh cấu trúc mạng lưới: chỉ ra những ai trong  hệ thống phân cấp mạng lưới, tần suất kết nối giữa các chủ thể, kết cấu trong mạng  lưới; (2) là khía cạnh quan hệ: biểu hiện chất lượng của các mối quan hệ  như sự tín  cẩn, kỳ vọng và chia sẻ lẫn nhau giữa các chủ thể trong mạng lưới; và (3) là khía  cạnh nhận thức: là những quy định về sự chia sẻ, ngôn ngữ, ký hiệu…để giao tiếp  và hành xử với nhau trong mạng lưới. Thực ra ba khía cạnh đề cập đến vốn xã hội
  20. 20. 20  của  Nahapiet  &  Ghosal  là  cách  lý  giải  khác  về  ba  khía  cạnh  được  đề  cập  bởi  Coleman  (1988,  1990).  Thực  chất  ba  khía  cạnh  của  vốn  xã  hội  của  Nahapiet  &  Ghosal (1998) thì khía cạnh cấu trúc đề cập đến sự cấu thành mạng lưới, khía cạnh  quan hệ và nhận thức đề cập đến  yếu tố chất lượng của mạng lưới. Về sau được  nhóm nghiên cứu Landry & các cộng sự (2000) sử dụng cho phân tích vốn xã hội  trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng giống như Coleman (1988, 1990) và Bourdieu  (1986), Nahapiet & Ghosal (1998) vẫn chưa  phân loại rõ các loại mạng lưới quan  hệ.  Trong các nghiên cứu của Fukuyama (1995, 1997) đã khẳng định tầm quan  trọng của thuộc tính chất lượng mạng lưới quan hệ là sự tín cẩn ảnh hưởng đến sự  thành công trong các hoạt động kinh tế. Do vậy năm 1997, Ông đã chỉ rõ rằng vốn  xã hội có thể được định nghĩa đơn giản như sự tồn tại của các giá trị, chuẩn mực xã  hội giúp các thành viên vận dụng để hợp tác lẫn nhau (Fukuyama, 1997). Trong các  nghiên cứu của Fukuyama đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thuộc tính chất  lượng  của các  mạng lưới  quan  hệ,  nhưng  cũng  có những hạn  chế giống các  nhà  nghiên cứu trước đó như Coleman (1988, 1990) và Bourdieu (1986), Nahapiet &  Ghosal (1998) là chưa phân loại được cấu trúc của mạng lưới quan hệ.  Putnam (1993) tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của chất lượng mạng lưới  quan hệ là sự tín cẩn, các chuẩn mực xã hội. Vài năm sau đó, ông (Putnam,1995) bổ  sung thêm một luận điểm nữa về chất lượng của  mối quan hệ là sự kỳ vọng của  những người tham gia mạng lưới. Đến năm 2000, Ông (Putnam, 2000) đã phân biệt  các hình thức liên kết xã hội là co cụm vào nhau (bonding social capital), loại vươn  ra bên ngoài (bridging social capital). Loại co cụm vào nhau gây tác động tiêu cực  cho xã hội; loại vươn ra ngoài có tác động tích cực cho xã hội. Putnam (2000) đã  phân loại được cấu trúc của các mạng lưới xã hội thành hai nhóm là nhóm quan hệ  diễn ra theo chiều ngang và quan hệ diễn ra theo chiều dọc. Cấu trúc liên kết theo  chiều ngang một cách tình nguyện dựa trên lòng tin sẽ gia tăng năng suất cho xã  hội. Trong những xã hội mà sự tín cẩn không cao, sự tương tác hàng ngang bị thay  thế bởi các mối quan hệ theo chiều dọc thì không có vốn xã hội tích cực (Putnam,
  21. 21. 21  2000).  Như  vậy,  điểm  tiến  bộ  hơn  của  Putnam  (2000)  so  với  Bourdieu  (1986),  Coleman (1988, 1980), Nahapiet & Ghosal (1998) và Fukuyama (1995, 1997) về  vốn xã hội là phân loại được các loại mạng lưới quan hệ theo chiều ngang và chiều  dọc. Thêm vào đó Putnam (2000) cũng đã chỉ ra được cấu trúc của mối quan hệ có  tác động tiêu cực (co cụm vào nhau) và tích cực (vươn ra bên ngoài) cho xã hội.  Khái niệm nghiên cứu về vốn xã hội được hình thành hoàn thiện kể từ khi có  nghiên cứu của Putnam (2000). Vốn xã hội có thể tổng kết bởi hai đặc trưng là (1)  chất lượng của các mạng lưới quan hệ (hay gọi là khía cạnh nhận thức) như sự tín  cẩn, hỗ trợ, kỳ vọng lẫn nhau và các chuẩn mực, quy tắc hành xử, và các hình thức  liên kết co cụm vào nhau, vươn ra bên ngoài và kết nối; (2) cấu trúc của mạng lưới  bao gồm cơ cấu trong mạng lưới, tần suất kết nối giữa các chủ thể, nhận diện chủ  thể tham gia mạng lưới, và cấu trúc quan hệ chiều ngang và chiều dọc.  °  Giai đoạn sau năm 2000:  Các nghiên cứu về vốn xã hội sau năm 2000 vẫn chưa thấy bổ sung thêm đặc  trưng nào về khái niệm vốn xã hội. Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng các đặc trưng  của chất lượng mạng lưới quan hệ trong các mạng lưới khác nhau để xác định vốn  xã hội. Từ sau năm 2000, các nghiên cứu về vốn xã hội được đo lường dưới nhiều  cấp độ khác nhau như cấp độ quốc gia, cộng đồng, giữa các công ty và trong nội bộ  công ty.  Ở cấp độ quốc gia và cộng đồng thì có nhiều nghiên cứu xây dựng hệ thống  đo lường vốn xã hội cho quốc gia. Chẳng hạn như Sabatini (2005) đã xây dựng hệ  thống đo lường vốn xã hội ở Ý; ABS (2004) đo lường vốn xã hội ở Úc; Harper và  Kelly (2003) đo lường vốn xã hội ở Anh, và Lisakka (2006) đo lường vốn xã hội ở  Phần Lan. Hầu hết các nghiên cứu đo lường vốn xã hội ở cấp độ quốc gia đều phát  triển các chỉ số đo lường dựa trên hai yếu tố là chất lượng quan hệ và cấu trúc mạng  lưới.  Cũng tương tự, ở cấp độ doanh nghiệp các nhà nghiên cứu phát triển vốn xã  hội dựa trên hai đặc trưng chất lượng mạng lưới và cấu trúc mạng lưới. Dựa vào cấu
  22. 22. 22  trúc các mạng lưới quan hệ mà các nghiên cứu đề cập đến ba nhóm mạng lưới xã hội  của doanh nghiệp là mạng lưới quan hệ của lãnh đạo,  mạng lưới bên ngoài (giữa  doanh  nghiệp  với  các  đơn  vị  bên  ngoài)  và  mạng  lưới  bên  trong  (nội  bộ  doanh  nghiệp)  +  Ở  khía  cạnh  lãnh  đạo  doanh  nghiệp  có  nghiên  cứu  của  Tushman  &  O’Reilly III (1997) và Yli­Renko & các cộng sự (2001). Các nghiên cứu này đề cập  đến vốn xã hội của lãnh đạo dựa trên sức mạnh của mối quan hệ của lãnh đạo với  các  chủ  thể như bạn bè, bạn bè, nhà tư vấn, chính quyền  và các  cơ  quan truyền  thông.  + Ở khía cạnh bên ngoài doanh nghiệp có nghiên cứu của Landry & cộng sự  (2000), Yang & các cộng sự (2011) đo lường vốn xã hội của doanh nghiệp dựa trên  các đặc trưng của chất lượng mối quan hệ với các chủ thể bên ngoài doanh nghiệp.  Nghiên cứu của Scupola & cộng sự (2009) đo lường vốn xã hội  trong các mối quan  hệ với các chủ thể trong cùng một khu vực nhằm kỳ vọng có được cơ hội phát triển  kinh doanh, tiếp cận được các đối tác và các thông tin có liên quan đến công ty và  các  mối quan  hệ  cá  nhân  giúp  tiếp nhận được  sự  tư  vấn giải  quyết  vấn đề  kinh  doanh, tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn xã hội tác động có ý nghĩa đến  hiệu suất và khả năng tiếp cận thị trường.  + Ở khía cạnh bên trong có nghiên cứu của Brookes & cộng sự (2006), Yang  & các cộng sự (2011) đo lường vốn xã hội bên trong của doanh nghiệp dựa trên mối  quan hệ giữa các bộ phận chức năng và các cá nhân. Nghiên cứu của Lee & các  cộng sự (2001) đo lượng vốn xã hội bằng sự tương tác giữa các thành viên trong  cùng nhóm làm việc biểu hiện qua sự chia sẻ thông tin, kiến thức và kỹ năng; Sự  tương tác này có vai trò nâng cao năng suất hoạt động nhóm.  2.1.2  Tổng kết các đặc trưng của khái niệm vốn xã hội  Các định nghĩa về vốn xã hội như lược khảo trên tuy khác nhau nhưng lại bổ  sung cho nhau. Tổng kết các quan điểm này có thể định nghĩa vốn xã hội là tổng  hợp các nguồn lực của cá nhân hoặc nhóm hoặc tổ chức (gọi chung là chủ thể) tồn  tại trong các mạng lưới quan hệ có chất lượng. Định nghĩa này bao gồm hai nhóm
  23. 23. 23  đặc trưng là cấu trúc của mạng lưới, chất lượng mạng lưới quan hệ được khái quát  như Bảng 2.1.  Bảng 2.1: Tổng kết các đặc trưng của vốn xã hội từ lược khảo lý thuyết  Tác giả và năm  Chất lượng mạng lưới  Cấu trúc mạng lưới  Nhận  thức  mối  quan  hệ:  Tín  cẩn,  chia  sẻ,  hỗ  trợ,  chuẩn  mực,  nghĩa  vụ  và  sự  kỳ  vọng  lẫn nhau.  Sự liên kết:  Co  cụm  vào  nhau,  vươn ra bên  ngoài  và  kết nối.  Sự tham gia vào  các  tổ  chức  xã  hội:  tần  suất,  mức  độ  kết  nối,  nhận được sự hỗ  trợ từ mạng lưới  Các  kênh  tương  tác.  Cơ  cấu tổ  chức  mạng  lưới.  Mối  quan hệ  chiều  ngang,  chiều  dọc.  Buordieu (1986)  X  X  Coleman (1988)  X  X  Putnam (1993)  X  X  Putnam (1995)  X  X  Fukuyama (1995, 1997)  X  X  Nahapiet & Ghosal (1998)  X  X  X  Putnam (2000)  X  X  X  X  X  X  Harper  &  Kelly,  2003);  ABS,  (2004);  Sabatini  (2005); Lisakka (2006).  X  X  X  X  X  X  Landry và cộng sự (2000);  Brookes  &  cộng  sự  (2006);  Yang,  Alejandro  &  Boles  (2011);  Lee  &  Pennings (2001).  X  X  X  X  Yli­Renko,  Autio,  &  Sapienza  (2001);  Scupola  &  cộng  sự  (2009);  Tushman  &  O’Reily  III  (1997).  X  X  Nguồn: Tổng kết từ lược khảo lý thuyết.
  24. 24. 24  Thứ nhất, cấu trúc mạng lưới quan hệ thể hiện qua ba khía cạnh: (1) Cơ cấu  tổ chức mạng lưới cho biết những ai tham gia mạng lưới và vị trí của họ trong mạng  lưới như thế nào; (2) Các chủ thể trong mạng lưới quan hệ với nhau chiều ngang  hay chiều dọc; (3) Các kênh tương tác (phương tiện tương tác) của các thành viên  trong mạng lưới liên hệ với nhau.  Thứ hai, chất lượng của các mạng lưới quan hệ biểu hiện qua ba khía cạnh là  (1) nhận thức về mối quan hệ như sự tín cẩn, kỳ vọng và chia sẻ kiến thức, kinh  nghiệm lẫn nhau giữa các chủ thể trong mạng lưới và các chuẩn mực trong các mối  quan hệ; (2) sự tham gia thể hiện qua tần suất tham gia vào các mạng lưới, mức độ  kết nối (phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong mạng lưới) và mức độ nhận  được hỗ trợ từ mạng lưới; (3) sự liên kết thể hiện qua các hình thức liên kết co cụm  vào nhau, vươn ra bên ngoài và kết nối.  2.1.3  Vốn xã hội trong các lý thuyết kinh tế học  Các nhà kinh tế học ít chú trọng đến việc xây dựng thang đo lường vốn xã  hội, mà chủ yếu tập trung vào việc so sánh vốn xã hội với các loại vốn cổ điển khác  và sử dụng vốn xã hội như là một nguồn lực giải thích các hiện tượng, quy luật kinh  tế.  Hans & Bolton (2003) cho rằng “vốn” là một điều kiện tiên quyết trong hoạt  động kinh doanh và cần thiết phải có một quan điểm về vốn xã hội để có thể so sánh  với  vốn vật thể. Khi so sánh  vốn  xã  hội  với các loại vốn  cổ điển khác,  Hans  &  Bolton (2003) cho thấy có những tương đồng rõ ràng, cũng như là những sự khác  biệt dễ nhận thấy  giữa vốn xã  hội  và những  loại vốn  khác. Vốn  xã hội có nhiều  điểm suy luận tương đồng  như vốn vật chất (bao gồm máy móc, công cụ và thiết  bị) và vốn nhân lực. Vốn vật chất được tạo ra bởi sự thay đổi trong vật liệu để mang  lại những công cụ phục vụ sản xuất; vốn nhân lực được tạo ra bởi sự thay đổi trong  con người mang lại những kỹ năng và khả năng trong các hoạt động; còn vốn xã hội  có được thông qua những sự thay đổi trong mối liên hệ giữa con người để tạo điều  kiện thuận lợi cho hoạt động. Nếu vốn vật chất hoàn toàn hữu hình, được thể hiện  trong hình thức vật liệu có thể quan sát thì vốn nhân lực ít hữu hình, được thể hiện
  25. 25. 25  trong những kỹ năng và kiến thức được cung cấp bởi một cá nhân, còn vốn xã hội ít  hữu hình nhất vì nó tồn tại trong những mối liên hệ giữa cá nhân với nhau. Giống  như cả hai vốn vật chất và vốn nhân lực tạo điều kiện để hoạt động có năng suất,  vốn xã hội cũng vậy (Hans & Bolton, 2003).  Khi thảo luận về vai trò của vốn xã hội trong các quy luật, hiện tượng kinh  tế, Wilson (2000) cho rằng vốn xã hội và lòng tin là hai đặc trưng căn bản của nền  tảng ra quyết định của con người, chúng chi phối hầu hết các chủ thể, các chính  sách và các hoạt động trong nền kinh tế. Vốn xã hội tác động đến tăng trưởng kinh  tế  của  quốc  gia thông qua  chi phối đến tính  khả  thi  của  chính  sách  vĩ  mô,  môi  trường kinh doanh, chi phí giao dịch, các rào cản gia nhập ngành (Daut, 2006). Vốn  xã hội quyết định đến các chính sách của Chính phủ trong việc tạo ra các tính chắc  chắn hoặc không chắc chắn đối với các loại thị trường, từ đây quyết định khối lượng  giao dịch hàng hoá trên thị trường (Carey & Lawson, 2011). Còn Wills & các cộng  sự (2004) thì cho rằng vốn xã hội giúp giải quyết tốt các bài toán hợp tác, là một  trong những nhân tố quan trọng đóng góp vào tăng năng suất của vốn đầu tư và lao  động.  Các luận điểm về vai trò của vốn xã hội trong các quy luật, hiện tường của  nền kinh tế đã được Wallis & các cộng sự (2004) giải thích dựa vào dựa vào hàm  năng suất của Hall & Jones (1999) như phương trình 2.1, trong đó yi là sản lượng  bình quân đầu người của quốc gia i, Yi là tổng sản lượng của quốc gia i, Ki là vốn  vật thể, Hi là  vốn con người, Li là số lượng lao động, Ai dùng để đo lường trình độ  công nghệ:  1  i i  i i  i i  K H  y A  Y L a a-æ ö æ ö =ç ÷ ç ÷ è ø è ø  (2.1)  Wallis & các  cộng sự (2004) đưa ra kịch bản là  có hai quốc gia tương tự  nhau về vốn vật thể, con người và trình độ công nghệ, sự khác biệt về năng suất có  thể giải thích bằng sự khác nhau về hiệu quả của thể chế và các chuẩn mực xã hội.  Vốn xã hội (Si) tham gia vào giải thích năng suất biểu hiện ở phương trình 2.2.
  26. 26. 26  1  i i  i i  i i  K H  y A Si  Y L a a- é ù æ ö æ öê ú= ç ÷ ç ÷ê úè ø è øê úë û  (2.2)  Phương trình 2.2 cho thấy vốn xã hội tác động đến năng suất bình quân của  quốc gia thông qua tăng năng suất lao động và năng suất vốn.  2.2  CÁC  CHỦ  THỂ  TRONG  MẠNG  LƯỚI  KINH  DOANH  VÀ  HOẠT  ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP  2.2.1  Các chủ thể trong mạng lưới quan hệ của lãnh đạo doanh nghiệp  Sự thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào vai trò của người  lãnh đạo doanh nghiệp. Lãnh đạo là trung tâm của chiến lược và tạo dựng các giá trị  vô hình cho doanh nghiệp (Barney, 1991; Ou & các cộng sự, 2006; Ray  & các cộng  sự, 2004; Roberts & Dowling, 2002), đặc biệt là văn hóa doanh nghiệp. Tinh thần  doanh nhân của lãnh đạo là động cơ thúc đẩy sự năng động của doanh nghiệp và là  yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh (Wiklund & Shepherd, 2003). Tinh  thần doanh nhân được thể hiện qua năm yếu tố, đó là: sự tiên phong thực hiện, sự tự  quản, sự nhiệt tình, giả định về rủi ro (assumption of risk) và sự cải tiến (Lee & các  cộng sự, 2001). Năm yếu tố này chịu ảnh hưởng của các chủ thể trong các mạng  lưới quan hệ bao gồm dòng họ, bạn bè, đối tác kinh doanh, đồng nghiệp, cơ quan  báo chí, quan chức/nhân viên thuộc các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan nghiên  cứu, các câu lạc bộ (Tushman & O’Reilly III, 1997).  2.2.2  Các chủ thể trong mạng lưới kinh doanh thuộc môi trường bên ngoài  Porter (1985) đề xuất mô hình “năm áp lực cạnh tranh” đề cập đến ba chủ thể  có mối liên hệ trong mạng lưới kinh doanh thuộc môi trường bên ngoài theo chiều  ngang là khách hàng, nhà phân phối, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh. Porter (1990)  và Landry & các cộng sự (2000) bổ sung thêm các chủ thể tham gia trong mạng lưới  kinh  doanh của  môi trường bên  ngoài  gồm các  nhà tư  vấn,  cơ quan quản lý nhà  nước, cơ quan nghiên cứu phát triển và các hiệp hội. Các chủ thể trong môi trường  kinh doanh có thể phân loại theo các mối quan hệ của doanh nghiệp theo cấu trúc  chiều ngang và chiều dọc được tổng kết ở Hình 2.1.  Comment [D3]: Phần này chỉ dừng lại ở khám  phá các chủ thể trong mạng lưới  Comment [D4]: Phần này chủ yếu đề cập đến  mạng lưới quan hệ chung để làm cơ sở cho nghiên  cứu định tính khám phá thang đo. Chưa rút ra mạng  lưới quan hệ của lãnh đạo sử dụng trong luận án.
  27. 27. 27  Hình 2.1: Phân loại các chủ thể trong mạng lưới quan hệ bên ngoài  Nguồn: Tổng kết lý thuyết của Porter (1985, 1990) và Landry & các cộng sự (2000)  Các chủ thể quan hệ theo chiều ngang bao gồm khách hàng, nhà phân phối,  nhà cung cấp, các doanh nghiệp trong cùng tập đoàn, đơn vị tư vấn, nghiên cứu, các  đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành; mối quan hệ theo chiều dọc bao gồm các mối  quan hệ với chính quyền các cấp, các công ty trong cùng tập đòan (công ty mẹ với  công ty con và giữa các công ty đồng cấp). Các chủ thể trong mạng lưới kinh doanh  bên ngoài có vai trò tạo ra cơ hội, thách thức và những lợi ích cho doanh nghiệp  dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Doanh nghiệp cần thiết lập các mối quan hệ phù  hợp với từng chủ thể để phát huy những lợi thế cũng như giảm bớt những yếu tố bất  lợi.  Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào khu vực đặt trụ sở kinh  doanh  (Porter,  1990).  Doanh  nghiệp  được  đặt  trong  cụm  liên  kết  tốt  nhận  được  nhiều cơ hội kinh doanh, tuyển dụng nhân sự, giải quyết các khó khăn về thủ tục  pháp lý, tiêu thụ sản phẩm và tìm kiếm các nguồn cung cấp. Porter (1990) cho rằng  yếu  tố  quyết  định  lợi  thế  quốc  gia  (có  thể  suy  luận  tương  tự  cho  một  cụm/  địa  phương) là các điều kiện về nhu cầu, các ngành hỗ trợ, điều kiện đầu vào, cấu trúc  và bối cảnh cạnh tranh, sự thay đổi của môi trường kinh doanh và Chính quyền/  Chính phủ.  Các chủ thể theo mạng lưới  bên ngoài doanh nghiệp  Các chủ thể  theo mạng lưới quan hệ  chiều ngang:  Khách  hàng,  nhà  phân  phối,  nhà  cung  cấp,  các  doanh  nghiệp  trong  cùng  tập  đoàn, đơn vị tư vấn, nghiên cứu, các đối  thủ cạnh tranh trong cùng ngành.  Các chủ thể theo mạng lưới quan  hệ chiều dọc:  Chính quyền các cấp.  Công ty mẹ ­ con.
  28. 28. 28  2.2.3  Các chủ thể của mạng lưới bên trong doanh nghiệp  Trong mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter (1985) và bảng điểm cân  bằng (balanced scorecard) của Kaplan & Norton (1996) có đề cập đến yếu tố nội tại  trong  quá  trình  kinh  doanh  của  doanh  nghiệp.  Các  chủ  thể  tham  gia  trong  môi  trường nội bộ là các cá nhân (các vị trí công việc) và các bộ phận chức năng trong  doanh nghiệp. Các chủ thể này là tác nhân quan trọng để đảm bảo cho các quá trình  trong doanh nghiệp được liên tục và đạt hiệu quả. Có nhiều nghiên cứu đề cập đến  các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của các chủ thể trong tổ chức. Chẳng  hạn các nghiên cứu của Roberts (2006), Schaufeli & Salanova (2007), Luthans &  Youssef  (2007a, 2007b),  Lee &  các  cộng sự  (2001),  Yli­Renko  &  các  cộng sự  (2001),  Koonmee  &  các  cộng  sự  (2010),  Luthans  &  các  cộng  sự  (2008),  và  Ramström (2008) đề cập đến các mối quan hệ giữa các cá nhân, bộ phận bên trong  tổ chức tác động đến hiệu quả công việc của từng cá nhân trong doanh nghiệp nói  riêng và của toàn bộ doanh nghiệp nói chung. Nhưng rất ít nghiên cứu đề cập đến  các  yếu  tố  ảnh  hưởng  đến  hiệu quả  của  các  bộ  phận  chức  năng  trong  cùng  một  doanh nghiệp. Tuy nhiên, cá nhân luôn hoạt động tại một bộ phận chức năng cụ thể,  các chủ thể trong mạng lưới bên trong doanh nghiệp được xác định bao gồm nhân  viên, lãnh đạo và các bộ phận chức năng. Các chủ thể này được phân loại theo chiều  ngang và chiều dọc được tổng kết ở Hình 2.2 (phân chia theo cấu trúc mạng lưới  quan hệ của Putnam, 2000). Các mối quan hệ theo chiều ngang được đề cập đến  quan hệ giữa nhân viên với nhau, giữa các bộ phận chức năng với nhau; mối quan  hệ theo chiều dọc thể hiện mối quan hệ cá nhân cấp trên với cá nhân cấp dưới, giữa  bộ phận chức năng cấp trên với bộ phận chức năng cấp dưới.
  29. 29. 29  Hình 2.2: Các mối quan hệ bên trong doanh nghiệp  Nguồn: Tổng kết từ lược khảo lý thuyết Roberts (2006), Porter (1985), Kaplan &  Norton  (1996),  Schaufeli  &  Salanova  (2007),  Luthans  &Youssef (2007a,  2007b),  Lee & các tác giả (2001),  Yli­Renko & các cộng sự (2001), Koonmee & các cộng  sự (2010), và Luthans & các cộng sự (2008).  2.3  CẤU TRÚC VỐN XàHỘI CỦA DOANH NGHIỆP  Như phân tích ở  mục 2.2, cấu trúc mạng lưới của doanh nghiệp được tách  thành ba loại là mạng lưới của lãnh đạo, mạng lưới bên ngoài và bên trong doanh  nghiệp. Trong khi đó vốn xã hội có hai đặc trưng căn bản là chất lượng mạng lưới  và cấu trúc của mạng lưới. Do vậy, các nhà nghiên cứu về vốn xã hội trong doanh  nghiệp thường đề cập đến vốn xã hội của doanh nghiệp trên ba khía cạnh riêng lẻ là  vốn xã hội của lãnh đạo, bên ngoài và bên trong doanh nghiệp.  2.3.1  Vốn xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp  Các  nghiên  cứu  của  McCallum & O'Connell  (2009),  Truss  & Gill  (2009),  Paré & các cộng sự (2008), Wharton & Brunetto (2009), Cialdini &  các cộng sự  (2001) và Acquaah (2007) có đề cập đến vốn xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp như  là chất lượng của các mạng lưới quan hệ của lãnh đạo như tình hữu nghị, hỗ trợ lẫn  nhau, quyền lực, sự công nhận của xã hội, sự cam kết. Còn Tushman & O’Reilly III  (1997) thì chỉ ra các cấu trúc của mạng lươi quan hệ của lãnh đạo như dòng họ, bạn  bè, đối tác kinh doanh, đồng nghiệp, cơ quan báo chí, quan chức/nhân viên thuộc  các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan nghiên cứu, các câu lạc bộ. Tuy nhiên, chưa  Các mối quan hệ bên  trong doanh nghiệp  Mối quan hệ chiều ngang:  ­  Mối quan hệ giữa nhân viên với  nhau  ­  Mối  quan  hệ  giữa  các  bộ  phận  chức năng ngang cấp với nhau  Mối quan hệ chiều dọc:  ­  Mối quan hệ giữa cá nhân cấp  trên với cá nhân cấp dưới,  ­  Mối  quan  hệ  giữa  bộ  phận  chức  năng  cấp  trên  với  bộ  phận chức năng cấp dưới.  Comment [D5]: Sắp xếp lại thứ tự
  30. 30. 30  thấy nghiên cứu nào tích hợp hai yếu tố chất lượng và cấu trúc mạng lưới quan hệ  nêu trên để hình thành thang đo vốn xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp BĐS. Nghiên  cứu của luận án sẽ tích hợp hai yếu tố chất lượng và cấu trúc mạng lưới đó để xây  dựng thang đo cho vốn xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp BĐS Việt Nam.  2.3.2  Vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp  Nhiều nghiên cứu về vốn xã hội có đề cập đến vốn xã hội bên ngoài doanh  nghiệp  như  nghiên  cứu  của  Jansen  &  các  cộng sự  (2011),  Yang  &  các  cộng sự  (2011) và Landry & các cộng sự (2000). Các nghiên cứu này đề cập đến vốn xã hội  bên ngoài doanh nghiệp là chất lượng các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các  chủ thể trong mạng lưới chiều ngang (khách hàng, nhà phân phối, nhà cung cấp, các  doanh nghiệp trong cùng tập đoàn, đơn vị tư vấn, nghiên cứu, các đối thủ cạnh tranh  trong cùng ngành) và mạng lưới chiều dọc (chính quyền các cấp và các công ty mẹ ­  con trong cùng tập đoàn). Các nghiên cứu này không xây dựng thang đo chất lượng  mối quan hệ cho từng chủ thể trong mạng lưới, mà thay vào đó là đặt ra những câu  hỏi đo lường chung về chất lượng quan hệ của doanh nghiệp với các chủ thể bên  ngoài.  Đối với nghiên cứu của Landry & cộng sự (2000) về vốn xã hội tác động đến  sự cải tiến của doanh nghiệp ở Canada. Trong nghiên cứu này tiếp cận vốn xã hội  dựa trên nhận thức về tầm quan trọng và sự tín cẩn của các mạng lưới quan hệ của  doanh nghiệp tác động đến động lực cải tiến sản phẩm. Kết quả nghiên cứu cho thấy  doanh nghiệp có nhận thức về tầm quan trọng của mạng lưới với khách hàng, nhà  cung cấp, đơn vị tư vấn, công ty trong cùng tập đoàn, hệ thống phân phối càng cao  thì động lực cải tiến càng cao. Tuy nhiên các thang đo trong nghiên cứu này không  thể hiện các khía cạnh khác của chất lượng mạng lưới như hỗ trợ và chia sẻ, cũng  như chưa đề cập đến các mạng lưới bên trong và lãnh đạo của doanh nghiệp. Đồng  thời thang đo không được kiểm định thống kê về giá trị hội tụ và phân biệt (chỉ  kiểm định tính nhất quán). Do vậy, luận án này không sử dụng lại các thang đo vốn  xã hội bên ngoài từ những nghiên cứu trên, mà xây dựng thang đo dựa trên chất
  31. 31. 31  lượng  của  các  mối  quan  hệ  của  doanh  nghiệp  với  các  chủ  thể  bên  ngoài  doanh  nghiệp BĐS.  2.3.3  Vốn xã hội bên trong doanh nghiệp  Vốn xã hội bên trong doanh nghiệp được đề cập đến trong các nghiên cứu  gần đây như Schenkel & Garrison (2009), Nisbet (2007), Goyal & Akhilesh (2007),  và Cheng & các cộng sự (2006). Các nghiên cứu này tiếp cận vốn xã hội bên trong  doanh nghiệp là chất lượng các mối quan hệ theo chiều ngang giữa nhân viên lẫn  nhau và các bộ phận chức năng lẫn nhau; và các mối quan hệ theo chiều dọc giữa cá  nhân cấp trên với cá nhân cấp dưới, giữa bộ phận chức năng cấp trên với bộ phận  chức năng cấp dưới. Nhưng các nghiên cứu này chưa xây dựng thang đo vốn xã hội  bên  trong  và  chưa  đánh  giá  tác  động  của  chúng  đến  kết  quả  các  hoạt  động  của  doanh nghiệp. Mặc dù chưa xây dựng thang đo, nhưng việc chỉ ra được cách thức  tiếp cận vốn xã hội bên trong doanh nghiệp sẽ được nghiên cứu này kế thừa để phát  triển thang đo cho doanh nghiệp BĐS.  Như  vậy,  kết  quả  lược  khảo  lý  thuyết  cho  thấy  vốn  xã  hội  trong  doanh  nghiệp được tiếp cận trên từng khía cạnh riêng lẻ là vốn xã hội bên trong, bên ngoài  và  lãnh đạo  doanh  nghiệp.  Ba  khía  cạnh  này  được  tiếp  cận  riêng  lẻ  trong  từng  nghiên cứu chứ chưa có nghiên cứu nào trong số các nghiên cứu được lược khảo đề  cập đến vốn xã hội của doanh nghiệp bao gồm cả ba khía cạnh trên. Do vậy, vốn xã  hội của doanh nghiệp đến nay vẫn còn khiếm khuyết trong việc đo lường. Nghiên  cứu này sẽ kết hợp ba khía cạnh vốn xã hội bên ngoài, bên trong và lãnh đạo doanh  nghiệp để xây dựng thang đo vốn xã hội cho doanh nghiệp. Cấu trúc thang đo vốn  xã hội của doanh nghiệp được minh họa ở Hình 2.3.  Hình 2.3: Cấu trúc vốn xã hội của doanh nghiệp trong luận án  Nguồn: Tổng kết từ lược khảo lý thuyết.  Sự cấu thành và chất  luợng mạng lưới  Vốn xã hội bên trong  Vốn xã hội  bên ngoài  Vốn xã hội  của lãnh đạo
  32. 32. 32  2.4  CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN  2.4.1  Lịch sử hình thành ngành BĐS  Joroff & cộng sự (1993) mô tả BĐS như là một trong năm nguồn lực của tổ  chức bên cạnh các nguồn lực khác là lao động, vốn, công nghệ và kiến thức như  Hình 2.4. Tương tự với quan điểm của Joroff & các cộng sự (1993), Krumm (2001)  cho rằng đặc trưng của các quá trình phát triển của ngành BĐS gắn liền với quá  trình phát triển của các công ty trong các nền kinh tế như Bảng 2.2.  Hình 2.4: Năm nguồn lực của tổ chức  Nguồn:Joroff và các cộng sự (2003)  Trong giai đoạn đầu, khi công ty ở các nền kinh tế chủ yếu định hướng sản  xuất nội địa, chưa thực hiện chiến lược quốc tế hoá, thì BĐS chỉ đóng vai trò hỗ trợ  cho quá trình mở rộng hoạt động của các doanh nghiệp. Trong giai đoạn này BĐS  chủ yếu được quan tâm ở khía cạnh kỹ thuật như thiết kế và xây dựng cho phù hợp  với  công  năng  sản  xuất  kinh  doanh  của  doanh  nghiệp.  Các  công  ty  có  bộ  phận  chuyên trách thực hiện công tác thuê thiết kế, xây dựng văn phòng nhà xưởng cho  các chi nhánh, trụ sở nội địa.  Đến các giai đoạn từ những năm 1980 trở lại đây, khi tiến trình quốc tế hoá,  chuyên  môn  hoá  diễn  ra  nhanh  và  sâu  sắc,  tạo  ra  áp  lực  lớn  đối  với  các  doanh  nghiệp về cạnh tranh quốc tế và đổi mới  công nghệ. Điều này đòi hỏi các doanh  nghiệp phải tập trung  nguồn  lực  cho  việc nghiên cứu phát triển  công  nghệ, phát  triển phương thức phân phối linh hoạt, lựa chọn địa điểm giao dịch thuận lợi. Do  BĐS  Kiến  thức  Nhân  viên  Công  nghệ  Vốn  Các  nguồn  lực  trong  các  quá  trình  của  doanh  nghiệp
  33. 33. 33  đó,  doanh nghiệp không thể phân tán  nguồn lực để thực  hiện  các hoạt động  xây  dựng nhà xưởng, văn phòng đặt trụ sở cho các công ty con địa phương và các địa  điểm phân phối. Thay vào đó các công ty đi thuê hoặc mua sản phẩm dịch vụ có  liên quan đến BĐS. Trước cơ hội đó, nhiều doanh nghiệp được thành lập để đáp  ứng cho các nhu cầu đó của nhiều công ty trên thế giới, đặc biệt là các công ty đa  quốc gia, ngành BĐS được ra đời và phát triển từ đó.  Bảng 2.2: Đặc trưng của doanh nghiệp BĐS qua các giai đoạn phát triển  Các tập đoàn đa quốc gia  Các công ty BĐS  Từ  1900  đến  1940  Khu vực dịch  vụ  Định hướng nội địa.  Hoạt động bán lẻ chủ yếu  là  công ty bạn bè.  BĐS để hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng.  Vai  trò  quan  trọng  của  các  thành  viên  bạn bè trong các công ty bán lẻ.  Khu  vực  sản  xuất  Mở rộng quốc tế hoá sớm.  Thành lập các công ty con địa  phương  do  những  khó  khăn  kiểm soát.  Tham gia về kỹ thuật.  Liên  kết  giữa  nghiên  cứu  và  kỹ thuật.  Từ  1940  đến  1980  Khu vực dịch  vụ  Hoạt động nội địa.  Chức năng tổ chức.  Chiến lược tăng trưởng.  Tài chính cho BĐS.  Công ty kiến trúc.  Lựa chọn vị trí.  Khu  vực  sản  xuất  Hoạt động quốc tế hoá.  Định hướng địa lý.  Cơ cấu phân chia.  Chiến lược phát triển.  Mở rộng trụ sở chính.  BĐS như là phương tiện để sản xuất.  BĐS trong phạm vi địa phương tổ chức  các đơn vị kinh doanh.  Từ  1980  đến  2000  Khu vực dịch  vụ  Mở rộng thông qua sáp nhập  /mua lại.  Mở rộng quốc tế.  Đa dạng hóa sản phẩm.  Địa lý / định hướng thị trường  Tập trung BĐS.  Tái tập trung vào vai trò của các trung  tâm ngành BĐS.  Các hoạt động tập trung vào hòa giải và  tư vấn.  Khu  vực  sản  xuất  Phân chia các nhóm với các  đơn vị kinh doanh.  Xem xét lại vai trò của trụ sở  chính.  Định hướng sản phẩm.  Phân chia theo vùng.  Sáng kiến phối hợp trong hoạt động  BĐS.  Các hoạt động tập trung vào tư vấn  BĐS có tổ chức trong các đơn vị kinh  doanh.  Nguồn: Krumm (2001).  Mặt khác, cũng trong giai đoạn từ 1980 trở lại đây, Chính phủ các nước quan  tâm nhiều hơn với công tác quy hoạch đất đai để tạo điều kiện cho sự phát triển bền  vững, đặc biệt quy hoạch các khu/cụm công nghiệp, đô thị, trung tâm thương mại và  giao cho doanh nghiệp phát triển thành các dự án BĐS. Khi ngành BĐS phát triển,

×