TÀI LIỆU PHỤC VỤ GIẢNG DẠY                       PHẦN ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG TỈNH BẠC LIÊU                                     ...
nhiều người biết đến bởi nghề làm muối. Muối Bạc Liêu xưa nay vốn nổi tiếng vềchất lượng do không có vị đắng, chát và ít l...
Bờ biển Bạc Liêu có những bãi bồi rộng, hằng năm tiến dần ra biển với hàngnghìn ha rừng phòng hộ. Đây là môi trường thuận ...
Tỉnh nằm ở vĩ độ thấp, nên ít chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới; khôngchịu ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt từ hệ ...
Bạc Liêu có diện tích tự nhiên không lớn, khoảng 258.410 ha, đứng thứ 8 ởkhu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Hằng năm, một ph...
Đất chưa sử                                                                                                 dụng và       ...
Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2007, diện tích rừng của tỉnh BạcLiêu là 5.500 ha, tất cả đều là rừng trồng, không...
dinh tham biện, nhà Huyện Sổn, nhà Hội đồng Điều, nhà Cao Triều Phát.... Toàn bộvật liệu xây dựng những ngôi nhà này như t...
phát triển các câu lạc bộ đờn ca tài tử để phục vụ khách du lịch tại các khu di tích;tổ chức các lễ hội truyền thống địa p...
Dân cư quy môBạc Liêu là tỉnh có quy mô dân số nhỏ, đứng thứ 12 trong số 13 tỉnh thành vùngĐồng bằng Sông Cửu Long. Theo t...
6,3%. So với khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Bạc Liêu có tỷ lệ người dưới vàtrong độ tuổi lao động cao hơn, tỷ lệ người t...
Về độ tuổi lao động, nguồn lao động của tỉnh dồi dào và thường xuyên giatăng do dân số trẻ. Năm 1999, số người trong độ tu...
trung học phổ thông năm 2008 - 2009 của tỉnh là 72,8%, bổ túc trung học phổ thônglà 12,42%. Năm học 2009 - 2010, tỉnh phấn...
thời điểm tháng 07-2009, hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân trên địa bàntỉnh đều không có hệ thống xử lý nước thải y...
gồm: Kinh tế nhà nước 24,33%, Kinh tế ngoài nhà nước 75,67%, Khu vực cóVĐTNN: 0%. Năm 2006, cơ cấu này bao gồm: Kinh tế nh...
vệ được môi trường sinh thái bền vững so với sản xuất độc canh cây lúa hoặc độccanh con tôm.        Hướng phát triển sắp t...
xuất nông nghiệp, xuất khẩu gạo được xem là khá tốt trong bối cảnh khó khăn nhưhiện nay với 28.320 tấn gạo được xuất khẩu ...
19,6 tỷ VNĐ (giá so sánh 1994). Sản lượng gỗ khai thác sơ bộ năm 2008 là 2.900m 3.                                        ...
qua các năm. Theo thông tin từ Website tỉnh, giá trị sản xuất thủy sản năm 1997 là887.929 triệu VNĐ, năm 2006 là 17.273.00...
Những năm gần đây, phong trào nuôi các loại thủy sản mới ở Bạc Liêu (nhưcua, cá kèo, cá bống tượng, cá chình, ba ba, cá th...
sản phẩm các ngành kinh tế của tỉnh (tính theo giá hiện hành). Năm 2006, con sốnày là 24,00%. Theo thông tin từ Tổng cục T...
tấn, muối Iod 6 ngàn tấn, thức ăn chăn nuôi 3.620 tấn, nước máy thương phẩm3.571 ngàn m3- Tiểu thủ công nghiệp bao gồm: đa...
nghiệp quá nhỏ lại nằm gần khu dân cư. Đã có ý tưởng đề xuất dịch chuyển mộtphần khu công nghiệp sang hướng Đông, phía bên...
Năm 1997, tổng mức bán lẻ hàng hoá của tỉnh là 1.180 tỷ VNĐ. Năm 2004,con số này là 4.350 tỷ VNĐ. Năm 2004, toàn tỉnh có 6...
Liêu. Loại hình âm nhạc này có thể chơi ở bất cứ đâu: đám cưới, đám giỗ, sinhnhật, lễ hội các đình thần, sau khi thu hoạch...
năm 1997, cả tỉnh có 30/48 xã có đường cho xe ô tô đến trung tâm, 94% số ấp cóđường cho xe mô tô lưu thông được cả trong m...
Tình hình vận tải        Toàn tỉnh có 2 bến xe chính và một số điểm đổ xe ở các huyện. Bến xe BạcLiêu nằm tại số 21/10 quố...
1388        1041,1                           27,2            121,3   88,8   618,2                                         ...
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Dia li dia_phuong_tinh_bac_lieu

2,111

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
2,111
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
16
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Dia li dia_phuong_tinh_bac_lieu

  1. 1. TÀI LIỆU PHỤC VỤ GIẢNG DẠY PHẦN ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG TỈNH BẠC LIÊU Đặng Thế Vĩnh THCS Vĩnh Hậu – Hòa bình – Bạc liêu Bạc Liêu là một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trên bánđảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Việt Nam. Tỉnh có diện tích đứng hàng thứ 8và dân số đứng hàng thứ 12 trong khu vực. Tỉnh được thành lập ngày 20-12-1899,chính thức hoạt động từ ngày 01-01-1900. Năm 1956, tỉnh Bạc Liêu bị giải thể nhậpvào tỉnh Ba Xuyên. Năm 1964, tỉnh Bạc Liêu được tái lập. Sau 30-04-1975, tỉnh BạcLiêu lại bị giải thể, nhập vào tỉnh Minh Hải. Ngày 06-11-1996, tỉnh Bạc Liêu được táilập, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01-01-1997. Trong lịch sử, Bạc Liêu từng có một vị trí quan trọng trong chiến lược khaithác và xây dựng vùng Đồng bằng Sông Cửu Long của người Pháp, từng đượcngười Pháp lên kế hoạch xây dựng thành trung tâm hành chính của miền Tây. Vìthế, Pháp đầu tư nhiều tiền của xây cất dinh thự và công sở tại đây. Trải qua nhữngbiến cố lịch sử, Bạc Liêu tuy chưa trở thành một đô thị lớn như dự tính lúc đầu củangưười Pháp, nhưng những ngôi nhà này đã để lại dấu ấn về một thời kỳ đã quatrong lịch sử. Hiện nay, ở Bạc Liêu vẫn còn khá nhiều dinh thự, biệt thự được xâycất theo lối kiến trúc phương Tây như: Tòa Hành chánh, Tòa án, Dinh bố (nhà quanchủ tỉnh), nhà Huyện Sổn, nhà Hội đồng Trạch, nhà Hội đồng Điều, nhà ông CaoTriều Phát... toàn bộ vật liệu xây dựng như thép đúc, cửa, cẩm thạch lát nền,gạch... đều được chuyên chở từ Pháp qua. Bạc Liêu cũng nổi tiếng là vùng đất có nhiều người Hoa sinh sống qua câu cadao: "Bạc Liêu là xứ cơ cầu, dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu". Người Hoasống chan hoà, gắn bó với cộng đồng người Việt, người Khmer. Người Bạc Liêu cóphong cách phóng khoáng, đặc trưng của vùng Nam Bộ. Nói đến Bạc Liêu, ngườita thường liên tưởng đến những giai thoại về Công tử Bạc Liêu lừng danh một thuởgiàu có và chịu chơi. Vùng đất này còn gắn liền với tên tuổi của nhạc sĩ Cao VănLầu và bài Dạ cổ hoài lang - đặt nền móng cho sự phát triển của nền cổ nhạc NamBộ. Về kinh tế, nếu Cà Mau nổi danh với nghề dệt chiếu thì Bạc Liêu cũng đượcTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 1 ĐặngThế Vĩnh
  2. 2. nhiều người biết đến bởi nghề làm muối. Muối Bạc Liêu xưa nay vốn nổi tiếng vềchất lượng do không có vị đắng, chát và ít lẫn tạp chất. Thời Pháp, Mỹ, hoạt độngkinh doanh muối Bạc Liêu rất rộng lớn, chiếm cứ toàn vùng Nam Bộ, ra tới tậnPhan Thiết miền Trung và đặc biệt giao lưu xuất khẩu theo đường sông Mêkôngqua Campuchia. Song, nghề muối Bạc Liêu cũng trải qua nhiều thăng trầm. Hiệnnay, tuy không còn thịnh như trước nhưng Bạc Liêu vẫn là vùng sản xuất muối lớnnhất miền Tây Tỉnh Bạc Liêu nằm trong vùng tọa độ: từ 9o 00 đến 9o 38 9 vĩ Bắc và từ105o 14 15 đến 105o 51 54 kinh Đông; Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, tỉnhKiên Giang; Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng; Tây và Tây Nam giáp tỉnh CàMau; Đông và Đông Nam giáp biển Đông với bờ biển dài 56 km.Bạc Liêu có các cửa biển Gành Hào, Cái Cùng, Chùa Phật, Nhà Mát; Huyện Kệ làđiều kiện thuận lợi để giao thương, trung chuyển hàng hoá ra vào tỉnh. Quốc lộ 1Achạy qua địa bàn tỉnh từ Đông sang Tây, nối thị xã Bạc Liêu với thành phố Cà Mau.Tuyến đường Cao Văn Lầu dài 8 km nối quốc lộ 1A với bờ biển, cùng nhiều tuyếnđường xương cá nối quốc lộ 1A với các nơi khác trong tỉnh, thuận tiện cho giaothông vận tải. Địa hình Bạc Liêu nằm trong vùng đất mới của Đồng bằng Sông Cửu Long, đó là vùngđồng bằng rìa châu thổ. Địa hình tương đối bằng phẳng, cao trung bình từ 0,3 - 0,5m. Địa hình có xu hướng dốc từ bờ biển vào nội đồng, từ Đông Bắc xuống TâyNam. Độ dốc trung bình toàn tỉnh từ 1 - 1,5 cm/km, chia thành hai khu vực rõ rệt:- Khu vực phía Nam quốc lộ 1A có địa hình với những giồng cát biển không liên tục,cao trung bình từ 0,4 - 0,8 m, hướng nghiêng, thấp dần vào nội địa.- Khu vực phía Bắc quốc lộ 1A là vùng trũng của tỉnh, cao trung bình từ 0,2 - 0,3 mso với mực nước biển.Kiểu địa hình này thuận lợi cho việc đưa nước biển vào nội đồng phục vụ nuôi trồngthủy sản, song cũng tạo thành các vùng trũng cục bộ, đặc biệt là ở các huyệnPhước Long, Hồng Dân và Giá Rai.Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 2 ĐặngThế Vĩnh
  3. 3. Bờ biển Bạc Liêu có những bãi bồi rộng, hằng năm tiến dần ra biển với hàngnghìn ha rừng phòng hộ. Đây là môi trường thuận lợi để nuôi trồng các loài thủysản có giá trị kinh tế cao như: nghêu, sò. Thềm lục địa của tỉnh có tiềm năng dầu vàkhí tự nhiên. Những năm gần đây, Bạc Liêu đang đối mặt với nguy cơ sạt lở đất ven sông.Theo kết quả khảo sát năm 2008 của Ban chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếmcứu nạn Bạc Liêu, toàn tỉnh có gần 15 km bờ sông có nguy cơ sạt lở cao, đe dọacuộc sống của trên 3.000 hộ dân. Các huyện Giá Rai, Đông Hải là điểm “nóng” vềtình hình sạt lở gây hậu quả nghiêm trọng. Các điểm “đen” sạt lở chủ yếu nằm dọccác cửa sông tiếp giáp với kinh xáng Cà Mau - Bạc Liêu, gồm khu vực hạ lưu cốngNọc Nạng (thị trấn Giá Rai), khu vực cầu Hộ Phòng (thị trấn Hộ Phòng), khu vựccầu Láng Trâm, cầu Nhàn Dân, cầu Cây Gừa và cầu Sư Son (xã Tân Phong)... Khuvực 4, thị trấn Gành Hào (huyện Đông Hải) cũng có hàng trăm hộ dân sống trongvùng nguy cơ sạt lở cao. Khu vực này cứ mỗi năm đất lún xuống tự nhiên ít nhất0,5 m. Nhiều hộ phải bỏ ra số tiền không nhỏ để bổ sung nền đất phía dưới nhà sànvà gia cố nhà cửa. Các huyện Phước Long và Hồng Dân cũng có nhiều điểm sạt lở.Theo thống kê, hai huyện có 372 hộ dân đang sinh sống trong khu vực tiềm ẩnnguy cơ mất trắng tài sản với tổng chiều dài các đoạn bờ sông cần báo động gần4.000 m. Nguy hiểm nhất là khu vực ngã tư xã Ninh Quới A (huyện Hồng Dân), vìnơi đây là điểm giao nhau các dòng chảy giữa kinh xáng Quản lộ Phụng Hiệp vàkinh xáng Cầu Sập - Ngan Dừa lâu nay đã tạo ra hiện tượng hàm ếch ở nhiều nơi. Khí hậu Bạc Liêu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: mùamưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượngmưa trung bình hàng năm 2.000 - 2.300 mm. Nhiệt độ trung bình 260C, cao nhất31,50C, thấp nhất 22,50C. Số giờ nắng trong năm 2.300 giờ, lượng bức xạ trungbình khoảng 2.410 kcal/cm2. Độ ẩm trung bình mùa khô 80%, mùa mưa 85%.Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 3 ĐặngThế Vĩnh
  4. 4. Tỉnh nằm ở vĩ độ thấp, nên ít chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới; khôngchịu ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt từ hệ thống sông Cửu Long. Tuy nhiên, nhữngnăm trở lại đây, do biến đổi khí hậu, nhiều cơn bão lớn đã quét qua địa bàn tỉnh,gây thiệt hại nặng nề như: cơn bão số 5 năm 1997 và cơn bão số 4 năm 2004.Nhìn chung, khí hậu Bạc Liêu khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt làtrồng lúa và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, việc nuôi trồng thủy sản trong nhữngnăm qua đã gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái tại đây. Thủy văn Tỉnh có nhiều kênh rạch chằng chịt như: kênh Quản Lộ, kênh Canh Đền,kênh Phước Long, kênh Phụng Hiệp, kênh Xáng Cà Mau. Nguồn nước cung cấpcho sản xuất và sinh hoạt của tỉnh là nước mặt và nước ngầm.- Nước mặt: tỉnh có các con kênh dẫn nước ngọt từ sông Hậu về, cung cấp chủ yếucho sinh hoạt và sản xuất ở khu vực phía Bắc quốc lộ 1A.- Nước ngầm: thị xã Bạc Liêu và các huyện phía Nam quốc lộ 1A chủ yếu sử dụngnước ngầm trong sinh hoạt và sản xuất. Theo đánh giá của các nhà khoa học, BạcLiêu có trữ lượng nước ngầm khá lớn. Hiện tại, tỉnh đang khai thác sử dụng ở độsâu từ 80 - 100 m. Đây là tầng nước dễ bị nhiễm phèn, cần được quan tâm bảo vệ. Chế độ thủy văn của tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều biển Đông vàmột phần bán nhật triểu biển Tây. Do đó, phần phía Bắc quốc lộ 1A có điều kiệnnuôi trồng thủy sản, làm muối, phá triển rừng ngập mặn. Hiện nay, nguồn nước mặt và nước ngầm của Bạc Liêu đang có nguy cơ bị ônhiễm do nuôi trồng thủy sản quá mức và sử dụng hoá chất trong sản xuất nôngnghiệp. Tỉnh cần có quy hoạch sử dụng hợp lý các nguồn nước, hình thành các hệthống cấp thoát nước, tránh để nước thải chưa xử lý lan ra gây ô nhiễm môitrường. Tài nguyên thiên nhiên + Đất đai Các nhóm đấtTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 4 ĐặngThế Vĩnh
  5. 5. Bạc Liêu có diện tích tự nhiên không lớn, khoảng 258.410 ha, đứng thứ 8 ởkhu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Hằng năm, một phần lớn diện tích được bồiđắp lấn ra biển và một phần nhỏ diện tích bị sạt lở. Khu vực từ Gò Cát - Đông Hảiđến giáp ranh huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng được bồi đắp nhiều nhất. Tốc độlấn biển có năm lên tới 60 - 80 m. Hiện nay, vùng ven biển Bạc Liêu đã hình thànhmột bãi bồi rộng 1 - 2 km, dài khoảng 40 km từ thị xã Bạc Liêu đến Gò Cát.Đất đai chia thành các nhóm chính sau:- Nhóm đất mặn: chiếm khoảng 38,44% diện tích.- Nhóm đất phèn: chiếm khoảng 51,78% diện tích.- Nhóm đất cát: chiếm khoảng 3,24% diện tích.- Nhóm đất phù sa: chiếm khoảng 2,03% diện tích.- Các nhóm đất khác: chiếm khoảng 4,55% diện tích.Xét về khả năng thích nghi, đất đai Bạc Liêu chia thành 2 khu vực:- Khu vực phía Bắc quốc lộ 1A có 11 vùng thích nghi. Phía Đông Bắc thích hợp chotrồng lúa, hoa màu và các cây nông nghiệp khác. Phía Tây thích hợp cho nuôi trồngthủy sản.- Khu vực phía Nam quốc lộ 1A có 10 vùng thích nghi, phù hợp cho nuôi trồng thủysản, làm muối và rừng ngập mặn. Hiện trạng sử dụng đất Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Bạc Liêu năm 2002 và 2003Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 5 ĐặngThế Vĩnh
  6. 6. Đất chưa sử dụng và Đất đã sử dụng sông suối núi đá Tổng Đất nuôi Đất lâm Đất diện tích Đất nông trồng thủy nghiệp có chuyên Đất ở nghiệp sản và làm Diện rừng dùng (nghìn muối tích Tỷ lệ ha) Diện Diện Diện Diện Diện Tỷ Tỷ lệ Tỷ Tỷ (nghìn % tích tích Tỷ lệ tích tích tích lệ lệ lệ ha) (nghìn % (nghìn (nghìn % ha) (nghìn (nghìn % % % ha) ha) ha) ha)2002 254,2 111,3 43,8 5,4 2,1 100 39,3 13 5,1 3,9 1,5 20,6 8,12003 254,2 99 38,9 5,4 2,1 111,7 43,9 13,5 5,3 4 1,6 20,6 8,1 Nguồn: Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam - Tập 6 - Trang 57 - NXB Giáo dục - 2006Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Bạc Liêu thời điểm 01-01-2007 Đất nông Đất chuyên Đất lâm nghiệp Đất ở Tổng nghiệp dùng diện tích Diện Danh mục Diện tích Diện tích Diện tích Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ tích Tỷ lệ (nghìn ha) (nghìn (nghìn (nghìn % % % (nghìn % ha) ha) ha) ha) Cả nước 33.121,2 9.436,2 28,5 14.514,2 43,8 1.433,5 4,3 611,9 1,8 Đồng bằng Sông Cửu 4.060,4 2.567,3 63,2 349,0 8,6 224,9 5,5 109,3 2,7 Long Bạc Liêu 258,4 98,2 38,0 4,8 1,9 10,9 4,2 4,4 1,7 Nguồn: Tổng cục Thống kê Sinh vật +RừngTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 6 ĐặngThế Vĩnh
  7. 7. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2007, diện tích rừng của tỉnh BạcLiêu là 5.500 ha, tất cả đều là rừng trồng, không có rừng tự nhiên. Giá trị sản xuấtlâm nghiệp sơ bộ năm 2007 của tỉnh là 17 tỷ VNĐ (giá so sánh năm 1994). RừngBạc Liêu là rừng ngập mặn và phèn, có năng suất sinh học cao, giá trị phòng hộ vàmôi trường lớn, chủ yếu là rừng tràm, rừng đước. Các hệ sinh thái rừng ngập mặnvà cửa sông ở Bạc Liêu khá nhạy cảm với ô nhiễm môi trường. Vì vậy, rừng BạcLiêu cần được quan tâm bảo vệ. Sinh vật biển Bạc Liêu có bờ biển dài 56 km, từ xã Vĩnh Trạch Đông, thị xã Bạc Liêu đếnthị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải. Vùng biển rộng 4 vạn km2, nằm trong khu vựcbán đảo Cà Mau nối liền vịnh Thái Lan, tiếp giáp với vùng biển của các nước ĐôngNam Á, có tiềm năng kinh tế to lớn và vị trí quốc phòng quan trọng. Biển Bạc Liêucó trữ lượng hải sản lớn, chủng loại phong phú, với khoảng 661 loài cá. Nhiều loàitrong đó có giá trị kinh tế cao như: cá hồng, cá gộc, cá sao, cá thu, cá chim, cáđường.... Tổng trữ lượng ước khoảng 800 nghìn tấn, hằng năm có thể khai thác từ240 - 300 nghìn tấn. Tôm biển có trên 30 loài, có thể khai thác khoảng 10 nghìn tấn/năm. Ngoài tôm và cá, vùng biển Bạc Liêu còn có nhiều loại hải sản khác như:mực, nghêu, sò huyết....Tỉnh có 3 cửa biển: Gành Hào, Nhà Mát, Cái Cùng là điềukiện để phát triển ngành vận tải và du lịch biển. Gành Hào có thể phát triển thànhtrung tâm kinh tế biển lớn của tỉnh, cung cấp dịch vụ cho đánh bắt và chế biến thủysản. Du Lịch Thế mạnh du lịch của Bạc Liêu là du lịch sinh thái, du lịch biển với nhữngcảnh quan thiên nhiên độc đáo như vườn chim, vườn nhãn… kết hợp với những ditích lịch sử - văn hoá, kiến trúc cổ. Bạc Liêu có 27 di tích lịch sử văn hoá đã đượcxếp hạng cấp quốc gia, nhiều danh thắng rất hấp dẫn du khách. Hiện tại, ở trungtâm thị xã Bạc Liêu còn khoảng gần 30 căn biệt thự lớn nhỏ kiểu Tây nằm tập trungở hai bên bờ sông. Đó là cụm nhà của gia tộc Trần Trinh, tòa hành chánh, tòa án,Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 7 ĐặngThế Vĩnh
  8. 8. dinh tham biện, nhà Huyện Sổn, nhà Hội đồng Điều, nhà Cao Triều Phát.... Toàn bộvật liệu xây dựng những ngôi nhà này như thép đúc, cửa, cẩm thạch lát nền....đềuđược chở từ Pháp sang. Lối kiến trúc cũng mang đậm phong cách phương Tâytrong những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Đa số các ngôi nhà đều có nhiềucửa sổ, khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng, rợp bóng cây xanh, phần trước đối xứngnhau, mái lợp ngói. Mái ngói hình bát giác, các xà nối ngang như ở chùa. Các ngôinhà có nét đường bệ, nền đúc cao, quét vôi vàng. Bên trong nhà thường là nhữnghành lang, vòm trần cao vút. Vì vậy, quần thể kiến trúc nhà Tây ở Bạc Liêu mangmột sắc thái riêng, khác hẳn những ngôi biệt thự Pháp ở Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt… Với những tìm năng du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, Bạc Liêu cóđiều kiện để phát triển du lịch. Doanh thu ngành du lịch trong những năm qua tăngbình quân 4,7%/năm. Số khách đến địa bàn tăng trung bình 9,6%/năm, mức lưu trúđạt bình quân 1,3 ngày đêm/lượt khách. Theo số liệu thống kê của tỉnh, năm 2007,Bạc Liêu đón được 220.000 lượt khách và doanh thu đạt 240 tỷ đồng. Năm 2008,doanh thu đạt 300 tỷ đồng, tăng 16,7% và số lượt khách đến Bạc Liêu là 280.000tăng 27,2% so với năm 2007, trong đó khách quốc tế khoảng 8.000 và 85.000 lượtkhách sử dụng dịch vụ lưu trú. Kế hoạch phát triển du lịch của tỉnh giai đoạn 2006 - 2010 là: Đẩy mạnh côngtác xúc tiến, quảng bá du lịch; xây dựng tour, tuyến hợp lý; đầu tư cơ sở hạ tầngcho các dự án khu, điểm du lịch trọng điểm để du lịch Bạc Liêu tạo đà bứt phá. Tỉnhđã tập trung đầu tư xây dựng Khu du lịch Nhà Mát với quy mô gần 100 ha ngay tạithị xã Bạc Liêu. Dự kiến năm 2010 công trình hoàn tất và đưa vào sử dụng sẽ làmột đòn bẩy thúc đẩy du lịch Bạc Liêu phát triển. Ngoài ra còn có một số dự ánphát triển du lịch sinh thái như dự án phát triển khu du lịch sinh thái ven biển có quymô 80 ha; khu du lịch sân chim Bạc Liêu; khu du lịch Vườn Nhãn Bạc Liêu; dự ánxây dựng khách sạn, nhà hàng…Bên cạnh việc tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá,ngành du lịch tỉnh còn tập trung khai thác các điểm nhấn văn hoá mang sắc tháiriêng của Bạc Liêu như: xây dựng khu lưu niệm cố nhạc sỹ Cao văn Lầu; các khudu lịch tâm linh gắn với chùa chiền; tháp cổ Vĩnh Hưng gắn với nền văn hoá Óc Eo;Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 8 ĐặngThế Vĩnh
  9. 9. phát triển các câu lạc bộ đờn ca tài tử để phục vụ khách du lịch tại các khu di tích;tổ chức các lễ hội truyền thống địa phương. Năm 2009, nhân kỷ niệm 90 năm ngày ra đời bản Dạ cổ hoài lang, tỉnh BạcLiêu sẽ tổ chức lễ hội Dạ cổ hoài lang từ ngày 29-09 đến ngày 03-10 tại thị xã BạcLiêu. Trong lễ hội sẽ có nhiều hoạt động văn hoá nghệ thuật: chương trình sânkhấu hoá về quá trình ra đời và phát triển của bản Dạ cổ hoài lang, bản vọng cổ vànghệ thuật cải lương; thả hoa đăng trên sông Bạc Liêu; khánh thành khu lưu niệmCao Văn Lầu được đầu tư kinh phí xây dựng 6,3 tỷ đồng; trưng bày những hiện vật,hình ảnh về thân thế và sự nghiệp của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu… Hành chính Hiện nay, tỉnh Bạc Liêu có 7 đơn vị hành chính trực thuộc là: thị xã Bạc Liêu,huyện Vĩnh Lợi, huyện Hoà Bình, huyền Hồng Dân, huyện Phước Long, huyện GiáRai, huyện Đông Hải. Trong đó, thị xã Bạc Liêu có diện tích nhỏ nhất, huyện ĐôngHải có diện tích lớn nhất. Tổng số đơn vị hành chính cấp xã tại thời điểm31-12-2007 là 61, trong đó có 7 phường, 7 thị trấn và 47 xã.Các cơ quan quản lý cao nhất của tỉnh hiện nay là: Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân(HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND):- Tỉnh ủy là cơ quan đại diện cho đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại tỉnh. Đứngđầu là Bí thư Tỉnh ủy. Quyền hạn và trách nhiệm được quy định theo Điều lệ đảng.Bí thư tỉnh ủy hiện nay là ông Phan Quốc Hưng.- HĐND theo quy định là cơ quan quyền lực nhân dân trong tỉnh, được bầu lên vớinhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu cơ quan này là Chủ tịch HĐND. Chủ tịch HĐND tỉnhBạc Liêu hiện nay là ông Nguyễn Văn Út.- UBND do Hội đồng nhân dân chọn ra, có trách nhiệm quản lý trực tiếp các vấn đềhành chính, kinh tế, xã hội, văn hoá....của tỉnh nhà. Đứng đầu UBND là Chủ tịch vàcác phó Chủ tịch, bên dưới là các Sở ban ngành quản lý từng lĩnh vực cụ thể. Chủtịch UBND tỉnh hiện nay là ông Võ Anh Dũng. Ông Dũng được bầu làm Chủ tịchUBND tỉnh Bạc Liêu tại kỳ họp bất thường ngày 06-08-2009 của HĐND tỉnh khoáVII thay thế cho ông Cao Anh LộcTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 9 ĐặngThế Vĩnh
  10. 10. Dân cư quy môBạc Liêu là tỉnh có quy mô dân số nhỏ, đứng thứ 12 trong số 13 tỉnh thành vùngĐồng bằng Sông Cửu Long. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, dân số tỉnh BạcLiêu năm 2008 là 829.300 người, cao hơn tỉnh Hậu Giang. Dân số tăng dần quacác năm. Theo các tài liệu cũ, vào năm 1910, dân số Bạc Liêu là 87.400 người. Sau20 năm, vào năm 1930, dân số tỉnh là 231.000 người, tăng gấp 2,64 lần. Năm1970, dân số Bạc Liêu là 293.200 người. Sau 30 năm, vào năm 2000, dân số tỉnh là745.200 người, tăng gấp 2,5 lần so với năm 1970. Năm 2004, dân số Bạc Liêu là793.500 người. Năm 2008 là 829.300 người, tăng gấp 1,045 lần năm 2004. Bạc Liêu là tỉnh nhỏ, diện tích hẹp, dân số thấp. Theo thông tin từ Tổng cụcThống kê, mật độ dân số của tỉnh năm 2008 là 321 người/km2, đứng thứ 10 ở khuvực Đồng bằng Sông Cửu Long, cao hơn các tỉnh Long An, Kiên Giang và Cà Mau.Dân cư Bạc Liêu phân bố không đều giữa các huyện và thị xã. Theo số liệu từ Niêngiám Thống kê năm 2004, thị xã Bạc Liêu có mật độ dân số 796 người/km2, caogấp 2,5 lần mật độ dân số bình quân toàn tỉnh và 3,26 lần mật độ dân số của huyệnĐông Hải. Trong các huyện, Giá Rai và Vĩnh Lợi có mật độ dân số cao nhất, thấpnhất là huyện Hồng Dân.Dân cư hình thành theo cụm và theo tuyến, tập trung ở thị xã Bạc Liêu, các thị trấnhuyện lỵ và ven trục quốc lộ 1A, có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn.Năm 2003, dân thành thị của tỉnh chiếm 24,6% dân số, năm 2004, tỷ lệ này là25,5%. Trong đó, thị xã Bạc Liêu chiếm 51,5%, còn lại là dân cư ở các thị trấnhuyện lỵ của các huyện. Số dân thành thị không ngừng gia tăng qua các năm, theothông tin từ Tổng cục Thống kê sơ bộ năm 2008, dân thành thị của Bạc Liêu là222.300 người, chiếm 26,8% dân số toàn tỉnh. Theo số liệu của Ban chỉ đạo điềutra Dân số và Nhà ở tỉnh Bạc Liêu năm 2009, dân số thành thị của tỉnh là 227.764người, chiếm 26,6% dân số toàn tỉnh. Cơ cấu dân số Xét theo độ tuổi, Bạc Liêu là tỉnh có dân số trẻ. Năm 1999, số người trong độtuổi dưới 15 chiếm 33,9%, từ 15 - 59 tuổi chiếm 59,8%, từ 60 tuổi trở lên chiếmTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 10 ĐặngThế Vĩnh
  11. 11. 6,3%. So với khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Bạc Liêu có tỷ lệ người dưới vàtrong độ tuổi lao động cao hơn, tỷ lệ người trên độ tuổi lao động thấp hơn. So vớimức trung bình của cả nước, Bạc Liêu có tỷ lệ người dưới và trên độ tuổi lao độngcao hơn, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động thấp hơn. - Xét về giới tính, dân số Bạc Liêu thiên về nữ giới. Năm 2003, nữ giới chiếm51,3% dân số cả tỉnh, nam giới chiếm 48,7%. Năm 2008, nữ giới chiếm 51,27%dân số cả tỉnh, nam giới chiếm 48,73%. Sau 5 năm, khoảng cách chênh lệch dânsố nam nữ rút ngắn không đáng kể, chỉ 0,03%. Huyện Phước Long có tỷ lệ nữ giớicao trong dân số (52,9% vào năm 2003), kế đến là thị xã Bạc Liêu (52,2% vào năm2003). Hai huyện Hồng Dân và Vĩnh Lợi có tỷ lệ nữ giới thấp hơn cả (51% vào năm2003). Theo số liệu của Ban chỉ đạo điều tra Dân số và Nhà ở tỉnh Bạc Liêu năm2009, dân số nữ của Bạc Liêu là 429.382 người, chiếm 50,15% dân số toàn tỉnh.- Về dân tộc, trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu có nhiều dân tộc cùng cư trú. Trongđó, người Kinh chiếm 89,5% dân số, người Hoa chiếm 2,5%, người Khmer chiếm7,9%, còn lại là các dân tộc khác. (Số liệu thống kê năm 2003).+ Người Khmer sống rải rác ở các huyện trong tỉnh, song đông nhất là ở huyệnVĩnh Lợi, huyện Hồng Dân và thị xã Bạc Liêu. Họ sống bằng nghề nông và một ítlàm nghề nuôi trồng thủy sản. Người Khmer ở Bạc Liêu có nét văn hoá riêng rấtđặc sắc. Chùa Khmer là nơi tập trung đầy đủ các nét đẹp văn hoá của ngườiKhmer, bao gồm tín ngưỡng và nghệ thuật kiến trúc.+ Người Hoa sống tập trung ở thị xã Bạc Liêu, giỏi nghề buôn bán. Đồng thời, họcũng đã nhen nhóm nền công nghiệp chế biến ở Bạc Liêu ngay từ buổi ban đầu.Trong phát triển kinh tế, người Hoa luôn thể hiện tính tiên phong, mạnh dạn đầu tưvào những ngành nghề cho lợi nhuận kinh tế cao, nhất là các ngành dịch vụ. Hoạtđộng văn hoá của người Hoa cũng rất phong phú. Tinh thần đoàn kết, tương thântương ái trong cộng đồng người Hoa luôn được đề cao. Đó là sự tương trợ củanhững người trong tộc họ, các tổ chức từ thiện, hội tương tế, với những việc làmthiết thực như: giải quyết việc làm, giúp vốn làm kinh tế, đóng góp xây dựng nhàtình nghĩa, tình thương, ủng hộ đồng bào bị thiên tai.Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 11 ĐặngThế Vĩnh
  12. 12. Về độ tuổi lao động, nguồn lao động của tỉnh dồi dào và thường xuyên giatăng do dân số trẻ. Năm 1999, số người trong độ tuổi lao động (tính từ 15 đến 59tuổi) của tỉnh là 440.100 người, chiếm 59,8% dân số; năm 2002, con số này là478.700 người; năm 2004, con số này là 489.700 người, chiếm 61,7% dân số toàntỉnh. Năm 2004, số lao động có việc làm là 401.400 người, chiếm 81,9% số ngườitrong độ tuổi lao động. Phần lớn lao động Bạc Liêu hoạt động trong lĩnh vực Nông -Lâm - Ngư nghiệp, chiếm 74,6% số lao động năm 2001, trong khi đó, tỷ lệ lao độngtrong ngành Công nghiệp - Xây dựng là 8,1% và ngành Thương mại - Dịch vụ là18,4%. Những năm gần đây, cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế đã chuyểndịch. Trong nội bộ ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp cũng có sự chuyển đổi mạnhtheo hướng giảm dần tỷ trọng nông - lâm và tăng dần tỷ trọng ngư nghiệp. Số laođộng trong các ngành kinh tế khác thay đổi không đáng kể. Tình trạng việc làm củangười lao động không ổn định. Năm 2004, tỷ lệ thất nghiệp trong toàn tỉnh là 3,2%,ở thành thị là 2,5%. Trình độ kỹ thuật và tay nghề lao động còn thấp. Trong số401.400 lao động có việc làm năm 2004, chỉ có 20% là có trình độ chuyên nghiệptrở lên. Giáo dục Hệ thống giáo dục của tỉnh bao gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thôngvà giáo dục chuyên nghiệp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời điểm30-09-2007, toàn tỉnh Bạc Liêu có 234 trường học ở các cấp phổ thông, thấp nhấtkhu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Tổng số học sinh phổ thông tại thời điểm31-12-2007 là 138.141 em, trong đó, cấp tiểu học là 75.006 em, cấp trung học cơsở là 44.715 em, cấp trung học phổ thông là 18.420 em. Tổng số giáo viên phổthông trực tiếp giảng dạy tại thời điểm 31-12-2007 là 6.960 người, trong đó, giáoviên tiểu học là 3.720 người, giáo viên trung học cơ sở là 2.366 người, giáo viêntrung học phổ thông là 874 người. Theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông nămhọc 2006 - 2007 là 59,18%, thấp hơn so với tỷ lệ trung bình khu vực Đồng bằngSông Cửu Long (80,62%) và cả nước (80,42%), thấp nhất khu vực Đồng bằngSông Cửu Long. Theo tin từ Sở Giáo dục và Đào tạo Bạc Liêu, tỷ lệ đỗ tốt nghiệpTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 12 ĐặngThế Vĩnh
  13. 13. trung học phổ thông năm 2008 - 2009 của tỉnh là 72,8%, bổ túc trung học phổ thônglà 12,42%. Năm học 2009 - 2010, tỉnh phấn đấu đạt tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổthông trên 75%. Sáng 20-07-2009, Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh Bạc Liêu đã tổ chức lễ côngnhận tỉnh Bạc Liêu đạt chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở (PCGD THCS ).Đến thời điểm này, 100% xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh có phòng học kiên cố.Toàn tỉnh hiện có 64 trường Mầm non, 154 trường Tiểu học, 67 trường THCS, có85 trường Trung học. Có trên 9.200 giáo viên từ bậc học Mầm non đến THPT. Toàntỉnh có 31 xã, phường, thị trấn, 7/7 huyện, thị được công nhận chuẩn quốc gia vềPCGDTHCS. Đến thời điểm này các chỉ tiêu phổ cập đúng độ tuổi và THCS đều đạtvà vượt tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục & Đào tạo qui định: 96,93% đối tượng tốt nghiệplớp 9 ; 81,35% đối tượng từ 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS, trẻ em 6 tuổi vàolớp 1 đạt 99,10%, trẻ em 11-14 tuổi tốt nghiệp Tiểu học đạt 90,79%. 31/61 xã,phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Y tế Năm 2004, toàn tỉnh có 68 cơ sở y tế, trong đó có 1 bệnh viện tỉnh, 6 bệnhviện huyện, 3 phòng khám đa khoa khu vực, và 58 trạm y tế xã phường. Tổng sốgiường bệnh là 1.167 giường. Toàn tỉnh có 1.307 cán bộ y tế, trong đó 435 ngườicó trình độ bác sĩ và trên đại học, 100% trạm y tế xã trong tỉnh đều có bác sĩ.Năm 2007, toàn tỉnh có 71 cơ sở y tế, trong đó có 7 bệnh viện, 2 phòng khám khuvực, 61 trạm y tế xã phường. Tổng số giường bệnh trực thuộc sở Y tế tỉnh là 1.410giường, trong đó có 1.110 giường ở các bệnh viện, 30 giường ở các phòng khámđa khoa, 262 giường ở các trạm y tế phường xã. Tổng số cán bộ ngành y trựcthuộc Sở Y tế là 1.709 người, trong đó có 387 bác sĩ, 780 y sĩ, 358 y tá và 184 nữhộ sinh.Vấn đề khó khăn hiện nay là các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh hầu như chưa đượctrang bị hệ thống xử lý rác thải. Mỗi ngày các cơ sở này thải ra hàng trăm kg chấtthải y tế dạng rắn và hàng chục khối chất thải dạng lỏng. Hầu hết đều được chônlấp sơ sài hoặc đổ thẳng ra sông rạch. Theo khảo sát của ngành y tế Bạc Liêu, tạiTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 13 ĐặngThế Vĩnh
  14. 14. thời điểm tháng 07-2009, hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân trên địa bàntỉnh đều không có hệ thống xử lý nước thải y tế đúng quy định của ngành. Tuynhiên, để đầu tư hệ thống xử lý khá tốn kém nên hầu hết chấp nhận phạt khi cóđoàn kiểm tra. Sở Tài nguyên - Môi trường Bạc Liêu đã nhiều lần kiểm tra, cảnhbáo. Kết quả kiểm tra cho biết: trừ Bệnh viện Đa khoa tỉnh, các cơ sở y tế còn lạiđều vi phạm.Ngành Y tế Bạc Liêu cũng nhiều lần được báo chí trong nước phản ánh về các saiphạm trong công tài chính và cán bộ. Năm 2004, lãnh đạo Sở nâng khống giá muatrang thiết bị phòng chống cúm gia cầm. Hàng loạt dụng cụ không sử dụng được vìchất lượng kém. Vụ việc đã bị Công an Bạc Liêu khởi tố ngày 12-12-2006. Năm2008, Sở Y tế Bạc Liêu lại thu hút sự chú ý của dư luận qua việc một y tá được bổnhiệm làm Phó giám đốc Sở. Đây là việc làm chưa có tiền lệ trong tỉnh và trongngành Y tế cả nước. Kinh tếNhận định chung Từ khi tái lập tỉnh năm 1996, kinh tế Bạc Liêu có mức tăng trưởng khá. Tổngsản phẩm trên địa bàn tăng nhanh, năm 1997 là 1.971.589 triệu VNĐ, năm 2006 là8.879.535 triệu VNĐ (tính theo giá hiện hành), tăng 450,374%. GDP bình quân đầungười năm 1997 là 218,10 USD, năm 2006 là 679,90 USD, tăng 311,79%.Cơ cấu kinh tế theo ngành có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng côngnghiệp, giảm tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp và thương mại - dịch vụ. Tuy nhiên,tốc độ biến đổi còn chậm. Năm 1997, cơ cấu kinh tế tỉnh bao gồm: Nông - Lâm -Ngư nghiệp: 57,08%, Công nghiệp - Xây dựng 18,79%, Thương mại - Dịch vụ:24,13%. Năm 2006. cơ cấu kinh tế tỉnh bao gồm: Nông - Lâm - Ngư nghiệp:54,77%, Công nghiệp - Xây dựng 24,00%, Thương mại - Dịch vụ: 21,23%. (Tínhtheo giá hiện hành - Số liệu trên Website tỉnh Bạc Liêu).Cơ cấu kinh tế theo loại hình có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng kinhtế nhà nước, tăng dần tỷ trọng kinh tế ngoài nhà nước và Khu vực có Vốn đầu tưnước ngoài (Khu vực có VĐTNN). Năm 1997, cơ cấu loại hình kinh tế của tỉnh baoTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 14 ĐặngThế Vĩnh
  15. 15. gồm: Kinh tế nhà nước 24,33%, Kinh tế ngoài nhà nước 75,67%, Khu vực cóVĐTNN: 0%. Năm 2006, cơ cấu này bao gồm: Kinh tế nhà nước 18,81%, Kinh tếngoài nhà nước 80,23%, Khu vực có VĐTNN: 0,95%. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010 và hướng đến năm 2020 củatỉnh đề ra những mục tiêu: tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bềnvững, tạo chuyển biến mạnh về chất lượng phát triển, trong đó tốc độ tăng GDPbình quân 12%/năm, cơ cấu GDP khu vực nông nghiệp khoảng 39,5%, côngnghiệp 33%, dịch vụ 27,5%; Giá trị xuất khẩu tăng từ 151 triệu USD (năm 2005) lên360 triệu USD (năm 2010); Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xóa đóigiảm nghèo, giải quyết việc làm...Theo quy hoạch, kinh tế biển sẽ là mũi nhọn kinhtế của Bạc Liêu trong những năm tới, dự kiến năm 2020, kinh tế biển sẽ chiếm 50%GDP của tỉnh. Các khu vực kinh tế Nông - Lâm - Ngư nghiệp Nông - Lâm - Ngư nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của tỉnhBạc Liêu. Trước năm 1997, ngành chỉ độc canh cây lúa, vì vậy chưa mang lại hiệuquả kinh tế cao. Sau khi tái lập tỉnh, ngành đã chuyển đổi cơ cấu sản xuất sangluân canh đa cây đa con trên cùng một diện tích. Trong nội bộ ngành cũng có sựchuyển dịch cơ cấu rõ rệt, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngưnghiệp.Từ năm 1997 - 2005, diện tích đất trồng lúa của Bạc Liêu giảm gần 70 ngàn ha dochuyển dịch sang nuôi tôm, nhưng sản lượng lúa vẫn giữ mức ổn định 550 - 600ngàn tấn/năm, vừa bảo đảm an ninh lương thực vừa xuất khẩu. Nông dân thay đổitập quán canh tác, không còn độc canh cây lúa nữa mà kết hợp giữa trồng lúa vớinhiều loại cây con khác mang lại hiệu quả kinh tế rất cao, nhất là từ khi có sựchuyển đổi các mô hình: lúa - cá, lúa - màu, lúa - tôm, lúa - cua, mô hình VACB(vườn - ao - chuồng - bioga). Các mô hình này cho thu nhập từ 30 - 50 triệuđồng/ha, trừ chi phí cũng còn lãi từ 20 - 25 triệu đồng/ha và quan trọng nhất là bảoTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 15 ĐặngThế Vĩnh
  16. 16. vệ được môi trường sinh thái bền vững so với sản xuất độc canh cây lúa hoặc độccanh con tôm. Hướng phát triển sắp tới Bạc Liêu sẽ tiếp tục đầu tư 600 - 630 tỷ đồng vốn từnội lực cho phát triển nông - lâm - ngư nghiệp, tập trung chủ yếu cho các lĩnh vựckinh tế trọng điểm trong sản xuất chế biến thủy sản xuất khẩu, lúa chất lượng cao,sản xuất đa cây đa con, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững; hoàn chỉnh từ 80 -85% hệ thống thủy lợi nội đồng, phục vụ trồng lúa và nuôi trồng thủy sản. Hệ thốngngân hàng sẽ dành nguồn vốn tín dụng trên 3.000 tỷ đồng đầu tư cho phát triểnnông nghiệp - nông thôn toàn diện, nhằm thực hiện thành công Chương trình xâydựng vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao gắn với du lịch sinh thái đangđược triển khai ở nhiều vùng nông thôn Bạc Liêu hiện nay. Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu của tỉnh Bạc Liêu. Từ năm 1997,ngành đã có những bước phát triển, thay đổi giống và kỹ thuật canh tác, đem lạihiệu quả kinh tế cao. Theo thông tin từ Website tỉnh, giá trị sản xuất năm 1997 củangành là 1.340.088 triệu VNĐ, năm 2006 là 2.953.685 triệu VNĐ (theo giá hiệnhành), tăng 220,4%. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất nôngnghiệp năm 2007 là 1.639,2 tỷ VNĐ (theo giá so sánh 1994), đứng thứ 12 ở khuvực Đồng bằng Sông Cửu Long, hơn tỉnh Cà Mau.Quý I năm 2009, diện tích gieo sạ lúa Đông Xuân và Xuân Hè của tỉnh là 42.170 ha,tăng 19,8% kế hoạch và 5,5% so cùng kỳ năm 2008; đã thu hoạch khoảng 13.000ha; năng suất 5,5 tấn/ha, sản lượng 71.500 tấn, tăng 30% so cùng kỳ năm 2008.Lĩnh vực chăn nuôi bị ảnh hưởng do dịch cúm gia cầm xảy ra trên địa bàn huyệnPhước Long và Giá Rai vào trung tuần tháng 2. Theo đánh giá của tỉnh Bạc Liêu, 3tháng đầu năm 2009, sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực đạt kết quả khá nhất trongphát triển kinh tế. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa đều tăng so với cùng kỳ,giá thu mua lương thực đang có lợi cho nông dân, sản xuất muối kịp thời khắc phụcthiệt hại sau những cơn mưa trái mùa cùng với giá muối tăng cao nên thu nhậpmùa vụ của các hộ diêm dân đạt khá. Bên cạnh tình hình khá thuận lợi của sảnTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 16 ĐặngThế Vĩnh
  17. 17. xuất nông nghiệp, xuất khẩu gạo được xem là khá tốt trong bối cảnh khó khăn nhưhiện nay với 28.320 tấn gạo được xuất khẩu trong quý I, tăng gấp 3,5 lần so vớicùng kỳ... Bảng thống kê thành tựu 10 năm trồng trọt của tỉnh Bạc Liêu Diện tích gieo trồng (ha) Sản lượng lúa Danh Cây bình quân đầu mục Cây lâu người Lúa Màu hằng năm (kg/người/năm) năm 1997 152.00 989 159.451 13.204 708,97 2006 145.762 467 160.658 11.735 825,69 Tốc độ tăng giảm giảm giảm 116,48% trưởngSố lượng vật nuôi của tỉnh qua các năm Danh Đơn 2000 2001 2002 2003 2004 mục vị tính Trâu - con 6.492 3.278 2.982 3.018 2.297 bò Heo con 206.012 187.063 203.328 222.319 226.372 nghìn Gà 3.309 1.988 2.398 2.192 1.401 con nghìn Vịt 2.495 1.249 1.613 1.200 con Nguồn: Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam - NXB Giáo Dục - Tập 6 - Trang 80 Lâm nghiệp Tỉnh Bạc Liêu có diện tích rừng phòng hộ ven biển và rừng đặc dụng sânchim tương đối ổn định. Hều hết diện tích đất trống ven biển đã được trồng rừngphòng hộ. Tổng diện tích đất có rừng năm 1997 là 4.157 ha, năm 2003 là 5.390 ha.Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 31-12-2008, tổng diện tích rừngcủa tỉnh Bạc Liêu là 4.300 ha, trong đó, rừng tự nhiên là 2.300 ha, rừng trồng là2.000 ha, tỷ lệ che phủ đạt 1,7%. Giá trị sản xuất lâm nghiệp sơ bộ năm 2008 làTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 17 ĐặngThế Vĩnh
  18. 18. 19,6 tỷ VNĐ (giá so sánh 1994). Sản lượng gỗ khai thác sơ bộ năm 2008 là 2.900m 3. Ngư nghiệp Ngư nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế củaBạc Liêu. Ngày 10-10-2008, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu phê duyệt đề án pháttriển kinh tế biển đến năm 2020. Theo đó đến năm 2020 kinh tế biển tỉnh Bạc Liêusẽ phấn đấu đạt các chỉ tiêu:- Tổng sản lượng thủy sản: 250.000 tấn, trong đó: sản lượng nuôi trồng: 130.000tấn, sản lượng khai thác: 120.000 tấn.- Năng lực sản xuất thủy sản: ổn định đội tàu khai thác hiện có đến năm 2010, đếnnăm 2020 có 80% tàu có công suất 90 CV trở lên- Diện tích nuôi trồng thủy sản: 62.823 ha- Giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ biển: 550 triệu USD- Kinh tế biển chiếm 50% GDP của tỉnh vào năm 2020Giai đoạn 2010, tỉnh xác định thủy sản vẫn là ngành kinh tế mũi nhọn tiếp đến làphát triển du lịch và dịch vụ ven biển. Tỉnh sẽ ưu tiên đầu tư hoàn chỉnh hệ thốngcảng cá khu neo đậu tránh trú bão; đầu tư phát triển sản xuất muối theo chiều sâuvà công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng đảm bảo muối nguyên liệucho công nghệ; phối hợp với các Bộ, Ngành Trung ương tiến hành khảo sát, điềutra tài nguyên biển, quy hoạch sản xuất vùng biển; đầu tư xây dựng hệ thống quantrắc, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển. Giai đoạn 2011 - 2020, tỉnh ưu tiên đầu tư phát triển các khu kinh tế tổnghợp ven biển gắn với các khu đô thị; hình thành và phát triển kinh tế hàng hải gồm:xây dựng cảng thương mại, xây dựng đội tàu vận tải biển, sửa chữa đóng tàu biển;tổ chức sản xuất, nuôi trồng một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở vùng biểnthích hợp; tiếp tục đầu tư phát triển dịch vụ và du lịch biển; đầu tư phát triển một sốnghề biển như: năng lượng gió, năng lượng sóng, thủy triều, khai thác khoáng sảnvùng đáy biển, dầu khí. Trên thực tế, giá trị sản xuất thủy sản của tỉnh đã không ngừng gia tăngTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 18 ĐặngThế Vĩnh
  19. 19. qua các năm. Theo thông tin từ Website tỉnh, giá trị sản xuất thủy sản năm 1997 là887.929 triệu VNĐ, năm 2006 là 17.273.000 triệu VNĐ, tăng 9,35%. Theo thông tintừ Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất thủy sản sơ bộ năm 2008 của tỉnh là 4.364,3tỷ VNĐ (giá so sánh năm 1994). Quý I năm 2009, tổng sản lượng thủy sản khaithác và nuôi trồng đạt 42.629 tấn (Bao gồm: sản lượng nuôi trồng 21.837 tấn, bằng83,8% so cùng kỳ; sản lượng khai thác 20.792 tấn, tăng 19,4% so cùng kỳ). Nuôi trồng Từ năm 1997 đến năm 2005, hơn 70.000 ha đất trồng lúa trong tỉnh đãchuyển sang nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm công nghiệp. Khu vực nội địatrong bờ biển của tỉnh nằm 2 bên quốc lộ 1A, có hơn 135.000 ha đất thuộc vùngsinh thái mặn và nước lợ có khả năng nuôi trồng và phát triển đa dạng các loài thủysản có giá trị kinh tế cao, nhất là nghề nuôi tôm sú, cua, cá kèo... đồng thời có điềukiện thích hợp cho việc hình thành các trung tâm sản xuất con giống phục vụ choviệc nuôi trồng thủy sản. Ngày 08-10-2008, tỉnh Bạc Liêu đã khởi công xây dựng vùng nuôi tôm súcông nghiệp - bán công nghiệp tại xã Vĩnh Trạch Đông, thị xã Bạc Liêu. Dự án cótổng diện tích 800 ha, vốn đầu tư lên đến 30 tỷ đồng thuộc Chương trình phát triểnnuôi trồng thủy sản Bộ Nông nghiệp &Phát triển nông thôn. Dự án tập trung xâydựng cơ sở hạ tầng, cơ sở sản xuất tôm sú giống, ao hồ nuôi…nhằm quy hoạchvùng nuôi tôm công nghiệp - bán công nghiệp khép kín với quy trình kỹ thuật cao.Dự kiến năm 2010, dự án sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đây là lần đầu tiênsau 10 chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bạc Liêu quy hoạch được vùng sản xuất tômsú hiện đại, khép kín với quy mô lớn. Năm 2009, người nuôi tôm ở Bạc Liêu lại đang gặp khá nhiều khó khăn. QuýI năm 2009, diện tích đang thả nuôi các loài thủy sản 105.259 ha. Diện tích nuôitôm công nghiệp - bán công nghiệp giảm đến 37% so với cùng kỳ, giá tôm nguyênliệu thấp, chất lượng con giống không bảo đảm, nông dân thiếu vốn đầu tư, hạ tầngcho vùng tôm không bảo đảm... đã làm cho sản lượng nuôi trồng, chế biến, xuấtkhẩu thủy sản giảm mạnh.Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 19 ĐặngThế Vĩnh
  20. 20. Những năm gần đây, phong trào nuôi các loại thủy sản mới ở Bạc Liêu (nhưcua, cá kèo, cá bống tượng, cá chình, ba ba, cá thác lác cườm...) xuất hiện ngàymột nhiều. Ở các vùng phía Bắc tỉnh, có nguồn nước ngọt quanh năm từ sông Hậuđổ về, nghề nuôi thủy sản trên sông phát triển khá mạnh. Mô hình nuôi cá lóc trongmùng (màn) trên sông được nhiều người áp dụng vì vốn đầu tư ít nhưng cho hiệuquả kinh tế cao. Người nuôi chỉ đầu tư vài triệu đồng mua cá giống, vải màn, câylàm cọc để bao cá, sau đó thả cá, thả chà (cắm nhiều cây có nhánh khô, để làmchỗ cho cá tránh, trú bớt ánh nắng gay gắt) và chăm sóc cá. Nuôi từ 3-3,5 tháng, cásẽ đạt trọng lượng từ 300 - 700 gram/con. Đây là hình thức nuôi trồng mới, đem lạithu nhập đáng kể cho người dân.Khai thác Vùng biển Bạc Liêu có trữ lượng hơn 460.000 tấn thủy sản các loại, hàngnăm cho phép khai thác trên 100.000 tấn thủy sản với nhiều loại có giá trị kinh tếcao, như tôm, cua, mực... Đặc biệt, dọc theo bờ biển của tỉnh có 3 cửa sông lớn rấtthuận lợi cho việc khai thác hải sản, nhất là đánh bắt xa bờ, cung cấp nước mặn vàcon giống cho nuôi trồng thủy sản. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, số lượngtàu đánh bắt xa bờ sơ bộ năm 2008 của tỉnh là 350 chiếc, sản lượng thủy sản khaithác sơ bộ năm 2008 là 75.421 tấn. Chủ trương phát triển kinh tế biển và kinh tế thủy sản đã giúp hàng chụcngàn lao động, nhất là nhân dân vùng biển có thêm việc làm, qua đó góp phần xóađói giảm nghèo. Đặc biệt, công trình cảng cá và Trung tâm Dịch vụ hậu cần nghềcá Gành Hào đã xây xong và đưa vào khai thác phục vụ cho ngư dân vùng biển…Các ngành chức năng của tỉnh đang tiếp tục hoàn thành các thủ tục để xây dựngkhu neo đậu tàu thuyền, cảng cá ở Nhà Mát và Cái Cùng nhằm tạo động lực mớicho sự phát triển kinh tế của tỉnh trong thời gian tới. Công nghiệp - Xây dựngTình hình phát triển Từ sau khi tái lập tỉnh, cơ cấu ngành Công nghiệp - Xây dựng có gia tăng,nhưng không mạnh. Năm 1997, ngành này chiếm 18,79% trong cơ cấu kinh tế tổngTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 20 ĐặngThế Vĩnh
  21. 21. sản phẩm các ngành kinh tế của tỉnh (tính theo giá hiện hành). Năm 2006, con sốnày là 24,00%. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, giá trị sản xuất công nghiệptheo giá thực tế năm 2007 của tỉnh là 4.285,7 tỷ VNĐ, đứng thứ 12 khu vực Đồngbằng Sông Cửu Long, cao hơn tỉnh Trà Vinh. Theo thông tin từ Website Sở CôngThương tỉnh, tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008 là 2.817 tỷ đồng, phântheo loại hình kinh tế: kinh tế nhà nước chiếm 903 tỷ đồng, kinh tế ngoài nhà nước :1.439 tỷ đồng và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 475 tỷ VNĐ. Theo thông tin từ Website tỉnh Bạc Liêu, quý I năm 2009, giá trị sản xuấtcông nghiệp của tỉnh ước đạt 495,8 tỷ VNĐ, bằng 15% kế hoạch, tăng 3,4% socùng kỳ. Một số sản phẩm có mức tăng trưởng khá như: gạo xay xát, tăng 6,12%,điện thương phẩm, tăng 6,35% và nước thương phẩm, tăng 4,42% so cùng kỳ. Sảnlượng chế biến thủy sản xuất khẩu thực hiện 3.955 tấn, giảm 13,6% so cùng kỳ. Về cơ cấu ngành, công nghiệp chế biến chiếm ưu thế. Năm 2004, ngànhnày chiếm 90% tổng giá trị sản xuất toàn ngành. Các ngành công nghiệp chủ yếubao gồm: chế biến lương thực - thực phẩm, chế biến thủy sản xuất khẩu, sản xuấtnước đá, cơ khí sửa chữa. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu là: muối biển, thủysản đông lạnh xuất khẩu, gạo xay xát, vật liệu xây dựng...... Không như các tỉnh thành khác, ở Bạc Liêu, phân bố công nghiệp có xuhướng chuyển dịch về nông thôn, như việc bố trí các nhà máy chế biến thủy sản,lúa gạo ở các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi - là vùng sản xuất nguyên liệu cho chế biến.Nhà máy chế biến tôm đông lạnh Tân Phong tại xã Tân Phong, huyện Giá Rai, thuhút hàng ngàn lao động. Các ngành công nghiệp chủ yếu Công nghiệp chế biến: là ngành công nghiệp chủ yếu ở Bạc Liêu, bao gồmchế biến thủy sản xuất khẩu, sản xuất muối và chế biến lương thực xuất khẩu. Cuốinăm 2008, trên địa bàn toàn tỉnh có 12 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh. Cácsản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2008 gồm: thủy sản đông lạnh đạt 28.700 tấn,xay xát đạt 357 ngàn tấn, sản xuất nước đá đạt 810 ngàn tấn, muối biển 91 ngànTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 21 ĐặngThế Vĩnh
  22. 22. tấn, muối Iod 6 ngàn tấn, thức ăn chăn nuôi 3.620 tấn, nước máy thương phẩm3.571 ngàn m3- Tiểu thủ công nghiệp bao gồm: đan lát, dệt chiếu, rèn, dệt may, chế biến đường,các loại thực phẩm và gia vị thường dùng… hoạt động xen kẽ trong các khu dân cưvới quy mô nhỏ.- Công nghiệp cơ khí: năm 2004, Bạc Liêu có 2 xí nghiệp sửa chữa ô tô - cơ khí và400 cơ sở sản xuất tư nhân khác- Công nghiệp dệt may là ngành sản xuất đã có từ lâu với các sản phẩm vải mùng,khăn tắm nổi tiếng trong và ngoài tỉnh. Năm 2004, giá trị sản xuất của ngành nàyđạt trên 1,3 tỷ VNĐ.- Công nghiệp sản xuất gỗ tập trung nhiều ở huyện Hồng Dân. Năm 2004, giá trịsản xuất ngành này đạt 82,6 tỷ VNĐ, chiếm 5% giá trị sản xuất công nghiệp củatỉnh. Các khu công nghiệp Cả tỉnh Bạc Liêu hiện vẫn chưa có khu công nghiệp nào hoạt động. Khu côngnghiệp duy nhất trên địa bàn tỉnh có tên trong danh mục các khu công nghiệp cảnước là khu công nghiệp Trà Kha, thuộc phường 8, thị xã Bạc Liêu. Khu Côngnghiệp Trà Kha được bắt đầu quy hoạch từ năm 1997, diện tích ban đầu là 123 ha.Tuy nhiên, do thiếu kinh nghiệm quy hoạch và quản lý, Ban quản lý dự án đã đểcho người dân tự do xây cất nhà ở trong phạm vi khu công nghiệp. Hiện nay, nếutiến hành giải toả thì chi phí đền bù quá lớn, vì thế giải pháp được các nhà quản lýđưa ra là thu hẹp diện tích khu công nghiệp. Năm 2003, Chính phủ Việt Nam phêduyệt lại dự án với diện tích 98,26 ha. Năm 2006, Chính phủ lại phê duyệt dự ánvới tổng diện tích 63,9 ha. Hiện nay, trong khu công nghiệp chỉ có duy nhất một nhàmáy đang hoạt động, đó là Nhà máy Sản xuất bia với công suất lên đến 30 triệu lít/năm. Theo Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh, phương hướng hoạt độngsắp tới của khu công nghiệp này cũng chưa biết ra sao. Vì hiện nay hạ tầng cơ cởchưa hoàn thành và cũng không có doanh nghiệp nào đầu tư vào một khu côngTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 22 ĐặngThế Vĩnh
  23. 23. nghiệp quá nhỏ lại nằm gần khu dân cư. Đã có ý tưởng đề xuất dịch chuyển mộtphần khu công nghiệp sang hướng Đông, phía bên kia bờ sông kênh Bạc Liêu - CàMau - vốn là vùng đất nông nghiệp thuần túy, không có nhà dân. Các chuyên giacho rằng, điều này cũng phù hợp với định hướng phát triển lâu dài của thị xã BạcLiêu về hướng Đông trong tầm nhìn quy họach 2010 - 2020. Cầu Bạc Liêu 2 cũngđã khởi công xây dựng nên việc xúc tiến quy hoạch khu công nghiệp Trà Kha dịchchuyển theo hướng mở về phía Đông là hợp lý. Tiến trình hình thành khu côngnghiệp Trà Kha có thể sẽ tiếp tục bị chậm lai từ 1 đến 2 năm nữa nếu theo hướngmở về phía Đông, nhưng sự chậm này là cần thiết cho một tương lai ổn định lâu dàicủa khu công nghiệp này. Ngoài khu công nghiệp Trà Kha, tỉnh Bạc Liêu còn quy hoạch các cụm côngnghiệp như:- Cụm công nghiệp Hộ Phòng - huyện Giá Rai 18 ha, Vĩnh Trạch - thị xã Bạc Liêu50 ha.- Cụm công nghiệp Gành Hào - huyện Đông Hải 80 ha với các ngành khai thác thủyhải sản, làm muối, chế biến thủy hải sản, đóng và sửa chữa tàu thuyền, sản xuấtnước đá, cung cấp các dịch vụ cho khai thác hải sản.- Cụm công nghiệp Rạch Bà Gia - huyện Giá Rai 40 ha với các ngành chế biếnlương thực thực phẩm, thức ăn cho gia súc, nuôi tôm, đồ nhựa, chế biến bột cá,thủy sản, sửa chữa tàu thuyền, gạch ngói.- Cụm công nghiệp Phước Long - huyện Phước Long 50 ha.- Cụm công nghiệp Hồng Dân 50 ha.- Cụm công nghiệp Ninh Quới - huyện Hồng Dân 40 ha.- Cụm công nghiệp Châu Hưng - huyện Vĩnh Lợi 50 ha với các ngành khai thác vàchế hải sản, làm muối, xay xát, chế biến lương thực thực phẩm, thức ăn gia súc,vật liệu xây dựng. Thương mại - Dịch vụTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 23 ĐặngThế Vĩnh
  24. 24. Năm 1997, tổng mức bán lẻ hàng hoá của tỉnh là 1.180 tỷ VNĐ. Năm 2004,con số này là 4.350 tỷ VNĐ. Năm 2004, toàn tỉnh có 62 chợ, trong đó có 2 chợ loại Ilà chợ Bạc Liêu và chợ Hộ Phòng; 11 chợ loại II là: Hoà Bình, Vĩnh Hưng, PhướcLong, Ngan Dừa, Phó Sinh, Giá Rai, Láng Tròn, Gành Hào, Xóm Lung, Nhân Dânvà 49 chợ loại III. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ hàng hoávà dịch vụ của tỉnh sơ bộ năm 2007 là 7.154 tỷ VNĐ (giá thực tế).Quý I năm 2009, tổng mức lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ 2.761 tỷ đồng, bằng 24%kế hoạch, tăng 18,4% so cùng kỳ; Chỉ số giá hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng quý Ităng 2,38% so với tháng 12/2008 và tăng 0,78% so với tháng trước; Kim ngạchxuất khẩu ước đạt 32,4 triệu USD, bằng 15% kế hoạch, tăng gần 5% so cùng kỳ(chủ yếu là do xuất khẩu gạo 28.320 tấn, tăng 3,5 lần so với cùng kỳ). Văn hoá Người Bạc Liêu có tính thẳng thắn, nhiệt tình, hiếu khách và hào phóng.Trong nói năng, không đôi co dài dòng, không “văn hoa mỹ tự”, mà chủ yếu là tinhthông nghĩa lý, muốn nói gì thì nói thẳng. Không gian đất rộng, người thưa nêncũng hình thành phong cách “ăn to nói lớn”, nói năng thật rõ, thật to để cho ngườinghe hiểu rõ ý mình. Những tính cách ấy được hun đúc gìn giữ từ đời này qua đờikhác. Ngày nay, tính cách Bạc Liêu vẫn được giữ gìn và phát huy. Bạc Liêu xưa kia nổi tiếng là đất ăn chơi với nhiều giai thoại về "công tử BạcLiêu", bởi người dân xứ này có tư duy khoáng đạt, thích giao kết tìm bạn qua hội hèvà qua sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Vùng đất này nổi tiếng với loại hình nghệthuật đờn ca tài tử "nhất Bạc Liêu, nhì Cần Đước". Nhờ đó, Bạc Liêu đã giữ chânđược nhạc sĩ Cao Văn Lầu, để rồi người nhạc sĩ tài hoa này lại làm sáng danh BạcLiêu bởi bài Dạ cổ hoài lang bất hủ. Tác phẩm Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu(có nghĩa là đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng) ra đời trong khoảng thời gian1917 - 1919 đã đặt nền tảng cho bản vọng cổ và góp phần làm thay đổi bộ mặt cảilương sau này. Mặc dù cải lương ra đời và thịnh hành trong nhiều thập kỷ, nhưng đờn catài tử vẫn còn chỗ đứng trong đời sống tinh thần người dân Nam Bộ, nhất là ở BạcTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 24 ĐặngThế Vĩnh
  25. 25. Liêu. Loại hình âm nhạc này có thể chơi ở bất cứ đâu: đám cưới, đám giỗ, sinhnhật, lễ hội các đình thần, sau khi thu hoạch mùa vụ …Tuy nhiên, nếu được trìnhdiễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng thì dễ tạo nên sự đồng điệu giữa ngườichơi và người thưởng thức âm nhạc truyền thống. Hằng năm, tỉnh Bạc Liêu tổ chứclễ hội Dạ cổ hoài lang vào 14 và 15 tháng 8 âm lịch tại khu mộ của cố nhạc sĩ CaoVăn Lầu và có mời nhiều ban đờn ca tài tử các nơi đến dự. Năm 2007, trong lễ hộiSmithsonian 2007 với chủ đề “Mê Kông – Dòng sông kết nối các nền văn hoá" tạiMỹ, câu lạc bộ đờn ca tài tử huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu đã được chọn sangMỹ biểu diễn. Giao thôngHệ thống hạ tầng giao thông Kể từ khi tái lập tỉnh năm 1997, qua hơn 10 năm, hệ thống đường giao thôngcủa tỉnh đã có bước phát triển, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu thúc đẩy kinh tế- xã hội của tỉnh, vì thế Bạc Liêu vẫn trong diện tỉnh nghèo với tỷ lệ hộ nghèo còncao (20,8%) và cơ sở hạ tầng kém phát triển. Cơ sở hạ tầng giao thông ở Bạc Liêu khi vừa mới tách tỉnh còn nghèo nàn,sơ sài, chỉ có duy nhất 63,7 km quốc lộ 1A qua tỉnh; 160,3 km đường địa phươngnhưng chỉ có 42,2 km đường có tráng nhựa. Cả tỉnh chỉ có gần 70 km đường đá,đất; 25 km đường bê tông xi măng nhỏ hẹp, lưu thông hàng hoá chủ yếu bằngđường sông, 11/37 xã có thể đến trung tâm bằng xe 4 bánh, nằm chủ yếu gần quốclộ 1A. Sau 10 năm tái lập Bạc Liêu đã đầu tư, xây dựng sửa chữa nâng cấp 82tuyến đường giao thông quan trọng (đường tỉnh, huyện, đô thị) với tổng chiều dài185,535 km và 60 cầu với tổng chiều dài 2.318 m. Giao thông nông thôn phát triểnlên 600 tuyến với tổng chiều dài 2.220 km, trong đó có 1.083 km được tráng nhựa,839 km bê tông xi măng. Tổng mức đầu tư giai đoạn 1997 - 2006 là trên 1.190 tỷđồng, trong đó nhân dân đóng góp trên 286 tỷ đồng. Như vậy, năm 2007, hệ thốngđường bộ địa phương có 1.781,51 km là đường kiên cố các loại, tăng 11 lần so vớiTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 25 ĐặngThế Vĩnh
  26. 26. năm 1997, cả tỉnh có 30/48 xã có đường cho xe ô tô đến trung tâm, 94% số ấp cóđường cho xe mô tô lưu thông được cả trong mùa lũ. Mặc dù hạ tầng giao thông của Bạc Liêu đã phát triển khá, nhưng nănglực vận tải đường bộ vẫn chưa tương xứng, các tuyến đường huyết mạch nối trungtâm các huyện ra quốc lộ 1A nhỏ hẹp (3,5m) chỉ có thể khai thác vận tải dưới 3,5T,vận chuyển hàng hoá giữa các huyện chủ yếu vẫn bằng đường thủy. Hiện Trungương và tỉnh đang đầu tư nhiều công trình giao thông trọng điểm.- Quốc lộ 1A 63,7 km đã được cải tạo, nâng cấp hoàn thành vào cuối năm 2009.Tuyến đường này nằm trong dự án đang nâng cấp, đoạn Cần Thơ - Năm Căn, vàcó 18 cây cầu đang trong giai đoạn thi công làm mới.- Tuyến Quản Lộ - Phụng Hiệp (qua 4 tỉnh Hậu Giang - Sóc Trăng - Bạc Liêu -Cà Mau) khi hoàn thành sẽ rút ngắn được 40 km đi từ Cần Thơ - Cà Mau so vớituyến quốc lộ 1A, đồng thời àm giảm áp lực giao thông lên quốc lộ 1A. Tuyếnđường này sẽ có hơn 52 km qua địa phận Bạc Liêu, giúp cư dân các huyện trướcđây sống biệt lập với bên ngoài có cơ hội giao thương trao đổi sản phẩm, hànghoá, nâng cao đời sống.- Tuyến Nam sông Hậu qua Bạc Liêu gần 14 km đang trong qua trình đầu tư.Tuyến đường này cải thiện đáng kể cho việc đi lại, giao thương của cư dân nằm ởmạn phía Nam của sông Hậu, bởi trước kia người dân ở đây chủ yếu sử dụngđường thủy để đi lại, vận chuyển hàng hoá. Ngoài ra, tỉnh Bạc Liêu còn đang kiến nghị với Bộ Giao thông Vận tải bổ sungthêm khoảng 1.681,56 tỷ đồng để đầu tư 13 đường trung tâm đến xã, sửa chữanâng cấp 16 đường trung tâm đến xã không thể lưu thông được bằng xe 4 bánh.Tỉnh cũng rất cần Trung ương đầu tư thêm hai cây cầu Phó Sinh 2 và Phước Long2 cắt qua tuyến Quản Lộ - Phụng Hiệp để lưu thông thuận tiện với Kiên Giang, HậuGiang và thành phố Cần Thơ. Tỉnh cũng đề nghị Bộ sớm cho nạo vét luồng kinh CàMau - Bạc Liêu là tuyến đường thủy quan trọng từ Cà Mau, Bạc Liêu đi thành phốHồ Chí Minh và ngược lại, hiện tại đoạn qua thị xã Bạc Liêu đã bồi lắng nhanh, gâyách tắc giao thông thủy và ô nhiễm môi trường.Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 26 ĐặngThế Vĩnh
  27. 27. Tình hình vận tải Toàn tỉnh có 2 bến xe chính và một số điểm đổ xe ở các huyện. Bến xe BạcLiêu nằm tại số 21/10 quốc Lộ 1A, K1 F7, thị Xã Bạc Liêu, phục vụ các tuyến: BạcLiêu - Hộ Phòng, Bạc Liêu - Cà Mau, Bạc Liêu - Sóc Trăng, Bạc Liêu - Cần Thơ.Bến xe Hộ Phòng tại ấp 1, thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai, phục vụ các tuyến: HộPhòng - Bạc Liêu, Hộ Phòng - Cà Mau, Hộ Phòng - Cần Thơ, Hộ Phòng - Sài Gòn. Theo thông tin từ Sở Giao thông Vận tải Bạc Liêu, ngày 03-08-2009, Công tyBến xe tàu Bạc Liêu đã hoàn tất các thủ tục vận chuyển hành khách từ Bạc Liêu điCamphuchia. Theo đó, mỗi ngày có một chuyến khởi hành từ Bạc Liêu điPhnômpênh và ngược lại. Hành trình đi từ Bạc Liêu theo quốc lộ 1A đi Cần Thơsang quốc lộ 91 đi Long Xuyên qua quốc lộ 2, quốc lộ 3 qua cửa khẩu Tịnh Biên rồisang Camphuchia. Dự kiến thời gian khởi hành tại Bạc Liêu vào lúc 3 giờ sánghàng ngày đến Phnômpênh mất 11 giờ. Giá vé dự kiến 350.000 đồng/người. Hànhkhách là người dân tộc Khmer chỉ cần giấy CMND và xác nhận của địa phương,những hành khách còn lại phải có hộ chiếu. Tỉnh có bến tàu khách Hộ Phòng - Gành Hào, tổng diện tích 1.340 m 2, có thểcho tàu 1.000 tấn ra vào, đủ đáp ứng nhu cầu đi lại trong và ngoài vùng. Hai trụcđường thủy có ý nghĩa quan trọng trong việc vận chuyển liên tỉnh là: tuyến kênhQuản Lộ - Phụng Hiệp và tuyến kênh Bạc Liêu - Cà Mau. Ngoài ra còn có kênh ChợHội, kênh Cạnh Đền cắt ngang hai tuyến kênh này, nối Bạc Liêu với Kiên Giang.Kênh Cạnh Đền, Phố Sinh, Quản Lộ, Giá Rai chạy song song với kênh Chợ Hội,nối kênh Cà Mau với kênh Phụng Hiệp, kéo dài sang tỉnh Kiên Giang. Bảng thống kê tình hình vận tải năm 2007 của tỉnh Bạc Liêu Khối lượng vận chuyển Khối lượng luân chuyểnHàng hoá (nghìn Hành khánh (triệu Hàng hoá (triệu Hành khách (triệu lượt tấn) lượt người) tấn/km) người/km)Đường Đường Đường Đường Đường Đường bộ Đường thủy Đường bộ thủy bộ thủy thủy bộTài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 27 ĐặngThế Vĩnh
  28. 28. 1388 1041,1 27,2 121,3 88,8 618,2 --------Hết --------Tài liệu dạy phần Địa lí địa phương tỉnh Bạc Liêu-Địa lý 9 – 28 ĐặngThế Vĩnh

×