CÁC BẢN DỊCH QUỐC NGỮ
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
NGUYỄN DỮ
1. Truyện Lạ Nước Nam Diễn Nghĩa - Dịch giả: Cát Thành Trần Thúy
(Hà Nội, 1914)
2. Truyền kỳ mạn lục - Dịch giả: Phan Kế Bính
3. Sử Nam Chí Dị
4. Tình Sử Việt Nam - Dịch giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện
5. Tân biên Truyền kỳ Mạn lục - Dịch giả: Thứ Lang Bùi Xuân Trang
6. Truyền Kỳ Mạn Lục - Dịch giả: Cao Thiện Khánh
NGUYỄN NAM sưu tuyển và giới thiệu
«Các bản dịch quốc ngữ Truyền Kỳ Mạn Lục» giới thiệu các bản
dịch và ưu tiên giới thiệu mười hai truyện do Phan Kế Bính dịch, sau đó
chọn rộng ra các truyện khác từ các bản dịch còn lại, để có thể giới thiệu
đến bạn đọc trọn vẹn hai mươi truyện của Truyền Kỳ Mạn Lục.
Khi giới thiệu, chúng tôi cố gắng bảo lưu hình thức vốn có của các
bản dịch, từ quy cách chính tả (các hiệu chỉnh chính tả được đặt trong
ngoặc vuông [...]) cho đến thi từ Hán văn đính kèm. Bản dịch các truyện
của Cát Thành Trần Thúy có kèm theo lời bình của chính dịch giả. Các
lời bình vốn có của Truyền Kỳ Mạn Lục được Trúc Khê và Thứ Lang dịch
cũng được đính kèm theo truyện được chọn.
Phần giới thiệu không đi sâu phân tích những điều bất cập trong
các bản dịch. Ví như, khi đọc câu “Viện giao dung-thiếp tảo – Liêm hứa
tiểu-đồng khuy,” rồi so với bản dịch của Thứ Lang Bùi Xuân Trang “Nhà
để cô hầu quét – Rèm để bà vợ ngấp-ngó trông,” người đọc dễ dàng
thấy được dịch tiểu-đồng thành bà vợ là không ổn (xem truyện “Na-Sơn
Tiều Đối Lục”). Tuy nhiên, ở đây chúng tôi không khảo sát và hiệu đính
cách phiên dịch như trường hợp vừa nêu, mà chỉ xin cung cấp văn bản
như nó vốn có.●
Truyện Lạ Nước Nam Diễn Nghĩa
Dịch giả: Cát Thành Trần Thúy
Hà Nội – 1914
NGUYỄN NAM sưu tuyển
1. Tử-Hư lên chơi Thiên-đình
Xưa ở huyện Cẩm-giàng, tỉnh Hải-dương, có một người tên là Phạm-
tử-Hư, là người hào-mại thông minh, không chịu kiểm-thúc. Thờ ông
Sử [Xử]-sĩ Dương-Trạm làm thầy. Thầy thường răn về sự kiêu ngạo;
người ấy cố sửa tính lại, rồi được thành nhân. Ðến khi Trạm mất, học
trò tan cả, chỉ có Tử-Hư làm nhà gần bên mả ở ba năm rồi mới về,
tuổi đã bốn mươi mà chưa đỗ.
Thời nhà Trần mới ra kinh học, ở trọ nhà dân Tây-hồ. Thường
thường đi sớm, một hôm kia, trông thấy ở trong sương mờ, có xe báu
cờ phướn đi trước, lại có một cái xe nữa theo sau, người đi hầu cũng
đông. Tử-Hư đứng dừng lại xem, thì hóa ra là thầy mình là Dương-
Trạm.
Tử-Hư đi thẳng ra trước mặt vái chào. Dương-Trạm vẫy tay bảo
rằng:
- Ở dữa [giữa] đường không phải chỗ nói truyện. Tối hôm nay đến
đền Trấn-võ cửa bắc, trò chuyện tiện hơn.
Tử-Hư mua rượu với đồ nhắm, y hẹn đến chỗ ấy, thấy thầy đã đến
rồi, mừng lắm, mới hỏi rằng:
- Tiên-sinh mới bỏ chỗ hàm-trượng, bây giờ dong-nghi hách dịch
lắm, không như khi trước, xin tiên-sinh tỏ bảo duyên-do cho tôi đành
giạ [dạ].
Thầy nói rằng:
- Ta lúc bình sinh, không có đều [điều] gì đáng khen; chỉ bởi ta kính
mến nghĩa thầy bạn, quí trọng đạo thánh hiền, phàm đọc sách không
điều gì không dìn dữ [gìn giữ], cho nên đức thánh Văn-Xương khen là
người có lương-tâm, tâu cho làm kẻ chực [trực]-lại ở cửa Tử-đồng.
Trước đi hầu Linh-giá, lên yết Thiên-cung, mà lại gặp ngươi ấy cũng là
thầy trò có duyên với nhau lắm.
Tử-Hư nói rằng:
- Đứng [Đấng] Tiên-sinh đã trải chốn thanh-yếu, đường đường
dùng việc, thì tôi thọ yểu có biết được chăng?
Trạm nói rằng:
- Không phải việc ta.
Tử-Hư lại hỏi rằng:
- Thế thì Tiên-sinh làm việc gì?
Trạm nói rằng:
- Phàm những học trò thiên-hạ, văn chương thi-cử khoa-danh, đỗ
trước đỗ sau, thì phận ta giữ cả.
Tử-Hư mừng, nói rằng:
- Như thế thì tôi về sau cùng hay là đạt? Chắc Tiên-sinh biết trước.
Trạm nói rằng:
- Cứ như văn-chương tài nghệ của ngươi, đời bây giờ không ai
bằng được, lại thêm trung-hậu thực thà. Chỉ vì lúc trước hay lấy văn-
chương kiêu ngạo người ta, cho nên giời [trời] bắt ngươi đỗ muộn, để
cho tỏa trí kiêu bạc của ngươi; không thế thì chiếm khoa bảng dễ như
nhổ râu cằm, cướp mũ áo như nhặt hạt cải, có khó gì đâu. Xưa nay
bàn kẻ sĩ phải lấy đức hạnh làm đầu. Than ôi! Học trò đời bây giờ ít kẻ
có đức hạnh, thường có người đổi họ để theo thầy, đổi tên để đi thi;
hễ không đỗ thì trách lại quan trường không minh, thành danh rồi thì
khinh tiền-bối không bằng mình. Trí khí kiêu ngạo, lấy thầy nghèo làm
sấu [xấu] hổ, bỏ bạn hèn mà không thân; không biết rằng ngày thường
mài dũa, đều là công của thầy bạn. Ta khi trước dạy học trò đến và
[vài] nghìn, giao-giu [du] khắp trốn [chốn] kinh sư, từ khi ta tạ thế rồi,
nghe nhiều người làm quan ngoài nhậm phủ huyện, mà chưa thấy ai
có chút lòng thành nhớ tưởng đến ta như ngươi, cho nên ta chỉ yêu
mến bụng ngươi mà thôi.
Tử-Hư mới kể các quan đương chức bây giờ, hỏi rằng ông ấy ở
chốn thanh-yếu mà bụng tham lam; ông ấy làm giáo sư mà không đủ
tư cách; ông ấy ở chỗ điển-lễ mà nhiều điều nhầm-lỗi; ông ấy làm
quan cai-trị mà lắm việc hại dân; ông ấy làm quan Trường mà nhiều
đều thiên vị; ông ấy làm việc hình ngục mà không công bằng; lúc bình
thường nghị-luận thì mồm mép như nước chảy, đến khi tính việc nhớn
[lớn] nhà nước, thì lờ mờ như ngồi trong đám mây mù. Còn những
người che dối bề trên, đè nén kẻ dưới; cúi luồn lúc tối, vênh váo ban
ngày, thì có hưởng mãi phú quí được chăng?
Trạm cười nói rằng:
- Giồng [Trồng] dưa được dưa, giồng [trồng] đậu được đậu, lưới
giời [trời] mênh mông thưa mà không lọt. Bây giờ được thế là tại thời
vận chưa đến đấy mà thôi. Nay ta kể cho ngươi nghe: Ở trong giời
[trời] đất báo ứng luân hồi, chỉ có thiện ác hai đường mà thôi; ngươi
cố sức làm thiện, tuy rằng còn ở trên đời mà tên đã chép ở Thiên-
đình, ngươi tích ác đã nhiều, thì không đợi đến lúc chết, ngục đã
thành ở nơi địa phủ. Cho nên ông Nhan-Hồi lúc sống khó nghèo; mà
lúc chết làm quan Tư-Văn, ngươi Vương-Vu lúc sống kiêu ngoan; mà
lúc chết phải tội gông chói [trói]. Thiên-đình không như trên đời, nhiều
kẻ cậy thế được quan, lấy của khỏi tội. Những người nịnh nọt thì tuy
rằng hèn hạ mà cũng được dùng; những người gian-tham muốn lấy
của đút lót cũng được không thoát. Ngươi phải răn mình đừng gây
nghiệp báo kiếp sau.
Tử-Hư nói rằng:
- Những đường họa phúc tôi đã nghe qua, nhưng mà học trò bây
giờ, thường đến đền đức thánh Văn nằm chiêm-bao, thì sự nghiệp
ngày sau hiển báo cho biết trước, việc đó nên tin hay không?
Trạm cười nói rằng:
- Đứng [Đấng] đế-quân hồn toàn nguyên khí, quanh khắp bốn cõi,
ngày xem tờ tấu, tối đến chầu giời [trời], có rỗi đâu mà theo người ta
để hiểu-dụ làm việc nhỏ mọn luôn luôn như thế, nhưng mà nếu ai có
một lòng chay giới thanh tĩnh không tạp điều gì, thời trong khi hoảng
hốt, như là trông thấy thực, người đời không biết ý ấy, cho làm có
thực thì cũng là buồn cười lắm.
Tử-Hư nói rằng:
- Thế thì truyện cheo [treo] bảng thiên-môn cũng là truyền ngoa ư?
Trạm nói rằng:
- Việc ấy thời không sai, liền đưa ra một cuộn thư gói buộc kín lắm,
bảo Tử-Hư rằng: “Ấy là bảng xuân sang năm đây, ta vâng lời đứng
[đấng] đế-quân, tường tra xét để giao cho chốn thiên-môn viết bảng; vì
có ngươi tại đây cho nên khí chậm chưa đi ngay được.[”]
Trạm lại bảo Tử-Hư rằng:
- Chốn Thiên-tào vui hơn chốn trần-gian lắm lắm, ngươi cố tu mình
xửa [sửa] nết, tất đến được nơi thế-giới cực lạc ấy. Như ta bây giờ
cũng thực là phúc lắm.
Tử-Hư nói rằng:
- Gót trần giáng tục đâu giám mong thế, chỉ mong được theo hầu xe,
chơi xem một nhát, không biết giấu [dấu] phàm có mon men được
chăng?
Trạm nói rằng:
- Việc ấy không khó gì, nhưng mà phải bẩm với đế-quân viết tên họ
vào thì mới được.
Nói rồi liền lấy son viết vào cuối giấy độ hơn mười chữ, rồi sai quấn
[cuốn] chiếu đi. Bấy giờ Tử-Hư được ngồi bên tả trong xe, bôn đằng
thẳng lên, thì thấy lầu bạc từng-từng, gác báu san-sát, hai bên giặt
[rặt] những châu-cung ngọc-điện sáng như ban ngày, sông thiên-hà
bến sao quanh dễu trước sau, gió thơm đưa lại ngào ngạt thềm lơn
[lan], bóng sáng choáng mắt, khí lạnh ghê mình, trông xuống dưới trần
như là chén trồng [chồng] bát úp.
Trạm hỏi rằng:
- Ngươi có biết đây không? Đây là nơi người đời bảo là tinh bạch-
ngọc trên giời [trời] đấy, một đóa mây hồng ở trong nhất là ngôi sao
Tử-vi. Ngươi hãy đứng đợi cửa thành để ta tâu xin.
Liền cầm tờ đi vào, một nhát mới ra, nghe tiếng trên thành reo rằng:
“Bảng đầu sang năm đã được trạng nguyên họ Phạm rồi.”
Trạm dẫn Tử-Hư đi khắp các tòa; đến một chỗ kia có một cái biển đề
chữ “Mỹ đức chi môn.” Trong ấy có hơn nghìn người đội mũ-hoa giải-
huệ, hoặc ngồi hoặc đứng.
Tử-Hư thưa hỏi, Trạm nói rằng:
- Các ông tiên này đều là lúc trước có nhân đức, tuy rằng không phải
dốc của chẩn thí, như mà cũng tùy thời chu cấp, đã không có lòng
tiếc, lại không sắc khoe; vua khen là người nhân cho làm quan chốn
thanh-yếu, cho nên được ở chỗ này.
Lại đi qua một sở khác thấy đề “Thuận hạnh chi môn”, trong ấy có
chừng hơn nghìn người, mặc áo dáng siêm [xiêm]-mây, người hát
người múa vui vẻ lắm.
Tử-Hư lại hỏi, Trạm nói rằng:
- Các vị tiên này đều là lúc trước hiếu hữu; hoặc trong lúc lưu ly giữ
nhau, hoặc lấy tiền của giúp nhau, cùng ở với nhau không nỡ ly tán,
vua khen là người khá, cho thuộc vào chốn Vân-cung, cho nên được
ở chỗ này.
Lại đến một sở khác nữa thấy đề “Nho thần chi môn”, ở trong ấy có
chừng một trăm người đều là mặc áo rộng áo giài [dài], lại có hai ông
mặc áo bào xanh đội mũ-sa. Trạm chỏ [trỏ] bảo rằng:
- Hai ông ấy tức là Tô-hiến-Thành nhà Lý, Chu-văn-An nhà Trần, còn
thì dặt [rặt] những danh thần nhà Hán, nhà Đường, không có quan vị,
không có chức sự, chỉ ngày rằm, mồng một, chầu chực đứng [đấng]
đế-quân; như là Tản-quan bây giờ chỉ phụng lễ Triều lễ thỉnh, hễ được
năm trăm năm lại cho giáng sinh; bực cao thì làm quan khanh quan
tướng, còn thì làm sĩ-phu, làm hiệu-doãn. Còn các tòa, các bộ khác,
đến hơn trăm sở, nhưng mà sắc giời [trời] gần sáng, không kịp xem
đến hết, vội vàng cưỡi gió từ từ bay xuống, đến cửa bắc thì các quan
đã đi chầu rồi.
Tử-Hư cáo về, sang năm đi thi qủa nhiên đỗ tiến-sĩ. Phàm những việc
nhà ngươi Tử-Hư hoặc lành hoặc dữ; Dương-Trạm cũng hiển báo
luôn luôn.
Lời bàn của Cát Thành Trần Thúy
Khoa cử là đường phẳng của học-trò, bước ra để giao tiệp [thiệp] với
đời. Bởi vì phép tuyển-cử của nhà Chu đã bỏ, thì không có khoa cử
không lấy gì mà phân biệt được nhân-tài. Cho nên nhà nước phải lấy
khoa-mục mà kén tài, học trò phảI lấy khoa cử mà xuất thân. Nhưng
mà khoa-cử không nên chỉ lấy một đường văn-học, mà văn-học không
nên chỉ lấy một cách từ-chương; hoặc là lấy về kinh luân, hoặc là lấy
về võ-nghệ, hoặc là phát minh được lý-học để dạy dân, hoặc là nghiên
cứu được trí xảo để lợi dân, thì nhà nước phải tôn lấy ngôi cao, hậu
cho bổng lộc, thế thì quốc dân cũng được nhờ về bọn khoa-cử ấy.
Nhược bằng chỉ vùi đầu từng chữ từng câu, lại lên mặt rằng tài rằng
rỏi [giỏi]; thì tuy rằng thở hơi ra chữ, ích gì đến ai; bảy bước thành thơ,
lợi gì cho nước, thế mà cậy mình hay chữ kiêu ngạo khinh người,
được câu hơi khá thì đắc ý dung [rung] đùi, thấy người không bằng thì
bịt mũi. Than ôi! Những kẻ chỉ được nghề văn chương vô dụng như
thế mà cũng kiêu căng với đời; thì chẳng biết kiêu căng về nỗi gì?
Khi thi không đỗ thì người bảo rằng “học tài thi phận”, người bảo
rằng: “tại giời [trời]”, người bảo rằng: “tại đất.” Cũng có kẻ phẫn trí mà
sinh nát rượu nát chè; biến tính mà hoá gàn hóa giở [dở]. Chẳng biết
rằng khí mình kiêu, thì văn mình ngông. Khi trước tự-phụ lắm thì lúc
hỏng táng trí nhiều. Được hỏng cũng bởi tại mình, chứ giời [trời] là
một vùng cao xanh, đất là một quả cầu tròn; giời [trời] đất biết đâu câu
hay câu giở [dở] mà lấy đỗ được mà đánh hỏng được.
Xem như Tử-Hư lúc tuổi trẻ hay lấy văn-chương tự kiêu, cho nên
đỗ muộn, thì thực là đáng kiếp lắm, thực hợp nhẽ [lẽ] lắm. May vì có
bụng hiếu nghiã thờ thầy, nên thầy hiển hiện trỏ bảo khuyên răn.
Chính là trong dức [giấc] ngủ mơ mà có người gọi hồn tỉnh dậy.
Truyện này là một cái gương chuyền [truyền] lại cho học trò đời
sau noi để sửa sang tính nết. Chẳng nên cậy chữ khinh người. Còn
như sự “xem bảng thiên-đình” thì nên xét nhẽ [lẽ] hư thực mới biết.
2. Huyện Đông-triều có chùa Bụt đói
Xưa triều nhà Trần tục hay chuộng việc Quỉ-thần, Thần-từ Phật-
tự không chỗ nào là không có, như là chùa Hoàng-giang, chùa Đông-
cổ, chùa An-sinh, chùa An-tử, chùa Phổ-minh và quán Ngọc-thanh
trông thấy san sát, sư-nam, sư-nữ thì nhiều đến một phần dân, về
huyện Đông-triều sùng thượng càng lắm. Dựng đặt chùa chiền, xã
nhớn [lớn] nhiều đến hơn mười sở, xã nhỏ không kém năm sáu sở,
đều là lâu đài nguy-nga, vàng son nhấp nhoáng; hễ ai có tật bệnh gì
cũng chỉ nghe nhời [lời] Quỉ-thần, mỗi khi tết nhất, rằm, mồng một thì
cúng những đồ rượu thịt, dưng [dâng] những đồ cờ phướn. Thần Phật
cũng được chỗ nương tựa, cầu gì cũng được, linh ứng như là vàng
treo, cho nên ai cũng càng kính sợ mà không dám nhờn.
Đến đời vua Dản [Giản]-Định nhà hậu Trần, liền năm phải việc
binh hỏa, đốt cháy gần hết, mười cái còn độ một, mà còn cái nào thì
cũng gió lay mưa hắt, cột chống xiêu vẹo, mặt phất mình sơn, bỏ lấp
ở khoảng dây cỏ leo quấn. Đến khi quân Ngô đã lui rồi, thì dân mới về
làm ăn.
Người thổ-quan tên là Văn-tư-Lập làm quan huyện ấy, thương
rằng đình chùa đổ nát, mới bắt dân phu, giùm lều lợp cỏ, sửa sang lại
dần dần được một năm. Dân cư trong huyện ấy khốn khổ về nỗi mất
trộm: chó, lợn, gà, vịt, cùng là cá dưới ao, quả trong vườn, thường
thường bất kỳ thứ gì ăn được cũng mất trộm cả.
Tư-Lập than rằng:
- Ta may được nhậm chức huyện này, không biết minh để soi xét
kẻ gian, nghiêm để răn kẻ ác, thực bởi tại ta nhân nhu.
Nhưng mà chỉ tưởng rằng đứa gian-phi đói khát, không lấy làm lo
lắm, chỉ sức cho chốn hương thôn, đêm phải tuần phòng cho cẩn.
Trong một tuần nhật, chẳng bắt được gì mà vẫn mất trộm như trước;
rồi sau những quân trộm cắp nó càng không sợ gì, đến nỗi vào bếp
nhà người ta mà bưng cả lọ mắm, vào buồng người ta mà ghẹo cả
con gái, đến ngay vây bắt thì chẳng thấy gì cả.
Tư-Lập cười nói rằng:
- Đã lâu nay kẻ trộm mang tiếng oan, chắc là ma quỉ nó trêu quấy.
Rồi mới đi hỏi danh sư, rộng tìm tay giỏi, làm bùa bèn để trấn yêu,
cúng thuyền bè để tiễn đi; nhưng mà càng cầu cúng thì càng thấy
quấy đảo.
Tư-Lập sợ lắm, họp người làng bảo rằng:
- Chúng bay ngày thường chỉ hay thờ Phật, đến khi gặp phải binh
biến, nhang lạnh khói tàn, cho nên yêu nghiệt hoành hành mà Phật
không cứu, sao chẳng đi kêu đi?
Mọi người thắp hương khấn rằng:
- Chúng sinh tôi quí đã lâu, ngưỡng vọng đạo Phật thiết lắm; bây
giờ ma quỉ càng dậy, trêu quở kẻ bình dân, vạ đến giống súc vật; Phật
lại nín lặng ngồi xem, chẳng cũng từ bi quá lắm ư? Xin nhủ lòng nhân
thương xót, ra sức khu trừ để cho Thần với người không lẫn lộn, dân
với vật đều yên, nhất thiết những loài hữu hình, đều có bụng nghĩ để
đền ơn. Nhưng mà loạn lạc mới yên, làm ăn chưa được như trước,
mảnh rui, phiến ngói không lấy đâu được; đợi sau này giàu có, xin sẽ
sửa sang chùa chiền để báo công đức ấy.
Đêm hôm ấy lại càng tệ hơn. Tư-Lâp không biết lo liệu làm sao,
mới nghe người ta nói ở huyện Kim-thành có ông thầy họ Vương tài
bói dịch, mới đến xem bói.
Ông thầy bảo rằng:
- Có người cưỡi ngựa mặc áo ngắn, túi cung da, tên bịt thiếc, đích
là thần sư đó.
Và lại dặn rằng:
- Các ông muốn xong việc ấy, thì sáng mai ra cửa tả huyện đi về
phía nam, hễ thấy người nào mặc áo cầm đồ như thế, thì người ấy
quyết trừ hại được, nên gượng ép cố mời, tuy rằng từ chối cũng
không nghe.
Tư-Lập nghe nhời [lời], mới cùng các phụ lão cứ y kì đến chực;
thấy kẻ đi người lại đường cái như mắc cửi không có ai giống thế. Mãi
đến gần tối, ngần ngại muốn giở [trở] về; chợt thấy một người từ trong
núi mặc áo ngắn đeo cung, cưỡi ngựa đi ra; người ấy ngợ hỏi, các cụ
tỏ ý lại như thế.
Người ấy cười rằng:
- Các ông nghe nhầm, ta từ lúc bé chỉ nghề nghiệp đi săn, mình
không lìa yên ngựa, tay không bỏ cung tên, ta nghe thấy núi Yên-phu
ở huyện Giáp-sơn có nhiều con hươu nai cầy cáo, cho nên ta ra săn
bắn, há biết bắt con ma vô hình là việc gì đâu?
Tư-Lập nghĩ thầm rằng:
- Người này chắc là tay giỏi pháp tài, nhưng mà không muốn lộ
tiếng bùa bèn, để vu hoặc người ta, cho nên chỉ chơi bời núi khe, lẩn
giấu ở khoảng cung tên.
Cố mời không thôi; người ấy không thể chối được, phải gượng
theo nhời [lời]. Vậy về nghỉ ở nhà khách, màn đũng giường chiếu rất
trang trọng, ra vào kính cẩn như là thần minh.
Người ấy nghĩ thầm rằng:
- Dân kia nó cùng kính đón rước ta, ý nó tưởng ta trừ được ma
quỉ, song ta không có phép gì cả, mà chúng nó cúng cấp mỗi ngày
một hậu hơn, há phải là ý người đời xưa. Nếu mà không đi thì chắc
mang tiếng.
Một hôm gần nửa đêm nhân dịp mọi người ngủ say, mới mặc áo
khinh-cừu lẻn ra. Khi đi đến mé tây cầu ván kia thì sắc giời [trời] mù
mịt, mặt giăng [trăng] nhạt chưa mọc lên, thấy vài người hình mạo to
nhớn [lớn], sênh sang [xênh xang] đi từ ngoài nội vào; ông ấy nép vào
một nơi, dòm xem chúng nó làm gì.
Một nhát thấy dắt tay nhau xuống vũng ao, mò bắt cá sống, không
cứ nhớn [lớn] nhỏ đều nuốt chửng nhai ngấu, lại trông nhau cười
rằng:
- Cá con phong vị ngon lắm phải nên nhai kĩ; thực ngon hơn cỗ
chay; chỉ tiếc rằng bây giờ ta mới lại đây thì khí chậm.
Một người cười nói rằng:
- Chúng ta đầu mắt to nhớn [lớn], lâu nay bị người đời nó khinh
nhờn, sao lấy lưng gạo lẻ cháo đầy được bụng nghìn cân để làm đứa
giữ cửa cho nó, không được bữa hôm nay mà cứ đánh chay mãi
chẳng hoá ra uổng một đời ư?
Một người nói rằng:
- Ta lúc bình sinh huyết thực cùng với các ông ăn khác mùi, nhưng
mà bây giờ dân nghèo vật xấu, không ai cầu cúng, miệng khát dạ đói,
không chịu được, không biết mùi thịt đã mấy năm rồi, há những tuần
chay ba tháng mà thôi đâu. Nhưng mà hôm nay giời [trời] lạnh giá rét,
khó đứng lâu được, không bằng lên chơi vườn mía, bắt chước quan
tướng quân đầu hổ.
Mới dắt nhau lên, thấy mía liền bẻ mà nhai; hít như húp chè.
Người dị-nhân uốn cung nắn tên ngắm bắn, liền trúng hai người.
Quân kia bị tên bắn hầm hè rền rẫm, tập tễnh chạy mất; cách độ vài
mươi bước chân, không trông thấy hút nữa; nhưng mà còn nghe tiếng
chúng nó mắng nhau rằng:
- Đã bảo mà! Thì giờ bất lợi, ta đã không muốn đi, nói chẳng nghe
nhời [lời], rõ thật tham thực cực thân!
Người dị-nhân ấy vội vàng kêu la, xa gần làng xóm nghe biết tranh
nhau lấy đuốc đuổi theo các nẻo, thấy vết máu từng giọt rỏ [nhỏ] giọc
[dọc] đường đi về phía tây, được hơn nửa dặm vào trong chùa đổ,
trông thấy sau lưng ông Hộ-pháp có một cái tên cắm xâu [sâu] ngập
cánh. Các người tắc lưỡi than thở lấy làm việc lạ xưa nay, mới đập
phá tượng đi, còn nghe có tiếng kêu rằng:
- Mô Phật! Cầu cho no bụng không ngờ lại phải tai ương. Mô Phật!
Tôi là kẻ tùy tùng mà mang họa, còn thần sông kia là đưá thủ xướng
lại không việc gì sao?
Mọi người đều tức cười, rồi đi ra miếu thờ thần sông, thấy tượng
thần sơn, thình lình biến sắc, mặt xanh như chàm đổ, mà mép còn
dính vảy cá. Dân ta mới kéo nhau lại đạp nát tượng ấy đi.
Tư-Lập lấy hết của nhà đem lễ tạ, người dị-nhân được nặng túi
cáo đi, yêu tà tự bấy giờ tuyệt mất.
Lời bàn của Cát Thành Trần Thúy
Nước ta thường hay sùng phụng Phật, hay lễ bái Phật, mà không tỏ
được tâm tích của Phật, đạo giáo của Phật là thế nào?
Phật cũng là một tôn giáo ở bên Ấn-độ, cũng là một vị thánh nhân
châu Á-đông; thấy người đời gian giảo, ma quỉ, lừa đảo, tranh dành,
có ân nghĩa mà phải bỏ ân nghĩa, có cương thường mà loạn cương
thường, cho nên Phật chán đời mà xuất-gia, lập riêng môn-giáo tu lấy
một mình, quảng-đại từ bi mong người sám hối; muốn lấy cành
dương-liễu, rảy nước cam-lồ, cứu tất cả chúng sinh ở trong trầm luân
bể khổ. Thế thì Phật chỉ muốn cứu dân độ thế để về cả cõi cực lạc.
Người ta mới lập chùa tô tượng để ngưỡng vọng linh quang sắc
tướng của Phật. Tuần rằm, mùng một, ngọn đèn nén nhang; tiếng mõ
tiếng chuông, đập thành niệm tục; câu kinh câu kệ gọi tỉnh giấc mê.
Nếu mà ai cũng hiểu được nhẽ [lẽ] sùng bái Phật, qui y đạo Phật, tu trì
lấy tâm Phật, thời lập bao nhiêu chùa cũng phải; nhưng mà người ta
biết sùng bái mà không hiểu được đạo Phật tâm Phật. Tô tượng đúc
chuông cầu phúc cho bản mịnh [mệnh]; lập đàn phá ngục cầu phúc
cho tổ tiên; lấy phẩm oản quả quả chuối mà cầu phúc đẳng-hà-sa, thời
miệng tụng nam-mô tay lần tràng hạt, dập đầu sây trán Phật cũng ngồi
trơ chứ Phật biết làm sao.
Huống chi hòn đất nặn nên ông Bụt, đặt tĩnh thì dễ, giữ lễ thì khó,
hoặc nói gọi Phật bằng anh, hoặc nói cúng bằng oản chiêm, thời cái
tội tiết mạn ấy Phật dẫu lành, có nhẽ [lẽ] đâu lành với ma. Như cái
truyện Đông-triều lúc trước chùa quán rất nhiều, cúng tế luôn luôn;
sau khi phải loạn lạc kém đói, chùa đổ tượng nát, nhang lạnh khói tàn,
thời no nên Bụt, đói nên ma, không trách phải ra tay trêu của. Thế thời
những người hay niệm Phật tâm xà, thời Phật nên phù hộ cho bằng
con bò.
3. Văn-Thành làm chúa ôn hạt Bắc-hà
Xưa làng Thượng-hội, huyện Từ-liêm, tỉnh Hà-đông, có một
người Kỳ-sĩ tên là Văn-dĩ-Thành, tính-khí cương-trực, không sợ ma-
quỉ. Phàm những yêu quái mà không được dự vào tự-điển, thì coi
thường không sợ gì.
Năm cuối đời Trùng-quang nhà Trần, rịch [dịch]-lệ chết nhiều; oan
hồn không kêu đâu được. Thường thường họp nhau, hoặc gõ cửa
nhà hàng cơm đòi ăn, hoặc đón bắt con gái làm vui, giọc [dọc] ngang
đường xá không kiêng kị gì cả. Ai mà mắc phải thì đau nặng, thầy bà
cũng chịu phép không thể trừ được.
Dĩ-Thành nhân khi say rượu đi thẳng tới nơi, lũ quỉ sợ hãi chạy tan
mỗi đứa mỗi đường. Ông ấy mới gọi lại bảo rằng:
- Chúng mày là kẻ tráng-sĩ, không may mà phải thế, ta lại hỏi
thăm, muốn nói truyện hay truyện dở, không can gì mà phải tránh.
Lũ quỉ dủ [rủ] nhau giở [trở] lại dần dần, rồi mời Dĩ-Thành ngồi
trên.
Dĩ-Thành hỏi rằng:
- Lũ ngươi làm cho người ta bị hại mà mừng, làm cho người ta
phải chết mà vui, là ý gì vậy?
Quỷ đáp rằng:
- Y chỉ muốn để thêm vào số binh chúng tôi đó mà thôi.
Ông ấy lại nói rằng:
- Muốn thêm binh cho các ngươi, nhưng mà tổn hại sinh linh thì
làm sao? Binh thêm thì không đủ lương ăn, sinh-linh tổn thì ít người
cúng cấp, các ngươi có lợi gì đâu, mà cam tâm làm thế. Sinh bụng
dục, như khe lạch, không bao giờ ñaày, buông lòng độc như hổ-lang,
không chừng nào cùng. Hễ mà lợi mình, thì một mảnh áo, một gang
giấy cũng không từ, quí hồ đầy giạ [dạ] thì dẫu mâm nan, bát mẻ cũng
không cần; chỉ quen quấy dối [rối] chêu [trêu] người chêu [trêu] của,
đòi ăn đòi uống. Trộm quyền tạo-hoá thổi tay [tai]-bay, quạt vạ gió,
dòm ngoài cửa kêu trên xà, làm hoặc dân ngu. Việc bay lấy làm vui,
thì bụng ta lấy làm hổ. Vả lại giời [trời] dụng đức, không dụng uy,
người muốn sống, không muốn chết; mà các ngươi làm ra họa-phúc,
quá sinh bụng kiêu dâm, phép giời [trời] nhiệm nhặt, bắt tội đến nơi,
các ngươi chạy đâu cho khỏi!
Lũ quỉ ngùi ngùi nói rằng:
- Ấy chúng tôi cũng là bất-đắc-dĩ, chứ có muốn thế đâu. Bởi vì
chúng tôi sinh không gặp thời, chết không phải mạng; đói không ai chu
cấp, không nương tựa vào đâu được. Cỏ sầu quấn quít trong đám
xương trắng, gió thu hiu hắt nơi bãi cát vàng, cho nên phải tụm năm,
tụm ba, doanh cầu từng bữa. Vả chăng vận đời đã suy, sắp sửa biến
đổi, nhân-sinh hao tổn, cho nên Minh-vương không cấm chúng tôi mới
dám như thế, chỉ sợ sang năm lại tệ hơn năm nay.
Một lát, thấy nhà bếp bưng cỗ ra, la liệt rượu thịt; hỏi rượu thì của
thôn này, hỏi thịt thì của làng kia. Dĩ-Thành ăn như nước chẩy, thế tợn
hơn vũ-bão.
Lũ quỉ mừng, bảo nhau rằng: “Thực đáng là thầy ta”. Liền nói với
Dĩ-Thành rằng:
- Chúng tôi ô-hợp, ai cũng như ai, không có người chủ-chương
[trương], thế tất không lâu. Nay sứ-quân sẵn lòng đến đây, thực là giời
[trời] lấy sứ-quân làm tướng cho lũ tôi.
Dĩ-Thành nói rằng:
- Ta văn vũ kiêm toàn, tuy hèn cũng làm tướng được, nhưng mà
âm dương hai đàng cách nhau, còn mẹ già thì làm sao?
Lũ quỉ nói rằng:
- Xin sứ-quân chỉnh đốn uy nghiêm, giãi bầy phép tắc, ngày thì sai
ở từng khu, đêm thì cắt người bẩm báo, không dám phiền người về
nơi suối vàng.
Dĩ-Thành nói rằng:
- Nếu bất-đắc-dĩ mà phải dùng ta, thì ta lấy sáu điều làm việc phải
thề mới được.
Lũ quỉ đều vâng nhời [lời], xin đến đêm thứ ba thì đến chỗ ấy lập
đàn. Y kỳ họp cả, có một lão quỉ già đến sau, ông ấy sai lôi ra chém
ngay. Các quân đều sợ hãi. Ông ấy ra lịnh rằng:
- Các ngươi không được khinh mạng ta, không được quen thói
càn, không được làm hại dân, không được làm hại mạng dân, không
được cướp của dân, không được kết bè đảng ban đêm, không được
hiện hình ban ngày, nghe lịnh ta thì ta làm tướng cho các ngươi, trái
lịnh ta thì ta bắt tội các ngươi, phải nghe lời ta, chớ để hối hận về sau.
Bởi thế rồi mới chia ra từng bộ-ngũ. Phàm có việc gì thì phải đến tâu
trình.
Được hơn một tháng, một hôm đương ngồi không, bỗng thấy có
một người tự xưng là sứ-giả dưới âm-ty, đưa tờ xin mời đi. Dĩ-Thành
toan từ trối [chối], người sứ-giả nói rằng:
- Đấy là mịnh [mệnh] vua Diêm-vương thấy ngươi là người cương
trực, muốn cho làm quan to, không phải có việc gì khó, xin đừng từ
trối [chối], chỉ nên xin thư trình-hạn ít lâu, đợi ngươi đi xuống. Tôi xin
đợi ông ở dữa [giữa] đường.
Nói rồi biến mất.
Ông ấy liền đòi các tướng đến hỏi, đều nói rằng:
- Thực có việc ấy, nhưng mà chúng tôi chưa kịp bẩm. Nguyên
ngày trước, vua Diêm thấy thời không yên, đặt ra bốn bộ giạ [dạ]-thoa,
mỗi một bộ có một quan súy, được quyền sát phạt, coi mạng sinh-linh;
quyền to chức trọng, không phải như quan khác đâu.
Nay triệu sứ-quân cho làm chức ấy, bởi Diêm-vương nghe tiếng
sứ-quân đã lâu, mà chúng tôi cố sức tiến cử, cho nên mới được.
Dĩ-Thành nói rằng:
- Cứ như nhời các người nói thì là phúc cho ta, hay là họa cho ta?
Các quỉ nói rằng:
- Dưới Diêm-la kén người không khác gì kén phật, không đút lót
được, không cầu may được, ai mà cầm lòng cương chính, thì dẫu hèn
mọn cũng tất được dùng, hễ ai ăn ở gian tham, thì dẫu vinh-hiển cũng
không kể đến, không giao chức phận súy-thần cho ông thì giao cho ai
được? Nếu mà quyến luyến vợ con, chậm chễ [trễ] năm tháng tất có
người tranh mất, mà chúng tôi cũng mất trông cậy.
Dĩ-Thành đổi buồn làm vui mà nói rằng:
- Chết dẫu không muốn, nhưng mà tiếng cũng khó mua, huống chi
bút bởi nhọn cho nên chóng cùn, cây thông vị cành mà phải đẵn,
chim-trĩ không vị lông thì không đến họa, con voi không vị răng, thì
không phải đốt. Cây gạo, cây sung sống lâu vị gỗ không tốt. Ông
Nhan-hồi 32 tuổi xuống làm Tư-văn dưới đất, Tràng-Cát 20 tuổi phải
lên ứng triệu trên giời [trời]. Kẻ trượng-phu ở đời, mà không thể ngang
giời [trời] dọc đất được thì cũng phải nên lưu danh muôn đời sao chịu
vào luồn ra cúi trong vòng loạn thế. Nhẽ [Lẽ] đâu khư khư so sánh tuổi
tác làm gì?
Mới xếp đặt việc nhà ổn thỏa vài ngày thì mất.
Bấy giờ ở làng Xan-long [?] có người tên là Lê-Ngộ, vốn xưa làm
bạn với Gĩ [Dĩ]-Thành, lưu lạc đến ở làng Quế-Dương, huyện Đoan-
Phượng. Có một tối kia ước chừng canh một, đương ở nhà chọ [trọ],
chợt thấy một người cỡi ngựa sám [xám], hầu hạ đi theo cũng nhiều,
gõ cửa xin vào ngủ chọ [trọ]. Chủ nhà mở mành ra đón rước. Lê-Ngộ
nghe tiếng giống Gĩ [Dĩ]-Thành mà uy-nghi thì khác lắm. Toan tránh
mặt. Người ấy nói rằng:
- Bạn cũ nhớ ngươi, làm sao ngươi không biết bạn cũ? Mới kể quê
quán tên họ và nói rằng, đã về dưới âm làm quan to, vị rằng bạn cũ
với ngươi cho nên lại hỏi thăm.
Nói rồi liền cởi áo cừu đem cầm mua rượu làm vui. Uống được vài
tuần, Ngộ nói rằng:
- Tôi bình sinh ở đời có ý làm việc âm-công, không có bụng riêng
để ích mình không hề hãm người vào chỗ hiểm; dạy thì tùy tài nhủ
bảo, học thì cố sức nghiền nghĩ, không manh bụng cầu phi phận,
không làm việc tệ quá, thế mà phải ăn nhờ phương ấy phương khác,
chiếc bóng dựa người, vợ con không khỏi đói rét, nhà cửa không che
được mưa gió, chạy ngược chạy suôi [xuôi], hết ngày ấy sang ngày
khác, anh em quen biết nhiều người làm quan, so bề tài nghệ thì suýt
soát như nhau, nhưng mà gặp nước thì cách nhau xa lắm, là làm sao?
Ông ấy nói:
- Giầu sang không có thể cầu được, nghèo hèn tự có mịnh [mệnh]
giời [trời], cho nên Đặng-Thông phải chết đói, Chu-Thư vẫn cứ nghèo,
có duyên thì gió đưa gác Đằng-vương, không phận thì sét đánh bia
tiến-phúc, nếu không thế thì ông Nhan ông Mẫn sao chịu an-bần, hay
chữ như họ Lạc họ Lư vẫn chịu vất vạ. Thế mới biết hoặc sang hoặc
hèn, một may một rủi chỉ quí rằng học-trò nghèo cũng không nịnh ai,
gặp lúc cùng cũng kiên trí, cho nên biết yên bần thuận thụ mệnh giời
[trời] mà thôi. Lúc cùng, lúc thông, lúc bĩ, lúc thái, ta có cưỡng giời
[trời] thế nào được!
Rượu xong rồi, mới tắt đèn nói truyện, ràn rạt cả đêm, ngày mai
sắp cáo biệt. Dĩ-Thành lựa lúc vắng người mới nói rằng:
- Ta mới vâng mệnh giời [trời] chủ giữ việc ôn rịch [dịch] đi khắp
các châu quận mà lại bắt thêm đói khát. Binh cách nhiễu nhương số
dân điêu háo mười phần chỉ còn bốn năm. Nếu không có phúc to chỉ
sợ ngọc với đá cũng phải cháy cả. Nhà anh phúc bạc chưa chắc đã
khỏi, nên phải sớm về quê làng không nên ở mãi đất khách làm chi.
Ngộ nói:
- Nhờ có anh đây.
Dĩ-Thành nói:
- Giới phận khác nhau không dám việt quá. Từ sông Tràng-giang
về phía bắc thì ta làm việc, từ sông Tràng-giang về phía tây thì quan
Đinh súy làm việc. Nhưng mà ta coi quân áo đen còn có nhân từ, ông
kia coi quân áo trắng thì dữ tợn lắm. Ngươi phải liệu trước đi.
Ngộ nói rằng:
- Thế thì làm thế nào?
Dĩ-Thành nói rằng:
- Mỗi một bộ quan súy đêm sai hơn nghìn người đi làm rịch [dịch]
từng khu. Ngươi phải mua sắm nhiều rượu thịt, đặt cúng dữa [giữa]
sân, bọn kia đi xa đến, thì hẳn đói khát, hễ thấy thì ăn ngay không có
nghĩ gì. Ngươi ròm [dòm] thấy ăn uống xong thì ra trước mặt mà lạy
đừng có nói gì, may ra thì cũng được đỡ.
Nói rồi liền gạt nước mắt mà bái biệt.
Lê-Ngộ về đến quê nhà rịch [dịch]-lệ nặng lắm, vợ con phải bệnh
không biết gì. Người ấy sắm sửa ngay cỗ bàn cứ theo nhời [lời] ngươi
Dĩ-Thành dặn đem ra để cúng, quả nhiên thấy hơn mười người quỉ từ
trên giời [trời] xuống, ngảnh mặt bảo nhau rằng:
- Chúng ta đói lắm, bỏ đây thì đi đâu? Chưa nghe ai lấy vài chén
rượu mà không giảm tội cho nguời ta.
Mới dủ [rủ] nhau ngồi quây lại uống. Có người mặc áo tím ngồi
giữa, còn các người thì điều đứng hầu, hoặc người cầm giao [dao]
búa, hoặc người cầm sổ sách, uống gần xong, Ngộ chạy ra thụp lậy
không thôi.
Người áo tím nói:
- Chúng ta đương ăn uống, người này đến làm chi đấy?
Các quỉ nói rằng:
- Đây hẳn là người có cỗ cúng, người nhà nó bịnh nặng lắm, thì
xin châm chước cho.
Người áo tím giận cầm quyển sổ vứt xuống đất nói rằng:
- Có nhẽ đâu lấy một mâm cỗ xoàng mà đổi năm mạng người.
Các quỉ nói:
- Đã ăn của người ta, sao nên làm ngơ, nếu bởi thế mà phải lỗi thì
cũng đành lòng.
Người áo tím ngẫm nghĩ giờ lâu, mới lấy bút son xóa sổ hơn mười
chữ rồi kéo đi.
Vài hôm nữa, cả nhà Lê-Ngộ được khỏi cả, Ngộ ơn Dĩ-Thành cứu
mình, mới bảo dân lập đền thờ ngay ở nhà ông ấy. Bây giờ làng ấy
còn có đền thờ, vẫn linh ứng lắm.
Lời bàn của Cát Thành Trần Thúy
Xưa nay nước nào mà dân trí chưa mở thì cũng hay mê tin quỉ thần,
sống chết cũng chắc cậy quỉ thần, mà việc người không biết sửa
sang, mưa gió cũng bảo là thần làm, sấm sét cũng bảo là thần làm,
mà rịch [dịch] lệ cũng bảo là có các quan âm làm. Bởi vì bụng mình
vẫn yên đặt một lòng tin, vẫn sắp sẵn một bụng sợ.
Cho nên cũng hình như có thật, xem như những người ngu dát
[nhát] hay sợ ma, khi đi đêm bước chân ra cửa, trông ra đằng trước
cũng lù-lù như là ở trước, ngảnh lại đằng sau, thì sình-sịch như là
theo sau. Người có trí thức mà bụng vững vàng thì có thấy gì đâu.
Ngày xưa có người tu thiện không dám sát sinh, một hôm đi chơi
về tối, đến ngõ nhà mình, séo [xéo] phải vật chi nát bẹp, tưởng rằng
séo [xéo] phải con nhái, trong lòng thương hại mà sợ hãi lắm. Vừa về
nhà đi ngủ thì thấy nó báo mộng liền, đòi xin làm chay giải oan để
được xiêu [siêu] sinh tịnh độ. Người ấy nhoàng thức dậy ngay, lấy đèn
đuốc ra soi vật ấy để mà mai táng, thì chỉ thấy một quả sung séo [xéo]
nát bét ra mà thôi.
Lại có một người nằm mơ thấy nuốt phải con dện [nhện] mắc ở
trong họng, giở [trở] dậy khạc nhổ luôn luôn, đến nỗi đau họng sưng
lên không ăn uống được, gặp được thầy thuốc hay, hỏi truyện đầu
đuôi, biết được gốc bệnh ấy, mới nghĩ mẹo để chữa, bảo rằng ta có
phép thuật tài rỏi [giỏi]. Sai lấy một chậu nước để xuống dưới, người
có bệnh phải nhắm mắt há miệng, mà cúi đầu xuống dưới chậu. Ông
thầy vỗ đầu người có bệnh ba cái, bảo rằng khạc ra, ông thầy liền bỏ
con dện [nhện] ở trong tay áo xuống dưới chậu nước, mà deo [reo]
rằng con nhện đã ra rồi, người có bệnh từ bấy giờ mừng giỡ [rỡ] tỉnh
tang, không khạc nhổ nữa, họng liền bớt khỏi, ăn uống được ngay.
Xem thế thì quỉ-thần có hay không, chỉ ở bụng mình mà thôi. Bây
giờ học cách-trí học vệ-sinh mỗi ngày một tỏ, thì biét rằng chứng dịch
lệ ấy, một là bởi tại khí giời [trời], gió mưa trái tiết. Cho nên người ta
dễ cảm nhiễm mà thành ra chứng ấy. Hai là tại chỗ ở ẩm thấp, nước
rãnh tù hãm, sinh ra con vi-chùng [trùng]. Nhân dịp thời khí mà thành
ra chứng ấy. Ba là lúc phải bệnh mà không biết phòng dữ [giữ], để cho
truyền nhiễm sang nhau, nhà nào mắc phải thì thường đến hai ba
người, xứ nào có thì lây đến cả xứ. Cho nên phép phòng dịch hễ tầu
từ xứ khác đến, thì quan thầy thuốc phải ra khám xét, hễ người nào có
phải chứng ấy, thì đem để riêng một chỗ. Xứ nào có người phải chứng
ấy thì cũng bắt ở nhà thương riêng. Người nào bất hạnh mà chết về
chứng ấy, thì phải chôn sâu đổ vôi, nhà ở phải hun rửa, đồ dùng phải
đốt đi hay là bỏ vào nước sôi. Như thế thì chứng ấy khỏi truyền nhiễm
cho người khác. Vả lại lúc bình thường thì phải giữ gìn từ trước, chỗ ở
phải cao ráo sạch sẽ, nhà nên mở nhiều cửa để thông khí giời [trời],
quanh nhà thì giồng [trồng] nhiều cây để lấy bóng mát, ăn uống cho có
tiết độ, không ăn đồ sống rau sống, nước uống phải lọc cho kỹ. Thế
thì thân thể mới được khoẻ mạnh, nếu gặp phải thời chứng thì cũng
không cảm được, không truyền nhiễm được, sự thực như thế mà
không biết vệ sinh. Lại cứ đổ cho việc giời [trời]. Này giời [trời] đất là
hai khí âm dương hợp lại mà sinh ra muôn vật, cũng chỉ tùy hình chất
mà phó mặc tự nhiên, như loài cây cỏ, thì cái gai ai bứt, chái [trái] quả
ai vò, khi khai khi tạ, khi héo khi tươi, hễ tài thì bồi, siêu [xiêu] thì đổ,
hoá-công nào có ý riêng gì. Như loài cầm thú, hoặc sinh, hoặc hoá,
hoặc đẻ, hoặc nuôi, hễ khỏe thì sống, hèn thì xa, giới bầy thường có
lệ công sẵn. Vậy thì cây cỏ cũng có thiên tai, nào sâu khoai, sâu ngô,
bọt suýt [xít], áp bông, hoàng trùng cắn nõn. Cầm thú cũng thường có
thiên tai nào dây gà, dây lợn, dịch châu [trâu], dịch bò, ấy khí tiết tự
nhiên như thế, chứ có quỉ thần nào làm việc ấy đâu.
Truyện ông Văn-Thành làm chúa-ôn, sự tích còn truyền, hãi [hãy]
còn đền thờ, nhưng mà xét ra từ nhà Trần đến bây giờ mới hơn bốn
trăm năm nay, đời hãi [hãy] còn gần không phải là thượng cổ lắm.
Đâu có nhẽ ôn quỉ hiển hiện ra mà bưng rượu cướp thịt chêu [trêu]
người ghẹo gái như là kẻ cướp trên trần-gian. Nếu mà có thực thì
chính-trực như ông Văn-Thành thì quỉ cũng phải sợ thần cũng phải
kiêng mà tôn lên làm chuá.
Người ta lúc còn trẻ nên học cách-trí học vệ-sinh, đừng cứ thơ giại
[dại] như lúc trẻ con mãi mãi. Nghiã là lúc trẻ con thơ giại [dại] thì
người nhớn [lớn] thường hay doạ rằng: “Ấy ông ba bị chín quai mười
hai con mắt bắt trẻ con đó”, thì trẻ con phải sợ hãi nghĩ rằng có thực.
Người phải học thì mỗi ngày một nhớn [lớn] khôn lên, chớ chịu cam
một bề thơ giại [dại] cả đời.
Lời bàn của Cát Thành Trần Thúy về các truyện trong Truyền Kỳ
Mạn Lục
Lời bàn truyện
“Trọng-Quì đánh bạc bán vợ”
Quái lạ lắm! người ta sao mà hay đánh bạc? Bảo là vị-danh ư? thì vào
đám bạc ông cũng như thằng, người ta ai cũng khinh bỉ. Bảo là vị-lợi
ư? thì cờ bạc là bác thằng bần, ai cũng phải thua. Thế mà cứ hay
đánh, là bởi vì bụng tham đấy thôi, thấy bạc thì tối mắt lại. Tiền bạc
hay che được trí khôn, cho nên người ăn trộm cướp, chỉ vị tham tiền
mà đến nỗi mất đầu; người làm quan lại, chỉ vị tham tiền mà đến nỗi
mất quan; người đánh bạc thì cũng vị bụng tham tiền mà đến nỗi
ruộng nương bán hết, sỏ [xỏ] chân vào cùm; không biết rằng trong
thế-gian ai chẳng cần dùng về đồng tiền, như mà cần dùng bao nhiêu,
thì phải tìm cách sinh ra tiền bấy nhiêu: như là làm ruộng, làm thợ, đi
học, đi buôn.
Trong bốn nghề ấy, đều là cách sinh lợi, mà sinh lợi như thế mới lâu
bền được. Nhược bằng nghĩ tham lợi mà trong tay không có nghề gì, thì
mới nghĩ ra một cách muốn ăn không, trong một phút, chốc may ra được
năm ba chục, năm ba trăm, không phải khó nhọc gì; nằm ngửa được
sung, miệng ngáp được ruồi, chẳng hoá ra sung sướng lắm ư! Vậy mới
dủ [rủ] nhau, bắt chước nhau dong [rong] chơi về nghề cờ bạc. Nhưng
không biết tiền bạc ấy, cũng là của chung góp lại với nhau, không phải là
của bề ngoài đâu! Nay người này được, mai người khác được; một
người được trăm người thua, một bận được mười bận thua; đánh mãi
mãi thì người nào cũng phải thua cả. Được thì vui vui mừng mừng, ăn
chơi phung phá, không chắc gì tiền ấy để nuôi vợ con được; không chắc
gì tiền ấy để tậu ruộng, tậu nhà được. Nhời tục ngữ nói rằng: “Tiền cờ
bạc để ngoài sân, của phù-vân để ngoài ngõ.” Không những rằng mất
đấy mà thôi, lại còn dủ [rủ] mồi cho thua bằng năm, bằng mười nữa!
Quen mui đánh mãi, thua một đánh hai, thua hai đánh ba, cay có gỡ
gạc, đi đêm về hôm, ăn không ngon, ngủ không yên, mặt võ mình gầy,
ruột khô gan héo; tiền lãi mười phân, hai ba mươi phân cũng nhắm mắt
mà vay liều; cầm bán hết cả, người thì sinh ra ăn trộm cướp mà phải
chết; người thì nghĩ uất mà chết, người thì tự-tử mà chết. Ấy là bụng lợi
nó làm hại người, mà người tham lợi thì hay mắc.
Xem như Trọng-Quì cũng là một vị phong lưu công-tử, ăn chơi
quen nết đi rồi. Gập [gặp] phải vận nhà suy đốn, càng nên giữ gìn tu
tỉnh để nối nghiệp ông cha thì mới phải. Thế mà chỉ vị máu-mê cờ bạc,
cho nên Đỗ-Tam nó mới lấy tiền bạc mà dỗ mồi. Thiết gì bằng vợ! thế
mà chỉ tham về trăm vạn, mà không biết rằng mất vợ.
Chao ôi! Đánh bặc [bạc] mà bán vợ, thì cũng ngán nỗi cho đời qúa!
Nhưng không những một Trọng-Quì. Phàm những người đánh bạc tuy
rằng không bán vợ thật, như mà mất cửa mất nhà, vợ con nghèo đói, thì
cũng chẳng khác gì bán vợ, bán con.
Lời bàn truyện
“Trung-Ngộ mê gái mà hại thân”
Người ta không phải là gỗ là đá, thời ai chẳng có tình dục, nhưng mà
bụng nghĩa lý như là ông Chủ-suý, bụng tình dục như là quân lính,
quan Chủ-suý lấy nhân-nghĩa liêm-sỉ làm dào [rào] giậu, mà ngăn giữ
cấm chấp, thì quân lính phải lui rẹp [dẹp]; nếu mà quan Chủ-suý
không vững vàng, thì nó làm nghiêng nước, nghiêng thành, đổ quán
siêu [xiêu] đình như chơi.
Xưa nay vô số anh-hùng hào-kiệt ngang giời [trời] dọc đất, mà
chết về tay con gái. Như là: Đắc-Kỷ làm mất nhà Thương; Bao-Tự làm
mất nhà Chu; Đổng-Trác chết về tay Điêu-Thuyền; Từ-Hải chết về tay
Thuý-Kiều. Một vũng sóng tình, chìm đắm không biết bao nhiêu người
bợm bãi.
Trung-Ngộ là một người đi buôn, không có học thức, thấy gái thì
ngảnh cổ lại, cho nên chết về con mắt đưa tình, thoáng thấy hơi
hương, hồn bướm đã mê man trên gối; khi tình riêng dan-díu [gian
díu] (chết thời cùng chôn một chỗ), trong ý thơ lại gắn bó hết đều; đến
khi đến chơi nhà trông thấy quan-tài, ngửi thấy hơi thối, mới vùng té
chạy ra, thời đầu đã chui vào trong tròng, tay đã bỏ vào hom-đó, còn
thoát làm sao được nữa! Chơi gái đến nỗi ôm mả mà chết thì đáng
lắm! Còn oán hận gì! Than ôi! mê gái mà chết, thì chết cũng uổng
mạng, mà tiếng nhơ nhuốc còn mãi về sau.
Những người thấy gái mà hay chấp chới thì đi đêm chắc rằng có
ngày gặp ma!
Lời bàn truyện
“Ma tựa vào cây đào cây lý
chêu [trêu] cợt Hà-nhân-Giả”
Đất Thăng-long là chỗ trung-tâm điểm sứ [xứ] Bắc-kỳ, người hay sum
[xum] họp, của quí đua bầy, buôn bán thời hàng Tầu hàng Tây, đồ rừng
đồ bể, dưới thời tầu bè như lá, trên thời phố sá [xá] như nêm, đường
buôn một ngày một rộng, cách buôn một ngày một khôn, buôn mà không
ở đại phụ-đầu này, thì buôn không rộng. Nghề thợ thì hàng thêu hàng
khảm, đồ trạm đồ sơn, kiểu mẫu đã nhiều cách khéo, công phu lại rất
tinh truyền, thợ mà không ở đại đô-hội này, thời thợ còn quê. Dậy học
thì thường có thày hay, tràng nhớn [trường lớn], sách vở đã nhiều tra
cứu, bè bạn lại rộng giao-giu [du], học mà không ở đại kinh-thành này thì
học cũng còn hẹp; lại có một cách tự do sung sướng, để riêng cho dân
thành phố, là phu phen tạp-dịch, không phải tần phiền, mà rán sành ra
mỡ, đánh chét lấy tiền, những quân lính-lệ mặt quỉ đầu châu [trâu],
không dám ra tay độc ác; ngôi dân lệ làng không phải phiền luỵ; nợ
miệng nào ai chê trách, áo rách không chịu khó hèn, các mọ Kỳ-hào, giơ
tay mắm miệng, cũng không dám rở [giở] giọng đàn anh, ấy ở kẻ chợ có
những cách lợi cho mình như thế. Còn như phố phường quen thói phù-
hoa, ở cóp hay sinh kiêu bạc, ăn mặc xa sỉ, cờ bạc giong [rong] chơi,
của thì có một tiêu mười, người thì có mười chơi chín, khinh người ra
giác [rác], nói khoác thành thần; hay lừa hay đảo, nói giối như ma; ghen
nhau thù nhau giết người như nhái; quen đường giăng [trăng] gió mà
chẳng nghĩ đến vợ con; nặng bề nhân tình, mà quên đường cha mẹ; ấy
ở kẻ chợ có những cách hại như thế.
Than ôi! trong đời không cái gì lợi cả, cũng không cái gì hại cả,
nhưng mà mình phải cân nhắc lợi hại, cái gì hay thì theo, cái gì giở
[dở] thì bỏ, thời mới hưởng được ích lợi trong khi cảm nhiễm. Nhân-
Giả theo thầy ra học kinh-đô, cũng là biết đường học tập, nếu biết
phòng dữ [giữ] lòng dục, răn bỏ thói tà, thời con yêu Hồ-ly sao siêu
[xiêu] được lòng Tiết-Giao; con yêu Hoa-nguyệt sao hoặc được bụng
Lương-Công; như mà tuổi sanh [xanh] còn giại [dại] thấy gái dễ mê,
may gặp được con yêu Đào, Lý hãi [hãy] còn trung-hậu, hết mùa
chăn-gối, vẹn nghĩa đá-vàng, Nhân-Giả không phải làm con ma ôm
cây mà chết thời cũng may lắm.
Nếu người ta mà bỏ lợi theo hại, thì chẳng nên bảo rằng tại mình
ở chốn phồn hoa.
Lời bàn truyện
“Con tinh hoá ra họ Hồ họ Viên
để ngăn trở Hồ Quý Ly”
Người ta thiêng hơn vạn vật, cho nên thành tín thì thần minh còn
hay cảm động được; chính trực thì ma quỉ cũng phải xa tránh; dù tinh
dù yêu, có nanh có mỏ, có nhẽ nào người lại phải thua ma. Bởi vì Quí-
Ly tâm thuật gian-dảo, trí những tranh vua, cướp nước, hại thế hại
dân, bụng thì như ma như quỉ, không biết đâu mà dò. Ngoài miệng tuy
rằng nói chính, nhưng trong lòng vẫn có lý dan [gian].
Con Hồ con Viên nó mới được lấy nhẽ chính mà tranh biện với
mình, chả có chính-trực như Nguỵ-nguyên-Trung thì con Vượn phải đun
bếp hộ; học thức như ngươi Trương-Hoa thời con Hồ phải hiện hình,
đâu còn dám ngồi cùng nói truyện, mình phải đói nhẽ, mà lại phải thua.
Nhời ngạn nói rằng: “Tinh lại gặp ma.” Quí-Ly sao chẳng sờ xuống đuôi
mà hỏi truyện kiếp trước?
Lời bàn truyện
“Núi Tống-sơn có hang tiên tu”
Thần tiên xưa nay vẫn cho là hoang đường, nhưng mà cổ-nhân thường
nói rằng: “Bảo rằng có, thời không hẳn là có, bảo là không chưa chắc là
không.” Nói phân mang [minh] như thế thì người đời sau biết thế nào là
nhẽ đích đáng, mà định được phương hướng cho người ta? Nay tôi xin
lấy nhẽ mà xuy [suy] ra, thì Tiên cũng là người, mà chỉ khác nhau cái
bụng đấy thôi; như là ông Thánh không phải bốn tai, bốn mắt, chỉ vị
Thánh thì giữ toàn tính giời [trời], phàm thì mê đắm tình dục; cho nên
Thánh mới siêu phàm mà thành Thánh. Phật không phải là nghìn tai,
nghìn mắt, chỉ vì Phật thì từ bi quảng đại, người thì gian-giảo tham-si, cho
nên Phật mới hơn đời mà thành Phật. Tiên cũng không phải uống thuốc
luyện-đàn để mình sinh lông, mọc cánh đâu, chỉ vì cõi đời tham bỉ tranh
đua, vòng danh lợi lại gây nên phiền não; mà Tiên thời biệt nơi thanh tĩnh
riêng thú yên-hà, chính sự nhân dân không phiền luỵ tục, công-danh phú-
quí rũ sạch bụi trần; thế thời Tiên so với tục xa biết chừng nào? Cho nên
ta mới hâm mộ về Tiên, ao ước về Tiên, nghĩ rằng Tiên có một thế-giới
riêng, không biết rằng thanh-nhàn thời là Tiên. Có câu thơ rằng: “Nhất
nhật thanh nhàn nhất nhật tiên.”
Xem như Từ-Thức là một vị phong-lưu công-tử nhà thế-gia, ra làm
quan huyện đường đường sở tại, thấy gái bẻ hoa bị sư bắt trói, nếu
mà nặng tình xót liễu vì hoa, thì đòi sư trách hỏi. Sư chắc rằng phải lễ
tạ mà xin tha, can gì phải cổi [cởi] áo cừu để chuộc người, là bởi vì
thấy người hoạn nạn khốn khổ, thời bụng nhân-từ đã thổn thức sinh ra
ngay, mà giọng cả vú lấp miệng, lại quên mất cả quyền thế của mình.
Khi chuộc được rồi không từng hỏi lại một nhời [lời], thời thiệt phân
minh, làm ơn không cầu báo, thực là sẵn lòng cứu người, chứ không
phải là có lòng vị gái; xuy [suy] một cái bụng ấy, thì đã khác người
thường rồi. Khi bị quan trên trách mắng thì tủi giận về đường vinh
nhục, không vị giăm [dăm] đấu gạo lương mà buộc mình ở trong vòng
danh lợi; rượu một bầu, thơ một túi, để tiêu sái với nước biếc non
xanh, thì cái bụng ấy lạ hơn người tục rồi. Đến khi phóng đãng giang
hồ, bơ vơ bên giời [trời] góc bể, lại gặp nàng Giáng-Hương là duyên
xưa nghĩa cũ; giai-nhân tài-tử đạo-khách tiên-lưu, đôi lứa thực là xứng
đáng, tuy rằng duyên giời [trời] gặp gỡ, mà thực là đạo giời [trời] báo
ứng không sai. Những người mà muốn gặp tiên thì phải tu luyện lấy
tâm, không thiết tình sắc, ân nghĩa như là Từ-Thức, thời cũng chắc
như là Từ-Thức gặp tiên; nhược bằng bảo rằng núi tiên rơi xuống, non
thần mọc ra, thì là hoang đường lắm.
Lời bàn truyện
“Trịnh-Quân xuống kiện dưới Thủy-phủ”
Quỉ-thần hai chữ đã xuất hiện ra ở trong thế-giới, thời quỉ-thần chắc
hẳn cũng có, không phải là không. Đức thánh Khổng nói rằng: “Đức
quỉ-thần to lắm,” nhưng mà lý quỉ-thần tinh vi, sự quỉ-thần huyền diệu,
tai không nghe tiếng, mắt không thấy hình, người không biết mà đem
sự yêu cầu, mê dường vu-hoặc, thời phúc lộc chỉ chắc Thần cho, làm
ăn bỏ đường nhân-sự, ăn ở không biết cách vệ-sinh, nếu có chậm đẻ
khó nuôi thời bán khoán tắm thai, chỉ mong Thần đưa con lại, tật bệnh
không biết đường thang thuốc, hơi có se mình khó ở, thời tàn hương
nước lã, chỉ mong Thần cất bệnh đi, như thế thì kì-dị lắm! ngu dại lắm!
mà tiếc-mạn lắm! ý giáng nghĩ quỉ-thần là kho chứa của lò đúc người,
là máy tự-lai, mà cầu gì được nấy, muốn sao được vậy à!
Thế thì quỉ-thần chẳng hoá ra một người sai-phái của mình ư?
Than ôi! lúc nhà Thương sắp loạn thời tục thượng quỉ, nước sắp mất
thời dân nghe thần, đức thánh Khổng có nói rằng: “Quỉ thần không
hưởng đồ phi lễ.” Quỉ-thần phải kính mà xa ra, thực cũng lấy quỉ-thần
là tinh-vi huyền diệu! Người ta khó biết, dễ nhầm, cho nên Ngài ít nói
việc quỉ-thần. Tôi thiết tưởng rằng: người ta cái gì cũng phải nên biết
nhẽ [lẽ] làm sao, rồi mới biết đường phải trái, đến như việc quỉ-thần thì
phải xuy [suy] nhẽ [lẽ] quỉ-thần, thời mới biết mà kính tín.
Quỉ là gì? - Quỉ là khí oan uổng uất kết mà không tiêu đi được; như là
Bảnh-Sinh hiện ra con lợn, để báo Tề-tướng-Công, Tô-Văn hoá làm con
trâu để báo Tiết-nhân-Quí, Vu-Cát báo Tôn-Sách.
Thần là gì? - Thần là khí tinh-anh ngưng tụ không tan đi được;
như là bên Tầu thần Thái-Sơn, thần Đỗng [Động?]-Đình. Ta thì thần
Tản-Viên, thần Bạch-Hạc, Tầu thì Quan Vân-Trường, Nhạc Vũ-Mục.
Ta thời Phù-đổng-Thánh, Hưng-đạo-Vương. Đại để chính thì là thần,
tà thì là quỉ, ta cứ gọi trung [chung] là quỉ-thần nhưng mà hai nghĩa
khác nhau. Kinh Lễ nói rằng: “Quỉ-thần có công-đức thì thờ,” một là
nghĩa để báo đền, hai là muốn cho tỏ dệt [rệt], ba là khuyên bảo người
sau, nhược bằng đem mà cầu cúng, thì không phải ý người lập ra tự-
điển; như thần Giao kia làm vua Thủy mà lấy hiếp con gái dương-gian,
Trịnh-Quân xuống kiện dưới thần bể mới được; thì không kể rằng phải
tội dưới âm là sự huyền, nhưng cứ nhẽ [lẽ] dâm tà như thế, thì cũng
nên mượn bó đuốc của Địch-lương-Công, mà đốt ra than gio [tro], súc
[xúc] đổ xuống ròng [giòng] nước chảy.
Lời bàn truyện
“Tử-Văn làm Phán-sự đền Tản-viên”
Trong Tự-điển, Quỉ-thần có công đức với dân thời thờ: Một là báo đền
ơn nghĩa , hai là để khuyên bảo đời sau. Thánh-hiền đặt ra thờ tự không
phải là không có ý, đức thánh Khổng-tử nói rằng: “Phi kỳ quỉ nhi tế chi
siểm dã,” nghĩa là không phải Quỉ-thần đáng thờ mà thờ thì là siểm-mị.
Người nước ta tính hay sùng phụng Quỉ-thần, cho nên thấy thờ thì
thờ, chứ không biết tại làm sao mà thờ? không biết thờ có ích gì cho
mình không? có hệ gì với mình không? Kìa như: voi cũng thờ, gọi
kiêng là ông vâm; hổ cũng thờ, gọi kiêng là quan tướng; rắn cũng thờ,
gọi kiêng là ông dài; thậm chí đến đống đất gốc cây cũng có thờ cả.
Nay kêu mai cầu, nay khấn mai vái, đất nặn nên bụt, thờ mãi hoá
thiêng, chỗ thì ma cây, yêu đá nhập vào, chỗ thì bà cô ông mãnh dáng
[giáng] vào, thường thường làm người đau ốm, cầu người cúng cấp.
Điện nọ tĩnh kia lên miệng giả tá, ông thầy bà cốt khéo vẽ quàng xiên,
làm hại người ta lắm lắm.
Như con ma Ngô là Thôi Bách-hộ đoạt thần Cư-Sĩ đi mà hưng yêu
tắc [tác] quái, xách nhiễu lương dân. Thần Cư-Sĩ phải xiêu dạt mà lên
ở nhờ trên đền Tản-viên, không biết tố giác đâu được, thì con ma Ngô
ấy cũng thiêng dữ lắm ư!
Than ôi! kiếm đức thánh Hưng-đạo không còn, lấy gì mà chém
giặc nịnh; đuốc ông Địch-nhân-Kiệt đã tắt, lấy gì mà đốt dâm từ.
Người trung thường có học thức thì không tin không lễ bái cũng đã là
bậc giỏi, còn ai dám cả gan bắt cọp, thi sức với ma, một trận ra tay,
mà hốc rắn hang beo đã phải tan tành ra gio [tro] nát. Như Tử-Văn đã
đốt đền rồi thì dẫu con ma ấy hiện vào hét nạt dọa dậm, lại kêu van
xin làm đền lại, ông ấy cũng quyết không nghe, là bởi ông ấy có lòng
nhân đức, cho nên thấy dân hại thì thương; có bụng chính chực [trực],
cho nên thấy ma không sợ; thực là học biết nhẽ đích đáng, thấy việc
phải dám làm. Thế mới biết rằng Chân-nho vô địch.
Ngày sau, thần Cư-Sĩ cảm nghĩa mà tiến cử làm Phán-sự đền
Tản-viên, nghìn năm hương hoả phụng thờ, hưởng phúc của thần của
dân thì cũng đáng lắm.
Lời bàn truyện
“Giai [trai] ghen tuông, vợ phải thác oan”
Nhà có vợ hiền cũng như nước có quan tướng giỏi: quan tướng giỏi
thì giúp vua mà sếp [xếp] yên việc nước. Vợ hiền thì giúp chồng liệu
yên việc nhà. Cho nên có câu rằng: “Thê hiền phu nội chợ [trợ].” Nghĩa
là vợ hiền thì giúp được việc trong nhà cho chồng.
Vua mà gặp được trung-thần, nếu ai gièm báng sự chi, cũng quyết
không nghe, như ông Hán-Quang-Vũ đưa tờ cáo-thư cho Phùng-Dị
xem, thì người trung-thần mới thành công được. Nhược bằng thấy
hình tích sinh nghi, mà không hết lòng minh sát, để cho trung-thần
mắc phải tiếng oan, thì trước là không thành việc nhớn [lớn], sau lại
mất người hiền.
Ông Nguyễn-công-Chứ [Trứ] cũng là bực danh-thần nước ta,
chiều- [triều] đình bấy giờ nghi có lòng bạn nghịch, ông ấy thường làm
thi ca để tỏ ý mình; ca cái phản ngồi rằng: “Đem thân cho thế gian
ngồi, mà người không biết đổ nhời [lời] bất trung.” Ca cái máng nước
rằng: “Ngay lòng vì nước vì nhà, mắt người không biết giời đà biết
cho.”
Xem thế thì những người có bụng trung chính, nhà nước cần sét
[xét] lắm, kẻo người trung lại bảo là dặc [giặc] thì chính sự nhầm lỗi,
nước sao thành ra nước được.
Những đứa vợ hư, thì chỉ đợi chồng ra khỏi cửa, để dắt tay giai
[trai] vào. Nếu có vợ như thế, thì nên tra xét đích xác, rồi chiếu luật
đuổi đi là phải. Còn như vợ hiền thì cách ăn nết ở, mười phần cũng đã
tin nhau cả mười, nếu có sự chi hình-tích đáng ngờ, thì phải dò xem
gốc ngọn, sao nên vội buộc tiếng xấu cho vợ hiền. Tục ngữ nói: “Kim
vàng ai nỡ uốn câu, người khôn ai nỡ nói nhau nặng nhời [lời].”
Như Trương-Sinh lấy được Vũ-Thị nết na thế nào, cũng đã biết nhau
rồi. Khi bước chân đi lính, nàng ấy khuyên nhủ hết nhời [lời], ở nhà thì
thân với họ mạc, hoà với anh em, thờ mẹ chồng hết đạo, đêm thanh
cảnh vắng chiếc bóng ngọn đèn, muôn hộc chung chung-tình, hồn khuê-
thát đã vẩn vơ ở bên cạnh mình trinh-[chinh] phu, đằng đẵng mấy năm
không biết bao nhiêu tình tưởng vọng, đến khi được chồng về, như rồng
có vây, như cây có dễ [rễ], chắc rằng đã thoả lòng ao ước xưa nay, thế
mà chỉ thấy những điều eo óc, những tiếng thị phi, hễ hỏi đến nhời [lời]
nói tự đâu mà ra thì chồng lại gạt đi không nói, dạ trung trinh lòng uất ức
không phải là cái bánh bóc cho xem. Ngậm đắng nuốt cay, mà tiết sạch
giá trong, cam phó cho ròng [giòng] nước biếc.
Lạ thay! Trương-Sinh về đã bao nhiêu tối, mà con không chỉ bóng
nhận cha, đến khi xuống sông rồi thì con mới tỏ ra sự ấy, chả hoá ra
giời [trời] cố chêu [trêu] ngươi ư!
Ngày xưa Thị-Kính thành phật, bây giờ Vũ-Thị thành thần cũng là
đáng lắm. Còn Thiện-Sĩ giáng sinh làm kiếp vẹt, thì Trương-Sinh cũng
nên hoá làm kiếp vờ ở bờ sông.
Lời bàn truyện
“Gái ác nghiệp, con sinh báo oán”
Đàn bà cốt có hiền hạnh, trước là để lo liệu giúp chồng, sau là để phúc
đức cho con, sách có câu rằng: “phong hoá khởi tự chốn khuê môn” lại có
chữ “phúc đức tại mẫu.”
Cho nên bà Hậu-phi nhà Tru [Chu] có đức hiền không ghen ghét, mà
sinh được con hiền chắu [cháu] thánh, gây dựng được cơ nghiệp tám
trăm năm. Lã-hậu ghen tuông gần khuyênh [khuynh] nghiệp Hán, Vũ-hậu
ác nghiệp suýt [xuýt] mất nhà Đường, rồi său [sau] gà gắy [gáy] gở tan
hoang, con đầu lừa [1] bị chết. Xem như thế thì đàn bà hay ghen cũng là
hại lắm. Tuy rằng ớt nào là ớt chẳng căy [cay], nhưng mà ghen thì hay
sinh ác nghiệp, ác nghiệp thì chồng phải bó tay chịu ngồi, con không mở
mặt ra được.
Người châu Âu châu Mỹ bây giờ thường hay lấy một chồng một vợ,
không như ta lấy năm thiếp bẩy thê, cũng không hay ghen tuông chi lắm,
nhưng mà chồng đường vợ sá [xá] cũng hay kết hợp tự do, chưa chắc đã
khỏi giọng Hà-đông [2]
sư tử được.
Như vợ cả Nhược-Chân kia ghen Hàn-Nan quá tay roi vọt, lúc sống
thuê thích-khách báo cừu không được, đến lúc chết lại dủ [rủ] người khác
mượn cửa để báo oán, nếu không gập [gặp] Pháp-Vân thì tính mịnh
[mệnh] cả nhà Nhược-Chân khó tránh khỏi được oan gia nghiệp trướng
[chướng].
[1] Con đầu lừa là con riêng của Vũ hậu, tên là lư Đầu Thái Tử.
[2] Hà Đông sư tử (sư tử xứ Hà Đông): giống cái dữ tợn, hễ nó hét lên thì
con đực phải sợ.
Truyền kỳ mạn lục
(Variété littéraire)
Recueil d’annecdotes extraordinaires
Dịch giả: Phan Kế Bính
NGUYỄN NAM sưu tuyển
1. Truyện Hồ-tôn-Thốc qua miễu Hạng-vương
Quan thừa-chỉ là Hồ-tôn [tông]-Thốc người làng Thổ-thành, tỉnh Nghệ-
an, đời vua Phế-đế nhà Trần, làm đến Hàn-lâm-học-sĩ, Thừa-chỉ kiêm
Thẩm-hình viện sứ. Giỏi về nghề làm thơ, lại hay dễu [diễu] cợt truyện
đời.
Cuối đời nhà Trần, phụng mạng sang sứ bên Tầu. Đi qua miễu vua
Hạng-vương, đề một bài thơ như sau nầy:
Bách nhị sơn hà khởi chiến phong,
Huề tương tử đệ nhập Quan-trung.
Yên tiêu Hàm-cốc châu-cung lãnh,
Tuyết tán Hồng-môn ngọc-đẩu không.
Nhứt bại hữu thiên vong Trạch tả,
Trùng lai vô địa đáo Giang-đông.
Kinh dinh ngũ tải thành hà sự,
Tiêu đắc khu khu táng Lỗ-công.
Bài dịch
Non nước trăm hai [1] nổi bụi hồng,
Dắt diù em trẻ tới Quan-trung.
Cung châu lạnh lẽo gio (tro) thềm Lộc,
Chén ngọc tanh tành tuyết cửa Hồng.
Vận rủi đã cam về Trạch-tả,
Mặt nào còn nỡ ngó Giang-đông?
Năm năm vùng vẩy nên chi đó,
Mai táng còn may chút lễ [Lỗ] Công.
Đề xong, về nhà quán, đánh chén say buồn ngủ, sực mơ thấy một người
đến mời đi, nói rằng: “Phụng mạng vua tôi, cho mời ông đến nói truyện.”
Hồ-công lật đật chỉnh đốn khăn áo, rồi thì người ấy dẫn đường đưa đi.
Một lát đến nơi cung điện to lớn, đã thấy Hạng-vương ngự trên điện rồi.
Bên cạnh đặt một tấm giường lưu-ly, rồi Hạng-vương mời Hồ-công ngồi
trên giường và hỏi rằng:
- Câu thơ của thầy đề ban ngày, sao kinh [khinh] ta lắm mấy? Kìa như
nhà Hán là một vì vua, ta đây cũng là một vì vua, nhà Hán phong thế nào
được cho ta? Vả như Điền-Hoành là một đưá con trẻ, còn chẳng thèm
tham danh tước của nhà Hán, huống chi ta đường đường là một nước
Sở, há lại thèm chịu lễ Lỗ-công sao? Ta xin kể rõ cho Sứ-quân được
biết: Ngày xưa nhà Tần mất quyền, bốn phương nổi lên tranh nhau, ta
nhân dịp đó cất quân, đánh đâu được đó, đức nghĩa ta dùng ra thì nước
nào cũng phải phục, oai lịnh ta thi hành thì người nào cũng phải làm tôi,
ta coi thiên hạ, chỉ ngồi một chỗ cũng có lẽ địch nổi. Xem thế thì giời
(trời) giúp nhà Hán, dẫu bọn thổi kèn dệt vải[2]
cũng đủ nên công; giời
(trời) hại nhà Sở, dầu có sức nhắc vạc nhổ núi, cũng không thể cưỡng
cầu. Huống chi sức Chung-Ly không kém gì Hàn-Tín, mưu A-phụ lại hơn
Trần-Bình, nếu ta biết tín nhời [lời] các người ấy, nhân thua gắng sức,
quất ngựa ô-chuy, thâu quân Bành-thành, há chẳng hay đạp bằng cung
điện Phong-bài [bái], mà đào được tôn xã nhà Lưu hay sao? Chỉ vì ta
thương dân mắc phải tai nạn, cho nên đem thân đường đường tám
thước, mà phó cho bọn Vương-Ê. Thế thì nhà Hán nhà Sở, một nên một
thua, cũng là việc may rủi mà thôi, có lấy sự thành bại mà luận anh hùng
thế nào được!!!
Trong đời những kẻ hay phẩm bình nhân vật, có kẻ đổ cho là giời (trời),
có kẻ cho không phải là giời [trời], thường thường làm ra thơ từ có đến
ngàn bài, nhưng chỉ có một câu của Đỗ-Mục nói rằng:
Giang-đông tử đệ đa tài tuấn,
Quyển thổ trùng lai vị khả tri.
Dịch nôm:
Giang-đông em trẻ nhiều tay giỏi,
Dậy đất quay về chửa biết chừng!
Câu thơ ấy còn có ý trung hậu, hợp cách làm thơ, đọc lên còn cứng cỏi
được ý người. Còn các bài khác đại để toàn là nhời (lời) phù bạc cả, ta
thật là không bằng lòng, nên ta than thở với Sứ quân như vậy.
Hồ-công nghe đoạn, cười nói rằng:
- Lẽ giời [trời] việc người, đôi đường cùng quan hệ với nhau, nếu đổ cho
số giời, mà không kể đến việc người, thì vua vẫn còn chưa nghĩ cho
cùng lẽ thật. Nay vua đã cho gọi tôi đến đây, tôi xin cứ thẳng mà nó có
đặng không?
Hạng-vương nói:
- Phải, phải! Sứ quân cứ việc thẳng mà nói.
Hồ-công mới nói rằng:
- Vận thế thiên-hạ, cốt bởi mưu chớ không bởi sức; thâu bụng thiên-hạ
cốt tại nhân chớ không tại bạo. Vua tánh hay quát tháo hung hăng, giết
Tống-Nghĩa[3] thì là tội vô quân, giết Tử-Anh[4] thì là sự bất võ. Ngươi
Hàn-Sinh[5] tội gì mà bị mổ, cung A-phòng[6] cớ gì mà đốt đi? Vua làm
những sự ấy, được bụng người hay là mất bụng người?
Hạng-vương nói:
- Sứ-quân nói vậy chưa nhầm. Việc đất Hàm-đan, cơ thành bại chỉ ở
trong chớp mắt, mà Tống-Nghiã thì rụt rè không dám tiến quân. Nếu để
chậm mà quân nhà Tần sang qua sông, thì nhân dân nước Triệu hại hết,
cho nên ta giết một Tống-Nghiã mà cứu cho trăm vạn mạng người, thì có
lỗi gì? Vua trong các nước cũng là chư-hầu, mà nhà Tần cũng là chư-
hầu, lại đi tham đất các nước, đánh lấn không còn để nước nào cho nên
ta giết moät Töû-Anh ñeå baùo thuø cho saùu nöôùc, thì coù haïi gì?
Coøn nhö Hàn-Sinh chê bai quân thân, là tội bất trung, nên ta giết để răn
kẻ khác. Thủy-hoàng xa xỉ tàn ác, vét của dân để lập cung A-phòng, nên
ta đốt đi để cho vua khác phải cần kiệm. Sứ quân bẻ ta những sự ấy, ta
thiệt không chịu.
Hồ-công nói:
- Thế thì vua đốt lục-kinh, để cho ân trạch của thánh-nhân mất đi, và vua
sai giết Nghĩa-đế ở trong sông, thì vua sao lại nỡ làm thế? Sao cho bằng
nhà Hán nghe lời Đổng-Công, mà lập nên việc nhân nghĩa; tế đền Khúc-
phụ,[7] mà đem lại lối đạo học. Cho nên có câu rằng: Nhà Hán được
thiên-hạ, không phải bởi dùng được Tiêu-Hà, Trương-Lương, mà cốt về
ba quân để tang cho Nghĩa-đế, được vui lòng trung-phẩm cho bọn hào-
kiệt; Nhà Hán giữ thiên hạ không phải bởi điều lệ rộng rãi, mà cốt về thân
tế đền Khúc-phụ, dựng được nề niếp [nếp] cho người đời sau. Vua sánh
cùng với nhà Hán làm sao cho đặng?
Hạng-vương thấy nói vậy, ngồi ngẩn mặt không biết nói lại làm sao.
Khi ấy có Phạm-Tăng đứng bên tiến lên nói rằng:
- Tôi nghe: Làm người chẳng ai ra khỏi vòng giời [trời] đất, dựng nước
chẳng ai vượt khỏi đạo cương thường. Nhà vua có bày tôi quần thần tên
là Tào Cữu, lòng đá vàng mà tiết tòng bách (bá), thà rằng chết mà không
chịu nhục, há chẳng phải bởi vua dùng phải đạo mà khiến cho tận trung
đó rư? Kià như nhà Hán sai Ứng-Xỉ giữ đất Phong mà Ứng-Xỉ hàng
người khác; sai Trần-Hỉ coi đất Triệu mà Trần-Hỉ làm phản, thì đạo vua
tôi đằng nào hơn? Vua có người cơ-thiếp họ Ngu, mình nhẹ lá sương,
hồn theo lưỡi kiếm, giữ tấm lòng ở nơi tịch mịch, chôn khúc giận ở đám
hoang vu, há chẳng phải bởi vua ở hết đạo mà khiến cho tận tiết đó rư?
Kià như nhà Hán mụ Lữ-Trĩ thì kiêu mà sinh dâm, nàng Thích-cơ thì yêu
mà mắc hoạ, thì đạo vợ chồng đằng nào phải? Huống chi nỡ bỏ cha là
Thái-công mà bỏ mất đạo giới, đắm yêu con thứ là Triệu-vương mà
khinh thị quốc-bổn[8] thì trong đạo cha con ở đâu? Kẻ nghị luận không
xét rõ phải trái, chỉ khen nhà Hán mà chê nhà Sở để cho vua ta mang
tiếng xấu ở dưới cửu tuyền. Nhờ ông bỏ bớt những nhời nhảm nhuốc ấy
đi, thì cũng là may cho trong lúc gặp gỡ lắm.
Hồ-công nghe nói phải lẽ; gật đầu hai ba lần. Canh khuya tan cuộc chè,
đứng dậy từ về, Hạng-vương tiễn ra khỏi cửa thì giời [trời] đã sáng. Tỉnh
dậy, mới biết là một giấc chiêm bao.
2. Truyện người đàn bà có nghĩa
Về cuối đời nhà Trần, ở phủ Khoái Châu,[9] một người tên là Từ Đạt,
làm quan ở thành Đông quan,[10] gần nhau với nhà quan Thiêm-thư là
Phùng-lập-Ngôn.
Hai người đi lại chơi bời, thân ái nhau như anh em ruột. Phùng có
con giai (trai) tên là Trọng-Quì. Từ có con gái tên là Nhị Khanh. Giai [trai]
tài, gái sắc, trạc tuổi lại vừa ngang nhau. Thường khi qua lại gặp nhau,
đôi bên tình đầu ý hiệp. Cha mẹ hai đàng cũng đẹp ý cả, mới dùng đủ lễ
mối lái cưới xin, (mai mối cưới gả) rồi thành gia thất.
Nàng Nhị-Khanh tuy còn trẻ tuổi nhưng khi về nhà chồng đã có nết
ăn ở hiền hậu, ai ai cũng khen là được nội trợ giỏi.
Chàng Trọng-Quì tới khi khôn lớn, chỉ chăm sự du đãng, nàng nầy
thường thường can gián, chàng kia tuy không nghe nhời (lời), nhưng
cũng có bụng kính sợ. Gặp khi đó ở xứ Nghệ-an lắm giặc cướp, trào-
đình muốn cầu một người giỏi cho làm quan đó để dẹp giặc. Đình thần
ghét Phùng là người nói thẳng, có ý muốn hại Phùng, mới cử lên để
sung bổ vào chức ấy.
Phùng sắp phó lị, bảo với nàng dâu là Nhị-Khanh rằng:
- Đường xá xa xôi, cha không muốn cho con đi theo. Vậy con hãy ở
tạm lại đây, đợi khi nào giặc giã yên ổn rồi cha sẽ cho đón rước con vào
trong nầy ở với chồng con.
Chàng Trọng-Quì thấy vợ mình không đi, có ý ngần ngại (dụ dự)
cũng muốn ở nhà.
Nàng kia can nói rằng:
- Nay cha vì tánh [tính] nói thẳng mà người ta ghét, tuy giả tiếng cho
giữ chốn hùng phiên, mà thiệt thì đưa vào đất chết. Chàng anh Lang-
quân nỡ nào để song thân đi một mình, sóng gió muôn dặm, sớm tối một
thân, đem vào cõi nước độc ma thiêng (nguồn cao nước độc) ai là kẻ
sớm thăm chiều viếng. Vậy thì chàng anh phải theo cha mà đi, chớ vì
thiếp mà trái hiếu đạo.
Chàng kia bất đắc dĩ, mở tiệc tiễn biệt cùng vợ, rồi theo cha và cả
nhà về Nghệ An.
Nàng Nhị-Khanh từ bữa đó ở lại với cha mẹ ruột, không ngờ con tạo
trêu ngươi, việc người lắm lỗi. Chẳng bao lâu, cha mẹ nàng Nhị-Khanh
kế theo nhau mà thác. Nàng ấy đem ma về táng ở Khoái-châu là chỗ quê
nhà, rồi ở cùng với một người bà cô là họ Lưu.
Khi ấy trong đồng ấp có một viên võ-quan họ Bạch, nguyên là cháu
ngoại họ Lưu. Viên ấy thấy nàng Nhị Khanh nhan sắc xinh tốt, muốn
cưới làm vợ, mới dùng của lót khấn cầu họ Lưu, nhờ dỗ dành nàng kia
cho mình.
Lưu-thị dỗ bảo nàng Nhị-Khanh rằng:
- Nhà nước tự khi nhà Nhuận-Hồ chịu ngôi đến nay, chăm việc dong
chơi, chính sự lầm lỗi, sanh sự cơ loạn trong nước khắp nơi. Vả lại
chàng Phùng kia đi biệt sáu năm nay, không có tin tức gì chưa biết là
còn hay mất. Nếu mà gặp cơn loạn lạc, phải tay hung dữ, thì ta e rằng
bóng liễu Chương-đài chưa biết rụng vào đâu? Chi bằng kiếm một nơi
tốt, kết mối duyên lành, bịt miệng người cười hoa cợt liễu, yên phận
nàng dây sắn bóng tùng (cát đằng tùng bá), chẳng hơn là quạnh quẻ
[quẽ] một mình như người đàn bà goá rư?
Nàng Nhị-Khanh nghe lời kinh hãi, suốt tháng không ăn ngủ chi
đặng. Lưu-thị biết vậy, muốn ép uổng bắt phải lấy chồng, và bảo Viên-
võ-quan kia cứ việc định sẵn ngày cưới.
Nàng Nhị-Khanh lo lắm, kêu một người lão-bộc mà dạy rằng:
- Lão ở nhà ta đã lâu, có lòng mà báo ơn đức tiên nhân ta được
chăng? Ta sở dĩ còn nhẫn nhục đến rầy, là vì cớ chồng ta còn sống. Nếu
chồng ta thác rồi thì ta cũng thác theo, chớ không khi nào ta chịu mặc áo
xiêm của chồng ta mà đi làm đỏm cho người khác (đi dởn [giỡn] với
người khác). Vậy thì lão chớ quản bao khó nhọc, nên vào Nghệ-an kiếm
cho đặng chồng ta về đây.
Khi đó đang cơn loạn lạc, đường xá gập gềnh, lão kia đi mười hôm
mới đến Nghệ-an. Hỏi thăm thì người ta nói rằng: “Ông Phùng-lập-Ngôn
mất rồi, gặp nhằm con không ra gì, cửa nhà sa sút hết cả.” Lão kia nghe
nói vậy buồn rầu lắm, bỏ thuyền lên bờ, đi dẻo ven (dọc theo) sông, xảy
gặp chàng Phùng-trọng-Quì ở trong chợ. Chàng ta đưa lão-bộc về ở nơi
ngụ, thì thấy cửa nhà tiêu điều, bốn bề vách nát, trong nhà có một tấm
giường, và chỉ có bộ bàn cờ, đồ uống rượu, chó săn và gà chọi mà thôi,
chớ không có chi nữa cả.
Chàng ấy nói với lão-bộc rằng:
- Tiên-nhơn [nhân] ta chẳng may mất đã bốn năm nay. Ta vì có binh
qua trở ngại, muốn về không được, tuy ở tha hương, nhưng lúc nào
cũng nhớ đến quê nhà.
Vì đó nên mới sắm sửa định ngày về, khi về đến nhà, vợ chồng trông
nhau than khóc. Bởi cớ cách biệt lâu năm, tình lân ái bội phần đằm thắm.
Không bao lâu, chàng kia lại cứ giữ thói dong chơi, ngày ngày cùng
với kẻ lái buôn là Đỗ-Tam đi lại. Chàng Trọng-Quì thì tham của nhà Đỗ-
Tam. Đỗ-Tam thì mến nhan sắc của vợ Trọng-Quì, nhân thế cùng nhau
đánh bạc. Đỗ-Tam thả nhiều của để dử [nhử] Trọng-Quì. Trọng-Quì
thường thường đánh được bạc, coi lấy tiền như lấy của trong túi.
Nàng Nhị-Khanh răn bảo chồng rằng:
- Lái buôn lắm kế giảo quyệt, xin chớ chơi bời, trước tuy được của nó, về
sau ắt thua hết về nó mà thôi.
Trọng-Quì không nghe. Một hôm, hội đóng bầu bạn đánh bạc. Đỗ-Tam
bỏ ra trăm muôn quan tiền, mà xin Trọng-Quì phải lấy nàng Nhị-Khanh
làm cược (vi chi). Trọng-Quì quen thói thường được, không nghĩ chi đến
sự khác, liền thuận tình viết giấy giao kèo, rồi vừa uống rượu vừa đánh
bạc.
Trọng-Quì đánh ba tiếng thua cả ba, mặt mũi tái mét, cả đám ngồi ai nấy
đều kinh.
Trọng-Quì vì đã viết giấy, không sao chối được, phải gọi Nhị-Khanh đến,
nói hết thiệt [thật] tình cho Nhị-Khanh nghe, và đưa tờ giấy giao-kèo để
vợ xem, rồi bảo rằng:
- Tôi vì cớ nghèo ngặt, phải lụy đến nàng. Nay việc đã thế nầy, dẫu hối
lại cũng không kịp. Vả lại sự đời khi hợp tan, khi mừng thương, cũng là
sự thường, vậy thì nàng hãy đành lòng ở với tân-nhân, chẳng mấy bữa
tôi sẽ đem tiền chuộc lại.
Nàng Nhị-Khanh biết thân không tránh được nào, mới giả đều tử-tế mà
nói rằng:
- Bỏ nơi nghèo sang nơi giàu, thiếp còn ngại gì, âu cũng là số giời [trời]
tiền định chăng? Nếu tân lang không hiềm thiếp xấu xa, thiếp xin ráng
sức nâng khăn sửa túi, cũng như thiếp thờ chồng cũ khi xưa. Nhưng
thiếp hãy xin một chén rượu, để biệt nhau với chồng cũ, và xin về hối
(dặn) con một lời.
Đỗ-Tam mừng lắm, sai rót một cốc (ly) rượu to đưa nàng ấy uống, nàng
ấy uống rồi, về nhà dắt hai con nhỏ ra, vỗ vào lưng mà bảo rằng:
- Con ơi! Cha con bạc tình, không thể nương nhờ được. Mẹ chẳng lo chi
sự chết, nhưng chỉ thương đến chúng bây mà thôi.
Nói đoạn rồi, lấy dây thắt cổ tự tận. Đỗ-Tam thấy nàng ấy về lâu chưa
đến, sai người đến giục, thì thác đã lâu rồi.
Trọng-Quì thương xót vô cùng, đủ lễ làm ma tống táng.
Trọng-Quì tự khi đó thất ngẫu, ăn năn vô chừng, nhưng sanh [sinh] nhai
mỗi ngày một kém, sớm tối vay mượn nhờ người. Nhân nhờ có một
người bạn cũ làm quan ở châu Qui-hoá (nay thuộc về tỉnh Hưng-hoá)
mới đi lên đó để kiếm chốn nương nhờ. Đi được nửa đường mỏi mệt lắm
muốn ngủ, nhân ngồi nghỉ ở dưới gốc cây bàng. Sực nghe trên không có
tiếng gọi rằng:
- Ai đó, có phải là Phùng-lang chăng? Nếu chàng còn nhớ đến tình cũ thì
cứ đến ngày ấy giờ ấy, đến miễu bà Trưng-vương đợi tôi. Ân tình chi
thiết, xin chớ coi u minh khác nhau.
Trọng-Quì nghe văng vẳng như tiếng nàng Nhị-Khanh, ngẩng mắt lên
trông, chỉ thấy một đám mây dâm đen bay về phía tây-bắc. Trọng-Quì lấy
làm quái lạ, muốn nghiệm xem ra làm sao, mới y lời hẹn đến miễu bà
Trưng-vương. Khi đến đó thì mặt trời đã xế bóng vào cửa song, trông ra
cỏ rặm rêu xanh, phong cảnh hắt hiu, thỉnh thoảng lại nghe tiếng chim
chóc kêu trong bụi cây cối. Chàng ta buồn rầu muốn trở về thì trời đã tối,
mới nằm nghỉ trên tấm phản ở nơi nhà cầu.
Cuối canh ba, nghe có tiếng khóc văng vẳng tự đằng xa dần dần tới gần.
Cách chừng nửa trượng, trông ra mập mờ qủa nhiên là nàng Nhị-Khanh.
Nàng ấy bảo Trọng-Quì rằng:
- Thiếp từ sau khi mất đi, Thượng-đế thương thiếp thác oan, gia ơn cho
phụ vào đền Nghiêm,[11] chức coi việc tờ bồi (từ chương) không lúc nào
rỗi rảnh mà thăm được chàng. Bữa trước nhân đi làm mưa, gặp chàng
mà gọi, nếu không có dịp ấy thì thiên cổ không bao giờ được gặp nhau.
Trọng-Quì hỏi:
- Nương tử lại đây sao chậm làm vậy?
Nàng Nhị-Khanh nói:
- Thiếp vừa cưỡi xe mây lên chầu Thượng-đế, vì có chàng lại đây, phải
xin phép về trước, cho nên hơi chậm một chút.
Nói đoạn, dắt nhau nằm nghỉ, nói truyện thời sự.
Nàng Nhị-Khanh nói rằng:
- Thiếp thường hầu hạ bên cạnh Thượng-đế, nghe vụng các tiên nói
truyện với nhau rằng
: Vận nhà Hồ suy vi, đến năm Bính-tuất thì có việc
binh cách dậy to, hơn 20 muôn người chết hại về loạn lạc, mà những
người bị bắt không kể. Nếu ai không có âm đức, thì chỉ e đến lúc đó khó
toàn. Khi ấy có chân nhân họ Lê tự phía Tây-nam khởi lên. Chàng nên
ráng sức dạy hai con, khiến con vững một niềm tin theo giúp vua Lê, thì
thiếp dẫu thác cũng được thỏa lòng.
Trời gần sáng, vội vã đứng dậy từ biệt, vừa đi vừa ngảnh lại, một nhát
(lát) thì biến mất.
Trọng-Quì từ đó trở về, cũng không lấy vợ chi nữa. Nuôi dạy hai con cho
đến khi nên người. Về sau, vua Thái-tổ nhà Lê khởi nghiã ở Lam-sơn,
hai con mộ quân đi theo, trải làm quan đến chức Thị-nội.
Đến nay ở Khoái-châu, con cháu nhà ấy vẫn còn.
3. Truyện cây gạo (gòn)
Người phủ Bắc-hà (thuộc tỉnh Nghệ-an) tên là Trình-trung-Ngộ, tuấn tú
đẹp giai (trai), mà nhà rất nên cự phú. Khi chàng ta mướn thuyền đi buôn
xứ Nam, đỗ thuyền dưới cầu Liễu-khê,[12] qua chơi trong chợ Nam-xang
(xương). Mỗi khi đi đến nửa đường, thì thấy một người con gái ở trong
làng Đông-thôn đi ra, có một con hầu đi theo sau. Chàng ta liếc mắt trộm
trông (lên xem) quả nhiên một người nhan sắc tuyệt trần, chỉ vì mình là
người tha hương lữ thứ, hỏi ra không tiện, cho nên phải ngậm ngùi bực
tức trong mình mà chịu.
Bữa khác đi qua, lại gặp người con gái ấy. Chàng ta muốn ỏn ẻn, nói
khêu, thì thấy nàng kia đi mau lắm, rồi bảo với con hầu rằng:
- Ta lâu nay mê đắm giấc xuân, tham ngủ nghê không hề đi đến đâu, biệt
tích chốn Khê-kiều, đã nửa năm nay; không biết phong cảnh chỗ đó, nay
ra làm sao? Đêm nay ta nên qua thăm chốn cũ, đặng giải u tình ta một
chút, mầy có khứng theo ta chăng?
Con hầu xin vâng lời.
Chàng Trung-Ngộ nghe vậy mừng rỡ lắm. Chiều hôm ấy đến nơi Khê-
kiều núp một nơi chờ đợi. Đến nửa đêm vắng người qua lại, qủa nhiên
thấy con gái và đứa hầu cắp một cái đờn [đàn] tì-bà đến đó.
Khi đến đầu cầu, người con gái than rằng:
- Khe núi rành rành, phong cảnh như xưa: chỉ giận vì thân gái thẩn thơ
một mình, không được chơi với chị em như trước, khiến người mang
bụng cảm thương.
Nói đoạn, ngồi dựa câu-lơn [lan], ôm tì-bà, gảy mấy tiếng cung nam, lại
đánh một bài thứ tứ. Một hồi lâu, bỏ đờn [đàn] đứng dậy, nói rằng:
- Ta muốn mượn ngón đờn [đàn] cho giải chút tình riêng, nhưng điệu cao
ý xa, trong đời ai là kẻ tri-âm, chi bằng ta về quách cho rảnh.
Trung-Ngộ nghe vậy, vội vàng bước rảo ra bái một bái rồi nói rằng:
- Tôi là tri-âm đây, xin thử cho nghe một chút.
Ả kia thất kinh, nói rằng:
- Chàng cũng có ở đây đó sao? Thiếp trước nhiều khi đội ơn chàng có
lòng yêu đến, thiếp vẫn tạc dạ ghi lòng, nhưng hiềm vì đường xá vội
vàng, khó tỏ được tình gắn bó (vó). Nay nhân buổi đêm thanh gió mát,
không ngờ gặp chàng lại đây. Ví không duyên giời [trời], sao có gặp
nhau mãi vậy? Nhưng ngắm người châu ngọc, nghĩ phận xấu xa, thì
thiếp lấy làm e lệ lắm.
Chàng Trung-Ngộ hỏi đến tên họ quê hương ở đâu, thì người con gái nói
rằng:
- Thiếp họ Nhị tên Khanh cũng là một họ to trong làng, cháu gái ông Hối-
Ông đây. Cha mẹ thiếp chẳng may thác sớm, cửa nhà sa sút (sụp). Bưã
nọ lại bị chồng đuổi, thiên ra ở ngoài thành. Mới biết rằng người ta ở đời,
ví như một giấc chiêm bao, chi bằng trong lúc sanh thì, tạm kiếm sự vui
mà chơi, kẻo một mai xuống đất, thì thành ra người suối vàng, dẫu muốn
vui thì đã muộn rồi.
Nói đoạn, hai người cùng nhau về nơi thuyền.
Người con gái lại nói nhỏ bảo với chàng kia rằng:
- Thiếp nay mặt mũi hao mòn, ở gần nghĩa địa, không ai thăm viếng, coi
ngày dài như năm. Xin quân tử quạt hơi dương vào chốn hang sâu, thổi
khí ấm vùng cỏ héo, để cho cánh huê [hoa] tàn lại được ấm áp khí xuân,
thì trọn đời thiếp được nhờ ơn lắm đó!
Hai người dắt nhau đùa bỡn, tình rất vui vẻ. Người con gái khẩu chiếm
hai bài thơ để ký sự vui:
1. Cùng diêm cửu khốn ngọ miên chi,
Tu đối tân-lang ngữ biệt ly.
Ngọc duẩn chỉnh tà châu xuyến tử,
Hương la thoát hoán tú hài nhi.
Mộng tàn bán chẩm mê hồ điệp,
Xuân tận tam canh oán tử-qui.
Thử khứ vị thù đồng huyệt ước,
Kháo tương nhứt tử vị tâm tri.
Dịch nôm:
Ngõ hẻm liên miên giấc ngủ trưa,
Thẹn thùng buổi mới chuyện sau xưa.
Nhẫn tay sáng lộn vành châu nhỏ,
Hài gót hương thay chiếc giải thừa.
Nửa gối mơ màng hồn điệp quẩn,
Ba canh văng vẳng tiếng quyên đưa.
Chút nguyền đồng huyệt dầu chưa thỏa,
Cùng với tri-âm dám hững hờ.
2. Giai kỳ nhẫn phụ thử lương tiêu,
Túy bảo ngân tranh bát phục khiêu.
Ngọc yến nhiệm dong trâm chụy cợt,
Kim thiền cơ phụ khúc tiêm yêu.
Yên thư dường ngạc hồng do thấp,
Hãn thoát mai trang bạch vị tiêu.
Tảo văn kết thành loan phụng hữu,
Phong thần nguyệt tịch nhiệm chiêu yêu.
Dịch nôm:
Cuộc vui sao nỡ phụ đêm nầy?
Dạo khúc đờn [đàn] tranh lúc hứng say.
Mái tóc biếng cài xoa én ngả,
Khôn [khuôn] lưng dường ngại cánh ve bay.
Mây tuôn đoá hạnh mầu hồng đượm,
Nước thấm bông mai vẻ trắng bày.
Loan phụng sẽ nên duyên bạn lứa,
Đêm trăng ngày gió thỏa vui vầy.
Trình-trung-Ngộ vốn là người đi buôn, không biết chữ nghĩa, ả kia phải
cắt nghĩa từng câu cho nghe.
Trung-Ngộ nức nở khen rằng:
- Tài của nàng, không kém gì Dịch-An khi xưa![13] Chắc là nổi tiếng văn
chương ở đời.
Ả kia cười nói rằng:
- Người ta sanh [sinh] ở đời, quí hồ thích chí là hơn, văn chương chẳng
qua là bã giả một nắm đất vàng mà thôi, kìa như nàng Ban ả Sái,[14] bây
giờ còn đâu? Sao bằng mượn ngay cảnh vui trước mắt, chơi lên xuân
một thời, cho qua đời mình chẳng hay sao?
Bữa ấy giời [trời] sắp sáng thì người con gái từ đi, chiều hôm sau lại đến,
gần đầy một tháng hôm nào cũng vậy.
Khi đó có người bạn buôn bảo với Trung-Ngộ rằng:
- Ngô-tử ở nơi lữ thứ, nên phải giữ gìn, lánh sự hiềm nghi, sao nên manh
lòng dâm giục, theo gái vu vơ, không biết còn do làm sao, ví bằng ả kia
là vợ con nhà phú quí, một mai vôõ chuyện ra ngoài trên có phép nước,
dưới không thân bằng, ngô tử nghĩ làm sao bấy giờ? Vậy nên hỏi cho
cặn kẽ, rồi nên từ đi, mà không từ được thì đem nhau trốn đi nơi khác
như thế mới êm được việc.
Trung-Ngộ nghĩ nhời [lời] ấy là phải, bữa sau bảo với đứa con gái rằng:
- Tôi vốn là khách xa, xảy kết duyên lành, nhưng chưa được tường nhà
nàng ở đâu, tôi chưa đành lòng.
Đứa con gái ấy nói:
- Nhà thiếp cũng gần đây chẳng xa, nhưng việc gặp gỡ khi nay, là một
sự riêng mà thôi, nếu lộ truyện ra thì e rằng tai mắt sinh ngờ, thuyền
quyên ghen ghét, cho nên thiếp phải đi khuya về sớm, kẻo để lụy đến
lang-quân đó thôi.
Trung-Ngộ cố xin cho biết nhà, người con gái cười rằng:
- Thiếp nguyên hiềm vì cửa nhà quê lậu, nay chàng đã không tin, thì
thiếp tiếc gì mà chẳng mời chàng về chơi.
Bởi vậy canh ba đêm hôm ấy, nhân khi dâm tối, đưa nhau về đến Đông-
thôn. Đến đó, thấy chung quanh tứ vi có hàng rào tre, lại có vài khóm lau
sậy xen vào. Trong có một khu nhà ranh hẹp nhỏ, bốn phía toàn dây leo
rễ máng.
Người con gái trỏ vào chỗ ấy nói rằng:
- Đó là nơi thiếp rồi rảnh công việc an thân đó! Chàng hãy đẩy cửa vào
ngồi tạm một chút, để thiếp đi lấy lửa lại đốt đèn.
Chàng kia lúm khúm đi vào, đứng chờ ngoài ngăn cửa. Thỉnh thoảng có
hơi gió phảy qua, thì thấy có mùi tanh hôi. Đang khi ngần ngại trông
trước nhìn sau, xảy có bóng lửa sáng lòa ra, ngó thấy mé bên có một
tấm gương nhỏ; trên gương có một cỗ áo-quan (hòm) sơn son; lưng áo-
quan che một bức hồng-la có đề mấy chữ bằng ngân-sa rằng: “Nhị-
Khanh chi cữu”. Mé bên lại có một tượng đứa con gái tô bằng đất, ôm
chiếc đờn [đàn] hồ-cầm đứng hầu.
Trung-Ngộ thấy vậy, rụng rời rởn ốc, vội vàng chạy ra, thì thấy người con
gái đứng chận đường mà bảo rằng:
- Anh đã đến đây không có lẽ nào về được. Vả lại câu thơ bữa trước đã
lấy sự thác hẹn nhau, vậy xin ở lại đây với tôi, cho thỏa ước đồng huyệt.
Tôi ngủ một mình ở đây, dễ mà bỏ được tôi chăng?
Nói rồi kéo áo chàng kia trở lại. Chàng kia cố dứt ra chạy, may đứt vạt áo
mới chạy thoát được. Khi chạy tới cầu Liễu-khê thì sợ hãi quá đỗi không
nói ra tiếng được nữa. Sớm mai vào làng Đông-thôn hỏi chuyện, thì quả
có chuyện con gái ông Hối-ông, mới 20 tuổi, chết đã nửa năm nay còn
quàn ở ngoài đồng.
Trung-Ngộ nhân đó cảm bệnh nặng, mà đứa con gái ấy cũng thường
thường qua lại, hoặc khi đứng trên bãi cát hò kêu, hoặc khi vào trong
thuyền thì thầm nói truyện. Trung-Ngộ cũng nói năng lảm nhảm, thường
muốn băng mình chạy đi. Người chúng bạn trong thuyền biết là cảm tà,
dùng dây trói lại, thì Trung-Ngộ mắng mà nói rằng:
- Chỗ vợ ta ở, có lầu đài vui vẻ, lan xạ thơm tho, ta nên đến ở đó, quyết
không chịu buộc chân ở đám trần ai đâu, chúng bây sao nỡ trói ta làm
vậy?
Một bữa, người trong thuyền ngủ cả, Trung-Ngộ trốn đi. Bọn kia thức dậy
thì không thấy Trung-Ngộ đâu, vội vàng ra đồng coi xem, thì thấy chàng
ta đã ấp vào bao-quan mà chết rồi. Chúng nhân bèn táng anh ta tại đó.
Từ khi ấy mỗi khi đêm âm ám thì thấy hai người dắt nhau đi chơi, hoặc
khi cười, hoặc khi khóc, thường thường khuấy nhiễu người ta, bắt phải
cúng bái, nếu không cúng thì sanh [sinh] ra tai hoạ ngay. Người trong
làng tức giận, đào mả hai người phá áo quan, rồi tán xương quăng ra
ngoài sông.
Trên bờ sông đó có một kiến chùa, trong chùa có một cây gạo (gòn) cổ
thụ, đã hơn 100 năm. Hồn hai người kia mới nương dựa cây cổ-thụ ấy
mà thành yêu. Từ đó ai muốn đốn cây gạo ấy cũng không được, gãy búa
mẻ rùi, không sao lung chuyển.
Năm canh ngọ trong đời Khai-hựu nhà Trần, có một thầy đạo-sĩ qua
chùa vào nghỉ. Khi đó đang lúc canh khuya trăng lò bốn bề lặng lẽ như
tờ. Thầy đạo-sĩ trông thấy hai đứa trai gái cởi truồng cười đùa dỡn nhau
một hồi, rồi đến gõ cửa chùa mà hỏi. Đạo-sĩ nghi là trai gái tư tình, chơi
dạo dưới giăng [trăng], và ghét loài vô sỉ, nên cứ đóng cửa không thèm
nói chuyện.
Sớm hôm sau vào chơi nhà cụ già trong làng, thuật lại truyện mình coi thấy, và than rằng thói dân kiên [kiêu] bạc.
Cụ già nói:
- Ôi chào ôi! Đó là yêu vật ở trên cây cổ thụ, hiện hình tác quái đã lâu
nay rồi, ước chi được thanh gươm trảm tà để trừ loài ác nghiệt hại dân
ấy.
Đạo-nhơn [nhân] ngẫm nghĩ một lúc rồi nói rằng:
- Tôi vốn lấy sự cứu đời làm nghề mình, nay mắt tôi trông thấy việc như
vầy, không lẻ [lẽ] ngồi yên cho đặng?
Mới gọi hết người trong làng, thiết lập đàn trai cúng cấp, rồi viết ba đạo
bùa, một đạo đóng vào cây gạo, một đạo gìm xuống sông, một đạo đốt
hóa trước đàn.
Làm phép đâu đó, rồi la lên rằng:
- Yêu tinh làm hại ở đây đã lâu, mượn quân thần-binh chúng bây, quét
trừ loài hung dữ. Không được chậm trễ, phải hỏa tốc mà phụng hành.
Được một lát, mây mù tỏa ra lấp trời, tối đen như mực, ở dưới sông thì
sóng gió ầm ầm, chuyển động trời đất. Một hồi lâu tan cơn gió, trời đất
quang đãng, thì cây gạo ấy đã bật rễ đổ xuống đất, nhành lá tả tơi rồi
nghe trong không có tiếng roi vọt khóc lóc. Chúng ngảnh mặt lên xem, thì
coi thấy những quân đầu trâu mặt ngựa, có hàng sáu bảy trăm người,
đóng gông hai người điệu đi.
Người trong làng đem của cải tặng đạo-nhân. Đạo-nhân không lấy chút
nào, từ biệt mà đi mất.
4. Truyện Trà-đồng giáng sanh [sinh]
Dương-đức-Công tên là Tạc, người ở phủ Thường-tín tỉnh Sơn Nam. Về
đời vua Huệ-tôn [tông] nhà Lý, xét việc án ở trấn Tuyên-quang, gỡ được
nhiều tội cho người oan uổng. Bởi có lòng nhân từ hiền đức, cho nên
người ta ai cũng kêu là Đức-công.
Đức-công ngoài 50 tuổi chưa có con, xảy bị bịnh thác đi mà hồi lại.
Nguyên trong lúc Đức-công thác thì thấy đến một nơi thành đen vách
sắt, muốn quầy trở về, bỗng có một người lính ngăn lại rồi đưa sang mé
hữu. Đến đó thì thấy cửa đỏ biển son, mới sốc [xốc] áo khăn đi vào. Vào
trong lại thấy một dãy nhà lớn, có dư trăm người đứng sắp hàng hầu hạ,
khoản [khoảng] giữa có hai vị mặc áo tử-bào ngồi đối nhau một bàn, nhìn
tên Lại sai đem cuốn sổ đỏ của họ Dương đến, coi xét một hồi lâu, rồi nói
với nhau rằng:
- Trên dương-gian không mấy người được như người nầy, cứu sống cho
người rất nhiều, chỉ hiềm vì hưởng thọ không được bao lâu, mà chưa có
người nối nghiệp, nếu không tinh biểu người nầy lên, thì sao cho khuyên
được kẻ khác làm lành, vậy ta phải tâu với Thượng-đế mới xong.
Liền cho Đức-công lui ra dãy nhà mé đông nghỉ ngơi. Được nửa ngày, lại
sai dắt vào, bảo rằng:
- Ngươi ở trên dương gian vốn có tiếng hiền hậu. Thượng đế khen
ngươi, cho ngươi một đứa con lạ, và cho sống lâu 2 kỷ nữa, ngươi nên
trở lại cho mau, ráng sức làm âm đức, chớ tưởng thần thánh khuất mắt
mà không biết gì đâu.
Nói đoạn sai kẻ Lại đưa Đức-công về. Ra khỏi cửa hỏi rằng:
- Đây là phủ nào? Mà ai làm chủ, coi việc gì?
Tên Lại nói:
- Đây là một tòa riêng trong 24 tòa dưới Phong-đô. Phàm người nào mới
chết, tất phải qua đây; ai vào sổ đỏ, thì còn có lẽ sống mà về được; nếu
vào sổ đen, thì không có thể về được nữa. Ông nếu không phải thiệt lòng
làm lành, thì cũng không sao mà thoát được đấy.
Nói rồi cầm tay biệt nhau, Đức-công hồi lại, thuật truyện cho phu-nhơn
[nhân] nghe.
Phu-nhân cũng nói rằng:
- Cuối canh một, đêm hôm ấy, có một ngôi sao nhỏ sa vào trong bọc tôi,
tôi lấy làm lạ lắm.
Từ đó phu-nhân có mang, đầy năm, sanh ra một con trai, nhân chuyện
ấy đặt tên kêu là Thiên-Tích (nghĩa là trời cho).
Thiên-Tích lớn lên ít tuổi, tánh hay uống trà tàu, thường tự sánh mình với
Lư-Đồng, Lục-Võ.[15] Thiên tư sáng láng, học hành rộng rãi. Nội các
sách vở, sách nào cũng có xem qua.
Đức-công mừng nói rằng:
- Ta có kẻ nối nghiệp rồi đó.
Từ đấy mới chăm nom săn sóc dạy con lấy nết na đạo nghiã. Về sau
được 24 năm nữa, Đức-công không bịnh gì mà mất, Thiên-Tích thương
xót quá lẽ, ai nấy có bụng cảm tình.
Khi hết tang rồi, sớm khuya chăm học không lúc nào biếng nhác. Nhân
chỉ vì nhà nghèo không đủ xài, ra ngoài kiếm nơi làm rể thì công đẻ
nương nhờ, cũng không ai chịu gả con. Các ông lão, mụ già trong làng,
cũng chê nghèo khó mà khi bạc.
Chàng ta than rằng:
- Cha ta cứu nổi được mạng nhiều người chết, mà không hay cứu được
một đứa con nghèo, vậy thì làm lành có ích gì đâu.
Nói chưa dứt lời, sực thấy một người áo mũ chỉnh tề, tự xưng là quan
Đại-phu họ Thạch, đến gần trước mặt, bái mà nói rằng:
- Ngày xưa tôi chịu ân đầy của Dương-công, không biết lấy gì mà trả ân
ấy. Nay tôi chỉ có chút con gái tên là Hớn [Hán]-anh, xin để nó sửa trấp
nưng [nâng] khăn cho chàng, chàng nên yêu tiếc cái thân chàng, chớ
thấy nghèo mà bỏ chí lự bình sinh.
Nói rồi biến mất. Thiên-Tích lấy làm quái lạ, rồi thì nhớ lấy lời nói ấy mà
thôi.
Về sau nghe ở huyện Tiên-du có Trần Tiên-sinh dạy học trò đặng vài
trăm người, mới cắp sách đến học tại nơi ấy. Chàng ta ở ngụ trong làng
Thanh-lân. Làng ấy có một nhà giàu họ Hoàng, thấy chàng ta mặt mày
sáng sủa, văn chương tài tình, có ý muốn gả con gái cho va, bèn bảo với
vợ rằng:
- Nhà ta mấy đời lấy nghề buôn bán khởi gia, không thiếu gì của, chỉ
thiếu dâu lành rể tốt mà thôi. Nay có Dương-Sinh ở ngụ cạnh láng-giềng
gần đây, thiệt là bực hào kiệt Nam châu đó. Ta coi tướng mạo, về sau tất
nên người sang trọng. Nhà ta có chút con gái, tuổi gần lớn rồi, việc kén
rể còn đâu hơn nữa.
Người vợ bằng lòng, mới gọi mà gả con cho chàng ta. Phàm phí tổn về
việc cưới hỏi, mời khách ăn mừng toàn của nhà họ Hoàng chịu cả.
Chàng ta mừng rỡ bội phần, nhưng mỗi khi vắng vẻ thường lại ngồi một
mình nghĩ nghị, sắp sách thở dài.
Người vợ xem thấy hỏi cớ làm sao thì chàng ta nói rằng:
- Khi trước tôi có gặp một ông thần bảo tôi lấy nàng Hớn [Hán]-Anh họ
Thạch, nay tôi được làm rể nơi nhà sang họ quí, tuy là may mắn, nhưng
sai lời thần bảo, có lẽ về sau khó thành tựu, cho nên tôi vưỡn [vẫn] lo.
Nàng kia nghe nói, đầm đầm sa nước mắt nói rằng:
- Ông thần hẳn là cha thiếp. Thiếp thuở nhỏ tiểu-tự là Hớn [Hán]-Anh.
Cha thiếp họ Thạch tên Mang, làm quan giữ trấn Tuyên-quang, bị quan
trên vu oan, một nhà phải nạn. Thiếp khi ấy còn thơ ấu, nghe có người
kêu là Dương-đức-Công thương kẻ vô tội, cố chống với quan trên mà
tha tội. Thiếp khốn khổ cơ hàn, mới được toàn mạng mà về. Nghiêm-
đường đây thương mà nuôi cho làm con nuôi đã mười năm nay, thiệt thì
thiếp là con quan Thạch-Đại-phu đây.
Chàng kia nghe vậy thất kinh mà nói rằng:
- Tôi là con trai ông Đức-công đây! Thế mới biết vợ chồng xưa nay, vẫn
là nhân duyên tiền định, há đi tưởng dây đỏ lá thắm là không có sao!
Chàng ta thấy sự hi kỳ làm vậy, lại càng nặng tình ân ái. Từ đó trong có
chốn nương thân, ngoài không sự lo hồ khẩu mới chuyên sức học hành.
Trải hai khoa thi, được bổ giáo chức tại kinh, lần lần trải mọi chức Đề-
hình. Vừa 20 năm, mới làm nên chức hiển-quí.
Dương-thiên-Tích thờ vua hết lòng và làm quan thì thanh liêm, trải giúp
hai trào, miếu đường nương nấy làm trọng. Nhưng chỉ vì lúc người còn
hàn vi, lắm kẻ khinh bỉ, bởi thế một chút ân oán nhỏ bằng sợi tơ tóc,
người cũng báo lại, đó là một lỗi của người.
Thường khi kỳ yên, thiết đàn làm chay, tăng chúng hơn vài trăm người.
Kế có một thầy đạo-sĩ mặc áo rách đi dép nát, lum khum đi vào. Kẻ canh
cửa không cho vào, đạo-sĩ năn nỉ xin hai ba lần, kẻ canh cửa bẩm với
Thiên-Tích quở trách không cho vào.
Đạo-sĩ đi ra và than rằng:
- Cố-nhân tìm cố-nhân, không ngờ cố-nhân lại bạc tình làm vậy? Nếu
đến khi mà gặp nạn tại Ô-tôn, xin chớ trách cố-nhân phụ bạc.
Thiên-Tích nghe vậy, sai người chạy theo mời về, rồi xuống thềm đón
lên ngồi.
Đạo-nhân nói:
- Tướng-công nay làm nên khanh tướng, ở chốn lâu đài, khi đi có quân
dẹp đường, khi ở có trống chiêng canh giữ, cảnh phú qúi trong đời,
Tướng-công cũng đã thỏa bụng bình sinh rồi, nhưng tôi chẳng biết
Tướng-công có nhớ đến cảnh vui ở trên toà Tử-vi chăng?
Thiên-Tích nói:
- Tôi may cũng đã được nếm mùi phú quí, nhưng chưa hiểu căn do toà
Tử-vi làm sao?
Đạo-nhơn [nhân] nói:
- Như thế thì ông đã chìm tột đáy sông giục [dục] hà rồi! Nay tôi xin kể lại
ông hay: Khi xưa ông làm trà-đồng (thằng nhỏ hầu trà) ở chốn thiên-
đình, tôi làm tửu-lại (lính hầu rượu) ở nơi Nam-tào, ngày hằng ở trong
tòa Tử-vi, chơi với nhau đã lâu năm lắm. Một hôm Thượng-đế khi bải
[bãi] trào, có bảo các tiên rằng: “Chúng bây có đứa nào chịu xuống hạ-
giái [giới] coi xem mà lãnh ngôi tể-tướng hưởng lộc đời 10 năm chăng?”
Các tiên nhìn nhau không ai nói gì, chỉ có Tướng-công vui lòng vâng lấy.
Thượng-đế lại bảo rằng: “Thôi, đi đi, cảnh vui dưới hạ-giới chẳng kém chi
chốn Thiên-đình, chớ khá coi nhơn [nhân] gian là nhỏ.” Khi đó tôi có
đứng bên ông cho nên biết hết cả chuyện.
Đạo-nhơn [nhân] nói rồi trao cho Thiên-Tích một viên linh-đơn [đan].
Thiên-Tích uống viên thuốc ấy, lần lần tỉnh nhớ chuyện kiếp trước, mới
bảo đạo-nhơn [nhân] rằng:
- Lý lịch của tôi thì tôi đã biết rồi, sao ông nay cũng còn ở dưới trần?
Đạo-nhơn [nhân] nói:
- Tính tôi quê kệch mà lại say rượu hay nói, cho nên Thượng-đế đầy tôi
xuống trần đã 30 năm. Nay lại được làm chức cũ nơi Nam-Tào. Tôi có
tình cũ với ông, cho nên đến thăm ông chớ chẳng có chuyện chi lạ.
Thiên-Tích hỏi đến câu Ô-tôn là ý làm sao.
Đạo-nhơn [nhân] có sắc buồn rầu, nói nhỏ với Thiên-Tích rằng:
- Sau năm năm nữa, ông phải có việc đi qua biển, tôi sợ đến khi đó ông
mắc nạn phải lo.
Thiên-Tích hỏi mình có tội lỗi gì mà bị nạn ấy.
Đạo-nhơn [nhân] nói:
- Ông làm tể-tướng, cũng không có tội lỗi gì, nhưng chỉ bởi cầm quyền
lâu ngày, có sự yêu kẻ nọ ghét người kia, cho nên lắm người oán ông,
nay thì những oan-hồn thù ông nhiều lắm rồi.
- Vậy thì làm thế nào?
- Ông chớ ngại. Tôi nguyên tên là Quân-phòng, nếu ông có sự nguy
hiểm, thì chỉ đốt một nén hương gọi tên tôi lên, tôi tự nhiên có phép đến
giúp ông.
Đêm hôm ấy, hai người nằm ngủ cùng nhau, Thiên-Tích nói:
- Ông với tôi đã là bạn cố tri với nhau, có câu chi dạy tôi chăng?
Đạo-nhơn [nhân] nói:
- Nhơn [nhân]-đức, đó là nền làm lành; của cải, đó là cớ cạnh tranh
nhau. Tích đức, ví như rảy nước cam-lộ vào ngọn cây khô, có lúc phải
tươi tốt. Tích của, ví như tưới nước lạnh vào đống lửa đang cháy, có lúc
phải tắt hết, đó là cái ngòi thiện ác-phước họa. Xin Tướng-công ráng sức
làm sự nhơn [nhân] đức là đủ.
Thiên-Tích nói:
- Tôi nghe đạo trời công minh, ví như gương soi cân mực. Có thần-minh
soi xét việc, có tạo hoá cầm cân, mắt soi thấu hết mà không tư, lưới
phép dẫu thưa mà không lọt. Vậy sao còn có sự hồ đồ chưa minh, có kẻ
cứu người mà chẳng thấy phước [phúc], có kẻ hại người mà chẳng thấy
vạ. Kẻ nghèo có chi cũng không xong, kẻ giàu đi đâu cũng có lợi, cũng
có kẻ học mãi mà chẳng đỗ, có kẻ xa xỉ mà vẫn giàu, thế thì thiện ác báo
ứng ở đâu, thiệt tôi không hiểu vì cớ sao vậy?
Đạo-nhơn [nhân] nói:
- Người ta tích thiện ác nhỏ mà rõ, cơ trời báo ứng chậm mà to. Khi nào
trọn quả thiện thì mới hiển âm công, khi nào to gốc ác thì mới tan dương
phước. Có việc sắp cho người ta vinh mà còn bắt nhục, có việc sắp đè
người ta xuống mà còn nâng cho cao. Có kẻ nết na mà bị nghèo, là bởi
vì có nghiệp chướng kiếp trước; có kẻ bất nhơn mà giàu có là bởi vì có
duyên lành kiếp xưa. Các việc đó tuy là cao sâu khó rõ, nhưng thiệt [thật]
là tơ tóc không sai, chớ nên lấy lời nhứt [nhất] khái mà luận việc trời.
Đạo-nhơn [nhân] nói câu nào cũng có ý khuyên răn. Thiên-Tích mừng rỡ
chịu là nói phải cả. Qua hôm sau, sắp từ biệt nhau, Thiên-Tích đem ra 10
nén vàng làm lễ tiễn hành.
Đạo-nhơn [nhân] cười nói rằng:
- Dùng của ấy làm chi, chỉ xin cố nhơn [nhân] ráng sức làm sự phương
tiện, để tôi khỏi phải đến lần nữa, thế là cố nhơn [nhân] cho tôi đấy.
Nói rồi biệt nhau. Về sau Thiên-Tích quả nhiên nhân việc can gián trái ý
vua, phải đầy vào phía nam, đường đi qua cửa bể huyện Kỳ-hoa. Giữa
ban ngày, bỗng nhiên mây kéo tối dầm, gió nam ầm ầm nổi lên, sóng
cuộn lên cao tầy trái núi, rồi có vài trăm ma quỉ, cùng reo la lên rằng: “Kẻ
hằn thù của ta đã đến rồi, hôm nay chúng ta mới được cam tâm với nó.”
Nói đoạn, đứa thì vin lấy đuôi thuyền, đứa thì trèo lên mạn thuyền, làm
cho thuyền chòng chành sắp đổ hai ba lần. Thiên-Tích vội vàng hỏi kẻ
cầm lái rằng đây là xứ nào thì họ nói là xứ Ô-tôn, mới nhớ đến lời đạo-
nhơn [nhân], theo lời dặn trước bữa nọ kêu tên Quân-phòng cầu cứu.
Xảy đâu có một đám mây có Tiên-đồng Ngọc-nữ đứng hầu nghiêm chỉnh
lắm, rồi có tiếng xa xa kêu đàn quỉ bảo rằng:
- Chúng bây chìm đắm, tội ác đã nhiều, trước khi sống đã phạm tội tình,
sau lúc chết lại còn gây chuyện, nếu vậy thì oan oan tương kế, không lúc
nào xong, sao chúng bây không đổi bỏ thói cũ đi, quay về đạo chánh
[chính], ta sẽ tâu lên Đế-đình, rửa hết oan cho chúng bây.
Bọn quỉ nghe nói mừng rỡ nhảy nhót, rồi tan đi mất cả. Thiên-Tích khẩn
khoản muốn mời Quân-phòng xuống hỏi việc ngày sau, nhưng không
biết biến đi đâu mất rồi.
Khi ấy gió yên sóng lặng, thuyền tới qua ngàn bên kia. Chẳng bao lâu,
Thiên-Tích bỏ cả vợ con, không biết đi đâu mất.
5. Truyện Tây-viên kỳ ngộ
Có người học trò tên là Hà-Nhơn [Nhân], quê ở phủ Thiên-trường. Trong
năm Thiệu-bình đời vua Lê thái-Tôn, Hà-Nhơn [Nhân] có theo học với
ông Ức-Trai tiên-sanh [sinh] (Nguyễn-Trãi). Mỗi buổi sớm đi học, đường
qua làng Khúc-giang. Làng ấy có một cái nhà xưa của quan Thái-sư họ
Trần, chàng ta đi qua đó, thường thường thấy hai đứa con gái chơi ở
trong bức tường phía tây, cười cợt om xòm có khi cầm trái ngon hoặc
bông thơm quăng ném cho anh ta. Anh ta nghĩ không dằn khối tình đặng,
mới gắn vó [bó] hỏi hai nàng kia.
Hai đứa con gái ấy chủm chỉm cười mà nói rằng:
- Thiếp, một người họ Liễu tên là Nhu-nương, một người họ Đào tên là
Hồng-nương, nguyên là bọn tỳ thiếp của Thái-sư khi trước. Từ khi Thái-
sư mất rồi, bọn thiếp lâu nay vẫn nương náu nơi đây. Nay gặp mùa xuân
cảnh tốt, muốn ra ngoạn cảnh, kẻo mất xem đại tiết phong quang uổng
lắm.
Chàng kia thấy nói vậy bèn dắt cả hai đứa con gái ấy về tại chỗ ngụ, bày
tỏ lòng yêu mến. Trong khi dỡn cợt, hai đứa con gái có dạng thẹn thùng
nói:
- Bọn thiếp việc xuân chưa từng, lòng thơ còn nhát. Chỉn ngại sự cười
hoa cợt liễu, làm cho phải thẹn lục e hồng, thì giảm mất một cuộc hân
hoan chăng?
Chàng kia nói:
- Có việc chi mà ngại, ta không lấy sự mây mưa mà làm rối nhau đâu.
Nói rồi dắt nhau lên giường, vui vầy cá nước. Chàng kia bảo hai ả mỗi
người ngâm chơi một bài thơ.
Liễu ngâm trước một bài rằng:
Hương thấm mồ hôi đượm áo là,
Mày châu thấp thoáng vẽ non xa,
Đông phong xin chớ rung nhành vội,
Yếu ớt không kham trận gió già.
Đào cũng ngâm theo một bài rằng:
Đêm thanh, cảnh tĩnh, trống canh chày,
Màn thắm, đèn chong cuộc hứng say,
Phó mặc tài-lang vin bẻ lấy,
Đào non xin nhớ cánh hoa nầy.
Chàng ta nghe xong, vỗ tay cười ngất mà rằng:
- Hai bài thơ đó vẽ trọn hết tình trạng xuân khuê, văn thi tao nhã, thiệt
[thật] ta không bằng vậy.
Nói rồi cũng ngâm theo một bài như vầy:
Biếng khép phòng thơ giấc mộng nồng,
Lần theo mưa gió tới Vu-phong.
Bướm bay giao cánh phơi màu phấn,
Sen nở liền nhành đượm vẻ bông.
Chim đậu mặc dầu cùng một dãy,
Nước trôi khôn cấm rẽ đôi dòng.
Thương cho một giống phong lưu cả,
Nhưng xét phong lưu có chẳng đồng.
Từ đó mỗi ngày sớm đi chiều lại, chàng ta lấy làm việc kỳ ngộ lắm,
không khác nào Bùi-Hàng gặp tiên buổi xưa.
Một lúc chiều kia, trời đổ cơn mưa gió, hai ả ấy vừa đến nơi, nói với
chàng ta rằng:
- Bọn thiếp sợ sai hẹn mà phải đến đây, nhưng lạnh lung lắm không sao
chịu được.
Chàng ta lấy vạt áo ấp cho ả Liễu, rồi nói cợt rằng:
- Liễu-Kiều xinh đẹp, nên vào bậc nhứt [nhất] đời này, thiệt [thật] là mỹ
nhan sắc, còn Đào-Kiều thì cũng như hoa đào đó vậy mà thôi.
Ả Đào thấy nói vậy, cúi đầu hổ thẹn, bèn hờn cách mấy bữa không đến
nữa.
Chàng ta hỏi ả Liễu rằng:
- Đào-nương có được mạnh giỏi không, sao mấy bữa nay không đến?
Đáp:
- Nó có việc gì đâu, vì chàng nói lộ hình tích nên nó không dám đến nữa.
Nói rồi, đưa một bài thơ của ả Đào gởi cho chàng ta.
Thơ rằng:
Tinh thần tuyết trắng, vẻ mai hồng,
Nhụy lộ, nhành sương, giáng đượm nồng.
Trách giận chuá xuân riêng để dạ,
Một nhánh tươi tốt một nhành không.
Chàng ta đọc bài thơ ấy, hối hận một hồi lâu, rồi cũng họa lại một bài để
đáp lại.
Thơ rằng:
Tình riêng riêng tưởng khách quần hồng,
Ân hận vì đâu sự lạt nồng.
Nhắn ả Phong-di nhờ hỏi giúp,
Nhánh nào tươi tốt, nhánh nào không?
Ả Đào được thơ ấy, từ đó mới lại qua lại như trước.
Khi đó nhằm vào đêm rằm tháng giêng. Nam-nữ chốn kinh-đô, ngao du
ngoạn cảnh rất đông. Hai ả ấy nói với chàng ta rằng:
- Nhà thiếp gần đây, quân tử chưa từng qua chơi bữa nào, thiếp lấy làm
ân hận (hờn) lắm. Nay nhơn [nhân] gặp thời tiết vui vẻ, xin mời quân tử
qua chơi giây lát.
Chàng ta mừng rỡ, cùng với hai ả đồng đi. Khi đến Tây-viên, qua hai
từng rào, lại đi vòng quanh một bức tường gấm ước chừng vài mươi
trượng, rồi qua ao sen mới đến chỗ vườn huê. Đến đó thì thấy cây cối
sum se [xum xuê] mùi huê [hoa] thơm nức. Nhưng vì bóng đêm lờ lệt
[lợt], không xem rõ cây chi cả. Chỉ thấy mùi thơm bát ngát thoảng bay
vào mũi mà thôi.
Hai ả nói rằng:
- Nhà bọn thiếp hẹp hòi lạnh lẽo lắm, xin trải chiếu ngay giữa vườn này
còn hơn.
Bởi vậy trải chiếu đốt đèn, rồi thì bưng ra một mâm rượu ê hề bánh trái.
Cỗ bàn lịch sự, toàn những của ngon. Kế đó có những mỹ-nhơn [nhân]
tự xưng là Vi-thị, Lý-thị, Mai-thị, Dương-thị, Thạch-gia-nương-tử, Kim-thị-
nhi-lang, cũng lại ăn mừng vui vẻ. Trời gần sáng, rồi mới tan tiệc đâu về
đó. Hai ả kia cũng đưa chàng ta ra khỏi bức tường, khi về đến nhà học,
thì mặt trời đã mọc cao rồi.
Cách vài tháng sau, chàng ta có tin nhà gởi đến, vì cha mẹ sắp lo cưới
vợ cho chàng ta và trách chàng ta lâu nay không về thăm viếng.
Chàng ta có ý hồi hồi, không nỡ dứt tình hai ả.
Hai ả biết làm vậy, bèn nói với chàng ta rằng:
- Bọn thiếp phận liễu bồ, không dám sánh cùng chàng vầy duyên loan
phụng. Nhưng chàng có trở về, nếu còn nhớ đến tình ân ái, khi khác
chàng sẽ lại qua, thì bọn thiếp cũng được phỉ lòng trông đợi. Xin chàng
chớ vui chỗ mới mà quên chỗ cũ, để bọn thiếp thành ra huê [hoa] vô chủ
côi cút xứ này.
Mới bày tiệc tiễn hành, và mỗi người ca một bài tiễn biệt.
Ả Liễu ca trước rằng:
Cỏ cây rậm rịt bên thành
Mấy gian nhà nát trong gành khúc-giang.
Lược ngà hộp phấn điểm trang,
Lầu hồng gác tía mơ màng bâng khuâng.
Xuân xanh đôi tám đương chừng,
Tin ong mối bướm chưa từng giao thông.
Ngày ngày nương đám hạnh hồng,
Ngó chòm niên-thiếu thẹn thùng lòng tơ.
Xảy đâu gặp gã thi thơ,
Sôi kinh nấu sử tài dư học hành.
Đầu tường chợt thấy dạo quanh,
Duyên lành chưa kết nhưng tình đã ưng.
Bóng dương soi đám cỏ rừng,
Tình xuân hớn hở chào mừng gió đông.
Phất phơ trước gió đủ bông,
Mặt trời soi toả trập trùng bóng cây.
Đằm đìa lộ nhỏ hương bay,
Vui vầy đã bõ những ngày thương xoan (xuân)
Sinh ca theo điệu Tiểu-man,
Phấn son nầy cũng một đoàn Tây-thi.
Cuộc vui chưa được năm chầy,
Quan sơn luống những ngẩn ngây mộng hồn.
Tin nhàn chạnh niệm hương thôn,
Vó cu [câu] giục giã rủi dung quê nhà.
Tiễn đưa một chén quan hà,
Phân phôi thiếp luống xót xa vì chàng.
Mưa tuôn giọt lệ mai vàng,
Bến nam cỏ biếc trông càng thảm thương.
Mai vàng, cỏ biếc thảm thương,
Chàng đi thiếp ở đôi đường phân nhau.
Vì chàng ngâm một vài câu,
Rẽ đường luống để tấm sầu cho ai?
Ả Đào cũng ca một bài rằng:
Lá thu đỏ, trời thu xanh biếc,
Tiếng hàn-châm vang vít xa gần.
Nhạn hồng về nẻo nam tân,
Chiều hôm khói tỏa bội phần thê lương.
Chàng chẳng ở, thảm thương lòng thiếp,
Chàng bỏ đây về kết tân-hoan,
Thẹn thùng đóa cúc chồi lan,
Chén quỳnh rót rượu những than thở sầu.
Biệt nhau dễ, gặp nhau chỉn khó,
Ca khúc nầy lụy nhỏ mưa tuôn,
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Tơ khôn buộc ngựa, bờ khôn chắn thuyền.
Chim ríu rít tấm phiền khôn rải,
Cuộc vui nầy biết lại bao giờ?
Người đi kẻ ở vật vờ,
Huê còn cửa động, nước về nhân gian.
Xót thương phận thiếp cô hàn,
Một bài tiễn biệt, đôi hàng lụy rơi.
Hai ả ca xong, chàng ta sụt sùi khóc rồi mới từ biệt. Khi chàng ta về đến
nhà thì đã định kỳ cưới vợ rồi.
Chàng ta nói với cha mẹ rằng:
- Cha mẹ sinh con, mong cho trai có vợ gái có chồng, đó vẫn là trí trình
của cha mẹ mà phước [phúc] khánh trong nhà. Tuy vậy, con còn đang đi
học, chưa được toại chí, thì dầu có vui đường vợ con nhưng sợ trở ngại
công sách đèn, vậy thì xin hãy để hưởn [hoãn] kỳ huê chúc, cho con
được thỏa chí bình sanh [sinh], rồi sẽ lo tính về việc hôn nhơn cũng chưa
muộn.
Cha mẹ chàng thấy con nói vậy nể lòng cũng nghe, bởi thế việc cưới
mới đình năm khác. Chàng ta tuy ở nhà, nhưng bụng vẫn nhớ hai ả kia,
lần lại sang chơi xứ Trường-an. Khi chàng ta đến Tây-viên, thì đã thấy
hai ả kia ra đón và cười mà nói rằng:
- Kỳ cưới của chàng đã gần đến nơi, sẵn có người mới xinh tốt, sao
chàng không hãy ở nhà, vui vầy cầm sắt, mà sao lại đến đây sớm vậy?
Chàng ta thuật lại ý mình, hai ả kia khen rằng:
- Chàng thế, mới là người có tín, thiệt [thật] là không phụ lời ước tầm
xuân.
Mới sắm đồ lễ cho chàng ta đi học. Chàng ta tuy đi học, nhưng bụng thì
ở nơi hai ả ấy, mỗi buổi học thì học sơ qua rồi về. Trải hai năm trời ân
tình rất nên đằm thắm. Một buổi nọ chàng ta lại chơi, thấy hai ả kia sụt
sùi rơi lụy. Chàng ta hỏi duyên cớ làm sao, thì hai ả cầm nước mắt lại nói
rằng:
- Bọn thiếp chẳng may bị bịnh phong sương, chỉn e khi tuyết bịnh người,
mầu hoa để héo, một mảnh hương hồn, chưa biết còn mất thế nào.
Chàng ta thất kinh nói rằng:
- Ta với hai ả tuy không có mai mối nào, nhưng cũng đã hài duyên cá
nước, sao nàng đã vội nói đến sự phân phui, khiến cho ta sợ hãi, ví như
kinh cung chi điểu vậy?
Ả Liễu nói:
- Ai chẳng tham sự hoan ái, nhưng số trời đã định, sẽ có khi nhàng thoa
té đất, phẩn đỏ lầy bùn, thì chưa biết rằng từ nay sắp về sau cuộc vui
bay vào chốn nào đó.
Chàng ta thấy nói vậy, ngậm ngùi vì không nỡ dứt tình hai ả.
Ả Đào nói:
- Người ở đời như một cái bông trên nhành, có khi tươi khi héo, làm sao
ngăn giữ được. Vậy xin chàng cứ ráng sức học hành, cho đặng lập công
danh, thì dầu bọn thiếp vùi nơi nương rãnh, cũng không quản gì.
Chàng ta hỏi:
- Mình nói sự ly biệt, nhưng còn được bao lâu?
Đáp:
- Chỉ độ đến chiều hôm nay mà thôi, nếu khi nào có một trận gió to nổi
lên, đó là lúc bọn thiếp từ thế. Chàng bằng có lòng ân ái, xin đến viếng
qua xứ Tây-viên, bọn thiếp sẽ ngậm cười mà về chín suối.
Chàng kia khóc nói rằng:
- Sự đã đến thế dầu có tình cũng không sao được. Nhưng ta là khách
tha phương tiền của không sẵn, biết lấy gì mà báo được.
Hai ả nói:
- Bọn thiếp bạc mạng tợ tơ bay, thân khinh như lá rụng. Sau khi thác rồi,
đã có mây đưa gió tiễn, chim khóc bướm thương, có rêu xanh đắp mồ,
có nước kinh đưa đón, gió tan khói tắt, không cần phải táng làm chi.
Nói rồi, mỗi người cởi đôi hài kết hột châu tặng chàng ta và nói rằng:
- Người mất của còn, xin tặng chàng một chút vật nầy, khi chàng xem
đến thì bọn thiếp cũng như ở bên gần chàng vậy.
Chiều hôm ấy, hai ả quả nhiên không đến. Gần nửa đêm nổi cơn mưa
gió tưng bừng. Chàng ta buồn rầu ủ dột, qua hỏi thăm một ông già ở bên
láng diềng, và thuật lại các sự tình khi trước.
Ông già kia nói rằng:
- Ủa! Chàng lầm rồi! Ở đây từ khi quan Thái-sư mất đi, hơn 20 năm nay,
có ai ở nhà ấy nữa đâu, chỉ có nửa gian miễu thờ mà thôi. Không có ai
coi sóc, có đâu mà nhiều người ở như chàng nói vậy?
Đó chắc là con gái ngoại tình, mà không thế thì chắc là u-hồn âm tinh
(ma quỉ) hiện hình tác quái chớ chẳng không!
Kế đó trời sáng, ông già ấy cùng chàng ta qua sang Tây-viên, thì chỉ thấy
cửa nhà vắng quạnh, có vài cây đào cây liễu tả tơi lá rụng đầy đất mà
thôi.
Ông già chỉ cây ấy nói rằng:
- Đó có phải là người dỡn cợt với chàng đấy chăng? Tên nó xưng là
Kim-thị, hẳn là cây huê kim-tiền kia. Thạch-thị hẳn là cây thạch-lựu nầy,
còn như Lý-thị, Vi-thị, Dương-thị, Mai-thị cũng là những tên huê [hoa] mà
mạo họ cả, không ngờ cây cối mà cũng biết biến hiện ra được vậy!
Chàng ta bấy giờ tỉnh ra, mới biết rằng mình xưa nay chơi bời, ăn nằm
với các cây huê [hoa] ấy mà thôi. Chàng ta về nhà xem cái hài (đôi giày)
của hai ả tặng trước ra coi, thì té ra là 2 con bướm non, khi nó ra khỏi tay
liền bay đi mất.
Hôm sau, chàng ta đi cầm một cái áo, sắm sanh lễ vật đem đến tế hai ả
ấy.
Bài văn tế như vầy:
Hỡi hỡi hai nàng!
Hỡi hỡi hai nàng!
Băng ngừng chất lạ (trắng lắm)
Lộ đượm màu trang,
Chất sẵn thiên-nhiên xinh tốt,
Hổ đem thói tục phô phang.
Danh giá chỉ một em một chị,
Nhan sắc nào ai sánh ai ngang.
Cảnh tiên nương được chốn anh huê [hoa], trải mùi phú quí,
Phòng tĩnh bạn cùng chàng đèn sách, yêu vẻ thanh quang.
Gió động hương bay, huê [hoa] mạt-lị (bông lài) nở đều đôi chậu,
Trăng soi bóng lộn, chim uyên-ương đậu sắp một hàng.
Những mang bể ái vui tình, cùng nhau kết lứa,
Nào tưởng làng tiên trở gót, phút bỗng chia đàng.
Sắc nọ hốt nhiên rầu rĩ,
Lòng nầy luống những thảm thương.
Chẳng biết mình là gió hay gió là mình, chạnh nghĩ ngổn ngang tấc dạ,
Mới hay sắc cũng không mà không cũng sắc, suy ra tấm tức sầu tràng.
Nơi viên-lạc mầu hồng phai lợt,
Chốn trì-đường vẻ lục bẽ bàng.
Mưa vùi gió giập,
Ngọc nát hương lang [lan?],
Nói đến thêm thương, cuộc thân-thế theo cơn gió giật:
Nghĩ ra lại sợ, cảnh phiền-hoa một giấc mơ màng.
Hỡi ôi!
Một mai phân rẽ,
Muôn thuở thê lương.
Muốn chiêu hồn mà hồn chẳng lại,
Dầu tìm vết mà vết khôn lường.
Nếu có biết mà về chốn cũ,
Xin chứng cho một chút lễ thường.
Ô hô thượng hưởng!
Đêm hôm ấy, chàng ta nằm mơ màng thấy hai ả kia về tạ tình. Chàng ta
muốn lưu lại thì hai ả bay lên trời mà biến mất.
6. Truyện Long-đình đối tụng
Con sông thuộc về địa-hạt huyện Vĩnh-lai phủ Hồng-châu, xưa nay vốn
nhiều giống thủy tộc ở. Quanh một dọc bờ sông ấy, có hơn mười khu
đền miễu, thờ thủy thần. Lâu năm thành yêu, mà cũng có chỗ linh thiêng,
phàm ai cầu đảo sự mưa nắng, có ứng nghiệm liền. Cho nên hương khói
phụng thờ luôn luôn.
Đời vua Minh-tôn [tông] nhà Trần, có quan Thái thú họ Trịnh làm quan ở
phủ Hồng-châu. Phu-nhơn [nhân] là Dương-thị, trong lúc về nhà thăm
cha mẹ đậu thuyền ở cạnh cửa miễu, xảy đâu có hai đứa con gái còn
nhỏ bưng một cái hộp nhỏ bằng vàng, đưa vào trước mặt phu-nhơn mà
nói rằng:
- Chủ-nhơn [nhân] tôi dâng chút vật nầy cho phu-nhơn [nhân], đặng tỏ
tình riêng một ít. Nay mai cô sẽ được thỏa lòng sánh phụng ở làng Thủy-
hương.[16]
Nói đoạn từ đi. Phu-nhơn mở hộp vàng ra coi, thì thấy có một mảnh giải
đồng tâm[17] đỏ. Trong giải ấy có đề một bài thơ như vầy:
Mặt hoa phớn phở, đóa trâm hồng,
Nhọc nhã lòng nầy luống nhớ mong.
Huê-chúc đợi khi nên bạn lứa,
Chữ đồng vui vẻ chốn Tuynh [tinh]-cung.[18]
Dương-thị thấy vậy sợ hãi lắm, bỏ thuyền lên bộ, trở về thuật chuyện với
chồng.
Trịnh Thái-thú thất kinh nói rằng:
- Đó là giống thủy-quái ở miễu dâm-từ, hầu có ý hại phu-nhơn [nhân]
đấy, phu nhơn [nhân] phải lánh đi, những nơi bờ sông bến nước, thì chớ
nên bước chân đến nữa.
Từ đó, mỗi khi mưa gió tối tăm, thì Thái-thú có ý giữ gìn cẩn thận. Được
nửa năm không thấy chuyện chi lạ. Đến bữa đêm trung-thu, khi đó mây
trong trời tạnh, trăng sao rạng tỏ tựa ban ngày.
Trịnh-quân mừng rỡ nói rằng:
- Đêm nay sáng trăng dường nầy, đỡ cho ta khỏi lo một chút.
Bởi vậy sai trẻ bày tiệc, hai vợ chồng ngồi đối nhau uống rượu. Rượu
say rồi ngủ, không dè khi ngủ mê quá thì có cơn mưa gió sấm chớp ầm
ầm kéo đến. Đến lúc tỉnh dậy thì đã không thấy Dương-thị, đà biến đâu
mất rồi.
Trịnh-quân vội vã ra coi nơi miễu, thì chỉ thấy một bộ quần áo của
Dương-thị để lại, chỉ còn có vẻ trăng lợt với khúc sông lạnh đó mà thôi.
Trịnh-quân thương hương tiếc ngọc, tình sầu thảm biết là ngần nào.
Nhưng cũng chỉ đứng hóng gió mà thở dài, chớ không phương thế nào
mà tìm kiếm cho đặng.
Trịnh-quân từ đó buồn rầu lắm, từ chức về nhà, rồi ngày ngày ở trên một
cái lầu nhỏ, ngó coi xuống bến sông. Đầu bến có một chỗ vực sâu, mỗi
khi Trịnh-quân lên lầu ngó coi, thì hằng thấy một lão già, xách một cái túi
đỏ, cứ mỗi buổi sớm đi thì buổi chiều lại về đó.
Trịnh-quân nghĩ thầm rằng: “Chỗ đó là nơi vực sâu, làm chi có làng xã ở,
sao mà có người qua lại thế nầy? Nghĩ như thế, Trịnh mới đến tận bãi
sông đó coi, thì chỉ thấy minh [mênh] mông một bãi cát to, quạnh quẽ
không nhà không cửa. Duy thấy trong đám lau sậy, có dợn sóng lay
động mà thôi. Trịnh-quân lấy làm lạ, cố ý chờ coi làm sao, thì thấy lão già
ấy đã ở trong bãi lau sậy đi ra, rồi đi thẳng đến chợ phía nam vào cái lều
nhỏ làm nghề bói toán kiếm ăn.
Trịnh-quân coi người ấy mặt mũi tuy gầy gùa mà sáng sủa tươi tốt, ngờ
cho là người ẩn-sĩ lánh đời, hoặc là người chơn-nhơn [chân-nhân] đắc
đạo, vì vậy, Trịnh-quân bèn lân la chơi bời với ông già ấy, vui vẻ rồi mới
từ nhau.
Ông già ấy có bụng cám ơn, nhưng hỏi đến tên họ, thì chỉ cười hoài mà
không nói. Trịnh-quân lấy làm nghi lắm. Một bữa kia thức dậy sớm, núp
mình trong đám cỏ lau rình xem ra thế nào. Khi ấy sương lộ chưa tan,
trời còn mờ tối, đã thấy ông già ấy ở dưới nước đi lên. Trịnh-quân bước
sấn đến trước mặt bái một bái.
Ông già kia cười xòa lên mà nói rằng:
- Ông có coi hình hài mà ngờ là tôi chăng? Nhưng ông đã biết tôi, thì tôi
cũng lấy tình thiệt mà nói cho ông hay: Tôi là Bạch-long-hầu (rồng trắng)
đây, may mà lóng nầy còn nắng, nên tôi được đi chơi thong dong, nếu
khi nào Thượng-đế sai đi làm mưa, thì không rồi rảnh mà chơi được, còn
thì giờ nào mà đi bói trên nhơn gian được nữa.
Trịnh-quân nói:
- Ngày xưa Liễu-Nghị có chuyện xuống chơi nơi Động-đình hồ, Thiện-
văn có sự ăn yến cung Long-vương.[19] Nay tôi là người phàm có đặng
theo gót người xưa chăng?
Long-hầu nói:
- Việc ấy có khó chi!
Nói đoạn cầm cây trượng rạch xuống mặt nước, liền có một đàng nước
mở ra. Long-hầu đưa Trịnh-quân xuống đó, đi nửa dặm thì thấy trời đất
sáng loà, lầu đài một dãy cao ngất. Khi vào chỗ Long-hầu ở thì những
cửa nhà đồ đạc, cùng là đồ ăn uống, toàn là của quí, trên nhơn gian ít
có. Mà Long-hầu tiếp đãi lại rất tử tế châu [chu] toàn.
Trịnh-quân nói rằng:
- Không ngờ tôi là kẻ hèn thấp, được ngồi hầu ông. Khi trước tôi gặp
phải sự biến lạ lùng, nay tôi lại được gặp ông, cũng là sự lạ lùng lắm,
chắc là tôi có dịp báo thù được chớ chẳng không.
Long-hầu hỏi cớ làm sao, thì Trịnh-quân thuật hết chuyện vợ mình là
Dương-thị cho Long-hầu nghe, và nói rằng:
- Nay tôi mong nhờ oai linh ông để trừ giống hung ác ấy thì chẳng khác
nào cánh buồm nhờ gió, loài chồn nhờ cọp mà có oai, thiệt là may cho
tôi lắm chớ!
Long-hầu nói:
- Kẻ kia tuy gian giảo nhưng đã có phép luật của Vương-đình trừng trị,
tôi ở riêng một hạt khác, có lẽ nào dám vượt qua biển, mà khởi việc giáp
binh hay sao?
Trịnh-quân hỏi:
- Thế thì đến kiện tại Vương-đình được chăng?
Long-hầu đáp:
- Không xong, dương gian, thủy phủ cách biệt nhau, mà sự tích thì chưa
rõ. Nay ông muốn dùng mấy lời vô cớ, mà chống cự với tay hung bạo, tôi
e nó vị tất chịu thua. Chi bằng trước hết hãy cho người dọ coi tình ý,
kiếm một mối chi làm bằng chứng, rồi sẽ mới trị được loài gian kia. Song
chỉ vì đầy tớ tôi chưa có ai mưu tính được việc ấy mà sai khiến tới thôi.
Xảy có một người con gái bận áo xanh bước ra thưa rằng:
- Tôi xin giúp đỡ việc ấy.
Trịnh-quân liền nhờ ả ấy đi dùm cho mình, và đưa một chiếc hoa tai ngọc
màu biếc để làm của tin. Ả ấy đến thẳng con sông ở phủ Hồng-châu vào
miễu Thần-giao (rắn to thành thần) dọ xem tình ý, thì quả nhiên có một
người đàn bà họ Dương, hiện được phong làm Xương-ấp phu-nhơn
[nhân]. Nàng ấy ở riêng một điện lưu-ly, có ao sen vòng quanh mé ngoài,
được Giao-vương yêu thương hơn cả bọn cung-nữ, năm trước đã sinh
được một con trai. Ả áo xanh biết được tình ý như vậy, mừng lắm,
nhưng ngặt vì lầu đài trùng trùng điệp điệp, không có đường nào lọt đến
nơi, ả ấy chỉ thẩn thơ đứng ngoài cửa ngó vào mà thôi.
Khi đó trời đang mùa xuân hoa tường-vi nở ra đỏ ối đầy vườn. Nhành
bông trổ ra ngoài tường, ả ấy giả làm không biết vườn hoa nào, mới vịn
nhánh bẻ bông chơi. Kẻ canh cửa thấy người bẻ bông nổi giận bắt lại. Ả
ấy bèn đưa cho nó chiếc hoa tai ngọc nói rằng:
- Tôi tưởng là hoa cỏ tầm thường chẳng quí chi cho lắm, nên tôi bẻ chơi,
đó thiệt là tôi có lỗi. Vậy xin nộp chút vật nầy, nhờ người làm ơn nói dùm
với công chúa thứ lỗi cho tôi, kẻo tôi phải đòn tội nghiệp.
Người canh cửa bèn đem chiếc hoa tai ấy dâng vào Dương-thị. Dương-
thị nhìn coi một hồi biết là vật của chồng mình, mới giả làm dáng giận dữ
mà nói rằng:
- Con cái nhà ai, dám xông lộn vào vườn ta mà làm tan nát cây hoa
hồng-cẩm của ta như vậy?
Liền sai giam ả ấy vào trong vườn hồng-hạnh, rồi thừa lúc vắng người,
cầm chiếc hoa tai ra vườn, khóc mà hỏi ả kia rằng:
- Vật này là của chồng cũ tao họ Trịnh khi xưa, mầy do tự đâu mà có của
nầy, phải nói thiệt cho tao hay.
Ả kia nói:
- Của ấy thiệt là Trịnh-quân giao cho tôi, đem đến làm tin cho phu-nhơn
biết. Nay Trịnh-quân ở nhà Bạch-long-Hầu vì cớ phu-nhơn mà phiền não
không ăn ngủ chi đặng. Có nhờ tôi tỏ tình với phu-nhơn [nhân] đặng khỏi
nhớ thương nhau mãi.
Nói chưa dứt thì đã liếc thấy con a-hườn [hoàn] vục lật đật trở về, sáng
mai lại ra, ân cần hỏi han rồi đưa cho ả áo xanh một bức thơ và dặn
rằng:
- My nói dùm với Trịnh-quân cho ta, xin Trịnh-quân cố sức tìm phương
kế mà cứu cho ta về, chớ để ta già đời ở chốn thủy-vân nầy.
Bức thơ nói như vầy:
Lời san hải nguyền xưa đã lỡ,
Xin tỏ bày tâm sự cùng chàng.
Ước đồng huyệt đá vàng một dạ,
Ngờ đâu xảy sinh cơn biến họa,
Khiến thân nầy đày đọa chốn vực sâu.
Thương cho mình đắm ngọc chìm châu,
Ngán lắm nỗi oanh sầu yến tủi.
Loài tôm cá trước sau gần gũi,
Gởi tấm thân vào tụi tanh hôi.
Nghĩ nguồn cơn luống những ngậm ngùi,
May đâu gặp được lời thơ cá,
Nhìn hoa ngọc, châu rơi lả chả,
Nguyện trời xanh tỏ chút dạ tôi nầy.
Xin lang-quân tìm kẻ ra tay,
Thiếp mong đợi ơn đây không xiết.
Ả áo xanh cầm thơ ấy về. Long-hầu bảo với Trịnh-quân rằng: “Việc chắc
xong![”] Bèn cùng nhau đến biển Nam-hải, vào một nơi thành phủ to.
Long Hầu vào trước, để Trịnh-quân đứng ngoài cửa thành đợi chiếu-chỉ.
Một lát, có người ra dẫn vào trước cửa điện, thì thấy có một vị Vương-
giả (Quảng-lợi-vương) áo hồng, đai ngọc, nghi vệ đàng hoàng, quần
thần sắp hàng đứng chắp tay nhiều lắm.
Trịnh-quân ngồi quì mé trước, kêu tỏ tình tự của mình, rất là đau đớn.
Quảng-lợi-vương ngảnh sang qua phòng tả-mặc khiến viết một tờ trát,
rồi có hai tên lính bay vụt lên không-trung mà đi.
Được nửa ngày, hai tên lính ấy áp điệu một người to lớn lực lưỡng đem
về. Người ấy đội mũ đỏ, mặt sắt đen sì, râu ria lởm chởm, vào quì tại
trước sân.
Quảng-lợi-vương quở rằng:
- Tước lộc là để thưởng người có công, hình phạt là để trừng kẻ gian ác.
Nay vì ngươi có chút công, cho coi quản một phương, để giữ gìn cho
dân thứ. Vậy ngươi sao dám túng tình dâm ngược, mà làm hại người ta?
Người ấy kêu rằng:
- Muôn tâu Đại-vương xét lại: người cáo tôi đây nó ở trên dương-gian,
mà tôi thì ở dưới thủy-phủ, mỗi người một nơi, có can hệ với nhau làm
sao đặng. Thế mà nó dám nói càn, vu oan giá họa cho tôi. Nếu Đại-
vương không trị tội nó đi, khiến cho kẻ gian tà đắc chí, thì trào-đình bị nó
lường gạt, tôi không hề an.
Người ấy cãi chối hai ba lần. Quảng-lợi-vương hồ nghi chưa quyết làm
sao. Bạch-long-hầu đứng cạnh kề tai nói nhỏ với Trịnh-quân rằng:
- Ông nên khai rõ cả họ tên Dương-thị, xin Đại-vương sẽ đòi đến mà hỏi,
mới đủ cớ làm bằng.
Trịnh-quân nghe lời tâu với Quảng-lợi-vương. Vương lập tức sai đòi
Dương-thị. Chiều hôm ấy, hai tên lính dẫn một mỹ-nhơn [nhân] yểu điệu
đi vào.
Vương hỏi:
- Chồng my đâu?
Dương-thị tâu:
- Người bận áo xanh kia là chồng tôi, còn người đội mũ đỏ nầy là oan-gia
đó. Khi trước tôi bất hạnh bị nó bắt về, đã được 3 năm nay, nếu Đại-
vương không xét cho công, thì bao giờ tôi lại được trở về với chồng tôi
nữa.
Quảng-lợi-vương nghe xong, nổi giận mắng rằng:
- Không ngờ thằng hoạt tặc kia, dám gian dối làm vậy? Nó đã gian dâm
thì chớ, ở trước mặt ta nó lại còn khi mạn, tội đó đáng chết, còn oan làm
sao nữa!
Khi đó có một viên mặc áo lục-bào kêu là chánh [chính]-hình-lục-sự, tâu
rằng:
- Tâu Đại-vương, người nầy tuy tội đáng giết, nhưng xin Đại-vương xét
lại cái công ngày trước của va, sẽ đày va đi xứ khác là đủ.
Quảng-lợi-vương khen phải, mới kết án như vầy:
“Người như khách bộ, kẻ vãng người lai; Họa phước không sai, sợi tơ sợi
tóc. Nghĩ người khó nhọc, cho trấn một phang [phương], nên phải giữ
giàng, chớ sao dong [dung] túng? Tội tình rất trọng, pháp luật khôn dong
[dung], đày khỏi biển đông, gọi là trừng trị. Còn như Dương-thị, tình cũng
khá thương, cho về trên dương, trả con chồng mới. Án văn hết lời, lập
tức thi hành.”
Giao-thần nghe truyền án xong, cúi đầu đi mất. Trịnh-quân cũng lạy từ đi
ra. Long-hầu mời hai vợ chồng Trịnh-quân qua chơi nhà mình, mở tiệc
khoản đãi, lại tặng thêm của quí là tê-giác và đồi-mồi. Hai vợ chồng lạy
tạ ơn Long-hầu, rồi dắt nhau về nhà, nói hết chuyện đầu đuôi cho người
nhà hay, ai ai cũng lấy làm lạ.
Về sau Trịnh, nhân có việc qua Hồng-châu, lại đến thăm miễu Thần-giao
cũ, thì thấy tường đổ vách xiêu, cỏ mọc hoang vu, chỉ còn mấy cây cổ
thụ đó thôi. Hỏi chuyện các người ở đấy thì họ nói rằng: “Trước một năm
nay, đang ban ngày thình lình trời đổ mưa to, nước sông tràn ngập. Rồi
có một con rắn to dài chừng 10 trượng vảy biếc mào đỏ, bò nổi lên đi về
hướng bắc. Có hơn 100 rắn nhỏ theo sau. Từ đó miễu nầy mất linh. Tính
ra thì chính nhằm ngày kiện nhau ở dưới thủy phủ.
7. Chuyện Đào-thị
Con hát họ Đào, tên là Hàn-nan [Than], quê ở phủ Từ-sơn tỉnh Bắc-ninh.
Chị va thông hiểu thơ từ đờn [đàn] địch, nổi danh tài sắc một thì. Đời vua
Dụ-tôn [tông] nhà Trần, chị va được tuyển vào cung, ngày ngày hầu vua
đánh cờ, uống rượu. Một bữa kia, vua ngự thuyền chơi sông Nhị-hà, có
chị va đi theo hầu. Khi thuyền đến bến Đông-bộ-đầu, vua ngâm chơi một
câu rằng:
Hơi khói mịt mù tiếng chuông nhỏ,
Bãi sa phẳng rộng bóng cây trùng.
Các quan hầu gần vua chưa ai họa theo được, Đào-thị ứng thanh họa
ngay rằng:
Cá chơi dưới nguyệt theo dòng lạnh,
Nhạn hú trong sương vượt lũy ngang.
Vua thấy nàng ấy ứng đối mau làm vậy, người rất khen ngợi, bởi đó kêu
chị va là Hàn-nan-kị [Hàn-than-kỹ].
Về sau vua Dụ-tôn [tông] mất, chị va lánh ra ở ngoài đô thành, thường
thường qua lại nhà quan Hành-khiển Ngụy-nhược-Chân. Phu-nhơn
[nhân] của Ngụy-nhược-Chân không có con mà tánh [tính] hay ghen lắm,
ngờ cho Đào-thị có tư tình với chồng, bèn đập đánh chị va hết sức. Chị
va hờn giận không biết là ngần nào, bèn bán hết đồ nữ-trang kiềng nhẫn,
để mướn người thích-khách vào nhà Nhược-Chân mà báo thù. Không
dè kẻ thích-khách vào tới đó thì bị người nhà Nhược-Chân bắt được.
Đào-thị sợ họa lây đến mình, vậy phải trốn đi nơi khác, gióc tóc ở chùa
Phật-tích. Chị va ở chùa được vài tháng, kinh kệ tinh thông, thường ở
riêng một phòng thanh vắng. Xảy khi khách đến chơi chùa đông, chị va
muốn xin các khách để giùm một bài văn trong phòng ấy. Khi đó có một
thằng nhỏ chừng 14, 15 tuổi, chị va khi nó ít tuổi, nói đùa mắng rằng:
“Thằng nhỏ kia, mầy biết làm thi không? Thử đề giúp cho tao một bài.”
Thằng nhỏ ấy thấy chị va có ý khi bạc mình, mới trở về nhà, hỏi dọ biết
được sự tích chị va, bèn làm một bài dán ra cửa chùa.
Bài văn dịch sơ ra như vầy:
Đạo Phật từ bi kêu là giác,
Lòng người thanh tĩnh mới là chân.
Kính nghĩ:
Sư chùa Phật tích là Đào-thị,
Trốn tiếng trong lũ ca nhi,
Vui lòng mến theo Phật-giáo.
Miệng đào lưng liễu,
Uốn lưỡi vừa ca khúc Lương-châu;
Đuốc tuệ mây từ,
Quày đầu đã về nơi Đâu-suất.
Lấp loáng bộ quần như mỡ,
Luột là mái tóc đường mây,
Nửa gối tiên trong giấc mơ màng,
Tình dường yên chí!
Vài tiếng địch trước sân gió thoảng,
Cảnh cũng triêu [trêu] ngươi!
Phòng tĩnh mịch vui quá phòng ca,
Áo ca [cà]-sa mát hơn áo múa.
Tay múc nước soi gương trang điểm,
Miệng tụng kinh lên giọng cao trầm,
Cảnh thuyền [thiền] tuy đã nhiệm mầu,
Lòng tục vẫn còn vướng vít.
Chán chẳng tới Tầm-dương đưa khách,
Mình lại về Hàng quận tu hành.
Trẻ Ngũ-lăng say đắm vì tình, hãy còn đua đả,
Khách tam-sanh [sinh] vui vầy kết bạn, hằng thỏa chơi bời.
Hỡi ôi!
Chuông xong trà cạn không chi hết,
Kiếm chốn phòng thanh ngủ giấc ngon.
Bài đó dán ngoài cửa chùa, ai ai coi thấy cũng đồn rực thấu các nơi.
Đào-thị mắc cỡ phải trốn đi mất. Chị va đến chùa Lệ-kỳ ở xứ Hải-dương,
thấy chỗ đó nước biếc non xanh, phong cảnh vui thú, bèn xin vào ở tu
hành. Sư già chùa ấy tên là Pháp-Vân không cho vào và bảo với một tiểu
tăng tên là Vô-Kỷ rằng:
- Ta coi đứa con gái nầy, tính nết không được thuần thục, vả lại gái tơ
nhan sắc, dễ xiêu lòng người, vậy ngươi phải đuổi nó đi, kẻo mà hậu hối.
Tiểu-tăng không nghe lời Pháp-Vân, cứ việc cho chị va ở đó. Pháp-Vân
thấy vậy, liền dời lên ở trên đỉnh núi Phụng-hoàng.
Đào-thị ở đó được ít lâu, lại quen thói cũ: mỗi khi lên chùa, áo xuyến,
quần là, trang điểm mặt hoa mày liễu. Tiểu tăng nhìn lâu khoái mắt, lần
lần tư thông với nhau. Từ đó hai người ân ái gió trăng không tưởng gì
đến sự tu hành. Ngày ngày thơ từ xướng họa cùng nhau, phàm có
phong cảnh chi trên núi, cũng ngâm chơi một bài như sau, nay dịch một
vài bài như sau nầy (cho chư khán quan xem chơi).
Vịnh mây núi
Xa coi nồng lại lợt,
Bên trời dủ [rũ] bóng đen.
Sớm trục cơn mưa ruổi,
Chiều đem vẻ ráng chen.
Gió bay nguôi ngút tỏa,
Khói bốc phất phơ lên.
Tăng nhác, tiểu đồng biếng,
Cửa hang ai gài then?
Vịnh mưa núi
Mưa xuống nghìn non tối,
Ào ào tiếng réo xa.
Đất dầy châu ngọc giải [rải],
Trời bổng đẩu tinh sa.
Nước chảy giòng tuôn mạnh,
Đêm thanh khách ngủ già.
Sơn phòng nhàn rảnh việc,
Ngày hết lại đêm qua.
Vịnh gió núi
Gió thổi âm hang động,
Ào ào tiếng suốt đêm.
Huê [hoa] lay rơi nhụy thắm,
Cỗi động lả nhành mềm.
Áo nạp[20] xông hơi lạnh,
Lầu chuông vẳng tiếng êm.
Mênh mông trời đất rộng,
Gào rống chi sự phiền?
Vịnh trăng núi
Thấp thoáng chòm cây cối,
Liền trời vẻ sáng đầy.
Vành gương treo đỉnh núi,
Mâm ngọc gác từng mây.
Bóng tỏa rừng thông quạnh,
Hơi lồng bóng trúc lay.
Thanh quang đâu cũng khắp,
Thú vị cảnh trăng nầy.
Từ đó đôi tình khăng khít, xướng họa thơ từ vui vầy cầm sắt. Nhưng
chẳng được bao lâu, qua năm kỷ-sửu thì Đào-thị phải bịnh sản, lần lần
ốm o gầy mòn; mà thầy chùa kia thì lại không biết thuốc men, vụng bề
chạy chữa, vậy nên nàng nọ chẳng bao lâu rồi thì bịnh nặng mà thác.
Tiểu-tăng thương xót vô cùng, quàn ma nàng ấy tại cuối phía tây góc
chùa, sớm tối thường vỗ vào hòm săng mà khóc rằng: “Nàng ơi! Nàng vì
ta mà nên cơ hội nầy, nếu nàng cho ta đi theo thì ta cũng cam lòng nhắm
mắt, chớ không để nàng thiệt một mình đâu! Vả nàng thông minh khác
phàm, nếu nàng có khôn thiêng thì xin đợi ta ở dưói chín suối, chơ ta
không muốn trông thấy thầy Pháp-Vân kia nữa.” Được vài tháng Tiểu-
tăng vì nhớ nên bịnh, ốm nửa năm trời, cơm cháo không ăn chi đặng.
Một bữa, nằm mơ thấy Đào-thị về nói rằng: “Thiếp khi trước đem thân
đào liễu, mến cảnh chùa chiền, giận mình còn vướng lòng trần đến đỗi
gây nên nghiệt-chướng. Hồn về chín suối, tình rẽ đôi đàng, lúc sống
chưa thỏa cuộc vui vầy, thác rồi nên lại cầu sum hiệp. Xin chàng tạm bỏ
nơi chùa cổ, xuống chốn suối vàng, để thiếp được nhờ sức Phật đầu thai
lên trần, đặng cho báo chút thú riêng của thiếp thì may lắm.”
Tiểu-tăng từ đó mỗi ngày bịnh lại nặng thêm. Pháp-Vân nghe tin học
trò bị bịnh, xuống núi hỏi thăm, đến nơi thì Tiểu-tăng đã nguy cơ rồi, chỉ
nhìn nhau ứa nước mắt rồi thác.
Đêm hôm ấy, mưa gió ầm ầm, trời đất u ám. Phu nhân quan Hành-
khiển Ngụy-nhược-Chân nằm mơ thấy hai con rắn cắn nách chui vào
bụng, từ đó có mang, đến kỳ sanh [sinh]-sản, sanh [sinh] ra hai con trai,
nhân có mộng rắn mới đặt tên thằng trước kêu là Long-thúc, thằng sau
kêu là Long-quí. Đầy năm biết nói, tám tuổi biết làm văn, cha mẹ yêu
mến vô cùng.
Khi đó đang mùa hè nóng lắm. Một hôm Nhược-Chân chơi mát ở
trên lầu ngó ra ngoài đàng, thấy có một thầy tăng đi qua đó, có ý dụ dự
nhìn ngắm, rồi thầy tăng kia than rằng, “Lạ thay! Tòa lầu đài đẹp đẽ thế
nầy mà chẳng mấy bữa nữa thành ra một chỗ vực sâu, tiếc thay! Khá
tiếc thay!”
Nhược-Chân nghe vậy, kinh hãi thất sắc, vội vã sai người nhà mời
thầy tăng ấy vào chơi, hỏi cớ làm sao mà nói vậy. Thầy tăng không chịu
bảo thiệt, chỉ nói rằng:
- Trong khi hoảng hốt, tôi nói bậy bạ đó thôi, chớ không có chuyện chi lạ.
Nhược-Chân cố nài hỏi hai ba lần nữa, mới nói rằng:
- Tôi xem nhà ông có yêu khí tích lại nhiều lắm. Phi là nghiệp báo kiếp
trước thì chắc là oan gia đời nay. Người oan báo đó đã ở trong nhà ông
rồi, chỉ trong 5 tháng nữa, thì nhà này bị họa không còn sót một người
nào.
Nhược-Chân thấy nói vậy, xin thầy tăng kia cứu giúp cho mình.
Thầy tăng nói:
- Tôi có phép xem tướng, xin cho tôi coi tướng qua cả nhà, hễ người nào
là yêu, thì tôi gõ cái chậu này làm hiệu, đặng cho ông biết mà gìn giữ về
sau. Nhưng chớ có nói lộ cho ai hay, nếu lộ chuyện thì họa sanh [sinh]
ngay tức thì đó.
Nhược-Chân kêu hết người nhà sai vào chào thầy tăng. Thầy tăng coi
qua một lượt, rồi lắc đầu mà nói rằng, “Nếu không phải yêu thì chưa ai
có hình dạng chi lạ.” Nhược-Chân mới cho kêu hai con ở trong nhà
trường về. Về tới nhà, thầy tăng xem thấy, liền vỗ tay vào chậu mà nói
rằng: “Hai em nhỏ giỏi giang lắm! Ngày sau chắc làm nên công nghiệp
to, tỏ rạng cửa nhà, khiến cho trong đời phải kinh hãi, chắc là người
nầy!”
Hai đứa con trai ấy nổi giận nói rằng:
- Thầy tăng nầy ở đâu tới đây khéo nói lôi thôi lắm!
Nói đoạn cùng làm bộ giận giũi [dỗi] mà đi ra. Nhược-Chân thấy vậy
không vui lòng, thầy tăng kia cũng từ đi.
Chiều tối hôm ấy, Long-quí khóc mà bảo với Long-thúc rằng:
- Anh yêu tăng nói khi vừa rồi, có ý dòm nom chúng ta. Nếu nó biết ra thì
chúng ta không trốn được vào đâu cho thoát.
Long-thúc cười mà nói rằng:
- Đời nầy chỉ có sư già tên là Pháp-Vân mới có thể trừ nổi chúng ta; còn
các thầy khác, ta coi cướp bùa dễ như bỡn vậy. Vả chủ nhà nầy tưởng
chúng ta có tình thân cốt nhục, chắc là không ngờ vực gì, vậy thì ta
không phải lo chi cho lắm!
Khi đó Nhược-Chân ngủ khôn yên giấc, một mình đi thơ thẩn ngoài sân,
xảy nghe chuyện hai đứa con nói vậy, lấy làm sợ sệt quá chừng. Hôm
sau, giả bộ có việc đi chơi xa, mới đi dạo chơi các chùa chiền, tìm kiếm
thầy Pháp-Vân. Hơn một tháng đến chùa Lệ-kỳ, hỏi thăm trẻ nhỏ thì nó
nói rằng:
- Thầy ấy trước có ở chùa nầy nhưng nay đã dời vào núi sâu rồi.
Nói rồi nó chỉ lên trên đỉnh núi Phụng-hoàng-sơn và bảo ông ấy lên đó
mà kiếm. Nhược-Chân nghe lời đi 4, 5 dặm mới đến chỗ đỉnh núi. Đến
đó thấy thầy Pháp-Vân đang nằm ngủ trên kỷ, tiếng ngáy như sấm, có
hai tiểu-đồng đứng hầu hai bên. Nhược-Chân lom khom đi vào, hai tiểu
đồng quát ngừng lại. Pháp-Vân sực tỉnh dậy. Nhược-Chân bái một bái,
rồi kể hết tình thiệt [thật] của mình.
Thầy Pháp-Vân cười và nói rằng:
- Tiên-sanh [sinh] lầm rồi, lão-phu nương thân cửa Phật, lâu nay không
ra đến thành-thị, chỉ ở một nơi am cỏ nầy, quét đất đốt nhang, mỗi ngày
tụng kinh Lăng-nghiêm mấy đạo mà thôi. Còn như việc phi phù bắt quỉ,
thì có phải phận sự của tôi đâu?
Nhược-Chân thấy nói có ý từ chối, cố nài xin cứu giúp cho mình. Hai
tiểu-đồng cũng khuyên thầy rằng:
- Đạo Phật ta lấy sự từ bi tế độ làm việc mình, nên phải thương người
trầm luân nơi khổ-hải, cứu kẻ đắm đuối chốn mê-xuyên, để cho kẻ kia
đặng lên ngàn giác, cùng thỏa duyên lành. Nếu thầy cứ từ chối hoài, tôi e
không phải là lượng quảng đại.
Thầy Pháp-Vân nghe nói vậy, mới mừng rỡ nghe lời. Lập tức sai thiết
đàn ngay ở đó, bốn bề đốt đèn, rồi lấy son viết một đạo bùa dán nơi đó.
Được một lát, có đám mây đen dài chừng 10 trượng, phủ lấp quanh đàn,
rồi nổi cơn gió lạnh lẽo, người không sao chịu nổi. Thầy Pháp-Vân tay
cầm cây trượng, chỉ bảo trước sau, có khi ra ngoài đàn, làm như hình
quát mắng chi đó. Nhược-Chân ngồi riêng một bên phòng chẳng thấy chi
lạ, chỉ nghe trên không có tiếng kêu khóc rên than. Một lát, thôi tiếng
khóc, mây cũng lần lần tan hết.
Qua hôm sau, Pháp-Vân lấy hồng hoàng bôi vào một hòn đá, viết mực
lên trên, đoạn trao cho Nhược-Chân mà dặn rằng:
- Khi ông trở về, nếu thấy có vật chi quái lạ, thì ông lấy viên đá nầy mà
ném vào nó, sẽ trừ hết được họa về sau.
Nhược-Chân vâng lời trở về đến nhà thì thấy người nhà đang đứng xúm
quanh một chỗ mà khóc. Hỏi ra thì phu-nhơn nói rằng:
- Hồi canh ba đêm hôm qua, hai đứa con dắt nhau nhào xuống giếng mà
chết, nước giếng thinh không đầy tràn lên, ngập đến lưng bậc thềm.
Thiếp đã quàn nó ở ngoài vườn kia, đợi ông về rồi sẽ chôn xác nó.
Nhöôïc-Chaân hoûi:
- Khi nó chết, nó có nói gì chăng?
Phu-nhơn [nhân] nói:
- Nó có phàn nàn với nhau rằng: Giá chậm vài tháng nữa thì việc nó
làm xong, không dè bị cuồng-tăng làm hại nó.
Phu-nhơn [nhân] nói vậy, rồi lại khóc um cả lên. Nhược-Chân ngăn
lại, cùng dắt nhau ra vườn, mở hòm ra coi xem dường nào, thì thấy hai
đứa ấy đã hóa ra hai con rắn vàng. Nhược-Chân cầm viên đá khi trước
đó ném vào hai con rắn ấy thì nó liền rã nát ra đất.
Đoạn trở vào kể chuyện đầu đuôi cho phu-nhơn [nhân] nghe, hai vợ
chồng mới đem đồ lễ đến tạ ơn thầy Pháp-Vân, nhưng đến nơi thì thầy
ấy đã đi nơi nào mất rồi, chỉ còn cái am cỏ rong rêu phủ ở đó.
8. Truyện quan Phán-sự đền Tản-viên
Ngô-Soạn tiểu-tự là Tử-văn, người huyện Yên-dõng [dũng] phủ Loạn
[Lạng]-giang, có tánh ngay thẳng khẳng khái, không ưa kẻ gian ác. Ở về
quận Bắc-châu, anh va đã có được tiếng khen là người cang [cương]
trực.
Làng anh va ở có một miễu thờ rất linh. Cuối đời nhà Hồ, quân Tàu
nhà Minh sang xâm cướp nước Nam thì làng ấy thành ra một nơi chiến
tràng [trường]. Khi đó một bộ-tướng Tàu kêu là Thôi-bách-Hộ, tử trận tại
nơi miễu làng ấy. Từ đó sắp về sau, ở miễu ấy thường thường hưng yêu
tác quái, dân gian cúng cấp, nhiều người khuynh gia bại sản. Tử-văn
thấy vậy giận lắm, bèn đốt miễu ấy đi. Khi đốt xong trở về nhà, trong
mình dường như khó chịu, kế đó nhức đầu đau bụng, nổi bịnh nóng lạnh.
Trong khi Tử-văn mơ mơ màng màng, thì thấy một người to lớn, đầu đội
mũ trụ, ăn mặc ra dạng người Tàu, tự xưng là Cư-sĩ bảo Tử-văn phải ra
sức sùng tu cái miễu ấy lại, và nói rằng:
- Người là con nhà học trò xem sách thánh hiền, há lại không biết đạo
quỉ thần nên phải kính trọng sao? Ngươi dám khi bỉ mà đốt cả miễu của
ta, không biết nương nhờ vào nơi nào! Vậy ngươi phải sửa sang lại như
cũ cho ta, nếu không vậy thì họa đến nơi đó, chớ trách ta rằng không
bảo trước.
Tử-văn thấy người kia nói vậy, cứ ngồi lặng như không, chẳng trả lời lại
làm sao hết.
Người kia lại giận mà nói rằng:
- Ngục Phong-đô (ngục âm phủ) chẳng xa gì đâu, nếu không nghe lời ta
thì mặc ý!
Nói đoạn đứng dậy đi ra.
Đêm hôm ấy lại mơ thấy một ông già, mạo thâm áo vải, dáng dấp hoà
nhã, đi khoan thai vào nhà chào Tử-văn mà nói rằng:
- Tôi là Cư-sĩ đây, nghe ông làm được một việc sướng lắm, vậy tôi đến
đây mừng ông.
Tử-văn thất-kinh nói rằng:
- Vừa rồi có một người đội mũ trụ, tự xưng là Cư-sĩ, có phải là thần thổ-
địa đó chăng? Nay ông lại xưng là Cư-sĩ, sao nhiều Cư-sĩ làm vậy?
Ông già nói:
- Ủa! Người đó là một tên bộ-tướng-Tàu tử trận, hồn gởi nước Nam ta,
cướp đền miễu của tôi, lại mạo xưng tên danh-hiệu nữa. Nó chỉ nghề dối
giả bạo ngược, trên khi trời mà dưới thì làm hại dân. Phàm các việc làm
ra yêu quái là bởi nó cả. Tôi lại xin kể chuyện của tôi cho ông nghe: Tôi
làm Ngự-sử về đời vua Nam-đế nhà Lý, chết về việc nước, cho nên
được phong làm thành-hoàng làng nầy. Tôi giữ gìn dân thứ, hơn nghìn
năm nay, có điều chi là sự yêu quái. Vì tôi sơ ý giữ gìn, bị nó cướp mất
miễu của tôi. Hiện bây giờ tôi phải nương nhờ thần núi Tản-viên đã mấy
năm nay rồi.
Tử-văn nói:
- Nếu có việc như vậy, sao không cáo với Diêm-vương, đặng người tâu
sớ lên Thượng-đế, để mà trị tội nó đi, sao lại khinh bỏ chức vị, chịu làm
người nhà quê như thế?
Ông già ấy làm ra giọng buồn rầu mà nói rằng:
- Nó nhiều vi cánh, khó lay động được nổi. Tôi muốn kiện nó, nhưng nó
làm lắm bề ngăn trở. Mà các thần ở miễu đến gần đây, thì lại tham của
hối lộ, châu [chu] toàn binh vực nó, bụng tôi không thế nào tỏ được lên
trên, cho nên tôi phải nhịn nhục mà lánh đi ở một nơi.
Tử-văn hỏi:
- Nó dữ tợn làm vậy, nhưng nó có làm hại được tôi chăng?
Ông già đáp:
- Nó đang thù ông, đến kiện tại Âm-ty đó, tôi sẽ dò xem tình ý làm sao,
đến mách bảo cho ông hay đặng mà giữ gìn, kẻo mà chết oan với nó.
Lại dặn rằng:
- Nếu ông có bị bắt xuống Âm-ty tra hỏi, thì ông cứ lấy lời tôi làm chứng.
Nó bằng không chịu, thì ông nên xin Diêm-vương hỏi đến thần núi Tản-
viên, như thế nó mới không chối cãi được nữa, mà ông được sống mà
tôi cũng được về miễu lại.
Tử-văn xin vâng lời. Đêm hôm ấy, Tử-văn đau dữ lắm.
Xảy thấy 2 tên quỉ-tốt bắt mình điệu đi, dẫn ra khỏi cõi đông. Đi nửa
ngày, đến một nơi cung phủ lớn, thành sắt cao vài mươi trượng. Hai tên
quỉ-tốt vào trước bẩm mạng, một lát trở ra, đọc tờ chiếu-chỉ của Diêm-
vương bảo anh va rằng:
- Tội nhà ngươi nặng lắm, không phép nào được tha.
Nói rồi, khoát va bảo đi về phía bắc. Ở phía đó có một con sông to, trên
sông có một nhịp cầu dài hơn nghìn bộ. Dưới sông sóng đen như mực,
gió thổi tanh hôi mà khí lạnh thấm vào đến xương. Hai bên mạn cầu, có
vài muôn quỉ Dạ-xa [xoa], mắt xanh tóc đỏ, hình trạng dữ tợn rất nên
kinh khủng. Khi đó hai tên quỉ-tốt dùng gông dài giây to, gông trói anh va,
áp điệu đi qua cầu ấy. Anh va ngảnh lại la lớn lên rằng:
- Ngộ-Soạn là người ngay thẳng ở nhân-gian, có tội lỗi gì, xin bảo rõ cho
tôi biết, không nên để tôi hàm oan thế nầy!
Xảy nghe trên điện có lời phán rằng:
- Thằng nầy ngang ngạnh, cũng là cái tánh nó như thế, nếu không phán
bảo rõ ràng, thì sao nó khứng phục tội?
Bèn sai hai tên quỉ-tốt dẫn anh va trở vào. Vào đến nơi thì thấy người đội
mũ trụ đang đứng tại trước sân cáo tỏ tội lỗi anh va.
Dieâm-vöông quôû maéng Töû-vaên raèng:
- Tên Cư-sĩ này là người trung liệt, có công với tiền-trào [triều], cho nên
trời phong cho va một phương, đặng hưởng tế tự. My là học trò, sao
dám khinh bỉ đốt phá đền miễu của va, thế là tự my làm nên tội còn chối
cãi được nữa chăng?
Tử-văn theo lời ông gìa dạy bữa trước, kể hết đầu đuôi lai lịch, ăn nói
cứng cỏi, không nao núng chút nào.
Người nguyên cáo kia kêu rằng:
- Ở trước mặt Điện-hạ đây, nó còn già mồm như thế, ăn nói điên đảo, vu
tội cho người. Huống chi một lều miễu hoang của tôi, nó sợ chi mà nó
chẳng đốt!
Tử-văn thấy người kia nói vậy, cãi đi cãi lại, nhứt [nhất] định không chịu.
Diêm-vương lấy làm nghi tình, chưa phán phải quấy bề nào. Tử-văn lại
nói:
- Đại-vương nếu không tin lời tôi, xin hỏi đến thần núi Tản-viên, sẽ biết
minh bạch, nếu tôi nói vu vọng.
Người nguyên cáo kia thấy anh va nói vậy, có sắc lo sợ, bèn quì xuống
mà tâu rằng:
- Tên học-trò nầy thiệt là ngu độn, bắt tội chính là phải lẽ, nhưng Điện-hạ
quở mắng nó ít câu cũng đủ trừng trị nó rồi, vậy xin Điện-hạ rộng dong
cho nó, không nên cung tra nữa chi, để tỏ cái lòng nhơn từ của Điện-hạ.
Diêm-vương nạt lớn mắng rằng:
- Nếu vậy thì lỗi tại my rồi đó! Luật điều khí vọng còn đây, my sao dám vu
phản cho người ta.
Lập tức sai người về đền Tản-viên tra hỏi tường tận. Khi sứ viên ấy trở
về tâu lại, thì quả nhiên hiệp với lời Tử-văn nói. Diêm-vương giận lắm,
bảo với Phán-quan rằng:
- Các ngươi chia giữ mọi việc, đem lòng ngay chẳng hết mực mà giữ
phép công bình. Thưởng phạt nghiêm minh, không thiên tư với ai một
chút. Thế mà bọn gian giảo kia, còn dám khi mạn làm vậy. Huống chi đời
Hớn [Hán], Đường mua quan bán tước, cái tình tệ còn nói làm sao cho
xiết!
Liền sai dùng gông sắt đóng gông người đội mũ trụ đó, áp điệu vào ngục
Cửu-u, còn Tử-văn có công trừ được kẻ gian ác, Diêm-vương sai ông
Cư-sĩ là chính thần miễu ấy, phải mỗi năm bổng lộc tế tự, chia cho Tử-
văn phân nửa, và sai giáp-sĩ đưa Tử-văn về trên trần.
Khi đó Tử-văn chết đã hai ngày rồi, lại hồi dương, thuật lại chuyện cho
người nhà nghe, ai nấy đều cho làm lạ.
Kế đó người làng lại mua gỗ sửa sang miễu mạo thờ phụng như xưa.
Mà mồ mả của Thôi-bá-hộ ở gần đó thì thinh không bị sét đánh hài cốt
tan tành bật ra ngoài.
Cách một tháng sau, Tử-văn lại mơ thấy ông già khi trước đến chơi và
nói rằng:
- Ông có công giúp cho tôi, tôi không biết lấy gì trả ơn cho ông được.
Nay ở Tản-viên, hiện khuyết một viên Phán-quan, tôi đã hết sức tiến cử
ông để thế vào chức ấy, vua Diêm-vương đã bằng lòng rồi. Xin ông cố
sức nhận lấy, chớ coi việc trọng ấy làm thường. Xưa nay ai cũng phải
chết, chết mà có tiếng về đời sau là quí hơn!
Tử-văn mừng rỡ vâng lời. Bèn dặn dò hết mọi việc cửa nhà cho vợ con,
rồi bỗng dưng hồn về chín suối.
Qua năm giáp-ngọ, có người làng Đông-quan, vốn quen với Tử-văn. Khi
đó đi sớm ra khỏi cửa tây vài dặm, bỗng thấy xe ngựa lính tráng đi đông
lắm, có một ông quan ngồi trên chính là Tử-văn. Tử-văn ngồi trên xe
cũng chắp tay chào, nhưng không nói một câu nào, xe ngựa đi như gió
một phút thì biến mất.
Đến giờ con cháu nhà ấy vẫn còn sự tích để lại.
9. Chuyện Từ-Thức gặp tiên
Trong năm Quang-thái đời nhà Trần, người ở Thanh-hoá tên là Từ-Thức,
do chân Ấm-tử, được bổ làm Tri-huyện Tiên-du. Gần huyện đó có một
cảnh chùa to. Trong chùa có một cây mẫu đơn, mỗi năm về mùa hoa nở,
người các nơi đến vãng cảnh xem hoa đông như hội, thành tên là hội
khán hoa. Tháng hai năm bính-tý, chính về ngày hội, khách qua lại xem
hoa rất đông. Khi đó có một ả con gái mới độ 15, 16 tuổi, trang điểm một
ít phấn lợt mà diện mạo rất nên xinh tốt. Ả ấy xem hoa, lỡ tay vịn nhành
huê [hoa] gãy xuống, bị người coi vườn đó bắt lại. Mãi đến chiều tối
không có ai nhận ả ấy. Từ-Thức xảy đi qua trông thấy, thương cho người
nhan sắc bực kia mà bị người giam buộc, người sẵn có cái áo hồ cừu
bạch-cẩm, mới cởi ra đưa cho kẻ giữ vườn mà chuộc tội thay cho nàng,
để nàng đi về. Vì thế ai cũng khen người là quan huyện nhân đức.
Nhưng tánh Từ-Thức thì chỉ hay uống rượu, đánh đờn [đàn], ngâm thơ,
ngoạn cảnh mà thôi, đến công việc sổ sách ở huyện thì bỏ đọng cả lại.
Nhiều khi bị quan trên quở mắng.
Từ-Thức than rằng:
- Ta công đâu mà vì một chút lương bổng, phải buộc mình vào đám
danh lợi thế nầy! Thôi thì kiếm một chiếc thuyền, tìm nơi nước biếc non
xanh mà chơi cho thích chí là được.
Lập tức giao trả ấn quan trên rồi đi. Tính người ưa chơi những chốn
khe động trong huyện Tống-sơn, mới trở về cất nhà ở huyện ấy. Mỗi khi
nhàn nhã đi du ngoạn, thì thường hay sai một thằng nhỏ đeo một bầu
rượu, cắp một cái đờn [đàn] và đem theo một cuốn thơ. Đến chỗ nào
thích ý thì ngồi chơi uống rượu, hoặc khảy đờn [đàn]. Phàm chỗ nào có
nước non lạ lùng, như núi Chích-trợ, động Lục-vân, sông Lãi, cửa Nga
vân vân, thì tìm đến chơi và có thơ đề vịnh cả.
Một buổi kia, Từ-Thức dậy sớm, trông ra ngoài cửa biển Thần-phù,
cách vài mươi dặm, có mây ngũ sắc, kết lại như hình cái bông sen. Mới
mướn thuyền bơi đến gần nơi ấy, thì thấy có núi non lạ lùng. Đậu thuyền
trèo lên núi, coi xem bốn bề xanh biếc, mà núi thì cao chơn chởm ước
nghìn trượng.
Nhân đề một bài thơ như vầy:
Đầu nhành thấp thoáng bóng kim ô,
Huê [hoa] động vui mừng đón khách vô.
Cạnh suối nao là người hái thuốc?
Quanh nguồn chỉ có gã bơi đò.
Xênh xang ghế mát đờn [đàn] ba khúc,
Đủng đỉnh thuyền câu rượu một vò.
Ướm hỏi Võ [Vũ] lăng chàng đánh cá,
Làng Đào đâu đó cách chừng mô?
Đề xong bài thơ rồi, nhìn xem phong cảnh một hồi. Bỗng thấy trong hông
núi đá, có một cái hang, cửa hang tròn và rộng độ một trượng. Từ-Thức
bước tới cửa hang, vừa đi được vào trong hang vài bước thì cửa hang
đóng sập lại.
Ông ấy thất kinh hồn vía, chắc là bỏ mình nơi đó chớ chẳng không.
Tuy vậy, đã đến bước đó thì cũng phải liều. Người mới quơ tay rờ vách
đá mà đi, trước còn loanh quanh đi trong khe nhỏ, kế đó thì lần lần có
bóng sáng, ngó lên thấy núi cao chót vót, đá mọc lổm chổm, bèn cứ cố ý
vịn mà leo lên, khi đó đàng đi đã hơi rộng rãi.
Khi lên đến đỉnh núi, thì lại thấy mặt trời sáng sủa, xem ra bốn bề thì
thấy lâu đài cung điện. Cửa nhà đẹp đẽ, cây cối xinh tươi thiệt là cảnh
tiên đó.
Từ-Thức lấy làm lạ lùng, ngắm xem phong cảnh, sực thấy hai ả con
gái nhỏ, mặc áo xanh, nói với nhau rằng:
- Chú rể mới nhà ta đã đến kia kìa!
Nói thế đoạn, trở vào trong nhà báo tin, rồi lại ra nói với Từ-Thức rằng:
- Tôi phụng mạng phu-nhơn, cho ra rước người vào cửa.
Từ-Thức theo hai ả ấy đi vào, qua một dãy tường gấm, vào cửa sơn son,
thấy đôi bên cung cấm, sơn vàng thếp bạc ánh sáng một vùng, trên cửa
có chữ đề rằng “Quình-hư chi điện, Giao-quang chi các.”[21] Khi trèo lên
lầu thì thấy một Tiên-chúa mặc áo lụa trắng, ngồi đàng hoàng trên
giường thất-bảo. Bên giường có kê bộ kỉ gỗ cây thơm. Tiên-chúa mời
ông ấy ngồi trên kỉ và hỏi rằng:
- Người vốn hay đi chơi cảnh lạ, vậy có biết đây là chốn nào chăng?
Từ-Thức thưa rằng:
- Tôi tuy du lịch giang hồ đã nhiều nơi, nhưng không biết ở đâu lại có tiên
cảnh, xin bà dạy cho tôi tường.
Tiên-chúa cười mà nói rằng:
- Người biết đâu được chốn nầy! Đây là hang thứ sáu trong 36 động núi
Phù-lai; núi ấy nổi trên mặt biển, đi khắp mọi nơi, chân không đụng đất,
chỉ theo chiều gió mà khi tan khi hiệp mà thôi. Thiếp thì là địa-tiên núi
Nam-nhạc, kêu là Ngụy phu-nhơn [nhân], vì thấy ngươi có cao nghĩa cho
nên mới mời đến chơi.
Tiên-chuá mới kêu ả con gái ra. Từ-Thức liếc mắt xem qua, thì chính là ả
đánh gãy nhành mẫu đơn khi trước.
Tiên-chúa chỉ ả ấy mà nói với Từ-Thức rằng:
- Con em nầy tên nó là Giáng-hương, khi trước nó đi xem hoa, bị phải tai
nạn, nhờ người cứu khỏi, ta vẫn còn cảm cái ơn ấy, nay muốn cho nó
kết duyên với ngươi đặng đền bồi ơn tri ngộ.
Lập tức đêm ấy, truyền sai đốt đèn mỡ phụng, trải chiếu vẩy rồng. Tiên-
chuá mở tiệc trên lầu Giao-quang, nào là rèm ngọc trướng điều, nào là
nệm huê [hoa] ghế bạc. Các tiên ngồi một bàn bên tả, còn bên hữu thì
Từ-Thức ngồi.
Trong khi ăn yến, đủ các món sơn hào hải vị, chả phụng nem công, ngào
ngạt thơm tho, toàn những vị dưới trần không có. Lại có đờn [đàn] sáo
bát âm rất là vui vẻ.
Chiều tối tiệc tan, các tiên đâu về nấy. Từ-Thức ở lại đấy được một năm,
có ý nhớ nhà, nhân khi thong thả, thủ thỉ với nàng Giáng-hương rằng:
- Tôi nhơn [nhân] khi đi chơi mà được gặp cảnh sung sướng dường nầy,
thiệt là phước [phúc] cho tôi lắm. Nhưng tôi ở đây đã lâu, có lòng tưởng
nhớ quê nhà, vậy xin cho tôi được về thăm nhà một chút, thì rất hữu
hạnh vô cùng.
Giáng-hương có ý dụ dự, không nỡ phân ly.
Từ-Thức lại nói rằng:
- Tôi xin về chơi một đôi ngày, báo tin với anh em biết rồi sẽ trở lên đây.
Giáng-hương khóc mà nói rằng:
- Thiếp không dám vì tình riêng vợ chồng, mà ngăn trở lang quân. Chỉ vì
cõi trần bé nhỏ, ngày tháng thon von. Dầu chàng có về nữa, thiếp chỉ e
cửa nhà cây cối, không còn được như lúc trước nữa.
Nàng ấy mới nói chuyện với Tiên-chúa. Tiên-chúa than rằng:
- Không ngờ gã ấy còn vướng vít trong đám bụi hồng, làm chi mà phải
ngậm ngùi như vậy?
Bèn cho Từ-Thức một cỗ xe cẩm vân, dạy ngồi lên xe ấy mà về. Giáng-
hương cũng viết một phong thơ [thư] tặng biệt, phong gói kỹ càng, dặn
về đến nhà sẽ mở ra mà coi.
Từ-Thức cáo biệt, lên ngồi trên xe, đi vừa chớp mắt đã về đến nhà. Về
đến nơi thì phong cảnh đã khác xưa nhiều, nhơn [nhân] dân thành thị,
không còn chút nào như khi trước nữa, chỉ hai bên khe núi thì vẫn còn
nguyên mà thôi.
Từ-Thức đem họ tên mình hỏi thăm các ông già trong làng, thì có một
người nói rằng:
- Tôi từ khi còn nhỏ, có nghe ông cố tôi, cũng nghe tên họ như thế, đi
chơi lạc vào hang núi, đã hơn 80 năm rồi.
Từ-Thức buồn rầu lắm, muốn lại ngồi xe đi lên, thì xe đã hoá làm chim
loan bay đi mất rồi. Mở bức thơ ra xem thì có câu rằng:
Trong mây kết bạn loan hoàng, duyên xưa đã hết,
Trên bể tìm người tiên tử, hội đó khôn cầu.
Mới biết là lời ly biệt. Về sau Từ-Thức mặc áo khinh-cừu, đội cái mũ nhỏ,
vào núi Hoàng-sơn ở huyện Nông-cống, không biết lên tiên hay là đi đâu
mất.
10. Truyện thơ Kim-hoa
Con gái làng Kim-hoa tên là Chi-lan, họ Ngô, nguyên là vợ của quan
giáo-thụ họ Phù.
Nàng ấy học rộng, văn chương ca từ có tiếng trên đời. Vua Thuần-
tôn [tông] đời nhà Lê nghe tiếng người hay chữ, cho làm nữ giáo-học,
dạy các cung nhơn [nhân]. Khi nào vua đi chơi, thì sai nàng ấy đi theo
hầu, vua muốn sai ngâm vịnh bài gì, nàng ấy hươi bút nháy mắt thì rồi
liền, mà bài nào cũng hay, không ai chê đặng.
Đến năm nàng ấy ngoài 40 tuổi thì mất, chôn ở bãi đất Tây-nguyên.
Cuối năm Đoan-khánh, có người học trò tên là Mao-tử-Biên, học tại
nơi kinh sư. Lâu ngày nhớ nhà, trở về huyện Đồng-hỉ tỉnh Thái-nguyên.
Đi qua làng Kim-hoa, xảy gặp cơn mưa gió to ngăn trở, nhà còn xa mà
trời đã tối. Chàng ta trông về phía trước, thấy có thấp thoáng bóng đèn,
vội đến gần nơi thì thấy có vài gian nhà tranh, bốn bề tre mọc sum sê
[xum xuê]. Tử-biên xin vào nhà ngủ nhờ một đêm, người canh cửa
không cho vào. Ghé mắt dòm vô trong nhà thì thấy một ông già ngồi trên
giường, và có một mỹ-nhơn [nhân] đứng bên, mang giầy châu, cài trâm
ngọc, coi tợ [tựa] như dạng phi tần.
Người mỹ-nhơn [nhân] đó bảo kẻ canh cửa rằng:
- Đêm khuya quạnh vắng, trời lại gió mưa, người ta xin ngủ nhờ, mầy
lại không cho người ta vào thì bảo người ta đi đâu bây giờ?
Tử-biên vội vàng bước vào, ngủ nhờ ngoài cửa. Hồi gần 10 giờ
khuya, thấy một người râu tóc đã bạc, dáng điệu gầy gùa, cưỡi một con
la sắc đỏ đến chơi. Ông già trong nhà chạy ra đón vào nhà ngồi chơi.
Đoạn sai dọn tiệc, hai ông già và mỹ nhơn [nhân] ngồi cùng một bàn
uống rượu.
Ông già coi trên cánh bình-phong có bốn bài thơ của mỹ nhơn đề
như vầy,
1. Xuân từ
Khí trời ấm áp đượm hơi dương,
Thấp thoáng lâu đài vẽ ác vàng,
Rèm liễu líu lo oanh hót gió,
Giậu hoa phấp phới bướm soi hương.
2. Hạ từ
Gió bay bông lựu đỏ tơi bời,
Tựa gốc cây đu đứng nhởn chơi,
Oanh nọ tiếc xuân còn vỗ cánh,
Én kia nhớ cảnh cũng gào hơi.
3. Thu từ
Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ,
Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa,
Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm,
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa.
4. Đông từ
Lò sưởi [22] bên mình ngọn lửa hồng,
Giải buồn chén rượu lúc sầu đông,
Tuyết đưa hơi lạnh xông rèm cửa,
Gió phẩy mầu băng giải mặt sông.
Ông già vào chơi đọc bốn bài ấy rồi khen rằng:
- Nếu Nam-châu không có tôi, thì ai biết được bài hay của phu-nhơn
[nhân]; mà nếu tôi không được gặp phu-nhơn [nhân], thì cũng không khi
nào được biết văn hay trong đời. Cổ nhơn [nhân] có câu rằng: “Danh hạ
vô hư,” thiệt [thật] là phải lắm!
Mỹ-nhơn [nhân] nói:
- Thiếp tài nhỏ tầy sợi tóc, có đâu dám sánh với tài danh-công, may
được gặp gỡ tiền trào, hầu trong nghiên bút, thì cũng gọi là hơi biết làm
thơ đó mà thôi.
Vậy thiếp xin đọc mấy bài của thiếp đề vịnh khi xưa, đặng tiên-sanh
[sinh] nghe chơi luôn thể.
Một khi thiếp có qua chơi núi Vệ-linh, là chốn Đổng thiên vương phi
thăng đời xưa đó, có đề chơi một bài tứ tuyệt như vầy:
Chon von núi Vệ vẻ mây lồng,
Cây cối sum sê [xum xuê] sắc tử hồng,
Ngựa sắt ở trời, tên ở sử,
Uy danh lẩm bẩm [lẫm lẫm] khắp non sông.
Được vài tháng, tiếng thiếp động đến tai cửu trùng. Hoàng-đế người cả
khen ngợi, ban thưởng cho thiếp một cặp áo. Lại một khi Hoàng-đế ngự
chơi cửa Thanh-dương, sai quan Nguyễn Thị-thơ làm một bài uyên-
ương từ khúc, người không bằng lòng sai thiếp làm bài khác. Thiếp
phụng chỉ thảo ngay dâng lên, Hoàng-đế khen ngợi hồi lâu, rồi thưởng
cho thiếp 5 nén vàng, và kêu thiếp là nữ học-sĩ nhà họ Phù. Từ đó nổi
tiếng trên đời, khách văn chương ai cũng có lòng trọng đến.
Khi Thuần-hoàng-đế băng, thiếp có khóc một bài như vầy:
Ba mươi năm lẻ trị ngôi trời,
Bốn biển ơn nhuần được thảnh thơi.
Rộng mở giang sơn thêm cõi đất,
Dựng nên sự nghiệp khắp trên đời.
Long-dư tuyết phủ trời xa thẳm,
Ngự-uyển hoa sầu sắc kém tươi.
Quảng-nhạc đêm đêm còn báo mộng,
Kiều-sơn ngó tới lụy tuôn rơi.
Ông già nghe đoạn rồi nói:
- Thơ của phu-nhơn [nhân] đó, thiệt có tình ý như thơ cổ-nhơn
[nhân]. Vì thơ cổ cốt phải ý tứ hồn hậu, nói ít mà tình ý nhiều mới hay.
Chớ như thơ thời nay thì họ làm khinh bạc lắm.
Mỹ-nhơn [nhân] nghe nói sa nước mắt mà rằng:
- Thiếp được vào cung chầu Thuần-hoàng và Hiến-hoàng, nghĩa là
tuy vua tôi, tình thiệt như cha con. Không dè những người thiển bạc,
đem dạ nghi ngờ, có lắm bài bỉ bác. Đại để như có câu rằng:
Quân vương muốn giải cơn buồn bực,
Nên gọi Kim-hoa học-sĩ vào.
Lại như câu:
Lầu rồng tan tiệc thơ ngâm mỏi,
Chầu chực năm canh ngủ dậy trưa.
Như những câu ấy, có phải là lời nói quá chăng?
Ông già nói:
- Phu-nhơn [nhân] chớ nên sầu oán chi, xưa nay thơ từ họ nói xàm
cũng nhiều, lắm người mắc tiếng oan uổng chẳng phải là một mình phu
nhơn [nhân] mà thôi đâu!
Kế đó bàn đến thơ của các ông danh tiếng đương thời, thì ông già
nói rằng:
- Thơ từ mỗi người một cách điệu, ví như thơ ông Chuyết-trai thì lạ
lùng tao nhã; thơ ông Vu-liêu thì kịch liệt cao kỳ; thơ của ông Tùng-xuyên
thì khỏe mạnh như giọng tướng đánh giặc, nhưng có chỗ thô tục; thơ
ông Cúc-pha thì dịu dàng như con gái chơi xuân, mà lắm câu yếu đuối.
Còn các ông khác cũng hay cả, nhưng nghĩa lý kín đáo phong nhã mà
bài nào cũng có ý trung vua yêu nước, thì chỉ có thơ ông Liễu [Ức]-trai là
hay hơn hết.
Hồi đó Mao-tử-Biên nằm ngoài nghe lóng hết mọi điều, lần lần bước
vào lạy chào. Ông già thò tay vào túi lấy ra một cuốn sách trao cho
chàng ta, và dặn rằng:
- Anh muốn học làm thơ, thì cứ đem cuốn nầy về mà học là đủ.
Ông già nói rồi từ biệt. Tử-biên cũng trở ra ngủ. Sớm mai thức dậy, té ra
mình nằm trên mồ mả, sương lộ ướt dầm quần áo. Mở xem cuốn sách
thì toàn giấy trắng, chỉ có bốn chữ: “Lữ đường thi tập” mới biết ông cụ
đó tức là Sái-tiên-sanh [sinh] ở làng Lữ-đường. Mà hỏi nơi mộ đó thì tức
là ngôi mộ của Phù giáo-thụ tiên sanh [sinh] phu-nhơn [nhân].
Chàng ta về nhà, tìm kiếm mua cuốn thơ ấy, quả nhiên văn chương nổi
tiếng ở đời.
11. Truyện con chồn và con vượn
Năm bính dần, vua Phế-đế nhà Trần đi săn, đóng quân nghỉ ở phía bắc
bờ sông Đà-giang. Đêm hôm ấy mở tiệc cùng với các tướng sĩ uống
rượu chơi.
Ở cụm rừng ấy có một con chồn thành yêu, nó đi trong núi gặp một
con vượn già. Con chồn bàn với con vượn rằng:
- Vua tướng nhà Trần đi săn chuyến nầy, chắc họ định bắt chúng
mình chớ chẳng không. Nếu chúng mình không liệu trước mà gàn trở
việc đó đi, thì ắt là họ đào hang quét ổ. Tôi muốn dùng một lời mà can
gián vua Trần, chú có bằng lòng đi với tôi chăng?
Con vượn nói:
- Nếu chú nói mà giải được họa nầy, thì thiệt là hay lắm. Nhưng tôi
chỉ e họ không nghe, chắc lại sinh thêm lòng nghi cho họ, thì họa ắt lây
đến cả cây trong rừng, chú chẳng thấy con hồ-tinh ở núi Hoa-biểu đó
sao?
Con chồn nói:
- Không hề chi! Bởi vì các người theo vua đi săn, toàn là người võ,
không có ai là bậc cao minh bác vật, chúng ta không phải lo xa điều đó.
Nói đoạn, hai con biến hình ra làm hai người đờn [đàn] ông. Con
vượn tự xưng là Viên tú-tài, con chồn tự xưng là Hồ xử-sĩ. Đêm hôm đó,
đều đến tận nơi hành-cung, nhờ người vào tâu với vua rằng:
- Chúng tôi nghe: Thánh-nhơn [nhân] ở ngôi, trời đất yên lặng; minh-
vương tốt đức, muông thú đều vui. Nay chúa thượng đang buổi thái bình,
làm chúa dân vật. Vậy nên giương lưới cầu hiền, văng chài lễ sĩ, đặng
cho văn vẻ chốn triều-đình, ơn nhuần cho muông dân thì mới phải, chớ
sao lại vụ việc đền [điền] liệp, bắt chước kẻ đi săn làm chi?
Hồi đó vua đã uống rượu say, gần đi ngủ. Vua sai quan tể-tướng là
Hồ-quí-Ly ra tiếp hai người ấy vào chơi ở nơi phòng khách.
Hồ xử-sĩ (con chồn) nói rằng:
- Các vua đời xưa, đuổi giống tây voi, đặng mà trừ hại cho dân. Dùng
việc săn bắn, đặng mà luyện tập nghề võ. Vua Văn-vương nhà Châu vì
muốn tìm ông Lữ-vọng, mới có việc đi săn ở trên sông Vị-thủy; Vua Võ
[Vũ]-đế nhà Hớn [Hán] vì muốn hăm dọa mọi Hồ, mới có chuyện đi săn ở
đất Tràng-dương. Chớ như nay thì không có việc chi, đang mùa nóng
nực mà bắt dân làm việc khó nhọc, lại giầy đạp lúa má mà đuổi giống
cầm thú, thì toàn là việc hại dân cả. Ông làm tể-tướng, sao không tâu với
vua, bãi việc đi săn, đặng cho dân vật đều thỏa chí có được chăng?
Quí-Ly nói:
- Việc đi săn cũng là phép đời xưa, bỏ làm sao đặng?
Hồ xử-sĩ nói:
- Tôi thương giống cầm thú nhỏ mọn mà tôi xin dùm cho nó. Nếu
bằng những giống tinh yêu độc dữ, thì nó chẳng chạy núi nọ, chắc cũng
trốn rừng kia, ông săn làm sao cho đặng, chẳng qua chỉ hại những giống
hèn yếu mà thôi.
Quí-Ly nói:
- Ta nghe xứ nầy có con hồ-ly-tinh (chồn) đã thành yêu, cho nên đến
săn để trừ hại cho dân luôn thể.
Viên tú-tài (con vượn) thấy nói vậy, mắt nhìn Hồ xử-sĩ mà cười.
Quí-Ly hỏi cớ làm sao mà cười?
Hồ xử-sĩ nói:
- Giống sài-lang (chó sói) tràn đàng lấp nội, can gì phải hỏi đến giống
cầy cáo?
- Thầy nói ý sao vậy?
- Hiện nay ơn thánh chưa nhuần khắp mọi nơi, bờ cõi còn nhiều trộm
giặc. Giặc Chiêm-thành khác nào chó dữ, cắn ở phía nam; giặc Lý-Anh
khác nào cọp đói, ngầm ở phương tây-bắc. Ngô-Bệ như con ó, con diều,
tuy mới giết xong; Đường-Lang tợ giống chuột hang, hãy còn ở đó. Sao
không dùng cung của thánh-nhơn [nhân], gươm của thiên-tử, lấy nhơn
[nhân]-nghiã làm đồ can qua, lấy trung-tín làm đồ giáp trụ, đặng mà đuổi
trừ cướp giặc, cứu kẻ thứ dân. Nay bỏ việc lớn ấy không hỏi đến, mà
chăm theo về việc săn bắn nhỏ nhen, dầu cho bắt được cầm thú chứa
cao tầy núi, tôi thiết nghĩ cũng chẳng hay gì.
Quí-Ly nghe Hồ nói phải lẽ lắm, mới hứa lời thôi việc sau.
Hai người mừng rỡ, nhân rót chén rượu mời Quí-Ly, rồi uống rượu với
nhau rất vui vẻ. Trong khi đó, hai người trò chuyện, thiệt [thật] là hùng
biện cao đàm.
Quí-Ly nói rằng:
- Ta đã từng khi bẻ bác người nhà Minh, và dùng miệng lưỡi tranh luận
với sứ Chiêm-thành, không có khi nào bị nhục, mà nay phải thua lời các
ngươi, hay là các ngươi chính là giống sơn-yêu dã-quái, sao mà ăn nói
lanh lợi dữ vậy?
Viên, Hồ giận nói rằng:
- Ông là tể-tướng, thấy có người tài-đức, nên phải tiến dẫn lên cho nhà
nước dùng mới phải cho, chớ sao ông lại đố hiền tật năng như vậy?
Quí-Ly thấy nói cứng cáp lắm, liền phải đổi sắc mặt làm dạng dịu
dàng tạ lỗi mà nói an úy rằng:
- Tôi coi đời nầy, không ai giỏi bằng hai người, vậy sao không bỏ nơi
núp ẩn, ra mà giúp đời, khiến cho tỏ rạng công danh về đời sau? Nếu
chết khô ở nơi rừng rú, thì ai còn biết đến cho.
Hai người cười nói rằng:
- Chúng tôi gởi mình nơi hang động, chơi bời chốn núi khe, ngủ thì
đã có hoa cỏ làm chiếu nệm, khát thì đã có nước suối làm rượu ngon,
bạn bè với đoàn hươu nai, tiêu khiển cùng nơi mây khói. Chỉ biết ngợi
gió hát trăng làm vui thú, chẳng hề tham then danh khoá lợi mà bận
mình.
Nói đoạn, mỗi người ngâm chơi một bài thơ.
Hồ ngâm rằng:
Thảnh thơi suối biếc lại non xanh,
Mùi tục xa mình áng lợi danh.
Hang đá mặc dầu tình thỏa thích,
Vòng trần khôn vướng gót tung hoành.
Trời hôm say giấc nơi gò cổ,
Đêm lạnh buồn nghe tiếng nước ghềnh.
Mây khói biết đâu tìm giấu [dấu] tích,
Vui vầy ngươi tớ bạn đồng thanh.
Viên ngâm rằng:
Nghìn động muôn khe khắp mọi nơi,
Đông tây mặc ý thỏa chơi bời.
Mưa tuôn cảnh thú khi theo bạn,
Gió giục cơn buồn lúc biếng chơi.
Chiêng gác non Tương kêu đã mỏi,
Ná giương đất Sở lụy còn rơi.
Ta trong rừng rú ngươi trong động,
Mừng được nương thân chốn thảnh thơi.
Ngâm đoạn từ biệt. Quí-Ly sai người tiễn ra ngoài, và lén đi theo sau
xem hai người ấy ở đâu, khi ra đến khoảng rừng thì thấy một người hoá
ra con chồn và một người hoá ra con vượn mà đi mất.
[1] Trăm hai nghĩa là đất Quan-trung hiểm trở, chỉ hai người giữ ải, có
thể địch nổi trăm người.
[2] Bọn Tiêu-Hà, Châu-Bột
[3] Vua Sở Hoài-vương sai Tống-Nghiã làm thượng-tướng đem quân đi
cứu nước Triệu, Hạng-vương giết đi mà cướp lấy quyền.
[4] Tử-Anh là con vua Tần Thủy-hoàng, đã chịu hàng mà Hạng-vương giết
đi.
[5] Hàn-Sinh can Hạng-vương xin đóng đô ở Quan-trung, Hạng-vương
không nghe. Hàn-Sinh chê Hạng-vương như con khỉ ướt biết đội mũ.
Hạng-vương giận mà mổ Hàn-Sinh.
[6] Vua Tần Thủy-hoàng làm ra cung A-phòng, liên tiếp hơn 300 dặm,
Hạng-vương phá Quan-trung đốt cung ấy, lửa cháy 3 tháng mới tắt.
[7] Đền thờ đức Khổng-tử ở làng Khúc-phụ, là làng chỗ ngài sinh ra.
[8] Quốc-bổn là cội nước. Thái-tử thừa tự vào ngôi vua, quan hệ to lắm,
ví như gốc cội nhà nước.
[9] Tức là tỉnh Hưng-Yên bây giờ.
[10] Tức là thành-phố Hà-nội bây giờ.
[11] Đền Nghiêm nay ở về làng Phán-thuỷ.
[12] Cầu Liễu-khê ở về làng Liễu-kiều, huyện Nam-xương, phủ Lý-nhân,
bây giờ là tỉnh Hà-nam.
[13] Nàng Dịch-An là con gái ngươi Lý-cách-Phi về đời nhà Tống, có tập
thơ Thấu-ngọc truyền ở đời.
[14] Nàng Ban-huệ-Cơ là con gái Ban-Siêu, ả Sái là con gái Sái-Giệm
[Diệm], cùng ở về đời nhà Hán, có tiếng văn hay.
[15] Lư-Đồng, Lục-Võ hai người thủa xưa tính hay thích trà.
[16] Làng Thủy-hương là dưới Thủy-phủ.
[17] Giải đồng-tâm là giải có viết hai chữ đồng-tâm để mà tỏ tình trung-tín
với nhau.
[18] Tuynh [tinh]-cung là cung điện Thủy-tuynh [tinh] ở dưới Thủy-phủ.
[19] Liễu-Nghị là người thuở Đường Trung-tôn [tông] qua hồ Động-đình,
có đưa dùm bức thư của con gái vua Hà-bá cho vua Hà-bá. Thiện-văn
về thuở nhà Nguyên, hay chữ có tiếng, vua Hà-bá mời xuống chơi
biển làm giúp bài văn.
[20] Áo nạp là áo cà-sa của thầy chùa.
[21] Nghĩa là đền Quình-hư, lầu Giao-quang.
[22] Lò sưởi là lò lửa để cho hơi ấm.
Sử Nam Chí Dị
Các truyện trong Truyền Kỳ Mạn Lục
được lược dịch ở Sử Nam Chí Dị
NGUYỄN NAM sưu tuyển
Nói về tích chuyện người liền [đàn] bà mắc oan tự vẫn
Xưa ở huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nội, bây giờ thuộc về tỉnh Hà Nam,
[1] có người con gái tên là Vũ Thị Thiết,[2] đẹp mà có nết na,[3] lấy
chồng người làng tên là Trương sinh.[4] Tính ngươi ấy hay nghi hoặc.
Nàng ấy thấy chồng thế, càng giữ gìn ý tứ. Vợ chồng lấy nhau chưa
được bao lâu, nàng ấy có thai. Gần đến tháng đẻ, thì có giặc Chiêm
Thành. Ngươi ấy phải ra lính, trẩy đi đánh giặc. Vừa được mười hai
ngày thì nàng ấy đẻ ra một đứa con trai. Cách nửa năm, mẹ ngươi
Trương sinh phải đau mà chết. Nàng ấy làm ma, làm chay cho mẹ
chồng cũng như mẹ đẻ.
Đến năm sau, giặc Chiêm đã tan, quân lính ở đâu về đấy. Ngươi
Trương sinh về đến nhà, thấy mẹ mất rồi, mà con mới bập bẹ biết nói,
muốn ẵm ra thăm mả mẹ, thì đứa con chỉ khóc, không chịu theo. Nó nói
rằng, "Mọi khi cha tôi không biết nói, bây giờ ngươi lại biết nói, thì không
phải là cha." Ngươi ấy mới hỏi làm sao. Nó nói rằng, "Đêm nào cũng
thấy cha tôi lại đây, mẹ tôi đi thì cũng đi, mẹ tôi ngồi thì cũng ngồi."
Ngươi ấy nghe con nói, ngờ vợ có tình riêng mấy [với] ai, đêm ngày chửi
mắng. Làng nước, họ hàng, ai can cũng không nghe. Nàng ấy phẫn chí,
ra sông Hoàng giang[5] tự vẫn.
Ngươi ấy tìm đâu cũng chẳng thấy. Đến đêm đốt đèn ngồi nghĩ, chợt
thấy đứa con chỉ [6] vào bóng mình bảo rằng, "Kià, cha tôi đã lại kià."
Hỏi ra mới biết rằng lúc vợ ở nhà một mình, con hỏi cha, thì chỉ [7] vào
bóng mình, nói giỡn [8] con là cha nó. Sau nghe thấy người ta nói, nàng
ấy tự vẫn ở sông Hoàng giang, ngươi ấy mới lập đàn giải oan ở bên
sông ấy. Cúng ba đêm ngày, phắt[9] thấy ở giữa sông có chín mươi[10]
cỗ xe, cờ quạt rợp bóng.[11] Nàng ấy ngồi trên xe,[12] nói rằng, "Giã ơn
chàng có lòng giải oan cho tôi, nhưng mà[13] đấng thượng đế thương tôi
là người tiết nghiã, đã cho tôi ở trên cung tiên." Nói vừa xong, rồi biến
mất.[14]
Nói về tích chuyện người phải lòng ma
Đời vua Thái Tông nhà Lê,[15] ở phủ Thiên Trường,[16] bây giờ
thuộc tỉnh Nam Định, có một người học trò tên là Hà Nhân Giả,[17] theo
thầy lên học ở kinh sư. Buổi nào đi học về cũng thấy hai người con gái
đẹp đứng ở trong vuờn cũ nhà quan thái sư, cười nói hớn hở, lúc thì lấy
quả cho, lúc thì lấy hoa ném. Người ấy hỏi rằng là ai. Hai người con
gái nói rằng, "Chúng tôi là con hầu quan thái sư, tên là Liễu Nhũ Nương,
với Đào Hồng Nương. Từ khi quan thái sư mất, vẫn giữ dấu thơm. Nay
gặp nhà thầy, xin kết làm bạn." Ngươi ấy thuận, mới đưa nhau về nhà
trọ, thi từ, gian díu, tuy chửa lấy nhau, cũng như vợ chồng. Từ đấy hai
người con gái, sớm về vườn, tối lại đến. Hôm rằm tháng giêng, hai
người con gái mời ngươi ấy lại chơi nhà. Nhân đêm sáng trăng, giải
chiếu ở trong vườn, bày những đồ rượu bánh, hoa quả, mời ngươi ấy
xơi. Lại thấy một lũ con gái đến mừng, nói tên là họ Vi, họ Lý, họ Mai, họ
Dương, họ Kim, họ Thạch; trời gần sáng, đều về cả.
Được và [vài] tháng, cha mẹ cho gọi về để cưới vợ cho. Ngươi ấy
về, chối chưa chịu lấy, lại lên kinh sư,[18] ngày thì đi học, tối lại chơi bời
với hai nàng ấy. Một hôm ngươi ấy đi học về, thấy hai nàng ấy ngồi chỗ
vườn khóc, mới hỏi làm sao. Hai nàng ấy nói rằng, "Chúng tôi chỉ độ
đêm hôm nay, lúc nào gió to thì chết. Xin đưa hai đôi hài hạt châu này
để nhà thầy làm khuây." Ngươi ấy ngậm ngùi về nhà trọ, đến nửa đêm,
thấy mưa gió ầm ầm, mới sang nói chuyện thực mấy [với] ông láng
diềng.[19] Ông ấy nói rằng, "Thôi người nhầm rồi! Từ khi quan thái sư
mất, thì đã hơn hai mươi năm nay, không có ai ở đấy. Sao bây giờ lại có
nhiều người như thế? Hẳn là giống yêu tinh!"
Đến sáng ngày cùng nhau ra chỗ vườn ấy xem, chỉ thấy mấy toà nhà
nát, với lại cây đào, cây liễu gãy đổ. Ông ấy mới chỉ bảo ngươi ấy rằng,
"Này đây là con Đào, con Liễu. Còn lũ bạn nói rằng họ Kim, ấy là hoa
cúc kim tiền, họ Thạch là cây thạch lựu, họ Lý là cây mận, họ Mai là cây
mơ, họ Vi là cây tường vi, họ Dương là cây dương, đều mượn tên cây
mà đặt làm tên họ." Ngươi ấy mới tỉnh biết, trở về lấy hai đôi hài ra xem,
thì thấy những lá non cả.[20]
Nói về sự tích ngươi Hồ Quý Ly mắc lý con cáo với con vượn
Đời vua Phế Đế[21] nhà Trần[22] cùng với ngươi Quý Ly[23] đi săn,
gặp phải mưa tuyết, không về được, đỗ[24] thuyền ở sông Đà giang,
đêm mở tiệc rượu.
Lúc bấy giờ có con cáo với con vượn tinh nói chuyện ở dưới chân
núi gần đấy. Con cáo bảo con vượn rằng, "Vua tôi nhà Trần đem quân
vào săn chỗ núi này là chỉ chăm vào lũ ta. Ví không mưa gió,[25] thì hai
chúng ta chẳng mắc đạn cũng phải tên. Mày sao chẳng cùng với tao đi
ra mà kêu để vua đừng vào săn đây nưã." Con vượn nói rằng, "Chỉ sợ
người ta biết mình thì khốn cả!" Con cáo lại nói rằng, "Ở đấy chỉ có
ngươi Quý Ly là giỏi, nhưng mà học cũng chưa rộng, tất nhiên cũng
không biết ta được." Con vượn thuận tai. Hai con mới hoá ra hai người:
con vượn giả làm tú tài họ Viên, con cáo giả làm xử sĩ họ Hồ.
Đến chốn vua đóng quân, tâu rằng, "Chúng tôi nghe nhà vua có đức
tốt, thì những loài cầm thú được hòa thuận. Bây giờ đang lúc thái bình,
sao nhà vua chẳng kén kẻ hiền tài để giúp nước, trị dân, mà lại chăm
việc săn bắn?" Bấy giờ vua đã mỏi muốn đi nghỉ, sai ngươi Quý Ly ra
tiếp. Ngươi ấy mời hai người lên thuyền ngồi, mà nói rằng, "Việc săn
bắn cũng là phép đời xưa, sao nên bỏ?" Hồ xử sĩ thưa rằng, "Bẩm quan
lớn, đời xưa đi săn là những lúc dân làm ruộng xong rồi, trước là đuổi
những con tê, con tượng, khỏi làm hại dân; sau thì tập võ. Nay đang
mùa hè mà để dân nhọc nhằn là không phải thì; dẫm nát lúa để bắt loài
vật là không phải chốn; tát cạn đầm, đốt cháy núi là không phải nhẽ [lẽ];
[26] sao quan lớn chẳng can vua trở về để giống người, giống vật đều
được bình yên?" Ngươi Quý Ly nói rằng, "Nghe đây có con vượn với
con cáo thành tinh, cho nên muốn săn mà trừ nó đi để nó khỏi quấy dân,
không cốt gì việc đi săn." Hồ xử sĩ với Viên tú tài nghe nói, trông nhau
mủm mỉm cười. Ngươi Quý Ly hỏi cớ sao mà cười thế. Hồ xử sĩ mới
nói ra rằng, "Bẩm quan lớn, con sài, con lang đứng chắn đường sao
chẳng hỏi, mà lại hỏi con cáo cùng con vượn làm gì?" Ngươi Quý Ly lại
hỏi rằng, "Nhà ngươi nói thế là nghiã làm sao?" Hồ xử sĩ thưa rằng,
"Bẩm quan lớn, giặc Bồng Nga[27] như chó dại cắn ở cõi đông nam; giặc
Lý[28] như hổ đói, kêu ở phương tây bắc, mà nhà vua bỏ chẳng xét đến,
cứ chăm chăm những việc săn bắn, dẫu được cầm thú chất cao bằng
núi, thì chúng tôi cũng không dám khen!" Ngươi Quý Ly nghe nói phải
nhẽ [lẽ], nhận lời, rồi mời uống rượu. Hai người uống say, từ tạ xin về.
Ngươi Quý Ly nghi tình, mới sai người đi theo dò xem. Đến giữa rừng,
thấy hai người ấy hóa ra một con cáo, một con vượn chạy mất. Ngươi
Quý Ly trót nhận lời, mới tâu vua đem quân về.
Nói về tích chuyện người sống làm tướng ma
Cuối đời nhà Trần ở phủ Quốc Oai[29] có một người học trò tên là
Văn Dĩ Thành, tính ngay thẳng, bạo dạn, không sợ những ma quỷ. Bấy
giờ nhà Trần loạn, thiên hạ chết nhiều lắm. Những hồn người chết oan
họp thành một lũ, cứ quấy dân[30] hại lắm, không ai phép nào trừ được.
Ngươi Văn Dĩ Thành nghe tiếng đồn, mới cưỡi ngựa đi xem. Lũ ma
đang ngồi ăn uống, trông thấy ngươi ấy đến, sợ chạy tan cả. Ngươi ấy
gọi bảo, "Ta thấy chúng bay chẳng may[31] mà chết oan, ta đến chơi hỏi
chuyện." Lũ ma mới trở lại, mời người ấy ngồi trên nói chuyện. Ngươi
Dĩ Thành hỏi,
- Sao chúng bay cứ hay hại người ta?
- Thưa ông, chúng tôi bắt để thêm cho nhiều quân.
- Quân chúng bay nhiều thì làm gì? Hại người ta chết, lấy ai cúng
cho mà ăn?
- Thưa ông, vì đời nhà Trần nay sắp biến, cho nên đổi người, đổi
vật. Tại thế dưới âm ty không cấm chúng tôi. Năm nay còn hại vừa,
sang năm còn hại hơn nữa.
Ngươi Văn Dĩ Thành nói rằng,[32]
- Đã đành vận trời như thế, nhưng mà chúng bay làm việc gì cho nó
có chừng, không nên hại người ta quá.
Lũ ma thấy ngươi ấy có uy vọng,[33] ngay thẳng, có nhân đức, mới
xin bầu làm tướng. Ngươi ấy cười nói rằng,
- Ta văn hay, võ giỏi, dẫu làm tướng chúng bay cũng được; nhưng
mà dương gian, âm phủ cách nhau, vả lại còn mẹ già, thì làm sao?
- Thưa ông, chúng tôi chỉ xin ông dạy bảo cho uy nghiêm, kỷ luật.
- Có dùng ta làm tướng thì phải theo hiệu lệnh ta, hễ lỗi thì không
được.
Lũ ma thuận cả, xin nghe lời. Từ đấy có việc gì cũng phải trình
ngươi ấy, dân mới được đỡ hại.
Độ hơn một tháng, lũ ma nói,
- Bây giờ vua dưới âm ty đặt ra bốn bộ Dạ Thoa, kén[34] mỗi bộ một
người tướng. Chúng tôi đã bầu ông thì không nên từ.
Ngươi ấy nói,
- Đã gọi là người trượng phu, thì ta cũng làm để tiếng về sau.
Liền về nói với mẹ, dặn việc cửa nhà, rồi chết đi làm tướng.
Bấy giờ ngươi Dĩ Thành có bạn tên là Lê Ngộ, đi dậy học ở huyện Quế
Dương.[35] Ngươi ấy cưỡi ngựa đến chơi đấy, nói chuyện,
- Bây giờ tôi làm quan ôn, coi việc dịch lệ từ sông Trường giang[36]
về phương bắc. Tôi xem trong sổ thấy nhà anh phải nạn cả, tôi đến bảo
anh để anh về, hễ có việc gì thì bày nhiều cỗ ở giữa sân mà lễ.
Ngươi Lê Ngộ nghe nói, về ngay, thấy ở nhà vợ con phải đau cả, liền
làm cỗ bày ra sân. Một chốc thấy lũ ma kéo đến ăn. Ăn gần xong,
ngươi Lê Ngộ ra lạy mãi, thấy quân bàn nhau rằng,
- Hẳn người này là chủ có cỗ, chả có nhẽ [lẽ] ăn một bữa mà trừ năm
nhân mệnh.
Người tướng bảo,
- Thôi đã trót ăn rồi thì cứu cho người ta.
Mới mở sổ, lấy bút son xóa mười chữ, rồi kéo quân đi. Được và [vài]
hôm, nhà ngươi Lê Ngộ khỏi cả. Nhớ ơn ngươi Dĩ Thành, đặt tĩnh thờ. Sau
dân làng đến cầu việc gì cũng được, mới lập đình thờ làm thành hoàng.
Đình ấy bây giờ vẫn còn, ở làng Thượng Hội, huyện Từ Liêm, phủ Hoài
Đức,[37] tỉnh Hà Nội.
Nói về sự tích ngươi Từ Thức
Đời nhà Trần ở tỉnh Thanh Hoá có ngươi Từ Thức, làm quan tri
huyện Tiên Du.[38] Chùa bên huyện ấy có hội hoa mẫu đơn, hễ đến mùa
hoa ấy nở thì các phương xe ngựa đến xem. Tháng hai năm bính tý,
giáp thứ sáu mươi hai, có người con gái đẹp lắm, độ mười lăm, mười
sáu tuổi, đến xem hội, vô ý đánh gãy một cành hoa, phải bắt. Trời đã
gần tối mà chưa có ai nhận. Ngươi Từ Thức cũng đi xem hội, trông thấy
thương tình, mới cởi áo gấm đền cho nhà sư để tha người con gái ấy đi.
Vốn tính ngươi Từ Thức hay uống rượu, gảy đàn, ngâm thơ, chơi
cảnh, không chăm việc quan, phải quan trên quở, mới trả ấn, từ quan, về
ở nhà bên núi huyện Tống Sơn.[39]
Có một ngày trở dậy, trông ra cửa bể Thần Phù[40] phỏng độ và [vài]
mươi dặm, thấy năm thức mây mọc tròn như hoa sen,[41] mới xuống
thuyền ra xem; thấy núi đứng thẳng như vách, cao ước chừng ngàn
trượng, mới trèo lên , lấy bút đề thơ vào đấy. Xịch thấy vách đá mở ra
một cửa hang tròn. Ngươi ấy mới bước vào và [vài] bước thì cửa hang
đóng chặt lại, tối u tối mịt.[42] Sợ hãi tay sờ chân dò, thấy có lối khúc
khuỷu, lần lần lên đến đỉnh núi, lại thấy mặt trời sáng tỏ; mà ở chỗ ấy có
những lầu đài. Chợt gặp hai người con gái, mặc áo xanh ra mời. Ngươi
ấy theo vào cung, thấy tường gấm, cửa son, giường ngọc, chiếu ngà, có
một bà tiên mặc áo gấm trắng, ngồi trên giường, bên cạnh giường đặt
đèn hương,[43] cho người ấy ngồi. Bà tiên hỏi chuyện một lúc, mới gọi
một người con gái ra, chỉ bảo rằng,[44] "Nàng này là con gái ta, tên là
Giáng Hương, ngày trước có xuống xem hội hoa mẫu đơn, đánh gãy
cành hoa. May gặp được ngươi cứu cho, bây giờ ta gả nó cho ngươi để
đền ơn ấy." Mới làm lễ cưới, mời những tiên các động đến ăn mừng,
muá hát vui vẻ.
Ngươi ấy ở trên cung tiên, thấm thoát đã được một năm, nhớ nhà,
nói với nàng Giáng Hương rằng, "Cho tôi xuống thăm nhà để chơi với bè
bạn, độ và [vài] tháng rồi tôi lại lên." Nàng ấy khóc, nói rằng, "Tôi không
dám lấy tình vợ chồng mà ngăn giữ chàng, nhưng mà bây giờ cửa nhà
chàng ở hạ giới không còn như trước nữa." Ngươi ấy không nghe, cứ
vào tâu với bà phu nhân. Bà ấy nói rằng, "Chẳng ngờ nhà ngươi còn
nhớ cõi trần như thế." Mới cho một bức gấm, với một cỗ xe để đi về.
Nàng Giáng Hương tiễn một phong thư nhiễu, gạt nước mắt đưa người
ấy lên xe. Đi một chớp mắt[45] đã xuống đến nơi. Thấy cửa nhà, làng
nước chẳng còn gì như cũ, mới đem tên họ mình hỏi các ông già. Có
một ông nói rằng, "Lúc tôi còn bé, nghe nói có ông tổ ba đời cũng gọi tên
thế, lên chơi núi, sa vào hang, không thấy về đã hơn tám mươi năm.
Bấy giờ là cuối đời nhà Trần. Bây giờ là đời thứ ba vua nhà Lê." Ngươi
ấy thấy thế lại muốn trở lên cung tiên, thì cỗ xe cưỡi dưới hóa con chim
loan bay đi mất. Ngươi ấy mới mở phong thư ra xem, thấy trong có thư nói
rằng, "Duyên chỉ có thế mà thôi - Đã xuống thì lên không được nữa."
Ngâm ngợi đi vào núi Hoàng sơn biệt mất. Núi ấy bây giờ ở xã Hoàng
sơn, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá.
Nói về sự tích người liền [đàn] bà có nghĩa
Xưa ở phủ Khoái Châu[46] có một người con gái con quan họ Từ,
tên là nàng Nhị Khanh, lấy con trai quan thiêm thư,[47] tên là Phùng
Trọng Quỳ. Được mấy năm, ngươi Trọng Quỳ phải theo cha trẩy đi đánh
giặc ở tỉnh Nghệ An.
Đã năm sáu năm chưa thấy về, nàng ấy ở nhà, cha mẹ đều mất; làm
ma làm chay rồi về quê, ở với bà cô. Bấy giờ có một người cháu chồng
bà cô, làm quan tướng quân. Người ấy thấy nàng ấy xinh đẹp muốn
lấy. Bà cô cũng toan ép gả, dỗ dành mãi, nàng ấy nhất định không theo,
mới sai người vào tỉnh Nghệ An tìm chồng. Người ấy tìm đến nơi thì
thấy ngươi Trọng Quỳ cha đã mất, mà tính quen chơi bời, cờ bạc, phá
hết của cải, ăn mặc rách ruới, mới bảo về. Ngươi ấy về đến nhà, hai vợ
chồng mừng rỡ, chuyện trò, than thở với nhau. Sau sinh được hai đứa
con trai.
Ngươi Trọng Quỳ quen tính, lại làm bạn với người lái buôn giàu có,
tên là Đỗ Tam, chỉ chơi rượu chè, cờ bạc như truớc. Nàng ấy ngăn giữ
không được. Đỗ Tam thấy vợ ngươi ấy đẹp, muốn lừa để lấy; làm tiệc
rượu mời ngươi ấy, mới đặt một triệu quan tiền, làm cuộc để đánh bạc,
bảo ngươi ấy rằng, "Không có tiền thì lấy vợ đặt cuộc." Hai người cùng
thuận, làm tờ giao với nhau rồi, thì người Trọng Quỳ đánh ba tiếng bạc
thua cuộc, ngồi sầm[48] mặt lại, ngất đi một lúc. Mới gọi vợ đến, đưa tờ
cho xem. Nàng ấy thấy thế là sự đã trót rồi, không thế nào mà lo được
tiền, mới cười gượng chịu nhận, rồi xin về chơi với con một chốc. Ngươi
Đỗ Tam được cuộc, mừng lắm, thuận lời. Nàng ấy về than thở với hai
đứa con, rồi lấy khăn thắt cổ tự vẫn.
Ngươi Trọng Quỳ thương nhớ lắm, làm ma, làm chay cho nàng ấy.
Sau có một mình, kiếm ăn không đủ, túng bấn lắm, sực nhớ có bạn cũ làm
quan ở châu Quy Hoá - bây giờ là phủ Quy Hoá, tỉnh Hưng Hoá- mới tìm
đi. Đến nửa đường mỏi chân, vào gốc cây nghỉ, thấy tiếng người văng
vẳng[49] như nàng Nhị Khanh, nói rằng, "Có phải là chàng Trọng Quỳ thì
mời ngày nữa phải đến đền bà Trưng vương, ở huyện Phúc Lộc, xã Hát
Môn[50] mà đợi lòng ơn." Trông lên thì chỉ thấy áng mây,[51] đem đi sang
phương tây bắc, lấy làm lạ. Theo lời hẹn, đến đền ấy ngồi đợi. Sang canh
ba, nàng Nhị Khanh hiện lên, than khóc, trách rằng, "Cảm ơn chàng lắm,
không biết lấy vật gì mà đưa được." Ngươi ấy xin chịu lỗi, mới dò hỏi
chuyện. Nàng ấy nói rằng, "Từ khi tôi mất, trời thương có nghĩa, cho ở đền
Nghiêm Từ,[52] chức giữ tờ tâu. Hôm nọ đi làm mưa, gặp thấy chàng, mới
hẹn như thế để nói chuyện, không thì chẳng biết bao giờ được gặp nhau
nữa. Nhân nghe thấy các tiên bàn rằng, nhà Hồ gần hết vận, đến năm
bính tuất loạn to, thì có ông Lê Lợi ở đất Lam sơn, tỉnh Thanh Hoá, ra dẹp
loạn làm vua. Chàng cứ về nuôi dạy hai con để sau cố theo ông ấy." Nói
vừa xong, trời gần sáng, mới biến đi.
Ngươi Trọng Quỳ theo lời, trở về ở vậy, cứ nuôi dạy hai con. Đến khi
hai đưá con khôn lớn, gặp thời ông Lê Lợi ra mở nước, mới bảo hai con
đem quân theo. Rồi ông ấy lên làm vua, ấy là vua Lê Thái Tổ, thì hai
đứa con ấy được làm quan đến chức nội thị. Nay vẫn còn dòng dõi ở
phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
CHÚ THÍCH
[1] Bây giờ thuộc về tỉnh Hà Nam : Sách Quảng Tập Viêm Văn không
ghi đoạn này vào chính văn, nhưng lại tách ra thành một chú thích.
Xem Quảng Tập Viêm Văn, sđd., trg. 16, chú thích 1.
[2] Quảng Tập Viêm Văn chú "Vũ Thị Thiết - một phụ nữ Việt Nam sinh vào
thế kỷ 14 công lịch. Lòng trinh liệt điển hình cuả nàng, việc nàng tuẫn tiết
do chồng bất công ngược đãi đã khiến nàng nổi tiếng." (trg. 289)
[3] Quảng Tập Viêm Văn : đẹp đẽ, có nết na (trg. 16).
[4] Quảng Tập Viêm Văn chú "Chương-xinh [Trương sinh] - một nhân
vật Việt Nam, sinh vào thế kỷ 14 sau công nguyên." (trg. 182)
[5] Quảng Tập Viêm Văn chú "Hoàng giang - tên cũ của sông Hồng." (trg.
195)
[6] Quảng Tập Viêm Văn : chỏ (trg. 16)
[7] Quảng Tập Viêm Văn : chỏ (trg. 16)
[8] Quảng Tập Viêm Văn : bỡn (trg. 16)
[9] Quảng Tập Viêm Văn : phút (trg. 16)
[10] Quảng Tập Viêm Văn : sáu mươi (trg. 16)
[11] Quảng Tập Viêm Văn : lấp loáng (trg. 16)
[12] Quảng Tập Viêm Văn : ngồi xe (trg. 16)
[13] Quảng Tập Viêm Văn : nhưng mà bây giờ (trg. 16)
[14] Quảng Tập Viêm Văn : Nói vưà song [xong] biến mất (trg. 16)
[15] Quảng Tập Viêm Văn chú "Thái tôn [tông] (vua) - vua nước Việt đời nhà
Lê, con vua Lê Thái Tổ, trị vì từ năm 1434 đến 1443 sau công nguyên." (trg.
268)
[16] Quảng Tập Viêm Văn chú "Thiên trường - tên cũ cuả ty
(département) Suân [Xuân] trường." (trg. 274)
[17] Quảng Tập Viêm Văn chú "Hà nhân giả - học trò Việt Nam sinh vào
thế kỷ 15 sau công nguyên." (trg. 194)
[18] Quảng Tập Viêm Văn : kinh đô (trg. 18)
[19] Quảng Tập Viêm Văn : mấy ông cụ láng-diềng (trg. 18)
[20] Quảng Tập Viêm Văn : thì thấy dặt [rặt] lá non cả (trg. 19)
[21] Quảng Tập Viêm Văn chú "Phế đế (vua) - vua Việt Nam đời nhà
Trần, trị vì từ 1378 đến 1390." (trg. 252)
[22] Quảng Tập Viêm Văn : Xưa, vua Phế Đế, nhà Trần (trg. 22)
[23] Quảng Tập Viêm Văn chú "Quý Ly - tên tắt cuả Lê Quý Ly, đại thần
Việt Nam, người lật đổ triều Trần và lên ngôi năm 1402 sau công
nguyên, dưới tên là Hồ Quý Ly. Năm sau, ông nhường ngôi cho một
trong những người con cuả mình. Cả hai sau bị quân Trung quốc bắt
và chết trong khi bị lưu đày ở Trung Hoa." (trg. 257)
[24] Quảng Tập Viêm Văn: đậu (trg. 22)
[25] Quảng Tập Viêm Văn : Ví không có mưa gió (trg. 22)
[26] Quảng Tập Viêm Văn : lễ (trg. 23)
[27] Quảng Tập Viêm Văn chú "Bồng Nga - thái tử Chiêm Thành, xâm lược
Việt Nam vào năm 1378 sau công nguyên và bị Quý Ly đánh bại." (trg.
176)
[28] Quảng Tập Viêm Văn chú "Lý (giặc) - gọi tắt cuả Lý Anh." Giặc Lý
Anh chỉ quân Trung Quốc do tướng Lý Anh chỉ huy, năm 1385 mượn
cớ đánh Chiêm Thành hòng xâm lược nước ta (trg. 209).
[29] Quảng Tập Viêm Văn : Quốc Uy (trg. 27). Quảng Tập Viêm Văn
cũng chú thêm rằng, "Quốc uy (phủ) - thủ phủ tỉnh Sơn Tây." (trg. 257)
[30] Quảng Tập Viêm Văn : cứ đi quấy dân (trg. 27)
[31] Quảng Tập Viêm Văn : chẳng bay chúng may (trg. 27)
[32] Quảng Tập Viêm Văn (trg. 28) không có đoạn này.
[33] Quảng Tập Viêm Văn: thấy ngươi ấy uy vọng (trg. 28)
[34] Sử Nam Chí Dị: hiện (trg. 35b); Quảng Tập Viêm Văn: kén (trg. 28)
[35] Quảng Tập Viêm Văn chú "Quế dương (huyện) - một huyện thuộc
tỉnh Bắc Ninh." (trg. 257)
[36] Quảng Tập Viêm Văn chú "Tràng giang - tên cũ cuả sông Hồng.
Tên ngày nay là Nhĩ hà." (trg. 282)
[37] Quảng Tập Viêm Văn không chép “phủ Hoài Đức” (trg. 28).
[38] Quảng Tập Viêm Văn chú "Tiên du (huyện) - một huyện thuộc
tỉnh Bắc Ninh." (trg. 279)
[39] Quảng Tập Viêm Văn chú "Tống sơn (huyện) - một huyện thuộc
tỉnh Thanh Hoá." (trg. 281)
[40] Quảng Tập Viêm Văn chú "Thần phù (cửa bể) - cưả biển thuộc
tỉnh Thanh Hoá." (trg. 270)
[41] Quảng Tập Viêm Văn: như chiếc hoa sen (trg. 29)
[42] Quảng Tập Viêm Văn: tối mù tối mịt (trg. 29)
[43] Quảng Tập Viêm Văn: bên cạnh đặt giường đàn hương (trg. 29)
[44] Quảng Tập Viêm Văn: trỏ bảo rằng (trg. 29)
[45] Quảng Tập Viêm Văn: nháy mắt (trg. 30)
[46] Quảng Tập Viêm Văn chú "Khoái châu (phủ) - một phủ thuộc huyện
Hưng Yên." (trg. 200)
[47] Quảng Tập Viêm Văn chú "thiêm thư (quan) - thư ký viện cơ mật
dưới triều Trần." (trg. 274)
[48] Quảng Tập Viêm Văn: ngồi sám [xám] mặt lại (trg. 34)
[49] Quảng Tập Viêm Văn: nghe văng vẳng thấy tiếng (trg. 34)
[50] Quảng Tập Viêm Văn chú "Hát môn (sã [xã]) - một xã thuộc huyện
Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây." (trg. 194)
[51] Quảng Tập Viêm Văn: đám mây (trg. 34)
[52] Quảng Tập Viêm Văn chú "Nghiêm từ (đền) - Khổng miếu toạ lạc ở xã
Hát môn, huyện Phúc thọ, tỉnh Sơn Tây, thờ bà Trưng Trắc và Trưng Nhị."
Tình Sử Việt Nam
Dịch giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện
NGUYỄN NAM sưu tuyển
Trương-sinh (Tình hám)
Đời nhà Trần, Trương-sinh người ở huyện Nam-xang (Hà-nam) vốn
nhà giầu có.
Cùng làng có cô con gái tên là Vũ-thị Thiết, người đẹp và tính nết
thùy-mỵ. Trương-sinh đem lòng yêu, xin với mẫu-thân đem trăm lạng
vàng cưới nàng về làm vợ.
Song Trương-sinh có tính hay ghen, đối với vợ phòng giữ một cách
quá đáng. Nàng Vũ-thị cũng biết giữ khuôn phép, không để lần nào vợ
chồng phải thất hoà.
Đương khi chăn ấm gối êm, chợt nhà nước có việc đi đánh Chiêm-
thành, tuyển đến nhiều lính tráng. Sinh tuy nhà giầu, nhưng vì ít học, đã
sẵn có tên trong sổ lính, phải gọi ra sung binh loạt đầu. Lúc lâm-hành,
nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà nói:
- Lang-quân đi chuyến này thiếp chả dám mong chờ một quả ấn hầu.
Chỉ xin ngày về, đem theo được hai chữ bình an, ấy là vui thỏa cho thiếp
lắm. Chỉn e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường, ngày tháng lữa lần, tin
hơi xa cách. Gió tây nổi không đường hồng tiện, xót cõi ngoài tuyết quyến
mưa sa. Màn mưa trướng tuyết xông pha, nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi
ngoài...Vì chàng lệ thiếp rỏ [nhỏ] đôi, vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề...
Nói đến đấy, nàng ứa hai hàng nước mắt; chàng cũng không sao
cầm lệ được.
Sau khi tiễn chồng lên đường được mươi ngày, Vũ-thị lâm sản, vì lúc
ấy nàng đương có mang. Đứa con trai sinh ra, đặt tên là Đản.
Ngày qua tháng lại, thoắt nửa năm giời [trời]. Mỗi khi thấy bướm bay
vườn thúy, mây ám non tần, nỗi sầu kẻ ở ngưòi đi, đè lấn xuống mình
nàng nặng trĩu.
Bà lão-mẫu cũng vì nhớ con sinh ốm. Nàng hết lòng thuốc thang
chạy chữa, và khuyên lơn mọi cách để mẹ khuây lòng. Song bệnh-thế
bà cụ mỗi ngày một nguy; một hôm bà giối giăng [trối trăng] với nàng:
- Người ta sống chết đều có số. Mẹ không phải không muốn đợi
chồng con về, cùng vui sum họp. Song số tận mình cùng, dầu khan bức
[bấc] hết, tấm thân tàn héo, nguy ở sớm chiều. Chồng con xa xăm,
chẳng về kịp gặp mẹ trong giờ vĩnh quyết, đó là điều thắc mắc của mẹ.
Mẹ mong rằng sau đây trời giúp người lành, ban cho phúc trạch, chồng
con được yên ổn sớm về để vợ chồng sum họp, con cháu đông đàn.
Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ.
Bà cụ nói xong rồi mất. Nàng xót thương than khóc, mọi việc ma
chay tế lễ, lo liệu chu-đáo như đối với cha mẹ ruột. Xóm làng đều khen
Vũ-thị là một người dâu hiền.
Sau vài năm, quân ta thắng trận trở về. Trương-sinh về tới nhà thì mẹ
đã từ trần, con vừa học nói. Cái vui sum họp của vợ chồng chưa bù được
với cái buồn mất mẹ. Chàng hỏi mồ mẹ rồi bế đứa nhỏ đi thăm, trong khi
người vợ bận vào bếp làm cơm.
Ra đến đồng, thằng Đản quấy khóc; sinh dỗ dành:
- Nín đi con, con đừng khóc nữa. Cha về đến nhà, bà đã mất, cha
đương buồn khổ lắm rồi.
Thằng Đản nín rồi thơ-ngây hỏi:
- Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, không như
cha tôi trước chỉ nín thin-thít.
Sinh ngạc nhiên, gạn hỏi. Thằng Đản nói:
- Khi ông chưa về đây, thường vẫn có một người, đêm nào cũng đến
nhà Đản, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao
giờ bế Đản cả.
Tính sinh vốn hay ghen, nghe thấy đưá con nói vậy, cho ngay là mấy
năm mình vắng, vợ đã đem tình yêu chia sẻ [xẻ] cho một người nào.
Máu tức xông lên, liền về nhà gọi vợ, mắng nhiếc tàn tệ.
Vũ-thị khóc lóc và nói:
- Vợ chồng lấy nhau, sum họp chưa bao lâu đã phải chia cách. Từ
khi chàng đi xa vắng, thiếp vẫn giữ một lòng ngay sạch, nuôi con và chờ
chồng. Son phấn không tô, buồng the nhặt khóa. Đâu có sự hư thân
mất nết như lời chàng nói. Mong chàng xét rõ mà chẳng nỡ nghi oan
như vậy.
Song mối ngờ vực đã in sâu trong lòng, sinh không vì mấy lời nói của
nàng mà cởi ra được. Nàng khóc hỏi từ đâu có chuyện ấy. Nhưng sinh
không chịu nói, chỉ thường mắng nhiếc, sỉ vả và đánh đập, đuổi đi. Họ
hàng làng xóm đều thương nàng bị chồng ngờ oan, hết sức bênh-vực và
biện-bạch cho nàng, nhưng chẳng ăn thua gì cả. Bất-đắc-dĩ, nàng nói:
- Vợ chồng ở với nhau, cốt ở sự lửa hương đầm-ấm. Nay cái án oan
của thiếp đã thành ra thiết-án. Coi nhau như cừu-địch, khinh nhau như
đất bùn, còn ở với nhau sao được nữa. Sen rũ trong ao, liễu tàn trước
gió, đời thiếp đến thế là xong rồi!
Đoạn nàng tắm gội sạch sẽ, ra bến Hoàng-giang, ngửa mặt lên giời
[trời] kêu than rằng:
- Kẻ bạc-mệnh này, số phận hẩm hiu, chồng con dẫy bỏ, điều đâu
bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám.
Thiếp nếu là một kẻ đoan trang trinh bạch, xin cho vào nước hoá làm
ngọc Mỵ-Nương, xuống đất hóa làm cỏ Ngu-Mỹ. Nhược bằng lòng chim
dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm
cho diều quạ, chẳng những là chịu khắp mọi người phỉ hổ.
Nói xong, nàng gieo mình xuống sông tự tận.
Sinh tuy giận vợ thất tiết, nhưng thấy nàng tự tận, cũng động lòng
thương.
Từ đấy, sinh phòng không vắng vẻ, gà trống nuôi con. Một đêm
kia, đương lúc cùng đứa con ngồi buồn dưới đèn, chợt đứa con nói:
- Ô! Cha Đản lại đến đây rồi!
Sinh hỏi đâu. Thằng Đản trỏ vào bóng sinh ở trên vách:
- Đây này! Cha của Đản đây này!
Thì ra khi chồng vắng, Vũ-thị vẫn đùa trỏ bóng mình bảo là cha Đản.
Bấy giờ Trương-sinh mới giật mình tỉnh ngộ, thương vợ bị ngờ vực một
cách oan khốc, hối hận và đau xót không biết chừng nào, bèn lập một
đàn-tràng giải oan ở bên sông, tụng kinh siêu-độ.
Về sau, người ta thương Vũ-thị trinh tiết mà phải thác oan, lập miếu ở
bên sông để thờ.
Đời Lê, vua Thánh-Tôn [Tông] ngự du qua sông Hoàng-giang có đề miếu
Vũ-thị một bài thơ rằng:
Nghi-ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dù tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.
Chuyện nàng Túy-Tiêu
Người đất Kiến-hưng, Dư Nhuận-Chi tên là Tạo-Tân, có tiếng hay thơ;
nhất là về những bài hát, lại càng nức danh ở kinh-kỳ, mỗi bài làm ra,
phường hát bội đem tiền tặng biếu rất hậu để xin lấy. Nhân thế, Dư càng
nổi thanh-giá ở chốn tao-đàn. Cuối đời Thiệu-phong nhà Trần, Dư nhân
có việc, vào yết-kiến quan Trấn-soái Lạng-giang là Nguyễn Trung-Ngạn.
[1] Ông Nguyễn thấy Dư đến, lật đật chạy ra tiếp, đặt tiệc ở Phiếm-bích-
đường thết đãi, gọi mười mấy người con hát ra hát múa ở trước tiệc.
Trong bọn con hát ấy có ả Túy-tiêu là người rất xinh đẹp. Ông Nguyễn
đùa bảo Dư-sinh rằng:
- Ấy tùy ngài kén chọn trong bọn ấy, hễ bằng lòng ai thì tôi xin tặng
cho.
Rồi âm nhạc nổi lên. Sinh ngâm một bài thơ sau này:
Liên hoa đóa đóa ỷ hồng hàm,
Tằng đối tiên gia ngọc chủ đàm,
Túy trẩm tiêu y hô đắc khởi,
Sổ thanh hảo xướng vọng giang-nam [Giang-nam].
Dịch:
Hoa sen đóa đóa rỡ-ràng tươi,
Góp mặt nhà tiên lúc nói cười.
Áo lụa say nằm nghe gọi dậy,
Giang-nam một khúc quyến hồn người.
Ông Nguyễn cười bảo Túy-Tiêu rằng:
- Thầy đồ để ý vào nàng[2] đấy.
Sinh hôm ấy uống rượu rất say, mãi đến đêm khuya mới tỉnh, đã thấy
nàng Túy-Tiêu ở cạnh, cảm ơn ông Nguyễn không biết chừng nào.
Sáng hôm sau sinh vào tạ ơn ông Nguyễn để về, ông Nguyễn bảo rằng:
- Ả ấy kể cũng là một người phong-lưu, thầy nên khéo yêu-thương
lấy.
Sinh bèn đem nàng về Kiến-hưng. Túy-Tiêu vốn có khiếu thông-tuệ,
mỗi khi sinh đọc sách, nàng cũng học thầm mà rồi thuộc được. Sinh
nhân đem những quyển sách nói về thơ từ mà dạy nàng. Chưa đầy một
năm, nàng đã làm được những thơ từ ngang với của sinh. Năm Mậu-
tuất (1358), nhân gặp khoa thi, sinh sắm-sửa hành-trang lên kinh; không
nỡ rời nhau, nên đem theo cả nàng cùng đi, cùng trọ tại phố Phường-
thái ở cửa sông. Gặp ngày mồng một đầu năm, Túy-Tiêu rủ mấy người
bạn gái, đến chùa tháp Báo-thiên[3] dâng hương lễ Phật. Bấy giờ có
quan Trụ-quốc họ Thân đi chơi phố, trông thấy Túy-Tiêu đẹp, bắt cướp
đem về làm của mình. Sinh làm đơn kiện tận triều-đình, nhưng vì họ
Thân uy-thế rất lớn, các tòa các sở đều tránh kẻ quyền-hào, gác bút
không dám xét xử. Sinh đau buồn lắm bèn chẳng thiết gì thi-cử nữa.
Một hôm sinh thủng-thỉnh đi chơi ngoài phố, gặp đám người cưỡi ngựa
đi xem hoa về, tiền hô hậu ủng rất oai-vệ, trên đường thì trâm thoa rơi
rắc, hồng tiá tơi-bời, sau cùng thấy Túy-Tiêu ngồi trên một chiếc kiệu
căng riềm lụa hoa, đi qua dưới rặng liễu. Sinh muốn chạy đến than-thở,
nhưng thấy những người cùng đi với nàng đều là bậc quyền-quý, không
dám đường-đột, chỉ đắm-đuối nhìn và ứa hai dòng lệ, không nói được
một lời nào.
Nhân Túy-Tiêu trước có nuôi một đôi chim yểng, một hôm sinh trỏ đôi
chim mà bảo rằng:
- Chúng mầy là loài vật nhỏ, còn được suốt ngày quấn-quít với nhau,
không phải như ta lạnh-lùng chiếc gối. Ước sao chúng mầy nhẹ tung đôi
cánh, vì ta đưa đến cho nàng được một phong thư.
Con chim yểng nghe nói, kêu lên và nhẩy-nhót như dáng muốn đi. Sinh
bèn viết một phong thư, buộc vào chân nó. Thư rằng:
Tạc giả liễu âm nhất quá
Đạo đạt vô do
Ký song nhỡn [nhãn] ư phiến thời
Tằng chỉ xích nhi thiên lý
Thủy tín hầu môn chi tự hải
Đệ hiềm khách tứ chi như thu
Bị thuật cựu do
Bội tăng thâm cảm
Ức tích ngã bồi thi tịch
Tử hựu ca duyên
Bất lao lục ỷ chi đàn
Nhục hạ Tử-Vân chi huệ
Tiếu vị thù ư khiển quyển
Hận dĩ tảo ư phân phi
Hồng biệt yến nhi thu thanh
Vân sầu Tần nhi minh sắc
Nhất tắc hoãn lưu tô chi trướng
Nhất tắc hàn hồ chỉ chi khâm
Đãn tham tú mạc chi hoan
Khởi niệm thư lâu chi khổ
Mỗi thính đoản tường trệ vũ,
Phế bích hàn tương
Trường thiên sương nhạn chi chinh ly
Tịch tiêu phong địch chi xướng vãn
Toại nãi hàm tình bất ngữ
Yểm quyển trường hu
Đối cảnh quan hoài
Bất năng dĩ dĩ
Yi [Y] Hứa Ngu hầu chi bất tác
Côn lôn nô chi dĩ phi
Ưng vô phản bích chi kỳ
Không phụ tầm phương chi ước
Viên bằng thốn chử
Dụng tả ai thiên
Dịch:
Kiệu qua dưới liễu hôm nào,
Vội-vàng chẳng kịp đưa trao một lời.
Trông ai nước mắt thầm rơi,
Tấc gang bỗng cách đôi nơi mịt-mùng.
Cửa hầu sâu thẳm nghìn trùng,
Sớm hôm khách những riêng lòng ngẩn-ngơ,
Tình xưa kể đến bao giờ,
Cảm sầu mọi mối như tơ rối bời.
Thơ ngâm nhớ bữa tiệc mời,
Giọng ca lanh-lảnh để người như say.
Cung đàn nào đã so dây,
Giai-nhân bỗng được trao tay rước về.
Tình sâu chưa kịp giãi-giề,
Bắc nam vội đã chia-lià khá thương.
Chim hồng buồn-bã kêu sương,
Mây Tần thăm-thẳm xa buông tối mù.
Người nương trướng gấm êm ru,
Người ôm một mảnh chăn cù giá đông.
Ham vui nệm tiá màn hồng,
Biết chăng kẻ chốn thư-phòng thương đau.
Mưa tường dế vách họa nhau,
Nhạn tan khóc sớm, địch sầu thổi khuya,
Lặng ngồi gấp sách ủ-ê,
Lòng này cảnh ấy khuây đi được nào.
Côn-Nô, Hứa-Tuấn[4]
nơi nao?
Tìm hương, trả bích[5] còn ao-ước gì?
Mảnh tiên viết gửi trao đi,
Đau-thương kể nỗi vân-vi với người.
Con chim yểng bay đi, đến đậu ở màn Túy-Tiêu. Nàng được thư,
bèn giở giấy Tiết-Đào[6] dấp bút Lâm-xuyên,[7] viết một bức thư để trả
lời. Thư rằng:
Thiếp Túy-Tiêu thiếu ỷ thị môn
Trưởng đầu nhạc tịch
Điệu ca tiếp khúc, đồ khoa Hà-hữu chi phong-lưu
Cử án tề my, vị thức Mạnh-Quang chi thái-độ
Thùy tri hảo tịch
Tiện thị lương môi
Lục ỷ cầm tâm, bất giả Trường-khanh chi điệu
Hoa đường thi cú, khốc linh [liên] Đỗ-Mục chi tài
Tự hỉ châm giới chi hữu duyên
Thâm khánh đằng la chi đắc thác
Thiên thai khách phùng khách, vị tận thâm hoan.
Chương-đài nhân tống nhân, tái tương ly hận.
Giai ngẫu phiên thành oán ngẫu
Hảo duyên chuyển tác ác duyên
Sỉ nhẫn thê nha
Cụ tần đả áp
Xuất nhập khởi cư chi tế, vị miễn tòng quyền
Biệt ly khế khoát chi hoài, bất thăng cảm cựu
Duy dư thúy nga quyện tảo
Lục mấn dung sơ
Phấn bích đăng tàn, thương xuân trường đoạn
Hương tiêm tú quyện, biệt lệ ngân đa
Tạc thừa ký nhạn chi thư
Bội thiết ly loan chi tưởng
Tuy Hàn Hoành chi liễu, tạm triết trường điều
Nhiên Hợp-phố chi châu, đương hoàn cố quận
Du du tâm sự [tự]
Thư bất tận ngôn
Dịch:
Thiếp xưa con gái nhà nghèo
Lớn lên ca xướng học theo bạn-bầy.
Phong-lưu quen thú Hà-tây[8]
Chưa tường án Mạnh ngang mày[9] như ai.
Tiệc hoa một bữa khuyên mời,
Mối-manh duyên khéo an bài tự đâu.
Tràng-Khanh chưa gảy Phượng-cầu[10]
Mến tài Đỗ-Mục bởi câu Hoa-đường.[11]
Duyên kim phận cải xe vương,
Những mừng dây sắn được nương bóng tùng.
Thiên-thai một cuộc kỳ-phùng,[12]
Thú vui lửa đượm hương nồng chưa bao.
Chương-đài cành liễu nghiêng chao,
Biệt-ly mang nặng biết bao oán-sầu,
Duyên mai hoá rủi ngờ đâu,
Ngậm hờn nuốt tủi chịu rầu cho qua.
Tòng-quyền nấn-ná vào ra,
Tình xưa nghiã cũ thiết-tha vẫn lòng.
Bẽ-bàng đổi khác tư-dong,
Tóc xanh biến [biếng] chải, môi hồng biến [biếng] tô.
Thương xuân, vách phấn đèn lu,
Trông gương ngấn lệ mơ hồ, ngại soi.
Tiện hồng thư mới tới nơi,
Chia loan càng xót-xa đời biệt-ly.
Liễu Hàn tạm bẻ vin đi,
Nhưng châu Hợp-phố phải về quận xưa.[13]
Nỗi lòng trăm mối vò tơ,
Thư dài đến mấy vẫn chưa hết lời.
Túy-Tiêu từ đó buồn-rầu sinh ốm. Quan Trụ-quốc bảo:
- Chừng nàng vẫn còn nhớ anh chàng bán thơ phải không?
Nàng nói:
- Quả có như vậy. Tình sâu gắn-bó, hờn nặng chia-lìa, lời thề chung
sống chưa phai, điều hẹn cùng già đã phụ. Nay thì Sở mưa Yên tạnh,
liễu héo đào tươi, bằn-bặt xa nhau, hờn ôm thiên-cổ. Cho nên người
xưa đã coi rẻ giàu-sang mà nhớ anh hàng bánh,[14] xem khinh sung-
sướng mà gieo xuống tầng lầu,[15] thật là phải lắm.
Nói rồi nàng toan lấy chiếc khăn là thắt cổ tự-tử. Trụ-quốc nói dối
rằng:
- Ta cũng đang nghĩ về việc đó lắm. Vậy nàng hãy cứ nên bình-tĩnh
mà bảo-dưỡng thân-thể sớm muộn ta sẽ vời chàng họ Dư đến đây, để
nàng được nối mối duyên xưa. Tội gì mà coi rẻ tính-mệnh, chết một
cách chẳng vào đâu cả.
Nàng nói:
- Quả được như vậy thì thiếp xin vâng lời tướng công. Nếu không thì
tính-mệnh này chỉ đến ngày hôm nay là hết.
Trụ-quốc bất-đắc-dĩ, phải vời Dư đến, dỗ-dành sẽ trả nàng Túy-Tiêu
và bảo:
- Ta làm qua ngôi đến Thượng-công, quyền cao lộc hậu, việc khoản-
đãi khách-khứa, mỗi ngày tốn phí đến hàng nghìn chuông thóc. Nay vời
thầy đến là do ý tốt chứ không có ý xấu gì cả. Huống đất Trường-an này
gạo châu củi quế, thầy lấy gì mà tiêu-dùng đủ. Vậy nếu thầy không ngại
thanh tích thì cứ ở luôn đây cho đỡ tốn.
Bèn sai dọn một cái buồng nhỏ làm nơi đọc sách cho sinh, hằng
ngày sai một ả tiểu-hoàn hầu-hạ. Mỗi khi có tiệc mời sinh vào dự, Trụ-
quốc thường lấy lời dịu-dàng khoản tiếp; nhưng về việc Túy-Tiêu, tuyệt
nhiên không nhắc-nhỏm đến. Sinh mom-men hỏi tới, Trụ-quốc gạt đi mà
rằng:
- Mối tình yêu-thương, ai mà chẳng thế. Tưởng nàng nhớ thầy, cũng
chẳng khác gì thầy nhớ nàng. Nhưng vì ít lâu nay nàng hơi khó ở, nên
chưa thể ra cùng thầy tương kiến được. Thầy hãy cứ thong-thả, đi đâu
mà vội.
Túy-Tiêu nghe sinh đã đến, cũng muốn được gặp, nhưng trong nhà
nàng hầu vợ lẽ nhiều lắm, và coi giữ nghiêm-ngặt, nên không có dịp nào
tìm đến sinh được. Một hôm nhân buổi chầu sớm chưa tan, thừa lúc
những nàng hầu vợ lẽ đi ngủ, nàng lén đến thư-phòng của sinh. Phải lúc
sinh chạy đi đâu vắng, nàng thấy trên vách có đề hai bài thơ sau này:
I
Tiểu giai phá lý lạc đài y
Khách xá thê lương độc yểm phi
Thanh điểu bất lai xuân tín vãn
Sa đình mạc mạc hựu tà huy
Dịch:
Trước thềm giày rách giẫm trên rêu
Cửa khép phòng văn lạnh hắt-hiu
Bằn-bặt chim xanh tin chẳng lại
Sân không vắng-vẻ, bóng trời chiều.
II
Nguyệt điện trường hàn tỏa thúy my
Tiên-nga hà nhật thị quy kỳ?
Tương tư khởi trực vô giai cú
Bất bả văn-chương oán biệt-ly.
Dịch:
Cung trăng lạnh-lẽo khóa mày ngài,
Tiên-tử bao giờ lại tái-lai?
Thương-nhớ thiếu đâu câu thắm-thía,
Ngại đem chữ nghĩa khóc thương hoài.
Nàng toan họa lại hai bài thơ ấy, nhưng đã nghe tiếng ngọc-kha[16] về
đến cổng rồi, thành ra không thể họa và đề được nữa.
Lại một hôm, nàng sai con hầu thân-tín của mình là Kiều-Oanh đến
phòng xin sinh cùng ngủ. Sinh đuổi ra thì Kiều-Oanh nói:
- Túy-Tiêu nương-tử sai tôi như vậy. Nương-tử nghĩ lang-quân một mình
buồn-tẻ, nên sai tôi đến hầu-hạ chăn-gối, cũng như nương-tử ở bên
mình lang-quân.
Sinh bằng lòng. Từ đấy tin-tức mới thông mà tình khuê-môn mới đạt đến
nhau được. Bấy giờ sắp đến ngày trừ-tịch, sinh nhân lúc tiện bảo với
Trụ-quốc rằng:
- Tôi vì một mối ân-tình mà vào đây làm người khách trọ, song non
Vu gang tấc, tin-tức chẳng thông, ngày tháng lữa-lần, năm lại gần hết.
Cái việc trả châu[17] chẳng dám lại nói đến nữa. Chỉ xin được ở trước
rèm một lần gặp mặt, trò chuyện với nhau một lát để rồi chia tay.
Trụ-Quốc bằng lòng mà nói:
- Chỉ sau vài hôm nữa, là đêm tốt lành, ta sẽ làm cái việc Xương-Lê
thả nàng Liễu-Chi, Nghi-Thành buông nàng Cầm-Khách; quyết không
ngăn cấm sự ham-muốn của người khác để thoả cái vui tai mắt của
mình. Nhà thầy hãy nán đợi, đừng lo chậm muộn.
Sinh vâng dạ lui ra.
Đến đêm đã hẹn, sinh đốt đèn không ngủ ngồi chờ. Chừng một
trống canh, bỗng nghe thấy tiếng giày lẹp kẹp ở bên khóm trúc; mở cửa
ra đón, té ra là một con hầu áo xanh. Sinh hỏi nó đến làm gì thì ra nó
bưng nước chè đến. Một lúc lại thấy ở trước hoa có tiếng sột sạt, xốc áo
ra xem, lại thấy một ngươi đầy tớ trai. Chờ mãi đến quá nửa đêm, vẫn
bặt tin hơi, rất là thất vọng. Ngày hôm sau, sinh bảo với Kiều-Oanh rằng:
- Nhờ em nói hộ với Túy-Tiêu: Ta nặng mối tình riêng, tin lời nói dối.
Ai lại đến đòi gặp mặt để nói chuyện một lần cũng còn không được, vậy
mà lại mong người ta mở cửa để thả nàng ra thì có đời nào! Nếu ta cứ ở
mãi đây, vạn nhất lòng ghen nổi dậy, kế độc buông ra thì ta là thất cơ mà
họ là đắc kế. Về đi thôi! Về đi thôi! Sao nên vì cớ muốn tìm ngọc châu
mà lại đến nằm ở trước hàm con ly-long bao giờ.[18]
Túy-Tiêu lại sai Kiều-Oanh đến bảo chàng:
- Thiếp sở-dĩ nấn-ná ở đây, chưa làm được một cái chết của nàng Lục-
Châu là vì còn có chàng. Nay chàng định về, phỏng có ước-hẹn với nhau
điều gì không? Thiếp nghe lệ cũ bản-triều, đêm hôm mồng một tết, có đốt
cây bông ở ngoài bờ sông, người trong kinh-thành, đều kéo ra xem đông
nghịt. Nếu chàng chưa nỡ rẽ bỏ thì đêm ấy xin chờ đợi nhau. Loan chia
phượng hợp, chỉ ở trong một chuyến này. Thiếp xin hoãn để chờ.
Y sinh bèn quyết. Trụ-quốc thấy sinh đi, lấy làm dễ chịu, tặng cho rất
nhiều tiền bạc tơ lụa không tiếc tý gì. Sinh chở nặng một chuyến mà về.
Dọc đường gặp người đầy tớ già, hắn bảo sinh rằng:
- Cậu có sự lo-buồn gì chăng? Sao người gầy võ đi khác hẳn ngày
trước?
Sinh nói duyên-cớ và kể lời hẹn của Túy-Tiêu. Người đầy tớ già nói:
- Việc ấy dễ lắm, tôi xin hết sức giúp cậu.
Đến ngày mồng một, thầy trò cùng ra bến Đông, quả thấy Túy-Tiêu
đứng xem ở trên bến. Người đầy tớ bèn đi lén vào rút cái dùi sắt trong
tay áo ra, nện bừa vào đám người theo hầu, khiến bọn phu kiệu, phu dù
đều chạy tan hết, rồi cướp lấy Túy-Tiêu đem đi. Hai người trông thấy
nhau, nửa phần thương-xót, nửa phần mừng-vui; nhưng còn sợ Trụ-
quốc biết đuổi theo bắt lại. Túy-Tiêu nói:
- Hắn chỉ là đồ yếu-hèn mà làm đến bậc Vệ, Hoắc[19]; kêu-xin chạy-
chọt, lúc nào ở cửa cũng rộn-rịp những người ra vào, vàng bạc châu báu
trong nhà, chồng-chất đầy-dẫy. Trừ ra gặp phải hỏa tai, của nả trong
nhà ấy không biết có cách nào tiêu-mòn đi. Nhưng tội ác đầy chứa, thế
tất cũng chẳng được lâu. Có điều bây giờ họ còn đương thịnh, uy thế ấy
cũng rất đáng sợ. Chi bằng ta ẩn hình náu vết, về trốn-lánh ở chỗ nhà
quê, khỏi bày ra tai mắt mọi người để tránh cái vạ nguy-hiểm.
Sinh cho là phải, bèn bí mật đưa nhau xuống hạt Thiên-trường
(Xuân-trường Nam-định) ở nhà một người bạn họ Hà. Năm Đại-trị thứ 7
Trụ-quốc vì cớ xa-xỉ mà phải tội. Sinh về Kinh-sư thi đỗ tiến-sĩ, vợ chồng
ăn-ở với nhau đến già.
Lời bình
Than ôi! Người con trai bất trung, ông vua trung thường xấu-hổ lấy làm
bề tôi, người con gái bất chính, kẻ sĩ trung thường xấu-hổ lấy về làm vợ.
Túy-Tiêu là một ả ca-xướng, chẳng là người chính-chuyên, không hiểu
Nhuận-Chi ham luyến vì cái gì? Vì nàng hiền chăng? Nhưng hết là vợ
họ Trương lại là hầu họ Lý.[20] Vì nàng đẹp chăng? Thì hết làm mê Hạ-
sái lại làm hoặc Dương-thành.[21] Vậy mà lại khinh thường sự đi sự đến,
nhẫn-nhục tới ở với người, sờ đầu cọp, vuốt râu cọp, xuýt nữa thì không
thoát miệng cọp. Như chàng Nhuận-Chi, thực là một người ngu vậy.
Chuyện Lệ-Nương
Nguyễn Thị-Diễm là người một họ lớn ở huyện Đông-sơn (Thanh-hóa)
em họ ngoại của Trần Khát-Chân; cùng người đàn-bà họ Lý quê ở huyện
Cẩm-giang (Hải-dương) cùng mở ngôi hàng bán phấn đối cửa nhau tại
bên ngoài thành Tây-đô (Thanh-hoá). Xóm-giềng gần gặn, tình-nghĩa
ngày một thân, nhưng cả hai đều chưa con cái. Một hôm, đến động Hồ-
công[22] làm lễ cầu tự, Lý-thị bảo với Nguyễn-thị rằng:
- Chúng ta ở trong phố vẫn quen thân nhau, việc đi lễ cầu-tự hôm
nay lại không hẹn mà cùng giống nhau. Nếu mà hương-lửa có duyên,
sau này ta sẽ cho các con sánh nên đôi lứa. Bình-dân ta lại làm bạn với
bình-dân, chẳng cần phải kén chọn con ông cháu cha gì cả; nói có Sơn-
thần chứng dám [giám], tôi quyết không sai lời.
Rồi đó Nguyễn-thị quả sinh con gái đặt tên là Lệ-nương. Lý-thị quả
sinh con trai đặt tên là Phật-sinh. Hai trẻ đến khi trưởng-thành, đều ham
nghề nghiên-bút. Vì cớ hai bên cha mẹ thân-mật, nên họ cùng đi lại với
nhau suồng-sã, thường cùng nhau xướng-họa thơ từ. Tuy kỳ cưới xin
chưa định, nhưng hai tình gắn-bó, đã chẳng khác chi vợ chồng vậy.
Niên-hiệu Kiến-tân năm Kỷ-mão (1399) đời Trần, xảy ra cái vạ Trần
Khát-Chân,[23] Lệ-nương bị bắt vào trong cung, Phật-sinh rất là thất
vọng. Gặp đêm trừ tịch, gần hết canh năm, sinh còn đương nằm ngủ,
chợt nghe tiếng ấm ới. Sinh vùng-dậy đẩy cửa ra xem, thấy có hơn trăm
chiếc kiệu hoa rậm-rịch đi qua, và có một bức thư bằng lụa cài vào
ngưỡng cửa, trong thư chính là bút tích của Lệ-nương đã viết. Thư
rằng:
Thiếp văn, thiên hữu âm-dương, thiên đạo dĩ chi nhi bị,
Nhân hữu phu phụ, nhân đạo dĩ chi nhi thành.
Ta ngã hà tu?
Dữ quân bất ngẫu
Tích thời tâm sự, cửu dĩ tương quan,
Kim nhật tỵ ly, phiên thành vĩnh cảm.
Cánh lạc lâu tiền chi ảnh
Trường giam viện lý chi xuân.
Mỗi phạ kính vũ ly hoan [loan]
Cầm thao biệt hạc.
Xuân thành nhật mộ, liễu tà hàn thực đông phong.
Lưu thủy ngự câu, tràng đoạn Thượng-dương cung nữ.
Đãn hữu u sầu chủng chủng,
Thanh lệ ba ba
Chướng [trướng] túc nguyện chi đa vi
Tiếu thử sinh chi lãng độ
Liễu thị trùng quy chi ước, hảo hội nan kỳ,
Ngọc tiêu tái hợp chi duyên, tha sinh vị bốc.
Nguyện quân tự ái
Biệt đế lương môi,
Vô dĩ nhất nhật chi ân
Nhi ngộ bách niên chi kế
Du du tâm tự
Thư bất tận ngôn
Vi [Vị] đắc quân chỉ
∠ℜ©∞≠ƒ∞
Tiên thử thân phúc
Dịch nghĩa:
Thiếp nghe:
Trời có âm dương, đạo trời mới đủ,
Người có chồng vợ, đạo người mới thành.
Đôi ta vì đâu?
Lỡ-làng đến vậy!
Tâm tình buổi trước, đã kết mối dây,
Ly-biệt ngày nay, bao khuây nguồn cảm.
Bóng trước lầu đã rụng,
Xuân trong viện đành giam,
Những e, gương ly loan bóng múa hững hờ,[24]
Đàn biệt hạc, tiếng vang ai oán.[25]
Thành xuân trời tối, liễu lả cành dưới ngọn đông phong,[26]
Ngòi ngự nước trôi, ruột đứt khúc bao người cung nữ.[27]
Luống những, mạch sầu đợt-đợt,
Sóng lệ trùng-trùng,
Nguyền xưa tan-nát nghĩ mà đau,
Kiếp ấy lỡ-làng sinh cũng uổng.
Ước Liễu-thị mong gì hảo-hội,[28]
Duyên Ngọc-Tiêu đâu chắc tái-sinh.[29]
Xin chàng trân-trọng lấy mình,
Liệu kết nhân-duyên chốn khác.
Đừng vì tình một buổi,
Để lỡ kế trăm năm.
Man-mác nỗi lòng,
Thư không xiết tả.
Sinh được thư rất là đau-thương, bỏ cả ăn ngủ. Rồi vì cớ hôn-sự đã
hỏng, bèn thiên ra ở ngoài miền đông. Nhưng nặng tình với Lệ-nương,
sinh chưa nỡ lấy ai cả.
Cuối đời nhà Hồ, tướng Minh là Trương-Phụ chia binh vào cướp, lấn
chiếm Kinh-Kỳ. Sinh nghe Hán-Thương phải chạy, đoán chắc là Lệ-
nương cũng phải đi theo, bèn từ-biệt mẹ đi vào nam, mong được gặp
mặt. Lặn lội hàng tuần mới đến cửa bể Thần-phù, nghe tướng giặc Lã-
Nghị bắt cướp mấy trăm phụ-nữ hiện đóng giữ ở phủ Thiên-trường trơ-
trọi không có quân ứng viện. Sinh đoán chắc Lệ-nương cũng ở trong
ấy. Nhưng đất khách tay không, chẳng làm gì được. Chợt gặp khi vua
Giản-định [n]ổi quân lên ở châu Trường-an, nhưng vì ít binh không địch
nổi với số nhiều của quân giặc, Sinh muốn nhờ thế quân của vua, đánh
úp mà cướp lại Lệ-nương, bèn đến trước ngựa dâng một bài sách, đại
lược rằng:
Thần văn: Chửng hoán thành công, cố nhân hưng vận.
Ngữ nhung đắc sách, thực bản miếu mô
Cố công nhân tất thẩm ư trí nhân
Nhi phá địch đương minh hồ liệu địch
Tạc giả Hồ triều thất ngự
Ngô tử sinh tâm
Hàn Quán thừa hồ thác chi uy, oa tranh viễn khiếu,
Mộc Thạnh sính chi trương chi ác, phong thích giao kỳ.
Trí linh bách dư niên an lạc chi khu,
Chuyển tác sổ thập hợp phân nô chi địa
Tích hài cung thoán
Phấn cốt vi lương
Duyên hà chi ức vạn sinh linh thùy vô thiết sỉ,
Cứ quân chi tứ phương hào-kiệt, hàm hữu chiến tâm.
Tất tu bát loạn hoành tài
Phương kiến phù điên vĩ tích.
Kim đại-vương phẫn Trần gia chi bất tạo,
Phấn Hạ lữ dĩ đồ hồi
Trì nhị thiên bất mãn chi binh
Đương ngũ đạo mạc cường chi khấu
Lôi oanh điện xiết, tòng thiên chi thế phương trương,
Vụ lãng vân thanh, phục thổ chi công khả tất.
Phương vọng hoàn đô nhi trắc tích,
Như hà ngộ địch dĩ ban sư
Cố nghi chiêu Đặng Tất ư Diễn-châu
Lưu Triệu Cơ ư Mô-độ
Hải đạo tê chu kính trạo, trực để Bình-than
Bộ quân trường cốc, cao phong, kính xu Hàm-tử
Hoặc mệnh tướng dĩ ách Mộc-hoàn chi khẩu
Ngạnh tặc nha ư Bạch-hạc loan-đầu, vô linh chuyển thực.
Trực thung mộc ư Man-trù tân vĩ, dụng át bôn-ba
Lục vật dung phương quỹ chi xa
Thủy mạc cộng trường-gian chi hiểm
Dạ tắc nhiên sô lương tiếp
Chú [trú] tắc phù cổ tương văn
Tây-đô chi hình thế ký trương
Đông thổ chi phiên duy tự cố
Tương kiến Hàn-công tắc Triệu-ứng
Tung hợp tắc hoành cô
Ngã chuyển chiến nhi vô tiền, sư hành tịch thượng.
Bỉ phù thương nhi bất hạ, bại tại nhỡn trung
Túng do dự nhi hồ nghi
Khủng cẩu tiều nhi thử thoán
Thời nan tái đắc
Vương thỉnh vật nghi
Phục vọng
Thụ Hán chi kỳ
Phản Đường chi bái
Ngô quân đình kích, thoảng đồng thời hợp lực dĩ tinh công
Bỉ lỗ thiên vong, tương sất mã trích luân nhi bất phản.
Dịch nghĩa:
Thần nghe:
Dẹp loạn thành công, vẫn nhờ vận tốt,
Chống giặc đắc sách, thực bởi mưu cao.
Nên đánh người, cần biết cách nhử người.
Mà phá giặc phải sáng bề liệu giặc.
Dạo trước, triều Hồ đổ sập,
Giặc Ngô tràn-lan,
Hàn Quán kia cáo mượn oai thiêng, oai [oa] tranh bờ cõi[30]
Mộc Thạnh nọ diều giương mỏ độc, ong đốt kinh kỳ,
Khiến cho đất nước hơn trăm năm yên vui,
Biến thành khu-vực mấy trăm dặm rối loạn.
Đập xương làm củi
Tán xác làm lương
Men dải sông ức vạn sinh linh, nghiến răng tức-tối.
Giữ các quận bốn phương hào-kiệt, tuốt kiếm hằm-hè.
Lược-thao phải có tài hùng,
Chống đỡ mới nên công lớn.
Đại vương nay,
Buồn vận Trần gặp cơn truân-bĩ,
Nổi quân Hạ[31] mưu cuộc trùng-hưng.
Cầm đội quân chẳng đủ hai nghìn,
Chống đám giặc có thừa năm đạo.
Sấm ran chớp giật, tự lưng trời thế mạnh vừa buông,
Mù tạnh mây quang, lấy lại đất công to sắp dựng.
Những tưởng về kinh xây nghiệp cũ,
Vì sao gặp giặc rút quân lui?
Rất nên, vời Đặng Tất ở Diễn-châu,
Lưu Triệu Cơ ở Mô-độ.
Đường bể thuyền bền chèo cứng, đến thẳng Bình-than
Quân bộ xe rộng giáo dài, tới mau Hàm-tử.
Hoặc sai tướng chẹn cửa Mộc-hoàn nọ
Hoặc chia binh đánh thành Cổ-lộng kia.
Đầu sông Bạch-hạc, ghè nanh cho giặc hết đường ăn
Cuối bến Mạn-trù,[32] đóng cọc cho giặc hết lối chạy.
Dưới nước không cho chỗ nào cứ hiểm,
Trên cạn không để xe nào sóng đôi.
Ngày đánh trống để truyền tin,
Đêm đốt lửa để báo hiệu.
Hình-thế Tây-đô đã vững,
Phên rào Đông-thổ phải bền.
Sẽ thấy Hàn bị đánh mà Triệu phải hàng,
Tung đã hợp thì Hoành phải vỡ[33]
Ta ruổi-giong thực gắp [gấp], tiến chẳng ngừng chân,
Giặc ứng-tiếp không rồi, thua trong chớp mắt.
Nếu mình mà hồ-nghi do-dự
Sợ giặc sẽ chó chạy chuột chui.
Dịp tốt không hai,
Xin vương quyết đoán.
Kính mong,
Dựng cờ nước Hán,[34]
Về phướn nhà Đường.[35]
Chớp nhoáng quân ta, các đội các cơ hợp đánh,
Ngói tan thế giặc, chiếc xe chiếc ngựa không còn.
Bài sách ấy dâng lên, vua Giản-định xem mà khen là người giỏi, cấp
cho năm trăm quân, sai đi đánh phủ Thiên-trường. Sinh khảng-khái thề
quân, dụ-bảo họ về sự hưng-phục nghiệp Trần, ai nấy đều hăng-hái hăm-
hở. Bèn nhân nước thủy triều đương đêm tiến đánh, Lã-Nghị quả-nhiên
phải nhổ trại chạy trốn, lùi lên phía bắc đóng ở Xương-giang. Phá luôn một
trận nữa, giặc phải lùi lên trạm Bắc-nga thuộc về Lạng-sơn. Sinh lại đóng
án-ngữ ở cửa Quỷ-môn, lần-lượt vận-tải binh lương đến.
Chợt ở Yên-kinh có chiếu-thư rút quân ban xuống, Trương-Phụ đốc
xuất các quân sắp-sửa kéo về. Sinh vốn vì sự tìm vợ mà đến đây, không
phải có chí lập công, nay nghe quân Tàu sắp rút về, bèn cùng các
tướng-sĩ chia tay từ biệt, lần đến trạm Bắc-nga vào một buổi tối. Bấy giờ
nhà trạm vắng tanh, không có ai mà hỏi-han cả. Chợt gặp một bà-già,
hỏi thăm thì bà cau mày bảo:
- Đây là chỗ quân đóng vừa rồi, đầy những sát khí, trời lại đã tối, chàng
ở đâu đến mà bây giờ chưa tìm vào nhà trọ?
Sinh rầu-rĩ kể rõ sự mình, bà-già nói:
- Tội-nghiệp! Quả có người họ tên và trạc tuổi như lời chàng nói, nhưng
chẳng may đã chết oan rồi.
Sinh giật mình hỏi, bà-già nói:
- Trước đây năm hôm, quân Tàu sắp rút, người đàn bà họ Nguyễn ấy
bảo với hai bà phu-nhân họ Chu họ Trịnh rằng: “Bọn chúng ta vóc mềm
tựa liễu, mệnh bạc như vôi, nước vỡ nhà tan, lưu-ly đến đó. Nay nếu lại
theo họ sang qua cửa ải, tức là đến nước non quê người. Chẳng thà
chết dấp ở ngòi lạch, gần-gũi quê hương, còn hơn là sang làm những cái
cô-hồn ở bên đất Bắc.” Thế rồi mấy người đều cùng nhau tự-tận.
Tướng Tàu thương là có tiết-tháo, dùng lễ mà táng ở trong rừng.
Nói xong, bà-già đưa sinh đến, trỏ từng ngôi mộ cho biết và bảo:
- Trinh-thuần cương-liệt, ấy chỉ có mấy người này, còn thì đều bị
nhuốc-nhơ cả.
Sinh đau-thương vô hạn. Đêm hôm ấy chàng ngủ ở mộ, khóc mà nói
rằng:
- Ta vì nàng mà từ xa đến đây, nàng có thể cùng ta gặp-gỡ trong
giấc chiêm-bao để cho ta một lời yên-ủi hay không?
Đêm đến canh ba, sinh quả thấy Lệ-nương lững-thững đi đến, khóc
kể rằng:
Thiếp vốn con nhà tầm-thường,
Chàng quá rủ lòng yêu-mến
Trướng gấm nọ duyên chưa đầm-ấm
Giá xuân[36] kia phận đã mỏng manh,
Thời với chí ngửa-nghiêng,
Thiếp cùng chàng ly-cách,
Hờn ôm lầu đỏ, từng trải hôm mai,
Mối dứt chim xanh, khôn thông tin tức.
Ngày tháng lữa-lần trộm sống,
Dong-quang mòn-mỏi riêng buồn.
Nào hay mỏ đỏ ca tàn,[37]
Má hồng vạ nổi,
Ngựa Hồ bình Triệu, giày-xéo tan-tành
Liễu điện hoa cung, bẻ vin xơ-xác,
Ngàn nỗi thân tàn nhiều lỡ-dở,
Than ôi vận ách mỗi chồng thêm,
Trước đã không vẹn tiết để theo chồng,
Sau lại nỡ cam tâm mà hàng giặc.
Gửi chiếc thân ở trong muôn chết,
Trải một ngày như thế ba thu.
Lặn suối trèo đèo,
Qua nguy vượt hiểm.
Ép duyên toan nhắm mắt, giống sói khôn gần.
Qua ải muốn đưa chân, núi hồ[38]
dễ cảm.
Bởi vậy, không ham thú sống,
Chẳng sợ ngục tù,
Lạnh-lẽo trước đèn, hồn theo trống trận.
Bàng-hoàng quán khách, mình gửi khăn là.
Nay thì, linh-tính tuy còn,
Tàn hình đã khác.
Cảm lòng chàng từ xa tìm đến,
Buồn nỗi mình biết nói làm sao.
Dám tỏ niềm riêng,
Kính xin soi xét.
Nguyên văn
Thiếp xuất tự phàm lưu
Quá mông hậu ngộ
Duyên vị hài ư cẩm trướng
Phận dĩ bạc ư xuân băng
Thời dữ chí nhi câu vi
Thiếp từ quân nhi viễn thệ
Chu lâu hữu hận, kỷ đối tà huy
Thanh điểu vô môi, thùy tương lai tín?
Trướng dong quang chi giảm cựu
Độ tuế nguyệt dĩ thâu sinh
Thùy liệu xích trủy ca tàn
Hồng nhan họa khởi
Yên binh Hồ kỵ mạc át xâm lăng
Cầm [cấm] liễu cung hoa, kỷ sầu phan chiết
Trướng tàn khu chi đa ngộ
Ta ách vận chi trùng tao
Thủy bất năng toàn tiết dĩ tòng phu
Chung hựu nhẫn cam tâm nhi hàng lỗ
Ký chích thân ư vạn tử
Độ nhất nhật như tam thu
Thiệp thủy du sơn
Bị gian thường hiểm
Tương tùy duyên nhi cẩu hợp, tắc lang tử nan tuần
Dục xuất tái dĩ dao chinh, tắc hồ khâu dị cảm
Thị dĩ bất tham sinh hoạt
Bất phạ câu tù
Lãnh lạc đăng tiền hồn tùy chiến cổ
Thương hoàng khách lý mệnh ký la cân
Kim tắc linh tính tuy tồn
Tàn hài phi cựu
Hận lương nhân chi viễn phóng
Phủ vãng sự dĩ trường ta
Cảm thuật u hoài
Hạnh thùy tri tất
Vợ chồng bèn cùng nhau âu-yếm chuyện trò, y như lúc sống.
Sinh nói:
- Nàng đã không may, vậy anh đem linh-thấn về, khỏi uổng một
chuyến đi không lại trở về rồi.
Nàng nói:
- Thiếp rất cảm tấm thâm-tình ấy. Song thiếp cùng hai vị mỹ-nhân
gần-gụi lâu ngày, giao tình thân-mật, không nỡ một sớm bỏ đi. Phương
chi chốn này nước non trong sáng, mây khói vật-vờ, thần yên phách yên,
bất tất phiền chàng dời đổi nữa.
Sau khi gà gáy ba hồi, hai người vội cùng nhau đứng dậy từ-biệt.
Ngày hôm sau, sinh đem mấy lạng bạc, mua quan tài và nước thơm, cải
táng cho nàng và cả hai mỹ-nhân. Đêm sau mộng thấy ba người đến tạ
ơn; chàng đương toan lại cùng trò chuyện thì thoắt-chốc cả ba đều biến
mất.
Chàng buồn-rầu quay về, từ đấy không lấy ai nữa.
Đến sau vua Lê Thái-tổ khởi nghĩa ở Lam-sơn, sinh vì mối hờn oán
cũ, đem quân ứng mộ, phàm gặp tướng-sĩ nhà Minh, đều chém giết dữ-
dội cho hả. Cho nên vua Lê phá diệt quân Minh, sinh có dự nhiều công.
Lời bình
Than ôi! Điều tín-ước gần với lẽ phải thì lời nói tất nên giữ đúng; nếu đối
với lẽ phải mà chưa được ổn thì sự giữ đúng không cần. Như chàng họ
Lý kia, vì mối ân-tình, giữ bền ước cũ, lưu-ly hoạn-nạn, vẫn chẳng quên
lời, tình thật đáng thương, mà lẽ phải thì chưa được ổn. Bởi sao? Cảm-
tình mà đi tìm thì nên, liều chết mà đi tìm thì không nên. Liều chết mà đi
tìm còn không nên, huống lại thôi không lấy vợ, để dứt dòng-giống của
tiên-nhân phỏng có nên không? Cho nên người quân-tử phải biết tòng
quyền chứ không nên chấp nhất. Giữ điều nhỏ để mất điều lớn, chẳng là
gã Lý-sinh này ư?
CHÚ THÍCH
[1] Ông Nguyễn Trung Ngạn người làng Thổ Hoàng huyện Thiện Thi
(nay Ân Thi), đỗ tiến sĩ đời Trần, làm chức quan to.
[2] Vì câu thơ thứ ba có những chữ “Túy trẩm tiêu y...”
[3] Chùa này nay đã mất, nền cũ ở vào khu Nhà Thờ lớn bây giờ.
[4] Côn Lôn Nô và Hứa Tuấn là hai hiệp khách đã giúp cho những lứa
đôi bị chia lìa lại được sum họp. Xem chuyện ở Tình Sử.
[5] Tình [tìm] hương chữ là tầm phương, xuất ở câu thơ "Tự thị tầm
phương khứ hiệu trì" của Đỗ Mục, nói về việc duyên lứa lỡ làng. Trả
bích xuất ở điển Trùng Nhĩ nước Tấn. Trừng Nhĩ chạy loạn sang Tào,
Hy Phụ Cơ đưa biếu mâm cơm và ngọc bích. Trùng Nhĩ chỉ nhận mâm
cơm mà trả lại ngọc bích. Từ đấy người ta dùng chữ phản bích(trả lại
bích ngọc) để nói cái gì trả về chủ cũ.
[6] Tiết Tào [Đào] đời Đường là danh kỹ ở đất Thục, hay làm những bài
thơ ngắn, vì tiếc giấy nên cắt hẹp lại. Từ đấy những tài tử trong Thục
thấy thế làm tiện, cũng cắt những tờ giấy nhỏ để viết thơ, gọi là tờ giấy
Tiết Đào.
[7] Vương Hy-Chi đời Tấn là người viết chữ rất tốt, thường làm chức Nội-
sử ở Lâm-xuyên, cho nên người ta thường nói ngòi bút Lâm-xuyên.
[8] Thuần Vu Khôn nói: “Vương-Báo ở đất Kỳ mà đất Hà-tây hát hay”
(Mạnh-tử)
[9] Nàng Mạnh-Quang đời Hán, rất kính trọng chồng là Lương-Hồng, mỗi
khi dọn cơm cho chồng ăn, nâng cái án lên tận ngang mày.
[10] Tràng-Khanh là tên tự của Tư-mã Tương-như. Tương-như gảy khúc
đàn “Phượng cầu hoàng” mà lấy được nàng Trác Văn-Quân.
[11] Đời Đường, Đỗ Mục làm chức Ngự-sử phân-ty ở Lạc-dương, đến
dự tiệc ở nhà vị đại thần là Lý Nguyên. Nhà Lý có nhiều danh-kỹ hầu
tiệc. Rượu say, Đỗ hỏi Lý: “Nghe nói nhà ngài có ả danh-kỹ là Tử Vân,
chẳng hay là người nào vậy?” Lý trỏ cho biết. Đỗ nhìn lúc lâu rồi nói:
“Lời đồn không ngoa, ngài cho tôi quách.” Bọn ca kỹ đều ngoảnh lại
nhìn rồi phá lên cười. Đỗ nhân làm một bàI thơ câu đầu là: “Hoa-đường
kim nhật ỷ duyên khai.”
[12] Điển Lưu Thần, Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai, gặp được người
tiên.
[13] Phận bể quận Hợp-phố vốn sản ngọc châu. Gặp khi có quan thái-thú
không tốt đến cai trị, ngọc châu biến mất. Sau quan thái-thú ấy đổi đi
nơi khác, ngọc châu lại về.
[14] Ninh-vương nhà Đường chiếm cướp vợ của người hàng bánh, đã
trải hàng năm mà người vợ vẫn nhớ thương chồng cũ. Ninh-vương gọi
người hàng bánh đến, vợ chồng trông thấy nhau cùng ứa nước mắt,
vương lại trả cho về đoàn tụ với nhau.
[15] Lục Châu là vợ lẽ của Thạch Sùng. Triệu vương Luân giết Thạch
Sùng để cướp Lục Châu, Lục Châu không chịu, từ trên lầu gieo mình
xuống đất tự tử.
[16] Trụ-quốc đi chầu về.
[17] Lâm-Tích thủa nhỏ lên Kinh, dọc đường trọ ở một cái quán tại Sái-
châu, bắt được một túi ngọc châu đến mấy trăm hạt. Tích hỏi chủ quán
xem ai trọ trước. Chủ quán bảo người trọ trước là Chu Trọng-Tân, Tích
kể họ tên và chỗ ở của mình, dặn hễ Trọng Tân có đến thì bảo cứ đó
mà tìm, mình muốn được gặp. Sau Chu Trọng-Tân quả đến tìm châu,
chủ quán bảo tìm đến Tích, Tích thấy nói đúng bèn đưa trả tất cả.
Trọng Tân muốn đưa biếu một ít nhưng Tích nhất định không nhận.
Trọng Tân bèn bỏ ra hơn trăm quan tiền làm chay ở chùa để cầu phúc
cho Tích. Tích sau thi đỗ làm quan đến Thái Trung đại-phu; con là Đức-
Tân làm đến Lại-bộ thị-lang. Nhà ấy nối đời làm nên khoa hoạn mãi.
[18] Hà-thượng-Ông nhà nghèo, người con trai lặn xuống sông mò được
một hạt châu giá đáng nghìn vàng. Ông bảo: “Ngọc châu này tất là ở
hàm con ly-long. May mầy gặp lúc nó ngủ, chứ nếu nó thức thì đã chết
với nó rồi, còn lấy đâu mà được ngọc nữa.”
[19] Vệ Thanh và Hoắc Khứ-Bệnh là hai viên danh tướng đời Hán.
[20] Trương và Lý đây chỉ là những tên dùng để thí-dụ, do câu “Trương
lang phụ nhi Lý lang thê.”
[21] Dương-thành, Hạ-sái là hai huyện thuộc đất nước Sở đời Xuân-thu,
là nơi các quý công-tử được phong đến đấy. Bài phú của Tống-Ngọc có
câu: “Hoặc Dương-thành, mê Hạ-sái.”
[22] Ở làng Thiên-vực huyện Vĩnh-lộc Thanh-hóa.
[23] Trần Khát-Chân mưu giết Hồ Quý-Ly không thành bị Quý-Ly giết và
bắt-bớ đến cả thân-tộc.
[24] Vua nước Kế-tân đặt một con loan muốn cho nó kêu, phu-nhân bảo:
nghe nói loan thấy đồng-loại nó mới kêu, bèn đặt cái gương cho nó soi
thì nó kêu ngay.
[25] Chàng mục-tử ở Thương-lăng lấy vợ, 5 năm không có con, cha mẹ
định lấy vợ khác cho. Người vợ nghe tin, đương đêm khóc lóc. Mục-tử
cảm động làm ra một khúc hát biệt hạc.
[26] Câu thơ của Hàn-Hoành đời Đường: “Hàn thực đông phong ngự liễu
tà,” nghĩa là: tiết hàn-thực gió đông thổi, cây liễu trong vườn ngự lả
cành.
[27] Chuyện Cố Huống đời Đường đề thơ thả ở ngòi ngự, trong có câu:
“Thượng dương cung nữ đoạn trường thì” = lúc những cung nữ ở cung
Thượng-dương đau ruột.
[28] Chuyện nàng Liễu-thị với Hàn-hoành có chua ở trên.
[29] Vi Cao ở đời Đường thủa nhỏ chơi đất Giang-hạ có tình với nàng
Khương Ngọc-Tiêu. Lúc chia tay có hẹn chóng thì 5 năm, chậm thì 7
năm sẽ đến, lưu tặng một cái nhẫn ngọc và một bài thơ. Sau 7 năm
Cao không đến, Ngọc-Tiêu nhịn ăn mà chết. Cao nghe tin thương xót,
lập đàn tụng kinh siêu độ. Đêm chiêm bao thấy nàng hẹn sẽ thác sinh
để làm nàng hầu. Sau Cao làm quan to, gặp ngày mở tiệc sinh-nhật, có
người đem dâng một người con hát, cũng tên là Ngọc-Tiêu, ngón tay
giữa có một vòng thịt y như hình chiếc nhẫn ngọc mình tặng ngày
trước.
[30] Oa đây là oa-ngưu, giống động vật nhỏ, hình tròn dẹt, mình mềm,
đầu có sừng, ngọn sừng có mắt. Trang-tử nói có kẻ dựng nước ở sừng
con oa-ngưu, ý nói sự bé nhỏ.
[31] Vua Thiếu-khang nổi quân dựng lại nghiệp trung-hưng của nhà Hạ.
[32] Bến sông Nhị thuộc phủ Khoái-châu Hưng-yên.
[33] Tung và Hoành là những kế-hoạch của các nước đời Chiến-quốc.
Tung là kế liên-lạc các nước theo chiều dọc nước Tàu để chống nhà
Tần. Hoành là kế các nước rời nhau quay đầu thờ Tần, theo chiều
ngang.
[34] Hàn-Tín đánh Triệu, dùng quân kỳ binh, nhổ cờ Triệu, dựng cờ Hán
(Hán sử).
[35] Vua Túc Tôn nhà Đường thu binh ở Linh Võ, quay cờ tiến về phía
đông để đánh giặc An Lộc Sơn (Đường Sử).
[36] Nước kết thành băng, đến mùa xuân ấm áp thì tan rã.
[37] Mỏ đỏ, trỏ Hồ Quý Ly. Vua Trần Nghệ-tôn chiêm bao thấy vua Duệ-
tôn về, đọc một bài thơ trong có câu: trung gian duy hữu Xích trủy hầu,
nghĩa là trong đó duy có tước hầu mỏ đỏ.
[38] Hồ là cáo. Tục ngữ: cáo chết ba năm quay đầu về núi.
Tân-biên Truyền-kỳ Mạn-lục
Dịch giả: Thứ Lang Bùi Xuân Trang
NGUYỄN NAM sưu tuyển
Na-Sơn Tiều Đối Lục
Truyện đối-đáp của lão Tiều núi Na [1]
Đất Thanh-Hoá toàn núi, bát-ngát bao quanh đến vài ngàn dặm. Trong
đó có một ngọn cao chót-vót tên gọi núi Na. Trong núi có một động sâu
mà hiểm-trở, ẩm-ướt mà quạnh-hiu, chẳng có chút bụi trần, không người
bén mảng. Thường ngày chỉ có lão Tiều gánh củi từ trong động đi ra,
đem đổi lấy cá và rượu; cốt được no say, chứ không hề hỏi đến tiền-bạc
bao giờ. Hễ gặp ông lão trong thôn hay đứa nhỏ ngoài nội là lại vui vẻ
chuyện-trò về việc trồng dâu gai. Ai hỏi đến họ tên, nhà cửa, thì lão chỉ
cười mà không trả lời. Cứ đến lúc mặt trời gác núi thì lão lại về động.
Người thời ấy cho lão vào hàng Thần-Môn, Tiếp-Dư,[2] chứ từ Thái-
Hoà[3] trở xuống đều không đáng kể.
Sau đến khoảng năm Khai-Đại nhà Hồ (Hồ Hán-Thương) (1403-
1406), Hán Thương đi săn, chợt gặp lão Tiều ở giữa đường, vừa đi vừa
hát rằng:
1. Na chi sơn hữu thạch toàn-ngoan,
Thụ thương thương,
Yên mạch mạch,
Thủy sàn sàn.
2. Triêu hề ngô xuất;
Mộ hề ngô hoàn.
3. Hữu y hề chế kỵ;
Hữu bội hề nhận lan.
4. Thát bái thanh hề bình hiểu chướng;
Điền hộ lục hề chẩm tình than.
5. Nhậm tha triều thị;
Nhậm tha xa mã;
Truy trần bất đáo thử giang san.
6. U thảo Tống-triều cung kiếm;
Cổ khâu Tấn-đại y quan.
7. Vương Tạ phong-lưu
Triệu Tào sự-nghiệp.
8. Toán vãng lai cổ kim khanh tướng;
Thạch triện đài man
9. Tranh như ngã trạo đầu nhất giác,
Hồng nhật tam can.
Giải-nghĩa:
1. Kìa non Na có đá mọc chon-von,
Có cây xanh-xanh, có khói mờ-mịt, có nước chảy lờ-đờ.
2. Buổi sớm ta ra đi, buổi tối ta lại trở về.
3. Ta chế gương ấu, lá sen làm áo mặc[4]
;
Ta xâu cỏ lan làm xiêm đeo.
4. Trước cửa động bày ra núi xanh làm tấm bình-phong cho dịu bớt ánh
sáng;
Ruộng nằm bên bến nước trong như giúp thêm màu lục.
5. Mặc ai ở chốn triều-đình hay ở ngoài chợ (nói những người ham danh
vụ lợi).
Mặc ai cưỡi ngựa hay đi xe;
Bụi đen không vẩn đến nước non này.
6. (Xem như) Cung kiếm triều Tống thành vùng cỏ rậm;
Áo đai đời Tấn cũng thành đống gò cao.[5]
7. Nào mức phong-lưu họ Vương, họ Tạ; Nào sự-nghiệp họ Triệu, họ
Tào.[6]
8. Tính lại các bực khanh-tướng xưa nay, bia đá cũng rêu phủ mà thôi.
9. Đâu có bằng ta lúc ngẩng đầu tỉnh dậy,
Mặt trời đỏ đã lên cao ba sào.
Dịch ra văn vần:
1. Kìa non Na đá mọc chênh-vênh
Cây xanh xanh,
Khói mờ mịt,
Nước long-lanh.
2. Sớm ra khỏi động,
Tối lại về ghềnh.
3. Xiêm dây đeo mặc sức,
Aó lá sẵn bên mình.
4. Cửa động rừng xanh non dịu sáng;
Đầu ghềnh ruộng biếc bến thêm xinh.
5. Mặc ai xe ngựa;
Mặc ai thị thành.
Nước non đây không nhuốm bụi phù sinh,
6. Tống để cung đao vùi dưới cỏ,
Tấn xưa mũ áo chẳng còn manh.
7. Tạ, Vương phú quý;
Tào, Triệu công danh.
8. Ngồi nghĩ lại cổ-kim khanh-tướng,
Bia đá rêu quanh.
9. Ai đặng bằng ta choàng tỉnh giấc,
Ngẩng đầu trông ác đã đầu cành.
Hát rồi, giũ áo đi thẳng. Hán-Thương đoán: hẳn đây là người ẩn-dật,
bèn sai quan hầu là Trương-công đuổi theo mời lại. Nhưng Trương đi
gần kịp thì lão đã rảo bước vào động. Trương vội gọi lại nhưng không
thấy thưa, chỉ thấy cưỡi mây, lách khói, thoăn-thoắt bước mau trong
khoảng cành thông ngọn trúc. Trương biết không phải là người thường,
cứ trông hút lật-đật theo sau, vừa đi vừa vạch cỏ tìm lối tắt, được chừng
hai ba dặm, nhưng đường núi gập-ghềnh, càng vào sâu lại càng hiểm
trở, khôn bề tiến bước. Trong chớp mắt đã chẳng thấy lão đâu nữa.
Ngước trông lên mặt trời đã gác đầu non, cây cỏ đã bắt đầu lờ-mờ.
Trương bàng-hoàng muốn quay gót trở lại thì đã không kịp rồi, chợt nghe
tiếng gà gáy văng-vẳng từ chòm tre cao đưa lại. Trương mừng mà rằng:
- Từ đây đến chỗ có người ở chả còn xa là mấy.
Thế rồi cứ chống gậy trèo dốc, lên tới nơi thấy một cái am cỏ, hai
bên tả hữu trồng mấy khóm kim-tiền, xen kẽ có mấy cây hồng-hạnh,
bích-đào, đều rườm-rà vui mắt. Trong am có đặt cái giường mây, trên
giường có đàn, có sáo và một cái gối tựa. Hai bên vách đông tây đều
quét trắng và đề mỗi bên một bài ca. Một bên là bài ca “Thích ngủ” và
một bên là bài ca “thích cờ.”
1. Bài ca “thích ngủ” như sau:
1. Ngô hà ái?
- Ái duy miên.
2. Ái vị an thư thích tính nhiên.
3. Thiển mặc trướng thiêm tân phú-quý;
Ải (nụy) đằng sàng kết cựu nhân duyên.
4. Mai chi hiên, trúc chi viên.
U cư thú vị hữu lâm-tuyền.
5. Thanh nô ủng hậu:
Hồng hữu la tiền.
Môi dẫn:
6. Hắc điềm thắng cảnh;
Lương tứ khinh biền.
7. Song yểm nhĩ hồng trần thế thượng,
Tiểu khúc quăng bạch ốc vân biên.
8. Ký ngạo thảo lư, Nam-dương nhàn nhật nguyệt;
Khiếm thân vân-quán, Triệu Tống trách sơn xuyên.
9. Bắc song ngâm hồn dị xúc;
Tây đường xuân mộng thường viên.
10. Thư lâu sơ quyển tịch,
Tửu điếm dục tình thiên.
11. Huyền hạc hoàng châu dạ dạ,
Mỹ nhân Tương-thủy niên niên.
12. Hữu thời hướng túy-hương đả ngọa,
Thảo phô nhân, hoa phô ốc, địa phô chiên;
13. Bành-Trạch dạ thâm, bán liêm tàn nguyệt,
Liêm-khê viện tĩnh, nhất chẩm đề quyên.
14. Nhậm nhân đạo vi lãn phu sĩ,
Vi khát thụy hán, vi ẩn thần tiên.
Giải-nghĩa:
1. Ta thích gì? - Thích ngủ thôi;
2. Thích ngủ vì được an-nhàn thư thái hợp với tính mình.
3. (Mặc ai) màn ám muội đen để mà thêm phận sang-giầu. [7]
(Mình vẫn) cùng cái giường mây nhỏ kết mối nhân-duyên cũ.
4. Ngoài hiên có mai, ngoài vườn trồng trúc.
Ở ẩn, có rừng có suối làm thú-vị.
5. Cô hầu xanh đỡ đằng sau,
Rượu hồng-hữu bày đằng trước.[8]
6. Khéo đưa lại: giấc ngủ ngon-lành.
Thần trí mát-mẻ, nhẹ-nhõm.
7. Bịt hai tai (không nghe chuyện) hồng-trần trên đời;
Co tay gối đầu nằm nơi nhà hạc bên mây.
8. Ngạo-nghễ nằm trong lều tranh, ngày tháng ở Nam-Dương nhàn-nhã
thật;[9]
Nằm duỗi chân ở quán Vân-Đài, non sông của họ Triệu nước Tống coi
nhỏ xíu.[10]
9. Nằm bên cửa sổ hướng bắc mà hồn thơ lai-láng.[11]
Nằm nhà hướng tây mà giấc mộng xuân thường được tròn vẹn.[12]
10. Ban chiều mới cuốn rèm nơi viện sách;
Quán rượu muốn để chờ lúc ban mai.
11. Đêm đêm mơ-mộng hạc tía bay qua đất Hoàng-Châu. [13]
Quanh năm mơ-mộng người đẹp chơi trên sông Tương. [14]
12. Có lúc đến làng say đánh một giấc,
Lấy cỏ làm đệm, hoa làm màn, đất làm chăn.
13. (Nhớ cảnh) đất Bành-Trạch lúc canh khuya trăng tà rèm cuốn;[15]
Đất Liêm-Khê khi nhà tĩnh-mịch, tựa gối ngủ nghe tiếng quyên kêu.[16]
14. Ai muốn bảo là anh chàng lười, anh đói ngủ, hay là thần-tiên lánh đời
thì cũng mặc.
Dịch ra văn vần:
1. Hỏi thích gì đây? - Thích ngủ thôi.
2. Bởi thú an-nhàn bén nết rồi.
3. Màn muội, ai kia thèm phú-quý,
Giường mây mình vẫn kết duyên-hài.
4. Kià vườn trúc, nọ hiên mai,
Ẩn náu rừng khe thú tuyệt-vời.
5. Sau sẵn thanh-nô đon-đả,
Trước thềm hồng-hữu chào mời.
Khéo gạ
6. Mộng hồn túy-lý;
Thần-trí chơi-vơi.
7. Nhà bạc khoanh tay kềnh một giấc;
Bụi trần chuyện thế bít hai tai.
8. Am cỏ ngủ khoèo, Nam-dương ngày tháng dư nhàn hạ,
Quán mây nằm khểnh, Triệu-Tống non sông đáng mấy mươi.
9. Cửa bắc hồn thơ lai-láng;
Hiên tây xuân-mộng bồi-hồi.
10. Vườn văn dành buổi tối;
Quán rượu để ban mai.
11. Hạc tía Hoàng-Châu quanh quẩn mãi;
Bóng hồng Tương-Thủy nhởn-nhơ hoài.
12. Có lúc lại làng say ngả-ngón,
Mượn gối cỏ, màn hoa, chăn đất giữa trời.
13. Bành-Trạch canh khuya, nửa rèm trăng chếch;
Liêm-khê nhà vắng chiếc gối quyên ai.
Ai muốn gọi:
14. Rằng "đại lãn" hay rằng "đói ngủ",
Rằng "ẩn thần-tiên" cũng mặc đời.
II. Bài ca "Thích Cờ"
Phiên âm:
1.Ngô hà ái? Ái duy kỳ.
Ái vị phong vân biến thái kỳ.
2. Liệt xứ loại long xà thất thế;
Thắng biên như hùng hổ dương uy.
3. Xa song trì, mã song phi,
Độ hà nhất tốt kháo trùng vi.
4. Bắc nam tương giới,
Hình thế tương y.
Mặc vận:
5. Phương viên động tĩnh;
Diệu toán vô di.
6. Xuân tịch tịch sạ xao tàn mộng;
Thủ dao dao lung toái hương ni (nê).
7. Độc-Lạc viên trung, tân bằng sơ định hậu;
Hoàng-Châu lâu hiểu, minh-đinh bán tỉnh thì.
8.Trú vĩnh thiên lưu khách cửu;
Am cao tử lạc thanh trì.
9.Viện giao dung-thiếp tảo;
Liêm hứa tiểu-đồng khuy.
10. Doanh thâu đổ giang-sơn bán cục;
Công danh tiêu đắc thất nhàn ky (cơ)
11. Hồn bất giác nhất thiên hướng tịch,
Nguyệt tà song, yên tà triện, trúc tà chi.
12. Lãng uyển thần tiên nhàn trung độ nhật,
Tràng an công-tử, túy lý vong quy.
Tương đối xứ kiêm ta cầm, kiêm ta họa,
Kiêm ta bích đề thi.
Giải-nghiã:
1. Ta thích gì? - Thích cờ thôi.
Thích vì (đánh cờ giống như) gió mây biến-chuyển lạ thường.
2. Bền bĩ như rắn rồng thất thế;
Bên thắng chẳng khác gì gấu, cọp lúc dương oai.
3. Hai bên xe ruổi, ngựa bay,
Một tốt qua sông hãm vòng ngoài.
4. Nam bắc chia đôi bờ cõi, hình-thế vẫn nương nhau.
5. Lặng-lẽ vần xoay: vuông, tròn, động, tĩnh.[17]
Toan tính nhiệm mầu, không để sót nước.
6. Chiều xuân yên-lặng, chợt khua tỉnh giấc mơ tàn;
Tay lay-động đánh tan mùi thơm (ở quân cờ).[18]
7. Trong vườn Độc-Lạc,[19]
bạn bè vừa ngồi xuống.
Buổi sớm trên lầu đất Hoàng-Châu,[20]
rượu say mới nửa tỉnh.
8. Ngày dài, trời lưu khách ở lâu;
Am cao, tiếng quân rơi chậm-chạp.
9. Nhà để cô hầu quét;
Rèm để bà vợ ngấp-ngó trông.
10. Cá cuộc hơn thua, tranh-giành nửa giang-sơn;
Bỏ hết tâm-cơ về sự thành bại trên bước đường công-danh.
11. Tuyệt không biết đến trời đã xế chiều, trăng xế cửa, khói lả ngọn, trúc
lả cành.
12. Thần-tiên vườn Lãng, (đánh cờ để tiêu khiển) cho qua ngày nhàn-hạ;
Công-Tử đất Tràng-An, lúc say-sưa (đánh cờ) quên cả đường về.
13. Cùng đối cảnh (với cờ) có cả đàn, có cả họa, có cả thơ đề trên vách.
Dịch ra văn vần:
1. Lấy chi làm thú? - Đánh cờ chơi,
Biến ảo phong-vân thực lạ đời.
2. Bĩ tựa rắn rồng khi thất thế;
Thắng nhường gấu cọp lúc dương oai.
3. Đôi hàng xe ngựa ruổi dài,
Một tốt sang sông hãm mặt ngoài.
4. Trận đồ một cuộc;
Nam bắc đôi nơi.
5. Trù liệu:
Vuông tròn động tĩnh.
Suy tính không sai.
6. Êm-ả trời xuân khua mộng tỉnh,
Dập-dìu ngón ngọc quét hương phai.
7. Độc-lạc vường kia, hò-hẹn người chung hội;
Hoàng-Châu gác nọ, say-sưa rượu nửa vời.
8. Ngày rộng dùng-dằng lưu khách lại,
Am cao, văng-vẳng tiếng quân rơi.
9. Ngoài viện cô hầu quanh-quẩn quét,
Trong rèm bà chủ thập-thò coi.
10. Mảng cuộc hơn thua giành nửa nước;
Lảng đường danh-lợi chả hoài hơi.
11. Cũng chẳng biết khi trời sắp tối,
Khi khói tỏa, khi trăng nghiêng, khi cành trúc lả-lơi.
12. Vườn Lãng thần-tiên, thong-thả cho qua ngày hạc;
Kinh-Kỳ công-tử mê say quên trở gót hài.
13. Đối cảnh có: này đờn, này họa,
Này thơ trên vách một đôi bài.
Lúc đó, lão Tiều đang ngồi ở hiên đá dạy chim vẹt học nói, bên cạnh
có mấy trẻ nhỏ đương đánh cờ.
Lão Tiều thấy Trương-Công đến, kinh-ngạc hỏi:
- Nơi đây vắng vẻ, đất thẳm rừng sâu, chim núi líu-lo giọng hót, thú
rừng chằng-chịt vết chân. Có việc chi ông lần mò đến tệ-xá, há chẳng
cũng khó nhọc lắm ư?
Trương-Công thưa rằng:
- Tôi làm chức cung-phụng đương triều. Vì ngài là bực cao-sĩ, nên
tôi vâng chỉ đem mệnh cung-tinh[21] đến tuyên triệu, sẵn có xe loan, xin
ngài chút lòng huệ-cố.
Lão Tiều cười mà rằng:
- Ta là kẻ dật-dân[22]
trốn đời, lão phu lánh bụi, gởi tính-mệnh chốn
lều tranh ngõ hẻm; tìm sinh-nhai nơi buá gió rìu trăng; ngày rõi lối làng
say,[23]
cửa không chân khách tục; bạn-bè cùng tôm cá hươu nai, dan-díu
với phong hoa tuyết nguyệt. Ta chỉ biết hè đơn mà đông kép, ngủ khói
lại nằm mây; bới núi mà ăn, múc khe mà uống, có biết chi đến việc bên
ngoài: triều-đại nào, vua quan nào?
Nhân lưu Trương ở lại ngủ đêm, cơm thổi bằng hạt điêu-hồ,[24] canh
nấu bằng rau cẩm-đới, luộm-thuộm bày lên mâm, lại thêm vài món rau
suối nữa. Hai người đối diện chuyện trò cho đến canh khuya, đều là
những điều lý-thú, nhưng tuyệt không có câu nào đả-động đến thời-sự
cả.
Hôm sau, Trương-Công lại mời nói:
- Những bậc quân-tử đời xưa không phải là không muốn giúp đời hành
đạo, sở dĩ còn giấu-giếm tên tuổi là cốt để đợi giá cao đó thôi. Cho nên
tất phải có tiếu-tượng đi cầu rồi sau đồng Thương mới đẫm nước[25]
; tất
có hậu-xa đi đón mà sau nội Mục mới thành công.[26] Nay phu tử đem
tấm thân kim-ngọc, ôm một bọc kinh-luân; giấu thanh-danh ngoài trường
vinh-lợi, vùi thịnh-đức trong thú ngư-tiều; tuy hình còn náu chốn sơn-khê,
mà tiếng đã lọt tai thánh-chúa. Nay chính là lúc phu-tử xé áo lá, đốt xiêm
sen rồi đây. Xin sớm bỏ bờ đập Phó-Nham, vứt cần câu Vị-Thủy, để
khỏi uổng lòng khát-vọng của dân đen.
Lão Tiều đáp:
- Kẻ sĩ mỗi người có một chí-hướng, có phải ai cũng thế đâu. Kìa
Nghiêm-Tử-Lăng không màng chức gián-nghị ở Đông-đô để phải xa
cảnh yên-ba bến Đồng-Lại ,[27]
nọ Khương-Bá-Hoài không vì bức họa-đồ
của Thiên-tử mà đánh đổi thú non-nước đất Bành-Thành.[28] Ta dẫu tài
hèn so với người xưa còn cách bức, nhưng may mà giầu hơn Kiềm-
Lâu ,[29]
thọ hơn Vệ-Giới ,[30]
no hơn Viên-Tinh ,[31]
đạt hơn Phụng-Thiến,
[32]
kể ra cũng là được trời đất ban cho khá nhiều rồi. Nếu còn tham cầu
quá phận, mưu-toan vào đường sĩ-hoạn thì không những thẹn cùng các
bậc hiền-giả đời xưa, mà còn tệ với những loài viên-hạc núi cũ. Ông về
đi, đừng nói lôi thôi nữa.
Trương lại nói:
- Ngài cho hiện-thời không bõ làm chăng? Thực ra, nay thánh-nhân
ngự-trị, bốn bể trông chờ. Người Chiêm cắt đất xưng thần; quân Minh
nộp người (Trần-thiểm-Bình) xin rút.[33] Các nước Đại-Lý, Lão-Qua (nay
thuộc tỉnh Vân-Nam bên Tàu) tranh nhau quy phục. Hiện chỉ thiếu mặt
dật-sĩ núi rừng chịu về phò-tá, khiến cho công-đức chúa-thượng sánh tầy
vua Nghiêu, vua Thuấn đời xưa. Nếu ngài định trọn đời ẩn lánh như Vụ-
Quang, Quyến-Tử,[34] thì như vậy mãi cũng không sao, như còn có chút
lòng vì dân, mà bỏ lỡ dịp này không ra thì tôi e rằng sẽ cùng cỏ cây cùng
mục nát, không còn có cơ hội-ngộ nào nữa.
Lão Tiều biến sắc nói:
- Theo lời ông nói há chẳng là khoe khoang thái-quá sao? Khiến người
nghe phải thẹn mặt hổ lòng. Tôi xin hỏi: Ông vua đang ngự-trị phải
chăng người họ Hồ?
Trương-Công thưa rằng:
- Phải.
Lão Tiều hỏi:
- Có phải nhà Vua đã bỏ khu Long-Đổ (Hà-Nội) mà về đóng ở đất An-
Tôn [35] không?
Trương-Công thưa rằng:
- Phải.
Lão Tiều nói:
- Ta tuy chân không bước vào thành-thị, mình không ở chốn đơn-trì,
nhưng cũng từng nghe ông vua ngày nay là người thế nào. Ông ấy nói
hay dối-trá, tính lại tham-lam; xây cung Kim-Âu, kiệt sức nhân-dân; dựng
điện Hoa-Nhai cực kỳ xa-xỉ,[36]
đã rẻ-rúng gấm-là, lại coi thường châu-
ngọc. Dùng vàng như cỏ rác, tiêu tiền tựa đất bùn. Ngục-tù có của đút
là xong, quan-tước có tiền mua là được. Người hiến điều ngay, chưa
thốt lời đã bị gia-hình; kẻ dâng câu nịnh, lại được thưởng mà không tội-
vạ. Bởi xao-xuyến lòng dân mà xẩy việc tràn quân sông Đáy;[37] gây rối-
ren ngoài cõi phải cam bề mất đất Cổ-Lâu.[38] Vậy mà các kẻ đình thần:
trên dưới theo hùa, trước sau nối vết. Duy còn lũ: Nguyễn-bằng-Cử[39]
tuy có lượng nhưng mà chậm chạp; Hoàng-hối-Khanh [40]
tuy có học
song lại lờ-mờ; Lê-cảnh-Kỳ [41]
giỏi mưu-mô mà lại không quyết-đoán;
Lưu-thúc-Kiệm [42]
dù quân-tử mà chửa khoan-nhân. Còn ngoài ra chẳng
lũ tham tiền thì phường bét rượu; phi lấy yên-vui tự mãn thì dùng thế-lực
tương khuynh; chưa thấy ai có mưu cao chước lạ để lo việc cho dân-
chúng cả. Nay ta ẩn-tích ở chốn núi rừng, lánh đi chưa được, há còn rấn
thân vào nữa hay sao.[43]
Xin ông vui lòng trở về, làm ơn vì ta mà từ-tạ
hộ cho. Ta không thể đem viên ngọc Côn-Sơn để cùng cháy chung
trong ngọn lửa ở Côn-Sơn [44] được.
Trương-Công nói:
- Sự xuất-xứ [xử] của hiền-nhân lại cố-chấp đến thế kia ư?
Lão Tiều đáp:
- Không phải là ta cố-chấp đâu, ta chỉ ghét những kẻ khéo nịnh-bợ,
đã thất thân vào trong cái triều-đình trọc-loạn, lại còn toan lôi kéo người
khác vào để cùng chìm-đắm với mình.
Trương-Công im-lặng không còn biết nói sao được nữa, bèn xin cáo-
từ trở về phục mệnh. Trương về đem hết những lời của lão Tiều tâu lại
với chúa. Hồ Hán-Thương tuy không bằng lòng, nhưng còn muốn đem
xe đi cố đón mời cho bằng được, bèn sai Trương-Công đi lần nữa.
Trương vào đến nơi thì rêu phong cửa động, gai-góc đầy non, dây
leo, cành rậm đã lấp mất lối đi bữa trước rồi. Chỉ còn thấy trên vách đá,
chỗ mài nhẵn có đề hai câu thơ rằng:
Kỳ-La cửa bể hồn thơ dứt[45]
;
Cao-Vọng đầu non dạ khách sầu.[46]
Xem lời văn có giọng trào-phúng như họ Nguyên, họ Bạch [47] nét chữ
theo lối triện-lệ của ông Lưu, ông Tư,[48] nhưng chẳng hiểu là nói gì.
Hán-Thương cả giận, hạ lệnh đốt núi. Núi cháy hết mà vẫn chẳng
thấy gì, chỉ thấy con hạc đen liệng trên không, lững-lờ bay múa.
Sau hai cha con họ Hồ bị họa, đều đúng như câu thơ trên. Còn lão
Tiều kia, có phải là ngươi đắc đạo rồi chăng?
Phần bình-luận
Có cái "thần" để hay biết việc tương-lai, có cái "trí" để ẩn-tàng điều quá
vãng,[49]
đó là việc của thánh-nhân. Lão Tiều dẫu là hiền-giả nhưng đâu
đã được vào bậc ấy. Tuy nói việc họ Hồ táng bại rõ như bói rùa, bói cỏ,
chẳng qua là nghiệm với lẽ trời, xét theo lòng người, nói nhiều may có
điều trúng là lẽ cố-nhiên.
Bậc làm vua-chúa phải lấy việc Chính lòng mình để làm gốc Chính
Triều-đình, Chính trăm quan và Chính muôn dân, đừng để cho kẻ xử-sĩ
bàn ngang vào là hay hơn cả.
Lý Tướng-quân truyện
Truyện Lý Tướng-quân
Vua Giản-Định nhà Hậu-Trần lên ngôi ở Mô-Độ [50] . Các hào-kiệt
bốn phương, gần xa đều hưởng-ứng, chiêu-tập đồ-đảng làm quân cần-
vương. Bấy giờ có Lý Hữu-Chi ở Đông-Thành xuất-thân là người điền-
phủ (làm ruộng) nổi lên, vốn tính hung-tợn, nhưng có sức khỏe mà thiện-
chiến. Lý được Quốc-Công Đặng-Tất tiến-cử cho làm chức tướng-quân
và sai lãnh một đạo hương-binh đi đánh giặc. Trong tay đã nắm quyền-
hành, Lý đâm ra làm điều trái phép: o-bế phường trộm cướp, thù ghét
mặt văn-nho, ham mê sắc tài, lòng tham không đáy; tậu lắm ruộng vườn,
xây nhiều dinh-thự; đào đồng-nội để làm ao, đuổi xóm-thôn cho rộng
đất. Lý lại còn bắt sang huyện-hạt lân cận lấy hoa thơm, đá lạ. Nhân-
dân phục-dịch thật là vất-vả; anh về em phải thế, chồng nghỉ vợ thay
phiên. Ai nấy vai phồng, tay nát, cực nhọc vô-cùng, mà Lý vẫn thản-
nhiên chẳng chút động-tâm.
Một hôm có người thầy tướng đến cửa ăn mày, biết xem đường họa-
phúc. Lý bảo lão xem tướng cho mình. Thầy tướng nói:
- Không có gì lợi cho việc làm bằng lời nói thẳng, không có gì chữa
khỏi bệnh bằng liều thuốc đắng.[51] Nếu ngài rộng cho, tôi xin nói hết,
đừng vì nói thẳng mà mất lòng, khiến tôi phải dè-dặt, kiêng-kỵ mới được.
Lý nói:
- Được, cứ nói, không hề chi.
Thầy tướng nói:
- Điều thiện-ác tích lâu mới rõ, cơ báo-ứng chẳng chút sai-lầm, cho
nên bàn lý trước khi luận số, tướng diện không bằng tướng tâm. Nay
tướng-quân chỉ có bạo-tàn mà không nhân-đức, khinh người trọng của,
mượn oai-quyền ngược-đãi sinh-linh, buông tham-dục lừng danh kiêu-
hãn (hãnh). Đã trái lòng trời, tất bị trời phạt, còn cách nào tránh tai-ương
được nữa.
Lý cười nói:
- Ta đây, đã sẵn binh-quyền, lại xây đồn-lũy, tay không rời kiếm-kích,
sức lướt kịp phong-vân. Trời dù có giỏi, cũng phải tránh ta không kịp,
còn giáng họa cho ta sao được?
Thầy tướng nói:
- Tướng-quân ỷ sức ngang-tàng, chưa thể lấy lời nói cho hiểu được.
Tôi có chuỗi hạt châu nhỏ bé, trông vào sẽ rõ cát hung, tướng-quân có
muốn xem không?
Vừa nói vừa lấy chuỗi hạt châu trong tay áo ra. Lý đưa mắt nhìn xem
thấy trong đó: nào lò lửa, nào vạc sôi, bên cạnh có những người đầu quỷ
ghê-gớm, kẻ cầm thừng-chão, kẻ cầm dao cưa, còn mình thì bị gông
xiềng, bò lê đến bên vạc-dầu, nhớn-nhác sợ-sệt. Lý hỏi có cách nào cứu
giúp được chăng thì thầy tướng đáp:
- Gốc ác đã sâu, mầm họa sắp nảy. Cái kế gấp-rút ngày nay là
không gì bằng thải hết cơ-thiếp, phá bỏ vườn ao, trút hết binh quyền,
nương nhờ cõi phúc. Tuy chưa thể sạch hết tội được, cũng có thể giảm
trong muôn một.
Lý trầm-ngâm hồi lâu rồi nói:
- Thôi thầy đừng nói nữa. Tôi không thể theo kế ấy được. Có lý đâu
lại vì lo cái vạ mai sau chưa chắc đã có, mà vội-vàng vứt bỏ những công-
cuộc xoay-xở trong mấy năm trường đến lúc sắp thành công đi bao giờ?
Rồi từ đó, Lý càng thêm dâm-dật càn-dỡ, chém giết sướng tay. Bà
mẹ Lý tức-giận bảo:
- Ham sống ghét chết, lòng người ai ai cũng vậy. Đạo trời sáng tỏ, sao
một mình mày dám đa-sát đến thế được? Không ngờ ta đến lúc tuổi già,
lại phải nhìn thấy cái cảnh con bị hình-lục.
Con trai Lý là Thúc-Khoản cũng thường can-gián cha luôn, nhưng vẫn
chẳng hối cải chút nào.
Sau Lý chết ở nhà vào năm 40 tuổi. Người đi đường xôn-xao bàn-tán:
"Người làm điều lành có khi phảI bỏ mạng dưới gươm đao; còn kẻ làm
điều ác, lại được chết toàn mạng ngay trong nhà. Không biết đạo Trời
đâu nhỉ?"
Trước đây có người cùng hạt là Nguyễn-Quỳ tính tình khảng-khái, lại
chuộng khí-tiết, vốn chơi thân với Thúc-Khoản, nhưng chết đã ba năm
rồi. Một hôm Thúc-Khoản đi chơi sớm về, bỗng gặp Quỳ ở ngoài
đường. Quỳ bảo Thúc-Khoản rằng:
- Sắp có việc tra hỏi phụ-thân anh đó. Tôi vì tình quen thân đến báo cho
anh biết trước. Nếu anh muốn đi xem, tối mai tôi cho người lại đón, anh
xem sẽ rõ. Nhưng anh nhớ cho: xem rồi phải bưng kín miệng bình, một
lời tiết-lộ ra là vạ tới tôi ngay đó.
Nói rồi biến mất.
Đến hẹn, Thúc-Khoản ngồi trong trai-phòng ngóng đợi. Tới nửa đêm,
quả thấy mấy người đến đón, đưa tới tòa cung-điện lớn. Có vị Vương-
giả đã ngồi trên điện.
Người thị-lập đôi bên đều giáp sắt, trụ đồng, tay
cầm gươm đao, phủ-việt, hàng ngũ tề-chỉnh, oai-nghiêm.
Một lát thấy bốn viên phán-quan từ dãy hành-lang mé tả rảo bước đi ra,
trong đó Nguyễn-Quỳ là một, đến quỳ trước án, trong tay đều có bản tâu.
Một viên phán-quan tuyên đọc:
- Vị quan tên Mỗ, ở trên trần-thế, giữ nết cương-cường, ngay thẳng,
không sợ quyền-quý, càng cao tước-vị lại càng khiêm-cung, còn biết vì
nước bỏ mình, làm rạng-rỡ cho quốc-gia. Thần cúi tâu bệ ngọc, xin cho
y-viên đặng thành tiên.
Một viên tâu:
- Ở nhà nọ có tên Mỗ, vốn tính tham-ô, người đến hối-lộ đầy nhà, lại cậy
quyền-lộc, rở [giở] thói hợm đời, khinh người đức-độ, chưa từng cất
nhắc hiền tài cho ra giúp nước, thần xin chuyển báo Nam-tào, tước bớt
tuổi thọ.
Một vị tâu:
- Ở châu kia, có người họ Hà gắng làm điều thiện, cặm-cụi suốt ngày.
Mới đây, sau cơn binh-lửa, nạn tật-dịch hoành hành, y lại cho đơn cấp
thuốc, cứu sống đến hơn ngàn người. Thần muốn tâu xin cho y được
đầu thai cửa phúc, hưởng lộc ba đời, để đền ơn đã cứu sống nhiều
người.
Vị thứ tư tâu:
- Trong thôn nọ, có gã họ Đinh bất mục với anh em, bất hòa cùng tôn-
tộc, bắt nạt lũ cháu thơ-dại, thay đổi chúc-thư để chiếm ruộng nương,
khiến chúng không có chỗ cắm dùi.[52] Thần tâu xin bắt gã ấy thác sinh
vào nhà túng-đói, hèn-hạ, sống vất-vưởng bên ngòi, bờ lạch, để đền tội
ác tranh-đoạt của người.
Vương-gia đều chuẩn tấu.
Kế đó, có người mặc áo lụa đỏ, từ bên hành-lang mé hữu đi ra, quỳ
xuống tâu rằng:
- Tòa-sở do thần cai-quản, có tên Mỗ, họ Mỗ ngang ngạnh bất-pháp,
giam cầm trong ngục đã một năm nay chưa kết án, thần xin đưa ra thỉnh
mệnh trước Vương-đình.
Tâu rồi tuyên-đọc bản văn hặc tội sau đây:
Phiên âm:
1. Phục văn:
Huyền-Hoàng triệu phán, phân dương thanh âm trọc chi hình;
Dân-Vật bẩm sinh, hữu ác nghiệp thiện duyên chi dị.
2. Như tư chủng chủng
Cố khả mai mai.
3. Cái:
Thiên năng dĩ lý phú nhân, bất năng sử nhân giai hiền thành;
Nhân năng dĩ thân suất tính, bất năng vô tính hoặc hôn minh.
4. Cố:
Hữu ỷ nhi bất trung;
Hữu lưu nhi vi ác.
5. Cát hung chi động, phán nhiên tẫn, mẫu, ly, hoàng;
Nhân quả chi lai, tất nhĩ hình, thanh, ảnh, hưởng.
6. Cố thử lý bản lai hiển-trừ;
Nại phù nhân nhất thị ngoan-ngu.
7. Cạnh khởi nộ-sân,
Vọng sinh vật-ngã.
8. Yên hà lạc tỉnh, mịch-mịch hà thâm;
Tắc tạm điền khanh, thao-thao giai thị.
9. U-trẩm chi thử,
Vẫn-việt kham liên.
10. Thử:
Cửu thiên thùy bạt-độ chi khoa, tương cảnh mê nhi giác ám;
Thập-địa cụ luân-hồi chi ngục, dục giới vãng nhi trừng lai.
11. Quá nhi phất thuân:
Hình chi tất chí.
12. Kim Lý-Mỗ:
Trùng-sa chi chất,
Nghĩ-sắt chi khu.
13. Đề giao thời phúc-vũ phiên-vân;
Manh tâm xứ yêu-tinh lệ-quỷ.
14. Thị văn-học thực đồng nhuế-tạc;
Trọng hoá-tài đãi nhược khâu-sơn.
15. Chiếm nhân điền loại Hán Hồng-Dương;
Túng ngược sát mại Tùy Dương-Tố.
16. Tường nhân phiến họa, hiệu sài-lang mãnh-thú hữu gia;
Túng dục cùng xa, tuy khê-hác khâu sơn bất túc.
17. Tất cánh tham-tâm sở sử;
Chân thị gian-nhân chi hùng.
18. Hạp trí nghiêm-điều.
Dụng trừng lai-giả.
Giải-nghiã:
1. Kính nghe:
Từ thuở bắt đầu phân ra sắc đen, sắc vàng,[53] đã chia hình-thể: khí
dương trong, khí âm đục;
Muôn dân và loài vật được trời sinh ra, khác nhau ở chỗ người hưởng
duyên lành, kẻ cam nghiệp dữ.
2. Sự-trạng là như thế,
Có thể trình bày từng việc.
3. Bởi lẽ rằng:
Trời chỉ lấy lý phú cho người, không có thể khiến cho người thành thánh
hiền cả được;
Còn con người phải noi theo tính, nhưng tính-tình không khỏi có kẻ sáng
người ngu.
4. Vì thế mà:
Có kẻ thiên-lệch, không giữ đạo trung;
Lại có người xoay-xở làm điều ác-nghiệp.
5. Mọi việc lành dữ, rõ-ràng như con đực, con cái, sắc đen, sắc vàng;[54]
Nhân-duyên, quả-báo, chẳng khác tiếng, vang, hình, bóng.
6. Ngẫm lẽ ấy vốn là rõ-rệt:
Nhưng người đời thật đã ngoan-cố, ngu muội.
7. Tranh đua nổi lòng ghen tức;
Càn-rỡ sinh chuyện tây-riêng.
8. Dìm sông ngã giếng, đắm-đuối càng sâu;
Lấp hào vùi hố, đầy-dẫy khắp nơi.
9. Đắm chìm đến thế,
Trụy lạc càng thương.
10. Vì thế nên:
Chín từng trời mở đường bạt-độ, để răn kẻ u-mê, thức tỉnh người mờ tối;
[55]
Mười phương đất có ngục luân-hồi để răn kẻ trước, khuyên người sau.
[56]
11. Lỗi mà chẳng sửa,
Tội đến không sai.
12. Nay Lý-Mỗ:
Sâu-cát thân hèn,[57]
Kiến giun phận mọn.
13. Kết bạn thời tráo-trở như là bóng mây, cơn mưa;
Trong tâm thời toàn những chuyện gớm-ghê như loài ma-quái.
14. Coi đạo học như mộng tròn xà vuông;[58]
Trọng của-cải như núi như non.
15. Chiếm-đoạt ruộng người như Hồng-Dương đời Hán;[59]
Giết mạng người hơn Dương-Tố đời Tùy.[60]
16. Hại người gieo vạ, so với hùm beo, thú dữ còn tệ hơn;
Lòng ham muốn, nết xa-xỉ, đến khe lạch, núi non còn kém.
17. Hết thảy đều bởi lòng tham xui khiến,
Thực là thủ-đoạn của kẻ gian-ngoan.[61]
18. Xin khép nghiêm-hình,
Để răn kẻ khác.
Dịch ra văn tứ lục:
1. Từ thuở khai thiên lập địa, đã phân hình âm đục dương trong;
Đến khi dựng vật sinh dân, đà khác nẻo duyên lành nghiệp dữ.
2. Sự-tình xiết kể
Bày tỏ một hai.
3. Bởi lẽ rằng:
Lý trời kia phú cho người, người đâu thảy là hiền, là thánh;
Thân nọ người noi theo tính, tính vẫn còn hoặc sáng hoặc ngu.
4. Cho nên:
Có lắm kẻ thiên-tư;
Lại nhiều người gian ác.
5. Dữ lành việc trước, rõ như đực, cái, đen, vàng;
Nhân quả duyên sau, giống hệt tiếng, vang, hình, bóng.
6. Ngẫm lẽ ấy rất là rõ-rệt:
Song người nay thật quá ngoan-ngu.
7. Nổi tính hờn ghen,
Sinh lòng hơn thiệt.
8. Chìm sông ngã giếng, đắm-đuối càng sâu;
Vùi hố lấp hào, tơi-bời thế cả.
9. U-trầm quá đỗi,
Trụy-lạc đáng thương.
10. Vì thế nên:
Chín từng trời bạt-độ mở đường, thức-tỉnh người mê-muội;
Mười phương đất luân-hồi sẵn ngục, khuyên răn kẻ trước người sau.
11. Không sửa lỗi-lầm,
Tất mang tội-vạ.
12. Nay Lý-Mỗ:
Thân hèn sâu-cát,
Phận mọn kiến-giun.
13. Kết bạn-bè tráo-trở mây mưa;
Mang tâm-địa gớm-ghê yêu-quái.
14. Coi văn-học như ngàm-đố lệch,
Trọng bạc tiền tựa núi non cao.
15. Chiếm ruộng người tựa Hán Hồng-Dương;
Giết sinh-mạng quá Tùy Dương-Tố.
16. Gieo tai rắc vạ, so hùm beo lang sói khôn tầy;
Cực dục cùng xa, dù khe suối núi non chưa đủ.
17. Chỉ tại lòng tham thúc-đẩy;
Mà sinh thủ-đoạn gian-ngoan.
18. Phải khép trọng-hình,
Để răn kẻ khác.
Tuyên đọc xong, thấy người lại-dịch giải Hữu-Chi ra, để nằm phục
trước cửa, rồi lấy roi quất dữ-dội, máu tươi bắn ra nhầy-nhụa. Hữu-Chi
giãy-giụa, rên-rỉ, đau không chịu nổi. Chợt trên điện có tiếng phán-
truyền:
- Chia tòa giữ việc là chức-phận của lũ ngươi. Cớ sao việc này bỏ
bề-trễ hàng năm nay?
Người mặc áo đỏ tâu:
- Vì y tội ác đầy-dẫy, thần không dám luận tội một cách sơ-suất. Nên
nay mới tâu trình ngự-duyệt để nghiêm hình-pháp.
Rồi tâu kể các tội sau đây:
- Y bắt vợ người, hiếp-dâm con người, nên xử thế nào?
Diêm-Vương phán:
- Đó là y đắm chìm trong bể ái,[62] nên lấy nước sôi rửa ruột, để lòng
dục khỏi phát-sinh.
Tả hữu liền lôi Hữu-Chi bỏ vào vạc nước sôi, mình-mẩy đều nát rữa ra.
Nhưng đem nước thần vẩy vào, phút chốc trở lại lành-lặn như người
thường.
Người mặc áo đỏ lại tâu:
- Y chiếm ruộng nương và phá-hủy tài sản của người, nên xử thế nào?
Diêm-Vương phán:
- Đó là vì suối tham dìm nó.[63] Nên lấy lưỡi trủy-thủ[64] moi ruột, để
lòng tham khỏi nổi dậy.
Tức thời, tả hữu mổ bụng, moi hết phủ-tạng ra ngoài, rồi lại lấy nhành
dương sẽ phất, chỉ trong giây lát, thân-thể lại nguyên-vẹn.
Người mặc áo đỏ lại tâu:
- Đến như việc phá-hủy mồ-mả cổ-nhân, mất cả luân-thường với ruột
thịt, nên xử cách nào?
Diêm-Vương trầm-ngâm hồi lâu rồi phán:
- Đây là một sự bạo ngược vô-cùng, thì cho xử hình núi đao cây kiếm,
[65] nước đồng gậy sắt cũng chưa vừa. Phải đem giam vào ngục Cửu-
U,[66] lấy dây da chằng đầu, lấy dùi lửa đóng vào chân, cho chim cắt mổ
vào ngực, rắn độc cắn vào bụng, trầm-luân khổ-ải, đời đời kiếp kiếp,
hông bao giờ thoát khỏi nữa.
Quỷ sứ lại điệu Hữu-Chi đi.
Lúc đó, Thúc-Khoản đứng ở khe tường ngó trộm cơ-hồ phát khóc thất-
thanh. Mấy tên quỷ vội lấy tay bưng miệng y lại đưa về, rồi từ trên không
quăng xuống. Thúc-Khoản sợ quá, giật mình tỉnh giấc, thấy người nhà
đang ngồi quanh mà khóc và kể lại là mình chết đã hai ngày rồi. Nhưng
sờ ngực hãy còn thoi-thóp, nên chưa thu-liệm và mai-táng.
Thúc-Khoản liền bỏ cả vợ con, đốt hết văn-tự nợ, bỏ đi vào rừng hái
thuốc tu luyện. Câu chuyện này giữ kín không tiết lộ cho ai hay. Chỉ có
Thúc-Khoản và mấy người nhà được biết mà thôi, cho nên ít người biết
mà truyền lại.
Phần Bình-Luận
Than ôi! Đạo Trời chí công, vô tư! Lưới Trời dẫu thưa mà chẳng lọt!
Cho nên có người tuy lúc sinh thời không mang tai-vạ, nhưng chết rồi
mới bị cực-hình. Chỉ có điều: tai-họa lúc sống đã không ai thấy, cực-hình
lúc chết lại chẳng ai hay. Vì thế mà ở đời có nhiều loạn-thần tặc-tử. Ví
thử, để đời trông thấy thì dù có giục làm điều ác cũng chẳng ai dám làm.
Thế mà Lý-Mỗ, mắt đã trông rõ còn cứ làm càn-dỡ, thì thật là hạng mặt
sứa gan lim, không cần bàn đến vậy.
CHÚ THÍCH
[1] Núi Na tục gọi là núi Nứa [Nưa], ở về xã Cổ-Định huyện Nông-Cống
tỉnh Thanh-Hoá, cách tỉnh chừng 30 cây số. Lão Tiều Núi Na họ Trần
tên Tu, người đương-thời thường gọi là cụ TU-NỨA [NƯA], chán đời,
cất lều tranh gọi là Am-Tiên, ở ẩn trong đó (theo Thành-Ngữ Điển-Tích)
[2] - Thần-Môn là một bậc ẩn-giả lánh đời vào giữ việc mở cổng thành
buổi sớm đời Xuân-thu.
- Tiếp-Dư họ Lục tên Thông, người nước Sở, đời vua Chiêu-Vương, giả
điên-dại không chịu ra làm quan, người thời bấy giờ thường gọi Tiếp-
Dư là Sở-Cuồng.
[3] Lam-thái-Hoà không rõ là hạng người nào, lại có thuyết nói Lam là
một dật-sĩ vào cuối đời Đường, thường mặc quần áo rách tả-tơi, một
chân xỏ dép, một chân không, đi lang-thang ngoài đường, vừa đi vừa
gõ thanh gỗ mà hát nghêu-ngao (Thiên-Hạ dị-kỷ ).
[4] Thi-học đại thành có câu: Chế kỵ hà dĩ vi y, tập phù-dung dĩ vi thường
nghĩa là chế lá ấu, lá sen làm áo, xếp lá phù-dung làm xiêm.
[5] Thơ Lý-Bạch: Ngô-cung hoa-thảo mai u kính, Tấn-đại y-quan thành
cổ-khâu Nghiã là: Hoa-cỏ cung Ngô vùi ngõ tối, Aó đai đời Tấn lấp gò
cao (Đường-Thi)
[6] Vương-Đạo, Tạ-An là khanh-tướng đời nhà Tấn; Triệu-Phổ, Tào-Bân
là khanh-tướng đời nhà Tống.
[7] Phạm-trọng-Yêm người nước Tống; lúc còn nhỏ, rất chăm học, đêm
để đèn trong màn học suốt đêm không ngủ. Sau nên quý-hiển, người
vợ đem cái màn trên đỉnh còn vết muội đèn đen như mực, bảo con
cháu rằng: cha các con thuở nhỏ chăm học hãy còn lớp muội đèn đây
(theo Thượng-hữu-lục).
[8] Mùa hè cho chí mùa đông, trúc vẫn xanh-tốt, nên gọi là thanh-nô (cô
hầu xanh). Hoàng-lỗ-Trực gọi trúc là vợ, vì trúc dùng làm gối để đỡ tay
yên nghỉ (theo Viên-Cơ).
Bạn đỏ (chữ Hán là Hồng-hữu) tên một thứ rượu (theo sách Quần-
ngọc).
[9] Gia-cát-Lượng lúc chưa ra phò Lưu-Bị nằm khểnh trong lều gianh ở
Nam-Dương, tiêu dao tuế nguyệt (theo Tam-Quốc-Chí).
[10] Trần-Đoàn , một cao-sĩ đời Tống, ẩn trong núi Vũ-Đương (còn có
tên Thái-Hoa-Sơn, nay ở phía nam huyện Quân, tỉnh Hồ-Bắc). Mấy
triều vua vời không chịu ra. Sau lại vào tu ở Hoa-Sơn (nay thuộc huyện
Hoa-Âm, tỉnh Thiểm-Tây) tịch cốc luyện khí, mỗi lần ngủ trăm ngày
không dậy. Tống Thái-tôn [tông] ban cho đạo-hiệu là Hi-Di tiên sinh.
[11] Thơ Tô-Đông-Pha: Bất như tam-phục nhật, cao thụy bắc-song lương
Nghiã là: Gì bằng gặp giữa ngày tam-phục, cửa bắc nằm cao, mát-mẻ
thay (theo âm-lịch thì những ngày "canh" sau tiết hạ-chí là sơ-phục,
trung-phục; ngày "canh" sau tiết lập-thu là mạt-phục).
[12] Tạ-linh-Vận rất thân với người em họ là Huệ-Liên thường ở nhà
hướng tây làm thơ. Có lúc bí không nghĩ ra, nằm mơ thấy Huệ-Liên mà
nẩy ra câu thơ hay. Tạ cho là câu ấy có thần giúp (theo sách Thị-tộc ).
[13] Tô-Đông-Pha đời Tống làm quan, bị đổi ra Hoàng-Châu, cùng bạn
bơi thuyền chơi trên sông Xích-Bích. Gần nửa đêm, chợt thấy con hạc
bay qua thuyền, sa xuống kêu to. Đến lúc đi ngủ, Tô nằm mơ thấy
người đạo-sĩ áo lông đến vái chào mà hỏi rằng: "Tiên-sinh chơi sông
Xích-Bích có vui không?" Tô hỏi lại: "Có phải lúc nãy bay qua thuyền ta
mà kêu là ngươi không?" Đạo-sĩ chỉ nhìn Tô mà cười. Tô giật mình
tỉnh dậy. (theo sách Cổ-Văn tất độc).
[14] Xưa có người được chiếc gối, lấy gối đầu ngủ. Đêm nào cũng nằm
mơ thấy người đẹp đi chơi thuyền trên sông Tương (theo Cổ-Văn).
[15] Đào-Tiềm mẹ già, nhà lại nghèo, làm quan lệnh quận Bành-Trạch,
sau từ quan về ở ẩn, nằm ngủ ở dưới cửa sổ đằng bắc hóng mát, tự
coi mình là người đời Hy-Hoàng (theo Thị-tộc).
[16] Chu-Liêm-Khê có cái gối, mỗi khi gối đầu ngủ lại nghe thấy tiếng
quốc kêu, nhân đặt tên là "Đề quyên chẩm".
[17] Đời Đường Huyền-Tôn (712-755), Lý-Bật xin Trương-Thuyết cho
nghe khái-niệm về Phương, Viên, Động, Tĩnh. Thuyết đọc: Phương
nhược kỳ-cục, Viên nhược kỳ-tử, động nhược kỳ-sinh, tĩnh nhược kỳ-tử
Nghiã là: Vuông như bàn cờ, tròn như quân cờ, động như quân còn,
tĩnh như quân chết. Bật đọc luôn: Phương nhược hành nghiã, viên
nhược dụng trí, động nhược sinh tài, tĩnh nhược đắc ý. Nghiã là:
Vuông như làm điều nghĩa, tròn như dùng trí khôn, động như trổ tài,
tĩnh như đắc ý (theo Viên-Cơ).
[18] Những nhà sang ở đất Quan-Trung dùng lõi cây tử-đàn làm con cờ
nên có mùi thơm (theo Hợp Bích). Con cờ vì có nhiều tay người đánh
cầm vào làm cho mùi thơm phai-lạt.
[19] Tư-Mã Ôn-Công làm bài ký vườn Độc-Lạc có câu: tôn-tửu lạc dư-
xuân, kỳ cục tiêu trường hạ. Nghiã là: Chén rượu dư-xuân còn đượm
thú, cuộc cờ trường-hạ cũng mau qua (theo Cổ-Văn).
[20] Vương-nguyên-Chi làm bài Ký lầu trúc ở Hoàng-Châu có câu: Hạ-
nghi cấp vũ, hữu lộc-bố thanh, đông nghi mật tuyết, hữu toái ngọc
thanh, nghi vi kỳ tử thanh đinh đinh nhiên. Nghĩa là: Mùa hạ nên mưa
rào, có tiếng như thác chảy; mùa đông nên tuyết dầy, có tiếng như
ngọc vỡ; nên đánh cờ, tiếng quân đập lát-chát...Khi men rượu tỉnh,
hương trà hết, tiễn mặt trời, đón mặt trăng, đều là những thú ở lầu Trúc
(Cổ-Văn).
[21] Mời quan sĩ thì dùng cung nỏ, mời quan đại-phu thì dùng cờ tinh
(theo Lễ Ký).
[22] Người có đức mà đi ở ẩn gọi là dật-dân (Luận-Ngữ)
[23] Làng say (Túy Hương) là nói ở ẩn vào một cõi say-sưa riêng biệt.
Hoàng-phủ-Tùng có soạn ba quyển "Túy-Hương nhật-nguyệt". Vương
Tích có tập "Túy hương ký".
[24] Điêu-hồ cũng là một thứ lục cốc, hạt to mà dẻo, có thể ăn thay cơm.
[25] Vua Cao-Tôn nhà Thương nằm mộng thấy Thượng-đế cho một kẻ
tôi hiền, bèn theo trong mộng vẽ một bức ảnh rồi sai người đem ảnh ấy
đi khắp nơi tìm kiếm, sau quả tìm được Ông Phó-Duyệt, đương đắp
đập ở đất Phó-Nham (nay thuộc Sơn-Tây), đón về lập làm Tướng
(Tướng Văn). Vua bảo Ông Duyệt: "Khi trời đại-hạn, dùng khanh làm
mưa rào" (theo Thượng Thư).
[26] Chu-Văn-Vương đi săn, gặp Lã-Thượng (Lã-Vọng) ngồi câu cá trên
bờ sông Vị, mới lên xe sau chở về, tôn lên làm bậc thầy. Sau ông Lã-
Vọng bày trận Bát-Quái phá nhà Ân ở Mục-Dã (nay thuộc huyện Hồng
tỉnh Hà Nam) vào năm 1122 trước công-nguyên, tức năm thứ 13 đời
Chu-Vũ-Vương.
[27] Nghiêm-Tử-Lăng đời Hán, vua Quang-Vũ mấy lần vời ra cho làm
quan gián-nghị đại-phu, nhưng Nghiêm không nhận, bỏ đi câu ở núi
Phú-Xuân, cạnh sông Đồng-Giang (huyện Đồng-Lư, tỉnh Chiết-Giang),
trên sông có đền câu của Nghiêm-Tử-Lăng.
[28] Khương-Bá-Hoài đời Hán người đất Bành-Thành cùng hai em là
Trọng Sửu và Quý Giang có lòng hiếu-hữu, tiếng đến Triều-đình, vua
Hoàn-đế sai thợ vẽ hình đi mời, Khương không đến, vào ẩn ở cõi
Thanh-Châu, xem bói độ nhật. Đến năm77 tuổi mới trở về (theo Hán
Cương-Mục).
[29] Kiềm-Lâu nhà nghèo, lúc chết chỉ có một manh áo, đắp kín đầu thì
hở chân, đắp kín chân thì hở đầu. Lúc ấy Tăng-Tây lại viếng, trông
thấy bảo rằng: đắp lệch đi thì kín được cả đầu lẫn chân. Người vợ
Kiềm-Lâu không nghe, nói: Nhà tôi lúc sống vẫn ngay-thẳng, lúc chết lại
để lệch-lạc, thế là không hợp lý. Đắp lệch mà có thừa sao bằng đắp
ngay mà không đủ. Vợ lại đặt tên thụy là Khang. Tăng-Tây nói: Tiên-
sinh ăn không đủ no, áo không đủ kín mình, sao gọi là "khang" được?
Bà vợ Kiềm-Lâu nói: Vua muốn cho làm Tướng-Quốc mà không làm,
thế là thừa sang rồi; cho thóc mà không nhận, thế là thừa giầu rồi, đặt
tên thụy là Khang, chẳng cũng đáng lắm ru? (theo chuyện Cao-Sĩ).
[30] Vệ-Giới đời Tấn, người đẹp văn hay, thọ được có 27 tuổi thì mất
(theo Thị Tộc).
[31] Viên-Tinh là học-trò chết đói ở dọc đường, có kẻ trộm là Khâu-Hồ-
Phủ nấu hồ đổ cho. Viên hồi tỉnh hỏi: Có phải ngươi là kẻ trộm không?
Sao lại nuôi ta? Nói rồi mửa hết ra, chịu nằm mà chết (theo Bạch-My
Cố-Sự).
[32] Tuân-Sán đời Ngụy, tự là Phụng-Thiến, có người vợ đẹp lắm. Sau
vợ ốm chết. Phụng-Thiến cũng chết theo (theo sách Thị-Tộc).
[33] Nhà Minh sai lũ Hàn-Quan đem quân sang xâm lấn, mượn tiếng đưa
Trần-Thiêm-Bình về nước. Hán-Thương sai bọn Hồ-Xạ chận ở cửa ải
Chi-Lăng, quân Minh bèn đưa trả Thiêm-Bình và xin rút quân về (theo
Quốc-Sử).
[34] Vụ-Quang người nhà Hạ, vua Thang đánh chúa Kiệt đến bàn với
Quang. Quang nói là không phải việc mình. Khi được thiên-hạ rồi, vua
Thang lại nhường ngôi cho Quang. Quang nói: Bỏ vua không phải là
nghĩa, giết dân không phải là nhân; người ta phải gian-nan, mình
hưởng quyền-lợi, không phải là liêm. Ta không nỡ trông thấy cái đời
vô-đạo này nữa. Rồi tự buộc đá dìm mình xuống sông mà chết.
Quyến-Tử người nước Tề, cũng là một nhà ẩn-dật ở Nham-Sơn.
[35] Long-Đỗ tức là thành Thăng-Long (Hà-Nội); An-Tôn là tên một làng
ở huyện Vĩnh-Phúc (nay là Vĩnh-Lộc) tỉnh Thanh-Hoá, họ Hồ thiên đô
từ Thăng-Long vào đấy.
[36] Kim-Âu, Hoa-Nhai là hai làng thuộc huyện Vĩnh-Phúc, nhà Hồ xây
dựng cung-thất, điện-đài ở đấy.
[37] Đáy đây là sông Tiểu-Đáy ở địa-hạt tỉnh Vĩnh-Yên bây giờ. Tháng 8
năm Kiến-Tân thứ 2 đời Trần Thiếu-Đế (1399), Nguyễn-nhữ-Cái nổi lên
làm giặc ở đấy, có đến hơn một vạn quân, tung hoành khắp mấy
huyện. Sau do ông Nguyễn-bằng-Cử dẹp yên được.
[38] Nhà Minh sai sứ sang đòi đất Lộc-Châu, tỉnh Lạng-Sơn. Hồ Quý-Ly
cho Hoàng-hối-Khanh ra cắt đất Cổ-Lâu cả thảy 59 thôn trả cho nhà
Minh (theo Quốc-Sử).
[39] Nguyễn-bằng-Cử người huyện Đông-Ngạn, tỉnh Bắc-Giang, làm
quan đời Trần đến chức Đông-Lộ An-phủ-sứ (theo Quốc-Sử).
[40] Hồng-hải-Khanh đô Thái-học-Sinh đời Trần.
[41] Ông làm quan đời Trần (1388-1397).
[42] Luu-thúc-Kiểm đỗ đầu khoa Thái-học-Sinh cuối đời Trần (theo Quốc-
sử).
[43] Truong-Hoa.
[44] Trong Kinh-Thư, thiên Thuấn-Ðiển có câu: Hỏa viêm Cơn-Cương,
ngọc thạch câu phần , nghiã là: Lửa đốt non Cơn, ngọc đá đều cháy.
[45] Cửa bể Kỳ-La ở xã Kỳ-La, huyện Kỳ-Hoa tỉnh Hà-tĩnh bây giờ. Ngày
11 tháng 5 năm Đinh-Hợi (1407), Hồ Quý-Ly bị bắt ở đấy (theo Quốc-
Sử).
[46] Núi Cao-Vọng ở làng Bỉnh-Lễ, huyện Kỳ-Hoa, tỉnh Hà-Tĩnh. Ngày
12 tháng 5 năm Đinh-Hợi (1407), Hồ Hán-Thương bị bắt ở đấy (theo
Quốc-Sử).
[47] Nguyên Chẩn tự là Huy-Chi về đời Đường, người tỉnh Hà-Nam, đỗ
đầu Chế-Khoa triều Nguyên-Hoà (806-820) rất hay thơ, làm quan đến
tả-thập-di.
Bạch-Cư-Dị, tự Lạc-Thiên, người Thái-Nguyên, đỗ tiến-sĩ cũng về triều
Nguyên-Hoà, làm quan Tả-thập-di, làm thơ rất nhiều. Thời bấy giờ nói
đến Nguyên-Bạch tức là để trỏ hai ông này (theo Thượng Hữu Lục).
[48] Thái sử Lưu nhà Chu chế ra lối chữ đại-triện. Thừa-tướng Lý-Tư
nhà Tần chế ra lối tiểu-triện.
[49] Câu: Thần dĩ tri lai, trí dĩ tàng vãng là câu hệ từ trong kinh Dịch.
[50] Hồ Quý-Ly chiếm ngôi nhà Trần. Con thứ vua Nghệ-Tôn [Tông] lên
ngôi ở Mô-Độ (nay thuộc huyện Yên-Mô, Ninh-Bình) ngày 12 tháng 10
năm Đinh-Hợi (1407), xưng là Giản-Định-Đế.
[51] Bái-Công vào Quan-Trung thấy cung-thất nhà Tần đầy đủ màn-
trướng, chó ngựa, châu báu và rất nhiều phụ-nữ, muốn đóng lại đó.
Phàn-Khoái can ngăn và xin rút về Bá-Thượng, không nên ở lại, nhưng
Bái-Công không nghe. Trương-Lương tâu: Lời ngay-thẳng trái tai
nhưng có lợi cho việc làm; thuốc đắng khó uống nhưng chữa khỏi được
bịnh, xin chúa-công nghe lời Khoái. Bái-Công bèn rút quân về Bá-
Thượng (Hán-Kỷ)
[52] Ý nói không còn được tý đất-cát nào.
[53] Sắc đen sắc vàng do hai chữ huyền-hoàng. Kinh Dịch có câu "Phù
huyền-hoàng giả, thiên địa chi tạp dã, thiên sắc huyền nhi địa sắc
hoàng ". Nghiã là: Nói đến huyền-hoàng tứ là nói lúc trời đất hãy còn
hỗn-tạp; trời sắc huyền (đen) mà đất sắc hoàng (vàng). Bài của
Dương-Hùng cũng có câu "Huyền-hoàng phẫu phán." Nghiã là sắc đen
(trời), sắc vàng (đất) tách riêng ra. Đại ý câu này là nói thuở khai thiên
lập địa.
[54] Tần Mục-Công hỏi Bá-Nhạc: Khanh già rồi, còn ai có thể tìm được
ngựa tốt không? Nhạc tâu: Cửu-Phương-Cao coi tướng ngựa còn giỏi
hơn thần nhiều. Mục-Công bèn sai Cao đi mua ngựa. Ba tháng sau,
Cao về trình là đã kén đuợc ở Sa-Khâu một con ngựa cái, sắc vàng.
Đến khi cho người đi lấy ngựa thì lại là ngựa đực, sắc đen. Tần Mục-
Công không bằng lòng, vời Nhạc đến bảo: Hỏng rồi, khanh ạ! Người
khanh sai đi mua ngựa, màu sắc không biết, đực cái không hay, thì còn
nói chi đến chuyện xem tính ngựa nữa. Nhạc tâu: Điều Cao xem giống
như thiên-cơ vậy: biết việc tinh-tế mà quên điều thô-sơ, trông rõ bên
trong mà quên bên ngoài. Quả-nhiên con ngựa đó là ngựa hay thật
(theo Văn-Uyển).
[55] Chín từng trời là: 1. Uất-Thiền Vô-Lượng thiên, 2. Thiền-Bồ Vô-
Lượng Thọ-Thiên, 3. Phạm-Giám-thiên, 4. Đâu-Suất thiên, 5. Kiêu-Lạc
thiên, 6. Hóa-Ứng thiên, 7. Phạm-Bảo thiên, 8. Phạm-Ma Gia-Di thiên,
9. Ba-Lê Đáp-Thứ thiên . Mỗi từng lại dẫn thêm 3 từng nữa. Cả thảy là
36 từng (Thiên-Trung Ký).
[56] Dưới địa-phủ có mười điện gọi là Thập-Điện-Minh-Vương: 1. Tần-
Quảng Vương, 2. Sơ-Giang Vương, 3. Tống-Đế Vương, 4. Ngũ-Quan
Vương, 5. Diêm-La Vương, 6. Biến-Thành Vương, 7. Thái-Sơn Vương,
8. Bình-Chính Vương, 9. Đô-Thị Vương, 10. Chuyển-Luân Vương.
[57] Sự-tích đã chú trong truyện Yêu-Quái ở Xương-Giang. (Trong
truyện "Yêu-Quái ở Xương-Giang," chú thích 1, trg. 247, viết: "Vua
Mục-Vương nhà Chu (cuối thế-kỷ thứ 10 trước công-nguyên) đi đánh
phương nam, cả một đội quân đều biến-hóa, quân-tử hoá làm vượn
làm hạc; tiểu nhân hóa làm sâu làm cát (theo sách Loại-tụ).)
[58] Hán Cao-Tổ ngồi trên lưng ngựa lấy được thiên-hạ rồi, coi đạo học
như là đồ bỏ, khác nào xà vuông mà lỗ mộng tròn, không ăn khớp với
nhau, không ích gì (Tây Hán-Kỷ).
[59] Đời Hán Thành-Đế (32-7 trước công-nguyên), Hồng-Dương Hầu là
Vương-Lập chiếm đất để người khẩn ruộng cho mình rồi cho quan-
tước, có đến mấy trăm mảnh ruộng tốt bán rất đắt. Sau có người phát-
giác ra, Hồng-Dương Hầu bị cất chức (theo Cương-Mục).
[60] Đời Tùy Văn-Đế (589-604), Dương-Tố mỗi khi ra quân lại tìm kẻ
lầm-lỗi đem chém đầu hàng trăm người, máu chảy lênh-láng trong
doanh-trại, mà Tố vẫn cười nói như không. Đến khi giáp trận, đầu tiên
Tố cho vài trăm người ra đối địch, nếu không giữ vững được mặt trận
quay chạy trở về là đem chém hết, lại sai vài trăm người khác tiến ra,
nếu quay chạy về cũng lại bị giết. Tướng-sĩ thảy đều sợ-hãi, vì ai nấy
đều cầm vững cái chết, mà phải đánh liều mạng, nên trận nào cũng
thắng. Tố được vua yêu, nói gì cũng nghe. Công nhỏ của Tố cũng
được ghi sổ, còn các tướng khác dù có công lớn, phần nhiều bị bọn
văn-thư bỏ qua. Vì thế mà Tố tuy tàn-nhẫn, tướng-sĩ vẫn lắm người xin
theo (Tùy Văn-Đế Cương Mục).
[61] Mạnh Thường-Quân thời Chiến-Quốc nuôi khách, bất luận hiền ngu,
không phân xấu tốt, trộm lộc vua để gây bè-đảng cho mình; khoa-
trương danh hão, trên khinh mạn nhà vua, dưới là sâu mọt hại dân. Đó
là thủ-đoạn của kẻ gian-hùng, không nên bắt chước (theo Chu-Sử).
[62] Kinh Phật có câu: Ái-hà thiên xích lãng, khổ hải vạn trùng ba; dục
miễn luân-hồi khổ, cấp-cấp niệm Di-Đà. Nghiã là: Sông Yêu ngàn
thước sóng, bể Khổ rộng bao la; Luân-hồi như muốn tránh, kíp niệm
phật Di-Đà.
[63] Xưa tướng Nam-Việt là Lữ-Gia chứa đá ở sông để ngăn quân Hán
nên gọi sông đó là Thạch-Môn (ở phía bắc Phiên-Ngung, Quảng-
Đông). Người già-cả đời xưa truyền lại rằng: nước sông Thạch-Môn
gọi là suối Tham. Uống nước đó, kẻ sĩ thanh-liêm cũng đổi ra lòng
tham-lam. Ngô-Ẩn đời Tấn, bản-tính thanh-liêm, làm quan Thứ-Sử
Quảng-Châu (Quảng-Đông) uống nước sông Thạch-Môn rồi làm thơ
rằng: Cổ nhân vân: thử-thủy, nhất ẩm hoài thiên câm (kim); thí sử Di,
Tề ẩm, chung đương bất địch tâm. Nghĩa là: Cổ nhân nói: nước này, ai
uống vào đều muốn có ngàn vàng; thử lấy cho Di, Tề (Bá-Di, Thúc-Tề)
uống, tưởng suốt đời cũng không đổi dạ. Từ đó Ngô-Ẩn càng thanh-
liêm hơn trước (Hán Vũ-Đế Cương-Mục).
[64] Lưỡi dao ngắn, mũi giống hình cái thià nên gọi là trủy-thủ (Sư-Cổ).
[65] Đã chú thích trong truyện Yêu-quái ở Xương-Giang.
(Chú thích 2, trg. 249, trong truyện "Yêu-quái ở Xương-Giang" viết
"Sách Cương-mục chú: Nhà Tống đánh nước Nam-Hán, lấy được
thành Xâm-Châu (nay thuộc tỉnh Hà-Nam), và bắt được nội-thị là Dư-
diên-Nghiệp. Vua Tống hỏi về quốc-chính thì Dư tâu rằng: Chủ cũ y
(vua Nam-Hán) dựng ra nhiều thảm-hình, nào đốt, nướng, cắt, thiến,
nào núi đao, cây kiếm; có khi còn bắt tội nhân đánh nhau với hùm, với
voi. Vua Tống nói: Ta phải cứu vớt nhân-dân phương này mới được.)
[66] Cửu-U là 9 địa ngục: 1. Vô-gian a-tụy địa-ngục, 2. Đao-Sơn Hỏa-
Luân địa-ngục, 3. Kiếm-Thụ Nhập-Hàn địa-ngục, 4. Nhập-Nhiệt Hỏa-
Võng địa-ngục, 5. Đồ-Cát Thân-Ngâm địa-ngục, 6. Thiết-Sách Thiết-
Thành địa-ngục, 7. Thiết-Xa Thiết-Hoàn địa-ngục, 8. Thiết-Sàng hôi-hà
địa-ngục, 9. Trảm-Chước Hắc-Am địa-ngục.
Truyền Kỳ mạn Lục
Dịch giả: Cao Thiện Khánh (tuyển dịch)
NGUYỄN NAM sưu tuyển
Hạng-vương Từ-ký [1]
(Chép một chuyện nơi Miếu ông Hạn [Hạng]-vỏ [võ])
Triều nhà Trần có ông Hồ-tông-Thốc làm quan Thừa-Chỉ, lãnh mạng
đi sứ đất bắc. Ông nầy có nghề làm thi hay, phú giỏi; sở trường lời nói
cao sâu, deo dắc. Ngày nọ phụng sứ kinh qua trước miễu vua Hạng-vỏ
[võ]; ngài tức cảnh mà làm bài thi như vầy:
Bá [bách]-nhị sơn-hà, khỉ chiến phong,
Huề tương tử-đệ, nhập quan-trung;
Yên tiêu Hàm-cốc, châu cung lãnh,
Tuyết tán Hồng-môn, ngọc-đẩu không;
Nhứt bại hữu thiên, vong trạch-tả;
Trùng lai vô địa, đáo giang-đông;
Kinh-dinh ngũ tải, thành hà sự?
Tiêu đắc khu-khu, táng Lổ [Lỗ]-công!
Thích nôm
Trăm hai sông núi, dấy binh ròng,
Diều [Dìu]-giắc [dắt] con-em tới ải trong:
U-cốc khói tàn, nhà ngọc rụi!
Hồng-môn tuyết-vở [vỡ], cữa [cửa] châu không!
Có hồi [trời?] một trận, thua chầm-tả,
Không đất hai lần, lại quận-đông;
Vùn [vùng]-vẩy [vẫy] năm năm, nào đặng việc?
Bo bo táng lấy tước tam-công!
Thơ đề rồi: Cầm roi lên ngựa, trở về nhà trọ uống rượu xoàn
xoàn! nằm xuống liền ngủ; thoạt thấy một người, đến trước mặt nói
rằng: tôi vâng Chiếu-chỉ Chúa của tôi mà đến đây mời ông, chịu phiền
đến.
Ông Hồ-tông-Thốc vội-vàng, khép-nép sửa-sang, áo-mão theo sứ
ra đi. Người sứ bèn giắc [dắt] đi phía bên tả. Đến nơi, thấy đền-đài
lầu-các, cao lớn, nguy-nga, quân-hầu sắp hàng hai bên. Vua Hạn
[Hạng]-vỏ [võ] đã ngồi trước đó, một bên có để giường cẩn-ngọc lưu-
ly, mời ông Hồ-tông-Thốc lên ngồi đó.
Vua Hạn [Hạng]-vỏ [võ] hỏi rằng: "Trong lúc ban ngày, ông làm ra
bài thơ ấy, chẳng hay chỗ sở kiến của ông nơi đâu, mà ông chê tôi
lắm vậy? Có câu ông nói như vầy: Nhứt bại hữu thiên vong Trạch-tả,
Trùng lai vô địa đáo giang đông! Nghĩa là có trời một trận, thua chầm-
tả, không đất hai lần lại quận-đông, thiệt cũng cho ông nói vậy là phải,
kế lấy hai câu: Kinh-dinh ngũ-tải, thành-hà-sự ! Tiêu-đắc khu-khu táng
Lổ [Lỗ]-công, nghĩa là: lừng lẫy năm năm, không nên việc, bo bo chịu
tước, táng tam công! Đều ấy có phải là ông chê bai thái quá làm mất
sự đương nhiên của ta sao? Vả chăng nhà Hán có muôn cỗ-xe, ta
đây, cũng có muôn cỗ-xe vậy. Ta chẳng dứt được nhà Hán, sao mà
nhà Hán trở lại, phong tước cho ta, là đạo-lý gì vậy? Chí-như người
Điền-hoành là một đứa con-nít, mà hắn còn chẳng thèm, tham tước-
lộc, của nhà Hán thay! Biết hổ mình, tự-vẫn mà thác, huống chi ta, là
đứng lộng lộng, gây dung nghiệp-bá cho nước Sở, lẽ nào đành chịu lễ
lỗ-công thay!
Nhà Hán cử đặt ra việc ấy; là bởi có ý lấy tước-vị mà gia cho ta, có
ý thưởng ta, mà đền cái hổ ngày trước, là ngày ta phong cho nó, nơi
đất Hán-trung vậy. Ta xin nói cho Sứ-quán rõ việc đó; ngày trước, nhà
Tần, mất một con Hươu (lộc),[2] kẻ tranh cản bốn phía dấy lên. Trong
khi ấy, ta nhơn [nhân]-dịp dân đương buổi ghét nhà Tần, ta kéo rốc
toàn binh đánh nhà Tần, thì chúng nó, dùng đồ làm ruộng, ra mà làm
binh-khí, nấu gạo mạch làm cơm-khô, dân làm ruộng, đều tình nguyện
ra tùng chinh. Người phú-hào đều ra làm tướng, đánh vỡ nước Ngô,
như xô một ổ-kiến, thâu đất Hoài, lẹ đường đốt cái lông con chim hồng,
đánh mới một trận mà quân Bắc-chương thua rốc, đánh lần thứ hai,
phá miễu của Tần-tổ-Long ra như đám đất-bằng. Đức-nghiệp ra,
chẳng có nước nào mà chẳng gầy-dựng, oai-lịnh ra chẳng có người
nào, mà chẳng phục. Gồm các nước Chư-hầu, thời ròng là binh của
nước Sở, làm vua đất Tam-tần đều ròng những tướng của nhà Sở
trong thiên-hạ qui-phục nước Sở, khá ngồi mà đếm lấy. Sau rốt lại,
thấy sự thát [thác] nơi nhà Hớn [Hán]! Chỉn chẳng phải là tại nơi lòng
trời vậy sao? Vậy thời, trời giúp nghiệp nhà Hớn [Hán], tuy là: hắn thổi
ống-tiêu, dệt-chiếu, cũng đủ mà nên công. Trời hầu làm mất nước Sở,
dẫu mà sức ta, vát [vác]-đảnh, xô-non, đặng đi nữa, cũng chẳng lấy sự
mạnh mà nói. Huống chi, sức mạnh của người Chung-li, chẳng kém
Quan-hầu đất Hoài-âm, cái mưu của A-phụ thiệp hơn ngươi Trần-nhụ-
tử, khiến cho ta nghe lời nói, hay xét tới xét lui, nhơn khi thua làm công,
vụt đuổi ngựa Ô-chi đả [đã] mỏi mệt, há chẳng đặng cày bừa chốn cung
đình nơi đất Phong-bái, thâu quân tảng [tản]-lạc nơi đất Bành-thành, há
chẳng đặng đào phá nhà tông-xã của họ Xích-lưu, thành ra vủn [vũng]
ao sao? Nghỉ [nghĩ] vì, cớ sanh linh ta là một đứng sộ sộ tám thước, dựt
[giật] mà giao nơi tay ngươi Vương-Nhuế, và nhiều người khác nhà Hớn
[Hán], nhà Sở, hưng, vong, trời cho, cùng chẳng cho, chẳng nên lấy
thành bại mà luận thay.
Song-le, người đời, hay ưa bình-phẩm nhơn vật. Hoặc có kẻ nói
rằng: "Chẳng phải trời làm mất" lại có kẻ nói rằng: "Trời cớ nào, mà làm
lỗi đó" khiến mấy ông ngâm-thi, mấy tay hàng [hàn]-mặc, làm ra thiên
nầy, thập kia, hoài hoài! Có câu rằng: "Cái thế anh-hùng lực bạc [bạt]
san, văn ca tứ tảng [tản] lụy lan-can" (tượng đứng anh-hùng sức núi xô,
nghe ca nước mắt xuống ồ-ồ!). Lại có câu rằng: "Vua chẳng phải vua,
tôi chẳng phải tôi! Do-nào lập miễu, mà thờ nơi mé sông đó?" Ngày
thêm, tháng chứa, nhiều đến ngàn bài; duy có một câu liễn của ông
Đỗ-lăng nói rằng: "Giang-đông tử-đệ đa tài tuấn, Quyển thổ trùng-lai vị
khả tri." Nghĩa là: Giang-đông đồ-đệ nhiều người giỏi, Cuốn đất lần sau
chưa biết chừng!) Dịu-dàng, trung-hậu, phải biết cách-thức làm thi, đọc
tới đó khiến sốt-sắn [sắng] lòng người. Còn bao-nhiêu, thảy đều phù-
bạc. Ấy vậy, ta lấy làm bất bình lắm! Ta vì Sứ-quân than thở vậy!"
Hồ-tông-Thốc mỉn [mỉm] cười mà rằng: "Lẽ trời, việc người, có
trước, có sau, nếu mà ngài nói mạng nơi trời. Bởi vậy nhà Thương, vua
Trụ mất nước cũng nói rằng: 'Trời sanh đức cho ta, ai làm chi được ta.'
Còn người Tân-mãng vì lời nói đó mà nát mình! Nay mà ngài bỏ sự
người, cứ đổ tại trời, bởi vậy cho nên: ngài trọn phải chịu thua, mất, mà
ngài chưa hay biết vậy! Nay tôi có phước, may-mắn, nhờ ngài rước đến
đây; xin phép cho tôi nói ngay-thẳng, không ẩn-nặt [nặc] chi hết, vậy thì
ngài định thể-nào?" Hạng-vương đáp rằng: "Phải phải! ông cứ việc nói."
Ông Hồ-tông-Thốc nói rằng: "Hễ là xây [xoay] trở được cái thế lớn
trong thiên hạ, là tại nơi "máy," chẳng phải tại nơi "sức." Còn như
thâu được lòng thiên hạ, chỉ lấy điều "nhơn," [nhân] chớ chẳng phải
lấy điều "bạo." Ngài thì lấy khoát [quát]-nạt làm "oai," lấy cứng-mạnh
làm "đức," tôi xin hỏi ngài: Như ngài giết quan quán-quân là ngươi
Tống-nghĩa, không kể đạo lý nhơn [nhân]-quân, lỗi đà thái-quá!? Ngài
giết kẻ hàng đầu là: ngươi Tử-anh chẳng phải là thái-thậm!? Còn
người Hàng-sanh [Hàn-sinh] tội gì mà mổ! Hình dâm nào lạm bấy?
Cung a [A]-phòng lấy duyên-cớ chi mà đốt! Lửa ngược sao mà lắm
bấy? Lấy bấy nhiêu sự ngài làm đó, thì đặng lòng người vậy; hay là
mất lòng người vậy?"
Hạng-vương nói rằng: "Chẳng phải vậy đâu! Vả chăng cuộc đất
Cam-đơn [Hàm-đan], là của nước Triệu mới sáng tạo ra, nó chống cự
với nhà Tần như hùm, như sói, một hơi-thở thì mất, còn, liền thấy; một
nháy-mắt, thì ăn thua, liền phân; mà ngươi Tống-nghĩa thì dùng-dằng,
sợ sệt, có ý chờ giặc, đến khi mỏi mệt, ngóng-trông, trầm-trề, ngăn-trở
không cho binh kéo tới, khiến cái chước trong trưóng chẳng làm, binh
độ qua sông, chậm-trễ, làm như vậy, thời già, trẻ, gái, trai, dân-chúng
tại thành nước Triệu lại càng thê-thảm, hơn cái họa nơi đất Trường-
bình nữa! Vì vậy, nên ta: giết một mình ngươi Tống-nghĩa, mà cứu
đặng trăm mạng sanh [sinh]-linh, nào có lỗi gì đâu? Còn vua các
nước, là chư-hầu, đều có đàn, xã, tước-vị, thì vua nhà Châu [Chu] ban
cho; đất cát, thì vua nhà Châu [Chu] cấp cho; mà nhà Tần tham bờ-
cõi, khoe giáp-binh, ăn gỏi nước Hàng [Hàn], làm thịt nước Triệu, hiếp
nước Ngụy, đánh nước Yên; phía Nam, thí-dụ nước Sở, mà cầm ở
đó, phía Đông gạt nước Tề bỏ đói đó! Khiến chẳng đổ-úp nhà tông-
xã; chẳng giết hết dòng-họ nhà Tần, thời cái hờn gồm nuốt, biết ngày
nào khá đặng tan mòn vậy? Ấy vậy, ta giết một ngươi Tử-anh, mà trả
thù cho Lục-quốc (sáu nước) nào, có hại chi? Đều cùng việc ngay,
việc lành, là cái tiết lớn kẻ nhơn [nhân]-thần vậy!
Còn như cớ sự ngươi Hàng-sanh [Hàn-sinh] thì chẳng phải thế
ấy. Khoe-khoan [khoang] với kẻ bề-trên, quên ơn mà bội nghiã, nó
đánh-lưỡi, nói những sự quân thần, nó lại khua môi, bày lời nhạo-
báng. Vì vậy, ta mổ nó đó, khiến kẻ bất trung, biết chỗ mà răn mình!
Sự hay dè dặc [dặt] là đức tốt của các đứng nhơn-quân mà!
Còn vua Thỉ [Thủy]-Hoàng thời chẳng phải vậy: Cứ sông Vị mà
làm cung, noi triền núi mà làm đường, dân gây oán, như đắp nền cao,
nó thắng mở [mỡ] dân, lấy chứa dẫy đầy; vì vậy, nên ta đốt đi, khiến
các vua đời sau, cho biết sự tiết-kiệm, ông lấy mấy đều ấy mà hài-tội
ta nghĩ chẳng phục."
Ông Hồ-tông-Thốc nói rằng: "Như lời ngài nói đó, vậy thời sáu
pho-kinh sách, hóa ra tro, đà nguội lạnh rồi! Cái ơn của đức Thánh-
nhơn [nhân] hầu mất nửa, một mũi gươm giá-lạnh! Cái việc nơi đất
Giang-trung sao nỡ lòng mà đành vậy? Ngài nghĩ đó coi ai mà bằng
người nhà Hớn [Hán] vậy không? Đã sợ lỗi phận vua tôi, nghe lời
thuyết-khách của ngươi Đổng-công mà dùng làm quan nhơn [nhân]-
nghĩa, có phải là: mối đế-vương hầu rối, mà lại gỡ xong, lại lo đạo học
mất thửa truyền, trở xe về đất Khúc-phụ, bày lễ Thái-lao, tế đức
Khổng-tử, mạch kinh thi, kinh thơ hầu dứt, mà lại nối. Vì vậy cho nên:
Có kẻ bày lời mà nói rằng: 'Nhà Hớn [Hán] lấy đặng thiên-hạ, chẳng
tại dùng Tiêu-hà, Trương-lương đâu, tại nơi ba quân mặc áo trắng, lấy
xướng ra chưng lòng hào-kiệt, tỏ lòng ngay cùng sư hờn, mà lại nhà
Hớn [Hán] bảo-thủ đặng thiên-hạ, chẳng những là ở rộng xa khuôn-
phép mà thôi, là tại nơi đất Khúc-phụ, đem mình tới đó, tế đức Khổng-
tử,' vì vậy: để tiếng lại đời sau nương theo, ngài đâu đặng sánh cùng
Hớn [Hán]-vương một ngày mà nói vậy ru?"
Vua Hạng-võ nghe tới đó, bí-lối, hết nói, sắc mặt như đất!
Có tôi lão-thần, đứng chầu một bên, là Phạm-tăng, bước ra nói
rằng: "Tôi có nghe làm người chẳng khỏi nơi trời đất, lấy lễ mà có
sanh [sinh], trị-nước chẳng qua giềng-hằng, lấy lẽ mà dựng-nghiệp.
Chúa của tôi có một người làm tôi, tên là Tào-cựu, lòng cứng như đá,
mùa lạnh bền thửa tiết, thà liều thửa mình, chẳng thà chịu thửa nhục,
thà thát [thác] mà có tiết, chẳng đành trốn thửa sống, dầu chẳng trị
đặng đạo, mà đặng hổ thát [thác] vậy. Trong truyện nói rằng: 'Vua
khiến tôi lấy lễ, thì tôi thờ vua lấy trung. Đại-vương của tôi xử được
điều đó mà!"[3]
Xương-giang yêu-quái [4]
(Việc quái-gở tại thành Xương-giang)
Có một người tên là: Hồ-kỳ-Vọng, ở đất Phong-châu. Cốt
[cuối?] triều nhà Hồ, đi buôn bán, ở đỗ nơi thành Xương-giang. Nhơn
[nhân] vì có bịnh mà bỏ mình. Người vợ nghèo, không thế gì đem
linh-cữu về xứ mà an táng cho đặng. Bèn bán đứa con gái bé, tên là:
Thị-Nghi cho nhà họ Phạm, là: nhà buôn-to, giàu lớn. Con gái bé ấy:
đã khôn lớn, lại có tư-sắc đẹp-đẽ. Nhà họ Phạm đó, phải lòng, mà tư-
thông với nàng. Người vợ lớn, lần-mò dọ biết ý rồi; mượn lấy cớ-
khác, kiếm chuyện tì-ố đánh đòn đến thát [thác], đem thây vùi, giấu
một bên góc xóm. Chừng vài tháng về sau, yêu-quái dấy lên, biến ra
trăm cách. Hoặc có khi: gỉa hình làm đứa con gái bán tương, hoặc có
lúc: gỉa dạng làm đứa con gái bán rượu. Người nào mà xinh-đẹp
(lịch-sự) thời phải bị nó đâm, nó giết! Còn ai mà có của cải, thì phải bị
nó lấy trộm. Đường dài mười dậm [dặm], thường thường gặp nó,
sớm đỗ, trưa đi. Ròng lấy sự sắc-dục làm giới. Người trong làng rõ
đặng sự quái-gở như vậy, bèn rủ nhau, đào mả lên, lấy xương tan nát
hết, đem bỏ ra mé sông. Từ đó lần lần bớt khuấy rối một tí.
Đến đời triều nhà Lê, thâu về một mối. Có một viên-quan ở phủ
Lượng-giang [Lạng-giang], họ Huỳnh [Hoàng], đi xuống Trường-an
lãnh chức. Thuyền đỗ một bên sông, đương khi ấy, trăng tỏ, sao lờ,
muôn tiếng đều lặng-trang vắng-vẻ. Xảy nghe bãi lồi bên phía Đông-
nam: tiếng than khóc, rên siết, thương xót. Viên-quan ấy bèn bảo bạn
dời thuyền qua đó, coi cho biết duyên-cớ. Đến nơi, thấy một nàng con
gái, tuổi vừa 17, mười [?] 18, lấy tay áo the đỏ, mà che mặt, dùng cỏ
làm nệm, mà ngồi. Ông Huỳnh [Hoàng] cất tiếng hỏi rằng: "Đêm
khuya như rứa, cớ sao mà than khóc vậy? Khiến cho người ta rối nát
lòng dạ sắt đá mần rứa hử?"
Nàng con gái ấy, chùi nước mắt, khép nép thưa rằng: "Thiếp là:
người ở đất Phong-châu, cha mẹ thiếp có nghề buôn bán hàng lụa, bị
ăn-cướp đoạt lấy hết, một giờ thấy hại, hồn chôn bụng cá, xương ném
dòng sông. Duy một mình thiếp, may thoát khỏi miệng hùm, deo
[gieo] mình bên núi, xin ăn trong xóm! Thuở trước tôi vì người Chủ-
phụ của tôi, đến đây hái củi. Nay xảy qua chốn cũ: chẳng biết làm
sao, mà khiến sục [sụt]-suì thương-xót đến nỗi nầy."[5]
CHÚ THÍCH
[1] Xem Lục Tỉnh Tân Văn, các số ra ngày 14/3, 4/4, 18/4, 2/5 và
16/5/1918.
[2] Cuối bài có một hàng chú thích: Mất con Hươu là mất ngôi (xem số
ngày 4/4/1918).
[3] Tuy cuối truyện có ghi “còn nữa” và “khả tường kỳ hậu,” không thấy
truyện được đăng tiếp ở các số sau.
[4] Xem Lục Tỉnh Tân Văn, số ra ngày 25/7/1918.
[5] Truyện chỉ thấy đăng một kỳ. Cuối truyện có viết “Khả tường hậu văn
(Bài sau sẽ rõ),” nhưng không thấy đăng tiếp ở các số sau.

Truyền kỳ mạn lục

  • 1.
    CÁC BẢN DỊCHQUỐC NGỮ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC NGUYỄN DỮ 1. Truyện Lạ Nước Nam Diễn Nghĩa - Dịch giả: Cát Thành Trần Thúy (Hà Nội, 1914) 2. Truyền kỳ mạn lục - Dịch giả: Phan Kế Bính 3. Sử Nam Chí Dị 4. Tình Sử Việt Nam - Dịch giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện 5. Tân biên Truyền kỳ Mạn lục - Dịch giả: Thứ Lang Bùi Xuân Trang 6. Truyền Kỳ Mạn Lục - Dịch giả: Cao Thiện Khánh NGUYỄN NAM sưu tuyển và giới thiệu «Các bản dịch quốc ngữ Truyền Kỳ Mạn Lục» giới thiệu các bản dịch và ưu tiên giới thiệu mười hai truyện do Phan Kế Bính dịch, sau đó chọn rộng ra các truyện khác từ các bản dịch còn lại, để có thể giới thiệu đến bạn đọc trọn vẹn hai mươi truyện của Truyền Kỳ Mạn Lục. Khi giới thiệu, chúng tôi cố gắng bảo lưu hình thức vốn có của các bản dịch, từ quy cách chính tả (các hiệu chỉnh chính tả được đặt trong ngoặc vuông [...]) cho đến thi từ Hán văn đính kèm. Bản dịch các truyện của Cát Thành Trần Thúy có kèm theo lời bình của chính dịch giả. Các lời bình vốn có của Truyền Kỳ Mạn Lục được Trúc Khê và Thứ Lang dịch cũng được đính kèm theo truyện được chọn. Phần giới thiệu không đi sâu phân tích những điều bất cập trong các bản dịch. Ví như, khi đọc câu “Viện giao dung-thiếp tảo – Liêm hứa tiểu-đồng khuy,” rồi so với bản dịch của Thứ Lang Bùi Xuân Trang “Nhà để cô hầu quét – Rèm để bà vợ ngấp-ngó trông,” người đọc dễ dàng thấy được dịch tiểu-đồng thành bà vợ là không ổn (xem truyện “Na-Sơn Tiều Đối Lục”). Tuy nhiên, ở đây chúng tôi không khảo sát và hiệu đính cách phiên dịch như trường hợp vừa nêu, mà chỉ xin cung cấp văn bản như nó vốn có.● Truyện Lạ Nước Nam Diễn Nghĩa Dịch giả: Cát Thành Trần Thúy
  • 2.
    Hà Nội –1914 NGUYỄN NAM sưu tuyển 1. Tử-Hư lên chơi Thiên-đình Xưa ở huyện Cẩm-giàng, tỉnh Hải-dương, có một người tên là Phạm- tử-Hư, là người hào-mại thông minh, không chịu kiểm-thúc. Thờ ông Sử [Xử]-sĩ Dương-Trạm làm thầy. Thầy thường răn về sự kiêu ngạo; người ấy cố sửa tính lại, rồi được thành nhân. Ðến khi Trạm mất, học trò tan cả, chỉ có Tử-Hư làm nhà gần bên mả ở ba năm rồi mới về, tuổi đã bốn mươi mà chưa đỗ. Thời nhà Trần mới ra kinh học, ở trọ nhà dân Tây-hồ. Thường thường đi sớm, một hôm kia, trông thấy ở trong sương mờ, có xe báu cờ phướn đi trước, lại có một cái xe nữa theo sau, người đi hầu cũng đông. Tử-Hư đứng dừng lại xem, thì hóa ra là thầy mình là Dương- Trạm. Tử-Hư đi thẳng ra trước mặt vái chào. Dương-Trạm vẫy tay bảo rằng: - Ở dữa [giữa] đường không phải chỗ nói truyện. Tối hôm nay đến đền Trấn-võ cửa bắc, trò chuyện tiện hơn. Tử-Hư mua rượu với đồ nhắm, y hẹn đến chỗ ấy, thấy thầy đã đến rồi, mừng lắm, mới hỏi rằng: - Tiên-sinh mới bỏ chỗ hàm-trượng, bây giờ dong-nghi hách dịch lắm, không như khi trước, xin tiên-sinh tỏ bảo duyên-do cho tôi đành giạ [dạ]. Thầy nói rằng: - Ta lúc bình sinh, không có đều [điều] gì đáng khen; chỉ bởi ta kính mến nghĩa thầy bạn, quí trọng đạo thánh hiền, phàm đọc sách không điều gì không dìn dữ [gìn giữ], cho nên đức thánh Văn-Xương khen là người có lương-tâm, tâu cho làm kẻ chực [trực]-lại ở cửa Tử-đồng. Trước đi hầu Linh-giá, lên yết Thiên-cung, mà lại gặp ngươi ấy cũng là thầy trò có duyên với nhau lắm.
  • 3.
    Tử-Hư nói rằng: -Đứng [Đấng] Tiên-sinh đã trải chốn thanh-yếu, đường đường dùng việc, thì tôi thọ yểu có biết được chăng? Trạm nói rằng: - Không phải việc ta. Tử-Hư lại hỏi rằng: - Thế thì Tiên-sinh làm việc gì? Trạm nói rằng: - Phàm những học trò thiên-hạ, văn chương thi-cử khoa-danh, đỗ trước đỗ sau, thì phận ta giữ cả. Tử-Hư mừng, nói rằng: - Như thế thì tôi về sau cùng hay là đạt? Chắc Tiên-sinh biết trước. Trạm nói rằng: - Cứ như văn-chương tài nghệ của ngươi, đời bây giờ không ai bằng được, lại thêm trung-hậu thực thà. Chỉ vì lúc trước hay lấy văn- chương kiêu ngạo người ta, cho nên giời [trời] bắt ngươi đỗ muộn, để cho tỏa trí kiêu bạc của ngươi; không thế thì chiếm khoa bảng dễ như nhổ râu cằm, cướp mũ áo như nhặt hạt cải, có khó gì đâu. Xưa nay bàn kẻ sĩ phải lấy đức hạnh làm đầu. Than ôi! Học trò đời bây giờ ít kẻ có đức hạnh, thường có người đổi họ để theo thầy, đổi tên để đi thi; hễ không đỗ thì trách lại quan trường không minh, thành danh rồi thì khinh tiền-bối không bằng mình. Trí khí kiêu ngạo, lấy thầy nghèo làm sấu [xấu] hổ, bỏ bạn hèn mà không thân; không biết rằng ngày thường mài dũa, đều là công của thầy bạn. Ta khi trước dạy học trò đến và [vài] nghìn, giao-giu [du] khắp trốn [chốn] kinh sư, từ khi ta tạ thế rồi, nghe nhiều người làm quan ngoài nhậm phủ huyện, mà chưa thấy ai có chút lòng thành nhớ tưởng đến ta như ngươi, cho nên ta chỉ yêu mến bụng ngươi mà thôi. Tử-Hư mới kể các quan đương chức bây giờ, hỏi rằng ông ấy ở chốn thanh-yếu mà bụng tham lam; ông ấy làm giáo sư mà không đủ tư cách; ông ấy ở chỗ điển-lễ mà nhiều điều nhầm-lỗi; ông ấy làm quan cai-trị mà lắm việc hại dân; ông ấy làm quan Trường mà nhiều đều thiên vị; ông ấy làm việc hình ngục mà không công bằng; lúc bình thường nghị-luận thì mồm mép như nước chảy, đến khi tính việc nhớn
  • 4.
    [lớn] nhà nước,thì lờ mờ như ngồi trong đám mây mù. Còn những người che dối bề trên, đè nén kẻ dưới; cúi luồn lúc tối, vênh váo ban ngày, thì có hưởng mãi phú quí được chăng? Trạm cười nói rằng: - Giồng [Trồng] dưa được dưa, giồng [trồng] đậu được đậu, lưới giời [trời] mênh mông thưa mà không lọt. Bây giờ được thế là tại thời vận chưa đến đấy mà thôi. Nay ta kể cho ngươi nghe: Ở trong giời [trời] đất báo ứng luân hồi, chỉ có thiện ác hai đường mà thôi; ngươi cố sức làm thiện, tuy rằng còn ở trên đời mà tên đã chép ở Thiên- đình, ngươi tích ác đã nhiều, thì không đợi đến lúc chết, ngục đã thành ở nơi địa phủ. Cho nên ông Nhan-Hồi lúc sống khó nghèo; mà lúc chết làm quan Tư-Văn, ngươi Vương-Vu lúc sống kiêu ngoan; mà lúc chết phải tội gông chói [trói]. Thiên-đình không như trên đời, nhiều kẻ cậy thế được quan, lấy của khỏi tội. Những người nịnh nọt thì tuy rằng hèn hạ mà cũng được dùng; những người gian-tham muốn lấy của đút lót cũng được không thoát. Ngươi phải răn mình đừng gây nghiệp báo kiếp sau. Tử-Hư nói rằng: - Những đường họa phúc tôi đã nghe qua, nhưng mà học trò bây giờ, thường đến đền đức thánh Văn nằm chiêm-bao, thì sự nghiệp ngày sau hiển báo cho biết trước, việc đó nên tin hay không? Trạm cười nói rằng: - Đứng [Đấng] đế-quân hồn toàn nguyên khí, quanh khắp bốn cõi, ngày xem tờ tấu, tối đến chầu giời [trời], có rỗi đâu mà theo người ta để hiểu-dụ làm việc nhỏ mọn luôn luôn như thế, nhưng mà nếu ai có một lòng chay giới thanh tĩnh không tạp điều gì, thời trong khi hoảng hốt, như là trông thấy thực, người đời không biết ý ấy, cho làm có thực thì cũng là buồn cười lắm. Tử-Hư nói rằng: - Thế thì truyện cheo [treo] bảng thiên-môn cũng là truyền ngoa ư? Trạm nói rằng:
  • 5.
    - Việc ấythời không sai, liền đưa ra một cuộn thư gói buộc kín lắm, bảo Tử-Hư rằng: “Ấy là bảng xuân sang năm đây, ta vâng lời đứng [đấng] đế-quân, tường tra xét để giao cho chốn thiên-môn viết bảng; vì có ngươi tại đây cho nên khí chậm chưa đi ngay được.[”] Trạm lại bảo Tử-Hư rằng: - Chốn Thiên-tào vui hơn chốn trần-gian lắm lắm, ngươi cố tu mình xửa [sửa] nết, tất đến được nơi thế-giới cực lạc ấy. Như ta bây giờ cũng thực là phúc lắm. Tử-Hư nói rằng: - Gót trần giáng tục đâu giám mong thế, chỉ mong được theo hầu xe, chơi xem một nhát, không biết giấu [dấu] phàm có mon men được chăng? Trạm nói rằng: - Việc ấy không khó gì, nhưng mà phải bẩm với đế-quân viết tên họ vào thì mới được. Nói rồi liền lấy son viết vào cuối giấy độ hơn mười chữ, rồi sai quấn [cuốn] chiếu đi. Bấy giờ Tử-Hư được ngồi bên tả trong xe, bôn đằng thẳng lên, thì thấy lầu bạc từng-từng, gác báu san-sát, hai bên giặt [rặt] những châu-cung ngọc-điện sáng như ban ngày, sông thiên-hà bến sao quanh dễu trước sau, gió thơm đưa lại ngào ngạt thềm lơn [lan], bóng sáng choáng mắt, khí lạnh ghê mình, trông xuống dưới trần như là chén trồng [chồng] bát úp. Trạm hỏi rằng: - Ngươi có biết đây không? Đây là nơi người đời bảo là tinh bạch- ngọc trên giời [trời] đấy, một đóa mây hồng ở trong nhất là ngôi sao Tử-vi. Ngươi hãy đứng đợi cửa thành để ta tâu xin. Liền cầm tờ đi vào, một nhát mới ra, nghe tiếng trên thành reo rằng: “Bảng đầu sang năm đã được trạng nguyên họ Phạm rồi.” Trạm dẫn Tử-Hư đi khắp các tòa; đến một chỗ kia có một cái biển đề chữ “Mỹ đức chi môn.” Trong ấy có hơn nghìn người đội mũ-hoa giải- huệ, hoặc ngồi hoặc đứng. Tử-Hư thưa hỏi, Trạm nói rằng:
  • 6.
    - Các ôngtiên này đều là lúc trước có nhân đức, tuy rằng không phải dốc của chẩn thí, như mà cũng tùy thời chu cấp, đã không có lòng tiếc, lại không sắc khoe; vua khen là người nhân cho làm quan chốn thanh-yếu, cho nên được ở chỗ này. Lại đi qua một sở khác thấy đề “Thuận hạnh chi môn”, trong ấy có chừng hơn nghìn người, mặc áo dáng siêm [xiêm]-mây, người hát người múa vui vẻ lắm. Tử-Hư lại hỏi, Trạm nói rằng: - Các vị tiên này đều là lúc trước hiếu hữu; hoặc trong lúc lưu ly giữ nhau, hoặc lấy tiền của giúp nhau, cùng ở với nhau không nỡ ly tán, vua khen là người khá, cho thuộc vào chốn Vân-cung, cho nên được ở chỗ này. Lại đến một sở khác nữa thấy đề “Nho thần chi môn”, ở trong ấy có chừng một trăm người đều là mặc áo rộng áo giài [dài], lại có hai ông mặc áo bào xanh đội mũ-sa. Trạm chỏ [trỏ] bảo rằng: - Hai ông ấy tức là Tô-hiến-Thành nhà Lý, Chu-văn-An nhà Trần, còn thì dặt [rặt] những danh thần nhà Hán, nhà Đường, không có quan vị, không có chức sự, chỉ ngày rằm, mồng một, chầu chực đứng [đấng] đế-quân; như là Tản-quan bây giờ chỉ phụng lễ Triều lễ thỉnh, hễ được năm trăm năm lại cho giáng sinh; bực cao thì làm quan khanh quan tướng, còn thì làm sĩ-phu, làm hiệu-doãn. Còn các tòa, các bộ khác, đến hơn trăm sở, nhưng mà sắc giời [trời] gần sáng, không kịp xem đến hết, vội vàng cưỡi gió từ từ bay xuống, đến cửa bắc thì các quan đã đi chầu rồi. Tử-Hư cáo về, sang năm đi thi qủa nhiên đỗ tiến-sĩ. Phàm những việc nhà ngươi Tử-Hư hoặc lành hoặc dữ; Dương-Trạm cũng hiển báo luôn luôn. Lời bàn của Cát Thành Trần Thúy Khoa cử là đường phẳng của học-trò, bước ra để giao tiệp [thiệp] với đời. Bởi vì phép tuyển-cử của nhà Chu đã bỏ, thì không có khoa cử không lấy gì mà phân biệt được nhân-tài. Cho nên nhà nước phải lấy
  • 7.
    khoa-mục mà kéntài, học trò phảI lấy khoa cử mà xuất thân. Nhưng mà khoa-cử không nên chỉ lấy một đường văn-học, mà văn-học không nên chỉ lấy một cách từ-chương; hoặc là lấy về kinh luân, hoặc là lấy về võ-nghệ, hoặc là phát minh được lý-học để dạy dân, hoặc là nghiên cứu được trí xảo để lợi dân, thì nhà nước phải tôn lấy ngôi cao, hậu cho bổng lộc, thế thì quốc dân cũng được nhờ về bọn khoa-cử ấy. Nhược bằng chỉ vùi đầu từng chữ từng câu, lại lên mặt rằng tài rằng rỏi [giỏi]; thì tuy rằng thở hơi ra chữ, ích gì đến ai; bảy bước thành thơ, lợi gì cho nước, thế mà cậy mình hay chữ kiêu ngạo khinh người, được câu hơi khá thì đắc ý dung [rung] đùi, thấy người không bằng thì bịt mũi. Than ôi! Những kẻ chỉ được nghề văn chương vô dụng như thế mà cũng kiêu căng với đời; thì chẳng biết kiêu căng về nỗi gì? Khi thi không đỗ thì người bảo rằng “học tài thi phận”, người bảo rằng: “tại giời [trời]”, người bảo rằng: “tại đất.” Cũng có kẻ phẫn trí mà sinh nát rượu nát chè; biến tính mà hoá gàn hóa giở [dở]. Chẳng biết rằng khí mình kiêu, thì văn mình ngông. Khi trước tự-phụ lắm thì lúc hỏng táng trí nhiều. Được hỏng cũng bởi tại mình, chứ giời [trời] là một vùng cao xanh, đất là một quả cầu tròn; giời [trời] đất biết đâu câu hay câu giở [dở] mà lấy đỗ được mà đánh hỏng được. Xem như Tử-Hư lúc tuổi trẻ hay lấy văn-chương tự kiêu, cho nên đỗ muộn, thì thực là đáng kiếp lắm, thực hợp nhẽ [lẽ] lắm. May vì có bụng hiếu nghiã thờ thầy, nên thầy hiển hiện trỏ bảo khuyên răn. Chính là trong dức [giấc] ngủ mơ mà có người gọi hồn tỉnh dậy. Truyện này là một cái gương chuyền [truyền] lại cho học trò đời sau noi để sửa sang tính nết. Chẳng nên cậy chữ khinh người. Còn như sự “xem bảng thiên-đình” thì nên xét nhẽ [lẽ] hư thực mới biết. 2. Huyện Đông-triều có chùa Bụt đói Xưa triều nhà Trần tục hay chuộng việc Quỉ-thần, Thần-từ Phật- tự không chỗ nào là không có, như là chùa Hoàng-giang, chùa Đông-
  • 8.
    cổ, chùa An-sinh,chùa An-tử, chùa Phổ-minh và quán Ngọc-thanh trông thấy san sát, sư-nam, sư-nữ thì nhiều đến một phần dân, về huyện Đông-triều sùng thượng càng lắm. Dựng đặt chùa chiền, xã nhớn [lớn] nhiều đến hơn mười sở, xã nhỏ không kém năm sáu sở, đều là lâu đài nguy-nga, vàng son nhấp nhoáng; hễ ai có tật bệnh gì cũng chỉ nghe nhời [lời] Quỉ-thần, mỗi khi tết nhất, rằm, mồng một thì cúng những đồ rượu thịt, dưng [dâng] những đồ cờ phướn. Thần Phật cũng được chỗ nương tựa, cầu gì cũng được, linh ứng như là vàng treo, cho nên ai cũng càng kính sợ mà không dám nhờn. Đến đời vua Dản [Giản]-Định nhà hậu Trần, liền năm phải việc binh hỏa, đốt cháy gần hết, mười cái còn độ một, mà còn cái nào thì cũng gió lay mưa hắt, cột chống xiêu vẹo, mặt phất mình sơn, bỏ lấp ở khoảng dây cỏ leo quấn. Đến khi quân Ngô đã lui rồi, thì dân mới về làm ăn. Người thổ-quan tên là Văn-tư-Lập làm quan huyện ấy, thương rằng đình chùa đổ nát, mới bắt dân phu, giùm lều lợp cỏ, sửa sang lại dần dần được một năm. Dân cư trong huyện ấy khốn khổ về nỗi mất trộm: chó, lợn, gà, vịt, cùng là cá dưới ao, quả trong vườn, thường thường bất kỳ thứ gì ăn được cũng mất trộm cả. Tư-Lập than rằng: - Ta may được nhậm chức huyện này, không biết minh để soi xét kẻ gian, nghiêm để răn kẻ ác, thực bởi tại ta nhân nhu. Nhưng mà chỉ tưởng rằng đứa gian-phi đói khát, không lấy làm lo lắm, chỉ sức cho chốn hương thôn, đêm phải tuần phòng cho cẩn. Trong một tuần nhật, chẳng bắt được gì mà vẫn mất trộm như trước; rồi sau những quân trộm cắp nó càng không sợ gì, đến nỗi vào bếp nhà người ta mà bưng cả lọ mắm, vào buồng người ta mà ghẹo cả con gái, đến ngay vây bắt thì chẳng thấy gì cả. Tư-Lập cười nói rằng: - Đã lâu nay kẻ trộm mang tiếng oan, chắc là ma quỉ nó trêu quấy.
  • 9.
    Rồi mới đihỏi danh sư, rộng tìm tay giỏi, làm bùa bèn để trấn yêu, cúng thuyền bè để tiễn đi; nhưng mà càng cầu cúng thì càng thấy quấy đảo. Tư-Lập sợ lắm, họp người làng bảo rằng: - Chúng bay ngày thường chỉ hay thờ Phật, đến khi gặp phải binh biến, nhang lạnh khói tàn, cho nên yêu nghiệt hoành hành mà Phật không cứu, sao chẳng đi kêu đi? Mọi người thắp hương khấn rằng: - Chúng sinh tôi quí đã lâu, ngưỡng vọng đạo Phật thiết lắm; bây giờ ma quỉ càng dậy, trêu quở kẻ bình dân, vạ đến giống súc vật; Phật lại nín lặng ngồi xem, chẳng cũng từ bi quá lắm ư? Xin nhủ lòng nhân thương xót, ra sức khu trừ để cho Thần với người không lẫn lộn, dân với vật đều yên, nhất thiết những loài hữu hình, đều có bụng nghĩ để đền ơn. Nhưng mà loạn lạc mới yên, làm ăn chưa được như trước, mảnh rui, phiến ngói không lấy đâu được; đợi sau này giàu có, xin sẽ sửa sang chùa chiền để báo công đức ấy. Đêm hôm ấy lại càng tệ hơn. Tư-Lâp không biết lo liệu làm sao, mới nghe người ta nói ở huyện Kim-thành có ông thầy họ Vương tài bói dịch, mới đến xem bói. Ông thầy bảo rằng: - Có người cưỡi ngựa mặc áo ngắn, túi cung da, tên bịt thiếc, đích là thần sư đó. Và lại dặn rằng: - Các ông muốn xong việc ấy, thì sáng mai ra cửa tả huyện đi về phía nam, hễ thấy người nào mặc áo cầm đồ như thế, thì người ấy quyết trừ hại được, nên gượng ép cố mời, tuy rằng từ chối cũng không nghe. Tư-Lập nghe nhời [lời], mới cùng các phụ lão cứ y kì đến chực; thấy kẻ đi người lại đường cái như mắc cửi không có ai giống thế. Mãi đến gần tối, ngần ngại muốn giở [trở] về; chợt thấy một người từ trong núi mặc áo ngắn đeo cung, cưỡi ngựa đi ra; người ấy ngợ hỏi, các cụ tỏ ý lại như thế.
  • 10.
    Người ấy cườirằng: - Các ông nghe nhầm, ta từ lúc bé chỉ nghề nghiệp đi săn, mình không lìa yên ngựa, tay không bỏ cung tên, ta nghe thấy núi Yên-phu ở huyện Giáp-sơn có nhiều con hươu nai cầy cáo, cho nên ta ra săn bắn, há biết bắt con ma vô hình là việc gì đâu? Tư-Lập nghĩ thầm rằng: - Người này chắc là tay giỏi pháp tài, nhưng mà không muốn lộ tiếng bùa bèn, để vu hoặc người ta, cho nên chỉ chơi bời núi khe, lẩn giấu ở khoảng cung tên. Cố mời không thôi; người ấy không thể chối được, phải gượng theo nhời [lời]. Vậy về nghỉ ở nhà khách, màn đũng giường chiếu rất trang trọng, ra vào kính cẩn như là thần minh. Người ấy nghĩ thầm rằng: - Dân kia nó cùng kính đón rước ta, ý nó tưởng ta trừ được ma quỉ, song ta không có phép gì cả, mà chúng nó cúng cấp mỗi ngày một hậu hơn, há phải là ý người đời xưa. Nếu mà không đi thì chắc mang tiếng. Một hôm gần nửa đêm nhân dịp mọi người ngủ say, mới mặc áo khinh-cừu lẻn ra. Khi đi đến mé tây cầu ván kia thì sắc giời [trời] mù mịt, mặt giăng [trăng] nhạt chưa mọc lên, thấy vài người hình mạo to nhớn [lớn], sênh sang [xênh xang] đi từ ngoài nội vào; ông ấy nép vào một nơi, dòm xem chúng nó làm gì. Một nhát thấy dắt tay nhau xuống vũng ao, mò bắt cá sống, không cứ nhớn [lớn] nhỏ đều nuốt chửng nhai ngấu, lại trông nhau cười rằng: - Cá con phong vị ngon lắm phải nên nhai kĩ; thực ngon hơn cỗ chay; chỉ tiếc rằng bây giờ ta mới lại đây thì khí chậm. Một người cười nói rằng: - Chúng ta đầu mắt to nhớn [lớn], lâu nay bị người đời nó khinh nhờn, sao lấy lưng gạo lẻ cháo đầy được bụng nghìn cân để làm đứa giữ cửa cho nó, không được bữa hôm nay mà cứ đánh chay mãi chẳng hoá ra uổng một đời ư? Một người nói rằng:
  • 11.
    - Ta lúcbình sinh huyết thực cùng với các ông ăn khác mùi, nhưng mà bây giờ dân nghèo vật xấu, không ai cầu cúng, miệng khát dạ đói, không chịu được, không biết mùi thịt đã mấy năm rồi, há những tuần chay ba tháng mà thôi đâu. Nhưng mà hôm nay giời [trời] lạnh giá rét, khó đứng lâu được, không bằng lên chơi vườn mía, bắt chước quan tướng quân đầu hổ. Mới dắt nhau lên, thấy mía liền bẻ mà nhai; hít như húp chè. Người dị-nhân uốn cung nắn tên ngắm bắn, liền trúng hai người. Quân kia bị tên bắn hầm hè rền rẫm, tập tễnh chạy mất; cách độ vài mươi bước chân, không trông thấy hút nữa; nhưng mà còn nghe tiếng chúng nó mắng nhau rằng: - Đã bảo mà! Thì giờ bất lợi, ta đã không muốn đi, nói chẳng nghe nhời [lời], rõ thật tham thực cực thân! Người dị-nhân ấy vội vàng kêu la, xa gần làng xóm nghe biết tranh nhau lấy đuốc đuổi theo các nẻo, thấy vết máu từng giọt rỏ [nhỏ] giọc [dọc] đường đi về phía tây, được hơn nửa dặm vào trong chùa đổ, trông thấy sau lưng ông Hộ-pháp có một cái tên cắm xâu [sâu] ngập cánh. Các người tắc lưỡi than thở lấy làm việc lạ xưa nay, mới đập phá tượng đi, còn nghe có tiếng kêu rằng: - Mô Phật! Cầu cho no bụng không ngờ lại phải tai ương. Mô Phật! Tôi là kẻ tùy tùng mà mang họa, còn thần sông kia là đưá thủ xướng lại không việc gì sao? Mọi người đều tức cười, rồi đi ra miếu thờ thần sông, thấy tượng thần sơn, thình lình biến sắc, mặt xanh như chàm đổ, mà mép còn dính vảy cá. Dân ta mới kéo nhau lại đạp nát tượng ấy đi. Tư-Lập lấy hết của nhà đem lễ tạ, người dị-nhân được nặng túi cáo đi, yêu tà tự bấy giờ tuyệt mất. Lời bàn của Cát Thành Trần Thúy Nước ta thường hay sùng phụng Phật, hay lễ bái Phật, mà không tỏ được tâm tích của Phật, đạo giáo của Phật là thế nào?
  • 12.
    Phật cũng làmột tôn giáo ở bên Ấn-độ, cũng là một vị thánh nhân châu Á-đông; thấy người đời gian giảo, ma quỉ, lừa đảo, tranh dành, có ân nghĩa mà phải bỏ ân nghĩa, có cương thường mà loạn cương thường, cho nên Phật chán đời mà xuất-gia, lập riêng môn-giáo tu lấy một mình, quảng-đại từ bi mong người sám hối; muốn lấy cành dương-liễu, rảy nước cam-lồ, cứu tất cả chúng sinh ở trong trầm luân bể khổ. Thế thì Phật chỉ muốn cứu dân độ thế để về cả cõi cực lạc. Người ta mới lập chùa tô tượng để ngưỡng vọng linh quang sắc tướng của Phật. Tuần rằm, mùng một, ngọn đèn nén nhang; tiếng mõ tiếng chuông, đập thành niệm tục; câu kinh câu kệ gọi tỉnh giấc mê. Nếu mà ai cũng hiểu được nhẽ [lẽ] sùng bái Phật, qui y đạo Phật, tu trì lấy tâm Phật, thời lập bao nhiêu chùa cũng phải; nhưng mà người ta biết sùng bái mà không hiểu được đạo Phật tâm Phật. Tô tượng đúc chuông cầu phúc cho bản mịnh [mệnh]; lập đàn phá ngục cầu phúc cho tổ tiên; lấy phẩm oản quả quả chuối mà cầu phúc đẳng-hà-sa, thời miệng tụng nam-mô tay lần tràng hạt, dập đầu sây trán Phật cũng ngồi trơ chứ Phật biết làm sao. Huống chi hòn đất nặn nên ông Bụt, đặt tĩnh thì dễ, giữ lễ thì khó, hoặc nói gọi Phật bằng anh, hoặc nói cúng bằng oản chiêm, thời cái tội tiết mạn ấy Phật dẫu lành, có nhẽ [lẽ] đâu lành với ma. Như cái truyện Đông-triều lúc trước chùa quán rất nhiều, cúng tế luôn luôn; sau khi phải loạn lạc kém đói, chùa đổ tượng nát, nhang lạnh khói tàn, thời no nên Bụt, đói nên ma, không trách phải ra tay trêu của. Thế thời những người hay niệm Phật tâm xà, thời Phật nên phù hộ cho bằng con bò. 3. Văn-Thành làm chúa ôn hạt Bắc-hà Xưa làng Thượng-hội, huyện Từ-liêm, tỉnh Hà-đông, có một người Kỳ-sĩ tên là Văn-dĩ-Thành, tính-khí cương-trực, không sợ ma-
  • 13.
    quỉ. Phàm nhữngyêu quái mà không được dự vào tự-điển, thì coi thường không sợ gì. Năm cuối đời Trùng-quang nhà Trần, rịch [dịch]-lệ chết nhiều; oan hồn không kêu đâu được. Thường thường họp nhau, hoặc gõ cửa nhà hàng cơm đòi ăn, hoặc đón bắt con gái làm vui, giọc [dọc] ngang đường xá không kiêng kị gì cả. Ai mà mắc phải thì đau nặng, thầy bà cũng chịu phép không thể trừ được. Dĩ-Thành nhân khi say rượu đi thẳng tới nơi, lũ quỉ sợ hãi chạy tan mỗi đứa mỗi đường. Ông ấy mới gọi lại bảo rằng: - Chúng mày là kẻ tráng-sĩ, không may mà phải thế, ta lại hỏi thăm, muốn nói truyện hay truyện dở, không can gì mà phải tránh. Lũ quỉ dủ [rủ] nhau giở [trở] lại dần dần, rồi mời Dĩ-Thành ngồi trên. Dĩ-Thành hỏi rằng: - Lũ ngươi làm cho người ta bị hại mà mừng, làm cho người ta phải chết mà vui, là ý gì vậy? Quỷ đáp rằng: - Y chỉ muốn để thêm vào số binh chúng tôi đó mà thôi. Ông ấy lại nói rằng: - Muốn thêm binh cho các ngươi, nhưng mà tổn hại sinh linh thì làm sao? Binh thêm thì không đủ lương ăn, sinh-linh tổn thì ít người cúng cấp, các ngươi có lợi gì đâu, mà cam tâm làm thế. Sinh bụng dục, như khe lạch, không bao giờ ñaày, buông lòng độc như hổ-lang, không chừng nào cùng. Hễ mà lợi mình, thì một mảnh áo, một gang giấy cũng không từ, quí hồ đầy giạ [dạ] thì dẫu mâm nan, bát mẻ cũng không cần; chỉ quen quấy dối [rối] chêu [trêu] người chêu [trêu] của, đòi ăn đòi uống. Trộm quyền tạo-hoá thổi tay [tai]-bay, quạt vạ gió, dòm ngoài cửa kêu trên xà, làm hoặc dân ngu. Việc bay lấy làm vui, thì bụng ta lấy làm hổ. Vả lại giời [trời] dụng đức, không dụng uy, người muốn sống, không muốn chết; mà các ngươi làm ra họa-phúc, quá sinh bụng kiêu dâm, phép giời [trời] nhiệm nhặt, bắt tội đến nơi, các ngươi chạy đâu cho khỏi! Lũ quỉ ngùi ngùi nói rằng:
  • 14.
    - Ấy chúngtôi cũng là bất-đắc-dĩ, chứ có muốn thế đâu. Bởi vì chúng tôi sinh không gặp thời, chết không phải mạng; đói không ai chu cấp, không nương tựa vào đâu được. Cỏ sầu quấn quít trong đám xương trắng, gió thu hiu hắt nơi bãi cát vàng, cho nên phải tụm năm, tụm ba, doanh cầu từng bữa. Vả chăng vận đời đã suy, sắp sửa biến đổi, nhân-sinh hao tổn, cho nên Minh-vương không cấm chúng tôi mới dám như thế, chỉ sợ sang năm lại tệ hơn năm nay. Một lát, thấy nhà bếp bưng cỗ ra, la liệt rượu thịt; hỏi rượu thì của thôn này, hỏi thịt thì của làng kia. Dĩ-Thành ăn như nước chẩy, thế tợn hơn vũ-bão. Lũ quỉ mừng, bảo nhau rằng: “Thực đáng là thầy ta”. Liền nói với Dĩ-Thành rằng: - Chúng tôi ô-hợp, ai cũng như ai, không có người chủ-chương [trương], thế tất không lâu. Nay sứ-quân sẵn lòng đến đây, thực là giời [trời] lấy sứ-quân làm tướng cho lũ tôi. Dĩ-Thành nói rằng: - Ta văn vũ kiêm toàn, tuy hèn cũng làm tướng được, nhưng mà âm dương hai đàng cách nhau, còn mẹ già thì làm sao? Lũ quỉ nói rằng: - Xin sứ-quân chỉnh đốn uy nghiêm, giãi bầy phép tắc, ngày thì sai ở từng khu, đêm thì cắt người bẩm báo, không dám phiền người về nơi suối vàng. Dĩ-Thành nói rằng: - Nếu bất-đắc-dĩ mà phải dùng ta, thì ta lấy sáu điều làm việc phải thề mới được. Lũ quỉ đều vâng nhời [lời], xin đến đêm thứ ba thì đến chỗ ấy lập đàn. Y kỳ họp cả, có một lão quỉ già đến sau, ông ấy sai lôi ra chém ngay. Các quân đều sợ hãi. Ông ấy ra lịnh rằng: - Các ngươi không được khinh mạng ta, không được quen thói càn, không được làm hại dân, không được làm hại mạng dân, không được cướp của dân, không được kết bè đảng ban đêm, không được hiện hình ban ngày, nghe lịnh ta thì ta làm tướng cho các ngươi, trái
  • 15.
    lịnh ta thìta bắt tội các ngươi, phải nghe lời ta, chớ để hối hận về sau. Bởi thế rồi mới chia ra từng bộ-ngũ. Phàm có việc gì thì phải đến tâu trình. Được hơn một tháng, một hôm đương ngồi không, bỗng thấy có một người tự xưng là sứ-giả dưới âm-ty, đưa tờ xin mời đi. Dĩ-Thành toan từ trối [chối], người sứ-giả nói rằng: - Đấy là mịnh [mệnh] vua Diêm-vương thấy ngươi là người cương trực, muốn cho làm quan to, không phải có việc gì khó, xin đừng từ trối [chối], chỉ nên xin thư trình-hạn ít lâu, đợi ngươi đi xuống. Tôi xin đợi ông ở dữa [giữa] đường. Nói rồi biến mất. Ông ấy liền đòi các tướng đến hỏi, đều nói rằng: - Thực có việc ấy, nhưng mà chúng tôi chưa kịp bẩm. Nguyên ngày trước, vua Diêm thấy thời không yên, đặt ra bốn bộ giạ [dạ]-thoa, mỗi một bộ có một quan súy, được quyền sát phạt, coi mạng sinh-linh; quyền to chức trọng, không phải như quan khác đâu. Nay triệu sứ-quân cho làm chức ấy, bởi Diêm-vương nghe tiếng sứ-quân đã lâu, mà chúng tôi cố sức tiến cử, cho nên mới được. Dĩ-Thành nói rằng: - Cứ như nhời các người nói thì là phúc cho ta, hay là họa cho ta? Các quỉ nói rằng: - Dưới Diêm-la kén người không khác gì kén phật, không đút lót được, không cầu may được, ai mà cầm lòng cương chính, thì dẫu hèn mọn cũng tất được dùng, hễ ai ăn ở gian tham, thì dẫu vinh-hiển cũng không kể đến, không giao chức phận súy-thần cho ông thì giao cho ai được? Nếu mà quyến luyến vợ con, chậm chễ [trễ] năm tháng tất có người tranh mất, mà chúng tôi cũng mất trông cậy. Dĩ-Thành đổi buồn làm vui mà nói rằng: - Chết dẫu không muốn, nhưng mà tiếng cũng khó mua, huống chi bút bởi nhọn cho nên chóng cùn, cây thông vị cành mà phải đẵn, chim-trĩ không vị lông thì không đến họa, con voi không vị răng, thì không phải đốt. Cây gạo, cây sung sống lâu vị gỗ không tốt. Ông
  • 16.
    Nhan-hồi 32 tuổixuống làm Tư-văn dưới đất, Tràng-Cát 20 tuổi phải lên ứng triệu trên giời [trời]. Kẻ trượng-phu ở đời, mà không thể ngang giời [trời] dọc đất được thì cũng phải nên lưu danh muôn đời sao chịu vào luồn ra cúi trong vòng loạn thế. Nhẽ [Lẽ] đâu khư khư so sánh tuổi tác làm gì? Mới xếp đặt việc nhà ổn thỏa vài ngày thì mất. Bấy giờ ở làng Xan-long [?] có người tên là Lê-Ngộ, vốn xưa làm bạn với Gĩ [Dĩ]-Thành, lưu lạc đến ở làng Quế-Dương, huyện Đoan- Phượng. Có một tối kia ước chừng canh một, đương ở nhà chọ [trọ], chợt thấy một người cỡi ngựa sám [xám], hầu hạ đi theo cũng nhiều, gõ cửa xin vào ngủ chọ [trọ]. Chủ nhà mở mành ra đón rước. Lê-Ngộ nghe tiếng giống Gĩ [Dĩ]-Thành mà uy-nghi thì khác lắm. Toan tránh mặt. Người ấy nói rằng: - Bạn cũ nhớ ngươi, làm sao ngươi không biết bạn cũ? Mới kể quê quán tên họ và nói rằng, đã về dưới âm làm quan to, vị rằng bạn cũ với ngươi cho nên lại hỏi thăm. Nói rồi liền cởi áo cừu đem cầm mua rượu làm vui. Uống được vài tuần, Ngộ nói rằng: - Tôi bình sinh ở đời có ý làm việc âm-công, không có bụng riêng để ích mình không hề hãm người vào chỗ hiểm; dạy thì tùy tài nhủ bảo, học thì cố sức nghiền nghĩ, không manh bụng cầu phi phận, không làm việc tệ quá, thế mà phải ăn nhờ phương ấy phương khác, chiếc bóng dựa người, vợ con không khỏi đói rét, nhà cửa không che được mưa gió, chạy ngược chạy suôi [xuôi], hết ngày ấy sang ngày khác, anh em quen biết nhiều người làm quan, so bề tài nghệ thì suýt soát như nhau, nhưng mà gặp nước thì cách nhau xa lắm, là làm sao? Ông ấy nói: - Giầu sang không có thể cầu được, nghèo hèn tự có mịnh [mệnh] giời [trời], cho nên Đặng-Thông phải chết đói, Chu-Thư vẫn cứ nghèo, có duyên thì gió đưa gác Đằng-vương, không phận thì sét đánh bia tiến-phúc, nếu không thế thì ông Nhan ông Mẫn sao chịu an-bần, hay chữ như họ Lạc họ Lư vẫn chịu vất vạ. Thế mới biết hoặc sang hoặc hèn, một may một rủi chỉ quí rằng học-trò nghèo cũng không nịnh ai,
  • 17.
    gặp lúc cùngcũng kiên trí, cho nên biết yên bần thuận thụ mệnh giời [trời] mà thôi. Lúc cùng, lúc thông, lúc bĩ, lúc thái, ta có cưỡng giời [trời] thế nào được! Rượu xong rồi, mới tắt đèn nói truyện, ràn rạt cả đêm, ngày mai sắp cáo biệt. Dĩ-Thành lựa lúc vắng người mới nói rằng: - Ta mới vâng mệnh giời [trời] chủ giữ việc ôn rịch [dịch] đi khắp các châu quận mà lại bắt thêm đói khát. Binh cách nhiễu nhương số dân điêu háo mười phần chỉ còn bốn năm. Nếu không có phúc to chỉ sợ ngọc với đá cũng phải cháy cả. Nhà anh phúc bạc chưa chắc đã khỏi, nên phải sớm về quê làng không nên ở mãi đất khách làm chi. Ngộ nói: - Nhờ có anh đây. Dĩ-Thành nói: - Giới phận khác nhau không dám việt quá. Từ sông Tràng-giang về phía bắc thì ta làm việc, từ sông Tràng-giang về phía tây thì quan Đinh súy làm việc. Nhưng mà ta coi quân áo đen còn có nhân từ, ông kia coi quân áo trắng thì dữ tợn lắm. Ngươi phải liệu trước đi. Ngộ nói rằng: - Thế thì làm thế nào? Dĩ-Thành nói rằng: - Mỗi một bộ quan súy đêm sai hơn nghìn người đi làm rịch [dịch] từng khu. Ngươi phải mua sắm nhiều rượu thịt, đặt cúng dữa [giữa] sân, bọn kia đi xa đến, thì hẳn đói khát, hễ thấy thì ăn ngay không có nghĩ gì. Ngươi ròm [dòm] thấy ăn uống xong thì ra trước mặt mà lạy đừng có nói gì, may ra thì cũng được đỡ. Nói rồi liền gạt nước mắt mà bái biệt. Lê-Ngộ về đến quê nhà rịch [dịch]-lệ nặng lắm, vợ con phải bệnh không biết gì. Người ấy sắm sửa ngay cỗ bàn cứ theo nhời [lời] ngươi Dĩ-Thành dặn đem ra để cúng, quả nhiên thấy hơn mười người quỉ từ trên giời [trời] xuống, ngảnh mặt bảo nhau rằng: - Chúng ta đói lắm, bỏ đây thì đi đâu? Chưa nghe ai lấy vài chén rượu mà không giảm tội cho nguời ta. Mới dủ [rủ] nhau ngồi quây lại uống. Có người mặc áo tím ngồi giữa, còn các người thì điều đứng hầu, hoặc người cầm giao [dao]
  • 18.
    búa, hoặc ngườicầm sổ sách, uống gần xong, Ngộ chạy ra thụp lậy không thôi. Người áo tím nói: - Chúng ta đương ăn uống, người này đến làm chi đấy? Các quỉ nói rằng: - Đây hẳn là người có cỗ cúng, người nhà nó bịnh nặng lắm, thì xin châm chước cho. Người áo tím giận cầm quyển sổ vứt xuống đất nói rằng: - Có nhẽ đâu lấy một mâm cỗ xoàng mà đổi năm mạng người. Các quỉ nói: - Đã ăn của người ta, sao nên làm ngơ, nếu bởi thế mà phải lỗi thì cũng đành lòng. Người áo tím ngẫm nghĩ giờ lâu, mới lấy bút son xóa sổ hơn mười chữ rồi kéo đi. Vài hôm nữa, cả nhà Lê-Ngộ được khỏi cả, Ngộ ơn Dĩ-Thành cứu mình, mới bảo dân lập đền thờ ngay ở nhà ông ấy. Bây giờ làng ấy còn có đền thờ, vẫn linh ứng lắm. Lời bàn của Cát Thành Trần Thúy Xưa nay nước nào mà dân trí chưa mở thì cũng hay mê tin quỉ thần, sống chết cũng chắc cậy quỉ thần, mà việc người không biết sửa sang, mưa gió cũng bảo là thần làm, sấm sét cũng bảo là thần làm, mà rịch [dịch] lệ cũng bảo là có các quan âm làm. Bởi vì bụng mình vẫn yên đặt một lòng tin, vẫn sắp sẵn một bụng sợ. Cho nên cũng hình như có thật, xem như những người ngu dát [nhát] hay sợ ma, khi đi đêm bước chân ra cửa, trông ra đằng trước cũng lù-lù như là ở trước, ngảnh lại đằng sau, thì sình-sịch như là theo sau. Người có trí thức mà bụng vững vàng thì có thấy gì đâu. Ngày xưa có người tu thiện không dám sát sinh, một hôm đi chơi về tối, đến ngõ nhà mình, séo [xéo] phải vật chi nát bẹp, tưởng rằng séo [xéo] phải con nhái, trong lòng thương hại mà sợ hãi lắm. Vừa về nhà đi ngủ thì thấy nó báo mộng liền, đòi xin làm chay giải oan để được xiêu [siêu] sinh tịnh độ. Người ấy nhoàng thức dậy ngay, lấy đèn
  • 19.
    đuốc ra soivật ấy để mà mai táng, thì chỉ thấy một quả sung séo [xéo] nát bét ra mà thôi. Lại có một người nằm mơ thấy nuốt phải con dện [nhện] mắc ở trong họng, giở [trở] dậy khạc nhổ luôn luôn, đến nỗi đau họng sưng lên không ăn uống được, gặp được thầy thuốc hay, hỏi truyện đầu đuôi, biết được gốc bệnh ấy, mới nghĩ mẹo để chữa, bảo rằng ta có phép thuật tài rỏi [giỏi]. Sai lấy một chậu nước để xuống dưới, người có bệnh phải nhắm mắt há miệng, mà cúi đầu xuống dưới chậu. Ông thầy vỗ đầu người có bệnh ba cái, bảo rằng khạc ra, ông thầy liền bỏ con dện [nhện] ở trong tay áo xuống dưới chậu nước, mà deo [reo] rằng con nhện đã ra rồi, người có bệnh từ bấy giờ mừng giỡ [rỡ] tỉnh tang, không khạc nhổ nữa, họng liền bớt khỏi, ăn uống được ngay. Xem thế thì quỉ-thần có hay không, chỉ ở bụng mình mà thôi. Bây giờ học cách-trí học vệ-sinh mỗi ngày một tỏ, thì biét rằng chứng dịch lệ ấy, một là bởi tại khí giời [trời], gió mưa trái tiết. Cho nên người ta dễ cảm nhiễm mà thành ra chứng ấy. Hai là tại chỗ ở ẩm thấp, nước rãnh tù hãm, sinh ra con vi-chùng [trùng]. Nhân dịp thời khí mà thành ra chứng ấy. Ba là lúc phải bệnh mà không biết phòng dữ [giữ], để cho truyền nhiễm sang nhau, nhà nào mắc phải thì thường đến hai ba người, xứ nào có thì lây đến cả xứ. Cho nên phép phòng dịch hễ tầu từ xứ khác đến, thì quan thầy thuốc phải ra khám xét, hễ người nào có phải chứng ấy, thì đem để riêng một chỗ. Xứ nào có người phải chứng ấy thì cũng bắt ở nhà thương riêng. Người nào bất hạnh mà chết về chứng ấy, thì phải chôn sâu đổ vôi, nhà ở phải hun rửa, đồ dùng phải đốt đi hay là bỏ vào nước sôi. Như thế thì chứng ấy khỏi truyền nhiễm cho người khác. Vả lại lúc bình thường thì phải giữ gìn từ trước, chỗ ở phải cao ráo sạch sẽ, nhà nên mở nhiều cửa để thông khí giời [trời], quanh nhà thì giồng [trồng] nhiều cây để lấy bóng mát, ăn uống cho có tiết độ, không ăn đồ sống rau sống, nước uống phải lọc cho kỹ. Thế thì thân thể mới được khoẻ mạnh, nếu gặp phải thời chứng thì cũng không cảm được, không truyền nhiễm được, sự thực như thế mà không biết vệ sinh. Lại cứ đổ cho việc giời [trời]. Này giời [trời] đất là
  • 20.
    hai khí âmdương hợp lại mà sinh ra muôn vật, cũng chỉ tùy hình chất mà phó mặc tự nhiên, như loài cây cỏ, thì cái gai ai bứt, chái [trái] quả ai vò, khi khai khi tạ, khi héo khi tươi, hễ tài thì bồi, siêu [xiêu] thì đổ, hoá-công nào có ý riêng gì. Như loài cầm thú, hoặc sinh, hoặc hoá, hoặc đẻ, hoặc nuôi, hễ khỏe thì sống, hèn thì xa, giới bầy thường có lệ công sẵn. Vậy thì cây cỏ cũng có thiên tai, nào sâu khoai, sâu ngô, bọt suýt [xít], áp bông, hoàng trùng cắn nõn. Cầm thú cũng thường có thiên tai nào dây gà, dây lợn, dịch châu [trâu], dịch bò, ấy khí tiết tự nhiên như thế, chứ có quỉ thần nào làm việc ấy đâu. Truyện ông Văn-Thành làm chúa-ôn, sự tích còn truyền, hãi [hãy] còn đền thờ, nhưng mà xét ra từ nhà Trần đến bây giờ mới hơn bốn trăm năm nay, đời hãi [hãy] còn gần không phải là thượng cổ lắm. Đâu có nhẽ ôn quỉ hiển hiện ra mà bưng rượu cướp thịt chêu [trêu] người ghẹo gái như là kẻ cướp trên trần-gian. Nếu mà có thực thì chính-trực như ông Văn-Thành thì quỉ cũng phải sợ thần cũng phải kiêng mà tôn lên làm chuá. Người ta lúc còn trẻ nên học cách-trí học vệ-sinh, đừng cứ thơ giại [dại] như lúc trẻ con mãi mãi. Nghiã là lúc trẻ con thơ giại [dại] thì người nhớn [lớn] thường hay doạ rằng: “Ấy ông ba bị chín quai mười hai con mắt bắt trẻ con đó”, thì trẻ con phải sợ hãi nghĩ rằng có thực. Người phải học thì mỗi ngày một nhớn [lớn] khôn lên, chớ chịu cam một bề thơ giại [dại] cả đời. Lời bàn của Cát Thành Trần Thúy về các truyện trong Truyền Kỳ Mạn Lục Lời bàn truyện “Trọng-Quì đánh bạc bán vợ” Quái lạ lắm! người ta sao mà hay đánh bạc? Bảo là vị-danh ư? thì vào đám bạc ông cũng như thằng, người ta ai cũng khinh bỉ. Bảo là vị-lợi ư? thì cờ bạc là bác thằng bần, ai cũng phải thua. Thế mà cứ hay đánh, là bởi vì bụng tham đấy thôi, thấy bạc thì tối mắt lại. Tiền bạc hay che được trí khôn, cho nên người ăn trộm cướp, chỉ vị tham tiền mà đến nỗi mất đầu; người làm quan lại, chỉ vị tham tiền mà đến nỗi mất quan; người đánh bạc thì cũng vị bụng tham tiền mà đến nỗi ruộng nương bán hết, sỏ [xỏ] chân vào cùm; không biết rằng trong
  • 21.
    thế-gian ai chẳngcần dùng về đồng tiền, như mà cần dùng bao nhiêu, thì phải tìm cách sinh ra tiền bấy nhiêu: như là làm ruộng, làm thợ, đi học, đi buôn. Trong bốn nghề ấy, đều là cách sinh lợi, mà sinh lợi như thế mới lâu bền được. Nhược bằng nghĩ tham lợi mà trong tay không có nghề gì, thì mới nghĩ ra một cách muốn ăn không, trong một phút, chốc may ra được năm ba chục, năm ba trăm, không phải khó nhọc gì; nằm ngửa được sung, miệng ngáp được ruồi, chẳng hoá ra sung sướng lắm ư! Vậy mới dủ [rủ] nhau, bắt chước nhau dong [rong] chơi về nghề cờ bạc. Nhưng không biết tiền bạc ấy, cũng là của chung góp lại với nhau, không phải là của bề ngoài đâu! Nay người này được, mai người khác được; một người được trăm người thua, một bận được mười bận thua; đánh mãi mãi thì người nào cũng phải thua cả. Được thì vui vui mừng mừng, ăn chơi phung phá, không chắc gì tiền ấy để nuôi vợ con được; không chắc gì tiền ấy để tậu ruộng, tậu nhà được. Nhời tục ngữ nói rằng: “Tiền cờ bạc để ngoài sân, của phù-vân để ngoài ngõ.” Không những rằng mất đấy mà thôi, lại còn dủ [rủ] mồi cho thua bằng năm, bằng mười nữa! Quen mui đánh mãi, thua một đánh hai, thua hai đánh ba, cay có gỡ gạc, đi đêm về hôm, ăn không ngon, ngủ không yên, mặt võ mình gầy, ruột khô gan héo; tiền lãi mười phân, hai ba mươi phân cũng nhắm mắt mà vay liều; cầm bán hết cả, người thì sinh ra ăn trộm cướp mà phải chết; người thì nghĩ uất mà chết, người thì tự-tử mà chết. Ấy là bụng lợi nó làm hại người, mà người tham lợi thì hay mắc. Xem như Trọng-Quì cũng là một vị phong lưu công-tử, ăn chơi quen nết đi rồi. Gập [gặp] phải vận nhà suy đốn, càng nên giữ gìn tu tỉnh để nối nghiệp ông cha thì mới phải. Thế mà chỉ vị máu-mê cờ bạc, cho nên Đỗ-Tam nó mới lấy tiền bạc mà dỗ mồi. Thiết gì bằng vợ! thế mà chỉ tham về trăm vạn, mà không biết rằng mất vợ. Chao ôi! Đánh bặc [bạc] mà bán vợ, thì cũng ngán nỗi cho đời qúa! Nhưng không những một Trọng-Quì. Phàm những người đánh bạc tuy rằng không bán vợ thật, như mà mất cửa mất nhà, vợ con nghèo đói, thì cũng chẳng khác gì bán vợ, bán con. Lời bàn truyện “Trung-Ngộ mê gái mà hại thân” Người ta không phải là gỗ là đá, thời ai chẳng có tình dục, nhưng mà bụng nghĩa lý như là ông Chủ-suý, bụng tình dục như là quân lính, quan Chủ-suý lấy nhân-nghĩa liêm-sỉ làm dào [rào] giậu, mà ngăn giữ cấm chấp, thì quân lính phải lui rẹp [dẹp]; nếu mà quan Chủ-suý không vững vàng, thì nó làm nghiêng nước, nghiêng thành, đổ quán siêu [xiêu] đình như chơi.
  • 22.
    Xưa nay vôsố anh-hùng hào-kiệt ngang giời [trời] dọc đất, mà chết về tay con gái. Như là: Đắc-Kỷ làm mất nhà Thương; Bao-Tự làm mất nhà Chu; Đổng-Trác chết về tay Điêu-Thuyền; Từ-Hải chết về tay Thuý-Kiều. Một vũng sóng tình, chìm đắm không biết bao nhiêu người bợm bãi. Trung-Ngộ là một người đi buôn, không có học thức, thấy gái thì ngảnh cổ lại, cho nên chết về con mắt đưa tình, thoáng thấy hơi hương, hồn bướm đã mê man trên gối; khi tình riêng dan-díu [gian díu] (chết thời cùng chôn một chỗ), trong ý thơ lại gắn bó hết đều; đến khi đến chơi nhà trông thấy quan-tài, ngửi thấy hơi thối, mới vùng té chạy ra, thời đầu đã chui vào trong tròng, tay đã bỏ vào hom-đó, còn thoát làm sao được nữa! Chơi gái đến nỗi ôm mả mà chết thì đáng lắm! Còn oán hận gì! Than ôi! mê gái mà chết, thì chết cũng uổng mạng, mà tiếng nhơ nhuốc còn mãi về sau. Những người thấy gái mà hay chấp chới thì đi đêm chắc rằng có ngày gặp ma! Lời bàn truyện “Ma tựa vào cây đào cây lý chêu [trêu] cợt Hà-nhân-Giả” Đất Thăng-long là chỗ trung-tâm điểm sứ [xứ] Bắc-kỳ, người hay sum [xum] họp, của quí đua bầy, buôn bán thời hàng Tầu hàng Tây, đồ rừng đồ bể, dưới thời tầu bè như lá, trên thời phố sá [xá] như nêm, đường buôn một ngày một rộng, cách buôn một ngày một khôn, buôn mà không ở đại phụ-đầu này, thì buôn không rộng. Nghề thợ thì hàng thêu hàng khảm, đồ trạm đồ sơn, kiểu mẫu đã nhiều cách khéo, công phu lại rất tinh truyền, thợ mà không ở đại đô-hội này, thời thợ còn quê. Dậy học thì thường có thày hay, tràng nhớn [trường lớn], sách vở đã nhiều tra cứu, bè bạn lại rộng giao-giu [du], học mà không ở đại kinh-thành này thì học cũng còn hẹp; lại có một cách tự do sung sướng, để riêng cho dân thành phố, là phu phen tạp-dịch, không phải tần phiền, mà rán sành ra mỡ, đánh chét lấy tiền, những quân lính-lệ mặt quỉ đầu châu [trâu], không dám ra tay độc ác; ngôi dân lệ làng không phải phiền luỵ; nợ miệng nào ai chê trách, áo rách không chịu khó hèn, các mọ Kỳ-hào, giơ tay mắm miệng, cũng không dám rở [giở] giọng đàn anh, ấy ở kẻ chợ có những cách lợi cho mình như thế. Còn như phố phường quen thói phù- hoa, ở cóp hay sinh kiêu bạc, ăn mặc xa sỉ, cờ bạc giong [rong] chơi, của thì có một tiêu mười, người thì có mười chơi chín, khinh người ra giác [rác], nói khoác thành thần; hay lừa hay đảo, nói giối như ma; ghen nhau thù nhau giết người như nhái; quen đường giăng [trăng] gió mà
  • 23.
    chẳng nghĩ đếnvợ con; nặng bề nhân tình, mà quên đường cha mẹ; ấy ở kẻ chợ có những cách hại như thế. Than ôi! trong đời không cái gì lợi cả, cũng không cái gì hại cả, nhưng mà mình phải cân nhắc lợi hại, cái gì hay thì theo, cái gì giở [dở] thì bỏ, thời mới hưởng được ích lợi trong khi cảm nhiễm. Nhân- Giả theo thầy ra học kinh-đô, cũng là biết đường học tập, nếu biết phòng dữ [giữ] lòng dục, răn bỏ thói tà, thời con yêu Hồ-ly sao siêu [xiêu] được lòng Tiết-Giao; con yêu Hoa-nguyệt sao hoặc được bụng Lương-Công; như mà tuổi sanh [xanh] còn giại [dại] thấy gái dễ mê, may gặp được con yêu Đào, Lý hãi [hãy] còn trung-hậu, hết mùa chăn-gối, vẹn nghĩa đá-vàng, Nhân-Giả không phải làm con ma ôm cây mà chết thời cũng may lắm. Nếu người ta mà bỏ lợi theo hại, thì chẳng nên bảo rằng tại mình ở chốn phồn hoa. Lời bàn truyện “Con tinh hoá ra họ Hồ họ Viên để ngăn trở Hồ Quý Ly” Người ta thiêng hơn vạn vật, cho nên thành tín thì thần minh còn hay cảm động được; chính trực thì ma quỉ cũng phải xa tránh; dù tinh dù yêu, có nanh có mỏ, có nhẽ nào người lại phải thua ma. Bởi vì Quí- Ly tâm thuật gian-dảo, trí những tranh vua, cướp nước, hại thế hại dân, bụng thì như ma như quỉ, không biết đâu mà dò. Ngoài miệng tuy rằng nói chính, nhưng trong lòng vẫn có lý dan [gian]. Con Hồ con Viên nó mới được lấy nhẽ chính mà tranh biện với mình, chả có chính-trực như Nguỵ-nguyên-Trung thì con Vượn phải đun bếp hộ; học thức như ngươi Trương-Hoa thời con Hồ phải hiện hình, đâu còn dám ngồi cùng nói truyện, mình phải đói nhẽ, mà lại phải thua. Nhời ngạn nói rằng: “Tinh lại gặp ma.” Quí-Ly sao chẳng sờ xuống đuôi mà hỏi truyện kiếp trước? Lời bàn truyện “Núi Tống-sơn có hang tiên tu” Thần tiên xưa nay vẫn cho là hoang đường, nhưng mà cổ-nhân thường nói rằng: “Bảo rằng có, thời không hẳn là có, bảo là không chưa chắc là không.” Nói phân mang [minh] như thế thì người đời sau biết thế nào là nhẽ đích đáng, mà định được phương hướng cho người ta? Nay tôi xin lấy nhẽ mà xuy [suy] ra, thì Tiên cũng là người, mà chỉ khác nhau cái bụng đấy thôi; như là ông Thánh không phải bốn tai, bốn mắt, chỉ vị Thánh thì giữ toàn tính giời [trời], phàm thì mê đắm tình dục; cho nên Thánh mới siêu phàm mà thành Thánh. Phật không phải là nghìn tai, nghìn mắt, chỉ vì Phật thì từ bi quảng đại, người thì gian-giảo tham-si, cho
  • 24.
    nên Phật mớihơn đời mà thành Phật. Tiên cũng không phải uống thuốc luyện-đàn để mình sinh lông, mọc cánh đâu, chỉ vì cõi đời tham bỉ tranh đua, vòng danh lợi lại gây nên phiền não; mà Tiên thời biệt nơi thanh tĩnh riêng thú yên-hà, chính sự nhân dân không phiền luỵ tục, công-danh phú- quí rũ sạch bụi trần; thế thời Tiên so với tục xa biết chừng nào? Cho nên ta mới hâm mộ về Tiên, ao ước về Tiên, nghĩ rằng Tiên có một thế-giới riêng, không biết rằng thanh-nhàn thời là Tiên. Có câu thơ rằng: “Nhất nhật thanh nhàn nhất nhật tiên.” Xem như Từ-Thức là một vị phong-lưu công-tử nhà thế-gia, ra làm quan huyện đường đường sở tại, thấy gái bẻ hoa bị sư bắt trói, nếu mà nặng tình xót liễu vì hoa, thì đòi sư trách hỏi. Sư chắc rằng phải lễ tạ mà xin tha, can gì phải cổi [cởi] áo cừu để chuộc người, là bởi vì thấy người hoạn nạn khốn khổ, thời bụng nhân-từ đã thổn thức sinh ra ngay, mà giọng cả vú lấp miệng, lại quên mất cả quyền thế của mình. Khi chuộc được rồi không từng hỏi lại một nhời [lời], thời thiệt phân minh, làm ơn không cầu báo, thực là sẵn lòng cứu người, chứ không phải là có lòng vị gái; xuy [suy] một cái bụng ấy, thì đã khác người thường rồi. Khi bị quan trên trách mắng thì tủi giận về đường vinh nhục, không vị giăm [dăm] đấu gạo lương mà buộc mình ở trong vòng danh lợi; rượu một bầu, thơ một túi, để tiêu sái với nước biếc non xanh, thì cái bụng ấy lạ hơn người tục rồi. Đến khi phóng đãng giang hồ, bơ vơ bên giời [trời] góc bể, lại gặp nàng Giáng-Hương là duyên xưa nghĩa cũ; giai-nhân tài-tử đạo-khách tiên-lưu, đôi lứa thực là xứng đáng, tuy rằng duyên giời [trời] gặp gỡ, mà thực là đạo giời [trời] báo ứng không sai. Những người mà muốn gặp tiên thì phải tu luyện lấy tâm, không thiết tình sắc, ân nghĩa như là Từ-Thức, thời cũng chắc như là Từ-Thức gặp tiên; nhược bằng bảo rằng núi tiên rơi xuống, non thần mọc ra, thì là hoang đường lắm. Lời bàn truyện “Trịnh-Quân xuống kiện dưới Thủy-phủ” Quỉ-thần hai chữ đã xuất hiện ra ở trong thế-giới, thời quỉ-thần chắc hẳn cũng có, không phải là không. Đức thánh Khổng nói rằng: “Đức quỉ-thần to lắm,” nhưng mà lý quỉ-thần tinh vi, sự quỉ-thần huyền diệu, tai không nghe tiếng, mắt không thấy hình, người không biết mà đem sự yêu cầu, mê dường vu-hoặc, thời phúc lộc chỉ chắc Thần cho, làm ăn bỏ đường nhân-sự, ăn ở không biết cách vệ-sinh, nếu có chậm đẻ khó nuôi thời bán khoán tắm thai, chỉ mong Thần đưa con lại, tật bệnh không biết đường thang thuốc, hơi có se mình khó ở, thời tàn hương nước lã, chỉ mong Thần cất bệnh đi, như thế thì kì-dị lắm! ngu dại lắm! mà tiếc-mạn lắm! ý giáng nghĩ quỉ-thần là kho chứa của lò đúc người, là máy tự-lai, mà cầu gì được nấy, muốn sao được vậy à!
  • 25.
    Thế thì quỉ-thầnchẳng hoá ra một người sai-phái của mình ư? Than ôi! lúc nhà Thương sắp loạn thời tục thượng quỉ, nước sắp mất thời dân nghe thần, đức thánh Khổng có nói rằng: “Quỉ thần không hưởng đồ phi lễ.” Quỉ-thần phải kính mà xa ra, thực cũng lấy quỉ-thần là tinh-vi huyền diệu! Người ta khó biết, dễ nhầm, cho nên Ngài ít nói việc quỉ-thần. Tôi thiết tưởng rằng: người ta cái gì cũng phải nên biết nhẽ [lẽ] làm sao, rồi mới biết đường phải trái, đến như việc quỉ-thần thì phải xuy [suy] nhẽ [lẽ] quỉ-thần, thời mới biết mà kính tín. Quỉ là gì? - Quỉ là khí oan uổng uất kết mà không tiêu đi được; như là Bảnh-Sinh hiện ra con lợn, để báo Tề-tướng-Công, Tô-Văn hoá làm con trâu để báo Tiết-nhân-Quí, Vu-Cát báo Tôn-Sách. Thần là gì? - Thần là khí tinh-anh ngưng tụ không tan đi được; như là bên Tầu thần Thái-Sơn, thần Đỗng [Động?]-Đình. Ta thì thần Tản-Viên, thần Bạch-Hạc, Tầu thì Quan Vân-Trường, Nhạc Vũ-Mục. Ta thời Phù-đổng-Thánh, Hưng-đạo-Vương. Đại để chính thì là thần, tà thì là quỉ, ta cứ gọi trung [chung] là quỉ-thần nhưng mà hai nghĩa khác nhau. Kinh Lễ nói rằng: “Quỉ-thần có công-đức thì thờ,” một là nghĩa để báo đền, hai là muốn cho tỏ dệt [rệt], ba là khuyên bảo người sau, nhược bằng đem mà cầu cúng, thì không phải ý người lập ra tự- điển; như thần Giao kia làm vua Thủy mà lấy hiếp con gái dương-gian, Trịnh-Quân xuống kiện dưới thần bể mới được; thì không kể rằng phải tội dưới âm là sự huyền, nhưng cứ nhẽ [lẽ] dâm tà như thế, thì cũng nên mượn bó đuốc của Địch-lương-Công, mà đốt ra than gio [tro], súc [xúc] đổ xuống ròng [giòng] nước chảy. Lời bàn truyện “Tử-Văn làm Phán-sự đền Tản-viên” Trong Tự-điển, Quỉ-thần có công đức với dân thời thờ: Một là báo đền ơn nghĩa , hai là để khuyên bảo đời sau. Thánh-hiền đặt ra thờ tự không phải là không có ý, đức thánh Khổng-tử nói rằng: “Phi kỳ quỉ nhi tế chi siểm dã,” nghĩa là không phải Quỉ-thần đáng thờ mà thờ thì là siểm-mị. Người nước ta tính hay sùng phụng Quỉ-thần, cho nên thấy thờ thì thờ, chứ không biết tại làm sao mà thờ? không biết thờ có ích gì cho mình không? có hệ gì với mình không? Kìa như: voi cũng thờ, gọi kiêng là ông vâm; hổ cũng thờ, gọi kiêng là quan tướng; rắn cũng thờ, gọi kiêng là ông dài; thậm chí đến đống đất gốc cây cũng có thờ cả. Nay kêu mai cầu, nay khấn mai vái, đất nặn nên bụt, thờ mãi hoá thiêng, chỗ thì ma cây, yêu đá nhập vào, chỗ thì bà cô ông mãnh dáng [giáng] vào, thường thường làm người đau ốm, cầu người cúng cấp. Điện nọ tĩnh kia lên miệng giả tá, ông thầy bà cốt khéo vẽ quàng xiên, làm hại người ta lắm lắm.
  • 26.
    Như con maNgô là Thôi Bách-hộ đoạt thần Cư-Sĩ đi mà hưng yêu tắc [tác] quái, xách nhiễu lương dân. Thần Cư-Sĩ phải xiêu dạt mà lên ở nhờ trên đền Tản-viên, không biết tố giác đâu được, thì con ma Ngô ấy cũng thiêng dữ lắm ư! Than ôi! kiếm đức thánh Hưng-đạo không còn, lấy gì mà chém giặc nịnh; đuốc ông Địch-nhân-Kiệt đã tắt, lấy gì mà đốt dâm từ. Người trung thường có học thức thì không tin không lễ bái cũng đã là bậc giỏi, còn ai dám cả gan bắt cọp, thi sức với ma, một trận ra tay, mà hốc rắn hang beo đã phải tan tành ra gio [tro] nát. Như Tử-Văn đã đốt đền rồi thì dẫu con ma ấy hiện vào hét nạt dọa dậm, lại kêu van xin làm đền lại, ông ấy cũng quyết không nghe, là bởi ông ấy có lòng nhân đức, cho nên thấy dân hại thì thương; có bụng chính chực [trực], cho nên thấy ma không sợ; thực là học biết nhẽ đích đáng, thấy việc phải dám làm. Thế mới biết rằng Chân-nho vô địch. Ngày sau, thần Cư-Sĩ cảm nghĩa mà tiến cử làm Phán-sự đền Tản-viên, nghìn năm hương hoả phụng thờ, hưởng phúc của thần của dân thì cũng đáng lắm. Lời bàn truyện “Giai [trai] ghen tuông, vợ phải thác oan” Nhà có vợ hiền cũng như nước có quan tướng giỏi: quan tướng giỏi thì giúp vua mà sếp [xếp] yên việc nước. Vợ hiền thì giúp chồng liệu yên việc nhà. Cho nên có câu rằng: “Thê hiền phu nội chợ [trợ].” Nghĩa là vợ hiền thì giúp được việc trong nhà cho chồng. Vua mà gặp được trung-thần, nếu ai gièm báng sự chi, cũng quyết không nghe, như ông Hán-Quang-Vũ đưa tờ cáo-thư cho Phùng-Dị xem, thì người trung-thần mới thành công được. Nhược bằng thấy hình tích sinh nghi, mà không hết lòng minh sát, để cho trung-thần mắc phải tiếng oan, thì trước là không thành việc nhớn [lớn], sau lại mất người hiền. Ông Nguyễn-công-Chứ [Trứ] cũng là bực danh-thần nước ta, chiều- [triều] đình bấy giờ nghi có lòng bạn nghịch, ông ấy thường làm thi ca để tỏ ý mình; ca cái phản ngồi rằng: “Đem thân cho thế gian ngồi, mà người không biết đổ nhời [lời] bất trung.” Ca cái máng nước rằng: “Ngay lòng vì nước vì nhà, mắt người không biết giời đà biết cho.” Xem thế thì những người có bụng trung chính, nhà nước cần sét [xét] lắm, kẻo người trung lại bảo là dặc [giặc] thì chính sự nhầm lỗi, nước sao thành ra nước được. Những đứa vợ hư, thì chỉ đợi chồng ra khỏi cửa, để dắt tay giai [trai] vào. Nếu có vợ như thế, thì nên tra xét đích xác, rồi chiếu luật
  • 27.
    đuổi đi làphải. Còn như vợ hiền thì cách ăn nết ở, mười phần cũng đã tin nhau cả mười, nếu có sự chi hình-tích đáng ngờ, thì phải dò xem gốc ngọn, sao nên vội buộc tiếng xấu cho vợ hiền. Tục ngữ nói: “Kim vàng ai nỡ uốn câu, người khôn ai nỡ nói nhau nặng nhời [lời].” Như Trương-Sinh lấy được Vũ-Thị nết na thế nào, cũng đã biết nhau rồi. Khi bước chân đi lính, nàng ấy khuyên nhủ hết nhời [lời], ở nhà thì thân với họ mạc, hoà với anh em, thờ mẹ chồng hết đạo, đêm thanh cảnh vắng chiếc bóng ngọn đèn, muôn hộc chung chung-tình, hồn khuê- thát đã vẩn vơ ở bên cạnh mình trinh-[chinh] phu, đằng đẵng mấy năm không biết bao nhiêu tình tưởng vọng, đến khi được chồng về, như rồng có vây, như cây có dễ [rễ], chắc rằng đã thoả lòng ao ước xưa nay, thế mà chỉ thấy những điều eo óc, những tiếng thị phi, hễ hỏi đến nhời [lời] nói tự đâu mà ra thì chồng lại gạt đi không nói, dạ trung trinh lòng uất ức không phải là cái bánh bóc cho xem. Ngậm đắng nuốt cay, mà tiết sạch giá trong, cam phó cho ròng [giòng] nước biếc. Lạ thay! Trương-Sinh về đã bao nhiêu tối, mà con không chỉ bóng nhận cha, đến khi xuống sông rồi thì con mới tỏ ra sự ấy, chả hoá ra giời [trời] cố chêu [trêu] ngươi ư! Ngày xưa Thị-Kính thành phật, bây giờ Vũ-Thị thành thần cũng là đáng lắm. Còn Thiện-Sĩ giáng sinh làm kiếp vẹt, thì Trương-Sinh cũng nên hoá làm kiếp vờ ở bờ sông. Lời bàn truyện “Gái ác nghiệp, con sinh báo oán” Đàn bà cốt có hiền hạnh, trước là để lo liệu giúp chồng, sau là để phúc đức cho con, sách có câu rằng: “phong hoá khởi tự chốn khuê môn” lại có chữ “phúc đức tại mẫu.” Cho nên bà Hậu-phi nhà Tru [Chu] có đức hiền không ghen ghét, mà sinh được con hiền chắu [cháu] thánh, gây dựng được cơ nghiệp tám trăm năm. Lã-hậu ghen tuông gần khuyênh [khuynh] nghiệp Hán, Vũ-hậu ác nghiệp suýt [xuýt] mất nhà Đường, rồi său [sau] gà gắy [gáy] gở tan hoang, con đầu lừa [1] bị chết. Xem như thế thì đàn bà hay ghen cũng là hại lắm. Tuy rằng ớt nào là ớt chẳng căy [cay], nhưng mà ghen thì hay sinh ác nghiệp, ác nghiệp thì chồng phải bó tay chịu ngồi, con không mở mặt ra được. Người châu Âu châu Mỹ bây giờ thường hay lấy một chồng một vợ, không như ta lấy năm thiếp bẩy thê, cũng không hay ghen tuông chi lắm, nhưng mà chồng đường vợ sá [xá] cũng hay kết hợp tự do, chưa chắc đã khỏi giọng Hà-đông [2] sư tử được. Như vợ cả Nhược-Chân kia ghen Hàn-Nan quá tay roi vọt, lúc sống thuê thích-khách báo cừu không được, đến lúc chết lại dủ [rủ] người khác
  • 28.
    mượn cửa đểbáo oán, nếu không gập [gặp] Pháp-Vân thì tính mịnh [mệnh] cả nhà Nhược-Chân khó tránh khỏi được oan gia nghiệp trướng [chướng]. [1] Con đầu lừa là con riêng của Vũ hậu, tên là lư Đầu Thái Tử. [2] Hà Đông sư tử (sư tử xứ Hà Đông): giống cái dữ tợn, hễ nó hét lên thì con đực phải sợ. Truyền kỳ mạn lục (Variété littéraire) Recueil d’annecdotes extraordinaires Dịch giả: Phan Kế Bính NGUYỄN NAM sưu tuyển 1. Truyện Hồ-tôn-Thốc qua miễu Hạng-vương Quan thừa-chỉ là Hồ-tôn [tông]-Thốc người làng Thổ-thành, tỉnh Nghệ- an, đời vua Phế-đế nhà Trần, làm đến Hàn-lâm-học-sĩ, Thừa-chỉ kiêm Thẩm-hình viện sứ. Giỏi về nghề làm thơ, lại hay dễu [diễu] cợt truyện đời. Cuối đời nhà Trần, phụng mạng sang sứ bên Tầu. Đi qua miễu vua Hạng-vương, đề một bài thơ như sau nầy: Bách nhị sơn hà khởi chiến phong, Huề tương tử đệ nhập Quan-trung. Yên tiêu Hàm-cốc châu-cung lãnh, Tuyết tán Hồng-môn ngọc-đẩu không. Nhứt bại hữu thiên vong Trạch tả, Trùng lai vô địa đáo Giang-đông. Kinh dinh ngũ tải thành hà sự, Tiêu đắc khu khu táng Lỗ-công. Bài dịch Non nước trăm hai [1] nổi bụi hồng, Dắt diù em trẻ tới Quan-trung. Cung châu lạnh lẽo gio (tro) thềm Lộc, Chén ngọc tanh tành tuyết cửa Hồng. Vận rủi đã cam về Trạch-tả,
  • 29.
    Mặt nào cònnỡ ngó Giang-đông? Năm năm vùng vẩy nên chi đó, Mai táng còn may chút lễ [Lỗ] Công. Đề xong, về nhà quán, đánh chén say buồn ngủ, sực mơ thấy một người đến mời đi, nói rằng: “Phụng mạng vua tôi, cho mời ông đến nói truyện.” Hồ-công lật đật chỉnh đốn khăn áo, rồi thì người ấy dẫn đường đưa đi. Một lát đến nơi cung điện to lớn, đã thấy Hạng-vương ngự trên điện rồi. Bên cạnh đặt một tấm giường lưu-ly, rồi Hạng-vương mời Hồ-công ngồi trên giường và hỏi rằng: - Câu thơ của thầy đề ban ngày, sao kinh [khinh] ta lắm mấy? Kìa như nhà Hán là một vì vua, ta đây cũng là một vì vua, nhà Hán phong thế nào được cho ta? Vả như Điền-Hoành là một đưá con trẻ, còn chẳng thèm tham danh tước của nhà Hán, huống chi ta đường đường là một nước Sở, há lại thèm chịu lễ Lỗ-công sao? Ta xin kể rõ cho Sứ-quân được biết: Ngày xưa nhà Tần mất quyền, bốn phương nổi lên tranh nhau, ta nhân dịp đó cất quân, đánh đâu được đó, đức nghĩa ta dùng ra thì nước nào cũng phải phục, oai lịnh ta thi hành thì người nào cũng phải làm tôi, ta coi thiên hạ, chỉ ngồi một chỗ cũng có lẽ địch nổi. Xem thế thì giời (trời) giúp nhà Hán, dẫu bọn thổi kèn dệt vải[2] cũng đủ nên công; giời (trời) hại nhà Sở, dầu có sức nhắc vạc nhổ núi, cũng không thể cưỡng cầu. Huống chi sức Chung-Ly không kém gì Hàn-Tín, mưu A-phụ lại hơn Trần-Bình, nếu ta biết tín nhời [lời] các người ấy, nhân thua gắng sức, quất ngựa ô-chuy, thâu quân Bành-thành, há chẳng hay đạp bằng cung điện Phong-bài [bái], mà đào được tôn xã nhà Lưu hay sao? Chỉ vì ta thương dân mắc phải tai nạn, cho nên đem thân đường đường tám thước, mà phó cho bọn Vương-Ê. Thế thì nhà Hán nhà Sở, một nên một thua, cũng là việc may rủi mà thôi, có lấy sự thành bại mà luận anh hùng thế nào được!!! Trong đời những kẻ hay phẩm bình nhân vật, có kẻ đổ cho là giời (trời), có kẻ cho không phải là giời [trời], thường thường làm ra thơ từ có đến ngàn bài, nhưng chỉ có một câu của Đỗ-Mục nói rằng: Giang-đông tử đệ đa tài tuấn, Quyển thổ trùng lai vị khả tri. Dịch nôm: Giang-đông em trẻ nhiều tay giỏi, Dậy đất quay về chửa biết chừng! Câu thơ ấy còn có ý trung hậu, hợp cách làm thơ, đọc lên còn cứng cỏi được ý người. Còn các bài khác đại để toàn là nhời (lời) phù bạc cả, ta thật là không bằng lòng, nên ta than thở với Sứ quân như vậy. Hồ-công nghe đoạn, cười nói rằng: - Lẽ giời [trời] việc người, đôi đường cùng quan hệ với nhau, nếu đổ cho số giời, mà không kể đến việc người, thì vua vẫn còn chưa nghĩ cho
  • 30.
    cùng lẽ thật.Nay vua đã cho gọi tôi đến đây, tôi xin cứ thẳng mà nó có đặng không? Hạng-vương nói: - Phải, phải! Sứ quân cứ việc thẳng mà nói. Hồ-công mới nói rằng: - Vận thế thiên-hạ, cốt bởi mưu chớ không bởi sức; thâu bụng thiên-hạ cốt tại nhân chớ không tại bạo. Vua tánh hay quát tháo hung hăng, giết Tống-Nghĩa[3] thì là tội vô quân, giết Tử-Anh[4] thì là sự bất võ. Ngươi Hàn-Sinh[5] tội gì mà bị mổ, cung A-phòng[6] cớ gì mà đốt đi? Vua làm những sự ấy, được bụng người hay là mất bụng người? Hạng-vương nói: - Sứ-quân nói vậy chưa nhầm. Việc đất Hàm-đan, cơ thành bại chỉ ở trong chớp mắt, mà Tống-Nghiã thì rụt rè không dám tiến quân. Nếu để chậm mà quân nhà Tần sang qua sông, thì nhân dân nước Triệu hại hết, cho nên ta giết một Tống-Nghiã mà cứu cho trăm vạn mạng người, thì có lỗi gì? Vua trong các nước cũng là chư-hầu, mà nhà Tần cũng là chư- hầu, lại đi tham đất các nước, đánh lấn không còn để nước nào cho nên ta giết moät Töû-Anh ñeå baùo thuø cho saùu nöôùc, thì coù haïi gì? Coøn nhö Hàn-Sinh chê bai quân thân, là tội bất trung, nên ta giết để răn kẻ khác. Thủy-hoàng xa xỉ tàn ác, vét của dân để lập cung A-phòng, nên ta đốt đi để cho vua khác phải cần kiệm. Sứ quân bẻ ta những sự ấy, ta thiệt không chịu. Hồ-công nói: - Thế thì vua đốt lục-kinh, để cho ân trạch của thánh-nhân mất đi, và vua sai giết Nghĩa-đế ở trong sông, thì vua sao lại nỡ làm thế? Sao cho bằng nhà Hán nghe lời Đổng-Công, mà lập nên việc nhân nghĩa; tế đền Khúc- phụ,[7] mà đem lại lối đạo học. Cho nên có câu rằng: Nhà Hán được thiên-hạ, không phải bởi dùng được Tiêu-Hà, Trương-Lương, mà cốt về ba quân để tang cho Nghĩa-đế, được vui lòng trung-phẩm cho bọn hào- kiệt; Nhà Hán giữ thiên hạ không phải bởi điều lệ rộng rãi, mà cốt về thân tế đền Khúc-phụ, dựng được nề niếp [nếp] cho người đời sau. Vua sánh cùng với nhà Hán làm sao cho đặng? Hạng-vương thấy nói vậy, ngồi ngẩn mặt không biết nói lại làm sao. Khi ấy có Phạm-Tăng đứng bên tiến lên nói rằng: - Tôi nghe: Làm người chẳng ai ra khỏi vòng giời [trời] đất, dựng nước chẳng ai vượt khỏi đạo cương thường. Nhà vua có bày tôi quần thần tên là Tào Cữu, lòng đá vàng mà tiết tòng bách (bá), thà rằng chết mà không chịu nhục, há chẳng phải bởi vua dùng phải đạo mà khiến cho tận trung đó rư? Kià như nhà Hán sai Ứng-Xỉ giữ đất Phong mà Ứng-Xỉ hàng người khác; sai Trần-Hỉ coi đất Triệu mà Trần-Hỉ làm phản, thì đạo vua tôi đằng nào hơn? Vua có người cơ-thiếp họ Ngu, mình nhẹ lá sương, hồn theo lưỡi kiếm, giữ tấm lòng ở nơi tịch mịch, chôn khúc giận ở đám hoang vu, há chẳng phải bởi vua ở hết đạo mà khiến cho tận tiết đó rư?
  • 31.
    Kià như nhàHán mụ Lữ-Trĩ thì kiêu mà sinh dâm, nàng Thích-cơ thì yêu mà mắc hoạ, thì đạo vợ chồng đằng nào phải? Huống chi nỡ bỏ cha là Thái-công mà bỏ mất đạo giới, đắm yêu con thứ là Triệu-vương mà khinh thị quốc-bổn[8] thì trong đạo cha con ở đâu? Kẻ nghị luận không xét rõ phải trái, chỉ khen nhà Hán mà chê nhà Sở để cho vua ta mang tiếng xấu ở dưới cửu tuyền. Nhờ ông bỏ bớt những nhời nhảm nhuốc ấy đi, thì cũng là may cho trong lúc gặp gỡ lắm. Hồ-công nghe nói phải lẽ; gật đầu hai ba lần. Canh khuya tan cuộc chè, đứng dậy từ về, Hạng-vương tiễn ra khỏi cửa thì giời [trời] đã sáng. Tỉnh dậy, mới biết là một giấc chiêm bao. 2. Truyện người đàn bà có nghĩa Về cuối đời nhà Trần, ở phủ Khoái Châu,[9] một người tên là Từ Đạt, làm quan ở thành Đông quan,[10] gần nhau với nhà quan Thiêm-thư là Phùng-lập-Ngôn. Hai người đi lại chơi bời, thân ái nhau như anh em ruột. Phùng có con giai (trai) tên là Trọng-Quì. Từ có con gái tên là Nhị Khanh. Giai [trai] tài, gái sắc, trạc tuổi lại vừa ngang nhau. Thường khi qua lại gặp nhau, đôi bên tình đầu ý hiệp. Cha mẹ hai đàng cũng đẹp ý cả, mới dùng đủ lễ mối lái cưới xin, (mai mối cưới gả) rồi thành gia thất. Nàng Nhị-Khanh tuy còn trẻ tuổi nhưng khi về nhà chồng đã có nết ăn ở hiền hậu, ai ai cũng khen là được nội trợ giỏi. Chàng Trọng-Quì tới khi khôn lớn, chỉ chăm sự du đãng, nàng nầy thường thường can gián, chàng kia tuy không nghe nhời (lời), nhưng cũng có bụng kính sợ. Gặp khi đó ở xứ Nghệ-an lắm giặc cướp, trào- đình muốn cầu một người giỏi cho làm quan đó để dẹp giặc. Đình thần ghét Phùng là người nói thẳng, có ý muốn hại Phùng, mới cử lên để sung bổ vào chức ấy. Phùng sắp phó lị, bảo với nàng dâu là Nhị-Khanh rằng: - Đường xá xa xôi, cha không muốn cho con đi theo. Vậy con hãy ở tạm lại đây, đợi khi nào giặc giã yên ổn rồi cha sẽ cho đón rước con vào trong nầy ở với chồng con. Chàng Trọng-Quì thấy vợ mình không đi, có ý ngần ngại (dụ dự) cũng muốn ở nhà. Nàng kia can nói rằng: - Nay cha vì tánh [tính] nói thẳng mà người ta ghét, tuy giả tiếng cho giữ chốn hùng phiên, mà thiệt thì đưa vào đất chết. Chàng anh Lang- quân nỡ nào để song thân đi một mình, sóng gió muôn dặm, sớm tối một thân, đem vào cõi nước độc ma thiêng (nguồn cao nước độc) ai là kẻ sớm thăm chiều viếng. Vậy thì chàng anh phải theo cha mà đi, chớ vì thiếp mà trái hiếu đạo. Chàng kia bất đắc dĩ, mở tiệc tiễn biệt cùng vợ, rồi theo cha và cả nhà về Nghệ An.
  • 32.
    Nàng Nhị-Khanh từbữa đó ở lại với cha mẹ ruột, không ngờ con tạo trêu ngươi, việc người lắm lỗi. Chẳng bao lâu, cha mẹ nàng Nhị-Khanh kế theo nhau mà thác. Nàng ấy đem ma về táng ở Khoái-châu là chỗ quê nhà, rồi ở cùng với một người bà cô là họ Lưu. Khi ấy trong đồng ấp có một viên võ-quan họ Bạch, nguyên là cháu ngoại họ Lưu. Viên ấy thấy nàng Nhị Khanh nhan sắc xinh tốt, muốn cưới làm vợ, mới dùng của lót khấn cầu họ Lưu, nhờ dỗ dành nàng kia cho mình. Lưu-thị dỗ bảo nàng Nhị-Khanh rằng: - Nhà nước tự khi nhà Nhuận-Hồ chịu ngôi đến nay, chăm việc dong chơi, chính sự lầm lỗi, sanh sự cơ loạn trong nước khắp nơi. Vả lại chàng Phùng kia đi biệt sáu năm nay, không có tin tức gì chưa biết là còn hay mất. Nếu mà gặp cơn loạn lạc, phải tay hung dữ, thì ta e rằng bóng liễu Chương-đài chưa biết rụng vào đâu? Chi bằng kiếm một nơi tốt, kết mối duyên lành, bịt miệng người cười hoa cợt liễu, yên phận nàng dây sắn bóng tùng (cát đằng tùng bá), chẳng hơn là quạnh quẻ [quẽ] một mình như người đàn bà goá rư? Nàng Nhị-Khanh nghe lời kinh hãi, suốt tháng không ăn ngủ chi đặng. Lưu-thị biết vậy, muốn ép uổng bắt phải lấy chồng, và bảo Viên- võ-quan kia cứ việc định sẵn ngày cưới. Nàng Nhị-Khanh lo lắm, kêu một người lão-bộc mà dạy rằng: - Lão ở nhà ta đã lâu, có lòng mà báo ơn đức tiên nhân ta được chăng? Ta sở dĩ còn nhẫn nhục đến rầy, là vì cớ chồng ta còn sống. Nếu chồng ta thác rồi thì ta cũng thác theo, chớ không khi nào ta chịu mặc áo xiêm của chồng ta mà đi làm đỏm cho người khác (đi dởn [giỡn] với người khác). Vậy thì lão chớ quản bao khó nhọc, nên vào Nghệ-an kiếm cho đặng chồng ta về đây. Khi đó đang cơn loạn lạc, đường xá gập gềnh, lão kia đi mười hôm mới đến Nghệ-an. Hỏi thăm thì người ta nói rằng: “Ông Phùng-lập-Ngôn mất rồi, gặp nhằm con không ra gì, cửa nhà sa sút hết cả.” Lão kia nghe nói vậy buồn rầu lắm, bỏ thuyền lên bờ, đi dẻo ven (dọc theo) sông, xảy gặp chàng Phùng-trọng-Quì ở trong chợ. Chàng ta đưa lão-bộc về ở nơi ngụ, thì thấy cửa nhà tiêu điều, bốn bề vách nát, trong nhà có một tấm giường, và chỉ có bộ bàn cờ, đồ uống rượu, chó săn và gà chọi mà thôi, chớ không có chi nữa cả. Chàng ấy nói với lão-bộc rằng: - Tiên-nhơn [nhân] ta chẳng may mất đã bốn năm nay. Ta vì có binh qua trở ngại, muốn về không được, tuy ở tha hương, nhưng lúc nào cũng nhớ đến quê nhà. Vì đó nên mới sắm sửa định ngày về, khi về đến nhà, vợ chồng trông nhau than khóc. Bởi cớ cách biệt lâu năm, tình lân ái bội phần đằm thắm. Không bao lâu, chàng kia lại cứ giữ thói dong chơi, ngày ngày cùng với kẻ lái buôn là Đỗ-Tam đi lại. Chàng Trọng-Quì thì tham của nhà Đỗ-
  • 33.
    Tam. Đỗ-Tam thìmến nhan sắc của vợ Trọng-Quì, nhân thế cùng nhau đánh bạc. Đỗ-Tam thả nhiều của để dử [nhử] Trọng-Quì. Trọng-Quì thường thường đánh được bạc, coi lấy tiền như lấy của trong túi. Nàng Nhị-Khanh răn bảo chồng rằng: - Lái buôn lắm kế giảo quyệt, xin chớ chơi bời, trước tuy được của nó, về sau ắt thua hết về nó mà thôi. Trọng-Quì không nghe. Một hôm, hội đóng bầu bạn đánh bạc. Đỗ-Tam bỏ ra trăm muôn quan tiền, mà xin Trọng-Quì phải lấy nàng Nhị-Khanh làm cược (vi chi). Trọng-Quì quen thói thường được, không nghĩ chi đến sự khác, liền thuận tình viết giấy giao kèo, rồi vừa uống rượu vừa đánh bạc. Trọng-Quì đánh ba tiếng thua cả ba, mặt mũi tái mét, cả đám ngồi ai nấy đều kinh. Trọng-Quì vì đã viết giấy, không sao chối được, phải gọi Nhị-Khanh đến, nói hết thiệt [thật] tình cho Nhị-Khanh nghe, và đưa tờ giấy giao-kèo để vợ xem, rồi bảo rằng: - Tôi vì cớ nghèo ngặt, phải lụy đến nàng. Nay việc đã thế nầy, dẫu hối lại cũng không kịp. Vả lại sự đời khi hợp tan, khi mừng thương, cũng là sự thường, vậy thì nàng hãy đành lòng ở với tân-nhân, chẳng mấy bữa tôi sẽ đem tiền chuộc lại. Nàng Nhị-Khanh biết thân không tránh được nào, mới giả đều tử-tế mà nói rằng: - Bỏ nơi nghèo sang nơi giàu, thiếp còn ngại gì, âu cũng là số giời [trời] tiền định chăng? Nếu tân lang không hiềm thiếp xấu xa, thiếp xin ráng sức nâng khăn sửa túi, cũng như thiếp thờ chồng cũ khi xưa. Nhưng thiếp hãy xin một chén rượu, để biệt nhau với chồng cũ, và xin về hối (dặn) con một lời. Đỗ-Tam mừng lắm, sai rót một cốc (ly) rượu to đưa nàng ấy uống, nàng ấy uống rồi, về nhà dắt hai con nhỏ ra, vỗ vào lưng mà bảo rằng: - Con ơi! Cha con bạc tình, không thể nương nhờ được. Mẹ chẳng lo chi sự chết, nhưng chỉ thương đến chúng bây mà thôi. Nói đoạn rồi, lấy dây thắt cổ tự tận. Đỗ-Tam thấy nàng ấy về lâu chưa đến, sai người đến giục, thì thác đã lâu rồi. Trọng-Quì thương xót vô cùng, đủ lễ làm ma tống táng. Trọng-Quì tự khi đó thất ngẫu, ăn năn vô chừng, nhưng sanh [sinh] nhai mỗi ngày một kém, sớm tối vay mượn nhờ người. Nhân nhờ có một người bạn cũ làm quan ở châu Qui-hoá (nay thuộc về tỉnh Hưng-hoá) mới đi lên đó để kiếm chốn nương nhờ. Đi được nửa đường mỏi mệt lắm muốn ngủ, nhân ngồi nghỉ ở dưới gốc cây bàng. Sực nghe trên không có tiếng gọi rằng: - Ai đó, có phải là Phùng-lang chăng? Nếu chàng còn nhớ đến tình cũ thì cứ đến ngày ấy giờ ấy, đến miễu bà Trưng-vương đợi tôi. Ân tình chi thiết, xin chớ coi u minh khác nhau.
  • 34.
    Trọng-Quì nghe văngvẳng như tiếng nàng Nhị-Khanh, ngẩng mắt lên trông, chỉ thấy một đám mây dâm đen bay về phía tây-bắc. Trọng-Quì lấy làm quái lạ, muốn nghiệm xem ra làm sao, mới y lời hẹn đến miễu bà Trưng-vương. Khi đến đó thì mặt trời đã xế bóng vào cửa song, trông ra cỏ rặm rêu xanh, phong cảnh hắt hiu, thỉnh thoảng lại nghe tiếng chim chóc kêu trong bụi cây cối. Chàng ta buồn rầu muốn trở về thì trời đã tối, mới nằm nghỉ trên tấm phản ở nơi nhà cầu. Cuối canh ba, nghe có tiếng khóc văng vẳng tự đằng xa dần dần tới gần. Cách chừng nửa trượng, trông ra mập mờ qủa nhiên là nàng Nhị-Khanh. Nàng ấy bảo Trọng-Quì rằng: - Thiếp từ sau khi mất đi, Thượng-đế thương thiếp thác oan, gia ơn cho phụ vào đền Nghiêm,[11] chức coi việc tờ bồi (từ chương) không lúc nào rỗi rảnh mà thăm được chàng. Bữa trước nhân đi làm mưa, gặp chàng mà gọi, nếu không có dịp ấy thì thiên cổ không bao giờ được gặp nhau. Trọng-Quì hỏi: - Nương tử lại đây sao chậm làm vậy? Nàng Nhị-Khanh nói: - Thiếp vừa cưỡi xe mây lên chầu Thượng-đế, vì có chàng lại đây, phải xin phép về trước, cho nên hơi chậm một chút. Nói đoạn, dắt nhau nằm nghỉ, nói truyện thời sự. Nàng Nhị-Khanh nói rằng: - Thiếp thường hầu hạ bên cạnh Thượng-đế, nghe vụng các tiên nói truyện với nhau rằng : Vận nhà Hồ suy vi, đến năm Bính-tuất thì có việc binh cách dậy to, hơn 20 muôn người chết hại về loạn lạc, mà những người bị bắt không kể. Nếu ai không có âm đức, thì chỉ e đến lúc đó khó toàn. Khi ấy có chân nhân họ Lê tự phía Tây-nam khởi lên. Chàng nên ráng sức dạy hai con, khiến con vững một niềm tin theo giúp vua Lê, thì thiếp dẫu thác cũng được thỏa lòng. Trời gần sáng, vội vã đứng dậy từ biệt, vừa đi vừa ngảnh lại, một nhát (lát) thì biến mất. Trọng-Quì từ đó trở về, cũng không lấy vợ chi nữa. Nuôi dạy hai con cho đến khi nên người. Về sau, vua Thái-tổ nhà Lê khởi nghiã ở Lam-sơn, hai con mộ quân đi theo, trải làm quan đến chức Thị-nội. Đến nay ở Khoái-châu, con cháu nhà ấy vẫn còn. 3. Truyện cây gạo (gòn) Người phủ Bắc-hà (thuộc tỉnh Nghệ-an) tên là Trình-trung-Ngộ, tuấn tú đẹp giai (trai), mà nhà rất nên cự phú. Khi chàng ta mướn thuyền đi buôn xứ Nam, đỗ thuyền dưới cầu Liễu-khê,[12] qua chơi trong chợ Nam-xang (xương). Mỗi khi đi đến nửa đường, thì thấy một người con gái ở trong làng Đông-thôn đi ra, có một con hầu đi theo sau. Chàng ta liếc mắt trộm trông (lên xem) quả nhiên một người nhan sắc tuyệt trần, chỉ vì mình là
  • 35.
    người tha hươnglữ thứ, hỏi ra không tiện, cho nên phải ngậm ngùi bực tức trong mình mà chịu. Bữa khác đi qua, lại gặp người con gái ấy. Chàng ta muốn ỏn ẻn, nói khêu, thì thấy nàng kia đi mau lắm, rồi bảo với con hầu rằng: - Ta lâu nay mê đắm giấc xuân, tham ngủ nghê không hề đi đến đâu, biệt tích chốn Khê-kiều, đã nửa năm nay; không biết phong cảnh chỗ đó, nay ra làm sao? Đêm nay ta nên qua thăm chốn cũ, đặng giải u tình ta một chút, mầy có khứng theo ta chăng? Con hầu xin vâng lời. Chàng Trung-Ngộ nghe vậy mừng rỡ lắm. Chiều hôm ấy đến nơi Khê- kiều núp một nơi chờ đợi. Đến nửa đêm vắng người qua lại, qủa nhiên thấy con gái và đứa hầu cắp một cái đờn [đàn] tì-bà đến đó. Khi đến đầu cầu, người con gái than rằng: - Khe núi rành rành, phong cảnh như xưa: chỉ giận vì thân gái thẩn thơ một mình, không được chơi với chị em như trước, khiến người mang bụng cảm thương. Nói đoạn, ngồi dựa câu-lơn [lan], ôm tì-bà, gảy mấy tiếng cung nam, lại đánh một bài thứ tứ. Một hồi lâu, bỏ đờn [đàn] đứng dậy, nói rằng: - Ta muốn mượn ngón đờn [đàn] cho giải chút tình riêng, nhưng điệu cao ý xa, trong đời ai là kẻ tri-âm, chi bằng ta về quách cho rảnh. Trung-Ngộ nghe vậy, vội vàng bước rảo ra bái một bái rồi nói rằng: - Tôi là tri-âm đây, xin thử cho nghe một chút. Ả kia thất kinh, nói rằng: - Chàng cũng có ở đây đó sao? Thiếp trước nhiều khi đội ơn chàng có lòng yêu đến, thiếp vẫn tạc dạ ghi lòng, nhưng hiềm vì đường xá vội vàng, khó tỏ được tình gắn bó (vó). Nay nhân buổi đêm thanh gió mát, không ngờ gặp chàng lại đây. Ví không duyên giời [trời], sao có gặp nhau mãi vậy? Nhưng ngắm người châu ngọc, nghĩ phận xấu xa, thì thiếp lấy làm e lệ lắm. Chàng Trung-Ngộ hỏi đến tên họ quê hương ở đâu, thì người con gái nói rằng: - Thiếp họ Nhị tên Khanh cũng là một họ to trong làng, cháu gái ông Hối- Ông đây. Cha mẹ thiếp chẳng may thác sớm, cửa nhà sa sút (sụp). Bưã nọ lại bị chồng đuổi, thiên ra ở ngoài thành. Mới biết rằng người ta ở đời, ví như một giấc chiêm bao, chi bằng trong lúc sanh thì, tạm kiếm sự vui mà chơi, kẻo một mai xuống đất, thì thành ra người suối vàng, dẫu muốn vui thì đã muộn rồi. Nói đoạn, hai người cùng nhau về nơi thuyền. Người con gái lại nói nhỏ bảo với chàng kia rằng: - Thiếp nay mặt mũi hao mòn, ở gần nghĩa địa, không ai thăm viếng, coi ngày dài như năm. Xin quân tử quạt hơi dương vào chốn hang sâu, thổi
  • 36.
    khí ấm vùngcỏ héo, để cho cánh huê [hoa] tàn lại được ấm áp khí xuân, thì trọn đời thiếp được nhờ ơn lắm đó! Hai người dắt nhau đùa bỡn, tình rất vui vẻ. Người con gái khẩu chiếm hai bài thơ để ký sự vui: 1. Cùng diêm cửu khốn ngọ miên chi, Tu đối tân-lang ngữ biệt ly. Ngọc duẩn chỉnh tà châu xuyến tử, Hương la thoát hoán tú hài nhi. Mộng tàn bán chẩm mê hồ điệp, Xuân tận tam canh oán tử-qui. Thử khứ vị thù đồng huyệt ước, Kháo tương nhứt tử vị tâm tri. Dịch nôm: Ngõ hẻm liên miên giấc ngủ trưa, Thẹn thùng buổi mới chuyện sau xưa. Nhẫn tay sáng lộn vành châu nhỏ, Hài gót hương thay chiếc giải thừa. Nửa gối mơ màng hồn điệp quẩn, Ba canh văng vẳng tiếng quyên đưa. Chút nguyền đồng huyệt dầu chưa thỏa, Cùng với tri-âm dám hững hờ. 2. Giai kỳ nhẫn phụ thử lương tiêu, Túy bảo ngân tranh bát phục khiêu. Ngọc yến nhiệm dong trâm chụy cợt, Kim thiền cơ phụ khúc tiêm yêu. Yên thư dường ngạc hồng do thấp, Hãn thoát mai trang bạch vị tiêu. Tảo văn kết thành loan phụng hữu, Phong thần nguyệt tịch nhiệm chiêu yêu. Dịch nôm: Cuộc vui sao nỡ phụ đêm nầy? Dạo khúc đờn [đàn] tranh lúc hứng say. Mái tóc biếng cài xoa én ngả, Khôn [khuôn] lưng dường ngại cánh ve bay. Mây tuôn đoá hạnh mầu hồng đượm, Nước thấm bông mai vẻ trắng bày. Loan phụng sẽ nên duyên bạn lứa, Đêm trăng ngày gió thỏa vui vầy.
  • 37.
    Trình-trung-Ngộ vốn làngười đi buôn, không biết chữ nghĩa, ả kia phải cắt nghĩa từng câu cho nghe. Trung-Ngộ nức nở khen rằng: - Tài của nàng, không kém gì Dịch-An khi xưa![13] Chắc là nổi tiếng văn chương ở đời. Ả kia cười nói rằng: - Người ta sanh [sinh] ở đời, quí hồ thích chí là hơn, văn chương chẳng qua là bã giả một nắm đất vàng mà thôi, kìa như nàng Ban ả Sái,[14] bây giờ còn đâu? Sao bằng mượn ngay cảnh vui trước mắt, chơi lên xuân một thời, cho qua đời mình chẳng hay sao? Bữa ấy giời [trời] sắp sáng thì người con gái từ đi, chiều hôm sau lại đến, gần đầy một tháng hôm nào cũng vậy. Khi đó có người bạn buôn bảo với Trung-Ngộ rằng: - Ngô-tử ở nơi lữ thứ, nên phải giữ gìn, lánh sự hiềm nghi, sao nên manh lòng dâm giục, theo gái vu vơ, không biết còn do làm sao, ví bằng ả kia là vợ con nhà phú quí, một mai vôõ chuyện ra ngoài trên có phép nước, dưới không thân bằng, ngô tử nghĩ làm sao bấy giờ? Vậy nên hỏi cho cặn kẽ, rồi nên từ đi, mà không từ được thì đem nhau trốn đi nơi khác như thế mới êm được việc. Trung-Ngộ nghĩ nhời [lời] ấy là phải, bữa sau bảo với đứa con gái rằng: - Tôi vốn là khách xa, xảy kết duyên lành, nhưng chưa được tường nhà nàng ở đâu, tôi chưa đành lòng. Đứa con gái ấy nói: - Nhà thiếp cũng gần đây chẳng xa, nhưng việc gặp gỡ khi nay, là một sự riêng mà thôi, nếu lộ truyện ra thì e rằng tai mắt sinh ngờ, thuyền quyên ghen ghét, cho nên thiếp phải đi khuya về sớm, kẻo để lụy đến lang-quân đó thôi. Trung-Ngộ cố xin cho biết nhà, người con gái cười rằng: - Thiếp nguyên hiềm vì cửa nhà quê lậu, nay chàng đã không tin, thì thiếp tiếc gì mà chẳng mời chàng về chơi. Bởi vậy canh ba đêm hôm ấy, nhân khi dâm tối, đưa nhau về đến Đông- thôn. Đến đó, thấy chung quanh tứ vi có hàng rào tre, lại có vài khóm lau sậy xen vào. Trong có một khu nhà ranh hẹp nhỏ, bốn phía toàn dây leo rễ máng. Người con gái trỏ vào chỗ ấy nói rằng: - Đó là nơi thiếp rồi rảnh công việc an thân đó! Chàng hãy đẩy cửa vào ngồi tạm một chút, để thiếp đi lấy lửa lại đốt đèn. Chàng kia lúm khúm đi vào, đứng chờ ngoài ngăn cửa. Thỉnh thoảng có hơi gió phảy qua, thì thấy có mùi tanh hôi. Đang khi ngần ngại trông trước nhìn sau, xảy có bóng lửa sáng lòa ra, ngó thấy mé bên có một tấm gương nhỏ; trên gương có một cỗ áo-quan (hòm) sơn son; lưng áo-
  • 38.
    quan che mộtbức hồng-la có đề mấy chữ bằng ngân-sa rằng: “Nhị- Khanh chi cữu”. Mé bên lại có một tượng đứa con gái tô bằng đất, ôm chiếc đờn [đàn] hồ-cầm đứng hầu. Trung-Ngộ thấy vậy, rụng rời rởn ốc, vội vàng chạy ra, thì thấy người con gái đứng chận đường mà bảo rằng: - Anh đã đến đây không có lẽ nào về được. Vả lại câu thơ bữa trước đã lấy sự thác hẹn nhau, vậy xin ở lại đây với tôi, cho thỏa ước đồng huyệt. Tôi ngủ một mình ở đây, dễ mà bỏ được tôi chăng? Nói rồi kéo áo chàng kia trở lại. Chàng kia cố dứt ra chạy, may đứt vạt áo mới chạy thoát được. Khi chạy tới cầu Liễu-khê thì sợ hãi quá đỗi không nói ra tiếng được nữa. Sớm mai vào làng Đông-thôn hỏi chuyện, thì quả có chuyện con gái ông Hối-ông, mới 20 tuổi, chết đã nửa năm nay còn quàn ở ngoài đồng. Trung-Ngộ nhân đó cảm bệnh nặng, mà đứa con gái ấy cũng thường thường qua lại, hoặc khi đứng trên bãi cát hò kêu, hoặc khi vào trong thuyền thì thầm nói truyện. Trung-Ngộ cũng nói năng lảm nhảm, thường muốn băng mình chạy đi. Người chúng bạn trong thuyền biết là cảm tà, dùng dây trói lại, thì Trung-Ngộ mắng mà nói rằng: - Chỗ vợ ta ở, có lầu đài vui vẻ, lan xạ thơm tho, ta nên đến ở đó, quyết không chịu buộc chân ở đám trần ai đâu, chúng bây sao nỡ trói ta làm vậy? Một bữa, người trong thuyền ngủ cả, Trung-Ngộ trốn đi. Bọn kia thức dậy thì không thấy Trung-Ngộ đâu, vội vàng ra đồng coi xem, thì thấy chàng ta đã ấp vào bao-quan mà chết rồi. Chúng nhân bèn táng anh ta tại đó. Từ khi ấy mỗi khi đêm âm ám thì thấy hai người dắt nhau đi chơi, hoặc khi cười, hoặc khi khóc, thường thường khuấy nhiễu người ta, bắt phải cúng bái, nếu không cúng thì sanh [sinh] ra tai hoạ ngay. Người trong làng tức giận, đào mả hai người phá áo quan, rồi tán xương quăng ra ngoài sông. Trên bờ sông đó có một kiến chùa, trong chùa có một cây gạo (gòn) cổ thụ, đã hơn 100 năm. Hồn hai người kia mới nương dựa cây cổ-thụ ấy mà thành yêu. Từ đó ai muốn đốn cây gạo ấy cũng không được, gãy búa mẻ rùi, không sao lung chuyển. Năm canh ngọ trong đời Khai-hựu nhà Trần, có một thầy đạo-sĩ qua chùa vào nghỉ. Khi đó đang lúc canh khuya trăng lò bốn bề lặng lẽ như tờ. Thầy đạo-sĩ trông thấy hai đứa trai gái cởi truồng cười đùa dỡn nhau một hồi, rồi đến gõ cửa chùa mà hỏi. Đạo-sĩ nghi là trai gái tư tình, chơi dạo dưới giăng [trăng], và ghét loài vô sỉ, nên cứ đóng cửa không thèm nói chuyện. Sớm hôm sau vào chơi nhà cụ già trong làng, thuật lại truyện mình coi thấy, và than rằng thói dân kiên [kiêu] bạc. Cụ già nói:
  • 39.
    - Ôi chàoôi! Đó là yêu vật ở trên cây cổ thụ, hiện hình tác quái đã lâu nay rồi, ước chi được thanh gươm trảm tà để trừ loài ác nghiệt hại dân ấy. Đạo-nhơn [nhân] ngẫm nghĩ một lúc rồi nói rằng: - Tôi vốn lấy sự cứu đời làm nghề mình, nay mắt tôi trông thấy việc như vầy, không lẻ [lẽ] ngồi yên cho đặng? Mới gọi hết người trong làng, thiết lập đàn trai cúng cấp, rồi viết ba đạo bùa, một đạo đóng vào cây gạo, một đạo gìm xuống sông, một đạo đốt hóa trước đàn. Làm phép đâu đó, rồi la lên rằng: - Yêu tinh làm hại ở đây đã lâu, mượn quân thần-binh chúng bây, quét trừ loài hung dữ. Không được chậm trễ, phải hỏa tốc mà phụng hành. Được một lát, mây mù tỏa ra lấp trời, tối đen như mực, ở dưới sông thì sóng gió ầm ầm, chuyển động trời đất. Một hồi lâu tan cơn gió, trời đất quang đãng, thì cây gạo ấy đã bật rễ đổ xuống đất, nhành lá tả tơi rồi nghe trong không có tiếng roi vọt khóc lóc. Chúng ngảnh mặt lên xem, thì coi thấy những quân đầu trâu mặt ngựa, có hàng sáu bảy trăm người, đóng gông hai người điệu đi. Người trong làng đem của cải tặng đạo-nhân. Đạo-nhân không lấy chút nào, từ biệt mà đi mất. 4. Truyện Trà-đồng giáng sanh [sinh] Dương-đức-Công tên là Tạc, người ở phủ Thường-tín tỉnh Sơn Nam. Về đời vua Huệ-tôn [tông] nhà Lý, xét việc án ở trấn Tuyên-quang, gỡ được nhiều tội cho người oan uổng. Bởi có lòng nhân từ hiền đức, cho nên người ta ai cũng kêu là Đức-công. Đức-công ngoài 50 tuổi chưa có con, xảy bị bịnh thác đi mà hồi lại. Nguyên trong lúc Đức-công thác thì thấy đến một nơi thành đen vách sắt, muốn quầy trở về, bỗng có một người lính ngăn lại rồi đưa sang mé hữu. Đến đó thì thấy cửa đỏ biển son, mới sốc [xốc] áo khăn đi vào. Vào trong lại thấy một dãy nhà lớn, có dư trăm người đứng sắp hàng hầu hạ, khoản [khoảng] giữa có hai vị mặc áo tử-bào ngồi đối nhau một bàn, nhìn tên Lại sai đem cuốn sổ đỏ của họ Dương đến, coi xét một hồi lâu, rồi nói với nhau rằng: - Trên dương-gian không mấy người được như người nầy, cứu sống cho người rất nhiều, chỉ hiềm vì hưởng thọ không được bao lâu, mà chưa có người nối nghiệp, nếu không tinh biểu người nầy lên, thì sao cho khuyên được kẻ khác làm lành, vậy ta phải tâu với Thượng-đế mới xong. Liền cho Đức-công lui ra dãy nhà mé đông nghỉ ngơi. Được nửa ngày, lại sai dắt vào, bảo rằng: - Ngươi ở trên dương gian vốn có tiếng hiền hậu. Thượng đế khen ngươi, cho ngươi một đứa con lạ, và cho sống lâu 2 kỷ nữa, ngươi nên
  • 40.
    trở lại chomau, ráng sức làm âm đức, chớ tưởng thần thánh khuất mắt mà không biết gì đâu. Nói đoạn sai kẻ Lại đưa Đức-công về. Ra khỏi cửa hỏi rằng: - Đây là phủ nào? Mà ai làm chủ, coi việc gì? Tên Lại nói: - Đây là một tòa riêng trong 24 tòa dưới Phong-đô. Phàm người nào mới chết, tất phải qua đây; ai vào sổ đỏ, thì còn có lẽ sống mà về được; nếu vào sổ đen, thì không có thể về được nữa. Ông nếu không phải thiệt lòng làm lành, thì cũng không sao mà thoát được đấy. Nói rồi cầm tay biệt nhau, Đức-công hồi lại, thuật truyện cho phu-nhơn [nhân] nghe. Phu-nhân cũng nói rằng: - Cuối canh một, đêm hôm ấy, có một ngôi sao nhỏ sa vào trong bọc tôi, tôi lấy làm lạ lắm. Từ đó phu-nhân có mang, đầy năm, sanh ra một con trai, nhân chuyện ấy đặt tên kêu là Thiên-Tích (nghĩa là trời cho). Thiên-Tích lớn lên ít tuổi, tánh hay uống trà tàu, thường tự sánh mình với Lư-Đồng, Lục-Võ.[15] Thiên tư sáng láng, học hành rộng rãi. Nội các sách vở, sách nào cũng có xem qua. Đức-công mừng nói rằng: - Ta có kẻ nối nghiệp rồi đó. Từ đấy mới chăm nom săn sóc dạy con lấy nết na đạo nghiã. Về sau được 24 năm nữa, Đức-công không bịnh gì mà mất, Thiên-Tích thương xót quá lẽ, ai nấy có bụng cảm tình. Khi hết tang rồi, sớm khuya chăm học không lúc nào biếng nhác. Nhân chỉ vì nhà nghèo không đủ xài, ra ngoài kiếm nơi làm rể thì công đẻ nương nhờ, cũng không ai chịu gả con. Các ông lão, mụ già trong làng, cũng chê nghèo khó mà khi bạc. Chàng ta than rằng: - Cha ta cứu nổi được mạng nhiều người chết, mà không hay cứu được một đứa con nghèo, vậy thì làm lành có ích gì đâu. Nói chưa dứt lời, sực thấy một người áo mũ chỉnh tề, tự xưng là quan Đại-phu họ Thạch, đến gần trước mặt, bái mà nói rằng: - Ngày xưa tôi chịu ân đầy của Dương-công, không biết lấy gì mà trả ân ấy. Nay tôi chỉ có chút con gái tên là Hớn [Hán]-anh, xin để nó sửa trấp nưng [nâng] khăn cho chàng, chàng nên yêu tiếc cái thân chàng, chớ thấy nghèo mà bỏ chí lự bình sinh. Nói rồi biến mất. Thiên-Tích lấy làm quái lạ, rồi thì nhớ lấy lời nói ấy mà thôi. Về sau nghe ở huyện Tiên-du có Trần Tiên-sinh dạy học trò đặng vài trăm người, mới cắp sách đến học tại nơi ấy. Chàng ta ở ngụ trong làng Thanh-lân. Làng ấy có một nhà giàu họ Hoàng, thấy chàng ta mặt mày
  • 41.
    sáng sủa, vănchương tài tình, có ý muốn gả con gái cho va, bèn bảo với vợ rằng: - Nhà ta mấy đời lấy nghề buôn bán khởi gia, không thiếu gì của, chỉ thiếu dâu lành rể tốt mà thôi. Nay có Dương-Sinh ở ngụ cạnh láng-giềng gần đây, thiệt là bực hào kiệt Nam châu đó. Ta coi tướng mạo, về sau tất nên người sang trọng. Nhà ta có chút con gái, tuổi gần lớn rồi, việc kén rể còn đâu hơn nữa. Người vợ bằng lòng, mới gọi mà gả con cho chàng ta. Phàm phí tổn về việc cưới hỏi, mời khách ăn mừng toàn của nhà họ Hoàng chịu cả. Chàng ta mừng rỡ bội phần, nhưng mỗi khi vắng vẻ thường lại ngồi một mình nghĩ nghị, sắp sách thở dài. Người vợ xem thấy hỏi cớ làm sao thì chàng ta nói rằng: - Khi trước tôi có gặp một ông thần bảo tôi lấy nàng Hớn [Hán]-Anh họ Thạch, nay tôi được làm rể nơi nhà sang họ quí, tuy là may mắn, nhưng sai lời thần bảo, có lẽ về sau khó thành tựu, cho nên tôi vưỡn [vẫn] lo. Nàng kia nghe nói, đầm đầm sa nước mắt nói rằng: - Ông thần hẳn là cha thiếp. Thiếp thuở nhỏ tiểu-tự là Hớn [Hán]-Anh. Cha thiếp họ Thạch tên Mang, làm quan giữ trấn Tuyên-quang, bị quan trên vu oan, một nhà phải nạn. Thiếp khi ấy còn thơ ấu, nghe có người kêu là Dương-đức-Công thương kẻ vô tội, cố chống với quan trên mà tha tội. Thiếp khốn khổ cơ hàn, mới được toàn mạng mà về. Nghiêm- đường đây thương mà nuôi cho làm con nuôi đã mười năm nay, thiệt thì thiếp là con quan Thạch-Đại-phu đây. Chàng kia nghe vậy thất kinh mà nói rằng: - Tôi là con trai ông Đức-công đây! Thế mới biết vợ chồng xưa nay, vẫn là nhân duyên tiền định, há đi tưởng dây đỏ lá thắm là không có sao! Chàng ta thấy sự hi kỳ làm vậy, lại càng nặng tình ân ái. Từ đó trong có chốn nương thân, ngoài không sự lo hồ khẩu mới chuyên sức học hành. Trải hai khoa thi, được bổ giáo chức tại kinh, lần lần trải mọi chức Đề- hình. Vừa 20 năm, mới làm nên chức hiển-quí. Dương-thiên-Tích thờ vua hết lòng và làm quan thì thanh liêm, trải giúp hai trào, miếu đường nương nấy làm trọng. Nhưng chỉ vì lúc người còn hàn vi, lắm kẻ khinh bỉ, bởi thế một chút ân oán nhỏ bằng sợi tơ tóc, người cũng báo lại, đó là một lỗi của người. Thường khi kỳ yên, thiết đàn làm chay, tăng chúng hơn vài trăm người. Kế có một thầy đạo-sĩ mặc áo rách đi dép nát, lum khum đi vào. Kẻ canh cửa không cho vào, đạo-sĩ năn nỉ xin hai ba lần, kẻ canh cửa bẩm với Thiên-Tích quở trách không cho vào. Đạo-sĩ đi ra và than rằng: - Cố-nhân tìm cố-nhân, không ngờ cố-nhân lại bạc tình làm vậy? Nếu đến khi mà gặp nạn tại Ô-tôn, xin chớ trách cố-nhân phụ bạc. Thiên-Tích nghe vậy, sai người chạy theo mời về, rồi xuống thềm đón lên ngồi.
  • 42.
    Đạo-nhân nói: - Tướng-côngnay làm nên khanh tướng, ở chốn lâu đài, khi đi có quân dẹp đường, khi ở có trống chiêng canh giữ, cảnh phú qúi trong đời, Tướng-công cũng đã thỏa bụng bình sinh rồi, nhưng tôi chẳng biết Tướng-công có nhớ đến cảnh vui ở trên toà Tử-vi chăng? Thiên-Tích nói: - Tôi may cũng đã được nếm mùi phú quí, nhưng chưa hiểu căn do toà Tử-vi làm sao? Đạo-nhơn [nhân] nói: - Như thế thì ông đã chìm tột đáy sông giục [dục] hà rồi! Nay tôi xin kể lại ông hay: Khi xưa ông làm trà-đồng (thằng nhỏ hầu trà) ở chốn thiên- đình, tôi làm tửu-lại (lính hầu rượu) ở nơi Nam-tào, ngày hằng ở trong tòa Tử-vi, chơi với nhau đã lâu năm lắm. Một hôm Thượng-đế khi bải [bãi] trào, có bảo các tiên rằng: “Chúng bây có đứa nào chịu xuống hạ- giái [giới] coi xem mà lãnh ngôi tể-tướng hưởng lộc đời 10 năm chăng?” Các tiên nhìn nhau không ai nói gì, chỉ có Tướng-công vui lòng vâng lấy. Thượng-đế lại bảo rằng: “Thôi, đi đi, cảnh vui dưới hạ-giới chẳng kém chi chốn Thiên-đình, chớ khá coi nhơn [nhân] gian là nhỏ.” Khi đó tôi có đứng bên ông cho nên biết hết cả chuyện. Đạo-nhơn [nhân] nói rồi trao cho Thiên-Tích một viên linh-đơn [đan]. Thiên-Tích uống viên thuốc ấy, lần lần tỉnh nhớ chuyện kiếp trước, mới bảo đạo-nhơn [nhân] rằng: - Lý lịch của tôi thì tôi đã biết rồi, sao ông nay cũng còn ở dưới trần? Đạo-nhơn [nhân] nói: - Tính tôi quê kệch mà lại say rượu hay nói, cho nên Thượng-đế đầy tôi xuống trần đã 30 năm. Nay lại được làm chức cũ nơi Nam-Tào. Tôi có tình cũ với ông, cho nên đến thăm ông chớ chẳng có chuyện chi lạ. Thiên-Tích hỏi đến câu Ô-tôn là ý làm sao. Đạo-nhơn [nhân] có sắc buồn rầu, nói nhỏ với Thiên-Tích rằng: - Sau năm năm nữa, ông phải có việc đi qua biển, tôi sợ đến khi đó ông mắc nạn phải lo. Thiên-Tích hỏi mình có tội lỗi gì mà bị nạn ấy. Đạo-nhơn [nhân] nói: - Ông làm tể-tướng, cũng không có tội lỗi gì, nhưng chỉ bởi cầm quyền lâu ngày, có sự yêu kẻ nọ ghét người kia, cho nên lắm người oán ông, nay thì những oan-hồn thù ông nhiều lắm rồi. - Vậy thì làm thế nào? - Ông chớ ngại. Tôi nguyên tên là Quân-phòng, nếu ông có sự nguy hiểm, thì chỉ đốt một nén hương gọi tên tôi lên, tôi tự nhiên có phép đến giúp ông. Đêm hôm ấy, hai người nằm ngủ cùng nhau, Thiên-Tích nói: - Ông với tôi đã là bạn cố tri với nhau, có câu chi dạy tôi chăng?
  • 43.
    Đạo-nhơn [nhân] nói: -Nhơn [nhân]-đức, đó là nền làm lành; của cải, đó là cớ cạnh tranh nhau. Tích đức, ví như rảy nước cam-lộ vào ngọn cây khô, có lúc phải tươi tốt. Tích của, ví như tưới nước lạnh vào đống lửa đang cháy, có lúc phải tắt hết, đó là cái ngòi thiện ác-phước họa. Xin Tướng-công ráng sức làm sự nhơn [nhân] đức là đủ. Thiên-Tích nói: - Tôi nghe đạo trời công minh, ví như gương soi cân mực. Có thần-minh soi xét việc, có tạo hoá cầm cân, mắt soi thấu hết mà không tư, lưới phép dẫu thưa mà không lọt. Vậy sao còn có sự hồ đồ chưa minh, có kẻ cứu người mà chẳng thấy phước [phúc], có kẻ hại người mà chẳng thấy vạ. Kẻ nghèo có chi cũng không xong, kẻ giàu đi đâu cũng có lợi, cũng có kẻ học mãi mà chẳng đỗ, có kẻ xa xỉ mà vẫn giàu, thế thì thiện ác báo ứng ở đâu, thiệt tôi không hiểu vì cớ sao vậy? Đạo-nhơn [nhân] nói: - Người ta tích thiện ác nhỏ mà rõ, cơ trời báo ứng chậm mà to. Khi nào trọn quả thiện thì mới hiển âm công, khi nào to gốc ác thì mới tan dương phước. Có việc sắp cho người ta vinh mà còn bắt nhục, có việc sắp đè người ta xuống mà còn nâng cho cao. Có kẻ nết na mà bị nghèo, là bởi vì có nghiệp chướng kiếp trước; có kẻ bất nhơn mà giàu có là bởi vì có duyên lành kiếp xưa. Các việc đó tuy là cao sâu khó rõ, nhưng thiệt [thật] là tơ tóc không sai, chớ nên lấy lời nhứt [nhất] khái mà luận việc trời. Đạo-nhơn [nhân] nói câu nào cũng có ý khuyên răn. Thiên-Tích mừng rỡ chịu là nói phải cả. Qua hôm sau, sắp từ biệt nhau, Thiên-Tích đem ra 10 nén vàng làm lễ tiễn hành. Đạo-nhơn [nhân] cười nói rằng: - Dùng của ấy làm chi, chỉ xin cố nhơn [nhân] ráng sức làm sự phương tiện, để tôi khỏi phải đến lần nữa, thế là cố nhơn [nhân] cho tôi đấy. Nói rồi biệt nhau. Về sau Thiên-Tích quả nhiên nhân việc can gián trái ý vua, phải đầy vào phía nam, đường đi qua cửa bể huyện Kỳ-hoa. Giữa ban ngày, bỗng nhiên mây kéo tối dầm, gió nam ầm ầm nổi lên, sóng cuộn lên cao tầy trái núi, rồi có vài trăm ma quỉ, cùng reo la lên rằng: “Kẻ hằn thù của ta đã đến rồi, hôm nay chúng ta mới được cam tâm với nó.” Nói đoạn, đứa thì vin lấy đuôi thuyền, đứa thì trèo lên mạn thuyền, làm cho thuyền chòng chành sắp đổ hai ba lần. Thiên-Tích vội vàng hỏi kẻ cầm lái rằng đây là xứ nào thì họ nói là xứ Ô-tôn, mới nhớ đến lời đạo- nhơn [nhân], theo lời dặn trước bữa nọ kêu tên Quân-phòng cầu cứu. Xảy đâu có một đám mây có Tiên-đồng Ngọc-nữ đứng hầu nghiêm chỉnh lắm, rồi có tiếng xa xa kêu đàn quỉ bảo rằng: - Chúng bây chìm đắm, tội ác đã nhiều, trước khi sống đã phạm tội tình, sau lúc chết lại còn gây chuyện, nếu vậy thì oan oan tương kế, không lúc nào xong, sao chúng bây không đổi bỏ thói cũ đi, quay về đạo chánh [chính], ta sẽ tâu lên Đế-đình, rửa hết oan cho chúng bây.
  • 44.
    Bọn quỉ nghenói mừng rỡ nhảy nhót, rồi tan đi mất cả. Thiên-Tích khẩn khoản muốn mời Quân-phòng xuống hỏi việc ngày sau, nhưng không biết biến đi đâu mất rồi. Khi ấy gió yên sóng lặng, thuyền tới qua ngàn bên kia. Chẳng bao lâu, Thiên-Tích bỏ cả vợ con, không biết đi đâu mất. 5. Truyện Tây-viên kỳ ngộ Có người học trò tên là Hà-Nhơn [Nhân], quê ở phủ Thiên-trường. Trong năm Thiệu-bình đời vua Lê thái-Tôn, Hà-Nhơn [Nhân] có theo học với ông Ức-Trai tiên-sanh [sinh] (Nguyễn-Trãi). Mỗi buổi sớm đi học, đường qua làng Khúc-giang. Làng ấy có một cái nhà xưa của quan Thái-sư họ Trần, chàng ta đi qua đó, thường thường thấy hai đứa con gái chơi ở trong bức tường phía tây, cười cợt om xòm có khi cầm trái ngon hoặc bông thơm quăng ném cho anh ta. Anh ta nghĩ không dằn khối tình đặng, mới gắn vó [bó] hỏi hai nàng kia. Hai đứa con gái ấy chủm chỉm cười mà nói rằng: - Thiếp, một người họ Liễu tên là Nhu-nương, một người họ Đào tên là Hồng-nương, nguyên là bọn tỳ thiếp của Thái-sư khi trước. Từ khi Thái- sư mất rồi, bọn thiếp lâu nay vẫn nương náu nơi đây. Nay gặp mùa xuân cảnh tốt, muốn ra ngoạn cảnh, kẻo mất xem đại tiết phong quang uổng lắm. Chàng kia thấy nói vậy bèn dắt cả hai đứa con gái ấy về tại chỗ ngụ, bày tỏ lòng yêu mến. Trong khi dỡn cợt, hai đứa con gái có dạng thẹn thùng nói: - Bọn thiếp việc xuân chưa từng, lòng thơ còn nhát. Chỉn ngại sự cười hoa cợt liễu, làm cho phải thẹn lục e hồng, thì giảm mất một cuộc hân hoan chăng? Chàng kia nói: - Có việc chi mà ngại, ta không lấy sự mây mưa mà làm rối nhau đâu. Nói rồi dắt nhau lên giường, vui vầy cá nước. Chàng kia bảo hai ả mỗi người ngâm chơi một bài thơ. Liễu ngâm trước một bài rằng: Hương thấm mồ hôi đượm áo là, Mày châu thấp thoáng vẽ non xa, Đông phong xin chớ rung nhành vội, Yếu ớt không kham trận gió già. Đào cũng ngâm theo một bài rằng: Đêm thanh, cảnh tĩnh, trống canh chày, Màn thắm, đèn chong cuộc hứng say,
  • 45.
    Phó mặc tài-langvin bẻ lấy, Đào non xin nhớ cánh hoa nầy. Chàng ta nghe xong, vỗ tay cười ngất mà rằng: - Hai bài thơ đó vẽ trọn hết tình trạng xuân khuê, văn thi tao nhã, thiệt [thật] ta không bằng vậy. Nói rồi cũng ngâm theo một bài như vầy: Biếng khép phòng thơ giấc mộng nồng, Lần theo mưa gió tới Vu-phong. Bướm bay giao cánh phơi màu phấn, Sen nở liền nhành đượm vẻ bông. Chim đậu mặc dầu cùng một dãy, Nước trôi khôn cấm rẽ đôi dòng. Thương cho một giống phong lưu cả, Nhưng xét phong lưu có chẳng đồng. Từ đó mỗi ngày sớm đi chiều lại, chàng ta lấy làm việc kỳ ngộ lắm, không khác nào Bùi-Hàng gặp tiên buổi xưa. Một lúc chiều kia, trời đổ cơn mưa gió, hai ả ấy vừa đến nơi, nói với chàng ta rằng: - Bọn thiếp sợ sai hẹn mà phải đến đây, nhưng lạnh lung lắm không sao chịu được. Chàng ta lấy vạt áo ấp cho ả Liễu, rồi nói cợt rằng: - Liễu-Kiều xinh đẹp, nên vào bậc nhứt [nhất] đời này, thiệt [thật] là mỹ nhan sắc, còn Đào-Kiều thì cũng như hoa đào đó vậy mà thôi. Ả Đào thấy nói vậy, cúi đầu hổ thẹn, bèn hờn cách mấy bữa không đến nữa. Chàng ta hỏi ả Liễu rằng: - Đào-nương có được mạnh giỏi không, sao mấy bữa nay không đến? Đáp: - Nó có việc gì đâu, vì chàng nói lộ hình tích nên nó không dám đến nữa. Nói rồi, đưa một bài thơ của ả Đào gởi cho chàng ta. Thơ rằng: Tinh thần tuyết trắng, vẻ mai hồng, Nhụy lộ, nhành sương, giáng đượm nồng. Trách giận chuá xuân riêng để dạ, Một nhánh tươi tốt một nhành không.
  • 46.
    Chàng ta đọcbài thơ ấy, hối hận một hồi lâu, rồi cũng họa lại một bài để đáp lại. Thơ rằng: Tình riêng riêng tưởng khách quần hồng, Ân hận vì đâu sự lạt nồng. Nhắn ả Phong-di nhờ hỏi giúp, Nhánh nào tươi tốt, nhánh nào không? Ả Đào được thơ ấy, từ đó mới lại qua lại như trước. Khi đó nhằm vào đêm rằm tháng giêng. Nam-nữ chốn kinh-đô, ngao du ngoạn cảnh rất đông. Hai ả ấy nói với chàng ta rằng: - Nhà thiếp gần đây, quân tử chưa từng qua chơi bữa nào, thiếp lấy làm ân hận (hờn) lắm. Nay nhơn [nhân] gặp thời tiết vui vẻ, xin mời quân tử qua chơi giây lát. Chàng ta mừng rỡ, cùng với hai ả đồng đi. Khi đến Tây-viên, qua hai từng rào, lại đi vòng quanh một bức tường gấm ước chừng vài mươi trượng, rồi qua ao sen mới đến chỗ vườn huê. Đến đó thì thấy cây cối sum se [xum xuê] mùi huê [hoa] thơm nức. Nhưng vì bóng đêm lờ lệt [lợt], không xem rõ cây chi cả. Chỉ thấy mùi thơm bát ngát thoảng bay vào mũi mà thôi. Hai ả nói rằng: - Nhà bọn thiếp hẹp hòi lạnh lẽo lắm, xin trải chiếu ngay giữa vườn này còn hơn. Bởi vậy trải chiếu đốt đèn, rồi thì bưng ra một mâm rượu ê hề bánh trái. Cỗ bàn lịch sự, toàn những của ngon. Kế đó có những mỹ-nhơn [nhân] tự xưng là Vi-thị, Lý-thị, Mai-thị, Dương-thị, Thạch-gia-nương-tử, Kim-thị- nhi-lang, cũng lại ăn mừng vui vẻ. Trời gần sáng, rồi mới tan tiệc đâu về đó. Hai ả kia cũng đưa chàng ta ra khỏi bức tường, khi về đến nhà học, thì mặt trời đã mọc cao rồi. Cách vài tháng sau, chàng ta có tin nhà gởi đến, vì cha mẹ sắp lo cưới vợ cho chàng ta và trách chàng ta lâu nay không về thăm viếng. Chàng ta có ý hồi hồi, không nỡ dứt tình hai ả. Hai ả biết làm vậy, bèn nói với chàng ta rằng: - Bọn thiếp phận liễu bồ, không dám sánh cùng chàng vầy duyên loan phụng. Nhưng chàng có trở về, nếu còn nhớ đến tình ân ái, khi khác chàng sẽ lại qua, thì bọn thiếp cũng được phỉ lòng trông đợi. Xin chàng chớ vui chỗ mới mà quên chỗ cũ, để bọn thiếp thành ra huê [hoa] vô chủ côi cút xứ này. Mới bày tiệc tiễn hành, và mỗi người ca một bài tiễn biệt. Ả Liễu ca trước rằng:
  • 47.
    Cỏ cây rậmrịt bên thành Mấy gian nhà nát trong gành khúc-giang. Lược ngà hộp phấn điểm trang, Lầu hồng gác tía mơ màng bâng khuâng. Xuân xanh đôi tám đương chừng, Tin ong mối bướm chưa từng giao thông. Ngày ngày nương đám hạnh hồng, Ngó chòm niên-thiếu thẹn thùng lòng tơ. Xảy đâu gặp gã thi thơ, Sôi kinh nấu sử tài dư học hành. Đầu tường chợt thấy dạo quanh, Duyên lành chưa kết nhưng tình đã ưng. Bóng dương soi đám cỏ rừng, Tình xuân hớn hở chào mừng gió đông. Phất phơ trước gió đủ bông, Mặt trời soi toả trập trùng bóng cây. Đằm đìa lộ nhỏ hương bay, Vui vầy đã bõ những ngày thương xoan (xuân) Sinh ca theo điệu Tiểu-man, Phấn son nầy cũng một đoàn Tây-thi. Cuộc vui chưa được năm chầy, Quan sơn luống những ngẩn ngây mộng hồn. Tin nhàn chạnh niệm hương thôn, Vó cu [câu] giục giã rủi dung quê nhà. Tiễn đưa một chén quan hà, Phân phôi thiếp luống xót xa vì chàng. Mưa tuôn giọt lệ mai vàng, Bến nam cỏ biếc trông càng thảm thương. Mai vàng, cỏ biếc thảm thương, Chàng đi thiếp ở đôi đường phân nhau. Vì chàng ngâm một vài câu, Rẽ đường luống để tấm sầu cho ai? Ả Đào cũng ca một bài rằng: Lá thu đỏ, trời thu xanh biếc, Tiếng hàn-châm vang vít xa gần. Nhạn hồng về nẻo nam tân, Chiều hôm khói tỏa bội phần thê lương.
  • 48.
    Chàng chẳng ở,thảm thương lòng thiếp, Chàng bỏ đây về kết tân-hoan, Thẹn thùng đóa cúc chồi lan, Chén quỳnh rót rượu những than thở sầu. Biệt nhau dễ, gặp nhau chỉn khó, Ca khúc nầy lụy nhỏ mưa tuôn, Đưa chàng lòng dặc dặc buồn, Tơ khôn buộc ngựa, bờ khôn chắn thuyền. Chim ríu rít tấm phiền khôn rải, Cuộc vui nầy biết lại bao giờ? Người đi kẻ ở vật vờ, Huê còn cửa động, nước về nhân gian. Xót thương phận thiếp cô hàn, Một bài tiễn biệt, đôi hàng lụy rơi. Hai ả ca xong, chàng ta sụt sùi khóc rồi mới từ biệt. Khi chàng ta về đến nhà thì đã định kỳ cưới vợ rồi. Chàng ta nói với cha mẹ rằng: - Cha mẹ sinh con, mong cho trai có vợ gái có chồng, đó vẫn là trí trình của cha mẹ mà phước [phúc] khánh trong nhà. Tuy vậy, con còn đang đi học, chưa được toại chí, thì dầu có vui đường vợ con nhưng sợ trở ngại công sách đèn, vậy thì xin hãy để hưởn [hoãn] kỳ huê chúc, cho con được thỏa chí bình sanh [sinh], rồi sẽ lo tính về việc hôn nhơn cũng chưa muộn. Cha mẹ chàng thấy con nói vậy nể lòng cũng nghe, bởi thế việc cưới mới đình năm khác. Chàng ta tuy ở nhà, nhưng bụng vẫn nhớ hai ả kia, lần lại sang chơi xứ Trường-an. Khi chàng ta đến Tây-viên, thì đã thấy hai ả kia ra đón và cười mà nói rằng: - Kỳ cưới của chàng đã gần đến nơi, sẵn có người mới xinh tốt, sao chàng không hãy ở nhà, vui vầy cầm sắt, mà sao lại đến đây sớm vậy? Chàng ta thuật lại ý mình, hai ả kia khen rằng: - Chàng thế, mới là người có tín, thiệt [thật] là không phụ lời ước tầm xuân. Mới sắm đồ lễ cho chàng ta đi học. Chàng ta tuy đi học, nhưng bụng thì ở nơi hai ả ấy, mỗi buổi học thì học sơ qua rồi về. Trải hai năm trời ân tình rất nên đằm thắm. Một buổi nọ chàng ta lại chơi, thấy hai ả kia sụt sùi rơi lụy. Chàng ta hỏi duyên cớ làm sao, thì hai ả cầm nước mắt lại nói rằng: - Bọn thiếp chẳng may bị bịnh phong sương, chỉn e khi tuyết bịnh người, mầu hoa để héo, một mảnh hương hồn, chưa biết còn mất thế nào. Chàng ta thất kinh nói rằng:
  • 49.
    - Ta vớihai ả tuy không có mai mối nào, nhưng cũng đã hài duyên cá nước, sao nàng đã vội nói đến sự phân phui, khiến cho ta sợ hãi, ví như kinh cung chi điểu vậy? Ả Liễu nói: - Ai chẳng tham sự hoan ái, nhưng số trời đã định, sẽ có khi nhàng thoa té đất, phẩn đỏ lầy bùn, thì chưa biết rằng từ nay sắp về sau cuộc vui bay vào chốn nào đó. Chàng ta thấy nói vậy, ngậm ngùi vì không nỡ dứt tình hai ả. Ả Đào nói: - Người ở đời như một cái bông trên nhành, có khi tươi khi héo, làm sao ngăn giữ được. Vậy xin chàng cứ ráng sức học hành, cho đặng lập công danh, thì dầu bọn thiếp vùi nơi nương rãnh, cũng không quản gì. Chàng ta hỏi: - Mình nói sự ly biệt, nhưng còn được bao lâu? Đáp: - Chỉ độ đến chiều hôm nay mà thôi, nếu khi nào có một trận gió to nổi lên, đó là lúc bọn thiếp từ thế. Chàng bằng có lòng ân ái, xin đến viếng qua xứ Tây-viên, bọn thiếp sẽ ngậm cười mà về chín suối. Chàng kia khóc nói rằng: - Sự đã đến thế dầu có tình cũng không sao được. Nhưng ta là khách tha phương tiền của không sẵn, biết lấy gì mà báo được. Hai ả nói: - Bọn thiếp bạc mạng tợ tơ bay, thân khinh như lá rụng. Sau khi thác rồi, đã có mây đưa gió tiễn, chim khóc bướm thương, có rêu xanh đắp mồ, có nước kinh đưa đón, gió tan khói tắt, không cần phải táng làm chi. Nói rồi, mỗi người cởi đôi hài kết hột châu tặng chàng ta và nói rằng: - Người mất của còn, xin tặng chàng một chút vật nầy, khi chàng xem đến thì bọn thiếp cũng như ở bên gần chàng vậy. Chiều hôm ấy, hai ả quả nhiên không đến. Gần nửa đêm nổi cơn mưa gió tưng bừng. Chàng ta buồn rầu ủ dột, qua hỏi thăm một ông già ở bên láng diềng, và thuật lại các sự tình khi trước. Ông già kia nói rằng: - Ủa! Chàng lầm rồi! Ở đây từ khi quan Thái-sư mất đi, hơn 20 năm nay, có ai ở nhà ấy nữa đâu, chỉ có nửa gian miễu thờ mà thôi. Không có ai coi sóc, có đâu mà nhiều người ở như chàng nói vậy? Đó chắc là con gái ngoại tình, mà không thế thì chắc là u-hồn âm tinh (ma quỉ) hiện hình tác quái chớ chẳng không! Kế đó trời sáng, ông già ấy cùng chàng ta qua sang Tây-viên, thì chỉ thấy cửa nhà vắng quạnh, có vài cây đào cây liễu tả tơi lá rụng đầy đất mà thôi. Ông già chỉ cây ấy nói rằng:
  • 50.
    - Đó cóphải là người dỡn cợt với chàng đấy chăng? Tên nó xưng là Kim-thị, hẳn là cây huê kim-tiền kia. Thạch-thị hẳn là cây thạch-lựu nầy, còn như Lý-thị, Vi-thị, Dương-thị, Mai-thị cũng là những tên huê [hoa] mà mạo họ cả, không ngờ cây cối mà cũng biết biến hiện ra được vậy! Chàng ta bấy giờ tỉnh ra, mới biết rằng mình xưa nay chơi bời, ăn nằm với các cây huê [hoa] ấy mà thôi. Chàng ta về nhà xem cái hài (đôi giày) của hai ả tặng trước ra coi, thì té ra là 2 con bướm non, khi nó ra khỏi tay liền bay đi mất. Hôm sau, chàng ta đi cầm một cái áo, sắm sanh lễ vật đem đến tế hai ả ấy. Bài văn tế như vầy: Hỡi hỡi hai nàng! Hỡi hỡi hai nàng! Băng ngừng chất lạ (trắng lắm) Lộ đượm màu trang, Chất sẵn thiên-nhiên xinh tốt, Hổ đem thói tục phô phang. Danh giá chỉ một em một chị, Nhan sắc nào ai sánh ai ngang. Cảnh tiên nương được chốn anh huê [hoa], trải mùi phú quí, Phòng tĩnh bạn cùng chàng đèn sách, yêu vẻ thanh quang. Gió động hương bay, huê [hoa] mạt-lị (bông lài) nở đều đôi chậu, Trăng soi bóng lộn, chim uyên-ương đậu sắp một hàng. Những mang bể ái vui tình, cùng nhau kết lứa, Nào tưởng làng tiên trở gót, phút bỗng chia đàng. Sắc nọ hốt nhiên rầu rĩ, Lòng nầy luống những thảm thương. Chẳng biết mình là gió hay gió là mình, chạnh nghĩ ngổn ngang tấc dạ, Mới hay sắc cũng không mà không cũng sắc, suy ra tấm tức sầu tràng. Nơi viên-lạc mầu hồng phai lợt, Chốn trì-đường vẻ lục bẽ bàng. Mưa vùi gió giập, Ngọc nát hương lang [lan?], Nói đến thêm thương, cuộc thân-thế theo cơn gió giật: Nghĩ ra lại sợ, cảnh phiền-hoa một giấc mơ màng. Hỡi ôi! Một mai phân rẽ, Muôn thuở thê lương. Muốn chiêu hồn mà hồn chẳng lại, Dầu tìm vết mà vết khôn lường.
  • 51.
    Nếu có biếtmà về chốn cũ, Xin chứng cho một chút lễ thường. Ô hô thượng hưởng! Đêm hôm ấy, chàng ta nằm mơ màng thấy hai ả kia về tạ tình. Chàng ta muốn lưu lại thì hai ả bay lên trời mà biến mất. 6. Truyện Long-đình đối tụng Con sông thuộc về địa-hạt huyện Vĩnh-lai phủ Hồng-châu, xưa nay vốn nhiều giống thủy tộc ở. Quanh một dọc bờ sông ấy, có hơn mười khu đền miễu, thờ thủy thần. Lâu năm thành yêu, mà cũng có chỗ linh thiêng, phàm ai cầu đảo sự mưa nắng, có ứng nghiệm liền. Cho nên hương khói phụng thờ luôn luôn. Đời vua Minh-tôn [tông] nhà Trần, có quan Thái thú họ Trịnh làm quan ở phủ Hồng-châu. Phu-nhơn [nhân] là Dương-thị, trong lúc về nhà thăm cha mẹ đậu thuyền ở cạnh cửa miễu, xảy đâu có hai đứa con gái còn nhỏ bưng một cái hộp nhỏ bằng vàng, đưa vào trước mặt phu-nhơn mà nói rằng: - Chủ-nhơn [nhân] tôi dâng chút vật nầy cho phu-nhơn [nhân], đặng tỏ tình riêng một ít. Nay mai cô sẽ được thỏa lòng sánh phụng ở làng Thủy- hương.[16] Nói đoạn từ đi. Phu-nhơn mở hộp vàng ra coi, thì thấy có một mảnh giải đồng tâm[17] đỏ. Trong giải ấy có đề một bài thơ như vầy: Mặt hoa phớn phở, đóa trâm hồng, Nhọc nhã lòng nầy luống nhớ mong. Huê-chúc đợi khi nên bạn lứa, Chữ đồng vui vẻ chốn Tuynh [tinh]-cung.[18] Dương-thị thấy vậy sợ hãi lắm, bỏ thuyền lên bộ, trở về thuật chuyện với chồng. Trịnh Thái-thú thất kinh nói rằng: - Đó là giống thủy-quái ở miễu dâm-từ, hầu có ý hại phu-nhơn [nhân] đấy, phu nhơn [nhân] phải lánh đi, những nơi bờ sông bến nước, thì chớ nên bước chân đến nữa. Từ đó, mỗi khi mưa gió tối tăm, thì Thái-thú có ý giữ gìn cẩn thận. Được nửa năm không thấy chuyện chi lạ. Đến bữa đêm trung-thu, khi đó mây trong trời tạnh, trăng sao rạng tỏ tựa ban ngày. Trịnh-quân mừng rỡ nói rằng: - Đêm nay sáng trăng dường nầy, đỡ cho ta khỏi lo một chút. Bởi vậy sai trẻ bày tiệc, hai vợ chồng ngồi đối nhau uống rượu. Rượu say rồi ngủ, không dè khi ngủ mê quá thì có cơn mưa gió sấm chớp ầm ầm kéo đến. Đến lúc tỉnh dậy thì đã không thấy Dương-thị, đà biến đâu mất rồi.
  • 52.
    Trịnh-quân vội vãra coi nơi miễu, thì chỉ thấy một bộ quần áo của Dương-thị để lại, chỉ còn có vẻ trăng lợt với khúc sông lạnh đó mà thôi. Trịnh-quân thương hương tiếc ngọc, tình sầu thảm biết là ngần nào. Nhưng cũng chỉ đứng hóng gió mà thở dài, chớ không phương thế nào mà tìm kiếm cho đặng. Trịnh-quân từ đó buồn rầu lắm, từ chức về nhà, rồi ngày ngày ở trên một cái lầu nhỏ, ngó coi xuống bến sông. Đầu bến có một chỗ vực sâu, mỗi khi Trịnh-quân lên lầu ngó coi, thì hằng thấy một lão già, xách một cái túi đỏ, cứ mỗi buổi sớm đi thì buổi chiều lại về đó. Trịnh-quân nghĩ thầm rằng: “Chỗ đó là nơi vực sâu, làm chi có làng xã ở, sao mà có người qua lại thế nầy? Nghĩ như thế, Trịnh mới đến tận bãi sông đó coi, thì chỉ thấy minh [mênh] mông một bãi cát to, quạnh quẽ không nhà không cửa. Duy thấy trong đám lau sậy, có dợn sóng lay động mà thôi. Trịnh-quân lấy làm lạ, cố ý chờ coi làm sao, thì thấy lão già ấy đã ở trong bãi lau sậy đi ra, rồi đi thẳng đến chợ phía nam vào cái lều nhỏ làm nghề bói toán kiếm ăn. Trịnh-quân coi người ấy mặt mũi tuy gầy gùa mà sáng sủa tươi tốt, ngờ cho là người ẩn-sĩ lánh đời, hoặc là người chơn-nhơn [chân-nhân] đắc đạo, vì vậy, Trịnh-quân bèn lân la chơi bời với ông già ấy, vui vẻ rồi mới từ nhau. Ông già ấy có bụng cám ơn, nhưng hỏi đến tên họ, thì chỉ cười hoài mà không nói. Trịnh-quân lấy làm nghi lắm. Một bữa kia thức dậy sớm, núp mình trong đám cỏ lau rình xem ra thế nào. Khi ấy sương lộ chưa tan, trời còn mờ tối, đã thấy ông già ấy ở dưới nước đi lên. Trịnh-quân bước sấn đến trước mặt bái một bái. Ông già kia cười xòa lên mà nói rằng: - Ông có coi hình hài mà ngờ là tôi chăng? Nhưng ông đã biết tôi, thì tôi cũng lấy tình thiệt mà nói cho ông hay: Tôi là Bạch-long-hầu (rồng trắng) đây, may mà lóng nầy còn nắng, nên tôi được đi chơi thong dong, nếu khi nào Thượng-đế sai đi làm mưa, thì không rồi rảnh mà chơi được, còn thì giờ nào mà đi bói trên nhơn gian được nữa. Trịnh-quân nói: - Ngày xưa Liễu-Nghị có chuyện xuống chơi nơi Động-đình hồ, Thiện- văn có sự ăn yến cung Long-vương.[19] Nay tôi là người phàm có đặng theo gót người xưa chăng? Long-hầu nói: - Việc ấy có khó chi! Nói đoạn cầm cây trượng rạch xuống mặt nước, liền có một đàng nước mở ra. Long-hầu đưa Trịnh-quân xuống đó, đi nửa dặm thì thấy trời đất sáng loà, lầu đài một dãy cao ngất. Khi vào chỗ Long-hầu ở thì những cửa nhà đồ đạc, cùng là đồ ăn uống, toàn là của quí, trên nhơn gian ít có. Mà Long-hầu tiếp đãi lại rất tử tế châu [chu] toàn. Trịnh-quân nói rằng:
  • 53.
    - Không ngờtôi là kẻ hèn thấp, được ngồi hầu ông. Khi trước tôi gặp phải sự biến lạ lùng, nay tôi lại được gặp ông, cũng là sự lạ lùng lắm, chắc là tôi có dịp báo thù được chớ chẳng không. Long-hầu hỏi cớ làm sao, thì Trịnh-quân thuật hết chuyện vợ mình là Dương-thị cho Long-hầu nghe, và nói rằng: - Nay tôi mong nhờ oai linh ông để trừ giống hung ác ấy thì chẳng khác nào cánh buồm nhờ gió, loài chồn nhờ cọp mà có oai, thiệt là may cho tôi lắm chớ! Long-hầu nói: - Kẻ kia tuy gian giảo nhưng đã có phép luật của Vương-đình trừng trị, tôi ở riêng một hạt khác, có lẽ nào dám vượt qua biển, mà khởi việc giáp binh hay sao? Trịnh-quân hỏi: - Thế thì đến kiện tại Vương-đình được chăng? Long-hầu đáp: - Không xong, dương gian, thủy phủ cách biệt nhau, mà sự tích thì chưa rõ. Nay ông muốn dùng mấy lời vô cớ, mà chống cự với tay hung bạo, tôi e nó vị tất chịu thua. Chi bằng trước hết hãy cho người dọ coi tình ý, kiếm một mối chi làm bằng chứng, rồi sẽ mới trị được loài gian kia. Song chỉ vì đầy tớ tôi chưa có ai mưu tính được việc ấy mà sai khiến tới thôi. Xảy có một người con gái bận áo xanh bước ra thưa rằng: - Tôi xin giúp đỡ việc ấy. Trịnh-quân liền nhờ ả ấy đi dùm cho mình, và đưa một chiếc hoa tai ngọc màu biếc để làm của tin. Ả ấy đến thẳng con sông ở phủ Hồng-châu vào miễu Thần-giao (rắn to thành thần) dọ xem tình ý, thì quả nhiên có một người đàn bà họ Dương, hiện được phong làm Xương-ấp phu-nhơn [nhân]. Nàng ấy ở riêng một điện lưu-ly, có ao sen vòng quanh mé ngoài, được Giao-vương yêu thương hơn cả bọn cung-nữ, năm trước đã sinh được một con trai. Ả áo xanh biết được tình ý như vậy, mừng lắm, nhưng ngặt vì lầu đài trùng trùng điệp điệp, không có đường nào lọt đến nơi, ả ấy chỉ thẩn thơ đứng ngoài cửa ngó vào mà thôi. Khi đó trời đang mùa xuân hoa tường-vi nở ra đỏ ối đầy vườn. Nhành bông trổ ra ngoài tường, ả ấy giả làm không biết vườn hoa nào, mới vịn nhánh bẻ bông chơi. Kẻ canh cửa thấy người bẻ bông nổi giận bắt lại. Ả ấy bèn đưa cho nó chiếc hoa tai ngọc nói rằng: - Tôi tưởng là hoa cỏ tầm thường chẳng quí chi cho lắm, nên tôi bẻ chơi, đó thiệt là tôi có lỗi. Vậy xin nộp chút vật nầy, nhờ người làm ơn nói dùm với công chúa thứ lỗi cho tôi, kẻo tôi phải đòn tội nghiệp. Người canh cửa bèn đem chiếc hoa tai ấy dâng vào Dương-thị. Dương- thị nhìn coi một hồi biết là vật của chồng mình, mới giả làm dáng giận dữ mà nói rằng: - Con cái nhà ai, dám xông lộn vào vườn ta mà làm tan nát cây hoa hồng-cẩm của ta như vậy?
  • 54.
    Liền sai giamả ấy vào trong vườn hồng-hạnh, rồi thừa lúc vắng người, cầm chiếc hoa tai ra vườn, khóc mà hỏi ả kia rằng: - Vật này là của chồng cũ tao họ Trịnh khi xưa, mầy do tự đâu mà có của nầy, phải nói thiệt cho tao hay. Ả kia nói: - Của ấy thiệt là Trịnh-quân giao cho tôi, đem đến làm tin cho phu-nhơn biết. Nay Trịnh-quân ở nhà Bạch-long-Hầu vì cớ phu-nhơn mà phiền não không ăn ngủ chi đặng. Có nhờ tôi tỏ tình với phu-nhơn [nhân] đặng khỏi nhớ thương nhau mãi. Nói chưa dứt thì đã liếc thấy con a-hườn [hoàn] vục lật đật trở về, sáng mai lại ra, ân cần hỏi han rồi đưa cho ả áo xanh một bức thơ và dặn rằng: - My nói dùm với Trịnh-quân cho ta, xin Trịnh-quân cố sức tìm phương kế mà cứu cho ta về, chớ để ta già đời ở chốn thủy-vân nầy. Bức thơ nói như vầy: Lời san hải nguyền xưa đã lỡ, Xin tỏ bày tâm sự cùng chàng. Ước đồng huyệt đá vàng một dạ, Ngờ đâu xảy sinh cơn biến họa, Khiến thân nầy đày đọa chốn vực sâu. Thương cho mình đắm ngọc chìm châu, Ngán lắm nỗi oanh sầu yến tủi. Loài tôm cá trước sau gần gũi, Gởi tấm thân vào tụi tanh hôi. Nghĩ nguồn cơn luống những ngậm ngùi, May đâu gặp được lời thơ cá, Nhìn hoa ngọc, châu rơi lả chả, Nguyện trời xanh tỏ chút dạ tôi nầy. Xin lang-quân tìm kẻ ra tay, Thiếp mong đợi ơn đây không xiết. Ả áo xanh cầm thơ ấy về. Long-hầu bảo với Trịnh-quân rằng: “Việc chắc xong![”] Bèn cùng nhau đến biển Nam-hải, vào một nơi thành phủ to. Long Hầu vào trước, để Trịnh-quân đứng ngoài cửa thành đợi chiếu-chỉ. Một lát, có người ra dẫn vào trước cửa điện, thì thấy có một vị Vương- giả (Quảng-lợi-vương) áo hồng, đai ngọc, nghi vệ đàng hoàng, quần thần sắp hàng đứng chắp tay nhiều lắm. Trịnh-quân ngồi quì mé trước, kêu tỏ tình tự của mình, rất là đau đớn. Quảng-lợi-vương ngảnh sang qua phòng tả-mặc khiến viết một tờ trát, rồi có hai tên lính bay vụt lên không-trung mà đi.
  • 55.
    Được nửa ngày,hai tên lính ấy áp điệu một người to lớn lực lưỡng đem về. Người ấy đội mũ đỏ, mặt sắt đen sì, râu ria lởm chởm, vào quì tại trước sân. Quảng-lợi-vương quở rằng: - Tước lộc là để thưởng người có công, hình phạt là để trừng kẻ gian ác. Nay vì ngươi có chút công, cho coi quản một phương, để giữ gìn cho dân thứ. Vậy ngươi sao dám túng tình dâm ngược, mà làm hại người ta? Người ấy kêu rằng: - Muôn tâu Đại-vương xét lại: người cáo tôi đây nó ở trên dương-gian, mà tôi thì ở dưới thủy-phủ, mỗi người một nơi, có can hệ với nhau làm sao đặng. Thế mà nó dám nói càn, vu oan giá họa cho tôi. Nếu Đại- vương không trị tội nó đi, khiến cho kẻ gian tà đắc chí, thì trào-đình bị nó lường gạt, tôi không hề an. Người ấy cãi chối hai ba lần. Quảng-lợi-vương hồ nghi chưa quyết làm sao. Bạch-long-hầu đứng cạnh kề tai nói nhỏ với Trịnh-quân rằng: - Ông nên khai rõ cả họ tên Dương-thị, xin Đại-vương sẽ đòi đến mà hỏi, mới đủ cớ làm bằng. Trịnh-quân nghe lời tâu với Quảng-lợi-vương. Vương lập tức sai đòi Dương-thị. Chiều hôm ấy, hai tên lính dẫn một mỹ-nhơn [nhân] yểu điệu đi vào. Vương hỏi: - Chồng my đâu? Dương-thị tâu: - Người bận áo xanh kia là chồng tôi, còn người đội mũ đỏ nầy là oan-gia đó. Khi trước tôi bất hạnh bị nó bắt về, đã được 3 năm nay, nếu Đại- vương không xét cho công, thì bao giờ tôi lại được trở về với chồng tôi nữa. Quảng-lợi-vương nghe xong, nổi giận mắng rằng: - Không ngờ thằng hoạt tặc kia, dám gian dối làm vậy? Nó đã gian dâm thì chớ, ở trước mặt ta nó lại còn khi mạn, tội đó đáng chết, còn oan làm sao nữa! Khi đó có một viên mặc áo lục-bào kêu là chánh [chính]-hình-lục-sự, tâu rằng: - Tâu Đại-vương, người nầy tuy tội đáng giết, nhưng xin Đại-vương xét lại cái công ngày trước của va, sẽ đày va đi xứ khác là đủ. Quảng-lợi-vương khen phải, mới kết án như vầy: “Người như khách bộ, kẻ vãng người lai; Họa phước không sai, sợi tơ sợi tóc. Nghĩ người khó nhọc, cho trấn một phang [phương], nên phải giữ giàng, chớ sao dong [dung] túng? Tội tình rất trọng, pháp luật khôn dong [dung], đày khỏi biển đông, gọi là trừng trị. Còn như Dương-thị, tình cũng
  • 56.
    khá thương, chovề trên dương, trả con chồng mới. Án văn hết lời, lập tức thi hành.” Giao-thần nghe truyền án xong, cúi đầu đi mất. Trịnh-quân cũng lạy từ đi ra. Long-hầu mời hai vợ chồng Trịnh-quân qua chơi nhà mình, mở tiệc khoản đãi, lại tặng thêm của quí là tê-giác và đồi-mồi. Hai vợ chồng lạy tạ ơn Long-hầu, rồi dắt nhau về nhà, nói hết chuyện đầu đuôi cho người nhà hay, ai ai cũng lấy làm lạ. Về sau Trịnh, nhân có việc qua Hồng-châu, lại đến thăm miễu Thần-giao cũ, thì thấy tường đổ vách xiêu, cỏ mọc hoang vu, chỉ còn mấy cây cổ thụ đó thôi. Hỏi chuyện các người ở đấy thì họ nói rằng: “Trước một năm nay, đang ban ngày thình lình trời đổ mưa to, nước sông tràn ngập. Rồi có một con rắn to dài chừng 10 trượng vảy biếc mào đỏ, bò nổi lên đi về hướng bắc. Có hơn 100 rắn nhỏ theo sau. Từ đó miễu nầy mất linh. Tính ra thì chính nhằm ngày kiện nhau ở dưới thủy phủ. 7. Chuyện Đào-thị Con hát họ Đào, tên là Hàn-nan [Than], quê ở phủ Từ-sơn tỉnh Bắc-ninh. Chị va thông hiểu thơ từ đờn [đàn] địch, nổi danh tài sắc một thì. Đời vua Dụ-tôn [tông] nhà Trần, chị va được tuyển vào cung, ngày ngày hầu vua đánh cờ, uống rượu. Một bữa kia, vua ngự thuyền chơi sông Nhị-hà, có chị va đi theo hầu. Khi thuyền đến bến Đông-bộ-đầu, vua ngâm chơi một câu rằng: Hơi khói mịt mù tiếng chuông nhỏ, Bãi sa phẳng rộng bóng cây trùng. Các quan hầu gần vua chưa ai họa theo được, Đào-thị ứng thanh họa ngay rằng: Cá chơi dưới nguyệt theo dòng lạnh, Nhạn hú trong sương vượt lũy ngang. Vua thấy nàng ấy ứng đối mau làm vậy, người rất khen ngợi, bởi đó kêu chị va là Hàn-nan-kị [Hàn-than-kỹ]. Về sau vua Dụ-tôn [tông] mất, chị va lánh ra ở ngoài đô thành, thường thường qua lại nhà quan Hành-khiển Ngụy-nhược-Chân. Phu-nhơn [nhân] của Ngụy-nhược-Chân không có con mà tánh [tính] hay ghen lắm, ngờ cho Đào-thị có tư tình với chồng, bèn đập đánh chị va hết sức. Chị va hờn giận không biết là ngần nào, bèn bán hết đồ nữ-trang kiềng nhẫn, để mướn người thích-khách vào nhà Nhược-Chân mà báo thù. Không dè kẻ thích-khách vào tới đó thì bị người nhà Nhược-Chân bắt được. Đào-thị sợ họa lây đến mình, vậy phải trốn đi nơi khác, gióc tóc ở chùa Phật-tích. Chị va ở chùa được vài tháng, kinh kệ tinh thông, thường ở
  • 57.
    riêng một phòngthanh vắng. Xảy khi khách đến chơi chùa đông, chị va muốn xin các khách để giùm một bài văn trong phòng ấy. Khi đó có một thằng nhỏ chừng 14, 15 tuổi, chị va khi nó ít tuổi, nói đùa mắng rằng: “Thằng nhỏ kia, mầy biết làm thi không? Thử đề giúp cho tao một bài.” Thằng nhỏ ấy thấy chị va có ý khi bạc mình, mới trở về nhà, hỏi dọ biết được sự tích chị va, bèn làm một bài dán ra cửa chùa. Bài văn dịch sơ ra như vầy: Đạo Phật từ bi kêu là giác, Lòng người thanh tĩnh mới là chân. Kính nghĩ: Sư chùa Phật tích là Đào-thị, Trốn tiếng trong lũ ca nhi, Vui lòng mến theo Phật-giáo. Miệng đào lưng liễu, Uốn lưỡi vừa ca khúc Lương-châu; Đuốc tuệ mây từ, Quày đầu đã về nơi Đâu-suất. Lấp loáng bộ quần như mỡ, Luột là mái tóc đường mây, Nửa gối tiên trong giấc mơ màng, Tình dường yên chí! Vài tiếng địch trước sân gió thoảng, Cảnh cũng triêu [trêu] ngươi! Phòng tĩnh mịch vui quá phòng ca, Áo ca [cà]-sa mát hơn áo múa. Tay múc nước soi gương trang điểm, Miệng tụng kinh lên giọng cao trầm, Cảnh thuyền [thiền] tuy đã nhiệm mầu, Lòng tục vẫn còn vướng vít. Chán chẳng tới Tầm-dương đưa khách, Mình lại về Hàng quận tu hành. Trẻ Ngũ-lăng say đắm vì tình, hãy còn đua đả, Khách tam-sanh [sinh] vui vầy kết bạn, hằng thỏa chơi bời. Hỡi ôi! Chuông xong trà cạn không chi hết, Kiếm chốn phòng thanh ngủ giấc ngon. Bài đó dán ngoài cửa chùa, ai ai coi thấy cũng đồn rực thấu các nơi. Đào-thị mắc cỡ phải trốn đi mất. Chị va đến chùa Lệ-kỳ ở xứ Hải-dương,
  • 58.
    thấy chỗ đónước biếc non xanh, phong cảnh vui thú, bèn xin vào ở tu hành. Sư già chùa ấy tên là Pháp-Vân không cho vào và bảo với một tiểu tăng tên là Vô-Kỷ rằng: - Ta coi đứa con gái nầy, tính nết không được thuần thục, vả lại gái tơ nhan sắc, dễ xiêu lòng người, vậy ngươi phải đuổi nó đi, kẻo mà hậu hối. Tiểu-tăng không nghe lời Pháp-Vân, cứ việc cho chị va ở đó. Pháp-Vân thấy vậy, liền dời lên ở trên đỉnh núi Phụng-hoàng. Đào-thị ở đó được ít lâu, lại quen thói cũ: mỗi khi lên chùa, áo xuyến, quần là, trang điểm mặt hoa mày liễu. Tiểu tăng nhìn lâu khoái mắt, lần lần tư thông với nhau. Từ đó hai người ân ái gió trăng không tưởng gì đến sự tu hành. Ngày ngày thơ từ xướng họa cùng nhau, phàm có phong cảnh chi trên núi, cũng ngâm chơi một bài như sau, nay dịch một vài bài như sau nầy (cho chư khán quan xem chơi). Vịnh mây núi Xa coi nồng lại lợt, Bên trời dủ [rũ] bóng đen. Sớm trục cơn mưa ruổi, Chiều đem vẻ ráng chen. Gió bay nguôi ngút tỏa, Khói bốc phất phơ lên. Tăng nhác, tiểu đồng biếng, Cửa hang ai gài then? Vịnh mưa núi Mưa xuống nghìn non tối, Ào ào tiếng réo xa. Đất dầy châu ngọc giải [rải], Trời bổng đẩu tinh sa. Nước chảy giòng tuôn mạnh, Đêm thanh khách ngủ già. Sơn phòng nhàn rảnh việc, Ngày hết lại đêm qua. Vịnh gió núi Gió thổi âm hang động, Ào ào tiếng suốt đêm. Huê [hoa] lay rơi nhụy thắm, Cỗi động lả nhành mềm. Áo nạp[20] xông hơi lạnh, Lầu chuông vẳng tiếng êm.
  • 59.
    Mênh mông trờiđất rộng, Gào rống chi sự phiền? Vịnh trăng núi Thấp thoáng chòm cây cối, Liền trời vẻ sáng đầy. Vành gương treo đỉnh núi, Mâm ngọc gác từng mây. Bóng tỏa rừng thông quạnh, Hơi lồng bóng trúc lay. Thanh quang đâu cũng khắp, Thú vị cảnh trăng nầy. Từ đó đôi tình khăng khít, xướng họa thơ từ vui vầy cầm sắt. Nhưng chẳng được bao lâu, qua năm kỷ-sửu thì Đào-thị phải bịnh sản, lần lần ốm o gầy mòn; mà thầy chùa kia thì lại không biết thuốc men, vụng bề chạy chữa, vậy nên nàng nọ chẳng bao lâu rồi thì bịnh nặng mà thác. Tiểu-tăng thương xót vô cùng, quàn ma nàng ấy tại cuối phía tây góc chùa, sớm tối thường vỗ vào hòm săng mà khóc rằng: “Nàng ơi! Nàng vì ta mà nên cơ hội nầy, nếu nàng cho ta đi theo thì ta cũng cam lòng nhắm mắt, chớ không để nàng thiệt một mình đâu! Vả nàng thông minh khác phàm, nếu nàng có khôn thiêng thì xin đợi ta ở dưói chín suối, chơ ta không muốn trông thấy thầy Pháp-Vân kia nữa.” Được vài tháng Tiểu- tăng vì nhớ nên bịnh, ốm nửa năm trời, cơm cháo không ăn chi đặng. Một bữa, nằm mơ thấy Đào-thị về nói rằng: “Thiếp khi trước đem thân đào liễu, mến cảnh chùa chiền, giận mình còn vướng lòng trần đến đỗi gây nên nghiệt-chướng. Hồn về chín suối, tình rẽ đôi đàng, lúc sống chưa thỏa cuộc vui vầy, thác rồi nên lại cầu sum hiệp. Xin chàng tạm bỏ nơi chùa cổ, xuống chốn suối vàng, để thiếp được nhờ sức Phật đầu thai lên trần, đặng cho báo chút thú riêng của thiếp thì may lắm.” Tiểu-tăng từ đó mỗi ngày bịnh lại nặng thêm. Pháp-Vân nghe tin học trò bị bịnh, xuống núi hỏi thăm, đến nơi thì Tiểu-tăng đã nguy cơ rồi, chỉ nhìn nhau ứa nước mắt rồi thác. Đêm hôm ấy, mưa gió ầm ầm, trời đất u ám. Phu nhân quan Hành- khiển Ngụy-nhược-Chân nằm mơ thấy hai con rắn cắn nách chui vào bụng, từ đó có mang, đến kỳ sanh [sinh]-sản, sanh [sinh] ra hai con trai, nhân có mộng rắn mới đặt tên thằng trước kêu là Long-thúc, thằng sau kêu là Long-quí. Đầy năm biết nói, tám tuổi biết làm văn, cha mẹ yêu mến vô cùng. Khi đó đang mùa hè nóng lắm. Một hôm Nhược-Chân chơi mát ở trên lầu ngó ra ngoài đàng, thấy có một thầy tăng đi qua đó, có ý dụ dự nhìn ngắm, rồi thầy tăng kia than rằng, “Lạ thay! Tòa lầu đài đẹp đẽ thế
  • 60.
    nầy mà chẳngmấy bữa nữa thành ra một chỗ vực sâu, tiếc thay! Khá tiếc thay!” Nhược-Chân nghe vậy, kinh hãi thất sắc, vội vã sai người nhà mời thầy tăng ấy vào chơi, hỏi cớ làm sao mà nói vậy. Thầy tăng không chịu bảo thiệt, chỉ nói rằng: - Trong khi hoảng hốt, tôi nói bậy bạ đó thôi, chớ không có chuyện chi lạ. Nhược-Chân cố nài hỏi hai ba lần nữa, mới nói rằng: - Tôi xem nhà ông có yêu khí tích lại nhiều lắm. Phi là nghiệp báo kiếp trước thì chắc là oan gia đời nay. Người oan báo đó đã ở trong nhà ông rồi, chỉ trong 5 tháng nữa, thì nhà này bị họa không còn sót một người nào. Nhược-Chân thấy nói vậy, xin thầy tăng kia cứu giúp cho mình. Thầy tăng nói: - Tôi có phép xem tướng, xin cho tôi coi tướng qua cả nhà, hễ người nào là yêu, thì tôi gõ cái chậu này làm hiệu, đặng cho ông biết mà gìn giữ về sau. Nhưng chớ có nói lộ cho ai hay, nếu lộ chuyện thì họa sanh [sinh] ngay tức thì đó. Nhược-Chân kêu hết người nhà sai vào chào thầy tăng. Thầy tăng coi qua một lượt, rồi lắc đầu mà nói rằng, “Nếu không phải yêu thì chưa ai có hình dạng chi lạ.” Nhược-Chân mới cho kêu hai con ở trong nhà trường về. Về tới nhà, thầy tăng xem thấy, liền vỗ tay vào chậu mà nói rằng: “Hai em nhỏ giỏi giang lắm! Ngày sau chắc làm nên công nghiệp to, tỏ rạng cửa nhà, khiến cho trong đời phải kinh hãi, chắc là người nầy!” Hai đứa con trai ấy nổi giận nói rằng: - Thầy tăng nầy ở đâu tới đây khéo nói lôi thôi lắm! Nói đoạn cùng làm bộ giận giũi [dỗi] mà đi ra. Nhược-Chân thấy vậy không vui lòng, thầy tăng kia cũng từ đi. Chiều tối hôm ấy, Long-quí khóc mà bảo với Long-thúc rằng: - Anh yêu tăng nói khi vừa rồi, có ý dòm nom chúng ta. Nếu nó biết ra thì chúng ta không trốn được vào đâu cho thoát. Long-thúc cười mà nói rằng: - Đời nầy chỉ có sư già tên là Pháp-Vân mới có thể trừ nổi chúng ta; còn các thầy khác, ta coi cướp bùa dễ như bỡn vậy. Vả chủ nhà nầy tưởng chúng ta có tình thân cốt nhục, chắc là không ngờ vực gì, vậy thì ta không phải lo chi cho lắm! Khi đó Nhược-Chân ngủ khôn yên giấc, một mình đi thơ thẩn ngoài sân, xảy nghe chuyện hai đứa con nói vậy, lấy làm sợ sệt quá chừng. Hôm sau, giả bộ có việc đi chơi xa, mới đi dạo chơi các chùa chiền, tìm kiếm thầy Pháp-Vân. Hơn một tháng đến chùa Lệ-kỳ, hỏi thăm trẻ nhỏ thì nó nói rằng: - Thầy ấy trước có ở chùa nầy nhưng nay đã dời vào núi sâu rồi.
  • 61.
    Nói rồi nóchỉ lên trên đỉnh núi Phụng-hoàng-sơn và bảo ông ấy lên đó mà kiếm. Nhược-Chân nghe lời đi 4, 5 dặm mới đến chỗ đỉnh núi. Đến đó thấy thầy Pháp-Vân đang nằm ngủ trên kỷ, tiếng ngáy như sấm, có hai tiểu-đồng đứng hầu hai bên. Nhược-Chân lom khom đi vào, hai tiểu đồng quát ngừng lại. Pháp-Vân sực tỉnh dậy. Nhược-Chân bái một bái, rồi kể hết tình thiệt [thật] của mình. Thầy Pháp-Vân cười và nói rằng: - Tiên-sanh [sinh] lầm rồi, lão-phu nương thân cửa Phật, lâu nay không ra đến thành-thị, chỉ ở một nơi am cỏ nầy, quét đất đốt nhang, mỗi ngày tụng kinh Lăng-nghiêm mấy đạo mà thôi. Còn như việc phi phù bắt quỉ, thì có phải phận sự của tôi đâu? Nhược-Chân thấy nói có ý từ chối, cố nài xin cứu giúp cho mình. Hai tiểu-đồng cũng khuyên thầy rằng: - Đạo Phật ta lấy sự từ bi tế độ làm việc mình, nên phải thương người trầm luân nơi khổ-hải, cứu kẻ đắm đuối chốn mê-xuyên, để cho kẻ kia đặng lên ngàn giác, cùng thỏa duyên lành. Nếu thầy cứ từ chối hoài, tôi e không phải là lượng quảng đại. Thầy Pháp-Vân nghe nói vậy, mới mừng rỡ nghe lời. Lập tức sai thiết đàn ngay ở đó, bốn bề đốt đèn, rồi lấy son viết một đạo bùa dán nơi đó. Được một lát, có đám mây đen dài chừng 10 trượng, phủ lấp quanh đàn, rồi nổi cơn gió lạnh lẽo, người không sao chịu nổi. Thầy Pháp-Vân tay cầm cây trượng, chỉ bảo trước sau, có khi ra ngoài đàn, làm như hình quát mắng chi đó. Nhược-Chân ngồi riêng một bên phòng chẳng thấy chi lạ, chỉ nghe trên không có tiếng kêu khóc rên than. Một lát, thôi tiếng khóc, mây cũng lần lần tan hết. Qua hôm sau, Pháp-Vân lấy hồng hoàng bôi vào một hòn đá, viết mực lên trên, đoạn trao cho Nhược-Chân mà dặn rằng: - Khi ông trở về, nếu thấy có vật chi quái lạ, thì ông lấy viên đá nầy mà ném vào nó, sẽ trừ hết được họa về sau. Nhược-Chân vâng lời trở về đến nhà thì thấy người nhà đang đứng xúm quanh một chỗ mà khóc. Hỏi ra thì phu-nhơn nói rằng: - Hồi canh ba đêm hôm qua, hai đứa con dắt nhau nhào xuống giếng mà chết, nước giếng thinh không đầy tràn lên, ngập đến lưng bậc thềm. Thiếp đã quàn nó ở ngoài vườn kia, đợi ông về rồi sẽ chôn xác nó. Nhöôïc-Chaân hoûi: - Khi nó chết, nó có nói gì chăng? Phu-nhơn [nhân] nói: - Nó có phàn nàn với nhau rằng: Giá chậm vài tháng nữa thì việc nó làm xong, không dè bị cuồng-tăng làm hại nó. Phu-nhơn [nhân] nói vậy, rồi lại khóc um cả lên. Nhược-Chân ngăn lại, cùng dắt nhau ra vườn, mở hòm ra coi xem dường nào, thì thấy hai đứa ấy đã hóa ra hai con rắn vàng. Nhược-Chân cầm viên đá khi trước đó ném vào hai con rắn ấy thì nó liền rã nát ra đất.
  • 62.
    Đoạn trở vàokể chuyện đầu đuôi cho phu-nhơn [nhân] nghe, hai vợ chồng mới đem đồ lễ đến tạ ơn thầy Pháp-Vân, nhưng đến nơi thì thầy ấy đã đi nơi nào mất rồi, chỉ còn cái am cỏ rong rêu phủ ở đó. 8. Truyện quan Phán-sự đền Tản-viên Ngô-Soạn tiểu-tự là Tử-văn, người huyện Yên-dõng [dũng] phủ Loạn [Lạng]-giang, có tánh ngay thẳng khẳng khái, không ưa kẻ gian ác. Ở về quận Bắc-châu, anh va đã có được tiếng khen là người cang [cương] trực. Làng anh va ở có một miễu thờ rất linh. Cuối đời nhà Hồ, quân Tàu nhà Minh sang xâm cướp nước Nam thì làng ấy thành ra một nơi chiến tràng [trường]. Khi đó một bộ-tướng Tàu kêu là Thôi-bách-Hộ, tử trận tại nơi miễu làng ấy. Từ đó sắp về sau, ở miễu ấy thường thường hưng yêu tác quái, dân gian cúng cấp, nhiều người khuynh gia bại sản. Tử-văn thấy vậy giận lắm, bèn đốt miễu ấy đi. Khi đốt xong trở về nhà, trong mình dường như khó chịu, kế đó nhức đầu đau bụng, nổi bịnh nóng lạnh. Trong khi Tử-văn mơ mơ màng màng, thì thấy một người to lớn, đầu đội mũ trụ, ăn mặc ra dạng người Tàu, tự xưng là Cư-sĩ bảo Tử-văn phải ra sức sùng tu cái miễu ấy lại, và nói rằng: - Người là con nhà học trò xem sách thánh hiền, há lại không biết đạo quỉ thần nên phải kính trọng sao? Ngươi dám khi bỉ mà đốt cả miễu của ta, không biết nương nhờ vào nơi nào! Vậy ngươi phải sửa sang lại như cũ cho ta, nếu không vậy thì họa đến nơi đó, chớ trách ta rằng không bảo trước. Tử-văn thấy người kia nói vậy, cứ ngồi lặng như không, chẳng trả lời lại làm sao hết. Người kia lại giận mà nói rằng: - Ngục Phong-đô (ngục âm phủ) chẳng xa gì đâu, nếu không nghe lời ta thì mặc ý! Nói đoạn đứng dậy đi ra. Đêm hôm ấy lại mơ thấy một ông già, mạo thâm áo vải, dáng dấp hoà nhã, đi khoan thai vào nhà chào Tử-văn mà nói rằng: - Tôi là Cư-sĩ đây, nghe ông làm được một việc sướng lắm, vậy tôi đến đây mừng ông. Tử-văn thất-kinh nói rằng: - Vừa rồi có một người đội mũ trụ, tự xưng là Cư-sĩ, có phải là thần thổ- địa đó chăng? Nay ông lại xưng là Cư-sĩ, sao nhiều Cư-sĩ làm vậy? Ông già nói: - Ủa! Người đó là một tên bộ-tướng-Tàu tử trận, hồn gởi nước Nam ta, cướp đền miễu của tôi, lại mạo xưng tên danh-hiệu nữa. Nó chỉ nghề dối giả bạo ngược, trên khi trời mà dưới thì làm hại dân. Phàm các việc làm ra yêu quái là bởi nó cả. Tôi lại xin kể chuyện của tôi cho ông nghe: Tôi làm Ngự-sử về đời vua Nam-đế nhà Lý, chết về việc nước, cho nên
  • 63.
    được phong làmthành-hoàng làng nầy. Tôi giữ gìn dân thứ, hơn nghìn năm nay, có điều chi là sự yêu quái. Vì tôi sơ ý giữ gìn, bị nó cướp mất miễu của tôi. Hiện bây giờ tôi phải nương nhờ thần núi Tản-viên đã mấy năm nay rồi. Tử-văn nói: - Nếu có việc như vậy, sao không cáo với Diêm-vương, đặng người tâu sớ lên Thượng-đế, để mà trị tội nó đi, sao lại khinh bỏ chức vị, chịu làm người nhà quê như thế? Ông già ấy làm ra giọng buồn rầu mà nói rằng: - Nó nhiều vi cánh, khó lay động được nổi. Tôi muốn kiện nó, nhưng nó làm lắm bề ngăn trở. Mà các thần ở miễu đến gần đây, thì lại tham của hối lộ, châu [chu] toàn binh vực nó, bụng tôi không thế nào tỏ được lên trên, cho nên tôi phải nhịn nhục mà lánh đi ở một nơi. Tử-văn hỏi: - Nó dữ tợn làm vậy, nhưng nó có làm hại được tôi chăng? Ông già đáp: - Nó đang thù ông, đến kiện tại Âm-ty đó, tôi sẽ dò xem tình ý làm sao, đến mách bảo cho ông hay đặng mà giữ gìn, kẻo mà chết oan với nó. Lại dặn rằng: - Nếu ông có bị bắt xuống Âm-ty tra hỏi, thì ông cứ lấy lời tôi làm chứng. Nó bằng không chịu, thì ông nên xin Diêm-vương hỏi đến thần núi Tản- viên, như thế nó mới không chối cãi được nữa, mà ông được sống mà tôi cũng được về miễu lại. Tử-văn xin vâng lời. Đêm hôm ấy, Tử-văn đau dữ lắm. Xảy thấy 2 tên quỉ-tốt bắt mình điệu đi, dẫn ra khỏi cõi đông. Đi nửa ngày, đến một nơi cung phủ lớn, thành sắt cao vài mươi trượng. Hai tên quỉ-tốt vào trước bẩm mạng, một lát trở ra, đọc tờ chiếu-chỉ của Diêm- vương bảo anh va rằng: - Tội nhà ngươi nặng lắm, không phép nào được tha. Nói rồi, khoát va bảo đi về phía bắc. Ở phía đó có một con sông to, trên sông có một nhịp cầu dài hơn nghìn bộ. Dưới sông sóng đen như mực, gió thổi tanh hôi mà khí lạnh thấm vào đến xương. Hai bên mạn cầu, có vài muôn quỉ Dạ-xa [xoa], mắt xanh tóc đỏ, hình trạng dữ tợn rất nên kinh khủng. Khi đó hai tên quỉ-tốt dùng gông dài giây to, gông trói anh va, áp điệu đi qua cầu ấy. Anh va ngảnh lại la lớn lên rằng: - Ngộ-Soạn là người ngay thẳng ở nhân-gian, có tội lỗi gì, xin bảo rõ cho tôi biết, không nên để tôi hàm oan thế nầy! Xảy nghe trên điện có lời phán rằng: - Thằng nầy ngang ngạnh, cũng là cái tánh nó như thế, nếu không phán bảo rõ ràng, thì sao nó khứng phục tội? Bèn sai hai tên quỉ-tốt dẫn anh va trở vào. Vào đến nơi thì thấy người đội mũ trụ đang đứng tại trước sân cáo tỏ tội lỗi anh va.
  • 64.
    Dieâm-vöông quôû maéngTöû-vaên raèng: - Tên Cư-sĩ này là người trung liệt, có công với tiền-trào [triều], cho nên trời phong cho va một phương, đặng hưởng tế tự. My là học trò, sao dám khinh bỉ đốt phá đền miễu của va, thế là tự my làm nên tội còn chối cãi được nữa chăng? Tử-văn theo lời ông gìa dạy bữa trước, kể hết đầu đuôi lai lịch, ăn nói cứng cỏi, không nao núng chút nào. Người nguyên cáo kia kêu rằng: - Ở trước mặt Điện-hạ đây, nó còn già mồm như thế, ăn nói điên đảo, vu tội cho người. Huống chi một lều miễu hoang của tôi, nó sợ chi mà nó chẳng đốt! Tử-văn thấy người kia nói vậy, cãi đi cãi lại, nhứt [nhất] định không chịu. Diêm-vương lấy làm nghi tình, chưa phán phải quấy bề nào. Tử-văn lại nói: - Đại-vương nếu không tin lời tôi, xin hỏi đến thần núi Tản-viên, sẽ biết minh bạch, nếu tôi nói vu vọng. Người nguyên cáo kia thấy anh va nói vậy, có sắc lo sợ, bèn quì xuống mà tâu rằng: - Tên học-trò nầy thiệt là ngu độn, bắt tội chính là phải lẽ, nhưng Điện-hạ quở mắng nó ít câu cũng đủ trừng trị nó rồi, vậy xin Điện-hạ rộng dong cho nó, không nên cung tra nữa chi, để tỏ cái lòng nhơn từ của Điện-hạ. Diêm-vương nạt lớn mắng rằng: - Nếu vậy thì lỗi tại my rồi đó! Luật điều khí vọng còn đây, my sao dám vu phản cho người ta. Lập tức sai người về đền Tản-viên tra hỏi tường tận. Khi sứ viên ấy trở về tâu lại, thì quả nhiên hiệp với lời Tử-văn nói. Diêm-vương giận lắm, bảo với Phán-quan rằng: - Các ngươi chia giữ mọi việc, đem lòng ngay chẳng hết mực mà giữ phép công bình. Thưởng phạt nghiêm minh, không thiên tư với ai một chút. Thế mà bọn gian giảo kia, còn dám khi mạn làm vậy. Huống chi đời Hớn [Hán], Đường mua quan bán tước, cái tình tệ còn nói làm sao cho xiết! Liền sai dùng gông sắt đóng gông người đội mũ trụ đó, áp điệu vào ngục Cửu-u, còn Tử-văn có công trừ được kẻ gian ác, Diêm-vương sai ông Cư-sĩ là chính thần miễu ấy, phải mỗi năm bổng lộc tế tự, chia cho Tử- văn phân nửa, và sai giáp-sĩ đưa Tử-văn về trên trần. Khi đó Tử-văn chết đã hai ngày rồi, lại hồi dương, thuật lại chuyện cho người nhà nghe, ai nấy đều cho làm lạ. Kế đó người làng lại mua gỗ sửa sang miễu mạo thờ phụng như xưa. Mà mồ mả của Thôi-bá-hộ ở gần đó thì thinh không bị sét đánh hài cốt tan tành bật ra ngoài.
  • 65.
    Cách một thángsau, Tử-văn lại mơ thấy ông già khi trước đến chơi và nói rằng: - Ông có công giúp cho tôi, tôi không biết lấy gì trả ơn cho ông được. Nay ở Tản-viên, hiện khuyết một viên Phán-quan, tôi đã hết sức tiến cử ông để thế vào chức ấy, vua Diêm-vương đã bằng lòng rồi. Xin ông cố sức nhận lấy, chớ coi việc trọng ấy làm thường. Xưa nay ai cũng phải chết, chết mà có tiếng về đời sau là quí hơn! Tử-văn mừng rỡ vâng lời. Bèn dặn dò hết mọi việc cửa nhà cho vợ con, rồi bỗng dưng hồn về chín suối. Qua năm giáp-ngọ, có người làng Đông-quan, vốn quen với Tử-văn. Khi đó đi sớm ra khỏi cửa tây vài dặm, bỗng thấy xe ngựa lính tráng đi đông lắm, có một ông quan ngồi trên chính là Tử-văn. Tử-văn ngồi trên xe cũng chắp tay chào, nhưng không nói một câu nào, xe ngựa đi như gió một phút thì biến mất. Đến giờ con cháu nhà ấy vẫn còn sự tích để lại. 9. Chuyện Từ-Thức gặp tiên Trong năm Quang-thái đời nhà Trần, người ở Thanh-hoá tên là Từ-Thức, do chân Ấm-tử, được bổ làm Tri-huyện Tiên-du. Gần huyện đó có một cảnh chùa to. Trong chùa có một cây mẫu đơn, mỗi năm về mùa hoa nở, người các nơi đến vãng cảnh xem hoa đông như hội, thành tên là hội khán hoa. Tháng hai năm bính-tý, chính về ngày hội, khách qua lại xem hoa rất đông. Khi đó có một ả con gái mới độ 15, 16 tuổi, trang điểm một ít phấn lợt mà diện mạo rất nên xinh tốt. Ả ấy xem hoa, lỡ tay vịn nhành huê [hoa] gãy xuống, bị người coi vườn đó bắt lại. Mãi đến chiều tối không có ai nhận ả ấy. Từ-Thức xảy đi qua trông thấy, thương cho người nhan sắc bực kia mà bị người giam buộc, người sẵn có cái áo hồ cừu bạch-cẩm, mới cởi ra đưa cho kẻ giữ vườn mà chuộc tội thay cho nàng, để nàng đi về. Vì thế ai cũng khen người là quan huyện nhân đức. Nhưng tánh Từ-Thức thì chỉ hay uống rượu, đánh đờn [đàn], ngâm thơ, ngoạn cảnh mà thôi, đến công việc sổ sách ở huyện thì bỏ đọng cả lại. Nhiều khi bị quan trên quở mắng. Từ-Thức than rằng: - Ta công đâu mà vì một chút lương bổng, phải buộc mình vào đám danh lợi thế nầy! Thôi thì kiếm một chiếc thuyền, tìm nơi nước biếc non xanh mà chơi cho thích chí là được. Lập tức giao trả ấn quan trên rồi đi. Tính người ưa chơi những chốn khe động trong huyện Tống-sơn, mới trở về cất nhà ở huyện ấy. Mỗi khi nhàn nhã đi du ngoạn, thì thường hay sai một thằng nhỏ đeo một bầu rượu, cắp một cái đờn [đàn] và đem theo một cuốn thơ. Đến chỗ nào thích ý thì ngồi chơi uống rượu, hoặc khảy đờn [đàn]. Phàm chỗ nào có nước non lạ lùng, như núi Chích-trợ, động Lục-vân, sông Lãi, cửa Nga vân vân, thì tìm đến chơi và có thơ đề vịnh cả.
  • 66.
    Một buổi kia,Từ-Thức dậy sớm, trông ra ngoài cửa biển Thần-phù, cách vài mươi dặm, có mây ngũ sắc, kết lại như hình cái bông sen. Mới mướn thuyền bơi đến gần nơi ấy, thì thấy có núi non lạ lùng. Đậu thuyền trèo lên núi, coi xem bốn bề xanh biếc, mà núi thì cao chơn chởm ước nghìn trượng. Nhân đề một bài thơ như vầy: Đầu nhành thấp thoáng bóng kim ô, Huê [hoa] động vui mừng đón khách vô. Cạnh suối nao là người hái thuốc? Quanh nguồn chỉ có gã bơi đò. Xênh xang ghế mát đờn [đàn] ba khúc, Đủng đỉnh thuyền câu rượu một vò. Ướm hỏi Võ [Vũ] lăng chàng đánh cá, Làng Đào đâu đó cách chừng mô? Đề xong bài thơ rồi, nhìn xem phong cảnh một hồi. Bỗng thấy trong hông núi đá, có một cái hang, cửa hang tròn và rộng độ một trượng. Từ-Thức bước tới cửa hang, vừa đi được vào trong hang vài bước thì cửa hang đóng sập lại. Ông ấy thất kinh hồn vía, chắc là bỏ mình nơi đó chớ chẳng không. Tuy vậy, đã đến bước đó thì cũng phải liều. Người mới quơ tay rờ vách đá mà đi, trước còn loanh quanh đi trong khe nhỏ, kế đó thì lần lần có bóng sáng, ngó lên thấy núi cao chót vót, đá mọc lổm chổm, bèn cứ cố ý vịn mà leo lên, khi đó đàng đi đã hơi rộng rãi. Khi lên đến đỉnh núi, thì lại thấy mặt trời sáng sủa, xem ra bốn bề thì thấy lâu đài cung điện. Cửa nhà đẹp đẽ, cây cối xinh tươi thiệt là cảnh tiên đó. Từ-Thức lấy làm lạ lùng, ngắm xem phong cảnh, sực thấy hai ả con gái nhỏ, mặc áo xanh, nói với nhau rằng: - Chú rể mới nhà ta đã đến kia kìa! Nói thế đoạn, trở vào trong nhà báo tin, rồi lại ra nói với Từ-Thức rằng: - Tôi phụng mạng phu-nhơn, cho ra rước người vào cửa. Từ-Thức theo hai ả ấy đi vào, qua một dãy tường gấm, vào cửa sơn son, thấy đôi bên cung cấm, sơn vàng thếp bạc ánh sáng một vùng, trên cửa có chữ đề rằng “Quình-hư chi điện, Giao-quang chi các.”[21] Khi trèo lên lầu thì thấy một Tiên-chúa mặc áo lụa trắng, ngồi đàng hoàng trên giường thất-bảo. Bên giường có kê bộ kỉ gỗ cây thơm. Tiên-chúa mời ông ấy ngồi trên kỉ và hỏi rằng: - Người vốn hay đi chơi cảnh lạ, vậy có biết đây là chốn nào chăng? Từ-Thức thưa rằng:
  • 67.
    - Tôi tuydu lịch giang hồ đã nhiều nơi, nhưng không biết ở đâu lại có tiên cảnh, xin bà dạy cho tôi tường. Tiên-chúa cười mà nói rằng: - Người biết đâu được chốn nầy! Đây là hang thứ sáu trong 36 động núi Phù-lai; núi ấy nổi trên mặt biển, đi khắp mọi nơi, chân không đụng đất, chỉ theo chiều gió mà khi tan khi hiệp mà thôi. Thiếp thì là địa-tiên núi Nam-nhạc, kêu là Ngụy phu-nhơn [nhân], vì thấy ngươi có cao nghĩa cho nên mới mời đến chơi. Tiên-chuá mới kêu ả con gái ra. Từ-Thức liếc mắt xem qua, thì chính là ả đánh gãy nhành mẫu đơn khi trước. Tiên-chúa chỉ ả ấy mà nói với Từ-Thức rằng: - Con em nầy tên nó là Giáng-hương, khi trước nó đi xem hoa, bị phải tai nạn, nhờ người cứu khỏi, ta vẫn còn cảm cái ơn ấy, nay muốn cho nó kết duyên với ngươi đặng đền bồi ơn tri ngộ. Lập tức đêm ấy, truyền sai đốt đèn mỡ phụng, trải chiếu vẩy rồng. Tiên- chuá mở tiệc trên lầu Giao-quang, nào là rèm ngọc trướng điều, nào là nệm huê [hoa] ghế bạc. Các tiên ngồi một bàn bên tả, còn bên hữu thì Từ-Thức ngồi. Trong khi ăn yến, đủ các món sơn hào hải vị, chả phụng nem công, ngào ngạt thơm tho, toàn những vị dưới trần không có. Lại có đờn [đàn] sáo bát âm rất là vui vẻ. Chiều tối tiệc tan, các tiên đâu về nấy. Từ-Thức ở lại đấy được một năm, có ý nhớ nhà, nhân khi thong thả, thủ thỉ với nàng Giáng-hương rằng: - Tôi nhơn [nhân] khi đi chơi mà được gặp cảnh sung sướng dường nầy, thiệt là phước [phúc] cho tôi lắm. Nhưng tôi ở đây đã lâu, có lòng tưởng nhớ quê nhà, vậy xin cho tôi được về thăm nhà một chút, thì rất hữu hạnh vô cùng. Giáng-hương có ý dụ dự, không nỡ phân ly. Từ-Thức lại nói rằng: - Tôi xin về chơi một đôi ngày, báo tin với anh em biết rồi sẽ trở lên đây. Giáng-hương khóc mà nói rằng: - Thiếp không dám vì tình riêng vợ chồng, mà ngăn trở lang quân. Chỉ vì cõi trần bé nhỏ, ngày tháng thon von. Dầu chàng có về nữa, thiếp chỉ e cửa nhà cây cối, không còn được như lúc trước nữa. Nàng ấy mới nói chuyện với Tiên-chúa. Tiên-chúa than rằng: - Không ngờ gã ấy còn vướng vít trong đám bụi hồng, làm chi mà phải ngậm ngùi như vậy? Bèn cho Từ-Thức một cỗ xe cẩm vân, dạy ngồi lên xe ấy mà về. Giáng- hương cũng viết một phong thơ [thư] tặng biệt, phong gói kỹ càng, dặn về đến nhà sẽ mở ra mà coi. Từ-Thức cáo biệt, lên ngồi trên xe, đi vừa chớp mắt đã về đến nhà. Về đến nơi thì phong cảnh đã khác xưa nhiều, nhơn [nhân] dân thành thị,
  • 68.
    không còn chútnào như khi trước nữa, chỉ hai bên khe núi thì vẫn còn nguyên mà thôi. Từ-Thức đem họ tên mình hỏi thăm các ông già trong làng, thì có một người nói rằng: - Tôi từ khi còn nhỏ, có nghe ông cố tôi, cũng nghe tên họ như thế, đi chơi lạc vào hang núi, đã hơn 80 năm rồi. Từ-Thức buồn rầu lắm, muốn lại ngồi xe đi lên, thì xe đã hoá làm chim loan bay đi mất rồi. Mở bức thơ ra xem thì có câu rằng: Trong mây kết bạn loan hoàng, duyên xưa đã hết, Trên bể tìm người tiên tử, hội đó khôn cầu. Mới biết là lời ly biệt. Về sau Từ-Thức mặc áo khinh-cừu, đội cái mũ nhỏ, vào núi Hoàng-sơn ở huyện Nông-cống, không biết lên tiên hay là đi đâu mất. 10. Truyện thơ Kim-hoa Con gái làng Kim-hoa tên là Chi-lan, họ Ngô, nguyên là vợ của quan giáo-thụ họ Phù. Nàng ấy học rộng, văn chương ca từ có tiếng trên đời. Vua Thuần- tôn [tông] đời nhà Lê nghe tiếng người hay chữ, cho làm nữ giáo-học, dạy các cung nhơn [nhân]. Khi nào vua đi chơi, thì sai nàng ấy đi theo hầu, vua muốn sai ngâm vịnh bài gì, nàng ấy hươi bút nháy mắt thì rồi liền, mà bài nào cũng hay, không ai chê đặng. Đến năm nàng ấy ngoài 40 tuổi thì mất, chôn ở bãi đất Tây-nguyên. Cuối năm Đoan-khánh, có người học trò tên là Mao-tử-Biên, học tại nơi kinh sư. Lâu ngày nhớ nhà, trở về huyện Đồng-hỉ tỉnh Thái-nguyên. Đi qua làng Kim-hoa, xảy gặp cơn mưa gió to ngăn trở, nhà còn xa mà trời đã tối. Chàng ta trông về phía trước, thấy có thấp thoáng bóng đèn, vội đến gần nơi thì thấy có vài gian nhà tranh, bốn bề tre mọc sum sê [xum xuê]. Tử-biên xin vào nhà ngủ nhờ một đêm, người canh cửa không cho vào. Ghé mắt dòm vô trong nhà thì thấy một ông già ngồi trên giường, và có một mỹ-nhơn [nhân] đứng bên, mang giầy châu, cài trâm ngọc, coi tợ [tựa] như dạng phi tần. Người mỹ-nhơn [nhân] đó bảo kẻ canh cửa rằng: - Đêm khuya quạnh vắng, trời lại gió mưa, người ta xin ngủ nhờ, mầy lại không cho người ta vào thì bảo người ta đi đâu bây giờ? Tử-biên vội vàng bước vào, ngủ nhờ ngoài cửa. Hồi gần 10 giờ khuya, thấy một người râu tóc đã bạc, dáng điệu gầy gùa, cưỡi một con la sắc đỏ đến chơi. Ông già trong nhà chạy ra đón vào nhà ngồi chơi.
  • 69.
    Đoạn sai dọntiệc, hai ông già và mỹ nhơn [nhân] ngồi cùng một bàn uống rượu. Ông già coi trên cánh bình-phong có bốn bài thơ của mỹ nhơn đề như vầy, 1. Xuân từ Khí trời ấm áp đượm hơi dương, Thấp thoáng lâu đài vẽ ác vàng, Rèm liễu líu lo oanh hót gió, Giậu hoa phấp phới bướm soi hương. 2. Hạ từ Gió bay bông lựu đỏ tơi bời, Tựa gốc cây đu đứng nhởn chơi, Oanh nọ tiếc xuân còn vỗ cánh, Én kia nhớ cảnh cũng gào hơi. 3. Thu từ Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ, Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa, Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm, Rừng phong lá rụng tiếng như mưa. 4. Đông từ Lò sưởi [22] bên mình ngọn lửa hồng, Giải buồn chén rượu lúc sầu đông, Tuyết đưa hơi lạnh xông rèm cửa, Gió phẩy mầu băng giải mặt sông. Ông già vào chơi đọc bốn bài ấy rồi khen rằng: - Nếu Nam-châu không có tôi, thì ai biết được bài hay của phu-nhơn [nhân]; mà nếu tôi không được gặp phu-nhơn [nhân], thì cũng không khi nào được biết văn hay trong đời. Cổ nhơn [nhân] có câu rằng: “Danh hạ vô hư,” thiệt [thật] là phải lắm! Mỹ-nhơn [nhân] nói: - Thiếp tài nhỏ tầy sợi tóc, có đâu dám sánh với tài danh-công, may được gặp gỡ tiền trào, hầu trong nghiên bút, thì cũng gọi là hơi biết làm thơ đó mà thôi. Vậy thiếp xin đọc mấy bài của thiếp đề vịnh khi xưa, đặng tiên-sanh [sinh] nghe chơi luôn thể.
  • 70.
    Một khi thiếpcó qua chơi núi Vệ-linh, là chốn Đổng thiên vương phi thăng đời xưa đó, có đề chơi một bài tứ tuyệt như vầy: Chon von núi Vệ vẻ mây lồng, Cây cối sum sê [xum xuê] sắc tử hồng, Ngựa sắt ở trời, tên ở sử, Uy danh lẩm bẩm [lẫm lẫm] khắp non sông. Được vài tháng, tiếng thiếp động đến tai cửu trùng. Hoàng-đế người cả khen ngợi, ban thưởng cho thiếp một cặp áo. Lại một khi Hoàng-đế ngự chơi cửa Thanh-dương, sai quan Nguyễn Thị-thơ làm một bài uyên- ương từ khúc, người không bằng lòng sai thiếp làm bài khác. Thiếp phụng chỉ thảo ngay dâng lên, Hoàng-đế khen ngợi hồi lâu, rồi thưởng cho thiếp 5 nén vàng, và kêu thiếp là nữ học-sĩ nhà họ Phù. Từ đó nổi tiếng trên đời, khách văn chương ai cũng có lòng trọng đến. Khi Thuần-hoàng-đế băng, thiếp có khóc một bài như vầy: Ba mươi năm lẻ trị ngôi trời, Bốn biển ơn nhuần được thảnh thơi. Rộng mở giang sơn thêm cõi đất, Dựng nên sự nghiệp khắp trên đời. Long-dư tuyết phủ trời xa thẳm, Ngự-uyển hoa sầu sắc kém tươi. Quảng-nhạc đêm đêm còn báo mộng, Kiều-sơn ngó tới lụy tuôn rơi. Ông già nghe đoạn rồi nói: - Thơ của phu-nhơn [nhân] đó, thiệt có tình ý như thơ cổ-nhơn [nhân]. Vì thơ cổ cốt phải ý tứ hồn hậu, nói ít mà tình ý nhiều mới hay. Chớ như thơ thời nay thì họ làm khinh bạc lắm. Mỹ-nhơn [nhân] nghe nói sa nước mắt mà rằng: - Thiếp được vào cung chầu Thuần-hoàng và Hiến-hoàng, nghĩa là tuy vua tôi, tình thiệt như cha con. Không dè những người thiển bạc, đem dạ nghi ngờ, có lắm bài bỉ bác. Đại để như có câu rằng: Quân vương muốn giải cơn buồn bực, Nên gọi Kim-hoa học-sĩ vào. Lại như câu:
  • 71.
    Lầu rồng tantiệc thơ ngâm mỏi, Chầu chực năm canh ngủ dậy trưa. Như những câu ấy, có phải là lời nói quá chăng? Ông già nói: - Phu-nhơn [nhân] chớ nên sầu oán chi, xưa nay thơ từ họ nói xàm cũng nhiều, lắm người mắc tiếng oan uổng chẳng phải là một mình phu nhơn [nhân] mà thôi đâu! Kế đó bàn đến thơ của các ông danh tiếng đương thời, thì ông già nói rằng: - Thơ từ mỗi người một cách điệu, ví như thơ ông Chuyết-trai thì lạ lùng tao nhã; thơ ông Vu-liêu thì kịch liệt cao kỳ; thơ của ông Tùng-xuyên thì khỏe mạnh như giọng tướng đánh giặc, nhưng có chỗ thô tục; thơ ông Cúc-pha thì dịu dàng như con gái chơi xuân, mà lắm câu yếu đuối. Còn các ông khác cũng hay cả, nhưng nghĩa lý kín đáo phong nhã mà bài nào cũng có ý trung vua yêu nước, thì chỉ có thơ ông Liễu [Ức]-trai là hay hơn hết. Hồi đó Mao-tử-Biên nằm ngoài nghe lóng hết mọi điều, lần lần bước vào lạy chào. Ông già thò tay vào túi lấy ra một cuốn sách trao cho chàng ta, và dặn rằng: - Anh muốn học làm thơ, thì cứ đem cuốn nầy về mà học là đủ. Ông già nói rồi từ biệt. Tử-biên cũng trở ra ngủ. Sớm mai thức dậy, té ra mình nằm trên mồ mả, sương lộ ướt dầm quần áo. Mở xem cuốn sách thì toàn giấy trắng, chỉ có bốn chữ: “Lữ đường thi tập” mới biết ông cụ đó tức là Sái-tiên-sanh [sinh] ở làng Lữ-đường. Mà hỏi nơi mộ đó thì tức là ngôi mộ của Phù giáo-thụ tiên sanh [sinh] phu-nhơn [nhân]. Chàng ta về nhà, tìm kiếm mua cuốn thơ ấy, quả nhiên văn chương nổi tiếng ở đời. 11. Truyện con chồn và con vượn Năm bính dần, vua Phế-đế nhà Trần đi săn, đóng quân nghỉ ở phía bắc bờ sông Đà-giang. Đêm hôm ấy mở tiệc cùng với các tướng sĩ uống rượu chơi. Ở cụm rừng ấy có một con chồn thành yêu, nó đi trong núi gặp một con vượn già. Con chồn bàn với con vượn rằng: - Vua tướng nhà Trần đi săn chuyến nầy, chắc họ định bắt chúng mình chớ chẳng không. Nếu chúng mình không liệu trước mà gàn trở việc đó đi, thì ắt là họ đào hang quét ổ. Tôi muốn dùng một lời mà can gián vua Trần, chú có bằng lòng đi với tôi chăng? Con vượn nói:
  • 72.
    - Nếu chúnói mà giải được họa nầy, thì thiệt là hay lắm. Nhưng tôi chỉ e họ không nghe, chắc lại sinh thêm lòng nghi cho họ, thì họa ắt lây đến cả cây trong rừng, chú chẳng thấy con hồ-tinh ở núi Hoa-biểu đó sao? Con chồn nói: - Không hề chi! Bởi vì các người theo vua đi săn, toàn là người võ, không có ai là bậc cao minh bác vật, chúng ta không phải lo xa điều đó. Nói đoạn, hai con biến hình ra làm hai người đờn [đàn] ông. Con vượn tự xưng là Viên tú-tài, con chồn tự xưng là Hồ xử-sĩ. Đêm hôm đó, đều đến tận nơi hành-cung, nhờ người vào tâu với vua rằng: - Chúng tôi nghe: Thánh-nhơn [nhân] ở ngôi, trời đất yên lặng; minh- vương tốt đức, muông thú đều vui. Nay chúa thượng đang buổi thái bình, làm chúa dân vật. Vậy nên giương lưới cầu hiền, văng chài lễ sĩ, đặng cho văn vẻ chốn triều-đình, ơn nhuần cho muông dân thì mới phải, chớ sao lại vụ việc đền [điền] liệp, bắt chước kẻ đi săn làm chi? Hồi đó vua đã uống rượu say, gần đi ngủ. Vua sai quan tể-tướng là Hồ-quí-Ly ra tiếp hai người ấy vào chơi ở nơi phòng khách. Hồ xử-sĩ (con chồn) nói rằng: - Các vua đời xưa, đuổi giống tây voi, đặng mà trừ hại cho dân. Dùng việc săn bắn, đặng mà luyện tập nghề võ. Vua Văn-vương nhà Châu vì muốn tìm ông Lữ-vọng, mới có việc đi săn ở trên sông Vị-thủy; Vua Võ [Vũ]-đế nhà Hớn [Hán] vì muốn hăm dọa mọi Hồ, mới có chuyện đi săn ở đất Tràng-dương. Chớ như nay thì không có việc chi, đang mùa nóng nực mà bắt dân làm việc khó nhọc, lại giầy đạp lúa má mà đuổi giống cầm thú, thì toàn là việc hại dân cả. Ông làm tể-tướng, sao không tâu với vua, bãi việc đi săn, đặng cho dân vật đều thỏa chí có được chăng? Quí-Ly nói: - Việc đi săn cũng là phép đời xưa, bỏ làm sao đặng? Hồ xử-sĩ nói: - Tôi thương giống cầm thú nhỏ mọn mà tôi xin dùm cho nó. Nếu bằng những giống tinh yêu độc dữ, thì nó chẳng chạy núi nọ, chắc cũng trốn rừng kia, ông săn làm sao cho đặng, chẳng qua chỉ hại những giống hèn yếu mà thôi. Quí-Ly nói: - Ta nghe xứ nầy có con hồ-ly-tinh (chồn) đã thành yêu, cho nên đến săn để trừ hại cho dân luôn thể. Viên tú-tài (con vượn) thấy nói vậy, mắt nhìn Hồ xử-sĩ mà cười. Quí-Ly hỏi cớ làm sao mà cười? Hồ xử-sĩ nói: - Giống sài-lang (chó sói) tràn đàng lấp nội, can gì phải hỏi đến giống cầy cáo? - Thầy nói ý sao vậy?
  • 73.
    - Hiện nayơn thánh chưa nhuần khắp mọi nơi, bờ cõi còn nhiều trộm giặc. Giặc Chiêm-thành khác nào chó dữ, cắn ở phía nam; giặc Lý-Anh khác nào cọp đói, ngầm ở phương tây-bắc. Ngô-Bệ như con ó, con diều, tuy mới giết xong; Đường-Lang tợ giống chuột hang, hãy còn ở đó. Sao không dùng cung của thánh-nhơn [nhân], gươm của thiên-tử, lấy nhơn [nhân]-nghiã làm đồ can qua, lấy trung-tín làm đồ giáp trụ, đặng mà đuổi trừ cướp giặc, cứu kẻ thứ dân. Nay bỏ việc lớn ấy không hỏi đến, mà chăm theo về việc săn bắn nhỏ nhen, dầu cho bắt được cầm thú chứa cao tầy núi, tôi thiết nghĩ cũng chẳng hay gì. Quí-Ly nghe Hồ nói phải lẽ lắm, mới hứa lời thôi việc sau. Hai người mừng rỡ, nhân rót chén rượu mời Quí-Ly, rồi uống rượu với nhau rất vui vẻ. Trong khi đó, hai người trò chuyện, thiệt [thật] là hùng biện cao đàm. Quí-Ly nói rằng: - Ta đã từng khi bẻ bác người nhà Minh, và dùng miệng lưỡi tranh luận với sứ Chiêm-thành, không có khi nào bị nhục, mà nay phải thua lời các ngươi, hay là các ngươi chính là giống sơn-yêu dã-quái, sao mà ăn nói lanh lợi dữ vậy? Viên, Hồ giận nói rằng: - Ông là tể-tướng, thấy có người tài-đức, nên phải tiến dẫn lên cho nhà nước dùng mới phải cho, chớ sao ông lại đố hiền tật năng như vậy? Quí-Ly thấy nói cứng cáp lắm, liền phải đổi sắc mặt làm dạng dịu dàng tạ lỗi mà nói an úy rằng: - Tôi coi đời nầy, không ai giỏi bằng hai người, vậy sao không bỏ nơi núp ẩn, ra mà giúp đời, khiến cho tỏ rạng công danh về đời sau? Nếu chết khô ở nơi rừng rú, thì ai còn biết đến cho. Hai người cười nói rằng: - Chúng tôi gởi mình nơi hang động, chơi bời chốn núi khe, ngủ thì đã có hoa cỏ làm chiếu nệm, khát thì đã có nước suối làm rượu ngon, bạn bè với đoàn hươu nai, tiêu khiển cùng nơi mây khói. Chỉ biết ngợi gió hát trăng làm vui thú, chẳng hề tham then danh khoá lợi mà bận mình. Nói đoạn, mỗi người ngâm chơi một bài thơ. Hồ ngâm rằng: Thảnh thơi suối biếc lại non xanh, Mùi tục xa mình áng lợi danh. Hang đá mặc dầu tình thỏa thích, Vòng trần khôn vướng gót tung hoành. Trời hôm say giấc nơi gò cổ, Đêm lạnh buồn nghe tiếng nước ghềnh. Mây khói biết đâu tìm giấu [dấu] tích,
  • 74.
    Vui vầy ngươitớ bạn đồng thanh. Viên ngâm rằng: Nghìn động muôn khe khắp mọi nơi, Đông tây mặc ý thỏa chơi bời. Mưa tuôn cảnh thú khi theo bạn, Gió giục cơn buồn lúc biếng chơi. Chiêng gác non Tương kêu đã mỏi, Ná giương đất Sở lụy còn rơi. Ta trong rừng rú ngươi trong động, Mừng được nương thân chốn thảnh thơi. Ngâm đoạn từ biệt. Quí-Ly sai người tiễn ra ngoài, và lén đi theo sau xem hai người ấy ở đâu, khi ra đến khoảng rừng thì thấy một người hoá ra con chồn và một người hoá ra con vượn mà đi mất. [1] Trăm hai nghĩa là đất Quan-trung hiểm trở, chỉ hai người giữ ải, có thể địch nổi trăm người. [2] Bọn Tiêu-Hà, Châu-Bột [3] Vua Sở Hoài-vương sai Tống-Nghiã làm thượng-tướng đem quân đi cứu nước Triệu, Hạng-vương giết đi mà cướp lấy quyền. [4] Tử-Anh là con vua Tần Thủy-hoàng, đã chịu hàng mà Hạng-vương giết đi. [5] Hàn-Sinh can Hạng-vương xin đóng đô ở Quan-trung, Hạng-vương không nghe. Hàn-Sinh chê Hạng-vương như con khỉ ướt biết đội mũ. Hạng-vương giận mà mổ Hàn-Sinh. [6] Vua Tần Thủy-hoàng làm ra cung A-phòng, liên tiếp hơn 300 dặm, Hạng-vương phá Quan-trung đốt cung ấy, lửa cháy 3 tháng mới tắt. [7] Đền thờ đức Khổng-tử ở làng Khúc-phụ, là làng chỗ ngài sinh ra. [8] Quốc-bổn là cội nước. Thái-tử thừa tự vào ngôi vua, quan hệ to lắm, ví như gốc cội nhà nước. [9] Tức là tỉnh Hưng-Yên bây giờ. [10] Tức là thành-phố Hà-nội bây giờ. [11] Đền Nghiêm nay ở về làng Phán-thuỷ. [12] Cầu Liễu-khê ở về làng Liễu-kiều, huyện Nam-xương, phủ Lý-nhân, bây giờ là tỉnh Hà-nam. [13] Nàng Dịch-An là con gái ngươi Lý-cách-Phi về đời nhà Tống, có tập thơ Thấu-ngọc truyền ở đời.
  • 75.
    [14] Nàng Ban-huệ-Cơlà con gái Ban-Siêu, ả Sái là con gái Sái-Giệm [Diệm], cùng ở về đời nhà Hán, có tiếng văn hay. [15] Lư-Đồng, Lục-Võ hai người thủa xưa tính hay thích trà. [16] Làng Thủy-hương là dưới Thủy-phủ. [17] Giải đồng-tâm là giải có viết hai chữ đồng-tâm để mà tỏ tình trung-tín với nhau. [18] Tuynh [tinh]-cung là cung điện Thủy-tuynh [tinh] ở dưới Thủy-phủ. [19] Liễu-Nghị là người thuở Đường Trung-tôn [tông] qua hồ Động-đình, có đưa dùm bức thư của con gái vua Hà-bá cho vua Hà-bá. Thiện-văn về thuở nhà Nguyên, hay chữ có tiếng, vua Hà-bá mời xuống chơi biển làm giúp bài văn. [20] Áo nạp là áo cà-sa của thầy chùa. [21] Nghĩa là đền Quình-hư, lầu Giao-quang. [22] Lò sưởi là lò lửa để cho hơi ấm. Sử Nam Chí Dị Các truyện trong Truyền Kỳ Mạn Lục được lược dịch ở Sử Nam Chí Dị NGUYỄN NAM sưu tuyển Nói về tích chuyện người liền [đàn] bà mắc oan tự vẫn Xưa ở huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nội, bây giờ thuộc về tỉnh Hà Nam, [1] có người con gái tên là Vũ Thị Thiết,[2] đẹp mà có nết na,[3] lấy chồng người làng tên là Trương sinh.[4] Tính ngươi ấy hay nghi hoặc. Nàng ấy thấy chồng thế, càng giữ gìn ý tứ. Vợ chồng lấy nhau chưa được bao lâu, nàng ấy có thai. Gần đến tháng đẻ, thì có giặc Chiêm Thành. Ngươi ấy phải ra lính, trẩy đi đánh giặc. Vừa được mười hai ngày thì nàng ấy đẻ ra một đứa con trai. Cách nửa năm, mẹ ngươi Trương sinh phải đau mà chết. Nàng ấy làm ma, làm chay cho mẹ chồng cũng như mẹ đẻ. Đến năm sau, giặc Chiêm đã tan, quân lính ở đâu về đấy. Ngươi Trương sinh về đến nhà, thấy mẹ mất rồi, mà con mới bập bẹ biết nói, muốn ẵm ra thăm mả mẹ, thì đứa con chỉ khóc, không chịu theo. Nó nói rằng, "Mọi khi cha tôi không biết nói, bây giờ ngươi lại biết nói, thì không phải là cha." Ngươi ấy mới hỏi làm sao. Nó nói rằng, "Đêm nào cũng thấy cha tôi lại đây, mẹ tôi đi thì cũng đi, mẹ tôi ngồi thì cũng ngồi."
  • 76.
    Ngươi ấy nghecon nói, ngờ vợ có tình riêng mấy [với] ai, đêm ngày chửi mắng. Làng nước, họ hàng, ai can cũng không nghe. Nàng ấy phẫn chí, ra sông Hoàng giang[5] tự vẫn. Ngươi ấy tìm đâu cũng chẳng thấy. Đến đêm đốt đèn ngồi nghĩ, chợt thấy đứa con chỉ [6] vào bóng mình bảo rằng, "Kià, cha tôi đã lại kià." Hỏi ra mới biết rằng lúc vợ ở nhà một mình, con hỏi cha, thì chỉ [7] vào bóng mình, nói giỡn [8] con là cha nó. Sau nghe thấy người ta nói, nàng ấy tự vẫn ở sông Hoàng giang, ngươi ấy mới lập đàn giải oan ở bên sông ấy. Cúng ba đêm ngày, phắt[9] thấy ở giữa sông có chín mươi[10] cỗ xe, cờ quạt rợp bóng.[11] Nàng ấy ngồi trên xe,[12] nói rằng, "Giã ơn chàng có lòng giải oan cho tôi, nhưng mà[13] đấng thượng đế thương tôi là người tiết nghiã, đã cho tôi ở trên cung tiên." Nói vừa xong, rồi biến mất.[14]
  • 77.
    Nói về tíchchuyện người phải lòng ma Đời vua Thái Tông nhà Lê,[15] ở phủ Thiên Trường,[16] bây giờ thuộc tỉnh Nam Định, có một người học trò tên là Hà Nhân Giả,[17] theo thầy lên học ở kinh sư. Buổi nào đi học về cũng thấy hai người con gái đẹp đứng ở trong vuờn cũ nhà quan thái sư, cười nói hớn hở, lúc thì lấy quả cho, lúc thì lấy hoa ném. Người ấy hỏi rằng là ai. Hai người con gái nói rằng, "Chúng tôi là con hầu quan thái sư, tên là Liễu Nhũ Nương, với Đào Hồng Nương. Từ khi quan thái sư mất, vẫn giữ dấu thơm. Nay gặp nhà thầy, xin kết làm bạn." Ngươi ấy thuận, mới đưa nhau về nhà trọ, thi từ, gian díu, tuy chửa lấy nhau, cũng như vợ chồng. Từ đấy hai người con gái, sớm về vườn, tối lại đến. Hôm rằm tháng giêng, hai người con gái mời ngươi ấy lại chơi nhà. Nhân đêm sáng trăng, giải chiếu ở trong vườn, bày những đồ rượu bánh, hoa quả, mời ngươi ấy xơi. Lại thấy một lũ con gái đến mừng, nói tên là họ Vi, họ Lý, họ Mai, họ Dương, họ Kim, họ Thạch; trời gần sáng, đều về cả. Được và [vài] tháng, cha mẹ cho gọi về để cưới vợ cho. Ngươi ấy về, chối chưa chịu lấy, lại lên kinh sư,[18] ngày thì đi học, tối lại chơi bời với hai nàng ấy. Một hôm ngươi ấy đi học về, thấy hai nàng ấy ngồi chỗ vườn khóc, mới hỏi làm sao. Hai nàng ấy nói rằng, "Chúng tôi chỉ độ đêm hôm nay, lúc nào gió to thì chết. Xin đưa hai đôi hài hạt châu này để nhà thầy làm khuây." Ngươi ấy ngậm ngùi về nhà trọ, đến nửa đêm, thấy mưa gió ầm ầm, mới sang nói chuyện thực mấy [với] ông láng diềng.[19] Ông ấy nói rằng, "Thôi người nhầm rồi! Từ khi quan thái sư mất, thì đã hơn hai mươi năm nay, không có ai ở đấy. Sao bây giờ lại có nhiều người như thế? Hẳn là giống yêu tinh!" Đến sáng ngày cùng nhau ra chỗ vườn ấy xem, chỉ thấy mấy toà nhà nát, với lại cây đào, cây liễu gãy đổ. Ông ấy mới chỉ bảo ngươi ấy rằng, "Này đây là con Đào, con Liễu. Còn lũ bạn nói rằng họ Kim, ấy là hoa cúc kim tiền, họ Thạch là cây thạch lựu, họ Lý là cây mận, họ Mai là cây mơ, họ Vi là cây tường vi, họ Dương là cây dương, đều mượn tên cây mà đặt làm tên họ." Ngươi ấy mới tỉnh biết, trở về lấy hai đôi hài ra xem, thì thấy những lá non cả.[20]
  • 78.
    Nói về sựtích ngươi Hồ Quý Ly mắc lý con cáo với con vượn Đời vua Phế Đế[21] nhà Trần[22] cùng với ngươi Quý Ly[23] đi săn, gặp phải mưa tuyết, không về được, đỗ[24] thuyền ở sông Đà giang, đêm mở tiệc rượu. Lúc bấy giờ có con cáo với con vượn tinh nói chuyện ở dưới chân núi gần đấy. Con cáo bảo con vượn rằng, "Vua tôi nhà Trần đem quân vào săn chỗ núi này là chỉ chăm vào lũ ta. Ví không mưa gió,[25] thì hai chúng ta chẳng mắc đạn cũng phải tên. Mày sao chẳng cùng với tao đi ra mà kêu để vua đừng vào săn đây nưã." Con vượn nói rằng, "Chỉ sợ người ta biết mình thì khốn cả!" Con cáo lại nói rằng, "Ở đấy chỉ có ngươi Quý Ly là giỏi, nhưng mà học cũng chưa rộng, tất nhiên cũng không biết ta được." Con vượn thuận tai. Hai con mới hoá ra hai người: con vượn giả làm tú tài họ Viên, con cáo giả làm xử sĩ họ Hồ. Đến chốn vua đóng quân, tâu rằng, "Chúng tôi nghe nhà vua có đức tốt, thì những loài cầm thú được hòa thuận. Bây giờ đang lúc thái bình, sao nhà vua chẳng kén kẻ hiền tài để giúp nước, trị dân, mà lại chăm việc săn bắn?" Bấy giờ vua đã mỏi muốn đi nghỉ, sai ngươi Quý Ly ra tiếp. Ngươi ấy mời hai người lên thuyền ngồi, mà nói rằng, "Việc săn bắn cũng là phép đời xưa, sao nên bỏ?" Hồ xử sĩ thưa rằng, "Bẩm quan lớn, đời xưa đi săn là những lúc dân làm ruộng xong rồi, trước là đuổi những con tê, con tượng, khỏi làm hại dân; sau thì tập võ. Nay đang mùa hè mà để dân nhọc nhằn là không phải thì; dẫm nát lúa để bắt loài vật là không phải chốn; tát cạn đầm, đốt cháy núi là không phải nhẽ [lẽ]; [26] sao quan lớn chẳng can vua trở về để giống người, giống vật đều được bình yên?" Ngươi Quý Ly nói rằng, "Nghe đây có con vượn với con cáo thành tinh, cho nên muốn săn mà trừ nó đi để nó khỏi quấy dân, không cốt gì việc đi săn." Hồ xử sĩ với Viên tú tài nghe nói, trông nhau mủm mỉm cười. Ngươi Quý Ly hỏi cớ sao mà cười thế. Hồ xử sĩ mới nói ra rằng, "Bẩm quan lớn, con sài, con lang đứng chắn đường sao chẳng hỏi, mà lại hỏi con cáo cùng con vượn làm gì?" Ngươi Quý Ly lại hỏi rằng, "Nhà ngươi nói thế là nghiã làm sao?" Hồ xử sĩ thưa rằng, "Bẩm quan lớn, giặc Bồng Nga[27] như chó dại cắn ở cõi đông nam; giặc Lý[28] như hổ đói, kêu ở phương tây bắc, mà nhà vua bỏ chẳng xét đến, cứ chăm chăm những việc săn bắn, dẫu được cầm thú chất cao bằng núi, thì chúng tôi cũng không dám khen!" Ngươi Quý Ly nghe nói phải nhẽ [lẽ], nhận lời, rồi mời uống rượu. Hai người uống say, từ tạ xin về. Ngươi Quý Ly nghi tình, mới sai người đi theo dò xem. Đến giữa rừng, thấy hai người ấy hóa ra một con cáo, một con vượn chạy mất. Ngươi Quý Ly trót nhận lời, mới tâu vua đem quân về.
  • 79.
    Nói về tíchchuyện người sống làm tướng ma Cuối đời nhà Trần ở phủ Quốc Oai[29] có một người học trò tên là Văn Dĩ Thành, tính ngay thẳng, bạo dạn, không sợ những ma quỷ. Bấy giờ nhà Trần loạn, thiên hạ chết nhiều lắm. Những hồn người chết oan họp thành một lũ, cứ quấy dân[30] hại lắm, không ai phép nào trừ được. Ngươi Văn Dĩ Thành nghe tiếng đồn, mới cưỡi ngựa đi xem. Lũ ma đang ngồi ăn uống, trông thấy ngươi ấy đến, sợ chạy tan cả. Ngươi ấy gọi bảo, "Ta thấy chúng bay chẳng may[31] mà chết oan, ta đến chơi hỏi chuyện." Lũ ma mới trở lại, mời người ấy ngồi trên nói chuyện. Ngươi Dĩ Thành hỏi, - Sao chúng bay cứ hay hại người ta? - Thưa ông, chúng tôi bắt để thêm cho nhiều quân. - Quân chúng bay nhiều thì làm gì? Hại người ta chết, lấy ai cúng cho mà ăn? - Thưa ông, vì đời nhà Trần nay sắp biến, cho nên đổi người, đổi vật. Tại thế dưới âm ty không cấm chúng tôi. Năm nay còn hại vừa, sang năm còn hại hơn nữa. Ngươi Văn Dĩ Thành nói rằng,[32] - Đã đành vận trời như thế, nhưng mà chúng bay làm việc gì cho nó có chừng, không nên hại người ta quá. Lũ ma thấy ngươi ấy có uy vọng,[33] ngay thẳng, có nhân đức, mới xin bầu làm tướng. Ngươi ấy cười nói rằng, - Ta văn hay, võ giỏi, dẫu làm tướng chúng bay cũng được; nhưng mà dương gian, âm phủ cách nhau, vả lại còn mẹ già, thì làm sao? - Thưa ông, chúng tôi chỉ xin ông dạy bảo cho uy nghiêm, kỷ luật. - Có dùng ta làm tướng thì phải theo hiệu lệnh ta, hễ lỗi thì không được. Lũ ma thuận cả, xin nghe lời. Từ đấy có việc gì cũng phải trình ngươi ấy, dân mới được đỡ hại. Độ hơn một tháng, lũ ma nói, - Bây giờ vua dưới âm ty đặt ra bốn bộ Dạ Thoa, kén[34] mỗi bộ một người tướng. Chúng tôi đã bầu ông thì không nên từ. Ngươi ấy nói, - Đã gọi là người trượng phu, thì ta cũng làm để tiếng về sau. Liền về nói với mẹ, dặn việc cửa nhà, rồi chết đi làm tướng. Bấy giờ ngươi Dĩ Thành có bạn tên là Lê Ngộ, đi dậy học ở huyện Quế Dương.[35] Ngươi ấy cưỡi ngựa đến chơi đấy, nói chuyện, - Bây giờ tôi làm quan ôn, coi việc dịch lệ từ sông Trường giang[36] về phương bắc. Tôi xem trong sổ thấy nhà anh phải nạn cả, tôi đến bảo anh để anh về, hễ có việc gì thì bày nhiều cỗ ở giữa sân mà lễ. Ngươi Lê Ngộ nghe nói, về ngay, thấy ở nhà vợ con phải đau cả, liền làm cỗ bày ra sân. Một chốc thấy lũ ma kéo đến ăn. Ăn gần xong, ngươi Lê Ngộ ra lạy mãi, thấy quân bàn nhau rằng,
  • 80.
    - Hẳn ngườinày là chủ có cỗ, chả có nhẽ [lẽ] ăn một bữa mà trừ năm nhân mệnh. Người tướng bảo, - Thôi đã trót ăn rồi thì cứu cho người ta. Mới mở sổ, lấy bút son xóa mười chữ, rồi kéo quân đi. Được và [vài] hôm, nhà ngươi Lê Ngộ khỏi cả. Nhớ ơn ngươi Dĩ Thành, đặt tĩnh thờ. Sau dân làng đến cầu việc gì cũng được, mới lập đình thờ làm thành hoàng. Đình ấy bây giờ vẫn còn, ở làng Thượng Hội, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức,[37] tỉnh Hà Nội. Nói về sự tích ngươi Từ Thức Đời nhà Trần ở tỉnh Thanh Hoá có ngươi Từ Thức, làm quan tri huyện Tiên Du.[38] Chùa bên huyện ấy có hội hoa mẫu đơn, hễ đến mùa hoa ấy nở thì các phương xe ngựa đến xem. Tháng hai năm bính tý, giáp thứ sáu mươi hai, có người con gái đẹp lắm, độ mười lăm, mười sáu tuổi, đến xem hội, vô ý đánh gãy một cành hoa, phải bắt. Trời đã gần tối mà chưa có ai nhận. Ngươi Từ Thức cũng đi xem hội, trông thấy thương tình, mới cởi áo gấm đền cho nhà sư để tha người con gái ấy đi. Vốn tính ngươi Từ Thức hay uống rượu, gảy đàn, ngâm thơ, chơi cảnh, không chăm việc quan, phải quan trên quở, mới trả ấn, từ quan, về ở nhà bên núi huyện Tống Sơn.[39] Có một ngày trở dậy, trông ra cửa bể Thần Phù[40] phỏng độ và [vài] mươi dặm, thấy năm thức mây mọc tròn như hoa sen,[41] mới xuống thuyền ra xem; thấy núi đứng thẳng như vách, cao ước chừng ngàn trượng, mới trèo lên , lấy bút đề thơ vào đấy. Xịch thấy vách đá mở ra một cửa hang tròn. Ngươi ấy mới bước vào và [vài] bước thì cửa hang đóng chặt lại, tối u tối mịt.[42] Sợ hãi tay sờ chân dò, thấy có lối khúc khuỷu, lần lần lên đến đỉnh núi, lại thấy mặt trời sáng tỏ; mà ở chỗ ấy có những lầu đài. Chợt gặp hai người con gái, mặc áo xanh ra mời. Ngươi ấy theo vào cung, thấy tường gấm, cửa son, giường ngọc, chiếu ngà, có một bà tiên mặc áo gấm trắng, ngồi trên giường, bên cạnh giường đặt đèn hương,[43] cho người ấy ngồi. Bà tiên hỏi chuyện một lúc, mới gọi một người con gái ra, chỉ bảo rằng,[44] "Nàng này là con gái ta, tên là Giáng Hương, ngày trước có xuống xem hội hoa mẫu đơn, đánh gãy cành hoa. May gặp được ngươi cứu cho, bây giờ ta gả nó cho ngươi để đền ơn ấy." Mới làm lễ cưới, mời những tiên các động đến ăn mừng, muá hát vui vẻ. Ngươi ấy ở trên cung tiên, thấm thoát đã được một năm, nhớ nhà, nói với nàng Giáng Hương rằng, "Cho tôi xuống thăm nhà để chơi với bè bạn, độ và [vài] tháng rồi tôi lại lên." Nàng ấy khóc, nói rằng, "Tôi không dám lấy tình vợ chồng mà ngăn giữ chàng, nhưng mà bây giờ cửa nhà chàng ở hạ giới không còn như trước nữa." Ngươi ấy không nghe, cứ
  • 81.
    vào tâu vớibà phu nhân. Bà ấy nói rằng, "Chẳng ngờ nhà ngươi còn nhớ cõi trần như thế." Mới cho một bức gấm, với một cỗ xe để đi về. Nàng Giáng Hương tiễn một phong thư nhiễu, gạt nước mắt đưa người ấy lên xe. Đi một chớp mắt[45] đã xuống đến nơi. Thấy cửa nhà, làng nước chẳng còn gì như cũ, mới đem tên họ mình hỏi các ông già. Có một ông nói rằng, "Lúc tôi còn bé, nghe nói có ông tổ ba đời cũng gọi tên thế, lên chơi núi, sa vào hang, không thấy về đã hơn tám mươi năm. Bấy giờ là cuối đời nhà Trần. Bây giờ là đời thứ ba vua nhà Lê." Ngươi ấy thấy thế lại muốn trở lên cung tiên, thì cỗ xe cưỡi dưới hóa con chim loan bay đi mất. Ngươi ấy mới mở phong thư ra xem, thấy trong có thư nói rằng, "Duyên chỉ có thế mà thôi - Đã xuống thì lên không được nữa." Ngâm ngợi đi vào núi Hoàng sơn biệt mất. Núi ấy bây giờ ở xã Hoàng sơn, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. Nói về sự tích người liền [đàn] bà có nghĩa Xưa ở phủ Khoái Châu[46] có một người con gái con quan họ Từ, tên là nàng Nhị Khanh, lấy con trai quan thiêm thư,[47] tên là Phùng Trọng Quỳ. Được mấy năm, ngươi Trọng Quỳ phải theo cha trẩy đi đánh giặc ở tỉnh Nghệ An. Đã năm sáu năm chưa thấy về, nàng ấy ở nhà, cha mẹ đều mất; làm ma làm chay rồi về quê, ở với bà cô. Bấy giờ có một người cháu chồng bà cô, làm quan tướng quân. Người ấy thấy nàng ấy xinh đẹp muốn lấy. Bà cô cũng toan ép gả, dỗ dành mãi, nàng ấy nhất định không theo, mới sai người vào tỉnh Nghệ An tìm chồng. Người ấy tìm đến nơi thì thấy ngươi Trọng Quỳ cha đã mất, mà tính quen chơi bời, cờ bạc, phá hết của cải, ăn mặc rách ruới, mới bảo về. Ngươi ấy về đến nhà, hai vợ chồng mừng rỡ, chuyện trò, than thở với nhau. Sau sinh được hai đứa con trai. Ngươi Trọng Quỳ quen tính, lại làm bạn với người lái buôn giàu có, tên là Đỗ Tam, chỉ chơi rượu chè, cờ bạc như truớc. Nàng ấy ngăn giữ không được. Đỗ Tam thấy vợ ngươi ấy đẹp, muốn lừa để lấy; làm tiệc rượu mời ngươi ấy, mới đặt một triệu quan tiền, làm cuộc để đánh bạc, bảo ngươi ấy rằng, "Không có tiền thì lấy vợ đặt cuộc." Hai người cùng thuận, làm tờ giao với nhau rồi, thì người Trọng Quỳ đánh ba tiếng bạc thua cuộc, ngồi sầm[48] mặt lại, ngất đi một lúc. Mới gọi vợ đến, đưa tờ cho xem. Nàng ấy thấy thế là sự đã trót rồi, không thế nào mà lo được tiền, mới cười gượng chịu nhận, rồi xin về chơi với con một chốc. Ngươi Đỗ Tam được cuộc, mừng lắm, thuận lời. Nàng ấy về than thở với hai đứa con, rồi lấy khăn thắt cổ tự vẫn. Ngươi Trọng Quỳ thương nhớ lắm, làm ma, làm chay cho nàng ấy. Sau có một mình, kiếm ăn không đủ, túng bấn lắm, sực nhớ có bạn cũ làm quan ở châu Quy Hoá - bây giờ là phủ Quy Hoá, tỉnh Hưng Hoá- mới tìm đi. Đến nửa đường mỏi chân, vào gốc cây nghỉ, thấy tiếng người văng
  • 82.
    vẳng[49] như nàngNhị Khanh, nói rằng, "Có phải là chàng Trọng Quỳ thì mời ngày nữa phải đến đền bà Trưng vương, ở huyện Phúc Lộc, xã Hát Môn[50] mà đợi lòng ơn." Trông lên thì chỉ thấy áng mây,[51] đem đi sang phương tây bắc, lấy làm lạ. Theo lời hẹn, đến đền ấy ngồi đợi. Sang canh ba, nàng Nhị Khanh hiện lên, than khóc, trách rằng, "Cảm ơn chàng lắm, không biết lấy vật gì mà đưa được." Ngươi ấy xin chịu lỗi, mới dò hỏi chuyện. Nàng ấy nói rằng, "Từ khi tôi mất, trời thương có nghĩa, cho ở đền Nghiêm Từ,[52] chức giữ tờ tâu. Hôm nọ đi làm mưa, gặp thấy chàng, mới hẹn như thế để nói chuyện, không thì chẳng biết bao giờ được gặp nhau nữa. Nhân nghe thấy các tiên bàn rằng, nhà Hồ gần hết vận, đến năm bính tuất loạn to, thì có ông Lê Lợi ở đất Lam sơn, tỉnh Thanh Hoá, ra dẹp loạn làm vua. Chàng cứ về nuôi dạy hai con để sau cố theo ông ấy." Nói vừa xong, trời gần sáng, mới biến đi. Ngươi Trọng Quỳ theo lời, trở về ở vậy, cứ nuôi dạy hai con. Đến khi hai đưá con khôn lớn, gặp thời ông Lê Lợi ra mở nước, mới bảo hai con đem quân theo. Rồi ông ấy lên làm vua, ấy là vua Lê Thái Tổ, thì hai đứa con ấy được làm quan đến chức nội thị. Nay vẫn còn dòng dõi ở phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. CHÚ THÍCH [1] Bây giờ thuộc về tỉnh Hà Nam : Sách Quảng Tập Viêm Văn không ghi đoạn này vào chính văn, nhưng lại tách ra thành một chú thích. Xem Quảng Tập Viêm Văn, sđd., trg. 16, chú thích 1. [2] Quảng Tập Viêm Văn chú "Vũ Thị Thiết - một phụ nữ Việt Nam sinh vào thế kỷ 14 công lịch. Lòng trinh liệt điển hình cuả nàng, việc nàng tuẫn tiết do chồng bất công ngược đãi đã khiến nàng nổi tiếng." (trg. 289) [3] Quảng Tập Viêm Văn : đẹp đẽ, có nết na (trg. 16). [4] Quảng Tập Viêm Văn chú "Chương-xinh [Trương sinh] - một nhân vật Việt Nam, sinh vào thế kỷ 14 sau công nguyên." (trg. 182) [5] Quảng Tập Viêm Văn chú "Hoàng giang - tên cũ của sông Hồng." (trg. 195) [6] Quảng Tập Viêm Văn : chỏ (trg. 16) [7] Quảng Tập Viêm Văn : chỏ (trg. 16) [8] Quảng Tập Viêm Văn : bỡn (trg. 16) [9] Quảng Tập Viêm Văn : phút (trg. 16) [10] Quảng Tập Viêm Văn : sáu mươi (trg. 16) [11] Quảng Tập Viêm Văn : lấp loáng (trg. 16) [12] Quảng Tập Viêm Văn : ngồi xe (trg. 16) [13] Quảng Tập Viêm Văn : nhưng mà bây giờ (trg. 16) [14] Quảng Tập Viêm Văn : Nói vưà song [xong] biến mất (trg. 16) [15] Quảng Tập Viêm Văn chú "Thái tôn [tông] (vua) - vua nước Việt đời nhà Lê, con vua Lê Thái Tổ, trị vì từ năm 1434 đến 1443 sau công nguyên." (trg. 268)
  • 83.
    [16] Quảng TậpViêm Văn chú "Thiên trường - tên cũ cuả ty (département) Suân [Xuân] trường." (trg. 274) [17] Quảng Tập Viêm Văn chú "Hà nhân giả - học trò Việt Nam sinh vào thế kỷ 15 sau công nguyên." (trg. 194) [18] Quảng Tập Viêm Văn : kinh đô (trg. 18) [19] Quảng Tập Viêm Văn : mấy ông cụ láng-diềng (trg. 18) [20] Quảng Tập Viêm Văn : thì thấy dặt [rặt] lá non cả (trg. 19) [21] Quảng Tập Viêm Văn chú "Phế đế (vua) - vua Việt Nam đời nhà Trần, trị vì từ 1378 đến 1390." (trg. 252) [22] Quảng Tập Viêm Văn : Xưa, vua Phế Đế, nhà Trần (trg. 22) [23] Quảng Tập Viêm Văn chú "Quý Ly - tên tắt cuả Lê Quý Ly, đại thần Việt Nam, người lật đổ triều Trần và lên ngôi năm 1402 sau công nguyên, dưới tên là Hồ Quý Ly. Năm sau, ông nhường ngôi cho một trong những người con cuả mình. Cả hai sau bị quân Trung quốc bắt và chết trong khi bị lưu đày ở Trung Hoa." (trg. 257) [24] Quảng Tập Viêm Văn: đậu (trg. 22) [25] Quảng Tập Viêm Văn : Ví không có mưa gió (trg. 22) [26] Quảng Tập Viêm Văn : lễ (trg. 23) [27] Quảng Tập Viêm Văn chú "Bồng Nga - thái tử Chiêm Thành, xâm lược Việt Nam vào năm 1378 sau công nguyên và bị Quý Ly đánh bại." (trg. 176) [28] Quảng Tập Viêm Văn chú "Lý (giặc) - gọi tắt cuả Lý Anh." Giặc Lý Anh chỉ quân Trung Quốc do tướng Lý Anh chỉ huy, năm 1385 mượn cớ đánh Chiêm Thành hòng xâm lược nước ta (trg. 209). [29] Quảng Tập Viêm Văn : Quốc Uy (trg. 27). Quảng Tập Viêm Văn cũng chú thêm rằng, "Quốc uy (phủ) - thủ phủ tỉnh Sơn Tây." (trg. 257) [30] Quảng Tập Viêm Văn : cứ đi quấy dân (trg. 27) [31] Quảng Tập Viêm Văn : chẳng bay chúng may (trg. 27) [32] Quảng Tập Viêm Văn (trg. 28) không có đoạn này. [33] Quảng Tập Viêm Văn: thấy ngươi ấy uy vọng (trg. 28) [34] Sử Nam Chí Dị: hiện (trg. 35b); Quảng Tập Viêm Văn: kén (trg. 28) [35] Quảng Tập Viêm Văn chú "Quế dương (huyện) - một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh." (trg. 257) [36] Quảng Tập Viêm Văn chú "Tràng giang - tên cũ cuả sông Hồng. Tên ngày nay là Nhĩ hà." (trg. 282) [37] Quảng Tập Viêm Văn không chép “phủ Hoài Đức” (trg. 28). [38] Quảng Tập Viêm Văn chú "Tiên du (huyện) - một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh." (trg. 279) [39] Quảng Tập Viêm Văn chú "Tống sơn (huyện) - một huyện thuộc tỉnh Thanh Hoá." (trg. 281) [40] Quảng Tập Viêm Văn chú "Thần phù (cửa bể) - cưả biển thuộc tỉnh Thanh Hoá." (trg. 270) [41] Quảng Tập Viêm Văn: như chiếc hoa sen (trg. 29) [42] Quảng Tập Viêm Văn: tối mù tối mịt (trg. 29) [43] Quảng Tập Viêm Văn: bên cạnh đặt giường đàn hương (trg. 29)
  • 84.
    [44] Quảng TậpViêm Văn: trỏ bảo rằng (trg. 29) [45] Quảng Tập Viêm Văn: nháy mắt (trg. 30) [46] Quảng Tập Viêm Văn chú "Khoái châu (phủ) - một phủ thuộc huyện Hưng Yên." (trg. 200) [47] Quảng Tập Viêm Văn chú "thiêm thư (quan) - thư ký viện cơ mật dưới triều Trần." (trg. 274) [48] Quảng Tập Viêm Văn: ngồi sám [xám] mặt lại (trg. 34) [49] Quảng Tập Viêm Văn: nghe văng vẳng thấy tiếng (trg. 34) [50] Quảng Tập Viêm Văn chú "Hát môn (sã [xã]) - một xã thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây." (trg. 194) [51] Quảng Tập Viêm Văn: đám mây (trg. 34) [52] Quảng Tập Viêm Văn chú "Nghiêm từ (đền) - Khổng miếu toạ lạc ở xã Hát môn, huyện Phúc thọ, tỉnh Sơn Tây, thờ bà Trưng Trắc và Trưng Nhị." Tình Sử Việt Nam Dịch giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện NGUYỄN NAM sưu tuyển Trương-sinh (Tình hám) Đời nhà Trần, Trương-sinh người ở huyện Nam-xang (Hà-nam) vốn nhà giầu có. Cùng làng có cô con gái tên là Vũ-thị Thiết, người đẹp và tính nết thùy-mỵ. Trương-sinh đem lòng yêu, xin với mẫu-thân đem trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ. Song Trương-sinh có tính hay ghen, đối với vợ phòng giữ một cách quá đáng. Nàng Vũ-thị cũng biết giữ khuôn phép, không để lần nào vợ chồng phải thất hoà. Đương khi chăn ấm gối êm, chợt nhà nước có việc đi đánh Chiêm- thành, tuyển đến nhiều lính tráng. Sinh tuy nhà giầu, nhưng vì ít học, đã sẵn có tên trong sổ lính, phải gọi ra sung binh loạt đầu. Lúc lâm-hành, nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà nói: - Lang-quân đi chuyến này thiếp chả dám mong chờ một quả ấn hầu. Chỉ xin ngày về, đem theo được hai chữ bình an, ấy là vui thỏa cho thiếp lắm. Chỉn e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường, ngày tháng lữa lần, tin hơi xa cách. Gió tây nổi không đường hồng tiện, xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa. Màn mưa trướng tuyết xông pha, nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài...Vì chàng lệ thiếp rỏ [nhỏ] đôi, vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề...
  • 85.
    Nói đến đấy,nàng ứa hai hàng nước mắt; chàng cũng không sao cầm lệ được. Sau khi tiễn chồng lên đường được mươi ngày, Vũ-thị lâm sản, vì lúc ấy nàng đương có mang. Đứa con trai sinh ra, đặt tên là Đản. Ngày qua tháng lại, thoắt nửa năm giời [trời]. Mỗi khi thấy bướm bay vườn thúy, mây ám non tần, nỗi sầu kẻ ở ngưòi đi, đè lấn xuống mình nàng nặng trĩu. Bà lão-mẫu cũng vì nhớ con sinh ốm. Nàng hết lòng thuốc thang chạy chữa, và khuyên lơn mọi cách để mẹ khuây lòng. Song bệnh-thế bà cụ mỗi ngày một nguy; một hôm bà giối giăng [trối trăng] với nàng: - Người ta sống chết đều có số. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, cùng vui sum họp. Song số tận mình cùng, dầu khan bức [bấc] hết, tấm thân tàn héo, nguy ở sớm chiều. Chồng con xa xăm, chẳng về kịp gặp mẹ trong giờ vĩnh quyết, đó là điều thắc mắc của mẹ. Mẹ mong rằng sau đây trời giúp người lành, ban cho phúc trạch, chồng con được yên ổn sớm về để vợ chồng sum họp, con cháu đông đàn. Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ. Bà cụ nói xong rồi mất. Nàng xót thương than khóc, mọi việc ma chay tế lễ, lo liệu chu-đáo như đối với cha mẹ ruột. Xóm làng đều khen Vũ-thị là một người dâu hiền. Sau vài năm, quân ta thắng trận trở về. Trương-sinh về tới nhà thì mẹ đã từ trần, con vừa học nói. Cái vui sum họp của vợ chồng chưa bù được với cái buồn mất mẹ. Chàng hỏi mồ mẹ rồi bế đứa nhỏ đi thăm, trong khi người vợ bận vào bếp làm cơm. Ra đến đồng, thằng Đản quấy khóc; sinh dỗ dành: - Nín đi con, con đừng khóc nữa. Cha về đến nhà, bà đã mất, cha đương buồn khổ lắm rồi. Thằng Đản nín rồi thơ-ngây hỏi: - Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, không như cha tôi trước chỉ nín thin-thít. Sinh ngạc nhiên, gạn hỏi. Thằng Đản nói: - Khi ông chưa về đây, thường vẫn có một người, đêm nào cũng đến nhà Đản, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả. Tính sinh vốn hay ghen, nghe thấy đưá con nói vậy, cho ngay là mấy năm mình vắng, vợ đã đem tình yêu chia sẻ [xẻ] cho một người nào. Máu tức xông lên, liền về nhà gọi vợ, mắng nhiếc tàn tệ. Vũ-thị khóc lóc và nói: - Vợ chồng lấy nhau, sum họp chưa bao lâu đã phải chia cách. Từ khi chàng đi xa vắng, thiếp vẫn giữ một lòng ngay sạch, nuôi con và chờ chồng. Son phấn không tô, buồng the nhặt khóa. Đâu có sự hư thân mất nết như lời chàng nói. Mong chàng xét rõ mà chẳng nỡ nghi oan như vậy. Song mối ngờ vực đã in sâu trong lòng, sinh không vì mấy lời nói của nàng mà cởi ra được. Nàng khóc hỏi từ đâu có chuyện ấy. Nhưng sinh
  • 86.
    không chịu nói,chỉ thường mắng nhiếc, sỉ vả và đánh đập, đuổi đi. Họ hàng làng xóm đều thương nàng bị chồng ngờ oan, hết sức bênh-vực và biện-bạch cho nàng, nhưng chẳng ăn thua gì cả. Bất-đắc-dĩ, nàng nói: - Vợ chồng ở với nhau, cốt ở sự lửa hương đầm-ấm. Nay cái án oan của thiếp đã thành ra thiết-án. Coi nhau như cừu-địch, khinh nhau như đất bùn, còn ở với nhau sao được nữa. Sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, đời thiếp đến thế là xong rồi! Đoạn nàng tắm gội sạch sẽ, ra bến Hoàng-giang, ngửa mặt lên giời [trời] kêu than rằng: - Kẻ bạc-mệnh này, số phận hẩm hiu, chồng con dẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu là một kẻ đoan trang trinh bạch, xin cho vào nước hoá làm ngọc Mỵ-Nương, xuống đất hóa làm cỏ Ngu-Mỹ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, chẳng những là chịu khắp mọi người phỉ hổ. Nói xong, nàng gieo mình xuống sông tự tận. Sinh tuy giận vợ thất tiết, nhưng thấy nàng tự tận, cũng động lòng thương. Từ đấy, sinh phòng không vắng vẻ, gà trống nuôi con. Một đêm kia, đương lúc cùng đứa con ngồi buồn dưới đèn, chợt đứa con nói: - Ô! Cha Đản lại đến đây rồi! Sinh hỏi đâu. Thằng Đản trỏ vào bóng sinh ở trên vách: - Đây này! Cha của Đản đây này! Thì ra khi chồng vắng, Vũ-thị vẫn đùa trỏ bóng mình bảo là cha Đản. Bấy giờ Trương-sinh mới giật mình tỉnh ngộ, thương vợ bị ngờ vực một cách oan khốc, hối hận và đau xót không biết chừng nào, bèn lập một đàn-tràng giải oan ở bên sông, tụng kinh siêu-độ. Về sau, người ta thương Vũ-thị trinh tiết mà phải thác oan, lập miếu ở bên sông để thờ. Đời Lê, vua Thánh-Tôn [Tông] ngự du qua sông Hoàng-giang có đề miếu Vũ-thị một bài thơ rằng: Nghi-ngút đầu ghềnh tỏa khói hương, Miếu ai như miếu vợ chàng Trương. Ngọn đèn dù tắt đừng nghe trẻ, Làn nước chi cho lụy đến nàng. Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt, Giải oan chi mượn đến đàn tràng. Qua đây mới biết nguồn cơn ấy, Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng. Chuyện nàng Túy-Tiêu
  • 87.
    Người đất Kiến-hưng,Dư Nhuận-Chi tên là Tạo-Tân, có tiếng hay thơ; nhất là về những bài hát, lại càng nức danh ở kinh-kỳ, mỗi bài làm ra, phường hát bội đem tiền tặng biếu rất hậu để xin lấy. Nhân thế, Dư càng nổi thanh-giá ở chốn tao-đàn. Cuối đời Thiệu-phong nhà Trần, Dư nhân có việc, vào yết-kiến quan Trấn-soái Lạng-giang là Nguyễn Trung-Ngạn. [1] Ông Nguyễn thấy Dư đến, lật đật chạy ra tiếp, đặt tiệc ở Phiếm-bích- đường thết đãi, gọi mười mấy người con hát ra hát múa ở trước tiệc. Trong bọn con hát ấy có ả Túy-tiêu là người rất xinh đẹp. Ông Nguyễn đùa bảo Dư-sinh rằng: - Ấy tùy ngài kén chọn trong bọn ấy, hễ bằng lòng ai thì tôi xin tặng cho. Rồi âm nhạc nổi lên. Sinh ngâm một bài thơ sau này: Liên hoa đóa đóa ỷ hồng hàm, Tằng đối tiên gia ngọc chủ đàm, Túy trẩm tiêu y hô đắc khởi, Sổ thanh hảo xướng vọng giang-nam [Giang-nam]. Dịch: Hoa sen đóa đóa rỡ-ràng tươi, Góp mặt nhà tiên lúc nói cười. Áo lụa say nằm nghe gọi dậy, Giang-nam một khúc quyến hồn người. Ông Nguyễn cười bảo Túy-Tiêu rằng: - Thầy đồ để ý vào nàng[2] đấy. Sinh hôm ấy uống rượu rất say, mãi đến đêm khuya mới tỉnh, đã thấy nàng Túy-Tiêu ở cạnh, cảm ơn ông Nguyễn không biết chừng nào. Sáng hôm sau sinh vào tạ ơn ông Nguyễn để về, ông Nguyễn bảo rằng: - Ả ấy kể cũng là một người phong-lưu, thầy nên khéo yêu-thương lấy. Sinh bèn đem nàng về Kiến-hưng. Túy-Tiêu vốn có khiếu thông-tuệ, mỗi khi sinh đọc sách, nàng cũng học thầm mà rồi thuộc được. Sinh nhân đem những quyển sách nói về thơ từ mà dạy nàng. Chưa đầy một năm, nàng đã làm được những thơ từ ngang với của sinh. Năm Mậu- tuất (1358), nhân gặp khoa thi, sinh sắm-sửa hành-trang lên kinh; không nỡ rời nhau, nên đem theo cả nàng cùng đi, cùng trọ tại phố Phường- thái ở cửa sông. Gặp ngày mồng một đầu năm, Túy-Tiêu rủ mấy người bạn gái, đến chùa tháp Báo-thiên[3] dâng hương lễ Phật. Bấy giờ có quan Trụ-quốc họ Thân đi chơi phố, trông thấy Túy-Tiêu đẹp, bắt cướp đem về làm của mình. Sinh làm đơn kiện tận triều-đình, nhưng vì họ Thân uy-thế rất lớn, các tòa các sở đều tránh kẻ quyền-hào, gác bút không dám xét xử. Sinh đau buồn lắm bèn chẳng thiết gì thi-cử nữa. Một hôm sinh thủng-thỉnh đi chơi ngoài phố, gặp đám người cưỡi ngựa đi xem hoa về, tiền hô hậu ủng rất oai-vệ, trên đường thì trâm thoa rơi
  • 88.
    rắc, hồng tiátơi-bời, sau cùng thấy Túy-Tiêu ngồi trên một chiếc kiệu căng riềm lụa hoa, đi qua dưới rặng liễu. Sinh muốn chạy đến than-thở, nhưng thấy những người cùng đi với nàng đều là bậc quyền-quý, không dám đường-đột, chỉ đắm-đuối nhìn và ứa hai dòng lệ, không nói được một lời nào. Nhân Túy-Tiêu trước có nuôi một đôi chim yểng, một hôm sinh trỏ đôi chim mà bảo rằng: - Chúng mầy là loài vật nhỏ, còn được suốt ngày quấn-quít với nhau, không phải như ta lạnh-lùng chiếc gối. Ước sao chúng mầy nhẹ tung đôi cánh, vì ta đưa đến cho nàng được một phong thư. Con chim yểng nghe nói, kêu lên và nhẩy-nhót như dáng muốn đi. Sinh bèn viết một phong thư, buộc vào chân nó. Thư rằng: Tạc giả liễu âm nhất quá Đạo đạt vô do Ký song nhỡn [nhãn] ư phiến thời Tằng chỉ xích nhi thiên lý Thủy tín hầu môn chi tự hải Đệ hiềm khách tứ chi như thu Bị thuật cựu do Bội tăng thâm cảm Ức tích ngã bồi thi tịch Tử hựu ca duyên Bất lao lục ỷ chi đàn Nhục hạ Tử-Vân chi huệ Tiếu vị thù ư khiển quyển Hận dĩ tảo ư phân phi Hồng biệt yến nhi thu thanh Vân sầu Tần nhi minh sắc Nhất tắc hoãn lưu tô chi trướng Nhất tắc hàn hồ chỉ chi khâm Đãn tham tú mạc chi hoan Khởi niệm thư lâu chi khổ Mỗi thính đoản tường trệ vũ, Phế bích hàn tương Trường thiên sương nhạn chi chinh ly Tịch tiêu phong địch chi xướng vãn Toại nãi hàm tình bất ngữ Yểm quyển trường hu Đối cảnh quan hoài Bất năng dĩ dĩ Yi [Y] Hứa Ngu hầu chi bất tác Côn lôn nô chi dĩ phi Ưng vô phản bích chi kỳ
  • 89.
    Không phụ tầmphương chi ước Viên bằng thốn chử Dụng tả ai thiên Dịch: Kiệu qua dưới liễu hôm nào, Vội-vàng chẳng kịp đưa trao một lời. Trông ai nước mắt thầm rơi, Tấc gang bỗng cách đôi nơi mịt-mùng. Cửa hầu sâu thẳm nghìn trùng, Sớm hôm khách những riêng lòng ngẩn-ngơ, Tình xưa kể đến bao giờ, Cảm sầu mọi mối như tơ rối bời. Thơ ngâm nhớ bữa tiệc mời, Giọng ca lanh-lảnh để người như say. Cung đàn nào đã so dây, Giai-nhân bỗng được trao tay rước về. Tình sâu chưa kịp giãi-giề, Bắc nam vội đã chia-lià khá thương. Chim hồng buồn-bã kêu sương, Mây Tần thăm-thẳm xa buông tối mù. Người nương trướng gấm êm ru, Người ôm một mảnh chăn cù giá đông. Ham vui nệm tiá màn hồng, Biết chăng kẻ chốn thư-phòng thương đau. Mưa tường dế vách họa nhau, Nhạn tan khóc sớm, địch sầu thổi khuya, Lặng ngồi gấp sách ủ-ê, Lòng này cảnh ấy khuây đi được nào. Côn-Nô, Hứa-Tuấn[4] nơi nao? Tìm hương, trả bích[5] còn ao-ước gì? Mảnh tiên viết gửi trao đi, Đau-thương kể nỗi vân-vi với người. Con chim yểng bay đi, đến đậu ở màn Túy-Tiêu. Nàng được thư, bèn giở giấy Tiết-Đào[6] dấp bút Lâm-xuyên,[7] viết một bức thư để trả lời. Thư rằng: Thiếp Túy-Tiêu thiếu ỷ thị môn Trưởng đầu nhạc tịch Điệu ca tiếp khúc, đồ khoa Hà-hữu chi phong-lưu Cử án tề my, vị thức Mạnh-Quang chi thái-độ Thùy tri hảo tịch Tiện thị lương môi Lục ỷ cầm tâm, bất giả Trường-khanh chi điệu
  • 90.
    Hoa đường thicú, khốc linh [liên] Đỗ-Mục chi tài Tự hỉ châm giới chi hữu duyên Thâm khánh đằng la chi đắc thác Thiên thai khách phùng khách, vị tận thâm hoan. Chương-đài nhân tống nhân, tái tương ly hận. Giai ngẫu phiên thành oán ngẫu Hảo duyên chuyển tác ác duyên Sỉ nhẫn thê nha Cụ tần đả áp Xuất nhập khởi cư chi tế, vị miễn tòng quyền Biệt ly khế khoát chi hoài, bất thăng cảm cựu Duy dư thúy nga quyện tảo Lục mấn dung sơ Phấn bích đăng tàn, thương xuân trường đoạn Hương tiêm tú quyện, biệt lệ ngân đa Tạc thừa ký nhạn chi thư Bội thiết ly loan chi tưởng Tuy Hàn Hoành chi liễu, tạm triết trường điều Nhiên Hợp-phố chi châu, đương hoàn cố quận Du du tâm sự [tự] Thư bất tận ngôn Dịch: Thiếp xưa con gái nhà nghèo Lớn lên ca xướng học theo bạn-bầy. Phong-lưu quen thú Hà-tây[8] Chưa tường án Mạnh ngang mày[9] như ai. Tiệc hoa một bữa khuyên mời, Mối-manh duyên khéo an bài tự đâu. Tràng-Khanh chưa gảy Phượng-cầu[10] Mến tài Đỗ-Mục bởi câu Hoa-đường.[11] Duyên kim phận cải xe vương, Những mừng dây sắn được nương bóng tùng. Thiên-thai một cuộc kỳ-phùng,[12] Thú vui lửa đượm hương nồng chưa bao. Chương-đài cành liễu nghiêng chao, Biệt-ly mang nặng biết bao oán-sầu, Duyên mai hoá rủi ngờ đâu, Ngậm hờn nuốt tủi chịu rầu cho qua. Tòng-quyền nấn-ná vào ra, Tình xưa nghiã cũ thiết-tha vẫn lòng. Bẽ-bàng đổi khác tư-dong, Tóc xanh biến [biếng] chải, môi hồng biến [biếng] tô. Thương xuân, vách phấn đèn lu, Trông gương ngấn lệ mơ hồ, ngại soi.
  • 91.
    Tiện hồng thưmới tới nơi, Chia loan càng xót-xa đời biệt-ly. Liễu Hàn tạm bẻ vin đi, Nhưng châu Hợp-phố phải về quận xưa.[13] Nỗi lòng trăm mối vò tơ, Thư dài đến mấy vẫn chưa hết lời. Túy-Tiêu từ đó buồn-rầu sinh ốm. Quan Trụ-quốc bảo: - Chừng nàng vẫn còn nhớ anh chàng bán thơ phải không? Nàng nói: - Quả có như vậy. Tình sâu gắn-bó, hờn nặng chia-lìa, lời thề chung sống chưa phai, điều hẹn cùng già đã phụ. Nay thì Sở mưa Yên tạnh, liễu héo đào tươi, bằn-bặt xa nhau, hờn ôm thiên-cổ. Cho nên người xưa đã coi rẻ giàu-sang mà nhớ anh hàng bánh,[14] xem khinh sung- sướng mà gieo xuống tầng lầu,[15] thật là phải lắm. Nói rồi nàng toan lấy chiếc khăn là thắt cổ tự-tử. Trụ-quốc nói dối rằng: - Ta cũng đang nghĩ về việc đó lắm. Vậy nàng hãy cứ nên bình-tĩnh mà bảo-dưỡng thân-thể sớm muộn ta sẽ vời chàng họ Dư đến đây, để nàng được nối mối duyên xưa. Tội gì mà coi rẻ tính-mệnh, chết một cách chẳng vào đâu cả. Nàng nói: - Quả được như vậy thì thiếp xin vâng lời tướng công. Nếu không thì tính-mệnh này chỉ đến ngày hôm nay là hết. Trụ-quốc bất-đắc-dĩ, phải vời Dư đến, dỗ-dành sẽ trả nàng Túy-Tiêu và bảo: - Ta làm qua ngôi đến Thượng-công, quyền cao lộc hậu, việc khoản- đãi khách-khứa, mỗi ngày tốn phí đến hàng nghìn chuông thóc. Nay vời thầy đến là do ý tốt chứ không có ý xấu gì cả. Huống đất Trường-an này gạo châu củi quế, thầy lấy gì mà tiêu-dùng đủ. Vậy nếu thầy không ngại thanh tích thì cứ ở luôn đây cho đỡ tốn. Bèn sai dọn một cái buồng nhỏ làm nơi đọc sách cho sinh, hằng ngày sai một ả tiểu-hoàn hầu-hạ. Mỗi khi có tiệc mời sinh vào dự, Trụ- quốc thường lấy lời dịu-dàng khoản tiếp; nhưng về việc Túy-Tiêu, tuyệt nhiên không nhắc-nhỏm đến. Sinh mom-men hỏi tới, Trụ-quốc gạt đi mà rằng: - Mối tình yêu-thương, ai mà chẳng thế. Tưởng nàng nhớ thầy, cũng chẳng khác gì thầy nhớ nàng. Nhưng vì ít lâu nay nàng hơi khó ở, nên chưa thể ra cùng thầy tương kiến được. Thầy hãy cứ thong-thả, đi đâu mà vội. Túy-Tiêu nghe sinh đã đến, cũng muốn được gặp, nhưng trong nhà nàng hầu vợ lẽ nhiều lắm, và coi giữ nghiêm-ngặt, nên không có dịp nào tìm đến sinh được. Một hôm nhân buổi chầu sớm chưa tan, thừa lúc những nàng hầu vợ lẽ đi ngủ, nàng lén đến thư-phòng của sinh. Phải lúc sinh chạy đi đâu vắng, nàng thấy trên vách có đề hai bài thơ sau này:
  • 92.
    I Tiểu giai phálý lạc đài y Khách xá thê lương độc yểm phi Thanh điểu bất lai xuân tín vãn Sa đình mạc mạc hựu tà huy Dịch: Trước thềm giày rách giẫm trên rêu Cửa khép phòng văn lạnh hắt-hiu Bằn-bặt chim xanh tin chẳng lại Sân không vắng-vẻ, bóng trời chiều. II Nguyệt điện trường hàn tỏa thúy my Tiên-nga hà nhật thị quy kỳ? Tương tư khởi trực vô giai cú Bất bả văn-chương oán biệt-ly. Dịch: Cung trăng lạnh-lẽo khóa mày ngài, Tiên-tử bao giờ lại tái-lai? Thương-nhớ thiếu đâu câu thắm-thía, Ngại đem chữ nghĩa khóc thương hoài. Nàng toan họa lại hai bài thơ ấy, nhưng đã nghe tiếng ngọc-kha[16] về đến cổng rồi, thành ra không thể họa và đề được nữa. Lại một hôm, nàng sai con hầu thân-tín của mình là Kiều-Oanh đến phòng xin sinh cùng ngủ. Sinh đuổi ra thì Kiều-Oanh nói: - Túy-Tiêu nương-tử sai tôi như vậy. Nương-tử nghĩ lang-quân một mình buồn-tẻ, nên sai tôi đến hầu-hạ chăn-gối, cũng như nương-tử ở bên mình lang-quân. Sinh bằng lòng. Từ đấy tin-tức mới thông mà tình khuê-môn mới đạt đến nhau được. Bấy giờ sắp đến ngày trừ-tịch, sinh nhân lúc tiện bảo với Trụ-quốc rằng: - Tôi vì một mối ân-tình mà vào đây làm người khách trọ, song non Vu gang tấc, tin-tức chẳng thông, ngày tháng lữa-lần, năm lại gần hết. Cái việc trả châu[17] chẳng dám lại nói đến nữa. Chỉ xin được ở trước rèm một lần gặp mặt, trò chuyện với nhau một lát để rồi chia tay. Trụ-Quốc bằng lòng mà nói: - Chỉ sau vài hôm nữa, là đêm tốt lành, ta sẽ làm cái việc Xương-Lê thả nàng Liễu-Chi, Nghi-Thành buông nàng Cầm-Khách; quyết không ngăn cấm sự ham-muốn của người khác để thoả cái vui tai mắt của mình. Nhà thầy hãy nán đợi, đừng lo chậm muộn. Sinh vâng dạ lui ra.
  • 93.
    Đến đêm đãhẹn, sinh đốt đèn không ngủ ngồi chờ. Chừng một trống canh, bỗng nghe thấy tiếng giày lẹp kẹp ở bên khóm trúc; mở cửa ra đón, té ra là một con hầu áo xanh. Sinh hỏi nó đến làm gì thì ra nó bưng nước chè đến. Một lúc lại thấy ở trước hoa có tiếng sột sạt, xốc áo ra xem, lại thấy một ngươi đầy tớ trai. Chờ mãi đến quá nửa đêm, vẫn bặt tin hơi, rất là thất vọng. Ngày hôm sau, sinh bảo với Kiều-Oanh rằng: - Nhờ em nói hộ với Túy-Tiêu: Ta nặng mối tình riêng, tin lời nói dối. Ai lại đến đòi gặp mặt để nói chuyện một lần cũng còn không được, vậy mà lại mong người ta mở cửa để thả nàng ra thì có đời nào! Nếu ta cứ ở mãi đây, vạn nhất lòng ghen nổi dậy, kế độc buông ra thì ta là thất cơ mà họ là đắc kế. Về đi thôi! Về đi thôi! Sao nên vì cớ muốn tìm ngọc châu mà lại đến nằm ở trước hàm con ly-long bao giờ.[18] Túy-Tiêu lại sai Kiều-Oanh đến bảo chàng: - Thiếp sở-dĩ nấn-ná ở đây, chưa làm được một cái chết của nàng Lục- Châu là vì còn có chàng. Nay chàng định về, phỏng có ước-hẹn với nhau điều gì không? Thiếp nghe lệ cũ bản-triều, đêm hôm mồng một tết, có đốt cây bông ở ngoài bờ sông, người trong kinh-thành, đều kéo ra xem đông nghịt. Nếu chàng chưa nỡ rẽ bỏ thì đêm ấy xin chờ đợi nhau. Loan chia phượng hợp, chỉ ở trong một chuyến này. Thiếp xin hoãn để chờ. Y sinh bèn quyết. Trụ-quốc thấy sinh đi, lấy làm dễ chịu, tặng cho rất nhiều tiền bạc tơ lụa không tiếc tý gì. Sinh chở nặng một chuyến mà về. Dọc đường gặp người đầy tớ già, hắn bảo sinh rằng: - Cậu có sự lo-buồn gì chăng? Sao người gầy võ đi khác hẳn ngày trước? Sinh nói duyên-cớ và kể lời hẹn của Túy-Tiêu. Người đầy tớ già nói: - Việc ấy dễ lắm, tôi xin hết sức giúp cậu. Đến ngày mồng một, thầy trò cùng ra bến Đông, quả thấy Túy-Tiêu đứng xem ở trên bến. Người đầy tớ bèn đi lén vào rút cái dùi sắt trong tay áo ra, nện bừa vào đám người theo hầu, khiến bọn phu kiệu, phu dù đều chạy tan hết, rồi cướp lấy Túy-Tiêu đem đi. Hai người trông thấy nhau, nửa phần thương-xót, nửa phần mừng-vui; nhưng còn sợ Trụ- quốc biết đuổi theo bắt lại. Túy-Tiêu nói: - Hắn chỉ là đồ yếu-hèn mà làm đến bậc Vệ, Hoắc[19]; kêu-xin chạy- chọt, lúc nào ở cửa cũng rộn-rịp những người ra vào, vàng bạc châu báu trong nhà, chồng-chất đầy-dẫy. Trừ ra gặp phải hỏa tai, của nả trong nhà ấy không biết có cách nào tiêu-mòn đi. Nhưng tội ác đầy chứa, thế tất cũng chẳng được lâu. Có điều bây giờ họ còn đương thịnh, uy thế ấy cũng rất đáng sợ. Chi bằng ta ẩn hình náu vết, về trốn-lánh ở chỗ nhà quê, khỏi bày ra tai mắt mọi người để tránh cái vạ nguy-hiểm. Sinh cho là phải, bèn bí mật đưa nhau xuống hạt Thiên-trường (Xuân-trường Nam-định) ở nhà một người bạn họ Hà. Năm Đại-trị thứ 7 Trụ-quốc vì cớ xa-xỉ mà phải tội. Sinh về Kinh-sư thi đỗ tiến-sĩ, vợ chồng ăn-ở với nhau đến già. Lời bình
  • 94.
    Than ôi! Ngườicon trai bất trung, ông vua trung thường xấu-hổ lấy làm bề tôi, người con gái bất chính, kẻ sĩ trung thường xấu-hổ lấy về làm vợ. Túy-Tiêu là một ả ca-xướng, chẳng là người chính-chuyên, không hiểu Nhuận-Chi ham luyến vì cái gì? Vì nàng hiền chăng? Nhưng hết là vợ họ Trương lại là hầu họ Lý.[20] Vì nàng đẹp chăng? Thì hết làm mê Hạ- sái lại làm hoặc Dương-thành.[21] Vậy mà lại khinh thường sự đi sự đến, nhẫn-nhục tới ở với người, sờ đầu cọp, vuốt râu cọp, xuýt nữa thì không thoát miệng cọp. Như chàng Nhuận-Chi, thực là một người ngu vậy. Chuyện Lệ-Nương Nguyễn Thị-Diễm là người một họ lớn ở huyện Đông-sơn (Thanh-hóa) em họ ngoại của Trần Khát-Chân; cùng người đàn-bà họ Lý quê ở huyện Cẩm-giang (Hải-dương) cùng mở ngôi hàng bán phấn đối cửa nhau tại bên ngoài thành Tây-đô (Thanh-hoá). Xóm-giềng gần gặn, tình-nghĩa ngày một thân, nhưng cả hai đều chưa con cái. Một hôm, đến động Hồ- công[22] làm lễ cầu tự, Lý-thị bảo với Nguyễn-thị rằng: - Chúng ta ở trong phố vẫn quen thân nhau, việc đi lễ cầu-tự hôm nay lại không hẹn mà cùng giống nhau. Nếu mà hương-lửa có duyên, sau này ta sẽ cho các con sánh nên đôi lứa. Bình-dân ta lại làm bạn với bình-dân, chẳng cần phải kén chọn con ông cháu cha gì cả; nói có Sơn- thần chứng dám [giám], tôi quyết không sai lời. Rồi đó Nguyễn-thị quả sinh con gái đặt tên là Lệ-nương. Lý-thị quả sinh con trai đặt tên là Phật-sinh. Hai trẻ đến khi trưởng-thành, đều ham nghề nghiên-bút. Vì cớ hai bên cha mẹ thân-mật, nên họ cùng đi lại với nhau suồng-sã, thường cùng nhau xướng-họa thơ từ. Tuy kỳ cưới xin chưa định, nhưng hai tình gắn-bó, đã chẳng khác chi vợ chồng vậy. Niên-hiệu Kiến-tân năm Kỷ-mão (1399) đời Trần, xảy ra cái vạ Trần Khát-Chân,[23] Lệ-nương bị bắt vào trong cung, Phật-sinh rất là thất vọng. Gặp đêm trừ tịch, gần hết canh năm, sinh còn đương nằm ngủ, chợt nghe tiếng ấm ới. Sinh vùng-dậy đẩy cửa ra xem, thấy có hơn trăm chiếc kiệu hoa rậm-rịch đi qua, và có một bức thư bằng lụa cài vào ngưỡng cửa, trong thư chính là bút tích của Lệ-nương đã viết. Thư rằng: Thiếp văn, thiên hữu âm-dương, thiên đạo dĩ chi nhi bị, Nhân hữu phu phụ, nhân đạo dĩ chi nhi thành. Ta ngã hà tu? Dữ quân bất ngẫu Tích thời tâm sự, cửu dĩ tương quan, Kim nhật tỵ ly, phiên thành vĩnh cảm. Cánh lạc lâu tiền chi ảnh Trường giam viện lý chi xuân.
  • 95.
    Mỗi phạ kínhvũ ly hoan [loan] Cầm thao biệt hạc. Xuân thành nhật mộ, liễu tà hàn thực đông phong. Lưu thủy ngự câu, tràng đoạn Thượng-dương cung nữ. Đãn hữu u sầu chủng chủng, Thanh lệ ba ba Chướng [trướng] túc nguyện chi đa vi Tiếu thử sinh chi lãng độ Liễu thị trùng quy chi ước, hảo hội nan kỳ, Ngọc tiêu tái hợp chi duyên, tha sinh vị bốc. Nguyện quân tự ái Biệt đế lương môi, Vô dĩ nhất nhật chi ân Nhi ngộ bách niên chi kế Du du tâm tự Thư bất tận ngôn Vi [Vị] đắc quân chỉ ∠ℜ©∞≠ƒ∞ Tiên thử thân phúc Dịch nghĩa: Thiếp nghe: Trời có âm dương, đạo trời mới đủ, Người có chồng vợ, đạo người mới thành. Đôi ta vì đâu? Lỡ-làng đến vậy! Tâm tình buổi trước, đã kết mối dây, Ly-biệt ngày nay, bao khuây nguồn cảm. Bóng trước lầu đã rụng, Xuân trong viện đành giam, Những e, gương ly loan bóng múa hững hờ,[24] Đàn biệt hạc, tiếng vang ai oán.[25] Thành xuân trời tối, liễu lả cành dưới ngọn đông phong,[26] Ngòi ngự nước trôi, ruột đứt khúc bao người cung nữ.[27] Luống những, mạch sầu đợt-đợt, Sóng lệ trùng-trùng, Nguyền xưa tan-nát nghĩ mà đau, Kiếp ấy lỡ-làng sinh cũng uổng. Ước Liễu-thị mong gì hảo-hội,[28] Duyên Ngọc-Tiêu đâu chắc tái-sinh.[29] Xin chàng trân-trọng lấy mình, Liệu kết nhân-duyên chốn khác. Đừng vì tình một buổi, Để lỡ kế trăm năm. Man-mác nỗi lòng,
  • 96.
    Thư không xiếttả. Sinh được thư rất là đau-thương, bỏ cả ăn ngủ. Rồi vì cớ hôn-sự đã hỏng, bèn thiên ra ở ngoài miền đông. Nhưng nặng tình với Lệ-nương, sinh chưa nỡ lấy ai cả. Cuối đời nhà Hồ, tướng Minh là Trương-Phụ chia binh vào cướp, lấn chiếm Kinh-Kỳ. Sinh nghe Hán-Thương phải chạy, đoán chắc là Lệ- nương cũng phải đi theo, bèn từ-biệt mẹ đi vào nam, mong được gặp mặt. Lặn lội hàng tuần mới đến cửa bể Thần-phù, nghe tướng giặc Lã- Nghị bắt cướp mấy trăm phụ-nữ hiện đóng giữ ở phủ Thiên-trường trơ- trọi không có quân ứng viện. Sinh đoán chắc Lệ-nương cũng ở trong ấy. Nhưng đất khách tay không, chẳng làm gì được. Chợt gặp khi vua Giản-định [n]ổi quân lên ở châu Trường-an, nhưng vì ít binh không địch nổi với số nhiều của quân giặc, Sinh muốn nhờ thế quân của vua, đánh úp mà cướp lại Lệ-nương, bèn đến trước ngựa dâng một bài sách, đại lược rằng: Thần văn: Chửng hoán thành công, cố nhân hưng vận. Ngữ nhung đắc sách, thực bản miếu mô Cố công nhân tất thẩm ư trí nhân Nhi phá địch đương minh hồ liệu địch Tạc giả Hồ triều thất ngự Ngô tử sinh tâm Hàn Quán thừa hồ thác chi uy, oa tranh viễn khiếu, Mộc Thạnh sính chi trương chi ác, phong thích giao kỳ. Trí linh bách dư niên an lạc chi khu, Chuyển tác sổ thập hợp phân nô chi địa Tích hài cung thoán Phấn cốt vi lương Duyên hà chi ức vạn sinh linh thùy vô thiết sỉ, Cứ quân chi tứ phương hào-kiệt, hàm hữu chiến tâm. Tất tu bát loạn hoành tài Phương kiến phù điên vĩ tích. Kim đại-vương phẫn Trần gia chi bất tạo, Phấn Hạ lữ dĩ đồ hồi Trì nhị thiên bất mãn chi binh Đương ngũ đạo mạc cường chi khấu Lôi oanh điện xiết, tòng thiên chi thế phương trương, Vụ lãng vân thanh, phục thổ chi công khả tất. Phương vọng hoàn đô nhi trắc tích, Như hà ngộ địch dĩ ban sư Cố nghi chiêu Đặng Tất ư Diễn-châu Lưu Triệu Cơ ư Mô-độ Hải đạo tê chu kính trạo, trực để Bình-than Bộ quân trường cốc, cao phong, kính xu Hàm-tử
  • 97.
    Hoặc mệnh tướngdĩ ách Mộc-hoàn chi khẩu Ngạnh tặc nha ư Bạch-hạc loan-đầu, vô linh chuyển thực. Trực thung mộc ư Man-trù tân vĩ, dụng át bôn-ba Lục vật dung phương quỹ chi xa Thủy mạc cộng trường-gian chi hiểm Dạ tắc nhiên sô lương tiếp Chú [trú] tắc phù cổ tương văn Tây-đô chi hình thế ký trương Đông thổ chi phiên duy tự cố Tương kiến Hàn-công tắc Triệu-ứng Tung hợp tắc hoành cô Ngã chuyển chiến nhi vô tiền, sư hành tịch thượng. Bỉ phù thương nhi bất hạ, bại tại nhỡn trung Túng do dự nhi hồ nghi Khủng cẩu tiều nhi thử thoán Thời nan tái đắc Vương thỉnh vật nghi Phục vọng Thụ Hán chi kỳ Phản Đường chi bái Ngô quân đình kích, thoảng đồng thời hợp lực dĩ tinh công Bỉ lỗ thiên vong, tương sất mã trích luân nhi bất phản. Dịch nghĩa: Thần nghe: Dẹp loạn thành công, vẫn nhờ vận tốt, Chống giặc đắc sách, thực bởi mưu cao. Nên đánh người, cần biết cách nhử người. Mà phá giặc phải sáng bề liệu giặc. Dạo trước, triều Hồ đổ sập, Giặc Ngô tràn-lan, Hàn Quán kia cáo mượn oai thiêng, oai [oa] tranh bờ cõi[30] Mộc Thạnh nọ diều giương mỏ độc, ong đốt kinh kỳ, Khiến cho đất nước hơn trăm năm yên vui, Biến thành khu-vực mấy trăm dặm rối loạn. Đập xương làm củi Tán xác làm lương Men dải sông ức vạn sinh linh, nghiến răng tức-tối. Giữ các quận bốn phương hào-kiệt, tuốt kiếm hằm-hè. Lược-thao phải có tài hùng, Chống đỡ mới nên công lớn. Đại vương nay, Buồn vận Trần gặp cơn truân-bĩ, Nổi quân Hạ[31] mưu cuộc trùng-hưng. Cầm đội quân chẳng đủ hai nghìn,
  • 98.
    Chống đám giặccó thừa năm đạo. Sấm ran chớp giật, tự lưng trời thế mạnh vừa buông, Mù tạnh mây quang, lấy lại đất công to sắp dựng. Những tưởng về kinh xây nghiệp cũ, Vì sao gặp giặc rút quân lui? Rất nên, vời Đặng Tất ở Diễn-châu, Lưu Triệu Cơ ở Mô-độ. Đường bể thuyền bền chèo cứng, đến thẳng Bình-than Quân bộ xe rộng giáo dài, tới mau Hàm-tử. Hoặc sai tướng chẹn cửa Mộc-hoàn nọ Hoặc chia binh đánh thành Cổ-lộng kia. Đầu sông Bạch-hạc, ghè nanh cho giặc hết đường ăn Cuối bến Mạn-trù,[32] đóng cọc cho giặc hết lối chạy. Dưới nước không cho chỗ nào cứ hiểm, Trên cạn không để xe nào sóng đôi. Ngày đánh trống để truyền tin, Đêm đốt lửa để báo hiệu. Hình-thế Tây-đô đã vững, Phên rào Đông-thổ phải bền. Sẽ thấy Hàn bị đánh mà Triệu phải hàng, Tung đã hợp thì Hoành phải vỡ[33] Ta ruổi-giong thực gắp [gấp], tiến chẳng ngừng chân, Giặc ứng-tiếp không rồi, thua trong chớp mắt. Nếu mình mà hồ-nghi do-dự Sợ giặc sẽ chó chạy chuột chui. Dịp tốt không hai, Xin vương quyết đoán. Kính mong, Dựng cờ nước Hán,[34] Về phướn nhà Đường.[35] Chớp nhoáng quân ta, các đội các cơ hợp đánh, Ngói tan thế giặc, chiếc xe chiếc ngựa không còn. Bài sách ấy dâng lên, vua Giản-định xem mà khen là người giỏi, cấp cho năm trăm quân, sai đi đánh phủ Thiên-trường. Sinh khảng-khái thề quân, dụ-bảo họ về sự hưng-phục nghiệp Trần, ai nấy đều hăng-hái hăm- hở. Bèn nhân nước thủy triều đương đêm tiến đánh, Lã-Nghị quả-nhiên phải nhổ trại chạy trốn, lùi lên phía bắc đóng ở Xương-giang. Phá luôn một trận nữa, giặc phải lùi lên trạm Bắc-nga thuộc về Lạng-sơn. Sinh lại đóng án-ngữ ở cửa Quỷ-môn, lần-lượt vận-tải binh lương đến. Chợt ở Yên-kinh có chiếu-thư rút quân ban xuống, Trương-Phụ đốc xuất các quân sắp-sửa kéo về. Sinh vốn vì sự tìm vợ mà đến đây, không phải có chí lập công, nay nghe quân Tàu sắp rút về, bèn cùng các tướng-sĩ chia tay từ biệt, lần đến trạm Bắc-nga vào một buổi tối. Bấy giờ
  • 99.
    nhà trạm vắngtanh, không có ai mà hỏi-han cả. Chợt gặp một bà-già, hỏi thăm thì bà cau mày bảo: - Đây là chỗ quân đóng vừa rồi, đầy những sát khí, trời lại đã tối, chàng ở đâu đến mà bây giờ chưa tìm vào nhà trọ? Sinh rầu-rĩ kể rõ sự mình, bà-già nói: - Tội-nghiệp! Quả có người họ tên và trạc tuổi như lời chàng nói, nhưng chẳng may đã chết oan rồi. Sinh giật mình hỏi, bà-già nói: - Trước đây năm hôm, quân Tàu sắp rút, người đàn bà họ Nguyễn ấy bảo với hai bà phu-nhân họ Chu họ Trịnh rằng: “Bọn chúng ta vóc mềm tựa liễu, mệnh bạc như vôi, nước vỡ nhà tan, lưu-ly đến đó. Nay nếu lại theo họ sang qua cửa ải, tức là đến nước non quê người. Chẳng thà chết dấp ở ngòi lạch, gần-gũi quê hương, còn hơn là sang làm những cái cô-hồn ở bên đất Bắc.” Thế rồi mấy người đều cùng nhau tự-tận. Tướng Tàu thương là có tiết-tháo, dùng lễ mà táng ở trong rừng. Nói xong, bà-già đưa sinh đến, trỏ từng ngôi mộ cho biết và bảo: - Trinh-thuần cương-liệt, ấy chỉ có mấy người này, còn thì đều bị nhuốc-nhơ cả. Sinh đau-thương vô hạn. Đêm hôm ấy chàng ngủ ở mộ, khóc mà nói rằng: - Ta vì nàng mà từ xa đến đây, nàng có thể cùng ta gặp-gỡ trong giấc chiêm-bao để cho ta một lời yên-ủi hay không? Đêm đến canh ba, sinh quả thấy Lệ-nương lững-thững đi đến, khóc kể rằng: Thiếp vốn con nhà tầm-thường, Chàng quá rủ lòng yêu-mến Trướng gấm nọ duyên chưa đầm-ấm Giá xuân[36] kia phận đã mỏng manh, Thời với chí ngửa-nghiêng, Thiếp cùng chàng ly-cách, Hờn ôm lầu đỏ, từng trải hôm mai, Mối dứt chim xanh, khôn thông tin tức. Ngày tháng lữa-lần trộm sống, Dong-quang mòn-mỏi riêng buồn. Nào hay mỏ đỏ ca tàn,[37] Má hồng vạ nổi, Ngựa Hồ bình Triệu, giày-xéo tan-tành Liễu điện hoa cung, bẻ vin xơ-xác, Ngàn nỗi thân tàn nhiều lỡ-dở, Than ôi vận ách mỗi chồng thêm, Trước đã không vẹn tiết để theo chồng, Sau lại nỡ cam tâm mà hàng giặc. Gửi chiếc thân ở trong muôn chết, Trải một ngày như thế ba thu.
  • 100.
    Lặn suối trèođèo, Qua nguy vượt hiểm. Ép duyên toan nhắm mắt, giống sói khôn gần. Qua ải muốn đưa chân, núi hồ[38] dễ cảm. Bởi vậy, không ham thú sống, Chẳng sợ ngục tù, Lạnh-lẽo trước đèn, hồn theo trống trận. Bàng-hoàng quán khách, mình gửi khăn là. Nay thì, linh-tính tuy còn, Tàn hình đã khác. Cảm lòng chàng từ xa tìm đến, Buồn nỗi mình biết nói làm sao. Dám tỏ niềm riêng, Kính xin soi xét. Nguyên văn Thiếp xuất tự phàm lưu Quá mông hậu ngộ Duyên vị hài ư cẩm trướng Phận dĩ bạc ư xuân băng Thời dữ chí nhi câu vi Thiếp từ quân nhi viễn thệ Chu lâu hữu hận, kỷ đối tà huy Thanh điểu vô môi, thùy tương lai tín? Trướng dong quang chi giảm cựu Độ tuế nguyệt dĩ thâu sinh Thùy liệu xích trủy ca tàn Hồng nhan họa khởi Yên binh Hồ kỵ mạc át xâm lăng Cầm [cấm] liễu cung hoa, kỷ sầu phan chiết Trướng tàn khu chi đa ngộ Ta ách vận chi trùng tao Thủy bất năng toàn tiết dĩ tòng phu Chung hựu nhẫn cam tâm nhi hàng lỗ Ký chích thân ư vạn tử Độ nhất nhật như tam thu Thiệp thủy du sơn Bị gian thường hiểm Tương tùy duyên nhi cẩu hợp, tắc lang tử nan tuần Dục xuất tái dĩ dao chinh, tắc hồ khâu dị cảm Thị dĩ bất tham sinh hoạt Bất phạ câu tù Lãnh lạc đăng tiền hồn tùy chiến cổ Thương hoàng khách lý mệnh ký la cân Kim tắc linh tính tuy tồn
  • 101.
    Tàn hài phicựu Hận lương nhân chi viễn phóng Phủ vãng sự dĩ trường ta Cảm thuật u hoài Hạnh thùy tri tất Vợ chồng bèn cùng nhau âu-yếm chuyện trò, y như lúc sống. Sinh nói: - Nàng đã không may, vậy anh đem linh-thấn về, khỏi uổng một chuyến đi không lại trở về rồi. Nàng nói: - Thiếp rất cảm tấm thâm-tình ấy. Song thiếp cùng hai vị mỹ-nhân gần-gụi lâu ngày, giao tình thân-mật, không nỡ một sớm bỏ đi. Phương chi chốn này nước non trong sáng, mây khói vật-vờ, thần yên phách yên, bất tất phiền chàng dời đổi nữa. Sau khi gà gáy ba hồi, hai người vội cùng nhau đứng dậy từ-biệt. Ngày hôm sau, sinh đem mấy lạng bạc, mua quan tài và nước thơm, cải táng cho nàng và cả hai mỹ-nhân. Đêm sau mộng thấy ba người đến tạ ơn; chàng đương toan lại cùng trò chuyện thì thoắt-chốc cả ba đều biến mất. Chàng buồn-rầu quay về, từ đấy không lấy ai nữa. Đến sau vua Lê Thái-tổ khởi nghĩa ở Lam-sơn, sinh vì mối hờn oán cũ, đem quân ứng mộ, phàm gặp tướng-sĩ nhà Minh, đều chém giết dữ- dội cho hả. Cho nên vua Lê phá diệt quân Minh, sinh có dự nhiều công. Lời bình Than ôi! Điều tín-ước gần với lẽ phải thì lời nói tất nên giữ đúng; nếu đối với lẽ phải mà chưa được ổn thì sự giữ đúng không cần. Như chàng họ Lý kia, vì mối ân-tình, giữ bền ước cũ, lưu-ly hoạn-nạn, vẫn chẳng quên lời, tình thật đáng thương, mà lẽ phải thì chưa được ổn. Bởi sao? Cảm- tình mà đi tìm thì nên, liều chết mà đi tìm thì không nên. Liều chết mà đi tìm còn không nên, huống lại thôi không lấy vợ, để dứt dòng-giống của tiên-nhân phỏng có nên không? Cho nên người quân-tử phải biết tòng quyền chứ không nên chấp nhất. Giữ điều nhỏ để mất điều lớn, chẳng là gã Lý-sinh này ư? CHÚ THÍCH [1] Ông Nguyễn Trung Ngạn người làng Thổ Hoàng huyện Thiện Thi (nay Ân Thi), đỗ tiến sĩ đời Trần, làm chức quan to. [2] Vì câu thơ thứ ba có những chữ “Túy trẩm tiêu y...” [3] Chùa này nay đã mất, nền cũ ở vào khu Nhà Thờ lớn bây giờ. [4] Côn Lôn Nô và Hứa Tuấn là hai hiệp khách đã giúp cho những lứa đôi bị chia lìa lại được sum họp. Xem chuyện ở Tình Sử.
  • 102.
    [5] Tình [tìm]hương chữ là tầm phương, xuất ở câu thơ "Tự thị tầm phương khứ hiệu trì" của Đỗ Mục, nói về việc duyên lứa lỡ làng. Trả bích xuất ở điển Trùng Nhĩ nước Tấn. Trừng Nhĩ chạy loạn sang Tào, Hy Phụ Cơ đưa biếu mâm cơm và ngọc bích. Trùng Nhĩ chỉ nhận mâm cơm mà trả lại ngọc bích. Từ đấy người ta dùng chữ phản bích(trả lại bích ngọc) để nói cái gì trả về chủ cũ. [6] Tiết Tào [Đào] đời Đường là danh kỹ ở đất Thục, hay làm những bài thơ ngắn, vì tiếc giấy nên cắt hẹp lại. Từ đấy những tài tử trong Thục thấy thế làm tiện, cũng cắt những tờ giấy nhỏ để viết thơ, gọi là tờ giấy Tiết Đào. [7] Vương Hy-Chi đời Tấn là người viết chữ rất tốt, thường làm chức Nội- sử ở Lâm-xuyên, cho nên người ta thường nói ngòi bút Lâm-xuyên. [8] Thuần Vu Khôn nói: “Vương-Báo ở đất Kỳ mà đất Hà-tây hát hay” (Mạnh-tử) [9] Nàng Mạnh-Quang đời Hán, rất kính trọng chồng là Lương-Hồng, mỗi khi dọn cơm cho chồng ăn, nâng cái án lên tận ngang mày. [10] Tràng-Khanh là tên tự của Tư-mã Tương-như. Tương-như gảy khúc đàn “Phượng cầu hoàng” mà lấy được nàng Trác Văn-Quân. [11] Đời Đường, Đỗ Mục làm chức Ngự-sử phân-ty ở Lạc-dương, đến dự tiệc ở nhà vị đại thần là Lý Nguyên. Nhà Lý có nhiều danh-kỹ hầu tiệc. Rượu say, Đỗ hỏi Lý: “Nghe nói nhà ngài có ả danh-kỹ là Tử Vân, chẳng hay là người nào vậy?” Lý trỏ cho biết. Đỗ nhìn lúc lâu rồi nói: “Lời đồn không ngoa, ngài cho tôi quách.” Bọn ca kỹ đều ngoảnh lại nhìn rồi phá lên cười. Đỗ nhân làm một bàI thơ câu đầu là: “Hoa-đường kim nhật ỷ duyên khai.” [12] Điển Lưu Thần, Nguyễn Triệu vào núi Thiên Thai, gặp được người tiên. [13] Phận bể quận Hợp-phố vốn sản ngọc châu. Gặp khi có quan thái-thú không tốt đến cai trị, ngọc châu biến mất. Sau quan thái-thú ấy đổi đi nơi khác, ngọc châu lại về. [14] Ninh-vương nhà Đường chiếm cướp vợ của người hàng bánh, đã trải hàng năm mà người vợ vẫn nhớ thương chồng cũ. Ninh-vương gọi người hàng bánh đến, vợ chồng trông thấy nhau cùng ứa nước mắt, vương lại trả cho về đoàn tụ với nhau. [15] Lục Châu là vợ lẽ của Thạch Sùng. Triệu vương Luân giết Thạch Sùng để cướp Lục Châu, Lục Châu không chịu, từ trên lầu gieo mình xuống đất tự tử. [16] Trụ-quốc đi chầu về. [17] Lâm-Tích thủa nhỏ lên Kinh, dọc đường trọ ở một cái quán tại Sái- châu, bắt được một túi ngọc châu đến mấy trăm hạt. Tích hỏi chủ quán xem ai trọ trước. Chủ quán bảo người trọ trước là Chu Trọng-Tân, Tích kể họ tên và chỗ ở của mình, dặn hễ Trọng Tân có đến thì bảo cứ đó mà tìm, mình muốn được gặp. Sau Chu Trọng-Tân quả đến tìm châu, chủ quán bảo tìm đến Tích, Tích thấy nói đúng bèn đưa trả tất cả. Trọng Tân muốn đưa biếu một ít nhưng Tích nhất định không nhận.
  • 103.
    Trọng Tân bènbỏ ra hơn trăm quan tiền làm chay ở chùa để cầu phúc cho Tích. Tích sau thi đỗ làm quan đến Thái Trung đại-phu; con là Đức- Tân làm đến Lại-bộ thị-lang. Nhà ấy nối đời làm nên khoa hoạn mãi. [18] Hà-thượng-Ông nhà nghèo, người con trai lặn xuống sông mò được một hạt châu giá đáng nghìn vàng. Ông bảo: “Ngọc châu này tất là ở hàm con ly-long. May mầy gặp lúc nó ngủ, chứ nếu nó thức thì đã chết với nó rồi, còn lấy đâu mà được ngọc nữa.” [19] Vệ Thanh và Hoắc Khứ-Bệnh là hai viên danh tướng đời Hán. [20] Trương và Lý đây chỉ là những tên dùng để thí-dụ, do câu “Trương lang phụ nhi Lý lang thê.” [21] Dương-thành, Hạ-sái là hai huyện thuộc đất nước Sở đời Xuân-thu, là nơi các quý công-tử được phong đến đấy. Bài phú của Tống-Ngọc có câu: “Hoặc Dương-thành, mê Hạ-sái.” [22] Ở làng Thiên-vực huyện Vĩnh-lộc Thanh-hóa. [23] Trần Khát-Chân mưu giết Hồ Quý-Ly không thành bị Quý-Ly giết và bắt-bớ đến cả thân-tộc. [24] Vua nước Kế-tân đặt một con loan muốn cho nó kêu, phu-nhân bảo: nghe nói loan thấy đồng-loại nó mới kêu, bèn đặt cái gương cho nó soi thì nó kêu ngay. [25] Chàng mục-tử ở Thương-lăng lấy vợ, 5 năm không có con, cha mẹ định lấy vợ khác cho. Người vợ nghe tin, đương đêm khóc lóc. Mục-tử cảm động làm ra một khúc hát biệt hạc. [26] Câu thơ của Hàn-Hoành đời Đường: “Hàn thực đông phong ngự liễu tà,” nghĩa là: tiết hàn-thực gió đông thổi, cây liễu trong vườn ngự lả cành. [27] Chuyện Cố Huống đời Đường đề thơ thả ở ngòi ngự, trong có câu: “Thượng dương cung nữ đoạn trường thì” = lúc những cung nữ ở cung Thượng-dương đau ruột. [28] Chuyện nàng Liễu-thị với Hàn-hoành có chua ở trên. [29] Vi Cao ở đời Đường thủa nhỏ chơi đất Giang-hạ có tình với nàng Khương Ngọc-Tiêu. Lúc chia tay có hẹn chóng thì 5 năm, chậm thì 7 năm sẽ đến, lưu tặng một cái nhẫn ngọc và một bài thơ. Sau 7 năm Cao không đến, Ngọc-Tiêu nhịn ăn mà chết. Cao nghe tin thương xót, lập đàn tụng kinh siêu độ. Đêm chiêm bao thấy nàng hẹn sẽ thác sinh để làm nàng hầu. Sau Cao làm quan to, gặp ngày mở tiệc sinh-nhật, có người đem dâng một người con hát, cũng tên là Ngọc-Tiêu, ngón tay giữa có một vòng thịt y như hình chiếc nhẫn ngọc mình tặng ngày trước. [30] Oa đây là oa-ngưu, giống động vật nhỏ, hình tròn dẹt, mình mềm, đầu có sừng, ngọn sừng có mắt. Trang-tử nói có kẻ dựng nước ở sừng con oa-ngưu, ý nói sự bé nhỏ. [31] Vua Thiếu-khang nổi quân dựng lại nghiệp trung-hưng của nhà Hạ. [32] Bến sông Nhị thuộc phủ Khoái-châu Hưng-yên. [33] Tung và Hoành là những kế-hoạch của các nước đời Chiến-quốc. Tung là kế liên-lạc các nước theo chiều dọc nước Tàu để chống nhà
  • 104.
    Tần. Hoành làkế các nước rời nhau quay đầu thờ Tần, theo chiều ngang. [34] Hàn-Tín đánh Triệu, dùng quân kỳ binh, nhổ cờ Triệu, dựng cờ Hán (Hán sử). [35] Vua Túc Tôn nhà Đường thu binh ở Linh Võ, quay cờ tiến về phía đông để đánh giặc An Lộc Sơn (Đường Sử). [36] Nước kết thành băng, đến mùa xuân ấm áp thì tan rã. [37] Mỏ đỏ, trỏ Hồ Quý Ly. Vua Trần Nghệ-tôn chiêm bao thấy vua Duệ- tôn về, đọc một bài thơ trong có câu: trung gian duy hữu Xích trủy hầu, nghĩa là trong đó duy có tước hầu mỏ đỏ. [38] Hồ là cáo. Tục ngữ: cáo chết ba năm quay đầu về núi. Tân-biên Truyền-kỳ Mạn-lục Dịch giả: Thứ Lang Bùi Xuân Trang NGUYỄN NAM sưu tuyển Na-Sơn Tiều Đối Lục Truyện đối-đáp của lão Tiều núi Na [1] Đất Thanh-Hoá toàn núi, bát-ngát bao quanh đến vài ngàn dặm. Trong đó có một ngọn cao chót-vót tên gọi núi Na. Trong núi có một động sâu mà hiểm-trở, ẩm-ướt mà quạnh-hiu, chẳng có chút bụi trần, không người bén mảng. Thường ngày chỉ có lão Tiều gánh củi từ trong động đi ra, đem đổi lấy cá và rượu; cốt được no say, chứ không hề hỏi đến tiền-bạc bao giờ. Hễ gặp ông lão trong thôn hay đứa nhỏ ngoài nội là lại vui vẻ chuyện-trò về việc trồng dâu gai. Ai hỏi đến họ tên, nhà cửa, thì lão chỉ cười mà không trả lời. Cứ đến lúc mặt trời gác núi thì lão lại về động. Người thời ấy cho lão vào hàng Thần-Môn, Tiếp-Dư,[2] chứ từ Thái- Hoà[3] trở xuống đều không đáng kể. Sau đến khoảng năm Khai-Đại nhà Hồ (Hồ Hán-Thương) (1403- 1406), Hán Thương đi săn, chợt gặp lão Tiều ở giữa đường, vừa đi vừa hát rằng: 1. Na chi sơn hữu thạch toàn-ngoan, Thụ thương thương, Yên mạch mạch, Thủy sàn sàn.
  • 105.
    2. Triêu hềngô xuất; Mộ hề ngô hoàn. 3. Hữu y hề chế kỵ; Hữu bội hề nhận lan. 4. Thát bái thanh hề bình hiểu chướng; Điền hộ lục hề chẩm tình than. 5. Nhậm tha triều thị; Nhậm tha xa mã; Truy trần bất đáo thử giang san. 6. U thảo Tống-triều cung kiếm; Cổ khâu Tấn-đại y quan. 7. Vương Tạ phong-lưu Triệu Tào sự-nghiệp. 8. Toán vãng lai cổ kim khanh tướng; Thạch triện đài man 9. Tranh như ngã trạo đầu nhất giác, Hồng nhật tam can. Giải-nghĩa: 1. Kìa non Na có đá mọc chon-von, Có cây xanh-xanh, có khói mờ-mịt, có nước chảy lờ-đờ. 2. Buổi sớm ta ra đi, buổi tối ta lại trở về. 3. Ta chế gương ấu, lá sen làm áo mặc[4] ; Ta xâu cỏ lan làm xiêm đeo. 4. Trước cửa động bày ra núi xanh làm tấm bình-phong cho dịu bớt ánh sáng; Ruộng nằm bên bến nước trong như giúp thêm màu lục. 5. Mặc ai ở chốn triều-đình hay ở ngoài chợ (nói những người ham danh vụ lợi). Mặc ai cưỡi ngựa hay đi xe; Bụi đen không vẩn đến nước non này. 6. (Xem như) Cung kiếm triều Tống thành vùng cỏ rậm; Áo đai đời Tấn cũng thành đống gò cao.[5] 7. Nào mức phong-lưu họ Vương, họ Tạ; Nào sự-nghiệp họ Triệu, họ Tào.[6] 8. Tính lại các bực khanh-tướng xưa nay, bia đá cũng rêu phủ mà thôi. 9. Đâu có bằng ta lúc ngẩng đầu tỉnh dậy, Mặt trời đỏ đã lên cao ba sào. Dịch ra văn vần: 1. Kìa non Na đá mọc chênh-vênh Cây xanh xanh, Khói mờ mịt, Nước long-lanh. 2. Sớm ra khỏi động,
  • 106.
    Tối lại vềghềnh. 3. Xiêm dây đeo mặc sức, Aó lá sẵn bên mình. 4. Cửa động rừng xanh non dịu sáng; Đầu ghềnh ruộng biếc bến thêm xinh. 5. Mặc ai xe ngựa; Mặc ai thị thành. Nước non đây không nhuốm bụi phù sinh, 6. Tống để cung đao vùi dưới cỏ, Tấn xưa mũ áo chẳng còn manh. 7. Tạ, Vương phú quý; Tào, Triệu công danh. 8. Ngồi nghĩ lại cổ-kim khanh-tướng, Bia đá rêu quanh. 9. Ai đặng bằng ta choàng tỉnh giấc, Ngẩng đầu trông ác đã đầu cành. Hát rồi, giũ áo đi thẳng. Hán-Thương đoán: hẳn đây là người ẩn-dật, bèn sai quan hầu là Trương-công đuổi theo mời lại. Nhưng Trương đi gần kịp thì lão đã rảo bước vào động. Trương vội gọi lại nhưng không thấy thưa, chỉ thấy cưỡi mây, lách khói, thoăn-thoắt bước mau trong khoảng cành thông ngọn trúc. Trương biết không phải là người thường, cứ trông hút lật-đật theo sau, vừa đi vừa vạch cỏ tìm lối tắt, được chừng hai ba dặm, nhưng đường núi gập-ghềnh, càng vào sâu lại càng hiểm trở, khôn bề tiến bước. Trong chớp mắt đã chẳng thấy lão đâu nữa. Ngước trông lên mặt trời đã gác đầu non, cây cỏ đã bắt đầu lờ-mờ. Trương bàng-hoàng muốn quay gót trở lại thì đã không kịp rồi, chợt nghe tiếng gà gáy văng-vẳng từ chòm tre cao đưa lại. Trương mừng mà rằng: - Từ đây đến chỗ có người ở chả còn xa là mấy. Thế rồi cứ chống gậy trèo dốc, lên tới nơi thấy một cái am cỏ, hai bên tả hữu trồng mấy khóm kim-tiền, xen kẽ có mấy cây hồng-hạnh, bích-đào, đều rườm-rà vui mắt. Trong am có đặt cái giường mây, trên giường có đàn, có sáo và một cái gối tựa. Hai bên vách đông tây đều quét trắng và đề mỗi bên một bài ca. Một bên là bài ca “Thích ngủ” và một bên là bài ca “thích cờ.” 1. Bài ca “thích ngủ” như sau: 1. Ngô hà ái? - Ái duy miên. 2. Ái vị an thư thích tính nhiên. 3. Thiển mặc trướng thiêm tân phú-quý; Ải (nụy) đằng sàng kết cựu nhân duyên. 4. Mai chi hiên, trúc chi viên. U cư thú vị hữu lâm-tuyền.
  • 107.
    5. Thanh nôủng hậu: Hồng hữu la tiền. Môi dẫn: 6. Hắc điềm thắng cảnh; Lương tứ khinh biền. 7. Song yểm nhĩ hồng trần thế thượng, Tiểu khúc quăng bạch ốc vân biên. 8. Ký ngạo thảo lư, Nam-dương nhàn nhật nguyệt; Khiếm thân vân-quán, Triệu Tống trách sơn xuyên. 9. Bắc song ngâm hồn dị xúc; Tây đường xuân mộng thường viên. 10. Thư lâu sơ quyển tịch, Tửu điếm dục tình thiên. 11. Huyền hạc hoàng châu dạ dạ, Mỹ nhân Tương-thủy niên niên. 12. Hữu thời hướng túy-hương đả ngọa, Thảo phô nhân, hoa phô ốc, địa phô chiên; 13. Bành-Trạch dạ thâm, bán liêm tàn nguyệt, Liêm-khê viện tĩnh, nhất chẩm đề quyên. 14. Nhậm nhân đạo vi lãn phu sĩ, Vi khát thụy hán, vi ẩn thần tiên. Giải-nghĩa: 1. Ta thích gì? - Thích ngủ thôi; 2. Thích ngủ vì được an-nhàn thư thái hợp với tính mình. 3. (Mặc ai) màn ám muội đen để mà thêm phận sang-giầu. [7] (Mình vẫn) cùng cái giường mây nhỏ kết mối nhân-duyên cũ. 4. Ngoài hiên có mai, ngoài vườn trồng trúc. Ở ẩn, có rừng có suối làm thú-vị. 5. Cô hầu xanh đỡ đằng sau, Rượu hồng-hữu bày đằng trước.[8] 6. Khéo đưa lại: giấc ngủ ngon-lành. Thần trí mát-mẻ, nhẹ-nhõm. 7. Bịt hai tai (không nghe chuyện) hồng-trần trên đời; Co tay gối đầu nằm nơi nhà hạc bên mây. 8. Ngạo-nghễ nằm trong lều tranh, ngày tháng ở Nam-Dương nhàn-nhã thật;[9] Nằm duỗi chân ở quán Vân-Đài, non sông của họ Triệu nước Tống coi nhỏ xíu.[10] 9. Nằm bên cửa sổ hướng bắc mà hồn thơ lai-láng.[11] Nằm nhà hướng tây mà giấc mộng xuân thường được tròn vẹn.[12] 10. Ban chiều mới cuốn rèm nơi viện sách; Quán rượu muốn để chờ lúc ban mai. 11. Đêm đêm mơ-mộng hạc tía bay qua đất Hoàng-Châu. [13] Quanh năm mơ-mộng người đẹp chơi trên sông Tương. [14]
  • 108.
    12. Có lúcđến làng say đánh một giấc, Lấy cỏ làm đệm, hoa làm màn, đất làm chăn. 13. (Nhớ cảnh) đất Bành-Trạch lúc canh khuya trăng tà rèm cuốn;[15] Đất Liêm-Khê khi nhà tĩnh-mịch, tựa gối ngủ nghe tiếng quyên kêu.[16] 14. Ai muốn bảo là anh chàng lười, anh đói ngủ, hay là thần-tiên lánh đời thì cũng mặc. Dịch ra văn vần: 1. Hỏi thích gì đây? - Thích ngủ thôi. 2. Bởi thú an-nhàn bén nết rồi. 3. Màn muội, ai kia thèm phú-quý, Giường mây mình vẫn kết duyên-hài. 4. Kià vườn trúc, nọ hiên mai, Ẩn náu rừng khe thú tuyệt-vời. 5. Sau sẵn thanh-nô đon-đả, Trước thềm hồng-hữu chào mời. Khéo gạ 6. Mộng hồn túy-lý; Thần-trí chơi-vơi. 7. Nhà bạc khoanh tay kềnh một giấc; Bụi trần chuyện thế bít hai tai. 8. Am cỏ ngủ khoèo, Nam-dương ngày tháng dư nhàn hạ, Quán mây nằm khểnh, Triệu-Tống non sông đáng mấy mươi. 9. Cửa bắc hồn thơ lai-láng; Hiên tây xuân-mộng bồi-hồi. 10. Vườn văn dành buổi tối; Quán rượu để ban mai. 11. Hạc tía Hoàng-Châu quanh quẩn mãi; Bóng hồng Tương-Thủy nhởn-nhơ hoài. 12. Có lúc lại làng say ngả-ngón, Mượn gối cỏ, màn hoa, chăn đất giữa trời. 13. Bành-Trạch canh khuya, nửa rèm trăng chếch; Liêm-khê nhà vắng chiếc gối quyên ai. Ai muốn gọi: 14. Rằng "đại lãn" hay rằng "đói ngủ", Rằng "ẩn thần-tiên" cũng mặc đời. II. Bài ca "Thích Cờ" Phiên âm: 1.Ngô hà ái? Ái duy kỳ. Ái vị phong vân biến thái kỳ. 2. Liệt xứ loại long xà thất thế; Thắng biên như hùng hổ dương uy. 3. Xa song trì, mã song phi, Độ hà nhất tốt kháo trùng vi.
  • 109.
    4. Bắc namtương giới, Hình thế tương y. Mặc vận: 5. Phương viên động tĩnh; Diệu toán vô di. 6. Xuân tịch tịch sạ xao tàn mộng; Thủ dao dao lung toái hương ni (nê). 7. Độc-Lạc viên trung, tân bằng sơ định hậu; Hoàng-Châu lâu hiểu, minh-đinh bán tỉnh thì. 8.Trú vĩnh thiên lưu khách cửu; Am cao tử lạc thanh trì. 9.Viện giao dung-thiếp tảo; Liêm hứa tiểu-đồng khuy. 10. Doanh thâu đổ giang-sơn bán cục; Công danh tiêu đắc thất nhàn ky (cơ) 11. Hồn bất giác nhất thiên hướng tịch, Nguyệt tà song, yên tà triện, trúc tà chi. 12. Lãng uyển thần tiên nhàn trung độ nhật, Tràng an công-tử, túy lý vong quy. Tương đối xứ kiêm ta cầm, kiêm ta họa, Kiêm ta bích đề thi. Giải-nghiã: 1. Ta thích gì? - Thích cờ thôi. Thích vì (đánh cờ giống như) gió mây biến-chuyển lạ thường. 2. Bền bĩ như rắn rồng thất thế; Bên thắng chẳng khác gì gấu, cọp lúc dương oai. 3. Hai bên xe ruổi, ngựa bay, Một tốt qua sông hãm vòng ngoài. 4. Nam bắc chia đôi bờ cõi, hình-thế vẫn nương nhau. 5. Lặng-lẽ vần xoay: vuông, tròn, động, tĩnh.[17] Toan tính nhiệm mầu, không để sót nước. 6. Chiều xuân yên-lặng, chợt khua tỉnh giấc mơ tàn; Tay lay-động đánh tan mùi thơm (ở quân cờ).[18] 7. Trong vườn Độc-Lạc,[19] bạn bè vừa ngồi xuống. Buổi sớm trên lầu đất Hoàng-Châu,[20] rượu say mới nửa tỉnh. 8. Ngày dài, trời lưu khách ở lâu; Am cao, tiếng quân rơi chậm-chạp. 9. Nhà để cô hầu quét; Rèm để bà vợ ngấp-ngó trông. 10. Cá cuộc hơn thua, tranh-giành nửa giang-sơn; Bỏ hết tâm-cơ về sự thành bại trên bước đường công-danh. 11. Tuyệt không biết đến trời đã xế chiều, trăng xế cửa, khói lả ngọn, trúc lả cành. 12. Thần-tiên vườn Lãng, (đánh cờ để tiêu khiển) cho qua ngày nhàn-hạ;
  • 110.
    Công-Tử đất Tràng-An,lúc say-sưa (đánh cờ) quên cả đường về. 13. Cùng đối cảnh (với cờ) có cả đàn, có cả họa, có cả thơ đề trên vách. Dịch ra văn vần: 1. Lấy chi làm thú? - Đánh cờ chơi, Biến ảo phong-vân thực lạ đời. 2. Bĩ tựa rắn rồng khi thất thế; Thắng nhường gấu cọp lúc dương oai. 3. Đôi hàng xe ngựa ruổi dài, Một tốt sang sông hãm mặt ngoài. 4. Trận đồ một cuộc; Nam bắc đôi nơi. 5. Trù liệu: Vuông tròn động tĩnh. Suy tính không sai. 6. Êm-ả trời xuân khua mộng tỉnh, Dập-dìu ngón ngọc quét hương phai. 7. Độc-lạc vường kia, hò-hẹn người chung hội; Hoàng-Châu gác nọ, say-sưa rượu nửa vời. 8. Ngày rộng dùng-dằng lưu khách lại, Am cao, văng-vẳng tiếng quân rơi. 9. Ngoài viện cô hầu quanh-quẩn quét, Trong rèm bà chủ thập-thò coi. 10. Mảng cuộc hơn thua giành nửa nước; Lảng đường danh-lợi chả hoài hơi. 11. Cũng chẳng biết khi trời sắp tối, Khi khói tỏa, khi trăng nghiêng, khi cành trúc lả-lơi. 12. Vườn Lãng thần-tiên, thong-thả cho qua ngày hạc; Kinh-Kỳ công-tử mê say quên trở gót hài. 13. Đối cảnh có: này đờn, này họa, Này thơ trên vách một đôi bài. Lúc đó, lão Tiều đang ngồi ở hiên đá dạy chim vẹt học nói, bên cạnh có mấy trẻ nhỏ đương đánh cờ. Lão Tiều thấy Trương-Công đến, kinh-ngạc hỏi: - Nơi đây vắng vẻ, đất thẳm rừng sâu, chim núi líu-lo giọng hót, thú rừng chằng-chịt vết chân. Có việc chi ông lần mò đến tệ-xá, há chẳng cũng khó nhọc lắm ư? Trương-Công thưa rằng: - Tôi làm chức cung-phụng đương triều. Vì ngài là bực cao-sĩ, nên tôi vâng chỉ đem mệnh cung-tinh[21] đến tuyên triệu, sẵn có xe loan, xin ngài chút lòng huệ-cố. Lão Tiều cười mà rằng: - Ta là kẻ dật-dân[22] trốn đời, lão phu lánh bụi, gởi tính-mệnh chốn lều tranh ngõ hẻm; tìm sinh-nhai nơi buá gió rìu trăng; ngày rõi lối làng
  • 111.
    say,[23] cửa không chânkhách tục; bạn-bè cùng tôm cá hươu nai, dan-díu với phong hoa tuyết nguyệt. Ta chỉ biết hè đơn mà đông kép, ngủ khói lại nằm mây; bới núi mà ăn, múc khe mà uống, có biết chi đến việc bên ngoài: triều-đại nào, vua quan nào? Nhân lưu Trương ở lại ngủ đêm, cơm thổi bằng hạt điêu-hồ,[24] canh nấu bằng rau cẩm-đới, luộm-thuộm bày lên mâm, lại thêm vài món rau suối nữa. Hai người đối diện chuyện trò cho đến canh khuya, đều là những điều lý-thú, nhưng tuyệt không có câu nào đả-động đến thời-sự cả. Hôm sau, Trương-Công lại mời nói: - Những bậc quân-tử đời xưa không phải là không muốn giúp đời hành đạo, sở dĩ còn giấu-giếm tên tuổi là cốt để đợi giá cao đó thôi. Cho nên tất phải có tiếu-tượng đi cầu rồi sau đồng Thương mới đẫm nước[25] ; tất có hậu-xa đi đón mà sau nội Mục mới thành công.[26] Nay phu tử đem tấm thân kim-ngọc, ôm một bọc kinh-luân; giấu thanh-danh ngoài trường vinh-lợi, vùi thịnh-đức trong thú ngư-tiều; tuy hình còn náu chốn sơn-khê, mà tiếng đã lọt tai thánh-chúa. Nay chính là lúc phu-tử xé áo lá, đốt xiêm sen rồi đây. Xin sớm bỏ bờ đập Phó-Nham, vứt cần câu Vị-Thủy, để khỏi uổng lòng khát-vọng của dân đen. Lão Tiều đáp: - Kẻ sĩ mỗi người có một chí-hướng, có phải ai cũng thế đâu. Kìa Nghiêm-Tử-Lăng không màng chức gián-nghị ở Đông-đô để phải xa cảnh yên-ba bến Đồng-Lại ,[27] nọ Khương-Bá-Hoài không vì bức họa-đồ của Thiên-tử mà đánh đổi thú non-nước đất Bành-Thành.[28] Ta dẫu tài hèn so với người xưa còn cách bức, nhưng may mà giầu hơn Kiềm- Lâu ,[29] thọ hơn Vệ-Giới ,[30] no hơn Viên-Tinh ,[31] đạt hơn Phụng-Thiến, [32] kể ra cũng là được trời đất ban cho khá nhiều rồi. Nếu còn tham cầu quá phận, mưu-toan vào đường sĩ-hoạn thì không những thẹn cùng các bậc hiền-giả đời xưa, mà còn tệ với những loài viên-hạc núi cũ. Ông về đi, đừng nói lôi thôi nữa. Trương lại nói: - Ngài cho hiện-thời không bõ làm chăng? Thực ra, nay thánh-nhân ngự-trị, bốn bể trông chờ. Người Chiêm cắt đất xưng thần; quân Minh nộp người (Trần-thiểm-Bình) xin rút.[33] Các nước Đại-Lý, Lão-Qua (nay thuộc tỉnh Vân-Nam bên Tàu) tranh nhau quy phục. Hiện chỉ thiếu mặt dật-sĩ núi rừng chịu về phò-tá, khiến cho công-đức chúa-thượng sánh tầy vua Nghiêu, vua Thuấn đời xưa. Nếu ngài định trọn đời ẩn lánh như Vụ- Quang, Quyến-Tử,[34] thì như vậy mãi cũng không sao, như còn có chút lòng vì dân, mà bỏ lỡ dịp này không ra thì tôi e rằng sẽ cùng cỏ cây cùng mục nát, không còn có cơ hội-ngộ nào nữa. Lão Tiều biến sắc nói: - Theo lời ông nói há chẳng là khoe khoang thái-quá sao? Khiến người nghe phải thẹn mặt hổ lòng. Tôi xin hỏi: Ông vua đang ngự-trị phải chăng người họ Hồ? Trương-Công thưa rằng:
  • 112.
    - Phải. Lão Tiềuhỏi: - Có phải nhà Vua đã bỏ khu Long-Đổ (Hà-Nội) mà về đóng ở đất An- Tôn [35] không? Trương-Công thưa rằng: - Phải. Lão Tiều nói: - Ta tuy chân không bước vào thành-thị, mình không ở chốn đơn-trì, nhưng cũng từng nghe ông vua ngày nay là người thế nào. Ông ấy nói hay dối-trá, tính lại tham-lam; xây cung Kim-Âu, kiệt sức nhân-dân; dựng điện Hoa-Nhai cực kỳ xa-xỉ,[36] đã rẻ-rúng gấm-là, lại coi thường châu- ngọc. Dùng vàng như cỏ rác, tiêu tiền tựa đất bùn. Ngục-tù có của đút là xong, quan-tước có tiền mua là được. Người hiến điều ngay, chưa thốt lời đã bị gia-hình; kẻ dâng câu nịnh, lại được thưởng mà không tội- vạ. Bởi xao-xuyến lòng dân mà xẩy việc tràn quân sông Đáy;[37] gây rối- ren ngoài cõi phải cam bề mất đất Cổ-Lâu.[38] Vậy mà các kẻ đình thần: trên dưới theo hùa, trước sau nối vết. Duy còn lũ: Nguyễn-bằng-Cử[39] tuy có lượng nhưng mà chậm chạp; Hoàng-hối-Khanh [40] tuy có học song lại lờ-mờ; Lê-cảnh-Kỳ [41] giỏi mưu-mô mà lại không quyết-đoán; Lưu-thúc-Kiệm [42] dù quân-tử mà chửa khoan-nhân. Còn ngoài ra chẳng lũ tham tiền thì phường bét rượu; phi lấy yên-vui tự mãn thì dùng thế-lực tương khuynh; chưa thấy ai có mưu cao chước lạ để lo việc cho dân- chúng cả. Nay ta ẩn-tích ở chốn núi rừng, lánh đi chưa được, há còn rấn thân vào nữa hay sao.[43] Xin ông vui lòng trở về, làm ơn vì ta mà từ-tạ hộ cho. Ta không thể đem viên ngọc Côn-Sơn để cùng cháy chung trong ngọn lửa ở Côn-Sơn [44] được. Trương-Công nói: - Sự xuất-xứ [xử] của hiền-nhân lại cố-chấp đến thế kia ư? Lão Tiều đáp: - Không phải là ta cố-chấp đâu, ta chỉ ghét những kẻ khéo nịnh-bợ, đã thất thân vào trong cái triều-đình trọc-loạn, lại còn toan lôi kéo người khác vào để cùng chìm-đắm với mình. Trương-Công im-lặng không còn biết nói sao được nữa, bèn xin cáo- từ trở về phục mệnh. Trương về đem hết những lời của lão Tiều tâu lại với chúa. Hồ Hán-Thương tuy không bằng lòng, nhưng còn muốn đem xe đi cố đón mời cho bằng được, bèn sai Trương-Công đi lần nữa. Trương vào đến nơi thì rêu phong cửa động, gai-góc đầy non, dây leo, cành rậm đã lấp mất lối đi bữa trước rồi. Chỉ còn thấy trên vách đá, chỗ mài nhẵn có đề hai câu thơ rằng: Kỳ-La cửa bể hồn thơ dứt[45] ; Cao-Vọng đầu non dạ khách sầu.[46] Xem lời văn có giọng trào-phúng như họ Nguyên, họ Bạch [47] nét chữ theo lối triện-lệ của ông Lưu, ông Tư,[48] nhưng chẳng hiểu là nói gì.
  • 113.
    Hán-Thương cả giận,hạ lệnh đốt núi. Núi cháy hết mà vẫn chẳng thấy gì, chỉ thấy con hạc đen liệng trên không, lững-lờ bay múa. Sau hai cha con họ Hồ bị họa, đều đúng như câu thơ trên. Còn lão Tiều kia, có phải là ngươi đắc đạo rồi chăng? Phần bình-luận Có cái "thần" để hay biết việc tương-lai, có cái "trí" để ẩn-tàng điều quá vãng,[49] đó là việc của thánh-nhân. Lão Tiều dẫu là hiền-giả nhưng đâu đã được vào bậc ấy. Tuy nói việc họ Hồ táng bại rõ như bói rùa, bói cỏ, chẳng qua là nghiệm với lẽ trời, xét theo lòng người, nói nhiều may có điều trúng là lẽ cố-nhiên. Bậc làm vua-chúa phải lấy việc Chính lòng mình để làm gốc Chính Triều-đình, Chính trăm quan và Chính muôn dân, đừng để cho kẻ xử-sĩ bàn ngang vào là hay hơn cả. Lý Tướng-quân truyện Truyện Lý Tướng-quân Vua Giản-Định nhà Hậu-Trần lên ngôi ở Mô-Độ [50] . Các hào-kiệt bốn phương, gần xa đều hưởng-ứng, chiêu-tập đồ-đảng làm quân cần- vương. Bấy giờ có Lý Hữu-Chi ở Đông-Thành xuất-thân là người điền- phủ (làm ruộng) nổi lên, vốn tính hung-tợn, nhưng có sức khỏe mà thiện- chiến. Lý được Quốc-Công Đặng-Tất tiến-cử cho làm chức tướng-quân và sai lãnh một đạo hương-binh đi đánh giặc. Trong tay đã nắm quyền- hành, Lý đâm ra làm điều trái phép: o-bế phường trộm cướp, thù ghét mặt văn-nho, ham mê sắc tài, lòng tham không đáy; tậu lắm ruộng vườn, xây nhiều dinh-thự; đào đồng-nội để làm ao, đuổi xóm-thôn cho rộng đất. Lý lại còn bắt sang huyện-hạt lân cận lấy hoa thơm, đá lạ. Nhân- dân phục-dịch thật là vất-vả; anh về em phải thế, chồng nghỉ vợ thay phiên. Ai nấy vai phồng, tay nát, cực nhọc vô-cùng, mà Lý vẫn thản- nhiên chẳng chút động-tâm. Một hôm có người thầy tướng đến cửa ăn mày, biết xem đường họa- phúc. Lý bảo lão xem tướng cho mình. Thầy tướng nói: - Không có gì lợi cho việc làm bằng lời nói thẳng, không có gì chữa khỏi bệnh bằng liều thuốc đắng.[51] Nếu ngài rộng cho, tôi xin nói hết, đừng vì nói thẳng mà mất lòng, khiến tôi phải dè-dặt, kiêng-kỵ mới được. Lý nói: - Được, cứ nói, không hề chi. Thầy tướng nói: - Điều thiện-ác tích lâu mới rõ, cơ báo-ứng chẳng chút sai-lầm, cho nên bàn lý trước khi luận số, tướng diện không bằng tướng tâm. Nay tướng-quân chỉ có bạo-tàn mà không nhân-đức, khinh người trọng của, mượn oai-quyền ngược-đãi sinh-linh, buông tham-dục lừng danh kiêu-
  • 114.
    hãn (hãnh). Đãtrái lòng trời, tất bị trời phạt, còn cách nào tránh tai-ương được nữa. Lý cười nói: - Ta đây, đã sẵn binh-quyền, lại xây đồn-lũy, tay không rời kiếm-kích, sức lướt kịp phong-vân. Trời dù có giỏi, cũng phải tránh ta không kịp, còn giáng họa cho ta sao được? Thầy tướng nói: - Tướng-quân ỷ sức ngang-tàng, chưa thể lấy lời nói cho hiểu được. Tôi có chuỗi hạt châu nhỏ bé, trông vào sẽ rõ cát hung, tướng-quân có muốn xem không? Vừa nói vừa lấy chuỗi hạt châu trong tay áo ra. Lý đưa mắt nhìn xem thấy trong đó: nào lò lửa, nào vạc sôi, bên cạnh có những người đầu quỷ ghê-gớm, kẻ cầm thừng-chão, kẻ cầm dao cưa, còn mình thì bị gông xiềng, bò lê đến bên vạc-dầu, nhớn-nhác sợ-sệt. Lý hỏi có cách nào cứu giúp được chăng thì thầy tướng đáp: - Gốc ác đã sâu, mầm họa sắp nảy. Cái kế gấp-rút ngày nay là không gì bằng thải hết cơ-thiếp, phá bỏ vườn ao, trút hết binh quyền, nương nhờ cõi phúc. Tuy chưa thể sạch hết tội được, cũng có thể giảm trong muôn một. Lý trầm-ngâm hồi lâu rồi nói: - Thôi thầy đừng nói nữa. Tôi không thể theo kế ấy được. Có lý đâu lại vì lo cái vạ mai sau chưa chắc đã có, mà vội-vàng vứt bỏ những công- cuộc xoay-xở trong mấy năm trường đến lúc sắp thành công đi bao giờ? Rồi từ đó, Lý càng thêm dâm-dật càn-dỡ, chém giết sướng tay. Bà mẹ Lý tức-giận bảo: - Ham sống ghét chết, lòng người ai ai cũng vậy. Đạo trời sáng tỏ, sao một mình mày dám đa-sát đến thế được? Không ngờ ta đến lúc tuổi già, lại phải nhìn thấy cái cảnh con bị hình-lục. Con trai Lý là Thúc-Khoản cũng thường can-gián cha luôn, nhưng vẫn chẳng hối cải chút nào. Sau Lý chết ở nhà vào năm 40 tuổi. Người đi đường xôn-xao bàn-tán: "Người làm điều lành có khi phảI bỏ mạng dưới gươm đao; còn kẻ làm điều ác, lại được chết toàn mạng ngay trong nhà. Không biết đạo Trời đâu nhỉ?" Trước đây có người cùng hạt là Nguyễn-Quỳ tính tình khảng-khái, lại chuộng khí-tiết, vốn chơi thân với Thúc-Khoản, nhưng chết đã ba năm rồi. Một hôm Thúc-Khoản đi chơi sớm về, bỗng gặp Quỳ ở ngoài đường. Quỳ bảo Thúc-Khoản rằng: - Sắp có việc tra hỏi phụ-thân anh đó. Tôi vì tình quen thân đến báo cho anh biết trước. Nếu anh muốn đi xem, tối mai tôi cho người lại đón, anh xem sẽ rõ. Nhưng anh nhớ cho: xem rồi phải bưng kín miệng bình, một lời tiết-lộ ra là vạ tới tôi ngay đó. Nói rồi biến mất. Đến hẹn, Thúc-Khoản ngồi trong trai-phòng ngóng đợi. Tới nửa đêm, quả thấy mấy người đến đón, đưa tới tòa cung-điện lớn. Có vị Vương-
  • 115.
    giả đã ngồitrên điện. Người thị-lập đôi bên đều giáp sắt, trụ đồng, tay cầm gươm đao, phủ-việt, hàng ngũ tề-chỉnh, oai-nghiêm. Một lát thấy bốn viên phán-quan từ dãy hành-lang mé tả rảo bước đi ra, trong đó Nguyễn-Quỳ là một, đến quỳ trước án, trong tay đều có bản tâu. Một viên phán-quan tuyên đọc: - Vị quan tên Mỗ, ở trên trần-thế, giữ nết cương-cường, ngay thẳng, không sợ quyền-quý, càng cao tước-vị lại càng khiêm-cung, còn biết vì nước bỏ mình, làm rạng-rỡ cho quốc-gia. Thần cúi tâu bệ ngọc, xin cho y-viên đặng thành tiên. Một viên tâu: - Ở nhà nọ có tên Mỗ, vốn tính tham-ô, người đến hối-lộ đầy nhà, lại cậy quyền-lộc, rở [giở] thói hợm đời, khinh người đức-độ, chưa từng cất nhắc hiền tài cho ra giúp nước, thần xin chuyển báo Nam-tào, tước bớt tuổi thọ. Một vị tâu: - Ở châu kia, có người họ Hà gắng làm điều thiện, cặm-cụi suốt ngày. Mới đây, sau cơn binh-lửa, nạn tật-dịch hoành hành, y lại cho đơn cấp thuốc, cứu sống đến hơn ngàn người. Thần muốn tâu xin cho y được đầu thai cửa phúc, hưởng lộc ba đời, để đền ơn đã cứu sống nhiều người. Vị thứ tư tâu: - Trong thôn nọ, có gã họ Đinh bất mục với anh em, bất hòa cùng tôn- tộc, bắt nạt lũ cháu thơ-dại, thay đổi chúc-thư để chiếm ruộng nương, khiến chúng không có chỗ cắm dùi.[52] Thần tâu xin bắt gã ấy thác sinh vào nhà túng-đói, hèn-hạ, sống vất-vưởng bên ngòi, bờ lạch, để đền tội ác tranh-đoạt của người. Vương-gia đều chuẩn tấu. Kế đó, có người mặc áo lụa đỏ, từ bên hành-lang mé hữu đi ra, quỳ xuống tâu rằng: - Tòa-sở do thần cai-quản, có tên Mỗ, họ Mỗ ngang ngạnh bất-pháp, giam cầm trong ngục đã một năm nay chưa kết án, thần xin đưa ra thỉnh mệnh trước Vương-đình. Tâu rồi tuyên-đọc bản văn hặc tội sau đây: Phiên âm: 1. Phục văn: Huyền-Hoàng triệu phán, phân dương thanh âm trọc chi hình; Dân-Vật bẩm sinh, hữu ác nghiệp thiện duyên chi dị. 2. Như tư chủng chủng Cố khả mai mai. 3. Cái: Thiên năng dĩ lý phú nhân, bất năng sử nhân giai hiền thành; Nhân năng dĩ thân suất tính, bất năng vô tính hoặc hôn minh. 4. Cố: Hữu ỷ nhi bất trung;
  • 116.
    Hữu lưu nhivi ác. 5. Cát hung chi động, phán nhiên tẫn, mẫu, ly, hoàng; Nhân quả chi lai, tất nhĩ hình, thanh, ảnh, hưởng. 6. Cố thử lý bản lai hiển-trừ; Nại phù nhân nhất thị ngoan-ngu. 7. Cạnh khởi nộ-sân, Vọng sinh vật-ngã. 8. Yên hà lạc tỉnh, mịch-mịch hà thâm; Tắc tạm điền khanh, thao-thao giai thị. 9. U-trẩm chi thử, Vẫn-việt kham liên. 10. Thử: Cửu thiên thùy bạt-độ chi khoa, tương cảnh mê nhi giác ám; Thập-địa cụ luân-hồi chi ngục, dục giới vãng nhi trừng lai. 11. Quá nhi phất thuân: Hình chi tất chí. 12. Kim Lý-Mỗ: Trùng-sa chi chất, Nghĩ-sắt chi khu. 13. Đề giao thời phúc-vũ phiên-vân; Manh tâm xứ yêu-tinh lệ-quỷ. 14. Thị văn-học thực đồng nhuế-tạc; Trọng hoá-tài đãi nhược khâu-sơn. 15. Chiếm nhân điền loại Hán Hồng-Dương; Túng ngược sát mại Tùy Dương-Tố. 16. Tường nhân phiến họa, hiệu sài-lang mãnh-thú hữu gia; Túng dục cùng xa, tuy khê-hác khâu sơn bất túc. 17. Tất cánh tham-tâm sở sử; Chân thị gian-nhân chi hùng. 18. Hạp trí nghiêm-điều. Dụng trừng lai-giả. Giải-nghiã: 1. Kính nghe: Từ thuở bắt đầu phân ra sắc đen, sắc vàng,[53] đã chia hình-thể: khí dương trong, khí âm đục; Muôn dân và loài vật được trời sinh ra, khác nhau ở chỗ người hưởng duyên lành, kẻ cam nghiệp dữ. 2. Sự-trạng là như thế, Có thể trình bày từng việc. 3. Bởi lẽ rằng: Trời chỉ lấy lý phú cho người, không có thể khiến cho người thành thánh hiền cả được; Còn con người phải noi theo tính, nhưng tính-tình không khỏi có kẻ sáng người ngu.
  • 117.
    4. Vì thếmà: Có kẻ thiên-lệch, không giữ đạo trung; Lại có người xoay-xở làm điều ác-nghiệp. 5. Mọi việc lành dữ, rõ-ràng như con đực, con cái, sắc đen, sắc vàng;[54] Nhân-duyên, quả-báo, chẳng khác tiếng, vang, hình, bóng. 6. Ngẫm lẽ ấy vốn là rõ-rệt: Nhưng người đời thật đã ngoan-cố, ngu muội. 7. Tranh đua nổi lòng ghen tức; Càn-rỡ sinh chuyện tây-riêng. 8. Dìm sông ngã giếng, đắm-đuối càng sâu; Lấp hào vùi hố, đầy-dẫy khắp nơi. 9. Đắm chìm đến thế, Trụy lạc càng thương. 10. Vì thế nên: Chín từng trời mở đường bạt-độ, để răn kẻ u-mê, thức tỉnh người mờ tối; [55] Mười phương đất có ngục luân-hồi để răn kẻ trước, khuyên người sau. [56] 11. Lỗi mà chẳng sửa, Tội đến không sai. 12. Nay Lý-Mỗ: Sâu-cát thân hèn,[57] Kiến giun phận mọn. 13. Kết bạn thời tráo-trở như là bóng mây, cơn mưa; Trong tâm thời toàn những chuyện gớm-ghê như loài ma-quái. 14. Coi đạo học như mộng tròn xà vuông;[58] Trọng của-cải như núi như non. 15. Chiếm-đoạt ruộng người như Hồng-Dương đời Hán;[59] Giết mạng người hơn Dương-Tố đời Tùy.[60] 16. Hại người gieo vạ, so với hùm beo, thú dữ còn tệ hơn; Lòng ham muốn, nết xa-xỉ, đến khe lạch, núi non còn kém. 17. Hết thảy đều bởi lòng tham xui khiến, Thực là thủ-đoạn của kẻ gian-ngoan.[61] 18. Xin khép nghiêm-hình, Để răn kẻ khác. Dịch ra văn tứ lục: 1. Từ thuở khai thiên lập địa, đã phân hình âm đục dương trong; Đến khi dựng vật sinh dân, đà khác nẻo duyên lành nghiệp dữ. 2. Sự-tình xiết kể Bày tỏ một hai. 3. Bởi lẽ rằng: Lý trời kia phú cho người, người đâu thảy là hiền, là thánh; Thân nọ người noi theo tính, tính vẫn còn hoặc sáng hoặc ngu. 4. Cho nên:
  • 118.
    Có lắm kẻthiên-tư; Lại nhiều người gian ác. 5. Dữ lành việc trước, rõ như đực, cái, đen, vàng; Nhân quả duyên sau, giống hệt tiếng, vang, hình, bóng. 6. Ngẫm lẽ ấy rất là rõ-rệt: Song người nay thật quá ngoan-ngu. 7. Nổi tính hờn ghen, Sinh lòng hơn thiệt. 8. Chìm sông ngã giếng, đắm-đuối càng sâu; Vùi hố lấp hào, tơi-bời thế cả. 9. U-trầm quá đỗi, Trụy-lạc đáng thương. 10. Vì thế nên: Chín từng trời bạt-độ mở đường, thức-tỉnh người mê-muội; Mười phương đất luân-hồi sẵn ngục, khuyên răn kẻ trước người sau. 11. Không sửa lỗi-lầm, Tất mang tội-vạ. 12. Nay Lý-Mỗ: Thân hèn sâu-cát, Phận mọn kiến-giun. 13. Kết bạn-bè tráo-trở mây mưa; Mang tâm-địa gớm-ghê yêu-quái. 14. Coi văn-học như ngàm-đố lệch, Trọng bạc tiền tựa núi non cao. 15. Chiếm ruộng người tựa Hán Hồng-Dương; Giết sinh-mạng quá Tùy Dương-Tố. 16. Gieo tai rắc vạ, so hùm beo lang sói khôn tầy; Cực dục cùng xa, dù khe suối núi non chưa đủ. 17. Chỉ tại lòng tham thúc-đẩy; Mà sinh thủ-đoạn gian-ngoan. 18. Phải khép trọng-hình, Để răn kẻ khác. Tuyên đọc xong, thấy người lại-dịch giải Hữu-Chi ra, để nằm phục trước cửa, rồi lấy roi quất dữ-dội, máu tươi bắn ra nhầy-nhụa. Hữu-Chi giãy-giụa, rên-rỉ, đau không chịu nổi. Chợt trên điện có tiếng phán- truyền: - Chia tòa giữ việc là chức-phận của lũ ngươi. Cớ sao việc này bỏ bề-trễ hàng năm nay? Người mặc áo đỏ tâu: - Vì y tội ác đầy-dẫy, thần không dám luận tội một cách sơ-suất. Nên nay mới tâu trình ngự-duyệt để nghiêm hình-pháp. Rồi tâu kể các tội sau đây: - Y bắt vợ người, hiếp-dâm con người, nên xử thế nào? Diêm-Vương phán:
  • 119.
    - Đó lày đắm chìm trong bể ái,[62] nên lấy nước sôi rửa ruột, để lòng dục khỏi phát-sinh. Tả hữu liền lôi Hữu-Chi bỏ vào vạc nước sôi, mình-mẩy đều nát rữa ra. Nhưng đem nước thần vẩy vào, phút chốc trở lại lành-lặn như người thường. Người mặc áo đỏ lại tâu: - Y chiếm ruộng nương và phá-hủy tài sản của người, nên xử thế nào? Diêm-Vương phán: - Đó là vì suối tham dìm nó.[63] Nên lấy lưỡi trủy-thủ[64] moi ruột, để lòng tham khỏi nổi dậy. Tức thời, tả hữu mổ bụng, moi hết phủ-tạng ra ngoài, rồi lại lấy nhành dương sẽ phất, chỉ trong giây lát, thân-thể lại nguyên-vẹn. Người mặc áo đỏ lại tâu: - Đến như việc phá-hủy mồ-mả cổ-nhân, mất cả luân-thường với ruột thịt, nên xử cách nào? Diêm-Vương trầm-ngâm hồi lâu rồi phán: - Đây là một sự bạo ngược vô-cùng, thì cho xử hình núi đao cây kiếm, [65] nước đồng gậy sắt cũng chưa vừa. Phải đem giam vào ngục Cửu- U,[66] lấy dây da chằng đầu, lấy dùi lửa đóng vào chân, cho chim cắt mổ vào ngực, rắn độc cắn vào bụng, trầm-luân khổ-ải, đời đời kiếp kiếp, hông bao giờ thoát khỏi nữa. Quỷ sứ lại điệu Hữu-Chi đi. Lúc đó, Thúc-Khoản đứng ở khe tường ngó trộm cơ-hồ phát khóc thất- thanh. Mấy tên quỷ vội lấy tay bưng miệng y lại đưa về, rồi từ trên không quăng xuống. Thúc-Khoản sợ quá, giật mình tỉnh giấc, thấy người nhà đang ngồi quanh mà khóc và kể lại là mình chết đã hai ngày rồi. Nhưng sờ ngực hãy còn thoi-thóp, nên chưa thu-liệm và mai-táng. Thúc-Khoản liền bỏ cả vợ con, đốt hết văn-tự nợ, bỏ đi vào rừng hái thuốc tu luyện. Câu chuyện này giữ kín không tiết lộ cho ai hay. Chỉ có Thúc-Khoản và mấy người nhà được biết mà thôi, cho nên ít người biết mà truyền lại. Phần Bình-Luận Than ôi! Đạo Trời chí công, vô tư! Lưới Trời dẫu thưa mà chẳng lọt! Cho nên có người tuy lúc sinh thời không mang tai-vạ, nhưng chết rồi mới bị cực-hình. Chỉ có điều: tai-họa lúc sống đã không ai thấy, cực-hình lúc chết lại chẳng ai hay. Vì thế mà ở đời có nhiều loạn-thần tặc-tử. Ví thử, để đời trông thấy thì dù có giục làm điều ác cũng chẳng ai dám làm. Thế mà Lý-Mỗ, mắt đã trông rõ còn cứ làm càn-dỡ, thì thật là hạng mặt sứa gan lim, không cần bàn đến vậy. CHÚ THÍCH
  • 120.
    [1] Núi Natục gọi là núi Nứa [Nưa], ở về xã Cổ-Định huyện Nông-Cống tỉnh Thanh-Hoá, cách tỉnh chừng 30 cây số. Lão Tiều Núi Na họ Trần tên Tu, người đương-thời thường gọi là cụ TU-NỨA [NƯA], chán đời, cất lều tranh gọi là Am-Tiên, ở ẩn trong đó (theo Thành-Ngữ Điển-Tích) [2] - Thần-Môn là một bậc ẩn-giả lánh đời vào giữ việc mở cổng thành buổi sớm đời Xuân-thu. - Tiếp-Dư họ Lục tên Thông, người nước Sở, đời vua Chiêu-Vương, giả điên-dại không chịu ra làm quan, người thời bấy giờ thường gọi Tiếp- Dư là Sở-Cuồng. [3] Lam-thái-Hoà không rõ là hạng người nào, lại có thuyết nói Lam là một dật-sĩ vào cuối đời Đường, thường mặc quần áo rách tả-tơi, một chân xỏ dép, một chân không, đi lang-thang ngoài đường, vừa đi vừa gõ thanh gỗ mà hát nghêu-ngao (Thiên-Hạ dị-kỷ ). [4] Thi-học đại thành có câu: Chế kỵ hà dĩ vi y, tập phù-dung dĩ vi thường nghĩa là chế lá ấu, lá sen làm áo, xếp lá phù-dung làm xiêm. [5] Thơ Lý-Bạch: Ngô-cung hoa-thảo mai u kính, Tấn-đại y-quan thành cổ-khâu Nghiã là: Hoa-cỏ cung Ngô vùi ngõ tối, Aó đai đời Tấn lấp gò cao (Đường-Thi) [6] Vương-Đạo, Tạ-An là khanh-tướng đời nhà Tấn; Triệu-Phổ, Tào-Bân là khanh-tướng đời nhà Tống. [7] Phạm-trọng-Yêm người nước Tống; lúc còn nhỏ, rất chăm học, đêm để đèn trong màn học suốt đêm không ngủ. Sau nên quý-hiển, người vợ đem cái màn trên đỉnh còn vết muội đèn đen như mực, bảo con cháu rằng: cha các con thuở nhỏ chăm học hãy còn lớp muội đèn đây (theo Thượng-hữu-lục). [8] Mùa hè cho chí mùa đông, trúc vẫn xanh-tốt, nên gọi là thanh-nô (cô hầu xanh). Hoàng-lỗ-Trực gọi trúc là vợ, vì trúc dùng làm gối để đỡ tay yên nghỉ (theo Viên-Cơ). Bạn đỏ (chữ Hán là Hồng-hữu) tên một thứ rượu (theo sách Quần- ngọc). [9] Gia-cát-Lượng lúc chưa ra phò Lưu-Bị nằm khểnh trong lều gianh ở Nam-Dương, tiêu dao tuế nguyệt (theo Tam-Quốc-Chí). [10] Trần-Đoàn , một cao-sĩ đời Tống, ẩn trong núi Vũ-Đương (còn có tên Thái-Hoa-Sơn, nay ở phía nam huyện Quân, tỉnh Hồ-Bắc). Mấy triều vua vời không chịu ra. Sau lại vào tu ở Hoa-Sơn (nay thuộc huyện Hoa-Âm, tỉnh Thiểm-Tây) tịch cốc luyện khí, mỗi lần ngủ trăm ngày không dậy. Tống Thái-tôn [tông] ban cho đạo-hiệu là Hi-Di tiên sinh. [11] Thơ Tô-Đông-Pha: Bất như tam-phục nhật, cao thụy bắc-song lương Nghiã là: Gì bằng gặp giữa ngày tam-phục, cửa bắc nằm cao, mát-mẻ thay (theo âm-lịch thì những ngày "canh" sau tiết hạ-chí là sơ-phục, trung-phục; ngày "canh" sau tiết lập-thu là mạt-phục).
  • 121.
    [12] Tạ-linh-Vận rấtthân với người em họ là Huệ-Liên thường ở nhà hướng tây làm thơ. Có lúc bí không nghĩ ra, nằm mơ thấy Huệ-Liên mà nẩy ra câu thơ hay. Tạ cho là câu ấy có thần giúp (theo sách Thị-tộc ). [13] Tô-Đông-Pha đời Tống làm quan, bị đổi ra Hoàng-Châu, cùng bạn bơi thuyền chơi trên sông Xích-Bích. Gần nửa đêm, chợt thấy con hạc bay qua thuyền, sa xuống kêu to. Đến lúc đi ngủ, Tô nằm mơ thấy người đạo-sĩ áo lông đến vái chào mà hỏi rằng: "Tiên-sinh chơi sông Xích-Bích có vui không?" Tô hỏi lại: "Có phải lúc nãy bay qua thuyền ta mà kêu là ngươi không?" Đạo-sĩ chỉ nhìn Tô mà cười. Tô giật mình tỉnh dậy. (theo sách Cổ-Văn tất độc). [14] Xưa có người được chiếc gối, lấy gối đầu ngủ. Đêm nào cũng nằm mơ thấy người đẹp đi chơi thuyền trên sông Tương (theo Cổ-Văn). [15] Đào-Tiềm mẹ già, nhà lại nghèo, làm quan lệnh quận Bành-Trạch, sau từ quan về ở ẩn, nằm ngủ ở dưới cửa sổ đằng bắc hóng mát, tự coi mình là người đời Hy-Hoàng (theo Thị-tộc). [16] Chu-Liêm-Khê có cái gối, mỗi khi gối đầu ngủ lại nghe thấy tiếng quốc kêu, nhân đặt tên là "Đề quyên chẩm". [17] Đời Đường Huyền-Tôn (712-755), Lý-Bật xin Trương-Thuyết cho nghe khái-niệm về Phương, Viên, Động, Tĩnh. Thuyết đọc: Phương nhược kỳ-cục, Viên nhược kỳ-tử, động nhược kỳ-sinh, tĩnh nhược kỳ-tử Nghiã là: Vuông như bàn cờ, tròn như quân cờ, động như quân còn, tĩnh như quân chết. Bật đọc luôn: Phương nhược hành nghiã, viên nhược dụng trí, động nhược sinh tài, tĩnh nhược đắc ý. Nghiã là: Vuông như làm điều nghĩa, tròn như dùng trí khôn, động như trổ tài, tĩnh như đắc ý (theo Viên-Cơ). [18] Những nhà sang ở đất Quan-Trung dùng lõi cây tử-đàn làm con cờ nên có mùi thơm (theo Hợp Bích). Con cờ vì có nhiều tay người đánh cầm vào làm cho mùi thơm phai-lạt. [19] Tư-Mã Ôn-Công làm bài ký vườn Độc-Lạc có câu: tôn-tửu lạc dư- xuân, kỳ cục tiêu trường hạ. Nghiã là: Chén rượu dư-xuân còn đượm thú, cuộc cờ trường-hạ cũng mau qua (theo Cổ-Văn). [20] Vương-nguyên-Chi làm bài Ký lầu trúc ở Hoàng-Châu có câu: Hạ- nghi cấp vũ, hữu lộc-bố thanh, đông nghi mật tuyết, hữu toái ngọc thanh, nghi vi kỳ tử thanh đinh đinh nhiên. Nghĩa là: Mùa hạ nên mưa rào, có tiếng như thác chảy; mùa đông nên tuyết dầy, có tiếng như ngọc vỡ; nên đánh cờ, tiếng quân đập lát-chát...Khi men rượu tỉnh, hương trà hết, tiễn mặt trời, đón mặt trăng, đều là những thú ở lầu Trúc (Cổ-Văn). [21] Mời quan sĩ thì dùng cung nỏ, mời quan đại-phu thì dùng cờ tinh (theo Lễ Ký). [22] Người có đức mà đi ở ẩn gọi là dật-dân (Luận-Ngữ)
  • 122.
    [23] Làng say(Túy Hương) là nói ở ẩn vào một cõi say-sưa riêng biệt. Hoàng-phủ-Tùng có soạn ba quyển "Túy-Hương nhật-nguyệt". Vương Tích có tập "Túy hương ký". [24] Điêu-hồ cũng là một thứ lục cốc, hạt to mà dẻo, có thể ăn thay cơm. [25] Vua Cao-Tôn nhà Thương nằm mộng thấy Thượng-đế cho một kẻ tôi hiền, bèn theo trong mộng vẽ một bức ảnh rồi sai người đem ảnh ấy đi khắp nơi tìm kiếm, sau quả tìm được Ông Phó-Duyệt, đương đắp đập ở đất Phó-Nham (nay thuộc Sơn-Tây), đón về lập làm Tướng (Tướng Văn). Vua bảo Ông Duyệt: "Khi trời đại-hạn, dùng khanh làm mưa rào" (theo Thượng Thư). [26] Chu-Văn-Vương đi săn, gặp Lã-Thượng (Lã-Vọng) ngồi câu cá trên bờ sông Vị, mới lên xe sau chở về, tôn lên làm bậc thầy. Sau ông Lã- Vọng bày trận Bát-Quái phá nhà Ân ở Mục-Dã (nay thuộc huyện Hồng tỉnh Hà Nam) vào năm 1122 trước công-nguyên, tức năm thứ 13 đời Chu-Vũ-Vương. [27] Nghiêm-Tử-Lăng đời Hán, vua Quang-Vũ mấy lần vời ra cho làm quan gián-nghị đại-phu, nhưng Nghiêm không nhận, bỏ đi câu ở núi Phú-Xuân, cạnh sông Đồng-Giang (huyện Đồng-Lư, tỉnh Chiết-Giang), trên sông có đền câu của Nghiêm-Tử-Lăng. [28] Khương-Bá-Hoài đời Hán người đất Bành-Thành cùng hai em là Trọng Sửu và Quý Giang có lòng hiếu-hữu, tiếng đến Triều-đình, vua Hoàn-đế sai thợ vẽ hình đi mời, Khương không đến, vào ẩn ở cõi Thanh-Châu, xem bói độ nhật. Đến năm77 tuổi mới trở về (theo Hán Cương-Mục). [29] Kiềm-Lâu nhà nghèo, lúc chết chỉ có một manh áo, đắp kín đầu thì hở chân, đắp kín chân thì hở đầu. Lúc ấy Tăng-Tây lại viếng, trông thấy bảo rằng: đắp lệch đi thì kín được cả đầu lẫn chân. Người vợ Kiềm-Lâu không nghe, nói: Nhà tôi lúc sống vẫn ngay-thẳng, lúc chết lại để lệch-lạc, thế là không hợp lý. Đắp lệch mà có thừa sao bằng đắp ngay mà không đủ. Vợ lại đặt tên thụy là Khang. Tăng-Tây nói: Tiên- sinh ăn không đủ no, áo không đủ kín mình, sao gọi là "khang" được? Bà vợ Kiềm-Lâu nói: Vua muốn cho làm Tướng-Quốc mà không làm, thế là thừa sang rồi; cho thóc mà không nhận, thế là thừa giầu rồi, đặt tên thụy là Khang, chẳng cũng đáng lắm ru? (theo chuyện Cao-Sĩ). [30] Vệ-Giới đời Tấn, người đẹp văn hay, thọ được có 27 tuổi thì mất (theo Thị Tộc). [31] Viên-Tinh là học-trò chết đói ở dọc đường, có kẻ trộm là Khâu-Hồ- Phủ nấu hồ đổ cho. Viên hồi tỉnh hỏi: Có phải ngươi là kẻ trộm không? Sao lại nuôi ta? Nói rồi mửa hết ra, chịu nằm mà chết (theo Bạch-My Cố-Sự). [32] Tuân-Sán đời Ngụy, tự là Phụng-Thiến, có người vợ đẹp lắm. Sau vợ ốm chết. Phụng-Thiến cũng chết theo (theo sách Thị-Tộc).
  • 123.
    [33] Nhà Minhsai lũ Hàn-Quan đem quân sang xâm lấn, mượn tiếng đưa Trần-Thiêm-Bình về nước. Hán-Thương sai bọn Hồ-Xạ chận ở cửa ải Chi-Lăng, quân Minh bèn đưa trả Thiêm-Bình và xin rút quân về (theo Quốc-Sử). [34] Vụ-Quang người nhà Hạ, vua Thang đánh chúa Kiệt đến bàn với Quang. Quang nói là không phải việc mình. Khi được thiên-hạ rồi, vua Thang lại nhường ngôi cho Quang. Quang nói: Bỏ vua không phải là nghĩa, giết dân không phải là nhân; người ta phải gian-nan, mình hưởng quyền-lợi, không phải là liêm. Ta không nỡ trông thấy cái đời vô-đạo này nữa. Rồi tự buộc đá dìm mình xuống sông mà chết. Quyến-Tử người nước Tề, cũng là một nhà ẩn-dật ở Nham-Sơn. [35] Long-Đỗ tức là thành Thăng-Long (Hà-Nội); An-Tôn là tên một làng ở huyện Vĩnh-Phúc (nay là Vĩnh-Lộc) tỉnh Thanh-Hoá, họ Hồ thiên đô từ Thăng-Long vào đấy. [36] Kim-Âu, Hoa-Nhai là hai làng thuộc huyện Vĩnh-Phúc, nhà Hồ xây dựng cung-thất, điện-đài ở đấy. [37] Đáy đây là sông Tiểu-Đáy ở địa-hạt tỉnh Vĩnh-Yên bây giờ. Tháng 8 năm Kiến-Tân thứ 2 đời Trần Thiếu-Đế (1399), Nguyễn-nhữ-Cái nổi lên làm giặc ở đấy, có đến hơn một vạn quân, tung hoành khắp mấy huyện. Sau do ông Nguyễn-bằng-Cử dẹp yên được. [38] Nhà Minh sai sứ sang đòi đất Lộc-Châu, tỉnh Lạng-Sơn. Hồ Quý-Ly cho Hoàng-hối-Khanh ra cắt đất Cổ-Lâu cả thảy 59 thôn trả cho nhà Minh (theo Quốc-Sử). [39] Nguyễn-bằng-Cử người huyện Đông-Ngạn, tỉnh Bắc-Giang, làm quan đời Trần đến chức Đông-Lộ An-phủ-sứ (theo Quốc-Sử). [40] Hồng-hải-Khanh đô Thái-học-Sinh đời Trần. [41] Ông làm quan đời Trần (1388-1397). [42] Luu-thúc-Kiểm đỗ đầu khoa Thái-học-Sinh cuối đời Trần (theo Quốc- sử). [43] Truong-Hoa. [44] Trong Kinh-Thư, thiên Thuấn-Ðiển có câu: Hỏa viêm Cơn-Cương, ngọc thạch câu phần , nghiã là: Lửa đốt non Cơn, ngọc đá đều cháy. [45] Cửa bể Kỳ-La ở xã Kỳ-La, huyện Kỳ-Hoa tỉnh Hà-tĩnh bây giờ. Ngày 11 tháng 5 năm Đinh-Hợi (1407), Hồ Quý-Ly bị bắt ở đấy (theo Quốc- Sử). [46] Núi Cao-Vọng ở làng Bỉnh-Lễ, huyện Kỳ-Hoa, tỉnh Hà-Tĩnh. Ngày 12 tháng 5 năm Đinh-Hợi (1407), Hồ Hán-Thương bị bắt ở đấy (theo Quốc-Sử).
  • 124.
    [47] Nguyên Chẩntự là Huy-Chi về đời Đường, người tỉnh Hà-Nam, đỗ đầu Chế-Khoa triều Nguyên-Hoà (806-820) rất hay thơ, làm quan đến tả-thập-di. Bạch-Cư-Dị, tự Lạc-Thiên, người Thái-Nguyên, đỗ tiến-sĩ cũng về triều Nguyên-Hoà, làm quan Tả-thập-di, làm thơ rất nhiều. Thời bấy giờ nói đến Nguyên-Bạch tức là để trỏ hai ông này (theo Thượng Hữu Lục). [48] Thái sử Lưu nhà Chu chế ra lối chữ đại-triện. Thừa-tướng Lý-Tư nhà Tần chế ra lối tiểu-triện. [49] Câu: Thần dĩ tri lai, trí dĩ tàng vãng là câu hệ từ trong kinh Dịch. [50] Hồ Quý-Ly chiếm ngôi nhà Trần. Con thứ vua Nghệ-Tôn [Tông] lên ngôi ở Mô-Độ (nay thuộc huyện Yên-Mô, Ninh-Bình) ngày 12 tháng 10 năm Đinh-Hợi (1407), xưng là Giản-Định-Đế. [51] Bái-Công vào Quan-Trung thấy cung-thất nhà Tần đầy đủ màn- trướng, chó ngựa, châu báu và rất nhiều phụ-nữ, muốn đóng lại đó. Phàn-Khoái can ngăn và xin rút về Bá-Thượng, không nên ở lại, nhưng Bái-Công không nghe. Trương-Lương tâu: Lời ngay-thẳng trái tai nhưng có lợi cho việc làm; thuốc đắng khó uống nhưng chữa khỏi được bịnh, xin chúa-công nghe lời Khoái. Bái-Công bèn rút quân về Bá- Thượng (Hán-Kỷ) [52] Ý nói không còn được tý đất-cát nào. [53] Sắc đen sắc vàng do hai chữ huyền-hoàng. Kinh Dịch có câu "Phù huyền-hoàng giả, thiên địa chi tạp dã, thiên sắc huyền nhi địa sắc hoàng ". Nghiã là: Nói đến huyền-hoàng tứ là nói lúc trời đất hãy còn hỗn-tạp; trời sắc huyền (đen) mà đất sắc hoàng (vàng). Bài của Dương-Hùng cũng có câu "Huyền-hoàng phẫu phán." Nghiã là sắc đen (trời), sắc vàng (đất) tách riêng ra. Đại ý câu này là nói thuở khai thiên lập địa. [54] Tần Mục-Công hỏi Bá-Nhạc: Khanh già rồi, còn ai có thể tìm được ngựa tốt không? Nhạc tâu: Cửu-Phương-Cao coi tướng ngựa còn giỏi hơn thần nhiều. Mục-Công bèn sai Cao đi mua ngựa. Ba tháng sau, Cao về trình là đã kén đuợc ở Sa-Khâu một con ngựa cái, sắc vàng. Đến khi cho người đi lấy ngựa thì lại là ngựa đực, sắc đen. Tần Mục- Công không bằng lòng, vời Nhạc đến bảo: Hỏng rồi, khanh ạ! Người khanh sai đi mua ngựa, màu sắc không biết, đực cái không hay, thì còn nói chi đến chuyện xem tính ngựa nữa. Nhạc tâu: Điều Cao xem giống như thiên-cơ vậy: biết việc tinh-tế mà quên điều thô-sơ, trông rõ bên trong mà quên bên ngoài. Quả-nhiên con ngựa đó là ngựa hay thật (theo Văn-Uyển). [55] Chín từng trời là: 1. Uất-Thiền Vô-Lượng thiên, 2. Thiền-Bồ Vô- Lượng Thọ-Thiên, 3. Phạm-Giám-thiên, 4. Đâu-Suất thiên, 5. Kiêu-Lạc thiên, 6. Hóa-Ứng thiên, 7. Phạm-Bảo thiên, 8. Phạm-Ma Gia-Di thiên,
  • 125.
    9. Ba-Lê Đáp-Thứthiên . Mỗi từng lại dẫn thêm 3 từng nữa. Cả thảy là 36 từng (Thiên-Trung Ký). [56] Dưới địa-phủ có mười điện gọi là Thập-Điện-Minh-Vương: 1. Tần- Quảng Vương, 2. Sơ-Giang Vương, 3. Tống-Đế Vương, 4. Ngũ-Quan Vương, 5. Diêm-La Vương, 6. Biến-Thành Vương, 7. Thái-Sơn Vương, 8. Bình-Chính Vương, 9. Đô-Thị Vương, 10. Chuyển-Luân Vương. [57] Sự-tích đã chú trong truyện Yêu-Quái ở Xương-Giang. (Trong truyện "Yêu-Quái ở Xương-Giang," chú thích 1, trg. 247, viết: "Vua Mục-Vương nhà Chu (cuối thế-kỷ thứ 10 trước công-nguyên) đi đánh phương nam, cả một đội quân đều biến-hóa, quân-tử hoá làm vượn làm hạc; tiểu nhân hóa làm sâu làm cát (theo sách Loại-tụ).) [58] Hán Cao-Tổ ngồi trên lưng ngựa lấy được thiên-hạ rồi, coi đạo học như là đồ bỏ, khác nào xà vuông mà lỗ mộng tròn, không ăn khớp với nhau, không ích gì (Tây Hán-Kỷ). [59] Đời Hán Thành-Đế (32-7 trước công-nguyên), Hồng-Dương Hầu là Vương-Lập chiếm đất để người khẩn ruộng cho mình rồi cho quan- tước, có đến mấy trăm mảnh ruộng tốt bán rất đắt. Sau có người phát- giác ra, Hồng-Dương Hầu bị cất chức (theo Cương-Mục). [60] Đời Tùy Văn-Đế (589-604), Dương-Tố mỗi khi ra quân lại tìm kẻ lầm-lỗi đem chém đầu hàng trăm người, máu chảy lênh-láng trong doanh-trại, mà Tố vẫn cười nói như không. Đến khi giáp trận, đầu tiên Tố cho vài trăm người ra đối địch, nếu không giữ vững được mặt trận quay chạy trở về là đem chém hết, lại sai vài trăm người khác tiến ra, nếu quay chạy về cũng lại bị giết. Tướng-sĩ thảy đều sợ-hãi, vì ai nấy đều cầm vững cái chết, mà phải đánh liều mạng, nên trận nào cũng thắng. Tố được vua yêu, nói gì cũng nghe. Công nhỏ của Tố cũng được ghi sổ, còn các tướng khác dù có công lớn, phần nhiều bị bọn văn-thư bỏ qua. Vì thế mà Tố tuy tàn-nhẫn, tướng-sĩ vẫn lắm người xin theo (Tùy Văn-Đế Cương Mục). [61] Mạnh Thường-Quân thời Chiến-Quốc nuôi khách, bất luận hiền ngu, không phân xấu tốt, trộm lộc vua để gây bè-đảng cho mình; khoa- trương danh hão, trên khinh mạn nhà vua, dưới là sâu mọt hại dân. Đó là thủ-đoạn của kẻ gian-hùng, không nên bắt chước (theo Chu-Sử). [62] Kinh Phật có câu: Ái-hà thiên xích lãng, khổ hải vạn trùng ba; dục miễn luân-hồi khổ, cấp-cấp niệm Di-Đà. Nghiã là: Sông Yêu ngàn thước sóng, bể Khổ rộng bao la; Luân-hồi như muốn tránh, kíp niệm phật Di-Đà. [63] Xưa tướng Nam-Việt là Lữ-Gia chứa đá ở sông để ngăn quân Hán nên gọi sông đó là Thạch-Môn (ở phía bắc Phiên-Ngung, Quảng- Đông). Người già-cả đời xưa truyền lại rằng: nước sông Thạch-Môn gọi là suối Tham. Uống nước đó, kẻ sĩ thanh-liêm cũng đổi ra lòng tham-lam. Ngô-Ẩn đời Tấn, bản-tính thanh-liêm, làm quan Thứ-Sử
  • 126.
    Quảng-Châu (Quảng-Đông) uốngnước sông Thạch-Môn rồi làm thơ rằng: Cổ nhân vân: thử-thủy, nhất ẩm hoài thiên câm (kim); thí sử Di, Tề ẩm, chung đương bất địch tâm. Nghĩa là: Cổ nhân nói: nước này, ai uống vào đều muốn có ngàn vàng; thử lấy cho Di, Tề (Bá-Di, Thúc-Tề) uống, tưởng suốt đời cũng không đổi dạ. Từ đó Ngô-Ẩn càng thanh- liêm hơn trước (Hán Vũ-Đế Cương-Mục). [64] Lưỡi dao ngắn, mũi giống hình cái thià nên gọi là trủy-thủ (Sư-Cổ). [65] Đã chú thích trong truyện Yêu-quái ở Xương-Giang. (Chú thích 2, trg. 249, trong truyện "Yêu-quái ở Xương-Giang" viết "Sách Cương-mục chú: Nhà Tống đánh nước Nam-Hán, lấy được thành Xâm-Châu (nay thuộc tỉnh Hà-Nam), và bắt được nội-thị là Dư- diên-Nghiệp. Vua Tống hỏi về quốc-chính thì Dư tâu rằng: Chủ cũ y (vua Nam-Hán) dựng ra nhiều thảm-hình, nào đốt, nướng, cắt, thiến, nào núi đao, cây kiếm; có khi còn bắt tội nhân đánh nhau với hùm, với voi. Vua Tống nói: Ta phải cứu vớt nhân-dân phương này mới được.) [66] Cửu-U là 9 địa ngục: 1. Vô-gian a-tụy địa-ngục, 2. Đao-Sơn Hỏa- Luân địa-ngục, 3. Kiếm-Thụ Nhập-Hàn địa-ngục, 4. Nhập-Nhiệt Hỏa- Võng địa-ngục, 5. Đồ-Cát Thân-Ngâm địa-ngục, 6. Thiết-Sách Thiết- Thành địa-ngục, 7. Thiết-Xa Thiết-Hoàn địa-ngục, 8. Thiết-Sàng hôi-hà địa-ngục, 9. Trảm-Chước Hắc-Am địa-ngục. Truyền Kỳ mạn Lục Dịch giả: Cao Thiện Khánh (tuyển dịch) NGUYỄN NAM sưu tuyển Hạng-vương Từ-ký [1] (Chép một chuyện nơi Miếu ông Hạn [Hạng]-vỏ [võ]) Triều nhà Trần có ông Hồ-tông-Thốc làm quan Thừa-Chỉ, lãnh mạng đi sứ đất bắc. Ông nầy có nghề làm thi hay, phú giỏi; sở trường lời nói cao sâu, deo dắc. Ngày nọ phụng sứ kinh qua trước miễu vua Hạng-vỏ [võ]; ngài tức cảnh mà làm bài thi như vầy: Bá [bách]-nhị sơn-hà, khỉ chiến phong, Huề tương tử-đệ, nhập quan-trung; Yên tiêu Hàm-cốc, châu cung lãnh, Tuyết tán Hồng-môn, ngọc-đẩu không; Nhứt bại hữu thiên, vong trạch-tả;
  • 127.
    Trùng lai vôđịa, đáo giang-đông; Kinh-dinh ngũ tải, thành hà sự? Tiêu đắc khu-khu, táng Lổ [Lỗ]-công! Thích nôm Trăm hai sông núi, dấy binh ròng, Diều [Dìu]-giắc [dắt] con-em tới ải trong: U-cốc khói tàn, nhà ngọc rụi! Hồng-môn tuyết-vở [vỡ], cữa [cửa] châu không! Có hồi [trời?] một trận, thua chầm-tả, Không đất hai lần, lại quận-đông; Vùn [vùng]-vẩy [vẫy] năm năm, nào đặng việc? Bo bo táng lấy tước tam-công! Thơ đề rồi: Cầm roi lên ngựa, trở về nhà trọ uống rượu xoàn xoàn! nằm xuống liền ngủ; thoạt thấy một người, đến trước mặt nói rằng: tôi vâng Chiếu-chỉ Chúa của tôi mà đến đây mời ông, chịu phiền đến. Ông Hồ-tông-Thốc vội-vàng, khép-nép sửa-sang, áo-mão theo sứ ra đi. Người sứ bèn giắc [dắt] đi phía bên tả. Đến nơi, thấy đền-đài lầu-các, cao lớn, nguy-nga, quân-hầu sắp hàng hai bên. Vua Hạn [Hạng]-vỏ [võ] đã ngồi trước đó, một bên có để giường cẩn-ngọc lưu- ly, mời ông Hồ-tông-Thốc lên ngồi đó. Vua Hạn [Hạng]-vỏ [võ] hỏi rằng: "Trong lúc ban ngày, ông làm ra bài thơ ấy, chẳng hay chỗ sở kiến của ông nơi đâu, mà ông chê tôi lắm vậy? Có câu ông nói như vầy: Nhứt bại hữu thiên vong Trạch-tả, Trùng lai vô địa đáo giang đông! Nghĩa là có trời một trận, thua chầm- tả, không đất hai lần lại quận-đông, thiệt cũng cho ông nói vậy là phải, kế lấy hai câu: Kinh-dinh ngũ-tải, thành-hà-sự ! Tiêu-đắc khu-khu táng Lổ [Lỗ]-công, nghĩa là: lừng lẫy năm năm, không nên việc, bo bo chịu tước, táng tam công! Đều ấy có phải là ông chê bai thái quá làm mất sự đương nhiên của ta sao? Vả chăng nhà Hán có muôn cỗ-xe, ta đây, cũng có muôn cỗ-xe vậy. Ta chẳng dứt được nhà Hán, sao mà nhà Hán trở lại, phong tước cho ta, là đạo-lý gì vậy? Chí-như người Điền-hoành là một đứa con-nít, mà hắn còn chẳng thèm, tham tước- lộc, của nhà Hán thay! Biết hổ mình, tự-vẫn mà thác, huống chi ta, là đứng lộng lộng, gây dung nghiệp-bá cho nước Sở, lẽ nào đành chịu lễ lỗ-công thay! Nhà Hán cử đặt ra việc ấy; là bởi có ý lấy tước-vị mà gia cho ta, có ý thưởng ta, mà đền cái hổ ngày trước, là ngày ta phong cho nó, nơi đất Hán-trung vậy. Ta xin nói cho Sứ-quán rõ việc đó; ngày trước, nhà Tần, mất một con Hươu (lộc),[2] kẻ tranh cản bốn phía dấy lên. Trong khi ấy, ta nhơn [nhân]-dịp dân đương buổi ghét nhà Tần, ta kéo rốc toàn binh đánh nhà Tần, thì chúng nó, dùng đồ làm ruộng, ra mà làm
  • 128.
    binh-khí, nấu gạomạch làm cơm-khô, dân làm ruộng, đều tình nguyện ra tùng chinh. Người phú-hào đều ra làm tướng, đánh vỡ nước Ngô, như xô một ổ-kiến, thâu đất Hoài, lẹ đường đốt cái lông con chim hồng, đánh mới một trận mà quân Bắc-chương thua rốc, đánh lần thứ hai, phá miễu của Tần-tổ-Long ra như đám đất-bằng. Đức-nghiệp ra, chẳng có nước nào mà chẳng gầy-dựng, oai-lịnh ra chẳng có người nào, mà chẳng phục. Gồm các nước Chư-hầu, thời ròng là binh của nước Sở, làm vua đất Tam-tần đều ròng những tướng của nhà Sở trong thiên-hạ qui-phục nước Sở, khá ngồi mà đếm lấy. Sau rốt lại, thấy sự thát [thác] nơi nhà Hớn [Hán]! Chỉn chẳng phải là tại nơi lòng trời vậy sao? Vậy thời, trời giúp nghiệp nhà Hớn [Hán], tuy là: hắn thổi ống-tiêu, dệt-chiếu, cũng đủ mà nên công. Trời hầu làm mất nước Sở, dẫu mà sức ta, vát [vác]-đảnh, xô-non, đặng đi nữa, cũng chẳng lấy sự mạnh mà nói. Huống chi, sức mạnh của người Chung-li, chẳng kém Quan-hầu đất Hoài-âm, cái mưu của A-phụ thiệp hơn ngươi Trần-nhụ- tử, khiến cho ta nghe lời nói, hay xét tới xét lui, nhơn khi thua làm công, vụt đuổi ngựa Ô-chi đả [đã] mỏi mệt, há chẳng đặng cày bừa chốn cung đình nơi đất Phong-bái, thâu quân tảng [tản]-lạc nơi đất Bành-thành, há chẳng đặng đào phá nhà tông-xã của họ Xích-lưu, thành ra vủn [vũng] ao sao? Nghỉ [nghĩ] vì, cớ sanh linh ta là một đứng sộ sộ tám thước, dựt [giật] mà giao nơi tay ngươi Vương-Nhuế, và nhiều người khác nhà Hớn [Hán], nhà Sở, hưng, vong, trời cho, cùng chẳng cho, chẳng nên lấy thành bại mà luận thay. Song-le, người đời, hay ưa bình-phẩm nhơn vật. Hoặc có kẻ nói rằng: "Chẳng phải trời làm mất" lại có kẻ nói rằng: "Trời cớ nào, mà làm lỗi đó" khiến mấy ông ngâm-thi, mấy tay hàng [hàn]-mặc, làm ra thiên nầy, thập kia, hoài hoài! Có câu rằng: "Cái thế anh-hùng lực bạc [bạt] san, văn ca tứ tảng [tản] lụy lan-can" (tượng đứng anh-hùng sức núi xô, nghe ca nước mắt xuống ồ-ồ!). Lại có câu rằng: "Vua chẳng phải vua, tôi chẳng phải tôi! Do-nào lập miễu, mà thờ nơi mé sông đó?" Ngày thêm, tháng chứa, nhiều đến ngàn bài; duy có một câu liễn của ông Đỗ-lăng nói rằng: "Giang-đông tử-đệ đa tài tuấn, Quyển thổ trùng-lai vị khả tri." Nghĩa là: Giang-đông đồ-đệ nhiều người giỏi, Cuốn đất lần sau chưa biết chừng!) Dịu-dàng, trung-hậu, phải biết cách-thức làm thi, đọc tới đó khiến sốt-sắn [sắng] lòng người. Còn bao-nhiêu, thảy đều phù- bạc. Ấy vậy, ta lấy làm bất bình lắm! Ta vì Sứ-quân than thở vậy!" Hồ-tông-Thốc mỉn [mỉm] cười mà rằng: "Lẽ trời, việc người, có trước, có sau, nếu mà ngài nói mạng nơi trời. Bởi vậy nhà Thương, vua Trụ mất nước cũng nói rằng: 'Trời sanh đức cho ta, ai làm chi được ta.' Còn người Tân-mãng vì lời nói đó mà nát mình! Nay mà ngài bỏ sự người, cứ đổ tại trời, bởi vậy cho nên: ngài trọn phải chịu thua, mất, mà ngài chưa hay biết vậy! Nay tôi có phước, may-mắn, nhờ ngài rước đến đây; xin phép cho tôi nói ngay-thẳng, không ẩn-nặt [nặc] chi hết, vậy thì ngài định thể-nào?" Hạng-vương đáp rằng: "Phải phải! ông cứ việc nói."
  • 129.
    Ông Hồ-tông-Thốc nóirằng: "Hễ là xây [xoay] trở được cái thế lớn trong thiên hạ, là tại nơi "máy," chẳng phải tại nơi "sức." Còn như thâu được lòng thiên hạ, chỉ lấy điều "nhơn," [nhân] chớ chẳng phải lấy điều "bạo." Ngài thì lấy khoát [quát]-nạt làm "oai," lấy cứng-mạnh làm "đức," tôi xin hỏi ngài: Như ngài giết quan quán-quân là ngươi Tống-nghĩa, không kể đạo lý nhơn [nhân]-quân, lỗi đà thái-quá!? Ngài giết kẻ hàng đầu là: ngươi Tử-anh chẳng phải là thái-thậm!? Còn người Hàng-sanh [Hàn-sinh] tội gì mà mổ! Hình dâm nào lạm bấy? Cung a [A]-phòng lấy duyên-cớ chi mà đốt! Lửa ngược sao mà lắm bấy? Lấy bấy nhiêu sự ngài làm đó, thì đặng lòng người vậy; hay là mất lòng người vậy?" Hạng-vương nói rằng: "Chẳng phải vậy đâu! Vả chăng cuộc đất Cam-đơn [Hàm-đan], là của nước Triệu mới sáng tạo ra, nó chống cự với nhà Tần như hùm, như sói, một hơi-thở thì mất, còn, liền thấy; một nháy-mắt, thì ăn thua, liền phân; mà ngươi Tống-nghĩa thì dùng-dằng, sợ sệt, có ý chờ giặc, đến khi mỏi mệt, ngóng-trông, trầm-trề, ngăn-trở không cho binh kéo tới, khiến cái chước trong trưóng chẳng làm, binh độ qua sông, chậm-trễ, làm như vậy, thời già, trẻ, gái, trai, dân-chúng tại thành nước Triệu lại càng thê-thảm, hơn cái họa nơi đất Trường- bình nữa! Vì vậy, nên ta: giết một mình ngươi Tống-nghĩa, mà cứu đặng trăm mạng sanh [sinh]-linh, nào có lỗi gì đâu? Còn vua các nước, là chư-hầu, đều có đàn, xã, tước-vị, thì vua nhà Châu [Chu] ban cho; đất cát, thì vua nhà Châu [Chu] cấp cho; mà nhà Tần tham bờ- cõi, khoe giáp-binh, ăn gỏi nước Hàng [Hàn], làm thịt nước Triệu, hiếp nước Ngụy, đánh nước Yên; phía Nam, thí-dụ nước Sở, mà cầm ở đó, phía Đông gạt nước Tề bỏ đói đó! Khiến chẳng đổ-úp nhà tông- xã; chẳng giết hết dòng-họ nhà Tần, thời cái hờn gồm nuốt, biết ngày nào khá đặng tan mòn vậy? Ấy vậy, ta giết một ngươi Tử-anh, mà trả thù cho Lục-quốc (sáu nước) nào, có hại chi? Đều cùng việc ngay, việc lành, là cái tiết lớn kẻ nhơn [nhân]-thần vậy! Còn như cớ sự ngươi Hàng-sanh [Hàn-sinh] thì chẳng phải thế ấy. Khoe-khoan [khoang] với kẻ bề-trên, quên ơn mà bội nghiã, nó đánh-lưỡi, nói những sự quân thần, nó lại khua môi, bày lời nhạo- báng. Vì vậy, ta mổ nó đó, khiến kẻ bất trung, biết chỗ mà răn mình! Sự hay dè dặc [dặt] là đức tốt của các đứng nhơn-quân mà! Còn vua Thỉ [Thủy]-Hoàng thời chẳng phải vậy: Cứ sông Vị mà làm cung, noi triền núi mà làm đường, dân gây oán, như đắp nền cao, nó thắng mở [mỡ] dân, lấy chứa dẫy đầy; vì vậy, nên ta đốt đi, khiến các vua đời sau, cho biết sự tiết-kiệm, ông lấy mấy đều ấy mà hài-tội ta nghĩ chẳng phục." Ông Hồ-tông-Thốc nói rằng: "Như lời ngài nói đó, vậy thời sáu pho-kinh sách, hóa ra tro, đà nguội lạnh rồi! Cái ơn của đức Thánh- nhơn [nhân] hầu mất nửa, một mũi gươm giá-lạnh! Cái việc nơi đất
  • 130.
    Giang-trung sao nỡlòng mà đành vậy? Ngài nghĩ đó coi ai mà bằng người nhà Hớn [Hán] vậy không? Đã sợ lỗi phận vua tôi, nghe lời thuyết-khách của ngươi Đổng-công mà dùng làm quan nhơn [nhân]- nghĩa, có phải là: mối đế-vương hầu rối, mà lại gỡ xong, lại lo đạo học mất thửa truyền, trở xe về đất Khúc-phụ, bày lễ Thái-lao, tế đức Khổng-tử, mạch kinh thi, kinh thơ hầu dứt, mà lại nối. Vì vậy cho nên: Có kẻ bày lời mà nói rằng: 'Nhà Hớn [Hán] lấy đặng thiên-hạ, chẳng tại dùng Tiêu-hà, Trương-lương đâu, tại nơi ba quân mặc áo trắng, lấy xướng ra chưng lòng hào-kiệt, tỏ lòng ngay cùng sư hờn, mà lại nhà Hớn [Hán] bảo-thủ đặng thiên-hạ, chẳng những là ở rộng xa khuôn- phép mà thôi, là tại nơi đất Khúc-phụ, đem mình tới đó, tế đức Khổng- tử,' vì vậy: để tiếng lại đời sau nương theo, ngài đâu đặng sánh cùng Hớn [Hán]-vương một ngày mà nói vậy ru?" Vua Hạng-võ nghe tới đó, bí-lối, hết nói, sắc mặt như đất! Có tôi lão-thần, đứng chầu một bên, là Phạm-tăng, bước ra nói rằng: "Tôi có nghe làm người chẳng khỏi nơi trời đất, lấy lễ mà có sanh [sinh], trị-nước chẳng qua giềng-hằng, lấy lẽ mà dựng-nghiệp. Chúa của tôi có một người làm tôi, tên là Tào-cựu, lòng cứng như đá, mùa lạnh bền thửa tiết, thà liều thửa mình, chẳng thà chịu thửa nhục, thà thát [thác] mà có tiết, chẳng đành trốn thửa sống, dầu chẳng trị đặng đạo, mà đặng hổ thát [thác] vậy. Trong truyện nói rằng: 'Vua khiến tôi lấy lễ, thì tôi thờ vua lấy trung. Đại-vương của tôi xử được điều đó mà!"[3] Xương-giang yêu-quái [4] (Việc quái-gở tại thành Xương-giang) Có một người tên là: Hồ-kỳ-Vọng, ở đất Phong-châu. Cốt [cuối?] triều nhà Hồ, đi buôn bán, ở đỗ nơi thành Xương-giang. Nhơn [nhân] vì có bịnh mà bỏ mình. Người vợ nghèo, không thế gì đem linh-cữu về xứ mà an táng cho đặng. Bèn bán đứa con gái bé, tên là: Thị-Nghi cho nhà họ Phạm, là: nhà buôn-to, giàu lớn. Con gái bé ấy: đã khôn lớn, lại có tư-sắc đẹp-đẽ. Nhà họ Phạm đó, phải lòng, mà tư- thông với nàng. Người vợ lớn, lần-mò dọ biết ý rồi; mượn lấy cớ- khác, kiếm chuyện tì-ố đánh đòn đến thát [thác], đem thây vùi, giấu một bên góc xóm. Chừng vài tháng về sau, yêu-quái dấy lên, biến ra trăm cách. Hoặc có khi: gỉa hình làm đứa con gái bán tương, hoặc có lúc: gỉa dạng làm đứa con gái bán rượu. Người nào mà xinh-đẹp (lịch-sự) thời phải bị nó đâm, nó giết! Còn ai mà có của cải, thì phải bị nó lấy trộm. Đường dài mười dậm [dặm], thường thường gặp nó, sớm đỗ, trưa đi. Ròng lấy sự sắc-dục làm giới. Người trong làng rõ đặng sự quái-gở như vậy, bèn rủ nhau, đào mả lên, lấy xương tan nát hết, đem bỏ ra mé sông. Từ đó lần lần bớt khuấy rối một tí.
  • 131.
    Đến đời triềunhà Lê, thâu về một mối. Có một viên-quan ở phủ Lượng-giang [Lạng-giang], họ Huỳnh [Hoàng], đi xuống Trường-an lãnh chức. Thuyền đỗ một bên sông, đương khi ấy, trăng tỏ, sao lờ, muôn tiếng đều lặng-trang vắng-vẻ. Xảy nghe bãi lồi bên phía Đông- nam: tiếng than khóc, rên siết, thương xót. Viên-quan ấy bèn bảo bạn dời thuyền qua đó, coi cho biết duyên-cớ. Đến nơi, thấy một nàng con gái, tuổi vừa 17, mười [?] 18, lấy tay áo the đỏ, mà che mặt, dùng cỏ làm nệm, mà ngồi. Ông Huỳnh [Hoàng] cất tiếng hỏi rằng: "Đêm khuya như rứa, cớ sao mà than khóc vậy? Khiến cho người ta rối nát lòng dạ sắt đá mần rứa hử?" Nàng con gái ấy, chùi nước mắt, khép nép thưa rằng: "Thiếp là: người ở đất Phong-châu, cha mẹ thiếp có nghề buôn bán hàng lụa, bị ăn-cướp đoạt lấy hết, một giờ thấy hại, hồn chôn bụng cá, xương ném dòng sông. Duy một mình thiếp, may thoát khỏi miệng hùm, deo [gieo] mình bên núi, xin ăn trong xóm! Thuở trước tôi vì người Chủ- phụ của tôi, đến đây hái củi. Nay xảy qua chốn cũ: chẳng biết làm sao, mà khiến sục [sụt]-suì thương-xót đến nỗi nầy."[5] CHÚ THÍCH [1] Xem Lục Tỉnh Tân Văn, các số ra ngày 14/3, 4/4, 18/4, 2/5 và 16/5/1918. [2] Cuối bài có một hàng chú thích: Mất con Hươu là mất ngôi (xem số ngày 4/4/1918). [3] Tuy cuối truyện có ghi “còn nữa” và “khả tường kỳ hậu,” không thấy truyện được đăng tiếp ở các số sau. [4] Xem Lục Tỉnh Tân Văn, số ra ngày 25/7/1918. [5] Truyện chỉ thấy đăng một kỳ. Cuối truyện có viết “Khả tường hậu văn (Bài sau sẽ rõ),” nhưng không thấy đăng tiếp ở các số sau.