1
1. Mở đầu.
1.1. Lý do chọn đề tài.
Hiện nay, toàn cầu hóa đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu của mọi
quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trong đó việc “lấy sức mạnh từ công
nghệ, năng lượng từ thông tin và chèo lái bằng kiến thức” là một yêu cầu bức
thiết. Người ta tin rằng, CNTT&TT có thể đem lại giá trị cho quá trình giảng
dạy và học tập. Trong quá trình dạy học, “với sự hỗ trợ của công nghệ, GV sẽ
trở thành những người mở đầu trong công cuộc cải cách giáo dục trên toàn thế
giới”. Khi mà CNTT đã phát triển mạnh mẽ đến mức hàng ngày đã tác động đến
đời sống tinh thần và vật chất của mỗi người trên trái đất thì chắc hẳn tư duy
khoa học, tư duy giáo dục không thể giữ nguyên như cũ. Bill Gates cho
rằng:“Internet như một đợt sóng thủy triều. Nó sẽ tràn vào ngành công nghiệp
máy vi tính và nhiều ngành khác. Nó sẽ nhấn chìm tất cả những ai không luyện
tập trong những đợt sóng của nó”
Ở các nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Hàn
Quốc... việc sử dụng những thành tựu của khoa học công nghệ trong nhà trường
đã có từ rất sớm, khẳng định được tính hiệu quả, nhất là những ứng dụng liên
quan đến CNTT. Các chính sách mới về đổi mới giáo dục được xây dựng dựa
trên tiền đề và triển vọng của tích hợp CNTT một cách có hiệu quả vào dạy học.
CNTT được coi như “một khía cạnh đặc biệt quan trọng trong hành trang văn
hóa dạy học của thế kỉ 21, hỗ trợ các mô hình phát triển chuyển đổi mới cho
phép mở rộng bản chất và kết quả học tập của GV cho dù việc học đó diễn ra ở
đâu”. CNTT & TT được coi là những công cụ tiềm năng có tác động tích cực tới
cách dạy của thầy và cách học của trò.
Ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục cũng rất được mong đợi.
Các nhà giáo dục Việt Nam được khuyến khích ứng dụng CNTT hợp lý ở tất cả
các lớp và các môn học. Trên thực tế, việc sử dụng CNTT cho giảng dạy hiện
nay vẫn còn hạn chế. Như vậy, nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục là vô cùng lớn.
Trong xu thế toàn cầu hóa của nền giáo dục thế giới, nền giáo dục Việt Nam
muốn phát triển thì phải không ngừng áp dụng CNTT. Bởi vì “nước nào đi đầu
trong sử dụng CNTT, nước đó sẽ đi đầu về giáo dục”.
Bên cạnh đó, trước những thay đổi nhanh chóng về khoa học kĩ thuật cũng
như tri thức, giáo dục truyền thống tập trung vào nội dung kiến thức đã không
còn phù hợp, giáo dục trên thế giới đang đi theo xu hướng giảng dạy và đánh giá
theo năng lực. Giảng dạy theo hướng phát triển năng lực người học đã và đang
là một chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo
dục cũng như xã hội.
Trên tinh thần đó, Bộ GD&ĐT đã triển khai chương trình công nghệ giáo
dục và E-Learning. Tiếp thu những chỉ đạo chung của Bộ GD&ĐT, sở GD&ĐT
tỉnh Thanh Hóa cũng chỉ đạo các trường học ứng dụng CNTT trong học tập và
giảng dạy. Bằng cách sử dụng các phần mềm soạn bài giảng điện tử như
Powerpoint, Adobe Pressenter, iSpring tới mọi GV qua các hoạt động về ứng
dụng CNTT trong dạy và học gồm:
- Soạn giáo án, bài trình chiếu và bài giảng điện tử;
- Tích cực áp dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học và thí nghiệm ảo.
KeHoachBaiDay.net
2
Với mong muốn chia sẻ những kinh nghiệm nhỏ trong quá trình giảng dạy
với những đồng nghiệp của mình, nhất là những đồng chí chưa có kinh nghiệm
trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải
pháp hướng dẫn giáo viên nâng cao kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin
trong giảng dạy”
1.2. Mục đích của đề tài.
Trên cơ sở khẳng định vai trò ý nghĩa của CNTT trong dạy học tôi đã áp
dụng vào công tác giảng dạy của mình. Trong 4 năm dạy học tại trường Tiểu
học Nguyễn Văn Trỗi, tôi đã sử dụng phần mềm PowerPoint cùng một số phần
mềm hổ trợ để thiết kế giáo án điện tử và hỗ trợ, hướng dẫn cho các GV trong
toàn trường.
- Nắm quy trình thiết kế bài giảng, sử dụng được phần mềm Microsoft
Powerpoint và phần mềm Adobe Presenterl được tích hợp trong Microsoft
Powerpoint.
- Biết sử dụng một số phần mềm hỗ trợ thiết kế bài giảng.
- Biết cách khai thác thông tin trên Internet.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Giải pháp hướng dẫn giáo viên nâng cao kĩ năng ứng dụng công nghệ
thông tin trong giảng dạy
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Tìm kiếm phần mềm hỗ trợ để thiết kế bài giảng điện tử.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1. Khái niệm về CNTT.
Thuật ngữ CNTT (information technology - IT) xuất hiện khoảng những
năm 70 của thế kỷ XX. Thuật ngữ này thực chất gắn liền với sự phát triển của
máy vi tính (computer), thiết bị manh nha ra đời từ thời chiến tranh thế giới
thứ II.
Máy vi tính là thiết bị điện tử cho phép lập chương trình, tính toán hay vận
hành logic với tốc độ cao hoặc thu thập, lưu giữ, liên kết, xử lý thông tin. Từ
những năm 1950 đến nay đã có 4 thế hệ máy vi tính ra đời. Mỗi thế hệ đều phản
ánh sự thay đổi về phần cứng, với việc giảm kích thước nhưng tăng khả năng
hoạt động của máy vi tính.
Theo từ điển American Heritage thì CNTT là “sự phát triển, cài đặt hay
vận hành các hệ thống máy vi tính và các phần mềm ứng dụng” [111].
Theo từ điển Oxford [104, tr.666], “CNTT là việc nghiên cứu hoặc sử dụng
thiết bị điện tử, đặc biệt là máy vi tính, để lưu giữ, phân tích và gửi thông tin”.
Theo định nghĩa của hiệp hội CNTT của Hoa Kỳ (Information Technology
Association of America), CNTT là “việc nghiên cứu, thiết kế, phát triển, vận
hành, hỗ trợ và quản lý hệ thống thông tin dựa trên máy vi tính, đặc biệt là các
phần mềm ứng dụng và phần cứng máy vi tính”. “Thông tin” ở đây có thể được
KeHoachBaiDay.net
3
“biểu hiện” ở dạng chữ, hình ảnh, âm thanh.
Sau thuật ngữ CNTT, vào khoảng năm 2000 thì thuật ngữ CNTT và truyền
thông (CNTT và TT) (Information and communication technologies – ICT) ra
đời. CNTT và TT theo quan điểm của UNESCO [122, tr.3] là các dạng công
nghệ được sử dụng để truyền, xử lý, lưu giữ, tạo, trình bày, chia sẻ hay trao đổi
thông tin bằng các phương tiện điện tử.
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT cũng đã được đưa ra đầu tiên trong Nghị
quyết số 49/CP của Chính phủ năm 1993 [11]: CNTT là tập hợp các phương
pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là máy
tính và các mạng viễn thông - nhằm cung cấp các giải pháp tổng thể để tổ chức,
khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin phong phú và
tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. Trong Luật
CNTT [56], tại điều 4 cũng đã định nghĩa:
- Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và
công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao
đổi thông tin số;
- Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số
Từ đó có thể kết luận: CNTT là tập hợp công cụ kỹ thuật hiện đại gồm chủ
yếu là máy vi tính và phần mềm máy vi tính được sử dụng để xử lý, lưu giữ,
trình bày, chuyển đổi, bảo vệ, gửi và nhận thông tin số một cách an toàn.
2.1.2. Ứng dụng CNTT vào dạy học:
CNTT là yếu tố quan trọng góp phần đổi mới nội dung và phương thức
giáo dục - đào tạo. Ngược lại, giáo dục - đào tạo là nhân tố quan trọng thúc đẩy
sự phát triển của CNTT. Đối với giáo dục - đào tạo, CNTT đóng nhiều vai trò
khác nhau [16]: vừa là phương tiện dạy học mới với nhiều ưu điểm, vừa là môi
trường học tập mới với nhiều hình thức dạy học đa dạng, vừa là một ngành học
với những đặc thù riêng.
Sơ đồ: NTT trong giáo dục và đào tạo
Trong đó, hiện nay người ta quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu, tập huấn
GV sử dụng CNTT như phương tiện dạy học. Vì thực chất, khi sử dụng phương
tiện này ở mức độ cao thì GV đã có khả năng biến nó thành “môi trường” học
tập mới, môi trường học tập ảo (virtual learning environment).
CNTT là phương tiện của người GV. Trong đó người GV sử dụng CNTT
KeHoachBaiDay.net
4
phục vụ trực tiếp cho việc thiết kế và thể hiện bài giảng. Theo cách này, ở Việt
Nam đã quen gọi đó là các “bài giảng điện tử” hoặc “bài trình diễn” và phần
mềm được sử dụng phổ biến nhất là Microsoft PowerPoint.
Sơ đồ: Ứng dụng CNTT trong dạy học.
2.1.3. Khái niệm về giáo án điện tử.
Theo từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển Bách Khoa năm 2001, Tr.104)
giáo án là dàn ý, kế hoạch bài giảng của giáo viên cần phải soạn ra để tiến hành
dạy học cho 1, 2 tiết trên lớp. Nội dung của giáo án gồm những nội dung như
các chủ điểm, mục đích, phương pháp, kỹ năng dạy học của giáo viên và học
sinh, nội dung bài học chi tiết theo hệ thống trình tự logic, việc kiểm tra và đánh
giá cùng tên những dụng cụ cần thiết sẽ dùng trong buổi học.
Giáo án điện tử là cách giảng dạy hiện đại với ứng dụng của công nghệ
thông tin trong giảng dạy đã thay đổi nhiều cách học truyền thống nhàm chán,
tạo cho học sinh hứng thú và tiếp thu kiến thức bài học thuận lợi hơn.
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học
của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được số hóa và
minh họa bằng các dữ liệu đa phương tiện (multimedia) một cách trực quan, có
cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học.
Giáo án điện tử là một tập hợp các bài giảng điện tử được người dạy thiết
kế để người học có thể giao tiếp trực tiếp với thiết bị (ở đây là máy tính) và hoạt
động dựa trên những gì đã được người dạy lập trình trước và người dạy lúc này
không cần phải giao tiếp trực tiếp với người học nữa. Qua đó người học có thể
rút ra kiến thức cho bản thân mình. Một giáo án điện tử hay phải đảm bảo một
số yếu tố như: sức thu hút đối với người dùng, lượng kiến thức đưa vào đó có
phù hợp với người dùng chưa, kiến thức mở rộng có đáp ứng được nhu cầu của
người học không v.v.
2.2. Thực trạng của vấn đề.
2.2.1. Thuận lợi:
Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi là trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 3,
trường có truyền thống Dạy tốt – Học tốt, đạt nhiều thành tích cao trong các hoạt
động chuyên môn và các hội thi văn nghệ thể dục thể thao. Nhà trường có đội
ngũ GV khá vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong dạy
học. Học sinh của trường phần lớn là học sinh thành phố nên được tiếp xúc với
CNTT từ rất sớm.
Tuy khuôn viên diện tích trường còn hẹp, song nhà trường đã cải tạo khuôn
viên, trang trí lớp học, tổ chức các hoạt động tập thể tạo không khí thân thiện,
học sinh tích cực, phấn khởi trong các hoạt động của nhà trường
KeHoachBaiDay.net
5
Hình ảnh khuôn viên nhà trường
Nhà trường đã trang bị cơ sở vật chất đầy đủ cho tất cả các phòng học,
phòng chức năng (máy chiếu, tivi, điều hòa….). Riêng phòng Tin học được
trang trí sạch - đẹp, điều hòa, máy chiếu và 48 máy tính đủ cho mỗi học sinh
1 máy)
Đa số GV được đào tạo những kiến thức cơ bản về tin học để đáp ứng yêu
cầu ứng dụng CNTT trong giảng dạy.
2.2.2 Khó khăn:
Mặc dù điều kiện thuận lợi nhưng vẫn đang còn tồn tại những khó khăn sau:
- Phần lớn GV đã lớn tuổi, trình độ Tiếng Anh và Tin học chưa cao nên
đang còn ngại truy cập Internet và sử các phần mềm hỗ trợ dạy học. Do đó, GV
sẽ rất ngại thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử.
- Việc thiết kế bài giảng một cách công phu bằng các dẫn chứng sống động
trên các trang trình chiếu là một điều không phải dễ dàng với nhiều GV. Để có
một bài giảng như thế đòi hỏi phải mất nhiều thời gian chuẩn bị trong khi không
phải GV nào cũng thành thạo vi tính nên GV còn ngại áp dụng CNTT vào công
tác chuyên môn nghiệp vụ.
Từ đó dẫn đến số đông GV vẫn chưa nắm được các kĩ năng ứng dụng
CNTT vào dạy học:
- Chưa nắm hết được quy trình thiết kế bài giảng.
- Chưa khai thác hết được tính ưu việt của công nghệ trong dạy học nên bài
giảng đang còn nặng về “kênh chữ” còn quá ít “kênh hình”.
- Một số tính năng của Powerpoint có thể được sử dụng có hiệu quả nhưng
chưa được khai thác hiệu quả, ví dụ như: sử dụng các công cụ vẽ, sử dụng các
hiệu ứng cho các đối tượng, kỹ thuật chèn ảnh, video…
Năm 2016 BGH đã phân công cho tôi trực tiếp giảng dạy các lớp: 6 lớp
khối 3) và 4 lớp (khối 4). Nhìn tình hình giảng dạy chung của GV toàn trường
KeHoachBaiDay.net
6
tôi đã bắt tay vào nghiên cứu việc ứng dụng CNTT vào dạy học của GV toàn
trường. Qua khảo sát tôi đã thu được bảng kết quả sau:
SL
giáo
viên
NỘI DUNG
Kết quả - Tính theo tỉ lệ %
Khá, tốt
Bình
thường
Chưa tốt
SL TL SL TL SL TL
54
Thiết kế bài giảng Powerpoint 18 33,3 25 46,3 11 20,4
Khai thác thông tin trên
Internet
12 22,2 29 53,7 13 24,1
Sử dụng các phần mềm dạy
học.
15 27,8 27 50 12 22,2
2.3. Các giải pháp.
Việc ứng dụng CNTT và trong dạy học là rất cần thiết trong thời buổi công
nghệ 4.0 như hiện nay. Để theo kịp với xu thế phát triển của toàn xã hội thì mỗi
GV cần phải tự trao dồi kiến thức cũng như kĩ năng của mình về CNTT trong
việc thiết kế bài giảng điện tử; tra cứu thông tin trên Internet và sử dụng một số
phần mềm hỗ trợ giảng dạy. Vì thế, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm
của mình chia sẻ ở đây mong muốn đáp ứng được điều đó.
Giải pháp 1: Thiết kế bài giảng bằng PowerPoint
Bài giảng điện tử cũng có thể chia làm hai loại: Bài giảng điện tử thiết kế
trên PowerPoint (phải có GV trực tiếp sử dụng dạy học) và bài giảng E-leaning
(học sinh có thể học mà không cần có thầy cô trực tiếp giảng bài).
Để xây dựng được một bài giảng điện tử, nhất thiết GV phải biết soạn thảo
văn bản và sử dụng một số công cụ đơn giản của phần mềm Microsoft Office
(phần mềm vi tính văn phòng). Trong Microsoft Office có một trình ứng dụng
để thiết kế và trình chiếu bài giảng điện tử, đó là Microsoft PowerPoint.
Microsoft PowerPoint là một phương tiện trình diễn lưu động bài giảng
thông qua màu sác của văn bản, sự phong phú của hình ảnh, những đoạn âm
thanh, video minh họa…..
Bài giảng sử dụng PowerPoint trình diễn là công cụ hữu hiệu để đạt vấn đề
cho bài giảng, phân tích những hiện tượng diễn tả bằng lời, đưa ra những câu hỏi
tình huống cho bài giảng, những câu hỏi có kèm hình ảnh giúp học sinh dễ nắm
bắt vấn đề, đưa thêm những thông tin mà GV cần truyền đạt để củng cố kiến
thức cho học sinh, tổ chức các hình thức học tập mới…
Để thiết kế một bài giảng, người GV cần thực hiện theo trình tự sau:
a. Tạo bố cục bài giảng điện tử trong PowerPoint.
Bản thân người sử dụng PowerPoint, trước khi bắt đầu xây dựng một bài
giảng điện tử phải xây dựng bố cục của nó, có thể coi đây như là kịch bản của
một bộ phim. Trong bố cục, ta phải hình dung cụ thể là Bài giảng điện tử này
gồm bao nhiêu Slides (trang trình chiếu), trên mỗi Slides bao gồm những đối
tượng nào. Mỗi đối tượng ở đây có thể là một đơn vị kiến thức ở dạng văn bản,
KeHoachBaiDay.net
7
ở dạng hình vẽ, ở dạng phim, ảnh, …
Hiện nay, có rất nhiều phiên bản của PowerPoint được sử dụng phổ biến là
2003 và 2007, 2010, 2013 và những phiên bản khác từ phiên bản 2007 trở lên
được hỗ trợ đồ hoạ và âm thanh tốt hơn 2003 rất nhiều, nên ở đây tôi xin trình
bày những kinh nghiệm của mình trên nền PowerPoint 2013.
Trên mỗi Slides có thể có cách bố trí các đối tượng khác nhau nên chọn
một trong các bố cục Slides được thiết lập sẵn của PowerPoint để tiết kiệm thời
gian. Để thực hiện việc này, từ màn hình nền của PowerPoint ta nháy chuột vào
nút nằm trên thanh định dạng của PowerPoint, sẽ xuất hiện một bảng chọn các
Slides mẫu (Office Theme, người sử dụng chỉ việc chọn một trong các bố cục
phù hợp với các đối tượng trên Slides mình định tạo. Lưu ý rằng ta có thể áp
dụng bố cục của Slides mẫu cho một Slides hiện tại hoặc cho tất cả các Slides
của bài giảng đó.
Nếu không muốn sử dụng các Slides mẫu thì người sử dụng có thể chèn
một Slides trống nhanh nhất bằng cách nhấp chuột phải vào vùng trống bên dưới
Slides hiện tại, chọn New Slides. Nếu chọn nhầm Slides mẫu hoặc chèn nhầm
một Slides vào sai vị trí cần chèn người sử dụng có thể xoá bỏ bằng cách chọn
Slides đó rồi thực hiện lệnh Edit/Delete Slides hoặc nhấp chuột phải vào Slides
đó, chọn Delete Slides.
Tiếp đó người sử dụng lần lượt tạo các đối tượng trên Slides. Các đối
tượng có thể là đoạn văn bản, hình vẽ, tranh, hình ảnh, âm thanh, phim, …
b. Tạo các đối tượng trên một Slides.
Như trên đã nói, nỗi đối tượng trên một Slides có thể là một đoạn văn bản,
một hình vẽ, một hình ảnh hoặc một đoạn phim, … Mục tiêu chung khi trình
chiếu các đối tượng này là để truyền tải những thông tin, những đơn vị kiến thức
đã được chia nhỏ đến học sinh.
* Đối tượng là văn bản.
Khi khởi động Powerpoint, trên Slides đầu tiên xuất hiện hai khung có thể
nhập văn bản:
- Khung có dòng chữ Click to add Title (kích vào đây để nhập tiêu đề) có
thể nhập tiêu đề của phần văn bản sẽ nhập phía dưới, chẳng hạn tên đề bài, đề
mục, …
- Khung có dòng chữ Click to add Subtitle (kích vào đây để nhập tiêu đề
phụ) có thể nhập tiêu đề phụ hoặc nội dung đoạn văn bản.
Như vậy, trên mỗi Slides mặc định có 2 khung ở dạng Text box để có thể
nhập nội dung. Tuy nhiên người sử dụng có thể tạo thêm một hoặc nhiều Text
box như vật bằng cách Copy những Text Box đó. Ta nên sử dụng cỡ chữ từ 20-
24 với kiểu chữ in thường là phù hợp, các đề mục của bài nên sử dụng kiểu chữ
in hoa đậm với cỡ chữ từ 22-26, riêng đầu bài có thể sử dụng chữ in hoa cỡ lớn
hoặc dùng chữ nghệ thuật (WordArt).
* Đối tượng là hình ảnh, biểu đồ minh họa
Trong các bài giảng điện tử, nhất là các môn khoa học xã hội, thường là
GV muốn đưa một số hình ảnh vào để cho bài giảng thêm sinh động, thu hút sự
chú ý của học sinh và và hỗ trợ tư duy trừu tượng của trẻ. Nguồn hình ảnh ở đây
rất nhiều, có thể là hình ảnh trong sách giáo khoa, trong tài liệu tham khảo, trong
KeHoachBaiDay.net
8
thư viện tư liệu điện tử được bán bản quyền, trên mạng Internet hoặc có thể là
ảnh giáo viên tự chụp bằng máy ảnh, … ở đây tôi chỉ nêu một số trường hợp
thường gặp.
- Nếu là hình ảnh trong sách giáo khoa hoặc tài liệu tham khảo mà GV
muốn đưa vào bài giảng thì việc đầu tiên là phải dùng máy Scan (máy quét ảnh)
để Scan các ảnh đó dưới dạng file ảnh sau đó copy trực tiếp hoặc tạo đường link
đến bài giảng.
- Nếu là hình ảnh ở trên mạng Internet thì ta có thể vào trang
http://www.google.com.vn để tìm và Download xuống. Khi lấy hình ảnh trên
mạng xuống ta cần xem kích thước của ảnh, nếu kích thước của ảnh quá nhỏ,
khi đưa vào bài ta điều chỉnh kích thước lên thì có thể ảnh bị vỡ, không sắc nét.
Thao tác để chèn một ảnh vào Slides là: Để con trỏ chuột vào nơi cần chèn.
Thực hiện lệnh (nháy chuột trái): Insert/Piture/xuất hiện hộp thoại Insert
Ficture/chọn file ảnh mình cần chèn/ Insert. (hình 1)
Hình 1
* Đối tượng là âm thanh hoặc các đoạn phim.
Việc đầu tiên là người thiết kế phải xét xem đối tượng âm thanh hoặc hình
ảnh mình muốn sử dụng trong bài giảng thuộc định dạng nào (nhấp chuột phải
vào đối tượng, chọn Properties để xem định dạng của đối tượng). Nếu đối tượng
là một đoạn âm thanh thì cũng có thể ở nhiều định dạng khác nhau như: MP3,
AMR, Audio, … Nếu đối tượng là một đoạn video thì cũng có thể ở các định
dạng như: Media, MP4 MPEG-4, 3GP, ASF, AVI, …
Trong một số trường hợp, người sử dụng muốn tạo ra một số tư liệu ở dạng
từ những tư liệu đã có để phù hợp với mục đích và thời lượng của bài giảng.
Muốn vậy, cần sử dụng một số phần mềm xử lý phim ảnh như: Goldwve (Chỉnh
sửa tách nhạc và lời), Filesplit (Cắt - nối file), Ulead VideoStudio (phần mềm
cắt dựng cảnh),…
Tại Slides muốn chèn đoạn video ta thực hiện lện Insert/Media/video (nếu
là File hình), Insert/Media audio (nếu là file tiếng) - (hình 2). Xuất hiện một
hộp thoại, người sử dụng chọn tệp muốn đưa vào bài và chọn OK .
Hình 2
KeHoachBaiDay.net
9
Khi đó trên Slides sẽ xuất hiện biểu tượng hoặc hình ảnh tượng trưng của
tệp đó. Cũng có thể tạo một siêu liên kết (Hyperlink) đến các đối tượng bằng
cách thực chọn: Insert/Hyperlink. Nếu sử dụng cách tạo siêu liên kết thì ta có
thể đưa các tư liệu trên một trang Web nào đó vào bài giảng mà không cần phải
copy hay Download xuống. Cần chú ý rằng, khi ta đưa bài giảng đó sang một
máy khác, nếu không được đóng gói đúng cách thì đường link đó có thể không
còn đúng nữa, do đó vẫn còn hình ảnh, biểu tượng của đối tượng trên Slides,
nhưng khi trình chiếu thì không có nội dung. Chính vì vậy cần phải đóng gói bài
giảng sau khi hoàn thành.
Để cắt ghép một đoạn từ file âm thanh hoặc các đoạn phim ta sử dụng các
phần mềm hỗ trợ như: Phần mềm MP3 Cutter Joiner (hình 3), Fomat factory
(hình 4) …
Hình 3 Hình 4
* Sử dụng font nền và màu sắc cho các Slides.
Sau khi tạo được các đối tượng theo kịch bản đã định thì việc chọn màu sắc
cho các đối tượng và phông nền cho các Slides cũng là một việc hết sức quan
trọng, nó góp phần quyết định hiệu quả của việc trình chiếu Bài giảng.
- Nền của Slides.
+ Trong PowerPoint đã lập sẵn rất nhiều phông nền mẫu, người sử dụng có
thể tuỳ ý lựa chọn phông nền phù hợp với đặc thù bộ môn, phù hợp với các đối
tượng trên Slide, phù hợp với kịch bản của mình.
+ Trên giao diện của phần mềm người dùng chọn Slide cần tạo hình nền
(có thể chọn 1 hoặc nhiều), sau đó click vào tab nhấn chọn Design chọn các mẫu
nền tương ứng. (Nếu muốn chọn tất cả Slide tạo hình nền cho đồng bộ, nhấn tổ
hợp phím Ctrl + A ) (hình 5).
+ Thường thì nên chọn các phông nền có màu sắc dịu, không chói, cũng
không quá loè loẹt.
- Thay đổi hình nền background trong Powerpoint:
Người dùng click vào Slide muốn thay đổi hình nền Background (có thể
chọn 1 hoặc nhiều (ctrl + A), tiếp đến click chuột phải chọn Format
Background. Chọn các tùy chọn cho nền background phía sau chọn Apply to al:
KeHoachBaiDay.net
10
Có các tùy chọn bao gồm Solid fill, Gradient fill, Picture or texture fill (chọn file
ảnh từ máy tính), Pattern fill, Hide back ground graphics. Trong đó, người dùng
có thể chọn Picture or Texture fill để chọn một ảnh làm nền background, chọn
Hide background graphic để ẩn đi hình nền vừa tạo. (hình 6)
Hình 5 Hình 6
- Màu của các đối tượng: Màu sắc của các đối tượng (trừ ảnh và video)
trên các Slides phụ thuộc nhiều vào phông nền của Slides đó. Nguyên tắc chung
là màu sắc của đối tượng phải tương phản với màu sắc của phông nền để học
sinh dễ dàng quan sát. Ví dụ: nếu nền màu xanh tím thì đối tượng có màu vàng
tươi, nền có màu vàng nhạt thì đối tượng có màu xanh côban, xanh tím hoặc đỏ
sậm...
c. Thiết lập chế độ trình chiếu.
Có 2 chế độ thể thiết lập: Chế độ tự động trình chiếu hoặc trình chiếu có
điều khiển.
- Trình chiếu tự động: Các đối tượng tự động xuất hiện sau thời gian đã định
sẵn. Cách trình chiếu này rất ít khi dùng trong cả bài giảng vì khi dạy, có thể còn
xuất hiện nhiều tình huống sư phạm mà giáo viên khó có thể dự đoán trước một
cách chính xác. Do đó cách trình chiếu này nếu sử dụng thì chỉ sử dụng trong
một phần nào đó.
- Trình chiếu có điều khiển: Loại trình chiếu này do người dạy thực hiện
bằng cách nhấp chuột hoặc ấn phím mũi tên, phím Page Up, Page Down trên
nhóm phím điều khiển của bàn phím. Chế độ này thiết lập khá đơn giản. Theo
kịch bản đã định, trên mỗi Slides, người sử dụng lần lượt thiết lập thứ tự trình
chiếu và hiệu ứng cho mỗi đối tượng.
- Thứ tự trình chiếu và hiệu ứng được thiết lập gồm các thao tác sau:
+ Chọn đối tượng (nhấp chuột vào đối tượng)
+ Nhấp chuột vào Animation, xuất hiện các hiệu ứng/ chọn hiệu ứng mình
cần hoặc nháy chuột vào mục Add Animation xuất hiện các kiểu nhóm hiệu
ứng, ta dùng chuột chọn thứ tự trình chiếu của đối tượng trong mỗi kiểu hiệu
ứng đó. (hình 7).
- Người sử dụng cần chú ý đến tốc độ trình chiếu đối tượng ở mục Speed.
- Khi muốn huỷ bỏ chế độ trình chiếu của các đối tượng thì ta chọn đối
KeHoachBaiDay.net
11
tượng đó rồi nháy chuột vào mục Remove của bảng chọn Animation Pane.
(hình 8)
Hình 7
Hình 8
d. Trình chiếu bài giảng.
Để trình chiếu toàn bộ bài giảng từ Slides đầu ta sử dụng phím F5 hoặc
nháy chuột vào nút ở phía dưới, góc phải của màn hình. Khi đó, đối tượng
đầu tiên sẽ xuất hiện trên màn chiếu, nhấn phím mũi tên  hoặc nhấn chuột để
các đối tượng khác lần lượt xuất hiện. Muốn thoát khỏi việc trình chiếu, ấn phím
ESC, muốn trở về đối tượng phía trước nhấn phím mũi tên .
Để trình chiếu từ một Slide bất kỳ, ta chọn Slides đó rồi nhấn tổ hợp phím
Shift + F5.
Để chuyển đổi qua lại giữa các Slides ta ta ấn số Slides + Enter.
Giải pháp 2: Khai thác thông tin trên Internet.
Hiện nay, nguồn tư liệu trên Internet ngày càng phong phú. Theo chủ
trương của Bộ GD&ĐT, nguồn học liệu mở sẽ phát triển trong thời gian tới. Do
đó, hình thành được kĩ năng khai thác thông tin trên Internet sử dụng các trang
tìm kiếm phục vụ cho việc giảng dạy là nhiệm vụ cấp bách với mỗi GV.
* Những hiểu biết cần thiết của người GV:
- Biết cách khai thác thông tin từ một số Website cho bộ môn của Việt
Nam. Biết cách khai thác thông tin dưới dạng text, hình ảnh, ảnh flash, video,
các file.ppt …. Phục vụ cho giảng dạy thông qua các Website tìm kiếm.
- Biết cách sử dụng Email để gửi đính kèm tư liệu tìm được đến các bạn
đồng nghiệp.
* Để truy cập Internet hiệu cho việc giảng dạy thì giáo viên cần nắm được
những điểm sau:
- Tìm kiếm thông tin trên Website các: Google.com, yahoo.com, msn.com
bằng các lựa chọn kiểu và từ khóa thích hợp.
- Nắm được nội dung chính các Website cần thiết đối với giáo viên:
+ Trang tư liệu giáo dục: http://violet.vn
+ Mạng giáo dục: http://www.edu.net.vn
+ Thư viện tư liệu giáo dục: http://tvtl.bachkim.vn
+ Trung tâm hỗ trợ giáo viên: http://www.giaovien.net
+ Teaching Education: http://www.dowload.onboom.com
KeHoachBaiDay.net
12
+ Bách khoa toàn thư Việt Nam: http://www.bachkhoatoanthu.gov.vn
- Tìm kiếm và lưu trữ hình ảnh, ảnh flash, đoạn video, bài soạn trên
powerpoint, đề kiểm tra, tư liệu khác….
- Có kỹ năng dowload và sử dụng các phần mềm.
* Để trên hình thành những kỹ năng đó, các bài tập về kĩ năng khai thác
thông tin Internet được đưa dưới dạng.
- Tìm kiếm và lưu trữ hình ảnh..
- Kết hợp mở từ điển Vietdic để tra cứu.
- Tìm kiếm theo định dạng: File Powepoint, file flash.
- Dowload để kiểm tra, bài giảng.
- Dowload phần mềm và sử dụng phần mềm từ các Website.
- Trao đổi thông tin qua hộp thư điện tử.
Giải pháp 3: Sử dụng một số phần mềm dạy học.
Hiện nay, cùng với sự phát triển ứng dụng của CNTT, những sản phẩm
phần mềm phục vụ cho quá trình dạy và học đã xuất hiện khá phong phú. Mỗi
sản phẩm đều có một đặc trưng riêng, phục vụ cho mục tiêu xác định và cũng
không có một sản phẩm nào vạn năng thay thế được các sản phẩm khác. Mỗi
GV có thể tham khảo các phần mềm và lựa chọn phần mềm nào có thể dùng đưa
vào bài giảng trên lớp, phần mềm nào hướng dẫn học sinh tự học để củng cố
kiến thức, phần mềm nào hỗ trợ cho việc thiết kế bài giảng.
Để tạo được một bài giảng điện tử, tùy thuộc vào đặc thù của bộ môn và
đặc điểm của tiết dạy, có thể phải sử dụng hoặc không phải sử dụng phần mềm
hỗ trợ. Hiện có rất nhiều phần mềm hỗ trợ để tạo bài giảng điện tử song trong
khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm nhỏ này, tôi chỉ xin giới thiệu kinh
nghiệm sử dụng một vài phần mềm thông dụng nhất.
a. Phần mềm Violet.
Violet là công cụ giúp cho GV có thể tự xây dựng được phần mềm hỗ trợ
dạy học theo ý tưởng của mình một cách nhanh chóng. So với các công cụ khác
thì nó chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh,
chuyển động và tương tác.
Violet có đầy đủ chức năng dùng để tạo các trang nội dung bài giảng như
nhập dữ liệu văn bản, công thức toán, phim, ảnh, âm thanh, … sau đó lắp ghép
các dữ liệu, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh hình hảnh, tạo ra các chuyển động và hiệu
ứng, xử lý các tương tác với người dùng. Riêng với việc xử lý dữ liệu
multimedia thì Violet tỏ ra mạnh hơn hẳn PowerPoint. Nó có thể nhập trực tiếp
các file Flash hoặc điều khiển quá trình chạy của đoạn phim trong khi
PowerPoint thì không làm được việc đó.
Violet cung cấp nhiều mẫu bài tập chuẩn thường được sử dụng trong SGK
như các bài tập trắc nghiệm, các bài tập ô chữ, …
Khi soạn xong bài, Violet cho phép xuất bài giảng ra thành một file.EXE
hoặc file. HTML chạy độc lập được trên máy tính khác hoặc đưa lên máy chủ
thành bài giảng trực tuyến.
Violet có rất nhiều tính năng ưu việt, việc sử dụng tất cả các tính năng của
Violet là cả một chuyên đề lớn. Ở đây người viết chỉ xin nêu một kinh nghiệm
nhỏ trong việc sử dụng Violet để tạo bài tập dạng ô chữ.
KeHoachBaiDay.net
13
Khi tạo loại bài này, người soạn thảo phải biết trước về ô chữ cột dọc và
các câu trả lời hàng ngang. Các thao tác có thể nêu tóm tắt như sau:
- Vào menu: Nội dung→ Thêm đề mục Nhập tên chủ đề, tên mục rồi
nhấn nút "Tiếp tục", xuất hiện hộp thoại chọn loại màn hình hiển thị là "Bài
tập ô chữ"
- Màn hình nhập dữ liệu hiện ra, ta nhập các tham số. Trong đó:
+ "Từ trả lời" là đáp án đúng của câu hỏi
+ "Từ trên ô chữ" là tập hợp các chữ cái sẽ được hiện lên ô chữ, vì vậy
thường là chữ hoa và không có dấu cách.
+ "Vị trí chữ" là vị trí của chữ cái trong "Từ trên ô chữ" mà sẽ thuộc vào ô
hàng dọc.
- Ta lần lượt nhập 5 câu hỏi và 5 câu trả lời tương ứng trong đề bài. Sau đó,
căn cứ vào ô chữ cột dọc cần lấy ở mỗi dòng hàng ngang, ta sẽ xác định được
"Vị trí chữ".
- Ta có thể bỏ qua phần "Từ trên ô chữ" để nhập cho nhanh, khi đó máy sẽ
tự động sinh ta từ "Từ trả lời" vào ô đó.
- Khi nhập liệu xong, ta nhấn "Đồng ý" ta sẽ thu được một trang bài tập ô
chữ. Khi giải ô chữ ta nhấp chuột vào câu hỏi, rồi gõ câu trả lời tương ứng vào
hội, gõ Enter có kết quả trên ô chữ.
b. Phần mềm Geometer's Sketchpad
Phần mềm Geometer's Sketchpad là phần mềm vẽ hình động nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho học sinh đặt và kiểm chứng các giả thuyết toán. Nó cho phép
người sử dụng vẽ một hình, thay đổi nó và những tính chất hình học của nó sẽ
được thiết lập do vậy nó cho phép khám phá được sự tổng quát của một loạt các
hình được dựng. Sử dụng phương tiện trực quan trong quá trình dạy học là một
yêu cầu tất yếu đối với GV dạy Toán vì trực quan đóng vai trò đặc biệt quan
trọng. Trực quan nếu được sử dụng đúng thì góp phần vào việc phát triển tư duy
trừu tượng.
Khi sử dụng phần mềm này GV cần lưu ý rằng Geometer's Sketchpad thực
hiện công việc, đó là xác nhận các tính chất hình học, nó tạo cho người sử dụng
cơ hội thấy được tính chất đó nghiệm đúng cho hàng loạt trường hợp một cách
thuận lợi bởi sự di chuyển liên tục. Sự xác nhận như vậy có vẻ thuyết phục hơn
chứng minh nhưng việc vẽ hình thì hoàn toàn khác với chứng minh. Vẽ hình là
để hình dung còn chứng minh là để suy diễn.
c. Phần mềm Adobe Presenter
Phần mềm Adobe Presenter có khả năng tạo rất nhanh những bài tập trắc
nghiệm mà không phải nhúng từ các phần mềm khác như Violet. Đó là một
trong những khả năng vượt trội của phần mềm này so với PowerPoin.
Hiện nay, GV đã rất quen với bài trình chiếu bằng PowerPoint nên nếu
muốn chuyển qua công nghệ E-learning thì chỉ cần cài thêm một phần mềm có
tên là Adobe Presenter.
Adobe Presenter sẽ giúp chuyển đổi các bài trình chiếu PowerPoint sang
dạng tương tác Multimedia, có thể có lời thuyết minh, có thể câu hỏi tương tác
và khảo sát và tạo mô phỏng một cách chuyên nghiệp tương thích với chuẩn
quốc tế về E-learning là AICC, SCORM 1.2, and SCORM 2004.
KeHoachBaiDay.net
14
Adobe Presenter đó biến Powerpoint thành cụng cụ soạn bài giảng E-
Learning, có thể tạo bài giảng để học sinh tự học, có thể ghi lại lời giảng, chèn
các bản flash, chèn các hoạt động ghi lại từ bất cứ phần mềm nào khác qua flash,
có thể đưa bài giảng lời giảng trực tuyến …
Để tạo bài tập trắc nghiệm từ Adobe Presenter ta làm như sau:
* Bước 1: Thiết lập ban đầu cho bài giảng:
Sau khi cài đặt Adobe Presenter được tích hợp vào trong Microsoft
Powerpoint, tôi thực hiện như sau: Nhấn vào nút lệnh sẽ cho
màn hình (hình 9).
Đặt title (tiêu đề) và Themes (giao diện) phù hợp sau đó chọn sang thẻ
Playback (hình 10).
Hình 9 Hình 10
Sau khi lựa chọn thích hợp các chỉ mục trên thì chuyển sang thẻ Quality để
hiệu chỉnh chất lượng cho âm thanh và phim ảnh (nên để chế độ mặc định là phù
hợp nhất).
Cuối cùng chọn thẻ Attackment để đính kèm thêm tài liệu văn bản hoặc
bảng tính bằng nút lệnh .
Khi này một hộp thoại sẽ xuất hiện cho phép người dùng lựa chọn tệp tin từ
bất cứ nguồn tài nguyên nào (trên máy, trên website khác). (hình 11)
Hình 11
Tự động chạy khi
trình chiếu
Lặp lại bài trình
chiếu
Đánh số mục lục các slide
ở viền ngoài
Tạm dừng sau mỗi hoạt động
Thời gian chạy của mỗi
slide thường nếu không có
âm thanh hoặc phim
Click vào đây để lựa
chọn đối tượng cần chèn
thêm.
File: Tệp tin trên máy
Link: Tệp tin từ website
khác
KeHoachBaiDay.net
15
* Bước 2: Thiết lập các thông số ban đầu của giáo viên
Thiết lập thông số ban đầu của giáo viên (người hướng dẫn), tôi chọn vào
menu Adobe Presenter chọn .
Trong thẻ Presenter chọn Add.
Khi đó màn hình sau xuất hiện, chúng ta tiến hành điền các thông tin như
hướng dẫn bên dưới. (hình 12)
Hình 12
- Bước 3: Việt hóa các thông báo, nút lệnh trong bài trắc nghiệm.
Để chuẩn bị cho các dạng bài tập trắc nghiệm (Câu hỏi tương tác), tôi đã
tiến hành Việt hóa các thông báo, bằng cách chọn Quiz rồi chọn Edit, rồi lần
lượt chọn các nút Question Review Messages và Quiz Result Messages (hình
13, 14)
Hình 13 Hình 14
KeHoachBaiDay.net
16
Để tiến hành thiết lập tỉ lệ điểm Đạt yêu cầu và số lần làm bài, ta chọn nút
Pass or Fail Options rồi thiết lập % điểm đạt yêu cầu và số lần làm bài tại
Allow user (nếu có).
Để thiết lập chuẩn đóng gói, ta vào Reporting, chọn SCORM, chọn
Manifest … tại Version chọn 2004 nhấn OK
* Bước 4: Việt hóa cho nhãn Default Labels (Thông báo sau khi chọn
phương án trả lời). Tôi chọn vào nhãn Default Labels rồi Việt hóa như bảng
(hình 15).
Hình 15
* Bước 5: Ghi âm, quay video: Hiện nay có rất nhiều phần mềm ghi âm,
quay video… (ngay trên Adobe Presenterl đều có) nhưng “điện thoại “ là công
cụ ghi âm và quay video thuận tiện và rõ lời, tôi đã dùng điện thoại để quay và
ghi âm sau đó lưu vào TEPDULIEU, để ghép nối âm thanh, video hoặc hình ảnh
vào nhau, tôi dùng phần mềm Camtasia studio 8.6 để ghép nối hoặc chỉnh sửa
tùy ý (đây là phần mềm rất dễ sử dụng có hướng dẫn kèm theo), bạn vào Google
gõ download camtasia studio 8.6 full crack tải về và xem hướng dẫn sử dụng
rất dễ dàng.
* Bước 6: Chèn video/audio: Để chèn được đoạn video vào bài giảng ta
cần chú ý là phần mềm chỉ hỗ trợ định dạng flv (do đó những đoạn video không
thuộc định dạng này đều phải sử dụng phần mềm convert để chuyển đổi phim).
Cách chèn như sau:
- Chèn video: Dựa vào thuyết minh đã chuẩn bị, tôi làm như sau:
+ Bước 1: Vào Adobe Presenter chọn Import Video sau đó chọn đến thư
mục chứa phim cần chèn (TEPDULIEU).
KeHoachBaiDay.net
17
+ Bước 2: Tại cửa sổ chọn đường dẫn video cần chèn tôi chọn Slide cần
chèn, chọn vị trí hiển thị cho phim là Slide Video (chèn phim trong slide bài
giảng), hay Sidebar Video (Chèn phim ra bên ngoài Slide bài giảng – khi này ta
sẽ không xem được phim khi trình chiếu Power Point).
+ Bước 3: Nhấn chọn Open sau đó nhấn Ok để hoàn tất việc chèn phim.
Muốn xem thử (trường hợp chèn chế độ Slide Video) ta nhấn biểu tượng trình
chiếu của Power Point rồi kéo con trượt để trình chiếu phim.
- Chèn Audio: Dựa vào thuyết minh đã chuẩn bị tôi làm như sau:
Bước 1: Vào Adobe Presenter, chọn Import Audio, chọn Slide cần chèn âm
thanh vào, chọn nút Browse… để chèn âm thanh.
+ Bước 2: Theo đường dẫn chọn đoạn âm thanh cần chèn (chú ý phần mềm
chỉ hỗ trợ đoạn âm thanh có đuôi là mp3; wav) nhấn Open để hoàn tất chọn file
cài đặt.
+ Bước 3: Kiểm tra lại Slide cài đặt, nhấn Ok, rồi nhấn OK tiếp để hoàn
thành. Đoạn âm thanh sau khi được chèn vào sẽ không thể nghe thấy khi trình
chiếu Power Point. Muốn nghe thử ta có thể vào Adobe Prenseter, chọn Edit
Audio, chọn slide tương ứng với đoạn âm thanh muốn nghe, nhấn nút tam giác
màu xanh để nghe.
- Đồng bộ âm thanh và văn bản:
+ Bước 1: Tạo văn bản hoặc chèn ảnh vào slide
+ Bước 2: Tạo hiệu ứng xuất hiện cho các đối tượng văn bản (mỗi đối
tượng là một hiệu ứng), để chế độ On Click.
+ Bước 3: Chèn đoạn âm thanh hoặc ghi âm lời giảng vào slide cần đồng bộ.
+ Bước 4: Vào Adobe Presenter, chọn Sync Audio. Nhấn vào biểu tượng
đồng hồ để nghe âm thanh, nếu muốn ảnh hoặc văn bản xuất hiện ở chỗ nào thì
nhấn vào nút Next Animation ở dưới. Cứ vậy lặp lại thao tác để đồng bộ các đối
tượng tiếp theo. Sau khi đồng bộ xong thì nhấn OK để hoàn tất.
+ Bước 5: Sửa đồng bộ:
- Để đồng bộ lại ta có thể lặp lại bước 4 để đồng bộ lại từ đầu.
- Trường hợp muốn để đối tượng ảnh và văn bản khớp nhau khi xuất hiện
ta có thể vào Edit Audio, tìm đến slide chưa đối tượng đồng bộ. Kéo con trượt
đánh dấu slide cần nghe để sửa, nhấn nút Play (biểu tượng tam giác bên dưới).
Để sửa đồng bộ nhấn chuột và giữ chuột trái kéo nút Click trên thanh công cụ
đến vị trí có lời cần đồng bộ. Sau đó nhấn vào biểu tượng đĩa mềm để lưu lại và
thoát khỏi cửa sổ.
* Bước 7: Chèn câu hỏi trắc nghiệm, tương tác, vấn đáp (Quiz)
Adobe Presenter giúp giáo viên thiết kế hệ thống câu hỏi tương tác thông
minh, xử lý theo tình huống, có nhiều loại, nhiều dạng câu hỏi khác nhau.
- Từ menu của Adobe Presenter, nháy chọn mục Quizze Manager.
- Thêm câu hỏi trắc nghiệm với nhiều loại khác nhau lần
lượt theo của sổ phần mềm xuất hiện: (hình 16)
KeHoachBaiDay.net
18
Thuyết minh:
Câu hỏi nhiều lựa chọn
Câu hỏi đúng/sai
Điền vào chỗ khuyết
Trả lời ngắn với ý kiến của mình.
Ghép đôi
Đánh giá mức độ.
Không có câu trả lời đúng hay
sai.
(hình 16)
- Bổ sung thêm loại câu hỏi và xử lý cách làm bài của học viên:
Quiz Setting xác lập tên loại câu hỏi, học viên có thể nhảy qua câu hỏi này,
phản ứng sau khi học viên trả lời: Lùi lại, hiện thị kết quả… (hình 17)
Quiz Setting xác lập tên loại
câu hỏi, học viên có thể nhảy
qua câu hỏi này, phản ứng sau
khi học viên trả lời: Lùi lại,
hiện thị kết quả…
-----------------------------
Cho phép làm lại
Cho phép xem lại câu hỏi
Bao gồm slide hướng dẫn
Hiện thị kết quả khi làm xong
Hiện thị câu hỏi trong outline
(danh mục, mục lục)
Trộn câu hỏi
Trộn câu trả lời
Hình 17
Các bạn có thể khai thác nhiều tính năng khác trong phần làm câu hỏi trắc
nghiệm này.
* Bước 8: Xuất bản bài giảng điện tử:
Trong menu Adobe Presenter, chọn Publish. Khi này một bảng sau hiện ra
cho các chọn lựa Lưu trên máy tính. (hình 18)
KeHoachBaiDay.net
19
Có thể nén nội dung bài giảng lại dưới dạng tập tin nén (mặc định *.zip)
hoặc đóng gói sản phẩm lên đĩa CD. (hình 19)
Sau khi bấm nút Publish, máy xử lý và báo sau đó xem thử kết quả: Cuối
cùng là thực hiện các liên kết (hyperlink) hợp lý, logic lên các đối tượng trong
bài giảng. Đây chính là ưu điểm nổi bật có trong bài giảng điện tử nên cần khai
thác tối đa khả năng liên kết. Nhờ sự liên kết này mà bài giảng được tổ chức một
cách linh hoạt, thông tin được truy xuất kịp thời, học sinh dễ tiếp thu.
Hình 18 Hình 19
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Thông qua việc tìm hiểu cơ sở thực tiễn và thực trạng của trường, đề tài đã
đưa ra được những kĩ năng mà GV cần có khi ứng dụng CNTT trong việc giảng
dạy của mình.
Sau 4 năm áp dụng đề tài ứng dụng CNTT của GV toàn trường được nâng
cao rõ rệt: 100% GV đã truy cập Internet để tìm kiếm tư liệu, dạy học bằng
phần mềm trực tuyến và áp dụng được các phần mềm có thể hỗ trợ PowerPoint
như Violet, Geometer's Sketchpad, Adobe Presenter trong quá trình thiết kế bài
giảng.
Mỗi bài giảng của GV được đầu tư trau truốt hơn về hình ảnh, video … và
được trình bày khoa học hơn. Với hình thức dạy học này, GV tiết kiệm được
thời gian trên lớp, do đó có thể tăng thời lượng luyện tập kiến thức, kỹ năng
cho học sinh. Từ đó, tôi thấy học sinh hứng thú hơn trong việc học tập
đồng nghĩa với chất lượng học tập của cũng tốt hơn theo từng năm.
Qua thời gian nghiên cứu, cuối năm học 2019-2020 tôi đã khảo sát lại
và thu được bảng kết quả cụ thể sau:
SL
giáo
viên
NỘI DUNG
Kết quả - Tính theo tỉ lệ %
Khá, tốt
Bình
thường
Chưa tốt
SL TL SL TL SL TL
54
Thiết kế bài giảng Powerpoint 35 64,9 24 35,1 0 0
Khai thác thông tin trên Internet 42 77,8 12 22,2 0 0
Sử dụng các phần mềm dạy học. 39 72,2 15 27,8 0 0
KeHoachBaiDay.net
20
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học của ngành, ứng dụng khoa
học công nghệ vào giáo dục. Phương tiện dạy học bằng máy tính đi cùng với
những trang giáo án điện tử là phương tiện không thể thiếu đối với người GV.
Vì vậy, vấn đề trang bị cho GV những kiến thức về kĩ năng ứng dụng CNTT là
một việc làm thiết thực.
Những kiến thức cơ bản trong tập tài liệu này, GV có được lượng kiến
thức cơ bản về những kĩ năng ứng dụng CNTT như: thiết kế giáo án điện tử, truy
cập Internet, sử dụng một số phần mềm dạy học để phục vụ cho việc giảng dạy
của mình.
3.2. Kiến nghị
* Nhà trường:
- Tổ chức các đợt tập huấn chuyên đề về bài giảng điện tử cho toàn thể
giáo viên giảng dạy.
- Có biện pháp tích cực khuyến khích cán bộ giáo viên tự học tập nâng cao
trình độ tin học và xây dựng ý thức, tự ý thức vận dụng CNTT vào dạy học.
* Phòng Giáo dục và Đào tạo:
- Tăng cường các đợt tập huấn chuyên đề về bài giảng điện tử trên địa bàn
thành phố để học hỏi và nâng cao kỹ năng sử dụng.
- Trên thực tế, việc ứng dụng sáng kiến này mới chỉ trong một phạm vi
hẹp, vì thế cũng chưa thể đánh giá được toàn diện nhất với những ưu điểm và
hạn chế của bài giảng điện tử trong dạy học. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự
giúp đỡ cùng những lời góp ý chân thành từ các đồng nghiệp, các cấp quản lý
để sáng kiến tôi ngày một hoàn thiện.
Xác nhận của BGH nhà trường
TP Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2020
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.
Người viết đề tài
Phan Thị Hằng
KeHoachBaiDay.net
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT TÊN TÀI LIỆU NHÀ XUẤT BẢN
1 Cùng học tin học quyển 1 Nhà xuất bản giáo dục
2 Thực hành cùng học Tin học 1 Nhà xuất bản giáo dục
3 Theo từ điển Oxford [104, tr.666] NXB đại học Oxford
4 Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học Nhà xuất bản giáo dục
5 Từ điển Giáo dục học NXB Từ điển Bách Khoa
6 Tạp chí Harvard Business Review
NXB Trường kinh doanh
Harvard
7 Tài liệu trên internet
KeHoachBaiDay.net
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HƯỚNG DẪN GIÁO VIÊN NÂNG CAO KĨ NĂNG
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY
Người thực hiện: Phan Thị Hằng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tin học
THANH HÓA, NĂM 2020
KeHoachBaiDay.net
MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Đối tượng nghiên cứu 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu 2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm. 2
2.2. Thực trạng của vấn đề 4
2.3. Các giải pháp. 6
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 19
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận 20
3.2. Kiến nghị 20
DANH MỤC VIẾT TẮT
Nội dung Viết tắt
Công nghệ thông tin và truyền thông CNTT&TT
Công nghệ thông tin CNTT
Truyền thông TT
Giáo viên GV
Giáo dục và đào tạo GD&ĐT
PHỤ LỤC
1. Hình ảnh trang thiết bị dạy học trong nhà trường.
2. Sản phẩm ứng dụng CNTT: Bài giảng thiết kế theo chương trình môn Tin
học lớp 3. (Sách cùng học tin học lớp 3)
KeHoachBaiDay.net
PHỤ LỤC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HƯỚNG DẪN GIÁO VIÊN NÂNG CAO KĨ NĂNG
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY
Người thực hiện: Phan Thị Hằng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tin học
KeHoachBaiDay.net
PHỤ LỤC
1. HÌNH ẢNH TRANG THIẾT BỊ DẠY HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG
KeHoachBaiDay.net
KeHoachBaiDay.net
2. SẢN PHẨM ỨNG DỤNG CNTT VÀ HÌNH ẢNH BÀI GIẢNG ĐIỆN
TỬ MÔN TIN HỌC LỚP 3
Bài 3: Gõ các chưa ă, â, ê, ô, ơ, ư, đ
KeHoachBaiDay.net
KeHoachBaiDay.net
KeHoachBaiDay.net
KeHoachBaiDay.net
KeHoachBaiDay.net
KeHoachBaiDay.net
KeHoachBaiDay.net
KeHoachBaiDay.net
KeHoachBaiDay.net

SKKN Giải pháp hướng dẫn giáo viên nâng cao kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.pdf

  • 1.
    1 1. Mở đầu. 1.1.Lý do chọn đề tài. Hiện nay, toàn cầu hóa đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu của mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trong đó việc “lấy sức mạnh từ công nghệ, năng lượng từ thông tin và chèo lái bằng kiến thức” là một yêu cầu bức thiết. Người ta tin rằng, CNTT&TT có thể đem lại giá trị cho quá trình giảng dạy và học tập. Trong quá trình dạy học, “với sự hỗ trợ của công nghệ, GV sẽ trở thành những người mở đầu trong công cuộc cải cách giáo dục trên toàn thế giới”. Khi mà CNTT đã phát triển mạnh mẽ đến mức hàng ngày đã tác động đến đời sống tinh thần và vật chất của mỗi người trên trái đất thì chắc hẳn tư duy khoa học, tư duy giáo dục không thể giữ nguyên như cũ. Bill Gates cho rằng:“Internet như một đợt sóng thủy triều. Nó sẽ tràn vào ngành công nghiệp máy vi tính và nhiều ngành khác. Nó sẽ nhấn chìm tất cả những ai không luyện tập trong những đợt sóng của nó” Ở các nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc... việc sử dụng những thành tựu của khoa học công nghệ trong nhà trường đã có từ rất sớm, khẳng định được tính hiệu quả, nhất là những ứng dụng liên quan đến CNTT. Các chính sách mới về đổi mới giáo dục được xây dựng dựa trên tiền đề và triển vọng của tích hợp CNTT một cách có hiệu quả vào dạy học. CNTT được coi như “một khía cạnh đặc biệt quan trọng trong hành trang văn hóa dạy học của thế kỉ 21, hỗ trợ các mô hình phát triển chuyển đổi mới cho phép mở rộng bản chất và kết quả học tập của GV cho dù việc học đó diễn ra ở đâu”. CNTT & TT được coi là những công cụ tiềm năng có tác động tích cực tới cách dạy của thầy và cách học của trò. Ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục cũng rất được mong đợi. Các nhà giáo dục Việt Nam được khuyến khích ứng dụng CNTT hợp lý ở tất cả các lớp và các môn học. Trên thực tế, việc sử dụng CNTT cho giảng dạy hiện nay vẫn còn hạn chế. Như vậy, nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục là vô cùng lớn. Trong xu thế toàn cầu hóa của nền giáo dục thế giới, nền giáo dục Việt Nam muốn phát triển thì phải không ngừng áp dụng CNTT. Bởi vì “nước nào đi đầu trong sử dụng CNTT, nước đó sẽ đi đầu về giáo dục”. Bên cạnh đó, trước những thay đổi nhanh chóng về khoa học kĩ thuật cũng như tri thức, giáo dục truyền thống tập trung vào nội dung kiến thức đã không còn phù hợp, giáo dục trên thế giới đang đi theo xu hướng giảng dạy và đánh giá theo năng lực. Giảng dạy theo hướng phát triển năng lực người học đã và đang là một chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục cũng như xã hội. Trên tinh thần đó, Bộ GD&ĐT đã triển khai chương trình công nghệ giáo dục và E-Learning. Tiếp thu những chỉ đạo chung của Bộ GD&ĐT, sở GD&ĐT tỉnh Thanh Hóa cũng chỉ đạo các trường học ứng dụng CNTT trong học tập và giảng dạy. Bằng cách sử dụng các phần mềm soạn bài giảng điện tử như Powerpoint, Adobe Pressenter, iSpring tới mọi GV qua các hoạt động về ứng dụng CNTT trong dạy và học gồm: - Soạn giáo án, bài trình chiếu và bài giảng điện tử; - Tích cực áp dụng các phần mềm hỗ trợ dạy học và thí nghiệm ảo. KeHoachBaiDay.net
  • 2.
    2 Với mong muốnchia sẻ những kinh nghiệm nhỏ trong quá trình giảng dạy với những đồng nghiệp của mình, nhất là những đồng chí chưa có kinh nghiệm trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp hướng dẫn giáo viên nâng cao kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy” 1.2. Mục đích của đề tài. Trên cơ sở khẳng định vai trò ý nghĩa của CNTT trong dạy học tôi đã áp dụng vào công tác giảng dạy của mình. Trong 4 năm dạy học tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, tôi đã sử dụng phần mềm PowerPoint cùng một số phần mềm hổ trợ để thiết kế giáo án điện tử và hỗ trợ, hướng dẫn cho các GV trong toàn trường. - Nắm quy trình thiết kế bài giảng, sử dụng được phần mềm Microsoft Powerpoint và phần mềm Adobe Presenterl được tích hợp trong Microsoft Powerpoint. - Biết sử dụng một số phần mềm hỗ trợ thiết kế bài giảng. - Biết cách khai thác thông tin trên Internet. 1.3. Đối tượng nghiên cứu: - Giải pháp hướng dẫn giáo viên nâng cao kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy 1.4. Phương pháp nghiên cứu. - Tìm kiếm phần mềm hỗ trợ để thiết kế bài giảng điện tử. - Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu. - Phương pháp điều tra. - Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục. 2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm. 2.1.1. Khái niệm về CNTT. Thuật ngữ CNTT (information technology - IT) xuất hiện khoảng những năm 70 của thế kỷ XX. Thuật ngữ này thực chất gắn liền với sự phát triển của máy vi tính (computer), thiết bị manh nha ra đời từ thời chiến tranh thế giới thứ II. Máy vi tính là thiết bị điện tử cho phép lập chương trình, tính toán hay vận hành logic với tốc độ cao hoặc thu thập, lưu giữ, liên kết, xử lý thông tin. Từ những năm 1950 đến nay đã có 4 thế hệ máy vi tính ra đời. Mỗi thế hệ đều phản ánh sự thay đổi về phần cứng, với việc giảm kích thước nhưng tăng khả năng hoạt động của máy vi tính. Theo từ điển American Heritage thì CNTT là “sự phát triển, cài đặt hay vận hành các hệ thống máy vi tính và các phần mềm ứng dụng” [111]. Theo từ điển Oxford [104, tr.666], “CNTT là việc nghiên cứu hoặc sử dụng thiết bị điện tử, đặc biệt là máy vi tính, để lưu giữ, phân tích và gửi thông tin”. Theo định nghĩa của hiệp hội CNTT của Hoa Kỳ (Information Technology Association of America), CNTT là “việc nghiên cứu, thiết kế, phát triển, vận hành, hỗ trợ và quản lý hệ thống thông tin dựa trên máy vi tính, đặc biệt là các phần mềm ứng dụng và phần cứng máy vi tính”. “Thông tin” ở đây có thể được KeHoachBaiDay.net
  • 3.
    3 “biểu hiện” ởdạng chữ, hình ảnh, âm thanh. Sau thuật ngữ CNTT, vào khoảng năm 2000 thì thuật ngữ CNTT và truyền thông (CNTT và TT) (Information and communication technologies – ICT) ra đời. CNTT và TT theo quan điểm của UNESCO [122, tr.3] là các dạng công nghệ được sử dụng để truyền, xử lý, lưu giữ, tạo, trình bày, chia sẻ hay trao đổi thông tin bằng các phương tiện điện tử. Ở Việt Nam, khái niệm CNTT cũng đã được đưa ra đầu tiên trong Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ năm 1993 [11]: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là máy tính và các mạng viễn thông - nhằm cung cấp các giải pháp tổng thể để tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. Trong Luật CNTT [56], tại điều 4 cũng đã định nghĩa: - Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; - Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số Từ đó có thể kết luận: CNTT là tập hợp công cụ kỹ thuật hiện đại gồm chủ yếu là máy vi tính và phần mềm máy vi tính được sử dụng để xử lý, lưu giữ, trình bày, chuyển đổi, bảo vệ, gửi và nhận thông tin số một cách an toàn. 2.1.2. Ứng dụng CNTT vào dạy học: CNTT là yếu tố quan trọng góp phần đổi mới nội dung và phương thức giáo dục - đào tạo. Ngược lại, giáo dục - đào tạo là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của CNTT. Đối với giáo dục - đào tạo, CNTT đóng nhiều vai trò khác nhau [16]: vừa là phương tiện dạy học mới với nhiều ưu điểm, vừa là môi trường học tập mới với nhiều hình thức dạy học đa dạng, vừa là một ngành học với những đặc thù riêng. Sơ đồ: NTT trong giáo dục và đào tạo Trong đó, hiện nay người ta quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu, tập huấn GV sử dụng CNTT như phương tiện dạy học. Vì thực chất, khi sử dụng phương tiện này ở mức độ cao thì GV đã có khả năng biến nó thành “môi trường” học tập mới, môi trường học tập ảo (virtual learning environment). CNTT là phương tiện của người GV. Trong đó người GV sử dụng CNTT KeHoachBaiDay.net
  • 4.
    4 phục vụ trựctiếp cho việc thiết kế và thể hiện bài giảng. Theo cách này, ở Việt Nam đã quen gọi đó là các “bài giảng điện tử” hoặc “bài trình diễn” và phần mềm được sử dụng phổ biến nhất là Microsoft PowerPoint. Sơ đồ: Ứng dụng CNTT trong dạy học. 2.1.3. Khái niệm về giáo án điện tử. Theo từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển Bách Khoa năm 2001, Tr.104) giáo án là dàn ý, kế hoạch bài giảng của giáo viên cần phải soạn ra để tiến hành dạy học cho 1, 2 tiết trên lớp. Nội dung của giáo án gồm những nội dung như các chủ điểm, mục đích, phương pháp, kỹ năng dạy học của giáo viên và học sinh, nội dung bài học chi tiết theo hệ thống trình tự logic, việc kiểm tra và đánh giá cùng tên những dụng cụ cần thiết sẽ dùng trong buổi học. Giáo án điện tử là cách giảng dạy hiện đại với ứng dụng của công nghệ thông tin trong giảng dạy đã thay đổi nhiều cách học truyền thống nhàm chán, tạo cho học sinh hứng thú và tiếp thu kiến thức bài học thuận lợi hơn. Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được số hóa và minh họa bằng các dữ liệu đa phương tiện (multimedia) một cách trực quan, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học. Giáo án điện tử là một tập hợp các bài giảng điện tử được người dạy thiết kế để người học có thể giao tiếp trực tiếp với thiết bị (ở đây là máy tính) và hoạt động dựa trên những gì đã được người dạy lập trình trước và người dạy lúc này không cần phải giao tiếp trực tiếp với người học nữa. Qua đó người học có thể rút ra kiến thức cho bản thân mình. Một giáo án điện tử hay phải đảm bảo một số yếu tố như: sức thu hút đối với người dùng, lượng kiến thức đưa vào đó có phù hợp với người dùng chưa, kiến thức mở rộng có đáp ứng được nhu cầu của người học không v.v. 2.2. Thực trạng của vấn đề. 2.2.1. Thuận lợi: Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi là trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 3, trường có truyền thống Dạy tốt – Học tốt, đạt nhiều thành tích cao trong các hoạt động chuyên môn và các hội thi văn nghệ thể dục thể thao. Nhà trường có đội ngũ GV khá vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong dạy học. Học sinh của trường phần lớn là học sinh thành phố nên được tiếp xúc với CNTT từ rất sớm. Tuy khuôn viên diện tích trường còn hẹp, song nhà trường đã cải tạo khuôn viên, trang trí lớp học, tổ chức các hoạt động tập thể tạo không khí thân thiện, học sinh tích cực, phấn khởi trong các hoạt động của nhà trường KeHoachBaiDay.net
  • 5.
    5 Hình ảnh khuônviên nhà trường Nhà trường đã trang bị cơ sở vật chất đầy đủ cho tất cả các phòng học, phòng chức năng (máy chiếu, tivi, điều hòa….). Riêng phòng Tin học được trang trí sạch - đẹp, điều hòa, máy chiếu và 48 máy tính đủ cho mỗi học sinh 1 máy) Đa số GV được đào tạo những kiến thức cơ bản về tin học để đáp ứng yêu cầu ứng dụng CNTT trong giảng dạy. 2.2.2 Khó khăn: Mặc dù điều kiện thuận lợi nhưng vẫn đang còn tồn tại những khó khăn sau: - Phần lớn GV đã lớn tuổi, trình độ Tiếng Anh và Tin học chưa cao nên đang còn ngại truy cập Internet và sử các phần mềm hỗ trợ dạy học. Do đó, GV sẽ rất ngại thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử. - Việc thiết kế bài giảng một cách công phu bằng các dẫn chứng sống động trên các trang trình chiếu là một điều không phải dễ dàng với nhiều GV. Để có một bài giảng như thế đòi hỏi phải mất nhiều thời gian chuẩn bị trong khi không phải GV nào cũng thành thạo vi tính nên GV còn ngại áp dụng CNTT vào công tác chuyên môn nghiệp vụ. Từ đó dẫn đến số đông GV vẫn chưa nắm được các kĩ năng ứng dụng CNTT vào dạy học: - Chưa nắm hết được quy trình thiết kế bài giảng. - Chưa khai thác hết được tính ưu việt của công nghệ trong dạy học nên bài giảng đang còn nặng về “kênh chữ” còn quá ít “kênh hình”. - Một số tính năng của Powerpoint có thể được sử dụng có hiệu quả nhưng chưa được khai thác hiệu quả, ví dụ như: sử dụng các công cụ vẽ, sử dụng các hiệu ứng cho các đối tượng, kỹ thuật chèn ảnh, video… Năm 2016 BGH đã phân công cho tôi trực tiếp giảng dạy các lớp: 6 lớp khối 3) và 4 lớp (khối 4). Nhìn tình hình giảng dạy chung của GV toàn trường KeHoachBaiDay.net
  • 6.
    6 tôi đã bắttay vào nghiên cứu việc ứng dụng CNTT vào dạy học của GV toàn trường. Qua khảo sát tôi đã thu được bảng kết quả sau: SL giáo viên NỘI DUNG Kết quả - Tính theo tỉ lệ % Khá, tốt Bình thường Chưa tốt SL TL SL TL SL TL 54 Thiết kế bài giảng Powerpoint 18 33,3 25 46,3 11 20,4 Khai thác thông tin trên Internet 12 22,2 29 53,7 13 24,1 Sử dụng các phần mềm dạy học. 15 27,8 27 50 12 22,2 2.3. Các giải pháp. Việc ứng dụng CNTT và trong dạy học là rất cần thiết trong thời buổi công nghệ 4.0 như hiện nay. Để theo kịp với xu thế phát triển của toàn xã hội thì mỗi GV cần phải tự trao dồi kiến thức cũng như kĩ năng của mình về CNTT trong việc thiết kế bài giảng điện tử; tra cứu thông tin trên Internet và sử dụng một số phần mềm hỗ trợ giảng dạy. Vì thế, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm của mình chia sẻ ở đây mong muốn đáp ứng được điều đó. Giải pháp 1: Thiết kế bài giảng bằng PowerPoint Bài giảng điện tử cũng có thể chia làm hai loại: Bài giảng điện tử thiết kế trên PowerPoint (phải có GV trực tiếp sử dụng dạy học) và bài giảng E-leaning (học sinh có thể học mà không cần có thầy cô trực tiếp giảng bài). Để xây dựng được một bài giảng điện tử, nhất thiết GV phải biết soạn thảo văn bản và sử dụng một số công cụ đơn giản của phần mềm Microsoft Office (phần mềm vi tính văn phòng). Trong Microsoft Office có một trình ứng dụng để thiết kế và trình chiếu bài giảng điện tử, đó là Microsoft PowerPoint. Microsoft PowerPoint là một phương tiện trình diễn lưu động bài giảng thông qua màu sác của văn bản, sự phong phú của hình ảnh, những đoạn âm thanh, video minh họa….. Bài giảng sử dụng PowerPoint trình diễn là công cụ hữu hiệu để đạt vấn đề cho bài giảng, phân tích những hiện tượng diễn tả bằng lời, đưa ra những câu hỏi tình huống cho bài giảng, những câu hỏi có kèm hình ảnh giúp học sinh dễ nắm bắt vấn đề, đưa thêm những thông tin mà GV cần truyền đạt để củng cố kiến thức cho học sinh, tổ chức các hình thức học tập mới… Để thiết kế một bài giảng, người GV cần thực hiện theo trình tự sau: a. Tạo bố cục bài giảng điện tử trong PowerPoint. Bản thân người sử dụng PowerPoint, trước khi bắt đầu xây dựng một bài giảng điện tử phải xây dựng bố cục của nó, có thể coi đây như là kịch bản của một bộ phim. Trong bố cục, ta phải hình dung cụ thể là Bài giảng điện tử này gồm bao nhiêu Slides (trang trình chiếu), trên mỗi Slides bao gồm những đối tượng nào. Mỗi đối tượng ở đây có thể là một đơn vị kiến thức ở dạng văn bản, KeHoachBaiDay.net
  • 7.
    7 ở dạng hìnhvẽ, ở dạng phim, ảnh, … Hiện nay, có rất nhiều phiên bản của PowerPoint được sử dụng phổ biến là 2003 và 2007, 2010, 2013 và những phiên bản khác từ phiên bản 2007 trở lên được hỗ trợ đồ hoạ và âm thanh tốt hơn 2003 rất nhiều, nên ở đây tôi xin trình bày những kinh nghiệm của mình trên nền PowerPoint 2013. Trên mỗi Slides có thể có cách bố trí các đối tượng khác nhau nên chọn một trong các bố cục Slides được thiết lập sẵn của PowerPoint để tiết kiệm thời gian. Để thực hiện việc này, từ màn hình nền của PowerPoint ta nháy chuột vào nút nằm trên thanh định dạng của PowerPoint, sẽ xuất hiện một bảng chọn các Slides mẫu (Office Theme, người sử dụng chỉ việc chọn một trong các bố cục phù hợp với các đối tượng trên Slides mình định tạo. Lưu ý rằng ta có thể áp dụng bố cục của Slides mẫu cho một Slides hiện tại hoặc cho tất cả các Slides của bài giảng đó. Nếu không muốn sử dụng các Slides mẫu thì người sử dụng có thể chèn một Slides trống nhanh nhất bằng cách nhấp chuột phải vào vùng trống bên dưới Slides hiện tại, chọn New Slides. Nếu chọn nhầm Slides mẫu hoặc chèn nhầm một Slides vào sai vị trí cần chèn người sử dụng có thể xoá bỏ bằng cách chọn Slides đó rồi thực hiện lệnh Edit/Delete Slides hoặc nhấp chuột phải vào Slides đó, chọn Delete Slides. Tiếp đó người sử dụng lần lượt tạo các đối tượng trên Slides. Các đối tượng có thể là đoạn văn bản, hình vẽ, tranh, hình ảnh, âm thanh, phim, … b. Tạo các đối tượng trên một Slides. Như trên đã nói, nỗi đối tượng trên một Slides có thể là một đoạn văn bản, một hình vẽ, một hình ảnh hoặc một đoạn phim, … Mục tiêu chung khi trình chiếu các đối tượng này là để truyền tải những thông tin, những đơn vị kiến thức đã được chia nhỏ đến học sinh. * Đối tượng là văn bản. Khi khởi động Powerpoint, trên Slides đầu tiên xuất hiện hai khung có thể nhập văn bản: - Khung có dòng chữ Click to add Title (kích vào đây để nhập tiêu đề) có thể nhập tiêu đề của phần văn bản sẽ nhập phía dưới, chẳng hạn tên đề bài, đề mục, … - Khung có dòng chữ Click to add Subtitle (kích vào đây để nhập tiêu đề phụ) có thể nhập tiêu đề phụ hoặc nội dung đoạn văn bản. Như vậy, trên mỗi Slides mặc định có 2 khung ở dạng Text box để có thể nhập nội dung. Tuy nhiên người sử dụng có thể tạo thêm một hoặc nhiều Text box như vật bằng cách Copy những Text Box đó. Ta nên sử dụng cỡ chữ từ 20- 24 với kiểu chữ in thường là phù hợp, các đề mục của bài nên sử dụng kiểu chữ in hoa đậm với cỡ chữ từ 22-26, riêng đầu bài có thể sử dụng chữ in hoa cỡ lớn hoặc dùng chữ nghệ thuật (WordArt). * Đối tượng là hình ảnh, biểu đồ minh họa Trong các bài giảng điện tử, nhất là các môn khoa học xã hội, thường là GV muốn đưa một số hình ảnh vào để cho bài giảng thêm sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh và và hỗ trợ tư duy trừu tượng của trẻ. Nguồn hình ảnh ở đây rất nhiều, có thể là hình ảnh trong sách giáo khoa, trong tài liệu tham khảo, trong KeHoachBaiDay.net
  • 8.
    8 thư viện tưliệu điện tử được bán bản quyền, trên mạng Internet hoặc có thể là ảnh giáo viên tự chụp bằng máy ảnh, … ở đây tôi chỉ nêu một số trường hợp thường gặp. - Nếu là hình ảnh trong sách giáo khoa hoặc tài liệu tham khảo mà GV muốn đưa vào bài giảng thì việc đầu tiên là phải dùng máy Scan (máy quét ảnh) để Scan các ảnh đó dưới dạng file ảnh sau đó copy trực tiếp hoặc tạo đường link đến bài giảng. - Nếu là hình ảnh ở trên mạng Internet thì ta có thể vào trang http://www.google.com.vn để tìm và Download xuống. Khi lấy hình ảnh trên mạng xuống ta cần xem kích thước của ảnh, nếu kích thước của ảnh quá nhỏ, khi đưa vào bài ta điều chỉnh kích thước lên thì có thể ảnh bị vỡ, không sắc nét. Thao tác để chèn một ảnh vào Slides là: Để con trỏ chuột vào nơi cần chèn. Thực hiện lệnh (nháy chuột trái): Insert/Piture/xuất hiện hộp thoại Insert Ficture/chọn file ảnh mình cần chèn/ Insert. (hình 1) Hình 1 * Đối tượng là âm thanh hoặc các đoạn phim. Việc đầu tiên là người thiết kế phải xét xem đối tượng âm thanh hoặc hình ảnh mình muốn sử dụng trong bài giảng thuộc định dạng nào (nhấp chuột phải vào đối tượng, chọn Properties để xem định dạng của đối tượng). Nếu đối tượng là một đoạn âm thanh thì cũng có thể ở nhiều định dạng khác nhau như: MP3, AMR, Audio, … Nếu đối tượng là một đoạn video thì cũng có thể ở các định dạng như: Media, MP4 MPEG-4, 3GP, ASF, AVI, … Trong một số trường hợp, người sử dụng muốn tạo ra một số tư liệu ở dạng từ những tư liệu đã có để phù hợp với mục đích và thời lượng của bài giảng. Muốn vậy, cần sử dụng một số phần mềm xử lý phim ảnh như: Goldwve (Chỉnh sửa tách nhạc và lời), Filesplit (Cắt - nối file), Ulead VideoStudio (phần mềm cắt dựng cảnh),… Tại Slides muốn chèn đoạn video ta thực hiện lện Insert/Media/video (nếu là File hình), Insert/Media audio (nếu là file tiếng) - (hình 2). Xuất hiện một hộp thoại, người sử dụng chọn tệp muốn đưa vào bài và chọn OK . Hình 2 KeHoachBaiDay.net
  • 9.
    9 Khi đó trênSlides sẽ xuất hiện biểu tượng hoặc hình ảnh tượng trưng của tệp đó. Cũng có thể tạo một siêu liên kết (Hyperlink) đến các đối tượng bằng cách thực chọn: Insert/Hyperlink. Nếu sử dụng cách tạo siêu liên kết thì ta có thể đưa các tư liệu trên một trang Web nào đó vào bài giảng mà không cần phải copy hay Download xuống. Cần chú ý rằng, khi ta đưa bài giảng đó sang một máy khác, nếu không được đóng gói đúng cách thì đường link đó có thể không còn đúng nữa, do đó vẫn còn hình ảnh, biểu tượng của đối tượng trên Slides, nhưng khi trình chiếu thì không có nội dung. Chính vì vậy cần phải đóng gói bài giảng sau khi hoàn thành. Để cắt ghép một đoạn từ file âm thanh hoặc các đoạn phim ta sử dụng các phần mềm hỗ trợ như: Phần mềm MP3 Cutter Joiner (hình 3), Fomat factory (hình 4) … Hình 3 Hình 4 * Sử dụng font nền và màu sắc cho các Slides. Sau khi tạo được các đối tượng theo kịch bản đã định thì việc chọn màu sắc cho các đối tượng và phông nền cho các Slides cũng là một việc hết sức quan trọng, nó góp phần quyết định hiệu quả của việc trình chiếu Bài giảng. - Nền của Slides. + Trong PowerPoint đã lập sẵn rất nhiều phông nền mẫu, người sử dụng có thể tuỳ ý lựa chọn phông nền phù hợp với đặc thù bộ môn, phù hợp với các đối tượng trên Slide, phù hợp với kịch bản của mình. + Trên giao diện của phần mềm người dùng chọn Slide cần tạo hình nền (có thể chọn 1 hoặc nhiều), sau đó click vào tab nhấn chọn Design chọn các mẫu nền tương ứng. (Nếu muốn chọn tất cả Slide tạo hình nền cho đồng bộ, nhấn tổ hợp phím Ctrl + A ) (hình 5). + Thường thì nên chọn các phông nền có màu sắc dịu, không chói, cũng không quá loè loẹt. - Thay đổi hình nền background trong Powerpoint: Người dùng click vào Slide muốn thay đổi hình nền Background (có thể chọn 1 hoặc nhiều (ctrl + A), tiếp đến click chuột phải chọn Format Background. Chọn các tùy chọn cho nền background phía sau chọn Apply to al: KeHoachBaiDay.net
  • 10.
    10 Có các tùychọn bao gồm Solid fill, Gradient fill, Picture or texture fill (chọn file ảnh từ máy tính), Pattern fill, Hide back ground graphics. Trong đó, người dùng có thể chọn Picture or Texture fill để chọn một ảnh làm nền background, chọn Hide background graphic để ẩn đi hình nền vừa tạo. (hình 6) Hình 5 Hình 6 - Màu của các đối tượng: Màu sắc của các đối tượng (trừ ảnh và video) trên các Slides phụ thuộc nhiều vào phông nền của Slides đó. Nguyên tắc chung là màu sắc của đối tượng phải tương phản với màu sắc của phông nền để học sinh dễ dàng quan sát. Ví dụ: nếu nền màu xanh tím thì đối tượng có màu vàng tươi, nền có màu vàng nhạt thì đối tượng có màu xanh côban, xanh tím hoặc đỏ sậm... c. Thiết lập chế độ trình chiếu. Có 2 chế độ thể thiết lập: Chế độ tự động trình chiếu hoặc trình chiếu có điều khiển. - Trình chiếu tự động: Các đối tượng tự động xuất hiện sau thời gian đã định sẵn. Cách trình chiếu này rất ít khi dùng trong cả bài giảng vì khi dạy, có thể còn xuất hiện nhiều tình huống sư phạm mà giáo viên khó có thể dự đoán trước một cách chính xác. Do đó cách trình chiếu này nếu sử dụng thì chỉ sử dụng trong một phần nào đó. - Trình chiếu có điều khiển: Loại trình chiếu này do người dạy thực hiện bằng cách nhấp chuột hoặc ấn phím mũi tên, phím Page Up, Page Down trên nhóm phím điều khiển của bàn phím. Chế độ này thiết lập khá đơn giản. Theo kịch bản đã định, trên mỗi Slides, người sử dụng lần lượt thiết lập thứ tự trình chiếu và hiệu ứng cho mỗi đối tượng. - Thứ tự trình chiếu và hiệu ứng được thiết lập gồm các thao tác sau: + Chọn đối tượng (nhấp chuột vào đối tượng) + Nhấp chuột vào Animation, xuất hiện các hiệu ứng/ chọn hiệu ứng mình cần hoặc nháy chuột vào mục Add Animation xuất hiện các kiểu nhóm hiệu ứng, ta dùng chuột chọn thứ tự trình chiếu của đối tượng trong mỗi kiểu hiệu ứng đó. (hình 7). - Người sử dụng cần chú ý đến tốc độ trình chiếu đối tượng ở mục Speed. - Khi muốn huỷ bỏ chế độ trình chiếu của các đối tượng thì ta chọn đối KeHoachBaiDay.net
  • 11.
    11 tượng đó rồinháy chuột vào mục Remove của bảng chọn Animation Pane. (hình 8) Hình 7 Hình 8 d. Trình chiếu bài giảng. Để trình chiếu toàn bộ bài giảng từ Slides đầu ta sử dụng phím F5 hoặc nháy chuột vào nút ở phía dưới, góc phải của màn hình. Khi đó, đối tượng đầu tiên sẽ xuất hiện trên màn chiếu, nhấn phím mũi tên  hoặc nhấn chuột để các đối tượng khác lần lượt xuất hiện. Muốn thoát khỏi việc trình chiếu, ấn phím ESC, muốn trở về đối tượng phía trước nhấn phím mũi tên . Để trình chiếu từ một Slide bất kỳ, ta chọn Slides đó rồi nhấn tổ hợp phím Shift + F5. Để chuyển đổi qua lại giữa các Slides ta ta ấn số Slides + Enter. Giải pháp 2: Khai thác thông tin trên Internet. Hiện nay, nguồn tư liệu trên Internet ngày càng phong phú. Theo chủ trương của Bộ GD&ĐT, nguồn học liệu mở sẽ phát triển trong thời gian tới. Do đó, hình thành được kĩ năng khai thác thông tin trên Internet sử dụng các trang tìm kiếm phục vụ cho việc giảng dạy là nhiệm vụ cấp bách với mỗi GV. * Những hiểu biết cần thiết của người GV: - Biết cách khai thác thông tin từ một số Website cho bộ môn của Việt Nam. Biết cách khai thác thông tin dưới dạng text, hình ảnh, ảnh flash, video, các file.ppt …. Phục vụ cho giảng dạy thông qua các Website tìm kiếm. - Biết cách sử dụng Email để gửi đính kèm tư liệu tìm được đến các bạn đồng nghiệp. * Để truy cập Internet hiệu cho việc giảng dạy thì giáo viên cần nắm được những điểm sau: - Tìm kiếm thông tin trên Website các: Google.com, yahoo.com, msn.com bằng các lựa chọn kiểu và từ khóa thích hợp. - Nắm được nội dung chính các Website cần thiết đối với giáo viên: + Trang tư liệu giáo dục: http://violet.vn + Mạng giáo dục: http://www.edu.net.vn + Thư viện tư liệu giáo dục: http://tvtl.bachkim.vn + Trung tâm hỗ trợ giáo viên: http://www.giaovien.net + Teaching Education: http://www.dowload.onboom.com KeHoachBaiDay.net
  • 12.
    12 + Bách khoatoàn thư Việt Nam: http://www.bachkhoatoanthu.gov.vn - Tìm kiếm và lưu trữ hình ảnh, ảnh flash, đoạn video, bài soạn trên powerpoint, đề kiểm tra, tư liệu khác…. - Có kỹ năng dowload và sử dụng các phần mềm. * Để trên hình thành những kỹ năng đó, các bài tập về kĩ năng khai thác thông tin Internet được đưa dưới dạng. - Tìm kiếm và lưu trữ hình ảnh.. - Kết hợp mở từ điển Vietdic để tra cứu. - Tìm kiếm theo định dạng: File Powepoint, file flash. - Dowload để kiểm tra, bài giảng. - Dowload phần mềm và sử dụng phần mềm từ các Website. - Trao đổi thông tin qua hộp thư điện tử. Giải pháp 3: Sử dụng một số phần mềm dạy học. Hiện nay, cùng với sự phát triển ứng dụng của CNTT, những sản phẩm phần mềm phục vụ cho quá trình dạy và học đã xuất hiện khá phong phú. Mỗi sản phẩm đều có một đặc trưng riêng, phục vụ cho mục tiêu xác định và cũng không có một sản phẩm nào vạn năng thay thế được các sản phẩm khác. Mỗi GV có thể tham khảo các phần mềm và lựa chọn phần mềm nào có thể dùng đưa vào bài giảng trên lớp, phần mềm nào hướng dẫn học sinh tự học để củng cố kiến thức, phần mềm nào hỗ trợ cho việc thiết kế bài giảng. Để tạo được một bài giảng điện tử, tùy thuộc vào đặc thù của bộ môn và đặc điểm của tiết dạy, có thể phải sử dụng hoặc không phải sử dụng phần mềm hỗ trợ. Hiện có rất nhiều phần mềm hỗ trợ để tạo bài giảng điện tử song trong khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm nhỏ này, tôi chỉ xin giới thiệu kinh nghiệm sử dụng một vài phần mềm thông dụng nhất. a. Phần mềm Violet. Violet là công cụ giúp cho GV có thể tự xây dựng được phần mềm hỗ trợ dạy học theo ý tưởng của mình một cách nhanh chóng. So với các công cụ khác thì nó chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác. Violet có đầy đủ chức năng dùng để tạo các trang nội dung bài giảng như nhập dữ liệu văn bản, công thức toán, phim, ảnh, âm thanh, … sau đó lắp ghép các dữ liệu, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh hình hảnh, tạo ra các chuyển động và hiệu ứng, xử lý các tương tác với người dùng. Riêng với việc xử lý dữ liệu multimedia thì Violet tỏ ra mạnh hơn hẳn PowerPoint. Nó có thể nhập trực tiếp các file Flash hoặc điều khiển quá trình chạy của đoạn phim trong khi PowerPoint thì không làm được việc đó. Violet cung cấp nhiều mẫu bài tập chuẩn thường được sử dụng trong SGK như các bài tập trắc nghiệm, các bài tập ô chữ, … Khi soạn xong bài, Violet cho phép xuất bài giảng ra thành một file.EXE hoặc file. HTML chạy độc lập được trên máy tính khác hoặc đưa lên máy chủ thành bài giảng trực tuyến. Violet có rất nhiều tính năng ưu việt, việc sử dụng tất cả các tính năng của Violet là cả một chuyên đề lớn. Ở đây người viết chỉ xin nêu một kinh nghiệm nhỏ trong việc sử dụng Violet để tạo bài tập dạng ô chữ. KeHoachBaiDay.net
  • 13.
    13 Khi tạo loạibài này, người soạn thảo phải biết trước về ô chữ cột dọc và các câu trả lời hàng ngang. Các thao tác có thể nêu tóm tắt như sau: - Vào menu: Nội dung→ Thêm đề mục Nhập tên chủ đề, tên mục rồi nhấn nút "Tiếp tục", xuất hiện hộp thoại chọn loại màn hình hiển thị là "Bài tập ô chữ" - Màn hình nhập dữ liệu hiện ra, ta nhập các tham số. Trong đó: + "Từ trả lời" là đáp án đúng của câu hỏi + "Từ trên ô chữ" là tập hợp các chữ cái sẽ được hiện lên ô chữ, vì vậy thường là chữ hoa và không có dấu cách. + "Vị trí chữ" là vị trí của chữ cái trong "Từ trên ô chữ" mà sẽ thuộc vào ô hàng dọc. - Ta lần lượt nhập 5 câu hỏi và 5 câu trả lời tương ứng trong đề bài. Sau đó, căn cứ vào ô chữ cột dọc cần lấy ở mỗi dòng hàng ngang, ta sẽ xác định được "Vị trí chữ". - Ta có thể bỏ qua phần "Từ trên ô chữ" để nhập cho nhanh, khi đó máy sẽ tự động sinh ta từ "Từ trả lời" vào ô đó. - Khi nhập liệu xong, ta nhấn "Đồng ý" ta sẽ thu được một trang bài tập ô chữ. Khi giải ô chữ ta nhấp chuột vào câu hỏi, rồi gõ câu trả lời tương ứng vào hội, gõ Enter có kết quả trên ô chữ. b. Phần mềm Geometer's Sketchpad Phần mềm Geometer's Sketchpad là phần mềm vẽ hình động nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đặt và kiểm chứng các giả thuyết toán. Nó cho phép người sử dụng vẽ một hình, thay đổi nó và những tính chất hình học của nó sẽ được thiết lập do vậy nó cho phép khám phá được sự tổng quát của một loạt các hình được dựng. Sử dụng phương tiện trực quan trong quá trình dạy học là một yêu cầu tất yếu đối với GV dạy Toán vì trực quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Trực quan nếu được sử dụng đúng thì góp phần vào việc phát triển tư duy trừu tượng. Khi sử dụng phần mềm này GV cần lưu ý rằng Geometer's Sketchpad thực hiện công việc, đó là xác nhận các tính chất hình học, nó tạo cho người sử dụng cơ hội thấy được tính chất đó nghiệm đúng cho hàng loạt trường hợp một cách thuận lợi bởi sự di chuyển liên tục. Sự xác nhận như vậy có vẻ thuyết phục hơn chứng minh nhưng việc vẽ hình thì hoàn toàn khác với chứng minh. Vẽ hình là để hình dung còn chứng minh là để suy diễn. c. Phần mềm Adobe Presenter Phần mềm Adobe Presenter có khả năng tạo rất nhanh những bài tập trắc nghiệm mà không phải nhúng từ các phần mềm khác như Violet. Đó là một trong những khả năng vượt trội của phần mềm này so với PowerPoin. Hiện nay, GV đã rất quen với bài trình chiếu bằng PowerPoint nên nếu muốn chuyển qua công nghệ E-learning thì chỉ cần cài thêm một phần mềm có tên là Adobe Presenter. Adobe Presenter sẽ giúp chuyển đổi các bài trình chiếu PowerPoint sang dạng tương tác Multimedia, có thể có lời thuyết minh, có thể câu hỏi tương tác và khảo sát và tạo mô phỏng một cách chuyên nghiệp tương thích với chuẩn quốc tế về E-learning là AICC, SCORM 1.2, and SCORM 2004. KeHoachBaiDay.net
  • 14.
    14 Adobe Presenter đóbiến Powerpoint thành cụng cụ soạn bài giảng E- Learning, có thể tạo bài giảng để học sinh tự học, có thể ghi lại lời giảng, chèn các bản flash, chèn các hoạt động ghi lại từ bất cứ phần mềm nào khác qua flash, có thể đưa bài giảng lời giảng trực tuyến … Để tạo bài tập trắc nghiệm từ Adobe Presenter ta làm như sau: * Bước 1: Thiết lập ban đầu cho bài giảng: Sau khi cài đặt Adobe Presenter được tích hợp vào trong Microsoft Powerpoint, tôi thực hiện như sau: Nhấn vào nút lệnh sẽ cho màn hình (hình 9). Đặt title (tiêu đề) và Themes (giao diện) phù hợp sau đó chọn sang thẻ Playback (hình 10). Hình 9 Hình 10 Sau khi lựa chọn thích hợp các chỉ mục trên thì chuyển sang thẻ Quality để hiệu chỉnh chất lượng cho âm thanh và phim ảnh (nên để chế độ mặc định là phù hợp nhất). Cuối cùng chọn thẻ Attackment để đính kèm thêm tài liệu văn bản hoặc bảng tính bằng nút lệnh . Khi này một hộp thoại sẽ xuất hiện cho phép người dùng lựa chọn tệp tin từ bất cứ nguồn tài nguyên nào (trên máy, trên website khác). (hình 11) Hình 11 Tự động chạy khi trình chiếu Lặp lại bài trình chiếu Đánh số mục lục các slide ở viền ngoài Tạm dừng sau mỗi hoạt động Thời gian chạy của mỗi slide thường nếu không có âm thanh hoặc phim Click vào đây để lựa chọn đối tượng cần chèn thêm. File: Tệp tin trên máy Link: Tệp tin từ website khác KeHoachBaiDay.net
  • 15.
    15 * Bước 2:Thiết lập các thông số ban đầu của giáo viên Thiết lập thông số ban đầu của giáo viên (người hướng dẫn), tôi chọn vào menu Adobe Presenter chọn . Trong thẻ Presenter chọn Add. Khi đó màn hình sau xuất hiện, chúng ta tiến hành điền các thông tin như hướng dẫn bên dưới. (hình 12) Hình 12 - Bước 3: Việt hóa các thông báo, nút lệnh trong bài trắc nghiệm. Để chuẩn bị cho các dạng bài tập trắc nghiệm (Câu hỏi tương tác), tôi đã tiến hành Việt hóa các thông báo, bằng cách chọn Quiz rồi chọn Edit, rồi lần lượt chọn các nút Question Review Messages và Quiz Result Messages (hình 13, 14) Hình 13 Hình 14 KeHoachBaiDay.net
  • 16.
    16 Để tiến hànhthiết lập tỉ lệ điểm Đạt yêu cầu và số lần làm bài, ta chọn nút Pass or Fail Options rồi thiết lập % điểm đạt yêu cầu và số lần làm bài tại Allow user (nếu có). Để thiết lập chuẩn đóng gói, ta vào Reporting, chọn SCORM, chọn Manifest … tại Version chọn 2004 nhấn OK * Bước 4: Việt hóa cho nhãn Default Labels (Thông báo sau khi chọn phương án trả lời). Tôi chọn vào nhãn Default Labels rồi Việt hóa như bảng (hình 15). Hình 15 * Bước 5: Ghi âm, quay video: Hiện nay có rất nhiều phần mềm ghi âm, quay video… (ngay trên Adobe Presenterl đều có) nhưng “điện thoại “ là công cụ ghi âm và quay video thuận tiện và rõ lời, tôi đã dùng điện thoại để quay và ghi âm sau đó lưu vào TEPDULIEU, để ghép nối âm thanh, video hoặc hình ảnh vào nhau, tôi dùng phần mềm Camtasia studio 8.6 để ghép nối hoặc chỉnh sửa tùy ý (đây là phần mềm rất dễ sử dụng có hướng dẫn kèm theo), bạn vào Google gõ download camtasia studio 8.6 full crack tải về và xem hướng dẫn sử dụng rất dễ dàng. * Bước 6: Chèn video/audio: Để chèn được đoạn video vào bài giảng ta cần chú ý là phần mềm chỉ hỗ trợ định dạng flv (do đó những đoạn video không thuộc định dạng này đều phải sử dụng phần mềm convert để chuyển đổi phim). Cách chèn như sau: - Chèn video: Dựa vào thuyết minh đã chuẩn bị, tôi làm như sau: + Bước 1: Vào Adobe Presenter chọn Import Video sau đó chọn đến thư mục chứa phim cần chèn (TEPDULIEU). KeHoachBaiDay.net
  • 17.
    17 + Bước 2:Tại cửa sổ chọn đường dẫn video cần chèn tôi chọn Slide cần chèn, chọn vị trí hiển thị cho phim là Slide Video (chèn phim trong slide bài giảng), hay Sidebar Video (Chèn phim ra bên ngoài Slide bài giảng – khi này ta sẽ không xem được phim khi trình chiếu Power Point). + Bước 3: Nhấn chọn Open sau đó nhấn Ok để hoàn tất việc chèn phim. Muốn xem thử (trường hợp chèn chế độ Slide Video) ta nhấn biểu tượng trình chiếu của Power Point rồi kéo con trượt để trình chiếu phim. - Chèn Audio: Dựa vào thuyết minh đã chuẩn bị tôi làm như sau: Bước 1: Vào Adobe Presenter, chọn Import Audio, chọn Slide cần chèn âm thanh vào, chọn nút Browse… để chèn âm thanh. + Bước 2: Theo đường dẫn chọn đoạn âm thanh cần chèn (chú ý phần mềm chỉ hỗ trợ đoạn âm thanh có đuôi là mp3; wav) nhấn Open để hoàn tất chọn file cài đặt. + Bước 3: Kiểm tra lại Slide cài đặt, nhấn Ok, rồi nhấn OK tiếp để hoàn thành. Đoạn âm thanh sau khi được chèn vào sẽ không thể nghe thấy khi trình chiếu Power Point. Muốn nghe thử ta có thể vào Adobe Prenseter, chọn Edit Audio, chọn slide tương ứng với đoạn âm thanh muốn nghe, nhấn nút tam giác màu xanh để nghe. - Đồng bộ âm thanh và văn bản: + Bước 1: Tạo văn bản hoặc chèn ảnh vào slide + Bước 2: Tạo hiệu ứng xuất hiện cho các đối tượng văn bản (mỗi đối tượng là một hiệu ứng), để chế độ On Click. + Bước 3: Chèn đoạn âm thanh hoặc ghi âm lời giảng vào slide cần đồng bộ. + Bước 4: Vào Adobe Presenter, chọn Sync Audio. Nhấn vào biểu tượng đồng hồ để nghe âm thanh, nếu muốn ảnh hoặc văn bản xuất hiện ở chỗ nào thì nhấn vào nút Next Animation ở dưới. Cứ vậy lặp lại thao tác để đồng bộ các đối tượng tiếp theo. Sau khi đồng bộ xong thì nhấn OK để hoàn tất. + Bước 5: Sửa đồng bộ: - Để đồng bộ lại ta có thể lặp lại bước 4 để đồng bộ lại từ đầu. - Trường hợp muốn để đối tượng ảnh và văn bản khớp nhau khi xuất hiện ta có thể vào Edit Audio, tìm đến slide chưa đối tượng đồng bộ. Kéo con trượt đánh dấu slide cần nghe để sửa, nhấn nút Play (biểu tượng tam giác bên dưới). Để sửa đồng bộ nhấn chuột và giữ chuột trái kéo nút Click trên thanh công cụ đến vị trí có lời cần đồng bộ. Sau đó nhấn vào biểu tượng đĩa mềm để lưu lại và thoát khỏi cửa sổ. * Bước 7: Chèn câu hỏi trắc nghiệm, tương tác, vấn đáp (Quiz) Adobe Presenter giúp giáo viên thiết kế hệ thống câu hỏi tương tác thông minh, xử lý theo tình huống, có nhiều loại, nhiều dạng câu hỏi khác nhau. - Từ menu của Adobe Presenter, nháy chọn mục Quizze Manager. - Thêm câu hỏi trắc nghiệm với nhiều loại khác nhau lần lượt theo của sổ phần mềm xuất hiện: (hình 16) KeHoachBaiDay.net
  • 18.
    18 Thuyết minh: Câu hỏinhiều lựa chọn Câu hỏi đúng/sai Điền vào chỗ khuyết Trả lời ngắn với ý kiến của mình. Ghép đôi Đánh giá mức độ. Không có câu trả lời đúng hay sai. (hình 16) - Bổ sung thêm loại câu hỏi và xử lý cách làm bài của học viên: Quiz Setting xác lập tên loại câu hỏi, học viên có thể nhảy qua câu hỏi này, phản ứng sau khi học viên trả lời: Lùi lại, hiện thị kết quả… (hình 17) Quiz Setting xác lập tên loại câu hỏi, học viên có thể nhảy qua câu hỏi này, phản ứng sau khi học viên trả lời: Lùi lại, hiện thị kết quả… ----------------------------- Cho phép làm lại Cho phép xem lại câu hỏi Bao gồm slide hướng dẫn Hiện thị kết quả khi làm xong Hiện thị câu hỏi trong outline (danh mục, mục lục) Trộn câu hỏi Trộn câu trả lời Hình 17 Các bạn có thể khai thác nhiều tính năng khác trong phần làm câu hỏi trắc nghiệm này. * Bước 8: Xuất bản bài giảng điện tử: Trong menu Adobe Presenter, chọn Publish. Khi này một bảng sau hiện ra cho các chọn lựa Lưu trên máy tính. (hình 18) KeHoachBaiDay.net
  • 19.
    19 Có thể nénnội dung bài giảng lại dưới dạng tập tin nén (mặc định *.zip) hoặc đóng gói sản phẩm lên đĩa CD. (hình 19) Sau khi bấm nút Publish, máy xử lý và báo sau đó xem thử kết quả: Cuối cùng là thực hiện các liên kết (hyperlink) hợp lý, logic lên các đối tượng trong bài giảng. Đây chính là ưu điểm nổi bật có trong bài giảng điện tử nên cần khai thác tối đa khả năng liên kết. Nhờ sự liên kết này mà bài giảng được tổ chức một cách linh hoạt, thông tin được truy xuất kịp thời, học sinh dễ tiếp thu. Hình 18 Hình 19 2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. Thông qua việc tìm hiểu cơ sở thực tiễn và thực trạng của trường, đề tài đã đưa ra được những kĩ năng mà GV cần có khi ứng dụng CNTT trong việc giảng dạy của mình. Sau 4 năm áp dụng đề tài ứng dụng CNTT của GV toàn trường được nâng cao rõ rệt: 100% GV đã truy cập Internet để tìm kiếm tư liệu, dạy học bằng phần mềm trực tuyến và áp dụng được các phần mềm có thể hỗ trợ PowerPoint như Violet, Geometer's Sketchpad, Adobe Presenter trong quá trình thiết kế bài giảng. Mỗi bài giảng của GV được đầu tư trau truốt hơn về hình ảnh, video … và được trình bày khoa học hơn. Với hình thức dạy học này, GV tiết kiệm được thời gian trên lớp, do đó có thể tăng thời lượng luyện tập kiến thức, kỹ năng cho học sinh. Từ đó, tôi thấy học sinh hứng thú hơn trong việc học tập đồng nghĩa với chất lượng học tập của cũng tốt hơn theo từng năm. Qua thời gian nghiên cứu, cuối năm học 2019-2020 tôi đã khảo sát lại và thu được bảng kết quả cụ thể sau: SL giáo viên NỘI DUNG Kết quả - Tính theo tỉ lệ % Khá, tốt Bình thường Chưa tốt SL TL SL TL SL TL 54 Thiết kế bài giảng Powerpoint 35 64,9 24 35,1 0 0 Khai thác thông tin trên Internet 42 77,8 12 22,2 0 0 Sử dụng các phần mềm dạy học. 39 72,2 15 27,8 0 0 KeHoachBaiDay.net
  • 20.
    20 3. Kết luận,kiến nghị 3.1. Kết luận Trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học của ngành, ứng dụng khoa học công nghệ vào giáo dục. Phương tiện dạy học bằng máy tính đi cùng với những trang giáo án điện tử là phương tiện không thể thiếu đối với người GV. Vì vậy, vấn đề trang bị cho GV những kiến thức về kĩ năng ứng dụng CNTT là một việc làm thiết thực. Những kiến thức cơ bản trong tập tài liệu này, GV có được lượng kiến thức cơ bản về những kĩ năng ứng dụng CNTT như: thiết kế giáo án điện tử, truy cập Internet, sử dụng một số phần mềm dạy học để phục vụ cho việc giảng dạy của mình. 3.2. Kiến nghị * Nhà trường: - Tổ chức các đợt tập huấn chuyên đề về bài giảng điện tử cho toàn thể giáo viên giảng dạy. - Có biện pháp tích cực khuyến khích cán bộ giáo viên tự học tập nâng cao trình độ tin học và xây dựng ý thức, tự ý thức vận dụng CNTT vào dạy học. * Phòng Giáo dục và Đào tạo: - Tăng cường các đợt tập huấn chuyên đề về bài giảng điện tử trên địa bàn thành phố để học hỏi và nâng cao kỹ năng sử dụng. - Trên thực tế, việc ứng dụng sáng kiến này mới chỉ trong một phạm vi hẹp, vì thế cũng chưa thể đánh giá được toàn diện nhất với những ưu điểm và hạn chế của bài giảng điện tử trong dạy học. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ cùng những lời góp ý chân thành từ các đồng nghiệp, các cấp quản lý để sáng kiến tôi ngày một hoàn thiện. Xác nhận của BGH nhà trường TP Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2020 Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Người viết đề tài Phan Thị Hằng KeHoachBaiDay.net
  • 21.
    TÀI LIỆU THAMKHẢO STT TÊN TÀI LIỆU NHÀ XUẤT BẢN 1 Cùng học tin học quyển 1 Nhà xuất bản giáo dục 2 Thực hành cùng học Tin học 1 Nhà xuất bản giáo dục 3 Theo từ điển Oxford [104, tr.666] NXB đại học Oxford 4 Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học Nhà xuất bản giáo dục 5 Từ điển Giáo dục học NXB Từ điển Bách Khoa 6 Tạp chí Harvard Business Review NXB Trường kinh doanh Harvard 7 Tài liệu trên internet KeHoachBaiDay.net
  • 22.
    SỞ GIÁO DỤCVÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP HƯỚNG DẪN GIÁO VIÊN NÂNG CAO KĨ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY Người thực hiện: Phan Thị Hằng Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường TH Nguyễn Văn Trỗi SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tin học THANH HÓA, NĂM 2020 KeHoachBaiDay.net
  • 23.
    MỤC LỤC NỘI DUNGTrang 1. MỞ ĐẦU 1.1. Lí do chọn đề tài 1 1.2. Mục đích nghiên cứu 2 1.3. Đối tượng nghiên cứu 2 1.4. Phương pháp nghiên cứu 2 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm. 2 2.2. Thực trạng của vấn đề 4 2.3. Các giải pháp. 6 2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 19 3. Kết luận, kiến nghị 3.1. Kết luận 20 3.2. Kiến nghị 20 DANH MỤC VIẾT TẮT Nội dung Viết tắt Công nghệ thông tin và truyền thông CNTT&TT Công nghệ thông tin CNTT Truyền thông TT Giáo viên GV Giáo dục và đào tạo GD&ĐT PHỤ LỤC 1. Hình ảnh trang thiết bị dạy học trong nhà trường. 2. Sản phẩm ứng dụng CNTT: Bài giảng thiết kế theo chương trình môn Tin học lớp 3. (Sách cùng học tin học lớp 3) KeHoachBaiDay.net
  • 24.
    PHỤ LỤC SÁNGKIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP HƯỚNG DẪN GIÁO VIÊN NÂNG CAO KĨ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY Người thực hiện: Phan Thị Hằng Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường TH Nguyễn Văn Trỗi SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tin học KeHoachBaiDay.net
  • 25.
    PHỤ LỤC 1. HÌNHẢNH TRANG THIẾT BỊ DẠY HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG KeHoachBaiDay.net
  • 26.
  • 27.
    2. SẢN PHẨMỨNG DỤNG CNTT VÀ HÌNH ẢNH BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN TIN HỌC LỚP 3 Bài 3: Gõ các chưa ă, â, ê, ô, ơ, ư, đ KeHoachBaiDay.net
  • 28.
  • 29.
  • 30.
  • 31.
  • 32.
  • 33.
  • 34.
  • 35.