ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHU QUANG DUY
GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP
TRONG KHU¤N KHæ HIÖP §ÞNH C¸C BIÖN PH¸P §ÇU T¦
LI£N QUAN §ÕN TH¦¥NG M¹I (TRIMs)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHU QUANG DUY
GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP
TRONG KHU¤N KHæ HIÖP §ÞNH C¸C BIÖN PH¸P §ÇU T¦
LI£N QUAN §ÕN TH¦¥NG M¹I (TRIMs)
Chuyên ngành: LUẬT QUỐC TẾ
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TIẾN VINH
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm
bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các
môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Chu Quang Duy
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN TỚI TRIMs TRONG KHUÔN
KHỔ WTO................................................................................................................. 6
1.1. Hiệp định TRIMs .........................................................................................6
1.1.1. Lịch sử ra đời .................................................................................................6
1.1.2. Nội dung của Hiệp định TRIMs.....................................................................8
1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO ..................................................14
1.2.1. Phạm vi và đối tượng của các tranh chấp ....................................................16
1.2.2. Các cơ quan trong quá trình giải quyết tranh chấp ......................................18
1.2.3. Quy trình thủ tục giải quyết tranh chấp .......................................................21
1.2.4. Giải quyết tranh chấp không thông qua các thủ tục tố tụng ........................37
1.3. Những vấn đề đặc thù trong giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs......39
1.3.1. Đặc thù về nội dung giải quyết tranh chấp ..................................................39
1.3.2. Đặc thù về thủ tục ........................................................................................40
Chƣơng 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN
TỚ I HIỆP ĐI ̣NH TRIMS VÀ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƢỚC.....42
2.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs ...........................42
2.1.1. Tổng quan các vụ tranh chấp .......................................................................42
2.1.2. Những vấn đề pháp lý được đưa ra giải quyết .............................................45
2.2. Kinh nghiệm của các quốc gia trong giải quyết tranh chấp.........................57
2.2.1. Kinh nghiệm liên quan tới quá trình giải quyết tranh chấp .........................57
2.2.2. Kinh nghiệm liên quan tới TRIMs...............................................................59
Chƣơng 3: VẤN ĐỀ PHÒNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN
QUAN TỚI TRIMS TẠI VIỆT NAM......................................................62
3.1. Thực tiễn tại Việt Nam ..............................................................................62
3.1.1. Thể chế pháp lý liên quan tới giải quyết tranh chấp quốc tế nói chung
và trong khuôn khổ WTO nói riêng.............................................................62
3.1.2. Sự tham gia của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp ......................66
3.1.3. Pháp luật Việt Nam liên quan tới TRIMs ....................................................74
3.2. Phƣơng hƣớng, giải pháp phòng và giải quyết tranh chấp....................83
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật .....................................................................83
3.2.2. Xây dựng và hoàn thiện thể chế...................................................................86
KẾT LUẬN..............................................................................................................91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................93
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
viết tắt
Tiếng Việt Tiếng Anh
DSB Cơ quan giải quyết tranh chấp Dispute Settlement Body
DSM Cơ chế giải quyết tranh chấp Dispute Settlement Mechanism
DSU Quy tắc thủ tục giải quyết tranh chấp Dispute Settlement Understanding
EU Liên minh Châu Âu European Union
GATT
Hiệp định chung về Thuế quan và
Thương mại
General Agreement on Tariffs and
Trade
TRIMs
Hiệp định các biện pháp đầu tư
liên quan tới thương mại
Agreement on Trade-Related
Investment Measures
WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Số hiệu Tên bảng, biểu đồ Trang
Bảng 1.1. Danh mục minh họa các biện pháp đầu tư liên quan đến
thương mại bị cấm áp dụng (TRIMs) 12
Bảng 1.2. Thời gian biểu làm việc của Ban hội thẩm 25
Bảng 2.1. Tình hình giải quyết các tranh chấp liên quan tới TRIMs 44
Biểu đồ 3.1. Số vụ tranh chấp tại WTO theo thứ tự thời gian từ năm
1995 tới năm 2015 72
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu thế khách quan của thực
tại. Để phát triển đất nước, cũng như tăng cường vị thế của mình trên trường quốc
tế, các quốc gia trên thế giới không ngừng hợp tác, giao lưu trên mọi lĩnh vực của
đời sống như Kinh tế, Chính trị, Văn hóa – Xã hội, An ninh... Trong đó, quan hệ
Kinh tế quốc tế được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm hơn cả. Hiện nay,
trong các thiết chế Kinh tế quốc tế chúng ta cần phải nói đến Tổ chức Thương mại
Thế giới (World Trade Organization - WTO), được chính thức thành lập và đi vào
hoạt động ngày 01/01/1995 là sản phẩm của vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994).
Tính đến 14/7/2016 WTO có tới 163 thành viên là các quốc gia và vùng lãnh thổ
trên thế giới (thành viên mới nhất là Liberia) [67].
Việt Nam với tư cách là một quốc gia đang phát triển cũng không nằm ngoài
quy luật khách quan đó. Bằng chính sách mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc
tế, Việt Nam đã nộp đơn gia nhập WTO vào tháng 01 năm 1995 và trở thành thành
viên chính thức (ngày 11/01/2007) sau 12 năm đàm phán gia nhập. Sau khi là thành
viên của WTO, nền kinh tế nước ta đã có sự chuyển biến rõ rệt, từ một nền kinh tế
Kế hoạch hóa tập chung chúng ta đã và đang xây dựng một nền kinh tế thị trường
định hướng Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên việc hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và
gia nhập WTO nói riêng cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức mới trong việc
phát triển đất nước. Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế. Một
mặt, cần phải khuyến khích, tạo động lực phát triển và bảo vệ các ngành sản xuất
trong nước trước nhà đầu tư nước ngoài với nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên
tiến hơn chúng ta. Mặt khác, cần phải tạo điều kiện thuận lợi, thu hút nguồn vốn đầu
tư nước ngoài, cùng với việc hướng nguồn vốn đó để phát triển kinh tế đất nước
theo mục tiêu đã đề ra. Xét về mặt trong nước, việc tạo các điều kiện thuận lợi, ưu
đãi dành riêng cho các nhà đầu tư trong nước cùng với việc áp đặt một số biện pháp
hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài là việc cần thiết để bảo vệ ngành sản xuất
2
còn non trẻ. Tuy vậy, chính điều này đã tạo ra sự không công bằng giữa nhà đầu tư
trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, vì vậy có thể sẽ vi phạm các cam kết quốc tế
về Đối xử quốc gia (National Treatment), cũng như các biện pháp hạn chế định
lượng (như yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa; hạn ngạch về số lượng xuất khẩu và nhập
khẩu đối với các nhà đầu tư nước ngoài...). Chính vì vậy, việc xảy ra tranh chấp liên
quan đến các biện pháp đầu tư là không thể tránh khỏi. Trong phạm vi nghiên cứu
của đề tài, sẽ đi vào tìm hiểu các tranh chấp trong khuôn khổ Hiệp định các biện
pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Agreement on Trade Related Investment
Measures - TRIMs) của WTO.
Trong bối cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế, tuy
chưa tham gia nhiều vào cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến các biện pháp
đầu tư liên quan tới thương mại trong khuôn khổ Hiệp định TRIMs, không có
nghĩa là chúng ta sẽ đứng ngoài các tranh chấp đó. Để phòng ngừa và nâng cao
hiệu quả trong quá trình giải quyết tranh chấp, chúng ta cần phải tìm hiểu một số
vấn đề có liên quan: Thứ nhất, Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan đến
thương mại là gì?; Thứ hai, đối tượng các tranh chấp liên quan đến Hiệp định?;
Thứ ba, cơ chế để giải quyết các tranh chấp đó như thế nào?; Thứ tư, thực tiễn giải
quyết các tranh chấp liên quan đến hiệp định?; Thứ năm, thực trạng pháp luật Việt
Nam đối với các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại?; thông qua đó có thể
rút ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Để trả lời những câu hỏi đặt ra
trên, tôi xin chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ Hiệp định các
biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs)” làm luận văn thạc sỹ
chuyên ngành luật Quốc tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước và sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế
giới - WTO, đến nay đã có rất nhiều học giả, chuyên gia về luật quốc tế nghiên
cứu về WTO cũng như tác động của việc gia nhập tổ chức này đối với Việt Nam
trong các sách chuyên khảo , các đề tài nghiên cứu khoa học , các bài viết đăng trên
tạp chí. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đó chỉ đi vào tìm hiểu những vấn đề chung, cơ
3
bản về cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO và đưa ra một số giải pháp nhằm
khắc phục khó khăn vướng mắc và nâng cao hiê ̣u quả trong quá trình giải quyết
tranh chấp như:
- Nguyễn Tiến Vinh, “Một số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu
tiên của Việt Nam tại WTO” (2011), Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 16(201), tr. 19-
29; “Kinh nghiê ̣m nước ngoài và viê ̣c tăng cường hiê ̣u quả tham gia của Viê ̣t Nam
vào cơ chế giải quyết tranh chấp tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)” (2012),
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - Luật học (28), tr. 165-181; “Vai trò của các thể chế
phi nhà nước trong việc bảo đảm Việt Nam – một nước đang phát triển – hội nhập
thành công sau khi ra nhập WTO” (2013), Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội.
- Lê Thị Hồng Hải, “Giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ
WTO” (2009), Luận văn thạc sĩ luật Quốc tế, Khoa Luật – ĐHQGHN, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Hồng Anh, “Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, các bài
học kinh nghiệm của một số nước và khuyến nghị đối với Việt Nam trong thời gian
tới” (2011), Luận văn thạc sĩ luật Quốc tế, Khoa Luật – ĐHQGHN, Hà Nội.
- Nguyễn Tiến Hoàng , “Giải quyết tranh chấp trong tổ chức thương mại thế
giới và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” (2012), luâ ̣n án Tiến sĩ bảo vệ ngày
26/4/2012, Trường Đa ̣i học Ngoa ̣i thương.
- Nguyễn Hữu Huyên , “Nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào cơ
chế giải quyết tranh chấp của WTO” (2015), đăng tải ta ̣i trang thông tin điê ̣n tử của
Viê ̣n nhà nước và pháp luâ ̣t;...
Hoặc những bài viết nêu ra những nội dung cơ bản của Hiệp định các biện
pháp đầu tư liên quan tơi thương mại , đồng thời đưa ra một số khuyến nghi ̣làm thế
nào để thích nghi với hiệp định như:
- Trần Quang Thắng, “Hiệp định TRIMs và sự thích nghi của Việt Nam
trong WTO” (2007), Tạp chí kinh tế và phát triển, (119).
- Nguyễn Lê Phương Anh , “Hiê ̣p đi ̣nh các biê ̣n pháp đầu tư liên quan tới
thương ma ̣i (TRIMs) và những tác động đối với Việt Nam trong tiến trình đàm phán
gia nhâ ̣p WTO” (2004), Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ, trường Đa ̣i học Ngoa ̣i thương.
4
Có thể thấy rằng giải quyết tranh chấp liên quan tới Hiệp định các biện pháp
đầu tư liên quan tới thương ma ̣i (TRIMs) là đề tài mới ít được nghiên cứu tại V iê ̣t
Nam. Không chỉ ở Viê ̣t Nam , vấn đề này cũng hiếm khi được quan tâm trong giới
học thuật quốc tế , ngoài những công trình nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh
chấp ta ̣i WTO , vấn đề giải quyết tranh châp liên quan tới TRIMs cũ ng ít được đề
câ ̣p tới, chỉ có những bài viết nghiên cứu về việc các quốc gia thành viên sử dụng
TRIMs như thế nào, và những hạn chế bất cập trong việc thực hiện như:
- Rabiu Ado, Local content policy and the WTO Rules of Traderelated
Investment Measures (TRIMs): the Pros and Cons (2013), đăng trên ta ̣p chí
International Journal of Business and Management Studies, UK.
- Oliver Morrissey, Investment and Competition Policy in the WTO: Issues
for Developing Countries (2002), đăng trên ta ̣p chí Development Policy Review, tâ ̣p
20, số 1, trang 63–73.
Chính vì vậy, có thể thấy đề tài “giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ Hiệp
đi ̣nh các biê ̣n pháp đầu tư liên quan tới thương ma ̣i (TRIMs)” là một trong những đề
tài tuy không mới nhưng la ̣i ít được quan tâm, đề cập cho tới thời điểm hiện tại.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Rút ra được những kinh nghiệm cho Việt Nam, nâng cao hiệu quả việc giải
quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO nói chung và các tranh chấp liên quan tới
các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Góp phần bổ sung và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giải quyết
tranh chấp trong khuôn khổ WTO nói chung và Hiệp định TRIMs nói riêng;
- Đánh giá kết quả việc giải quyết tranh chấp liên quan đến TRIMs;
- Rút ra những kinh nghiệm, đưa ra những giải pháp mà Việt Nam cần làm
để phòng ngừa rủi ro, giải quyết có hiệu quả các tranh chấp đó.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương
5
mại; cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO; các vụ việc liên quan đến các biện pháp
đầu tư liên quan tới thương mại trong khuôn khổ Hiệp định TRIMs – WTO.
- Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ Hiệp định các biện pháp đầu tư liên
quan đến thương (TRIMs) – WTO; Thời gian từ khi tổ chức thương mại thế giới ra
đời tới thời điểm hoàn thành luận văn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam và nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam liên quan đến các vấn đề nghiên cứu.
Đồng thời Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: thống
kê, tổng hợp, so sánh, phân tích…
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Đánh giá một cách tổng quát tình hình giải quyết tranh chấp đối với các
biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại của WTO trong thời gian qua;
- Làm rõ một số hạn chế, tác động đối với Việt Nam khi tham gia vào giải
quyết các tranh chấp;
- Một số kiến nghị mang tính giải pháp nhằm nâng cao nâng cao hiệu quả
giải quyết tranh chấp, phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra khi tham gia giải quyết các
tranh chấp và hướng đi cho Việt Nam trong thời kỳ hội nhâ ̣p quốc tế.
7. Bố cục của Luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, bao
gồm 3 Chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tranh chấp và giải quyết tranh chấp
liên quan tới TRIMs trong khuôn khổ WTO.
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan tới Hiê ̣p đi ̣nh TRIMs
và kinh nghiệm của các nước.
Chương 3: Vấn đề phòng và giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs tại
Việt Nam.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP LIÊN QUAN TỚI TRIMs TRONG KHUÔN KHỔ WTO
1.1. Hiệp định TRIMs
1.1.1. Lịch sử ra đời
Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại (TRIMs) nằm trong
4 phụ lục của Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức thương mại thế giới được ký kết
tại Marrakesh, Maroc vào ngày 15/04/1994 (đây là kết quả của vòng đàm phán
Uruguay, đánh dấu sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới – WTO).
Sau khi xem xét các hoạt động của Hiệp định GATT liên quan đến các biện
pháp đầu tư có thể làm hạn chế hoặc bóp méo tự do hóa thương mại, các quốc gia
thành viên đồng ý rằng cần phải đàm phán, xây dựng thêm những quy định cần
thiết, thích hợp nhằm loại bỏ các biện pháp đầu tư có ảnh hưởng xấu đến thương
mại, tại Tuyên bố Punta del Este (vòng đàm phán Uruguay). Hiê ̣p đinh TRIMs với
vai trò mong muốn thúc đẩy, mở rộng sự tự do hoá thương mại, tạo thuận lợi cho
việc luân chuyển nguồn vốn đầu tư qua biên giới quốc tế, với mục đích tạo ra sự
tăng trưởng kinh tế cho các thành viên, đặc biệt là các Thành viên đang phát triển,
đồng thời phải bảo đảm sự cạnh tranh tự do, công bằng. Hiệp định TRIMs cho rằng
một số biện pháp đầu tư nhất định có thể sẽ làm ảnh hưởng xấu và bóp méo sự tự do
hóa thương mại, vì vậy TRIMs quy định các thành viên không được sử dụng các
biện pháp phân biệt đối xử đối với hàng hóa nước ngoài, cũng như việc áp đặt các
biện pháp hạn chế định lượng liên quan tới hàng hóa trong quá trình luân chuyển
qua biên giới.
Trước khi vòng đàm phán Uruguay ra đời, các mối liên kết giữa đầu tư và
thương mại ít được quan tâm trong khuôn khổ GATT. Tại Hiến chương Havana
năm 1948, cũng đã có một chương quy định về đầu tư nước ngoài, tuy nhiên Hiến
chương này đã không được phê chuẩn và chỉ có một số chính sách về thương mại
được đưa vào Hiệp định chung về thuế quan và thương mại – GATT. Cho tới năm
7
1955, các bên tham gia GATT đã thông qua Nghị quyết về đầu tư phát triển kinh tế
quốc tế, trong đó các vấn đề về đầu tư được đề cập tới đặc biệt là việc bảo vệ các
nhà đầu tư nước ngoài, bằng việc kêu gọi các nước ký kết các hiệp định song
phương trong đó có điều khoản bảo đảm, bảo vệ tài sản cho nhà đầu tư nước ngoài.
Có thể thấy rằng sự ra đời của Hiệp định TRIMs gắn liền với nhiều cuộc
tranh luận của các thành viên phát triển và thành viên đang phát triển, chủ yếu liên
quan tới những hạn chế hoặc lợi ích có được khi sử dụng TRIMs. Một mặt, thành
viên phát triển cho rằng TRIMs cần phải được loại bỏ bởi vì có những ảnh hưởng
không tốt đến thương mại quốc tế, làm ảnh hưởng tiêu cực tới xuất nhập khẩu. Các
thành viên phát triển, đều là các nước có nền công nghiệp tiên tiến, với nhiều công
ty đa quốc gia, hàng hóa của họ vươn tới các thị trường trên toàn thế giới. Mặt khác,
thành viên đang phát triển lập luận rằng, cần thiết phải sử dụng một số biện pháp
nhằm định hướng nguồn đầu tư nước ngoài cho phù hợp với mục tiêu phát triển
kinh tế đất nước, tránh sự độc quyền từ các sản phẩm của thành viên phát triển.
Thật vậy, sự phát triển quan trọng nhất đối với đầu tư trong giai đoạn trước khi
vòng đàm phán Uruguay đó là phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp trong vụ
việc liên quan tới Hoa Kỳ và Canada. Bị đơn: Canada – Các biện pháp hành chính
của Luật Đầu tư nước ngoài (Administration of the Foreign Investment Review Act –
FIRA). Đây là một vụ tranh chấp trong khuôn khổ GATT, Hoa Kỳ cho rằng Canada
đã áp đặt một số điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài để được phê duyệt các dự
án đầu tư. Thông qua các thỏa thuận hoặc yêu cầu gắn liền với việc sử dụng một số
sản phẩm trong nước (yêu cầu nội địa hóa) và việc xuất khẩu phải đạt tỷ lệ nhất định
hoặc tỷ lệ phần trăm theo sản lượng (yêu cầu thực hiện xuất khẩu). Báo cáo của cơ
quan giải quyết tranh chấp kết luận rằng yêu cầu nội địa hóa của Canada không phù
hợp với nghĩa vụ đối xử quốc gia theo Điều III: 4 của GATT; nhưng yêu cầu về hoạt
động xuất khẩu không trái với nghĩa vụ của GATT. Quyết định của Hội đồng xét xử
quan trọng ở chỗ nó khẳng định rằng việc áp đặt cũng như sử dụng các biện pháp
phân biệt đối xử hàng hóa nhập khẩu với hàng hóa trong nước là vi phạm nghĩa vụ
theo GATT. Đồng thời, kết luận của ban hội thẩm khẳng định các yêu cầu thực hiện
8
xuất khẩu không nằm trong phạm vi của GATT. Vòng đàm phán Uruguay về các
biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại đã được đánh dấu bởi sự bất đồng mạnh
mẽ giữa các thành viên trong phạm vi và tính chất của các nguyên tắc. Trong khi một
số nước phát triển đã đề xuất quy định rằng cần phải loại bỏ một loạt các biện pháp
yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa bởi vì không phù hợp với Điều III của GATT, ngược lại
nhiều nước thành viên đang phát triển phản đối điều này.
Tuy nhiên các thỏa thuận sau này về cơ bản đã được giới hạn trong việc giải
thích và làm rõ việc áp dụng các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại theo quy
định của GATT trong phạm vi Điều III đối xử quốc gia đối với hàng hóa nhập khẩu
và Điều XI các hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu. Chính vì
vâ ̣y, Hiê ̣p định TRIMs luôn có mối quan hệ mật thiết , gắn bó với Hiê ̣p định GATT
(trong pha ̣m vi Điều III và Điều XI). Khi viê ̣n dẫn quy định của Hiệp định TRIMs,
các bên không thể không c ăn cứ vào quy định của Hiê ̣p định GATT. Ngược la ̣i để
làm rõ hơn nội dung của GATT (trong pha ̣m vi Điều III và Điều XI) các bên cần phải
dẫn chiếu tới quy định của TRIMs để giải thích và làm rõ quyđịnh của GATT.
1.1.2. Nội dung của Hiệp định TRIMs
Như đã trình bày ở trên, TRIMs về cơ bản là một Hiệp định nhằm mục đích
giải thích và làm rõ về việc áp dụng các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại
trong phạm vi Điều III và Điều XI của GATT 1994. Vì vậy, nội dung của TRIMs
khá ngắn gọn, bao gồm 09 Điều khoản quy định về việc thực hiện TRIMs và một
phụ lục bao gồm danh mục minh họa các biện pháp không phù hợp với nguyên tắc
đối xử quốc gia tại Điều III và hạn chế định lượng tại Điều XI của GATT 1994,
nhằm tạo ra sự bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Phạm vi áp dụng
Phạm vi áp dụng của TRIMs “chỉ áp dụng đối các biện pháp đầu tư liên quan
tới thương mại hàng hóa” [55, Điều 1]. Vì vậy, có thể thấy rằng TRIMs chỉ áp dụng
đối với hàng hóa, không áp dụng cho dịch vụ.
Hiệp định TRIMs không quy định cụ thể thế nào là “các biện phá đầu tư liên
quan tới thương mại” bởi vậy trong quá trình giải quyết tranh chấp, Ban hội thẩm sẽ
9
có một phần đưa ra những phân tích, đánh giá liệu các biện pháp mà các bên đưa ra
có phải là “biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại” hay không.
Ví dụ, Báo cáo của Ban hội thẩm trong vụ việc liên quan tới Indonesia – Các
biện pháp ảnh hưởng tới ngành công nghiệp ô tô. Ban hội thẩm nhận định, “Các biện
pháp đầu tư” mà Indonesia sử dụng nhằm mục đích khuyến khích sự phát triển năng
lực ngành sản xuất ô tô và sản xuất các loại phù tùng tại Indonesia. Gắn liền với mục
tiêu này là những biện pháp tác động đáng kể tới đầu tư trong ngành công nghiệp sản
xuất ô tô, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh; khuyến khích sự phát triển của ngành
công nghiệp ô tô và các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước (sản xuất linh kiện ô
tô); khuyến khích việc chuyển giao công nghệ, góp phần tạo việc làm trên diện rộng;
tăng tỉ lệ nội địa hóa. Ban hội thẩm nhấn mạnh rằng, họ không đưa ra một định nghĩa
cụ thể nào về đầu tư mà chỉ xem xét cách thức mà các vấn đề được đề cập có liên
quan tới đầu tư như thế nào. Ban hội thẩm cũng cho rằng các biện pháp trên dù không
do cơ quan chức năng có thẩm quyền về đầu tư quy định (theo lập luận của
Indonesia) nhưng vẫn được coi là các biện pháp liên quan tới đầu tư [60, tr. 342].
Như vậy, có thể thấy rằng “các biện pháp đầu tư” trong trường hợp này có
thể là những yêu cầu, hoặc những biện pháp pháp lý, biện pháp hành chính (các
cách thức) được sử dụng có tác động và làm ảnh hưởng tới đầu tư nước ngoài, nó có
thể không do cơ quan có thẩm quyền về đầu tư quyết định.
Tiếp theo, thuật ngữ “liên quan tới thương mại” được hiểu là nếu các biện
pháp trên được sử dụng làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp sự luân chuyển hàng
hóa qua biên giới (ví dụ: áp đặt hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu; yêu cầu cân đối tỉ
lệ hàng hóa xuất nhập khẩu; hoặc cụ thể như yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa, đồng nghĩa
với việc thành viên đó đã ưu tiên sử dụng các sản phẩm trong nước), vì vậy các biện
pháp này ảnh hưởng tới thương mại đặc biệt là hàng hóa.
Tóm lại, có thể hiểu rằng “các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại” là
những yêu cầu, biện pháp có tác động, làm ảnh hưởng tiêu cực tới thương mại hàng
hóa, tới đầu tư nước ngoài, tới sự luân chuyển hàng hóa qua biên giới. Làm phương
hại tới lợi ích của các quốc gia thành viên theo các hiệp định có liên quan.
10
Nguyên tắc đối xử quốc gia và quy định về hạn chế định lƣợng
Điều 2.1 của TRIMs quy định rằng “các quốc gia thành viên không được
sử dụng TRIMs trái với quy định tại Điều III và Điều XI của GATT 1994”. Các
biện pháp này được làm rõ thông qua một danh sách các biện pháp minh họa tại
phụ lục của TRIMs [55, Điều 2.2], bao gồm những biện pháp mang tính bắt buộc
hoặc được thực thi thông qua luật trong nước hoặc các quyết định mang tính
hành chính hoặc các điều kiện mà chỉ khi tuân thủ những điều kiện này mới được
hưởng một ưu đãi nào đó.
Điều III của GATT quy định về nguyên tắc đối xử quốc gia về thuế và các
quy tắc trong nước, chủ yếu đề cập tới vấn đề mua hoặc sử dụng các sản phẩm của
doanh nghiệp. Theo đó các sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kỳ một bên ký
kết nào vào lãnh thổ của bất kỳ bên ký kết khác sẽ được hưởng đãi ngộ không kém
phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ dành cho sản phẩm tương tự ở trong nước về mặt luật
pháp, quy tắc và các quy định tác động đến bán hàng, chào bán, mua, chuyên chở,
phân phối hoặc sử dụng hàng trên thị trường nội địa; bao gồm cả việc áp đặt các
khoản thuế và phí cao hơn đối với các sản phẩm tương tự trên thị trường nội địa; áp
dụng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp yêu cầu sử dụng các sản phẩm trong nước,
yêu cầu đạt được tỉ lệ nội địa hóa nhất định.
Tuy nhiên nguyên tắc này đòi hỏi cần một số yếu tố sau:
- Các sản phẩm được nhập khẩu, và có “các sản phẩm tương tự” ở trong nước;
- Các biện pháp có thể là “luật, quy định, quyết định hành chính hoặc yêu cầu
tác động đến bán hàng, chào bán, mua, vận chuyển, phân phối hoặc sử dụng”; và
- Các sản phẩm nhập khẩu bị đối xử “kém thuận lợi” hơn sự đối xử dành cho
các sản phẩm nội địa.
Khoản 1 (a) của Danh mục minh họa [55, phụ lục] bao gồm các nội dung về
yêu cầu của địa phương: yêu cầu mua hoặc sử dụng hàng hóa bởi một doanh nghiệp
nội địa hoặc hàng hóa có xuất xứ từ nguồn nước (yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa); trong
khi Khoản 1 (b) bao gồm yêu cầu về cân bằng thương mại, trong đó việc hạn chế
mua (theo giá trị) hoặc sử dụng các sản phẩm nhập khẩu của doanh nghiệp phải
tương đương với số lượng hoặc giá trị sản phẩm nội địa mà doanh nghiệp này xuất
11
khẩu. Cả hai trường hợp trên, nhằm giải thích rõ hơn Điều III: 4 của Hiệp định
GATT 1994, kết quả của các biện pháp trên làm cho các sản phẩm nhập khẩu (được
mua hoặc được sử dụng bởi doanh nghiệp) bị đối xử với điều kiện kém thuận lợi
hơn so với các sản phẩm trong nước (được mua hoặc sử dụng bởi doanh nghiệp).
Điều XI của GATT quy định về hạn chế định lượng, liên quan tới việc nhập khẩu
hoặc xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp, trong đó các thành viên không được áp dụng
các biện pháp nhằm vào việc hạn chế xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa từ lãnh thổ quốc
gia này tới lãnh thổ quốc gia khác, ví dụ như: cấm nhập khẩu hoặc chỉ được nhập khẩu
trong những trường hợp được quy định (Prohibition); áp dụng hạn ngạch đối với hàng hóa,
có thể là: hạn ngạch toàn cầu, hạn ngạch phân bổ theo quốc gia hoặc hạn ngạch song
phương (Quota); yêu cầu giấy phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu không tự động (Non-
automatic licensing); áp dụng mức giá tối thiểu gây ra hạn chế về định lượng (Minimum
price); yêu cầu “tự nguyện” hạn chế xuất khẩu ("Voluntary" export restraint)…
Đoạn 2 (a) của Danh mục minh họa bao gồm các biện pháp hạn chế nhập
khẩu các sản phẩm của doanh nghiệp, được sử dụng để sản xuất các sản phẩm (hoặc
để lắp ráp, ví dụ: ô tô, xe máy, các loại thiết bị máy móc khác…). Việc hạn chế này
thường được xác định theo số lượng hoặc giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp (các
sản phẩm được sản xuất trong nước của doanh nghiệp). Có thể thấy rằng có sự
giống nhau về khái niệm giữa khoản này và khoản 1 (b) của Danh mục minh họa
trong đó cả hai đều hướng tới biện pháp cân bằng thương mại. Sự khác biệt là,
khoản 1 (b) với những biện pháp nội bộ ảnh hưởng đến các sản phẩm sau khi đã
được nhập khẩu, trong khi khoản 2 (a) là các biện pháp ảnh hưởng đến việc nhập
khẩu sản phẩm trong quá trình luân chuyển qua biên giới.
Các biện pháp xác định tại khoản 2 (b) của danh mục minh họa liên quan đến
việc hạn chế nhập khẩu trong các hình thức yêu cầu về ngoại hối (việc tiếp cận
nguồn ngoại tệ trong việc nhập khẩu). Doanh nghiệp nhập khẩu các sản phẩm để sử
dụng hoặc để sản xuất bị giới hạn bằng cách hạn chế việc tiếp cận nguồn ngoại tệ để
trao đổi, phải tỉ lệ với giá trị các nguồn thu ngoại tệ của doanh nghiệp này.
Cuối cùng, mục 2 (c) bao gồm các biện pháp liên quan đến hạn chế về xuất
khẩu hoặc bán để xuất khẩu của doanh nghiệp, được quy định dưới hình thức các
12
sản phẩm cụ thể, hoặc khối lượng hoặc giá trị sản phẩm, cần phải tỷ lệ với khối
lượng giá trị sản xuất trong nước của doanh nghiệp.
Bảng 1.1. Danh mục minh họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị
cấm áp dụng (TRIMs)
Nhóm các biện pháp Ví dụ minh họa
Những yêu cầu về hàm lượng nội
địa
Yêu cầu doanh nghiệp phải sử dụng một tỷ lệ
nhất định nguyên liệu đầu vào có xuất xứ trong
nước hoặc từ các nguồn nội địa
Những yêu cầu về sản xuất
Yêu cầu một số loại sản phẩm phải được sản
xuất trong nước
Những yêu cầu bắt buộc về loại
sản phẩm
Yêu cầu nhà đầu tư phải cung cấp cho những thị
trường nhất định một hoặc một số sản phẩm
được chỉ định hoặc được sản xuất/cung cấp bởi
một nhà sản xuất/cung cấp nhất định
Những yêu cầu về chuyển giao
công nghệ
Yêu cầu phải chuyển giao bắt buộc một số loại
công nghệ nhất định (không theo các điều kiện
thương mại thông thường) và/hoặc yêu cầu các
loại hoặc mức độ nghiên cứu và phát triển phải
được thực hiện ở nước nhận đầu tư
Những yêu cầu về việc chuyển
giao quyền sử dụng bằng sáng
chế (li-xăng)
Quy định buộc nhà đầu tư phải chuyển giao
công nghệ tương tự hoặc không liên quan đến
công nghệ mà họ đang sử dụng tại nước đầu tư
cho doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư
Những hạn chế về sản xuất
Quy định cấm doanh nghiệp không được sản
xuất một số sản phẩm hoặc loại sản phẩm nhất
định ở nước nhận đầu tư
Những yêu cầu về cân đối thương
mại
Yêu cầu doanh nghiệp phải bảo đảm khối lượng
hoặc trị giá sản phẩm nhập khẩu tương đương
với khối lượng, trị giá sản phẩm xuất khẩu
Những yêu cầu về tiêu thụ trong
nước
Yêu cầu doanh nghiệp phải bảo đảm rằng khối
lượng hoặc trị giá sản phẩm tiêu thụ trong nước
tương đương với sản phẩm xuất khẩu
Những yêu cầu về xuất khẩu Yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu tối thiểu
Những hạn chế về chuyển lợi
nhuận ra nước ngoài
Hạn chế quyền của nhà đầu tư trong việc chuyển
lợi nhuận thu được từ đầu tư về nước
Những yêu cầu về tỷ lệ vốn trong
nước
Ấn định một tỷ lệ nhất định vốn của doanh
nghiệp phải do nhà đầu tư trong nước nắm giữ
(Nguồn: http://www.trungtamwto.vn/)
13
Ngoại lệ của Hiệp định TRIMs
Điều 3 của Hiệp định TRIMs quy định rằng, tất cả các trường hợp ngoại lệ
theo GATT 1994 được áp dụng một cách thích hợp với các quy định của Hiệp định
TRIMs. Ngoài những ngoại lệ quy định bởi GATT 1994, các thành viên có thể sử
dụng TRIMs trong các trường hợp quy định tại Điều 4 (quy định đối với các nước
đang phát triển) hoặc Điều 5 (trong thời kỳ quá độ, chuyển tiếp). Vì TRIMs chỉ
được áp dụng cho hàng hóa không áp dụng cho dịch vụ, nên một số biện pháp
không trực tiếp điều tiết hàng hóa hoặc nhập khẩu hàng hóa có thể được sử dụng.
Theo Điều 4 của TRIMs cho phép các nước đang phát triển có thể tạm thời
không thực hiên các nghĩa vụ của Hiệp định TRIMs, cùng với quy định tại Điều
XVIII GATT 1994 về hỗ trợ của Nhà nước cho việc phát triển kinh tế và các quy
định có liên quan của WTO về biện pháp tự vệ trong cân bằng cán cân thanh toán.
Điều 5 của TRIMs quy định về việc thông báo và thỏa thuận thời hạn chuyển
tiếp. Các thành viên phải có nghĩa vụ thông báo cho Hội đồng thương mại hàng hóa,
tất cả các biện pháp không phù hợp với TRIMs, trong vòng 90 ngày kể từ khi
TRIMs có hiệu lực. Mẫu Thông báo này được Hội đồng thương mại hàng hóa đưa
ra và thống nhất áp dụng. Đồng thời các thành viên này phải loại bỏ các biện pháp
đã thông báo trên trong thời gian là hai (02) năm đối với các thành viên phát triển,
và năm (05) năm đối với các thành viên đang phát triển, và thời hạn là bẩy (07) năm
đối với các thành viên kém phát triển, kể từ khi hiệp định có hiệu lực, khoảng thời
gian này có thể được Hội đồng thương mại hàng hóa xem xét, kéo dài đối với các
thành viên đang phát triển và thành viên kém phát triển. Đối với các quốc gia trở
thành thành viên của WTO (trừ các quốc gia phát triển) sau khi TRIMs có hiệu lực
cũng được áp dụng thời gian thông báo và thời kỳ quá độ giống với các thành viên
trước đó, kể từ ngày gia nhập, nhưng không được xem xét kéo dài thời gian chuyển
tiếp. Trong thời kỳ chuyển tiếp, các thành viên không được sửa đổi các biện pháp đã
thông báo, theo hướng tăng thêm mức độ không phù hợp với TRIMs. Thêm vào đó,
các biện pháp đã được sử dụng trong thời gian ít hơn 180 ngày kể từ khi TRIMs có
hiệu lực, sẽ không được hưởng thời gian chuyển tiếp.
14
Tại tuyên bố Bộ trưởng Hồng Kông, ngày 18/12/2005, Hội đồng thương mại
hàng hóa đã quyết định kéo dài thời hạn cho giai đoạn chuyển tiếp mới đối với các
nước kém phát triển là bẩy (07) năm đến ngày 18/12/2012, các nước này cũng có
thể đưa ra các biện pháp mới trong vòng hai (02) năm và không được áp dụng quá
năm (05) năm, tuyên bố cũng nêu ra rằng, các biện pháp không phù hợp với TRIMs
sẽ được loại bỏ vào năm 2020. Các thành viên phải cam kết thực hiện nghĩa vụ về
minh bạch hóa đối với thông báo tại Điều X của GATT 1994 [55, Điều 6], các
thành viên phải thông báo tới Ban thư ký các biện pháp (TRIMs) đã được áp dụng
và Ban thư ký sẽ tổng hợp công bố các thông báo đó trong một tài liệu duy nhất.
Theo Hiệp định, Ủy ban về các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại sẽ
được thành lập như một diễn đàn kinh tế để kiểm tra hoạt động thực hiện hiệp định
đồng thời có nghĩa vụ báo cáo định kỳ, hàng năm cho Hội đồng thương mại hàng
hóa. Ủy ban sẽ để ngỏ cho tất cả các Thành viên tham gia, Ủy ban có Chủ tịch và
Phó Chủ tịch và sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần và họp trong trường hợp có yêu cầu
của bất kỳ Thành viên nào [55, Điều 7].
Tham vấn giải quyết tranh chấp
Thủ tục giải quyết tranh chấp nói chung của WTO, sẽ được áp dụng đối với
các tranh chấp phát sinh từ Hiệp định [55, Điều 8].
Đánh giá của Hội đồng Thương mại Hàng hóa. Không quá năm (05) năm, kể
từ ngày có hiệu lực của Hiệp định WTO, Hội đồng Thương mại Hàng hóa sẽ xem
xét hoạt động của Hiệp định và khi thích hợp, sẽ đề xuất hội nghị Bộ trưởng về việc
sửa đổi hiệp định. Trong quá trình rà soát, Hội đồng Thương mại Hàng hóa sẽ xem
xét liệu Hiệp định cần bổ sung quy định về chính sách đầu tư và chính sách cạnh
tranh hay không [55, Điều 9].
1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Được hình thành trên cơ sở Nghị định thư về các nguyên tắc và thủ tục giải
quyết tranh chấp (Dispute Settlement Understanding - DSU), Phụ lục 02 Hiệp định
Marrakesh thành lập WTO, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (Dispute
Settlement Mechanism - DSM) là một trong những thành công cơ bản của Vòng
15
đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Cho
đến thời điểm hiện tại, hoạt động của DSM được đánh giá là thành công nổi trội của
WTO. Tham gia vào DSM cho phép các nước thành viên bảo vệ các chính sách,
biện pháp và lợi ích thương mại của mình, đấu tranh chống lại vi phạm của các
nước thành viên trong WTO. Việc sử dụng DSM là biểu hiện của sự tham gia, hội
nhập đầy đủ và hiệu quả vào hệ thống thương mại đa biên của WTO đối với các
quốc gia thành viên [43].
DSM là sự kế thừa các quy định về giải quyết tranh chấp đã từng phát huy
tác dụng tích cực trong lịch sử gần nửa thế kỷ của GATT 1947. Rút kinh nghiệm từ
những bất cập trong cơ chế cũ, một số cải tiến căn bản về thủ tục đã được đưa vào,
trong đó quy định chi tiết hơn các giai đoạn khác nhau trong quá trình giải quyết
tranh chấp, cùng với đó là việc áp dụng mốc thời hạn cụ thể cho mỗi giai đoạn
nhằm nhanh chóng, kịp thời giải quyết các tranh chấp. Có thể thấy điểm thay đổi
quan trọng nhất của DSM đó là nguyên tắc đồng thuận nghịch hay đồng thuận phủ
quyết (negative consensus) trong việc việc thành lập Ban hội thẩm (Panel); thông
qua Báo cáo của Panel và Báo cáo của cơ quan phúc thẩm, nhằm ngăn chặn các bên
tham gia tranh chấp cố gắng trì hoãn việc thành lập Panel, thông qua Báo cáo, gây
ảnh hưởng tới thời gian xem xét vụ việc (điều này thường xảy ra đối với các cơ chế
giải quyết tranh chấp khác). Từ đó, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu
quả của cơ chế giải quyết tranh chấp, cũng như tăng cường tính ràng buộc của các
hiệp định trong WTO.
Mục tiêu căn bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là nhằm “đạt
được một giải pháp tích cực được đưa ra khi phát sinh tranh chấp”, đồng thời ưu
tiên những “giải pháp được các bên cùng thỏa thuận chấp thuận và phù hợp với các
Hiệp định liên quan”. Xét ở mức độ rộng hơn, DSM nhằm cung cấp các thủ tục
quyết tranh chấp đa phương thay thế cho các hành động đơn phương của các quốc
gia thành viên vốn tồn tại nhiều nguy cơ bất đồng, gây trì trệ và làm xáo trộn sự vận
hành chung của các quy tắc thương mại quốc tế.
16
1.2.1. Phạm vi và đối tượng của các tranh chấp
Phạm vi áp dụng
DSM áp dụng cho tất cả các tranh chấp theo các hiệp định có liên quan của
WTO được liệt kê trong Phụ lục 1 của DSU [56, Điều 1.1]. Bằng việc áp dụng
chung, thống nhất cho tất cả các hiệp định có liên quan, DSU đã loại bỏ việc các
nước tự ý thỏa thuận các quy định về giải quyết tranh chấp riêng biệt trong việc ký
kết các hiệp định. Tuy nhiên, DSU cũng áp dụng một số quy tắc thủ tục bổ sung tại
các hiệp định có liên quan trong Phụ lục 2 của DSU [56, Điều 1.2]. Đây là những
quy định cụ thể mang tính chất đặc thù riêng biệt của các tranh chấp theo các hiệp
định cụ thể, và các quy định này chỉ được áp dụng trong các trường hợp riêng biệt
với mức độ cụ thể được xác định. Thông thường, trong mỗi vụ tranh chấp các bên
thường viện dẫn quy định của nhiều Hiệp định có liên quan.
WTO là tổ chức thương mại quốc tế liên chính phủ. Vì vậy, chủ thể tham gia
vào quá trình giải quyết tranh chấp phải là Chính phủ của các nước thành viên WTO
(có thể tham gia với tư cách là bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn hoặc là bên thứ ba
trong vụ tranh chấp). Ban Thư ký WTO, các nước quan sát viên của WTO, các tổ
chức quốc tế khác, và các chính phủ khu vực hoặc địa phương không có quyền khởi
kiện, tham gia giải quyết tranh chấp.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc các cá nhân, tổ chức không thể tham gia
với tư cách là một bên trong vụ tranh chấp, mặc dù họ (các doanh nghiệp, nhà nhập
khẩu, xuất khẩu) thường xuyên là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những
biện pháp bị cáo buộc vi phạm. Tuy nhiên, chính họ lại là những nhân tố gây ảnh
hưởng thậm chí là gây áp lực đến Chính phủ nước thành viên nhằm khởi xướng vụ
tranh chấp.
Trên thực tế, các quốc gia cũng đã thông qua các quy định trong nước về
quyền lợi, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong việc khởi kiện các vụ tranh chấp
thương mại quốc tế. Theo đó, các Doanh nghiệp có thể kiến nghị Chính phủ khởi
xướng một vụ kiện trong WTO nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình.
17
Đối tượng của tranh chấp
Cơ quan giải quyết tranh chấp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa
các thành viên phát sinh từ bất kỳ Hiệp định có liên quan của WTO.
Một yêu cầu khiếu nại có thể dựa trên một điều khoản cấm các hành động
nhất định (hành động) (ví dụ Điều XI của GATT cấm hoặc hạn chế xuất khẩu) như
ban hành các điều luật, quy định, quyết định làm cản trở việc xuất khẩu hàng hóa từ
quốc gia thành viên này đến quốc gia thành viên khác thông qua các hình thức khác
nhau (như hạn ngạch) và gây ra thiệt hại thực tế cho các nước thành viên. Không
hành động như vậy có thể sẽ không vi phạm quy định.
Trong những tình huống khác nhau, theo Hiệp định WTO quy định không
cấm các hành vi nhất định, nhưng thay vào đó, đòi hỏi các thành viên phải có hành
động tích cực. Ví dụ điển hình như Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương
mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), yêu cầu các thành viên phải thực hiện các
biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phải có những hành động tích cực bằng cách
thông qua và áp dụng các biện pháp bảo vệ các quyền trên. Việc không thực hiện
(không hành động) hoặc thực hiện không đầy đủ, các nghĩa vụ có thể là căn cứ để
khởi xướng một vụ tranh chấp.
Theo nguyên tắc chung, chỉ có những biện pháp (bao gồm hành động hoặc
không hành động) của Chính phủ mới có thể là đối tượng của một vụ tranh chấp
trong WTO. Các biện pháp trên có thể làm phát sinh các khiếu nại quy định tại Điều
XXIII. 1 của GATT 1994 như:
- Khiếu kiện có vi phạm (violation complaint): khiếu kiện phát sinh khi một
quốc gia thành viên không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định tại Hiệp
định, trong trường hợp này thiệt hại được suy đoán là đương nhiên ;
- Khiếu kiện không vi phạm (non-violation complaint): là loại khiếu kiện phát
sinh khi một quốc gia ban hành một biện pháp thương mại gây thiệt hại (làm mất
hay phương hại) đến lợi ích mà quốc gia khiếu kiện có được từ Hiệp định hoặc cản
trở việc thực hiện một trong các mục tiêu của Hiệp định, điều này không phụ thuộc
vào việc biện pháp đó có vi phạm Hiệp định hay không;
18
- Khiếu kiện dựa trên “sự tồn tại một tình huống khác” (“situation” complaint):
trong trường hợp này, quốc gia khiếu kiện phải chứng minh về thiệt hại mà mình phải
chịu hoặc trở ngại gây ra đối với việc đạt được một mục tiêu của Hiệp định.
Theo pháp luật quốc tế thì nhà nước sẽ chịu trách nhiệm cho tất cả hoạt động
của Chính phủ, các ngành, chính quyền địa phương, hoặc trong phạm vi lãnh thổ
của quốc gia thành viên. Vì vậy, các biện pháp hành chính do chính quyền địa
phương, hoặc vùng lãnh thổ của nước thành viên ban hành cũng có thể được viện
dẫn trong một vụ tranh chấp [56, Điều 22.9].
Không chỉ những biện pháp đã được ban hành và có hiệu lực mà các biện
pháp có hiệu lực trong tương lai của các thành viên cũng có thể là đối tượng của
khiếu nại. Các biện pháp này đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua, trên thực
tế nó sẽ có hiệu lực trong tương lai, và cũng không quá sớm để ngăn ngừa những
biện pháp đó làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các thành viên, bởi vì các quy
định có hiệu lực trong tương lai cũng sẽ ảnh hưởng tới các bên tham gia vào thị
trường thông qua việc chuẩn bị để thích ứng với những quy định mới.
1.2.2. Các cơ quan trong quá trình giải quyết tranh chấp
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO được thực hiện bởi các cơ quan
khác nhau, mỗi cơ quan có chức năng riêng biệt, tạo nên tính độc lập trong hoạt
động đánh giá, xem xét, giải thích pháp luật và thông qua quyết định của DSM.
Cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body – DSB)
Cơ quan này thực chất là Đại Hội đồng WTO, bao gồm đại diện của tất cả
các quốc gia thành viên. DSB chịu trách nhiệm quản lý, giám sát toàn bộ quá trình
giải quyết tranh chấp: có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua Báo cáo của Ban
hội thẩm và của Cơ quan phúc thẩm, giám sát việc thi hành các quyết định, khuyến
nghị giải quyết tranh chấp, cho phép đình chỉ thực hiện nhượng bộ và các nghĩa vụ
(trả đũa) khi các thành viên không tuân thủ phán quyết. Tuy nhiên, DSB chỉ là cơ
quan thông qua quyết định, không trực tiếp thực hiện việc xem xét giải quyết tranh
chấp. Các quyết định của DSB dựa trên nguyên tắc đồng thuận nghịch (đồng thuận
phủ quyết). Chủ tịch của DSB được bầu ra từ đại diện thường trực của các quốc gia
19
thành viên, có nhiệm vụ chủ trì điều hành các cuộc họp; cung cấp, tiếp nhận thông
tin và liên lạc với các thành viên; đề xuất, thực hiện, công bố các quyết định khi có
yêu cầu. Đồng thời DSB cũng tham gia vào một số tình huống cụ thể trong quá
trình giải quyết tranh chấp.
Tổng giám đốc WTO và Ban thư ký
Tổng giám đốc WTO có vai trò như là người trung gian, hòa giải, và thực
hiện một số công việc cụ thể trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Tổng Giám đốc, trên cương vị công tác chính thức của mình, có thể làm
người môi giới, người hòa giải hoặc trung gian nhằm giúp các Thành viên giải
quyết tranh chấp [56, Điều 5.6]. Trong quá trình giải quyết tranh chấp liên quan tới
thành viên là quốc gia kém phát triển, khi mà tham vấn không đạt được hiệu quả,
theo yêu cầu của họ, Tổng giám đốc sẽ đóng vai trò là trung gian hòa giải trước khi
Ban hội thẩm được thành lập [56, Điều 24.2].
Khi các bên không thể thống nhất về thành phần của Ban hội thẩm trong vòng
20 ngày, thì Tổng giám đốc sẽ triệu tập cuộc họp với DSB và bổ nhiệm các thành
viên theo yêu cầu của một trong hai bên và tham khảo ý kiến Chủ tịch DSB, Chủ tịch
các Hội đồng, Ủy ban có liên quan [56, Điều 8.7]. Tổng giám đốc cũng chỉ định trọng
tài để xác định khoảng thời gian hợp lý thực hiện phán quyết, nếu các bên không thể
thống nhất về thời gian thực hiện và về trọng tài [56, Điều 21.3 (c)], hoặc việc xem
xét đề xuất đình chỉ các nghĩa vụ trong trường hợp không thực hiện [56, Điều 22.6].
Các nhân viên của Ban Thư ký WTO, có nhiệm vụ báo cáo Tổng giám đốc, hỗ
trợ các thành viên trong giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của họ [56, Điều 27.2], tổ
chức các khóa đào tạo đặc biệt về DSM [56, Điều 27.3] và cung cấp dịch vụ tư vấn
pháp lý, hỗ trợ cho các thành viên đang phát triển trong các vấn đề liên quan. Ban
Thư ký cũng hỗ trợ các bên trong việc xác định thành phần của Ban hội thẩm, bằng
việc giới thiệu các Hội thẩm viên xem xét giải quyết tranh chấp [56, Điều 8.6] và
thường xuyên duy trì, cập nhận danh sách các Hội thẩm viên; hỗ trợ Ban hội thẩm
trong các khía cạnh hành chính, pháp lý, nội dung và thủ tục của các vấn đề đang
được giải quyết [56, Điều 27.1].
20
Ban hội thẩm (Panel)
Ban Hội thẩm bao gồm từ 3 - 5 thành viên có nhiệm vụ xem xét một vấn đề
cụ thể đang tranh chấp trên cơ sở các quy định WTO được quốc gia nguyên đơn
viện dẫn. Kết quả công việc của Panel là một bản Báo cáo bao gồm các phần mô tả
các tình tiết vụ việc, các kết luận và khuyến nghị của mình để trình DSB thông qua,
giúp DSB đưa ra các khuyến nghị đối với các Bên tranh chấp (chức năng của Ban
hội thẩm là giúp DSB làm tròn trách nhiệm theo DSU và các hiệp định có liên
quan). Trên thực tế, đây là cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp mặc dù không
nắm quyền quyết định (nhưng với nguyên tắc đồng thuận phủ quyết mọi vấn đề về
giải quyết tranh chấp khi đã đưa ra trước DSB đều được “tự động” thông qua).
Các thành viên Ban hội thẩm được lựa chọn trong số các quan chức chính
phủ hoặc các chuyên gia phi chính phủ không có quốc tịch của một Bên tranh chấp
hoặc của một nước cùng là thành viên trong một Liên minh thuế quan hoặc Thị
trường chung với một trong các nước tranh chấp (ví dụ: Liên minh Châu Âu). Panel
hoạt động độc lập, không chịu sự giám sát của bất kỳ quốc gia nào.
Cơ quan phúc thẩm (Appellate Body)
Cơ quan Phúc thẩm là một thiết chế mới trong cơ chế giải quyết tranh chấp
của WTO, cho phép báo cáo của Panel được xem xét lại (khi có yêu cầu), bảo đảm
tính đúng đắn của báo cáo giải quyết tranh chấp. Sự ra đời của cơ quan này cũng
cho thấy rõ hơn tính chất xem xét của thủ tục giải quyết tranh chấp mới.
Cơ quan Phúc thẩm thường trực phải được DSB thành lập. Cơ quan này xem
xét kháng cáo về các vụ việc của ban hội thẩm, bao gồm 7 người. Mỗi một vụ việc
phải do 3 người trong số đó xem xét và phải luân phiên thực hiện nhiệm vụ. Việc
luân phiên như vậy phải được xác định trong văn bản về thủ tục làm việc của Cơ
quan Phúc thẩm [56, Điều 17.1], trong quy định của thủ tục làm việc sẽ có 3 thành
viên tham gia xét xử phúc thẩm. Các thành viên của cơ quan phúc thẩm sẽ tham gia
một cách luân phiên và ngẫu nhiên vào các vụ việc, bất kể từ quốc gia nào, có nghĩa
là thành viên tham gia vào cơ quan phúc thẩm có thể mang quốc tịch của các bên có
liên quan (như nguyên đơn, bị đơn, bên thứ ba).
21
Ba thành viên được lựa chọn giải quyết vụ việc sẽ bầu ra chủ tịch Hội đồng
xét xử trong số đó, chủ tịch sẽ là người có trách nhiệm điều hành quá trình xem xét
theo Quy tắc 7 (2) Thủ tục làm việc (điều hành các cuộc điều trần, cuộc họp giữa
các bên, phối hợp soạn thảo báo cáo của cơ quan phúc thẩm).
1.2.3. Quy trình thủ tục giải quyết tranh chấp
Quy trình thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO được quy định tại DSU bao
gồm các bước: Tham vấn giải quyết tranh chấp giữa các bên, nếu các bên không
đưa ra được giải pháp thống nhất thì Ban hội thẩm sẽ được thành lập để xem xét vụ
việc. Ban hội thẩm sẽ dựa trên những tình tiết cụ thể thực tế, những căn cứ pháp lý
để đưa ra kết luận, quyến nghị của mình thông qua bản Báo cáo. Trong một khoảng
thời gian hợp lý các bên có thể đưa ra kháng cáo về những vấn đề pháp lý mà Ban
hội thẩm đưa ra, cơ quan phúc thẩm sẽ xem xét yêu cầu kháng cáo đó và đưa ra kết
luận của mình thông qua Báo cáo. Báo cáo của Ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm
sẽ được DSB thông qua dựa trên nguyên tắc đồng thuận nghịch. Và các bên phải
chấp hành phán quyết đó. Nếu trong một khoảng thời gian hợp lý, bên thua kiện
không thi hành phán quyết thì bên thắng kiện có thể yêu cầu DSB cho phép sử dụng
các biện pháp trả đũa (đình chỉ thực hiện các nghĩa vụ theo các hiệp định có liên
quan). Để hiểu rõ hơn về quy trình này tác giả sẽ đi vào làm rõ các giai đoạn trong
quá trình giải quyết tranh chấp:
Tham vấn (Consultation)
Mục đích của cơ chế giải quyết tranh chấp là bảo đảm một giải pháp tích
cực, hài hòa đối với các bên liên quan khi xảy ra tranh chấp. Một giải pháp mà các
bên có thể chấp nhận được và phù hợp với các hiệp định liên quan (Điều 3.7 DSU).
Theo đó, tham vấn song phương giữa các bên là giai đoạn đầu tiên của quá trình
giải quyết tranh chấp, là giai đoạn để các bên có cơ hội thảo luận về vấn đề tranh
chấp và tìm ra một giải pháp thỏa đáng mà không cần đến những quy trình tố tụng
sau này [56, Điều 4.5]. Tham vấn là giai đoạn đầu tiên và cũng là bắt buộc, chỉ sau
khi tham vấn không đạt hiệu quả, nếu các bên có liên quan không đưa ra được một
giải pháp thỏa đáng trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn, bên
22
nguyên đơn có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm để xét xử vụ việc [56, Điều 4.7].
Tuy nhiên, việc thỏa thuận để đưa ra một giải pháp giải quyết tranh chấp giữa các
bên vẫn có thể thực hiện trong bất kỳ giai đoạn tiếp theo nào.
Thông thường các quốc gia đều có gắng giải quyết các bất đồng ở giai đoạn
tham vấn nhằm hạn chế đến mức tối đa các thiệt hại về lợi ích cho tất cả các bên
đồng thời bảo đảm tính bí mật của các thông tin liên quan đến tranh chấp. Tham vấn
cũng cho phép các bên hiểu rõ, làm rõ sự thật các vấn đề của bên khiếu nại, có thể
xua tan những hiểu lầm về bản chất thực tế của các biện pháp được đưa ra trong yêu
cầu tham vấn. Trong ý nghĩa này, tham vấn sẽ đưa ra một giải pháp, một thỏa thuận
đặt nền tảng lâu dài cho những mối quan hệ song phương hoặc là sẽ là căn cứ cho
các thủ tục tố tụng tiếp theo trong DSU.
Bị đơn có nghĩa vụ phải chấp thuận xem xét một cách thiện chí đề nghị tham
vấn và cố gắng tạo cơ hội để tham vấn diễn ra [56, Điều 4.2], trừ khi có thỏa thuận
khác bị đơn phải trả lời yêu cầu trong vòng 10 ngày và phải tham gia vào tham vấn
trong thời hạn không quá 30 ngày sau khi nhận được yêu cầu hoặc sau một thời hạn
khác được các bên thỏa thuận, nếu không đạt được bên nguyên đơn có thể trực tiếp
yêu cầu thành lập Ban hội thẩm [56, Điều 4.3].
Tham vấn thường diễn ra ở Geneva và được giữ kín [56, Điều 4.6], có nghĩa
tham vấn được diễn ra chỉ với sự có mặt của các bên, Ban Thư ký hay bất kỳ một
Ủy ban nào của WTO đều không được tham dự. Nội dung của cuộc tham vấn bảo
đảm được giữ bí mật. Bên khiếu nại có thể yêu cầu thành lập Panel trong thời gian tối
thiểu 60 ngày kể từ ngày bên bị đơn nhận được yêu cầu tham vấn, và các bên cùng
cho rằng việc tham vấn đã không giải quyết được tranh chấp [56, Điều 4.7]. Thông
thường, trong các vụ tranh chấp thời gian từ giai đoạn tham vấn đến giai đoạn thành
lập Ban hội thẩm thường diễn ra trong khoảng thời gian nhiều hơn 60 ngày (mức tối
thiểu). Trong trường hợp khẩn cấp, bao gồm vụ việc liên quan đến hàng hóa dễ hư
hỏng, Thành viên phải tiến hành tham vấn trong thời hạn không quá 10 ngày, nếu
tham vấn không giải quyết được tranh chấp trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận
được yêu cầu, bên khiếu nại có quyền yêu cầu thành lập Ban hội thẩm [56, Điều 4.8].
23
Sự tham gia của Bên thứ ba trong quá trình tham vấn
Khi các thành viên khác của WTO không phải là Nguyên đơn cũng không
phải là Bị đơn nếu quan tâm đến các vấn đề đang thảo luận có thể được tham gia
vào quá trình tham vấn, với nhiều lý do như: lợi ích thương mại có thể nhận được
hoặc bị xâm hại trong quá trình giải quyết tranh chấp; hoặc có thể duy trì các biện
pháp tương tự giống với bên bị đơn... Các thành viên sẽ đưa ra những câu hỏi và các
giải pháp chung thống nhất nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên trong quá
trình tham vấn. Yêu cầu tham gia tham vấn với tư cách là bên thứ ba phải được gửi
tới DSB trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày yêu cầu tham vấn được lưu hành. Các
thành viên được tham gia với tư cách là bên thứ ba với điều kiện bên bị đơn thấy
rằng lợi ích thương mại trong vụ kiện là có căn cứ và phải thông báo cho DSB. Nếu
không được chấp nhận, thành viên này có thể tự yêu cầu tham vấn đối với bên bị
đơn đó trong một vụ kiện riêng biệt theo quy định của DSU [56, Điều 4.11].
Thành lập Ban hội thẩm (Panel)
Nếu tham vấn không giải quyết được tranh chấp, bên khiếu nại có thể yêu
cầu thành lập Panel bất cứ lúc nào sau 60 ngày kể từ ngày bên bị đơn nhận được
yêu cầu tham vấn như đã trình bày ở trên. Hoặc có thể sớm hơn nếu các bên đồng ý
rằng tham vấn không giải quyết được tranh chấp. Nội dung trong yêu cầu thành lập
Ban hội thẩm rất quan trọng. Theo Điều 7.1 DSU, cần phải xác định các điều khoản
tiêu chuẩn tham chiếu theo các hiệp định có liên quan. Nói cách khác, đây là văn
bản xác định phạm vi và giới hạn của tranh chấp, và thẩm quyền của Ban hội thẩm
chỉ xem xét trong phạm vi yêu cầu của nguyên đơn.
Bên thứ ba là những thành viên có lợi ích đáng kể và mong muốn tham gia
vào quá trình giải quyết tranh chấp, nếu họ thấy có quyền lợi đáng kể trong vụ việc
và cần được Ban hội thẩm xem xét. Tất nhiên yêu cầu này cần phải được đệ trình
lên Ban hội thẩm [56, Điều 10.2]. Trên thực tế DSB dành thời hạn là 10 ngày để các
thành viên khác bảo lưu quyền lợi với tư cách là bên thứ ba.
Các quy định về thương mại của một nước thành viên thường làm ảnh hưởng
24
đến lợi ích của nhiều thành viên WTO. Khi có hai hoặc nhiều Thành viên yêu cầu
thành lập Ban hội thẩm để giải quyết cùng một vấn đề thì một Ban hội thẩm duy
nhất (nếu khả thi) được thành lập để xem xét những đơn kiện này có tính đến quyền
của tất cả các Thành viên có liên quan [56, Điều 9.1]. Quy định này cho thấy DSU
ưu tiên việc thành lập một Ban hội thẩm để xem xét các vụ kiện thuộc cùng một vấn
đề. Nếu việc thành lập một Ban hội thẩm duy nhất là không khả thi dẫn tới việc phải
thành lập hai hay nhiều Ban hội thẩm thì các bên có liên quan nên cố gắng thống
nhất các Ban hội thẩm riêng lẻ sẽ có cùng hội thẩm viên, và phải sắp xếp thời gian
biểu cho thủ tục tố tụng của các Ban hội thẩm một cách hài hòa [56, Điều 9.3].
Trong nhiều trường hợp, nhiều vụ kiện có nội dung giống nhau được xem xét bởi
hai Panel hoàn toàn khác nhau, cùng với nội dung, quy trình, thủ tục được giữ kín
cho tới khi thông qua báo cáo. Như vậy không thể tránh khỏi việc cùng một vấn đề,
với thành viên của các Panel khác nhau sẽ có kết quả khác nhau, thậm chí là mâu
thuẫn đối với những vấn đề giống nhau. Điều này có thể gây ra khó khăn cho việc
thực thi hoặc có thể làm giảm hiệu quả, mục đích của cơ chế giải quyết tranh chấp
nếu không được điều chỉnh một cách hợp lý trong quá trình phúc thẩm.
Quá trình xem xét của Ban hội thẩm
Sau khi hoàn tất việc thành lập Ban hội thẩm để xem xét vụ khiếu nại, việc
đầu tiên Ban hội thẩm cần phải làm là ấn định thời gian biểu cho hoạt động tố tụng
của mình [56, Điều 12.3]. Thủ tục của Ban hội thẩm thường bao gồm các nội dung
được nêu tại Điều 12 và Phụ lục 3 của DSU, đồng thời có sự linh hoạt nhất định để
bảo đảm chất lượng báo cáo mà không làm chậm quá trình tố tụng. Các Ban hội
thẩm khác nhau có thể có thời gian biểu khác nhau và thủ tục khác nhau sau khi
tham vấn ý kiến của các bên [56, Điều 12.1]. Nhìn chung thủ tục làm việc đều thực
hiện theo Phụ lục 3, và thường áp dụng các nguyên tắc bổ sung đối với từng tranh
chấp cụ thể khi có yêu cầu. Các bên có thể thỏa thuận hoặc đệ trình về việc tổ chức
các cuộc họp. Nếu không thỏa thuận được hoặc không đệ trình thì Ban hội thẩm sẽ
quyết định lịch làm việc và thông báo cho các bên.
25
Bảng 1.2. Thời gian biểu làm việc của Ban hội thẩm
(thời gian này có thể điều chỉnh một cách hợp lý tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng
vụ việc theo Phụ lục 3 của DSU)
STT Nội dung làm việc
Trong khoảng
thời gian
1 Tiếp nhận bản đệ trình của các bên
1. Bên khiếu nại
2. Bên trả lời
3-6 tuần
2-3 tuần
2 Cuộc họp chính đầu tiên với các bên; phiên thứ ba 1-2 tuần
3 Tiếp nhận đệ trình bằng văn bản của các bên 2-3 tuần
4 Cuộc họp chính thứ hai với các bên 1-2 tuần
5 Phát hành phần mô tả tổng quan của báo cáo cho các bên 2-4 tuần
6 Tiếp nhận ý kiến của các bên trên phần mô tả của báo cáo 2 tuần
7 Phát hành báo cáo tạm thời, bao gồm cả các kết quả và
kết luận, để các bên
2-4 tuần
8 Hạn chót cho bên yêu cầu xem xét lại các phần (s) của
báo cáo
1 tuần
9 Thời gian xem xét ban hội thẩm, bao gồm cả khả năng
thêm có cuộc họp với các bên
2 tuần
10 Phát hành báo cáo cuối cùng cho các bên tranh chấp 2 tuần
11 Lưu chuyển báo cáo cuối cùng tới các thành viên 3 tuần
Mỗi bên tranh chấp sẽ phải nộp các văn bản đệ trình của mình cho Ban Thư
ký để Ban Thư ký chuyển ngay cho Ban hội thẩm, các bên khác và các bên tranh
chấp. Ban hội thẩm sẽ dành cho các bên một khoảng thời gian thích hợp để chuẩn bị
văn bản đệ trình của mình. Để bảo đảm cho việc nhanh chóng chuyển các tài liệu tới
các bên, Ban thư ký của WTO đã xây dựng các hộp thư điện tử và gửi tới cho phái
đoàn của các thành viên tại Geneva. Tất cả các văn bản đệ trình đều phải được giữ
bí mật [56, Điều 18.2], tuy nhiên Báo cáo cuối cùng của Ban hội thẩm sẽ được công
bố công khai và được gửi cho tất cả các thành viên, trong đó Báo cáo sẽ phản ánh,
tổng kết căn cứ pháp lý, thực tiễn, các cáo buộc và lập luận của các bên (tại phần
mở đầu của Báo cáo) và các thành viên hoàn toàn có thể tự do tiết lộ văn bản đệ
26
trình của mình ra công chúng, thực tế một số thành viên đã công khai ngay sau khi
nộp tới Ban thư ký hoặc sau các cuộc họp điều trần hoặc sau khi đã có báo cáo của
Ban hội thẩm…
Sau khi nhận và xem xét các văn bản đệ trình, Ban hội thẩm sẽ triệu tập
phiên họp đầu tiên về nội dung của vụ việc, đươc tổ chức tại trụ sở của WTO tại
Geneva, nó tương tự như những cuộc tranh luận của các bên tại tòa án, nhưng được
diễn ra bí mật, không công khai. Sau đó, Ban hội thẩm sẽ đi vào giai đoạn thảo luận
nội bộ (nghị án) để xem xét đánh giá các vấn đề pháp lý, thực tế có liên quan. Trong
các kết luận và khuyến nghị của mình, Panel không thể làm tăng hoặc làm giảm các
quyền và nghĩa vụ được quy định trong các hiệp định có liên quan [56, Điều 19.2].
Việc nghị án của Panel được giữ bí mật. Các bản báo cáo được soạn thảo dựa trên
những thông tin được cung cấp và các ý kiến đã được đưa ra trước đó.
Báo cáo của Ban hội thẩm bao gồm:
Phần mô tả: gồm lời giới thiệu, các khía cạnh căn cứ pháp lý, bằng chứng
thực tế, lập luận của các bên đưa ra trong quá trình thảo luận. Cùng với phần xem
xét, đánh giá, lập luận của Ban hội thẩm về các vấn đề có liên quan, đây là căn cứ
để Ban hội thẩm đưa ra kết luận, khuyến nghị đối với các bên.
Phần kết luận: bao gồm phần xem xét, đánh giá, lập luận của Ban hội thẩm
về các vấn đề được đưa ra, thường rất cụ thể và chi tiết bao gồm ý kiến về những
tình tiết, khả năng áp dụng các điều khoản liên quan và lập luận đằng sau bất cứ kết
luận và khuyến nghị nào được đưa ra dựa trên những quy định của WTO. Trong
trường hợp Ban hội thẩm kết luận rằng một biện pháp nào đó không phù hợp với
hiệp định có liên quan thì phải đưa ra khuyến nghị rằng Thành viên phải đưa ra các
biện pháp phù hợp với Quy định của WTO. Cùng với đó, Ban hội thẩm có thể đề
xuất các giải pháp để thực hiện các khuyến nghị [56, Điều 19.1]. Trên thực tế, đề
xuất này là những kiến nghị tới DSB, yêu cầu các thành viên liên quan thực hiện
các biện pháp phù hợp với WTO.
Ban hội phẩm sẽ ban hành báo cáo tạm thời, bao gồm các phần đã đề cập
trên, và chỉ gửi cho các bên có liên quan, trong khoảng thời gian từ 2 đến 4 tuần sau
khi các bên đưa ra nhận xét, phản hồi về phần mô tả. Báo cáo cuối cùng sẽ được gửi
27
tới các bên tranh chấp trong vòng 2 tuần kể từ khi Ban hội thẩm có kết luận ở giai
đoạn rà soát giữa kỳ, sau khi được dịch sang các ngôn ngữ chính thức của WTO (ba
ngôn ngữ chính thức của WTO là tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha), và được lưu
chuyển tới các thành viên, trở thành tài liệu chính thức của vụ việc. Trong trường
hợp nhiều bên khiếu nại với một Panel duy nhất, thì phải gửi các báo cáo riêng biệt
cho các bên khi có yêu cầu [56, Điều 9.2].
DSM rất chú trọng tới thời gian, thời hạn giải quyết vụ việc, với mục tiêu kịp
thời giải quyết các tranh chấp. Theo quy định, Ban hội thẩm phải ban hành báo cáo
trong khoảng thời gian 06 tháng kể từ khi được thành lập, trong trường hợp khẩn
cấp (những trường hợp liên quan đến hàng dễ hỏng) Ban hội thẩm phải cố gắng đưa
ra bản báo cáo trong vòng 03 tháng kể từ khi được thành lập [56, Điều 12.7]. Trong
trường hợp, Ban hội thẩm không thể đưa ra bản báo cáo trong vòng 06 tháng (hoặc
03 tháng trong trường hợp khẩn cấp), thì phải thông báo tới DSB bằng văn bản, nêu
rõ lý do trì hoãn cùng với khoảng thời gian dự kiến đưa ra báo cáo. Thời gian thành
lập ban hội thẩm cho tới khi báo cáo cuối cùng được chuyển tới các thành viên
không được vượt quá 09 tháng [56, Điều 12.9]. Ban hội thẩm cũng có thể đình chỉ
việc giải quyết vụ việc theo yêu cầu của các bên tại bất kỳ thời điểm nào, trong
khoảng thời gian không quá 12 tháng. Việc đình chỉ vụ việc thường để cho các bên
cùng nhau thỏa thuận đưa ra giải pháp chung thống nhất. Nếu công việc của Panel
bị tạm ngừng hơn 12 tháng thì thẩm quyền của Ban hội thẩm sẽ hết thời hiệu, vụ
tranh chấp sẽ chấm dứt. Và các bên muốn theo đuổi lại vụ kiện phải thực hiện theo
thủ tục của một vụ kiện mới [56, Điều 12.12].
Thông qua báo cáo của Ban Hội thẩm
Mặc dù báo cáo của Ban hội thẩm đưa ra nội dung tranh chấp, kết quả, kết
luận đối với các bên, tuy nhiên nó chỉ có hiệu lực ràng buộc sau khi được DSB
thông qua. Đây là lý do tại sao DSU miêu tả chức năng của Ban hội thẩm là giúp
DSB làm tròn trách nhiệm theo DSU và các hiệp định có liên quan. Do đó, Panel
cần phải phải đánh giá một cách khách quan về các vấn đề được nêu ra, gồm việc
đánh giá các tình tiết của vụ việc, việc áp dụng phù hợp các biện pháp theo quy định
28
của các hiệp định có liên quan và đưa ra nhận xét, kết luận khác có thể giúp DSB
đưa ra khuyến nghị hoặc phán quyết phù hợp với quy định của WTO [56, Điều 11].
DSU quy định DSB phải thông qua báo cáo không sớm hơn 20 ngày (thời
gian 20 ngày để các thành viên xem xét báo cáo của Panel) và không quá 60 ngày
kể từ khi báo cáo được chuyển đến các thành viên. Trừ khi một bên tranh chấp
chính thức thông báo tới DSB về việc kháng cáo hoặc DSB dựa trên nguyên tắc
đồng thuận phủ quyết (không thông qua báo cáo) [56, Điều 16.4].
Nếu không có kháng cáo, quy trình giải quyết tranh chấp ngay lập tức sẽ
chuyển sang giai đoạn thực hiện sau khi DSB thông qua báo cáo của Ban hội thẩm.
Còn nếu có kháng cáo thì vụ kiện sẽ được xem xét lại ở cấp Phúc thẩm.
Quy định về xem xét của cấp Phúc thẩm
DSU không có nhiều quy định đối với quá trình xem xét lại của cấp phúc
thẩm, ngoại trừ Điều 16.4 của DSU có tham chiếu tới việc thông báo quyết định của
bên đưa ra kháng cáo và Điều 17 liên quan đến tới cơ cấu, chức năng và thủ tục của
Cơ quan phúc thẩm. Tuy nhiên, một số quy định chung trong DSU được áp dụng
đối với cả giai đoạn xem xét của Panel và phúc thẩm, ví dụ Điều 1, 3, 18 và 19 của
DSU. Ngoài ra, Cơ quan phúc thẩm đã thông qua Thủ tục làm việc riêng đối với
xem xét phúc thẩm trên cơ sở ủy quyền và thủ tục quy định trong Điều 17.9 DSU.
Những thủ tục này bao gồm các quy định chi tiết đối với kháng cáo và quy
định từ trách nhiệm, nghĩa vụ các thành viên của Cơ quan phúc thẩm cho đến thời
hạn nộp các tài liệu đệ trình. Lưu ý rằng thủ tục làm việc này khác với thủ tục làm
việc của Ban hội thẩm [56, Phụ lục 03]. Cơ quan Phúc thẩm đã xây dựng quy trình
thủ tục của mình lần đầu tiên vào năm 1996 trong tài liệu WT/AB/WP/1 của WTO
(sau đây gọi là Thủ tục làm việc của Cơ quan phúc thẩm). Thủ tục làm việc quy
định chi tiết cho việc kháng cáo, bao gồm nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các
thành viên Cơ quan Phúc thẩm, thời hạn làm việc cụ thể.
Tuy DSU không quy định cụ thể hạn chót cho việc kháng cáo, nhưng Điều
16.4 DSU ngụ ý rằng nó phải được thực hiện trước khi DSB thông qua báo cáo
(sớm nhất là 20 ngày hoặc chậm nhất là 60 ngày), nghĩa là tùy thuộc vào từng
29
trường hợp cụ thể kháng cáo có thể được đưa ra bất cứ thời điểm nào có thể sớm
hơn 20 ngày hoặc cũng có thể là 60 ngày, với điều kiện báo cáo chưa được DSB
thông qua. Vì vậy, bên thắng kiện có thể dựa vào đó rút ngắn thời gian kháng cáo
bằng cách đưa nội dung thông qua báo cáo vào chương trình nghị sự của DSB (nếu
cuộc họp đó diễn ra sau 20 ngày kể từ khi báo cáo được chuyển tới các thành viên).
Thông báo kháng cáo là một tuyên bố ngắn gọn nêu lên việc kháng cáo bao gồm,
các cáo buộc về sai sót đối với những vấn đề pháp lý và giải thích pháp luật của Ban
hội thẩm. Thông báo kháng cáo cũng sẽ trở thành một tài liệu chính thức mang ký
hiệu WT/DS#/#. Thủ tục làm việc cho phép bên kháng cáo rút lại kháng cáo bất kỳ
lúc nào. Bên kháng cáo sau khi rút đơn vẫn có thể nộp lại đơn, tuy nhiên cần phải
bảo đảm về mặt thời gian.
Điều 16.4 của DSU quy định chỉ có các bên tranh chấp (nguyên đơn và bị
đơn), không phải là các bên thứ ba mới có quyền kháng cáo. Có thể có hai hay
nhiều kháng cáo đối với cùng vấn đề tương tự: một từ bên thua và một từ bên thắng
không nhất trí với phần lý lẽ lập luận của Ban hội thẩm. Thủ tục làm việc của Cơ
quan phúc thẩm cũng đề cập đến hai lựa chọn về cách thức nhiều kháng cáo có thể
được nộp: một là, bên kháng cáo nộp thông báo kháng cáo cùng với việc giải trình
của mình, đồng thời bên khác cũng đưa kháng cáo với lập luận riêng của mình về
vấn đề đó. Hình thức kháng cáo này được gọi là “kháng cáo khác” hoặc “kháng cáo
chéo”; hai là, có hai hay nhiều bên sử dụng quyền kháng cáo. Nếu cả hai bên tham
gia tranh chấp phản đối báo cáo của Ban hội thẩm thì mỗi bên trong cùng thời gian
vừa là bên kháng cáo lại vừa là bên bị kháng cáo nhưng thường là đối với các phần
khác nhau trong báo cáo. Bên thứ ba có thể tham gia với tư cách như những quan
sát viên thụ động tại buổi tranh luận/phiên xét xử, với sự đồng ý của các bên.
Phạm vi, đối tượng của kháng cáo
Kháng cáo chỉ hạn chế trong phạm vi các vấn đề pháp lý, chỉ các vấn đề pháp lý
được nêu trong báo cáo và việc giải thích pháp luật của Panel [56, Điều 17.6]. Một
kháng cáo không thể đưa ra các vấn đề về tình tiết thực tế của báo cáo, ví dụ: việc
yêu cầu kiểm tra bằng chứng thực tế mới hoặc bằng cách xem xét lại bằng chứng
hiện có (đây là nhiệm vụ của Ban hội thẩm).
30
Thủ tục xét xử phúc thẩm
Chậm nhất 10 ngày sau khi nộp thông báo kháng cáo, bên kháng cáo phải
nộp các tài liệu bằng văn bản, trong đó đưa ra chi tiết các lý lẽ pháp lý giải thích
tại sao Ban hội thẩm có sai sót và kết luận, phán quyết nào mà bên kháng cáo
muốn Cơ quan phúc thẩm cần phải đưa ra xem xét. Thời gian 10 ngày là có vẻ
ngắn đối với các bên để chuẩn bị các tài liệu kháng cáo, tuy nhiên các bên có thể
chuẩn bị các tài liệu này ngay từ giai đoạn rà soát giữa kỳ, khi báo cáo tạm thời
được gửi tới các bên. Trong vòng 25 ngày kể từ ngày có thông báo kháng cáo, bên
bị kháng cáo phải nộp tài liệu giải trình để phản hồi lại những lý lẽ do bên kháng
cáo đưa ra, phải nêu rõ chi tiết liệu có hay không và theo căn cứ pháp lý để bác
kháng cáo, đồng thời phải đưa ra lý lẽ về phạm vi đồng ý và không đồng ý với
quyết định của Ban hội thẩm, trong thời gian này bên thứ ba cũng phải nộp các
văn bản đệ trình nêu rõ quan điểm của mình.
Trong khoảng 30 - 45 ngày kể từ ngày có thông báo kháng cáo, Hội đồng xét
xử của Cơ quan phúc thẩm được phân công xem xét sẽ tổ chức phiên điều trần
nhưng được giữ bí mật [56, Điều 17.10]. Tại phiên điều trần này, các bên tham gia
kháng cáo (bao gồm cả bên thứ ba) sẽ trình bày một cách ngắn gọn ý kiến của mình.
Sau đó Hội đồng xét xử sẽ đặt ra những câu hỏi tới các bên (tương tự như các phiên
điều trần chính thức của Panel). Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa 2 phiên họp của
Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm. Cụ thể là:
- Cơ quan phúc thẩm chỉ tiến hành một phiên điều trần để xem xét kháng cáo;
- Các bên chỉ được phát biểu một cách ngắn gọn đệ trình của mình;
- Phiên điều trần này chỉ diễn ra trong thời gian không quá một ngày;
- Các bên tham gia không được đặt các câu hỏi trực tiếp tại phiên họp.
Nghị án và chuẩn bị báo cáo của Cơ quan phúc thẩm
Sau phiên điều trần, Hội đồng xét xử sẽ trao đổi quan điểm về các vấn đề đưa
ra trong kháng cáo với 4 thành viên khác của Cơ quan phúc thẩm (không tham gia
Hội đồng xét xử này). Việc trao đổi quan điểm như vậy nhằm bảo đảm hiệu quả của
31
nguyên tắc làm việc tập thể và bảo đảm nhất quán, gắn kết các án lệ của Cơ quan
phúc thẩm. Nếu không bảo đảm được nguyên tắc này có thể sẽ có các án lệ không
nhất quán hoặc khác nhau và sẽ làm mất đi tính an toàn và dự đoán trước được của
hệ thống thương mại đa phương [56, Điều 3.2]. Các thành viên của Cơ quan phúc
thẩm và Hội đồng xét xử phải cố gắng đưa ra quyết định trên cơ sở đồng thuận. Nếu
điều này không thể, việc biểu quyết theo đa số sẽ được tiến hành. Tất cả quá trình
nghị án của Cơ quan phúc thẩm đều được giữ bí mật [56, Điều 7.10], đồng thời
không có giai đoạn xem xét tạm thời (không có báo cáo giữa kỳ trong quá trình
phúc thẩm). Sau khi báo cáo được thông qua lần cuối và được ký bởi các thành viên
thì báo cáo sẽ được dịch ra các ngôn ngữ chính thức khác của WTO.
Kết luận và kiến nghị của Cơ quan phúc thẩm
Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm gồm phần mô tả, phần nhận định và quyết
định. Cụ thể như sau:
- Phần mô tả bao gồm: thông tin chung về các tình tiết thực tế, các vấn đề
về thủ tục của tranh chấp và tóm tắt các lý lẽ của các bên và bên thứ ba;
- Phần nhận định và quyết định: Cơ quan phúc thẩm giải quyết chi tiết
từng vấn đề được kháng cáo, nêu chi tiết các kết luận và lý do, lập luận cho từng kết
luận đó và tuyên rõ là có giữ nguyên hay không các nhận định và kết luận bị kháng
cáo hoặc sửa đổi hoặc bác bỏ. Phần này cũng bao gồm những kết luận bổ sung thích
hợp, ví dụ có hay không việc bên bị khiếu kiện có vi phạm một quy định khác của
WTO so với quy định vi phạm được Ban hội thẩm đưa ra.
Khi kết luận là các biện pháp không phù hợp với hiệp định thì Cơ quan phúc
thẩm đề nghị thành viên liên quan đưa các biện pháp đó sao cho phù hợp với các
nghĩa vụ của hiệp định liên quan. Trên thực tế, cơ quan phúc thẩm thường tư vấn
các bên nên đạt được một thỏa thuận để giải quyết tranh chấp phù hợp với các Hiệp
định. Cuối cùng, báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được chuyển tới các thành viên
WTO và trở thành tài liệu công khai mang mã số WT/DS#/AB/R.
Liên quan đến các nội dung về báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, DSU quy
định rằng Cơ quan Phúc thẩm phải giải thích và giải quyết từng vấn đề pháp lý liên
32
quan tới những nội dung trong báo cáo của Panel đã bị kháng cáo. Có hai cách tiếp
cận phổ biến trong thủ tục của nhiều Hội đồng phúc thẩm khi Hội đồng chỉ có thẩm
quyền hạn chế đối với các vấn đề pháp luật: Một là, phải quyết định những vấn đề
còn lại cần giải quyết ở cấp phúc thẩm. Hai là, gửi lại hồ sơ vụ kiện này cho cơ
quan/người xem xét tình tiết (Ban hội thẩm). Thẩm quyền gửi vụ kiện trở lại cấp
thấp hơn được gọi là thẩm quyền hủy quyết định và gửi trả lại hồ sơ, tuy nhiên điều
này lại không tồn tại trong hệ thống WTO. Do đó, việc quyết định các vấn đề còn
lại trở nên bắt buộc và cần thiết trong WTO. Trong nhiều trường hợp, Cơ quan phúc
thẩm đã thực hiện việc “phân tích pháp lý” nhằm giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên,
điều này chỉ có thể xảy ra khi việc điều tra và thu thập tình tiết trong báo cáo của
Panel phải đầy đủ hoặc các tình tiết không bị tranh chấp trong báo cáo cho phép Cơ
quan phúc thẩm đưa ra và quyết định về những vấn đề còn lại, nếu không đáp ứng
được các điều kiện này, Cơ quan phúc thẩm không thể hoàn thành việc phân tích
pháp lý bởi vì không được phép đưa ra quyết định về tình tiết mới.
Thời hạn hoàn thành việc xét xử phúc thẩm
Thủ tục xem xét phúc thẩm phải được hoàn tất trong vòng 60 ngày, và trong
mọi trường hợp không được quá 90 ngày kể từ ngày ra thông báo kháng cáo. Khi
thời gian xem xét phúc thẩm nhiều 60 ngày, Cơ quan Phúc thẩm phải thông báo cho
DSB, nêu những lý do cho sự chậm trễ và đưa ra một khoảng thời gian dự kiến
thông qua báo cáo [56, Điều 17.5]. Trong một vài trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt,
và với sự đồng ý của những bên tham gia, Cơ quan Phúc thẩm ban hành báo cáo
chậm nhất trong vòng 90 ngày. Trên thực tế, hầu hết việc lưu hành báo cáo thường
được diễn ra sau 90 ngày, bởi vì việc hoàn thiện quy trình trong vòng 60 ngày là
không khả thi trong thực tế, khi mà các đệ trình cuối cùng được nộp vào ngày thứ
25, buổi xét xử (điều trần) sẽ diễn ra vào ngày 30-40, và khoảng thời gian còn lại là
quá ít vừa để cơ quan phúc thẩm đưa ra báo cáo của mình và vừa hoàn thành công
việc dịch báo cáo sang các thứ tiếng khác để gửi tới các thành viên.
Thông qua báo cáo của Cơ quan phúc thẩm
DSB phải thông qua báo cáo của Cơ quan phúc thẩm và các bên phải chấp
33
nhận vô điều kiện, trừ khi DSB thống nhất quyết định không thông qua báo cáo này
(trên nguyên tắc đồng thuận nghịch) trong vòng 30 ngày sau khi báo cáo được gửi
cho các thành viên. Giống như việc thông qua báo cáo của Ban hội thẩm, nếu trong
thời gian này không có chương trình nghị sự của DSB diễn ra thì DSB phải tổ chức
một cuộc họp để thông qua báo cáo [56, Điều 17.14].
Mặc dù Điều 17.14 của DSU không đề cập tới báo cáo của ban hội thẩm, tuy
nhiên cần phải hiểu rằng báo cáo của ban hội thẩm và của cơ quan phúc thẩm sẽ
cùng được thông qua sau khi cơ quan phúc thẩm phê chuẩn đồng ý; sửa đổi hoặc
bác bỏ những nội dung trong Báo cáo của Ban hội thẩm.
Việc thực thi phán quyết của “bên thua kiện”
Điều 3.7 của DSU quy định rằng trong trường hợp không có một thỏa thuận
về giải pháp mà hai bên đạt được để giải quyết tranh chấp thì mục tiêu đầu tiên của
cơ chế giải quyết tranh chấp là nhằm bảo đảm thu hồi các biện pháp đã vi phạm,
không phù hợp với hiệp định WTO. Điều 21.1 DSU cũng cho biết thêm rằng các
bên cần phải tuân thủ đầy đủ và kịp thời các khuyến nghị hoặc phán quyết của DSB,
đây là một nhân tố cần thiết để bảo đảm tính hiệu quả của DSM. Do vậy, nhiệm vụ
đầu tiên của bên “thua kiện” là thông báo cho DSB tại cuộc họp trong vòng 30 ngày
sau khi các báo cáo được thông qua về dự định thực hiện các khuyến nghị và phán
quyết của DSB [56, Điều 21.3]. Trên thực tế việc tuân thủ ngay lập tức các khuyến
nghị và phán quyết của DSB đối với các thành viên là điều không thực tế, nếu có vi
phạm về các biện pháp trong pháp luật thành viên đó thì nhất thiết phải có thời gian
để thay đổi. Các quốc gia liên quan thường tuyên bố rằng họ không thể ngay lập tức
thực hiện được các khuyến nghị đó.
Để xác định thời hạn hợp lý, được tính từ ngày thông qua các báo cáo, Điều
21.3 của DSU chỉ rõ ba cách thức khác nhau. Đó là:
- Do thành viên liên quan đề xuất và được DSB phê chuẩn đồng thuận;
- Được các bên tranh chấp cùng nhất trí trong vòng 45 ngày sau khi thông
qua các báo cáo; và
- Được xác định bởi trọng tài.
Trong trường hợp, DSB không chấp thuận các đề xuất của các bên, hoặc các
34
bên không thể thống nhất được thời gian hợp lý thì các bên có thể xác định thời gian
thông qua quyết định của trọng tài [56, Điều 21.3]. Một trong các bên sẽ gửi yêu
cầu trọng tài xác định thời gian thực hiện tới Tổng Giám đốc WTO. Nếu các bên
không thống nhất được trọng tài viên (một cá nhân hoặc một nhóm người), thì Tổng
Giám đốc chỉ định các trọng tài viên trong vòng 10 ngày, sau khi đã tham vấn các
bên. Trong thời gian 90 ngày kể từ khi báo cáo được thông qua trọng tài viên phải
xác định khoảng thời gian hợp lý để thực hiện và khoảng thời gian đó không được
vượt quá 15 tháng. Hoặc nếu Ban hội thẩm hoặc cơ quan phúc thẩm xét thấy cần phải
kéo dài thời gian thực hiện thì thời gian đó phải được cộng vào khoảng thời gian mà
trọng tài đưa ra với điều kiện không được vượt quá 18 tháng [56, Điều 21.4]. DSB là
cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc thực thi các báo cáo [56, Điều 2].
Trong trường hợp các bên không thực hiện phán quyết
Nếu bên thua kiện không điều chỉnh biện pháp của mình phù hợp với các
nghĩa vụ WTO trong thời hạn hợp lý, bên thắng kiện có quyền sử dụng các biện
pháp tạm thời, có thể là yêu cầu bồi thường hoặc đình chỉ các nghĩa vụ. Các biện
pháp tạm thời này không được ưu tiên hơn việc thực hiện đầy đủ các khuyến nghị
và phán quyết của DSB.
Bồi thường: Nếu các thành viên không thực hiện việc tuân thủ các khuyến
nghị, kết luận của cơ quan xét xử để đưa các biện pháp đã vi phạm cho phù hợp với
các Hiệp định trong WTO trong khoảng thời gian hợp lý, thì bên thua kiện phải đàm
phán với bên thắng kiện nhằm đưa ra một thỏa thuận bồi thường có thể chấp nhận
được giữa hai bên [56, Điều 22.2]. Việc bồi thường này không có nghĩa là bên thua
kiện phải thanh toán một khoản tiền, mà đúng hơn bên thua kiện sẽ phải đưa ra một
lợi ích tương ứng với lợi ích đã bị triệt tiêu hoặc phương hại do các biện pháp mà họ
áp dụng. Các bên tranh chấp phải thống nhất về bồi thường và phải phù hợp với các
hiệp định trong WTO [56, Điều 22.1], quy định này dường như làm cho bên thua
kiện phải cân nhắc và khó có thể đưa ra trong giai đoạn này, bởi vì “các biện pháp
phù hợp với các Hiệp định” đó cũng nhất quán với nguyên tắc Tối huệ quốc. Do đó
các thành viên khác (ngoài bên thắng kiện) cũng có thể sẽ được hưởng lợi từ việc
35
bồi thường đó (ví dụ như: các hình thức cắt giảm thuế quan…), bên thua kiện có thể
sẽ bị mất đi một lợi ích đáng kể từ việc cắt giảm thuế quan và vẫn phải áp dụng cho
các thành viên khác; còn điều mà bên thắng kiện muốn là việc họ sẽ được hưởng
một lợi ích độc quyền nào đó từ bên thua kiện. Điều này làm cho việc bồi thường
kém hấp dẫn đối với các bên (cả bên thua kiện và bên thắng kiện). Tuy nhiên, cũng
có thể khắc phục trong một trừng mực nào đó nếu các biện pháp bồi thường (như
giảm thuế quan) nhắm tới lợi ích thương mại mà bên thắng kiện có ưu thế hơn hẳn
so với các thành viên khác.
Đình chỉ thực hiện nghĩa vụ hay các biện pháp “trả đũa”, “trừng phạt”
Nếu trong vòng 20 ngày sau khi hết thời hạn hợp lý, các bên không nhất trí
được một sự bồi thường thỏa đáng, thì bên thắng kiện có thể yêu cầu DSB cho phép
áp dụng các biện pháp trừng phạt. Về mặt kỹ thuật, điều này gọi là “đình chỉ các
nhượng bộ hoặc nghĩa vụ khác theo các hiệp định” [56, Điều 22.2], có nghĩa là bên
thắng kiện sẽ tạm thời không thực hiện (đình chỉ) một số nghĩa vụ phù hợp, hoặc
các nghĩa vụ tương ứng khác theo quy định của WTO đối với bên thua kiện. Các
biện pháp trừng phạt này cần phải có sự đồng ý của DSB. Đây là hậu quả cuối cùng
và nghiêm trọng nhất mà một thành viên thua kiện gặp phải trong hệ thống giải
quyết tranh chấp WTO [56, Điều 3.7].
Việc đình chỉ thực hiện nghĩa vụ chỉ được áp dụng một cách đơn lẻ đối với
các bên có liên quan, và luôn được DSB theo dõi việc thực hiện, đây cũng là một
trong những chủ đề được bàn tới trong chương trình nghị sự của. Trừng phạt, trả
đũa phải được thu hồi sau khi các bên liên quan đã thực hiện đầy đủ phán quyết,
khuyến nghị của cơ quan xét xử. Phần lớn quan sát viên nhất trí rằng đình chỉ các
nghĩa vụ do việc không thực hiện đúng thời hạn là có vấn đề vì nó thường dẫn tới
việc bên khởi kiện đối phó với một hàng rào thương mại không phù hợp với WTO
bằng một hàng rào khác. Điều này trái với sự tự do hóa thương mại. Đồng thời, các
biện pháp tạo nên các hàng rào thương mại đều có hai mặt, vì chúng gần như luôn
có hại về kinh tế không chỉ cho thành viên là mục tiêu áp dụng mà còn cho cả thành
viên áp dụng những biện pháp đó. Như vậy, điều quan trọng mà chúng ta cần lưu ý
36
ở đây là: Các biện pháp trả đũa, trừng phạt là phương pháp cuối cùng của DSM và
nó ít được sử dụng trên thực tế cho các vụ việc.
Quy định về việc đình chỉ thực hiện nghĩa vụ
Mức độ đình chỉ các nghĩa vụ được DSB cho phép phải “tương đương” với
mức độ bị triệt tiêu hoặc phương hại [56, Điều 22.4]. Điều này có nghĩa là phản ứng
trả đũa của bên khởi kiện không thể đi xa hơn mức độ thiệt hại do bên bị kiện gây
ra, đồng thời việc đình chỉ các nghĩa vụ là hướng về tương lai chứ không có tính hồi
tố, nó chỉ áp dụng cho giai đoạn sau khi DSB đã cho phép, không phải toàn bộ giai
đoạn mà biện pháp liên quan được áp dụng hay toàn bộ giai đoạn tranh chấp.
Về các loại nghĩa vụ bị đình chỉ, DSU đặt ra yêu cầu nhất định. Nguyên tắc
áp dụng các biện pháp trừng phạt sẽ được thực hiện trong các lĩnh vực tương tự như
các vi phạm làm vô hiệu hóa hoặc làm suy giảm lợi ích thương mại đã được nêu ra,
theo Điều 22.3 (a) DSU. Với mục đích này, các hiệp định thương mại đa biên được
chia thành ba nhóm theo ba phần của Phụ lục 1 Hiệp định WTO [56, Điều 22.3 (g)].
Nguyên tắc chung khi xem xét việc trả đũa là bên khởi kiện trước tiên phải
cố gắng đình chỉ các nghĩa vụ trong cùng một lĩnh vực mà cơ quan xét xử đã xác
định là có vi phạm [56, Điều 22.3 (a)]. Tuy nhiên, nếu bên khởi kiện thấy rằng là
không thực tế hoặc không hiệu quả khi trả đũa trong cùng lĩnh vực đó, thì các biện
pháp trừng phạt có thể áp dụng trong một lĩnh vực khác trong cùng một hiệp định
[56, Điều 22.3 (b)]. Hoặc, nếu bên khởi kiện thấy rằng là không thực tế và không hiệu
quả để trả đũa trong những lĩnh vực cùng hiệp định, và với những tình huống nghiêm
trọng, thì có thể thực hiện theo một hiệp định có liên quan khác [56, Điều 22.3 (c)].
Mục đích của nguyên tắc này là nhằm giảm thiểu tối đa cơ hội thực hiện các biện
pháp vào những lĩnh vực không liên quan, đồng thời cho phép hành động trả đũa
đạt được hiệu quả cao nhất.
DSB phải cho phép đình chỉ các nghĩa vụ trong vòng 30 ngày kể từ khi hết
thời hạn hợp lý, trừ khi cơ quan này nhất trí quyết định từ chối yêu cầu này. Thông
qua nguyên tắc Đồng thuận nghịch. Nói cách khác, việc phê chuẩn gần như tự động.
Nếu các bên không đồng ý về hình thức trả đũa do bên khởi kiện đề xuất, thì có thể
yêu cầu trọng tài xác định [56, Điều 22]. Thành phần của trọng tài phải do Ban hội
37
thẩm ban đầu tiến hành, nếu các thành viên chấp nhận, hoặc do trọng tài viên được
Tổng Giám đốc chỉ định. Điều 22.6 của DSU cũng quy định việc xét xử của trọng tài
phải được hoàn tất trong vòng 60 ngày sau ngày thời hạn hợp lý kết thúc và các bên
chỉ được phép thực hiện các biện pháp trả đũa sau khi đã có phán quyết của trọng tài.
Trọng tài viên sẽ xem xét mức độ tương đương trong các biện pháp trả đũa,
và tuân thủ các quy tắc xác định về hình thức trả đũa chéo theo Điều 22.3 DSU.
Quyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm đối với các bên và không được yêu
cầu giải quyết bằng trọng tài lần thứ hai. Việc áp dụng trả đũa sẽ kết thúc khi các
biện pháp được coi là không phù hợp với các Hiệp định có liên quan được loại bỏ;
hoặc khi thành viên đã thực hiện đầy đủ những khuyến nghị hoặc phán quyết của cơ
quan xét xử; hoặc hai bên đã đạt được một giải pháp thoả đáng.
DSB phải tiếp tục duy trì giám sát việc thực hiện những khuyến nghị hoặc
phán quyết đã được thông qua, kể cả trường hợp đã thực hiện bồi thường hoặc các
trường hợp đã thực hiện trả đũa nhưng những khuyến nghị yêu cầu điều chỉnh một
biện pháp cho phù hợp với những hiệp định có liên quan vẫn chưa được thực hiện.
1.2.4. Giải quyết tranh chấp không thông qua các thủ tục tố tụng
Sự tham gia của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong quá trình tố tụng
là một nhân tố quan trọng trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO. Tuy
nhiên, có rất nhiều cách khác để giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO mà
không cần thiết phải dùng tới các thủ tục tố tụng trên.
Trên thực tế, các bên thường cố gắng tìm một giải pháp hai bên thoả thuận
trong đàm phán song phương hoặc với sự giúp đỡ của các phương thức giải quyết
tranh chấp như môi giới, hoà giải hoặc trung gian. Ngoài ra, họ cũng có thể thoả
thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài viên.
Giải pháp các bên cùng thống nhất đưa ra một thỏa thuận
Việc các bên cùng thỏa thuận và đưa ra một giải pháp chung thống nhất phù
hợp với quy định của WTO được DSU khuyến khích và ưu tiên thực hiện khi xảy ra
tranh chấp [56, Điều 3.7]. Tuy nhiên không giống với bất cứ hệ thống giải quyết
tranh chấp thông thường, DSU không cho phép các bên tự do thỏa thuận về bất cứ
38
điều khoản nào mà họ muốn. Các giải pháp này chỉ được chấp nhận khi nó phù hợp
với các Hiệp định trong WTO, và không làm vô hiệu hóa hay làm tổn hại tới lợi ích
của các thành viên khác. Trong quá trình giải quyết tranh chấp các bên có thể tiến
hành tham vấn song phương tại bất kỳ giai đoạn nào để đưa ra giải pháp thống nhất
và phải được thông báo tới DSB, các Ủy ban và các Hội đồng có liên quan. Cũng có
nghĩa rằng, thỏa thuận này sẽ được thông báo tới tất cả các thành viên WTO. Nhằm
bảo đảm cho những thỏa thuận đó phải phù hợp với các Hiệp định, và cũng không
được vô hiệu hóa hoặc tổn hại tới lợi ích của bên thứ ba.
Giải quyết tranh chấp thông qua môi giới, hòa giải và trung gian
Bên cạnh thủ tục tham vấn, DSU còn quy định các hình thức giải quyết tranh
chấp mang tính “chính trị” khác như môi giới, trung gian, hoà giải. Đôi khi sự tham
gia của một bên độc lập, không liên quan đến các tranh chấp cũng có thể giúp các bên
tìm ra được một một giải pháp thích hợp. Các hình thức này được tiến hành trên cơ sở
tự nguyện, bí mật giữa các bên tại bất kỳ thời điểm nào sau khi phát sinh tranh chấp
(ngay cả khi Ban hội thẩm đã được thành lập và đã tiến hành hoạt động) [56, Điều 5].
Tương tự như vậy, thủ tục này cũng có thể chấm dứt vào bất kỳ lúc nào. DSU
không xác định bên nào (nguyên đơn hay bị đơn) có quyền yêu cầu chấm dứt nên có
thể hiểu là tất cả các bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu chấm dứt thủ tục.
Chức năng môi giới, trung gian, hoà giải có thể do Tổng Thư ký WTO đảm
nhiệm. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định về việc liệu một cá nhân hoặc một tổ
chức có thể đứng ra đảm trách vai trò môi giới, trung gian, hoà giải này không. Với
các ưu thế nhất định như tiết kiệm được về thời gian, tiền bạc, giữ được quan hệ
hữu hảo giữa các bên tranh chấp… các phương thức chủ yếu dựa trên đàm phán
ngoại giao này được DSU đặc biệt khuyến khích sử dụng.
Giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài
Đây là một hình thức giải quyết tranh chấp thay thế cho việc xét xử thông
qua Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm. Các Bên tranh chấp có thể thoả thuận
lựa chọn cơ chế trọng tài độc lập để giải quyết tranh chấp của mình mà không cần
sử dụng đến cơ chế của DSU. Tuy nhiên, DSU chỉ cho phép sử dụng trọng tài giải
39
quyết các tranh chấp trong đó những vấn đề tranh chấp đã được các bên xác định
một cách rõ ràng và thống nhất [56, Điều 25.1]. Các bên có thể tùy ý lựa chọn thủ
tục và lựa chọn các trọng tài viên. Trong trường hợp này, quyết định lựa chọn giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài độc lập phải được các Bên tranh chấp thông báo đến
tất cả thành viên WTO trước khi thủ tục tố tụng được bắt đầu. Các thành viên WTO
có thể tham gia thủ tục tố tụng nếu được các Bên tranh chấp đồng ý.
Quyết định giải quyết của trọng tài phải được các bên tuân thủ nghiêm túc và
có nghĩa vụ thông báo về quyết định này cho DSB, cho Hội đồng hoặc cho Uỷ ban
của Hiệp định có liên quan. Quy tắc giải quyết tranh chấp trong WTO (DSU) quy
định quyết định của trọng tài phải phù hợp với các hiệp định có liên quan và không
được gây thiệt hại cho bất kỳ thành viên nào khác của WTO. Bất kỳ thành viên nào
cũng có quyền đưa ra câu hỏi liên quan đến quyết định này.
1.3. Những vấn đề đặc thù trong giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs
Có thể thấy giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO, thường có những
đặc trưng riêng gắn liền với những đặc trưng của từng Hiệp định. Hiệp định TRIMs
cũng vậy, có những đặc trưng riêng về nội dung, cũng như về thủ tục giải quyết
tranh chấp liên quan tới đầu tư và thương mại.
1.3.1. Đặc thù về nội dung giải quyết tranh chấp
Thứ nhất, TRIMs về cơ bản là một Hiệp định nhằm mục đích giải thích và
làm rõ về việc áp dụng các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại theo quy định
trong phạm vi của GATT 1994 đặc biệt là Điều III và Điều XI, vì vậy ngoài việc
viện dẫn các điều khoản của TRIMs, nội dung trong các vụ tranh chấp thường được
viện dẫn các quy định của GATT 1994 về hàng hóa, về các trường hợp ngoại lệ [55,
Điều 3], đặc biệt là Điều III và Điều XI;
Thứ hai, Như đã trình bày ở trên, phạm vi áp dụng của TRIMs “chỉ áp dụng
đối các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại hàng hóa” [55, Điều 1]. Do vậy,
có thể thấy TRIMs chỉ áp dụng đối với hàng hóa, không áp dụng đối với dịch vụ
trong khuôn khổ WTO. Vì vậy trong các vụ tranh chấp liên quan tới TRIMs các
hiệp định quy định riêng về dịch vụ thường không được đề cập tới;
40
Thứ ba, chủ đề chính của TRIMs xoay quanh các biện pháp đầu tư liên quan
tới thương mại, tuy nhiên TRIMs lại không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là
“biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại”. Vì vậy, trong mỗi vụ tranh chấp Panel
sẽ căn cứ vào thực tế, những tình tiết cụ thể để đưa ra nhận xét, đánh giá, giải thích
liệu các biện pháp mà các bên đưa ra có phải là “biện pháp đầu tư liên quan tới
thương mại” hay không. Điều này càng làm cho chúng ta thấy rõ hơn vai trò quan
trọng của Ban hội thẩm trong việc giải thích pháp luật đối với các vụ tranh chấp;
Thứ tư, vì bản chất của TRIMs nhằm hạn chế các biện pháp ảnh hưởng xấu
tới tự do hóa thương mại, sự luân chuyển vốn, hàng hóa qua biên giới các quốc gia
thành viên. Do vậy, nội dung của TRIMs không liên quan tới các khoản thuế, phí
đối với hàng hóa trong nước; cũng như các khoản trợ cấp và mua sắm của Chính
phủ của các nước thành viên. Vì thế các quốc gia là bị đơn có thể sẽ viện dẫn các
quy định đó nhằm biện hộ cho những “hành vi” của mình.
1.3.2. Đặc thù về thủ tục
Có thể nhận thấy rằng, các vấn đề đặc trưng về nội dung nêu trên cũng sẽ
tương ứng với những đặc trưng về thủ tục trong các tranh chấp liên quan tới TRIMs.
Thứ nhất, vì TRIMs có mối quan hệ mật thiết với GATT 1994 nên các căn
cứ pháp lý trong yêu cầu tham vấn ngoài các điều khoản liên quan tới TRIMs, bên
nguyên đơn cần phải đưa ra các điều khoản quy định tại GATT, đặc biệt là Điều III
và Điều XI; cũng vì lý do này, cùng với mục đích giải thích rõ hơn quy định tại
Điều III và Điều XI GATT 1994 nên trong quá trình xem xét của mình theo yêu cầu
của bên nguyên đơn hoặc tùy thuộc vào tình tiết của các vụ việc Ban hội thẩm có
thể bỏ qua không xem xét việc vi phạm theo Điều 2 của TRIMs nếu các biện pháp
đó vi phạm Điều III.4 của GATT [62, tr. 249].
Thứ hai, vì TRIMs áp dụng cho hàng hóa, nên quá trình giải quyết tranh chấp
liên quan tới TRIMs có thể được rút ngắn thời gian giải quyết theo quy định đối với
các loại hàng hóa dễ hư hỏng (như các mặt hàng nông sản, thủy sản...);
Thứ ba, quá trình xem xét, đánh giá, kết luận của Ban hội thẩm liên quan tới
TRIMs luôn gắn liền với quá trình “giải thích pháp luật”. Cụ thể là trong báo cáo
41
của Ban hội thẩm sẽ có một phần giải thích, đưa ra những đối số thực tế để xem xét
các biện pháp mà các bên đưa ra có phải là TRIMs hay không, thông qua việc giải
thích các thuật ngữ “các biện pháp đầu tư”; “liên quan tới thương mại”;
Thứ tư, các biện pháp được kết luận là TRIMs được xem xét và giải thích
theo một trình tự pháp lý nhất định có liên quan tới quy định của GATT. Đầu tiên
Panel sẽ xem xét các biện pháp đó có vi phạm GATT (Điều III hoặc Điều XI) hay
không. Tiếp đó, sẽ đối chiếu với danh mục minh họa tại phụ lục của TRIMs, để xác
định có vi phạm TRIMs hay không. Nếu các biện pháp được nêu ra vi phạm GATT,
đồng thời có những đặc điểm mô tả giống với danh mục minh họa tại phụ lục của
TRIMs, thì Panel mới kết luận vi phạm TRIMs. Ban hội thẩm cũng lưu ý rằng việc
một biện pháp được tuyên là vi phạm TRIMs không thích hợp để suy ra từ Danh
mục minh họa của nó, mà trước hết phải dựa trên quy định của GATT, bởi vì Danh
mục minh họa đó có các đặc điểm được đề cập tới luôn luôn vi phạm GATT.
42
Chương 2
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN TỚ I HIỆP
ĐI ̣NH TRIMS VÀ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƢỚC
2.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs
2.1.1. Tổng quan các vụ tranh chấp
Kể từ khi được thành lập cho tới tháng 11/2016, hệ thống giải quyết tranh
chấp của WTO đã tiếp nhận 42 yêu cầu tham vấn giải quyết tranh chấp liên quan tới
TRIMs trong tổng số 514 vụ việc của WTO, tương ứng với tỷ lệ 8,2%, có thể thấy
đây là con số khá khiêm tốn so với tổng số 514 vụ việc. Tuy nhiên, ngoại trừ Hiệp
định GATT với 418 vụ việc chiếm 81,3%, các tranh chấp liên quan tới TRIMs so
với các hiệp định khác cũng khá tương đương nhau như: Hiệp định chung về
Thương mại dịch vụ (GATS) 24 vụ việc; Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật đối với
Thương mại (TBT) 52 vụ việc; Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) 34 vụ việc (6,7%); Hiệp định thủ tục cấp phép
nhập khẩu (ILP) 46 vụ việc (8,9%); Hiệp định về các biện pháp tự vệ (SG) 46 vụ
việc (9%); Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (SCM) 113 vụ việc
(22%); Hiệp định về Nông nghiệp (AOA) 80 vụ việc (15,6%).
Có thể thấy rằng vấn đề về đầu tư và thương mại trong WTO không chỉ được
quy định tại TRIMs mà nó còn được quy định tại rất nhiều các hiệp định song
phương, cũng như khu vực. Trong đó, giải quyết tranh chấp liên quan tới đầu tư
thường có những quy định riêng biệt nhằm bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài, cùng với
đó là việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện chính phủ một nước thành viên
ra cơ quan tài phán quốc tế. Như tranh chấp giữa nhà đầu tư với Chính phủ nước
tiếp nhận đầu tư (tham gia công ước) được giải quyết thông qua Trung tâm Giải
quyết Tranh chấp Đầu tư Quốc tế (International Centre for Settlement of Investment
Disputes - ICSID) được thành lập theo Công ước về việc giải quyết tranh chấp đầu
tư quốc tế giữa các quốc gia thành viên và các công dân của các quốc gia thành viên
được ký kết tại Washington vào ngày 18/3/1965. Điều này cũng có thể lý giải về số
lượng vụ việc khiêm tốn đối với các tranh chấp liên quan tới TRIMs.
43
Các quốc gia là nguyên đơn
Trong số 42 vụ tranh chấp chỉ có 15 quốc gia thành viên là nguyên đơn như:
Hoa Kỳ (15 vụ việc chiếm 37%); Ecuador; Guatemala; Honduras; Mexico (05 thành
viên cùng một vụ kiện DS27); Liên minh Châu Âu (09 vụ việc chiếm 22%); Nhật
Bản (08 vụ việc chiếm 20%); Panama; Brazil; Canada; Mexico (02 vụ việc);
Argentina (02 vụ việc); Trung Quốc; Liên bang Nga; Ấn Độ.
Có thể thấy rằng, phần lớn các quốc gia có nền kinh tế phát triển thường là
nguyên đơn trong các vụ tranh chấp trong đó phải kể tới Hoa Kỳ (37%); Liên
minh Châu Âu (22%); Nhật Bản (20%); các quốc gia đang phát triển thường chỉ
tham gia hạn chế với tư cách là nguyên đơn trong 01 vụ việc liên quan tới TRIMs
duy chỉ có Mexico và Argentina là nguyên đơn của 02 vụ việc. Có thể lý giải cho
việc các thành viên phát triển (chỉ tính riêng Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản) chiếm tỉ lệ
áp đảo 79% trong các vụ việc với tư cách là nguyên đơn là: những thành viên này
có nền kinh tế phát triển, sản phẩm của họ vươn tới tất cả thị trường trên thế giới
đặc biệt là khu vực các quốc gia đang phát triển, chính vì vậy các quốc gia đang
phát triển buộc phải sử dụng TRIMs như là một trong những biện pháp bảo vệ
ngành sản xuất trong nước, hướng các nguồn đầu tư nước ngoài theo định hướng
phát triển của mình.
Các quốc gia là bị đơn
Tỉ lệ nghịch với phần trăm (%) vụ việc với tư cách là nguyên đơn, các quốc
gia phát triển lại chiếm tỉ lệ rất ít trong số các vụ việc với tư cách là bị đơn. Cho tới
thời điểm hiện tại đã có 13 quốc gia thành viên là bị đơn trong các vụ việc liên quan
đến các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, trong đó phải kể tới các thành
viên có nền kinh tế lớn, hệ thống thương mại phát triển như Liên minh châu Âu (06
vụ việc); Hoa Kỳ (02 vụ việc); Liên bang Nga (02 vụ việc) hầu hết các yêu cầu này
đến từ các thành viên là quốc gia đang phát triển. Tuy vậy các thành viên đang phát
triển lại thường sử dụng TRIMs và là bị đơn trong các vụ kiện như: Brazil (06 vụ
việc); Trung Quốc (05 vụ việc); Canada (04 vụ việc); Indonesia (04 vụ việc);
Argentina (04 vụ việc); Philippines (03 vụ việc); Ấn Độ (03 vụ việc); Venezuela;
Cộng hòa Bolivia; Thổ Nhĩ Kỳ. Như vậy có thể thấy rằng TRIMs thường được các
44
quốc gia đang phát triển sử dụng nhiều hơn so với các quốc gia phát triển, điều này
cũng được giải thích thông qua quá trình đàm phán Hiệp định với sự bất đồng về lợi
ích giữa các thành viên phát triển và thành viên đang phát triển.
Tình hình giải quyết tranh chấp
Tính tới tháng 11/2016, DSB đã thông qua báo cáo của Ban hội thẩm cũng
như báo cáo của cơ quan phúc thẩm trong 20 vụ việc (chiếm 49%) trên tổng số 41
vụ việc liên quan tới TRIMs. Trong số 22 vụ việc còn lại thì 05 vụ việc (chiếm
12%) đang trong quá trình xét xử; 11 vụ việc (chiếm 24%) dừng lại ở quá trình
tham vấn và không có thông tin gì thêm (có thể vì một lý do nào đó trong quá trình
tham vấn bên nguyên đơn đã từ bỏ, không theo đuổi vụ kiện) và 06 vụ việc (chiếm
15%) các bên đã đưa ra một giải pháp chung thống nhất trong việc giải quyết tranh
chấp. Có thể nhận thấy rằng, hầu hết các phán quyết đưa ra của DSB liên quan tới
TRIMs đều được các thành viên tuân thủ một cách tự nguyện, trong đó có 16 vụ
việc bên thua kiện thông báo với DSB rằng họ đã thực hiện đầy đủ phán quyết của
DSB, còn lại 04 vụ việc đang trong giai đoạn thực hiện.
Bảng 2.1. Tình hình giải quyết các tranh chấp liên quan tới TRIMs
Tình hình vụ việc
Số vụ
việc
Vụ việc mang ký hiệu số
Dừng lại ở quá trình tham vấn; hoặc
ban hội thẩm đã được thành lập và
không có thông tin gì thêm
11
DS51; DS65; DS81; DS195;
DS224; DS275; DS443; DS446;
DS452; DS459; DS510
Đang trong quá trình xét xử 05
DS462; DS463; DS472; DS476;
DS497
Báo cáo đã được thông qua của Ban
hội thẩm và cơ quan phúc thẩm (chưa
thi hành)
04 DS438; DS444; DS445; DS456
Các bên đã đưa ra một giải pháp
chung thống nhất
06
DS27; DS74; DS102; DS105;
DS358; DS359
Đã thi hành báo cáo theo thông báo
của bên thua kiện
16
DS52; DS54; DS55; DS59;
DS64; DS139; DS142; DS146;
DS175; DS276; DS340; DS334;
DS339; DS342; DS412; DS426
Tổng số 42
(Nguồn: https://www.wto.org)
45
2.1.2. Những vấn đề pháp lý được đưa ra giải quyết
Những vấn đề, cáo buộc được bên nguyên đơn đưa ra
Tranh chấp phổ biến đối với các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại
thường được các quốc gia viện dẫn Điều 2 của TRIMs, theo đó bên nguyên đơn cho
rằng các biện pháp mà bên bị đơn thực hiện đã vi phạm các quy định liên quan đến
nguyên tắc Đối xử quốc gia và Hạn chế định lượng khi tạo ra sự bất bình đẳng đối
với hàng hóa và nhà đầu tư nước ngoài. Trong 42 vụ việc liên quan tới TRIMs, các
vấn đề được các bên đưa ra thường xoay quanh các biện pháp làm ảnh hưởng tới
hàng hóa nhập khẩu qua biên giới; thông qua các biện pháp liên quan tới: giấy phép
nhập khẩu không tự động; hạn chế định lượng thông qua hạn ngạch, thông qua yêu
cầu về sản xuất trong nước; các yêu cầu về hàm lượng nội địa hóa để nhận được các
khoản ưu đãi, có thể là các khoản ưu đãi về thuế hoặc phí...
Do đặc trưng của TRIMs nhằm giải thích rõ việc áp dụng các biện pháp đầu tư
liên quan tới thương mại trong phạm vi Điều III, Điều XI của GATT, vì vậy trong yêu
cầu tham vấn của bên nguyên đơn, việc viện dẫn quy định của Hiệp định TRIMs luôn
gắn liền với Hiệp định GATT. Thêm vào đó là những hiệp định đặc thù liên quan tới
nguyên tắc đối xử quốc gia về thuế và các biện pháp hạn chế định lượng, như:
- Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (SCM);
- Hiệp định về các biện pháp tự vệ;
- Hiệp định về Thủ tục cấp phép nhập khẩu (ILP);
- Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT);
Ngoài ra một số hiệp định khác cũng được viện dẫn như: Hiệp định chung về
Thương mại dịch vụ (GATS); Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại
của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS); Hiệp định về Nông nghiệp (AOA). Ta có thể thấy
rõ các biện pháp đó được sử dụng thông qua lĩnh vực có liên quan như:
- Trong ngành nông nghiệp, thương mại và dịch vụ:
+ Các biện pháp hành chính liên quan đến chế độ nhập khẩu, bán và phân
phối chuối của EU thông qua việc áp dụng hạn ngạch, và chế độ cấp phép nhập
khẩu (DS27, DS105).
46
+ Hoa Kỳ (nguyên đơn trong các vụ việc) cho rằng việc Philippines áp dụng
hạn ngạch thuế quan, đặc biệt là sự chậm trễ trong việc cho phép số lượng trong hạn
ngạch và hệ thống cấp giấy phép hạn ngạch. Venezuela (DS275), đã thiết lập các
yêu cầu cấp giấy phép nhập khẩu “một cách tùy ý” đối với nhiều sản phẩm nông
nghiệp, bao gồm ngô, lúa mỳ, các sản phẩm sữa (như pho mát, sữa, cả sữa bột và
sữa không béo), nho, mỡ, gia cầm, thịt bò, thịt lợn và đậu nành, từ đó đã không tạo
ra sự thống nhất, minh bạch và dễ dự đoán trong hệ thống cấp giấy phép nhập khẩu,
từ đó tạo ra những hạn chế cũng như làm bóp méo nghiêm trọng sự tự do hóa
thương mại hàng hóa. Canada (DS276), quy định lúa mì nhập khẩu không được trộn
lẫn với các loại ngũ cốc trong nước khi được đóng gói và Canada đã tạo ra những
lợi thế, ưu đãi nhiều hơn cho các loại ngũ cốc trong nước so với ngũ cốc nhập khẩu.
Bằng cách tạo ra những thuận lợi trong việc vận chuyển bằng việc ưu tiên bố trí,
phân bổ các toa tàu trong vận tải đường sắt. Thổ Nhĩ Kỳ (DS334), Theo đó, việc
nhập khẩu gạo vào Thổ Nhĩ Kỳ cần phải được cấp phép nhập khẩu và có những giới
hạn ràng buộc kèm theo. Đồng thời, Thổ Nhĩ Kỳ cũng điều tiết hạn ngạch thuế
quan, số lượng đối với mặt hàng gạo nhập khẩu (nhập khẩu số lượng cụ thể để được
hưởng các mức thuế quan ưu đãi), nhập khẩu phải tuân theo những quy định trong
nước (các yêu cầu mua hàng trong nước) yêu cầu các nhà nhập khẩu phải mua số
lượng nhất định gạo trong nước, để được phép nhập khẩu số lượng cụ thể với các
mức giảm thuế quan tương ứng.
+ Hay việc yêu cầu, áp đặt trong việc phập khẩu hàng hóa của Argentina,
thông qua: Yêu cầu về tờ khai hải quan như là một điều kiện cho sự chấp thuận đối
với hàng hóa nhập khẩu; Yêu cầu các loại giấy phép cần phải có cho việc nhập khẩu
hàng hóa nhất định; Sự chậm trễ trong thủ tục cấp phép nhập khẩu (giấy phép nhập
khẩu không tự động) hoặc đưa ra các hạn chế về định lượng trong nhập khẩu một số
mặt hàng mà nước này hạn chế.
- Trong ngành công nghiệp ô tô:
+ Nguyên đơn bao gồm Nhật Bản và Hoa Kỳ, họ cho rằng các nhà sản xuất ô
tô và linh kiện ô tô ở Brazil, muốn được hưởng các lợi ích từ việc giảm thuế đối với
47
các sản phẩm nhập khẩu cần phải đáp ứng được các yêu cầu: Về tỉ lệ hàm lượng nội
địa trong các sản phẩm ô tô; Yêu cầu về cân đối thương mại: doanh nghiệp phải bảo
đảm khối lượng hoặc trị giá sản phẩm nhập khẩu tương đương với khối lượng, giá
trị sản phẩm xuất khẩu; Yêu cầu về tiêu thụ trong nước: doanh nghiệp phải bảo đảm
rằng khối lượng hoặc giá trị sản phẩm tiêu thụ trong nước tương đương với sản
phẩm xuất khẩu – hạn chế xuất khẩu (DS51, DS52).
+ EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ cho rằng Indonesia đã sử dụng các biện pháp
như: Miễn thuế hải quan, thuế nhập khẩu các loại xe hạng sang và phụ tùng của
chúng đối với một số nước; Yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa đối với các sản phẩm sản xuất,
lắp ráp trong nước theo tỉ lệ (%) để nhận được ưu đãi về thuế đối với các linh kiện
nhập khẩu (DS54; DS55; DS59; DS64).
+ Nhật Bản và EU yêu cầu tham vấn Canada (DS139, DS142) về một số biện
pháp mà Canada thực hiện có ảnh hưởng tới ngành công nghiệp ô tô. Trong đó,
Canada đang thực hiện một thỏa thuận trong ngành ô tô (Auto Pact) giữa Mỹ và
Canada, theo đó việc miễn thuế nhập khẩu xe vào Canada chỉ áp dụng hạn chế cho
một vài nhà sản xuất, cũng như các biện pháp giới hạn trong việc phân phối sản
phẩm (bán buôn và bán lẻ) trong ngành công nghiệp ô tô. Và việc áp dụng các yêu
cầu về giá trị gia tăng (Canadian value-added – CVA) cho cả hàng hóa và dịch vụ là
không phù hợp với Điều III: 4 của Hiệp định GATT 1994.
+ EU và Hoa Kỳ cho rằng các biện pháp mà Ấn Độ (DS146; DS175) sử
dụng bao gồm việc áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc;
linh kiện và phụ tùng ô tô thông qua hệ thống giấy phép nhập khẩu “không tự
động”; giấy phép nhập khẩu có thể chỉ được cấp cho các nhà sản xuất liên doanh
với doanh nghiệp địa phương đã ký kết biên bản ghi nhớ với Chính phủ Ấn Độ;
đồng thời Ấn Độ cũng yêu cầu các điều kiện bắt buộc đối với các công ty sản xuất
trong lĩnh vực xe cơ giới như: Phải đạt được tỉ lệ nội địa hóa nhất định trong các sản
phẩm; Phải cân bằng tỉ lệ nguồn vốn ngoại hối theo giá trị nhập khẩu hàng hóa;
Việc nhập khẩu hàng hóa bị hạn chế theo giá trị, dựa vào giá trị xuất khẩu năm
trước của doanh nghiệp đó.
48
+ Đối với Trung Quốc trong vụ việc DS339, DS340, DS342, EU cho rằng,
bằng những biện pháp như: phụ tùng ô tô nhập khẩu được sử dụng trong sản xuất ô
tô tại Trung Quốc phải chịu mức thuế bằng với mức thuế cho xe đã lắp ráp hoàn
chỉnh, nếu hàm lượng phụ tùng nhập khẩu vượt quá ngưỡng nhất định. Hoa Kỳ cho
rằng biện pháp trên đưa ra đã gây ra những bất lợi cho các nhà sản xuất ô tô nhập
khẩu phụ tùng trong sản xuất ô tô. Theo quan điểm của Hoa Kỳ, mặc dù Trung
Quốc áp đặt mức thuế quan đối với các loại phụ tùng thấp hơn so với xe nguyên
chiếc, tuy nhiên Trung Quốc sẽ áp một khoản phí đối với phụ tùng ô tô nhập khẩu
bằng với thuế suất đối với xe đã hoàn chỉnh, nếu các bộ phận nhập khẩu vượt quá
ngưỡng quy định trong một chiếc xe có chứa linh kiện nhập khẩu. Canada cho rằng
các biện pháp trên áp đặt chi phí khác nhau trên các phương tiện sản xuất tại Trung
Quốc, chúng phụ thuộc vào hàm lượng nội địa của các phụ tùng được sử dụng trong
sản xuất ô tô, do đó đã tạo ra cho nhà sản xuất trong nước một lợi thế lớn nếu họ sử
dụng phụ tùng trong nước. Canada (tư cách bên thứ ba) cũng lập luận rằng các biện
pháp này cũng có thể có tác động vào các khoản đầu tư nước ngoài khi nó trao một
lợi thế cho doanh nghiệp sử dụng các loại phụ tùng trong nước sản xuất thay vì phải
nhập khẩu các loại phụ tùng tương tự. Canada cho biết thêm thuế suất đối với các
linh kiện phụ tùng được cấu thành lên một chiếc xe đã hoàn chỉnh sẽ bị áp đặt mức
thuế cao hơn thông thường. Các biện pháp này dường như tạo ra những ưu đãi,
thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu và việc sử dụng các loại phụ tùng trong nước
trong nước so với hàng hoá nhập khẩu.
+ Bị đơn: Liên Bang Nga (DS462; DS463), liên quan tới việc áp đặt các khoản
thuế và phí tái chế đối với các loại xe nhập khẩu vào Nga (ngoại trừ xe trong nước,
cũng như xe nhập khẩu từ Belarus và Kazakhstan không phải chịu các loại phí tương
tự). Tương tự như vậy đối với trường hợp của Brazil (DS472; DS497), thì các loại xe
có động cơ xuất xứ từ EU, Nhật Bản (theo khiếu nại của 2 thành viên này) không tự
động được hưởng những ưu đãi, miễn trừ như những sản phẩm tương tự xuất xứ từ một
số quốc gia khác; phải chịu nhiều khoản thuế hơn và bị đối xử kém thuận lợi hơn so
với xe sản xuất trong nước; áp đặt những yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa để được hưởng một
ưu đãi về thuế…
49
- Trong ngành công nghiệp năng lượng tái tạo:
+ Nhật Bản (DS412) và EU (DS426), cho rằng Canada đã áp dụng yêu cầu tỉ lệ
nội địa hóa đối với các sản phẩm nhập khẩu trong ngành năng lượng tái tạo để được
hưởng một ưu đãi về thuế theo đó các thiết bị nhập khẩu bị đối xử kém thuận lợi hơn
các thiết bị được sản xuất trong nước. Cụ thể, các thiết bị trong ngành năng lượng tái
tạo muốn được hưởng mức thuế ưu đãi cần phải đạt được tỉ lệ nội địa hóa nhất định
trong các sản phẩm đó, theo Nhật Bản các biện pháp của chính phủ đưa ra nhằm bảo hộ
cho các sản phẩm trong nước đối với các thiết bị tương tự, điều này trái với các nguyên
tắc của Điều III: 1 của GATT 1994; và Điều 2.1 của Hiệp định TRIMs.
+ Các yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa đối với các loại pin năng lượng mặt trời
của Ấn Độ (DS456).
+ Hay theo Argentina (DS459), cho rằng biện pháp mà EU sử dụng như:
biện pháp thúc đẩy việc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo và giới thiệu một cơ
chế để kiểm soát và giảm phát thải khí nhà kính; và thiết lập các chương trình hỗ trợ
cho ngành dầu sinh học tại EU, đã làm ảnh hưởng tới việc nhập khẩu và tiếp thị dầu
mỏ của Argentina tới EU.
Có thể thấy rằng, các cáo buộc mà bên nguyên đơn đưa ra đều là những biện
pháp làm ảnh hưởng tới việc xuất khẩu hàng hóa của họ thông qua các biện pháp
hạn chế nhập khẩu như: áp dụng hạn ngạch thuế quan, áp dụng hệ thống cấp phép
nhập khẩu không tự động (giấy phép nhập khẩu). Các biện pháp này chủ yếu được
sử dụng trong ngành nông nghiệp, nhằm hạn chế việc nhập khẩu các mặt hàng nông
sản từ các quốc gia khác, khuyến khích sử dụng các sản phẩm trong nước. Thông
thường các sản phẩm nhập khẩu này có giá cả cạnh tranh hơn các sản phẩm trong
nước. Vì vậy, có thể thấy các biện pháp này thường nhằm vào việc bảo hộ các sản
phẩm trong nước trước các sản phẩm nhập khẩu.
Hoặc việc hạn chế việc nhập khẩu thông qua những yêu cầu về cân đối
thương mại, yêu cầu tỉ lệ giá trị xuất nhập khẩu phải tương đương nhau, điều này
đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp muốn nhập khẩu phải thực hiện việc sản xuất
các sản phẩm ở trong nước với giá trị tương đương. Thông qua biện pháp này nước
50
tiếp nhận đầu tư mong muốn, các nhà đầu tư thực hiện việc chuyển giao công nghệ,
phát triển các ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, nếu sử dụng các biện pháp này
có thể sẽ ảnh hưởng tới nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vì các nhà đầu tư sẽ chỉ thực
sự muốn đầu tư vào những lĩnh vực mà họ thu được nhiều lợi nhuận nhất. Đồng
nghĩa với việc chi phí nguyên vật liệu, giá nhân công, và chi phí quản lý ở nước tiếp
nhận đầu tư ở mức thấp, để có thể tạo ra các sản phẩm có giá cả cạnh tranh.
Hoặc các biện pháp nhằm tạo ra sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong
nước đối với hàng hóa nhập khẩu, thông qua những yêu cầu về việc các sản phẩm
nhập khẩu muốn được hưởng các ưu đãi về thuế như những sản phẩm trong nước
phải đạt được một tỉ lệ nội địa hóa nhất định. Các biện pháp này thường được các
quốc gia sử dụng trong các ngành công nghiệp đặc biệt là ngành công nghiệp ô tô
và trong công nghiệp sản xuất năng lượng tái tạo và thường được các quốc gia đang
phát triển sử dụng như: Trung Quốc; Brazil; Argentina; Indonesia; Ấn Độ. Mục
đích mà các quốc gia thành viên sử dụng nhằm vừa tạo ra sự phát triển mạnh mẽ
trong lĩnh vực công nghiệp trong nước, vừa thu hút được nguồn vốn đầu tư nước
ngoài (đối tác chiến lược) vào những ngành sản xuất được ưu tiên phát triển bằng
cách tạo lợi thế cho những sản phẩm được sản xuất trong nước, khuyến khích sử
dụng các sản phẩm trong nước thông qua yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa.
Những vấn đề pháp lý được cơ quan xét xử xem xét
Như đã trình bày ở trên, trong số 42 vụ việc liên quan tới TRIMs, hiện tại
Ban hội thẩm đã xem xét và đưa ra báo cáo của mình trong 20 vụ việc trong đó 16
vụ việc các bên đã thi hành phán quyết của DSB, còn lại 04 vụ việc vẫn đang trong
giai đoạn thực hiện. Trong đó, các biện pháp mà Ban hội thẩm đã đưa ra xem xét
chủ yếu xoay quanh những quy định tại Điều III và Điều XI của GATT, điển hình
trong các ngành, lĩnh vực khác nhau như:
- Trong ngành nông nghiệp:
+ Điển hình là vụ việc DS27 bị đơn là EU, cơ quan xét xử xét thấy rằng thủ
tục cấp phép nhập khẩu của EU liên quan tới các sản phẩm chuối là không phù hợp
với Điều III.4 GATT, khi chỉ phân bổ 30% hạn ngạch giấy phép nhập khẩu (được
51
hưởng ưu đãi về thuế) cho các quốc gia thứ ba [58, tr. 107-110]. Tuy nhiên Ban hội
thẩm nhận thấy việc EU vi phạm Điều III.4 GATT không đồng nghĩa với việc vi
phạm Điều 2 của TRIMs vì không có yêu cầu liên quan tới khoản đầu tư cụ thể tại
quốc gia, và cũng không có yêu cầu mua hoặc sử dụng các sản phẩm có xuất xứ
trong nước để được cấp phép đầu tư, hoặc thực hiện đầu tư [58, tr. 344].
+ Vụ việc: DS276 bị đơn Canada - Các biện pháp liên quan tới xuất khẩu lúa
mì và quy định về nhập khẩu khẩu ngũ cốc, theo khiếu nại của Hoa Kỳ. Ban hội
thẩm cho rằng, quy định của Canada, các hạt ngũ cố nhập khẩu không được trộn lẫn
với các loại ngũ cốc trong nước Canada trong từ quá trình xử lý cho tới khi được
đóng gói và; Canada đã tạo ra những lợi thế, ưu đãi nhiều hơn cho các loại ngũ cốc
trong nước so với ngũ cốc nhập khẩu. Bằng cách tạo ra những thuận lợi hơn trong
việc vận chuyển bằng việc bố trí, phân bổ các toa tàu do chính phủ sở hữu trong vận
tải đường sắt đã vi phạm Điều III. 4 của GATT. Tuy nhiên Ban hội thẩm đã bác bỏ
kiếu nại của Hoa Kỳ liên quan tới Điều 2 TRIMs [62, tr. 217-219]. Canada lưu ý
rằng Hoa Kỳ không đưa ra được bất kỳ dấu hiệu về bản chất của các biện pháp đầu
tư liên quan tới thương mại. Ví dụ, không có tham chiếu đến bất kỳ biện pháp được
xác định trong Danh mục minh họa theo Điều 2 của Hiệp định TRIMs. Do đó,
Canada cho rằng đó có thể suy đoán của Hoa Kỳ về các biện pháp đầu tư liên quan
tới thương mại và cơ sở pháp lý cho các cáo buộc về hành vi vi phạm Điều 2 của
Hiệp định TRIMs. Canada cũng cho rằng việc phân bổ các toa xe lửa vận chuyển
ngũ cốc không đòi hỏi cần phải đáp ứng những yêu cầu sử dụng sản phẩm trong
nước, theo quan điểm của Canada thay vì sử dụng phương tiện vận chuyển bằng tàu
hỏa họ có thể sử dụng các phương tiên khác thay thế.
+ Đối với vụ việc DS334, Ban hội thẩm cho rằng các biện pháp mà Thổ Nhĩ
Kỳ đã sử dụng như: từ chối không cấp giấy phép nhập khẩu ngoài hạn ngạch, thực
hiện việc cấp phép nhập khẩu tùy ý đã tạo ra những hạn chế về định lượng trong
việc nhập khẩu gạo; đồng thời phải tuân theo những quy định trong nước (các yêu
cầu mua hàng trong nước), yêu cầu các nhà nhập khẩu phải mua số lượng nhất định
gạo trong nước, để được phép nhập khẩu số lượng cụ thể với các mức giảm thuế
quan tương ứng là không phù hợp với Điều III.4 của GATT [63, tr. 112-113].
52
- Trong ngành công nghiệp ô tô:
+ Trong vụ việc DS54, DS55, DS59, DS64 – Bị đơn: Indonesia một số biện
pháp ảnh hưởng tới ngành công nghiệp ô tô. Ban hội thẩm nhận định: “Các biện
pháp đầu tư” mà Indonesia sử dụng nhằm mục đích khuyến khích sự phát triển của
ngành sản xuất ô tô và sản xuất các loại phù tùng ô tô trong nước nhằm: nâng cao
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, tăng cường phát triển công
nghiệp tổng thể; phát triển năng lực của ngành sản xuất linh kiện ô tô; khuyến khích
sự phát triển ngành công nghiệp ô tô và phụ trợ; mang lại sự thay đổi lớn trong cơ
cấu ngành công nghiệp ô tô Indonesia; khuyến khích chuyển giao công nghệ, tạo
việc làm trên diện rộng; khuyến khích sản xuất ô tô trong nước, tăng tỉ lệ nội địa
hóa, nhằm tạo sự tăng trưởng nhanh chóng trong ngành công nghiệp ô tô. Gắn liền
với mục tiêu này là những biện pháp tác động đáng kể tới đầu tư. Ban hội thẩm
cũng cho rằng các biện pháp trên dù không do các cơ quan chức năng có thẩm
quyền về đầu tư quy định (theo lập luận của Indonesia), nhưng vẫn được coi là các
biện pháp liên quan tới đầu tư [60, tr. 341-342]. Vì vậy Ban hội thẩm kết luận rằng
rằng, các biện pháp yêu cầu ô tô sản xuất (lắp ráp trong nước) phải đạt được tỉ lệ nội
địa hóa nhất định theo yêu cầu của địa phương để nhận được những khoản ưu đãi về
thuế vi phạm Điều III GATT, các biện pháp này nằm trong danh mục minh họa kèm
theo Hiệp định TRIMs, và vi phạm Điều 2.1 TRIMs [60, tr. 345].
+ Vụ việc DS146, DS175 bị đơn Ấn Độ - Các biện pháp ảnh hưởng tới
ngành công nghiệp ô tô. Ban hội thẩm nhận thấy các biện pháp mà Ấn Độ đã sử
dụng bao gồm: áp đặt các nhà sản xuất ô tô có nghĩa vụ phải sử dụng một tỷ lệ nhất
định các bộ phận và linh kiện trong nước trong sản xuất lắp ráp các loại xe ô tô (yêu
cầu tỉ lệ nội địa hóa); doanh nghiệp phải có nghĩa vụ bù đắp giá trị lượng linh kiện,
phụ tùng bị hạn chế nhập khẩu trước đó trên thị trường Ấn Độ, bởi giá trị xuất khẩu
tương đương; các nhà sản xuất ô tô có nghĩa vụ phải cân bằng giá trị nhập khẩu với
giá trị hàng hàng hóa xuất khẩu, phải tương đương nhau (yêu cầu về cán cân thương
mại) các biện pháp trên đã vi phạm nghĩa vụ của Ấn Độ theo Điều III.4 và Điều
XI.1 của GATT [61, tr. 167-168]. Liên quan tới quy định của TRIMs, sau khi xem
53
xét những biện pháp tương ứng là vi phạm Điều III: 4 và XI: 1 của GATT, Ban Hội
thẩm áp dụng quy tắc chỉ xem xét một yêu cầu khi có hai hay nhiều yêu cầu xem xét
cùng một hành vi (judicial economy) và thấy rằng cần không thiết để xem xét các vi
phạm đó riêng rẽ với TRIMs, mặc dù các vi phạm đó không phù hợp với Điều 2
Hiệp định TRIMs [61, tr. 167].
- Trong ngành sản xuất năng lượng tái tạo:
Điển hình là Vụ việc: DS412, DS426- Bị đơn: Canada – Một số biện pháp
ảnh hưởng tới ngành năng lượng tái tạo [66].
Bên khiếu nại (gồm Nhật Bản và EU) cho rằng chương trình thuế quan trong
ngành năng lượng tái tạo (the feed-in tariff program – FIT) của Canada đã vi phạm
Điều III: 4 và III: 5 của Hiệp định GATT 1994 vì quy định này có những yêu cầu
ảnh hưởng đến việc chào bán, bán hàng, mua, vận chuyển, phân phối hoặc sử dụng
thiết bị của các cơ sở sản xuất năng lượng tái tạo, theo đó các thiết bị nhập khẩu bị
đối xử kém thuận lợi hơn các thiết bị được sản xuất trong nước. Cụ thể, các thiết bị
trong ngành năng lượng tái tạo muốn được hưởng mức thuế ưu đãi cần phải đạt
được tỉ lệ nội địa hóa nhất định, theo Nhật Bản các biện pháp của chính phủ đưa ra
nhằm bảo hộ cho các sản phẩm trong nước đối với các thiết bị tương tự, điều này
trái với các nguyên tắc của Điều III: 1 của GATT 1994; và Điều 2.1 của Hiệp định
TRIMs. Trong phần đánh giá của mình, Ban hội thẩm sẽ xem xét lập luận của các
bên và đưa ra những phân tích liệu các biện pháp trên có nằm trong phạm vi các
biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại theo Điều 1 TRIMs và có đồng thời vi
phạm Điều III.4 GATT và Điều 2.1 TRIMs hay không.
Trong phần lập luận của bên khiếu nại, tuy TRIMs không nêu rõ các biện
pháp nào là các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại, nhưng họ cho rằng các
biện pháp đó nhằm: thứ nhất, khuyến khích đầu tư sản xuất các thiết bị, sản phẩm
sản xuất năng lượng tái tạo trong nước tại Ontario; thứ hai, nó làm ảnh hưởng đến
thương mại trong sản xuất thiết bị năng lượng gió và mặt trời bằng cách ưu tiên
dùng sản phẩm ở Ontario hơn các sản phẩm nhập khẩu. Thêm vào đó, Canada
không có tranh luận phản đối về vấn đề này liên quan tới TRIMs.
54
Ban hội thẩm nhận thấy, với mục tiêu trong chương trình FIT theo lập luận
của bên khiếu nại, đây là những biện pháp ảnh hưởng tới đầu tư khi khuyến khích
đầu tư sản xuất trong nước (tại Ontario). Các biện pháp đó nhằm thúc đẩy việc đầu
tư để thiết lập các cơ sở sản xuất tại Ontario. Theo báo cáo của các nhà đầu tư như:
Siemens - đầu tư trong lĩnh vực thương mại nông nghiệp và năng lượng mặt trời sẽ
được nhận những khoản ưu đãi về thuế và phí ở mức tối thiểu; hay như công ty
Automation Tooling Systems, nếu sản xuất các modules năng lượng mặt trời tại đó,
sẽ nhận được mức giá cao hơn cho năng lượng mặt trời thông qua chương trình biểu
giá về phí; tương tự như vậy, công ty Enercon và Niagara Region Corporation, để
ký được hợp đồng cung cấp tua bin năng lượng gió, và xây dựng cơ sở sản xuất ở
khu vực Niagara phải bảo đảm các yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa (yêu cầu trong nước).
Ban hội thẩm cho rằng, đây là các biện pháp liên quan tới thương mại, khi
chương trình FIT áp đặt yêu cầu sử dụng sản phẩm trong nước đối với máy phát
điện sử dụng năng lượng gió và năng lượng mặt trời.
Tiếp theo Ban hội thẩm sẽ xem xét các biện pháp đó vi phạm Điều III.4 của
GATT và Điều 2.1 của TRIMs. Theo Ban hội thẩm thì, khi EU lập luận rằng các biện
pháp được đưa ra đã vi phạm Khoản 1 (a) của danh mục minh họa cùng với Điều 2.2
của TRIMs sẽ vi phạm Điều III.4 của GATT và do đó cũng vi phạm Điều 2.1 của
TRIMs, không phản ánh đúng trình tự phân tích pháp lý được thể hiện theo Điều 2.1
và 2.2 của TRIMs. Ban hội thẩm xem xét trình tự phân tích pháp lý như sau: trong
một trường hợp cụ thể trước hết, cần phải xem xét các biện pháp đó có vi phạm Điều
III.4 của GATT hay không. Tiếp theo đó, đối chiếu các biện pháp đó với danh mục
minh họa để xác định có vi phạm Điều 2.1 của TRIMs hay không. Nếu các biện pháp
đó có những đặc điểm mô tả giống với danh mục minh họa, đồng thời vi phạm Điều
III.4 GATT do đó cũng sẽ vi phạm Điều 2.1 của TRIMs. Ban hội thẩm cũng lưu ý
rằng, Điều 2.1 TRIMs không thích hợp để suy ra từ khoản 1 (a) danh mục minh họa
và rằng các đặc điểm đó luôn luôn không phù hợp với Điều III.4 GATT.
Như vậy trên cơ sở phân tích trên, Ban hội thẩm thấy rằng việc yêu cầu tỉ lệ
nội địa hóa không chỉ liên quan tới việc mua hoặc sử dụng các sản phẩm từ nguồn
55
trong nước theo định nghĩa tại khoản 1 (a) của danh mục minh họa, mà đây cũng là
yêu cầu bắt buộc, như đối với máy phát điện sử dụng năng lượng gió và năng lượng
mặt trời trong chương trình FIT để nhận được một lợi thế, và vi phạm Điều III. 4
của GATT, do đó cũng vi phạm Điều 2.1 của TRIMs.
Điểm đặc biệt trong vụ việc này không giống với các vụ việc khác đó là Ban
hội thẩm kết luận rằng Canada đã vi phạm nghĩa vụ của mình theo Điều III.4
GATT, đồng thời cũng vi phạm Điều 2.1 TRIMs. Trong khi, ở các vụ việc khác sau
khi đã xét thấy bị đơn đã vi phạm Điều III.4 GATT, thì Ban hội thẩm sẽ không xem
xét vấn đề đó theo Điều 2 TRIMs (theo nguyên tắc “judicial economy”).
Theo lập luận của bị đơn thì các biện pháp trên không thuộc phạm vi áp dụng
của GATT theo Điều III.8, liên quan tới các trường hợp mua sắm Chính phủ,
Canada cho rằng đây là trường hợp mua sắm của chính phủ, khi chính phủ trực tiếp
đứng ra mua và sử dụng các loại hàng hóa trên. Tuy nhiên, Ban hội thẩm nhận định
rằng các trường hợp quy định tại Điều III.8 GATT chỉ áp dụng cho tiêu dùng, hoạt
động của chính phủ; không áp dụng cho mục địch thương mại, hay đưa vào sản xuất
nhằm mục đích thương mại. Ở đây, Canada đã sử dụng các sản phẩm trong ngành
năng lượng tái tạo để sản xuất năng lượng nhằm mục đích thương mại (bán lại cho
người tiêu dùng). Để có căn cứ pháp lý thuyết phục, Ban hội thẩm đã đối chiếu các
biện pháp trong danh mục minh họa của TRIMs, cùng các quy định tại Điều III.4
GATT để kết luận rằng các biện pháp đó đã vi phạm Điều III.4 GATT và Điều 2.1
TRIMs theo trình tự pháp lý nêu trên. Qua đó, có thể thấy được vai trò cũng như
mục đích của TRIMs, thông qua việc làm rõ các quy định tại Điều III của GATT.
Thông qua việc xem xét các Báo cáo của Ban hội thẩm, các biện pháp mà
các bên đã sử dụng trong ngành nông nghiệp đều liên quan tới việc áp đặt các quy
định về hạn chế định lượng, các quy định liên quan tới giấy phép nhập khẩu nhằm
mục đích hạn chế việc nhập khẩu các mặt hàng nông sản qua biên giới, nhằm bảo
hộ các sản phẩm nông sản trong nước, và được sử dụng bởi các thành viên phát triển
và đang phát triển. Trong ngành công nghiệp ô tô, thực tế cho thấy TRIMs được sử
dụng bởi các thành viên đang phát triển (như Trung Quốc, Indonesia, Brazil, Canada,
56
Ấn Độ...), các biện pháp thường được sử dụng bao gồm: những yêu cầu về tỉ lệ nội
địa hóa để đạt được những khoản ưu đãi về thuế, các yêu cầu về cân đối giá trị nhập
khẩu và xuất khẩu... nhưng nhìn chung những yêu cầu đó đều nhằm mục đích phát
triển ngành sản xuất ô tô trong nước của các quốc gia đang phát triển, điều này là
thực tại khách quan mà mọi quốc gia đang phát triển đều muốn. Tương tự như vậy
trong ngành sản xuất năng lượng tái tạo đặc biệt được sử dụng bởi Canada và Ấn
Độ, cũng áp dụng những yêu cầu về hàm lượng nội địa hóa trong các sản phẩm để
nhận được một khoản ưu đãi về thuế. Có thể thấy rằng, các biện pháp mà thành viên
đang phát triển sử dụng trong ngành công nghiệp (ô tô và năng lượng tái tạo) nhằm
mục đích vừa tạo ra được sự phát triển ngành công nghiệp trong nước (sản phẩm sản
xuất ra được tiêu thụ), vừa thu hút được nguồn vốn kỹ thuật từ các quốc gia thành
viên khác (thường là những đối tác chiến lược, cùng nhau có lợi). Đây cũng có thể coi
là một trong những mục tiêu của TRIMs: “...với mục đích tạo ra sự tăng trưởng kinh
tế cho các thành viên, đặc biệt là các Thành viên đang phát triển...” [55].
Phần lớn, thời gian giải quyết các tranh chấp liên quan tới TRIMs nói riêng
và trong WTO nói chung thường giao động từ 19 tháng tới 32 tháng, kể từ thời
điểm có yêu cầu tham vấn tới lúc DSB thông qua Báo cáo. Các Báo cáo của Ban hội
thẩm và cơ quan phúc thẩm (nếu có kháng cáo) đều được bên thua kiện tự nguyện
tuân thủ sau một khoảng thời gian được các bên thỏa thuận hoặc do Trọng tài quyết
định, khoảng thời gian này thường là từ 8 tới 15 tháng. Như vậy có thể thấy rằng,
các quốc gia đã có một khoảng thời gian sử dụng TRIMs từ 02 tới 03 năm (hoặc có
thể hơn), phần lớn các biện pháp này thường được sử dụng với hai mục đích. Thứ
nhất, bảo vệ, tạo sự thuận lợi, ưu đãi cho các sản phẩm có sẵn trong nước (các sản
phẩm thế mạnh do các doanh nghiệp trong nước sản xuất đặc biệt trong ngành nông
nghiệp). Thứ hai, với mục đích tạo động lực phát triển một cách nhanh chóng một
số ngành sản xuất trong nước (những ngành được ưu tiên phát triển như công
nghiệp ô tô, sản xuất năng lượng tái tạo) hướng nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực ưu
tiên, gắn với mục đích này là những yêu cầu về áp dụng tỉ lệ nội địa hóa để đạt được
một khoản ưu đãi về thuế, thường được sử dụng bởi các nước đang phát triển.
57
Mặc dù số lượng tranh chấp liên quan tới TRIMs không nhiều, nhưng thông
qua quá trình giải quyết tranh chấp chúng ta có thể học hỏi được một số kinh
nghiệm quý báu, để áp dụng có hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi ro và giải
quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO nói chung và trong khuôn khổ Hiệp định
TRIMs nói riêng.
2.2. Kinh nghiệm của các quốc gia trong giải quyết tranh chấp
2.2.1. Kinh nghiệm liên quan tới quá trình giải quyết tranh chấp
Thông qua việc phân tích, xem xét, đánh giá quá trình cũng như kết quả các
vụ tranh chấp trong khuông khổ Hiệp định TRIMs chúng ta có thể rút ra một số
kinh nghiệm sau:
Giai đoạn chuẩn bị tham gia vụ tranh chấp
Với mục tiêu giải quyết một cách nhanh chóng các tranh chấp phát sinh giữa
các bên, DSU luôn đặt ra thời hạn giải quyết tranh chấp trong mỗi vụ việc: trong
vòng 09 tháng báo cáo của Ban hội thẩm phải được thông qua kể từ khi thành lập
Ban hội thẩm, nếu có kháng cáo là 12 tháng. Quá trình xem xét của Ban hội thẩm
diễn ra rất nhanh, việc thu thập chứng cứ và đối số thực tế cần phải được thực hiện
trước đó, vì việc vừa tham gia giải quyết tranh chấp vừa tiến hành thu thập chứng
cứ liên quan sẽ không khả thi, và ảnh hưởng tới chất lượng của chứng cứ liên quan.
Vì vậy, khâu chuẩn bị hồ sơ vụ việc trong giai đoạn trước khi khởi xướng vụ tranh
chấp là rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả của tranh chấp bằng việc
đưa ra những bằng chứng thực tế, những căn cứ pháp lý chứng minh cho sự vi
phạm. Việc thu thập chứng cứ có thể có từ các nguồn khác nhau như: từ những yêu
cầu phát sinh của các doanh nghiệp trong nước bị thiệt hại do các biện pháp của các
nước thành viên gây ra, đây có thể coi là căn cứ ban đầu để khởi xướng vụ việc; các
biện pháp được quy định trong hệ thống pháp luật của bên bị đơn ảnh hưởng tới lợi
ích của các doanh nghiệp trong nước; một cách thu thập thông tin có hiệu quả nhất
có lẽ là tham gia trực tiếp vào các vụ việc có nội dung tương tự (nếu có) với tư cách
là bên thứ ba trong vụ tranh chấp, có thể phần nào hiểu rõ về bản chất của các vấn
đề có liên quan, từ đó có những biện pháp thích hợp để bảo vệ lợi ích của quốc gia.
Ngoài những yêu cầu về thu thập chứng cứ có liên quan, điều quan trọng
58
không kém trong giai đoạn này đó là yếu tố con người, đòi hỏi cần phải có những
chuyên gia am hiểu pháp luật quốc tế, đặc biệt trong việc áp dụng các Hiệp định có
liên quan; tiếp đến là khả năng về ngoại ngữ trong quá trình thu thập chứng cứ từ hệ
thống pháp luật của các thành viên khác, trong quá trình chuẩn bị hồ sơ tài liệu bằng
tiếng nước ngoài, trong quá trình tranh tụng...
Giai đoạn xem xét vụ việc
Tham vấn là giai đoạn đầu tiên và cũng là bắt buộc đối với mỗi vụ tranh
chấp, vì yêu cầu tham vấn luôn là tài liệu chính thức đầu tiên để khởi xướng một vụ
tranh chấp cụ thể tại WTO và mỗi vụ tranh chấp Panel chỉ xem xét trong phạm vi
những vấn đề được bên nguyên đơn đưa ra, vì vậy cần thiết phải soạn thảo một cách
chính xác, ngắn gọn, đầy đủ các căn cứ pháp lý và các vi phạm của bị đơn. Đề nghị
thành lập Panel cũng vậy, phải đủ tính chính xác để tránh làm cho bên bị khiếu kiện
phản đối ngay từ đầu hoặc khiến cho Panel từ chối xem xét đối với một vài khía
cạnh của đơn kiện. Ngoài việc xác định các điều khoản tham chiếu, yêu cầu thành
lập Panel cũng có chức năng là căn cứ thông báo tới bên bị đơn và bên thứ ba trong
vụ tranh chấp. DSU không cấm các bên liên quan gặp gỡ trao đổi trước khi tham
vấn diễn ra. Vì thế, để tham vấn đạt được hiệu quả, cần thiết phải tổ chức các cuộc
gặp mặt trao đổi về các vấn đề được đưa ra trước đó với các bên.
Trong quá trình xem xét vụ việc, chúng ta cần phải chú ý tới thời gian, thời
hạn cho từng giai đoạn để không làm ảnh hưởng tới quyền lợi của mình trong giai
đoạn đó, ví dụ như bảo đảm thời, gian thời hạn trong giai đoạn tham vấn, kịp thời tổ
chức tham vấn; đưa ra yêu cầu thành lập Ban hội thẩm (để không mất quyền yêu
cầu thành lập), bổ nhiệm thành viên ban hội thẩm; trong việc soạn thảo các văn bản
đệ trình (liên quan tới chất lượng của các bản đệ trình); trong thời hạn liên quan tới
việc kháng cáo (để không mất quyền kháng cáo). Như đã trình bày ở trên, thời hạn
kháng cáo là 10 ngày (khoảng thời gian khá ngắn). Vì vậy, nếu có dự định kháng
cáo, nên chuẩn bị ngay trong giai đoạn rà soát giữa kỳ... những kinh nghiệm này
không chỉ giúp ích cho chúng ta trong tư cách là nguyên đơn, mà còn trong tư cách
là bị đơn cũng như là bên thứ ba trong vụ tranh chấp.
Một vấn đề không kém phần quan trọng đó là việc vận động, tranh thủ sự
59
ủng hộ của các thành viên là bên thứ ba trong vụ tranh chấp. Thực tế cho thấy, các
biện pháp của một quốc gia thành viên không nhiều thì ít cũng ảnh hưởng tới một số
thành viên còn lại tùy thuộc vào mối quan hệ kinh tế giữa các bên, vì thế trong mỗi
vụ tranh chấp thường không thể thiếu các bên thứ ba. Bên thứ ba trong vụ tranh
chấp đa số thường có những lợi ích đáng kể trong vụ tranh chấp, mặc dù họ chỉ
được phép nêu ra quan điểm của mình đối với các tình tiết trong tranh chấp nhưng ý
kiến của họ cũng được Ban hội thẩm xem và đánh giá trong báo cáo của họ.
Giai đoạn thực thi phán quyết
Hầu hết các phán quyết của DSB trong các vụ việc liên quan tới TRIMs đều
được các bên liên quan thực hiện một cách tự nguyện. Tuy nhiên trước đó bên thua
kiện thường cố gắng đưa ra một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện phán quyết
(thông thường là 15 tháng kể từ khi DSB thông qua báo cáo). Giai đoạn thực hiện
phán quyết của bên thua kiện thường chỉ là các biện pháp về mặt pháp lý khi ban
hành sửa đổi các điều luật cho phù hợp với quy định của WTO. Vì vậy, chúng ta
cần phải có sự chuẩn bị trước về mặt thể chế pháp lý cho các vấn đề có liên quan, để
kịp thời sửa đổi các quy định theo hướng phù hợp với quy định của WTO.
2.2.2. Kinh nghiệm liên quan tới TRIMs
Thực tế cho thấy các biện pháp mà các bên sử dụng thường nhằm vào các
sản phẩm hàng hóa nhập khẩu, bằng việc áp dụng những biện pháp đối xử kém
thuận lợi hơn đối với các sản phẩm tương tự trong nước bằng việc áp đặt những
điều kiện cụ thể nào đó gắn với yêu cầu trong nước để nhận được một khoản lợi ích
về thuế (vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia về thuế), thường thì những biện pháp
này chỉ áp dụng cho những loại hàng hóa đã nhập khẩu vào lãnh thổ của quốc gia
thành viên; hoặc bằng cách áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng, các biện
pháp làm ảnh hưởng tới việc nhập khẩu hàng hóa qua biên giới như áp dụng hạn
ngạch, các yêu cầu về cân đối thương mại. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia sử dụng
TRIMs là các quốc gia đang phát triển, TRIMs cũng như các hiệp định khác cũng
có những ngoại lệ riêng. Trong đó, các quốc gia thành viên đang phát triển được
phép sử dụng TRIMs trong thời hạn nhất định; hoặc trong một số hiệp định khác có
60
liên quan tới thương mại hàng hóa cũng có một số ngoại lệ đối với các quốc gia
đang phát triển, bằng việc sử dụng TRIMs một cách có hiệu quả, tận dụng nguồn
vốn đầu tư nước ngoài định hướng theo kế hoạch phát triển, họ thường hướng
nguồn vốn đầu tư nước ngoài theo định hướng phát triển kinh tế riêng của mình.
Các biện pháp chủ yếu thường tập chung vào yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa nhất
định để được hưởng ưu đãi về thuế, họ thường tạo ra những lợi thế đáng kể đối với
những ngành sản xuất đã có sẵn trong nước, hoặc những ngành sản xuất được ưu tiên
phát triển theo định hướng riêng của mình. Ví dụ như Indonesia, họ sử dụng TRIMs
nhằm phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước, ngành công nghiệp sản xuất, lắp
ráp ô tô trong nước của họ thường gắn với việc liên doanh với các công ty của Hàn
Quốc vì vậy các sản phẩm ô tô nhập khẩu từ các thị trường như EU, Hoa Kỳ và Nhật
Bản bị đối xử kém thuận lợi hơn về thuế đối với các sản phẩm được sản xuất trong
nước (cùng với các doanh nghiệp liên doanh với các công ty của Hàn Quốc).
Có thể thấy rằng, TRIMs được sử dụng để tạo ra lợi thế đối với các sản phẩm
trong nước khi và chỉ khi tại quốc gia thành viên đó có các sản phẩm được sản xuất
và được hưởng ưu đãi nhiều hơn (ví dụ về thuế) so với các sản phẩm tương tự được
nhập khẩu từ quốc gia thành viên khác. Điều đó cho thấy rằng, khi thị trường trong
nước không có các sản phẩm tương tự giống với các sản phẩm nhập khẩu thì việc sử
dụng TRIMs không còn ý nghĩa, không gây ra thiệt hại về lợi ích (không tạo ra sự
phân biệt đối xử giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu).
Thực tế qua quá trình nghiên cứu các vụ việc liên quan tới TRIMs cho thấy,
tính tới thời điểm hiện tại mặc dù theo quy định không được sử dụng TRIMs nhưng
nó đã được sử dụng và vẫn đang được sử dụng tại một số quốc gia thành viên, đặc
biệt là các thành viên đang phát triển. Có thể thấy rằng việc sử dụng TRIMs của các
quốc gia thành viên thường hướng tới việc tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành
sản xuất trong nước, được ưu tiên phát triển nhằm tạo ra sự tăng trưởng nhanh trong
quy mô cũng như cơ cấu nền kinh tế (theo định hướng chiến lược phát triển của mỗi
thành viên). Thông thường trong các vụ việc, các ngành nghề được hưởng lợi từ
việc sử dụng TRIMs thường là những ngành thế mạnh sẵn có trong nước của các
61
quốc gia, Ví dụ: EU trong vụ việc liên quan tới các sản phẩm chuối, Canada trong
vụ việc liên quan tới ngành sản xuất năng lượng tái tạo và ngành nông nghiệp liên
quan tới các sản phẩm ngũ cốc; hoặc những ngành nghề được quốc gia ưu tiên định
hướng phát triển (đối với các nước đang phát triển), thông thường những ngành
nghề này đều được liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài để tranh
thủ nguồn vốn, kỹ thuật của họ nhằm phát triển theo định hướng của mình, Ví dụ:
Indonesia trong vụ việc liên quan tới ngành công nghiệp ô tô...
Xét thấy, trong quá trình hội nhập quốc tế cùng với đường lối phát triển của
Đảng và Nhà nước. Để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nền công nghiệp tiên tiến hiện đại. Một mặt, chúng ta cần thiết phải
tạo điều kiện thu hút nguồn đầu tư nước ngoài, như: nguồn vốn, máy móc, công
nghệ, quản lý... Mặt khác chúng ta cần thiết phải sử dụng TRIMs để bảo vệ, bảo
đảm, ưu tiên cho một số doanh nghiệp trong nước. Việc sử dụng TRIMs không có
nghĩa là chúng ta có sự phân biệt đối xử với sản phẩm của tất cả thành viên, mà cần
thiết phải sử dụng TRIMs hướng tới tạo điều kiện cho sản phẩm của một số thành
viên là đối tác chiến lược (ví dụ các công ty liên doanh với doanh nghiệp nước
ngoài) nhằm tạo điều kiện phát triển cho một ngành hàng nào đó trong một khoảng
thời gian nhất định (theo định hướng phát triển). Ngoài ra cần phải áp dụng TRIMs
linh hoạt với một số ngoại lệ trong các Hiệp định có liên quan để TRIMs thực hiện
có hiệu quả hơn, đồng thời cần phải cân nhắc thực hiện một cách cẩn trọng, có tính
tới lợi ích thương mại của các thành viên có liên quan.
Như vậy, thông qua quá trình thống kê, phân tích, tìm hiểu nội dung, quá
trình giải quyết tranh chấp cùng với việc rút ra được kinh nghiệm của các quốc gia
thành viên sử dụng các biện pháp liên quan tới TRIMs trong khuôn khổ WTO kể
trên. Chúng ta có thể đưa ra được một số bài học kinh nghiệm cho việc phòng ngừa
rủi ro có thể xảy ra và giải quyết có hiệu quả các tranh chấp thương mại quốc tế đối
với Việt Nam.
62
Chương 3
VẤN ĐỀ PHÒNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
LIÊN QUAN TỚI TRIMS TẠI VIỆT NAM
3.1. Thực tiễn tại Việt Nam
3.1.1. Thể chế pháp lý liên quan tới giải quyết tranh chấp quốc tế nói
chung và trong khuôn khổ WTO nói riêng
Để có những kết quả đáng kể và tích cực trong việc sử dụng cơ chế giải
quyết tranh chấp của WTO, thực tế trong thời gian qua Việt Nam đã có những
chuẩn bị về mặt chính sách, cơ sở pháp lý và khung thể chế ngay từ trước khi gia
nhập WTO và không ngừng hoàn thiện cho đến hiện nay.
- Ngày 10/2/1998, Thủ tướng thành lập Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế
quốc tế (UBQGHTKTQT, tên viết tắt tiếng Anh chính thức là NCIEC) theo Quyết
định số 31/1998/QĐ-TTg ngày 10/02/1998 của Thủ tướng Chính phủ, được hướng
dẫn thực hiện bởi Quyết định số 116/1998/QĐ-TTg thành lập Đoàn đàm phán
Chính phủ về kinh tế - thương mại quốc tế (Quyết định này được thay thế bởi Quyết
định số 82/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện
toàn Đoàn đàm phán chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế). Và Ủy ban này
sau đó không ngừng được kiện toàn tổ chức, bộ máy trong các khoảng thời gian sau
đó như Quyết định số 70/2002/QĐ-TTg ngày 06/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ
về việc kiện toàn UBQGHTKTQT; Quyết định số 70/2002/QĐ-TTg ngày
06/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 174/2007/QĐ-TTg ngày
19/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ; và cuối cùng là Quyết định số 596/QĐ-TTg
ngày 23/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về
hội nhập quốc tế. Trong đó nhiệm vụ chính của Ủy ban là giúp Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, triển khai các chủ trương,
chính sách lớn về hội nhập quốc tế; giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành
liên quan đến hội nhập quốc tế [33, Điều 2].
63
- Ngày 12/6/2003 Chính phủ có Quyết định số 123/2003/QĐ-TTg Về việc
phê chuẩn Điều lệ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Trong đó, Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (Vietnam Chamber of Commerce and
Industry) là tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận, có tư cách pháp nhân và
tự chủ về tài chính. Trong đó có nhiệm vụ đại diện để thúc đẩy và bảo vệ quyền lợi
hợp pháp, chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp và người sử dụng lao động ở
Việt Nam trong các quan hệ trong nước và quốc tế [12, Điều 5].
- Ngày 09/6/2005, ngay gần thời điểm Việt Nam hoàn tất các bước đàm phán
gia nhập WTO, Thủ tướng chính phủ có Chỉ thị số 20/2005/CT-TTg về việc chủ
động phòng, chống các vụ kiện thương mại nước ngoài. Chỉ thị nêu rõ những
nguyên tắc, biện pháp trong việc chủ động phòng tránh và xử lý các tranh chấp
thương mại với nước ngoài; phân công rõ vai trò, trách nhiệm giữa các cơ quan nhà
nước trong đó có Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), Bộ Ngoại giao, Bộ Kế
hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính…; các doanh nghiệp; hiệp hội ngành hàng; Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các tổ chức xã hội trong công tác
phòng tránh và xử lý các tranh chấp [27].
- Tháng 01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức
thương mại thế giới WTO.
- Ngày 08/4/2009 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 51/2009/QĐ-TTg
thành lập Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới – WTO và các Tổ chức quốc
tế khác tại Geneva, Thụy Sỹ, tên tiếng Anh là: Permanent Mission of the Socialist
Republic of Viet Nam to the United Nations, the World Trade Organization and
other International Organizations at Geneva (gọi tắt là Vietnam Mission to the UN
and the WTO at Geneva). Quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Phái đoàn,
trong đó, Phòng WTO và các vấn đề hợp tác thương mại đa phương, gọi tắt là
Phòng WTO, tên giao dịch tiếng Anh là WTO and Multilateral Trade Affairs Office
(gọi tắt là WTO Affairs Office), chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề liên quan đến sự
tham gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại WTO, Phòng WTO là
64
đầu mối tiếp nhận và xử lý các văn thư tài liệu liên quan đến WTO (bao gồm cả đầu
mối thực hiện các thủ tục giải quyết tranh chấp tại WTO) [29].
- Ngày 23/7/2009 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1099/QĐ-TTg phê
duyệt Nghị định thư về việc nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập
Hiệp định Trung tâm tư vấn luật WTO (ACWL), Việc trở thành thành viên của
ACWL sẽ đem lại nhiều lợi ích đối với Việt Nam. Thứ nhất, ACWL sẽ giúp Việt
Nam đào tạo cán bộ pháp lý các Bộ ngành (luật sư của Chính phủ) để dần dần đảm
nhận công tác tham mưu pháp lý về WTO cho Chính phủ. Thứ hai, Việt Nam sẽ
nhận được các tư vấn pháp lý miễn phí liên quan tới các quy định của WTO. Thứ
ba, trong trường hợp Việt Nam tham gia vào một vụ việc tranh chấp tại WTO với tư
cách nguyên đơn, bị đơn, hay bên thứ ba, ACWL có thể cung cấp hỗ trợ kỹ thuật
trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp [30].
- Ngày 18/01/2010, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 123/QĐ-TTg phê
duyệt Đề án Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010
đến năm 2020. Trong đó mục tiêu, xây dựng đội ngũ luật sư giỏi về chuyên môn,
nghiệp vụ, am hiểu luật pháp và tập quán thương mại quốc tế, thông thạo tiếng Anh,
thành thạo về kỹ năng hành nghề luật sư quốc tế, có đủ khả năng tư vấn các vấn đề
liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong
xã hội, trong đó có các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước. Xây dựng các tổ
chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại
có yếu tố nước ngoài, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư
nước ngoài [31].
- Ngày 20/01/2012, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 06/2012/QĐ-TTg
về việc tham vấn cộng đồng doanh nghiệp về thỏa thuận thương mại quốc tế. Quyết
định này nhằm tăng cường hiệu quả, hiệu lực, lợi ích của Việt Nam nói chung và của
cộng đồng các doanh nghiệp nói riêng trong các thỏa thuận quốc tế [32].
- Ngày 05/02/2013, Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành Quyết định số
848/QĐ-BCT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục
65
Quản lý cạnh tranh. Cục Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Công thương (Vietnam
Competition Authority), trong đó quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cục quản lý
cạnh tranh liên quan tới các vụ kiện thương mại với nước ngoài: “Cảnh báo sớm
các vụ kiện chống bán phá giá; chủ trì hoặc phối hợp với các doanh nghiệp, Hiệp
hội ngành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ
cấp và tự vệ của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam” [7, Điều 2].
Theo đó, đây là cơ quan trực tiếp thực hiện việc điều tra, cảnh báo sớm các vụ kiện
thương mại liên quan tới chống bán phá giá, trợ cấp thương mại và các biện pháp
phòng vệ của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời phối
hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện việc khởi kiện các vụ kiện quốc tế. Có thể
thấy đây là cơ quan đầu mối liên kết giữa doanh nghiệp và Chính phủ trong các vụ
kiện thương mại, bằng việc cung cấp, chuẩn bị các tài liệu chứng cứ có liên quan.
- Mới đây, ngày 07/01/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số
40/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030. Quá trình hội nhập quốc tế đã giúp nâng cao vị thế đối
ngoại của Việt Nam thông qua sự tham gia bình đẳng vào các cơ chế, diễn đàn kinh
tế khu vực và quốc tế, trong đó cần phải vận dụng có hiệu quả cơ chế giải quyết
tranh chấp trong WTO để bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, doanh nghiệp và
người tiêu dùng Việt Nam trong các tranh chấp kinh tế, thương mại và đầu tư quốc
tế; nâng cao vị thế đàm phán của Việt Nam; đại diện, hỗ trợ doanh nghiệp trong các
tranh chấp thương mại. Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao năng lực của cơ quan đầu
mối về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế. Thường xuyên rà soát, đánh giá
các cam kết quốc tế về đầu tư, chính sách áp dụng với nhà đầu tư nước ngoài, đề
xuất biện pháp phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu các tranh chấp quốc tế. Thực hiện
cải cách chế độ công vụ, công chức trong bối cảnh hội nhập quốc tế, góp phần xây
dựng nguồn nhân lực tham gia công tác hội nhập kinh tế quốc tế. Phát huy vai trò
của các Cơ quan đại diện ngoại giao, Thương vụ và các trung tâm xúc tiến thương
mại của Việt Nam ở nước ngoài trong việc hỗ trợ bảo vệ quyền lợi của các doanh
nghiệp Việt Nam trong các vụ tranh chấp thương mại [34].
66
Bằng sự chuẩn bị tích cực, các mặt về chính sách, cơ sở pháp lý và khung thể
chế về việc chủ động tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế, chúng ta cũng đã có
bước chuẩn bị sẵn sàng tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế.
3.1.2. Sự tham gia của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp
Kể từ khi gia nhập WTO cho tới tháng 12 năm 2016 Việt Nam đã tham
gia vào tổng số 27 vụ tranh chấp trong khuôn khổ WTO, trong đó 03 vụ việc
Việt Nam là nguyên đơn trong vụ kiện, 24 vụ việc tham gia với tư cách là bên
thứ ba. Tính tới tháng 11/2016 Việt Nam hiện chưa là bị đơn trong bất cứ vụ
kiện nào trong khuôn khổ WTO.
Từ khi gia nhập WTO tới vụ kiện đầu tiên với tư cách là nguyên đơn của Việt
Nam, chúng ta đã tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp với tư cách là bên tứ ba
trong 07 vụ việc. Phần lớn các vụ việc này chúng ta chỉ tham gia một cách thụ động
như những người quan sát, duy nhất chỉ có vụ việc WT/DS360 chúng ta có nêu ra
quan điểm của mình tại phiên điều trần, và được Ban hội thẩm ghi nhận [65, tr. 59].
Việt Nam chính thức tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp lần đầu tiên
vào ngày 26/01/2007 khi yêu cầu Ban hội thẩm tham gia với tư cách là bên thứ ba
tại vụ kiện mang ký hiệu số WT/DS343, Bị đơn: Hoa Kỳ - Các biện pháp liên quan
tới tôm từ Thái Lan. Vì đây là lần đầu tham gia vào một vụ tranh chấp cụ thể nên
Việt Nam mới chỉ tham gia ở giai đoạn xét xử của Ban hội thẩm và của cơ quan
phúc thẩm như những người quan sát mà không đưa ra quan điểm nào.
Vụ việc thứ hai chúng ta tham gia đó là vụ việc mang ký hiệu số WT/DS360
Bị đơn: Ấn Độ - Thuế bổ sung đối với hàng hóa nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Tuy không
tham gia vào vụ việc ngay từ thủ tục tham vấn mà chỉ tham gia vào quá trình xét xử,
nhưng tại vụ kiện này Việt Nam cũng đã đưa ra được những quan điểm của mình
đối với vụ việc thông quan các văn bản đệ trình cũng như việc phát biểu trong các
phiên điều trần, và đã được Ban hội thẩm ghi nhận.
Tiếp theo đó chúng ta cũng đã tham gia vào các vụ việc như WT/DS375;
WT/DS376; WT/DS377, Bị đơn: EU – Mức thuế điều chỉnh một số sản phẩm công
nghệ thông tin, nguyên đơn lần lượt là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Đài Loan.
67
Ngày 19/01/2010 vụ việc WT/DS399 Bị đơn: Hoa Kỳ - Một số biện pháp
ảnh hưởng tới việc nhập khẩu xe chở khách và xe tải nhỏ từ Trung Quốc.
Ngày 18/5/2010 Việt Nam có yêu cầu tham gia vụ việc WT/DS402 Bị đơn:
Hoa Kỳ - Sử dụng biện pháp Quy về “0” trong các biện pháp chống bán phá giá đối
với sản phẩm từ Hàn Quốc. Có thể thấy, sau khi đã tham gia với tư cách là bên thứ
ba trong các vụ kiện, chúng ta đã tích lũy được một số kinh nghiệm và thông tin
hữu ích (đặc biệt là vụ kiện WT/DS402 liên quan tới biện pháp quy về “0” của Hoa
Kỳ áp dụng trong các biện pháp chống bán phá giá) trong việc chuẩn bị khởi xướng
vụ kiện đầu tiên của Việt Nam với tư cách là nguyên đơn:
Vụ kiện DS404 – Bị đơn: Hoa Kỳ - Các biện pháp chống bán phá giá đối
với mặt hàng tôm nƣớc ấm đông lạnh
Các bên Mốc thời gian xét xử
Nguyên đơn Việt Nam Yêu cầu tham vấn 01/02/2010
Bị đơn Hoa Kỳ Thành lập ban hội thẩm 18/5/2010
Bên thứ ba Trung Quốc; EU; Ấn Độ;
Nhật Bản; Hàn Quốc;
Mexico; Thái Lan
Ban hành báo cáo của ban
hội thẩm
11/7/2011
Thông qua báo cáo 02/9/2011
Thời gian thực hiện 10 tháng 02/7/2012
Tuy là vụ kiện đầu tiên Việt Nam tham gia với tư cách là nguyên đơn trong
vụ kiện, nhưng chúng ta đã đạt được những thắng lợi nhất định trước bị đơn là Hoa
Kỳ (một cường quốc hàng đầu về kinh tế). Trong vụ việc này Ban hội thẩm đã có
những kết luận có lợi cho chúng ta như:
- Hoa Kỳ đã vi phạm Điều 2.4 của Hiệp định Chống bán phá giá khi áp dụng
phương pháp quy về “0” để tính toán biên độ phá giá trong rà soát hành chính lần
thứ hai và thứ ba; việc áp dụng các chính sách trên đối với Việt Nam vi phạm Điều
2.1, và 2.4.2 của Hiệp định Chống bán phá giá và Điều VI: 2 của GATT 1994.
- Phương pháp quy về “0” của Hoa kỳ áp dụng trong một số đợt rà soát hành
68
chính, không phù hợp với các nghĩa vụ của Hoa Kỳ theo Điều 9.3 của Hiệp định
Chống bán phá giá và Điều VI: 2 của GATT 1994.
- Hoa Kỳ đã vi phạm các nghĩa vụ của mình theo Điều 9.4 của Hiệp định
Chống bán phá giá trong việc áp đặt mức thuế suất toàn quốc (áp đặt mức thuế suất
vượt ngưỡng trần) trong đợt rà soát hành chính lần thứ hai và thứ ba đối với “các
doanh nghiệp còn lại” (các bị đơn không được lựa chọn) dựa trên tỉ lệ bán phá giá
được tính theo phương pháp quy về “0”.
Tuy nhiên, phán quyết đã không đồng tình với khiếu kiện trong các điểm sau:
- Phương pháp Quy về “0” của Hoa Kỳ không vi phạm quy định của WTO
theo Điều 9.3 Hiệp định chống phá giá và Điều VI:2 của GATT 1994;
- Cách tính toán mức thuế suất toàn quốc của Hoa Kỳ dựa trên các chứng cứ
có sẵn không vi phạm luật của WTO; Ngoài ra, Ban hội thẩm cũng chưa đủ cơ sở để
bác mức thuế suất toàn quốc áp dụng trong các kỳ rà soát hành chính 4, 5 và 6 là
không phù hợp với Điều 6.8 của WTO.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại vụ việc WT/DS404, chúng ta cũng
đã liên tục tham gia với tư cách là bên thứ ba trong các vụ tranh chấp cũng liên quan
tới các biện pháp chống bán phá giá như: ngày 18/5/2010, WT/DS405 Bị đơn: EU -
Các biện pháp chống bán phá giá giầy dép từ Trung Quốc; ngày 25/3/2011,
WT/DS414 Bị đơn: Trung Quốc - Thuế đối kháng và chống trợ cấp đối với các mặt
hàng thép cán phẳng từ Hoa Kỳ; ngày 25/10/2011, WT/DS422 Bị đơn: Hoa Kỳ -
Các biện pháp chống bán phá giá tôm và lưỡi cắt bằng kim cương từ Trung Quốc.
Sau thành công đối với vụ kiện đầu tiên, trong bối cảnh phía Hoa Kỳ chưa
hết thời gian thực hiện các khuyến nghị cũng như phán quyết của DSU, thì ngày
22/02/2012 chúng ta lại có yêu cầu tham vấn khởi xướng một vụ kiện tiếp theo cũng
liên quan tới các biện pháp chống bán phá giá với Hoa Kỳ.
69
Vụ kiện DS429 Bị đơn: Hoa Kỳ - Các biện pháp chống bán phá giá đối
với mặt hàng tôm nƣớc ấm đông lạnh
Các bên Mốc thời gian xét xử
Nguyên đơn Việt Nam Yêu cầu tham vấn 22/02/2012
Bị đơn Hoa Kỳ Thành lập ban hội thẩm 27/02/2013
Bên thứ ba Trung Quốc; Ecuador; EU;
Nhật Bản; Na Uy; Thái Lan
Ban hành báo cáo của ban
hội thẩm
17/11/2014
Ban hành báo cáo của cơ
quan phúc thẩm
07/4/2015
Thông qua báo cáo 22/4/2015
Thời gian thực hiện 15 tháng 22/7/2016
Vụ kiện này có nhiều điểm tương đồng đối với vụ kiện thứ nhất WT/DS404
nhưng các phán quyết đã làm rõ hơn nhiều vấn đề có lợi cho doanh nghiệp xuất
khẩu tôm của Việt Nam, nhất là trong thủ tục điều tra và tính toán biên độ phá giá.
Đối với phương pháp Quy về “0”, phán quyết trong Vụ WT/DS429 không có điểm
gì mới ngoài việc tái khẳng định Hoa Kỳ đã vi phạm khi áp dụng đối với các đợt rà
soát hành chính. Đáng lưu ý là phán quyết WT/DS429/R (Báo cáo của ban hội thẩm
ban hành ngày 17/11/2014) vẫn không khẳng định phương pháp Quy về “0” mà
Hoa Kỳ áp dụng vi phạm các quy định của WTO; đối với khiếu nại Đoạn 129 (c)(1)
theo Luật về Hiệp định Uruguay của Hoa Kỳ về thực thi các phán quyết của Cơ
quan xét xử của WTO trong khiếu nại của ta cũng bị Ban hội thẩm bác bỏ rằng nó
không vi phạm các Điều 1, 9.2, 9.3, 11.1 và 18.1 của Hiệp định Chống bán phá giá.
Đoạn 129 là công cụ pháp lý cho phép sửa đổi các quy định của Hoa kỳ phù hợp với
phán quyết của WTO. Ngày 06/01/2015 Việt Nam đã có thông báo kháng cáo gửi
tới cơ quan phúc thẩm, yêu cầu xem xét lại một số vấn đề pháp lý và giải thích pháp
luật trong báo cáo của Ban hội thẩm.
Ngày 22/4/2015, DSB thông qua báo cáo Cơ quan phúc thẩm và báo cáo của
Ban hội thẩm được duy trì bởi báo cáo Cơ quan phúc thẩm. Với phán quyết như vậy
của DSB, Việt Nam sẽ có cơ sở để yêu cầu Hoa Kỳ điều chỉnh lại phương pháp tính
toán phù hợp, bảo đảm lợi ích chính đáng của doanh nghiệp Việt Nam.
70
Ngày 20/5/2015, Hoa Kỳ đã thông báo với DSB rằng họ dự định sẽ thực hiện
các khuyến nghị và phán quyết của DSB và cần một khoảng thời gian để thực hiện.
Ngày 17/9/2015, Việt Nam đã yêu cầu trọng tài theo Điều 21.3 (c) của DSU xác
định thời gian thực hiện. Ngày 15/12/2015, Trọng tài xác định thời gian hợp lý để
thực hiên phán quyết là 15 tháng kể từ khi thông qua báo cáo của Cơ quan phúc
thẩm. Và sẽ hết hạn vào ngày 22/7/2016.
Từ khi khởi xướng vụ việc thứ hai với tư cách là nguyên đơn, chúng ta đã
chủ động trong việc tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp với tư cách là bên thứ ba,
với 14 vụ việc (DS405, DS414, DS422, DS430, DS431, DS432, DS433, DS437,
DS449, DS464, DS471, DS474, DS484, DS490) tuy các vụ việc này chúng ta chỉ
tham gia trong giai đoạn xét xử nhưng đã cho chúng ta nhiều kinh nghiệm cũng như
bài học quý báu trong giải quyết tranh chấp tại WTO, đặc biệt là trong vụ khiếu nại
DS464 bị đơn: Hoa Kỳ - Các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với
máy giặt lớn từ Hàn Quốc, Việt Nam đã nộp bản đệ trình bày tỏ quan điểm của
mình đối với phương pháp Quy về “0” mà Hoa Kỳ đang sử dụng nhằm đạt được
những lợi ích của Việt Nam trong các vụ kiện liên quan tới các biện pháp chống bán
phá giá trước đó đối với Hoa Kỳ.
Gần đây, chúng ta cũng đã tham gia với tư cách là bên thứ ba trong vụ việc
DS490 Bị đơn: Indonesia - Các biện pháp tự vệ đối với một số sản phẩm thép do
Đài Loan khởi xướng ngày 12/5/2015, có thể nói đây là bước đệm cũng như chiến
lược của chúng ta để quyết định khởi xướng vụ kiếu nại thứ ba vào ngày 01/6/2015
với tư cách là nguyên đơn trong vụ kiện DS496 - Bị đơn: Indonesia - Các biện pháp
tự vệ đối với một số sản phẩm thép.
Vụ kiện thứ 03: DS496 – Bị đơn: Indonesia – Các biện pháp tự vệ đối với
một số sản phẩm thép
Các bên Mốc thời gian xét xử
Nguyên đơn Việt Nam Yêu cầu tham vấn 01/6/2015
Bị đơn Indonesia Thành lập ban hội thẩm 28/10/2015
Bên thứ ba Hoa Kỳ; EU; Ấn Độ; Hàn Quốc; Liên bang Nga; Trung Quốc;
Chile; Úc; Nhật Bản; Đài Loan
71
Hiện tại vụ việc đang trong giai đoạn xét xử của Ban hội thẩm. Ban hội thẩm
được thành lập vào ngày 28/10/2015. Và DSB quyết định Ban hội thẩm xem xét vụ
việc DS490 kiếu nại của Đài Loan cũng sẽ xem xét khiếu nại của Việt Nam. Ngày
01/12/2015, Đài Loan và Việt Nam đã yêu cầu Tổng giám đốc xác định thành phần
của Ban hội thẩm. Vào ngày 09/12/2015, Tổng giám đốc xác định thành phần của
Ban hội thẩm gồm: Chủ tọa: Ms Luz Elena Reyes de la Torre; Thành viên:
Ông José Pérez Gabilondo, Ông Guillermo Valles.
Việc ban hành thể chế pháp lý liên quan tới giải quyết tranh chấp quốc tế nói
chung và trong WTO nói riêng cùng với quá trình tham gia giải quyết tranh chấp đã
cho thấy, chúng ta đang ngày càng phát triển, hội nhập một cách sâu rộng vào quan
hệ quốc tế, đó cũng là xu thể chung tất yếu của toàn cầu hóa. Có thể thấy rằng, tuy
chúng ta mới chỉ tham gia một cách đầy đủ vào cơ chế giải quyết tranh chấp trong
thời gian gần đây (tham gia với tư cách là một bên nguyên đơn trong vụ tranh chấp).
Nhưng bằng sự chuẩn bị của mình, chúng ta cũng đã phần nào có sự chủ động và
đạt được những thành tựu nhất định trong quá trình giải quyết tranh chấp tại WTO.
Tuy vậy chúng ta mới chỉ dừng lại ở việc tham gia với tư cách là bên nguyên
đơn trong tranh chấp mà chưa có vụ việc nào chúng ta tham gia với tư cách là bị
đơn. Nói cách khác là chúng ta chưa hoàn toàn chủ động trong giải quyết tranh chấp
mà chỉ tham gia một cách bị động khi những lợi ích thương mại của mình bị xâm
hại. Thực thế cho thấy rằng, việc sử dụng DSM của các quốc gia thường gắn liền
với những mục đích cụ thể của họ. Với tư cách là nguyên đơn, nhằm mục đích bảo
vệ lợi ích của quốc gia trước hành vi xâm hại của các thành viên khác. Với tư cách
là bên thứ ba, nhằm mục đích tăng cường sự hiểu biết của họ về nội dung các vụ
tranh chấp mà họ quan tâm. Đặc biệt là với tư cách là bị đơn, họ sử dụng các biện
pháp trái với quy định của các Hiệp định có liên quan, một mặt gây ra thiệt hại tới
lợi ích của các quốc gia thành viên, nhưng mặt khác họ lại là người được hưởng lợi
từ chính những hành vi đó trong một khoảng thời gian nhất định (từ lúc sử dụng tới
lúc tranh chấp được giải quyết).
Như vậy bằng việc nắm rõ các quy định của các hiệp định có liên quan, nắm
72
rõ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, việc sử dụng một cách đầy đủ vào DSM
có thể coi là một trong những chiến lược của các thành viên khi tham gia vào hệ
thống thương mại đa phương của WTO.
Nhìn chung, số vụ kiếu nại trong WTO có xu hướng giảm theo thời gian,
trong giai đoạn đầu của WTO, từ năm 1995-2000 có tới 219 tranh chấp phát sinh
(trung bình 36,5 vụ việc/năm); giai đoạn năm 2001-2005 có 116 vụ việc (trung bình
23,2 vụ việc/năm); giai đoạn 2006 - 2010 có 84 vụ việc (trung bình 16,8 vụ
việc/năm); giai đoạn 2011-2015 có 82 vụ việc (trung bình 16,4 vụ việc/năm); và
năm 2016 (tính tới tháng 11/2016) có 13 vụ việc. Xu hướng giảm dần các vụ tranh
chấp cho thấy, một mặt các thành viên đã cố gắng tuân thủ các quy định của WTO,
hoặc cố gắng giải quyết tranh chấp bằng các hình thức khác. Mặt khác, một số
thành viên vẫn sử dụng các biện pháp vi phạm quy định của WTO nhằm tạo ra
thuận lợi cho quốc gia mình.
Biểu đồ 3.1. Số vụ tranh chấp tại WTO theo thứ tự thời gian
từ năm 1995 tới năm 2015
Thực tế cho thấy, một số quốc gia thành viên bằng các biện pháp của mình
họ vẫn thường xuyên làm trái với các quy định của WTO, dẫn đến phát sinh một vụ
73
tranh chấp. Các biện pháp đó thường gây ra những thiệt hại về lợi ích của các quốc
gia thành viên khác theo các hiệp định có liên quan, nhưng nó lại tạo ra lợi thế, lợi
ích riêng cho các thành viên sử dụng. Tuy nhiên, mục đích của DSM lại hướng tới
việc thu hồi các biện pháp đã vi phạm, và rất hiếm khi các bên bị áp dụng các biện
pháp bồi thường trả đũa. Vì vậy, một số quốc gia thành viên thường sử dụng DSM
để tăng cường lợi thế, lợi ích của mình bằng việc vi phạm các hiệp định có liên
quan trong một khoảng thời gian nhất định. Chính điều này lại được các quốc gia có
nền kinh tế phát triển hoặc có quy mô lớn sử dụng hoặc với mục đích phát triển
nhanh chóng một ngành nghề nào đó theo định hướng, như: Hoa Kỳ là bị đơn trong
128 vụ việc; EU 82 vụ việc; Trung Quốc 37 vụ việc; Ấn Độ 23 vụ việc; Argentina
22 vụ việc; Canada 18 vụ việc; Brazil 16 vụ việc; Hàn Quốc 16 vụ việc; Nhật Bản
15 vụ việc; Indonesia 14 vụ việc; Mexico 14 vụ việc.
Ví dụ điển hình cho việc sử dụng DSM một cách có tính toán như một biện
pháp nhằm gia tăng hơn nữa lợi ích của quốc gia (theo hướng vi phạm quy định)
trong hệ thống thương mại đa phương phải kể tới Hoa Kỳ. Là một thành viên phát
triển hàng đầu của WTO nói riêng và trên thế giới nói chung. Hoa Kỳ có thế mạnh
về mọi mặt từ Kinh tế, Chính trị, Văn hóa, Giáo dục cho tới Quân sự, Ngoại giao,
Quốc phòng - An ninh... Với nền kinh tế thương mại phát triển, hàng hóa dịch vụ
của họ vươn tới tất cả thị trường trên toàn thế giới. Có thể thấy rằng họ là thành
viên chủ động, sẵn sàng tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO với
tổng cộng 373/514 vụ việc (chiếm 72,5% tổng số vụ tranh chấp tại WTO), trong đó
111 vụ việc là nguyên đơn, 128 vụ việc là bị đơn, 134 vụ việc với tư cách là bên thứ
ba. Những con số trên cho thấy gần một nửa các tranh chấp tại WTO có liên quan
trực tiếp tới Hoa Kỳ (46,5% số vụ tranh chấp với tư cách là nguyên đơn và bị đơn).
Đây có thể coi là một trong những chiến lược tham gia vào WTO của họ, điều đó
được thể hiện rất rõ qua quá trình đàm phán thành lập tổ chức thương mại thế giới
họ quan tâm nhiều hơn tới cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đặc biệt là DSU.
Mục đích của họ được thể hiện rất rõ trong thực tiễn khi họ sử dụng DSM như một
công cụ để tạo ra sân chơi riêng cho mình tại WTO bằng cách chủ động tạo ra, chủ
động tham gia và chủ động giải quyết các tranh chấp.
74
Qua thực tiễn giải quyết tranh chấp của tại WTO nói chung và của Việt Nam
nói riêng, cho thấy chúng ta chưa vẫn chưa thực sự tham gia một cách chủ động vào
cơ chế giải quyết tranh chấp, bằng chứng cho thấy là Việt Nam chưa là bị đơn trong
bất cứ một vụ tranh chấp nào trong khuôn khổ WTO, chưa hề tham gia vào các
tranh chấp liên quan tới TRIMs. Điều đó cho thấy Việt Nam là một trong những
quốc gia thành viên thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, đặc biệt là tại WTO.
3.1.3. Pháp luật Việt Nam liên quan tới TRIMs
Khi gia nhập WTO, các nước phải cam kết loại bỏ TRIMs, điều này đồng
nghĩa với việc các nước phải đưa các biện pháp tuân thủ các quy định của WTO,
nhưng đồng thời vẫn tạo cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp trong nước.
Việt Nam đã có một quá trình áp dụng TRIMs với các mục tiêu cơ bản là vừa thu
hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài, vừa đẩy mạnh phát triển sản xuất trong nước.
Các biện pháp Việt Nam đã sử dụng trong thời gian qua là yêu cầu về tỷ lệ
nội địa hoá, yêu cầu cân đối ngoại tệ, yêu cầu phải gắn với phát triển nguồn nguyên
liệu trong nước và yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu bắt buộc. Trong đó, biện pháp được tập
trung áp dụng nhiều nhất là yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá trong các ngành sản xuất,
lắp ráp ôtô và phụ tùng ôtô; sản xuất, lắp ráp xe máy và phụ tùng xe máy; sản xuất,
lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh và phụ tùng thuộc ngành điện tử, cơ khí-điện. Tuy
nhiên hiện nay, việc đưa ra những yêu cầu này không nhằm mục đích để các nhà
đầu tư nhận được một khoản ưu đãi về thuế đối với các sản phẩm nhập khẩu. Yêu
cầu tỉ lệ nội địa hóa nhằm phát triển ngành công nghiệp ô tô và các ngành phụ trợ
trong nước. Vì vậy, yêu cầu này dường như chỉ là định hướng phát triển của ngành
công nghiệp ô tô tại Việt Nam, nó không hề tạo ra sự phân biệt đối xử về thuế giữa
các sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu (ngoại trừ các khoản thuế
xuất nhập khẩu theo cam kết của các Hiệp định có liên quan), thực tiễn cho thấy
biện pháp này gần giống với yêu cầu về sản xuất (yêu cầu một số sản phẩm phải
được sản xuất trong nước) nếu biện pháp này không có sự điều chỉnh hợp lý để tạo
điều kiện, ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực có liên quan sẽ không khuyến khích, không
thu hút được các nguồn vốn đầu tư đồng nghĩa với việc khó có thể tạo ra được động
75
lực phát triển trong các ngành có liên quan. Ngoài ra, đối với các dự án chế biến các
sản phẩm sữa, dầu thực vật, thuộc da, chế biến gỗ, sản xuất giấy cũng thuộc đối
tượng các ngành phải thực hiện chương trình nội địa hoá nhằm phát triển nguồn
nguyên liệu thô trong nước. Song, do tính đặc thù nên phần lớn các dự án thuộc
ngành này được xây dựng với mục đích sử dụng nguồn nguyên liệu rẻ, sẵn có trong
nước. Do vậy, các nhà đầu tư sẽ tự nguyện thực hiện chính sách nội địa hoá, kể cả
trong trường hợp không được khuyến khích hoặc ưu đãi [26].
Có thể thấy rằng các biện pháp trên chỉ là những biện pháp mang tính định
hướng nhằm phát triển các ngành sản xuất trong nước, nhưng mang tính bắt buộc
(điều kiện đầu tư phải đáp ứng yêu cầu theo quy hoạch), nhằm mục đích yêu cầu sử
dụng các sản phẩm trong nước nhưng lại không được hưởng lợi ích về thuế đối với
nhà đầu tư nước ngoài, không tạo ra sự phân biệt đối xử (về thuế) đối với các sản
phẩm trong nước so với các sản phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, chính sách này sẽ chỉ
phù hợp đối với những ngành có các sản phẩm có sẵn trong nước, với giá thành và
chi phí rẻ, còn đối với những ngành sản xuất đòi hỏi nhà đầu tư phải thực hiện sản
xuất trong nước dường như sẽ khó tạo sự thu hút đầu tư từ nước ngoài.
Đối với yêu cầu về hạn ngạch, hiện nay Việt Nam chỉ áp dụng hạn ngạch
thuế quan theo cam kết với WTO trong các sản phẩm như: Muối; Thuốc lá nguyên
liệu; Trứng gia cầm; Đường tinh luyện, đường thô [31, Điều 5]. Đối với hàng hóa là
thuốc lá điếu, xì gà được nhà nước độc quyền nhập khẩu: “Tổng công ty Thuốc lá
Việt Nam (VINATABA) là thương nhân nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà theo cơ chế
thương mại nhà nước” [8, Điều 6].
Có thể thấy rằng, kể từ khi gia nhập WTO cho tới thời điểm hiện tại chúng ta
là một trong những quốc gia thành viên thực hiện Hiệp định TRIMs một cách đầy
đủ và nghiêm túc, các biện pháp về bảo đảm đầu tư được quy định tại Luật Đầu tư
năm 2005 (sau khi là thành viên của WTO) và tiếp tục thể hiện thông qua Luật Đầu
tư 2014, trong đó Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư không bị
quốc hữu hóa hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính [24, Điều 9]; bảo đảm hoạt
động đầu tư kinh doanh [24, Điều 10] nhà nước không bắt buộc nhà đầu tư phải
76
thực hiện những yêu cầu (liên quan tới TRIMs), như: yêu cầu về sử dụng các sản
phẩm trong nước; yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa; về cân đối ngoại tệ; cân đối giá trị
xuất nhập khẩu... ngoài ra Luật đầu tư còn quy định bảo đảm chuyển tài sản của nhà
đầu tư nước ngoài ra nước ngoài, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo
quy định của pháp luật, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các tài
sản: Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư; Thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh
doanh; Tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư [24, Điều 11].
Nói cách khác, Việt Nam là một trong những quốc gia thành viên WTO đã
thực hiện các cam kết liên quan tới Hiệp định TRIMs một cách nghiêm túc, khi
không tạo ra sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa nhập khẩu.
Nhưng đồng nghĩa với việc loại bỏ TRIMs trong quá trình hội nhập toàn cầu chúng
ta phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan tới việc phát triển kinh tế đất nước,
phải bảo vệ và phát triển các ngành sản xuất có thế mạnh của mình. Chính vì vậy,
yêu cầu cấp thiết cần phải đặt ra trong bối cảnh tuân thủ quy định của Hiệp định
TRIMs là bắt buộc chúng ta phải nâng cao năng lực của các doanh nghiệp trong
nước không chỉ về năng lực tài chính, quy mô hoạt động, chất lượng sản phẩm, giá
trị sản xuất mà còn phải nâng cao trình độ quản lý để không bị lép vế trước nhà đầu
tư nước ngoài. Theo thống kê cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là
những doanh nghiệp vừa và nhỏ [38], có rất ít sự liên kết giữa các doanh nghiệp
cùng ngành nghề cùng lĩnh vực vì vậy không tạo ra được sự thống nhất trong
phương hướng hoạt động sản xuất, nên dễ bị ảnh hưởng từ tác động bên ngoài của
thị trường, đặc biệt là những tác động xấu (tác động tiêu cực về cung cầu, tác động
về giá cả). Ngược lại chúng ta có rất ít doanh nghiệp lớn chủ yếu vẫn là một số
doanh nghiệp có cổ phần vốn nhà nước nhưng hoạt động kém hiệu quả. Không tạo
ra được những bước đột phá trong sản xuất kinh doanh.
Đối với nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chúng ta cần phải xác định đây là
nhóm doanh nghiệp về cơ bản sẽ tạo ra sự năng động, cạnh tranh (cạnh tranh lành
mạnh) thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước trong quá trình hội nhập. Vì vậy,
trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa hiện nay các doanh nghiệp này cần phải có sự
77
liên kết chặt chẽ với nhau trong các ngành hàng có liên quan, nhằm tạo ra một chuỗi
sản xuất, dịch vụ, tiêu thụ khép kín. Nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng của các nhà
đầu tư nước ngoài với nguồn vốn, trình độ quản lý, kỹ thuật vượt trội, cùng với kinh
nghiệm trong nhiều năm phát triển trước chúng ta. Đơn cử trong một số ngành bán
lẻ tại Việt Nam, một số doanh nghiệp với những thương hiệu nổi tiếng như BigC,
METRO... hiện nay đang trong tay của nhà đầu tư nước ngoài cụ thể là nhà đầu tư
từ các nước thành viên ASEAN, Trung Quốc có thể nhận thấy rằng đây là một trong
những động thái nhằm vào việc điều tiết kênh phân phối sản phẩm (các loại mặt
hàng bán lẻ nằm trong chuỗi các siêu thị) điều này gây ra những bất lợi đáng kể đối
với các sản phẩm trong nước nếu nhà đầu tư này chỉ phân phối các sản phẩm nhập
khẩu từ những chuỗi sản xuất của họ ở các nước thành viên. Đặc biệt trong thời
gian tới đây khi chúng ta thực hiện các cam kết về giảm mức thuế xuất các mặt
hàng trong WTO, mức thuế nhập khẩu hàng theo các hiệp định thương mại, mức
thuế khi cộng đồng ASEAN được thành lập. Có thể thấy trong điều kiện bình
thường thuế nhập khẩu được coi là rào cản đối với hàng hóa nhập khẩu và cũng là
lợi thế đối với sản phẩm trong nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện
nay trong các Hiệp định thương mại đa phương các thành viên đều có những lợi ích
riêng cốt lõi của mình vì vậy trong các hiệp định thường hướng tới việc loại bỏ mức
thuế xuất nhập khẩu (chủ đề chính đối với thương mại hàng hóa trên thế giới trong
cả lịch sử cũng như hiện tại). Vì vậy, việc thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành
hàng, các doanh nghiệp trong nước có thể dẫn tới việc chiếm ưu thế của các nhà đầu
tư nước ngoài ngay tại thị trường trong nước, kéo theo đó có thể là những ảnh
hưởng tiêu cực tới quá trình tiêu thụ các sản phẩm sản xuất trong nước.
Đối với các doanh nghiệp lớn, chủ yếu là vốn nhà nước. Theo quy luật chung
của nền kinh tế thị trường thì nhà nước không nên vừa thực hiện ban hành các chính
sách về kinh tế, vừa nắm giữ cổ phần, vừa thực hiện sản xuất kinh kinh doanh. Vì
có thể sẽ dẫn tới một nền kinh tế phi thị trường, sản xuất và tiêu thụ hàng hóa không
theo quy luật cung cầu mà theo sự điều chỉnh của nhà nước, đi ngược lại sự quy luật
phát triển tự nhiên của nền kinh tế (theo quy luật cung cầu). Thực tiễn trong quá
78
khứ đã chứng minh, nền kinh tế kế hoạch hóa tập chung mà Đảng và nhà nước ta đã
thực hiện trong quá khứ tuy đã có sự nghiên cứu, có những bước đi đầy cân nhắc
trong quá trình xây dựng đất nước nhằm đưa nước ta từ nền nông nghiệp lạc hậu
quá độ tiến tới chủ nghĩa xã hội với nền công nghiệp hiện đại, tuy nhiên trong quá
trình triển khai cũng đã mắc một số sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính sách
khi chưa cân nhắc đầy đủ những yếu tố cần thiết cần phải có trong công cuộc xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, như: điều kiện hạ tầng cơ
sở, cơ sở vật chất, đặc biệt là trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ... Vì vậy, đối với
các doanh nghiệp lớn có vốn nhà nước. Cần phát huy lợi thế về quy mô, nguồn vốn
sẵn có tập chung đổi mới phương thức quản lý (theo hướng nhà nước không can
thiệp vào công việc sản xuất của doanh nghiệp); nhanh chóng tiến hành công cuộc
cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tiến tới việc thoái hoàn toàn vốn đầu tư của
nhà nước trong các doanh nghiệp, từ đó nâng cao trình độ quản lý của doanh
nghiệp, tăng cường trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra động
lực phát triển sản xuất của doanh nghiệp, của nền kinh tế.
Qua quá trình phân tích, tìm hiểu các tranh chấp liên quan tới TRIMs và kinh
nghiệm đã rút ra được từ một số nước thành viên đã sử dụng, cùng với thực tiễn
thực hiện tại Việt Nam, ngoài việc nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước
trong quá trình tuân thủ TRIMs ở một số lĩnh vực thế mạnh, chúng ta cần thiết phải
sử dụng TRIMs một cách hiệu quả và hợp lý (giống với các quốc gia thành viên
đang phát triển đã và đang sử dụng) nhằm tạo ra sự phát triển mạnh mẽ, nhanh
chóng đối với một số ngành nghề quan trọng theo định hướng phát triển của quốc
gia, từng bước đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại.
Ví dụ cụ thể trong ngành sản xuất công nghiệp ô tô hiện nay ở nước ta, với
quan điểm: “Phát triển công nghiệp ô tô trở thành ngành công nghiệp quan trọng để
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, góp phần phát triển kinh tế - xã
hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước” cùng với đó là mục tiêu: “Phát
triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trở thành ngành công nghiệp quan trọng của
đất nước, đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường nội địa về các loại xe tải, xe khách
79
thông dụng và một số loại xe chuyên dùng; phấn đấu trở thành nhà cung cấp linh
kiện, phụ tùng và một số cụm chi tiết có giá trị cao trong chuỗi sản xuất công
nghiệp ô tô thế giới, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy sự phát triển của
các ngành công nghiệp khác” [14]. Tuy có áp dụng, định hướng tỉ lệ nội địa hóa
trong ngành sản xuất ô tô trong nước cùng với việc thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư
nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất và lắp ráp ô tô. Tuy nhiên, việc áp dụng tỉ lệ nội
địa hóa (nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra) không đi cùng với những ưu
đãi về thuế và phí, không tạo ra những ưu tiên, ưu đãi đặc biệt đối với các nhà đầu
tư nước ngoài trong lĩnh vực này vì vậy có thể có những tác động tiêu cực, làm
giảm hiệu quả đầu tư, không tạo ra được động lực phát triển cho doanh nghiệp đầu
tư nói riêng và ngành sản xuất trong nước nói chung. Chính vì vậy, việc sử dụng
TRIMs trong một thời gian cụ thể (từ 02 tới 03 năm) đối với ngành sản xuất ô tô tại
nước ta hiện nay là điều cần thiết, nhằm tạo ra sự phát triển nhanh chóng đối với
ngành công nghiệp ô tô trong nước, cần phải hướng những ưu đãi cho các đối tác
chiến lược trong lĩnh vực này (các doanh nghiệp liên doanh của một số quốc gia
thành viên đang đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ô tô).
Tuy nhiên, việc sử dụng TRIMs cần phải được cân nhắc tính toán lợi ích có
được. Thứ nhất, cần phải tạo ra sự phát triển nhanh chóng đối với các sản phẩm,
ngành hàng được ưu tiên sản xuất và tiêu thụ trong nước. Thứ hai, chú ý tới thời
điểm áp dụng TRIMs để đạt hiệu quả cao nhất. Thứ ba, phải có sự chuẩn bị tinh
thần sẵn sàng tham vấn, sẵn sàng tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan tới
TRIMs. Thứ tư, cần có sự chuẩn bị trước về khung thể chế pháp lý liên quan tới
TRIMs nhằm kịp thời sửa đổi cho phù hợp với quy định của WTO.
Liên hệ với một số hiệp định có liên quan tới thương mại và đầu tư mà
Việt Nam đã đàm phán gia nhập
Việc đàm phán và gia nhập các hiệp định thương mại tự do đối với các quốc
gia và cũng lãnh thổ trên thế giới là một bước đi quan trọng trong tiến trình hội
nhập quốc tế của Việt Nam. Bằng sự chuẩn bị và lỗ lực của mình, trong thời gian
gần đây chúng ta đã bước đầu đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại quốc tế
80
quan trọng như, Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu
(EU-Vietnam Free Trade Agreement - EVFTA) ngày 02/12/2015, dưới sự chứng
kiến của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Ủy ban châu Âu, Bộ trưởng
Bộ Công Thương Việt Nam và Cao ủy Thương mại EU đã ký Tuyên bố về việc
chính thức kết thúc đàm phán hiệp định; Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
(Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – TPP) ký kết ngày
04/02/2016 bởi Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước thành viên: Ốt-xtrây-
lia, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru,
Xinh-ga-po, Hoa Kỳ và Việt Nam. Tuy hiện tại các Hiệp định này chưa có hiệu lực
về mặt pháp lý và cần phải có sự phê chuẩn của các quốc gia thành viên nhưng việc
đàm phán ký kết các hiệp định trên có tác động lớn tới việc hình thành và phát triển
các chính sách thương mại của chúng ta ngay tại thời điểm hiện tại.
Đối với các cam kế về đầu tư, cả ở TPP (Chương 9 về đầu tư) và EVFTA
(Chương về thương mại dịch vụ, đầu tư và thương mại điện tử) đều có những quy
định liên quan tới việc bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài, các cam kết về nguyên tắc đối
xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc trong đầu tư, trong đó mỗi Bên phải dành cho
nhà đầu tư của Bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà
đầu tư của nước mình, hoặc nhà đầu tư của Bên không phải thành viên Hiệp định.
Nội dung liên quan tới đầu tư nước ngoài chủ yếu được phát triển từ những quy
định của TRIMs trong WTO, nhưng được giải thích và quy định cụ thể hơn liên
quan tới các biện pháp, yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện để được phép đầu tư:
những yêu cầu về xuất khẩu; những yêu cầu về hàm lượng nội địa; những yêu cầu
về tiêu thụ trong nước; những yêu cầu về cân đối thương mại; những yêu cầu bắt
buộc về loại sản phẩm; những yêu cầu về chuyển giao công nghệ. Hoặc những yêu
cầu để nhận được những khoản ưu đãi về đầu tư: yêu cầu về hàm lượng nội địa;
những yêu cầu về tiêu thụ trong nước (phải mua, sử dụng hoặc áp dụng chế độ ưu
đãi cho hàng hóa sản xuất trong nước); những yêu cầu về cân đối thương mại.
Liên quan tới việc giải quyết tranh chấp trong đầu tư, cả hai Hiệp định đều
đề cập quy định nhà đầu tư nước ngoài có quyền khởi kiện Chính phủ của nước
81
thành viên ra cơ quan tài phán quốc tế cụ thể là Trung tâm Giải quyết Tranh chấp
Đầu tư Quốc tế (theo Công ước ICSID), đây thường là những điều khoản mà các
thành viên phát triển đưa và các hiệp định thương mại tự do nhằm bảo vệ các nhà
đầu tư của quốc gia mình, tuy nhiên điều này lại gây ra trở ngại không nhỏ cho
Chính phủ các nước đang phát triển khi phải đối mặt với một vụ kiện xuất phát từ
một bên là nhà đầu tư khi mà thành viên đó chưa thực sự tham gia nhiều vào các cơ
chế giải quyết tranh chấp quốc tế (trở ngại về nguồn nhân lực, tài chính tham gia vụ
việc, trở ngại về các khoản bồi thường khi thua kiện...).
Đối với quy định về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hiệp định nói chung,
cả TPP (Chương 28 Giải quyết tranh chấp) và EVFTA (Chương giải quyết tranh
chấp) đều có những quy định chung về vấn đề này. Hầu hết các quy định về giải
quyết tranh chấp của cả hai hiệp định này đều dựa trên nền tảng quy định của DSU -
cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO. Trong đó, khi phát sinh tranh chấp các bên
đều phải thực hiện thủ tục tham vấn giống với thủ tục tham vấn tại WTO, nhằm
hướng tới một thỏa thuận các bên cùng thống nhất mà không cần phải dùng tới các
bước tố tụng tiếp theo.
Đối với TPP, sau khi các bên đã tổ chức tham vấn về các vấn đề tranh chấp,
nếu không có thỏa thuận được đưa ra một Ban hội thẩm sẽ được thành lập để xem xét
các khiếu nại và đưa ra các khuyến nghị, phán quyết để giải quyết tranh chấp theo các
quy định có liên quan của Hiệp định, phù hợp với các quy định diễn giải của luật
quốc tế theo Điều 31 và 32 của Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế (1969).
Ngoài ra, đối với các nghĩa vụ của Hiệp định WTO đã được đưa vào Hiệp định, Ban
hội thẩm sẽ xem xét những giải thích liên quan trong báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ
quan Phúc thẩm của Cơ quan giải quyết tranh chấp trong WTO [46, Điều 28.11].
Như vậy có thể thấy rằng, các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm
trong WTO là một nguồn tài liệu quan trọng trong giải quyết tranh chấp liên quan
tới TPP. Thủ tục làm việc của Ban hội thẩm trong TPP cũng gần giống với WTO,
các bên sẽ tham dự các phiên điều trần [46, Điều 28.12]; các thành viên không là
một bên trong tranh chấp có thể tham gia với tư cách thứ ba [46, Điều 28.13], ban
82
hội thẩm cũng sẽ ban hành báo cáo ban đầu [46, Điều 28.16] (để các bên xem xét lại
các số liệu thực tế và các tình tiết có liên quan) và báo cáo cuối cùng tới các bên
[46, Điều 28.17]. Tuy nhiên khác với WTO, các phiên điều trần trong thủ tục làm
việc của Ban hội thẩm sẽ được công khai, nếu các bên không có thỏa thuận khác (ở
WTO phiên điều trần được giữ bí mật). Một điểm khác biệt nữa ở TPP là trong quá
trình xem xét của mình ban hội thẩm phải xem xét yêu cầu từ các tổ chức phi chính
phủ nằm trong lãnh thổ của bất kỳ Bên tranh chấp đưa ra quan điểm bằng văn bản
liên quan đến tranh chấp, điều này có thể hỗ trợ Ban hội thẩm trong việc xem xét
các biện hộ và lập luận của các bên [46, Điều 28.12], đây có thể là một kênh nhằm
gia tăng lợi thế trong giải quyết tranh chấp và rất có lợi cho các thành viên phát
triển với nhiều tổ chức phi Chính phủ, đặc biệt là Hoa Kỳ. Ban hội thẩm sẽ đưa ra
quyết định của mình bằng sự đồng thuận hoặc theo đa số và có hiệu lực pháp lý đối
với các bên (không cần phải có sự thông qua của một cơ quan nào đó) và các bên
phải tuân thủ phán quyết của Ban hội thẩm theo Điều 28.18. Tại TPP không có thủ tục
tố tụng xem xét lại phán quyết, vì vậy các bên buộc phải tuân thủ phán quyết của Ban
hội thẩm, trong một khoảng thời gian hợp lý (tối đa 15 tháng). Các nguyên tắc đình chỉ
nghĩa vụ đối với các bên không thực hiện phán quyết cũng giống với WTO, tuy nhiên
tại TPP nếu các bên không thực hiện phán quyết có thể bồi thường cho bên thắng kiện
một khoản tiền ấn định [46, Điều 28.19].
Như vây, có thể thấy rằng các quy định về giải quyết tranh chấp tại TPP nói
chung được xây dựng từ nền tảng của cơ chế giải quyết tranh chấp DSU – WTO,
đặc biệt với sự tham gia của Hoa Kỳ là một bên, đối tác quan trọng trong sự hình
thành TPP. Vì vậy, không ngạc nhiên rằng các quy định giải quyết tranh chấp mà họ
sử dụng rất hiệu quả trong WTO được đưa vào TPP, không những vậy một số quy
định mới nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp của họ cũng được đưa vào
TPP như, thời gian giải quyết tranh chấp sẽ giảm, không có thủ tục xem xét lại các
báo cáo của Ban hội thẩm, tiếng nói của các tổ chức phi chính phủ sẽ được Ban hội
thẩm xem xét (những quy định không có tại WTO). Một lần nữa có thể thấy rằng,
thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của TPP, Hoa Kỳ sẽ lại tạo ra một sân chơi
83
riêng của mình thông qua việc giải quyết các tranh chấp giống với những gì họ đã
thực hiện ở WTO.
Đối với EVFTA, sau khi tham vấn không thành công, tranh chấp sẽ được
xem xét bởi Ban trọng tài. Vì EVFTA là hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam
và EU, thành phần của Ban trọng tài sẽ bao gồm các trọng tài viên của Việt Nam,
EU và các trọng tài viên không phải là công dân, không có hộ khẩu thường trú tại
một trong các Bên theo Điều 23 chương giải quyết tranh chấp của EVFTA. Cũng
giống với giải quyết tranh chấp của TPP, tại EVFTA hầu hết các quy định về giải
quyết tranh chấp đều được phát triển từ DSU của WTO (các phán quyết của DSB
cũng được coi là một nguồn tài liệu quan trọng khi được Ban trọng tài sử dụng
trong việc giải thích pháp luật liên quan tới các quy định của WTO (Điều 21) với
nhiều cải tiến mới như: rút ngắn được thời gian giải quyết tranh chấp khi không có
thủ tục xem xét lại báo cáo của Ban trọng tài, và các bên phải tuân thủ phán quyết.
Ban trọng tài sẽ ra quyết định bằng sự đồng thuận hoặc theo đa số (Điều 22)...
Ngoài ra, các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua trung gian, hòa giải
hoặc bằng trọng tài được các bên ghi nhận và có thể đưa ra tại bất cứ thời điểm nào
trong quá trình giải quyết tranh chấp trong cả TPP và EVFTA.
Để sẵn sàng tham gia tham vấn, sẵn sàng giải quyết có hiệu quả các tranh
chấp quốc tế nói chung và trong WTO nói riêng, tuy chúng ta đã có những bước
chuẩn bị và không ngừng hoàn hiện về thể chế pháp lý liên quan tới vấn đề này,
trong suốt quá trình hội nhập quốc tế. Nhưng để nâng cao vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế, nâng cao năng lực giải quyết các tranh chấp và phòng ngừa các rủi
ro phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp nói riêng và hội nhập quốc tế nói
chung, chúng ta cần phải có những bước đi đúng đắn, những giải pháp thích hợp
trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng thể chế pháp lý liên quan tới
giải quyết các tranh chấp quốc tế.
3.2. Phƣơng hƣớng, giải pháp phòng và giải quyết tranh chấp
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật
Để hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước nhằm mục đích phòng và giải
84
quyết hiệu quả các tranh chấp phát sinh trong quan hệ quốc tế, trước hết chúng ta
cần phải nắm rõ được mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Trong đó, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật độc lập
có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau tùy vào điều kiện
kinh tế, quan điểm chính trị và tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc
gia, nhưng tựu chung lại pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia đều xuất phát từ lợi
ích chung của chính quốc gia, dân tộc đó và cộng đồng quốc tế. Sự tác động qua lại
giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia được thể hiện ở hai khía cạnh: thứ
nhất, pháp luật quốc gia ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của pháp luật
quốc tế. Sự hình thành các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế cũng như nội
dung hoàn toàn tùy thuộc vào ý chí, thỏa thuận giữa các quốc gia. Pháp luật quốc
gia thể hiện sự định hướng về nội dung, tính chất của pháp luật quốc tế. Mọi sự thay
đổi, phát triển tiến bộ của pháp luật quốc gia đều tác động tích cực thúc đẩy sự phát
triển của pháp luật quốc tế (điều này được thể hiện rất rõ trong quá trình đàm
phán, xây dựng Điều ước quốc tế). Thứ hai, pháp luật quốc tế có tác động tích cực
nhằm phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc gia thông qua thực tiễn thực thi
nghĩa vụ thành viên trong các tổ chức quốc tế, Điều ước quốc tế như: quá trình sửa
đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật của luật quốc gia sao cho phù hợp
với những cam kết quốc tế. Chính vì thế, các quy định có nội dung tiến bộ của
khoa học pháp lý quốc tế sẽ dần được chuyển tải vào văn bản quy phạm pháp luật
quốc gia. Điều đó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của hệ thống
pháp luật quốc gia. Bên cạnh đó, luật quốc tế còn tác động đến luật quốc gia thông
qua vai trò phản ánh tương quan khi điều chỉnh những vấn đề thuộc lợi ích phát
triển và hợp tác quốc tế của các quốc gia.
Trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay, một mặt chúng ta cần phải
thực hiện đầy đủ, tận tâm, thiện chí các cam kết quốc tế. Mặt khác, chúng ta vẫn
phải thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đồng thời thể hiện và
nâng cao quan điểm của mình trên trường quốc tế (trong quá trình hợp tác quốc tế).
Để phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra và giải quyết có hiệu quả các tranh chấp phát
85
sinh, vấn đề đầu tiên đặt ra là, chúng ta phải hoàn thiện hệ thống pháp luật theo
hướng tuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế, tập quán quốc tế, các Điều ước
quốc tế mà chúng ta là thành viên nói chung và đối với Hiệp định TRIMs nói riêng.
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cần phải bảo đảm thực hiện đồng bộ đối với các
Bộ, Ban, Ngành có liên quan.
Thứ nhất, phải thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các cam kết hội nhập kinh tế
quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia; thường xuyên rà soát các chính sách
thương mại, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; loại bỏ những
văn bản, quy định chồng chéo, không còn phù hợp; ban hành các văn bản mới rõ
ràng, cụ thể, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, khả thi, phù hợp với các cam kết
quốc tế và tình hình thực tế.
Thứ hai, tích cực tham gia đàm phán các hiệp định thương mại tự do trong
khuôn khổ song phương và khu vực. Tiến hành nghiên cứu, tiến tới đàm phán các
hiệp định thương mại mới, phù hợp với lợi ích và nhu cầu phát triển kinh tế theo
hướng nâng cao vị thế, tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ ba, hoàn thiện quy định cũng như tổ chức, cơ chế hoạt động và nâng cao
năng lực của các cơ quan quản lý cạnh tranh, chống trợ cấp, chống bán phá giá, cơ
quan đầu mối về giải quyết tranh chấp quốc tế. Cơ chế phối hợp giữa các doanh
nghiệp với cơ quan nhà nước, trong việc điều tra các vụ tranh chấp quốc tế; làm rõ
và gắn trách nhiệm đối với các cơ quan trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế.
Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục liên
quan đến đầu tư, xuất nhập khẩu, thuế; đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin
trong công tác quản lý điều hành, gắn với đó là yêu cầu về đảm bảo an toàn và an
ninh mạng, đảm bảo vận hành thông suốt.
Thứ năm, nâng cao trình độ và kỹ năng của cơ quan tham mưu các dự án
Luật cho Quốc hội, nâng cao trình độ lập pháp của Đại biểu Quốc hội, nâng cao
hiệu quả thực thi trong thực tế của các điều luật khi được ban hành.
Thứ sáu, Xây dựng đề án đổi mới và phát huy vai trò của các tổ chức; hiệp
hội ngành nghề; tổ chức chính trị, xã hội trong quá trình xây dựng và thực thi các
86
chính sách về hội nhập kinh tế quốc tế. Xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển
các sản phẩm, ngành hàng cụ thể gắn kết với chiến lược phát triển thương hiệu quốc
gia nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu có chiều sâu, hiệu quả và bền vững;
thực hiện tốt công tác cảnh báo sớm về các biện pháp phòng vệ thương mại, đồng
thời tận dụng tốt các quy định quốc tế về chỉ dẫn địa lý, nguồn gốc xuất xứ, đăng ký
bản quyền, thương hiệu để bảo vệ doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam trong
thương mại quốc tế.
Thứ bẩy, Ban hành và thực hiện chính sách nâng cao chất lượng giáo dục, chất
lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế. Đặc biệt là đội ngũ Luật sư công tham gia vào các vụ tranh chấp quốc
tế, cán bộ làm đầu mối giải quyết tranh chấp quốc tế... Xây dựng kế hoạch về việc cử
cán bộ vào làm việc tại các tổ chức quốc tế và các thiết chế đa phương.
Đi đôi với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc
tế nói chung và yêu cầu về phòng ngừa rủi ro, giải quyết có hiệu quả các tranh chấp
quốc tế chúng ta cần phải thực hiện xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp lý liên
quan tới lĩnh vực này.
3.2.2. Xây dựng và hoàn thiện thể chế
Thể chế có thể được hiểu là cái tạo thành khung khổ trật tự cho các quan hệ
của con người, cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia
trong xã hội; là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những
quy tắc, những ràng buộc và các chuẩn mực giá trị chung. Hiểu một cách chung
nhất thì thể chế là những nguyên tắc xác định mối quan hệ xã hội, định hình cách
thức ứng xử của các thành viên trong những phạm vi, quy mô tổ chức xã hội và điều
chỉnh sự vận hành của tổ chức xã hội đó. Các chủ thể thực hiện và quản lý sự vận
hành xã hội (bao gồm nhà nước, cộng đồng cư dân, các tổ chức xã hội dân sự) trên
cơ sở của hệ thống pháp luật, các quy tắc xã hội điều chỉnh các mối quan hệ và các
hành vi được thừa nhận của cộng đồng, quốc gia. Cùng với sự thay đổi và phát triển
liên tục quan hệ xã hội, vì vậy thể chế có thể thay đổi theo thời gian.
Có thể thấy, thể chế và hiệu lực của thể chế có vai trò quan trọng và quyết
87
định đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Chính vì vậy việc hoàn thiện thể
chế pháp lý liên quan tới quá trình hội nhập quốc tế và giải quyết các tranh chấp
phát sinh là vấn đề hết sức cần thiết, trong đó chúng ta cần phải xác định rõ vai trò
trách nhiệm của doanh nghiệp, của cơ quan nhà nước.
Thứ nhất, cộng đồng doanh nghiệp. Cần phải xác định doanh nghiệp là một
phần quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển đất nước, doanh nghiệp phát
triển thì đất nước đi lên, doanh nghiệp yếu thì đất nước đi xuống. Vì vậy, chính doanh
nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp phải ý thức được vai trò của mình trong quá trình
phát triển đất nước, phải không ngừng nâng cao năng lực về nguồn vốn, kỹ thuật,
nhân lực; tăng cường cơ chế hợp tác, liên kết đối với các doanh nghiệp, hiệp hội,
ngành hàng nhằm tạo ra các chuỗi cung ứng, dịch vụ, tiêu thụ; tạo chuỗi giá trị bền
vững cho các sản phẩm ưu tiên của quốc gia của vùng, đồng thời giảm thiểu hạn chế
ảnh hưởng tác động tiêu cực từ thị trường tới doanh nghiệp. Tăng cường công tác tìm
hiểu, phân tích, đánh giá thị trường, thu thập số liệu có liên quan trong cơ chế chính
sách thương mại của các nước thành viên. Kịp thời, chủ động cung cấp, đề xuất
phương hướng, giải pháp, tài liệu có liên quan khi phát sinh tranh chấp quốc tế hoặc
khi lợi ích thương mại của doanh nghiệp bị xâm hại. Chú trọng, phát triển nguồn
nhân lực riêng của doanh nghiệp làm nhiệm vụ tham mưu, liên hệ với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trong nước và cơ quan đại diện ngoại giao tại nước ngoài (trong
trường hợp cần thiết) và trực tiếp tham gia giải quyết tranh chấp, phải có chế độ đãi
ngộ đặc biệt đối với đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực này. Đồng thời, tham gia hỗ
trợ hợp lý kinh phí theo đuổi vụ kiện đối với Chính phủ.
Thứ hai, đối với cơ quan nhà nước:
- Đối với Quốc hội, cần phải phát huy vai trò giám sát tối cao và quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước, nghiên cứu và phê chuẩn các Điều ước quốc tế
có lợi cho sự phát triển của đất nước khi chúng ta là thành viên. Kịp thời điều chỉnh
các điều luật không phù hợp với quy định của các Điều ước quốc tế.
- Đối với Chính phủ, với vai trò tạo ra cơ chế chính sách, chiến lược phát triển
đất nước. Vì vậy, Chính phủ cần phải tạo cơ chế chính sách nhằm nâng cao năng lực
88
cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm; cải thiện môi trường đầu tư kinh
doanh; tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài; thực hiện tốt chính sách
ưu đãi đầu tư; nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và quản lý nợ công. Thực hiện cơ chế
tham vấn đối với các doanh nghiệp và các đối tượng liên quan trong quá trình xây
dựng chính sách, pháp luật theo nguyên tắc công khai, minh bạch của WTO, lấy lợi
ích của quốc gia, doanh nghiê ̣p làm trung tâm.
- Các Bộ ngành có liên quan, tăng cường sự tham gia và phối hợp giữa các
Bộ, ngành và địa phương, giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp trong
việc hoạch định chính sách về kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm được sự
nhất quán, cân bằng được lợi ích tổng thể về kinh tế - chính trị, phù hợp với chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Tăng cường sự phối hợp liên ngành, liên
vùng trong việc xây dựng và triển khai các chiến lược, chương trình hành động, đề
án phát triển kinh tế... để phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả nền kinh tế trong
cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Rà soát, khắc phục sự chồng chéo giữa các
Bộ, ngành trong việc triển khai các nhiệm vụ liên quan đến hội nhập kinh tế quốc
tế; xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các bên trong việc xây dựng và triển khai
các chiến lược, đề án, chương trình hành động phát triển kinh tế... có liên quan và
tác động đến nhiều Bộ, ngành và địa phương.
- Bộ Công thương, với vai trò đại diện lợi ích kinh tế quốc tế của Việt Nam
trong hội nhập kinh tế quốc tế, đề xuất phương án và tổ chức thực hiện quyền và
nghĩa vụ liên quan, áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp.
Trong đó Cục Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Công thương, đây là cơ quan trực
tiếp thực hiện việc điều tra, cảnh báo sớm các vụ kiện thương mại liên quan tới
chống bán phá giá, trợ cấp thương mại và các biện pháp phòng vệ của nước ngoài
đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời phối hợp với các cơ quan có
liên quan thực hiện việc khởi kiện các vụ việc phát sinh. Cần phải nâng cao năng
lực, trình độ của cán bộ làm công tác điều tra; cải thiện môi trường, cơ chế phối hợp
thông thoáng giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp trong quá trình điều tra, giải
quyết tranh chấp; các biện pháp cơ chế phòng và cảnh báo sớm; quy trình phát hiện,
89
xử lý tranh chấp từ giai đoạn chuẩn bị hồ sơ và theo đuổi thủ tục giải quyết; xác
định cơ quan chủ trì, phối hợp và tham gia giải quyết tranh chấp, cho phép sự tham
gia của cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp khác trong quá
trình giải quyết tranh chấp; huy động và sử dụng nguồn kinh phí giải quyết tranh
chấp… lấy lợi ích của doanh nghiệp làm trung tâm.
Đồng thời xây dựng và đưa vào hoạt động trung tâm đầu mối giải quyết tranh
chấp quốc tế nói chung tại Việt Nam. Với nhiệm vụ tiếp nhận thông tin tranh chấp;
trực tiếp thực hiện các thủ tục liên quan tới giải quyết tranh chấp đối với các bên và
tại các cơ quan tài phán quốc tế; trực tiếp tham gia vào quá trình giải quyết tranh
chấp... thường xuyên cập nhật và nghiên cứu kỹ lưỡng các án lệ của cơ quan tài
phán quốc tế, các báo cáo của cơ quan giải quyết tranh chấp tại WTO... rút ra được
những bài học kinh nghiệm, đề xuất những giải pháp thích hợp trong quá trình giải
quyết tranh chấp, trong quá trình thực thi các cam kết quốc tế, trong việc ban hành
các chính sách thương mại... nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho quốc gia trong quá
trình hội nhập thế giới.
- Bộ Ngoại giao, cần phát huy vai trò của cơ quan đại diện của Việt Nam ở
nước ngoài trong việc phối hợp với cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan liên
quan trong và ngoài nước để mở rộng thị trường xuất khẩu, xúc tiến thương mại, du
lịch và thu hút đầu tư; hỗ trợ bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp Việt Nam trong
các vụ tranh chấp thương mại. Đặc biệt là Phái đoàn đại diện thường trực nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại
thế giới – WTO và các Tổ chức quốc tế khác tại Geneva, Thụy Sỹ, đây là đầu mối
thực hiện các thủ tục giải quyết tranh chấp tại WTO như, tiếp nhận, xử lý các tài
liệu có liên quan. Trước hết cần phải kịp thời tham mưu các vấn đề tố tụng liên
quan tới giải quyết tranh chấp tại WTO đặc biệt là bảo đảm thực hiện đầy đủ trình
tự thủ tục, thời gian, thời hạn trong quá trình giải quyết; chủ động, tích cực tham gia
với tư cách là bên thứ ba trong các vụ kiện tại WTO; tăng cường giao lưu phối hợp,
các đoàn đại diện ngoại giao của các quốc gia thành viên tại WTO, nâng cao hiệu
quả hoạt động vận động hành lang nhằm tăng cường sự ủng hộ của các thành viên
90
trong các vụ tranh chấp. Chú trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực, chế độ
làm việc của cán bộ làm đầu mối và tham gia trực tiếp vào các tranh chấp. Xây
dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác giải quyết tranh chấp quốc tế, bảo
đảm có đủ thời gian để tích lũy kinh nghiệm, theo dõi và xử lý các hồ sơ vụ việc về
tranh chấp thương mại tại WTO. Tận dụng hiệu quả sự hỗ trợ từ ACWL.
- Bộ Tư pháp, tăng cường tư cách là cơ quan phối hợp, tham gia trong quá
trình phòng và xử lý các tranh chấp thương mại quốc tế tại WTO. Kiểm tra, rà soát
các văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm tính hợp pháp trong nước và phù
hợp với quy định của luật quốc tế. Đẩy mạnh đào tạo và duy trì nguồn nhân lực
trong hoạt động pháp lý (cho hội nhập kinh tế quốc tế), có trình độ (đặc biệt là
ngoại ngữ), có kinh nghiệm và bảo đảm tính kế thừa; xây dựng và triển khai các
Chương trình đào tạo riêng cho các cán bộ làm công tác liên quan trực tiếp đến giải
quyết tranh chấp; nâng cao chất lượng của đội ngũ luật sư, chuyên gia pháp lý về
thương mại quốc tế nói chung và WTO nói riêng; chủ động tham gia các hoạt động
từ khâu chuẩn bị hồ sơ, thực hiện các bước tố tụng để giải quyết có hiệu quả các vụ
tranh chấp cụ thể.
Thứ ba, đối với các tổ chức xã hội đặc biệt là Phòng Thương mại và Công
nghiệp phát huy hơn nữa vai trò đại diện, thúc đẩy và bảo vệ quyền lợi hợp pháp,
chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp và người sử dụng lao động ở Việt Nam
trong các quan hệ trong nước và quốc tế. Nâng cao vai trò đầu mối liên hệ giữa
doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước, đại diện cho lợi ích của cộng đồng doanh
nghiệp; thường xuyên nghiên cứu, trao đổi, điều tra, khảo sát, đưa ra những nhận
định, báo cáo về mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với cơ quan nhà nước trong
việc thực thực hiện giải quyết tranh chấp quốc tế... Tích cực tham mưu cho Chính
phủ các chính sách nhằm nâng cao năng lực, vị thế của Doanh nghiệp trong trong sự
phát triển của đất nước. Phát huy vai trò chủ động tham gia giải quyết các tranh
chấp quốc tế liên quan tới doanh nghiệp.
91
KẾT LUẬN
Trong quá trình hội nhập kinh tế, bằng việc đàm phán gia nhập các tổ chức
quốc tế, các Hiệp định thương mại tự do đã và đang đặt ra cho chúng ta nhiều cơ hội
và thách thức trong quá trình phát triển đất nước, phát triển kinh tế, phát triển con
người... nâng cao vị thế và tiếng nói của quốc gia trên trường quốc tế. Bằng việc
nghiên cứu hoàn cảnh ra đời, nội dung chủ yếu của Hiệp định TRIMs cùng với thực
tiễn quy trình thủ tục giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs tại WTO, luận văn
đã đi vào phân tích, nhận xét và làm rõ được những vấn đề được đặt ra như: quy
định liên quan tới Hiệp định TRIMs, đối tượng của các tranh chấp liên quan tới hiệp
định, cơ chế và thực tiễn giải quyết tranh chấp đó. Luận văn cũng nêu ra được thực
tiễn pháp luật Việt Nam liên quan tới TRIMs, thực tiễn giải quyết tranh chấp của
Việt Nam trong khuôn khổ WTO. Cùng với việc mở rộng liên hệ với một số Hiệp
đinh thương mại tự do như EVFTA và TPP, luận văn cũng đã đưa ra được một số
kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc phòng ngừa rủi ro, giải quyết có hiệu quả
tranh chấp quốc tế nói chung và trong WTO nói riêng.
Để hội nhập một cách đầy đủ và sâu rộng trong quan hệ quốc tế, chúng ta
cần phải có sự chuẩn bị về mọi mặt liên quan tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật,
hoàn thiện thể chế pháp lý liên quan tới hội nhập quốc tế. Ngày càng nâng cao vị
thế và tiếng nói của Việt Nam trên các diễn đàn khu vực và quốc tế. Để làm được
điều này chúng ta cần phải tích cực, chủ động tham gia một cách đầy đủ hơn vào cơ
chế giải quyết tranh chấp. Không chỉ chủ động sử dụng các biện pháp phòng vệ
thương mại, các biện pháp pháp lý nhằm khởi kiện các thành viên khác ra cơ quan
tài phán quốc tế nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của Việt Nam, tham gia một cách hiệu
quả vào các vụ tranh chấp với tư cách là bên thứ ba nhằm tăng cường sự hiểu biết
trong những vấn đề có liên quan. Ngoài ra, chúng ta cần phải làm chủ và nắm vững
được các cơ chế, chính sách có liên quan nhằm tạo ra những thuận lợi cho riêng
mình trong quá trình hội nhập, mặt khác chúng ta cũng cần phải chuẩn bị cả về
nguồn nhân lực và kinh phí để giải quyết một cách hiệu quả các tranh chấp với tư
cách là bên bị đơn, giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảy ra. Để làm được
92
điều này, ngoài việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện thể chế pháp lý
chúng ta cần phải tạo ra được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức về giải
quyết tranh chấp quốc tế, không ngần ngại tham gia vào giải quyết tranh chấp.
Chính phủ, các Bộ, Ban, Ngành và cộng đồng doanh nghiệp cần phải có sự liên kết
phối hợp chặt chẽ với nhau, lấy lợi ích của doanh nghiệp làm trung tâm. Có như vậy
chúng ta mới có thể hội nhập một cách đầy đủ và sâu rộng, từng bước nâng cao vị
thế và tiếng nói trên trường quốc tế nhằm phát triển đất nước, từng bước phấn đấu
đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện hiện đại./.
93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1. Nguyễn Thị Hồng Anh (2011), Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, các
bài học kinh nghiệm của một số nước và khuyến nghị đối với Việt Nam trong
thời gian tới, Luận văn thạc sĩ luật Quốc tế, Khoa Luật – ĐHQGHN, Hà Nội.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2016), Báo cáo Chính trị, Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Hà Nội.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2016), Báo cáo đánh giá kết quả
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và phương
hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Hà Nội.
4. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, NXB Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội.
5. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu
các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, NXB Chính
trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
6. Nông Quốc Bình (2006), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, NXB Tư pháp,
Hà Nội.
7. Bộ trưởng Bộ Công thương (2013), Quyết định số 848/QĐ-BCT ngày
05/02/2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Cục Quản lý cạnh tranh, Hà Nội.
8. Bộ trưởng Bộ Công thương (2013), Thông tư số 37/2013/TT-BCT ngày
30/12/2013 quy định nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà, Hà Nội.
9. Bộ trưởng Bộ Công thương (2014), Thông tư số 04/2014/TT-BCT ngày
27/01/2014 hướng dẫn Nghị định 187/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thương
mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và hoạt động đại lý mua, bán,
gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, Hà Nội.
94
10. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (2015), Quyết định số 14/VBHN-
BKHCN ngày 27/02/2015 về phương pháp xác định tỷ lệ nội địa hóa đối với
ôtô, Hà Nội.
11. Bộ trưởng Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày
25/3/2015 quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu, Hà Nội.
12. Chính phủ (2003), Quyết định số 123/2003/QĐ-TTg ngày 12/6/2003 về việc
phê chuẩn Điều lệ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
13. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 49/NQ-CP ngày 10/7/2014 ban hành
Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về một số chủ
trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt
Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, Hà Nội.
14. Chính phủ (2014), Quyết định số 1211/QĐ-TTg ngày 24/7/2014 quyết định
phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội.
15. Chính phủ (2015), Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, Hà Nội.
16. Chính phủ (2016), Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và
phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, Hà Nội.
17. Nguyễn Bá Diến (2005), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, NXB
ĐHQGHN, Hà Nội.
18. Nguyễn Bá Diến (2014), Giáo trình Công pháp quốc tế, NXB ĐHQGHN, Hà Nội.
19. Lê Thị Hồng Hải (2009), Giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ
WTO, Luận văn thạc sĩ luật Quốc tế, Khoa Luật – ĐHQGHN, Hà Nội.
20. Nguyễn Hữu Huyên (2015), Nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào
cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, truy cập ngày 10/3/2015 tại trang
http://isl.vass.gov.vn/.
21. MUTRAP (2013), Báo cáo hỗ trợ nghiên cứu: Kiểm soát xuất khẩu của các
thành viên WTO và khuyến nghị đối với Việt Nam.
95
22. MUTRAP II (2007), Vị trí, vai trò và cơ chế hoạt động của Tổ chức Thương
mại thế giới trong hệ thống thương mại đa phương, NXB Lao động - Xã hội,
Hà Nội.
23. MUTRAP II – Vietnam (2008), Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế
giới: giải thích các điều kiện gia nhập, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội.
24. Quốc hội (2014), Luật số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 ban hành Luật
Đầu tư, Hà Nội.
25. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.
26. Trần Quang Thắng (2007), “Hiệp định TRIMs và sự thích nghi của Việt Nam
trong WTO”, Tạp chí kinh tế và phát triển, (119).
27. Thủ tướng Chính phủ (2005), Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 9/6/2005 về việc
chủ động phòng chống các vụ kiện thương mại nước ngoài, Hà Nội.
28. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định 174/2007/QĐ-TTg ngày
19/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Uỷ ban quốc gia về
hợp tác kinh tế quốc tế, Hà Nội.
29. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 51/2009/QĐ-TTg ngày 8/4/2009
Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Phái đoàn đại
diện thường trực của CHXHCN Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức
thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Giơ-ne-vơ, Hà Nội.
30. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 1099/QĐ-TTg ngày 23/7/2009
Phê duyệt Nghị định thư về việc CHXHCN Việt Nam gia nhập Hiệp định
Trung tâm tư vấn luật WTO, Hà Nội.
31. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày 18/01/2010
phê duyệt Đề án Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế
từ năm 2010 đến năm 2020, Hà Nội.
32. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 06/2012/QĐ-TTg ngày
20/01/2012 về việc tham vấn cộng đồng doanh nghiệp về thỏa thuận thương
mại quốc tế, Hà Nội.
33. Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định số 596/QĐ-TTg ngày 23/4/2014 về
việc thành lập ban chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế, Hà Nội.
96
34. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số 40/QĐ-TTg ngày 07/01/2016 về
việc phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030, Hà Nội.
35. Tổ chức Thương mại thế giới WTO (2006), Báo cáo của Ban Công tác về
việc Việt Nam gia nhập WTO, WT/ACC/VNM/48.
36. Tổng cục Thống kê (2016), Động thái và thực trạng kinh tế xã hội Việt Nam
5 năm 2011-2015, NXB Thống kê, Hà Nội.
37. Tổng cục Thống kê (2016), Hiệu quả của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài 2005-2014, NXB Thống kê, Hà Nội.
38. Tổng cục Thống kê (2016), Hiệu quả của các doanh nghiệp trong nước giai
đoạn 2005-2014, NXB Thống kê, Hà Nội.
39. Tổng cục Thống kê (2016), Xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai
đoạn 2005-2015 với các nước thành viên TPP, NXB Thống kê, Hà Nội.
40. Nguyễn Thị Thu Trang (2014), Giải pháp tăng cường sử dụng các công cụ
phòng vệ thương mại nhằm chuẩn bị cho doanh nghiệp trong nước sẵn sàng
cho việc mở cửa thị trường thực thi các FTAS và Cộng đồng kinh tế ASEAN,
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
41. Việt Nam (2013), Báo cáo về rà soát chính sách thương mại năm 2013,
WT/TPR/G/287.
42. Nguyễn Tiến Vinh (2011), “Một số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ
kiện đầu tiên của Việt Nam tại WTO”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 16(201),
tr. 19-29.
43. Nguyễn Tiến Vinh (2012), “Kinh nghiê ̣m nước ngoài và viê ̣c tăng cường hiê ̣u
quả tham gia của Việt Nam vào c ơ chế giải quyết tranh chấp ta ̣i Tổ ch ức
Thương ma ̣i T hế gi ới (WTO)”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - Luật học,
(28), tr. 165-181.
44. Nguyễn Tiến Vinh (2013), Vai trò của các thể chế phi nhà nước trong việc
bảo đảm Việt Nam – một nước đang phát triển – hội nhập thành công sau khi
ra nhập WTO, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội.
97
II. TÀI LIỆU TIẾNG ANH
45. Rabiu Ado (2013), Local content policy and the WTO Rules of Traderelated
Investment Measures (TRIMs): the Pros and Cons, International Journal of
Business and Management Studies, UK.
46. Brunei, Chile, New Zealand, Singapore, Australia, Canada, Japan, Malaysia,
Mexico, Peru, United States of America, Viet Nam (2016), Trans-Pacific
Strategic Economic Partnership Agreement, Auckland.
47. Dispute settlement system training module, access 15/12/2015, Website:
https://www.wto.org/.
48. EU-Vietnam (2016), Free Trade Agreement between the European Union
and The Socialist Republic of Viet Nam, Bruxelles.
49. John H. Jackson (2000), The Role and Effectiveness of the WTO Dispute
Settlement Mechanism, Brookings Trade Forum, 2000, pp. 179-219.
50. Trade and Investment: Technical information, Agreement on Trade Related
Investment Measures, access 15/12/2015 Website: https://www.wto.org/.
51. Craig VanGrasstek (2013), The History and Future of the World Trade
Organization, World Trade Organization, Geneva.
52. WTO analytical index: Investment, Agreement on Trade-Related Investment
Measures, access 15/12/2015, Website: https://www.wto.org/.
53. World Trade Organization (1994), Agreement Establishing the World Trade
Organization, Marrakesh.
54. World Trade Organization (1994), Agreement on Tariffs and Trade, Marrakesh.
55. World Trade Organization (1994), Agreement on Trade-Related Investment
Measures, Agreement Establishing the World Trade Organization, Annex
1A, Marrakesh.
56. World Trade Organization (1994), Dispute Settlement Understanding,
Agreement Establishing the World Trade Organization, Annex 2, Marrakesh.
57. World Trade Organization (1995), “Working practices concerning dispute
settlement procedures as agreed by the Dispute Settlement Body”, Appellate
Body, WT/DSB/M/6, Geneva.
98
58. World Trade Organization (1997), “European Communities - Regime for the
Importation, Sale and Distribution of Bananas”, Reports of the Panel,
WT/DS27/R, Geneva.
59. World Trade Organization (1997), “European Communities - Regime for the
Importation, Sale and Distribution of Bananas”, Report of the Appellate
Body, WT/DS27/AB/R, Geneva.
60. World Trade Organization (1998), “Indonesia - Certain Measures Affecting
the Automobile Industry”, Reports of the Panel, WT/DS54/R • WT/DS55/R
• WT/DS59/R • WT/DS64/R, Geneva.
61. World Trade Organization (2001), “India - Measures Affecting Trade and
Investment in the Motor Vehicle Sector”, Reports of the Panel,
WT/DS146/R • WT/DS175/R, Geneva.
62. World Trade Organization (2004), “Canada - Measures Relating to Exports
of Wheat and Treatment of Imported Grain”, Reports of the Panel,
WT/DS276/R, Geneva.
63. World Trade Organization (2007), “Turkey - Measures Affecting the
Importation of Rice”, Reports of the Panel, WT/DS334/R, Geneva.
64. World Trade Organization (2008), “China - Measures Affecting Imports of
Automobile Parts”, Reports of the Panel, WT/DS339/R • WT/DS340/R •
WT/DS342/R, Geneva.
65. World Trade Organization (2008), “India - Additional and Extra-Additional
Duties on Imports from the United States”, Reports of the Panel,
WT/DS360/R, Geneva.
66. World Trade Organization (2012), “Canada - Certain Measures Affecting the
Renewable Energy Generation Sector, Canada - Measures Relating to the
Feed-in Tariff Program”, Reports of the Panel, WT/DS412/R •
WT/DS426/R, Geneva.
67. World Trade Organization, Undersantding the WTO - Members and
Observers, access 01/8/2016, Website: https://www.wto.org/.

Giải quyết tranh chấp trong Hiệp định biện pháp đầu tư thương mại

  • 1.
    ĐẠI HỌC QUỐCGIA HÀ NỘI KHOA LUẬT CHU QUANG DUY GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP TRONG KHU¤N KHæ HIÖP §ÞNH C¸C BIÖN PH¸P §ÇU T¦ LI£N QUAN §ÕN TH¦¥NG M¹I (TRIMs) LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2016
  • 2.
    ĐẠI HỌC QUỐCGIA HÀ NỘI KHOA LUẬT CHU QUANG DUY GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP TRONG KHU¤N KHæ HIÖP §ÞNH C¸C BIÖN PH¸P §ÇU T¦ LI£N QUAN §ÕN TH¦¥NG M¹I (TRIMs) Chuyên ngành: LUẬT QUỐC TẾ Mã số: 60 38 01 08 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TIẾN VINH HÀ NỘI - 2016
  • 3.
    LỜI CAM ĐOAN Tôixin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Chu Quang Duy
  • 4.
    MỤC LỤC Trang Trang phụbìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt Danh mục các bảng, biểu đồ MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN TỚI TRIMs TRONG KHUÔN KHỔ WTO................................................................................................................. 6 1.1. Hiệp định TRIMs .........................................................................................6 1.1.1. Lịch sử ra đời .................................................................................................6 1.1.2. Nội dung của Hiệp định TRIMs.....................................................................8 1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO ..................................................14 1.2.1. Phạm vi và đối tượng của các tranh chấp ....................................................16 1.2.2. Các cơ quan trong quá trình giải quyết tranh chấp ......................................18 1.2.3. Quy trình thủ tục giải quyết tranh chấp .......................................................21 1.2.4. Giải quyết tranh chấp không thông qua các thủ tục tố tụng ........................37 1.3. Những vấn đề đặc thù trong giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs......39 1.3.1. Đặc thù về nội dung giải quyết tranh chấp ..................................................39 1.3.2. Đặc thù về thủ tục ........................................................................................40 Chƣơng 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN TỚ I HIỆP ĐI ̣NH TRIMS VÀ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƢỚC.....42 2.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs ...........................42 2.1.1. Tổng quan các vụ tranh chấp .......................................................................42 2.1.2. Những vấn đề pháp lý được đưa ra giải quyết .............................................45 2.2. Kinh nghiệm của các quốc gia trong giải quyết tranh chấp.........................57
  • 5.
    2.2.1. Kinh nghiệmliên quan tới quá trình giải quyết tranh chấp .........................57 2.2.2. Kinh nghiệm liên quan tới TRIMs...............................................................59 Chƣơng 3: VẤN ĐỀ PHÒNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN TỚI TRIMS TẠI VIỆT NAM......................................................62 3.1. Thực tiễn tại Việt Nam ..............................................................................62 3.1.1. Thể chế pháp lý liên quan tới giải quyết tranh chấp quốc tế nói chung và trong khuôn khổ WTO nói riêng.............................................................62 3.1.2. Sự tham gia của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp ......................66 3.1.3. Pháp luật Việt Nam liên quan tới TRIMs ....................................................74 3.2. Phƣơng hƣớng, giải pháp phòng và giải quyết tranh chấp....................83 3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật .....................................................................83 3.2.2. Xây dựng và hoàn thiện thể chế...................................................................86 KẾT LUẬN..............................................................................................................91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................93
  • 6.
    DANH MỤC KÝHIỆU, CHỮ VIẾT TẮT Ký hiệu viết tắt Tiếng Việt Tiếng Anh DSB Cơ quan giải quyết tranh chấp Dispute Settlement Body DSM Cơ chế giải quyết tranh chấp Dispute Settlement Mechanism DSU Quy tắc thủ tục giải quyết tranh chấp Dispute Settlement Understanding EU Liên minh Châu Âu European Union GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại General Agreement on Tariffs and Trade TRIMs Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại Agreement on Trade-Related Investment Measures WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization
  • 7.
    DANH MỤC CÁCBẢNG, BIỂU ĐỒ Số hiệu Tên bảng, biểu đồ Trang Bảng 1.1. Danh mục minh họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị cấm áp dụng (TRIMs) 12 Bảng 1.2. Thời gian biểu làm việc của Ban hội thẩm 25 Bảng 2.1. Tình hình giải quyết các tranh chấp liên quan tới TRIMs 44 Biểu đồ 3.1. Số vụ tranh chấp tại WTO theo thứ tự thời gian từ năm 1995 tới năm 2015 72
  • 8.
    1 MỞ ĐẦU 1. Tínhcấp thiết của đề tài nghiên cứu Ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu thế khách quan của thực tại. Để phát triển đất nước, cũng như tăng cường vị thế của mình trên trường quốc tế, các quốc gia trên thế giới không ngừng hợp tác, giao lưu trên mọi lĩnh vực của đời sống như Kinh tế, Chính trị, Văn hóa – Xã hội, An ninh... Trong đó, quan hệ Kinh tế quốc tế được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm hơn cả. Hiện nay, trong các thiết chế Kinh tế quốc tế chúng ta cần phải nói đến Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization - WTO), được chính thức thành lập và đi vào hoạt động ngày 01/01/1995 là sản phẩm của vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994). Tính đến 14/7/2016 WTO có tới 163 thành viên là các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (thành viên mới nhất là Liberia) [67]. Việt Nam với tư cách là một quốc gia đang phát triển cũng không nằm ngoài quy luật khách quan đó. Bằng chính sách mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã nộp đơn gia nhập WTO vào tháng 01 năm 1995 và trở thành thành viên chính thức (ngày 11/01/2007) sau 12 năm đàm phán gia nhập. Sau khi là thành viên của WTO, nền kinh tế nước ta đã có sự chuyển biến rõ rệt, từ một nền kinh tế Kế hoạch hóa tập chung chúng ta đã và đang xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên việc hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức mới trong việc phát triển đất nước. Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế. Một mặt, cần phải khuyến khích, tạo động lực phát triển và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước trước nhà đầu tư nước ngoài với nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hơn chúng ta. Mặt khác, cần phải tạo điều kiện thuận lợi, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, cùng với việc hướng nguồn vốn đó để phát triển kinh tế đất nước theo mục tiêu đã đề ra. Xét về mặt trong nước, việc tạo các điều kiện thuận lợi, ưu đãi dành riêng cho các nhà đầu tư trong nước cùng với việc áp đặt một số biện pháp hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài là việc cần thiết để bảo vệ ngành sản xuất
  • 9.
    2 còn non trẻ.Tuy vậy, chính điều này đã tạo ra sự không công bằng giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, vì vậy có thể sẽ vi phạm các cam kết quốc tế về Đối xử quốc gia (National Treatment), cũng như các biện pháp hạn chế định lượng (như yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa; hạn ngạch về số lượng xuất khẩu và nhập khẩu đối với các nhà đầu tư nước ngoài...). Chính vì vậy, việc xảy ra tranh chấp liên quan đến các biện pháp đầu tư là không thể tránh khỏi. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, sẽ đi vào tìm hiểu các tranh chấp trong khuôn khổ Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Agreement on Trade Related Investment Measures - TRIMs) của WTO. Trong bối cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế, tuy chưa tham gia nhiều vào cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại trong khuôn khổ Hiệp định TRIMs, không có nghĩa là chúng ta sẽ đứng ngoài các tranh chấp đó. Để phòng ngừa và nâng cao hiệu quả trong quá trình giải quyết tranh chấp, chúng ta cần phải tìm hiểu một số vấn đề có liên quan: Thứ nhất, Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại là gì?; Thứ hai, đối tượng các tranh chấp liên quan đến Hiệp định?; Thứ ba, cơ chế để giải quyết các tranh chấp đó như thế nào?; Thứ tư, thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan đến hiệp định?; Thứ năm, thực trạng pháp luật Việt Nam đối với các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại?; thông qua đó có thể rút ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Để trả lời những câu hỏi đặt ra trên, tôi xin chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs)” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành luật Quốc tế của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trước và sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới - WTO, đến nay đã có rất nhiều học giả, chuyên gia về luật quốc tế nghiên cứu về WTO cũng như tác động của việc gia nhập tổ chức này đối với Việt Nam trong các sách chuyên khảo , các đề tài nghiên cứu khoa học , các bài viết đăng trên tạp chí. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đó chỉ đi vào tìm hiểu những vấn đề chung, cơ
  • 10.
    3 bản về cơchế giải quyết tranh chấp tại WTO và đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục khó khăn vướng mắc và nâng cao hiê ̣u quả trong quá trình giải quyết tranh chấp như: - Nguyễn Tiến Vinh, “Một số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu tiên của Việt Nam tại WTO” (2011), Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 16(201), tr. 19- 29; “Kinh nghiê ̣m nước ngoài và viê ̣c tăng cường hiê ̣u quả tham gia của Viê ̣t Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)” (2012), Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - Luật học (28), tr. 165-181; “Vai trò của các thể chế phi nhà nước trong việc bảo đảm Việt Nam – một nước đang phát triển – hội nhập thành công sau khi ra nhập WTO” (2013), Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội. - Lê Thị Hồng Hải, “Giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO” (2009), Luận văn thạc sĩ luật Quốc tế, Khoa Luật – ĐHQGHN, Hà Nội. - Nguyễn Thị Hồng Anh, “Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, các bài học kinh nghiệm của một số nước và khuyến nghị đối với Việt Nam trong thời gian tới” (2011), Luận văn thạc sĩ luật Quốc tế, Khoa Luật – ĐHQGHN, Hà Nội. - Nguyễn Tiến Hoàng , “Giải quyết tranh chấp trong tổ chức thương mại thế giới và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” (2012), luâ ̣n án Tiến sĩ bảo vệ ngày 26/4/2012, Trường Đa ̣i học Ngoa ̣i thương. - Nguyễn Hữu Huyên , “Nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO” (2015), đăng tải ta ̣i trang thông tin điê ̣n tử của Viê ̣n nhà nước và pháp luâ ̣t;... Hoặc những bài viết nêu ra những nội dung cơ bản của Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan tơi thương mại , đồng thời đưa ra một số khuyến nghi ̣làm thế nào để thích nghi với hiệp định như: - Trần Quang Thắng, “Hiệp định TRIMs và sự thích nghi của Việt Nam trong WTO” (2007), Tạp chí kinh tế và phát triển, (119). - Nguyễn Lê Phương Anh , “Hiê ̣p đi ̣nh các biê ̣n pháp đầu tư liên quan tới thương ma ̣i (TRIMs) và những tác động đối với Việt Nam trong tiến trình đàm phán gia nhâ ̣p WTO” (2004), Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ, trường Đa ̣i học Ngoa ̣i thương.
  • 11.
    4 Có thể thấyrằng giải quyết tranh chấp liên quan tới Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan tới thương ma ̣i (TRIMs) là đề tài mới ít được nghiên cứu tại V iê ̣t Nam. Không chỉ ở Viê ̣t Nam , vấn đề này cũng hiếm khi được quan tâm trong giới học thuật quốc tế , ngoài những công trình nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp ta ̣i WTO , vấn đề giải quyết tranh châp liên quan tới TRIMs cũ ng ít được đề câ ̣p tới, chỉ có những bài viết nghiên cứu về việc các quốc gia thành viên sử dụng TRIMs như thế nào, và những hạn chế bất cập trong việc thực hiện như: - Rabiu Ado, Local content policy and the WTO Rules of Traderelated Investment Measures (TRIMs): the Pros and Cons (2013), đăng trên ta ̣p chí International Journal of Business and Management Studies, UK. - Oliver Morrissey, Investment and Competition Policy in the WTO: Issues for Developing Countries (2002), đăng trên ta ̣p chí Development Policy Review, tâ ̣p 20, số 1, trang 63–73. Chính vì vậy, có thể thấy đề tài “giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ Hiệp đi ̣nh các biê ̣n pháp đầu tư liên quan tới thương ma ̣i (TRIMs)” là một trong những đề tài tuy không mới nhưng la ̣i ít được quan tâm, đề cập cho tới thời điểm hiện tại. 3. Mục tiêu nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Rút ra được những kinh nghiệm cho Việt Nam, nâng cao hiệu quả việc giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO nói chung và các tranh chấp liên quan tới các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại nói riêng. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Góp phần bổ sung và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO nói chung và Hiệp định TRIMs nói riêng; - Đánh giá kết quả việc giải quyết tranh chấp liên quan đến TRIMs; - Rút ra những kinh nghiệm, đưa ra những giải pháp mà Việt Nam cần làm để phòng ngừa rủi ro, giải quyết có hiệu quả các tranh chấp đó. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Quy định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương
  • 12.
    5 mại; cơ chếgiải quyết tranh chấp của WTO; các vụ việc liên quan đến các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại trong khuôn khổ Hiệp định TRIMs – WTO. - Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan đến thương (TRIMs) – WTO; Thời gian từ khi tổ chức thương mại thế giới ra đời tới thời điểm hoàn thành luận văn. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam liên quan đến các vấn đề nghiên cứu. Đồng thời Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích… 6. Tính mới và những đóng góp của đề tài - Đánh giá một cách tổng quát tình hình giải quyết tranh chấp đối với các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại của WTO trong thời gian qua; - Làm rõ một số hạn chế, tác động đối với Việt Nam khi tham gia vào giải quyết các tranh chấp; - Một số kiến nghị mang tính giải pháp nhằm nâng cao nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp, phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra khi tham gia giải quyết các tranh chấp và hướng đi cho Việt Nam trong thời kỳ hội nhâ ̣p quốc tế. 7. Bố cục của Luận văn Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, bao gồm 3 Chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tranh chấp và giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs trong khuôn khổ WTO. Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan tới Hiê ̣p đi ̣nh TRIMs và kinh nghiệm của các nước. Chương 3: Vấn đề phòng và giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs tại Việt Nam.
  • 13.
    6 Chương 1 NHỮNG VẤNĐỀ CƠ BẢN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN TỚI TRIMs TRONG KHUÔN KHỔ WTO 1.1. Hiệp định TRIMs 1.1.1. Lịch sử ra đời Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại (TRIMs) nằm trong 4 phụ lục của Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức thương mại thế giới được ký kết tại Marrakesh, Maroc vào ngày 15/04/1994 (đây là kết quả của vòng đàm phán Uruguay, đánh dấu sự ra đời của tổ chức thương mại thế giới – WTO). Sau khi xem xét các hoạt động của Hiệp định GATT liên quan đến các biện pháp đầu tư có thể làm hạn chế hoặc bóp méo tự do hóa thương mại, các quốc gia thành viên đồng ý rằng cần phải đàm phán, xây dựng thêm những quy định cần thiết, thích hợp nhằm loại bỏ các biện pháp đầu tư có ảnh hưởng xấu đến thương mại, tại Tuyên bố Punta del Este (vòng đàm phán Uruguay). Hiê ̣p đinh TRIMs với vai trò mong muốn thúc đẩy, mở rộng sự tự do hoá thương mại, tạo thuận lợi cho việc luân chuyển nguồn vốn đầu tư qua biên giới quốc tế, với mục đích tạo ra sự tăng trưởng kinh tế cho các thành viên, đặc biệt là các Thành viên đang phát triển, đồng thời phải bảo đảm sự cạnh tranh tự do, công bằng. Hiệp định TRIMs cho rằng một số biện pháp đầu tư nhất định có thể sẽ làm ảnh hưởng xấu và bóp méo sự tự do hóa thương mại, vì vậy TRIMs quy định các thành viên không được sử dụng các biện pháp phân biệt đối xử đối với hàng hóa nước ngoài, cũng như việc áp đặt các biện pháp hạn chế định lượng liên quan tới hàng hóa trong quá trình luân chuyển qua biên giới. Trước khi vòng đàm phán Uruguay ra đời, các mối liên kết giữa đầu tư và thương mại ít được quan tâm trong khuôn khổ GATT. Tại Hiến chương Havana năm 1948, cũng đã có một chương quy định về đầu tư nước ngoài, tuy nhiên Hiến chương này đã không được phê chuẩn và chỉ có một số chính sách về thương mại được đưa vào Hiệp định chung về thuế quan và thương mại – GATT. Cho tới năm
  • 14.
    7 1955, các bêntham gia GATT đã thông qua Nghị quyết về đầu tư phát triển kinh tế quốc tế, trong đó các vấn đề về đầu tư được đề cập tới đặc biệt là việc bảo vệ các nhà đầu tư nước ngoài, bằng việc kêu gọi các nước ký kết các hiệp định song phương trong đó có điều khoản bảo đảm, bảo vệ tài sản cho nhà đầu tư nước ngoài. Có thể thấy rằng sự ra đời của Hiệp định TRIMs gắn liền với nhiều cuộc tranh luận của các thành viên phát triển và thành viên đang phát triển, chủ yếu liên quan tới những hạn chế hoặc lợi ích có được khi sử dụng TRIMs. Một mặt, thành viên phát triển cho rằng TRIMs cần phải được loại bỏ bởi vì có những ảnh hưởng không tốt đến thương mại quốc tế, làm ảnh hưởng tiêu cực tới xuất nhập khẩu. Các thành viên phát triển, đều là các nước có nền công nghiệp tiên tiến, với nhiều công ty đa quốc gia, hàng hóa của họ vươn tới các thị trường trên toàn thế giới. Mặt khác, thành viên đang phát triển lập luận rằng, cần thiết phải sử dụng một số biện pháp nhằm định hướng nguồn đầu tư nước ngoài cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, tránh sự độc quyền từ các sản phẩm của thành viên phát triển. Thật vậy, sự phát triển quan trọng nhất đối với đầu tư trong giai đoạn trước khi vòng đàm phán Uruguay đó là phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp trong vụ việc liên quan tới Hoa Kỳ và Canada. Bị đơn: Canada – Các biện pháp hành chính của Luật Đầu tư nước ngoài (Administration of the Foreign Investment Review Act – FIRA). Đây là một vụ tranh chấp trong khuôn khổ GATT, Hoa Kỳ cho rằng Canada đã áp đặt một số điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài để được phê duyệt các dự án đầu tư. Thông qua các thỏa thuận hoặc yêu cầu gắn liền với việc sử dụng một số sản phẩm trong nước (yêu cầu nội địa hóa) và việc xuất khẩu phải đạt tỷ lệ nhất định hoặc tỷ lệ phần trăm theo sản lượng (yêu cầu thực hiện xuất khẩu). Báo cáo của cơ quan giải quyết tranh chấp kết luận rằng yêu cầu nội địa hóa của Canada không phù hợp với nghĩa vụ đối xử quốc gia theo Điều III: 4 của GATT; nhưng yêu cầu về hoạt động xuất khẩu không trái với nghĩa vụ của GATT. Quyết định của Hội đồng xét xử quan trọng ở chỗ nó khẳng định rằng việc áp đặt cũng như sử dụng các biện pháp phân biệt đối xử hàng hóa nhập khẩu với hàng hóa trong nước là vi phạm nghĩa vụ theo GATT. Đồng thời, kết luận của ban hội thẩm khẳng định các yêu cầu thực hiện
  • 15.
    8 xuất khẩu khôngnằm trong phạm vi của GATT. Vòng đàm phán Uruguay về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại đã được đánh dấu bởi sự bất đồng mạnh mẽ giữa các thành viên trong phạm vi và tính chất của các nguyên tắc. Trong khi một số nước phát triển đã đề xuất quy định rằng cần phải loại bỏ một loạt các biện pháp yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa bởi vì không phù hợp với Điều III của GATT, ngược lại nhiều nước thành viên đang phát triển phản đối điều này. Tuy nhiên các thỏa thuận sau này về cơ bản đã được giới hạn trong việc giải thích và làm rõ việc áp dụng các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại theo quy định của GATT trong phạm vi Điều III đối xử quốc gia đối với hàng hóa nhập khẩu và Điều XI các hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu. Chính vì vâ ̣y, Hiê ̣p định TRIMs luôn có mối quan hệ mật thiết , gắn bó với Hiê ̣p định GATT (trong pha ̣m vi Điều III và Điều XI). Khi viê ̣n dẫn quy định của Hiệp định TRIMs, các bên không thể không c ăn cứ vào quy định của Hiê ̣p định GATT. Ngược la ̣i để làm rõ hơn nội dung của GATT (trong pha ̣m vi Điều III và Điều XI) các bên cần phải dẫn chiếu tới quy định của TRIMs để giải thích và làm rõ quyđịnh của GATT. 1.1.2. Nội dung của Hiệp định TRIMs Như đã trình bày ở trên, TRIMs về cơ bản là một Hiệp định nhằm mục đích giải thích và làm rõ về việc áp dụng các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại trong phạm vi Điều III và Điều XI của GATT 1994. Vì vậy, nội dung của TRIMs khá ngắn gọn, bao gồm 09 Điều khoản quy định về việc thực hiện TRIMs và một phụ lục bao gồm danh mục minh họa các biện pháp không phù hợp với nguyên tắc đối xử quốc gia tại Điều III và hạn chế định lượng tại Điều XI của GATT 1994, nhằm tạo ra sự bình đẳng, không phân biệt đối xử đối với nhà đầu tư nước ngoài. Phạm vi áp dụng Phạm vi áp dụng của TRIMs “chỉ áp dụng đối các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại hàng hóa” [55, Điều 1]. Vì vậy, có thể thấy rằng TRIMs chỉ áp dụng đối với hàng hóa, không áp dụng cho dịch vụ. Hiệp định TRIMs không quy định cụ thể thế nào là “các biện phá đầu tư liên quan tới thương mại” bởi vậy trong quá trình giải quyết tranh chấp, Ban hội thẩm sẽ
  • 16.
    9 có một phầnđưa ra những phân tích, đánh giá liệu các biện pháp mà các bên đưa ra có phải là “biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại” hay không. Ví dụ, Báo cáo của Ban hội thẩm trong vụ việc liên quan tới Indonesia – Các biện pháp ảnh hưởng tới ngành công nghiệp ô tô. Ban hội thẩm nhận định, “Các biện pháp đầu tư” mà Indonesia sử dụng nhằm mục đích khuyến khích sự phát triển năng lực ngành sản xuất ô tô và sản xuất các loại phù tùng tại Indonesia. Gắn liền với mục tiêu này là những biện pháp tác động đáng kể tới đầu tư trong ngành công nghiệp sản xuất ô tô, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh; khuyến khích sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô và các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước (sản xuất linh kiện ô tô); khuyến khích việc chuyển giao công nghệ, góp phần tạo việc làm trên diện rộng; tăng tỉ lệ nội địa hóa. Ban hội thẩm nhấn mạnh rằng, họ không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về đầu tư mà chỉ xem xét cách thức mà các vấn đề được đề cập có liên quan tới đầu tư như thế nào. Ban hội thẩm cũng cho rằng các biện pháp trên dù không do cơ quan chức năng có thẩm quyền về đầu tư quy định (theo lập luận của Indonesia) nhưng vẫn được coi là các biện pháp liên quan tới đầu tư [60, tr. 342]. Như vậy, có thể thấy rằng “các biện pháp đầu tư” trong trường hợp này có thể là những yêu cầu, hoặc những biện pháp pháp lý, biện pháp hành chính (các cách thức) được sử dụng có tác động và làm ảnh hưởng tới đầu tư nước ngoài, nó có thể không do cơ quan có thẩm quyền về đầu tư quyết định. Tiếp theo, thuật ngữ “liên quan tới thương mại” được hiểu là nếu các biện pháp trên được sử dụng làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp sự luân chuyển hàng hóa qua biên giới (ví dụ: áp đặt hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu; yêu cầu cân đối tỉ lệ hàng hóa xuất nhập khẩu; hoặc cụ thể như yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa, đồng nghĩa với việc thành viên đó đã ưu tiên sử dụng các sản phẩm trong nước), vì vậy các biện pháp này ảnh hưởng tới thương mại đặc biệt là hàng hóa. Tóm lại, có thể hiểu rằng “các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại” là những yêu cầu, biện pháp có tác động, làm ảnh hưởng tiêu cực tới thương mại hàng hóa, tới đầu tư nước ngoài, tới sự luân chuyển hàng hóa qua biên giới. Làm phương hại tới lợi ích của các quốc gia thành viên theo các hiệp định có liên quan.
  • 17.
    10 Nguyên tắc đốixử quốc gia và quy định về hạn chế định lƣợng Điều 2.1 của TRIMs quy định rằng “các quốc gia thành viên không được sử dụng TRIMs trái với quy định tại Điều III và Điều XI của GATT 1994”. Các biện pháp này được làm rõ thông qua một danh sách các biện pháp minh họa tại phụ lục của TRIMs [55, Điều 2.2], bao gồm những biện pháp mang tính bắt buộc hoặc được thực thi thông qua luật trong nước hoặc các quyết định mang tính hành chính hoặc các điều kiện mà chỉ khi tuân thủ những điều kiện này mới được hưởng một ưu đãi nào đó. Điều III của GATT quy định về nguyên tắc đối xử quốc gia về thuế và các quy tắc trong nước, chủ yếu đề cập tới vấn đề mua hoặc sử dụng các sản phẩm của doanh nghiệp. Theo đó các sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kỳ một bên ký kết nào vào lãnh thổ của bất kỳ bên ký kết khác sẽ được hưởng đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ dành cho sản phẩm tương tự ở trong nước về mặt luật pháp, quy tắc và các quy định tác động đến bán hàng, chào bán, mua, chuyên chở, phân phối hoặc sử dụng hàng trên thị trường nội địa; bao gồm cả việc áp đặt các khoản thuế và phí cao hơn đối với các sản phẩm tương tự trên thị trường nội địa; áp dụng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp yêu cầu sử dụng các sản phẩm trong nước, yêu cầu đạt được tỉ lệ nội địa hóa nhất định. Tuy nhiên nguyên tắc này đòi hỏi cần một số yếu tố sau: - Các sản phẩm được nhập khẩu, và có “các sản phẩm tương tự” ở trong nước; - Các biện pháp có thể là “luật, quy định, quyết định hành chính hoặc yêu cầu tác động đến bán hàng, chào bán, mua, vận chuyển, phân phối hoặc sử dụng”; và - Các sản phẩm nhập khẩu bị đối xử “kém thuận lợi” hơn sự đối xử dành cho các sản phẩm nội địa. Khoản 1 (a) của Danh mục minh họa [55, phụ lục] bao gồm các nội dung về yêu cầu của địa phương: yêu cầu mua hoặc sử dụng hàng hóa bởi một doanh nghiệp nội địa hoặc hàng hóa có xuất xứ từ nguồn nước (yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa); trong khi Khoản 1 (b) bao gồm yêu cầu về cân bằng thương mại, trong đó việc hạn chế mua (theo giá trị) hoặc sử dụng các sản phẩm nhập khẩu của doanh nghiệp phải tương đương với số lượng hoặc giá trị sản phẩm nội địa mà doanh nghiệp này xuất
  • 18.
    11 khẩu. Cả haitrường hợp trên, nhằm giải thích rõ hơn Điều III: 4 của Hiệp định GATT 1994, kết quả của các biện pháp trên làm cho các sản phẩm nhập khẩu (được mua hoặc được sử dụng bởi doanh nghiệp) bị đối xử với điều kiện kém thuận lợi hơn so với các sản phẩm trong nước (được mua hoặc sử dụng bởi doanh nghiệp). Điều XI của GATT quy định về hạn chế định lượng, liên quan tới việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp, trong đó các thành viên không được áp dụng các biện pháp nhằm vào việc hạn chế xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa từ lãnh thổ quốc gia này tới lãnh thổ quốc gia khác, ví dụ như: cấm nhập khẩu hoặc chỉ được nhập khẩu trong những trường hợp được quy định (Prohibition); áp dụng hạn ngạch đối với hàng hóa, có thể là: hạn ngạch toàn cầu, hạn ngạch phân bổ theo quốc gia hoặc hạn ngạch song phương (Quota); yêu cầu giấy phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu không tự động (Non- automatic licensing); áp dụng mức giá tối thiểu gây ra hạn chế về định lượng (Minimum price); yêu cầu “tự nguyện” hạn chế xuất khẩu ("Voluntary" export restraint)… Đoạn 2 (a) của Danh mục minh họa bao gồm các biện pháp hạn chế nhập khẩu các sản phẩm của doanh nghiệp, được sử dụng để sản xuất các sản phẩm (hoặc để lắp ráp, ví dụ: ô tô, xe máy, các loại thiết bị máy móc khác…). Việc hạn chế này thường được xác định theo số lượng hoặc giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp (các sản phẩm được sản xuất trong nước của doanh nghiệp). Có thể thấy rằng có sự giống nhau về khái niệm giữa khoản này và khoản 1 (b) của Danh mục minh họa trong đó cả hai đều hướng tới biện pháp cân bằng thương mại. Sự khác biệt là, khoản 1 (b) với những biện pháp nội bộ ảnh hưởng đến các sản phẩm sau khi đã được nhập khẩu, trong khi khoản 2 (a) là các biện pháp ảnh hưởng đến việc nhập khẩu sản phẩm trong quá trình luân chuyển qua biên giới. Các biện pháp xác định tại khoản 2 (b) của danh mục minh họa liên quan đến việc hạn chế nhập khẩu trong các hình thức yêu cầu về ngoại hối (việc tiếp cận nguồn ngoại tệ trong việc nhập khẩu). Doanh nghiệp nhập khẩu các sản phẩm để sử dụng hoặc để sản xuất bị giới hạn bằng cách hạn chế việc tiếp cận nguồn ngoại tệ để trao đổi, phải tỉ lệ với giá trị các nguồn thu ngoại tệ của doanh nghiệp này. Cuối cùng, mục 2 (c) bao gồm các biện pháp liên quan đến hạn chế về xuất khẩu hoặc bán để xuất khẩu của doanh nghiệp, được quy định dưới hình thức các
  • 19.
    12 sản phẩm cụthể, hoặc khối lượng hoặc giá trị sản phẩm, cần phải tỷ lệ với khối lượng giá trị sản xuất trong nước của doanh nghiệp. Bảng 1.1. Danh mục minh họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị cấm áp dụng (TRIMs) Nhóm các biện pháp Ví dụ minh họa Những yêu cầu về hàm lượng nội địa Yêu cầu doanh nghiệp phải sử dụng một tỷ lệ nhất định nguyên liệu đầu vào có xuất xứ trong nước hoặc từ các nguồn nội địa Những yêu cầu về sản xuất Yêu cầu một số loại sản phẩm phải được sản xuất trong nước Những yêu cầu bắt buộc về loại sản phẩm Yêu cầu nhà đầu tư phải cung cấp cho những thị trường nhất định một hoặc một số sản phẩm được chỉ định hoặc được sản xuất/cung cấp bởi một nhà sản xuất/cung cấp nhất định Những yêu cầu về chuyển giao công nghệ Yêu cầu phải chuyển giao bắt buộc một số loại công nghệ nhất định (không theo các điều kiện thương mại thông thường) và/hoặc yêu cầu các loại hoặc mức độ nghiên cứu và phát triển phải được thực hiện ở nước nhận đầu tư Những yêu cầu về việc chuyển giao quyền sử dụng bằng sáng chế (li-xăng) Quy định buộc nhà đầu tư phải chuyển giao công nghệ tương tự hoặc không liên quan đến công nghệ mà họ đang sử dụng tại nước đầu tư cho doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư Những hạn chế về sản xuất Quy định cấm doanh nghiệp không được sản xuất một số sản phẩm hoặc loại sản phẩm nhất định ở nước nhận đầu tư Những yêu cầu về cân đối thương mại Yêu cầu doanh nghiệp phải bảo đảm khối lượng hoặc trị giá sản phẩm nhập khẩu tương đương với khối lượng, trị giá sản phẩm xuất khẩu Những yêu cầu về tiêu thụ trong nước Yêu cầu doanh nghiệp phải bảo đảm rằng khối lượng hoặc trị giá sản phẩm tiêu thụ trong nước tương đương với sản phẩm xuất khẩu Những yêu cầu về xuất khẩu Yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu tối thiểu Những hạn chế về chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Hạn chế quyền của nhà đầu tư trong việc chuyển lợi nhuận thu được từ đầu tư về nước Những yêu cầu về tỷ lệ vốn trong nước Ấn định một tỷ lệ nhất định vốn của doanh nghiệp phải do nhà đầu tư trong nước nắm giữ (Nguồn: http://www.trungtamwto.vn/)
  • 20.
    13 Ngoại lệ củaHiệp định TRIMs Điều 3 của Hiệp định TRIMs quy định rằng, tất cả các trường hợp ngoại lệ theo GATT 1994 được áp dụng một cách thích hợp với các quy định của Hiệp định TRIMs. Ngoài những ngoại lệ quy định bởi GATT 1994, các thành viên có thể sử dụng TRIMs trong các trường hợp quy định tại Điều 4 (quy định đối với các nước đang phát triển) hoặc Điều 5 (trong thời kỳ quá độ, chuyển tiếp). Vì TRIMs chỉ được áp dụng cho hàng hóa không áp dụng cho dịch vụ, nên một số biện pháp không trực tiếp điều tiết hàng hóa hoặc nhập khẩu hàng hóa có thể được sử dụng. Theo Điều 4 của TRIMs cho phép các nước đang phát triển có thể tạm thời không thực hiên các nghĩa vụ của Hiệp định TRIMs, cùng với quy định tại Điều XVIII GATT 1994 về hỗ trợ của Nhà nước cho việc phát triển kinh tế và các quy định có liên quan của WTO về biện pháp tự vệ trong cân bằng cán cân thanh toán. Điều 5 của TRIMs quy định về việc thông báo và thỏa thuận thời hạn chuyển tiếp. Các thành viên phải có nghĩa vụ thông báo cho Hội đồng thương mại hàng hóa, tất cả các biện pháp không phù hợp với TRIMs, trong vòng 90 ngày kể từ khi TRIMs có hiệu lực. Mẫu Thông báo này được Hội đồng thương mại hàng hóa đưa ra và thống nhất áp dụng. Đồng thời các thành viên này phải loại bỏ các biện pháp đã thông báo trên trong thời gian là hai (02) năm đối với các thành viên phát triển, và năm (05) năm đối với các thành viên đang phát triển, và thời hạn là bẩy (07) năm đối với các thành viên kém phát triển, kể từ khi hiệp định có hiệu lực, khoảng thời gian này có thể được Hội đồng thương mại hàng hóa xem xét, kéo dài đối với các thành viên đang phát triển và thành viên kém phát triển. Đối với các quốc gia trở thành thành viên của WTO (trừ các quốc gia phát triển) sau khi TRIMs có hiệu lực cũng được áp dụng thời gian thông báo và thời kỳ quá độ giống với các thành viên trước đó, kể từ ngày gia nhập, nhưng không được xem xét kéo dài thời gian chuyển tiếp. Trong thời kỳ chuyển tiếp, các thành viên không được sửa đổi các biện pháp đã thông báo, theo hướng tăng thêm mức độ không phù hợp với TRIMs. Thêm vào đó, các biện pháp đã được sử dụng trong thời gian ít hơn 180 ngày kể từ khi TRIMs có hiệu lực, sẽ không được hưởng thời gian chuyển tiếp.
  • 21.
    14 Tại tuyên bốBộ trưởng Hồng Kông, ngày 18/12/2005, Hội đồng thương mại hàng hóa đã quyết định kéo dài thời hạn cho giai đoạn chuyển tiếp mới đối với các nước kém phát triển là bẩy (07) năm đến ngày 18/12/2012, các nước này cũng có thể đưa ra các biện pháp mới trong vòng hai (02) năm và không được áp dụng quá năm (05) năm, tuyên bố cũng nêu ra rằng, các biện pháp không phù hợp với TRIMs sẽ được loại bỏ vào năm 2020. Các thành viên phải cam kết thực hiện nghĩa vụ về minh bạch hóa đối với thông báo tại Điều X của GATT 1994 [55, Điều 6], các thành viên phải thông báo tới Ban thư ký các biện pháp (TRIMs) đã được áp dụng và Ban thư ký sẽ tổng hợp công bố các thông báo đó trong một tài liệu duy nhất. Theo Hiệp định, Ủy ban về các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại sẽ được thành lập như một diễn đàn kinh tế để kiểm tra hoạt động thực hiện hiệp định đồng thời có nghĩa vụ báo cáo định kỳ, hàng năm cho Hội đồng thương mại hàng hóa. Ủy ban sẽ để ngỏ cho tất cả các Thành viên tham gia, Ủy ban có Chủ tịch và Phó Chủ tịch và sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần và họp trong trường hợp có yêu cầu của bất kỳ Thành viên nào [55, Điều 7]. Tham vấn giải quyết tranh chấp Thủ tục giải quyết tranh chấp nói chung của WTO, sẽ được áp dụng đối với các tranh chấp phát sinh từ Hiệp định [55, Điều 8]. Đánh giá của Hội đồng Thương mại Hàng hóa. Không quá năm (05) năm, kể từ ngày có hiệu lực của Hiệp định WTO, Hội đồng Thương mại Hàng hóa sẽ xem xét hoạt động của Hiệp định và khi thích hợp, sẽ đề xuất hội nghị Bộ trưởng về việc sửa đổi hiệp định. Trong quá trình rà soát, Hội đồng Thương mại Hàng hóa sẽ xem xét liệu Hiệp định cần bổ sung quy định về chính sách đầu tư và chính sách cạnh tranh hay không [55, Điều 9]. 1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Được hình thành trên cơ sở Nghị định thư về các nguyên tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Understanding - DSU), Phụ lục 02 Hiệp định Marrakesh thành lập WTO, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (Dispute Settlement Mechanism - DSM) là một trong những thành công cơ bản của Vòng
  • 22.
    15 đàm phán Uruguaydẫn đến sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Cho đến thời điểm hiện tại, hoạt động của DSM được đánh giá là thành công nổi trội của WTO. Tham gia vào DSM cho phép các nước thành viên bảo vệ các chính sách, biện pháp và lợi ích thương mại của mình, đấu tranh chống lại vi phạm của các nước thành viên trong WTO. Việc sử dụng DSM là biểu hiện của sự tham gia, hội nhập đầy đủ và hiệu quả vào hệ thống thương mại đa biên của WTO đối với các quốc gia thành viên [43]. DSM là sự kế thừa các quy định về giải quyết tranh chấp đã từng phát huy tác dụng tích cực trong lịch sử gần nửa thế kỷ của GATT 1947. Rút kinh nghiệm từ những bất cập trong cơ chế cũ, một số cải tiến căn bản về thủ tục đã được đưa vào, trong đó quy định chi tiết hơn các giai đoạn khác nhau trong quá trình giải quyết tranh chấp, cùng với đó là việc áp dụng mốc thời hạn cụ thể cho mỗi giai đoạn nhằm nhanh chóng, kịp thời giải quyết các tranh chấp. Có thể thấy điểm thay đổi quan trọng nhất của DSM đó là nguyên tắc đồng thuận nghịch hay đồng thuận phủ quyết (negative consensus) trong việc việc thành lập Ban hội thẩm (Panel); thông qua Báo cáo của Panel và Báo cáo của cơ quan phúc thẩm, nhằm ngăn chặn các bên tham gia tranh chấp cố gắng trì hoãn việc thành lập Panel, thông qua Báo cáo, gây ảnh hưởng tới thời gian xem xét vụ việc (điều này thường xảy ra đối với các cơ chế giải quyết tranh chấp khác). Từ đó, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp, cũng như tăng cường tính ràng buộc của các hiệp định trong WTO. Mục tiêu căn bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là nhằm “đạt được một giải pháp tích cực được đưa ra khi phát sinh tranh chấp”, đồng thời ưu tiên những “giải pháp được các bên cùng thỏa thuận chấp thuận và phù hợp với các Hiệp định liên quan”. Xét ở mức độ rộng hơn, DSM nhằm cung cấp các thủ tục quyết tranh chấp đa phương thay thế cho các hành động đơn phương của các quốc gia thành viên vốn tồn tại nhiều nguy cơ bất đồng, gây trì trệ và làm xáo trộn sự vận hành chung của các quy tắc thương mại quốc tế.
  • 23.
    16 1.2.1. Phạm vivà đối tượng của các tranh chấp Phạm vi áp dụng DSM áp dụng cho tất cả các tranh chấp theo các hiệp định có liên quan của WTO được liệt kê trong Phụ lục 1 của DSU [56, Điều 1.1]. Bằng việc áp dụng chung, thống nhất cho tất cả các hiệp định có liên quan, DSU đã loại bỏ việc các nước tự ý thỏa thuận các quy định về giải quyết tranh chấp riêng biệt trong việc ký kết các hiệp định. Tuy nhiên, DSU cũng áp dụng một số quy tắc thủ tục bổ sung tại các hiệp định có liên quan trong Phụ lục 2 của DSU [56, Điều 1.2]. Đây là những quy định cụ thể mang tính chất đặc thù riêng biệt của các tranh chấp theo các hiệp định cụ thể, và các quy định này chỉ được áp dụng trong các trường hợp riêng biệt với mức độ cụ thể được xác định. Thông thường, trong mỗi vụ tranh chấp các bên thường viện dẫn quy định của nhiều Hiệp định có liên quan. WTO là tổ chức thương mại quốc tế liên chính phủ. Vì vậy, chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp phải là Chính phủ của các nước thành viên WTO (có thể tham gia với tư cách là bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn hoặc là bên thứ ba trong vụ tranh chấp). Ban Thư ký WTO, các nước quan sát viên của WTO, các tổ chức quốc tế khác, và các chính phủ khu vực hoặc địa phương không có quyền khởi kiện, tham gia giải quyết tranh chấp. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các cá nhân, tổ chức không thể tham gia với tư cách là một bên trong vụ tranh chấp, mặc dù họ (các doanh nghiệp, nhà nhập khẩu, xuất khẩu) thường xuyên là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những biện pháp bị cáo buộc vi phạm. Tuy nhiên, chính họ lại là những nhân tố gây ảnh hưởng thậm chí là gây áp lực đến Chính phủ nước thành viên nhằm khởi xướng vụ tranh chấp. Trên thực tế, các quốc gia cũng đã thông qua các quy định trong nước về quyền lợi, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong việc khởi kiện các vụ tranh chấp thương mại quốc tế. Theo đó, các Doanh nghiệp có thể kiến nghị Chính phủ khởi xướng một vụ kiện trong WTO nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình.
  • 24.
    17 Đối tượng củatranh chấp Cơ quan giải quyết tranh chấp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên phát sinh từ bất kỳ Hiệp định có liên quan của WTO. Một yêu cầu khiếu nại có thể dựa trên một điều khoản cấm các hành động nhất định (hành động) (ví dụ Điều XI của GATT cấm hoặc hạn chế xuất khẩu) như ban hành các điều luật, quy định, quyết định làm cản trở việc xuất khẩu hàng hóa từ quốc gia thành viên này đến quốc gia thành viên khác thông qua các hình thức khác nhau (như hạn ngạch) và gây ra thiệt hại thực tế cho các nước thành viên. Không hành động như vậy có thể sẽ không vi phạm quy định. Trong những tình huống khác nhau, theo Hiệp định WTO quy định không cấm các hành vi nhất định, nhưng thay vào đó, đòi hỏi các thành viên phải có hành động tích cực. Ví dụ điển hình như Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), yêu cầu các thành viên phải thực hiện các biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phải có những hành động tích cực bằng cách thông qua và áp dụng các biện pháp bảo vệ các quyền trên. Việc không thực hiện (không hành động) hoặc thực hiện không đầy đủ, các nghĩa vụ có thể là căn cứ để khởi xướng một vụ tranh chấp. Theo nguyên tắc chung, chỉ có những biện pháp (bao gồm hành động hoặc không hành động) của Chính phủ mới có thể là đối tượng của một vụ tranh chấp trong WTO. Các biện pháp trên có thể làm phát sinh các khiếu nại quy định tại Điều XXIII. 1 của GATT 1994 như: - Khiếu kiện có vi phạm (violation complaint): khiếu kiện phát sinh khi một quốc gia thành viên không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định tại Hiệp định, trong trường hợp này thiệt hại được suy đoán là đương nhiên ; - Khiếu kiện không vi phạm (non-violation complaint): là loại khiếu kiện phát sinh khi một quốc gia ban hành một biện pháp thương mại gây thiệt hại (làm mất hay phương hại) đến lợi ích mà quốc gia khiếu kiện có được từ Hiệp định hoặc cản trở việc thực hiện một trong các mục tiêu của Hiệp định, điều này không phụ thuộc vào việc biện pháp đó có vi phạm Hiệp định hay không;
  • 25.
    18 - Khiếu kiệndựa trên “sự tồn tại một tình huống khác” (“situation” complaint): trong trường hợp này, quốc gia khiếu kiện phải chứng minh về thiệt hại mà mình phải chịu hoặc trở ngại gây ra đối với việc đạt được một mục tiêu của Hiệp định. Theo pháp luật quốc tế thì nhà nước sẽ chịu trách nhiệm cho tất cả hoạt động của Chính phủ, các ngành, chính quyền địa phương, hoặc trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia thành viên. Vì vậy, các biện pháp hành chính do chính quyền địa phương, hoặc vùng lãnh thổ của nước thành viên ban hành cũng có thể được viện dẫn trong một vụ tranh chấp [56, Điều 22.9]. Không chỉ những biện pháp đã được ban hành và có hiệu lực mà các biện pháp có hiệu lực trong tương lai của các thành viên cũng có thể là đối tượng của khiếu nại. Các biện pháp này đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua, trên thực tế nó sẽ có hiệu lực trong tương lai, và cũng không quá sớm để ngăn ngừa những biện pháp đó làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của các thành viên, bởi vì các quy định có hiệu lực trong tương lai cũng sẽ ảnh hưởng tới các bên tham gia vào thị trường thông qua việc chuẩn bị để thích ứng với những quy định mới. 1.2.2. Các cơ quan trong quá trình giải quyết tranh chấp Thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO được thực hiện bởi các cơ quan khác nhau, mỗi cơ quan có chức năng riêng biệt, tạo nên tính độc lập trong hoạt động đánh giá, xem xét, giải thích pháp luật và thông qua quyết định của DSM. Cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body – DSB) Cơ quan này thực chất là Đại Hội đồng WTO, bao gồm đại diện của tất cả các quốc gia thành viên. DSB chịu trách nhiệm quản lý, giám sát toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp: có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua Báo cáo của Ban hội thẩm và của Cơ quan phúc thẩm, giám sát việc thi hành các quyết định, khuyến nghị giải quyết tranh chấp, cho phép đình chỉ thực hiện nhượng bộ và các nghĩa vụ (trả đũa) khi các thành viên không tuân thủ phán quyết. Tuy nhiên, DSB chỉ là cơ quan thông qua quyết định, không trực tiếp thực hiện việc xem xét giải quyết tranh chấp. Các quyết định của DSB dựa trên nguyên tắc đồng thuận nghịch (đồng thuận phủ quyết). Chủ tịch của DSB được bầu ra từ đại diện thường trực của các quốc gia
  • 26.
    19 thành viên, cónhiệm vụ chủ trì điều hành các cuộc họp; cung cấp, tiếp nhận thông tin và liên lạc với các thành viên; đề xuất, thực hiện, công bố các quyết định khi có yêu cầu. Đồng thời DSB cũng tham gia vào một số tình huống cụ thể trong quá trình giải quyết tranh chấp. Tổng giám đốc WTO và Ban thư ký Tổng giám đốc WTO có vai trò như là người trung gian, hòa giải, và thực hiện một số công việc cụ thể trong quá trình giải quyết tranh chấp. Tổng Giám đốc, trên cương vị công tác chính thức của mình, có thể làm người môi giới, người hòa giải hoặc trung gian nhằm giúp các Thành viên giải quyết tranh chấp [56, Điều 5.6]. Trong quá trình giải quyết tranh chấp liên quan tới thành viên là quốc gia kém phát triển, khi mà tham vấn không đạt được hiệu quả, theo yêu cầu của họ, Tổng giám đốc sẽ đóng vai trò là trung gian hòa giải trước khi Ban hội thẩm được thành lập [56, Điều 24.2]. Khi các bên không thể thống nhất về thành phần của Ban hội thẩm trong vòng 20 ngày, thì Tổng giám đốc sẽ triệu tập cuộc họp với DSB và bổ nhiệm các thành viên theo yêu cầu của một trong hai bên và tham khảo ý kiến Chủ tịch DSB, Chủ tịch các Hội đồng, Ủy ban có liên quan [56, Điều 8.7]. Tổng giám đốc cũng chỉ định trọng tài để xác định khoảng thời gian hợp lý thực hiện phán quyết, nếu các bên không thể thống nhất về thời gian thực hiện và về trọng tài [56, Điều 21.3 (c)], hoặc việc xem xét đề xuất đình chỉ các nghĩa vụ trong trường hợp không thực hiện [56, Điều 22.6]. Các nhân viên của Ban Thư ký WTO, có nhiệm vụ báo cáo Tổng giám đốc, hỗ trợ các thành viên trong giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của họ [56, Điều 27.2], tổ chức các khóa đào tạo đặc biệt về DSM [56, Điều 27.3] và cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý, hỗ trợ cho các thành viên đang phát triển trong các vấn đề liên quan. Ban Thư ký cũng hỗ trợ các bên trong việc xác định thành phần của Ban hội thẩm, bằng việc giới thiệu các Hội thẩm viên xem xét giải quyết tranh chấp [56, Điều 8.6] và thường xuyên duy trì, cập nhận danh sách các Hội thẩm viên; hỗ trợ Ban hội thẩm trong các khía cạnh hành chính, pháp lý, nội dung và thủ tục của các vấn đề đang được giải quyết [56, Điều 27.1].
  • 27.
    20 Ban hội thẩm(Panel) Ban Hội thẩm bao gồm từ 3 - 5 thành viên có nhiệm vụ xem xét một vấn đề cụ thể đang tranh chấp trên cơ sở các quy định WTO được quốc gia nguyên đơn viện dẫn. Kết quả công việc của Panel là một bản Báo cáo bao gồm các phần mô tả các tình tiết vụ việc, các kết luận và khuyến nghị của mình để trình DSB thông qua, giúp DSB đưa ra các khuyến nghị đối với các Bên tranh chấp (chức năng của Ban hội thẩm là giúp DSB làm tròn trách nhiệm theo DSU và các hiệp định có liên quan). Trên thực tế, đây là cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp mặc dù không nắm quyền quyết định (nhưng với nguyên tắc đồng thuận phủ quyết mọi vấn đề về giải quyết tranh chấp khi đã đưa ra trước DSB đều được “tự động” thông qua). Các thành viên Ban hội thẩm được lựa chọn trong số các quan chức chính phủ hoặc các chuyên gia phi chính phủ không có quốc tịch của một Bên tranh chấp hoặc của một nước cùng là thành viên trong một Liên minh thuế quan hoặc Thị trường chung với một trong các nước tranh chấp (ví dụ: Liên minh Châu Âu). Panel hoạt động độc lập, không chịu sự giám sát của bất kỳ quốc gia nào. Cơ quan phúc thẩm (Appellate Body) Cơ quan Phúc thẩm là một thiết chế mới trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, cho phép báo cáo của Panel được xem xét lại (khi có yêu cầu), bảo đảm tính đúng đắn của báo cáo giải quyết tranh chấp. Sự ra đời của cơ quan này cũng cho thấy rõ hơn tính chất xem xét của thủ tục giải quyết tranh chấp mới. Cơ quan Phúc thẩm thường trực phải được DSB thành lập. Cơ quan này xem xét kháng cáo về các vụ việc của ban hội thẩm, bao gồm 7 người. Mỗi một vụ việc phải do 3 người trong số đó xem xét và phải luân phiên thực hiện nhiệm vụ. Việc luân phiên như vậy phải được xác định trong văn bản về thủ tục làm việc của Cơ quan Phúc thẩm [56, Điều 17.1], trong quy định của thủ tục làm việc sẽ có 3 thành viên tham gia xét xử phúc thẩm. Các thành viên của cơ quan phúc thẩm sẽ tham gia một cách luân phiên và ngẫu nhiên vào các vụ việc, bất kể từ quốc gia nào, có nghĩa là thành viên tham gia vào cơ quan phúc thẩm có thể mang quốc tịch của các bên có liên quan (như nguyên đơn, bị đơn, bên thứ ba).
  • 28.
    21 Ba thành viênđược lựa chọn giải quyết vụ việc sẽ bầu ra chủ tịch Hội đồng xét xử trong số đó, chủ tịch sẽ là người có trách nhiệm điều hành quá trình xem xét theo Quy tắc 7 (2) Thủ tục làm việc (điều hành các cuộc điều trần, cuộc họp giữa các bên, phối hợp soạn thảo báo cáo của cơ quan phúc thẩm). 1.2.3. Quy trình thủ tục giải quyết tranh chấp Quy trình thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO được quy định tại DSU bao gồm các bước: Tham vấn giải quyết tranh chấp giữa các bên, nếu các bên không đưa ra được giải pháp thống nhất thì Ban hội thẩm sẽ được thành lập để xem xét vụ việc. Ban hội thẩm sẽ dựa trên những tình tiết cụ thể thực tế, những căn cứ pháp lý để đưa ra kết luận, quyến nghị của mình thông qua bản Báo cáo. Trong một khoảng thời gian hợp lý các bên có thể đưa ra kháng cáo về những vấn đề pháp lý mà Ban hội thẩm đưa ra, cơ quan phúc thẩm sẽ xem xét yêu cầu kháng cáo đó và đưa ra kết luận của mình thông qua Báo cáo. Báo cáo của Ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm sẽ được DSB thông qua dựa trên nguyên tắc đồng thuận nghịch. Và các bên phải chấp hành phán quyết đó. Nếu trong một khoảng thời gian hợp lý, bên thua kiện không thi hành phán quyết thì bên thắng kiện có thể yêu cầu DSB cho phép sử dụng các biện pháp trả đũa (đình chỉ thực hiện các nghĩa vụ theo các hiệp định có liên quan). Để hiểu rõ hơn về quy trình này tác giả sẽ đi vào làm rõ các giai đoạn trong quá trình giải quyết tranh chấp: Tham vấn (Consultation) Mục đích của cơ chế giải quyết tranh chấp là bảo đảm một giải pháp tích cực, hài hòa đối với các bên liên quan khi xảy ra tranh chấp. Một giải pháp mà các bên có thể chấp nhận được và phù hợp với các hiệp định liên quan (Điều 3.7 DSU). Theo đó, tham vấn song phương giữa các bên là giai đoạn đầu tiên của quá trình giải quyết tranh chấp, là giai đoạn để các bên có cơ hội thảo luận về vấn đề tranh chấp và tìm ra một giải pháp thỏa đáng mà không cần đến những quy trình tố tụng sau này [56, Điều 4.5]. Tham vấn là giai đoạn đầu tiên và cũng là bắt buộc, chỉ sau khi tham vấn không đạt hiệu quả, nếu các bên có liên quan không đưa ra được một giải pháp thỏa đáng trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn, bên
  • 29.
    22 nguyên đơn cóthể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm để xét xử vụ việc [56, Điều 4.7]. Tuy nhiên, việc thỏa thuận để đưa ra một giải pháp giải quyết tranh chấp giữa các bên vẫn có thể thực hiện trong bất kỳ giai đoạn tiếp theo nào. Thông thường các quốc gia đều có gắng giải quyết các bất đồng ở giai đoạn tham vấn nhằm hạn chế đến mức tối đa các thiệt hại về lợi ích cho tất cả các bên đồng thời bảo đảm tính bí mật của các thông tin liên quan đến tranh chấp. Tham vấn cũng cho phép các bên hiểu rõ, làm rõ sự thật các vấn đề của bên khiếu nại, có thể xua tan những hiểu lầm về bản chất thực tế của các biện pháp được đưa ra trong yêu cầu tham vấn. Trong ý nghĩa này, tham vấn sẽ đưa ra một giải pháp, một thỏa thuận đặt nền tảng lâu dài cho những mối quan hệ song phương hoặc là sẽ là căn cứ cho các thủ tục tố tụng tiếp theo trong DSU. Bị đơn có nghĩa vụ phải chấp thuận xem xét một cách thiện chí đề nghị tham vấn và cố gắng tạo cơ hội để tham vấn diễn ra [56, Điều 4.2], trừ khi có thỏa thuận khác bị đơn phải trả lời yêu cầu trong vòng 10 ngày và phải tham gia vào tham vấn trong thời hạn không quá 30 ngày sau khi nhận được yêu cầu hoặc sau một thời hạn khác được các bên thỏa thuận, nếu không đạt được bên nguyên đơn có thể trực tiếp yêu cầu thành lập Ban hội thẩm [56, Điều 4.3]. Tham vấn thường diễn ra ở Geneva và được giữ kín [56, Điều 4.6], có nghĩa tham vấn được diễn ra chỉ với sự có mặt của các bên, Ban Thư ký hay bất kỳ một Ủy ban nào của WTO đều không được tham dự. Nội dung của cuộc tham vấn bảo đảm được giữ bí mật. Bên khiếu nại có thể yêu cầu thành lập Panel trong thời gian tối thiểu 60 ngày kể từ ngày bên bị đơn nhận được yêu cầu tham vấn, và các bên cùng cho rằng việc tham vấn đã không giải quyết được tranh chấp [56, Điều 4.7]. Thông thường, trong các vụ tranh chấp thời gian từ giai đoạn tham vấn đến giai đoạn thành lập Ban hội thẩm thường diễn ra trong khoảng thời gian nhiều hơn 60 ngày (mức tối thiểu). Trong trường hợp khẩn cấp, bao gồm vụ việc liên quan đến hàng hóa dễ hư hỏng, Thành viên phải tiến hành tham vấn trong thời hạn không quá 10 ngày, nếu tham vấn không giải quyết được tranh chấp trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, bên khiếu nại có quyền yêu cầu thành lập Ban hội thẩm [56, Điều 4.8].
  • 30.
    23 Sự tham giacủa Bên thứ ba trong quá trình tham vấn Khi các thành viên khác của WTO không phải là Nguyên đơn cũng không phải là Bị đơn nếu quan tâm đến các vấn đề đang thảo luận có thể được tham gia vào quá trình tham vấn, với nhiều lý do như: lợi ích thương mại có thể nhận được hoặc bị xâm hại trong quá trình giải quyết tranh chấp; hoặc có thể duy trì các biện pháp tương tự giống với bên bị đơn... Các thành viên sẽ đưa ra những câu hỏi và các giải pháp chung thống nhất nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên trong quá trình tham vấn. Yêu cầu tham gia tham vấn với tư cách là bên thứ ba phải được gửi tới DSB trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày yêu cầu tham vấn được lưu hành. Các thành viên được tham gia với tư cách là bên thứ ba với điều kiện bên bị đơn thấy rằng lợi ích thương mại trong vụ kiện là có căn cứ và phải thông báo cho DSB. Nếu không được chấp nhận, thành viên này có thể tự yêu cầu tham vấn đối với bên bị đơn đó trong một vụ kiện riêng biệt theo quy định của DSU [56, Điều 4.11]. Thành lập Ban hội thẩm (Panel) Nếu tham vấn không giải quyết được tranh chấp, bên khiếu nại có thể yêu cầu thành lập Panel bất cứ lúc nào sau 60 ngày kể từ ngày bên bị đơn nhận được yêu cầu tham vấn như đã trình bày ở trên. Hoặc có thể sớm hơn nếu các bên đồng ý rằng tham vấn không giải quyết được tranh chấp. Nội dung trong yêu cầu thành lập Ban hội thẩm rất quan trọng. Theo Điều 7.1 DSU, cần phải xác định các điều khoản tiêu chuẩn tham chiếu theo các hiệp định có liên quan. Nói cách khác, đây là văn bản xác định phạm vi và giới hạn của tranh chấp, và thẩm quyền của Ban hội thẩm chỉ xem xét trong phạm vi yêu cầu của nguyên đơn. Bên thứ ba là những thành viên có lợi ích đáng kể và mong muốn tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp, nếu họ thấy có quyền lợi đáng kể trong vụ việc và cần được Ban hội thẩm xem xét. Tất nhiên yêu cầu này cần phải được đệ trình lên Ban hội thẩm [56, Điều 10.2]. Trên thực tế DSB dành thời hạn là 10 ngày để các thành viên khác bảo lưu quyền lợi với tư cách là bên thứ ba. Các quy định về thương mại của một nước thành viên thường làm ảnh hưởng
  • 31.
    24 đến lợi íchcủa nhiều thành viên WTO. Khi có hai hoặc nhiều Thành viên yêu cầu thành lập Ban hội thẩm để giải quyết cùng một vấn đề thì một Ban hội thẩm duy nhất (nếu khả thi) được thành lập để xem xét những đơn kiện này có tính đến quyền của tất cả các Thành viên có liên quan [56, Điều 9.1]. Quy định này cho thấy DSU ưu tiên việc thành lập một Ban hội thẩm để xem xét các vụ kiện thuộc cùng một vấn đề. Nếu việc thành lập một Ban hội thẩm duy nhất là không khả thi dẫn tới việc phải thành lập hai hay nhiều Ban hội thẩm thì các bên có liên quan nên cố gắng thống nhất các Ban hội thẩm riêng lẻ sẽ có cùng hội thẩm viên, và phải sắp xếp thời gian biểu cho thủ tục tố tụng của các Ban hội thẩm một cách hài hòa [56, Điều 9.3]. Trong nhiều trường hợp, nhiều vụ kiện có nội dung giống nhau được xem xét bởi hai Panel hoàn toàn khác nhau, cùng với nội dung, quy trình, thủ tục được giữ kín cho tới khi thông qua báo cáo. Như vậy không thể tránh khỏi việc cùng một vấn đề, với thành viên của các Panel khác nhau sẽ có kết quả khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn đối với những vấn đề giống nhau. Điều này có thể gây ra khó khăn cho việc thực thi hoặc có thể làm giảm hiệu quả, mục đích của cơ chế giải quyết tranh chấp nếu không được điều chỉnh một cách hợp lý trong quá trình phúc thẩm. Quá trình xem xét của Ban hội thẩm Sau khi hoàn tất việc thành lập Ban hội thẩm để xem xét vụ khiếu nại, việc đầu tiên Ban hội thẩm cần phải làm là ấn định thời gian biểu cho hoạt động tố tụng của mình [56, Điều 12.3]. Thủ tục của Ban hội thẩm thường bao gồm các nội dung được nêu tại Điều 12 và Phụ lục 3 của DSU, đồng thời có sự linh hoạt nhất định để bảo đảm chất lượng báo cáo mà không làm chậm quá trình tố tụng. Các Ban hội thẩm khác nhau có thể có thời gian biểu khác nhau và thủ tục khác nhau sau khi tham vấn ý kiến của các bên [56, Điều 12.1]. Nhìn chung thủ tục làm việc đều thực hiện theo Phụ lục 3, và thường áp dụng các nguyên tắc bổ sung đối với từng tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu. Các bên có thể thỏa thuận hoặc đệ trình về việc tổ chức các cuộc họp. Nếu không thỏa thuận được hoặc không đệ trình thì Ban hội thẩm sẽ quyết định lịch làm việc và thông báo cho các bên.
  • 32.
    25 Bảng 1.2. Thờigian biểu làm việc của Ban hội thẩm (thời gian này có thể điều chỉnh một cách hợp lý tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng vụ việc theo Phụ lục 3 của DSU) STT Nội dung làm việc Trong khoảng thời gian 1 Tiếp nhận bản đệ trình của các bên 1. Bên khiếu nại 2. Bên trả lời 3-6 tuần 2-3 tuần 2 Cuộc họp chính đầu tiên với các bên; phiên thứ ba 1-2 tuần 3 Tiếp nhận đệ trình bằng văn bản của các bên 2-3 tuần 4 Cuộc họp chính thứ hai với các bên 1-2 tuần 5 Phát hành phần mô tả tổng quan của báo cáo cho các bên 2-4 tuần 6 Tiếp nhận ý kiến của các bên trên phần mô tả của báo cáo 2 tuần 7 Phát hành báo cáo tạm thời, bao gồm cả các kết quả và kết luận, để các bên 2-4 tuần 8 Hạn chót cho bên yêu cầu xem xét lại các phần (s) của báo cáo 1 tuần 9 Thời gian xem xét ban hội thẩm, bao gồm cả khả năng thêm có cuộc họp với các bên 2 tuần 10 Phát hành báo cáo cuối cùng cho các bên tranh chấp 2 tuần 11 Lưu chuyển báo cáo cuối cùng tới các thành viên 3 tuần Mỗi bên tranh chấp sẽ phải nộp các văn bản đệ trình của mình cho Ban Thư ký để Ban Thư ký chuyển ngay cho Ban hội thẩm, các bên khác và các bên tranh chấp. Ban hội thẩm sẽ dành cho các bên một khoảng thời gian thích hợp để chuẩn bị văn bản đệ trình của mình. Để bảo đảm cho việc nhanh chóng chuyển các tài liệu tới các bên, Ban thư ký của WTO đã xây dựng các hộp thư điện tử và gửi tới cho phái đoàn của các thành viên tại Geneva. Tất cả các văn bản đệ trình đều phải được giữ bí mật [56, Điều 18.2], tuy nhiên Báo cáo cuối cùng của Ban hội thẩm sẽ được công bố công khai và được gửi cho tất cả các thành viên, trong đó Báo cáo sẽ phản ánh, tổng kết căn cứ pháp lý, thực tiễn, các cáo buộc và lập luận của các bên (tại phần mở đầu của Báo cáo) và các thành viên hoàn toàn có thể tự do tiết lộ văn bản đệ
  • 33.
    26 trình của mìnhra công chúng, thực tế một số thành viên đã công khai ngay sau khi nộp tới Ban thư ký hoặc sau các cuộc họp điều trần hoặc sau khi đã có báo cáo của Ban hội thẩm… Sau khi nhận và xem xét các văn bản đệ trình, Ban hội thẩm sẽ triệu tập phiên họp đầu tiên về nội dung của vụ việc, đươc tổ chức tại trụ sở của WTO tại Geneva, nó tương tự như những cuộc tranh luận của các bên tại tòa án, nhưng được diễn ra bí mật, không công khai. Sau đó, Ban hội thẩm sẽ đi vào giai đoạn thảo luận nội bộ (nghị án) để xem xét đánh giá các vấn đề pháp lý, thực tế có liên quan. Trong các kết luận và khuyến nghị của mình, Panel không thể làm tăng hoặc làm giảm các quyền và nghĩa vụ được quy định trong các hiệp định có liên quan [56, Điều 19.2]. Việc nghị án của Panel được giữ bí mật. Các bản báo cáo được soạn thảo dựa trên những thông tin được cung cấp và các ý kiến đã được đưa ra trước đó. Báo cáo của Ban hội thẩm bao gồm: Phần mô tả: gồm lời giới thiệu, các khía cạnh căn cứ pháp lý, bằng chứng thực tế, lập luận của các bên đưa ra trong quá trình thảo luận. Cùng với phần xem xét, đánh giá, lập luận của Ban hội thẩm về các vấn đề có liên quan, đây là căn cứ để Ban hội thẩm đưa ra kết luận, khuyến nghị đối với các bên. Phần kết luận: bao gồm phần xem xét, đánh giá, lập luận của Ban hội thẩm về các vấn đề được đưa ra, thường rất cụ thể và chi tiết bao gồm ý kiến về những tình tiết, khả năng áp dụng các điều khoản liên quan và lập luận đằng sau bất cứ kết luận và khuyến nghị nào được đưa ra dựa trên những quy định của WTO. Trong trường hợp Ban hội thẩm kết luận rằng một biện pháp nào đó không phù hợp với hiệp định có liên quan thì phải đưa ra khuyến nghị rằng Thành viên phải đưa ra các biện pháp phù hợp với Quy định của WTO. Cùng với đó, Ban hội thẩm có thể đề xuất các giải pháp để thực hiện các khuyến nghị [56, Điều 19.1]. Trên thực tế, đề xuất này là những kiến nghị tới DSB, yêu cầu các thành viên liên quan thực hiện các biện pháp phù hợp với WTO. Ban hội phẩm sẽ ban hành báo cáo tạm thời, bao gồm các phần đã đề cập trên, và chỉ gửi cho các bên có liên quan, trong khoảng thời gian từ 2 đến 4 tuần sau khi các bên đưa ra nhận xét, phản hồi về phần mô tả. Báo cáo cuối cùng sẽ được gửi
  • 34.
    27 tới các bêntranh chấp trong vòng 2 tuần kể từ khi Ban hội thẩm có kết luận ở giai đoạn rà soát giữa kỳ, sau khi được dịch sang các ngôn ngữ chính thức của WTO (ba ngôn ngữ chính thức của WTO là tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha), và được lưu chuyển tới các thành viên, trở thành tài liệu chính thức của vụ việc. Trong trường hợp nhiều bên khiếu nại với một Panel duy nhất, thì phải gửi các báo cáo riêng biệt cho các bên khi có yêu cầu [56, Điều 9.2]. DSM rất chú trọng tới thời gian, thời hạn giải quyết vụ việc, với mục tiêu kịp thời giải quyết các tranh chấp. Theo quy định, Ban hội thẩm phải ban hành báo cáo trong khoảng thời gian 06 tháng kể từ khi được thành lập, trong trường hợp khẩn cấp (những trường hợp liên quan đến hàng dễ hỏng) Ban hội thẩm phải cố gắng đưa ra bản báo cáo trong vòng 03 tháng kể từ khi được thành lập [56, Điều 12.7]. Trong trường hợp, Ban hội thẩm không thể đưa ra bản báo cáo trong vòng 06 tháng (hoặc 03 tháng trong trường hợp khẩn cấp), thì phải thông báo tới DSB bằng văn bản, nêu rõ lý do trì hoãn cùng với khoảng thời gian dự kiến đưa ra báo cáo. Thời gian thành lập ban hội thẩm cho tới khi báo cáo cuối cùng được chuyển tới các thành viên không được vượt quá 09 tháng [56, Điều 12.9]. Ban hội thẩm cũng có thể đình chỉ việc giải quyết vụ việc theo yêu cầu của các bên tại bất kỳ thời điểm nào, trong khoảng thời gian không quá 12 tháng. Việc đình chỉ vụ việc thường để cho các bên cùng nhau thỏa thuận đưa ra giải pháp chung thống nhất. Nếu công việc của Panel bị tạm ngừng hơn 12 tháng thì thẩm quyền của Ban hội thẩm sẽ hết thời hiệu, vụ tranh chấp sẽ chấm dứt. Và các bên muốn theo đuổi lại vụ kiện phải thực hiện theo thủ tục của một vụ kiện mới [56, Điều 12.12]. Thông qua báo cáo của Ban Hội thẩm Mặc dù báo cáo của Ban hội thẩm đưa ra nội dung tranh chấp, kết quả, kết luận đối với các bên, tuy nhiên nó chỉ có hiệu lực ràng buộc sau khi được DSB thông qua. Đây là lý do tại sao DSU miêu tả chức năng của Ban hội thẩm là giúp DSB làm tròn trách nhiệm theo DSU và các hiệp định có liên quan. Do đó, Panel cần phải phải đánh giá một cách khách quan về các vấn đề được nêu ra, gồm việc đánh giá các tình tiết của vụ việc, việc áp dụng phù hợp các biện pháp theo quy định
  • 35.
    28 của các hiệpđịnh có liên quan và đưa ra nhận xét, kết luận khác có thể giúp DSB đưa ra khuyến nghị hoặc phán quyết phù hợp với quy định của WTO [56, Điều 11]. DSU quy định DSB phải thông qua báo cáo không sớm hơn 20 ngày (thời gian 20 ngày để các thành viên xem xét báo cáo của Panel) và không quá 60 ngày kể từ khi báo cáo được chuyển đến các thành viên. Trừ khi một bên tranh chấp chính thức thông báo tới DSB về việc kháng cáo hoặc DSB dựa trên nguyên tắc đồng thuận phủ quyết (không thông qua báo cáo) [56, Điều 16.4]. Nếu không có kháng cáo, quy trình giải quyết tranh chấp ngay lập tức sẽ chuyển sang giai đoạn thực hiện sau khi DSB thông qua báo cáo của Ban hội thẩm. Còn nếu có kháng cáo thì vụ kiện sẽ được xem xét lại ở cấp Phúc thẩm. Quy định về xem xét của cấp Phúc thẩm DSU không có nhiều quy định đối với quá trình xem xét lại của cấp phúc thẩm, ngoại trừ Điều 16.4 của DSU có tham chiếu tới việc thông báo quyết định của bên đưa ra kháng cáo và Điều 17 liên quan đến tới cơ cấu, chức năng và thủ tục của Cơ quan phúc thẩm. Tuy nhiên, một số quy định chung trong DSU được áp dụng đối với cả giai đoạn xem xét của Panel và phúc thẩm, ví dụ Điều 1, 3, 18 và 19 của DSU. Ngoài ra, Cơ quan phúc thẩm đã thông qua Thủ tục làm việc riêng đối với xem xét phúc thẩm trên cơ sở ủy quyền và thủ tục quy định trong Điều 17.9 DSU. Những thủ tục này bao gồm các quy định chi tiết đối với kháng cáo và quy định từ trách nhiệm, nghĩa vụ các thành viên của Cơ quan phúc thẩm cho đến thời hạn nộp các tài liệu đệ trình. Lưu ý rằng thủ tục làm việc này khác với thủ tục làm việc của Ban hội thẩm [56, Phụ lục 03]. Cơ quan Phúc thẩm đã xây dựng quy trình thủ tục của mình lần đầu tiên vào năm 1996 trong tài liệu WT/AB/WP/1 của WTO (sau đây gọi là Thủ tục làm việc của Cơ quan phúc thẩm). Thủ tục làm việc quy định chi tiết cho việc kháng cáo, bao gồm nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các thành viên Cơ quan Phúc thẩm, thời hạn làm việc cụ thể. Tuy DSU không quy định cụ thể hạn chót cho việc kháng cáo, nhưng Điều 16.4 DSU ngụ ý rằng nó phải được thực hiện trước khi DSB thông qua báo cáo (sớm nhất là 20 ngày hoặc chậm nhất là 60 ngày), nghĩa là tùy thuộc vào từng
  • 36.
    29 trường hợp cụthể kháng cáo có thể được đưa ra bất cứ thời điểm nào có thể sớm hơn 20 ngày hoặc cũng có thể là 60 ngày, với điều kiện báo cáo chưa được DSB thông qua. Vì vậy, bên thắng kiện có thể dựa vào đó rút ngắn thời gian kháng cáo bằng cách đưa nội dung thông qua báo cáo vào chương trình nghị sự của DSB (nếu cuộc họp đó diễn ra sau 20 ngày kể từ khi báo cáo được chuyển tới các thành viên). Thông báo kháng cáo là một tuyên bố ngắn gọn nêu lên việc kháng cáo bao gồm, các cáo buộc về sai sót đối với những vấn đề pháp lý và giải thích pháp luật của Ban hội thẩm. Thông báo kháng cáo cũng sẽ trở thành một tài liệu chính thức mang ký hiệu WT/DS#/#. Thủ tục làm việc cho phép bên kháng cáo rút lại kháng cáo bất kỳ lúc nào. Bên kháng cáo sau khi rút đơn vẫn có thể nộp lại đơn, tuy nhiên cần phải bảo đảm về mặt thời gian. Điều 16.4 của DSU quy định chỉ có các bên tranh chấp (nguyên đơn và bị đơn), không phải là các bên thứ ba mới có quyền kháng cáo. Có thể có hai hay nhiều kháng cáo đối với cùng vấn đề tương tự: một từ bên thua và một từ bên thắng không nhất trí với phần lý lẽ lập luận của Ban hội thẩm. Thủ tục làm việc của Cơ quan phúc thẩm cũng đề cập đến hai lựa chọn về cách thức nhiều kháng cáo có thể được nộp: một là, bên kháng cáo nộp thông báo kháng cáo cùng với việc giải trình của mình, đồng thời bên khác cũng đưa kháng cáo với lập luận riêng của mình về vấn đề đó. Hình thức kháng cáo này được gọi là “kháng cáo khác” hoặc “kháng cáo chéo”; hai là, có hai hay nhiều bên sử dụng quyền kháng cáo. Nếu cả hai bên tham gia tranh chấp phản đối báo cáo của Ban hội thẩm thì mỗi bên trong cùng thời gian vừa là bên kháng cáo lại vừa là bên bị kháng cáo nhưng thường là đối với các phần khác nhau trong báo cáo. Bên thứ ba có thể tham gia với tư cách như những quan sát viên thụ động tại buổi tranh luận/phiên xét xử, với sự đồng ý của các bên. Phạm vi, đối tượng của kháng cáo Kháng cáo chỉ hạn chế trong phạm vi các vấn đề pháp lý, chỉ các vấn đề pháp lý được nêu trong báo cáo và việc giải thích pháp luật của Panel [56, Điều 17.6]. Một kháng cáo không thể đưa ra các vấn đề về tình tiết thực tế của báo cáo, ví dụ: việc yêu cầu kiểm tra bằng chứng thực tế mới hoặc bằng cách xem xét lại bằng chứng hiện có (đây là nhiệm vụ của Ban hội thẩm).
  • 37.
    30 Thủ tục xétxử phúc thẩm Chậm nhất 10 ngày sau khi nộp thông báo kháng cáo, bên kháng cáo phải nộp các tài liệu bằng văn bản, trong đó đưa ra chi tiết các lý lẽ pháp lý giải thích tại sao Ban hội thẩm có sai sót và kết luận, phán quyết nào mà bên kháng cáo muốn Cơ quan phúc thẩm cần phải đưa ra xem xét. Thời gian 10 ngày là có vẻ ngắn đối với các bên để chuẩn bị các tài liệu kháng cáo, tuy nhiên các bên có thể chuẩn bị các tài liệu này ngay từ giai đoạn rà soát giữa kỳ, khi báo cáo tạm thời được gửi tới các bên. Trong vòng 25 ngày kể từ ngày có thông báo kháng cáo, bên bị kháng cáo phải nộp tài liệu giải trình để phản hồi lại những lý lẽ do bên kháng cáo đưa ra, phải nêu rõ chi tiết liệu có hay không và theo căn cứ pháp lý để bác kháng cáo, đồng thời phải đưa ra lý lẽ về phạm vi đồng ý và không đồng ý với quyết định của Ban hội thẩm, trong thời gian này bên thứ ba cũng phải nộp các văn bản đệ trình nêu rõ quan điểm của mình. Trong khoảng 30 - 45 ngày kể từ ngày có thông báo kháng cáo, Hội đồng xét xử của Cơ quan phúc thẩm được phân công xem xét sẽ tổ chức phiên điều trần nhưng được giữ bí mật [56, Điều 17.10]. Tại phiên điều trần này, các bên tham gia kháng cáo (bao gồm cả bên thứ ba) sẽ trình bày một cách ngắn gọn ý kiến của mình. Sau đó Hội đồng xét xử sẽ đặt ra những câu hỏi tới các bên (tương tự như các phiên điều trần chính thức của Panel). Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa 2 phiên họp của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm. Cụ thể là: - Cơ quan phúc thẩm chỉ tiến hành một phiên điều trần để xem xét kháng cáo; - Các bên chỉ được phát biểu một cách ngắn gọn đệ trình của mình; - Phiên điều trần này chỉ diễn ra trong thời gian không quá một ngày; - Các bên tham gia không được đặt các câu hỏi trực tiếp tại phiên họp. Nghị án và chuẩn bị báo cáo của Cơ quan phúc thẩm Sau phiên điều trần, Hội đồng xét xử sẽ trao đổi quan điểm về các vấn đề đưa ra trong kháng cáo với 4 thành viên khác của Cơ quan phúc thẩm (không tham gia Hội đồng xét xử này). Việc trao đổi quan điểm như vậy nhằm bảo đảm hiệu quả của
  • 38.
    31 nguyên tắc làmviệc tập thể và bảo đảm nhất quán, gắn kết các án lệ của Cơ quan phúc thẩm. Nếu không bảo đảm được nguyên tắc này có thể sẽ có các án lệ không nhất quán hoặc khác nhau và sẽ làm mất đi tính an toàn và dự đoán trước được của hệ thống thương mại đa phương [56, Điều 3.2]. Các thành viên của Cơ quan phúc thẩm và Hội đồng xét xử phải cố gắng đưa ra quyết định trên cơ sở đồng thuận. Nếu điều này không thể, việc biểu quyết theo đa số sẽ được tiến hành. Tất cả quá trình nghị án của Cơ quan phúc thẩm đều được giữ bí mật [56, Điều 7.10], đồng thời không có giai đoạn xem xét tạm thời (không có báo cáo giữa kỳ trong quá trình phúc thẩm). Sau khi báo cáo được thông qua lần cuối và được ký bởi các thành viên thì báo cáo sẽ được dịch ra các ngôn ngữ chính thức khác của WTO. Kết luận và kiến nghị của Cơ quan phúc thẩm Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm gồm phần mô tả, phần nhận định và quyết định. Cụ thể như sau: - Phần mô tả bao gồm: thông tin chung về các tình tiết thực tế, các vấn đề về thủ tục của tranh chấp và tóm tắt các lý lẽ của các bên và bên thứ ba; - Phần nhận định và quyết định: Cơ quan phúc thẩm giải quyết chi tiết từng vấn đề được kháng cáo, nêu chi tiết các kết luận và lý do, lập luận cho từng kết luận đó và tuyên rõ là có giữ nguyên hay không các nhận định và kết luận bị kháng cáo hoặc sửa đổi hoặc bác bỏ. Phần này cũng bao gồm những kết luận bổ sung thích hợp, ví dụ có hay không việc bên bị khiếu kiện có vi phạm một quy định khác của WTO so với quy định vi phạm được Ban hội thẩm đưa ra. Khi kết luận là các biện pháp không phù hợp với hiệp định thì Cơ quan phúc thẩm đề nghị thành viên liên quan đưa các biện pháp đó sao cho phù hợp với các nghĩa vụ của hiệp định liên quan. Trên thực tế, cơ quan phúc thẩm thường tư vấn các bên nên đạt được một thỏa thuận để giải quyết tranh chấp phù hợp với các Hiệp định. Cuối cùng, báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được chuyển tới các thành viên WTO và trở thành tài liệu công khai mang mã số WT/DS#/AB/R. Liên quan đến các nội dung về báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, DSU quy định rằng Cơ quan Phúc thẩm phải giải thích và giải quyết từng vấn đề pháp lý liên
  • 39.
    32 quan tới nhữngnội dung trong báo cáo của Panel đã bị kháng cáo. Có hai cách tiếp cận phổ biến trong thủ tục của nhiều Hội đồng phúc thẩm khi Hội đồng chỉ có thẩm quyền hạn chế đối với các vấn đề pháp luật: Một là, phải quyết định những vấn đề còn lại cần giải quyết ở cấp phúc thẩm. Hai là, gửi lại hồ sơ vụ kiện này cho cơ quan/người xem xét tình tiết (Ban hội thẩm). Thẩm quyền gửi vụ kiện trở lại cấp thấp hơn được gọi là thẩm quyền hủy quyết định và gửi trả lại hồ sơ, tuy nhiên điều này lại không tồn tại trong hệ thống WTO. Do đó, việc quyết định các vấn đề còn lại trở nên bắt buộc và cần thiết trong WTO. Trong nhiều trường hợp, Cơ quan phúc thẩm đã thực hiện việc “phân tích pháp lý” nhằm giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, điều này chỉ có thể xảy ra khi việc điều tra và thu thập tình tiết trong báo cáo của Panel phải đầy đủ hoặc các tình tiết không bị tranh chấp trong báo cáo cho phép Cơ quan phúc thẩm đưa ra và quyết định về những vấn đề còn lại, nếu không đáp ứng được các điều kiện này, Cơ quan phúc thẩm không thể hoàn thành việc phân tích pháp lý bởi vì không được phép đưa ra quyết định về tình tiết mới. Thời hạn hoàn thành việc xét xử phúc thẩm Thủ tục xem xét phúc thẩm phải được hoàn tất trong vòng 60 ngày, và trong mọi trường hợp không được quá 90 ngày kể từ ngày ra thông báo kháng cáo. Khi thời gian xem xét phúc thẩm nhiều 60 ngày, Cơ quan Phúc thẩm phải thông báo cho DSB, nêu những lý do cho sự chậm trễ và đưa ra một khoảng thời gian dự kiến thông qua báo cáo [56, Điều 17.5]. Trong một vài trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt, và với sự đồng ý của những bên tham gia, Cơ quan Phúc thẩm ban hành báo cáo chậm nhất trong vòng 90 ngày. Trên thực tế, hầu hết việc lưu hành báo cáo thường được diễn ra sau 90 ngày, bởi vì việc hoàn thiện quy trình trong vòng 60 ngày là không khả thi trong thực tế, khi mà các đệ trình cuối cùng được nộp vào ngày thứ 25, buổi xét xử (điều trần) sẽ diễn ra vào ngày 30-40, và khoảng thời gian còn lại là quá ít vừa để cơ quan phúc thẩm đưa ra báo cáo của mình và vừa hoàn thành công việc dịch báo cáo sang các thứ tiếng khác để gửi tới các thành viên. Thông qua báo cáo của Cơ quan phúc thẩm DSB phải thông qua báo cáo của Cơ quan phúc thẩm và các bên phải chấp
  • 40.
    33 nhận vô điềukiện, trừ khi DSB thống nhất quyết định không thông qua báo cáo này (trên nguyên tắc đồng thuận nghịch) trong vòng 30 ngày sau khi báo cáo được gửi cho các thành viên. Giống như việc thông qua báo cáo của Ban hội thẩm, nếu trong thời gian này không có chương trình nghị sự của DSB diễn ra thì DSB phải tổ chức một cuộc họp để thông qua báo cáo [56, Điều 17.14]. Mặc dù Điều 17.14 của DSU không đề cập tới báo cáo của ban hội thẩm, tuy nhiên cần phải hiểu rằng báo cáo của ban hội thẩm và của cơ quan phúc thẩm sẽ cùng được thông qua sau khi cơ quan phúc thẩm phê chuẩn đồng ý; sửa đổi hoặc bác bỏ những nội dung trong Báo cáo của Ban hội thẩm. Việc thực thi phán quyết của “bên thua kiện” Điều 3.7 của DSU quy định rằng trong trường hợp không có một thỏa thuận về giải pháp mà hai bên đạt được để giải quyết tranh chấp thì mục tiêu đầu tiên của cơ chế giải quyết tranh chấp là nhằm bảo đảm thu hồi các biện pháp đã vi phạm, không phù hợp với hiệp định WTO. Điều 21.1 DSU cũng cho biết thêm rằng các bên cần phải tuân thủ đầy đủ và kịp thời các khuyến nghị hoặc phán quyết của DSB, đây là một nhân tố cần thiết để bảo đảm tính hiệu quả của DSM. Do vậy, nhiệm vụ đầu tiên của bên “thua kiện” là thông báo cho DSB tại cuộc họp trong vòng 30 ngày sau khi các báo cáo được thông qua về dự định thực hiện các khuyến nghị và phán quyết của DSB [56, Điều 21.3]. Trên thực tế việc tuân thủ ngay lập tức các khuyến nghị và phán quyết của DSB đối với các thành viên là điều không thực tế, nếu có vi phạm về các biện pháp trong pháp luật thành viên đó thì nhất thiết phải có thời gian để thay đổi. Các quốc gia liên quan thường tuyên bố rằng họ không thể ngay lập tức thực hiện được các khuyến nghị đó. Để xác định thời hạn hợp lý, được tính từ ngày thông qua các báo cáo, Điều 21.3 của DSU chỉ rõ ba cách thức khác nhau. Đó là: - Do thành viên liên quan đề xuất và được DSB phê chuẩn đồng thuận; - Được các bên tranh chấp cùng nhất trí trong vòng 45 ngày sau khi thông qua các báo cáo; và - Được xác định bởi trọng tài. Trong trường hợp, DSB không chấp thuận các đề xuất của các bên, hoặc các
  • 41.
    34 bên không thểthống nhất được thời gian hợp lý thì các bên có thể xác định thời gian thông qua quyết định của trọng tài [56, Điều 21.3]. Một trong các bên sẽ gửi yêu cầu trọng tài xác định thời gian thực hiện tới Tổng Giám đốc WTO. Nếu các bên không thống nhất được trọng tài viên (một cá nhân hoặc một nhóm người), thì Tổng Giám đốc chỉ định các trọng tài viên trong vòng 10 ngày, sau khi đã tham vấn các bên. Trong thời gian 90 ngày kể từ khi báo cáo được thông qua trọng tài viên phải xác định khoảng thời gian hợp lý để thực hiện và khoảng thời gian đó không được vượt quá 15 tháng. Hoặc nếu Ban hội thẩm hoặc cơ quan phúc thẩm xét thấy cần phải kéo dài thời gian thực hiện thì thời gian đó phải được cộng vào khoảng thời gian mà trọng tài đưa ra với điều kiện không được vượt quá 18 tháng [56, Điều 21.4]. DSB là cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc thực thi các báo cáo [56, Điều 2]. Trong trường hợp các bên không thực hiện phán quyết Nếu bên thua kiện không điều chỉnh biện pháp của mình phù hợp với các nghĩa vụ WTO trong thời hạn hợp lý, bên thắng kiện có quyền sử dụng các biện pháp tạm thời, có thể là yêu cầu bồi thường hoặc đình chỉ các nghĩa vụ. Các biện pháp tạm thời này không được ưu tiên hơn việc thực hiện đầy đủ các khuyến nghị và phán quyết của DSB. Bồi thường: Nếu các thành viên không thực hiện việc tuân thủ các khuyến nghị, kết luận của cơ quan xét xử để đưa các biện pháp đã vi phạm cho phù hợp với các Hiệp định trong WTO trong khoảng thời gian hợp lý, thì bên thua kiện phải đàm phán với bên thắng kiện nhằm đưa ra một thỏa thuận bồi thường có thể chấp nhận được giữa hai bên [56, Điều 22.2]. Việc bồi thường này không có nghĩa là bên thua kiện phải thanh toán một khoản tiền, mà đúng hơn bên thua kiện sẽ phải đưa ra một lợi ích tương ứng với lợi ích đã bị triệt tiêu hoặc phương hại do các biện pháp mà họ áp dụng. Các bên tranh chấp phải thống nhất về bồi thường và phải phù hợp với các hiệp định trong WTO [56, Điều 22.1], quy định này dường như làm cho bên thua kiện phải cân nhắc và khó có thể đưa ra trong giai đoạn này, bởi vì “các biện pháp phù hợp với các Hiệp định” đó cũng nhất quán với nguyên tắc Tối huệ quốc. Do đó các thành viên khác (ngoài bên thắng kiện) cũng có thể sẽ được hưởng lợi từ việc
  • 42.
    35 bồi thường đó(ví dụ như: các hình thức cắt giảm thuế quan…), bên thua kiện có thể sẽ bị mất đi một lợi ích đáng kể từ việc cắt giảm thuế quan và vẫn phải áp dụng cho các thành viên khác; còn điều mà bên thắng kiện muốn là việc họ sẽ được hưởng một lợi ích độc quyền nào đó từ bên thua kiện. Điều này làm cho việc bồi thường kém hấp dẫn đối với các bên (cả bên thua kiện và bên thắng kiện). Tuy nhiên, cũng có thể khắc phục trong một trừng mực nào đó nếu các biện pháp bồi thường (như giảm thuế quan) nhắm tới lợi ích thương mại mà bên thắng kiện có ưu thế hơn hẳn so với các thành viên khác. Đình chỉ thực hiện nghĩa vụ hay các biện pháp “trả đũa”, “trừng phạt” Nếu trong vòng 20 ngày sau khi hết thời hạn hợp lý, các bên không nhất trí được một sự bồi thường thỏa đáng, thì bên thắng kiện có thể yêu cầu DSB cho phép áp dụng các biện pháp trừng phạt. Về mặt kỹ thuật, điều này gọi là “đình chỉ các nhượng bộ hoặc nghĩa vụ khác theo các hiệp định” [56, Điều 22.2], có nghĩa là bên thắng kiện sẽ tạm thời không thực hiện (đình chỉ) một số nghĩa vụ phù hợp, hoặc các nghĩa vụ tương ứng khác theo quy định của WTO đối với bên thua kiện. Các biện pháp trừng phạt này cần phải có sự đồng ý của DSB. Đây là hậu quả cuối cùng và nghiêm trọng nhất mà một thành viên thua kiện gặp phải trong hệ thống giải quyết tranh chấp WTO [56, Điều 3.7]. Việc đình chỉ thực hiện nghĩa vụ chỉ được áp dụng một cách đơn lẻ đối với các bên có liên quan, và luôn được DSB theo dõi việc thực hiện, đây cũng là một trong những chủ đề được bàn tới trong chương trình nghị sự của. Trừng phạt, trả đũa phải được thu hồi sau khi các bên liên quan đã thực hiện đầy đủ phán quyết, khuyến nghị của cơ quan xét xử. Phần lớn quan sát viên nhất trí rằng đình chỉ các nghĩa vụ do việc không thực hiện đúng thời hạn là có vấn đề vì nó thường dẫn tới việc bên khởi kiện đối phó với một hàng rào thương mại không phù hợp với WTO bằng một hàng rào khác. Điều này trái với sự tự do hóa thương mại. Đồng thời, các biện pháp tạo nên các hàng rào thương mại đều có hai mặt, vì chúng gần như luôn có hại về kinh tế không chỉ cho thành viên là mục tiêu áp dụng mà còn cho cả thành viên áp dụng những biện pháp đó. Như vậy, điều quan trọng mà chúng ta cần lưu ý
  • 43.
    36 ở đây là:Các biện pháp trả đũa, trừng phạt là phương pháp cuối cùng của DSM và nó ít được sử dụng trên thực tế cho các vụ việc. Quy định về việc đình chỉ thực hiện nghĩa vụ Mức độ đình chỉ các nghĩa vụ được DSB cho phép phải “tương đương” với mức độ bị triệt tiêu hoặc phương hại [56, Điều 22.4]. Điều này có nghĩa là phản ứng trả đũa của bên khởi kiện không thể đi xa hơn mức độ thiệt hại do bên bị kiện gây ra, đồng thời việc đình chỉ các nghĩa vụ là hướng về tương lai chứ không có tính hồi tố, nó chỉ áp dụng cho giai đoạn sau khi DSB đã cho phép, không phải toàn bộ giai đoạn mà biện pháp liên quan được áp dụng hay toàn bộ giai đoạn tranh chấp. Về các loại nghĩa vụ bị đình chỉ, DSU đặt ra yêu cầu nhất định. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp trừng phạt sẽ được thực hiện trong các lĩnh vực tương tự như các vi phạm làm vô hiệu hóa hoặc làm suy giảm lợi ích thương mại đã được nêu ra, theo Điều 22.3 (a) DSU. Với mục đích này, các hiệp định thương mại đa biên được chia thành ba nhóm theo ba phần của Phụ lục 1 Hiệp định WTO [56, Điều 22.3 (g)]. Nguyên tắc chung khi xem xét việc trả đũa là bên khởi kiện trước tiên phải cố gắng đình chỉ các nghĩa vụ trong cùng một lĩnh vực mà cơ quan xét xử đã xác định là có vi phạm [56, Điều 22.3 (a)]. Tuy nhiên, nếu bên khởi kiện thấy rằng là không thực tế hoặc không hiệu quả khi trả đũa trong cùng lĩnh vực đó, thì các biện pháp trừng phạt có thể áp dụng trong một lĩnh vực khác trong cùng một hiệp định [56, Điều 22.3 (b)]. Hoặc, nếu bên khởi kiện thấy rằng là không thực tế và không hiệu quả để trả đũa trong những lĩnh vực cùng hiệp định, và với những tình huống nghiêm trọng, thì có thể thực hiện theo một hiệp định có liên quan khác [56, Điều 22.3 (c)]. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm giảm thiểu tối đa cơ hội thực hiện các biện pháp vào những lĩnh vực không liên quan, đồng thời cho phép hành động trả đũa đạt được hiệu quả cao nhất. DSB phải cho phép đình chỉ các nghĩa vụ trong vòng 30 ngày kể từ khi hết thời hạn hợp lý, trừ khi cơ quan này nhất trí quyết định từ chối yêu cầu này. Thông qua nguyên tắc Đồng thuận nghịch. Nói cách khác, việc phê chuẩn gần như tự động. Nếu các bên không đồng ý về hình thức trả đũa do bên khởi kiện đề xuất, thì có thể yêu cầu trọng tài xác định [56, Điều 22]. Thành phần của trọng tài phải do Ban hội
  • 44.
    37 thẩm ban đầutiến hành, nếu các thành viên chấp nhận, hoặc do trọng tài viên được Tổng Giám đốc chỉ định. Điều 22.6 của DSU cũng quy định việc xét xử của trọng tài phải được hoàn tất trong vòng 60 ngày sau ngày thời hạn hợp lý kết thúc và các bên chỉ được phép thực hiện các biện pháp trả đũa sau khi đã có phán quyết của trọng tài. Trọng tài viên sẽ xem xét mức độ tương đương trong các biện pháp trả đũa, và tuân thủ các quy tắc xác định về hình thức trả đũa chéo theo Điều 22.3 DSU. Quyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm đối với các bên và không được yêu cầu giải quyết bằng trọng tài lần thứ hai. Việc áp dụng trả đũa sẽ kết thúc khi các biện pháp được coi là không phù hợp với các Hiệp định có liên quan được loại bỏ; hoặc khi thành viên đã thực hiện đầy đủ những khuyến nghị hoặc phán quyết của cơ quan xét xử; hoặc hai bên đã đạt được một giải pháp thoả đáng. DSB phải tiếp tục duy trì giám sát việc thực hiện những khuyến nghị hoặc phán quyết đã được thông qua, kể cả trường hợp đã thực hiện bồi thường hoặc các trường hợp đã thực hiện trả đũa nhưng những khuyến nghị yêu cầu điều chỉnh một biện pháp cho phù hợp với những hiệp định có liên quan vẫn chưa được thực hiện. 1.2.4. Giải quyết tranh chấp không thông qua các thủ tục tố tụng Sự tham gia của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong quá trình tố tụng là một nhân tố quan trọng trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO. Tuy nhiên, có rất nhiều cách khác để giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO mà không cần thiết phải dùng tới các thủ tục tố tụng trên. Trên thực tế, các bên thường cố gắng tìm một giải pháp hai bên thoả thuận trong đàm phán song phương hoặc với sự giúp đỡ của các phương thức giải quyết tranh chấp như môi giới, hoà giải hoặc trung gian. Ngoài ra, họ cũng có thể thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài viên. Giải pháp các bên cùng thống nhất đưa ra một thỏa thuận Việc các bên cùng thỏa thuận và đưa ra một giải pháp chung thống nhất phù hợp với quy định của WTO được DSU khuyến khích và ưu tiên thực hiện khi xảy ra tranh chấp [56, Điều 3.7]. Tuy nhiên không giống với bất cứ hệ thống giải quyết tranh chấp thông thường, DSU không cho phép các bên tự do thỏa thuận về bất cứ
  • 45.
    38 điều khoản nàomà họ muốn. Các giải pháp này chỉ được chấp nhận khi nó phù hợp với các Hiệp định trong WTO, và không làm vô hiệu hóa hay làm tổn hại tới lợi ích của các thành viên khác. Trong quá trình giải quyết tranh chấp các bên có thể tiến hành tham vấn song phương tại bất kỳ giai đoạn nào để đưa ra giải pháp thống nhất và phải được thông báo tới DSB, các Ủy ban và các Hội đồng có liên quan. Cũng có nghĩa rằng, thỏa thuận này sẽ được thông báo tới tất cả các thành viên WTO. Nhằm bảo đảm cho những thỏa thuận đó phải phù hợp với các Hiệp định, và cũng không được vô hiệu hóa hoặc tổn hại tới lợi ích của bên thứ ba. Giải quyết tranh chấp thông qua môi giới, hòa giải và trung gian Bên cạnh thủ tục tham vấn, DSU còn quy định các hình thức giải quyết tranh chấp mang tính “chính trị” khác như môi giới, trung gian, hoà giải. Đôi khi sự tham gia của một bên độc lập, không liên quan đến các tranh chấp cũng có thể giúp các bên tìm ra được một một giải pháp thích hợp. Các hình thức này được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, bí mật giữa các bên tại bất kỳ thời điểm nào sau khi phát sinh tranh chấp (ngay cả khi Ban hội thẩm đã được thành lập và đã tiến hành hoạt động) [56, Điều 5]. Tương tự như vậy, thủ tục này cũng có thể chấm dứt vào bất kỳ lúc nào. DSU không xác định bên nào (nguyên đơn hay bị đơn) có quyền yêu cầu chấm dứt nên có thể hiểu là tất cả các bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu chấm dứt thủ tục. Chức năng môi giới, trung gian, hoà giải có thể do Tổng Thư ký WTO đảm nhiệm. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định về việc liệu một cá nhân hoặc một tổ chức có thể đứng ra đảm trách vai trò môi giới, trung gian, hoà giải này không. Với các ưu thế nhất định như tiết kiệm được về thời gian, tiền bạc, giữ được quan hệ hữu hảo giữa các bên tranh chấp… các phương thức chủ yếu dựa trên đàm phán ngoại giao này được DSU đặc biệt khuyến khích sử dụng. Giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài Đây là một hình thức giải quyết tranh chấp thay thế cho việc xét xử thông qua Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm. Các Bên tranh chấp có thể thoả thuận lựa chọn cơ chế trọng tài độc lập để giải quyết tranh chấp của mình mà không cần sử dụng đến cơ chế của DSU. Tuy nhiên, DSU chỉ cho phép sử dụng trọng tài giải
  • 46.
    39 quyết các tranhchấp trong đó những vấn đề tranh chấp đã được các bên xác định một cách rõ ràng và thống nhất [56, Điều 25.1]. Các bên có thể tùy ý lựa chọn thủ tục và lựa chọn các trọng tài viên. Trong trường hợp này, quyết định lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài độc lập phải được các Bên tranh chấp thông báo đến tất cả thành viên WTO trước khi thủ tục tố tụng được bắt đầu. Các thành viên WTO có thể tham gia thủ tục tố tụng nếu được các Bên tranh chấp đồng ý. Quyết định giải quyết của trọng tài phải được các bên tuân thủ nghiêm túc và có nghĩa vụ thông báo về quyết định này cho DSB, cho Hội đồng hoặc cho Uỷ ban của Hiệp định có liên quan. Quy tắc giải quyết tranh chấp trong WTO (DSU) quy định quyết định của trọng tài phải phù hợp với các hiệp định có liên quan và không được gây thiệt hại cho bất kỳ thành viên nào khác của WTO. Bất kỳ thành viên nào cũng có quyền đưa ra câu hỏi liên quan đến quyết định này. 1.3. Những vấn đề đặc thù trong giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs Có thể thấy giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO, thường có những đặc trưng riêng gắn liền với những đặc trưng của từng Hiệp định. Hiệp định TRIMs cũng vậy, có những đặc trưng riêng về nội dung, cũng như về thủ tục giải quyết tranh chấp liên quan tới đầu tư và thương mại. 1.3.1. Đặc thù về nội dung giải quyết tranh chấp Thứ nhất, TRIMs về cơ bản là một Hiệp định nhằm mục đích giải thích và làm rõ về việc áp dụng các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại theo quy định trong phạm vi của GATT 1994 đặc biệt là Điều III và Điều XI, vì vậy ngoài việc viện dẫn các điều khoản của TRIMs, nội dung trong các vụ tranh chấp thường được viện dẫn các quy định của GATT 1994 về hàng hóa, về các trường hợp ngoại lệ [55, Điều 3], đặc biệt là Điều III và Điều XI; Thứ hai, Như đã trình bày ở trên, phạm vi áp dụng của TRIMs “chỉ áp dụng đối các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại hàng hóa” [55, Điều 1]. Do vậy, có thể thấy TRIMs chỉ áp dụng đối với hàng hóa, không áp dụng đối với dịch vụ trong khuôn khổ WTO. Vì vậy trong các vụ tranh chấp liên quan tới TRIMs các hiệp định quy định riêng về dịch vụ thường không được đề cập tới;
  • 47.
    40 Thứ ba, chủđề chính của TRIMs xoay quanh các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại, tuy nhiên TRIMs lại không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là “biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại”. Vì vậy, trong mỗi vụ tranh chấp Panel sẽ căn cứ vào thực tế, những tình tiết cụ thể để đưa ra nhận xét, đánh giá, giải thích liệu các biện pháp mà các bên đưa ra có phải là “biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại” hay không. Điều này càng làm cho chúng ta thấy rõ hơn vai trò quan trọng của Ban hội thẩm trong việc giải thích pháp luật đối với các vụ tranh chấp; Thứ tư, vì bản chất của TRIMs nhằm hạn chế các biện pháp ảnh hưởng xấu tới tự do hóa thương mại, sự luân chuyển vốn, hàng hóa qua biên giới các quốc gia thành viên. Do vậy, nội dung của TRIMs không liên quan tới các khoản thuế, phí đối với hàng hóa trong nước; cũng như các khoản trợ cấp và mua sắm của Chính phủ của các nước thành viên. Vì thế các quốc gia là bị đơn có thể sẽ viện dẫn các quy định đó nhằm biện hộ cho những “hành vi” của mình. 1.3.2. Đặc thù về thủ tục Có thể nhận thấy rằng, các vấn đề đặc trưng về nội dung nêu trên cũng sẽ tương ứng với những đặc trưng về thủ tục trong các tranh chấp liên quan tới TRIMs. Thứ nhất, vì TRIMs có mối quan hệ mật thiết với GATT 1994 nên các căn cứ pháp lý trong yêu cầu tham vấn ngoài các điều khoản liên quan tới TRIMs, bên nguyên đơn cần phải đưa ra các điều khoản quy định tại GATT, đặc biệt là Điều III và Điều XI; cũng vì lý do này, cùng với mục đích giải thích rõ hơn quy định tại Điều III và Điều XI GATT 1994 nên trong quá trình xem xét của mình theo yêu cầu của bên nguyên đơn hoặc tùy thuộc vào tình tiết của các vụ việc Ban hội thẩm có thể bỏ qua không xem xét việc vi phạm theo Điều 2 của TRIMs nếu các biện pháp đó vi phạm Điều III.4 của GATT [62, tr. 249]. Thứ hai, vì TRIMs áp dụng cho hàng hóa, nên quá trình giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs có thể được rút ngắn thời gian giải quyết theo quy định đối với các loại hàng hóa dễ hư hỏng (như các mặt hàng nông sản, thủy sản...); Thứ ba, quá trình xem xét, đánh giá, kết luận của Ban hội thẩm liên quan tới TRIMs luôn gắn liền với quá trình “giải thích pháp luật”. Cụ thể là trong báo cáo
  • 48.
    41 của Ban hộithẩm sẽ có một phần giải thích, đưa ra những đối số thực tế để xem xét các biện pháp mà các bên đưa ra có phải là TRIMs hay không, thông qua việc giải thích các thuật ngữ “các biện pháp đầu tư”; “liên quan tới thương mại”; Thứ tư, các biện pháp được kết luận là TRIMs được xem xét và giải thích theo một trình tự pháp lý nhất định có liên quan tới quy định của GATT. Đầu tiên Panel sẽ xem xét các biện pháp đó có vi phạm GATT (Điều III hoặc Điều XI) hay không. Tiếp đó, sẽ đối chiếu với danh mục minh họa tại phụ lục của TRIMs, để xác định có vi phạm TRIMs hay không. Nếu các biện pháp được nêu ra vi phạm GATT, đồng thời có những đặc điểm mô tả giống với danh mục minh họa tại phụ lục của TRIMs, thì Panel mới kết luận vi phạm TRIMs. Ban hội thẩm cũng lưu ý rằng việc một biện pháp được tuyên là vi phạm TRIMs không thích hợp để suy ra từ Danh mục minh họa của nó, mà trước hết phải dựa trên quy định của GATT, bởi vì Danh mục minh họa đó có các đặc điểm được đề cập tới luôn luôn vi phạm GATT.
  • 49.
    42 Chương 2 THỰC TIỄNGIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN TỚ I HIỆP ĐI ̣NH TRIMS VÀ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƢỚC 2.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs 2.1.1. Tổng quan các vụ tranh chấp Kể từ khi được thành lập cho tới tháng 11/2016, hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO đã tiếp nhận 42 yêu cầu tham vấn giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs trong tổng số 514 vụ việc của WTO, tương ứng với tỷ lệ 8,2%, có thể thấy đây là con số khá khiêm tốn so với tổng số 514 vụ việc. Tuy nhiên, ngoại trừ Hiệp định GATT với 418 vụ việc chiếm 81,3%, các tranh chấp liên quan tới TRIMs so với các hiệp định khác cũng khá tương đương nhau như: Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) 24 vụ việc; Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT) 52 vụ việc; Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) 34 vụ việc (6,7%); Hiệp định thủ tục cấp phép nhập khẩu (ILP) 46 vụ việc (8,9%); Hiệp định về các biện pháp tự vệ (SG) 46 vụ việc (9%); Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (SCM) 113 vụ việc (22%); Hiệp định về Nông nghiệp (AOA) 80 vụ việc (15,6%). Có thể thấy rằng vấn đề về đầu tư và thương mại trong WTO không chỉ được quy định tại TRIMs mà nó còn được quy định tại rất nhiều các hiệp định song phương, cũng như khu vực. Trong đó, giải quyết tranh chấp liên quan tới đầu tư thường có những quy định riêng biệt nhằm bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài, cùng với đó là việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện chính phủ một nước thành viên ra cơ quan tài phán quốc tế. Như tranh chấp giữa nhà đầu tư với Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư (tham gia công ước) được giải quyết thông qua Trung tâm Giải quyết Tranh chấp Đầu tư Quốc tế (International Centre for Settlement of Investment Disputes - ICSID) được thành lập theo Công ước về việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giữa các quốc gia thành viên và các công dân của các quốc gia thành viên được ký kết tại Washington vào ngày 18/3/1965. Điều này cũng có thể lý giải về số lượng vụ việc khiêm tốn đối với các tranh chấp liên quan tới TRIMs.
  • 50.
    43 Các quốc gialà nguyên đơn Trong số 42 vụ tranh chấp chỉ có 15 quốc gia thành viên là nguyên đơn như: Hoa Kỳ (15 vụ việc chiếm 37%); Ecuador; Guatemala; Honduras; Mexico (05 thành viên cùng một vụ kiện DS27); Liên minh Châu Âu (09 vụ việc chiếm 22%); Nhật Bản (08 vụ việc chiếm 20%); Panama; Brazil; Canada; Mexico (02 vụ việc); Argentina (02 vụ việc); Trung Quốc; Liên bang Nga; Ấn Độ. Có thể thấy rằng, phần lớn các quốc gia có nền kinh tế phát triển thường là nguyên đơn trong các vụ tranh chấp trong đó phải kể tới Hoa Kỳ (37%); Liên minh Châu Âu (22%); Nhật Bản (20%); các quốc gia đang phát triển thường chỉ tham gia hạn chế với tư cách là nguyên đơn trong 01 vụ việc liên quan tới TRIMs duy chỉ có Mexico và Argentina là nguyên đơn của 02 vụ việc. Có thể lý giải cho việc các thành viên phát triển (chỉ tính riêng Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản) chiếm tỉ lệ áp đảo 79% trong các vụ việc với tư cách là nguyên đơn là: những thành viên này có nền kinh tế phát triển, sản phẩm của họ vươn tới tất cả thị trường trên thế giới đặc biệt là khu vực các quốc gia đang phát triển, chính vì vậy các quốc gia đang phát triển buộc phải sử dụng TRIMs như là một trong những biện pháp bảo vệ ngành sản xuất trong nước, hướng các nguồn đầu tư nước ngoài theo định hướng phát triển của mình. Các quốc gia là bị đơn Tỉ lệ nghịch với phần trăm (%) vụ việc với tư cách là nguyên đơn, các quốc gia phát triển lại chiếm tỉ lệ rất ít trong số các vụ việc với tư cách là bị đơn. Cho tới thời điểm hiện tại đã có 13 quốc gia thành viên là bị đơn trong các vụ việc liên quan đến các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, trong đó phải kể tới các thành viên có nền kinh tế lớn, hệ thống thương mại phát triển như Liên minh châu Âu (06 vụ việc); Hoa Kỳ (02 vụ việc); Liên bang Nga (02 vụ việc) hầu hết các yêu cầu này đến từ các thành viên là quốc gia đang phát triển. Tuy vậy các thành viên đang phát triển lại thường sử dụng TRIMs và là bị đơn trong các vụ kiện như: Brazil (06 vụ việc); Trung Quốc (05 vụ việc); Canada (04 vụ việc); Indonesia (04 vụ việc); Argentina (04 vụ việc); Philippines (03 vụ việc); Ấn Độ (03 vụ việc); Venezuela; Cộng hòa Bolivia; Thổ Nhĩ Kỳ. Như vậy có thể thấy rằng TRIMs thường được các
  • 51.
    44 quốc gia đangphát triển sử dụng nhiều hơn so với các quốc gia phát triển, điều này cũng được giải thích thông qua quá trình đàm phán Hiệp định với sự bất đồng về lợi ích giữa các thành viên phát triển và thành viên đang phát triển. Tình hình giải quyết tranh chấp Tính tới tháng 11/2016, DSB đã thông qua báo cáo của Ban hội thẩm cũng như báo cáo của cơ quan phúc thẩm trong 20 vụ việc (chiếm 49%) trên tổng số 41 vụ việc liên quan tới TRIMs. Trong số 22 vụ việc còn lại thì 05 vụ việc (chiếm 12%) đang trong quá trình xét xử; 11 vụ việc (chiếm 24%) dừng lại ở quá trình tham vấn và không có thông tin gì thêm (có thể vì một lý do nào đó trong quá trình tham vấn bên nguyên đơn đã từ bỏ, không theo đuổi vụ kiện) và 06 vụ việc (chiếm 15%) các bên đã đưa ra một giải pháp chung thống nhất trong việc giải quyết tranh chấp. Có thể nhận thấy rằng, hầu hết các phán quyết đưa ra của DSB liên quan tới TRIMs đều được các thành viên tuân thủ một cách tự nguyện, trong đó có 16 vụ việc bên thua kiện thông báo với DSB rằng họ đã thực hiện đầy đủ phán quyết của DSB, còn lại 04 vụ việc đang trong giai đoạn thực hiện. Bảng 2.1. Tình hình giải quyết các tranh chấp liên quan tới TRIMs Tình hình vụ việc Số vụ việc Vụ việc mang ký hiệu số Dừng lại ở quá trình tham vấn; hoặc ban hội thẩm đã được thành lập và không có thông tin gì thêm 11 DS51; DS65; DS81; DS195; DS224; DS275; DS443; DS446; DS452; DS459; DS510 Đang trong quá trình xét xử 05 DS462; DS463; DS472; DS476; DS497 Báo cáo đã được thông qua của Ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm (chưa thi hành) 04 DS438; DS444; DS445; DS456 Các bên đã đưa ra một giải pháp chung thống nhất 06 DS27; DS74; DS102; DS105; DS358; DS359 Đã thi hành báo cáo theo thông báo của bên thua kiện 16 DS52; DS54; DS55; DS59; DS64; DS139; DS142; DS146; DS175; DS276; DS340; DS334; DS339; DS342; DS412; DS426 Tổng số 42 (Nguồn: https://www.wto.org)
  • 52.
    45 2.1.2. Những vấnđề pháp lý được đưa ra giải quyết Những vấn đề, cáo buộc được bên nguyên đơn đưa ra Tranh chấp phổ biến đối với các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại thường được các quốc gia viện dẫn Điều 2 của TRIMs, theo đó bên nguyên đơn cho rằng các biện pháp mà bên bị đơn thực hiện đã vi phạm các quy định liên quan đến nguyên tắc Đối xử quốc gia và Hạn chế định lượng khi tạo ra sự bất bình đẳng đối với hàng hóa và nhà đầu tư nước ngoài. Trong 42 vụ việc liên quan tới TRIMs, các vấn đề được các bên đưa ra thường xoay quanh các biện pháp làm ảnh hưởng tới hàng hóa nhập khẩu qua biên giới; thông qua các biện pháp liên quan tới: giấy phép nhập khẩu không tự động; hạn chế định lượng thông qua hạn ngạch, thông qua yêu cầu về sản xuất trong nước; các yêu cầu về hàm lượng nội địa hóa để nhận được các khoản ưu đãi, có thể là các khoản ưu đãi về thuế hoặc phí... Do đặc trưng của TRIMs nhằm giải thích rõ việc áp dụng các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại trong phạm vi Điều III, Điều XI của GATT, vì vậy trong yêu cầu tham vấn của bên nguyên đơn, việc viện dẫn quy định của Hiệp định TRIMs luôn gắn liền với Hiệp định GATT. Thêm vào đó là những hiệp định đặc thù liên quan tới nguyên tắc đối xử quốc gia về thuế và các biện pháp hạn chế định lượng, như: - Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng (SCM); - Hiệp định về các biện pháp tự vệ; - Hiệp định về Thủ tục cấp phép nhập khẩu (ILP); - Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT); Ngoài ra một số hiệp định khác cũng được viện dẫn như: Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS); Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS); Hiệp định về Nông nghiệp (AOA). Ta có thể thấy rõ các biện pháp đó được sử dụng thông qua lĩnh vực có liên quan như: - Trong ngành nông nghiệp, thương mại và dịch vụ: + Các biện pháp hành chính liên quan đến chế độ nhập khẩu, bán và phân phối chuối của EU thông qua việc áp dụng hạn ngạch, và chế độ cấp phép nhập khẩu (DS27, DS105).
  • 53.
    46 + Hoa Kỳ(nguyên đơn trong các vụ việc) cho rằng việc Philippines áp dụng hạn ngạch thuế quan, đặc biệt là sự chậm trễ trong việc cho phép số lượng trong hạn ngạch và hệ thống cấp giấy phép hạn ngạch. Venezuela (DS275), đã thiết lập các yêu cầu cấp giấy phép nhập khẩu “một cách tùy ý” đối với nhiều sản phẩm nông nghiệp, bao gồm ngô, lúa mỳ, các sản phẩm sữa (như pho mát, sữa, cả sữa bột và sữa không béo), nho, mỡ, gia cầm, thịt bò, thịt lợn và đậu nành, từ đó đã không tạo ra sự thống nhất, minh bạch và dễ dự đoán trong hệ thống cấp giấy phép nhập khẩu, từ đó tạo ra những hạn chế cũng như làm bóp méo nghiêm trọng sự tự do hóa thương mại hàng hóa. Canada (DS276), quy định lúa mì nhập khẩu không được trộn lẫn với các loại ngũ cốc trong nước khi được đóng gói và Canada đã tạo ra những lợi thế, ưu đãi nhiều hơn cho các loại ngũ cốc trong nước so với ngũ cốc nhập khẩu. Bằng cách tạo ra những thuận lợi trong việc vận chuyển bằng việc ưu tiên bố trí, phân bổ các toa tàu trong vận tải đường sắt. Thổ Nhĩ Kỳ (DS334), Theo đó, việc nhập khẩu gạo vào Thổ Nhĩ Kỳ cần phải được cấp phép nhập khẩu và có những giới hạn ràng buộc kèm theo. Đồng thời, Thổ Nhĩ Kỳ cũng điều tiết hạn ngạch thuế quan, số lượng đối với mặt hàng gạo nhập khẩu (nhập khẩu số lượng cụ thể để được hưởng các mức thuế quan ưu đãi), nhập khẩu phải tuân theo những quy định trong nước (các yêu cầu mua hàng trong nước) yêu cầu các nhà nhập khẩu phải mua số lượng nhất định gạo trong nước, để được phép nhập khẩu số lượng cụ thể với các mức giảm thuế quan tương ứng. + Hay việc yêu cầu, áp đặt trong việc phập khẩu hàng hóa của Argentina, thông qua: Yêu cầu về tờ khai hải quan như là một điều kiện cho sự chấp thuận đối với hàng hóa nhập khẩu; Yêu cầu các loại giấy phép cần phải có cho việc nhập khẩu hàng hóa nhất định; Sự chậm trễ trong thủ tục cấp phép nhập khẩu (giấy phép nhập khẩu không tự động) hoặc đưa ra các hạn chế về định lượng trong nhập khẩu một số mặt hàng mà nước này hạn chế. - Trong ngành công nghiệp ô tô: + Nguyên đơn bao gồm Nhật Bản và Hoa Kỳ, họ cho rằng các nhà sản xuất ô tô và linh kiện ô tô ở Brazil, muốn được hưởng các lợi ích từ việc giảm thuế đối với
  • 54.
    47 các sản phẩmnhập khẩu cần phải đáp ứng được các yêu cầu: Về tỉ lệ hàm lượng nội địa trong các sản phẩm ô tô; Yêu cầu về cân đối thương mại: doanh nghiệp phải bảo đảm khối lượng hoặc trị giá sản phẩm nhập khẩu tương đương với khối lượng, giá trị sản phẩm xuất khẩu; Yêu cầu về tiêu thụ trong nước: doanh nghiệp phải bảo đảm rằng khối lượng hoặc giá trị sản phẩm tiêu thụ trong nước tương đương với sản phẩm xuất khẩu – hạn chế xuất khẩu (DS51, DS52). + EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ cho rằng Indonesia đã sử dụng các biện pháp như: Miễn thuế hải quan, thuế nhập khẩu các loại xe hạng sang và phụ tùng của chúng đối với một số nước; Yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa đối với các sản phẩm sản xuất, lắp ráp trong nước theo tỉ lệ (%) để nhận được ưu đãi về thuế đối với các linh kiện nhập khẩu (DS54; DS55; DS59; DS64). + Nhật Bản và EU yêu cầu tham vấn Canada (DS139, DS142) về một số biện pháp mà Canada thực hiện có ảnh hưởng tới ngành công nghiệp ô tô. Trong đó, Canada đang thực hiện một thỏa thuận trong ngành ô tô (Auto Pact) giữa Mỹ và Canada, theo đó việc miễn thuế nhập khẩu xe vào Canada chỉ áp dụng hạn chế cho một vài nhà sản xuất, cũng như các biện pháp giới hạn trong việc phân phối sản phẩm (bán buôn và bán lẻ) trong ngành công nghiệp ô tô. Và việc áp dụng các yêu cầu về giá trị gia tăng (Canadian value-added – CVA) cho cả hàng hóa và dịch vụ là không phù hợp với Điều III: 4 của Hiệp định GATT 1994. + EU và Hoa Kỳ cho rằng các biện pháp mà Ấn Độ (DS146; DS175) sử dụng bao gồm việc áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc; linh kiện và phụ tùng ô tô thông qua hệ thống giấy phép nhập khẩu “không tự động”; giấy phép nhập khẩu có thể chỉ được cấp cho các nhà sản xuất liên doanh với doanh nghiệp địa phương đã ký kết biên bản ghi nhớ với Chính phủ Ấn Độ; đồng thời Ấn Độ cũng yêu cầu các điều kiện bắt buộc đối với các công ty sản xuất trong lĩnh vực xe cơ giới như: Phải đạt được tỉ lệ nội địa hóa nhất định trong các sản phẩm; Phải cân bằng tỉ lệ nguồn vốn ngoại hối theo giá trị nhập khẩu hàng hóa; Việc nhập khẩu hàng hóa bị hạn chế theo giá trị, dựa vào giá trị xuất khẩu năm trước của doanh nghiệp đó.
  • 55.
    48 + Đối vớiTrung Quốc trong vụ việc DS339, DS340, DS342, EU cho rằng, bằng những biện pháp như: phụ tùng ô tô nhập khẩu được sử dụng trong sản xuất ô tô tại Trung Quốc phải chịu mức thuế bằng với mức thuế cho xe đã lắp ráp hoàn chỉnh, nếu hàm lượng phụ tùng nhập khẩu vượt quá ngưỡng nhất định. Hoa Kỳ cho rằng biện pháp trên đưa ra đã gây ra những bất lợi cho các nhà sản xuất ô tô nhập khẩu phụ tùng trong sản xuất ô tô. Theo quan điểm của Hoa Kỳ, mặc dù Trung Quốc áp đặt mức thuế quan đối với các loại phụ tùng thấp hơn so với xe nguyên chiếc, tuy nhiên Trung Quốc sẽ áp một khoản phí đối với phụ tùng ô tô nhập khẩu bằng với thuế suất đối với xe đã hoàn chỉnh, nếu các bộ phận nhập khẩu vượt quá ngưỡng quy định trong một chiếc xe có chứa linh kiện nhập khẩu. Canada cho rằng các biện pháp trên áp đặt chi phí khác nhau trên các phương tiện sản xuất tại Trung Quốc, chúng phụ thuộc vào hàm lượng nội địa của các phụ tùng được sử dụng trong sản xuất ô tô, do đó đã tạo ra cho nhà sản xuất trong nước một lợi thế lớn nếu họ sử dụng phụ tùng trong nước. Canada (tư cách bên thứ ba) cũng lập luận rằng các biện pháp này cũng có thể có tác động vào các khoản đầu tư nước ngoài khi nó trao một lợi thế cho doanh nghiệp sử dụng các loại phụ tùng trong nước sản xuất thay vì phải nhập khẩu các loại phụ tùng tương tự. Canada cho biết thêm thuế suất đối với các linh kiện phụ tùng được cấu thành lên một chiếc xe đã hoàn chỉnh sẽ bị áp đặt mức thuế cao hơn thông thường. Các biện pháp này dường như tạo ra những ưu đãi, thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu và việc sử dụng các loại phụ tùng trong nước trong nước so với hàng hoá nhập khẩu. + Bị đơn: Liên Bang Nga (DS462; DS463), liên quan tới việc áp đặt các khoản thuế và phí tái chế đối với các loại xe nhập khẩu vào Nga (ngoại trừ xe trong nước, cũng như xe nhập khẩu từ Belarus và Kazakhstan không phải chịu các loại phí tương tự). Tương tự như vậy đối với trường hợp của Brazil (DS472; DS497), thì các loại xe có động cơ xuất xứ từ EU, Nhật Bản (theo khiếu nại của 2 thành viên này) không tự động được hưởng những ưu đãi, miễn trừ như những sản phẩm tương tự xuất xứ từ một số quốc gia khác; phải chịu nhiều khoản thuế hơn và bị đối xử kém thuận lợi hơn so với xe sản xuất trong nước; áp đặt những yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa để được hưởng một ưu đãi về thuế…
  • 56.
    49 - Trong ngànhcông nghiệp năng lượng tái tạo: + Nhật Bản (DS412) và EU (DS426), cho rằng Canada đã áp dụng yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa đối với các sản phẩm nhập khẩu trong ngành năng lượng tái tạo để được hưởng một ưu đãi về thuế theo đó các thiết bị nhập khẩu bị đối xử kém thuận lợi hơn các thiết bị được sản xuất trong nước. Cụ thể, các thiết bị trong ngành năng lượng tái tạo muốn được hưởng mức thuế ưu đãi cần phải đạt được tỉ lệ nội địa hóa nhất định trong các sản phẩm đó, theo Nhật Bản các biện pháp của chính phủ đưa ra nhằm bảo hộ cho các sản phẩm trong nước đối với các thiết bị tương tự, điều này trái với các nguyên tắc của Điều III: 1 của GATT 1994; và Điều 2.1 của Hiệp định TRIMs. + Các yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa đối với các loại pin năng lượng mặt trời của Ấn Độ (DS456). + Hay theo Argentina (DS459), cho rằng biện pháp mà EU sử dụng như: biện pháp thúc đẩy việc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo và giới thiệu một cơ chế để kiểm soát và giảm phát thải khí nhà kính; và thiết lập các chương trình hỗ trợ cho ngành dầu sinh học tại EU, đã làm ảnh hưởng tới việc nhập khẩu và tiếp thị dầu mỏ của Argentina tới EU. Có thể thấy rằng, các cáo buộc mà bên nguyên đơn đưa ra đều là những biện pháp làm ảnh hưởng tới việc xuất khẩu hàng hóa của họ thông qua các biện pháp hạn chế nhập khẩu như: áp dụng hạn ngạch thuế quan, áp dụng hệ thống cấp phép nhập khẩu không tự động (giấy phép nhập khẩu). Các biện pháp này chủ yếu được sử dụng trong ngành nông nghiệp, nhằm hạn chế việc nhập khẩu các mặt hàng nông sản từ các quốc gia khác, khuyến khích sử dụng các sản phẩm trong nước. Thông thường các sản phẩm nhập khẩu này có giá cả cạnh tranh hơn các sản phẩm trong nước. Vì vậy, có thể thấy các biện pháp này thường nhằm vào việc bảo hộ các sản phẩm trong nước trước các sản phẩm nhập khẩu. Hoặc việc hạn chế việc nhập khẩu thông qua những yêu cầu về cân đối thương mại, yêu cầu tỉ lệ giá trị xuất nhập khẩu phải tương đương nhau, điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp muốn nhập khẩu phải thực hiện việc sản xuất các sản phẩm ở trong nước với giá trị tương đương. Thông qua biện pháp này nước
  • 57.
    50 tiếp nhận đầutư mong muốn, các nhà đầu tư thực hiện việc chuyển giao công nghệ, phát triển các ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, nếu sử dụng các biện pháp này có thể sẽ ảnh hưởng tới nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vì các nhà đầu tư sẽ chỉ thực sự muốn đầu tư vào những lĩnh vực mà họ thu được nhiều lợi nhuận nhất. Đồng nghĩa với việc chi phí nguyên vật liệu, giá nhân công, và chi phí quản lý ở nước tiếp nhận đầu tư ở mức thấp, để có thể tạo ra các sản phẩm có giá cả cạnh tranh. Hoặc các biện pháp nhằm tạo ra sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước đối với hàng hóa nhập khẩu, thông qua những yêu cầu về việc các sản phẩm nhập khẩu muốn được hưởng các ưu đãi về thuế như những sản phẩm trong nước phải đạt được một tỉ lệ nội địa hóa nhất định. Các biện pháp này thường được các quốc gia sử dụng trong các ngành công nghiệp đặc biệt là ngành công nghiệp ô tô và trong công nghiệp sản xuất năng lượng tái tạo và thường được các quốc gia đang phát triển sử dụng như: Trung Quốc; Brazil; Argentina; Indonesia; Ấn Độ. Mục đích mà các quốc gia thành viên sử dụng nhằm vừa tạo ra sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghiệp trong nước, vừa thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài (đối tác chiến lược) vào những ngành sản xuất được ưu tiên phát triển bằng cách tạo lợi thế cho những sản phẩm được sản xuất trong nước, khuyến khích sử dụng các sản phẩm trong nước thông qua yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa. Những vấn đề pháp lý được cơ quan xét xử xem xét Như đã trình bày ở trên, trong số 42 vụ việc liên quan tới TRIMs, hiện tại Ban hội thẩm đã xem xét và đưa ra báo cáo của mình trong 20 vụ việc trong đó 16 vụ việc các bên đã thi hành phán quyết của DSB, còn lại 04 vụ việc vẫn đang trong giai đoạn thực hiện. Trong đó, các biện pháp mà Ban hội thẩm đã đưa ra xem xét chủ yếu xoay quanh những quy định tại Điều III và Điều XI của GATT, điển hình trong các ngành, lĩnh vực khác nhau như: - Trong ngành nông nghiệp: + Điển hình là vụ việc DS27 bị đơn là EU, cơ quan xét xử xét thấy rằng thủ tục cấp phép nhập khẩu của EU liên quan tới các sản phẩm chuối là không phù hợp với Điều III.4 GATT, khi chỉ phân bổ 30% hạn ngạch giấy phép nhập khẩu (được
  • 58.
    51 hưởng ưu đãivề thuế) cho các quốc gia thứ ba [58, tr. 107-110]. Tuy nhiên Ban hội thẩm nhận thấy việc EU vi phạm Điều III.4 GATT không đồng nghĩa với việc vi phạm Điều 2 của TRIMs vì không có yêu cầu liên quan tới khoản đầu tư cụ thể tại quốc gia, và cũng không có yêu cầu mua hoặc sử dụng các sản phẩm có xuất xứ trong nước để được cấp phép đầu tư, hoặc thực hiện đầu tư [58, tr. 344]. + Vụ việc: DS276 bị đơn Canada - Các biện pháp liên quan tới xuất khẩu lúa mì và quy định về nhập khẩu khẩu ngũ cốc, theo khiếu nại của Hoa Kỳ. Ban hội thẩm cho rằng, quy định của Canada, các hạt ngũ cố nhập khẩu không được trộn lẫn với các loại ngũ cốc trong nước Canada trong từ quá trình xử lý cho tới khi được đóng gói và; Canada đã tạo ra những lợi thế, ưu đãi nhiều hơn cho các loại ngũ cốc trong nước so với ngũ cốc nhập khẩu. Bằng cách tạo ra những thuận lợi hơn trong việc vận chuyển bằng việc bố trí, phân bổ các toa tàu do chính phủ sở hữu trong vận tải đường sắt đã vi phạm Điều III. 4 của GATT. Tuy nhiên Ban hội thẩm đã bác bỏ kiếu nại của Hoa Kỳ liên quan tới Điều 2 TRIMs [62, tr. 217-219]. Canada lưu ý rằng Hoa Kỳ không đưa ra được bất kỳ dấu hiệu về bản chất của các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại. Ví dụ, không có tham chiếu đến bất kỳ biện pháp được xác định trong Danh mục minh họa theo Điều 2 của Hiệp định TRIMs. Do đó, Canada cho rằng đó có thể suy đoán của Hoa Kỳ về các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại và cơ sở pháp lý cho các cáo buộc về hành vi vi phạm Điều 2 của Hiệp định TRIMs. Canada cũng cho rằng việc phân bổ các toa xe lửa vận chuyển ngũ cốc không đòi hỏi cần phải đáp ứng những yêu cầu sử dụng sản phẩm trong nước, theo quan điểm của Canada thay vì sử dụng phương tiện vận chuyển bằng tàu hỏa họ có thể sử dụng các phương tiên khác thay thế. + Đối với vụ việc DS334, Ban hội thẩm cho rằng các biện pháp mà Thổ Nhĩ Kỳ đã sử dụng như: từ chối không cấp giấy phép nhập khẩu ngoài hạn ngạch, thực hiện việc cấp phép nhập khẩu tùy ý đã tạo ra những hạn chế về định lượng trong việc nhập khẩu gạo; đồng thời phải tuân theo những quy định trong nước (các yêu cầu mua hàng trong nước), yêu cầu các nhà nhập khẩu phải mua số lượng nhất định gạo trong nước, để được phép nhập khẩu số lượng cụ thể với các mức giảm thuế quan tương ứng là không phù hợp với Điều III.4 của GATT [63, tr. 112-113].
  • 59.
    52 - Trong ngànhcông nghiệp ô tô: + Trong vụ việc DS54, DS55, DS59, DS64 – Bị đơn: Indonesia một số biện pháp ảnh hưởng tới ngành công nghiệp ô tô. Ban hội thẩm nhận định: “Các biện pháp đầu tư” mà Indonesia sử dụng nhằm mục đích khuyến khích sự phát triển của ngành sản xuất ô tô và sản xuất các loại phù tùng ô tô trong nước nhằm: nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, tăng cường phát triển công nghiệp tổng thể; phát triển năng lực của ngành sản xuất linh kiện ô tô; khuyến khích sự phát triển ngành công nghiệp ô tô và phụ trợ; mang lại sự thay đổi lớn trong cơ cấu ngành công nghiệp ô tô Indonesia; khuyến khích chuyển giao công nghệ, tạo việc làm trên diện rộng; khuyến khích sản xuất ô tô trong nước, tăng tỉ lệ nội địa hóa, nhằm tạo sự tăng trưởng nhanh chóng trong ngành công nghiệp ô tô. Gắn liền với mục tiêu này là những biện pháp tác động đáng kể tới đầu tư. Ban hội thẩm cũng cho rằng các biện pháp trên dù không do các cơ quan chức năng có thẩm quyền về đầu tư quy định (theo lập luận của Indonesia), nhưng vẫn được coi là các biện pháp liên quan tới đầu tư [60, tr. 341-342]. Vì vậy Ban hội thẩm kết luận rằng rằng, các biện pháp yêu cầu ô tô sản xuất (lắp ráp trong nước) phải đạt được tỉ lệ nội địa hóa nhất định theo yêu cầu của địa phương để nhận được những khoản ưu đãi về thuế vi phạm Điều III GATT, các biện pháp này nằm trong danh mục minh họa kèm theo Hiệp định TRIMs, và vi phạm Điều 2.1 TRIMs [60, tr. 345]. + Vụ việc DS146, DS175 bị đơn Ấn Độ - Các biện pháp ảnh hưởng tới ngành công nghiệp ô tô. Ban hội thẩm nhận thấy các biện pháp mà Ấn Độ đã sử dụng bao gồm: áp đặt các nhà sản xuất ô tô có nghĩa vụ phải sử dụng một tỷ lệ nhất định các bộ phận và linh kiện trong nước trong sản xuất lắp ráp các loại xe ô tô (yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa); doanh nghiệp phải có nghĩa vụ bù đắp giá trị lượng linh kiện, phụ tùng bị hạn chế nhập khẩu trước đó trên thị trường Ấn Độ, bởi giá trị xuất khẩu tương đương; các nhà sản xuất ô tô có nghĩa vụ phải cân bằng giá trị nhập khẩu với giá trị hàng hàng hóa xuất khẩu, phải tương đương nhau (yêu cầu về cán cân thương mại) các biện pháp trên đã vi phạm nghĩa vụ của Ấn Độ theo Điều III.4 và Điều XI.1 của GATT [61, tr. 167-168]. Liên quan tới quy định của TRIMs, sau khi xem
  • 60.
    53 xét những biệnpháp tương ứng là vi phạm Điều III: 4 và XI: 1 của GATT, Ban Hội thẩm áp dụng quy tắc chỉ xem xét một yêu cầu khi có hai hay nhiều yêu cầu xem xét cùng một hành vi (judicial economy) và thấy rằng cần không thiết để xem xét các vi phạm đó riêng rẽ với TRIMs, mặc dù các vi phạm đó không phù hợp với Điều 2 Hiệp định TRIMs [61, tr. 167]. - Trong ngành sản xuất năng lượng tái tạo: Điển hình là Vụ việc: DS412, DS426- Bị đơn: Canada – Một số biện pháp ảnh hưởng tới ngành năng lượng tái tạo [66]. Bên khiếu nại (gồm Nhật Bản và EU) cho rằng chương trình thuế quan trong ngành năng lượng tái tạo (the feed-in tariff program – FIT) của Canada đã vi phạm Điều III: 4 và III: 5 của Hiệp định GATT 1994 vì quy định này có những yêu cầu ảnh hưởng đến việc chào bán, bán hàng, mua, vận chuyển, phân phối hoặc sử dụng thiết bị của các cơ sở sản xuất năng lượng tái tạo, theo đó các thiết bị nhập khẩu bị đối xử kém thuận lợi hơn các thiết bị được sản xuất trong nước. Cụ thể, các thiết bị trong ngành năng lượng tái tạo muốn được hưởng mức thuế ưu đãi cần phải đạt được tỉ lệ nội địa hóa nhất định, theo Nhật Bản các biện pháp của chính phủ đưa ra nhằm bảo hộ cho các sản phẩm trong nước đối với các thiết bị tương tự, điều này trái với các nguyên tắc của Điều III: 1 của GATT 1994; và Điều 2.1 của Hiệp định TRIMs. Trong phần đánh giá của mình, Ban hội thẩm sẽ xem xét lập luận của các bên và đưa ra những phân tích liệu các biện pháp trên có nằm trong phạm vi các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại theo Điều 1 TRIMs và có đồng thời vi phạm Điều III.4 GATT và Điều 2.1 TRIMs hay không. Trong phần lập luận của bên khiếu nại, tuy TRIMs không nêu rõ các biện pháp nào là các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại, nhưng họ cho rằng các biện pháp đó nhằm: thứ nhất, khuyến khích đầu tư sản xuất các thiết bị, sản phẩm sản xuất năng lượng tái tạo trong nước tại Ontario; thứ hai, nó làm ảnh hưởng đến thương mại trong sản xuất thiết bị năng lượng gió và mặt trời bằng cách ưu tiên dùng sản phẩm ở Ontario hơn các sản phẩm nhập khẩu. Thêm vào đó, Canada không có tranh luận phản đối về vấn đề này liên quan tới TRIMs.
  • 61.
    54 Ban hội thẩmnhận thấy, với mục tiêu trong chương trình FIT theo lập luận của bên khiếu nại, đây là những biện pháp ảnh hưởng tới đầu tư khi khuyến khích đầu tư sản xuất trong nước (tại Ontario). Các biện pháp đó nhằm thúc đẩy việc đầu tư để thiết lập các cơ sở sản xuất tại Ontario. Theo báo cáo của các nhà đầu tư như: Siemens - đầu tư trong lĩnh vực thương mại nông nghiệp và năng lượng mặt trời sẽ được nhận những khoản ưu đãi về thuế và phí ở mức tối thiểu; hay như công ty Automation Tooling Systems, nếu sản xuất các modules năng lượng mặt trời tại đó, sẽ nhận được mức giá cao hơn cho năng lượng mặt trời thông qua chương trình biểu giá về phí; tương tự như vậy, công ty Enercon và Niagara Region Corporation, để ký được hợp đồng cung cấp tua bin năng lượng gió, và xây dựng cơ sở sản xuất ở khu vực Niagara phải bảo đảm các yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa (yêu cầu trong nước). Ban hội thẩm cho rằng, đây là các biện pháp liên quan tới thương mại, khi chương trình FIT áp đặt yêu cầu sử dụng sản phẩm trong nước đối với máy phát điện sử dụng năng lượng gió và năng lượng mặt trời. Tiếp theo Ban hội thẩm sẽ xem xét các biện pháp đó vi phạm Điều III.4 của GATT và Điều 2.1 của TRIMs. Theo Ban hội thẩm thì, khi EU lập luận rằng các biện pháp được đưa ra đã vi phạm Khoản 1 (a) của danh mục minh họa cùng với Điều 2.2 của TRIMs sẽ vi phạm Điều III.4 của GATT và do đó cũng vi phạm Điều 2.1 của TRIMs, không phản ánh đúng trình tự phân tích pháp lý được thể hiện theo Điều 2.1 và 2.2 của TRIMs. Ban hội thẩm xem xét trình tự phân tích pháp lý như sau: trong một trường hợp cụ thể trước hết, cần phải xem xét các biện pháp đó có vi phạm Điều III.4 của GATT hay không. Tiếp theo đó, đối chiếu các biện pháp đó với danh mục minh họa để xác định có vi phạm Điều 2.1 của TRIMs hay không. Nếu các biện pháp đó có những đặc điểm mô tả giống với danh mục minh họa, đồng thời vi phạm Điều III.4 GATT do đó cũng sẽ vi phạm Điều 2.1 của TRIMs. Ban hội thẩm cũng lưu ý rằng, Điều 2.1 TRIMs không thích hợp để suy ra từ khoản 1 (a) danh mục minh họa và rằng các đặc điểm đó luôn luôn không phù hợp với Điều III.4 GATT. Như vậy trên cơ sở phân tích trên, Ban hội thẩm thấy rằng việc yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa không chỉ liên quan tới việc mua hoặc sử dụng các sản phẩm từ nguồn
  • 62.
    55 trong nước theođịnh nghĩa tại khoản 1 (a) của danh mục minh họa, mà đây cũng là yêu cầu bắt buộc, như đối với máy phát điện sử dụng năng lượng gió và năng lượng mặt trời trong chương trình FIT để nhận được một lợi thế, và vi phạm Điều III. 4 của GATT, do đó cũng vi phạm Điều 2.1 của TRIMs. Điểm đặc biệt trong vụ việc này không giống với các vụ việc khác đó là Ban hội thẩm kết luận rằng Canada đã vi phạm nghĩa vụ của mình theo Điều III.4 GATT, đồng thời cũng vi phạm Điều 2.1 TRIMs. Trong khi, ở các vụ việc khác sau khi đã xét thấy bị đơn đã vi phạm Điều III.4 GATT, thì Ban hội thẩm sẽ không xem xét vấn đề đó theo Điều 2 TRIMs (theo nguyên tắc “judicial economy”). Theo lập luận của bị đơn thì các biện pháp trên không thuộc phạm vi áp dụng của GATT theo Điều III.8, liên quan tới các trường hợp mua sắm Chính phủ, Canada cho rằng đây là trường hợp mua sắm của chính phủ, khi chính phủ trực tiếp đứng ra mua và sử dụng các loại hàng hóa trên. Tuy nhiên, Ban hội thẩm nhận định rằng các trường hợp quy định tại Điều III.8 GATT chỉ áp dụng cho tiêu dùng, hoạt động của chính phủ; không áp dụng cho mục địch thương mại, hay đưa vào sản xuất nhằm mục đích thương mại. Ở đây, Canada đã sử dụng các sản phẩm trong ngành năng lượng tái tạo để sản xuất năng lượng nhằm mục đích thương mại (bán lại cho người tiêu dùng). Để có căn cứ pháp lý thuyết phục, Ban hội thẩm đã đối chiếu các biện pháp trong danh mục minh họa của TRIMs, cùng các quy định tại Điều III.4 GATT để kết luận rằng các biện pháp đó đã vi phạm Điều III.4 GATT và Điều 2.1 TRIMs theo trình tự pháp lý nêu trên. Qua đó, có thể thấy được vai trò cũng như mục đích của TRIMs, thông qua việc làm rõ các quy định tại Điều III của GATT. Thông qua việc xem xét các Báo cáo của Ban hội thẩm, các biện pháp mà các bên đã sử dụng trong ngành nông nghiệp đều liên quan tới việc áp đặt các quy định về hạn chế định lượng, các quy định liên quan tới giấy phép nhập khẩu nhằm mục đích hạn chế việc nhập khẩu các mặt hàng nông sản qua biên giới, nhằm bảo hộ các sản phẩm nông sản trong nước, và được sử dụng bởi các thành viên phát triển và đang phát triển. Trong ngành công nghiệp ô tô, thực tế cho thấy TRIMs được sử dụng bởi các thành viên đang phát triển (như Trung Quốc, Indonesia, Brazil, Canada,
  • 63.
    56 Ấn Độ...), cácbiện pháp thường được sử dụng bao gồm: những yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa để đạt được những khoản ưu đãi về thuế, các yêu cầu về cân đối giá trị nhập khẩu và xuất khẩu... nhưng nhìn chung những yêu cầu đó đều nhằm mục đích phát triển ngành sản xuất ô tô trong nước của các quốc gia đang phát triển, điều này là thực tại khách quan mà mọi quốc gia đang phát triển đều muốn. Tương tự như vậy trong ngành sản xuất năng lượng tái tạo đặc biệt được sử dụng bởi Canada và Ấn Độ, cũng áp dụng những yêu cầu về hàm lượng nội địa hóa trong các sản phẩm để nhận được một khoản ưu đãi về thuế. Có thể thấy rằng, các biện pháp mà thành viên đang phát triển sử dụng trong ngành công nghiệp (ô tô và năng lượng tái tạo) nhằm mục đích vừa tạo ra được sự phát triển ngành công nghiệp trong nước (sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ), vừa thu hút được nguồn vốn kỹ thuật từ các quốc gia thành viên khác (thường là những đối tác chiến lược, cùng nhau có lợi). Đây cũng có thể coi là một trong những mục tiêu của TRIMs: “...với mục đích tạo ra sự tăng trưởng kinh tế cho các thành viên, đặc biệt là các Thành viên đang phát triển...” [55]. Phần lớn, thời gian giải quyết các tranh chấp liên quan tới TRIMs nói riêng và trong WTO nói chung thường giao động từ 19 tháng tới 32 tháng, kể từ thời điểm có yêu cầu tham vấn tới lúc DSB thông qua Báo cáo. Các Báo cáo của Ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm (nếu có kháng cáo) đều được bên thua kiện tự nguyện tuân thủ sau một khoảng thời gian được các bên thỏa thuận hoặc do Trọng tài quyết định, khoảng thời gian này thường là từ 8 tới 15 tháng. Như vậy có thể thấy rằng, các quốc gia đã có một khoảng thời gian sử dụng TRIMs từ 02 tới 03 năm (hoặc có thể hơn), phần lớn các biện pháp này thường được sử dụng với hai mục đích. Thứ nhất, bảo vệ, tạo sự thuận lợi, ưu đãi cho các sản phẩm có sẵn trong nước (các sản phẩm thế mạnh do các doanh nghiệp trong nước sản xuất đặc biệt trong ngành nông nghiệp). Thứ hai, với mục đích tạo động lực phát triển một cách nhanh chóng một số ngành sản xuất trong nước (những ngành được ưu tiên phát triển như công nghiệp ô tô, sản xuất năng lượng tái tạo) hướng nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực ưu tiên, gắn với mục đích này là những yêu cầu về áp dụng tỉ lệ nội địa hóa để đạt được một khoản ưu đãi về thuế, thường được sử dụng bởi các nước đang phát triển.
  • 64.
    57 Mặc dù sốlượng tranh chấp liên quan tới TRIMs không nhiều, nhưng thông qua quá trình giải quyết tranh chấp chúng ta có thể học hỏi được một số kinh nghiệm quý báu, để áp dụng có hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi ro và giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO nói chung và trong khuôn khổ Hiệp định TRIMs nói riêng. 2.2. Kinh nghiệm của các quốc gia trong giải quyết tranh chấp 2.2.1. Kinh nghiệm liên quan tới quá trình giải quyết tranh chấp Thông qua việc phân tích, xem xét, đánh giá quá trình cũng như kết quả các vụ tranh chấp trong khuông khổ Hiệp định TRIMs chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm sau: Giai đoạn chuẩn bị tham gia vụ tranh chấp Với mục tiêu giải quyết một cách nhanh chóng các tranh chấp phát sinh giữa các bên, DSU luôn đặt ra thời hạn giải quyết tranh chấp trong mỗi vụ việc: trong vòng 09 tháng báo cáo của Ban hội thẩm phải được thông qua kể từ khi thành lập Ban hội thẩm, nếu có kháng cáo là 12 tháng. Quá trình xem xét của Ban hội thẩm diễn ra rất nhanh, việc thu thập chứng cứ và đối số thực tế cần phải được thực hiện trước đó, vì việc vừa tham gia giải quyết tranh chấp vừa tiến hành thu thập chứng cứ liên quan sẽ không khả thi, và ảnh hưởng tới chất lượng của chứng cứ liên quan. Vì vậy, khâu chuẩn bị hồ sơ vụ việc trong giai đoạn trước khi khởi xướng vụ tranh chấp là rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả của tranh chấp bằng việc đưa ra những bằng chứng thực tế, những căn cứ pháp lý chứng minh cho sự vi phạm. Việc thu thập chứng cứ có thể có từ các nguồn khác nhau như: từ những yêu cầu phát sinh của các doanh nghiệp trong nước bị thiệt hại do các biện pháp của các nước thành viên gây ra, đây có thể coi là căn cứ ban đầu để khởi xướng vụ việc; các biện pháp được quy định trong hệ thống pháp luật của bên bị đơn ảnh hưởng tới lợi ích của các doanh nghiệp trong nước; một cách thu thập thông tin có hiệu quả nhất có lẽ là tham gia trực tiếp vào các vụ việc có nội dung tương tự (nếu có) với tư cách là bên thứ ba trong vụ tranh chấp, có thể phần nào hiểu rõ về bản chất của các vấn đề có liên quan, từ đó có những biện pháp thích hợp để bảo vệ lợi ích của quốc gia. Ngoài những yêu cầu về thu thập chứng cứ có liên quan, điều quan trọng
  • 65.
    58 không kém tronggiai đoạn này đó là yếu tố con người, đòi hỏi cần phải có những chuyên gia am hiểu pháp luật quốc tế, đặc biệt trong việc áp dụng các Hiệp định có liên quan; tiếp đến là khả năng về ngoại ngữ trong quá trình thu thập chứng cứ từ hệ thống pháp luật của các thành viên khác, trong quá trình chuẩn bị hồ sơ tài liệu bằng tiếng nước ngoài, trong quá trình tranh tụng... Giai đoạn xem xét vụ việc Tham vấn là giai đoạn đầu tiên và cũng là bắt buộc đối với mỗi vụ tranh chấp, vì yêu cầu tham vấn luôn là tài liệu chính thức đầu tiên để khởi xướng một vụ tranh chấp cụ thể tại WTO và mỗi vụ tranh chấp Panel chỉ xem xét trong phạm vi những vấn đề được bên nguyên đơn đưa ra, vì vậy cần thiết phải soạn thảo một cách chính xác, ngắn gọn, đầy đủ các căn cứ pháp lý và các vi phạm của bị đơn. Đề nghị thành lập Panel cũng vậy, phải đủ tính chính xác để tránh làm cho bên bị khiếu kiện phản đối ngay từ đầu hoặc khiến cho Panel từ chối xem xét đối với một vài khía cạnh của đơn kiện. Ngoài việc xác định các điều khoản tham chiếu, yêu cầu thành lập Panel cũng có chức năng là căn cứ thông báo tới bên bị đơn và bên thứ ba trong vụ tranh chấp. DSU không cấm các bên liên quan gặp gỡ trao đổi trước khi tham vấn diễn ra. Vì thế, để tham vấn đạt được hiệu quả, cần thiết phải tổ chức các cuộc gặp mặt trao đổi về các vấn đề được đưa ra trước đó với các bên. Trong quá trình xem xét vụ việc, chúng ta cần phải chú ý tới thời gian, thời hạn cho từng giai đoạn để không làm ảnh hưởng tới quyền lợi của mình trong giai đoạn đó, ví dụ như bảo đảm thời, gian thời hạn trong giai đoạn tham vấn, kịp thời tổ chức tham vấn; đưa ra yêu cầu thành lập Ban hội thẩm (để không mất quyền yêu cầu thành lập), bổ nhiệm thành viên ban hội thẩm; trong việc soạn thảo các văn bản đệ trình (liên quan tới chất lượng của các bản đệ trình); trong thời hạn liên quan tới việc kháng cáo (để không mất quyền kháng cáo). Như đã trình bày ở trên, thời hạn kháng cáo là 10 ngày (khoảng thời gian khá ngắn). Vì vậy, nếu có dự định kháng cáo, nên chuẩn bị ngay trong giai đoạn rà soát giữa kỳ... những kinh nghiệm này không chỉ giúp ích cho chúng ta trong tư cách là nguyên đơn, mà còn trong tư cách là bị đơn cũng như là bên thứ ba trong vụ tranh chấp. Một vấn đề không kém phần quan trọng đó là việc vận động, tranh thủ sự
  • 66.
    59 ủng hộ củacác thành viên là bên thứ ba trong vụ tranh chấp. Thực tế cho thấy, các biện pháp của một quốc gia thành viên không nhiều thì ít cũng ảnh hưởng tới một số thành viên còn lại tùy thuộc vào mối quan hệ kinh tế giữa các bên, vì thế trong mỗi vụ tranh chấp thường không thể thiếu các bên thứ ba. Bên thứ ba trong vụ tranh chấp đa số thường có những lợi ích đáng kể trong vụ tranh chấp, mặc dù họ chỉ được phép nêu ra quan điểm của mình đối với các tình tiết trong tranh chấp nhưng ý kiến của họ cũng được Ban hội thẩm xem và đánh giá trong báo cáo của họ. Giai đoạn thực thi phán quyết Hầu hết các phán quyết của DSB trong các vụ việc liên quan tới TRIMs đều được các bên liên quan thực hiện một cách tự nguyện. Tuy nhiên trước đó bên thua kiện thường cố gắng đưa ra một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện phán quyết (thông thường là 15 tháng kể từ khi DSB thông qua báo cáo). Giai đoạn thực hiện phán quyết của bên thua kiện thường chỉ là các biện pháp về mặt pháp lý khi ban hành sửa đổi các điều luật cho phù hợp với quy định của WTO. Vì vậy, chúng ta cần phải có sự chuẩn bị trước về mặt thể chế pháp lý cho các vấn đề có liên quan, để kịp thời sửa đổi các quy định theo hướng phù hợp với quy định của WTO. 2.2.2. Kinh nghiệm liên quan tới TRIMs Thực tế cho thấy các biện pháp mà các bên sử dụng thường nhằm vào các sản phẩm hàng hóa nhập khẩu, bằng việc áp dụng những biện pháp đối xử kém thuận lợi hơn đối với các sản phẩm tương tự trong nước bằng việc áp đặt những điều kiện cụ thể nào đó gắn với yêu cầu trong nước để nhận được một khoản lợi ích về thuế (vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia về thuế), thường thì những biện pháp này chỉ áp dụng cho những loại hàng hóa đã nhập khẩu vào lãnh thổ của quốc gia thành viên; hoặc bằng cách áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng, các biện pháp làm ảnh hưởng tới việc nhập khẩu hàng hóa qua biên giới như áp dụng hạn ngạch, các yêu cầu về cân đối thương mại. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia sử dụng TRIMs là các quốc gia đang phát triển, TRIMs cũng như các hiệp định khác cũng có những ngoại lệ riêng. Trong đó, các quốc gia thành viên đang phát triển được phép sử dụng TRIMs trong thời hạn nhất định; hoặc trong một số hiệp định khác có
  • 67.
    60 liên quan tớithương mại hàng hóa cũng có một số ngoại lệ đối với các quốc gia đang phát triển, bằng việc sử dụng TRIMs một cách có hiệu quả, tận dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài định hướng theo kế hoạch phát triển, họ thường hướng nguồn vốn đầu tư nước ngoài theo định hướng phát triển kinh tế riêng của mình. Các biện pháp chủ yếu thường tập chung vào yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa nhất định để được hưởng ưu đãi về thuế, họ thường tạo ra những lợi thế đáng kể đối với những ngành sản xuất đã có sẵn trong nước, hoặc những ngành sản xuất được ưu tiên phát triển theo định hướng riêng của mình. Ví dụ như Indonesia, họ sử dụng TRIMs nhằm phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước, ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước của họ thường gắn với việc liên doanh với các công ty của Hàn Quốc vì vậy các sản phẩm ô tô nhập khẩu từ các thị trường như EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản bị đối xử kém thuận lợi hơn về thuế đối với các sản phẩm được sản xuất trong nước (cùng với các doanh nghiệp liên doanh với các công ty của Hàn Quốc). Có thể thấy rằng, TRIMs được sử dụng để tạo ra lợi thế đối với các sản phẩm trong nước khi và chỉ khi tại quốc gia thành viên đó có các sản phẩm được sản xuất và được hưởng ưu đãi nhiều hơn (ví dụ về thuế) so với các sản phẩm tương tự được nhập khẩu từ quốc gia thành viên khác. Điều đó cho thấy rằng, khi thị trường trong nước không có các sản phẩm tương tự giống với các sản phẩm nhập khẩu thì việc sử dụng TRIMs không còn ý nghĩa, không gây ra thiệt hại về lợi ích (không tạo ra sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu). Thực tế qua quá trình nghiên cứu các vụ việc liên quan tới TRIMs cho thấy, tính tới thời điểm hiện tại mặc dù theo quy định không được sử dụng TRIMs nhưng nó đã được sử dụng và vẫn đang được sử dụng tại một số quốc gia thành viên, đặc biệt là các thành viên đang phát triển. Có thể thấy rằng việc sử dụng TRIMs của các quốc gia thành viên thường hướng tới việc tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành sản xuất trong nước, được ưu tiên phát triển nhằm tạo ra sự tăng trưởng nhanh trong quy mô cũng như cơ cấu nền kinh tế (theo định hướng chiến lược phát triển của mỗi thành viên). Thông thường trong các vụ việc, các ngành nghề được hưởng lợi từ việc sử dụng TRIMs thường là những ngành thế mạnh sẵn có trong nước của các
  • 68.
    61 quốc gia, Vídụ: EU trong vụ việc liên quan tới các sản phẩm chuối, Canada trong vụ việc liên quan tới ngành sản xuất năng lượng tái tạo và ngành nông nghiệp liên quan tới các sản phẩm ngũ cốc; hoặc những ngành nghề được quốc gia ưu tiên định hướng phát triển (đối với các nước đang phát triển), thông thường những ngành nghề này đều được liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài để tranh thủ nguồn vốn, kỹ thuật của họ nhằm phát triển theo định hướng của mình, Ví dụ: Indonesia trong vụ việc liên quan tới ngành công nghiệp ô tô... Xét thấy, trong quá trình hội nhập quốc tế cùng với đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước. Để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền công nghiệp tiên tiến hiện đại. Một mặt, chúng ta cần thiết phải tạo điều kiện thu hút nguồn đầu tư nước ngoài, như: nguồn vốn, máy móc, công nghệ, quản lý... Mặt khác chúng ta cần thiết phải sử dụng TRIMs để bảo vệ, bảo đảm, ưu tiên cho một số doanh nghiệp trong nước. Việc sử dụng TRIMs không có nghĩa là chúng ta có sự phân biệt đối xử với sản phẩm của tất cả thành viên, mà cần thiết phải sử dụng TRIMs hướng tới tạo điều kiện cho sản phẩm của một số thành viên là đối tác chiến lược (ví dụ các công ty liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài) nhằm tạo điều kiện phát triển cho một ngành hàng nào đó trong một khoảng thời gian nhất định (theo định hướng phát triển). Ngoài ra cần phải áp dụng TRIMs linh hoạt với một số ngoại lệ trong các Hiệp định có liên quan để TRIMs thực hiện có hiệu quả hơn, đồng thời cần phải cân nhắc thực hiện một cách cẩn trọng, có tính tới lợi ích thương mại của các thành viên có liên quan. Như vậy, thông qua quá trình thống kê, phân tích, tìm hiểu nội dung, quá trình giải quyết tranh chấp cùng với việc rút ra được kinh nghiệm của các quốc gia thành viên sử dụng các biện pháp liên quan tới TRIMs trong khuôn khổ WTO kể trên. Chúng ta có thể đưa ra được một số bài học kinh nghiệm cho việc phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra và giải quyết có hiệu quả các tranh chấp thương mại quốc tế đối với Việt Nam.
  • 69.
    62 Chương 3 VẤN ĐỀPHÒNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LIÊN QUAN TỚI TRIMS TẠI VIỆT NAM 3.1. Thực tiễn tại Việt Nam 3.1.1. Thể chế pháp lý liên quan tới giải quyết tranh chấp quốc tế nói chung và trong khuôn khổ WTO nói riêng Để có những kết quả đáng kể và tích cực trong việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, thực tế trong thời gian qua Việt Nam đã có những chuẩn bị về mặt chính sách, cơ sở pháp lý và khung thể chế ngay từ trước khi gia nhập WTO và không ngừng hoàn thiện cho đến hiện nay. - Ngày 10/2/1998, Thủ tướng thành lập Uỷ ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (UBQGHTKTQT, tên viết tắt tiếng Anh chính thức là NCIEC) theo Quyết định số 31/1998/QĐ-TTg ngày 10/02/1998 của Thủ tướng Chính phủ, được hướng dẫn thực hiện bởi Quyết định số 116/1998/QĐ-TTg thành lập Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế - thương mại quốc tế (Quyết định này được thay thế bởi Quyết định số 82/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Đoàn đàm phán chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế). Và Ủy ban này sau đó không ngừng được kiện toàn tổ chức, bộ máy trong các khoảng thời gian sau đó như Quyết định số 70/2002/QĐ-TTg ngày 06/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn UBQGHTKTQT; Quyết định số 70/2002/QĐ-TTg ngày 06/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 174/2007/QĐ-TTg ngày 19/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ; và cuối cùng là Quyết định số 596/QĐ-TTg ngày 23/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế. Trong đó nhiệm vụ chính của Ủy ban là giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, triển khai các chủ trương, chính sách lớn về hội nhập quốc tế; giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành liên quan đến hội nhập quốc tế [33, Điều 2].
  • 70.
    63 - Ngày 12/6/2003Chính phủ có Quyết định số 123/2003/QĐ-TTg Về việc phê chuẩn Điều lệ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Trong đó, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (Vietnam Chamber of Commerce and Industry) là tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận, có tư cách pháp nhân và tự chủ về tài chính. Trong đó có nhiệm vụ đại diện để thúc đẩy và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp và người sử dụng lao động ở Việt Nam trong các quan hệ trong nước và quốc tế [12, Điều 5]. - Ngày 09/6/2005, ngay gần thời điểm Việt Nam hoàn tất các bước đàm phán gia nhập WTO, Thủ tướng chính phủ có Chỉ thị số 20/2005/CT-TTg về việc chủ động phòng, chống các vụ kiện thương mại nước ngoài. Chỉ thị nêu rõ những nguyên tắc, biện pháp trong việc chủ động phòng tránh và xử lý các tranh chấp thương mại với nước ngoài; phân công rõ vai trò, trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước trong đó có Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương), Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính…; các doanh nghiệp; hiệp hội ngành hàng; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các tổ chức xã hội trong công tác phòng tránh và xử lý các tranh chấp [27]. - Tháng 01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO. - Ngày 08/4/2009 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 51/2009/QĐ-TTg thành lập Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới – WTO và các Tổ chức quốc tế khác tại Geneva, Thụy Sỹ, tên tiếng Anh là: Permanent Mission of the Socialist Republic of Viet Nam to the United Nations, the World Trade Organization and other International Organizations at Geneva (gọi tắt là Vietnam Mission to the UN and the WTO at Geneva). Quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Phái đoàn, trong đó, Phòng WTO và các vấn đề hợp tác thương mại đa phương, gọi tắt là Phòng WTO, tên giao dịch tiếng Anh là WTO and Multilateral Trade Affairs Office (gọi tắt là WTO Affairs Office), chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề liên quan đến sự tham gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại WTO, Phòng WTO là
  • 71.
    64 đầu mối tiếpnhận và xử lý các văn thư tài liệu liên quan đến WTO (bao gồm cả đầu mối thực hiện các thủ tục giải quyết tranh chấp tại WTO) [29]. - Ngày 23/7/2009 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1099/QĐ-TTg phê duyệt Nghị định thư về việc nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập Hiệp định Trung tâm tư vấn luật WTO (ACWL), Việc trở thành thành viên của ACWL sẽ đem lại nhiều lợi ích đối với Việt Nam. Thứ nhất, ACWL sẽ giúp Việt Nam đào tạo cán bộ pháp lý các Bộ ngành (luật sư của Chính phủ) để dần dần đảm nhận công tác tham mưu pháp lý về WTO cho Chính phủ. Thứ hai, Việt Nam sẽ nhận được các tư vấn pháp lý miễn phí liên quan tới các quy định của WTO. Thứ ba, trong trường hợp Việt Nam tham gia vào một vụ việc tranh chấp tại WTO với tư cách nguyên đơn, bị đơn, hay bên thứ ba, ACWL có thể cung cấp hỗ trợ kỹ thuật trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp [30]. - Ngày 18/01/2010, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 123/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020. Trong đó mục tiêu, xây dựng đội ngũ luật sư giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu luật pháp và tập quán thương mại quốc tế, thông thạo tiếng Anh, thành thạo về kỹ năng hành nghề luật sư quốc tế, có đủ khả năng tư vấn các vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế của Nhà nước. Xây dựng các tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài, có khả năng cạnh tranh với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài [31]. - Ngày 20/01/2012, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 06/2012/QĐ-TTg về việc tham vấn cộng đồng doanh nghiệp về thỏa thuận thương mại quốc tế. Quyết định này nhằm tăng cường hiệu quả, hiệu lực, lợi ích của Việt Nam nói chung và của cộng đồng các doanh nghiệp nói riêng trong các thỏa thuận quốc tế [32]. - Ngày 05/02/2013, Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành Quyết định số 848/QĐ-BCT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục
  • 72.
    65 Quản lý cạnhtranh. Cục Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Công thương (Vietnam Competition Authority), trong đó quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cục quản lý cạnh tranh liên quan tới các vụ kiện thương mại với nước ngoài: “Cảnh báo sớm các vụ kiện chống bán phá giá; chủ trì hoặc phối hợp với các doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam” [7, Điều 2]. Theo đó, đây là cơ quan trực tiếp thực hiện việc điều tra, cảnh báo sớm các vụ kiện thương mại liên quan tới chống bán phá giá, trợ cấp thương mại và các biện pháp phòng vệ của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện việc khởi kiện các vụ kiện quốc tế. Có thể thấy đây là cơ quan đầu mối liên kết giữa doanh nghiệp và Chính phủ trong các vụ kiện thương mại, bằng việc cung cấp, chuẩn bị các tài liệu chứng cứ có liên quan. - Mới đây, ngày 07/01/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 40/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Quá trình hội nhập quốc tế đã giúp nâng cao vị thế đối ngoại của Việt Nam thông qua sự tham gia bình đẳng vào các cơ chế, diễn đàn kinh tế khu vực và quốc tế, trong đó cần phải vận dụng có hiệu quả cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO để bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam trong các tranh chấp kinh tế, thương mại và đầu tư quốc tế; nâng cao vị thế đàm phán của Việt Nam; đại diện, hỗ trợ doanh nghiệp trong các tranh chấp thương mại. Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao năng lực của cơ quan đầu mối về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế. Thường xuyên rà soát, đánh giá các cam kết quốc tế về đầu tư, chính sách áp dụng với nhà đầu tư nước ngoài, đề xuất biện pháp phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu các tranh chấp quốc tế. Thực hiện cải cách chế độ công vụ, công chức trong bối cảnh hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng nguồn nhân lực tham gia công tác hội nhập kinh tế quốc tế. Phát huy vai trò của các Cơ quan đại diện ngoại giao, Thương vụ và các trung tâm xúc tiến thương mại của Việt Nam ở nước ngoài trong việc hỗ trợ bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ tranh chấp thương mại [34].
  • 73.
    66 Bằng sự chuẩnbị tích cực, các mặt về chính sách, cơ sở pháp lý và khung thể chế về việc chủ động tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế, chúng ta cũng đã có bước chuẩn bị sẵn sàng tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế. 3.1.2. Sự tham gia của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp Kể từ khi gia nhập WTO cho tới tháng 12 năm 2016 Việt Nam đã tham gia vào tổng số 27 vụ tranh chấp trong khuôn khổ WTO, trong đó 03 vụ việc Việt Nam là nguyên đơn trong vụ kiện, 24 vụ việc tham gia với tư cách là bên thứ ba. Tính tới tháng 11/2016 Việt Nam hiện chưa là bị đơn trong bất cứ vụ kiện nào trong khuôn khổ WTO. Từ khi gia nhập WTO tới vụ kiện đầu tiên với tư cách là nguyên đơn của Việt Nam, chúng ta đã tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp với tư cách là bên tứ ba trong 07 vụ việc. Phần lớn các vụ việc này chúng ta chỉ tham gia một cách thụ động như những người quan sát, duy nhất chỉ có vụ việc WT/DS360 chúng ta có nêu ra quan điểm của mình tại phiên điều trần, và được Ban hội thẩm ghi nhận [65, tr. 59]. Việt Nam chính thức tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp lần đầu tiên vào ngày 26/01/2007 khi yêu cầu Ban hội thẩm tham gia với tư cách là bên thứ ba tại vụ kiện mang ký hiệu số WT/DS343, Bị đơn: Hoa Kỳ - Các biện pháp liên quan tới tôm từ Thái Lan. Vì đây là lần đầu tham gia vào một vụ tranh chấp cụ thể nên Việt Nam mới chỉ tham gia ở giai đoạn xét xử của Ban hội thẩm và của cơ quan phúc thẩm như những người quan sát mà không đưa ra quan điểm nào. Vụ việc thứ hai chúng ta tham gia đó là vụ việc mang ký hiệu số WT/DS360 Bị đơn: Ấn Độ - Thuế bổ sung đối với hàng hóa nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Tuy không tham gia vào vụ việc ngay từ thủ tục tham vấn mà chỉ tham gia vào quá trình xét xử, nhưng tại vụ kiện này Việt Nam cũng đã đưa ra được những quan điểm của mình đối với vụ việc thông quan các văn bản đệ trình cũng như việc phát biểu trong các phiên điều trần, và đã được Ban hội thẩm ghi nhận. Tiếp theo đó chúng ta cũng đã tham gia vào các vụ việc như WT/DS375; WT/DS376; WT/DS377, Bị đơn: EU – Mức thuế điều chỉnh một số sản phẩm công nghệ thông tin, nguyên đơn lần lượt là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Đài Loan.
  • 74.
    67 Ngày 19/01/2010 vụviệc WT/DS399 Bị đơn: Hoa Kỳ - Một số biện pháp ảnh hưởng tới việc nhập khẩu xe chở khách và xe tải nhỏ từ Trung Quốc. Ngày 18/5/2010 Việt Nam có yêu cầu tham gia vụ việc WT/DS402 Bị đơn: Hoa Kỳ - Sử dụng biện pháp Quy về “0” trong các biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm từ Hàn Quốc. Có thể thấy, sau khi đã tham gia với tư cách là bên thứ ba trong các vụ kiện, chúng ta đã tích lũy được một số kinh nghiệm và thông tin hữu ích (đặc biệt là vụ kiện WT/DS402 liên quan tới biện pháp quy về “0” của Hoa Kỳ áp dụng trong các biện pháp chống bán phá giá) trong việc chuẩn bị khởi xướng vụ kiện đầu tiên của Việt Nam với tư cách là nguyên đơn: Vụ kiện DS404 – Bị đơn: Hoa Kỳ - Các biện pháp chống bán phá giá đối với mặt hàng tôm nƣớc ấm đông lạnh Các bên Mốc thời gian xét xử Nguyên đơn Việt Nam Yêu cầu tham vấn 01/02/2010 Bị đơn Hoa Kỳ Thành lập ban hội thẩm 18/5/2010 Bên thứ ba Trung Quốc; EU; Ấn Độ; Nhật Bản; Hàn Quốc; Mexico; Thái Lan Ban hành báo cáo của ban hội thẩm 11/7/2011 Thông qua báo cáo 02/9/2011 Thời gian thực hiện 10 tháng 02/7/2012 Tuy là vụ kiện đầu tiên Việt Nam tham gia với tư cách là nguyên đơn trong vụ kiện, nhưng chúng ta đã đạt được những thắng lợi nhất định trước bị đơn là Hoa Kỳ (một cường quốc hàng đầu về kinh tế). Trong vụ việc này Ban hội thẩm đã có những kết luận có lợi cho chúng ta như: - Hoa Kỳ đã vi phạm Điều 2.4 của Hiệp định Chống bán phá giá khi áp dụng phương pháp quy về “0” để tính toán biên độ phá giá trong rà soát hành chính lần thứ hai và thứ ba; việc áp dụng các chính sách trên đối với Việt Nam vi phạm Điều 2.1, và 2.4.2 của Hiệp định Chống bán phá giá và Điều VI: 2 của GATT 1994. - Phương pháp quy về “0” của Hoa kỳ áp dụng trong một số đợt rà soát hành
  • 75.
    68 chính, không phùhợp với các nghĩa vụ của Hoa Kỳ theo Điều 9.3 của Hiệp định Chống bán phá giá và Điều VI: 2 của GATT 1994. - Hoa Kỳ đã vi phạm các nghĩa vụ của mình theo Điều 9.4 của Hiệp định Chống bán phá giá trong việc áp đặt mức thuế suất toàn quốc (áp đặt mức thuế suất vượt ngưỡng trần) trong đợt rà soát hành chính lần thứ hai và thứ ba đối với “các doanh nghiệp còn lại” (các bị đơn không được lựa chọn) dựa trên tỉ lệ bán phá giá được tính theo phương pháp quy về “0”. Tuy nhiên, phán quyết đã không đồng tình với khiếu kiện trong các điểm sau: - Phương pháp Quy về “0” của Hoa Kỳ không vi phạm quy định của WTO theo Điều 9.3 Hiệp định chống phá giá và Điều VI:2 của GATT 1994; - Cách tính toán mức thuế suất toàn quốc của Hoa Kỳ dựa trên các chứng cứ có sẵn không vi phạm luật của WTO; Ngoài ra, Ban hội thẩm cũng chưa đủ cơ sở để bác mức thuế suất toàn quốc áp dụng trong các kỳ rà soát hành chính 4, 5 và 6 là không phù hợp với Điều 6.8 của WTO. Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại vụ việc WT/DS404, chúng ta cũng đã liên tục tham gia với tư cách là bên thứ ba trong các vụ tranh chấp cũng liên quan tới các biện pháp chống bán phá giá như: ngày 18/5/2010, WT/DS405 Bị đơn: EU - Các biện pháp chống bán phá giá giầy dép từ Trung Quốc; ngày 25/3/2011, WT/DS414 Bị đơn: Trung Quốc - Thuế đối kháng và chống trợ cấp đối với các mặt hàng thép cán phẳng từ Hoa Kỳ; ngày 25/10/2011, WT/DS422 Bị đơn: Hoa Kỳ - Các biện pháp chống bán phá giá tôm và lưỡi cắt bằng kim cương từ Trung Quốc. Sau thành công đối với vụ kiện đầu tiên, trong bối cảnh phía Hoa Kỳ chưa hết thời gian thực hiện các khuyến nghị cũng như phán quyết của DSU, thì ngày 22/02/2012 chúng ta lại có yêu cầu tham vấn khởi xướng một vụ kiện tiếp theo cũng liên quan tới các biện pháp chống bán phá giá với Hoa Kỳ.
  • 76.
    69 Vụ kiện DS429Bị đơn: Hoa Kỳ - Các biện pháp chống bán phá giá đối với mặt hàng tôm nƣớc ấm đông lạnh Các bên Mốc thời gian xét xử Nguyên đơn Việt Nam Yêu cầu tham vấn 22/02/2012 Bị đơn Hoa Kỳ Thành lập ban hội thẩm 27/02/2013 Bên thứ ba Trung Quốc; Ecuador; EU; Nhật Bản; Na Uy; Thái Lan Ban hành báo cáo của ban hội thẩm 17/11/2014 Ban hành báo cáo của cơ quan phúc thẩm 07/4/2015 Thông qua báo cáo 22/4/2015 Thời gian thực hiện 15 tháng 22/7/2016 Vụ kiện này có nhiều điểm tương đồng đối với vụ kiện thứ nhất WT/DS404 nhưng các phán quyết đã làm rõ hơn nhiều vấn đề có lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam, nhất là trong thủ tục điều tra và tính toán biên độ phá giá. Đối với phương pháp Quy về “0”, phán quyết trong Vụ WT/DS429 không có điểm gì mới ngoài việc tái khẳng định Hoa Kỳ đã vi phạm khi áp dụng đối với các đợt rà soát hành chính. Đáng lưu ý là phán quyết WT/DS429/R (Báo cáo của ban hội thẩm ban hành ngày 17/11/2014) vẫn không khẳng định phương pháp Quy về “0” mà Hoa Kỳ áp dụng vi phạm các quy định của WTO; đối với khiếu nại Đoạn 129 (c)(1) theo Luật về Hiệp định Uruguay của Hoa Kỳ về thực thi các phán quyết của Cơ quan xét xử của WTO trong khiếu nại của ta cũng bị Ban hội thẩm bác bỏ rằng nó không vi phạm các Điều 1, 9.2, 9.3, 11.1 và 18.1 của Hiệp định Chống bán phá giá. Đoạn 129 là công cụ pháp lý cho phép sửa đổi các quy định của Hoa kỳ phù hợp với phán quyết của WTO. Ngày 06/01/2015 Việt Nam đã có thông báo kháng cáo gửi tới cơ quan phúc thẩm, yêu cầu xem xét lại một số vấn đề pháp lý và giải thích pháp luật trong báo cáo của Ban hội thẩm. Ngày 22/4/2015, DSB thông qua báo cáo Cơ quan phúc thẩm và báo cáo của Ban hội thẩm được duy trì bởi báo cáo Cơ quan phúc thẩm. Với phán quyết như vậy của DSB, Việt Nam sẽ có cơ sở để yêu cầu Hoa Kỳ điều chỉnh lại phương pháp tính toán phù hợp, bảo đảm lợi ích chính đáng của doanh nghiệp Việt Nam.
  • 77.
    70 Ngày 20/5/2015, HoaKỳ đã thông báo với DSB rằng họ dự định sẽ thực hiện các khuyến nghị và phán quyết của DSB và cần một khoảng thời gian để thực hiện. Ngày 17/9/2015, Việt Nam đã yêu cầu trọng tài theo Điều 21.3 (c) của DSU xác định thời gian thực hiện. Ngày 15/12/2015, Trọng tài xác định thời gian hợp lý để thực hiên phán quyết là 15 tháng kể từ khi thông qua báo cáo của Cơ quan phúc thẩm. Và sẽ hết hạn vào ngày 22/7/2016. Từ khi khởi xướng vụ việc thứ hai với tư cách là nguyên đơn, chúng ta đã chủ động trong việc tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp với tư cách là bên thứ ba, với 14 vụ việc (DS405, DS414, DS422, DS430, DS431, DS432, DS433, DS437, DS449, DS464, DS471, DS474, DS484, DS490) tuy các vụ việc này chúng ta chỉ tham gia trong giai đoạn xét xử nhưng đã cho chúng ta nhiều kinh nghiệm cũng như bài học quý báu trong giải quyết tranh chấp tại WTO, đặc biệt là trong vụ khiếu nại DS464 bị đơn: Hoa Kỳ - Các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với máy giặt lớn từ Hàn Quốc, Việt Nam đã nộp bản đệ trình bày tỏ quan điểm của mình đối với phương pháp Quy về “0” mà Hoa Kỳ đang sử dụng nhằm đạt được những lợi ích của Việt Nam trong các vụ kiện liên quan tới các biện pháp chống bán phá giá trước đó đối với Hoa Kỳ. Gần đây, chúng ta cũng đã tham gia với tư cách là bên thứ ba trong vụ việc DS490 Bị đơn: Indonesia - Các biện pháp tự vệ đối với một số sản phẩm thép do Đài Loan khởi xướng ngày 12/5/2015, có thể nói đây là bước đệm cũng như chiến lược của chúng ta để quyết định khởi xướng vụ kiếu nại thứ ba vào ngày 01/6/2015 với tư cách là nguyên đơn trong vụ kiện DS496 - Bị đơn: Indonesia - Các biện pháp tự vệ đối với một số sản phẩm thép. Vụ kiện thứ 03: DS496 – Bị đơn: Indonesia – Các biện pháp tự vệ đối với một số sản phẩm thép Các bên Mốc thời gian xét xử Nguyên đơn Việt Nam Yêu cầu tham vấn 01/6/2015 Bị đơn Indonesia Thành lập ban hội thẩm 28/10/2015 Bên thứ ba Hoa Kỳ; EU; Ấn Độ; Hàn Quốc; Liên bang Nga; Trung Quốc; Chile; Úc; Nhật Bản; Đài Loan
  • 78.
    71 Hiện tại vụviệc đang trong giai đoạn xét xử của Ban hội thẩm. Ban hội thẩm được thành lập vào ngày 28/10/2015. Và DSB quyết định Ban hội thẩm xem xét vụ việc DS490 kiếu nại của Đài Loan cũng sẽ xem xét khiếu nại của Việt Nam. Ngày 01/12/2015, Đài Loan và Việt Nam đã yêu cầu Tổng giám đốc xác định thành phần của Ban hội thẩm. Vào ngày 09/12/2015, Tổng giám đốc xác định thành phần của Ban hội thẩm gồm: Chủ tọa: Ms Luz Elena Reyes de la Torre; Thành viên: Ông José Pérez Gabilondo, Ông Guillermo Valles. Việc ban hành thể chế pháp lý liên quan tới giải quyết tranh chấp quốc tế nói chung và trong WTO nói riêng cùng với quá trình tham gia giải quyết tranh chấp đã cho thấy, chúng ta đang ngày càng phát triển, hội nhập một cách sâu rộng vào quan hệ quốc tế, đó cũng là xu thể chung tất yếu của toàn cầu hóa. Có thể thấy rằng, tuy chúng ta mới chỉ tham gia một cách đầy đủ vào cơ chế giải quyết tranh chấp trong thời gian gần đây (tham gia với tư cách là một bên nguyên đơn trong vụ tranh chấp). Nhưng bằng sự chuẩn bị của mình, chúng ta cũng đã phần nào có sự chủ động và đạt được những thành tựu nhất định trong quá trình giải quyết tranh chấp tại WTO. Tuy vậy chúng ta mới chỉ dừng lại ở việc tham gia với tư cách là bên nguyên đơn trong tranh chấp mà chưa có vụ việc nào chúng ta tham gia với tư cách là bị đơn. Nói cách khác là chúng ta chưa hoàn toàn chủ động trong giải quyết tranh chấp mà chỉ tham gia một cách bị động khi những lợi ích thương mại của mình bị xâm hại. Thực thế cho thấy rằng, việc sử dụng DSM của các quốc gia thường gắn liền với những mục đích cụ thể của họ. Với tư cách là nguyên đơn, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của quốc gia trước hành vi xâm hại của các thành viên khác. Với tư cách là bên thứ ba, nhằm mục đích tăng cường sự hiểu biết của họ về nội dung các vụ tranh chấp mà họ quan tâm. Đặc biệt là với tư cách là bị đơn, họ sử dụng các biện pháp trái với quy định của các Hiệp định có liên quan, một mặt gây ra thiệt hại tới lợi ích của các quốc gia thành viên, nhưng mặt khác họ lại là người được hưởng lợi từ chính những hành vi đó trong một khoảng thời gian nhất định (từ lúc sử dụng tới lúc tranh chấp được giải quyết). Như vậy bằng việc nắm rõ các quy định của các hiệp định có liên quan, nắm
  • 79.
    72 rõ cơ chếgiải quyết tranh chấp của WTO, việc sử dụng một cách đầy đủ vào DSM có thể coi là một trong những chiến lược của các thành viên khi tham gia vào hệ thống thương mại đa phương của WTO. Nhìn chung, số vụ kiếu nại trong WTO có xu hướng giảm theo thời gian, trong giai đoạn đầu của WTO, từ năm 1995-2000 có tới 219 tranh chấp phát sinh (trung bình 36,5 vụ việc/năm); giai đoạn năm 2001-2005 có 116 vụ việc (trung bình 23,2 vụ việc/năm); giai đoạn 2006 - 2010 có 84 vụ việc (trung bình 16,8 vụ việc/năm); giai đoạn 2011-2015 có 82 vụ việc (trung bình 16,4 vụ việc/năm); và năm 2016 (tính tới tháng 11/2016) có 13 vụ việc. Xu hướng giảm dần các vụ tranh chấp cho thấy, một mặt các thành viên đã cố gắng tuân thủ các quy định của WTO, hoặc cố gắng giải quyết tranh chấp bằng các hình thức khác. Mặt khác, một số thành viên vẫn sử dụng các biện pháp vi phạm quy định của WTO nhằm tạo ra thuận lợi cho quốc gia mình. Biểu đồ 3.1. Số vụ tranh chấp tại WTO theo thứ tự thời gian từ năm 1995 tới năm 2015 Thực tế cho thấy, một số quốc gia thành viên bằng các biện pháp của mình họ vẫn thường xuyên làm trái với các quy định của WTO, dẫn đến phát sinh một vụ
  • 80.
    73 tranh chấp. Cácbiện pháp đó thường gây ra những thiệt hại về lợi ích của các quốc gia thành viên khác theo các hiệp định có liên quan, nhưng nó lại tạo ra lợi thế, lợi ích riêng cho các thành viên sử dụng. Tuy nhiên, mục đích của DSM lại hướng tới việc thu hồi các biện pháp đã vi phạm, và rất hiếm khi các bên bị áp dụng các biện pháp bồi thường trả đũa. Vì vậy, một số quốc gia thành viên thường sử dụng DSM để tăng cường lợi thế, lợi ích của mình bằng việc vi phạm các hiệp định có liên quan trong một khoảng thời gian nhất định. Chính điều này lại được các quốc gia có nền kinh tế phát triển hoặc có quy mô lớn sử dụng hoặc với mục đích phát triển nhanh chóng một ngành nghề nào đó theo định hướng, như: Hoa Kỳ là bị đơn trong 128 vụ việc; EU 82 vụ việc; Trung Quốc 37 vụ việc; Ấn Độ 23 vụ việc; Argentina 22 vụ việc; Canada 18 vụ việc; Brazil 16 vụ việc; Hàn Quốc 16 vụ việc; Nhật Bản 15 vụ việc; Indonesia 14 vụ việc; Mexico 14 vụ việc. Ví dụ điển hình cho việc sử dụng DSM một cách có tính toán như một biện pháp nhằm gia tăng hơn nữa lợi ích của quốc gia (theo hướng vi phạm quy định) trong hệ thống thương mại đa phương phải kể tới Hoa Kỳ. Là một thành viên phát triển hàng đầu của WTO nói riêng và trên thế giới nói chung. Hoa Kỳ có thế mạnh về mọi mặt từ Kinh tế, Chính trị, Văn hóa, Giáo dục cho tới Quân sự, Ngoại giao, Quốc phòng - An ninh... Với nền kinh tế thương mại phát triển, hàng hóa dịch vụ của họ vươn tới tất cả thị trường trên toàn thế giới. Có thể thấy rằng họ là thành viên chủ động, sẵn sàng tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO với tổng cộng 373/514 vụ việc (chiếm 72,5% tổng số vụ tranh chấp tại WTO), trong đó 111 vụ việc là nguyên đơn, 128 vụ việc là bị đơn, 134 vụ việc với tư cách là bên thứ ba. Những con số trên cho thấy gần một nửa các tranh chấp tại WTO có liên quan trực tiếp tới Hoa Kỳ (46,5% số vụ tranh chấp với tư cách là nguyên đơn và bị đơn). Đây có thể coi là một trong những chiến lược tham gia vào WTO của họ, điều đó được thể hiện rất rõ qua quá trình đàm phán thành lập tổ chức thương mại thế giới họ quan tâm nhiều hơn tới cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đặc biệt là DSU. Mục đích của họ được thể hiện rất rõ trong thực tiễn khi họ sử dụng DSM như một công cụ để tạo ra sân chơi riêng cho mình tại WTO bằng cách chủ động tạo ra, chủ động tham gia và chủ động giải quyết các tranh chấp.
  • 81.
    74 Qua thực tiễngiải quyết tranh chấp của tại WTO nói chung và của Việt Nam nói riêng, cho thấy chúng ta chưa vẫn chưa thực sự tham gia một cách chủ động vào cơ chế giải quyết tranh chấp, bằng chứng cho thấy là Việt Nam chưa là bị đơn trong bất cứ một vụ tranh chấp nào trong khuôn khổ WTO, chưa hề tham gia vào các tranh chấp liên quan tới TRIMs. Điều đó cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia thành viên thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, đặc biệt là tại WTO. 3.1.3. Pháp luật Việt Nam liên quan tới TRIMs Khi gia nhập WTO, các nước phải cam kết loại bỏ TRIMs, điều này đồng nghĩa với việc các nước phải đưa các biện pháp tuân thủ các quy định của WTO, nhưng đồng thời vẫn tạo cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp trong nước. Việt Nam đã có một quá trình áp dụng TRIMs với các mục tiêu cơ bản là vừa thu hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài, vừa đẩy mạnh phát triển sản xuất trong nước. Các biện pháp Việt Nam đã sử dụng trong thời gian qua là yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá, yêu cầu cân đối ngoại tệ, yêu cầu phải gắn với phát triển nguồn nguyên liệu trong nước và yêu cầu tỷ lệ xuất khẩu bắt buộc. Trong đó, biện pháp được tập trung áp dụng nhiều nhất là yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá trong các ngành sản xuất, lắp ráp ôtô và phụ tùng ôtô; sản xuất, lắp ráp xe máy và phụ tùng xe máy; sản xuất, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh và phụ tùng thuộc ngành điện tử, cơ khí-điện. Tuy nhiên hiện nay, việc đưa ra những yêu cầu này không nhằm mục đích để các nhà đầu tư nhận được một khoản ưu đãi về thuế đối với các sản phẩm nhập khẩu. Yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa nhằm phát triển ngành công nghiệp ô tô và các ngành phụ trợ trong nước. Vì vậy, yêu cầu này dường như chỉ là định hướng phát triển của ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam, nó không hề tạo ra sự phân biệt đối xử về thuế giữa các sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu (ngoại trừ các khoản thuế xuất nhập khẩu theo cam kết của các Hiệp định có liên quan), thực tiễn cho thấy biện pháp này gần giống với yêu cầu về sản xuất (yêu cầu một số sản phẩm phải được sản xuất trong nước) nếu biện pháp này không có sự điều chỉnh hợp lý để tạo điều kiện, ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực có liên quan sẽ không khuyến khích, không thu hút được các nguồn vốn đầu tư đồng nghĩa với việc khó có thể tạo ra được động
  • 82.
    75 lực phát triểntrong các ngành có liên quan. Ngoài ra, đối với các dự án chế biến các sản phẩm sữa, dầu thực vật, thuộc da, chế biến gỗ, sản xuất giấy cũng thuộc đối tượng các ngành phải thực hiện chương trình nội địa hoá nhằm phát triển nguồn nguyên liệu thô trong nước. Song, do tính đặc thù nên phần lớn các dự án thuộc ngành này được xây dựng với mục đích sử dụng nguồn nguyên liệu rẻ, sẵn có trong nước. Do vậy, các nhà đầu tư sẽ tự nguyện thực hiện chính sách nội địa hoá, kể cả trong trường hợp không được khuyến khích hoặc ưu đãi [26]. Có thể thấy rằng các biện pháp trên chỉ là những biện pháp mang tính định hướng nhằm phát triển các ngành sản xuất trong nước, nhưng mang tính bắt buộc (điều kiện đầu tư phải đáp ứng yêu cầu theo quy hoạch), nhằm mục đích yêu cầu sử dụng các sản phẩm trong nước nhưng lại không được hưởng lợi ích về thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài, không tạo ra sự phân biệt đối xử (về thuế) đối với các sản phẩm trong nước so với các sản phẩm nhập khẩu. Tuy nhiên, chính sách này sẽ chỉ phù hợp đối với những ngành có các sản phẩm có sẵn trong nước, với giá thành và chi phí rẻ, còn đối với những ngành sản xuất đòi hỏi nhà đầu tư phải thực hiện sản xuất trong nước dường như sẽ khó tạo sự thu hút đầu tư từ nước ngoài. Đối với yêu cầu về hạn ngạch, hiện nay Việt Nam chỉ áp dụng hạn ngạch thuế quan theo cam kết với WTO trong các sản phẩm như: Muối; Thuốc lá nguyên liệu; Trứng gia cầm; Đường tinh luyện, đường thô [31, Điều 5]. Đối với hàng hóa là thuốc lá điếu, xì gà được nhà nước độc quyền nhập khẩu: “Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam (VINATABA) là thương nhân nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà theo cơ chế thương mại nhà nước” [8, Điều 6]. Có thể thấy rằng, kể từ khi gia nhập WTO cho tới thời điểm hiện tại chúng ta là một trong những quốc gia thành viên thực hiện Hiệp định TRIMs một cách đầy đủ và nghiêm túc, các biện pháp về bảo đảm đầu tư được quy định tại Luật Đầu tư năm 2005 (sau khi là thành viên của WTO) và tiếp tục thể hiện thông qua Luật Đầu tư 2014, trong đó Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính [24, Điều 9]; bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh [24, Điều 10] nhà nước không bắt buộc nhà đầu tư phải
  • 83.
    76 thực hiện nhữngyêu cầu (liên quan tới TRIMs), như: yêu cầu về sử dụng các sản phẩm trong nước; yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa; về cân đối ngoại tệ; cân đối giá trị xuất nhập khẩu... ngoài ra Luật đầu tư còn quy định bảo đảm chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các tài sản: Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư; Thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh; Tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư [24, Điều 11]. Nói cách khác, Việt Nam là một trong những quốc gia thành viên WTO đã thực hiện các cam kết liên quan tới Hiệp định TRIMs một cách nghiêm túc, khi không tạo ra sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa nhập khẩu. Nhưng đồng nghĩa với việc loại bỏ TRIMs trong quá trình hội nhập toàn cầu chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan tới việc phát triển kinh tế đất nước, phải bảo vệ và phát triển các ngành sản xuất có thế mạnh của mình. Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết cần phải đặt ra trong bối cảnh tuân thủ quy định của Hiệp định TRIMs là bắt buộc chúng ta phải nâng cao năng lực của các doanh nghiệp trong nước không chỉ về năng lực tài chính, quy mô hoạt động, chất lượng sản phẩm, giá trị sản xuất mà còn phải nâng cao trình độ quản lý để không bị lép vế trước nhà đầu tư nước ngoài. Theo thống kê cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là những doanh nghiệp vừa và nhỏ [38], có rất ít sự liên kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành nghề cùng lĩnh vực vì vậy không tạo ra được sự thống nhất trong phương hướng hoạt động sản xuất, nên dễ bị ảnh hưởng từ tác động bên ngoài của thị trường, đặc biệt là những tác động xấu (tác động tiêu cực về cung cầu, tác động về giá cả). Ngược lại chúng ta có rất ít doanh nghiệp lớn chủ yếu vẫn là một số doanh nghiệp có cổ phần vốn nhà nước nhưng hoạt động kém hiệu quả. Không tạo ra được những bước đột phá trong sản xuất kinh doanh. Đối với nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chúng ta cần phải xác định đây là nhóm doanh nghiệp về cơ bản sẽ tạo ra sự năng động, cạnh tranh (cạnh tranh lành mạnh) thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước trong quá trình hội nhập. Vì vậy, trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa hiện nay các doanh nghiệp này cần phải có sự
  • 84.
    77 liên kết chặtchẽ với nhau trong các ngành hàng có liên quan, nhằm tạo ra một chuỗi sản xuất, dịch vụ, tiêu thụ khép kín. Nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng của các nhà đầu tư nước ngoài với nguồn vốn, trình độ quản lý, kỹ thuật vượt trội, cùng với kinh nghiệm trong nhiều năm phát triển trước chúng ta. Đơn cử trong một số ngành bán lẻ tại Việt Nam, một số doanh nghiệp với những thương hiệu nổi tiếng như BigC, METRO... hiện nay đang trong tay của nhà đầu tư nước ngoài cụ thể là nhà đầu tư từ các nước thành viên ASEAN, Trung Quốc có thể nhận thấy rằng đây là một trong những động thái nhằm vào việc điều tiết kênh phân phối sản phẩm (các loại mặt hàng bán lẻ nằm trong chuỗi các siêu thị) điều này gây ra những bất lợi đáng kể đối với các sản phẩm trong nước nếu nhà đầu tư này chỉ phân phối các sản phẩm nhập khẩu từ những chuỗi sản xuất của họ ở các nước thành viên. Đặc biệt trong thời gian tới đây khi chúng ta thực hiện các cam kết về giảm mức thuế xuất các mặt hàng trong WTO, mức thuế nhập khẩu hàng theo các hiệp định thương mại, mức thuế khi cộng đồng ASEAN được thành lập. Có thể thấy trong điều kiện bình thường thuế nhập khẩu được coi là rào cản đối với hàng hóa nhập khẩu và cũng là lợi thế đối với sản phẩm trong nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay trong các Hiệp định thương mại đa phương các thành viên đều có những lợi ích riêng cốt lõi của mình vì vậy trong các hiệp định thường hướng tới việc loại bỏ mức thuế xuất nhập khẩu (chủ đề chính đối với thương mại hàng hóa trên thế giới trong cả lịch sử cũng như hiện tại). Vì vậy, việc thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành hàng, các doanh nghiệp trong nước có thể dẫn tới việc chiếm ưu thế của các nhà đầu tư nước ngoài ngay tại thị trường trong nước, kéo theo đó có thể là những ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình tiêu thụ các sản phẩm sản xuất trong nước. Đối với các doanh nghiệp lớn, chủ yếu là vốn nhà nước. Theo quy luật chung của nền kinh tế thị trường thì nhà nước không nên vừa thực hiện ban hành các chính sách về kinh tế, vừa nắm giữ cổ phần, vừa thực hiện sản xuất kinh kinh doanh. Vì có thể sẽ dẫn tới một nền kinh tế phi thị trường, sản xuất và tiêu thụ hàng hóa không theo quy luật cung cầu mà theo sự điều chỉnh của nhà nước, đi ngược lại sự quy luật phát triển tự nhiên của nền kinh tế (theo quy luật cung cầu). Thực tiễn trong quá
  • 85.
    78 khứ đã chứngminh, nền kinh tế kế hoạch hóa tập chung mà Đảng và nhà nước ta đã thực hiện trong quá khứ tuy đã có sự nghiên cứu, có những bước đi đầy cân nhắc trong quá trình xây dựng đất nước nhằm đưa nước ta từ nền nông nghiệp lạc hậu quá độ tiến tới chủ nghĩa xã hội với nền công nghiệp hiện đại, tuy nhiên trong quá trình triển khai cũng đã mắc một số sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính sách khi chưa cân nhắc đầy đủ những yếu tố cần thiết cần phải có trong công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, như: điều kiện hạ tầng cơ sở, cơ sở vật chất, đặc biệt là trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ... Vì vậy, đối với các doanh nghiệp lớn có vốn nhà nước. Cần phát huy lợi thế về quy mô, nguồn vốn sẵn có tập chung đổi mới phương thức quản lý (theo hướng nhà nước không can thiệp vào công việc sản xuất của doanh nghiệp); nhanh chóng tiến hành công cuộc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tiến tới việc thoái hoàn toàn vốn đầu tư của nhà nước trong các doanh nghiệp, từ đó nâng cao trình độ quản lý của doanh nghiệp, tăng cường trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra động lực phát triển sản xuất của doanh nghiệp, của nền kinh tế. Qua quá trình phân tích, tìm hiểu các tranh chấp liên quan tới TRIMs và kinh nghiệm đã rút ra được từ một số nước thành viên đã sử dụng, cùng với thực tiễn thực hiện tại Việt Nam, ngoài việc nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước trong quá trình tuân thủ TRIMs ở một số lĩnh vực thế mạnh, chúng ta cần thiết phải sử dụng TRIMs một cách hiệu quả và hợp lý (giống với các quốc gia thành viên đang phát triển đã và đang sử dụng) nhằm tạo ra sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng đối với một số ngành nghề quan trọng theo định hướng phát triển của quốc gia, từng bước đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại. Ví dụ cụ thể trong ngành sản xuất công nghiệp ô tô hiện nay ở nước ta, với quan điểm: “Phát triển công nghiệp ô tô trở thành ngành công nghiệp quan trọng để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước” cùng với đó là mục tiêu: “Phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trở thành ngành công nghiệp quan trọng của đất nước, đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường nội địa về các loại xe tải, xe khách
  • 86.
    79 thông dụng vàmột số loại xe chuyên dùng; phấn đấu trở thành nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng và một số cụm chi tiết có giá trị cao trong chuỗi sản xuất công nghiệp ô tô thế giới, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp khác” [14]. Tuy có áp dụng, định hướng tỉ lệ nội địa hóa trong ngành sản xuất ô tô trong nước cùng với việc thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất và lắp ráp ô tô. Tuy nhiên, việc áp dụng tỉ lệ nội địa hóa (nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra) không đi cùng với những ưu đãi về thuế và phí, không tạo ra những ưu tiên, ưu đãi đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này vì vậy có thể có những tác động tiêu cực, làm giảm hiệu quả đầu tư, không tạo ra được động lực phát triển cho doanh nghiệp đầu tư nói riêng và ngành sản xuất trong nước nói chung. Chính vì vậy, việc sử dụng TRIMs trong một thời gian cụ thể (từ 02 tới 03 năm) đối với ngành sản xuất ô tô tại nước ta hiện nay là điều cần thiết, nhằm tạo ra sự phát triển nhanh chóng đối với ngành công nghiệp ô tô trong nước, cần phải hướng những ưu đãi cho các đối tác chiến lược trong lĩnh vực này (các doanh nghiệp liên doanh của một số quốc gia thành viên đang đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ô tô). Tuy nhiên, việc sử dụng TRIMs cần phải được cân nhắc tính toán lợi ích có được. Thứ nhất, cần phải tạo ra sự phát triển nhanh chóng đối với các sản phẩm, ngành hàng được ưu tiên sản xuất và tiêu thụ trong nước. Thứ hai, chú ý tới thời điểm áp dụng TRIMs để đạt hiệu quả cao nhất. Thứ ba, phải có sự chuẩn bị tinh thần sẵn sàng tham vấn, sẵn sàng tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs. Thứ tư, cần có sự chuẩn bị trước về khung thể chế pháp lý liên quan tới TRIMs nhằm kịp thời sửa đổi cho phù hợp với quy định của WTO. Liên hệ với một số hiệp định có liên quan tới thương mại và đầu tư mà Việt Nam đã đàm phán gia nhập Việc đàm phán và gia nhập các hiệp định thương mại tự do đối với các quốc gia và cũng lãnh thổ trên thế giới là một bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Bằng sự chuẩn bị và lỗ lực của mình, trong thời gian gần đây chúng ta đã bước đầu đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại quốc tế
  • 87.
    80 quan trọng như,Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU-Vietnam Free Trade Agreement - EVFTA) ngày 02/12/2015, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Ủy ban châu Âu, Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam và Cao ủy Thương mại EU đã ký Tuyên bố về việc chính thức kết thúc đàm phán hiệp định; Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – TPP) ký kết ngày 04/02/2016 bởi Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước thành viên: Ốt-xtrây- lia, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po, Hoa Kỳ và Việt Nam. Tuy hiện tại các Hiệp định này chưa có hiệu lực về mặt pháp lý và cần phải có sự phê chuẩn của các quốc gia thành viên nhưng việc đàm phán ký kết các hiệp định trên có tác động lớn tới việc hình thành và phát triển các chính sách thương mại của chúng ta ngay tại thời điểm hiện tại. Đối với các cam kế về đầu tư, cả ở TPP (Chương 9 về đầu tư) và EVFTA (Chương về thương mại dịch vụ, đầu tư và thương mại điện tử) đều có những quy định liên quan tới việc bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài, các cam kết về nguyên tắc đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc trong đầu tư, trong đó mỗi Bên phải dành cho nhà đầu tư của Bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho nhà đầu tư của nước mình, hoặc nhà đầu tư của Bên không phải thành viên Hiệp định. Nội dung liên quan tới đầu tư nước ngoài chủ yếu được phát triển từ những quy định của TRIMs trong WTO, nhưng được giải thích và quy định cụ thể hơn liên quan tới các biện pháp, yêu cầu doanh nghiệp phải thực hiện để được phép đầu tư: những yêu cầu về xuất khẩu; những yêu cầu về hàm lượng nội địa; những yêu cầu về tiêu thụ trong nước; những yêu cầu về cân đối thương mại; những yêu cầu bắt buộc về loại sản phẩm; những yêu cầu về chuyển giao công nghệ. Hoặc những yêu cầu để nhận được những khoản ưu đãi về đầu tư: yêu cầu về hàm lượng nội địa; những yêu cầu về tiêu thụ trong nước (phải mua, sử dụng hoặc áp dụng chế độ ưu đãi cho hàng hóa sản xuất trong nước); những yêu cầu về cân đối thương mại. Liên quan tới việc giải quyết tranh chấp trong đầu tư, cả hai Hiệp định đều đề cập quy định nhà đầu tư nước ngoài có quyền khởi kiện Chính phủ của nước
  • 88.
    81 thành viên racơ quan tài phán quốc tế cụ thể là Trung tâm Giải quyết Tranh chấp Đầu tư Quốc tế (theo Công ước ICSID), đây thường là những điều khoản mà các thành viên phát triển đưa và các hiệp định thương mại tự do nhằm bảo vệ các nhà đầu tư của quốc gia mình, tuy nhiên điều này lại gây ra trở ngại không nhỏ cho Chính phủ các nước đang phát triển khi phải đối mặt với một vụ kiện xuất phát từ một bên là nhà đầu tư khi mà thành viên đó chưa thực sự tham gia nhiều vào các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế (trở ngại về nguồn nhân lực, tài chính tham gia vụ việc, trở ngại về các khoản bồi thường khi thua kiện...). Đối với quy định về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hiệp định nói chung, cả TPP (Chương 28 Giải quyết tranh chấp) và EVFTA (Chương giải quyết tranh chấp) đều có những quy định chung về vấn đề này. Hầu hết các quy định về giải quyết tranh chấp của cả hai hiệp định này đều dựa trên nền tảng quy định của DSU - cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO. Trong đó, khi phát sinh tranh chấp các bên đều phải thực hiện thủ tục tham vấn giống với thủ tục tham vấn tại WTO, nhằm hướng tới một thỏa thuận các bên cùng thống nhất mà không cần phải dùng tới các bước tố tụng tiếp theo. Đối với TPP, sau khi các bên đã tổ chức tham vấn về các vấn đề tranh chấp, nếu không có thỏa thuận được đưa ra một Ban hội thẩm sẽ được thành lập để xem xét các khiếu nại và đưa ra các khuyến nghị, phán quyết để giải quyết tranh chấp theo các quy định có liên quan của Hiệp định, phù hợp với các quy định diễn giải của luật quốc tế theo Điều 31 và 32 của Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế (1969). Ngoài ra, đối với các nghĩa vụ của Hiệp định WTO đã được đưa vào Hiệp định, Ban hội thẩm sẽ xem xét những giải thích liên quan trong báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm của Cơ quan giải quyết tranh chấp trong WTO [46, Điều 28.11]. Như vậy có thể thấy rằng, các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm trong WTO là một nguồn tài liệu quan trọng trong giải quyết tranh chấp liên quan tới TPP. Thủ tục làm việc của Ban hội thẩm trong TPP cũng gần giống với WTO, các bên sẽ tham dự các phiên điều trần [46, Điều 28.12]; các thành viên không là một bên trong tranh chấp có thể tham gia với tư cách thứ ba [46, Điều 28.13], ban
  • 89.
    82 hội thẩm cũngsẽ ban hành báo cáo ban đầu [46, Điều 28.16] (để các bên xem xét lại các số liệu thực tế và các tình tiết có liên quan) và báo cáo cuối cùng tới các bên [46, Điều 28.17]. Tuy nhiên khác với WTO, các phiên điều trần trong thủ tục làm việc của Ban hội thẩm sẽ được công khai, nếu các bên không có thỏa thuận khác (ở WTO phiên điều trần được giữ bí mật). Một điểm khác biệt nữa ở TPP là trong quá trình xem xét của mình ban hội thẩm phải xem xét yêu cầu từ các tổ chức phi chính phủ nằm trong lãnh thổ của bất kỳ Bên tranh chấp đưa ra quan điểm bằng văn bản liên quan đến tranh chấp, điều này có thể hỗ trợ Ban hội thẩm trong việc xem xét các biện hộ và lập luận của các bên [46, Điều 28.12], đây có thể là một kênh nhằm gia tăng lợi thế trong giải quyết tranh chấp và rất có lợi cho các thành viên phát triển với nhiều tổ chức phi Chính phủ, đặc biệt là Hoa Kỳ. Ban hội thẩm sẽ đưa ra quyết định của mình bằng sự đồng thuận hoặc theo đa số và có hiệu lực pháp lý đối với các bên (không cần phải có sự thông qua của một cơ quan nào đó) và các bên phải tuân thủ phán quyết của Ban hội thẩm theo Điều 28.18. Tại TPP không có thủ tục tố tụng xem xét lại phán quyết, vì vậy các bên buộc phải tuân thủ phán quyết của Ban hội thẩm, trong một khoảng thời gian hợp lý (tối đa 15 tháng). Các nguyên tắc đình chỉ nghĩa vụ đối với các bên không thực hiện phán quyết cũng giống với WTO, tuy nhiên tại TPP nếu các bên không thực hiện phán quyết có thể bồi thường cho bên thắng kiện một khoản tiền ấn định [46, Điều 28.19]. Như vây, có thể thấy rằng các quy định về giải quyết tranh chấp tại TPP nói chung được xây dựng từ nền tảng của cơ chế giải quyết tranh chấp DSU – WTO, đặc biệt với sự tham gia của Hoa Kỳ là một bên, đối tác quan trọng trong sự hình thành TPP. Vì vậy, không ngạc nhiên rằng các quy định giải quyết tranh chấp mà họ sử dụng rất hiệu quả trong WTO được đưa vào TPP, không những vậy một số quy định mới nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp của họ cũng được đưa vào TPP như, thời gian giải quyết tranh chấp sẽ giảm, không có thủ tục xem xét lại các báo cáo của Ban hội thẩm, tiếng nói của các tổ chức phi chính phủ sẽ được Ban hội thẩm xem xét (những quy định không có tại WTO). Một lần nữa có thể thấy rằng, thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của TPP, Hoa Kỳ sẽ lại tạo ra một sân chơi
  • 90.
    83 riêng của mìnhthông qua việc giải quyết các tranh chấp giống với những gì họ đã thực hiện ở WTO. Đối với EVFTA, sau khi tham vấn không thành công, tranh chấp sẽ được xem xét bởi Ban trọng tài. Vì EVFTA là hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU, thành phần của Ban trọng tài sẽ bao gồm các trọng tài viên của Việt Nam, EU và các trọng tài viên không phải là công dân, không có hộ khẩu thường trú tại một trong các Bên theo Điều 23 chương giải quyết tranh chấp của EVFTA. Cũng giống với giải quyết tranh chấp của TPP, tại EVFTA hầu hết các quy định về giải quyết tranh chấp đều được phát triển từ DSU của WTO (các phán quyết của DSB cũng được coi là một nguồn tài liệu quan trọng khi được Ban trọng tài sử dụng trong việc giải thích pháp luật liên quan tới các quy định của WTO (Điều 21) với nhiều cải tiến mới như: rút ngắn được thời gian giải quyết tranh chấp khi không có thủ tục xem xét lại báo cáo của Ban trọng tài, và các bên phải tuân thủ phán quyết. Ban trọng tài sẽ ra quyết định bằng sự đồng thuận hoặc theo đa số (Điều 22)... Ngoài ra, các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua trung gian, hòa giải hoặc bằng trọng tài được các bên ghi nhận và có thể đưa ra tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình giải quyết tranh chấp trong cả TPP và EVFTA. Để sẵn sàng tham gia tham vấn, sẵn sàng giải quyết có hiệu quả các tranh chấp quốc tế nói chung và trong WTO nói riêng, tuy chúng ta đã có những bước chuẩn bị và không ngừng hoàn hiện về thể chế pháp lý liên quan tới vấn đề này, trong suốt quá trình hội nhập quốc tế. Nhưng để nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nâng cao năng lực giải quyết các tranh chấp và phòng ngừa các rủi ro phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung, chúng ta cần phải có những bước đi đúng đắn, những giải pháp thích hợp trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng thể chế pháp lý liên quan tới giải quyết các tranh chấp quốc tế. 3.2. Phƣơng hƣớng, giải pháp phòng và giải quyết tranh chấp 3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật Để hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước nhằm mục đích phòng và giải
  • 91.
    84 quyết hiệu quảcác tranh chấp phát sinh trong quan hệ quốc tế, trước hết chúng ta cần phải nắm rõ được mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Trong đó, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật độc lập có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau tùy vào điều kiện kinh tế, quan điểm chính trị và tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia, nhưng tựu chung lại pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia đều xuất phát từ lợi ích chung của chính quốc gia, dân tộc đó và cộng đồng quốc tế. Sự tác động qua lại giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia được thể hiện ở hai khía cạnh: thứ nhất, pháp luật quốc gia ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế. Sự hình thành các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế cũng như nội dung hoàn toàn tùy thuộc vào ý chí, thỏa thuận giữa các quốc gia. Pháp luật quốc gia thể hiện sự định hướng về nội dung, tính chất của pháp luật quốc tế. Mọi sự thay đổi, phát triển tiến bộ của pháp luật quốc gia đều tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của pháp luật quốc tế (điều này được thể hiện rất rõ trong quá trình đàm phán, xây dựng Điều ước quốc tế). Thứ hai, pháp luật quốc tế có tác động tích cực nhằm phát triển và hoàn thiện pháp luật quốc gia thông qua thực tiễn thực thi nghĩa vụ thành viên trong các tổ chức quốc tế, Điều ước quốc tế như: quá trình sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật của luật quốc gia sao cho phù hợp với những cam kết quốc tế. Chính vì thế, các quy định có nội dung tiến bộ của khoa học pháp lý quốc tế sẽ dần được chuyển tải vào văn bản quy phạm pháp luật quốc gia. Điều đó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện của hệ thống pháp luật quốc gia. Bên cạnh đó, luật quốc tế còn tác động đến luật quốc gia thông qua vai trò phản ánh tương quan khi điều chỉnh những vấn đề thuộc lợi ích phát triển và hợp tác quốc tế của các quốc gia. Trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay, một mặt chúng ta cần phải thực hiện đầy đủ, tận tâm, thiện chí các cam kết quốc tế. Mặt khác, chúng ta vẫn phải thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đất nước đồng thời thể hiện và nâng cao quan điểm của mình trên trường quốc tế (trong quá trình hợp tác quốc tế). Để phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra và giải quyết có hiệu quả các tranh chấp phát
  • 92.
    85 sinh, vấn đềđầu tiên đặt ra là, chúng ta phải hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng tuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế, tập quán quốc tế, các Điều ước quốc tế mà chúng ta là thành viên nói chung và đối với Hiệp định TRIMs nói riêng. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cần phải bảo đảm thực hiện đồng bộ đối với các Bộ, Ban, Ngành có liên quan. Thứ nhất, phải thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia; thường xuyên rà soát các chính sách thương mại, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; loại bỏ những văn bản, quy định chồng chéo, không còn phù hợp; ban hành các văn bản mới rõ ràng, cụ thể, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, khả thi, phù hợp với các cam kết quốc tế và tình hình thực tế. Thứ hai, tích cực tham gia đàm phán các hiệp định thương mại tự do trong khuôn khổ song phương và khu vực. Tiến hành nghiên cứu, tiến tới đàm phán các hiệp định thương mại mới, phù hợp với lợi ích và nhu cầu phát triển kinh tế theo hướng nâng cao vị thế, tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế. Thứ ba, hoàn thiện quy định cũng như tổ chức, cơ chế hoạt động và nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý cạnh tranh, chống trợ cấp, chống bán phá giá, cơ quan đầu mối về giải quyết tranh chấp quốc tế. Cơ chế phối hợp giữa các doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, trong việc điều tra các vụ tranh chấp quốc tế; làm rõ và gắn trách nhiệm đối với các cơ quan trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế. Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục liên quan đến đầu tư, xuất nhập khẩu, thuế; đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý điều hành, gắn với đó là yêu cầu về đảm bảo an toàn và an ninh mạng, đảm bảo vận hành thông suốt. Thứ năm, nâng cao trình độ và kỹ năng của cơ quan tham mưu các dự án Luật cho Quốc hội, nâng cao trình độ lập pháp của Đại biểu Quốc hội, nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tế của các điều luật khi được ban hành. Thứ sáu, Xây dựng đề án đổi mới và phát huy vai trò của các tổ chức; hiệp hội ngành nghề; tổ chức chính trị, xã hội trong quá trình xây dựng và thực thi các
  • 93.
    86 chính sách vềhội nhập kinh tế quốc tế. Xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển các sản phẩm, ngành hàng cụ thể gắn kết với chiến lược phát triển thương hiệu quốc gia nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu có chiều sâu, hiệu quả và bền vững; thực hiện tốt công tác cảnh báo sớm về các biện pháp phòng vệ thương mại, đồng thời tận dụng tốt các quy định quốc tế về chỉ dẫn địa lý, nguồn gốc xuất xứ, đăng ký bản quyền, thương hiệu để bảo vệ doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam trong thương mại quốc tế. Thứ bẩy, Ban hành và thực hiện chính sách nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt là đội ngũ Luật sư công tham gia vào các vụ tranh chấp quốc tế, cán bộ làm đầu mối giải quyết tranh chấp quốc tế... Xây dựng kế hoạch về việc cử cán bộ vào làm việc tại các tổ chức quốc tế và các thiết chế đa phương. Đi đôi với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế nói chung và yêu cầu về phòng ngừa rủi ro, giải quyết có hiệu quả các tranh chấp quốc tế chúng ta cần phải thực hiện xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp lý liên quan tới lĩnh vực này. 3.2.2. Xây dựng và hoàn thiện thể chế Thể chế có thể được hiểu là cái tạo thành khung khổ trật tự cho các quan hệ của con người, cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia trong xã hội; là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc, những ràng buộc và các chuẩn mực giá trị chung. Hiểu một cách chung nhất thì thể chế là những nguyên tắc xác định mối quan hệ xã hội, định hình cách thức ứng xử của các thành viên trong những phạm vi, quy mô tổ chức xã hội và điều chỉnh sự vận hành của tổ chức xã hội đó. Các chủ thể thực hiện và quản lý sự vận hành xã hội (bao gồm nhà nước, cộng đồng cư dân, các tổ chức xã hội dân sự) trên cơ sở của hệ thống pháp luật, các quy tắc xã hội điều chỉnh các mối quan hệ và các hành vi được thừa nhận của cộng đồng, quốc gia. Cùng với sự thay đổi và phát triển liên tục quan hệ xã hội, vì vậy thể chế có thể thay đổi theo thời gian. Có thể thấy, thể chế và hiệu lực của thể chế có vai trò quan trọng và quyết
  • 94.
    87 định đối vớisự phát triển của quốc gia, dân tộc. Chính vì vậy việc hoàn thiện thể chế pháp lý liên quan tới quá trình hội nhập quốc tế và giải quyết các tranh chấp phát sinh là vấn đề hết sức cần thiết, trong đó chúng ta cần phải xác định rõ vai trò trách nhiệm của doanh nghiệp, của cơ quan nhà nước. Thứ nhất, cộng đồng doanh nghiệp. Cần phải xác định doanh nghiệp là một phần quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển đất nước, doanh nghiệp phát triển thì đất nước đi lên, doanh nghiệp yếu thì đất nước đi xuống. Vì vậy, chính doanh nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp phải ý thức được vai trò của mình trong quá trình phát triển đất nước, phải không ngừng nâng cao năng lực về nguồn vốn, kỹ thuật, nhân lực; tăng cường cơ chế hợp tác, liên kết đối với các doanh nghiệp, hiệp hội, ngành hàng nhằm tạo ra các chuỗi cung ứng, dịch vụ, tiêu thụ; tạo chuỗi giá trị bền vững cho các sản phẩm ưu tiên của quốc gia của vùng, đồng thời giảm thiểu hạn chế ảnh hưởng tác động tiêu cực từ thị trường tới doanh nghiệp. Tăng cường công tác tìm hiểu, phân tích, đánh giá thị trường, thu thập số liệu có liên quan trong cơ chế chính sách thương mại của các nước thành viên. Kịp thời, chủ động cung cấp, đề xuất phương hướng, giải pháp, tài liệu có liên quan khi phát sinh tranh chấp quốc tế hoặc khi lợi ích thương mại của doanh nghiệp bị xâm hại. Chú trọng, phát triển nguồn nhân lực riêng của doanh nghiệp làm nhiệm vụ tham mưu, liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong nước và cơ quan đại diện ngoại giao tại nước ngoài (trong trường hợp cần thiết) và trực tiếp tham gia giải quyết tranh chấp, phải có chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực này. Đồng thời, tham gia hỗ trợ hợp lý kinh phí theo đuổi vụ kiện đối với Chính phủ. Thứ hai, đối với cơ quan nhà nước: - Đối với Quốc hội, cần phải phát huy vai trò giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, nghiên cứu và phê chuẩn các Điều ước quốc tế có lợi cho sự phát triển của đất nước khi chúng ta là thành viên. Kịp thời điều chỉnh các điều luật không phù hợp với quy định của các Điều ước quốc tế. - Đối với Chính phủ, với vai trò tạo ra cơ chế chính sách, chiến lược phát triển đất nước. Vì vậy, Chính phủ cần phải tạo cơ chế chính sách nhằm nâng cao năng lực
  • 95.
    88 cạnh tranh quốcgia, doanh nghiệp và sản phẩm; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài; thực hiện tốt chính sách ưu đãi đầu tư; nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và quản lý nợ công. Thực hiện cơ chế tham vấn đối với các doanh nghiệp và các đối tượng liên quan trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật theo nguyên tắc công khai, minh bạch của WTO, lấy lợi ích của quốc gia, doanh nghiê ̣p làm trung tâm. - Các Bộ ngành có liên quan, tăng cường sự tham gia và phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương, giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp trong việc hoạch định chính sách về kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm được sự nhất quán, cân bằng được lợi ích tổng thể về kinh tế - chính trị, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Tăng cường sự phối hợp liên ngành, liên vùng trong việc xây dựng và triển khai các chiến lược, chương trình hành động, đề án phát triển kinh tế... để phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả nền kinh tế trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Rà soát, khắc phục sự chồng chéo giữa các Bộ, ngành trong việc triển khai các nhiệm vụ liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế; xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các bên trong việc xây dựng và triển khai các chiến lược, đề án, chương trình hành động phát triển kinh tế... có liên quan và tác động đến nhiều Bộ, ngành và địa phương. - Bộ Công thương, với vai trò đại diện lợi ích kinh tế quốc tế của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, đề xuất phương án và tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ liên quan, áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp. Trong đó Cục Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Công thương, đây là cơ quan trực tiếp thực hiện việc điều tra, cảnh báo sớm các vụ kiện thương mại liên quan tới chống bán phá giá, trợ cấp thương mại và các biện pháp phòng vệ của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện việc khởi kiện các vụ việc phát sinh. Cần phải nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ làm công tác điều tra; cải thiện môi trường, cơ chế phối hợp thông thoáng giữa cơ quan nhà nước với doanh nghiệp trong quá trình điều tra, giải quyết tranh chấp; các biện pháp cơ chế phòng và cảnh báo sớm; quy trình phát hiện,
  • 96.
    89 xử lý tranhchấp từ giai đoạn chuẩn bị hồ sơ và theo đuổi thủ tục giải quyết; xác định cơ quan chủ trì, phối hợp và tham gia giải quyết tranh chấp, cho phép sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp khác trong quá trình giải quyết tranh chấp; huy động và sử dụng nguồn kinh phí giải quyết tranh chấp… lấy lợi ích của doanh nghiệp làm trung tâm. Đồng thời xây dựng và đưa vào hoạt động trung tâm đầu mối giải quyết tranh chấp quốc tế nói chung tại Việt Nam. Với nhiệm vụ tiếp nhận thông tin tranh chấp; trực tiếp thực hiện các thủ tục liên quan tới giải quyết tranh chấp đối với các bên và tại các cơ quan tài phán quốc tế; trực tiếp tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp... thường xuyên cập nhật và nghiên cứu kỹ lưỡng các án lệ của cơ quan tài phán quốc tế, các báo cáo của cơ quan giải quyết tranh chấp tại WTO... rút ra được những bài học kinh nghiệm, đề xuất những giải pháp thích hợp trong quá trình giải quyết tranh chấp, trong quá trình thực thi các cam kết quốc tế, trong việc ban hành các chính sách thương mại... nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho quốc gia trong quá trình hội nhập thế giới. - Bộ Ngoại giao, cần phát huy vai trò của cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài trong việc phối hợp với cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan liên quan trong và ngoài nước để mở rộng thị trường xuất khẩu, xúc tiến thương mại, du lịch và thu hút đầu tư; hỗ trợ bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ tranh chấp thương mại. Đặc biệt là Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới – WTO và các Tổ chức quốc tế khác tại Geneva, Thụy Sỹ, đây là đầu mối thực hiện các thủ tục giải quyết tranh chấp tại WTO như, tiếp nhận, xử lý các tài liệu có liên quan. Trước hết cần phải kịp thời tham mưu các vấn đề tố tụng liên quan tới giải quyết tranh chấp tại WTO đặc biệt là bảo đảm thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục, thời gian, thời hạn trong quá trình giải quyết; chủ động, tích cực tham gia với tư cách là bên thứ ba trong các vụ kiện tại WTO; tăng cường giao lưu phối hợp, các đoàn đại diện ngoại giao của các quốc gia thành viên tại WTO, nâng cao hiệu quả hoạt động vận động hành lang nhằm tăng cường sự ủng hộ của các thành viên
  • 97.
    90 trong các vụtranh chấp. Chú trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực, chế độ làm việc của cán bộ làm đầu mối và tham gia trực tiếp vào các tranh chấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác giải quyết tranh chấp quốc tế, bảo đảm có đủ thời gian để tích lũy kinh nghiệm, theo dõi và xử lý các hồ sơ vụ việc về tranh chấp thương mại tại WTO. Tận dụng hiệu quả sự hỗ trợ từ ACWL. - Bộ Tư pháp, tăng cường tư cách là cơ quan phối hợp, tham gia trong quá trình phòng và xử lý các tranh chấp thương mại quốc tế tại WTO. Kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm tính hợp pháp trong nước và phù hợp với quy định của luật quốc tế. Đẩy mạnh đào tạo và duy trì nguồn nhân lực trong hoạt động pháp lý (cho hội nhập kinh tế quốc tế), có trình độ (đặc biệt là ngoại ngữ), có kinh nghiệm và bảo đảm tính kế thừa; xây dựng và triển khai các Chương trình đào tạo riêng cho các cán bộ làm công tác liên quan trực tiếp đến giải quyết tranh chấp; nâng cao chất lượng của đội ngũ luật sư, chuyên gia pháp lý về thương mại quốc tế nói chung và WTO nói riêng; chủ động tham gia các hoạt động từ khâu chuẩn bị hồ sơ, thực hiện các bước tố tụng để giải quyết có hiệu quả các vụ tranh chấp cụ thể. Thứ ba, đối với các tổ chức xã hội đặc biệt là Phòng Thương mại và Công nghiệp phát huy hơn nữa vai trò đại diện, thúc đẩy và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp và người sử dụng lao động ở Việt Nam trong các quan hệ trong nước và quốc tế. Nâng cao vai trò đầu mối liên hệ giữa doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước, đại diện cho lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp; thường xuyên nghiên cứu, trao đổi, điều tra, khảo sát, đưa ra những nhận định, báo cáo về mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với cơ quan nhà nước trong việc thực thực hiện giải quyết tranh chấp quốc tế... Tích cực tham mưu cho Chính phủ các chính sách nhằm nâng cao năng lực, vị thế của Doanh nghiệp trong trong sự phát triển của đất nước. Phát huy vai trò chủ động tham gia giải quyết các tranh chấp quốc tế liên quan tới doanh nghiệp.
  • 98.
    91 KẾT LUẬN Trong quátrình hội nhập kinh tế, bằng việc đàm phán gia nhập các tổ chức quốc tế, các Hiệp định thương mại tự do đã và đang đặt ra cho chúng ta nhiều cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển đất nước, phát triển kinh tế, phát triển con người... nâng cao vị thế và tiếng nói của quốc gia trên trường quốc tế. Bằng việc nghiên cứu hoàn cảnh ra đời, nội dung chủ yếu của Hiệp định TRIMs cùng với thực tiễn quy trình thủ tục giải quyết tranh chấp liên quan tới TRIMs tại WTO, luận văn đã đi vào phân tích, nhận xét và làm rõ được những vấn đề được đặt ra như: quy định liên quan tới Hiệp định TRIMs, đối tượng của các tranh chấp liên quan tới hiệp định, cơ chế và thực tiễn giải quyết tranh chấp đó. Luận văn cũng nêu ra được thực tiễn pháp luật Việt Nam liên quan tới TRIMs, thực tiễn giải quyết tranh chấp của Việt Nam trong khuôn khổ WTO. Cùng với việc mở rộng liên hệ với một số Hiệp đinh thương mại tự do như EVFTA và TPP, luận văn cũng đã đưa ra được một số kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc phòng ngừa rủi ro, giải quyết có hiệu quả tranh chấp quốc tế nói chung và trong WTO nói riêng. Để hội nhập một cách đầy đủ và sâu rộng trong quan hệ quốc tế, chúng ta cần phải có sự chuẩn bị về mọi mặt liên quan tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện thể chế pháp lý liên quan tới hội nhập quốc tế. Ngày càng nâng cao vị thế và tiếng nói của Việt Nam trên các diễn đàn khu vực và quốc tế. Để làm được điều này chúng ta cần phải tích cực, chủ động tham gia một cách đầy đủ hơn vào cơ chế giải quyết tranh chấp. Không chỉ chủ động sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, các biện pháp pháp lý nhằm khởi kiện các thành viên khác ra cơ quan tài phán quốc tế nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của Việt Nam, tham gia một cách hiệu quả vào các vụ tranh chấp với tư cách là bên thứ ba nhằm tăng cường sự hiểu biết trong những vấn đề có liên quan. Ngoài ra, chúng ta cần phải làm chủ và nắm vững được các cơ chế, chính sách có liên quan nhằm tạo ra những thuận lợi cho riêng mình trong quá trình hội nhập, mặt khác chúng ta cũng cần phải chuẩn bị cả về nguồn nhân lực và kinh phí để giải quyết một cách hiệu quả các tranh chấp với tư cách là bên bị đơn, giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảy ra. Để làm được
  • 99.
    92 điều này, ngoàiviệc hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện thể chế pháp lý chúng ta cần phải tạo ra được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức về giải quyết tranh chấp quốc tế, không ngần ngại tham gia vào giải quyết tranh chấp. Chính phủ, các Bộ, Ban, Ngành và cộng đồng doanh nghiệp cần phải có sự liên kết phối hợp chặt chẽ với nhau, lấy lợi ích của doanh nghiệp làm trung tâm. Có như vậy chúng ta mới có thể hội nhập một cách đầy đủ và sâu rộng, từng bước nâng cao vị thế và tiếng nói trên trường quốc tế nhằm phát triển đất nước, từng bước phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện hiện đại./.
  • 100.
    93 DANH MỤC TÀILIỆU THAM KHẢO I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 1. Nguyễn Thị Hồng Anh (2011), Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO, các bài học kinh nghiệm của một số nước và khuyến nghị đối với Việt Nam trong thời gian tới, Luận văn thạc sĩ luật Quốc tế, Khoa Luật – ĐHQGHN, Hà Nội. 2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2016), Báo cáo Chính trị, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Hà Nội. 3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2016), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Hà Nội. 4. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 5. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 6. Nông Quốc Bình (2006), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, NXB Tư pháp, Hà Nội. 7. Bộ trưởng Bộ Công thương (2013), Quyết định số 848/QĐ-BCT ngày 05/02/2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh, Hà Nội. 8. Bộ trưởng Bộ Công thương (2013), Thông tư số 37/2013/TT-BCT ngày 30/12/2013 quy định nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà, Hà Nội. 9. Bộ trưởng Bộ Công thương (2014), Thông tư số 04/2014/TT-BCT ngày 27/01/2014 hướng dẫn Nghị định 187/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, Hà Nội.
  • 101.
    94 10. Bộ trưởngBộ Khoa học và Công nghệ (2015), Quyết định số 14/VBHN- BKHCN ngày 27/02/2015 về phương pháp xác định tỷ lệ nội địa hóa đối với ôtô, Hà Nội. 11. Bộ trưởng Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, Hà Nội. 12. Chính phủ (2003), Quyết định số 123/2003/QĐ-TTg ngày 12/6/2003 về việc phê chuẩn Điều lệ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hà Nội. 13. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 49/NQ-CP ngày 10/7/2014 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, Hà Nội. 14. Chính phủ (2014), Quyết định số 1211/QĐ-TTg ngày 24/7/2014 quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội. 15. Chính phủ (2015), Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, Hà Nội. 16. Chính phủ (2016), Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, Hà Nội. 17. Nguyễn Bá Diến (2005), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, NXB ĐHQGHN, Hà Nội. 18. Nguyễn Bá Diến (2014), Giáo trình Công pháp quốc tế, NXB ĐHQGHN, Hà Nội. 19. Lê Thị Hồng Hải (2009), Giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO, Luận văn thạc sĩ luật Quốc tế, Khoa Luật – ĐHQGHN, Hà Nội. 20. Nguyễn Hữu Huyên (2015), Nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, truy cập ngày 10/3/2015 tại trang http://isl.vass.gov.vn/. 21. MUTRAP (2013), Báo cáo hỗ trợ nghiên cứu: Kiểm soát xuất khẩu của các thành viên WTO và khuyến nghị đối với Việt Nam.
  • 102.
    95 22. MUTRAP II(2007), Vị trí, vai trò và cơ chế hoạt động của Tổ chức Thương mại thế giới trong hệ thống thương mại đa phương, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội. 23. MUTRAP II – Vietnam (2008), Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới: giải thích các điều kiện gia nhập, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội. 24. Quốc hội (2014), Luật số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 ban hành Luật Đầu tư, Hà Nội. 25. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội. 26. Trần Quang Thắng (2007), “Hiệp định TRIMs và sự thích nghi của Việt Nam trong WTO”, Tạp chí kinh tế và phát triển, (119). 27. Thủ tướng Chính phủ (2005), Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 9/6/2005 về việc chủ động phòng chống các vụ kiện thương mại nước ngoài, Hà Nội. 28. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định 174/2007/QĐ-TTg ngày 19/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Hà Nội. 29. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 51/2009/QĐ-TTg ngày 8/4/2009 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Phái đoàn đại diện thường trực của CHXHCN Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Giơ-ne-vơ, Hà Nội. 30. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 1099/QĐ-TTg ngày 23/7/2009 Phê duyệt Nghị định thư về việc CHXHCN Việt Nam gia nhập Hiệp định Trung tâm tư vấn luật WTO, Hà Nội. 31. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 123/QĐ-TTg ngày 18/01/2010 phê duyệt Đề án Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020, Hà Nội. 32. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 06/2012/QĐ-TTg ngày 20/01/2012 về việc tham vấn cộng đồng doanh nghiệp về thỏa thuận thương mại quốc tế, Hà Nội. 33. Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định số 596/QĐ-TTg ngày 23/4/2014 về việc thành lập ban chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế, Hà Nội.
  • 103.
    96 34. Thủ tướngChính phủ (2016), Quyết định số 40/QĐ-TTg ngày 07/01/2016 về việc phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội. 35. Tổ chức Thương mại thế giới WTO (2006), Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO, WT/ACC/VNM/48. 36. Tổng cục Thống kê (2016), Động thái và thực trạng kinh tế xã hội Việt Nam 5 năm 2011-2015, NXB Thống kê, Hà Nội. 37. Tổng cục Thống kê (2016), Hiệu quả của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2005-2014, NXB Thống kê, Hà Nội. 38. Tổng cục Thống kê (2016), Hiệu quả của các doanh nghiệp trong nước giai đoạn 2005-2014, NXB Thống kê, Hà Nội. 39. Tổng cục Thống kê (2016), Xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2005-2015 với các nước thành viên TPP, NXB Thống kê, Hà Nội. 40. Nguyễn Thị Thu Trang (2014), Giải pháp tăng cường sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại nhằm chuẩn bị cho doanh nghiệp trong nước sẵn sàng cho việc mở cửa thị trường thực thi các FTAS và Cộng đồng kinh tế ASEAN, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. 41. Việt Nam (2013), Báo cáo về rà soát chính sách thương mại năm 2013, WT/TPR/G/287. 42. Nguyễn Tiến Vinh (2011), “Một số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu tiên của Việt Nam tại WTO”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 16(201), tr. 19-29. 43. Nguyễn Tiến Vinh (2012), “Kinh nghiê ̣m nước ngoài và viê ̣c tăng cường hiê ̣u quả tham gia của Việt Nam vào c ơ chế giải quyết tranh chấp ta ̣i Tổ ch ức Thương ma ̣i T hế gi ới (WTO)”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - Luật học, (28), tr. 165-181. 44. Nguyễn Tiến Vinh (2013), Vai trò của các thể chế phi nhà nước trong việc bảo đảm Việt Nam – một nước đang phát triển – hội nhập thành công sau khi ra nhập WTO, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội.
  • 104.
    97 II. TÀI LIỆUTIẾNG ANH 45. Rabiu Ado (2013), Local content policy and the WTO Rules of Traderelated Investment Measures (TRIMs): the Pros and Cons, International Journal of Business and Management Studies, UK. 46. Brunei, Chile, New Zealand, Singapore, Australia, Canada, Japan, Malaysia, Mexico, Peru, United States of America, Viet Nam (2016), Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement, Auckland. 47. Dispute settlement system training module, access 15/12/2015, Website: https://www.wto.org/. 48. EU-Vietnam (2016), Free Trade Agreement between the European Union and The Socialist Republic of Viet Nam, Bruxelles. 49. John H. Jackson (2000), The Role and Effectiveness of the WTO Dispute Settlement Mechanism, Brookings Trade Forum, 2000, pp. 179-219. 50. Trade and Investment: Technical information, Agreement on Trade Related Investment Measures, access 15/12/2015 Website: https://www.wto.org/. 51. Craig VanGrasstek (2013), The History and Future of the World Trade Organization, World Trade Organization, Geneva. 52. WTO analytical index: Investment, Agreement on Trade-Related Investment Measures, access 15/12/2015, Website: https://www.wto.org/. 53. World Trade Organization (1994), Agreement Establishing the World Trade Organization, Marrakesh. 54. World Trade Organization (1994), Agreement on Tariffs and Trade, Marrakesh. 55. World Trade Organization (1994), Agreement on Trade-Related Investment Measures, Agreement Establishing the World Trade Organization, Annex 1A, Marrakesh. 56. World Trade Organization (1994), Dispute Settlement Understanding, Agreement Establishing the World Trade Organization, Annex 2, Marrakesh. 57. World Trade Organization (1995), “Working practices concerning dispute settlement procedures as agreed by the Dispute Settlement Body”, Appellate Body, WT/DSB/M/6, Geneva.
  • 105.
    98 58. World TradeOrganization (1997), “European Communities - Regime for the Importation, Sale and Distribution of Bananas”, Reports of the Panel, WT/DS27/R, Geneva. 59. World Trade Organization (1997), “European Communities - Regime for the Importation, Sale and Distribution of Bananas”, Report of the Appellate Body, WT/DS27/AB/R, Geneva. 60. World Trade Organization (1998), “Indonesia - Certain Measures Affecting the Automobile Industry”, Reports of the Panel, WT/DS54/R • WT/DS55/R • WT/DS59/R • WT/DS64/R, Geneva. 61. World Trade Organization (2001), “India - Measures Affecting Trade and Investment in the Motor Vehicle Sector”, Reports of the Panel, WT/DS146/R • WT/DS175/R, Geneva. 62. World Trade Organization (2004), “Canada - Measures Relating to Exports of Wheat and Treatment of Imported Grain”, Reports of the Panel, WT/DS276/R, Geneva. 63. World Trade Organization (2007), “Turkey - Measures Affecting the Importation of Rice”, Reports of the Panel, WT/DS334/R, Geneva. 64. World Trade Organization (2008), “China - Measures Affecting Imports of Automobile Parts”, Reports of the Panel, WT/DS339/R • WT/DS340/R • WT/DS342/R, Geneva. 65. World Trade Organization (2008), “India - Additional and Extra-Additional Duties on Imports from the United States”, Reports of the Panel, WT/DS360/R, Geneva. 66. World Trade Organization (2012), “Canada - Certain Measures Affecting the Renewable Energy Generation Sector, Canada - Measures Relating to the Feed-in Tariff Program”, Reports of the Panel, WT/DS412/R • WT/DS426/R, Geneva. 67. World Trade Organization, Undersantding the WTO - Members and Observers, access 01/8/2016, Website: https://www.wto.org/.