Your SlideShare is downloading. ×
địNh nghĩa vật chất của lê
địNh nghĩa vật chất của lê
địNh nghĩa vật chất của lê
địNh nghĩa vật chất của lê
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×
Saving this for later? Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime – even offline.
Text the download link to your phone
Standard text messaging rates apply

địNh nghĩa vật chất của lê

3,714

Published on

0 Comments
1 Like
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
3,714
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
39
Comments
0
Likes
1
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó. Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2500 năm, ngay từlúc mới ra đời, xung quanh vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữ chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Đồng thời giống như mọi phạm trú khác, phạm trù vậtchất có quá trình phát sinh và phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người với sựhiểu biết của con người về thế giới tự nhiên.Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì thực thể của thế giới là vật chất, cái tồn tại mộtcách vĩnh cữu tạo nên mọi sự vật và hiện tượng cùng với những thuộc tính của chúng. Vàothời cổ đại các Triết học duy vật đã đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể củanó, tức là những vật thể hữu hình, đang tồn tại ở thế giới bên ngoài.Ở Trung Hoa cổ đại, các nhà duy vật coi khí là thực thể của thế giới, ở Ấn độ cổ đại pháiNyaya coi nguyên tử là thực thể của thế giới, ở Hy lạp cổ đại Talet coi thực thể của thế giới lànước, Anaximen coi thực thể ấy là khí còn Hêraclit coi thực thể ấy là lửa. Phủ nhận quanđiểm thực thể thế giới là một chất cụ thể, coi thực thể thế giới là 4 chất Đất, nước, lửa, khôngkhí. Anaximadrơ cho rằng thực thể của thế giới là một bản nguyên không xác định về chất vàvô cùng, vô tận về mặt lượng, đó là aperôn. Đỉnh cao của thuyết duy vật cổ đại về vật chất đólà thuyết nguyên tử của Lơxip và Đêmôcrít. Nguyên tử là các phần cực nhỏ, cứng, không thểxâm nhập, không cảm giác được, nguyên tử có thể nhận biết bằng tư duy. Còn các nhà duytâm thì cho rằng (Platon) Vật chất là cái không tồn tại, tồn tại là cái phi vật chất, bản nguyêncủa tinh thần siêu nhiên.Thời kỳ phục hưng đặc biệt là thời kỳ cận đại thế kỷ thư 17 - 18, vật chất được đồng nhất vớivật thể, với nguyên tử hay ête, sự thống trị của quan điểm máy móc, siêu hình về vận độngcủa vật chất. Thời kỳ này trong chủ nghĩa duy tâm đáng kể nhất là Becơli, Hium.., Becơlituyệt đối hoá vai trò của chủ thể nhận thức tuyên bố "tồn tại nghĩa là được tri giác"Từ nữa thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 trung tâm Triết học chuyển từ Anh và Pháp sang Đức, tại đâychủ nghĩa duy tâm thống trị. Hêghen - nhà duy tâm điển hình xem toàn bộ thế giới tự nhiên,thực tiễn chỉ là sự biểu hiện, sự triển khai ý niệm hay tinh thần tuyệt đối..Sự khủng hoảng của thế giới quan trong vật lý cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sự ra đời của chủnghĩa duy tâm vật lý học, quan niệm duy tâm - bất khả tri về cái gọi là "vật chất biến mất."Định nghĩa vật chất của Lênin trong tác phẩm chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệmphê phán. V.I. Lênin đã định nghĩa "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ một thựctại khách quan được đem lại co con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chéplại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác".Lập luận của Lênin khẳng định vật chất không biến mất, chỉ có quan niệm cũ xưa lỗi thời vềvật chất là không còn phù hợp nữa, cần có một cách hiểu mới về phạm trù vật chất trên cơ sởkhái quát các thành tựu của khoa học và nhận thức.Vật chất là một phạm trù Triết học bởi vì đó là sự xác định "góc độ" của việc xem xét đểtránh nhầm lẫn giữa quan niệm của Triết học về bản chất của vật chất với các quan niệm của
  • 2. khoa học tự nhiên về cấu trúc và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng vật chất khácnhau.Vật chất là một phạm trù rộng lớn nhất nên không thể định nghĩa bằng cách thông thườngtrong logic học, đem quy khái niệm cần định nghĩa về khái niệm rộng hơn. Vật chất chỉ cóthể định nghĩa bằng cách đặt nó trong quan hệ đối lập với ý thức, xem cái nào có trước, cáinào quyết định cái nào.Vật chất là thực tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức con người. Vật chất là vô cùngvô tận, nó có vô vàn các thuộc tính khác nhau rất đa dạng và phong phú mà khoa học ngàycàng phát triển thì càng tìm ra, phát hiện thêm những thuộc tính mới của nó. Trong tất cả cácthuộc tính của vật chất thì thuộc tính thực tại khách quan, tức là sự tồn tại bên ngoài và độclập với ý thức con người là thuộc tính chung, vĩnh hằng với mọi dạng, mọi đối tượng khácnhau của vật chất, chính vì vậy V.I Lênin xem thực tại khách quan là thuộc tính duy nhất củavật chất.Thuộc tính tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức chính là tiêu chuẩn để phân biệtcái gì là vật chất cái gì không phải là vật chất cả trong tự nhiên lẫn trong đời sống xã hội. Tấtcả những cái gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người đều là những dạng khácnhau của vật chất. Ví dụ: những quan hệ kinh tế - xã hội, quan hệ sản xuất của xã hội... tuykhôngtồn tại dưới dạng vật thể, cũng không mang thuộc tính khối lượng, năng lượng, cũngkhông có cấu trúc phân tử, nguyên tử những chúng tồn tại khách quan, có trước ý thức vàquyết định ý thức, bởi vậy chúng chính là vật chất dưới dạng xã hội. Thuộc tính này cũng làtiêu chuẩn để khẳng định thế giới vật chất có tồn tại thật sự, tồn tại do chính nó hay không.Bởi vậy thuộc tính đó là cơ sở khoa học để đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm.Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng ta chép lại chụplại, phản ánh nghĩa là vật chất tồn tại khách quan nhưng không phải tồn tại trừu tượng mà làtồn tại hiện thực, cụ thể, cảm tính. Khi vất chất tác động lên các giác quan của con người thìgây ra cảm giác ở con người, đem lại cho con người sự nhận thức về chính nó, như vậy khảnăng nhận thức của con người đối với vật chất chính là xuất phát từ thuộc tính tồn tại cảmtính tức là sự tồn tại của bản thân vật chất.Bởi vậy về nguyên tắc đối với vật chất, thì chỉ có cái con người chưa nhận thức được chứkhông thể có cái con người không thể nhận thức được. Đó chính là cơ sở để khoa học đấutranh chống lại "thuyết không thể biết"Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác tức lànó là nguồn gốc, nguyên nhân củacảm giác, của ý thức, nó có trước ý thức và tạo nên nội dung của ý thức. Còn cảm giác hay ýthức là sự chép lại chụp lại, phản ánh, nó có sau so với vật chất. Rõ ràng vật chất là tính thứnhất, ý thức là tính thứ hai, vật chất quyết định ý thức.Định nghĩa vật chất của Lênin khắc phục được tính trực quan siêu hình, máy móc trong quanniệm vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ, do đó làm cho chủ nghĩa duy vật phát triển lên mộttrình độ mới, trở thành chủ nghĩa duy vật biện chứng, tạo cơ sở khoa học cho sự thống nhấtgiữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa lịch sử. Định nghĩa này cũng chính cơ sở
  • 3. khoa học và là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, cả duy tâm khách quanlẫn duy tâm chủ quan và thuyết không thể biết một cách có hiệu quả để đảm bảo sự đứngvững cho chủ nghĩa duy vật trước sự phát triển mới của khoa học tự nhiên.Định nghĩa vật chất của Lênin cũng trang bị thế giới quan và phương pháp luận khoa học chocác nhà khoa học nghiên cứu thế giới vật chất, động viên cổ vũ họ tin ở khả năng nhận thứccủa con người, tiếp tục đi sâu, khám phá những thuộc tính mới của vật chất. Do vậy, địnhnghĩa này đã có tác dụng đưa khoa học tự nhiên và nhất là vật lý học thoát khỏi khủng hoảngvào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 để tiếp tục tiến lên. Cho đến nay, mặc dù khoa học đã tiếnlên một bước rất dài so với định nghĩa vật chất của Lênin (được viết trong tác phẩm Chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán được Lênin viết năm 1908 và xuất bảnnăm 1909) nhưng nó vẫn còn nguyên giá trị . Định nghĩa này vẫn là tiêu chuẩn để phân biệtthế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm.CÂU 2: Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thứcTheo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức của con người là sản phẩm của quátrình phát triển tự nhiên và lịch sử - xã hội. Do đó, cần xem xét nguồn gốc của ý thức trêncảhai mặt tự nhiên và xã hội.Nguồn gốc tự nhiên Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duyvật biện chứng khẳng định rằng ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chứccao là bộ óc con người. Bộ óc con người hiện đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật - xã hộivà có cấu tạo rất phức tạp, gồm khoảng 14 - 15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế bào này tạo nênnhiều mối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý, dẫn truyền và điều khiển toàn bộ hoạt động của cơthể trong quan hệ với thế giới bên ngoài thông qua các phản xạ có điều kiện và không điềukiện. Hoạt động ý thức con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ ócngười. Sự phụ thuộc của ý thức vào hoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc bị tổnthương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn. Ý thức là chức năng của bộ óc người, là hình ảnhtinh thần phản ánh thế giới khách quan; nhưng ý thức không diễn ra ở đâu khác ngoài hoạtđộng sinh lý thần kinh của bộ óc người.Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ ócphản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức. Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất. Phản ánh là năng lực giữlại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác.Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của vật chất cũngphát triển từ thấp đến cao với nhiều hình thức khác nhau. - Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thể hiện qua cácquá trình biến đổi cơ, lý, hoá.
  • 4. - Phản ánh sinh học trong giới hữu sinh cũng có nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗitrình độ phát triển của thế giới sinh vật: + Tính kích thích: Thể hiện ở thực vật, động vật bậc thấp, đã có sự chọn lọc trước những tácđộng của môi trường.+ Tính cảm ứng: Thể hiện ở động vật bậc cao có hệ thần kinh, xuất hiện do những tác động từbên ngoài lên cơ thể động vật và cơ thể phản ứng lại. Nó hoàn thiện hơn tính kích thích, đượcthực hiện trên cơ sở các quá trình thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể với môi trườngthông qua cơ chế phản xạ không điều kiện.+ Tâm lý động vật: Là hình thức cao nhất trong giới động vật gắn liền với các quá trình hìnhthành các phản xạ có điều kiện, thông qua các cảm giác, tri giác, biểu tượng ở động vật có hệthần kinh trung ương - Phản ánh ý thức: Gắn liền với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người. Đó là hình thứcphản ánh mới, đặc trưng của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người. Như vậy, sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người là nguồn gốc tự nhiên của ýthứcNguồn gốc xã hộiĐể ý thức có thể ra đời, những nguồn gốc tự nhiên là rất cần thiết nhưng chưa đủ. Điều kiệnquyết định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của lao động, ngônngữ và các quan hệ xã hội.- Lao động đem lại cho con người dáng đi thẳng đứng, giải phóng 2 tay. Điều này cùng vớichế độ ăn có thịt đã thực sự có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển hoá từ vượn thànhngười, từ tâm lý động vật thành ý thức. Việc chế tạo ra công cụ lao động có ý nghĩa to lớn làcon người đã có ý thức về mục đích của hoạt động biến đổi thế giới. - Trong quá trình lao động, con người tác động vào các đối tượng hiện thực, làmchúng bộc lộ những đặc tính và quy luật vận động của mình qua những hiện tượng nhất định.Những hiện tượng đó tác động vào bộ óc con người gây nên những cảm giác, tri giác, biểutượng. Nhưng quá trình hình thành ý thức không phải là do tác động thuần túy tự nhiên củathế giới khách quan vào bộ óc con người, mà chủ yếu là do hoạt động lao động chủ động củacon người cải tạo thế giới khách quan nên ý thức bao giờ cũng là ý thức của con người hoạtđộng xã hội. Quá trình lao động của con người tác động vào thế giới đã làm cho ý thức khôngngừng phát triển, mở rộng hiểu biết của con người về những thuộc tính mới của sự vật. Từđó, năng lực tư duy trừu tượng của con người dần dần hình thành và phát triển. - Lao động ngay từ đầu đã liên kết con người lại với nhau trong mối liên hệ tất yếu, khách quan. Mối liên hệ đó không ngừng được củng cố và phát triển đến mức làm nảy sinh ở họ một nhu cầu "cần thiết phải nói với nhau một cái gì đó", tức là phương tiện vật chất để biểu đạt sự vật và các quan hệ của chúng. Đó là ngôn ngữ. Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Theo Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng; không có ngôn ngữ thì con người không thể có ý thức.

×