TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009   VỀ KHÁI NIỆM MỆNH ĐỀ NGHĨA TRONG NGÔN NGỮ HỌC ANH        ...
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009Roderick A Jacobs (1993) và M.A.K Halliday (1985) cũng là cá...
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009từ “to assassinate” (=ám sát), bên cạnh việc bao hàm trong n...
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009hướng dương)       Trong (5), có 03 danh ngữ, gồm (1) chủ nh...
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009 Trong cấu trúc mệnh đề nghĩa của cú tiếng Anh, khái niệm t...
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009(i) Trao                        Đề nghị                     ...
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009Trao (Hàng hoá & dịch vụ)        Đề nghị          Chấp nhận ...
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009 Theo Halliday, mệnh đề nghĩa là đơn vị nghĩa cơ sở của một...
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009        * Việc nhận diện các mệnh đề nghĩa bắt đầu bằng việc...
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

25.6.nng.thom nguyenxuan.09tr

498
-1

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
498
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
4
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

25.6.nng.thom nguyenxuan.09tr

  1. 1. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009 VỀ KHÁI NIỆM MỆNH ĐỀ NGHĨA TRONG NGÔN NGỮ HỌC ANH ON THE CONCEPT OF PROPOSITION IN ENGLISH LINGUISTICS Nguyễn Xuân Thơm Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội TÓM TẮT Mệnh đề nghĩa là một khái niệm thuộc lôgic học và ngữ nghĩa học. Mệnh đề nghĩa lànghĩa cơ sở được biểu đạt bởi một câu bao gồm (1) một cái gì đó được gọi tên (định danh) vàđang được nói đến (như là một lập luận hay một thực thể) và (2) một khẳng định hay một xácnhận về lập luận đó. Một câu có thể biểu thị hoặc hàm ẩn hơn một (= nhiều) mệnh đề. Bài báotrình bày các suy nghĩ về mệnh đề nghĩa của các tác giả Jacob (lấy động từ làm trung tâm) vàHalliday (lấy cú làm trung tâm), trên cơ sở đó rút ra các nhận định riêng của chúng tôi (tác giảbài báo-NXT) về nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và nghiên cứu ngữ nghĩa nói riêng. ABSTRACT Proposition is a concept in logics and semantics. A proposition is the basic meaningexpressed by a sentence, including (1) something which is named or talked about (known asthe argument or entity), and (2) an assertion or predication which is made about the argument.A sentence may express or imply more than one proposition. This article presents thinkings onproposition as presented by Jacob (a verb-centered viewpoint) and Halliday (a clause-centeredviewpoint), on the basis of which to draw out our own remarks (remarks by the author of thearticle, NXT) on linguistic studies in general and semantic studies in particular.1. Mở đầu Từ điển Longman Dictionary of Applied Linguistics (Richard & Platter:1985)định nghĩa mệnh đề nghĩa (proposition) là một khái niệm thuộc lô-gic học và ngữ nghĩahọc. Mệnh đề nghĩa là nghĩa cơ sở được biểu đạt bởi một câu bao gồm (1) một cái gì đóđược gọi tên (định danh) và đang được nói đến (như là một lập luận hay một thực thể)và (b) một khẳng định hay một xác nhận về lập luận đó. Một câu có thể biểu thị hayhàm chỉ một hoặc nhiều mệnh đề nghĩa, ví dụ như câu: (1) John’s friend, Tony, who is a dentist, likes apples (=Bạn của John, Tony, một anhchàng nha sĩ, thích ăn táo) Câu (1) chứa các mệnh đề nghĩa sau:- John có một người bạn.- Người bạn đó tên là Tony.- Tony là nha sĩ.- Tony thích ăn táo. Như vậy, theo cách diễn giải và ví dụ của các tác giả từ điển “Ngôn ngữ học ứngdụng” thì mệnh đề nghĩa là thuật ngữ chỉ toàn bộ nghĩa tường minh và ngầm ẩn của câu. 1
  2. 2. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009Roderick A Jacobs (1993) và M.A.K Halliday (1985) cũng là các tác giả quan tâm nhiềuđến mệnh đề nghĩa. Dưới đây xin trình bày tóm lược quan niệm của hai ông.2. Roderick A. Jacobs Theo Jacobs, trong cuốn “Ngữ pháp dành cho các giảng viên chuyên ngữ tiếngAnh” (A Grammar for English Language Professionals: 1993) thì người học tiếng Anhcần nắm nghĩa của các phát ngôn tiếng Anh. Mặc dù ngữ cảnh của phát ngôn có ảnhhưởng căn bản đến việc giải nghĩa một câu, câu vẫn có cái nghĩa hay cái nội dung mệnhđề (propositional content) của nó độc lập với ngữ cảnh (Thuật ngữ “câu” (sentence) màJacobs dùng hàm chỉ một phát ngôn đơn). Cho một câu sau:(2) Those plums look good (Những trái mận này trông ngon quá) Theo Jacobs, câu (2) có thể được hiểu nghĩa theo nhiều cách trong các ngữ cảnhkhác nhau; v/d khi nó được một đứa trẻ háu ăn thốt ra (trong khi trông thấy một đĩamận), nó được lý giải một kiểu (=thèm ăn, muốn được ăn mận ngay), nhưng khi câu nàyđược nói ra từ một chủ cửa hiệu đi mua hàng về nhập kho để bán thì nó lại được hiểunghĩa theo cách khác (=khách hàng sẽ thích mua và sẽ dễ bán với giá cao). Mặc dù vậymệnh đề nghĩa của câu (2) luôn là một. Nói cách khác, yếu tố ngữ cảnh không can thiệpvào mệnh đề nghĩa của câu. Nội dung mệnh đề nghĩa của câu chính là nghĩa cơ sở củacâu. Trong phần lớn câu tiếng Anh, bộ phận cốt yếu của nghĩa rơi vào động từ củacâu; cái khái niệm mà động từ biểu đạt chính là trọng tâm của mệnh đề nghĩa của câu.Ngữ nghĩa học, theo Jacobs, là khoa học nghiên cứu về nghĩa, bao gồm nghĩa chứatrong nội bộ một đơn vị từ vựng, gọi là ngữ nghĩa học nội hướng (word-internalsemantics) và các mối quan hệ về nghĩa giữa một đơn vị từ hay một ngữ với các bộphận khác của câu, gọi là ngữ nghĩa học ngoại hướng (external semantics). Trước hếtchúng ta xem xét vấn đề ngữ nghĩa trong nội bộ từ. Các động từ tiếng Anh phần lớn không phải là các động từ chỉ gồm một nghĩa tốđơn giản. Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách so sánh nghĩa của một động từ tương đối đơngiản trong tiếng Anh (trong các thứ tiếng khác, tình hình chưa hẳn đã là như vậy), độngtừ “to die” (=chết), có nghĩa “become no longer alive” (=không còn sống nữa) với mộtvài động từ khác . “To die” (chết) rõ ràng là một động từ đơn nghĩa hơn hẳn nếu đemso với động từ “to kill” (=giết chết) trong tiếng Anh, một động từ vừa bao hàm ý niệm“không còn sống nữa” lại vừa bao hàm việc xảy ra một sự kiện với sự tham gia của mộttham tố gây ra sự chấm dứt sự sống. Nói cách khác, “to kill” có nghĩa “to cause tobecome no longer alive” (=gây ra cái chết). Nhưng “to kill” (=giết chết) không hẳn đãliên quan đến việc phạm pháp. Những người lính dũng cảm giết giặc trên chiến trườngđể bảo vệ tổ quốc họ là những người được coi là có công trạng lớn. Nhưng động từ“murder” (=sát hại), bên cạnh nghĩa của “to kill” (=giết chết) còn có thêm nghĩa tố tộiphạm, Nghĩa của “murder”(=sát hại) trở thành “criminally cause to become no longeralive” (=phạm tội gây ra cái chết). Chúng ta lại tiếp tục so sánh “to murder” (=sát hại)với “to assassinate” (=ám sát), một động từ có cấu trúc ngữ nghĩa phức tạp hơn. Động2
  3. 3. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009từ “to assassinate” (=ám sát), bên cạnh việc bao hàm trong nó nghĩa của động từ “tomurder” đã nói trên, còn bao hàm thêm hai nghĩa tố (mà Jacobs gọi là hai đòi hỏi(requirements) áp đặt lên việc sử dụng động từ này), đó là (1) nạn nhân (bị sát hại) phảilà một chính khách có tên tuổi, và (2) động cơ của kẻ sát nhân là mang tính chính trị.Nghĩa của động từ này trở thành “criminally cause politically prominent individual(s) tobecome no longer alive due to political motive(s)” (=phạm tội gây ra cái chết cho (các)chính khách có tên tuổi vì động cơ chính trị). Cả một lượng lớn nghĩa tố nhưng đượckhuôn trong chỉ một động từ! Điều này giải thích cho sự ngô nghê của một câu đại loạinhư câu (3) dưới đây:(3) The thief assassinated the houseowner’s dog (=Tên trộm ám sát con chó của gia chủ) Việc phân tích ngữ nghĩa trong từ là một bộ phân quan trọng của ngữ nghĩa học,song quan trọng hơn là các quan hệ ngữ nghĩa ngoại hướng của động từ với các thànhphần khác của câu. Nếu động từ được coi là bộ phận cốt lõi ngữ nghĩa (semantic core) hay là hạtnhân ngữ nghĩa (nucleus) của câu, thì các thành phần khác của câu chỉ đóng vai trò cáctham tố (participants) trong tình huống được trình bày. Một số tham tố có mặt vì “bắtbuộc” (required), gọi là các tham tố bắt buộc; số khác không bắt buộc phải có mặt, gọilà các tham tố tuỳ ý (optional). Nếu ta biết nghĩa của một động từ, ta sẽ biết các tham tốbắt buộc của nó. Cho một ví dụ, động từ “to die” (chết). Nếu ta biết nghĩa của động từnày, thì ta biết nó chỉ cần một tham tố bắt buộc, đó là chủ thể của hành động ra đi khỏicuộc sống. Song với động từ “to kill” (giết chết) lại khác vì động từ kill (giết chết) =cause to become no longer alive (gây ra sự chấm dứt cuộc sống), cần tới 02 tham tố,một tham tố là kẻ gây ra sự chấm dứt cuộc sống, kẻ giết (killer) và một tham tố khác lànạn nhân (victim) của hành động đó. Các động từ luôn giữ chức năng biểu đạt các mốiquan hệ giữa các thực thể mà các tham tố bắt buộc đại diện. Trong câu:(4) The Dean of the Reptile Studies Faculty feared snakes.(Chủ nhiệm khoa Nghiên cứu Bò sát sợ rắn)động từ “feared” (sợ) trong câu (4) biểu thị quan hệ giữa chủ nhiệm khoa nghiên cứu bòsát, người phải trải qua cảm giác “sợ” và “snakes” (rắn), loài vật gây ra cảm giác “sợ”cho chủ nhiệm khoa nghiên cứu bò sát. Các loại tham tố phổ biến nhất mà động từ đòi hỏi phải có để biểu đạt nghĩa cuảcâu thường có dạng thức của danh ngữ (the Dean of the Reptile Studies Faculty) hoặcđại từ (he, they...), gọi chung là danh ngữ vì chúng có cùng chức năng. Các động từkhác nhau đòi hỏi số lượng các danh ngữ bắt buộc khác nhau. Như đã nói trên, động từ“to die” chỉ đòi hỏi một danh ngữ; động từ “to kill“ đòi hỏi 02, trong khi đó động từ “togive” (=đưa cho, trao cho) trong tiếng Anh thì đòi hỏi 03, người đưa, người nhận (quà)và bản thân món quà. Ví dụ:(5) The Dean of the Reptile Studies Faculty gave Madame Vice Dean a sunflower.(Chủ nhiệm Khoa Nghiên cứu Bò sát đưa cho bà Phó Chủ nhiệm Khoa một đoá hoa 3
  4. 4. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009hướng dương) Trong (5), có 03 danh ngữ, gồm (1) chủ nhiệm khoa nghiên cứu bò sát, ngườiđưa quà; (2) bà phó chủ nhiệm khoa, người nhận quà và (3) đoá hoa hướng dương, bảnthân món quà. Trong tiếng Anh chưa thấy có động từ nào đòi hỏi sự tham gia của trên03 danh ngữ . Số lượng các danh ngữ mà một động từ đòi hỏi kết hợp với nó được gọi làngữ trị của động từ ấy. Ngữ trị của động từ, cũng giống như hoá trị của các nguyên tốhoá học, cho biết số lượng chính xác các đơn vị danh ngữ mà nó có thể kết hợp. Tấtnhiên có những trường hợp động từ đứng riêng không kèm theo bất cứ danh ngữ nàotrong khi ngữ trị của nó có thể là 01 hoặc 02. Đó là trường hợp các câu mệnh lệnh, kiểunhư:(6) Stop! (=Dừng lại!)(Stop trong tiếng Anh là động từ có ngữ trị 02.) Để cho câu (6) có nghĩa, một tham tố, người nhận lệnh “Dừng lại!” được hiểu làcó tham gia vào hành động được nêu. Và khi thực hiện mệnh lệnh, người nhận lệnh cóthể tiến hành dừng một thực thể nào đó (có thể là người, có thể là vật). Trong tiếng Anh, mối liên hệ giữa ngữ trị của động từ và ý nghĩa (sense) củađộng từ ấy là một quan hệ chặt chẽ. Chúng ta có thể quay lại với các khái niệm đượcbiểu đạt bởi các động từ “die”, “kill” và “give” nói trên (“die” đòi hỏi 01 danh ngữ ;“”kill” đòi hỏi 02 ; “give” đòi hỏi 03). Một phương thức tiếp cận nghĩa như thế trongngữ nghĩa học có vẻ tương đồng với các phương pháp tiếp cận lô-gic. Lý do là động từvà các danh ngữ không chỉ tạo thành một đơn vị cú pháp, mà còn tạo thành một đơn vịngữ nghĩa, một đơn vị được đề cập đến như là mệnh đề nghĩa. Một mệnh đề nghĩakhông nhất thiết tương đương với nghĩa của một câu, bởi vì một câu không nhất thiếtchỉ biểu đạt một mệnh đề nghĩa. Đơn vị ngữ pháp tương đối trùng khớp nhất với mệnhđề nghĩa có lẽ là câu đơn hoặc cú (clause), với cấu trúc gồm một động từ, kết hợp vớicác danh ngữ bắt buộc và các danh ngữ tuỳ ý. Nghĩa cốt lõi của cú xuất phát từ nội dungmệnh đề nghĩa mà cú vị ấy diễn đạt, đó là nội dung nghĩa mệnh đề (propositionalcontent). Từ những trình bày trên chúng ta rút ra: Jacobs xuất phát từ bản chất quan hệ cú pháp giữa các thành phần của câu đơn để xem xét mệnh đề nghĩa như một đơn vị thông tin. Mênh đề nghĩa là đơn vị ngữ nghĩa nằm trong câu đơn. Mệnh đề nghĩa là đơn vị nghĩa do câu đơn chuyên chở. Chỗ này cho thấy sự khác biệt trong quan niệm của Jacobs với quan niệm của các tác giả từ điển ngôn ngữ học ứng dụng, những người coi mệnh đề nghĩa là nghĩa cơ bản của câu nói chung (bao hàm cả câu đơn lẫn câu ghép). Mệnh đề nghĩa là đơn vị ngữ nghĩa cơ sở của câu đơn, độc lập với ngữ cảnh. Mệnh đề nghĩa là đơn vị ngữ nghĩa bao gồm các khái niệm trong đó có một khái niệm trung tâm và các khái niệm khác liên hệ trực tiếp với khái niệm trung tâm theo các quan hệ mang tính bắt buộc hoặc tuỳ ý.4
  5. 5. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009 Trong cấu trúc mệnh đề nghĩa của cú tiếng Anh, khái niệm trung tâm được biểu đạt bởi động từ và các khái niệm liên hệ được biểu đạt bởi các danh ngữ. Số lượng các đơn vị danh ngữ mà một động từ đòi hỏi phải kết hợp với nó được gọi là ngữ trị của động từ. Ngữ trị của động từ có thể thay đổi trên cấu trúc bề mặt do đặc điểm thức ngữ pháp của cú.3. M.A.K Halliday M. A. K. Halliday lấy xuất phát điểm từ bản chất thông tin của Cú (Clause) vàĐối thoại (Dialogue) để xem xét nghĩa mệnh đề.Bản chất của quá trình đối thoại theo quan niệm của Halliday Trong đối thoại, thông điệp được chuyển tải giữa người nói và nguời nghe vìđương nhiên trong đối thoại luôn luôn có người truyền đạt (người nói) và người tiếpnhận (người nghe, cử toạ). Trong hành động nói, người nói tự trao cho mình một vai trònhất định. Trong khi tự trao cho mình một vai trò, người nói cũng tự phân cho ngườinghe một vai trò có tính bổ trợ cho vai trò của mình và mong muốn người nghe chấpnhận. Ví dụ, khi người nói đặt một câu hỏi, anh ta tự đặt cho mình cái vai trò tìm kiếmthông tin từ người nghe và mong muốn người nghe đóng vai trò cung cấp thông tin theonhư yêu cầu. Halliday cho rằng các vai trò nói năng căn bản nhất của con người chỉ bao gồmhai loại: (1) vai trò trao/ cung cấp (giving) và (2) vai trò đòi hỏi/ bày tỏ nhu cầu(demanding). Người nói có thể cung cấp một cái gì đó cho người nghe (ví như một mẩuthông tin) hoặc đòi hỏi từ người nghe một cái gì đó (ví như cung cấp thông tin). Tronghành động nói, người nói luôn luôn bao hàm sự thể hiện một vai trò kép: Khi trao/ cungcấp (thông tin) người nói muốn phía bên kia “hãy nhận” (receive); và khi đòi hỏi (thôngtin) người nói thực hiện hành động đòi hỏi để bộc lộ nhu cầu muốn phía bên kia “hãytrao” (give). Như vậy bản chất của đối thoại là trao đổi. Bản chất của hoạt động thịtrường cũng là trao đổi. Có lẽ sẽ dễ hiểu lập luận của Halliday hơn khi ngầm so sánhtrao đổi (thông tin) trong đối thoại với trao đổi (hàng hoá) trên thị trường. Halliday không nói hẳn ra như vậy nhưng rõ ràng là ông có hàm ý rằng trong đốithoại người nói và đối tác của họ (người nghe) cùng tiến hành một loại hoạt động có bảnchất tương tự như bản chất của hoạt động trao đổi hàng hoá & dịch vụ trên thị trường.Chúng ta hiểu thị trường với nghĩa là giao điểm, là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu mộthàng hoá và dịch vụ nào đó tai một thơì điểm nhất định nào đó. Một thị trường được gọilà thăng bằng khi trên thị trường đó cung = cầu. Trong đối thoại, người nói không chỉtự nguyện tham gia một hành động (trao/ cung ứng hoặc đòi hỏi/ bày tỏ nhu cầu củamình) mà còn mong muốn người nghe hành động theo (tiếp nhận cung ứng hoặc trao/cung ứng thông tin).Sơ đồ chức năng lời nói (Halliday: 1985) Trao đổi hàng hoá (a) Hàng hoá và dịch vụ (b) Thông tin Vai trò trong trao đổi 5
  6. 6. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009(i) Trao Đề nghị Nhận định(=chức năng cung ứng) Would you like some tea? This tea is good (Anh dùng trà chứ?) (Trà này ngon đấy)(ii) Yêu cầu Mệnh lệnh Phát vấn(=chức năng thể hiện sự đòi Make me a cup of tea Is the tea good?hỏi) (Pha cho tôi một chén trà) (Trà này ngon không?) Trong trao đổi hàng hoá dịch vụ trên thị trường, cung và cầu (hàng hoá & dịchvụ) làm thành hai mật của thị trường. Sự luân phiên trong đối thoại là hai mặt của cuộcđối thoại. Quá trình đối thoại trên thực tế chỉ xảy ra khi có vật trao đổi trên thưc tế. Vậttrao đổi thực tế trong thị trường là hàng hoá. Vật trao đổi thực tế trong đối thoại là hànghoá dịch vụ hoặc thông tin. Halliday dẫn giải: nếu bạn nói một điều gì đó với tôi vớimục đích muốn tôi làm một điều gì đó cho bạn, ví dụ “kiss me” (=hôn em đi), hoặcchuyển một vật gì đó cho bạn, ví dụ “pass me the salt” (=chuyển cho em lọ muối), vậtđược trao đổi sẽ là một hành động (hôn), một vật thể (lọ muối), nghĩa là một vật phẩmchứ không phải là một ngôn phẩm, vì cái bạn đòi hỏi không phải là một ngôn phẩm. Cáibạn đòi hỏi là một hành động (hôn), một vật thể (lọ muối) và ngôn ngữ chỉ là cái đượcđưa vào cuộc để bạn hưởng lợi theo “cầu” (demand) của bạn. Halliday gọi đó là cuộctrao đổi hàng hoá dịch vụ (tác giả bài viết nhấn mạnh). Nhưng nếu bạn nói cái gì đóvới tôi với mục đích muốn tôi nói cái gì đó với bạn, ví dụ “is it Tuesday?” (=Thứ ba rồiphải không anh?) hay “When did you last see your father?” (=Anh gặp ba anh lần cuốicùng khi nào?) thì cái được đòi hỏi theo yêu cầu của bạn lại chính là một ngôn phẩm.Ngôn ngữ vì thế vừa là mục đích vừa là phương tiện theo “cầu” (demand) của bạn. Cáimà bạn mong muốn lúc này là một sản phẩm ngôn từ (chứ không phải một hành độnghay một vật thể như trong trường hợp trên). Halliday gọi đây là cuộc trao đổi thông tin.(tác giả bài viết nhấn mạnh). Hai biến thể này của trao đổi, khi gộp lại, cho ta thấy 04vai trò căn bản của lời nói trong đối thoại, đó là, vai trò đề nghị (offer), vai trò mệnhlệnh (command), vai trò nhận định (statement), và vai trò phát vấn (question). Theo ý riêng của chúng tôi, ở đây có một sự tương ứng thú vị giữa đối thoại vớitrao đổi hàng hoá dịch vụ thông thường trên thị trường. Trong trao đổi hàng hoá, các đốitác (người mua và người bán, là hai mặt cung và cầu của thị trường) phải có các hành vichào hàng (offer) và hành vi hỏi hàng (request). Những chức năng này (đề nghị, nhậnđịnh, mệnh lệnh, phát vấn) lại được đi kèm bởi một tập hợp các hồi đáp mong muốn(desired responses) như chấp nhận lời đề nghị, thực hiện mệnh lệnh, thừa nhận mộtnhận định, trả lời câu hỏi được phát vấn.Sơ đồ chức năng lời nói và hồi đáp (Halliday:1985) Đáp ứng theo Hồi đáp tuỳ lựa Khởi xướng mong muốn (cuả chọn (của người người nói trước) trả lời)6
  7. 7. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009Trao (Hàng hoá & dịch vụ) Đề nghị Chấp nhận Bác bỏYêu cầu Mệnh lệnh Thực hiện Từ chốiTrao (Thông tin) Nhận định Xác nhận Đối khángYêu cầu Phát vấn Trả lời Khước từ trả lời Theo Halliday, trong các chức năng của hồi đáp, xét trên lý thuyết, chỉ có cácchức năng hồi đáp hành động phát vấn về căn bản được thực hiện bằng ngôn từ, các hồiđáp khác có thể thực hiện bằng phương thức phi ngôn ngữ. Nhưng ông nói thêm rằngtrong thực tế giao tiếp hàng ngày thì tất cả các hồi đáp đều được thực hiện thông quaphương tiện ngôn từ kèm theo các hành vi cận ngôn ngữ.Mệnh đề nghĩa Căn cứ trên lập luận về bản chất của đối thoại (như chúng tôi tóm tắt trình bàytrên), Halliday lập luận: một khi cái được trao đổi là hàng hoá và dịch vụ, khung giảipháp cho người nghe là một khung hẹp, người nghe có nhiều nhất là 04 giải pháp (bằngphương tiện ngôn ngữ hay hành vi cận ngôn ngữ), đó là,(1) Chấp nhận hoặc (2) Bác bỏ, một đề nghị do người nói khởi xướng; và(3) Thực hiện hoặc (4) Từ chối, một mệnh lệnh do người nói khởi xướng. Nhưng khi ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện để trao đổi thông tin,nghĩa là khi cái được trao đổi không phải là hàng hoá và dịch vụ mà là thông tin, thì tìnhhình khác hẳn. Thông tin, theo Halliday, sẽ không có chỗ để mà tồn tại nếu không đượcchuyên chở bằng phương tiện ngôn ngữ, thông qua hình thức của một cú. Hệ quả là cúmang cấu trúc nội dung nghĩa mệnh đề. Cú trở thành một đơn vị ngôn ngữ có nội dungthông tin, trở thành một đơn vị lập luận, nghĩa là một đơn vị có thể được khẳng địnhhoặc bị nghi ngờ, phủ định, bị đối kháng, bị phê phán, bị bác bỏ từng phần hay toàn bộ,bị cho là đáng tiếc, v.v. Halliday định nghĩa khái niệm mệnh đề nghĩa là “chức năng ngữ nghĩa của cútrong trao đổi thông tin”. Trong định nghĩa của Halliday, cụm từ “trao đổi thông tin” làcụm từ có ý nghĩa quan trọng, trao đổi thông tin, chứ không phải là trao đổi hàng hoá vàdịch vụ. “Chúng ta [...] dùng thuật ngữ proposition (mệnh đề nghĩa) trong nghĩa thôngthường của nó (= bày tỏ ý nguyện) để nói về một hành vi nhận định hay phát vấn.Nhưng sẽ là hữu ích nếu ta có một thuật ngữ tương đương để đề cập đến các hành vi đềnghị và mệnh lệnh. Và tình cờ, chúng ta tìm thấy nghĩa thường nhật của “proposition”trong “I’ve got this proposition to put to you” (=Tôi có ý nguyện này muốn bày tỏ vớianh); chúng ta sẽ đề cập đến chúng [các hành vi đề nghị & mệnh lệnh] qua thuật ngữliên quan đến thuật ngữ “proposition”, đó là thuật ngữ proposal (=đề nghị). Chức năngcủa cú trong trao đổi thông tin là proposition (=bày tỏ ý nguyện). Chức năng của cútrong trao đổi hàng hoá & dịch vụ là proposal (=đưa ra đề nghị).” (Halliday:1985, tr.71). Từ những trình bày trên chúng ta rút ra: 7
  8. 8. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009 Theo Halliday, mệnh đề nghĩa là đơn vị nghĩa cơ sở của một cú (cú = đơn vị cú pháp tương ứng với một câu đơn). Như vậy cũng như Jacobs, Halliday coi đơn vị chuyển tải nghĩa mệnh đề không phải là đơn vị câu nói chung, bao hàm cả câu đơn lẫn câu ghép. Một mệnh đề nghĩa là một đơn vị thông tin được chuyển tải nhờ một đơn vị cú pháp là cú, cú với tư cách một đơn vị trao đổi thông tin. Về cấu trúc, mệnh đề nghĩa là một tập hợp các khái niệm thành một đơn vị thông tin có giá trị thông báo, nhờ đó cú thực hiện được chức năng của nó như một thông điệp (clause as message) và như một đơn vị trao đổi thông tin (clause as exchange) trong giao tiếp. Chức năng ngữ nghĩa của cú được phân biệt trên cơ sở cú như là đơn vị trao đổi thông tin và cú như là kích tố trao đổi hàng hoá dịch vụ. Trong trường hợp cú là đơn vị trao đổi thông tin, nghĩa cơ sở của nó là một mệnh đề nghĩa. Trong trường hợp cú là kích tố trao đổi hàng hoá dịch vụ, nghĩa cơ sở của nó là một đề xuất. (v.d “Kiss me!” (=Hôn em đi!), tương ứng một đề xuất và được đáp ứng lại bằng một “dịch vụ” được cung cấp, một nụ hôn).4. Kết luận Trong bài viết này chúng tôi đã điểm qua các luận giải của hai nhà ngôn ngữhọc, Jacobs và Halliday thuộc trường phái ngôn ngữ học Luân Đôn, về khái niệm mệnhđề ngữ nghĩa. Trên cơ sở ý tưởng của hai ông, chúng tôi thấy: * Đơn vị cơ bản trong phân tích ý nghĩa thông tin của một phát ngôn tiếng Anhlà động ngữ trong đó yêú tố thông tin trung tâm là hành động hoặc trạng thái (ví dụ:trao, sợ) do động từ biểu thị. * Có một mối quan hệ chặt chẽ giữa cú pháp và ngữ nghĩa. Nghiên cứu ngônngữ là một nghiên cứu không chịu tự bó hẹp trong một phạm vi mà người nghiên cứu cốtình khuôn lại theo chủ quan của họ. Nghiên cứu ngôn ngữ là nghiên cứu động, ít mangtính “địa phương, cục bộ”, và không khô cứng kiểu ngữ pháp là ngữ pháp, ngữ nghĩa làngữ nghĩa. Hình như sau một thời gian dài say sưa với cấu trúc Chủ-Vị, người ta lạiquay lại với lô-gíc và ngữ nghĩa nhưng với một phép tiếp cận mới mang tính liên ngành:các vấn đề thuộc cú pháp giúp giải thích các vấn đề thuộc ngữ nghĩa và ngược lại. * Các vấn đề giao tiếp là một vấn đề phức tạp, song chúng không phức tạp đếnmức không thể định hình hoặc hệ thống hoá nổi chúng. Các vai trò của lời nói là cácphương tiện để con người thực hiện trao đổi thông tin. Halliday phân biệt giữa (1) cúnhư là trao đổi thông tin, nghĩa là đưa ra thông tin để đổi lấy thông tin, cái được trao làdưới hình thức ngôn ngữ và cái được nhận cũng là dưới hình thức ngôn ngữ và (2) cúnhư là kích tố trao đổi hàng hoá dịch vụ, nghĩa là đưa ra thông tin để nhận về một thựcthể, một đáp ứng hành động, cái được trao là dưới hình thức ngôn ngữ, cái được nhận làdưới hình thức phi ngôn ngữ. Thông tin chỉ tồn tại dưới hình thức ngôn ngữ. Hàng hoá(=thực thể) & dịch vụ (=đáp ứng hành động) tồn tại dưới hình thức phi ngôn ngữ.Halliday cho ta khái niệm về mệnh đề nghĩa như một đơn vị thông tin được thể hiệndưới hình thức ngôn ngữ trong giao tiếp. Mệnh đề nghĩa là đơn vị trao đổi thông tin.8
  9. 9. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(32).2009 * Việc nhận diện các mệnh đề nghĩa bắt đầu bằng việc phân loại các khái niệmđược trình bày bởi các mệnh đề nghĩa mà các mệnh đề nghĩa này thường có dạng thứccủa một cú hoặc một câu đơn, xét về mặt cấu trúc ngữ pháp. Điều này có ý nghĩa đốivới việc tiếp cận và phân văn bản vì mục đích dich thuật. Chúng tôi không nghĩ dịch làmột ngành văn học, nguyên tác là nguồn cung cấp cảm hứng cho rằng người dịch vàdịch thuật là sáng tác lại. Chúng tôi cho rằng dịch là một ngành ngôn ngữ học có liênquan đến chuyển mã ngôn ngữ giữa hai thứ tiếng. Về căn bản, tư duy con người làgiống nhau, họ chỉ khác nhau ở phương thức biểu đạt tư duy. Mỗi ngôn ngữ có mộtphương thức biểu đạt riêng. Nhiệm vụ của người dịch là làm thế nào để chuyển mã (đổimã) mà vẫn không đổi (giữ nguyên) nội dung. Phân tích mệnh đề nghĩa là một công cụđể tiến đến mục đích đó. TÀI LIỆU THAM KHẢO[1] Geoffrey Leech, Style in fiction: A linguistic introduction to English fictional prose, Longman Group Ltd, 1981.[2] Jens Allwood et al, Logic in Linguistics, CUP, 1987.[3] M.A.K Halliday, An Introduction to Functional Grammar, Edward Arnold, 1985.[4] Roderick A Jacobs, A Grammar for English Language Professionals OUP, 1993. 9

×