Tăng huyết áp ở người đái tháo đường

  • 8,270 views
Uploaded on

 

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
No Downloads

Views

Total Views
8,270
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0

Actions

Shares
Downloads
63
Comments
0
Likes
3

Embeds 0

No embeds

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. Tăng huyết áp ở người đái tháo đường Ths.Bs Phạm Hữu Thái Tăng huyết áp (THA) và đái tháo đường (ĐTĐ) là hai bệnh độc lập, có mối liên quan, ngày càng phổ biến ở những nước phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng hai bệnh này thường kết hợp với nhau , tỷ lệ bệnh luôn tăng theo lứa tuổi, và tỷ lệ người tăng huyết áp ở người đái tháo đường gấp hai lần ở người bình thường. Tăng huyết áp và đái tháo đường đều là yếu tố nguy cơ cho bệnh lý mạch máu. Các yếu tố nguy cơ với bệnh lý mạch máu thường gắn bó với nhau là: Tăng huyết áp, tuổi tác, stress, thừa cân hoặc béo phì, chế độ ăn nhiều chất béo, nhiều muối, đường, lười vận động ,nồng độ cholesterol máu tăng, hút thuốc... Càng nhiều yếu tố , mức độ nguy cơ càng cao. THA là một yếu tố làm tăng mức độ nặng của ĐTĐ, ngược lại ĐTĐ cũng làm cho THA trở nên khó điều trị hơn. THA có thể xuất hiện trước khi bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ hoặc được phát hiện đồng thời với ĐTĐ trong bệnh cảnh của hội chứng chuyển hóa. Dù người bệnh ĐTĐ ở type 1 hay type 2, nhưng khi có THA đều làm cho tiên lượng bệnh xấu đi rõ rệt; làm cho tỷ lệ bệnh lý mạch vành và đột qụy tăng gấp 2- 3 lần so với người không bị ĐTĐ. THA và ĐTĐ làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh mạch máu lớn và nhỏ: bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, tắc mạch chi, bệnh võng mạc mắt, bệnh thận, bệnh lý thần kinh. Việc làm giảm huyết áp sẽ giúp giảm các nguy cơ trên nên được coi là một mục tiêu quan trọng ở bệnh nhân ĐTĐ có THA (song song với điều chỉnh đường huyết tích cực và làm giảm cholesterol máu). Đã có nghiên cưú cho rằng việc kiểm soát tốt huyết áp thậm chí còn quan trọng hơn cả kiểm soát đường máu. Theo quan niệm hiện nay của Tổ chức Y tế Thế giới thì huyết áp thấp hơn 120/80mmHg được xem là huyết áp tối ưu không gây hại cho sức khoẻ. Trong đó 120 gọi là số huyết áp trên (tâm thu); 80 gọi là số huyết áp dưới (tâm trương). Gọi là tăng huyết áp khi số tâm thu cao hơn 140mmHg hoặc số huyết áp tâm trương cao hơn 90mmHg. Gọi là tăng huyết áp độ 1 hay độ nhẹ khi: số huyết áp trên từ 140 đến 159mmHg hoặc số huyết áp dưới từ 90 đến 99mmHg. Gọi là tăng huyết áp độ 2 hay độ trung bình khi: số huyết áp trên từ 160 đến 179mmHg hoặc số huyết áp dưới từ 100 đến 109mmHg.
  • 2. Gọi là tăng huyết áp độ 3 hay độ nặng khi: số huyết áp trên từ 180mmHg trở lên hoặc số huyết áp dưới từ 110mmHg trở lên. Khi số huyết áp trên và dưới thuộc 2 độ khác nhau thì chọn độ theo số huyết áp cao hơn. Bệnh nhân tăng HA có những triệu chứng gì ? * Đa số bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng. * Một số có triệu chứng nhức đầu, nhìn mờ, chóng mặt, buồn nôn, mặt phừng đỏ, mây mù trước mắt, tê tay nhất thời, ruồi bay trước mắt, tiểu đêm, đau bụng hoặc đau ngực, khó thở. * Đôi khi phát hiện tăng HA qua một tai biến nào đó :”Tên giết người thầm lặng”. * Khám: Có thể không có triệu chứng nào cả, đôi khi có âm thổi tâm thu nhẹ ở đáy tim, có T4, có thể thấy triệu chứng của tổn thương cơ quan đích. Chính vì các triệu chứng thường không rõ ràng và không đặc hiệu như vậy nên những bệnh nhân ĐTĐ cần được kiểm tra huyết áp định kỳ mỗi khi thăm khám tại chuyên khoa ĐTĐ để kịp thời phát hiện và điều trị THA. Tiêu chuẩn chẩn đoán THA năm 2013 - Chẩn đoán tăng huyết áp khi: huyết áp trên (tâm thu) ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp dưới (tâm trương) ≥90mmHg. - Bệnh nhân đái tháo đường, chẩn đoán tăng huyết áp khi: huyết áp trên (tâm thu) ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp dưới (tâm trương) ≥80mmHg. Điều trị hợp lý huyết áp là yếu tố quan trọng nhất làm chậm tiến triển của bệnh thần kinh do đái tháo đường ; chiếm khoảng 40% bệnh nhân đái tháo đường. Đa số các bệnh nhân này cần hơn một thuốc chống tăng huyết áp để đạt được mức huyết áp trung bình 140/80. Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị muộn, hệ thống dự phòng, phát hiện bệnh sớm nhưng chưa hoàn thiện. Vì vậy, mỗi năm có trên 70% bệnh nhân không được phát hiện và điều trị.
  • 3. Để hạn chế bệnh THA không được phát hiện và điều trị kịp thơì, gần đây Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến khích việc tự đo huyết áp tại nhà, nhằm giúp bệnh nhân có thông tin về mức huyết áp hàng ngày, sự đáp ứng với thuốc hạ huyết áp và quan tâm hơn đối với vấn đề điều trị. Để khai thác tối ưu các điểm mạnh của phương pháp này, cần tuân thủ một số hướng dẫn : 1. Cần chỉnh đúng huyết áp kế: Đo huyết áp bằng huyết áp kế thủy ngân vẫn được coi là phương pháp tốt nhất để đánh giá số đo của huyết áp. Sau một thời gian sử dụng, đa số huyết áp kế đồng hồ, huyết áp điện tử đều có sai lệch, vì vậy nên được chỉnh lại sau mỗi 3 tháng sử dụng. 2. Trước khi đo huyết áp, người được đo cần ngồi nghỉ hoàn toàn trên ghế ít nhất 5 phút, chân đặt lên sàn nhà, tay đặt trên bàn ngang mức tim. Đây là tư thế của mức huyết áp thường diễn ra hàng ngày. 3. Đo huyết áp tư thế đứng, được đo định kỳ mỗi 3-6 tháng, đặc biệt ở những người có nguy cơ hạ huyết áp tư thế (suy tĩnh mạch, đái tháo đường...). 4. Băng quấn tay phải quấn được 80% cánh tay người được đo. Với người có thể trạng to lớn, người quá béo, nếu băng quấn tay đo huyết áp nhỏ có thể làm tăng số đo, sai tới 10-15mmHg và ngược lại. 5. Đo ít nhất 2 lần và cách nhau ít nhất 2-5 phút cho mỗi lần đo. Nếu 2 lần đo chênh lệch nhau > 5mmHg, cần thực hiện đo lần thứ 3 và lấy trung bình cộng của cả 3 lần đo. 6. Huyết áp tâm thu được tính từ 2 tiếng đập liên tiếp đầu tiên, để tránh nhầm với “lỗ thủng huyết áp” của người có xơ vữa động mạch hay người bị hẹp van động mạch chủ, chỉ có một tiếng đập đầu tiên. 7. Huyết áp tâm trương được tính khi tiếng đập cuối cùng mất đi. 8. Cần đo huyết áp của tay đối bên và đối chiếu mức huyết áp của hai tay. 9. Người đo huyết áp nên nói hoặc ghi lại cho người được đo trị số huyết áp cũng như mức huyết áp mục tiêu của họ. Theo quy định, ở bất cứ lứa tuổi nào, người có mức huyết áp bằng hoặc lớn hơn 140/90 mmHg thì được xem là bị tăng huyết áp. Còn những người
  • 4. tự đo huyết áp tại nhà có mức huyết áp lớn hơn hoặc bằng 135/85 mmHg đã được xem như bị tăng huyết áp. Nguyên nhân nào gây ra THA ? * 90 – 95% là vô căn, còn gọi là tăng HA tiên phát. * Chỉ có 5 – 10% là có nguyên nhân: bệnh thận mạn tính, hẹp eo ĐM chủ, hội chứng Cushing, do thuốc hoặc liên quan đến thuốc, bệnh tắc nghẽn đường niệu, u tủy thượng thận, tăng aldosterone nguyên phát, tăng HA do mạch máu thận, khó thở khi ngủ, bệnh tuyến giáp hay cận giáp. * Giả thuyết về tăng HA vô căn: Ăn nhiều muối, giảm lượng cầu thận, Stress, thay đổi về gene, béo phì, yếu tố nội mạc mạch máu. Đặc điểm Tăng huyết áp ở người đái tháo đường: - Tăng thể tích huyết tương, tăng giữ muối. - Tăng sức cản của mạch ngoại vi, thường là THA tâm thu đơn thuần. - Hoạt tính của Renin trong huyết tương thấp, người ta cũng thấy có nhiều bất thường trong hệ thống Renin-Angiotensin, tăng khả năng bị protein niệu. - Kháng Insulin,tăng insulin máu. - Tăng đông máu, tăng kết tập tiểu cầu. Để kiểm soát được tăng huyết áp, biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay là dùng thuốc, liệu pháp tốt nhất là phối hợp nhiều loại thuốc. Mục đích điều trị tăng huyết áp ở người bệnh đái tháo đường: - Huyết áp ≤ 140/80mmHg (một số đề nghị là 130/80mmHg), đối với suy thận không đái tháo đường, huyết áp ≤140/90 mmHg. - Đề phòng tăng tỷ lệ bệnh và tỷ lệ tử vong. - Giảm yếu tố nguy cơ mạch vành. - Giảm biến chứng vi mạch.
  • 5. - Không gây ảnh hưởng đến việc kiểm soát glucose máu, mỡ máu và các hằng số sinh học khác. - Ổn định lâu dài. 10 yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch: 1. Tăng huyết áp * 2. Hút thuốc lá 3. Béo phì: * (BMI >30 kg/m2 ); Bị béo phì vòng bụng, nam có vòng bụng trên 90cm hay nữ có vòng bụng trên 80cm 4. Lối sống tĩnh tại 5. Rối loạn lipid * 6. Đái tháo đường * 7. Vi đạm niệu or Mức lọc cầu thận (GFR) <60 ml/min 8.Tuổi (nam ≥ 55 , nữ ≥ 65 tuổi) 9. Gia đình có người mắc bệnh tim mạch khi còn trẻ (nam dưới 55 tuổi và nữ dưới 65 tuổi) 10.Các tác động về tâm lý (GS John) Các dạng tổn thương cơ quan nội tạng do tăng huyết áp: -Bệnh lý ở tim Phì đại thất trái : biểu hiện trên điện tâm đồ, siêu âm tim, chụp x quang tim. Đau thắt ngực/tiền sử nhồi máu cơ tim Tiền sử tái thông mạch vành Suy tim
  • 6. - Đột qụy hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua - Bệnh thận mạn tính; tổn thương thận dưới dạng tiểu vi đạm niệu. - Bệnh động mạch ngoại biên - Tổn thương đáy mắt: xuất huyết, xuất tiết võng mạc, phù gai thị Có các bệnh lý khác đi kèm: 1. Đã bị tai biến mạch máu não dù nặng hay nhẹ. 2. Bệnh tim do thiếu máu cơ tim cục bộ dưới các mức độ: cơn đau ngực, nhồi máu cơ tim. 3. Đã bị suy tim, suy thận… 4. Các dạng bệnh lý mạch máu ngoại biên. Khi đã xác định được tất cả các yếu tố tác động xấu thêm bệnh tăng huyết áp. Chúng ta phải có thái độ điều trị tích các yếu tố này. Những việc cần làm để điều trị tốt bệnh tăng huyết áp: Để điều trị tốt bệnh tăng huyết áp bạn cần thực hiện 3 điều sau đây: * Đưa được huyết áp vế thấp hơn 140/90mmHg; Huyết áp ≤ 140/80mmHg ở bệnh nhân đái tháo đường; đối với suy thận không đái tháo đường, huyết áp ≤140/90 mmHg. * Thực hiện tốt các biện pháp điều trị không dùng thuốc và có dùng thuốc * Điều trị các bệnh lý khác đi kèm theo. Điều trị để mức huyết áp thấp hơn 140/90mmHg là bạn đã tự giúp cơ thể mình trách được các biến chứng nguy hiểm của bệnh tăng huyết áp như: giảm 40% khả năng bị đứt mạch máu não, 50% khả năng bị suy tim mãn, giảm 30% khả năng bị tai biến mạch máu não tái phát, và nhiều biến chứng khác… Như vậy để đạt được các lợi ích này bạn cần thực hiện các điều sau Trong điều trị không dùng thuốc bạn cần thực hiện 10 điểm sau
  • 7. 1. Nếu bị béo phì, nên áp dụng chế độ ăn giảm cân: ít đường, ít mỡ, nhiều chất đạm và chất xơ rau quả, trái cây. 2. Nên ăn lạt, không ăn quá 1 muỗng cà- phê muối mỗi ngày. Lượng muối này bao gồm cả lượng muối được nêm trong thức ăn và nước chấm. 3. Nên ăn chất đạm có nguồn gốc từ cá và thực vật hơn là các loại thịt heo, bò, gà… 4. Không nên ăn quá ngọt ngay cả khi không bị tiểu đường… 5. Hạn chế ăn mỡ động vật và dầu dừa. Tốt nhất là dùng dầu ô- liu, dầu hướng dương, dầu mè, dầu đậu nành. 6. Nên ăn nhiều rau cải, trái cây để cung cấp nhiều chất khoáng, vitamin và chất xơ. 7. Ngừng hoặc hạn chế uống nhiều rựơu. 8. Bỏ hẳn hút thuốc lá. 9. Giữ nếp sinh hoạt điều độ, ổn định. Tránh trạng thái căng thẳng, xúc động, lo âu. 10. Rèn luyện thân thể thường xuyên: tập thể dục đều đặn ít nhất 45 phút mỗi ngày, 3 lần trong một tuần nhưng không nên gắng sức. Trong các vấn đề điều trị không dùng thuốc nêu trên thì hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ nếu có thể loại bỏ được, bỏ hút thuốc lá mang lại các lợi ích sau cho sức khỏe: Lợi ích tức thì: • 20 phút sau ngưng hút thuốc lá huyết áp, mạch và nhiệt độ trở về bình thường. • Sau 24 giờ các cơn đau tim bắt đầu giảm. • Sau 48 giờ ăn uống thấy ngon miệng hơn. • Sau 72 giò phế quản dãn ra hơn, hô hấp dễ dàng hơn, lượng không khí hít thở tăng nhiều hơn. • Sau 1-9 tháng giảm được những cơn ho, tình trạng thở ngắn và thiếu hơi thở.
  • 8. Lợi ích lâu dài: • Sau vài tháng ngưng thuốc lá nguy cơ bệnh mạch vành tim bắt đầu giả rõ rệt và sau 3- 5 năm trở về giống như người chưa hút thuốc lá. • Sau 10 năm ngưng hút thuốc lá nguy cơ ung thư phổi giảm 30-50%, sau 15 năm nguy cơ ung thư phổi giống như người chưa hút thuốc lá. • Ngưng hút thuốc lá còn làm giảm nguy cơ ung thư khác như ung thư thanh quản, thực quản, tuỵ tạng, bàng quang. • Ngưng hút thuốc lá còn làm giảm các bệnh lý khác như tai biến mạch máu não, tắc mạch máu ở chân, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, viêm phổi và cải thiện được tình trạng khí phế thủng, viêm phế quản. • Ở bệnh nhân tiểu đường ngưng hút thuốc lá làm giảm biến chứng tim mạch và tai biến mạch máu não. Uống rượu cũng có nhiều vấn đề cần quan tâm 1. Uống rượu quá nhiều, thường xuyên say xỉn rất dễ bị đột quỵ,tai biến mạch máu não. 2. Có sự tỉ lệ thuận giữa bệnh tăng huyết áp và sự uống rượu. 3. Người đang uống nhiều thường xuyên khi ngừng rượu khi ngừng rượu đột ngột huyết áp có thể tăng vọt lên và gây tai biến. Do đó nếu bạn đang nghiện rượu khi bỏ rượu cũng phải giảm từ từ trong 3 tháng đến mức độ có thể chấp nhận được. 4. Lượng rượu bia tối đa mà bạn có thể uống mà không gây ảnh hưởng đến tim mạch là không quá 2 lon bia hay 60ml rượu mạnh hoặc 1/4 xị rượu đế một ngày. Khi chọn lựa thuốc huyết áp cho người bệnh thầy thuốc sẽ căn cứ vào 6 yếu tố sau đây: 1. Loại thuốc bệnh nhân đã dùng trước đó và sự dung nạp hay phản ứng phụ của bệnh nhân với loại thuốc này. 2. Khả năng kinh tế của bệnh nhân đáp ứng cho việc sử dụng lâu dài với các loại thuốc hạ huyết áp và những xét nghiệm theo dõi khác kèm theo.
  • 9. 3. Các nguy cơ tim mạch mà bệnh nhân đang có. 4. Sự hiện diện của tổn thương nội tạng do tăng huyết áp hay bệnh tim mạch, bệnh thận và đái tháo đường. 5. Sự hiện diện của các bệnh lý khác như rối loạn mỡ trong máu, hen suyễn, bệnh lý về khớp, u xơ tiền liệt tuyến…các bệnh này có thể thuận lợi hay gây bất lợi khi sử dụng một loại thuốc hạ huyết áp. 6. Tương tác giữa thuốc điều trị tăng huyết áp và các loại thuốc khác mà bệnh nhân đang dùng. Bạn cần tránh ba sai lầm mà người bệnh tăng huyết áp hay mắc phải khi chữa trị là: 1. Tự mua thuốc hạ huyết áp để uống. Đã có nhiều trường hợp phải đưa đến bệnh viện cấp cứu do tự uống thuốc hạ huyết áp. 2. Chỉ chữa bệnh khi huyết áp tăng cao và ngừng thuốc khi huyết về bình thường. 3. Uống lâu dài với 01 toa thuốc mà không tái khám để đánh giá lại tình trạng bệnh. Điều trị bằng thuốc Có nhiều thuốc trị tăng huyết áp đang được sử dụng ở nước ta, chia thành nhiều nhóm: 1. Nhóm thuốc lợi tiểu: Gồm có Hydroclorothiazid, Indapamid, Furosemid, Spironolacton, Amilorid, Triamteren... Cơ chế của thuốc là làm giảm sự ứ nước trong cơ thể, tức làm giảm sức cản của mạch ngoại vi, dẫn đến làm hạ huyết áp. 2. Nhóm thuốc ức chế giao cảm trung ương: Gồm có Reserpin, Methyldopa, Clonidin... Cơ chế của thuốc là hoạt hóa một số tế bào thần kinh gây hạ huyết áp. Hiện nay ít dùng do tác dụng phụ gây trầm cảm, khi ngừng thuốc đột ngột sẽ làm tăng vọt huyết áp. 3. Nhóm thuốc chẹn alpha: Gồm có Prazosin, Alfuzosin, Terazosin, Phentolamin... Cơ chế của thuốc là ức chế giải phóng noradrenalin tại đầu
  • 10. dây thần kinh (là chất sinh học làm tăng huyết áp), do đó làm hạ huyết áp. Có tác dụng phụ gây hạ huyết áp khi đứng lên (hạ huyết áp tư thế đứng). 4. Nhóm thuốc chẹn beta: Gồm có Propanolol, Pindolol, Nadolol, Timolol, Metoprolol(Betaloc), Atenolol, Labetolol, Acebutolol, Bisoprolol (Concor)... Cơ chế của thuốc là ức chế thụ thể beta - giao cảm ở tim, mạch ngoại vi, do đó làm chậm nhịp tim và hạ huyết áp. Thuốc dùng tốt cho bệnh nhân có kèm đau thắt lưng, ngực hoặc nhức nửa đầu. Chống chỉ định đối với người có kèm hen suyễn, suy tim nặng , nhịp tim chậm. 5. Nhóm thuốc đối kháng calci: Gồm có Nifedipin, Nicardipin, Amlodipin, Felodipin, Isradipin, Diltiazem phóng thích chậm,Verapamil phóng thích trung bình, Verapamil tác dụng dài…Cơ chế của thuốc là chặn dòng ion calci không cho đi vào tế bào cơ trơn của các mạch máu, vì vậy gây dãn mạch và từ đó làm hạ huyết áp. 6. Nhóm thuốc ức chế men chuyển: Gồm có Captopril, Enalapril, Benazepril, Lisinopril, Perindopril (Coversyl), Quinepril… Cơ chế của thuốc là ức chế một enzym có tên là men chuyển angiotensin (viết tắt ACE). Nhờ men chuyển angiotensin xúc tác mà chất sinh học angiotensin I biến thành angiotensin II và chính chất sau này gây co thắt mạch làm tăng huyết áp. Là thuốc được chọn khi bệnh nhân đái tháo đường (kèm lợi tiểu, đối kháng calci ,chẹn beta). Tác dụng phụ: làm tăng kali huyết và gây ho khan. Chống chỉ định của thuốc là không dùng cho phụ nữ có thai hoặc người bị dị ứng với thuốc . 7. Nhóm thuốc mới ức chế thụ thể angiotensin: Thuốc đầu tiên được dùng là Losartan, sau đó là Irbesartan, Candesardan, Valsartan... Nhóm thuốc mới này có tác dụng hạ huyết áp, đưa huyết áp về trị số bình thường, tương đương với các thuốc nhóm đối kháng calci, chẹn beta, ức chế men chuyển. Lợi điểm của nhóm thuốc này là do không trực tiếp ức chế men chuyển nên gần như không gây ho khan như nhóm ức chế men chuyển, hoặc không gây phù như thuốc đối kháng calci. Chống chỉ định giống ức chế men chuyển .