Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn
diện với nền kinh tế thế giới. Việc Việt Nam gia nhập AFTA, WTO giúp các
doanh nghiệp trong nước có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư
nước ngoài, với khoa học kỹ thuật hiện đại, có thị trường các yếu tố đầu vào
và thị trường tiêu thụ rộng mở. Nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít khó khăn,
thách thức luôn ở phía trước. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ làm gì để tồn
tại và phát triển bền vững trước sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt và
quyết liệt?
Để đạt được những mục tiêu của mình, nhất là mục tiêu lợi nhuận và
tăng trưởng bền vững, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tích cực, nhạy bén,
nắm bắt ngay các cơ hội. Nhưng trước hết, vũ khí đắc lực xuất phát từ nội tại
doanh nghiệp đó chính là chất lượng và giá cả, hai nhân tố cơ bản giúp
doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh và uy tín trên thương trường. Một
mặt, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm, cải tiến mẫu mã… nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người
tiêu dùng. Mặt khác, doanh nghiệp còn cần phải tìm mọi biện pháp để hạ giá
thành sản xuất làm cơ sở cho việc định giá bán. Giá thành còn phản ánh kết
quả của việc quản lý vật tư, lao động, tiền vốn tiết kiệm hay lãng phí, từ đó
giúp cho các nhà quản lý đề ra các biện pháp hữu hiệu hạ thấp chi phí sản
xuất, giảm giá thành sản xuất.
Trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung
ương, em đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý chi phí sản
xuất và hạ giá thành sản phẩm đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với
Công ty nói riêng. Vận dụng những kiến thức đã học ở nhà trường, nhờ sự
hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS. Vũ Văn Ninh và các cô chú, các anh chị
Phòng Tài chính – Kế toán Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương, em
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 1 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
đã đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề: “Các giải pháp chủ yếu quản lý chi
phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Bảo
vệ thực vật 1 Trung ương”, làm đề tài luận văn của mình, với hy vọng có thể
đóng góp một số ý kiến cho hoạt động quản lý chi phí, giá thành của Công ty
trong thời gian tới. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày
trong 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành
sản phẩm trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá
thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương
Chương 3: Các giải pháp kinh tế tài chính chủ yếu tăng cường quản
lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm tại Công ty cổ
phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương
Do trình độ lý luận và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên bài viết
của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Em kính mong nhận được sự đóng
góp của các thầy cô giáo, các cô chú và các anh chị Phòng Tài chính – Kế
toán của Công ty để bài viết của em được hoàn chỉnh hơn. Sự giúp đỡ tận
tình chỉ bảo của thầy giáo và các cô chú, anh chị chính là nền tảng cho em
trong công tác nghiên cứu, học tập cũng như làm việc sau này.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo: TS. Vũ Văn Ninh, Ban
lãnh đạo, các cô chú, các anh chị Phòng Tài chính– kế toán của Công ty cổ
phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận
văn cuối khoá này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Hải
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 2 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm của
doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp tiêu
dùng một bộ phận nguồn lực (làm phát sinh chi phí), đồng thời lại tạo ra một
nguồn lực mới dưới dạng các sản phẩm, dịch vụ. Đây thực chất là quá trình
tiêu dùng các yếu tố sản xuất kinh doanh (gồm tư liệu lao động, đối tượng
lao động và sức lao động) để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ nhất định nhằm
đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Lợi nhuận thu được từ
việc bán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ chính là mục tiêu kinh doanh của
doanh nghiệp.
Chi phí kinh doanh là toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến hoạt
động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất
định, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận đó là chi
phí sản xuất kinh doanh và chi phí hoạt động tài chính. Trong đó, chi phí
hoạt động sản xuất kinh doanh là những chi phí thường xuyên phát sinh, gắn
liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí hoạt động
tài chính là những chi phí phát sinh gắn liền với hoạt động tài chính của
doanh nghiệp.
1.1.1. Chi phí sản xuất kinh doanh và phân loại chi phí sản xuất
kinh doanh.
1.1.1.1. Khái niệm, nội dung của chi phí sản xuất kinh doanh.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 3 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của các loại vật tư
đã tiêu hao, chi phí hao mòn máy móc, thiết bị, tiền lương hay tiền công và
các khoản chi phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất, bán hàng của
doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải luôn chú
ý tới việc tăng cường quản lý, kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh phát
sinh trong kỳ, bởi vì nếu doanh nghiệp sử dụng chi phí mất cân đối, để chi
phí không hợp lý phát sinh nhiều sẽ làm giảm lợi nhuận kinh doanh của
doanh nghiệp
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
- Chi phí cho việc sản xuất ra các sản xuất sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ: Là toàn bộ chi phí để doanh nghiệp tiến hành sản xuất sản phẩm, dịch
vụ; bao gồm: chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu sử dụng vào hoạt động
sản xuất kinh doan: tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất
tiền lương (khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ) doanh nghiệp phải trả cho
người lao động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp: số khấu hao TSCĐ trích theo quy định đối với toàn bộ TSCĐ phục
vụ sản xuất kinh doanh; các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho khâu sản
xuất và các chi phí bằng tiền khác.
- Chi phí bán hàng: Là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình
bán sản phẩm hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Chi phí bán hàng bao gồm:
toàn bộ các khoản tiền lương và các khoản trích theo lương phải trả cho
nhân viên phục vụ trong khâu bán hàng; chi phí vật liệu bao bì, chi phí công
cụ dụng cụ ở khâu bán hàng; khấu hao TSCĐ trích theo quy định đối với
toàn bộ TSCĐ phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm; chi phí bảo hành sản
phẩm; chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 4 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là toàn bộ chi phí có liên quan đến
hoạt động quản lý kinh doanh, quản lý tài chính và điều hành chung toàn
doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: tiền lương, phụ cấp
phải trả cho ban giám đốc, nhân viên quản lý; chi phí đồ dùng văn phòng;
chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền
khác.
1.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được phân loại theo
những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho công tác quản lý chi phí, phân
tích hiệu quả sử dụng chi phí, từ đó giúp doanh nghiệp tìm ra các biện pháp
tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
Thông thường chi phí sản cuất kinh doanh thường được phân loại theo
một số tiêu thức sau đây:
a) Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung kinh tế
(theo yếu tố chi phí):
Cách phân loại này căn cứ vào đặc điểm kinh tế giống nhau của chi
phí để xếp chúng vào từng loại, mà không tính đến công dụng, địa điểm phát
sinh của chúng trong quá trình sản xuất. Mối loại là một yếu tố chi phí có
cùng nội dung kinh tế, tính chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong kỳ. Theo
cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được chia thành các yếu tố sau đây:
- Chi phí vật tư: Là toàn bộ giá trị các loại vật tư mà doanh nghiệp
mua từ bên ngoài dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
như cho phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, chi phí phân bổ công cụ dụng cụ,
phụ tùng thay thế, dụng cụ lao động trong kỳ …
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 5 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số tiền khấu hao TSCĐ
mà doanh nghiệp trích trước trong kỳ đối với tất cả TSCĐ sử dụng cho sản
xuất trong kỳ.
- Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương: Là toàn bộ các
khoản tiền lương, tiền công mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động
tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh; các khoản trích nộp theo tiền
lương như chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn mà
doanh nghiệp phải nộp trong kỳ.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải
trả cho các dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
do các đơn vị khác ở bên ngoài cung cấp như: các khoản chi về tiền điện,
nước, điện thoại, văn phòng phẩm, tiền thuê kiểm toán, tiền thuê dịch vụ
pháp lý, tiền mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tai nạn con người, tiền thuê
thiết kế, chi phí thuê sửa chữa tài sản cố định, chi hoa hồng đại lý, môi giới,
chi xúc tiến thương mại…
- Chi phí bằng tiền khác: Là các khoản chi phí ngoài các khoản chi
phí đã nêu trên như các khoản nộp về thuế tài nguyên, thuế đất, thuế môn
bải, tiền thuê đất, trợ cấp thôi việc hoặc mất việc làm cho người lao động,
chi về đào tạo nâng cao trình độ quản lý cho người lao động, chi cho công
tác y tế, nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ, chi thưởng sáng kiến, chi
bảo vệ môi trường, chi phí giao dịch, tiếp thị, khuyến mãi, quảng cáo…
Cách phân loại nảy giúp doanh nghiệp lập được dự toán chi phí sản
xuất theo yếu tố; kiểm tra sự cân đối chi phí phát sinh ở các bộ phận trong
doanh nghiệp.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 6 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
b) Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh
của chi phí (phân loại theo khoản mục):
Những chi phí có cùng công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh được
xếp vào cùng một khoản mục chi phí. Theo cách phân loại này có những
khoản mục chi phí sau đây:
- Chi phí vật tư trực tiếp: Là các chi phí về nguyên, nhiên, vật liệu
tiêu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các khoản mà doanh nghiệp
phải trả cho người lao động trực tiếp sản xuất như tiền lương, tiền công, các
khoản phụ cấp có tính chất lương, chi ăn ca, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế và kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các khoản chi phí phát sinh ở các
phân xưởng, bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp như: tiền lương, phụ cấp
ăn ca cho nhân viên phân xưởng , chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ xuất
dùng cho phân xưởng, khấu hao TSCĐ thuộc phạm vi phân xưởng, chi phí
dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền phát sinh ở phạm vi phân xưởng,
bộ phận sản xuất.
- Chi phí bán hàng: Bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu
thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như chi phí tiền lương, các khoản phụ cấp
trả lương cho nhân viên bán hàng, chi hoa hồng đại lý, hoa hồng môi giới,
tiếp thị, đóng gói, vận chuyển, bảo quản, chi phí khấu hao phương tiện vận
tải, chi phí vật liệu, bao bì, dụng cụ, đồ dùng, các chi phí dịch vụ mua ngoài,
các chi phí bằng tiền khác như chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí quảng
cáo…
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 7 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm các chi phí quản lý kinh doanh,
quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động
của toàn doanh nghiệp như: tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho Hội
đồng quản trị, Ban giám đốc, và các nhân viên quản lý ở các phòng ban, chi
bảo hiểm, kinh phí công đoàn của bộ máy quản lý doanh nghiệp, các khoản
chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, khấu hao tài sản cố định chung cho
doanh nghiệp; các chi phí bằng tiền, dự phòng nợ phải thu khó đòi, phí kiểm
toán, chi phí tiếp đón, khách tiết, công tác phí, các khoản trợ cấp thôi việc
cho người lao động; các khoản chi phí nghiên cứu khoa học, nghiên cứu đổi
mới công nghệ, chi thưởng sáng kiến, chi phí đào tạo nâng cao tay nghề
công nhân, chi bảo vệ môi trường.
Cách phân loại chi phí này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi
phí và tính giá thành cho từng loại sản phẩm; quản lý tốt chi phí tại các địa
điểm phát sinh chi phí, khai thác các khả năng hạ giá thành sản phẩm.
c) Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản
xuất kinh doanh:
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp được chia làm hai loại là chi phí cố định và chi phí biến đổi.
Chi phí cố định là chi phí không thay đổi (hoặc không thay đổi đáng
kể) theo sự thay đổi của sản lượng sản xuất, hay quy mô kinh doanh của
doanh nghiệp. Thuộc về loại chi phí này gồm có: chi phí khấu hao tài sản cố
định, chi phí về tiền lương trả cho cán bộ, nhân viên quản lý, các chi phí về
thuê tài sản, thuê văn phòng làm việc.
Chi phí biến đổi là các chi phí thay đổi theo sự thay đổi của sản lượng
sản xuất hay quy mô sản xuất. Thuộc về loại chi phí này gồm các chi phí về
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 8 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
vật tư, chi phí tiền lương công nhân sản xuất trực tiếp, chi phí dịch vụ như
tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại…
Khi quy mô sản xuất kinh doanh tăng thì chi phí cố định tính cho một
đơn vị sản phẩm, hàng hóa sẽ giảm. Đối với chi phí biến đổi, việc tăng,
giảm, hay không đổi khi chi phí này cho một đơn vị sản phẩm còn phụ thuộc
vào tương quan biến đổi giữa quy mô sản xuất kinh doanh và tổng chi phí
biến đổi doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp thấy được xu hướng biến đổi
của từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thể xác
định được sản lượng hòa vốn cũng như quy mô kinh doanh hợp lý để đạt
được hiệu quả tối ưu.
1.1.2. Giá thành sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm
1.1.2.1. Khái niệm và nội dung của giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí của
doanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị
sản phẩm hay loại sản phẩm nhất định.
Giá thành sản phẩm của một doanh nghiệp biểu hiện chi phí cá biệt
của doanh nghiệp để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Cùng một loại sản phẩm
có thể có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất, nhưng do trình độ quản lý khác
nhau, giá thành sản phẩm đó sẽ khác nhau. Giá thành sản phẩm cũng chịu
ảnh hưởng của sự biến động giá cả các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp.
Trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu giá thành
sản phẩm giữ một vai trò hết sức quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
Giá thành là thước đo mức hao phí về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,
là căn cứ để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh. Khi đưa ra quyết định
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 9 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
lựa chọn sản xuất một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần phải nắm bắt
được nhu cầu thị trường, giá cả thị trường và mức hao phí sản xuất loại sản
phẩm đó. Trên cơ sở như vậy, doanh nghiệp xác định được hiệu quả sản xuất
loại sản phẩm đó để lựa chọn và quyết định khối lượng sản xuất nhằm đạt
lợi nhuận tối đa.
Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát
tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả của các biện pháp
tổ chức, kỹ thuật. Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh
nghiệp có thể xem xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản phẩm, phát
hiện và tìm ra các nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí không hợp lý để có
biện pháp loại trừ.
Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng
chính sách giá cả cạnh tranh đối với từng sản phẩm được đưa ra tiêu thụ trên
thị trường.
1.1.2.1. Phân loại giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm có thể phân loại theo các tiêu thức khác nhau:
- Phân loại giá thành theo phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm:
Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giá
thành sản xuất và giá thành toàn bộ của các sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ.
Giá thành sản xuất bao gồm những khoản chi phí doanh nghiệp phải
bỏ ra để hoàn thiện việc sản xuất sản phẩm. Giá thành sản xuất sản phẩm
được tính trên cơ sở tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
Giá thành tiêu thụ (còn gọi là giá thành toàn bộ của sản phẩm) là toàn
bộ chi phí để hoàn thành việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 10 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
được tính trên cơ sở tổng hợp giá thành sản xuất sản phẩm, chi phí quản lý
doanh nghiệp, và chi phí bán hàng.
- Phân loại giá thành sản phẩm theo thời điểm và cơ sở số liệu để tính
giá thành:
Theo căn cứ này giá thành sản phẩm được chia thành hai loại:
Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản xuất sản phẩm được tính trên
cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch
được tính toán trước khi tiến hành sản xuất sản phẩm. Giá thành kế hoạch là
mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm hợp lý chi phí sản
xuất để hạ giá thành sản phẩm và là căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình
thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các
định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định
mức được tính trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành
định mức là công cụ để quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản
phẩm; là thước đo chính xác để xác định hiệu quả sử dụng tài sản, lao động,
tiền vốn trong sản xuất; là căn cứ để đánh giá đúng đắn kết quả thực hiện các
giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã đề ra trong quá trình sản xuất
kinh doanh.
Giá thành thực tế: Là giá thành sản xuất được tính trên cơ sở số liệu
chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh do kế toán tập hợp và sản lượng sản
phẩm được sản xuất thực tế trong kỳ. Giá thành sản xuất thực tế được tính
sau quá trình sản xuất, có sản phẩm hoàn thành ứng với kỳ tính giá thành mà
doanh nghiệp đã xác định. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả
phấn đấu của doanh nghiệp trong việc sử dụng các giải pháp tổ chức kinh tế,
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 11 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
kỹ thuật trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành sản xuất thực tế là căn
cứ để xác định kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Cách phân loại này có tác dụng đánh giá tình hình thực hiện tiết kiệm
chi phí và tình hình thực hiện giá thành sản phẩm so với giá thành sản phẩm
kế hoạch để quản lý và giám sát chi phí, xác định được các nguyên nhân
vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ kế hoạch. Từ đó doanh nghiệp có biện
pháp điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức cho phù hợp.
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành
sản xuất sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt có
những mặt khác nhau:
Thứ nhất: Chi phí sản xuất luôn gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh
chúng, còn giá thành sản phẩm lại gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh ra
chúng, còn giá thành sản phẩm lại gắn liền với một khối lượng sản phẩm,
dịch vụ đã hoàn thành.
Thứ hai: Chi phí phát sinh trong doanh nghiệp được phân thành các
yếu tố chi phí, có cùng một nội dung kinh tế, chúng không nói rõ địa điểm
và mục đích bỏ ra chi phí. Còn những chi phí nào phát sinh nói rõ địa điểm
và mục đích bỏ ra chi phí đó thì chúng được tập hợp lại thành các khoản
mục để tính toán giá thành sản phẩm, dịch vụ.
Thứ ba: Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí đã trả
trước của kỳ nhưng chưa phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ
trước nhưng kỳ này mới phát sinh, không bao gồm chi phí phải trả kỳ này
nhưng thực tế chưa phát sinh. Ngược lại giá thành sản phẩm lại chỉ liên quan
đến chi phí phải trả trong kỳ và chi phí phải trả trước được phân bổ trong kỳ.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 12 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Thứ tư: Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản
phẩm hoàn thành mà còn liên quan đến sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản
phẩm hỏng. Còn giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất
của sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhưng lại liên quan đến chi
phí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang. Mặt khác, do chi
phí kỳ trước chuyển sang kỳ này và chi phí sản xuất cuối kỳ này chuyển
sang kỳ sau thường không bằng nhau dẫn đến chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm trong kỳ thường không bằng nhau dẫn đến chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm trong kỳ thường không trùng nhau.
Tuy nhiên, hai chỉ tiêu chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản
phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau. Chi phí sản xuất
kinh doanh và giá thành sản phẩm có điểm giống nhau là đều phản ánh lao
động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ sản xuất. Chi
phí sản xuất là cơ sở, là căn cứ để tính giá thành sản phẩm, công việc lao vụ
hoàn thành. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
giống nhau ở bản chất, đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp
chi phí sản xuất theo đó và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích và
kiểm tra chi phí, giá thành sản phẩm. Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản
xuất kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm, dịch vụ. Vì
vậy, quản trị giá thành gắn liền với quản trị chi phí sản xuất kinh doanh.
1.2. Quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp
1.2.1. Yêu cầu quản lý và lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
Yêu cầu quan trọng của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp là
phải quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, thông qua việc lập và thực hiện kế
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 13 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
hoạch chi phí, từ đó có phương án tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, vì
chi phí sản xuất kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với doanh thu và lợi nhuận.
Nếu chi phí giảm sẽ làm lợi nhuận tăng và ngược lại, nếu chi phí tăng không
hợp lý sẽ làm cho lợi nhuận giảm sút. Cụ thể, tài chính doanh nghiệp cần
chú trọng tới một số vấn đề như sau:
- Các doanh nghiệp cần phải lập kế hoạch chi phí hàng năm (lập bảng
dự toán chi phí theo yếu tố) đồng thời theo dõi, kiểm tra việc chấp hành
đúng dự toán chi phí đó.
- Tài chính doanh nghiệp cần quản lý chi phí theo định mức đã xây
dựng. Xây dựng định mức chi phí là việc xác định số tiền tối thiểu để hoàn
thành một đơn vị sản phẩm, dịch vụ hoặc công việc. Khi xây dựng các định
mức chi phí cần phải đảm bảo tôn trọng các yêu cầu cơ bản dưới đây:
+ Dựa vào tài liệu lịch sử, căn cứ vào tính chất của sản phẩm, dịch vụ
để xem xét tình hình chi phí thực tế cả về hiện vật và giá trị liên quan đến
đơn vị sản phẩm, dịch vụ, công việc.
+ Phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý của đơn
vị.
+ Đảm bảo tính khách quan, trung thực
+ Xem xét các yếu tố ảnh hưởng của thị trường và các yếu tố khác tác
động đến việc xây dựng định mức chi phí trong kỳ.
Ngoài ra, hàng năm doanh nghiệp cần rà soát, xây dựng và bổ sung hệ
thống định mức lao động, tiền lương, định mức tiêu hao vật tư và các loại,
định mức chi phí nhân công, chi phí vật tư mua ngoài… làm căn cứ quản lý
và kiểm tra xem xét trong kỳ doanh nghiệp thực hiện quản lý chi phí có chấp
hành tốt các định mức quản lý hay không. Việc xây dựng định mức chi tiêu
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 14 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
trong quản lý doanh nghiệp cần gắn liền với kết quả kinh doanh và có chứng
từ hợp lệ.
Xây dựng các định mức chi phí sản xuất kinh doanh là công việc phức
tạp và khó khăn, đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải chú ý đến đặc
điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý cụ thể, loại sản phẩm,
dịch vụ, loại vật liệu sử dụng cho từng sản phẩm, dịch vụ, địa điểm kinh
doanh, nguồn hàng cung cấp, đơn giá vật tư, đơn giá lao động…
- Phải xác định đúng tính chất các chi phí hoạt động sản xuất kinh
doanh để tính đúng chỉ tiêu chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Điều này
đòi hỏi người làm công tác quản lý tài chính doanh nghiệp phải nắm chắc
chế độ tài chính doanh nghiệp, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm và năng
lực quản lý đối với hoạt động của doanh nghiệp.
1.2.2. Nội dung chủ yếu của kế hoạch hạ giá thành sản phẩm
Sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra bao gồm loại sản phẩm hàng
hóa so sánh được và loại không so sánh được. Sản phẩm hàng hóa so sánh
được là loại sản phẩm doanh nghiệp đã sản xuất, có điều kiện, căn cứ để so
sánh hạ giá thành sản phẩm. Còn sản phẩm hàng hóa không so sánh được
thường là sản phẩm mới sản xuất, sản phẩm sản xuất thử. Việc hạ giá thành
áp dụng cho các loại sản phẩm so sánh được. Tuy vậy đối với các loại sản
phẩm mới sản xuất, sản xuất thử, doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu tiết
kiệm chi phí ở mức cao nhất có thể.
Để quản lý giá thành, mỗi doanh nghiệp đều phải xác định kế hoạch
hạ giá thành. Nhiệm vụ chủ yếu của xác định kế hoạch giá thành là phát hiện
và khai thác mọi khả năng tiềm tàng để giảm bớt chi phí sản xuất và tiêu thụ.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 15 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Mức hạ giá thành của sản phẩm hàng hóa so sánh được của doanh
nghiệp phản ánh số tuyệt đối về chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tiết
kiệm được và được xác định theo công thức sau:
MZ = ∑=
n
i 1
[( Qi1 x Zi1) – ( Qi1 x Zi0)]
Trong đó:
Mz : Mức hạ giá thành sản phẩm hàng hoá so sánh được.
Zi1 : Giá thành đơn vị sản phẩm thứ i năm nay.
Zi0 : Giá thành đơn vị sản phẩm thứ i kỳ báo cáo.
Qi1 : Số lượng sản phẩm thứ i được sản xuất ra năm nay.
i : Sản phẩm so sánh thứ i (i= 1,n).
n : Số loại sản phẩm so sánh được.
Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm hàng hoá so sánh được phản ánh số tương
đối về chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tiết kiệm được và được xác định
được theo công thức sau:
Tz = Mz
X 100
∑=
n
i 1
Qi1 x Zi0
Trong đó:
TZ : tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm so sánh được.
MZ, Qi1, Zi0: như trên.
Hai chỉ tiêu “Mức hạ giá thành sản phẩm” và “Tỷ lệ hạ giá thành sản
phẩm” trình bày trên cần được phối hợp sử dụng khi đánh giá thành tích của
doanh nghiệp trong việc phấn đấu tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 16 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
1.2.3. Ý nghĩa của việc quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp
Một trong những vấn đề mà doanh nghiệp không thể xem nhẹ đó là
phấn đấu giảm chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản
phẩm. Doanh nghiệp nào làm tốt công tác này sẽ đạt được hiệu quả kinh
doanh cao, tạo dựng được uy tín giúp doanh nghiệp đứng vững trên thị
trường. Muốn làm được điều này trước hết doanh nghiệp cần nhận thức
được ý nghĩa của việc hạ giá thành sản phẩm:
- Hạ giá thành sản phẩm là một trong những nhân tố tạo điều kiện cho
doanh nghiệp thực hiện tốt việc tiêu thụ sản phẩm. Khi thị trường có sự cạnh
tranh, hàng hoá đa dạng, phong phú, các doanh nghiệp buộc phải nâng cao
chất lượng sản phẩm, dịch vụ và phải tìm biện pháp giảm chi phí, hạ giá
thành. Việc hạ giá thành sẽ tạo được lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh
tranh, doanh nghiệp có thể giảm bớt giá bán để đẩy nhanh tiêu thụ sản phẩm,
thu hồi vốn nhanh, tăng nhanh vòng quay vốn. Vì vậy, hạ giá thành sản
phẩm là nhân tố quan trọng tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao năng lực
cạnh tranh.
- Hạ giá thành là biện pháp cơ bản, lâu dài và trực tiếp làm tăng lợi
nhuận doanh nghiệp. Do giá cả được hình thành bởi quan hệ cung và cầu
trên thị trường, nếu giá thành hạ so với giá bán trên thị trường, doanh nghiệp
sẽ thu được lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm càng cao. Nếu giá thành
càng thấp, doanh nghiệp sẽ có lợi là có thể hạ được giá bán để có thể tiêu thụ
khối lượng sản phẩm nhiều hơn và sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn.
- Hạ giá thành có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thêm
sản xuất sản phẩm, dịch vụ. Do doanh nghiệp đã tiết kiệm được các chi phí
nguyên nhiên vật liệu và chi phí quản lý nên với khối lượng sản xuất như cũ,
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 17 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
nhu cầu vốn lưu động sẽ được giảm bớt. Trong điều kiện đó, doanh nghiệp
có thể rút bớt lượng vốn lưu động dùng trong sản xuất hoặc có thể mở rộng
sản xuất tăng thêm lượng sản phẩm tiêu thụ.
1.3. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí sản xuất kinh
doanh và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
Chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hay
thấp phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Song có thể chia thành 3 nhóm nhân tố
chủ yếu sau đây:
1.3.1 Nhân tố về mặt kỹ thuật, công nghệ sản xuất
Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học
kỹ thuật và công nghệ sản xuất, các máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại
được sử dụng trong việc sản xuất ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp tiết kiệm hao phí lao động sống và lao động vật hóa trong quá trình
sản xuất, đồng thời tăng năng suất lao động. Vì vậy, doanh nghiệp nào nắm
bắt và áp dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
sẽ có nhiều lợi thế trong cạnh tranh, tiết kiệm được chi phí sản xuất và hạ giá
thành sản phẩm.
1.3.2. Nhân tố về mặt tổ chức quản lý sản xuất, quản lý tài chính
doanh nghiệp
Nếu doanh nghiệp có trang thiết bị kỹ thuật hiện đại mà quản lý lại
không tốt thì chi phí không có xu hướng giảm mà còn có xu hướng tăng lên.
Do vậy, doanh nghiệp cần phải tổ chức quản lý chi phí sản xuất sao cho hợp
lý, bố trí các khâu sản xuất ăn khớp với nhau nhằm hạn chế sự lãng phí
nguyên vật liệu, năng lượng điện lực. Mặt khác, tổ chức nguồn lao động
khoa học sẽ giúp việc kết hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý và loại trừ
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 18 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
được tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy, thúc đẩy việc nâng cao
năng suất lao động dẫn đến giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Đặc biệt,
bộ máy quản lý phải là những người có trình độ chuyên môn, năng lực quản
lý, năng lực sáng tạo để giúp doanh nghiệp xác định được phương án tối ưu
làm cho lượng chi phí bỏ ra hợp lý nhất; việc phân công bố trí lao động đúng
ngành, đúng nghề, đúng năng lực lao động sẽ làm tăng năng suất lao động,
tăng hiệu quả kinh tế góp phần tích cực vào việc hạ giá thành sản phẩm.
Việc phát huy đầy đủ vai trò của quản lý tài chính cũng ảnh hưởng rất
lớn tới khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Việc tổ chức
đầy đủ vốn, đảm bảo kịp thời với chi phí sử dụng vốn thấp nhất sẽ tạo điều
kiện cho doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội kinh doanh có hiệu quả.
Việc phân phối, sử dụng hợp lý, tăng cường kiểm tra giám sát sử dụng vốn
sẽ tạo điều kiện sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả cao, bảo
toàn và mở rộng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp có
điều kiện hơn trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, góp phần tích
cực vào việc hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
1.3.3. Nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh
của doanh nghiệp
Điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh thuận lợi hay khó khăn
cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp.
Chẳng hạn đối với các doanh nghiệp khai thác, nguồn tài nguyên cũng
như điều kiện khai thác có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng tiết kiệm chi
phí và hạ giá thành. Nguồn tài nguyên phong phú, điều kiện khai thác thuận
lợi thì chi phí khai thác sẽ thấp và ngược lại.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 19 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Các doanh nghiệp mới thành lập, chưa có kinh nghiệm kinh doanh,
sản xuất chưa ổn định… sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc hạ giá thành.
Hoặc trong điều kiện sản xuất cạnh tranh, các doanh nghiệp phải chú trọng
đầu tư nhiều hơn cho đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất, đào tạo lao
động, quảng cáo tiếp thị… Vì vậy việc tăng chi phí sản xuất kinh doanh là
hoàn toàn có thể xảy ra.
Tóm lại, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý chi phí sản
xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm. Mỗi nhân tố có phạm vi và mức
độ tác động khác nhau, nên doanh nghiệp cần nghiên cứu làm sao để hạn chế
ảnh hưởng tiêu cực, phát huy các ảnh hưởng tích cực nhằm có biện pháp
tăng cường quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
1.4. Biện pháp quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp
1.4.1. Vai trò của công tác quản trị tài chính doanh nghiệp trong
việc quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra quyết định
tài chính, tổ chức thực hiện những quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu
hoạt động tài chính doanh nghiệp, đó là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng
làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thị trường.
Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì các hoạt động
của doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở của công tác hoạch định mang
tính chiến lược cao. Xét trên góc độ tài chính, việc giám sát thường xuyên đi
sâu vào mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một biện
pháp có hiệu quả để thúc đẩy doanh nghiệp ra sức cải tiến công tác quản lý
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 20 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
chi phí sản xuất, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm tăng khối lượng tiêu thụ.
Thông qua giám đốc tài chính sẽ chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu từ đó khai thác
mọi tiềm năng của doanh nghiệp, đẩy mạnh sản xuất và nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn.
Quản trị tài chính doanh nghiệp đối với quản lý chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm là đảm bảo tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm. Việc quản lý không chỉ ở các yếu tố của quá trình sản xuất mà còn ở
mọi giai đoạn của quá trình sản xuất:
- Khâu huy động vốn, đảm bảo vốn đầy đủ kịp thời cho hoạt động sản
xuất kinh doanh: Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp là xác định
đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp, lựa
chọn phương pháp và hình thức huy động vốn thích hợp góp phần tăng sản
lượng sản xuất, giảm chi phí sử dụng vốn.
- Tổ chức sử dụng vốn hiệu quả: Bằng việc đánh giá và lựa chọn
phương án đầu tư tối ưu, tổ chức sản xuất góp phần tiết kiệm chi phí khấu
hao trên một đơn vị sản phẩm, chi phí nguyên vật tiêu hao và chi phí lao
động sống trên một đơn vị sản phẩm.
- Thông qua giám sát kiểm tra, giám đốc tài chính để tìm ra các giải
pháp nhằm quản lý chặt chẽ chi phí, hạn chế chi phí bất hợp lý, điểu chỉnh
các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh.
Quản trị tài chính doanh nghiệp đối với quản lý chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm ngăn ngừa các chi phí sản xuất vượt định mức, nâng cao
năng suất lao động, sử dụng hiệu quả công suất máy móc thiết bị, tiết kiệm
chi phí sản xuất chung. Bên cạnh đó, làm tốt công tác này còn giúp cho việc
hạch toán phản ánh đúng những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất,
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 21 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
phản ánh đúng giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng. Trái lại nếu
không có sự giám sát tài chính như vậy sẽ dẫn đến tình trạng thất thoát vật
tư, tiền vốn và chi phí vượt dự toán nên doanh nghiệp sẽ dễ lâm vào tình
trạng khó khăn.
Muốn tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm phải tăng
cường công tác quản lý chi phí sản xuất, phải lập được kế hoạch chi phí, kế
hoạch giá thành, dùng hình thức tiền tệ tính toán trước mọi chi phí cho sản
xuất kinh doanh kỳ kế hoạch, phải xây dựng được ý thức thường xuyên tiết
kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm… Để thực sự phát huy tác dụng đòi hỏi
phải thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các phòng ban, giữa các bộ phận để
kiểm soát chặt chẽ chi phí. Điều đó được thực hiện hiệu quả hay không là
phụ thuộc không nhỏ vào sự năng động sáng tạo, khả năng quản lý tài chính
của các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp.
1.4.2. Một số biện pháp chủ yếu để quản lý chi phí sản xuất kinh
doanh và hạ giá thành sản phẩm
1.4.2.1. Lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh là việc xác định toàn bộ mọi
khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để sản xuất và tiêu thụ sản xuất
kỳ kế hoạch. Thông qua việc lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh,
doanh nghiệp có thể kiểm tra tình hình sử dụng chi phí, phát hiện khả năng
tiết kiệm chi phí để thúc đẩy đơn vị cải tiến kinh doanh tăng lợi nhuận, đáp
ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng và cải thiện đời sống công nhân viên đơn
vị. Trong quá trình lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh đòi hỏi người
quản lý phải tính đúng, tính đủ các chi phí sản xuất kinh doanh để xác định
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 22 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
chỉ tiêu kế hoạch, đồng thời theo dõi động viên các bộ phận trong doanh
nghiệp thực hiện.
1.4.2.2. Quản lý và sử dụng lao động có hiệu quả để giảm chi phí
tiền lương, tiền công để hạ giá thành sản phẩm
Muốn giảm chi phí tiền lương và tiền công cần phải tăng nhanh năng
suất lao động. Để làm được như vậy phải tiến hành cải tiến tổ chức sản xuất,
tổ chức lao động đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ thuật và tay nghề;
hoàn thiện định mức lao động, tăng cường kỷ luật lao động, áp dụng hình
thức tiền lương tiền thưởng, trách nhiệm vật chất để người lao động gắn bó
và có trách nhiệm nâng cao năng suất lao động.
Sử dụng yếu tố “con người” là rất quan trọng vì tỷ trọng chi phí tiền
lương chiếm rất lớn trong tổng chi phí của doanh nghiệp. Hàng kỳ doanh
nghiệp nên tổ chức bình chọn những cá nhân, đơn vị hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ để khen thưởng kịp thời; doanh nghiệp đưa ra hệ số thi đua vào
trong tiền lương phải trả cho cán bộ công nhân viên. Mặt khác, doanh nghiệp
cần chú trọng đến công tác đời sống cho cán bộ công nhân viên như: nơi ăn
ở, vui chơi, thể dục thể thao; có các chính sách phù hợp cho người lao động
như: nghỉ phép, nghỉ ốm, sẽ khuyến khích được người lao động nâng cao
năng suất lao động.
1.4.2.3. Tổ chức sản xuất, bố trí các khâu sản xuất hợp lý
Việc tổ chức sản xuất, bố trí các khâu sản xuất hợp lý sẽ tiết kiệm
được chi phí gián tiếp, hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu, giảm thấp khối
lượng phế liệu thu hồi, chi phí ngừng sản xuất.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 23 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Tổ chức quản lý sản xuất phải được chú trọng từ trên xuống dưới, mỗi
đồng chi phí bỏ ra được người quản lý sử dụng một cách tiết kiệm và đạt
hiệu quả cao nhất.
1.4.2.4. Doanh nghiệp phải chú trọng đổi mới, hiện đại hóa trang
thiết bị máy móc, công nghệ
Doanh nghiệp cần luôn phải chú trọng tới việc cải tiến, đổi mới máy
móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ để không bị đẩy lùi tụt hậu so với
tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Việc đổi mới máy móc, thiết bị giúp doanh
nghiệp tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm nhẹ biên chế, nâng cao năng suất lao
động từ đó có thể giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đổi mới máy móc
thiết bị là một vấn đề chiến lược lâu dài của doanh nghiệp, tuy nhiên phải
xem xét hiệu quả đầu tư mang lại, phải nghiên cứu kỹ lưỡng về mặt tiến bộ
khoa học kỹ thuật, lựa chọn đối tác đầu tư trước khi tiếng hành mua.
1.4.2.5. Phát huy vai trò tài chính trong việc quản lý chi phí sản
xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm
Thực hiện biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công
tác kiểm tra tài chính đối với từng khoản chi phí như:
Chi phí nguyên vật liệu: kiểm tra định mức tiêu hao nguyên vật liệu,
giá vật tư, tận dụng phế liệu thu hồi. Thông qua kiểm tra phát hiện sự tăng
giảm chi phí vật tư cho một đơn vị sản phẩm, đề xuất kịp thời biện pháp
thưởng phạt.
Chi phí tiền lương: kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch lao động
tiền lương và tình hình thực hiện quỹ lương bằng việc kiểm tra định mức lao
động, tốc độ tăng tiền lương và tốc độ tăng năng suất lao động, hình thức trả
lương.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 24 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Chi phí quản lý phân xưởng, chi phí quản lý doanh nghiệp: kiểm tra
các khoản chi phí này thực tế phát sinh có phù hợp với dự toán được lập hay
không, cần kết hợp với tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh
chung của doanh nghiệp, qua đó ngăn chặn kịp thời tình trạng chi phí quá
mức cần thiết kém hiệu quả. Mặt khác, tổ chức sử dụng vốn hợp lý, đáp ứng
đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho mua sắm vật tư tránh tổn thất cho sản xuất
như phải ngừng sản xuất vì thiếu vật tư, kiểm tra tình hình dự trữ vật tư, tồn
kho sản phẩm, từ đó đẩy mạnh tốc độ chu chuyển vốn, giảm bớt nhu cầu vay
vốn làm giảm bớt chi phí lãi vay.
Trên đây là một số biện pháp nhằm để quản lý tốt chi phí sản xuất
kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm. Thực tế, do đặc điểm khác nhau giữa các
doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nên mỗi doanh nghiệp cần phải căn
cứ vào những biện pháp chung đó để đưa ra cho doanh nghiệp mình phương
hướng, biện pháp cụ thể có tính chất khả thi nhằm quản lý chi phí sản xuất
kinh doanh hạ giá thành sản phẩm.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 25 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ
HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN BẢO VỆ
THỰC VẬT 1 TRUNG ƯƠNG
2.1. Khái quát về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương
2.1.1. Quá trình hình thành, phát triển và tổ chức hoạt động của
Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương
2.1.1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Công ty
cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương
- Tên công ty: Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương
Tên tiếng Anh: Central Plant Protection Joint-Stock Company No.1
Tên viết tắt : PSC.1
- Trụ sở chính: 145 đường Hồ Đắc Di, Quang Trung, Đống Đa, Hà Nội.
- Khái quát về quá trình hình thành và phát triển.
Công ty vật tư Bảo vệ thực vật 1 (tiền thân của Công ty Cổ phần Bảo
vệ thực vật 1 Trung ương) là đơn vị kinh tế hạch toán độc lập trực thuộc Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được thành lập theo quyết định số
267/NN/QĐ ngày 14/08/1985 của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực
phẩm (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) trên cơ sở là bộ phận
cung ứng vật tư, thuốc bảo vệ thực vật tách ra từ Cục Bảo vệ thực vật. Đến
năm 1993, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số
08/NN/TCCB/QĐ NGÀY 06/01/1993, chuyển Công ty vật tư Bảo vệ thực
vật 1 thành một doanh nghiệp nhà nước với giấy phép kinh doanh số 105835
ngày 06/02/1993 do trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội cấp.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 26 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Sau hơn 10 năm hoạt động dưới loại hình doanh nghiệp nhà nước,
ngày 10/11/2005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có quyết định
số 3112/QĐ/BNN/ĐMDN về việc chuyển Công ty Bảo vệ thực vật 1 thành
Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương và chính thức đi vào hoạt
động theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 0103012757 ngày 05/06/2006
do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp.
Qua nhiều năm hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, quy mô
hoạt động của công ty ngày càng được mở rộng. Đến nay, công ty đã có số
vốn điều lệ lên tới 50.000.000.000 đồng ( Năm mươi tỷ Việt Nam đồng), và
thiết lập mạng lưới chi nhánh rộng khắp các tỉnh thành trên cả nước.
2.1.1.2. Ngành nghề kinh doanh và sản phẩm chủ yếu:
a) Ngành nghề kinh doanh:
- Kinh doanh hàng tư liệu sản xuất bao gồm: Dụng cụ phun, rải thuốc
bảo vệ thực vật, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp, trang
thiết vị phục vụ cho nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản.
- Kinh doanh hàng tư liệu tiêu dùng, sinh hoạt bao gồm: Hàng may
mặc, máy móc, thiết bị dùng trong công xưởng hoặc phòng thí nghiệm, máy
móc thiết bị đun nóng, làm lạnh, đồ nội thất dùng trong gia đình (bàn, ghế,
giường, tủ).
- Sản xuất và mua bán hóa chất, phân bón hóa học, phân bón lá, phân
bón hữu cơ sinh học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt chuộtm ruồi, muỗi,
kiến, gián, thuốc kích thích sinh trưởng cây trồng.
- Sản xuất và mua bán giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn cho gia súc,
thức ăn cho tôm cá.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 27 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
- Sản xuất và mua bán thuốc khử trùng cho nuôi trồng thủy sản, thuốc
khử trùng và làm dịch vụ khử trùng cho hàng hóa xuất nhập khẩu và kho
tàng.
- Lữ hành nội địa, quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch
(không bao gồm kinh doanh phòng hát karaoke, vũ trường, quán bar).
- Kinh doanh bất động sản.
- Cho thuê kho tàng bến bãi.
- Kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải khát (không bao gồm kinh doanh
quán bar).
b) Sản phẩm chủ yếu:
Các sản phẩm chính của công ty được cung ứng ra thị trường là vật tư
bảo vệ thực vật phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp, được chia ra làm các
nhóm sau đây:
- Nhóm thuốc trừ sâu: Bassa 50EC, Neretox 95WP, Ofatox 400EC,
Patox 95SP, Trebon 10EC, Tango 800WP…
- Nhóm thuốc trừ bệnh: Cavil 50WP, Fujione 40EC, Kabim 30WP,
New Hinosan 30EC, Ricide 72WP…
- Nhóm thuốc trừ cỏ: Heco 600EC, Fenrim 18,5WP, Bravo 480SL…
- Nhóm phân bón lá.
2.1.2. Tổ chức kinh doanh của công ty
2.1.2.1. Tổ chức nhân sự và tổ chức bộ máy quản lý
a) Tổ chức nhân sự
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 28 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Hiện nay toàn công ty gồm có 1 Văn phòng công ty, 11 chi nhánh và
6 tổ bán hàng khu vực, với số lượng nhân viên là 155 lao động. Cơ cấu nhân
sự của công ty được phân chia như sau:
STT Văn phòng, chi nhánh Số lượng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Văn phòng công ty
- Ban giám đốc
- Phòng Công nghệ và sản xuất
- Phòng Tài chính-Kế toán
- Phòng kinh doanh
- Phòng Tổ chức-Hành chính
- Phòng Phát triển sản phẩm
- Ban dự án chiến lược
Chi nhánh phía Bắc
Chi nhánh Hải Phòng
Chi nhánh Thanh Hóa
Chi nhánh Nam khu IV
Chi nhánh Đà Nẵng
Chi nhánh phía Nam
Chi nhánh Nam Trung Bộ
Chi nhánh Thừa Thiên Huế
Chi nhánh Tây Nguyên
Chi nhánh Quảng Ngãi
Chi nhánh Phú Yên
Tổ bán hàng Khu vực I
Tổ bán hàng Khu vực II
35
2
5
5
5
10
7
1
20
12
6
6
13
15
6
5
3
8
8
3
1
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 29 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
15
16
17
18
Tổ bán hàng Khu vực III
Tổ bán hàng Khu vực IV
Tổ bán hàng Khu vực V
Tổ bán hàng Khu vực VI
3
2
7
2
Tổng cộng 155
b) Tổ chức bộ máy quản lý
Tổ chức bộ máy của Công ty bao gồm: Đại hội cổ đồng cổ đông, Hội
đồng quản trị, Ban giám đốc, và Ban kiểm soát. Ngoài ra còn có các phòng
chức năng và các đơn vị trực thuộc.
Sơ đồ 01: TỔ CHỨC CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO VỆ THỰC
VẬT I TRUNG ƯƠNG.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 30 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
2.
1.2.2. Nhiệm vụ chức năng của các phòng, ban chức năng
- Đại hội đồng cổ đông: Gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết
và là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty.
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý của Công ty, có toàn quyền
nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền
lợi của Công ty trừ nhưng vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ
đông.
- Tổng giám đốc: Là người điều hành hoạt động hàng ngày của Công
ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về thực
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 31 Lớp: CQ45/11.03
Xưở
ng
Tp.H
ồ Chí
Minh
C
hi
nh
án
h
Q
uả
ng
N
gã
i
Xưở
ng
Đà
Nẵng
T
ổ
B
án
hà
ng
kh
u
v
ự
c
III,
IV
T
ổ
bá
n
hà
ng
K
hu
v
ự
c
I,
II
C
hi
nh
án
h
P
hú
Y
ên
C
hi
nh
án
h
T
h
ừ
a
T
hi
ên
H
uế
Xưở
ng
Hải
Phòng
T
ổ
B
án
hà
ng
kh
u
v
ự
c
V,
VI
Chi
nh
án
h
Phí
a
Na
m
Chi
nh
án
h
Na
m
Tru
ng
Bộ
ắC
hi
nh
án
h
Na
m
Kh
u
IV
Chi
nh
án
h
Th
an
h
Hó
a
Chi
nh
án
h
Phí
a
Bc
Chi
nh
án
h
Tâ
y
Ng
uy
ên
Chi
nh
án
h
Đà
Nẵ
ng
C
hi
nh
án
h
H
ải
P
hò
ng
Ba
n
Dự
án
chi
ến
lượ
c
Ph
òn
g
Tổ
ch
ức
Hà
nh
chí
nh
Ph
òn
g
Tài
chí
nh
Kế
toá
n
Ph
òn
g
Ph
át
triể
n
sả
n
ph
ẩm
Ph
òn
g
Kin
h
do
an
h
Ph
òn
g
Cô
ng
ng
hệ
&
Sả
n
xu
ất
Đại hội đồng
cổ đông
Hội đồng
quản trị
Giám đốc
Công ty
Ban kiểm
soát
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
hiện các quyền và nghĩa vụ được giao, do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn
nhiệm và bãi nhiệm.
- Các phòng chức năng:
+ Phòng Tổ chức hành chính: có nhiệm vụ và chức năng tổ chức lao
động, quản lý nhân sự và bảo vệ tài sản của Công ty.
+ Phòng Tài chính – Kế toán: lập kế hoạch về tình hình tài chính của
Công ty, có nhiệm vụ hạch toán kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh bằng
tiền, thu chi tiền mặt một cách hợp lý; thanh toán tiền lương cho cán bộ công
nhân viên; quyết toán từng tháng, quý, năm; theo dõi mọi hoạt động liên
quan đến tài chính đơn vị.
+ Phòng Phát triển sản phẩm: có nhiệm vụ lập kế hoạch phát triển sản
phẩm, tiến hành công tác tìm kiếm, đăng ký sản phẩm mới…
+ Phòng Kinh doanh: lập kế hoạch tiêu thụ, xây dựng giá thành, biện
pháo thực hiện kế hoạch, cân đối hàng hóa, tìm hiểu thị trường và nghiên
cứu thị trường.
+ Phòng Công nghệ và Sản xuất: lập kế hoạch sản xuất, tính toán định
mức sản xuất của các mặt hàng, nghiên cứu sản phẩm mới…, ứng dụng công
nghệ sản xuất, sang chai, đóng gói nhỏ thuốc BVTV, quản lý in mẫu các loại
vật tư bao bì nhãn mác, quảng cáo tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm.
+ Các Chi nhánh trực thuộc Công ty:
Bao gồm các Chi nhánh hạch toán độc lập và Chi nhánh hạch toán
phụ thuộc, phân xưởng, cửa hàng trực thuộc Chi nhánh, phân bổ tại các địa
bàn trọng điểm trên khắp cả nước:
1. Chi nhánh Phía Bắc
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 32 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
2. Chi nhánh Hải Phòng – Xưởng Hải Phòng
3. Chi nhánh Thanh Hóa
4. Chi nhánh Nam khu 4
5. Chi nhánh Đà Nẵng – Xưởng Đà Nẵng
6. Chi nhánh Quảng Ngãi
7. Chi nhánh Thừa Thiên Huế
8. Chi nhánh Nam Trung Bộ
9. Chi nhánh Tây Nguyên
10. Chi nhánh Phía Nam – Xưởng Lê Minh Xuân
11. Chi nhánh Phú Yên.
Mỗi chi nhánh là một cơ sở sản xuất thu nhỏ, bộ máy quản lý chi
nhánh gồm:
+ Giám đốc chi nhánh: chịu trách nhiệm chỉ đạo chung hoạt động của
chi nhánh và chịu sự lãnh đạo của công ty.
+ Phó giám đốc: giúp giám đốc quản lý hoạt động của chi nhánh.
+ Phòng kế hoạch: nhập xuất thuốc Bảo vệ thực vật các loại tại kho,
cảng.
+ Phòng thị trường: thống kê sản phẩm, tổ chức tiêu thụ sản phẩm với
các hình thức bán buôn, bán lẻ sản phẩm.
+ Phòng kế toán: gồm một kế toán trưởng, theo dõi thu chi tài chính,
vật tư tài sản của chi nhánh, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
về văn phòng cuối kỳ sau khi lập báo cáo tài chính.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 33 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Chỉ có chi nhánh Hải Phòng hoạt động theo phương thức hạch toán
phụ thuộc và báo sổ, còn các chi nhánh khác đều hạch toán độc lập, cuối kỳ
kế toán giữa niên độ, sau khi lập báo cáo tài chính, các chi nhánh này sẽ gửi
lên văn phòng công ty để lập báo cáo hợp nhất.
2.1.2.3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ
phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương
2.1.2.3.1. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh
Đặc điểm của quá trình sản xuất nông nghiệp là chịu nhiều ảnh hưởng
của điều kiện tự nhiên, và đối tượng sản xuất nông nghiệp trùng với chu kỳ
phát triển sinh học của cây trồng, nên nó có tính thời vụ sâu sắc. Do đó việc
sản xuất và tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật cũng mang tính thời vụ. Nhu cầu
thuốc bảo vệ thực vật, vật tư nông nghiệp hàng năm chịu ảnh hưởng lớn của
thời tiết khí hậu và điều kiện canh tác. Vào các thời vụ thời tiết không thuận
lợi sẽ tạo môi trường cho sâu bệnh phát triển phá hoại mùa màng, nhu cầu
tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật sẽ tăng cao, và ngược lại. Hơn nữa, các sản
phẩm thuốc bảo vệ thực vật là rất phong phú, và thường xuyên thay đổi
nhằm giảm nồng độ độc hại trong thuốc mà vẫn khống chế được tính kháng
thuốc của sâu bệnh.
Với trình độ canh tác ngày càng nâng cao như hiện nay, việc sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật trong ngành trồng trọt ở nước ta có vị trí rất quan
trọng, nhằm góp phần đẩy lùi dịch bệnh, giúp cây trồng sinh trưởng và phát
triển tốt, và giúp ngươi nông dân có vụ mùa bội thu. Tuy nhiên, đa phần các
sản phẩm này là các hợp chất độc hại, có nguồn gốc tự nhiên, có nhiều dạng
khác nhau như thuốc sữa, thuốc bột thấm nước, thuốc nước phun, thuốc
dạng hạt, và có nhiều nồng độ, dung tích khác nhau.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 34 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương là đơn vị chuyên sản
xuất cung ứng các loại thuốc BVTV như thuốc trừ bệnh: Fujione 40WP,
Kabim 30WP, Cavil 50SC, Starner 20WP… ; thuốc trừ sâu: Bassa 50EC,
Trebon 10EC, Neretox 95Wp, Ofatox 400EC… ; thuốc trừ cỏ: Heco 600EC,
Fenrim 18,5WP, Catholis 43EC… ; các loại hóa chất, bình bơm thuốc trừ
sâu, thuốc tăng trưởng… Tất cả các loại sản phẩm của Công ty được sản
xuất và phân loại theo 2 loại hình cơ bản sau:
- Công ty mua thành phẩm đã được sản xuất hoản chỉnh, nguyên đai
nguyên kiện từ các nhà cung cấp về đóng chai, đóng gói nhỏ để cung ứng
trực tiếp đến khách hàng.
- Công ty mua nguyên vật liệu chính gồm: hoạt chất, dung môi và các
phụ gia, sau đó áp dụng công nghệ, công thức pha chế được chuyển giao từ
các công ty nước ngoài hoặc tự nghiên cứu để phối chế sản xuất ra thành
phẩm hoàn chỉnh.
Quá trình sản xuất của công ty được thực hiện ở các xưởng: hiện nay
còn 3 xưởng là xưởng Hải Phòng thuộc Chi nhánh Hải Phòng, xưởng Đà
Nẵng thuộc Chi nhánh Đà Nẵng và xưởng Thành phố Hồ Chí Minh thuộc
Chi nhánh phía Nam. Trong các chi nhánh này chỉ có chi nhánh Hải Phòng
là hạch toán phụ thuộc, ở xưởng Hải Phòng, quá trình sản xuất được chia ra
làm ba tổ: tổ chế biến, tổ đóng thuốc bột, tổ đóng gói thuốc nước. Tất cả các
sản phẩm của công ty dù nhập khẩu hay sang chai đóng gói trong nước đều
phải theo đúng danh mục do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy
định.
Sản phẩm sản xuất ra được điều chuyển đến các chi nhánh, các cửa
hàng của công ty để bán ra ngoài. Thị trường của công ty rất rộng, bởi công
ty có hệ thống bán buôn, bán lẻ rộng khắp từ Bắc vào Nam. Hiện nay, sau
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 35 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
khi cổ phần hóa và thay đổi bộ máy, phương thức quản lý sản xuất kinh
doanh, uy tín của công ty ngày càng được nâng lên, mục tiêu của công ty là
nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm để tăng hiệu quả sản
xuất kinh doanh và mở rộng thị trường.
2.1.2.3.2. Đặc điểm yếu tố đầu vào thị trường các yếu tố đầu vào
a) Đặc điểm về vốn kinh doanh và cơ cấu vốn kinh doanh:
Vốn đầu tư của chủ sở hữu:
Chỉ tiêu
Cuối năm 2010
VNĐ
Tỷ lệ
%
Đầu năm 2010
VNĐ
Tỷ lệ
%
- Vốn góp của Nhà nước(*)
22.532.880.000 45,07 22.532.880.000 45,07
- Vốn góp của các đối
tượng khác
27.467.120.000 54,93 27.467.120.000 54,93
+ Do pháp nhân nắm giữ(**)
7.760.030.000 15,52 7.730.030.000 15,46
+ Do thể nhân nắm giữ 19.707.090.000 39,41 19.737.090.000 39,47
Cộng 50.000.000.000 41.438.950.000
(**)
Vốn do pháp nhân nắm giữ gồm:
Cuối năm Đầu năm
Công ty TNHH Hưng Hằng 2 100 030 000 2 370 030 000
Công ty cổ phần Trái Đất Xanh 2 860 000 000 2 860 000 000
Công ty cổ phần SXKD xuất nhập khẩu
Lam Sơn Thái Bình
2 500 000 000 2 500 000 000
Công ty TNHH Hưng Việt 60 000 000 -
Công ty Vật tư BVTV Phương Mai 240 000 000 -
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 36 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Cộng 7 760 030 000 7 730 030 000
(*)
Vốn góp của Nhà nước do Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn
Nhà nước (SCIC) quản lý. Theo Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông năm
2008 ngày 10/04/2010 về việc tăng vốn điều lệ của Công ty từ 35 tỷ VNĐ
lên 50 tỷ VNĐ, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước chỉ đăng
ký mua thêm 375.548 cổ phiếu theo quyền mua 5/1 theo công văn số
08/QĐ-ĐTKDV ngày 14/01/2009 của Tổng Giám đốc SCIC (trong tổng số
1.500.000 cổ phiếu phát hành thêm). Do đó, tỷ lệ vốn SCIC trong công ty
giảm tương ứng từ 53,65% xuống 45,07%.
Cổ phiếu:
Chỉ tiêu Năm 2010
- Số lượng cổ phiếu đăng ký phát hành 5.000.000
- Số lượng cổ phiếu đã bán ra công chúng 5.000.000
- Cổ phiếu phổ thông 5.000.000
- Số lượng cổ phiếu được mua lại -
- Số lượng cổ phiếu đang lưu hành 5.000.000
+ Cổ phiếu phổ thông 5.000.000
Mệnh giá cổ phiếu đang lưu hành: 10.000 đồng/ cổ phiếu.
b) Nguồn nguyên liệu, vật liệu
- Công ty nhập nguyên liệu, phụ gia nước ngoài kết hợp với nguồn
vật tư, bao bì trong nước như chai nhựa, nắp nút, nhãn thùng, túi thiếc, gói
PVC…. Qua quá trình chế biến, sang chai, đóng gói bằng các trang thiết bị
tiên tiến, quy trình quản lý chất lượng sản phẩm và môi trường theo tiêu
chuẩn quy định tạo nên các sản phẩm chất lượng cao, đa dạng về chủng loại,
bao gói phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 37 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
- Công ty nhập thành phẩm từ nước ngoài đã được sản xuất, đóng gói
theo đơn đặt hàng của công ty, và cung ứng trực tiếp đến tay khách hàng.
Hiện công ty là nhà phân phối độc quyền một số sản phẩm của các công ty
nước ngoài như Nhật Bản, Đức, Thụy Sĩ, và một số quốc gia khác. Các sản
phẩm này đều là những thương hiệu nổi tiếng, có chất lượng cao, hiệu quả
và đã được các chuyên gia trong ngành BVTV đánh giá cao, đồng thời được
người nông dân tin tưởng sử dụng.
Nguyên vật liệu chính sản xuất sản phẩm của công ty hầu hết có
nguồn gốc từ dầu mỏ và phải nhập vào từ nước ngoài. Do vậy, giá cả của
nguyên vật liệu đầu vào của công ty chủ yếu phụ thuộc vào sự biến động của
giá dầu mỏ, và sự biến động của giá đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới.
c) Đặc điểm về quy trình công nghệ sản xuất
Do đặc điểm của ngành Bảo vệ thực vật nói chung và của Công ty nói
riêng, sản phẩm sản xuất ra nhiều loại (có khi lên tới 60 mặt hàng) chúng
phải trải qua nhiều khâu gia công liên tiếp theo một trình tự nhất định mới
trở thành sản phẩm.
Quá trình chế biến thuốc Bảo vệ thực vật diễn ra như sau: từ các
nguyên liệu nhập ban đầu, bổ sung thêm một số dung môi phụ gia, qua quá
trình chế biến sẽ cho thành phẩm. Sau đó tiến hành đóng gói (với thuốc bột)
hoặc đóng chai (với thuốc nước), dán nhãn kiểm tra KCS, đóng hộp (kiện)
nhập kho rồi bán ra thị trường.
Trước đây, khi mới thành lập, máy móc thiết bị còn thô sơ, hầu hết
việc sang chai, đóng gói, dãn nhãn đều được thực hiện thủ công. Hiện nay,
khu sản xuất kinh doanh đã phát triển, Công ty trang bị thêm máy móc thiết
bị hiện đại nên phương thức sản xuất sang chai đóng gói thuốc BVTV đã
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 38 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
được chuyển từ lao động thủ công sang phương thức sản xuất bán công
nghiệp. Không những vậy, Công ty không ngừng nghiên cứu chế tạo sản
phẩm mới vừa giảm tính độc hại, vừa mang lại hiệu quả cao. Đặc biệt, năm
1995, Công ty đã nghiên cứu ra thuốc Ofatox 400EC thay thế cho Wofatox
rất độc hại cho người và gia súc. Sản phẩm này được nhà nước cấp bằng
sáng chế. Có thể biểu diễn quy trình công nghệ sản xuất thuốc Ofatox
400EC ở Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương như sau:
Sơ đồ 02: Quy trình Công nghệ sản xuất thuốc Ofatox 400EC
Nguyên liệu
thuốc
Fenitrothion
+Trichlorfon
+
Dung môi
Xylen
methanol
+
Phụ gia
chất hóa
sữa

Cho vào
thùng
khuấy

Khuấy đều
bằng môtơ
điện
Nhập
kho
Kiểm tra
KCS
Dán băng
dính
Thùng
carton
Dán
nhãn
Siết
nút
Sang
chai
d) Đặc điểm về thị trường tiêu thụ
Sản phẩm mà công ty sản xuất và tiêu thụ chủ yếu là thuốc bảo vệ
thực vật, phục vụ đối tượng chủ yếu là bà con nôn dân.
Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1Trung ương có thị trường tiêu thụ
ổn định. Hiện tại, công ty đang phát huy hiệu quả của thị trường tiêu thụ đã
có, đồng thời khai thác, mở rộng và phát triển thị trường tiềm năng. Công ty
xây dựng mục tiêu và quản lý thị trường theo 4 vùng: Miền Bắc - Hà Nội -
Miền Trung - Miền Nam, trong đó thị trường mục tiêu là tại khu vực các
tỉnh miền Bắc và khu vực miền Trung.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 39 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Trên cơ sở phân vùng thị trường theo khu vực địa lý, theo thu nhập và
theo đối tượng, công ty xây dựng chiến lược marketing cho từng vùng thị
trường, nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.
Hiện tại, PSC1 đang thực hiện mục tiêu giữ vững và phát triển thị
trường Hà Nội và Miền Bắc, nỗ lực xây dựng thị trường Miền Trung, Miền
Nam. Trong hơn 10 năm trở lại đây, PSC1 luôn đạt mức tăng trưởng bình
quân 12-18%.
Song song với việc ổn định và phát triển thị trường nội địa, giới thiệu
thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ ra thế giới cũng là hướng đi của
PSC1 đang quan tâm đẩy mạnh phát triển trong thời gian tới.
2.1.3. Khái quát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương
2.1.3.1. Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật
Qua nhiều năm hoạt động kinh doanh hiệu quả, cùng với sự phát triển
của khoa học công nghệ nói chung và của ngành thuốc Bảo vệ thực vật nói
riêng, hiện nay công ty đã mở rộng quy mô sản xuất, máy móc thiết bị tương
đối nhiều và hiện đại hơn. Tình hình trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật
của công ty thể hiện qua bảng số liệu Bảng 01: Tình hình tăng giảm TSCĐ
hữu hình ở Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương năm 2009.
Năm 2010, tổng tài sản cố định hữu hình của Công ty tăng lên 12,35% so
với năm 2009, trong đó chủ yếu do Công ty đầu tư thêm vào phương tiện
vận tải, truyền dẫn (năm 2010 so với năm 2009 tăng 45,17%).
2.1.3.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 40 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Để có cái nhìn khái quát về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty trong thời gian gần đây, ta nghiên cứu Bảng 02: Bảng trích kết quả
kinh doanh của PSC1 từ năm 2007 đến 2010, Đồ thị 01, Đồ thị 02.
Qua bảng, ta có thể thấy trong những năm gần đây, tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty có nhiều biến động. Doanh thu thuần về BH
và CCDV chỉ đạt 168 tỷ đồng năm 2007, đến 2008 tăng hơn gấp đôi và đạt trên
335 tỷ đồng vào năm 2010. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
tăng lên gần gấp đôi sau bốn năm là một thành tích thể hiện những nỗ lực của
Công ty trong sản xuất kinh doanh, sản phẩm của Công ty ngày càng có chỗ
đứng trên thị trường, tạo dựng được lòng tin đối với người tiêu dùng. Lợi
nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh cũng biến động lớn, nhưng nhìn
chung, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty tăng khá đều
trong bốn năm, tăng từ khoảng 9 tỷ đồng năm 2007 lên đến hơn 13 tỷ đồng
năm 2010.
Qua Bảng 03: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán – PSC1 từ
năm 2007 đến 2010, và Đồ thị 3, có thể thấy Công ty có các chỉ tiêu hệ số khả
năng thanh toán khá ổn định và hợp lý trong bốn năm qua.
Về cơ cấu nợ và tài sản, ta xem xét Bảng 04: Phân tích các hệ số phản
ánh cơ cấu nguồn vốn và tài sản – PSC1 từ năm 2007 đến 2010, và Đồ thị
4, Đồ thị 5. Công ty có cơ cấu nợ khá hợp lý, năm 2009, do ảnh hưởng của
khủng hoảng tài chính nên công ty đã tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu sử dụng trong
sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, hệ số nợ trên cho thấy công ty đã tận dụng
được lợi thế của việc sử dụng nợ vay mà vẫn giữ được thế chủ động trong hoạt
động kinh doanh. Về cơ cấu tài sản, tài sản ngắn hạn của Công ty tương đối
cao, dao động trong khoảng 90%. Cơ cấu tài sản này phù hợp với hoạt động
của công ty, đó là chủ yếu kinh doanh thương mại các mặt hàng thuốc bảo vệ
thực vật.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 41 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Qua Bảng 05: Phân tích các hệ số hoạt động kinh doanh của PSC1
từ năm 2007 – 2010, và Đồ thị 6, nhìn chung Công ty có các hệ số hoạt động
kinh doanh năm 2010 tăng lên so với năm 2007.
Xem xét Bảng 06: Phân tích các chỉ tiêu sinh lời của PSC1 từ 2007 -
2010, và Đồ thị 7, có thể thấy Công ty có vốn kinh doanh bình quân tăng liên
tiếp qua các năm, so với 2007. Vốn kinh doanh tăng tạo điều kiện cho Công ty
có thể đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm thêm máy móc, trang
thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất. Tuy nhiên, các chỉ tiêu sinh lời của
PSC1 hoặc giảm, hoặc tăng nhưng không nhiều. Chỉ tiêu quan trọng mà
những người chủ sở hữu Công ty luôn quan tâm đó là tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên vốn chủ sở hữu năm 2010 giảm xuống thấp hơn so với năm 2007,
nhưng vẫn giữ ở mức xấp xỉ 15%, là một mức khá cao so với mức trung
bình ngành.
2.1.3.3. Tình hình tài chính của công ty
Dựa vào Bảng 07: Cơ cấu và sự biến động của vốn và nguồn vốn
năm 2009 – 2010 của PSC1, có thể thấy rằng so với cuối năm 2009 thì cuối
năm 2010 tổng tài sản (tổng nguồn vốn) tăng 4 634 319 922 đồng tương ứng
với tỷ lệ tăng 2,44%.
Tổng tài sản tăng chủ yếu là do cả tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
tăng. Trong đó, chủ yếu là tài sản ngắn hạn tăng, số tiền: 2 468 515 762 đồng,
với tỷ lệ tăng 1,41%; tài sản dài hạn tăng, số tiền: 2 165 804 160 đồng, với tỷ lệ
tăng 14,36%.
Tài sản ngắn hạn tăng chủ yếu là do tiền và các khoản tương đương tiền
tăng (tỷ lệ tăng 92,29%) và tăng các khoản phải thu ngắn hạn (tỷ lệ tăng
31,24%). Nguyên nhân chính là do, năm 2010 là năm công ty gặp nhiều khó
khăn về việc thu hồi công nợ, Công ty bị khách hàng và các tổ chức khác
chiếm dụng vốn kinh doanh. Tài sản dài hạn tăng là do tài sản cố định tăng
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 42 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
số tiền: 1 837 083 355 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 12,86%; và tài sản
dài hạn khác cũng tăng 328 720 805 đồng, với tỷ lệ tăng 41,08%.
Tổng nguồn vốn tăng là do nợ phải trả tăng lên số tiền: 28 431 655
286 đồng, với tỷ lệ tăng 32,47%; trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu giảm
23 763 288 067 đồng, tương ứng tỷ lệ giảm là 23,23%.
Nợ phải trả tăng là do nợ ngắn hạn tăng hơn 28 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng
32,52%, còn nợ dài hạn không thay đổi. Nguồn vốn chủ sở hữu giảm là do
giảm các nguồn kinh phí, quỹ khác số tiền: 29 237 714 876 đồng, (giảm
100%), trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tăng nhẹ số tiền: 5 474 426
809 đồng, với tỷ lệ tăng 7,49%.
2.1.3.4. Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
a) Thuận lợi
Qua hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, thị trường truyền thống
của công ty đã được củng cố. Với đội ngũ lãnh đạo và cán bộ dày dặn kinh
nghiệm trong lĩnh vực thuốc Bảo vệ thực vật cùng cơ chế hoạt động linh
hoạt, các sản phẩm của công ty đã có mặt ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả
nước. Đến nay, PSC1 có thể tự khẳng định thương hiệu PSC1 là một thương
hiệu lớn và uy tín trong ngành.
Về chất lượng sản phẩm
Công ty là doanh nghiệp hàng đầu về sản xuất và cung ứng thuốc Bảo
vệ thực vật tại Việt Nam. Công ty đã xây dựng quy trình quản lý theo tiêu
chuẩn quốc tế, đã được hai tổ chức Quacert và PSB cấp chứng chỉ ISO 9001
và ISO 14001. Nhờ có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu, nhiều
kinh nghiệm và nhiệt tình công tác, cùng với hệ thống các trang thiết bị hiện
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 43 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
đại, các sản phẩm của công ty đã được người nông dân tin dùng. Hiện tại và
tương lai, Công ty vẫn không ngừng cải tiến sản phẩm nhằm đảm bảo thị
hiếu của người tiêu dùng và luôn phấn đấu là người bạn chân thành và gần
gũi nhất của bà con nông dân.
Công ty là nhà phân phối độc quyền một số sản phẩm cho các công ty
nước ngoài như Nhật Bản, Đức, Thụy Sĩ và một số quốc gia khác. Một trong
những lợi thế quan trọng là các sản phẩm được giao phân phối độc quyền
đều là những thương hiệu nổi tiếng, có chất lượng cao, hiệu quả và được các
chuyên gia thuộc chuyên ngành bảo vệ thực vật đánh giá cao, đồng thời
được người dân tin tưởng sử dụng.
Về sự ổn định của nguồn nguyên vật liệu, sản phẩm đầu vào
Trên cơ sở mối quan hệ lâu dài, chặt chẽ với các công ty trong và
ngoài nước, công ty thường kí các hợp đồng nhập hàng ngay từ đầu năm,
đầu vụ. Trường hợp trên thị trường có sự biến động tăng, giảm giá nguyên
vật liệu đầu vào, Công ty được các nhà cung ứng thông báo trước ít nhất 3
tháng. Sự ổn định nguồn nguyên liệu giúp công ty xây dựng kế hoạch nhập
hàng và tiêu thụ sản phẩm, ổn định giá bán sản phẩm, chủ động điều chỉnh
cho phù hợp với thời vụ, thị trường và kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Về thị trường tiêu thụ
Công ty đã xây dựng được một hệ thống phân phối với các chi nhánh,
các tổ chức bán hàng phân phối sản phẩm và hệ thống đại lý trải rộng cả
nước. Các xưởng sản xuất đảm bảo cho PSC1 chủ động trong việc chế biến,
sang chai, đóng gói để tạo ra sản phẩm đa dạng, chất lượng cao theo vùng,
miền của thị trường tiêu thụ.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 44 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Tình hình xuất khẩu nông sản tăng mạnh sau khi Việt Nam gia nhập
WTO đã tác động tới việc lựa chọn nông dược có chất lượng cao để áp dụng
trong canh tác nông nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro về dư lượng thuốc trừ sâu
trong nông sản xuất khẩu. Nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có chất
lượng cao, có uy tín và nổi tiếng ngày càng tăng. Điều này sẽ tạo cơ hội cho
việc đẩy mạnh doanh thu bán hàng của công ty trong thời gian tới.
Về hình thức pháp lý
Từ khi chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp là Công ty cổ phần
hoạt động theo Luật doanh nghiệp, quá trình quản trị sản xuất kinh doanh
của Ban điều hành Công ty đã gặp nhiều thuận lợi hơn về cơ chế, kế hoạch,
tính chủ động, quyết định trong kinh doanh. Do vậy, hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty có nhiều khởi sắc hơn, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh
doanh cao hơn so với nhiều năm trước.
Ngoài ra, sự phát triển nhanh của thị trường tài chính ở Việt Nam hiện
nay đã và đang tạo nhiều cơ hội cho nhiều doanh nghiệp có thể huy động
vốn theo nhiều phương thức thuận lợi hơn, chi phí giảm thấp hơn. Với uy
tín và thương hiệu đã có, công ty có khả năng tiếp xúc với nhiều nguồn vốn
khác nhau để tài trợ cho các dự án của mình.
b) Khó khăn
Về tỷ giá hối đoái và sự biến động giá dầu thô trên thế giới
Hầu hết nhiên liệu kỹ thuật dùng để sản xuất thuốc bảo vệ thực vật
Công ty phải nhập khẩu từ nhà cung cấp nước ngoài và phải thanh toán bằng
ngoại tệ. Do đó khi tỷ giá hối đoái biến động sẽ ảnh hưởng rất lớn tới giá
vốn hàng bán, từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty. Hơn
nữa, nguồn nguyên liệu sử dụng sản xuất thuốc bảo vệ thực vật có nguồn
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 45 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
gốc từ dầu mỏ, nên khi giá dầu thô trên thế giới tăng thì nguồn nguyên liệu,
nhất là nguồn dung môi, vật tư, bao bì, nhựa đều tăng giá làm tăng chi phí
sản xuất, dẫn đến giá thành sản phẩm cao.
Đối với các loại vật tư, bao bì, nhãn mác dùng trong quá trình sản
xuất, Công ty phải nhập từ các nhà cung ứng trong nước. Phần lớn họ cũng
phải nhập vật liệu từ nước ngoài (hạt nhựa PET, HDPE, giấy nhôm, giấy
in…), vì vậy giá cả cũng thường xuyên biến động theo thị trường thế giới và
sự biến động tỷ giá hối đoái. Điều này cũng có ảnh hưởng lớn tới doanh số
và lợi nhuận của công ty.
Về tính chất mùa vụ
Vào đầu các năm, dịch bệnh sâu hại lúa thường xuất hiện với mật độ
cao gây khó khăn cho khách hàng trung gian trong việc đầu tư không thu
được nợ, dẫn đến công nợ tồn đọng lớn đối với công ty.
Về thị trường kinh doanh
Công ty cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn khác. Về thị trường
kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật có khoảng trên 300 doanh nghiệp tham gia
hoạt động so với con số 3 doanh nghiệp trong thời gian đầu những năm 90.
Điều này cho thấy, sức ép cạnh tranh trên thị trường này rất cao và có xu
hướng ngày càng tăng. Cùng với quá trình hội nhập của nền kinh tế, ngày
càng có nhiều đối thủ nước ngoài thâm nhập vào thị trường thuốc bảo vệ
thực vật Việt Nam với chất lượng cao, và tiềm lực tài chính mạnh, ứng dụng
công nghệ hiện đại.
2.2. Thực trạng về quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá
thành sản phẩm của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 46 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
2.2.1. Tình hình lập kế hoạch quản lý chi phí sản xuất kinh doanh
và hạ giá thành sản phẩm của công ty năm 2008
2.2.1.1. Công tác lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh
Phương pháp lập dự toán của PSC1:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Là toàn bộ hao phí về nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ được
dùng trực tiếp cho sản xuất thuốc bảo vệ thực vật. Nguyên vật liệu chính của
đơn vị bao gồm nguyên liệu chính, phụ gia và dung môi. Còn vật liệu phụ là
bao gói, chai lọ, nhãn mác, túi, băng keo… dùng để sang chai, đóng gói
thuốc bảo vệ thực vật,
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tập hợp trực tiếp cho từng loại
sản phẩm hoàn thành. Tại công ty, dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
được tính bằng cách lấy định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị
thành phẩm nhân với đơn giá sử dụng nguyên vật liệu. Định mức tiêu hao
này do bộ phận kỹ thuật của công ty tính toán và báo cáo. Thông thường, để
sản xuất ra thành phẩm, định mức tiêu hao nguyên vật liệu là cố định, nhưng
nếu công ty đổi mới dây truyền công nghệ hiện đại hơn hoặc thay thế được
các nguyên vật liệu phụ tối ưu hơn thì định mức tiêu hao này có thể giảm đi.
+ Chi phí nhân công: dự toán chi phí nhân công được tính như sau:
Đối với cán bộ ký hợp đồng dài hạn: hợp đồng được ký trong thời
gian dài, lương của họ được ký cố định trong hợp đồng theo thỏa thuận giữa
công ty với người lao động.
Đối với công nhân làm việc theo hợp đồng ngắn hạn (từ 3 tháng trở
lên): công ty ký hợp đồng ngắn hạn 6 tháng 1 lần, lương của họ được ghi cố
định trong hợp đồng do công ty và người lao động thỏa thuận.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 47 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Đối với công nhân làm việc theo thời vụ (dưới 3 tháng): đầu năm,
công ty dự toán trước các đợt sản xuất thuốc (theo vụ), tính trước số lượng
sản phẩm sẽ sản xuất mỗi đợt. Lương của công nhân được tính bằng cách lấy
đơn giá định mức nhân với số lượng sản phẩm làm ra.
Các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ được công ty
tính toán theo quy định của nhà nước đối với cán bộ công nhân viên làm
việc dài hạn và hợp đồng ngắn hạn từ 3 tháng trở lên.
Ví dụ về đơn giá tiền công chế biến sang chai đóng gói và bốc xếp
thuốc bảo vệ thực vật được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 08: Trích đơn giá tiền công chế biến, sang chai đóng gói và
bốc xếp thuốc bảo vệ thực vật – PSC1 năm 2010.
I. Đơn giá chế biến:
STT Tên sản phẩm ĐVT Đơn giá Ghi chú
1 Bassa 50EC đ/tấn 75 000
2 Heco 600EC đ/tấn 66 000
3 Trebon 10EC đ/tấn 54 000
… …
II. Đơn giá đóng gói:
STT Tên hàng hóa
Đơn giá
Ghi chú
Đóng tay Đóng gói
1 Gói 1,0gam 15,5 đ/gói
Luxo 10WP
2 Gói 20gam 1.800.000đ/tấn
1.140.000đ/tấ
n
3 Gói 30gam 1.340.000đ/tấn Đã có công đóng
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 48 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
gói date từng
chiếc túi
4 Gói 1kg 530.000đ/tấn
5 Gói 10ml 14,5 đ/gói
Tango 50SL
6 Gói 14ml 16,0 đ/gói
… …
III. Đơn giá đóng chai:
STT Quy cách sản phẩm ĐVT
Đơn giá Ghi chú
Máy bán
tự động
Máy tự
động
I
Chai chữ nhật dán đề can
3 mặt
1 Chai 100ml đ/chai
80
2 Chai 500ml đ/chai
240
II Chai tròn, dán nhãn hồ
1 Chai 100ml đ/chai
63
46
2 Chai 480ml đ/chai
115
75
…
…
IV. Đơn giá bốc xếp:
TT Nhóm hàng hóa
Đơn giá bốc
xếp
Trọng lượng
1
Hàng thành phẩm đóng trong hộp
carton thể tích nhỏ hơn hoặc bằng
0,04m3
74 đ/kiện Dưới 25kg
2
Hàng thành phẩm đóng trong hộp
carton thể tích lớn hơn 0,04m3 500 đ/kiện Dưới 25kg
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 49 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
3 Hàng đóng trong phuy 500 đ/kiện
Nhỏ hơn
hoặc bằng
250kg
4 Hàng đóng trong phuy 10.700 đ/tấn Trên 250kg
+ Chi phí sản xuất chung: Dự toán chi phí sản xuất chung của công
ty được tính như sau:
Chi phí nhân viên phân xưởng: bao gồm chi phí tiền ăn ca, lương
nhân viên sản xuất: dựa vào số lượng công nhân viên thực tế hiện có tại các
phân xưởng và số lượng tăng cường trong thời vụ nhân với đinh mức chi cho
mỗi công nhân.
Chi phí vật liệu bao bì: bao gồm chi mua bảo hộ lao động, chi mua
vật tư bao bì phục vụ cho sản xuất, vật tư hỏng trong định mức, chi mua
xăng dầu chạy máy; chi phí dụng cụ sản xuất – chỉ tiêu này được tính dựa
vào năng suất dự kiến của dây chuyền công nghệ hoặc tài liệu những năm
trước.
Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của tất cả
các TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Chi phí khấu
hao được công ty tính theo phương pháp đường thẳng đối với toàn bộ
TSCĐ, sau đó được phân bổ cho khối lượng sản phẩm dự kiến, từ đó sẽ có
chi phí khấu hao dự toán cho một đơn vị sản phẩm.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố
định, công cụ dụng cụ tại xưởng; chi phí điện thoại, điện nước sản xuất; chi
kiểm định dụng cụ đo lường sản xuất. Các chỉ tiêu này có thể được tính toán
dựa trên tình hình thực tế các năm trước, từ đó có thể tăng giảm chi phí dự
toán.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 50 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Chi phí bằng tiền khác: chi phí bồi dưỡng độc hại; chi khám sức khỏe
cho công nhân sản xuất; chi phí trả trước; chi phí vệ sinh, bảo quản kho
xưởng. Các chỉ tiêu này được lập dự toán dựa vào chi phí đã sử dụng các
năm trước, tăng giảm chi phí để phù hợp với tình hình năm kế hoạch.
2.2.1.2. Công tác lập kế hoạch giá thành sản phẩm của công ty
Đối với Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương, song song với
việc lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh, công ty cũng rất chú trọng tới
công tác lập kế hoạch giá thành sản phẩm.
Đặc thù phương pháp tính giá thành của PSC1:
Để đảm bảo tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất, phục vụ cho công tác
quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành thực sự hiệu quả, công ty quản lý
chi phí sản xuất theo chi phí thực tế phát sinh. Do đặc điểm quy trình sản
xuất giản đơn khép kín, chủ yếu là gia công sang chai, đóng gói thuốc bảo
vệ thực vật, nên chu kỳ sản xuất rất ngắn, thường xuất kho nguyên vật liệu
đi chế biến và hoàn thành nhập kho sản phẩm ngay trong ngày. Do đó,
không có hoặc rất ít sản phẩm dở dang cuối kỳ, nên công ty không tính chi
phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ. Toàn bộ các chi phí sản xuất thực
tế phát sinh được tính hết cho sản phẩm hoàn thành theo công thức tính giá
thành giản đơn.
Công thức tính giá thành giản đơn: Z = Dđk + Ctk – Dck
Giá thành đơn vị sản phẩm=
Tổng giá thành sản phẩm (Z)
Khối lượng sản phẩm hoàn thành (Q)
Trong đó: Dđk = Dck = 0.
Căn cứ lập kế hoạch giá thành của công ty:
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 51 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Trong việc lập kế hoạch giá thành sản phẩm, công ty căn cứ vào định
mức kinh tế kỹ thuật của từng khoản mục chi phí trong sản xuất sản phẩm,
căn cứ vào khối lượng sản phẩm dự kiến hoàn thành, những biến động về
giá cả nguyên vật liệu đầu vào có thể xảy ra, và dựa trên cơ sở giá thành sản
phẩm của công ty trong những năm trước đó, công ty sẽ đề ra các biện pháp
và tổ chức thực hiện các biện pháp để giảm chi phí đối với từng khoản mục
chi phí khác nhau.
Ta có thể có cái nhìn sơ bộ về công tác lập kế hoạch giá thành công ty
qua xem xét Bảng 09: Giá thành kế hoạch và giá thành thực tế theo các
khoản mục chi phí – PSC1 năm 2009, 2010.
2.2.2. Đánh giá thực trạng quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và
hạ giá thành sản phẩm của công ty
Các phần phân tích ở trên đã phần nào khái quát được hoạt động sản
xuất kinh doanh, cũng như công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và
hạ giá thành sản phẩm của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương.
Phần này sẽ đi sâu vào so sánh, phân tích thực trạng quản lý chi phí sản xuất
kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của công ty để thấy rõ hơn những điểm
hợp lý và bất hợp lý trong việc sử dụng chi phí, hạ giá thành sản phẩm trong
những năm vừa qua. Từ đó, đề ra các biện pháp nhằm phát huy các mặt tích
cực, hạn chế các mặt tiêu cực trong công tác này tại PSC1.
2.2.2.1. Phân tích thực trạng quản lý chi phí sản xuất kinh doanh
của Công ty những năm vừa qua
Để hiểu rõ hơn về công tác tổ chức quản lý chi phí sản xuất kinh
doanh của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương, trước tiên ta sẽ so
sánh kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua 2 năm 2009 – 2010 qua
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 52 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Bảng 10: Phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại
PSC1 năm 2009, 2010.
Qua bảng so sánh ta thấy tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ năm 2010 so với năm 2009 tăng 101 279 612 037 đồng tương ứng với tỷ
lệ tăng 43,18%. Có được kết quả này chủ yếu là do Công ty đã không ngừng
nỗ lực đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm tại tất cả các chi nhánh. Ngoài
ra, năm 2010 là năm tình hình sâu bệnh diễn biến tương đối phức tạp, có
nhiều đợt dịch bệnh kéo dài như khô vằn, đạo ôn, bọ trĩ… nên khối lượng
thuốc BVTV tiêu thụ của các công ty trong ngành nói chung và của PSC1
nói riêng đều tăng lên đáng kể. Qua Bảng 11: Phân tích Doanh thu BH và
CCDV của các chi nhánh của PSC1 năm 2009, 2010, và Đồ thị 08, có thể
thấy các chi nhánh của Công ty đều có doanh thu năm 2010 so với năm 2009
tăng trên 20% (trừ Chi nhánh Phía Bắc giảm 22,61%), có những chi nhánh
có doanh thu tăng tới trên 70% như Chi nhánh Phía Nam tăng 74,42%, Chi
nhánh Nam khu IV tăng 71,95%.
Cùng với việc tăng doanh thu, Công ty cũng cố gắng giảm các khoản
giảm trừ doanh thu (so với năm 2009 giảm 79,84%) nên doanh thu thuần của
công ty năm 2010 tăng 104 590 711 013 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng
45,39%.
Năm 2010, công ty đạt lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là
28 948 933 319 đồng, so với năm 2009 tăng 6 594 426 258 đồng, tương ứng
với tỷ lệ tăng 29,50%. Để hiểu rõ hơn về mức độ sử dụng chi phí, ta đi sâu
vào xem xét một số chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến kết quả hoạt động SXKD
năm 2009-2010 qua Bảng 12: Phân tích chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến kết
quả hoạt động SXKD từ 2007 đến 2010 tại PSC1.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 53 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
+ Tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên doanh thu
thuần:
Năm 2010, Công ty đạt tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động sản kinh doanh
trên doanh thu thuần là 8,64%, chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng doanh thu
thuần, Công ty thu được 8,64 đồng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh
doanh. So với năm 2009, tỷ suất này giảm với tỷ lệ tăng tương đối là 1,06%.
Như vậy trong năm 2010, mặc dù Công ty đã thực hiện việc tăng doanh thu
thuần so với năm 2009 nhưng tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty giảm xuống, bước đầu cho thấy tình hình quản lý chi phí
của Công ty có thể chưa thật sự tốt.
+ Tỷ suất giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần:
Giá vốn hàng bán năm 2010 tăng 74 433 973 005 đồng, tương ứng với
tỷ lệ tăng 45,29%. Khi khối lượng sản phẩm tiêu thụ năm 2010 tăng thì trị
giá vốn hàng bán tăng là tất yếu.
Cụ thể, năm 2009, trong tổng doanh thu thuần thu được, trị giá vốn
hàng bán chiếm 71,33%, còn năm 2010, tỷ lệ này là 71,28%, giảm tương
ứng với tỷ lệ giảm 0,05%. Chứng tỏ trong năm 2010, để thu được 100 đồng
doanh thu, Công ty phải bỏ ra 71,28 đồng trị giá vốn hàng bán, thấp hơn
0,05 đồng so với năm 2009. Việc giá vốn hàng bán có giảm, nhưng giảm
không đáng kể, cũng phần nào thể hiện sự cố gắng giữ mức tỷ suất giá vốn
hàng bán trên doanh thu thuần ổn định trong điều kiện giá các yếu tố đầu
vào tăng cao (như giá nguyên vật liệu, chi phí nhân công…) như hiện nay.
+Tỷ suất chi phí bán hàng trên doanh thu thuần:
Chi phí bán hàng năm 2010 của Công ty là 38 706 048 342 đồng, tăng
13 847 099 411 đồng so với năm 2009 (tăng 55,7%). Việc tăng chi phí bán
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 54 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
hàng này hoàn toàn phù hợp với việc tăng doanh thu tiêu thụ. Để bán ra
được nhiều sản phẩm đòi hỏi Công ty phải bỏ ra một khoản nhất định để tiếp
thị, quảng cáo, tổ chức các hội thảo giới thiệu sản phẩm, tổ chức hệ thống
chi nhánh, tổ chức bán hàng tới các đại lý ở địa phương…
Cụ thể, tỷ suất chi phí bán hàng trên doanh thu thuần của Công ty năm
2009 là 10,79%, năm 2010 là 11,55%; tức là để thu được 100 đồng doanh
thu thuần, Công ty phải bỏ ra 10,79 đồng chi phí bán hàng trong năm 2009
và 11,55 đồng trong năm 2010. Như vậy, trong năm 2010, chi phí bán hàng
tăng tới 55,7% do việc bán hàng được mở rộng, đã làm tỷ suất chi phí bán
hàng trên doanh thu tăng 0,76%. Tuy việc tăng chi phí bán hàng này so với
việc tăng doanh thu thuần không lớn, nhưng công ty cần phải quan tâm
nhiều hơn tới việc quản lý khoản mục chi phí này, để tránh lãng phí.
+ Tỷ suất chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu:
Chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2010 tăng 6 594 426 258 đồng
tương ứng với tỷ lệ tăng 29,5%. Tỷ suất chi phí quản lý doanh nghiệp trên
doanh thu thuần năm 2010 (8,53%) so với năm 2009 (8,18%) tăng 0,35%,
tức là trong năm 2010, để tạo ra 100 đồng doanh thu thuần, Công ty phải bỏ
ra 8,53 đồng chi phí quản lý doanh nghiệp,tăng 0,35 đồng so với năm 2009.
Việc tăng chi phí quản lý doanh nghiệp như trên là phù hợp với việc
tăng doanh thu thuần. Tuy nhiên, tỷ suất chi phí quản lý doanh nghiệp trên
doanh thu thuần cũng tăng thể hiện công ty cần quan tâm làm tốt hơn việc
quản lý khoản mục chi phí này.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng nhiều, mức độ
tăng cao hơn mức độ tăng doanh thu thuần nên làm cho tỷ suất lợi nhuận
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 55 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
thuần từ hoạt động kinh doanh trên doanh thu thuần giảm xuống. Công ty
cần chú trọng quản lý tốt hơn hai khoản mục chi phí này.
Để đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả của công tác quản lý chi phí sản xuất
kinh doanh tại PSC1, cần thiết phân tích số liệu về tình hình sử dụng chi phí
theo khoản mục ở Công ty qua 2 năm 2009 – 2010 qua Bảng 13: Phân tích
chi phí sản xuất kinh doanh theo khoản mục của PSC1 năm 2009 – 2010.
Tổng chi phí sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2009 là hơn
208 073 299 585 đồng, năm 2010 là 305 286 641 496 đồng, tăng
97 213 341 911 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 46,72%. Mặc dù Công ty đã
có những cố gắng nhất định trong việc phấn đấu tiết kiệm chi phí nhưng
tổng chi phí sản xuất kinh doanh vẫn tăng là do một số lý do sau đây:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp năm 2010 tăng hơn so với năm 2009
73 166 309 676 đồng, tỷ lệ tăng 46,43%, một tỷ lệ tăng lớn. Sự tăng vọt về
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp này chủ yếu là do tăng chi phí về nguyên
vật liệu chính để sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật bao gồm: nguyên liệu
chính, phụ gia, dung môi. Do hầu hết những nguyên vật liệu chính dùng để
sản xuất này Công ty phải nhập khẩu từ các nhà cung cấp nước ngoài và
phải thanh toán bằng ngoại tệ (USD) nên xét về các yếu tố khách quan, chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp chủ yếu chịu tác động của hai nhân tố sau:
Thứ nhất là sự không ổn định của tỷ giá hối đoái trong năm 2010 đã
ảnh hưởng lớn đến chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của Công ty.
Thứ hai là sự biến động phức tạp của giá dầu dầu thô trên thế giới
trong năm 2010, tuy không quay lại mức đỉnh điểm 147USD/thùng của năm
2008 nhưng cũng dao động ở mức cao với mức chốt 91,38USD/thùng vào
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 56 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
ngày 31/12/2010. Điều này đã ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty khi mà phần lớn nguồn nguyên liệu sử dụng để sản xuất
thuốc Bảo vệ thực vật đều có nguồn gốc từ dầu mỏ, khi giá dầu mỏ thế giới
tăng thì giá nguyên vật liệu đầu vào, nhất là dung môi, vật tư, bao bì, nhựa
đều tăng, làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến giá thành sản phẩm cao.
Xem xét định mức tiêu hao nguyên vật liệu trong sản xuất thuốc Bảo
vệ thực vật ở PSC1, Công ty áp dụng định mức hao hụt đối với các chi
nhánh khác nhau là khác nhau.
Bảng 14: Trích bảng định mức hao hụt đối với một số loại sản
phẩm thuốc Bảo vệ thực vật sản xuất tại PSC1:
S
TT
Tên thuốc
Định mức hao hụt
kg/Tấn
I Chi nhánh Hải Phòng
1 Bassa 50EC 2,0
2 Ofatox 400EC 2,0
3 New Hinosan 30EC 2,0
4 Heco 600EC 2,0
II Chi nhánh Đà Nẵng
1 Bassa 50EC 2,0
2 Ofatox 400EC 5,0
3 New Hinosan 30EC 2,0
4 Heco 600EC 2,0
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 57 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
5 Prefit 300EC 5,0
6 Mofitox 40EC 5,0
II
I Chi nhánh phía Nam
1 Bassa 50EC 2,0
2 Ofatox 400EC 2,0
3 New Hinosan 30EC 2,0
Bảng 15: Trích định mức chế biến thuốc Bảo vệ thực vật áp dụng
tại chi nhánh Hải Phòng
Thuốc trừ sâu
BASSA 50EC
STT Thành phần ĐVT Định mức/Tấn
1 Fenobucarb kg 500,0
2 Paracol – 101 kg 20,0
3 A.Tano kg 80,0
4 Xylen kg 402,0
5 Cộng kg 1002,0
Hao hụt kg 2,0
Tổng lượng BASSA 50EC nhập kho kg 1000,0
OFATOX 400EC
STT Thành phần ĐVT Định mức/Tấn
1 Fenotrothion kg 200
2 Trichlorfon kg 200
3 A.Tano kg 102
4 Methanol kg 240
5 Xylen kg 260
Cộng kg 1002
Hao hụt kg 2
Tổng lượng OFATOX 400EC nhập kg 1000
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 58 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
kho
Thuốc trừ bệnh
NEW HINOSAN 30EC
STT Thành phần ĐVT
Định
mức/Tấn
1 Edifenphos kg 319,1
2 Sorpol VN – H kg 80
3 Xylen kg 602
Cộng kg 1002
Hao hụt kg 2
Tổng lượng NEW HINOSAN 30EC nhập kho kg 1000
Thuốc trừ cỏ
HECO 600EC
STT Thành phần ĐVT Định mức/Tấn
1 Butachlor kg 600
2 Sanimal H kg 80
3 Xylen kg 322
Cộng kg 1002
Hao hụt kg 2
Tổng lượng HECO 600EC nhập kho kg 1000
Nguyên liệu chính, phụ gia, dung môi sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật
hầu hết là các hợp chất hóa học dễ bị tác động bởi sự thay đổi của nhiệt độ,
độ ẩm không khí, đặc biệt là các hợp chất ở dạng lỏng. Do vậy, đối với các
Chi nhánh, Xưởng sản xuất ở các vị trí địa lý khác nhau, có nền nhiệt độ và
độ ẩm khác nhau, Công ty áp dụng định mức tiêu hao nguyên vật liệu khác
nhau. Trường hợp thuốc OFATOX 400EC là một ví dụ: ở Chi nhánh Hải
Phòng và Chi nhánh Phía Nam, định mức hao hụt là 2,0 kg/tấn (0,2%); trong
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 59 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
khi đó, ở Chi nhánh Đà Nẵng, định mức hao hụt là 5,0 kg/tấn (0,5%). Việc
công ty xây dựng và áp dụng định mức tiêu hao như trên là hợp lý đối với
đặc điểm sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, vì chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng cao nhất trong giá vốn hàng bán, nên công ty
cũng cần lưu ý quản lý chặt chẽ, thường xuyên theo dõi mức tiêu hao
nguyên vật liệu sản xuất thuốc, và có sự điều chỉnh lại định mức tiêu hao
cho phù hợp với điều kiện sản xuất.
Mặc dù tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu trong tổng số chi phí năm
2010 có giảm, nhưng không đáng kể (1,05%), và vẫn giữ ở mức cao 67,45%.
Công ty vẫn nên chú ý đến chỉ tiêu này để có biện pháp nhằm tiết kiệm chi
phí nguyên vật liệu trong thời gian tới, vì nó vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong
tổng số chi phí. Công ty có tiết kiệm được chi phí sản xuất và hạ giá thành
sản phẩm được hay không phụ thuộc rất lớn vào việc tiết kiệm khoản chi phí
này.
+ Chi phí nhân công trực tiếp:
Năm 2010, chi phí nhân công trực tiếp của Công ty là 1 902 471 766
đồng, tăng 751 293 380 đồng so với năm 2009, tương ứng với tỷ lệ tăng
65,26%. Nguyên nhân chính của việc tăng chi phí này là do hai nguyên nhân
sau đây:
Thứ nhất là do Công ty đã tăng lương trả cho cán bộ công nhân viên.
Năm 2010, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam vẫn ở mức cao, giá cả leo thang gây
khó khăn cho đời sống của người dân trong đó có cán bộ công nhân viên của
Công ty. Trước thực trạng đó, Công ty đã tăng mức lương cán bộ Công nhân
viên, ngoài tăng lương cơ bản theo chỉ đạo của Nhà nước, tăng từ 650.000
đồng/người/tháng lên 730.000 đồng/người/tháng thì Công ty cũng tăng các
khoản phụ cấp, bồi dưỡng độc hại… nâng mức thu nhập bình quân cho cán
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 60 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
bộ công nhân viên từ 5.092.607 đồng năm 2009 lên 5.927.006 đồng năm
2010. Đây là một quyết định đúng đắn của Công ty, nhằm động viên,
khuyến khích cán bộ công nhân viên hăng say làm việc, đem lại năng suất
lao động cao hơn, tránh tình trạng lãng phí sức lao động. Không chỉ tăng
lương cho cán bộ công nhân viên làm việc thường xuyên, đối với những
công nhân làm việc theo hợp đồng ngắn hạn (chủ yếu là trong bộ phận sản
xuất), lương của họ được khoán theo sản phẩm, công ty cũng có chế độ tăng
lương hợp lý.
Thứ hai là do trong năm 2010, Công ty mở rộng quy mô, tăng khối
lượng sản xuất nên tiền lương trả cho công nhân cũng phải tăng lên. Xét về
tỷ trọng thì chi phí nhân công trong tổng số 5 khoản mục này năm 2010 so
với năm 2009 cũng tăng nhẹ (0,07%). Công ty cần chú trọng hơn vào việc
thực hiện tiết kiệm chi phí nhân công trực tiếp.
+ Chi phí sản xuất chung:
Năm 2010, chi phí sản xuất chung của Công ty tăng 516 369 949
đồng, tỷ lệ tăng là 9,19%. Đây là một tỷ lệ tăng không quá lớn khi Công ty
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh như vậy. Để tìm hiểu nguyên nhân chi
phí sản xuất chung tăng, ta xem xét Bảng 16: Phân tích chi phí sản xuất
chung – PSC1 năm 2009, 2010.
Chi phí sản xuất chung tăng là do các nguyên nhân chính sau:
- Chi phí nhân viên phân xưởng tăng 124 184 193 đồng, tương ứng với
tỷ lệ tăng 5,37%, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do tăng lương công nhân
viên sản xuất (74 377 400 đồng). Sự tăng này là hợp lý do trong năm 2010,
Công ty mở rộng quy mô, tăng khối lượng sản xuất nên tuyển dụng thêm nhiều
nhân viên phân xưởng, mức lương trả cho nhân viên phân xưởng cũng tăng
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 61 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
theo tinh thần chung của công ty là tăng lương cho cán bộ công nhân viên, do
đó dẫn đến tăng chi phí nhân viên phân xưởng. Tuy nhiên, Công ty cũng cần có
những biện pháp nhằm tiết kiệm tối đa khoản chi phí này, tránh sự lãng phí
không cần thiết.
- Chi phí vật liệu bao bì tăng 18,68%, trong đó nổi cộm lên là việc tăng
chi phí mua bảo hộ lao động cho công nhân (tăng 146,67%) và chi phí mua vật
tư bao bì phục vụ sản xuất (tăng 62,68%). Do trong năm 2010, Công ty phải
thay một khối lượng lớn đồ dùng, quần áo bảo hộ lao động cho công nhân sản
xuất, hơn nữa số lượng công nhân sản xuất tăng lên nên khoản mục chi phí này
tăng khá cao. Các loại vật tư bao bì, nhãn mác... chủ yếu Công ty phải mua từ
các nhà cung cấp trong nước, đa phần họ đều nhập khẩu từ nước ngoài nên giá
thành cao và luôn biến động khó lường, hơn nữa, do số lượng sản phẩm sản
xuất lớn hơn những năm trước, nên số lượng bao bì cần mua phục vụ sang chai
đóng gói cũng tăng lên là điều không thể tránh khỏi. Bên cạnh đó, chi phí mua
xăng dầu chạy máy cũng tăng tới 23,77%. Tuy nhiên, nhờ tiết kiệm được chi
phí vật tư hỏng trong định mức tới 50,72% và chi cho làm thuốc mẫu tới 100%
so với năm liền trước, nên tổng chi phí vật liệu bao bì chỉ dừng lại ở mức tăng
dưới 20%.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài là khoản chi phí cần thiết phục vụ cho quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Năm 2010, chi phí dịch vụ
mua ngoài tăng khá cao 117 851 899 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 24,25%, số
tăng này do tăng chi phí điện thoại, điện, nước sản xuất (tăng 80 613 953 đồng,
tỷ lệ tăng 34,41%) và tăng chi phí tái chế hàng (tăng 20 862 833 đồng, tỷ lệ
tăng 137,53%). Khi mà khối lượng sản xuất tăng, số giờ làm việc, chạy máy
tăng, đồng thời giá điện, giá nước tăng thì chi phí điện nước, điện thoại tăng là
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 62 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
không đáng ngại. Nhưng công ty cần chú ý tới sự tăng vọt của chi phí tái chế
hàng tới 137,53%.
- Chi phí bằng tiền khác: đây không phải là chi phí trực tiếp tạo ra sản
phẩm hàng hóa, nhưng cũng là một trong những khoản chi phí tương đối lớn
mà Công ty phải chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm
2010, chi phí khác bằng tiền tăng 162 909 251 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng
14,46%, chủ yếu là tăng chi phí tiếp tân, khách tiết (144 811 704 đồng, tương
ứng tỷ lệ tăng 133,77%) và chi phí khảo sát, xử lý môi trường, PCCC (tăng
17 230 515 đồng, 343,14%). Chi phí tiếp tân, khách tiết thiết nghĩ là một khoản
mục chi phí có thể tiết kiệm được, với mức tăng tới gần 140% như trên, công ty
cần chú trọng quản lý khoản chi phí này ở mức tốt nhất có thể. Chi phí bằng
tiền khá lớn, mặc dù không thể loại bỏ nhưng để có thể giảm được chi phí sản
xuất kinh doanh, Công ty cần phải quản lý chặt chẽ, vì loại chi phí này rất ít
bằng chứng xác thực, nhiều khi gây lãng phí vô ích.
Bên cạnh những khoản chi phí sản xuất chung tăng, Công ty cũng đã có
những cố gắng nhất định trong việc tiết kiệm, cắt giảm chi phí. Tuy nhiên các
khoản cắt giảm công ty thực hiện được chiếm tỷ trọng không đáng kể trong
tổng chi phí sản xuất chung của Công ty.
+ Chi phí bán hàng:
Như đã phân tích ở trên, chi phí bán hàng năm 2010 của công ty là
38 157 204 059 đồng, tăng 13 298 255 128 đồng so với năm 2009 (tỷ lệ tăng
53,49%). Việc tăng chi phí bán hàng này nguyên nhân chủ yếu là do kế
hoạch tăng doanh thu tiêu thụ. Để bán ra được nhiều sản phẩm, đòi hỏi Công
ty phải sử dụng một lượng chi phí nhất định để tiếp thị, quảng cáo, tổ chức
hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, tổ chức hệ thống chi
nhánh tại địa phương… nhằm mở rộng mạng lưới tiêu thụ. Hơn nữa, cũng
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 63 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
như lương cán bộ công nhân viên chung của Công ty, lương nhân viên ở các
tổ bán hàng cũng tăng lên làm tăng chi phí bán hàng.
Bảng 17: Phân tích chi phí bán hàng các chi nhánh năm 2009-
2010 phản ánh chi tiết chi phí bán hàng tại các chi nhánh của PSC1 trong 2
năm 2009 – 2010. Qua đó có thể thấy, trong 10 chi nhánh thì văn phòng của
Công ty có tỷ trọng chi phí bán hàng cao nhất, chiếm 82,90%. Nhưng trong
năm 2010, chi phí bán hàng tại một số chi nhánh khác có tỷ lệ tăng chi phí
bán hàng nhiều nhất, chi nhánh Đà Nẵng tăng 153,27%, chi nhánh Tây
Nguyên tăng 60,47%.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp:
Chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2010 tăng 9 481 113 778 đồng so
với năm 2009, tương ứng với tỷ lệ tăng 50,28%. Nguyên nhân chủ yếu là do
Công ty mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, do khối lượng công
việc phải giải quyết nhiều, Công ty đã tuyển dụng thêm lao động phục vụ
cho công tác quản lý ở các phòng ban tại trụ sở chính và các chi nhánh của
Công ty. Hơn nữa, tiền lương cán bộ công nhân viên trong công ty tăng lên,
giá cả các yếu tố đầu vào phục vụ công tác sản xuất và quản lý doanh nghiệp
tăng, cũng làm cho chi phí quản lý doanh nghiệp tăng lên.
Cụ thể, qua Bảng 18: Phân tích chi phí quản lý doanh nghiệp các
chi nhánh của PSC1 năm 2009, 2010 , có thể thấy các chi nhánh của Công
ty đều có chi phí quản lý doanh nghiệp tăng lên (trừ chi nhánh Phía Bắc
giảm 24,99%), trong đó văn phòng và chi nhánh Quảng Ngãi có tỷ lệ tăng
chi phí cao nhất, 62,66% và 66,61%.
2.2.2.2. Phân tích thực trạng hạ giá thành sản phẩm của Công ty
qua hai năm 2009 – 2010.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 64 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Sản phẩm thuốc Bảo vệ thực vật của PSC1 rất phong phú, bao gồm
nhiều nhóm (thuốc trừ sâu, thuốc trừ bênh, thuốc trừ cỏ, phân bón…), trong
mỗi nhóm bao gồm nhiều mặt hàng khác nhau. Do đó, việc hạ giá thành phụ
thuộc vào việc hạ giá thành từng loại sản phẩm.
Để tìm hiểu thực trạng hạ giá thành sản xuất những nhóm sản phẩm
chính của công ty, ta xem xét Bảng 19: Phân tích giá thành sản xuất phân
xưởng (Văn phòng) – PSC1 năm 2009, 2010
Từ bảng số liệu ta có thể thấy rõ sự tăng, giảm của các khoản mục chi
phí trong giá thành từng loại sản phẩm của Công ty, cụ thể là ở phân xưởng
thuộc văn phòng Công ty:
+ Nguyên liệu phụ gia:
Giá thành sản xuất nguyên liệu phụ gia năm 2010 so với năm 2009
giảm 197 263 976 đồng, với tỷ lệ giảm 65,09%. Cả ba khoản mục chi phí
cấu thành đều giảm, trong đó đáng chú ý nhất là chi phí nhân công trực tiếp
giảm tới 78,91%, trong khi đó giá thành đơn vị sản phẩm tăng rất cao 81 435
đồng/kg, với tỷ lệ tăng 186,22%.
+ Đối với nhóm phân bón lá:
Giá thành sản xuất phân bón lá năm 2010 so với năm 2009 giảm
745 396 762 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 35,05%. Cũng như nhóm
nguyên liệu phụ gia, cả ba khoản mục chi phí cấu thành trong nhóm sản
phẩm này đều giảm, nhưng giảm nhiều nhất là chi phí sản xuất chung (giảm
với tỷ lệ 59,91%). Ngược lại, giá thành đơn vị của nhóm mặt hàng này lại
tăng cao, tăng tới 403 248 đồng/kg, ứng với tỷ lệ tăng 145,95%.
Qua xem xét hai nhóm sản phẩm trên, có thể thấy việc giảm giá thành
sản xuất của cả hai nhóm sản phẩm này cơ bản là do Công ty đã giảm khối
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 65 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
lượng sản phẩm sản xuất xuống khá nhiều. Đây là một phản ứng của Công
ty đối với những loại sản phẩm có chi phí sản xuất tăng cao, và công ty gặp
khó khăn trong việc hạ giá thành sản phẩm.
+ Đối với nhóm thuốc trừ bệnh:
Giá thành sản xuất thuốc trừ bệnh năm 2010 so với năm 2009 giảm
4 147 848 722 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 18,55%. Tổng giá thành sản
xuất giảm dẫn tới giá thành đơn vị giảm 384 335 đồng/kg, tỷ lệ giảm tương
đối là 44,44%. Các khoản mục chi phí cấu thành đều giảm, trong đó giảm
mạnh nhất là chi phí sản xuất chung (35,57%). Đây là tỷ lệ giảm khá lớn, là
một thành tích đáng ghi nhận của công ty trong nỗ lực tiết kiệm chi phí hạ giá
thành sản phẩm.
+ Đối với nhóm thuốc trừ cỏ:
Năm 2010, giá thành sản xuất thuốc trừ cỏ là 34 544 459 956 đồng, tăng
12 902 108 446 đồng so với năm 2009, tỷ lệ tăng tương đối là 59,62%. Nguyên
nhân của việc tăng giá thành sản xuất thuốc trừ cỏ chủ yếu là do tăng chi phí
nhân công trực tiếp (94,87%), tiếp theo đó là tăng chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp (61,07%). Chi phí nhân công trực tiếp tăng cao là do năm 2008, công ty tăng
tiền lương bình quân cho công nhân, đồng thời tuyển dụng thêm công nhân sản
xuất. Việc giá dầu mỏ trên thế giới vẫn ở mức cao và sự bất ổn của tỷ giá hối
đoái (đặc biệt về cuối năm, tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh) đã kéo giá
nguyên vật liệu chính (gồm nguyên liệu, phụ gia, dung môi) lên cao. Bên cạnh
đó, đồng tiền mất giá, lạm phát gia tăng làm giá các yếu tố đầu vào như nhựa, hạt
nhựa PET, HDPE, giấy nhôm, giấy in… tăng lên, làm tăng chi phí nguyên vật
liệu phụ, đẩy tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp lên cao.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 66 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Tuy tổng giá thành sản xuất tăng cao, nhưng giá thành sản xuất đơn vị
nhóm thuốc trừ cỏ này giảm đi 208 320 đồng/kg, với tỷ lệ giảm 28,54%. Qua
đây, có thể thấy việc tăng giá của nhóm sản phẩm này chủ yếu là do tăng khối
lượng sản phẩm sản xuất tăng.
+ Đối với nhóm thuốc trừ sâu:
So với năm 2009, giá thành sản xuất thuốc trừ sâu năm 2010 tăng
36 974 210 592 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 62,40%. Ở nhóm sản phẩm này, cả
ba khoản mục chi phí sản xuất đều tăng với tỷ lệ cao, trong đó chi phí nhân công
trực tiếp tăng nhiều nhất (tăng 108,58%). Nguyên nhân chính của việc tăng chi phí
sản xuất kinh doanh này là do trong năm 2010, thời tiết có những biến động bất
thường, tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển và gây hại với mật độ lớn, địa bàn
rộng. Do nhu cầu về thuốc trừ sâu tăng cao nên khi vào mùa vụ, công ty huy động
công suất cao, tập trung chủ yếu vào sản xuất các sản phẩm thuốc trừ sâu để phục
vụ bà con nông dân. Số lượng sản phẩm sản xuất ra lớn nên tổng chi phí tăng cao
là điều tất yếu.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là giá thành đơn vị của nhóm sản phẩm này
năm 2010 so với năm 2009 cũng tăng 86 393 đồng/kg, tương ứng với tỷ lệ tăng
3,15%. Nên ngoài việc tăng khối lượng sản phẩm, thì sự gia tăng của các khoản
mục chi phí cũng làm gia tăng đáng kể giá thành sản xuất của nhóm hàng này.
Qua việc phân tích năm nhóm sản phẩm trên, có thể thấy, về cơ bản, thấy
Công ty đã có nhiều cố gắng trong việc khắc phục khó khăn chung của nền kinh
tế Việt Nam và thế giới, đặc biệt là những khó khăn về sự bất ổn của tỷ giá và
giá dầu thô, lạm phát gia tăng (nhất là ba tháng cuối năm 2010), thực hiện tương
đối tốt công tác lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch chi phí, giá thành, chủ
động được các nguồn nguyên vật liệu (đưa ra các giải pháp và thực hiện khá
thành công như sử dụng một số vật liệu thay thế), cắt giảm một số khoản chi
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 67 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
không cần thiết trong chi phí sản xuất chung, chi phí nhân công. Nhờ đó,
Công ty không bị lệ thuộc quá nhiều vào sự biến động của thị trường. Tuy
nhiên, không thể phủ định rằng trong năm, Công ty vẫn tồn tại những khoản
chi phí chưa được quản lý tốt, vẫn có hiện tượng lãng phí không cần thiết.
Công ty cần có biện pháp khắc phục tình trạng này trong thời gian tới.
Tổng hợp hiệu quả quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành
sản phẩm của Công ty còn được thể hiện ở mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá
thành năm 2010.
Để thuận lợi cho công tác tính toán mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá
thành của công ty năm 2010 ta nghiên cứu bảng sau:
Bảng 20: Phân tích tình hình hạ giá thành sản phẩm – PSC1.
Sản phẩm so
sánh được
Sản lượng
2010 (Qi1)
(kg)
Giá thành
đơn vị năm
2009 (Zi0)
(đồng/kg)
Giá thành
đơn vị năm
2010 (Zi1)
(đồng/kg)
Qi1xZi0
(triệu
đồng)
Qi1xZi1
(triệu
đồng)
1. Thuốc trừ bệnh 421 284 96 070 63 282 40 473 26 660
2. Thuốc trừ cỏ 1 334 906 79 280 47 892 105 831 63 931
3. Thuốc trừ sâu 2 111 385 70 272 118 632 148 371 250 478
Tổng cộng 3 867 575 245 622 229 806 294 675 341 069
MZ = ∑ [(Qi1 x Zi1) – (Qi1 x Zio)] = ∑ Qi1 x Zi1 – ∑ Qi1 x Zio
= 341 069 – 294 675
= 46 394 (triệu đồng)
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 68 Lớp: CQ45/11.03
i =1
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
TZ = x100 = x 100 = 15,74%
Qua hai chỉ tiêu đã tính ở trên, ta thấy trong năm 2010, Công ty có
mức tăng giá thành sản xuất sản phẩm là 46 394 triệu đồng, tỷ lệ tăng giá
thành là 15,74%. Qua xem xét bảng trên, có thể thấy Công ty chưa thực hiện
được mục tiêu hạ giá thành sản phẩm trong năm 2010 là do giá thành đơn vị
sản phẩm thuốc trừ sâu năm 2010 so với năm 2009 tăng cao ( tăng 29 739
triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 25,07%). Hơn nữa, khối lượng sản phẩm
thuốc trừ sâu Công ty sản xuất năm 2010 lớn nhất trong số ba nhóm sản
phẩm chính của công ty ( 2 111 385 kg). Do vậy, mặc dù hai nhóm sản
phẩm chính còn lại là thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ có giá thành đơn vị
năm 2010 giảm xuống so với năm 2009, tổng giá thành sản xuất sản phẩm
vẫn tăng cao.
Thực tế năm vừa qua, các doanh nghiệp nói chung và các doanh
nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật nói
riêng (trong đó có Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương) đều gặp
khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giá cả các mặt hàng đều tăng
chóng mặt, chi phí đầu vào sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật tăng. Bởi vậy,
việc PSC1 gặp khó khăn trong việc hạ giá thành sản phẩm là dễ hiểu. Tuy
nhiên, Công ty cũng cần xem xét việc làm sao để cân đối khối lượng từng
nhóm sản phẩm sản xuất nhằm hạ được giá thành sản phẩm mà vẫn giữ vững
được thị trường tiêu thụ của mình.
2.2.3. Công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành
sản phẩm ở một số sản phẩm chủ yếu của công ty
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 69 Lớp: CQ45/11.03
∑(Qi1 x Zio )
n
i =1
Mz 46 394
294 675
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
Như trên ta đã nghiên cứu, sản phẩm của PSC1 rất phong phú, nhiều
chủng loại, nhưng xét về quy trình kỹ thuật sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật
của Công ty, ta có thể phân loại sản phẩm của Công ty theo hai loại đó là
thuốc bột và thuốc nước. Để hiểu rõ hơn về thực trạng quản lý chi phí và hạ
giá thành sản phẩm của Công ty, ta nghiên cứu giá thành đơn vị một sản
phẩm thuộc nhóm thuốc bột, đó là thuốc trừ bệnh Fujione 40WP- loại gói
17gam. Đây là một trong những sản phẩm đại diện tiêu biểu của Công ty, có
khối lượng sản xuất lớn và doanh thu tiêu thụ cao. Qua đó, ta sẽ có những
nhận xét khái quát về tình hình tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm
của Công ty.
Từ Bảng 21: So sánh giá thành đơn vị sản phẩm năm 2009, 2010
Tên sản phẩm: Fujione 40WP – loại 17gam, ta thấy: tổng giá thành đơn vị
thuốc Fujione 40WP (loại gói 17gam) năm 2010 so với năm 2009 tăng
405,3153 đồng tương ứng với tỷ lệ 23,99%. Việc tăng giá này do các nguyên
nhân sau:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tăng 395,1454 đồng, tỷ lệ tăng tương
đối là 24,20%. Trong đó, tỷ lệ tăng lớn nhất là chi phí mua Ruban anh và mua
túi PP loại to 250*390. Nguyên nhân của việc tăng chi phí mua Ruban anh tới
135,75% và túi PP loại to 250*390 là do trong năm 2010, giá Ruban anh và túi
PP loại to mà Công ty phải nhập vào để sản xuất tăng lên rất cao, nhưng Ruban
anh lại là thành phần không thể thiếu và không có vật liệu khác thay thế để sản
xuất thuốc, do đó Công ty vẫn phải chấp nhận mua với giá cao như vậy.
Trong điều kiện tình hình kinh tế khó khăn, lạm phát dẫn đến giá cả
các mặt hàng đều tăng chóng mặt, nguy cơ giá thành sản xuất của Công ty
tăng lên rất cao, Công ty đã cố gắng đổi mới phương thức sản xuất để có thể
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 70 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
tiết kiệm đến mức tối đa lượng chi phí phải sử dụng. Cụ thể, Công ty không
sử dụng túi nilon 25x35 như các năm trước, đồng thời giảm tới 62,03% khối
lượng túi Fujione 40WP 17g – Huh sử dụng do giá cả của những vật liệu này
tăng cao và tăng khối lượng túi PP loại to 250*390, vừa tiết kiệm được chi
phí những cũng không làm ảnh hưởng đến chất lượng, mẫu mã sản phẩm.
Do đó chi phí về túi PP loại to 250*390 tăng lên là điều dễ hiểu. Qua những
phân tích trên và kết hợp với tình hình thực tế giá cả trên thị trường, ta thấy
trong năm 2010, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của Công ty chỉ tăng
24,20% là một tỷ lệ tăng khá cao. Ngoài nguyên nhân giá cả nguyên vật liệu
đầu vào tăng mạnh, còn có thể có nguyên nhân do Công ty quản lý chưa tốt
khoản mục chi phí này, chưa kiểm soát tốt chi phí nguyên vật liệu, và hạn
chế tối đa việc tăng vọt giá thành sản xuất trong điều kiện hầu như tất cả
nguyên vật liệu đầu vào đều tăng giá.
+ Chi phí nhân công trực tiếp:
Trong năm, chi phí nhân công trực tiếp tính cho một đơn vị sản phẩm
giảm 1,0401 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 4,69%. Khoản mục chi phí này
có giảm nhưng chỉ giảm nhẹ, không đáng kể. Mặc dù Công ty đã đưa vào
vận hành công nghệ sản xuất bán công nghiệp ngày càng hiện đại hơn đã
giúp tiết kiệm được lượng lao động thủ công khá lớn, năng suất lại cao hơn
so với sang chai đóng gói bằng tay, vừa độc hại, vừa không chính xác,
nhưng do Công ty phải tăng tiền lương cho công nhân sản xuất nên chi phí
nhân công trực tiếp có giảm nhưng giảm không đáng kể.
+ Chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung phân bổ cho giá thành đơn vị sản phẩm
Fujione 40 WP tăng 11,21 đồng tương ứng với tỷ lệ 32,4%. Đây là tỷ lệ tăng
cao nhất trong các khoản mục chi phí của sản phẩm này. Nguyên nhân chính
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 71 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
là do tăng chi phí bao bì, chi phí mua xăng dầu chạy máy, chi phí vật tư
hỏng. Ngoài lý do giá cả vật liệu bao bì, nhiên liệu xăng dầu mua vào tăng
cao thì cũng do Công ty sử dụng chưa thật sự tiết kiệm và hợp lý, ở nhiều
khâu sản xuất vẫn còn tình trạng lãng phí nhiên liệu, vật tư bao bì không cần
thiết. Đây là vấn đề đặt ra đòi hỏi Công ty phải có những biện pháp tích cực
hơn nữa trong việc quản lý và tiết kiệm chi phí sản xuất chung, không để
xảy ra tình trạng chi phí tăng lên quá cao làm tăng giá thành sản phẩm.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 72 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
CHƯƠNG III
CÁC GIẢI PHÁP KINH TẾ TÀI CHÍNH CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG
QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ HẠ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO VỆ THỰC VẬT 1
TRUNG ƯƠNG
3.1. Định hướng phát triển của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1
Trung ương trong những năm tới
Kinh tế thế giới vừa ra khỏi giai đoạn khó khăn nhất của cuộc khủng
hoảng tài chính và suy thoái, bước đầu phục hồi chậm. Kinh tế trong nước
vẫn còn nhiều bất ổn như : tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đôla Mỹ tăng cao,
lạm phát luôn ở mức cao… Giá điện, giá xăn dầu đang có chiều hướng tăng
mạnh làm cho giá cả nguyên vật liệu đầu vào cũng tăng theo. Tất cả những
điều nay gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp, trong đó có Công ty
cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương. Trước tình hình đó, để tồn tại và
phát triển, Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương đã đưa ra cho
mình những định hướng hoạt động như sau:
- Chiến lược phát triển trong thời gian tới:
+ Hoạt động tài chính với kế hoạch phát triển
+ Công ty tăng cường huy động vốn bằng nhiều hình thức .
+ Mở rộng thị trường ra nước ngoài và không ngừng nâng cao năng
lực sản xuất kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật, kinh doanh thêm mặt hàng
khác nhằm đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh.
- Chiến lược phát triển trung và dài hạn:
+ Về sản xuất kinh doanh: ổn định và tiếp tục phát triển nguồn cung
ứng nguyên vật liệu sản xuất. Công ty sẽ chủ động trong việc duy trì, phát
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 73 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
triển nguyên vật liệu sản xuất. Công ty sẽ chủ động trong việc duy trì, phát
triển mối quan hệ hợp tác kinh doanh với các nhà cung cấp lâu năm, gắn bó
với Công ty cũng như mở rộng kinh doanh, tăng tính chủ động trong việc
quản lý nguồn cung.
+ Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu, mong
muốn của bà con nông dân.
+ Củng cố và mở rộng hệ thống kênh phân phối gồm hệ thống chi
nhánh, các đại lí, cửa hàng phân phối sản phẩm. Công ty đã và đang xây
dựng hệ thống phân phối hàng cấp một, cấp hai ở từng chi nhánh một cách
hoàn chỉnh và ổn định nhằm giữ vững và mở rộng thị trường tiêu thụ của
công ty. Đồng thời, Công ty cũng sẽ đẩy mạnh khâu tiếp thị, xây dựng và
quảng bá thương hiệu thông qua việc tích cực tham gia trưng bày, giới thiệu
sản phẩm tại các cuộc hội trợ, hội thảo giới thiệu sản phẩm, và quảng bá trên
các phương tiện thông tin đại chúng…
+ Xây dựng chính sách giá cả phù hợp với cung ứng, thực hiện hỗ trợ
khách hàng tiền cước vận chuyển, thực hiện chiết khấu thương mại đối với
từng đối tượng khách hàng cụ thể.
+ Mở rộng ngành nghề kinh doanh trên cơ sở tận dụng kênh phân phối
sẵn có của công ty.
+ Về quản lý tài chính: Hoàn thiện năng lực quản lí tài chính của
Công ty, quản lí các nguồn vốn hợp lý, sử dụng các công cụ phân tích, dự
báo phục vụ cho công tác hoạch định kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 74 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
+ Về tổ chức bộ máy hoạt động: tổ chức bộ máy quản lí công ty tinh
gọn; tuyển dụng, đào tạo đội ngũ nhân lực, từ đó thực hiện việc cơ cấu lại
doanh nghiệp nhằm hoạt động với hiệu quả cao nhất.
- Phương án sản xuất kinh doanh năm 2011 của Công ty
Tình hình ngành nông nghiệp, mặc dù khủng hoảng kinh tế nhưng
mức tăng trưởng bình quân của ngành nông nghiệp trong 5 năm 2006-2010
vẫn đạt trên 3,4%, vượt chỉ tiêu Chính phủ đề ra cho ngành là 3 – 3,2%. Tuy
nhiên, diện tích đất nông nghiệp càng ngày càng bị thu hẹp, ảnh hưởng lớn
đến sự tăng trưởng chung của ngành. Nguyên vật liệu đầu vào chủ yếu là
nhập khẩu khiến doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro khi tỷ giá biến động tăng. Sự
cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật ngày
càng quyết liệt. Trước tình hình khó khăn có thể phải đương đầu trong năm
2011, Ban điều hành Công ty dự kiến doanh thu bán hàng thấp hơn so với
năm 2010, nhưng sẽ tập trung quản lý chặt chẽ chi phí, hạn chế rủi ro để
quyết tâm đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch đề ra, trong đó lợi nhuận và tỷ lệ
cổ tức vẫn phấn đấu đạt bằng năm 2010.
3.2. Một số nhận xét về công tác quản lý chi phí sản xuất kinh
doanh và hạ giá thành sản phẩm của công ty
Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương trong quá trình hoạt
động của mình luôn quán triệt vấn đề tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản
phẩm là mục tiêu hàng đầu của Công ty để đạt được một tỷ suất lợi nhuận
mong muốn. Trong những năm qua, Công ty đã có những cố gắng trong tổ
chức và quản lý sản xuất; công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm đã được thực hiện đúng quy định của Chế độ kế toán hiện hành.
Bộ máy kế toán của công ty được phân cấp rõ ràng, do đó đảm bảo sự chính
xác cao về thông tin thu được, cung cấp kịp thời cho ban lãnh đạo Công ty
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 75 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
những thông tin về chi phí sản xuất và giá thành từng sản phẩm để từ đó có
biện pháp quản lý chi phí, tiết kiệm chi phí để hạ giá thành sản phẩm.
3.2.1. Những ưu điểm trong công tác quản lý chi phí sản xuất kinh
doanh và hạ giá thành sản phẩm tại PSC1
* Về công tác quản lý chi phí sản xuất:
Việc Công ty thực hiện tập hợp chi phí sản xuất theo khoản mục chi
phí là rất phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty, đáp ứng
được yêu cầu quản lý giá thành cho từng loại sản phẩm, tạo điều kiện cho
công tác tính giá thành được nhanh chóng, dễ dàng và việc quản lý chi phí
theo khoản mục cũng thuận lợi hơn.
Về việc quản lý chi phí nguyên vật liệu: Công ty đã rất chú trọng
đầu tư về mặt trang thiết bị kỹ thuật hiện đại cho sản xuất và cho quản lý.
Từ sản xuất thủ công bán công nghiệp chuyển sang quy trình sản xuất bán
công nghiệp với các loại máy móc khá hiện đại như máy trộn, máy sang
chai thuốc trừ sâu bán tự động, máy dán túi, máy in date tự động… từ đó
giúp nâng cao năng suất sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, hạ
được giá thành sản phẩm, nâng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường.
Về việc quản lý chi phí nhân công trực tiếp: Công nhân trực tiếp sản
xuất của Công ty phần lớn là công nhân hợp đồng ngắn hạn. Công ty tính chi
phí nhân công trực tiếp theo lương khoán sản phẩm, không tiến hành trích các
khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ trên lương của công nhân
trực tiếp sản xuất. Việc thuê lao động như vậy là phù hợp với đặc điểm sản
xuất mang tính thời vụ của Công ty, giúp tiết kiệm chi phí nhân công trong
những tháng không phải thời vụ. Hơn nữa, cách tính lương khoán sản phẩm
“làm bao nhiêu, ăn bấy nhiêu” sẽ nâng cao năng suất lao động, nâng cao ý thức
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 76 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
trách nhiệm của công nhân viên, tránh tình trạng đi làm lấy lệ, đi làm chỉ để
chấm công mà không cố gắng, tập trung làm việc.
Về việc quản lý chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung được
phân bổ cho các loại sản phẩm hoàn thành trong kỳ theo tiêu thức khối
lượng sản phẩm là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với đặc điểm của sản phẩm
thuốc Bảo vệ thực vật và quy trình sản xuất thuốc giản đơn, từ khâu gia công
đến khâu sang chai, đóng gói thành nhiều loại chai, lọ dung tích, khối lượng
khác nhau.
* Về công tác tính giá thành sản phẩm:
Công ty xác định đối tượng tính giá thành là từng loại thuốc Bảo vệ
thực vật, từng dung lượng thuốc khác nhau. Đối tượng tập hợp chi phí phù
hợp với đối tượng tính giá thành. Đồng thời, điều này cũng rất phù hợp với
đặc điểm quy trình sản xuất và đặc điểm của sản phẩm thuốc Bảo vệ thực
vật, vì các loại thuốc Bảo vệ thực vật có thành phần hóa học và công dụng
khác nhau nên thành phần nguyên vật liệu rất khác nhau; mỗi loai thuốc
được sang chai đóng gói với các mức dung tích, khối lượng khác nhau nhằm
đáp ứng nhu cầu đa dạng của bà con nông dân nên giá thành rất khác nhau.
Công ty tính giá thành theo công thức giản đơn, không tính chi phí
sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ , toàn bộ chi phí thực tế phát sinh
trong kỳ được tính hết cho sản phẩm hoàn thành. Điều đó là hoàn toàn
phù hợp với đặc điểm quy trình sản xuất giản đơn, bán công nghiệp, chủ
yếu là gia công sang chai đóng gói từ nguyên vật liệu nhập khẩu. Cách
tính giá thành như vậy sẽ đảm bảo tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm. Mặt khác, chu kỳ sản xuất ngắn, nên kỳ tính giá
thành là một tháng vừa đảm bảo cung cấp thông tin một cách kịp thời cho
nhu cầu quản lý của Công ty, vừa phù hợp với kỳ báo cáo.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 77 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
3.2.2. Những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý chi phí sản
xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm tại PSC1
Bên cạnh những ưu điểm về cơ chế quản lý chi phí sản xuất và hạ giá
thành sản phẩm, PSC1 vẫn tồn tại những hạn chế cần được khắc phục:
- Trong các khoản mục chi phí thì chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ
trọng lớn nhất, ảnh hưởng quyết định đến việc sản xuất sản phẩm của Công
ty. Tuy vậy, tất cả nguyên vật liệu để sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật Công ty
đều phải nhập khẩu từ nước ngoài do trong nước chưa thể đáp ứng được nên
giá cả đầu vào chịu tác động rất lớn của tỷ giá hối đoái. Hơn nữa, hầu hết
chúng lại có nguồn gốc từ dầu mỏ, nên việc chi phí này biến động theo sự
biến động của giá dầu thô thế giới là không thể tránh khỏi. Có thể thấy quản
lý chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là vấn đề còn tồn tại lớn nhất trong công
tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm của Công ty.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng Công ty vẫn gặp khó khăn trong việc tìm
nguồn nguyên liệu với giá ổn định, chưa có các biện pháp thu thập thông tin,
tìm hiểu thị trường để tìm kiếm nguồn nguyên liệu thay thế; chưa tiếp cận
nhiều với thông tin nên chưa nắm rõ được tình hình phát triển của nguồn
nguyên liệu trên thế giới.
- Việc quản lý, hạch toán chi phí sản xuất chung, trong yếu tố chi phí
bằng tiền, Công ty cần chú ý tới sự tăng vọt của chi phí tái chế hàng (tăng
137,53%), và có biện pháp thích hợp giảm khối lượng sản phẩm bị hư hỏng,
hay kém phẩm chất để giảm chi phí tái chế hàng hóa. Trong yếu tố chi phí bằng
tiền khác, chi phí tiếp tân, khách tiết thiết nghĩ là một khoản mục chi phí có thể
tiết kiệm được, với mức tăng tới gần 140% như trong năm vừa qua, công ty cần
chú trọng quản lý khoản chi phí này ở mức tốt nhất có thể để tránh gây lãng
phí.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 78 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
- Về việc quản lý chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp,
Công ty quản lý hai khoản mục chi phí này theo địa điểm phát sinh là các chi
nhánh.Việc quản lý những khoản chi phí này còn gặp nhiều khó khăn do một
số khoản chi thiếu những bằng chứng cụ thể. . Thực tế, chi phí bán hàng và chi
phí quản lý doanh nghiệp ở một số chi nhánh tăng cao trong năm 2010 vì Công
ty đẩy mạnh doanh số hàng hóa tiêu thụ. Tuy nhiên, Công ty nên quản lý hai
khoản mục chi phí này một cách chi tiết hơn theo yếu tố chi phí nhằm xác định
đúng mục đích của các khoản chi, cắt giảm những khoản chi không cần thiết.
- Công tác lập kế hoạch chi phí và giá thành của Công ty còn sơ sài, do
đó việc đánh giá, phân tích và xác định trọng tâm của công tác quản lý nhằm
tiết kiệm chi phí và hạ giá thành còn nhiều khó khăn. Nguyên nhân có thể là do
phòng kế hoạch chưa quan tâm đúng mức đến công tác hạ giá thành. Công tác
lập dự toán chỉ dừng lại ở mức tính giá thành và giá trị dự toán mà không xác
định chỉ tiêu hạ giá thành, mức hạ giá thành kế hoạch trong từng sản phẩm.
3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ
giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương.
Trên cơ sở những mặt hạn chế, tồn tại phân tích ở trên, em xin đưa ra
một số giải pháp nhằm khắc phục thực trạng đó, giúp Công ty thực hiện tốt
hơn công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm:
3.3.1 Về công tác lập kế hoạch chi phí và giá thành.
Công tác xây dựng kế hoạch chi phí và kế hoạch giá thành đóng vai trò
hết sức quan trọng, là tiền đề, cơ sở của việc kiểm tra, đối chiếu nỗ lực tiết
kiệm chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, trong
thời gian tới Công ty cần xem xét, chú trọng hơn nữa khâu lập kế hoạch chi phí
và giá thành kế hoạch:
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 79 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
- Xác định khối lượng sản phẩm hoàn thành, tiêu thụ, từ đó lựa chọn, bố
trí và thực hiện sản xuất một cách hợp lý.
Sản lượng hàng hóa tiêu thụ của Công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó phải kể đến tình hình thời tiết, sâu bệnh của từng mùa vụ. Trong
những năm tình hình thời tiết và sâu bệnh diễn biến phức tạp, khối lượng thuốc
Bảo vệ thực vật tiêu thụ sẽ lớn, đòi hỏi Công ty phải có đủ khả năng đáp ứng
được nhu cầu của thị trường. Việc dự đoán trước được mức độ ảnh hưởng của
nhân tố này là khó khăn bởi đây là yếu tố tự nhiên, tuy nhiên Công ty có thể
căn cứ vào diễn biến sâu bệnh của các mùa vụ trước để dự đoán khối lượng
thuốc tiêu thụ đối với những mặt hàng chủ lực, và thường xuyên phải cung ứng
với khối lượng lớn trong các năm.
Phòng Kinh doanh và Phòng Công nghệ & Sản xuất và bộ phận sản xuất
cần phải xác định khối lượng sản phẩm kế hoạch cần thiết cho từng mùa vụ, từ
đó xây dựng kế hoạch sản xuất một cách hợp lý đảm bảo sự kết hợp hài hòa
giữa việc thu mua, dự trữ nguyên vật liệu, bố trí máy móc và phân công lao
động sao cho khoa học, phù hợp nhất để tiết kiệm các chi phí tiêu hao.
- Xác định kế hoạch cung ứng vật tư, lao động: đối với những loại vật tư
chủ yếu, Công ty nên đặt mua với khối lượng lớn dùng ở mức bình quân năm
nhằm tiết kiệm chi phí thông qua giảm chiết khấu, không phải ứng tiền trước
đồng thời chủ động về nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất nhằm tránh gián
đoạn.
- Xây dựng hệ thống định mức, xây dựng kế hoạch tiết kiệm giá thành
hàng năm: trên cơ sở các hệ số do bộ phận kế hoạch báo cáo, cơ sở giá thành
dự toán sản phẩm, từ đó Công ty cần lập ra hệ số giá thành của các khoản mục
đầu vào cho phù hợp. Đồng thời, dựa trên kế hoạch sản xuất ở từng phân
xưởng, phòng kế toán cần tính ra mức tiết kiệm kế hoạch mà mỗi phân xưởng
cần đạt được. Sau đó so sánh giữa mức thực tế tiết kiệm được và kế hoạch đã
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 80 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
đề ra để xác định xem phân xưởng nào có những nỗ lực nhất định trong công
tác quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm từ đó có chính sách khen
thưởng, động viên khích lệ kịp thời.
3.3.2. Về công tác quản lý chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Công ty cần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các bạn hàng, để có
thể chủ động được với nguồn nguyên vật liệu ngay cả khi gặp khó khăn. Cần
tìm kiếm thêm các bạn hàng mới trên cơ sở đảm bảo chất lượng ổn định, giá
cả hợp lý, thanh toán thuận tiện; tiếp tục duy trì củng cố mối quan hệ với các
bạn hàng lâu năm bằng cách đưa ra những chiến lược để có thể nhận được
sự quan tâm hợp tác và hỗ trợ tốt nhất từ bạn hàng. Ví dụ: cam kết thanh
toán đúng hạn ngay cả khi gặp khó khăn về tài chính, về nguồn ngoại tệ; có
những chính sách ưu đãi cho bạn hàng như được mua sản phẩm của công ty
với giá rẻ hơn so với các khách hàng khác…
- Công ty cần xây dựng chiến lược dự trữ nguồn nguyên liệu hợp lý,
tránh trạng thái tâm lí “ phòng xa”, gây ra những chi phí không hợp lí như
chi phí kho bãi để dự trữ nguyên liệu, chi phí bảo quản nguyên liệu (với khí
hậu như ở nước ta, độ ẩm không khí cao, dễ gây ra nấm mốc hoặc mùa hè
nóng ẩm dễ làm biến chất một số nguyên vật liệu, vì vậy, việc bảo quản
nguyên liệu là rất khó khăn). Từ định mức tiêu hao nguyên liệu và kế hoạch
sản xuất trong thời gian tiếp theo, công ty chỉ cần tính toán làm sao để có thể
có đủ nguyên liệu để tiến hành sản xuất kinh doanh mà vấn tiết kiệm được
chi phí để dự trữ bảo quản.
- Trong xu thế hợp tác của thế giới, nguồn thông tin là rất nhiều,
do đó, cần tích cực khai thác, cập nhật các thông tin mới nhất về tình
hình nguồn nguyên liệu và xu hướng biến động của giá cả nguyên liệu
trên thị trường thế giới, từ đó mới có thể chủ động trong mọi tình huống,
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 81 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
đồng thời có thể nhanh chóng triển khai tìm kiếm nguồn nguyên liệu
thay thể từ thị trường khác trên thế giới.
- Do mỗi sản phẩm được tạo thành từ một tỉ lệ nguyên liệu nhất định
nên Công ty cần nghiên cứu, đánh giá thị trường, tìm ra nhu cầu của thị
trường để xác định sản phẩm chủ lực của mình trong từng mùa vụ mới, từ đó
đưa ra kế hoạch sản xuất hợp lí. Xây dựng thương hiệu đối với một số mặt
hàng chủ lực là vấn đề cần được quan tâm hơn nữa, để xác định được sản
lượng hàng tiêu thụ ổn đinh hàng năm. Nhờ đó, công ty sẽ đạt được hiệu quả
cao nhất, tránh được tình trạng sản phẩm sẩn xuất ra nhưng không bán được,
vừa tiết kiệm được nguyên vật liệu sản xuất, vừa nâng cao được lợi nhuận
của mình.
3.3.3. Về việc quản lý chi phí nhân công trực tiếp, nâng cao trình độ
người lao động:
- Do đặc thù sản xuất của ngành, Công ty vẫn phải sử dụng lao động
phổ thông (ví dụ: trong công đoạn bốc dỡ, đóng chai, đóng gói thuốc Bảo vệ
thực vật…), cùng với việc sản xuất theo thời vụ nên công nhân nhiều người
không thành thạo công việc, nhiều khi gây ra những lãng phí không cần thiết
(làm sai, làm hỏng so với yêu cầu đặt ra…). Vì vậy, cần tích cực mở các lớp
bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, kiến thức của người lao động về những công
việc, lĩnh vực mà họ tham gia.
- Cần đi sâu tìm hiểu khả năng, năng lực của từng người trong công ty,
để từ đó, có những điều chỉnh, bố trí cho họ làm việc đúng với sở trường và
năng lực của họ. Việc bố trí công việc sao cho phù hợp với năng lực, trình độ
nhận thức, chuyên môn nghề nghiệp của người lao động sẽ khiến cho người lao
động làm việc tự tin hơn, hăng say hơn và có điều kiện để sáng tạo,cải tiến, thể
hiện năng lực của mình trong công việc, khuyến khích được người lao động
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 82 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
làm việc nhiệt tình hơn. Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được những
khoản chi phí không đáng có khi bố trí công việc không đúng, nơi thừa vẫn
thừa, nơi thiếu vẫn thiếu, góp phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
3.3.4. Về việc quản lý chi phí sản xuất chung:
Thuốc Bảo vệ thực vật là sản phẩm rất độc hại đối với con người và
môi trường, do đó ngoài các chi phí sản xuất chung như các doanh nghiệp
khác, PSC1 cũng phải chi ra một khoản chi phí khá lớn cho công tác kiểm
định dụng cụ đo lường sản xuất, vệ sinh bảo quản kho xưởng, mua bảo hộ
lao động, khám sức khỏe và bồi dưỡng độc hại cho người lao động. Tuy
không thể cắt giảm các khoản chi phí này nhưng Công ty cần có biện pháp
quản lý chặt chẽ hơn, sử dụng hợp lý hơn. Công ty cần phân loại công nhân
làm việc theo mức độ công việc và độc hại khác nhau để có chế độ chi bồi
dưỡng thích hợp. Việc vệ sinh, bảo quản kho xưởng cần giao, khoán cho
những bộ phận chịu trách nhiệm cụ thể, thực hiện định kỳ hàng tuần hoặc
hàng tháng.
Chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác (đáng chú ý như
chi phí điện nước, điện thoại; chi phí tái chế hàng hóa; chi phí lễ tân, khách
tiết…) cũng là một khoản khá lớn của Công ty. Công ty nên khoán định mức
cho các phòng ban, các phân xưởng khoản chi phí này theo tháng hoặc theo
quý, không để việc sử dụng chi phí tràn lan, không có kế hoạch, không có
chứng từ hợp lý hợp lệ.
3.3.5. Về việc quản lý chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp:
Đối với việc quản lý chi phí bán bàng, đầu năm, Công ty cần lập kế
hoạch cụ thể về công tác bán hàng và mở rộng thị trường, sau đó có thể
khoán định mức chi phí cho các chi nhánh, các tổ bán hàng. Việc tổ chức các
hội thảo đầu bờ, các hội thảo giới thiệu sản phẩm tới bà con nông dân có thể
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 83 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
giúp Công ty củng cố và mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng doanh số bán
hàng. Vì vậy, việc chi cho công tác này là cần thiết, nhưng phải căn cứ vào
cơ sở quy mô thị trường tiêu thụ ở từng vùng để có kế hoạch chi hợp lý,
tránh chi tràn lan, trong khi hiệu quả bán hàng đưa về không tương xứng.
Việc sử dụng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phải
gắn với kết quả bán hàng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Công ty có thể
quản lý hai khoản mục này một cách chi tiết hơn thông qua các yếu tố chi
phí cụ thể phát sinh tại từng chi nhánh. Điều này có thể giúp Công ty xác
định được việc mục đích sử dụng các khoản chi ở từng đơn vị có đúng, có
phù hợp hay không. Đồng thời cần thường xuyên kiểm tra các đơn vị trong
việc thực hiện định mức chi phí để kịp thời nhắc nhở giúp đơn vị đảm bảo
đúng định mức chi phí, tránh phát sinh vượt định mức quá nhiều ảnh hưởng
đến kết quả sản xuất kinh doanh của toàn Công ty.
Cuối năm, Công ty cần động viên khích lệ, khen thưởng kịp thời đối
với những đơn vị vừa thực hiện tốt công tác bán hàng, vừa đảm bảo tiết
kiệm chi phí. Đồng thời, nếu trong năm, đơn vị nào có hai khoản mục chi
phí này vượt nhiều so kế hoạch đặt ra, phải giải trình cụ thể với Ban lãnh
đạo Công ty.
3.3.6. Về vấn đề đổi mới trang thiết bị khoa học công nghệ:
Công ty cần tăng cường đầu tư, đổi mới, đưa vào phục vụ cho sản
xuất những máy móc, thiết bị hiện đại, nhanh chóng áp dụng tiến bộ khoa
học kĩ thuật vào sản xuất cũng như trong công tác quản lí của công ty
Do tính chất sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật là phức tạp và độc hại,
nguồn nguyên vật liệu lại nhập chủ yếu từ nước ngoài nên cần phải có dây
truyền sản xuất (sang chai, đóng gói…) hiện đại nhằm giảm bớt việc sử
dụng sức người, giảm bớt ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Việc đưa vào
sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại có thể giúp giảm định mức tiêu hao
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 84 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
nguyên vật liệu xuống dưới mức 0,2%. Hơn nữa, sự cạnh tranh trong ngành
kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật càng ngày càng gay gắt, nên việc chú
trọng nâng cao chất lượng và tính thu hút của bao bì, mẫu mã là rất cần thiết.
Nhờ quy trình công nghệ hiện đại, Công ty có thể thường xuyên thay đổi bao
bì mẫu mã của cùng một loại sản phẩm để kích thích thị hiếu của người mua,
nhằm tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn.
PSC1 là một doanh nghiệp sản xuất, do vậy quy mô tài sản cố định,
máy móc thiết bị trong Công ty là rất quan trọng. Kể từ khi nhập dây
chuyền công nghệ sản xuất mới năm 2006, trang thiết bị sản xuất của Công
ty đã có nhiều đổi mới, nhưng tại các nhà máy của công ty vẫn còn một số
máy móc thiết bị đã cũ, đã lạc hậu, công suất thấp, không phù hợp với yêu
cầu của sẩn xuất hiện nay. Điều này làm cho chi phí khấu hao, chi phí sửa
chữa tài sản cao, đồng thời không tiết kiệm được các chi phí như chi phí
nguyên vật liệu, chi phí nhiên liệu, động lực để vận hành máy. Trong khi đó,
trên thị trường hiện có những máy móc thiết bị với chức năng tương tự
nhưng công suất cao hơn, hao phí nhiên liệu và động lực để vận hành máy ít
hơn, mặt khác là máy mới nên chi phí sửa chữa sẽ ít hơn. Nếu thay thể máy
móc cũ bằng máy mới hơn, công ty không chỉ tiết kiệm được chi phí về
nguyên vật liệu, động lực, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, mà còn nâng
cao được năng suất lao động. Chi phí giảm, khối lượng sản phẩm sản xuất và
tiêu thụ tăng, tất nhiên sẽ giúp cho doanh nghiệp hạ được giá thành sản
phẩm của mình.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 85 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
KẾT LUẬN
Sau khi chuyển từ doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần, lại
phải đối mặt với thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Công ty Cổ phần
Bảo vệ thực vật 1 Trung ương đã gặp không ít khó khăn trong sản xuất kinh
doanh. Mặc dù vậy, với sự nỗ lực của Ban giám đốc và toàn thể cán bộ công
nhân viên, Công ty đã không ngừng tìm biện pháp nhằm quản lý tốt chi phí
sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và đạt những thành tựu nhất định trong công
tác quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên, công tác quản lý chi phí, hạ giá thành sản phẩm tại PSC1
vẫn còn tồn tại một số thiếu sót. Trong luận văn này, em đã mạnh dạn đưa ra
một số nhận xét, ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện hơn nữa các tác quản lý
chi phí và giá thành sản phẩm tại Công ty.
Do trình độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế, hơn nữa vấn đề quản
lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm là một vấn đề phức tạp đòi hỏi
phải hội tụ được rất nhiều kiến thức không chỉ về mặt lý luận mà còn cả về
mặt thực tiễn nên luận văn cuối khoá của em thực sự còn rất nhiều thiếu sót.
Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, cùng
toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa
Tài chính Doanh nghiệp, đặc biệt là thầy giáo: TS. Vũ Văn Ninh, cùng Ban
lãnh đạo và các cô chú, anh chị Phòng Tài chính – kế toán của Công ty Cổ
phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em để em
có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 4 năm 2011
Tác giả luận văn
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 86 Lớp: CQ45/11.03
Học viện tài chính Luận văn cuối
khóa
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” - Học viện Tài chính - Nhà xuất
bản Tài chính năm 2007.
2. Giáo trình “Phân tích Tài chính doanh nghiệp” - Học viện Tài chính-
Nhà xuất bản Tài chính năm 2008.
3. Giáo trình “Kế toán tài chính ” - Học viện Tài chính - Nhà xuất bản
Tài chính năm 2007.
4. Giáo trình “Kế toán quản trị ” - Học viện Tài chính - Nhà xuất bản Tài
chính năm 2008
5. Tạp chí “Sinh viên nghiên cứu Khoa học” - Học viện tài chính
6. Thời báo Kinh tế Việt Nam.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 87 Lớp: CQ45/11.03

Thực trạng quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương

  • 1.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa LỜI MỞ ĐẦU Kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện với nền kinh tế thế giới. Việc Việt Nam gia nhập AFTA, WTO giúp các doanh nghiệp trong nước có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, với khoa học kỹ thuật hiện đại, có thị trường các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ rộng mở. Nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức luôn ở phía trước. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ làm gì để tồn tại và phát triển bền vững trước sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt? Để đạt được những mục tiêu của mình, nhất là mục tiêu lợi nhuận và tăng trưởng bền vững, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tích cực, nhạy bén, nắm bắt ngay các cơ hội. Nhưng trước hết, vũ khí đắc lực xuất phát từ nội tại doanh nghiệp đó chính là chất lượng và giá cả, hai nhân tố cơ bản giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh và uy tín trên thương trường. Một mặt, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã… nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Mặt khác, doanh nghiệp còn cần phải tìm mọi biện pháp để hạ giá thành sản xuất làm cơ sở cho việc định giá bán. Giá thành còn phản ánh kết quả của việc quản lý vật tư, lao động, tiền vốn tiết kiệm hay lãng phí, từ đó giúp cho các nhà quản lý đề ra các biện pháp hữu hiệu hạ thấp chi phí sản xuất, giảm giá thành sản xuất. Trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương, em đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với Công ty nói riêng. Vận dụng những kiến thức đã học ở nhà trường, nhờ sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS. Vũ Văn Ninh và các cô chú, các anh chị Phòng Tài chính – Kế toán Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương, em Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 1 Lớp: CQ45/11.03
  • 2.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa đã đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề: “Các giải pháp chủ yếu quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương”, làm đề tài luận văn của mình, với hy vọng có thể đóng góp một số ý kiến cho hoạt động quản lý chi phí, giá thành của Công ty trong thời gian tới. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương Chương 3: Các giải pháp kinh tế tài chính chủ yếu tăng cường quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương Do trình độ lý luận và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên bài viết của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Em kính mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo, các cô chú và các anh chị Phòng Tài chính – Kế toán của Công ty để bài viết của em được hoàn chỉnh hơn. Sự giúp đỡ tận tình chỉ bảo của thầy giáo và các cô chú, anh chị chính là nền tảng cho em trong công tác nghiên cứu, học tập cũng như làm việc sau này. Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo: TS. Vũ Văn Ninh, Ban lãnh đạo, các cô chú, các anh chị Phòng Tài chính– kế toán của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn cuối khoá này. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên Nguyễn Thị Hải Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 2 Lớp: CQ45/11.03
  • 3.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp tiêu dùng một bộ phận nguồn lực (làm phát sinh chi phí), đồng thời lại tạo ra một nguồn lực mới dưới dạng các sản phẩm, dịch vụ. Đây thực chất là quá trình tiêu dùng các yếu tố sản xuất kinh doanh (gồm tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động) để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Lợi nhuận thu được từ việc bán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ chính là mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí kinh doanh là toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận đó là chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí hoạt động tài chính. Trong đó, chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh là những chi phí thường xuyên phát sinh, gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí hoạt động tài chính là những chi phí phát sinh gắn liền với hoạt động tài chính của doanh nghiệp. 1.1.1. Chi phí sản xuất kinh doanh và phân loại chi phí sản xuất kinh doanh. 1.1.1.1. Khái niệm, nội dung của chi phí sản xuất kinh doanh. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 3 Lớp: CQ45/11.03
  • 4.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của các loại vật tư đã tiêu hao, chi phí hao mòn máy móc, thiết bị, tiền lương hay tiền công và các khoản chi phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất, bán hàng của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải luôn chú ý tới việc tăng cường quản lý, kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ, bởi vì nếu doanh nghiệp sử dụng chi phí mất cân đối, để chi phí không hợp lý phát sinh nhiều sẽ làm giảm lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: - Chi phí cho việc sản xuất ra các sản xuất sản phẩm hàng hóa, dịch vụ: Là toàn bộ chi phí để doanh nghiệp tiến hành sản xuất sản phẩm, dịch vụ; bao gồm: chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doan: tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương (khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ) doanh nghiệp phải trả cho người lao động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: số khấu hao TSCĐ trích theo quy định đối với toàn bộ TSCĐ phục vụ sản xuất kinh doanh; các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho khâu sản xuất và các chi phí bằng tiền khác. - Chi phí bán hàng: Là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình bán sản phẩm hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Chi phí bán hàng bao gồm: toàn bộ các khoản tiền lương và các khoản trích theo lương phải trả cho nhân viên phục vụ trong khâu bán hàng; chi phí vật liệu bao bì, chi phí công cụ dụng cụ ở khâu bán hàng; khấu hao TSCĐ trích theo quy định đối với toàn bộ TSCĐ phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm; chi phí bảo hành sản phẩm; chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 4 Lớp: CQ45/11.03
  • 5.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa - Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt động quản lý kinh doanh, quản lý tài chính và điều hành chung toàn doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: tiền lương, phụ cấp phải trả cho ban giám đốc, nhân viên quản lý; chi phí đồ dùng văn phòng; chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác. 1.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được phân loại theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho công tác quản lý chi phí, phân tích hiệu quả sử dụng chi phí, từ đó giúp doanh nghiệp tìm ra các biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Thông thường chi phí sản cuất kinh doanh thường được phân loại theo một số tiêu thức sau đây: a) Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung kinh tế (theo yếu tố chi phí): Cách phân loại này căn cứ vào đặc điểm kinh tế giống nhau của chi phí để xếp chúng vào từng loại, mà không tính đến công dụng, địa điểm phát sinh của chúng trong quá trình sản xuất. Mối loại là một yếu tố chi phí có cùng nội dung kinh tế, tính chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong kỳ. Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau đây: - Chi phí vật tư: Là toàn bộ giá trị các loại vật tư mà doanh nghiệp mua từ bên ngoài dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như cho phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, chi phí phân bổ công cụ dụng cụ, phụ tùng thay thế, dụng cụ lao động trong kỳ … Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 5 Lớp: CQ45/11.03
  • 6.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa - Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số tiền khấu hao TSCĐ mà doanh nghiệp trích trước trong kỳ đối với tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất trong kỳ. - Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương: Là toàn bộ các khoản tiền lương, tiền công mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh; các khoản trích nộp theo tiền lương như chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn mà doanh nghiệp phải nộp trong kỳ. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải trả cho các dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ do các đơn vị khác ở bên ngoài cung cấp như: các khoản chi về tiền điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, tiền thuê kiểm toán, tiền thuê dịch vụ pháp lý, tiền mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tai nạn con người, tiền thuê thiết kế, chi phí thuê sửa chữa tài sản cố định, chi hoa hồng đại lý, môi giới, chi xúc tiến thương mại… - Chi phí bằng tiền khác: Là các khoản chi phí ngoài các khoản chi phí đã nêu trên như các khoản nộp về thuế tài nguyên, thuế đất, thuế môn bải, tiền thuê đất, trợ cấp thôi việc hoặc mất việc làm cho người lao động, chi về đào tạo nâng cao trình độ quản lý cho người lao động, chi cho công tác y tế, nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ, chi thưởng sáng kiến, chi bảo vệ môi trường, chi phí giao dịch, tiếp thị, khuyến mãi, quảng cáo… Cách phân loại nảy giúp doanh nghiệp lập được dự toán chi phí sản xuất theo yếu tố; kiểm tra sự cân đối chi phí phát sinh ở các bộ phận trong doanh nghiệp. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 6 Lớp: CQ45/11.03
  • 7.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa b) Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh của chi phí (phân loại theo khoản mục): Những chi phí có cùng công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh được xếp vào cùng một khoản mục chi phí. Theo cách phân loại này có những khoản mục chi phí sau đây: - Chi phí vật tư trực tiếp: Là các chi phí về nguyên, nhiên, vật liệu tiêu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. - Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các khoản mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động trực tiếp sản xuất như tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp có tính chất lương, chi ăn ca, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất của doanh nghiệp. - Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các khoản chi phí phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp như: tiền lương, phụ cấp ăn ca cho nhân viên phân xưởng , chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ xuất dùng cho phân xưởng, khấu hao TSCĐ thuộc phạm vi phân xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền phát sinh ở phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất. - Chi phí bán hàng: Bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như chi phí tiền lương, các khoản phụ cấp trả lương cho nhân viên bán hàng, chi hoa hồng đại lý, hoa hồng môi giới, tiếp thị, đóng gói, vận chuyển, bảo quản, chi phí khấu hao phương tiện vận tải, chi phí vật liệu, bao bì, dụng cụ, đồ dùng, các chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền khác như chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí quảng cáo… Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 7 Lớp: CQ45/11.03
  • 8.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa - Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm các chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động của toàn doanh nghiệp như: tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, và các nhân viên quản lý ở các phòng ban, chi bảo hiểm, kinh phí công đoàn của bộ máy quản lý doanh nghiệp, các khoản chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, khấu hao tài sản cố định chung cho doanh nghiệp; các chi phí bằng tiền, dự phòng nợ phải thu khó đòi, phí kiểm toán, chi phí tiếp đón, khách tiết, công tác phí, các khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động; các khoản chi phí nghiên cứu khoa học, nghiên cứu đổi mới công nghệ, chi thưởng sáng kiến, chi phí đào tạo nâng cao tay nghề công nhân, chi bảo vệ môi trường. Cách phân loại chi phí này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí và tính giá thành cho từng loại sản phẩm; quản lý tốt chi phí tại các địa điểm phát sinh chi phí, khai thác các khả năng hạ giá thành sản phẩm. c) Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản xuất kinh doanh: Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia làm hai loại là chi phí cố định và chi phí biến đổi. Chi phí cố định là chi phí không thay đổi (hoặc không thay đổi đáng kể) theo sự thay đổi của sản lượng sản xuất, hay quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Thuộc về loại chi phí này gồm có: chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí về tiền lương trả cho cán bộ, nhân viên quản lý, các chi phí về thuê tài sản, thuê văn phòng làm việc. Chi phí biến đổi là các chi phí thay đổi theo sự thay đổi của sản lượng sản xuất hay quy mô sản xuất. Thuộc về loại chi phí này gồm các chi phí về Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 8 Lớp: CQ45/11.03
  • 9.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa vật tư, chi phí tiền lương công nhân sản xuất trực tiếp, chi phí dịch vụ như tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại… Khi quy mô sản xuất kinh doanh tăng thì chi phí cố định tính cho một đơn vị sản phẩm, hàng hóa sẽ giảm. Đối với chi phí biến đổi, việc tăng, giảm, hay không đổi khi chi phí này cho một đơn vị sản phẩm còn phụ thuộc vào tương quan biến đổi giữa quy mô sản xuất kinh doanh và tổng chi phí biến đổi doanh nghiệp. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp thấy được xu hướng biến đổi của từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thể xác định được sản lượng hòa vốn cũng như quy mô kinh doanh hợp lý để đạt được hiệu quả tối ưu. 1.1.2. Giá thành sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm 1.1.2.1. Khái niệm và nội dung của giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí của doanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm hay loại sản phẩm nhất định. Giá thành sản phẩm của một doanh nghiệp biểu hiện chi phí cá biệt của doanh nghiệp để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Cùng một loại sản phẩm có thể có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất, nhưng do trình độ quản lý khác nhau, giá thành sản phẩm đó sẽ khác nhau. Giá thành sản phẩm cũng chịu ảnh hưởng của sự biến động giá cả các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu giá thành sản phẩm giữ một vai trò hết sức quan trọng thể hiện trên các mặt sau: Giá thành là thước đo mức hao phí về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là căn cứ để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh. Khi đưa ra quyết định Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 9 Lớp: CQ45/11.03
  • 10.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa lựa chọn sản xuất một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần phải nắm bắt được nhu cầu thị trường, giá cả thị trường và mức hao phí sản xuất loại sản phẩm đó. Trên cơ sở như vậy, doanh nghiệp xác định được hiệu quả sản xuất loại sản phẩm đó để lựa chọn và quyết định khối lượng sản xuất nhằm đạt lợi nhuận tối đa. Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả của các biện pháp tổ chức, kỹ thuật. Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp có thể xem xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản phẩm, phát hiện và tìm ra các nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí không hợp lý để có biện pháp loại trừ. Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng chính sách giá cả cạnh tranh đối với từng sản phẩm được đưa ra tiêu thụ trên thị trường. 1.1.2.1. Phân loại giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm có thể phân loại theo các tiêu thức khác nhau: - Phân loại giá thành theo phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm: Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ của các sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ. Giá thành sản xuất bao gồm những khoản chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để hoàn thiện việc sản xuất sản phẩm. Giá thành sản xuất sản phẩm được tính trên cơ sở tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Giá thành tiêu thụ (còn gọi là giá thành toàn bộ của sản phẩm) là toàn bộ chi phí để hoàn thành việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 10 Lớp: CQ45/11.03
  • 11.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa được tính trên cơ sở tổng hợp giá thành sản xuất sản phẩm, chi phí quản lý doanh nghiệp, và chi phí bán hàng. - Phân loại giá thành sản phẩm theo thời điểm và cơ sở số liệu để tính giá thành: Theo căn cứ này giá thành sản phẩm được chia thành hai loại: Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản xuất sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch được tính toán trước khi tiến hành sản xuất sản phẩm. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm hợp lý chi phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm và là căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp. Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Giá thành định mức được tính trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành định mức là công cụ để quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm; là thước đo chính xác để xác định hiệu quả sử dụng tài sản, lao động, tiền vốn trong sản xuất; là căn cứ để đánh giá đúng đắn kết quả thực hiện các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã đề ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Giá thành thực tế: Là giá thành sản xuất được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh do kế toán tập hợp và sản lượng sản phẩm được sản xuất thực tế trong kỳ. Giá thành sản xuất thực tế được tính sau quá trình sản xuất, có sản phẩm hoàn thành ứng với kỳ tính giá thành mà doanh nghiệp đã xác định. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc sử dụng các giải pháp tổ chức kinh tế, Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 11 Lớp: CQ45/11.03
  • 12.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa kỹ thuật trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá thành sản xuất thực tế là căn cứ để xác định kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Cách phân loại này có tác dụng đánh giá tình hình thực hiện tiết kiệm chi phí và tình hình thực hiện giá thành sản phẩm so với giá thành sản phẩm kế hoạch để quản lý và giám sát chi phí, xác định được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ kế hoạch. Từ đó doanh nghiệp có biện pháp điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức cho phù hợp. 1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản xuất sản phẩm Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt có những mặt khác nhau: Thứ nhất: Chi phí sản xuất luôn gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh chúng, còn giá thành sản phẩm lại gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh ra chúng, còn giá thành sản phẩm lại gắn liền với một khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành. Thứ hai: Chi phí phát sinh trong doanh nghiệp được phân thành các yếu tố chi phí, có cùng một nội dung kinh tế, chúng không nói rõ địa điểm và mục đích bỏ ra chi phí. Còn những chi phí nào phát sinh nói rõ địa điểm và mục đích bỏ ra chi phí đó thì chúng được tập hợp lại thành các khoản mục để tính toán giá thành sản phẩm, dịch vụ. Thứ ba: Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí đã trả trước của kỳ nhưng chưa phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ trước nhưng kỳ này mới phát sinh, không bao gồm chi phí phải trả kỳ này nhưng thực tế chưa phát sinh. Ngược lại giá thành sản phẩm lại chỉ liên quan đến chi phí phải trả trong kỳ và chi phí phải trả trước được phân bổ trong kỳ. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 12 Lớp: CQ45/11.03
  • 13.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Thứ tư: Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm hoàn thành mà còn liên quan đến sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng. Còn giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang. Mặt khác, do chi phí kỳ trước chuyển sang kỳ này và chi phí sản xuất cuối kỳ này chuyển sang kỳ sau thường không bằng nhau dẫn đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong kỳ thường không bằng nhau dẫn đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong kỳ thường không trùng nhau. Tuy nhiên, hai chỉ tiêu chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau. Chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm có điểm giống nhau là đều phản ánh lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ sản xuất. Chi phí sản xuất là cơ sở, là căn cứ để tính giá thành sản phẩm, công việc lao vụ hoàn thành. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành giống nhau ở bản chất, đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp chi phí sản xuất theo đó và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích và kiểm tra chi phí, giá thành sản phẩm. Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm, dịch vụ. Vì vậy, quản trị giá thành gắn liền với quản trị chi phí sản xuất kinh doanh. 1.2. Quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 1.2.1. Yêu cầu quản lý và lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Yêu cầu quan trọng của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp là phải quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, thông qua việc lập và thực hiện kế Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 13 Lớp: CQ45/11.03
  • 14.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa hoạch chi phí, từ đó có phương án tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, vì chi phí sản xuất kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với doanh thu và lợi nhuận. Nếu chi phí giảm sẽ làm lợi nhuận tăng và ngược lại, nếu chi phí tăng không hợp lý sẽ làm cho lợi nhuận giảm sút. Cụ thể, tài chính doanh nghiệp cần chú trọng tới một số vấn đề như sau: - Các doanh nghiệp cần phải lập kế hoạch chi phí hàng năm (lập bảng dự toán chi phí theo yếu tố) đồng thời theo dõi, kiểm tra việc chấp hành đúng dự toán chi phí đó. - Tài chính doanh nghiệp cần quản lý chi phí theo định mức đã xây dựng. Xây dựng định mức chi phí là việc xác định số tiền tối thiểu để hoàn thành một đơn vị sản phẩm, dịch vụ hoặc công việc. Khi xây dựng các định mức chi phí cần phải đảm bảo tôn trọng các yêu cầu cơ bản dưới đây: + Dựa vào tài liệu lịch sử, căn cứ vào tính chất của sản phẩm, dịch vụ để xem xét tình hình chi phí thực tế cả về hiện vật và giá trị liên quan đến đơn vị sản phẩm, dịch vụ, công việc. + Phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý của đơn vị. + Đảm bảo tính khách quan, trung thực + Xem xét các yếu tố ảnh hưởng của thị trường và các yếu tố khác tác động đến việc xây dựng định mức chi phí trong kỳ. Ngoài ra, hàng năm doanh nghiệp cần rà soát, xây dựng và bổ sung hệ thống định mức lao động, tiền lương, định mức tiêu hao vật tư và các loại, định mức chi phí nhân công, chi phí vật tư mua ngoài… làm căn cứ quản lý và kiểm tra xem xét trong kỳ doanh nghiệp thực hiện quản lý chi phí có chấp hành tốt các định mức quản lý hay không. Việc xây dựng định mức chi tiêu Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 14 Lớp: CQ45/11.03
  • 15.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa trong quản lý doanh nghiệp cần gắn liền với kết quả kinh doanh và có chứng từ hợp lệ. Xây dựng các định mức chi phí sản xuất kinh doanh là công việc phức tạp và khó khăn, đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp phải chú ý đến đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý cụ thể, loại sản phẩm, dịch vụ, loại vật liệu sử dụng cho từng sản phẩm, dịch vụ, địa điểm kinh doanh, nguồn hàng cung cấp, đơn giá vật tư, đơn giá lao động… - Phải xác định đúng tính chất các chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh để tính đúng chỉ tiêu chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Điều này đòi hỏi người làm công tác quản lý tài chính doanh nghiệp phải nắm chắc chế độ tài chính doanh nghiệp, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm và năng lực quản lý đối với hoạt động của doanh nghiệp. 1.2.2. Nội dung chủ yếu của kế hoạch hạ giá thành sản phẩm Sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra bao gồm loại sản phẩm hàng hóa so sánh được và loại không so sánh được. Sản phẩm hàng hóa so sánh được là loại sản phẩm doanh nghiệp đã sản xuất, có điều kiện, căn cứ để so sánh hạ giá thành sản phẩm. Còn sản phẩm hàng hóa không so sánh được thường là sản phẩm mới sản xuất, sản phẩm sản xuất thử. Việc hạ giá thành áp dụng cho các loại sản phẩm so sánh được. Tuy vậy đối với các loại sản phẩm mới sản xuất, sản xuất thử, doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu tiết kiệm chi phí ở mức cao nhất có thể. Để quản lý giá thành, mỗi doanh nghiệp đều phải xác định kế hoạch hạ giá thành. Nhiệm vụ chủ yếu của xác định kế hoạch giá thành là phát hiện và khai thác mọi khả năng tiềm tàng để giảm bớt chi phí sản xuất và tiêu thụ. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 15 Lớp: CQ45/11.03
  • 16.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Mức hạ giá thành của sản phẩm hàng hóa so sánh được của doanh nghiệp phản ánh số tuyệt đối về chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tiết kiệm được và được xác định theo công thức sau: MZ = ∑= n i 1 [( Qi1 x Zi1) – ( Qi1 x Zi0)] Trong đó: Mz : Mức hạ giá thành sản phẩm hàng hoá so sánh được. Zi1 : Giá thành đơn vị sản phẩm thứ i năm nay. Zi0 : Giá thành đơn vị sản phẩm thứ i kỳ báo cáo. Qi1 : Số lượng sản phẩm thứ i được sản xuất ra năm nay. i : Sản phẩm so sánh thứ i (i= 1,n). n : Số loại sản phẩm so sánh được. Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm hàng hoá so sánh được phản ánh số tương đối về chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tiết kiệm được và được xác định được theo công thức sau: Tz = Mz X 100 ∑= n i 1 Qi1 x Zi0 Trong đó: TZ : tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm so sánh được. MZ, Qi1, Zi0: như trên. Hai chỉ tiêu “Mức hạ giá thành sản phẩm” và “Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm” trình bày trên cần được phối hợp sử dụng khi đánh giá thành tích của doanh nghiệp trong việc phấn đấu tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 16 Lớp: CQ45/11.03
  • 17.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa 1.2.3. Ý nghĩa của việc quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp Một trong những vấn đề mà doanh nghiệp không thể xem nhẹ đó là phấn đấu giảm chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm. Doanh nghiệp nào làm tốt công tác này sẽ đạt được hiệu quả kinh doanh cao, tạo dựng được uy tín giúp doanh nghiệp đứng vững trên thị trường. Muốn làm được điều này trước hết doanh nghiệp cần nhận thức được ý nghĩa của việc hạ giá thành sản phẩm: - Hạ giá thành sản phẩm là một trong những nhân tố tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện tốt việc tiêu thụ sản phẩm. Khi thị trường có sự cạnh tranh, hàng hoá đa dạng, phong phú, các doanh nghiệp buộc phải nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và phải tìm biện pháp giảm chi phí, hạ giá thành. Việc hạ giá thành sẽ tạo được lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh tranh, doanh nghiệp có thể giảm bớt giá bán để đẩy nhanh tiêu thụ sản phẩm, thu hồi vốn nhanh, tăng nhanh vòng quay vốn. Vì vậy, hạ giá thành sản phẩm là nhân tố quan trọng tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. - Hạ giá thành là biện pháp cơ bản, lâu dài và trực tiếp làm tăng lợi nhuận doanh nghiệp. Do giá cả được hình thành bởi quan hệ cung và cầu trên thị trường, nếu giá thành hạ so với giá bán trên thị trường, doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm càng cao. Nếu giá thành càng thấp, doanh nghiệp sẽ có lợi là có thể hạ được giá bán để có thể tiêu thụ khối lượng sản phẩm nhiều hơn và sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn. - Hạ giá thành có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thêm sản xuất sản phẩm, dịch vụ. Do doanh nghiệp đã tiết kiệm được các chi phí nguyên nhiên vật liệu và chi phí quản lý nên với khối lượng sản xuất như cũ, Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 17 Lớp: CQ45/11.03
  • 18.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa nhu cầu vốn lưu động sẽ được giảm bớt. Trong điều kiện đó, doanh nghiệp có thể rút bớt lượng vốn lưu động dùng trong sản xuất hoặc có thể mở rộng sản xuất tăng thêm lượng sản phẩm tiêu thụ. 1.3. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Song có thể chia thành 3 nhóm nhân tố chủ yếu sau đây: 1.3.1 Nhân tố về mặt kỹ thuật, công nghệ sản xuất Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, các máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại được sử dụng trong việc sản xuất ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiết kiệm hao phí lao động sống và lao động vật hóa trong quá trình sản xuất, đồng thời tăng năng suất lao động. Vì vậy, doanh nghiệp nào nắm bắt và áp dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ có nhiều lợi thế trong cạnh tranh, tiết kiệm được chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. 1.3.2. Nhân tố về mặt tổ chức quản lý sản xuất, quản lý tài chính doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có trang thiết bị kỹ thuật hiện đại mà quản lý lại không tốt thì chi phí không có xu hướng giảm mà còn có xu hướng tăng lên. Do vậy, doanh nghiệp cần phải tổ chức quản lý chi phí sản xuất sao cho hợp lý, bố trí các khâu sản xuất ăn khớp với nhau nhằm hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu, năng lượng điện lực. Mặt khác, tổ chức nguồn lao động khoa học sẽ giúp việc kết hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý và loại trừ Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 18 Lớp: CQ45/11.03
  • 19.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa được tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy, thúc đẩy việc nâng cao năng suất lao động dẫn đến giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Đặc biệt, bộ máy quản lý phải là những người có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, năng lực sáng tạo để giúp doanh nghiệp xác định được phương án tối ưu làm cho lượng chi phí bỏ ra hợp lý nhất; việc phân công bố trí lao động đúng ngành, đúng nghề, đúng năng lực lao động sẽ làm tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế góp phần tích cực vào việc hạ giá thành sản phẩm. Việc phát huy đầy đủ vai trò của quản lý tài chính cũng ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Việc tổ chức đầy đủ vốn, đảm bảo kịp thời với chi phí sử dụng vốn thấp nhất sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội kinh doanh có hiệu quả. Việc phân phối, sử dụng hợp lý, tăng cường kiểm tra giám sát sử dụng vốn sẽ tạo điều kiện sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả cao, bảo toàn và mở rộng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp có điều kiện hơn trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, góp phần tích cực vào việc hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. 1.3.3. Nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh thuận lợi hay khó khăn cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Chẳng hạn đối với các doanh nghiệp khai thác, nguồn tài nguyên cũng như điều kiện khai thác có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành. Nguồn tài nguyên phong phú, điều kiện khai thác thuận lợi thì chi phí khai thác sẽ thấp và ngược lại. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 19 Lớp: CQ45/11.03
  • 20.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Các doanh nghiệp mới thành lập, chưa có kinh nghiệm kinh doanh, sản xuất chưa ổn định… sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc hạ giá thành. Hoặc trong điều kiện sản xuất cạnh tranh, các doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư nhiều hơn cho đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất, đào tạo lao động, quảng cáo tiếp thị… Vì vậy việc tăng chi phí sản xuất kinh doanh là hoàn toàn có thể xảy ra. Tóm lại, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm. Mỗi nhân tố có phạm vi và mức độ tác động khác nhau, nên doanh nghiệp cần nghiên cứu làm sao để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực, phát huy các ảnh hưởng tích cực nhằm có biện pháp tăng cường quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. 1.4. Biện pháp quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp 1.4.1. Vai trò của công tác quản trị tài chính doanh nghiệp trong việc quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra quyết định tài chính, tổ chức thực hiện những quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính doanh nghiệp, đó là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì các hoạt động của doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở của công tác hoạch định mang tính chiến lược cao. Xét trên góc độ tài chính, việc giám sát thường xuyên đi sâu vào mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một biện pháp có hiệu quả để thúc đẩy doanh nghiệp ra sức cải tiến công tác quản lý Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 20 Lớp: CQ45/11.03
  • 21.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa chi phí sản xuất, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm tăng khối lượng tiêu thụ. Thông qua giám đốc tài chính sẽ chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu từ đó khai thác mọi tiềm năng của doanh nghiệp, đẩy mạnh sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Quản trị tài chính doanh nghiệp đối với quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là đảm bảo tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Việc quản lý không chỉ ở các yếu tố của quá trình sản xuất mà còn ở mọi giai đoạn của quá trình sản xuất: - Khâu huy động vốn, đảm bảo vốn đầy đủ kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh: Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp là xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp, lựa chọn phương pháp và hình thức huy động vốn thích hợp góp phần tăng sản lượng sản xuất, giảm chi phí sử dụng vốn. - Tổ chức sử dụng vốn hiệu quả: Bằng việc đánh giá và lựa chọn phương án đầu tư tối ưu, tổ chức sản xuất góp phần tiết kiệm chi phí khấu hao trên một đơn vị sản phẩm, chi phí nguyên vật tiêu hao và chi phí lao động sống trên một đơn vị sản phẩm. - Thông qua giám sát kiểm tra, giám đốc tài chính để tìm ra các giải pháp nhằm quản lý chặt chẽ chi phí, hạn chế chi phí bất hợp lý, điểu chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh. Quản trị tài chính doanh nghiệp đối với quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ngăn ngừa các chi phí sản xuất vượt định mức, nâng cao năng suất lao động, sử dụng hiệu quả công suất máy móc thiết bị, tiết kiệm chi phí sản xuất chung. Bên cạnh đó, làm tốt công tác này còn giúp cho việc hạch toán phản ánh đúng những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 21 Lớp: CQ45/11.03
  • 22.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa phản ánh đúng giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng. Trái lại nếu không có sự giám sát tài chính như vậy sẽ dẫn đến tình trạng thất thoát vật tư, tiền vốn và chi phí vượt dự toán nên doanh nghiệp sẽ dễ lâm vào tình trạng khó khăn. Muốn tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm phải tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất, phải lập được kế hoạch chi phí, kế hoạch giá thành, dùng hình thức tiền tệ tính toán trước mọi chi phí cho sản xuất kinh doanh kỳ kế hoạch, phải xây dựng được ý thức thường xuyên tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm… Để thực sự phát huy tác dụng đòi hỏi phải thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các phòng ban, giữa các bộ phận để kiểm soát chặt chẽ chi phí. Điều đó được thực hiện hiệu quả hay không là phụ thuộc không nhỏ vào sự năng động sáng tạo, khả năng quản lý tài chính của các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp. 1.4.2. Một số biện pháp chủ yếu để quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm 1.4.2.1. Lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh là việc xác định toàn bộ mọi khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để sản xuất và tiêu thụ sản xuất kỳ kế hoạch. Thông qua việc lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể kiểm tra tình hình sử dụng chi phí, phát hiện khả năng tiết kiệm chi phí để thúc đẩy đơn vị cải tiến kinh doanh tăng lợi nhuận, đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng và cải thiện đời sống công nhân viên đơn vị. Trong quá trình lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh đòi hỏi người quản lý phải tính đúng, tính đủ các chi phí sản xuất kinh doanh để xác định Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 22 Lớp: CQ45/11.03
  • 23.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa chỉ tiêu kế hoạch, đồng thời theo dõi động viên các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện. 1.4.2.2. Quản lý và sử dụng lao động có hiệu quả để giảm chi phí tiền lương, tiền công để hạ giá thành sản phẩm Muốn giảm chi phí tiền lương và tiền công cần phải tăng nhanh năng suất lao động. Để làm được như vậy phải tiến hành cải tiến tổ chức sản xuất, tổ chức lao động đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ thuật và tay nghề; hoàn thiện định mức lao động, tăng cường kỷ luật lao động, áp dụng hình thức tiền lương tiền thưởng, trách nhiệm vật chất để người lao động gắn bó và có trách nhiệm nâng cao năng suất lao động. Sử dụng yếu tố “con người” là rất quan trọng vì tỷ trọng chi phí tiền lương chiếm rất lớn trong tổng chi phí của doanh nghiệp. Hàng kỳ doanh nghiệp nên tổ chức bình chọn những cá nhân, đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để khen thưởng kịp thời; doanh nghiệp đưa ra hệ số thi đua vào trong tiền lương phải trả cho cán bộ công nhân viên. Mặt khác, doanh nghiệp cần chú trọng đến công tác đời sống cho cán bộ công nhân viên như: nơi ăn ở, vui chơi, thể dục thể thao; có các chính sách phù hợp cho người lao động như: nghỉ phép, nghỉ ốm, sẽ khuyến khích được người lao động nâng cao năng suất lao động. 1.4.2.3. Tổ chức sản xuất, bố trí các khâu sản xuất hợp lý Việc tổ chức sản xuất, bố trí các khâu sản xuất hợp lý sẽ tiết kiệm được chi phí gián tiếp, hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu, giảm thấp khối lượng phế liệu thu hồi, chi phí ngừng sản xuất. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 23 Lớp: CQ45/11.03
  • 24.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Tổ chức quản lý sản xuất phải được chú trọng từ trên xuống dưới, mỗi đồng chi phí bỏ ra được người quản lý sử dụng một cách tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất. 1.4.2.4. Doanh nghiệp phải chú trọng đổi mới, hiện đại hóa trang thiết bị máy móc, công nghệ Doanh nghiệp cần luôn phải chú trọng tới việc cải tiến, đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ để không bị đẩy lùi tụt hậu so với tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Việc đổi mới máy móc, thiết bị giúp doanh nghiệp tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm nhẹ biên chế, nâng cao năng suất lao động từ đó có thể giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đổi mới máy móc thiết bị là một vấn đề chiến lược lâu dài của doanh nghiệp, tuy nhiên phải xem xét hiệu quả đầu tư mang lại, phải nghiên cứu kỹ lưỡng về mặt tiến bộ khoa học kỹ thuật, lựa chọn đối tác đầu tư trước khi tiếng hành mua. 1.4.2.5. Phát huy vai trò tài chính trong việc quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm Thực hiện biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công tác kiểm tra tài chính đối với từng khoản chi phí như: Chi phí nguyên vật liệu: kiểm tra định mức tiêu hao nguyên vật liệu, giá vật tư, tận dụng phế liệu thu hồi. Thông qua kiểm tra phát hiện sự tăng giảm chi phí vật tư cho một đơn vị sản phẩm, đề xuất kịp thời biện pháp thưởng phạt. Chi phí tiền lương: kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch lao động tiền lương và tình hình thực hiện quỹ lương bằng việc kiểm tra định mức lao động, tốc độ tăng tiền lương và tốc độ tăng năng suất lao động, hình thức trả lương. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 24 Lớp: CQ45/11.03
  • 25.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Chi phí quản lý phân xưởng, chi phí quản lý doanh nghiệp: kiểm tra các khoản chi phí này thực tế phát sinh có phù hợp với dự toán được lập hay không, cần kết hợp với tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp, qua đó ngăn chặn kịp thời tình trạng chi phí quá mức cần thiết kém hiệu quả. Mặt khác, tổ chức sử dụng vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho mua sắm vật tư tránh tổn thất cho sản xuất như phải ngừng sản xuất vì thiếu vật tư, kiểm tra tình hình dự trữ vật tư, tồn kho sản phẩm, từ đó đẩy mạnh tốc độ chu chuyển vốn, giảm bớt nhu cầu vay vốn làm giảm bớt chi phí lãi vay. Trên đây là một số biện pháp nhằm để quản lý tốt chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm. Thực tế, do đặc điểm khác nhau giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nên mỗi doanh nghiệp cần phải căn cứ vào những biện pháp chung đó để đưa ra cho doanh nghiệp mình phương hướng, biện pháp cụ thể có tính chất khả thi nhằm quản lý chi phí sản xuất kinh doanh hạ giá thành sản phẩm. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 25 Lớp: CQ45/11.03
  • 26.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN BẢO VỆ THỰC VẬT 1 TRUNG ƯƠNG 2.1. Khái quát về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương 2.1.1. Quá trình hình thành, phát triển và tổ chức hoạt động của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương 2.1.1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương - Tên công ty: Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương Tên tiếng Anh: Central Plant Protection Joint-Stock Company No.1 Tên viết tắt : PSC.1 - Trụ sở chính: 145 đường Hồ Đắc Di, Quang Trung, Đống Đa, Hà Nội. - Khái quát về quá trình hình thành và phát triển. Công ty vật tư Bảo vệ thực vật 1 (tiền thân của Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương) là đơn vị kinh tế hạch toán độc lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được thành lập theo quyết định số 267/NN/QĐ ngày 14/08/1985 của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) trên cơ sở là bộ phận cung ứng vật tư, thuốc bảo vệ thực vật tách ra từ Cục Bảo vệ thực vật. Đến năm 1993, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 08/NN/TCCB/QĐ NGÀY 06/01/1993, chuyển Công ty vật tư Bảo vệ thực vật 1 thành một doanh nghiệp nhà nước với giấy phép kinh doanh số 105835 ngày 06/02/1993 do trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội cấp. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 26 Lớp: CQ45/11.03
  • 27.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Sau hơn 10 năm hoạt động dưới loại hình doanh nghiệp nhà nước, ngày 10/11/2005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có quyết định số 3112/QĐ/BNN/ĐMDN về việc chuyển Công ty Bảo vệ thực vật 1 thành Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương và chính thức đi vào hoạt động theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 0103012757 ngày 05/06/2006 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp. Qua nhiều năm hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, quy mô hoạt động của công ty ngày càng được mở rộng. Đến nay, công ty đã có số vốn điều lệ lên tới 50.000.000.000 đồng ( Năm mươi tỷ Việt Nam đồng), và thiết lập mạng lưới chi nhánh rộng khắp các tỉnh thành trên cả nước. 2.1.1.2. Ngành nghề kinh doanh và sản phẩm chủ yếu: a) Ngành nghề kinh doanh: - Kinh doanh hàng tư liệu sản xuất bao gồm: Dụng cụ phun, rải thuốc bảo vệ thực vật, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp, trang thiết vị phục vụ cho nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản. - Kinh doanh hàng tư liệu tiêu dùng, sinh hoạt bao gồm: Hàng may mặc, máy móc, thiết bị dùng trong công xưởng hoặc phòng thí nghiệm, máy móc thiết bị đun nóng, làm lạnh, đồ nội thất dùng trong gia đình (bàn, ghế, giường, tủ). - Sản xuất và mua bán hóa chất, phân bón hóa học, phân bón lá, phân bón hữu cơ sinh học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt chuộtm ruồi, muỗi, kiến, gián, thuốc kích thích sinh trưởng cây trồng. - Sản xuất và mua bán giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn cho gia súc, thức ăn cho tôm cá. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 27 Lớp: CQ45/11.03
  • 28.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa - Sản xuất và mua bán thuốc khử trùng cho nuôi trồng thủy sản, thuốc khử trùng và làm dịch vụ khử trùng cho hàng hóa xuất nhập khẩu và kho tàng. - Lữ hành nội địa, quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch (không bao gồm kinh doanh phòng hát karaoke, vũ trường, quán bar). - Kinh doanh bất động sản. - Cho thuê kho tàng bến bãi. - Kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải khát (không bao gồm kinh doanh quán bar). b) Sản phẩm chủ yếu: Các sản phẩm chính của công ty được cung ứng ra thị trường là vật tư bảo vệ thực vật phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp, được chia ra làm các nhóm sau đây: - Nhóm thuốc trừ sâu: Bassa 50EC, Neretox 95WP, Ofatox 400EC, Patox 95SP, Trebon 10EC, Tango 800WP… - Nhóm thuốc trừ bệnh: Cavil 50WP, Fujione 40EC, Kabim 30WP, New Hinosan 30EC, Ricide 72WP… - Nhóm thuốc trừ cỏ: Heco 600EC, Fenrim 18,5WP, Bravo 480SL… - Nhóm phân bón lá. 2.1.2. Tổ chức kinh doanh của công ty 2.1.2.1. Tổ chức nhân sự và tổ chức bộ máy quản lý a) Tổ chức nhân sự Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 28 Lớp: CQ45/11.03
  • 29.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Hiện nay toàn công ty gồm có 1 Văn phòng công ty, 11 chi nhánh và 6 tổ bán hàng khu vực, với số lượng nhân viên là 155 lao động. Cơ cấu nhân sự của công ty được phân chia như sau: STT Văn phòng, chi nhánh Số lượng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Văn phòng công ty - Ban giám đốc - Phòng Công nghệ và sản xuất - Phòng Tài chính-Kế toán - Phòng kinh doanh - Phòng Tổ chức-Hành chính - Phòng Phát triển sản phẩm - Ban dự án chiến lược Chi nhánh phía Bắc Chi nhánh Hải Phòng Chi nhánh Thanh Hóa Chi nhánh Nam khu IV Chi nhánh Đà Nẵng Chi nhánh phía Nam Chi nhánh Nam Trung Bộ Chi nhánh Thừa Thiên Huế Chi nhánh Tây Nguyên Chi nhánh Quảng Ngãi Chi nhánh Phú Yên Tổ bán hàng Khu vực I Tổ bán hàng Khu vực II 35 2 5 5 5 10 7 1 20 12 6 6 13 15 6 5 3 8 8 3 1 Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 29 Lớp: CQ45/11.03
  • 30.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa 15 16 17 18 Tổ bán hàng Khu vực III Tổ bán hàng Khu vực IV Tổ bán hàng Khu vực V Tổ bán hàng Khu vực VI 3 2 7 2 Tổng cộng 155 b) Tổ chức bộ máy quản lý Tổ chức bộ máy của Công ty bao gồm: Đại hội cổ đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, và Ban kiểm soát. Ngoài ra còn có các phòng chức năng và các đơn vị trực thuộc. Sơ đồ 01: TỔ CHỨC CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO VỆ THỰC VẬT I TRUNG ƯƠNG. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 30 Lớp: CQ45/11.03
  • 31.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa 2. 1.2.2. Nhiệm vụ chức năng của các phòng, ban chức năng - Đại hội đồng cổ đông: Gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết và là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty. - Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý của Công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty trừ nhưng vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. - Tổng giám đốc: Là người điều hành hoạt động hàng ngày của Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về thực Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 31 Lớp: CQ45/11.03 Xưở ng Tp.H ồ Chí Minh C hi nh án h Q uả ng N gã i Xưở ng Đà Nẵng T ổ B án hà ng kh u v ự c III, IV T ổ bá n hà ng K hu v ự c I, II C hi nh án h P hú Y ên C hi nh án h T h ừ a T hi ên H uế Xưở ng Hải Phòng T ổ B án hà ng kh u v ự c V, VI Chi nh án h Phí a Na m Chi nh án h Na m Tru ng Bộ ắC hi nh án h Na m Kh u IV Chi nh án h Th an h Hó a Chi nh án h Phí a Bc Chi nh án h Tâ y Ng uy ên Chi nh án h Đà Nẵ ng C hi nh án h H ải P hò ng Ba n Dự án chi ến lượ c Ph òn g Tổ ch ức Hà nh chí nh Ph òn g Tài chí nh Kế toá n Ph òn g Ph át triể n sả n ph ẩm Ph òn g Kin h do an h Ph òn g Cô ng ng hệ & Sả n xu ất Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị Giám đốc Công ty Ban kiểm soát
  • 32.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa hiện các quyền và nghĩa vụ được giao, do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm và bãi nhiệm. - Các phòng chức năng: + Phòng Tổ chức hành chính: có nhiệm vụ và chức năng tổ chức lao động, quản lý nhân sự và bảo vệ tài sản của Công ty. + Phòng Tài chính – Kế toán: lập kế hoạch về tình hình tài chính của Công ty, có nhiệm vụ hạch toán kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh bằng tiền, thu chi tiền mặt một cách hợp lý; thanh toán tiền lương cho cán bộ công nhân viên; quyết toán từng tháng, quý, năm; theo dõi mọi hoạt động liên quan đến tài chính đơn vị. + Phòng Phát triển sản phẩm: có nhiệm vụ lập kế hoạch phát triển sản phẩm, tiến hành công tác tìm kiếm, đăng ký sản phẩm mới… + Phòng Kinh doanh: lập kế hoạch tiêu thụ, xây dựng giá thành, biện pháo thực hiện kế hoạch, cân đối hàng hóa, tìm hiểu thị trường và nghiên cứu thị trường. + Phòng Công nghệ và Sản xuất: lập kế hoạch sản xuất, tính toán định mức sản xuất của các mặt hàng, nghiên cứu sản phẩm mới…, ứng dụng công nghệ sản xuất, sang chai, đóng gói nhỏ thuốc BVTV, quản lý in mẫu các loại vật tư bao bì nhãn mác, quảng cáo tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm. + Các Chi nhánh trực thuộc Công ty: Bao gồm các Chi nhánh hạch toán độc lập và Chi nhánh hạch toán phụ thuộc, phân xưởng, cửa hàng trực thuộc Chi nhánh, phân bổ tại các địa bàn trọng điểm trên khắp cả nước: 1. Chi nhánh Phía Bắc Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 32 Lớp: CQ45/11.03
  • 33.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa 2. Chi nhánh Hải Phòng – Xưởng Hải Phòng 3. Chi nhánh Thanh Hóa 4. Chi nhánh Nam khu 4 5. Chi nhánh Đà Nẵng – Xưởng Đà Nẵng 6. Chi nhánh Quảng Ngãi 7. Chi nhánh Thừa Thiên Huế 8. Chi nhánh Nam Trung Bộ 9. Chi nhánh Tây Nguyên 10. Chi nhánh Phía Nam – Xưởng Lê Minh Xuân 11. Chi nhánh Phú Yên. Mỗi chi nhánh là một cơ sở sản xuất thu nhỏ, bộ máy quản lý chi nhánh gồm: + Giám đốc chi nhánh: chịu trách nhiệm chỉ đạo chung hoạt động của chi nhánh và chịu sự lãnh đạo của công ty. + Phó giám đốc: giúp giám đốc quản lý hoạt động của chi nhánh. + Phòng kế hoạch: nhập xuất thuốc Bảo vệ thực vật các loại tại kho, cảng. + Phòng thị trường: thống kê sản phẩm, tổ chức tiêu thụ sản phẩm với các hình thức bán buôn, bán lẻ sản phẩm. + Phòng kế toán: gồm một kế toán trưởng, theo dõi thu chi tài chính, vật tư tài sản của chi nhánh, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh về văn phòng cuối kỳ sau khi lập báo cáo tài chính. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 33 Lớp: CQ45/11.03
  • 34.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Chỉ có chi nhánh Hải Phòng hoạt động theo phương thức hạch toán phụ thuộc và báo sổ, còn các chi nhánh khác đều hạch toán độc lập, cuối kỳ kế toán giữa niên độ, sau khi lập báo cáo tài chính, các chi nhánh này sẽ gửi lên văn phòng công ty để lập báo cáo hợp nhất. 2.1.2.3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương 2.1.2.3.1. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh Đặc điểm của quá trình sản xuất nông nghiệp là chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, và đối tượng sản xuất nông nghiệp trùng với chu kỳ phát triển sinh học của cây trồng, nên nó có tính thời vụ sâu sắc. Do đó việc sản xuất và tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật cũng mang tính thời vụ. Nhu cầu thuốc bảo vệ thực vật, vật tư nông nghiệp hàng năm chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết khí hậu và điều kiện canh tác. Vào các thời vụ thời tiết không thuận lợi sẽ tạo môi trường cho sâu bệnh phát triển phá hoại mùa màng, nhu cầu tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật sẽ tăng cao, và ngược lại. Hơn nữa, các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật là rất phong phú, và thường xuyên thay đổi nhằm giảm nồng độ độc hại trong thuốc mà vẫn khống chế được tính kháng thuốc của sâu bệnh. Với trình độ canh tác ngày càng nâng cao như hiện nay, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong ngành trồng trọt ở nước ta có vị trí rất quan trọng, nhằm góp phần đẩy lùi dịch bệnh, giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, và giúp ngươi nông dân có vụ mùa bội thu. Tuy nhiên, đa phần các sản phẩm này là các hợp chất độc hại, có nguồn gốc tự nhiên, có nhiều dạng khác nhau như thuốc sữa, thuốc bột thấm nước, thuốc nước phun, thuốc dạng hạt, và có nhiều nồng độ, dung tích khác nhau. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 34 Lớp: CQ45/11.03
  • 35.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương là đơn vị chuyên sản xuất cung ứng các loại thuốc BVTV như thuốc trừ bệnh: Fujione 40WP, Kabim 30WP, Cavil 50SC, Starner 20WP… ; thuốc trừ sâu: Bassa 50EC, Trebon 10EC, Neretox 95Wp, Ofatox 400EC… ; thuốc trừ cỏ: Heco 600EC, Fenrim 18,5WP, Catholis 43EC… ; các loại hóa chất, bình bơm thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng… Tất cả các loại sản phẩm của Công ty được sản xuất và phân loại theo 2 loại hình cơ bản sau: - Công ty mua thành phẩm đã được sản xuất hoản chỉnh, nguyên đai nguyên kiện từ các nhà cung cấp về đóng chai, đóng gói nhỏ để cung ứng trực tiếp đến khách hàng. - Công ty mua nguyên vật liệu chính gồm: hoạt chất, dung môi và các phụ gia, sau đó áp dụng công nghệ, công thức pha chế được chuyển giao từ các công ty nước ngoài hoặc tự nghiên cứu để phối chế sản xuất ra thành phẩm hoàn chỉnh. Quá trình sản xuất của công ty được thực hiện ở các xưởng: hiện nay còn 3 xưởng là xưởng Hải Phòng thuộc Chi nhánh Hải Phòng, xưởng Đà Nẵng thuộc Chi nhánh Đà Nẵng và xưởng Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Chi nhánh phía Nam. Trong các chi nhánh này chỉ có chi nhánh Hải Phòng là hạch toán phụ thuộc, ở xưởng Hải Phòng, quá trình sản xuất được chia ra làm ba tổ: tổ chế biến, tổ đóng thuốc bột, tổ đóng gói thuốc nước. Tất cả các sản phẩm của công ty dù nhập khẩu hay sang chai đóng gói trong nước đều phải theo đúng danh mục do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định. Sản phẩm sản xuất ra được điều chuyển đến các chi nhánh, các cửa hàng của công ty để bán ra ngoài. Thị trường của công ty rất rộng, bởi công ty có hệ thống bán buôn, bán lẻ rộng khắp từ Bắc vào Nam. Hiện nay, sau Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 35 Lớp: CQ45/11.03
  • 36.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa khi cổ phần hóa và thay đổi bộ máy, phương thức quản lý sản xuất kinh doanh, uy tín của công ty ngày càng được nâng lên, mục tiêu của công ty là nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường. 2.1.2.3.2. Đặc điểm yếu tố đầu vào thị trường các yếu tố đầu vào a) Đặc điểm về vốn kinh doanh và cơ cấu vốn kinh doanh: Vốn đầu tư của chủ sở hữu: Chỉ tiêu Cuối năm 2010 VNĐ Tỷ lệ % Đầu năm 2010 VNĐ Tỷ lệ % - Vốn góp của Nhà nước(*) 22.532.880.000 45,07 22.532.880.000 45,07 - Vốn góp của các đối tượng khác 27.467.120.000 54,93 27.467.120.000 54,93 + Do pháp nhân nắm giữ(**) 7.760.030.000 15,52 7.730.030.000 15,46 + Do thể nhân nắm giữ 19.707.090.000 39,41 19.737.090.000 39,47 Cộng 50.000.000.000 41.438.950.000 (**) Vốn do pháp nhân nắm giữ gồm: Cuối năm Đầu năm Công ty TNHH Hưng Hằng 2 100 030 000 2 370 030 000 Công ty cổ phần Trái Đất Xanh 2 860 000 000 2 860 000 000 Công ty cổ phần SXKD xuất nhập khẩu Lam Sơn Thái Bình 2 500 000 000 2 500 000 000 Công ty TNHH Hưng Việt 60 000 000 - Công ty Vật tư BVTV Phương Mai 240 000 000 - Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 36 Lớp: CQ45/11.03
  • 37.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Cộng 7 760 030 000 7 730 030 000 (*) Vốn góp của Nhà nước do Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) quản lý. Theo Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông năm 2008 ngày 10/04/2010 về việc tăng vốn điều lệ của Công ty từ 35 tỷ VNĐ lên 50 tỷ VNĐ, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước chỉ đăng ký mua thêm 375.548 cổ phiếu theo quyền mua 5/1 theo công văn số 08/QĐ-ĐTKDV ngày 14/01/2009 của Tổng Giám đốc SCIC (trong tổng số 1.500.000 cổ phiếu phát hành thêm). Do đó, tỷ lệ vốn SCIC trong công ty giảm tương ứng từ 53,65% xuống 45,07%. Cổ phiếu: Chỉ tiêu Năm 2010 - Số lượng cổ phiếu đăng ký phát hành 5.000.000 - Số lượng cổ phiếu đã bán ra công chúng 5.000.000 - Cổ phiếu phổ thông 5.000.000 - Số lượng cổ phiếu được mua lại - - Số lượng cổ phiếu đang lưu hành 5.000.000 + Cổ phiếu phổ thông 5.000.000 Mệnh giá cổ phiếu đang lưu hành: 10.000 đồng/ cổ phiếu. b) Nguồn nguyên liệu, vật liệu - Công ty nhập nguyên liệu, phụ gia nước ngoài kết hợp với nguồn vật tư, bao bì trong nước như chai nhựa, nắp nút, nhãn thùng, túi thiếc, gói PVC…. Qua quá trình chế biến, sang chai, đóng gói bằng các trang thiết bị tiên tiến, quy trình quản lý chất lượng sản phẩm và môi trường theo tiêu chuẩn quy định tạo nên các sản phẩm chất lượng cao, đa dạng về chủng loại, bao gói phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 37 Lớp: CQ45/11.03
  • 38.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa - Công ty nhập thành phẩm từ nước ngoài đã được sản xuất, đóng gói theo đơn đặt hàng của công ty, và cung ứng trực tiếp đến tay khách hàng. Hiện công ty là nhà phân phối độc quyền một số sản phẩm của các công ty nước ngoài như Nhật Bản, Đức, Thụy Sĩ, và một số quốc gia khác. Các sản phẩm này đều là những thương hiệu nổi tiếng, có chất lượng cao, hiệu quả và đã được các chuyên gia trong ngành BVTV đánh giá cao, đồng thời được người nông dân tin tưởng sử dụng. Nguyên vật liệu chính sản xuất sản phẩm của công ty hầu hết có nguồn gốc từ dầu mỏ và phải nhập vào từ nước ngoài. Do vậy, giá cả của nguyên vật liệu đầu vào của công ty chủ yếu phụ thuộc vào sự biến động của giá dầu mỏ, và sự biến động của giá đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới. c) Đặc điểm về quy trình công nghệ sản xuất Do đặc điểm của ngành Bảo vệ thực vật nói chung và của Công ty nói riêng, sản phẩm sản xuất ra nhiều loại (có khi lên tới 60 mặt hàng) chúng phải trải qua nhiều khâu gia công liên tiếp theo một trình tự nhất định mới trở thành sản phẩm. Quá trình chế biến thuốc Bảo vệ thực vật diễn ra như sau: từ các nguyên liệu nhập ban đầu, bổ sung thêm một số dung môi phụ gia, qua quá trình chế biến sẽ cho thành phẩm. Sau đó tiến hành đóng gói (với thuốc bột) hoặc đóng chai (với thuốc nước), dán nhãn kiểm tra KCS, đóng hộp (kiện) nhập kho rồi bán ra thị trường. Trước đây, khi mới thành lập, máy móc thiết bị còn thô sơ, hầu hết việc sang chai, đóng gói, dãn nhãn đều được thực hiện thủ công. Hiện nay, khu sản xuất kinh doanh đã phát triển, Công ty trang bị thêm máy móc thiết bị hiện đại nên phương thức sản xuất sang chai đóng gói thuốc BVTV đã Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 38 Lớp: CQ45/11.03
  • 39.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa được chuyển từ lao động thủ công sang phương thức sản xuất bán công nghiệp. Không những vậy, Công ty không ngừng nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới vừa giảm tính độc hại, vừa mang lại hiệu quả cao. Đặc biệt, năm 1995, Công ty đã nghiên cứu ra thuốc Ofatox 400EC thay thế cho Wofatox rất độc hại cho người và gia súc. Sản phẩm này được nhà nước cấp bằng sáng chế. Có thể biểu diễn quy trình công nghệ sản xuất thuốc Ofatox 400EC ở Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương như sau: Sơ đồ 02: Quy trình Công nghệ sản xuất thuốc Ofatox 400EC Nguyên liệu thuốc Fenitrothion +Trichlorfon + Dung môi Xylen methanol + Phụ gia chất hóa sữa  Cho vào thùng khuấy  Khuấy đều bằng môtơ điện Nhập kho Kiểm tra KCS Dán băng dính Thùng carton Dán nhãn Siết nút Sang chai d) Đặc điểm về thị trường tiêu thụ Sản phẩm mà công ty sản xuất và tiêu thụ chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật, phục vụ đối tượng chủ yếu là bà con nôn dân. Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1Trung ương có thị trường tiêu thụ ổn định. Hiện tại, công ty đang phát huy hiệu quả của thị trường tiêu thụ đã có, đồng thời khai thác, mở rộng và phát triển thị trường tiềm năng. Công ty xây dựng mục tiêu và quản lý thị trường theo 4 vùng: Miền Bắc - Hà Nội - Miền Trung - Miền Nam, trong đó thị trường mục tiêu là tại khu vực các tỉnh miền Bắc và khu vực miền Trung. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 39 Lớp: CQ45/11.03
  • 40.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Trên cơ sở phân vùng thị trường theo khu vực địa lý, theo thu nhập và theo đối tượng, công ty xây dựng chiến lược marketing cho từng vùng thị trường, nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Hiện tại, PSC1 đang thực hiện mục tiêu giữ vững và phát triển thị trường Hà Nội và Miền Bắc, nỗ lực xây dựng thị trường Miền Trung, Miền Nam. Trong hơn 10 năm trở lại đây, PSC1 luôn đạt mức tăng trưởng bình quân 12-18%. Song song với việc ổn định và phát triển thị trường nội địa, giới thiệu thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ ra thế giới cũng là hướng đi của PSC1 đang quan tâm đẩy mạnh phát triển trong thời gian tới. 2.1.3. Khái quát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương 2.1.3.1. Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật Qua nhiều năm hoạt động kinh doanh hiệu quả, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ nói chung và của ngành thuốc Bảo vệ thực vật nói riêng, hiện nay công ty đã mở rộng quy mô sản xuất, máy móc thiết bị tương đối nhiều và hiện đại hơn. Tình hình trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty thể hiện qua bảng số liệu Bảng 01: Tình hình tăng giảm TSCĐ hữu hình ở Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương năm 2009. Năm 2010, tổng tài sản cố định hữu hình của Công ty tăng lên 12,35% so với năm 2009, trong đó chủ yếu do Công ty đầu tư thêm vào phương tiện vận tải, truyền dẫn (năm 2010 so với năm 2009 tăng 45,17%). 2.1.3.2. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 40 Lớp: CQ45/11.03
  • 41.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Để có cái nhìn khái quát về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian gần đây, ta nghiên cứu Bảng 02: Bảng trích kết quả kinh doanh của PSC1 từ năm 2007 đến 2010, Đồ thị 01, Đồ thị 02. Qua bảng, ta có thể thấy trong những năm gần đây, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có nhiều biến động. Doanh thu thuần về BH và CCDV chỉ đạt 168 tỷ đồng năm 2007, đến 2008 tăng hơn gấp đôi và đạt trên 335 tỷ đồng vào năm 2010. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng lên gần gấp đôi sau bốn năm là một thành tích thể hiện những nỗ lực của Công ty trong sản xuất kinh doanh, sản phẩm của Công ty ngày càng có chỗ đứng trên thị trường, tạo dựng được lòng tin đối với người tiêu dùng. Lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh cũng biến động lớn, nhưng nhìn chung, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty tăng khá đều trong bốn năm, tăng từ khoảng 9 tỷ đồng năm 2007 lên đến hơn 13 tỷ đồng năm 2010. Qua Bảng 03: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán – PSC1 từ năm 2007 đến 2010, và Đồ thị 3, có thể thấy Công ty có các chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán khá ổn định và hợp lý trong bốn năm qua. Về cơ cấu nợ và tài sản, ta xem xét Bảng 04: Phân tích các hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn và tài sản – PSC1 từ năm 2007 đến 2010, và Đồ thị 4, Đồ thị 5. Công ty có cơ cấu nợ khá hợp lý, năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính nên công ty đã tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu sử dụng trong sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, hệ số nợ trên cho thấy công ty đã tận dụng được lợi thế của việc sử dụng nợ vay mà vẫn giữ được thế chủ động trong hoạt động kinh doanh. Về cơ cấu tài sản, tài sản ngắn hạn của Công ty tương đối cao, dao động trong khoảng 90%. Cơ cấu tài sản này phù hợp với hoạt động của công ty, đó là chủ yếu kinh doanh thương mại các mặt hàng thuốc bảo vệ thực vật. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 41 Lớp: CQ45/11.03
  • 42.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Qua Bảng 05: Phân tích các hệ số hoạt động kinh doanh của PSC1 từ năm 2007 – 2010, và Đồ thị 6, nhìn chung Công ty có các hệ số hoạt động kinh doanh năm 2010 tăng lên so với năm 2007. Xem xét Bảng 06: Phân tích các chỉ tiêu sinh lời của PSC1 từ 2007 - 2010, và Đồ thị 7, có thể thấy Công ty có vốn kinh doanh bình quân tăng liên tiếp qua các năm, so với 2007. Vốn kinh doanh tăng tạo điều kiện cho Công ty có thể đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm thêm máy móc, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất. Tuy nhiên, các chỉ tiêu sinh lời của PSC1 hoặc giảm, hoặc tăng nhưng không nhiều. Chỉ tiêu quan trọng mà những người chủ sở hữu Công ty luôn quan tâm đó là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu năm 2010 giảm xuống thấp hơn so với năm 2007, nhưng vẫn giữ ở mức xấp xỉ 15%, là một mức khá cao so với mức trung bình ngành. 2.1.3.3. Tình hình tài chính của công ty Dựa vào Bảng 07: Cơ cấu và sự biến động của vốn và nguồn vốn năm 2009 – 2010 của PSC1, có thể thấy rằng so với cuối năm 2009 thì cuối năm 2010 tổng tài sản (tổng nguồn vốn) tăng 4 634 319 922 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 2,44%. Tổng tài sản tăng chủ yếu là do cả tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn tăng. Trong đó, chủ yếu là tài sản ngắn hạn tăng, số tiền: 2 468 515 762 đồng, với tỷ lệ tăng 1,41%; tài sản dài hạn tăng, số tiền: 2 165 804 160 đồng, với tỷ lệ tăng 14,36%. Tài sản ngắn hạn tăng chủ yếu là do tiền và các khoản tương đương tiền tăng (tỷ lệ tăng 92,29%) và tăng các khoản phải thu ngắn hạn (tỷ lệ tăng 31,24%). Nguyên nhân chính là do, năm 2010 là năm công ty gặp nhiều khó khăn về việc thu hồi công nợ, Công ty bị khách hàng và các tổ chức khác chiếm dụng vốn kinh doanh. Tài sản dài hạn tăng là do tài sản cố định tăng Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 42 Lớp: CQ45/11.03
  • 43.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa số tiền: 1 837 083 355 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 12,86%; và tài sản dài hạn khác cũng tăng 328 720 805 đồng, với tỷ lệ tăng 41,08%. Tổng nguồn vốn tăng là do nợ phải trả tăng lên số tiền: 28 431 655 286 đồng, với tỷ lệ tăng 32,47%; trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu giảm 23 763 288 067 đồng, tương ứng tỷ lệ giảm là 23,23%. Nợ phải trả tăng là do nợ ngắn hạn tăng hơn 28 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 32,52%, còn nợ dài hạn không thay đổi. Nguồn vốn chủ sở hữu giảm là do giảm các nguồn kinh phí, quỹ khác số tiền: 29 237 714 876 đồng, (giảm 100%), trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tăng nhẹ số tiền: 5 474 426 809 đồng, với tỷ lệ tăng 7,49%. 2.1.3.4. Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây a) Thuận lợi Qua hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, thị trường truyền thống của công ty đã được củng cố. Với đội ngũ lãnh đạo và cán bộ dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực thuốc Bảo vệ thực vật cùng cơ chế hoạt động linh hoạt, các sản phẩm của công ty đã có mặt ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước. Đến nay, PSC1 có thể tự khẳng định thương hiệu PSC1 là một thương hiệu lớn và uy tín trong ngành. Về chất lượng sản phẩm Công ty là doanh nghiệp hàng đầu về sản xuất và cung ứng thuốc Bảo vệ thực vật tại Việt Nam. Công ty đã xây dựng quy trình quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế, đã được hai tổ chức Quacert và PSB cấp chứng chỉ ISO 9001 và ISO 14001. Nhờ có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu, nhiều kinh nghiệm và nhiệt tình công tác, cùng với hệ thống các trang thiết bị hiện Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 43 Lớp: CQ45/11.03
  • 44.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa đại, các sản phẩm của công ty đã được người nông dân tin dùng. Hiện tại và tương lai, Công ty vẫn không ngừng cải tiến sản phẩm nhằm đảm bảo thị hiếu của người tiêu dùng và luôn phấn đấu là người bạn chân thành và gần gũi nhất của bà con nông dân. Công ty là nhà phân phối độc quyền một số sản phẩm cho các công ty nước ngoài như Nhật Bản, Đức, Thụy Sĩ và một số quốc gia khác. Một trong những lợi thế quan trọng là các sản phẩm được giao phân phối độc quyền đều là những thương hiệu nổi tiếng, có chất lượng cao, hiệu quả và được các chuyên gia thuộc chuyên ngành bảo vệ thực vật đánh giá cao, đồng thời được người dân tin tưởng sử dụng. Về sự ổn định của nguồn nguyên vật liệu, sản phẩm đầu vào Trên cơ sở mối quan hệ lâu dài, chặt chẽ với các công ty trong và ngoài nước, công ty thường kí các hợp đồng nhập hàng ngay từ đầu năm, đầu vụ. Trường hợp trên thị trường có sự biến động tăng, giảm giá nguyên vật liệu đầu vào, Công ty được các nhà cung ứng thông báo trước ít nhất 3 tháng. Sự ổn định nguồn nguyên liệu giúp công ty xây dựng kế hoạch nhập hàng và tiêu thụ sản phẩm, ổn định giá bán sản phẩm, chủ động điều chỉnh cho phù hợp với thời vụ, thị trường và kế hoạch sản xuất kinh doanh. Về thị trường tiêu thụ Công ty đã xây dựng được một hệ thống phân phối với các chi nhánh, các tổ chức bán hàng phân phối sản phẩm và hệ thống đại lý trải rộng cả nước. Các xưởng sản xuất đảm bảo cho PSC1 chủ động trong việc chế biến, sang chai, đóng gói để tạo ra sản phẩm đa dạng, chất lượng cao theo vùng, miền của thị trường tiêu thụ. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 44 Lớp: CQ45/11.03
  • 45.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Tình hình xuất khẩu nông sản tăng mạnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã tác động tới việc lựa chọn nông dược có chất lượng cao để áp dụng trong canh tác nông nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro về dư lượng thuốc trừ sâu trong nông sản xuất khẩu. Nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có chất lượng cao, có uy tín và nổi tiếng ngày càng tăng. Điều này sẽ tạo cơ hội cho việc đẩy mạnh doanh thu bán hàng của công ty trong thời gian tới. Về hình thức pháp lý Từ khi chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp là Công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp, quá trình quản trị sản xuất kinh doanh của Ban điều hành Công ty đã gặp nhiều thuận lợi hơn về cơ chế, kế hoạch, tính chủ động, quyết định trong kinh doanh. Do vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty có nhiều khởi sắc hơn, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh doanh cao hơn so với nhiều năm trước. Ngoài ra, sự phát triển nhanh của thị trường tài chính ở Việt Nam hiện nay đã và đang tạo nhiều cơ hội cho nhiều doanh nghiệp có thể huy động vốn theo nhiều phương thức thuận lợi hơn, chi phí giảm thấp hơn. Với uy tín và thương hiệu đã có, công ty có khả năng tiếp xúc với nhiều nguồn vốn khác nhau để tài trợ cho các dự án của mình. b) Khó khăn Về tỷ giá hối đoái và sự biến động giá dầu thô trên thế giới Hầu hết nhiên liệu kỹ thuật dùng để sản xuất thuốc bảo vệ thực vật Công ty phải nhập khẩu từ nhà cung cấp nước ngoài và phải thanh toán bằng ngoại tệ. Do đó khi tỷ giá hối đoái biến động sẽ ảnh hưởng rất lớn tới giá vốn hàng bán, từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty. Hơn nữa, nguồn nguyên liệu sử dụng sản xuất thuốc bảo vệ thực vật có nguồn Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 45 Lớp: CQ45/11.03
  • 46.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa gốc từ dầu mỏ, nên khi giá dầu thô trên thế giới tăng thì nguồn nguyên liệu, nhất là nguồn dung môi, vật tư, bao bì, nhựa đều tăng giá làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến giá thành sản phẩm cao. Đối với các loại vật tư, bao bì, nhãn mác dùng trong quá trình sản xuất, Công ty phải nhập từ các nhà cung ứng trong nước. Phần lớn họ cũng phải nhập vật liệu từ nước ngoài (hạt nhựa PET, HDPE, giấy nhôm, giấy in…), vì vậy giá cả cũng thường xuyên biến động theo thị trường thế giới và sự biến động tỷ giá hối đoái. Điều này cũng có ảnh hưởng lớn tới doanh số và lợi nhuận của công ty. Về tính chất mùa vụ Vào đầu các năm, dịch bệnh sâu hại lúa thường xuất hiện với mật độ cao gây khó khăn cho khách hàng trung gian trong việc đầu tư không thu được nợ, dẫn đến công nợ tồn đọng lớn đối với công ty. Về thị trường kinh doanh Công ty cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn khác. Về thị trường kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật có khoảng trên 300 doanh nghiệp tham gia hoạt động so với con số 3 doanh nghiệp trong thời gian đầu những năm 90. Điều này cho thấy, sức ép cạnh tranh trên thị trường này rất cao và có xu hướng ngày càng tăng. Cùng với quá trình hội nhập của nền kinh tế, ngày càng có nhiều đối thủ nước ngoài thâm nhập vào thị trường thuốc bảo vệ thực vật Việt Nam với chất lượng cao, và tiềm lực tài chính mạnh, ứng dụng công nghệ hiện đại. 2.2. Thực trạng về quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 46 Lớp: CQ45/11.03
  • 47.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa 2.2.1. Tình hình lập kế hoạch quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của công ty năm 2008 2.2.1.1. Công tác lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh Phương pháp lập dự toán của PSC1: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ hao phí về nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ được dùng trực tiếp cho sản xuất thuốc bảo vệ thực vật. Nguyên vật liệu chính của đơn vị bao gồm nguyên liệu chính, phụ gia và dung môi. Còn vật liệu phụ là bao gói, chai lọ, nhãn mác, túi, băng keo… dùng để sang chai, đóng gói thuốc bảo vệ thực vật, Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tập hợp trực tiếp cho từng loại sản phẩm hoàn thành. Tại công ty, dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tính bằng cách lấy định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị thành phẩm nhân với đơn giá sử dụng nguyên vật liệu. Định mức tiêu hao này do bộ phận kỹ thuật của công ty tính toán và báo cáo. Thông thường, để sản xuất ra thành phẩm, định mức tiêu hao nguyên vật liệu là cố định, nhưng nếu công ty đổi mới dây truyền công nghệ hiện đại hơn hoặc thay thế được các nguyên vật liệu phụ tối ưu hơn thì định mức tiêu hao này có thể giảm đi. + Chi phí nhân công: dự toán chi phí nhân công được tính như sau: Đối với cán bộ ký hợp đồng dài hạn: hợp đồng được ký trong thời gian dài, lương của họ được ký cố định trong hợp đồng theo thỏa thuận giữa công ty với người lao động. Đối với công nhân làm việc theo hợp đồng ngắn hạn (từ 3 tháng trở lên): công ty ký hợp đồng ngắn hạn 6 tháng 1 lần, lương của họ được ghi cố định trong hợp đồng do công ty và người lao động thỏa thuận. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 47 Lớp: CQ45/11.03
  • 48.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Đối với công nhân làm việc theo thời vụ (dưới 3 tháng): đầu năm, công ty dự toán trước các đợt sản xuất thuốc (theo vụ), tính trước số lượng sản phẩm sẽ sản xuất mỗi đợt. Lương của công nhân được tính bằng cách lấy đơn giá định mức nhân với số lượng sản phẩm làm ra. Các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ được công ty tính toán theo quy định của nhà nước đối với cán bộ công nhân viên làm việc dài hạn và hợp đồng ngắn hạn từ 3 tháng trở lên. Ví dụ về đơn giá tiền công chế biến sang chai đóng gói và bốc xếp thuốc bảo vệ thực vật được thể hiện ở bảng dưới đây: Bảng 08: Trích đơn giá tiền công chế biến, sang chai đóng gói và bốc xếp thuốc bảo vệ thực vật – PSC1 năm 2010. I. Đơn giá chế biến: STT Tên sản phẩm ĐVT Đơn giá Ghi chú 1 Bassa 50EC đ/tấn 75 000 2 Heco 600EC đ/tấn 66 000 3 Trebon 10EC đ/tấn 54 000 … … II. Đơn giá đóng gói: STT Tên hàng hóa Đơn giá Ghi chú Đóng tay Đóng gói 1 Gói 1,0gam 15,5 đ/gói Luxo 10WP 2 Gói 20gam 1.800.000đ/tấn 1.140.000đ/tấ n 3 Gói 30gam 1.340.000đ/tấn Đã có công đóng Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 48 Lớp: CQ45/11.03
  • 49.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa gói date từng chiếc túi 4 Gói 1kg 530.000đ/tấn 5 Gói 10ml 14,5 đ/gói Tango 50SL 6 Gói 14ml 16,0 đ/gói … … III. Đơn giá đóng chai: STT Quy cách sản phẩm ĐVT Đơn giá Ghi chú Máy bán tự động Máy tự động I Chai chữ nhật dán đề can 3 mặt 1 Chai 100ml đ/chai 80 2 Chai 500ml đ/chai 240 II Chai tròn, dán nhãn hồ 1 Chai 100ml đ/chai 63 46 2 Chai 480ml đ/chai 115 75 … … IV. Đơn giá bốc xếp: TT Nhóm hàng hóa Đơn giá bốc xếp Trọng lượng 1 Hàng thành phẩm đóng trong hộp carton thể tích nhỏ hơn hoặc bằng 0,04m3 74 đ/kiện Dưới 25kg 2 Hàng thành phẩm đóng trong hộp carton thể tích lớn hơn 0,04m3 500 đ/kiện Dưới 25kg Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 49 Lớp: CQ45/11.03
  • 50.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa 3 Hàng đóng trong phuy 500 đ/kiện Nhỏ hơn hoặc bằng 250kg 4 Hàng đóng trong phuy 10.700 đ/tấn Trên 250kg + Chi phí sản xuất chung: Dự toán chi phí sản xuất chung của công ty được tính như sau: Chi phí nhân viên phân xưởng: bao gồm chi phí tiền ăn ca, lương nhân viên sản xuất: dựa vào số lượng công nhân viên thực tế hiện có tại các phân xưởng và số lượng tăng cường trong thời vụ nhân với đinh mức chi cho mỗi công nhân. Chi phí vật liệu bao bì: bao gồm chi mua bảo hộ lao động, chi mua vật tư bao bì phục vụ cho sản xuất, vật tư hỏng trong định mức, chi mua xăng dầu chạy máy; chi phí dụng cụ sản xuất – chỉ tiêu này được tính dựa vào năng suất dự kiến của dây chuyền công nghệ hoặc tài liệu những năm trước. Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của tất cả các TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Chi phí khấu hao được công ty tính theo phương pháp đường thẳng đối với toàn bộ TSCĐ, sau đó được phân bổ cho khối lượng sản phẩm dự kiến, từ đó sẽ có chi phí khấu hao dự toán cho một đơn vị sản phẩm. Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định, công cụ dụng cụ tại xưởng; chi phí điện thoại, điện nước sản xuất; chi kiểm định dụng cụ đo lường sản xuất. Các chỉ tiêu này có thể được tính toán dựa trên tình hình thực tế các năm trước, từ đó có thể tăng giảm chi phí dự toán. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 50 Lớp: CQ45/11.03
  • 51.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Chi phí bằng tiền khác: chi phí bồi dưỡng độc hại; chi khám sức khỏe cho công nhân sản xuất; chi phí trả trước; chi phí vệ sinh, bảo quản kho xưởng. Các chỉ tiêu này được lập dự toán dựa vào chi phí đã sử dụng các năm trước, tăng giảm chi phí để phù hợp với tình hình năm kế hoạch. 2.2.1.2. Công tác lập kế hoạch giá thành sản phẩm của công ty Đối với Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương, song song với việc lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh, công ty cũng rất chú trọng tới công tác lập kế hoạch giá thành sản phẩm. Đặc thù phương pháp tính giá thành của PSC1: Để đảm bảo tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất, phục vụ cho công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành thực sự hiệu quả, công ty quản lý chi phí sản xuất theo chi phí thực tế phát sinh. Do đặc điểm quy trình sản xuất giản đơn khép kín, chủ yếu là gia công sang chai, đóng gói thuốc bảo vệ thực vật, nên chu kỳ sản xuất rất ngắn, thường xuất kho nguyên vật liệu đi chế biến và hoàn thành nhập kho sản phẩm ngay trong ngày. Do đó, không có hoặc rất ít sản phẩm dở dang cuối kỳ, nên công ty không tính chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ. Toàn bộ các chi phí sản xuất thực tế phát sinh được tính hết cho sản phẩm hoàn thành theo công thức tính giá thành giản đơn. Công thức tính giá thành giản đơn: Z = Dđk + Ctk – Dck Giá thành đơn vị sản phẩm= Tổng giá thành sản phẩm (Z) Khối lượng sản phẩm hoàn thành (Q) Trong đó: Dđk = Dck = 0. Căn cứ lập kế hoạch giá thành của công ty: Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 51 Lớp: CQ45/11.03
  • 52.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Trong việc lập kế hoạch giá thành sản phẩm, công ty căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật của từng khoản mục chi phí trong sản xuất sản phẩm, căn cứ vào khối lượng sản phẩm dự kiến hoàn thành, những biến động về giá cả nguyên vật liệu đầu vào có thể xảy ra, và dựa trên cơ sở giá thành sản phẩm của công ty trong những năm trước đó, công ty sẽ đề ra các biện pháp và tổ chức thực hiện các biện pháp để giảm chi phí đối với từng khoản mục chi phí khác nhau. Ta có thể có cái nhìn sơ bộ về công tác lập kế hoạch giá thành công ty qua xem xét Bảng 09: Giá thành kế hoạch và giá thành thực tế theo các khoản mục chi phí – PSC1 năm 2009, 2010. 2.2.2. Đánh giá thực trạng quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của công ty Các phần phân tích ở trên đã phần nào khái quát được hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương. Phần này sẽ đi sâu vào so sánh, phân tích thực trạng quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của công ty để thấy rõ hơn những điểm hợp lý và bất hợp lý trong việc sử dụng chi phí, hạ giá thành sản phẩm trong những năm vừa qua. Từ đó, đề ra các biện pháp nhằm phát huy các mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực trong công tác này tại PSC1. 2.2.2.1. Phân tích thực trạng quản lý chi phí sản xuất kinh doanh của Công ty những năm vừa qua Để hiểu rõ hơn về công tác tổ chức quản lý chi phí sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương, trước tiên ta sẽ so sánh kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua 2 năm 2009 – 2010 qua Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 52 Lớp: CQ45/11.03
  • 53.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Bảng 10: Phân tích báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại PSC1 năm 2009, 2010. Qua bảng so sánh ta thấy tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2010 so với năm 2009 tăng 101 279 612 037 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 43,18%. Có được kết quả này chủ yếu là do Công ty đã không ngừng nỗ lực đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm tại tất cả các chi nhánh. Ngoài ra, năm 2010 là năm tình hình sâu bệnh diễn biến tương đối phức tạp, có nhiều đợt dịch bệnh kéo dài như khô vằn, đạo ôn, bọ trĩ… nên khối lượng thuốc BVTV tiêu thụ của các công ty trong ngành nói chung và của PSC1 nói riêng đều tăng lên đáng kể. Qua Bảng 11: Phân tích Doanh thu BH và CCDV của các chi nhánh của PSC1 năm 2009, 2010, và Đồ thị 08, có thể thấy các chi nhánh của Công ty đều có doanh thu năm 2010 so với năm 2009 tăng trên 20% (trừ Chi nhánh Phía Bắc giảm 22,61%), có những chi nhánh có doanh thu tăng tới trên 70% như Chi nhánh Phía Nam tăng 74,42%, Chi nhánh Nam khu IV tăng 71,95%. Cùng với việc tăng doanh thu, Công ty cũng cố gắng giảm các khoản giảm trừ doanh thu (so với năm 2009 giảm 79,84%) nên doanh thu thuần của công ty năm 2010 tăng 104 590 711 013 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 45,39%. Năm 2010, công ty đạt lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là 28 948 933 319 đồng, so với năm 2009 tăng 6 594 426 258 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 29,50%. Để hiểu rõ hơn về mức độ sử dụng chi phí, ta đi sâu vào xem xét một số chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến kết quả hoạt động SXKD năm 2009-2010 qua Bảng 12: Phân tích chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến kết quả hoạt động SXKD từ 2007 đến 2010 tại PSC1. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 53 Lớp: CQ45/11.03
  • 54.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa + Tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên doanh thu thuần: Năm 2010, Công ty đạt tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động sản kinh doanh trên doanh thu thuần là 8,64%, chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần, Công ty thu được 8,64 đồng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. So với năm 2009, tỷ suất này giảm với tỷ lệ tăng tương đối là 1,06%. Như vậy trong năm 2010, mặc dù Công ty đã thực hiện việc tăng doanh thu thuần so với năm 2009 nhưng tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giảm xuống, bước đầu cho thấy tình hình quản lý chi phí của Công ty có thể chưa thật sự tốt. + Tỷ suất giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần: Giá vốn hàng bán năm 2010 tăng 74 433 973 005 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 45,29%. Khi khối lượng sản phẩm tiêu thụ năm 2010 tăng thì trị giá vốn hàng bán tăng là tất yếu. Cụ thể, năm 2009, trong tổng doanh thu thuần thu được, trị giá vốn hàng bán chiếm 71,33%, còn năm 2010, tỷ lệ này là 71,28%, giảm tương ứng với tỷ lệ giảm 0,05%. Chứng tỏ trong năm 2010, để thu được 100 đồng doanh thu, Công ty phải bỏ ra 71,28 đồng trị giá vốn hàng bán, thấp hơn 0,05 đồng so với năm 2009. Việc giá vốn hàng bán có giảm, nhưng giảm không đáng kể, cũng phần nào thể hiện sự cố gắng giữ mức tỷ suất giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần ổn định trong điều kiện giá các yếu tố đầu vào tăng cao (như giá nguyên vật liệu, chi phí nhân công…) như hiện nay. +Tỷ suất chi phí bán hàng trên doanh thu thuần: Chi phí bán hàng năm 2010 của Công ty là 38 706 048 342 đồng, tăng 13 847 099 411 đồng so với năm 2009 (tăng 55,7%). Việc tăng chi phí bán Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 54 Lớp: CQ45/11.03
  • 55.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa hàng này hoàn toàn phù hợp với việc tăng doanh thu tiêu thụ. Để bán ra được nhiều sản phẩm đòi hỏi Công ty phải bỏ ra một khoản nhất định để tiếp thị, quảng cáo, tổ chức các hội thảo giới thiệu sản phẩm, tổ chức hệ thống chi nhánh, tổ chức bán hàng tới các đại lý ở địa phương… Cụ thể, tỷ suất chi phí bán hàng trên doanh thu thuần của Công ty năm 2009 là 10,79%, năm 2010 là 11,55%; tức là để thu được 100 đồng doanh thu thuần, Công ty phải bỏ ra 10,79 đồng chi phí bán hàng trong năm 2009 và 11,55 đồng trong năm 2010. Như vậy, trong năm 2010, chi phí bán hàng tăng tới 55,7% do việc bán hàng được mở rộng, đã làm tỷ suất chi phí bán hàng trên doanh thu tăng 0,76%. Tuy việc tăng chi phí bán hàng này so với việc tăng doanh thu thuần không lớn, nhưng công ty cần phải quan tâm nhiều hơn tới việc quản lý khoản mục chi phí này, để tránh lãng phí. + Tỷ suất chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu: Chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2010 tăng 6 594 426 258 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 29,5%. Tỷ suất chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu thuần năm 2010 (8,53%) so với năm 2009 (8,18%) tăng 0,35%, tức là trong năm 2010, để tạo ra 100 đồng doanh thu thuần, Công ty phải bỏ ra 8,53 đồng chi phí quản lý doanh nghiệp,tăng 0,35 đồng so với năm 2009. Việc tăng chi phí quản lý doanh nghiệp như trên là phù hợp với việc tăng doanh thu thuần. Tuy nhiên, tỷ suất chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu thuần cũng tăng thể hiện công ty cần quan tâm làm tốt hơn việc quản lý khoản mục chi phí này. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng nhiều, mức độ tăng cao hơn mức độ tăng doanh thu thuần nên làm cho tỷ suất lợi nhuận Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 55 Lớp: CQ45/11.03
  • 56.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa thuần từ hoạt động kinh doanh trên doanh thu thuần giảm xuống. Công ty cần chú trọng quản lý tốt hơn hai khoản mục chi phí này. Để đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả của công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh tại PSC1, cần thiết phân tích số liệu về tình hình sử dụng chi phí theo khoản mục ở Công ty qua 2 năm 2009 – 2010 qua Bảng 13: Phân tích chi phí sản xuất kinh doanh theo khoản mục của PSC1 năm 2009 – 2010. Tổng chi phí sản xuất kinh doanh của Công ty năm 2009 là hơn 208 073 299 585 đồng, năm 2010 là 305 286 641 496 đồng, tăng 97 213 341 911 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 46,72%. Mặc dù Công ty đã có những cố gắng nhất định trong việc phấn đấu tiết kiệm chi phí nhưng tổng chi phí sản xuất kinh doanh vẫn tăng là do một số lý do sau đây: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp năm 2010 tăng hơn so với năm 2009 73 166 309 676 đồng, tỷ lệ tăng 46,43%, một tỷ lệ tăng lớn. Sự tăng vọt về chi phí nguyên vật liệu trực tiếp này chủ yếu là do tăng chi phí về nguyên vật liệu chính để sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật bao gồm: nguyên liệu chính, phụ gia, dung môi. Do hầu hết những nguyên vật liệu chính dùng để sản xuất này Công ty phải nhập khẩu từ các nhà cung cấp nước ngoài và phải thanh toán bằng ngoại tệ (USD) nên xét về các yếu tố khách quan, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chủ yếu chịu tác động của hai nhân tố sau: Thứ nhất là sự không ổn định của tỷ giá hối đoái trong năm 2010 đã ảnh hưởng lớn đến chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của Công ty. Thứ hai là sự biến động phức tạp của giá dầu dầu thô trên thế giới trong năm 2010, tuy không quay lại mức đỉnh điểm 147USD/thùng của năm 2008 nhưng cũng dao động ở mức cao với mức chốt 91,38USD/thùng vào Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 56 Lớp: CQ45/11.03
  • 57.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa ngày 31/12/2010. Điều này đã ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty khi mà phần lớn nguồn nguyên liệu sử dụng để sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật đều có nguồn gốc từ dầu mỏ, khi giá dầu mỏ thế giới tăng thì giá nguyên vật liệu đầu vào, nhất là dung môi, vật tư, bao bì, nhựa đều tăng, làm tăng chi phí sản xuất, dẫn đến giá thành sản phẩm cao. Xem xét định mức tiêu hao nguyên vật liệu trong sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật ở PSC1, Công ty áp dụng định mức hao hụt đối với các chi nhánh khác nhau là khác nhau. Bảng 14: Trích bảng định mức hao hụt đối với một số loại sản phẩm thuốc Bảo vệ thực vật sản xuất tại PSC1: S TT Tên thuốc Định mức hao hụt kg/Tấn I Chi nhánh Hải Phòng 1 Bassa 50EC 2,0 2 Ofatox 400EC 2,0 3 New Hinosan 30EC 2,0 4 Heco 600EC 2,0 II Chi nhánh Đà Nẵng 1 Bassa 50EC 2,0 2 Ofatox 400EC 5,0 3 New Hinosan 30EC 2,0 4 Heco 600EC 2,0 Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 57 Lớp: CQ45/11.03
  • 58.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa 5 Prefit 300EC 5,0 6 Mofitox 40EC 5,0 II I Chi nhánh phía Nam 1 Bassa 50EC 2,0 2 Ofatox 400EC 2,0 3 New Hinosan 30EC 2,0 Bảng 15: Trích định mức chế biến thuốc Bảo vệ thực vật áp dụng tại chi nhánh Hải Phòng Thuốc trừ sâu BASSA 50EC STT Thành phần ĐVT Định mức/Tấn 1 Fenobucarb kg 500,0 2 Paracol – 101 kg 20,0 3 A.Tano kg 80,0 4 Xylen kg 402,0 5 Cộng kg 1002,0 Hao hụt kg 2,0 Tổng lượng BASSA 50EC nhập kho kg 1000,0 OFATOX 400EC STT Thành phần ĐVT Định mức/Tấn 1 Fenotrothion kg 200 2 Trichlorfon kg 200 3 A.Tano kg 102 4 Methanol kg 240 5 Xylen kg 260 Cộng kg 1002 Hao hụt kg 2 Tổng lượng OFATOX 400EC nhập kg 1000 Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 58 Lớp: CQ45/11.03
  • 59.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa kho Thuốc trừ bệnh NEW HINOSAN 30EC STT Thành phần ĐVT Định mức/Tấn 1 Edifenphos kg 319,1 2 Sorpol VN – H kg 80 3 Xylen kg 602 Cộng kg 1002 Hao hụt kg 2 Tổng lượng NEW HINOSAN 30EC nhập kho kg 1000 Thuốc trừ cỏ HECO 600EC STT Thành phần ĐVT Định mức/Tấn 1 Butachlor kg 600 2 Sanimal H kg 80 3 Xylen kg 322 Cộng kg 1002 Hao hụt kg 2 Tổng lượng HECO 600EC nhập kho kg 1000 Nguyên liệu chính, phụ gia, dung môi sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật hầu hết là các hợp chất hóa học dễ bị tác động bởi sự thay đổi của nhiệt độ, độ ẩm không khí, đặc biệt là các hợp chất ở dạng lỏng. Do vậy, đối với các Chi nhánh, Xưởng sản xuất ở các vị trí địa lý khác nhau, có nền nhiệt độ và độ ẩm khác nhau, Công ty áp dụng định mức tiêu hao nguyên vật liệu khác nhau. Trường hợp thuốc OFATOX 400EC là một ví dụ: ở Chi nhánh Hải Phòng và Chi nhánh Phía Nam, định mức hao hụt là 2,0 kg/tấn (0,2%); trong Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 59 Lớp: CQ45/11.03
  • 60.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa khi đó, ở Chi nhánh Đà Nẵng, định mức hao hụt là 5,0 kg/tấn (0,5%). Việc công ty xây dựng và áp dụng định mức tiêu hao như trên là hợp lý đối với đặc điểm sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, vì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng cao nhất trong giá vốn hàng bán, nên công ty cũng cần lưu ý quản lý chặt chẽ, thường xuyên theo dõi mức tiêu hao nguyên vật liệu sản xuất thuốc, và có sự điều chỉnh lại định mức tiêu hao cho phù hợp với điều kiện sản xuất. Mặc dù tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu trong tổng số chi phí năm 2010 có giảm, nhưng không đáng kể (1,05%), và vẫn giữ ở mức cao 67,45%. Công ty vẫn nên chú ý đến chỉ tiêu này để có biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trong thời gian tới, vì nó vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số chi phí. Công ty có tiết kiệm được chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm được hay không phụ thuộc rất lớn vào việc tiết kiệm khoản chi phí này. + Chi phí nhân công trực tiếp: Năm 2010, chi phí nhân công trực tiếp của Công ty là 1 902 471 766 đồng, tăng 751 293 380 đồng so với năm 2009, tương ứng với tỷ lệ tăng 65,26%. Nguyên nhân chính của việc tăng chi phí này là do hai nguyên nhân sau đây: Thứ nhất là do Công ty đã tăng lương trả cho cán bộ công nhân viên. Năm 2010, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam vẫn ở mức cao, giá cả leo thang gây khó khăn cho đời sống của người dân trong đó có cán bộ công nhân viên của Công ty. Trước thực trạng đó, Công ty đã tăng mức lương cán bộ Công nhân viên, ngoài tăng lương cơ bản theo chỉ đạo của Nhà nước, tăng từ 650.000 đồng/người/tháng lên 730.000 đồng/người/tháng thì Công ty cũng tăng các khoản phụ cấp, bồi dưỡng độc hại… nâng mức thu nhập bình quân cho cán Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 60 Lớp: CQ45/11.03
  • 61.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa bộ công nhân viên từ 5.092.607 đồng năm 2009 lên 5.927.006 đồng năm 2010. Đây là một quyết định đúng đắn của Công ty, nhằm động viên, khuyến khích cán bộ công nhân viên hăng say làm việc, đem lại năng suất lao động cao hơn, tránh tình trạng lãng phí sức lao động. Không chỉ tăng lương cho cán bộ công nhân viên làm việc thường xuyên, đối với những công nhân làm việc theo hợp đồng ngắn hạn (chủ yếu là trong bộ phận sản xuất), lương của họ được khoán theo sản phẩm, công ty cũng có chế độ tăng lương hợp lý. Thứ hai là do trong năm 2010, Công ty mở rộng quy mô, tăng khối lượng sản xuất nên tiền lương trả cho công nhân cũng phải tăng lên. Xét về tỷ trọng thì chi phí nhân công trong tổng số 5 khoản mục này năm 2010 so với năm 2009 cũng tăng nhẹ (0,07%). Công ty cần chú trọng hơn vào việc thực hiện tiết kiệm chi phí nhân công trực tiếp. + Chi phí sản xuất chung: Năm 2010, chi phí sản xuất chung của Công ty tăng 516 369 949 đồng, tỷ lệ tăng là 9,19%. Đây là một tỷ lệ tăng không quá lớn khi Công ty mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh như vậy. Để tìm hiểu nguyên nhân chi phí sản xuất chung tăng, ta xem xét Bảng 16: Phân tích chi phí sản xuất chung – PSC1 năm 2009, 2010. Chi phí sản xuất chung tăng là do các nguyên nhân chính sau: - Chi phí nhân viên phân xưởng tăng 124 184 193 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 5,37%, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do tăng lương công nhân viên sản xuất (74 377 400 đồng). Sự tăng này là hợp lý do trong năm 2010, Công ty mở rộng quy mô, tăng khối lượng sản xuất nên tuyển dụng thêm nhiều nhân viên phân xưởng, mức lương trả cho nhân viên phân xưởng cũng tăng Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 61 Lớp: CQ45/11.03
  • 62.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa theo tinh thần chung của công ty là tăng lương cho cán bộ công nhân viên, do đó dẫn đến tăng chi phí nhân viên phân xưởng. Tuy nhiên, Công ty cũng cần có những biện pháp nhằm tiết kiệm tối đa khoản chi phí này, tránh sự lãng phí không cần thiết. - Chi phí vật liệu bao bì tăng 18,68%, trong đó nổi cộm lên là việc tăng chi phí mua bảo hộ lao động cho công nhân (tăng 146,67%) và chi phí mua vật tư bao bì phục vụ sản xuất (tăng 62,68%). Do trong năm 2010, Công ty phải thay một khối lượng lớn đồ dùng, quần áo bảo hộ lao động cho công nhân sản xuất, hơn nữa số lượng công nhân sản xuất tăng lên nên khoản mục chi phí này tăng khá cao. Các loại vật tư bao bì, nhãn mác... chủ yếu Công ty phải mua từ các nhà cung cấp trong nước, đa phần họ đều nhập khẩu từ nước ngoài nên giá thành cao và luôn biến động khó lường, hơn nữa, do số lượng sản phẩm sản xuất lớn hơn những năm trước, nên số lượng bao bì cần mua phục vụ sang chai đóng gói cũng tăng lên là điều không thể tránh khỏi. Bên cạnh đó, chi phí mua xăng dầu chạy máy cũng tăng tới 23,77%. Tuy nhiên, nhờ tiết kiệm được chi phí vật tư hỏng trong định mức tới 50,72% và chi cho làm thuốc mẫu tới 100% so với năm liền trước, nên tổng chi phí vật liệu bao bì chỉ dừng lại ở mức tăng dưới 20%. - Chi phí dịch vụ mua ngoài là khoản chi phí cần thiết phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Năm 2010, chi phí dịch vụ mua ngoài tăng khá cao 117 851 899 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 24,25%, số tăng này do tăng chi phí điện thoại, điện, nước sản xuất (tăng 80 613 953 đồng, tỷ lệ tăng 34,41%) và tăng chi phí tái chế hàng (tăng 20 862 833 đồng, tỷ lệ tăng 137,53%). Khi mà khối lượng sản xuất tăng, số giờ làm việc, chạy máy tăng, đồng thời giá điện, giá nước tăng thì chi phí điện nước, điện thoại tăng là Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 62 Lớp: CQ45/11.03
  • 63.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa không đáng ngại. Nhưng công ty cần chú ý tới sự tăng vọt của chi phí tái chế hàng tới 137,53%. - Chi phí bằng tiền khác: đây không phải là chi phí trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hóa, nhưng cũng là một trong những khoản chi phí tương đối lớn mà Công ty phải chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm 2010, chi phí khác bằng tiền tăng 162 909 251 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 14,46%, chủ yếu là tăng chi phí tiếp tân, khách tiết (144 811 704 đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 133,77%) và chi phí khảo sát, xử lý môi trường, PCCC (tăng 17 230 515 đồng, 343,14%). Chi phí tiếp tân, khách tiết thiết nghĩ là một khoản mục chi phí có thể tiết kiệm được, với mức tăng tới gần 140% như trên, công ty cần chú trọng quản lý khoản chi phí này ở mức tốt nhất có thể. Chi phí bằng tiền khá lớn, mặc dù không thể loại bỏ nhưng để có thể giảm được chi phí sản xuất kinh doanh, Công ty cần phải quản lý chặt chẽ, vì loại chi phí này rất ít bằng chứng xác thực, nhiều khi gây lãng phí vô ích. Bên cạnh những khoản chi phí sản xuất chung tăng, Công ty cũng đã có những cố gắng nhất định trong việc tiết kiệm, cắt giảm chi phí. Tuy nhiên các khoản cắt giảm công ty thực hiện được chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng chi phí sản xuất chung của Công ty. + Chi phí bán hàng: Như đã phân tích ở trên, chi phí bán hàng năm 2010 của công ty là 38 157 204 059 đồng, tăng 13 298 255 128 đồng so với năm 2009 (tỷ lệ tăng 53,49%). Việc tăng chi phí bán hàng này nguyên nhân chủ yếu là do kế hoạch tăng doanh thu tiêu thụ. Để bán ra được nhiều sản phẩm, đòi hỏi Công ty phải sử dụng một lượng chi phí nhất định để tiếp thị, quảng cáo, tổ chức hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, tổ chức hệ thống chi nhánh tại địa phương… nhằm mở rộng mạng lưới tiêu thụ. Hơn nữa, cũng Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 63 Lớp: CQ45/11.03
  • 64.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa như lương cán bộ công nhân viên chung của Công ty, lương nhân viên ở các tổ bán hàng cũng tăng lên làm tăng chi phí bán hàng. Bảng 17: Phân tích chi phí bán hàng các chi nhánh năm 2009- 2010 phản ánh chi tiết chi phí bán hàng tại các chi nhánh của PSC1 trong 2 năm 2009 – 2010. Qua đó có thể thấy, trong 10 chi nhánh thì văn phòng của Công ty có tỷ trọng chi phí bán hàng cao nhất, chiếm 82,90%. Nhưng trong năm 2010, chi phí bán hàng tại một số chi nhánh khác có tỷ lệ tăng chi phí bán hàng nhiều nhất, chi nhánh Đà Nẵng tăng 153,27%, chi nhánh Tây Nguyên tăng 60,47%. + Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2010 tăng 9 481 113 778 đồng so với năm 2009, tương ứng với tỷ lệ tăng 50,28%. Nguyên nhân chủ yếu là do Công ty mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, do khối lượng công việc phải giải quyết nhiều, Công ty đã tuyển dụng thêm lao động phục vụ cho công tác quản lý ở các phòng ban tại trụ sở chính và các chi nhánh của Công ty. Hơn nữa, tiền lương cán bộ công nhân viên trong công ty tăng lên, giá cả các yếu tố đầu vào phục vụ công tác sản xuất và quản lý doanh nghiệp tăng, cũng làm cho chi phí quản lý doanh nghiệp tăng lên. Cụ thể, qua Bảng 18: Phân tích chi phí quản lý doanh nghiệp các chi nhánh của PSC1 năm 2009, 2010 , có thể thấy các chi nhánh của Công ty đều có chi phí quản lý doanh nghiệp tăng lên (trừ chi nhánh Phía Bắc giảm 24,99%), trong đó văn phòng và chi nhánh Quảng Ngãi có tỷ lệ tăng chi phí cao nhất, 62,66% và 66,61%. 2.2.2.2. Phân tích thực trạng hạ giá thành sản phẩm của Công ty qua hai năm 2009 – 2010. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 64 Lớp: CQ45/11.03
  • 65.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Sản phẩm thuốc Bảo vệ thực vật của PSC1 rất phong phú, bao gồm nhiều nhóm (thuốc trừ sâu, thuốc trừ bênh, thuốc trừ cỏ, phân bón…), trong mỗi nhóm bao gồm nhiều mặt hàng khác nhau. Do đó, việc hạ giá thành phụ thuộc vào việc hạ giá thành từng loại sản phẩm. Để tìm hiểu thực trạng hạ giá thành sản xuất những nhóm sản phẩm chính của công ty, ta xem xét Bảng 19: Phân tích giá thành sản xuất phân xưởng (Văn phòng) – PSC1 năm 2009, 2010 Từ bảng số liệu ta có thể thấy rõ sự tăng, giảm của các khoản mục chi phí trong giá thành từng loại sản phẩm của Công ty, cụ thể là ở phân xưởng thuộc văn phòng Công ty: + Nguyên liệu phụ gia: Giá thành sản xuất nguyên liệu phụ gia năm 2010 so với năm 2009 giảm 197 263 976 đồng, với tỷ lệ giảm 65,09%. Cả ba khoản mục chi phí cấu thành đều giảm, trong đó đáng chú ý nhất là chi phí nhân công trực tiếp giảm tới 78,91%, trong khi đó giá thành đơn vị sản phẩm tăng rất cao 81 435 đồng/kg, với tỷ lệ tăng 186,22%. + Đối với nhóm phân bón lá: Giá thành sản xuất phân bón lá năm 2010 so với năm 2009 giảm 745 396 762 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 35,05%. Cũng như nhóm nguyên liệu phụ gia, cả ba khoản mục chi phí cấu thành trong nhóm sản phẩm này đều giảm, nhưng giảm nhiều nhất là chi phí sản xuất chung (giảm với tỷ lệ 59,91%). Ngược lại, giá thành đơn vị của nhóm mặt hàng này lại tăng cao, tăng tới 403 248 đồng/kg, ứng với tỷ lệ tăng 145,95%. Qua xem xét hai nhóm sản phẩm trên, có thể thấy việc giảm giá thành sản xuất của cả hai nhóm sản phẩm này cơ bản là do Công ty đã giảm khối Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 65 Lớp: CQ45/11.03
  • 66.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa lượng sản phẩm sản xuất xuống khá nhiều. Đây là một phản ứng của Công ty đối với những loại sản phẩm có chi phí sản xuất tăng cao, và công ty gặp khó khăn trong việc hạ giá thành sản phẩm. + Đối với nhóm thuốc trừ bệnh: Giá thành sản xuất thuốc trừ bệnh năm 2010 so với năm 2009 giảm 4 147 848 722 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 18,55%. Tổng giá thành sản xuất giảm dẫn tới giá thành đơn vị giảm 384 335 đồng/kg, tỷ lệ giảm tương đối là 44,44%. Các khoản mục chi phí cấu thành đều giảm, trong đó giảm mạnh nhất là chi phí sản xuất chung (35,57%). Đây là tỷ lệ giảm khá lớn, là một thành tích đáng ghi nhận của công ty trong nỗ lực tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm. + Đối với nhóm thuốc trừ cỏ: Năm 2010, giá thành sản xuất thuốc trừ cỏ là 34 544 459 956 đồng, tăng 12 902 108 446 đồng so với năm 2009, tỷ lệ tăng tương đối là 59,62%. Nguyên nhân của việc tăng giá thành sản xuất thuốc trừ cỏ chủ yếu là do tăng chi phí nhân công trực tiếp (94,87%), tiếp theo đó là tăng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (61,07%). Chi phí nhân công trực tiếp tăng cao là do năm 2008, công ty tăng tiền lương bình quân cho công nhân, đồng thời tuyển dụng thêm công nhân sản xuất. Việc giá dầu mỏ trên thế giới vẫn ở mức cao và sự bất ổn của tỷ giá hối đoái (đặc biệt về cuối năm, tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh) đã kéo giá nguyên vật liệu chính (gồm nguyên liệu, phụ gia, dung môi) lên cao. Bên cạnh đó, đồng tiền mất giá, lạm phát gia tăng làm giá các yếu tố đầu vào như nhựa, hạt nhựa PET, HDPE, giấy nhôm, giấy in… tăng lên, làm tăng chi phí nguyên vật liệu phụ, đẩy tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp lên cao. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 66 Lớp: CQ45/11.03
  • 67.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Tuy tổng giá thành sản xuất tăng cao, nhưng giá thành sản xuất đơn vị nhóm thuốc trừ cỏ này giảm đi 208 320 đồng/kg, với tỷ lệ giảm 28,54%. Qua đây, có thể thấy việc tăng giá của nhóm sản phẩm này chủ yếu là do tăng khối lượng sản phẩm sản xuất tăng. + Đối với nhóm thuốc trừ sâu: So với năm 2009, giá thành sản xuất thuốc trừ sâu năm 2010 tăng 36 974 210 592 đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 62,40%. Ở nhóm sản phẩm này, cả ba khoản mục chi phí sản xuất đều tăng với tỷ lệ cao, trong đó chi phí nhân công trực tiếp tăng nhiều nhất (tăng 108,58%). Nguyên nhân chính của việc tăng chi phí sản xuất kinh doanh này là do trong năm 2010, thời tiết có những biến động bất thường, tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển và gây hại với mật độ lớn, địa bàn rộng. Do nhu cầu về thuốc trừ sâu tăng cao nên khi vào mùa vụ, công ty huy động công suất cao, tập trung chủ yếu vào sản xuất các sản phẩm thuốc trừ sâu để phục vụ bà con nông dân. Số lượng sản phẩm sản xuất ra lớn nên tổng chi phí tăng cao là điều tất yếu. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là giá thành đơn vị của nhóm sản phẩm này năm 2010 so với năm 2009 cũng tăng 86 393 đồng/kg, tương ứng với tỷ lệ tăng 3,15%. Nên ngoài việc tăng khối lượng sản phẩm, thì sự gia tăng của các khoản mục chi phí cũng làm gia tăng đáng kể giá thành sản xuất của nhóm hàng này. Qua việc phân tích năm nhóm sản phẩm trên, có thể thấy, về cơ bản, thấy Công ty đã có nhiều cố gắng trong việc khắc phục khó khăn chung của nền kinh tế Việt Nam và thế giới, đặc biệt là những khó khăn về sự bất ổn của tỷ giá và giá dầu thô, lạm phát gia tăng (nhất là ba tháng cuối năm 2010), thực hiện tương đối tốt công tác lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch chi phí, giá thành, chủ động được các nguồn nguyên vật liệu (đưa ra các giải pháp và thực hiện khá thành công như sử dụng một số vật liệu thay thế), cắt giảm một số khoản chi Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 67 Lớp: CQ45/11.03
  • 68.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa không cần thiết trong chi phí sản xuất chung, chi phí nhân công. Nhờ đó, Công ty không bị lệ thuộc quá nhiều vào sự biến động của thị trường. Tuy nhiên, không thể phủ định rằng trong năm, Công ty vẫn tồn tại những khoản chi phí chưa được quản lý tốt, vẫn có hiện tượng lãng phí không cần thiết. Công ty cần có biện pháp khắc phục tình trạng này trong thời gian tới. Tổng hợp hiệu quả quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm của Công ty còn được thể hiện ở mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá thành năm 2010. Để thuận lợi cho công tác tính toán mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá thành của công ty năm 2010 ta nghiên cứu bảng sau: Bảng 20: Phân tích tình hình hạ giá thành sản phẩm – PSC1. Sản phẩm so sánh được Sản lượng 2010 (Qi1) (kg) Giá thành đơn vị năm 2009 (Zi0) (đồng/kg) Giá thành đơn vị năm 2010 (Zi1) (đồng/kg) Qi1xZi0 (triệu đồng) Qi1xZi1 (triệu đồng) 1. Thuốc trừ bệnh 421 284 96 070 63 282 40 473 26 660 2. Thuốc trừ cỏ 1 334 906 79 280 47 892 105 831 63 931 3. Thuốc trừ sâu 2 111 385 70 272 118 632 148 371 250 478 Tổng cộng 3 867 575 245 622 229 806 294 675 341 069 MZ = ∑ [(Qi1 x Zi1) – (Qi1 x Zio)] = ∑ Qi1 x Zi1 – ∑ Qi1 x Zio = 341 069 – 294 675 = 46 394 (triệu đồng) Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 68 Lớp: CQ45/11.03 i =1
  • 69.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa TZ = x100 = x 100 = 15,74% Qua hai chỉ tiêu đã tính ở trên, ta thấy trong năm 2010, Công ty có mức tăng giá thành sản xuất sản phẩm là 46 394 triệu đồng, tỷ lệ tăng giá thành là 15,74%. Qua xem xét bảng trên, có thể thấy Công ty chưa thực hiện được mục tiêu hạ giá thành sản phẩm trong năm 2010 là do giá thành đơn vị sản phẩm thuốc trừ sâu năm 2010 so với năm 2009 tăng cao ( tăng 29 739 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 25,07%). Hơn nữa, khối lượng sản phẩm thuốc trừ sâu Công ty sản xuất năm 2010 lớn nhất trong số ba nhóm sản phẩm chính của công ty ( 2 111 385 kg). Do vậy, mặc dù hai nhóm sản phẩm chính còn lại là thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ có giá thành đơn vị năm 2010 giảm xuống so với năm 2009, tổng giá thành sản xuất sản phẩm vẫn tăng cao. Thực tế năm vừa qua, các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật nói riêng (trong đó có Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương) đều gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giá cả các mặt hàng đều tăng chóng mặt, chi phí đầu vào sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật tăng. Bởi vậy, việc PSC1 gặp khó khăn trong việc hạ giá thành sản phẩm là dễ hiểu. Tuy nhiên, Công ty cũng cần xem xét việc làm sao để cân đối khối lượng từng nhóm sản phẩm sản xuất nhằm hạ được giá thành sản phẩm mà vẫn giữ vững được thị trường tiêu thụ của mình. 2.2.3. Công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm ở một số sản phẩm chủ yếu của công ty Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 69 Lớp: CQ45/11.03 ∑(Qi1 x Zio ) n i =1 Mz 46 394 294 675
  • 70.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa Như trên ta đã nghiên cứu, sản phẩm của PSC1 rất phong phú, nhiều chủng loại, nhưng xét về quy trình kỹ thuật sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật của Công ty, ta có thể phân loại sản phẩm của Công ty theo hai loại đó là thuốc bột và thuốc nước. Để hiểu rõ hơn về thực trạng quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm của Công ty, ta nghiên cứu giá thành đơn vị một sản phẩm thuộc nhóm thuốc bột, đó là thuốc trừ bệnh Fujione 40WP- loại gói 17gam. Đây là một trong những sản phẩm đại diện tiêu biểu của Công ty, có khối lượng sản xuất lớn và doanh thu tiêu thụ cao. Qua đó, ta sẽ có những nhận xét khái quát về tình hình tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm của Công ty. Từ Bảng 21: So sánh giá thành đơn vị sản phẩm năm 2009, 2010 Tên sản phẩm: Fujione 40WP – loại 17gam, ta thấy: tổng giá thành đơn vị thuốc Fujione 40WP (loại gói 17gam) năm 2010 so với năm 2009 tăng 405,3153 đồng tương ứng với tỷ lệ 23,99%. Việc tăng giá này do các nguyên nhân sau: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tăng 395,1454 đồng, tỷ lệ tăng tương đối là 24,20%. Trong đó, tỷ lệ tăng lớn nhất là chi phí mua Ruban anh và mua túi PP loại to 250*390. Nguyên nhân của việc tăng chi phí mua Ruban anh tới 135,75% và túi PP loại to 250*390 là do trong năm 2010, giá Ruban anh và túi PP loại to mà Công ty phải nhập vào để sản xuất tăng lên rất cao, nhưng Ruban anh lại là thành phần không thể thiếu và không có vật liệu khác thay thế để sản xuất thuốc, do đó Công ty vẫn phải chấp nhận mua với giá cao như vậy. Trong điều kiện tình hình kinh tế khó khăn, lạm phát dẫn đến giá cả các mặt hàng đều tăng chóng mặt, nguy cơ giá thành sản xuất của Công ty tăng lên rất cao, Công ty đã cố gắng đổi mới phương thức sản xuất để có thể Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 70 Lớp: CQ45/11.03
  • 71.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa tiết kiệm đến mức tối đa lượng chi phí phải sử dụng. Cụ thể, Công ty không sử dụng túi nilon 25x35 như các năm trước, đồng thời giảm tới 62,03% khối lượng túi Fujione 40WP 17g – Huh sử dụng do giá cả của những vật liệu này tăng cao và tăng khối lượng túi PP loại to 250*390, vừa tiết kiệm được chi phí những cũng không làm ảnh hưởng đến chất lượng, mẫu mã sản phẩm. Do đó chi phí về túi PP loại to 250*390 tăng lên là điều dễ hiểu. Qua những phân tích trên và kết hợp với tình hình thực tế giá cả trên thị trường, ta thấy trong năm 2010, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của Công ty chỉ tăng 24,20% là một tỷ lệ tăng khá cao. Ngoài nguyên nhân giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh, còn có thể có nguyên nhân do Công ty quản lý chưa tốt khoản mục chi phí này, chưa kiểm soát tốt chi phí nguyên vật liệu, và hạn chế tối đa việc tăng vọt giá thành sản xuất trong điều kiện hầu như tất cả nguyên vật liệu đầu vào đều tăng giá. + Chi phí nhân công trực tiếp: Trong năm, chi phí nhân công trực tiếp tính cho một đơn vị sản phẩm giảm 1,0401 đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 4,69%. Khoản mục chi phí này có giảm nhưng chỉ giảm nhẹ, không đáng kể. Mặc dù Công ty đã đưa vào vận hành công nghệ sản xuất bán công nghiệp ngày càng hiện đại hơn đã giúp tiết kiệm được lượng lao động thủ công khá lớn, năng suất lại cao hơn so với sang chai đóng gói bằng tay, vừa độc hại, vừa không chính xác, nhưng do Công ty phải tăng tiền lương cho công nhân sản xuất nên chi phí nhân công trực tiếp có giảm nhưng giảm không đáng kể. + Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung phân bổ cho giá thành đơn vị sản phẩm Fujione 40 WP tăng 11,21 đồng tương ứng với tỷ lệ 32,4%. Đây là tỷ lệ tăng cao nhất trong các khoản mục chi phí của sản phẩm này. Nguyên nhân chính Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 71 Lớp: CQ45/11.03
  • 72.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa là do tăng chi phí bao bì, chi phí mua xăng dầu chạy máy, chi phí vật tư hỏng. Ngoài lý do giá cả vật liệu bao bì, nhiên liệu xăng dầu mua vào tăng cao thì cũng do Công ty sử dụng chưa thật sự tiết kiệm và hợp lý, ở nhiều khâu sản xuất vẫn còn tình trạng lãng phí nhiên liệu, vật tư bao bì không cần thiết. Đây là vấn đề đặt ra đòi hỏi Công ty phải có những biện pháp tích cực hơn nữa trong việc quản lý và tiết kiệm chi phí sản xuất chung, không để xảy ra tình trạng chi phí tăng lên quá cao làm tăng giá thành sản phẩm. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 72 Lớp: CQ45/11.03
  • 73.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP KINH TẾ TÀI CHÍNH CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO VỆ THỰC VẬT 1 TRUNG ƯƠNG 3.1. Định hướng phát triển của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương trong những năm tới Kinh tế thế giới vừa ra khỏi giai đoạn khó khăn nhất của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái, bước đầu phục hồi chậm. Kinh tế trong nước vẫn còn nhiều bất ổn như : tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đôla Mỹ tăng cao, lạm phát luôn ở mức cao… Giá điện, giá xăn dầu đang có chiều hướng tăng mạnh làm cho giá cả nguyên vật liệu đầu vào cũng tăng theo. Tất cả những điều nay gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp, trong đó có Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương. Trước tình hình đó, để tồn tại và phát triển, Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương đã đưa ra cho mình những định hướng hoạt động như sau: - Chiến lược phát triển trong thời gian tới: + Hoạt động tài chính với kế hoạch phát triển + Công ty tăng cường huy động vốn bằng nhiều hình thức . + Mở rộng thị trường ra nước ngoài và không ngừng nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật, kinh doanh thêm mặt hàng khác nhằm đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh. - Chiến lược phát triển trung và dài hạn: + Về sản xuất kinh doanh: ổn định và tiếp tục phát triển nguồn cung ứng nguyên vật liệu sản xuất. Công ty sẽ chủ động trong việc duy trì, phát Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 73 Lớp: CQ45/11.03
  • 74.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa triển nguyên vật liệu sản xuất. Công ty sẽ chủ động trong việc duy trì, phát triển mối quan hệ hợp tác kinh doanh với các nhà cung cấp lâu năm, gắn bó với Công ty cũng như mở rộng kinh doanh, tăng tính chủ động trong việc quản lý nguồn cung. + Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu, mong muốn của bà con nông dân. + Củng cố và mở rộng hệ thống kênh phân phối gồm hệ thống chi nhánh, các đại lí, cửa hàng phân phối sản phẩm. Công ty đã và đang xây dựng hệ thống phân phối hàng cấp một, cấp hai ở từng chi nhánh một cách hoàn chỉnh và ổn định nhằm giữ vững và mở rộng thị trường tiêu thụ của công ty. Đồng thời, Công ty cũng sẽ đẩy mạnh khâu tiếp thị, xây dựng và quảng bá thương hiệu thông qua việc tích cực tham gia trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại các cuộc hội trợ, hội thảo giới thiệu sản phẩm, và quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng… + Xây dựng chính sách giá cả phù hợp với cung ứng, thực hiện hỗ trợ khách hàng tiền cước vận chuyển, thực hiện chiết khấu thương mại đối với từng đối tượng khách hàng cụ thể. + Mở rộng ngành nghề kinh doanh trên cơ sở tận dụng kênh phân phối sẵn có của công ty. + Về quản lý tài chính: Hoàn thiện năng lực quản lí tài chính của Công ty, quản lí các nguồn vốn hợp lý, sử dụng các công cụ phân tích, dự báo phục vụ cho công tác hoạch định kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 74 Lớp: CQ45/11.03
  • 75.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa + Về tổ chức bộ máy hoạt động: tổ chức bộ máy quản lí công ty tinh gọn; tuyển dụng, đào tạo đội ngũ nhân lực, từ đó thực hiện việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhằm hoạt động với hiệu quả cao nhất. - Phương án sản xuất kinh doanh năm 2011 của Công ty Tình hình ngành nông nghiệp, mặc dù khủng hoảng kinh tế nhưng mức tăng trưởng bình quân của ngành nông nghiệp trong 5 năm 2006-2010 vẫn đạt trên 3,4%, vượt chỉ tiêu Chính phủ đề ra cho ngành là 3 – 3,2%. Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp càng ngày càng bị thu hẹp, ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng chung của ngành. Nguyên vật liệu đầu vào chủ yếu là nhập khẩu khiến doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro khi tỷ giá biến động tăng. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật ngày càng quyết liệt. Trước tình hình khó khăn có thể phải đương đầu trong năm 2011, Ban điều hành Công ty dự kiến doanh thu bán hàng thấp hơn so với năm 2010, nhưng sẽ tập trung quản lý chặt chẽ chi phí, hạn chế rủi ro để quyết tâm đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch đề ra, trong đó lợi nhuận và tỷ lệ cổ tức vẫn phấn đấu đạt bằng năm 2010. 3.2. Một số nhận xét về công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của công ty Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương trong quá trình hoạt động của mình luôn quán triệt vấn đề tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm là mục tiêu hàng đầu của Công ty để đạt được một tỷ suất lợi nhuận mong muốn. Trong những năm qua, Công ty đã có những cố gắng trong tổ chức và quản lý sản xuất; công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đã được thực hiện đúng quy định của Chế độ kế toán hiện hành. Bộ máy kế toán của công ty được phân cấp rõ ràng, do đó đảm bảo sự chính xác cao về thông tin thu được, cung cấp kịp thời cho ban lãnh đạo Công ty Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 75 Lớp: CQ45/11.03
  • 76.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa những thông tin về chi phí sản xuất và giá thành từng sản phẩm để từ đó có biện pháp quản lý chi phí, tiết kiệm chi phí để hạ giá thành sản phẩm. 3.2.1. Những ưu điểm trong công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm tại PSC1 * Về công tác quản lý chi phí sản xuất: Việc Công ty thực hiện tập hợp chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí là rất phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty, đáp ứng được yêu cầu quản lý giá thành cho từng loại sản phẩm, tạo điều kiện cho công tác tính giá thành được nhanh chóng, dễ dàng và việc quản lý chi phí theo khoản mục cũng thuận lợi hơn. Về việc quản lý chi phí nguyên vật liệu: Công ty đã rất chú trọng đầu tư về mặt trang thiết bị kỹ thuật hiện đại cho sản xuất và cho quản lý. Từ sản xuất thủ công bán công nghiệp chuyển sang quy trình sản xuất bán công nghiệp với các loại máy móc khá hiện đại như máy trộn, máy sang chai thuốc trừ sâu bán tự động, máy dán túi, máy in date tự động… từ đó giúp nâng cao năng suất sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, hạ được giá thành sản phẩm, nâng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Về việc quản lý chi phí nhân công trực tiếp: Công nhân trực tiếp sản xuất của Công ty phần lớn là công nhân hợp đồng ngắn hạn. Công ty tính chi phí nhân công trực tiếp theo lương khoán sản phẩm, không tiến hành trích các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ trên lương của công nhân trực tiếp sản xuất. Việc thuê lao động như vậy là phù hợp với đặc điểm sản xuất mang tính thời vụ của Công ty, giúp tiết kiệm chi phí nhân công trong những tháng không phải thời vụ. Hơn nữa, cách tính lương khoán sản phẩm “làm bao nhiêu, ăn bấy nhiêu” sẽ nâng cao năng suất lao động, nâng cao ý thức Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 76 Lớp: CQ45/11.03
  • 77.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa trách nhiệm của công nhân viên, tránh tình trạng đi làm lấy lệ, đi làm chỉ để chấm công mà không cố gắng, tập trung làm việc. Về việc quản lý chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung được phân bổ cho các loại sản phẩm hoàn thành trong kỳ theo tiêu thức khối lượng sản phẩm là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với đặc điểm của sản phẩm thuốc Bảo vệ thực vật và quy trình sản xuất thuốc giản đơn, từ khâu gia công đến khâu sang chai, đóng gói thành nhiều loại chai, lọ dung tích, khối lượng khác nhau. * Về công tác tính giá thành sản phẩm: Công ty xác định đối tượng tính giá thành là từng loại thuốc Bảo vệ thực vật, từng dung lượng thuốc khác nhau. Đối tượng tập hợp chi phí phù hợp với đối tượng tính giá thành. Đồng thời, điều này cũng rất phù hợp với đặc điểm quy trình sản xuất và đặc điểm của sản phẩm thuốc Bảo vệ thực vật, vì các loại thuốc Bảo vệ thực vật có thành phần hóa học và công dụng khác nhau nên thành phần nguyên vật liệu rất khác nhau; mỗi loai thuốc được sang chai đóng gói với các mức dung tích, khối lượng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của bà con nông dân nên giá thành rất khác nhau. Công ty tính giá thành theo công thức giản đơn, không tính chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ , toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong kỳ được tính hết cho sản phẩm hoàn thành. Điều đó là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm quy trình sản xuất giản đơn, bán công nghiệp, chủ yếu là gia công sang chai đóng gói từ nguyên vật liệu nhập khẩu. Cách tính giá thành như vậy sẽ đảm bảo tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Mặt khác, chu kỳ sản xuất ngắn, nên kỳ tính giá thành là một tháng vừa đảm bảo cung cấp thông tin một cách kịp thời cho nhu cầu quản lý của Công ty, vừa phù hợp với kỳ báo cáo. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 77 Lớp: CQ45/11.03
  • 78.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa 3.2.2. Những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm tại PSC1 Bên cạnh những ưu điểm về cơ chế quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm, PSC1 vẫn tồn tại những hạn chế cần được khắc phục: - Trong các khoản mục chi phí thì chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất, ảnh hưởng quyết định đến việc sản xuất sản phẩm của Công ty. Tuy vậy, tất cả nguyên vật liệu để sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật Công ty đều phải nhập khẩu từ nước ngoài do trong nước chưa thể đáp ứng được nên giá cả đầu vào chịu tác động rất lớn của tỷ giá hối đoái. Hơn nữa, hầu hết chúng lại có nguồn gốc từ dầu mỏ, nên việc chi phí này biến động theo sự biến động của giá dầu thô thế giới là không thể tránh khỏi. Có thể thấy quản lý chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là vấn đề còn tồn tại lớn nhất trong công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm của Công ty. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng Công ty vẫn gặp khó khăn trong việc tìm nguồn nguyên liệu với giá ổn định, chưa có các biện pháp thu thập thông tin, tìm hiểu thị trường để tìm kiếm nguồn nguyên liệu thay thế; chưa tiếp cận nhiều với thông tin nên chưa nắm rõ được tình hình phát triển của nguồn nguyên liệu trên thế giới. - Việc quản lý, hạch toán chi phí sản xuất chung, trong yếu tố chi phí bằng tiền, Công ty cần chú ý tới sự tăng vọt của chi phí tái chế hàng (tăng 137,53%), và có biện pháp thích hợp giảm khối lượng sản phẩm bị hư hỏng, hay kém phẩm chất để giảm chi phí tái chế hàng hóa. Trong yếu tố chi phí bằng tiền khác, chi phí tiếp tân, khách tiết thiết nghĩ là một khoản mục chi phí có thể tiết kiệm được, với mức tăng tới gần 140% như trong năm vừa qua, công ty cần chú trọng quản lý khoản chi phí này ở mức tốt nhất có thể để tránh gây lãng phí. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 78 Lớp: CQ45/11.03
  • 79.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa - Về việc quản lý chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, Công ty quản lý hai khoản mục chi phí này theo địa điểm phát sinh là các chi nhánh.Việc quản lý những khoản chi phí này còn gặp nhiều khó khăn do một số khoản chi thiếu những bằng chứng cụ thể. . Thực tế, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp ở một số chi nhánh tăng cao trong năm 2010 vì Công ty đẩy mạnh doanh số hàng hóa tiêu thụ. Tuy nhiên, Công ty nên quản lý hai khoản mục chi phí này một cách chi tiết hơn theo yếu tố chi phí nhằm xác định đúng mục đích của các khoản chi, cắt giảm những khoản chi không cần thiết. - Công tác lập kế hoạch chi phí và giá thành của Công ty còn sơ sài, do đó việc đánh giá, phân tích và xác định trọng tâm của công tác quản lý nhằm tiết kiệm chi phí và hạ giá thành còn nhiều khó khăn. Nguyên nhân có thể là do phòng kế hoạch chưa quan tâm đúng mức đến công tác hạ giá thành. Công tác lập dự toán chỉ dừng lại ở mức tính giá thành và giá trị dự toán mà không xác định chỉ tiêu hạ giá thành, mức hạ giá thành kế hoạch trong từng sản phẩm. 3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương. Trên cơ sở những mặt hạn chế, tồn tại phân tích ở trên, em xin đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục thực trạng đó, giúp Công ty thực hiện tốt hơn công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm: 3.3.1 Về công tác lập kế hoạch chi phí và giá thành. Công tác xây dựng kế hoạch chi phí và kế hoạch giá thành đóng vai trò hết sức quan trọng, là tiền đề, cơ sở của việc kiểm tra, đối chiếu nỗ lực tiết kiệm chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, trong thời gian tới Công ty cần xem xét, chú trọng hơn nữa khâu lập kế hoạch chi phí và giá thành kế hoạch: Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 79 Lớp: CQ45/11.03
  • 80.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa - Xác định khối lượng sản phẩm hoàn thành, tiêu thụ, từ đó lựa chọn, bố trí và thực hiện sản xuất một cách hợp lý. Sản lượng hàng hóa tiêu thụ của Công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến tình hình thời tiết, sâu bệnh của từng mùa vụ. Trong những năm tình hình thời tiết và sâu bệnh diễn biến phức tạp, khối lượng thuốc Bảo vệ thực vật tiêu thụ sẽ lớn, đòi hỏi Công ty phải có đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Việc dự đoán trước được mức độ ảnh hưởng của nhân tố này là khó khăn bởi đây là yếu tố tự nhiên, tuy nhiên Công ty có thể căn cứ vào diễn biến sâu bệnh của các mùa vụ trước để dự đoán khối lượng thuốc tiêu thụ đối với những mặt hàng chủ lực, và thường xuyên phải cung ứng với khối lượng lớn trong các năm. Phòng Kinh doanh và Phòng Công nghệ & Sản xuất và bộ phận sản xuất cần phải xác định khối lượng sản phẩm kế hoạch cần thiết cho từng mùa vụ, từ đó xây dựng kế hoạch sản xuất một cách hợp lý đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa việc thu mua, dự trữ nguyên vật liệu, bố trí máy móc và phân công lao động sao cho khoa học, phù hợp nhất để tiết kiệm các chi phí tiêu hao. - Xác định kế hoạch cung ứng vật tư, lao động: đối với những loại vật tư chủ yếu, Công ty nên đặt mua với khối lượng lớn dùng ở mức bình quân năm nhằm tiết kiệm chi phí thông qua giảm chiết khấu, không phải ứng tiền trước đồng thời chủ động về nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất nhằm tránh gián đoạn. - Xây dựng hệ thống định mức, xây dựng kế hoạch tiết kiệm giá thành hàng năm: trên cơ sở các hệ số do bộ phận kế hoạch báo cáo, cơ sở giá thành dự toán sản phẩm, từ đó Công ty cần lập ra hệ số giá thành của các khoản mục đầu vào cho phù hợp. Đồng thời, dựa trên kế hoạch sản xuất ở từng phân xưởng, phòng kế toán cần tính ra mức tiết kiệm kế hoạch mà mỗi phân xưởng cần đạt được. Sau đó so sánh giữa mức thực tế tiết kiệm được và kế hoạch đã Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 80 Lớp: CQ45/11.03
  • 81.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa đề ra để xác định xem phân xưởng nào có những nỗ lực nhất định trong công tác quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm từ đó có chính sách khen thưởng, động viên khích lệ kịp thời. 3.3.2. Về công tác quản lý chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. - Công ty cần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các bạn hàng, để có thể chủ động được với nguồn nguyên vật liệu ngay cả khi gặp khó khăn. Cần tìm kiếm thêm các bạn hàng mới trên cơ sở đảm bảo chất lượng ổn định, giá cả hợp lý, thanh toán thuận tiện; tiếp tục duy trì củng cố mối quan hệ với các bạn hàng lâu năm bằng cách đưa ra những chiến lược để có thể nhận được sự quan tâm hợp tác và hỗ trợ tốt nhất từ bạn hàng. Ví dụ: cam kết thanh toán đúng hạn ngay cả khi gặp khó khăn về tài chính, về nguồn ngoại tệ; có những chính sách ưu đãi cho bạn hàng như được mua sản phẩm của công ty với giá rẻ hơn so với các khách hàng khác… - Công ty cần xây dựng chiến lược dự trữ nguồn nguyên liệu hợp lý, tránh trạng thái tâm lí “ phòng xa”, gây ra những chi phí không hợp lí như chi phí kho bãi để dự trữ nguyên liệu, chi phí bảo quản nguyên liệu (với khí hậu như ở nước ta, độ ẩm không khí cao, dễ gây ra nấm mốc hoặc mùa hè nóng ẩm dễ làm biến chất một số nguyên vật liệu, vì vậy, việc bảo quản nguyên liệu là rất khó khăn). Từ định mức tiêu hao nguyên liệu và kế hoạch sản xuất trong thời gian tiếp theo, công ty chỉ cần tính toán làm sao để có thể có đủ nguyên liệu để tiến hành sản xuất kinh doanh mà vấn tiết kiệm được chi phí để dự trữ bảo quản. - Trong xu thế hợp tác của thế giới, nguồn thông tin là rất nhiều, do đó, cần tích cực khai thác, cập nhật các thông tin mới nhất về tình hình nguồn nguyên liệu và xu hướng biến động của giá cả nguyên liệu trên thị trường thế giới, từ đó mới có thể chủ động trong mọi tình huống, Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 81 Lớp: CQ45/11.03
  • 82.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa đồng thời có thể nhanh chóng triển khai tìm kiếm nguồn nguyên liệu thay thể từ thị trường khác trên thế giới. - Do mỗi sản phẩm được tạo thành từ một tỉ lệ nguyên liệu nhất định nên Công ty cần nghiên cứu, đánh giá thị trường, tìm ra nhu cầu của thị trường để xác định sản phẩm chủ lực của mình trong từng mùa vụ mới, từ đó đưa ra kế hoạch sản xuất hợp lí. Xây dựng thương hiệu đối với một số mặt hàng chủ lực là vấn đề cần được quan tâm hơn nữa, để xác định được sản lượng hàng tiêu thụ ổn đinh hàng năm. Nhờ đó, công ty sẽ đạt được hiệu quả cao nhất, tránh được tình trạng sản phẩm sẩn xuất ra nhưng không bán được, vừa tiết kiệm được nguyên vật liệu sản xuất, vừa nâng cao được lợi nhuận của mình. 3.3.3. Về việc quản lý chi phí nhân công trực tiếp, nâng cao trình độ người lao động: - Do đặc thù sản xuất của ngành, Công ty vẫn phải sử dụng lao động phổ thông (ví dụ: trong công đoạn bốc dỡ, đóng chai, đóng gói thuốc Bảo vệ thực vật…), cùng với việc sản xuất theo thời vụ nên công nhân nhiều người không thành thạo công việc, nhiều khi gây ra những lãng phí không cần thiết (làm sai, làm hỏng so với yêu cầu đặt ra…). Vì vậy, cần tích cực mở các lớp bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, kiến thức của người lao động về những công việc, lĩnh vực mà họ tham gia. - Cần đi sâu tìm hiểu khả năng, năng lực của từng người trong công ty, để từ đó, có những điều chỉnh, bố trí cho họ làm việc đúng với sở trường và năng lực của họ. Việc bố trí công việc sao cho phù hợp với năng lực, trình độ nhận thức, chuyên môn nghề nghiệp của người lao động sẽ khiến cho người lao động làm việc tự tin hơn, hăng say hơn và có điều kiện để sáng tạo,cải tiến, thể hiện năng lực của mình trong công việc, khuyến khích được người lao động Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 82 Lớp: CQ45/11.03
  • 83.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa làm việc nhiệt tình hơn. Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được những khoản chi phí không đáng có khi bố trí công việc không đúng, nơi thừa vẫn thừa, nơi thiếu vẫn thiếu, góp phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. 3.3.4. Về việc quản lý chi phí sản xuất chung: Thuốc Bảo vệ thực vật là sản phẩm rất độc hại đối với con người và môi trường, do đó ngoài các chi phí sản xuất chung như các doanh nghiệp khác, PSC1 cũng phải chi ra một khoản chi phí khá lớn cho công tác kiểm định dụng cụ đo lường sản xuất, vệ sinh bảo quản kho xưởng, mua bảo hộ lao động, khám sức khỏe và bồi dưỡng độc hại cho người lao động. Tuy không thể cắt giảm các khoản chi phí này nhưng Công ty cần có biện pháp quản lý chặt chẽ hơn, sử dụng hợp lý hơn. Công ty cần phân loại công nhân làm việc theo mức độ công việc và độc hại khác nhau để có chế độ chi bồi dưỡng thích hợp. Việc vệ sinh, bảo quản kho xưởng cần giao, khoán cho những bộ phận chịu trách nhiệm cụ thể, thực hiện định kỳ hàng tuần hoặc hàng tháng. Chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác (đáng chú ý như chi phí điện nước, điện thoại; chi phí tái chế hàng hóa; chi phí lễ tân, khách tiết…) cũng là một khoản khá lớn của Công ty. Công ty nên khoán định mức cho các phòng ban, các phân xưởng khoản chi phí này theo tháng hoặc theo quý, không để việc sử dụng chi phí tràn lan, không có kế hoạch, không có chứng từ hợp lý hợp lệ. 3.3.5. Về việc quản lý chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: Đối với việc quản lý chi phí bán bàng, đầu năm, Công ty cần lập kế hoạch cụ thể về công tác bán hàng và mở rộng thị trường, sau đó có thể khoán định mức chi phí cho các chi nhánh, các tổ bán hàng. Việc tổ chức các hội thảo đầu bờ, các hội thảo giới thiệu sản phẩm tới bà con nông dân có thể Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 83 Lớp: CQ45/11.03
  • 84.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa giúp Công ty củng cố và mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng doanh số bán hàng. Vì vậy, việc chi cho công tác này là cần thiết, nhưng phải căn cứ vào cơ sở quy mô thị trường tiêu thụ ở từng vùng để có kế hoạch chi hợp lý, tránh chi tràn lan, trong khi hiệu quả bán hàng đưa về không tương xứng. Việc sử dụng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phải gắn với kết quả bán hàng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Công ty có thể quản lý hai khoản mục này một cách chi tiết hơn thông qua các yếu tố chi phí cụ thể phát sinh tại từng chi nhánh. Điều này có thể giúp Công ty xác định được việc mục đích sử dụng các khoản chi ở từng đơn vị có đúng, có phù hợp hay không. Đồng thời cần thường xuyên kiểm tra các đơn vị trong việc thực hiện định mức chi phí để kịp thời nhắc nhở giúp đơn vị đảm bảo đúng định mức chi phí, tránh phát sinh vượt định mức quá nhiều ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của toàn Công ty. Cuối năm, Công ty cần động viên khích lệ, khen thưởng kịp thời đối với những đơn vị vừa thực hiện tốt công tác bán hàng, vừa đảm bảo tiết kiệm chi phí. Đồng thời, nếu trong năm, đơn vị nào có hai khoản mục chi phí này vượt nhiều so kế hoạch đặt ra, phải giải trình cụ thể với Ban lãnh đạo Công ty. 3.3.6. Về vấn đề đổi mới trang thiết bị khoa học công nghệ: Công ty cần tăng cường đầu tư, đổi mới, đưa vào phục vụ cho sản xuất những máy móc, thiết bị hiện đại, nhanh chóng áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất cũng như trong công tác quản lí của công ty Do tính chất sản xuất thuốc Bảo vệ thực vật là phức tạp và độc hại, nguồn nguyên vật liệu lại nhập chủ yếu từ nước ngoài nên cần phải có dây truyền sản xuất (sang chai, đóng gói…) hiện đại nhằm giảm bớt việc sử dụng sức người, giảm bớt ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Việc đưa vào sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại có thể giúp giảm định mức tiêu hao Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 84 Lớp: CQ45/11.03
  • 85.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa nguyên vật liệu xuống dưới mức 0,2%. Hơn nữa, sự cạnh tranh trong ngành kinh doanh thuốc Bảo vệ thực vật càng ngày càng gay gắt, nên việc chú trọng nâng cao chất lượng và tính thu hút của bao bì, mẫu mã là rất cần thiết. Nhờ quy trình công nghệ hiện đại, Công ty có thể thường xuyên thay đổi bao bì mẫu mã của cùng một loại sản phẩm để kích thích thị hiếu của người mua, nhằm tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn. PSC1 là một doanh nghiệp sản xuất, do vậy quy mô tài sản cố định, máy móc thiết bị trong Công ty là rất quan trọng. Kể từ khi nhập dây chuyền công nghệ sản xuất mới năm 2006, trang thiết bị sản xuất của Công ty đã có nhiều đổi mới, nhưng tại các nhà máy của công ty vẫn còn một số máy móc thiết bị đã cũ, đã lạc hậu, công suất thấp, không phù hợp với yêu cầu của sẩn xuất hiện nay. Điều này làm cho chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa tài sản cao, đồng thời không tiết kiệm được các chi phí như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhiên liệu, động lực để vận hành máy. Trong khi đó, trên thị trường hiện có những máy móc thiết bị với chức năng tương tự nhưng công suất cao hơn, hao phí nhiên liệu và động lực để vận hành máy ít hơn, mặt khác là máy mới nên chi phí sửa chữa sẽ ít hơn. Nếu thay thể máy móc cũ bằng máy mới hơn, công ty không chỉ tiết kiệm được chi phí về nguyên vật liệu, động lực, chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, mà còn nâng cao được năng suất lao động. Chi phí giảm, khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ tăng, tất nhiên sẽ giúp cho doanh nghiệp hạ được giá thành sản phẩm của mình. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 85 Lớp: CQ45/11.03
  • 86.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa KẾT LUẬN Sau khi chuyển từ doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần, lại phải đối mặt với thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương đã gặp không ít khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Mặc dù vậy, với sự nỗ lực của Ban giám đốc và toàn thể cán bộ công nhân viên, Công ty đã không ngừng tìm biện pháp nhằm quản lý tốt chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và đạt những thành tựu nhất định trong công tác quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, công tác quản lý chi phí, hạ giá thành sản phẩm tại PSC1 vẫn còn tồn tại một số thiếu sót. Trong luận văn này, em đã mạnh dạn đưa ra một số nhận xét, ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện hơn nữa các tác quản lý chi phí và giá thành sản phẩm tại Công ty. Do trình độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế, hơn nữa vấn đề quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm là một vấn đề phức tạp đòi hỏi phải hội tụ được rất nhiều kiến thức không chỉ về mặt lý luận mà còn cả về mặt thực tiễn nên luận văn cuối khoá của em thực sự còn rất nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Tài chính Doanh nghiệp, đặc biệt là thầy giáo: TS. Vũ Văn Ninh, cùng Ban lãnh đạo và các cô chú, anh chị Phòng Tài chính – kế toán của Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 Trung ương đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em để em có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 29 tháng 4 năm 2011 Tác giả luận văn Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 86 Lớp: CQ45/11.03
  • 87.
    Học viện tàichính Luận văn cuối khóa DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” - Học viện Tài chính - Nhà xuất bản Tài chính năm 2007. 2. Giáo trình “Phân tích Tài chính doanh nghiệp” - Học viện Tài chính- Nhà xuất bản Tài chính năm 2008. 3. Giáo trình “Kế toán tài chính ” - Học viện Tài chính - Nhà xuất bản Tài chính năm 2007. 4. Giáo trình “Kế toán quản trị ” - Học viện Tài chính - Nhà xuất bản Tài chính năm 2008 5. Tạp chí “Sinh viên nghiên cứu Khoa học” - Học viện tài chính 6. Thời báo Kinh tế Việt Nam. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải 87 Lớp: CQ45/11.03