SlideShare a Scribd company logo
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
chương I
KháI quát chung về thị trường bảo hiểm
I. sù RA Đời Và Phát Triển Của Bảo Hiềm.
l. Nguồn gốc ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm thế giới.
Bất cứ ngành nghề nào đều ra đời từ nhu cầu đòi hỏi khách quan trong
những điều kiện nhất định.
Cho đến nay, chưa ai có thể xác định chính xác nguồn gốc của bảo
hiểm bắt đầu từ bao giờ, nhưng mọi người công nhận các hoạt động sơ khai,
mang tính bảo hiểm đã có từ rất lâu. Các hoạt động đó đáp ứng nhu cầu bảo
vệ cuộc sống con người ở mọi nơi, mọi lúc trước những rủi ro trong cuộc
sống. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nhu cầu trở nên đa dạng và phức
tạp hơn, cả về quy mô, mức độ và thời hạn. Theo đó, các hoạt động để đáp
ứng nhu cầu Êy cũng phát triển một cách tương ứng. Các hoạt động này dần
dần được quy định lại một cách chính thức, hợp pháp theo các tiêu chuẩn
khác nhau và có tên gọi chung là bảo hiểm.
Những nghiên cứu về lịch sử phát triển của hoạt động bảo hiểm cho
thấy hoạt động bảo hiểm trong quá trình phát triển đã trải qua 3 hình thái: dự
trữ thuần túy, cho vay nặng lãi và cuối cùng là hình thức thỏa thuận ràng
buộc trách nhiệm các bên.
1.l. Dự trữ thuần túy.
Những bằng chứng lịch sử cho thấy từ rất xa xưa cho đến nay con
người đã ý thức được việc tự bảo vệ để tồn tại, trong đó vấn đề đầu tiên là dự
trữ thức ăn kiếm được hàng ngày phòng khi đói kém.
Ví dụ: vào những năm 2.500 trước công nguyên (TCN) - hơn 4.000
năm trước đây, ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp
đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn.
1
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
1.2. Cho vay nặng lãi.
Hệ thống cho vay phát triển cùng với sự mở rộng thương mại và buôn
bán giữa các quốc gia, các vùng, các châu lục. Dấu Ên đáng chú ý là: hệ
thống vay mượn lãi suất cao để mua và vận chuyển hàng hóa ở Babylon
(khoảng l.700 năm TCN) và AThen (khoảng 500 năm TCN). Khi hàng hóa bị
mất trong quá trình vận chuyển thì người đi vay sẽ không phải trả khoản tiền
đã vay. Khiếm khuyết của hệ thống này là lãi suất hà khắc, có khi lên đến
40% và phải trả trước (Nghiên cứu lịch sử phát triển bảo hiểm cho thấy phần
lãi suất cho vay được khấu trừ trước nay là dấu hiệu của phí bảo hiểm ngày
nay). Do vậy, nhà thờ và các hội tôn giáo đã can thiệp bằng các sắc lệnh để
chấm dứt hoạt động cho vay nặng lãi. (Trích: Đại cương về BH và BH nhân
thọ - Tổng công ty BHVN)
Vì nhu cầu cần tiền và cần sự đảm bảo cho chuyến hàng của các nhà
buôn vẫn rất lớn, đặc biệt khi thông thương buôn bán đang phát triển và mang
lại lãi suất rất cao, các hình thức khác đã ra đời.
1.3. Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi của các bên.
Để giải quyết nhu cầu tiền vốn và nhu cầu giảm các thiệt hại lớn cho
các nhà buôn, có 2 phương pháp khả thi. Đó là:
a. Hình thức cổ phần.
Chuyến hàng được tạo lập bằng sự đóng góp của nhiều người. Mỗi
người góp một phần nào đó (bằng tiền hoặc hàng hóa) vào chuyến hàng và
cùng chịu trách nhiệm theo phần đóng góp đó. Khi chuyến hàng về đến đích,
lợi nhuận sẽ được chia cho mọi người theo tỷ lệ đóng góp cổ phần. Nếu
chuyến hàng chẳng may gặp rui ro thì hậu quả thiệt hại cũng được chia sẻ cho
nhiều người. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho nhiều người
cùng gánh chịu. Nhưng nó vẫn bộc lộ nhiều hạn chế như: kêu gọi cho đủ
người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian, phải dàn xếp thỏa thuận
chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi...
b. Hình thức bảo hiểm.
Những thỏa thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động
giao lưu buôn bán hàng hóa bằng đường biển. Những thỏa thuận bảo hiểm
trong lĩnh vực hàng hải có nội dung cơ bản như sau:
Một bên là nhà buôn, chủ tàu chấp nhận trả một khoản tiền nhất định,
nếu hàng hóa, tàu thuyền không đến được nơi giao hàng do một số nguyên
nhân nhất định thì bên thứ hai (Người bảo hiểm) sẽ trả bên thứ nhất một
2
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
khoản tiền nhằm bù đắp cho những thiệt hại đã xảy ra. Như vậy, có thể coi bảo
hiểm hàng hải là sự khởi đầu của ngành bảo hiểm. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ
nhất còn lưu lại được phát hành tại thành phố cảng Genoa - Italia, vào năm
1347. Sau đó, cùng với cuộc cách mạng thương mại vào thế kỷ 14, 15 thúc đẩy
sự mở rộng vận tải hàng hải, bảo hiểm hàng hải cũng phát triển mạnh mẽ.
Hoạt động bảo hiểm ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã
hội xoài người. Hoạt động này đã đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết về
an toàn của con người trong cuộc sông và sinh hoạt. Bảo hiểm hàng hải là
loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm. Sau đó, lần lượt là
bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm nhân thọ và các loại bảo hiểm khác.[8]
b1. Bảo hiểm hỏa hoạn:
Vụ cháy lớn ở Anh vào năm 1666 đã thiêu hủy trên 13.000 tòa nhà, là thảm
họa lớn nhất từ trước cho đến thời điểm đó. Nhu cầu về cơ chế bảo hiểm cho tài
sản trước rủi ro cháy dẫn tới sự ra đời của các công ty bản hiểm trong lĩnh vực
hỏa hoạn. Năm 1667, công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên đã ra đời ở nước Anh.
[8]
b2. Bảo hiểm nhân thọ:
Công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu
tiên được thành lập ở Anh vào năm 1762. Có thể nói rằng nước Anh là chiếc
nôi của ngành dịch vụ bảo hiểm thế giới. Cho đến ngày nay, đây vẫn là trung
tâm của các hoạt động bảo hiểm.
b3. Các loại bảo hiểm khác.
Cuối thÕ kỷ 19, cùng với sự phát triển của nền sản xuất đại công
nghiệp cơ khí, hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã xuất hiện và phát triển rất
nhanh: bảo hiểm ô ô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Ngày nay, bảo hiểm đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực đời sống kinh tế -
xã hội. Ngành bảo hiểm thương mại đang giữ một vị trí rất quan trọng trong
nền kinh tế nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển.
2. Sự phát tiền của ngành bảo hiểm thế giới.
Ngày nay ngành bảo hiểm trên thế giới đã trở thành một ngành rất lớn
mạnh. Các hoạt động bảo hiểm bao trùm lên mọi lĩnh vực đời sống xã hội và
thị trường bảo hiểm rộng lớn cũng tác động mạnh mẽ lên các thị trường
khác.
2.1. Các thị trường bảo hiểm Châu Âu.
3
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Châu Âu là cái nôi của bảo hiểm hiện đại và vẫn là một thị trường chủ
yếu tầm thế giới với tốc độ phát triển nhanh, nhất là ngành bảo hiểm Nhân
thọ và Tiết kiệm.
Dưới ảnh hưởng của ủy ban Châu Âu, các nước thuộc Liên minh Châu
Âu (có 15 nước từ năm 1995) triển khai dần dần một thị trường bảo hiểm
chung, nhưng vẫn chưa thống nhất về mặt pháp lý (hợp đồng, trách nhiệm
dân sự), cũng như vấn đề thuế.Ba thị trường chính của Châu Âu là Đức, Anh
và Pháp. Thị trường bảo hiểm của một số nước Tây Âu khác từ lâu có sự
năng động vượt qua ban giới quốc gia như: Thụy Sĩ, Hà Lan, Ý, Thụy điển,
Luxembourg. Thị trường các nước Nam Âu, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, có
tốc độ phát triển nhanh nhất. Các nước Đông Âu, đang trong quá trình chuyển
đổi từ một nền kinh tế nhà nước sang nền kinh tế tự do hơn, có những chuyển
biến sâu sắc, tăng trưởng mạnh và rất sôi động.
Ủy ban Bảo hiểm Châu Âu công bố các số liệu thống kê về thị trường
của 25 Hiệp hội quốc gia là thành viên của ủy ban này. Năm 2001, các số liệu
tổng thể như sau:
Bảng1: Các chỉ tiêu về Bảo hiểm của 25 quốc gia Châu Âu năm 2001
Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ 251.577 triệu ECU 51,3%
Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ 238.669 triệu ECU 48,7%
Tổng doanh thu của hai ngành bảo hiểm trên 490.246 triệu ECU
Số lượng nhân viên của các công ty này 5.303
Phí bảo hiểm nhân thọ theo bình quân đầu người 977.256
Phí bảo hiểm phi nhân thọ theo bình quân đầu người 492 ECU
Tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ theo BQ đầu người 659 ECU
Tỉ lệ: phí bảo hiểm/ Tổng sản phẩm quốc dân 6,9%
Đầu tư của các công ty bảo hiểm 2.585.506 triệu ECU
Tỉ lệ: đầu tư tài chính/ Tổng sản phẩm quốc dân 37,05% 37,05%
Phí bảo hiểm bình quân mỗi công ty 92 triệu ECU
Số lượng nhân viên trung bình mỗi công ty 184
4
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
(Nguồn: Giáo khoa Quốc tế về Bảo hiểm)
Năm 1999, doanh thu của các doanh nghiệp bảo hiểm Châu Âu tăng
gần 7%, trong đó 5,9% trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và 7,5% là bảo
hiểm nhân thọ. Mặc dù bị giảm so với những năm trước, nhưng việc này vẫn
khẳng định xu hướng tăng được duy trì từ nhiều năm nay.
- Doanh thu bảo hiểm Châu Âu tăng nhanh hơn Tổng sản phẩm quốc
nội một cách rõ rệt, năm 1980 chiếm 4% GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) lên
tới 6,9% năm 1999
- Ngành bảo hiểm Nhân thọ tăng nhanh hơn ngành bảo hiểm Thiệt
hại, gán đạt đến sự chín muồi, trừ ở các nước Nam Âu nơi mà nhu cầu còn rất
lớn. Trong 15 năm gần đây, bảo hiểm Nhân thọ đã tăng nhanh hơn GDP 2,5
lần, điều này thể hiện một phần tiết kiệm của các hộ gia đình chuyển hướng
sang sản phẩm bảo hiểm và nỗi lo lắng của một phần công chúng về tương lai
của các chế độ bảo hiểm và hưu trí của Nhà nước.
Phần lớn các tập đoàn bảo hiểm Châu Âu hoạt động mạnh ở nước
ngoài và đã trở thành những công ty đa quốc gia thực sự. Trong vòng 30 năm
gần đây, thị trường bảo hiểm Châu Âu đã có những tiến triển sâu sắc. Không
những chỉ phát triển rất ổn định mà tất cả các luật bảo hiểm quốc gia cũng
biến đổi sâu sắc dưới tác động bền bỉ của giới lãnh đạo Liên minh Châu Âu
(EU). Thậm chí những nước không nằm trong sè 15 nước thành viên của EU
cũng hầu như thông qua luật bảo hiểm được soạn thảo dựa trên các nguyên
tắc của Ủy ban bảo hiểm Châu Âu liên quan đến thị trường bảo hiểm.
- Thị trường bảo hiểm Anh:
Chóng ta đã thấy các hoạt động bảo hiểm hiện nay được biết đã ra đời
chính tại Ý, sau đó là ở các nước thuộc vùng Địa Trung Hải và vịnh Ban
Tích. Tuy nhiên, một điều không thể chối cãi được là các hình thức bảo hiểm
hiện đại lại phát triển chính tại Anh, từ thế kỷ XVII. Sự bành trướng phi
thường về kinh tế và chính trị của Anh vào thế kỷ XIX đã làm cho các doanh
nghiệp Anh quốc, trong đó có các công ty bảo hiểm phát triển rực rỡ trên thế
giới và có ảnh hưởng rất lớn trong một thời gian dài. Rất nhiều ngành bảo
hiểm đã được hình thành bởi những
Công ty bảo hiểm Anh và giữ được vai trò ngự trị lâu dài nhờ vào
năng lực cao, khả năng bảo hiểm và mạng lưới rộng khắp thÕ giới của các
chuyên gia, công ty tài chính và môi giới bảo hiểm.
5
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Thị trường bảo hiểm Anh có 926 công ty, năm 2001, đạt doanh thu
bảo hiểm trực tiếp là 227904 triệu USD, bằng 5,97% thị trường thế giới. Như
vậy, phí bảo hiểm bình quân đầu người là 2.964,2 USD, trong đó 64% là bảo
hiểm nhân thọ. Tỉ trọng bảo hiểm trong GDP đạt l4,33%, cao nhất ở Châu
Âu, sau Thụy Sỹ. [16]
- Các thị trường bảo hiểm Châu Á.
Ở Châu Á, bảo hiểm bành trướng rất nhanh, cùng với sự phát triển
kinh tế của lục địa này và quá trình tự do hóa kinh tế đang diễn ra tại phần
lớn các nước có nền kinh tế tập trung. Trong thập kỷ qua, doanh thu bảo hiểm
hàng năm tăng trung bình 15%.
Bảng 2: Các thị trường bảo hiểm chính ở Châu Á năm 1999.
Nước
Doanh thu
bảo hiểm
năm 1999
(tr. USD)
Tỷ trọng
bảo hiểm
nhân thọ
(%)
Phí bảo
hiểm bình
quân đầu
người USD
Tỷ trọng
bảo hiểm
trong GDP
Nhật Bản 637.256 80,1 5.088 12,78
Hàn Quốc 59.989 77,9 1.337 13,16
Đài Loan 14.397 67,7 678 5,53
Trung Quốc (không kể Hồng Kông) 7.368 31,6 6 1,17
Ên Độ 6.026 70,0 6 2,01
Hồng Kông 5.037 60,9 813 3,51
Israel 5.010 45,5 904 5,78
Thái Lan 4.076 47,6 67 2,43
Singapor 3.678 67,2 1.190 4,25
Malaixia 3.651 49,3 181 4,28
Indonesia 2.380 38,8 12 1,40
Phillipines 1.123 43,4 16 1,52
A rập xê út 712 3,7 40 0,57
Các tiểu vương quốc Ả Rập thống
nhất
645 12,7 220 1,69
I ran 507 6,9 7 0,48
Pakistan 478 43,3 4 0,81
Cô oét 188 12,5 111 0,71
Oman 119 17,4 55 0,99
Jordanie 117 19,5 22 1,78
6
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Ba – ranh 101 15,8 180 2,24
(Nguồn: Bảo hiểm quốc tế - Trường Quốc gia Bảo hiểm Paris)
2.2. Tình hình thị trường bảo hiểm toàn cầu.
Thị trường bảo hiểm trên thế giới hiện nay đang có những biến đổi
sâu sắc.. Những người có trên 25 năm thâm niên công tác trong ngành bảo
hiểm đã bình luận rằng, họ chưa từng thấy tình hình thị trường bảo hiểm toàn
cầu như hiện nay:
Khả năng tài chính của thị trường là khổng lồ, cạnh tranh gay gắt và
không lành mạnh mà hậu quả là phí bảo hiểm và điều kiện bảo hiểm xấu đi
một cách ghê gớm. Quan điểm chung hiện nay là các nhà bảo hiểm và các
nhà n.hận tái bảo hiÓm không còn bảo hiểm rủi ro nữa mà chỉ đơn thuần là
chạy theo những tỉ lệ phí và những điều kiện bảo hiểm mà người ta cho là
"điên rồ" và "không thể chịu đựng được". Sự thực là khái niệm "định giá
đúng" đã bị lấn át bởi "các lÝ do thương mại", và ngày nay bảo hiểm giống
như một thị trường hàng hóa thông thường, nơi mà chất lượng phục vụ và giá
trị gia tăng, những nét đặc trưng cơ bản trong hoạt động kinh doanh của bảo
hiểm không còn mấy ý nghĩa so với giá cả (phí bảo hiểm). Đối với một ngành
kinh doanh như ngành bảo hiểm thì đó Ýt nhất cũng là điều đáng tiếc, đó là
điều cực kỳ nguy hiểm xét về lâu dài đối với cả hai bên: người bán bảo hiểm
và khách hàng của họ.
Mặt khác, tình trạng "thị trường mềm" không phải là mới. Nó đã từng
xảy ra trước đây, nhưng có lẽ không phải với mức độ nghiêm trọng như hiện
nay và với rất Ýt triển vọng sẽ được cải thiện trong những năm tới. Đương
nhiên, không ai hoài nghi là trong mấy năm qua, các công ty bảo hiểm và tái
bảo hiểm đã thu được khá nhiều lợi nhuận. Xét trên góc độ thị trường bảo
hiểm toàn cầu thì vụ động đất ở Kobe Nhật Bản chỉ là một chấn động nhẹ.
Lloydss of London có vẻ như vừa mới bình phục sau trận ốm "thập tử nhất
sinh" đầu những năm 90 (Mặc dù bản báo cáo đầu tiên mới công bố gần đây
của Equitas, một cơ quan đóng vai trò hết sức quan trọng trong kế hoạch xây
7
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
dựng lại và cải cách của Lloyd's, chắc là đã làm chấn động toàn thị trường,
bởi lẽ theo báo cáo đó thì những khiếu nại đòi bồi thường sẽ phải giải quyết
trong tương lai tá ra khác xa một cách nguy hiểm so với dự kiến ban đầu).
Bảo hiểm thế giới đã được chứng kiến sự tăng lên chưa từng thấy của
các khả năng tài chính mới ở Hoa Kỳ, Bermuda và các nơi khác, đặc biệt là
trong lĩnh vực tái bảo hiểm. Ai nấy đều muốn chia phần và cạnh tranh ác liệt,
hông chỉ làm cho phí bảo hiểm giảm xuống một cách đáng kể, mà còn làm
giảm cả chất lượng sản phẩm bảo hiểm. Trước tình hình đó, tất cả đều buộc
phải tập trung mọi sức lực bảo vệ công việc làm ăn của mình khỏi bị tấn
công, cố gắng đạt được sự tăng trưởng và thực hiện được các mục tiêu chiến
lược về lợi nhuận trước sự hiện diện của một "thị trường mềm", do đó còn
đâu thời gian và cảm hứng để làm những việc như: tập trung nghiên cứu để
cung cấp những sản phẩm mới có chất lượng cao nhằm đáp ứng các nhu cầu
thay đổi hàng ngày, đÓ hành động một cách chủ động sáng tạo chứ không
phải phản ứng một cách thụ động; để ngẩng cao đầu và nhìn về tương lai.
Cũng cần nói thêm rằng ngành bảo hiểm đang trải qua những thay đổi
cực kỳ sâu sắc. Một nhóm các nhà bảo hiểm chuyên nghiệp đang thực hiện
những thay đổi quan trọng về cơ cấu. Việc sáp nhập và mua lại các hãng môi
giới và các công ty bảo hiểm đang diễn ra trên khắp thế giới. Ngày càng có
nhiều công ty tái bảo hiểm được thành lập để cung cấp các giải pháp mới về
bảo hiểm mức vượt trội cho những công ty muốn chọn mức giữ lại cao. Các
giải pháp bảo hiểm trực tiếp không qua trung gian đang trở nên ngày càng
phổ biến.
Cái mà người ta đang tập trung phê phán là ngành bảo hiểm đã tỏ ra
không đủ hiệu quả một cách đáng ngại. Những vấn đề về vai trò tương lai của
môi giới và của tái bảo hiểm vẫn chưa được giải đáp mặc dù ngày càng có
nhiều người muốn bỏ hẳn hoặc giảm bớt khâu trung gian, tiết kiệm chi phí và
đơn giản hóa toàn bộ quá trình dịch chuyển từ người bán đến người mua.
Trong khi đó thì bộ phận còn lại của giới tài chính quốc tế nhảy vào thị
8
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
trường, chào bán các giải pháp cung cấp tài chính mà khách hàng có thể lựa
chọn để xử lý rủi ro như các phương tiện phòng chống và các sản phẩm phát
sinh vượt ra ngoài phạm vi các phương pháp chuyển giao rủi ro truyền thống
thông qua bảo hiểm. Đối với các nhà bảo hiểm chuyên nghiệp quốc tế thì
cũng chẳng có gì là chắc chắn: chỉ có sự thay đổi là chắc chắn mà thôi.
Còn đối với khách hàng thì trước mắt họ có thể mở tiệc ăn mừng. Họ
giảm được nhiều chi phí để mua những sản phẩm văn hóa có điều kiện hời
hơn, họ cảm thấy họ có được sự lựa chọn tự do hơn. Một số công ty lớn và
công ty siêu quốc gia đã tiến đến giai đoạn mà sự lựa chọn ưa thích của họ là
hạn chế tối đa việc sử dụng thị trường bảo hiểm trong chừng mực có thể. Đó
là cách đáp lại tính không hiệu quả của quá trình bảo hiểm và tái bảo hiểm,
một quá trình dẫn đến trên 40% phí bảo hiểm được dùng để chi trả cho quá
nhiều bên tham gia vào một thương vụ bình thường, đặc biệt là dưới hình
thức phụ phí và hoa hồng, chỉ có phần không lớn còn lại được chi cho chức
năng bảo vệ thực sự của bảo hiểm. Đối với một số công ty lớn thì đó cũng là
sự đáp lại nguyện vọng của họ muốn kiểm soát số phận của chính mình và
muốn được ăn chia một phần thành quả tài chính mà ngành bảo hiểm giành
được. Có mấy cách để họ thực hiện nguyện vọng đó. Đó là thành lập các
công ty bảo hiểm "trong nhà" hay các công ty bảo hiểm nội bộ; săn tìm các
giải pháp tài chính mới mà họ có thể lựa chọn để khắc phục rủi ro; lập ra các
nhóm giữ lại rủi ro và các quỹ điều hòa. Tất cả những cái đó làm giảm quy
mô của thị trường bảo hiểm và góp phần làm cho cạnh tranh ác liệt hơn.
II. Khái niệm và đặc điểm của thị trường bảo hiểm.
1. Các khái niệm cơ bản về bảo hiểm - tái bảo hiểm.
1.1. Bảo hiểm.
1.1.1. Khái niệm:
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về bảo hiểm:
9
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
- Theo giáo trình bảo hiểm trường Đại học Kế toán Hà Nội: Hoạt động
bảo hiểm là việc người bảo hiểm nhận trách nhiệm trước rủi ro, trên cơ sở
người tham gia bảo hiểm ký kết hợp đồng, đóng phí bảo hiểm để người bảo
hiểm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm theo luật thống kê[9]. Khái niệm này
mới chỉ nói lên được quy trình bảo hiểm, mà chưa nói lên được bản chất của
bảo hiểm.
- Giai đoạn ban đầu phát triển của bảo hiểm thì bảo hiểm đã được định
nghĩa là : "Bảo hiểm là tổ chức hợp lý một nhóm người có cùng chung một
loại rủi ro có thể xảy ra. Các khoản đóng góp về tài chính của họ cho phép
bồi thường những thiệt hại mà một số người trong nhóm phải gánh chịu khi
tổn thất xảy ra [5]. Khái niệm trên chưa đầy đủ, không phải bất cứ thiệt hại
nào cũng được bồi thường, mà chỉ một số những tổn thất đã được thoả thuận
gây ra.
Nữ hoàng Anh Elisabeth đệ nhất đã từng khẳng định: Nhờ có bảo hiểm
"tổn thất sẽ nhẹ đi nếu được chia sẻ cho nhiều người và sẽ rất nặng nếu để
một Ýt người gánh chịu" [16]. Những người có nhà cửa, khi mua bảo hiểm
hoả hoạn, hàng năm đều phải trả một khoản tiền nhỏ (tương đương 0,5%o giá
trị ngôi nhà) để những người bất hạnh trong số họ, bị mất nơi ở do cháy, nhận
được một khoản tiền bồi thường cho phép tái thiết lại nhà cửa.
- Còn trong giáo trình bảo hiểm - Trường Đại học Ngoại thương: Bảo
hiểm là một sự cam kết bồi thường của Người bảo hiểm đối với Người được
bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một số rủi
ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm
cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Khái
niệm này khá đầy đủ nhưng chưa đề cập đÕn bản chất của hoạt động bảo
hiểm. [7]
- Định nghĩa về bảo hiểm do giáo sư Hémard (Pháp) đưa ra có tính
pháp lý hơn và đầy đủ hơn cả: ''Bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó, một bên
là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bản hiểm hay đóng
10
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
góp bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong
trường hợp rủi ro xảy ra sẽ được trả một khoản bồi thường từ một bên khác là
người bảo hiểm, người trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt
hại theo Luật thống kê [16].
1.1.2. Các nguyên tắc bảo hiểm cơ bản của bảo hiểm :
a) Bảo hiểm một rủi ro chứ không bảo hiểm mét sự chắc chắn.
b) Nguyên tắc trung thực tuyệt đối.
c) Nguyên tắc lợi Ých bảo hiểm.
d) Nguyên tắc bồi thường.
e) Nguyên tắc thế quyền. [7]
1.1.3. Phương pháp phân tán rủi ro của các công ty bảo hiểm.
Rủi ro không chỉ xảy ra đối với những khách hàng mua bản hiểm mà
còn xảy ra cả đối với các công ty bảo hiểm. Khi xảy ra những rủi ro tổn thất
quá lớn thì cộng ty bảo hiểm cũng không đủ khả năng chi trả bồi thường và sẽ
rơi vào tình trạng phá sản. Do vậy đối với những rủi ro quá lớn các nhà bảo
hiểm sẽ tìm cách phân tán rủi ro để đảm bảo khả năng tài chính và ổn định
hoạt động kinh doanh của chính mình. Từ khi bảo hiểm ra đời rất nhiều các
phương pháp đã được áp dụng để phân chia rủi ro và phân tán các rủi ro cho
nhiều nhà bảo hiểm để trong trường hợp tổn thất xảy ra, cam kết tối đa của
mỗi một nhà bảo hiểm tương ứng với khả năng tài chính của họ và không làm
phương hại đến khả năng thanh toán của họ.
Hiện nay có 3 phương pháp chính được áp dụng để phân chia rủi ro.
Đó là: Đồng bảo hiểm, ký kết bảo hiểm theo lớp, tái bảo hiểm.
- Đồng bảo hiểm là sự phân chia theo tỉ lệ cùng một rủi ro giữa nhiều
nhà bảo hiểm, những người được gọi là các nhà đồng bản hiểm. Mỗi một nhà
đồng bảo hiểm trong số đó chấp nhận một tỉ lệ nào đó của rủi ro tùy thuộc
vào mức chấp nhận riêng của anh ta và sẽ nhận được một tỉ lệ tương ứng như
vậy về phí bảo hiểm do người được bảo hiểm và trong trường hợp tổn thất
xảy ra toàn bộ hay từng phán thì anh ta sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường
11
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
theo chính tỉ lệ đó. Thị trường thường xuyên áp dụng hình thức bảo hiểm này
là thị trường Luân Đôn.
- Phân chia rủi ro theo líp:
Khi một nhà bảo hiểm có khả năng bảo hiểm ở mức thấp hơn so với
toàn bộ số tiền phải bảo hiểm, anh ta có thể đề nghị bảo hiểm cho rủi ro đầu
tiên tương ứng với mức chấp nhận của anh ta và đề nghị một nhà bảo hiểm
khác bảo hiểm mức còn lại của lớp đầu tiên này. Đối với các tập đoàn có tầm
cỡ quốc tế, có thể quyết định bảo hiểm các lớp thấp ở các nhà bảo hiểm của
nước nơi mà tập đoàn đó hoạt động (điều đó là một quy định bắt buộc của
pháp luật) và có thể quyết định bảo hiểm các tổn thất thảm họa hoặc bảo hiểm
các khoản tiền lớn nhất ờ các nhà bảo hiểm quốc tế được chấp nhận hoạt
động tại nước mà tập đoàn này đặt trụ sở, đôi khi người ta gọi hợp đồng cuối
cùng này là một hợp đồng ''cái ô'' (Umbrella Cover).
- Tái bảo hiểm:
Tái bảo hiểm là phương pháp thứ ba được áp dụng để phân tán các rủi
ro và phân chia tốt hơn các rủi ro giữa các nhà bảo hiểm theo khả năng tài
chính sẵn có của họ để bảo hiểm cho các rủi ro đó.
Người ta có thể nói người tái bảo hiểm là người bản hiểm của các nhà
bảo hiểm. Thật vậy, tái bảo hiểm là một hợp đồng mà qua đó người bảo hiểm
gốc trút bỏ tất cả hoặc một phần các rủi ro mà anh ta đã chấp nhận bảo hiểm
sang một người khác, đó là người tái bảo hiểm.
Công ty bảo hiểm nhượng tái bảo hiểm, nhượng lại một phần các rủi ro
đã chấp nhận và các khoản phí tương ứng. Chính vì vậy, trong một hợp đồng
tái bảo hiểm, người bảo hiểm gốc được gọi là công ty nhượng, hoặc ngắn gọn
hơn ''bên nhượng'' và người tái bảo hiểm được gọi là ''bên được nhượng''.
Như vậy trong đồng bảo hiểm, có một mối quan hệ hợp đồng trực tiếp giữa
người được bảo hiểm với mỗi một nhà đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm
không hề có một mối quan hệ nào với các nhà tái bảo hiểm. Ngay cả sau khi
đã ký một hợp đồng tái bảo hiểm, người bảo hiểm gốc vẫn giữ toàn bộ các rủi
12
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
ro mà người đó đã chấp nhận bảo hiểm. Trong trường hợp tổn thất xảy ra,
chính người bảo hiểm sẽ bồi thường trực tiếp cho người được bảo hiểm và
sau đó sẽ thu về phần mà nhà tái bảo hiểm phải trả cho mình (trên thực tế
chúng ta sẽ thấy là trong trường hợp tổn thất xảy ra nghiêm trọng thì nhà tái
bảo hiểm có thể ứng trước cho người bảo hiểm số tiền cần thiết để bồi thường
cho người được bảo hiểm).
Như vậy, các hợp đồng tái bảo hiểm luôn luôn do các công ty bảo hiểm
chuyên nghiệp ký. Các hợp đồng tái bảo hiểm không bị sự kiểm tra chặt chẽ
của các cơ quan Nhà nước như sự kiểm tra đối với các hợp đồng bảo hiểm
nhằm bảo vệ những người được bảo hiểm. Vì vậy, nếu bắt buộc phải có các
thủ tục chấp nhận đối với các nhà tái bảo hiểm thì thủ tục đó thường đơn giản
hơn rất nhiều so với thủ tục của các nhà bảo hiểm gốc.
Tóm lại. Tái bảo hiểm là một loại nghiệp vụ mà người bảo hiểm sử
dụng để chuyển một phần trách nhiệm đã chấp nhận với người được bảo hiểm
cho người bảo hiểm khác, trên cơ sở nhượng lại cho người bảo hiểm đó một
phần phí bảo hiểm thông qua hợp đồng tái bảo hiểm. Nếu như bảo hiểm là
hình thức dàn trải tổn thất của một Ýt người cho nhiều người cùng chịu thì tái
bảo hiểm là hình thức dàn trải một lần nữa những tổn thất mà các công ty bảo
hiểm phải gánh chịu. Nói một cách ngắn gọn: tái bảo hiểm là bảo hiểm cho
các nhà bảo hiểm.
Ưu nhược điểm của tái bảo hiểm
+ Ưu điểm: Tạo tâm lý an toàn cho các công ty bảo hiểm bằng các dịch
vụ bảo hiểm, mở rộng phạm vi bảo hiểm, đảm bảo tài chính cho các công ty
bản hiểm.
+ Nhưng nhược điểm là: Tái bảo hiểm có thể làm tăng hoặc giảm một
cách đáng kể các chi tiêu tài chính của công ty bảo hiểm.
2. Thị trường bảo hiểm
2.l - Khái niệm về thị trường bảo hiểm
13
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hóa.
Có rất nhiều quan điểm về thị trường và cũng đã có nhiều tài liệu bàn về thị
trường. Có thể nói quan điểm chung nhất về thị trường là ''thị trường bao gồm
toàn bộ các hoạt động trao đổi hàng hóa được diễn ra trong sự thống nhất hữu
cơ với các mối quan hệ do chúng phát sinh gắn liền với một không gian nhất
định''. [3]
Theo thuật ngữ bảo hiểm, thì trường bảo hiểm là nơi mua và bán các
sản phẩm bảo hiểm. Sản phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt; là
loại sản phẩm vô hình không thể cảm nhận được hình dáng, kích thước, màu
sắc v.v.. sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không được bảo hộ bản quyền, là
sản phẩm mà người mua không mong đợi sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với
mình để được bồi thường hay trả tiÒn bảo hiểm (trừ bảo hiểm hưu trí, bảo
hiểm nhân thọ )...
2.2. Các yếu tố cấu thành nên thị trường bảo hiểm.
2.2. l. Chủ thể của thị trường bảo hiểm.
Người mua hay khách hàng là những cá nhân hay tổ chức có tài sản,
trách nhiệm dân sự trước pháp luật, tính mạng hoặc thân thể gặp rủi ro cần
bảo hiểm thì mua các dịch vụ ( sản phẩm ) bảo hiểm hoặc trực tiếp hoặc
thông qua các tổ chức trung gian. Khách hàng bao gồm khách hàng hiện tại
và khách hàng tiềm năng của một loại sản phẩm. Khách hàng bao gồm khách
hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của một loại sản phẩm. Khách hàng
hiện tại là khách hàng đang tham gia quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó,
khách hàng tiềm năng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và sử
dụng sản phẩm đó trong tương lai.
Mục tiêu của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm
nói riêng là lợi nhuận. Muốn vậy phải tiêu thụ được sản phẩm của mình qua
các kênh phân phối sản phẩm. Do đặc điểm hoạt động kinh doanh, các doanh
nghiệp bảo hiểm thường sử dụng kênh phân phối là đại lý và môi giới bảo
hiểm.
14
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Theo thuật ngữ Bảo hiểm, Đại lý bảo hiểm là người làm việc cho
doanh nghiệp bảo hiểm thay mặt doanh nghiệp bán các sản phẩm bảo hiểm
cho người mua. Còn Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam: ''Đại lý bảo hiểm
là tổ chức, cá nhân được ủy quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để
thực hiện hoạt động bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên
quan".(ĐiÒu 84, chương IV). Như vậy Đại lý Bảo hiểm là những người hoặc
tổ chức trung gian giữa và người tham gia bảo hiểm, đại diện cho doanh
nghiệp và hoạt động vì quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm. Đại lý có thể là
các tổ chức ngân hàng hay luật sư. Những người này làm Đại lý bảo hiểm rất
thuận lợi do có sự tiếp xúc và hiểu biết nhiều khách hàng Trung gian phổ biến
trên thị trường bảo hiểm nhân thọ là Đại lý bảo hiểm thường là các cá nhân
chuyên hoạt động đại lý. Họ hoạt động tại văn phòng hoặc đi đến từng nhà,
từng doanh nghiệp để bán bảo hiểm, thu phí bảo hiểm và đàm phán những
thay đổi về nhu cầu bảo hiểm của khách hàng thực tế và tiềm năng.
Cũng là một trong 2 kênh phân phối qua trung gian, nhưng môi giới
bảo hiểm lại là hình thức phổ biến của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Môi
giới bảo hiểm là người trung gian giữa DNBH với khách hàng. Môi giới bảo
hiểm khác với đại lý bảo hiÓm một cách cơ bản là nếu Đại lý bảo hiểm đứng
về phía quyền lợi của công ty bảo hiểm thì ngược lại môi giới bảo hiểm lại
đứng về phía quyền lợi của khách hàng. Họ có nhiệm vụ tham mưu, tư vân,
thu xẹp các hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng. Môi giới là người được
khách hàng ủy quyền và luôn luôn hành động vì lợi Ých của khách hàng.
Môi giới bảo hiểm thường nắm rất vững về kỹ thuật nghiệp vụ, đặc biệt
là những thông tin về thị trường. Về lý thuyết, người môi giới sau khi đáp
ứng nhu cầu của khách hàng sẽ tìm kiếm DNBH có thể đáp ứng nhu cầu tốt
nhất với chi phí thấp nhất. Thực tế, môi giới thường lựa chọn trên thị trường
một doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều ưu đãi, sau đó giới thiệu cho khách
hàng. Môi giới bảo hiểm làm cho cung và cầu về sản phẩm bảo hiểm được
chắp nối với nhau, đồng thời góp phần làm tăng uy tín của sản phẩm và
15
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
doanh nghiệp bảo hiểm. Ngày nay kênh phân phối bằng môi giới được sử
dụng nhiều đặc biệt trong nghiệp vụ bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm hàng hóa
XNK...
Thông thường trên thị trường bảo hiểm có 2 loại môi giới bảo hiểm. Đó
là môi giới bảo hiểm gốc và môi giới tái bảo hiểm. Môi giới bảo hiểm gốc sẽ
giúp những người cần mua bảo hiểm nhưng không biết phải mua như thế nào
và mua ở đâu tìm và kí được hợp đồng bảo hiểm phù hợp. Khách hàng có thể
trực tiếp hoặc qua môi giới để mua bảo hiểm. Nhưng trong những trường hợp
tái bảo hiểm thì môi giới tái bảo hiểm lại đặc biệt quan trọng, là người không
thể thiếu khi tái bảo hiểm. Hầu hết các DNBH trên thế giới đều yêu cầu môi
giới tái bảo hiểm tư vấn, giúp đỡ khi các rủi ro được bảo hiểm quá lớn so với
khả năng tài chính của họ trong việc thanh toán bồi thường tổn thất nếu rủi ro
xảy ra. Đối với các rủi ro tiềm Èn lớn, môi giới tái bảo hiểm sẽ giúp DNBH
phân tích phạm vi rủi ro để thu xếp tái bảo hiểm khi cần thiết. Thông qua môi
giới tái bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có được sự an toàn về tài
chính, do đó sẽ có khả năng bảo vệ khách hàng lớn hơn và đem lại sự ổn định
cao hơn cho xã hội.
2.2.2. Khách thể của thị trường bảo hiểm.
Khách thể của thị trường bản hiểm chính là sản phẩm bảo hiểm. Từ các
góc độ khác nhau, có thể đưa ra các định nghĩa khác nhau về sản phẩm bảo
hiểm. Xét trên góc độ những thứ cơ bản nhất mà khách hàng nhận được khi
mua sản phẩm thì sản phẩm bảo hiểm có thể được định nghĩa là: Sù cam kết
của DNBH đối với bên mua bảo hiểm về việc bồi thường hay trả tiền bảo
hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Định nghĩa này xuất phát từ việc
khi mua bảo hiểm, bằng việc trả một khoản tiền nhất định - nộp phí bảo hiểm,
bên mua bảo hiểm (các tổ chức, các cá nhân sẽ được DNBH cấp cho Hợp
đồng bảo hiểm (giấy chứng nhận bảo hiểm) xác nhận rằng DNBH sẽ bồi
thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho họ khi xảy ra các sự kiện như đã thỏa
thuận. Thông thường khi nói tới ''Sản phẩm bảo hiểm", người ta thường đồng
16
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
nghĩa với nghĩa với ''nghiệp vụ bảo hiểm". Cách nói này thường được sử
dụng khi phân loại DNBH theo sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp.
Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm:
Bảo hiểm là một loại hình dịch vụ, do đó sản phẩm bảo hiểm cũng có
các đặc điểm chung của các sản phẩm dịch vụ như tính vô hình, tính không
thể tách rời và không thể cất trữ được, tính không đồng nhất với tính không
được bảo hộ bản quyền. Ngoài ra, sản phẩm bảo hiểm còn có các đặc điểm
riêng đó là: Sản phẩm ''không mong đợi", sản phẩm của "chu trình kinh
doanh đảo ngược'' và sản phẩm có hiệu quả ''xê dịch''. Chính vì có những đặc
điểm chung và đặc điểm riêng này nên sản phẩm bảo hiểm được xếp vào loại
sản phẩm dịch vụ ''đặc biệt''
a) Đặc điểm chung:
Bảo hiểm là sản phẩm vô hình. Khi mua bảo hiểm, mặc dù khách hàng
nhận được các yếu tố hữu hình đó là những tờ giấy trên đó có in biểu tượng
của doanh nghiệp, in tên gọi của sản phẩm, in những nội dung thỏa thuận...
Nhưng khách hàng không thể chỉ ra được màu sắc, kích thước, hình dáng hay
mùi vị của sản phẩm. Nói một cách khác, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm ''vô
hình!" người mua không thể cảm nhận được sản phẩm bảo hiểm thông qua
các giác quan của mình.
Tính vô hình của sản phẩm bảo hiểm làm cho việc giới thiệu, chào bán
sản phẩm trở nên khó khăn hơn. Khi mua sản phẩm bảo hiểm, người mua chỉ
nhận được những lời hứa, lời cam kết về những đảm bảo vật chất trước các rủi
ro.
Sản phẩm bảo hiểm không thể tách rời - tức là việc tạo ra sản phẩm
dịch vụ bảo hiểm trùng với việc tiêu dùng sản phẩm đó (quá trình cung ứng
và quá trình tiêu thụ là một thể thống nhất). Thêm vào đó, sản phẩm bảo hiểm
cũng không thể cất trữ được - có nghĩa là khả năng thực hiện dịch vụ bảo
hiểm vào một thời điểm nào đó sẽ không thể cất vào kho dự trữ để sử dụng
17
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
vào một thời điểm khác trong tương lai. Điều này hoàn toàn khác biệt với sản
phẩm hữu hình.
Đa số các sản phẩm hữu hình có thể được sản xuất với số lượng lớn sau
đó được lưu trữ trong kho bán dần. Còn các sản phẩm dịch vụ thì không thể
cất trữ được.
Các nhân viên của doanh nghiệp cũng như các đại lý bảo hiểm chỉ có
một số giờ nhất định trong một ngày để gặp gỡ khách hàng và số giờ sẵn có
trong ngày không thể mang sang ngày khác. Doanh nghiệp bảo hiểm cũng
không thể "sản xuất'' trước một lượng lớn các cuộc kiểm tra các khiếu nại hay
các dịch vụ khách hàng khác và gửi chúng cho các khách hàng có yêu cầu.
Tính không đồng nhất của dịch vụ bảo hiểm, cũng như các dịch vụ
khác, chủ yếu được thực hiện bởi con người. Nhưng cho dù là người có kỹ
năng đến đâu đi chăng nữa thì dịch vụ họ thực hiện không phải lúc nào cũng
nhất quán. Ví dụ, các địa lý khi bán sản phẩm có thể quên các chi tiết, có thể
chậm trễ hoặc mất kiên nhẫn... Nhìn chung chất lượng phục vụ của một cá
nhân nào đó tại các thời điểm khác nhau, với các khách hàng khác nhau là
khác nhau. Chất lượng phục vụ này phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, các
yếu tố xung quanh. Ngoài ra, giữa các cá nhân khác nhau, chất lượng phục vụ
cũng khác nhau.
b) Đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm
Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm ''không mong đợi". Một trong những
đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không mong đợi. Điều
này thể hiện ở chỗ, đối với các sản phẩm mang tính bảo hiểm thuần túy, mặc
dù đã mua sản phẩm - nhưng khách hàng đều không mong muốn rủi ro xảy ra
để được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm. Bởi vì rủi
ro mét khi đã xảy ra thì đồng nghĩa với thương tích, thiệt hại thậm chí là mất
mát, do đó số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường, chi trả khó có thể
bù đắp được. Đặc tính này cũng làm cho việc giới thiệu, chào bán sản phẩm
18
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
trở nên vô cùng khó khăn, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm của ''chu trình
kinh doanh đảo ngược''.
Nếu như trong các lĩnh vực kinh doanh khác, giá cả sản phẩm được xác
định trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh thì trong lĩnh vực bản hiểm, phí bảo
hiểm - giá cả của sản phẩm bản hiểm được xác định dựa trên những số liệu
ước tính về các chi phí có thể phát sinh trong tương lai như chi bồi thường
(trả tiền bảo hiểm), chi hoa hồng, chi tái bảo hiểm... Trong đó, khoản chi
chiếm tỉ trọng lớn nhất là chi bồi thường (trả tiền bảo hiểm). Khoản chi này
được xác định chủ yếu dựa trên số liệu thống kê quá khứ và các ước tính
tương lai về tần suất và quy mô tổn thất.
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu
phí của người tham gia bảo hiểm hình thành nên quỹ bảo hiểm; sau đó nếu có
các sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm mới phải thực hiện
nghĩa vụ bồi thường hay chi trả. Do vậy, với việc thu phí trước, nếu không có
hoặc có Ýt rủi ro xảy ra, doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn dự kiến.
Ngược lại, nếu rủi ro xảy ra với tần suất hoặc với quy mô lớn hơn dự kiến,
doanh nghiệp bảo hiểm có thể thua lỗ.
Về phía khách hàng, hiệu quả từ việc mua sản phẩm cũng mang tính
''xê dịch'' - không xác định. Điều này xuất phát từ việc không phải khách
hàng nào tham gia bảo hiểm cũng '' được nhận" một số tiền chi trả của doanh
nghiệp bảo hiểm (trừ trường hợp mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mang
tính tiết kiệm).
Người bán là các doanh nghiệp bảo hiểm. Theo tính chất sở hữu, doanh
nghiệp bảo hiểm có thể chia ra: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ
phần, công ty liên doanh v.v... Theo quy mô tổ chức có thể chia ra tổng công
ty, công ty chia theo loại hình kinh doanh thì có công ty bảo hiểm nhân thọ
hoặc phi nhân thọ; bán hàng trực tiếp cho khách hàng hoặc thông qua các tổ
chức trung gian.
2.2.3 Các qui định pháp luật
19
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Bất kì một thị trường nào hoạt động cũng đều phải tuân thủ theo hệ
thống pháp luật của mỗi quốc gia.Thị trường bảo hiểm cũng không nằm ngoài
qui luật đó ở những nước có thị trường bảo hiểm phát triển như các nước
Châu Âu, hệ thống pháp luật thị trường bảo hiểm rất đầy đủ và chặt chẽ. Đối
với thị trường bảo hiểm Việt Nam, gần đây luật kinh danh bảo hiểm đã ra đời
giúp cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thuận lợi hơn. Ngoài luật kinh
doanh bảo hiểm, rất nhiều luật khác ảnh hưởng như luật Dân sự , luật Đầu tư
nước ngoài.v.v.
2.3. Những đặc trưng cơ bản của thị trường bảo hiểm
Thị trường bảo hiểm cũng như các thị trường khác đều có những đặc
trưng chung là:
2.3.1. Cung - cầu về bảo hiểm luôn luôn biến động
Cung về bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện. Các doanh
nghiệp ngày một nhiều và luôn đưa ra thị trường những sản phẩm mới thích
ứng với thị trường. Sản phẩm bảo hiểm ngày một nhiều và luôn gắn liền với
sự phát triển của khoa học kĩ thuật của nền kinh tế, của quá trình hội nhập và
toàn cầu hóa. Điều đó chứng tỏ sản phẩm bảo hiểm không dừng lại ở con sè
ban đầu mà luôn được cải tiến, hoàn thiện và sáng chế, phát minh ra cái mới.
Cầu về bản hiểm của dân cư, của các tổ chức xã hội, của doanh nghiệp
cũng không ngừng tăng lên. Khi nền kinh tế phát triển thì các tổ chức kinh tế
cũng phát triển theo, đời sống vật chất tinh thần của dân cư cũng được cải thiện.
Do đó, nhu cầu về đa dạng về các dịch vụ bảo hiểm cũng tăng lên. Với
thời kỳ khởi nguyên của bảo hiểm và thị trường bảo hiểm còn nhỏ bé, các
lĩnh vực bảo hiểm cũng hạn chế.Bạn đầu chỉ xuất hiện bảo hiểm hàng hải vì
đây là lĩnh vực thường xuyên xảy ra rủi ro và tổn thất lại vô cùng lớn. Rồi sau
đó đến bảo hiểm cháy vì nó mang tính chất thảm họa tổn thất lớn. Còn bây
giờ bảo hiểm đã quá quen thuộc với mọi người từ bảo hiểm cho những tài sản
công trình lớn cho đến ô tô xe máy. Thậm chí chúng ta có thể mua bản hiểm
cho đôi chân, cho khuôn mặt, cho đôi mắt của chính mình nếu chúng ta
20
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
muốn. Rất nhiều diễn viên, người mẫu, ca sĩ đã mua những sản phẩm bảo
hiểm mà chúng ta tưởng như không thể có như bảo hiểm giọng hát. v.v.. ...
Những năm đầu thế kỉ XX, dịch vụ bảo hiểm chỉ có trên dưới vài chục
sản phẩm nhưng đến nay đã tăng lên hàng trăm, hàng nghìn loại.
Cung và cầu về sản phẩm bảo hiểm phát triển song hành. Cầu tăng thì
cung tăng và ngược lại.
2.3.2 - Giá bảo hiểm phụ thuộc nhiều nhân tố.
Trong thị trường hàng hóa, chúng ta đã quá quen với khái niệm giá cả
của hàng hóa. Đó là giá mà hai bên mua và bán đồng ý để trao đổi giữa hàng
và tiền hoặc một thứ khác (tùy vào mục đích trao đổi). Và thông thường nó
dựa trên quy luật ngang bằng về giá trị. Quy luật ngang bằng về giá trị do hao
phí lao động bình quân xã hội quyết định. Khi một người mua bá ra một số
tiền X để mua hàng Y thì có nghĩa là giá cả của Y là X. Thế nhưng trong thị
trường bảo hiểm, người ta không hoặc rất hiếm khi sử dụng giá cả bảo hiểm
mặc dù về bản chất nó hoàn toàn giống nhau.
Phí bảo hiểm là số tiền mà người mua - khách hàng phải trả cho doanh
nghiệp bảo hiểm trên cơ sở thỏa thuận giữa người mua và người bán về một
dịch vụ bảo hiểm nào đó. Phí bảo hiểm được thỏa thuận giữa người mua và
người bán cũng có thể xem đó là giá chấp nhận của thị trường về dịch vụ (hay
sản phẩm) bảo hiểm.
Phí bảo hiểm bao gồm: phí thuần và phụ phí (hoặc phí hoạt động trong
bảo hiểm nhân thọ). Phí bảo hiểm được tính toán trên cơ sở số tiền bảo hiểm
(số tiền người mua chấp nhận với người bán - người bảo hiểm đưa ra) với tỉ
lệ phí bác hiÓm (R).
Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm bảo hiểm.
* Mục tiêu định giá của từng doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp đưa ra
những mức giá cho sản phẩm, thì những mức giá đó nhằm giúp doanh nghiệp
đại được những mục tiêu nhất định. Nói một cách khác, mục tiêu định giá
chính là cơ sở cho các quyết định liên quan đến giá cả. Và mục tiêu định giá
phải đưa (xác định dựa trên những mục tiêu chung của doanh nghiệp. Ví dụ,
khi mục tiêu chung của doanh nghiệp là duy trì chất lượng dịch vụ hàng đầu
21
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
vượt hẳn đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ đặt giá cao hơn hẳn đối thủ
cạnh tranh nhằm trang trải được các chi phí cao hơn phát sinh do cung cấp
dịch vụ với chất lượng cao hơn. Ngoài ra các mục tiêu định giá của doanh
nghiệp cũng phải phù hợp với các mục tiêu marketing cụ thể của doanh
nghiệp.
- Các mục tiêu hướng theo lợi nhuận.
- Mục tiêu hướng theo số lượng hợp đồng khai thác.
- Mục tiêu hướng theo cạnh tranh.
Quá trình định phí có thể được gọi là quá trình dự đoán tổn thất và chi
phí trong tương lai, phân bổ các chi phí này giữa những người tham gia bảo
hiểm. Ở các quốc gia có ngành bảo hiểm phát triển, trong các doanh nghiệp
bảo hiểm nhân thọ, việc định phí được thực hiện bởi bộ phận định phí hoặc
đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ quy mô nhỏ hơn thì việc định
phí do các công ty tư vấn định phí thực hiện. Còn trong lĩnh vực bảo hiểm tài
sản và trách nhiệm, giá cả sản phẩm bảo hiểm được xác định dựa trên số liệu
thống kê về khuynh hướng tổn thất do các tổ chức tư vấn cung cấp hoặc do
từng doanh nghiệp bảo hiểm tự thu thập.
* Cầu về sản phẩm của khách hàng là nhân tố quyết định giới hạn trên
của giá cả sản phẩm. Kinh nghiệm marketing thực tế đều cho thấy, cầu của
hầu hết các sản phẩm (trong đó có sản phẩm bảo hiểm) có quan hệ tỉ lệ
nghịch với giá cả của sản phẩm (với điều kiện là các nhân tố khác - điều kiện
kinh tế nói chung, sự sẵn có của sản phẩm, khả năng mua của khách hàng...
không thay đổi). Khi phân tích cầu về sản phẩm phải xác định sự thay đổi của
nó khi giá cả sản phẩm thay đổi. Để đo lường mức độ thay đổi này (tỉ lệ %
thay đổi trong lượng cầu khi có tỉ lệ % thay đổi trong giá cả), kinh tế học vi
mô đã đưa ra khái niệm ''độ co dãn của cầu theo giá''.
2.3.3. Canh tranh và liên kết diễn ra liên tục
Thị trường bảo hiểm cũng như các thị trường khác, sự cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp để tranh giành khách hàng, để thu nhiều lợi nhuận diễn ra
22
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
liên tục, gay go, quyết liệt. Cạnh tranh diễn ra trên nhiều khía cạnh, thủ thuật.
Do đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm là dễ bắt chước, không bảo hộ bản
quyền, nên các doanh nghiệp bảo hiểm "đổ xô'' vào những sản phẩm được thị
trường chấp nhận (ngoài việc tung vào thị trường những sản phẩm mới) bằng
cách cải tiến để hoàn thiện sản phẩm đó hơn các doanh nghiệp khác; bằng
cách tuyên truyền quảng cáo sâu rộng, hấp dẫn để thu hút khách hàng và đặc
biệt giảm phí và tăng tỉ lệ hoa hồng để giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị
trường v.v... Thực tế sôi động đó đã được chứng minh khi thị trường bảo
hiểm Việt Nam có nhiều doanh nghiệp của các thành phần kinh tế tham gia...
Cùng với cạnh tranh là liên kết. Cạnh tranh càng mạnh thì liên kết càng
phát triển. Liên kết thường diễn ra giữa các doanh nghiệp mới, còn yếu về
tiềm lực để tạo ra sức mạnh cạnh tranh; liên kết giữa các doanh nghiệp có thế
mạnh để hòa hoãn, cùng phát triển tránh gây thiệt hại cho nhau v.v.. liên kết
còn diễn ra giữa các doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp lớn để tăng sức
mạnh doanh nghiệp nhỏ đảm bảo an toàn trong cạnh tranh và cũng để tăng
thêm đồng minh cho doanh nghiệp lớn.
Liên kết còn là nhu cầu của thị trường bản hiểm mới hình thành và phát
triển trong điều kiện'thị trường thế giới đã ổn định, có tiềm lực. Liên kết cũng
là xu hướng chung của hội nhập và toàn cầu hóa.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam tuy mới hình thành và phát triển, nhưng
cạnh tranh cũng diễn ra gay gắt giữa các doanh nghiệp với đủ thủ thuật và
mánh khóe. Cạnh tranh cũng gây thiệt hại đáng kể cho một số doanh nghiệp,
nhưng cũng mang lại thành công cho các doanh nghiệp có lợi thế, v.v... Để
đảm bảo quyền lợi của các doanh nghiệp trước sự cạnh tranh gay gắt các
doanh nghiệp liên kết lại trong tổ chức '' Hiệp hội bảo hiểm" để điều hòa và
giữ thế cân bằng trong kinh doanh trước hiện tượng giảm phí và tăng tỉ lệ hoa
hồng tùy tiện; đồng thời tiến hành liên kết dưới hình thức liên doanh với các
doanh nghiệp nước ngoài để tăng tiềm lực kinh tế và kinh nghiệm kinh doanh
để mở rộng thị trường v.v
23
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
2.3.4 - Thành phần các doanh nghiệp bảo hiểm luôn thay đổi
Thị phần bảo hiểm là tỉ lệ phần trăm (%) của mỗi doanh nghiệp bảo
hiểm chiếm trong thị trường bảo hiểm. Thị phần càng lớn chứng tỏ vị thế của
doanh nghiệp càng cao; kết quả kinh doanh của doanh nghiệp càng phát triển.
Nói đến thị phần là nói đến thị trường phát triển không còn mang tính
độc quyền. Ở đây, các doanh nghiệp bảo hiểm có cơ hội như nhau; song
doanh nghiệp nào dành được thị phần nhiều hơn là doanh nghiệp đó làm tốt
công tác quảng cáo, tiếp thị; do chất lượng phục vụ tốt hơn, phí bảo hiểm có
thể thấp hơn v.v..
Như vậy, thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm luôn thay đổi do số
lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường thay đổi; do chiến lược
maketing, chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả v.v... của các doanh nghiệp
thay đổi không những giữ được thị phần của mình mà còn giành giật được thị
phần của các doanh nghiệp khác.
Ngoài việc cạnh tranh đÓ giành giật thị trường của nhau, các doanh
nghiệp phải có chiến lược kinh doanh hợp lý để thu hút bộ phận khách hàng
tiềm năng. Đây là bộ phận dân cư có nhu cầu bảo hiểm, nhưng chưa có thông
tin chính xác về dịch vụ bảo hiểm trên thị trường. Doanh nghiệp nào có chiến
lược tuyên truyền, quảng cáo, phục vụ tốt... sẽ thu hút thêm khách hàng ở bộ
phận này góp phần tăng thị trường doanh nghiệp. Mặt khác, các doanh nghiệp
bảo hiểm cũng phải tung ra thị trường những sản phẩm mới để thu hút dân cư
trong bộ phận không tiêu dùng tuyệt đối bộ phận không có nhu cầu tuyệt đối
với dịch vụ bảo hiểm có trên thị trường.
Ngoài ra, thị trường bảo hiểm còn có những đặc điểm riêng như:
- Thị trường bảo hiểm có đối tượng khách hàng rất rộng vì đối tượng
bảo hiểm đa dạng, bao gồm tài sản, trách nhiệm dân sự, con người.
- Thị trường bảo hiểm là thị trường tài chính, do đó chịu sự kiểm tra,
kiểm soát rất chặt chẽ của Nhà nước. Nhà nước có thể can thiệp khá sâu vào
hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm. Nhà nước không những xét duyệt
24
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
biểu phí, xác định giới hạn trách nhiệm dân sự mà còn quyết định hình thức
triển khai-bắt buộc hay tự nguyện. Chỉ có trong thị trường bảo hiểm mới có
hình thức bắt buộc với người tham gia.
- Thị trường bảo hiểm ra đời muộn hơn so với các thị trường khác. Sù
ra đời lại phụ thuộc vào nhiều điều kiện. Chẳng hạn, bảo hiểm nhân thọ triển
khai được trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển đến mức độ nhất định;
thu nhập của người dân được nâng cao, trình độ học vấn được cải thiện, môi
trường pháp lý tương đối phát triển ổn định; các loại thị trường khác đã hình
thành (thị trường tài chính, đầu tư v.v...).
3. Các loại bảo hiểm
3.l - Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội giữ một vai trò nòng cốt chính trong hệ thống bảo trợ
xã hội. Bất cứ nhà nước nào cũng đều thừa nhận rằng, sự nghèo khổ vì thất
nghiệp, ốm đau, không chỉ là trách nhiệm của cá nhân, mà còn là trách nhiệm
của xã hội. Do đó, giải quyết những vấn đề này là trách nhiệm của nhà nước
và công dân. Những đối tượng được bảo trợ xã hội là những người không đạt
tiêu chuẩn '' mức sống bình thường về kinh tế '', nên mức bảo trợ cũng chỉ hạn
chế trong phạm vi nhu cầu của mức sống cơ bản. Do đó, bảo hiểm xã hội
cũng là một loại bảo hiểm của nhà nước thực hiện bắt buộc theo pháp luật và
được coi là trách nhiệm chung của xã hội, nhằm bảo vệ quyền lợi cơ bản của
nhân dân và thực hiện chính sách xã hội do nhà nước quy định.
Bảo hiểm xã hội thường có những đặc trưng sau đây:
* Đối tượng bảo hiểm xã hội:
Bảo hiểm xã hội thể hiện chính sách xã hội của nhà nước, chủ yếu là
giải quyết vấn đề đời sống cơ bản của những người lao động trong xã hội,
thực hiện trách nhiệm của xã hội đối với từng người lao động, vì vậy đối
tượng bảo hiểm phải là đại đa số người dân trong xã hội.
* Phương pháp thực hiện bảo hiểm xã hội
25
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Bảo hiểm xã hội phần lớn có tính chất bắt buộc. Đối tượng của bảo
hiểm xã hội là đa số người dân trong xã hội, những người làm công ăn lương,
những người có quan hệ hợp đồng lao động. Thông thường bảo hiểm xã hội
do nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật bắt buộc những người có đủ điều kiện
đều phải tham gia bảo hiểm một cách bắt buộc.
* Đóng góp phí bảo hiểm
Bảo hiểm xã hội nhằm mục đích tạo điều kiện ổn định đời sống kinh tế
của đa số người lao động trong xã hội.
* Tinh thần giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng xã hội
Trong quá trình điều hòa sử dụng thực tế quỹ bảo hiểm xã hội thường
có lợi cho những người có thu nhập thấp, nên trong xã hội đã có tình trạng
"người có mức lương cao nộp phí bảo hiểm nhiều lại được lợi Ýt, còn người
có mức lương thấp nộp phí bảo hiểm Ýt lại được lợi hơn''. Số cán bộ, công
nhân viên đang làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp lâu đời Ýt hơn so với
các cơ quan, doanh nghiệp mới, nhưng số cán bộ, công nhân viên đã về hưu
mà các cơ quan, doanh nghiệp lâu đời cần phải chăm sóc lại nhiều hơn so với
các cơ quan, doanh nghiệp mới. Vì vậy, các doanh nghiệp lâu đời nộp phí bảo
hiểm Ýt lại được hưởng lợi nhiều, còn các doanh nghiệp mới phải nộp phí
bảo hiểm nhiều lại được hưởng lợi Ýt một cách tương đối.
3.2. Bảo hiểm thương mại
a. Bảo hiểm nhân thọ:
Là bảo hiểm đời sống hoặc tuổi thọ của con người nhằm bù đắp cho
người được bảo hiểm một khoản tiền khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc khi
người được bảo hiểm bị chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn. Bao gồm
các loại hình như bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ...
* Bảo hiểm phi nhân thọ là tính chất phân tán rủi ro và các công ty bảo
hiểm có thể có mà cũng có thể không phải trả tiền bồi thường phụ thuộc vào
tổn thất có xảy ra hay không.
26
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
* Bảo hiểm nhân thọ mang tính chất tiết kiệm, lâu dài và các công ty
bảo hiểm nhân thọ chắc chắn phải trả tiền bảo hiểm khi đến hạn ghi trong hợp
đồng bảo hiểm.
b. Bảo hiểm phi nhân thọ gồm:
Bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người (Health and Person alaccident
Insurance):
+ Bảo hiểm tai nạn hành khách.
+ Bảo hiểm tai nạn lao động.
+ Bảo hiểm khách du lịch.
+ Bảo hiểm tai nạn học sinh, sinh viên.
+ Bảo hiểm tai nạn con người.
+ Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật.
+ Bảo hiểm sinh mạng.
- Bảo hiểm xe cơ giới (Motor Vehlcle Insurance)
+ Bảo hiểm thân xe (hay còn gọi là bảo hiểm vật chất xe.
+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới.
- Bảo hiểm cháy nổ (Fire Insurance)
- Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh (Business Interuption)
- Bảo hiểm vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt,
đường hàng không (cargo Inssurance) .
+ Bảo hiểm hàng hàng hóa xuất nhập khẩu
+ Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa
- Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu (Hull and P & I Insurance):
+ Bảo hiểm thân tàu biển, tàu pha sông biển.
+ Bảo hiểm vật chất tàu sông, tàu cá.
- Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại khác (Other property and
Casualty Irlsuarance):
+ Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt (Car, Ear)
+ Bảo hiểm dầu khí (Oil and gaz insuarance)
27
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
- Bảo hiểm tín dụng và rủi ro hành chính: bảo hiểm quỹ tín dụng nhân dân.
- Bảo hiểm nông nghiệp:
+ Bảo hiểm vật nuôi, cây trồng.
- Bảo hiểm trách nhiệm của người giao nhận.
- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
- Bảo hiểm du lịch.
II. vai trò của thị trường bảo hiểm
1. Vai trò của thị trường bảo hiểm trong nền kinh tế
1.1 Tạo ra một nguồn vốn lớn bằng phí bảo hiểm và tập trung vào
một số đầu mối để đầu tư vào những lĩnh vực khác để phát tnển nền kinh
tế quốc dân.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia tỉ lệ thuận với tốc độ gia tăng về
đấu tư Đặc biệt với các khoản tiền lớn vô cùng cần thiết cho các lĩnh vực đầu
tư lâu dài, yêu cầu vốn nhiều.
Ngày nay, ở các nước phát triển, số tiền do nhà bảo hiểm đang quản lý
rất lớn: 2000 tỉ USD ở Hoa Kỳ, 1719 tỉ Bảng Anh, 2.967 tỉ Frăng ở Pháp.
Nhờ khả năng đầu tư, giờ đây thị trường bảo hiểm đóng một vai trò chủ lực
trong nền kinh tế ở Pháp nơi có truyền thống đầu tư vào trái phiếu, nhà bản
hiểm đã nắm 60% số lượng trái phiếu của nhà nước và trong lĩnh vực bất
động sản cũng giữ một vị trí quan trọng.
Ở Anh, các nhà bảo hiểm đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu nhất là qua Quỹ
hưu trí (Fonds de pension), quỹ này thu về các khoản tiền đóng góp dài hạn
để sau này trả lương hưu cho những người làm công ăn lương. Ở đây thị
trường bảo hiểm ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán và tài trợ cho
các hoạt động đầu tư. Còn ở Việt Nam tính đến cuối năm 2002 Bảo Việt đã
đầu tư và góp vốn vào tổng số 22 công ty và tập đoàn cả trong nước và nước
ngoài, các ngân hàng, công ty cổ phần chứng khoán...(Nguồn:Báo cáo hàng
năm của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam)
1.2. Bổ sung vào ngân sách của Nhà nước bằng lãi bảo hiểm.
28
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Doanh thu của ngành bảo hiểm càng cao thì nguồn thu cho ngân sách
càng lớn. Đó là điều tất yếu Thị trường bảo hiểm, đặc biệt là thị trường bảo
hiểm nhân thọ. Với tốc độ tăng trưởng hàng năm rất cao, năm 1999 tăng
142,4% (gấp 2,5 lần phí năm trước), năm 2000 là162,6%, 2001:l 15,6% và
năm 2002 tăng 89,7% thì vai trò của nghành bảo hiểm trong GDP càng lớn. Ở
các nước phát triển thì thị trường bảo hiểm đóng góp trung bình là 8,3%
GDP.
1.3. Tăng thu và giảm chi cho cán cân thanh toán quốc gia.
Nếu những nhà xuất khẩu và nhập khẩu lựa chọn mua bảo hiểm của
các công ty bảo hiểm trong nước thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều ngoại tệ.
Trước đây thị trường bảo hiểm chưa phát triển cộng với nghiệp vụ xuất nhập
khẩu còn yếu, chúng ta thường xuất khẩu theo điều kiện FOB và nhập khẩu
theo điều kiện CIF chung của doanh nghiệp là duy trì chất lượng dịch vụ
hàng đầu vượt hẳn đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ đặt giá cao hơn hẳn
đối thủ cạnh tranh nhằm trang trải được các chi phí cao hơn phát sinh do cung
cấp dịch vụ với chất lượng cao hơn''.
Như vậy thì hoàn toàn các công ty của Việt Nam không thể mua bảo
hiểm trong nước được. Nếu thị trường bảo hiểm trong nước lớn mạnh thì các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước hoàn toàn có thể tin tưởng mua bảo
hiểm trong nước, vừa đảm bảo yếu tố tin cậy vừa tiết kiệm được ngoại tệ.
Hơn nữa, nếu các doanh nghiệp xuất khẩu tự mua bảo hiểm ở thị trường trong
nước họ sẽ được tư vấn kĩ lưỡng về các loại, các hình thức bảo hiểm phù hợp
nhất để tránh được rủi ro mà lại tiết kiệm chi phí. Các công ty bảo hiểm với
những nhân viên tư vấn của mình sẽ còn góp phần tư vấn, tiếp thị khách hàng và
có thể làm thay đổi tập quán bán FOB, nhập CIF, tư vấn thêm các nghiệp vụ
mua bán cũng như các cách thức khiếu nại bồi thường một cách tỉ mỉ và dễ hiểu
hơn.
1.4. Thị trường Bảo hiểm giúp cho việc thực hiện đổi mới cơ chế
kinh tế nhanh chóng hơn.
29
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, các doanh nghiệp trở thành tổ
chức kinh tế tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi. Sau khi thực
hiện chế độ trách nhiệm kinh doanh, trách nhiệm và rủi ro kinh tế thuộc về
các tổ chức này phải đảm nhận ngày càng nhiều hơn: thiên tai và tai nạn bất
ngờ hay xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh và khai thác kĩ thuật mới,
sản phẩm mới, còn những rủi ro về tín dụng hay xảy ra trong quá trình kinh
doanh giữa các bên. Nhà nước không thể bao cấp cho những tổn thất do
những rủi ro này gây ra như thời kì chưa đổi mới cơ chế kinh tế, những nhà
sản xuất, kinh doanh phải tự đảm nhận giải quyÕt. Chỉ có tham gia bảo hiểm
các doanh nghiệp có thể chuyển rủi ro cho doanh nghiệp bảo hiểm, tức là
chuyển những yếu tố không ổn định và những tổn thất không lường trước
được trong quá trình kinh doanh, nhằm đảm bản cho những hoạt động sản
xuất và kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thuận lợi.
Đồng thời, chế độ phá sản doanh nghiệp được thực hiện trong quá trình
đổi mới kinh tế hiện nay cũng phải được thực hiện đồng bộ với chế độ bản
hiểm xã hội tương ứng, nhằm đảm bảo một phần nhất định đời sống công
nhân viên chức của doanh nghiệp bị phá sản trong thời gian chờ việc lành.
Nếu không, việc thực hiện luật phá sản doanh nghiệp sẽ gây ra những yếu tố
không ổn định về trật tự xã hội.
1.5. Thị trường Bảo hiểm giúp cho việc thực hiện, bảo toàn vốn vay
của các ngân hàng thương mại một cách thuận lợi.
Đảm bảo cho việc luân chuyển vốn cho vay. Trong thời kì đổi mới cơ
chế kinh tế ở nước ta, một phần lớn vốn cần dùng cho doanh nghiệp được
cung cấp từ khoản tiền vay của ngân hàng, những doanh nghiệp bị tai nạn rủi
ro, việc đó chẳng những ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả khoản tiền vay đã
hết hạn, mà còn yêu cầu ngân hàng tiếp tục cho vay, nhằm đáp ứng đầy đủ số
tiền vốn cần dùng ngay để doanh nghiệp khôi phục sản xuất. Nếu doanh
nghiệp bị tai nạn rủi ro đã kịp thời nhận được tiền bồi thường bảo hiểm, đã
30
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
nhanh chóng khôi phục sản xuất và kinh doanh thì cũng có thể hoàn trả vốn
vay ngân hàng.
1.6. Thị trường bảo hiểm có lợi cho sự phát triển và củng cố nền
kinh tế hàng hóa ở nông thôn.
Nông nghiệp là cơ sở của nền kinh tế quốc dân. Trong những năm gần
đây, nền kinh tế nông nghiệp và kinh tế hàng hóa ờ nông thôn nước ta đều có
những bước phát triển rất lớn. Nhưng vì nền sản xuất nông nghiệp còn lệ
thuộc vào nhiều điều kiện tự nhiên rất nhiều, còn có những đặc điểm như tính
chất thời vụ, tính chất khu vực và tính chất không ổn định, nên kinh tế hàng
hóa ở nông thôn phần lớn là kinh tế tập thể nhỏ và cá thể, vốn Ýt, sức mạnh
về kinh tế tương đối non yếu. Do đó, trong sản xuất nông nghiệp và trao đổi
buôn bán các mặt hàng nông nghiệp nếu bị thiên tai và tai nạn bất ngờ, sẽ
càng thêm nhiều khó khăn cho các đơn vị sản xuất và kinh doanh, nên lại
càng đòi hỏi phải có sự hỗ trợ đắc lực của các loại bảo hiểm nông nghiệp như
bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng...
1.7. Thị trường bảo hiểm tạo ra môi trường thuận lợi cho việc họp tác
kinh tế, kĩ thuật, thương mại với nước ngoài và cho việc thu hút đầu tư của
nước ngoài.
Đi đôi với việc thực hiện chính sách mở cửa ở nước ta hiện nay, việc
triển khai nghiệp vụ bảo hiểm liên quan đến kinh tế đối ngoại càng trở nên
quan trọng. Những rủi ro trong quá trình trao đổi kinh tế, thương mại, kĩ thuật
với nước ngoài thường lớn hơn trong nước, vì vậy càng đòi hỏi phải có sự
đảm bảo kinh tế dưới hình thức bảo hiểm. Thực hiện các loại nghiệp vụ bảo
hiểm có thể tăng thêm mức độ an toàn đối với những nhà đầu tư đối với việc
hợp tác hoặc đầu tư vào nước ta. Trong những năm gần đây, ngoài việc phát
triển các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển và nghiệp vụ
bảo hiểm tàu biển phục vụ cho thương mại xuất nhập khẩu, ở nước ta các loại
nghiệp vụ bảo hiểm công trình thăm dò, khai thác dầu khí, bảo hiểm xây
dựng và lắp đặt, bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt đã được triển khai nhằm
đáp ứng nhu cầu thu hút kĩ thuật tiên tiến và gọi vốn đầu tư của nước ngoài.
31
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Đồng thời, hoạt động bảo hiểm còn thu về cho Nhà nước một khoản ngoại tệ
phi mậu dịch rất lớn.
1.8. Thị trường Bảo hiểm có thể tăng cường đề phòng, hạn chế tai
nạn rủi ro, giảm bớt tổn thất của cải của xã hội.
Trong thị trường bảo hiểm người bảo hiểm chính là người sẽ bồi
thường những tổn thất khi có rủi ro xảy ra cho những người mua bảo hiểm.
Điều này không có nghĩa là trong thị trường bảo hiểm đơn thuần chỉ có sự
chuyển giao rủi ro giữa người bảo hiểm và người mua bảo hiểm. Thực tế, nếu
rủi ro không xảy ra thì người bảo hiểm sẽ không phải bồi thường và họ sẽ có
thu nhập khoản tiền Êy.
Do đó rủi ro càng Ýt, họ càng có lợi. Chính vì vậy mà chính những
công ty bảo hiểm sẽ tăng cường việc đề phòng, hạn chế tổn thất. Doanh
nghiệp bảo hiểm các nước trên thế giới thường tìm kiếm những người tài giỏi
có đủ trình độ khoa học kĩ thuật cao, tổ chức những cuộc nghiên cứu ứng
dụng thực tế, cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng tham gia bảo hiểm về
việc đề phòng tổn thất.
2. Vai trò của thị trường bảo hiÓm đối với các thị trường khác.
Trong nền kinh tế quốc dân có các kênh dẫn vốn sau:
Có vốn Cần
vốn
32
NH
A TTBH
B
NS
TTCK
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Trong mô hình các kênh dẫn vốn trên thị trường bảo hiểm cũng là một
kênh dẫn vốn lớn trong 4 kênh đó thì 3 kênh là kênh trực tiếp và chỉ có mét
kênh gián tiếp, Kênh gián tiếp đó là cách huy động vốn qua ngân hàng.
Kênh dẫn vốn qua ngân hàng có điểm yếu là chi phí sử dụng vốn cao
(lãi suất cao) do phải trả một phần lãi cho ngân hàng. Hơn nữa các thủ tục
cho vay phức tạp cần nhiều điều kiện, mặt khác các khoản tiền quá nhỏ người
dân cũng ngại gửi ngân hàng. Ngoài ra còn một nỗi lo lạm phát nên nhiều
người có vốn chỉ tự giữ chứ không gửi ngân hàng.
Trong 3 kênh dẫn vốn trực tiếp là. Ngân sách, thị trường chứng khoán
tiền tệ bảo hiểm thì kênh thông qua ngân sách không phổ biến vì nó thường
chỉ cung cấp cho các dự án quốc gia hay các doanh nghiệp nhà nước. Còn thị
trường chứng khoán ngày nay đang được coi là kênh dẫn vốn rất hiệu quả nó
là thị trường trực tiếp để mua bán vốn, chi phí sử dụng vốn thấp do không
qua trung gian. Kênh này ngày càng phát triển. Nhưng sự phát triển của thị
trường này rất khó khăn vì nó đòi hỏi các điều kiện về kinh tế phải phát triÓn
tới một mức độ nhất định, cơ sở pháp lý chặt chẽ để nó có thể hoạt động một
cách hiệu quả. Hơn nữa một điểm yếu của thị trường chứng khoán là không
phải ai có vốn cũng tham gia được vào thị trường chứng khoán mà họ phải có
kiến thức, sự hiểu biết về thị trường chứng khoán, kinh doanh chứng khoán
và các thông tin khác. Kinh doanh vào chứng khoán đối với một số người là
khá mạo hiểm. Trong khi đó thị trường bảo hiểm ngày càng mạnh lên do nó
đã khắc phục được một số điểm yếu của các thị trường khác. Với thị trường
bảo hiểm đặc biệt thị trường bảo hiểm Nhân thọ nhà bảo hiểm có thể chủ
động được những nguồn vốn rất nhỏ lẻ trong xã hội một cách thường xuyên.
Vì nó không giới hạn giá trị nên có thể huy động được mọi khoản tiền nhàn
rỗi có thể. Hơn nữa người tham gia có thể được mức lãi sút cao hơn ngân
hàng lại không phải lo lắng và rủi ro mạo hiểm như kinh doanh chứng khoán.
33
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Tùy thuộc vào lĩnh vực đầu tư của nhà bảo hiểm họ có thể cung cấp vốn cho
ngân hàng hoặc thị trường chứng khoán. Ở Pháp đầu tư của thị trường bảo
hiểm trên thị trường chứng khoán tới 60% (năm 1998). Hoặc họ có thể trực
tiếp đầu tư vào các công trình, dự án của chính họ.
Thị trường bảo hiểm cung cấp vốn cho thị trường ngân hàng, góp phần
lớn trong ngân sách nhà nước (trung bình toàn Châu Âu thị trường bảo hiểm
đóng góp 8,3% GDP) và là nguồn chủ yếu cho thị trường chứng khoán. Thị
trường BH với nguồn vốn lớn mà họ huy động được sẽ ảnh hưởng mạnh đến
thị trường tiền tệ làm cho tốc độ lưu thông tiền tệ nhanh hơn, thị trường đầu
tư cũng được đẩy mạnh.
IV. KINH Nghiệm XÂY dựng Và Phát Triển Của Một Số Thị TRƯờNG
TRÊN Thế Giới
l. Thị trường bảo hiểm Anh
Thị trường Anh được đặc trưng bởi một số nét đặc thù riêng so với các
thị trường Châu Âu khác:
- Thị trường nội địa đã đạt đến độ chín muồi. Tổng doanh thu bảo hiểm
Phi nhân thọ phụ thuộc vào biểu phí nhiều hơn là sự phát triển của sản phẩm
được bảo hiểm và bản thân biểu phí cũng tương đối mang tính chu kỳ và biến
động trên cơ sở tỷ lệ tổn thất, khả năng cung cầu biến đổi theo kết quả kinh
doanh) và sự cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm ''trực tiếp'' đã làm giảm
biểu phí bảo hiểm xe cơ giới). thị trường bảo hiểm Nhân thọ, có vị trí rất
quan trọng, chịu ảnh hưởng các quyết định của Chính phủ về mặt thuế và sự
cạnh tranh của các sản phẩm bảo hiểm tương tù trong đầu tư vào tiết kiệm.
Bảo hiểm nhân thọ chiếm gần 2/3 thị trường từ nhiều năm nay, đến nỗi
các khoản dự phòng kỹ thuật được các công ty bảo hiểm tích lũy đạt đến một
mức đặc biệt cả về số tuyệt đối cũng như so với GDP.
- Người Anh có truyền thống khá tự do về hoạt động giám sát bảo hiểm
và không theo chủ nghĩa giáo điều. Chính vì vậy mà những người đại diện
34
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
kiểm tra của bảo hiểm Anh luôn ngạc nhiên tại những cuộc bàn luận giữa họ
với các đồng nghiệp thuộc các thị trường Châu Âu khác khi nghe nhấn mạnh
rằng luật pháp Châu Âu phải cấm một công ty bảo hiểm hoạt động đồng thời
trong cả hai ngành bảo hiểm Nhân thọ và Phi nhân thọ.
Ngược lại, trong công tác giám sát, người Anh không phân biệt giữa
bảo hiểm trực tiếp và tái bảo hiểm. Và ở nước Anh, các công ty tái bảo hiểm
luôn phải tuân thủ một cách đầy đủ các nghĩa vụ giống như các công ty bảo
hiểm gốc. Điểm này khác với nhiều thị trường khác: các công ty tái bảo hiểm
không phải chịu sự kiểm soát.
Tính năng động của hoạt động môi giới là một khía cạnh cơ bản của thị
trường bảo hiểm Anh. Nó tạo nên phương thức phân phối chính của thị
trường này. Mạng lưới các công ty môi giới rát rộng, từ môi giới địa phương
nhỏ bé (high street broker), hoạt động đơn lẻ chỉ với một thư ký và đáp ứng
nhu cầu của một số cá nhân hoặc doanh nghiệp nhỏ, đến công ty mới giới
quốc tế (Me ga broker), hoạt động trên cả năm lục địa, có trong tay hàng tỷ
bảng Anh về doanh thu bảo hiểm và sử dụng hàng nghìn cộng sự, qua các nhà
môi giới chuyên biệt trong những lĩnh vực đặc thù (bản hiểm tín dụng, đua
ngựa, ôtô đặc biệt hoặc vật nuôi , v.v...).
Hoạt động mạnh mẽ của bảo hiểm Anh trên thị trường quốc tế nhờ vào
mạng lưới đại lý, chi nhánh và công ty con từ lâu đặt tại nước ngoài, đồng
thời cũng nhờ rất nhiều vào tính năng động của các công ty môi giới. Những
công ty môi giới năng động nhất coi thị trường quốc tế như địa bàn hoạt động
đương nhiên của mình.
Tuy nhiên, hoạt động môi giới bị cạnh tranh bởi các phương thức phân
phối khác. Các công ty bảo hiểm Nhân thọ bán sản phẩm của mình thông
qua các công ty tư vấn tài chính chuyên nhất hoặc đa chức năng ''multicartes''.
Công ty bảo hiểm Thiệt hại sử dụng mạng lưới không chuyên nghiệp như các
hãng du lịch hoặc đại lý bất động sản và các công ty cho vay bất động sản
cầm cố (Building societies).
35
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Không tách rời các tiến triển mới đây của ngành, các công ty bảo hiểm
Anh đã phát triển hai lãnh địa hoạt động cho các công ty tự bảo hiểm và tự tái
bản hiểm: Guemesey ở vùng đảo thuộc phía Nam nước Anh, nơi có các công
ty tự bảo hiểm của một số tập đoàn công nghiệp hàng đầu Châu Âu và tại đảo
Man, nơi các công ty tự bảo hiểm được hưởng những điều kiện ưu đãi về
thuế, và do lãnh thổ này không là thành viên của EU nên có thể tự xây dựng
luật một cách hoàn toàn độc lập. Các công ty BHNT chính của Anh hiện nay:
Prudential, Standard Life,Equitable Life, Norwich Union, Scottsh Window.
2. Các thị trường bảo hiểm Châu Á.
Nhật Bản là thị trường lớn nhất trong ngành bảo hiểm nhân thọ và ngay
cả trong tất cả các ngành bảo hiểm khác, khi đồng Yên lên giá so với đồng
Đô la cho phép thị trường này vượt thị trường Hoa Kỳ. Đó là một thị trường
tập trung và được bảo hộ. Sức mạnh tài chính làm cho thị trường bảo hiểm
đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước.
Hàn quốc và Đài Loan có thị trường bảo hiểm rÊt phát triển, nhất là
trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
Các nước khác ở Châu Á vẫn là những thị trường mới nổi trong lĩnh
vực bảo hiểm, tuy nhiên, có tốc độ tăng trưởng rất nhanh. Tại hai nước đông
dân nhất thế giới, Trung Quốc và Ên Độ, thị trường bảo hiÓm vẫn do Nhà
nước quản lý và thuộc trong số nhân nước có tỉ trọng của bao hiểm trong
GDP thấp nhất thế giới. Quá trình phát triển hiện nay cần phải tạo điều kiện
thuận lợi cho các nước này sớm khắc phục sự tụt hậu tương đối của họ.
Nhật Bản là thị trường đứng đầu thế giới, cách xa hẳn các nước khác về
bảo hiểm nhân thọ. Về tổng doanh thu (Nhân thọ và Phi nhân thọ), Nhật Bản
và Hoa Kỳ gần bằng nhau và vị trí thị trường đứng đầu thế giới lúc thì thuộc
về Nhật Bản, lúc thì thuộc về Hoa Kỳ, tùy theo sự biến động của tỉ giá hối
đoái giữa đồng Yên và đồng Đô la. Năm 1995, Nhật Bản chiếm vị trí đứng
đầu, tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm, với thị phần trên thế giới là 29,73%.
Nếu như doanh thu bảo hiểm của Châu Á vượt doanh thu bảo hiểm của
Hoa Kỳ và mặt khác, của Châu Âu, thì cơ bản là nhờ có Nhật Bản. Chỉ riêng
36
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
nước này chiếm 85% thị trường Châu Á. Điều này có nghĩa là các thị trường
khác vẫn còn hạn chế, mặc dù nhiều thị trường trong số này cũng tỏ ra năng
động gần như của Nhật Bản. Tuy nhiên, không phải ở Nhật Bản mà chính ở
Hàn Quốc, người ta thấy tỉ trọng của bảo hiểm trong GDP đạt mức cao nhất.
13,16% GDP. Nhiều nước Châu Á, nhất là một số nước đông dân nhất, tỉ
trọng của bảo hiểm trong GDP vẫn còn thấp hơn nhiều so với mức trung bình
trên thế giới:
Trung Quốc (l,17%), Ên Độ (2,Ol%), Pakistan (O,8%), Indonêxia
(l,40%). Như vậy các thị trường Châu Á có tiềm năng phát triển đáng kể và
trong tương lai có lẽ sẽ tiếp tục đạt nhịp độ tăng trưởng nhanh đã được ghi
nhận trong vài năm gần đây Nhìn chung, các thị trường Châu Á tương đối tập
trung. Nhiều trở ngại về chính trị hay văn hóa, luật pháp hay hành chính, hạn
chế vai trò của các công ty này được phép hoạt động thì chúng cũng chỉ đóng
vai trò thứ yếu. Đó là trường hợp ở Nhật Bản, thị trường bảo hiểm lớn nhất
thế giới, có 27 công ty bảo hiểm Nhân thọ và 25 công ty bảo hiểm Phi nhân
thọ, tất cả các công ty này đều có vốn Nhà nước. Chi nhánh của các công ty
bảo hiểm nước ngoài (3 Nhân thọ, 25 Phi nhân thọ) bị giảm xuống còn 3% thị
trường. Chỉ riêng Nippin Life, tập đoàn bảo hiểm đứng đầu thế giới, chiếm
20% thị trường bảo hiểm Nhân thọ, trong khi đó Tokyo Marine & Fire chiếm
20% thị trường bảo hiểm Phi nền thọ.
Tại Malaysia, với một thị trường trong thời gian dài đã bị khống chế
bởi các tập đoàn bảo hiểm Anh, Chính phủ buộc các công ty bảo hiểm được
chấp nhận ở nước này phải có đa số vốn nằm trong tay các cổ đông Malaysia.
Tại Trung Quốc, PICC bị các công ty lớn cạnh tranh như Ping An, thành lập
ở Thân Quyến năm 1988 và Pacific Insurance ở Thượng Hải năm 1992.
Năm 1992, lĩnh vực bảo hiểm Nhân thọ của công ty PICC tách ra thành
công ty riêng, công ty Alina Life. Tại nước này, số lượng các công ty trong
nước ngày càng nhiều. Ở Ên Độ, Chính phủ đang có ý định tư nhân hóa các
công ty quốc doanh và dần dần mở cửa thị trường cho các công ty mới có vốn
trong nước, thậm chí cả của nước ngoài, cạnh tranh với nhau, mặc dù có sự
phản đổi của công đoàn và một bộ phận quần chúng. Hiện nay, các quy định
37
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
của Tổ chức Thương mại thế giới và sức Ðp của Hoa Kỳ sẽ thúc đẩy các
nước đang thực hiện chế độ thuế quan bảo hộ và nền kinh tế chỉ huy như
Nhật Bản, Indonesia, Đài Loan hay Hàn Quốc, giảm nhẹ chính sách cấp giấy
phép và mở cửa thị trường độc quyền cho các công ty mới trong nước và
nước ngoài cạnh tranh.
Tóm lại, sự tìm hiểu khái quát về thị trường bảo hiểm, đặc điểm của thị
trường bảo hiểm cũng như lịch sử ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm thế
giới sẽ cho chóng ta cái nhìn khái quát về thị trường bảo hiểm. Hơn nữa trong
bối cảnh phát triển thị trường bảo hiểm thế giới và kinh nghiệm xây dựng và
phát triển thị trường bảo hiểm của một số nước trên thế giới sẽ giúp chúng ta
hiểu sâu hơn và đánh giá chính xác hơn tình hình phát triển của thị trường
bảo hiểm Việt Nam và có thể đưa ra những giải pháp phát triển thị trường ở
những chương sau.
38
THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 -
K38F
Chương II
tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam
trong những năm qua
I. Đánh giá tình hình phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam
Đứng trước nhu cầu đổi mới về nền kinh tế nói chung và hoạt động
bảo hiểm nói riêng, để bảo hiểm thương mại phát triển hơn, ngày 18/12/1993
Nhà nước ta ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm tại Việt
Nam, cho phép các thành phần kinh tế khác và các nhà đầu tư nước ngoài
được phép kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, đặt dấu mốc quan trọng cho sự
hình thành thị trường bảo hiểm ở Việt Nam với sự đa dạng hóa về lĩnh vực
hoạt động và sở hữu. Năm 1995, sau khi Nghị định 100/CP được ban hành 1
năm, các công ty bảo hiểm khác ngoài hệ thống Bảo Việt lần lượt ra đời.
Trước tiên là công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Tái bảo
hiểm Quốc gia Việt Nam, Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng, Công ty cổ
phần bảo hiểm Petrolimex và năm sau là Công ty bảo hiểm Dầu khí và Công
ty liên doanh bảo hiểm Quốc tế Việt Nam ra đời. Năm 1995 có thể được coi là
năm khởi đầu thật sự của thị trường bảo hiểm Việt Nam với đầy đủ ý nghĩa của
từ đó.
Sù ra đời của một loạt các công ty bảo hiểm mới đã thúc đẩy thị
trường bảo hiểm phát triển một cách mạnh mẽ, cũng đồng thời với việc người
có nhu cầu bảo hiểm có sự lựa chọn doanh nghiệp phục vụ cho mình, dẫu ban
đầu chỉ là sự lựa chọn về sản phẩm và mức phí. Ngay trong năm 1995, doanh
thu phí bảo hiểm đã tăng trên 30%. Mặc dù mức tăng trưởng chậm hơn so với
trước đó (những năm 1992, 1994, 1994 mức tăng trưởng bình quân
55%/năm) nhưng trong bối cảnh có nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động, thị
trường cạnh tranh thì đó là mức tăng trưởng cao. Bên cạnh đó, với sự ra đời
39
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam
Thị trường bảo hiểm việt nam

More Related Content

What's hot

đáNh giá chất lượng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ manulife tại ngân hàng thương m...
đáNh giá chất lượng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ manulife tại ngân hàng thương m...đáNh giá chất lượng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ manulife tại ngân hàng thương m...
đáNh giá chất lượng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ manulife tại ngân hàng thương m...
https://www.facebook.com/garmentspace
 
Đề tài Công tác đào tạo và tuyển dụng đại lý rất hay
Đề tài Công tác đào tạo và tuyển dụng đại lý  rất hayĐề tài Công tác đào tạo và tuyển dụng đại lý  rất hay
Đề tài Công tác đào tạo và tuyển dụng đại lý rất hay
Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864
 
Mo hinh ngan_hang_trung_uong_063
Mo hinh ngan_hang_trung_uong_063Mo hinh ngan_hang_trung_uong_063
Mo hinh ngan_hang_trung_uong_063
Thanh Huyền
 
Báo cáo thực tập: quy trình bán hàng bảo hiểm nhân thọ, HAY, 9đ!
Báo cáo thực tập: quy trình bán hàng bảo hiểm nhân thọ, HAY, 9đ!Báo cáo thực tập: quy trình bán hàng bảo hiểm nhân thọ, HAY, 9đ!
Báo cáo thực tập: quy trình bán hàng bảo hiểm nhân thọ, HAY, 9đ!
Dịch vụ viết thuê Luận Văn - ZALO 0932091562
 
2. bai giang 2 xay dung bao cao ngan luu
2. bai giang 2   xay dung bao cao ngan luu2. bai giang 2   xay dung bao cao ngan luu
2. bai giang 2 xay dung bao cao ngan luu
Ngoc Minh
 
Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bưu Điện ( Pti )
Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bưu Điện ( Pti )Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bưu Điện ( Pti )
Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bưu Điện ( Pti )
Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO: 0936 885 877
 
Chiến lược giá của vinamilk
Chiến lược giá của vinamilkChiến lược giá của vinamilk
Chiến lược giá của vinamilk
ndthien23
 
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mạiCác hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
Nguyễn Ngọc Phan Văn
 
Bài tập-định-giá-cổ-phiếu-và-trái-phiếu
Bài tập-định-giá-cổ-phiếu-và-trái-phiếuBài tập-định-giá-cổ-phiếu-và-trái-phiếu
Bài tập-định-giá-cổ-phiếu-và-trái-phiếu
Tường Minh Minh
 
Đề tài Tổ chức và quản lý mạng lưới đại lý khai thác bảo hiểm nhân thọ điểm c...
Đề tài Tổ chức và quản lý mạng lưới đại lý khai thác bảo hiểm nhân thọ điểm c...Đề tài Tổ chức và quản lý mạng lưới đại lý khai thác bảo hiểm nhân thọ điểm c...
Đề tài Tổ chức và quản lý mạng lưới đại lý khai thác bảo hiểm nhân thọ điểm c...
Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864
 
Kinh tế bảo hiểm,bhxh,luận văn bảo hiểm,luận văn tốt nghiệp,báo cáo,khóa luận...
Kinh tế bảo hiểm,bhxh,luận văn bảo hiểm,luận văn tốt nghiệp,báo cáo,khóa luận...Kinh tế bảo hiểm,bhxh,luận văn bảo hiểm,luận văn tốt nghiệp,báo cáo,khóa luận...
Kinh tế bảo hiểm,bhxh,luận văn bảo hiểm,luận văn tốt nghiệp,báo cáo,khóa luận...
Luanvan84
 
Câu hỏi ôn thi phần tự luận lý thuyết tài chính tiền tệ (vb2)
Câu hỏi ôn thi phần tự luận lý thuyết tài chính   tiền tệ (vb2)Câu hỏi ôn thi phần tự luận lý thuyết tài chính   tiền tệ (vb2)
Câu hỏi ôn thi phần tự luận lý thuyết tài chính tiền tệ (vb2)
Tạ Đình Chương
 
Uu nhuoc diem cac phuong thuc thanh toan quoc te
Uu nhuoc diem cac phuong thuc thanh toan quoc teUu nhuoc diem cac phuong thuc thanh toan quoc te
Uu nhuoc diem cac phuong thuc thanh toan quoc te
Pi Na
 
quyền chọn
quyền chọnquyền chọn
quyền chọn
Loren Bime
 
Tiểu luận về chính sách tiền tệ
Tiểu luận về chính sách tiền tệTiểu luận về chính sách tiền tệ
Tiểu luận về chính sách tiền tệ
XUAN THU LA
 
Bài mẫu Tiểu luận về Ngân hàng thương mại 9 ĐIỂM
Bài mẫu Tiểu luận về Ngân hàng thương mại 9 ĐIỂMBài mẫu Tiểu luận về Ngân hàng thương mại 9 ĐIỂM
Bài mẫu Tiểu luận về Ngân hàng thương mại 9 ĐIỂM
Viết Thuê Khóa Luận _ ZALO 0917.193.864 default
 
Tài chính doanh nghiệp - Chương 12 - Chi phí sử dụng vốn
Tài chính doanh nghiệp - Chương 12 - Chi phí sử dụng vốnTài chính doanh nghiệp - Chương 12 - Chi phí sử dụng vốn
Tài chính doanh nghiệp - Chương 12 - Chi phí sử dụng vốn
Shaiya Super
 
tìm hiểu về chiến lược sản phẩm tập đoàn Thiên Long 3042115
tìm hiểu về chiến lược sản phẩm tập đoàn Thiên Long 3042115tìm hiểu về chiến lược sản phẩm tập đoàn Thiên Long 3042115
tìm hiểu về chiến lược sản phẩm tập đoàn Thiên Long 3042115
nataliej4
 
Nhóm 7(chính), chủ đề thâm hụt ngân sách nhà nước
Nhóm 7(chính), chủ đề thâm hụt ngân sách nhà nướcNhóm 7(chính), chủ đề thâm hụt ngân sách nhà nước
Nhóm 7(chính), chủ đề thâm hụt ngân sách nhà nước
Hương Nguyễn
 

What's hot (20)

đáNh giá chất lượng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ manulife tại ngân hàng thương m...
đáNh giá chất lượng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ manulife tại ngân hàng thương m...đáNh giá chất lượng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ manulife tại ngân hàng thương m...
đáNh giá chất lượng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ manulife tại ngân hàng thương m...
 
Đề tài Công tác đào tạo và tuyển dụng đại lý rất hay
Đề tài Công tác đào tạo và tuyển dụng đại lý  rất hayĐề tài Công tác đào tạo và tuyển dụng đại lý  rất hay
Đề tài Công tác đào tạo và tuyển dụng đại lý rất hay
 
Mo hinh ngan_hang_trung_uong_063
Mo hinh ngan_hang_trung_uong_063Mo hinh ngan_hang_trung_uong_063
Mo hinh ngan_hang_trung_uong_063
 
Báo cáo thực tập: quy trình bán hàng bảo hiểm nhân thọ, HAY, 9đ!
Báo cáo thực tập: quy trình bán hàng bảo hiểm nhân thọ, HAY, 9đ!Báo cáo thực tập: quy trình bán hàng bảo hiểm nhân thọ, HAY, 9đ!
Báo cáo thực tập: quy trình bán hàng bảo hiểm nhân thọ, HAY, 9đ!
 
2. bai giang 2 xay dung bao cao ngan luu
2. bai giang 2   xay dung bao cao ngan luu2. bai giang 2   xay dung bao cao ngan luu
2. bai giang 2 xay dung bao cao ngan luu
 
Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bưu Điện ( Pti )
Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bưu Điện ( Pti )Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bưu Điện ( Pti )
Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bưu Điện ( Pti )
 
Chiến lược giá của vinamilk
Chiến lược giá của vinamilkChiến lược giá của vinamilk
Chiến lược giá của vinamilk
 
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mạiCác hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
 
Bài tập-định-giá-cổ-phiếu-và-trái-phiếu
Bài tập-định-giá-cổ-phiếu-và-trái-phiếuBài tập-định-giá-cổ-phiếu-và-trái-phiếu
Bài tập-định-giá-cổ-phiếu-và-trái-phiếu
 
Đề tài Tổ chức và quản lý mạng lưới đại lý khai thác bảo hiểm nhân thọ điểm c...
Đề tài Tổ chức và quản lý mạng lưới đại lý khai thác bảo hiểm nhân thọ điểm c...Đề tài Tổ chức và quản lý mạng lưới đại lý khai thác bảo hiểm nhân thọ điểm c...
Đề tài Tổ chức và quản lý mạng lưới đại lý khai thác bảo hiểm nhân thọ điểm c...
 
Kinh tế bảo hiểm,bhxh,luận văn bảo hiểm,luận văn tốt nghiệp,báo cáo,khóa luận...
Kinh tế bảo hiểm,bhxh,luận văn bảo hiểm,luận văn tốt nghiệp,báo cáo,khóa luận...Kinh tế bảo hiểm,bhxh,luận văn bảo hiểm,luận văn tốt nghiệp,báo cáo,khóa luận...
Kinh tế bảo hiểm,bhxh,luận văn bảo hiểm,luận văn tốt nghiệp,báo cáo,khóa luận...
 
Câu hỏi ôn thi phần tự luận lý thuyết tài chính tiền tệ (vb2)
Câu hỏi ôn thi phần tự luận lý thuyết tài chính   tiền tệ (vb2)Câu hỏi ôn thi phần tự luận lý thuyết tài chính   tiền tệ (vb2)
Câu hỏi ôn thi phần tự luận lý thuyết tài chính tiền tệ (vb2)
 
Uu nhuoc diem cac phuong thuc thanh toan quoc te
Uu nhuoc diem cac phuong thuc thanh toan quoc teUu nhuoc diem cac phuong thuc thanh toan quoc te
Uu nhuoc diem cac phuong thuc thanh toan quoc te
 
quyền chọn
quyền chọnquyền chọn
quyền chọn
 
Tiểu luận về chính sách tiền tệ
Tiểu luận về chính sách tiền tệTiểu luận về chính sách tiền tệ
Tiểu luận về chính sách tiền tệ
 
Phương thức nhờ thu trơn
Phương thức nhờ thu trơnPhương thức nhờ thu trơn
Phương thức nhờ thu trơn
 
Bài mẫu Tiểu luận về Ngân hàng thương mại 9 ĐIỂM
Bài mẫu Tiểu luận về Ngân hàng thương mại 9 ĐIỂMBài mẫu Tiểu luận về Ngân hàng thương mại 9 ĐIỂM
Bài mẫu Tiểu luận về Ngân hàng thương mại 9 ĐIỂM
 
Tài chính doanh nghiệp - Chương 12 - Chi phí sử dụng vốn
Tài chính doanh nghiệp - Chương 12 - Chi phí sử dụng vốnTài chính doanh nghiệp - Chương 12 - Chi phí sử dụng vốn
Tài chính doanh nghiệp - Chương 12 - Chi phí sử dụng vốn
 
tìm hiểu về chiến lược sản phẩm tập đoàn Thiên Long 3042115
tìm hiểu về chiến lược sản phẩm tập đoàn Thiên Long 3042115tìm hiểu về chiến lược sản phẩm tập đoàn Thiên Long 3042115
tìm hiểu về chiến lược sản phẩm tập đoàn Thiên Long 3042115
 
Nhóm 7(chính), chủ đề thâm hụt ngân sách nhà nước
Nhóm 7(chính), chủ đề thâm hụt ngân sách nhà nướcNhóm 7(chính), chủ đề thâm hụt ngân sách nhà nước
Nhóm 7(chính), chủ đề thâm hụt ngân sách nhà nước
 

Similar to Thị trường bảo hiểm việt nam

Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, 9đ
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, 9đBảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, 9đ
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, 9đ
Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864
 
Nâng cao HQKD nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển ở cô...
Nâng cao HQKD nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển ở cô...Nâng cao HQKD nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển ở cô...
Nâng cao HQKD nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển ở cô...
Luanvan84
 
Đề tài Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá đường biển rất hay
Đề tài  Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá đường biển rất hayĐề tài  Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá đường biển rất hay
Đề tài Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá đường biển rất hay
Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864
 
Luận văn bảo hiểm việt nam
Luận văn bảo hiểm việt namLuận văn bảo hiểm việt nam
Luận văn bảo hiểm việt nam
Royal Scent
 
Khai thác sản phẩm bảo hiểm An Khang Trường Thọ của Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội
Khai thác sản phẩm bảo hiểm An Khang Trường Thọ của Bảo Việt Nhân Thọ Hà NộiKhai thác sản phẩm bảo hiểm An Khang Trường Thọ của Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội
Khai thác sản phẩm bảo hiểm An Khang Trường Thọ của Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội
Luanvan84
 
Đề Tài Thực Tập Tốt Nghiệp Bảo Hiểm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả K...
Đề Tài Thực Tập Tốt Nghiệp Bảo Hiểm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả K...Đề Tài Thực Tập Tốt Nghiệp Bảo Hiểm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả K...
Đề Tài Thực Tập Tốt Nghiệp Bảo Hiểm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả K...
nataliej4
 
Đề tài thực trạng bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển rất hay
Đề tài  thực trạng bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển  rất hayĐề tài  thực trạng bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển  rất hay
Đề tài thực trạng bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển rất hay
Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864
 
Quản lý mạng lưới đại lý bảo hiểm tại Công ty Bảo Việt Nhân Thọ
Quản lý mạng lưới đại lý bảo hiểm tại Công ty Bảo Việt Nhân ThọQuản lý mạng lưới đại lý bảo hiểm tại Công ty Bảo Việt Nhân Thọ
Quản lý mạng lưới đại lý bảo hiểm tại Công ty Bảo Việt Nhân Thọ
Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO 0917193864
 
An sinh giáo dục thực trạng và một số biện pháp phát triển nghiệp vụ này ở cô...
An sinh giáo dục thực trạng và một số biện pháp phát triển nghiệp vụ này ở cô...An sinh giáo dục thực trạng và một số biện pháp phát triển nghiệp vụ này ở cô...
An sinh giáo dục thực trạng và một số biện pháp phát triển nghiệp vụ này ở cô...
Vcoi Vit
 
Bàn về nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ và các loại hình Bảo hiểm nhân thọ đang đư...
Bàn về nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ và các loại hình Bảo hiểm nhân thọ đang đư...Bàn về nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ và các loại hình Bảo hiểm nhân thọ đang đư...
Bàn về nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ và các loại hình Bảo hiểm nhân thọ đang đư...
Luanvan84
 
Bàn về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ và các loại hình bảo hiểm nhân thọ đang đư...
Bàn về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ và các loại hình bảo hiểm nhân thọ đang đư...Bàn về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ và các loại hình bảo hiểm nhân thọ đang đư...
Bàn về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ và các loại hình bảo hiểm nhân thọ đang đư...
Vcoi Vit
 
Lý luận lý luận chung về Bảo hiểm nhân thọ.docx
Lý luận lý luận chung về Bảo hiểm nhân thọ.docxLý luận lý luận chung về Bảo hiểm nhân thọ.docx
Lý luận lý luận chung về Bảo hiểm nhân thọ.docx
LongL211391
 
Thực Trạng Công Tác Tuyển Dụng Và Đào Tạo Đại Lý Tại Công Ty Bảo Hiểm Nhân Th...
Thực Trạng Công Tác Tuyển Dụng Và Đào Tạo Đại Lý Tại Công Ty Bảo Hiểm Nhân Th...Thực Trạng Công Tác Tuyển Dụng Và Đào Tạo Đại Lý Tại Công Ty Bảo Hiểm Nhân Th...
Thực Trạng Công Tác Tuyển Dụng Và Đào Tạo Đại Lý Tại Công Ty Bảo Hiểm Nhân Th...
Nhận Viết Thuê Đề Tài Zalo: 0934.573.149
 
GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ BẢO HIỂM.pdf
GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ BẢO HIỂM.pdfGIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ BẢO HIỂM.pdf
GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ BẢO HIỂM.pdf
NuioKila
 
Đề tài: Thực tập tổng hợp tại Công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Dai-ichi Việt Nam
Đề tài: Thực tập tổng hợp tại Công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Dai-ichi Việt NamĐề tài: Thực tập tổng hợp tại Công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Dai-ichi Việt Nam
Đề tài: Thực tập tổng hợp tại Công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Dai-ichi Việt Nam
Dịch vụ viết thuê Khóa Luận - ZALO 0932091562
 
Powerpoint case chương 5
Powerpoint case chương 5Powerpoint case chương 5
Powerpoint case chương 5
Paparoti Cake
 
Cơ Sở Lí Luận Chung Về Bảo Hiểm Hàng Hóa Xnk Vận Chuyển Bằng Đường Biển.
Cơ Sở Lí Luận Chung Về Bảo Hiểm Hàng Hóa Xnk Vận Chuyển Bằng Đường Biển.Cơ Sở Lí Luận Chung Về Bảo Hiểm Hàng Hóa Xnk Vận Chuyển Bằng Đường Biển.
Cơ Sở Lí Luận Chung Về Bảo Hiểm Hàng Hóa Xnk Vận Chuyển Bằng Đường Biển.
Dịch Vụ Viết Thuê Đề Tài 0934.573.149 / Luanvantot.com
 

Similar to Thị trường bảo hiểm việt nam (20)

Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, 9đ
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, 9đBảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, 9đ
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, 9đ
 
Nâng cao HQKD nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển ở cô...
Nâng cao HQKD nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển ở cô...Nâng cao HQKD nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển ở cô...
Nâng cao HQKD nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển ở cô...
 
Bh09
Bh09Bh09
Bh09
 
Bh08
Bh08Bh08
Bh08
 
Đề tài Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá đường biển rất hay
Đề tài  Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá đường biển rất hayĐề tài  Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá đường biển rất hay
Đề tài Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá đường biển rất hay
 
Luận văn bảo hiểm việt nam
Luận văn bảo hiểm việt namLuận văn bảo hiểm việt nam
Luận văn bảo hiểm việt nam
 
Khai thác sản phẩm bảo hiểm An Khang Trường Thọ của Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội
Khai thác sản phẩm bảo hiểm An Khang Trường Thọ của Bảo Việt Nhân Thọ Hà NộiKhai thác sản phẩm bảo hiểm An Khang Trường Thọ của Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội
Khai thác sản phẩm bảo hiểm An Khang Trường Thọ của Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội
 
Đề Tài Thực Tập Tốt Nghiệp Bảo Hiểm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả K...
Đề Tài Thực Tập Tốt Nghiệp Bảo Hiểm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả K...Đề Tài Thực Tập Tốt Nghiệp Bảo Hiểm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả K...
Đề Tài Thực Tập Tốt Nghiệp Bảo Hiểm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả K...
 
Đề tài thực trạng bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển rất hay
Đề tài  thực trạng bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển  rất hayĐề tài  thực trạng bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển  rất hay
Đề tài thực trạng bảo hiểm hàng hóa bằng đường biển rất hay
 
Quản lý mạng lưới đại lý bảo hiểm tại Công ty Bảo Việt Nhân Thọ
Quản lý mạng lưới đại lý bảo hiểm tại Công ty Bảo Việt Nhân ThọQuản lý mạng lưới đại lý bảo hiểm tại Công ty Bảo Việt Nhân Thọ
Quản lý mạng lưới đại lý bảo hiểm tại Công ty Bảo Việt Nhân Thọ
 
An sinh giáo dục thực trạng và một số biện pháp phát triển nghiệp vụ này ở cô...
An sinh giáo dục thực trạng và một số biện pháp phát triển nghiệp vụ này ở cô...An sinh giáo dục thực trạng và một số biện pháp phát triển nghiệp vụ này ở cô...
An sinh giáo dục thực trạng và một số biện pháp phát triển nghiệp vụ này ở cô...
 
Bàn về nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ và các loại hình Bảo hiểm nhân thọ đang đư...
Bàn về nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ và các loại hình Bảo hiểm nhân thọ đang đư...Bàn về nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ và các loại hình Bảo hiểm nhân thọ đang đư...
Bàn về nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ và các loại hình Bảo hiểm nhân thọ đang đư...
 
Bàn về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ và các loại hình bảo hiểm nhân thọ đang đư...
Bàn về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ và các loại hình bảo hiểm nhân thọ đang đư...Bàn về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ và các loại hình bảo hiểm nhân thọ đang đư...
Bàn về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ và các loại hình bảo hiểm nhân thọ đang đư...
 
Bh10
Bh10Bh10
Bh10
 
Lý luận lý luận chung về Bảo hiểm nhân thọ.docx
Lý luận lý luận chung về Bảo hiểm nhân thọ.docxLý luận lý luận chung về Bảo hiểm nhân thọ.docx
Lý luận lý luận chung về Bảo hiểm nhân thọ.docx
 
Thực Trạng Công Tác Tuyển Dụng Và Đào Tạo Đại Lý Tại Công Ty Bảo Hiểm Nhân Th...
Thực Trạng Công Tác Tuyển Dụng Và Đào Tạo Đại Lý Tại Công Ty Bảo Hiểm Nhân Th...Thực Trạng Công Tác Tuyển Dụng Và Đào Tạo Đại Lý Tại Công Ty Bảo Hiểm Nhân Th...
Thực Trạng Công Tác Tuyển Dụng Và Đào Tạo Đại Lý Tại Công Ty Bảo Hiểm Nhân Th...
 
GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ BẢO HIỂM.pdf
GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ BẢO HIỂM.pdfGIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ BẢO HIỂM.pdf
GIÁO TRÌNH NGUYÊN LÝ BẢO HIỂM.pdf
 
Đề tài: Thực tập tổng hợp tại Công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Dai-ichi Việt Nam
Đề tài: Thực tập tổng hợp tại Công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Dai-ichi Việt NamĐề tài: Thực tập tổng hợp tại Công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Dai-ichi Việt Nam
Đề tài: Thực tập tổng hợp tại Công ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Dai-ichi Việt Nam
 
Powerpoint case chương 5
Powerpoint case chương 5Powerpoint case chương 5
Powerpoint case chương 5
 
Cơ Sở Lí Luận Chung Về Bảo Hiểm Hàng Hóa Xnk Vận Chuyển Bằng Đường Biển.
Cơ Sở Lí Luận Chung Về Bảo Hiểm Hàng Hóa Xnk Vận Chuyển Bằng Đường Biển.Cơ Sở Lí Luận Chung Về Bảo Hiểm Hàng Hóa Xnk Vận Chuyển Bằng Đường Biển.
Cơ Sở Lí Luận Chung Về Bảo Hiểm Hàng Hóa Xnk Vận Chuyển Bằng Đường Biển.
 

More from Thanh Hoa

Xử lý nước thải ô nhiễm dầu bằng phương pháp sinh học
Xử lý nước thải ô nhiễm dầu bằng phương pháp sinh họcXử lý nước thải ô nhiễm dầu bằng phương pháp sinh học
Xử lý nước thải ô nhiễm dầu bằng phương pháp sinh học
Thanh Hoa
 
Xung đột và giải quyết xung đột trong doanh nghiệp việt nam
Xung đột và giải quyết xung đột trong doanh nghiệp việt namXung đột và giải quyết xung đột trong doanh nghiệp việt nam
Xung đột và giải quyết xung đột trong doanh nghiệp việt nam
Thanh Hoa
 
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất nhằm góp ...
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất nhằm góp ...Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất nhằm góp ...
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất nhằm góp ...
Thanh Hoa
 
ứNg dụng phép biến đổi wavelet trong xử lý ảnh
ứNg dụng phép biến đổi wavelet trong xử lý ảnhứNg dụng phép biến đổi wavelet trong xử lý ảnh
ứNg dụng phép biến đổi wavelet trong xử lý ảnh
Thanh Hoa
 
ứNg dụng mô hình just in time vào hoạt động quản trị hàng tồn kho trong các d...
ứNg dụng mô hình just in time vào hoạt động quản trị hàng tồn kho trong các d...ứNg dụng mô hình just in time vào hoạt động quản trị hàng tồn kho trong các d...
ứNg dụng mô hình just in time vào hoạt động quản trị hàng tồn kho trong các d...
Thanh Hoa
 
Thiết kế bộ băm xung áp một chiều có đảo chiều để điều chỉnh tốc độ động cơ đ...
Thiết kế bộ băm xung áp một chiều có đảo chiều để điều chỉnh tốc độ động cơ đ...Thiết kế bộ băm xung áp một chiều có đảo chiều để điều chỉnh tốc độ động cơ đ...
Thiết kế bộ băm xung áp một chiều có đảo chiều để điều chỉnh tốc độ động cơ đ...
Thanh Hoa
 
Thảo luận nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương nhật bản
Thảo luận nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương nhật bảnThảo luận nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương nhật bản
Thảo luận nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương nhật bản
Thanh Hoa
 
Thạc sỹ 321 phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp việt ...
Thạc sỹ 321   phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp việt ...Thạc sỹ 321   phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp việt ...
Thạc sỹ 321 phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp việt ...
Thanh Hoa
 
Tổng hợp bài tập hay về thì trong tiếng anh
Tổng hợp bài tập hay về thì trong tiếng anhTổng hợp bài tập hay về thì trong tiếng anh
Tổng hợp bài tập hay về thì trong tiếng anh
Thanh Hoa
 
Tình hình biến động tỷ giá hối đoái vndusd giai đoạn 2011 đến 2014 và ảnh hưở...
Tình hình biến động tỷ giá hối đoái vndusd giai đoạn 2011 đến 2014 và ảnh hưở...Tình hình biến động tỷ giá hối đoái vndusd giai đoạn 2011 đến 2014 và ảnh hưở...
Tình hình biến động tỷ giá hối đoái vndusd giai đoạn 2011 đến 2014 và ảnh hưở...
Thanh Hoa
 
Tìm hiểu quy trình sản xuất tinh bột sắn tại nhà máy fococev thừa thiên huế
Tìm hiểu quy trình  sản xuất tinh bột sắn tại nhà máy fococev thừa thiên huếTìm hiểu quy trình  sản xuất tinh bột sắn tại nhà máy fococev thừa thiên huế
Tìm hiểu quy trình sản xuất tinh bột sắn tại nhà máy fococev thừa thiên huế
Thanh Hoa
 
Tiểu luận nghiên cứu mô hình sàn giao dịch b2 b của ecvn
Tiểu luận nghiên cứu mô hình sàn giao dịch b2 b của ecvnTiểu luận nghiên cứu mô hình sàn giao dịch b2 b của ecvn
Tiểu luận nghiên cứu mô hình sàn giao dịch b2 b của ecvn
Thanh Hoa
 
Tiểu luận hoạch định chiến lược e marketing cho công ty bkav
Tiểu luận hoạch định chiến lược e marketing cho công ty bkavTiểu luận hoạch định chiến lược e marketing cho công ty bkav
Tiểu luận hoạch định chiến lược e marketing cho công ty bkav
Thanh Hoa
 
Tiểu luận e marketing
Tiểu luận e marketingTiểu luận e marketing
Tiểu luận e marketing
Thanh Hoa
 
Tiểu luận đẩy mạnh hoạt động pr của công ty le bros trong điều kiện hội nhập ...
Tiểu luận đẩy mạnh hoạt động pr của công ty le bros trong điều kiện hội nhập ...Tiểu luận đẩy mạnh hoạt động pr của công ty le bros trong điều kiện hội nhập ...
Tiểu luận đẩy mạnh hoạt động pr của công ty le bros trong điều kiện hội nhập ...
Thanh Hoa
 
Tiểu luận đào tạo và phát triển đề tài xác định nhu cầu đào tạo tiếp theo
Tiểu luận đào tạo và phát triển đề tài xác định nhu cầu đào tạo tiếp theoTiểu luận đào tạo và phát triển đề tài xác định nhu cầu đào tạo tiếp theo
Tiểu luận đào tạo và phát triển đề tài xác định nhu cầu đào tạo tiếp theo
Thanh Hoa
 
Tiểu luận cương lĩnh đầu tiên của đảng cộng sản việt nam
Tiểu luận cương lĩnh đầu tiên của đảng cộng sản việt namTiểu luận cương lĩnh đầu tiên của đảng cộng sản việt nam
Tiểu luận cương lĩnh đầu tiên của đảng cộng sản việt nam
Thanh Hoa
 
Tiểu luận cán cân thương mại của việt nam 2009
Tiểu luận cán cân thương mại của việt nam 2009Tiểu luận cán cân thương mại của việt nam 2009
Tiểu luận cán cân thương mại của việt nam 2009
Thanh Hoa
 
Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo iso 90012000 tại công ty ...
Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo iso 90012000 tại công ty ...Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo iso 90012000 tại công ty ...
Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo iso 90012000 tại công ty ...
Thanh Hoa
 
Tài liệu bài giảng qủan trị nguồn nhân lực.pgs ts trần kim dung ppt
Tài liệu bài giảng qủan trị nguồn nhân lực.pgs ts trần kim dung pptTài liệu bài giảng qủan trị nguồn nhân lực.pgs ts trần kim dung ppt
Tài liệu bài giảng qủan trị nguồn nhân lực.pgs ts trần kim dung ppt
Thanh Hoa
 

More from Thanh Hoa (20)

Xử lý nước thải ô nhiễm dầu bằng phương pháp sinh học
Xử lý nước thải ô nhiễm dầu bằng phương pháp sinh họcXử lý nước thải ô nhiễm dầu bằng phương pháp sinh học
Xử lý nước thải ô nhiễm dầu bằng phương pháp sinh học
 
Xung đột và giải quyết xung đột trong doanh nghiệp việt nam
Xung đột và giải quyết xung đột trong doanh nghiệp việt namXung đột và giải quyết xung đột trong doanh nghiệp việt nam
Xung đột và giải quyết xung đột trong doanh nghiệp việt nam
 
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất nhằm góp ...
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất nhằm góp ...Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất nhằm góp ...
Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất nhằm góp ...
 
ứNg dụng phép biến đổi wavelet trong xử lý ảnh
ứNg dụng phép biến đổi wavelet trong xử lý ảnhứNg dụng phép biến đổi wavelet trong xử lý ảnh
ứNg dụng phép biến đổi wavelet trong xử lý ảnh
 
ứNg dụng mô hình just in time vào hoạt động quản trị hàng tồn kho trong các d...
ứNg dụng mô hình just in time vào hoạt động quản trị hàng tồn kho trong các d...ứNg dụng mô hình just in time vào hoạt động quản trị hàng tồn kho trong các d...
ứNg dụng mô hình just in time vào hoạt động quản trị hàng tồn kho trong các d...
 
Thiết kế bộ băm xung áp một chiều có đảo chiều để điều chỉnh tốc độ động cơ đ...
Thiết kế bộ băm xung áp một chiều có đảo chiều để điều chỉnh tốc độ động cơ đ...Thiết kế bộ băm xung áp một chiều có đảo chiều để điều chỉnh tốc độ động cơ đ...
Thiết kế bộ băm xung áp một chiều có đảo chiều để điều chỉnh tốc độ động cơ đ...
 
Thảo luận nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương nhật bản
Thảo luận nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương nhật bảnThảo luận nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương nhật bản
Thảo luận nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương nhật bản
 
Thạc sỹ 321 phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp việt ...
Thạc sỹ 321   phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp việt ...Thạc sỹ 321   phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp việt ...
Thạc sỹ 321 phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp việt ...
 
Tổng hợp bài tập hay về thì trong tiếng anh
Tổng hợp bài tập hay về thì trong tiếng anhTổng hợp bài tập hay về thì trong tiếng anh
Tổng hợp bài tập hay về thì trong tiếng anh
 
Tình hình biến động tỷ giá hối đoái vndusd giai đoạn 2011 đến 2014 và ảnh hưở...
Tình hình biến động tỷ giá hối đoái vndusd giai đoạn 2011 đến 2014 và ảnh hưở...Tình hình biến động tỷ giá hối đoái vndusd giai đoạn 2011 đến 2014 và ảnh hưở...
Tình hình biến động tỷ giá hối đoái vndusd giai đoạn 2011 đến 2014 và ảnh hưở...
 
Tìm hiểu quy trình sản xuất tinh bột sắn tại nhà máy fococev thừa thiên huế
Tìm hiểu quy trình  sản xuất tinh bột sắn tại nhà máy fococev thừa thiên huếTìm hiểu quy trình  sản xuất tinh bột sắn tại nhà máy fococev thừa thiên huế
Tìm hiểu quy trình sản xuất tinh bột sắn tại nhà máy fococev thừa thiên huế
 
Tiểu luận nghiên cứu mô hình sàn giao dịch b2 b của ecvn
Tiểu luận nghiên cứu mô hình sàn giao dịch b2 b của ecvnTiểu luận nghiên cứu mô hình sàn giao dịch b2 b của ecvn
Tiểu luận nghiên cứu mô hình sàn giao dịch b2 b của ecvn
 
Tiểu luận hoạch định chiến lược e marketing cho công ty bkav
Tiểu luận hoạch định chiến lược e marketing cho công ty bkavTiểu luận hoạch định chiến lược e marketing cho công ty bkav
Tiểu luận hoạch định chiến lược e marketing cho công ty bkav
 
Tiểu luận e marketing
Tiểu luận e marketingTiểu luận e marketing
Tiểu luận e marketing
 
Tiểu luận đẩy mạnh hoạt động pr của công ty le bros trong điều kiện hội nhập ...
Tiểu luận đẩy mạnh hoạt động pr của công ty le bros trong điều kiện hội nhập ...Tiểu luận đẩy mạnh hoạt động pr của công ty le bros trong điều kiện hội nhập ...
Tiểu luận đẩy mạnh hoạt động pr của công ty le bros trong điều kiện hội nhập ...
 
Tiểu luận đào tạo và phát triển đề tài xác định nhu cầu đào tạo tiếp theo
Tiểu luận đào tạo và phát triển đề tài xác định nhu cầu đào tạo tiếp theoTiểu luận đào tạo và phát triển đề tài xác định nhu cầu đào tạo tiếp theo
Tiểu luận đào tạo và phát triển đề tài xác định nhu cầu đào tạo tiếp theo
 
Tiểu luận cương lĩnh đầu tiên của đảng cộng sản việt nam
Tiểu luận cương lĩnh đầu tiên của đảng cộng sản việt namTiểu luận cương lĩnh đầu tiên của đảng cộng sản việt nam
Tiểu luận cương lĩnh đầu tiên của đảng cộng sản việt nam
 
Tiểu luận cán cân thương mại của việt nam 2009
Tiểu luận cán cân thương mại của việt nam 2009Tiểu luận cán cân thương mại của việt nam 2009
Tiểu luận cán cân thương mại của việt nam 2009
 
Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo iso 90012000 tại công ty ...
Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo iso 90012000 tại công ty ...Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo iso 90012000 tại công ty ...
Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo iso 90012000 tại công ty ...
 
Tài liệu bài giảng qủan trị nguồn nhân lực.pgs ts trần kim dung ppt
Tài liệu bài giảng qủan trị nguồn nhân lực.pgs ts trần kim dung pptTài liệu bài giảng qủan trị nguồn nhân lực.pgs ts trần kim dung ppt
Tài liệu bài giảng qủan trị nguồn nhân lực.pgs ts trần kim dung ppt
 

Thị trường bảo hiểm việt nam

  • 1. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F chương I KháI quát chung về thị trường bảo hiểm I. sù RA Đời Và Phát Triển Của Bảo Hiềm. l. Nguồn gốc ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm thế giới. Bất cứ ngành nghề nào đều ra đời từ nhu cầu đòi hỏi khách quan trong những điều kiện nhất định. Cho đến nay, chưa ai có thể xác định chính xác nguồn gốc của bảo hiểm bắt đầu từ bao giờ, nhưng mọi người công nhận các hoạt động sơ khai, mang tính bảo hiểm đã có từ rất lâu. Các hoạt động đó đáp ứng nhu cầu bảo vệ cuộc sống con người ở mọi nơi, mọi lúc trước những rủi ro trong cuộc sống. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nhu cầu trở nên đa dạng và phức tạp hơn, cả về quy mô, mức độ và thời hạn. Theo đó, các hoạt động để đáp ứng nhu cầu Êy cũng phát triển một cách tương ứng. Các hoạt động này dần dần được quy định lại một cách chính thức, hợp pháp theo các tiêu chuẩn khác nhau và có tên gọi chung là bảo hiểm. Những nghiên cứu về lịch sử phát triển của hoạt động bảo hiểm cho thấy hoạt động bảo hiểm trong quá trình phát triển đã trải qua 3 hình thái: dự trữ thuần túy, cho vay nặng lãi và cuối cùng là hình thức thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm các bên. 1.l. Dự trữ thuần túy. Những bằng chứng lịch sử cho thấy từ rất xa xưa cho đến nay con người đã ý thức được việc tự bảo vệ để tồn tại, trong đó vấn đề đầu tiên là dự trữ thức ăn kiếm được hàng ngày phòng khi đói kém. Ví dụ: vào những năm 2.500 trước công nguyên (TCN) - hơn 4.000 năm trước đây, ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn. 1
  • 2. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F 1.2. Cho vay nặng lãi. Hệ thống cho vay phát triển cùng với sự mở rộng thương mại và buôn bán giữa các quốc gia, các vùng, các châu lục. Dấu Ên đáng chú ý là: hệ thống vay mượn lãi suất cao để mua và vận chuyển hàng hóa ở Babylon (khoảng l.700 năm TCN) và AThen (khoảng 500 năm TCN). Khi hàng hóa bị mất trong quá trình vận chuyển thì người đi vay sẽ không phải trả khoản tiền đã vay. Khiếm khuyết của hệ thống này là lãi suất hà khắc, có khi lên đến 40% và phải trả trước (Nghiên cứu lịch sử phát triển bảo hiểm cho thấy phần lãi suất cho vay được khấu trừ trước nay là dấu hiệu của phí bảo hiểm ngày nay). Do vậy, nhà thờ và các hội tôn giáo đã can thiệp bằng các sắc lệnh để chấm dứt hoạt động cho vay nặng lãi. (Trích: Đại cương về BH và BH nhân thọ - Tổng công ty BHVN) Vì nhu cầu cần tiền và cần sự đảm bảo cho chuyến hàng của các nhà buôn vẫn rất lớn, đặc biệt khi thông thương buôn bán đang phát triển và mang lại lãi suất rất cao, các hình thức khác đã ra đời. 1.3. Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi của các bên. Để giải quyết nhu cầu tiền vốn và nhu cầu giảm các thiệt hại lớn cho các nhà buôn, có 2 phương pháp khả thi. Đó là: a. Hình thức cổ phần. Chuyến hàng được tạo lập bằng sự đóng góp của nhiều người. Mỗi người góp một phần nào đó (bằng tiền hoặc hàng hóa) vào chuyến hàng và cùng chịu trách nhiệm theo phần đóng góp đó. Khi chuyến hàng về đến đích, lợi nhuận sẽ được chia cho mọi người theo tỷ lệ đóng góp cổ phần. Nếu chuyến hàng chẳng may gặp rui ro thì hậu quả thiệt hại cũng được chia sẻ cho nhiều người. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho nhiều người cùng gánh chịu. Nhưng nó vẫn bộc lộ nhiều hạn chế như: kêu gọi cho đủ người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian, phải dàn xếp thỏa thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi... b. Hình thức bảo hiểm. Những thỏa thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu buôn bán hàng hóa bằng đường biển. Những thỏa thuận bảo hiểm trong lĩnh vực hàng hải có nội dung cơ bản như sau: Một bên là nhà buôn, chủ tàu chấp nhận trả một khoản tiền nhất định, nếu hàng hóa, tàu thuyền không đến được nơi giao hàng do một số nguyên nhân nhất định thì bên thứ hai (Người bảo hiểm) sẽ trả bên thứ nhất một 2
  • 3. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F khoản tiền nhằm bù đắp cho những thiệt hại đã xảy ra. Như vậy, có thể coi bảo hiểm hàng hải là sự khởi đầu của ngành bảo hiểm. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại thành phố cảng Genoa - Italia, vào năm 1347. Sau đó, cùng với cuộc cách mạng thương mại vào thế kỷ 14, 15 thúc đẩy sự mở rộng vận tải hàng hải, bảo hiểm hàng hải cũng phát triển mạnh mẽ. Hoạt động bảo hiểm ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội xoài người. Hoạt động này đã đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết về an toàn của con người trong cuộc sông và sinh hoạt. Bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm. Sau đó, lần lượt là bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm nhân thọ và các loại bảo hiểm khác.[8] b1. Bảo hiểm hỏa hoạn: Vụ cháy lớn ở Anh vào năm 1666 đã thiêu hủy trên 13.000 tòa nhà, là thảm họa lớn nhất từ trước cho đến thời điểm đó. Nhu cầu về cơ chế bảo hiểm cho tài sản trước rủi ro cháy dẫn tới sự ra đời của các công ty bản hiểm trong lĩnh vực hỏa hoạn. Năm 1667, công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên đã ra đời ở nước Anh. [8] b2. Bảo hiểm nhân thọ: Công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên được thành lập ở Anh vào năm 1762. Có thể nói rằng nước Anh là chiếc nôi của ngành dịch vụ bảo hiểm thế giới. Cho đến ngày nay, đây vẫn là trung tâm của các hoạt động bảo hiểm. b3. Các loại bảo hiểm khác. Cuối thÕ kỷ 19, cùng với sự phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí, hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã xuất hiện và phát triển rất nhanh: bảo hiểm ô ô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Ngày nay, bảo hiểm đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội. Ngành bảo hiểm thương mại đang giữ một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển. 2. Sự phát tiền của ngành bảo hiểm thế giới. Ngày nay ngành bảo hiểm trên thế giới đã trở thành một ngành rất lớn mạnh. Các hoạt động bảo hiểm bao trùm lên mọi lĩnh vực đời sống xã hội và thị trường bảo hiểm rộng lớn cũng tác động mạnh mẽ lên các thị trường khác. 2.1. Các thị trường bảo hiểm Châu Âu. 3
  • 4. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Châu Âu là cái nôi của bảo hiểm hiện đại và vẫn là một thị trường chủ yếu tầm thế giới với tốc độ phát triển nhanh, nhất là ngành bảo hiểm Nhân thọ và Tiết kiệm. Dưới ảnh hưởng của ủy ban Châu Âu, các nước thuộc Liên minh Châu Âu (có 15 nước từ năm 1995) triển khai dần dần một thị trường bảo hiểm chung, nhưng vẫn chưa thống nhất về mặt pháp lý (hợp đồng, trách nhiệm dân sự), cũng như vấn đề thuế.Ba thị trường chính của Châu Âu là Đức, Anh và Pháp. Thị trường bảo hiểm của một số nước Tây Âu khác từ lâu có sự năng động vượt qua ban giới quốc gia như: Thụy Sĩ, Hà Lan, Ý, Thụy điển, Luxembourg. Thị trường các nước Nam Âu, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, có tốc độ phát triển nhanh nhất. Các nước Đông Âu, đang trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế nhà nước sang nền kinh tế tự do hơn, có những chuyển biến sâu sắc, tăng trưởng mạnh và rất sôi động. Ủy ban Bảo hiểm Châu Âu công bố các số liệu thống kê về thị trường của 25 Hiệp hội quốc gia là thành viên của ủy ban này. Năm 2001, các số liệu tổng thể như sau: Bảng1: Các chỉ tiêu về Bảo hiểm của 25 quốc gia Châu Âu năm 2001 Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ 251.577 triệu ECU 51,3% Doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ 238.669 triệu ECU 48,7% Tổng doanh thu của hai ngành bảo hiểm trên 490.246 triệu ECU Số lượng nhân viên của các công ty này 5.303 Phí bảo hiểm nhân thọ theo bình quân đầu người 977.256 Phí bảo hiểm phi nhân thọ theo bình quân đầu người 492 ECU Tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ theo BQ đầu người 659 ECU Tỉ lệ: phí bảo hiểm/ Tổng sản phẩm quốc dân 6,9% Đầu tư của các công ty bảo hiểm 2.585.506 triệu ECU Tỉ lệ: đầu tư tài chính/ Tổng sản phẩm quốc dân 37,05% 37,05% Phí bảo hiểm bình quân mỗi công ty 92 triệu ECU Số lượng nhân viên trung bình mỗi công ty 184 4
  • 5. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F (Nguồn: Giáo khoa Quốc tế về Bảo hiểm) Năm 1999, doanh thu của các doanh nghiệp bảo hiểm Châu Âu tăng gần 7%, trong đó 5,9% trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và 7,5% là bảo hiểm nhân thọ. Mặc dù bị giảm so với những năm trước, nhưng việc này vẫn khẳng định xu hướng tăng được duy trì từ nhiều năm nay. - Doanh thu bảo hiểm Châu Âu tăng nhanh hơn Tổng sản phẩm quốc nội một cách rõ rệt, năm 1980 chiếm 4% GDP (Tổng sản phẩm quốc nội) lên tới 6,9% năm 1999 - Ngành bảo hiểm Nhân thọ tăng nhanh hơn ngành bảo hiểm Thiệt hại, gán đạt đến sự chín muồi, trừ ở các nước Nam Âu nơi mà nhu cầu còn rất lớn. Trong 15 năm gần đây, bảo hiểm Nhân thọ đã tăng nhanh hơn GDP 2,5 lần, điều này thể hiện một phần tiết kiệm của các hộ gia đình chuyển hướng sang sản phẩm bảo hiểm và nỗi lo lắng của một phần công chúng về tương lai của các chế độ bảo hiểm và hưu trí của Nhà nước. Phần lớn các tập đoàn bảo hiểm Châu Âu hoạt động mạnh ở nước ngoài và đã trở thành những công ty đa quốc gia thực sự. Trong vòng 30 năm gần đây, thị trường bảo hiểm Châu Âu đã có những tiến triển sâu sắc. Không những chỉ phát triển rất ổn định mà tất cả các luật bảo hiểm quốc gia cũng biến đổi sâu sắc dưới tác động bền bỉ của giới lãnh đạo Liên minh Châu Âu (EU). Thậm chí những nước không nằm trong sè 15 nước thành viên của EU cũng hầu như thông qua luật bảo hiểm được soạn thảo dựa trên các nguyên tắc của Ủy ban bảo hiểm Châu Âu liên quan đến thị trường bảo hiểm. - Thị trường bảo hiểm Anh: Chóng ta đã thấy các hoạt động bảo hiểm hiện nay được biết đã ra đời chính tại Ý, sau đó là ở các nước thuộc vùng Địa Trung Hải và vịnh Ban Tích. Tuy nhiên, một điều không thể chối cãi được là các hình thức bảo hiểm hiện đại lại phát triển chính tại Anh, từ thế kỷ XVII. Sự bành trướng phi thường về kinh tế và chính trị của Anh vào thế kỷ XIX đã làm cho các doanh nghiệp Anh quốc, trong đó có các công ty bảo hiểm phát triển rực rỡ trên thế giới và có ảnh hưởng rất lớn trong một thời gian dài. Rất nhiều ngành bảo hiểm đã được hình thành bởi những Công ty bảo hiểm Anh và giữ được vai trò ngự trị lâu dài nhờ vào năng lực cao, khả năng bảo hiểm và mạng lưới rộng khắp thÕ giới của các chuyên gia, công ty tài chính và môi giới bảo hiểm. 5
  • 6. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Thị trường bảo hiểm Anh có 926 công ty, năm 2001, đạt doanh thu bảo hiểm trực tiếp là 227904 triệu USD, bằng 5,97% thị trường thế giới. Như vậy, phí bảo hiểm bình quân đầu người là 2.964,2 USD, trong đó 64% là bảo hiểm nhân thọ. Tỉ trọng bảo hiểm trong GDP đạt l4,33%, cao nhất ở Châu Âu, sau Thụy Sỹ. [16] - Các thị trường bảo hiểm Châu Á. Ở Châu Á, bảo hiểm bành trướng rất nhanh, cùng với sự phát triển kinh tế của lục địa này và quá trình tự do hóa kinh tế đang diễn ra tại phần lớn các nước có nền kinh tế tập trung. Trong thập kỷ qua, doanh thu bảo hiểm hàng năm tăng trung bình 15%. Bảng 2: Các thị trường bảo hiểm chính ở Châu Á năm 1999. Nước Doanh thu bảo hiểm năm 1999 (tr. USD) Tỷ trọng bảo hiểm nhân thọ (%) Phí bảo hiểm bình quân đầu người USD Tỷ trọng bảo hiểm trong GDP Nhật Bản 637.256 80,1 5.088 12,78 Hàn Quốc 59.989 77,9 1.337 13,16 Đài Loan 14.397 67,7 678 5,53 Trung Quốc (không kể Hồng Kông) 7.368 31,6 6 1,17 Ên Độ 6.026 70,0 6 2,01 Hồng Kông 5.037 60,9 813 3,51 Israel 5.010 45,5 904 5,78 Thái Lan 4.076 47,6 67 2,43 Singapor 3.678 67,2 1.190 4,25 Malaixia 3.651 49,3 181 4,28 Indonesia 2.380 38,8 12 1,40 Phillipines 1.123 43,4 16 1,52 A rập xê út 712 3,7 40 0,57 Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất 645 12,7 220 1,69 I ran 507 6,9 7 0,48 Pakistan 478 43,3 4 0,81 Cô oét 188 12,5 111 0,71 Oman 119 17,4 55 0,99 Jordanie 117 19,5 22 1,78 6
  • 7. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Ba – ranh 101 15,8 180 2,24 (Nguồn: Bảo hiểm quốc tế - Trường Quốc gia Bảo hiểm Paris) 2.2. Tình hình thị trường bảo hiểm toàn cầu. Thị trường bảo hiểm trên thế giới hiện nay đang có những biến đổi sâu sắc.. Những người có trên 25 năm thâm niên công tác trong ngành bảo hiểm đã bình luận rằng, họ chưa từng thấy tình hình thị trường bảo hiểm toàn cầu như hiện nay: Khả năng tài chính của thị trường là khổng lồ, cạnh tranh gay gắt và không lành mạnh mà hậu quả là phí bảo hiểm và điều kiện bảo hiểm xấu đi một cách ghê gớm. Quan điểm chung hiện nay là các nhà bảo hiểm và các nhà n.hận tái bảo hiÓm không còn bảo hiểm rủi ro nữa mà chỉ đơn thuần là chạy theo những tỉ lệ phí và những điều kiện bảo hiểm mà người ta cho là "điên rồ" và "không thể chịu đựng được". Sự thực là khái niệm "định giá đúng" đã bị lấn át bởi "các lÝ do thương mại", và ngày nay bảo hiểm giống như một thị trường hàng hóa thông thường, nơi mà chất lượng phục vụ và giá trị gia tăng, những nét đặc trưng cơ bản trong hoạt động kinh doanh của bảo hiểm không còn mấy ý nghĩa so với giá cả (phí bảo hiểm). Đối với một ngành kinh doanh như ngành bảo hiểm thì đó Ýt nhất cũng là điều đáng tiếc, đó là điều cực kỳ nguy hiểm xét về lâu dài đối với cả hai bên: người bán bảo hiểm và khách hàng của họ. Mặt khác, tình trạng "thị trường mềm" không phải là mới. Nó đã từng xảy ra trước đây, nhưng có lẽ không phải với mức độ nghiêm trọng như hiện nay và với rất Ýt triển vọng sẽ được cải thiện trong những năm tới. Đương nhiên, không ai hoài nghi là trong mấy năm qua, các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm đã thu được khá nhiều lợi nhuận. Xét trên góc độ thị trường bảo hiểm toàn cầu thì vụ động đất ở Kobe Nhật Bản chỉ là một chấn động nhẹ. Lloydss of London có vẻ như vừa mới bình phục sau trận ốm "thập tử nhất sinh" đầu những năm 90 (Mặc dù bản báo cáo đầu tiên mới công bố gần đây của Equitas, một cơ quan đóng vai trò hết sức quan trọng trong kế hoạch xây 7
  • 8. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F dựng lại và cải cách của Lloyd's, chắc là đã làm chấn động toàn thị trường, bởi lẽ theo báo cáo đó thì những khiếu nại đòi bồi thường sẽ phải giải quyết trong tương lai tá ra khác xa một cách nguy hiểm so với dự kiến ban đầu). Bảo hiểm thế giới đã được chứng kiến sự tăng lên chưa từng thấy của các khả năng tài chính mới ở Hoa Kỳ, Bermuda và các nơi khác, đặc biệt là trong lĩnh vực tái bảo hiểm. Ai nấy đều muốn chia phần và cạnh tranh ác liệt, hông chỉ làm cho phí bảo hiểm giảm xuống một cách đáng kể, mà còn làm giảm cả chất lượng sản phẩm bảo hiểm. Trước tình hình đó, tất cả đều buộc phải tập trung mọi sức lực bảo vệ công việc làm ăn của mình khỏi bị tấn công, cố gắng đạt được sự tăng trưởng và thực hiện được các mục tiêu chiến lược về lợi nhuận trước sự hiện diện của một "thị trường mềm", do đó còn đâu thời gian và cảm hứng để làm những việc như: tập trung nghiên cứu để cung cấp những sản phẩm mới có chất lượng cao nhằm đáp ứng các nhu cầu thay đổi hàng ngày, đÓ hành động một cách chủ động sáng tạo chứ không phải phản ứng một cách thụ động; để ngẩng cao đầu và nhìn về tương lai. Cũng cần nói thêm rằng ngành bảo hiểm đang trải qua những thay đổi cực kỳ sâu sắc. Một nhóm các nhà bảo hiểm chuyên nghiệp đang thực hiện những thay đổi quan trọng về cơ cấu. Việc sáp nhập và mua lại các hãng môi giới và các công ty bảo hiểm đang diễn ra trên khắp thế giới. Ngày càng có nhiều công ty tái bảo hiểm được thành lập để cung cấp các giải pháp mới về bảo hiểm mức vượt trội cho những công ty muốn chọn mức giữ lại cao. Các giải pháp bảo hiểm trực tiếp không qua trung gian đang trở nên ngày càng phổ biến. Cái mà người ta đang tập trung phê phán là ngành bảo hiểm đã tỏ ra không đủ hiệu quả một cách đáng ngại. Những vấn đề về vai trò tương lai của môi giới và của tái bảo hiểm vẫn chưa được giải đáp mặc dù ngày càng có nhiều người muốn bỏ hẳn hoặc giảm bớt khâu trung gian, tiết kiệm chi phí và đơn giản hóa toàn bộ quá trình dịch chuyển từ người bán đến người mua. Trong khi đó thì bộ phận còn lại của giới tài chính quốc tế nhảy vào thị 8
  • 9. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F trường, chào bán các giải pháp cung cấp tài chính mà khách hàng có thể lựa chọn để xử lý rủi ro như các phương tiện phòng chống và các sản phẩm phát sinh vượt ra ngoài phạm vi các phương pháp chuyển giao rủi ro truyền thống thông qua bảo hiểm. Đối với các nhà bảo hiểm chuyên nghiệp quốc tế thì cũng chẳng có gì là chắc chắn: chỉ có sự thay đổi là chắc chắn mà thôi. Còn đối với khách hàng thì trước mắt họ có thể mở tiệc ăn mừng. Họ giảm được nhiều chi phí để mua những sản phẩm văn hóa có điều kiện hời hơn, họ cảm thấy họ có được sự lựa chọn tự do hơn. Một số công ty lớn và công ty siêu quốc gia đã tiến đến giai đoạn mà sự lựa chọn ưa thích của họ là hạn chế tối đa việc sử dụng thị trường bảo hiểm trong chừng mực có thể. Đó là cách đáp lại tính không hiệu quả của quá trình bảo hiểm và tái bảo hiểm, một quá trình dẫn đến trên 40% phí bảo hiểm được dùng để chi trả cho quá nhiều bên tham gia vào một thương vụ bình thường, đặc biệt là dưới hình thức phụ phí và hoa hồng, chỉ có phần không lớn còn lại được chi cho chức năng bảo vệ thực sự của bảo hiểm. Đối với một số công ty lớn thì đó cũng là sự đáp lại nguyện vọng của họ muốn kiểm soát số phận của chính mình và muốn được ăn chia một phần thành quả tài chính mà ngành bảo hiểm giành được. Có mấy cách để họ thực hiện nguyện vọng đó. Đó là thành lập các công ty bảo hiểm "trong nhà" hay các công ty bảo hiểm nội bộ; săn tìm các giải pháp tài chính mới mà họ có thể lựa chọn để khắc phục rủi ro; lập ra các nhóm giữ lại rủi ro và các quỹ điều hòa. Tất cả những cái đó làm giảm quy mô của thị trường bảo hiểm và góp phần làm cho cạnh tranh ác liệt hơn. II. Khái niệm và đặc điểm của thị trường bảo hiểm. 1. Các khái niệm cơ bản về bảo hiểm - tái bảo hiểm. 1.1. Bảo hiểm. 1.1.1. Khái niệm: Hiện nay có rất nhiều khái niệm về bảo hiểm: 9
  • 10. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F - Theo giáo trình bảo hiểm trường Đại học Kế toán Hà Nội: Hoạt động bảo hiểm là việc người bảo hiểm nhận trách nhiệm trước rủi ro, trên cơ sở người tham gia bảo hiểm ký kết hợp đồng, đóng phí bảo hiểm để người bảo hiểm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm theo luật thống kê[9]. Khái niệm này mới chỉ nói lên được quy trình bảo hiểm, mà chưa nói lên được bản chất của bảo hiểm. - Giai đoạn ban đầu phát triển của bảo hiểm thì bảo hiểm đã được định nghĩa là : "Bảo hiểm là tổ chức hợp lý một nhóm người có cùng chung một loại rủi ro có thể xảy ra. Các khoản đóng góp về tài chính của họ cho phép bồi thường những thiệt hại mà một số người trong nhóm phải gánh chịu khi tổn thất xảy ra [5]. Khái niệm trên chưa đầy đủ, không phải bất cứ thiệt hại nào cũng được bồi thường, mà chỉ một số những tổn thất đã được thoả thuận gây ra. Nữ hoàng Anh Elisabeth đệ nhất đã từng khẳng định: Nhờ có bảo hiểm "tổn thất sẽ nhẹ đi nếu được chia sẻ cho nhiều người và sẽ rất nặng nếu để một Ýt người gánh chịu" [16]. Những người có nhà cửa, khi mua bảo hiểm hoả hoạn, hàng năm đều phải trả một khoản tiền nhỏ (tương đương 0,5%o giá trị ngôi nhà) để những người bất hạnh trong số họ, bị mất nơi ở do cháy, nhận được một khoản tiền bồi thường cho phép tái thiết lại nhà cửa. - Còn trong giáo trình bảo hiểm - Trường Đại học Ngoại thương: Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của Người bảo hiểm đối với Người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một số rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Khái niệm này khá đầy đủ nhưng chưa đề cập đÕn bản chất của hoạt động bảo hiểm. [7] - Định nghĩa về bảo hiểm do giáo sư Hémard (Pháp) đưa ra có tính pháp lý hơn và đầy đủ hơn cả: ''Bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bản hiểm hay đóng 10
  • 11. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F góp bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra sẽ được trả một khoản bồi thường từ một bên khác là người bảo hiểm, người trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo Luật thống kê [16]. 1.1.2. Các nguyên tắc bảo hiểm cơ bản của bảo hiểm : a) Bảo hiểm một rủi ro chứ không bảo hiểm mét sự chắc chắn. b) Nguyên tắc trung thực tuyệt đối. c) Nguyên tắc lợi Ých bảo hiểm. d) Nguyên tắc bồi thường. e) Nguyên tắc thế quyền. [7] 1.1.3. Phương pháp phân tán rủi ro của các công ty bảo hiểm. Rủi ro không chỉ xảy ra đối với những khách hàng mua bản hiểm mà còn xảy ra cả đối với các công ty bảo hiểm. Khi xảy ra những rủi ro tổn thất quá lớn thì cộng ty bảo hiểm cũng không đủ khả năng chi trả bồi thường và sẽ rơi vào tình trạng phá sản. Do vậy đối với những rủi ro quá lớn các nhà bảo hiểm sẽ tìm cách phân tán rủi ro để đảm bảo khả năng tài chính và ổn định hoạt động kinh doanh của chính mình. Từ khi bảo hiểm ra đời rất nhiều các phương pháp đã được áp dụng để phân chia rủi ro và phân tán các rủi ro cho nhiều nhà bảo hiểm để trong trường hợp tổn thất xảy ra, cam kết tối đa của mỗi một nhà bảo hiểm tương ứng với khả năng tài chính của họ và không làm phương hại đến khả năng thanh toán của họ. Hiện nay có 3 phương pháp chính được áp dụng để phân chia rủi ro. Đó là: Đồng bảo hiểm, ký kết bảo hiểm theo lớp, tái bảo hiểm. - Đồng bảo hiểm là sự phân chia theo tỉ lệ cùng một rủi ro giữa nhiều nhà bảo hiểm, những người được gọi là các nhà đồng bản hiểm. Mỗi một nhà đồng bảo hiểm trong số đó chấp nhận một tỉ lệ nào đó của rủi ro tùy thuộc vào mức chấp nhận riêng của anh ta và sẽ nhận được một tỉ lệ tương ứng như vậy về phí bảo hiểm do người được bảo hiểm và trong trường hợp tổn thất xảy ra toàn bộ hay từng phán thì anh ta sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường 11
  • 12. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F theo chính tỉ lệ đó. Thị trường thường xuyên áp dụng hình thức bảo hiểm này là thị trường Luân Đôn. - Phân chia rủi ro theo líp: Khi một nhà bảo hiểm có khả năng bảo hiểm ở mức thấp hơn so với toàn bộ số tiền phải bảo hiểm, anh ta có thể đề nghị bảo hiểm cho rủi ro đầu tiên tương ứng với mức chấp nhận của anh ta và đề nghị một nhà bảo hiểm khác bảo hiểm mức còn lại của lớp đầu tiên này. Đối với các tập đoàn có tầm cỡ quốc tế, có thể quyết định bảo hiểm các lớp thấp ở các nhà bảo hiểm của nước nơi mà tập đoàn đó hoạt động (điều đó là một quy định bắt buộc của pháp luật) và có thể quyết định bảo hiểm các tổn thất thảm họa hoặc bảo hiểm các khoản tiền lớn nhất ờ các nhà bảo hiểm quốc tế được chấp nhận hoạt động tại nước mà tập đoàn này đặt trụ sở, đôi khi người ta gọi hợp đồng cuối cùng này là một hợp đồng ''cái ô'' (Umbrella Cover). - Tái bảo hiểm: Tái bảo hiểm là phương pháp thứ ba được áp dụng để phân tán các rủi ro và phân chia tốt hơn các rủi ro giữa các nhà bảo hiểm theo khả năng tài chính sẵn có của họ để bảo hiểm cho các rủi ro đó. Người ta có thể nói người tái bảo hiểm là người bản hiểm của các nhà bảo hiểm. Thật vậy, tái bảo hiểm là một hợp đồng mà qua đó người bảo hiểm gốc trút bỏ tất cả hoặc một phần các rủi ro mà anh ta đã chấp nhận bảo hiểm sang một người khác, đó là người tái bảo hiểm. Công ty bảo hiểm nhượng tái bảo hiểm, nhượng lại một phần các rủi ro đã chấp nhận và các khoản phí tương ứng. Chính vì vậy, trong một hợp đồng tái bảo hiểm, người bảo hiểm gốc được gọi là công ty nhượng, hoặc ngắn gọn hơn ''bên nhượng'' và người tái bảo hiểm được gọi là ''bên được nhượng''. Như vậy trong đồng bảo hiểm, có một mối quan hệ hợp đồng trực tiếp giữa người được bảo hiểm với mỗi một nhà đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm không hề có một mối quan hệ nào với các nhà tái bảo hiểm. Ngay cả sau khi đã ký một hợp đồng tái bảo hiểm, người bảo hiểm gốc vẫn giữ toàn bộ các rủi 12
  • 13. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F ro mà người đó đã chấp nhận bảo hiểm. Trong trường hợp tổn thất xảy ra, chính người bảo hiểm sẽ bồi thường trực tiếp cho người được bảo hiểm và sau đó sẽ thu về phần mà nhà tái bảo hiểm phải trả cho mình (trên thực tế chúng ta sẽ thấy là trong trường hợp tổn thất xảy ra nghiêm trọng thì nhà tái bảo hiểm có thể ứng trước cho người bảo hiểm số tiền cần thiết để bồi thường cho người được bảo hiểm). Như vậy, các hợp đồng tái bảo hiểm luôn luôn do các công ty bảo hiểm chuyên nghiệp ký. Các hợp đồng tái bảo hiểm không bị sự kiểm tra chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước như sự kiểm tra đối với các hợp đồng bảo hiểm nhằm bảo vệ những người được bảo hiểm. Vì vậy, nếu bắt buộc phải có các thủ tục chấp nhận đối với các nhà tái bảo hiểm thì thủ tục đó thường đơn giản hơn rất nhiều so với thủ tục của các nhà bảo hiểm gốc. Tóm lại. Tái bảo hiểm là một loại nghiệp vụ mà người bảo hiểm sử dụng để chuyển một phần trách nhiệm đã chấp nhận với người được bảo hiểm cho người bảo hiểm khác, trên cơ sở nhượng lại cho người bảo hiểm đó một phần phí bảo hiểm thông qua hợp đồng tái bảo hiểm. Nếu như bảo hiểm là hình thức dàn trải tổn thất của một Ýt người cho nhiều người cùng chịu thì tái bảo hiểm là hình thức dàn trải một lần nữa những tổn thất mà các công ty bảo hiểm phải gánh chịu. Nói một cách ngắn gọn: tái bảo hiểm là bảo hiểm cho các nhà bảo hiểm. Ưu nhược điểm của tái bảo hiểm + Ưu điểm: Tạo tâm lý an toàn cho các công ty bảo hiểm bằng các dịch vụ bảo hiểm, mở rộng phạm vi bảo hiểm, đảm bảo tài chính cho các công ty bản hiểm. + Nhưng nhược điểm là: Tái bảo hiểm có thể làm tăng hoặc giảm một cách đáng kể các chi tiêu tài chính của công ty bảo hiểm. 2. Thị trường bảo hiểm 2.l - Khái niệm về thị trường bảo hiểm 13
  • 14. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hóa. Có rất nhiều quan điểm về thị trường và cũng đã có nhiều tài liệu bàn về thị trường. Có thể nói quan điểm chung nhất về thị trường là ''thị trường bao gồm toàn bộ các hoạt động trao đổi hàng hóa được diễn ra trong sự thống nhất hữu cơ với các mối quan hệ do chúng phát sinh gắn liền với một không gian nhất định''. [3] Theo thuật ngữ bảo hiểm, thì trường bảo hiểm là nơi mua và bán các sản phẩm bảo hiểm. Sản phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt; là loại sản phẩm vô hình không thể cảm nhận được hình dáng, kích thước, màu sắc v.v.. sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không được bảo hộ bản quyền, là sản phẩm mà người mua không mong đợi sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với mình để được bồi thường hay trả tiÒn bảo hiểm (trừ bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm nhân thọ )... 2.2. Các yếu tố cấu thành nên thị trường bảo hiểm. 2.2. l. Chủ thể của thị trường bảo hiểm. Người mua hay khách hàng là những cá nhân hay tổ chức có tài sản, trách nhiệm dân sự trước pháp luật, tính mạng hoặc thân thể gặp rủi ro cần bảo hiểm thì mua các dịch vụ ( sản phẩm ) bảo hiểm hoặc trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức trung gian. Khách hàng bao gồm khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của một loại sản phẩm. Khách hàng bao gồm khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của một loại sản phẩm. Khách hàng hiện tại là khách hàng đang tham gia quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó, khách hàng tiềm năng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó trong tương lai. Mục tiêu của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng là lợi nhuận. Muốn vậy phải tiêu thụ được sản phẩm của mình qua các kênh phân phối sản phẩm. Do đặc điểm hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp bảo hiểm thường sử dụng kênh phân phối là đại lý và môi giới bảo hiểm. 14
  • 15. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Theo thuật ngữ Bảo hiểm, Đại lý bảo hiểm là người làm việc cho doanh nghiệp bảo hiểm thay mặt doanh nghiệp bán các sản phẩm bảo hiểm cho người mua. Còn Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam: ''Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được ủy quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan".(ĐiÒu 84, chương IV). Như vậy Đại lý Bảo hiểm là những người hoặc tổ chức trung gian giữa và người tham gia bảo hiểm, đại diện cho doanh nghiệp và hoạt động vì quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm. Đại lý có thể là các tổ chức ngân hàng hay luật sư. Những người này làm Đại lý bảo hiểm rất thuận lợi do có sự tiếp xúc và hiểu biết nhiều khách hàng Trung gian phổ biến trên thị trường bảo hiểm nhân thọ là Đại lý bảo hiểm thường là các cá nhân chuyên hoạt động đại lý. Họ hoạt động tại văn phòng hoặc đi đến từng nhà, từng doanh nghiệp để bán bảo hiểm, thu phí bảo hiểm và đàm phán những thay đổi về nhu cầu bảo hiểm của khách hàng thực tế và tiềm năng. Cũng là một trong 2 kênh phân phối qua trung gian, nhưng môi giới bảo hiểm lại là hình thức phổ biến của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Môi giới bảo hiểm là người trung gian giữa DNBH với khách hàng. Môi giới bảo hiểm khác với đại lý bảo hiÓm một cách cơ bản là nếu Đại lý bảo hiểm đứng về phía quyền lợi của công ty bảo hiểm thì ngược lại môi giới bảo hiểm lại đứng về phía quyền lợi của khách hàng. Họ có nhiệm vụ tham mưu, tư vân, thu xẹp các hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng. Môi giới là người được khách hàng ủy quyền và luôn luôn hành động vì lợi Ých của khách hàng. Môi giới bảo hiểm thường nắm rất vững về kỹ thuật nghiệp vụ, đặc biệt là những thông tin về thị trường. Về lý thuyết, người môi giới sau khi đáp ứng nhu cầu của khách hàng sẽ tìm kiếm DNBH có thể đáp ứng nhu cầu tốt nhất với chi phí thấp nhất. Thực tế, môi giới thường lựa chọn trên thị trường một doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều ưu đãi, sau đó giới thiệu cho khách hàng. Môi giới bảo hiểm làm cho cung và cầu về sản phẩm bảo hiểm được chắp nối với nhau, đồng thời góp phần làm tăng uy tín của sản phẩm và 15
  • 16. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F doanh nghiệp bảo hiểm. Ngày nay kênh phân phối bằng môi giới được sử dụng nhiều đặc biệt trong nghiệp vụ bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm hàng hóa XNK... Thông thường trên thị trường bảo hiểm có 2 loại môi giới bảo hiểm. Đó là môi giới bảo hiểm gốc và môi giới tái bảo hiểm. Môi giới bảo hiểm gốc sẽ giúp những người cần mua bảo hiểm nhưng không biết phải mua như thế nào và mua ở đâu tìm và kí được hợp đồng bảo hiểm phù hợp. Khách hàng có thể trực tiếp hoặc qua môi giới để mua bảo hiểm. Nhưng trong những trường hợp tái bảo hiểm thì môi giới tái bảo hiểm lại đặc biệt quan trọng, là người không thể thiếu khi tái bảo hiểm. Hầu hết các DNBH trên thế giới đều yêu cầu môi giới tái bảo hiểm tư vấn, giúp đỡ khi các rủi ro được bảo hiểm quá lớn so với khả năng tài chính của họ trong việc thanh toán bồi thường tổn thất nếu rủi ro xảy ra. Đối với các rủi ro tiềm Èn lớn, môi giới tái bảo hiểm sẽ giúp DNBH phân tích phạm vi rủi ro để thu xếp tái bảo hiểm khi cần thiết. Thông qua môi giới tái bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có được sự an toàn về tài chính, do đó sẽ có khả năng bảo vệ khách hàng lớn hơn và đem lại sự ổn định cao hơn cho xã hội. 2.2.2. Khách thể của thị trường bảo hiểm. Khách thể của thị trường bản hiểm chính là sản phẩm bảo hiểm. Từ các góc độ khác nhau, có thể đưa ra các định nghĩa khác nhau về sản phẩm bảo hiểm. Xét trên góc độ những thứ cơ bản nhất mà khách hàng nhận được khi mua sản phẩm thì sản phẩm bảo hiểm có thể được định nghĩa là: Sù cam kết của DNBH đối với bên mua bảo hiểm về việc bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Định nghĩa này xuất phát từ việc khi mua bảo hiểm, bằng việc trả một khoản tiền nhất định - nộp phí bảo hiểm, bên mua bảo hiểm (các tổ chức, các cá nhân sẽ được DNBH cấp cho Hợp đồng bảo hiểm (giấy chứng nhận bảo hiểm) xác nhận rằng DNBH sẽ bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho họ khi xảy ra các sự kiện như đã thỏa thuận. Thông thường khi nói tới ''Sản phẩm bảo hiểm", người ta thường đồng 16
  • 17. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F nghĩa với nghĩa với ''nghiệp vụ bảo hiểm". Cách nói này thường được sử dụng khi phân loại DNBH theo sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp. Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm: Bảo hiểm là một loại hình dịch vụ, do đó sản phẩm bảo hiểm cũng có các đặc điểm chung của các sản phẩm dịch vụ như tính vô hình, tính không thể tách rời và không thể cất trữ được, tính không đồng nhất với tính không được bảo hộ bản quyền. Ngoài ra, sản phẩm bảo hiểm còn có các đặc điểm riêng đó là: Sản phẩm ''không mong đợi", sản phẩm của "chu trình kinh doanh đảo ngược'' và sản phẩm có hiệu quả ''xê dịch''. Chính vì có những đặc điểm chung và đặc điểm riêng này nên sản phẩm bảo hiểm được xếp vào loại sản phẩm dịch vụ ''đặc biệt'' a) Đặc điểm chung: Bảo hiểm là sản phẩm vô hình. Khi mua bảo hiểm, mặc dù khách hàng nhận được các yếu tố hữu hình đó là những tờ giấy trên đó có in biểu tượng của doanh nghiệp, in tên gọi của sản phẩm, in những nội dung thỏa thuận... Nhưng khách hàng không thể chỉ ra được màu sắc, kích thước, hình dáng hay mùi vị của sản phẩm. Nói một cách khác, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm ''vô hình!" người mua không thể cảm nhận được sản phẩm bảo hiểm thông qua các giác quan của mình. Tính vô hình của sản phẩm bảo hiểm làm cho việc giới thiệu, chào bán sản phẩm trở nên khó khăn hơn. Khi mua sản phẩm bảo hiểm, người mua chỉ nhận được những lời hứa, lời cam kết về những đảm bảo vật chất trước các rủi ro. Sản phẩm bảo hiểm không thể tách rời - tức là việc tạo ra sản phẩm dịch vụ bảo hiểm trùng với việc tiêu dùng sản phẩm đó (quá trình cung ứng và quá trình tiêu thụ là một thể thống nhất). Thêm vào đó, sản phẩm bảo hiểm cũng không thể cất trữ được - có nghĩa là khả năng thực hiện dịch vụ bảo hiểm vào một thời điểm nào đó sẽ không thể cất vào kho dự trữ để sử dụng 17
  • 18. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F vào một thời điểm khác trong tương lai. Điều này hoàn toàn khác biệt với sản phẩm hữu hình. Đa số các sản phẩm hữu hình có thể được sản xuất với số lượng lớn sau đó được lưu trữ trong kho bán dần. Còn các sản phẩm dịch vụ thì không thể cất trữ được. Các nhân viên của doanh nghiệp cũng như các đại lý bảo hiểm chỉ có một số giờ nhất định trong một ngày để gặp gỡ khách hàng và số giờ sẵn có trong ngày không thể mang sang ngày khác. Doanh nghiệp bảo hiểm cũng không thể "sản xuất'' trước một lượng lớn các cuộc kiểm tra các khiếu nại hay các dịch vụ khách hàng khác và gửi chúng cho các khách hàng có yêu cầu. Tính không đồng nhất của dịch vụ bảo hiểm, cũng như các dịch vụ khác, chủ yếu được thực hiện bởi con người. Nhưng cho dù là người có kỹ năng đến đâu đi chăng nữa thì dịch vụ họ thực hiện không phải lúc nào cũng nhất quán. Ví dụ, các địa lý khi bán sản phẩm có thể quên các chi tiết, có thể chậm trễ hoặc mất kiên nhẫn... Nhìn chung chất lượng phục vụ của một cá nhân nào đó tại các thời điểm khác nhau, với các khách hàng khác nhau là khác nhau. Chất lượng phục vụ này phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, các yếu tố xung quanh. Ngoài ra, giữa các cá nhân khác nhau, chất lượng phục vụ cũng khác nhau. b) Đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm ''không mong đợi". Một trong những đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không mong đợi. Điều này thể hiện ở chỗ, đối với các sản phẩm mang tính bảo hiểm thuần túy, mặc dù đã mua sản phẩm - nhưng khách hàng đều không mong muốn rủi ro xảy ra để được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm. Bởi vì rủi ro mét khi đã xảy ra thì đồng nghĩa với thương tích, thiệt hại thậm chí là mất mát, do đó số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường, chi trả khó có thể bù đắp được. Đặc tính này cũng làm cho việc giới thiệu, chào bán sản phẩm 18
  • 19. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F trở nên vô cùng khó khăn, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm của ''chu trình kinh doanh đảo ngược''. Nếu như trong các lĩnh vực kinh doanh khác, giá cả sản phẩm được xác định trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh thì trong lĩnh vực bản hiểm, phí bảo hiểm - giá cả của sản phẩm bản hiểm được xác định dựa trên những số liệu ước tính về các chi phí có thể phát sinh trong tương lai như chi bồi thường (trả tiền bảo hiểm), chi hoa hồng, chi tái bảo hiểm... Trong đó, khoản chi chiếm tỉ trọng lớn nhất là chi bồi thường (trả tiền bảo hiểm). Khoản chi này được xác định chủ yếu dựa trên số liệu thống kê quá khứ và các ước tính tương lai về tần suất và quy mô tổn thất. Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu phí của người tham gia bảo hiểm hình thành nên quỹ bảo hiểm; sau đó nếu có các sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm mới phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường hay chi trả. Do vậy, với việc thu phí trước, nếu không có hoặc có Ýt rủi ro xảy ra, doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn dự kiến. Ngược lại, nếu rủi ro xảy ra với tần suất hoặc với quy mô lớn hơn dự kiến, doanh nghiệp bảo hiểm có thể thua lỗ. Về phía khách hàng, hiệu quả từ việc mua sản phẩm cũng mang tính ''xê dịch'' - không xác định. Điều này xuất phát từ việc không phải khách hàng nào tham gia bảo hiểm cũng '' được nhận" một số tiền chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm (trừ trường hợp mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mang tính tiết kiệm). Người bán là các doanh nghiệp bảo hiểm. Theo tính chất sở hữu, doanh nghiệp bảo hiểm có thể chia ra: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần, công ty liên doanh v.v... Theo quy mô tổ chức có thể chia ra tổng công ty, công ty chia theo loại hình kinh doanh thì có công ty bảo hiểm nhân thọ hoặc phi nhân thọ; bán hàng trực tiếp cho khách hàng hoặc thông qua các tổ chức trung gian. 2.2.3 Các qui định pháp luật 19
  • 20. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Bất kì một thị trường nào hoạt động cũng đều phải tuân thủ theo hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.Thị trường bảo hiểm cũng không nằm ngoài qui luật đó ở những nước có thị trường bảo hiểm phát triển như các nước Châu Âu, hệ thống pháp luật thị trường bảo hiểm rất đầy đủ và chặt chẽ. Đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam, gần đây luật kinh danh bảo hiểm đã ra đời giúp cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thuận lợi hơn. Ngoài luật kinh doanh bảo hiểm, rất nhiều luật khác ảnh hưởng như luật Dân sự , luật Đầu tư nước ngoài.v.v. 2.3. Những đặc trưng cơ bản của thị trường bảo hiểm Thị trường bảo hiểm cũng như các thị trường khác đều có những đặc trưng chung là: 2.3.1. Cung - cầu về bảo hiểm luôn luôn biến động Cung về bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện. Các doanh nghiệp ngày một nhiều và luôn đưa ra thị trường những sản phẩm mới thích ứng với thị trường. Sản phẩm bảo hiểm ngày một nhiều và luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học kĩ thuật của nền kinh tế, của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa. Điều đó chứng tỏ sản phẩm bảo hiểm không dừng lại ở con sè ban đầu mà luôn được cải tiến, hoàn thiện và sáng chế, phát minh ra cái mới. Cầu về bản hiểm của dân cư, của các tổ chức xã hội, của doanh nghiệp cũng không ngừng tăng lên. Khi nền kinh tế phát triển thì các tổ chức kinh tế cũng phát triển theo, đời sống vật chất tinh thần của dân cư cũng được cải thiện. Do đó, nhu cầu về đa dạng về các dịch vụ bảo hiểm cũng tăng lên. Với thời kỳ khởi nguyên của bảo hiểm và thị trường bảo hiểm còn nhỏ bé, các lĩnh vực bảo hiểm cũng hạn chế.Bạn đầu chỉ xuất hiện bảo hiểm hàng hải vì đây là lĩnh vực thường xuyên xảy ra rủi ro và tổn thất lại vô cùng lớn. Rồi sau đó đến bảo hiểm cháy vì nó mang tính chất thảm họa tổn thất lớn. Còn bây giờ bảo hiểm đã quá quen thuộc với mọi người từ bảo hiểm cho những tài sản công trình lớn cho đến ô tô xe máy. Thậm chí chúng ta có thể mua bản hiểm cho đôi chân, cho khuôn mặt, cho đôi mắt của chính mình nếu chúng ta 20
  • 21. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F muốn. Rất nhiều diễn viên, người mẫu, ca sĩ đã mua những sản phẩm bảo hiểm mà chúng ta tưởng như không thể có như bảo hiểm giọng hát. v.v.. ... Những năm đầu thế kỉ XX, dịch vụ bảo hiểm chỉ có trên dưới vài chục sản phẩm nhưng đến nay đã tăng lên hàng trăm, hàng nghìn loại. Cung và cầu về sản phẩm bảo hiểm phát triển song hành. Cầu tăng thì cung tăng và ngược lại. 2.3.2 - Giá bảo hiểm phụ thuộc nhiều nhân tố. Trong thị trường hàng hóa, chúng ta đã quá quen với khái niệm giá cả của hàng hóa. Đó là giá mà hai bên mua và bán đồng ý để trao đổi giữa hàng và tiền hoặc một thứ khác (tùy vào mục đích trao đổi). Và thông thường nó dựa trên quy luật ngang bằng về giá trị. Quy luật ngang bằng về giá trị do hao phí lao động bình quân xã hội quyết định. Khi một người mua bá ra một số tiền X để mua hàng Y thì có nghĩa là giá cả của Y là X. Thế nhưng trong thị trường bảo hiểm, người ta không hoặc rất hiếm khi sử dụng giá cả bảo hiểm mặc dù về bản chất nó hoàn toàn giống nhau. Phí bảo hiểm là số tiền mà người mua - khách hàng phải trả cho doanh nghiệp bảo hiểm trên cơ sở thỏa thuận giữa người mua và người bán về một dịch vụ bảo hiểm nào đó. Phí bảo hiểm được thỏa thuận giữa người mua và người bán cũng có thể xem đó là giá chấp nhận của thị trường về dịch vụ (hay sản phẩm) bảo hiểm. Phí bảo hiểm bao gồm: phí thuần và phụ phí (hoặc phí hoạt động trong bảo hiểm nhân thọ). Phí bảo hiểm được tính toán trên cơ sở số tiền bảo hiểm (số tiền người mua chấp nhận với người bán - người bảo hiểm đưa ra) với tỉ lệ phí bác hiÓm (R). Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm bảo hiểm. * Mục tiêu định giá của từng doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp đưa ra những mức giá cho sản phẩm, thì những mức giá đó nhằm giúp doanh nghiệp đại được những mục tiêu nhất định. Nói một cách khác, mục tiêu định giá chính là cơ sở cho các quyết định liên quan đến giá cả. Và mục tiêu định giá phải đưa (xác định dựa trên những mục tiêu chung của doanh nghiệp. Ví dụ, khi mục tiêu chung của doanh nghiệp là duy trì chất lượng dịch vụ hàng đầu 21
  • 22. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F vượt hẳn đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ đặt giá cao hơn hẳn đối thủ cạnh tranh nhằm trang trải được các chi phí cao hơn phát sinh do cung cấp dịch vụ với chất lượng cao hơn. Ngoài ra các mục tiêu định giá của doanh nghiệp cũng phải phù hợp với các mục tiêu marketing cụ thể của doanh nghiệp. - Các mục tiêu hướng theo lợi nhuận. - Mục tiêu hướng theo số lượng hợp đồng khai thác. - Mục tiêu hướng theo cạnh tranh. Quá trình định phí có thể được gọi là quá trình dự đoán tổn thất và chi phí trong tương lai, phân bổ các chi phí này giữa những người tham gia bảo hiểm. Ở các quốc gia có ngành bảo hiểm phát triển, trong các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, việc định phí được thực hiện bởi bộ phận định phí hoặc đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ quy mô nhỏ hơn thì việc định phí do các công ty tư vấn định phí thực hiện. Còn trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản và trách nhiệm, giá cả sản phẩm bảo hiểm được xác định dựa trên số liệu thống kê về khuynh hướng tổn thất do các tổ chức tư vấn cung cấp hoặc do từng doanh nghiệp bảo hiểm tự thu thập. * Cầu về sản phẩm của khách hàng là nhân tố quyết định giới hạn trên của giá cả sản phẩm. Kinh nghiệm marketing thực tế đều cho thấy, cầu của hầu hết các sản phẩm (trong đó có sản phẩm bảo hiểm) có quan hệ tỉ lệ nghịch với giá cả của sản phẩm (với điều kiện là các nhân tố khác - điều kiện kinh tế nói chung, sự sẵn có của sản phẩm, khả năng mua của khách hàng... không thay đổi). Khi phân tích cầu về sản phẩm phải xác định sự thay đổi của nó khi giá cả sản phẩm thay đổi. Để đo lường mức độ thay đổi này (tỉ lệ % thay đổi trong lượng cầu khi có tỉ lệ % thay đổi trong giá cả), kinh tế học vi mô đã đưa ra khái niệm ''độ co dãn của cầu theo giá''. 2.3.3. Canh tranh và liên kết diễn ra liên tục Thị trường bảo hiểm cũng như các thị trường khác, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để tranh giành khách hàng, để thu nhiều lợi nhuận diễn ra 22
  • 23. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F liên tục, gay go, quyết liệt. Cạnh tranh diễn ra trên nhiều khía cạnh, thủ thuật. Do đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm là dễ bắt chước, không bảo hộ bản quyền, nên các doanh nghiệp bảo hiểm "đổ xô'' vào những sản phẩm được thị trường chấp nhận (ngoài việc tung vào thị trường những sản phẩm mới) bằng cách cải tiến để hoàn thiện sản phẩm đó hơn các doanh nghiệp khác; bằng cách tuyên truyền quảng cáo sâu rộng, hấp dẫn để thu hút khách hàng và đặc biệt giảm phí và tăng tỉ lệ hoa hồng để giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị trường v.v... Thực tế sôi động đó đã được chứng minh khi thị trường bảo hiểm Việt Nam có nhiều doanh nghiệp của các thành phần kinh tế tham gia... Cùng với cạnh tranh là liên kết. Cạnh tranh càng mạnh thì liên kết càng phát triển. Liên kết thường diễn ra giữa các doanh nghiệp mới, còn yếu về tiềm lực để tạo ra sức mạnh cạnh tranh; liên kết giữa các doanh nghiệp có thế mạnh để hòa hoãn, cùng phát triển tránh gây thiệt hại cho nhau v.v.. liên kết còn diễn ra giữa các doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp lớn để tăng sức mạnh doanh nghiệp nhỏ đảm bảo an toàn trong cạnh tranh và cũng để tăng thêm đồng minh cho doanh nghiệp lớn. Liên kết còn là nhu cầu của thị trường bản hiểm mới hình thành và phát triển trong điều kiện'thị trường thế giới đã ổn định, có tiềm lực. Liên kết cũng là xu hướng chung của hội nhập và toàn cầu hóa. Thị trường bảo hiểm Việt Nam tuy mới hình thành và phát triển, nhưng cạnh tranh cũng diễn ra gay gắt giữa các doanh nghiệp với đủ thủ thuật và mánh khóe. Cạnh tranh cũng gây thiệt hại đáng kể cho một số doanh nghiệp, nhưng cũng mang lại thành công cho các doanh nghiệp có lợi thế, v.v... Để đảm bảo quyền lợi của các doanh nghiệp trước sự cạnh tranh gay gắt các doanh nghiệp liên kết lại trong tổ chức '' Hiệp hội bảo hiểm" để điều hòa và giữ thế cân bằng trong kinh doanh trước hiện tượng giảm phí và tăng tỉ lệ hoa hồng tùy tiện; đồng thời tiến hành liên kết dưới hình thức liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài để tăng tiềm lực kinh tế và kinh nghiệm kinh doanh để mở rộng thị trường v.v 23
  • 24. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F 2.3.4 - Thành phần các doanh nghiệp bảo hiểm luôn thay đổi Thị phần bảo hiểm là tỉ lệ phần trăm (%) của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm chiếm trong thị trường bảo hiểm. Thị phần càng lớn chứng tỏ vị thế của doanh nghiệp càng cao; kết quả kinh doanh của doanh nghiệp càng phát triển. Nói đến thị phần là nói đến thị trường phát triển không còn mang tính độc quyền. Ở đây, các doanh nghiệp bảo hiểm có cơ hội như nhau; song doanh nghiệp nào dành được thị phần nhiều hơn là doanh nghiệp đó làm tốt công tác quảng cáo, tiếp thị; do chất lượng phục vụ tốt hơn, phí bảo hiểm có thể thấp hơn v.v.. Như vậy, thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm luôn thay đổi do số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường thay đổi; do chiến lược maketing, chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả v.v... của các doanh nghiệp thay đổi không những giữ được thị phần của mình mà còn giành giật được thị phần của các doanh nghiệp khác. Ngoài việc cạnh tranh đÓ giành giật thị trường của nhau, các doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh hợp lý để thu hút bộ phận khách hàng tiềm năng. Đây là bộ phận dân cư có nhu cầu bảo hiểm, nhưng chưa có thông tin chính xác về dịch vụ bảo hiểm trên thị trường. Doanh nghiệp nào có chiến lược tuyên truyền, quảng cáo, phục vụ tốt... sẽ thu hút thêm khách hàng ở bộ phận này góp phần tăng thị trường doanh nghiệp. Mặt khác, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải tung ra thị trường những sản phẩm mới để thu hút dân cư trong bộ phận không tiêu dùng tuyệt đối bộ phận không có nhu cầu tuyệt đối với dịch vụ bảo hiểm có trên thị trường. Ngoài ra, thị trường bảo hiểm còn có những đặc điểm riêng như: - Thị trường bảo hiểm có đối tượng khách hàng rất rộng vì đối tượng bảo hiểm đa dạng, bao gồm tài sản, trách nhiệm dân sự, con người. - Thị trường bảo hiểm là thị trường tài chính, do đó chịu sự kiểm tra, kiểm soát rất chặt chẽ của Nhà nước. Nhà nước có thể can thiệp khá sâu vào hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm. Nhà nước không những xét duyệt 24
  • 25. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F biểu phí, xác định giới hạn trách nhiệm dân sự mà còn quyết định hình thức triển khai-bắt buộc hay tự nguyện. Chỉ có trong thị trường bảo hiểm mới có hình thức bắt buộc với người tham gia. - Thị trường bảo hiểm ra đời muộn hơn so với các thị trường khác. Sù ra đời lại phụ thuộc vào nhiều điều kiện. Chẳng hạn, bảo hiểm nhân thọ triển khai được trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển đến mức độ nhất định; thu nhập của người dân được nâng cao, trình độ học vấn được cải thiện, môi trường pháp lý tương đối phát triển ổn định; các loại thị trường khác đã hình thành (thị trường tài chính, đầu tư v.v...). 3. Các loại bảo hiểm 3.l - Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội giữ một vai trò nòng cốt chính trong hệ thống bảo trợ xã hội. Bất cứ nhà nước nào cũng đều thừa nhận rằng, sự nghèo khổ vì thất nghiệp, ốm đau, không chỉ là trách nhiệm của cá nhân, mà còn là trách nhiệm của xã hội. Do đó, giải quyết những vấn đề này là trách nhiệm của nhà nước và công dân. Những đối tượng được bảo trợ xã hội là những người không đạt tiêu chuẩn '' mức sống bình thường về kinh tế '', nên mức bảo trợ cũng chỉ hạn chế trong phạm vi nhu cầu của mức sống cơ bản. Do đó, bảo hiểm xã hội cũng là một loại bảo hiểm của nhà nước thực hiện bắt buộc theo pháp luật và được coi là trách nhiệm chung của xã hội, nhằm bảo vệ quyền lợi cơ bản của nhân dân và thực hiện chính sách xã hội do nhà nước quy định. Bảo hiểm xã hội thường có những đặc trưng sau đây: * Đối tượng bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội thể hiện chính sách xã hội của nhà nước, chủ yếu là giải quyết vấn đề đời sống cơ bản của những người lao động trong xã hội, thực hiện trách nhiệm của xã hội đối với từng người lao động, vì vậy đối tượng bảo hiểm phải là đại đa số người dân trong xã hội. * Phương pháp thực hiện bảo hiểm xã hội 25
  • 26. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Bảo hiểm xã hội phần lớn có tính chất bắt buộc. Đối tượng của bảo hiểm xã hội là đa số người dân trong xã hội, những người làm công ăn lương, những người có quan hệ hợp đồng lao động. Thông thường bảo hiểm xã hội do nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật bắt buộc những người có đủ điều kiện đều phải tham gia bảo hiểm một cách bắt buộc. * Đóng góp phí bảo hiểm Bảo hiểm xã hội nhằm mục đích tạo điều kiện ổn định đời sống kinh tế của đa số người lao động trong xã hội. * Tinh thần giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng xã hội Trong quá trình điều hòa sử dụng thực tế quỹ bảo hiểm xã hội thường có lợi cho những người có thu nhập thấp, nên trong xã hội đã có tình trạng "người có mức lương cao nộp phí bảo hiểm nhiều lại được lợi Ýt, còn người có mức lương thấp nộp phí bảo hiểm Ýt lại được lợi hơn''. Số cán bộ, công nhân viên đang làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp lâu đời Ýt hơn so với các cơ quan, doanh nghiệp mới, nhưng số cán bộ, công nhân viên đã về hưu mà các cơ quan, doanh nghiệp lâu đời cần phải chăm sóc lại nhiều hơn so với các cơ quan, doanh nghiệp mới. Vì vậy, các doanh nghiệp lâu đời nộp phí bảo hiểm Ýt lại được hưởng lợi nhiều, còn các doanh nghiệp mới phải nộp phí bảo hiểm nhiều lại được hưởng lợi Ýt một cách tương đối. 3.2. Bảo hiểm thương mại a. Bảo hiểm nhân thọ: Là bảo hiểm đời sống hoặc tuổi thọ của con người nhằm bù đắp cho người được bảo hiểm một khoản tiền khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc khi người được bảo hiểm bị chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn. Bao gồm các loại hình như bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ... * Bảo hiểm phi nhân thọ là tính chất phân tán rủi ro và các công ty bảo hiểm có thể có mà cũng có thể không phải trả tiền bồi thường phụ thuộc vào tổn thất có xảy ra hay không. 26
  • 27. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F * Bảo hiểm nhân thọ mang tính chất tiết kiệm, lâu dài và các công ty bảo hiểm nhân thọ chắc chắn phải trả tiền bảo hiểm khi đến hạn ghi trong hợp đồng bảo hiểm. b. Bảo hiểm phi nhân thọ gồm: Bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người (Health and Person alaccident Insurance): + Bảo hiểm tai nạn hành khách. + Bảo hiểm tai nạn lao động. + Bảo hiểm khách du lịch. + Bảo hiểm tai nạn học sinh, sinh viên. + Bảo hiểm tai nạn con người. + Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật. + Bảo hiểm sinh mạng. - Bảo hiểm xe cơ giới (Motor Vehlcle Insurance) + Bảo hiểm thân xe (hay còn gọi là bảo hiểm vật chất xe. + Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới. - Bảo hiểm cháy nổ (Fire Insurance) - Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh (Business Interuption) - Bảo hiểm vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt, đường hàng không (cargo Inssurance) . + Bảo hiểm hàng hàng hóa xuất nhập khẩu + Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa - Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu (Hull and P & I Insurance): + Bảo hiểm thân tàu biển, tàu pha sông biển. + Bảo hiểm vật chất tàu sông, tàu cá. - Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại khác (Other property and Casualty Irlsuarance): + Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt (Car, Ear) + Bảo hiểm dầu khí (Oil and gaz insuarance) 27
  • 28. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F - Bảo hiểm tín dụng và rủi ro hành chính: bảo hiểm quỹ tín dụng nhân dân. - Bảo hiểm nông nghiệp: + Bảo hiểm vật nuôi, cây trồng. - Bảo hiểm trách nhiệm của người giao nhận. - Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. - Bảo hiểm du lịch. II. vai trò của thị trường bảo hiểm 1. Vai trò của thị trường bảo hiểm trong nền kinh tế 1.1 Tạo ra một nguồn vốn lớn bằng phí bảo hiểm và tập trung vào một số đầu mối để đầu tư vào những lĩnh vực khác để phát tnển nền kinh tế quốc dân. Tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia tỉ lệ thuận với tốc độ gia tăng về đấu tư Đặc biệt với các khoản tiền lớn vô cùng cần thiết cho các lĩnh vực đầu tư lâu dài, yêu cầu vốn nhiều. Ngày nay, ở các nước phát triển, số tiền do nhà bảo hiểm đang quản lý rất lớn: 2000 tỉ USD ở Hoa Kỳ, 1719 tỉ Bảng Anh, 2.967 tỉ Frăng ở Pháp. Nhờ khả năng đầu tư, giờ đây thị trường bảo hiểm đóng một vai trò chủ lực trong nền kinh tế ở Pháp nơi có truyền thống đầu tư vào trái phiếu, nhà bản hiểm đã nắm 60% số lượng trái phiếu của nhà nước và trong lĩnh vực bất động sản cũng giữ một vị trí quan trọng. Ở Anh, các nhà bảo hiểm đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu nhất là qua Quỹ hưu trí (Fonds de pension), quỹ này thu về các khoản tiền đóng góp dài hạn để sau này trả lương hưu cho những người làm công ăn lương. Ở đây thị trường bảo hiểm ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán và tài trợ cho các hoạt động đầu tư. Còn ở Việt Nam tính đến cuối năm 2002 Bảo Việt đã đầu tư và góp vốn vào tổng số 22 công ty và tập đoàn cả trong nước và nước ngoài, các ngân hàng, công ty cổ phần chứng khoán...(Nguồn:Báo cáo hàng năm của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam) 1.2. Bổ sung vào ngân sách của Nhà nước bằng lãi bảo hiểm. 28
  • 29. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Doanh thu của ngành bảo hiểm càng cao thì nguồn thu cho ngân sách càng lớn. Đó là điều tất yếu Thị trường bảo hiểm, đặc biệt là thị trường bảo hiểm nhân thọ. Với tốc độ tăng trưởng hàng năm rất cao, năm 1999 tăng 142,4% (gấp 2,5 lần phí năm trước), năm 2000 là162,6%, 2001:l 15,6% và năm 2002 tăng 89,7% thì vai trò của nghành bảo hiểm trong GDP càng lớn. Ở các nước phát triển thì thị trường bảo hiểm đóng góp trung bình là 8,3% GDP. 1.3. Tăng thu và giảm chi cho cán cân thanh toán quốc gia. Nếu những nhà xuất khẩu và nhập khẩu lựa chọn mua bảo hiểm của các công ty bảo hiểm trong nước thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều ngoại tệ. Trước đây thị trường bảo hiểm chưa phát triển cộng với nghiệp vụ xuất nhập khẩu còn yếu, chúng ta thường xuất khẩu theo điều kiện FOB và nhập khẩu theo điều kiện CIF chung của doanh nghiệp là duy trì chất lượng dịch vụ hàng đầu vượt hẳn đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ đặt giá cao hơn hẳn đối thủ cạnh tranh nhằm trang trải được các chi phí cao hơn phát sinh do cung cấp dịch vụ với chất lượng cao hơn''. Như vậy thì hoàn toàn các công ty của Việt Nam không thể mua bảo hiểm trong nước được. Nếu thị trường bảo hiểm trong nước lớn mạnh thì các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước hoàn toàn có thể tin tưởng mua bảo hiểm trong nước, vừa đảm bảo yếu tố tin cậy vừa tiết kiệm được ngoại tệ. Hơn nữa, nếu các doanh nghiệp xuất khẩu tự mua bảo hiểm ở thị trường trong nước họ sẽ được tư vấn kĩ lưỡng về các loại, các hình thức bảo hiểm phù hợp nhất để tránh được rủi ro mà lại tiết kiệm chi phí. Các công ty bảo hiểm với những nhân viên tư vấn của mình sẽ còn góp phần tư vấn, tiếp thị khách hàng và có thể làm thay đổi tập quán bán FOB, nhập CIF, tư vấn thêm các nghiệp vụ mua bán cũng như các cách thức khiếu nại bồi thường một cách tỉ mỉ và dễ hiểu hơn. 1.4. Thị trường Bảo hiểm giúp cho việc thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế nhanh chóng hơn. 29
  • 30. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, các doanh nghiệp trở thành tổ chức kinh tế tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi. Sau khi thực hiện chế độ trách nhiệm kinh doanh, trách nhiệm và rủi ro kinh tế thuộc về các tổ chức này phải đảm nhận ngày càng nhiều hơn: thiên tai và tai nạn bất ngờ hay xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh và khai thác kĩ thuật mới, sản phẩm mới, còn những rủi ro về tín dụng hay xảy ra trong quá trình kinh doanh giữa các bên. Nhà nước không thể bao cấp cho những tổn thất do những rủi ro này gây ra như thời kì chưa đổi mới cơ chế kinh tế, những nhà sản xuất, kinh doanh phải tự đảm nhận giải quyÕt. Chỉ có tham gia bảo hiểm các doanh nghiệp có thể chuyển rủi ro cho doanh nghiệp bảo hiểm, tức là chuyển những yếu tố không ổn định và những tổn thất không lường trước được trong quá trình kinh doanh, nhằm đảm bản cho những hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thuận lợi. Đồng thời, chế độ phá sản doanh nghiệp được thực hiện trong quá trình đổi mới kinh tế hiện nay cũng phải được thực hiện đồng bộ với chế độ bản hiểm xã hội tương ứng, nhằm đảm bảo một phần nhất định đời sống công nhân viên chức của doanh nghiệp bị phá sản trong thời gian chờ việc lành. Nếu không, việc thực hiện luật phá sản doanh nghiệp sẽ gây ra những yếu tố không ổn định về trật tự xã hội. 1.5. Thị trường Bảo hiểm giúp cho việc thực hiện, bảo toàn vốn vay của các ngân hàng thương mại một cách thuận lợi. Đảm bảo cho việc luân chuyển vốn cho vay. Trong thời kì đổi mới cơ chế kinh tế ở nước ta, một phần lớn vốn cần dùng cho doanh nghiệp được cung cấp từ khoản tiền vay của ngân hàng, những doanh nghiệp bị tai nạn rủi ro, việc đó chẳng những ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả khoản tiền vay đã hết hạn, mà còn yêu cầu ngân hàng tiếp tục cho vay, nhằm đáp ứng đầy đủ số tiền vốn cần dùng ngay để doanh nghiệp khôi phục sản xuất. Nếu doanh nghiệp bị tai nạn rủi ro đã kịp thời nhận được tiền bồi thường bảo hiểm, đã 30
  • 31. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F nhanh chóng khôi phục sản xuất và kinh doanh thì cũng có thể hoàn trả vốn vay ngân hàng. 1.6. Thị trường bảo hiểm có lợi cho sự phát triển và củng cố nền kinh tế hàng hóa ở nông thôn. Nông nghiệp là cơ sở của nền kinh tế quốc dân. Trong những năm gần đây, nền kinh tế nông nghiệp và kinh tế hàng hóa ờ nông thôn nước ta đều có những bước phát triển rất lớn. Nhưng vì nền sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc vào nhiều điều kiện tự nhiên rất nhiều, còn có những đặc điểm như tính chất thời vụ, tính chất khu vực và tính chất không ổn định, nên kinh tế hàng hóa ở nông thôn phần lớn là kinh tế tập thể nhỏ và cá thể, vốn Ýt, sức mạnh về kinh tế tương đối non yếu. Do đó, trong sản xuất nông nghiệp và trao đổi buôn bán các mặt hàng nông nghiệp nếu bị thiên tai và tai nạn bất ngờ, sẽ càng thêm nhiều khó khăn cho các đơn vị sản xuất và kinh doanh, nên lại càng đòi hỏi phải có sự hỗ trợ đắc lực của các loại bảo hiểm nông nghiệp như bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng... 1.7. Thị trường bảo hiểm tạo ra môi trường thuận lợi cho việc họp tác kinh tế, kĩ thuật, thương mại với nước ngoài và cho việc thu hút đầu tư của nước ngoài. Đi đôi với việc thực hiện chính sách mở cửa ở nước ta hiện nay, việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm liên quan đến kinh tế đối ngoại càng trở nên quan trọng. Những rủi ro trong quá trình trao đổi kinh tế, thương mại, kĩ thuật với nước ngoài thường lớn hơn trong nước, vì vậy càng đòi hỏi phải có sự đảm bảo kinh tế dưới hình thức bảo hiểm. Thực hiện các loại nghiệp vụ bảo hiểm có thể tăng thêm mức độ an toàn đối với những nhà đầu tư đối với việc hợp tác hoặc đầu tư vào nước ta. Trong những năm gần đây, ngoài việc phát triển các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường biển và nghiệp vụ bảo hiểm tàu biển phục vụ cho thương mại xuất nhập khẩu, ở nước ta các loại nghiệp vụ bảo hiểm công trình thăm dò, khai thác dầu khí, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt đã được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu thu hút kĩ thuật tiên tiến và gọi vốn đầu tư của nước ngoài. 31
  • 32. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Đồng thời, hoạt động bảo hiểm còn thu về cho Nhà nước một khoản ngoại tệ phi mậu dịch rất lớn. 1.8. Thị trường Bảo hiểm có thể tăng cường đề phòng, hạn chế tai nạn rủi ro, giảm bớt tổn thất của cải của xã hội. Trong thị trường bảo hiểm người bảo hiểm chính là người sẽ bồi thường những tổn thất khi có rủi ro xảy ra cho những người mua bảo hiểm. Điều này không có nghĩa là trong thị trường bảo hiểm đơn thuần chỉ có sự chuyển giao rủi ro giữa người bảo hiểm và người mua bảo hiểm. Thực tế, nếu rủi ro không xảy ra thì người bảo hiểm sẽ không phải bồi thường và họ sẽ có thu nhập khoản tiền Êy. Do đó rủi ro càng Ýt, họ càng có lợi. Chính vì vậy mà chính những công ty bảo hiểm sẽ tăng cường việc đề phòng, hạn chế tổn thất. Doanh nghiệp bảo hiểm các nước trên thế giới thường tìm kiếm những người tài giỏi có đủ trình độ khoa học kĩ thuật cao, tổ chức những cuộc nghiên cứu ứng dụng thực tế, cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng tham gia bảo hiểm về việc đề phòng tổn thất. 2. Vai trò của thị trường bảo hiÓm đối với các thị trường khác. Trong nền kinh tế quốc dân có các kênh dẫn vốn sau: Có vốn Cần vốn 32 NH A TTBH B NS TTCK
  • 33. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Trong mô hình các kênh dẫn vốn trên thị trường bảo hiểm cũng là một kênh dẫn vốn lớn trong 4 kênh đó thì 3 kênh là kênh trực tiếp và chỉ có mét kênh gián tiếp, Kênh gián tiếp đó là cách huy động vốn qua ngân hàng. Kênh dẫn vốn qua ngân hàng có điểm yếu là chi phí sử dụng vốn cao (lãi suất cao) do phải trả một phần lãi cho ngân hàng. Hơn nữa các thủ tục cho vay phức tạp cần nhiều điều kiện, mặt khác các khoản tiền quá nhỏ người dân cũng ngại gửi ngân hàng. Ngoài ra còn một nỗi lo lạm phát nên nhiều người có vốn chỉ tự giữ chứ không gửi ngân hàng. Trong 3 kênh dẫn vốn trực tiếp là. Ngân sách, thị trường chứng khoán tiền tệ bảo hiểm thì kênh thông qua ngân sách không phổ biến vì nó thường chỉ cung cấp cho các dự án quốc gia hay các doanh nghiệp nhà nước. Còn thị trường chứng khoán ngày nay đang được coi là kênh dẫn vốn rất hiệu quả nó là thị trường trực tiếp để mua bán vốn, chi phí sử dụng vốn thấp do không qua trung gian. Kênh này ngày càng phát triển. Nhưng sự phát triển của thị trường này rất khó khăn vì nó đòi hỏi các điều kiện về kinh tế phải phát triÓn tới một mức độ nhất định, cơ sở pháp lý chặt chẽ để nó có thể hoạt động một cách hiệu quả. Hơn nữa một điểm yếu của thị trường chứng khoán là không phải ai có vốn cũng tham gia được vào thị trường chứng khoán mà họ phải có kiến thức, sự hiểu biết về thị trường chứng khoán, kinh doanh chứng khoán và các thông tin khác. Kinh doanh vào chứng khoán đối với một số người là khá mạo hiểm. Trong khi đó thị trường bảo hiểm ngày càng mạnh lên do nó đã khắc phục được một số điểm yếu của các thị trường khác. Với thị trường bảo hiểm đặc biệt thị trường bảo hiểm Nhân thọ nhà bảo hiểm có thể chủ động được những nguồn vốn rất nhỏ lẻ trong xã hội một cách thường xuyên. Vì nó không giới hạn giá trị nên có thể huy động được mọi khoản tiền nhàn rỗi có thể. Hơn nữa người tham gia có thể được mức lãi sút cao hơn ngân hàng lại không phải lo lắng và rủi ro mạo hiểm như kinh doanh chứng khoán. 33
  • 34. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Tùy thuộc vào lĩnh vực đầu tư của nhà bảo hiểm họ có thể cung cấp vốn cho ngân hàng hoặc thị trường chứng khoán. Ở Pháp đầu tư của thị trường bảo hiểm trên thị trường chứng khoán tới 60% (năm 1998). Hoặc họ có thể trực tiếp đầu tư vào các công trình, dự án của chính họ. Thị trường bảo hiểm cung cấp vốn cho thị trường ngân hàng, góp phần lớn trong ngân sách nhà nước (trung bình toàn Châu Âu thị trường bảo hiểm đóng góp 8,3% GDP) và là nguồn chủ yếu cho thị trường chứng khoán. Thị trường BH với nguồn vốn lớn mà họ huy động được sẽ ảnh hưởng mạnh đến thị trường tiền tệ làm cho tốc độ lưu thông tiền tệ nhanh hơn, thị trường đầu tư cũng được đẩy mạnh. IV. KINH Nghiệm XÂY dựng Và Phát Triển Của Một Số Thị TRƯờNG TRÊN Thế Giới l. Thị trường bảo hiểm Anh Thị trường Anh được đặc trưng bởi một số nét đặc thù riêng so với các thị trường Châu Âu khác: - Thị trường nội địa đã đạt đến độ chín muồi. Tổng doanh thu bảo hiểm Phi nhân thọ phụ thuộc vào biểu phí nhiều hơn là sự phát triển của sản phẩm được bảo hiểm và bản thân biểu phí cũng tương đối mang tính chu kỳ và biến động trên cơ sở tỷ lệ tổn thất, khả năng cung cầu biến đổi theo kết quả kinh doanh) và sự cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm ''trực tiếp'' đã làm giảm biểu phí bảo hiểm xe cơ giới). thị trường bảo hiểm Nhân thọ, có vị trí rất quan trọng, chịu ảnh hưởng các quyết định của Chính phủ về mặt thuế và sự cạnh tranh của các sản phẩm bảo hiểm tương tù trong đầu tư vào tiết kiệm. Bảo hiểm nhân thọ chiếm gần 2/3 thị trường từ nhiều năm nay, đến nỗi các khoản dự phòng kỹ thuật được các công ty bảo hiểm tích lũy đạt đến một mức đặc biệt cả về số tuyệt đối cũng như so với GDP. - Người Anh có truyền thống khá tự do về hoạt động giám sát bảo hiểm và không theo chủ nghĩa giáo điều. Chính vì vậy mà những người đại diện 34
  • 35. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F kiểm tra của bảo hiểm Anh luôn ngạc nhiên tại những cuộc bàn luận giữa họ với các đồng nghiệp thuộc các thị trường Châu Âu khác khi nghe nhấn mạnh rằng luật pháp Châu Âu phải cấm một công ty bảo hiểm hoạt động đồng thời trong cả hai ngành bảo hiểm Nhân thọ và Phi nhân thọ. Ngược lại, trong công tác giám sát, người Anh không phân biệt giữa bảo hiểm trực tiếp và tái bảo hiểm. Và ở nước Anh, các công ty tái bảo hiểm luôn phải tuân thủ một cách đầy đủ các nghĩa vụ giống như các công ty bảo hiểm gốc. Điểm này khác với nhiều thị trường khác: các công ty tái bảo hiểm không phải chịu sự kiểm soát. Tính năng động của hoạt động môi giới là một khía cạnh cơ bản của thị trường bảo hiểm Anh. Nó tạo nên phương thức phân phối chính của thị trường này. Mạng lưới các công ty môi giới rát rộng, từ môi giới địa phương nhỏ bé (high street broker), hoạt động đơn lẻ chỉ với một thư ký và đáp ứng nhu cầu của một số cá nhân hoặc doanh nghiệp nhỏ, đến công ty mới giới quốc tế (Me ga broker), hoạt động trên cả năm lục địa, có trong tay hàng tỷ bảng Anh về doanh thu bảo hiểm và sử dụng hàng nghìn cộng sự, qua các nhà môi giới chuyên biệt trong những lĩnh vực đặc thù (bản hiểm tín dụng, đua ngựa, ôtô đặc biệt hoặc vật nuôi , v.v...). Hoạt động mạnh mẽ của bảo hiểm Anh trên thị trường quốc tế nhờ vào mạng lưới đại lý, chi nhánh và công ty con từ lâu đặt tại nước ngoài, đồng thời cũng nhờ rất nhiều vào tính năng động của các công ty môi giới. Những công ty môi giới năng động nhất coi thị trường quốc tế như địa bàn hoạt động đương nhiên của mình. Tuy nhiên, hoạt động môi giới bị cạnh tranh bởi các phương thức phân phối khác. Các công ty bảo hiểm Nhân thọ bán sản phẩm của mình thông qua các công ty tư vấn tài chính chuyên nhất hoặc đa chức năng ''multicartes''. Công ty bảo hiểm Thiệt hại sử dụng mạng lưới không chuyên nghiệp như các hãng du lịch hoặc đại lý bất động sản và các công ty cho vay bất động sản cầm cố (Building societies). 35
  • 36. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Không tách rời các tiến triển mới đây của ngành, các công ty bảo hiểm Anh đã phát triển hai lãnh địa hoạt động cho các công ty tự bảo hiểm và tự tái bản hiểm: Guemesey ở vùng đảo thuộc phía Nam nước Anh, nơi có các công ty tự bảo hiểm của một số tập đoàn công nghiệp hàng đầu Châu Âu và tại đảo Man, nơi các công ty tự bảo hiểm được hưởng những điều kiện ưu đãi về thuế, và do lãnh thổ này không là thành viên của EU nên có thể tự xây dựng luật một cách hoàn toàn độc lập. Các công ty BHNT chính của Anh hiện nay: Prudential, Standard Life,Equitable Life, Norwich Union, Scottsh Window. 2. Các thị trường bảo hiểm Châu Á. Nhật Bản là thị trường lớn nhất trong ngành bảo hiểm nhân thọ và ngay cả trong tất cả các ngành bảo hiểm khác, khi đồng Yên lên giá so với đồng Đô la cho phép thị trường này vượt thị trường Hoa Kỳ. Đó là một thị trường tập trung và được bảo hộ. Sức mạnh tài chính làm cho thị trường bảo hiểm đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước. Hàn quốc và Đài Loan có thị trường bảo hiểm rÊt phát triển, nhất là trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Các nước khác ở Châu Á vẫn là những thị trường mới nổi trong lĩnh vực bảo hiểm, tuy nhiên, có tốc độ tăng trưởng rất nhanh. Tại hai nước đông dân nhất thế giới, Trung Quốc và Ên Độ, thị trường bảo hiÓm vẫn do Nhà nước quản lý và thuộc trong số nhân nước có tỉ trọng của bao hiểm trong GDP thấp nhất thế giới. Quá trình phát triển hiện nay cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho các nước này sớm khắc phục sự tụt hậu tương đối của họ. Nhật Bản là thị trường đứng đầu thế giới, cách xa hẳn các nước khác về bảo hiểm nhân thọ. Về tổng doanh thu (Nhân thọ và Phi nhân thọ), Nhật Bản và Hoa Kỳ gần bằng nhau và vị trí thị trường đứng đầu thế giới lúc thì thuộc về Nhật Bản, lúc thì thuộc về Hoa Kỳ, tùy theo sự biến động của tỉ giá hối đoái giữa đồng Yên và đồng Đô la. Năm 1995, Nhật Bản chiếm vị trí đứng đầu, tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm, với thị phần trên thế giới là 29,73%. Nếu như doanh thu bảo hiểm của Châu Á vượt doanh thu bảo hiểm của Hoa Kỳ và mặt khác, của Châu Âu, thì cơ bản là nhờ có Nhật Bản. Chỉ riêng 36
  • 37. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F nước này chiếm 85% thị trường Châu Á. Điều này có nghĩa là các thị trường khác vẫn còn hạn chế, mặc dù nhiều thị trường trong số này cũng tỏ ra năng động gần như của Nhật Bản. Tuy nhiên, không phải ở Nhật Bản mà chính ở Hàn Quốc, người ta thấy tỉ trọng của bảo hiểm trong GDP đạt mức cao nhất. 13,16% GDP. Nhiều nước Châu Á, nhất là một số nước đông dân nhất, tỉ trọng của bảo hiểm trong GDP vẫn còn thấp hơn nhiều so với mức trung bình trên thế giới: Trung Quốc (l,17%), Ên Độ (2,Ol%), Pakistan (O,8%), Indonêxia (l,40%). Như vậy các thị trường Châu Á có tiềm năng phát triển đáng kể và trong tương lai có lẽ sẽ tiếp tục đạt nhịp độ tăng trưởng nhanh đã được ghi nhận trong vài năm gần đây Nhìn chung, các thị trường Châu Á tương đối tập trung. Nhiều trở ngại về chính trị hay văn hóa, luật pháp hay hành chính, hạn chế vai trò của các công ty này được phép hoạt động thì chúng cũng chỉ đóng vai trò thứ yếu. Đó là trường hợp ở Nhật Bản, thị trường bảo hiểm lớn nhất thế giới, có 27 công ty bảo hiểm Nhân thọ và 25 công ty bảo hiểm Phi nhân thọ, tất cả các công ty này đều có vốn Nhà nước. Chi nhánh của các công ty bảo hiểm nước ngoài (3 Nhân thọ, 25 Phi nhân thọ) bị giảm xuống còn 3% thị trường. Chỉ riêng Nippin Life, tập đoàn bảo hiểm đứng đầu thế giới, chiếm 20% thị trường bảo hiểm Nhân thọ, trong khi đó Tokyo Marine & Fire chiếm 20% thị trường bảo hiểm Phi nền thọ. Tại Malaysia, với một thị trường trong thời gian dài đã bị khống chế bởi các tập đoàn bảo hiểm Anh, Chính phủ buộc các công ty bảo hiểm được chấp nhận ở nước này phải có đa số vốn nằm trong tay các cổ đông Malaysia. Tại Trung Quốc, PICC bị các công ty lớn cạnh tranh như Ping An, thành lập ở Thân Quyến năm 1988 và Pacific Insurance ở Thượng Hải năm 1992. Năm 1992, lĩnh vực bảo hiểm Nhân thọ của công ty PICC tách ra thành công ty riêng, công ty Alina Life. Tại nước này, số lượng các công ty trong nước ngày càng nhiều. Ở Ên Độ, Chính phủ đang có ý định tư nhân hóa các công ty quốc doanh và dần dần mở cửa thị trường cho các công ty mới có vốn trong nước, thậm chí cả của nước ngoài, cạnh tranh với nhau, mặc dù có sự phản đổi của công đoàn và một bộ phận quần chúng. Hiện nay, các quy định 37
  • 38. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F của Tổ chức Thương mại thế giới và sức Ðp của Hoa Kỳ sẽ thúc đẩy các nước đang thực hiện chế độ thuế quan bảo hộ và nền kinh tế chỉ huy như Nhật Bản, Indonesia, Đài Loan hay Hàn Quốc, giảm nhẹ chính sách cấp giấy phép và mở cửa thị trường độc quyền cho các công ty mới trong nước và nước ngoài cạnh tranh. Tóm lại, sự tìm hiểu khái quát về thị trường bảo hiểm, đặc điểm của thị trường bảo hiểm cũng như lịch sử ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm thế giới sẽ cho chóng ta cái nhìn khái quát về thị trường bảo hiểm. Hơn nữa trong bối cảnh phát triển thị trường bảo hiểm thế giới và kinh nghiệm xây dựng và phát triển thị trường bảo hiểm của một số nước trên thế giới sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn và đánh giá chính xác hơn tình hình phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam và có thể đưa ra những giải pháp phát triển thị trường ở những chương sau. 38
  • 39. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM Lê Thị Hương Lan - Nhật 1 - K38F Chương II tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua I. Đánh giá tình hình phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam Đứng trước nhu cầu đổi mới về nền kinh tế nói chung và hoạt động bảo hiểm nói riêng, để bảo hiểm thương mại phát triển hơn, ngày 18/12/1993 Nhà nước ta ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, cho phép các thành phần kinh tế khác và các nhà đầu tư nước ngoài được phép kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, đặt dấu mốc quan trọng cho sự hình thành thị trường bảo hiểm ở Việt Nam với sự đa dạng hóa về lĩnh vực hoạt động và sở hữu. Năm 1995, sau khi Nghị định 100/CP được ban hành 1 năm, các công ty bảo hiểm khác ngoài hệ thống Bảo Việt lần lượt ra đời. Trước tiên là công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam, Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng, Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex và năm sau là Công ty bảo hiểm Dầu khí và Công ty liên doanh bảo hiểm Quốc tế Việt Nam ra đời. Năm 1995 có thể được coi là năm khởi đầu thật sự của thị trường bảo hiểm Việt Nam với đầy đủ ý nghĩa của từ đó. Sù ra đời của một loạt các công ty bảo hiểm mới đã thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển một cách mạnh mẽ, cũng đồng thời với việc người có nhu cầu bảo hiểm có sự lựa chọn doanh nghiệp phục vụ cho mình, dẫu ban đầu chỉ là sự lựa chọn về sản phẩm và mức phí. Ngay trong năm 1995, doanh thu phí bảo hiểm đã tăng trên 30%. Mặc dù mức tăng trưởng chậm hơn so với trước đó (những năm 1992, 1994, 1994 mức tăng trưởng bình quân 55%/năm) nhưng trong bối cảnh có nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động, thị trường cạnh tranh thì đó là mức tăng trưởng cao. Bên cạnh đó, với sự ra đời 39