BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ TÚ QUYÊN
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN
TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN TP. HỒ CHÍ MINH
MÃ TÀI LIỆU: 81201
ZALO: 0917.193.864
Dịch vụ viết bài điểm cao :luanvantrust.com
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ TÚ QUYÊN
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN
TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ QUANG TRỊ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực. Tôi sẽ chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình
bày trong luận văn này.
Học viên ký tên
Phạm Thị Tú Quyên
MỤC LỤC ................................................................................................................Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU .................................................................................
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU........1
1.1. Hoạt động tài trợ XNK của NHTM ..........................................................................1
1.2. Các hình thức tài trợ xuất khẩu.................................................................................2
1.2.1. Căn cứ vào phương thức thanh toán ............................................................2
1.2.2. Cho vay trên cơ sở hối phiếu .......................................................................7
1.2.3. Căn cứ vào thời hạn cho vay........................................................................9
1.2.4. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng ....................................10
1.2.5. Một số hình thức tài trợ XNK khác ...........................................................10
1.2.6. Bảo lãnh và tái bảo lãnh.............................................................................12
1.3. Vai trò của các hình thức tài trợ XNK....................................................................13
1.3.1. Đối với ngân hàng thương mại...................................................................14
1.3.2. Đối với doanh nghiệp.................................................................................15
1.3.3. Đối với nền kinh tế đất nước......................................................................16
1.4. Các rủi ro và biện pháp ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tài trợ XNK ................16
1.4.1 Đặc thù trong hoạt động ngoại thương......................................................17
1.4.2 Những rủi ro đặc thù trong hoạt động tài trợ XNK...................................17
1.5. Giới thiệu một số hình thức tài trợ ngoại thương của quốc gia khác.....................19
1.5.1. Thái Lan ....................................................................................................19
1.5.2. Trung Quốc ...............................................................................................20
1.5.3.Hàn Quốc........................................................................................................21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XNK TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TP. HỒ CHÍ MINH...............................24
2.1. Giới thiệu về Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh .........24
2.2. Thực trạng hoạt động tài trợ XNK tại Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển
TP. Hồ Chí Minh............................................................................................................25
2.2.1. Hoạt động tài trợ vốn nói chung...............................................................25
2.2.2. Hoạt động tài trợ xuất khẩu ......................................................................29
2.2.3 Hoạt động tài trợ nhập khẩu ......................................................................31
2.2.4 Phân tích về hoạt động tài trợ XNK tại BIDV HCMC .............................32
2.2.5. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro đang áp dụng tại BIDV HCMC..........41
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XNK TẠI BIDV HCMC
................................................................................................................................. 47
2.3.1.Mặt được...............................................................................................................47
2.3.2 Tồntại...................................................................................................................47
2.3.3.Những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động tài trợ XNK của
BIDV HCMC.............................................................................................50
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIỂN TP HỒ CHÍ MINH............................................................................................57
3.1. Định hướng hoạt động tài trợ XNK của BIDV ......................................................57
3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển tài trợ XNK của BIDV HCMC trong giai
đoạn hiện nay..................................................................................................................57
3.2.1. Đối với Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP Hồ Chí Minh ....57
3.2.2 Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam .................................75
3.2.3. Giải pháp vĩ mô đối với Chính phủ và Ngân NNNN...............................76
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
XK : Xuất khẩu
NK : Nhập khẩu
XNK : Xuất nhập khẩu
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
CCS : Hoán đổi tiền tệ chéo
IRS : Hóan đổi lãi suất một đồng tiền
TCKT : Tổ chức kinh tế
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng nhà nước
BIDV : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
BIDV HCMC : Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí
Minh
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
STT Tên Bảng biểu Trang
DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 2.1: Tình hình nguồn vốn huy động giai đoạn 2007 - 2009 25
2 Bảng 2.2: Tỷ lệ tăng/ giảm nguồn vốn huy động 25
3 Bảng 2.3: Tình hình dư nợ của BIDV HCMC giai đoạn 2007- 2009 27
4 Bảng 2.4: Tăng/giảm dư nợ vay của BIDV HCMC giai đoạn 2007- 2009 27
5 Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV HCMC giai đoạn
2007- 2009
28
6 Bảng 2.6: Dư nợ tài trợ XNK so với dư nợ vay của BIDV HCMC 32
7 Bảng 2.7: Dư nợ tài trợ XNK so với dư nợ vay doanh nghiệp 32
8 Bảng 2.8: Dư nợ tài trợ XNK phân theo loại hình tài trợ 33
9 Bảng 2.9: Dư nợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 35
10 Bảng 2.10: Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 38
11 Bảng 2.11: Tình hình nợ quá hạn tài trợ xuất nhập khẩu 40
12 Bảng 2.12: Tình hình nợ xấu tài trợ xuất nhập khẩu 40
13 Bảng 2.13:Kết quả giao dịch phái sinh trong hoạt động tài trợ XNK 45
DANH MỤC HÌNH
14 Hình 2.1 : Dư nợ tài trợ XNK phân theo loại hình tài trợ 34
15 Hình 2.2: Dư nợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 36
16 Hình 2.3 : Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 38
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động thương mại quốc tế là xu hướng chung của các quốc gia, mang tính
tất yếu khách quan. Trong thời gian qua hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta
ngày càng phát triển.
Tài trợ xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng thương mại, không những đem lại hiệu quả kinh doanh
từ lãi vay mà còn thu được các phí dịch vụ từ hoạt động thanh toán quốc tế, mua
bán ngoại tệ.
Thời gian qua Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh đã
quan tâm đến việc phát triển hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu và bước đầu thu
được những thành quả nhất định. Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đã
được, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh cũng gặp phải
không ít khó khăn hạn chế cần phải khắc phục. Đây cũng là lý do tác giả lựa chọn
đề tài “Giải pháp mở rộng và phát triển tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của việc nghiên cứu là nhằm tìm ra những hạn chế tồn tại làm ảnh hưởng,
kiềm hãm sự phát triển của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển TP.Hồ Chí Minh, xác định nhữngnguyên nhân chính
tạo ra những hạn chế đó để từ đó đề ra giải pháp kiến nghị phù hợp giúp cho hoạt
động tài trợ xuất nhập khẩu của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP.
Hồ Chí Minh phát triển thuận lợi và hiệu quả hơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi
nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh. Luận văn nghiên cứu
những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến khả năng phát triển của việc tài trợ hoạt
động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Trên
cơ sở đó, xác định mối tương quan giữa các nhân tố quan trọng chủ yếu với
hiệu quả phát triển của hoạt động ngân hàng cũng như của các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu.
Dữ liệu sử dụng trong luận văn được trích dẫn từ các báo cáo tổng hợp và tình
hình hoạt động kinh doanh thực tế của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
TP. Hồ Chí Minh
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu trong việc thực hiện luận văn là: phương
pháp lý thuyết kết hợp với thực tiễn, phương pháp thống kê - phân tích
- tổng hợp, phương pháp so sánh.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngân hàng
thương mại, vì vậy việc hệ thống hoá các vấn đề lý luận và khảo sát thực tiễn
hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của một ngân hàng thương mại đặc thù không chỉ
có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động tài trợ xuất nhập
khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh mà còn có ý
nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động này tại các ngân hàng
thương mại cũng như có giá trị tham khảo tốt cho các nhà hoạch định chính sách,
các nhà quản lý nhằm nâng cao nâng cao chất lượng trong hoạt động của hệ
thống các ngân hàng thương mại.
Do hạn chế về thời gian, trình độ và kinh nghiệm, đề tài không thể đi sâu tìm hiểu,
khảo sát và phân tích hết các khía cạnh có liên quan đến quyền chọn. Mong rằng
đề tài này sẽ tiếp tục được nghiên cứu, khảo sát, kiểm chứng đầy đủ hơn và trên
cơ sở đó có thể củng cố hoặc bổ sung thêm các giải pháp, đề xuất nhằm đạt được
hiệu quã thiết thực và bền vững hơn.
6. Kết cấu nội dung luận văn
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1 : Những vần đề cơ bản về tài trợ xuất nhập khẩu
Chương 2 : Thực trạng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển TP.Hồ Chí Minh
Chương 3 : Các giải pháp nhằm mở rộng và phát triển hoạt động tài trợ xuất
nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh.
1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU
1.1. Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất nhập khẩu trở thành vấn đề quan trọng. Thị
trường thương mại thế giới mở rộng không ngừng, nhu cầu về thị trường tiêu thụ hàng hóa,
thị trường đầu tư đang trở thành nhu cầu cấp bách của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không phảilúc nào
cũng có đủ tiền để thanh toán hàng nhập khẩu hoặc có đủ vốn thu mua chế biến hàng xuất
khẩu, từ đó nảy sinh quan hệ vay mượn và sự giúp đỡ tài trợ của ngân hàng.
Quan hệ giao thương quốc tế đặt ra những vấn đề tế nhị, đôi khi phức tạp, nên những nghiệp
vụ thương mại đòi hỏi sự tham gia của ngân hàng. Ngân hàng đem lại cho cácnhà hoạt
động ngoại thương sự hiểu biết về kỹ thuật và chỗ dựa tài chính trong lĩnh vực quan trọng
này.
Có thể nói sự ra đời của tài trợ xuất nhập khẩu là một yêu cầu tất yếu khách quan, gắn liền
với các quan hệ mua bán ngoại thương giữa các nước với nhau.
Tài trợ xuất nhập khẩu tại các ngân hàng thương mại dựa vào 3 nguyên tắc cơ bản:
- Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi;
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích;
- Vốn vay phải có tài sản tương đương làm đảm bảo.
Cùng với sự phát triển của ngoại thương và hệ thống ngân hàng, hoạt động tài trợ xuất
nhập khẩu của ngân hàng phát triển ngày càng đa dạng và phong phú:
- Hình thức đơn giản đầu tiên là ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các đơn vị
nhập khẩu như cho vay để bổ sung vốn lưu động thu mua chế biến sản xuất hàng
xuất khẩu theo các hợp đồng đã được ký kết, cho vay để thanh toán các nguyên liệu,
hàng hóa, vật tự nhập từ nước ngoài;
- Từ hình thức cho vay ngắn hạn là chủ yếu, ngân hàng đã mở rộng cho vay trung
và dài hạn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu. Ngân hàng
cho vay để mua sắm máy móc thiết bị, cải tiến công nghệ, ứng dụng các
2
thành tựu khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực
cạnh tranh trên thị trường thế giới;
- Ngân hàng còn thực hiện cho vay gián tiếp, đứng ra bảo lãnh để vay vốn nước ngoài
cho các đơn vị xuất nhập khẩu, nhờ đó các doanh nghiệp có thể vay vốnmà
không cần phải thế chấp hay cầm cố tài sản, bảo lãnh mở L/C thanh toánhàng
nhập khẩu, bảo lãnh hối phiếu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, v.v …
Nếu doanh nghiệp có hối phiếu có thể đưa đến ngân hàng chiết khấu cũng như các chứng
từ thanh toán có giá trị khác. Ngân hàng có thể mua lại toàn bộ chứng từ và có quyền đòi
nhà nhập khẩu theo hối phiếu. Trường hợp nhà xuất khẩu có những hợp đồng xuất liên tục
và dài hạn theo định kỳ với điều kiện thanh toán trả chậm, nhưng có nhucầu vốn ngay,
nhà xuất khẩu bán các khỏan thanh toán chưa đến hạn cho ngân hàng.Khi đến hạn,
ngân hàng sẽ thu tiền từ nhà nhập khẩu, đây chính là hình thức tín dụngbao thanh toán.
1.2. Các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu
Xu hướng hiện nay là kinh tế quốc gia phải gắn liền với kinh tế thế giới, nên hoạt động
ngoại thương phát triển rất nhanh về số lượng lẫn quy mô, từ đó cần phải có sự tài trợ giúp
đỡ của ngân hàng về vốn, kỹ thuật thanh toán. Thông thường nghiệp vụ tài trợ xuất nhập
khẩu của ngân hàng thương mại gắn liền với nghiệp vụ thanh toán quốc tế, được thực hiện
qua hai loại hình chủ yếu:
- Tài trợ bằng cách cho vay.
- Tài trợ bằng cách bảo lãnh.
Các hình thức tài trợ cho vay được thực hiện cụ thể qua các nghiệp vụ sau:
1.2.1. Căn cứ vào phương thức thanh toán
1.2.1.1. Cho vay trong khuôn khổ phương thức thanh toán bằng L/C
a. Đối với L/C trong thanh toán hàng nhập khẩu:
Một nhà nhập khẩu đã ký hợp đồng ngoại thương với một công ty ở nước ngoài sẽ vấp phải
nhiều vấn đề. Trước khi tiến hành thanh toán nhà nhập khẩu muốn phải biết chắc chắn là
hàng hóa được giao phù hợp với các điều kiện của hợp đồng. Tương tự, nhà
3
xuất khẩu cũng không muốn rời hàng của họ ra thậm chí là tiến hành sản xuất trước khi
biết chắc chắn là sẽ được thanh toán tốt đẹp. Do đó nhà xuất khẩu sẽ muốn phòng ngừa
trước những rủi ro không được thanh toán có thể xảy ra do người mua mất khả năng thanh
toán hoặc từ chối nhận hàng. Trong trường hợp này thư tín dụng (L/C) sẽ đáp ứng nhu cầu
của cả hai bên với tư cách là một phương tiện thanh toán. Với những đảm bảo mà nó mang
lại cho mỗi bên, đảm bảo giao hàng đối với nhà nhập khẩu và đảm bảothanh toán đối
với nhà xuất khẩu, nên các bên có thể xin vay vốn phục vụ nhu cầu vốn của mình.
Đối với nhà nhập khẩu, mở L/C được xem là hình thức tài trợ của ngân hàng: mọi thư
tín dụng đều được mở theo đề nghị của nhà nhập khẩu. Khi ngân hàng đồng ý mở L/C
cho nhà nhập khẩu, có nghĩa là ngân hàng cam kết thanh toán cho người thụ hưởng lợi nếu
bộ chứng từ phù hợp với các điều khỏan của L/C. Ngân hàng sẽ gánh chịu rủi ronếu
như nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán, nhưng để đảm bảo uy tín củamình
ngân hàng mở L/C phải thanh toán cho phía nước ngoài, điều này có nghĩa là ngân hàng
mở L/C cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu. Do đó, trước khi mở L/C, ngân hàng phải kiểm
tra tình hình tài chính và khả năng thanh toán, hoạt động của nhà nhập khẩu …
– Ký quỹ L/C: Ký quỹ là một quy định của ngân hàng phát sinh trong trường hợp khách hàng
xin được mở L/C. Khách hàng sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định vào tàikhoản
của họ tại ngân hàng mà họ xin mở L/C và khoản tiền đó được phong tỏa cho đến khi
các nghĩa vụ liên quan đến L/C của ngân hàng chấm dứt. Thường khoản tiềnnày được
tính tỷ lệ với giá trị mà khách hàng xin mở L/C. Trong trường hợp thiếu sựtin cậy hoặc
hiệu quả thương vụ tiềm ẩn rủi ro cao, ngân hàng có thể yêu cầu kháchhàng ký quỹ
100% giá trị L/C. Việc ký quỹ có những ý nghĩa sau đây:
+ Ký quỹ nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng trong quá trình thực hiện mở L/C cho
khách hàng. Trong trường hợp ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ trả thay cho người
mở L/C, tiền ký quỹ sẽ được sử dụng trước để thanh toán cho người thụ hưởng L/C,
phần còn lại ngân hàng mới dùng vốn của mình thanh toán sau.
+ Ký quỹ nhằm khẳng định khách hàng có năng lực nhất định về vốn và ràng buộc
khách hàng làm tròn nghĩa vụ thanh toán.
4
Trong thực tế, các ngân hàng thường phân loại khách hàng của mình tùy theo tình hình tài
chính, khả năng thanh toán, quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng mà ngân hàngtài
trợ sẽ quyết định mức ký quỹ cao hay thấp.
– Cho vay thanh toán hàng nhập khẩu hoặc tài trợ thanh toán bộ chứng từ giao hàng:
Theo hình thức này, khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh doanh mang tính khả
thi cho lô hàng nhập về phục vụ sản xuất hoặc kinh doanh. Đồng thời, khách hàng phải
lên kế hoạch tài chính nhằm xác định khả năng thanh toán. Khi đến thời điểm thanh toán,
khoản thiếu hụt giữa số tiền phải thanh toán và vốn tự có tham gia là khỏan doanh nghiệp
cần ngân hàng tài trợ. Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch và phương án của khách
hàng ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức ngânhàng chấp nhận tài trợ.
Tất cả các công đoạn này phải thực hiện trước khi bộ chứng từ giao hàng của người xuất
khẩu về đến ngân hàng đứng ra tài trợ. Khi hàng hóa, bộ chứng từ về đến nơi, nhà nhập
khẩu có thể nhận được sự tài trợ của ngân hàng thông qua hình thức vay thanh toán L/C
trong trường hợp L/C trả ngay, hoặc ngân hàng thay mặt nhà nhập khẩu ký nhận thanh
toán trên hối phiếu trong trường hợp L/C trả chậm.
– Cho vay bắt buộc: Về nội dung cũng là cho vay thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Tuy
nhiên, tình trạng vay bắt buộc phát sinh khi người nhập khẩu không thanh toán hoặc không
tập trung đủ tiền để thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Ngân hàng khi đó sẽ cho vay trên
giá trị tiền hàng còn thiếu để thanh toán đúng hạn cho ngân hàng nước ngoài. Nhà nhập
khẩu nên tránh tình trạng phát sinh nợ vay bắt buộc do họ sẽ phải chịu lãisuất vay cho
khoản tiền này tương ứng lãi suất vay bắt buộc là nợ quá hạn. Hơn nữa, thời gian vay
bắt buộc thường không quá 30 ngày kể từ ngày ngân hàng trả thay, áplực thanh toán
nợ vay cho ngân hàng rất lớn.
b. Đối với L/C trong thanh toán hàng xuất khẩu: được thể hiện qua các hình thức:
– Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở:
Thư tín dụng không những là một công cụ đảm bảo thanh toán mà còn là một công cụ
tín dụng. Khi nhận L/C do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà nhập
khẩu, thì nhà xuất khẩu được đảm bảo thanh toán sau khi giao hàng nếu xuất trình bộ chứng
từ hợp lý phù hợp với điều kiện đã ghi trong L/C. Nhà xuất khẩu còn có thể dựa vào đó để
nhờ ngân hàng phục vụ mình cấp một khoản tín dụng để thực hiện xuất hàng
5
theo L/C quy định, từ đó có thể khẳng định là L/C phục vụ cho nhiều mối liên quan như
là phương tiện trong lĩnh vực cho vay hàng xuất. Trên cơ sở L/C đã được chấp nhận
ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu để tiếp tực sản xuất, nghĩa là sẵn sàng
chấp nhập chiết khấu các hối chiếu của L/C này.
Đối với L/C trả chậm cũng được sử dụng như một phương tiện đi vay. Nhà xuất khẩucó
thể nhận được tiền dưới dạng tín dụng chuyển nhượng toàn bộ quyền thụ hưởng L/C cho
ngân hàng vay vốn, đặc biệt thuận lợi hơn khi đó là một L/C trả chậm có xác nhận.
– Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước chứng từ hàng xuất khẩu:
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể thương lượng
với ngân hàng, thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền khi bộ chứng từ được
thanh toán. Như vậy, đối với nhà xuất khẩu, L/C không những là công cụ đảm bảo thanh
toán mà còn là công cụ đảm bảo tín dụng.
Chiết khấu toàn bộ chứng từ xuất khẩu là hình thức ngân hàng tài trợ nhà xuất khẩu thông
qua việc mua lại hoặc cho vay trên cơ sở giá trị bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo được người
xuất khẩu trình. Có 2 hình thức chiết khấu:
+ Chiết khấu miễn truy đòi (chiết khấu đóng): ngân hàng mua lại bộ chứng từ xuất khẩu
hoàn hảo của người xuất khẩu. Giá mua sẽ thấp hơn giá trị bộ chứng từ, do ngân
hàng tính trừ lại phí chiết khấu và thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền người
nhập khẩu nước ngoài. Chiết khấu miễn truy đòi có nghĩa là người xuấtkhẩu
bán hẳn bộ chứng từ cho ngân hàng, nhận tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả,
trách nhiệm thu tiền và quyền sử dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân
hàng.
+ Chiết khấu được phép truy đòi (chiết khấu mở): ngân hàng thực hiện việc cho
vay trên cơ sở người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo. Thời gian cho vay
được tính bằng thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền người nhập khẩu nước
ngoài. Khi đó, trách nhiệm người xuất khẩu vẫn còn cho đến khi ngân hàng đòi
được tiền từ người nhập khẩu. Khi chiết khấu được tính dưới hình thức lãichiết
khấu, tính theo ngày và mức phí dĩ nhiên thấp hơn trong trường hợp chiết khấu miễn
truy đòi vì rủi ro ngân hàng phải chịu thấp hơn trong trường hợp trên.
6
Tác dụng hoạt động chiết khấu của ngân hàng nhằm tài trợ vốn lưu động cho người
xuất khẩu để đảm bảo sản xuất kinh doanh liên tực, không bị gián đoạn trong thời gian
chờ người nhập khẩu nước ngoài thanh toán tiền hàng.
- Tín dụng ứng trước tiền trước khi bộ chứng từ được thanh toán: đó là việc tạm ứng cho
quyền hưởng thanh toán trong khuôn khổ thanh toán tín dụng chứng từ. Thời gian chờ
thanh toán là một quá trình khá dài, nên nhà xuất khẩu cũng cần một khoản tài trợ của
ngân hàng, đó là khoản tín dụng ứng trước. Đối với tín dụng ứng trướcloại này,
những giấy tờ có giá theo lệnh (order papers) hoặc những giấy tờ chính như vận đơn,
hóa đơn thương mại, hợp đồng bảo hiểm… đều là những vật thế chấp cho ngân hàng,
do đó, tất cả những giấy tờ có giá theo lệnh đều phải có mệnh đề chuyển nhượng khống
(blank endorsement) hoặc chuyển nhượng cho ngân hàng cấp tín dụng ứng trước. Mức
độ cấp vốn ứng trước phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Khả năng thanh toán của nhà xuất khẩu;
+ Khả năng cạnh tranh của hàng hóa và giá trị của hàng hóa dự kiến;
+ Chính sách kinh tế và chính sách chính trị của nước nhập khẩu đối với ngân hàng
nhà xuất khẩu;
+ Những rủi ro về tỷ giá hối đoái (đối với ngân hàng nhà nhập khẩu);
- Tín dụng ứng trước dưới hình thức mua lại bộ chứng từ thanh toán: Sau khi hoàn tất
nghĩa vụ xuất chuyển hàng hóa cho người mua, người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh
toán (bao gồm các chứng từ liên quan tới hàng hóa và hối phiếu thương mại), lúc này
người xuất khẩu có toàn quyền sở hữu bộ chứng từ thanh toán này. Đồng thời ở họ
lại xuất hiện nhu cầu bù đắp vốn để tiếp tục quá trình kinh doanh trong khoảng thời
gian xuất chuyển hàng hóa đến khi nhà nhập khẩu chấp nhận bộ chứng từ và đồng ý
trả tiền. Trong trường hợp như vậy, nhà xuất khẩu có thể đem bán bộ chứng từ thanh
toán này cho ngân hàng. Việc ngân hàng mua bộ chứng từ thanh toán này tức là đã
chấp nhận cấp một khoản tín dụng cho người xuất khẩu.
Trị giá khoản tín dụng ứng trước này phụ thuộc vào trị giá bộ chứng từ, loại hàng hóa
mua bán thể hiện trên chứng từ, các chi phí theo quy định và khả năng thanhtoán
tiền trên bộ chứng từ của người mua. Thông thường các ngân hàng mua với giá khoảng
70 – 90% trị giá toàn bộ chứng từ.
7
Ngân hàng vẫn có quyền truy đòi đối với người xuất khẩu, khi bộ chứng từ gởi đi không
thu được tiền. Tuy nhiên, sẽ có thể hạn chế rủi ro tốt hơn, trong trường hợp ngân hàng
mua lại bộ chứng tư được lập ra trên cơ sở yêu cầu của một thư tín dụng.
1.2.1.2. Cho vay trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ
So với tín dụng chứng từ, nhờ thu ít được sử dụng trong thanh toán vì đây là phương
thức thanh toán có lợi cho bên mua, thường được áp dụng khi hai bên quen biết tin
tưởng nhau. Từ lúc gởi các chứng từ tới ngân hàng (ngân hàng bên nhà xuất khẩu)
cho tới khi xuất trình với người thanh toán có thể mất một khoảng thời gian nhất
định. Tài trợ của ngân hàng trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ có thể hiện như
sau:
- Nhờ thu đến trong thanh toán hàng nhập khẩu: ngân hàng tiếp nhận chứng từ từ
ngân hàng nước ngoài, xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà nhập khẩu. Nếu nhà nhập khẩu
không đủ khả năng thanh toán, thì cần phải có sự tài trợ của ngân hàng cho vay thanh
toán hàng nhập khẩu.
- Nhờ thu đi trong thanh toán hàng xuất khẩu: tương tự như phương thức tín dụng chứng
từ, ngân hàng có thể cho vay thu mua, sản xuất hàng xuất khẩu, chiết khấuđược
ứng trước bộ chứng từ hàng xuất khẩu.
Nhà xuất khẩu có thể chuyển nhượng quyền lợi này tự sự ủy nhiệm cho ngân hàng thu
chứng từ. Nhưng giá trị của sự chuyển nhượng này phụ thuộc rất lớn vào khả năng
thanh toán của người vay vì không có sự đảm bảo chắc chắn rằng các chứng từ của
người phải thanh toán (người tiêu thụ hàng hóa) được chấp nhận và vào giá trị hàng
hóa được thanh toán. Nếu nhà nhập khẩu được giao các chứng từ khi chấpnhận
một hối phiếu đòi nợ, thì có thể kèm theo việc chiết khấu hối phiếu ở ngân hàng nhà
xuất khẩu cũng như ngân hàng nhà nhập khẩu.
1.2.2. Cho vay trên cơ sở hối phiếu
Trong hoạt động tài trợ thương mại có những hình thức tài trợ quan trọng được xây
dựng hoặc là trên cơ sở hối phiếu hay phụ thuộc vào việc tất toán hối phiếu, đó là:
a- Tài trợ chiết khấu;
b- Tài trợ chấp nhận hối phiếu;
8
c- Tài trợ bao nợ chấp phiếu;
d- Cấp tài chính hối phiếu tự nhận nợ (Promissory notes);
e- Chấp phiếu ngân hàng (Bankers’ Acceptances);
f- Bao toàn bộ thanh toán.
Tất cả những hình thức tài trợ hối phiếu từ a) tới e) trên là những hình thức tài chính
ngắn hạn. Riêng hình thức bao thanh toán được xếp vào hình thức tài trợ thương mại trung
và dài hạn.
1.2.2.1. Chiết khấu hối phiếu
Tài trợ chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ tài trợ ngắn hạn được thực hiện dưới hình
thức khách hàng chuyển quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để
nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí
chiết khấu. Thực chất của hình thức này là ngân hàng tiến hành mua lại các hối phiếu
thương mại đang trong thời kỳ chưa đến hạn thanh toán.
Thông qua loại hình tài trợ này, ngân hàng cung ứng một khoản vốn cho các nhà xuất khẩu
để họ có điều kiện tiếp tục quá trình tái sản xuất. Đây chính là khoản vốn mà nhà sản xuất
cần bù đắp, vì trước đó họ đã cung ứng khoản tài trợ thương mại (bán chịuhàng hóa)
cho nhà nhập khẩu.
Nét đặc trưng nhất của nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu là ngân hàng sẽ khấu trừ tiền
lãi ngay khi chiết khấu và chỉ chuyển cho khách hàng số tiền còn lại. Các ngân hàng sẽ
xác định khối lượng tín dụng cấp ra (giá trị chiết khấu) căn cứ vào mệnh giá của hối
phiếu được áp dụng làm đối tượng chiết khấu trừ đi lợi tức chiết khấu và lệ phí nhờ thu
mà ngân hàng chiết khấu hưởng. Phương thức tính tiền chiết khấu xác định như sau:
Giá trị thanh toán cho người xin chiết khấu = Trị giá chứng từ – Mức chiết khấu
Trong đó :
 Trị giá chứng từ = Mệnh giá + Lãi hưởng định kỳ.
 Lãi hưởng định kỳ = Mệnh giá x % Lãi suất được hưởng định kỳ.
 Hoa hồng phí = Mệnh giá x % tỷ lệ hoa hồng.
 Lãi chiết khấu = ( Trị giá CK x Lãi CK %/năm x số ngày nhận CK )/ 365.
9
Khi kết thúc thời hạn chiết khấu, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người có nhiệm vụ trả tiền hối
phiếu. Thông thường, trong nghiệp vụ chiết khấu, các ngân hàng có thể gặp rủi ro
trong các trường hợp sau:
- Người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu từ chối việc trả tiền hoặc không có khả năng
thanh toán kịp thời khi hối phiếu đến hạn;
- Chiết khấu những hối phiếu không hợp lệ (được thành lập không trên cơ sở hành vi
thương mại).
Vì thế khi thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng phải xem xét một cách thận trọng
để hạn chế rủi ro có thể xảy ra.
1.2.2.2. Chấp nhận hối phiếu
Chấp nhận hối phiếu là một nghiệp vụ thông thường trong quá trình lưu thông hối
phiếu. Trong thời hạn quy định, bên bán phải xuất trình cho bên mua để họ ký chấp nhận
trả tiền hối phiếu. Hối phiếu chỉ có thể lưu thông dễ dàng khi nó đã được ký chấp nhận trả
tiền khi đến hạn.
Tài trợ chấp nhận hối phiếu là khoản tài trợ mà ngân hàng ký chấp nhận hối phiếu.
Người vay chính là nhà nhập khẩu và khoản vay chỉ là một hình thức, một sự đảm bảo về
tài chính, thực chất ngân hàng chưa phải xuất tiền thực sự cho người vay. Tuy nhiên, khi
đến hạn nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán, thì người cho vay (ngân hàng),
người đứng ra chấp nhận hối phiếu phải trả nợ thay.
Đối với ngân hàng, kể từ khi ký chấp nhận trả tiền hối phiếu cũng chính là thời điểm bắt
đầu gánh chịu rủi ro, nếu như bên mua không có tiền thanh toán cho bên bán khi hối phiếu
đến hạn thanh toán.
Đương nhiên, nếu đến thời hạn thanh toán hối phiếu mà bên mua có đủ tiền, thì ngân
hàng thực sự không phải ứng tiền ra, như vậy khoản tài trợ này chỉ là hình thức, là một
sự đảm bảo về tài chính. Trong thường hợp này, ngân hàng chỉ sẽ nhận được một khoản
phí chấp nhận, khoản tiền bù đắp cho chi phí gánh chịu rủi ro tín dụng mà thôi.
1.2.3. Căn cứ vào thời hạn cho vay
10
1.2.3.1. Tài trợ ngắn hạn
Tài trợ ngắn hạn là loại tài trợ có thời hạn dưới 1 năm, thường được sử dụng cho vay bổ
sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh của các đơn vị, chiếm tỷ trọng lớn tại
các ngân hàng cho vay để nhập khẩu nguyên liệu, vật tư máy móc thiết bị, để sản xuất, chế
biến hàng xuất khẩu.
1.2.3.2. Tài trợ trung và dài hạn
Thời hạn của tài trợ trung, dài hạn tùy theo quy định của mỗi nước. Ở Việt Nam, tài trợ
trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, tài trợ dài hạn từ 5 năm trở lên. Hình thức tài
trợ này được cung cấp để đầu tư, mua sắm tài sản cố định, xây dựng mới, cải tạo, mở rộng
khôi phục, cải tiến kỹ thuật, hiện đại hóa công nghệ.
1.2.4. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
1.2.4.1. Tài trợ có đảm bảo
Đây là hình thức tài trợ nhằm đảm bảo an toàn vốn cho vay của ngân hàng. Các doanh
nghiệp muốn được vay vốn của ngân hàng phải có vật tư, tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh
của người thứ ba đối với khoản cho vay. Những tài sản này là cơ sở đảm bảo cho ngân
hàng có khả năng thu hồi vốn cho vay trong trường hợp doanh nghiệp không trả được nợ.
Có nhiều loại bảo đảm cho một khoản vay ngân hàng, tuy nhiên có 3 yêu cầu đối với bất
cứ loại bảo đảm nào để được ngân hàng chấp nhận: a) dễ được định giá; b) dễ cho ngân
hàng quyền được sử hữu hợp pháp; c) dễ tiêu thụ hay thuận lợi. Khi chovay có tài sản
bảo đảm, không bao giờ nên coi đó là nguồn trả nợ, mà chỉ là cái gì đó để dựa vào khi
nguồn trả nợ dự kiến không thành.
1.2.4.2.Tài trợ không đảm bảo
Đây là hình thức ngân hàng cho vay mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo
lãnh của một người thứ ba. Cơ sở để cho vay chỉ dựa vào uy tín, quy mô, hiệu quả kinh
doanh, hiệu quả của phương án và có quan hệ thường xuyên tốt đẹp với ngân hàng.
1.2.5. Một số hình thức tài trợ xuất nhập khẩu khác
1.2.5.1. Bao thanh toán (Factoring hay affacturage)
11
Đây là hình thức tài trợ đặc biệt dành cho xuất khẩu, ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính
sẽ mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán để trở thành chủ
nợ trực tiếp đứng ra đòi nợ nhà nhập khẩu ở nước ngoài. Hiện nay trên thế giới, nghiệp vụ
bao thanh toán được thực hiện tại các ngân hàng hoặc thành lập ra côngty riêng gọi là
công ty Factoring chuyên mua lại các khoản nợ. Các công ty này phát triển rất mạnh,
doanh số cao.
Bao thanh toán là việc mua các khoản Có phải đòi chưa tới hạn thanh toán phát sinh từ
hoạt động cung ứng hàng hóa và dịch vụ nhưng không được phép truy hoàn những chủ
cũ – của các khoản Có này. Thông thường, ta gọi người bán khoản Có phải đòi này là người
nhượng và người mua là người bao thanh toán.
Trên cơ sở hợp đồng bao toàn bộ thanh toán giữa nhà xuất khẩu và người bao các khoản
Có phải đòi, người xuất khẩu sẽ chuyển giao hối phiếu cho người mua khoản Có phải
đòi này. Hợp đồng bao thanh toán có thể có một ý nghĩa đặc biệt, nó là một cơ sở pháp
lý được phép áp dụng cho khoản Có phải đòi đã được nhượng bán, chỉ như vậy mới có
thể giải quyết được những vướng mắc về luật nước ngoài và những tranh chấp có thể
phát sinh theo luật quốc gia. Hối phiếu tự nhận nợ phù hợp một cách đặc biệt đối với hình
thức bao toàn bộ thanh toán.
Tùy theo tính chất hoàn hảo của chứng từ, tình hình tài chính và khả năng thanh toáncủa
người mắc nợ mà ngân hàng quyết định tỷ lệ mua nợ cao hay thấp đối với nhà xuất khẩu.
Có hai loại:
- Factoring tương đối: là ngân hàng, công ty Factoring sẽ thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu,
nhưng với thỏa thuận là nhà xuất khẩu vẫn chịu trách nhiệm rủi ro nếu nhà nhập khẩu
không trả tiền.
- Factoring tuyệt đối: ngân hàng hoặc công ty Factoring gánh chịu mọi rủi ro nếu như nhà
nhập khẩu không trả tiền.
Factoring giúp nhà xuất khẩu có vốn ngay để tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình
dù bán thu tiền ngay hay bán chịu, đồng thời giúp nhà xuất khẩu không phải bận tâm
vào việc quản lý thanh toán phức tạp kéo dài thời gian. Vì vậy nhà xuất khẩu phải trả
một khoản phí khá cao khi bao thanh toán.
12
1.2.5.2. Tài trợ thuê mua (Leasing)
Tài trợ thuê mua là hình thức cam kết giữa người cho thuê và người đi thuê để thuê một tài
sản nhất định do người thuê chọn lựa từ nhà sản xuất hay người bán, được quyền sử dụng
tài sản này trong khoản thời gian nhất định và phải trả dần tiền từng kỳ hạn theo hợp đồng
thuê mua. Khi kết thúc hợp đồng, người đi thuê được quyền chọn mua tài sản cho thuê
theo giá cả ấn định. Người cho thuê thường là ngân hàng, công ty tài chính,công ty
thuê mua. Đây là hình thức tài trợ trung dài hạn mặc dù mua hàng theo phương thức này
sẽ đắt hơn so với trả tiền ngay, nhưng tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ,
máy móc, thiết bị mà không phải trả tiền ngay.
1.2.6. Bảo lãnh và tái bảo lãnh
Trong thương mại quốc tế, rủi ro là một yếu tố luôn luôn xuất hiện trong các thương vụ
khác nhau (rủi ro thanh toán, rủi ro không thực hiện hợp đồng …). Từ đó nảy sinh nhu cầu
bảo lãnh để hạn chế những rủi ro.
Trong mua bán quốc tế, đôi khi nhà xuất khẩu không nắm chắc được khả năng tài chính và
mức độ tín nhiệm của nhà nhập khẩu, do vậy nhà xuất khẩu sẽ yêu cầu nhà nhập khẩu
phải có một tổ chức, thường là ngân hàng, đứng ra bảo lãnh thanh toán; Ngược lại, do
không biết rõ hoặc không tin tưởng nhau, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu bên xuấtkhẩu
có ngân hàng đứng ra bảo lãnh giao hàng hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Ngân hàng nhận bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng, dùng để vay vốn nước ngoài dưới
hình thức tín dụng thương mại hoặc tín dụng tài chính … Trách nhiệm của ngân hàng bảo
lãnh là đảm bảo thi hành đúng cam kết với nước ngoài trong trường hợpngười xin
bảo lãnh không thực hiện đầy đủ một nghiệp vụ nào đó với bên nước ngoài.
Bảo lãnh cũng có nhiều hình thức khác nhau:
- Mở thư tín dụng trả chậm;
- Ký bảo lãnh hay ký chấp nhận trên các hối phiếu;
- Phát hành thu bảo lãnh với nước ngoài;
- Lập giấy cam kết trả nợ với nước ngoài;
Đối với tái bảo lãnh thì phát hành thư bảo lãnh với nước ngoài.
Các lợi thế của các bên liên quan trong nghiệp vụ này:
13
- Đối với nhà nhập khẩu (bên được bảo lãnh): được hưởng một khoản vốn của bên xuất khẩu
mà không phải trả lãi (thực chất có thể giá bán đã tính lãi rồi), chỉ trả một khoảnphí cho
người bảo lãnh.
- Đối với nhà xuất khẩu: hoàn toàn yên tâm rằng đến hạn sẽ được thanh toán nợ. Nếu cần
tiền, nhà xuất khẩu cũng có thể đem bộ chứng từ chiết khấu tại một ngân hàng khác để đáp
ứng nhu cầu vốn của mình.
- Đối với ngân hàng bảo lãnh: với bất cứ ngân hàng nào, khi tiến hành bảo lãnh, nghĩa là
đã được sự tín nhiệm, được sự tin tưởng về uy tín của bên xuất khẩu, bên nhập khẩu. Khi
bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chỉ cho vay trừu tượng, nghĩa là ngân hàng không bỏ
ra một khoản vốn nào cả, mà chỉ lấy uy tín, danh dự của ngân hàng ra chovay, làm cơ
sở cho vay.
Thủ tục bảo lãnh cho vay ngắn hạn theo phương thức cho vay thông thường, nghĩa là
kho bảo lãnh cho khách hàng thì khách hàng phải có mục đích xin vay, có khả năng
thanh toán và có tài sản thế chấp. Khi đến hạn, nếu nhà nhập khẩu không có khả năng thanh
toán, thì phải làm thủ tục vay lãi tại ngân hàng. Như vậy mục đích bảo lãnh đãđược
thực hiện, nghĩa là ngân hàng bảo lãnh muốn khách hàng của mình vay, nhằm thu thêm
được một khoản lãi, có khách hàng mới về mặt tín dụng và chi phí bảo lãnh.
1.3. Vai trò của các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất nhập khẩu trở thành vấn đề quan trọng. Thị
trường thương mại thế giới mở rộng không ngừng, nhu cầu về thị trường tiêu thụ hàng hóa,
thị trường đầu tư đang trở thành nhu cầu cấp bách. Hoạt động xuất nhập khẩu làmột
lĩnh vực gồm nhiều mặt phức tạp, đòi hỏi sử dụng các kỹ thuật đặc thù về thương mại
quốc tế như tín dụng chứng từ… nhằm bảo vệ quyền lợi của người bán đối vớingười
mua cách xa nhau bởi những đường biên giới, những hàng rào ngôn ngữ, những phong tục
tập quán,…Mặt khác, do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
không phải lúc nào cũng có đủ tiền để thanh toán hàng nhập khẩu hoặc có đủ vốn để thu
mua chế biến hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh quan hệ vay mượn và sự giúpđỡ tài trợ
của Ngân hàng. Có thể nói sự ra đời của tín dụng xuất nhập khẩu là một yêu
14
cầu tất yếu khách quan, gắn liền với các quan hệ mua bán ngoại thương giữa các nước
với nhau.
Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng
đối với chính bản thân ngân hàng và doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Cụ thể:
1.3.1. Đối với ngân hàng thương mại
- Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại có kỳ hạn gắn liền
với thời gian thực hiện thương vụ. Thời gian thực hiện thương vụ đối với người xuất
khẩu là thời gian kể từ lúc gom hàng, xuất đi cho đến lúc nhận được tiền thanh toán
của người mua. Đối với người nhập khẩu, thời gian này kể từ lúc nhận hàng tại
cảng cho đến khi bán hết hàng và thu tiền về. Kỳ hạn tài trợthường ngắn phù
hợp với kỳ hạn huy động vốn của các ngân hàng thương mại thường là dưới 1 năm.
Điều này giúp ngân hàng tránh được rủi ro về thanh khoản.
- Đồng vốn tài trợ trong hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu gắn liền với thương vụ
và trong nhiều trường hợp, vốn tài trợ được thanh toán thẳng cho bên thứ ba mà
không qua bên xin tài trợ như thanh toán tiền hàng nhập khẩu, thanh toán tiền
nguyên vật liệu cho các đại lý gom hàng cho người xuất khẩu… Việc làm này tránh
được tình trạng sử dụng vốn sai mục đích của bên được tài trợ và góp phần hạn chế
rủi ro tín dụng.
- Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu còn nâng cao tính an toàn cho ngân hàng thông
qua việc quản lý các nguồn thu thanh toán. Đối với người xuất khẩu, khi ngân hàng
chuyển bộ chứng từ giao hàng để đòi tiền, người nhập khẩu nướcngoài đã chỉ định
việc thanh toán tiền hàng phải thông qua tài khoản của người xuất khẩu mở tại ngân
hàng. Đối với người nhập khẩu, trong trường hợp có tài trợ, ngân hàng sẽ buộc
người nhập khẩu tập trung tiền bán hàng vào tài khoảnmở tại ngân hàng do vậy
nguồn thu để trả các khoản tài trợ được ngân hàng quản lý hết sức chặt chẽ, tránh
được tình trạng xoay vốn của doanh nghiệp trong thời gian vốn tạm thời nhàn rỗi,
dễ xảy ra rủi ro.
- Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu mang lại hiệu quả cho ngân hàng thông qua việc
thu lãi vay, lãi chiết khấu chứng từ, thu phí dịch vụ… Ngoài ra, thông qua
15
tài trợ xuất nhập khẩu, ngân hàng còn mở rộng được quan hệ với các doanh
nghiệp và ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín ngân hàng trên trường quốc tế.
1.3.2. Đối với doanh nghiệp
- Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng giúp doanh nghiệp thực hiện được những
thương vụ lớn: có những thương vụ trong ngoại thương đòi hỏi nguồn vốn rất
lớn để thanh toán tiền hàng. Do đặc điểm của vận chuyển hàng hải, các mặt hàng
thiết yếu như phân bón, sắt thép, gạo, bột mì … thường hai bên mua bán với số
lượng nguyên tàu hàng (từ 10.000 đến 20.000 tấn) nhằm tiết kiệm chi phí vận
chuyển, thuận lợi trong công tác giao nhận nên kéo theo giá trị lô hàng cũng rất lớn.
Trong trường hợp này, vốn lưu động của doanh nghiệp không đủ để chuẩnbị
hàng xuất hoặc thanh toán tiền hàng. Tài trợ ngân hàng cho xuất nhập khẩu là giải
pháp giúp doanh nghiệp thực hiện được những hợp đồng dạng này.
- Trong quá trình đàm phán, thương lượng, ký kết hợp đồng ngoại thương, nếu doanh
nghiệp trước đó đã thông qua ngân hàng về việc tài trợ và thanh toán quốc tế, có
nghĩa là doanh nghiệp đã xác định ngân hàng phục vụ mình, thì sẽ tạođược lợi
thế trong quá trình này. Vì hợp đồng ngoại thương được thực hiện thông qua ngân
hàng phục vụ người mua và người bán, đã thỏa thuận trước với ngân hàng nghĩa là
doanh nghiệp đã xác định được năng lực thực hiện hợp đồng. Điều này có ý nghĩa
quan trọng trong tiến trình thương lượng, đàm phán.
- Tài trợ xuất nhập khẩu làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thực
hiện hợp đồng: thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh nghiệp nhận được vốn để
thực hiện thương vụ. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp
thu mua hàng đúng thời vụ, gia công chế biến và giao hàng đúng thời điểm. Đối
với doanh nghiệp nhập khẩu, vốn tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp mua được
những lô hàng lớn, giá hạ. Cả hai trường hợp đều giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả
cao khi thực hiện thương vụ.
- Tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế:
thông qua tài trợ ngân hàng doanh nghiệp thực hiện được những thương vụ lớn trôi
chảy, quan hệ được với khách hàng tầm cỡ thế giới, từ đó nâng cao uy tíncủa
doanh nghiệp trên thị trường.
16
- Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển,
tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm động cơ thúc đẩy nền kinh tế phát triển:
thông qua tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng, doanh nghiệp có điều kiện thay đổi
dây chuyền công nghệ máy móc thiết bị nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá
thành sản phẩm. Sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng đã tác động đến sự phát
triển của nền kinh tế nói chung.
1.3.3. Đối với nền kinh tế đất nước
- Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho hàng hóa
xuất nhập khẩu lưu thông trôi chảy: thông qua tài trợ của ngân hàng, hàng hóa xuất
nhập theo yêu cầu của thị trường được thực hiện thường xuyên, liên tục góp phần
tăng tính năng động của nên kinh tế, ổn định thị trường.
- Các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều là những nhân
tố kinh tế quan trọng của đất nước. Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu mà các ngân
hàng thương mại cung cấp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể được xem
như mối quan hệ cộng sinh, hỗ trợ để cùng phát triển. Các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu cần vốn và vai trò cầu nối của ngân hàng để mở rộng đầu tư, phát triển sản
xuất kinh doanh. Các ngân hàng thương mại cũng cần có các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu như là những khách hàng tốt, tiềm năng để phát triển hoạt động kinh
doanh của mình, làm cho những đồng vốn nhàn rỗi trong xã hội có thể sinh lợi. Xét
trên tổng thể nền kinh tế thì hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của các ngân hàng
thương mại sẽ góp phần giúp cho nền sản xuất trong nước phát triển, tạo thêm việc
làm cho xã hội, tăng thu ngân sách cho nhà nước, tăng trưởng GDP, tăng thu ngoại
tệ để đầu tư máy móc thiết bị công nghệ hiệnđại tiên tiến, tạo ra các tiền đề cần
thiết để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế đất nước.
1.4.Các rủi ro và biện pháp ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu
Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là việc ngân hàng cấp tín dụng cho các khách hàng
xuất nhập khẩu. Hoạt động thanh tóan quốc tế là hoạt động cung ứng dịch vụ thanh tóan
17
cho các giao dịch xuất nhập khẩu. Tuy nhiên về bản chất, khi thực hiện một số phương
thức thanh toán quốc tế là ngân hàng đã cấp tín dụng cho khách hàng. Ví dụ:
 Khi thực hiện mở thư tín dụng: là ngân hàng đã thay mặt người mua đứng ra cam
kết cho người bán khi đáp ứng được yêu cầu về chứng từ theo qui định của LC
 Khi thực hiện chiết khấu bộ chứngtừ xuất khẩu: là ngân hàng đã cho khách hàng
vay trên cơ sở đảm bảo bằng quyền đòi tiền của bộ chứng từ.
Do vậy, hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu và hoạt động thanh toán quốc tế của ngân
hàng có những mối quan hệ hữu cơ hết sức gắn bó với nhau, sự phát triển của hoạt động
này sẽ là tiền đề, nền tảng và bổ sung cho sự phát triển của hoạt động kia và ngược lại.
Để tăng hiệu quả của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, ngoài những rủi ro trong hoạt
động cho vay thông thường, còn có những rủi ro đặc thù trong hoạt động này.
1.4.1 Đặc thù trong hoạt động ngoại thương
- Người mua và người bán thường ở những quốc gia khác nhau nên hàng hóa phải
di chuyển qua biên giới quốc gia.
- Sự dịch chuyển giữa luồng tiền thanh toán và hàng hoá là không đồng nhất
- Liên quan đến các đồng tiền khác nhau, nên dẫn đến việc phải mua bán chuyển
đổi tiền tệ
- Việc mua bán mang tính chất quốc tế, do vậy áp dụng các phương thức thanh
tóan quốc tế
- Giao dịch phải tuân thủ luật lệ và thông lệ quốc tế , tuy nhiên không loại trừ
những đặc điểm luật lệ mang tính quốc gia đòi hỏi nhà kinh doanh phải nắm biết
được.
1.4.2 Những rủi ro đặc thù trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu
- Rủi ro đối tác: Người mua người bán thông thường không ở trong cũng một lãnh
thổ và nhiều trường hợp là không hiểu biết nhau. Trong nhiều trường hợp sẽ có thể
dẫn đến rủi ro do lừa đảo từ phía đối tác. Trong giao dịch tài trợ xuất khẩu,đối
tác nhập khẩu lừa đảo bằng cách nhận hàng mà không thanh tóan hoặc cốtình
từ chối thanh tóan, Trong giao dịch tài trợ nhập khẩu có thể gặp lừa đảo từ
18
người xuất khẩu xuất trình chứng từ hoàn hảo nhưng không có hàng hóa gửi cho
người nhập khẩu…
- Rủi ro thị trường: Thay đổi giá cả hàng hoá trong nước hoặc trên thị trường quốc
tế, người mua không muốn bán hoặc người bán không muốn nhận hàng. Đồng
thời những chính sách của quốc gia nhập khẩu hoặc xuất khẩu thay đổi sẽ ảnh hưởng
đến người mua hoặc người bán trong giao dịch.
- Rủi ro vận tải : Hàng hóa có sự di chuyển từ quốc gia này đến quốc gia khác nên
cần vận chuyển qua đường biển, đường hàng không hoặc được bộ. Như vậy có thể
xảy ra những rủi ro về hàng hóa nằm ngoài phạm vi kiểm soát của người bán và
người mua. Hàng hóa trên đường vận chuyển có thể gặp rủi ro mất mát, hư hỏng,
hao hụt…
- Rủi ro ngoại hối : Việc thanh tóan liên quan đến các đồng tiền khác với đồng bản
tệ nêncó thể gặp rủi ro về tỷ giá do biến động tại thời điểm thanh toán so với thời
điểm ký hợp đồng. Đồng thời nếu ngoại tệ do ngân hàng cho vay tài trợ khác với
ngoại tệ được qui định là đồng tiền thanh tóan trong hợp đồng ngoại thương của
khách hàng, cũng có thể rủi ro khi tỷ giá biến động .
- Rủi ro về thanh toán : Lựa chọn hình thức thanh toán không phù hợp, hoặc có những
điều khoản trong phương thức thanh tóan không bảo vệ được quyền lợi khách hàng
của mình vídụ Mở thư tín dụng xác nhận, cho phép đòi tiền điện... Đồng thời
mỗiphương thức thanh toán quốc tế có một đặc điểm riêng có lợi hoặc không có lợi
cho người mua và người bán, cụ thể:
Người mua ( người nhập khẩu)
An toàn   Rủi ro
Chuyển tiền
trả sau
Nhờ thu DA Nhờ thu DP Tín dụng
chứng từ
Chuyển tiền
trả trước
Người bán ( người xuất khẩu)
Rủi ro An toàn
19
1.5. Giới thiệu về một số hình thức tài trợ ngoại thương của quốc gia khác
Chính sách tín dụng ưu đãi đã được các nước rất coi trọng. Nhiều nước đã thành lập những
ngân hàng chuyên doanh phục vụ xuất nhập khẩu, thông qua đó áp dụng những biện pháp
đặc biệt để hỗ trợ xuất nhập khẩu, đặc biệt là hỗ trợ những ngành xuất khẩu mũi nhọn.
Trong từng thời điểm, giai đoạn khác nhau, tùy theo tình hình phát triển kinhtế của mình,
mỗi quốc gia có chính sách riêng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
1.5.1. Thái Lan
Các dịch vụ của Ngân hàng xuất nhập khẩu Thái Lan chia thành 6 loại: tài trợ trung dài
hạn, tài trợ ngắn hạn, các chính sách tài trợ đặc biệt bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, thương
lượng cổ phiếu xuất khẩu, dịch vụ tư vấn.
Tài trợ trung và dài hạn:
 Tài trợ cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh, các khoản vay nhằm mở rộng khả
năng sản xuất của các nhà xuất khẩu như mở rộng nhà máy, mua thêm máy móc
thiết bị, đầu tư vào các tài sản cố định khác hoặc các dự án sản xuất nội địa. Đối
tượng là các nhà sản xuất hướng về xuất khẩu, doanh thu là ngoại tệ. Thời hạn vay
từ 2 đến 5 năm.
 Tín dụng dành cho người mua hoặc tín dụng dành cho người bán: mục đích của tín
dụng này là nâng cao tính cạnh tranh của các nhà xuất khẩu Thái Lan. Thời hạn
thường lên tới 7 năm tùy thuộc vào loại dự án hoặc thời gian c òn lại của vốn hàng
hóa.
 Tài trợ hoặc đầu tư quốc tế: khoản vay cho các công ty có các dự án đầu tư quốc
tế với các cổ đông Thái Lan hoặc cho các doanh nghiệp Thái Lan đầu tư vào các
dự án quốc tế.
Tài trợ ngắn hạn:
 Tài trợ trước khi giao hàng: hình thức tín dụng quay vòng hạn mức cho vay bằng
đồng Baht và cac đồng ngoại tệ chủ yếu khác. Các ngoại tệ được sử dụng được cấp
trực tiếp cho các nhà xuất khẩu với mọi loại hàng hóa để đáp ứng nhu cầu tài
20
chính trước khi giao hàng .
 Tài trợ sau khi giao hàng: hỗ trợ miễn truy đòi và hỗ trợ có truy đòi.
 Hỗ trợ xuất khẩu trọn gói: dành cho các nhà xuất khẩu mới hoạt động hoặc có
quy mô nhỏ dưới hình thức tài trợ trước khi giao hàng. Nếu có sự bảo lãnh cá nhân
của người đứng đầu thì các nhà xuất khẩu có thể được cấp khoản tín dụng với hạn
mức lớn.
 Tài trợ cho các hoạt động tái xuất khẩu: hỗ trợ hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ
các nhà cung cấp từ một quốc gia để tái xuất khẩu tới người mua ở một quốc gia
khác, mục tiêu của hình thức này là hỗ trợ để Thái Lan trở thanh một trung tâm
thương mại tiềm năng trong khu vực.
Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu:
 Bảo hiểm với thanh toán bằng L /C ngắn hạn: chính sách này được đưa ra đối với
nhà xuất khẩu theo hình thức thanh toán bằng L/C không hủy ngang, phát hành bởi
các ngân hàng nhỏ.
 Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn: tỷ lệ bảo hiểm giai đoạn trước khi
giao hàng là 70% tổn thất thực về hàng hóa và chi phí xảy ra trong quá trình sản
xuất. Giai đoạn sau khi giao hàng là 90% tổn thất thực tế theo giá trị hóa đơn đã
giao.
1.5.2. Trung Quốc
Nhiệm vụ chủ yếu của ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc l à cung cấp hỗ trợ, tài trợ
chính sách cho xuất khẩu và nhập khẩu các sản phẩm cơ khí, điện tử và các trang thiết bị
đồng bộ, các sản phẩm kỹ thuật cao và thúc đẩy sự hợp tác kinh tế - kỹ thuật giữa Trung
Quốc với bên ngoài. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc:
Tín dụng xuất khẩu dành cho người bán:
- Tín dụng dành cho mặt hàng thiết bị, mặt hàng tàu biển, mặt hàng công nghệ cao,
mặt hàng điện tử và cơ khí thông dụng
- Các khoản vay dành cho các hợp đồng xây dựng nước ngoài: điều kiện để được
cung cấp là doanh nghiệp đã ký hợp đồng xuất khẩu có giá trị từ 1 triệu USD trở
lên với mức đặt cọc không dưới 15%, mang lại lợi nhuận kinh tế, nhà thầu phải có
21
giấy phép và có năng lực thực hiện các công việc đã nhận, tính ổn định của các
nước chủ nhà, thanh toán trả chậm phải có bảo lãnh.
Tín dụng xuất khẩu dành cho người mua: nghiệp vụ này nhằm mục đích kích thích xuất
khẩu hàng hóa và vốn của Trung Quốc ra nước ngoài. Người vay là bên mua, ngân hàng
của bên mua. Phạm vi cho vay là bên vay dùng tiền vay để mua các sản phẩm cơ điện,
thiết bị đồng bộ và các sản phẩm dịch vụ kỹ thuật cao của Trung Quốc, chủ yếu là cho vay
trung, dài hạn.
1.5.3. Hàn Quốc
Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc là tổ chức tài chính đặc biệt của Chính phủ hoạt
động theo một quy định đặc biệt là Luật Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc. Các sản
phẩm tín dụng xuất khẩu được thiết kế để đáp ứng các mục tiêu lớn của Chính phủ, chia
thành 2 loại lớn là cho vay, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.
Tài trợ trực tiếp cho nhà xuất khẩu:
- Chương trình này được áp dụng cho các giao dịch xuất khẩu các loại hàng tư liệu
sản xuất do Hàn Quốc sản xuất bao gồm nhà máy, tàu biển, thiết bị điển tử, xe tải,
đường ray, sắt thép các loại, dụng cụ y khoa. Mọi nhà xuất khẩu hay sản xuất các
loại hàng hóa trên đều có thể tham gia chương trình này. Tín dụng xuất khẩu sau
khi giao hàng chỉ cung cấp cho các giao dịch có điều khoản thời hạn hoàn trả tiền
từ 2 năm trở lên.
- Hạn mức cho vay căn cứ vào tổng giá trị của hợp đồng xuất khẩu trừ đi phần người
mua đã đặt cọc. Mức cho vay tối đa trước khi giao hàng là 90% đối với các sản
phẩm máy móc thiết bị, tàu thuyền, 70% đối với các thiết bị rời và 75% đối với các
loại hàng hóa khác. Mức cho vay sau khi giao hàng cố định mức 85% giá trị phần
hợp đồng xuất khẩu sau khi đã trừ đi phần đặt cọc của người mua. Riêng tín dụng
xuất khẩu dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì hạn mức cho vay dựa vào
thành tích xuất khẩu trong quá khứ của doanh nghiệp: 90% kết quả xuất khẩu của 6
tháng/ 50% kết quả xuất khẩu của 1 năm trước thời điểm xin vay, hạn mức này
được xét 6 tháng 1 lần.
- Đồng tiền cho vay tùy thuộc vào loại tiền giao dịch trên hợp đồng xuất khẩu và yêu
22
cầu của bên vay, biện pháp bảo đảm khoản vay là thư bảo lãnh, thư tín dụng được
xác nhận bởi 1 ngân hàng có uy tín trên thế giới, bất động sản hoặc bảo lãnh của
Chính phủ hay ngân hàng trung ương nước người mua.
Tín dụng cho nhà nhập khẩu:
- Cho vay trực tiếp: cho nhà nhập khẩu nước ngoài vay tiền để mua những hàng
hóa và dịch vụ với thời hạn cho vay từ 2 năm trở lên, trên cơ sở thỏa thuận vay vốn
giữa ngân hàng và nhà nhập khẩu ngân hàng sẽ thanh toán cho nhà xuất khẩu khi
họ giao hàng.
- Tài trợ theo dự án: sản phẩm này nhằm giúp cho các công ty theo dự án ở nước
ngoài, mức hoàn trả và cách thức hoàn trả phụ thuộc vào dòng tiền của dự án.
- Tái chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu của các ngân hàng thương mại
- Bao thanh toán tuyệt đối cho các khoản phải thu của nh à xuất khẩu theo hợp đồng
xuất khẩu có hình thức thanh toán bằng L/C với thời gian thanh toán từ 30 ngày
đến 2 năm. Với hình thức bao thanh toán, ngân hàng cũng cung cấp dịch vụ đòi nợ
của nhà nhập khẩu.
Qua các bài học của các nước, có thể nhận thấy một số vấn đề để áp dụng cho BIDV
HCMC như sau:
 Chính phủ các nước đều coi trọng chính sách tài trợ xuất nhập khẩu nhằm thúc
đẩy xuất nhập khẩu phát triển lâu dài và bên vững.
 Tài trợ phải mang tính đầy đủ và đồng bộ. Các bên tham gia được tài trợ bằng nhiều
hình thức phong phú và có dịch vụ kèm theo. Cung cấp các sản phẩm tài trợtheo
hình thức gián tiếp để giảm áp lực về vốn tài trợ và đáp ứng yêu cầu về hội nhập
của các tổ chức kinh tế thế giới.
 Tăng cường hỗ trợ tín dụng cho người mua hàng nước ngoài để thanh toán cho
người cung cấp trong nước.
 Tiêu chí lựa chọn nhà xuất khẩu được ưu tiên khuyến khích tài trợ dựa vào kếtquả
xuất khẩu của chính họ. Theo đó cơ chế hỗ trợ được thực hiện linh hoạt, các sản
phẩm tài trợ xuất nhập khẩu được thiết kế xuất phát từ nhu cầu thực tế của cácdoanh
nghiệp.
 Thành công và hạn chế của các quốc gia trong việc áp dụng chính sách ưu đãi
23
tín dụng là những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu đối với Việt Nam trong
công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước.
Kết luận chương I
Để phát triển kinh tế không thể thiếu vai trò quan trọng của các doanh nghiệp, đặc biệt
là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Đẩy mạnh hoạt động giao thương quốc tế, tranh
thủ các điều kiện thuận lợi mà môi trường kinh tế quốc tế đem lại để phát triển là xu thế
tất yếu mà nhiều nước trên thế giới đã và đang hướng tới. Ngoại thương phát triển
chính là điều kiện thuận lợi để chúng ta có thể mở rộng và phát triển sản xuất theo hướng
hiện đại hoá trang thiết bị, máy móc, công nghệ, phục vụ tốt hơn nhu cầu sản xuất và
tiêu dùng trong nước, tạo ra được nhiều việc làm cho xã hội, cải thiện đời sống người dân
và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Để có thể phát triển nhanh, mạnh và bền vững trong môi trường kinh tế quốc tế năng động
và cạnh tranh khắc nghiệt ngày nay, bên cạnh sự nỗ lực phấn đấu của mình, các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu luôn cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía nhà nước, từ cáctổ chức
kinh tế trong đó đặc biệt là sự hỗ trợ của các NHTM về vốn, tư vấn tài chính, cam kết,
bảo lãnh, trung gian thanh toán, để thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của mình với các
đối tác nước ngoài. Hoạt động XNK của các doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh đối
ngoại của các NHTM có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời. Sựhỗ trợ, hợp tác
cùng phát triển giữa các doanh nghiệp XNK và NHTM có thể giúp cảhai hoạt động
hiệu quả hơn và qua đó góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.
Việc tìm hiểu nhu cầu của các doanh nghiệp khi hoạt động trong lĩnh vực XNK và phát
triển các hình thức tài trợ phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ giúp các doanh
nghiệp XNK sản xuất, kinh doanh được thuận lợi mà bản thân các NHTM cũng có thể
năng cao hiệu quả hoạt động và uy tín của mình trên thị trường tài chính khu vực và
quốc tế, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển.
24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XNK TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN HỒ CHÍ MINH
2.1. Giới thiệu về Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hồ Chí Minh
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập theo quyết định 177/TTg
ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ. Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
là một trong bốn ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất ở Việt Nam được hình thành
sớm nhất và lâu đời nhất, là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức hoạt động
theo mô hình tổng công ty nhà nước.
Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hồ Chí Minh (BIDV HCMC)là một đơn vị thành
viên (Chi nhánh cấp I) của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, là một ngân hàng
quốc doanh hoạt động truyền thống trong lĩnh vực đầu tư xây dựng của thời kỳ bao cấp
chuyển sang hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thương mại quốc doanh trong thời
kỳ đổi mới của nền kinh tế thị trường. Chỉ trong một thời gian ngắn, BIDV HCMC đã hòa
nhập nhanh với cơ chế thị trường, tạo lập những tiền đề vững chắc để từng bước thực
hiện kinh doanh đa năng tổng hợp, trong đó lấy phục vụ đầu tư phát triển làm động lực
phát triển. Liên tục trong nhiều năm liền, Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hồ
Chí Minh là đơn vị đạt mức tăng trưởng cao trong hoạt độngkinh doanh và là chi nhánh
tiên phong trong mọi lĩnh vực trong hệ thống BIDV.
Địa chỉ của BIDV HCMC: 134 Nguyễn Công Trứ, Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1,
TP. Hồ Chí Minh.
Trong những năm gần đây, BIDV luôn nhận được các giải thưởng cao trong lĩnh vực tài
chính – ngân hàng:
 Thương hiệu tốt nhất năm 2005 (Giải thưởng Sao vàng đất Việt)
 Giải thưởng ADFIAP do Hiệp hội các định chế tài chính Châu Á Thái Bình Dương
trao tặng năm 2007.
 Giải thưởng Trái phiếu đồng nội tệ tốt nhất khu vực do Tạp chí Financial Asia
trao tặng năm 2006
 Giải thưởng Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ ngoại hối tốt nhất năm 2007 và
năm 2008 do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí Asiamoney.
25
2.2. Thực trạng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Hồ Chí Minh
2.2.1. Hoạt động tài trợ vốn nói chung
a) Về nguồn vốn huy động
Bảng 2.1: Tình hình nguồn vốn huy động giai đoạn 2007 - 2009:
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Tổng nguồn vốn huy động 9,959.00 100.00% 8,725.00 100.00% 9,451.00 100.00%
1.Phân loại theo thị trường
Thị trường tiền tệ 1 6,224.00 62.50% 6,781.00 77.72% 7,931.95 83.93%
Thị trường tiền tệ 2 3,735.00 37.50% 1,944.00 22.28% 1,519.05 16.07%
2.Phân loại theo đối tượng huy động
Dân cư 1,369.28 13.75% 1,763.06 20.21% 2,637.95 27.91%
Tổ chức kinh tế 4,854.72 48.75% 5,017.94 57.51% 5,294.00 56.02%
Khác 3,735.00 37.50% 1,944.00 22.28% 1,519.05 16.07%
3. Phân loại theo loại tiền tệ huy động
VND 7,967.20 80.00% 7,241.75 83.00% 7,277.27 77.00%
Ngoại tệ tương đương 1,991.80 20.00% 1,483.25 17.00% 2,173.73 23.00%
4. Phân loại theo thời hạn huy động
Ngắn hạn 6,572.94 66.00% 5,584.00 64.00% 8,033.35 85.00%
Trung dài hạn 3,386.06 34.00% 3,141.00 36.00% 1,417.65 15.00%
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
Bảng 2.2: Tỷ lệ tăng/ giảm nguồn vốn huy động:
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Tăng/giảm năm 2008/2007 Tăng/giảm năm 2009/2008
Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ
Tổng nguồn vốn huy động -1,234.00 -12.39% 726.00 8.32%
1.Phân loại theo thị trường
Thị trường tiền tệ 1 557.00 8.95% 1,150.95 16.97%
Thị trường tiền tệ 2 -1,791.00 -47.95% -424.95 -21.86%
2.Phân loại theo đối tượng huy động
Dân cư 393.78 28.76% 874.89 49.62%
Tổ chức kinh tế 163.22 3.36% 276.06 5.50%
Khác -1,791.00 -47.95% -424.95 -21.86%
3. Phân loại theo loại tiền tệ huy động
VND -725.45 -9.11% 35.52 0.49%
Ngoại tệ tương đương -508.55 -25.53% 690.48 46.55%
4. Phân loại theo thời hạn huy động
Ngắn hạn -988.94 -15.05% 2,449.35 43.86%
Trung dài hạn -245.06 -7.24% -1,723.35 -54.87%
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
26
Nguồn vốn huy động cuối năm 2008 đạt 8,725tỷ đồng, giảm 1,234 tỷ đồng (giảm 12.39%)
so với cuối năm 2007. Trong đó: tiền gửi TCKT đạt 5,017.9 tỷ đồng, tăng 393tỷ đồng
(tăng 28,7%), tiền gửi dân cư là 1,763.06 tỷ đồng, tăng 163 tỷ đồng (tăng3,3%) so
với cuối năm 2007 và tiền huy động khác là 1,944 tỷ đồng, giảm 1,791 tỷđồng (giảm
48%). Như vậy, nguyên nhân giảm nguồn vốn huy động là do nguồn tiền huy động từ
định chế tài chính giảm (chủ yếu là do các công ty chứng khóan rút tiềngửi kỳ hạn gửi
tại BIDV HCMC để đáp ứng nhu cầu kinh doanh), nguồn huy động từ dân cư và TCKT
vẫn ở mức tăng trưởng ổn định.
Cuối năm 2009, tổng nguồn vốn huy động của BIDV HCMC đạt 9,451 tỷ đồng, tăng 726
tỷ đồng (tăng 8,32%) so với cuối năm 2008. Trong đó: tiền gửi dân cư đạt 2,638 tỷ đồng
tăng 874 tỷ đồng (tăng 49,6%) so với năm 2008; tiền gửi TCKT đạt 5,294 tỷ đồng tăng
276 tỷ đồng (tăng 5%) so với năm 2008; tiền gửi từ các định chế tài chínhđạt 1,519 tỷ
đồng, giảm 425 tỷ đồng (giảm 21,8%) so với năm 2008.
Nguyên nhân giảm nguồn vốn huy động là do nguồn huy động từ định chế tài chính giảm
(do các công ty chứng khóan rút tiền gửi kỳ hạn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh), nguồn
huy động từ dân cư và TCKT vẫn ở mức tăng trưởng ổn định.
Nguồn vốn huy động từ các TCKT luôn chiếm tỷ trọng cao (trung bình chiếm khoảng
50% trong tổng nguồn huy động) là một lợi thế rất lớn cho BIDV HCMC vì chi phí sử
dụng vốn thấp. Tỷ trọng vốn huy động từ dân cư trong tổng nguồn vốn huy động qua 3
năm đều tăng trưởng (năm 2007: 13,7%; năm 2008: 20,21%; năm 2009: 27,91%) cho thấy
BIDV HCMC đang dần nhắm vào đối tượng là khách hàng cá nhân nhỏ lẻ để tăng tính ổn
định của nguồn vốn huy động..
Trong 3 năm liên tục thì tỷ trọng huy động vốn bằng VND luôn ở mức cao (năm 2007:
80%, năm 2008: 83%, năm 2009: 77%) là do khách hàng có nguồn ngoại tệ tại BIDV
HCMC không nhiều, thêm vào đó, kênh huy động ngoại tệ từ dân cư cũng chưa phát
triển mạnh.
Tính đến 30/06/2010, tổng nguồn vốn huy động của BIDV HCMC đạt 9,390 tỷ đồng, trong
đó tiền gửi TCKT đạt 4,208 tỷ đồng, chiếm 45% tổng nguồn vốn huy động; tiềngửi của
dân cư đạt 3,275 tỷ đồng, chiếm 35% tổng nguồn vốn huy động; tiền gửi củacác định
chế tài chính đạt 1.907 tỷ đồng, chiếm 20% tổng nguồn vốn huy động. Tỷ
27
trọng huy động bằng VND đến 30/06/2010 vẫn ở mức cao (78% tương đương 7,330 tỷ
đồng) so với tỷ trọng huy động bằng ngoại tệ (22% tương đương 2,060 tỷ đồng).
b) Về tình hình tài trợ vốn:
Bảng 2.3: Tình hình dư nợ của BIDV HCMC giai đoạn 2007- 2009
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
Tổng dư nợ 6,084.00 100.00% 6,093.00 100.00% 6,864.00 100.00%
1.Phân loại theo thời gian vay
Ngắn hạn 3,772.08 62.00% 4,021.38 66.00% 4,461.60 65.00%
Trung dài hạn 2,311.92 38.00% 2,071.62 34.00% 2,402.40 35.00%
2.Phân loại theo mức độ tín nhiệm
Có tài sản đảm bảo 3,467.88 57.00% 3,533.94 58.00% 4,324.32 63.00%
Không có tài sản đảm bảo 2,616.12 43.00% 2,559.06 42.00% 2,539.68 37.00%
3. Phân loại theo loại tiền tệ
VND 4,380.48 72.00% 4,508.82 74.00% 5,697.12 83.00%
Ngoại tệ tương đương 1,703.52 28.00% 1,584.18 26.00% 1,166.88 17.00%
4. Phân loại theo đối tượng vay vốn
Khách hàng cá nhân 346.00 5.69% 155.00 2.54% 231.00 3.37%
Khách hàng doanh nghiệp 5,738.00 94.31% 5,938.00 97.46% 6,633.00 96.63%
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
Bảng 2.4: Tăng/giảm dư nợ vay của BIDV HCMC giai đoạn 2007- 2009
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Tăng/giảm năm 2008/2007 Tăng/giảm năm 2009/2008
Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ
Tổng dư nợ 9.00 0.15% 771.00 12.65%
1.Phân loại theo thời gian vay
Ngắn hạn 249.30 6.61% 440.22 10.95%
Trung dài hạn (240.30) -10.39% 330.78 15.97%
2.Phân loại theo mức độ tín nhiệm
Có tài sản đảm bảo 66.06 1.90% 790.38 22.37%
Không có tài sản đảm bảo (57.06) -2.18% (19.38) -0.76%
3. Phân loại theo loại tiền tệ
VND 128.34 2.93% 1,188.30 26.36%
Ngoại tệ tương đương (119.34) -7.01% (417.30) -26.34%
4. Phân loại theo đối tượng vay vốn
Khách hàng cá nhân (191.00) -55.20% 76.00 49.03%
Khách hàng doanh nghiệp 200.00 3.49% 695.00 11.70%
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
28
Dư nợ cuối kỳ tính đến 31/12/2008 là 6.093 tỷ đồng (bao gồm dư nợ vay tài trợ XNK
là 891.7 tỷ đồng), tăng không đáng kể - ở mức 9 tỷ đồng (tăng 0.15%) so với năm 2007.
Trong đó vay ngắn hạn đạt 4,021.38 tỷ đồng, tăng 6.6% và vay trung dài hạn đạt 2,071.62
tỷ đồng, giảm 10,4% so với cuối năm 2007.
Dư nợ cuối kỳ tính đến 31/12/2009 là 6,864 tỷ đồng (bao gồm dư nợ vay tài trợ XNK là
267.19 tỷ đồng) , tăng 771 tỷ đồng (mức tăng 12.7%) so với cuối năm 2008. Trong đó, vay
ngắn hạn đạt 4,461 tỷ đồng tăng 10.95% và vay trung dài hạn đạt 2,403 tỷ đồng,tăng
15.9% so với năm 2008. Sở dĩ có con số tăng đáng kể như vậy là do kể từ tháng 03/2009,
chính phủ có chính sách hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng.
Tính đến 30/06/2010, tổng dư đạt 7.475 tỷ đồng, tăng 611 tỷ đồng so với năm 2009. Trong
đó dư nợ vay XNK đạt 332 tỷ đồng, tăng 65 tỷ đồng so với đầu năm. Dư nợ vay XNK tăng
mạnh, mà chủ yếu là vay xuất khẩu là do hội sở chính đã ban hành chính sách lãi suất linh
hoạt nhằm hỗ trợ vay hàng xuất khẩu đến 6 tháng đối với các khách hàng có xếp loại tín
dụng từ hạng A trở lên.
Nhằm tăng mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng, BIDV HCMC đã chú trọng tăng tỷ
trọng dư nợ có tài sản bảo đảm, nếu khách hàng không đáp ứng được giá trị tài sản bảo
đảm theo quy định thì phải thực hiện lộ trình giảm dần dư nợ. Nhờ đó trong thời gian qua,
BIDV HCMC đã đạt được các kết quả khả quan về tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo, dư
nợ có tài sản đảm bảo luôn lớn hơn 55%. Đối tượng vay là khách hàng doanh nghiệp chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách hàng của BIDV HCMC, chiếm 95% trở lên qua cácnăm
cho thấy BIDV HCMC chưa đẩy mạnh việc bán lẻ, chỉ tập trung vào đối tượng là doanh
nghiệp.
c) Kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV HCMC giai đoạn 2007- 2009
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Lợi nhuận trước thuế 379 400 240
Lợi nhuận trước thuế
bình quân đầu người 0.40 0.48 0.57
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
29
Lợi nhuận trước thuế năm 2008 tăng nhẹ (tăng 21 tỷ đồng) so với năm 2007, tuy nhiên,
năm 2009, lợi nhuận trước thuế của BIDV HCMC giảm mạnh (giảm 160 tỷ đồng –
giảm 40%) so với năm 2008, nguyên nhân là trong năm 2009, do ảnh hưởng của nên kinh
tế khó khăn, đã bắt đầu xuất hiện nợ nhóm 3, nhóm 4 tại BIDV HCMC, ngoài ra, thu nhập
từ hoạt động mua bán ngoại tệ cũng giảm mạnh làm chỉ tiêu này giảm rõ rệt.
Lợi nhuận trước thuế bình quân đầu người của BIDV HCMC trong các năm liên tục tăng,
tốc độ tăng trung bình 3 năm 2007-2009 là 19,3%. Trong năm 2009, mặc dù chênh lệch
thu chi thấp nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn ở mức tăng trưởng làdo BIDV
HCMC tích cực thu nợ ngoại bảng (trong năm thu 88 tỷ đồng nợ đã hạch toán ngoại bảng)
2.2.2. Hoạt động tài trợ xuất khẩu
Hiện nay, BIDV HCMC chỉ thực hiện tài trợ xuất khẩu thông qua hình thức tài trợ vốn lưu
động. Quy định cụ thể như sau:
a) Đối tượng vay: Các chi phí đầu vào phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá xuất
khẩu: nguyên nhiên vật liệu, các chi phí gián tiếp liên quan như thuế, phí, lệ phí...
b) Phương thức vay: BIDV HCMC cho vay theo món đối với các khách hàng có quan
hệ không thường xuyên, có nguồn thu không ổn định và áp dụng hình thức vay theo
hạn mức đối với các khách hàng có tình hình sản xuất kinh doanh ổn định, hiệu quả
và có quan hệ tín dụng thường xuyên với BIDV HCMC.
c) Hạn mức vay: Căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của khách hàng, BIDV HCMC tính
toán hạn mức vay phù hợp với nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong từng thời kỳ trong
năm (hạn mức của từng khách hàng thay đổi theo từng thời điểm trong năm). Hạn mức
vay đối với khách hàng tăng cao vào thời điểm mùa vụ và phải giảm trong các thời
điểm khác bằng các biện pháp thích hợp (thu hồi nợ vay, xử lý tài sản bảo đảm )
d) Thời hạn vay: phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và dòng tiền của doanh
nghiệp.
30
- Trường hợp doanh nghiệp vay để thu mua, dự trữ nguyên vật liệu khi chưa có hợp đồng
ngoại thương: Thời hạn vay được căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nhưng tối đa không quá 12 tháng.
- Trường hợp doanh nghiệp vay để thu mua, dự trữ nguyên vật liệu khi đã có hợp đồng ngoại
thương hoặc L/C: thời hạn vay được căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và phù hợp với thời hạn thanh toán của hợp đồng hoặc L/C nhưng tối đa không quá
12 tháng.
e) Lãi suất vay:
- Áp dụng lãi suất ưu đãi (thường thấp hơn 0,5% - 1% so với vay thông thường – áp dụng
cho cả vay VND và USD).
- Trên cơ sở cam kết của khách hàng về việc bán lại ngoại tệ cho BIDV HCMC và việc
khách hàng sử dụng các dịch vụ của BIDV HCMC, hội đồng tín dụng BIDV HCMC sẽ
quyết định mức lãi suất vay tài trợ hàng xuất ưu đãi phù hợp.
- Mức lãi suất cụ thể được căn cứ vào tính khả thi của khoản vay như vay dự trữ nguyên liệu
trước khi có hợp đồng, vay khi đã có hợp đồng, vay khi có L/C cũng như các điều kiện
khác của khoản vay...
f) Nguồn vốn cho vay: BIDV HCMC chủ động cân đối từ nguồn vốn huy động và sử dụng
hạn mức hỗ trợ ngắn hạn được hội sở chính thông báo hằng năm để thực hiện cho vay
tài trợ hàng xuất. Trong từng thời điểm cụ thể, BIDV HCMC không cân đối được nguồn
vốn, hội sở chính sẽ xử lý cho vay món ngắn hạn theo cơ chế điều hành vốn nội bộ hiện
hành.
g) Mức vay: BIDV HCMC chỉ cho cho vay bổ sung phần vốn lưu động thiếu sau khi doanh
nghiệp đã tận dụng hết nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động khác.
- Mức vay đối với từng khoản vay cụ thể được xác định dựa trên các yếu tố như tính khả
thi của các điều kiện, điều khoản của hợp đồng ngoại thương hay L/C, tính khả thi của các
hợp đồng đầu vào, mức độ tín nhiệm của khách hàng, uy tín của ngân hàng nước ngoài ...
- Đối với trường hợp vay dự trữ nguyên liệu trước khi có hợp đồng ngoại thương cần căn cứ
vào định mức dự trữ nguyên vật liệu của quý trước, năm trước; doanh số xuất khẩu
31
năm trước, kế hoạch sản xuất kinh doanh của quý, năm hiện tại; tình hình thị trường,
hợp đồng mua bán nguyên vật liệu...
- Đối với trường hợp vay khi đã có hợp đồng ngoại thương hoặc L/C (chưa có bộ chứng
từ hàng xuất hoàn chỉnh): tuỳ theo tiến độ sản xuất hàng hoá nhưng mức vay tối đa
không quá 85% giá trị hợp đồng ngoại thương hoặc giá trị L/C.
h) Bảo đảm tiền vay: Thực hiện theo quy định hiện hành về chính sách khách hàng của
của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam:
BIDV xem xét cấp tín dụng không có tài sản bảo đảm đối với khách hàng đáp ứng
các tiêu chí sau:
- Khách hàng có mức xếp hạng từ AA trở lên.
- Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu ≤ 2,5.
- Khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả, không có nợ gốc vay tại BIDV
bị chuyển quá hạn trong thời gian 01 năm gần nhất.
Các trường hợp khác:
Xếp loại khách hàng Chính sách về tài sản đảm bảo
AAA
Khách hàng được BIDV xem xét vay, bảo lãnh khi
đáp ứng tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu 30%,
AA
Khách hàng được BIDV xem xét vay, bảo lãnh khi
đáp ứng tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu 20%,
A
Khách hàng được BIDV xem xét vay, bảo lãnh khi
đáp ứng tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu 50%.
BBB
Khách hàng được BIDV xem xét vay, bảo lãnh khi
đáp ứng tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu 70%.
BB, B, CCC
Khách hàng được BIDV xem xét vay, bảo lãnh khi
đáp ứng tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu 100%.
2.2.3 Hoạt động tài trợ nhập khẩu
Tương tự như tài trợ xuất khẩu, hiện nay, BIDV HCMC chỉ thực hiện tài trợ nhập khẩu
thông qua hình thức tài trợ vốn lưu động. Quy định cụ thể như sau:
a) Mở L/C nhập khẩu trả ngay
Điều kiện để BIDV HCMC mở L/C:
- Doanh nghiệp phải có tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính lành mạnh và có uy tín trong
quan hệ tín dụng.
32
- Hàng hóa nhập khẩu phải có giá cả hợp lý. Nếu mặt hàng nằm trong danh mục quản lý
hàng nhập khẩu của nhà nước thì đơn vị phải xuất trình giấy phép nhập khẩu do Bộ thương
mại cấp.
- Về nguồn vốn thanh toán khi L/C đến hạn:
+ Nếu nguồn vốn thanh toán L/C là nguồn vốn tự có của doanh nghiệp thì doanh nghiệp
có thể ký quỹ 100% hoặc ký quỹ một phần nhưng phải có tài sản đảmbảo cho
số tiền thanh toán còn lại theo đúng chính sách khách hàng của BIDV HCMC.
+ Nếu nguồn vốn thanh toán L/C là nguồn vốn vay tại BIDV HCMC : số tiền L/C phải
nằm trong hạn mức tín dụng của doanh nghiệp tại BIDV HCMC.
Trên cơ sở thẩm định cụ thể, BIDV HCMC sẽ quyết định mức ký quỹ.
b) Mở L/C nhập khẩu trả chậm:
BIDV HCMC thực hiện nghiệp vụ này tương tự như nghiệp vụ mở L/C trả ngay thanh
toán bằng vốn vay. Khi thực hiện nghiệp vụ này thì BIDV HCMC sẽ thẩm định kỹ
về năng lực tài chính, uy tín của khách hàng, hiệu quả của phương án kinh doanh và số
tiền L/C trả chậm phải nằm trong hạn mức tín dụng mà BIDV HCMC đã cấp cho
khách hàng.
2.2.4 Phân tích về hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại BIDV HCMC
2.2.4.1 Các kết quả đạt được
Bảng 2.6: Dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu so với dư nợ vay của BIDV HCMC:
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 6 tháng 2010
(1) Dư nợ tài trợ XNK 517.53 891.70 267.19 332.47
(2) Tổng dư nợ 6,084.00 6,093.00 6,864.00 7,475.00
Tỷ trọng (1)/(2) 8.51% 14.63% 3.89% 4.45%
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
Bảng 2.7: Dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu so với dư nợ vay doanh nghiệp
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 6 tháng 2010
(1) Dư nợ tài trợ XNK 517.53 891.70 267.19 332.47
(2) Dư nợ khách hàng doanh nghiệp 5,738.00 5,938.00 6,633.00 7,222.00
Tỷ trọng (1)/(2) 9.02% 15.02% 4.03% 4.60%
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
33
Dư nợ tài trợ XNK cuối năm 2007 là 517.53 tỷ đồng, chiếm 8.51% tổng dư nợ và
9.02% dư nợ khối khách hàng doanh nghiệp. Đến cuối năm 2008, tổng dư nợ, dư nợ khách
hàng doanh nghiệp và dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu đều tăng vượt bậc. Lúc này,dư nợ
tài trợ XNK đạt 891.70 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 14.63% trong tổng dư nợ và 15.02% dư
nợ khách hàng doanh nghiệp - một con số tăng tương đối lớn. Tuy nhiên, đến cuối năm
2009, dư nợ tài trợ XNK lại giảm một cách rõ rệt, chỉ đạt 267.19 tỷ đồng với mức giảm là
10.04% so với năm 2008 và chỉ chiếm 4.03% dư nợ khách hàng doanh nghiệp, 3.89% tổng
dư nợ. Nguyên nhân của việc dư nợ XNK cũng như tổng dư nợ của BIDV HCMC tăng
mạnh trong năm 2008 là do đây là giai đoạn mà giá nguyên vật liệu của tất cả các ngành
hàng đều tăng cao, có những ngành hàng như sắt, thép, linh kiện, giấy… giá tăng hơn 2
lần, trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu sản xuất, các doanh nghiệp đều phải đảm bảo định
mức tiêu hao nguyên vật liệu theo quy định, vì vậy ảnh hưởngtrực tiếp đến mức vay
ngân hàng của doanh nghiệp.
Mức tăng trưởng dư nợ tài trợ XNK của BIDV HCM luôn thấp hơn mức tăng trưởng dư
nợ nói chung cho thấy BIDV HCMC chưa có chiến lược trong hoạt động tài trợ XNK trong
thời gian qua. Mặc dù số liệu dư nợ mang tính chất thời điểm nhưng xét trên phương diện
tương đối, ta thấy trong các năm 2007, 2008, 2009, tài trợ XNK không làthế mạnh của
BIDV HCMC.
2.2.4.2 Dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu tại BIDV HCMC phân theo loại hình tài trợ
Bảng 2.8: Dư nợ tài trợ XNK phân theo loại hình tài trợ
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009
Tăng/ giảm
2008/2007
Tăng/ giảm
2009/2008
Gía trị Tỷ lệ Gía trị Tỷ lệ Gía trị Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ
Dư nợ tài trợ
xuất khẩu 86.08 16.63% 393.20 44.10% 156.90 58.72% 307.12 356.80% -236.30 -60.10%
Dư nợ tài trợ
nhập khẩu 431.45 83.37% 498.50 55.90% 110.29 41.28% 67.05 15.54% -388.21 -77.88%
Tổng dư nợ
XNK 517.53 100% 891.70 100% 267.19 100% 374.18 72.30% -624.51 -70.04%
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
34
Biểu 2.1 : Dư nợ tài trợ XNK phân theo loại hình tài trợ
Tỷ trọng của 2 loại hình sản phẩm thay đổi khá rõ rệt. dư nợ tài trợ xuất khẩu tăng dần qua
các năm: cuối năm 2007: 16.63%; cuối năm 2008: 44.1%; cuối năm 2009: 58.72%. Ngược
lại, dư nợ tài trợ nhập khẩu lại giảm dần: cuối năm 2007: 83.37%; cuối năm2008:
55.90%; cuối năm 2009: 41.28%. Việc chuyển dịch cơ cấu này thể hiện sự chú trọng của
BIDV HCMC trong chính sách thu hút khách hàng xuất khẩu.
- Dư nợ tài trợ nhập khẩu: chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu dư nợ XNK của BIDV HCMC
qua các năm (năm 2007: 83.37%; năm 2008: 55.9%; năm 2009: 41,28%). Xét về con số
tuyệt đối, với mức tăng là 67.05 tỷ đồng năm 2008 và giảm 338.21 tỷ đồng năm 2009
thì dư nợ tài trợ nhập khẩu tại BIDV HCMC tăng/giảm không đáng kể so với quy mô tổng
dư nợ. Thực tế, trong năm 2008 và 2009, BIDV HCMC đã cho vay tài trợ nhập khẩu cho
những lô hàng sắt thép, xăng dầu có giá trị khá lớn, mỗi hợp đồng ngoại thương có giá trị
10 đến 15 triệu USD (tương đương 190 tỷ đến 285 tỷ đồng/ mỗi hợp đồng). Vì vậy, chỉ cần
biến động tăng/ giảm của khi cho vay/ thu nợ một hợp đồng cũng ảnh hưởng đến dư nợ
cuối kỳ của ngân hàng.
35
- Dư nợ tài trợ xuất khẩu: Dư nợ tài trợ xuất khẩu cuối năm 2008 tăng mạnh (tăng 307.12
tỷ đồng) so với cuối năm 2007 (358%). Tuy nhiên, đến cuối năm 2009, con số dư nợ
này giảm một cách đáng kể - giảm 236.30 tỷ đồng (giảm 60.10%). Điều này được giải thích
là do đối với sản phẩm tài trợ xuất khẩu, số lượng khách hàng giao dịch tín dụng không
nhiều và qua các năm không tăng thêm, chỉ tập trung vào một số doanh nghiệphoạt
động trong lĩnh vực thủy sản, dệt may, gỗ, hóa chất… với kim ngạch xuất khẩunhỏ.
Các đối tượng khách hàng này có kế hoạch kinh doanh không thay đổi nhiều nên vòng
quay vốn nhìn chung vẫn vậy. Mặc dù có chịu tác động từ môi trường bên ngoài nhưng các
doanh nghiệp này vẫn giữ được các hợp đồng lâu năm. Vì vậy, cứ đến chu kì kinh doanh,
các doanh nghiệp lại có nhu cầu được tài trợ xuất khẩu và tất toán hợp đồng đúng hạn. Có
thể nói, tài trợ xuất khẩu không là lĩnh vực nổi trội và ổn định của BIDV HCMC, sự tăng/
giảm dư nợ phụ thuộc hoàn toàn vào những khách hàng thân thiết, truyền thống và có lịch
sử giao dịch lâu năm.
Tính đến thời điểm 30/06/2010, BIDV HCMC đạt dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu là 332
tỷ đồng, chỉ chiếm 4,4% trong tổng dư nợ toàn chi nhánh, giảm 513 tỷ đồng (tương đương
giảm 60,66%) so với cùng kỳ năm 2009, tăng 65,2 tỷ đồng (tương đương tăng 24,43%) so
với đầu năm. Dư nợ vay XNK trong 6 tháng đầu năm tăng, mà chủ yếu vay xuất khẩu so
với đầu năm là do hội sở chính đã ban hành chính sách lãi suất vay linh hoạt nhằm hỗ trợ
cho vay hàng xuất khẩu có kỳ hạn vay đến 6 tháng. Chính sách này đã góp phần ổn định
và giảm dần mặt bằng lãi suất thị trường.
2.2.4.3 Dư nợ tài trợ XNK tại BIDV HCMC phân theo mặt hàng tài trợ
a) Dư nợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ
Bảng 2.9: Dư nợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009
Gía trị Tỷ trọng Gía trị Tỷ trọng Gía trị Tỷ trọng
Đồ gỗ 18.08 21.00% 43.31 11.01% 22.80 14.53%
Dệt may 33.63 39.07% 89.40 22.74% 24.90 15.87%
Thủy hải sản 12.06 14.01% 123.30 31.36% 79.70 50.80%
Hóa chất 12.30 14.29% 72.00 18.31% 14.70 9.37%
Khác (cao su, pin, giày da…) 10.01 11.63% 65.19 16.58% 14.80 9.43%
Tài trợ xuất khẩu 86.08 100.00% 393.20 100.00% 156.90 100.00%
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
36
Biểu 2.2: Dư nợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ
- Đối với ngành đồ gỗ: Cuối năm 2007, dư nợ vay là 18.08 tỷ đồng, chiếm 21% tổng dư
nợ tài trợ xuất khẩu. Cuối năm 2008, tăng 25.23 tỷ đồng tương đương tăng 139.5% đạt
mức 43.31 tỷ đồng. Đến cuối năm 2009, đạt mức 22.80 tỷ đồng, chiếm 14.53% trong tổng
dư nợ tài trợ XK của BIDV HCMC. Như vậy, gỗ luôn chiếm một vị trí đáng quan tâm
trong danh sách mặt hàng tài trợ xuất khẩu của BIDV HCMC.
BIDV HCMC tài trợ xuất khẩu các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu với nguyên vật liệu chính
là ván ép, gỗ thông. Trong năm 2008 với tình hình giá các nguyên vật liệu này tăng mạnh
nên làm mức vay tăng tương ứng. Do thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ của các doanh
nghiệp vay vốn tại BIDV HCMC là Nhật, Ý – là các thị trường ổn định và đốitác là
khách hàng có uy tín lâu năm nên tài trợ xuất khẩu gỗ được đánh giá là lĩnh vựcan toàn
và đem lại lợi nhuận ổn định cho BIDV HCMC.
- Đối với ngành dệt may: Qua các năm, 2007, 2008, 2009, tỷ trọng dư nợ tài trợ XK dệt may
tại thời điểm cuối năm luôn giảm trong tổng dư nợ tài trợ xuất khẩu của BIDV HCMC.
Cuối năm 2007, dư nợ tài trợ XK ngành dệt may là 33.63 tỷđồng, chiếm
37
39.07.57% trong tổng dư nợ tài trợ XK. Cuối năm 2008, số dư là 89.4 tỷ đồng với tỷ
trọng 22.74%. Đến cuối năm 2009, tiếp tục giảm tỷ trọng xuống còn 15.87%, đạt mức
24.90 tỷ đồng. Trong cuối năm 2008 và sang năm 2009, do nhu cầu cổ phần và sắp xếp các
đơn vị trực thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam, thành lập các pháp nhân mới là công ty
cổ phần, công ty TNHH 1 thành viên dựa trên các công ty nhà nước cũ. Khitách ra
hoạt động với mô hình mới, doanh nghiệp thường không thỏa mãn điều kiện của BIDV
HCMC, đặc biệt là không đáp ứng được tài sản đảm bảo nên tỷ trọng dư nợ của ngành dệt
may giảm rõ rệt trong cơ cấu tài trợ xuất khẩu tại BIDV HCMC.
- Đối với ngành thủy hải sản: tại BIDV HCMC, các doanh nhiệp hoạt động trong lĩnh
vực này hoàn toàn xuất khẩu sang thị trường Nga và các nước Đông Âu – là thị trường tiêu
thụ cá rất mạnh và có tính ổn định cao. Do đó, tỷ trọng dư nợ của ngành hàng này trong dư
nợ tài trợ XK luôn tăng. Cuối năm 2007, dư nợ tài trợ XK ngành hàng thủy hải sản đạt 12.6
tỷ đồng, chiếm 14.01% trong tổng dư nợ tài trợ XK. Cuối năm 2008, chỉ số này tăng 110.7
tỷ đồng lên 123.3 tỷ đồng, chiếm 31,36%. Cuối năm 2009, chiếm 50.8% trong tổng dư nợ
tài trợ XK. Tình hình xuất khẩu thủy hải sản của cả nước tuy khôngkhả quan do áp lực
đòi giảm giá từ đối tác, nhu cầu nhập khẩu các thị trường lớn giảm sút theo tác động của
cuộc khủng hoảng, tuy nhiên với dự kiến về triển vọng của ngành, BIDV HCMC đã mở
rộng cho vay, thể hiện qua tỷ trọng dư nợ tài trợ XK ngành này luôn tăng. Thực tế cho
thấy, ngành thủy hải sản là ngành mang lại lợi nhuận và phí dịch vụ cao cho BIDV HCMC
vì các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế vàbán ngoại tệ cho BIDV
HCMC với doanh số lớn.
- Đối với ngành hàng hóa chất: chịu ảnh hưởng chung của nền kinh tế thế giới, năm
2008, giá nguyên vật liệu của ngành hóa chất cũng tăng rất mạnh, làm dư nợ của ngành
này cuối năm 2008 đạt mức khá cao – 72 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 18.31% trong tổng dư nợ
tài trợ XK và tăng 59.7 tỷ đồng so với cuối năm 2007. Đến cuối năm 2009, dư nợ ngành
này chỉ còn ở mức 14.7 tỷ, chiếm tỷ trọng 9.37% trong tổng dư nợ tài trợ XK. Ngành hóa
chất là ngành hàng khá ổn định trong tài trợ XK của BIDV HCMC vì đây là sản phẩm của
doanh nghiệp trực thuộc tổng công ty hóa chất Việt Nam, quan hệ vayduy nhất với BIDV
HCMC và có thị trường XK ổn định qua các năm.
- Đối với các ngành hàng khác: tuy không phải là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam,
các mặt hàng như pin, cao su, gạch men… cũng chịu ảnh hưởng chung của nền
38
kinh tế thế giới, năm 2008 khi giá nguyên vật liệu tăng cao, làm dư nợ của các ngành
này cuối năm 2008 đạt mức cao nhất qua các năm – 65.19 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 16.58%
trong tổng dư nợ tài trợ XK và tăng 55.18 tỷ đồng so với cuối năm 2007. Đến cuối năm
2009, dư nợ ngành này chỉ còn ở mức 14.8 tỷ, chiếm tỷ trọng 9.53 % trongtổng dư nợ tài
trợ XK.
b) Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ
Bảng 2.10: Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Cuối năm 2007 Cuối năm 2008 Cuối năm 2009
Gía trị Tỷ trọng Gía trị Tỷ trọng Gía trị Tỷ trọng
Xăng dầu 90.70 21.02% 91.72 18.40% 0.00 0.00%
Sắt thép 219.20 50.81% 253.70 50.88% 56.47 51.20%
Giấy 14.00 3.24% 26.90 5.40% 15.50 14.05%
Hóa chất 45.90 10.64% 45.88 9.20% 23.90 21.67%
Khác (vải, linh kiện,chì…) 61.65 14.29% 80.38 16.12% 14.42 13.07%
Tài trợ nhập khẩu 431.45 100.00% 498.58 100.00% 110.29 100.00%
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
Biểu 2.3 : Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ
39
- Đối với ngành xăng dầu: Xăng dầu là mặt hàng NK chính của Việt Nam. Kim ngạch
NK mặt hàng này luôn đứng thứ hai, chỉ sau máy móc thiết bị. Do đây là mặt hàng có
giá rất nhạy cảm vào tình hình kinh tế, chính trị của thế giới nên rất được BIDV HCMC
quan tâm và theo dõi để không ảnh hưởng đến tình hình hoạt động chung của chi nhánh.
Tại thời điểm cuối năm 2008, mức dư nợ của ngành hàng này tăng không đángkể (tăng
1.02 tỷ đồng) so với cuối năm 2007, đến cuối năm 2009 dư nợ của ngành xăng dầu không
có, nguyên nhận là do tình hình căng thẳng ngoại tệ, doanh nghiệp lại không có nguồn
ngoại tệ để trả nợ, vì vậy, từ quý 4/2009, BIDV đã chủ động không mở LC nhập xăng dầu
để giảm áp lực ngoại tệ khi đến hạn thanh toán.
- Đối với ngành sắt thép: sắt thép là mặt hàng cần để phát triển các ngành khác, do đó
mặc dù giá cả có biến động, nhu cầu về mặt hàng này vẫn giữ sản lượng ở một mức ổn
định. Năm 2008, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá thép tăng
mạnh, điều này dẫn đến dư nợ tài trợ nhập khẩu cuối năm 2008 là 253.70 tỷ, tăng 34.5
tỷ tương ứng tăng 15.7% so vơi cuối năm 2007. Tuy nhiên, trong 2 năm này, ngành sắt
thép vẫn duy trì tỷ trọng khoảng 50% trong dư nợ tài trợ NK. Sang năm 2009, cũng như
ngành xăng dầu, với nguyên nhân khan hiếm ngoại tệ, BIDV HCMC đã chủ động ngừng
việc mở LC nhập sắt thép nên dư nợ cuối năm 2009 chỉ đạt mức 56.47 tỷ đồng, giảm 197.23
tỷ đồng (giảm 77.7%) so với cuối năm 2008. Dù mức dư nợ giảm mạnh nhưng tỷ trọng
vay tài trợ sắt thép vẫn nằm xoay quanh ngưỡng 50% trong tổng dư nợtài trợ NK của
BIDV HCMC.
- Đối với ngành giấy: ngành in ấn, bao bì ở Việt Nam đang phát triển nhanh chóng. Nhu cầu
về giấy để phục vụ các ngành này cũng tăng lên. Chính vì vậy mà nhu cầu vay vốn nhập
giấy cũng tăng lên. Năm 2007, dư nợ tài trợ NK đối với mặt hàng này ở BIDV HCMC chỉ
đạt 14 tỷ đồng, chiếm 3.24% trong tổng dư nợ tài trợ NK. Nhưng chỉ saumột năm, với
việc giá cả nhập khẩu giấy tăng đột biến và liên tục làm cho các doanh nghiệp ngành in ấn,
bao bì lao đao trong việc thu xếp các khoản vốn kinh doanh, nhu cầu vay vốn để nhập
giấy tăng vọt. Cuối năm 2008 dư nợ vay NK giấy đạt mức 26,9 tỷ đồng, tăng 111% so với
năm 2007. Đến năm 2009, tỷ trọng dư nợ NK giấy đã tăng lên mức 14.5% trong tổng dư
nợ tài trợ NK, chứng tỏ BIDV HCMC vẫn đánh giá cao hoạt động của các doanh nghiệp
in ấn và bao bì.
40
- Đối với ngành hóa chất: trong vòng 3 năm trở lại đây, dư nợ vay đối với ngành hàng
này khá lớn và chiếm tỷ trọng từ 10 – 20% dư nợ tài trợ NK của BIDV HCMC. Cuối
năm 2007 và 2008, dư nợ của ngành này xoay quanh mức là 45.8 tỷ đồng và chiếm 9 –
10% dư nợ tài trợ NK. Đến năm 2009, mặc dù dư nợ giảm chỉ còn 23.9 tỷ đồng nhưng
chiếm tỷ trọng khá cao: 21.67% cho thấy nhu cầu NK mặt hàng này của các doanh nghiệp
đang vay vốn tại BIDV HCMC là khá lớn.
- Đối với các ngành hàng khác: tuy không phải là mặt hàng nhập khẩu khẩu thiết yếu,
các mặt hàng như vải, chì, linh kiện … cũng là mặt hàng quan trọng đối với các doanh
nghiệp Việt Nam, năm 2008 khi giá nguyên vật liệu tăng cao, làm dư nợ của các ngành này
cuối năm 2008 đạt mức cao nhất qua các năm – 80.38 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 16.12%
trong tổng dư nợ tài trợ NK và tăng 1.37 tỷ đồng so với cuối năm 2007. Đếncuối năm
2009, dư nợ ngành này chỉ còn ở mức 14.42 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 13.07 % trong tổng
dư nợ tài trợ NK.
Như vậy, trong năm 2009, không những dư nợ tuyệt đối giảm ở tất cả các ngành hàng
mà còn không có số dư vay tài trợ nhập xăng dầu, chủ yếu là do BIDV HCMC không
chủ động được nguồn ngoại tệ. Việc thiếu hụt ngoại tệ này có nguyên nhân trực tiếp là
do BIDV HCMC chưa thu hút đựơc khách hàng có nguồn thu ngoại tệ (khách hàng có hoạt
động xuất khẩu). Vì vậy, để phát triển được vay tài trợ nhập khẩu cần phải đẩy mạnh vay
tài trợ xuất khẩu để tạo nguồn ngoại tệ.
2.2.4.4. Tình hình nợ quá hạn xuất nhập khẩu
Bảng 2.11: Tình hình nợ quá hạn tài trợ xuất nhập khẩu
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu 31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009
(1)Nợ quá hạn tài trợ XNK 0 0 0
(2)Nợ quá hạn vay KHDN 0 29.20 55.48
Tỷ trọng (1)/(2) 0.00% 0.00% 0.00%
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
Bảng 2.12: Tình hình nợ xấu tài trợ xuất nhập khẩu
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu 31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009
Nợ xấu tài trợ XNK (1) 0 4.5 44
Nợ xấu vay KHDN (2) 0 64 541.23
Tỷ trọng (1/2) 0.00% 7.03% 8.13%
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
41
Lãi treo, nợ quá hạn, nợ xấu trong hoạt động tài trợ XNK tại BIDV HCMC năm 2007,
2008 là không có do sự cẩn trọng trong việc lựa chọn và thẩm định khách hàng nên hạn
chế đến mức tối đa rủi ro trong cho vay lĩnh vực XNK.
Tuy nhiên, đến cuối năm 2009, nợ xấu tài trợ XNK là 44 tỷ đồng, chiếm 8.13% trong tổng
dư nợ xấu vay khách hàng doanh nghiệp tại BIDV HCMC, tăng 39.5 tỷ đồng sovới
năm 2008, là dư nợ của một khách hàng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt
may. Nguyên nhân là từ giữa năm 2008, doanh nghiệp này gặp rủi ro ngoài ý muốn trong
hoạt động sản xuất, cháy nhà xưởng, kho nguyên vật liệu và thành phẩm vì vậyphát
sinh nợ gia hạn làm nợ nhóm 2 của BIDV HCMC tăng thêm 44 tỷ đồng trong năm 2009.
Nhìn chung, hoạt động tài trợ XNK của BIDV HCMC không phải là hoạt động mang
lại nguồn lợi nhuận lớn, tuy nhiên, đây là lĩnh vực ít rủi ro khi đối tượng vay là các khách
hàng truyền thống, hoạt động lâu năm và có uy tín.
2.2.5. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro đang áp dụng tại BIDV HCMC
Các sản phẩm phái sinh đang được xem là công cụ hữu hiệu được triển khai tại BIDV
HCMC nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tài trợ XNK.
2.2.5.1 Hoán đổi tiền tệ chéo CCS (Cross Currency Swap)
Các doanh nghiệp XNK thường đối mặt với rủi ro về tỷ giá trong quan hệ vay vốn với
ngân hàng như sau:
- Việc đi vay nguồn vốn VND, trong khi có nguồn thu USD từ hoạt động xuất khẩu, doanh
nghiệp đối mặt với biến động rủi ro tỷ giá USD/VND.
- Cơ hội tiết kiệm chi phí bị bỏ lỡ: doanh nghiệp không thể tận dụng được cơ hội chênh lệch
lãi suất để giảm chi phí vay vốn khi chênh lệch lãi suất USD và VND hiện đang ở mức 6%
(lãi suât USD thấp và lãi suất VND cao).
Vì vậy, sản phẩm CCS ra đời nhằm hạn chế rủi ro này cho doanh nghiệp
Cơ chế sản phẩm:
- Khi bắt đầu thực hiện giao dịch, doanh nghiệp không phải chuyển cho BIDV HCMC số
tiền VND đã vay tại hợp đồng vay;
- BIDV HCMC không phải chuyển cho doanh nghiệp số tiền gốc tương đương bằng USD
theo tỷ giá hoán đổi thoả thuận khi bắt đầu giao dịch;
42
- Theo kế hoạch trả nợ tại hợp đồng tín dụng, cuối kỳ BIDV HCMC thực hiện chuyểntiền
gốc và tiền lãi bằng VND cho doanh nghiệp; doanh nghiệp thực hiện chuyển tiền gốc và
tiền lãi bằng USD cho BIDV HCMC tương ứng theo tỷ giá hoán đổi USD/VND được xác
định trước tại thời điểm giao dịch.
Lợi ích của khách hàng:
- Bảo hiểm rủi ro tỷ giá USD/VND: doanh nghiệp cố định tỷ giá hoán đổi ngay tại thời
điểm giao dịch, qua đó giúp doanh nghiệp cố định chi phí trả lãi và gốc.
- Giảm đáng kể chi phí vay vốn khi chuyển từ nghĩa vụ trả lãi bằng lãi suất VND cao
sang trả lãi bằng bằng lãi suất USD thấp hơn rất nhiều.
- Chi phí vay vốn thấp và được cố định, công ty lúc này có thể yên tâm tập trung vào hoạt
động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn
Lợi ích của BIDV HCMC:
- Khi không thực hiện CCS: chỉ được hưởng chênh lệch giữa lãi suất mua vốn của hội sở
chính và lãi suất vay trên hợp đồng tín dụng (áp dụng theo từng khách hàng theo chính
sách khách hàng) khoảng từ 0%-2%/năm.
- Khi thực hiện CCS: được hưởng chênh lệch lãi suất khoảng 3%-3.9%/năm (bao gồm chênh
lệch trên hợp đồng tín dụng và chênh lệch trên hợp đồng CCS).
2.2.5.2 Hoán đổi lãi suất 1 đồng tiền IRS (Interest Rate Swap)
- Giao dịch hóan đổi lãi suất là việc các bên giao kết hợp đồng với nhau, theo đó mỗi bên
cam kết thanh tóan cho bên kia khoản tiền lãi.
- Giới hạn về thời hạn và số vốn gốc hoán đổi lãi suất đối với một doanh nghiệp
+ Thời hạn của một hợp đồng hoán đổi lãi suất do các bên thỏa thuận, nhưng tối đa
không quá thời hạn còn lại của hợp đồng giao dịch khoản vốn gốc.
+ Số vốn gốc của các hợp đồng hoán đổi lãi suất đối với một doanh nghiệp không
vượt quá 30% vốn tự có của ngân hàng.
- Lãi suất hoán đổi : các bên thoả thuận và cam kết trong hợp đồng hoán đổi lãi suất các
mức lãi suất để thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất.
Lợi ích giao dịch:
- Lợi ích khách hàng: giúp khách hàng chuyển khoản vay USD với lãi suất thả nổi sang
lãi suất cố định là cơ hội giúp khách hàng cố định chi phí trả lãi ở mức thấp nhất có thể
và phòng ngừa rủi ro lãi suất trong suốt thời gian còn lại của hợp đồng vay.
43
- Lợi ích BIDV HCMC: tăng thu dịch vụ từ chênh lệch lãi suất chào khách hàng và lãi
suất trả cho hội sở chính; đa dạng hoá sản phẩm và mở rộng mạng lưới khách hàng;
đồng thời nâng cao uy tín và vị thế BIDV với đối tác và khách hàng.
2.2.5.3 Các sản phẩm mua bán ngoại tệ:
a) Giao dịch kỳ hạn (FORWARD)
Giao dịch kỳ hạn là giao dịch trong đó BIDV HCMC và khách hàng cam kết mua bán với
nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định tại thời điểm giao dịch và việc
thanh toán sẽ được thực hiện vào một thời điểm xác định trong tương lai.
Lợi ích của khách hàng:
- Phòng ngừa được những rủi ro về biến động tỷ giá bất lợi đối với những khoản thu ngoại
tệ hoặc nghĩa vụ thanh toán ngoại tệ trong tương lai;
- Có cơ hội đầu tư kinh doanh kiếm lợi trên có sở có nhận định đúng về xu hướng biến
động tỷ giá ngoại tệ trong tương lai.
b) Giao dịch kỳ hạn không chuyển tiền (NDF – Non Deliverable Forward)
(Áp dụng đối với những đồng tiền không có khả năng tự do chuyển đổi)
Giao dịch kỳ hạn không chuyển tiền là một công cụ bảo hiểm rủi ro biến động tỷ giá đối
với những giao dịch mua bán ngoại tệ giữa một đồng tiền không có khả năng tự do chuyển
đổi (Ví dụ: Nhân dân tệ, Đôla Đài Loan, Won Hàn Quốc...) với Việt Nam đồng (hoặc đôla
Mỹ).
Lợi ích của khách hàng:
- Bảo hiểm rủi ro biến động tỷ giá đối với nghĩa vụ thanh toán những đồng tiền không có
khả năng chuyển đổi của mình. Tỷ giá thanh toán vào ngày đến hạn được cố định và biết
trước ngay từ ngày ký hợp đồng giao dịch;
- Không phải trả bất kỳ một khoản phí nào cho giao dịch này.
c) Giao dịch hoán đổi tiền tệ (CURRENCY SWAP)
Giao dịch hoán đổi ngoại tệ là giao dịch BIDV HCMC đồng thời mua và bán cùng một
lượng ngoại tệ với khách hàng, trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch là khác
nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Giao dịch hoán đổi có thể là sự kết hợp của:
44
01 giao dịch giao ngay + 01 giao dịch kỳ hạn
01 giao dịch kỳ hạn + 01 giao dịch kỳ hạn
Lợi ích của khách hàng:
- Phòng ngừa những rủi ro tỷ giá trong tương lai;
- Cân bằng các trạng thái kỳ hạn, kéo dài hoặc rút ngắn kỳ hạn của hợp đồng giao dịch đã
ký kết;
- Linh hoạt hóa, đa dạng hoá nguồn vốn để đầu tư, thanh toán;
- Tận dụng cơ hội thị trường để đầu tư, kinh doanh.
d) Giao dịch quyền chọn tiền tệ (CURRENCY OPTION)
Giao dịch quyền lựa chọn tiền tệ là một giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán quyền,
trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại
tệ xác định ở một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thoả thuận trước.
Hai loại giao dịch quyền chọn tiền tệ cơ bản:
- Giao dịch quyền chọn mua (call option): là giao dịch quyền chọn trong đó bên mua quyền
có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua một lượng ngoại tệ xác định ở một mứctỷ giá
xác định trong một khoảng thời gian thoả thuận trước.
- Giao dịch quyền chọn bán (put option): là giao dịch quyền chọn trong đó bên mua quyền
có quyền nhưng không có nghĩa vụ bán một lượng ngoại tệ xác định ở một mức tỷ giá
xác định trong một khoảng thời gian thoả thuận trước.
Lợi ích của khách hàng:
- Vừa có thể phòng ngừa rủi ro từ những biến động bất lợi của tỷ giá trong tương lai đối với
những nhu cầu giao dịch ngoại tệ trong tương lai, vừa có thể tận dụng cơ hội thị trường
trong trường hợp tỷ giá biến động có lợi;
- Linh hoạt hóa mức độ phòng ngừa rủi ro với chi phí được biết trước;
- Rất thích hợp để phòng ngừa rủi ro đối với những dòng tiền chưa rõ ràng;
- Có cơ hội đầu tư kinh doanh kiếm lợi trên có sở có nhận định đúng về xu hướng biến
động tỷ giá ngoại tệ trong tương lai;
45
2.2.5.4. Kết quả đạt được trong việc triển khai các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt
động tài trợ XNK:
Bảng 2.13:Kết quả giao dịch phái sinh trong hoạt động tài trợ XNK
Đơn vị tính:USD, VND
STT Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 6 tháng 2010
A Tổng doanh số (USD) 1,285,851,703 708,317,665 310,766,799
1 Phân theo loại tiền
Doanh số USD 889,061,220 599,236,531 273,794,353
Doanh số ngoại tệ khác 396,790,483 109,081,134 36,972,446
2 Phân theo loại giao dịch
Doanh số giao ngay 1,169,729,339 692,001,472 293,757,757
Doanh số kỳ hạn 0 1,773,058 5,009,042
Doanh số hoán đổi 0 0 12,000,000
Doanh số quyền chọn 116,122,364 15,222,943
B Tổng lợi nhuận (đồng) 32,272,439,778 13,790,840,516 13,963,351,453
1 Lợi nhuận từ USD 7,771,504,327 7,230,500,229 10,258,423,446
2 Lợi nhuận từ ngoại tệ khác 23,677,954,274 6,036,470,258 3,190,438,303
3 LN hàng hóa tương lai 459,377,214 6,744,596 83,077,534
4 LN hoán đổi lãi suất 363,603,963 517,125,433 431,412,170
Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và các sản phẩm phái sinh của BIDV HCMC chỉ bắt đầu từ
năm 2008, các năm trước, hoạt động mua bán ngoại tệ chỉ nhằm mục đích đáp ứng nhu
cầu thanh toán của khách hàng với nguồn ngoại tệ được hội sở chính cung cấp, không phát
sinh lợi nhuận. Sang năm 2008, với cơ chế điều chuyển vốn nội bộ có quy định giá chuyển
vốn, căn cứ giá bán của hội sở chính, BIDV HCMC sẽ giao dịch với khách hàng và cân
đối với tổng nhu cầu để đảm bảo lợi nhuận chung.
Có thể thấy được tình hình hoạt động kinh doanh ngoại tệ của BIDV HCMC chủ yếu là
kinh doanh vào sản phẩm truyền thống là giao ngay, doanh số kỳ hạn và quyền chọn không
đáng kể. Trong năm 2008, phát sinh doanh số quyền chọn cao là do tỷ giá USDthị trường
biến động phức tạp, giao dịch mua bán ngoại tệ của với khách hàng thực hiện theo tỷ giá
thị trường thông qua phương thức quyền chọn mua.
a) Đối với nhóm sản phẩm truyền thống:
Tổng doanh số mua bán ngoại tệ năm 2009 đạt 709 triệu USD quy đổi, giảm 44.9%
(#576.85 triệu) so với năm 2008. Doanh số mua bán ngoại tệ giảm so với cùng kỳ năm
46
trước là do trong 06 tháng đầu năm 2008, tỷ giá USD thị trường biến động phức tạp, giao
dịch mua bán ngoại tệ của BIDV HCMC với hội sở chính và khách hàng thực hiện theo tỷ
giá thị trường thông qua ngoại tệ khác nên doanh số tăng mạnh. Trong năm2009,
giao dịch hối đoái giao ngay vẫn chiếm tỷ lệ lớn (# 98%) trong tổng doanh sốmua
bán ngoại tệ. Từ tháng 7 đến tháng 11/2009 BIDV HCMCcó phát sinh các giao dịch
khách hàng mua kỳ hạn ngoại tệ USD, EUR, doanh số giao dịch kỳ hạn đạt 1.77 triệu
USD. Doanh số giao dịch quyền chọn USD/VND thực hiện với khách hàng đạt
15.22 triệu USD, giảm 100.89 triệu USD (# 87%) so với năm 2008 (chỉ phát sinh giao dịch
từ giữa tháng 02 đến giữa tháng 3).
b) Đối với nhóm hàng hóa phái sinh:
Sản phẩm hàng hóa tương lai: Trong 12 tháng năm 2008, chỉ có 3 doanh nghiệp tham gia
giao dịch hàng hóa tương lai với lợi nhuận đạt 460 triệu đồng.
Trong năm 2009, giao dịch hàng hóa tương lai tại BIDV HCMC tuy có phát sinh giao dịch
nhưng thấp. Do tình hình kinh doanh không khả quan, các doanh nghiệp này giao dịch
trong thời gian 2009 lỗ nhiều nên đã tạm thời ngưng giao dịch trên thị trường hàng hóa
tương lai. Điều này khiến lợi nhuận từ giao dịch hàng hóa tương lai năm 2009 rất thấp, đạt
6,7 triệu đồng, giảm 98% so với cùng kỳ năm 2008.
Đối với sản phẩm hóan đổi lãi suất: Trong năm 2009, BIDV HCMC chỉ phát sinh 11 giao
dịch hoán đổi tiền tệ chéo USD/VND với 4 khách hàng xuất khẩu. Doanh số giao dịch hoán
đổi tiền tệ chéo USD/VND ở mức 2,625,810.48 USD, lợi nhuận hóan đổi lãi suất thu được
517.12 triệu đồng, tăng 42.2% (tương đương 153.52 triệu) so với cùng kỳ năm 2008. Trong
06 tháng đầu năm 2010, BIDV HCMC chỉ có phát sinh 04 giao dịch hoán đổi tiền tệ chéo
USD/VND với 1 khách hàng xuất khẩu duy nhất. Doanh số giao dịch hoán đổi tiền tệ chéo
USD/VND là 1,523,430.07 USD, lợi nhuận hóan đổi lãi suất thu được 431 triệu đồng.
Như vậy, tại BIDV HCMC các sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, lãi suất
chưa phát huy tác dụng, chưa xứng tầm với chi nhánh có dư nợ lớn trong toàn hệ thống
ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Trong khi các ngân hàng trên cùng địa bàn đang
tăng mạnh dịch vụ này, xem đây là một nguồn thu phí và thu hút nguồn USD hấp dẫn thì
BIDV HCMC bỏ ngỏ thị trường này.
47
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XNK TẠI BIDV HCMC
2.3.1.Mặtđược
BIDV HCMC đã xây dựng được hình ảnh là một chi nhánh Ngân hàng năng động, đã
chuyển dịch cơ cấu vay từ hoạt động vay truyền thống là vay trong lĩnh vực xây lắp sang
các lĩnh vực khác, đặc biệt là vay trong lĩnh vực XNK.Trong các năm qua, BIDV HCMC
đã bắt đầu làm quen và tạo dựng một nền khách hàng có quy mô XNK lớn, phát triển và
hoàn thiện các dịch vụ liên quan đến xuất nhập khẩu để ngày càng mở rộng quy mô tín
dụng và thu hút khách hàng hơn nữa trong quá trình phát triển của mình.
Trong các mốc thời gian hoạt động, trong năm 2008, hoạt động tài trợ XNK của BIDV
HCMC là sôi động nhất, thể hiện ở các chỉ tiêu: dư nợ (498 tỷ đồng), doanh số vay (2.000
tỷ đồng), doanh số thu nợ (1.933 tỷ đồng), thu nhập lãi (86 tỷ đồng).Trong năm 2009 – 6
tháng đầu năm 2010, hoạt động tài trợ XNK giảm quy mô nhưng vẫn mang lại lợi nhuận ở
mức ổn định cho BIDV HCMC.
Với quy mô vốn lớn và uy tín trong thanh toán với các ngân hàng nước ngoài, BIDV HCMC
trong thời gian qua đã hỗ trợ cho các hợp đồng nhập khẩu có giá trị lớn, đặcbiệt là
cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng, xăng dầu,luyện
kim…, giá trị mỗi hợp đồng nhập khẩu có giá trị lớn hơn USD1,000,000, đặc biệt có những
hợp đồng lớn hơn USD15,000,000 (nhập khẩu thép, xăng dầu).
2.3.2 Tồn tại
Bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động tài trợ XNK tại BIDV HCMC cũng đã
bộc lộ không ít những hạn chế, cụ thể:
- Quy mô dư nợ tài trợ XNK chưa tương xứng với tiềm năng và quy mô dư nợ của BIDV
HCMC. So với tốc độ tăng trưởng cao của kim nghạch XNK của nuớc ta trong thời gian
qua, có thể thấy hoạt động tài trợ XNK của BIDV HCMC còn yếu. Trong 3 năm 2008-
2010, mức tăng trưởng tín dụng chung của BIDV HCMC là 10-15%/năm, trong khi đó, dư
nợ tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV HCMC đều suy giảm. Dư nợ tài trợ XNK chiếm 12-
14% trong tổng dư nợ tại thời điểm 2008-2009, sang đến 6 tháng đầu năm 2010, dư nợ
XNK chỉ chiếm 3% .
48
- Trong cơ cấu dư nợ tài trợ XNK, dư nợ, doanh số cho vay – thu nợ của tài trợ nhập
khẩu luôn cao hơn tài trợ xuất khẩu.
- Thiếu kinh nghiệm trong hoạt động tài trợ XNK: từ khi kinh tế Việt Nam mở cửa từ
năm 1986 đến nay, kinh tế ngoại thương của Việt Nam đã không ngừng phát triển và
gặt hái rất nhiều thành công. Thị trường quốc tế ngày càng được mở rộng, nền sản xuất
Việt Nam đã hướng mạnh vào xuất khẩu, thâm nhập sâu rộng vào thị trường thế giới. Hoạt
động XNK ngày càng phát triển, kim ngạch XNK của Việt Nam không ngừngtăng
qua các năm. Nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh và nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng
liên quan trong giao thương quốc tế, của các doanh nghiệp là rất lớn và đa dạng. Thế
nhưng đến năm 2006, BIDV HCMC mới bắt đầu có những sản phẩm liên quan tàitrợ
xuất khẩu đầu tiên. BIDV HCMC thực sự chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực XNK,
các chuyên viên quan hệ khách hàng của BIDV HCMC chưa nắm bắt hết được các nhu
cầu đa dạng trong hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp XNK,
không am hiểu về các điều kiện giao dịch cũng như quy định về thanh toán quốc tế,
dẫn tới gặp nhiều hạn chế khi tiếp cận khách hàng, chưa khai thác mạnh được nhóm đối
tượng khách hàng doanh nghiệp XNK.
- Các sản phẩm tài trợ XNK chưa đa dạng: BIDV HCMC mới chỉ tập trung vào một số
phương thức truyền thống như vay từng lần và vay theo hạn mức, còn các hình thức tín
dụng khác chưa được chú trọng áp dụng do đó chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của
khách hàng. Chưa có các gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu trọn gói từ khâu
thu mua nguyên liệu đến khi báo có tiền vào tài khoản khách hàng.
- Biểu phí thanh toán, giá mua bán ngoại tệ, lãi suất vay chưa linh hoạt, cạnh tranh, thời gian
giải quyết cho khách hàng chưa kịp thời gian.
- Mức lãi suất vay USD, tỷ giá mua bán USD cho khách hàng còn kém cạnh tranh do nguồn
USD hạn chế, chưa khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu bán USD lại cho ngân hàng
để tạo nguồn USD kinh doanh.
- Việc thu thập thông tin về đối tác nước ngoài (đối tác của khách hàng) còn hạn chế và chưa
được chú trọng đúng mức đã ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định khi cấp tíndụng
cũng như chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.
- Chất lượng thẩm định còn thấp: khi thẩm định cho vay căn cứ vào báo cáo tài chính để
đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định là
49
chưa đủ, chưa chính xác, chỉ nắm được thông tin về một số chỉ tiêu không có sự biến động
nhiều như: doanh thu, tài sản cố định, còn các chỉ tiêu khác như: luân chuyển vốn, tiền
mặt, công nợ, phải thu, phải trả, hàng tồn kho, hệ số nợ/vốn chủ sở hữukhông thể
cập nhật kịp thời, chính xác trong từng thời điểm. Thẩm định hồ sơ vay vốn, cán bộ quan
hệ khách hàng phần lớn dựa vào các thông tin và các báo cáo tài chính do khách hàng cung
cấp dẫn đến đánh giá sai lệch và tài trợ không chính xác.
- Thiếu khách hàng: hệ thống xếp loại khách hàng chưa chú trọng đến doanh nghiệp nhỏ
và vừa, nên chưa khuyến khích các doanh nghiệp này vay vốn và sử dụng các dịch vụ thanh
toán xuất nhập khẩu tại BIDV HCMC, trong khi đó, đây là lượng khách hàng mang lại
nguồn thu lớn do giao dịch nhiềuvà ổn định.
- Công tác kiểm tra giám sát tình hình sử dụng vốn vay chưa chặt chẽ: việc theo dõi, giám
sát tiền vay, đối chiếu số liệu, hồ sơ, căn cứ chứng từ giải ngân chưa chặt chẽ,giám
sát tình hình sử dụng vốn vay chưa được tiến hành thường xuyên, đầy đủ. Cơ chế kiểm soát
mới chỉ chú trọng đến công tác kiểm tra, kiểm soát xử lý, chứng từ cho từng khỏan vay cụ
thể chứ chưa chú ý đến kiểm soát tổng quát.
- Thiếu nhu cầu thực sự từ phía khách hàng đối với các sản phẩm phái sinh: trước đây tỷ
giá USD/VND thường xuyên ổn định tại mức trần so với giá NHNN công bố, khách hàng
không quan tâm tới vấn đề rủi ro trong tài trợ xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, sangnăm
2007 và đầu năm 2008, thị trường chứng kiến sự biến động và đảo chiều mạnh mẽ của
VND so với đồng Đôla Mỹ, tỷ giá USD/VND giảm xuống giao dịch tại mức sàn. Nguyên
nhân là do lượng lớn ngoại tệ từ các hoạt động đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước ngoài, kiều
hối đổ vào các NHTM làm dư thừa ngoại tệ do mất cân đối cung cầu. Nhưng từ năm
2009 đến nay, tình hình tỷ giá hối đoái có nhiều biến động, tỷ giá khách hàng giao dịch lúc
nào cũng ở mức trần do thiếu hụt nguồn ngoại tệ, có nhiều doanh nghiệp lại dự trữ ngoại
tệ dẫn đến tỷ giá bị đẩy lên cao. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có
thói quen hay nói chính xác hơn là chưa quan tâm tới phòngchống rủi ro đối với các
hoạt động ngoại tệ của mình. Đặc biệt với nền tảng khách hàng
là các doanh nghiệp quốc doanh như các khách hàng đang giao dịch tại BIDV HCMC
thì mối quan tâm đến các sản phẩm phái sinh càng ít. Hiện nay, khi lãi suất USD trên
thị trường đang ở mức thấp, các doanh nghiệp hầu như không quan tâm đến sản phẩm
50
hoán đổi lãi suất mặc dù sản phẩm này đã được BIDV HCMC giới thiệu từ năm 2006,
đến nay, vẫn chưa có doanh nghiệp nào thực hiện nghiệp vụ này.
- Các sản phẩm phái sinh chưa phát huy hết tác dụng, tính đến nay, chỉ thực hiện được
giao dịch hóa đổi tiền tệ chéo, các sản phẩm khác không có doanh số. Các sản phẩm
phái sinh trong mua bán ngoại tệ chỉ dừng lại ở việc mua USD trả nợ đến hạn, thanh
toán LC, DP, TTR chứ chưa hỗ trợ được trong công tác phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho doanh
nghiệp đang giao dịch tại BIDV HCMC.
2.3.3. Những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động tài trợ XNK của
BIDV HCMC
2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan
a) Về tình hình chung của nền kinh tế
- Năm 2009, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều khó khăn do tác động tiêu cực của cuộc
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Chính phủ cùng NHNN đã triển khai
kịp thời gói kích thích kinh tế, góp phần giải quyết những vấn đề trước mắtvề tăng
trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô trong năm 2009. Tuy nhiên, nó cũng để lạinhững hệ
quả tiêu cực ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng bền vững, cũng như khảnăng ổn định
nền kinh tế.
- Bên cạnh đó, nền kinh tế trong những tháng cuối năm 2009 có nhiều sự biến động cùng
với sự thay đổi của chính sách. Đó là những biến động về lãi suất, tỷ giá và những điều
chỉnh chính sách liên quan; sự biến động khôn lường của thị trường vàng và sự phản
ứng thái quá của thị trường chứng khoán.... Mặc dù các biện pháp kích thích kinh tế đang
được thực hiện và mang lại những kết quả ban đầu, nhưng rủi ro về vĩ mô cũngnhư
rủi ro về chính sách tiền tệ là những trở ngại lớn, ảnh hưởng đến đà tăng trưởng chung của
ngành ngân hàng.
- Đặc thù của hoạt động tài trợ XNK là chịu ảnh hưởng rất lớn của nền kinh tế và môi trường
kinh doanh trong và ngoài nước. Trong những năm gần đây, tình hình tỷ giángoại tệ, giá
vàng, giá bất động sản có nhiều biến động mạnh, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc
đưa ra các quyết định tín dụng.
b) Về cơ chế, chính sách:
51
- Hành lang pháp lý trong hoạt động tín dụng của Nhà nước, các bộ ngành chưa thật sự đồng
bộ, các văn bản hướng dẫn chưa đi vào cuộc sống dẫn đến bất cập khi triển khai xác định,
đánh giá giá trị tài sản thế chấp cầm cố, tính pháp lý của tài sản đảm bảo tiền vay; xử lý
đảm bảo tiền vay.
- Chưa có một quy chế thống nhất về hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu: mặc dù chính phủ có
nhiều chính sách khuyến khích xuất khẩu và cùng với các ngân hàng hỗ trợ để hoạt động
XNK của các doanh nghiệp phát triển song NHNN lại chưa có một quy chế cụ thể về hoạt
động ngân hàng trong lĩnh vực XNK. Các ngân hàng thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu dựa
trên quy trình tín dụng của riêng mình, không có một quy chế thống nhất và thường khác
nhau giữa các ngân hàng, gây khó khăn cho các doanh nghiệp XNK vàlàm hạn chế
hiệu quả tài trợ xuất nhập khẩu của các ngân hàng.
- Chưa quy định chế độ kiểm toán bắt buộc đối với các doanh nghiệp: việc rất nhiều
doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay chưa thực hiện công tác kiểm toán đã làm giảm
tính trung thực trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp, từ đó không tạo được niềm tin
với khách hàng, với các đơn vị kinh tế khác kể cả ngân hàng. Việc luồn lách, trốn thuế khi
làm báo cáo thuế và đánh bóng số liệu khi làm hồ sơ vay vốn ngân hàng là chuyện thường
thấy ở các doanh nghiệp chưa thực hiện chế độ kiểm toán. Đây là lý do khiếnnhân viên
ngân hàng gặp khó khăn và mất nhiều thời gian trong công tác kiểm tra, thẩm định.
c) Về phía doanh nghiệp vay vốn:
- Năng lực vay vốn của doanh nghiệp: vốn tự có của các doanh nghiệp Việt Nam quá nhỏ so
với nhu cầu vay. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, vốn lưu động được giao không đáng
kể, tài sản cố định tập trung lớn nhất là đất đai nhưng chủ yếu dưới hình thức thuê do đó
chỉ được thế chấp giá trị tài sản trên đất. Các tài sản trên đất của doanh nghiệp nhà nước
nếu không là các máy móc nhà xưởng đã cũ thì cũng hình thành từ vốn vay ngân hàng đối
với các tài sản mới đầu tư do vậy tài sản bảo đảm và vốn tự có tham gia vào phương án
kinh doanh rất hạn chế. Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp mà
phần lớn được thành lập trong các năm gần đây, hầu hết đều có vốnchủ sở hữu thấp
(khoảng vài tỷ đến vài chục tỷ đồng) do đó khi muốn thực hiện các thương vụ lớn thì vấn
đề tài sản đảm bảo nợ vay và vốn tự có tham gia luôn là một bài toán hóc búa đối với cả
ngân hàng và khách hàng.
52
- Về kinh nghiệm trong hoạt động XNK của doanh nghiệp Việt Nam: Việt Nam đang trong
quá trình hội nhập kinh tế thế giới và thực sự lĩnh vực xuất nhập khẩu vẫn còn là một lĩnh
vực khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Hầu hết các doanh nghiệp Việt
Nam đều còn thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực này trong khi các doanh nghiệp nước ngoài
đều đã có thời gian phát triển lâu đời và rất nhiều kinh nghiệm. Chính vì vậy ngay từ khi
ký kết hợp đồng ngoại thương cho đến khi xử lý các phát sinh thì thường các doanh nghiệp
Việt Nam chịu rất nhiều bất lợi do không lường hết được các tình huống xảy ra và đã ảnh
hưởng trực tiếp đến ngân hàng.
- Các doanh nghiệp có doanh số XNK lớn đa phần có mang yếu tố nước ngoài: kim
ngạnh XNK của nước ta tăng mạnh trong những năm qua, sản xuất trong nước phát triển
song nền sản xuất của của Việt Nam vẫn mang nặng bản chất gia công. Các doanh nghiệp
chưa chủ động mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh XNK của mình. Đa số các
doanh nghiệp XNK có yếu tố nước ngoài thường chú trọng quan hệ với các ngân hàng có
nguồn gốc từ nước mình, chưa quan tâm hợp tác với các ngân hàng trong nướcvề thanh
toán quốc tế, tư vấn, bảo lãnh, tài trợ vốn sản xuất, kinh doanh XNK, Ngoài ra, các ngân
hàng nước ngoài lại có lợi thế lớn về nguồn vốn ngoại tệ để cho vay nên lãi suất đa phần ở
mức thấp, thủ tục đơn giản nên dễ thu hút khách hàng hơn.
- Các sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỷ giá đối với các doanh nghiệp
XNK là dòng sản phẩm tài chính cao cấp, đòi hỏi khách hàng phải có khả năng phán đoán
và nhận định thị trường tốt trong tương lai mới có thể nhận thấy được lợi íchtừ sản phẩm
này. Tuy nhiên, phần lớn khách hàng chưa thể nhận định xu hướng thị trường, tầm quan
trọng của rủi ro tài chính và tâm lý “sợ trách nhiệm” nên chưa quantâm nhiều đến sản
phẩm phái sinh. Vì vậy có thể nói đây là sản phẩm khá “kén chọn” đối tượng khách hàng.
2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan nói trên, về phía BIDV HCMC còn có một số
nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng này.
a) Nguyên nhân từ cơ chế, chính sách của BIDV:
- Quy trình vay vốn còn nhiều thủ tục, thiếu linh hoạt, thiếu tính cạnh tranh: tính đến nay,
BIDV chỉ có 1 quy chế vay tài trợ xuất khẩu là Quy định số 6838/CV-TD3 ngày
53
13/12/2005 V/v hướng dẫn vay tài trợ xuất khẩu, đến nay, vẫn chưa có quy trình nào
sửa đổi trong tình hình cạnh tranh nhu hiện nay. So với các ngân hàng thương mại khác
(ACB, EximBank, TechcomBank, VietcomBank…) thì tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV
ra đời sau và sản phẩm còn hạn chế, vì vậy, để tăng tính cạnh tranh, với lợi thế là người đi
sau, BIDV cần đổi mới quy trình giải quyết vay theo hướng ngày càng đơngiản, nhanh
chóng nhằm thu hút khách hàng đến với mình.Hiện nay, theo dự thảo về chính sách vay tài
trợ xuất khẩu đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực như gạo, cao su, cà phê, gỗ, thủy
hải sản còn rất nhiều thủ tục rườm rà về chứng từ, về xác định mứcdự trữ nguyên vật
liệu, thủ tục thế chấp tài sản phức tạp (thế chấp quyền đòi nợ hìnhthành trong tương lai
từ hợp đồng xuất khẩu theo phương thức L/C, D/P; thế chấp hàng tồn kho…), mức vay…
Tuy là đơn vị đi sau trong sản phẩm tài trợ XNK, BIDV vẫn chưa có chính sách thực sự
hấp dẫn nhưng an toàn, đảm bảo khả năng cạnh tranh trong giai đoạn hiện nay.
- Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng chưa hợp lý: sau gần 3 năm áp dụng hệ thống xếp
hạng tín dụng nội bộ, từ thực tế cho thấy một số chỉ tiêu đánh giá của hệ thống xếp hạng
hiện hành của BIDV còn nhiều điểm chưa hợp lý, chưa bao quát như: xác định ngành nghề
kinh tế còn thiếu sót một số ngành hoạt động của các doanh nghiệp đang có quan hệ tại
BIDV, một số chỉ tiêu đánh giá phi tài chính có tính chất vĩ mô so với các doanh nghiệp
quy mô nhỏ, chưa đánh giá được hết các đối tượng khách hàng doanh nghiệphoạt động
trong nền kinh tế. Hiện tại, hệ thống xếp hạng tín nhiệm tại BIDV phân biệt quy mô hoạt
động của khách hàng thành 3 nhóm chính: lớn, vừa và nhỏ. Khi thực hiện chấm điểm xếp
hạng khách hàng, các doanh nghiệp có quy mô hoạt động khác nhau sẽ được đánh giá dựa
trên cùng một bộ chỉ tiêu với điểm trọng số khác nhau. Như vậy,việc chấm điểm các
doanh nghiệp có quy mô hoạt động khác nhau không dựa trên nội dung các chỉ tiêu đánh
giá, mà phụ thuộc vào tỷ trọng của các chỉ tiêu này. Đây làkhuyết điểm của hệ thống
xếp hạng tại BIDV.
b) Nguyên nhân từ BIDV HCMC:
 BIDV HCMC vẫn chưa có một chiến lược cụ thể đối với tài trợ xuất khẩu. Trong thời gian
qua, trong khi tài trợ xuất khẩu là chiến lược phát triển chính của các ngân hàng thương
mại thì BIDV HCMC chỉ chú trọng tài trợ nhập khẩu, đến nay, dưới áp lực
54
cạnh tranh và tầm quan trọng ngày càng cao của tài trợ xuất khẩu, BIDV HCMC mới thực
sự có những sản phẩm hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu nhưng chỉ mới ở giai đoạn thăm dò,
học hỏi. Việc chưa có một chiến lược đối với tài trợ xuất khẩu sẽ vừa ảnh hưởng đến khả
năng tăng quy mô của hoạt động tín dụng trong thời kỳ hội nhập vừaảnh hưởng đến
khả năng cạnh tranh, phát triển trong tương lai của BIDV HCMC.
 Chưa chú trọng đến công tác maketing sản phẩm tài trợ XNK. Tại địa bàn TP. Hồ Chí
Minh, khi nói đến tài trợ XNK hầu hết mọi doanh nghiệp đều nghĩ đến ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam (VietCom Bank), Eximbank, ACB… Trong các năm qua, BIDV
HCMC luôn được đánh giá cao trong công tác tín dụng, là một trong đơn vị đứng đầu
toàn hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Tuy vậy, đến nay,rất nhiều
doanh nghiệp vẫn biết đến BIDV là một ngân hàng cấp phát, chuyên về đầu tư dự án,
và đó cũng một phần do công tác marketing của BIDV HCMC. Nếu thựchiện tốt
công tác marketing tài trợ xuất nhập khẩu thì BIDV HCMC sẽ có thêm nhiều khách hàng
tốt, góp phần nâng cao chất lượng tài trợ XNK tại BIDV HCMC.
Việc chưa thực hiện các biện pháp marketing trong tài trợ XNK vừa là nguyên nhân trực
tiếp của việc quy mô tài trợ xuất nhập khẩu còn chưa tương xứng với tiềm năng của
BIDV HCMC. Đồng thời nó cũng là nguyên nhân trực tiếp của cơ cấu dư nợ xuất nhập
khẩu mà cụ thể là tỷ trọng dư nợ xuất nhập khẩu ngoài quốc doanh của BIDV HCMC còn
thấp.
 Chưa đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến tài trợ XNK: hoạt động ngoại
thương của Việt Nam ngày càng phát triển, nhu cầu cần tài trợ của các doanh nghiệp XNK
ngày càng đa dạng. Từ khâu đầu tư xây dựng nhà xưởng đến mua sắm, nhập khẩu máy
móc thiết bị, nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu, khai báohải quan,
thuê mướn phương tiện vận tải, đóng thuế nhập khẩu (tại nước người mua), thuê dịch vụ
vận chuyển giao nhận hàng theo yêu cầu của khách hàng, tất cả đều có thể phát sinh
nhu cầu cần tài trợ từ phía ngân hàng. Nhiều ngân hàng như VIBank, Techcombank,
Eximbank, ACB đã liên kết với các công ty dịch vụ vận tải, giao nhận hàng hóa quốc
tế cung cấp sản phẩm tài trợ trọn gói cho hoạt động sản xuất và giao nhận hàng hóa theo
từng hợp đồng, từng đơn hàng của các doanh nghiệp XNK.Tại BIDV HCMC, hoạt
động tài trợ XNK chủ yếu chỉ là tài trợ để mở L/C nhập khẩu.
55
Sản phẩm tài trợ XNK không nhiều, không linh hoạt theo nhu cầu phát sinh thực tế của
các doanh nghiệp đã hạn chế sức cạnh tranh của tài trợ XNK.
 Chưa phát triển đồng bộ các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ: các dịch vụ ngân hàng như kinh
doanh ngoại tệ, chiết khấu bộ chứng từ, thu hộ, tư vấn tài chính, đầu tư kho bải cho thuê,
liên kết tài trợ, cũng là mối quan tâm của các doanh nghiệp XNK bên cạnh nhu cầu vay
vốn. Các dịch vụ trên tại BIDV HCMC chưa phát triển đồng bộ bên cạnh hoạt động tài
trợ XNK. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ phụ thuộc hoàn toàn vào hội sởchính.
BIDV HCMC hiện nay chỉ chú trọng tài trợ XNK đối với các doanh nghiệp cótài sản
thế chấp, có xếp hạng tín dụng cao, quan hệ lâu năm với ngân hàng, chưa đẩy mạnh đa
dạng hóa sản phẩm tín dụng theo nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp, hạn chế hoạt
động tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng.
 Chưa có một bộ phận hoạt động riêng biệt về các sản phẩm phái sinh hỗ trợ tài trợ xuất
nhập khẩu, bộ phận này hiện nay vẫn còn nằm trong Phòng kế hoạch tổng Hợp. Vì
vậy, chưa có nguồn nhân lực, cơ sở vật chất để phát triển sản phẩm này.
 Đội ngũ cán bộ chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu trước tình hình mới: Lực lượng cán bộ
tham gia vào hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại BIDV HCMC bộc lộ những hạn chế
nhất định, chưa thực sự am hiểu sâu sắc về tài trợ xuất nhập khẩu, về thông lệ quốctế
trong các giao dịch ngoại thương dẫn đến những hạn chế trong công tác thẩm địnhvà
tư vấn cho khách hàng và trong quá trình xử lý các nghiệp vụ hằng ngày. Theo mô hình
tổ chức hiện nay, bộ phận thanh toán quốc tế không tồn tại, tất cả các nghiệp vụ phát sinh
trong hoạt động XNK (từ công tác tiếp thị - cho vay – thanh toán quốc tế -mua bán
ngoại tệ) đều được thực hiện tại phòng quan hệ khách hàng, trong khi đó đội ngũ nhân
viên còn ít am hiểu về các điều khoản thương mại trong giao dịch ngoạithương và
thanh tóan quốc tế tạo một áp lực lớn về nâng cao trình độ của cán bộ quanhệ khách
hàng để đáp ứng nhu cầu ngày càng mở rộng của hoạt động XNK tại BIDV HCMC.
 Ngoài ra, do phạm vi hoạt động tài trợ XNK của BIDV HCMC còn hạn hẹp, chỉ mới
dừng lại ở vay làm hàng xuất khẩu, vay thanh toán LC nhập khẩu, trong khi đó, thực tế
hoạt động của doanh nghiệp XNK phát sinh rất nhiều nhu cầu và rất cần được sự tư
vấn hỗ trợ từ phía ngân hàng tài trợ. Tuy nhiên, kiến thức về ngoại thương và kiến thức
liên quan đến XNK của chuyên viên quan hệ khách hàng còn rất hạn chế, chưa được
56
huấn luyện và đào tạo chuyên nghiệp cộng với sản phẩm khá ít ỏi làm hạn chế hiệu quả
phát triển của tài trợ XNK tại BIDV HCMC.
 Công tác phòng ngừa rủi ro, kiểm tra kiểm soát nội bộ tại BIDV HCMC chưa được thực
hiện tốt: thực tế tại BIDV HCMC và tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói
chung việc phòng ngừa rủi ro chưa được thực hiện tốt. Đặc biệt hệ thống thu thập thông
tin còn nhiều bất cập dẫn đến việc thiếu thông tin khi xử lý nghiệp vụ. Tronglĩnh vực
XNK, một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của khách hàng đó là
tiềm lực và uy tín của đối tác nước ngoài, tuy nhiên hiện nay việc thu thập thông tin về
đối tác nước ngoài trong quá trình thẩm định của BIDV HCMC còn hạnchế và chưa
được chú trọng đúng mức.
Kết luận chương 2
Cùng với xu thế phát triển của kinh tế Việt Nam hiện nay, lĩnh vực ngoại thương và tài
chính ngân hàng - những ngành kinh tế quan trọng của đất nước sẽ tiếp tục đối mặt với
sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn ở cả trong nước và quốc tế. Với nỗ lực để tăng
quy mô của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tương ứng với quy mô hiện nay của BIDV
HCMC, BIDV HCMC đã có những sản phẩm và định hướng đúng đắn .Tuy nhiên, BIDV
HCM cũng còn có nhiều mặt hạn chế tồn tại nhất là trong lĩnh vực tài trợ XNKcho các
doanh nghiệp như sản phẩm chưa đa dạng, quy trình hoạt động chưa hoànthiện, trình
độ nhân sự và kỹ thuật công nghệ ngân hàng còn yếu, chưa phát triển đồngbộ các dịch
vụ hỗ trợ XNK...
Để hoàn thiện, tăng cường sức cạnh tranh và phát triển, BIDV HCMC cần khắc phục nhanh
những hạn chế đang tồn tại và tạo ra những tiện ích ưu việt của ngân hàng mình nhằm thu
hút và phát triển khách hàng là doanh nghiệp XNK.
57
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN TP.HỒ CHÍ MINH
3.1. Định hướng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam
 Từng bước đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất khẩu, coi đây là hoạt động mũi nhọn
trong những năm tiếp theo, với nguyên tắc hoạt động phải mang tính khoa học,
bài bản và có hiệu quả. Lựa chọn điểm đột phá là các sản phẩm đang có thế mạnh
xuất khẩu, gắn kết với các tổng công ty có tiềm năng xuất khẩu.
 Duy trì phát triển tốt mối quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài để thu
xếp nguồn vốn tài trợ, sử dụng các dịch vụ ngân hàng và học hỏi kinh nghiệm về
các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
 Đảm bảo đủ nội lực để tạo đà cho bước nhảy vọt của hoạt động tài trợ xuất khẩu
bên cạnh việc duy trì và phát triển hoạt động tài trợ nhập khẩu và các dịch vụ ngân
hàng quốc tế.
 Đẩy mạnh tài trợ xuất nhập khẩu gắn với mở rộng thêm khách hàng tốt, tăng nhanh
thị phần tín dụng của BIDV trong hoạt động xuất nhập khẩu.
 Gắn với tài trợ xuất nhập khẩu, thực hiện đồng bộ các dịch vụ trọn gói để nâng cao
hiệu quả kinh doanh của BIDV.
3.2. Giải pháp nhằm mở rộng và phát triển tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV
HCMC trong giai đoạn hiện nay
3.2.1. Đối với Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP.Hồ Chí Minh
3.2.1.1 Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu và tăng cường quảng bá hình ảnh BIDV HCMC
đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
Thương hiệu là một nhân tố quan trọng góp phần làm nên thành công trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Một thương hiệu ngân hàng mạnh được tạo nên bởi nhiềuyếu
tố, song quan trọng vẫn là uy tín của ngân hàng, chất lượng sản phẩm và dịch vụngân
hàng và phong cách phục vụ chuyên nghiệp.
58
Để xây dựng và phát triển thương hiệu, BIDV HCMC cần phải ngày càng hoàn thiện và
nâng cao năng lực và uy tín của mình thông qua việc mở rộng hoạt động kinh doanh, đa
dạng hóa các sản phẩm kinh doanh của mình dự trên một quy trình thực hiện nhanh chóng,
an toàn, hiệu quả và đặc biệt là phải luôn giữ đúng mọi cam kết với khách hàng. BIDV
HCMC cũng cần ngày càng đa dạng hóa các dịch vụ hỗ trợ, mở rộng các kênh thông tin
giữa khách hàng với ngân hàng để tạo ra các tiện ích tốt nhất cho khách hàng bên cạnh các
sản phẩm kinh doanh truyền thống nhằm đem đến cho khách hàng sự thỏa mãn cao nhất
khi đến giao dịch với BIDV HCMC. Bên cạnh đó, BIDV HCMC cần tạo dựng một phong
cách kinh doanh và phục vụ khách hàng chuyên nghiệp bằng kỹ năng giỏi, trình độ nghiệp
vụ vững vàng, cách thức giải quyết công việc nhanh chóng, hiệu quả và cung cách phục
vụ khách hàng ân cần, thân thiện của đội ngũ nhân viên.
Cùng với việc xây dựng và phát triển thương hiệu, BIDV HCMC cần đẩy mạnh quảng bá
hình ảnh, thông tin về ngân hàng mình đến với đông đảo tầng lớp nhân dân, đến với các
doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế kinh doanh XNK bằng các phương tiện báo,đài,
truyền hình, internet, tờ rơi, pano, tài trợ cho các chương trình truyền hình, các áp phích cổ
động của chính quyền địa phương, bảo trợ cho các chương trình hội thảo, đặc biệt các hội
thảo liên quan đến XNK;  Đây là những hình thức tiếp cận khách hàngkhá sâu rộng
và hiệu quả. Những việc này được làm thường xuyên sẽ tạo cho khách hàng một ấn
tượng, một sự gợi nhớ về "BIDV HCMC" mỗi khi họ có nhu cầu về vayvốn hoặc có
nhu cầu sử dụng một sản phẩm nào đó của ngân hàng.
Việc xây dựng và phát triển thương hiệu của ngân hàng cần phải tiến hành thường xuyên,
liên tục. Ngân hàng cần quan tâm nhiều đến công tác marketing, phải xem đó là một hoạt
động quan trọng trong chiến lược kinh doanh và phát triển của mình, đưa các sản phẩm,
dịch vụ ngân hàng đến với mọi khách hàng, thu hút khách hàng đến với BIDV HCMC
và xây dựng mối quan hệ thân thiết, bền vững giữa khách hàng với BIDV HCMC.
Trong những năm qua, BIDV HCMC đã bước đầu chú ý đến công tác tiếp thị tìm hiểu thị
trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng. Song để tiến tới những thành công lớn hơn BIDV
HCMC cần phải xây dựng cho mình một chiến lược Marketing hỗn hợp gồm bốn chính
sách lớn:
59
 Chính sách thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra: Thực hiện chính sách này ngân
hàng phải nắm bắt được nhu cầu về sản phẩm trên thị trường, xem khách hàng hiện
tại, khách hàng tương lai là ai, họ mong muốn điều gì ở các sản phẩm của BIDV
HCMC. Qua đó tiến hành phân loại khách hàng theo các mục tiêu cần nghiên cứu
và có biện pháp để lôi kéo khách hàng của các ngân hàng đối thủ và xây dựng được
mạng lưới khách hàng ổn định.
 Chính sách sản phẩm giá cả: BIDV HCMC cần phải tạo ra sự khác biệt về sản phẩm
so với các ngân hàng khác thông qua chính sách lãi suất và các dịch vụ hỗ trợ kèm
theo như: tư vấn cho khách hàng về thị trường sản phẩm, cung cấp các thông tin về
khách hàng cho các doanh nghiệp, chính sách ưu đãi về phí...
 Chính sách phân phối: Đây là chính sách nền tảng cho mối quan hệ giữa khách hàng
và ngân hàng. Thực hiện chính sách này ngân hàng phải xây dựng đượcmạng
lưới phân phối phù hợp trên cơ sở quan tâm xem xét đến các yếu tố về địa điểm mở
quầy giao dịch, trang bị cơ sở vật chất, bố trí đội ngũ cán bộ...
 Chính sách giao tiếp khuyếch trương: Để thực hiện tốt chính sách này Ngân hàng
ngoài quảng cáo còn cần phải tiến hành mở rộng các hình thức tín dụng, dịch vụ
về xuất nhập khẩu. Công việc này cần phải được thực hiện bởi tất cả các phòng ban,
mọi cán bộ nhân viên trong toàn ngân hàng chứ không nên chỉ giới hạn ởbất cứ
phòng ban nào.
Thực hiện tốt giải pháp này sẽ giúp cho BIDV HCMC mở rộng được quy mô tài trợ
XNK đồng thời sẽ cải thiện được cơ cấu tài trợ xuất nhập khẩu.
3.2.1.2 Thực hiện đa dạng hóa sản phẩm tài trợ xuất khẩu
Trong thời gian qua, BIDV HCMC chủ yếu chỉ thực hiện một số phương thức tài trợ xuât
khẩu truyền thống như cho vay để sản xuất, gia công, chế biến, kinh doanh hàng xuất, chiết
khấu bộ chứng từ hàng xuất. Do đó khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng còn
hạn chế. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đáp ứng nhu cầu của tình hình mới thì việc
đa dạng hoá sản phẩm tài trợ xuất khẩu đang là yêu cầu cấp thiết đối với BIDV HCMC.
60
Xét trên mặt bằng chung các sản phẩm tài trợ xuất khẩu, BIDV chưa có loại sản phẩm nào
riêng biệt. Đây là hạn chế lớn trong việc thu hút thêm khách hàng mới đến với ngân hàng
và việc giữ chân được các khách hàng cũ tại BIDV HCMC.
Vì vậy, BIDV HCMC cần chủ động đưa ra các sản phẩm mới để BIDV Hội sở chính
phê duyệt triển khai. Đối với mỗi loại sản phẩm, các chi nhánh trong hệ thống ngân
hàng BIDV đều tuân thủ nghiêm túc các quyết định riêng đã được hướng dẫn. Các
quyết định này là thống nhất trên toàn hệ thống BIDV. Do đó, mặc dù ở đâu, kháchhàng
cũng nhận được một qui trình thủ tục là như nhau.
a) Sản phẩm tài trợ xuất khẩu: Sản phẩm tài trợ xuất khẩu được phân thành hai nhóm
sản phẩm chính là: tài trợ trước giao hàng và tài trợ sau giao hàng.
- Đối với tài trợ trước giao hàng: nên ưu tiên tài trợ xuất khẩu các loại mặt hàng:
gạo, cao su, đồ gỗ, thủy sản, dệt may, da giày, thủ công mỹ nghệ, cà phê, sản
phẩm nhựa.
- Tài trợ sau giao hàng có mức độ rủi ro thấp hơn, khi các giao dịch hàng hóa đã
xảy ra trên thực tế, và giai đoạn còn lại là chờ thanh toán.
Trước mắt, để BIDV HCMC có cơ sở thực hiện gói sản phẩm tài trợ xuất khẩu đối trọn
gói với một số khách hàng truyền thống sản xuất trong các lĩnh vực dệt may, giày da, thủy
hải sản, đề nghị BIDV Hội sở chính sớm ban hành quy định về tài trợ xuất khẩu trước khi
giao hàng với những tiêu chí cụ thể như sau:
Hình thức tài trợ:
 Tài trợ bổ sung vốn lưu động để sản xuất, gia công, chế biến, kinh doanh, dự trữ
hàng xuất khẩu trước khi ký hợp đồng xuất khẩu.
 Tài trợ khi có hợp đồng: Cho vay vốn lưu động để sản xuất, kinh doanh, chế biến
hàng xuất khẩu sau khi ký hợp đồng xuất khẩu. Hợp đồng xuất khẩu: bao gồm
các hợp đồng xuất khẩu trực tiếp và hợp đồng xuất khẩu ủy thác qua các tổng
công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước.
Đối tượng tài trợ: Các chi phí nguyên vật liệu đầu vào (kể cả các chi phí gián tiếp liên
quan như thuế, phí, lệ phí ...), chi phí nhân công và các chi phí lưu động khác phục vụ việc
sản xuất, chế biến, kinh doanh hàng xuất khẩu,...
61
Phương thức cho vay: cho vay theo món hoặc cho vay theo hạn mức
 Khách hàng lập phương án kinh doanh (chung hoặc riêng) cho từng đợt dự trữ hoặc
từng/các hợp đồng xuất khẩu (có thể gộp các hợp đồng xuất khẩu vào 1 phương án
kinh doanh). Trong trường hợp khách hàng sử dụng phương án kinh doanh chung
(cho nhiều đợt giải ngân) thì từng lần giải ngân khách hàng phảinêu rõ lần giải
ngân đó là theo phương án kinh doanh/hợp đồng xuất khẩu nào.
 Lưu ý: với mục đích giải ngân để thực hiện hợp đồng thì yêu cầu khách hàng xuất
trình hợp đồng xuất khẩu, trường hợp là giải ngân để dự trữ, yêu cầu khách hàng
nộp bổ sung hợp đồng xuất khẩu sau khi giải ngân và kiểm tra mức dự trữ theo
phương án kinh doanh của khách hàng phù hợp với định mức dự trữ nguyên liệu
của quý trước, năm trước; doanh số xuất khẩu năm trước, kế hoạch sản xuất kinh
doanh của quý, năm hiện tại; tình hình thị trường, ....
Mức cho vay: Mức cho vay tối đa được quy định theo nhóm khách hàng và hình thức
tài trợ, cụ thể như sau:
Nhóm khách hàng
Mức cho vay
Nhóm khách hàng mục
tiêu là những doanh
nghiệp lớn, có uy tín,
chiếm thị phần lớn trong
từng ngành hàng; khách
hàng xếp loại A trở lên
theo hệ thống xếp hạng
nội bộ hiện hành của
BIDV
Nhóm khách hàng xếp
loại BBB theo theo hệ
thống xếp hạng nội bộ
hiện hành của BIDV
Nhóm khách hàng BB
theo theo hệ thống xếp
hạng nội bộ hiện hành
của BIDV, khách hàng
mới thành lập
Tài trợ thu mua, dự trữ 85% chi phí cần thiết
thực hiện phương án
kinh doanh
75% chi phí cần thiết
thực hiện phương án
kinh doanh
65% chi phí cần thiết
thực hiện phương án
kinh doanh
Tài trợ khi có hợp đồng
xuất khẩu
90% chi phí cần thiết
thực hiện phương án
kinh doanh
80% chi phí cần thiết
thực hiện phương án
kinh doanh.
70% chi phí cần thiết
thực hiện phương án
kinh doanh.
Mức cho vay tối đa trên đây không áp dụng trong trường hợp 100% dư nợ vay của
62
khách hàng được đảm bảo bằng các tài sản gồm: số dư trên tài khoản tiền gửi; sổ tiết kiệm,
chứng chỉ tiền gửi do BIDV hoặc tổ chức tín dụng khác phát hành; trái phiếu chính phủ,
tín phiếu kho bạc; bất động sản đã thực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý theo quy định hiện
hành của BIDV.
Thời hạn cho vay: Thời hạn cho vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn
thanh toán của hợp đồng xuất khẩu (hoặc L/C), khả năng trả nợ của khách hàng nhưng tối
đa không quá 12 tháng.
Lãi suất cho vay: Trên cơ sở chỉ đạo của hội sở chính về lãi suất cho vay từng thời kỳ
và cân đối các lợi ích thu được trong quan hệ với khách hàng, BIDV HCMC đựơc quyền
quyết định mức lãi suất cho vay ưu đãi phù hợp và phải theo nguyên tắc rủi ro càng cao
thì lãi suất cho vay càng cao.
Đảm bảo tiền vay: Thực hiện theo quy định hiện hành về chính sách khách hàng của
của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Đối với các khách hàng chưa thỏa mãn điều kiện tài sản đảm bảo theo quy định, có thể
bổ sung tài sản như sau:
 Thế chấp quyền đòi nợ hình thành trong tương lai từ hợp đồng xuất khẩu:
+ Đối với Hợp đồng xuất khẩu trực tiếp:
Hợp đồng xuất khẩu thanh toán theo phương thức L/C: L/C thỏa mãn các điều kiện
sau:
 L/C không hủy ngang được phát hành và/hoặc thanh toán bởi ngân hàng có
uy tín, không nằm trong danh sách hạn chế quan hệ của BIDV;
 L/C trả ngay hoặc trả chậm không quá 360 ngày;
 L/C không chứa đựng những yếu tố không rõ ràng ảnh hưởng tới khả
năng đòi bồi hoàn hoặc L/C không quy định chứng từ được lập sau khi
giao hàng mà khả năng lập chứng từ phụ thuộc vào thiện chí người mở L/C,
phụ thuộc vào bên thứ ba khác người XK không thể kiểm soát được tại thời
điểm giao hàng (Ví dụ: trường hợp hợp đồng XK thủy sản sang EU, Mỹ
thường quy định việc thanh toán theo L/C không chỉ dựa trên sự phù hợp
của bộ chứng từ XK mà còn dựa trên kết quả kiểm tra vệ sinh an
63
toàn thực phẩm của cơ quan có thẩm quyền tại nước nhập khẩu hoặc phải
xuất trình chứng từ có xác nhận của người mua hàng hoặc đại diện)
 Trường hợp nếu L/C chỉ định ngân hàng chiết khấu thì BIDV là ngân
hàng được chỉ định chiết khấu.
Hợp đồng xuất khẩu thanh toán theo phương thức khác (phương thức nhờ thu, T/T):
Áp dụng với một số điều kiện như sau:
 Đối tượng khách hàng: Nhóm khách hàng mục tiêu là những doanh nghiệp
lớn, có uy tín, chiếm thị phần lớn trong từng ngành hàng; khách hàng xếp
loại A trở lên theo hệ thống xếp hạng nội bộ hiện hành của BIDV.
 Hợp đồng phải xác định giá trị rõ ràng và phải quy định việc thanh toán chỉ
được thực hiện bằng chuyển khoản qua tài khoản của khách hàng mởtại
BIDV và không được thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng. Hợp
đồng xuất khẩu không quy định việc giao hàng được thực hiện tới quốc gia
bị Mỹ và EU cấm vận.
+ Đối với hợp đồng xuất khẩu ủy thác: Chỉ áp dụng trong trường hợp đối tác nhận
ủy thác là các Tổng công ty/Tập đoàn kinh tế nhà nước và phải có vănbản
xác nhận, cam kết của các Tổng công ty/Tập đoàn kinh tế nhà nước vềviệc
chuyển tiền thanh toán của người mua nước ngoài về duy nhất tài khoản của
khách hàng mở tại BIDV và duy trì trong suốt quá trình thực hiện hợpđồng
ủy thác XK.
+ Định giá và hạch toán giá trị tài sản đảm bảo:
 Tài sản đảm bảo được định giá căn cứ theo trị giá L/C hoặc hợp đồng XK.
 Hạch toán giá trị tài sản đảm bảo: được hạch toán giá trị tài sản đảm bảo
trong trường hợp là quyền đòi nợ hình thành trong tương lai từ Hợp đồng
XK thanh toán theo phương thức L/C khi khách hàng đã thực hiện giao hàng
và xuất trình bộ chứng từ đầy đủ cho BIDV để đòi tiền người nhập khẩu. Hệ
số tài sản đảm bảo trong trường hợp này bằng 1.
 Thế chấp hàng hóa tồn kho (nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm):
+ Điều kiện hàng hóa thế chấp:
64
 Hàng hóa thế chấp phải có đầy đủ giấy tờ chứng minh thuộc sở hữu của
khách hàng vay như Hợp đồng mua bán, hóa đơn, chứng từ nhập kho, ...
 Hàng hóa có quy định về tiêu chuẩn ngành thì thành phẩm tồn kho phải
có giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn của cơ quan có thẩm quyền.
+ Cách thức thực hiện
 Việc thế chấp hàng hóa tồn kho được thực hiện thông qua hợp đồng thế chấp
hàng hóa tồn kho giữa BIDV và khách hàng. Khách hàng cam kếtduy trì
lượng hàng tồn kho tối thiểu (tương ứng với dư nợ vay - theochính
sách khách hàng)
 Khách hàng cam kết không lưu giữ hàng hóa thế chấp quá lâu, ảnh hưởng
tới chất lượng, khối lượng hàng hóa (tùy thuộc từng mặt hàng, có thời
gian lưu kho nhất định mà không ảnh hưởng tới chất lượng, khối lượng hàng
hóa, khi đó khách hàng cam kết không được lưu giữ hàng hóa quáthời
hạn này).
+ Định giá tài sản đảm bảo:
Đối với hàng hóa là nguyên liệu: Giá trị định giá được xác định trên cơ sở lấy giá thấp hơn
trong 2 mức giá:
 Giá mua đầu vào của hàng hóa cùng loại trên thị trường trong nước.
 Giá mua đầu vào của khách hàng: Căn cứ theo trị giá hóa đơn, chứng từ
thu mua của khách hàng.
Đối với hàng hóa là thành phẩm, bán thành phẩm: Giá trị định giá được xác định căn cứ
theo:
 Giá thị trường của thành phẩm.
 Giá trị nguyên vật liệu, vật liệu phụ cấu thành lên thành phẩm, bán thành
phẩm.
Chứng từ giải ngân, kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay và dòng tiền:
+ Trước khi giải ngân: khách hàng cung cấp hợp đồng mua bán hoặc bảng kê
mua hàng.
+ Sau khi giải ngân:
65
 Tối đa 15 ngày, khách hàng cung cấp hóa đơn, chứng từ nhập kho.
 Sau khi xuất hàng ra khỏi kho để xuất khẩu tối đa 15 ngày, khách hàng
phải hoàn tất bộ chứng từ xuất khẩu để gửi cho BIDV đòi tiền người nhập
khẩu đối với phương thức thanh toán là L/C và nhờ thu; hoặc gửi bản sao
bộ chứng từ đòi tiền người nhập khẩu thanh toán theo phương thức T/T cho
BIDV để biết và theo dõi việc thanh toán.
 Mở sổ theo dõi và tiến hành kiểm tra thực tế tình hình thực hiện hợp đồng
xuất khẩu của khách hàng phù hợp với tiến độ giải ngân hoặc tối thiểutheo
định kỳ 01 tháng/lần đảm bảo: giải ngân cho vay đúng mục đích và dòng
tiền thanh toán của đối tác nước ngoài phù hợp với tiến độ xuấthàng,
tiến độ thanh toán của hợp đồng xuất khẩu.
b) Phát triển sản phẩm bao thanh toán:
Việc áp dụng phương thức bao thanh toán sẽ giúp BIDV HCMC có điều kiện mở rộng,
đa dạng hóa các sản phẩm, mở rộng khách hàng và quy mô của tài trợ xuất nhập khẩu. Tuy
nhiên, trong quá trình thực hiện, BIDV HCMC cần lưu ý những điểm sau để phòng ngừa
các rủi ro của hoạt động bao thanh toán:
- Rủi ro từ người bán hàng: Vì đơn vị bao thanh toán sẽ chính là BIDV HCMC và người bán
(bên xuất khẩu) sẽ chính là khách hàng vay vốn với điều kiện đảm bảo khoản vay là các
khoản phải thu của khách hàng đối với bên mua. Rủi ro từ phía khách hàng có thể xảy đến
ở một số trường hợp cơ bản:
+ Người bán cố tình, chủ động sử dụng hóa đơn, chứng từ giả, hợp đồng ma… để lừa
ngân hàng. Để thực hiện được ý đồ trên đòi hỏi phải có một hệ thống mắt xích cấu kết
thực hiện, có thể là người mua và người bán thông đồng với nhau, tạo ra các chứng từ,
các khoản phải thu mà thực tế không hề có.
+ Người bán kém năng lực quản lý, điều hành, chiến lược phát triển… kéo theo các
sản phẩm của bên bán không đủ hoặc không đạt yêu cầu không đáp ứng đượcchất
lượng đề ra. Giá trị các khoản phải thu theo hợp đồng khi ký lại vì thế sẽ nhỏ hơn
phần giá trị cho vay ứng trước của ngân hàng cho bên bán hàng vì vậy ngânhàng
có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro.
66
- Rủi ro từ phía người mua hàng:
+ Năng lực tài chính của người mua hàng nếu vì một lý do gì mà bị giảm sút dẫn đến
mất khả năng thanh toán thì khi đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi trả đối với BIDV
HCMC.
+ Rủi ro đạo đức của bên mua hàng: Vì bên mua hàng là bên thứ ba đối với BIDV
HCMC nên quá trình tiếp cận với họ sẽ có nhiều điểm không thuận lợi. Nếu bên mua
hàng có dụng ý lừa đảo, chiếm đoạt hàng mua, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ thìđồng
nghĩa với việc rủi ro xảy ra đối với BIDV HCMC.
- Rủi ro từ chất lượng thẩm định của BIDV HCMC: Nếu quá trình phân tích khách hàng,
phân tích các khoản phải thu của hoạt động bao thanh toán thực hiện không chính xác
sẽ dẫn đến đánh giá không đúng về khoản phải thu thì có thể sẽ phát sinh rủi ro cho ngân
hàng.
c) Triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là hình thức bảo đảm tài chính cho nhà xuất khẩu trong
các hợp đồng xuất nhập khẩu có điều kiện thanh toán theo hình thức tín dụng mở (open
account) trước rủi ro nợ xấu, mất khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu do mất khảnăng
thanh toán, phá sản hoặc vì bất ổn chính trị tại quốc gia nhập khẩu.
Không chỉ đóng vai trò là công cụ che chắn và giảm thiểu rủi ro cho nhà xuất khẩu, bảo
hiểm tín dụng xuất khẩu còn tạo ra lợi thế cạnh tranh rõ rệt cho nhà xuất khẩu trong
việc chủ động cung cấp tín dụng cho người mua (không có được ở các phương thức thanh
toán L/C, thanh toán trả trước), tự tin khi xâm nhập thị trường xuất khẩu mới, tăng năng
lực tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng và tổ chức tài chính, qua đó phát huy tối
đa năng lực sản xuất và cung cấp hàng hoá dịch vụ, mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, loại hình bảo hiểm này hiện rất ít doanh nghiệp biết đến và tham gia rất ít. Thị
trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hiện chủ yếu do công ty bảo hiểm nước ngoài nắm
giữ. Việc tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ giúp giảm bớt rủi ro cho các doanh
nghiệp cũng như hoạt động cho vay của BIDV HCMC.
67
3.2.1.3 Thực hiện đa dạng hoá khách hàng
Trong cơ cấu dư nợ của BIDV HCMC, cho vay doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm tỉ trọng
cao (trên 70%). Để nâng cao được chất lượng thì BIDV HCMC cần thiết phải đa dạng hoá
khách hàng, bởi vì thay đổi cơ cấu khách hàng có liên quan chặt chẽ đến khả năng phòng
chống rủi ro tín dụng. Hơn thế, đa dạng hoá khách hàng sẽ đem lại chongân hàng một
thị trường rộng hơn trong hoạt động tín dụng và qua đó tăng trưởng được tín dụng, nâng
cao được lợi nhuận cho ngân hàng. Thông qua việc sở hữu đối tượng khách hàng đa dạng,
BIDV HCMC góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế khác đặc biệt là
các cơ sở kinh doanh, chế biến, sản xuất sản phẩm xuất khẩu có quy mô nhỏ.
Để mở rộng được đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh
nghiệp nhỏ và vừa, BIDV HCMC cần phải điều chỉnh chính sách khách hàng linh hoạt,
xây dựng hệ thống đánh giá khách hàng riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa để có chính
sách tín dụng phù hợp với đối tượng khách hàng này. Các chính sách để thu hút đối tượng
khách hàng này là: chính sách ưu đãi về lãi suất, phí thanh toán, cơ chế bảo đảm tiền vay
và điều kiện về vốn tự có tham gia vào phương án kinh doanh…
3.2.1.4. Đẩy mạnh các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu
Cùng với sự phát triển của hoạt động ngoại thương của Việt Nam, nhu cầu về tài trợ tín
dụng của các doanh nghiệp XNK ngày càng đa dạng. Cùng với các hình thức giao hàng,có
rất nhiều loại chi phí phát sinh mà ngân hàng có thể tài trợ cho doanh nghiệp được như
cước phí vận tải quốc tế, thuế nhập khẩu phải nộp ở nước ngoài, chi phí dịchvụ khai báo
hải quan, chi phí kho bãi, phân loại hàng hóa, chi phí vận chuyển nội địa ở nước ngoài,
Thông thường các đại lý giao nhận hàng hóa XNK sẽ chi trả những chiphí này và ghi
nợ cho doanh nghiệp. BIDV HCMC cần nghiên cứu liên kết hợp tác với các đại lý vận tải,
giao nhận hàng hóa XNK để cung cấp sản phẩm tài trợ trọn gói cho các doanh nghiệp
XNK, từ chi phí chuẩn bị cho sản xuất hàng xuất khẩu đến các chiphí như chi phí vận
chuyển, phí bảo hiểm, nộp thuế nhập khẩu, chi phí dịch vụ giaonhận hàng hóa,
Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế có liên quan trực
68
tiếp đến hoạt động tài trợ XNK. Mua bán ngoại tệ sẽ tác động đến trạng thái ngoại tệ của
ngân hàng do vậy tác động đến nguồn vốn ngoại tệ cho XNK đặc biệt là nhập khẩu. Vì
vậy, BIDV HCMC cần tích cực mở rộng thị phần, tăng cường phát triển khách hàng xuất
nhập khẩu mới về giao dịch mua bán ngoại tệ với mình. Đặc biệt là nhóm doanh nghiệp
XNK nhỏ và vừa, có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán quốc tế. Ngoài ra, để nâng cao
tỷ lệ tự cân đối ngoại tệ USD, BIDV HCMC cần thu hút thêm khách hàngxuất khẩu;
Tích cực tìm kiếm các khách hàng có nguồn thu hoặc nhu cầu thanh toán, trả nợ ngoại tệ
khác USD (vì lợi nhuận thu được từ việc mua bán ngoại tệ của 1 đồng ngoại tệ khác
USD lớn hơn hàng chục lần lợi nhuận thu được trên 1 đồng USD).
Thanh toán quốc tế tác động đến chất lượng tài trợ xuất nhập khẩu thông qua việc đáp ứng
kịp thời về thời gian thanh toán (nhận thanh toán) của khách, nó là một phần của nghiệp
vụ tài trợ xuất nhập khẩu ở khâu thanh toán. Thực hiện việc thanh toán nhanh chóng kịp
thời không chỉ nâng cao uy tín cho ngân hàng mà còn hạn chế được tổn thấtdo yếu tố
chủ quan và nhờ đó nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng.
Ngoài ra, ngân hàng còn có thể tận dụng kiến thức và mối quan hệ của mình để phát triển
các dịch vụ liên quan đến xuất nhập khẩu như: dịch vụ giao nhận xuất nhập khẩu, môi giới
cho các hãng tàu, mua – bán bảo hiểm hàng hóa liên quan đến L/C… Đặc biệt, một nhu
cầu thực sự phát sinh từ khách hàng mà BIDV HCMC hiện nay chưa có dịchvụ để đáp
ứng là: một số doanh nghiệp xuất khẩu không thường xuyên, hoặc không có kinh nghiệm
trong hoạt động XNK có nhu cầu nhờ ngân hàng lập hộ bộ chứng từ xuất khẩu. Đây cũng
là một loại hình dịch vụ nên khi thực hiện, trước mắt là đáp ứng nhu cầu, sau là tạo sự
yên tâm tin tưởng nơi khách hàng, tăng thu phí dịch vụ cho ngân hàng. Các chuyên viên
nghiệp vụ có chuyên môn cao, trong quá trình lập chứng từ sẽ tránh đi rất nhiều sai sót,
tiết kiệm thời gian cho khách hàng, đồng thời nếu khách hàngcó nhu cầu chiết khấu chứng
từ, thì việc chiết khấu chứng từ của ngân hàng sau đó cũng sẽ rất nhanh chóng, thuận lợi
hơn cho khách hàng. Hơn nữa, trong quá trình theo sát khách hàng để lập chứng từ xuất
khẩu đó, ngân hàng cũng sẽ kịp thời phát hiện để tư vấn cho khách hàng biện pháp xử
trí, đối phó với các vấn đề có liên quan tới việc không thực hiện được đúng nghĩa vụ hợp
đồng của khách hàng, qua đó, ngân hàng cũng đảm bảo thu hồi được tiền đã tài trợ cho
khách hàng khi làm hàng xuất khẩu.
69
3.2.1.5 Nâng cao trình độ đội ngũ chuyên viên tài trợ xuất nhập khẩu
Phần lớn chuyên viên quan hệ khách hàng của BIDV HCMC ít am hiểu về lĩnh vực ngoại
thương, cụ thể là thanh toán quốc tế và nghiệp vụ XNK. Thực tế ở BIDV HCMC cho thấy,
thường một cán bộ quan hệ khách hàng phải mất tối thiểu 2 năm mới có khả năng nắm và
triển khai công việc của hoạt động tài trợ XNK. Để phát triển hiệu quả hoạt động tài trợ
XNK, bên cạnh việc không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho chuyên
viên, BIDV HCMC cần trang bị, bồi dưỡng kiến thức về lĩnh vực kinhtế ngoại thương,
về nghiệp vụ nhập khẩu cho các chuyên viên quan hệ khách hàng đểhọ có thể hiểu và
nắm bắt được nhu cầu của khách hàng từ đó có thể tư vấn và hỗ trợ hiệu quả hơn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh XNK của doanh nghiệp. Chuyên viên quan hệ khách hàng không
phải là người chỉ biết cho vay mà phải còn là người bạn đồng hành, sát cánh cùng doanh
nghiệp, hiểu và tư vấn, hỗ trợ kịp thời những nhu cầu thiết thực của doanh nghiệp. Mặt
khác, trên cơ sở nền tảng kiến thức được trang bị tốtvề XNK, các chuyên viên quan hệ
khách hàng sẽ dễ dàng theo dõi, kiểm tra tình hìnhhoạt động sản xuất kinh doanh XNK
của doanh nghiệp, hiểu được những khó khăn cũng như thuận lợi mà doanh nghiệp đang
có, từ đó giúp phát hiện và xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh, đảm bảo an toàn cho
hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Để các chuyên viên có thể vừa nghiên cứu vừa triển khai công việc thì ngoài sự hiểu
biết về hoạt động kinh doanh XNK và các kiến thức kinh tế liên quan họ còn phải thông
thạo ngoại ngữ, vi tính, kỹ năng bán hàng tốt . Để nâng cao chất lượng tài trợ xuất nhập
khẩu, việc tăng cường đào tạo nâng cao trình độ cho chuyên viên quan hệ khách hàng
là đòi hỏi cấp thiết. Cụ thể là BIDV HCMC cần tạo điều kiện cho chuyên viên tham gia
các chương trình đào tạo về những mặt sau:
 Ngoại ngữ ngoại thương, các ứg dụng vi tính liên quan đến công việc
 Các khoá học về qui chế, yêu cầu và hướng dẫn thực hiện hoạt động tín dụng
quốc tế.
 Các khoá học về thẩm định dự án, phân tích tín dụng, ứng dụng marketing vào
hoạt động ngân hàng.
 Các khoá học về qui chế tổ chức và các vấn đề liên quan đến hoạt động thương
mại, kinh tế quốc tế.
70
 Các vấn đề có liên quan đến đồng tài trợ, tài trợ cho dự án bằng đồng EURO...
 Tham gia trao đổi hoạt động nghiệp vụ xuất nhập khẩu với các chuyên gia trong
lĩnh vực XNK của các ngân hàng trong nước và quốc tế có quan hệ với BIDV. Nếu
có điều kiện nên cử một số cán bộ sang đào tạo ở nước ngoài.
Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ XNK, cần phải nâng cao chất lượng nghiệp
vụ thanh tóan quốc tế để ngăn ngừa rủi ro tác nghiệp bằng cách duy trì ổn định đội ngũ
cán bộ làm thanh toán quốc tế, có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng thay thế, trách đểtỉ lệ cán
bộ mới quá nhiều dẫn đến không tích luỹ được kinh nghiệm và kiến thức đểthực hiện
giao dịch và có khả năng tư vấn cho khách hàng.
3.2.1.6 Ứng dụng công nghệ trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu
Tuy được đánh gía là một trong những ngân hàng đi đầu trong lĩnh vực công nghệ, nhưng
cũng như các ngân hàng thương mại khác ở Việt Nam, quá trình hiện đại hoá công nghệ
ở BIDV được tiến hành từng bước và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cụ thể chứ chưa lập
thành một kế hoạch chiến lược tổng thể. Vì vậy, trong thời gian tới để cóthể đứng vững
trong môi trường cạnh tranh trên thị trường tài chính - tiền tệ, BIDV HCMC cần thực hiện
một số giải pháp về công nghệ như sau:
 Tận dụng tối đa công suất của hệ thống máy móc hiện có, giảm thiểu các công việc
giấy tờ bằng cách chuyển sang sử dụng quản lý trên hệ thống máy vi tính và thông
qua mạng máy tính.
 Trang bị cơ sở vật chất hiện đại, với các máy móc áp dụng công nghệ tiên tiến,
với hệ thống máy vi tính được nối mạng có thể giúp cho các chuyên viên ngân hàng
cập nhật thông tin thường xuyên: các thông tin về tỷ giá, lãi suất, thông tin về đối
tác, định giá tài sản…để có thể tránh được những rủi ro trong kinh doanh và có thể
đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
 Xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin làm nền tảng cho các ứng dụng và dịch
vụ ngân hàng.
 Tăng cường công tác bảo mật trong việc quản lý, cung cấp thông tin của khách hàng
đang có quan hệ tại BIDV HCMC.
71
 Trong thời gian vừa qua, đã có một số ngân hàng mạnh dạn thử nghiệm và cung cấp
dịch vụ ngân hàng điện tử cho khách hàng, mang lại sự thuận tiện, hiệu quả rất lớn
cho khách hàng, ngân hàng và xã hội. Để phát triển ngân hàng điện tử đáp ứng nhu
cầu nhanh chóng, an toàn cho cả khách hàng và ngân hàng đòi hỏi nhiều yếu tố như
con người, cơ sở hạ tầng, chất lượng truyền thông… Tuy nhiên, cómột số thủ
tục liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu tại BIDV HCMC có thể nghiên cứu để
triển khai ngay dịch vụ ngân hàng điện tử, khách hàng không cần đến ngân hàng
cũng có thể thực hiện các giao dịch sau:
+ Khách hàng có thể đăng ký mở và tu chỉnh L/C nhập khẩu qua.
+ Lưu trữ, xem lại các giao dịch XNK đã thực hiện giữa khách hàng và ngân
hàng.
+ Lưu trữ thư tín dụng đã phát hành đối với từng hợp đồng.
3.2.1.7 Tăng cường nguồn thông tin liên quan đến hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu.
Vì hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu liên quan đến đối tác nước ngoài cũng như các quốc
gia khác nhau nên nguồn thông tin cho các bên tham gia là hết sức quan trọng và cần thiết.
Chất lượng nguồn thông tin là yếu tố quyết định đến hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của
ngân hàng. Thông tin luôn luôn phải cập nhật, nhanh, và chính xác để từ đó ngân hàng có
những phản ứng kịp thời tránh được những rủi ro xảy ra đối với cả ngân hàng và khách
hàng. Nội dung của các thông tin này mà ngân hàng cần quan tâm:
 Thông tin liên quan đến các tổ chức tài chính trên thế giới, các cơ quan có uy tín
(IMF, WB. ADB ) đánh giá được mức độ ảnh hưởng đến tình hình hoạt động
của ngân hàng nói chung cũng như của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu nhằm giảm
thiểu rủi ro quốc gia.
 Các nguồn thông tin liên quan đến tỷ giá trên thị trường, diễn biến của tỷ giá,
chính sách ngoại hối của các quốc gia trên thế giới. Xác định các yếu tố tác động
đến tỷ giá như cán cân thanh toán của một loại tiền tệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế,
lãi suất tăng, lạm phát, những yếu tố chính trị hoặc tâm lý...
 Nguồn thông tin nhằm hạn chế rủi ro khách hàng. Bản thân mỗi ngân hàng chủ động
tự tìm hiểu về khách hàng của mình để có được những thông tin chính xác.
72
Ngoài ra BIDV HCMC có thể thông qua ngân hàng bạn tìm hiểu về khách hàng của
mình, mức độ uy tín khách hàng, quan hệ tín dụng với những ngân hàngkhác.
Bằng những đánh giá khách quan thực tế từ những cơ quan ban ngành liên quan
giúp cho BIDV HCMC nhận định đúng và quyết định giao dịch hay không giao
dịch với khách hàng.
 Nguồn thông tin về đối tác nước ngoài của khách hàng: đặc thù của hoạt động tài
trợ XNK là đối tác của khách hàng là các doanh nghiệp ở nước ngoài, do đó khách
hàng cũng như ngân hàng rất hạn chế trong việc tìm hiểu thông tin về các doanh
nghiệp đó, chính vì thế BIDV HCMC cần phải có các kênh để tìm hiểu thống tin
(năng lực tài chính kinh doanh, uy tín trong làm ăn) để có thêm cơ sở đánh giá trong
quá trình thẩm định cũng như phục vụ nhu cầu tìm hiểu thông tinvề đối tác nước
ngoài của khách hàng.
Để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng XNK, chuyên viên quan hệ khách hàng cần chú
ý các vấn đề sau:
 Về đối tác: Đối với khách hàng trong nước, chuyên viên quan hệ khách hàng ngay
từ khi tiếp xúc khách hàng phải tìm hiểu kỹ về khách hàng vay vốn nhập khẩu hay
xuất khẩu mặt hàng gì? Mặt hàng kinh doanh đó có những đặc thù gìvà khách
hàng đã có kinh nghiệm trong kinh doanh XNK hàng hoá đó chưa? Những câu hỏi
này rất quan trọng để ngân hàng xem xét có tiếp tục phải tìm hiểu đối tác là nhà
cung cấp không? Việc tìm hiểu thông tin nhà cung cấp hoặc nhà nhập khẩu nước
ngoài khi giao dịch lần đầu với giá trị hợp đồng lớn là cần thiếtvà ngân hàng cần
yêu cầu khách hàng tìm hiểu. Điều này chuyên viên quan hệ khách hàng cần đề nghị
khách hàng làm để bảo vệ quyền lợi của chính họ. BIDV HCMC có thể thông qua
các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức xếp hạng , các tổ chức đánh giá để mua thông
tin tuy nhiên việc tìm hiểu thông tin khách hàng là công việc rất tốn thời gian và chi
phí.
 Về thị trường và hàng hóa: cần theo dõi phân tích thị trường đối với từng mặt
hàng XNK gọi là tín dụng hàng hoá (commodities loan) mỗi mặt hàng có vòng đời
sản phẩm, vòng quay vốn, cũng như những đặc tính riêng về thanh toán, vậntải
và những qui định riêng. Ví dụ đồ gỗ vào Châu Âu thì phải có giấy chứngnhận
gỗ nguyên liệu từ rừng trồng được khai thác, thuỷ sản vào Mỹ hay EU phải
73
có giấy kiểm định y tế, nhập khẩu xăng dầu có đặc điểm trị giá của lô hàng rất
lớn (lên tới 10-12 triệu USD) trong khi giá cả không cố định, thường được tính bằng
giá trung bình trong 5 ngày (lấy ngày giao hàng làm ngày ở giữa)…
 Về cách thức giao hàng: Căn cứ điều khoản thương mại mà khách hàng kí kết trong
hợp đồng để có biện pháp phòng ngừa, ví dụ: nếu khách hàng nhập khẩu bằng giá
FOB, CNF cần yêu cầu mua bảo hiểm trên đường, nếu nhập hàng qua đường bộ,
qua biên giới cần có biên bản giao nhận giữa người mua người bán…
 Về loại tiền giao dịch: Ngay khi xem xét hồ sơ cho vay nhập hoặc xuất, nếu ngoại
tệ cho vay khác ngoại tệ thanh tóan, cần tính đến vấn để biến động của tỷ giá, và
khả năng chuyển đổi khi đến hạn thanh tóan. Do vậy nên tư vấn cho khách hàng
sử dụng những dịch vụ phái sinh như giao dịch kỳ hạn, hóan đổi tiền tệ, quyền
chọn...của BIDV HCMC để phòng ngừa rủi ro ngoại hối, rủi ro lãi suất.
3.2.1.8 Tiêu chuẩn hóa phòng kinh doanh ngoại tệ, thành lập tổ phát triển các sản phẩm
phái sinh.
Hiện nay BIDV HCMC chưa có phòng kinh doanh ngoại tệ và phát triển các sản phẩm phái
sinh, đó là một khó khăn lớn trong việc thực hiện các giao dịch liên quan ngoại hối và các
sản phẩm phái sinh. Trong khi đó, để kinh doanh ngoại hối và tư vấn các khách hàng trong
các nghiệp vụ liên quan đến sản phẩm phái sinh XNK, cần phải có trang thiết bị và công
nghệ hiện đại để kết nối được với hệ thống thông tin toàn cầu để bắt kịp những diễn biến
của thị trường. Thị trường liên quan đến ngoại hối là một thị trường mang tính cạnh tranh
cao, tính thanh khoản lớn, trong khi đó kinh doanh ngoại tệ là một hoạt động chứa đựng
rủi ro, thông tin sẽ trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu. Nhưng việc xử lý thông tin để
có được kết quả phù hợp lại là quan trọng hơn, việc này nằm ởkỹ năng phân tích và ra
quyết định của đội ngũ nhân viên bán hàng. Vì vậy, cần đào tạo thường xuyên nhằm nâng
cao tính chuyên nghiệp, trình độ chuyên môn, kỹ thuật kinh doanh ngoại hối cho chuyên
viên.
3.2.1.9 Nâng cao khả năng huy động vốn
74
Nguồn vốn – đặc biệt là nguồn ngoại tệ chính là điều kiện đầu tiên để BIDV HCMC mở
rộng tín dụng nói chung và tài trợ xuất nhập khẩu nói riêng. Tuy nguồn vốn huy động
lớn nhưng nguồn vốn huy động từ dân cư chiếm tỷ trọng không cao (chỉ khoảng 13%- 27%
trong cơ cấu huy động của BIDV HCMC thời gian qua), nên tính ổn định của nguồn vốn
huy động không cao. Vì vậy, BIDV HCMC phải đa dạng hoá các hình thức huy động vốn,
tìm cách thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, cụ thể:
- Tạo sự quan tâm đối với người gửi tiền: lãi suất cao chính là một động lực để thu hút
tiền gửi của các tổ chức kinh tế và tiền tiết kiệm của cá nhân. Do đó việc đa dạng hoá
các kỳ hạn gửi, đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi và lãi suất sẽ thu hút được lượng khách
hàng dân cư. Việc nâng lãi suất tiền gửi cao hơn so với các ngân hàng thươngmại khác
hoặc có một chương trình khuyến mại hấp dẫn sẽ kéo thêm nhiều khách hàng đến với BIDV
HCMC. Đối với loại tiết kiệm có kỳ hạn, nếu do cần thiết mà khách hàng phải rút ra thì
có thể cho họ hưởng lãi suất không kỳ hạn. Đối với tiền gửi thanh toáncủa doanh nghiệp,
ngoài việc hưởng lãi suất quy định, nếu số dư tiền gửi bình quân của doanh nghiệp đó luôn
duy trì ở mức cao trong thời gian dài thì sẽ có chính sách ưu đãi về tín dụng (giảm lãi suất
cho vay), ưu đãi về dịch vụ (giảm phí chuyển tiền), ưu đãi về chính sách mua bán ngoại
tệ…. Đối với các doanh nghiệp không có quan hệ tín dụng,sẽ không được hưởng lợi về
lãi suất vay thì có thể thực hiện miễn phí, giảm phí cho các dịch vụ thanh toán quốc tế,
chuyển tiền, nhờ thu….
- Tạo niềm tin cho khách hàng: Để làm được điều này, BIDV HCMC phải có những nhà
quản lý giỏi thể hiện cho công chúng biết rằng BIDV HCMC luôn hoạt động ổn định,
các giao dịch tại BIDV HCMC luôn được tiến hành một cách chính xác, lành mạnh. Đồng
thời phải cung ứng cho khách hàng nhiều dịch vụ tiện lợi, thủ tục nhanh chóng.
- Đa dạng hoá các hình thức huy động nguồn vốn trung và dài hạn với nhiều kỳ hạn khác
nhau. Thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Ví dụ: đưa ra các hình thức phát hành trái
phiếu, chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn dài hạn trên 12 tháng với lãi suất huy động cao và
quà tặng hấp dẫn.
- Tìm hướng khai thác nguồn tín dụng xuất nhập khẩu bằng hiệp định khung.
- Chủ động đàm phán ký kết các khoản vay hợp vốn, các giao dịch mua bán ngoại tệ để
phục vụ cho hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ xuất nhập khẩu.
75
3.2.2 Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
3.2.2.1 Xây dựng chiến lược phát triển tài trợ xuất nhập khẩu
Trên cơ sở những điều kiện đã có, BIDV cần xây dựng một chiến lược dài hạn để định
hướng cho hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu phát triển, trong đó cần nghiên cứu chủ trương,
chính sách của Nhà nước đối với phát triển từng ngành hàng, từng lĩnh vực để định hướng
cho hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu.
Hiện nay, thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam là các sản phẩm: dệt may, thủy hải sản, gạo,
cà phê, cao su... Tuy nhiên, theo quy định của BIDV hội sở chính thì các chi nhánh không
được cho vay ngoài địa bàn đóng trụ sở, nên BIDV HCMC không thể cho vay kinh doanh,
chế biến đối với các sản phẩm là thủy hải sản, gạo, cà phê ... được vì đâylà khách hàng
của các chi nhánh thuộc các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên.
Do vậy, để tận dụng lợi thế nguồn vốn mạnh của BIDV HCMC, BIDV HCMC đang có
chiến lược hướng đến các khách hàng là doanh nghiệp là đầu mối thu gom nông sản,
hải sản xuất khẩu tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh như Tổng Công ty lương thực miền nam
(Vinafood), Tổng Công ty cà phê...
Vì đây là khách hàng lớn và có tiềm năng, trước mắt, đề nghị BIDV hội sở chính có
chính sách thu hút khách hàng này, áp dụng cho các khách hàng này mức vay và chính
sách đảm bảo tín dụng linh hoạt (tín chấp, thế chấp quyền đòi nợ, hàng hóa tồn kho với thủ
tục đơn giản), chính sách ưu đãi về phí (có thể áp dụng phí 0% trong 6 tháng đầu tiên
giao dịch) để dần dần thu hút khách hàng.
3.2.2.2 Hoàn thiện cơ chế đánh giá phân loại và xếp hạng tín dụng đối với doanh nghiệp
để có chính sách phục vụ hợp lý
BIDV hội sở chính cần hoàn thiện cơ chế đánh giá, phân loại và xếp hạng tín dụng
doanh nghiệp hợp lý, phản ánh chân thật quy mô, vị thế, vai trò, tình hình hoạt động
sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, uy tín, kinh nghiệm quản lý, triển vọng phát
triển, của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Các số liệu đánh giá phải thực tế, tránh
việc chỉ tham khảo qua giấy tờ đã đăng ký hoặc do doanh nghiệp khai báo. Các tiêu chí để
đánh giá doanh nghiệp và tỷ trọng của từng tiêu chí phải thật hợp lý và khoa học,
76
tiến đến phù hợp với phương pháp xếp hạng tín dụng theo chuẩn mực quốc tế.
Việc đánh giá, phân loại và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhằm nắm bắt, hiểu biết cặn
kẽ về khách hàng, lường trước mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp để có chínhsách
phục vụ hợp lý hoặc có biện pháp hạn chế khi cho vay. Những doanh nghiệp tốt,có
điểm tín dụng cao cần có chính sánh ưu đãi hợp lý để khuyến khích như chính sáchưu
đãi về lãi suất, chấp nhận tỷ lệ cho vay trên tài sản đảm bảo cao hơn, chấp nhận mức ký
quỹ thấp, chấp nhận giao dịch qua fax để công việc được thực hiện nhanh chóng, Ngược
lại, đối với những doanh nghiệp có điểm tín dụng thấp, mức độ rủi ro tài chính cao, khi
cho vay cần cân nhân nhắc nhiều biện pháp hạn chế rủi ro để đảm bảo khả năng thu hồi nợ
cho ngân hàng.
3.2.2.3 Ban hành chính sách tài trợ xuất nhập khẩu mang tính chất mở để thu hút khách
hàng nhanh chóng
Hiện nay, khi tài trợ xuất nhập khẩu đã là thế mạnh của các Ngân hàng thương mại cổ phần
thì tại BIDV HCMC quy mô của sản phẩm này còn kém phát triển, quy trình thực hiện
chậm đổi mới (từ năm 2005 đến nay vẫn chưa ban hành quy trình bổ sung để cảitiến thủ
tục). Vì vậy, trong giai đoạn này, BIDV cần ban hành một quy trình tín dụngxuất nhập
khẩu đi kèm các sản phẩm phái sinh hỗ trợ theo hướng mở, đơn giản hóa thủ tục. Trong
giai đoạn này, không nên đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu mà phải làm cho khách hàng
thấy được lợi ích của BIDV mang lại cho khách hàng trong việc tài trợ xuất nhập khẩu,
quản lý rủi ro tỷ giá, lãi suất để từ đó doanh nghiệp làm quen và sửdụng thường xuyên
trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình.
Trước mắt, để đáp ứng nhu cầu của BIDV HCMC, kiến nghị BIDV hội sở chính triển khai
các sản phẩm tài trợ xuất khẩu như sau:
3.2.3. Giải pháp vĩ mô đối với Chính phủ và Ngân hàng nhà nước
3.2.3.1 Bổ sung, hoàn thiện các văn bản, cơ chế chính sách quản lý nhà nước đối với
hoạt động XNK nhằm tạo hành lang pháp lí an toàn cho các doanh nghiệp và ngân hàng
trong hoạt động kinh doanh XNK.
77
Để đảm bảo tín dụng tài trợ XNK của NHTM có hiệu quả, trước hết chính sách XNK
cần được hoàn thiện đồng bộ với chiến lược phát triển và kế hoạch của nền kinh tế quốc
dân. Rà soát lại khả năng của các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh XNK và cho phép
các doanh nghiệp có hàng XNK ổn định được phép XNK trực tiếp. Bộ thương mại cần quy
định trách nhiệm cho các cơ quan cấp giấy phép đối với chất lượng và giá cả hàng hoá
nhập khẩu, đặc biệt là thiết bị công nghệ.
Bên cạnh đó, việc thực hiện gắt gao rà soát, kiểm tra chất lượng sản phẩm phải được
tăng cường, nhằm thắt chặt hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng xuất khẩu
trong nước, cũng như giữ vững gia tăng uy tín của sản phẩm Việt Nam trên trường quốc
tế.
Từng bước đưa ra các văn bản quy phạm pháp luật vào thực tiễn sản xuất xã hội bằng
việc triển khai nghiệm minh và đồng bộ giữa các cơ quan hành pháp, bắt đầu từ công an,
hải quan, biên phòng, thuế vụ. Triệt để ngăn chặn các hoạt động buôn lậu trốn thuế, làm
hàng giả gây hậu quả trực tiếp và gián tiếp đến tài trợ XNK của ngân hàng.
3.2.3.2 Thành lập quỹ bảo hiểm xuất khẩu:
Xuất phát về tính rủi ro cao về giá cả thị trường quốc tế, cần thiết lập quỹ này để các
nhà xuất khẩu yên tâm ổn định sản xuất và một phần giúp đỡ họ khi gặp rủi ro bất lợi. Quỹ
này có thể vận động theo nguyên tắc: Bộ công thương và các cơ quan quản lý cóliên
quan sẽ tiến hành khảo sát thị trường để định ra một mức giá trị bảo hiểm nhất định sao
cho nhà xuất khẩu có thể thu hồi vốn đầu tư, trang trải các chi phí và có được một phần lợi
nhuận hợp lí.
3.2.3.3 Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường trong và ngoài nước
Để giúp các doanh nghiệp nắm bắt được thông tin kịp thời chính xác phục vụ cho việc
ra các quyết định về sản xuất, đầu tư, đồng thời để định hướng thị trường cho các doanh
nghiệp và ngân hàng. Nhà nước cần xây dựng một hệ thống thông tin thị trường trong và
ngoài nước một cách chính xác và đầy đủ. Chẳng hạn có thể lập một chương trình truyền
hình riêng về thông tin thị trường cập nhật.
3.2.3.4 Xây dựng và hoàn thiện quy chế cấp tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu rõ ràng,
hợp lý, thuận lợi theo hướng "mở" đối với doanh nghiệp để khuyến khích thúc đẩy hoạt
78
động tài trợ xuất nhập khẩu.
NHNN cần ban hành quy chế riêng về hoạt động tài trợ XNK, tăng cường sự hỗ trợ ở tầm
vĩ mô cho hoạt động XNK của các doanh nghiệp. Do các doanh nghiệp XNK mang những
đặc thù kinh doanh có nhiều điểm khác biệt so với các ngành nghề khác, liênquan đến
nhiều lĩnh vực như: liên quan đến hoạt động đầu tư, bảo lãnh, thanh toán quốc tế, mua bán
ngoại tệ, vận tải quốc tế, có sử dụng các sản phẩm dịch vụ ở nước ngoài,thực hiện
nghĩa vụ tài chính ở nước ngoài, chiết khấu bộ chứng từ thanh toán, Cáchình thức
tài trợ cho hoạt động XNK của các doanh nghiệp vì vậy cũng cần phải đadạng, linh
hoạt, đơn giản thủ tục, nhanh chóng và hiệu quả. Sản phẩm tài trợ phải đáp ứng kịp thời
các nhu cầu phát sinh của doanh nghiệp trong thực tế thực hiện việc XNK hàng hoá.
Chính sách khuyến khích phát triển thương mại quốc tế đặc biệt là tăng trưởng xuất
khẩu của chính phủ cần gắn kết với những hình thức ưu đãi cụ thể trong đó có chính
sách ưu đãi về tín dụng, về lãi suất. NHNN cần có chính sách hỗ trợ về nguồn vốn để
tài trợ XNK ở các NHTM đối với các ngành nghề có khả năng cạnh tranh mạnh trên thị
trường thế giới, tăng cường quản lý và có biện pháp khuyến khích kịp thời đối với các
doanh nghiệp XNK. Dựa trên cơ chế chính sách rõ ràng và định hướng phát triển cụ thể
của nhà nước và NHNN đối với hoạt động XNK của Việt Nam, các NHTM sẽ xây
dựng quy chế tài trợ XNK phù hợp hơn, hiệu quả hơn.
3.2.3.5 Ổn định tỷ giá hối đoái và ổn định cơ chế lãi suất
a. Tỷ giá hối đoái:
Nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng hóa luôn luôn lớn hơn lượng
ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu. Do đó, cần phải có chính sách lãi suất hợp lý,
chính sách ngoại hối linh hoạt để ổn định tỷ giá, cân bằng lượng cung cầu ngoại tệ trên thị
trường. Sự biến động tỷ giá là nguyên nhân gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi quyết
định vay ngoại tệ hay đồng Việt Nam.
Việc biến động tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay rất khó dự đoán
vì có nhiều nhân tố tác động như:
 Nhập siêu lớn - không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong trung hạn;
79
 Thâm hụt ngân sách vẫn ở mức cao (trên dưới 6%/GDP);
 Giá vàng trong nước và thế giới luôn tăng mạnh (do khủng hoảng chi tiêu công
tại một số quốc gia châu Âu, châu Mỹ);
 Nhu cầu ngoại tệ nói chung, USD nói riêng vào những tháng cuối năm sẽ tăng
cao do khách hàng vay vốn đến hạn trả nợ ngân hàng
 Nhu cầu chuyển lợi nhuận về nước của các nhà đầu tư nước ngoài;
 Việc thực hiện chính sách đồng tiền mạnh hay yếu của một số quốc gia trong
khu vực…
Vì vậy, về khía cạnh vĩ mô, chính sách tỷ giá cần phải được nhấn mạnh tầm quan trọng
của việc duy trì khả năng cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế, đảm bảo một vị thế cán cân
thanh toán mạnh, theo đó chính sách tỷ giá gắn với cả biến số kinh tế thực.
Từ tình hình và đặc điểm kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và lạm phát đang gia
tăng như hiện nay, việc lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá để đạt được mục tiêu kiềm chế
lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ là không đơn giản. Ở góc độ nghiên cứu củađề
tài, tác giả có một số lưu ý về chính sách tỷ giá liên quan đến hoạt động tài trợ XNK như
sau:
 Tỷ giá hối đoái là giá cả đối ngoại của đồng tiền, theo tín hiệu thị trường tỷ giá
lúc lên, lúc xuống phải được xem là việc bình thường của nền kinh tế. Còn khi tỷ
giá diễn biến theo chiều hướng bất lợi, thì bất cứ quốc gia nào cũng cần can thiệp
tỷ giá. Điểm khác nhau ở chỗ: thời điểm can thiệp; công cụ can thiệp, mức độ
can thiệp và sự giám sát của quá trình can thiệp. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia
trong điều hành chính sách tỷ giá cho thấy, việc chọn thời điểm điều chỉnh vớiliều
lượng hợp lý là yếu tố quan trọng, thậm chí quyết định cho việc ổn định tỷgiá
và khắc phục áp lực cộng hưởng lên tỷ giá và thị trường. Với kinh nghiệmnày,
khi tỷ giá đang dần ở thế ổn định, NHNN sẽ chủ động (tính toán một cách cụ thể)
điều chỉnh tăng/giảm nếu dự báo trong thời gian tới là cần thiết, khôngnên để
diễn biến tỷ giá ở mức “nóng” mới điều chỉnh, bởi điều chỉnh thời điểm này dễ gây
hiệu ứng bất ổn từ tỷ giá sang các chỉ tiêu vĩ mô khác.
 Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu đã cho rằng: “các đợt phá giá tiền vừa
qua, không có tác dụng cải thiện cán cân thương mại”, vì thế nếu cứ coi tỷ giá
80
hối đoái là một trong những rào cản cho xuất khẩu, để lập luận cần phải giảm giá
VND mới có thể cải thiện cán cân thương mại sẽ là chưa ổn. Do cơ cấu mặt hàng
xuất khẩu của Việt Nam có nhiều bất cập, 70 -80% đầu vào của mặt hàng xuất khẩu
là nhập khẩu, trong khi xuất khẩu lại lệ thuộc vào biến động trên thị trường quốc tế
về điều kiện thương mại cũng như biến động giá cả. Ở khía cạnh nhập khẩu, tỷ giá
hối đoái không hẳn hạn chế nhập khẩu, để thông qua đó hạn chếnhập siêu. Do
xuất khẩu nhiều, nhưng hầu hết ở dạng thô, giá trị gia tăng trên từng đơn vị xuất
khẩu không cao, trong khi nhập siêu rất lớn, chủ yếu từ Trung Quốc (chiếm đến 80-
90%/tổng kim ngạch nhập khẩu). Như vậy sự phụ thuộc của giá cả trong nước vào
giá cả thị trường quốc tế khá lớn. Do đó, các ý kiến cho rằng cần xử lý tỷ giá theo
hướng tăng để khuyến khích xuất khẩu, chủ động nhập khẩu là trực tiếp hoặc gián
tiếp thu hẹp vai trò của tỷ giá, trong khi tỷ giá hốiđoái còn liên quan đến hàng
loạt vấn đề như cán cân thanh toán, nợ quốc gia, thị trường tiền tệ, thị trường chứng
khoán và bất động sản. Chỉ xét riêng mối quanhệ giữa tỷ giá với nợ quốc gia cũng
cho thấy cần rất thận trọng trong việc nâng hay giảm giá của tiền đồng. Nợ quốc
gia của Việt Nam chủ yếu là nợ nước ngoài (khoảng 40% GDP), nếu giảm giá tiền
tệ thì ảnh hưởng không nhỏ đến nợ quốc gia. Với cơ cấu nợ công của Việt Nam
nghiêng về nợ nước ngoài, thì khi tỷ giá điều chỉnh tăng lên, sẽ dẫn đến rủi ro
nợ công do lãi suất biến động theo xuhướng tăng. Như vậy sẽ dẫn đến chênh
lệch lãi suất quá lớn giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế, sẽ làm gia
tăng mức độ đôla hóa và tiếp tục tạo áplực lên tỷ giá hối đoái. Vì vậy, khi cần
điều chỉnh tỷ giá không chỉ đặt nó trong mối quan hệ với xuất, nhập khẩu, mà còn
phải xem nó trong mối quan hệ với đầu tư, lãi suất và vay nợ nước ngoài … trong
chiến lược chung là nâng cao uy tínvà vị thế của VND, hướng đến một đồng tiền
tự do chuyển đổi trong khu vực.
Việc tích cực thực hiện chính sách tỷ giá ngày càng linh hoạt là nhân tố quan trọng giúp
Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới một cách hiệu quả, tạo điều kiện chothị
trường ngoại hối của Việt Nam trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn và cho phépcác
ngân hàng cũng như các doanh nghiệp Việt Nam được tự do lựa chọn nhiều đồngtiền
khác nhau nhằm góp phần quản lý rủi ro tỷ giá.
81
b. Cơ chế lãi suất:
Chính sách lãi suất đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực hơn so với trước đây. Để nâng
cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, NHNN phải xây dựng chính sách lãi suất
hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho huy động và cho vay.
NHNN cần linh hoạt, đồng bộ trong điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, lãi suất
tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu để kiểm soát mặt bằng lãi suất thị trường ở mức hợp lý, theo
đó NHNN tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với TCTD với kỳ hạn dài hơn, khốilượng
lớn hơn so với trước đây thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ và chỉ đạocác
NHTM. NHNN giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần
phù hợp diễn biến nền kinh tế, đảm bảo an toàn hệ thống đồng thời có chính sách hỗ trợ
cho các ngân hàng cổ phần quy mô nhỏ tiếp cận được vốn thanh khoản giá rẻhơn, thời
hạn đến 3 tháng nhằm tăng thanh khoản. Hình thành đồng bộ và phù hợp các mức lãi suất
chỉ đạo, như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất vay qua đêm
và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm chủ động điều tiết lãi suất thị trường và các hành
vi cho vay, đi vay của các thành viên trên thị trường tiền tệ.
Theo dõi, giám sát chặt chẽ diễn biến thị trường tiền tệ trong nước và dự báo về tìnhhình
cung - cầu vốn, lãi suất, tỷ giá; thiết lập hệ thống thông tin để đánh giá diễn biếnthị
trường; tăng cường thanh tra, giám sát và kết hợp với nắm bắt tình hình hoạt động kinh
doanh của từng NHTM để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh, đảm bảo an toàn hệ thống.
Điều hành lãi suất theo hướng ổn định và ở mức hợp lý, kết hợp với điều chỉnh linh
hoạt nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ chính sách tiền tệ khác nhằm kiểm soát mức
tăng các chỉ tiêu tiền tệ phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Kết luận chương 3
BIDV HCMC cũng như các NHTM Việt Nam cần phải luôn không ngừng cải tiến,
nâng cao năng lực kinh doanh của mình, tìm kiếm và thực hiện các giải pháp khắc phục
hiệu quả những hạn chế tồn tại để hợp tác và hỗ trợ tốt hơn hoạt động sản xuất kinh doanh
XNK của các doanh nghiệp XNK, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
82
Bên cạnh những giải pháp kiến nghị chính phủ xem xét, BIDV HCMC cần cân nhắcthực
hiện các giải pháp liên quan đến quy trình quy chế, chính sách, nghiệp vụ, nhânsự,
công nghệ của mình. Các giải pháp cần được tiến hành đồng bộ và triệt để, trong đó cần
chú trọng việc xây dựng thương hiệu mạnh, hoàn thiện quy trình cho vay, nâng cao trình
độ năng lực của chuyên viên, thường xuyên cải tiến nâng cấp công nghệ ngân hàng, phát
triển đa dạng sản phẩm tài trợ XNK, mở rộng đối tượng khách hàng và đa dạng hóa các
loại hình dịch vụ ngân hàng hỗ trợ khách hàng.
KẾT LUẬN
Kinh tế ngoại thương nói chung và XNK nói riêng cùng với hoạt động tài chính
ngân hàng có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, phát
triển sản xuất, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Nhà nước và các tổ chức
kinh tế, đặc biệt các tổ chức tài chính ngân hàng cần tăng cường quan tâm xúc tiến
hỗ trợ để hoạt động kinh tế này ngày càng phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững,
góp phần ngày càng nâng cao uy tín, năng lực của các doanh nghiệp Việt Nam và
tên tuổi của các NHTM Việt Nam trên thị trường khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, trên thực tế sự tài trợ của các NHTM, của BIDV HCMC đối với lĩnh
vực ngoại thương, hoạt động XNK vẫn còn một số hạn chế do nhiều nguyên nhân
khác nhau làm cho ngành kinh tế quan trọng này chưa phát huy tối đa hiệu quả
của nó. Tất cả những hạn chế này đều có thể khắc phục được dưới sự hỗ trợ của nhà
nước, sự tham gia tích cực của các cấp các ngành cùng với sự nỗ lực cải cách từphía
các doanh nghiệp XNK,các NHTM nói chung và BIDV HCMC nói riêng.
Các giải pháp được xây dựng đều mang tính khả khi, kết hợp phát triển tài trợ XNK
và phòng ngừa rủi ro – đây chính là điểm mới của luận văn. Nếu được thực hiện
đồng bộ và triệt để sẽ có thể giúp BIDV HCMC phát huy hiệu quả hoạt động tín
dụng và tài trợ XNK của mình, thực hiện tốt sứ mệnh hỗ trợ phát triển kinh tế của
ngân hàng và cùng với hoạt động ngoại thương góp phần thúc đẩy kinh tế pháttriển.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn (2007), Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Nhà
xuất bản thống kê.
2. Tiến sĩ Hồ Diệu (2001), Tín dụng Ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê.
3. GS.TS Lê Văn Tư – Lê Tùng Vân (2006), Tín dụng xuất nhập khẩu thanh toán
quốc tế và kinh doanh ngoại tệ, Nhà xuất bản tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
4. TS Nguyễn Minh Kiều (2008), Thị trường ngoại hối và các giải pháp phòng
ngừa rủi ro, Nhà xuất bản thống kê.
5. Thời báo kinh tế Sài Gòn (2009 – 2010).
6. Tài liệu khác trên Internet:
www.mot.gov (trang web của Bộ Thương Mại),
www.mof.gov (trang web của Bộ Tài Chính),
www.bidv.com.vn (trang web của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam)
www.vneconomy.vn (trang web của Thời báo Kinh tế Việt Nam)
www.sbv.gov.vn ( Trang web của Ngân hàng nhà nước Việt Nam)

Giải pháp mở rộng và phát triển tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh

  • 1.
    BỘ GIÁO DỤCVÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHẠM THỊ TÚ QUYÊN GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TP. HỒ CHÍ MINH MÃ TÀI LIỆU: 81201 ZALO: 0917.193.864 Dịch vụ viết bài điểm cao :luanvantrust.com LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
  • 2.
    BỘ GIÁO DỤCVÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHẠM THỊ TÚ QUYÊN GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TP. HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành : KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Mã số : 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỖ QUANG TRỊ TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
  • 3.
    LỜI CAM ĐOAN Tôicam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Tôi sẽ chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này. Học viên ký tên Phạm Thị Tú Quyên
  • 4.
    MỤC LỤC ................................................................................................................Trang DANHMỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ................................................................................. LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU........1 1.1. Hoạt động tài trợ XNK của NHTM ..........................................................................1 1.2. Các hình thức tài trợ xuất khẩu.................................................................................2 1.2.1. Căn cứ vào phương thức thanh toán ............................................................2 1.2.2. Cho vay trên cơ sở hối phiếu .......................................................................7 1.2.3. Căn cứ vào thời hạn cho vay........................................................................9 1.2.4. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng ....................................10 1.2.5. Một số hình thức tài trợ XNK khác ...........................................................10 1.2.6. Bảo lãnh và tái bảo lãnh.............................................................................12 1.3. Vai trò của các hình thức tài trợ XNK....................................................................13 1.3.1. Đối với ngân hàng thương mại...................................................................14 1.3.2. Đối với doanh nghiệp.................................................................................15 1.3.3. Đối với nền kinh tế đất nước......................................................................16 1.4. Các rủi ro và biện pháp ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tài trợ XNK ................16 1.4.1 Đặc thù trong hoạt động ngoại thương......................................................17 1.4.2 Những rủi ro đặc thù trong hoạt động tài trợ XNK...................................17 1.5. Giới thiệu một số hình thức tài trợ ngoại thương của quốc gia khác.....................19 1.5.1. Thái Lan ....................................................................................................19 1.5.2. Trung Quốc ...............................................................................................20 1.5.3.Hàn Quốc........................................................................................................21 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XNK TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TP. HỒ CHÍ MINH...............................24 2.1. Giới thiệu về Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh .........24 2.2. Thực trạng hoạt động tài trợ XNK tại Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh............................................................................................................25 2.2.1. Hoạt động tài trợ vốn nói chung...............................................................25 2.2.2. Hoạt động tài trợ xuất khẩu ......................................................................29
  • 5.
    2.2.3 Hoạt độngtài trợ nhập khẩu ......................................................................31 2.2.4 Phân tích về hoạt động tài trợ XNK tại BIDV HCMC .............................32 2.2.5. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro đang áp dụng tại BIDV HCMC..........41 2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XNK TẠI BIDV HCMC ................................................................................................................................. 47 2.3.1.Mặt được...............................................................................................................47 2.3.2 Tồntại...................................................................................................................47 2.3.3.Những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động tài trợ XNK của BIDV HCMC.............................................................................................50 CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TP HỒ CHÍ MINH............................................................................................57 3.1. Định hướng hoạt động tài trợ XNK của BIDV ......................................................57 3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển tài trợ XNK của BIDV HCMC trong giai đoạn hiện nay..................................................................................................................57 3.2.1. Đối với Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP Hồ Chí Minh ....57 3.2.2 Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam .................................75 3.2.3. Giải pháp vĩ mô đối với Chính phủ và Ngân NNNN...............................76
  • 6.
    DANH MỤC NHỮNGTỪ VIẾT TẮT XK : Xuất khẩu NK : Nhập khẩu XNK : Xuất nhập khẩu GDP : Tổng sản phẩm quốc nội CCS : Hoán đổi tiền tệ chéo IRS : Hóan đổi lãi suất một đồng tiền TCKT : Tổ chức kinh tế NHTM : Ngân hàng thương mại NHNN : Ngân hàng nhà nước BIDV : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV HCMC : Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh
  • 7.
    DANH MỤC CÁCBẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ STT Tên Bảng biểu Trang DANH MỤC BẢNG 1 Bảng 2.1: Tình hình nguồn vốn huy động giai đoạn 2007 - 2009 25 2 Bảng 2.2: Tỷ lệ tăng/ giảm nguồn vốn huy động 25 3 Bảng 2.3: Tình hình dư nợ của BIDV HCMC giai đoạn 2007- 2009 27 4 Bảng 2.4: Tăng/giảm dư nợ vay của BIDV HCMC giai đoạn 2007- 2009 27 5 Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV HCMC giai đoạn 2007- 2009 28 6 Bảng 2.6: Dư nợ tài trợ XNK so với dư nợ vay của BIDV HCMC 32 7 Bảng 2.7: Dư nợ tài trợ XNK so với dư nợ vay doanh nghiệp 32 8 Bảng 2.8: Dư nợ tài trợ XNK phân theo loại hình tài trợ 33 9 Bảng 2.9: Dư nợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 35 10 Bảng 2.10: Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 38 11 Bảng 2.11: Tình hình nợ quá hạn tài trợ xuất nhập khẩu 40 12 Bảng 2.12: Tình hình nợ xấu tài trợ xuất nhập khẩu 40 13 Bảng 2.13:Kết quả giao dịch phái sinh trong hoạt động tài trợ XNK 45 DANH MỤC HÌNH 14 Hình 2.1 : Dư nợ tài trợ XNK phân theo loại hình tài trợ 34 15 Hình 2.2: Dư nợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 36 16 Hình 2.3 : Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ 38
  • 8.
    LỜI NÓI ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Hoạt động thương mại quốc tế là xu hướng chung của các quốc gia, mang tính tất yếu khách quan. Trong thời gian qua hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta ngày càng phát triển. Tài trợ xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại, không những đem lại hiệu quả kinh doanh từ lãi vay mà còn thu được các phí dịch vụ từ hoạt động thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ. Thời gian qua Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc phát triển hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu và bước đầu thu được những thành quả nhất định. Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đã được, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh cũng gặp phải không ít khó khăn hạn chế cần phải khắc phục. Đây cũng là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Giải pháp mở rộng và phát triển tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu. 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của việc nghiên cứu là nhằm tìm ra những hạn chế tồn tại làm ảnh hưởng, kiềm hãm sự phát triển của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP.Hồ Chí Minh, xác định nhữngnguyên nhân chính tạo ra những hạn chế đó để từ đó đề ra giải pháp kiến nghị phù hợp giúp cho hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh phát triển thuận lợi và hiệu quả hơn. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh. Luận văn nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến khả năng phát triển của việc tài trợ hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, xác định mối tương quan giữa các nhân tố quan trọng chủ yếu với hiệu quả phát triển của hoạt động ngân hàng cũng như của các doanh nghiệp
  • 9.
    xuất nhập khẩu. Dữliệu sử dụng trong luận văn được trích dẫn từ các báo cáo tổng hợp và tình hình hoạt động kinh doanh thực tế của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh 4. Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp được sử dụng chủ yếu trong việc thực hiện luận văn là: phương pháp lý thuyết kết hợp với thực tiễn, phương pháp thống kê - phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh. 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngân hàng thương mại, vì vậy việc hệ thống hoá các vấn đề lý luận và khảo sát thực tiễn hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của một ngân hàng thương mại đặc thù không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động này tại các ngân hàng thương mại cũng như có giá trị tham khảo tốt cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý nhằm nâng cao nâng cao chất lượng trong hoạt động của hệ thống các ngân hàng thương mại. Do hạn chế về thời gian, trình độ và kinh nghiệm, đề tài không thể đi sâu tìm hiểu, khảo sát và phân tích hết các khía cạnh có liên quan đến quyền chọn. Mong rằng đề tài này sẽ tiếp tục được nghiên cứu, khảo sát, kiểm chứng đầy đủ hơn và trên cơ sở đó có thể củng cố hoặc bổ sung thêm các giải pháp, đề xuất nhằm đạt được hiệu quã thiết thực và bền vững hơn. 6. Kết cấu nội dung luận văn Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm 03 chương: Chương 1 : Những vần đề cơ bản về tài trợ xuất nhập khẩu Chương 2 : Thực trạng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP.Hồ Chí Minh Chương 3 : Các giải pháp nhằm mở rộng và phát triển hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP. Hồ Chí Minh.
  • 10.
    1 CHƯƠNG 1: NHỮNGVẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU 1.1. Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất nhập khẩu trở thành vấn đề quan trọng. Thị trường thương mại thế giới mở rộng không ngừng, nhu cầu về thị trường tiêu thụ hàng hóa, thị trường đầu tư đang trở thành nhu cầu cấp bách của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không phảilúc nào cũng có đủ tiền để thanh toán hàng nhập khẩu hoặc có đủ vốn thu mua chế biến hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh quan hệ vay mượn và sự giúp đỡ tài trợ của ngân hàng. Quan hệ giao thương quốc tế đặt ra những vấn đề tế nhị, đôi khi phức tạp, nên những nghiệp vụ thương mại đòi hỏi sự tham gia của ngân hàng. Ngân hàng đem lại cho cácnhà hoạt động ngoại thương sự hiểu biết về kỹ thuật và chỗ dựa tài chính trong lĩnh vực quan trọng này. Có thể nói sự ra đời của tài trợ xuất nhập khẩu là một yêu cầu tất yếu khách quan, gắn liền với các quan hệ mua bán ngoại thương giữa các nước với nhau. Tài trợ xuất nhập khẩu tại các ngân hàng thương mại dựa vào 3 nguyên tắc cơ bản: - Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi; - Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích; - Vốn vay phải có tài sản tương đương làm đảm bảo. Cùng với sự phát triển của ngoại thương và hệ thống ngân hàng, hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng phát triển ngày càng đa dạng và phong phú: - Hình thức đơn giản đầu tiên là ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các đơn vị nhập khẩu như cho vay để bổ sung vốn lưu động thu mua chế biến sản xuất hàng xuất khẩu theo các hợp đồng đã được ký kết, cho vay để thanh toán các nguyên liệu, hàng hóa, vật tự nhập từ nước ngoài; - Từ hình thức cho vay ngắn hạn là chủ yếu, ngân hàng đã mở rộng cho vay trung và dài hạn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu. Ngân hàng cho vay để mua sắm máy móc thiết bị, cải tiến công nghệ, ứng dụng các
  • 11.
    2 thành tựu khoahọc kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới; - Ngân hàng còn thực hiện cho vay gián tiếp, đứng ra bảo lãnh để vay vốn nước ngoài cho các đơn vị xuất nhập khẩu, nhờ đó các doanh nghiệp có thể vay vốnmà không cần phải thế chấp hay cầm cố tài sản, bảo lãnh mở L/C thanh toánhàng nhập khẩu, bảo lãnh hối phiếu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, v.v … Nếu doanh nghiệp có hối phiếu có thể đưa đến ngân hàng chiết khấu cũng như các chứng từ thanh toán có giá trị khác. Ngân hàng có thể mua lại toàn bộ chứng từ và có quyền đòi nhà nhập khẩu theo hối phiếu. Trường hợp nhà xuất khẩu có những hợp đồng xuất liên tục và dài hạn theo định kỳ với điều kiện thanh toán trả chậm, nhưng có nhucầu vốn ngay, nhà xuất khẩu bán các khỏan thanh toán chưa đến hạn cho ngân hàng.Khi đến hạn, ngân hàng sẽ thu tiền từ nhà nhập khẩu, đây chính là hình thức tín dụngbao thanh toán. 1.2. Các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu Xu hướng hiện nay là kinh tế quốc gia phải gắn liền với kinh tế thế giới, nên hoạt động ngoại thương phát triển rất nhanh về số lượng lẫn quy mô, từ đó cần phải có sự tài trợ giúp đỡ của ngân hàng về vốn, kỹ thuật thanh toán. Thông thường nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại gắn liền với nghiệp vụ thanh toán quốc tế, được thực hiện qua hai loại hình chủ yếu: - Tài trợ bằng cách cho vay. - Tài trợ bằng cách bảo lãnh. Các hình thức tài trợ cho vay được thực hiện cụ thể qua các nghiệp vụ sau: 1.2.1. Căn cứ vào phương thức thanh toán 1.2.1.1. Cho vay trong khuôn khổ phương thức thanh toán bằng L/C a. Đối với L/C trong thanh toán hàng nhập khẩu: Một nhà nhập khẩu đã ký hợp đồng ngoại thương với một công ty ở nước ngoài sẽ vấp phải nhiều vấn đề. Trước khi tiến hành thanh toán nhà nhập khẩu muốn phải biết chắc chắn là hàng hóa được giao phù hợp với các điều kiện của hợp đồng. Tương tự, nhà
  • 12.
    3 xuất khẩu cũngkhông muốn rời hàng của họ ra thậm chí là tiến hành sản xuất trước khi biết chắc chắn là sẽ được thanh toán tốt đẹp. Do đó nhà xuất khẩu sẽ muốn phòng ngừa trước những rủi ro không được thanh toán có thể xảy ra do người mua mất khả năng thanh toán hoặc từ chối nhận hàng. Trong trường hợp này thư tín dụng (L/C) sẽ đáp ứng nhu cầu của cả hai bên với tư cách là một phương tiện thanh toán. Với những đảm bảo mà nó mang lại cho mỗi bên, đảm bảo giao hàng đối với nhà nhập khẩu và đảm bảothanh toán đối với nhà xuất khẩu, nên các bên có thể xin vay vốn phục vụ nhu cầu vốn của mình. Đối với nhà nhập khẩu, mở L/C được xem là hình thức tài trợ của ngân hàng: mọi thư tín dụng đều được mở theo đề nghị của nhà nhập khẩu. Khi ngân hàng đồng ý mở L/C cho nhà nhập khẩu, có nghĩa là ngân hàng cam kết thanh toán cho người thụ hưởng lợi nếu bộ chứng từ phù hợp với các điều khỏan của L/C. Ngân hàng sẽ gánh chịu rủi ronếu như nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán, nhưng để đảm bảo uy tín củamình ngân hàng mở L/C phải thanh toán cho phía nước ngoài, điều này có nghĩa là ngân hàng mở L/C cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu. Do đó, trước khi mở L/C, ngân hàng phải kiểm tra tình hình tài chính và khả năng thanh toán, hoạt động của nhà nhập khẩu … – Ký quỹ L/C: Ký quỹ là một quy định của ngân hàng phát sinh trong trường hợp khách hàng xin được mở L/C. Khách hàng sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định vào tàikhoản của họ tại ngân hàng mà họ xin mở L/C và khoản tiền đó được phong tỏa cho đến khi các nghĩa vụ liên quan đến L/C của ngân hàng chấm dứt. Thường khoản tiềnnày được tính tỷ lệ với giá trị mà khách hàng xin mở L/C. Trong trường hợp thiếu sựtin cậy hoặc hiệu quả thương vụ tiềm ẩn rủi ro cao, ngân hàng có thể yêu cầu kháchhàng ký quỹ 100% giá trị L/C. Việc ký quỹ có những ý nghĩa sau đây: + Ký quỹ nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng trong quá trình thực hiện mở L/C cho khách hàng. Trong trường hợp ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ trả thay cho người mở L/C, tiền ký quỹ sẽ được sử dụng trước để thanh toán cho người thụ hưởng L/C, phần còn lại ngân hàng mới dùng vốn của mình thanh toán sau. + Ký quỹ nhằm khẳng định khách hàng có năng lực nhất định về vốn và ràng buộc khách hàng làm tròn nghĩa vụ thanh toán.
  • 13.
    4 Trong thực tế,các ngân hàng thường phân loại khách hàng của mình tùy theo tình hình tài chính, khả năng thanh toán, quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng mà ngân hàngtài trợ sẽ quyết định mức ký quỹ cao hay thấp. – Cho vay thanh toán hàng nhập khẩu hoặc tài trợ thanh toán bộ chứng từ giao hàng: Theo hình thức này, khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh doanh mang tính khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ sản xuất hoặc kinh doanh. Đồng thời, khách hàng phải lên kế hoạch tài chính nhằm xác định khả năng thanh toán. Khi đến thời điểm thanh toán, khoản thiếu hụt giữa số tiền phải thanh toán và vốn tự có tham gia là khỏan doanh nghiệp cần ngân hàng tài trợ. Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch và phương án của khách hàng ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức ngânhàng chấp nhận tài trợ. Tất cả các công đoạn này phải thực hiện trước khi bộ chứng từ giao hàng của người xuất khẩu về đến ngân hàng đứng ra tài trợ. Khi hàng hóa, bộ chứng từ về đến nơi, nhà nhập khẩu có thể nhận được sự tài trợ của ngân hàng thông qua hình thức vay thanh toán L/C trong trường hợp L/C trả ngay, hoặc ngân hàng thay mặt nhà nhập khẩu ký nhận thanh toán trên hối phiếu trong trường hợp L/C trả chậm. – Cho vay bắt buộc: Về nội dung cũng là cho vay thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Tuy nhiên, tình trạng vay bắt buộc phát sinh khi người nhập khẩu không thanh toán hoặc không tập trung đủ tiền để thanh toán bộ chứng từ giao hàng. Ngân hàng khi đó sẽ cho vay trên giá trị tiền hàng còn thiếu để thanh toán đúng hạn cho ngân hàng nước ngoài. Nhà nhập khẩu nên tránh tình trạng phát sinh nợ vay bắt buộc do họ sẽ phải chịu lãisuất vay cho khoản tiền này tương ứng lãi suất vay bắt buộc là nợ quá hạn. Hơn nữa, thời gian vay bắt buộc thường không quá 30 ngày kể từ ngày ngân hàng trả thay, áplực thanh toán nợ vay cho ngân hàng rất lớn. b. Đối với L/C trong thanh toán hàng xuất khẩu: được thể hiện qua các hình thức: – Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở: Thư tín dụng không những là một công cụ đảm bảo thanh toán mà còn là một công cụ tín dụng. Khi nhận L/C do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, thì nhà xuất khẩu được đảm bảo thanh toán sau khi giao hàng nếu xuất trình bộ chứng từ hợp lý phù hợp với điều kiện đã ghi trong L/C. Nhà xuất khẩu còn có thể dựa vào đó để nhờ ngân hàng phục vụ mình cấp một khoản tín dụng để thực hiện xuất hàng
  • 14.
    5 theo L/C quyđịnh, từ đó có thể khẳng định là L/C phục vụ cho nhiều mối liên quan như là phương tiện trong lĩnh vực cho vay hàng xuất. Trên cơ sở L/C đã được chấp nhận ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu để tiếp tực sản xuất, nghĩa là sẵn sàng chấp nhập chiết khấu các hối chiếu của L/C này. Đối với L/C trả chậm cũng được sử dụng như một phương tiện đi vay. Nhà xuất khẩucó thể nhận được tiền dưới dạng tín dụng chuyển nhượng toàn bộ quyền thụ hưởng L/C cho ngân hàng vay vốn, đặc biệt thuận lợi hơn khi đó là một L/C trả chậm có xác nhận. – Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước chứng từ hàng xuất khẩu: Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể thương lượng với ngân hàng, thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền khi bộ chứng từ được thanh toán. Như vậy, đối với nhà xuất khẩu, L/C không những là công cụ đảm bảo thanh toán mà còn là công cụ đảm bảo tín dụng. Chiết khấu toàn bộ chứng từ xuất khẩu là hình thức ngân hàng tài trợ nhà xuất khẩu thông qua việc mua lại hoặc cho vay trên cơ sở giá trị bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo được người xuất khẩu trình. Có 2 hình thức chiết khấu: + Chiết khấu miễn truy đòi (chiết khấu đóng): ngân hàng mua lại bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo của người xuất khẩu. Giá mua sẽ thấp hơn giá trị bộ chứng từ, do ngân hàng tính trừ lại phí chiết khấu và thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền người nhập khẩu nước ngoài. Chiết khấu miễn truy đòi có nghĩa là người xuấtkhẩu bán hẳn bộ chứng từ cho ngân hàng, nhận tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả, trách nhiệm thu tiền và quyền sử dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng. + Chiết khấu được phép truy đòi (chiết khấu mở): ngân hàng thực hiện việc cho vay trên cơ sở người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo. Thời gian cho vay được tính bằng thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền người nhập khẩu nước ngoài. Khi đó, trách nhiệm người xuất khẩu vẫn còn cho đến khi ngân hàng đòi được tiền từ người nhập khẩu. Khi chiết khấu được tính dưới hình thức lãichiết khấu, tính theo ngày và mức phí dĩ nhiên thấp hơn trong trường hợp chiết khấu miễn truy đòi vì rủi ro ngân hàng phải chịu thấp hơn trong trường hợp trên.
  • 15.
    6 Tác dụng hoạtđộng chiết khấu của ngân hàng nhằm tài trợ vốn lưu động cho người xuất khẩu để đảm bảo sản xuất kinh doanh liên tực, không bị gián đoạn trong thời gian chờ người nhập khẩu nước ngoài thanh toán tiền hàng. - Tín dụng ứng trước tiền trước khi bộ chứng từ được thanh toán: đó là việc tạm ứng cho quyền hưởng thanh toán trong khuôn khổ thanh toán tín dụng chứng từ. Thời gian chờ thanh toán là một quá trình khá dài, nên nhà xuất khẩu cũng cần một khoản tài trợ của ngân hàng, đó là khoản tín dụng ứng trước. Đối với tín dụng ứng trướcloại này, những giấy tờ có giá theo lệnh (order papers) hoặc những giấy tờ chính như vận đơn, hóa đơn thương mại, hợp đồng bảo hiểm… đều là những vật thế chấp cho ngân hàng, do đó, tất cả những giấy tờ có giá theo lệnh đều phải có mệnh đề chuyển nhượng khống (blank endorsement) hoặc chuyển nhượng cho ngân hàng cấp tín dụng ứng trước. Mức độ cấp vốn ứng trước phụ thuộc vào các yếu tố sau: + Khả năng thanh toán của nhà xuất khẩu; + Khả năng cạnh tranh của hàng hóa và giá trị của hàng hóa dự kiến; + Chính sách kinh tế và chính sách chính trị của nước nhập khẩu đối với ngân hàng nhà xuất khẩu; + Những rủi ro về tỷ giá hối đoái (đối với ngân hàng nhà nhập khẩu); - Tín dụng ứng trước dưới hình thức mua lại bộ chứng từ thanh toán: Sau khi hoàn tất nghĩa vụ xuất chuyển hàng hóa cho người mua, người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán (bao gồm các chứng từ liên quan tới hàng hóa và hối phiếu thương mại), lúc này người xuất khẩu có toàn quyền sở hữu bộ chứng từ thanh toán này. Đồng thời ở họ lại xuất hiện nhu cầu bù đắp vốn để tiếp tục quá trình kinh doanh trong khoảng thời gian xuất chuyển hàng hóa đến khi nhà nhập khẩu chấp nhận bộ chứng từ và đồng ý trả tiền. Trong trường hợp như vậy, nhà xuất khẩu có thể đem bán bộ chứng từ thanh toán này cho ngân hàng. Việc ngân hàng mua bộ chứng từ thanh toán này tức là đã chấp nhận cấp một khoản tín dụng cho người xuất khẩu. Trị giá khoản tín dụng ứng trước này phụ thuộc vào trị giá bộ chứng từ, loại hàng hóa mua bán thể hiện trên chứng từ, các chi phí theo quy định và khả năng thanhtoán tiền trên bộ chứng từ của người mua. Thông thường các ngân hàng mua với giá khoảng 70 – 90% trị giá toàn bộ chứng từ.
  • 16.
    7 Ngân hàng vẫncó quyền truy đòi đối với người xuất khẩu, khi bộ chứng từ gởi đi không thu được tiền. Tuy nhiên, sẽ có thể hạn chế rủi ro tốt hơn, trong trường hợp ngân hàng mua lại bộ chứng tư được lập ra trên cơ sở yêu cầu của một thư tín dụng. 1.2.1.2. Cho vay trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ So với tín dụng chứng từ, nhờ thu ít được sử dụng trong thanh toán vì đây là phương thức thanh toán có lợi cho bên mua, thường được áp dụng khi hai bên quen biết tin tưởng nhau. Từ lúc gởi các chứng từ tới ngân hàng (ngân hàng bên nhà xuất khẩu) cho tới khi xuất trình với người thanh toán có thể mất một khoảng thời gian nhất định. Tài trợ của ngân hàng trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ có thể hiện như sau: - Nhờ thu đến trong thanh toán hàng nhập khẩu: ngân hàng tiếp nhận chứng từ từ ngân hàng nước ngoài, xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà nhập khẩu. Nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán, thì cần phải có sự tài trợ của ngân hàng cho vay thanh toán hàng nhập khẩu. - Nhờ thu đi trong thanh toán hàng xuất khẩu: tương tự như phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng có thể cho vay thu mua, sản xuất hàng xuất khẩu, chiết khấuđược ứng trước bộ chứng từ hàng xuất khẩu. Nhà xuất khẩu có thể chuyển nhượng quyền lợi này tự sự ủy nhiệm cho ngân hàng thu chứng từ. Nhưng giá trị của sự chuyển nhượng này phụ thuộc rất lớn vào khả năng thanh toán của người vay vì không có sự đảm bảo chắc chắn rằng các chứng từ của người phải thanh toán (người tiêu thụ hàng hóa) được chấp nhận và vào giá trị hàng hóa được thanh toán. Nếu nhà nhập khẩu được giao các chứng từ khi chấpnhận một hối phiếu đòi nợ, thì có thể kèm theo việc chiết khấu hối phiếu ở ngân hàng nhà xuất khẩu cũng như ngân hàng nhà nhập khẩu. 1.2.2. Cho vay trên cơ sở hối phiếu Trong hoạt động tài trợ thương mại có những hình thức tài trợ quan trọng được xây dựng hoặc là trên cơ sở hối phiếu hay phụ thuộc vào việc tất toán hối phiếu, đó là: a- Tài trợ chiết khấu; b- Tài trợ chấp nhận hối phiếu;
  • 17.
    8 c- Tài trợbao nợ chấp phiếu; d- Cấp tài chính hối phiếu tự nhận nợ (Promissory notes); e- Chấp phiếu ngân hàng (Bankers’ Acceptances); f- Bao toàn bộ thanh toán. Tất cả những hình thức tài trợ hối phiếu từ a) tới e) trên là những hình thức tài chính ngắn hạn. Riêng hình thức bao thanh toán được xếp vào hình thức tài trợ thương mại trung và dài hạn. 1.2.2.1. Chiết khấu hối phiếu Tài trợ chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ tài trợ ngắn hạn được thực hiện dưới hình thức khách hàng chuyển quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí chiết khấu. Thực chất của hình thức này là ngân hàng tiến hành mua lại các hối phiếu thương mại đang trong thời kỳ chưa đến hạn thanh toán. Thông qua loại hình tài trợ này, ngân hàng cung ứng một khoản vốn cho các nhà xuất khẩu để họ có điều kiện tiếp tục quá trình tái sản xuất. Đây chính là khoản vốn mà nhà sản xuất cần bù đắp, vì trước đó họ đã cung ứng khoản tài trợ thương mại (bán chịuhàng hóa) cho nhà nhập khẩu. Nét đặc trưng nhất của nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu là ngân hàng sẽ khấu trừ tiền lãi ngay khi chiết khấu và chỉ chuyển cho khách hàng số tiền còn lại. Các ngân hàng sẽ xác định khối lượng tín dụng cấp ra (giá trị chiết khấu) căn cứ vào mệnh giá của hối phiếu được áp dụng làm đối tượng chiết khấu trừ đi lợi tức chiết khấu và lệ phí nhờ thu mà ngân hàng chiết khấu hưởng. Phương thức tính tiền chiết khấu xác định như sau: Giá trị thanh toán cho người xin chiết khấu = Trị giá chứng từ – Mức chiết khấu Trong đó :  Trị giá chứng từ = Mệnh giá + Lãi hưởng định kỳ.  Lãi hưởng định kỳ = Mệnh giá x % Lãi suất được hưởng định kỳ.  Hoa hồng phí = Mệnh giá x % tỷ lệ hoa hồng.  Lãi chiết khấu = ( Trị giá CK x Lãi CK %/năm x số ngày nhận CK )/ 365.
  • 18.
    9 Khi kết thúcthời hạn chiết khấu, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người có nhiệm vụ trả tiền hối phiếu. Thông thường, trong nghiệp vụ chiết khấu, các ngân hàng có thể gặp rủi ro trong các trường hợp sau: - Người có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu từ chối việc trả tiền hoặc không có khả năng thanh toán kịp thời khi hối phiếu đến hạn; - Chiết khấu những hối phiếu không hợp lệ (được thành lập không trên cơ sở hành vi thương mại). Vì thế khi thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, ngân hàng phải xem xét một cách thận trọng để hạn chế rủi ro có thể xảy ra. 1.2.2.2. Chấp nhận hối phiếu Chấp nhận hối phiếu là một nghiệp vụ thông thường trong quá trình lưu thông hối phiếu. Trong thời hạn quy định, bên bán phải xuất trình cho bên mua để họ ký chấp nhận trả tiền hối phiếu. Hối phiếu chỉ có thể lưu thông dễ dàng khi nó đã được ký chấp nhận trả tiền khi đến hạn. Tài trợ chấp nhận hối phiếu là khoản tài trợ mà ngân hàng ký chấp nhận hối phiếu. Người vay chính là nhà nhập khẩu và khoản vay chỉ là một hình thức, một sự đảm bảo về tài chính, thực chất ngân hàng chưa phải xuất tiền thực sự cho người vay. Tuy nhiên, khi đến hạn nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán, thì người cho vay (ngân hàng), người đứng ra chấp nhận hối phiếu phải trả nợ thay. Đối với ngân hàng, kể từ khi ký chấp nhận trả tiền hối phiếu cũng chính là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro, nếu như bên mua không có tiền thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán. Đương nhiên, nếu đến thời hạn thanh toán hối phiếu mà bên mua có đủ tiền, thì ngân hàng thực sự không phải ứng tiền ra, như vậy khoản tài trợ này chỉ là hình thức, là một sự đảm bảo về tài chính. Trong thường hợp này, ngân hàng chỉ sẽ nhận được một khoản phí chấp nhận, khoản tiền bù đắp cho chi phí gánh chịu rủi ro tín dụng mà thôi. 1.2.3. Căn cứ vào thời hạn cho vay
  • 19.
    10 1.2.3.1. Tài trợngắn hạn Tài trợ ngắn hạn là loại tài trợ có thời hạn dưới 1 năm, thường được sử dụng cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh của các đơn vị, chiếm tỷ trọng lớn tại các ngân hàng cho vay để nhập khẩu nguyên liệu, vật tư máy móc thiết bị, để sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu. 1.2.3.2. Tài trợ trung và dài hạn Thời hạn của tài trợ trung, dài hạn tùy theo quy định của mỗi nước. Ở Việt Nam, tài trợ trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, tài trợ dài hạn từ 5 năm trở lên. Hình thức tài trợ này được cung cấp để đầu tư, mua sắm tài sản cố định, xây dựng mới, cải tạo, mở rộng khôi phục, cải tiến kỹ thuật, hiện đại hóa công nghệ. 1.2.4. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng 1.2.4.1. Tài trợ có đảm bảo Đây là hình thức tài trợ nhằm đảm bảo an toàn vốn cho vay của ngân hàng. Các doanh nghiệp muốn được vay vốn của ngân hàng phải có vật tư, tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của người thứ ba đối với khoản cho vay. Những tài sản này là cơ sở đảm bảo cho ngân hàng có khả năng thu hồi vốn cho vay trong trường hợp doanh nghiệp không trả được nợ. Có nhiều loại bảo đảm cho một khoản vay ngân hàng, tuy nhiên có 3 yêu cầu đối với bất cứ loại bảo đảm nào để được ngân hàng chấp nhận: a) dễ được định giá; b) dễ cho ngân hàng quyền được sử hữu hợp pháp; c) dễ tiêu thụ hay thuận lợi. Khi chovay có tài sản bảo đảm, không bao giờ nên coi đó là nguồn trả nợ, mà chỉ là cái gì đó để dựa vào khi nguồn trả nợ dự kiến không thành. 1.2.4.2.Tài trợ không đảm bảo Đây là hình thức ngân hàng cho vay mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một người thứ ba. Cơ sở để cho vay chỉ dựa vào uy tín, quy mô, hiệu quả kinh doanh, hiệu quả của phương án và có quan hệ thường xuyên tốt đẹp với ngân hàng. 1.2.5. Một số hình thức tài trợ xuất nhập khẩu khác 1.2.5.1. Bao thanh toán (Factoring hay affacturage)
  • 20.
    11 Đây là hìnhthức tài trợ đặc biệt dành cho xuất khẩu, ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính sẽ mua lại các chứng từ thanh toán, các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán để trở thành chủ nợ trực tiếp đứng ra đòi nợ nhà nhập khẩu ở nước ngoài. Hiện nay trên thế giới, nghiệp vụ bao thanh toán được thực hiện tại các ngân hàng hoặc thành lập ra côngty riêng gọi là công ty Factoring chuyên mua lại các khoản nợ. Các công ty này phát triển rất mạnh, doanh số cao. Bao thanh toán là việc mua các khoản Có phải đòi chưa tới hạn thanh toán phát sinh từ hoạt động cung ứng hàng hóa và dịch vụ nhưng không được phép truy hoàn những chủ cũ – của các khoản Có này. Thông thường, ta gọi người bán khoản Có phải đòi này là người nhượng và người mua là người bao thanh toán. Trên cơ sở hợp đồng bao toàn bộ thanh toán giữa nhà xuất khẩu và người bao các khoản Có phải đòi, người xuất khẩu sẽ chuyển giao hối phiếu cho người mua khoản Có phải đòi này. Hợp đồng bao thanh toán có thể có một ý nghĩa đặc biệt, nó là một cơ sở pháp lý được phép áp dụng cho khoản Có phải đòi đã được nhượng bán, chỉ như vậy mới có thể giải quyết được những vướng mắc về luật nước ngoài và những tranh chấp có thể phát sinh theo luật quốc gia. Hối phiếu tự nhận nợ phù hợp một cách đặc biệt đối với hình thức bao toàn bộ thanh toán. Tùy theo tính chất hoàn hảo của chứng từ, tình hình tài chính và khả năng thanh toáncủa người mắc nợ mà ngân hàng quyết định tỷ lệ mua nợ cao hay thấp đối với nhà xuất khẩu. Có hai loại: - Factoring tương đối: là ngân hàng, công ty Factoring sẽ thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, nhưng với thỏa thuận là nhà xuất khẩu vẫn chịu trách nhiệm rủi ro nếu nhà nhập khẩu không trả tiền. - Factoring tuyệt đối: ngân hàng hoặc công ty Factoring gánh chịu mọi rủi ro nếu như nhà nhập khẩu không trả tiền. Factoring giúp nhà xuất khẩu có vốn ngay để tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình dù bán thu tiền ngay hay bán chịu, đồng thời giúp nhà xuất khẩu không phải bận tâm vào việc quản lý thanh toán phức tạp kéo dài thời gian. Vì vậy nhà xuất khẩu phải trả một khoản phí khá cao khi bao thanh toán.
  • 21.
    12 1.2.5.2. Tài trợthuê mua (Leasing) Tài trợ thuê mua là hình thức cam kết giữa người cho thuê và người đi thuê để thuê một tài sản nhất định do người thuê chọn lựa từ nhà sản xuất hay người bán, được quyền sử dụng tài sản này trong khoản thời gian nhất định và phải trả dần tiền từng kỳ hạn theo hợp đồng thuê mua. Khi kết thúc hợp đồng, người đi thuê được quyền chọn mua tài sản cho thuê theo giá cả ấn định. Người cho thuê thường là ngân hàng, công ty tài chính,công ty thuê mua. Đây là hình thức tài trợ trung dài hạn mặc dù mua hàng theo phương thức này sẽ đắt hơn so với trả tiền ngay, nhưng tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, máy móc, thiết bị mà không phải trả tiền ngay. 1.2.6. Bảo lãnh và tái bảo lãnh Trong thương mại quốc tế, rủi ro là một yếu tố luôn luôn xuất hiện trong các thương vụ khác nhau (rủi ro thanh toán, rủi ro không thực hiện hợp đồng …). Từ đó nảy sinh nhu cầu bảo lãnh để hạn chế những rủi ro. Trong mua bán quốc tế, đôi khi nhà xuất khẩu không nắm chắc được khả năng tài chính và mức độ tín nhiệm của nhà nhập khẩu, do vậy nhà xuất khẩu sẽ yêu cầu nhà nhập khẩu phải có một tổ chức, thường là ngân hàng, đứng ra bảo lãnh thanh toán; Ngược lại, do không biết rõ hoặc không tin tưởng nhau, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu bên xuấtkhẩu có ngân hàng đứng ra bảo lãnh giao hàng hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Ngân hàng nhận bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng, dùng để vay vốn nước ngoài dưới hình thức tín dụng thương mại hoặc tín dụng tài chính … Trách nhiệm của ngân hàng bảo lãnh là đảm bảo thi hành đúng cam kết với nước ngoài trong trường hợpngười xin bảo lãnh không thực hiện đầy đủ một nghiệp vụ nào đó với bên nước ngoài. Bảo lãnh cũng có nhiều hình thức khác nhau: - Mở thư tín dụng trả chậm; - Ký bảo lãnh hay ký chấp nhận trên các hối phiếu; - Phát hành thu bảo lãnh với nước ngoài; - Lập giấy cam kết trả nợ với nước ngoài; Đối với tái bảo lãnh thì phát hành thư bảo lãnh với nước ngoài. Các lợi thế của các bên liên quan trong nghiệp vụ này:
  • 22.
    13 - Đối vớinhà nhập khẩu (bên được bảo lãnh): được hưởng một khoản vốn của bên xuất khẩu mà không phải trả lãi (thực chất có thể giá bán đã tính lãi rồi), chỉ trả một khoảnphí cho người bảo lãnh. - Đối với nhà xuất khẩu: hoàn toàn yên tâm rằng đến hạn sẽ được thanh toán nợ. Nếu cần tiền, nhà xuất khẩu cũng có thể đem bộ chứng từ chiết khấu tại một ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu vốn của mình. - Đối với ngân hàng bảo lãnh: với bất cứ ngân hàng nào, khi tiến hành bảo lãnh, nghĩa là đã được sự tín nhiệm, được sự tin tưởng về uy tín của bên xuất khẩu, bên nhập khẩu. Khi bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chỉ cho vay trừu tượng, nghĩa là ngân hàng không bỏ ra một khoản vốn nào cả, mà chỉ lấy uy tín, danh dự của ngân hàng ra chovay, làm cơ sở cho vay. Thủ tục bảo lãnh cho vay ngắn hạn theo phương thức cho vay thông thường, nghĩa là kho bảo lãnh cho khách hàng thì khách hàng phải có mục đích xin vay, có khả năng thanh toán và có tài sản thế chấp. Khi đến hạn, nếu nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán, thì phải làm thủ tục vay lãi tại ngân hàng. Như vậy mục đích bảo lãnh đãđược thực hiện, nghĩa là ngân hàng bảo lãnh muốn khách hàng của mình vay, nhằm thu thêm được một khoản lãi, có khách hàng mới về mặt tín dụng và chi phí bảo lãnh. 1.3. Vai trò của các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất nhập khẩu trở thành vấn đề quan trọng. Thị trường thương mại thế giới mở rộng không ngừng, nhu cầu về thị trường tiêu thụ hàng hóa, thị trường đầu tư đang trở thành nhu cầu cấp bách. Hoạt động xuất nhập khẩu làmột lĩnh vực gồm nhiều mặt phức tạp, đòi hỏi sử dụng các kỹ thuật đặc thù về thương mại quốc tế như tín dụng chứng từ… nhằm bảo vệ quyền lợi của người bán đối vớingười mua cách xa nhau bởi những đường biên giới, những hàng rào ngôn ngữ, những phong tục tập quán,…Mặt khác, do khả năng tài chính có hạn mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không phải lúc nào cũng có đủ tiền để thanh toán hàng nhập khẩu hoặc có đủ vốn để thu mua chế biến hàng xuất khẩu, từ đó nảy sinh quan hệ vay mượn và sự giúpđỡ tài trợ của Ngân hàng. Có thể nói sự ra đời của tín dụng xuất nhập khẩu là một yêu
  • 23.
    14 cầu tất yếukhách quan, gắn liền với các quan hệ mua bán ngoại thương giữa các nước với nhau. Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng đối với chính bản thân ngân hàng và doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Cụ thể: 1.3.1. Đối với ngân hàng thương mại - Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại có kỳ hạn gắn liền với thời gian thực hiện thương vụ. Thời gian thực hiện thương vụ đối với người xuất khẩu là thời gian kể từ lúc gom hàng, xuất đi cho đến lúc nhận được tiền thanh toán của người mua. Đối với người nhập khẩu, thời gian này kể từ lúc nhận hàng tại cảng cho đến khi bán hết hàng và thu tiền về. Kỳ hạn tài trợthường ngắn phù hợp với kỳ hạn huy động vốn của các ngân hàng thương mại thường là dưới 1 năm. Điều này giúp ngân hàng tránh được rủi ro về thanh khoản. - Đồng vốn tài trợ trong hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu gắn liền với thương vụ và trong nhiều trường hợp, vốn tài trợ được thanh toán thẳng cho bên thứ ba mà không qua bên xin tài trợ như thanh toán tiền hàng nhập khẩu, thanh toán tiền nguyên vật liệu cho các đại lý gom hàng cho người xuất khẩu… Việc làm này tránh được tình trạng sử dụng vốn sai mục đích của bên được tài trợ và góp phần hạn chế rủi ro tín dụng. - Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu còn nâng cao tính an toàn cho ngân hàng thông qua việc quản lý các nguồn thu thanh toán. Đối với người xuất khẩu, khi ngân hàng chuyển bộ chứng từ giao hàng để đòi tiền, người nhập khẩu nướcngoài đã chỉ định việc thanh toán tiền hàng phải thông qua tài khoản của người xuất khẩu mở tại ngân hàng. Đối với người nhập khẩu, trong trường hợp có tài trợ, ngân hàng sẽ buộc người nhập khẩu tập trung tiền bán hàng vào tài khoảnmở tại ngân hàng do vậy nguồn thu để trả các khoản tài trợ được ngân hàng quản lý hết sức chặt chẽ, tránh được tình trạng xoay vốn của doanh nghiệp trong thời gian vốn tạm thời nhàn rỗi, dễ xảy ra rủi ro. - Hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu mang lại hiệu quả cho ngân hàng thông qua việc thu lãi vay, lãi chiết khấu chứng từ, thu phí dịch vụ… Ngoài ra, thông qua
  • 24.
    15 tài trợ xuấtnhập khẩu, ngân hàng còn mở rộng được quan hệ với các doanh nghiệp và ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín ngân hàng trên trường quốc tế. 1.3.2. Đối với doanh nghiệp - Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng giúp doanh nghiệp thực hiện được những thương vụ lớn: có những thương vụ trong ngoại thương đòi hỏi nguồn vốn rất lớn để thanh toán tiền hàng. Do đặc điểm của vận chuyển hàng hải, các mặt hàng thiết yếu như phân bón, sắt thép, gạo, bột mì … thường hai bên mua bán với số lượng nguyên tàu hàng (từ 10.000 đến 20.000 tấn) nhằm tiết kiệm chi phí vận chuyển, thuận lợi trong công tác giao nhận nên kéo theo giá trị lô hàng cũng rất lớn. Trong trường hợp này, vốn lưu động của doanh nghiệp không đủ để chuẩnbị hàng xuất hoặc thanh toán tiền hàng. Tài trợ ngân hàng cho xuất nhập khẩu là giải pháp giúp doanh nghiệp thực hiện được những hợp đồng dạng này. - Trong quá trình đàm phán, thương lượng, ký kết hợp đồng ngoại thương, nếu doanh nghiệp trước đó đã thông qua ngân hàng về việc tài trợ và thanh toán quốc tế, có nghĩa là doanh nghiệp đã xác định ngân hàng phục vụ mình, thì sẽ tạođược lợi thế trong quá trình này. Vì hợp đồng ngoại thương được thực hiện thông qua ngân hàng phục vụ người mua và người bán, đã thỏa thuận trước với ngân hàng nghĩa là doanh nghiệp đã xác định được năng lực thực hiện hợp đồng. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình thương lượng, đàm phán. - Tài trợ xuất nhập khẩu làm tăng hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng: thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh nghiệp nhận được vốn để thực hiện thương vụ. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, vốn tài trợ giúp doanh nghiệp thu mua hàng đúng thời vụ, gia công chế biến và giao hàng đúng thời điểm. Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, vốn tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp mua được những lô hàng lớn, giá hạ. Cả hai trường hợp đều giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả cao khi thực hiện thương vụ. - Tài trợ của ngân hàng giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế: thông qua tài trợ ngân hàng doanh nghiệp thực hiện được những thương vụ lớn trôi chảy, quan hệ được với khách hàng tầm cỡ thế giới, từ đó nâng cao uy tíncủa doanh nghiệp trên thị trường.
  • 25.
    16 - Tài trợxuất nhập khẩu của ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm động cơ thúc đẩy nền kinh tế phát triển: thông qua tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng, doanh nghiệp có điều kiện thay đổi dây chuyền công nghệ máy móc thiết bị nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng đã tác động đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung. 1.3.3. Đối với nền kinh tế đất nước - Tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại tạo điều kiện cho hàng hóa xuất nhập khẩu lưu thông trôi chảy: thông qua tài trợ của ngân hàng, hàng hóa xuất nhập theo yêu cầu của thị trường được thực hiện thường xuyên, liên tục góp phần tăng tính năng động của nên kinh tế, ổn định thị trường. - Các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều là những nhân tố kinh tế quan trọng của đất nước. Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu mà các ngân hàng thương mại cung cấp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể được xem như mối quan hệ cộng sinh, hỗ trợ để cùng phát triển. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần vốn và vai trò cầu nối của ngân hàng để mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh. Các ngân hàng thương mại cũng cần có các doanh nghiệp xuất nhập khẩu như là những khách hàng tốt, tiềm năng để phát triển hoạt động kinh doanh của mình, làm cho những đồng vốn nhàn rỗi trong xã hội có thể sinh lợi. Xét trên tổng thể nền kinh tế thì hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của các ngân hàng thương mại sẽ góp phần giúp cho nền sản xuất trong nước phát triển, tạo thêm việc làm cho xã hội, tăng thu ngân sách cho nhà nước, tăng trưởng GDP, tăng thu ngoại tệ để đầu tư máy móc thiết bị công nghệ hiệnđại tiên tiến, tạo ra các tiền đề cần thiết để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế đất nước. 1.4.Các rủi ro và biện pháp ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu Hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là việc ngân hàng cấp tín dụng cho các khách hàng xuất nhập khẩu. Hoạt động thanh tóan quốc tế là hoạt động cung ứng dịch vụ thanh tóan
  • 26.
    17 cho các giaodịch xuất nhập khẩu. Tuy nhiên về bản chất, khi thực hiện một số phương thức thanh toán quốc tế là ngân hàng đã cấp tín dụng cho khách hàng. Ví dụ:  Khi thực hiện mở thư tín dụng: là ngân hàng đã thay mặt người mua đứng ra cam kết cho người bán khi đáp ứng được yêu cầu về chứng từ theo qui định của LC  Khi thực hiện chiết khấu bộ chứngtừ xuất khẩu: là ngân hàng đã cho khách hàng vay trên cơ sở đảm bảo bằng quyền đòi tiền của bộ chứng từ. Do vậy, hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu và hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng có những mối quan hệ hữu cơ hết sức gắn bó với nhau, sự phát triển của hoạt động này sẽ là tiền đề, nền tảng và bổ sung cho sự phát triển của hoạt động kia và ngược lại. Để tăng hiệu quả của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, ngoài những rủi ro trong hoạt động cho vay thông thường, còn có những rủi ro đặc thù trong hoạt động này. 1.4.1 Đặc thù trong hoạt động ngoại thương - Người mua và người bán thường ở những quốc gia khác nhau nên hàng hóa phải di chuyển qua biên giới quốc gia. - Sự dịch chuyển giữa luồng tiền thanh toán và hàng hoá là không đồng nhất - Liên quan đến các đồng tiền khác nhau, nên dẫn đến việc phải mua bán chuyển đổi tiền tệ - Việc mua bán mang tính chất quốc tế, do vậy áp dụng các phương thức thanh tóan quốc tế - Giao dịch phải tuân thủ luật lệ và thông lệ quốc tế , tuy nhiên không loại trừ những đặc điểm luật lệ mang tính quốc gia đòi hỏi nhà kinh doanh phải nắm biết được. 1.4.2 Những rủi ro đặc thù trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu - Rủi ro đối tác: Người mua người bán thông thường không ở trong cũng một lãnh thổ và nhiều trường hợp là không hiểu biết nhau. Trong nhiều trường hợp sẽ có thể dẫn đến rủi ro do lừa đảo từ phía đối tác. Trong giao dịch tài trợ xuất khẩu,đối tác nhập khẩu lừa đảo bằng cách nhận hàng mà không thanh tóan hoặc cốtình từ chối thanh tóan, Trong giao dịch tài trợ nhập khẩu có thể gặp lừa đảo từ
  • 27.
    18 người xuất khẩuxuất trình chứng từ hoàn hảo nhưng không có hàng hóa gửi cho người nhập khẩu… - Rủi ro thị trường: Thay đổi giá cả hàng hoá trong nước hoặc trên thị trường quốc tế, người mua không muốn bán hoặc người bán không muốn nhận hàng. Đồng thời những chính sách của quốc gia nhập khẩu hoặc xuất khẩu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến người mua hoặc người bán trong giao dịch. - Rủi ro vận tải : Hàng hóa có sự di chuyển từ quốc gia này đến quốc gia khác nên cần vận chuyển qua đường biển, đường hàng không hoặc được bộ. Như vậy có thể xảy ra những rủi ro về hàng hóa nằm ngoài phạm vi kiểm soát của người bán và người mua. Hàng hóa trên đường vận chuyển có thể gặp rủi ro mất mát, hư hỏng, hao hụt… - Rủi ro ngoại hối : Việc thanh tóan liên quan đến các đồng tiền khác với đồng bản tệ nêncó thể gặp rủi ro về tỷ giá do biến động tại thời điểm thanh toán so với thời điểm ký hợp đồng. Đồng thời nếu ngoại tệ do ngân hàng cho vay tài trợ khác với ngoại tệ được qui định là đồng tiền thanh tóan trong hợp đồng ngoại thương của khách hàng, cũng có thể rủi ro khi tỷ giá biến động . - Rủi ro về thanh toán : Lựa chọn hình thức thanh toán không phù hợp, hoặc có những điều khoản trong phương thức thanh tóan không bảo vệ được quyền lợi khách hàng của mình vídụ Mở thư tín dụng xác nhận, cho phép đòi tiền điện... Đồng thời mỗiphương thức thanh toán quốc tế có một đặc điểm riêng có lợi hoặc không có lợi cho người mua và người bán, cụ thể: Người mua ( người nhập khẩu) An toàn   Rủi ro Chuyển tiền trả sau Nhờ thu DA Nhờ thu DP Tín dụng chứng từ Chuyển tiền trả trước Người bán ( người xuất khẩu) Rủi ro An toàn
  • 28.
    19 1.5. Giới thiệuvề một số hình thức tài trợ ngoại thương của quốc gia khác Chính sách tín dụng ưu đãi đã được các nước rất coi trọng. Nhiều nước đã thành lập những ngân hàng chuyên doanh phục vụ xuất nhập khẩu, thông qua đó áp dụng những biện pháp đặc biệt để hỗ trợ xuất nhập khẩu, đặc biệt là hỗ trợ những ngành xuất khẩu mũi nhọn. Trong từng thời điểm, giai đoạn khác nhau, tùy theo tình hình phát triển kinhtế của mình, mỗi quốc gia có chính sách riêng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. 1.5.1. Thái Lan Các dịch vụ của Ngân hàng xuất nhập khẩu Thái Lan chia thành 6 loại: tài trợ trung dài hạn, tài trợ ngắn hạn, các chính sách tài trợ đặc biệt bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, thương lượng cổ phiếu xuất khẩu, dịch vụ tư vấn. Tài trợ trung và dài hạn:  Tài trợ cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh, các khoản vay nhằm mở rộng khả năng sản xuất của các nhà xuất khẩu như mở rộng nhà máy, mua thêm máy móc thiết bị, đầu tư vào các tài sản cố định khác hoặc các dự án sản xuất nội địa. Đối tượng là các nhà sản xuất hướng về xuất khẩu, doanh thu là ngoại tệ. Thời hạn vay từ 2 đến 5 năm.  Tín dụng dành cho người mua hoặc tín dụng dành cho người bán: mục đích của tín dụng này là nâng cao tính cạnh tranh của các nhà xuất khẩu Thái Lan. Thời hạn thường lên tới 7 năm tùy thuộc vào loại dự án hoặc thời gian c òn lại của vốn hàng hóa.  Tài trợ hoặc đầu tư quốc tế: khoản vay cho các công ty có các dự án đầu tư quốc tế với các cổ đông Thái Lan hoặc cho các doanh nghiệp Thái Lan đầu tư vào các dự án quốc tế. Tài trợ ngắn hạn:  Tài trợ trước khi giao hàng: hình thức tín dụng quay vòng hạn mức cho vay bằng đồng Baht và cac đồng ngoại tệ chủ yếu khác. Các ngoại tệ được sử dụng được cấp trực tiếp cho các nhà xuất khẩu với mọi loại hàng hóa để đáp ứng nhu cầu tài
  • 29.
    20 chính trước khigiao hàng .  Tài trợ sau khi giao hàng: hỗ trợ miễn truy đòi và hỗ trợ có truy đòi.  Hỗ trợ xuất khẩu trọn gói: dành cho các nhà xuất khẩu mới hoạt động hoặc có quy mô nhỏ dưới hình thức tài trợ trước khi giao hàng. Nếu có sự bảo lãnh cá nhân của người đứng đầu thì các nhà xuất khẩu có thể được cấp khoản tín dụng với hạn mức lớn.  Tài trợ cho các hoạt động tái xuất khẩu: hỗ trợ hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ các nhà cung cấp từ một quốc gia để tái xuất khẩu tới người mua ở một quốc gia khác, mục tiêu của hình thức này là hỗ trợ để Thái Lan trở thanh một trung tâm thương mại tiềm năng trong khu vực. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu:  Bảo hiểm với thanh toán bằng L /C ngắn hạn: chính sách này được đưa ra đối với nhà xuất khẩu theo hình thức thanh toán bằng L/C không hủy ngang, phát hành bởi các ngân hàng nhỏ.  Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn: tỷ lệ bảo hiểm giai đoạn trước khi giao hàng là 70% tổn thất thực về hàng hóa và chi phí xảy ra trong quá trình sản xuất. Giai đoạn sau khi giao hàng là 90% tổn thất thực tế theo giá trị hóa đơn đã giao. 1.5.2. Trung Quốc Nhiệm vụ chủ yếu của ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc l à cung cấp hỗ trợ, tài trợ chính sách cho xuất khẩu và nhập khẩu các sản phẩm cơ khí, điện tử và các trang thiết bị đồng bộ, các sản phẩm kỹ thuật cao và thúc đẩy sự hợp tác kinh tế - kỹ thuật giữa Trung Quốc với bên ngoài. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc: Tín dụng xuất khẩu dành cho người bán: - Tín dụng dành cho mặt hàng thiết bị, mặt hàng tàu biển, mặt hàng công nghệ cao, mặt hàng điện tử và cơ khí thông dụng - Các khoản vay dành cho các hợp đồng xây dựng nước ngoài: điều kiện để được cung cấp là doanh nghiệp đã ký hợp đồng xuất khẩu có giá trị từ 1 triệu USD trở lên với mức đặt cọc không dưới 15%, mang lại lợi nhuận kinh tế, nhà thầu phải có
  • 30.
    21 giấy phép vàcó năng lực thực hiện các công việc đã nhận, tính ổn định của các nước chủ nhà, thanh toán trả chậm phải có bảo lãnh. Tín dụng xuất khẩu dành cho người mua: nghiệp vụ này nhằm mục đích kích thích xuất khẩu hàng hóa và vốn của Trung Quốc ra nước ngoài. Người vay là bên mua, ngân hàng của bên mua. Phạm vi cho vay là bên vay dùng tiền vay để mua các sản phẩm cơ điện, thiết bị đồng bộ và các sản phẩm dịch vụ kỹ thuật cao của Trung Quốc, chủ yếu là cho vay trung, dài hạn. 1.5.3. Hàn Quốc Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc là tổ chức tài chính đặc biệt của Chính phủ hoạt động theo một quy định đặc biệt là Luật Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc. Các sản phẩm tín dụng xuất khẩu được thiết kế để đáp ứng các mục tiêu lớn của Chính phủ, chia thành 2 loại lớn là cho vay, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Tài trợ trực tiếp cho nhà xuất khẩu: - Chương trình này được áp dụng cho các giao dịch xuất khẩu các loại hàng tư liệu sản xuất do Hàn Quốc sản xuất bao gồm nhà máy, tàu biển, thiết bị điển tử, xe tải, đường ray, sắt thép các loại, dụng cụ y khoa. Mọi nhà xuất khẩu hay sản xuất các loại hàng hóa trên đều có thể tham gia chương trình này. Tín dụng xuất khẩu sau khi giao hàng chỉ cung cấp cho các giao dịch có điều khoản thời hạn hoàn trả tiền từ 2 năm trở lên. - Hạn mức cho vay căn cứ vào tổng giá trị của hợp đồng xuất khẩu trừ đi phần người mua đã đặt cọc. Mức cho vay tối đa trước khi giao hàng là 90% đối với các sản phẩm máy móc thiết bị, tàu thuyền, 70% đối với các thiết bị rời và 75% đối với các loại hàng hóa khác. Mức cho vay sau khi giao hàng cố định mức 85% giá trị phần hợp đồng xuất khẩu sau khi đã trừ đi phần đặt cọc của người mua. Riêng tín dụng xuất khẩu dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì hạn mức cho vay dựa vào thành tích xuất khẩu trong quá khứ của doanh nghiệp: 90% kết quả xuất khẩu của 6 tháng/ 50% kết quả xuất khẩu của 1 năm trước thời điểm xin vay, hạn mức này được xét 6 tháng 1 lần. - Đồng tiền cho vay tùy thuộc vào loại tiền giao dịch trên hợp đồng xuất khẩu và yêu
  • 31.
    22 cầu của bênvay, biện pháp bảo đảm khoản vay là thư bảo lãnh, thư tín dụng được xác nhận bởi 1 ngân hàng có uy tín trên thế giới, bất động sản hoặc bảo lãnh của Chính phủ hay ngân hàng trung ương nước người mua. Tín dụng cho nhà nhập khẩu: - Cho vay trực tiếp: cho nhà nhập khẩu nước ngoài vay tiền để mua những hàng hóa và dịch vụ với thời hạn cho vay từ 2 năm trở lên, trên cơ sở thỏa thuận vay vốn giữa ngân hàng và nhà nhập khẩu ngân hàng sẽ thanh toán cho nhà xuất khẩu khi họ giao hàng. - Tài trợ theo dự án: sản phẩm này nhằm giúp cho các công ty theo dự án ở nước ngoài, mức hoàn trả và cách thức hoàn trả phụ thuộc vào dòng tiền của dự án. - Tái chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu của các ngân hàng thương mại - Bao thanh toán tuyệt đối cho các khoản phải thu của nh à xuất khẩu theo hợp đồng xuất khẩu có hình thức thanh toán bằng L/C với thời gian thanh toán từ 30 ngày đến 2 năm. Với hình thức bao thanh toán, ngân hàng cũng cung cấp dịch vụ đòi nợ của nhà nhập khẩu. Qua các bài học của các nước, có thể nhận thấy một số vấn đề để áp dụng cho BIDV HCMC như sau:  Chính phủ các nước đều coi trọng chính sách tài trợ xuất nhập khẩu nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu phát triển lâu dài và bên vững.  Tài trợ phải mang tính đầy đủ và đồng bộ. Các bên tham gia được tài trợ bằng nhiều hình thức phong phú và có dịch vụ kèm theo. Cung cấp các sản phẩm tài trợtheo hình thức gián tiếp để giảm áp lực về vốn tài trợ và đáp ứng yêu cầu về hội nhập của các tổ chức kinh tế thế giới.  Tăng cường hỗ trợ tín dụng cho người mua hàng nước ngoài để thanh toán cho người cung cấp trong nước.  Tiêu chí lựa chọn nhà xuất khẩu được ưu tiên khuyến khích tài trợ dựa vào kếtquả xuất khẩu của chính họ. Theo đó cơ chế hỗ trợ được thực hiện linh hoạt, các sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu được thiết kế xuất phát từ nhu cầu thực tế của cácdoanh nghiệp.  Thành công và hạn chế của các quốc gia trong việc áp dụng chính sách ưu đãi
  • 32.
    23 tín dụng lànhững bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu đối với Việt Nam trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước. Kết luận chương I Để phát triển kinh tế không thể thiếu vai trò quan trọng của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Đẩy mạnh hoạt động giao thương quốc tế, tranh thủ các điều kiện thuận lợi mà môi trường kinh tế quốc tế đem lại để phát triển là xu thế tất yếu mà nhiều nước trên thế giới đã và đang hướng tới. Ngoại thương phát triển chính là điều kiện thuận lợi để chúng ta có thể mở rộng và phát triển sản xuất theo hướng hiện đại hoá trang thiết bị, máy móc, công nghệ, phục vụ tốt hơn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, tạo ra được nhiều việc làm cho xã hội, cải thiện đời sống người dân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Để có thể phát triển nhanh, mạnh và bền vững trong môi trường kinh tế quốc tế năng động và cạnh tranh khắc nghiệt ngày nay, bên cạnh sự nỗ lực phấn đấu của mình, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu luôn cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ phía nhà nước, từ cáctổ chức kinh tế trong đó đặc biệt là sự hỗ trợ của các NHTM về vốn, tư vấn tài chính, cam kết, bảo lãnh, trung gian thanh toán, để thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của mình với các đối tác nước ngoài. Hoạt động XNK của các doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh đối ngoại của các NHTM có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời. Sựhỗ trợ, hợp tác cùng phát triển giữa các doanh nghiệp XNK và NHTM có thể giúp cảhai hoạt động hiệu quả hơn và qua đó góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Việc tìm hiểu nhu cầu của các doanh nghiệp khi hoạt động trong lĩnh vực XNK và phát triển các hình thức tài trợ phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ giúp các doanh nghiệp XNK sản xuất, kinh doanh được thuận lợi mà bản thân các NHTM cũng có thể năng cao hiệu quả hoạt động và uy tín của mình trên thị trường tài chính khu vực và quốc tế, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển.
  • 33.
    24 CHƯƠNG 2: THỰCTRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XNK TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN HỒ CHÍ MINH 2.1. Giới thiệu về Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hồ Chí Minh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ. Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam là một trong bốn ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất ở Việt Nam được hình thành sớm nhất và lâu đời nhất, là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức hoạt động theo mô hình tổng công ty nhà nước. Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hồ Chí Minh (BIDV HCMC)là một đơn vị thành viên (Chi nhánh cấp I) của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, là một ngân hàng quốc doanh hoạt động truyền thống trong lĩnh vực đầu tư xây dựng của thời kỳ bao cấp chuyển sang hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thương mại quốc doanh trong thời kỳ đổi mới của nền kinh tế thị trường. Chỉ trong một thời gian ngắn, BIDV HCMC đã hòa nhập nhanh với cơ chế thị trường, tạo lập những tiền đề vững chắc để từng bước thực hiện kinh doanh đa năng tổng hợp, trong đó lấy phục vụ đầu tư phát triển làm động lực phát triển. Liên tục trong nhiều năm liền, Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hồ Chí Minh là đơn vị đạt mức tăng trưởng cao trong hoạt độngkinh doanh và là chi nhánh tiên phong trong mọi lĩnh vực trong hệ thống BIDV. Địa chỉ của BIDV HCMC: 134 Nguyễn Công Trứ, Phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Trong những năm gần đây, BIDV luôn nhận được các giải thưởng cao trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng:  Thương hiệu tốt nhất năm 2005 (Giải thưởng Sao vàng đất Việt)  Giải thưởng ADFIAP do Hiệp hội các định chế tài chính Châu Á Thái Bình Dương trao tặng năm 2007.  Giải thưởng Trái phiếu đồng nội tệ tốt nhất khu vực do Tạp chí Financial Asia trao tặng năm 2006  Giải thưởng Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ ngoại hối tốt nhất năm 2007 và năm 2008 do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí Asiamoney.
  • 34.
    25 2.2. Thực trạnghoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hồ Chí Minh 2.2.1. Hoạt động tài trợ vốn nói chung a) Về nguồn vốn huy động Bảng 2.1: Tình hình nguồn vốn huy động giai đoạn 2007 - 2009: Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Tổng nguồn vốn huy động 9,959.00 100.00% 8,725.00 100.00% 9,451.00 100.00% 1.Phân loại theo thị trường Thị trường tiền tệ 1 6,224.00 62.50% 6,781.00 77.72% 7,931.95 83.93% Thị trường tiền tệ 2 3,735.00 37.50% 1,944.00 22.28% 1,519.05 16.07% 2.Phân loại theo đối tượng huy động Dân cư 1,369.28 13.75% 1,763.06 20.21% 2,637.95 27.91% Tổ chức kinh tế 4,854.72 48.75% 5,017.94 57.51% 5,294.00 56.02% Khác 3,735.00 37.50% 1,944.00 22.28% 1,519.05 16.07% 3. Phân loại theo loại tiền tệ huy động VND 7,967.20 80.00% 7,241.75 83.00% 7,277.27 77.00% Ngoại tệ tương đương 1,991.80 20.00% 1,483.25 17.00% 2,173.73 23.00% 4. Phân loại theo thời hạn huy động Ngắn hạn 6,572.94 66.00% 5,584.00 64.00% 8,033.35 85.00% Trung dài hạn 3,386.06 34.00% 3,141.00 36.00% 1,417.65 15.00% Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC Bảng 2.2: Tỷ lệ tăng/ giảm nguồn vốn huy động: Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu Tăng/giảm năm 2008/2007 Tăng/giảm năm 2009/2008 Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ Tổng nguồn vốn huy động -1,234.00 -12.39% 726.00 8.32% 1.Phân loại theo thị trường Thị trường tiền tệ 1 557.00 8.95% 1,150.95 16.97% Thị trường tiền tệ 2 -1,791.00 -47.95% -424.95 -21.86% 2.Phân loại theo đối tượng huy động Dân cư 393.78 28.76% 874.89 49.62% Tổ chức kinh tế 163.22 3.36% 276.06 5.50% Khác -1,791.00 -47.95% -424.95 -21.86% 3. Phân loại theo loại tiền tệ huy động VND -725.45 -9.11% 35.52 0.49% Ngoại tệ tương đương -508.55 -25.53% 690.48 46.55% 4. Phân loại theo thời hạn huy động Ngắn hạn -988.94 -15.05% 2,449.35 43.86% Trung dài hạn -245.06 -7.24% -1,723.35 -54.87% Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
  • 35.
    26 Nguồn vốn huyđộng cuối năm 2008 đạt 8,725tỷ đồng, giảm 1,234 tỷ đồng (giảm 12.39%) so với cuối năm 2007. Trong đó: tiền gửi TCKT đạt 5,017.9 tỷ đồng, tăng 393tỷ đồng (tăng 28,7%), tiền gửi dân cư là 1,763.06 tỷ đồng, tăng 163 tỷ đồng (tăng3,3%) so với cuối năm 2007 và tiền huy động khác là 1,944 tỷ đồng, giảm 1,791 tỷđồng (giảm 48%). Như vậy, nguyên nhân giảm nguồn vốn huy động là do nguồn tiền huy động từ định chế tài chính giảm (chủ yếu là do các công ty chứng khóan rút tiềngửi kỳ hạn gửi tại BIDV HCMC để đáp ứng nhu cầu kinh doanh), nguồn huy động từ dân cư và TCKT vẫn ở mức tăng trưởng ổn định. Cuối năm 2009, tổng nguồn vốn huy động của BIDV HCMC đạt 9,451 tỷ đồng, tăng 726 tỷ đồng (tăng 8,32%) so với cuối năm 2008. Trong đó: tiền gửi dân cư đạt 2,638 tỷ đồng tăng 874 tỷ đồng (tăng 49,6%) so với năm 2008; tiền gửi TCKT đạt 5,294 tỷ đồng tăng 276 tỷ đồng (tăng 5%) so với năm 2008; tiền gửi từ các định chế tài chínhđạt 1,519 tỷ đồng, giảm 425 tỷ đồng (giảm 21,8%) so với năm 2008. Nguyên nhân giảm nguồn vốn huy động là do nguồn huy động từ định chế tài chính giảm (do các công ty chứng khóan rút tiền gửi kỳ hạn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh), nguồn huy động từ dân cư và TCKT vẫn ở mức tăng trưởng ổn định. Nguồn vốn huy động từ các TCKT luôn chiếm tỷ trọng cao (trung bình chiếm khoảng 50% trong tổng nguồn huy động) là một lợi thế rất lớn cho BIDV HCMC vì chi phí sử dụng vốn thấp. Tỷ trọng vốn huy động từ dân cư trong tổng nguồn vốn huy động qua 3 năm đều tăng trưởng (năm 2007: 13,7%; năm 2008: 20,21%; năm 2009: 27,91%) cho thấy BIDV HCMC đang dần nhắm vào đối tượng là khách hàng cá nhân nhỏ lẻ để tăng tính ổn định của nguồn vốn huy động.. Trong 3 năm liên tục thì tỷ trọng huy động vốn bằng VND luôn ở mức cao (năm 2007: 80%, năm 2008: 83%, năm 2009: 77%) là do khách hàng có nguồn ngoại tệ tại BIDV HCMC không nhiều, thêm vào đó, kênh huy động ngoại tệ từ dân cư cũng chưa phát triển mạnh. Tính đến 30/06/2010, tổng nguồn vốn huy động của BIDV HCMC đạt 9,390 tỷ đồng, trong đó tiền gửi TCKT đạt 4,208 tỷ đồng, chiếm 45% tổng nguồn vốn huy động; tiềngửi của dân cư đạt 3,275 tỷ đồng, chiếm 35% tổng nguồn vốn huy động; tiền gửi củacác định chế tài chính đạt 1.907 tỷ đồng, chiếm 20% tổng nguồn vốn huy động. Tỷ
  • 36.
    27 trọng huy độngbằng VND đến 30/06/2010 vẫn ở mức cao (78% tương đương 7,330 tỷ đồng) so với tỷ trọng huy động bằng ngoại tệ (22% tương đương 2,060 tỷ đồng). b) Về tình hình tài trợ vốn: Bảng 2.3: Tình hình dư nợ của BIDV HCMC giai đoạn 2007- 2009 Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Tổng dư nợ 6,084.00 100.00% 6,093.00 100.00% 6,864.00 100.00% 1.Phân loại theo thời gian vay Ngắn hạn 3,772.08 62.00% 4,021.38 66.00% 4,461.60 65.00% Trung dài hạn 2,311.92 38.00% 2,071.62 34.00% 2,402.40 35.00% 2.Phân loại theo mức độ tín nhiệm Có tài sản đảm bảo 3,467.88 57.00% 3,533.94 58.00% 4,324.32 63.00% Không có tài sản đảm bảo 2,616.12 43.00% 2,559.06 42.00% 2,539.68 37.00% 3. Phân loại theo loại tiền tệ VND 4,380.48 72.00% 4,508.82 74.00% 5,697.12 83.00% Ngoại tệ tương đương 1,703.52 28.00% 1,584.18 26.00% 1,166.88 17.00% 4. Phân loại theo đối tượng vay vốn Khách hàng cá nhân 346.00 5.69% 155.00 2.54% 231.00 3.37% Khách hàng doanh nghiệp 5,738.00 94.31% 5,938.00 97.46% 6,633.00 96.63% Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC Bảng 2.4: Tăng/giảm dư nợ vay của BIDV HCMC giai đoạn 2007- 2009 Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu Tăng/giảm năm 2008/2007 Tăng/giảm năm 2009/2008 Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ Tổng dư nợ 9.00 0.15% 771.00 12.65% 1.Phân loại theo thời gian vay Ngắn hạn 249.30 6.61% 440.22 10.95% Trung dài hạn (240.30) -10.39% 330.78 15.97% 2.Phân loại theo mức độ tín nhiệm Có tài sản đảm bảo 66.06 1.90% 790.38 22.37% Không có tài sản đảm bảo (57.06) -2.18% (19.38) -0.76% 3. Phân loại theo loại tiền tệ VND 128.34 2.93% 1,188.30 26.36% Ngoại tệ tương đương (119.34) -7.01% (417.30) -26.34% 4. Phân loại theo đối tượng vay vốn Khách hàng cá nhân (191.00) -55.20% 76.00 49.03% Khách hàng doanh nghiệp 200.00 3.49% 695.00 11.70% Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
  • 37.
    28 Dư nợ cuốikỳ tính đến 31/12/2008 là 6.093 tỷ đồng (bao gồm dư nợ vay tài trợ XNK là 891.7 tỷ đồng), tăng không đáng kể - ở mức 9 tỷ đồng (tăng 0.15%) so với năm 2007. Trong đó vay ngắn hạn đạt 4,021.38 tỷ đồng, tăng 6.6% và vay trung dài hạn đạt 2,071.62 tỷ đồng, giảm 10,4% so với cuối năm 2007. Dư nợ cuối kỳ tính đến 31/12/2009 là 6,864 tỷ đồng (bao gồm dư nợ vay tài trợ XNK là 267.19 tỷ đồng) , tăng 771 tỷ đồng (mức tăng 12.7%) so với cuối năm 2008. Trong đó, vay ngắn hạn đạt 4,461 tỷ đồng tăng 10.95% và vay trung dài hạn đạt 2,403 tỷ đồng,tăng 15.9% so với năm 2008. Sở dĩ có con số tăng đáng kể như vậy là do kể từ tháng 03/2009, chính phủ có chính sách hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng. Tính đến 30/06/2010, tổng dư đạt 7.475 tỷ đồng, tăng 611 tỷ đồng so với năm 2009. Trong đó dư nợ vay XNK đạt 332 tỷ đồng, tăng 65 tỷ đồng so với đầu năm. Dư nợ vay XNK tăng mạnh, mà chủ yếu là vay xuất khẩu là do hội sở chính đã ban hành chính sách lãi suất linh hoạt nhằm hỗ trợ vay hàng xuất khẩu đến 6 tháng đối với các khách hàng có xếp loại tín dụng từ hạng A trở lên. Nhằm tăng mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng, BIDV HCMC đã chú trọng tăng tỷ trọng dư nợ có tài sản bảo đảm, nếu khách hàng không đáp ứng được giá trị tài sản bảo đảm theo quy định thì phải thực hiện lộ trình giảm dần dư nợ. Nhờ đó trong thời gian qua, BIDV HCMC đã đạt được các kết quả khả quan về tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo, dư nợ có tài sản đảm bảo luôn lớn hơn 55%. Đối tượng vay là khách hàng doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách hàng của BIDV HCMC, chiếm 95% trở lên qua cácnăm cho thấy BIDV HCMC chưa đẩy mạnh việc bán lẻ, chỉ tập trung vào đối tượng là doanh nghiệp. c) Kết quả hoạt động kinh doanh Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV HCMC giai đoạn 2007- 2009 Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Lợi nhuận trước thuế 379 400 240 Lợi nhuận trước thuế bình quân đầu người 0.40 0.48 0.57 Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
  • 38.
    29 Lợi nhuận trướcthuế năm 2008 tăng nhẹ (tăng 21 tỷ đồng) so với năm 2007, tuy nhiên, năm 2009, lợi nhuận trước thuế của BIDV HCMC giảm mạnh (giảm 160 tỷ đồng – giảm 40%) so với năm 2008, nguyên nhân là trong năm 2009, do ảnh hưởng của nên kinh tế khó khăn, đã bắt đầu xuất hiện nợ nhóm 3, nhóm 4 tại BIDV HCMC, ngoài ra, thu nhập từ hoạt động mua bán ngoại tệ cũng giảm mạnh làm chỉ tiêu này giảm rõ rệt. Lợi nhuận trước thuế bình quân đầu người của BIDV HCMC trong các năm liên tục tăng, tốc độ tăng trung bình 3 năm 2007-2009 là 19,3%. Trong năm 2009, mặc dù chênh lệch thu chi thấp nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn ở mức tăng trưởng làdo BIDV HCMC tích cực thu nợ ngoại bảng (trong năm thu 88 tỷ đồng nợ đã hạch toán ngoại bảng) 2.2.2. Hoạt động tài trợ xuất khẩu Hiện nay, BIDV HCMC chỉ thực hiện tài trợ xuất khẩu thông qua hình thức tài trợ vốn lưu động. Quy định cụ thể như sau: a) Đối tượng vay: Các chi phí đầu vào phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá xuất khẩu: nguyên nhiên vật liệu, các chi phí gián tiếp liên quan như thuế, phí, lệ phí... b) Phương thức vay: BIDV HCMC cho vay theo món đối với các khách hàng có quan hệ không thường xuyên, có nguồn thu không ổn định và áp dụng hình thức vay theo hạn mức đối với các khách hàng có tình hình sản xuất kinh doanh ổn định, hiệu quả và có quan hệ tín dụng thường xuyên với BIDV HCMC. c) Hạn mức vay: Căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của khách hàng, BIDV HCMC tính toán hạn mức vay phù hợp với nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong từng thời kỳ trong năm (hạn mức của từng khách hàng thay đổi theo từng thời điểm trong năm). Hạn mức vay đối với khách hàng tăng cao vào thời điểm mùa vụ và phải giảm trong các thời điểm khác bằng các biện pháp thích hợp (thu hồi nợ vay, xử lý tài sản bảo đảm ) d) Thời hạn vay: phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và dòng tiền của doanh nghiệp.
  • 39.
    30 - Trường hợpdoanh nghiệp vay để thu mua, dự trữ nguyên vật liệu khi chưa có hợp đồng ngoại thương: Thời hạn vay được căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng. - Trường hợp doanh nghiệp vay để thu mua, dự trữ nguyên vật liệu khi đã có hợp đồng ngoại thương hoặc L/C: thời hạn vay được căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và phù hợp với thời hạn thanh toán của hợp đồng hoặc L/C nhưng tối đa không quá 12 tháng. e) Lãi suất vay: - Áp dụng lãi suất ưu đãi (thường thấp hơn 0,5% - 1% so với vay thông thường – áp dụng cho cả vay VND và USD). - Trên cơ sở cam kết của khách hàng về việc bán lại ngoại tệ cho BIDV HCMC và việc khách hàng sử dụng các dịch vụ của BIDV HCMC, hội đồng tín dụng BIDV HCMC sẽ quyết định mức lãi suất vay tài trợ hàng xuất ưu đãi phù hợp. - Mức lãi suất cụ thể được căn cứ vào tính khả thi của khoản vay như vay dự trữ nguyên liệu trước khi có hợp đồng, vay khi đã có hợp đồng, vay khi có L/C cũng như các điều kiện khác của khoản vay... f) Nguồn vốn cho vay: BIDV HCMC chủ động cân đối từ nguồn vốn huy động và sử dụng hạn mức hỗ trợ ngắn hạn được hội sở chính thông báo hằng năm để thực hiện cho vay tài trợ hàng xuất. Trong từng thời điểm cụ thể, BIDV HCMC không cân đối được nguồn vốn, hội sở chính sẽ xử lý cho vay món ngắn hạn theo cơ chế điều hành vốn nội bộ hiện hành. g) Mức vay: BIDV HCMC chỉ cho cho vay bổ sung phần vốn lưu động thiếu sau khi doanh nghiệp đã tận dụng hết nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động khác. - Mức vay đối với từng khoản vay cụ thể được xác định dựa trên các yếu tố như tính khả thi của các điều kiện, điều khoản của hợp đồng ngoại thương hay L/C, tính khả thi của các hợp đồng đầu vào, mức độ tín nhiệm của khách hàng, uy tín của ngân hàng nước ngoài ... - Đối với trường hợp vay dự trữ nguyên liệu trước khi có hợp đồng ngoại thương cần căn cứ vào định mức dự trữ nguyên vật liệu của quý trước, năm trước; doanh số xuất khẩu
  • 40.
    31 năm trước, kếhoạch sản xuất kinh doanh của quý, năm hiện tại; tình hình thị trường, hợp đồng mua bán nguyên vật liệu... - Đối với trường hợp vay khi đã có hợp đồng ngoại thương hoặc L/C (chưa có bộ chứng từ hàng xuất hoàn chỉnh): tuỳ theo tiến độ sản xuất hàng hoá nhưng mức vay tối đa không quá 85% giá trị hợp đồng ngoại thương hoặc giá trị L/C. h) Bảo đảm tiền vay: Thực hiện theo quy định hiện hành về chính sách khách hàng của của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam: BIDV xem xét cấp tín dụng không có tài sản bảo đảm đối với khách hàng đáp ứng các tiêu chí sau: - Khách hàng có mức xếp hạng từ AA trở lên. - Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu ≤ 2,5. - Khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả, không có nợ gốc vay tại BIDV bị chuyển quá hạn trong thời gian 01 năm gần nhất. Các trường hợp khác: Xếp loại khách hàng Chính sách về tài sản đảm bảo AAA Khách hàng được BIDV xem xét vay, bảo lãnh khi đáp ứng tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu 30%, AA Khách hàng được BIDV xem xét vay, bảo lãnh khi đáp ứng tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu 20%, A Khách hàng được BIDV xem xét vay, bảo lãnh khi đáp ứng tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu 50%. BBB Khách hàng được BIDV xem xét vay, bảo lãnh khi đáp ứng tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu 70%. BB, B, CCC Khách hàng được BIDV xem xét vay, bảo lãnh khi đáp ứng tỷ lệ tài sản bảo đảm tối thiểu 100%. 2.2.3 Hoạt động tài trợ nhập khẩu Tương tự như tài trợ xuất khẩu, hiện nay, BIDV HCMC chỉ thực hiện tài trợ nhập khẩu thông qua hình thức tài trợ vốn lưu động. Quy định cụ thể như sau: a) Mở L/C nhập khẩu trả ngay Điều kiện để BIDV HCMC mở L/C: - Doanh nghiệp phải có tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính lành mạnh và có uy tín trong quan hệ tín dụng.
  • 41.
    32 - Hàng hóanhập khẩu phải có giá cả hợp lý. Nếu mặt hàng nằm trong danh mục quản lý hàng nhập khẩu của nhà nước thì đơn vị phải xuất trình giấy phép nhập khẩu do Bộ thương mại cấp. - Về nguồn vốn thanh toán khi L/C đến hạn: + Nếu nguồn vốn thanh toán L/C là nguồn vốn tự có của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có thể ký quỹ 100% hoặc ký quỹ một phần nhưng phải có tài sản đảmbảo cho số tiền thanh toán còn lại theo đúng chính sách khách hàng của BIDV HCMC. + Nếu nguồn vốn thanh toán L/C là nguồn vốn vay tại BIDV HCMC : số tiền L/C phải nằm trong hạn mức tín dụng của doanh nghiệp tại BIDV HCMC. Trên cơ sở thẩm định cụ thể, BIDV HCMC sẽ quyết định mức ký quỹ. b) Mở L/C nhập khẩu trả chậm: BIDV HCMC thực hiện nghiệp vụ này tương tự như nghiệp vụ mở L/C trả ngay thanh toán bằng vốn vay. Khi thực hiện nghiệp vụ này thì BIDV HCMC sẽ thẩm định kỹ về năng lực tài chính, uy tín của khách hàng, hiệu quả của phương án kinh doanh và số tiền L/C trả chậm phải nằm trong hạn mức tín dụng mà BIDV HCMC đã cấp cho khách hàng. 2.2.4 Phân tích về hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại BIDV HCMC 2.2.4.1 Các kết quả đạt được Bảng 2.6: Dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu so với dư nợ vay của BIDV HCMC: Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 6 tháng 2010 (1) Dư nợ tài trợ XNK 517.53 891.70 267.19 332.47 (2) Tổng dư nợ 6,084.00 6,093.00 6,864.00 7,475.00 Tỷ trọng (1)/(2) 8.51% 14.63% 3.89% 4.45% Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC Bảng 2.7: Dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu so với dư nợ vay doanh nghiệp Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 6 tháng 2010 (1) Dư nợ tài trợ XNK 517.53 891.70 267.19 332.47 (2) Dư nợ khách hàng doanh nghiệp 5,738.00 5,938.00 6,633.00 7,222.00 Tỷ trọng (1)/(2) 9.02% 15.02% 4.03% 4.60% Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
  • 42.
    33 Dư nợ tàitrợ XNK cuối năm 2007 là 517.53 tỷ đồng, chiếm 8.51% tổng dư nợ và 9.02% dư nợ khối khách hàng doanh nghiệp. Đến cuối năm 2008, tổng dư nợ, dư nợ khách hàng doanh nghiệp và dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu đều tăng vượt bậc. Lúc này,dư nợ tài trợ XNK đạt 891.70 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 14.63% trong tổng dư nợ và 15.02% dư nợ khách hàng doanh nghiệp - một con số tăng tương đối lớn. Tuy nhiên, đến cuối năm 2009, dư nợ tài trợ XNK lại giảm một cách rõ rệt, chỉ đạt 267.19 tỷ đồng với mức giảm là 10.04% so với năm 2008 và chỉ chiếm 4.03% dư nợ khách hàng doanh nghiệp, 3.89% tổng dư nợ. Nguyên nhân của việc dư nợ XNK cũng như tổng dư nợ của BIDV HCMC tăng mạnh trong năm 2008 là do đây là giai đoạn mà giá nguyên vật liệu của tất cả các ngành hàng đều tăng cao, có những ngành hàng như sắt, thép, linh kiện, giấy… giá tăng hơn 2 lần, trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu sản xuất, các doanh nghiệp đều phải đảm bảo định mức tiêu hao nguyên vật liệu theo quy định, vì vậy ảnh hưởngtrực tiếp đến mức vay ngân hàng của doanh nghiệp. Mức tăng trưởng dư nợ tài trợ XNK của BIDV HCM luôn thấp hơn mức tăng trưởng dư nợ nói chung cho thấy BIDV HCMC chưa có chiến lược trong hoạt động tài trợ XNK trong thời gian qua. Mặc dù số liệu dư nợ mang tính chất thời điểm nhưng xét trên phương diện tương đối, ta thấy trong các năm 2007, 2008, 2009, tài trợ XNK không làthế mạnh của BIDV HCMC. 2.2.4.2 Dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu tại BIDV HCMC phân theo loại hình tài trợ Bảng 2.8: Dư nợ tài trợ XNK phân theo loại hình tài trợ Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu 31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009 Tăng/ giảm 2008/2007 Tăng/ giảm 2009/2008 Gía trị Tỷ lệ Gía trị Tỷ lệ Gía trị Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ Dư nợ tài trợ xuất khẩu 86.08 16.63% 393.20 44.10% 156.90 58.72% 307.12 356.80% -236.30 -60.10% Dư nợ tài trợ nhập khẩu 431.45 83.37% 498.50 55.90% 110.29 41.28% 67.05 15.54% -388.21 -77.88% Tổng dư nợ XNK 517.53 100% 891.70 100% 267.19 100% 374.18 72.30% -624.51 -70.04% Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
  • 43.
    34 Biểu 2.1 :Dư nợ tài trợ XNK phân theo loại hình tài trợ Tỷ trọng của 2 loại hình sản phẩm thay đổi khá rõ rệt. dư nợ tài trợ xuất khẩu tăng dần qua các năm: cuối năm 2007: 16.63%; cuối năm 2008: 44.1%; cuối năm 2009: 58.72%. Ngược lại, dư nợ tài trợ nhập khẩu lại giảm dần: cuối năm 2007: 83.37%; cuối năm2008: 55.90%; cuối năm 2009: 41.28%. Việc chuyển dịch cơ cấu này thể hiện sự chú trọng của BIDV HCMC trong chính sách thu hút khách hàng xuất khẩu. - Dư nợ tài trợ nhập khẩu: chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu dư nợ XNK của BIDV HCMC qua các năm (năm 2007: 83.37%; năm 2008: 55.9%; năm 2009: 41,28%). Xét về con số tuyệt đối, với mức tăng là 67.05 tỷ đồng năm 2008 và giảm 338.21 tỷ đồng năm 2009 thì dư nợ tài trợ nhập khẩu tại BIDV HCMC tăng/giảm không đáng kể so với quy mô tổng dư nợ. Thực tế, trong năm 2008 và 2009, BIDV HCMC đã cho vay tài trợ nhập khẩu cho những lô hàng sắt thép, xăng dầu có giá trị khá lớn, mỗi hợp đồng ngoại thương có giá trị 10 đến 15 triệu USD (tương đương 190 tỷ đến 285 tỷ đồng/ mỗi hợp đồng). Vì vậy, chỉ cần biến động tăng/ giảm của khi cho vay/ thu nợ một hợp đồng cũng ảnh hưởng đến dư nợ cuối kỳ của ngân hàng.
  • 44.
    35 - Dư nợtài trợ xuất khẩu: Dư nợ tài trợ xuất khẩu cuối năm 2008 tăng mạnh (tăng 307.12 tỷ đồng) so với cuối năm 2007 (358%). Tuy nhiên, đến cuối năm 2009, con số dư nợ này giảm một cách đáng kể - giảm 236.30 tỷ đồng (giảm 60.10%). Điều này được giải thích là do đối với sản phẩm tài trợ xuất khẩu, số lượng khách hàng giao dịch tín dụng không nhiều và qua các năm không tăng thêm, chỉ tập trung vào một số doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực thủy sản, dệt may, gỗ, hóa chất… với kim ngạch xuất khẩunhỏ. Các đối tượng khách hàng này có kế hoạch kinh doanh không thay đổi nhiều nên vòng quay vốn nhìn chung vẫn vậy. Mặc dù có chịu tác động từ môi trường bên ngoài nhưng các doanh nghiệp này vẫn giữ được các hợp đồng lâu năm. Vì vậy, cứ đến chu kì kinh doanh, các doanh nghiệp lại có nhu cầu được tài trợ xuất khẩu và tất toán hợp đồng đúng hạn. Có thể nói, tài trợ xuất khẩu không là lĩnh vực nổi trội và ổn định của BIDV HCMC, sự tăng/ giảm dư nợ phụ thuộc hoàn toàn vào những khách hàng thân thiết, truyền thống và có lịch sử giao dịch lâu năm. Tính đến thời điểm 30/06/2010, BIDV HCMC đạt dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu là 332 tỷ đồng, chỉ chiếm 4,4% trong tổng dư nợ toàn chi nhánh, giảm 513 tỷ đồng (tương đương giảm 60,66%) so với cùng kỳ năm 2009, tăng 65,2 tỷ đồng (tương đương tăng 24,43%) so với đầu năm. Dư nợ vay XNK trong 6 tháng đầu năm tăng, mà chủ yếu vay xuất khẩu so với đầu năm là do hội sở chính đã ban hành chính sách lãi suất vay linh hoạt nhằm hỗ trợ cho vay hàng xuất khẩu có kỳ hạn vay đến 6 tháng. Chính sách này đã góp phần ổn định và giảm dần mặt bằng lãi suất thị trường. 2.2.4.3 Dư nợ tài trợ XNK tại BIDV HCMC phân theo mặt hàng tài trợ a) Dư nợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ Bảng 2.9: Dư nợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu 31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009 Gía trị Tỷ trọng Gía trị Tỷ trọng Gía trị Tỷ trọng Đồ gỗ 18.08 21.00% 43.31 11.01% 22.80 14.53% Dệt may 33.63 39.07% 89.40 22.74% 24.90 15.87% Thủy hải sản 12.06 14.01% 123.30 31.36% 79.70 50.80% Hóa chất 12.30 14.29% 72.00 18.31% 14.70 9.37% Khác (cao su, pin, giày da…) 10.01 11.63% 65.19 16.58% 14.80 9.43% Tài trợ xuất khẩu 86.08 100.00% 393.20 100.00% 156.90 100.00% Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
  • 45.
    36 Biểu 2.2: Dưnợ tài trợ xuất khẩu phân theo mặt hàng tài trợ - Đối với ngành đồ gỗ: Cuối năm 2007, dư nợ vay là 18.08 tỷ đồng, chiếm 21% tổng dư nợ tài trợ xuất khẩu. Cuối năm 2008, tăng 25.23 tỷ đồng tương đương tăng 139.5% đạt mức 43.31 tỷ đồng. Đến cuối năm 2009, đạt mức 22.80 tỷ đồng, chiếm 14.53% trong tổng dư nợ tài trợ XK của BIDV HCMC. Như vậy, gỗ luôn chiếm một vị trí đáng quan tâm trong danh sách mặt hàng tài trợ xuất khẩu của BIDV HCMC. BIDV HCMC tài trợ xuất khẩu các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu với nguyên vật liệu chính là ván ép, gỗ thông. Trong năm 2008 với tình hình giá các nguyên vật liệu này tăng mạnh nên làm mức vay tăng tương ứng. Do thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ của các doanh nghiệp vay vốn tại BIDV HCMC là Nhật, Ý – là các thị trường ổn định và đốitác là khách hàng có uy tín lâu năm nên tài trợ xuất khẩu gỗ được đánh giá là lĩnh vựcan toàn và đem lại lợi nhuận ổn định cho BIDV HCMC. - Đối với ngành dệt may: Qua các năm, 2007, 2008, 2009, tỷ trọng dư nợ tài trợ XK dệt may tại thời điểm cuối năm luôn giảm trong tổng dư nợ tài trợ xuất khẩu của BIDV HCMC. Cuối năm 2007, dư nợ tài trợ XK ngành dệt may là 33.63 tỷđồng, chiếm
  • 46.
    37 39.07.57% trong tổngdư nợ tài trợ XK. Cuối năm 2008, số dư là 89.4 tỷ đồng với tỷ trọng 22.74%. Đến cuối năm 2009, tiếp tục giảm tỷ trọng xuống còn 15.87%, đạt mức 24.90 tỷ đồng. Trong cuối năm 2008 và sang năm 2009, do nhu cầu cổ phần và sắp xếp các đơn vị trực thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam, thành lập các pháp nhân mới là công ty cổ phần, công ty TNHH 1 thành viên dựa trên các công ty nhà nước cũ. Khitách ra hoạt động với mô hình mới, doanh nghiệp thường không thỏa mãn điều kiện của BIDV HCMC, đặc biệt là không đáp ứng được tài sản đảm bảo nên tỷ trọng dư nợ của ngành dệt may giảm rõ rệt trong cơ cấu tài trợ xuất khẩu tại BIDV HCMC. - Đối với ngành thủy hải sản: tại BIDV HCMC, các doanh nhiệp hoạt động trong lĩnh vực này hoàn toàn xuất khẩu sang thị trường Nga và các nước Đông Âu – là thị trường tiêu thụ cá rất mạnh và có tính ổn định cao. Do đó, tỷ trọng dư nợ của ngành hàng này trong dư nợ tài trợ XK luôn tăng. Cuối năm 2007, dư nợ tài trợ XK ngành hàng thủy hải sản đạt 12.6 tỷ đồng, chiếm 14.01% trong tổng dư nợ tài trợ XK. Cuối năm 2008, chỉ số này tăng 110.7 tỷ đồng lên 123.3 tỷ đồng, chiếm 31,36%. Cuối năm 2009, chiếm 50.8% trong tổng dư nợ tài trợ XK. Tình hình xuất khẩu thủy hải sản của cả nước tuy khôngkhả quan do áp lực đòi giảm giá từ đối tác, nhu cầu nhập khẩu các thị trường lớn giảm sút theo tác động của cuộc khủng hoảng, tuy nhiên với dự kiến về triển vọng của ngành, BIDV HCMC đã mở rộng cho vay, thể hiện qua tỷ trọng dư nợ tài trợ XK ngành này luôn tăng. Thực tế cho thấy, ngành thủy hải sản là ngành mang lại lợi nhuận và phí dịch vụ cao cho BIDV HCMC vì các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế vàbán ngoại tệ cho BIDV HCMC với doanh số lớn. - Đối với ngành hàng hóa chất: chịu ảnh hưởng chung của nền kinh tế thế giới, năm 2008, giá nguyên vật liệu của ngành hóa chất cũng tăng rất mạnh, làm dư nợ của ngành này cuối năm 2008 đạt mức khá cao – 72 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 18.31% trong tổng dư nợ tài trợ XK và tăng 59.7 tỷ đồng so với cuối năm 2007. Đến cuối năm 2009, dư nợ ngành này chỉ còn ở mức 14.7 tỷ, chiếm tỷ trọng 9.37% trong tổng dư nợ tài trợ XK. Ngành hóa chất là ngành hàng khá ổn định trong tài trợ XK của BIDV HCMC vì đây là sản phẩm của doanh nghiệp trực thuộc tổng công ty hóa chất Việt Nam, quan hệ vayduy nhất với BIDV HCMC và có thị trường XK ổn định qua các năm. - Đối với các ngành hàng khác: tuy không phải là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, các mặt hàng như pin, cao su, gạch men… cũng chịu ảnh hưởng chung của nền
  • 47.
    38 kinh tế thếgiới, năm 2008 khi giá nguyên vật liệu tăng cao, làm dư nợ của các ngành này cuối năm 2008 đạt mức cao nhất qua các năm – 65.19 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 16.58% trong tổng dư nợ tài trợ XK và tăng 55.18 tỷ đồng so với cuối năm 2007. Đến cuối năm 2009, dư nợ ngành này chỉ còn ở mức 14.8 tỷ, chiếm tỷ trọng 9.53 % trongtổng dư nợ tài trợ XK. b) Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ Bảng 2.10: Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu Cuối năm 2007 Cuối năm 2008 Cuối năm 2009 Gía trị Tỷ trọng Gía trị Tỷ trọng Gía trị Tỷ trọng Xăng dầu 90.70 21.02% 91.72 18.40% 0.00 0.00% Sắt thép 219.20 50.81% 253.70 50.88% 56.47 51.20% Giấy 14.00 3.24% 26.90 5.40% 15.50 14.05% Hóa chất 45.90 10.64% 45.88 9.20% 23.90 21.67% Khác (vải, linh kiện,chì…) 61.65 14.29% 80.38 16.12% 14.42 13.07% Tài trợ nhập khẩu 431.45 100.00% 498.58 100.00% 110.29 100.00% Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC Biểu 2.3 : Dư nợ tài trợ nhập khẩu phân theo mặt hàng tài trợ
  • 48.
    39 - Đối vớingành xăng dầu: Xăng dầu là mặt hàng NK chính của Việt Nam. Kim ngạch NK mặt hàng này luôn đứng thứ hai, chỉ sau máy móc thiết bị. Do đây là mặt hàng có giá rất nhạy cảm vào tình hình kinh tế, chính trị của thế giới nên rất được BIDV HCMC quan tâm và theo dõi để không ảnh hưởng đến tình hình hoạt động chung của chi nhánh. Tại thời điểm cuối năm 2008, mức dư nợ của ngành hàng này tăng không đángkể (tăng 1.02 tỷ đồng) so với cuối năm 2007, đến cuối năm 2009 dư nợ của ngành xăng dầu không có, nguyên nhận là do tình hình căng thẳng ngoại tệ, doanh nghiệp lại không có nguồn ngoại tệ để trả nợ, vì vậy, từ quý 4/2009, BIDV đã chủ động không mở LC nhập xăng dầu để giảm áp lực ngoại tệ khi đến hạn thanh toán. - Đối với ngành sắt thép: sắt thép là mặt hàng cần để phát triển các ngành khác, do đó mặc dù giá cả có biến động, nhu cầu về mặt hàng này vẫn giữ sản lượng ở một mức ổn định. Năm 2008, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá thép tăng mạnh, điều này dẫn đến dư nợ tài trợ nhập khẩu cuối năm 2008 là 253.70 tỷ, tăng 34.5 tỷ tương ứng tăng 15.7% so vơi cuối năm 2007. Tuy nhiên, trong 2 năm này, ngành sắt thép vẫn duy trì tỷ trọng khoảng 50% trong dư nợ tài trợ NK. Sang năm 2009, cũng như ngành xăng dầu, với nguyên nhân khan hiếm ngoại tệ, BIDV HCMC đã chủ động ngừng việc mở LC nhập sắt thép nên dư nợ cuối năm 2009 chỉ đạt mức 56.47 tỷ đồng, giảm 197.23 tỷ đồng (giảm 77.7%) so với cuối năm 2008. Dù mức dư nợ giảm mạnh nhưng tỷ trọng vay tài trợ sắt thép vẫn nằm xoay quanh ngưỡng 50% trong tổng dư nợtài trợ NK của BIDV HCMC. - Đối với ngành giấy: ngành in ấn, bao bì ở Việt Nam đang phát triển nhanh chóng. Nhu cầu về giấy để phục vụ các ngành này cũng tăng lên. Chính vì vậy mà nhu cầu vay vốn nhập giấy cũng tăng lên. Năm 2007, dư nợ tài trợ NK đối với mặt hàng này ở BIDV HCMC chỉ đạt 14 tỷ đồng, chiếm 3.24% trong tổng dư nợ tài trợ NK. Nhưng chỉ saumột năm, với việc giá cả nhập khẩu giấy tăng đột biến và liên tục làm cho các doanh nghiệp ngành in ấn, bao bì lao đao trong việc thu xếp các khoản vốn kinh doanh, nhu cầu vay vốn để nhập giấy tăng vọt. Cuối năm 2008 dư nợ vay NK giấy đạt mức 26,9 tỷ đồng, tăng 111% so với năm 2007. Đến năm 2009, tỷ trọng dư nợ NK giấy đã tăng lên mức 14.5% trong tổng dư nợ tài trợ NK, chứng tỏ BIDV HCMC vẫn đánh giá cao hoạt động của các doanh nghiệp in ấn và bao bì.
  • 49.
    40 - Đối vớingành hóa chất: trong vòng 3 năm trở lại đây, dư nợ vay đối với ngành hàng này khá lớn và chiếm tỷ trọng từ 10 – 20% dư nợ tài trợ NK của BIDV HCMC. Cuối năm 2007 và 2008, dư nợ của ngành này xoay quanh mức là 45.8 tỷ đồng và chiếm 9 – 10% dư nợ tài trợ NK. Đến năm 2009, mặc dù dư nợ giảm chỉ còn 23.9 tỷ đồng nhưng chiếm tỷ trọng khá cao: 21.67% cho thấy nhu cầu NK mặt hàng này của các doanh nghiệp đang vay vốn tại BIDV HCMC là khá lớn. - Đối với các ngành hàng khác: tuy không phải là mặt hàng nhập khẩu khẩu thiết yếu, các mặt hàng như vải, chì, linh kiện … cũng là mặt hàng quan trọng đối với các doanh nghiệp Việt Nam, năm 2008 khi giá nguyên vật liệu tăng cao, làm dư nợ của các ngành này cuối năm 2008 đạt mức cao nhất qua các năm – 80.38 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 16.12% trong tổng dư nợ tài trợ NK và tăng 1.37 tỷ đồng so với cuối năm 2007. Đếncuối năm 2009, dư nợ ngành này chỉ còn ở mức 14.42 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 13.07 % trong tổng dư nợ tài trợ NK. Như vậy, trong năm 2009, không những dư nợ tuyệt đối giảm ở tất cả các ngành hàng mà còn không có số dư vay tài trợ nhập xăng dầu, chủ yếu là do BIDV HCMC không chủ động được nguồn ngoại tệ. Việc thiếu hụt ngoại tệ này có nguyên nhân trực tiếp là do BIDV HCMC chưa thu hút đựơc khách hàng có nguồn thu ngoại tệ (khách hàng có hoạt động xuất khẩu). Vì vậy, để phát triển được vay tài trợ nhập khẩu cần phải đẩy mạnh vay tài trợ xuất khẩu để tạo nguồn ngoại tệ. 2.2.4.4. Tình hình nợ quá hạn xuất nhập khẩu Bảng 2.11: Tình hình nợ quá hạn tài trợ xuất nhập khẩu Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu 31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009 (1)Nợ quá hạn tài trợ XNK 0 0 0 (2)Nợ quá hạn vay KHDN 0 29.20 55.48 Tỷ trọng (1)/(2) 0.00% 0.00% 0.00% Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC Bảng 2.12: Tình hình nợ xấu tài trợ xuất nhập khẩu Đơn vị tính: tỷ đồng Chỉ tiêu 31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009 Nợ xấu tài trợ XNK (1) 0 4.5 44 Nợ xấu vay KHDN (2) 0 64 541.23 Tỷ trọng (1/2) 0.00% 7.03% 8.13% Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC
  • 50.
    41 Lãi treo, nợquá hạn, nợ xấu trong hoạt động tài trợ XNK tại BIDV HCMC năm 2007, 2008 là không có do sự cẩn trọng trong việc lựa chọn và thẩm định khách hàng nên hạn chế đến mức tối đa rủi ro trong cho vay lĩnh vực XNK. Tuy nhiên, đến cuối năm 2009, nợ xấu tài trợ XNK là 44 tỷ đồng, chiếm 8.13% trong tổng dư nợ xấu vay khách hàng doanh nghiệp tại BIDV HCMC, tăng 39.5 tỷ đồng sovới năm 2008, là dư nợ của một khách hàng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may. Nguyên nhân là từ giữa năm 2008, doanh nghiệp này gặp rủi ro ngoài ý muốn trong hoạt động sản xuất, cháy nhà xưởng, kho nguyên vật liệu và thành phẩm vì vậyphát sinh nợ gia hạn làm nợ nhóm 2 của BIDV HCMC tăng thêm 44 tỷ đồng trong năm 2009. Nhìn chung, hoạt động tài trợ XNK của BIDV HCMC không phải là hoạt động mang lại nguồn lợi nhuận lớn, tuy nhiên, đây là lĩnh vực ít rủi ro khi đối tượng vay là các khách hàng truyền thống, hoạt động lâu năm và có uy tín. 2.2.5. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro đang áp dụng tại BIDV HCMC Các sản phẩm phái sinh đang được xem là công cụ hữu hiệu được triển khai tại BIDV HCMC nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tài trợ XNK. 2.2.5.1 Hoán đổi tiền tệ chéo CCS (Cross Currency Swap) Các doanh nghiệp XNK thường đối mặt với rủi ro về tỷ giá trong quan hệ vay vốn với ngân hàng như sau: - Việc đi vay nguồn vốn VND, trong khi có nguồn thu USD từ hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp đối mặt với biến động rủi ro tỷ giá USD/VND. - Cơ hội tiết kiệm chi phí bị bỏ lỡ: doanh nghiệp không thể tận dụng được cơ hội chênh lệch lãi suất để giảm chi phí vay vốn khi chênh lệch lãi suất USD và VND hiện đang ở mức 6% (lãi suât USD thấp và lãi suất VND cao). Vì vậy, sản phẩm CCS ra đời nhằm hạn chế rủi ro này cho doanh nghiệp Cơ chế sản phẩm: - Khi bắt đầu thực hiện giao dịch, doanh nghiệp không phải chuyển cho BIDV HCMC số tiền VND đã vay tại hợp đồng vay; - BIDV HCMC không phải chuyển cho doanh nghiệp số tiền gốc tương đương bằng USD theo tỷ giá hoán đổi thoả thuận khi bắt đầu giao dịch;
  • 51.
    42 - Theo kếhoạch trả nợ tại hợp đồng tín dụng, cuối kỳ BIDV HCMC thực hiện chuyểntiền gốc và tiền lãi bằng VND cho doanh nghiệp; doanh nghiệp thực hiện chuyển tiền gốc và tiền lãi bằng USD cho BIDV HCMC tương ứng theo tỷ giá hoán đổi USD/VND được xác định trước tại thời điểm giao dịch. Lợi ích của khách hàng: - Bảo hiểm rủi ro tỷ giá USD/VND: doanh nghiệp cố định tỷ giá hoán đổi ngay tại thời điểm giao dịch, qua đó giúp doanh nghiệp cố định chi phí trả lãi và gốc. - Giảm đáng kể chi phí vay vốn khi chuyển từ nghĩa vụ trả lãi bằng lãi suất VND cao sang trả lãi bằng bằng lãi suất USD thấp hơn rất nhiều. - Chi phí vay vốn thấp và được cố định, công ty lúc này có thể yên tâm tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn Lợi ích của BIDV HCMC: - Khi không thực hiện CCS: chỉ được hưởng chênh lệch giữa lãi suất mua vốn của hội sở chính và lãi suất vay trên hợp đồng tín dụng (áp dụng theo từng khách hàng theo chính sách khách hàng) khoảng từ 0%-2%/năm. - Khi thực hiện CCS: được hưởng chênh lệch lãi suất khoảng 3%-3.9%/năm (bao gồm chênh lệch trên hợp đồng tín dụng và chênh lệch trên hợp đồng CCS). 2.2.5.2 Hoán đổi lãi suất 1 đồng tiền IRS (Interest Rate Swap) - Giao dịch hóan đổi lãi suất là việc các bên giao kết hợp đồng với nhau, theo đó mỗi bên cam kết thanh tóan cho bên kia khoản tiền lãi. - Giới hạn về thời hạn và số vốn gốc hoán đổi lãi suất đối với một doanh nghiệp + Thời hạn của một hợp đồng hoán đổi lãi suất do các bên thỏa thuận, nhưng tối đa không quá thời hạn còn lại của hợp đồng giao dịch khoản vốn gốc. + Số vốn gốc của các hợp đồng hoán đổi lãi suất đối với một doanh nghiệp không vượt quá 30% vốn tự có của ngân hàng. - Lãi suất hoán đổi : các bên thoả thuận và cam kết trong hợp đồng hoán đổi lãi suất các mức lãi suất để thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất. Lợi ích giao dịch: - Lợi ích khách hàng: giúp khách hàng chuyển khoản vay USD với lãi suất thả nổi sang lãi suất cố định là cơ hội giúp khách hàng cố định chi phí trả lãi ở mức thấp nhất có thể và phòng ngừa rủi ro lãi suất trong suốt thời gian còn lại của hợp đồng vay.
  • 52.
    43 - Lợi íchBIDV HCMC: tăng thu dịch vụ từ chênh lệch lãi suất chào khách hàng và lãi suất trả cho hội sở chính; đa dạng hoá sản phẩm và mở rộng mạng lưới khách hàng; đồng thời nâng cao uy tín và vị thế BIDV với đối tác và khách hàng. 2.2.5.3 Các sản phẩm mua bán ngoại tệ: a) Giao dịch kỳ hạn (FORWARD) Giao dịch kỳ hạn là giao dịch trong đó BIDV HCMC và khách hàng cam kết mua bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định tại thời điểm giao dịch và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào một thời điểm xác định trong tương lai. Lợi ích của khách hàng: - Phòng ngừa được những rủi ro về biến động tỷ giá bất lợi đối với những khoản thu ngoại tệ hoặc nghĩa vụ thanh toán ngoại tệ trong tương lai; - Có cơ hội đầu tư kinh doanh kiếm lợi trên có sở có nhận định đúng về xu hướng biến động tỷ giá ngoại tệ trong tương lai. b) Giao dịch kỳ hạn không chuyển tiền (NDF – Non Deliverable Forward) (Áp dụng đối với những đồng tiền không có khả năng tự do chuyển đổi) Giao dịch kỳ hạn không chuyển tiền là một công cụ bảo hiểm rủi ro biến động tỷ giá đối với những giao dịch mua bán ngoại tệ giữa một đồng tiền không có khả năng tự do chuyển đổi (Ví dụ: Nhân dân tệ, Đôla Đài Loan, Won Hàn Quốc...) với Việt Nam đồng (hoặc đôla Mỹ). Lợi ích của khách hàng: - Bảo hiểm rủi ro biến động tỷ giá đối với nghĩa vụ thanh toán những đồng tiền không có khả năng chuyển đổi của mình. Tỷ giá thanh toán vào ngày đến hạn được cố định và biết trước ngay từ ngày ký hợp đồng giao dịch; - Không phải trả bất kỳ một khoản phí nào cho giao dịch này. c) Giao dịch hoán đổi tiền tệ (CURRENCY SWAP) Giao dịch hoán đổi ngoại tệ là giao dịch BIDV HCMC đồng thời mua và bán cùng một lượng ngoại tệ với khách hàng, trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch là khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng. Giao dịch hoán đổi có thể là sự kết hợp của:
  • 53.
    44 01 giao dịchgiao ngay + 01 giao dịch kỳ hạn 01 giao dịch kỳ hạn + 01 giao dịch kỳ hạn Lợi ích của khách hàng: - Phòng ngừa những rủi ro tỷ giá trong tương lai; - Cân bằng các trạng thái kỳ hạn, kéo dài hoặc rút ngắn kỳ hạn của hợp đồng giao dịch đã ký kết; - Linh hoạt hóa, đa dạng hoá nguồn vốn để đầu tư, thanh toán; - Tận dụng cơ hội thị trường để đầu tư, kinh doanh. d) Giao dịch quyền chọn tiền tệ (CURRENCY OPTION) Giao dịch quyền lựa chọn tiền tệ là một giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ xác định ở một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thoả thuận trước. Hai loại giao dịch quyền chọn tiền tệ cơ bản: - Giao dịch quyền chọn mua (call option): là giao dịch quyền chọn trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua một lượng ngoại tệ xác định ở một mứctỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thoả thuận trước. - Giao dịch quyền chọn bán (put option): là giao dịch quyền chọn trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ bán một lượng ngoại tệ xác định ở một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thoả thuận trước. Lợi ích của khách hàng: - Vừa có thể phòng ngừa rủi ro từ những biến động bất lợi của tỷ giá trong tương lai đối với những nhu cầu giao dịch ngoại tệ trong tương lai, vừa có thể tận dụng cơ hội thị trường trong trường hợp tỷ giá biến động có lợi; - Linh hoạt hóa mức độ phòng ngừa rủi ro với chi phí được biết trước; - Rất thích hợp để phòng ngừa rủi ro đối với những dòng tiền chưa rõ ràng; - Có cơ hội đầu tư kinh doanh kiếm lợi trên có sở có nhận định đúng về xu hướng biến động tỷ giá ngoại tệ trong tương lai;
  • 54.
    45 2.2.5.4. Kết quảđạt được trong việc triển khai các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tài trợ XNK: Bảng 2.13:Kết quả giao dịch phái sinh trong hoạt động tài trợ XNK Đơn vị tính:USD, VND STT Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 6 tháng 2010 A Tổng doanh số (USD) 1,285,851,703 708,317,665 310,766,799 1 Phân theo loại tiền Doanh số USD 889,061,220 599,236,531 273,794,353 Doanh số ngoại tệ khác 396,790,483 109,081,134 36,972,446 2 Phân theo loại giao dịch Doanh số giao ngay 1,169,729,339 692,001,472 293,757,757 Doanh số kỳ hạn 0 1,773,058 5,009,042 Doanh số hoán đổi 0 0 12,000,000 Doanh số quyền chọn 116,122,364 15,222,943 B Tổng lợi nhuận (đồng) 32,272,439,778 13,790,840,516 13,963,351,453 1 Lợi nhuận từ USD 7,771,504,327 7,230,500,229 10,258,423,446 2 Lợi nhuận từ ngoại tệ khác 23,677,954,274 6,036,470,258 3,190,438,303 3 LN hàng hóa tương lai 459,377,214 6,744,596 83,077,534 4 LN hoán đổi lãi suất 363,603,963 517,125,433 431,412,170 Nguồn: Báo cáo tổng hợp BIDV HCMC Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và các sản phẩm phái sinh của BIDV HCMC chỉ bắt đầu từ năm 2008, các năm trước, hoạt động mua bán ngoại tệ chỉ nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng với nguồn ngoại tệ được hội sở chính cung cấp, không phát sinh lợi nhuận. Sang năm 2008, với cơ chế điều chuyển vốn nội bộ có quy định giá chuyển vốn, căn cứ giá bán của hội sở chính, BIDV HCMC sẽ giao dịch với khách hàng và cân đối với tổng nhu cầu để đảm bảo lợi nhuận chung. Có thể thấy được tình hình hoạt động kinh doanh ngoại tệ của BIDV HCMC chủ yếu là kinh doanh vào sản phẩm truyền thống là giao ngay, doanh số kỳ hạn và quyền chọn không đáng kể. Trong năm 2008, phát sinh doanh số quyền chọn cao là do tỷ giá USDthị trường biến động phức tạp, giao dịch mua bán ngoại tệ của với khách hàng thực hiện theo tỷ giá thị trường thông qua phương thức quyền chọn mua. a) Đối với nhóm sản phẩm truyền thống: Tổng doanh số mua bán ngoại tệ năm 2009 đạt 709 triệu USD quy đổi, giảm 44.9% (#576.85 triệu) so với năm 2008. Doanh số mua bán ngoại tệ giảm so với cùng kỳ năm
  • 55.
    46 trước là dotrong 06 tháng đầu năm 2008, tỷ giá USD thị trường biến động phức tạp, giao dịch mua bán ngoại tệ của BIDV HCMC với hội sở chính và khách hàng thực hiện theo tỷ giá thị trường thông qua ngoại tệ khác nên doanh số tăng mạnh. Trong năm2009, giao dịch hối đoái giao ngay vẫn chiếm tỷ lệ lớn (# 98%) trong tổng doanh sốmua bán ngoại tệ. Từ tháng 7 đến tháng 11/2009 BIDV HCMCcó phát sinh các giao dịch khách hàng mua kỳ hạn ngoại tệ USD, EUR, doanh số giao dịch kỳ hạn đạt 1.77 triệu USD. Doanh số giao dịch quyền chọn USD/VND thực hiện với khách hàng đạt 15.22 triệu USD, giảm 100.89 triệu USD (# 87%) so với năm 2008 (chỉ phát sinh giao dịch từ giữa tháng 02 đến giữa tháng 3). b) Đối với nhóm hàng hóa phái sinh: Sản phẩm hàng hóa tương lai: Trong 12 tháng năm 2008, chỉ có 3 doanh nghiệp tham gia giao dịch hàng hóa tương lai với lợi nhuận đạt 460 triệu đồng. Trong năm 2009, giao dịch hàng hóa tương lai tại BIDV HCMC tuy có phát sinh giao dịch nhưng thấp. Do tình hình kinh doanh không khả quan, các doanh nghiệp này giao dịch trong thời gian 2009 lỗ nhiều nên đã tạm thời ngưng giao dịch trên thị trường hàng hóa tương lai. Điều này khiến lợi nhuận từ giao dịch hàng hóa tương lai năm 2009 rất thấp, đạt 6,7 triệu đồng, giảm 98% so với cùng kỳ năm 2008. Đối với sản phẩm hóan đổi lãi suất: Trong năm 2009, BIDV HCMC chỉ phát sinh 11 giao dịch hoán đổi tiền tệ chéo USD/VND với 4 khách hàng xuất khẩu. Doanh số giao dịch hoán đổi tiền tệ chéo USD/VND ở mức 2,625,810.48 USD, lợi nhuận hóan đổi lãi suất thu được 517.12 triệu đồng, tăng 42.2% (tương đương 153.52 triệu) so với cùng kỳ năm 2008. Trong 06 tháng đầu năm 2010, BIDV HCMC chỉ có phát sinh 04 giao dịch hoán đổi tiền tệ chéo USD/VND với 1 khách hàng xuất khẩu duy nhất. Doanh số giao dịch hoán đổi tiền tệ chéo USD/VND là 1,523,430.07 USD, lợi nhuận hóan đổi lãi suất thu được 431 triệu đồng. Như vậy, tại BIDV HCMC các sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, lãi suất chưa phát huy tác dụng, chưa xứng tầm với chi nhánh có dư nợ lớn trong toàn hệ thống ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Trong khi các ngân hàng trên cùng địa bàn đang tăng mạnh dịch vụ này, xem đây là một nguồn thu phí và thu hút nguồn USD hấp dẫn thì BIDV HCMC bỏ ngỏ thị trường này.
  • 56.
    47 2.3. ĐÁNH GIÁTHỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XNK TẠI BIDV HCMC 2.3.1.Mặtđược BIDV HCMC đã xây dựng được hình ảnh là một chi nhánh Ngân hàng năng động, đã chuyển dịch cơ cấu vay từ hoạt động vay truyền thống là vay trong lĩnh vực xây lắp sang các lĩnh vực khác, đặc biệt là vay trong lĩnh vực XNK.Trong các năm qua, BIDV HCMC đã bắt đầu làm quen và tạo dựng một nền khách hàng có quy mô XNK lớn, phát triển và hoàn thiện các dịch vụ liên quan đến xuất nhập khẩu để ngày càng mở rộng quy mô tín dụng và thu hút khách hàng hơn nữa trong quá trình phát triển của mình. Trong các mốc thời gian hoạt động, trong năm 2008, hoạt động tài trợ XNK của BIDV HCMC là sôi động nhất, thể hiện ở các chỉ tiêu: dư nợ (498 tỷ đồng), doanh số vay (2.000 tỷ đồng), doanh số thu nợ (1.933 tỷ đồng), thu nhập lãi (86 tỷ đồng).Trong năm 2009 – 6 tháng đầu năm 2010, hoạt động tài trợ XNK giảm quy mô nhưng vẫn mang lại lợi nhuận ở mức ổn định cho BIDV HCMC. Với quy mô vốn lớn và uy tín trong thanh toán với các ngân hàng nước ngoài, BIDV HCMC trong thời gian qua đã hỗ trợ cho các hợp đồng nhập khẩu có giá trị lớn, đặcbiệt là cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng, xăng dầu,luyện kim…, giá trị mỗi hợp đồng nhập khẩu có giá trị lớn hơn USD1,000,000, đặc biệt có những hợp đồng lớn hơn USD15,000,000 (nhập khẩu thép, xăng dầu). 2.3.2 Tồn tại Bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động tài trợ XNK tại BIDV HCMC cũng đã bộc lộ không ít những hạn chế, cụ thể: - Quy mô dư nợ tài trợ XNK chưa tương xứng với tiềm năng và quy mô dư nợ của BIDV HCMC. So với tốc độ tăng trưởng cao của kim nghạch XNK của nuớc ta trong thời gian qua, có thể thấy hoạt động tài trợ XNK của BIDV HCMC còn yếu. Trong 3 năm 2008- 2010, mức tăng trưởng tín dụng chung của BIDV HCMC là 10-15%/năm, trong khi đó, dư nợ tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV HCMC đều suy giảm. Dư nợ tài trợ XNK chiếm 12- 14% trong tổng dư nợ tại thời điểm 2008-2009, sang đến 6 tháng đầu năm 2010, dư nợ XNK chỉ chiếm 3% .
  • 57.
    48 - Trong cơcấu dư nợ tài trợ XNK, dư nợ, doanh số cho vay – thu nợ của tài trợ nhập khẩu luôn cao hơn tài trợ xuất khẩu. - Thiếu kinh nghiệm trong hoạt động tài trợ XNK: từ khi kinh tế Việt Nam mở cửa từ năm 1986 đến nay, kinh tế ngoại thương của Việt Nam đã không ngừng phát triển và gặt hái rất nhiều thành công. Thị trường quốc tế ngày càng được mở rộng, nền sản xuất Việt Nam đã hướng mạnh vào xuất khẩu, thâm nhập sâu rộng vào thị trường thế giới. Hoạt động XNK ngày càng phát triển, kim ngạch XNK của Việt Nam không ngừngtăng qua các năm. Nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh và nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng liên quan trong giao thương quốc tế, của các doanh nghiệp là rất lớn và đa dạng. Thế nhưng đến năm 2006, BIDV HCMC mới bắt đầu có những sản phẩm liên quan tàitrợ xuất khẩu đầu tiên. BIDV HCMC thực sự chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực XNK, các chuyên viên quan hệ khách hàng của BIDV HCMC chưa nắm bắt hết được các nhu cầu đa dạng trong hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp XNK, không am hiểu về các điều kiện giao dịch cũng như quy định về thanh toán quốc tế, dẫn tới gặp nhiều hạn chế khi tiếp cận khách hàng, chưa khai thác mạnh được nhóm đối tượng khách hàng doanh nghiệp XNK. - Các sản phẩm tài trợ XNK chưa đa dạng: BIDV HCMC mới chỉ tập trung vào một số phương thức truyền thống như vay từng lần và vay theo hạn mức, còn các hình thức tín dụng khác chưa được chú trọng áp dụng do đó chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng. Chưa có các gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu trọn gói từ khâu thu mua nguyên liệu đến khi báo có tiền vào tài khoản khách hàng. - Biểu phí thanh toán, giá mua bán ngoại tệ, lãi suất vay chưa linh hoạt, cạnh tranh, thời gian giải quyết cho khách hàng chưa kịp thời gian. - Mức lãi suất vay USD, tỷ giá mua bán USD cho khách hàng còn kém cạnh tranh do nguồn USD hạn chế, chưa khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu bán USD lại cho ngân hàng để tạo nguồn USD kinh doanh. - Việc thu thập thông tin về đối tác nước ngoài (đối tác của khách hàng) còn hạn chế và chưa được chú trọng đúng mức đã ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định khi cấp tíndụng cũng như chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. - Chất lượng thẩm định còn thấp: khi thẩm định cho vay căn cứ vào báo cáo tài chính để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định là
  • 58.
    49 chưa đủ, chưachính xác, chỉ nắm được thông tin về một số chỉ tiêu không có sự biến động nhiều như: doanh thu, tài sản cố định, còn các chỉ tiêu khác như: luân chuyển vốn, tiền mặt, công nợ, phải thu, phải trả, hàng tồn kho, hệ số nợ/vốn chủ sở hữukhông thể cập nhật kịp thời, chính xác trong từng thời điểm. Thẩm định hồ sơ vay vốn, cán bộ quan hệ khách hàng phần lớn dựa vào các thông tin và các báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp dẫn đến đánh giá sai lệch và tài trợ không chính xác. - Thiếu khách hàng: hệ thống xếp loại khách hàng chưa chú trọng đến doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên chưa khuyến khích các doanh nghiệp này vay vốn và sử dụng các dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu tại BIDV HCMC, trong khi đó, đây là lượng khách hàng mang lại nguồn thu lớn do giao dịch nhiềuvà ổn định. - Công tác kiểm tra giám sát tình hình sử dụng vốn vay chưa chặt chẽ: việc theo dõi, giám sát tiền vay, đối chiếu số liệu, hồ sơ, căn cứ chứng từ giải ngân chưa chặt chẽ,giám sát tình hình sử dụng vốn vay chưa được tiến hành thường xuyên, đầy đủ. Cơ chế kiểm soát mới chỉ chú trọng đến công tác kiểm tra, kiểm soát xử lý, chứng từ cho từng khỏan vay cụ thể chứ chưa chú ý đến kiểm soát tổng quát. - Thiếu nhu cầu thực sự từ phía khách hàng đối với các sản phẩm phái sinh: trước đây tỷ giá USD/VND thường xuyên ổn định tại mức trần so với giá NHNN công bố, khách hàng không quan tâm tới vấn đề rủi ro trong tài trợ xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, sangnăm 2007 và đầu năm 2008, thị trường chứng kiến sự biến động và đảo chiều mạnh mẽ của VND so với đồng Đôla Mỹ, tỷ giá USD/VND giảm xuống giao dịch tại mức sàn. Nguyên nhân là do lượng lớn ngoại tệ từ các hoạt động đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước ngoài, kiều hối đổ vào các NHTM làm dư thừa ngoại tệ do mất cân đối cung cầu. Nhưng từ năm 2009 đến nay, tình hình tỷ giá hối đoái có nhiều biến động, tỷ giá khách hàng giao dịch lúc nào cũng ở mức trần do thiếu hụt nguồn ngoại tệ, có nhiều doanh nghiệp lại dự trữ ngoại tệ dẫn đến tỷ giá bị đẩy lên cao. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có thói quen hay nói chính xác hơn là chưa quan tâm tới phòngchống rủi ro đối với các hoạt động ngoại tệ của mình. Đặc biệt với nền tảng khách hàng là các doanh nghiệp quốc doanh như các khách hàng đang giao dịch tại BIDV HCMC thì mối quan tâm đến các sản phẩm phái sinh càng ít. Hiện nay, khi lãi suất USD trên thị trường đang ở mức thấp, các doanh nghiệp hầu như không quan tâm đến sản phẩm
  • 59.
    50 hoán đổi lãisuất mặc dù sản phẩm này đã được BIDV HCMC giới thiệu từ năm 2006, đến nay, vẫn chưa có doanh nghiệp nào thực hiện nghiệp vụ này. - Các sản phẩm phái sinh chưa phát huy hết tác dụng, tính đến nay, chỉ thực hiện được giao dịch hóa đổi tiền tệ chéo, các sản phẩm khác không có doanh số. Các sản phẩm phái sinh trong mua bán ngoại tệ chỉ dừng lại ở việc mua USD trả nợ đến hạn, thanh toán LC, DP, TTR chứ chưa hỗ trợ được trong công tác phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho doanh nghiệp đang giao dịch tại BIDV HCMC. 2.3.3. Những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động tài trợ XNK của BIDV HCMC 2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan a) Về tình hình chung của nền kinh tế - Năm 2009, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều khó khăn do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Chính phủ cùng NHNN đã triển khai kịp thời gói kích thích kinh tế, góp phần giải quyết những vấn đề trước mắtvề tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô trong năm 2009. Tuy nhiên, nó cũng để lạinhững hệ quả tiêu cực ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng bền vững, cũng như khảnăng ổn định nền kinh tế. - Bên cạnh đó, nền kinh tế trong những tháng cuối năm 2009 có nhiều sự biến động cùng với sự thay đổi của chính sách. Đó là những biến động về lãi suất, tỷ giá và những điều chỉnh chính sách liên quan; sự biến động khôn lường của thị trường vàng và sự phản ứng thái quá của thị trường chứng khoán.... Mặc dù các biện pháp kích thích kinh tế đang được thực hiện và mang lại những kết quả ban đầu, nhưng rủi ro về vĩ mô cũngnhư rủi ro về chính sách tiền tệ là những trở ngại lớn, ảnh hưởng đến đà tăng trưởng chung của ngành ngân hàng. - Đặc thù của hoạt động tài trợ XNK là chịu ảnh hưởng rất lớn của nền kinh tế và môi trường kinh doanh trong và ngoài nước. Trong những năm gần đây, tình hình tỷ giángoại tệ, giá vàng, giá bất động sản có nhiều biến động mạnh, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đưa ra các quyết định tín dụng. b) Về cơ chế, chính sách:
  • 60.
    51 - Hành langpháp lý trong hoạt động tín dụng của Nhà nước, các bộ ngành chưa thật sự đồng bộ, các văn bản hướng dẫn chưa đi vào cuộc sống dẫn đến bất cập khi triển khai xác định, đánh giá giá trị tài sản thế chấp cầm cố, tính pháp lý của tài sản đảm bảo tiền vay; xử lý đảm bảo tiền vay. - Chưa có một quy chế thống nhất về hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu: mặc dù chính phủ có nhiều chính sách khuyến khích xuất khẩu và cùng với các ngân hàng hỗ trợ để hoạt động XNK của các doanh nghiệp phát triển song NHNN lại chưa có một quy chế cụ thể về hoạt động ngân hàng trong lĩnh vực XNK. Các ngân hàng thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu dựa trên quy trình tín dụng của riêng mình, không có một quy chế thống nhất và thường khác nhau giữa các ngân hàng, gây khó khăn cho các doanh nghiệp XNK vàlàm hạn chế hiệu quả tài trợ xuất nhập khẩu của các ngân hàng. - Chưa quy định chế độ kiểm toán bắt buộc đối với các doanh nghiệp: việc rất nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay chưa thực hiện công tác kiểm toán đã làm giảm tính trung thực trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp, từ đó không tạo được niềm tin với khách hàng, với các đơn vị kinh tế khác kể cả ngân hàng. Việc luồn lách, trốn thuế khi làm báo cáo thuế và đánh bóng số liệu khi làm hồ sơ vay vốn ngân hàng là chuyện thường thấy ở các doanh nghiệp chưa thực hiện chế độ kiểm toán. Đây là lý do khiếnnhân viên ngân hàng gặp khó khăn và mất nhiều thời gian trong công tác kiểm tra, thẩm định. c) Về phía doanh nghiệp vay vốn: - Năng lực vay vốn của doanh nghiệp: vốn tự có của các doanh nghiệp Việt Nam quá nhỏ so với nhu cầu vay. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, vốn lưu động được giao không đáng kể, tài sản cố định tập trung lớn nhất là đất đai nhưng chủ yếu dưới hình thức thuê do đó chỉ được thế chấp giá trị tài sản trên đất. Các tài sản trên đất của doanh nghiệp nhà nước nếu không là các máy móc nhà xưởng đã cũ thì cũng hình thành từ vốn vay ngân hàng đối với các tài sản mới đầu tư do vậy tài sản bảo đảm và vốn tự có tham gia vào phương án kinh doanh rất hạn chế. Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp mà phần lớn được thành lập trong các năm gần đây, hầu hết đều có vốnchủ sở hữu thấp (khoảng vài tỷ đến vài chục tỷ đồng) do đó khi muốn thực hiện các thương vụ lớn thì vấn đề tài sản đảm bảo nợ vay và vốn tự có tham gia luôn là một bài toán hóc búa đối với cả ngân hàng và khách hàng.
  • 61.
    52 - Về kinhnghiệm trong hoạt động XNK của doanh nghiệp Việt Nam: Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới và thực sự lĩnh vực xuất nhập khẩu vẫn còn là một lĩnh vực khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều còn thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực này trong khi các doanh nghiệp nước ngoài đều đã có thời gian phát triển lâu đời và rất nhiều kinh nghiệm. Chính vì vậy ngay từ khi ký kết hợp đồng ngoại thương cho đến khi xử lý các phát sinh thì thường các doanh nghiệp Việt Nam chịu rất nhiều bất lợi do không lường hết được các tình huống xảy ra và đã ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng. - Các doanh nghiệp có doanh số XNK lớn đa phần có mang yếu tố nước ngoài: kim ngạnh XNK của nước ta tăng mạnh trong những năm qua, sản xuất trong nước phát triển song nền sản xuất của của Việt Nam vẫn mang nặng bản chất gia công. Các doanh nghiệp chưa chủ động mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh XNK của mình. Đa số các doanh nghiệp XNK có yếu tố nước ngoài thường chú trọng quan hệ với các ngân hàng có nguồn gốc từ nước mình, chưa quan tâm hợp tác với các ngân hàng trong nướcvề thanh toán quốc tế, tư vấn, bảo lãnh, tài trợ vốn sản xuất, kinh doanh XNK, Ngoài ra, các ngân hàng nước ngoài lại có lợi thế lớn về nguồn vốn ngoại tệ để cho vay nên lãi suất đa phần ở mức thấp, thủ tục đơn giản nên dễ thu hút khách hàng hơn. - Các sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỷ giá đối với các doanh nghiệp XNK là dòng sản phẩm tài chính cao cấp, đòi hỏi khách hàng phải có khả năng phán đoán và nhận định thị trường tốt trong tương lai mới có thể nhận thấy được lợi íchtừ sản phẩm này. Tuy nhiên, phần lớn khách hàng chưa thể nhận định xu hướng thị trường, tầm quan trọng của rủi ro tài chính và tâm lý “sợ trách nhiệm” nên chưa quantâm nhiều đến sản phẩm phái sinh. Vì vậy có thể nói đây là sản phẩm khá “kén chọn” đối tượng khách hàng. 2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan Bên cạnh những nguyên nhân khách quan nói trên, về phía BIDV HCMC còn có một số nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng này. a) Nguyên nhân từ cơ chế, chính sách của BIDV: - Quy trình vay vốn còn nhiều thủ tục, thiếu linh hoạt, thiếu tính cạnh tranh: tính đến nay, BIDV chỉ có 1 quy chế vay tài trợ xuất khẩu là Quy định số 6838/CV-TD3 ngày
  • 62.
    53 13/12/2005 V/v hướngdẫn vay tài trợ xuất khẩu, đến nay, vẫn chưa có quy trình nào sửa đổi trong tình hình cạnh tranh nhu hiện nay. So với các ngân hàng thương mại khác (ACB, EximBank, TechcomBank, VietcomBank…) thì tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV ra đời sau và sản phẩm còn hạn chế, vì vậy, để tăng tính cạnh tranh, với lợi thế là người đi sau, BIDV cần đổi mới quy trình giải quyết vay theo hướng ngày càng đơngiản, nhanh chóng nhằm thu hút khách hàng đến với mình.Hiện nay, theo dự thảo về chính sách vay tài trợ xuất khẩu đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực như gạo, cao su, cà phê, gỗ, thủy hải sản còn rất nhiều thủ tục rườm rà về chứng từ, về xác định mứcdự trữ nguyên vật liệu, thủ tục thế chấp tài sản phức tạp (thế chấp quyền đòi nợ hìnhthành trong tương lai từ hợp đồng xuất khẩu theo phương thức L/C, D/P; thế chấp hàng tồn kho…), mức vay… Tuy là đơn vị đi sau trong sản phẩm tài trợ XNK, BIDV vẫn chưa có chính sách thực sự hấp dẫn nhưng an toàn, đảm bảo khả năng cạnh tranh trong giai đoạn hiện nay. - Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng chưa hợp lý: sau gần 3 năm áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, từ thực tế cho thấy một số chỉ tiêu đánh giá của hệ thống xếp hạng hiện hành của BIDV còn nhiều điểm chưa hợp lý, chưa bao quát như: xác định ngành nghề kinh tế còn thiếu sót một số ngành hoạt động của các doanh nghiệp đang có quan hệ tại BIDV, một số chỉ tiêu đánh giá phi tài chính có tính chất vĩ mô so với các doanh nghiệp quy mô nhỏ, chưa đánh giá được hết các đối tượng khách hàng doanh nghiệphoạt động trong nền kinh tế. Hiện tại, hệ thống xếp hạng tín nhiệm tại BIDV phân biệt quy mô hoạt động của khách hàng thành 3 nhóm chính: lớn, vừa và nhỏ. Khi thực hiện chấm điểm xếp hạng khách hàng, các doanh nghiệp có quy mô hoạt động khác nhau sẽ được đánh giá dựa trên cùng một bộ chỉ tiêu với điểm trọng số khác nhau. Như vậy,việc chấm điểm các doanh nghiệp có quy mô hoạt động khác nhau không dựa trên nội dung các chỉ tiêu đánh giá, mà phụ thuộc vào tỷ trọng của các chỉ tiêu này. Đây làkhuyết điểm của hệ thống xếp hạng tại BIDV. b) Nguyên nhân từ BIDV HCMC:  BIDV HCMC vẫn chưa có một chiến lược cụ thể đối với tài trợ xuất khẩu. Trong thời gian qua, trong khi tài trợ xuất khẩu là chiến lược phát triển chính của các ngân hàng thương mại thì BIDV HCMC chỉ chú trọng tài trợ nhập khẩu, đến nay, dưới áp lực
  • 63.
    54 cạnh tranh vàtầm quan trọng ngày càng cao của tài trợ xuất khẩu, BIDV HCMC mới thực sự có những sản phẩm hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu nhưng chỉ mới ở giai đoạn thăm dò, học hỏi. Việc chưa có một chiến lược đối với tài trợ xuất khẩu sẽ vừa ảnh hưởng đến khả năng tăng quy mô của hoạt động tín dụng trong thời kỳ hội nhập vừaảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh, phát triển trong tương lai của BIDV HCMC.  Chưa chú trọng đến công tác maketing sản phẩm tài trợ XNK. Tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh, khi nói đến tài trợ XNK hầu hết mọi doanh nghiệp đều nghĩ đến ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VietCom Bank), Eximbank, ACB… Trong các năm qua, BIDV HCMC luôn được đánh giá cao trong công tác tín dụng, là một trong đơn vị đứng đầu toàn hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Tuy vậy, đến nay,rất nhiều doanh nghiệp vẫn biết đến BIDV là một ngân hàng cấp phát, chuyên về đầu tư dự án, và đó cũng một phần do công tác marketing của BIDV HCMC. Nếu thựchiện tốt công tác marketing tài trợ xuất nhập khẩu thì BIDV HCMC sẽ có thêm nhiều khách hàng tốt, góp phần nâng cao chất lượng tài trợ XNK tại BIDV HCMC. Việc chưa thực hiện các biện pháp marketing trong tài trợ XNK vừa là nguyên nhân trực tiếp của việc quy mô tài trợ xuất nhập khẩu còn chưa tương xứng với tiềm năng của BIDV HCMC. Đồng thời nó cũng là nguyên nhân trực tiếp của cơ cấu dư nợ xuất nhập khẩu mà cụ thể là tỷ trọng dư nợ xuất nhập khẩu ngoài quốc doanh của BIDV HCMC còn thấp.  Chưa đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến tài trợ XNK: hoạt động ngoại thương của Việt Nam ngày càng phát triển, nhu cầu cần tài trợ của các doanh nghiệp XNK ngày càng đa dạng. Từ khâu đầu tư xây dựng nhà xưởng đến mua sắm, nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu, khai báohải quan, thuê mướn phương tiện vận tải, đóng thuế nhập khẩu (tại nước người mua), thuê dịch vụ vận chuyển giao nhận hàng theo yêu cầu của khách hàng, tất cả đều có thể phát sinh nhu cầu cần tài trợ từ phía ngân hàng. Nhiều ngân hàng như VIBank, Techcombank, Eximbank, ACB đã liên kết với các công ty dịch vụ vận tải, giao nhận hàng hóa quốc tế cung cấp sản phẩm tài trợ trọn gói cho hoạt động sản xuất và giao nhận hàng hóa theo từng hợp đồng, từng đơn hàng của các doanh nghiệp XNK.Tại BIDV HCMC, hoạt động tài trợ XNK chủ yếu chỉ là tài trợ để mở L/C nhập khẩu.
  • 64.
    55 Sản phẩm tàitrợ XNK không nhiều, không linh hoạt theo nhu cầu phát sinh thực tế của các doanh nghiệp đã hạn chế sức cạnh tranh của tài trợ XNK.  Chưa phát triển đồng bộ các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ: các dịch vụ ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ, chiết khấu bộ chứng từ, thu hộ, tư vấn tài chính, đầu tư kho bải cho thuê, liên kết tài trợ, cũng là mối quan tâm của các doanh nghiệp XNK bên cạnh nhu cầu vay vốn. Các dịch vụ trên tại BIDV HCMC chưa phát triển đồng bộ bên cạnh hoạt động tài trợ XNK. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ phụ thuộc hoàn toàn vào hội sởchính. BIDV HCMC hiện nay chỉ chú trọng tài trợ XNK đối với các doanh nghiệp cótài sản thế chấp, có xếp hạng tín dụng cao, quan hệ lâu năm với ngân hàng, chưa đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm tín dụng theo nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp, hạn chế hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng.  Chưa có một bộ phận hoạt động riêng biệt về các sản phẩm phái sinh hỗ trợ tài trợ xuất nhập khẩu, bộ phận này hiện nay vẫn còn nằm trong Phòng kế hoạch tổng Hợp. Vì vậy, chưa có nguồn nhân lực, cơ sở vật chất để phát triển sản phẩm này.  Đội ngũ cán bộ chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu trước tình hình mới: Lực lượng cán bộ tham gia vào hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại BIDV HCMC bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa thực sự am hiểu sâu sắc về tài trợ xuất nhập khẩu, về thông lệ quốctế trong các giao dịch ngoại thương dẫn đến những hạn chế trong công tác thẩm địnhvà tư vấn cho khách hàng và trong quá trình xử lý các nghiệp vụ hằng ngày. Theo mô hình tổ chức hiện nay, bộ phận thanh toán quốc tế không tồn tại, tất cả các nghiệp vụ phát sinh trong hoạt động XNK (từ công tác tiếp thị - cho vay – thanh toán quốc tế -mua bán ngoại tệ) đều được thực hiện tại phòng quan hệ khách hàng, trong khi đó đội ngũ nhân viên còn ít am hiểu về các điều khoản thương mại trong giao dịch ngoạithương và thanh tóan quốc tế tạo một áp lực lớn về nâng cao trình độ của cán bộ quanhệ khách hàng để đáp ứng nhu cầu ngày càng mở rộng của hoạt động XNK tại BIDV HCMC.  Ngoài ra, do phạm vi hoạt động tài trợ XNK của BIDV HCMC còn hạn hẹp, chỉ mới dừng lại ở vay làm hàng xuất khẩu, vay thanh toán LC nhập khẩu, trong khi đó, thực tế hoạt động của doanh nghiệp XNK phát sinh rất nhiều nhu cầu và rất cần được sự tư vấn hỗ trợ từ phía ngân hàng tài trợ. Tuy nhiên, kiến thức về ngoại thương và kiến thức liên quan đến XNK của chuyên viên quan hệ khách hàng còn rất hạn chế, chưa được
  • 65.
    56 huấn luyện vàđào tạo chuyên nghiệp cộng với sản phẩm khá ít ỏi làm hạn chế hiệu quả phát triển của tài trợ XNK tại BIDV HCMC.  Công tác phòng ngừa rủi ro, kiểm tra kiểm soát nội bộ tại BIDV HCMC chưa được thực hiện tốt: thực tế tại BIDV HCMC và tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung việc phòng ngừa rủi ro chưa được thực hiện tốt. Đặc biệt hệ thống thu thập thông tin còn nhiều bất cập dẫn đến việc thiếu thông tin khi xử lý nghiệp vụ. Tronglĩnh vực XNK, một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của khách hàng đó là tiềm lực và uy tín của đối tác nước ngoài, tuy nhiên hiện nay việc thu thập thông tin về đối tác nước ngoài trong quá trình thẩm định của BIDV HCMC còn hạnchế và chưa được chú trọng đúng mức. Kết luận chương 2 Cùng với xu thế phát triển của kinh tế Việt Nam hiện nay, lĩnh vực ngoại thương và tài chính ngân hàng - những ngành kinh tế quan trọng của đất nước sẽ tiếp tục đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn ở cả trong nước và quốc tế. Với nỗ lực để tăng quy mô của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tương ứng với quy mô hiện nay của BIDV HCMC, BIDV HCMC đã có những sản phẩm và định hướng đúng đắn .Tuy nhiên, BIDV HCM cũng còn có nhiều mặt hạn chế tồn tại nhất là trong lĩnh vực tài trợ XNKcho các doanh nghiệp như sản phẩm chưa đa dạng, quy trình hoạt động chưa hoànthiện, trình độ nhân sự và kỹ thuật công nghệ ngân hàng còn yếu, chưa phát triển đồngbộ các dịch vụ hỗ trợ XNK... Để hoàn thiện, tăng cường sức cạnh tranh và phát triển, BIDV HCMC cần khắc phục nhanh những hạn chế đang tồn tại và tạo ra những tiện ích ưu việt của ngân hàng mình nhằm thu hút và phát triển khách hàng là doanh nghiệp XNK.
  • 66.
    57 CHƯƠNG 3: CÁCGIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TP.HỒ CHÍ MINH 3.1. Định hướng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam  Từng bước đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất khẩu, coi đây là hoạt động mũi nhọn trong những năm tiếp theo, với nguyên tắc hoạt động phải mang tính khoa học, bài bản và có hiệu quả. Lựa chọn điểm đột phá là các sản phẩm đang có thế mạnh xuất khẩu, gắn kết với các tổng công ty có tiềm năng xuất khẩu.  Duy trì phát triển tốt mối quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài để thu xếp nguồn vốn tài trợ, sử dụng các dịch vụ ngân hàng và học hỏi kinh nghiệm về các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.  Đảm bảo đủ nội lực để tạo đà cho bước nhảy vọt của hoạt động tài trợ xuất khẩu bên cạnh việc duy trì và phát triển hoạt động tài trợ nhập khẩu và các dịch vụ ngân hàng quốc tế.  Đẩy mạnh tài trợ xuất nhập khẩu gắn với mở rộng thêm khách hàng tốt, tăng nhanh thị phần tín dụng của BIDV trong hoạt động xuất nhập khẩu.  Gắn với tài trợ xuất nhập khẩu, thực hiện đồng bộ các dịch vụ trọn gói để nâng cao hiệu quả kinh doanh của BIDV. 3.2. Giải pháp nhằm mở rộng và phát triển tài trợ xuất nhập khẩu của BIDV HCMC trong giai đoạn hiện nay 3.2.1. Đối với Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP.Hồ Chí Minh 3.2.1.1 Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu và tăng cường quảng bá hình ảnh BIDV HCMC đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Thương hiệu là một nhân tố quan trọng góp phần làm nên thành công trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Một thương hiệu ngân hàng mạnh được tạo nên bởi nhiềuyếu tố, song quan trọng vẫn là uy tín của ngân hàng, chất lượng sản phẩm và dịch vụngân hàng và phong cách phục vụ chuyên nghiệp.
  • 67.
    58 Để xây dựngvà phát triển thương hiệu, BIDV HCMC cần phải ngày càng hoàn thiện và nâng cao năng lực và uy tín của mình thông qua việc mở rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa các sản phẩm kinh doanh của mình dự trên một quy trình thực hiện nhanh chóng, an toàn, hiệu quả và đặc biệt là phải luôn giữ đúng mọi cam kết với khách hàng. BIDV HCMC cũng cần ngày càng đa dạng hóa các dịch vụ hỗ trợ, mở rộng các kênh thông tin giữa khách hàng với ngân hàng để tạo ra các tiện ích tốt nhất cho khách hàng bên cạnh các sản phẩm kinh doanh truyền thống nhằm đem đến cho khách hàng sự thỏa mãn cao nhất khi đến giao dịch với BIDV HCMC. Bên cạnh đó, BIDV HCMC cần tạo dựng một phong cách kinh doanh và phục vụ khách hàng chuyên nghiệp bằng kỹ năng giỏi, trình độ nghiệp vụ vững vàng, cách thức giải quyết công việc nhanh chóng, hiệu quả và cung cách phục vụ khách hàng ân cần, thân thiện của đội ngũ nhân viên. Cùng với việc xây dựng và phát triển thương hiệu, BIDV HCMC cần đẩy mạnh quảng bá hình ảnh, thông tin về ngân hàng mình đến với đông đảo tầng lớp nhân dân, đến với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế kinh doanh XNK bằng các phương tiện báo,đài, truyền hình, internet, tờ rơi, pano, tài trợ cho các chương trình truyền hình, các áp phích cổ động của chính quyền địa phương, bảo trợ cho các chương trình hội thảo, đặc biệt các hội thảo liên quan đến XNK;  Đây là những hình thức tiếp cận khách hàngkhá sâu rộng và hiệu quả. Những việc này được làm thường xuyên sẽ tạo cho khách hàng một ấn tượng, một sự gợi nhớ về "BIDV HCMC" mỗi khi họ có nhu cầu về vayvốn hoặc có nhu cầu sử dụng một sản phẩm nào đó của ngân hàng. Việc xây dựng và phát triển thương hiệu của ngân hàng cần phải tiến hành thường xuyên, liên tục. Ngân hàng cần quan tâm nhiều đến công tác marketing, phải xem đó là một hoạt động quan trọng trong chiến lược kinh doanh và phát triển của mình, đưa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến với mọi khách hàng, thu hút khách hàng đến với BIDV HCMC và xây dựng mối quan hệ thân thiết, bền vững giữa khách hàng với BIDV HCMC. Trong những năm qua, BIDV HCMC đã bước đầu chú ý đến công tác tiếp thị tìm hiểu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng. Song để tiến tới những thành công lớn hơn BIDV HCMC cần phải xây dựng cho mình một chiến lược Marketing hỗn hợp gồm bốn chính sách lớn:
  • 68.
    59  Chính sáchthông tin, nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra: Thực hiện chính sách này ngân hàng phải nắm bắt được nhu cầu về sản phẩm trên thị trường, xem khách hàng hiện tại, khách hàng tương lai là ai, họ mong muốn điều gì ở các sản phẩm của BIDV HCMC. Qua đó tiến hành phân loại khách hàng theo các mục tiêu cần nghiên cứu và có biện pháp để lôi kéo khách hàng của các ngân hàng đối thủ và xây dựng được mạng lưới khách hàng ổn định.  Chính sách sản phẩm giá cả: BIDV HCMC cần phải tạo ra sự khác biệt về sản phẩm so với các ngân hàng khác thông qua chính sách lãi suất và các dịch vụ hỗ trợ kèm theo như: tư vấn cho khách hàng về thị trường sản phẩm, cung cấp các thông tin về khách hàng cho các doanh nghiệp, chính sách ưu đãi về phí...  Chính sách phân phối: Đây là chính sách nền tảng cho mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng. Thực hiện chính sách này ngân hàng phải xây dựng đượcmạng lưới phân phối phù hợp trên cơ sở quan tâm xem xét đến các yếu tố về địa điểm mở quầy giao dịch, trang bị cơ sở vật chất, bố trí đội ngũ cán bộ...  Chính sách giao tiếp khuyếch trương: Để thực hiện tốt chính sách này Ngân hàng ngoài quảng cáo còn cần phải tiến hành mở rộng các hình thức tín dụng, dịch vụ về xuất nhập khẩu. Công việc này cần phải được thực hiện bởi tất cả các phòng ban, mọi cán bộ nhân viên trong toàn ngân hàng chứ không nên chỉ giới hạn ởbất cứ phòng ban nào. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ giúp cho BIDV HCMC mở rộng được quy mô tài trợ XNK đồng thời sẽ cải thiện được cơ cấu tài trợ xuất nhập khẩu. 3.2.1.2 Thực hiện đa dạng hóa sản phẩm tài trợ xuất khẩu Trong thời gian qua, BIDV HCMC chủ yếu chỉ thực hiện một số phương thức tài trợ xuât khẩu truyền thống như cho vay để sản xuất, gia công, chế biến, kinh doanh hàng xuất, chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất. Do đó khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng còn hạn chế. Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đáp ứng nhu cầu của tình hình mới thì việc đa dạng hoá sản phẩm tài trợ xuất khẩu đang là yêu cầu cấp thiết đối với BIDV HCMC.
  • 69.
    60 Xét trên mặtbằng chung các sản phẩm tài trợ xuất khẩu, BIDV chưa có loại sản phẩm nào riêng biệt. Đây là hạn chế lớn trong việc thu hút thêm khách hàng mới đến với ngân hàng và việc giữ chân được các khách hàng cũ tại BIDV HCMC. Vì vậy, BIDV HCMC cần chủ động đưa ra các sản phẩm mới để BIDV Hội sở chính phê duyệt triển khai. Đối với mỗi loại sản phẩm, các chi nhánh trong hệ thống ngân hàng BIDV đều tuân thủ nghiêm túc các quyết định riêng đã được hướng dẫn. Các quyết định này là thống nhất trên toàn hệ thống BIDV. Do đó, mặc dù ở đâu, kháchhàng cũng nhận được một qui trình thủ tục là như nhau. a) Sản phẩm tài trợ xuất khẩu: Sản phẩm tài trợ xuất khẩu được phân thành hai nhóm sản phẩm chính là: tài trợ trước giao hàng và tài trợ sau giao hàng. - Đối với tài trợ trước giao hàng: nên ưu tiên tài trợ xuất khẩu các loại mặt hàng: gạo, cao su, đồ gỗ, thủy sản, dệt may, da giày, thủ công mỹ nghệ, cà phê, sản phẩm nhựa. - Tài trợ sau giao hàng có mức độ rủi ro thấp hơn, khi các giao dịch hàng hóa đã xảy ra trên thực tế, và giai đoạn còn lại là chờ thanh toán. Trước mắt, để BIDV HCMC có cơ sở thực hiện gói sản phẩm tài trợ xuất khẩu đối trọn gói với một số khách hàng truyền thống sản xuất trong các lĩnh vực dệt may, giày da, thủy hải sản, đề nghị BIDV Hội sở chính sớm ban hành quy định về tài trợ xuất khẩu trước khi giao hàng với những tiêu chí cụ thể như sau: Hình thức tài trợ:  Tài trợ bổ sung vốn lưu động để sản xuất, gia công, chế biến, kinh doanh, dự trữ hàng xuất khẩu trước khi ký hợp đồng xuất khẩu.  Tài trợ khi có hợp đồng: Cho vay vốn lưu động để sản xuất, kinh doanh, chế biến hàng xuất khẩu sau khi ký hợp đồng xuất khẩu. Hợp đồng xuất khẩu: bao gồm các hợp đồng xuất khẩu trực tiếp và hợp đồng xuất khẩu ủy thác qua các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước. Đối tượng tài trợ: Các chi phí nguyên vật liệu đầu vào (kể cả các chi phí gián tiếp liên quan như thuế, phí, lệ phí ...), chi phí nhân công và các chi phí lưu động khác phục vụ việc sản xuất, chế biến, kinh doanh hàng xuất khẩu,...
  • 70.
    61 Phương thức chovay: cho vay theo món hoặc cho vay theo hạn mức  Khách hàng lập phương án kinh doanh (chung hoặc riêng) cho từng đợt dự trữ hoặc từng/các hợp đồng xuất khẩu (có thể gộp các hợp đồng xuất khẩu vào 1 phương án kinh doanh). Trong trường hợp khách hàng sử dụng phương án kinh doanh chung (cho nhiều đợt giải ngân) thì từng lần giải ngân khách hàng phảinêu rõ lần giải ngân đó là theo phương án kinh doanh/hợp đồng xuất khẩu nào.  Lưu ý: với mục đích giải ngân để thực hiện hợp đồng thì yêu cầu khách hàng xuất trình hợp đồng xuất khẩu, trường hợp là giải ngân để dự trữ, yêu cầu khách hàng nộp bổ sung hợp đồng xuất khẩu sau khi giải ngân và kiểm tra mức dự trữ theo phương án kinh doanh của khách hàng phù hợp với định mức dự trữ nguyên liệu của quý trước, năm trước; doanh số xuất khẩu năm trước, kế hoạch sản xuất kinh doanh của quý, năm hiện tại; tình hình thị trường, .... Mức cho vay: Mức cho vay tối đa được quy định theo nhóm khách hàng và hình thức tài trợ, cụ thể như sau: Nhóm khách hàng Mức cho vay Nhóm khách hàng mục tiêu là những doanh nghiệp lớn, có uy tín, chiếm thị phần lớn trong từng ngành hàng; khách hàng xếp loại A trở lên theo hệ thống xếp hạng nội bộ hiện hành của BIDV Nhóm khách hàng xếp loại BBB theo theo hệ thống xếp hạng nội bộ hiện hành của BIDV Nhóm khách hàng BB theo theo hệ thống xếp hạng nội bộ hiện hành của BIDV, khách hàng mới thành lập Tài trợ thu mua, dự trữ 85% chi phí cần thiết thực hiện phương án kinh doanh 75% chi phí cần thiết thực hiện phương án kinh doanh 65% chi phí cần thiết thực hiện phương án kinh doanh Tài trợ khi có hợp đồng xuất khẩu 90% chi phí cần thiết thực hiện phương án kinh doanh 80% chi phí cần thiết thực hiện phương án kinh doanh. 70% chi phí cần thiết thực hiện phương án kinh doanh. Mức cho vay tối đa trên đây không áp dụng trong trường hợp 100% dư nợ vay của
  • 71.
    62 khách hàng đượcđảm bảo bằng các tài sản gồm: số dư trên tài khoản tiền gửi; sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi do BIDV hoặc tổ chức tín dụng khác phát hành; trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc; bất động sản đã thực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý theo quy định hiện hành của BIDV. Thời hạn cho vay: Thời hạn cho vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thanh toán của hợp đồng xuất khẩu (hoặc L/C), khả năng trả nợ của khách hàng nhưng tối đa không quá 12 tháng. Lãi suất cho vay: Trên cơ sở chỉ đạo của hội sở chính về lãi suất cho vay từng thời kỳ và cân đối các lợi ích thu được trong quan hệ với khách hàng, BIDV HCMC đựơc quyền quyết định mức lãi suất cho vay ưu đãi phù hợp và phải theo nguyên tắc rủi ro càng cao thì lãi suất cho vay càng cao. Đảm bảo tiền vay: Thực hiện theo quy định hiện hành về chính sách khách hàng của của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Đối với các khách hàng chưa thỏa mãn điều kiện tài sản đảm bảo theo quy định, có thể bổ sung tài sản như sau:  Thế chấp quyền đòi nợ hình thành trong tương lai từ hợp đồng xuất khẩu: + Đối với Hợp đồng xuất khẩu trực tiếp: Hợp đồng xuất khẩu thanh toán theo phương thức L/C: L/C thỏa mãn các điều kiện sau:  L/C không hủy ngang được phát hành và/hoặc thanh toán bởi ngân hàng có uy tín, không nằm trong danh sách hạn chế quan hệ của BIDV;  L/C trả ngay hoặc trả chậm không quá 360 ngày;  L/C không chứa đựng những yếu tố không rõ ràng ảnh hưởng tới khả năng đòi bồi hoàn hoặc L/C không quy định chứng từ được lập sau khi giao hàng mà khả năng lập chứng từ phụ thuộc vào thiện chí người mở L/C, phụ thuộc vào bên thứ ba khác người XK không thể kiểm soát được tại thời điểm giao hàng (Ví dụ: trường hợp hợp đồng XK thủy sản sang EU, Mỹ thường quy định việc thanh toán theo L/C không chỉ dựa trên sự phù hợp của bộ chứng từ XK mà còn dựa trên kết quả kiểm tra vệ sinh an
  • 72.
    63 toàn thực phẩmcủa cơ quan có thẩm quyền tại nước nhập khẩu hoặc phải xuất trình chứng từ có xác nhận của người mua hàng hoặc đại diện)  Trường hợp nếu L/C chỉ định ngân hàng chiết khấu thì BIDV là ngân hàng được chỉ định chiết khấu. Hợp đồng xuất khẩu thanh toán theo phương thức khác (phương thức nhờ thu, T/T): Áp dụng với một số điều kiện như sau:  Đối tượng khách hàng: Nhóm khách hàng mục tiêu là những doanh nghiệp lớn, có uy tín, chiếm thị phần lớn trong từng ngành hàng; khách hàng xếp loại A trở lên theo hệ thống xếp hạng nội bộ hiện hành của BIDV.  Hợp đồng phải xác định giá trị rõ ràng và phải quy định việc thanh toán chỉ được thực hiện bằng chuyển khoản qua tài khoản của khách hàng mởtại BIDV và không được thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng. Hợp đồng xuất khẩu không quy định việc giao hàng được thực hiện tới quốc gia bị Mỹ và EU cấm vận. + Đối với hợp đồng xuất khẩu ủy thác: Chỉ áp dụng trong trường hợp đối tác nhận ủy thác là các Tổng công ty/Tập đoàn kinh tế nhà nước và phải có vănbản xác nhận, cam kết của các Tổng công ty/Tập đoàn kinh tế nhà nước vềviệc chuyển tiền thanh toán của người mua nước ngoài về duy nhất tài khoản của khách hàng mở tại BIDV và duy trì trong suốt quá trình thực hiện hợpđồng ủy thác XK. + Định giá và hạch toán giá trị tài sản đảm bảo:  Tài sản đảm bảo được định giá căn cứ theo trị giá L/C hoặc hợp đồng XK.  Hạch toán giá trị tài sản đảm bảo: được hạch toán giá trị tài sản đảm bảo trong trường hợp là quyền đòi nợ hình thành trong tương lai từ Hợp đồng XK thanh toán theo phương thức L/C khi khách hàng đã thực hiện giao hàng và xuất trình bộ chứng từ đầy đủ cho BIDV để đòi tiền người nhập khẩu. Hệ số tài sản đảm bảo trong trường hợp này bằng 1.  Thế chấp hàng hóa tồn kho (nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm): + Điều kiện hàng hóa thế chấp:
  • 73.
    64  Hàng hóathế chấp phải có đầy đủ giấy tờ chứng minh thuộc sở hữu của khách hàng vay như Hợp đồng mua bán, hóa đơn, chứng từ nhập kho, ...  Hàng hóa có quy định về tiêu chuẩn ngành thì thành phẩm tồn kho phải có giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn của cơ quan có thẩm quyền. + Cách thức thực hiện  Việc thế chấp hàng hóa tồn kho được thực hiện thông qua hợp đồng thế chấp hàng hóa tồn kho giữa BIDV và khách hàng. Khách hàng cam kếtduy trì lượng hàng tồn kho tối thiểu (tương ứng với dư nợ vay - theochính sách khách hàng)  Khách hàng cam kết không lưu giữ hàng hóa thế chấp quá lâu, ảnh hưởng tới chất lượng, khối lượng hàng hóa (tùy thuộc từng mặt hàng, có thời gian lưu kho nhất định mà không ảnh hưởng tới chất lượng, khối lượng hàng hóa, khi đó khách hàng cam kết không được lưu giữ hàng hóa quáthời hạn này). + Định giá tài sản đảm bảo: Đối với hàng hóa là nguyên liệu: Giá trị định giá được xác định trên cơ sở lấy giá thấp hơn trong 2 mức giá:  Giá mua đầu vào của hàng hóa cùng loại trên thị trường trong nước.  Giá mua đầu vào của khách hàng: Căn cứ theo trị giá hóa đơn, chứng từ thu mua của khách hàng. Đối với hàng hóa là thành phẩm, bán thành phẩm: Giá trị định giá được xác định căn cứ theo:  Giá thị trường của thành phẩm.  Giá trị nguyên vật liệu, vật liệu phụ cấu thành lên thành phẩm, bán thành phẩm. Chứng từ giải ngân, kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay và dòng tiền: + Trước khi giải ngân: khách hàng cung cấp hợp đồng mua bán hoặc bảng kê mua hàng. + Sau khi giải ngân:
  • 74.
    65  Tối đa15 ngày, khách hàng cung cấp hóa đơn, chứng từ nhập kho.  Sau khi xuất hàng ra khỏi kho để xuất khẩu tối đa 15 ngày, khách hàng phải hoàn tất bộ chứng từ xuất khẩu để gửi cho BIDV đòi tiền người nhập khẩu đối với phương thức thanh toán là L/C và nhờ thu; hoặc gửi bản sao bộ chứng từ đòi tiền người nhập khẩu thanh toán theo phương thức T/T cho BIDV để biết và theo dõi việc thanh toán.  Mở sổ theo dõi và tiến hành kiểm tra thực tế tình hình thực hiện hợp đồng xuất khẩu của khách hàng phù hợp với tiến độ giải ngân hoặc tối thiểutheo định kỳ 01 tháng/lần đảm bảo: giải ngân cho vay đúng mục đích và dòng tiền thanh toán của đối tác nước ngoài phù hợp với tiến độ xuấthàng, tiến độ thanh toán của hợp đồng xuất khẩu. b) Phát triển sản phẩm bao thanh toán: Việc áp dụng phương thức bao thanh toán sẽ giúp BIDV HCMC có điều kiện mở rộng, đa dạng hóa các sản phẩm, mở rộng khách hàng và quy mô của tài trợ xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, BIDV HCMC cần lưu ý những điểm sau để phòng ngừa các rủi ro của hoạt động bao thanh toán: - Rủi ro từ người bán hàng: Vì đơn vị bao thanh toán sẽ chính là BIDV HCMC và người bán (bên xuất khẩu) sẽ chính là khách hàng vay vốn với điều kiện đảm bảo khoản vay là các khoản phải thu của khách hàng đối với bên mua. Rủi ro từ phía khách hàng có thể xảy đến ở một số trường hợp cơ bản: + Người bán cố tình, chủ động sử dụng hóa đơn, chứng từ giả, hợp đồng ma… để lừa ngân hàng. Để thực hiện được ý đồ trên đòi hỏi phải có một hệ thống mắt xích cấu kết thực hiện, có thể là người mua và người bán thông đồng với nhau, tạo ra các chứng từ, các khoản phải thu mà thực tế không hề có. + Người bán kém năng lực quản lý, điều hành, chiến lược phát triển… kéo theo các sản phẩm của bên bán không đủ hoặc không đạt yêu cầu không đáp ứng đượcchất lượng đề ra. Giá trị các khoản phải thu theo hợp đồng khi ký lại vì thế sẽ nhỏ hơn phần giá trị cho vay ứng trước của ngân hàng cho bên bán hàng vì vậy ngânhàng có thể sẽ phải gánh chịu rủi ro.
  • 75.
    66 - Rủi rotừ phía người mua hàng: + Năng lực tài chính của người mua hàng nếu vì một lý do gì mà bị giảm sút dẫn đến mất khả năng thanh toán thì khi đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi trả đối với BIDV HCMC. + Rủi ro đạo đức của bên mua hàng: Vì bên mua hàng là bên thứ ba đối với BIDV HCMC nên quá trình tiếp cận với họ sẽ có nhiều điểm không thuận lợi. Nếu bên mua hàng có dụng ý lừa đảo, chiếm đoạt hàng mua, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ thìđồng nghĩa với việc rủi ro xảy ra đối với BIDV HCMC. - Rủi ro từ chất lượng thẩm định của BIDV HCMC: Nếu quá trình phân tích khách hàng, phân tích các khoản phải thu của hoạt động bao thanh toán thực hiện không chính xác sẽ dẫn đến đánh giá không đúng về khoản phải thu thì có thể sẽ phát sinh rủi ro cho ngân hàng. c) Triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là hình thức bảo đảm tài chính cho nhà xuất khẩu trong các hợp đồng xuất nhập khẩu có điều kiện thanh toán theo hình thức tín dụng mở (open account) trước rủi ro nợ xấu, mất khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu do mất khảnăng thanh toán, phá sản hoặc vì bất ổn chính trị tại quốc gia nhập khẩu. Không chỉ đóng vai trò là công cụ che chắn và giảm thiểu rủi ro cho nhà xuất khẩu, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu còn tạo ra lợi thế cạnh tranh rõ rệt cho nhà xuất khẩu trong việc chủ động cung cấp tín dụng cho người mua (không có được ở các phương thức thanh toán L/C, thanh toán trả trước), tự tin khi xâm nhập thị trường xuất khẩu mới, tăng năng lực tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng và tổ chức tài chính, qua đó phát huy tối đa năng lực sản xuất và cung cấp hàng hoá dịch vụ, mở rộng thị trường. Tuy nhiên, loại hình bảo hiểm này hiện rất ít doanh nghiệp biết đến và tham gia rất ít. Thị trường bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hiện chủ yếu do công ty bảo hiểm nước ngoài nắm giữ. Việc tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ giúp giảm bớt rủi ro cho các doanh nghiệp cũng như hoạt động cho vay của BIDV HCMC.
  • 76.
    67 3.2.1.3 Thực hiệnđa dạng hoá khách hàng Trong cơ cấu dư nợ của BIDV HCMC, cho vay doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm tỉ trọng cao (trên 70%). Để nâng cao được chất lượng thì BIDV HCMC cần thiết phải đa dạng hoá khách hàng, bởi vì thay đổi cơ cấu khách hàng có liên quan chặt chẽ đến khả năng phòng chống rủi ro tín dụng. Hơn thế, đa dạng hoá khách hàng sẽ đem lại chongân hàng một thị trường rộng hơn trong hoạt động tín dụng và qua đó tăng trưởng được tín dụng, nâng cao được lợi nhuận cho ngân hàng. Thông qua việc sở hữu đối tượng khách hàng đa dạng, BIDV HCMC góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế khác đặc biệt là các cơ sở kinh doanh, chế biến, sản xuất sản phẩm xuất khẩu có quy mô nhỏ. Để mở rộng được đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, BIDV HCMC cần phải điều chỉnh chính sách khách hàng linh hoạt, xây dựng hệ thống đánh giá khách hàng riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa để có chính sách tín dụng phù hợp với đối tượng khách hàng này. Các chính sách để thu hút đối tượng khách hàng này là: chính sách ưu đãi về lãi suất, phí thanh toán, cơ chế bảo đảm tiền vay và điều kiện về vốn tự có tham gia vào phương án kinh doanh… 3.2.1.4. Đẩy mạnh các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu Cùng với sự phát triển của hoạt động ngoại thương của Việt Nam, nhu cầu về tài trợ tín dụng của các doanh nghiệp XNK ngày càng đa dạng. Cùng với các hình thức giao hàng,có rất nhiều loại chi phí phát sinh mà ngân hàng có thể tài trợ cho doanh nghiệp được như cước phí vận tải quốc tế, thuế nhập khẩu phải nộp ở nước ngoài, chi phí dịchvụ khai báo hải quan, chi phí kho bãi, phân loại hàng hóa, chi phí vận chuyển nội địa ở nước ngoài, Thông thường các đại lý giao nhận hàng hóa XNK sẽ chi trả những chiphí này và ghi nợ cho doanh nghiệp. BIDV HCMC cần nghiên cứu liên kết hợp tác với các đại lý vận tải, giao nhận hàng hóa XNK để cung cấp sản phẩm tài trợ trọn gói cho các doanh nghiệp XNK, từ chi phí chuẩn bị cho sản xuất hàng xuất khẩu đến các chiphí như chi phí vận chuyển, phí bảo hiểm, nộp thuế nhập khẩu, chi phí dịch vụ giaonhận hàng hóa, Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế có liên quan trực
  • 77.
    68 tiếp đến hoạtđộng tài trợ XNK. Mua bán ngoại tệ sẽ tác động đến trạng thái ngoại tệ của ngân hàng do vậy tác động đến nguồn vốn ngoại tệ cho XNK đặc biệt là nhập khẩu. Vì vậy, BIDV HCMC cần tích cực mở rộng thị phần, tăng cường phát triển khách hàng xuất nhập khẩu mới về giao dịch mua bán ngoại tệ với mình. Đặc biệt là nhóm doanh nghiệp XNK nhỏ và vừa, có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán quốc tế. Ngoài ra, để nâng cao tỷ lệ tự cân đối ngoại tệ USD, BIDV HCMC cần thu hút thêm khách hàngxuất khẩu; Tích cực tìm kiếm các khách hàng có nguồn thu hoặc nhu cầu thanh toán, trả nợ ngoại tệ khác USD (vì lợi nhuận thu được từ việc mua bán ngoại tệ của 1 đồng ngoại tệ khác USD lớn hơn hàng chục lần lợi nhuận thu được trên 1 đồng USD). Thanh toán quốc tế tác động đến chất lượng tài trợ xuất nhập khẩu thông qua việc đáp ứng kịp thời về thời gian thanh toán (nhận thanh toán) của khách, nó là một phần của nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu ở khâu thanh toán. Thực hiện việc thanh toán nhanh chóng kịp thời không chỉ nâng cao uy tín cho ngân hàng mà còn hạn chế được tổn thấtdo yếu tố chủ quan và nhờ đó nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng. Ngoài ra, ngân hàng còn có thể tận dụng kiến thức và mối quan hệ của mình để phát triển các dịch vụ liên quan đến xuất nhập khẩu như: dịch vụ giao nhận xuất nhập khẩu, môi giới cho các hãng tàu, mua – bán bảo hiểm hàng hóa liên quan đến L/C… Đặc biệt, một nhu cầu thực sự phát sinh từ khách hàng mà BIDV HCMC hiện nay chưa có dịchvụ để đáp ứng là: một số doanh nghiệp xuất khẩu không thường xuyên, hoặc không có kinh nghiệm trong hoạt động XNK có nhu cầu nhờ ngân hàng lập hộ bộ chứng từ xuất khẩu. Đây cũng là một loại hình dịch vụ nên khi thực hiện, trước mắt là đáp ứng nhu cầu, sau là tạo sự yên tâm tin tưởng nơi khách hàng, tăng thu phí dịch vụ cho ngân hàng. Các chuyên viên nghiệp vụ có chuyên môn cao, trong quá trình lập chứng từ sẽ tránh đi rất nhiều sai sót, tiết kiệm thời gian cho khách hàng, đồng thời nếu khách hàngcó nhu cầu chiết khấu chứng từ, thì việc chiết khấu chứng từ của ngân hàng sau đó cũng sẽ rất nhanh chóng, thuận lợi hơn cho khách hàng. Hơn nữa, trong quá trình theo sát khách hàng để lập chứng từ xuất khẩu đó, ngân hàng cũng sẽ kịp thời phát hiện để tư vấn cho khách hàng biện pháp xử trí, đối phó với các vấn đề có liên quan tới việc không thực hiện được đúng nghĩa vụ hợp đồng của khách hàng, qua đó, ngân hàng cũng đảm bảo thu hồi được tiền đã tài trợ cho khách hàng khi làm hàng xuất khẩu.
  • 78.
    69 3.2.1.5 Nâng caotrình độ đội ngũ chuyên viên tài trợ xuất nhập khẩu Phần lớn chuyên viên quan hệ khách hàng của BIDV HCMC ít am hiểu về lĩnh vực ngoại thương, cụ thể là thanh toán quốc tế và nghiệp vụ XNK. Thực tế ở BIDV HCMC cho thấy, thường một cán bộ quan hệ khách hàng phải mất tối thiểu 2 năm mới có khả năng nắm và triển khai công việc của hoạt động tài trợ XNK. Để phát triển hiệu quả hoạt động tài trợ XNK, bên cạnh việc không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho chuyên viên, BIDV HCMC cần trang bị, bồi dưỡng kiến thức về lĩnh vực kinhtế ngoại thương, về nghiệp vụ nhập khẩu cho các chuyên viên quan hệ khách hàng đểhọ có thể hiểu và nắm bắt được nhu cầu của khách hàng từ đó có thể tư vấn và hỗ trợ hiệu quả hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh XNK của doanh nghiệp. Chuyên viên quan hệ khách hàng không phải là người chỉ biết cho vay mà phải còn là người bạn đồng hành, sát cánh cùng doanh nghiệp, hiểu và tư vấn, hỗ trợ kịp thời những nhu cầu thiết thực của doanh nghiệp. Mặt khác, trên cơ sở nền tảng kiến thức được trang bị tốtvề XNK, các chuyên viên quan hệ khách hàng sẽ dễ dàng theo dõi, kiểm tra tình hìnhhoạt động sản xuất kinh doanh XNK của doanh nghiệp, hiểu được những khó khăn cũng như thuận lợi mà doanh nghiệp đang có, từ đó giúp phát hiện và xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh, đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Để các chuyên viên có thể vừa nghiên cứu vừa triển khai công việc thì ngoài sự hiểu biết về hoạt động kinh doanh XNK và các kiến thức kinh tế liên quan họ còn phải thông thạo ngoại ngữ, vi tính, kỹ năng bán hàng tốt . Để nâng cao chất lượng tài trợ xuất nhập khẩu, việc tăng cường đào tạo nâng cao trình độ cho chuyên viên quan hệ khách hàng là đòi hỏi cấp thiết. Cụ thể là BIDV HCMC cần tạo điều kiện cho chuyên viên tham gia các chương trình đào tạo về những mặt sau:  Ngoại ngữ ngoại thương, các ứg dụng vi tính liên quan đến công việc  Các khoá học về qui chế, yêu cầu và hướng dẫn thực hiện hoạt động tín dụng quốc tế.  Các khoá học về thẩm định dự án, phân tích tín dụng, ứng dụng marketing vào hoạt động ngân hàng.  Các khoá học về qui chế tổ chức và các vấn đề liên quan đến hoạt động thương mại, kinh tế quốc tế.
  • 79.
    70  Các vấnđề có liên quan đến đồng tài trợ, tài trợ cho dự án bằng đồng EURO...  Tham gia trao đổi hoạt động nghiệp vụ xuất nhập khẩu với các chuyên gia trong lĩnh vực XNK của các ngân hàng trong nước và quốc tế có quan hệ với BIDV. Nếu có điều kiện nên cử một số cán bộ sang đào tạo ở nước ngoài. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ XNK, cần phải nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh tóan quốc tế để ngăn ngừa rủi ro tác nghiệp bằng cách duy trì ổn định đội ngũ cán bộ làm thanh toán quốc tế, có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng thay thế, trách đểtỉ lệ cán bộ mới quá nhiều dẫn đến không tích luỹ được kinh nghiệm và kiến thức đểthực hiện giao dịch và có khả năng tư vấn cho khách hàng. 3.2.1.6 Ứng dụng công nghệ trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu Tuy được đánh gía là một trong những ngân hàng đi đầu trong lĩnh vực công nghệ, nhưng cũng như các ngân hàng thương mại khác ở Việt Nam, quá trình hiện đại hoá công nghệ ở BIDV được tiến hành từng bước và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cụ thể chứ chưa lập thành một kế hoạch chiến lược tổng thể. Vì vậy, trong thời gian tới để cóthể đứng vững trong môi trường cạnh tranh trên thị trường tài chính - tiền tệ, BIDV HCMC cần thực hiện một số giải pháp về công nghệ như sau:  Tận dụng tối đa công suất của hệ thống máy móc hiện có, giảm thiểu các công việc giấy tờ bằng cách chuyển sang sử dụng quản lý trên hệ thống máy vi tính và thông qua mạng máy tính.  Trang bị cơ sở vật chất hiện đại, với các máy móc áp dụng công nghệ tiên tiến, với hệ thống máy vi tính được nối mạng có thể giúp cho các chuyên viên ngân hàng cập nhật thông tin thường xuyên: các thông tin về tỷ giá, lãi suất, thông tin về đối tác, định giá tài sản…để có thể tránh được những rủi ro trong kinh doanh và có thể đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.  Xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin làm nền tảng cho các ứng dụng và dịch vụ ngân hàng.  Tăng cường công tác bảo mật trong việc quản lý, cung cấp thông tin của khách hàng đang có quan hệ tại BIDV HCMC.
  • 80.
    71  Trong thờigian vừa qua, đã có một số ngân hàng mạnh dạn thử nghiệm và cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử cho khách hàng, mang lại sự thuận tiện, hiệu quả rất lớn cho khách hàng, ngân hàng và xã hội. Để phát triển ngân hàng điện tử đáp ứng nhu cầu nhanh chóng, an toàn cho cả khách hàng và ngân hàng đòi hỏi nhiều yếu tố như con người, cơ sở hạ tầng, chất lượng truyền thông… Tuy nhiên, cómột số thủ tục liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu tại BIDV HCMC có thể nghiên cứu để triển khai ngay dịch vụ ngân hàng điện tử, khách hàng không cần đến ngân hàng cũng có thể thực hiện các giao dịch sau: + Khách hàng có thể đăng ký mở và tu chỉnh L/C nhập khẩu qua. + Lưu trữ, xem lại các giao dịch XNK đã thực hiện giữa khách hàng và ngân hàng. + Lưu trữ thư tín dụng đã phát hành đối với từng hợp đồng. 3.2.1.7 Tăng cường nguồn thông tin liên quan đến hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu. Vì hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu liên quan đến đối tác nước ngoài cũng như các quốc gia khác nhau nên nguồn thông tin cho các bên tham gia là hết sức quan trọng và cần thiết. Chất lượng nguồn thông tin là yếu tố quyết định đến hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng. Thông tin luôn luôn phải cập nhật, nhanh, và chính xác để từ đó ngân hàng có những phản ứng kịp thời tránh được những rủi ro xảy ra đối với cả ngân hàng và khách hàng. Nội dung của các thông tin này mà ngân hàng cần quan tâm:  Thông tin liên quan đến các tổ chức tài chính trên thế giới, các cơ quan có uy tín (IMF, WB. ADB ) đánh giá được mức độ ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của ngân hàng nói chung cũng như của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu nhằm giảm thiểu rủi ro quốc gia.  Các nguồn thông tin liên quan đến tỷ giá trên thị trường, diễn biến của tỷ giá, chính sách ngoại hối của các quốc gia trên thế giới. Xác định các yếu tố tác động đến tỷ giá như cán cân thanh toán của một loại tiền tệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất tăng, lạm phát, những yếu tố chính trị hoặc tâm lý...  Nguồn thông tin nhằm hạn chế rủi ro khách hàng. Bản thân mỗi ngân hàng chủ động tự tìm hiểu về khách hàng của mình để có được những thông tin chính xác.
  • 81.
    72 Ngoài ra BIDVHCMC có thể thông qua ngân hàng bạn tìm hiểu về khách hàng của mình, mức độ uy tín khách hàng, quan hệ tín dụng với những ngân hàngkhác. Bằng những đánh giá khách quan thực tế từ những cơ quan ban ngành liên quan giúp cho BIDV HCMC nhận định đúng và quyết định giao dịch hay không giao dịch với khách hàng.  Nguồn thông tin về đối tác nước ngoài của khách hàng: đặc thù của hoạt động tài trợ XNK là đối tác của khách hàng là các doanh nghiệp ở nước ngoài, do đó khách hàng cũng như ngân hàng rất hạn chế trong việc tìm hiểu thông tin về các doanh nghiệp đó, chính vì thế BIDV HCMC cần phải có các kênh để tìm hiểu thống tin (năng lực tài chính kinh doanh, uy tín trong làm ăn) để có thêm cơ sở đánh giá trong quá trình thẩm định cũng như phục vụ nhu cầu tìm hiểu thông tinvề đối tác nước ngoài của khách hàng. Để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng XNK, chuyên viên quan hệ khách hàng cần chú ý các vấn đề sau:  Về đối tác: Đối với khách hàng trong nước, chuyên viên quan hệ khách hàng ngay từ khi tiếp xúc khách hàng phải tìm hiểu kỹ về khách hàng vay vốn nhập khẩu hay xuất khẩu mặt hàng gì? Mặt hàng kinh doanh đó có những đặc thù gìvà khách hàng đã có kinh nghiệm trong kinh doanh XNK hàng hoá đó chưa? Những câu hỏi này rất quan trọng để ngân hàng xem xét có tiếp tục phải tìm hiểu đối tác là nhà cung cấp không? Việc tìm hiểu thông tin nhà cung cấp hoặc nhà nhập khẩu nước ngoài khi giao dịch lần đầu với giá trị hợp đồng lớn là cần thiếtvà ngân hàng cần yêu cầu khách hàng tìm hiểu. Điều này chuyên viên quan hệ khách hàng cần đề nghị khách hàng làm để bảo vệ quyền lợi của chính họ. BIDV HCMC có thể thông qua các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức xếp hạng , các tổ chức đánh giá để mua thông tin tuy nhiên việc tìm hiểu thông tin khách hàng là công việc rất tốn thời gian và chi phí.  Về thị trường và hàng hóa: cần theo dõi phân tích thị trường đối với từng mặt hàng XNK gọi là tín dụng hàng hoá (commodities loan) mỗi mặt hàng có vòng đời sản phẩm, vòng quay vốn, cũng như những đặc tính riêng về thanh toán, vậntải và những qui định riêng. Ví dụ đồ gỗ vào Châu Âu thì phải có giấy chứngnhận gỗ nguyên liệu từ rừng trồng được khai thác, thuỷ sản vào Mỹ hay EU phải
  • 82.
    73 có giấy kiểmđịnh y tế, nhập khẩu xăng dầu có đặc điểm trị giá của lô hàng rất lớn (lên tới 10-12 triệu USD) trong khi giá cả không cố định, thường được tính bằng giá trung bình trong 5 ngày (lấy ngày giao hàng làm ngày ở giữa)…  Về cách thức giao hàng: Căn cứ điều khoản thương mại mà khách hàng kí kết trong hợp đồng để có biện pháp phòng ngừa, ví dụ: nếu khách hàng nhập khẩu bằng giá FOB, CNF cần yêu cầu mua bảo hiểm trên đường, nếu nhập hàng qua đường bộ, qua biên giới cần có biên bản giao nhận giữa người mua người bán…  Về loại tiền giao dịch: Ngay khi xem xét hồ sơ cho vay nhập hoặc xuất, nếu ngoại tệ cho vay khác ngoại tệ thanh tóan, cần tính đến vấn để biến động của tỷ giá, và khả năng chuyển đổi khi đến hạn thanh tóan. Do vậy nên tư vấn cho khách hàng sử dụng những dịch vụ phái sinh như giao dịch kỳ hạn, hóan đổi tiền tệ, quyền chọn...của BIDV HCMC để phòng ngừa rủi ro ngoại hối, rủi ro lãi suất. 3.2.1.8 Tiêu chuẩn hóa phòng kinh doanh ngoại tệ, thành lập tổ phát triển các sản phẩm phái sinh. Hiện nay BIDV HCMC chưa có phòng kinh doanh ngoại tệ và phát triển các sản phẩm phái sinh, đó là một khó khăn lớn trong việc thực hiện các giao dịch liên quan ngoại hối và các sản phẩm phái sinh. Trong khi đó, để kinh doanh ngoại hối và tư vấn các khách hàng trong các nghiệp vụ liên quan đến sản phẩm phái sinh XNK, cần phải có trang thiết bị và công nghệ hiện đại để kết nối được với hệ thống thông tin toàn cầu để bắt kịp những diễn biến của thị trường. Thị trường liên quan đến ngoại hối là một thị trường mang tính cạnh tranh cao, tính thanh khoản lớn, trong khi đó kinh doanh ngoại tệ là một hoạt động chứa đựng rủi ro, thông tin sẽ trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu. Nhưng việc xử lý thông tin để có được kết quả phù hợp lại là quan trọng hơn, việc này nằm ởkỹ năng phân tích và ra quyết định của đội ngũ nhân viên bán hàng. Vì vậy, cần đào tạo thường xuyên nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, trình độ chuyên môn, kỹ thuật kinh doanh ngoại hối cho chuyên viên. 3.2.1.9 Nâng cao khả năng huy động vốn
  • 83.
    74 Nguồn vốn –đặc biệt là nguồn ngoại tệ chính là điều kiện đầu tiên để BIDV HCMC mở rộng tín dụng nói chung và tài trợ xuất nhập khẩu nói riêng. Tuy nguồn vốn huy động lớn nhưng nguồn vốn huy động từ dân cư chiếm tỷ trọng không cao (chỉ khoảng 13%- 27% trong cơ cấu huy động của BIDV HCMC thời gian qua), nên tính ổn định của nguồn vốn huy động không cao. Vì vậy, BIDV HCMC phải đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, tìm cách thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, cụ thể: - Tạo sự quan tâm đối với người gửi tiền: lãi suất cao chính là một động lực để thu hút tiền gửi của các tổ chức kinh tế và tiền tiết kiệm của cá nhân. Do đó việc đa dạng hoá các kỳ hạn gửi, đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi và lãi suất sẽ thu hút được lượng khách hàng dân cư. Việc nâng lãi suất tiền gửi cao hơn so với các ngân hàng thươngmại khác hoặc có một chương trình khuyến mại hấp dẫn sẽ kéo thêm nhiều khách hàng đến với BIDV HCMC. Đối với loại tiết kiệm có kỳ hạn, nếu do cần thiết mà khách hàng phải rút ra thì có thể cho họ hưởng lãi suất không kỳ hạn. Đối với tiền gửi thanh toáncủa doanh nghiệp, ngoài việc hưởng lãi suất quy định, nếu số dư tiền gửi bình quân của doanh nghiệp đó luôn duy trì ở mức cao trong thời gian dài thì sẽ có chính sách ưu đãi về tín dụng (giảm lãi suất cho vay), ưu đãi về dịch vụ (giảm phí chuyển tiền), ưu đãi về chính sách mua bán ngoại tệ…. Đối với các doanh nghiệp không có quan hệ tín dụng,sẽ không được hưởng lợi về lãi suất vay thì có thể thực hiện miễn phí, giảm phí cho các dịch vụ thanh toán quốc tế, chuyển tiền, nhờ thu…. - Tạo niềm tin cho khách hàng: Để làm được điều này, BIDV HCMC phải có những nhà quản lý giỏi thể hiện cho công chúng biết rằng BIDV HCMC luôn hoạt động ổn định, các giao dịch tại BIDV HCMC luôn được tiến hành một cách chính xác, lành mạnh. Đồng thời phải cung ứng cho khách hàng nhiều dịch vụ tiện lợi, thủ tục nhanh chóng. - Đa dạng hoá các hình thức huy động nguồn vốn trung và dài hạn với nhiều kỳ hạn khác nhau. Thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Ví dụ: đưa ra các hình thức phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn dài hạn trên 12 tháng với lãi suất huy động cao và quà tặng hấp dẫn. - Tìm hướng khai thác nguồn tín dụng xuất nhập khẩu bằng hiệp định khung. - Chủ động đàm phán ký kết các khoản vay hợp vốn, các giao dịch mua bán ngoại tệ để phục vụ cho hoạt động thanh toán quốc tế và tài trợ xuất nhập khẩu.
  • 84.
    75 3.2.2 Đối vớiNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 3.2.2.1 Xây dựng chiến lược phát triển tài trợ xuất nhập khẩu Trên cơ sở những điều kiện đã có, BIDV cần xây dựng một chiến lược dài hạn để định hướng cho hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu phát triển, trong đó cần nghiên cứu chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với phát triển từng ngành hàng, từng lĩnh vực để định hướng cho hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu. Hiện nay, thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam là các sản phẩm: dệt may, thủy hải sản, gạo, cà phê, cao su... Tuy nhiên, theo quy định của BIDV hội sở chính thì các chi nhánh không được cho vay ngoài địa bàn đóng trụ sở, nên BIDV HCMC không thể cho vay kinh doanh, chế biến đối với các sản phẩm là thủy hải sản, gạo, cà phê ... được vì đâylà khách hàng của các chi nhánh thuộc các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên. Do vậy, để tận dụng lợi thế nguồn vốn mạnh của BIDV HCMC, BIDV HCMC đang có chiến lược hướng đến các khách hàng là doanh nghiệp là đầu mối thu gom nông sản, hải sản xuất khẩu tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh như Tổng Công ty lương thực miền nam (Vinafood), Tổng Công ty cà phê... Vì đây là khách hàng lớn và có tiềm năng, trước mắt, đề nghị BIDV hội sở chính có chính sách thu hút khách hàng này, áp dụng cho các khách hàng này mức vay và chính sách đảm bảo tín dụng linh hoạt (tín chấp, thế chấp quyền đòi nợ, hàng hóa tồn kho với thủ tục đơn giản), chính sách ưu đãi về phí (có thể áp dụng phí 0% trong 6 tháng đầu tiên giao dịch) để dần dần thu hút khách hàng. 3.2.2.2 Hoàn thiện cơ chế đánh giá phân loại và xếp hạng tín dụng đối với doanh nghiệp để có chính sách phục vụ hợp lý BIDV hội sở chính cần hoàn thiện cơ chế đánh giá, phân loại và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp hợp lý, phản ánh chân thật quy mô, vị thế, vai trò, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, uy tín, kinh nghiệm quản lý, triển vọng phát triển, của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Các số liệu đánh giá phải thực tế, tránh việc chỉ tham khảo qua giấy tờ đã đăng ký hoặc do doanh nghiệp khai báo. Các tiêu chí để đánh giá doanh nghiệp và tỷ trọng của từng tiêu chí phải thật hợp lý và khoa học,
  • 85.
    76 tiến đến phùhợp với phương pháp xếp hạng tín dụng theo chuẩn mực quốc tế. Việc đánh giá, phân loại và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhằm nắm bắt, hiểu biết cặn kẽ về khách hàng, lường trước mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp để có chínhsách phục vụ hợp lý hoặc có biện pháp hạn chế khi cho vay. Những doanh nghiệp tốt,có điểm tín dụng cao cần có chính sánh ưu đãi hợp lý để khuyến khích như chính sáchưu đãi về lãi suất, chấp nhận tỷ lệ cho vay trên tài sản đảm bảo cao hơn, chấp nhận mức ký quỹ thấp, chấp nhận giao dịch qua fax để công việc được thực hiện nhanh chóng, Ngược lại, đối với những doanh nghiệp có điểm tín dụng thấp, mức độ rủi ro tài chính cao, khi cho vay cần cân nhân nhắc nhiều biện pháp hạn chế rủi ro để đảm bảo khả năng thu hồi nợ cho ngân hàng. 3.2.2.3 Ban hành chính sách tài trợ xuất nhập khẩu mang tính chất mở để thu hút khách hàng nhanh chóng Hiện nay, khi tài trợ xuất nhập khẩu đã là thế mạnh của các Ngân hàng thương mại cổ phần thì tại BIDV HCMC quy mô của sản phẩm này còn kém phát triển, quy trình thực hiện chậm đổi mới (từ năm 2005 đến nay vẫn chưa ban hành quy trình bổ sung để cảitiến thủ tục). Vì vậy, trong giai đoạn này, BIDV cần ban hành một quy trình tín dụngxuất nhập khẩu đi kèm các sản phẩm phái sinh hỗ trợ theo hướng mở, đơn giản hóa thủ tục. Trong giai đoạn này, không nên đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu mà phải làm cho khách hàng thấy được lợi ích của BIDV mang lại cho khách hàng trong việc tài trợ xuất nhập khẩu, quản lý rủi ro tỷ giá, lãi suất để từ đó doanh nghiệp làm quen và sửdụng thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Trước mắt, để đáp ứng nhu cầu của BIDV HCMC, kiến nghị BIDV hội sở chính triển khai các sản phẩm tài trợ xuất khẩu như sau: 3.2.3. Giải pháp vĩ mô đối với Chính phủ và Ngân hàng nhà nước 3.2.3.1 Bổ sung, hoàn thiện các văn bản, cơ chế chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK nhằm tạo hành lang pháp lí an toàn cho các doanh nghiệp và ngân hàng trong hoạt động kinh doanh XNK.
  • 86.
    77 Để đảm bảotín dụng tài trợ XNK của NHTM có hiệu quả, trước hết chính sách XNK cần được hoàn thiện đồng bộ với chiến lược phát triển và kế hoạch của nền kinh tế quốc dân. Rà soát lại khả năng của các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh XNK và cho phép các doanh nghiệp có hàng XNK ổn định được phép XNK trực tiếp. Bộ thương mại cần quy định trách nhiệm cho các cơ quan cấp giấy phép đối với chất lượng và giá cả hàng hoá nhập khẩu, đặc biệt là thiết bị công nghệ. Bên cạnh đó, việc thực hiện gắt gao rà soát, kiểm tra chất lượng sản phẩm phải được tăng cường, nhằm thắt chặt hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng xuất khẩu trong nước, cũng như giữ vững gia tăng uy tín của sản phẩm Việt Nam trên trường quốc tế. Từng bước đưa ra các văn bản quy phạm pháp luật vào thực tiễn sản xuất xã hội bằng việc triển khai nghiệm minh và đồng bộ giữa các cơ quan hành pháp, bắt đầu từ công an, hải quan, biên phòng, thuế vụ. Triệt để ngăn chặn các hoạt động buôn lậu trốn thuế, làm hàng giả gây hậu quả trực tiếp và gián tiếp đến tài trợ XNK của ngân hàng. 3.2.3.2 Thành lập quỹ bảo hiểm xuất khẩu: Xuất phát về tính rủi ro cao về giá cả thị trường quốc tế, cần thiết lập quỹ này để các nhà xuất khẩu yên tâm ổn định sản xuất và một phần giúp đỡ họ khi gặp rủi ro bất lợi. Quỹ này có thể vận động theo nguyên tắc: Bộ công thương và các cơ quan quản lý cóliên quan sẽ tiến hành khảo sát thị trường để định ra một mức giá trị bảo hiểm nhất định sao cho nhà xuất khẩu có thể thu hồi vốn đầu tư, trang trải các chi phí và có được một phần lợi nhuận hợp lí. 3.2.3.3 Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường trong và ngoài nước Để giúp các doanh nghiệp nắm bắt được thông tin kịp thời chính xác phục vụ cho việc ra các quyết định về sản xuất, đầu tư, đồng thời để định hướng thị trường cho các doanh nghiệp và ngân hàng. Nhà nước cần xây dựng một hệ thống thông tin thị trường trong và ngoài nước một cách chính xác và đầy đủ. Chẳng hạn có thể lập một chương trình truyền hình riêng về thông tin thị trường cập nhật. 3.2.3.4 Xây dựng và hoàn thiện quy chế cấp tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu rõ ràng, hợp lý, thuận lợi theo hướng "mở" đối với doanh nghiệp để khuyến khích thúc đẩy hoạt
  • 87.
    78 động tài trợxuất nhập khẩu. NHNN cần ban hành quy chế riêng về hoạt động tài trợ XNK, tăng cường sự hỗ trợ ở tầm vĩ mô cho hoạt động XNK của các doanh nghiệp. Do các doanh nghiệp XNK mang những đặc thù kinh doanh có nhiều điểm khác biệt so với các ngành nghề khác, liênquan đến nhiều lĩnh vực như: liên quan đến hoạt động đầu tư, bảo lãnh, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ, vận tải quốc tế, có sử dụng các sản phẩm dịch vụ ở nước ngoài,thực hiện nghĩa vụ tài chính ở nước ngoài, chiết khấu bộ chứng từ thanh toán, Cáchình thức tài trợ cho hoạt động XNK của các doanh nghiệp vì vậy cũng cần phải đadạng, linh hoạt, đơn giản thủ tục, nhanh chóng và hiệu quả. Sản phẩm tài trợ phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu phát sinh của doanh nghiệp trong thực tế thực hiện việc XNK hàng hoá. Chính sách khuyến khích phát triển thương mại quốc tế đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu của chính phủ cần gắn kết với những hình thức ưu đãi cụ thể trong đó có chính sách ưu đãi về tín dụng, về lãi suất. NHNN cần có chính sách hỗ trợ về nguồn vốn để tài trợ XNK ở các NHTM đối với các ngành nghề có khả năng cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới, tăng cường quản lý và có biện pháp khuyến khích kịp thời đối với các doanh nghiệp XNK. Dựa trên cơ chế chính sách rõ ràng và định hướng phát triển cụ thể của nhà nước và NHNN đối với hoạt động XNK của Việt Nam, các NHTM sẽ xây dựng quy chế tài trợ XNK phù hợp hơn, hiệu quả hơn. 3.2.3.5 Ổn định tỷ giá hối đoái và ổn định cơ chế lãi suất a. Tỷ giá hối đoái: Nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng hóa luôn luôn lớn hơn lượng ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu. Do đó, cần phải có chính sách lãi suất hợp lý, chính sách ngoại hối linh hoạt để ổn định tỷ giá, cân bằng lượng cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Sự biến động tỷ giá là nguyên nhân gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi quyết định vay ngoại tệ hay đồng Việt Nam. Việc biến động tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay rất khó dự đoán vì có nhiều nhân tố tác động như:  Nhập siêu lớn - không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong trung hạn;
  • 88.
    79  Thâm hụtngân sách vẫn ở mức cao (trên dưới 6%/GDP);  Giá vàng trong nước và thế giới luôn tăng mạnh (do khủng hoảng chi tiêu công tại một số quốc gia châu Âu, châu Mỹ);  Nhu cầu ngoại tệ nói chung, USD nói riêng vào những tháng cuối năm sẽ tăng cao do khách hàng vay vốn đến hạn trả nợ ngân hàng  Nhu cầu chuyển lợi nhuận về nước của các nhà đầu tư nước ngoài;  Việc thực hiện chính sách đồng tiền mạnh hay yếu của một số quốc gia trong khu vực… Vì vậy, về khía cạnh vĩ mô, chính sách tỷ giá cần phải được nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì khả năng cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế, đảm bảo một vị thế cán cân thanh toán mạnh, theo đó chính sách tỷ giá gắn với cả biến số kinh tế thực. Từ tình hình và đặc điểm kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và lạm phát đang gia tăng như hiện nay, việc lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá để đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ là không đơn giản. Ở góc độ nghiên cứu củađề tài, tác giả có một số lưu ý về chính sách tỷ giá liên quan đến hoạt động tài trợ XNK như sau:  Tỷ giá hối đoái là giá cả đối ngoại của đồng tiền, theo tín hiệu thị trường tỷ giá lúc lên, lúc xuống phải được xem là việc bình thường của nền kinh tế. Còn khi tỷ giá diễn biến theo chiều hướng bất lợi, thì bất cứ quốc gia nào cũng cần can thiệp tỷ giá. Điểm khác nhau ở chỗ: thời điểm can thiệp; công cụ can thiệp, mức độ can thiệp và sự giám sát của quá trình can thiệp. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trong điều hành chính sách tỷ giá cho thấy, việc chọn thời điểm điều chỉnh vớiliều lượng hợp lý là yếu tố quan trọng, thậm chí quyết định cho việc ổn định tỷgiá và khắc phục áp lực cộng hưởng lên tỷ giá và thị trường. Với kinh nghiệmnày, khi tỷ giá đang dần ở thế ổn định, NHNN sẽ chủ động (tính toán một cách cụ thể) điều chỉnh tăng/giảm nếu dự báo trong thời gian tới là cần thiết, khôngnên để diễn biến tỷ giá ở mức “nóng” mới điều chỉnh, bởi điều chỉnh thời điểm này dễ gây hiệu ứng bất ổn từ tỷ giá sang các chỉ tiêu vĩ mô khác.  Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu đã cho rằng: “các đợt phá giá tiền vừa qua, không có tác dụng cải thiện cán cân thương mại”, vì thế nếu cứ coi tỷ giá
  • 89.
    80 hối đoái làmột trong những rào cản cho xuất khẩu, để lập luận cần phải giảm giá VND mới có thể cải thiện cán cân thương mại sẽ là chưa ổn. Do cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có nhiều bất cập, 70 -80% đầu vào của mặt hàng xuất khẩu là nhập khẩu, trong khi xuất khẩu lại lệ thuộc vào biến động trên thị trường quốc tế về điều kiện thương mại cũng như biến động giá cả. Ở khía cạnh nhập khẩu, tỷ giá hối đoái không hẳn hạn chế nhập khẩu, để thông qua đó hạn chếnhập siêu. Do xuất khẩu nhiều, nhưng hầu hết ở dạng thô, giá trị gia tăng trên từng đơn vị xuất khẩu không cao, trong khi nhập siêu rất lớn, chủ yếu từ Trung Quốc (chiếm đến 80- 90%/tổng kim ngạch nhập khẩu). Như vậy sự phụ thuộc của giá cả trong nước vào giá cả thị trường quốc tế khá lớn. Do đó, các ý kiến cho rằng cần xử lý tỷ giá theo hướng tăng để khuyến khích xuất khẩu, chủ động nhập khẩu là trực tiếp hoặc gián tiếp thu hẹp vai trò của tỷ giá, trong khi tỷ giá hốiđoái còn liên quan đến hàng loạt vấn đề như cán cân thanh toán, nợ quốc gia, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán và bất động sản. Chỉ xét riêng mối quanhệ giữa tỷ giá với nợ quốc gia cũng cho thấy cần rất thận trọng trong việc nâng hay giảm giá của tiền đồng. Nợ quốc gia của Việt Nam chủ yếu là nợ nước ngoài (khoảng 40% GDP), nếu giảm giá tiền tệ thì ảnh hưởng không nhỏ đến nợ quốc gia. Với cơ cấu nợ công của Việt Nam nghiêng về nợ nước ngoài, thì khi tỷ giá điều chỉnh tăng lên, sẽ dẫn đến rủi ro nợ công do lãi suất biến động theo xuhướng tăng. Như vậy sẽ dẫn đến chênh lệch lãi suất quá lớn giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế, sẽ làm gia tăng mức độ đôla hóa và tiếp tục tạo áplực lên tỷ giá hối đoái. Vì vậy, khi cần điều chỉnh tỷ giá không chỉ đặt nó trong mối quan hệ với xuất, nhập khẩu, mà còn phải xem nó trong mối quan hệ với đầu tư, lãi suất và vay nợ nước ngoài … trong chiến lược chung là nâng cao uy tínvà vị thế của VND, hướng đến một đồng tiền tự do chuyển đổi trong khu vực. Việc tích cực thực hiện chính sách tỷ giá ngày càng linh hoạt là nhân tố quan trọng giúp Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới một cách hiệu quả, tạo điều kiện chothị trường ngoại hối của Việt Nam trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn và cho phépcác ngân hàng cũng như các doanh nghiệp Việt Nam được tự do lựa chọn nhiều đồngtiền khác nhau nhằm góp phần quản lý rủi ro tỷ giá.
  • 90.
    81 b. Cơ chếlãi suất: Chính sách lãi suất đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực hơn so với trước đây. Để nâng cao hiệu quả hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, NHNN phải xây dựng chính sách lãi suất hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho huy động và cho vay. NHNN cần linh hoạt, đồng bộ trong điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu để kiểm soát mặt bằng lãi suất thị trường ở mức hợp lý, theo đó NHNN tích cực hỗ trợ thanh khoản đối với TCTD với kỳ hạn dài hơn, khốilượng lớn hơn so với trước đây thông qua tái cấp vốn và hoán đổi ngoại tệ và chỉ đạocác NHTM. NHNN giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh lãi suất giảm dần phù hợp diễn biến nền kinh tế, đảm bảo an toàn hệ thống đồng thời có chính sách hỗ trợ cho các ngân hàng cổ phần quy mô nhỏ tiếp cận được vốn thanh khoản giá rẻhơn, thời hạn đến 3 tháng nhằm tăng thanh khoản. Hình thành đồng bộ và phù hợp các mức lãi suất chỉ đạo, như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất vay qua đêm và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm chủ động điều tiết lãi suất thị trường và các hành vi cho vay, đi vay của các thành viên trên thị trường tiền tệ. Theo dõi, giám sát chặt chẽ diễn biến thị trường tiền tệ trong nước và dự báo về tìnhhình cung - cầu vốn, lãi suất, tỷ giá; thiết lập hệ thống thông tin để đánh giá diễn biếnthị trường; tăng cường thanh tra, giám sát và kết hợp với nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh của từng NHTM để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh, đảm bảo an toàn hệ thống. Điều hành lãi suất theo hướng ổn định và ở mức hợp lý, kết hợp với điều chỉnh linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ chính sách tiền tệ khác nhằm kiểm soát mức tăng các chỉ tiêu tiền tệ phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô. Kết luận chương 3 BIDV HCMC cũng như các NHTM Việt Nam cần phải luôn không ngừng cải tiến, nâng cao năng lực kinh doanh của mình, tìm kiếm và thực hiện các giải pháp khắc phục hiệu quả những hạn chế tồn tại để hợp tác và hỗ trợ tốt hơn hoạt động sản xuất kinh doanh XNK của các doanh nghiệp XNK, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
  • 91.
    82 Bên cạnh nhữnggiải pháp kiến nghị chính phủ xem xét, BIDV HCMC cần cân nhắcthực hiện các giải pháp liên quan đến quy trình quy chế, chính sách, nghiệp vụ, nhânsự, công nghệ của mình. Các giải pháp cần được tiến hành đồng bộ và triệt để, trong đó cần chú trọng việc xây dựng thương hiệu mạnh, hoàn thiện quy trình cho vay, nâng cao trình độ năng lực của chuyên viên, thường xuyên cải tiến nâng cấp công nghệ ngân hàng, phát triển đa dạng sản phẩm tài trợ XNK, mở rộng đối tượng khách hàng và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng hỗ trợ khách hàng.
  • 92.
    KẾT LUẬN Kinh tếngoại thương nói chung và XNK nói riêng cùng với hoạt động tài chính ngân hàng có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển sản xuất, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Nhà nước và các tổ chức kinh tế, đặc biệt các tổ chức tài chính ngân hàng cần tăng cường quan tâm xúc tiến hỗ trợ để hoạt động kinh tế này ngày càng phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, góp phần ngày càng nâng cao uy tín, năng lực của các doanh nghiệp Việt Nam và tên tuổi của các NHTM Việt Nam trên thị trường khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, trên thực tế sự tài trợ của các NHTM, của BIDV HCMC đối với lĩnh vực ngoại thương, hoạt động XNK vẫn còn một số hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho ngành kinh tế quan trọng này chưa phát huy tối đa hiệu quả của nó. Tất cả những hạn chế này đều có thể khắc phục được dưới sự hỗ trợ của nhà nước, sự tham gia tích cực của các cấp các ngành cùng với sự nỗ lực cải cách từphía các doanh nghiệp XNK,các NHTM nói chung và BIDV HCMC nói riêng. Các giải pháp được xây dựng đều mang tính khả khi, kết hợp phát triển tài trợ XNK và phòng ngừa rủi ro – đây chính là điểm mới của luận văn. Nếu được thực hiện đồng bộ và triệt để sẽ có thể giúp BIDV HCMC phát huy hiệu quả hoạt động tín dụng và tài trợ XNK của mình, thực hiện tốt sứ mệnh hỗ trợ phát triển kinh tế của ngân hàng và cùng với hoạt động ngoại thương góp phần thúc đẩy kinh tế pháttriển.
  • 93.
    TÀI LIỆU THAMKHẢO 1. PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn (2007), Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản thống kê. 2. Tiến sĩ Hồ Diệu (2001), Tín dụng Ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê. 3. GS.TS Lê Văn Tư – Lê Tùng Vân (2006), Tín dụng xuất nhập khẩu thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ, Nhà xuất bản tổng hợp TP. Hồ Chí Minh. 4. TS Nguyễn Minh Kiều (2008), Thị trường ngoại hối và các giải pháp phòng ngừa rủi ro, Nhà xuất bản thống kê. 5. Thời báo kinh tế Sài Gòn (2009 – 2010). 6. Tài liệu khác trên Internet: www.mot.gov (trang web của Bộ Thương Mại), www.mof.gov (trang web của Bộ Tài Chính), www.bidv.com.vn (trang web của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam) www.vneconomy.vn (trang web của Thời báo Kinh tế Việt Nam) www.sbv.gov.vn ( Trang web của Ngân hàng nhà nước Việt Nam)