TRƢỜNG ĐẠI HỌC THƢƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG
THỊ TRƢỜNG EU
NGÀNH ĐÀO TẠO: KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Giáo viên hƣớng dẫn
- Họ và tên: Th.SNguyễn Minh
Phương
- Bộ môn: Quản lý kinh tế
Sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp
- Họ và tên: Đỗ Thị Thắm
- Mã sinh viên: 18D160329
- Lớp: K54F5
HÀ NỘI, 2021
i
TÓM LƢỢC
Ngành Thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, giữ vai trò quan
trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam với quy mô ngày càng mở rộng.
Thương hiệu thủy sản Việt Nam không chỉ được khẳng định trong nước mà còn được
đón nhận bởi nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, những năm gần đây tình hình
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các thị trường khó tính điển hình như EU đang
phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Hàng loạt lô hàng thủy sản bị trả về do
không đảm bảo vệ sinh và chất lượng, cùng với đó là cảnh báo thẻ vàng của Ủy ban
Châu Âu (EC) đã làm cho ngành thủy sản bị sụt giảm đáng kể. Đứng trước tình hình
đó, trong quá trình thực tập, em đã làm đề tài khóa luận “Đẩy mạnh xuất khẩu thủy
sản Việt Nam sang thị trường EU”. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về đẩy mạnh xuất
khẩu thủy sản, đồng thời phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị
trường EU giai đoạn 2018 - 2020 và 6 tháng đầu năm 2021, khóa luận tốt nghiệp bước
đầu xác định làm rõ một số nguyên nhân, hạn chế trong quá trình xuất khẩu thủy sản
sang EU. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt
Nam sang thị trường EU.
ii
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả
các cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên
cứu đề tài. Trong quá trình thực tập online tại nhà, cá nhân em gặp rất nhiều khó khăn
trong việc nghiên cứu cũng như tìm tài liệu nhưng dưới sự chỉ đạo tận tình từ các thầy
cô, em đã hoàn thành tốt bài khóa luận của mình. Đồng thời, thông qua quá trình
nghiên cứu em đã có cơ hội tìm hiểu sâu về những khó khăn trong xuất khẩu thủy sản
nói riêng và xuất khẩu ở Việt Nam nói chung. Từ đó có được góc nhìn tổng quát về
tình hình xuất khẩu các mặt hàng của Việt Nam sang thị trường quốc tế.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới trường Đại học Thương mại, các thầy,
cô trong khoa Kinh tế - Luật và đặc biệt là Th.S Nguyễn Minh Phương đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa tốt nghiệp. Nhờ những lời chỉ bảo và sự
giúp đỡ nhiệt tình của cô, đề tài nghiên cứu của em mới có thể hoàn thiện tốt đẹp.
Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một sinh viên,
luận văn này không thể tránh được những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự chỉ
bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô để em có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức của
mình, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 26 tháng 12 năm 2021
Tác giả
Đỗ Thị Thắm
iii
MỤC LỤC
TÓM LƢỢC ...................................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN................................................................................................................ii
MỤC LỤC.....................................................................................................................iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU...........................................................................................v
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ..................................................................................vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT......................................................................................vii
PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài...........................................................................................1
2. Đối tƣợng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................2
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu.............................................................................................2
2.2 Mục tiêu nghiên cứu...............................................................................................2
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................................2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu .........................................................................................2
4.1 Phƣơng pháp luận ..................................................................................................2
4.2 Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể............................................................................3
5. Kết cấu đề tài.............................................................................................................3
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN
VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU ......................................................................5
1.1 Tổng quan về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản.......................................................5
1.1.1 Khái quát chung về ngành thủy sản...................................................................5
1.1.2 Khái quát chung về xuất khẩu............................................................................6
1.1.3 Khái quát chung về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản ..........................................8
1.2 Nội dung đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản...............................................................9
1.2.1 Đẩy mạnh xuất khẩu mang tính quy mô..........................................................10
1.2.2 Đẩy mạnh xuất khẩu mang tính chất lƣợng....................................................11
1.2.3 Đẩy mạnh xuất khẩu mang tính hiệu quả .......................................................13
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động đẩy mạnh xuất thủy sản sang thị trƣờng EU... 14
1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá theo chiều rộng.....................................................................14
1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá theo chiều sâu.......................................................................15
1.4 Các nguyên tắc và công cụ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị
trƣờng EU ....................................................................................................................16
1.4.1 Về nguyên tắc......................................................................................................16
1.4.2 Về công cụ ...........................................................................................................16
iv
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG
THỊ TRƢỜNG EU GIAI ĐOẠN 2018 – 2020 và 6 THÁNG ĐÀU NĂM 2021.....19
2.1 Tổng quan thị trƣờng thủy sản EU và các nhân tố ảnh hƣờng đến đẩy mạnh
xuất khẩu thủy sản sang thị trƣờng EU....................................................................19
2.1.1 Tổng quan thị trƣờng thủy sản EU ..................................................................19
2.1.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang
thị trƣờng EU...............................................................................................................22
2.2 Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trƣờng EU giai đoạn 2018 –
2020 và 6 tháng đầu năm 2021...................................................................................24
2.2.1 Về kim ngạch xuất khẩu....................................................................................24
2.2.2 Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu..........................................................................26
2.2.3 Về thị trƣờng xuất khẩu ....................................................................................32
2.2.4 Về hiệu quả xuất khẩu.......................................................................................33
2.3 Đánh giá thực trạng xuất khẩu thủy sản EU .....................................................34
2.3.1 Những kết quả đạt đƣợc....................................................................................34
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân....................................................................................36
CHƢƠNG III: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU...............................................39
3.1 Quan điểm, định hƣớng và mục tiêu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang
thị trƣờng EU...............................................................................................................39
3.1.1 Quan điểm phát triển.........................................................................................39
3.1.2 Định hƣớng phát triển .......................................................................................39
3.1.3 Mục tiêu thực hiện .............................................................................................41
3.2 Giải pháp hỗ trợ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU . 42
3.2.1 Giải pháp hỗ trợ từ Nhà nƣớc...........................................................................42
3.2.2 Giải pháp từ các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản .......................................43
3.3 Các Kiến nghị về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU 45
KẾT LUẬN..................................................................................................................47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................................................48
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU......................................24
giai đoạn 2018 – 6T 2021..............................................................................................24
Bảng 2.2: Kim ngạch các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU giai đoạn 2018 - 6T
2021...............................................................................................................................27
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang các thị trường tiềm năng của
EU giai đoạn 2018 – 6T 2021 .......................................................................................32
vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
Biểu đồ 2.1: Lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU qua các
tháng trong năm 2020 - 2021. .......................................................................................26
Biểu đồ 2.2: Lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường EU
theo quý năm 2020-2021...............................................................................................28
Biểu đồ 2.3: Kim ngạch xuất khẩu mực, bạch tuộc sang thị trường EU giai đoạn 2018
– 6T 2021 ......................................................................................................................29
Biểu đồ 2.4: Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang EU theo quý
năm 2020-2021..............................................................................................................30
Biểu đồ 2.5: Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam sang EU theo quý
năm 2020-2021..............................................................................................................31
vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung chữ viết tắt
ASEAN Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á
BCT Bộ Công Thương
DN Doanh nghiệp
EU (European Union) Liên minh Châu Âu
EVFTA (European-Vietnam Free Trade
Agreement)
Hiệp định thương mại tự do Liên minh
Châu Âu-Việt Nam
IUU (illegal, unreported and unregulated
fishing)
Quy định về hoạt động đánh bắt
NK Nhập khẩu
WTO (World Trade Organization) Tổ chức Thương mại thế giới
XTTM Xúc tiến thương mại
XK Xuất khẩu
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thủy sản là một trong những lĩnh vực then chốt, đóng vai trò quan trọng trong
phát triển kinh tế của Việt Nam. Xuất khẩu thủy mang lại nguồn ngoại tế lớn cho đất
nước và luôn nằm trong danh sách những ngành có giá trị xuất khẩu hàng đầu của Việt
Nam, tạo nguồn thu nhập đáng kể cho nông ngư dân và các doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực này. Theo dữ liệu về thương mại quốc tế của Liên hợp quốc, thủy sản
chiếm khoảng 15% tổng xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới (WITS, 2020). Trong số
các đối tác thương mại chính của Việt nam, EU nổi lên với tư cách là thị trường lớn
thứ hai của thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng thủy sản của Việt Nam. Trong giai đoạn 2014 - 2018, xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam sang thị trường EU tăng liên tục, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình
9,1%/năm (WITS). Tuy vậy, đây là một thị trường khó tính đòi hỏi chất lượng cao nên
thời gian gần đây việc xuất khẩu hàng thủy sản vào thị trường này có nhiều biến động
do nhu cầu, cạnh tranh và rào cản thị trường nhập khẩu. Những khó khăn, biến động
này cản trở xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU đạt được mức
tiềm năng. Để duy trì thị phần và tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam
sang thị trường EU cần phải nhận biết thật đầy đủ để hiểu EU là một thị trường có tính
bảo hộ rất cao với hàng rào phi thuế quan (đặc biệt là các rào cản kỹ thuật) rất nghiêm
ngặt với những qui định chặt chẽ đối với hàng xuất khẩu Việt Nam về nguồn gốc xuất
xứ vệ sinh, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động vật tiêu chuẩn kỹ thuật đối với thực
phẩm tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường.
Mới đây, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã chính thức
có hiệu lực, đánh dấu một bước quan trọng trên con đường hướng nền kinh tế nước
nhà tới tự do hóa thương mại và phát triển bền vững. Ngay khi Hiệp định có hiệu lực
sẽ có gần 50% số dòng thuế đang có thuế suất cơ sở 0 - 22%, trong đó phần lớn thuế
cao từ 6 - 22%, sẽ được giảm về 0% (khoảng 840 dòng thuế). Khoảng 50% số dòng
thuế còn lại có thuế suất cơ sở 5,5 - 26% sẽ được về về 0% sau từ 3 đến 7 năm. Riêng
cá ngừ đóng hộp và cá viên, EU dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan lần lượt là
11.500 tấn và 500 tấn. Để tận dụng cơ hội EVFTA vượt qua thách thức tại thị trường
EU, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải đẩy mạnh các mặt hàng xuất khẩu sang EU
trong đó có mặt hàng thủy sản. Do vậy, việc nghiên cứu một cách tổng thể thực trạng
xuất khẩu thủy sản trên thị trường EU là cấp thiết. Nhận thức được vấn đề này nên em
đã lựa chọn đề tài “Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU” làm
đề tài nghiên cứu của mình.
2
2. Đối tƣợng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường
EU
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
 Đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình sản xuất, xuất khẩu thủy sản Việt Nam
sang thị trường EU giai đoạn 2018 – 2020 và 6 tháng đầu năm 2021.
 Đề xuất một số giải pháp giúp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị
trường này.
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
Phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn
2018 – 2020 và 6 tháng đầu năm 2021. Đánh giá thành công, hạn chế và tìm ra nguyên
nhân dẫn tới khó khăn, rào cản khi tham gia thị trường này.
Đưa ra các đề xuất và kiến nghị giúp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thủy sản
Việt Nam sang thị trường EU.
3. Phạm vi nghiên cứu
 Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động đẩy
mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU theo cả hai hướng chiều sâu và
chiều rộng mang tính quy mô, chất lượng và hiệu quả.
 sang thị trường EU theo chiều rộng và chiều sâu trong những năm gần đây để
từ đó đưa ra được những giải pháp giúp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thủy sản.
 Phạm vi về không gian nghiên cứu: Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam và thị trường EU.
 Phạm vi về thời gian nghiên cứu: bài nghiên cứu đánh giá thực trạng về hoạt
động xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU trong giai đoạn 2018 – 2020 và
6 tháng năm đầu năm 2021.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1 Phƣơng pháp luận
Để thực hiện nghiên cứu hiệu quả những vấn đề mà đề tài đặt ra, đề tài đã sử
dụng phương pháp luận biện chứng và duy vật lịch sử. Đây là hai phương pháp chủ
đạo và xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của đề tài, để đưa ra những kết luận
đảm bảo tính khách quan, chân thực.
3
4.2 Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể
Bên cạnh phương pháp luận, đề tài còn sử dụng các phương thức nghiên cứu cụ
thể như: phương pháp phân tích, phương pháp nghiên cứu định lượng, tổng hợp,
phương pháp so sánh, phương pháp phân tích hệ thống và phương pháp mô hình. Để
thực hiện có hiệu quả mục đích nghiên cứu, đề tài kết hợp chặt chẽ các phương pháp
này trong suốt quá trình nghiên cứu toàn bộ nội dung tiểu luận. Tùy thuộc vào từng
chương các phương pháp nghiên cứu được áp dụng sao cho phù hợp.
Chương I, đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, tiếp cận ngành nhằm
đánh giá tổng quan tình hình xuất khẩu thủy sản.
Chương II, ở phần này đề tài chú trọng đến phương pháp nghiên cứu tài liệu và
phương pháp thống kê nhằm làm rõ thực trạng của xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang
thị trường EU trong giai đoạn 2018 – 2021 và 6 tháng đầu năm 2021.
Ở chương III, vận dụng kết hợp các phương pháp xã hội học pháp luật, phương
pháp tổng hợp và dự báo để đưa ra phương hướng và giải pháp giúp đẩy mạnh xuất
khẩu thủy sản Việt Nam sang thi trường EU
 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nhằm mục đích thu thập dữ liệu thứ cấp
được thực hiện chủ yếu bằng cách đọc, ghi chép, phân loại, tổng hợp dữ liệu từ nguồn
tin tức chính thống và từ các công trình khoa học có liên quan: báo chí, kênh thời sự,
sách báo, tạp chí, các tài liệu của Bộ Công Thương, Cục quản lý cạnh tranh, Sở Công
Thương thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, các báo cáo về hoạt động xuất khẩu thủy sản
Việt Nam
 Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp số liệu
như sản lượng, giá trị và kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Qua đó tính
toán được các chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối để phục vụ cho việc phân tích thực trạng
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong giai đoạn 2018 – 6T 2021. Các số liệu thu thập
được biểu diễn thành bảng, đồ thị, biểu đồ để thuận lợi cho việc phân tích, so sánh.
 Phương pháp phân tích và tổng hợp: Từ việc phân tích và so sánh các dữ liệu
đã thu thập được, sẽ rút ra được cái nhìn tổng quát và chính xác nhất về hoạt động xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU.
 Phương pháp so sánh: Để thấy rõ những biến đổi, biến động về giá trị, kim
ngạch xuất khẩu thủy sản qua từng năm để từ đó đưa ra các đánh giá khách quan về
thực trạng xuất khẩu.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, đề tài
có kết cấu 3 chương:
4
Chương I: Cơ sở lý luận về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị
trường EU
Chương II: Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU giai
đoạn 2018 – 2021 và 6 tháng đầu năm 2021
Chương III: Các đề xuất và kiến nghị về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam
sang thị trường EU
5
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY
SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU
1.1 Tổng quan về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
1.1.1 Khái quát chung về ngành thủy sản
a) Khái niệm ngành thủy sản
Theo giáo trình Hệ thống và quản lý nuôi trồng thủy sản của Đại học Huế xuất
bản năm 2011 đưa ra khái niệm về thủy sản: “Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về
những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con
người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày
bán trên thị trường”.
Ngoài ra, theo Luật Thủy Sản 2017 của Quốc Hội số 18/2017/QH14 đưa ra khái
niệm về ngành thủy sản: “là ngành bao gồm các hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn
lợi thủy sản; nuôi trồng thủy sản; khai thác thủy sản; chế biến, mua, bán, xuất khẩu,
nhập khẩu thủy sản”
Theo tổng hợp trên https://tongcucthuysan.gov.vn thì ngành thủy sản được hiểu
là “ngành kinh tế bao gồm các hoạt động đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy sản và
các hoạt động dịch vụ thủy sản có liên quan. Là một ngành kinh tế sinh học, được
phân ngành thuộc ngành nông nghiệp, ra đời sớm và được nhà nước xác định là một
trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước”.
Như vậy, qua những khái niệm được đề cập ở trên thì hiện nay trên thị trường
được sử dụng phổ biến nhất có lẽ là: ngành thủy sản là ngành bao gồm các hoạt động
bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; nuôi trồng thủy sản; khai thác thủy sản; chế
biến, mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản. Đây là khái niệm sát nghĩa nhất với
ngành thủy sản, người mới tìm hiểu cũng có thể nôm na hiểu được vì vậy nó được
nhiều người biết đến và sử dụng rộng rãi.
b) Đặc điểm của ngành thủy sản
Ngành thủy sản được xác định giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
xã hội của Việt Nam. Nó khai thác và phát triển một trong những nguồn tài nguyên có
thể tái sinh quan trọng của đất nước, những tài nguyên với tiểm năng có thể đóng góp
lớn cho các mục tiêu về tài chính, về công ăn việc làm và về đời sống xã hội. Qua đó,
nhìn một cách tổng thể có thể thấy được những đặc điểm của ngành thủy sản:
Ngành thuỷ sản là ngành vừa mang tính nông nghiệp, công nghiệp, thương mại
lại vừa chịu sự chi phối rất lớn của thiên nhiên.
Ngành thuỷ sản là ngành có năng suất và hiểu quả lao động tự nhiên cao, có tác
dụng tái sản xuất mở rộng. Có nhiều thành phần kinh tế tham gia sản xuất đa dạng.
6
Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp, tính liên ngành cao.
Với tính cách là ngành sản xuất vật chất, ngành thủy sản bao gồm nhiều ngành sản
xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
như khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản.
Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất có liên quan đến việc sử dụng diện tích mặt
nước cũng như khai thác các sản phẩm có liên quan đến nước. Các sản phẩm thuỷ sản
có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, được nhiều người nhiều nơi ưa chuộng.
Ngành thuỷ sản có khả năng thu hồi vốn nhanh có thể thu hoạch được sản phẩm
và tiêu thụ trong thời gian ngắn.
Ngành thuỷ sản là ngành có nguồn tài nguyên phong phú với trữ lượng lớn, tạo
khả năng khai thác với quy mô lớn và con người có thể tái tạo nguồn tài nguyên này.
Sản xuất kinh doanh thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao. Hầu hết
các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt chế biến thủy sản đều đòi hỏi đầu tư ban đầu khá
lớn như đầu tư vào đào ao, giống, tàu thuyền đánh bắt. Ngoài ra, sản xuất nuôi trồng
và đánh bắt thủy sản phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên nhất là điều kiện về
thủy văn, bão, lũ.
1.1.2 Khái quát chung về xuất khẩu
a) Khái niệm về xuất khẩu
Theo Khoản 1 Điều 28 số 36/2005/QH11 Luật Thương Mại 2005 quy định về
hoạt động thương mại, theo đó “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra
khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam
được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”
Xuất khẩu còn được hiểu nôm na “là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một quốc
gia khác, trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể
là đồng tiền của một trong hai quốc gia của người mua, người bán hoặc của một quốc
gia thứ ba khác” (theo https://www.gso.gov.vn)
Ngoài ra, xuất khẩu có thể hiểu đơn giản rằng: “là hoạt động bán hàng hoá ra
nước ngoài, nó không phải là hành vi bán hàng riêng lẻ mà là hệ thống bán hàng có tổ
chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hóa
phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của
nhân dân”
Theo khái niệm khác, xuất khẩu được hiểu là “hoạt động đưa các hàng hoá và
dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm thu lợi nhuận. Dưới góc độ kinh
doanh, xuất khẩu là việc bán các hàng hoá và dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia
khác. Còn dưới góc độ phi kinh doanh (làm quà tặng hoặc viện trợ không hoàn lại) thì
hoạt động xuất khẩu chỉ là việc lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ qua biên giới quốc gia”
7
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát về xuất khẩu như sau: Xuất khẩu là hoạt
động kinh doanh giữa các quốc gia và v ng lãnh thổ với nhau. Quốc gia này sẽ mua
các mặt hàng, dịch vụ mà mình không sản xuất được từ các quốc gia khác bằng tiền tệ.
Hoạt động một quốc gia bán ra các sản phẩm cho quốc gia khác gọi là xuất khẩu
b) Vai trò của xuất khẩu
Xuất khẩu là một cơ sở của nhập khẩu và là hoạt động kinh doanh để đem lại lợi
nhuận lớn, là phương tiện thúc đẩy kinh tế. Mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ,
tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển cơ sở hạ tầng. Nhà nước ta luôn coi trọng và
thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế
mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ. Từ đó có thể
thấy được vai trò quan trọng của xuất khẩu trong nền kinh tế thể hiện qua việc:
Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu. Xuất khẩu đem lại nguồn thu cho quốc
gia và cho doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn quan trọng để tái đầu tư vào các lĩnh vực
khác đặc biệt là nhập khẩu, vì ở các nước đặc biệt là các nước đang phát triển nhu cầu
nhập khẩu máy móc và thiết bị lớn nên nhu cầu về vốn lớn.
Không chỉ vậy, xuất khẩu còn tác động làm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và
phát triển sản xuất. Sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế sẽ chuyển từ nền kinh tế nông
nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế mà công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn. Do
vậy, quốc gia đó sẽ tập trung vào sản xuất những sản phẩm và cung cấp những sản
phẩm có lợi trên quy mô lớn (quy mô sản xuất công nghiệp). Điều này dẫn đến, cơ cấu
kinh tế sẽ chuyển hướng sang ngành công nghiệp (trong đó có công nghiệp xuất khẩu)
mang lại những lợi ích nhiều hơn nông nghiệp
Xuất khẩu tạo ra khả năng thị trường tiêu thụ cũng như cung cấp đầu vào cho sản
xuất nhằm khai thác tối đa năng lực sản xuất trong nước phục vụ nhu cầu của thị
trường.
Xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn, việc làm. Hoạt động xuất khẩu càng
được đẩy mạnh và không ngừng phát triển về quy mô thì sẽ càng thu hút được nhiều
lao động, như vậy xuất khẩu đã tạo việc làm cho người lao động giúp người lao động
có thu nhập chính đáng và nâng cao đời sống.
Ngoài ra, xuất khẩu còn tạo điều kiện cho các ngành liên quan phát triển. Vì sản
xuất là chuỗi hoạt động tính móc xích với nhau cho nên phát triển của ngành này sẽ
kéo theo sự phát triển của ngành khác
Xuất khẩu còn là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của
đất nước. Xuất khẩu là hoạt ra đời sớm nhất trong các hoạt động kinh tế, khi có hoạt
động xuất khẩu thì các nước sẽ có quan hệ với nhau trên cơ sở các bên đều có lợi. Do
vậy các quốc gia sẽ xây dựng các quan hệ kinh tế nhằm đẩy mạnh hoạt động này.
8
Nói chung, xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế của các
quốc gia, do vậy các quốc gia đều chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu để khai thác tối đa lợi
ích của hoạt động này trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
1.1.3 Khái quát chung về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
a) Khái niệm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
Đẩy mạnh xuất khẩu ở đây theo http://moit.gov.vn được định nghĩa là “một
phương thức đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa mà trong đó nó bao gồm tất cả các biện
pháp, chính sách, cách thức của Nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm tạo
ra các cơ hội và khả năng để tăng giá trị cũng như sản lượng của mặt hàng thủy sản
được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài”.
Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản còn được hiểu là việc “tổng hợp các biện pháp,
cách thức được sử dụng để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản nhằm gia tăng sản lượng
xuất khẩu, tăng kim ngạch xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu dựa trên các
điều kiện vốn có của quốc gia, tận dụng các cơ hội của ngành hàng thế giới”
Qua những khái niệm được đề cập ở trên, ta có thể hiểu khái quát: đẩy mạnh xuất
khẩu thủy sản là một phương thức đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa mà trong đó nó bao
gồm tất cả các biện pháp, chính sách, cách thức của Nhà nước và các doanh nghiệp
xuất khẩu nhằm tạo ra các cơ hội và khả năng để tăng giá trị cũng như sản lượng của
mặt hàng thủy sản được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Đây là khái niệm không
quá xa lạ, dễ hiểu nên được mọi người tìm kiếm và sử dụng khá nhiều ở trong ngành.
b) Tầm quan trọng của đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản đối với nước ta có ý nghĩa về nhiều mặt. Đảng ta
đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu
thủy sản và coi đó là một trong ba chương trình kinh tế lớn. Có đẩy mạnh xuất khẩu,
mở cửa ra thị trường thế giới mới có điều kiện thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát
triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ đó thấy được tầm quan
trọng của đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản:
 Đối với doanh nghiệp
Đẩy mạnh xuất khẩu giúp tăng hiệu quả sản xuất - kinh doanh, mở rộng quy mô
và đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh nhằm tạo lợi nhuận tốt hơn cho doanh
nghiệp.
Ngoài ra, đẩy mạnh xuất khẩu còn giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế và tạo lực
cho doanh nghiệp không chỉ ở thị trường trong nước mà còn tại thị trường quốc tế; giúp
doanh nghiệp phát triển và mở rộng quan hệ bạn hàng, đối tác; học hỏi kinh nghiệm
quản lý, tiếp thu công nghệ hiện đại; giúp doanh nghiệp mở rộng và đa dạng hóa thị
trường xuất khẩu hàng hóa, hạn chế rủi ro khi kinh doanh trên một thị trường duy nhất.
9
 Đối với quốc gia
Đẩy mạnh xuất khẩu giúp cho các nguồn lực quốc gia được sử dụng có hiệu quả
hơn nhờ tham gia vào quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động quốc tế.
Đẩy mạnh xuất khẩu làm tăng năng lực sản xuất, tăng mức sống của Việt Nam
nói riêng cũng như của toàn thế giới nói chung.
Đẩy mạnh xuất khẩu kích thích tiêu dùng, mở rộng sản xuất, chuyển giao công
nghệ và đầu tư giữa các quốc gia, nhờ đó tạo tiền đề cho tăng trưởng và phát triển kinh
tế của các quốc gia.
Đẩy mạnh xuất khẩu đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ
của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ
môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tạo dựng môi trường thuận lợi để
phát triển kinh tế, các chính sách kinh tế, cơ chế quản lý ngày càng minh bạch hơn,
nâng cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đẩy mạnh xuất khẩu đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát
triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; thúc đẩy hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng thị trường, tranh thủ được
khối lượng lớn vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý và các nguồn lực
quan trọng khác.
Như vậy, đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho nguồn lực nước ta được khai
thông, tăng cường giao lưu với các nước, đúng theo đường lối đối ngoại của Đảng.
Thông qua hoạt động đẩy mạnh tạo cơ hội để nhập khẩu lao động kỹ thuật cao, các
công nghệ mới và các sáng chế mà nước ta chưa có. Điều này cho thấy Việt Nam đẩy
mạnh hoạt động xuất khẩu không những mở rộng thị trường, thu hút nguồn lực vốn,
tăng năng lực cạnh tranh, mà còn tăng khả năng tích lũy vốn đầu tư phát triển kinh tế -
xã hội, tạo điều kiện để nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
1.2 Nội dung đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
Nội dung đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU có nhiều
cách tiếp cận, nhưng về cơ bản ta hướng đến hai cách tiếp cận:
Thứ nhất, đẩy mạnh xuất khẩu theo chiều rộng. Đẩy mạnh ở đây giúp tăng nhanh
xuất khẩu mở rộng quy mô, đồng thời củng cố các đối tác hợp tác chiến lược để phát
triển thị trường bền vững; kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của quốc
gia, lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị - đối ngoại, chủ động và độc lập tự chủ trong hội
nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, đẩy mạnh xuất khẩu theo chiều sâu. Với cách tiếp cận này, đẩy mạnh
xuất khẩu hướng đến việc chú trọng đến hiệu quả và chất lượng. Thực hiện công tác
quản lý chất lượng theo đúng quy định của nước nhập khẩu EU, chú trọng xây dựng và
10
phát triển hàng hóa có giá trị gia tăng cao, có thương hiệu trên thị trường trong và
ngoài nước.
Hiện nay, ngày càng nhiều hiệp định thương mại được ký kết đồng nghĩa với sự
ràng buộc giữa các quốc gia càng lớn. Vì thế bất kỳ sự biến động nào của thế giới cũng
có thể tác động trở lại nước ta. Nền kinh tế phải kiên trì với định hướng đẩy mạnh xuất
khẩu theo mô hình tăng trưởng bền vững, hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu; vừa mở
rộng quy mô xuất khẩu, vừa chú trọng nâng cao giá trị. Do vậy, ở đây em sử dụng kết
hợp cả hai cách tiếp cận.
1.2.1 Đẩy mạnh xuất khẩu mang tính quy mô
Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu đồng nghĩa với việc mở rộng thị trường và đa
dạng hóa thị trường xuất khẩu. Đây cũng là chính sách chung của Đảng và nhà nước
nhằm hỗ trợ, thực hiện đẩy mạnh sản xuất trong nước phát triển. Trong bối cảnh tình
hình kinh tế - chính trị thế giới có những diễn biến phức tạp, đa số các quốc gia chịu
nhiều tác động về kinh tế - xã hội do đại dịch COVID-19 bùng phát, Việt Nam vẫn
kiên trì thực hiện các chủ trương lớn theo Nghị quyết số 06-NQ/TW của Hội nghị TW
4 khóa XII, “Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn
định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia hiệp định thương mại tự do thế
hệ mới” nhằm “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”. Với tinh thần hợp tác
tích cực, chủ động, Việt Nam không ngừng mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, quan hệ
đối tác chiến lược với các nền kinh tế lớn trên thế giới. Tính đến nay, Việt Nam đã ký
kết 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
mở rộng thị trường xuất khẩu, kết nối và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng
lưới sản xuất toàn cầu. Đặc biệt, việc Việt Nam là một trong số ít nước trong khu vực
châu Á - Thái Bình Dương thực hiện ba FTA thế hệ mới và gần đây là việc ký kết
Hiệp định EVFTA đã thể hiện nỗ lực, quyết tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam
trong việc mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nói chung và thị trường thủy sản
nói riêng. Đón đầu và tận dụng được các lợi thế mà Hiệp định EVFTA mang lại ngay
những ngày đầu thực thi, BCT với vai trò là cơ quan đầu mối thực thi Hiệp định
EVFTA tại Việt Nam, đã chủ động triển khai nhiều dự án để chuẩn bị trong giai đoạn
trước và sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, trong đó có đẩy mạnh cải cách thủ tục
hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình cấp C/O, tổ chức các Hội
thảo tuyên truyền, phổ biến Hiệp định EVFTA… Thực hiện thông báo kết luận của Bộ
trưởng BCT về triển khai một số hoạt động chuẩn bị cho phê chuẩn và thực thi Hiệp
định EVFTA, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu đã ký Quyết định số 42/QĐ-XNK ban
hành Kế hoạch triển khai thực thi Hiệp định EVFTA trong năm và các năm tiếp theo.
Ngoài việc ký kết các hiệp định thương mại tự do, Đảng và Nhà nước đang triển
11
khai xây dựng hệ sinh thái XTTM một cách toàn diện, hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp
thích ứng với xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và tác động của dịch
COVID-19. Hệ sinh thái bao gồm: Hệ thống kết nối giao thương trực tuyến nhằm kết
nối các doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác có nhu cầu nhập khẩu và giữa các
doanh nghiệp với các tổ chức hỗ trợ kinh doanh nhằm tìm kiếm cơ hội mở rộng thị
trường xuất khẩu; xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung; xây dựng hệ thống công nghệ
thông tin về truy xuất nguồn gốc sản phẩm; xây dựng phần mềm quản lý hội chợ, triển
lãm, khuyến mại và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và xây dựng nền tảng đào tạo trực
tuyến phục vụ sản xuất, phát triển xuất khẩu. Có thể thấy, với sự nhanh nhạy trong
chuyển đổi số, linh hoạt ứng dụng các hình thức XTTM mới, BCT đã và đang đồng
hành hiệu quả cùng cộng đồng doanh nghiệp trong nước tận dụng cơ hội thị trường,
các hiệp định thương mại tự do và mở rộng cánh cửa cho xuất khẩu thủy sản Việt.
Việc triển khai tăng cường công tác ngoại giao phục vụ kinh tế nhằm đẩy mạnh
xuất khẩu và quan hệ thương mại song phương với các quốc gia đang có chiều hướng
tích cực. Hình thành đại diện của DN, Hiệp hội ở các thị trường khu vực trọng điểm
trong đó có EU; nghiên cứu, đầu tư mở kho ngoại quan ở các nước có khoảng cách địa
lý xa Việt Nam để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu. Đổi mới mô hình tổ chức tạo sự
chủ động và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thương vụ, cơ quan XTTM của Việt
Nam ở nước ngoài; Tích cực phối hợp và chỉ đạo Thương vụ kịp thời thông báo, đề
xuất giải pháp ứng phó với những thay đổi tại thị trường của nước sở tại để tiếp tục
duy trì và đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
Trong thời gian tới, để tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu bền vững trong bối
cảnh mới, góp phần thúc đẩy quá trình tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng
cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, BCT đang tiến hành triển khai xây dựng “Đề
án tái cơ cấu ngành Công Thương giai đoạn 2021-2030”, đồng thời tiến hành đánh giá
việc triển khai thực hiện Chiến lược xuất nhập khẩu thời kỳ 2011-2020, định hướng
đến năm 2030, để ban hành chiến lược xuất nhập khẩu cho thời kỳ mới. Cùng với đó,
tính toán, xây dựng kịch bản khai thác, phát triển thị trường theo các nhóm ngành hàng
có lợi thế, đặc biệt là sang các thị trường đã có Hiệp định EVFTA.
1.2.2 Đẩy mạnh xuất khẩu mang tính chất lƣợng
Ngày nay, chất lượng sản phẩm, hàng hoá xuất khẩu không những là thước đo
quan trọng khẳng định sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn là chuẩn mực trong các
quan hệ kinh tế, thương mại và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chất lượng sản phẩm,
hàng hoá liên quan trực tiếp đến sự an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người, tài sản và
môi trường. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, bên cạnh việc mở rộng qui mô
thị trường, Việt Nam cũng chú trọng tới chất lượng các sản phẩm xuất khẩu không đạt
12
tiêu chuẩn. Hiện nay, Việt Nam đã và đang ban hành các đạo luật chuyên ngành để
quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá khi xuất khẩu sang các nước. Nhà nước đã ban
hành Pháp lệnh, mới đây nhất là Thông tư số 17/2021/TT-BTC (Thông tư 17) về phân
loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa; phân tích để kiểm tra chất lượng, kiểm
tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu chính thức có hiệu lực từ ngày
12/4/2021. Ngoài ra, còn có Quyết định số 11039/QĐ-BCT ngày 3/12/2014 công bố
danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra chất lượng, quy chuẩn kỹ
thuật, an toàn thực phẩm trước khi thông quan thuộc trách nhiệm quản lý của BCT.
Việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách pháp luật trong quản lý an toàn thực phẩm thủy
sản xuất khẩu được thực hiện theo hướng tạo điều kiện tối đa cho người dân, doanh
nghiệp và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị trường EU.
Bên cạnh đó, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD)
vừa cho biết, đơn vị này đang phối hợp với Tổng cục Hải quan triển khai một số qui
định nhằm chấm dứt tình trạng doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản bơm tạp chất làm ảnh
hưởng đến uy tín và giảm sút thị trường xuất khẩu của thủy sản Việt Nam. Theo đó,
chỉ cho phép làm thủ tục hải quan để xuất khẩu theo quy định đối với các lô hàng thủy
sản được chế biến từ cơ sở đáp ứng một trong hai điều kiện là: có tên trong danh sách
các cơ sở được công nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của
Việt Nam; có tên trong danh sách các cơ sở được phép chế biến thủy sản xuất khẩu
vào các thị trường tương ứng có yêu cầu kiểm tra chứng nhận chất lượng, an toàn thực
phẩm thủy sản bởi NAFIQAD. Ngoài ra, định kỳ hàng quý hoặc đột xuất, các đơn vị
trực thuộc NAFIQAD sẽ tổ chức làm việc với cơ quan hải quan tỉnh, thành phố để
giám sát xác suất các lô hàng thủy sản đã được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận chất
lượng, an toàn thực phẩm tại nơi tập kết trước khi niêm phong để xuất khẩu.
Tận dụng Hiệp định EVFTA để đẩy hoạt động xuất khẩu. Cục Xuất nhập khẩu
tập trung xây dựng và trình Bộ trưởng ban hành Thông tư quy định về Quy tắc xuất xứ
hàng hóa trong Hiệp định EVFTA. Cục cũng nghiên cứu và trao đổi với các nước liên
quan để hướng dẫn triển khai cơ chế cộng gộp mở rộng theo EVFTA. Các hoạt động
nghiên cứu về thị hiếu, dư địa, các cam kết của EU, khả năng sản xuất trong nước…
chi tiết mặt hàng thủy sản mà Việt Nam có thế mạnh và được ưu đãi nhiều về thuế
quan sẽ được thực hiện; từ đó phân tích, đánh giá cơ hội, khả năng tăng trưởng xuất
khẩu và xây dựng phương án thực hiện ngay sau khi EVFTA có hiệu lực. Đồng thời,
hiện nay Cục đã và đang tổ chức Hội nghị phổ biến Hiệp định EVFTA cho các cán bộ
làm công tác cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) tại các Phòng Quản lý xuất nhập
khẩu khu vực, để hoạt động cấp C/O được thuận lợi.
13
1.2.3 Đẩy mạnh xuất khẩu mang tính hiệu quả
BCT cũng xác định rõ đầu tư cơ sở hạ tầng một cách bài bản để ngành thủy sản
phát triển hiệu quả và bền vững. Hơn nữa, để đáp ứng theo yêu cầu thị trường xuất
khẩu của ngành, không cách nào khác phải đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ
về giống, nuôi trồng, thú y phòng bệnh và bảo quản sau thu hoạch. Bên cạnh đó, Việt
Nam đang thực hiện cơ cấu lại các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản theo mô
hình kinh tế tuần hoàn và nâng cao giá trị. Ngành thủy sản đang quyết liệt thực hiện
Luật Thủy sản năm 2017 và các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu về chống khai thác
hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định IUU. Cùng với đó tập
trung công tác điều tra nguồn lợi, dự báo ngư trường khai thác; quản lý tàu cá, đảm
bảo an toàn cho người và tàu cá trên biển cũng như quản lý cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu
cần nghề cá. Tại hội nghị, các vấn đề về công tác quản lý tàu cá, cơ sở hạ tầng, dịch vụ
hậu cần nghề cá, công tác tổ chức sản xuất, khai thác thủy sản… được các đại biểu các
địa phương thảo luận, đưa ra các giải pháp cho năm 2021 và các năm tiếp theo. Hầu
hết các đại biểu đều cho rằng, ngành thủy sản đang phải đối mặt những khó khăn như:
Dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, kênh phân phối sản phẩm thủy sản đứt
gãy, gián đoạn ở nhiều thị trường xuất khẩu; cảnh báo “Thẻ vàng” của Ủy ban Châu
Âu chưa được tháo dỡ tiếp tục tác động xấu đến hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu thủy
sản.
Hiện nay, việc đẩy mạnh xuất khẩu mang tính hiệu quả được đặc biệt quan tâm,
chú trọng. Đảng và Nhà nước cùng với Tổng cục Thủy sản chủ trì phối hợp với các cơ
quan liên quan và các địa phương theo dõi diễn biến thời tiết và tình hình an ninh trật
tự trên biển, kịp thời chỉ đạo và đề xuất giải pháp phù hợp hỗ trợ cho ngư dân yên tâm
sản xuất trên biển; tổ chức triển khai thực hiện các quy định và các văn bản hướng dẫn
Luật; bám sát mục tiêu Chiến lược Phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để thực hiện đồng bộ cả
03 trụ cột, gồm: khai thác, bảo tồn và nuôi trồng gắn với chế biến; chủ động xây dựng
các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch để triển khai thực hiện; tiếp tục rà soát, hoàn
thiện các chính sách quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, hướng
dẫn triển khai, kiểm tra kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tham mưu, đề xuất
thực hiện các quy định, chính sách hỗ trợ cho hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản.
Đối với Cục Chế biến và phát triển thị trường thủy sản, nghiên cứu cơ chế
khuyến khích, hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp chế biến đa dạng hóa thành phẩm, đặc
biệt là sản phẩm đóng hộp, sản phẩm khô. Bên cạnh đó, Cục còn tổ chức các hội thảo,
diễn đàn doanh nghiệp, giới thiệu, quảng bá sản phẩm trước diễn biến của tình hình
dịch Covid-19. Các Sở tăng cường công tác tập huấn, tuyên truyền, phổ biến cho cán
14
bộ và ngư dân về các quy định, yêu cầu khi xuất khẩu sang thị trường EU.
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động đẩy mạnh xuất thủy sản sang thị trƣờng
EU
1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá theo chiều rộng
 Về sản lƣợng xuất khẩu
Đây là chỉ tiêu định lượng phản ánh khối lượng hàng thủy sản được xuất khẩu
sang thị trường EU của doanh nghiệp. Sản lượng tiêu thụ thể hiện cho năng lực sản
xuất của doanh nghiệp. Sản lượng xuất khẩu hàng thủy sản lớn chứng tỏ quy mô
doanh nghiệp lớn, năng lực sản xuất cao.
Để đánh giá sự thay đổi sản lượng hàng thủy sản xuất khẩu, ta có thể dựa vào hai
chỉ tiêu sau:
 Mức tăng tuyệt đối của sản lượng xuất khẩu:
∆Q = Q1 – Q0
Trong đó: ∆Q là số lượng tăng tuyệt đối của sản lượng xuất khẩu kỳ hiện tại so
với kỳ gốc
Q1: là sản lượng hàng xuất khẩu ở kỳ hiện tại
Q0: là sản lượng hàng xuất khẩu ở kỳ gốc
Giá trị của ∆Q càng lớn thể hiện sự tăng lên càng mạnh sản lượng hàng thủy sản
xuất khẩu.
 Tốc độ tăng trưởng sản lượng hàng thủy sản xuất khẩu
Tốc độ tăng trưởng sản lượng hàng thủy sản xuất khẩu nhanh hay chậm thể hiện
hiện trạng xuất khẩu ở từng thời kỳ. Nếu tốc độ tăng trưởng giảm sẽ báo hiệu tốc độ
phát triển xuất khẩu hàng thủy sản đang bị chững lại. Còn tốc độ tăng trưởng tăng
mạnh thể hiện sự bứt phá trong phát triển xuất khẩu hàng thủy sản.
 Về kim ngạch xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản là đại lượng đo lường tổng giá trị của mặt
hàng thủy sản tham gia xuất khẩu được thống kê theo từng quý hoặc từng năm. Thông
qua chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu có thể đánh giá được doanh số bán hàng xuất khẩu
trong một đơn vị thời gian là bao nhiêu, từ đó có thể so sánh được mức độ tăng giảm
giá trị xuất khẩu qua các thời kỳ. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc đánh giá
kết quả hoạt động xuất khẩu của bất kỳ một doanh nghiệp, tổ chức hay quốc gia nào.
Công thức tính:
M = P x Q
Trong đó: M - Kim ngạch từ hoạt động xuất khẩu mặt hàng đó
P - Giá bán mặt hàng đó trên thị trường xuất khẩu
Q - Số lượng hàng hóa xuất khẩu
15
 Về tăng trƣởng kim ngạch xuất khẩu:
∆M = Mt – M0
Trong đó: ∆M - Sự thay đổi kim ngạch xuất khẩu
Mt - Kim ngạch xuất khẩu năm t
M0 - Kim ngạch xuất khẩu năm gốc
 Về tốc độ tăng trƣởng kim ngạch xuất khẩu:
g(%) = ∆M/M0 x 100%
Trong đó: g - Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
Các chỉ tiêu M; ∆M và g thể hiện cho sự thay đổi về số lượng hay quy mô của
mặt hàng xuất khẩu. Các chỉ tiêu ∆M và g càng lớn thì sự thay đổi trong quy mô xuất
khẩu càng cao, chứng tỏ doanh nghiệp ngày một nâng cao được doanh số xuất khẩu.
1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá theo chiều sâu
 Sự thay đổi về chất lƣợng hàng thủy sản xuất khẩu
Phát triển xuất khẩu hàng thủy sản không thể tách rời việc nâng cao chất lượng
sản phẩm, bởi đây là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của sản phẩm trên
thị trường. Chất lượng hàng thủy sản không ngừng được nâng cao sẽ có tác dụng tích
cực trong việc nâng cao giá trị và giá trị sử dụng cho sản phẩm, đồng thời nâng cao
năng lực cạnh tranh bằng cách tạo ra nhiều yếu tố vô hình như thương hiệu, uy tín.
Điều này thực sự rất quan trọng trong việc nâng tầm giá trị doanh nghiệp, tạo lập tên
tuổi và thương hiệu thu hút khách hàng.
 Sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu
Mục đích của sự chuyển dịch cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu là điều chỉnh sự
phát triển xuất khẩu theo hướng bền vững, hiệu quả hơn. Thực tế hiện nay, xu hướng
phổ biến của các nước là thay thế xuất khẩu các mặt hàng thủy sản gia công đơn giản,
giá trị gia tăng thấp bằng những sản phẩm tinh xảo hơn, đòi hỏi nhiều chất xám và
sáng tạo với giá trị gia tăng cao. Sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu được biểu
hiện qua sự thay đổi tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đó trong tổng kim
ngạch xuất khẩu.
Công thức tính:
R (A) = M (A)/ M x 100%
Trong đó: R(A) - Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A
M(A) - Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A
M - Tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng
 Sự chuyển dịch cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu
Phản ánh tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản sang một thị trường cụ thể
trên tổng kim ngạch xuất khẩu. Mục đích nhằm khai thác hiệu quả hơn các thị trường
16
tiêu thụ, tránh sự phát triển không đồng đều gây ra tình trạng mất cân bằng trong xuất
khẩu. Sự chuyển dịch cơ cấu thị trường hàng thủy sản sang thị trường EU không chỉ
dừng lại ở việc nâng cao thị phần của thị trường EU so với toàn thế giới mà còn
chuyển dịch thị phần giữa các nước trong khu vực EU với nhau.
1.4 Các nguyên tắc và công cụ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang
thị trƣờng EU
1.4.1 Về nguyên tắc
Nguyên tắc được sử dụng trong đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị
trường EU:
Nguyên tắc phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát
triển: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hoá
đa dạng và môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững.
Nguyên tắc tự do thương mại (nguyên tắc mở cửa thị trường) và tạo ra môi
trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng. Bản chất của nguyên tắc này là mở cửa thị
trường quốc gia cho hàng hoá, dịch vụ và đầu tư của nước ngoài. Ý nghĩa của nguyên
tắc này thể hiện ở chổ thông qua cạnh tranh lành mạnh chất lượng hàng hoá ngày càng
được nâng cao cùng với năng suất lao động.
Nguyên tắc minh bạch ổn định trong thương mại. Nguyên tắc này do WTO quy
định các nước thành viên có nghĩa vụ phải bảo đảm tính ổn định rõ ràng và có thể dự
báo được trong thương mại quốc tế, có nghĩa là các chính sách, luật pháp về thương
mại quốc tế phải rõ ràng, minh bạch, phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng cho
thương mại quốc tế. Nguyên tắc này tạo sự ổn định cho môi trường kinh doanh thương
mại quốc tế.
1.4.2 Về công cụ
Thứ nhất, Pháp luật trong đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
Pháp luật là một công cụ quản lý có vai trò vĩ mô quan trọng. Đây là phương
thức Nhà nước sử dụng các quy định trong hệ thống pháp luật và thông lệ trong kinh tế
- thương mại để hướng dẫn, điều chỉnh các hoạt động trong đẩy mạnh xuất khẩu. Pháp
luật trong đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản bao gồm: các văn bản quy phạm pháp luật, các
văn bản hướng dẫn thực hiện,…
Nghị quyết 280-CP về phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu vì sự nghiệp công
nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
Kế hoạch 271/KH-UBND về đẩy mạnh xuất khẩu trên địa bàn thành phố Hà Nội
năm 2022.
Quyết định 339/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến
năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
17
Quyết định 174/QĐ-TTg phê duyệt đề án thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản
đến năm 2030.
Thứ hai, Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
Để thực hiện các nội dung của đẩy mạnh xuất khẩu Nhà nước sử dụng tích cực
các phương pháp và công cụ quản lý. Ngoài công cụ pháp luật thì chính sách cũng là
công cụ được Nhà nước sử dụng nhiều trong quản lý hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu
thủy sản. Chính sách thể hiện các qui định của Nhà nước trong việc sử dụng các biện
pháp về kinh tế hoặc ngoài kinh tế để tác động tới các chủ thể có liên quan đến đẩy
mạnh xuất khẩu thủy sản. Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản cũng hàm chứa
những tính toán, định hướng lâu dài của Chính phủ. Dưới đây là một số chính sách đẩy
mạnh xuất khẩu thủy sản:
 Chính sách mặt hàng
Chính sách mặt hàng để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa là chính sách mà trong đó
Nhà nước đưa ra những quy định về danh mục hàng hóa và dịch vụ được phép hoặc
không được phép xuất khẩu ra nước ngoài. Các quốc gia cần đưa ra những quy định và
cụ thể hóa những quy định đó nhằm giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc lựa
chọn sản phẩm xuất khẩu
 Chính sách thị trường
Nội dung của chính sách thị trường là nhà nước đưa ra những định hướng và các
biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc duy trì và mở rộng thị trường. Xây
dựng thị trường truyền thống và thị trường trong điểm, đồng thời cung cấp những
thông tin về lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế cụ thể là trong lĩnh vực thương mại cũng
như những biện pháp hỗ trợ thích hợp giúp các tổ chức trong nước tham gia vào hội
nhập được thành công
 Các chính sách hỗ trợ
Chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
Ban hành và triển khai Kế hoạch nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh; Kế hoạch hành
động triển khai Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ về những
nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu. Tổ
chức triển khai Chương trình về phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực, Chương
trình hành động về hỗ trợ sản xuất sản phẩm công nghiệp mũi nhọn công nghệ cao trên
cả nước.
Cải cách thủ tục hành chính. Các Sở, ban, ngành đã tích cực triển khai công tác
cải cách thủ tục hành chính, tiến hành rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, công
18
khai thủ tục trên website của các đơn vị, triển khai tốt công tác tiếp nhận và trả hồ sơ
theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; giải quyết thủ tục hành chính theo quy trình
ISO; rà soát và bãi bỏ gần 50 thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực thuế, tài nguyên
môi trường, tạo thuận lợi và đơn giản hóa thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu.
 Chính sách thuế
Thúc đẩy phát triển kinh tế và khuyến khích xuất khẩu nhằm tạo việc làm, cải
thiện và nâng cao mức sống của nông ngư dân và một số đông người lao động, Chính
phủ đã áp dụng mức thuế suất 0% đối với các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu, do đó đã
tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào lĩnh vực chế biến
thuỷ sản xuất khẩu.
 Chính sách khuyến khích đầu tư
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng đề án “ Chính sách khuyến
khích đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông lâm thủy sản”. Mục tiêu quan trọng của đề án
là nâng tỷ lệ chế biến một số loại thủy sản chủ yếu lên trên 70%, nâng cao chất lượng,
giá trị chế biến theo hướng đẩy mạnh chế biến tinh, chế biến sâu, giảm tỷ lệ chế biến
sơ chế, thủ công. Trong chính sách này, phát triển chế biến thủy sản phải gắn với vùng
nguyên liệu và thị trường, đặc biệt là vùng nguyên liệu tập trung có chất lượng.
19
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG
THỊ TRƢỜNG EU GIAI ĐOẠN 2018 – 2020 và 6 THÁNG ĐÀU NĂM 2021.
2.1 Tổng quan thị trƣờng thủy sản EU và các nhân tố ảnh hƣờng đến đẩy
mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trƣờng EU
2.1.1 Tổng quan thị trƣờng thủy sản EU
a) Nhu cầu và xu hướng tiêu thụ thủy sản của EU
 Về nhu cầu tiêu thụ
Theo đài quan sát Thị trường châu Âu đối với Khai thác và nuôi trồng thủy sản
(EUMOFA), mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người ở EU năm 2020 đạt khoảng
24,3 kg/người/năm, giảm so với mức tiêu thụ bình quân 24,9 kg trong năm 2016. Tổng
lượng tiêu thụ thủy sản ở EU lên tới 12,77 triệu tấn/năm. Nguồn cung thủy sản từ
ngoài khối EU chủ yếu đến từ các quốc gia đang phát triển, chiếm 73% tổng giá trị
nhập khẩu từ bên ngoài EU là các nước Trung Quốc, Ecuador, Việt Nam, Maroc và
Ấn Độ. Đa phần người dân EU đều ăn cá hoặc thủy sản ít nhất 1 lần/tuần.
 Về xu hướng tiêu thụ
Liên minh châu Âu (EU) có 27 quốc gia thành viên với dân số là 447 triệu người
(tháng 1/2021 theo thống kê của Eurostat). Nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản
của EU rất cao và là khu vực thị trường có nhu cầu và yêu cầu tiêu dùng, nhập khẩu
thủy sản cao nhất thế giới hiện nay.
Các tiêu chí lựa chọn sản phẩm thủy sản tiêu thụ ở EU thường theo thứ tự sau:
Đa số ưu tiên lựa chọn những sản phẩm thủy sản có xuất xứ ở Châu Âu, sau đó những
sản phẩm thủy sản đảm bảo rõ thông tin về nguồn gốc của sản phẩm, thân thiện với
môi trường, dễ sử dụng, giá của sản phẩm thủy sản đó so với những sản phẩm có tính
chất tương đồng trong bữa ăn và địa điểm sử dụng. Người dân EU thường xuyên ăn
thủy sản tươi sống ở nhà hàng vì họ cho rằng thủy sản tươi sống sẽ ngon hơn khi biết
cách chế biến và các nhà hàng sẽ chế biến thủy sản tươi sống tốt hơn ở nhà. Trong khi
những sản phẩm thủy sản đông lạnh, sơ chế, dễ chế biến sẽ được dùng nhiều hơn ở
nhà, bếp ăn tập thể. Những sản phẩm thủy sản đóng hộp luôn được lựa chọn cho
những chuyến du lịch ngắn ngày.
Ngoài ra những yếu tố liên quan tới văn hóa, mức thu nhập của người dân từng
quốc gia, khu vực sẽ tác động mạnh tới xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của
EU. Xu hướng tiêu dùng thủy sản của EU khi có dịch Covid-19 là những sản phẩm
thủy sản có mức giá trung bình như thủy sản sơ chế đông lạnh, dễ chế biến tại nhà và
thủy sản đóng hộp có nhu cầu tăng mạnh do tính tiện dụng trong bối cảnh phải giãn
cách xã hội vì dịch Covid-19. Đây là những yếu tố nổi bật trong xu hướng tiêu dùng và
nhập khẩu thủy sản của EU trong lúc dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp.
20
Dịch Covid-19 không thay đổi cơ bản về quan điểm tiêu dùng và nhập khẩu thủy
sản ở EU mà chỉ thay đổi ở giá trị sản phẩm và tính tiện dụng của sản phẩm. Cụ thể
như trước đây nhu cầu tiêu dùng tôm cỡ to, tôm sú nhiều hơn, thì nay chuyển dần sang
tôm sú cỡ nhỏ và trung bình hoặc tôm thẻ có mức giá phù hợp trong bối cảnh cắt giảm
chi tiêu. Những sản phẩm tôm phục vụ nhà hàng, thủy sản tươi sống phục vụ nhà hàng
cũng ít được tiêu d ng do đặc thù giãn cách xã hội. Những sản phẩm thủy sản có tính
tiện dụng tiêu dùng ở nhà đang là lựa chọn của phần đông người tiêu dùng thủy sản ở
EU. Riêng thói quen quan tâm tới tính bền vững, nguồn gốc sản phẩm và tính thân
thiện là không thay đổi.
Xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của EU trong thời gian tới có thể sẽ
thay đổi khi dịch Covid-19 được kiểm soát bằng việc tiêm vắc xin trên diện rộng. Khi
đó xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của EU có thể sẽ dần trở lại như trước
đó. Dự đoán, nhu cầu nhập khẩu thủy sản của EU trong thời gian tới sẽ tăng về lượng
so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó thị phần thủy sản của Việt Nam sẽ tăng khi các
doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới thị trường EU tận dụng tốt hơn
những lợi thế từ EVFTA
b) Khả năng đáp ứng cầu thị trường thủy sản EU của Việt Nam
Đánh giá từ Vụ Thị trường châu Âu - châu Mỹ (Bộ Công Thương), hiện EU là
thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, sản lượng và giá trị kim
ngạch xuất khẩu hầu hết các mặt hàng thủy sản đều đang ở mức thấp, chưa tương xứng
với dung lượng thị trường và quan hệ hợp tác thương mại Việt Nam - EU.
Thị trường EU hiện là thị trường tiềm năng cho ngành thủy sản Việt Nam đẩy
mạnh xuất khẩu. Thủy sản Việt Nam cũng được EU công nhận và xếp vào nhóm 1 từ
năm 2000. Cùng với lượng hàng xuất khẩu sang các nước EU liên tục tăng vọt thì
cũng có không ít lô hàng bị cảnh báo và trả về. Theo thống kê mới nhất, Việt Nam có
183 lô hàng thủy sản bị cảnh báo, chiếm 31% tỷ lệ hàng xuất khẩu. Văn phóng SPS
Việt Nam cho biết, đa số các lô hàng thủy sản bị cảnh báo đều không đạt tiêu chuẩn
vật lý, hóa học, sinh học. Trong đó, tổng số lô hàng không đạt tiêu chuẩn về sinh học
chiếm tỷ lệ cao. Ngoài các tiêu chuẩn chi tiết về sản phẩm thủy sản xuất khẩu thì một
yêu cầu khắt khe chung đang đặt ra. Các nước EU đều nhập khẩu theo tiêu chuẩn
chung là GlobalGAP (Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu) nhưng hiện nay sản phẩm
thủy sản của Việt Nam chỉ mới đạt chuẩn VietGAP. Đây là vấn đề khó buộc nhà xuất
khẩu phải đáp ứng tốt, nếu không dễ bị thị trường nhập khẩu “sa thải.”
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, tiến sỹ Claudio Dordi lưu ý các doanh nghiệp
xuất khẩu thủy sản Việt Nam cần chú trọng tăng cường việc ghi nhãn xuất sản phẩm
để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm cũng như thương hiệu sản phẩm thủy sản
21
xuất xứ Việt Nam. Đây cũng là lý do mà hiện nay hầu hết sản phẩm thủy sản xuất
khẩu của Việt Nam được đóng gói tại nước nhập khẩu với tên khác. Điều này đang tạo
ra mức giá mới nhưng doanh nghiệp Việt Nam lại không được hưởng lợi. Theo Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tiêu chuẩn và quy chuẩn của Việt Nam hiện
thấp hơn so với EU. Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam còn gặp phải nhiều rào cản kỹ
thuật tại thị trường nhập khẩu EU.
c) Quy định tiêu chuẩn thủy sản xuất khẩu sang EU
 Những yêu cầu bắt buộc:
Thứ nhất, Quy tắc truy xuất nguồn gốc
Quy tắc về truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm thủy sản NK vào thị trường EU
(số 1379/2013) có hiệu lực từ tháng 12/2014. Theo quy định, nhãn sản phẩm phải cung
cấp thông tin chính xác về việc thu hoạch và sản xuất. Điều này áp dụng cho tất cả các
thủy sản chưa qua chế biến và chế biến. Hệ thống dán nhãn mới cung cấp người tiêu
d ng cơ hội để lựa chọn thủy sản thu hoạch với các phương pháp bền vững hơn và có
nguồn gốc rõ ràng. Một trong những thay đổi quan trọng nhất là yêu cầu xác định ngư
cụ sử dụng và diện tích thu hoạch. Như vậy, DN cần đảm bảo tuân thủ về nhãn. Ngoài
ra, DN có thể có hệ thống cung cấp cho người mua thông tin chính xác về nguồn gốc
của sản phẩm.
Thứ hai, Chứng nhận khai thác thủy sản - chống đánh bắt trái phép
IUU (illegal, unreported and unregulated fishing) là tên viết tắt của các hoạt
động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được quản lý. Theo quy
định IUU, các quốc gia thành viên EU phải áp dụng việc xử phạt ở mức ít nhất gấp 5
lần giá trị của sản phẩm sai phạm, gấp 8 lần giá trị cho các trường hợp tái phạm
trong thời gian 5 năm. Ngoài ra, luật cũng đưa ra các biện pháp xử phạt khác kèm
theo như tịch thu tạm thời tàu đánh bắt cá vi phạm,…
Để chống đánh bắt cá bất hợp pháp, thủy sản khai thác để xuất khẩu hoặc chuyển
lên các tàu tại EU phải có chứng nhận khai thác. DN phải yêu cầu cơ quan thẩm quyền
tại địa phương đưa ra giấy chứng nhận khai thác với sản lượng khai thác dành cho các
thị trường EU. Nếu một quốc gia không tuân thủ các hướng dẫn của châu Âu để ngăn
chặn và loại bỏ khai thác IUU, nước đó có nguy cơ bị EU cấm nhập khẩu tạm thời.
Điều này đã xảy ra với Belize, Campuchia, Guinea và Sri Lanka.
Thứ ba, Yêu cầu về vệ sinh
Có rất nhiều yêu cầu mà sản phẩm thủy sản phải đáp ứng, nhưng để tổng hợp lại
thì chủ yếu liên quan đến vấn đề vệ sinh. Các yêu cầu bao gồm các tiêu chuẩn sức
khỏe thủy sản: chất gây ô nhiễm và vi sinh gây ô nhiễm; đóng gói và lưu trữ - nhiệt độ
nơi lưu trữ và trong thời gian vận chuyển cũng phải được kiểm soát. Việc thực hiện
22
HACCP là một trong những biện pháp căn bản nhưng vệ sinh chung tại cơ sở sản xuất
cũng phải tốt. Người mua hàng rất quan tâm đến cách vệ sinh tại cơ sở sản xuất. DN
phải đưa ra các biện pháp thích hợp. Điều này có tính then chốt thu hút khách hàng
tiềm năng.
Thứ tư, Yêu cầu về các chất gây ô nhiễm
Sản phẩm có thể chứa chất gây ô nhiễm do trong quá trình sản xuất hoặc do môi
trường. Luật của EU giới hạn các chất ô nhiễm. Các chất ô nhiễm bao gồm các kim
loại nặng như chì, cadmium, thủy ngân; dioxin và PCP (pentachlorophenol); PAHs
(polycyclic aromatic hydrocarbons).
Vi sinh vật gây ô nhiễm là khi vi khuẩn vô tình xuất hiện trong sản phẩm. EU có
quy định số 2073/2005 về tiêu chuẩn vi sinh. EU cũng kiểm tra vi sinh như kiểm tra
chất gây ô nhiễm. Ô nhiễm vi sinh có thể được ngăn ngừa bằng các biện pháp vệ sinh
thích hợp. Trong nhiều trường hợp, cơ sở sản xuất gặp khó khăn vì không thể kiểm
soát vi sinh trong nguyên liệu. Do đó, cần có tiêu chuẩn tối thiểu đối với nguồn cung
cấp và phải kiểm tra trước khi nhận hàng.
 Những yêu cầu chung
Yêu cầu chung, là những điều mà hầu hết các đối thủ cạnh tranh đều thực hiện,
nói cách khác, là những điều DN cần phải tuân thủ để theo kịp với thị trường đó là
giấy chứng nhận an toàn thực phẩm
IFS và BRC là các chương trình chứng nhận an toàn thực phẩm thường được yêu
cầu nhiều nhất. Hai tiêu chuẩn thực phẩm thiết yếu đối với nhà cung cấp để thâm nhập
thị trường bán lẻ. Yêu cầu về an toàn thực phẩm đang ngày càng tăng. Khách hàng
(người tiêu dùng) và các cấp chính quyền ngày càng đưa ra những yêu cầu cao hơn về
việc thực phẩm mà chúng ta sử dụng phải đạt chất lượng và an toàn cao. Những yêu
cầu này đầu tiên thường liên quan trực tiếp đến những nhà bán lẻ, nhưng ngày nay thì
trách nhiệm đó đã được mở rộng đến toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm bao gồm các
nhà sản xuất thực phẩm, nhà sản xuất sơ cấp và nhà vận chuyển.
2.1.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam
sang thị trƣờng EU
a) Nhân tố khách quan
Thứ nhất, Nhu cầu của thị trường EU
Đây là yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng quan trọng, quyết định đến khả năng thành
công của sản phẩm xuất khẩu. Sự biến động của thị trường EU ảnh hưởng trực tiếp đến
khả năng duy trì vị thế của mỗi sản phẩm doanh nghiệp của các quốc gia xuất khẩu
trên bản đồ cạnh tranh. Qui mô và xu hướng biến động của thị trường EU sẽ kéo theo
sự thay đổi trong cạnh tranh của sản phẩm. Những biến động này có thể làm mất đi
23
những thế mạnh hiện tại mà sản phẩm thủy sản đang có nhưng cũng có thể mang lại cơ
hội mới cho sản phẩm. Với sản phẩm thủy sản nhu cầu tại thị trường EU được xác
định thông qua hai nhu cầu cơ bản. Nhu cầu tiêu dùng thủy sản nội địa phụ thuộc vào
quy mô dân số và khối lượng tiêu dùng bình quân nhu cầu phục vụ xuất khẩu
Thứ hai, Rào cản thương mại thị trường EU
EU là thị trường phát triển vốn có nhu cầu cao về các sản phẩm tiêu d ng đang
có xu hướng dựng lên ngày càng nhiều các hàng rào thương mại, làm tăng thêm sức ép
về việc tạo dựng các lợi thế cạnh tranh ngoài những lợi thế quốc gia sẵn có của các
nước đang phát triển. Đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu các quốc gia nhập khẩu
thường xây dựng các rào cản thương mại sau: Các rào cản về quy trình và thủ tục nhập
khẩu thủy sản; các rào cản về kiểm tra, kiểm soát nhập khẩu thủy sản của các cơ quan
quản lý các rào cản về thuế các rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm bao gỏi nhãn
mác thủy sản nhập khẩu, các rào cản liên quan đến xuất xứ, nguồn gốc thủy sản xuất
khẩu các rào cản quy định về môi trường.
b) Nhân tố chủ quan
Thứ nhất, Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật
Điều kiện về yếu tố sản xuất giữ vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất
khẩu ở bất kỳ một quốc gia nào. Trong hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu, các điều kiện
về yếu tố sản xuất được xem là nền tảng của lợi thế mà các doanh nghiệp, các ngành
có thể tận dụng từ quốc gia của mình để tạo ra các sản phẩm có năng lực cạnh tranh.
Các yếu tố đầu vào sản xuất cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu có thể kể đến như: Tiềm
năng về nguồn lợi thủy sản là những tác nguyên sinh vật trong môi trường nước, có giá
trị kinh tế được con người khai thác; nguồn nhân lực cho ngành thủy sản thể hiện qua
số lượng, kỹ năng, trình độ và đạo đức nghề nghiệp, công nghệ trong nuôi trồng, công
nghệ đánh bắt, công nghệ bảo quản sau thu hoạch công nghệ chế biến.
Thứ hai, Vai trò của Chính phủ
Vai trò của chính phủ thể hiện thông qua việc kết nối và khuyếch đại các nhân tố
của năng lực cạnh tranh sản phẩm. Chính sách của chính phủ có thể tạo ra một môi
trường cho phép doanh nghiệp đạt được lợi thế của mình. Vai trò của chính phủ đối
với mặt hàng thủy sản xuất khẩu được thể hiện qua các nội dung như sự hỗ trợ của
chính phủ đối với lĩnh vực thủy sản đưa ra các quy định đối với mặt hàng thủy sản
xuất khẩu và kiểm soát việc thực hiện của các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu nhằm
mở rộng thị trường xuất khẩu như tham gia vào các tổ chức các cộng đồng kinh tế, ký
kết các hiệp định thương mại.
Thứ ba, Các ngành hỗ trợ và liên quan
Các ngành hỗ trợ và ngành liên quan giúp cho ngành công nghiệp chính tạo ra
24
sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Hon nữa, mối liên hệ chặt chẽ giữa các ngành sẽ tạo
điều kiện đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ để duy trì các lợi thế bền vững hơn.
Trong chuỗi giá trị của sản phẩm, sự gắn kết của các công đoạn trong qui trình sản
xuất kinh doanh có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập sự bền vững trong sự phát
triển của sản phẩm. Các ngành hỗ trợ và liên quan cho mặt hàng thủy sản xuất khẩu
phải kể đến: Hậu cần nghề cá bao gồm hệ thống thủy lợi, cảng cá sản xuất tàu thuyền,
hệ thống kho lạnh các hiệp hội thủy sản, hệ thống ngân hàng cung cấp tài chính cho
ngành thủy sản, các tổ chức đào tạo, nghiên cứu về thủy sản.
Thứ tư, Chính trị, xã hội và quân sự
Sự ổn định hay không ổn định về chính trị xã hội cũng là nhân tố ảnh hưởng đến
hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống
chính trị , các quan điểm chính trị , xã hội đều tác động trực tiếp đến phạm vi lĩnh vực,
mặt hàng và đối tác kinh doanh. Mặt khác các xung đột lớn hay nhỏ về quân sự trong
nội bộ Việt Nam và giữa các quốc gia dẫn đến sự thay đổi lớn về các chính sách kinh
tế, chính trị, quân sự. Từ đó tạo ra các hàng rào vô hình ngăn cản hoạt độnh kinh
doanh quốc tế đặc biệt là đẩy mạnh xuất khẩu.
2.2 Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trƣờng EU giai đoạn
2018 – 2020 và 6 tháng đầu năm 2021
2.2.1 Về kim ngạch xuất khẩu
Theo VASEP, thẻ vàng IUU của Ủy ban châu Âu (EC) đã khiến kim ngạch xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam sang Liên minh châu Âu (EU) sụt giảm liên tục từ năm
2018 đến nay. Sau 2 năm chịu tác động từ thẻ vàng, kim ngạch xuất khẩu thủy sản
sang EU giảm 12%, tương đương 183,5 triệu USD. Xu hướng giảm này tiếp tục kéo
dài hơn nữa vào năm 2020, đặc biệt do bị tác động kép bởi dịch COVID-19 và thẻ
vàng IUU làm cho kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường này giảm đáng kể.
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU
giai đoạn 2018 – 6T 2021
Năm Sản lƣợng (nghìn tấn) Kim ngạch (tỷ USD)
2018 236,8 1,35
2019 224,3 1,29
2020 212,6 1,22
6T 2021 104,3 0,485
Nguồn: Báo Cáo Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
25
Do ảnh hưởng của thẻ vàng IUU, xuất khẩu thủy sản sang EU đã giảm đáng kể
trong những năm qua. Năm 2018, năm đầu tiên chịu ảnh hưởng của thẻ vàng IUU,
tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU giảm xuống còn 1.35 tỷ USD.
Từ vị trí thứ 2 trong các thị trường xuất khẩu thủy sản, sau khi EC cảnh báo thẻ vàng
đối với thủy sản khai thác của Việt Nam, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị
trường Châu Âu đã tụt xuống đứng thứ 5 và tỉ trọng của thị trường sụt giảm từ 18%
xuống 13%.
Năm 2019, tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU đạt khoảng
1.29 tỷ USD, trong đó sản phẩm hải sản khai thác đóng góp khoảng 387 triệu USD. So
với năm 2018, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU năm
2019 giảm 12%. Đặc biệt, hội nghị đánh giá 2 năm triển khai chương trình "Doanh
nghiệp cam kết chống khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo qui định
(IUU)" diễn ra trong bối cảnh đoàn Thanh tra của Ủy ban châu Âu EC sang làm việc
với các cơ quan hữu quan Việt Nam để kiểm tra việc thực hiện các khuyến nghị của
EC sau năm bị cảnh cáo "thẻ vàng". Trong lần kiểm tra này, đoàn thanh tiến hành
kiểm tra 4 nhóm khuyến nghị mà EC đã yêu cầu nước ta phải thực hiện là Khung pháp
lý; Hệ thống theo dõi, giám sát và kiểm soát hoạt động tàu cá; Thực thi pháp luật và
Truy xuất nguồn gốc thủy sản từ khai thác. Đến nay, sau những năm thực hiện tốt các
quy định cả nước có 62 doanh nghiệp cam kết IUU bằng việc tuân thủ nguyên tắc chỉ
thu mua từ những tàu đánh bắt có đầy đủ giấy phép, nhật ký khai thác và chứng nhận
của cảng. Theo báo cáo của Hiệp hội VASEP, sau năm EC cảnh báo thẻ vàng đối với
hải sản khai thác của Việt Nam, xuất khẩu hải sản của Việt Nam sang thị trường EU đã
bị tác động rõ rệt. Kim ngạch xuất khẩu giảm 6,5% còn gần 390 triệu USD trong năm
2018 và tiếp tục chững lại trong những tháng đầu năm năm 2019 với 251 triệu USD.
Năm 2020, tuy có hồi phục sau khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU
(EVFTA) có hiệu lực từ ngày 1/8/2020 nhưng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam sang thị trường EU giảm 6% so với năm 2019, kim ngạch xuất khẩu thủy sản
sang EU đạt 1,22 tỷ USD. Tuy nhiên, theo Báo cáo khó dựa vào các số liệu xuất khẩu
thủy sản sang EU năm 2020 để phân tích định lượng tác động từ thẻ vàng. Bởi, suy
giảm xuất khẩu năm 2020 không chỉ chịu tác động bởi thẻ vàng, mà còn bị ảnh hưởng
bởi cả đại dịch COVID-19. Mặt khác, xuất khẩu thủy sản sang EU từ nửa cuối năm
2020 còn được tác động từ Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã
mang lại kết quả tích cực cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Thủy sản là một trong
những ngành xuất khẩu được hưởng lợi đáng kể khi EVFTA có hiệu lực vì 50% số
dòng thuế sẽ về 0% vào năm 2020, bao gồm các mặt hàng chính như tôm, cá ngừ, mực
và bạch tuộc.
26
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam
Biểu đồ 2.1: Lƣợng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU qua
các tháng trong năm 2020 - 2021.
Biểu đồ lượng và trị giá xuất khẩu năm 2021 cho thấy ngoại trừ tháng 2 (tháng có
đợt nghỉ Tết nguyên đán) thì lượng và trị giá xuất khẩu thủy sản các tháng năm 2021
đều tăng so với năm trước. Cục Xuất nhập khẩu cho biết xuất khẩu hàng thủy sản của
Việt Nam sang thị trường EU trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 485,3 triệu USD và
tăng 20% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, Hà Lan, Đức, Italia, Bỉ và Pháp là
những thị trường xuất khẩu lớn nhất trong khối thị trường này. BCT nhận định, trong
những tháng cuối năm 2021, nhu cầu tiêu thụ tại EU đang có xu hướng hồi phục trở lại
cộng với những ưu đãi đặc biệt về thuế quan từ EVFTA sẽ tiếp tục tạo thuận lợi cho
các sản phẩm thủy sản của Việt Nam tăng thêm tính cạnh tranh tại thị trường EU.
Song trước diễn biến của dịch bệnh, ảnh hưởng của thẻ vàng IUU sẽ tiếp tục là những
yếu tố tác động lớn nhất đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường này.
2.2.2 Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Từ nhiều năm nay, các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của VN vẫn là tôm,
cá biển, mực, bạch tuộc và các loại thủy sản đông lạnh và các loại thủy sản khô. Cơ
cấu các mặt hàng XK của nước ta ngày càng bổ sung thêm các mặt hàng có giá trị như
cá ngừ, nghêu và một số đặc sản khác. Trong đó, tôm vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ
yếu, sản lượng tôm ngày càng tăng, đến nay theo ước tính có thể đạt gần 3 triệu tấn,
thỏa mãn tương đối tốt nhu cầu tiêu thụ của thế giới nói chung và của EU nói riêng.
27
Bảng 2.2: Kim ngạch các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU giai đoạn 2018 -
6T 2021
Đơn vị: triệu USD
Mặt hàng
Năm
Cá Tôm
Mực,
bạch tuộc
Thủy
sản khác
2018 307,1 838,3 53,6 152,7
2019 492,3 689,8 49,5 148,2
2020 411,5 591,6 45,2 135,8
6T 2021 151,053 255,7 19,1 78,057
Nguồn: Tổng Cục Hải quan
Về mặt hàng tôm
Kết thúc năm 2018, xuất khẩu tôm của Việt Nam không khả quan như mong đợi,
giảm 7,8% so với năm 2017.Giá tôm trong nước có lúc giảm 20-30% cũng ảnh hưởng
tới nguồn cung và nhu cầu thị trường và giá trị XK. Nguồn cung từ các nước sản xuất
tôm như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia tăng, nên tôm Việt Nam không thể xuất mạnh
sang thị trường này. EU vẫn là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam,
chiếm 23,6% tổng giá trị xuất khẩu tôm Việt Nam đi các thị trường. Năm 2018, xuất
khẩu tôm Việt Nam sang EU đạt 838,3 triệu USD, giảm 2,8%. Xuất khẩu tôm sang EU
tăng trưởng tốt trong nửa đầu năm và có xu hướng giảm trong nửa cuối năm.
Trong năm 2019, XK tôm Việt Nam sang thị trường EU đạt 689,8 triệu USD,
giảm 17,7% so với năm 2018. Riêng trong quý IV/2019, XK tôm Việt Nam sang EU
đạt 176,4 triệu USD, giảm 7,1% so với quý IV/2018. Trong quý cuối cùng của năm
2019, XK tôm sang EU có chiều hướng tốt hơn, không giảm sâu như 3 quý đầu năm.
Cả năm 2019, XK tôm sang EU chỉ tăng nhẹ trong tháng 7 và 11, các tháng còn lại đều
giảm. Trong đó Tôm chân trắng là sản phẩm chủ đạo XK sang EU, chiếm tỷ trọng
79,9% tổng các sản phẩm tôm xuất sang EU, tôm sú chiếm 12,2%, còn lại là các sản
phẩm tôm biển. Giá trị XK các sản phẩm tôm chân trắng sang EU trong năm 2019
giảm mạnh hơn giá trị XK tôm sú sang thị trường này. Dưới đây là biểu đồ kim ngạch
xuất khẩu tôm sang thị trường EU. Nhìn vào biểu đồ có thể thấy được sự giảm đáng kể
trong kim ngạch của mặt hàng tôm khi xuất khẩu sang thị trường này.
Cả năm 2020, xuất khẩu của ngành thủy sản đạt kim ngạch 8,6 tỷ USD, trong đó
riêng mặt hàng tôm xuất khẩu đạt 3,78 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng hơn 12,4%. Như
vậy, mặc dù có những thời điểm trồi sụt thất thường trong năm vì dịch bệnh, thị trường
xuất khẩu tôm đã trở thành điểm sáng của ngành xuất khẩu thủy sản năm 2020. Theo
28
VASEP, lĩnh vực xuất khẩu tôm Việt Nam năm 2020 hoạt động tốt mặc dù dịch
Covid-19 diễn biến phức tạp trên toàn thế giới, ở cả các nước nhập khẩu và các nước
nguồn cung. Nhưng đến cuối năm, đã có cú nước rút ngoạn mục. Điều đáng lưu ý là
xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU giảm liên tục từ tháng 3 đến tháng 6, nhưng từ tháng
7 và 8-2020 bắt đầu bật tăng so với những tháng trước đó. Cụ thể, tháng 7-2020 đạt
54,2 triệu USD, tăng 2% so với tháng 7-2019; tháng 8-2020, đạt 394,6 triệu USD, tăng
gần 12% so với tháng 8-2019, và tăng 7,2 lần so với tháng 7-2020. Điều này được cho
là nhờ tác động tích cực từ Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ đầu tháng 8-2020.
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam
Biểu đồ 2.2: Lƣợng và kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trƣờng
EU theo quý năm 2020-2021
Từ biểu đồ thống kê cho biết xuất khẩu tôm sang thị trường EU 6 tháng đạt
255,7 triệu USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, riêng tôm chân
trắng đạt trên 205 triệu USD, tăng 31%. Theo số liệu thống kê được từ Cục Hải quan,
xuất khẩu tôm sang EU tăng trưởng mạnh do tôm là mặt hàng có thuế nhập khẩu ưu
đãi theo EVFTA được cắt giảm ngay. Thị trường EU chiếm trên 14% tổng kim ngạch
xuất khẩu tôm của Việt Nam, đứng thứ ba sau thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Về mặt hàng mực và bạch tuộc
EU là thị trường nhập khẩu mực, bạch tuộc lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm tỷ
trọng 12,4%. Nếu như năm 2017, xuất khẩu mực Việt Nam sang thị trường này đạt tốc
độ tăng trưởng trên 50% thì năm 2018 xuất khẩu sang thị trường này giảm 21,7% đạt
trên 40triệu USD do tác động của thẻ vàng IUU. Trong tổng cơ cấu sản phẩm mưc,
bạch tuộc xuất khẩu sang EU, mực chiếm tỷ trọng áp đảo 70%, còn lại bạch tuộc
chiếm 30%. Trong số các sản phẩm mực xuất khẩu sang EU, mực sống/tươi/đông lạnh
29
(thuộc mã HS03) chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng giá trị XK giảm mạnh nhất 37,2%.
Mực khô, nướng, (thuộc mã HS03) chiếm tỷ trọng thấp nhất nhưng giá trị XK tăng cao
nhất. Tính tới cuối năm 2018, NK mực vào EU đạt 53.6 triệu USD, giảm 6,7% so với
cùng kỳ năm 2017. Trong đó Pháp và Bồ Đào Nha là 2 nước NK lớn nhất mặt hàng
này trong khối.
Biểu đồ 2.3: Kim ngạch xuất khẩu mực, bạch tuộc sang thị trƣờng EU giai đoạn
2018 – 6T 2021
Nhìn vào biểu đồ ta thấy xuất khẩu mực, bạch tuộc sang liên tục giảm mạnh do
chịu tác động của thẻ vàng IUU, cộng thêm tác động của dịch bệnh Covid-19 khiến
nhu cầu giảm. Tuy nhiên, tháng 8/2020, xuất khẩu mực, bạch tuộc sang thị trường này
đã tăng trở lại 10% đạt 5,8 triệu USD. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Pháp tăng trên
101% đạt 0,7 triệu USD. Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ 1/8/2020 đã mang lại ưu đãi
thuế cho xuất khẩu mực, bạch tuộc Việt Nam sang EU giúp xuất khẩu mực, bạch tuộc
sang EU trong những tháng cuối năm đạt được nhiều kết quả tốt. Tính đến 6 tháng đầu
năm 2021 nhờ tăng trưởng tốt EU đã vượt qua Thái Lan trở thành thị trường NK mực,
bạch tuộc lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm 10,8% tổng giá trị XK mực, bạch tuộc của
Việt Nam đi các thị trường.
Về mặt hàng cá
Cá ngừ các loại và cá tra, là 2 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất sang thị EU, trong
đó cá ngừ các loại tăng trưởng tốt, trong khi đó xuất khẩu cá tra giảm mạnh. Cá ngừ
các loại chiếm 25,2% về lượng và chiếm 14% về trị giá; cá tra chiếm 15,8% về lượng
và chiếm 7,1% về trị giá trong tổng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường
EU.
0
10
20
30
40
50
60
Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 6T 2021
Kim ngạch xuất khẩu mực, bạch tuộc sang thị
trƣờng EU giai đoạn 2018 - 2020 và 6T 2021
xuất khẩu mực, bạch tuộc
30
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam
Biểu đồ 2.4: Lƣợng và kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang EU theo
quý năm 2020-2021
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cá ngừ các
loại của Việt Nam tới thị trường EU trong quý II/2021 đạt 9,36 nghìn tấn với trị giá
45,05 triệu USD, tăng 43,9% về lượng và tăng 59,3% về trị giá so với quý I/2021; tăng
41,3% về lượng và tăng 50,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020. Tính chung nửa
đầu năm 2021, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam tới thị trường EU đạt 15,87 nghìn tấn
với trị giá 73,33 triệu USD, tăng 39,3% về lượng và tăng 31,6% về trị giá so với cùng
kỳ năm 2020, chiếm 15,2% về lượng và chiếm 15,1% tổng trị giá xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam sang EU.
31
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam
Biểu đồ 2.5: Lƣợng và kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam sang EU theo
quý năm 2020-2021
Theo lộ trình giảm thuế của Hiệp định EVFTA, các sản phẩm cá tra xuất khẩu
vào EU được giảm thuế về 0% sau 3 năm khi EVFTA có hiệu lực, riêng cá tra hun
khói là 7 năm. Tuy vậy, trong những tháng đầu năm 2021, xuất khẩu cá tra của Việt
Nam tới thị trường EU gặp nhiều khó khăn trước tác động của dịch Covid-19. Trong
quý II/2021, xuất khẩu cá tra của Việt Nam tới thị trường EU đạt 14,2 nghìn tấn với trị
giá 32,1 triệu USD, tăng 26,8% về lượng và tăng 26,4% về trị giá so với quý I/2020;
tăng 6,5% về lượng và giảm 3,8% về trị giá so với quý II/2020. Tính chung 6 tháng
đầu năm 2021, xuất khẩu cá tra của Việt Nam tới EU đạt 25,4 nghìn tấn, trị giá 57,52
triệu USD, giảm 12,2% về lượng và giảm 16,8% về trị giá so với cùng kỳ năm2020.
Trong đó Hà Lan, Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, Italia... lần lượt là những thị trường nhập
khẩu cá tra Việt Nam lớn nhất của EU.
Như vậy, Theo nhận định của Cục Xuất nhập khẩu nhu cầu các loại thủy sản thế
giới nói chung và tại EU nói riêng dự kiến tiếp tục duy trì xu hướng tăng trong bối
cảnh nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu của EU hồi phục trong khi nguồn cung của thế
giới còn hạn chế. Tuy vậy, sức ép cạnh tranh và những quy định, rào cản kỹ thuật vẫn
đang và sẽ tiếp tục gây khó khăn cho ngành thủy sản Việt Nam. Các đối thủ cạnh tranh
quốc tế nói chung và ngay cả một số thị trường sở tại châu Âu nói riêng, hiện đang có
xu hướng đưa ra quy định, tiêu chí khắt khe hơn đối với sản phẩm nhập khẩu vào thị
trường Châu Âu - thị trường lớn thứ 2 về nhập khẩu thủy sản Việt Nam.
32
2.2.3 Về thị trƣờng xuất khẩu
Về thị trường, theo Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương, trong nhiều năm
qua, Hà Lan luôn là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam tại EU. Đón
đầu Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) với những ưu đãi lớn về
thuế đã và đang giúp mặt hàng thủy sản Việt Nam bước đầu tận dụng cơ hội, đẩy
mạnh xuất khẩu vào thị trường, bất chấp những khó khăn về dịch bệnh.
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang các thị trƣờng tiềm năng
của EU giai đoạn 2018 – 6T 2021
Đơn vị: Kim ngạch (triệu USD)
Năm
Thị trƣờng
2018 2019 2020 6T 2021
Hà Lan 296 215,196 224 99,2
Đức 194,4 183,6 180,9 91,9
Italia 117,5 105,8 90,9 62,9
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
Trong EU, Việt Nam xuất khẩu thủy sản nhiều nhất sang các thị trường Hà Lan,
Đức, Italy, Tây Ban Nha.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam tới Hà Lan giảm liên tiếp trong 2 năm 2018 và 2019 là do chịu ảnh hưởng
bởi “thẻ vàng” khiến cho xuất khẩu thủy sản khai thác tới EU giảm mạnh. Trong năm
2020, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới Hà Lan tăng nhẹ so với năm
2019 cho dù dịch Covid-19 tác động xấu tới nhu cầu nhập khẩu thủy sản của Hà Lan.
Nguyên nhân chính là do xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới Hà Lan giai đoạn cuối
năm 2020 đã bứt phá khi EVFTA có hiệu lực từ ngày 1/8/2020. Theo báo cáo xuất
nhập khẩu thu được, trong 6 tháng đầu năm 2021,xuất khẩu thủysản của Việt Nam tới
thị trường Hà Lan tăng 7,4% về lượng và tăng 4,8% về trị giá so với cùng kỳ năm
2020 đạt 19.9 nghìn tấn với trị giá 99.2 triệu USD, chiếm 19,09% về lượng và chiếm
20,45% về trị giá xuất khẩu thủy sản tới EU. Đây là thị trường có tiêu thụ thủy sản lớn
nhất của Việt Nam tại EU. Trong đó, xuất khẩu tôm chiếm 40% về lượng và 65,2% về
trị giá; xuất khẩu cá tra chiếm 35,9% về lượng và 19,6% về trị giá; xuất khẩu cá ngừ
chiếm 5,3% về lượng và 6,5% về trị giá... Trong ba nhóm hàng xuất khẩu chính chỉ có
nhóm hàng tôm có lượng và trị giá xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2020.
Từ bảng số liệu cơ cấu kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang các thị trường EU, ta
thấy được xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Đức tăng trong năm 2017 và 2018,
33
nhưng giảm trong 2 năm tiếp theo 2019 và 2020 do nhóm hàng thủy sản khai thác của
Việt Nam xuất khẩu tới EU chưa tháo bỏ được thẻ vàng IUU. Năm 2018 đạt 194,4
triệu USD tăng 3,82% so với năm 2017, tới năm 2020 trị giá còn 180,9 triệu USD
giảm 3,73% so với năm 2019. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam sang thị trường Đức đạt 14,6 nghìn tấn, trị giá 91,9 triệu USD, tăng
15,7% về lượng và tăng 18,9% về trị giá so với 6 tháng đầu năm 2020. Tôm các loại,
cá ngừ các loại và cá tra, basa là 3 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất sang thị trường Đức.
Xuất khẩu tôm các loại và cá ngừ các loại tăng trưởng tốt, trong khi đó xuất khẩu cá
tra, basa giảm mạnh. Tôm các loại chiếm 50,3% về lượng và chiếm 72,9% về trị giá;
cá ngừ các loại chiếm 25,2% về lượng và chiếm 14% về trị giá; cá tra, basa chiếm
15,8% về lượng và chiếm 7,1% về trị giá trong tổng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam
sang Đức trong 6 tháng đầu năm 2021.
Tại thị trường Italia xuất khẩu thủy sản trong 3 năm 2018, 2019 và 2020 giảm do
nhu cầu tại thị trường này giảm trong bối cảnh dịch Covid diễn biến phức tạp. Cụ thể,
năm 2018 đạt 117,5 giảm 9,4% so với năm 2017. Tới năm 2020 trị giá còn 90,9 triệu
USD, giảm 13,6% so với năm 2019. Còn trong 6 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam sang thị trường Italia đạt 16,3 nghìn tấn, trị giá 62,9 triệu USD, tăng
56,7% về lượng và tăng 77,6% về trị giá so với 6 tháng đầu năm 2020. Trong 6 tháng
qua, xuất khẩu các nhóm hàng thủy sản lớn của Việt Nam sang thị trường Italia như cá
ngừ các loại nghêu, mực,tôm, các loại cá đều tăng trưởng khả quan và bước đầu tận
dụng tốt được Hiệp định EVFTA. Trong những thị trường nhập khẩu thủy sản ngoài
EU, Việt Nam là thị trường cung cấp thủy sản lớn thứ 5 cho Italia, với lượng đạt 10,14
nghìn tấn, trị giá 40,3 triệu USD. Thị phần thủy sản tính theo lượng của Việt Nam
trong tổng nhập khẩu thủy sản của Italia tăng từ 2,3% trong 4 tháng đầu năm 2020 lên
3,1% trong 4 tháng đầu năm 2021.
2.2.4 Về hiệu quả xuất khẩu
Qua số liệu thống kê cho thấy, trong suốt giai đoạn trước sản lượng và giá trị kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang EU của Việt Nam đều giảm qua các năm trừ năm 2021.
Trung bình giai đoạn 2018 - 2020, tốc độ tăng về sản lượng nhanh hơn tốc độ tăng về
giá trị, điều này là một trong những nguyên nhân dẫn tới hiệu quả xuất khẩu sang EU
của Việt Nam là chưa cao.
Kết quả tính toán cho thấy, có lẽ đây là thị trường xuất khẩu thuỷ sản có hiệu
không cao đối với ngành thuỷ sản Việt Nam, để gia tăng kim ngạch xuất khẩu vào thị
trường này các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản trong nước phải đẩy mạnh sản lượng
xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường này. Hiện nay ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản
của Việt Nam đang chạy đua với việc sản xuất với khối lượng hàng hoá thuỷ sản ngày
34
một nhiều hơn để gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản ở các thị trường EU,
điều này chứng tỏ rằng các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam đang tập chung
phát triển theo chiều rộng (cả về số lượng nhà máy chế biến lẫn công suất), chưa chú
trọng đến công tác qui hoạch phát triển theo chiều sâu (đầu tư có trọng điểm các nhà
máy chế biến thuỷ sản với công nghệ cao chế biến các mặt hàng giá trịgia tăng) để
tăng hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên thuỷ sản trong nước lên theo hướng tăng giá
trị sản xuất trên cùng một đơn vị nguyên liệu chế biến (có nghĩa là sản phẩm sản xuất
ít hơn nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu mang lại nhiều hơn).
Để đảm bảo giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 8.5 - 9 tỷ USD vào năm 2022 và vẫn
phải song song với việc gia tăng sản lượng chế biến thuỷ sản như hiện nay là không có
hiệu quả và không bền vững, việc làm này sẽ đặt các doanh nghiệp chế biến rơi vào
tình trạng thiếu nguyên liệu trầm trọng, giảm tính cạnh tranh trên trường quốc tế. Nếu
làm tốt công tác quy hoạch phát triển ngành chế biến thuỷ sản theo chiều sâu sẽ giảm
một phần áp lực thiếu nguyên liệu và nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh
nghiệp chế biến thuỷ sản của Việt Nam trên thị trường Eu tế trong thời gian tới.
Ngoài ra việc tiêu hao ít nguyên liệu hơn trong chế biến và chế biến ra các mặt
hàng giá trị gia tăng mà vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuấtkhẩu theo
như kế hoạch và mục tiêu đề ra mà không khai thác quá mức nguồntài nguyên thuỷ sản
trong nước cũng đồng nghĩa với việc chúng ta bảo vệ được nguồn tài nguyên thuỷ sản
trong nước giúp phát triển bền vững ngành thuỷ sản trong thời gian tới. Đây cũng là
mục tiêu chung cần hướng tới của ngành thuỷsản nói riêng cũng như chiến lược xuất
khẩu của Việt Nam nói chung đến năm 2030
2.3 Đánh giá thực trạng xuất khẩu thủy sản EU
2.3.1 Những kết quả đạt đƣợc
Thứ nhất, phát triển toàn diện trên các lĩnh vực, nâng cao đời sống nhân dân,
đồng thời góp phần bảo đảm an ninh và chủ quyền trên biển.
Việc khai thông thị trường đã thúc đẩy phát triển cơ sở vật chất và năng lực khai
thác, nuôi trồng thuỷ sản, năng lực hậu cần dịch vụ, tạo việc làm với thu nhập ngày
càng cao cho hàng ngàn lao động, bảo đảm đời sống của hơn 3 triệu người, làm
chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng nông thôn ven biển, đặc biệt là của các cộng đồng ngư
dân và nông ngư dân. Từ chỗ là một bộ phận không lớn thuộc khối kinh tế nông
nghiệp, với trình độ lạc hậu, thuỷ sản đã trở thành một ngành kinh tế công nông nghiệp
có tốc độ phát triển cao, qui mô ngày càng lớn, góp phần ổn định và phát triển kinh tế
đất nước.
Thứ hai, Về việc đáp ứng các tiêu chuẩn của EU về tiêu chuẩn kĩ thuật
Mặc dù sự kiểm tra chặt chẽ của cơ quan quản lí thực phẩm EU được cụthể hóa
35
bằng luật IUU nhưng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU đã đạt được những kết
quả đáng khích lệ. Chất lượng hàng thủy sản của Việt Nam không ngừng được nâng
cao, hoạt động đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản
luôn được đổi mới, công nghệ chế biến thủy sản (theo tiêu chuẩn HACCP-là loại giấy
chứng nhận được phép xuất khẩu thủy sản vào EU) luôn được cải tiến. Các doanh
nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản đều có đủ tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm
và được EU chấp nhận. Những thành tựu đổi mới đó đã tạo uy tín trên thị trường EU.
Chính vì vậy, các doanh nghiệp thủy sản đã tăng cường việc áp dụng các hệthống tiêu
chuẩn kĩ thuật phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi khắt khe của EU
Thứ ba, Về vấn đề bán phá giá hàng thủy sản
Khác so với thị trường Mỹ, hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU gặp rất ít
và hầu như không có vụ kiện bán phá giá nào. Một phần là do nhu cầu nhập khẩu thủy
sản của thị trường EU lớn nên EU thường không dùng biện pháp chống bán phá giá
như một biện pháp trả đũa thương mại hay mang tính chính trị. Bên cạnh đó hàng thủy
sản Việt Nam xuất khẩu sang EU với mức giá hợp lí và nhiều chủng loại có lợi thế
cạnh tranh khá cao đặc biệt tôm và cá. Hàng thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam hầu như
không gây ảnh hưởng cho hàng nội địa của EU nên thường không bị kiện bán phá giá.
Đây cũng là một lợi thếcho hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU.
Thứ tư, Xây dựng và đào tạo được một đội ngũ các nhà doanh nghiệp thuỷ sản.
Xuất hiện nhiều tấm gương, nhiều mô hình sản xuất xuất sắc, đầy tính năng động, sáng
tạo.
Ngoài đội ngũ doanh nghiệp thuỷ sản có kiến thức và kinh nghiệm hoạt động
trong nền kinh tế thị trường còn có hàng trăm kỹ sư giỏi và nhiều công nhân lành
nghề. Đội ngũ này có nhiệt tình và ý chí vươn lên mạnh mẽ, là lực lượng có vị trí quan
trọng trong giai đoạn phát triển sắp tới. Trong 15 năm qua cũng đã xuất hiện một thế
hệ ngư dân mới, đông đảo, có tri thức kỹ thuật và kinh nghiệm góp phần tích cực vào
sản xuất và bảo quản nguyên liệu.
Các doanh nghiệp đã đầu tư cải tạo nâng cấp nhà xưởng, đổi mới trang thiết bị,
công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh phù hợp với
yêu cầu thị trường thế giới. Cho đến nay, toàn ngành thuỷ sản đã có trên 250 nhà máy
chế biến công nghiệp, công suất chế biến theo thiết kế vào khoảng 1000 tấn thành
phẩm mỗi ngày và hơn nữa là đã có 68 doanh nghiệp được EU cấp mã số xuất khẩu.
Điều này đã góp phần lớn tạo nên tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao của ngành
Thứ năm, Thành công trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành thuỷ sản nói
riêng và góp phần vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả nước nói chung.
Trong chế biến thuỷ sản, đã từng bước khắc phục tình trạng lao động thủ công là
36
chính sang sử dụng máy móc công nghệ khá hiện đại và đồng bộ. Một số khoa học
công nghệ mới được đưa vào sản xuất, nhờ đó kéo dài thời gian giữ chất lượng và độ
tươi sống của hàng thuỷ sản; tạo ra nhiều chủng loại hàng hoá, trọng lượng, mẫu mã
với chất lượng tốt, số lượng nhiều, giá thành hạ phục vụ nhu cầu ăn ngay, nấu ăn rất
tiện dụng của người tiêu dùng
Lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển khá mạnh mẽ và vững chắc, từng bước
đẩy lùi nuôi trồng manh mún, tự phát theo lối thủ công truyền thống dựa vào thiên
nhiên sang nuôi trồng có quy hoạch với khoa học công nghệ hiện đại hơn, đưa diện
tích từ 295.000 ha lên 535.000 ha.
Trong dịch vụ hậu cần nghề cá, nhờ có trang thiết bị hiện đại và ứng dụng khoa
học công nghệ mới đã mở ra nhiều ngành nghề mới phục vụ các khâu nuôi trồng, khai
thác, chế biến với chất lượng tốt hơn; cung cấp nhiều phương tiện phục vụ nuôi trồng
công nghiệp, công nghệ sửa tàu thuyền, sản xuất ngư lưới cụ phát triển, hệ thống cảng
cá được đầu tư nâng cấp hiện đại hơn.
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân
a) Hạn chế
Mặc dù thị trường EU là thị trường tiềm năng cho xuất khẩu thủy sản của nước ta
nhưng hiện tại chúng ta vẫn còn có những khó khăn khi thâm nhập vào thị trường này.
Thứ nhất, thiếu nhân lực trầm trọng. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản
Việt Nam (VASEP) nhận định, EU hiện là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn thứ 2 của
Việt Nam sau Mỹ chiếm tỷ trọng trên 11%. Trong đó, những thị trường chi phối trong
khối này là Hà Lan, Đức, Bỉ, Italy là những thị trường chính tiêu thụ tôm và cá ngừ
của Việt Nam. Cùng với đó kinh tế các nước EU đang hồi phục nhờ những chuyển
biến tích cực sau chương trình tiêm phòng vắc xin chống Covid và các gói hỗ trợ sau
Covid. Nhu cầu nhập khẩu thuỷ sản của thị trường EU bắt đầu tăng mạnh từ tháng 3
năm 2021 và dự báo sẽ tiếp tục khởi sắc trong nửa cuối năm. Thế nhưng, dịch bệnh
Covid-19 ở Việt Nam đang diễn biến rất phức tạp. Các công ty thủy sản rơi vào tình
cảnh hết sức khó khăn. Hàng trăm công nhân đã phải đi cách ly tập trung khiến nhiều
công ty không đủ nhân lực để đảm bảo hoạt động sản xuất. Đồng thời, nhiều công
nhân lo ngại bị lây nhiễm nên không dám đi làm. Do đó, nhiều doanh nghiệp có đến
30%, thậm chí tới 50% số công nhân xin nghỉ việc khiến hoạt động sản xuất rơi vào
tình trạng “nghỉ Tết” sớm.
Thứ hai, Doanh nghiệp đối mặt với chi phí tăng giảm nguyên liệu. Từ khi dịch
COVID-19 xảy ra, hàng loạt chi phí đều tăng cao, mức tăng 1,5-2 lần so với trước. Khi
dịch bệnh lây lan mạnh hơn tại các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long, DN phát sinh
thêm các chi phí cho công nhân ăn ở, sinh hoạt, phụ cấp, xét nghiệm COVID-19…Vì
37
thế, nhiều DN rơi vào cảnh khốn khó.
Thứ ba, chưa xây dựng được cơ chế quản lý hiệu quả từ TW đến địa phương để
thực thi các chính sách chống khai thác IUU. Thẻ vàng của EC đã ảnh hưởng trực tiếp
đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU và thậm chí có thể gây ra
hiệu ứng domino ở các thị trường nước ngoài khác. Ngoài ra, trong thời gian cảnh báo
thẻ vàng, tất cả các container thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam có thể bị hải quan kiểm
tra từ 3 đến 4 tuần, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải chịu chi phí
lớn hơn, chưa kể các container có thể bị đưa về Việt Nam. Về lâu dài, các khách hàng
từ EU có thể ngừng đặt hàng từ Việt Nam, đồng thời các thị trường nước ngoài khác
có khả năng áp đặt các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn đối với các nước bị thẻ vàng
như Việt Nam.
Thứ tư, chưa ngăn chặn được triệt để tình trạng tàu cá vi phạm vùng biển nước
ngoài, chưa hoàn thành lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, vẫn còn nhiều tàu mất tín
hiệu kết nối với hệ thống. Việc xử lý vi phạm hành chính, đặc biệt là các hành vi vi
phạm nghiêm trọng theo Nghị định số 42/2019, các lực lượng chức năng chưa thật sự
kiên quyết. Ngoài ra kinh phí chi cho các nhiệm vụ về phòng, chống khai thác IUU
vẫn chưa được bố trí kịp thời.
Thứ năm, công nghệ chế biến thủy sản vẫn còn lạc hậu cho nên thủy sản Việt
Nam xuất khẩu vào EU chủ yếu vẫn là hàng thô, sơ chế, những mặt hàng chế biến sâu
và giá trị gia tăng còn ít cho nên chưa vận dụng những ưu đãi về thuế mà hiệp định
đem lại. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chưa đa dạng chủ yếu tập trung vào một số mặt
hàng: cá tra, cá basa, cá mực cá ngừ. Mẫu mã còn đơn điệu chưa hấp dẫn khách hàng.
Chất lượng hàng thủy sản chưa cao chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng khắt
khe về số lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm khi xuất khẩu sang EU.
Thứ sáu, sức cạnh tranh của hàng thủy sản xuất khẩu còn thấp. Tuy hàng thủy
sản của Việt Nam có sức cạnh tranh trên thi trường EU nhưng vẫn thấp so với đối thủ:
Trung Quốc, Ấn Độ… có thể thấy điều này qua thị phần của Việt Nam còn nhỏ hơn so
với các nước này. Sức cạnh tranh hàng thủy sản tăng nhưng không ổn định, tốc độ tăng
còn chậm. Điểm yếu nhất của sức cạnh tranh hàng thủy sản của Việt Nam là khả năng
đáp ứng yêu cầu về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa cao.
b) Nguyên nhân
 Nguyên nhân khách quan
Do nhu cầu nhập khẩu tại các thị trường chính sụt giảm bởi ảnh hưởng của suy
thoái kinh tế. Trong hai năm trở lại đây tình hình dịch bệnh diễn ra ngày càng phức tạp
đã ảnh hưởng không ít tới nhu cầu nhập khẩu tại các nước của thị trường EU.
Các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, biện pháp kiểm soát xuất
38
nhập khẩu, kiểm dịch…đối với xuất khẩu các sản phẩm thủy sản sang thị trường EU.
Trong đó, mặt hàng cá tra và tôm còn bị áp lực bởi kết quả xem xét hành chính POR8
thuế chống bán phá giá và mặt hàng tôm đứng trước nguy cơ bị áp thuế chống trợ cấp.
Hàng thủy sản Việt Nam trong thời buổi hiện nay chưa thể đáp ứnghết được các tiêu
chuẩn hết sức khắt khe đó cho nên sản lượng xuất khẩu thủysản của Việt Nam vào thị
trường EU chưa thể hiện rõ được tiềm lực thủy sảncủa Việt Nam
Thị trường EU có một hệ thông kênh phân phối phức tạp. Do các siêu thị, các
công ty bán lẻ hay các cửa hàng ở thị trường EU không mua hàng trực tiếp từcác nhà
xuất khẩu nước ngoài mà thông qua các trung tâm thu mua lớn của EU hay các công ty
xuyên quốc gia do đó các mặt hàng muốn vào thị trường EU phải thông qua các công
ty này. Do đó đã hạn chế khả năng đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này, cũng như
việc đa dạng hoá và nâng giá bán.
 Nguyên nhân chủ quan
Nguồn cung nguyên liệu không ổn định. Theo đó, d đã tìm ra nguyên nhân của
Hội chứng tôm chết sớm là do vi khuẩn Vibrio, nhưng diện tích nuôi tôm ở 7 tỉnh
trọng điểm ĐBSCL Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và
Kiên Giang đã bị giảm và thiệt hại đáng kể, đặc biệt là tôm sú, dẫn đến nguồn nguyên
liệu bị thiếu hụt. Đối với các sản phẩm khai thác, dù sản lượng thực tế tăng nhưng
thiếu sản phẩm đủ tiêu chuẩn cho XK do bảo quản sản phẩm sau thu hoạch chưa tốt,
nhất là với mặt hàng cá ngừ.
Nhiều DN ngừng hoạt động hoặc thu hẹp quy mô sản xuất do đơn đặt hàng thấp,
thiếu vốn, chi phí sản xuất tăng và thiếu chính sách hỗ trợ từ nhà nước.
Ngành sản xuất thủy sản của Việt Nam chủ yếu theo hộ gia đình, quy mô sản
xuất nhỏ thêm vào đó các doanh nghiệp Việt Nam ít có sự liên kết với nhau. Điều này
khiến các doanh nghiệp hầu như đơn độc trước sự cạnhtranh của các đối thủ nước
ngoài trước thị trường rộng lớn. Nó cũng là nguyênnhân dẫn tới thiếu việc thiếu thông
tin về thị trường xuất khẩu, về nhu cầu sản phẩm và thị hiếu người tiêu dùng.
Nảy sinh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Cạnh
tranh mua nguyên liệu giảm giá bán để tranh khách hàng; lạm dụng hóa chất để tăng
trọng, vi phạm các quy định ghi nhãn mác sản phẩm. Những điều này đã bị đổi thủ
nước ngoài lợi dụng, gây tác hại tới uy tín và quyển lợi chung của cộng đồng doanh
nghiệp ảnh hường không tốt đến khả năng cạnh tranh hàng hóa thủy sản xuất khẩu.
Điều này tạo ra cung cầu ảo gây ra sự sai lệch về giá cả rất lớn.
39
CHƢƠNG III: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU
3.1 Quan điểm, định hƣớng và mục tiêu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
sang thị trƣờng EU
3.1.1 Quan điểm phát triển
Xây dựng thủy sản thành ngành kinh tế có quy mô và tỷ suất hàng hóa lớn, có
thương hiệu uy tín, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, có khả năng cạnh tranh
cao và bền vững. Hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển có trách nhiệm theo hướng
kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và hiệu quả.
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành thủy sản theo định hướng thị
trường, thân thiện môi trường, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo tồn
đa dạng sinh học; thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn
sinh học, an sinh xã hội. Phát triển thủy sản gắn với nâng cao đời sống vật chất tinh
thần của người dân, xây dựng nông thôn mới; kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng
thế trận quốc phòng, an ninh trên biển vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc chủ
quyền quốc gia trên các vùng biển đảo của Tổ quốc.
Thu hút các nguồn lực, các thành phần kinh tế đầu tư phát triển thủy sản hiệu quả
với lực lượng doanh nghiệp là nòng cốt. Tập trung đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ
thuật hạ tầng đồng bộ; đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, sử dụng hiệu quả nguồn nhân
lực; tăng cường nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ, ưu tiên ứng dụng
công nghệ cao, chuyển đổi số; đổi mới thể chế và nâng cao năng lực quản lý nhà nước,
tổ chức lại sản xuất.
3.1.2 Định hƣớng phát triển
a) Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
Tập trung điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản và môi trường sống các loài thủy
sản, nguồn lợi hải sản biển sâu làm cơ sở bảo vệ, tái tạo và khai thác bền vững nguồn
lợi thủy sản.
Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn lợi thủy sản theo hướng chuyển đổi số,
làm cơ sở phục vụ công tác dự báo ngư trường, nguồn lợi.
Thành lập mới, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu bảo tồn
biển. Quan tâm bảo vệ các khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non sinh
sống và đường di cư của loài thủy sản. Phát triển bảo tồn biển gắn với du lịch sinh thái
và nông thôn mới.
Tổ chức quản lý, bảo vệ các khu vực thủy sản tập trung sinh sản, khu vực thủy
sản còn non sinh sống và đường di cư của các giống loài thủy sản.
Thực hiện lưu giữ giống gốc, bảo tồn, khai thác hiệu quả nguồn gen; nghiên cứu
sinh sản giống, ưu tiên thả bổ sung các giống loài thủy sản có giá trị kinh tế, khoa học;
40
loài thủy sản bản địa; loài thủy sản đặc hữu vào v ng nước tự nhiên.
Bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản, bổ sung tái tạo nguồn lợi thủy sản
tại các thủy vực nước tự nhiên nội địa, hồ chứa, đầm phá vùng ven biển và vùng biển.
Hoạt động thả giống bổ sung, tái tạo, phát triển nguồn lợi thủy sản được coi trọng,
thực hiện thường xuyên trên cả nước và được xã hội hóa sâu rộng.
Tăng cường thực hiện đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giao quyền
quản lý cho tổ chức cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản đối với các vùng biển
ven bờ, v ng nước nội địa.
b) Khai thác thủy sản
Phát triển khai thác hải sản v ng khơi hiệu quả, bền vững trên cơ sở giảm dần
cường lực khai thác đảm bảo phù hợp với trữ lượng nguồn lợi thủy sản.
Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản vùng lộng, vùng ven bờ và khai thác thủy
sản nội địa hợp lý, gắn phát triển sinh kế của cộng đồng ngư dân với phát triển nuôi
trồng thủy sản, du lịch sinh thái, nghề cá giải trí.
Tuân thủ các quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm, chống khai thác thủy sản
bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.
Xây dựng cơ cấu nghề khai thác hợp lý, cơ cấu lao động chuyên ngành, kiêm
nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên, nguồn lợi thủy sản, đặc điểm kinh tế - xã hội
từng vùng. Phân bổ hạn ngạch khai thác thủy sản phù hợp.
Giảm thiểu, tiến tới chấm dứt các nghề khai thác có tính hủy diệt nguồn lợi thủy
sản, chuyển đổi các nghề xâm hại lớn đến nguồn lợi, sử dụng nhiều nhiên liệu sang các
nghề thân thiện với môi trường và nguồn lợi thủy sản.
Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, cơ giới hóa, hiện đại hóa tàu cá; giảm
thiểu tổn thất sau thu hoạch đến năm 2030 dưới 10%; đảm bảo an toàn thực phẩm cho
tàu cá, điều kiện sống và làm việc của thuyền viên phù hợp với xu thế hội nhập quốc
tế.
Hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên biển nhằm chủ động cảnh báo, kịp
thời ứng phó với các sự cố, rủi ro, thiên tai trên biển. Đảm bảo an toàn cho người và
tàu cá hoạt động trên biển, tham gia hiệu quả công tác hỗ trợ tìm kiếm cứu hộ, cứu
nạn, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền biển đảo
của Tổ quốc.
c) Chế biến và thương mại thủy sản
Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản quy mô hàng hóa lớn, đóng vai trò chủ
đạo trong việc dẫn dắt, thúc đẩy phát triển chuỗi sản xuất thủy sản theo hướng nâng
cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; sớm đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế
biến thủy sản toàn cầu.
Hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn lớn ngang tầm thế giới, sản xuất các sản
41
phẩm có thương hiệu và sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế. Sản xuất, chế biến
các sản phẩm thủy sản dựa trên nhu cầu và tín hiệu của thị trường.
Áp dụng khoa học công nghệ, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng nâng cao
tỷ trọng các sản phẩm chế biến giá trị gia tăng phục vụ các ngành thực phẩm và phi
thực phẩm; đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ; tăng năng suất, chất lượng; đảm
bảo an toàn thực phẩm, quy tắc xuất xứ, an toàn môi trường và an sinh xã hội; nâng
cao hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh; tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn
cầu.
Chủ động hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư, nguồn lực và mở rộng thị trường xuất
khẩu; nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm chế biến cho thị trường nội địa.
Ưu tiên sử dụng nguồn nguyên liệu từ khai thác, nuôi trồng thủy sản trong nước,
mở rộng thị trường cung cấp nguyên liệu hợp pháp với sản lượng và chất lượng ổn
định nhằm phát huy tối đa năng lực chế biến của Việt Nam.
Tổ chức sản xuất thủy sản tuần hoàn theo chuỗi giá trị sản phẩm. Thực hiện việc
truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu các sản phẩm thủy sản, nhất là các sản
phẩm có lợi thế cạnh tranh cao của Việt Nam. Hình thành hệ thống kênh phân phối sản
phẩm thủy sản trong và ngoài nước.
3.1.3 Mục tiêu thực hiện
a) Mục tiêu chung đến năm 2030
Phát triển thủy sản thành ngành kinh tế quan trọng của quốc gia, sản xuất hàng
hóa lớn gắn với công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển bền vững và chủ động thích
ứng với biến đổi khí hậu; có cơ cấu và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, năng suất,
chất lượng, hiệu quả cao; có thương hiệu uy tín, khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc
tế; đời sống vật chất tinh thần của người dân không ngừng nâng cao, bảo đảm an sinh
xã hội; góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền biển đảo
của Tổ quốc.
b) Một số chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2030
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản đạt 3,0 - 4,0%/năm.
Tổng sản lượng thủy sản sản xuất trong nước đạt 9,8 triệu tấn; trong đó sản lượng
nuôi trồng thủy sản 7,0 triệu tấn, sản lượng khai thác thủy sản 2,8 triệu tấn.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 14 - 16 tỷ USD.
Giải quyết việc làm cho trên 3,5 triệu lao động, có thu nhập bình quân đầu người
lao động thủy sản tương đương thu nhập bình quân chung lao động cả nước. Xây dựng
các làng cá ven biển, đảo thành các cộng đồng dân cư văn minh, có đời sống văn hóa
tinh thần đậm đà bản sắc riêng gắn với xây dựng nông thôn mới.
42
3.2 Giải pháp hỗ trợ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị
trƣờng EU
3.2.1 Giải pháp hỗ trợ từ Nhà nƣớc
Hoàn thiện hệ thống pháp lý phù hợp hơn với nhu cầu và tạo thuận lợi cho xuất
khẩu thuỷ sản. Cần phải rà soát và thay đổi những quy định không còn phù hợp với
thời đại ngày nay như một số điều trong luật thuỷ sản, luật đầu tư nước ngoài, luật
khuyến khích đầu tư trong nước để tạo ra các điều kiện thông thoáng hơn cho phát
triển và thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển ngành thủy sản. Bên cạnh đó cần
đào tạo các cán bộ công chức đáp ứng đủ các tiêu chuẩn trong thời kỳ mới. Ngoài ra
cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý về ngành
thủy sản từ TW đến địa phương để xoá bỏ bớt các thủ tục rườm rà gây mất thời gian,
công sức mất niềm tin của người kinh doanh cũng như các nhà xuất khẩu, đầu tư.
Gắn công nghệ nguồn với sản xuất xuất khẩu thủy sản trong chiến lược xuất khẩu
thủy sản sang thị trường EU. Do xưa nay chúng ta chủ yếu nhập khẩu công nghệ từ
các nước châu Á lên chất lượng không cao, không bền mà EU lại yêu cầu rất khắt khe
về chất lượng mặt hàng thủy sản bởi vậy nên tăng cường nhập khẩu các công nghệ tiên
tiến từ EU để phục vụ cho quá trình sản xuất hàng xuất khẩu thủy sản sang thị trường
EU sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm. Do đó hàng thủy sản
sẽ xâm nhập vào thị trường EU dễ dàng hơn và có sức cạnh tranh với các sản phẩm
thuộc các quốcgia khác.
Nâng cao chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm. Do thị trường EU là một thị
trường vô cùng khó tính về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm cho nên thủy sản
Việt Nam muốn phát triển và xâm nhập sâu vào thị trường này đòi hỏi phải đáp ứng
được các yêu cầu của họ. Chính vì vậy trong chúng ta cần nâng cao chất lượng sản
phẩm thông qua các phương pháp như thông tin tuyên truyền về an toàn vệ sinh thực
phẩm cho những người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm cũng như người tiêu dùng, giáo
dục cho họ ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng và vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh đó
cần xây dựng bộ máy quản lý chất lượng an toàn vệ sinh về thủy sản để đảm bảo thủy
sản Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường dù là khó tính nhất.
Tăng cường hoạt động xúc tiến xuất khẩu vào thị trường EU. Xúc tiến thương
mại là khâu then chốt trong việc phát triển mặt hàng, thị trường nhằm tăng trưởng xuất
khẩu. Tăng cường xúc tiến thương mại phải được thực hiện cả ở tầm vĩ mô và vi mô.
Xúc tiến ở tầm vĩ mô nhằm làm cho phù hợp với đặc điểm, tính chất của thị trường
xuất khẩu, thông qua việc giúp các doanh nghiệp tiếp cận với thị trường bằng các cuộc
khảo sát thị trường, tham gia hội chợ hàng thuỷ sản, thông qua việc tiếp xúc với các
doanh nghiệp. Tổ chức các hội thảo khoa học quốc tế về giống, nuôi trồng, chế biến
43
thuỷ sản nhiệt đới, tìm kiếm các cơ hội để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nuôi
trồng, chế biến thuỷ sản. Xúc tiến ở tầm vi mô nhằm đào tạo cán bộ có năng lực để
làm công tác xúc tiến thương mại.
Nhà nước có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện các hoạt động
xúc tiến thương mại đẩy mạnh phát triển thị trường thông quaviệc ký kết các hiệp định
song phương và đa phương, đẩy mạnh quan hệ ở cấp Chính phủ về mở rộng thị trường
cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta như thủy sản. Ngoài ra, nhà nước
cũng cần có các chính sách để thúc đẩy, tạo điều kiện cho sản phẩm của các doanh
nghiệp có thể tiếp cận được thị trường cũng như người tiêu dùng EU.
Nhà nước cũng cần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Cần bồi dưỡng và đào
tạo nguồn nhân lực phục vụ cho các chương trình như khai thác thủy sản xa bờ, nuôi
trồng thủy sản và chế biến thủy sản bởi đây là những nguồn cung cấp chính các sản
phẩm để thực hiện hoạt động xuất khẩu thủy sản. Ngoài ra cũng cần chú ý tới các
trường đào tạo và dạy nghề về thủy sản vì đây là nơi sẽcung cấp ra các cán bộ có năng
lực tay nghề để phục vụ cho sự phát triển ngành thủy sản sau này.
Hỗ trợ xây dựng và phát triển thương hiệu cho mặt hàng thủy sản của Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay khi thủy sản Việt Nam chưa tạo cho mình được chỗ đứng
vững chắc trên thị trường thì sự giúp đỡ của nhà nước là vô cùng quan trọng. Nhà
nước sẽ giúp xây dựng thương hiệu cho một số mặt hàng chủ đạo, vàcho phép các mặt
hàng này được đăng ký sử dụng tên thương hiệu quốc gia. Việc làm này sẽ tạo hiệu
quả tổng thể, mở cửa cho mọi công ty, duy trì các hoạt động kiểm soát dư lượng chất
độc hại trong nuôi trồng và chế biến thủy sản. Ngoài ra còn giúp cho việc thiết lập hệ
thống giám sát cảnh báo dịch bệnh thủy sản cũng như giúp cho xây dựng và triển khai
đề án mã hoá truy xuất nguồn gốc, hoàn thiện hệ thống văn bản liên quan đến quản lý
chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm.
3.2.2 Giải pháp từ các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản
Thứ nhất, Đẩy mạnh công tác nghiên cứu mở rộng thị trường.
Xây dựng kế hoạch nghiên cứu mở rộng thị trường hoàn chỉnh. Xác định năng
lực và khả năng khai thác các nguồn lực bên ngoài để cân nhắc mức độ đầu tư cho
công tác này nhằm tránh tình trạng đầu tư tràn lan, không tập trung hay đầu tư quá ít.
Mặt khác, chi phí tìm hiểu thị trường này rất tốn kém nên DN cần kết hợp công tác
nghiên cứu thị trường với công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm thủy sản thông qua
việc kết hợp tham gia hội chợ, triển lãm với nắm bắt thông tin về tình hình thực tế của
thị trường. Ngoài ra, DN cũng cần thu thập các thông tin từ các nguồn tin như Thương
vụ Việt Nam tại EU, các công ty tư vấn luật, phòng Thương Mại, các ngân hàng của
Việt Nam tại các nước EU, các hãng vận tải quốc tế, môi giới vận tải, môi giới hải
44
quan, các ấn phẩm quốc tế để đưa ra các phán đoán chính xác vị thế cạnh tranh, xu
hướng thị trường, đánh giá được toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất
khẩu của DN trên thị trường EU.
Thứ hai, Tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm, hình ảnh thủy
sản của doanh nghiệp.
Thương hiệu thường gắn với bản quyền về nhãn mác hàng hoá, hình ảnh, logo
trên sản phẩm. Thương hiệu phải được xây dựng trên nền tảng chất lượng sản phẩm,
mẫu mã và các dịch vụ hậu mại mà công ty có thể cung cấp. Một trong những biện
pháp hữu hiệu để xây dựng thương hiệu đó là quảng cáo. Doanh nghiệp cần xây dựng
kế hoạch dành chi phí cho quảng cáo. DN có thể sử dụng nhiều hình thức quảng cáo
như quảng cáo qua báo chí, ấn phẩm, áp phích hay quảng cáo qua truyền hình hoặc kết
hợp nhiều phương tiện quảng cáo để giới thiệu sản phẩm, hình ảnh của mình đến
người tiêu dùng.
Thứ ba, Tăng cường đầu tư và hoàn thiện quản lý ở cấp doanh nghiệp.
Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể nghiên cứu kỹ thị trường và khách
hàng cũng như đề ra được các phương hướng phát triển đúng đắn cho doanh nghiệp,
nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Bên cạnh đó cũng phải tăng
cường đầu tư mở rộng sản xuất để đảm bảo luôn đáp ứng kịp thời các nhu cầu của
khách hàng cũng như không bị lạc hậu về công nghệ so với các đối thủ cạnh tranh về
xuất khẩu thủy sản khác. Có như vậy mới đảm bảo cho các doanh nghiệp xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam có một sự phát triển bền vững, có khảnăng củng cố và mở rộng
phát triển trên một thị trường khó tính EU.
Thứ tư, Tăng cường sự hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp chế biến, xuất
khẩu thuỷ sản trong nước với nhau và với các doanh nghiệp nước ngoài.
Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung còn nhỏ bé về quy mô, vốn và kinh
nghiệm kinh doanh còn thiếu trong khi lại phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ lớn
có nhiều kinh nghiệm. Môi trường cạnh tranh khốc liệt, yêu cầu cao về chất lượng
hàng hóa...Tất cả những điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng cường hợp tác với
nhau tránh tình trạng mạnh ai nấy làm, tranh mua tranh bán. Liên kết là hướng để phát
triển bền vững ngành thuỷ sản. Ngoài ra, các doanh nghiệp nên tiến hành liên doanh,
liên kết với các đối tác nước ngoài từ đó hình thành nên các doanh nghiệp liên doanh
có vốn đầu tư nước ngoài, tạo cho các doanh nghiệp này có thế mạnh về vốn đầu tư,
công nghệ cho phép các doanh nghiệp có thể đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu có chất
lượng cao, đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường cũng như góp phần nâng cao
khả năng cạnh tranh của hàng thuỷ sản.
Thứ năm, Nâng cao trình độ cho cán bộ và công nhân chế biến.
45
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay để phát triển ngoài
có công nghệ tiên tiến cần có một đội ngũ các nhà quản lý có trình độ, công nhân lành
nghề. Chính vì vậy doanh nghiệp cần tổ chức các khoá đào tạo cho các nhà quản lý
cũng như người lao động giúp họ có khả năng ứng biến, xử lý các tình huống xảy ra
đểđảm bảo cho việc hoạt động cũng như xuất khẩu của doanh nghiệp luôn được diễn
ra theo kế hoạch.
Thứ sáu, Các doanh nghiệp cần khai thác có hiệu quả quỹ phát triển doanh
nghiệp của EU
Việc các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tiến hành xâm nhập thị
trường EU có thể coi là một bước phát triển khách quan trong thời đại mới. Tuy nhiên
do các doanh nghiệp này chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cho nên việc thiếu
vốn để gia tăng sản xuất cũng như nâng cấp thiết bị là một điều tất yếu. Song doanh
nghiệp lại không thể cứ ỷ lại vào sự giúp đỡ của nhà nước do đó quỹ phát triển doanh
nghiệp của EU có thể coi là một giải pháp cho việc vay vốn của doanh nghiệp. Các
khoản tài trợ , vay vốn này sẽ giúp cho doanh nghiệp có khả năng để nâng cấp các
thiết bị, gia tăng các hình thức dịch vụ để thoả mãn nhu cầu khách hàng cũng như mở
rộng sản xuất , thực hiện hiện đại hoá doanh nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu các mặt
hàng của doanh nghiệp.
3.3 Các Kiến nghị về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị
trƣờng EU
 Kiến nghị về cơ chế, chính sách xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Trong những năm gần đây, chính sách đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản nói riêng, cơ
chế xuất khẩu nói chung ở nước ta đã có nhiều tiến bộ như mở rộng quyền kinh doanh
xuất khẩu cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, xoá bỏ hệ thống giấy
phép kinh doanh xuất nhập khẩu. Tuy nhiên nó còn một số hạn chế như thường xuyên
làm thay đổi các mức thuế suất, danh mục hàng hoá làm cho doanh nghiệp luôn bị
động trong kinh doanh xuất khẩu. Từ thực tế này có một số kiến nghị được đề xuất:
Duy trì và phát triển thị trường ASEAN khai thông các hiệp định thương mại tự
do tiến tới hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại EVFTA.
Các biện pháp khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản cần thực hiện
 Kiến nghị về mặt hàng thủy sản khi xuất khẩu sang thị trường EU
Nắm vững đặc tính tiêu dùng của người tiêu dùng tại các nước EU, họ rất chú
trọng đến vệ sinh an toàn thực phẩm và rất nhạy cảm với đồ ăn.
Phải chú ý đến độ an toàn đối với hàng xuất khẩu thủy sản sang các nước đặc biệt
là thị trường EU đều qua hệ thống kiểm duyệt một cách khắt khe chặt chẽ theo luật an
toàn thực phẩm và luật vệ sinh thành phẩm. Do đó sản phẩm thủy sản của ta muốn
46
xâm nhập phải hạn chế chất hoá học, phụ gia để đảm bảo đúng tính chất của sản phẩm
Phải đặc biệt coi trọng yếu tố chất lượng. Đối với thủy sản độ tươi được đánh giá
cao tiếp theo là hương vị hình dáng, màu sắc. Đối với sản phẩm thủy sản chế biến thì
trong công tác chế biến yêu cầu phải giữ được tính chất của sản phẩm
Tiếp cận thị trường một các toàn diện tạo mối quan hệ gắn bó với các Công ty
nhập khẩu các nhà phân phối các siêu thị và các cửa hàng bán lẻ ở nước ngoài.
 Kiến nghị với Nhà nước và ban ngành liên quan
Tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp đã làm, như chỉ đạo hệ thống Thương
vụ vào cuộc, yêu cầu các doanh nghiệp logisctics tham gia giúp đỡ bảo quản thủy sản
trong thời gian chờ xuất khẩu sang thị trường EU.
Khuyến nghị nông dân điều chỉnh ngay tiến độ sản xuất bởi tình hình dịch bệnh
còn diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều khả năng kéo dài.
Hướng dẫn và động viên các chủ hàng chuyển sang xuất khẩu theo đường chính
ngạch các lô hàng có đủ điều kiện; khuyến nghị người bán đóng bao bì, gắn nhãn, gắn
tem truy xuất nguồn gốc để tạo thuận lợi cho việc chuyển sang xuất khẩu theo đường
chính thức.
Với các lô hàng không đủ điều kiện chuyển sang xuất khẩu theo đường chính
thức thì ưu tiên giải phóng hàng khi chợ biên giới được mở lại.
Khuyến nghị các tỉnh biên giới bố trí diện tích bảo quản và cung cấp đủ điện cho
các container lạnh.
47
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu về thị trường EU và nội dung đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của
nước ta sang thị trường này, em thấy EU là một thị trường đầy tiềm năng mà ngành
thủy sản Việt Nam có thể khai thác và mở rộng. Đứng trước yêu cầu phát triển của
ngành kinh tế mũi nhọn đất nước, đòi hỏi chúng ta phải có nhưng biện pháp chính sách
thông thoáng giúp cho ngành thủy sản phát triển cân đối vững chắc trong điều kiện
cạnh tranh. Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, đề tài đã thực
hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về đẩy mạnh xuất
khẩu thủy sản.
Thứ hai, phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU
giai đoạn 2018 - 2020 và 6 tháng đầu năm 2021. Qua đó làm rõ kết quả đạt được, hạn
chế và nguyên nhân khó khăn khi thâm nhập vào thị trường này
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản
sang thị trường EU đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2030. Trong đó, đề tài đã chỉ ra 2
nhóm giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trường này.
Đề tài được thực hiện với hy vọng đóng góp phần nào cho sự phát triển chung
xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang các nước cũng như thị trường EU nói riêng. D đã
hết sức cố gắng nhưng do thời gian và khả năng có hạn, luận án không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô, các nhà khoa học để
luận án được hoàn thiện và phát triển hướng nghiên cứu trong những đề tài tiếp theo.
Tác giả đề tài xin chân thành cảm ơn!
48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Công Thương (2020), Báo Cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam
2. Bộ Công Thương (2019), Báo Cáo xuất nhập khẩu Việt Nam
3. Cao Tuấn Khanh (2010), “Chính sách thương mại và marketing xuất khẩu thủy
sản Việt Nam”, Luận án tiến sĩ
4. Hoàng Chí Cương, B i Thị Thanh Nhàn, Đỗ Thị Bích Ngọc (2013), “Lý
thuyết thương mại quốc tế mới: Bằng chứng kiểm định từ trường hợp của Việt Nam”,
Tạp chí Khoa học và phát triển.
5. Ngô Thị Mỹ (2016), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu một số
mặt hàng nông sản của Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường ĐH Kinh tế &
QTKD - ĐH Thái Nguyên.
6. Nguyễn Minh Sơn (2010), “Các giải pháp kinh tế nhằm thúc đẩy xuất khẩu
hàng thủy sản của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ,
Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
7. Nguyễn Văn Nam (2013), “Thị trường xuất nhập khẩu thủy sản”, Nhà xuất bản
thống kê, Hà Nội.
8. Trần Chí Thành (2018), “Thị trường EU và khả năng xuất khẩu hàng hoá của
Việt Nam”, Nhà xuất bản Lao động - xã hội.
9. Thân Danh Phúc (2015), Giáo trình Quản lý nhà nước về thương mại, Trường
Đại học Thương Mại, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
10. Vũ Chí Lộc (2015), “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của ViệtNam
sang thị trường Châu Âu”, Nhà xuất bản lý luận chính trị
11. VASEP (Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam) (2017), Tổng
quan ngành thủy sản Việt Nam [Overview of Vietnam's seafood industry]. Retrieved
January 11, 2018, from http://vasep.com.vn/1192/OneContent/tong-quan-nganh.htm.

Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU.pdf

  • 1.
    TRƢỜNG ĐẠI HỌCTHƢƠNG MẠI KHOA KINH TẾ - LUẬT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU NGÀNH ĐÀO TẠO: KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ Giáo viên hƣớng dẫn - Họ và tên: Th.SNguyễn Minh Phương - Bộ môn: Quản lý kinh tế Sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp - Họ và tên: Đỗ Thị Thắm - Mã sinh viên: 18D160329 - Lớp: K54F5 HÀ NỘI, 2021
  • 2.
    i TÓM LƢỢC Ngành Thủysản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam với quy mô ngày càng mở rộng. Thương hiệu thủy sản Việt Nam không chỉ được khẳng định trong nước mà còn được đón nhận bởi nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, những năm gần đây tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các thị trường khó tính điển hình như EU đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Hàng loạt lô hàng thủy sản bị trả về do không đảm bảo vệ sinh và chất lượng, cùng với đó là cảnh báo thẻ vàng của Ủy ban Châu Âu (EC) đã làm cho ngành thủy sản bị sụt giảm đáng kể. Đứng trước tình hình đó, trong quá trình thực tập, em đã làm đề tài khóa luận “Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU”. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản, đồng thời phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2018 - 2020 và 6 tháng đầu năm 2021, khóa luận tốt nghiệp bước đầu xác định làm rõ một số nguyên nhân, hạn chế trong quá trình xuất khẩu thủy sản sang EU. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU.
  • 3.
    ii LỜI CẢM ƠN Vớitình cảm chân thành, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài. Trong quá trình thực tập online tại nhà, cá nhân em gặp rất nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu cũng như tìm tài liệu nhưng dưới sự chỉ đạo tận tình từ các thầy cô, em đã hoàn thành tốt bài khóa luận của mình. Đồng thời, thông qua quá trình nghiên cứu em đã có cơ hội tìm hiểu sâu về những khó khăn trong xuất khẩu thủy sản nói riêng và xuất khẩu ở Việt Nam nói chung. Từ đó có được góc nhìn tổng quát về tình hình xuất khẩu các mặt hàng của Việt Nam sang thị trường quốc tế. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới trường Đại học Thương mại, các thầy, cô trong khoa Kinh tế - Luật và đặc biệt là Th.S Nguyễn Minh Phương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa tốt nghiệp. Nhờ những lời chỉ bảo và sự giúp đỡ nhiệt tình của cô, đề tài nghiên cứu của em mới có thể hoàn thiện tốt đẹp. Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một sinh viên, luận văn này không thể tránh được những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô để em có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức của mình, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, Ngày 26 tháng 12 năm 2021 Tác giả Đỗ Thị Thắm
  • 4.
    iii MỤC LỤC TÓM LƢỢC...................................................................................................................i LỜI CẢM ƠN................................................................................................................ii MỤC LỤC.....................................................................................................................iii DANH MỤC BẢNG BIỂU...........................................................................................v DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ..................................................................................vi DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT......................................................................................vii PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................1 1. Tính cấp thiết của đề tài...........................................................................................1 2. Đối tƣợng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................2 2.1 Đối tƣợng nghiên cứu.............................................................................................2 2.2 Mục tiêu nghiên cứu...............................................................................................2 2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................................................2 3. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................................2 4. Phƣơng pháp nghiên cứu .........................................................................................2 4.1 Phƣơng pháp luận ..................................................................................................2 4.2 Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể............................................................................3 5. Kết cấu đề tài.............................................................................................................3 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU ......................................................................5 1.1 Tổng quan về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản.......................................................5 1.1.1 Khái quát chung về ngành thủy sản...................................................................5 1.1.2 Khái quát chung về xuất khẩu............................................................................6 1.1.3 Khái quát chung về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản ..........................................8 1.2 Nội dung đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản...............................................................9 1.2.1 Đẩy mạnh xuất khẩu mang tính quy mô..........................................................10 1.2.2 Đẩy mạnh xuất khẩu mang tính chất lƣợng....................................................11 1.2.3 Đẩy mạnh xuất khẩu mang tính hiệu quả .......................................................13 1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động đẩy mạnh xuất thủy sản sang thị trƣờng EU... 14 1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá theo chiều rộng.....................................................................14 1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá theo chiều sâu.......................................................................15 1.4 Các nguyên tắc và công cụ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trƣờng EU ....................................................................................................................16 1.4.1 Về nguyên tắc......................................................................................................16 1.4.2 Về công cụ ...........................................................................................................16
  • 5.
    iv CHƢƠNG II: THỰCTRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU GIAI ĐOẠN 2018 – 2020 và 6 THÁNG ĐÀU NĂM 2021.....19 2.1 Tổng quan thị trƣờng thủy sản EU và các nhân tố ảnh hƣờng đến đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trƣờng EU....................................................................19 2.1.1 Tổng quan thị trƣờng thủy sản EU ..................................................................19 2.1.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trƣờng EU...............................................................................................................22 2.2 Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trƣờng EU giai đoạn 2018 – 2020 và 6 tháng đầu năm 2021...................................................................................24 2.2.1 Về kim ngạch xuất khẩu....................................................................................24 2.2.2 Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu..........................................................................26 2.2.3 Về thị trƣờng xuất khẩu ....................................................................................32 2.2.4 Về hiệu quả xuất khẩu.......................................................................................33 2.3 Đánh giá thực trạng xuất khẩu thủy sản EU .....................................................34 2.3.1 Những kết quả đạt đƣợc....................................................................................34 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân....................................................................................36 CHƢƠNG III: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU...............................................39 3.1 Quan điểm, định hƣớng và mục tiêu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trƣờng EU...............................................................................................................39 3.1.1 Quan điểm phát triển.........................................................................................39 3.1.2 Định hƣớng phát triển .......................................................................................39 3.1.3 Mục tiêu thực hiện .............................................................................................41 3.2 Giải pháp hỗ trợ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU . 42 3.2.1 Giải pháp hỗ trợ từ Nhà nƣớc...........................................................................42 3.2.2 Giải pháp từ các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản .......................................43 3.3 Các Kiến nghị về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU 45 KẾT LUẬN..................................................................................................................47 TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................................................48
  • 6.
    v DANH MỤC BẢNGBIỂU Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU......................................24 giai đoạn 2018 – 6T 2021..............................................................................................24 Bảng 2.2: Kim ngạch các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU giai đoạn 2018 - 6T 2021...............................................................................................................................27 Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang các thị trường tiềm năng của EU giai đoạn 2018 – 6T 2021 .......................................................................................32
  • 7.
    vi DANH MỤC SƠĐỒ HÌNH VẼ Biểu đồ 2.1: Lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU qua các tháng trong năm 2020 - 2021. .......................................................................................26 Biểu đồ 2.2: Lượng và kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trường EU theo quý năm 2020-2021...............................................................................................28 Biểu đồ 2.3: Kim ngạch xuất khẩu mực, bạch tuộc sang thị trường EU giai đoạn 2018 – 6T 2021 ......................................................................................................................29 Biểu đồ 2.4: Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang EU theo quý năm 2020-2021..............................................................................................................30 Biểu đồ 2.5: Lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam sang EU theo quý năm 2020-2021..............................................................................................................31
  • 8.
    vii DANH MỤC TỪVIẾT TẮT Chữ viết tắt Nội dung chữ viết tắt ASEAN Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á BCT Bộ Công Thương DN Doanh nghiệp EU (European Union) Liên minh Châu Âu EVFTA (European-Vietnam Free Trade Agreement) Hiệp định thương mại tự do Liên minh Châu Âu-Việt Nam IUU (illegal, unreported and unregulated fishing) Quy định về hoạt động đánh bắt NK Nhập khẩu WTO (World Trade Organization) Tổ chức Thương mại thế giới XTTM Xúc tiến thương mại XK Xuất khẩu
  • 9.
    1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Thủy sản là một trong những lĩnh vực then chốt, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của Việt Nam. Xuất khẩu thủy mang lại nguồn ngoại tế lớn cho đất nước và luôn nằm trong danh sách những ngành có giá trị xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, tạo nguồn thu nhập đáng kể cho nông ngư dân và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Theo dữ liệu về thương mại quốc tế của Liên hợp quốc, thủy sản chiếm khoảng 15% tổng xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới (WITS, 2020). Trong số các đối tác thương mại chính của Việt nam, EU nổi lên với tư cách là thị trường lớn thứ hai của thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam. Trong giai đoạn 2014 - 2018, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU tăng liên tục, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 9,1%/năm (WITS). Tuy vậy, đây là một thị trường khó tính đòi hỏi chất lượng cao nên thời gian gần đây việc xuất khẩu hàng thủy sản vào thị trường này có nhiều biến động do nhu cầu, cạnh tranh và rào cản thị trường nhập khẩu. Những khó khăn, biến động này cản trở xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU đạt được mức tiềm năng. Để duy trì thị phần và tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU cần phải nhận biết thật đầy đủ để hiểu EU là một thị trường có tính bảo hộ rất cao với hàng rào phi thuế quan (đặc biệt là các rào cản kỹ thuật) rất nghiêm ngặt với những qui định chặt chẽ đối với hàng xuất khẩu Việt Nam về nguồn gốc xuất xứ vệ sinh, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động vật tiêu chuẩn kỹ thuật đối với thực phẩm tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Mới đây, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã chính thức có hiệu lực, đánh dấu một bước quan trọng trên con đường hướng nền kinh tế nước nhà tới tự do hóa thương mại và phát triển bền vững. Ngay khi Hiệp định có hiệu lực sẽ có gần 50% số dòng thuế đang có thuế suất cơ sở 0 - 22%, trong đó phần lớn thuế cao từ 6 - 22%, sẽ được giảm về 0% (khoảng 840 dòng thuế). Khoảng 50% số dòng thuế còn lại có thuế suất cơ sở 5,5 - 26% sẽ được về về 0% sau từ 3 đến 7 năm. Riêng cá ngừ đóng hộp và cá viên, EU dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500 tấn và 500 tấn. Để tận dụng cơ hội EVFTA vượt qua thách thức tại thị trường EU, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải đẩy mạnh các mặt hàng xuất khẩu sang EU trong đó có mặt hàng thủy sản. Do vậy, việc nghiên cứu một cách tổng thể thực trạng xuất khẩu thủy sản trên thị trường EU là cấp thiết. Nhận thức được vấn đề này nên em đã lựa chọn đề tài “Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU” làm đề tài nghiên cứu của mình.
  • 10.
    2 2. Đối tƣợng,mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU 2.2 Mục tiêu nghiên cứu  Đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình sản xuất, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2018 – 2020 và 6 tháng đầu năm 2021.  Đề xuất một số giải pháp giúp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường này. 2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2018 – 2020 và 6 tháng đầu năm 2021. Đánh giá thành công, hạn chế và tìm ra nguyên nhân dẫn tới khó khăn, rào cản khi tham gia thị trường này. Đưa ra các đề xuất và kiến nghị giúp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU. 3. Phạm vi nghiên cứu  Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU theo cả hai hướng chiều sâu và chiều rộng mang tính quy mô, chất lượng và hiệu quả.  sang thị trường EU theo chiều rộng và chiều sâu trong những năm gần đây để từ đó đưa ra được những giải pháp giúp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thủy sản.  Phạm vi về không gian nghiên cứu: Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và thị trường EU.  Phạm vi về thời gian nghiên cứu: bài nghiên cứu đánh giá thực trạng về hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU trong giai đoạn 2018 – 2020 và 6 tháng năm đầu năm 2021. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu 4.1 Phƣơng pháp luận Để thực hiện nghiên cứu hiệu quả những vấn đề mà đề tài đặt ra, đề tài đã sử dụng phương pháp luận biện chứng và duy vật lịch sử. Đây là hai phương pháp chủ đạo và xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của đề tài, để đưa ra những kết luận đảm bảo tính khách quan, chân thực.
  • 11.
    3 4.2 Phƣơng phápnghiên cứu cụ thể Bên cạnh phương pháp luận, đề tài còn sử dụng các phương thức nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp nghiên cứu định lượng, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích hệ thống và phương pháp mô hình. Để thực hiện có hiệu quả mục đích nghiên cứu, đề tài kết hợp chặt chẽ các phương pháp này trong suốt quá trình nghiên cứu toàn bộ nội dung tiểu luận. Tùy thuộc vào từng chương các phương pháp nghiên cứu được áp dụng sao cho phù hợp. Chương I, đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, tiếp cận ngành nhằm đánh giá tổng quan tình hình xuất khẩu thủy sản. Chương II, ở phần này đề tài chú trọng đến phương pháp nghiên cứu tài liệu và phương pháp thống kê nhằm làm rõ thực trạng của xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU trong giai đoạn 2018 – 2021 và 6 tháng đầu năm 2021. Ở chương III, vận dụng kết hợp các phương pháp xã hội học pháp luật, phương pháp tổng hợp và dự báo để đưa ra phương hướng và giải pháp giúp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thi trường EU  Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nhằm mục đích thu thập dữ liệu thứ cấp được thực hiện chủ yếu bằng cách đọc, ghi chép, phân loại, tổng hợp dữ liệu từ nguồn tin tức chính thống và từ các công trình khoa học có liên quan: báo chí, kênh thời sự, sách báo, tạp chí, các tài liệu của Bộ Công Thương, Cục quản lý cạnh tranh, Sở Công Thương thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, các báo cáo về hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam  Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp số liệu như sản lượng, giá trị và kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Qua đó tính toán được các chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối để phục vụ cho việc phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong giai đoạn 2018 – 6T 2021. Các số liệu thu thập được biểu diễn thành bảng, đồ thị, biểu đồ để thuận lợi cho việc phân tích, so sánh.  Phương pháp phân tích và tổng hợp: Từ việc phân tích và so sánh các dữ liệu đã thu thập được, sẽ rút ra được cái nhìn tổng quát và chính xác nhất về hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU.  Phương pháp so sánh: Để thấy rõ những biến đổi, biến động về giá trị, kim ngạch xuất khẩu thủy sản qua từng năm để từ đó đưa ra các đánh giá khách quan về thực trạng xuất khẩu. 5. Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, đề tài có kết cấu 3 chương:
  • 12.
    4 Chương I: Cơsở lý luận về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU Chương II: Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2018 – 2021 và 6 tháng đầu năm 2021 Chương III: Các đề xuất và kiến nghị về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU
  • 13.
    5 CHƢƠNG I: CƠSỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU 1.1 Tổng quan về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản 1.1.1 Khái quát chung về ngành thủy sản a) Khái niệm ngành thủy sản Theo giáo trình Hệ thống và quản lý nuôi trồng thủy sản của Đại học Huế xuất bản năm 2011 đưa ra khái niệm về thủy sản: “Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường”. Ngoài ra, theo Luật Thủy Sản 2017 của Quốc Hội số 18/2017/QH14 đưa ra khái niệm về ngành thủy sản: “là ngành bao gồm các hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; nuôi trồng thủy sản; khai thác thủy sản; chế biến, mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản” Theo tổng hợp trên https://tongcucthuysan.gov.vn thì ngành thủy sản được hiểu là “ngành kinh tế bao gồm các hoạt động đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy sản và các hoạt động dịch vụ thủy sản có liên quan. Là một ngành kinh tế sinh học, được phân ngành thuộc ngành nông nghiệp, ra đời sớm và được nhà nước xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”. Như vậy, qua những khái niệm được đề cập ở trên thì hiện nay trên thị trường được sử dụng phổ biến nhất có lẽ là: ngành thủy sản là ngành bao gồm các hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; nuôi trồng thủy sản; khai thác thủy sản; chế biến, mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản. Đây là khái niệm sát nghĩa nhất với ngành thủy sản, người mới tìm hiểu cũng có thể nôm na hiểu được vì vậy nó được nhiều người biết đến và sử dụng rộng rãi. b) Đặc điểm của ngành thủy sản Ngành thủy sản được xác định giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Nó khai thác và phát triển một trong những nguồn tài nguyên có thể tái sinh quan trọng của đất nước, những tài nguyên với tiểm năng có thể đóng góp lớn cho các mục tiêu về tài chính, về công ăn việc làm và về đời sống xã hội. Qua đó, nhìn một cách tổng thể có thể thấy được những đặc điểm của ngành thủy sản: Ngành thuỷ sản là ngành vừa mang tính nông nghiệp, công nghiệp, thương mại lại vừa chịu sự chi phối rất lớn của thiên nhiên. Ngành thuỷ sản là ngành có năng suất và hiểu quả lao động tự nhiên cao, có tác dụng tái sản xuất mở rộng. Có nhiều thành phần kinh tế tham gia sản xuất đa dạng.
  • 14.
    6 Ngành thủy sảnlà ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp, tính liên ngành cao. Với tính cách là ngành sản xuất vật chất, ngành thủy sản bao gồm nhiều ngành sản xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản. Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất có liên quan đến việc sử dụng diện tích mặt nước cũng như khai thác các sản phẩm có liên quan đến nước. Các sản phẩm thuỷ sản có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, được nhiều người nhiều nơi ưa chuộng. Ngành thuỷ sản có khả năng thu hồi vốn nhanh có thể thu hoạch được sản phẩm và tiêu thụ trong thời gian ngắn. Ngành thuỷ sản là ngành có nguồn tài nguyên phong phú với trữ lượng lớn, tạo khả năng khai thác với quy mô lớn và con người có thể tái tạo nguồn tài nguyên này. Sản xuất kinh doanh thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao. Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt chế biến thủy sản đều đòi hỏi đầu tư ban đầu khá lớn như đầu tư vào đào ao, giống, tàu thuyền đánh bắt. Ngoài ra, sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên nhất là điều kiện về thủy văn, bão, lũ. 1.1.2 Khái quát chung về xuất khẩu a) Khái niệm về xuất khẩu Theo Khoản 1 Điều 28 số 36/2005/QH11 Luật Thương Mại 2005 quy định về hoạt động thương mại, theo đó “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” Xuất khẩu còn được hiểu nôm na “là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một quốc gia khác, trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là đồng tiền của một trong hai quốc gia của người mua, người bán hoặc của một quốc gia thứ ba khác” (theo https://www.gso.gov.vn) Ngoài ra, xuất khẩu có thể hiểu đơn giản rằng: “là hoạt động bán hàng hoá ra nước ngoài, nó không phải là hành vi bán hàng riêng lẻ mà là hệ thống bán hàng có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân” Theo khái niệm khác, xuất khẩu được hiểu là “hoạt động đưa các hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm thu lợi nhuận. Dưới góc độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các hàng hoá và dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia khác. Còn dưới góc độ phi kinh doanh (làm quà tặng hoặc viện trợ không hoàn lại) thì hoạt động xuất khẩu chỉ là việc lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ qua biên giới quốc gia”
  • 15.
    7 Như vậy, cóthể hiểu một cách khái quát về xuất khẩu như sau: Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh giữa các quốc gia và v ng lãnh thổ với nhau. Quốc gia này sẽ mua các mặt hàng, dịch vụ mà mình không sản xuất được từ các quốc gia khác bằng tiền tệ. Hoạt động một quốc gia bán ra các sản phẩm cho quốc gia khác gọi là xuất khẩu b) Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu là một cơ sở của nhập khẩu và là hoạt động kinh doanh để đem lại lợi nhuận lớn, là phương tiện thúc đẩy kinh tế. Mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển cơ sở hạ tầng. Nhà nước ta luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ. Từ đó có thể thấy được vai trò quan trọng của xuất khẩu trong nền kinh tế thể hiện qua việc: Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu. Xuất khẩu đem lại nguồn thu cho quốc gia và cho doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn quan trọng để tái đầu tư vào các lĩnh vực khác đặc biệt là nhập khẩu, vì ở các nước đặc biệt là các nước đang phát triển nhu cầu nhập khẩu máy móc và thiết bị lớn nên nhu cầu về vốn lớn. Không chỉ vậy, xuất khẩu còn tác động làm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và phát triển sản xuất. Sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế sẽ chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế mà công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn. Do vậy, quốc gia đó sẽ tập trung vào sản xuất những sản phẩm và cung cấp những sản phẩm có lợi trên quy mô lớn (quy mô sản xuất công nghiệp). Điều này dẫn đến, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển hướng sang ngành công nghiệp (trong đó có công nghiệp xuất khẩu) mang lại những lợi ích nhiều hơn nông nghiệp Xuất khẩu tạo ra khả năng thị trường tiêu thụ cũng như cung cấp đầu vào cho sản xuất nhằm khai thác tối đa năng lực sản xuất trong nước phục vụ nhu cầu của thị trường. Xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn, việc làm. Hoạt động xuất khẩu càng được đẩy mạnh và không ngừng phát triển về quy mô thì sẽ càng thu hút được nhiều lao động, như vậy xuất khẩu đã tạo việc làm cho người lao động giúp người lao động có thu nhập chính đáng và nâng cao đời sống. Ngoài ra, xuất khẩu còn tạo điều kiện cho các ngành liên quan phát triển. Vì sản xuất là chuỗi hoạt động tính móc xích với nhau cho nên phát triển của ngành này sẽ kéo theo sự phát triển của ngành khác Xuất khẩu còn là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước. Xuất khẩu là hoạt ra đời sớm nhất trong các hoạt động kinh tế, khi có hoạt động xuất khẩu thì các nước sẽ có quan hệ với nhau trên cơ sở các bên đều có lợi. Do vậy các quốc gia sẽ xây dựng các quan hệ kinh tế nhằm đẩy mạnh hoạt động này.
  • 16.
    8 Nói chung, xuấtkhẩu đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế của các quốc gia, do vậy các quốc gia đều chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu để khai thác tối đa lợi ích của hoạt động này trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 1.1.3 Khái quát chung về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản a) Khái niệm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Đẩy mạnh xuất khẩu ở đây theo http://moit.gov.vn được định nghĩa là “một phương thức đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa mà trong đó nó bao gồm tất cả các biện pháp, chính sách, cách thức của Nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm tạo ra các cơ hội và khả năng để tăng giá trị cũng như sản lượng của mặt hàng thủy sản được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài”. Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản còn được hiểu là việc “tổng hợp các biện pháp, cách thức được sử dụng để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản nhằm gia tăng sản lượng xuất khẩu, tăng kim ngạch xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu dựa trên các điều kiện vốn có của quốc gia, tận dụng các cơ hội của ngành hàng thế giới” Qua những khái niệm được đề cập ở trên, ta có thể hiểu khái quát: đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản là một phương thức đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa mà trong đó nó bao gồm tất cả các biện pháp, chính sách, cách thức của Nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu nhằm tạo ra các cơ hội và khả năng để tăng giá trị cũng như sản lượng của mặt hàng thủy sản được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Đây là khái niệm không quá xa lạ, dễ hiểu nên được mọi người tìm kiếm và sử dụng khá nhiều ở trong ngành. b) Tầm quan trọng của đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản đối với nước ta có ý nghĩa về nhiều mặt. Đảng ta đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản và coi đó là một trong ba chương trình kinh tế lớn. Có đẩy mạnh xuất khẩu, mở cửa ra thị trường thế giới mới có điều kiện thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ đó thấy được tầm quan trọng của đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản:  Đối với doanh nghiệp Đẩy mạnh xuất khẩu giúp tăng hiệu quả sản xuất - kinh doanh, mở rộng quy mô và đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh nhằm tạo lợi nhuận tốt hơn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, đẩy mạnh xuất khẩu còn giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế và tạo lực cho doanh nghiệp không chỉ ở thị trường trong nước mà còn tại thị trường quốc tế; giúp doanh nghiệp phát triển và mở rộng quan hệ bạn hàng, đối tác; học hỏi kinh nghiệm quản lý, tiếp thu công nghệ hiện đại; giúp doanh nghiệp mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu hàng hóa, hạn chế rủi ro khi kinh doanh trên một thị trường duy nhất.
  • 17.
    9  Đối vớiquốc gia Đẩy mạnh xuất khẩu giúp cho các nguồn lực quốc gia được sử dụng có hiệu quả hơn nhờ tham gia vào quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động quốc tế. Đẩy mạnh xuất khẩu làm tăng năng lực sản xuất, tăng mức sống của Việt Nam nói riêng cũng như của toàn thế giới nói chung. Đẩy mạnh xuất khẩu kích thích tiêu dùng, mở rộng sản xuất, chuyển giao công nghệ và đầu tư giữa các quốc gia, nhờ đó tạo tiền đề cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia. Đẩy mạnh xuất khẩu đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tạo dựng môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, các chính sách kinh tế, cơ chế quản lý ngày càng minh bạch hơn, nâng cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế. Đẩy mạnh xuất khẩu đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng thị trường, tranh thủ được khối lượng lớn vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý và các nguồn lực quan trọng khác. Như vậy, đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho nguồn lực nước ta được khai thông, tăng cường giao lưu với các nước, đúng theo đường lối đối ngoại của Đảng. Thông qua hoạt động đẩy mạnh tạo cơ hội để nhập khẩu lao động kỹ thuật cao, các công nghệ mới và các sáng chế mà nước ta chưa có. Điều này cho thấy Việt Nam đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu không những mở rộng thị trường, thu hút nguồn lực vốn, tăng năng lực cạnh tranh, mà còn tăng khả năng tích lũy vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện để nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. 1.2 Nội dung đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Nội dung đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU có nhiều cách tiếp cận, nhưng về cơ bản ta hướng đến hai cách tiếp cận: Thứ nhất, đẩy mạnh xuất khẩu theo chiều rộng. Đẩy mạnh ở đây giúp tăng nhanh xuất khẩu mở rộng quy mô, đồng thời củng cố các đối tác hợp tác chiến lược để phát triển thị trường bền vững; kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của quốc gia, lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị - đối ngoại, chủ động và độc lập tự chủ trong hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ hai, đẩy mạnh xuất khẩu theo chiều sâu. Với cách tiếp cận này, đẩy mạnh xuất khẩu hướng đến việc chú trọng đến hiệu quả và chất lượng. Thực hiện công tác quản lý chất lượng theo đúng quy định của nước nhập khẩu EU, chú trọng xây dựng và
  • 18.
    10 phát triển hànghóa có giá trị gia tăng cao, có thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước. Hiện nay, ngày càng nhiều hiệp định thương mại được ký kết đồng nghĩa với sự ràng buộc giữa các quốc gia càng lớn. Vì thế bất kỳ sự biến động nào của thế giới cũng có thể tác động trở lại nước ta. Nền kinh tế phải kiên trì với định hướng đẩy mạnh xuất khẩu theo mô hình tăng trưởng bền vững, hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu; vừa mở rộng quy mô xuất khẩu, vừa chú trọng nâng cao giá trị. Do vậy, ở đây em sử dụng kết hợp cả hai cách tiếp cận. 1.2.1 Đẩy mạnh xuất khẩu mang tính quy mô Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu đồng nghĩa với việc mở rộng thị trường và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Đây cũng là chính sách chung của Đảng và nhà nước nhằm hỗ trợ, thực hiện đẩy mạnh sản xuất trong nước phát triển. Trong bối cảnh tình hình kinh tế - chính trị thế giới có những diễn biến phức tạp, đa số các quốc gia chịu nhiều tác động về kinh tế - xã hội do đại dịch COVID-19 bùng phát, Việt Nam vẫn kiên trì thực hiện các chủ trương lớn theo Nghị quyết số 06-NQ/TW của Hội nghị TW 4 khóa XII, “Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” nhằm “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”. Với tinh thần hợp tác tích cực, chủ động, Việt Nam không ngừng mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, quan hệ đối tác chiến lược với các nền kinh tế lớn trên thế giới. Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu, kết nối và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Đặc biệt, việc Việt Nam là một trong số ít nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương thực hiện ba FTA thế hệ mới và gần đây là việc ký kết Hiệp định EVFTA đã thể hiện nỗ lực, quyết tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc mở rộng, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nói chung và thị trường thủy sản nói riêng. Đón đầu và tận dụng được các lợi thế mà Hiệp định EVFTA mang lại ngay những ngày đầu thực thi, BCT với vai trò là cơ quan đầu mối thực thi Hiệp định EVFTA tại Việt Nam, đã chủ động triển khai nhiều dự án để chuẩn bị trong giai đoạn trước và sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, trong đó có đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình cấp C/O, tổ chức các Hội thảo tuyên truyền, phổ biến Hiệp định EVFTA… Thực hiện thông báo kết luận của Bộ trưởng BCT về triển khai một số hoạt động chuẩn bị cho phê chuẩn và thực thi Hiệp định EVFTA, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu đã ký Quyết định số 42/QĐ-XNK ban hành Kế hoạch triển khai thực thi Hiệp định EVFTA trong năm và các năm tiếp theo. Ngoài việc ký kết các hiệp định thương mại tự do, Đảng và Nhà nước đang triển
  • 19.
    11 khai xây dựnghệ sinh thái XTTM một cách toàn diện, hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng với xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và tác động của dịch COVID-19. Hệ sinh thái bao gồm: Hệ thống kết nối giao thương trực tuyến nhằm kết nối các doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác có nhu cầu nhập khẩu và giữa các doanh nghiệp với các tổ chức hỗ trợ kinh doanh nhằm tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu; xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung; xây dựng hệ thống công nghệ thông tin về truy xuất nguồn gốc sản phẩm; xây dựng phần mềm quản lý hội chợ, triển lãm, khuyến mại và các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và xây dựng nền tảng đào tạo trực tuyến phục vụ sản xuất, phát triển xuất khẩu. Có thể thấy, với sự nhanh nhạy trong chuyển đổi số, linh hoạt ứng dụng các hình thức XTTM mới, BCT đã và đang đồng hành hiệu quả cùng cộng đồng doanh nghiệp trong nước tận dụng cơ hội thị trường, các hiệp định thương mại tự do và mở rộng cánh cửa cho xuất khẩu thủy sản Việt. Việc triển khai tăng cường công tác ngoại giao phục vụ kinh tế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và quan hệ thương mại song phương với các quốc gia đang có chiều hướng tích cực. Hình thành đại diện của DN, Hiệp hội ở các thị trường khu vực trọng điểm trong đó có EU; nghiên cứu, đầu tư mở kho ngoại quan ở các nước có khoảng cách địa lý xa Việt Nam để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu. Đổi mới mô hình tổ chức tạo sự chủ động và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thương vụ, cơ quan XTTM của Việt Nam ở nước ngoài; Tích cực phối hợp và chỉ đạo Thương vụ kịp thời thông báo, đề xuất giải pháp ứng phó với những thay đổi tại thị trường của nước sở tại để tiếp tục duy trì và đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Trong thời gian tới, để tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu bền vững trong bối cảnh mới, góp phần thúc đẩy quá trình tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, BCT đang tiến hành triển khai xây dựng “Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương giai đoạn 2021-2030”, đồng thời tiến hành đánh giá việc triển khai thực hiện Chiến lược xuất nhập khẩu thời kỳ 2011-2020, định hướng đến năm 2030, để ban hành chiến lược xuất nhập khẩu cho thời kỳ mới. Cùng với đó, tính toán, xây dựng kịch bản khai thác, phát triển thị trường theo các nhóm ngành hàng có lợi thế, đặc biệt là sang các thị trường đã có Hiệp định EVFTA. 1.2.2 Đẩy mạnh xuất khẩu mang tính chất lƣợng Ngày nay, chất lượng sản phẩm, hàng hoá xuất khẩu không những là thước đo quan trọng khẳng định sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn là chuẩn mực trong các quan hệ kinh tế, thương mại và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chất lượng sản phẩm, hàng hoá liên quan trực tiếp đến sự an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người, tài sản và môi trường. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, bên cạnh việc mở rộng qui mô thị trường, Việt Nam cũng chú trọng tới chất lượng các sản phẩm xuất khẩu không đạt
  • 20.
    12 tiêu chuẩn. Hiệnnay, Việt Nam đã và đang ban hành các đạo luật chuyên ngành để quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá khi xuất khẩu sang các nước. Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh, mới đây nhất là Thông tư số 17/2021/TT-BTC (Thông tư 17) về phân loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa; phân tích để kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu chính thức có hiệu lực từ ngày 12/4/2021. Ngoài ra, còn có Quyết định số 11039/QĐ-BCT ngày 3/12/2014 công bố danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm trước khi thông quan thuộc trách nhiệm quản lý của BCT. Việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách pháp luật trong quản lý an toàn thực phẩm thủy sản xuất khẩu được thực hiện theo hướng tạo điều kiện tối đa cho người dân, doanh nghiệp và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị trường EU. Bên cạnh đó, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) vừa cho biết, đơn vị này đang phối hợp với Tổng cục Hải quan triển khai một số qui định nhằm chấm dứt tình trạng doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản bơm tạp chất làm ảnh hưởng đến uy tín và giảm sút thị trường xuất khẩu của thủy sản Việt Nam. Theo đó, chỉ cho phép làm thủ tục hải quan để xuất khẩu theo quy định đối với các lô hàng thủy sản được chế biến từ cơ sở đáp ứng một trong hai điều kiện là: có tên trong danh sách các cơ sở được công nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của Việt Nam; có tên trong danh sách các cơ sở được phép chế biến thủy sản xuất khẩu vào các thị trường tương ứng có yêu cầu kiểm tra chứng nhận chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản bởi NAFIQAD. Ngoài ra, định kỳ hàng quý hoặc đột xuất, các đơn vị trực thuộc NAFIQAD sẽ tổ chức làm việc với cơ quan hải quan tỉnh, thành phố để giám sát xác suất các lô hàng thủy sản đã được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận chất lượng, an toàn thực phẩm tại nơi tập kết trước khi niêm phong để xuất khẩu. Tận dụng Hiệp định EVFTA để đẩy hoạt động xuất khẩu. Cục Xuất nhập khẩu tập trung xây dựng và trình Bộ trưởng ban hành Thông tư quy định về Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định EVFTA. Cục cũng nghiên cứu và trao đổi với các nước liên quan để hướng dẫn triển khai cơ chế cộng gộp mở rộng theo EVFTA. Các hoạt động nghiên cứu về thị hiếu, dư địa, các cam kết của EU, khả năng sản xuất trong nước… chi tiết mặt hàng thủy sản mà Việt Nam có thế mạnh và được ưu đãi nhiều về thuế quan sẽ được thực hiện; từ đó phân tích, đánh giá cơ hội, khả năng tăng trưởng xuất khẩu và xây dựng phương án thực hiện ngay sau khi EVFTA có hiệu lực. Đồng thời, hiện nay Cục đã và đang tổ chức Hội nghị phổ biến Hiệp định EVFTA cho các cán bộ làm công tác cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) tại các Phòng Quản lý xuất nhập khẩu khu vực, để hoạt động cấp C/O được thuận lợi.
  • 21.
    13 1.2.3 Đẩy mạnhxuất khẩu mang tính hiệu quả BCT cũng xác định rõ đầu tư cơ sở hạ tầng một cách bài bản để ngành thủy sản phát triển hiệu quả và bền vững. Hơn nữa, để đáp ứng theo yêu cầu thị trường xuất khẩu của ngành, không cách nào khác phải đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ về giống, nuôi trồng, thú y phòng bệnh và bảo quản sau thu hoạch. Bên cạnh đó, Việt Nam đang thực hiện cơ cấu lại các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản theo mô hình kinh tế tuần hoàn và nâng cao giá trị. Ngành thủy sản đang quyết liệt thực hiện Luật Thủy sản năm 2017 và các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định IUU. Cùng với đó tập trung công tác điều tra nguồn lợi, dự báo ngư trường khai thác; quản lý tàu cá, đảm bảo an toàn cho người và tàu cá trên biển cũng như quản lý cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá. Tại hội nghị, các vấn đề về công tác quản lý tàu cá, cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá, công tác tổ chức sản xuất, khai thác thủy sản… được các đại biểu các địa phương thảo luận, đưa ra các giải pháp cho năm 2021 và các năm tiếp theo. Hầu hết các đại biểu đều cho rằng, ngành thủy sản đang phải đối mặt những khó khăn như: Dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, kênh phân phối sản phẩm thủy sản đứt gãy, gián đoạn ở nhiều thị trường xuất khẩu; cảnh báo “Thẻ vàng” của Ủy ban Châu Âu chưa được tháo dỡ tiếp tục tác động xấu đến hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản. Hiện nay, việc đẩy mạnh xuất khẩu mang tính hiệu quả được đặc biệt quan tâm, chú trọng. Đảng và Nhà nước cùng với Tổng cục Thủy sản chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan và các địa phương theo dõi diễn biến thời tiết và tình hình an ninh trật tự trên biển, kịp thời chỉ đạo và đề xuất giải pháp phù hợp hỗ trợ cho ngư dân yên tâm sản xuất trên biển; tổ chức triển khai thực hiện các quy định và các văn bản hướng dẫn Luật; bám sát mục tiêu Chiến lược Phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để thực hiện đồng bộ cả 03 trụ cột, gồm: khai thác, bảo tồn và nuôi trồng gắn với chế biến; chủ động xây dựng các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch để triển khai thực hiện; tiếp tục rà soát, hoàn thiện các chính sách quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, hướng dẫn triển khai, kiểm tra kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tham mưu, đề xuất thực hiện các quy định, chính sách hỗ trợ cho hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản. Đối với Cục Chế biến và phát triển thị trường thủy sản, nghiên cứu cơ chế khuyến khích, hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp chế biến đa dạng hóa thành phẩm, đặc biệt là sản phẩm đóng hộp, sản phẩm khô. Bên cạnh đó, Cục còn tổ chức các hội thảo, diễn đàn doanh nghiệp, giới thiệu, quảng bá sản phẩm trước diễn biến của tình hình dịch Covid-19. Các Sở tăng cường công tác tập huấn, tuyên truyền, phổ biến cho cán
  • 22.
    14 bộ và ngưdân về các quy định, yêu cầu khi xuất khẩu sang thị trường EU. 1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động đẩy mạnh xuất thủy sản sang thị trƣờng EU 1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá theo chiều rộng  Về sản lƣợng xuất khẩu Đây là chỉ tiêu định lượng phản ánh khối lượng hàng thủy sản được xuất khẩu sang thị trường EU của doanh nghiệp. Sản lượng tiêu thụ thể hiện cho năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Sản lượng xuất khẩu hàng thủy sản lớn chứng tỏ quy mô doanh nghiệp lớn, năng lực sản xuất cao. Để đánh giá sự thay đổi sản lượng hàng thủy sản xuất khẩu, ta có thể dựa vào hai chỉ tiêu sau:  Mức tăng tuyệt đối của sản lượng xuất khẩu: ∆Q = Q1 – Q0 Trong đó: ∆Q là số lượng tăng tuyệt đối của sản lượng xuất khẩu kỳ hiện tại so với kỳ gốc Q1: là sản lượng hàng xuất khẩu ở kỳ hiện tại Q0: là sản lượng hàng xuất khẩu ở kỳ gốc Giá trị của ∆Q càng lớn thể hiện sự tăng lên càng mạnh sản lượng hàng thủy sản xuất khẩu.  Tốc độ tăng trưởng sản lượng hàng thủy sản xuất khẩu Tốc độ tăng trưởng sản lượng hàng thủy sản xuất khẩu nhanh hay chậm thể hiện hiện trạng xuất khẩu ở từng thời kỳ. Nếu tốc độ tăng trưởng giảm sẽ báo hiệu tốc độ phát triển xuất khẩu hàng thủy sản đang bị chững lại. Còn tốc độ tăng trưởng tăng mạnh thể hiện sự bứt phá trong phát triển xuất khẩu hàng thủy sản.  Về kim ngạch xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản là đại lượng đo lường tổng giá trị của mặt hàng thủy sản tham gia xuất khẩu được thống kê theo từng quý hoặc từng năm. Thông qua chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu có thể đánh giá được doanh số bán hàng xuất khẩu trong một đơn vị thời gian là bao nhiêu, từ đó có thể so sánh được mức độ tăng giảm giá trị xuất khẩu qua các thời kỳ. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc đánh giá kết quả hoạt động xuất khẩu của bất kỳ một doanh nghiệp, tổ chức hay quốc gia nào. Công thức tính: M = P x Q Trong đó: M - Kim ngạch từ hoạt động xuất khẩu mặt hàng đó P - Giá bán mặt hàng đó trên thị trường xuất khẩu Q - Số lượng hàng hóa xuất khẩu
  • 23.
    15  Về tăngtrƣởng kim ngạch xuất khẩu: ∆M = Mt – M0 Trong đó: ∆M - Sự thay đổi kim ngạch xuất khẩu Mt - Kim ngạch xuất khẩu năm t M0 - Kim ngạch xuất khẩu năm gốc  Về tốc độ tăng trƣởng kim ngạch xuất khẩu: g(%) = ∆M/M0 x 100% Trong đó: g - Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Các chỉ tiêu M; ∆M và g thể hiện cho sự thay đổi về số lượng hay quy mô của mặt hàng xuất khẩu. Các chỉ tiêu ∆M và g càng lớn thì sự thay đổi trong quy mô xuất khẩu càng cao, chứng tỏ doanh nghiệp ngày một nâng cao được doanh số xuất khẩu. 1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá theo chiều sâu  Sự thay đổi về chất lƣợng hàng thủy sản xuất khẩu Phát triển xuất khẩu hàng thủy sản không thể tách rời việc nâng cao chất lượng sản phẩm, bởi đây là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của sản phẩm trên thị trường. Chất lượng hàng thủy sản không ngừng được nâng cao sẽ có tác dụng tích cực trong việc nâng cao giá trị và giá trị sử dụng cho sản phẩm, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách tạo ra nhiều yếu tố vô hình như thương hiệu, uy tín. Điều này thực sự rất quan trọng trong việc nâng tầm giá trị doanh nghiệp, tạo lập tên tuổi và thương hiệu thu hút khách hàng.  Sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu Mục đích của sự chuyển dịch cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu là điều chỉnh sự phát triển xuất khẩu theo hướng bền vững, hiệu quả hơn. Thực tế hiện nay, xu hướng phổ biến của các nước là thay thế xuất khẩu các mặt hàng thủy sản gia công đơn giản, giá trị gia tăng thấp bằng những sản phẩm tinh xảo hơn, đòi hỏi nhiều chất xám và sáng tạo với giá trị gia tăng cao. Sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu được biểu hiện qua sự thay đổi tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đó trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Công thức tính: R (A) = M (A)/ M x 100% Trong đó: R(A) - Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A M(A) - Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng A M - Tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng  Sự chuyển dịch cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu Phản ánh tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản sang một thị trường cụ thể trên tổng kim ngạch xuất khẩu. Mục đích nhằm khai thác hiệu quả hơn các thị trường
  • 24.
    16 tiêu thụ, tránhsự phát triển không đồng đều gây ra tình trạng mất cân bằng trong xuất khẩu. Sự chuyển dịch cơ cấu thị trường hàng thủy sản sang thị trường EU không chỉ dừng lại ở việc nâng cao thị phần của thị trường EU so với toàn thế giới mà còn chuyển dịch thị phần giữa các nước trong khu vực EU với nhau. 1.4 Các nguyên tắc và công cụ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trƣờng EU 1.4.1 Về nguyên tắc Nguyên tắc được sử dụng trong đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU: Nguyên tắc phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hoá đa dạng và môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững. Nguyên tắc tự do thương mại (nguyên tắc mở cửa thị trường) và tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng. Bản chất của nguyên tắc này là mở cửa thị trường quốc gia cho hàng hoá, dịch vụ và đầu tư của nước ngoài. Ý nghĩa của nguyên tắc này thể hiện ở chổ thông qua cạnh tranh lành mạnh chất lượng hàng hoá ngày càng được nâng cao cùng với năng suất lao động. Nguyên tắc minh bạch ổn định trong thương mại. Nguyên tắc này do WTO quy định các nước thành viên có nghĩa vụ phải bảo đảm tính ổn định rõ ràng và có thể dự báo được trong thương mại quốc tế, có nghĩa là các chính sách, luật pháp về thương mại quốc tế phải rõ ràng, minh bạch, phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng cho thương mại quốc tế. Nguyên tắc này tạo sự ổn định cho môi trường kinh doanh thương mại quốc tế. 1.4.2 Về công cụ Thứ nhất, Pháp luật trong đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Pháp luật là một công cụ quản lý có vai trò vĩ mô quan trọng. Đây là phương thức Nhà nước sử dụng các quy định trong hệ thống pháp luật và thông lệ trong kinh tế - thương mại để hướng dẫn, điều chỉnh các hoạt động trong đẩy mạnh xuất khẩu. Pháp luật trong đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản bao gồm: các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn thực hiện,… Nghị quyết 280-CP về phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu vì sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch 271/KH-UBND về đẩy mạnh xuất khẩu trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2022. Quyết định 339/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  • 25.
    17 Quyết định 174/QĐ-TTgphê duyệt đề án thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đến năm 2030. Thứ hai, Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Để thực hiện các nội dung của đẩy mạnh xuất khẩu Nhà nước sử dụng tích cực các phương pháp và công cụ quản lý. Ngoài công cụ pháp luật thì chính sách cũng là công cụ được Nhà nước sử dụng nhiều trong quản lý hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản. Chính sách thể hiện các qui định của Nhà nước trong việc sử dụng các biện pháp về kinh tế hoặc ngoài kinh tế để tác động tới các chủ thể có liên quan đến đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản. Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản cũng hàm chứa những tính toán, định hướng lâu dài của Chính phủ. Dưới đây là một số chính sách đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản:  Chính sách mặt hàng Chính sách mặt hàng để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa là chính sách mà trong đó Nhà nước đưa ra những quy định về danh mục hàng hóa và dịch vụ được phép hoặc không được phép xuất khẩu ra nước ngoài. Các quốc gia cần đưa ra những quy định và cụ thể hóa những quy định đó nhằm giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc lựa chọn sản phẩm xuất khẩu  Chính sách thị trường Nội dung của chính sách thị trường là nhà nước đưa ra những định hướng và các biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc duy trì và mở rộng thị trường. Xây dựng thị trường truyền thống và thị trường trong điểm, đồng thời cung cấp những thông tin về lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế cụ thể là trong lĩnh vực thương mại cũng như những biện pháp hỗ trợ thích hợp giúp các tổ chức trong nước tham gia vào hội nhập được thành công  Các chính sách hỗ trợ Chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Ban hành và triển khai Kế hoạch nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh; Kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu. Tổ chức triển khai Chương trình về phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực, Chương trình hành động về hỗ trợ sản xuất sản phẩm công nghiệp mũi nhọn công nghệ cao trên cả nước. Cải cách thủ tục hành chính. Các Sở, ban, ngành đã tích cực triển khai công tác cải cách thủ tục hành chính, tiến hành rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, công
  • 26.
    18 khai thủ tụctrên website của các đơn vị, triển khai tốt công tác tiếp nhận và trả hồ sơ theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; giải quyết thủ tục hành chính theo quy trình ISO; rà soát và bãi bỏ gần 50 thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực thuế, tài nguyên môi trường, tạo thuận lợi và đơn giản hóa thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.  Chính sách thuế Thúc đẩy phát triển kinh tế và khuyến khích xuất khẩu nhằm tạo việc làm, cải thiện và nâng cao mức sống của nông ngư dân và một số đông người lao động, Chính phủ đã áp dụng mức thuế suất 0% đối với các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu, do đó đã tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào lĩnh vực chế biến thuỷ sản xuất khẩu.  Chính sách khuyến khích đầu tư Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng đề án “ Chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông lâm thủy sản”. Mục tiêu quan trọng của đề án là nâng tỷ lệ chế biến một số loại thủy sản chủ yếu lên trên 70%, nâng cao chất lượng, giá trị chế biến theo hướng đẩy mạnh chế biến tinh, chế biến sâu, giảm tỷ lệ chế biến sơ chế, thủ công. Trong chính sách này, phát triển chế biến thủy sản phải gắn với vùng nguyên liệu và thị trường, đặc biệt là vùng nguyên liệu tập trung có chất lượng.
  • 27.
    19 CHƢƠNG II: THỰCTRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU GIAI ĐOẠN 2018 – 2020 và 6 THÁNG ĐÀU NĂM 2021. 2.1 Tổng quan thị trƣờng thủy sản EU và các nhân tố ảnh hƣờng đến đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trƣờng EU 2.1.1 Tổng quan thị trƣờng thủy sản EU a) Nhu cầu và xu hướng tiêu thụ thủy sản của EU  Về nhu cầu tiêu thụ Theo đài quan sát Thị trường châu Âu đối với Khai thác và nuôi trồng thủy sản (EUMOFA), mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người ở EU năm 2020 đạt khoảng 24,3 kg/người/năm, giảm so với mức tiêu thụ bình quân 24,9 kg trong năm 2016. Tổng lượng tiêu thụ thủy sản ở EU lên tới 12,77 triệu tấn/năm. Nguồn cung thủy sản từ ngoài khối EU chủ yếu đến từ các quốc gia đang phát triển, chiếm 73% tổng giá trị nhập khẩu từ bên ngoài EU là các nước Trung Quốc, Ecuador, Việt Nam, Maroc và Ấn Độ. Đa phần người dân EU đều ăn cá hoặc thủy sản ít nhất 1 lần/tuần.  Về xu hướng tiêu thụ Liên minh châu Âu (EU) có 27 quốc gia thành viên với dân số là 447 triệu người (tháng 1/2021 theo thống kê của Eurostat). Nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của EU rất cao và là khu vực thị trường có nhu cầu và yêu cầu tiêu dùng, nhập khẩu thủy sản cao nhất thế giới hiện nay. Các tiêu chí lựa chọn sản phẩm thủy sản tiêu thụ ở EU thường theo thứ tự sau: Đa số ưu tiên lựa chọn những sản phẩm thủy sản có xuất xứ ở Châu Âu, sau đó những sản phẩm thủy sản đảm bảo rõ thông tin về nguồn gốc của sản phẩm, thân thiện với môi trường, dễ sử dụng, giá của sản phẩm thủy sản đó so với những sản phẩm có tính chất tương đồng trong bữa ăn và địa điểm sử dụng. Người dân EU thường xuyên ăn thủy sản tươi sống ở nhà hàng vì họ cho rằng thủy sản tươi sống sẽ ngon hơn khi biết cách chế biến và các nhà hàng sẽ chế biến thủy sản tươi sống tốt hơn ở nhà. Trong khi những sản phẩm thủy sản đông lạnh, sơ chế, dễ chế biến sẽ được dùng nhiều hơn ở nhà, bếp ăn tập thể. Những sản phẩm thủy sản đóng hộp luôn được lựa chọn cho những chuyến du lịch ngắn ngày. Ngoài ra những yếu tố liên quan tới văn hóa, mức thu nhập của người dân từng quốc gia, khu vực sẽ tác động mạnh tới xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của EU. Xu hướng tiêu dùng thủy sản của EU khi có dịch Covid-19 là những sản phẩm thủy sản có mức giá trung bình như thủy sản sơ chế đông lạnh, dễ chế biến tại nhà và thủy sản đóng hộp có nhu cầu tăng mạnh do tính tiện dụng trong bối cảnh phải giãn cách xã hội vì dịch Covid-19. Đây là những yếu tố nổi bật trong xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của EU trong lúc dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp.
  • 28.
    20 Dịch Covid-19 khôngthay đổi cơ bản về quan điểm tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản ở EU mà chỉ thay đổi ở giá trị sản phẩm và tính tiện dụng của sản phẩm. Cụ thể như trước đây nhu cầu tiêu dùng tôm cỡ to, tôm sú nhiều hơn, thì nay chuyển dần sang tôm sú cỡ nhỏ và trung bình hoặc tôm thẻ có mức giá phù hợp trong bối cảnh cắt giảm chi tiêu. Những sản phẩm tôm phục vụ nhà hàng, thủy sản tươi sống phục vụ nhà hàng cũng ít được tiêu d ng do đặc thù giãn cách xã hội. Những sản phẩm thủy sản có tính tiện dụng tiêu dùng ở nhà đang là lựa chọn của phần đông người tiêu dùng thủy sản ở EU. Riêng thói quen quan tâm tới tính bền vững, nguồn gốc sản phẩm và tính thân thiện là không thay đổi. Xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của EU trong thời gian tới có thể sẽ thay đổi khi dịch Covid-19 được kiểm soát bằng việc tiêm vắc xin trên diện rộng. Khi đó xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của EU có thể sẽ dần trở lại như trước đó. Dự đoán, nhu cầu nhập khẩu thủy sản của EU trong thời gian tới sẽ tăng về lượng so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó thị phần thủy sản của Việt Nam sẽ tăng khi các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới thị trường EU tận dụng tốt hơn những lợi thế từ EVFTA b) Khả năng đáp ứng cầu thị trường thủy sản EU của Việt Nam Đánh giá từ Vụ Thị trường châu Âu - châu Mỹ (Bộ Công Thương), hiện EU là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu hầu hết các mặt hàng thủy sản đều đang ở mức thấp, chưa tương xứng với dung lượng thị trường và quan hệ hợp tác thương mại Việt Nam - EU. Thị trường EU hiện là thị trường tiềm năng cho ngành thủy sản Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu. Thủy sản Việt Nam cũng được EU công nhận và xếp vào nhóm 1 từ năm 2000. Cùng với lượng hàng xuất khẩu sang các nước EU liên tục tăng vọt thì cũng có không ít lô hàng bị cảnh báo và trả về. Theo thống kê mới nhất, Việt Nam có 183 lô hàng thủy sản bị cảnh báo, chiếm 31% tỷ lệ hàng xuất khẩu. Văn phóng SPS Việt Nam cho biết, đa số các lô hàng thủy sản bị cảnh báo đều không đạt tiêu chuẩn vật lý, hóa học, sinh học. Trong đó, tổng số lô hàng không đạt tiêu chuẩn về sinh học chiếm tỷ lệ cao. Ngoài các tiêu chuẩn chi tiết về sản phẩm thủy sản xuất khẩu thì một yêu cầu khắt khe chung đang đặt ra. Các nước EU đều nhập khẩu theo tiêu chuẩn chung là GlobalGAP (Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu) nhưng hiện nay sản phẩm thủy sản của Việt Nam chỉ mới đạt chuẩn VietGAP. Đây là vấn đề khó buộc nhà xuất khẩu phải đáp ứng tốt, nếu không dễ bị thị trường nhập khẩu “sa thải.” Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, tiến sỹ Claudio Dordi lưu ý các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam cần chú trọng tăng cường việc ghi nhãn xuất sản phẩm để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm cũng như thương hiệu sản phẩm thủy sản
  • 29.
    21 xuất xứ ViệtNam. Đây cũng là lý do mà hiện nay hầu hết sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam được đóng gói tại nước nhập khẩu với tên khác. Điều này đang tạo ra mức giá mới nhưng doanh nghiệp Việt Nam lại không được hưởng lợi. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tiêu chuẩn và quy chuẩn của Việt Nam hiện thấp hơn so với EU. Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam còn gặp phải nhiều rào cản kỹ thuật tại thị trường nhập khẩu EU. c) Quy định tiêu chuẩn thủy sản xuất khẩu sang EU  Những yêu cầu bắt buộc: Thứ nhất, Quy tắc truy xuất nguồn gốc Quy tắc về truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm thủy sản NK vào thị trường EU (số 1379/2013) có hiệu lực từ tháng 12/2014. Theo quy định, nhãn sản phẩm phải cung cấp thông tin chính xác về việc thu hoạch và sản xuất. Điều này áp dụng cho tất cả các thủy sản chưa qua chế biến và chế biến. Hệ thống dán nhãn mới cung cấp người tiêu d ng cơ hội để lựa chọn thủy sản thu hoạch với các phương pháp bền vững hơn và có nguồn gốc rõ ràng. Một trong những thay đổi quan trọng nhất là yêu cầu xác định ngư cụ sử dụng và diện tích thu hoạch. Như vậy, DN cần đảm bảo tuân thủ về nhãn. Ngoài ra, DN có thể có hệ thống cung cấp cho người mua thông tin chính xác về nguồn gốc của sản phẩm. Thứ hai, Chứng nhận khai thác thủy sản - chống đánh bắt trái phép IUU (illegal, unreported and unregulated fishing) là tên viết tắt của các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được quản lý. Theo quy định IUU, các quốc gia thành viên EU phải áp dụng việc xử phạt ở mức ít nhất gấp 5 lần giá trị của sản phẩm sai phạm, gấp 8 lần giá trị cho các trường hợp tái phạm trong thời gian 5 năm. Ngoài ra, luật cũng đưa ra các biện pháp xử phạt khác kèm theo như tịch thu tạm thời tàu đánh bắt cá vi phạm,… Để chống đánh bắt cá bất hợp pháp, thủy sản khai thác để xuất khẩu hoặc chuyển lên các tàu tại EU phải có chứng nhận khai thác. DN phải yêu cầu cơ quan thẩm quyền tại địa phương đưa ra giấy chứng nhận khai thác với sản lượng khai thác dành cho các thị trường EU. Nếu một quốc gia không tuân thủ các hướng dẫn của châu Âu để ngăn chặn và loại bỏ khai thác IUU, nước đó có nguy cơ bị EU cấm nhập khẩu tạm thời. Điều này đã xảy ra với Belize, Campuchia, Guinea và Sri Lanka. Thứ ba, Yêu cầu về vệ sinh Có rất nhiều yêu cầu mà sản phẩm thủy sản phải đáp ứng, nhưng để tổng hợp lại thì chủ yếu liên quan đến vấn đề vệ sinh. Các yêu cầu bao gồm các tiêu chuẩn sức khỏe thủy sản: chất gây ô nhiễm và vi sinh gây ô nhiễm; đóng gói và lưu trữ - nhiệt độ nơi lưu trữ và trong thời gian vận chuyển cũng phải được kiểm soát. Việc thực hiện
  • 30.
    22 HACCP là mộttrong những biện pháp căn bản nhưng vệ sinh chung tại cơ sở sản xuất cũng phải tốt. Người mua hàng rất quan tâm đến cách vệ sinh tại cơ sở sản xuất. DN phải đưa ra các biện pháp thích hợp. Điều này có tính then chốt thu hút khách hàng tiềm năng. Thứ tư, Yêu cầu về các chất gây ô nhiễm Sản phẩm có thể chứa chất gây ô nhiễm do trong quá trình sản xuất hoặc do môi trường. Luật của EU giới hạn các chất ô nhiễm. Các chất ô nhiễm bao gồm các kim loại nặng như chì, cadmium, thủy ngân; dioxin và PCP (pentachlorophenol); PAHs (polycyclic aromatic hydrocarbons). Vi sinh vật gây ô nhiễm là khi vi khuẩn vô tình xuất hiện trong sản phẩm. EU có quy định số 2073/2005 về tiêu chuẩn vi sinh. EU cũng kiểm tra vi sinh như kiểm tra chất gây ô nhiễm. Ô nhiễm vi sinh có thể được ngăn ngừa bằng các biện pháp vệ sinh thích hợp. Trong nhiều trường hợp, cơ sở sản xuất gặp khó khăn vì không thể kiểm soát vi sinh trong nguyên liệu. Do đó, cần có tiêu chuẩn tối thiểu đối với nguồn cung cấp và phải kiểm tra trước khi nhận hàng.  Những yêu cầu chung Yêu cầu chung, là những điều mà hầu hết các đối thủ cạnh tranh đều thực hiện, nói cách khác, là những điều DN cần phải tuân thủ để theo kịp với thị trường đó là giấy chứng nhận an toàn thực phẩm IFS và BRC là các chương trình chứng nhận an toàn thực phẩm thường được yêu cầu nhiều nhất. Hai tiêu chuẩn thực phẩm thiết yếu đối với nhà cung cấp để thâm nhập thị trường bán lẻ. Yêu cầu về an toàn thực phẩm đang ngày càng tăng. Khách hàng (người tiêu dùng) và các cấp chính quyền ngày càng đưa ra những yêu cầu cao hơn về việc thực phẩm mà chúng ta sử dụng phải đạt chất lượng và an toàn cao. Những yêu cầu này đầu tiên thường liên quan trực tiếp đến những nhà bán lẻ, nhưng ngày nay thì trách nhiệm đó đã được mở rộng đến toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm bao gồm các nhà sản xuất thực phẩm, nhà sản xuất sơ cấp và nhà vận chuyển. 2.1.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trƣờng EU a) Nhân tố khách quan Thứ nhất, Nhu cầu của thị trường EU Đây là yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng quan trọng, quyết định đến khả năng thành công của sản phẩm xuất khẩu. Sự biến động của thị trường EU ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì vị thế của mỗi sản phẩm doanh nghiệp của các quốc gia xuất khẩu trên bản đồ cạnh tranh. Qui mô và xu hướng biến động của thị trường EU sẽ kéo theo sự thay đổi trong cạnh tranh của sản phẩm. Những biến động này có thể làm mất đi
  • 31.
    23 những thế mạnhhiện tại mà sản phẩm thủy sản đang có nhưng cũng có thể mang lại cơ hội mới cho sản phẩm. Với sản phẩm thủy sản nhu cầu tại thị trường EU được xác định thông qua hai nhu cầu cơ bản. Nhu cầu tiêu dùng thủy sản nội địa phụ thuộc vào quy mô dân số và khối lượng tiêu dùng bình quân nhu cầu phục vụ xuất khẩu Thứ hai, Rào cản thương mại thị trường EU EU là thị trường phát triển vốn có nhu cầu cao về các sản phẩm tiêu d ng đang có xu hướng dựng lên ngày càng nhiều các hàng rào thương mại, làm tăng thêm sức ép về việc tạo dựng các lợi thế cạnh tranh ngoài những lợi thế quốc gia sẵn có của các nước đang phát triển. Đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu các quốc gia nhập khẩu thường xây dựng các rào cản thương mại sau: Các rào cản về quy trình và thủ tục nhập khẩu thủy sản; các rào cản về kiểm tra, kiểm soát nhập khẩu thủy sản của các cơ quan quản lý các rào cản về thuế các rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm bao gỏi nhãn mác thủy sản nhập khẩu, các rào cản liên quan đến xuất xứ, nguồn gốc thủy sản xuất khẩu các rào cản quy định về môi trường. b) Nhân tố chủ quan Thứ nhất, Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật Điều kiện về yếu tố sản xuất giữ vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu ở bất kỳ một quốc gia nào. Trong hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu, các điều kiện về yếu tố sản xuất được xem là nền tảng của lợi thế mà các doanh nghiệp, các ngành có thể tận dụng từ quốc gia của mình để tạo ra các sản phẩm có năng lực cạnh tranh. Các yếu tố đầu vào sản xuất cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu có thể kể đến như: Tiềm năng về nguồn lợi thủy sản là những tác nguyên sinh vật trong môi trường nước, có giá trị kinh tế được con người khai thác; nguồn nhân lực cho ngành thủy sản thể hiện qua số lượng, kỹ năng, trình độ và đạo đức nghề nghiệp, công nghệ trong nuôi trồng, công nghệ đánh bắt, công nghệ bảo quản sau thu hoạch công nghệ chế biến. Thứ hai, Vai trò của Chính phủ Vai trò của chính phủ thể hiện thông qua việc kết nối và khuyếch đại các nhân tố của năng lực cạnh tranh sản phẩm. Chính sách của chính phủ có thể tạo ra một môi trường cho phép doanh nghiệp đạt được lợi thế của mình. Vai trò của chính phủ đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu được thể hiện qua các nội dung như sự hỗ trợ của chính phủ đối với lĩnh vực thủy sản đưa ra các quy định đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu và kiểm soát việc thực hiện của các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu như tham gia vào các tổ chức các cộng đồng kinh tế, ký kết các hiệp định thương mại. Thứ ba, Các ngành hỗ trợ và liên quan Các ngành hỗ trợ và ngành liên quan giúp cho ngành công nghiệp chính tạo ra
  • 32.
    24 sản phẩm cólợi thế cạnh tranh. Hon nữa, mối liên hệ chặt chẽ giữa các ngành sẽ tạo điều kiện đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ để duy trì các lợi thế bền vững hơn. Trong chuỗi giá trị của sản phẩm, sự gắn kết của các công đoạn trong qui trình sản xuất kinh doanh có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập sự bền vững trong sự phát triển của sản phẩm. Các ngành hỗ trợ và liên quan cho mặt hàng thủy sản xuất khẩu phải kể đến: Hậu cần nghề cá bao gồm hệ thống thủy lợi, cảng cá sản xuất tàu thuyền, hệ thống kho lạnh các hiệp hội thủy sản, hệ thống ngân hàng cung cấp tài chính cho ngành thủy sản, các tổ chức đào tạo, nghiên cứu về thủy sản. Thứ tư, Chính trị, xã hội và quân sự Sự ổn định hay không ổn định về chính trị xã hội cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống chính trị , các quan điểm chính trị , xã hội đều tác động trực tiếp đến phạm vi lĩnh vực, mặt hàng và đối tác kinh doanh. Mặt khác các xung đột lớn hay nhỏ về quân sự trong nội bộ Việt Nam và giữa các quốc gia dẫn đến sự thay đổi lớn về các chính sách kinh tế, chính trị, quân sự. Từ đó tạo ra các hàng rào vô hình ngăn cản hoạt độnh kinh doanh quốc tế đặc biệt là đẩy mạnh xuất khẩu. 2.2 Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trƣờng EU giai đoạn 2018 – 2020 và 6 tháng đầu năm 2021 2.2.1 Về kim ngạch xuất khẩu Theo VASEP, thẻ vàng IUU của Ủy ban châu Âu (EC) đã khiến kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Liên minh châu Âu (EU) sụt giảm liên tục từ năm 2018 đến nay. Sau 2 năm chịu tác động từ thẻ vàng, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang EU giảm 12%, tương đương 183,5 triệu USD. Xu hướng giảm này tiếp tục kéo dài hơn nữa vào năm 2020, đặc biệt do bị tác động kép bởi dịch COVID-19 và thẻ vàng IUU làm cho kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường này giảm đáng kể. Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU giai đoạn 2018 – 6T 2021 Năm Sản lƣợng (nghìn tấn) Kim ngạch (tỷ USD) 2018 236,8 1,35 2019 224,3 1,29 2020 212,6 1,22 6T 2021 104,3 0,485 Nguồn: Báo Cáo Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
  • 33.
    25 Do ảnh hưởngcủa thẻ vàng IUU, xuất khẩu thủy sản sang EU đã giảm đáng kể trong những năm qua. Năm 2018, năm đầu tiên chịu ảnh hưởng của thẻ vàng IUU, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU giảm xuống còn 1.35 tỷ USD. Từ vị trí thứ 2 trong các thị trường xuất khẩu thủy sản, sau khi EC cảnh báo thẻ vàng đối với thủy sản khai thác của Việt Nam, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Châu Âu đã tụt xuống đứng thứ 5 và tỉ trọng của thị trường sụt giảm từ 18% xuống 13%. Năm 2019, tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU đạt khoảng 1.29 tỷ USD, trong đó sản phẩm hải sản khai thác đóng góp khoảng 387 triệu USD. So với năm 2018, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU năm 2019 giảm 12%. Đặc biệt, hội nghị đánh giá 2 năm triển khai chương trình "Doanh nghiệp cam kết chống khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo qui định (IUU)" diễn ra trong bối cảnh đoàn Thanh tra của Ủy ban châu Âu EC sang làm việc với các cơ quan hữu quan Việt Nam để kiểm tra việc thực hiện các khuyến nghị của EC sau năm bị cảnh cáo "thẻ vàng". Trong lần kiểm tra này, đoàn thanh tiến hành kiểm tra 4 nhóm khuyến nghị mà EC đã yêu cầu nước ta phải thực hiện là Khung pháp lý; Hệ thống theo dõi, giám sát và kiểm soát hoạt động tàu cá; Thực thi pháp luật và Truy xuất nguồn gốc thủy sản từ khai thác. Đến nay, sau những năm thực hiện tốt các quy định cả nước có 62 doanh nghiệp cam kết IUU bằng việc tuân thủ nguyên tắc chỉ thu mua từ những tàu đánh bắt có đầy đủ giấy phép, nhật ký khai thác và chứng nhận của cảng. Theo báo cáo của Hiệp hội VASEP, sau năm EC cảnh báo thẻ vàng đối với hải sản khai thác của Việt Nam, xuất khẩu hải sản của Việt Nam sang thị trường EU đã bị tác động rõ rệt. Kim ngạch xuất khẩu giảm 6,5% còn gần 390 triệu USD trong năm 2018 và tiếp tục chững lại trong những tháng đầu năm năm 2019 với 251 triệu USD. Năm 2020, tuy có hồi phục sau khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có hiệu lực từ ngày 1/8/2020 nhưng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU giảm 6% so với năm 2019, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang EU đạt 1,22 tỷ USD. Tuy nhiên, theo Báo cáo khó dựa vào các số liệu xuất khẩu thủy sản sang EU năm 2020 để phân tích định lượng tác động từ thẻ vàng. Bởi, suy giảm xuất khẩu năm 2020 không chỉ chịu tác động bởi thẻ vàng, mà còn bị ảnh hưởng bởi cả đại dịch COVID-19. Mặt khác, xuất khẩu thủy sản sang EU từ nửa cuối năm 2020 còn được tác động từ Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã mang lại kết quả tích cực cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Thủy sản là một trong những ngành xuất khẩu được hưởng lợi đáng kể khi EVFTA có hiệu lực vì 50% số dòng thuế sẽ về 0% vào năm 2020, bao gồm các mặt hàng chính như tôm, cá ngừ, mực và bạch tuộc.
  • 34.
    26 Nguồn: Tính toántừ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam Biểu đồ 2.1: Lƣợng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU qua các tháng trong năm 2020 - 2021. Biểu đồ lượng và trị giá xuất khẩu năm 2021 cho thấy ngoại trừ tháng 2 (tháng có đợt nghỉ Tết nguyên đán) thì lượng và trị giá xuất khẩu thủy sản các tháng năm 2021 đều tăng so với năm trước. Cục Xuất nhập khẩu cho biết xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 485,3 triệu USD và tăng 20% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, Hà Lan, Đức, Italia, Bỉ và Pháp là những thị trường xuất khẩu lớn nhất trong khối thị trường này. BCT nhận định, trong những tháng cuối năm 2021, nhu cầu tiêu thụ tại EU đang có xu hướng hồi phục trở lại cộng với những ưu đãi đặc biệt về thuế quan từ EVFTA sẽ tiếp tục tạo thuận lợi cho các sản phẩm thủy sản của Việt Nam tăng thêm tính cạnh tranh tại thị trường EU. Song trước diễn biến của dịch bệnh, ảnh hưởng của thẻ vàng IUU sẽ tiếp tục là những yếu tố tác động lớn nhất đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường này. 2.2.2 Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu Từ nhiều năm nay, các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của VN vẫn là tôm, cá biển, mực, bạch tuộc và các loại thủy sản đông lạnh và các loại thủy sản khô. Cơ cấu các mặt hàng XK của nước ta ngày càng bổ sung thêm các mặt hàng có giá trị như cá ngừ, nghêu và một số đặc sản khác. Trong đó, tôm vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, sản lượng tôm ngày càng tăng, đến nay theo ước tính có thể đạt gần 3 triệu tấn, thỏa mãn tương đối tốt nhu cầu tiêu thụ của thế giới nói chung và của EU nói riêng.
  • 35.
    27 Bảng 2.2: Kimngạch các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU giai đoạn 2018 - 6T 2021 Đơn vị: triệu USD Mặt hàng Năm Cá Tôm Mực, bạch tuộc Thủy sản khác 2018 307,1 838,3 53,6 152,7 2019 492,3 689,8 49,5 148,2 2020 411,5 591,6 45,2 135,8 6T 2021 151,053 255,7 19,1 78,057 Nguồn: Tổng Cục Hải quan Về mặt hàng tôm Kết thúc năm 2018, xuất khẩu tôm của Việt Nam không khả quan như mong đợi, giảm 7,8% so với năm 2017.Giá tôm trong nước có lúc giảm 20-30% cũng ảnh hưởng tới nguồn cung và nhu cầu thị trường và giá trị XK. Nguồn cung từ các nước sản xuất tôm như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia tăng, nên tôm Việt Nam không thể xuất mạnh sang thị trường này. EU vẫn là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, chiếm 23,6% tổng giá trị xuất khẩu tôm Việt Nam đi các thị trường. Năm 2018, xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU đạt 838,3 triệu USD, giảm 2,8%. Xuất khẩu tôm sang EU tăng trưởng tốt trong nửa đầu năm và có xu hướng giảm trong nửa cuối năm. Trong năm 2019, XK tôm Việt Nam sang thị trường EU đạt 689,8 triệu USD, giảm 17,7% so với năm 2018. Riêng trong quý IV/2019, XK tôm Việt Nam sang EU đạt 176,4 triệu USD, giảm 7,1% so với quý IV/2018. Trong quý cuối cùng của năm 2019, XK tôm sang EU có chiều hướng tốt hơn, không giảm sâu như 3 quý đầu năm. Cả năm 2019, XK tôm sang EU chỉ tăng nhẹ trong tháng 7 và 11, các tháng còn lại đều giảm. Trong đó Tôm chân trắng là sản phẩm chủ đạo XK sang EU, chiếm tỷ trọng 79,9% tổng các sản phẩm tôm xuất sang EU, tôm sú chiếm 12,2%, còn lại là các sản phẩm tôm biển. Giá trị XK các sản phẩm tôm chân trắng sang EU trong năm 2019 giảm mạnh hơn giá trị XK tôm sú sang thị trường này. Dưới đây là biểu đồ kim ngạch xuất khẩu tôm sang thị trường EU. Nhìn vào biểu đồ có thể thấy được sự giảm đáng kể trong kim ngạch của mặt hàng tôm khi xuất khẩu sang thị trường này. Cả năm 2020, xuất khẩu của ngành thủy sản đạt kim ngạch 8,6 tỷ USD, trong đó riêng mặt hàng tôm xuất khẩu đạt 3,78 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng hơn 12,4%. Như vậy, mặc dù có những thời điểm trồi sụt thất thường trong năm vì dịch bệnh, thị trường xuất khẩu tôm đã trở thành điểm sáng của ngành xuất khẩu thủy sản năm 2020. Theo
  • 36.
    28 VASEP, lĩnh vựcxuất khẩu tôm Việt Nam năm 2020 hoạt động tốt mặc dù dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên toàn thế giới, ở cả các nước nhập khẩu và các nước nguồn cung. Nhưng đến cuối năm, đã có cú nước rút ngoạn mục. Điều đáng lưu ý là xuất khẩu tôm Việt Nam sang EU giảm liên tục từ tháng 3 đến tháng 6, nhưng từ tháng 7 và 8-2020 bắt đầu bật tăng so với những tháng trước đó. Cụ thể, tháng 7-2020 đạt 54,2 triệu USD, tăng 2% so với tháng 7-2019; tháng 8-2020, đạt 394,6 triệu USD, tăng gần 12% so với tháng 8-2019, và tăng 7,2 lần so với tháng 7-2020. Điều này được cho là nhờ tác động tích cực từ Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ đầu tháng 8-2020. Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam Biểu đồ 2.2: Lƣợng và kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang thị trƣờng EU theo quý năm 2020-2021 Từ biểu đồ thống kê cho biết xuất khẩu tôm sang thị trường EU 6 tháng đạt 255,7 triệu USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, riêng tôm chân trắng đạt trên 205 triệu USD, tăng 31%. Theo số liệu thống kê được từ Cục Hải quan, xuất khẩu tôm sang EU tăng trưởng mạnh do tôm là mặt hàng có thuế nhập khẩu ưu đãi theo EVFTA được cắt giảm ngay. Thị trường EU chiếm trên 14% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam, đứng thứ ba sau thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản. Về mặt hàng mực và bạch tuộc EU là thị trường nhập khẩu mực, bạch tuộc lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 12,4%. Nếu như năm 2017, xuất khẩu mực Việt Nam sang thị trường này đạt tốc độ tăng trưởng trên 50% thì năm 2018 xuất khẩu sang thị trường này giảm 21,7% đạt trên 40triệu USD do tác động của thẻ vàng IUU. Trong tổng cơ cấu sản phẩm mưc, bạch tuộc xuất khẩu sang EU, mực chiếm tỷ trọng áp đảo 70%, còn lại bạch tuộc chiếm 30%. Trong số các sản phẩm mực xuất khẩu sang EU, mực sống/tươi/đông lạnh
  • 37.
    29 (thuộc mã HS03)chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng giá trị XK giảm mạnh nhất 37,2%. Mực khô, nướng, (thuộc mã HS03) chiếm tỷ trọng thấp nhất nhưng giá trị XK tăng cao nhất. Tính tới cuối năm 2018, NK mực vào EU đạt 53.6 triệu USD, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó Pháp và Bồ Đào Nha là 2 nước NK lớn nhất mặt hàng này trong khối. Biểu đồ 2.3: Kim ngạch xuất khẩu mực, bạch tuộc sang thị trƣờng EU giai đoạn 2018 – 6T 2021 Nhìn vào biểu đồ ta thấy xuất khẩu mực, bạch tuộc sang liên tục giảm mạnh do chịu tác động của thẻ vàng IUU, cộng thêm tác động của dịch bệnh Covid-19 khiến nhu cầu giảm. Tuy nhiên, tháng 8/2020, xuất khẩu mực, bạch tuộc sang thị trường này đã tăng trở lại 10% đạt 5,8 triệu USD. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Pháp tăng trên 101% đạt 0,7 triệu USD. Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ 1/8/2020 đã mang lại ưu đãi thuế cho xuất khẩu mực, bạch tuộc Việt Nam sang EU giúp xuất khẩu mực, bạch tuộc sang EU trong những tháng cuối năm đạt được nhiều kết quả tốt. Tính đến 6 tháng đầu năm 2021 nhờ tăng trưởng tốt EU đã vượt qua Thái Lan trở thành thị trường NK mực, bạch tuộc lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm 10,8% tổng giá trị XK mực, bạch tuộc của Việt Nam đi các thị trường. Về mặt hàng cá Cá ngừ các loại và cá tra, là 2 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất sang thị EU, trong đó cá ngừ các loại tăng trưởng tốt, trong khi đó xuất khẩu cá tra giảm mạnh. Cá ngừ các loại chiếm 25,2% về lượng và chiếm 14% về trị giá; cá tra chiếm 15,8% về lượng và chiếm 7,1% về trị giá trong tổng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU. 0 10 20 30 40 50 60 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 6T 2021 Kim ngạch xuất khẩu mực, bạch tuộc sang thị trƣờng EU giai đoạn 2018 - 2020 và 6T 2021 xuất khẩu mực, bạch tuộc
  • 38.
    30 Nguồn: Tính toántừ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam Biểu đồ 2.4: Lƣợng và kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang EU theo quý năm 2020-2021 Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cá ngừ các loại của Việt Nam tới thị trường EU trong quý II/2021 đạt 9,36 nghìn tấn với trị giá 45,05 triệu USD, tăng 43,9% về lượng và tăng 59,3% về trị giá so với quý I/2021; tăng 41,3% về lượng và tăng 50,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020. Tính chung nửa đầu năm 2021, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam tới thị trường EU đạt 15,87 nghìn tấn với trị giá 73,33 triệu USD, tăng 39,3% về lượng và tăng 31,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 15,2% về lượng và chiếm 15,1% tổng trị giá xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU.
  • 39.
    31 Nguồn: Tính toántừ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam Biểu đồ 2.5: Lƣợng và kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam sang EU theo quý năm 2020-2021 Theo lộ trình giảm thuế của Hiệp định EVFTA, các sản phẩm cá tra xuất khẩu vào EU được giảm thuế về 0% sau 3 năm khi EVFTA có hiệu lực, riêng cá tra hun khói là 7 năm. Tuy vậy, trong những tháng đầu năm 2021, xuất khẩu cá tra của Việt Nam tới thị trường EU gặp nhiều khó khăn trước tác động của dịch Covid-19. Trong quý II/2021, xuất khẩu cá tra của Việt Nam tới thị trường EU đạt 14,2 nghìn tấn với trị giá 32,1 triệu USD, tăng 26,8% về lượng và tăng 26,4% về trị giá so với quý I/2020; tăng 6,5% về lượng và giảm 3,8% về trị giá so với quý II/2020. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu cá tra của Việt Nam tới EU đạt 25,4 nghìn tấn, trị giá 57,52 triệu USD, giảm 12,2% về lượng và giảm 16,8% về trị giá so với cùng kỳ năm2020. Trong đó Hà Lan, Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, Italia... lần lượt là những thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam lớn nhất của EU. Như vậy, Theo nhận định của Cục Xuất nhập khẩu nhu cầu các loại thủy sản thế giới nói chung và tại EU nói riêng dự kiến tiếp tục duy trì xu hướng tăng trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu của EU hồi phục trong khi nguồn cung của thế giới còn hạn chế. Tuy vậy, sức ép cạnh tranh và những quy định, rào cản kỹ thuật vẫn đang và sẽ tiếp tục gây khó khăn cho ngành thủy sản Việt Nam. Các đối thủ cạnh tranh quốc tế nói chung và ngay cả một số thị trường sở tại châu Âu nói riêng, hiện đang có xu hướng đưa ra quy định, tiêu chí khắt khe hơn đối với sản phẩm nhập khẩu vào thị trường Châu Âu - thị trường lớn thứ 2 về nhập khẩu thủy sản Việt Nam.
  • 40.
    32 2.2.3 Về thịtrƣờng xuất khẩu Về thị trường, theo Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương, trong nhiều năm qua, Hà Lan luôn là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam tại EU. Đón đầu Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) với những ưu đãi lớn về thuế đã và đang giúp mặt hàng thủy sản Việt Nam bước đầu tận dụng cơ hội, đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường, bất chấp những khó khăn về dịch bệnh. Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang các thị trƣờng tiềm năng của EU giai đoạn 2018 – 6T 2021 Đơn vị: Kim ngạch (triệu USD) Năm Thị trƣờng 2018 2019 2020 6T 2021 Hà Lan 296 215,196 224 99,2 Đức 194,4 183,6 180,9 91,9 Italia 117,5 105,8 90,9 62,9 Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam Trong EU, Việt Nam xuất khẩu thủy sản nhiều nhất sang các thị trường Hà Lan, Đức, Italy, Tây Ban Nha. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới Hà Lan giảm liên tiếp trong 2 năm 2018 và 2019 là do chịu ảnh hưởng bởi “thẻ vàng” khiến cho xuất khẩu thủy sản khai thác tới EU giảm mạnh. Trong năm 2020, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới Hà Lan tăng nhẹ so với năm 2019 cho dù dịch Covid-19 tác động xấu tới nhu cầu nhập khẩu thủy sản của Hà Lan. Nguyên nhân chính là do xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới Hà Lan giai đoạn cuối năm 2020 đã bứt phá khi EVFTA có hiệu lực từ ngày 1/8/2020. Theo báo cáo xuất nhập khẩu thu được, trong 6 tháng đầu năm 2021,xuất khẩu thủysản của Việt Nam tới thị trường Hà Lan tăng 7,4% về lượng và tăng 4,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020 đạt 19.9 nghìn tấn với trị giá 99.2 triệu USD, chiếm 19,09% về lượng và chiếm 20,45% về trị giá xuất khẩu thủy sản tới EU. Đây là thị trường có tiêu thụ thủy sản lớn nhất của Việt Nam tại EU. Trong đó, xuất khẩu tôm chiếm 40% về lượng và 65,2% về trị giá; xuất khẩu cá tra chiếm 35,9% về lượng và 19,6% về trị giá; xuất khẩu cá ngừ chiếm 5,3% về lượng và 6,5% về trị giá... Trong ba nhóm hàng xuất khẩu chính chỉ có nhóm hàng tôm có lượng và trị giá xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2020. Từ bảng số liệu cơ cấu kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang các thị trường EU, ta thấy được xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Đức tăng trong năm 2017 và 2018,
  • 41.
    33 nhưng giảm trong2 năm tiếp theo 2019 và 2020 do nhóm hàng thủy sản khai thác của Việt Nam xuất khẩu tới EU chưa tháo bỏ được thẻ vàng IUU. Năm 2018 đạt 194,4 triệu USD tăng 3,82% so với năm 2017, tới năm 2020 trị giá còn 180,9 triệu USD giảm 3,73% so với năm 2019. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Đức đạt 14,6 nghìn tấn, trị giá 91,9 triệu USD, tăng 15,7% về lượng và tăng 18,9% về trị giá so với 6 tháng đầu năm 2020. Tôm các loại, cá ngừ các loại và cá tra, basa là 3 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất sang thị trường Đức. Xuất khẩu tôm các loại và cá ngừ các loại tăng trưởng tốt, trong khi đó xuất khẩu cá tra, basa giảm mạnh. Tôm các loại chiếm 50,3% về lượng và chiếm 72,9% về trị giá; cá ngừ các loại chiếm 25,2% về lượng và chiếm 14% về trị giá; cá tra, basa chiếm 15,8% về lượng và chiếm 7,1% về trị giá trong tổng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Đức trong 6 tháng đầu năm 2021. Tại thị trường Italia xuất khẩu thủy sản trong 3 năm 2018, 2019 và 2020 giảm do nhu cầu tại thị trường này giảm trong bối cảnh dịch Covid diễn biến phức tạp. Cụ thể, năm 2018 đạt 117,5 giảm 9,4% so với năm 2017. Tới năm 2020 trị giá còn 90,9 triệu USD, giảm 13,6% so với năm 2019. Còn trong 6 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Italia đạt 16,3 nghìn tấn, trị giá 62,9 triệu USD, tăng 56,7% về lượng và tăng 77,6% về trị giá so với 6 tháng đầu năm 2020. Trong 6 tháng qua, xuất khẩu các nhóm hàng thủy sản lớn của Việt Nam sang thị trường Italia như cá ngừ các loại nghêu, mực,tôm, các loại cá đều tăng trưởng khả quan và bước đầu tận dụng tốt được Hiệp định EVFTA. Trong những thị trường nhập khẩu thủy sản ngoài EU, Việt Nam là thị trường cung cấp thủy sản lớn thứ 5 cho Italia, với lượng đạt 10,14 nghìn tấn, trị giá 40,3 triệu USD. Thị phần thủy sản tính theo lượng của Việt Nam trong tổng nhập khẩu thủy sản của Italia tăng từ 2,3% trong 4 tháng đầu năm 2020 lên 3,1% trong 4 tháng đầu năm 2021. 2.2.4 Về hiệu quả xuất khẩu Qua số liệu thống kê cho thấy, trong suốt giai đoạn trước sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang EU của Việt Nam đều giảm qua các năm trừ năm 2021. Trung bình giai đoạn 2018 - 2020, tốc độ tăng về sản lượng nhanh hơn tốc độ tăng về giá trị, điều này là một trong những nguyên nhân dẫn tới hiệu quả xuất khẩu sang EU của Việt Nam là chưa cao. Kết quả tính toán cho thấy, có lẽ đây là thị trường xuất khẩu thuỷ sản có hiệu không cao đối với ngành thuỷ sản Việt Nam, để gia tăng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản trong nước phải đẩy mạnh sản lượng xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường này. Hiện nay ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản của Việt Nam đang chạy đua với việc sản xuất với khối lượng hàng hoá thuỷ sản ngày
  • 42.
    34 một nhiều hơnđể gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản ở các thị trường EU, điều này chứng tỏ rằng các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam đang tập chung phát triển theo chiều rộng (cả về số lượng nhà máy chế biến lẫn công suất), chưa chú trọng đến công tác qui hoạch phát triển theo chiều sâu (đầu tư có trọng điểm các nhà máy chế biến thuỷ sản với công nghệ cao chế biến các mặt hàng giá trịgia tăng) để tăng hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên thuỷ sản trong nước lên theo hướng tăng giá trị sản xuất trên cùng một đơn vị nguyên liệu chế biến (có nghĩa là sản phẩm sản xuất ít hơn nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu mang lại nhiều hơn). Để đảm bảo giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 8.5 - 9 tỷ USD vào năm 2022 và vẫn phải song song với việc gia tăng sản lượng chế biến thuỷ sản như hiện nay là không có hiệu quả và không bền vững, việc làm này sẽ đặt các doanh nghiệp chế biến rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu trầm trọng, giảm tính cạnh tranh trên trường quốc tế. Nếu làm tốt công tác quy hoạch phát triển ngành chế biến thuỷ sản theo chiều sâu sẽ giảm một phần áp lực thiếu nguyên liệu và nâng cao khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản của Việt Nam trên thị trường Eu tế trong thời gian tới. Ngoài ra việc tiêu hao ít nguyên liệu hơn trong chế biến và chế biến ra các mặt hàng giá trị gia tăng mà vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuấtkhẩu theo như kế hoạch và mục tiêu đề ra mà không khai thác quá mức nguồntài nguyên thuỷ sản trong nước cũng đồng nghĩa với việc chúng ta bảo vệ được nguồn tài nguyên thuỷ sản trong nước giúp phát triển bền vững ngành thuỷ sản trong thời gian tới. Đây cũng là mục tiêu chung cần hướng tới của ngành thuỷsản nói riêng cũng như chiến lược xuất khẩu của Việt Nam nói chung đến năm 2030 2.3 Đánh giá thực trạng xuất khẩu thủy sản EU 2.3.1 Những kết quả đạt đƣợc Thứ nhất, phát triển toàn diện trên các lĩnh vực, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh và chủ quyền trên biển. Việc khai thông thị trường đã thúc đẩy phát triển cơ sở vật chất và năng lực khai thác, nuôi trồng thuỷ sản, năng lực hậu cần dịch vụ, tạo việc làm với thu nhập ngày càng cao cho hàng ngàn lao động, bảo đảm đời sống của hơn 3 triệu người, làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng nông thôn ven biển, đặc biệt là của các cộng đồng ngư dân và nông ngư dân. Từ chỗ là một bộ phận không lớn thuộc khối kinh tế nông nghiệp, với trình độ lạc hậu, thuỷ sản đã trở thành một ngành kinh tế công nông nghiệp có tốc độ phát triển cao, qui mô ngày càng lớn, góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Thứ hai, Về việc đáp ứng các tiêu chuẩn của EU về tiêu chuẩn kĩ thuật Mặc dù sự kiểm tra chặt chẽ của cơ quan quản lí thực phẩm EU được cụthể hóa
  • 43.
    35 bằng luật IUUnhưng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Chất lượng hàng thủy sản của Việt Nam không ngừng được nâng cao, hoạt động đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản luôn được đổi mới, công nghệ chế biến thủy sản (theo tiêu chuẩn HACCP-là loại giấy chứng nhận được phép xuất khẩu thủy sản vào EU) luôn được cải tiến. Các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản đều có đủ tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm và được EU chấp nhận. Những thành tựu đổi mới đó đã tạo uy tín trên thị trường EU. Chính vì vậy, các doanh nghiệp thủy sản đã tăng cường việc áp dụng các hệthống tiêu chuẩn kĩ thuật phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi khắt khe của EU Thứ ba, Về vấn đề bán phá giá hàng thủy sản Khác so với thị trường Mỹ, hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU gặp rất ít và hầu như không có vụ kiện bán phá giá nào. Một phần là do nhu cầu nhập khẩu thủy sản của thị trường EU lớn nên EU thường không dùng biện pháp chống bán phá giá như một biện pháp trả đũa thương mại hay mang tính chính trị. Bên cạnh đó hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang EU với mức giá hợp lí và nhiều chủng loại có lợi thế cạnh tranh khá cao đặc biệt tôm và cá. Hàng thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam hầu như không gây ảnh hưởng cho hàng nội địa của EU nên thường không bị kiện bán phá giá. Đây cũng là một lợi thếcho hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU. Thứ tư, Xây dựng và đào tạo được một đội ngũ các nhà doanh nghiệp thuỷ sản. Xuất hiện nhiều tấm gương, nhiều mô hình sản xuất xuất sắc, đầy tính năng động, sáng tạo. Ngoài đội ngũ doanh nghiệp thuỷ sản có kiến thức và kinh nghiệm hoạt động trong nền kinh tế thị trường còn có hàng trăm kỹ sư giỏi và nhiều công nhân lành nghề. Đội ngũ này có nhiệt tình và ý chí vươn lên mạnh mẽ, là lực lượng có vị trí quan trọng trong giai đoạn phát triển sắp tới. Trong 15 năm qua cũng đã xuất hiện một thế hệ ngư dân mới, đông đảo, có tri thức kỹ thuật và kinh nghiệm góp phần tích cực vào sản xuất và bảo quản nguyên liệu. Các doanh nghiệp đã đầu tư cải tạo nâng cấp nhà xưởng, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh phù hợp với yêu cầu thị trường thế giới. Cho đến nay, toàn ngành thuỷ sản đã có trên 250 nhà máy chế biến công nghiệp, công suất chế biến theo thiết kế vào khoảng 1000 tấn thành phẩm mỗi ngày và hơn nữa là đã có 68 doanh nghiệp được EU cấp mã số xuất khẩu. Điều này đã góp phần lớn tạo nên tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao của ngành Thứ năm, Thành công trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành thuỷ sản nói riêng và góp phần vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả nước nói chung. Trong chế biến thuỷ sản, đã từng bước khắc phục tình trạng lao động thủ công là
  • 44.
    36 chính sang sửdụng máy móc công nghệ khá hiện đại và đồng bộ. Một số khoa học công nghệ mới được đưa vào sản xuất, nhờ đó kéo dài thời gian giữ chất lượng và độ tươi sống của hàng thuỷ sản; tạo ra nhiều chủng loại hàng hoá, trọng lượng, mẫu mã với chất lượng tốt, số lượng nhiều, giá thành hạ phục vụ nhu cầu ăn ngay, nấu ăn rất tiện dụng của người tiêu dùng Lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển khá mạnh mẽ và vững chắc, từng bước đẩy lùi nuôi trồng manh mún, tự phát theo lối thủ công truyền thống dựa vào thiên nhiên sang nuôi trồng có quy hoạch với khoa học công nghệ hiện đại hơn, đưa diện tích từ 295.000 ha lên 535.000 ha. Trong dịch vụ hậu cần nghề cá, nhờ có trang thiết bị hiện đại và ứng dụng khoa học công nghệ mới đã mở ra nhiều ngành nghề mới phục vụ các khâu nuôi trồng, khai thác, chế biến với chất lượng tốt hơn; cung cấp nhiều phương tiện phục vụ nuôi trồng công nghiệp, công nghệ sửa tàu thuyền, sản xuất ngư lưới cụ phát triển, hệ thống cảng cá được đầu tư nâng cấp hiện đại hơn. 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân a) Hạn chế Mặc dù thị trường EU là thị trường tiềm năng cho xuất khẩu thủy sản của nước ta nhưng hiện tại chúng ta vẫn còn có những khó khăn khi thâm nhập vào thị trường này. Thứ nhất, thiếu nhân lực trầm trọng. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định, EU hiện là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn thứ 2 của Việt Nam sau Mỹ chiếm tỷ trọng trên 11%. Trong đó, những thị trường chi phối trong khối này là Hà Lan, Đức, Bỉ, Italy là những thị trường chính tiêu thụ tôm và cá ngừ của Việt Nam. Cùng với đó kinh tế các nước EU đang hồi phục nhờ những chuyển biến tích cực sau chương trình tiêm phòng vắc xin chống Covid và các gói hỗ trợ sau Covid. Nhu cầu nhập khẩu thuỷ sản của thị trường EU bắt đầu tăng mạnh từ tháng 3 năm 2021 và dự báo sẽ tiếp tục khởi sắc trong nửa cuối năm. Thế nhưng, dịch bệnh Covid-19 ở Việt Nam đang diễn biến rất phức tạp. Các công ty thủy sản rơi vào tình cảnh hết sức khó khăn. Hàng trăm công nhân đã phải đi cách ly tập trung khiến nhiều công ty không đủ nhân lực để đảm bảo hoạt động sản xuất. Đồng thời, nhiều công nhân lo ngại bị lây nhiễm nên không dám đi làm. Do đó, nhiều doanh nghiệp có đến 30%, thậm chí tới 50% số công nhân xin nghỉ việc khiến hoạt động sản xuất rơi vào tình trạng “nghỉ Tết” sớm. Thứ hai, Doanh nghiệp đối mặt với chi phí tăng giảm nguyên liệu. Từ khi dịch COVID-19 xảy ra, hàng loạt chi phí đều tăng cao, mức tăng 1,5-2 lần so với trước. Khi dịch bệnh lây lan mạnh hơn tại các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long, DN phát sinh thêm các chi phí cho công nhân ăn ở, sinh hoạt, phụ cấp, xét nghiệm COVID-19…Vì
  • 45.
    37 thế, nhiều DNrơi vào cảnh khốn khó. Thứ ba, chưa xây dựng được cơ chế quản lý hiệu quả từ TW đến địa phương để thực thi các chính sách chống khai thác IUU. Thẻ vàng của EC đã ảnh hưởng trực tiếp đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU và thậm chí có thể gây ra hiệu ứng domino ở các thị trường nước ngoài khác. Ngoài ra, trong thời gian cảnh báo thẻ vàng, tất cả các container thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam có thể bị hải quan kiểm tra từ 3 đến 4 tuần, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải chịu chi phí lớn hơn, chưa kể các container có thể bị đưa về Việt Nam. Về lâu dài, các khách hàng từ EU có thể ngừng đặt hàng từ Việt Nam, đồng thời các thị trường nước ngoài khác có khả năng áp đặt các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn đối với các nước bị thẻ vàng như Việt Nam. Thứ tư, chưa ngăn chặn được triệt để tình trạng tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài, chưa hoàn thành lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, vẫn còn nhiều tàu mất tín hiệu kết nối với hệ thống. Việc xử lý vi phạm hành chính, đặc biệt là các hành vi vi phạm nghiêm trọng theo Nghị định số 42/2019, các lực lượng chức năng chưa thật sự kiên quyết. Ngoài ra kinh phí chi cho các nhiệm vụ về phòng, chống khai thác IUU vẫn chưa được bố trí kịp thời. Thứ năm, công nghệ chế biến thủy sản vẫn còn lạc hậu cho nên thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào EU chủ yếu vẫn là hàng thô, sơ chế, những mặt hàng chế biến sâu và giá trị gia tăng còn ít cho nên chưa vận dụng những ưu đãi về thuế mà hiệp định đem lại. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chưa đa dạng chủ yếu tập trung vào một số mặt hàng: cá tra, cá basa, cá mực cá ngừ. Mẫu mã còn đơn điệu chưa hấp dẫn khách hàng. Chất lượng hàng thủy sản chưa cao chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng khắt khe về số lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm khi xuất khẩu sang EU. Thứ sáu, sức cạnh tranh của hàng thủy sản xuất khẩu còn thấp. Tuy hàng thủy sản của Việt Nam có sức cạnh tranh trên thi trường EU nhưng vẫn thấp so với đối thủ: Trung Quốc, Ấn Độ… có thể thấy điều này qua thị phần của Việt Nam còn nhỏ hơn so với các nước này. Sức cạnh tranh hàng thủy sản tăng nhưng không ổn định, tốc độ tăng còn chậm. Điểm yếu nhất của sức cạnh tranh hàng thủy sản của Việt Nam là khả năng đáp ứng yêu cầu về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm chưa cao. b) Nguyên nhân  Nguyên nhân khách quan Do nhu cầu nhập khẩu tại các thị trường chính sụt giảm bởi ảnh hưởng của suy thoái kinh tế. Trong hai năm trở lại đây tình hình dịch bệnh diễn ra ngày càng phức tạp đã ảnh hưởng không ít tới nhu cầu nhập khẩu tại các nước của thị trường EU. Các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc, biện pháp kiểm soát xuất
  • 46.
    38 nhập khẩu, kiểmdịch…đối với xuất khẩu các sản phẩm thủy sản sang thị trường EU. Trong đó, mặt hàng cá tra và tôm còn bị áp lực bởi kết quả xem xét hành chính POR8 thuế chống bán phá giá và mặt hàng tôm đứng trước nguy cơ bị áp thuế chống trợ cấp. Hàng thủy sản Việt Nam trong thời buổi hiện nay chưa thể đáp ứnghết được các tiêu chuẩn hết sức khắt khe đó cho nên sản lượng xuất khẩu thủysản của Việt Nam vào thị trường EU chưa thể hiện rõ được tiềm lực thủy sảncủa Việt Nam Thị trường EU có một hệ thông kênh phân phối phức tạp. Do các siêu thị, các công ty bán lẻ hay các cửa hàng ở thị trường EU không mua hàng trực tiếp từcác nhà xuất khẩu nước ngoài mà thông qua các trung tâm thu mua lớn của EU hay các công ty xuyên quốc gia do đó các mặt hàng muốn vào thị trường EU phải thông qua các công ty này. Do đó đã hạn chế khả năng đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này, cũng như việc đa dạng hoá và nâng giá bán.  Nguyên nhân chủ quan Nguồn cung nguyên liệu không ổn định. Theo đó, d đã tìm ra nguyên nhân của Hội chứng tôm chết sớm là do vi khuẩn Vibrio, nhưng diện tích nuôi tôm ở 7 tỉnh trọng điểm ĐBSCL Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang đã bị giảm và thiệt hại đáng kể, đặc biệt là tôm sú, dẫn đến nguồn nguyên liệu bị thiếu hụt. Đối với các sản phẩm khai thác, dù sản lượng thực tế tăng nhưng thiếu sản phẩm đủ tiêu chuẩn cho XK do bảo quản sản phẩm sau thu hoạch chưa tốt, nhất là với mặt hàng cá ngừ. Nhiều DN ngừng hoạt động hoặc thu hẹp quy mô sản xuất do đơn đặt hàng thấp, thiếu vốn, chi phí sản xuất tăng và thiếu chính sách hỗ trợ từ nhà nước. Ngành sản xuất thủy sản của Việt Nam chủ yếu theo hộ gia đình, quy mô sản xuất nhỏ thêm vào đó các doanh nghiệp Việt Nam ít có sự liên kết với nhau. Điều này khiến các doanh nghiệp hầu như đơn độc trước sự cạnhtranh của các đối thủ nước ngoài trước thị trường rộng lớn. Nó cũng là nguyênnhân dẫn tới thiếu việc thiếu thông tin về thị trường xuất khẩu, về nhu cầu sản phẩm và thị hiếu người tiêu dùng. Nảy sinh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Cạnh tranh mua nguyên liệu giảm giá bán để tranh khách hàng; lạm dụng hóa chất để tăng trọng, vi phạm các quy định ghi nhãn mác sản phẩm. Những điều này đã bị đổi thủ nước ngoài lợi dụng, gây tác hại tới uy tín và quyển lợi chung của cộng đồng doanh nghiệp ảnh hường không tốt đến khả năng cạnh tranh hàng hóa thủy sản xuất khẩu. Điều này tạo ra cung cầu ảo gây ra sự sai lệch về giá cả rất lớn.
  • 47.
    39 CHƢƠNG III: CÁCĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƢỜNG EU 3.1 Quan điểm, định hƣớng và mục tiêu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trƣờng EU 3.1.1 Quan điểm phát triển Xây dựng thủy sản thành ngành kinh tế có quy mô và tỷ suất hàng hóa lớn, có thương hiệu uy tín, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, có khả năng cạnh tranh cao và bền vững. Hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển có trách nhiệm theo hướng kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và hiệu quả. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành thủy sản theo định hướng thị trường, thân thiện môi trường, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo tồn đa dạng sinh học; thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn sinh học, an sinh xã hội. Phát triển thủy sản gắn với nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân, xây dựng nông thôn mới; kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh trên biển vững mạnh, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên các vùng biển đảo của Tổ quốc. Thu hút các nguồn lực, các thành phần kinh tế đầu tư phát triển thủy sản hiệu quả với lực lượng doanh nghiệp là nòng cốt. Tập trung đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng đồng bộ; đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực; tăng cường nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ, ưu tiên ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số; đổi mới thể chế và nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tổ chức lại sản xuất. 3.1.2 Định hƣớng phát triển a) Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Tập trung điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản và môi trường sống các loài thủy sản, nguồn lợi hải sản biển sâu làm cơ sở bảo vệ, tái tạo và khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản. Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn lợi thủy sản theo hướng chuyển đổi số, làm cơ sở phục vụ công tác dự báo ngư trường, nguồn lợi. Thành lập mới, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu bảo tồn biển. Quan tâm bảo vệ các khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non sinh sống và đường di cư của loài thủy sản. Phát triển bảo tồn biển gắn với du lịch sinh thái và nông thôn mới. Tổ chức quản lý, bảo vệ các khu vực thủy sản tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non sinh sống và đường di cư của các giống loài thủy sản. Thực hiện lưu giữ giống gốc, bảo tồn, khai thác hiệu quả nguồn gen; nghiên cứu sinh sản giống, ưu tiên thả bổ sung các giống loài thủy sản có giá trị kinh tế, khoa học;
  • 48.
    40 loài thủy sảnbản địa; loài thủy sản đặc hữu vào v ng nước tự nhiên. Bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản, bổ sung tái tạo nguồn lợi thủy sản tại các thủy vực nước tự nhiên nội địa, hồ chứa, đầm phá vùng ven biển và vùng biển. Hoạt động thả giống bổ sung, tái tạo, phát triển nguồn lợi thủy sản được coi trọng, thực hiện thường xuyên trên cả nước và được xã hội hóa sâu rộng. Tăng cường thực hiện đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giao quyền quản lý cho tổ chức cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản đối với các vùng biển ven bờ, v ng nước nội địa. b) Khai thác thủy sản Phát triển khai thác hải sản v ng khơi hiệu quả, bền vững trên cơ sở giảm dần cường lực khai thác đảm bảo phù hợp với trữ lượng nguồn lợi thủy sản. Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản vùng lộng, vùng ven bờ và khai thác thủy sản nội địa hợp lý, gắn phát triển sinh kế của cộng đồng ngư dân với phát triển nuôi trồng thủy sản, du lịch sinh thái, nghề cá giải trí. Tuân thủ các quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm, chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định. Xây dựng cơ cấu nghề khai thác hợp lý, cơ cấu lao động chuyên ngành, kiêm nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên, nguồn lợi thủy sản, đặc điểm kinh tế - xã hội từng vùng. Phân bổ hạn ngạch khai thác thủy sản phù hợp. Giảm thiểu, tiến tới chấm dứt các nghề khai thác có tính hủy diệt nguồn lợi thủy sản, chuyển đổi các nghề xâm hại lớn đến nguồn lợi, sử dụng nhiều nhiên liệu sang các nghề thân thiện với môi trường và nguồn lợi thủy sản. Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, cơ giới hóa, hiện đại hóa tàu cá; giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch đến năm 2030 dưới 10%; đảm bảo an toàn thực phẩm cho tàu cá, điều kiện sống và làm việc của thuyền viên phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên biển nhằm chủ động cảnh báo, kịp thời ứng phó với các sự cố, rủi ro, thiên tai trên biển. Đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động trên biển, tham gia hiệu quả công tác hỗ trợ tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. c) Chế biến và thương mại thủy sản Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản quy mô hàng hóa lớn, đóng vai trò chủ đạo trong việc dẫn dắt, thúc đẩy phát triển chuỗi sản xuất thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; sớm đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế biến thủy sản toàn cầu. Hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn lớn ngang tầm thế giới, sản xuất các sản
  • 49.
    41 phẩm có thươnghiệu và sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế. Sản xuất, chế biến các sản phẩm thủy sản dựa trên nhu cầu và tín hiệu của thị trường. Áp dụng khoa học công nghệ, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến giá trị gia tăng phục vụ các ngành thực phẩm và phi thực phẩm; đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ; tăng năng suất, chất lượng; đảm bảo an toàn thực phẩm, quy tắc xuất xứ, an toàn môi trường và an sinh xã hội; nâng cao hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh; tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Chủ động hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư, nguồn lực và mở rộng thị trường xuất khẩu; nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm chế biến cho thị trường nội địa. Ưu tiên sử dụng nguồn nguyên liệu từ khai thác, nuôi trồng thủy sản trong nước, mở rộng thị trường cung cấp nguyên liệu hợp pháp với sản lượng và chất lượng ổn định nhằm phát huy tối đa năng lực chế biến của Việt Nam. Tổ chức sản xuất thủy sản tuần hoàn theo chuỗi giá trị sản phẩm. Thực hiện việc truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu các sản phẩm thủy sản, nhất là các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao của Việt Nam. Hình thành hệ thống kênh phân phối sản phẩm thủy sản trong và ngoài nước. 3.1.3 Mục tiêu thực hiện a) Mục tiêu chung đến năm 2030 Phát triển thủy sản thành ngành kinh tế quan trọng của quốc gia, sản xuất hàng hóa lớn gắn với công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển bền vững và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; có cơ cấu và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; có thương hiệu uy tín, khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế; đời sống vật chất tinh thần của người dân không ngừng nâng cao, bảo đảm an sinh xã hội; góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. b) Một số chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2030 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản đạt 3,0 - 4,0%/năm. Tổng sản lượng thủy sản sản xuất trong nước đạt 9,8 triệu tấn; trong đó sản lượng nuôi trồng thủy sản 7,0 triệu tấn, sản lượng khai thác thủy sản 2,8 triệu tấn. Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 14 - 16 tỷ USD. Giải quyết việc làm cho trên 3,5 triệu lao động, có thu nhập bình quân đầu người lao động thủy sản tương đương thu nhập bình quân chung lao động cả nước. Xây dựng các làng cá ven biển, đảo thành các cộng đồng dân cư văn minh, có đời sống văn hóa tinh thần đậm đà bản sắc riêng gắn với xây dựng nông thôn mới.
  • 50.
    42 3.2 Giải pháphỗ trợ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trƣờng EU 3.2.1 Giải pháp hỗ trợ từ Nhà nƣớc Hoàn thiện hệ thống pháp lý phù hợp hơn với nhu cầu và tạo thuận lợi cho xuất khẩu thuỷ sản. Cần phải rà soát và thay đổi những quy định không còn phù hợp với thời đại ngày nay như một số điều trong luật thuỷ sản, luật đầu tư nước ngoài, luật khuyến khích đầu tư trong nước để tạo ra các điều kiện thông thoáng hơn cho phát triển và thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển ngành thủy sản. Bên cạnh đó cần đào tạo các cán bộ công chức đáp ứng đủ các tiêu chuẩn trong thời kỳ mới. Ngoài ra cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý về ngành thủy sản từ TW đến địa phương để xoá bỏ bớt các thủ tục rườm rà gây mất thời gian, công sức mất niềm tin của người kinh doanh cũng như các nhà xuất khẩu, đầu tư. Gắn công nghệ nguồn với sản xuất xuất khẩu thủy sản trong chiến lược xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU. Do xưa nay chúng ta chủ yếu nhập khẩu công nghệ từ các nước châu Á lên chất lượng không cao, không bền mà EU lại yêu cầu rất khắt khe về chất lượng mặt hàng thủy sản bởi vậy nên tăng cường nhập khẩu các công nghệ tiên tiến từ EU để phục vụ cho quá trình sản xuất hàng xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm. Do đó hàng thủy sản sẽ xâm nhập vào thị trường EU dễ dàng hơn và có sức cạnh tranh với các sản phẩm thuộc các quốcgia khác. Nâng cao chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm. Do thị trường EU là một thị trường vô cùng khó tính về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm cho nên thủy sản Việt Nam muốn phát triển và xâm nhập sâu vào thị trường này đòi hỏi phải đáp ứng được các yêu cầu của họ. Chính vì vậy trong chúng ta cần nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua các phương pháp như thông tin tuyên truyền về an toàn vệ sinh thực phẩm cho những người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm cũng như người tiêu dùng, giáo dục cho họ ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng và vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh đó cần xây dựng bộ máy quản lý chất lượng an toàn vệ sinh về thủy sản để đảm bảo thủy sản Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường dù là khó tính nhất. Tăng cường hoạt động xúc tiến xuất khẩu vào thị trường EU. Xúc tiến thương mại là khâu then chốt trong việc phát triển mặt hàng, thị trường nhằm tăng trưởng xuất khẩu. Tăng cường xúc tiến thương mại phải được thực hiện cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Xúc tiến ở tầm vĩ mô nhằm làm cho phù hợp với đặc điểm, tính chất của thị trường xuất khẩu, thông qua việc giúp các doanh nghiệp tiếp cận với thị trường bằng các cuộc khảo sát thị trường, tham gia hội chợ hàng thuỷ sản, thông qua việc tiếp xúc với các doanh nghiệp. Tổ chức các hội thảo khoa học quốc tế về giống, nuôi trồng, chế biến
  • 51.
    43 thuỷ sản nhiệtđới, tìm kiếm các cơ hội để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nuôi trồng, chế biến thuỷ sản. Xúc tiến ở tầm vi mô nhằm đào tạo cán bộ có năng lực để làm công tác xúc tiến thương mại. Nhà nước có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại đẩy mạnh phát triển thị trường thông quaviệc ký kết các hiệp định song phương và đa phương, đẩy mạnh quan hệ ở cấp Chính phủ về mở rộng thị trường cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta như thủy sản. Ngoài ra, nhà nước cũng cần có các chính sách để thúc đẩy, tạo điều kiện cho sản phẩm của các doanh nghiệp có thể tiếp cận được thị trường cũng như người tiêu dùng EU. Nhà nước cũng cần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Cần bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho các chương trình như khai thác thủy sản xa bờ, nuôi trồng thủy sản và chế biến thủy sản bởi đây là những nguồn cung cấp chính các sản phẩm để thực hiện hoạt động xuất khẩu thủy sản. Ngoài ra cũng cần chú ý tới các trường đào tạo và dạy nghề về thủy sản vì đây là nơi sẽcung cấp ra các cán bộ có năng lực tay nghề để phục vụ cho sự phát triển ngành thủy sản sau này. Hỗ trợ xây dựng và phát triển thương hiệu cho mặt hàng thủy sản của Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay khi thủy sản Việt Nam chưa tạo cho mình được chỗ đứng vững chắc trên thị trường thì sự giúp đỡ của nhà nước là vô cùng quan trọng. Nhà nước sẽ giúp xây dựng thương hiệu cho một số mặt hàng chủ đạo, vàcho phép các mặt hàng này được đăng ký sử dụng tên thương hiệu quốc gia. Việc làm này sẽ tạo hiệu quả tổng thể, mở cửa cho mọi công ty, duy trì các hoạt động kiểm soát dư lượng chất độc hại trong nuôi trồng và chế biến thủy sản. Ngoài ra còn giúp cho việc thiết lập hệ thống giám sát cảnh báo dịch bệnh thủy sản cũng như giúp cho xây dựng và triển khai đề án mã hoá truy xuất nguồn gốc, hoàn thiện hệ thống văn bản liên quan đến quản lý chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm. 3.2.2 Giải pháp từ các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Thứ nhất, Đẩy mạnh công tác nghiên cứu mở rộng thị trường. Xây dựng kế hoạch nghiên cứu mở rộng thị trường hoàn chỉnh. Xác định năng lực và khả năng khai thác các nguồn lực bên ngoài để cân nhắc mức độ đầu tư cho công tác này nhằm tránh tình trạng đầu tư tràn lan, không tập trung hay đầu tư quá ít. Mặt khác, chi phí tìm hiểu thị trường này rất tốn kém nên DN cần kết hợp công tác nghiên cứu thị trường với công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm thủy sản thông qua việc kết hợp tham gia hội chợ, triển lãm với nắm bắt thông tin về tình hình thực tế của thị trường. Ngoài ra, DN cũng cần thu thập các thông tin từ các nguồn tin như Thương vụ Việt Nam tại EU, các công ty tư vấn luật, phòng Thương Mại, các ngân hàng của Việt Nam tại các nước EU, các hãng vận tải quốc tế, môi giới vận tải, môi giới hải
  • 52.
    44 quan, các ấnphẩm quốc tế để đưa ra các phán đoán chính xác vị thế cạnh tranh, xu hướng thị trường, đánh giá được toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của DN trên thị trường EU. Thứ hai, Tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm, hình ảnh thủy sản của doanh nghiệp. Thương hiệu thường gắn với bản quyền về nhãn mác hàng hoá, hình ảnh, logo trên sản phẩm. Thương hiệu phải được xây dựng trên nền tảng chất lượng sản phẩm, mẫu mã và các dịch vụ hậu mại mà công ty có thể cung cấp. Một trong những biện pháp hữu hiệu để xây dựng thương hiệu đó là quảng cáo. Doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch dành chi phí cho quảng cáo. DN có thể sử dụng nhiều hình thức quảng cáo như quảng cáo qua báo chí, ấn phẩm, áp phích hay quảng cáo qua truyền hình hoặc kết hợp nhiều phương tiện quảng cáo để giới thiệu sản phẩm, hình ảnh của mình đến người tiêu dùng. Thứ ba, Tăng cường đầu tư và hoàn thiện quản lý ở cấp doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể nghiên cứu kỹ thị trường và khách hàng cũng như đề ra được các phương hướng phát triển đúng đắn cho doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Bên cạnh đó cũng phải tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất để đảm bảo luôn đáp ứng kịp thời các nhu cầu của khách hàng cũng như không bị lạc hậu về công nghệ so với các đối thủ cạnh tranh về xuất khẩu thủy sản khác. Có như vậy mới đảm bảo cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có một sự phát triển bền vững, có khảnăng củng cố và mở rộng phát triển trên một thị trường khó tính EU. Thứ tư, Tăng cường sự hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thuỷ sản trong nước với nhau và với các doanh nghiệp nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung còn nhỏ bé về quy mô, vốn và kinh nghiệm kinh doanh còn thiếu trong khi lại phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ lớn có nhiều kinh nghiệm. Môi trường cạnh tranh khốc liệt, yêu cầu cao về chất lượng hàng hóa...Tất cả những điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng cường hợp tác với nhau tránh tình trạng mạnh ai nấy làm, tranh mua tranh bán. Liên kết là hướng để phát triển bền vững ngành thuỷ sản. Ngoài ra, các doanh nghiệp nên tiến hành liên doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài từ đó hình thành nên các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài, tạo cho các doanh nghiệp này có thế mạnh về vốn đầu tư, công nghệ cho phép các doanh nghiệp có thể đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu có chất lượng cao, đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường cũng như góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng thuỷ sản. Thứ năm, Nâng cao trình độ cho cán bộ và công nhân chế biến.
  • 53.
    45 Trong môi trườngcạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay để phát triển ngoài có công nghệ tiên tiến cần có một đội ngũ các nhà quản lý có trình độ, công nhân lành nghề. Chính vì vậy doanh nghiệp cần tổ chức các khoá đào tạo cho các nhà quản lý cũng như người lao động giúp họ có khả năng ứng biến, xử lý các tình huống xảy ra đểđảm bảo cho việc hoạt động cũng như xuất khẩu của doanh nghiệp luôn được diễn ra theo kế hoạch. Thứ sáu, Các doanh nghiệp cần khai thác có hiệu quả quỹ phát triển doanh nghiệp của EU Việc các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tiến hành xâm nhập thị trường EU có thể coi là một bước phát triển khách quan trong thời đại mới. Tuy nhiên do các doanh nghiệp này chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cho nên việc thiếu vốn để gia tăng sản xuất cũng như nâng cấp thiết bị là một điều tất yếu. Song doanh nghiệp lại không thể cứ ỷ lại vào sự giúp đỡ của nhà nước do đó quỹ phát triển doanh nghiệp của EU có thể coi là một giải pháp cho việc vay vốn của doanh nghiệp. Các khoản tài trợ , vay vốn này sẽ giúp cho doanh nghiệp có khả năng để nâng cấp các thiết bị, gia tăng các hình thức dịch vụ để thoả mãn nhu cầu khách hàng cũng như mở rộng sản xuất , thực hiện hiện đại hoá doanh nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng của doanh nghiệp. 3.3 Các Kiến nghị về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trƣờng EU  Kiến nghị về cơ chế, chính sách xuất khẩu thủy sản Việt Nam Trong những năm gần đây, chính sách đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản nói riêng, cơ chế xuất khẩu nói chung ở nước ta đã có nhiều tiến bộ như mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, xoá bỏ hệ thống giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu. Tuy nhiên nó còn một số hạn chế như thường xuyên làm thay đổi các mức thuế suất, danh mục hàng hoá làm cho doanh nghiệp luôn bị động trong kinh doanh xuất khẩu. Từ thực tế này có một số kiến nghị được đề xuất: Duy trì và phát triển thị trường ASEAN khai thông các hiệp định thương mại tự do tiến tới hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại EVFTA. Các biện pháp khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản cần thực hiện  Kiến nghị về mặt hàng thủy sản khi xuất khẩu sang thị trường EU Nắm vững đặc tính tiêu dùng của người tiêu dùng tại các nước EU, họ rất chú trọng đến vệ sinh an toàn thực phẩm và rất nhạy cảm với đồ ăn. Phải chú ý đến độ an toàn đối với hàng xuất khẩu thủy sản sang các nước đặc biệt là thị trường EU đều qua hệ thống kiểm duyệt một cách khắt khe chặt chẽ theo luật an toàn thực phẩm và luật vệ sinh thành phẩm. Do đó sản phẩm thủy sản của ta muốn
  • 54.
    46 xâm nhập phảihạn chế chất hoá học, phụ gia để đảm bảo đúng tính chất của sản phẩm Phải đặc biệt coi trọng yếu tố chất lượng. Đối với thủy sản độ tươi được đánh giá cao tiếp theo là hương vị hình dáng, màu sắc. Đối với sản phẩm thủy sản chế biến thì trong công tác chế biến yêu cầu phải giữ được tính chất của sản phẩm Tiếp cận thị trường một các toàn diện tạo mối quan hệ gắn bó với các Công ty nhập khẩu các nhà phân phối các siêu thị và các cửa hàng bán lẻ ở nước ngoài.  Kiến nghị với Nhà nước và ban ngành liên quan Tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp đã làm, như chỉ đạo hệ thống Thương vụ vào cuộc, yêu cầu các doanh nghiệp logisctics tham gia giúp đỡ bảo quản thủy sản trong thời gian chờ xuất khẩu sang thị trường EU. Khuyến nghị nông dân điều chỉnh ngay tiến độ sản xuất bởi tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, khó lường, nhiều khả năng kéo dài. Hướng dẫn và động viên các chủ hàng chuyển sang xuất khẩu theo đường chính ngạch các lô hàng có đủ điều kiện; khuyến nghị người bán đóng bao bì, gắn nhãn, gắn tem truy xuất nguồn gốc để tạo thuận lợi cho việc chuyển sang xuất khẩu theo đường chính thức. Với các lô hàng không đủ điều kiện chuyển sang xuất khẩu theo đường chính thức thì ưu tiên giải phóng hàng khi chợ biên giới được mở lại. Khuyến nghị các tỉnh biên giới bố trí diện tích bảo quản và cung cấp đủ điện cho các container lạnh.
  • 55.
    47 KẾT LUẬN Qua nghiêncứu về thị trường EU và nội dung đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của nước ta sang thị trường này, em thấy EU là một thị trường đầy tiềm năng mà ngành thủy sản Việt Nam có thể khai thác và mở rộng. Đứng trước yêu cầu phát triển của ngành kinh tế mũi nhọn đất nước, đòi hỏi chúng ta phải có nhưng biện pháp chính sách thông thoáng giúp cho ngành thủy sản phát triển cân đối vững chắc trong điều kiện cạnh tranh. Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, đề tài đã thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu như sau: Thứ nhất, hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản. Thứ hai, phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU giai đoạn 2018 - 2020 và 6 tháng đầu năm 2021. Qua đó làm rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân khó khăn khi thâm nhập vào thị trường này Thứ ba, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2030. Trong đó, đề tài đã chỉ ra 2 nhóm giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trường này. Đề tài được thực hiện với hy vọng đóng góp phần nào cho sự phát triển chung xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang các nước cũng như thị trường EU nói riêng. D đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian và khả năng có hạn, luận án không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô, các nhà khoa học để luận án được hoàn thiện và phát triển hướng nghiên cứu trong những đề tài tiếp theo. Tác giả đề tài xin chân thành cảm ơn!
  • 56.
    48 TÀI LIỆU THAMKHẢO 1. Bộ Công Thương (2020), Báo Cáo Xuất nhập khẩu Việt Nam 2. Bộ Công Thương (2019), Báo Cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 3. Cao Tuấn Khanh (2010), “Chính sách thương mại và marketing xuất khẩu thủy sản Việt Nam”, Luận án tiến sĩ 4. Hoàng Chí Cương, B i Thị Thanh Nhàn, Đỗ Thị Bích Ngọc (2013), “Lý thuyết thương mại quốc tế mới: Bằng chứng kiểm định từ trường hợp của Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và phát triển. 5. Ngô Thị Mỹ (2016), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu một số mặt hàng nông sản của Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường ĐH Kinh tế & QTKD - ĐH Thái Nguyên. 6. Nguyễn Minh Sơn (2010), “Các giải pháp kinh tế nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 7. Nguyễn Văn Nam (2013), “Thị trường xuất nhập khẩu thủy sản”, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội. 8. Trần Chí Thành (2018), “Thị trường EU và khả năng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam”, Nhà xuất bản Lao động - xã hội. 9. Thân Danh Phúc (2015), Giáo trình Quản lý nhà nước về thương mại, Trường Đại học Thương Mại, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội. 10. Vũ Chí Lộc (2015), “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của ViệtNam sang thị trường Châu Âu”, Nhà xuất bản lý luận chính trị 11. VASEP (Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam) (2017), Tổng quan ngành thủy sản Việt Nam [Overview of Vietnam's seafood industry]. Retrieved January 11, 2018, from http://vasep.com.vn/1192/OneContent/tong-quan-nganh.htm.