Đức Phật và Con đường giác tuệ

3,745 views
3,610 views

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
3,745
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
33
Actions
Shares
0
Downloads
105
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Đức Phật và Con đường giác tuệ

  1. 1. THÍCH HUỆ THÔNG ĐỨC PHẬT VÀ CON ĐƯỜNG TUỆ GIÁCNHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA SÀI GÒN - 2010
  2. 2. TT THÍCH HUỆ THÔNGMỤC LỤCLời tựaPHẦN1:HOÀN CẢNH CHÍNH TRỊ XÃ HỘI ẤN ĐỘ THỜI ĐỨC PHẬTChương 1: Đôi nét về tư tưởng tôn giáo đã có tại Ấn Độ trước thời Đức Phật.Chương 2: Đôi nét về tư tưởng triết học tại Ấn Độ thời Đức Phật.Chương 3: Hoàn cảnh chính trị xã hội Ấn Độ thời Đức Phật ra đời.PHẦN 2:SƠ LƯỢC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬTChương 1: Thái tử Tất Đạt Đa chào đời (Đức Phật đản sanh).Chương 2: Nguồn gốc Thái tử Tất Đạt Đa.Chương 3: Niên đại Đức Phật đản sanh, vấn đề đến nay vẫn chưa thống nhất.Chương 4: Thái tử Tất Đạt Đa – tuổi thơ và thời niên thiếu.Chương 5: Thái tử Tất Đạt Đa trưởng thành và xuất gia.Chương 6: Thái tử Tất Đạt Đa thành Phật.Chương 7: Đức Phật nhập Niết Bàn.PHẦN 3:HOẰNG PHÁP ĐỘ SANHChương 1: Thời thuyết pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển.Chương 2: Giáo lý căn bản và thực tiễn tu hành mà Đức Phật đã dạy.Chương 3: Đức Phật thâu nhận đệ tử và thành lập Giáo hội Tỳ kheo.Chương 4: Thành lập Giáo hội Tỳ kheo ni.Chương 5: Nguồn gốc an cư tịnh nghiệp đạo tràng.Chương 6: Sự hoằng pháp của Đức Phật đối với các vị vua.PHẦN 4:NHÂN CÁCH VĂN HÓA CỦA ĐỨC PHẬTChương 1: Những đặc điểm tâm lý của Đức Phật.Chương 2: Nhân cách văn hóa của Đức Phật.Chương 3: Cách ứng xử của Đức Phật với quốc gia.Chương 4: Cách ứng xử của Đức Phật với những người quyền quý.Chương 5: Cách ứng xử của Đức Phật với những người cùng khổ.Chương 6: Cách ứng xử của Đức Phật với những người phụ nữ.Chương 7: Cách ứng xử của Đức Phật với loài vật.PHẦN 5:NHỮNG ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC ĐẾN ĐỜI SỐNG NHÂN LOẠI TỪ NGUỒN TUỆGIÁC CỦA ĐỨC PHẬTChương 1: Đạo Phật với nền hòa bình nhân loại.Chương 2: Đạo Phật với môi trường sinh thái.Chương 3: Những lời vàng của Đức Phật. 2
  3. 3. TT THÍCH HUỆ THÔNG LỜI TỰA Tính đến nay, đạo Phật đã tồn tại và phát triển trên hành tinh này trên 2550 năm, dù cólúc thịnh lúc suy, có lúc thăng lúc trầm, nhưng ánh sáng giác ngộ của đạo Phật vẫn khôngngừng soi sáng con đường giải thoát khổ đau cho nhân loại. Một điều hiển nhiên nữa, bất cứnơi nào ánh sáng trí tuệ và suối nguồn yêu thương từ bi vô hạn của đức Phật soi rọi đến, thì nơiđó, bóng đêm si mê ám chướng được xua tan, hận thù ân oán đối với chúng sanh được hóagiải, đời sống tinh thần của từng cá thể được quân bình ổn định, đời sống xã hội thêm phồnvinh hạnh phúc, đời sống nhân loại nhờ đó được hòa bình an lạc. Cuộc đời của đức Phật đã ghi đậm dấu ấn nhân bản cao thượng và nhân văn sâu đậmtrong tâm khảm loài người trên toàn thế giới; giáo pháp của ngài đã ảnh hưởng một cách rộnglớn, thiết thực, lâu dài và vô cùng lợi ích trong đời sống con người. Tinh thần từ bi và trí tuệcủa một bậc giác ngộ như đức Phật của chúng ta quả có sức ảnh hưởng sâu sắc đến lợi lích vàđời sống của nhân loại. Mục đích sâu xa và ý nghĩa thiêng liêng về sự ra đời của đức Phật chính là nhằm khaihóa ánh sáng trí tuệ và khơi nguồn yêu thương trong đời sống nhân loại một cách toàn diện vàtriệt để. Về điều này, chúng tôi cho rằng, chỉ có cách phát triển trí tuệ và tâm từ bi một cáchtriệt để trong đời sống mỗi con người, đánh động lương tri và phát triển tình yêu thương mộtcách toàn diện trong đời sống cộng đồng, thì chúng ta mới có thể mang lại an lạc thật sự chonhân loại, mang lại hòa bình lâu dài bền vững cho thế giới. Sự thị hiện lòng từ bi giáo hóa chúng sanh của đức Phật rất gần gũi, rất thực tế, rất tựnhiên và giàu cảm xúc, điều này đã tác động sâu xa vào tâm thức con người. Sự thị hiện đó, dùxảy ra cách nay đã trên 2550 rồi, nhưng đến nay chúng ta vẫn thấy giáo pháp của Ngài là rấtkhoa học và không hề bị lỗi thời. Nay thông qua giáo pháp, ánh sáng trí tuệ và suối nguồn yêu thương chúng sanh vô hạncủa đức Phật đã và đang dần dần truyền sang mỗi chúng ta. Khi chúng ta mở lòng, tiếp nhậnnguồn tuệ giác và thọ cảm đại bi tâm từ nơi đức Phật, thì bắt đầu từ trong tiềm thức sâu xa vàtrong tâm hồn sâu lắng của mỗi chúng ta, dù ít hay nhiều, cũng sẽ hình thành nên một nhâncách sống đạo để chuyen hóa nghiệp lực bản thân. Nhân cách văn hóa đặc thù tâm linh nàycũng sẽ góp phần chuyển hóa đời sống còn nhiều khổ đau của nhân loại, mà chúng tôi chorằng, nó rất cần thiết cho đời sống xã hội trong bối cảnh hiện nay. Đây cũng là nền tảng, là tiềnđề để giới Tăng Ni Phật tử nói riêng và toàn xã hội nói chung, cùng nhau chung tay tích cựcgóp phần xây dựng nên một thế giới an lạc, hòa bình lâu dài và bền vững. Nhìn lại lịch sử hoằng hóa độ sanh của đức Bổn Sư, chúng ta vô cùng cảm kích trướccông đức trí tuệ và lòng từ bi yêu thương chúng sanh của Ngài. Từ lúc hành đạo cho đến thờikhắc nhập niết bàn, đức Phật đã tùy căn cơ mà hóa độ chúng sanh không hề ngưng nghỉ. Cóthể nói rằng, hết thảy dòng tư tưởng và nguồn minh triết trên thế gian này thảy đều trở nên bạihoại và hư huyễn một khi đối mặt trước trí tuệ siêu phàm và giáo pháp thâm sâu vi diệu củađức Phật. Điểm nổi bật tràn đầy cảm xúc nơi giáo pháp của Ngài, đó là sự thương tưởng đến chúngsanh, cụ thể là luôn hướng đến nỗi đau bất hạnh của nhân loại, tùy căn cơ trình độ mỗi người,Ngài đã đưa ra những phương pháp giúp họ vượt thoát khổ đau luân hồi sanh tử, như Ngài đãtừng dạy: “Nước trong bốn bể chỉ có một vị, đó là vị mặn. Giáo pháp mênh mông của Như Laicũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát”. Mà thật vậy, đối với hàng vua chúa, đức Phật đã dạyhọ hãy làm phước thiện, bố thí cúng dường, cách ứng xử đạo nghĩa trong gia đình cũng nhưquan hệ ngoài xã hội; đối với Phật tử tại gia, Ngài trao truyền Tam quy, Ngũ giới, dạy hànhThập Thiện, tu Bát Chánh Đạo; đối với người xuất gia, ngài giảng về pháp môn Tứ Đế, ThậpNhị Nhân Duyên; đối với hàng thượng căn thượng trí, Ngài tuyên bày Bát Nhã, trực chỉ TánhKhông. Ngài đã phương tiện từ thấp đến cao, tự cạn đến sâu, tùy căn cơ, tùy nghiệp lực…Ngài đều ban rải từ tâm, giáo hóa đến hơi thở cuối cùng, khiến hằng hà vô lượng chúng sanhđược giác ngộ giải thoát. Đức Phật thị hiện trên cõi đời này dưới hình thức một con người, ngài muốn chứng minhrằng con người có một địa vị tối tôn tối thắng trong thế giới muôn loài và trung tâm của vũ trụ. Tuynhiên ngài đã thể hiện cho chúng ta thấy rằng, dù con người có khôn ngoan bao nhiêu đi chăngnữa, dù nhân loại có đạt đến đỉnh cao của nền văn minh như thế nào đi chăng nữa, mà tâm hồn vẫncòn chứa đầy tham, sân, si, ái, ố , hỷ, nộ, vẫn còn nhân, ngã, bỉ, thử… thì nhân loại trên thế giới 3
  4. 4. TT THÍCH HUỆ THÔNGnày vẫn còn hận thù, vẫn còn bất an đau khổ. Đồng thời đức Phật cũng đã chỉ cho chúng ta biếtrằng, con người không những chỉ thông minh uyên bác mà còn có thể đạt đến Tuệ Giác do quátrình tu tập giác ngộ, chứ không phải nhờ vào sự thông minh học hỏi. Trí tuệ từ sở học càngđạt đến đỉnh cao thì cố chấp càng lớn, ngã mạn càng tăng, ngược lại, nhờ Tuệ Giác mà chúngta có thể loại bỏ thói hư tật xấu, chuyển hóa vô minh, phá trừ ngã chấp… Nhờ có Tuệ Giác màchúng ta mới thấy được tự tánh của các pháp là vô thường, vô ngã… Chính nhờ Tuệ Giác màchúng ta thấy rằng, giữa chúng ta và muôn loài luôn có sự liên hệ mật thiết với nhau như ruột thịt,do vậy chúng ta mới biết thương yêu nhau, bảo vệ cho nhau, chung sống với nhau trong ngôi nhàhòa bình trên thế giới. Còn ngược lại thì thế giới mãi là bãi chiến trường đầy dẫy đua tranh, hậnthù, bất an, đau khổ… Đức Phật ở trong tôi cũng là một con người bằng xương bằng thịt, trong lòng cũng trànđầy cảm xúc, ngài cũng sinh ra và rồi cũng giã từ cõi đời này cũng như bao con người kháctrên thế gian, chứ không phải là một siêu nhân hay một đấng thần linh được tô vẽ đươm nhiềumàu sắc tín ngưỡng hoang đường và bí ẩn. Nếu có khác chúng ta chăng, thì ngài là một conngười viên mãn về đạo đức và trí tuệ, bởi ngài là con người đầu tiên trên thế giới này nhận rachân tướng của nhân sinh vũ trụ và nơi chân tâm ngài tròn đầy đức hạnh từ bi hỷ xa. Từ những cảm nhận sâu sắc về thâm ân của đức Phật đối với bản thân tôi cũng như đốivới thế giới loài người, hoài bão của tôi là sẽ cố gắng biên soạn một bộ sách khiêm tốn về cuộcđời và giáo pháp của đức Phật. Do để tâm đến việc này nên tôi đã tập hợp lại các bài mà tôi đãthuyết giảng tại các pháp hội suốt mười mấy năm qua và nhất là trước cơ duyên đại lễ PhậtĐản LHQ 2008, Ban Trị Sự THPG tỉnh Bình Dương đứng ra tổ chức Hội thảo Khoa học Phậtgiáo chủ đề “Đạo Phật Với Xã Hội Công Bằng Dân Chủ Và Văn Minh”, trong dịp này, với tưcách là chủ tọa, tôi cũng đã nhiệt tình đóng góp cho hội thảo bản tham luận “Đôi điều về nhâncách văn hóa của đức Phật và những ảnh hưởng tích cực đến đời sống nhân loại từ giáo phápcủa Ngài”. Có thể nói nhân duyên này đã tạo thêm nguồn cảm hứng và thôi thúc bản thân tôihoàn thiện hoài bão mà bấy lâu nay hằng ấp ủ. Cuốn sách này có tựa đề “Đức Phật và con đường tuệ giác”, cùng với những cảm nghĩmà chúng tôi trình bày trên đây cũng đã nói lên toàn bộ chủ đích và nội dung của sách. Do đóchúng tôi không bàn đến những truyền thuyết mang tính phi lịch sử bao quanh cuộc đời đứcPhật. Mặc khác, từ trước đến nay, đã có rất nhiều sách viết về cuộc đời đức Phật, tuy nhiênphần nhiều chỉ chú trọng đến sử liệu thậm chí khai thác về tính linh thiêng huyền bí của cuộcđời đức Phật, chính vì vậy mà nội dung rất dễ bị khô khan, đồng thời khó phát huy được tínhtruyền cảm trung thực về cuộc đời đức Phật vốn sinh động và rất gần gũi với đời sống conngười. Do vậy, trong cuốn sách này chúng tôi đã kết hợp tính nghiên cứu thông qua các sử liệuđáng tin cậy về lịch sử đức Phật và tính khảo luận thông qua những lợi ích thiết thực mà conđường tuệ giác đã mang lại cho đời sống nhân loại. Trong phần khảo luận, xuất phát từ cảmnhận của cá nhân và quan sát trên đời sống thực tế nên khó tránh khỏi chủ quan sơ xuất, dovậy chúng tôi rất cần sự cảm thông chia sẻ của bạn đọc. Đối với các loại sách biên soạn về nhân vật lịch sử như về cuộc đời đức Phật chẳng hạn,về sử liệu, đa phần sách soạn sau trùng lặp sách soạn trước, nếu khác chăng là ở phương pháphệ thống có khoa học hay chưa để giúp cho người đọc dễ dàng tiếp nhận thông tin và điềuquan trọng nhất là ở mục đích biên soạn sách. Như đã trình bày ở trên, mục đích chúng tôi biên soạn sách này là mong muốn được tônvinh và tán thán đức Phật một cách gần gũi với đời sống con người, bởi đức Phật cũng là mộtcon người bằng xương bằng thịt như tất cả chúng ta, khác chăng ngài là một con người đã giácngộ. Với lòng từ bi vô hạn, ngài đã đem sự giác ngộ của bản thân để hóa độ những người chưagiác ngộ như chúng ta, điều này có nghĩa, chúng ta sẽ theo học giáo pháp của đức Phật, hànhtrì theo lời dạy của ngài để được giác ngộ như ngài. Chính những suy nghĩ như vậy, đối vớichúng tôi, nhân cách của đức Phật là biểu hiện về một nhân cách sống, một sự sống có ý nghĩatuyệt vời nhất trong thế giới loài ngưòi, nó hiện hữu nơi một con người bằng xương bằng thịttrên thế gian này cách đây trên 2.550 năm. Cuốn “Đức Phật và con đường tuệ giác” được chia thành 5 phần. Ba phần đầu ghinhận lại cuộc đời của đức Phật, suốt quá trình từ đản sanh cho đến thành Phật, hoằng hóa độsanh và nhập niết bàn. Trong ba phần đầu chủ yếu thiên về sử liệu, tuy nhiên chúng tôi đã cốgắng trình bày một cách uyển chuyển tạo cảm giác dễ gần cho người đọc. Hai phần sau chúngtôi nói về nhân cách văn hóa của đức Phật thông qua cách ứng xử với con người, với thế giới 4
  5. 5. TT THÍCH HUỆ THÔNGxung quanh và những ảnh hưởng tích cực từ nguồn tuệ giác của đức Phật đến đời sống nhânloại. Trong hai phần này, chúng tôi cố gắng diễn đạt mối tương quan mật thiết giữa giáo phápcủa đức Phật với đời sống thực tế của nhân loại. Vì đây là một cuốn sách viết về lịch sử đứcPhật có nguồn gốc xuất xứ từ kinh tạng Pali thuộc hệ Phật giáo Nam Tông, nên có rất nhiềudanh từ riêng và thuật ngữ Phật học dùng theo tiếng Pali, để bạn đọc dễ dàng theo dõi nội dungsách, chúng tôi sử dụng các từ ngữ đã phiên âm tiếng Việt, còn tiếng Pali hay Sanskrit chúngtôi chỉ để trong ngoặc đơn và chỉ mở ngoặc một lần đối với danh từ riêng đó. Ví dụ: Lâm tì ni(Lumbini) Câu thi na (Kusinara) hay Ca tỳ la vệ (Kapilavatthu)… Dù chỉ là công việc nghiên cứu, chắt lọc và hệ thống, nhưng đối với chúng tôi việc thựchiện cuốn sách này quả là một thách thức, một công việc tưởng chừng khó có thể hoàn thànhtrong hoàn cảnh bản thân còn rất nhiều Phật sự phải gánh vác. Thế nhưng thật hạnh phúc đốivới chúng tôi vì cuối cùng ấn phẩm cũng đã hoàn thành. Riêng đối với chúng tôi, cuốn sách viết về cuộc đời đức Phật và giáo pháp của Ngài, cònlà một công trình văn hóa mang ý nghĩa thiêng liêng, bởi đây là ấn phẩm rất đặc biệt nhằm kỷniệm ngày khánh thành tượng đài đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn dài nhất Việt Nam, đặt tạiTrung tâm Phật học Bình Dương vừa mới xây dựng hoàn thành tại chùa Hội Khánh. Nay cuốn sách “Đức Phật và con đường tuệ giác” được ra mắt bạn đọc xa gần, thiếtnghĩ dù còn rất khiêm tốn và không tránh khỏi những mặt hạn chế nhất định, nhưng chúng tôicho rằng, đây cũng là một viên gạch nhỏ đóng góp thêm vào ngôi nhà văn hóa Phật giáo nướcnhà. Hy vọng đây cũng sẽ là một món quà bổ ích và thật sự có ý nghĩa dành cho những ai đểtâm nghiên cứu, tìm hiểu về cuộc đời và giáo pháp của đức Phật. Chùa Hội Khánh, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca nhập Niết bàn Rằm tháng 2 năm Canh Dần. PL.2554. DL.2010 Thượng tọa Thích Huệ Thông 5
  6. 6. TT THÍCH HUỆ THÔNG PHẦN MỘT HOÀN CẢNH CHÍNH TRỊ XÃ HỘI ẤN ĐỘ THỜI ĐỨC PHẬT CHƯƠNG MỘT ĐÔI NÉT VỀ TƯ TƯỞNG TÔN GIÁO ĐÃ CÓ TẠI ẤN ĐỘ TRƯỚC THỜI ĐỨC PHẬT Đối với người Việt Nam chúng ta, nhất là đối với giới Phật tử, khi nói đến đất nước ẤnĐộ, chúng ta liên tưởng ngay đó là cái nôi thiêng liêng của đạo Phật, nơi đức Phật đản sinh,hoằng pháp độ sanh và muôn nghìn điều kỳ diệu xoay quanh cuộc đời đức Phật cho đến khingài nhập niết bàn. Tuy nhiên ít ai biết Ấn Độ còn là cái nôi rất lớn của các hệ phái tư tưởngsiêu nhiên và tôn giáo huyền bí có mặt rất sớm trên thế giới này. Lịch sử Phật giáo ghi chép, trước thời đức Phật ra đời, so với các nền văn hóa khu vực vàvùng phụ cận thì văn hóa Ấn Độ đã phát triển tới một trình độ khá cao. Kết quả này là nhờ tưtưởng sáng tạo và tính năng động thực tiễn của người Arya. Như chúng ta đã biết, Ấn Độ là một quốc gia bao gồm nhiều sắc tộc và ngôn ngữ nhấttrên hành tinh này, dù là một quốc gia có rất nhiều sắc tộc, nhưng mọi sự chi phối liên quanđến đất nước Ấn Độ vào thời đó đều lệ thuộc vào hai sắc tộc chính, đó là sắc tộc bản địaDravida có nước da nâu, tầm vóc thấp bé, đặc điểm là mũi tẹt di truyền của người châu Á vàsắc tộc chiếm cư Arya có nguồn gốc lâu đời từ Đông Âu với nước da trắng, tầm vóc cao lớn,họ có cái mũi rất cao và thẳng, điều này rất dễ phân biệt với người bản địa Dravida. Khởi nguồn, giống người Arya cư trú tại miền Trung Á, (Trung ương Á Tế Á) họ sốngbằng nghề du mục, sau đó họ vượt qua dãy núi Hin đu (Hindukush) rồi thẳng tiến xuống vùngĐông Nam. Một bộ phận người Arya di chuyển về hướng Tây Nam, tức nước Ba Tư (nay làIran), bộ phận còn lại tiếp tục di chuyển xuống hướng Đông Nam, xâm nhập vào lãnh thổ ẤnĐộ ở phía Tây Bắc. Khi đó người Arya đánh đuổi người dân bản địa Dravida để chiếm vùngParijab, thuộc thượng lưu sông Indus. Từ đó giống người này được gọi là dân tộc Arya Ấn Độ. Sau khi chiếm được Panjab, chinh phục được người Dravida, người Arya liền bắt tay xâydựng, biến phần lớn đất nước Ấn Độ trở thành một xã hội rất phồn thịnh, kinh tế xã hội lúc bấygiờ rất phát đạt, đặc biệt về mặt văn hóa tư tưởng, dân tộc Arya Ấn Độ này đã sáng chế ra bộkinh điển Lê Câu Phệ Đà, chúng ta thường gọi là Vệ Đà (Rg Veda) gồm 1208 khúc thánh cagói gọn trong 40 quyển. Trong hệ thống thư tịch kinh điển nhân loại, có thể nói, bộ kinh Vệ Đàđược xem là một trong số rất hiếm nguồn tư tưởng triết học cổ đại xuất hiện khá sớm trên hànhtinh này. Đây cũng chính là nguồn tư tưởng văn hóa mang đậm dấu ấn tôn giáo siêu hình đãđược hình thành vào thời kỳ đầu tiên của Bà La Môn giáo, ước tính cách nay khoảng 1500năm trước công nguyên. Xét về nội dung, kinh điển Vệ Đà, đa phần là những bài tán thán ca ngợi quyền năng củathượng đế và những vị thần linh tràn đầy tính thần thoại huyền hoặc, tuy nhiên trong toàn bộ 6
  7. 7. TT THÍCH HUỆ THÔNGkinh Vệ Đà cũng ẩn chứa tư tưởng chiều sâu về nhân sinh và vũ trụ, điều này đã mở đầu chonền văn minh triết học Ấn Độ, đây cũng là cơ sở để cho người đời sau phát triển trào lưu tưtưởng dưới các hình thái cách tân hay ở một chiều sâu tư duy có nhận thức đúng hướng và lýluận thực tiễn với đời sống con người hơn. Cũng cần nói thêm, nếu nói hệ thống kinh điển của đạo Phật (cả Nam tông và Bắc tông)được hình thành từ ánh sáng trí tuệ do sự tu hành chứng ngộ thật tướng nhân sinh vũ trụ củađức Phật, thì kinh điển Vệ Đà, dù xuất hiện trước thời đức Phật tại thế trên cả ngàn năm,nhưng đó chỉ là sản phẩm của sự tư duy lẫn ước vọng khát khao được khám phá thế giới siêuhình của những người Arya Ấn Độ. Trong chiều sâu của đời sống nội tâm, những tư tưởng gia,triết học gia thời Ấn Độ cổ đại gần như bị lẩn quẩn xoay quanh trong vòng tâm thức của chínhmình, vì thế sự chấp nhận một đấng thượng đế siêu hình thiêng liêng hiện diện trong tâm thứchọ để họ tôn thờ xưng tán là điều hiển nhiên không có gì phải nói. Có thể nói đây là một biệnpháp để tự trấn an và cũng là để phó thác vận mệnh của mình cho thần linh thượng đế của đạibộ phận loài người khi chưa có ánh sáng giác ngộ soi rọi đến, khi chưa có đường hướng tu tậpgiải thoát cho bản thân mỗi con người. Tuy nhiên chính nguồn tư tưởng tôn giáo này cộng thêm sự phấn khích do quá ảo tưởngvề những cảnh giới siêu nhiên đã phát khởi nên nguồn tri thức tâm linh sơ khai. Những nhà tưtưởng tôn giáo đã chuyển tải nguồn tri thức ấy vào những bài đạo ca được dàn trải trong kinhVệ Đà, nhằm tôn vinh tán thán thượng đế và các đấng thần linh với nội dung mang đầy tínhhuyền hoặc và bí ẩn, đồng thời cũng rất thụ động và lệ thuộc. Dù sao, cách đây trên 3500 năm, thì tinh thần và nội dung của kinh Vệ Đà cũng đã nóilên được tính chiêm nghiệm cũng như khát khao hướng về những cảnh giới siêu hình và cũngđã bộc phát lên được nguồn tri thức tâm linh cao cả mà con người thời đó đang sở hữu. Chínhnhững điều này đã làm cho kinh Vệ Đà trở thành một thư tịch văn hóa cổ quan trọng của nhânloại nói chung và là một tạng kinh thư tối cổ của Ấn Độ nói riêng. Cho đến nay chúng ta vẫnchưa xác định được một cách chính xác kinh Vệ Đà xuất hiện tại Ấn Độ vào thời đại nào,nhưng theo các tài liệu lưu hành phổ biến thì chúng ta có thể tạm chấp nhận là kinh Vệ Đàxuất hiện tại Ấn Độ cách nay khoảng 1500 năm trước công nguyên. Ngự trị trong đời sống tinh thần và tâm linh của người Ấn qua gần 5 thế kỷ, tư tưởng VệĐà được xem là nguồn tư tưởng tôn giáo thiêng liêng thuộc thời kỳ thứ nhất của Bà La Môngiáo, cũng dần dần lùi bước nhường chỗ cho thời kỳ có tính cách canh tân trong tư tưởng tôngiáo thuộc thời kỳ thứ hai của Bà La Môn giáo ra đời. Đó là thời kỳ tư tưởng Phạm Thư(Bràhmanas) hay còn gọi là thời đại Bà La Môn, xuất hiện cách nay khoảng 1000 năm trướccông nguyên. Đặc điểm xã hội Ấn Độ vào thời kỳ này là sự hùng mạnh của dân tộc Arya Ấn Độ. Saukhi ổn định và phát triển nhiều vùng lãnh thổ, họ tiến về phía Đông, lần lượt đánh chiếm rộngthêm các vùng đồng bằng phì nhiêu dọc theo bờ sông Hằng, nơi dân tộc bản địa Dravida vàcác dân tộc thiểu số Ấn Độ khác đang sinh sống. Sau khi bình ổn những vùng này, họ nhanhchóng bắt tay vào việc canh tác cấy cày, lấy nông nghiệp làm nền kinh tế chủ lực, các thủ lĩnhdân tộc Arya Ấn Độ chia nhau lãnh địa rồi xưng vương, đặt ra các chức quan lại để trị vì, bắtngười thứ dân nghèo khó của các dân tộc khác làm nô lệ. Xã hội Ấn Độ bấy giờ chia làm bốngiai cấp bất bình đẳng. Đứng đầu là giai cấp Bà La Môn chủ trương truyền bá đạo Bà La Mônsâu rộng trong tầng lớp nhân dân và đảm nhận tổ chức thực hiện các nghi lễ thờ cúng tôn giáo.Giai cấp cao quý thứ hai là giai cấp Sát Đế Lợi (Ksatriya) gồm vua quan và hoàng tộc, đây làgiai cấp nắm quyền thống trị, điều hành xã hội. Kế đến là giai cấp bình dân Tỳ Xá (Vaisya)gồm những thường dân sống bằng nghề làm nông, tiểu thủ công và buôn bán. Cuối cùng làgiai cấp Thủ Đà La (Sùdra) là những người nô lệ, trong đời sống họ không có một quyền hạnnào cả, kể cả quyền được làm người, được xem là giai cấp thấp hèn hạ liệt nhất trong xã hộiẤn Độ thời bấy giờ. Chính vì chủ trương việc truyền bá đạo Bà La Môn và rất chú trọng côngviệc tế lễ thờ cúng, nên những nhà tư tưởng Bà La Môn giáo đã sáng chế ra kinh điển PhạmThư, trong đó họ chú thích và thuyết minh để làm sáng tỏ ý nghĩa kinh điển Vệ Đà. Nếu nội dung kinh Vệ Đà là những bài ca mang tính thần thoại, trong đó bao hàm tưtưởng về vũ trụ quan và nhân sinh quan, thì nội dung tư tưởng tôn giáo trong kinh sách PhạmThư toàn bộ lại mang đậm tính chất thần học. Nhìn vào tư tưởng Phạm Thư, chúng ta sẽ thấytrong đó được chia ra làm ba giai đoạn rất trình tự. Giai đoạn đầu lấy Đấng Sáng Tạo(Prajapati) được xem là đấng tạo ra thế giới vạn vật làm trung tâm. Theo tinh thần Phạm Thư 7
  8. 8. TT THÍCH HUỆ THÔNGthì cái gốc sinh ra vũ trụ, trời đất, hư không, thần mặt trời, thần gió, thần lửa, con người và vạnvật được gọi chung là Đấng Sáng Tạo, cũng gọi là Thần tối cao hay là Thượng đế tối cao. Quađó chúng ta có thể xếp giai đoạn đầu thuộc về quan niệm sáng tạo. Giai đoạn thứ hai, tư tưởngPhạm Thư lấy Đại Ngã (Bràhaman) làm trung tâm, ở giai đoạn này Đại Ngã thay thế ĐấngSáng Tạo chi phối các vị thần linh, nó được xác lập trên hai phương diện, vừa duy trì bản chấtbất biến bất động của bản thân, vừa hoạt động theo hai yếu tố Danh (Nàma) và Sắc (Rùpa)triển khai hoạt động mọi loài mọi vật đang tồn tại. Giai đoạn thứ ba, lấy Tự Ngã (Àtman) làmtrung tâm. Tư tưởng Phạm Thư cho rằng Đại Ngã hay Tự Ngã vốn đồng một thể, nó chỉ khácnhau tên gọi mà thôi. Đại Ngã là nói về vũ trụ còn Tự Ngã là nói về yếu tố tinh thần cũng nhưtâm lý của con người. Căn cứ vào tư tưởng tôn giáo của kinh sách Phạm Thư thì tâm lý thuộcvề linh hồn bất diệt, nghĩa là khi Tự Ngã lìa hẳn thân xác này thì linh hồn con người được trởvề với Đại Ngã. Qua đó chúng ta có thể thấy rằng tư tưởng Phạm Thư dù được phát triển trênnền tảng tư tưởng Vệ Đà, dù vẫn còn bế tắc lẫn quẩn trong phạm trù tư tưởng nhưng nó đãphần nào thể hiện ý chí đột phá trong tâm thức của người Ấn Độ thời cổ đại trong xu hướngchiêm nghiệm chân tướng nhân sinh vũ trụ. Nối tiếp tư tưởng Phạm Thư là tư tưởng Áo Nghĩa Thư (Upanishad) được hình thànhtrong khoảng 700 năm trước công nguyên. Đây là nguồn tư tưởng thuộc thời kỳ thứ ba của BàLa Môn giáo. Nội dung tư tưởng Áo Nghĩa Thư nói về lý tưởng giải thoát trên nền tảng PhạmNgã đồng nhất. Trong đó lý tưởng giải thoát cũng được chia ra làm ba giai đoạn. Giai đoạn thứnhất, tư tưởng Áo NghĩaThư nêu lên việc đi tìm lối giải thoát thì phải hướng vào nội tâm chứkhông thể hướng ra bên ngoài mà được, tư tưởng này cho rằng tự giác là nhân của giải thoát vàbất giác là nhân của luân hồi. Giai đoạn thứ hai, tư tưởng Áo Nghĩa Thư hướng dẫn con ngườicần phải an trụ vào nội tâm và phát huy phần trí tuệ thì mới có thể đạt đến trạng thái giải thoátcủa tâm hồn. Giai đoạn thứ ba, Áo Nghĩa Thư chú trọng đến phương pháp tu Du già (Yoga) đểan định tâm hồn và phát huy trí tuệ. Theo Áo Nghĩa Thư thì một tín đồ Bà La Môn giáo nếudựa theo trình tự tu tập như thế này thì chân ngã sẽ hiển bày, nếu tu hành liên tục và rốt ráo thìTự Ngã sẽ trở thành Đại Ngã, tức là Phạm Ngã đồng nhất thể, khi đó hành giả sẽ chấm dứtkiếp sống luân hồi, đạt được cảnh giới giải thoát của tâm hồn. Đây là nguồn tư tưởng đượcxem là kết quả của sự chiêm nghiệm có tư duy tương đối đúng hướng của những nhà tư tưởngtriết học theo đạo Bà La Môn thời bấy giờ. Dù Áo Nghĩa Thư được hình thành trước thời đứcPhật khoảng hai thế kỷ và còn cách xa với chân lý giác ngộ của đức Phật, nhưng qua đó có thểnói rằng, tư tưởng Áo Nghĩa Thư quả là một sự chuyển mình vượt bậc và khá sớm trong tưtưởng giải thoát tìm về đời sống tâm linh của người Ấn Độ cổ đại. Nói về các nguồn tư tưởng tôn giáo đã có tại Ấn Độ trước thời đức Phật, nhiều nhànghiên cứu chỉ chú trọng đến hai thời kỳ chính hình thành nên nguồn tư tưởng triết học căn cơcủa Bà La Môn giáo. Đó là thời kỳ tư tưởng Vệ Đà và thời kỳ tư tưởng Áo Nghĩa Thư màthường bỏ qua thời kỳ Phạm Thư, có lẽ họ xét thấy không cần thiết phải đi sâu vào phầnchuyển tiếp này vì cho rằng tư tưởng Phạm Thư chẳng qua chỉ là phần chú thích và thuyếtminh về kinh điển Vệ Đà. Tuy nhiên theo suy nghĩ của chúng tôi thì tư tưởng Phạm Thư làphần mô tả cụ thể nhất về chủ nghĩa thần học, đây là nền tảng để họ quay về Tự Ngã và cũnglà nền tảng để những nhà triết học Bà La Môn tiếp tục cho ra đời tư tưởng Áo Nghĩa Thư cóchiều sâu tư duy và chiêm nghiệm dày dặn hơn như chúng tôi đã nói ở trên. Chúng tôi thiết nghĩ một khi đã đề cập đến các nguồn tư tưởng tôn giáo đã có tại Ấn Độtrước thời đức Phật, thì cũng nên liệt kê sao cho tương đối đầy đủ và hệ thống lại một cáchtrình tự hơn. Qua tham khảo nhiều nguồn tư liệu đáng tin cậy, thì ngoài kinh Vệ Đà (khoảng1500 năm trước CN) được xem là tài liệu tối cổ của văn hóa Ấn Độ, thì bên cạnh đó chúng tacòn thấy có các bộ kinh Yajurveda, Sàmaveda và Atharvaveda cũng được xem là các thánhkinh của Bà La Môn giáo. Khoảng 500 năm sau (khoảng 1000 năm trước CN) xuất hiện kinhPhạm Thư (Bràhmana). Sau đó mới xuất hiện các bộ kinh Àranyakas và Áo Nghĩa Thư(khoảng 700 trước CN). Trong suốt chặng đường phát triển nguồn tư tưởng tôn giáo tại Ấn Độtrải dài trên tám trăm năm, nhìn chung chỉ có bộ Áo Nghĩa Thư là toát lên được tinh thần cảicách chiều hướng tâm linh, là nền tảng cho một bộ phận tín đồ Bà La Môn giáo và giới trí thứcđương thời hướng đến con đường giải thoát cụ thể hơn. Tại đất nước Ấn Độ, Áo Nghĩa Thưđược xem là lá cờ đầu của phong trào đi tìm tự do cho đời sống tâm linh. Khi nhìn lại khởi đầu sự tu hành của Thái tử Tất Đạt Đa một cách khách quan, chúng tasẽ nhận thấy, chính đời sống tu hành của các đạo sĩ Bà La Môn đã từng cuốn hút Thái tử Tất 8
  9. 9. TT THÍCH HUỆ THÔNGĐạt Đa vào con đường tu hành ép xác khổ hạnh và cũng chính tinh thần Áo Nghĩa Thư đã hấpdẫn Thái tử Tất Đạt Đa vào con đường tu hành thiền định theo lối tu Yoga của Bà La Môngiáo. Quả thật thú vị vì cũng nhờ trải nghiệm qua vô số phương pháp tu hành của Bà La Môngiáo với hệ quả không mấy sáng sủa nên cuối cùng Thái tử Tất Đạt Đa đã quay về với conđường trung đạo, tự tìm hướng đi giải thoát cho bản thân mình. Lịch sử đức Phật ghi lại rằng, sau khi theo các đạo sĩ Bà La Môn tu hành ép xác và thựchành các pháp thiền định Yoga, dù ngài rất nỗ lực nhưng kết quả vẫn không thành tựu. Cuốicùng Thái tử đã từ bỏ lối tu ép xác và ăn uống trở lại bình thường, nhờ đó sức khỏe dần dầnhồi phục. Từ đó Thái tử đã chiêm nghiệm ra rằng, chỉ đi theo con đường trung đạo và thiềnđịnh có chánh kiến thì mới có thể đạt được mục tiêu giác ngộ tối thượng. Sau khi rời bỏ những đạo sĩ Bà La Môn mà ngài đã thọ giáo trước đây, Thái tử đã đếnbên bờ sông Ni Liên Thuyền và ngồi xuống dưới cội cây Tất Bà La hay còn gọi là Bồ đề(Bodhi), theo tư thế ngồi kiết già (hoa sen). Khung cảnh ngoạn mục bên bờ sông Ni Liên đãlàm cho ngài cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Nơi đây có không gian thoáng đãng đã làm êmdịu giác quan và phấn khích tinh thần ngài rất cao. Trong một không gian trong lành, mát mẻ,yên tỉnh, vắng lặng, nhất là với một sức khỏe đã hồi phục và một ý chí kiên cường bất khuất,Thái tử đã tập trung hết tinh thần, dồn mọi nỗ lực công phu thiền định, nhờ đó ngài đã gột rửa,thanh lọc làm cho tâm trở nên trong sạch vắng lặng tận cùng. Bằng công phu thiền định ngàilần lượt chứng nhập sơ thiền, nhị thiền, tam thiền rồi đến tứ thiền. Khi tâm đã thanh tịnh cùngtột, ngài đã vận dụng thiền Minh Sát Tuệ (Vipassanà Bhàvanà) quán sâu vào cảnh giới thanhtịnh của tâm. Ngài đã vận dụng Thiền Minh Sát Tuệ không ngừng nghỉ, trải qua suốt 49 ngàyđêm. Cuối cùng ngài đã chứng được thực tướng của vạn pháp, sáng tỏ được nghĩa như của bổntâm, thấy rõ các pháp hữu vi là vô thường, khổ, vô ngã (Anicca, Dulclckha, Anattà). Chínhnhờ thiền định và thiền quán, ngài đã thấu triệt thật tướng nhân sinh vũ trụ. Vị Thái tử ở nướcẤn Độ ấy, chính là đức Phật, một hiện thân tích cực đã hoàn thiện bước đi tìm lại cội nguồnbản thể của con người. Ở đây chúng ta nhận thấy, trên bước đường tìm đạo giải thoát khổ đau sinh tử luân hồi,Thái tử Tất Đạt Đa đã thể hiện hai giai đoạn tu tập thiền. Đầu tiên là phương pháp thiền theocách tu tập Yoga của Bà La Môn giáo, sau đó là phương pháp tu tập thiền định Minh Sát Tuệđể đi đến giải thoát. Với phương pháp sau cùng, ngài đã đạt được kết quả vô cùng mỹ mãn,chứng ngộ bản tâm thanh tịnh của chính mình, thành bậc Đẳng Chánh Giác. Sở dĩ chúng tôi đề cập đến các nguồn tư tưởng tôn giáo đã có tại Ấn Độ trước thời đứcPhật cũng như tư tưởng triết học tại Ấn Độ thời đức Phật trong chương đầu sách này vì nhậnthấy các nguồn tư tưởng tôn giáo và triết học có một mối liên hệ rất mật thiết với từng bướcđường hành đạo của Thái tử Tất Đạt Đa, cũng qua đó để quý Phật tử có sự so sánh tính ưu việtrốt ráo trong giáo pháp của đức Phật với các nguồn tư tưởng của các đạo giáo tại Ấn Độ. CHƯƠNG HAI ĐÔI NÉT VỀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TẠI ẤN ĐỘ THỜI ĐỨC PHẬT RA ĐỜI Khi nói đến tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, chúng ta cần nên hiểu một cách phân minhrằng, nền tư tưởng triết học đó thực chất là nguồn sữa trưởng dưỡng và nuôi lớn đời sống tinhthần của các tín đồ Bà La Môn giáo, cho nên trong khoảng thời gian này chúng ta cũng có thểnói tư tưởng triết học cũng chính là tư tưởng tôn giáo, hay nói một cách chuẩn xác hơn thì đólà những tư tưởng Bà La Môn giáo. 9
  10. 10. TT THÍCH HUỆ THÔNG Trong khoảng thời gian dài gần cả một ngàn năm, các tư tưởng Bà La Môn giáo, từ VệĐà, Phạm Thư cho đến Áo Nghĩa Thư thực sự đã làm chủ tể và là linh hồn trong mọi hoạtđộng tín ngưỡng tâm linh của người dân xứ Ấn. Cho đến vào khoảng 600 năm trước côngnguyên trở về sau này, khi các thế lực chính thống của Bà La Môn giáo trở nên suy yếu hẳn đi,thì sự chi phối có tính chất độc quyền của tư tưởng Bà La Môn giáo mới chựng lại và nhườngchỗ cho nhiều luồng tư tưởng triết học tôn giáo mới ra đời. Đọc qua triết học Ấn Độ và tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ cùng với một sốkinh điển và sử liệu Phật giáo, chúng tôi nhận thấy rằng, đỉnh cao trong hệ tư tưởng của Bà LaMôn giáo chính là tư tưởng Áo Nghĩa Thư, ngoại trừ kinh sách Phật giáo ra và nếu làm mộtphép so sánh với các tư tưởng triết học đã có mặt tại Ấn Độ thời bấy giờ thì Áo Nghĩa Thư quảlà một pho sách chứa đựng tư tưởng tâm linh thâm sâu hơn cả. Tuy nhiên, vào thời kỳ này, cácđạo sĩ Bà La Môn họ vẫn chưa khai thác triệt để tinh thần Áo Nghĩa Thư vào đời sống tu tập,không những vậy họ còn duy trì và phát triển các truyền thống có tính chất hủ lậu và lỗi thờitrong tư tưởng Vệ Đà, họ tiếp tục đào sâu hố ngăn cách giữa tập cấp có đặc quyền và các tậpcấp hạ tiện yếm thế. Diễn biến này kéo dài gần hai thế kỷ, cho mãi đến khi đức Phật ra đời, chỉcó một bộ phận nhỏ nhoi đạo sĩ Bà La Môn là thú hướng vào tư tưởng Áo Nghĩa Thư pháttriển con đường tu tập, còn phần đông chức sắc và tín đồ Bà La Môn giáo đã chuyển hẳn sanghình thức tế lễ chuyên nghiệp. Trước sự kiêu mạn của các tu sĩ Bà La Môn, cộng thêm vớinhững tốn kém vô tội vạ phục vụ việc cúng tế đã khiến cho tín đồ Bà La Môn và những ngườithật tâm muốn tìm cầu đời sống giải thoát tâm linh đều trở nên bất mãn. Một điều cũng dễdàng nhận thấy nữa là, tập cấp Bà La Môn đã luôn tận dụng các buổi thiết lễ tế đàn kéo dàinhiều ngày và các hình thức cúng tế phổ biến trong đời sống làm công cụ chèn ép moi móctiền tài phẩm vật của quần chúng nhân dân một cách hết sức vô lý. Trong thời kỳ này, nhữngtu sĩ Bà La Môn kiêu mạn trở nên những kẻ sống an nhàn vương giả bởi cuộc sống của họ chỉbiết trục lợi trên sự mê muội và yếm thế của người dân. Chính sự độc quyền của tập cấp Bà LaMôn và sự bất mãn tột độ của người dân đã làm cho không khí xã hội lúc bấy giờ trở nên ngộtngạt khó thở, đây là nguyên nhân chính khiến cho nhiều học thuyết mới ra đời nhằm đáp ứngnguyện vọng tìm hướng đi cho đời sống tâm linh của người dân Ấn Độ đang trong tình trạngbế tắc. Và đây cũng là nguyên nhân chủ yếu đã khiến cho các thế lực chính thống của Bà LaMôn giáo không còn ở thế đứng thượng phong trong việc độc quyền chân lý, tập cấp Bà LaMôn vì vậy mà ngày càng trở nên suy yếu. Trước bối cảnh này, vô số học thuyết tư tưởng triếthọc tôn giáo đã bừng nở, ngoài những trường phái tư tưởng triết học vẫn còn chịu ảnh hưởngtrực tiếp hay gián tiếp của hệ tư tưởng bà La Môn giáo mà chúng tôi sẽ đề cập đến, thì nổi bậtlên có Kỳ Na giáo và Lục Sư Ngoại Đạo phái. Kỳ Na giáo (Jaina) hay còn gọi là đạo Kỳ Na, do giáo chủ có tên là Đại Hùng(Vardhamana) sáng lập ra. Kỳ Na giáo chủ trương thuyết Vật Hoạt Luận và tư tưởng triết họccăn bản của đạo này là Thực thể (Dravaya). Thực thể chia ra làm hai trạng thái: Sinh mệnh(Java) và Phi sinh mệnh (Ajava). Theo học thuyết này, Sinh mệnh bao gồm lý trí và tình cảmcòn Phi sinh mệnh được phân chia thành năm thứ: Không (Akasa), Pháp (Dharma), Phi pháp(Adharma), Vật chất (Pudgala) và Thời gian (Kala). Trong đó Không dung chứa hết mọi nơimọi chốn, Vật chất là nhục thể, Pháp là nguyên lý vận động, Phi pháp là nguyên lý đình chỉ,Thời gian là nguyên lý biến hóa. Tư tưởng Kỳ Na giáo cho rằng yếu tố Sinh mệnh và Phi sinhmệnh gắn kết với nhau nên từ đó sinh ra phiền não. Do có phiền não nên không thoát khỏivòng luân hồi. Vì mong muốn thoát khỏi vòng luân hồi nên Kỳ Na giáo chủ trương lấy khổhạnh làm mục đích tôn chỉ để tu hành. Tư tưởng Kỳ Na giáo còn có chủ trương lối sống Bấttổn sanh (Ahimsha) được xem là điểm gần gũi và tương đồng với tinh thần từ bi Bất sát củađạo Phật. Cũng trên chủ thuyết Vật Hoạt Luận, Kỳ Na giáo quan niệm vũ trụ vốn là một vật thể cócấu trúc rộng lớn không ngằn mé và phụ thuộc vào các chu kỳ vô tận của thời gian. Theo kinhđiển của Kỳ Na ghi chép lại rằng, mỗi chu kỳ thời gian sẽ bao gồm một nửa tiến bộ và một nửathoái bộ. Trong từng nửa chu kỳ sẽ có 24 người chiến thắng xuất hiện làm đại sư để dẫn dắtloài người đi tới con đường giải thoát. Cũng theo kinh này thì người chiến thắng đầu tiên trongnửa chu kỳ đầu là Rashabha, vị này đã tạo ra nền văn minh, dạy nhân loại hướng đến conđường giải thoát và sống đến sáu trăm ngàn năm. Lần lượt đến người chiến thắng thứ 23 làParshva xuất hiện vào giữa thế kỷ thứ 9 trước công nguyên, vị này đã có công thiết lập nên cácđoàn thể tu hành. Và Đại Hùng là người chiến thắng thứ 24 được môn đồ Kỳ Na giáo xem là 10
  11. 11. TT THÍCH HUỆ THÔNGvị giáo chủ sáng lập ra đạo Kỳ Na. Theo truyền thống của đạo Kỳ Na thì các tín đồ có nhiệmvụ thờ phượng 24 vị giáo chủ đã chiến thắng trong nửa chu kỳ qua. Đối với giáo chủ Đại Hùngthì tín đồ Kỳ Na giáo rất thành kính trọng vọng vì ngài là vị chiến thắng gần đây nhất, đồngthời họ xem ngài là vị giáo chủ quyền năng và mẫu mực để họ noi theo. Nói về Lục sư ngoại đạo, đối với người học Phật, chắc có lẽ chúng ta cũng đã từng mộtlần nghe nhắc đến danh từ này, nhất là trong những lúc trao đổi chuyện trò với một ngườingoại đạo có lý luận càn gở đến nỗi khiến chúng ta phải bực mình, hoặc có khi chúng ta bị bắtbí không trả lời được, khi đó chúng ta thường cho rằng mình gặp phải Lục sư ngoại đạo! Điềunày chứng tỏ trong cảm nghĩ chúng ta thường cho rằng Lục sư ngoại đạo vừa rất ngông cuồng,vừa rất tài giỏi trong biện minh lý luận đồng thời cũng rất sở trường các món thần thông biếnhóa. Như vậy Lục sư ngoại đạo là ai? Họ có thực sự tài giỏi như vậy không? Có lẽ đây là cơhội mà chúng ta sẽ được giải đáp một cách thỏa đáng nhất khi để tâm tìm hiểu qua về Lục sưngoại đạo. Căn cứ vào kinh điển và sử liệu Phật giáo thì lúc Phật tại thế có sáu nhà ngoại đạo chủtrương sáu lý thuyết khác nhau nên trong kinh điển Phật giáo thường gọi họ là Lục sư ngoạiđạo. Đại cương về lý thuyết của sáu phái ngoại đạo này như sau: 1. Phái Phú Nan Đà Ca Diếp (Pùrama Kàssápa): Đây là phái chủ trương thuyết ngẫunhiên, họ không tin luật nhân quả, cho rằng mọi họa phúc, sướng khổ, vui buồn của con ngườichỉ là ngẫu nhiên. Chính vì vậy mà họ không biết gieo nhân thánh thiện tránh nhân bất thiện,khi họ gặp may mắn thì sung sướng, gặp chuyện bất trắc thì bất an sầu khổ. Đạo Phật gọi pháinày là ngoại đạo “Vát vô nhân quả”. 2. Phái Mạt Già Lê Câu Xá Lợi (Makkhali Gosàla): Phái này chủ trương thuyết tự nhiên,cũng có nghĩa là không tin luật nhân quả, họ cho rằng mọi họa phúc, sướng khổ, vui buồn củacon người cũng chỉ là tự nhiên mà sinh, tự nhiên mà diệt, không do ảnh hưởng của bất cứ mộtnguyên nhân nào cả. Đạo Phật gọi phái này là “Tà mệnh ngoại đạo”. 3. Phái A Di Đa Thúy Xá Khâm Bà La (Ajitakesa Kambali): Phái này chủ trương thuyếtduy vật luận, họ cho rằng thân thể con người là do tứ đại (đất, nước, gió, lửa) kết hợp màthành, nên khi con người chết đi thì tứ đại trở về tứ đại. Thuyết này không đề cập đến tâm linhhay linh hồn, do vậy họ không chú trọng đến phương diện tinh thần hay đạo đức, chính vì vậymà mục đích sống của họ là chỉ để hưởng thụ khoái lạc thân xác mà thôi. Họ được gọi là phái“Khoái lạc ngoại đạo”. 4. Phái Bà Phù Đà Ca Chiên Diên (Pakhdha Katyàyana): Phái này chủ trương thuyết sinhmệnh và vật chất đều bất hoại, họ cho rằng tất cả các loài vật trên thế gian này được tạo thànhlà nương vào sự hòa hợp của bảy yếu tố đất, nước, gió, lửa, vui, khổ, mạng sống. Họ cho rằngsự sinh tử chỉ là một chu kỳ tụ hay tán của bảy yếu tố nêu trên, mà bảy yếu tố đó thì thường trụbất diệt, nên họ không xem trọng việc sinh tử. Do vậy mà phái này được gọi là phái “Tà kiếnngoại đạo”. 5. Phái Tán Nhạ Gia Tỳ La Lê Tử (Anjaya Belatthiputta): Phái này chủ trương thuyết tuđịnh, họ cho rằng chân lý cũng có thể biến đổi, nên không cần phải tu đạo mà chỉ nên tu tậpthiền định. Vì đưa ra học thuyết quái gở này nên họ được xem là phái “Ngụy biện ngoại đạo”. 6. Phái Ni Kiền Đà Nhã Đề tử (Nigantha Nàtaputta): Phái này chủ trương tu khổ hạnh,họ cho rằng mọi họa phúc, sướng khổ, vui buồn của con người đều do tiền nghiệp tiền căn đãđịnh, do vậy muốn thoát ra khỏi tiền nghiệp đó thì cần phải tu hành khổ hạnh mới mong đượcgiải nghiệp. Chính vì vậy mà phái này được gọi là phái “Khổ hạnh ngoại đạo”. Trên đây chúng tôi đã tóm lược những học thuyết, chủ trương của Kỳ Na giáo và Lục sưngoại đạo phái. Dù học thuyết của Kỳ Na giáo rất mơ hồ huyền hoặc và chủ trương của LụcSư Ngoại Đạo phái rất tà kiến ngụy biện, nhưng có một điểm đáng lưu ý ở đây là các chủtrương học thuyết này hoàn toàn độc lập, không hề chịu bất cứ ảnh hưởng nào của tư tưởng BàLa Môn. Đây là dấu ấn đánh dấu sự khởi đầu của trào lưu tư tưởng triết học mang tính tự do đitìm chân lý của người dân Ấn Độ, thoát hẳn khỏi sự kìm tỏa bởi tư tưởng của Bà La Môn giáođã có tại Ấn Độ hàng ngàn năm qua. Như chúng tôi đã nói, khi các thế lực chính thống của Bà La Môn giáo không còn ở thếđộc quyền chân lý, tập cấp Bà La Môn ngày càng trở nên suy yếu. Trước bối cảnh này, vô sốhọc thuyết tư tưởng triết học tôn giáo đã bừng nở, ngoài các chủ trương học thuyết mang tínhđộc lập tự phát như Kỳ Na giáo và Lục Sư Ngoại Đạo phái mà chúng tôi đã trình bày, thì còncó sáu trường phái tư tưởng triết học vẫn còn chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của hệ tư 11
  12. 12. TT THÍCH HUỆ THÔNGtưởng bà La Môn giáo vừa ra đời. Lược sử và đại cương của sáu trường phái triết học này nhưsau: 1. Trường phái triết học Chính Lý (Nyàya): Thủy tổ của trường phái triết học Chính Lýlà ngài Túc Mục (Aksapàda). Phái triết học này thuộc hệ đa nguyên luận, lấy kinh điển NyàyaSùtra làm căn bản hành trì. Về quan niệm nhân sinh, học thuyết chủ trương lấy sự giải thoátkhổ đau làm phương châm sống ở đời và tu đạo. Trọng tâm của triết học Chính Lý cho rằng,sự khổ tồn tại nơi bản thân nơi mỗi con người trên thế gian này mà nguyên nhân được sinh ra(Janma) là do tác nghiệp (Pravrtti), lại cho rằng tác nghiệp sẽ làm cơ sở phiền não (Dosa) dấykhởi, mà phiền não là căn bản của vô tri (Mithyajnàna), vậy muốn lìa khổ thì phải diệt vô tri,diệt được vô tri thì sẽ được giải thoát (Nihsreyasa) an vui. Mới nhìn qua chúng ta sẽ nhận thấylý thuyết này có điểm tương đồng lý Thập Nhị Nhân Duyên trong Phật giáo, tuy nhiên chiêmnghiệm kỹ càng chúng ta sẽ thấy nó vẫn chưa rốt ráo và cũng chưa trình bày rõ quan điểm giảithoát và giác ngộ. Chẳng hạn giải thoát cái gì? Giác ngộ cái gì?... Đứng trên phương diện lýluận thì phái Chính Lý có phương pháp lập luận rất chặt chẽ, sâu sắc, có thể nói rằng nó độcđáo hơn cả Tam đoạn luận của Aristote, bởi vì phương pháp lý luận của phái này, ngoài Tôn(Pratijanà), Nhân (Hetu), Dụ (Udàhadana) họ còn có thêm hai chi Hợp (Upanaya) và Kết(Nigamana) tỏ ra rất chắc chắn vững vàng. Chính nhờ sự sâu sắc chặt chẽ trong phương cáchlập luận này mà về sau đã được các hai bậc luận sư lỗi lạc cao thâm trong Phật giáo là ngàiThương Yết La Chủ (SanKàra Svamin) và ngài Trần Na (Dìgna) làm cho hoàn chỉnh rốt ráo vàđó cũng là cơ sở hình thành nên môn luận lý học sau này. Môn luận lý học này trong Phật giáogọi là Nhân minh luận. 2. Trường phái triết học Thắng Luận (Vaisésika): Tổ sư khai sáng ra trường phái ThắngLuận là ngài Ca Nan Đà (Kanàda). Tư tưởng của phái triết học này được xây dựng trên quanđiểm lập trường tự nhiên luận để giải thích các hiện tượng trong vũ trụ. Có sử liệu ghi chép,phái này chủ trương thuyết “Thanh thường trụ” (ý nói âm thanh thường còn bất biến) và xemđó là khám phá cao siêu thời bấy giờ. Về phương diện thế giới quan thì phái Thắng Luận thường y cứ nơi kinh Vaisesika Sùtralàm căn bản lý luận. Trong kinh Vaisesika Sùtra nêu ra sáu phạm trù: Thực cú nghĩa (DravyaPadàrtha), Đức cú nghĩa (Guna Padàrtha), Nghiệp cú nghĩa (Karma Padàrtha) , Đồng cú nghĩa(Sàmànya Padàrtha), Dị cú nghĩa (Visésa Padàrtha) và Hòa hợp cú nghĩa (SamavàyaPadàrtha). Theo thuyết này, đầu tiên người ta chỉ quan sát vạn vật ở phần cụ thể, tức những gìcó thể nắm bắt được, mà bỏ qua những phần trạng thái, tính chất, vận động, sở dĩ như vậy lànhằm đạt tới khái niệm thực thể của vạn hữu. Để thuận theo nguyên lý này thì phải y cứ vàophạm trù thứ nhất là Thực cú nghĩa. Các phạm trù khác trong kinh Vaisesika Sùtra cũng nêu ranhững lập luận tương ứng với từng phạm trù tương tự. Tuy nhiên trên căn bản để thuyết minhvà lý giải về bản chất cũng như các hiện tượng trong đời sống, học phái này cho rằng, vạn hữuđều do ba nguyên lý “Thực, Đức, Nghiệp” (giống như ba phạm trù Thể, Tướng, Dụng trongPhật giáo) kết hợp lại mà thành. Nếu ba nguyên lý cùng quan hệ mật thiết thì lập thành Đồngcú nghĩa. Nếu ba nguyên lý đó phản đối nhau thì lập thành Dị cú nghĩa, nếu cả năm nguyên lýliên kết với nhau thì lập thành Hòa hợp cú nghĩa. Về phương diện nhân sinh quan, triết học Thắng Luận cho rằng con người được cấuthành từ bởi tám yếu tố. Trước tiên là yếu tố Tự Ngã (Àtman) với thực thể không sanh khôngdiệt. Yếu tố thứ hai là Ý (Manas) được xem là cơ quan liên lạc giữa Tự ngã với ngũ căn. Nămyếu tố kế tiếp là Ngũ đại, nó bao gồm Đất, Nước, Gió, Lửa, Hư Không. Thuyết này lập luậnrằng, ngũ căn là một dạng vật chất do ngũ đại tạo thành. Ví như Nhãn căn là do hỏa đại, Nhĩcăn là do không đại, Tỷ căn là do địa đại, Thiệt căn là do thủy đại, Thân căn là do phong đạitạo nên. Đồng thời đối tượng của ngũ căn là ngũ trần: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc. Trong khiđó Tự Ngã là trung tâm, còn các cơ quan khác đều phụ thuộc để nhận thức và hành động.Cùng với bảy yếu tố kể trên thì yếu tố quan trọng sau cùng là Nghiệp lực (Adrsta). Có thể nóiđây là yếu tố quyết định của sự luân hồi đau khổ hay sự giải thoát an lạc của con người. Bởitheo học thuyết của trường phái này thì, do con người gieo tạo tích chứa nghiệp lực nên phảichịu cảnh luân hồi. Muốn giải thoát khỏi luân hồi thì phải tiêu diệt nghiệp. Muốn tiêu diệtnghiệp và chấm dứt nghiệp thì phải nỗ lực siêng tu khổ hạnh. Có kiên trì khổ hạnh thì mới cóthể đạt đến cảnh giới giải thoát an lạc của Tự Ngã. Chính quan niệm như vậy mà những ngườitheo trường phái triết học Thắng Luận rất chú trọng đến đời sống khổ hạnh, họ xem khổ hạnhlà lối sống cao cả và là mục đích lý tưởng của sự tu hành giải thoát. 12
  13. 13. TT THÍCH HUỆ THÔNG 3. Trường phái triết học Nhĩ Man Tát (Mimàmsà): Khai sáng ra phái Nhĩ Man Tát là ngàiSà Y Nhĩ Ni (Jaimini), giống như trường phái triết học Thắng Luận, phái này cũng chủ trươngthuyết “Thanh thường trụ”, họ căn cứ vào kinh Mimàmsà Sùtra và rất chú trọng phương diệnluân lý, đặc biệt phái này thừa hành triệt để các giới cấm (cấm chế) của đạo Bà La Môn nhưtrong kinh Vệ Đà đã ghi chép và họ lấy đó làm phương châm sống đạo. Có thể nói phái NhĩMan Tát là sự kế thừa của phái Thắng Luận với sự cải cách đi sâu vào tâm hạnh vị tha hơn lànhững lý luận khúc chiết từ căn bản của kinh Vaisesika Sùtra. Nói về tư tưởng giải thoát, pháinày lý luận rằng, trong đời sống cần phải trải lòng hy sinh chia sẻ thì ngay trong hiện tại vàtrong cả kiếp vị lai mới có thể đạt được một đời sống sung sướng thoải mái. Học thuyết củaphái này dù thừa nhận có luân hồi tái sanh nhưng lại cho rằng không cần phải thoát ra khỏivòng luân hồi đó, vì họ quan niệm có được hạnh phúc hay không là do sự nỗ lực hy sinh trongđời sống. Xét trên phương diện hành động trong cuộc sống thì chúng ta sẽ thấy họ rất gần gũivới tâm hạnh bồ tát của đạo Phật bởi trong một phần của sự nỗ lực hy sinh đúng mục đích vàcó ích, nó có thể đem lại điều tốt đẹp cho cộng đồng xã hội. Còn xét trên phương diện tư tưởngthì chắc hẳn là không thể nào sánh với tư tưởng giải thoát và chánh kiến trong Phật giáo được. 4. Trường phái triết học Số Luận (Sàmkhya): Sáng lập ra trường phái Số Luận là triết giaCa Tỳ La (Kapila). Phái triết học đề xướng thuyết nhị nguyên luận, phân biệt hai yếu tố tâmlinh và vật chất rất rành mạch. Yếu tố vật chất là yếu tố tạo nên vạn vật và cũng nhằm để chỉcho sum la vạn tượng trong đời sống, đối lập với vật chất là linh hồn. Theo thuyết này thì linhhồn hoạt động tự do, khi nó kết hợp với vật chất thì tạo ra sinh vật. Họ cho rằng bản chất củalinh hồn thì không thay đổi hay biến động, còn vật chất thì biến hóa vô cùng. Căn bản của sựbiến hóa này là lệ thuộc vào ba tính chất Hỷ (Sattva), Ưu (Rajas) và Ám (Tamas) của linh hồn.Ba tính chất này phái Số luận gọi là ba đức (Guna), họ căn cứ vào sự quan hệ của ba đức nàymà thuyết minh biện giải các hiện tượng trong thế giới. Cũng cần nói thêm, khi đề cập đến têncủa vị khai sáng ra trường phái triết học Số Luận, nhiều nguồn tư liệu cho rằng, Ca Tỳ La chưahẳn là tên thật của vị Tổ sư này mà là một danh hiệu mang tính chất tôn xưng, vì cho rằng chữCa Tỳ La có nghĩa là “Bào thai của vũ trụ” nằm trong một bài tụng trong SvétásvatàraUpanishad, đồng thời trong sách “Phật sở hành tán” (Buddhacarita), ngài Mã Minh(Asvaghosa) một luận sư lỗi lạc của Phật giáo Đại thừa cũng cho rằng Ca Tỳ La có nghĩa là“cha đẻ của thế giới” (Prajapati). Tuy có nhiều nguồn tư liệu khác nhau, nhưng chúng ta vẫncó thể tạm chấp nhận tên của vị khai sáng ra phái Số Luân là Ca Tỳ La, vì đây là tên gọi tươngđối phổ biến trong các sử liệu hiện đang lưu hành. 5. Trường phái triết học Phệ Đàn Đa (Vedànta): Vị Tổ khai sáng ra trường phái Phệ ĐànĐa là ngài Bà Đạt La Gia Na (Bàdarayana). Phái này căn cứ vào kinh Vedànta (cũng do ngàiBà Đạt La Gia Na chế tác) để lý luận và làm tôn chỉ tu tập. Về tư tưởng, phái này cho rằng,Đại Ngã là một thực thể siêu việt tối thượng và duy nhất, là tổng nguyên lý của vũ trụ và vạnhữu. Vì quan niệm như vậy, nên họ lập luận rằng, Đại Ngã bao trùm thế gian vạn hữu hay nóimột cách khác hơn, khởi đầu hình thành nên thế giới này chính là từ Đại Ngã. Cũng từ ĐạiNgã triển khai ra các hiện tượng trong thế giới, theo trình tự nguyên lý vận hành, khởi đầu ĐạiNgã sinh ra “hư không”, “gió”, “lửa”, “nước”, “đất”. Sau đó chính sự kết hợp của năm nguyêntố căn bản này đã tạo thành vật chất trên thế gian và toàn bộ thế giới hữu tình. Cũng giống nhưnguồn tư tưởng lớn trong hai bộ kinh sách Phạm Thư và Áo Nghĩa Thư trong giai đoạn khởiđầu của Bà La Môn giáo, tư tưởng triết học của Phệ Đàn Đa cũng cho rằng Đại Ngã và TựNgã đồng nhất thể, tuy nhiên trong triển khai thì phái này có ngôn ngữ lập luận khác hơn, họcho rằng, khi chưa sinh ra thì Tự Ngã là bào thai của Đại Ngã, khi đã sinh ra rồi thì Tự Ngã(của con người) tách hẳn khỏi Đại Ngã và có một vị trí độc lập. Vì ở trong trạng thái độc lập,nhất là do tính chất đặc thù của Tự Ngã là tư tưởng và hành vi thường tác nghiệp, từ việc tácnghiệp tạo ra vô số nghiệp, nên phải chịu trạng thái luân hồi trong vũ trụ và khổ đau nơi bảnthân. Phái Phệ Đàn Đa cho rằng, hữu tình là bộ phận của Đại Ngã nên cũng đầy đủ thể tínhthanh tịnh như Đại Ngã, do đó họ chủ trương, muốn giải thoát thì Tự Ngã phải tu tập để quayvề Đại Ngã, khi sự tu tập tới đích thì Tự Ngã sẽ hòa nhập vào Đại Ngã, khi đó con người sẽhết luân hồi đau khổ. 6. Trường phái triết học Du Già (Yoga): Đối với người Việt Nam chúng ta thì khi nóiđến Yoga thì chúng ta liên tưởng ngay đến một phương pháp tập luyện có chút hơi hám thiềnđể dưỡng sinh hay rèn luyện sức khỏe. Thế như khi nghe nói đến Du Già thì có lẽ nhiều ngườicòn mơ hồ lúng túng… Điều này chứng tỏ phương pháp thiền Yoga của Ấn Độ đã thâm nhập 13
  14. 14. TT THÍCH HUỆ THÔNGkhá sâu vào đời sống các nước trong khu vực. Chính vì vậy mà trong trường phái triết học DuGià này chúng tôi xin được gọi thẳng là phái Yoga để mọi người dễ tiếp nhận. Triết học Yoga có khởi nguồn sâu xa từ tư tưởng Áo Nghĩa Thư nói về lý tưởng giảithoát trên nền tảng Phạm Ngã đồng nhất thể và chủ trương thiền Yoga để giải thoát. Về saungài Bát Tử Xà Lê (Patanjali) đứng ra hệ thống trình tự và hoàn thiện phương pháp thiềnYoga, đồng thời chế tác ra Kinh Yoga (Yoga Sùtra) làm kim chỉ nam cho trường phái này, nênngài Bát Tử Xà Lê được người đời tôn xưng Tổ sư khai sáng ra phái Yoga. Điều đáng tiếc làmục tiêu tối thượng của phương pháp thiền Yoga nhằm giúp cho con người được giải thoát thìhoàn toàn bất khả thi và cũng không thể nào đạt được. Nhưng dù sao thì tư tưởng triết học Yoga cũng là một trường phái có sức ảnh hưởngtương đối lớn trong đời sống nhân loại, vì cho đến tận ngày nay, khắp mọi nơi trên thế giới, sựthực hành rất phổ biến các phương pháp Yoga để dưỡng sinh, chữa bệnh hay nhiều mục đíchích lợi khác phục vụ sức khỏe cho con người vẫn tiếp tục phát triển đã nói lên điều đó. Trong quá trình tu hành, Thái tử Tất Đạt Đa cũng đã từng chịu ảnh hưởng lối tu khổ hạnhcủa phái Thắng Luận và nhất là phương pháp tu tập thiền của phái Yoga này. Nhân đây chúngtôi xét thấy cũng cần có đôi dòng tìm hiểu qua về thiền Yoga của Bà La Môn giáo. Phương pháp thực hành thiền Yoga được chia làm tám giai đoạn: 1-Yama: Cấm giới (Tình yêu thương). 2-Niyama: Khuyến tu ( Tự ức chế tình dục). 3- Asana: Tọa pháp ( Điềuphục thân theo vị trí nhất định). 4-Prànàỳama: Điều tức ( Kiểm tra hơi thở). 5- Pratỳakàra: Chếcảm( Điều hành tư duy). 6-Dhàrana: Chấp trì ( Chú ý). 7-Dhỳana: Tĩnh lự ( Thiền định). 8 -Samàdhi: Đẳng trì ( Tập trung tư tưởng). Về cấm giới, thì hành giả phái Yoga phải giữ nămgiới cấm sau đây: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không thamlam. Phạm trù này được xếp vào ý thức thụ động. Về khuyến tu thì hành giả phải thực hiệnnăm việc: Thanh tịnh thân tâm, Ngăn ý, Khổ hạnh, Học tập kinh điển, Định thần. Phạm trù nàyđược xếp vào ý thức tích cực, chủ động. Đối với các giai đoạn còn lại thì, Tọa pháp là để điềuhòa thân thể, Điều tức là để điều hòa hô hấp, Chế cảm là để chế ngự ngũ căn, Chấp trì là để tậptrung tư tưởng, Tĩnh lự là để lắng tâm làm cho tâm được thanh tịnh, Đẳng trì là để tâm hoàntoàn vắng lặng thanh tịnh sáng suốt. Đến giai đoạn cuối cùng này, hành giả Yoga có thể nói làđã đạt được cảnh giới Tam muội (Sammadhi). Lúc này hành giả được giải thoát tự tại. Chúng tôi thiết nghĩ, nhân đây cũng cần vắn tắt đôi dòng để phân biệt giữa thiền Yogacủa Bà La Môn giáo và thiền Minh Sát Tuệ của Phật giáo. Nói về thiền Yoga của Bà La Môn giáo, căn cứ vào tám giai đoạn thực hành vừa nêu trênđây và nhất là căn cứ vào Kinh Yoga, thì phương pháp thiền Yoga chính là một phương phápđịnh tâm, sau đó thì an trú vào cảnh giới thanh tịnh được sinh ra từ trạng thái tâm định, hànhgiả Yoga công phu an trú vào định càng sâu thì sở đắc càng cao… Còn nói về thiền Minh SátTuệ (Vipassanà Bhàvanà) của Phật giáo, căn cứ vào kinh Maha Satipathàna thuộc Trường BộKinh (Dìgha Nikàya) thì đây là một phương pháp thiền quán, quán sâu vào trí huệ bát nhã, đểtường tận thật tướng của các pháp (Vô thường, Khổ, Vô ngã), cũng như trong Bát Nhã TâmKinh đã dón gọn: “Hành thâm Bát nhã… Chiếu kiến ngũ uẩn giai không… Độ nhất thiết khổách” (Đi sâu vào Trí tuệ Bát Nhã… Nhìn thấy năm ấm đều không thật… Nên vượt qua hếtthảy khổ nạn). Như vậy Thiền của Phật giáo hoàn toàn không lấy trạng thái tâm định hay côngphu an trú vào sự định tâm để mong đắc quả hay giải thoát được. 14
  15. 15. TT THÍCH HUỆ THÔNG CHƯƠNG BA HOÀN CẢNH CHÍNH TRỊ XÃ HỘI ẤN ĐỘ THỜI ĐỨC PHẬT Một khi luận bàn về cuộc đời đức Phật và những ảnh hưởng tích cực từ giáo pháp củangài đến đời sống nhân loại, chúng tôi nghĩ rằng, không thể không bàn đến hoàn cảnh chính trịxã hội Ấn Độ thời đức Phật ra đời, vì đây là những điều kiện khách quan và chủ quan đã hìnhthành nên nhân cách siêu việt của đấng Đại Giác. Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn có diện tích 3.280.483m2, nằm ở trung tâm khu vựcNam Á, phía Bắc là dãy Hy Mã Lạp Sơn (Hymalaya) trải dài đến phía Nam là Ấn Độ Dương.Bắc Ấn Độ giáp Tây Tạng, Nepan, Bhutan; Đông Bắc giáp Miến Điện, Băng La Đét; Tây Bắcgiáp Ápganistan và Pakistan; Tây giáp biển Ả Rập, Đông giáp vịnh Ben Gan và phía Nam giápẤn Độ Dương. Ấn Độ là một quốc gia đa sắc tộc và đa ngôn ngữ. Tuy nhiên, trong sự đa dạng về sắctộc, nổi bật lên là sắc tộc bản địa Dravida và sắc tộc chiếm cư Arya có nguồn gốc từ Đông Âu. Theo lịch sử Ấn Độ ghi chép thì người Arya có sức khỏe vượt trội hơn người bản xứ vànhất là kinh nghiệm trong chiến đấu. Điều này chứng tỏ tổ tiên lâu đời của người Arya từĐông Âu chắc hẳn đã trải qua bao phen chinh chiến và họ luôn chiến thắng đối phương nênmới có thể có mặt ở vùng Trung Á vào trước thời kỳ này. Cũng chính nhờ lợi thế về thể chấtvà trình độ tác chiến, họ đã dễ dàng chinh phục người dân bản xứ Dravida. Như chúng tôi đã trình bày, khi đã chinh phục gần như toàn bộ lãnh thổ Ấn Độ, ngườiArya đã phân chia Ấn Độ thành bốn giai cấp. Đứng đầu là giai cấp Ba La Môn (Brahmin), giaicấp này hầu hết là những tu sĩ Bà La Môn, họ cho mình là được sinh ra từ miệng của PhạmThiên, nên tự xem mình là cao quý nhất trong xã hội. Do vậy, giai cấp này đã độc quyền trongviệc nắm giữ chân lý và điều hành các nghi thức tế lễ thông linh giữa họ với các thần linh. Giaicấp đứng thứ hai là Sát Đế Lợi (Ksatriya) gồm vua chúa và các vương công. Giai cấp thứ ba làPhệ Xá (Vaisya) bao gồm hầu hết giới bình dân làm các ngành nghề trong xã hội. Hạ đẳngnhất là giai cấp Thủ Đà La (Sudra) được xem là giai cấp bần cùng gồm những tiện nhân nô lệ.Bà La Môn giáo quan niệm, tập cấp Thủ Đà La vốn sinh ra là để làm nô lệ, nên họ hoàn toànvô cảm trước nỗi khổ nhục bi thảm của tầng lớp này. Một điều đáng thương xót nữa là, tệ mạthơn cả giai cấp Thủ Đà La, xã hội Ấn Độ thời bấy giờ còn có một bộ phận người Paria mà luậtMã Nỗ (Manu) của người Bà La Môn xếp vào hạng thấp hèn và bẩn thỉu nhất trong xã hội, họphải chịu cảnh sống thập thò lén lút trong vòng tăm tối như những chú chuột sợ bóng dáng conngười, chịu đắng cay tủi nhục gấp cả trăm lần so với những người nô lệ Thủ Đà La. Trong đờisống xã hội, nếu những người Thủ Đà La và người Paria mà phạm phải những điều luật của BàLa Môn giáo, như cãi lại lời các tu sĩ Bà La Môn, xung đột với những người thuộc tập cấptrên, lén đọc kinh sách, thậm chí đi không nhường đường hay uống chung nguồn nước giếngvới người Bà La Môn chẳng hạn, thì họ phải nhận lãnh những hình phạt vô cùng dã man tànkhốc từ phía những người nắm luật của Bà La Môn giáo. Giai cấp Bà La Môn đã định chế ra bốn giai cấp trên, rồi tự đặt mình ở địa vị tối cao. Đốivới những việc liên quan đến đời sống tâm linh, ba giai cấp còn lại đều phải lệ thuộc. Đặc biệt,giai cấp hạ tiện Thủ Đà La và bộ phận người Paria luôn bị xã hội Ấn Độ đương thời khinhmiệt, họ bị cấm không cho dự phần vào tín ngưỡng tôn giáo, họ cũng không được pháp luậtbảo hộ. Trong xã hội đương thời, có thể xếp hai giai cấp Bà La Môn và Sát Đế Lợi là tầng lớpthống trị và hai giai cấp bình dân Phệ Xá và tiện dân Thủ Đà La là tầng lớp bị thống trị. Cảbốn giai cấp này đều theo chế độ thế tập, cha truyền con nối, như trong dân gian ta thường nói“Con vua thì được làm vua – Con sãi nhà chùa thì quét lá đa”. Chính vì vậy mà giai cấp thống 15
  16. 16. TT THÍCH HUỆ THÔNGtrị thì cứ mãi thống trị, còn giai cấp nô lệ bị trị thì cứ mãi lầm than nô lệ. Điều này đã tạo nênmột xã hội luôn mâu thuẫn và bất công triền miên dai dẳng thời bấy giờ. Vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, Ấn Độ được hình thành giống như mộtliên bang bao gồm nhiều tiểu quốc và các bộ tộc. Trong số nhiều tiểu quốc lúc bấy giờ, nổi bậtlên có bốn vương quốc thao túng nhiều quyền lực hơn cả. Đo là Vương quốc Kiều Tất La(Kosala) đóng đô tại Xá Vệ (Savatthi), Vương quốc Vamsa đóng đô ở Kiều Thượng Di(Kosambi), Vương quốc Avanti và Vương quốc Ma Kiệt Đà (Magadha) có thành Vương Xá(Rajagrha) nằm ở phía Nam sông Hằng. Bên cạnh những vương quốc rộng lớn và quyền thếnày là những tiểu quốc và bộ tộc bé nhỏ, đó là các bộ tộc Anga (Ương Già) có thành Chiêm Ba(Campà), đối diện với nước này có bộ tộc Ly Xá Tỳ (Licchavi) có thành Phệ Xá Ly (Vesalì)nằm ở hướng Đông bắc Ma Kiệt Đà. Ngoài ra còn có các bộ tộc Kathi (Kasi), Bà Ta (Vaccha),Mạt La (Malla)… và bộ tộc Thích Ca nằm cận nhau ở phía Bắc nước Kiều Tất La, thuộc vùngBắc Trung Ấn. Có thể nói vào thời bấy giờ Ma Kiệt Đà và Kiều Tất La là hai trung tâm văn hóa lớn đãlàm rạng rỡ nền văn minh Ấn Độ. Đặc biệt, hai vương quốc này đã có rất nhiều quan hệ mậtthiết với Phật giáo ngay thời Phật còn tại thế. Dù vùng Trung Á rộng lớn với quần thể vương quốc, tiểu quốc và rất nhiều bộ tộc cộngsinh cộng phát, nhưng có một điều khá thú vị là tại một trong số những bộ tộc bé nhỏ này đãtrở thành thánh địa thu hút sự chú ý và hướng về của nhân loại. Đó chính là bộ tộc Thích Ca(Sakya), hay còn gọi là tiểu quốc cộng hòa Thích Ca với kinh đô là Ca Tỳ La Vệ(Kapilavastu). Dù đây chỉ là một bộ tộc nhỏ bé nằm giữa ranh giới Ấn Độ và Nepal và nằm ởphía Bắc vương quốc Kiều Tất La (Kosala) nhưng đã sản sinh ra một nhân vật xuất chúng củanhân loại. Nhân vật trí tuệ kiệt xuất đó là Thái tử Tất Đạt Đa (Siddhattha), con của tiểu vươngTịnh Phạn (Suddhodana) và Hoàng hậu Ma Da (Maja). Về thể chế chính trị, dân tộc chiếm cư Arya cầm quyền tại Ấn Độ thuận theo chính thểcộng hòa. Trong bối cảnh chính trị xã hội đương thời, chính thể quân chủ chuyên chế đã đượchình thành và phát triển tại nhiều vương quốc và các bộ tộc, nhưng chế độ cộng hòa vẫn tồn tạivà phát triển mạnh ở hai vương quốc Ma Kiệt Đà (Magadha) và Kiều Tất La (Kosala). Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số bộ tộc nhỏ sống theo chính thể cộng hòa, trong đócó bộ tộc Thích Ca. Chính thể cộng hòa Thích Ca thời bấy giờ dưới quyền cai trị điều hànhcủa hoàng tộc, đứng đầu là vua tịnh Phạn, nên việc truyền ngôi được diễn ra trong hoàng tộc.Chính vì vậy mà vua Tịnh Phạn rất trông cậy vào Thái tử Tất Đạt Đa sẽ thay mình cai quản đấtnước sau này. Thế nhưng điều bất ngờ đối với vua Tịnh Phạn là Thái tử Tất Đạt Đa đã không để tâmđến ngôi vị tương lai mà dốc hết tâm chí vào con đường tu hành giải thoát. Trước tình cảnhnày, bắt buộc hội đồng trưởng lão trong hoàng tộc phải nhóm họp lại để bầu ra một vị vua mớitheo đúng thông lệ trưng cầu để thống nhất ý kiến cuối cùng. Trình tự thông lệ này là, sau khicó được kết quả, vị chủ tọa phải tuyên bố ba lần câu: “Ai đồng ý với kết quả này, xin giơ taybiểu quyết”. Đây là thông lệ đã tồn tại hàng ngàn năm qua trong các bộ tộc tại Ấn Độ. Cho đếnnay, giới sử gia vẫn chưa tìm ra một nguồn tư liệu nào ghi nhận về diễn biến này, tuy nhiêncăn cứ vào các cuộc bầu cử thông qua truyền thống lấy ý kiến của những người có uy tín ngaytại chỗ, thường diễn ra trong đời sống nhân gian, cũng đã phần nào khẳng định tính xác thựccủa thông lệ này. Sở dĩ chúng tôi bàn chi tiết về trường hợp này là muốn nói đến mối dây liên hệ từ nhữngthông lệ bầu cử, bổ nhiệm, tôn vinh hay phê bình, kỷ luật ai đó của người Ấn thời xưa vẫn cònảnh hưởng thậm chí còn thấm sâu trong sinh hoạt Tăng đoàn của đức Phật ngày xưa và cảngày nay. Phần đông dân chúng tiểu quốc cộng hòa Thích Ca cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng VệĐà. Vào thời đức Phật, tư tưởng Vệ Đà cùng với nhiều hệ phái triết học tôn giáo khác, đã làmcho đời sống tâm linh của người dân Ấn Độ trở nên mơ hồ và bị xáo trộn, trong khi họ rất khátkhao đi tìm chân lý. Nói về tiểu quốc cộng hòa Thích Ca, quê hương của đức Phật vốn là một đất nước thuầnnông. Tổ chức cơ cấu chính trị theo chế đo cộng hòa, đứng đầu là Tịnh Phạn vương. Vua TịnhPhạn có một đội ngũ thu thuế rất mạnh đủ để mang lại nguồn ngân sách dự trữ quốc gia. Cộnghòa Thích Ca là chư hầu của đế quốc Kiều Tất La nên vua Tịnh Phạn thường phải đem cốngphẩm dâng nạp hằng năm với mục đích duy trì mối giao hòa và cũng có phần nương dựa vào 16
  17. 17. TT THÍCH HUỆ THÔNGthế lực của đại quốc này. Tuy nhiên dù chỉ là một nước chư hầu, nhưng cộng hòa Thích Ca vẫnluôn có một đội quân tinh nhuệ làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ đất nước chứkhông hoàn toàn phụ thuộc vào nước lớn. Trong kinh điển đã mô tả khá nhiều những cuộcchiến có liên quan đến cộng hòa Thích Ca. Đức Phật đã từng dùng đức độ và tài lý luận đã hóagiải thành công cuộc chiến giữa hai bộ tộc Thích Ca và Câu Ly. Theo suy nghĩ của chúng tôi,có lẽ nhờ vào đại từ bi lực của ngài, nên đức Phật đã cảm hóa được những người đứng đầu haibộ tộc này biết hồi đầu hướng thiện, biết ăn năn sám hối, nhờ đó đã tránh được sự đổ máu chovô số người dân của cả hai bộ tộc. Tuy nhiên, đến khi nổ ra cuộc chiến một mất một còn vớivương quốc Kiều Tất La thì quân đội của cộng hòa Thích Ca đại bại và cuối cùng bị diệt vong.Vì nghiệp chướng quá sâu dày, hơn nữa họ không hề nhường bước hay hồi đầu hướng thiện,nên kết quả cuộc chiến diễn ra vô cùng thê thảm. Trước tình cảnh này, đức Phật cũng khôngthể hóa giải được vì nhân duyên nghiệp báo giữa hai dân tộc này đã đến thời trổ quả. Điều nàycũng cho chúng ta thấy rằng, khi quả báo đến, nếu bản thân mỗi chúng ta không tha thiết ănnăn sám hối, dẫu là đất nước của đức Phật, phụ vương của đức Phật, thì ngài cũng không thểnào can thiệp được. Đây là triết lý nhân quả rất sâu sắc mà mỗi người con Phật cần phải xácđịnh rõ ràng để trong cuộc sống tránh được những hậu quả thảm khốc khôn lường… Về điềunày, trong kinh đức Phật cũng thường nhắc đến những cuộc chiến có liên quan đến tiểu quốcThích Ca nhỏ bé nơi ngài sinh ra và lớn lên, nhằm dạy cho chúng ta thấm nhuần đạo lý nhânquả báo ứng trong đời sống hằng ngày. Như chúng ta đã biết xã hội Ấn Độ chia ra làm bốn giai cấp rõ rệt, về điều này chúng tôikhông bàn tới nữa, mà chỉ nói thêm đôi dòng về sinh hoạt mang tính quy định bắt buộc trongnội bộ của tập cấp Bà La Môn. Các Tăng lữ Bà La Môn nắm thực quyền xã hội đã nương vàođó mà đưa ra quy định tu hành cho giai cấp mình thành bốn thời kỳ như sau: 1. Thời kỳ Phạm trí (Brahmacàrin): Đối với tín đồ Bà La Môn ở lứa tuổi niên thiếu từ 7đến 11 tuổi, thì bắt buộc phải xuất gia theo các vị Tăng Bà La Môn để học tập kinh Vệ Đà, saukhi học xong mới được trở về nhà. 2. Thời kỳ Gia cư (Grhastha): Đến độ tuổi thanh niên là thời kỳ lập gia đình. Sau khi cógia đình thì ở nhà trông nom con cái hoặc thực hiện trách nhiệm tế tự của người gia trưởng. 3. Thời kỳ Lâm cư (vànaprastha): Đây là thời kỳ xuất gia trở lại sau khi hoàn thành tráchnhiệm với gia đình. Người xuất gia phải vào chốn rừng sâu để tu tập khổ hạnh và thiền định. 4. Thời kỳ Du hành (Parivràjaka): Đây là thời kỳ về già của một tín đồ. Đến thời kỳ nàyđòi hỏi thân tâm của một tín đồ Bà La Môn giáo phải thật sự thanh tịnh. Đặc biệt là nơi ở củahọ không cố định, nên người tu ở thời kỳ này còn được gọi là Hành giả (Yati) hay Khất sĩ(Bhiksu). Người Bà La Môn giáo rất tự hào về bốn thời kỳ tu tập của đạo mình và xem đó là nếpsinh hoạt tâm linh rất lý tưởng đối với họ. Trong suốt quá trình tu hành, nếu người nào đạt đếncảnh giới giải thoát thanh tịnh thì được xã hội bấy giờ ngưỡng mộ trọng vọng… Nếu cho rằng bốn thời kỳ tu hành nêu trên là nét đặc thù của đạo Bà La Môn hay nóiđúng hơn là của tập cấp Bà La Môn, thì đối với tập cấp Phệ Xá tại tiểu quốc Thích Ca cũng cónhững điều cần tìm hiểu. Ngoài bốn ngành nghề chính trong xã hội là Sĩ, Nông, Công, Thương; theo đà phát triểncủa xã hội thì tập cấp Phệ Xá cũng đã phát sinh ra những ngành nghề thủ công hoặc kỹ thuậtkhác, nổi bật lên có thể nói đến nghề kiến trúc xây dựng. Sở dĩ nghề kiến thiết xây dựng pháttriển mạnh tại tiểu quốc Thích Ca trong thời kỳ này, là vì vua Tịnh Phạn rất chú trong đếncông việc xây dựng cũng như trùng tu tái thiết. Những người thợ có sức khỏe và tay nghề caorất được nhà vua trọng dụng, chính nhờ vậy mà nhiều công trình xây dựng có tầm cỡ quy môđược hình thành trong thời kỳ này. Đáng tiếc là tất cả đã trở thành bình địa khi xảy ra cuộcchiến giữa bộ tộc Thích Ca và đế quốc Ma Kiệt Đà vào những năm tháng về sau. Ngày nay khichúng tôi đặt chân đến đất nước Ấn Độ, được đi tham quan một số thánh tích ghi lại dấu ấnthời đức Phật tại thế, chúng tôi chợt nhận ra những công trình kiến trúc văn hóa tâm linh đó,dù nó đã được thi công cách đây hàng mấy ngàn năm nhưng vẫn vững chãi trước thời gian vàhấp dẫn du khách vô cùng. Ngoài những người thợ trong ngành nghề kiến trúc xây dựng cũng như một số nghề thủcông truyền thống khác thì xã hội Ấn Độ còn có những du ca tài tử rày đây mai đó, họ kiếmsống bằng cách cất lên tiếng hát ngợi ca những anh hùng bất tử từ những bản trường ca huyềnthoại của người dân Ấn Độ. Bên cạnh những nghệ sĩ lãng tử hát rong, xã hội Ấn Độ bấy giờ 17
  18. 18. TT THÍCH HUỆ THÔNGcòn có những tay thảo khấu sống ngoài vòng pháp luật, đó là nỗi kinh hoàng cho nhữngthương nhân và những người lương thiện. Ngoài thành phần bất lương đầu trộm đuôi cướp ra,còn có cả những kỹ nữ trong chốn kỹ viện hoa lâu hay những cô gái làng chơi hoạt động côngkhai trên đường phố… Tất cả đã làm cho bức tranh xã hội Ấn Độ đương thời trở nên muônmàu muôn vẻ… Một đặc điểm nổi bật trong xã hội Ấn Độ nói chung và trong nước cộng hòa Thích Calúc bấy giờ là có rất nhiều người dấn thân vào con đường tu hành, đa số đều muốn thoát ly đờisống xã hội, tìm cầu sự giải thoát giác ngộ. Đồng thời, cũng trong bối cảnh đó, xã hội Ấn Độcũng đã xuất hiện vô số phương pháp tu hành lập dị quái lạ, tất cả đều đượm màu huyền bí vàmê tín. Chẳng hạn có người thực hành cách tu đứng một chân, có người ngâm mình dưới sôngsuốt mùa đông lạnh giá để cầu mong chứng quả, có người ngủ ngồi suốt cả đời để mong đượcgiải thoát, có người bện tóc suốt đời và cũng không hề vệ sinh tắm giặt như hai anh em ôngMa Ha Ca Diếp (Maha Kassapa). Trong vô số cách tu hành lập dị đó, có lẽ quái gở hơn cả làcách tu của những vị tu sĩ chuyên bắt chước theo tập tính của loài bò và loài chó. Với cách tunày, họ tự cột sừng bò lên đầu mình, cũng ăn cỏ như bò, rồi đi lòng vòng giống như lối sốngcủa bò, có khi rống như bò hoặc sủa như chó vậy. Trong kinh Pali cũng đã ghi chép nhữngcuộc gặp gỡ và đối đáp giữa đức Phật với những vị hành giả lập dị có một không hai trên thếgian này... Như chúng ta đã biết, thời cổ đại, dân tộc Ấn Độ đã xem tư tưởng Vệ Đà là nguồn minhtriết để giải thoát đời sống trần tục và sau đó là tư tưởng Áo Nghĩa Thư. Có điều, trải qua 8 thếkỷ chuyển hóa tư tưởng, nhưng tinh thần và tư tưởng Áo Nghĩa Thư vẫn chưa cải thiện hố sâungăn cách giữa các tầng lớp giai cấp, trong khi đó giai cấp Ba La Môn vẫn độc quyền trongviệc thờ cúng tế lễ và tự cho mình quyền hạn nắm giữ chân lý. Thời bấy giờ, việc tế lễ chuyên nghiệp của những tu sĩ Ba La Môn đã chiếm hẳn nhữngkhoảng trống vô cùng thiêng liêng trong tâm thức của mọi người, mà đáng lý ra, đó là chỗdành cho tinh thần suy nghiệm triết lý nhân sinh, một nhu cầu tâm linh hướng nội rất cần thiếtđối với mọi người dân Ấn Độ. Việc tế lễ chuyên nghiệp đã khiến cho tu sĩ Bà La Môn trở nênkiêu căng và sống trên lợi dưỡng, điều đáng trách là họ đã sống trên quyền hạn do họ tự đặt ravà tồn tại trên sự mê muội của những người dân nô lệ. Trong thời điểm mà đời sống tâm linhcó nhiều bức xúc, điều này đã khiến cho vô số tư tưởng và trường phái triết học xuất hiện.Trong đó nổi bật lên là Phật giáo, Kỳ Na giáo, Lục Sư ngoại đạo phái và sáu trường phái triếthọc chánh thống nối tiếp tư tưởng từ kinh Vệ Đà lần lượt khai sinh. Chính những đặc điểm tư tưởng tâm linh đa sắc thái và vô cùng phức tạp này, thì sự xuấthiện của đức Phật như là một trung tâm ánh sáng của tinh thần giác ngộ và giải thoát, đã thuhút toàn bộ sự chú ý của cả bốn giai cấp đồng thời quay về quy y dưới chân đức Phật một cáchtự giác tự nguyện với tâm trạng hết sức vui mừng phấn khởi. Ngay từ khi thành lập Tăng đoàn, đức Phật rất quan tâm đến phẩm hạnh đạo đức và trítuệ chứ không hề quan tâm đến giòng dõi hay sự thông minh tháo vát của con người. Đặc biệtngài luôn thực hiện nếp sống lục hòa bình đẳng trong Tăng chúng. Do vậy trong Tăng đoànkhông hề có ý niệm về giai cấp. Bất cứ ai, dù là thành phần giai cấp nào, khi đến với đức Phậtcũng đều được bình đẳng nghe pháp, để được đạt đến sự giải thoát giác ngộ rốt ráo như nhau.Đọc qua kinh điển Phật giáo, chúng ta dễ dàng cảm nhận điều này khi chứng kiến cảnh tượngvà tình cảm nồng hậu mà đức Phật đã dành cho trong buổi đón tiếp ngài Ưu Ba Ly (Upàli) khiđó ngài chỉ là một tiện dân. Sau khi được đức Phật cho thế phát xuất gia, ngài Ưu Ba Ly đã nỗlực tu hành và chứng được đạo quả, trở thành bậc “Trì Luật Đệ Nhất” trong giáo hội và là mộttrong mười đại đệ tử của đức Phật. Có thể nói, tinh thần bình đẳng tuyệt đối của đức Phật tronghoàn cảnh xã hội thời bấy giờ đã nói lên một trong những tính cách siêu phàm của đức Phật. Tóm lại trong hoàn cảnh xã hội Ấn Độ đang bùng nổ các dòng tư tưởng và các tôn giáochủ trương cải thiện đời sống tâm linh nhưng lại đang rơi vào cảnh bế tắc… thì sự xuất hiệnkịp thời của đức Phật như là một vị cứu tinh không chỉ đối với người dân xứ Ấn mà còn đốivới cả nhân loại. 18
  19. 19. TT THÍCH HUỆ THÔNG PHẦN HAI SƠ LƯỢC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT 19

×