Báo cáo ngành hàng Cao su
                               Quý IV-06


I – Tình hình sản xuất trong nước

Hiện nay, cây cao su không những phát triển mạnh ở miền Đông Nam bộ,
Tây nguyên và các tỉnh miền Trung mà còn được trồng ở các tỉnh Thanh
Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An. Nếu như đến năm 1995, cả nước chỉ có 181.000 ha
cao su thì đến thời điểm hiện nay, diện tích trồng cao su cả nước là 454.000
ha, trong đó khu vực quốc doanh chiếm trên 70 % diện tích, còn lại là diện
tích cao su tiểu điền, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bình Phước, Quảng Trị,
Bà Rịa-Vũng Tàu… Trong khi nhà nước chủ trương phát triển mạnh cao su
tiểu điền để góp phần nâng cao sản lượng, đẩy mạnh xuất khẩu thì trên thực
tế, năng suất và sản lượng cao su tiểu điền còn thấp, thấp hơn nhiều so với
cao su quốc doanh. Nguyên nhân chủ yếu là do cao su tiểu điền chưa được
quan tâm đúng mức, đầu tư thấp, kỹ thuật chăm sóc và khai thác mủ của
người trồng kém.

Theo Tổng Công ty Cao su Việt Nam, đến năm 2006, diện tích cao su thuộc
Tổng Công ty là 217.674 ha, trong đó 178.457 ha đang khai thác mủ, trải
rộng từ Đông Nam bộ đến Tây Nguyên và miền Trung. Sản lượng cao su
của nước ta thường tăng cao vào quý IV hàng năm do yếu tố mùa vụ, với sản
lượng của quý IV thường chiếm 40% sản lượng của cả năm. Cùng với nhu
cầu xuất khẩu cao su tăng cao, trong thời gian này, các đơn vị của Tổng
công ty Cao su Việt Nam đã tập trung chăm sóc và khai thác tốt trên 178.457
ha diện tích đang cho mủ và phấn đấu vượt kế hoạch khai thác của năm 2006
là 280.000 tấn. Năng suất cao su bình quân tiếp tục duy trì ở mức xấp xỉ 2
tấn/ha, cá biệt có một số công ty cao su đạt năng suất trên 2 tấn/ha, như
Công ty cao su Lộc Ninh 2,1 tấn/ha, Công ty cao su Tây Ninh dự kiến năng
suất đạt 2,3 tấn/ha. Các Công ty cao su Bình Long, Đồng Phú, Tân Biên,
Phước Hòa cũng dự kiến sẽ đạt năng suất 2 tấn/ha trong năm nay. Nguyên
nhân chủ yếu là nhờ các công ty cao su chú trọng vào công tác bảo vệ vườn
cây, đầu tư các tiến bộ khoa học trong việc thâm canh, tăng năng suất, chống
sâu bệnh trên cao su. Ngoài ra, một nguyên nhân nữa góp phần quan trọng
để đạt được năng suất và sản lượng mủ cao su như hiện nay là nhờ các công
ty cao su có những giải pháp tốt trong công tác quản lý, tổ chức và sắp xếp
lao động hợp lý bằng cách thu hút nhiều lao động tại chỗ vào làm việc, kết
hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương quản lý tốt vườn cây nên tệ nạn
trộm cắp mủ cao su cũng giảm hẳn. Bên cạnh đó, các phong trào thi đua lao
động sản xuất như phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, tổ chức luyện tay nghề, thi thợ giỏi hàng năm ở các
nông trường cũng là yếu tố không kém phần quan trọng góp phần làm tăng
năng suất và sản lượng của toàn ngành cao su.

Hiện nay, Tổng công ty đã triển khai kế hoạch trồng mới thêm 70.000 ha
trong giai đoạn từ năm 2006-2010, đến năm 2013 định hình diện tích cao su
trong nước là 320.000 ha (chưa tính đến diện tích 100.000 ha liên doanh
trồng mới cao su ở nước bạn Campuchia và Lào). Cùng với sự đầu tư về
trang thiết bị, công nghệ chế biến, hy vọng sản lượng cao su của Việt Nam
sẽ ngày càng tăng lên, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cao su trên thế giới và góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh.



II – Tình hình thị trường trong nước và thế giới


1. Thị trường trong nước

Tiếp tục đà giảm giá trong quý trước, giá cao su nguyên liệu quý này vẫn
tiếp tục sụt giảm tuy có hồi phục đôi chút vào tháng 10 nhờ nhu cầu tiêu thụ
tăng ở một số nước như Trung Quốc, Mỹ, Đức, Đài Loan và châu Âu và lo
ngại nguồn cung sẽ eo hẹp khi mưa lớn xuất hiện ở các nước sản xuất chính.
Nguyên nhân chủ yếu khiến giá giảm là do giá cao su đã lên đến mức đỉnh
trong các tháng đầu năm và xu hướng chậm tăng giá hoặc thậm chí giảm sút
cũng là điều dễ hiểu. Giá cao su xuất khẩu cũng giảm theo do chịu ảnh
hưởng của thị trường vàng và dầu thô thế giới. Nguồn cung cao su tự nhiên
ở các nước sản xuất lớn như Thái Lan, Inđônêxia và Malaysia bắt đầu chậm
dần do mùa đông ở Thái Lan - nước sản xuất cao su hàng đầu thế giới đã bắt
đầu, sản lượng mủ giảm mạnh.

Tính đến giữa tháng 12, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam sang Trung
Quốc tại cửa khẩu Móng Cái chỉ còn 13.000 NDT/tấn, giảm khoảng 1.000
NDT/tấn so với cuối tháng 11. Tại cửa khẩu chính ngạch hiện nay Trung
Quốc đang ép giá cao su hỗn hợp xuống dưới 14.000 NDT/tấn. Riêng mủ
cao su nguyên khai xuất sang thị trường khu vực Quảng Tây vẫn giữ mức
trung bình 300 tấn/ngày và giá chỉ giảm ít so với thời điểm trước đó một
tuần. Do đó, tại thời điểm cuối năm, hoạt động xuất khẩu cao su ở cửa khẩu
Móng Cái chỉ diễn ra cầm chừng do giá xuất khẩu xuống thấp. Khối lượng
cao su xuất khẩu qua đường tiểu ngạch chỉ đạt 100 – 150 tấn/ngày. Phần lớn
các doanh nghiệp và tư nhân đã ngừng ký hợp đồng mới để xác định lại
phương án kinh doanh.

Về lượng xuất khẩu, trong 3 tháng của quý này, nước ta đã xuất khẩu xấp xỉ
240.000 tấn cao su, đạt kim ngạch 440 triệu USD. Như vậy, tính đến hết
tháng 11, lượng cao su xuất khẩu ước đạt 658.000 tấn, kim ngạch đạt trên 1,2
tỉ USD, so cùng kỳ năm trước lượng tăng 31%, kim ngạch tăng 78%. Trong
đó sản luợng xuất khẩu cao su của Tổng công ty Cao su Việt Nam chiếm
trên 60% tổng sản luợng xuất khẩu của cả nước. Dự kiến trong tháng 12, cả
nước sẽ khai thác, chế biến và xuất khẩu thêm trên 70.000 tấn mủ cao su.

Hiện nay, mặt hàng mủ cao su đã trở thành một trong 7 mặt hàng xuất khẩu
của Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Sở dĩ có kết quả này
là do giá bán mủ cao su năm nay cao hơn năm ngoái từ 6 đến 7 triệu
đồng/tấn (năm 2005 giá bán bình quân 1 tấn mủ cao su là 23 triệu đồng/tấn).
Mặt hàng cao su đứng ở vị trí thứ 3 về trị giá kim ngạch xuất khẩu sau các sản
phẩm gỗ và gạo. Rất có thể mặt hàng cao su sẽ vượt kim ngạch mặt hàng gạo
sau quyết định tạm ngừng xuất khẩu gạo trong những tháng cuối năm của
Chính phủ.

Trung tuần tháng 12, Hội nghị hội viên Hiệp hội Cao su đã diễn ra với sự
tham gia của gần 100 hội viên Hiệp hội nhằm lập nên Quỹ bảo hiểm xuất
khẩu cao su. Mục đích chính của việc làm này là nhằm góp phần khắc phục
và hạn chế rủi ro trong xuất khẩu cao su, hỗ trợ các hoạt động xúc tiến
thương mại, hỗ trợ tài chính lẫn nhau giữa các hội viên trong Hiệp hội. Hy
vọng với sự ra đời của Quỹ bảo hiểm xuất khẩu cao su, các doanh nghiệp
xuất khẩu sẽ ngày càng đạt lợi nhuận cao, góp phần đẩy mạnh hoạt động
xuất khẩu cao su - một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.


2. Thị trường thế giới

Theo Hiệp hội các nước sản xuất Cao su Quốc tế (ANRPC), sản lượngB cao
su tự nhiên thế giới dự báo sẽ tăng khoảng 3% trong năm 2006 và 2007. Dự
báo sản lượng cao su tự nhiên thế giới sẽ tăng 3,18% trong năm nay, đạt
9,08 triệu tấn, và tăng 3,08% năm 2007 đạt 9,36 triệu tấn. Sản lượng tăng
mấy năm gần đây chủ yếu nhờ năng suất sản xuất tăng lên.
Mùa đông đang đến ở miền Đông Thái Lan, nơi cung cấp khoảng 20% sản
lượng cao su cho nước này, và nhu cầu dự báo sẽ tăng vào quý I năm tới, sẽ
hỗ trợ giá. Thái Lan là nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới, chiếm khoảng
35% sản lượng toàn cầu, với sản lượng vẫn đang không ngừng tăng. Từ đầu
năm tới nay, Thái Lan đã sản xuất khoảng 3,03 triệu tấn cao su, tăng so với
2,98 triệu tấn năm 2005. Còn Inđônêxia được dự đoán sẽ sản xuất khoảng
2,2 – 2,3 triệu tấn cao su trong năm nay, Malaysia sản xuất xấp xỉ 1,2 triệu
tấn. Sản lượng cao su tự nhiên của ba nước này chiếm khoảng 70% lượng
cao su toàn cầu.

                                  Diễn biến giá cao su TG quý IV-06

                            400

                            300
                UScent/kg




                                                                SMR20 Malaysia
                            200                                 RSS1 Singapo
                                                                SIR20 Inđônêxia
                            100

                              0
                                   Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Reuters

Thời gian này, Thái Lan và Malaysia đang bước vào cao điểm vụ thu hoạch,
nguồn cung dư dả, trong khi Trung Quốc có ý chờ giá giảm nữa mới mua
vào. Có thể coi thời điểm hiện nay giá cao su thế giới đang ở mức sàn, mức
thấp nhất. Những ngày cuối tháng 12, giá cao su RSS3 giao tháng 1/07 trên
thị trường Tokyo chỉ ở mức 238 – 239 Yên/kg; cao su SMR20 của Malaysia
đứng ở mức 179 – 180 UScent/kg; cao su RSS1 của Thái Lan 61,7 – 62,5
Baht/kg. Biến động giá trên thị trường thế giới lúc này không chỉ được điều
tiết bởi nguồn cung mà còn bởi nhu cầu, và Trung Quốc được đánh giá là
yếu tố quan trọng. Các thương nhân tham gia giao dịch đều quan sát tình
hình mua cao su của Trung Quốc. Năm nay, thời gian vắng mặt của Trung
Quốc trên thị trường kéo dài, suốt từ tháng 10, với khối lượng mua vào trong
10 tháng đầu năm là 1,32 triệu tấn, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 5 năm qua, giá cao su thế giới liên tục tăng dần vì sản lượng không
đáp ứng đủ nhu cầu, nhất là của Trung Quốc.

Trước tình hình giá cao su sụt giảm mạnh, Consortium Cao su Quốc tế
(IRCo) bao gồm ba nhà sản xuất cao su hàng đầu thế giới tỏ ra sẵn sàng ra
tay can thiệp tránh không cho giá giảm thêm. Ba nước thông báo đã sẵn sàng
hạn chế xuất khẩu cao su từ tháng 12, trong khi Hiệp hội Cao su Indonexia
(Gapkindo) chuẩn bị cắt giảm xuất khẩu cao su nếu giá tiếp tục giảm.

Tuy nhiên, khả năng giá cao su tự nhiên hồi phục vẫn rất lớn và xu thế này
có thể sẽ bắt đầu từ quý I năm tới do mùa thu hoạch rộ của Thái Lan cũng sẽ
kết thúc và Trung Quốc cũng như các nhà nhập khẩu cao su lớn khác sẽ trở
lại thị trường.


III – Kết luận và kiến nghị

Tiềm năng và cơ hội phát triển ngành cao su Việt Nam đang mở rộng và tiến
về phía trước, nhất là khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
WTO vào cuối tháng 11. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam cũng đang
đứng trước thời cơ và những thách thức không nhỏ khi hội nhập. Bên cạnh
chính sách khai thác tốt tiềm năng sẵn có, các doanh nghiệp cao su còn được
chỉ đạo để mở rộng thêm các thị trường xuất khẩu mới. Sản lượng mủ cao su
khai thác liên tục tăng theo từng năm nhờ thực hiện tốt các biện pháp thâm
canh, lai ghép và đưa vào trồng cây cao su mới, cùng với việc không ngừng
đổi mới phương thức quản lý nâng cao năng suất, hoàn thiện quy trình sản
xuất, chất lượng. Hy vọng ngành cao su Việt Nam sẽ càng vững bước trong
xu thế hội nhập thế giới.

Thị trường cao su thế giới năm 2006 chia làm hai giai đoạn rõ rệt, giá tăng
mạnh trong nửa đầu năm và giảm mạnh vào nửa cuối năm, để giá cuối năm
gần tương đương với giá ở thời điểm đầu năm. Nguyên nhân tăng giá vào
đầu năm là do chịu tác động giá tăng mạnh trên thị trường dầu thô thế giới,
kéo theo giá cao su tổng hợp tăng lên đúng vào thời điểm nguồn cung tại các
nhà sản xuất chính đang khan hiếm và Trung Quốc cũng rất tích cực mua
vào trong thời điểm đầu năm nay. Song, giá cao su đã sụt giảm mạnh kể từ
tháng 7 do thời tiết thuận lợi làm tăng sản lượng ở Thái Lan và Malaysia,
đồng thời Trung Quốc cũng vắng mặt trên thị trường kể từ lúc này do đã
mua đủ lượng dự trữ đến cuối năm.

Về lâu dài, thị trường cao su sẽ hồi phục do ngành công nghiệp ô tô phát
triển mạnh dự báo nhu cầu cao su của Trung Quốc và Ấn Độ còn rất lớn.
Tài liệu tham khảo:

    1. Trung tâm Tin học & Thống kê, Bộ Nông nghiệp và PTNT.
    2. Thông tấn xã Việt Nam
    3. Website của Hiệp hội Cao su Việt Nam www.vra.com.vn
    4. Tin Reuters
    5. Các Web-sites của FAO, USDA.

Caosu q4 1

  • 1.
    Báo cáo ngànhhàng Cao su Quý IV-06 I – Tình hình sản xuất trong nước Hiện nay, cây cao su không những phát triển mạnh ở miền Đông Nam bộ, Tây nguyên và các tỉnh miền Trung mà còn được trồng ở các tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An. Nếu như đến năm 1995, cả nước chỉ có 181.000 ha cao su thì đến thời điểm hiện nay, diện tích trồng cao su cả nước là 454.000 ha, trong đó khu vực quốc doanh chiếm trên 70 % diện tích, còn lại là diện tích cao su tiểu điền, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bình Phước, Quảng Trị, Bà Rịa-Vũng Tàu… Trong khi nhà nước chủ trương phát triển mạnh cao su tiểu điền để góp phần nâng cao sản lượng, đẩy mạnh xuất khẩu thì trên thực tế, năng suất và sản lượng cao su tiểu điền còn thấp, thấp hơn nhiều so với cao su quốc doanh. Nguyên nhân chủ yếu là do cao su tiểu điền chưa được quan tâm đúng mức, đầu tư thấp, kỹ thuật chăm sóc và khai thác mủ của người trồng kém. Theo Tổng Công ty Cao su Việt Nam, đến năm 2006, diện tích cao su thuộc Tổng Công ty là 217.674 ha, trong đó 178.457 ha đang khai thác mủ, trải rộng từ Đông Nam bộ đến Tây Nguyên và miền Trung. Sản lượng cao su của nước ta thường tăng cao vào quý IV hàng năm do yếu tố mùa vụ, với sản lượng của quý IV thường chiếm 40% sản lượng của cả năm. Cùng với nhu cầu xuất khẩu cao su tăng cao, trong thời gian này, các đơn vị của Tổng công ty Cao su Việt Nam đã tập trung chăm sóc và khai thác tốt trên 178.457 ha diện tích đang cho mủ và phấn đấu vượt kế hoạch khai thác của năm 2006 là 280.000 tấn. Năng suất cao su bình quân tiếp tục duy trì ở mức xấp xỉ 2 tấn/ha, cá biệt có một số công ty cao su đạt năng suất trên 2 tấn/ha, như Công ty cao su Lộc Ninh 2,1 tấn/ha, Công ty cao su Tây Ninh dự kiến năng suất đạt 2,3 tấn/ha. Các Công ty cao su Bình Long, Đồng Phú, Tân Biên, Phước Hòa cũng dự kiến sẽ đạt năng suất 2 tấn/ha trong năm nay. Nguyên nhân chủ yếu là nhờ các công ty cao su chú trọng vào công tác bảo vệ vườn cây, đầu tư các tiến bộ khoa học trong việc thâm canh, tăng năng suất, chống sâu bệnh trên cao su. Ngoài ra, một nguyên nhân nữa góp phần quan trọng để đạt được năng suất và sản lượng mủ cao su như hiện nay là nhờ các công ty cao su có những giải pháp tốt trong công tác quản lý, tổ chức và sắp xếp lao động hợp lý bằng cách thu hút nhiều lao động tại chỗ vào làm việc, kết
  • 2.
    hợp chặt chẽvới chính quyền địa phương quản lý tốt vườn cây nên tệ nạn trộm cắp mủ cao su cũng giảm hẳn. Bên cạnh đó, các phong trào thi đua lao động sản xuất như phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tổ chức luyện tay nghề, thi thợ giỏi hàng năm ở các nông trường cũng là yếu tố không kém phần quan trọng góp phần làm tăng năng suất và sản lượng của toàn ngành cao su. Hiện nay, Tổng công ty đã triển khai kế hoạch trồng mới thêm 70.000 ha trong giai đoạn từ năm 2006-2010, đến năm 2013 định hình diện tích cao su trong nước là 320.000 ha (chưa tính đến diện tích 100.000 ha liên doanh trồng mới cao su ở nước bạn Campuchia và Lào). Cùng với sự đầu tư về trang thiết bị, công nghệ chế biến, hy vọng sản lượng cao su của Việt Nam sẽ ngày càng tăng lên, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cao su trên thế giới và góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh. II – Tình hình thị trường trong nước và thế giới 1. Thị trường trong nước Tiếp tục đà giảm giá trong quý trước, giá cao su nguyên liệu quý này vẫn tiếp tục sụt giảm tuy có hồi phục đôi chút vào tháng 10 nhờ nhu cầu tiêu thụ tăng ở một số nước như Trung Quốc, Mỹ, Đức, Đài Loan và châu Âu và lo ngại nguồn cung sẽ eo hẹp khi mưa lớn xuất hiện ở các nước sản xuất chính. Nguyên nhân chủ yếu khiến giá giảm là do giá cao su đã lên đến mức đỉnh trong các tháng đầu năm và xu hướng chậm tăng giá hoặc thậm chí giảm sút cũng là điều dễ hiểu. Giá cao su xuất khẩu cũng giảm theo do chịu ảnh hưởng của thị trường vàng và dầu thô thế giới. Nguồn cung cao su tự nhiên ở các nước sản xuất lớn như Thái Lan, Inđônêxia và Malaysia bắt đầu chậm dần do mùa đông ở Thái Lan - nước sản xuất cao su hàng đầu thế giới đã bắt đầu, sản lượng mủ giảm mạnh. Tính đến giữa tháng 12, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tại cửa khẩu Móng Cái chỉ còn 13.000 NDT/tấn, giảm khoảng 1.000 NDT/tấn so với cuối tháng 11. Tại cửa khẩu chính ngạch hiện nay Trung Quốc đang ép giá cao su hỗn hợp xuống dưới 14.000 NDT/tấn. Riêng mủ cao su nguyên khai xuất sang thị trường khu vực Quảng Tây vẫn giữ mức trung bình 300 tấn/ngày và giá chỉ giảm ít so với thời điểm trước đó một tuần. Do đó, tại thời điểm cuối năm, hoạt động xuất khẩu cao su ở cửa khẩu
  • 3.
    Móng Cái chỉdiễn ra cầm chừng do giá xuất khẩu xuống thấp. Khối lượng cao su xuất khẩu qua đường tiểu ngạch chỉ đạt 100 – 150 tấn/ngày. Phần lớn các doanh nghiệp và tư nhân đã ngừng ký hợp đồng mới để xác định lại phương án kinh doanh. Về lượng xuất khẩu, trong 3 tháng của quý này, nước ta đã xuất khẩu xấp xỉ 240.000 tấn cao su, đạt kim ngạch 440 triệu USD. Như vậy, tính đến hết tháng 11, lượng cao su xuất khẩu ước đạt 658.000 tấn, kim ngạch đạt trên 1,2 tỉ USD, so cùng kỳ năm trước lượng tăng 31%, kim ngạch tăng 78%. Trong đó sản luợng xuất khẩu cao su của Tổng công ty Cao su Việt Nam chiếm trên 60% tổng sản luợng xuất khẩu của cả nước. Dự kiến trong tháng 12, cả nước sẽ khai thác, chế biến và xuất khẩu thêm trên 70.000 tấn mủ cao su. Hiện nay, mặt hàng mủ cao su đã trở thành một trong 7 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Sở dĩ có kết quả này là do giá bán mủ cao su năm nay cao hơn năm ngoái từ 6 đến 7 triệu đồng/tấn (năm 2005 giá bán bình quân 1 tấn mủ cao su là 23 triệu đồng/tấn). Mặt hàng cao su đứng ở vị trí thứ 3 về trị giá kim ngạch xuất khẩu sau các sản phẩm gỗ và gạo. Rất có thể mặt hàng cao su sẽ vượt kim ngạch mặt hàng gạo sau quyết định tạm ngừng xuất khẩu gạo trong những tháng cuối năm của Chính phủ. Trung tuần tháng 12, Hội nghị hội viên Hiệp hội Cao su đã diễn ra với sự tham gia của gần 100 hội viên Hiệp hội nhằm lập nên Quỹ bảo hiểm xuất khẩu cao su. Mục đích chính của việc làm này là nhằm góp phần khắc phục và hạn chế rủi ro trong xuất khẩu cao su, hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ tài chính lẫn nhau giữa các hội viên trong Hiệp hội. Hy vọng với sự ra đời của Quỹ bảo hiểm xuất khẩu cao su, các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ ngày càng đạt lợi nhuận cao, góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cao su - một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. 2. Thị trường thế giới Theo Hiệp hội các nước sản xuất Cao su Quốc tế (ANRPC), sản lượngB cao su tự nhiên thế giới dự báo sẽ tăng khoảng 3% trong năm 2006 và 2007. Dự báo sản lượng cao su tự nhiên thế giới sẽ tăng 3,18% trong năm nay, đạt 9,08 triệu tấn, và tăng 3,08% năm 2007 đạt 9,36 triệu tấn. Sản lượng tăng mấy năm gần đây chủ yếu nhờ năng suất sản xuất tăng lên.
  • 4.
    Mùa đông đangđến ở miền Đông Thái Lan, nơi cung cấp khoảng 20% sản lượng cao su cho nước này, và nhu cầu dự báo sẽ tăng vào quý I năm tới, sẽ hỗ trợ giá. Thái Lan là nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 35% sản lượng toàn cầu, với sản lượng vẫn đang không ngừng tăng. Từ đầu năm tới nay, Thái Lan đã sản xuất khoảng 3,03 triệu tấn cao su, tăng so với 2,98 triệu tấn năm 2005. Còn Inđônêxia được dự đoán sẽ sản xuất khoảng 2,2 – 2,3 triệu tấn cao su trong năm nay, Malaysia sản xuất xấp xỉ 1,2 triệu tấn. Sản lượng cao su tự nhiên của ba nước này chiếm khoảng 70% lượng cao su toàn cầu. Diễn biến giá cao su TG quý IV-06 400 300 UScent/kg SMR20 Malaysia 200 RSS1 Singapo SIR20 Inđônêxia 100 0 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 Nguồn: Tính toán từ số liệu của Reuters Thời gian này, Thái Lan và Malaysia đang bước vào cao điểm vụ thu hoạch, nguồn cung dư dả, trong khi Trung Quốc có ý chờ giá giảm nữa mới mua vào. Có thể coi thời điểm hiện nay giá cao su thế giới đang ở mức sàn, mức thấp nhất. Những ngày cuối tháng 12, giá cao su RSS3 giao tháng 1/07 trên thị trường Tokyo chỉ ở mức 238 – 239 Yên/kg; cao su SMR20 của Malaysia đứng ở mức 179 – 180 UScent/kg; cao su RSS1 của Thái Lan 61,7 – 62,5 Baht/kg. Biến động giá trên thị trường thế giới lúc này không chỉ được điều tiết bởi nguồn cung mà còn bởi nhu cầu, và Trung Quốc được đánh giá là yếu tố quan trọng. Các thương nhân tham gia giao dịch đều quan sát tình hình mua cao su của Trung Quốc. Năm nay, thời gian vắng mặt của Trung Quốc trên thị trường kéo dài, suốt từ tháng 10, với khối lượng mua vào trong 10 tháng đầu năm là 1,32 triệu tấn, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong 5 năm qua, giá cao su thế giới liên tục tăng dần vì sản lượng không đáp ứng đủ nhu cầu, nhất là của Trung Quốc. Trước tình hình giá cao su sụt giảm mạnh, Consortium Cao su Quốc tế (IRCo) bao gồm ba nhà sản xuất cao su hàng đầu thế giới tỏ ra sẵn sàng ra
  • 5.
    tay can thiệptránh không cho giá giảm thêm. Ba nước thông báo đã sẵn sàng hạn chế xuất khẩu cao su từ tháng 12, trong khi Hiệp hội Cao su Indonexia (Gapkindo) chuẩn bị cắt giảm xuất khẩu cao su nếu giá tiếp tục giảm. Tuy nhiên, khả năng giá cao su tự nhiên hồi phục vẫn rất lớn và xu thế này có thể sẽ bắt đầu từ quý I năm tới do mùa thu hoạch rộ của Thái Lan cũng sẽ kết thúc và Trung Quốc cũng như các nhà nhập khẩu cao su lớn khác sẽ trở lại thị trường. III – Kết luận và kiến nghị Tiềm năng và cơ hội phát triển ngành cao su Việt Nam đang mở rộng và tiến về phía trước, nhất là khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO vào cuối tháng 11. Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam cũng đang đứng trước thời cơ và những thách thức không nhỏ khi hội nhập. Bên cạnh chính sách khai thác tốt tiềm năng sẵn có, các doanh nghiệp cao su còn được chỉ đạo để mở rộng thêm các thị trường xuất khẩu mới. Sản lượng mủ cao su khai thác liên tục tăng theo từng năm nhờ thực hiện tốt các biện pháp thâm canh, lai ghép và đưa vào trồng cây cao su mới, cùng với việc không ngừng đổi mới phương thức quản lý nâng cao năng suất, hoàn thiện quy trình sản xuất, chất lượng. Hy vọng ngành cao su Việt Nam sẽ càng vững bước trong xu thế hội nhập thế giới. Thị trường cao su thế giới năm 2006 chia làm hai giai đoạn rõ rệt, giá tăng mạnh trong nửa đầu năm và giảm mạnh vào nửa cuối năm, để giá cuối năm gần tương đương với giá ở thời điểm đầu năm. Nguyên nhân tăng giá vào đầu năm là do chịu tác động giá tăng mạnh trên thị trường dầu thô thế giới, kéo theo giá cao su tổng hợp tăng lên đúng vào thời điểm nguồn cung tại các nhà sản xuất chính đang khan hiếm và Trung Quốc cũng rất tích cực mua vào trong thời điểm đầu năm nay. Song, giá cao su đã sụt giảm mạnh kể từ tháng 7 do thời tiết thuận lợi làm tăng sản lượng ở Thái Lan và Malaysia, đồng thời Trung Quốc cũng vắng mặt trên thị trường kể từ lúc này do đã mua đủ lượng dự trữ đến cuối năm. Về lâu dài, thị trường cao su sẽ hồi phục do ngành công nghiệp ô tô phát triển mạnh dự báo nhu cầu cao su của Trung Quốc và Ấn Độ còn rất lớn.
  • 6.
    Tài liệu thamkhảo: 1. Trung tâm Tin học & Thống kê, Bộ Nông nghiệp và PTNT. 2. Thông tấn xã Việt Nam 3. Website của Hiệp hội Cao su Việt Nam www.vra.com.vn 4. Tin Reuters 5. Các Web-sites của FAO, USDA.